Khác Dân Quốc Chí Thông Tục Diễn Nghĩa

[BOT] Wattpad

Administrator
25/9/25
51,433
0
0
407741854-256-k801568.jpg

Dân Quốc Chí Thông Tục Diễn Nghĩa
Tác giả: Tonglydaithan26362
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Cuối đời Mãn Thanh, quốc thế suy vi, ngoại bang xâm lấn, nội loạn nổi lên, xã tắc nghiêng ngửa.

Một hồi cách mệnh dấy lên, Tôn Trung Sơn khai sáng Trung Hoa Dân Quốc, khép lại đế chế nghìn năm, mở đầu thời đại cộng hòa giữa phong ba dậy sóng.

Song thiên hạ chưa yên thì quần hùng đã khởi.

Viên Thế Khải mưu đồ phục đế, Bắc Dương chư tướng thay nhau chấp chính; Lê Nguyên Hồng, Phùng Quốc Chương, Từ Thế Xương, Tào Côn lần lượt nắm quyền.

Quân phiệt cát cứ, sơn hà phân liệt, chính trường tranh đoạt, binh đao không dứt.

Giữa cục diện ấy, Tưởng Giới Thạch nổi lên chỉnh đốn Quốc dân đảng, phát động Bắc phạt, thống nhất Trung Nguyên, chấn hưng kinh tế, cải cách quân chính, xây dựng quốc gia theo đường lối thực dụng.

Nội thì trừ cộng sản, định lại cương kỷ; ngoại thì kháng Nhật phục quốc, khôi phục cương thổ, đưa Trung Hoa bước vào cục diện đối đầu mới của thế giới thời chiến tranh lạnh.

Tác phẩm tái hiện một thời đại phong vân biến ảo: anh hùng hào kiệt xuất hiện giữa loạn ly, trí giả mưu sâu nơi triều chính, gian hùng tung hoành chốn chiến trường.

Mỗi hồi truyện là một trận đấu trí - đấu lực, mỗi nhân vật là một mặt gương phản chiếu chí hướng, tham vọng và bi kịch của thời đại.

"Dân Quốc Diễn Nghĩa" không chỉ thuật lại biến thiên chính trị - quân sự, mà còn khắc họa bước chuyển mình của một quốc gia giữa cũ và mới, giữa đế chế và cộng hòa, giữa truyền thống và hiện đại.

Phong vân nổi dậy, anh hùng tranh bá -
Một hồi Dân Quốc, vạn dặm sơn hà.



sư​
 
Related threads
  • [ Đam mỹ ] Trái tim ta đã không còn dành cho mấy...
  • [DanCae]Thư chưa gửi
  • Lê Nghi Dân
  • Tình ca dang dở của một triều đại ( dã sử Việt)
  • MẬT DANH: KẺ THỨ HAI [17+]
  • Mộ Vô Danh
  • Dân Quốc Chí Thông Tục Diễn Nghĩa
    Lời tựa


    Than ôi!

    Thiên hạ đại thế, phân lâu tất hợp, hợp lâu tất phân.

    Đạo trời tuần hoàn, thịnh suy hữu số.

    Từ thời Tam Đại khai cơ, trải Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, triều đại nối nhau như sóng dồn lớp lớp.

    Đến cuối đời Mãn Thanh, quốc thế suy vi, chính đạo bất chấn, cương thường rối loạn, ngoại cường lấn bức, nội loạn bốn bề.

    Quan lại mục nát, binh lực suy đồi, tài chính khánh kiệt, lòng dân oán thán.

    Xã tắc nghìn năm như nhà cũ mục nát giữa phong ba.

    Bấy giờ Tôn Trung Sơn tiên sinh ứng vận nhi sinh, ôm chí cứu quốc, đề xướng Tam Dân chủ nghĩa, lấy dân tộc, dân quyền, dân sinh làm cương lĩnh, tụ nghĩa sĩ khắp bốn phương, khởi nghĩa Vũ Xương một tiếng sấm vang.

    Sóng cách mệnh lan khắp cửu châu, triều Thanh rúng động.

    Hoàng đế thoái vị, đế chế nghìn năm cáo chung.

    Trung Hoa Dân Quốc lập nên, mở ra kỷ nguyên cộng hòa giữa cõi Đông phương.

    Song, phế đế dễ, trị loạn nan.

    Nước mới dựng mà nền chưa vững, lòng người phân hóa, thế lực quân phiệt rình rập.

    Viên Thế Khải nắm binh quyền Bắc Dương, thế trọng như sơn, quyền cao át chủ.

    Bề ngoài phụng hiến cộng hòa, bên trong nuôi chí phục đế.

    Một phen xưng đế chưa thành, thiên hạ đã dậy sóng phản đối.

    Cơ nghiệp chưa yên thì mộng bá đồ đã vỡ.

    Viên thị mất, Bắc Dương phân liệt, chư tướng nổi lên như ong vỡ tổ.

    Lê Nguyên Hồng giữ danh tổng thống, Phùng Quốc Chương nhiếp chính, Từ Thế Xương kế vị, Tào Côn đoạt quyền.

    Kẻ thì dựa binh lực, người thì nương tài chính, mỗi người một chí, mỗi phe một mưu.

    Cải cách danh nghĩa, song thực quyền nằm trong tay quân phiệt.

    Sơn hà chia cắt, Trung Nguyên khói lửa liên miên.

    Quan trường đấu trí, chiến địa tranh hùng.

    Dân sinh đồ thán, thương cổ suy vi, văn hóa đảo điên.

    Ấy là thời đại "quần long vô thủ", anh hùng nổi dậy khắp nơi.

    Có kẻ xưng bá một phương, có người dựng cờ cứu quốc.

    Nam Bắc phân tranh, chính thống mờ nhạt.

    Trong cơn phong vân ấy, Quốc dân đảng chỉnh đốn hàng ngũ, thu nạp hiền tài, mưu đồ thống nhất.

    Tưởng Giới Thạch xuất thân quân ngũ, chí hướng cứng cỏi, kế thừa di chí Tôn tiên sinh, quyết tâm thu phục sơn hà.

    Bắc phạt khởi binh, cờ xanh phấp phới, trống trận vang rền.

    Quân Quốc dân tiến như vũ bão, đánh dẹp chư quân phiệt, lần lượt thu phục Hán khẩu, Nam Xương, Thượng Hải, Bắc Bình.

    Các sứ quân biên thùy hoặc quy thuận, hoặc tan rã.

    Trung Nguyên tái quy nhất thống.

    Nam Kinh định đô, chính phủ cải tổ, pháp chế chỉnh tề.

    Tưởng công biết rằng: "Binh thắng bất như trị thắng."

    Thống nhất thiên hạ mới chỉ là khởi đầu; hưng quốc an dân mới là đại sự.

    Bèn chỉnh đốn tài chính, cải cách thuế khóa, phát triển công thương, mở đường sắt, tu cầu cảng, chấn hưng ngân hàng.

    Lập học đường, mời chuyên gia, cải tiến kỹ nghệ, tăng cường hậu cần quân đội.

    Quân kỷ nghiêm minh, binh chế cải lương, quốc lực dần phục hưng.

    Song nội loạn chưa dứt.

    Chủ nghĩa cộng sản từ phương Bắc lan sang, lấy khẩu hiệu bình đẳng mà chiêu dụ quần chúng, lấy đấu tranh giai cấp mà khuấy đảo cương thường.

    Đảng phái phân tranh, huyết chiến nhiều phen.

    Tưởng công quyết ý trừ họa, cho rằng: "Một núi không thể dung hai hổ."

    Bèn phát động chiến dịch tiễu trừ, truy quét căn cứ cộng sản, chém đầu thủ lĩnh, dập tắt phong trào phản loạn.

    Mao Trạch Đông bị bắt xử quyết, lực lượng tan rã, mầm họa tiêu trừ.

    Nội bộ nhờ đó tạm yên, chính quyền củng cố.

    Chưa kịp nghỉ ngơi, ngoại bang lại nổi phong ba.

    Đế quốc Nhật Bản dòm ngó Trung thổ, từng bước lấn chiếm Đông Bắc, rồi mở rộng chiến tuyến khắp Hoa Bắc, Hoa Trung.

    Quốc nạn lâm đầu, sơn hà nguy biến.

    Tưởng công hiệu triệu toàn dân kháng chiến, hợp nhất binh lực, kiên thủ Trường Giang, phản công từng bước.

    Dẫu gian nan khốn khổ, song lòng dân như thép, ý chí như thành.

    Trải bao năm máu lửa, cuối cùng Nhật bại trận, rút quân khỏi Trung thổ.

    Quốc gia thu hồi cương thổ, biên giới mở rộng như thời Càn Long hưng thịnh.

    Chiến hỏa thế giới vừa tắt, cục diện mới lại mở.

    Đông Tây phân cực, tư bản đối lập cộng sản, thế giới bước vào thời kỳ "chiến tranh lạnh".

    Trung Hoa Dân Quốc đứng về khối tư bản, tham gia liên minh phòng cộng, củng cố quốc phòng, tăng cường ngoại giao.

    Trên bàn cờ quốc tế, nước nhà không còn là kẻ yếu bị chia cắt, mà trở thành một thành viên trọng yếu trong trật tự mới.

    Nhìn lại mấy chục năm phong vân, từ khi Mãn Thanh sụp đổ đến lúc cộng hòa củng cố, biết bao biến cố xoay vần.

    Anh hùng hào kiệt xuất thế, gian hùng quyền biến tung hoành.

    Có người lưu danh thiên cổ, có kẻ mang tiếng muôn đời.

    Song hết thảy đều là nhân vật của thời đại, chịu sự chi phối của đại thế.

    Ôi!

    Thời Dân Quốc, chính là giai đoạn giao thời giữa cổ và kim, giữa quân chủ và cộng hòa, giữa truyền thống và hiện đại.

    Lễ giáo cũ chưa dứt, tư tưởng mới đã sinh.

    Súng đạn cơ giới thay cho cung kiếm; điện tín, đường sắt thay cho thư mã; hiến pháp thay cho chiếu chỉ.

    Xã hội chuyển mình dữ dội như rồng lột xác.

    Kẻ viết sách này, cảm khái trước vận nước nổi trôi, bèn noi gương La Quán Trung mà thuật lại phong vân Dân Quốc.

    Dẫu không dám sánh cùng "Tam Quốc diễn nghĩa" về tài bút, song nguyện lấy sử làm gốc, lấy nghĩa làm tôn, lấy hưng vong làm gương.

    Trong truyện có chính có tà, có trung có nịnh; song xét cho cùng, đều do hoàn cảnh thúc đẩy, do lòng người chi phối.

    Than ôi!

    Một hồi trống Vũ Xương, đế chế nghìn năm sụp đổ.

    Mấy phen binh biến Bắc Dương, sơn hà chia cắt đôi nơi.

    Bắc phạt nhất cử, Trung Nguyên quy nhất thống.

    Kháng Nhật mười năm, cương thổ phục huy hoàng.

    Bước vào chiến tranh lạnh, thế giới lại phân tranh.

    Ngẫm đạo trời: thịnh cực tất suy, loạn cực tất trị.

    Nhân gian vạn sự như bàn cờ lớn; người tính không bằng trời định, song trời định cũng nhờ người làm.

    Nếu không có chí sĩ đứng ra, há có cơ nghiệp cộng hòa?

    Nếu không có anh hùng quyết đoán, há có ngày thống nhất?

    Bởi vậy, đọc truyện này, chẳng những xem mưu lược nơi chiến địa, mà còn hiểu thế sự nhân tâm; chẳng những luận thắng bại của một thời, mà còn xét đạo hưng vong của muôn đời.

    Người đời sau soi vào đó, ắt biết rằng: giữ nước khó hơn dựng nước; trị loạn khó hơn phá loạn; hòa bình khó hơn chiến thắng.

    Nay đặt bút viết lời tựa, mong hậu thế khi mở sách sẽ thấy được khí tượng một thời dậy sóng.

    Từ Tôn tiên sinh khai sáng cộng hòa, đến Tưởng công thống nhất sơn hà; từ loạn quân phiệt đến quốc gia hiện đại; từ nội chiến phân tranh đến thế giới lưỡng cực – hết thảy đều là chương hồi của một đại kịch lịch sử.

    Gọi là "Dân Quốc Diễn Nghĩa", bởi có diễn thì mới tỏ, có nghĩa thì mới sâu.

    Diễn để bày mưu kế, nghĩa để luận trung tà.

    Mong rằng người đọc suy ngẫm mà hiểu, hiểu rồi mà tỉnh, tỉnh rồi mà giữ lấy đạo trung dung giữa phong vân biến ảo.

    Lời tựa viết xong, ngẩng nhìn trời cao mây cuộn, như thấy bóng anh hùng xưa còn phảng phất nơi non nước.

    Than ôi!

    Sơn hà còn đó, anh hùng đâu tá?

    Phong vân tuy tắt, dư âm vẫn còn.

    Hậu thế nếu muốn biết sự hưng vong Dân Quốc ra sao,

    Xin mở sách này mà xem vậy
     
    Dân Quốc Chí Thông Tục Diễn Nghĩa
    Hồi 1: Vũ Xương khởi nghĩa kinh thiên địa - Mãn Thanh thoái vị động càn khôn


    Thi rằng:

    Vận nước suy vi cuối Mãn Thanh,

    Trời Nam đất Bắc nổi đao binh.

    Một tiếng súng vang kinh vũ trụ,

    Non sông từ đó chuyển cơ thành.

    Lại nói, cuối đời Tuyên Thống, triều đình Thanh thất tuy còn danh nghĩa thiên tử, song thực quyền đã suy.

    Quan lại tham ô, thuế khóa nặng nề; binh lính rệu rã, kỷ cương lỏng lẻo.

    Ngoại bang Tây dương ép mở thương cảng, dựng tô giới khắp nơi; quốc thể bị sỉ nhục, lòng dân uất hận.

    Bấy giờ, trong nước sĩ phu chí sĩ ngấm ngầm kết đảng, mưu việc cách mệnh.

    Tôn Trung Sơn tiên sinh chu du hải ngoại, quy tụ hào kiệt, đề xướng Tam Dân chủ nghĩa, mong dựng nền cộng hòa, thay đổi cục diện ngàn năm quân chủ.

    Tuy nhiều phen khởi nghĩa chưa thành, song hạt giống cách mệnh đã bén rễ sâu trong lòng người.

    Đến năm Tuyên Thống thứ ba, tại đất Hồ Bắc, thành Vũ Xương, tân quân phần nhiều đã chịu ảnh hưởng tư tưởng mới.

    Trong doanh trại, nghĩa sĩ bí mật lập hội, thề rằng:

    "Không phá Thanh đình, thề chẳng làm người!"

    Nào ngờ cơ mưu chưa kịp toàn bích, sự đã lộ.

    Một hôm, vì sơ suất, kho thuốc nổ phát hỏa, làm lộ danh sách hội viên.

