Khác [Dã sử Việt] Đông Kinh năm ấy - Lê Thánh Tông, Phùng Chiêu nghi

[BOT] Wattpad

Administrator
25/9/25
59,383
0
0
260263345-256-k94935.jpg

[Dã Sử Việt] Đông Kinh Năm Ấy - Lê Thánh Tông, Phùng Chiêu Nghi
Tác giả: bonnienguyennnnn
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Hoàn thành


Giới thiệu truyện:

-

Tác giả: Bonnie Nguyen

-

Thể loại: truyện ngắn lấy cảm hứng lịch sử

-

Tình trạng: Đã hoàn thành

- Nhân vật chính: Lê Thánh Tông, Phùng Chiêu nghi

- Giới thiệu ngắn: "Đông Kinh năm ấy" lấy bối cảnh Đại Việt nửa cuối thế kỉ XV (khoảng từ cuối những năm Diên Ninh cho tới cuối những năm Hồng Đức).

Truyện xoay quanh Thánh Tông Phùng Hoàng hậu - Phùng Thục Giang và các sự kiện liên quan đến chính biến Thiên Hưng.

- Lưu ý: Các nhân vật chính và các sự kiện lớn đều được viết dựa trên chính sử.

Các tình tiết nhỏ hoặc các sự kiện không được ghi chép trong chính sử được viết theo sự tưởng tượng của tác giả.

Vui lòng không đánh đồng chính sử với nội dung được đề cập đến trong truyện.



vietnam​
 
Có thể bạn cũng thích
  • [DÃ SỬ] QUAN SAN NGUYỆT
  • [Dã sử Việt] THƯỢNG DƯƠNG
  • [Dã Sử Việt, Xuyên Không] Nửa Mạn Phong Ba
  • [Dã sử Việt] Một Kiếp Thiên Trường-Trần Quang...
  • [Dã sử/Xuyên không/BL] Xứ Lạc Việt - Quyển I: Đất...
  • [Dã Sử Việt] Nào Hay Xuân Mênh Mông
  • [Dã Sử Việt] Đông Kinh Năm Ấy - Lê Thánh Tông, Phùng Chiêu Nghi
    Phần mở đầu


    Vị Chiêu nghi cung Gia Hoà bừng tỉnh cơn mộng mị, trước mắt nàng chỉ là trần nhà với những cột gỗ lim nâu bóng đan xen, chồng chéo lên nhau.

    Những mảnh kí ức cũng đang đan xen, chồng chéo lên tâm trí nàng.

    Một giọt nước mắt khẽ chạm lên bờ mi còn run rẩy.

    Phùng thị ngồi dậy, kéo tấm chăn mỏng lên cao một chút để chặn lại ngọn gió đêm cuối thu.

    Thì ra, vô tình nhất chính là thời gian.

    Mới đó mà đã ngót nghét 20 năm rồi.

    Nàng của năm ấy mới mười ba, vô tình ném viên đá cuội làm ướt áo hai anh em nọ.

    Nàng của năm ấy mới mười bốn, nài nỉ kéo tay hai anh em nọ tới gặp người bạn từ thuở tấm bé.

    Nàng của năm ấy mới mười lăm, vấn tóc, thoa son, điểm má, bước chân vào phủ Bình Nguyên vương, mang theo niềm khát khao nhỏ nhoi lấy lại danh dự của mẹ, bỏ lại phía sau cánh cổng phủ những người bạn tâm giao.

    Nàng của năm ấy mới mười sáu, ngày ngày cần mẫn nấu nước, pha trà, têm trầu, bổ cau mà chờ đợi ở cung Tiềm để.

    Nàng của năm ấy sắp bước sang tuổi mười bảy, lại một lần nữa vấn tóc, thoa son, điểm má, lại một lần nữa bước qua một cánh cổng cao vút, xa lạ khác.

    Nhưng lần này, là cánh cổng Cung thành.

    Trước mắt nàng giờ là trường lang thăm thẳm, cũng là cả một đời đằng đẵng dõi theo bước người quân tử phía xa.

    Nàng của những năm tháng ấy từng có được những gì, nàng đã không còn nhớ nữa.

    Nàng của những năm tháng ấy từng đánh mất điều gì, nàng cũng đã quên rồi.

    "Từ nay sẽ gọi nàng là Diễm Quý.

    "Diễm" là hạt ngọc đẹp, "Quý" trong quý giá.

    Phùng Diễm Quý, nàng là hạt ngọc lấp lánh, vô giá của chốn hoàng cung này."
     
    [Dã Sử Việt] Đông Kinh Năm Ấy - Lê Thánh Tông, Phùng Chiêu Nghi
    CHƯƠNG 1: THIẾU THỜI


    Đông Kinh, Thái Hoà năm thứ sáu*

    *Năm 1448

    Gần trưa, chợ vãn hẳn người.

    Lác đác chỉ còn vài sạp hàng ế ẩm, mấy người bán hàng đang thu dọn nốt.

    Từ xa nhìn lại, người ta chỉ trông thấy đỉnh đầu của họ.

    Đầu cúi, lưng còng, họ cần mẫn vun hết đống hàng thừa vào hai cái sọt, quẩy gánh lên vai, không nói câu gì tiến về phía cổng thành.