    Quan quân Thanh đình tra xét gắt gao, bắt bớ liên hồi.

    Nghĩa sĩ thấy thế nguy cấp, biết rằng:

    "Việc đã bại lộ, nếu không khởi trước ắt bị tiêu diệt."

    Đêm mồng mười tháng mười, trăng mờ gió lạnh.

    Trong doanh trại tiếng súng bất ngờ vang dội, như sấm giữa trời thu.

    Nghĩa quân nổi dậy, đánh chiếm Sở chỉ huy, hạ cờ Thanh, dựng cờ cách mệnh.

    Thành Vũ Xương rung chuyển, quân Thanh trở tay không kịp, tướng giữ thành hoảng loạn tháo chạy.

    Chỉ trong một đêm, chính quyền Hồ Bắc đổi chủ.

    Tin truyền như gió cuốn, các tỉnh Hồ Nam, Thiểm Tây, Giang Tây, Quảng Đông... lần lượt hưởng ứng.

    Quan lại địa phương hoặc thuận thế tuyên bố độc lập, hoặc bị nghĩa quân lật đổ.

    Chưa đầy hai tháng, quá nửa thiên hạ đã thoát ly triều Thanh.

    Triều đình Bắc Kinh nghe tin, hoảng hốt không yên.

    Nhiếp chính vương cùng quần thần bàn kế chống giữ, song binh lực phân tán, lòng người ly tán, thế như trứng chọi đá.

    Có kẻ tâu rằng:

    "Chi bằng triệu Viên Thế Khải xuất sơn, giao binh quyền, may ra cứu vãn cơ đồ."

    Viên Thế Khải vốn từng bị gạt ra ngoài triều chính, nay được triệu hồi, nắm đại quyền Bắc Dương quân.

    Y thầm nghĩ:

    "Thiên hạ loạn thế, chính là cơ hội dựng thân."

    Bề ngoài nhận lệnh dẹp loạn, bên trong lại ngầm mặc cả với cách mệnh quân.

    Một mặt kéo quân xuống phía Nam thị uy, một mặt bí mật sai người tiếp xúc đại diện cộng hòa, bàn chuyện hòa đàm.

    Trong khi ấy, tại Nam Kinh, đại biểu các tỉnh họp hội nghị, suy tôn Tôn Trung Sơn làm Lâm thời Đại Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc, tuyên bố thành lập chính phủ cộng hòa.

    Cờ ngũ sắc bay phấp phới, chiêng trống vang lừng.

    Từ nay thiên hạ không còn gọi "Hoàng triều", mà xưng "Dân quốc".

    Thế cục lúc ấy như hai con hổ nhìn nhau: Bắc có Viên Thế Khải giữ binh quyền, Nam có Tôn Trung Sơn giữ chính danh.

    Nếu giao chiến ắt sinh máu chảy thành sông.

    Viên Thế Khải tính toán lợi hại, biết rằng Thanh đình đã mất lòng dân, dù có dốc toàn lực cũng khó vãn hồi.

    Bèn ngầm sai sứ giả vào cung, khuyên thái hậu và hoàng đế thoái vị, đổi lấy điều kiện ưu đãi cho hoàng thất.

    Triều đình Thanh thất lúc ấy chỉ còn hư danh.

    Tuyên Thống hoàng đế tuổi nhỏ, ngồi trên ngai mà chẳng biết cơ đồ đã đến hồi tận số.

    Quần thần nhìn nhau thở dài, nước mắt chan áo.

    Ngày mười hai tháng hai năm sau, chiếu thư thoái vị ban xuống.

    Lời rằng:

    "Từ nay trao chính quyền cho toàn dân, lập thể cộng hòa, để thuận lòng trời hợp lòng người."

    Chiếu vừa đọc xong, trong ngoài cung điện đều lặng ngắt như tờ.

    Một triều đại kéo dài hơn hai trăm năm, đến đó chấm dứt.

    Thiên hạ nghe tin, kẻ mừng người than.

    Có người đập bàn reo lớn:

    "Đế chế nghìn năm nay đã tận!"

    Có kẻ ngửa mặt than dài:

    "Giang sơn từ đây đổi chủ, biết về đâu?"

    Tôn Trung Sơn vì đại cục, nhường chức Tổng thống cho Viên Thế Khải, mong đổi lấy sự thống nhất Nam – Bắc, tránh cảnh nội chiến.

    Bề ngoài là nhượng vị, kỳ thực là toan tính lâu dài.

    Viên Thế Khải lên làm Đại Tổng thống lâm thời tại Bắc Kinh, thiên hạ tạm quy về một mối.

    Song trong lòng người, sóng ngầm chưa dứt.

    Than ôi!

    Vũ Xương một tiếng súng vang, đế chế ngàn năm sụp đổ.

    Mãn Thanh một đạo chiếu thư hạ, càn khôn đổi sắc thay màu.

    Song thiên hạ tuy hợp mà chưa thực yên; mầm phân tranh đã ngấm ngầm nảy nở.

    Viên Thế Khải ôm chí lớn nơi điện phủ; cách mệnh đảng giữ lý tưởng giữa nhân gian.

    Chính – tà, hợp – phân, từ đây dần dần hiển lộ.

    Muốn biết về sau Viên Thế Khải mưu đồ phục đế ra sao, quần hùng Bắc Dương tranh quyền thế nào, xin xem hồi sau sẽ rõ.
     
    Dân Quốc Chí Thông Tục Diễn Nghĩa
    Hồi 2: Viên Thế Khải đoạt thế - Bắc Dương phân phái, Quan Lũng dựng cơ đồ


    Lại nói, sau khi Thanh đế thoái vị, thiên hạ đổi sang cộng hòa, Viên Thế Khải thuận thế tiếp nhận chức Đại Tổng thống.

    Bề ngoài xưng là bảo hộ hiến pháp, trong lòng lại ôm chí chuyên quyền.

    Người đời có câu: "Hổ đã ra khỏi rừng, há chịu trở về núi cũ?"

    Viên vốn tay nắm Bắc Dương hùng binh, mưu sâu như biển, chí lớn hơn người, đâu dễ an phận làm kẻ giữ ghế tạm thời.

    Bấy giờ Bắc Dương quân tuy quy thuận cộng hòa, song nội bộ chia thành bè phái: kẻ dựa thế Trực hệ, người nương danh An Phúc, kẻ lại theo Phụng hệ, ngấm ngầm tranh công đoạt lợi.

    Trong triều lời qua tiếng lại, ngoài quân doanh kèn trống ngấm ngầm.

    Tuy cùng mang danh bảo quốc, mà lòng ai nấy khác.

    Viên Thế Khải hiểu rõ: "Một nước mới dựng, nếu chỉ dựa vào đao kiếm mà không có thực lực kinh tế, ắt chẳng bền lâu."

    Bèn âm thầm tìm kẻ có tài thực dụng, không tranh danh vị, chỉ lo dựng nền tảng.

    Trong các thế lực biên thùy phía tây bắc, tây nam, vốn có nhóm hào kiệt tự xưng là Tập đoàn Quan Lũng.

    Đất Quan Trung – Lũng Hữu xưa nay vốn là nơi phát tích của anh hùng, địa thế hiểm yếu, nhân dân cương cường.

    Nay tám phương biên thùy tụ lại thành một khối, tuy danh là phiên trấn, thực là thế lực kinh tế mới.

    Tám thế lực ấy gồm:

    – Dương Tăng Tân trấn thủ Tân Cương, khai khẩn điền địa, thông thương Tây Vực.

    – Sát Hãn Đặc Mục Nhĩ giữ Tây Tạng, thống lĩnh cao nguyên, mưu lược thâm trầm.

    – Hồ Nhược Ngu ở Vân Nam, thông thương Nam Dương, mở đường mỏ quặng.

    – Hạ Nhược Chúc cai quản Lưỡng Quảng, phát triển hải cảng, lập xưởng đóng tàu.

    – Mã Lân thống lĩnh Ninh Hạ, Cam Túc, Thanh Hải, chỉnh đốn kỵ binh, bảo hộ thương lộ.

    – Diêm Tích Sơn trấn Sơn Tây, khai thác than đá, lập nhà máy binh công.

    – Mã Quần Sơn giữ Nội Mông, khai hoang thảo nguyên, lập trại chăn nuôi quy mô.

    – Đức Mục Long Lỗ Phổ Khắc Sở tại Ngoại Mông, kiểm soát thương đạo phương bắc.

    Trong tám người ấy, nổi bật hơn cả là Sát Hãn Đặc Mục Nhĩ.

    Ông vốn hậu duệ Sát Hãn Thiếp Mộc Nhi triều Nguyên, huyết thống thảo nguyên, song trí lược lại dung hòa văn võ.

    Tài thao lược không kém tổ tiên, lại giỏi phá địa hình hiểm trở, hiểu rõ dân sinh từng bộ lạc, từng thôn trang.

    Ông nói:

    – Muốn giữ biên thùy, trước phải khiến dân có cơm ăn áo mặc; muốn quốc gia mạnh, phải khiến đường sá thông, máy móc chạy, hàng hóa lưu chuyển.

    Tập đoàn Quan Lũng phần lớn ủng hộ Viên Thế Khải xưng đế, song họ không tranh chức vị trung ương, không giành ghế quốc hội.

    Họ chỉ xin một điều: "Cho chúng tôi quyền khai phá nội địa, mở đường, lập xưởng, chỉnh đốn hậu cần."

    Lời lẽ giản dị, mà chí hướng sâu xa.

    Họ chặt cây phá rừng, đục núi mở đường, bạt đèo lấp suối.

    Những nơi xưa kia là rừng sâu nước độc, nay dựng lên nhà máy, xí nghiệp, kho tàng.

    Đường sắt xuyên qua thảo nguyên, cầu thép bắc ngang vực thẳm.

    Hậu cần quân sự nhờ đó mà thông suốt; thương lộ dân gian nhờ đó mà phồn vinh.

    Bắc Dương chư tướng thấy Quan Lũng ngày một lớn mạnh, có kẻ ganh ghét, có người dè chừng.

    Song Viên Thế Khải lại trọng dụng họ hơn cả.

    Ông nói với cận thần:

    – Kẻ tranh quyền dễ trị; kẻ lo làm việc mới khó tìm.

    Quan Lũng tuy ủng hộ ta, nhưng không đòi hỏi tước vị, chỉ lo dựng nền móng.

    Ấy là điều quốc gia cần nhất.

    Bấy giờ, Sát Hãn Đặc Mục Nhĩ cùng bảy thế lực đồng dâng một đạo tấu chương, gọi là "Thôi Ân Lệnh".

    Nội dung đại khái rằng:

    – Các cơ cấu báo chí, truyền thông, công đoàn, công hội phần nhiều bị phe phái lợi dụng, kích động dư luận, gây chia rẽ quốc gia.

    – Giới sĩ đại phu, hủ nho, trí thức bảo thủ vẫn ôm tư tưởng cũ, ngăn trở cải cách.

    – Bang hội giang hồ, hội kín, thế giới ngầm cấu kết lũng đoạn kinh tế.

    Vậy nên, xin triều đình ban lệnh kiểm soát, thu hồi tài sản những tổ chức gây phương hại đại cục; chuyển tài sản ấy vào quốc khố, dùng cho công cuộc hiện đại hóa nội địa.

    Trong tấu còn viết:

    "Muốn phá cũ lập mới, ắt phải dập nền móng mục nát.

    Muốn dựng đại hạ, ắt phải san phẳng gò đống.

    Nếu còn dung dưỡng thế lực phân tán, quốc gia tất lại chìm trong loạn."

    Viên Thế Khải đọc xong, trầm ngâm hồi lâu rồi cười lớn:

    – Hay!

    Nay thiên hạ tuy đã cộng hòa, song lòng người tán loạn.

    Nếu không mạnh tay chỉnh đốn, e rằng khó thành đại nghiệp.

    Bèn phê chuẩn thi hành không do dự.

    Một đạo lệnh ban ra, quan lại các nơi lập tức tiến hành kiểm soát báo quán, hội đoàn.

    Tài sản bất minh bị tịch thu; cơ sở chống đối bị giải tán.

    Giới sĩ phu bảo thủ vốn quen bàn luận mà không quen sản xuất, nay mất chỗ dựa, đành lui về.

    Bang hội giang hồ bị truy quét, kho tàng niêm phong.

    Số tài sản thu được, phần dùng xây dựng đường sắt, phần lập nhà máy thép, phần mở xưởng cơ khí, phần tăng cường kho tàng quân nhu.

    Nội địa từ Quan Trung đến Lũng Hữu, từ Sơn Tây đến Cam Thanh, tiếng búa máy vang lên ngày đêm.

    Dân chúng có người oán thán, có kẻ tán thành.

    Song bánh xe công nghiệp đã lăn, khó mà dừng lại.

    Sát Hãn Đặc Mục Nhĩ thân chinh đi thị sát các công trình, thấy núi non bị khoan thủng, đường xe lửa băng qua cao nguyên, bèn nói với thuộc hạ:

    – Phá địa hình còn dễ, phá lòng người mới khó.

    Phải khiến dân thấy lợi ích thực sự, thì cải cách mới bền.

    Bởi vậy, ông cho mở trường dạy nghề, lập kho lương cứu tế, đặt quỹ thương nghiệp cho dân vay vốn.

    Nhờ đó, biên thùy dần dần phồn thịnh.

    Viên Thế Khải thấy quốc khố dồi dào, quân đội hậu cần đầy đủ, lòng càng thêm vững.

    Ý niệm xưng đế lại trỗi dậy.

    Trong triều kẻ can gián, người xu nịnh.

    Quan Lũng tuy ủng hộ ông, song vẫn chuyên tâm kinh tế, không can dự sâu vào danh vị.

    Thiên hạ lúc ấy tuy bề ngoài yên ổn, song dưới đáy vẫn ngầm sóng dữ.

    Bởi cải cách mạnh tay, thế lực cũ bị dập nát, oán khí tích tụ.

    Bắc Dương nội bộ cũng chưa hẳn đồng lòng.

    Ấy thực là:

    Chuyên quyền một bước lay nền cũ,

    Phá núi nghìn trùng dựng nghiệp tân.

    Muốn biết Viên Thế Khải sau này xưng đế ra sao?

    Bắc Dương chư tướng phản ứng thế nào?

    Xin xem hồi sau sẽ rõ.
     
    Dân Quốc Chí Thông Tục Diễn Nghĩa
    Hồi 3: Viên Thế Khải xưng đế lập Hồng Hiến - Quan Lũng dâng thư thuận thiên thời


    Lại nói, sau khi "Thôi Ân Lệnh" ban hành, nội địa dần có của cải, quốc khố đầy thêm, binh lương sung túc.

    Viên Thế Khải thấy cơ nghiệp trong tay, thế lực quy tụ, bèn sinh lòng khác.

    Ông thường nói với thân tín:

    – Trung Hoa mấy nghìn năm vốn quen đế chế, nay đổi sang cộng hòa, lòng dân chưa hẳn đã thuần.

    Nếu có minh chủ thống nhất, hiệu lệnh một mối, há chẳng hơn sao?

    Lời ấy tuy chưa công khai, song đã truyền khắp nội đình.

    Trong khi ấy, Bắc Dương chư tướng chia bè phân phái.

    Có kẻ ngoài mặt tôn Viên, trong lòng ngấm ngầm bất phục; có người lo mất quyền lợi, lại e thiên hạ biến động.

    Riêng Tập đoàn Quan Lũng thì khác.

    Họ không tranh ghế quốc hội, chẳng cầu phong tước lớn, chỉ chuyên tâm khai phá biên thùy.

    Song họ hiểu rằng: muốn công nghiệp hóa nhanh chóng, cần quyền lực tập trung, mệnh lệnh thống nhất.

    Bấy giờ, Sát Hãn Đặc Mục Nhĩ hội họp bảy thế lực tại Quan Trung, luận bàn đại sự.

    Sát Hãn nói:

    – Nay quốc gia tuy danh cộng hòa, nhưng nghị viện nhiều lời, chính lệnh chậm trễ.

    Công trình đang xây mà giấy tờ chồng chất; đường sắt chưa xong đã có kẻ ngăn cản.

    Nếu không có quyền lực tuyệt đối, e rằng đại nghiệp khó thành.

    Diêm Tích Sơn gật đầu:

    – Sơn Tây mỏ than ngày đêm khai thác, song mỗi khi xin ngân khoản đều phải qua trăm thủ tục.

    Nếu thượng tầng nhất thống, ắt việc tiến nhanh hơn.

    Mã Lân nói:

    – Tây bắc rộng lớn, cần quân lệnh nghiêm minh.

    Một lời ban ra, bốn phương tuân phục, mới giữ được biên cương.

    Hội nghị xong, tám người đồng soạn một đạo thư, dâng lên Bắc Kinh.

    Trong thư viết:

    "Thiên hạ đại loạn vừa yên, cơ đồ mới dựng.

    Cộng hòa tuy hợp thời, song chưa hợp lòng dân lâu dài.

    Nay Tổng thống uy tín đủ đầy, công lao hiển hách, lòng người quy phục.

    Nếu thuận thiên thời mà lập đại thống, lấy niên hiệu mới để định lòng dân, ắt quốc gia một mối, công nghiệp mau thành."

    Thư ký tên tám vị, ấn tín đóng đủ.

    Viên Thế Khải đọc xong, thần sắc biến đổi.

    Ngoài miệng nói khiêm, trong lòng mừng thầm.

    Bèn triệu cận thần bàn bạc.

    Có người can:

    – Thiên hạ mới định, nếu xưng đế, e gây phản ứng các tỉnh.

    Viên đáp:

    – Quan Lũng tám phương đều thuận, kinh tế trong tay, binh quyền trong nắm.

    Kẻ nào dám trái?

    Đang lúc ấy, Dương Tăng Tân từ Tân Cương cũng dâng một bản tấu riêng.

    Trong tấu có đoạn:

    "Thái Ngạc hiện nắm binh lực tại phương Nam, giao du rộng rãi, lòng người hướng theo.

    Nếu ở gần trung tâm, e sinh biến số.

    Thần xin điều ông ta ra trấn Hồ Quảng, danh nghĩa là trọng dụng, thực để phân tán thế lực."

    Viên đọc xong, gật đầu:

    – Dương công lo xa, thật hợp ý trẫm.

    Bèn chuẩn tấu, hạ lệnh điều động.

    Trong triều ngoài nội, sóng ngầm cuộn chảy.

    Nhưng đại thế đã định.

    Ngày mồng một tháng Chạp, Viên Thế Khải chính thức tuyên bố cải quốc thể, xưng Hoàng đế, đặt niên hiệu Hồng Hiến.

    Lễ đăng cơ tổ chức tại Bắc Kinh, nghi trượng uy nghi, cờ xí rợp trời.

    Quan viên mặc triều phục mới, quỳ lạy tung hô.

    Chiếu lên ngôi viết:

    "Trẫm vì thiên hạ yên định, vì sinh linh đồ thán, bất đắc dĩ thuận lòng dân mà đăng đại bảo.

    Từ nay cải nguyên Hồng Hiến, mong quốc gia vững bền, bách tính an cư."

    Người đời nghe chiếu, kẻ tán thành, người phản đối.

    Có sĩ phu thở dài cho lý tưởng cộng hòa; có thương nhân lại hy vọng chính lệnh tập trung, thương lộ hanh thông.

    Quan Lũng tám thế lực lập tức gửi điện mừng.

    Sát Hãn Đặc Mục Nhĩ đích thân viết:

    "Thiên hạ cần đại thống để phá cũ dựng mới.

    Nay bệ hạ đăng cơ, thần nguyện dốc toàn lực biên thùy, bảo đảm kinh tế sung túc, hậu cần vững bền."

    Từ Tân Cương đến Tây Tạng, từ Sơn Tây đến Lưỡng Quảng, điện văn ủng hộ liên tiếp truyền về.

    Viên Thế Khải thấy vậy, càng thêm vững dạ.

    Bèn ban thưởng Quan Lũng, song vẫn để họ tự trị kinh tế, không can thiệp sâu.

    Ông hiểu: sức mạnh thực sự nằm ở nhà máy, đường sắt và kho tàng.

    Nhưng thiên hạ rộng lớn, đâu phải ai cũng thuận.

    Một số tướng lĩnh bất mãn, ngấm ngầm bàn mưu.

    Giới trí thức từng ủng hộ cộng hòa nay lên tiếng phản đối.

    Ở phương Nam, tiếng hịch chống đế chế dần vang lên.

    Ấy thực là:

    Đế vị vừa lên trời chuyển sắc,

    Phong vân lại nổi khắp giang san.

    Viên Thế Khải tuy nắm đại quyền, song cục diện chưa hẳn đã vững như núi Thái.

    Quan Lũng hết lòng ủng hộ, nhưng lòng người trong thiên hạ còn nhiều dị nghị.

    Muốn biết vận Hồng Hiến sẽ ra sao?

    Phong trào phản đế nổi dậy thế nào?

    Xin xem hồi sau sẽ rõ.
     
    Dân Quốc Chí Thông Tục Diễn Nghĩa
    Hồi 4: Hồng Hiến lâm nguy trước sóng - Quan Lũng bày trận chấn nhiếp quần hùng


    Lại nói, sau khi cải nguyên Hồng Hiến, Viên Thế Khải đăng cực xưng đế, trong ngoài chưa kịp yên thì phong trào phản đế đã âm thầm dậy sóng.

    Phương Nam vốn nhiều sĩ phu chủ trương cộng hòa, nay nghe tin đế chế phục hồi, ai nấy phẫn uất.

    Trong dân gian truyền tụng rằng: "Mới thoát long bào, nay lại khoác xiêm rồng."

    Lời qua tiếng lại, lòng người dao động.

    Tại Vân Nam, tướng lĩnh Thái Ngạc vốn danh tiếng lẫy lừng, lại được sĩ dân kính phục.

    Ông ta nhân danh bảo vệ cộng hòa, tập hợp binh lực, ngấm ngầm liên kết các tỉnh phía Nam, chuẩn bị dấy binh phản đối Hồng Hiến.

    Tin tức truyền về Bắc Kinh, triều đình xôn xao.

    Bắc Dương chư tướng mỗi người một ý.

    Có kẻ đề nghị lập tức phát binh chinh phạt; có người khuyên nên nhún nhường để tránh nội chiến.

    Hồng Hiến Đế Viên Thế Khải ngồi trong điện, sắc mặt trầm ngâm.

    Ông hiểu rõ: đế vị vừa lập, nếu một trận thất bại, thiên hạ ắt nổi dậy như nước vỡ đê.

    Song nếu mềm yếu, uy quyền tất tổn.

    Đúng lúc ấy, từ Quan Trung truyền đến thư của Sát Hãn Đặc Mục Nhĩ.

    Thư viết:

    "Phong trào phản đế sở dĩ nổi lên, bởi tâm người chưa phục.

    Muốn dẹp sóng gió, không chỉ dùng binh, mà phải dùng thế.

    Thế mạnh thì lời nói cũng là gươm giáo; thế yếu thì vạn binh cũng khó yên."

    Viên đọc xong, liền triệu Sát Hãn vào kinh bàn việc.

    Sát Hãn Đặc Mục Nhĩ thân hình cao lớn, ánh mắt như điện.

    Vào điện không kiêu không nịnh, chỉ cúi đầu hành lễ rồi nói:

    – Nay phản đế nổi lên, song thực lực còn phân tán.

    Điều đáng lo không phải binh lực họ, mà là danh nghĩa.

    Nếu để họ nhân danh "bảo vệ cộng hòa" mà tụ họp lòng dân, ắt khó dập.

    Thần xin lấy uy của Quan Lũng, khiến họ phải dè chừng.

    Viên hỏi:

    – Khanh có diệu kế chi?

    Sát Hãn đáp:

    – Quan Lũng tám phương tuy lo kinh tế, song binh lực vẫn tinh nhuệ.

    Nếu bệ hạ hạ chỉ, điều động tám thế lực đồng thời áp sát các yếu địa, vừa giữ hậu cần, vừa khóa đường tiếp tế, khiến Thái Ngạc tiến không được, lui chẳng xong, ắt khí thế họ tự suy.

    Viên nghe xong, gật đầu tán thưởng:

    – Khanh quả là trụ cột biên thùy.

    Bèn lập tức ban mật chỉ.

    Thứ nhất, lệnh Dương Tăng Tân từ Tân Cương điều kỵ binh tinh nhuệ tiến về phía tây Hồ Quảng, kiểm soát đường vận lương.

    Thứ hai, lệnh Hồ Nhược Ngu từ Vân Nam giữ chặt biên giới, cắt nguồn tiếp tế của phe phản đế.

    Thứ ba, Hạ Nhược Chúc từ Lưỡng Quảng phong tỏa hải khẩu, ngăn ngoại viện.

    Thứ tư, Mã Lân từ Cam – Thanh – Ninh điều binh trấn giữ các tuyến đường núi phía bắc.

    Thứ năm, Diêm Tích Sơn cung ứng than thép, đạn dược cho triều đình, bảo đảm quân nhu không gián đoạn.

    Thứ sáu, Mã Quần Sơn kiểm soát thảo nguyên, phòng ngừa thế lực bên ngoài lợi dụng.

    Thứ bảy, Đức Mục Long Lỗ Phổ Khắc Sở giữ yên Ngoại Mông, tránh ngoại bang thừa cơ.

    Còn Sát Hãn Đặc Mục Nhĩ, tự mình đảm nhiệm vai trò tổng điều phối, thống lĩnh toàn cục, lấy danh nghĩa "ổn định quốc gia" mà phát lệnh.

    Chỉ trong ít ngày, thế trận đã bày xong.

    Tuy chưa giao chiến lớn, nhưng tám phương như tám mũi giáo chĩa về phía Nam.

    Tin tức truyền ra, các tỉnh phản đế không khỏi lo ngại.

    Người đời bàn tán:

    – Quan Lũng tuy chỉ lo kinh tế, nhưng thế lực như núi.

    Sát Hãn một lời, tám phương hưởng ứng.

    Ai dám khinh thường?

    Quả nhiên, Thái Ngạc đang chuẩn bị xuất quân, nghe tin Quan Lũng đồng loạt điều động, liền phải cân nhắc.

    Nếu tiến đánh Bắc Kinh, e hậu phương bị khóa; nếu cố thủ, lại mất danh nghĩa chủ động.

    Phong trào phản đế vì thế mà chậm lại đôi phần.

    Hồng Hiến Đế thấy thế, tinh thần tạm yên.

    Song ông vẫn hiểu, uy quyền đế vị chưa thật sự bền vững.

    Dẫu Quan Lũng che chở, lòng dân phương Nam chưa hẳn quy thuận.

    Sát Hãn Đặc Mục Nhĩ một hôm tâu riêng:

    – Bệ hạ muốn thiên hạ lâu dài, ngoài việc dùng binh, còn phải sửa mình.

    Nếu chỉ dựa uy lực, e khó bền.

    Viên nghe mà im lặng hồi lâu.

    Ấy thực là:

    Đế nghiệp vừa thành phong đã dậy,

    Biên thùy bày trận sóng còn dâng.

    Hồng Hiến triều đình tuy tạm giữ được thế, nhưng phong trào phản đế chưa hẳn tiêu tan.

    Thế cục như nước triều lên xuống, chưa biết bến nào là bến cuối.

    Muốn biết Thái Ngạc sẽ xoay chuyển thế cờ ra sao?

    Hồng Hiến vận mệnh sẽ về đâu?

    Xin xem hồi sau sẽ rõ.
     
    Dân Quốc Chí Thông Tục Diễn Nghĩa
    Hồi 5: Hồng Hiến Đế tự chỉnh cơ đồ - Phá cũ lập mới, thiên hạ đổi thay


    Lại nói, sau khi bày trận Quan Lũng chấn nhiếp phương Nam, Hồng Hiến Đế Viên Thế Khải tuy tạm yên mặt ngoài, song trong lòng vẫn canh cánh lời Sát Hãn Đặc Mục Nhĩ: "Muốn thiên hạ lâu dài, ngoài dùng binh còn phải sửa mình."

    Một đêm ngự thư phòng, Viên đốt đèn xem tấu chương, than rằng:

    – Trẫm nếu chỉ dựa đế vị mà không dựng nền móng thực nghiệp, e cơ đồ cũng như lâu đài trên cát.

    Sáng hôm sau, triệu Sát Hãn cùng các trọng thần vào điện, bàn đại cải cách.

    Trước hết, Viên hạ lệnh phá bản vị vàng bạc, thu hồi tiền tệ cũ lưu hành rải rác các tỉnh.

    Bao đồng bạc lẻ, ngân phiếu tạp loạn, đều quy về quốc khố.

    Số kim loại quý đem bán ra ngoại quốc đổi lấy máy móc, thiết bị, kỹ nghệ.

    Đồng thời, ban hành đồng tiền thống nhất cho toàn quốc, đặt tên là Nhân Dân Tệ.

    Chiếu thư viết:

    "Thiên hạ một nhà, tiền tệ phải một mối.

    Lưu thông thông suốt, thương mại tự hưng."

    Từ Bắc Kinh đến Lưỡng Quảng, từ Tân Cương đến Sơn Đông, chỉ một loại tiền được phép lưu hành.

    Hàng hóa theo đó mà lưu chuyển, giá cả dần ổn định.

    Tiếp đó, Viên cải tổ luật pháp, soạn bộ thương luật và công luật mới, thiết lập Ngân hàng Trung ương, nắm quyền phát hành tiền tệ, điều tiết tín dụng.

    Các ngân hàng địa phương quy về một hệ thống, không còn mạnh ai nấy phát hành ngân phiếu.

    Diêm Tích Sơn phụ trách mỏ than và thép, Hồ Nhược Ngu mở xưởng cơ khí, Hạ Nhược Chúc phát triển hải vận.

    Tập đoàn Quan Lũng làm xương sống kinh tế; triều đình làm trung tâm điều phối.

    Song cải cách tiền tệ mới chỉ là khởi đầu.

    Viên hiểu rõ: muốn thay đổi vận nước, phải đập tan cơ cấu cũ.

    Bèn hạ lệnh thanh tra toàn quốc.

    Giới sĩ đại phu, vốn lâu đời nắm quyền học thuật và dư luận, nay bị yêu cầu kê khai tài sản.

    Báo quán, công hội, công đoàn nếu không tuân lệnh mới, đều bị giải tán.

    Bang hội ngầm, xã hội đen bị truy quét; kho tàng niêm phong; tài sản sung công.

    Chiếu thư nghiêm khắc:

    "Kẻ lấy danh nghĩa học thuật mà cản trở cải cách, kẻ lấy danh nghĩa công hội mà gây rối quốc gia, đều trái đại nghĩa.

    Tài sản ấy phải trả lại cho thiên hạ."

    Đồng thời, Viên ra tay bắt giữ tham quan, cường hào, du hiệp tích trữ của cải bất minh.

    Ai tự nguyện hiến nạp để phục vụ công nghiệp hóa thì được khoan giảm; kẻ chống lệnh ắt xử nghiêm.

    Chỉ trong vài năm, quốc khố dồi dào, nhà máy mọc lên như rừng.

    Đường sắt vươn dài, bến cảng tấp nập.

    Thương nhân ngoại quốc nhìn vào cũng phải kinh ngạc.

    Bắc Dương vốn phân ba nhánh: Trực Hệ, Phụng Hệ, Hoản Hệ.

    Thấy Hồng Hiến triều đình cải cách mạnh mẽ, ba hệ cũng không dám chậm trễ.

    Họ thi nhau lập xưởng binh công, xây trường quân sự, học kỹ thuật phương Tây.

    Cạnh tranh nội bộ chuyển từ tranh quyền sang tranh thành tích sản xuất.

    Ấy là biến loạn thành động lực.

    Song đại cải cách sâu xa nhất lại ở nông thôn.

    Viên nói:

    – Trung Hoa lấy nông dân làm gốc.

    Nếu không giải phóng sức sản xuất ở ruộng đồng, mọi công nghiệp đều là gốc rễ không bền.

    Bèn ban hành chính sách cải thiện quan hệ sản xuất.

    Trước hết, xóa bỏ tình trạng tiểu nông manh mún, khuyến khích sáp nhập ruộng đất nhỏ lẻ thành đơn vị sản xuất lớn.

    Thực hiện chuyên nghiệp hóa và cơ giới hóa nông nghiệp: máy cày, máy tuốt lúa được nhập về; hợp tác xã sản xuất được lập ra.

    Chế độ tư hữu đất đai nhỏ lẻ dần được chuyển hóa thành hình thức thị trường hóa có quản lý.

    Ruộng đất có thể mua bán, cho thuê, nhưng phải đăng ký và chịu giám sát nhà nước.

    Nông dân được vay vốn từ ngân hàng nông nghiệp, mua máy móc, giống mới.

    Sản lượng lúa gạo tăng cao, kho thóc đầy ắp.

    Nông dân có lợi nhuận, lòng người phấn chấn.

    Người đời có thơ rằng:

    Phá cũ một phen tan gốc rễ,

    Lập tân muôn dặm dựng cơ đồ.

    Đồng tiền thống nhất thông thiên hạ,

    Máy cày vang động khắp thôn xô.

    Cải cách lan rộng, Trung Hoa đổi khác từng ngày.

    Tư bản thực dụng từ đó sinh ra: không còn chỉ là lời hô hào, mà là nhà máy, ngân hàng, thị trường hiện hữu.

    Phương Nam nghe tin, Thái Ngạc cùng chư hầu vốn đang do dự, nay càng thêm dè dặt.

    Họ biết rằng, phía sau Hồng Hiến không chỉ là đế vị, mà là sức mạnh kinh tế và quân nhu hùng hậu.

    Hơn nữa, Sát Hãn Đặc Mục Nhĩ vẫn án ngữ Quan Trung, thống lĩnh tám phương.

    Quân Quan Lũng nổi tiếng phá địa hình hiểm trở, đánh đâu mở đường đó.

    Nếu nam chinh thực sự phát động, e rằng núi non cũng bị san bằng.

    Bởi vậy, chư hầu phương Nam tuy còn lời lẽ phản đối, nhưng không dám manh động.

    Hồng Hiến Đế đứng trên lầu thành nhìn xuống kinh sư, khói máy vươn cao, đường sắt như chỉ bạc nối liền thiên hạ, bèn nói:

    – Nay thiên hạ đổi khác, không còn là Trung Hoa của ngày trước.

    Sát Hãn đáp:

    – Bệ hạ đã phá cũ lập mới, song lòng người vẫn cần thời gian.

    Muốn vững bền, phải tiếp tục làm cho dân giàu nước mạnh.

    Ấy thực là:

    Một phen cải cách long trời đất,

    Vạn dặm sơn hà đổi sắc xuân.

    Muốn biết vận Hồng Hiến sau này hưng thịnh đến đâu?

    Bắc Dương ba hệ sẽ hợp hay tan?

    Xin xem hồi sau sẽ rõ.
     
    Dân Quốc Chí Thông Tục Diễn Nghĩa
    Hồi 6: Nam phương nổi lửa như thảo Đổng - Bắc Dương hợp binh phá thế hiểm


    Lại nói, sau khi Hồng Hiến cải cách lan khắp thiên hạ, quốc lực tăng tiến, kho tàng sung túc, đường sắt nối liền bốn cõi.

    Song ở phương Nam, lòng người chưa hẳn đã phục.

    Thái Ngạc vốn xưng danh bảo vệ cộng hòa, thấy đế chế ngày càng vững, cải cách lại càng sâu, nếu chần chừ tất mất chính danh.

    Bèn cùng chư hầu Vân – Quý – Quảng bí mật hội minh, dấy hịch kêu gọi "phản đế phục quốc thể".

    Hịch rằng:

    "Thiên hạ đã cộng hòa, nay lại chuyên quyền xưng đế.

    Nếu không dấy nghĩa, e đời sau trách tội."

    Tiếng hịch truyền ra, các tỉnh phương Nam lục tục hưởng ứng.

    Cờ hiệu dựng lên, binh mã tập hợp.

    Cục diện chẳng khác nào năm xưa chư hầu hội thảo Đổng Trác, khí thế rợp trời.

    Tin cấp báo truyền về Bắc Kinh.

    Hồng Hiến Đế nghe xong, sắc mặt không đổi, chỉ hỏi:

    – Binh lương phương Nam thế nào?

    Quân cơ đại thần đáp:

    – Khí thế tuy thịnh, song hậu cần chưa đủ.

    Chủ yếu dựa địa hình hiểm trở mà cố thủ.

    Viên gật đầu:

    – Đã vậy, lấy thế mà phá thế.

    Bèn hạ chỉ hợp binh bốn hệ.

    Quan Lũng do Sát Hãn Đặc Mục Nhĩ thống lĩnh, phụ trách tuyến tây nam, chuyên phá địa hình hiểm yếu, mở đường hành quân.

    Trực Hệ do Phùng Quốc Chương chỉ huy, tiến từ trung lộ, đánh thẳng vào các trọng trấn Hồ Quảng.

    Phụng Hệ do Trương Tác Lâm điều kỵ binh tinh nhuệ, từ đông bắc áp xuống, chặn đường tiếp tế ven biển.

    Hoản Hệ do Đoàn Kỳ Thụy thống lĩnh pháo binh và công binh, chuyên công thành phá lũy.

    Bốn hệ vốn từng nghi kỵ nhau, nay trước đại cục đều tạm gác hiềm khích.

    Quân lệnh ban ra, bốn phương đồng động, thế như sấm dậy.

    Sát Hãn dẫn quân Quan Lũng vượt núi băng rừng.

    Ông vốn tinh thông địa hình, gặp núi thì mở đường, gặp sông thì bắc cầu.

    Công binh đi trước, đại quân theo sau.

    Chỉ trong ít ngày, những nơi hiểm trở mà quân Nam tự cho là "thiên nhiên che chở", đều bị phá thông.

    Người đời truyền tụng:

    "Quan Lũng hành quân, núi cũng phải lùi; Sát Hãn xuất trận, hiểm cũng thành bằng."

    Phùng Quốc Chương tiến binh trung lộ, dùng kế "dĩ chính hợp, dĩ kỳ thắng", chia quân đánh nghi binh, rồi bất ngờ tập kích trọng yếu.

    Trực Hệ vốn kỷ luật nghiêm, tiến thoái như một.

    Trương Tác Lâm thì khác, kỵ binh Phụng Hệ tung hoành đồng bằng, đánh nhanh rút gọn, cắt đứt thương lộ phương Nam.

    Chỉ trong mấy trận, quân chư hầu đã thiếu lương.

    Đoàn Kỳ Thụy đem pháo binh hạng nặng, công thành như sấm nổ.

    Những lũy đất phương Nam dựng vội vã, sao chống nổi hỏa lực tân tiến?

    Hồng Hiến Đế lại điều thêm một viên mãnh tướng trứ danh: Vương Thế Trân, người đời xưng "Bắc Dương chi long".

    Tài cầm quân linh hoạt, vừa nghiêm vừa biến.

    Ông nhận chỉ nam hạ, mang theo tinh binh thiện chiến.

    Vương Thế Trân vừa đến tiền tuyến, liền xét thế cục rồi nói:

    – Quân Nam dựa vào danh nghĩa, song thiếu hợp nhất.

    Ta đánh vào chỗ họ không kịp cứu, ắt tan.

    Quả nhiên, một trận đánh úp vào hậu trại, quân chư hầu rối loạn.

    Thái Ngạc thân chinh chỉ huy, cố giữ sĩ khí, song phải đối diện nhiều hướng công kích cùng lúc.

    Bốn lộ đại quân như bốn cánh tay siết chặt.

    Thế trận phương Nam dần co lại.

    Người đương thời ví rằng:

    "Chư hầu hội thảo Đổng, cuối cùng tan rã vì thiếu chủ soái.

    Nay Nam phương cũng thế, khí thịnh mà lực phân."

    Thái Ngạc tuy dũng, song trước thế trận hợp binh của Quan Lũng – Trực – Phụng – Hoản, lại thêm Vương Thế Trân nam hạ, dần rơi vào thế bị động.

    Có trận đánh tại vùng núi hiểm, quân Nam vốn tưởng giữ được, nào ngờ Sát Hãn cho công binh khoan đá mở đường vòng, tập kích sau lưng.

    Thái Ngạc suýt bị vây, phải phá vòng thoát hiểm.

    Lại có trận ở đồng bằng, kỵ binh Phụng Hệ bất ngờ đánh úp kho lương, khiến quân Nam thiếu tiếp tế ba ngày liền.

    Chỉ trong mấy tháng, phong trào phản đế từ thế tiến công chuyển sang phòng thủ, rồi dần dần tan rã từng mảng.

    Hồng Hiến Đế nghe tin chiến thắng liên tiếp, bèn nói:

    – Nay không chỉ đế vị vững, mà quốc gia cũng thêm một phen thử lửa.

    Song Sát Hãn tâu rằng:

    – Bệ hạ, binh đao chỉ là phương tiện.

    Sau trận này, cần khiến phương Nam tâm phục, chớ để oán khí tích tụ.

    Viên gật đầu, truyền lệnh sau khi thu phục, phải bảo toàn dân sinh, không được cướp bóc.

    Ấy thực là:

    Nam phương nổi lửa chưa kịp tắt,

    Bắc Dương hợp binh đã dậy sấm.

    Long hổ tương tranh một hồi lớn,

    Sơn hà nghiêng ngả lại về trung.

    Muốn biết Thái Ngạc sau trận này ra sao?

    Cục diện phương Nam sẽ quy thuận hay còn biến động?

    Xin xem hồi sau sẽ rõ
     
    Dân Quốc Chí Thông Tục Diễn Nghĩa
    Hồi 7: Sát Hãn tung binh quét sơn hà - Quan Lũng phá hiểm, Nam chư hầu tan rã


    Lại nói, sau khi bốn hệ hợp binh, thế như lưới trời giăng kín, quân chư hầu phương Nam tuy chưa lập tức sụp đổ, song khí thế đã suy ba phần.

    Thái Ngạc vốn là danh tướng, biết rõ một khi bị chia cắt từng mảng thì tất bại, bèn đổi chiến lược: bỏ thành trì dễ thủ khó công, lui về núi sâu hiểm trở, dựa rừng núi mà đánh lâu dài.

    Ông nói với thuộc hạ:

    – Bắc quân tuy mạnh, song quen đánh chính diện.

    Nay ta dùng địa hình mà kéo dài, khiến họ hao binh tổn lương.

    Lời ấy truyền ra, các lộ chư hầu tạm thời rút vào vùng đồi núi Hồ – Quảng – Quý, đắp lũy dựng chướng ngại, phá cầu cắt đường, đốt kho lương dọc tuyến tiến quân.

    Nhưng họ không ngờ rằng, đối thủ lần này là Sát Hãn Đặc Mục Nhĩ – người mà quân sĩ gọi là "Thiết Phủ Khai Sơn".

    Sát Hãn từng nói:

    – Núi cao ư?

    Ta khoan núi.

    Rừng rậm ư?

    Ta đốn rừng.

    Đầm lầy ư?

    Ta lấp đất.

    Thiên nhiên nếu ngăn trở đại thế, ắt phải nhường đường.

    Ông lập tức điều toàn bộ công binh Quan Lũng tiến lên tiền tuyến.

    Hàng vạn dân phu cùng máy móc theo sau.

    Cảnh tượng chưa từng có trong lịch sử nam chinh:

    Cây cổ thụ bị cưa đổ như cỏ mục.

    Núi đá bị khoan nổ từng khối.

    Đầm lầy được đổ đá, lấp xi măng, đặt cọc thép.

    Cầu sắt dựng lên chỉ trong vài ngày.

    Quân sĩ phương Nam đứng trên cao nhìn xuống, thấy từng dãy rừng biến mất, từng con đường mới mở thẳng tắp xuyên qua vùng họ cho là "bất khả xâm phạm", không khỏi kinh hãi.

    Người đương thời truyền rằng:

    "Quan Lũng tiến một bước, núi lùi một dặm; Sát Hãn giơ tay, rừng tự đổ."

    Trận thứ nhất: Phá lũy Thiên Sơn Lĩnh

    Thái Ngạc cho dựng đại lũy tại Thiên Sơn Lĩnh, địa thế hiểm yếu, một bên vực sâu, một bên rừng rậm.

    Quân Nam tin rằng nơi đây có thể cản Bắc quân ít nhất ba tháng.

    Sát Hãn không vội công chính diện.

    Ông cho công binh mở một đường vòng qua sườn núi, vừa mở vừa tiến, ba ngày ba đêm không nghỉ.

    Đêm thứ tư, quân Quan Lũng bất ngờ xuất hiện sau lưng đại lũy.

    Hai mặt giáp công, quân Nam rối loạn.

    Thái Ngạc phải bỏ lũy rút lui.

    Trận ấy, lương thảo và pháo dược mất hơn nửa.

    Trận thứ hai: Càn quét Đồng Lâm Nguyên

    Đồng Lâm Nguyên là rừng sâu trùng điệp, đường mòn quanh co.

    Quân chư hầu đặt phục binh khắp nơi, dùng bẫy gỗ, chông sắt, hầm ngầm.

    Sát Hãn sai trinh sát dò xét, rồi cho từng đội nhỏ tiến vào, vừa tiến vừa phá chướng ngại.

    Hỏa pháo tầm ngắn được đưa vào rừng, đạn nổ phá tan ổ phục kích.

    Sau ba ngày, rừng Đồng Lâm bị mở thành đại lộ rộng mười trượng.

    Quân Nam mất chỗ ẩn nấp, phải tháo chạy.

    Trận thứ ba: Lấp đầm Hắc Thủy

    Đầm Hắc Thủy là vùng lầy rộng lớn, quân Nam cho rằng Bắc quân khó vượt qua.

    Thái Ngạc định lấy nơi đây làm tuyến phòng ngự cuối.

    Sát Hãn cười:

    – Đầm lầy chẳng qua là đất chưa định hình.

    Ông cho vận chuyển đá lớn, đổ từng lớp, đặt dầm gỗ, rải xi măng.

    Chỉ mười ngày, một con đường chắc chắn đã hình thành xuyên qua đầm.

    Khi quân Quan Lũng ồ ạt tiến qua, quân Nam kinh hãi như thấy quỷ thần.

    Tin chiến thắng liên tiếp truyền về Bắc Kinh, Hồng Hiến Đế khen rằng:

    – Sát Hãn quả không phụ danh tướng thảo nguyên.

    Trong khi ấy, Vương Thế Trân từ trung lộ phối hợp, Phùng Quốc Chương ép sườn đông, Trương Tác Lâm cắt tiếp tế ven biển.

    Thế trận như cối xay khổng lồ nghiền nát từng mảng quân chư hầu.

    Quân Nam tuy có Thái Ngạc làm chủ soái, song binh lực phân tán, hậu cần thiếu hụt.

    Mỗi khi dựng được tuyến phòng ngự, chưa kịp ổn định đã bị phá thông.

    Có trận, Thái Ngạc đích thân xông pha, suýt bắt được một doanh trưởng Quan Lũng.

    Nhưng Sát Hãn lập tức điều pháo đội phản kích, khiến quân Nam phải lui.

    Người đời so sánh:

    "Tổ tiên Sát Hãn từng chém quân Khăn Đỏ giữa loạn thế, nay hậu duệ cũng tung hoành không kém."

    Dẫu không còn cảnh đao kiếm cổ xưa, song nhịp độ càn quét dữ dội khiến người ta tưởng như thời đại cũ tái hiện.

    Ba tháng trôi qua, chư hầu phương Nam tan rã từng mảng.

    Kẻ hàng, người bỏ trốn, số còn lại tụ về quanh Thái Ngạc giữ một góc cuối.

    Thái Ngạc nhìn bản đồ chiến tuyến ngày càng thu hẹp, thở dài:

    – Ta không thua ở chiến trận, mà thua ở đại thế.

    Ông biết rằng đối phương không chỉ có binh lực, mà còn có hậu cần vững vàng, kinh tế chống lưng, công nghiệp làm nền.

    Núi rừng không còn là thành lũy tự nhiên nữa.

    Cuối cùng, nhiều chư hầu dâng thư xin hòa, xin quy thuận triều đình để bảo toàn dân chúng.

    Thái Ngạc cô thế, buộc phải rút lui.

    Sát Hãn vào thành cuối cùng, không cho quân cướp bóc.

    Ông hạ lệnh:

    – Đã dẹp loạn, phải dựng lại sản xuất.

    Đường đã mở, nay đem máy móc vào.

    Không để máu đổ vô ích.

    Quân Quan Lũng sau chiến trận lại tiếp tục công việc quen thuộc: mở đường, dựng cầu, xây kho.

    Ấy thực là:

    Càn quét một phen trời đổi sắc,

    Sơn hà muôn dặm lại quy trung.

    Đao chưa lạnh đã thành công lộ,

    Khói chiến tan rồi dựng máy công.

    Nam phương từ đó không còn đủ sức tập hợp phản đế lớn.

    Danh tướng Thái Ngạc tuy còn uy danh, nhưng thế cục đã nghiêng hẳn.

    Muốn biết sau khi Nam phương yên định, Hồng Hiến triều đình sẽ chỉnh đốn thiên hạ ra sao?

    Xin xem hồi sau sẽ rõ.
     
    Dân Quốc Chí Thông Tục Diễn Nghĩa
    Hồi 8: Quan Lũng hội binh phá Hộ quốc - Thượng Hải long tranh quyết thắng bại


    Lại nói, sau khi chiến tuyến Hồ – Quảng bị xuyên thủng, phong trào Hộ quốc tuy chưa diệt hẳn, song khí thế đã giảm.

    Thái Ngạc lui về chỉnh đốn tàn quân, mong khôi phục thanh thế.

    Song cục diện thiên hạ lúc này đã đổi khác: đường sá do Quan Lũng mở ra đã xuyên suốt Nam – Bắc; hậu cần triều đình như mạch máu liên tục, không còn bị núi sông ngăn trở.

    Sát Hãn Đặc Mục Nhĩ nhìn bản đồ phương Nam, nói với các tướng:

    – Nay không thể để từng ổ phản đế tồn tại lẻ tẻ.

    Phải đánh dứt điểm, khiến thiên hạ biết đại thế đã định.

    Bèn chia quân làm ba lộ lớn, tự mình làm tổng điều phối.

    I.

    Giang Tây chấn động – Lý Liên Kiệt thất thế

    Tại Giang Tây, Lý Liên Kiệt tập hợp tàn quân Hộ quốc, dựa vào địa thế sông hồ mà cố thủ.

    Ông cho rằng Bắc quân khó quen thủy chiến, nên dàn trận dọc bờ sông Cám.

    Sát Hãn sai Diêm Tích Sơn cấp tốc vận chuyển pháo hạng nặng từ Sơn Tây xuống, đồng thời điều thủy binh từ Hồ Bắc phối hợp.

    Trận đầu tại bến Thanh Phong, quân Nam lợi dụng sương mù tập kích, khiến tiền phong Quan Lũng hơi chao đảo.

    Sát Hãn không vội phản kích, chờ thủy triều đổi hướng rồi bất ngờ cho pháo đồng loạt nổ.

    Đạn pháo xé tan chiến thuyền gỗ.

    Công binh lập tức dựng cầu phao, đại quân tràn qua như nước lũ.

    Lý Liên Kiệt chống cự ba ngày, cuối cùng lương thảo cạn, quân sĩ tan hàng.

    Giang Tây thất thủ.

    Người đời nói:

    "Phá núi đã quen, phá sông cũng chẳng ngại."

    II.

    Quảng Đông rung chuyển – Hồ Hán Dân thua thế

    Ở Quảng Đông, Hồ Hán Dân dựa vào thương cảng phồn thịnh, mong dùng tài lực kéo dài chiến sự.

    Ông kêu gọi thương nhân ủng hộ, dựng phòng tuyến ven biển.

    Sát Hãn liền phát hịch cho Hạ Nhược Chúc – người cai quản Lưỡng Quảng – hợp quân từ phía tây áp xuống, đồng thời Trương Tác Lâm cho hải quân phong tỏa ngoài khơi.

    Ba mặt bị vây, Quảng Đông lâm nguy.

    Trận quyết chiến tại ngoại ô Quảng Châu, Hồ Hán Dân đích thân chỉ huy.

    Hai bên giằng co suốt bảy ngày.

    Nhưng khi đường tiếp tế bị cắt, kho bạc dần cạn, quân sĩ dao động.

    Đêm thứ tám, Quan Lũng công phá cửa thành phía tây.

    Hồ Hán Dân buộc phải rút lui, phong trào tại Quảng Đông sụp đổ.

    III.

    An Huy bại trận – Bách Văn Uất thất thủ

    Bách Văn Uất ở An Huy vốn giỏi phòng ngự, cho đắp chiến lũy liên hoàn.

    Nhưng Hoản Hệ của Đoàn Kỳ Thụy vốn tinh thông pháo binh, đem đại bác hạng nặng công kích liên tục.

    Chỉ trong nửa tháng, phòng tuyến An Huy bị phá từng đoạn.

    Bách Văn Uất thua trận, phải tan quân.

    IV.

    Quan Lũng đại hội binh – Lưỡng Quảng quyết chiến

    Bấy giờ Trần Quýnh Minh ở Lưỡng Quảng cố gắng gom tàn quân, dựa địa thế đồi núi hiểm trở, tuyên bố tiếp tục kháng cự.

    Sát Hãn quyết định đánh một trận tổng lực.

    Ông truyền lệnh cho toàn bộ Tập đoàn Quan Lũng hội binh:

    – Dương Tăng Tân từ Tân Cương dẫn kỵ binh tinh nhuệ tiến xuống trung lộ.

    – Diêm Tích Sơn từ Sơn Tây đem pháo và cơ giới.

    – Đức Mục Long Lỗ Phổ Khắc Sở từ Ngoại Mông điều đội cơ động thiện chiến.

    – Mã Quần Sơn từ Nội Mông phụ trách hậu cần thảo nguyên.

    – Mã Lân từ Ninh – Cam – Thanh đem kỵ binh bảo vệ sườn tây.

    – Hồ Nhược Ngu từ Vân Quý ép xuống phía tây nam.

    – Hạ Nhược Chúc từ Lưỡng Quảng đánh từ phía đông.

    Tám phương hợp lại, thế như bát quái khép vòng.

    Địa hình Lưỡng Quảng vốn hiểm trở, rừng rậm đan xen.

    Nhưng lần này Quan Lũng không chỉ "phá từng đoạn" mà mở đại công trình.

    Núi bị khoan thành đường hầm, đèo bị san thành lộ lớn, đầm lầy bị lấp bằng bê tông.

    Quân Trần Quýnh Minh chưa kịp thay đổi vị trí, hậu phương đã bị xuyên thủng.

    Trận đại chiến kéo dài mười lăm ngày.

    Pháo nổ liên hồi, bộ binh cơ giới tiến như cuồng phong.

    Trần Quýnh Minh chống cự đến cùng, song lực bất tòng tâm.

    Lưỡng Quảng thất thủ.

    Phong trào Hộ quốc của Thái Ngạc từ đó chính thức tan rã.

    V.

    Thượng Hải long tranh – Sát Hãn đối trận Trần Kỳ Mỹ

    Song ở phương Đông, Trần Kỳ Mỹ nổi lên tại Thượng Hải, dựa vào tài chính thương cảng và mạng lưới công nhân mà chiêu binh.

    Thượng Hải là thành thị phồn hoa, phố xá dày đặc, không thể đánh như núi rừng.

    Sát Hãn hiểu rõ:

    – Trận này không phải phá địa hình, mà phá lòng người.

    Ông cho bao vây ngoại ô, cắt nguồn lương, đồng thời tung tuyên cáo bảo đảm an toàn cho dân chúng và thương nhân nếu không chống đối.

    Trần Kỳ Mỹ quyết không hàng, liên tiếp giao chiến trong nội thành.

    Trận đầu tại bến Tô Châu Hà, hai bên giằng co từng dãy phố.

    Trận thứ hai tại ngoại ô Nam Tường, quân Quan Lũng dùng cơ giới áp sát, từng bước thu hẹp vòng vây.

    Sau một tháng, Thượng Hải bị bao kín.

    Kinh tế ngưng trệ, kho đạn cạn dần.

    Trận quyết chiến cuối cùng diễn ra tại trung tâm thành phố.

    Sát Hãn thân chinh chỉ huy, đánh chiếm từng khu phố một.

    Trần Kỳ Mỹ cố giữ đại bản doanh, nhưng cuối cùng lực kiệt.

    Thành thất thủ.

    Thiên hạ từ đó yên lặng.

    Người đời truyền tụng:

    Quan Lũng hội binh như bão táp,

    Địa hình tan tác hóa bình nguyên.

    Hộ quốc một thời như mộng ảo,

    Sơn hà rốt cuộc lại quy quyền.

    Hồng Hiến Đế nghe tin toàn thắng, bèn ban chiếu đại xá, lệnh khôi phục thương nghiệp, mở lại nhà máy tại phương Nam.

    Sát Hãn đứng trên bến Thượng Hải nhìn tàu thuyền qua lại, nói:

    – Đánh xong là phải dựng lại.

    Phá để mở đường, không phải phá để hoang tàn.

    Từ đó, phong trào phản đế lụi tàn, phương Nam quy thuận.

    Muốn biết sau khi thiên hạ thống nhất, Hồng Hiến triều đình sẽ bước sang thời kỳ nào?

    Xin xem hồi sau sẽ rõ.
     
    Dân Quốc Chí Thông Tục Diễn Nghĩa
    Hồi 9: Trần thị ly hương giữ huyết mạch - Quan Lũng hồi binh khai thông tứ hải


    Lại nói, sau trận long tranh tại Thượng Hải, thành thị phồn hoa một thời khói lửa dần tan.

    Cờ Hồng Hiến phấp phới trên bến cảng, chiến thuyền neo kín khúc sông Hoàng Phố.

    Quân Quan Lũng chỉnh tề đứng gác, kỷ luật nghiêm minh, không hề có cảnh cướp bóc hỗn loạn.

    Trần Kỳ Mỹ bại trận, biết đại thế đã nghiêng.

    Ông đứng trên lầu cao nhìn xuống bến tàu, trầm ngâm hồi lâu rồi nói với người thân cận:

    – Ta bại không phải vì thiếu dũng, mà vì không kịp thời đại.

    Họ lấy công nghiệp làm gươm giáo, lấy đường sắt làm trường thành.

    Núi sông không còn che chở được nữa.

    Biết ở lại chỉ thêm tổn thất, Trần Kỳ Mỹ quyết định rời Thượng Hải.

    Ông đem theo hai người cháu là Trần Lập Phu và Trần Quả Phu, tuổi còn trẻ, chí khí chưa định, lên thuyền xuôi về phương Nam, tạm lánh phong ba.

    Trước khi đi, có người khuyên:

    – Quan Lũng nổi tiếng càn quét, e gia quyến khó giữ.

    Trần Kỳ Mỹ chỉ lắc đầu:

    – Sát Hãn tuy quyết liệt nơi chiến trận, nhưng không phải kẻ vô nghĩa.

    Quả nhiên, khi báo cáo lên Sát Hãn về việc gia quyến Trần thị còn lưu tại Thượng Hải, thuộc hạ hỏi:

    – Có nên bắt giữ để phòng hậu hoạn?

    Sát Hãn trầm giọng:

    – Binh đao nhằm vào loạn quân, không nhằm vào phụ nữ trẻ nhỏ.

    Gia quyến không tội, không được xâm phạm.

    Ai trái lệnh, xử nghiêm.

    Lệnh ban ra, quân Quan Lũng tuyệt nhiên không động chạm đến nhà cửa họ Trần.

    Dân chúng thấy vậy, dần bớt sợ hãi, lòng người ổn định.

    Sau khi Thượng Hải yên định, Sát Hãn không đóng quân lâu.

    Ông triệu tập các tướng, nói:

    – Nay binh sự đã xong, nếu còn giữ quân nơi đô hội, tất sinh oán khí.

    Phải rút về khai thác thực nghiệp, khiến phương Nam thấy lợi ích thực sự.

    Thế là Quan Lũng lần lượt hồi binh.

    Nhưng hồi binh không phải trở về nghỉ ngơi, mà là mở đầu một cuộc "bắc nam đại kiến thiết".

    Từ bến cảng Thượng Hải đến vùng đồi núi Quảng Tây, từ thung lũng Giang Tây đến cao nguyên Vân – Quý, nơi nào từng là chiến trường, nay biến thành công trường.

    I.

    Phá sạch đường mòn, mở đại lộ mới

    Những lối mòn xưa kia dùng cho phục binh, những ngả rừng từng che giấu nghĩa quân, đều bị san phẳng.

    Công binh dùng máy móc đo đạc, vạch tuyến thẳng xuyên qua đồi núi.

    Cây cổ thụ ngã xuống từng hàng, gỗ được chở về xưởng cưa.

    Núi đá bị khoan nổ, đá nghiền thành vật liệu xây dựng.

    Đường đất hẹp năm nào nay được trải xi măng, rộng mấy trượng, đủ cho xe cơ giới qua lại.

    Người dân nhìn thấy xe tải chở hàng chạy ầm ầm trên con đường từng là lối mòn cheo leo, không khỏi ngỡ như mộng.

    II.

    Lấp đầm lầy, chỉnh trị sông ngòi

    Ở vùng trũng phương Nam, đầm lầy vốn là nơi ẩn náu của quân nổi dậy, nay bị quy hoạch lại.

    Sát Hãn cho lập đội kỹ sư thủy lợi, đo mực nước, dẫn dòng sông vào kênh mới.

    Đầm lầy được đổ đất, trộn xi măng, đóng cọc sắt.

    Những nơi xưa kia muỗi mòng dày đặc, nay thành kho bãi, nhà xưởng.

    Sông ngòi được nắn lại dòng, xây kè đá hai bên, tránh lũ lụt.

    Thuyền buôn có thể đi lại quanh năm.

    Người dân nói:

    – Trước kia nước là tai họa, nay nước là lợi lộc.

    III.

    Bắc – Nam thông mạch

    Đường sắt từ Hồ Bắc nối xuống Quảng Đông được khởi công mở rộng.

    Quan Lũng điều máy móc từ Sơn Tây, than thép từ mỏ Diêm Tích Sơn, nhân lực từ Cam – Thanh – Ninh.

    Dương Tăng Tân từ Tân Cương đưa đến đội công nhân thiện chiến trong điều kiện khắc nghiệt.

    Mã Quần Sơn từ Nội Mông phụ trách vận chuyển gia súc, lương thảo.

    Chỉ vài năm, một trục giao thông xuyên suốt Nam – Bắc hình thành.

    Hàng hóa từ phương Nam có thể theo tàu hỏa ra Quan Trung, rồi qua thảo nguyên tới Tây Vực.

    Thương nhân vui mừng, dân chúng có việc làm.

    Tiếng búa, tiếng máy thay cho tiếng súng năm nào.

    IV.

    Cơ sở hạ tầng phủ khắp tứ phương

    Kho lương, nhà máy, trạm điện, bến cảng được xây dựng đồng loạt.

    Thượng Hải sau chiến trận chẳng những không suy tàn, mà còn trở thành trung tâm thương mại mới.

    Quan Lũng khuyến khích thương nhân trở lại mở cửa hàng, bảo đảm an ninh.

    Tại Quảng Đông, bến tàu được mở rộng, kho hàng nối tiếp nhau.

    Giang Tây lập thêm xưởng cơ khí phục vụ nông nghiệp.

    An Huy được quy hoạch vùng sản xuất lớn.

    Đường mòn cũ bị xóa khỏi bản đồ, thay bằng lưới giao thông chằng chịt.

    Người đương thời cảm thán:

    Hôm qua gươm giáo tung trời lửa,

    Hôm nay máy thép rộn non sông.

    Đường xưa hiểm trở thành quan lộ,

    Bốn bể từ nay một mạch thông.

    Sát Hãn đứng trên cầu sắt mới dựng, nhìn đoàn tàu lăn bánh, nói với thuộc hạ:

    – Đánh thắng chỉ là nhất thời.

    Dựng nên con đường này mới là thắng lâu dài.

    Tin tức truyền về Bắc Kinh, Hồng Hiến Đế hài lòng, ban chiếu khen thưởng toàn bộ Quan Lũng.

    Phong trào Hộ quốc từ đó chỉ còn là dư âm trong ký ức.

    Những người từng theo Trần Kỳ Mỹ, Hồ Hán Dân, Lý Liên Kiệt... phần nhiều quay về sản xuất.

    Trần Kỳ Mỹ nơi đất khách nghe tin gia quyến bình an, cũng không khỏi thở dài:

    – Thời đại đã sang trang.

    Ấy thực là:

    Một phen binh hỏa tan như khói,

    Muôn dặm sơn hà dựng lại nền.

    Quan Lũng hồi quân không nghỉ bước,

    Bắc Nam từ đó liền như liền.

    Muốn biết sau khi thiên hạ đại định, Hồng Hiến triều đình sẽ bước sang thời kỳ thịnh trị hay còn biến cố?

    Xin xem hồi sau sẽ rõ.
     
    Dân Quốc Chí Thông Tục Diễn Nghĩa
    Hồi 10: Tôn Trung Sơn tái khởi binh đao - Bắc Dương phân hệ định cục diện


    Lại nói, sau khi Quan Lũng hồi binh, khắp Nam – Bắc công trường rền vang tiếng máy, đường sá nối liền, kho tàng chất đầy vật liệu, thiên hạ tưởng như đã yên.

    Nhưng trong bóng tối, sóng ngầm chưa từng dứt.

    Tôn Trung Sơn, người từng khởi xướng lật đổ Mãn Thanh, nay lưu lạc phương Nam, nghe tin Quan Lũng rút bớt binh lực khỏi tiền tuyến, bèn họp tàn bộ cựu đảng, nói rằng:

    – Hồng Hiến tuy ổn định bề ngoài, song căn cơ chưa vững.

    Nay phải nhân lúc họ lo kiến thiết mà dấy nghĩa, khôi phục chính thống.

    Lời kêu gọi lan ra, một số phần tử bất mãn tại Quảng Đông, Phúc Kiến hưởng ứng.

    Cờ hiệu tái dựng, khẩu hiệu chống đế vang lên.

    Tin cấp báo truyền về Bắc Kinh.

    Viên Thế Khải nghe xong, sắc mặt không đổi, chỉ hỏi:

    – Quan Lũng hiện đang bận đại công trình, không thể điều động.

    Ai có thể ra tay?

    Trong triều lúc ấy, các tập đoàn tuy ngoài mặt hòa thuận, song ngầm tranh thế lực.

    Trực hệ do Phùng Quốc Chương cầm đầu, giữ thế lực trọng yếu ở Hoa Bắc.

    Hoản hệ do Đoàn Kỳ Thụy khống chế phần lớn pháo binh tinh nhuệ.

    Phụng hệ của Trương Tác Lâm kiểm soát Đông Bắc, binh mã thiện chiến.

    Riêng Quan Lũng, như đã nói, chỉ chuyên chú khai thông tứ hải, không dự tranh quyền.

    Viên bèn truyền chỉ:

    – Sai Tào Côn thống lĩnh tiền quân, Ngô Bội Phu làm tiên phong, xuất chinh phương Nam.

    Tào Côn tuy không phải danh tướng đệ nhất, song khéo điều binh giữ thế.

    Ngô Bội Phu thì trí dũng song toàn, hiểu cả chiến thuật lẫn chiến lược, từng được khen là "ngọc diện thư sinh mà mưu sâu như biển".

    Hai người lĩnh mệnh, chỉnh đốn quân Trực hệ, tiến xuống Hồ Nam.

    I.

    Hồ Nam giao chiến – Ngô Bội Phu lập uy

    Tôn Trung Sơn phái lực lượng chặn ở tuyến sông Tương.

    Dựa vào sông nước làm phòng tuyến, mong kéo dài thời gian.

    Ngô Bội Phu không vội vượt sông.

    Ông cho dựng trận địa pháo ở bờ bắc, thăm dò thế bố trí của đối phương suốt ba ngày.

    Đến ngày thứ tư, lợi dụng lúc triều cường, pháo binh đồng loạt khai hỏa, bắn sập các điểm phòng thủ trọng yếu.

    Cùng lúc, một đội cơ động bí mật vượt sông ở thượng nguồn, đánh úp phía sau.

    Quân Tôn không kịp xoay trở, trận tuyến vỡ.

    Hồ Nam thất thủ chỉ trong mười ngày.

    Ngô Bội Phu thừa thắng tiến quân, đánh thẳng xuống Quảng Đông.

    II.

    Quảng Đông tan tác – Tôn Trung Sơn lưu vong

    Tại Quảng Đông, Tôn Trung Sơn cố gom lực lượng cuối cùng, lập đại bản doanh tại ngoại ô Quảng Châu.

    Trận chiến diễn ra ác liệt bảy ngày bảy đêm.

    Tào Côn giữ thế bao vây, Ngô Bội Phu liên tục thay đổi mũi tấn công, khiến đối phương không đoán được hướng chủ lực.

    Đến khi kho đạn cạn, nội bộ bất hòa, Tôn Trung Sơn buộc phải rút lui ra cảng biển.

    Một đêm mưa gió, ông cùng thân tín xuống thuyền, vượt biển sang Nhật Bản, bắt đầu cuộc lưu vong mới.

    Từ đó, phong trào nổi dậy lần này tan rã.

    III.

    Nội bộ Hồng Hiến – Hợp mà phân, phân mà hợp

    Dẹp xong loạn, triều đình Hồng Hiến bề ngoài yên ổn, song bên trong, các hệ phái dần lộ rõ khác biệt.

    Trực hệ của Phùng Quốc Chương trọng thực lực bộ binh, khéo nắm chính trường.

    Hoản hệ của Đoàn Kỳ Thụy thiên về pháo binh và cải cách quân chế.

    Phụng hệ của Trương Tác Lâm nắm Đông Bắc, tiềm lực công nghiệp mạnh.

    Ba hệ tuy cùng phục Viên, song ai cũng ngầm vun đắp thế lực riêng.

    Chỉ có Quan Lũng là khác.

    Sát Hãn Đặc Mục Nhĩ cùng bảy thế lực còn lại không can dự tranh chấp.

    Họ tiếp tục mở đường, lập nhà máy, khai mỏ, dựng cầu.

    Ở những nơi từng là chiến trường, nay mọc lên xí nghiệp, trường học, kho vận.

    Người đương thời truyền nhau:

    "Ba hệ tranh quyền, một hệ dựng nền."

    Sự thành công của Quan Lũng khiến các hệ khác không thể không học theo.

    Đoàn Kỳ Thụy bắt đầu chú trọng sản xuất vũ khí trong nước.

    Phùng Quốc Chương khuyến khích mở xưởng cơ khí tại Hoa Bắc.

    Trương Tác Lâm phát triển đường sắt Đông Bắc.

    Tuy vẫn ngầm kình địch, nhưng không ai dám bỏ qua con đường hiện đại hóa.

    IV.

    Vương Thế Trân – Bắc Dương chi long

    Giữa lúc các hệ ngấm ngầm so kè, có một người giữ vai trò đặc biệt: Vương Thế Trân.

    Ông không ồn ào tranh quyền, không công khai kết đảng, mà chuyên tâm cải tổ quân Bắc Dương.

    Ông cho rà soát lại biên chế, chuẩn hóa trang bị, huấn luyện theo mô hình mới.

    Kỵ binh, pháo binh, công binh được tổ chức lại thành hệ thống thống nhất.

    Có người hỏi:

    – Vì sao không nhân cơ hội mở rộng ảnh hưởng?

    Vương Thế Trân chỉ cười:

    – Quân mạnh thì nước mạnh.

    Quyền vị tự đến, không cần đoạt.

    Phùng Quốc Chương và Đoàn Kỳ Thụy tuy đều có tham vọng, nhưng đối với Vương Thế Trân lại vô cùng kính nể.

    Hễ Vương nói về quân sự, hai người đều nghe theo không trái nửa lời.

    Bởi họ hiểu, nền tảng binh quyền nếu rối loạn, tất cả tranh chấp sẽ hóa hư không.

    Nhờ đó, quân Bắc Dương vẫn giữ được sự thống nhất tương đối, không đến nỗi chia rẽ hoàn toàn.

    V.

    Đại thế chuyển mình

    Sau loạn Tôn Trung Sơn, thiên hạ tạm yên.

    Đường sắt tiếp tục kéo dài.

    Nhà máy ngày một nhiều.

    Binh chế được chuẩn hóa.

    Các hệ phái tuy cạnh tranh, nhưng đều phải dựa trên nền kinh tế ngày càng mở rộng.

    Viên Thế Khải nhìn bản đồ đất nước, thấy đường sá chằng chịt, quân đội chỉnh tề, bèn nói:

    – Thiên hạ muốn loạn cũng khó.

    Ấy thực là:

    Loạn mới dứt, sóng còn ngầm,

    Trực – Hoản – Phụng thế âm thầm.

    Quan Lũng lặng xây nền thịnh,

    Bắc Dương chỉnh ngũ vững trăm năm.

    Nhưng lịch sử chưa từng dừng lại.

    Muốn biết nội bộ các hệ sau này tranh hùng ra sao, và Hồng Hiến triều liệu có trường tồn giữa phong ba quốc tế?

    Xin xem hồi sau sẽ rõ.
     
    Dân Quốc Chí Thông Tục Diễn Nghĩa
    Hồi 11: Viên đế ngầm xét Tương Đàm địa - Sát Hãn phụng chỉ luận hậu hoạn mai sau


    Lại nói, sau khi dẹp xong phong ba phương Nam, dẫu trong nước tạm yên, song Hồng Hiến Đế Viên Thế Khải không vì thế mà lơi lỏng.

    Viên vốn người đa mưu, từng trải triều Thanh, thấu hiểu thế sự.

    Ông biết thiên hạ loạn không chỉ do binh đao, mà do nhân tâm; nhân tâm lại sinh từ kẻ có chí lớn.

    Một đêm, Viên một mình xem địa đồ các tỉnh.

    Ánh đèn lay động, bóng ông in dài trên tường.

    Ánh mắt dừng lại tại một địa danh nhỏ: Tương Đàm, Hồ Nam.

    Ông khẽ nói:

    – Nơi sơn thủy tụ khí, tất sinh nhân vật.

    Tương Đàm không phải đại đô hội, nhưng địa thế hiểm yếu, nhân dân cứng cỏi.

    Trong vùng có một dòng họ bình thường, họ Mao.

    Mao Trạch Đông khi ấy chỉ là một thanh niên chưa nổi danh, đọc sách ở quê, chưa từng xuất đầu lộ diện.

    Song Viên Thế Khải không nhìn vào hiện tại, mà nhìn vào mạch vận tương lai.

    Từ khi lên nắm quyền, Viên đã cho mật thám dò xét khắp nơi.

    Không chỉ các danh tướng, mà cả những dòng họ có khí tượng dị thường, đều được ghi chép.

    Trong sổ mật thám, có ghi:

    "Dòng họ Mao tại Tương Đàm, nhân khẩu đông, gia phong nghiêm, có thiếu niên tư chất khác thường."

    Viên khép sổ, thở dài:

    – Thiên hạ sau này, e có hai người nổi lên, một họ Mao, một họ Tưởng.

    Nếu để mặc, tất phân đôi sơn hà.

    Lời ấy không ai nghe, chỉ mình ông tự nhủ.

    I.

    Bốn hệ ngầm dõi theo

    Từ lâu, Viên đã truyền chỉ cho bốn hệ lớn – Trực, Hoản, Phụng, Quan Lũng – mỗi hệ phân công mật thám theo dõi các nhân vật tiềm tàng.

    Phùng Quốc Chương của Trực hệ phụ trách Hoa Trung.

    Đoàn Kỳ Thụy của Hoản hệ giám sát học sinh, trí thức mới nổi.

    Trương Tác Lâm của Phụng hệ theo dõi giới quân sự và thương nhân Đông Bắc.

    Riêng Quan Lũng, do Sát Hãn chủ trì, phụ trách các địa phương xa xôi, vùng hiểm yếu.

    Sát Hãn vốn người tinh tế.

    Khi xem báo cáo về Tương Đàm, ông không coi thường.

    Có lần, ông nói với thân tín:

    – Kẻ mang mầm họa, khi chưa thành hình thì giống như hòn sỏi trong dòng nước.

    Nếu không để ý, mai sau sẽ thành đá tảng chắn đường.

    Tuy nhiên, Sát Hãn không chủ trương hành động hấp tấp.

    Ông hiểu rằng một thanh niên chưa danh tiếng, nếu bị đàn áp vô cớ, tất sinh oán khí, trái lại dễ tạo danh.

    Do đó, dòng họ Mao chỉ bị theo dõi lặng lẽ suốt nhiều năm.

    II.

    Viên Thế Khải luận thế tương lai

    Một buổi chầu kín, Viên triệu Sát Hãn vào cung.

    Hai người đối diện dưới ánh đèn.

    Ngoài sân, gió thu thổi lá rơi xào xạc.

    Viên hỏi:

    – Ngươi nghĩ gì về Hồ Nam?

    Sát Hãn đáp:

    – Đất ấy sinh khí mạnh, người dân cứng cỏi.

    Trong đó có dòng họ Mao, hiện chưa đáng kể, nhưng khí tượng không thường.

    Viên gật đầu:

    – Ta cũng nghĩ vậy.

    Thiên hạ tương lai e chia hai ngả.

    Nếu một họ Mao đứng về một phía, một họ Tưởng đứng về phía kia, nước tất lại phân.

    Sát Hãn trầm giọng:

    – Đại thế không thể chỉ dùng đao kiếm.

    Phải khiến thiên hạ không còn đất cho phân liệt.

    Viên suy nghĩ hồi lâu, rồi nói:

    – Trần Kỳ Mỹ hiện lưu vong, lòng còn chưa phục.

    Hắn từng qua lại nhiều nơi, quen biết nhiều nhân vật.

    Ngươi hãy thay ta gặp hắn, luận rõ lợi hại, nói cho hắn biết nếu tiếp tục nuôi dưỡng mầm phân liệt, mai sau không chỉ hắn bại mà sơn hà cũng tổn.

    Sát Hãn lĩnh chỉ.

    III.

    Sát Hãn xuất hành

    Sát Hãn cải trang, bí mật ra hải cảng, vượt biển tìm gặp Trần Kỳ Mỹ.

    Cuộc gặp diễn ra tại một căn phòng nhỏ nhìn ra biển.

    Sóng vỗ đều đều, gió mang vị mặn.

    Trần Kỳ Mỹ thấy Sát Hãn đến, cười nhạt:

    – Tướng quân đến đây, chẳng lẽ muốn bắt ta?

    Sát Hãn lắc đầu:

    – Nếu muốn bắt, đã không một mình đến.

    Ông ngồi xuống, chậm rãi nói:

    – Thiên hạ hiện tại đã khác xưa.

    Núi sông không còn chia cắt được nữa.

    Nếu còn nuôi mộng phân tranh, mai sau chỉ khiến ngoại bang thừa cơ.

    Trần hỏi:

    – Ngươi nói đến họ Mao ở Hồ Nam?

    Sát Hãn không phủ nhận:

    – Có những người hôm nay vô danh, mai sau có thể thành sóng lớn.

    Nhưng sóng lớn nếu gặp bờ kiên cố, sẽ tan.

    Ông phân tích rõ: nếu trong nước lại nổi lên cục diện phân đôi, kinh tế bị chia cắt, đường sá bị phá, công nghiệp đổ vỡ, tất khiến quốc lực suy yếu.

    – Khi ấy, dù là họ Mao hay họ Tưởng, cũng chỉ là người của thời loạn.

    Còn dân chúng mới là kẻ chịu khổ.

    Trần Kỳ Mỹ trầm ngâm hồi lâu, rồi thở dài:

    – Ta hiểu ý ngươi.

    Nhưng dòng chảy lịch sử, há một hai người ngăn được?

    Sát Hãn đáp:

    – Không ngăn được tất cả, nhưng có thể chuẩn bị nền móng để sóng không dâng quá cao.

    Hai người nhìn ra biển xa, đều biết rằng câu chuyện này chưa có hồi kết.

    IV.

    Bóng dáng tương lai

    Sau chuyến đi ấy, việc theo dõi Hồ Nam càng chặt chẽ hơn, nhưng vẫn giữ trong bóng tối.

    Mao Trạch Đông khi ấy vẫn chưa nổi danh.

    Song ở kinh thành, Viên Thế Khải đã đặt trong tâm một mối lo.

    Ông hiểu rằng thiên hạ ổn định không chỉ do binh lực, mà do thế cân bằng giữa các lực lượng tương lai.

    Ấy thực là:

    Tương Đàm đất nhỏ ẩn long xà,

    Vận nước mai sau gió nổi ba.

    Viên đế nhìn xa lo họa mầm,

    Sát Hãn sang biển luận hơn thua.

    Nhưng lịch sử như nước chảy, dù nhìn xa đến đâu cũng khó giữ trọn.

    Muốn biết dòng họ Mao sau này biến hóa thế nào, và vận mệnh Hồng Hiến triều rẽ sang hướng nào,

    xin xem hồi sau sẽ rõ.
     
    Dân Quốc Chí Thông Tục Diễn Nghĩa
    Hồi 12: Sát Hãn luận anh tài đất khách - Trần thị vượt hải kết giao Tưởng công


    Lại nói, sau cuộc hội kiến bí mật nơi hải ngoại, Sát Hãn Đặc Mục Nhĩ cùng Trần Kỳ Mỹ đàm luận suốt một đêm dài.

    Gió biển thổi lay ngọn đèn, sóng vỗ như tiếng trống xa xăm của thời cuộc.

    Sáng hôm sau, trước khi rời đi, Sát Hãn nhìn thấy hai thanh niên đứng bên hiên nhà: Trần Lập Phu và Trần Quả Phu.

    Hai người tuy tuổi còn trẻ, song ánh mắt sáng, khí chất trầm ổn, không giống kẻ lưu vong thất thế.

    Sát Hãn dừng bước, hỏi:

    – Hai ngươi đọc sách gì?

    Trần Lập Phu đáp:

    – Đọc kinh sử, lại xem thêm sách mới phương Tây.

    Trần Quả Phu nói:

    – Muốn hiểu thế biến chuyển của thời đại, không thể chỉ giữ một lối cũ.

    Sát Hãn nhìn hai người hồi lâu, rồi chậm rãi nói với Trần Kỳ Mỹ:

    – Hai người này, tương lai nếu gặp được minh chủ, ắt công cao trong sự nghiệp.

    Không nên để phí chí nơi tha hương.

    Lời ấy không lớn, nhưng trầm như tiếng chuông.

    Trần Kỳ Mỹ khẽ giật mình.

    Ông hiểu rằng Sát Hãn không phải kẻ tùy tiện khen ngợi.

    Người từng tung hoành chiến trận, nhìn thấu đại thế, nay lại gửi lời như thế, tất có dụng ý.

    Sát Hãn tiếp lời:

    – Thiên hạ không chỉ do binh lực quyết định, mà do người biết tổ chức, biết kết nối nhân tâm.

    Hai người này có khí tượng ấy.

    Nói rồi, ông không bàn thêm, quay người rời đi.

    Bóng áo choàng khuất dần giữa bến cảng mù sương.

    I.

    Trần Kỳ Mỹ suy ngẫm bốn tập đoàn

    Sau khi Sát Hãn rời khỏi, Trần Kỳ Mỹ trầm tư rất lâu.

    Ông từng đối trận với quân triều đình, từng thấy rõ bốn hệ phái lớn dưới quyền Viên Thế Khải:

    Trực hệ của Phùng Quốc Chương, mạnh về bộ binh, giỏi giữ chính trường, nhưng lòng người phân tán.

    Hoản hệ của Đoàn Kỳ Thụy, thiên về pháo binh, cải cách quân chế, song tham vọng cá nhân không nhỏ.

    Phụng hệ của Trương Tác Lâm, nắm Đông Bắc, binh lực thiện chiến, song vẫn dựa nhiều vào thế địa phương.

    Chỉ riêng Tập đoàn Quan Lũng, do Sát Hãn làm chủ, ít tranh quyền, chuyên lo khai thông, mở đường, dựng xưởng.

    Trần Kỳ Mỹ thở dài:

    – Ba hệ kia tuy mạnh, nhưng vẫn xoay quanh binh quyền.

    Chỉ Quan Lũng lo căn cơ lâu dài.

    Ông nhớ lại những con đường mới mở, những cây cầu sắt, những đầm lầy bị lấp thành kho bãi.

    Quân Quan Lũng sau chiến trận lập tức biến thành công binh, dân chúng được bảo vệ, thương nhân được khuyến khích.

    – Nếu thiên hạ có thể giữ hướng ấy, tất không dễ phân liệt – ông lẩm bẩm.

    Nhưng ông cũng hiểu, lịch sử không chỉ có một ý chí.

    II.

    Bí mật sang Nhật – Gặp gỡ Tưởng Giới Thạch

    Ít lâu sau, Trần Kỳ Mỹ bí mật rời nơi tạm cư, sang Nhật Bản.

    Bề ngoài là thăm bạn cũ, nhưng thực chất là tìm gặp một người đang nổi lên trong giới cách mạng hải ngoại: Tưởng Giới Thạch.

    Cuộc gặp diễn ra tại một căn phòng đơn sơ ở Yokohama.

    Tưởng khi ấy còn trẻ, ánh mắt sắc, lời nói ngắn gọn.

    Ông chăm chú nghe Trần Kỳ Mỹ kể lại cục diện trong nước, đặc biệt là thế lực của bốn tập đoàn.

    Trần nói:

    – Nếu muốn thành việc lớn, không thể chỉ dựa vào khẩu hiệu.

    Phải có quân, có tài chính, có tổ chức.

    Tưởng trầm ngâm:

    – Vậy trong bốn tập đoàn ấy, ai đáng lưu tâm nhất?

    Trần đáp không do dự:

    – Quan Lũng.

    Tưởng ngạc nhiên:

    – Vì sao?

    – Vì họ không chỉ đánh trận, mà xây nền.

    Khi dân chúng quen với đường sá, nhà máy, hàng hóa lưu thông, họ sẽ không dễ nghe theo lời kêu gọi phá bỏ tất cả.

    Muốn thay đổi thiên hạ, phải tính đến điều ấy.

    Tưởng gật đầu, ánh mắt lóe lên suy nghĩ.

    Hai người đàm luận suốt đêm về tương lai Trung Hoa, về khả năng hợp tác, về con đường tổ chức lực lượng mới.

    III.

    Sóng ngầm hải ngoại

    Từ đó, tại hải ngoại dần hình thành một mạng lưới liên kết giữa những người bất mãn với Hồng Hiến triều, song không phải ai cũng chủ trương vũ lực tức thời.

    Có người cho rằng phải chờ thời.

    Có người muốn cải tổ từ trong.

    Có người mơ đến một cục diện mới, nơi thiên hạ không còn chia bốn hệ phái.

    Trong khi ấy, trong nước, Quan Lũng vẫn lặng lẽ mở đường, Trực – Hoản – Phụng ngấm ngầm so kè, Vương Thế Trân tiếp tục chỉnh đốn Bắc Dương.

    Bên ngoài yên tĩnh, bên trong gió đã nổi.

    IV.

    Lời tiên đoán giữa sóng biển

    Một đêm nơi hải cảng, Trần Lập Phu hỏi chú mình:

    – Lời Sát Hãn nói, chú nghĩ sao?

    Trần Kỳ Mỹ đáp:

    – Người ấy nhìn xa hơn ta tưởng.

    Nhưng tương lai gặp minh chủ hay không, còn tùy vào bản thân các ngươi.

    Trần Quả Phu siết chặt tay:

    – Nếu thiên hạ lại phân tranh, chúng ta sẽ chọn con đường nào?

    Trần Kỳ Mỹ nhìn về phương Tây, nơi quê hương xa xăm, khẽ nói:

    – Con đường không do người khác vạch sẵn.

    Thời cuộc sẽ buộc chúng ta lựa chọn.

    Ấy thực là:

    Bến biển mù sương ẩn chí anh,

    Lời tiên đoán gửi giữa trời xanh.

    Quan Lũng dựng nền trong quốc nội,

    Hải ngoại âm thầm kết mạch tranh.

    Thiên hạ tưởng như đã định, song mầm biến động đang âm thầm lớn lên giữa lòng người và ngoài bốn bể.

    Muốn biết mai sau Tưởng công ra sao, Trần thị lập nghiệp thế nào, và vận mệnh bốn tập đoàn chuyển hóa ra sao,

    xin xem hồi sau sẽ rõ.
     
    Dân Quốc Chí Thông Tục Diễn Nghĩa
    Hồi 13: Trần thị luận bốn hệ phân tranh - Tưởng công nhìn thấu Quan Lũng căn cơ


    Lại nói, nơi đất Nhật xa xôi, trong căn phòng nhỏ nhìn ra bến cảng Yokohama, Trần Kỳ Mỹ cùng Tưởng Giới Thạch ngày đêm bàn luận quốc sự.

    Ngoài cửa sổ, tàu thuyền qua lại.

    Bên trong, bản đồ Trung Hoa trải rộng trên bàn gỗ.

    Đèn dầu chiếu lên từng địa danh: Bắc Kinh, Sơn Tây, Đông Bắc, Quan Trung, Hồ Nam...

    Trần Kỳ Mỹ lấy tay chỉ bốn vùng lớn, chậm rãi nói:

    – Nay trong nước, thực quyền nằm trong tay bốn hệ: Trực, Hoản, Phụng, và Quan Lũng.

    Bề ngoài đều phục Hồng Hiến Đế, song thực chất mỗi bên đều có căn cơ riêng.

    Ông lần lượt phân tích:

    – Trực hệ của Phùng Quốc Chương, quân đông, kiểm soát vùng Hoa Bắc, giỏi điều hòa chính sự.

    Nhưng nội bộ lắm kẻ cầu lợi, khí thế tuy mạnh mà không liền một khối.

    – Hoản hệ của Đoàn Kỳ Thụy, nắm pháo binh tinh nhuệ, hiểu cải cách quân chế.

    Song Đoàn tham vọng lớn, dễ gây nghi kỵ.

    – Phụng hệ của Trương Tác Lâm, dựa vào Đông Bắc, binh lực thiện chiến, lại có nguồn công nghiệp riêng.

    Nhưng thế lực ấy mang tính địa phương, chưa chắc lan khắp thiên hạ.

    Nói đến đây, Trần dừng lại, ánh mắt trầm xuống:

    – Còn Quan Lũng...

    Tưởng Giới Thạch ngẩng đầu, chăm chú lắng nghe.

    Trần tiếp:

    – Quan Lũng khác hẳn.

    Họ không tranh chức vị, không phô trương công trạng.

    Sát Hãn chỉ lo mở đường, khai mỏ, lập xưởng.

    Binh lực của họ không phải mạnh nhất, nhưng hậu cần của họ vững nhất.

    Họ mở được núi, lấp được sông.

    Đó mới là nền.

    Tưởng khẽ gật đầu, mắt sáng lên.

    I.

    Tưởng công nhìn xa

    Tưởng Giới Thạch trầm ngâm hồi lâu rồi nói:

    – Ta từng xem báo cáo về chiến sự phương Nam.

    Núi rừng vốn là thành lũy tự nhiên, mà họ phá được.

    Đầm lầy vốn che chở nghĩa quân, mà họ lấp được.

    Một khi địa hình không còn là lá chắn, thì thế lực chỉ dựa vào sơn thủy tất khó tồn tại.

    Ông dùng bút khoanh một vòng quanh Quan Trung và các tuyến đường mới mở.

    – Họ đang nối Nam – Bắc thành một mạch.

    Khi kinh tế thông suốt, dân chúng quen với ổn định, thì lời kêu gọi nổi dậy sẽ khó được hưởng ứng.

    Trần Kỳ Mỹ hỏi:

    – Vậy theo ý anh, nếu sau này có biến, nên đối phó ra sao?

    Tưởng đáp, giọng chắc như đinh đóng cột:

    – Mao tuy chưa có danh tiếng, song loại người ấy nếu khéo tổ chức quần chúng, có thể chống Phụng, chống Hoản, chống Trực.

    Nhưng đừng ngu mà thách Quan Lũng.

    Trần hơi giật mình:

    – Vì sao anh nói thế?

    Tưởng nói:

    – Ba hệ kia dựa nhiều vào binh lực và chính trường.

    Nếu đánh trúng điểm yếu, có thể lung lay.

    Còn Quan Lũng dựa vào cơ sở hạ tầng, vào kinh tế thực nghiệp.

    Họ không chỉ có quân, mà có nền tảng nuôi quân.

    Đánh họ chẳng khác nào đánh vào chính mạch máu của quốc gia.

    Ông ngừng một lát rồi nói thêm:

    – Người làm đại sự phải biết chọn đối thủ.

    Chọn sai, tất tự hủy.

    II.

    So sánh anh hùng

    Trần Kỳ Mỹ hỏi:

    – Vậy trong bốn hệ, ai đáng trọng dụng nhất?

    Tưởng không do dự:

    – Quan Lũng.

    Ông tiếp:

    – Vương Thế Trân giữ quân Bắc Dương như trụ cột.

    Phùng Quốc Chương và Đoàn Kỳ Thụy tuy có dã tâm, nhưng vẫn nể Vương.

    Tào Côn, Ngô Bội Phu đều là tướng tài thực sự.

    So với họ, Mao hiện giờ chưa là gì.

    Trần trầm ngâm:

    – Anh đánh giá cao họ như vậy ư?

    Tưởng gật đầu:

    – Thời loạn cần người dám làm.

    Nhưng thời dựng nước cần người biết xây.

    Quan Lũng biết xây.

    Ông nói tiếp, ánh mắt xa xăm:

    – Ta không phủ nhận tương lai Mao có thể nổi lên.

    Nhưng hiện tại, hắn chưa sánh được với Vương, Phùng, Đoàn; còn chưa nói đến Tào Côn, Ngô Bội Phu.

    Muốn thành việc lớn, phải hiểu rõ tương quan ấy.

    III.

    Tưởng công như Tào Tháo

    Người đời sau từng ví Tưởng Giới Thạch khi ấy như Tào Tháo thời Tam Quốc: thực tế, lạnh lùng, biết nhìn người và biết đợi thời.

    Trong cuộc đối thoại hôm ấy, Tưởng không hề tỏ ý nóng vội.

    Ông nói với Trần Kỳ Mỹ:

    – Lực chưa đủ, chớ động.

    Hãy quan sát bốn hệ tranh nhau, nhưng đừng quên rằng ai giữ được đường sá, nhà máy, tài chính, người đó giữ được lâu dài.

    Trần Kỳ Mỹ gật đầu, trong lòng càng thêm suy nghĩ.

    IV.

    Bốn hệ trong mắt hải ngoại

    Tin tức từ trong nước tiếp tục truyền ra.

    Trực hệ mở thêm xưởng cơ khí.

    Hoản hệ tăng cường cải tổ pháo binh.

    Phụng hệ phát triển công nghiệp Đông Bắc.

    Quan Lũng mở thêm tuyến đường xuyên núi, bắc thêm cầu qua sông.

    Bốn hệ tuy phân, song đều chịu ảnh hưởng từ mô hình thực nghiệp của Quan Lũng.

    Tưởng nhìn bản đồ, khẽ nói:

    – Một khi thiên hạ quen với cơ giới và thương nghiệp, mọi cuộc nổi dậy nếu không có căn cơ kinh tế, tất chỉ như lửa rơm.

    Ấy thực là:

    Hải ngoại đàm binh luận thế cờ,

    Bốn phương phân hệ sóng ngầm đưa.

    Tưởng công nhìn thấu đường sinh tử,

    Quan Lũng nền sâu khó sánh vừa.

    Nhưng thiên hạ chưa định, nhân tâm còn biến.

    Mầm mống mới đang âm thầm lớn lên ở Tương Đàm, ở Hoàng Phố, ở những nơi chưa ai ngờ tới.

    Muốn biết tương lai họ Mao, họ Tưởng sẽ giao tranh hay cộng tác, và bốn hệ trong nước biến hóa ra sao,

    xin xem hồi sau sẽ rõ.
     
    Dân Quốc Chí Thông Tục Diễn Nghĩa
    Hồi 14: Trần thị cảm khái anh hùng chí - Lời sấm mơ hồ ứng họ Tưởng mai sau


    Lại nói, đêm ấy nơi đất Nhật, mưa lất phất rơi trên mái ngói.

    Trong căn phòng nhỏ, bản đồ Trung Hoa vẫn trải rộng.

    Trần Kỳ Mỹ nhìn Tưởng Giới Thạch đang trầm ngâm trước bản đồ, bất giác trong lòng dâng lên nhiều cảm khái.

    Tưởng không nói nhiều, song mỗi lời đều trúng chỗ trọng yếu.

    Không hô hào lớn tiếng, không vẽ vời mộng ảo, chỉ chăm chú tính toán căn cơ, lực lượng, thời cơ.

    Trần Kỳ Mỹ thầm nghĩ:

    – Người này thực tế như Tào Tháo năm xưa.

    Không câu nệ danh nghĩa, chỉ xét đại thế.

    Nếu có ngày binh quyền vào tay, e thiên hạ sẽ đổi khác.

    Trong ký ức Trần, bỗng hiện lên một câu sấm truyền từng nghe thuở trước, lời lẽ mơ hồ mà sâu xa:

    "Giang sơn phân hợp tại trung nguyên,

    Nhất mộc sinh phong định cửu thiên."

    Khi ấy chưa hiểu ý nghĩa, nay nhìn họ Tưởng – chữ "Tưởng" có bộ "mộc" – Trần bất giác rùng mình.

    Ông hỏi khẽ:

    – Anh có tin vào vận mệnh chăng?

    Tưởng Giới Thạch ngẩng đầu, ánh mắt bình thản:

    – Vận mệnh là do người tạo.

    Nhưng nếu biết thuận thời, thời sẽ thuận mình.

    Câu nói ấy càng khiến Trần Kỳ Mỹ thêm phần suy nghĩ.

    I.

    Bóng dáng tương lai

    Trần nhìn lại bốn hệ trong nước:

    Trực hệ, Hoản hệ, Phụng hệ – tuy mạnh, nhưng đều mang dấu ấn một thời.

    Mỗi hệ dựa vào một vùng, một đội quân, một phe cánh.

    Chỉ riêng Quan Lũng là khác.

    Họ không tự xưng anh hùng, nhưng từng bước mở nền tảng cho cả quốc gia.

    Đường sá thông suốt, nhà máy mọc lên, sơn hà liền mạch.

    Trần nói với Tưởng:

    – Nếu có ngày anh nắm binh quyền, điều quan trọng không phải đánh đổ từng hệ, mà là thu phục được căn cơ của họ.

    Tưởng hỏi:

    – Ý ông là Quan Lũng?

    Trần gật đầu:

    – Đúng vậy.

    Ai thu được Quan Lũng, người ấy mới thật sự nắm mạch sống thiên hạ.

    Tưởng im lặng hồi lâu.

    II.

    Lời sấm giữa sóng gió

    Đêm ấy, hai người đứng trên bến cảng nhìn sóng biển cuộn trào.

    Trần Kỳ Mỹ chậm rãi kể lại câu sấm truyền năm xưa.

    – Người xưa nói, sẽ có một người họ Tưởng, tay cầm binh hùng tướng mạnh, cuối cùng nhất thống sơn hà.

    Khi ấy ta cho là chuyện hoang đường.

    Nay nhìn anh, ta mới hiểu sấm truyền không phải vô căn cứ.

    Tưởng cười nhẹ:

    – Lời sấm chỉ là lời.

    Muốn thành, phải có lực.

    Trần đáp:

    – Lực có thể tụ.

    Quan trọng là chí.

    Ông nhớ lại những lời Sát Hãn từng nói về hai người cháu mình: "Gặp minh chủ, ắt công cao trong sự nghiệp."

    Nếu minh chủ ấy là Tưởng thì sao?

    Một luồng suy nghĩ lóe lên: tương lai, khi thiên hạ lại phân tranh, có thể Tưởng sẽ đứng giữa các hệ phái, dùng thực lực thu phục, thay vì phá hủy.

    III.

    Thu phục hay đối địch?

    Tưởng nói:

    – Nếu có ngày ta cầm quân, điều đầu tiên không phải là diệt hết bốn hệ, mà là khiến họ quy về một mối.

    Đặc biệt là Quan Lũng.

    Họ có kỹ nghệ, có hậu cần.

    Nếu thu được, thiên hạ như hổ thêm cánh.

    Trần hỏi:

    – Còn nếu họ không thuận?

    Tưởng đáp, giọng trầm mà cứng:

    – Khi đại thế đã định, người thông minh sẽ thuận.

    Câu nói ấy không mang sát khí, nhưng ẩn chứa quyết tâm.

    IV.

    Hình bóng Tào Tháo

    Trần Kỳ Mỹ bỗng nhớ đến Tào Tháo thời Tam Quốc.

    Khi quần hùng tranh bá, Tào Tháo không phải kẻ danh nghĩa cao nhất, nhưng là người biết trọng dụng nhân tài, biết xây nền tảng, biết giữ trung nguyên.

    Tưởng Giới Thạch trước mắt, tuy chưa có đại quân, song tư duy đã vượt khỏi cảnh cục bộ.

    Trần nói:

    – Anh giống Tào Tháo.

    Tưởng khẽ cười:

    – Tào Tháo thành công vì biết dùng người.

    Nếu ta có ngày ấy, cũng phải biết trọng người thực tài.

    Lời ấy khiến Trần Kỳ Mỹ càng tin rằng tương lai chưa hẳn thuộc về kẻ đang nắm quyền, mà có thể thuộc về người đang chuẩn bị.

    V.

    Gió lớn sắp nổi

    Tin tức từ trong nước truyền ra: bốn hệ tiếp tục âm thầm củng cố lực lượng.

    Quan Lũng mở thêm tuyến đường xuyên núi.

    Trực hệ củng cố Hoa Bắc.

    Hoản hệ tăng cường pháo binh.

    Phụng hệ giữ Đông Bắc.

    Thiên hạ nhìn bề ngoài yên ổn, nhưng gió lớn đang tích tụ.

    Trần Kỳ Mỹ nhìn Tưởng lần cuối trong đêm ấy, nói:

    – Nếu lời sấm ứng nghiệm, tương lai anh sẽ có binh hùng tướng mạnh.

    Khi ấy, nhớ rằng thiên hạ cần thống nhất, không cần thêm phân liệt.

    Tưởng không đáp, chỉ nhìn về phương Tây xa xăm – nơi quê hương đang đổi thay từng ngày.

    Ấy thực là:

    Sóng biển mênh mang ẩn chí cao,

    Sấm truyền mơ hồ ứng họ Tào.

    Mai sau binh mạnh thu Quan Lũng,

    Một mối giang sơn rạng sắc đào.

    Nhưng thiên hạ vốn vô thường.

    Lời sấm chỉ là bóng mây, còn vận mệnh phải qua phong ba mới định.

    Muốn biết mai sau họ Tưởng có thật thu phục Quan Lũng, hay lại sinh thêm biến số bất ngờ,

    xin xem hồi sau sẽ rõ.
     
    Back
    Top Dưới