    Thời tiết giá lạnh đã khiến mọi vật như đóng băng cả lại, đến khuôn mặt của mọi người cũng không lộ ra cảm xúc gì.

    Tất cả chỉ là sự khô cứng, lạnh lẽo.

    Mùa đông lạnh đến cắt da cắt thịt, cả đất trời phủ một màu trắng xoá mờ mắt.

    Đây là thứ màu sắc tinh khôi nhất, nhưng cũng là thứ màu sắc lạnh lẽo nhất trên đời.

    Gần trưa nhưng sương vẫn chưa tan hết, lảng vảng trước mắt người đi đường như một lớp bụi mờ ảo.

    Giữa lớp khói sương ấy, người ta thấy một đứa trẻ mới hơn sáu tuổi nhảy chân sáo, trong tay là mấy đồng xu lẻ, vui vẻ chạy tới gánh bánh dày của bà lão già.

    Lê Hạo đưa ánh mắt tò mò lướt qua mấy sạp hàng quanh lối đi, chỉ còn vài đống rễ rau, vài mảnh vải bố rách nát mà người ta đã chẳng thèm dùng đến nữa.

    Bước chân nó càng lúc càng nhanh hơn, tiến về phía cuối chợ.

    Phải nhanh lên thôi, nếu không bà sẽ bán hết hàng mất.

    Lê Hạo đã mất cả buổi sáng xin mẫu thân, để có thể được chạy ra chợ mua bánh dày như bây giờ.

    Bỗng nhiên đêm qua, khi cả bốn đứa trẻ con còn đang lăn lộn mãi chẳng ngủ được, An Hải nhắc đến bánh dày làm nó thèm đến cồn cào cả ruột.

    Nó nghĩ đến lớp vỏ bánh dày, dai, thơm lừng được nhào kĩ lưỡng từ bột nếp non, rồi lại nghĩ đến lớp nhân đỗ vàng ươm như nắng, lẫn trong ấy là mấy miếng mỡ béo ngậy.

    Chỉ mới nghĩ tới đây, Lê Hạo cứ thao thức không thôi.

    Cuối cùng nó vẫn nằm gác chân lên người An Hải mà ngủ.

    Nhưng chỉ cần tia sáng đầu tiên của ngày cuối đông ló ra, Lê Hạo đã bật ngược người dậy, nhanh nhanh chóng chóng chạy đi tìm mẫu thân.

    Nó đã bàn với An Hải rồi, chỉ cần ba đứa giúp nó xin mẫu thân, nó sẽ chia bánh cho cả ba anh em.

    Thế rồi Lê Hạo giằng cái chổi từ tay An Hải để quét sân chùa, giằng cái giẻ lau từ tay An Sơn để lau ban thờ, rồi lại giằng cả đống lạc trong tay An Hà để thay nó bóc vỏ.

    Cuối cùng thì nó cũng làm xong chừng ấy việc, mà ba anh em An Hải cũng thay nó xin được mẫu thân mấy đồng lẻ để đi mua bánh.

    Cầm tiền trong tay, Lê Hạo hí hửng chạy đi trước, không thèm đợi An Hải.

    Chẳng mấy mà cái bóng nhỏ xíu của nó đã mất dạng sau huyện người ngoài phố.

    Bà cụ bán hàng chỉ còn đúng hai cái bánh dày, chỗ xu lẻ mà Lê Hạo có cũng chỉ đủ mua nốt hai cái bánh ấy.

    Gương mặt bầu bĩnh của nó tiu nghỉu như bánh đa ngâm nước, mím môi nhận hai cái bánh từ tay bà cụ.

    Nó ngoan ngoãn chào bà cụ, hẹn bà hôm khác rồi quay người bước về phía chùa.

    Lê Hạo vừa bước dọc đường chợ, vừa nhẩm tính trong đầu.

    Cả nó và ba anh em An Hải là bốn đứa, nhưng chỉ có hai cái bánh thôi.

    Nó đã hứa sẽ chia bánh cho ba anh em, nó không thể nuốt lời được.

    Hơn nữa, mấy đồng xu này là do ba đứa xin cho Lê Hạo, chứ để tự nó đi xin thì mẫu thân còn cho nó mấy roi vào mông không chừng.

    Thôi mỗi đứa đành ăn nửa cái vậy.

    Lê Hạo nghĩ bụng, phải vừa ăn vừa thèm thì miếng ngon mới nhớ lâu được.

    Bụng bảo dạ, nó cất hai cái bánh vào trong ngực áo, xoa xoa bàn tay còn âm ấm lên má mình.

    Nó thích thú thở đằng miệng, một làn hơi toả ra xung quanh.

    Lê Hạo cảm thấy mình thật giống một tiên ông, có thể sử dụng phép thuật để giúp đỡ mọi người.

    Bỗng trước mặt Lê Hạo xuất hiện một đám đông láo nháo.

    Ở đây chẳng thấy người lớn nào cả, chỉ có khoảng chục đứa trẻ con, đứa nào đứa nấy cao hơn nó gần một cái đầu, đang tụ lại quanh thứ gì đó.

    Nó nghe tiếng bọn trẻ con cười cợt chế nhạo, chân chúng nó thi nhau đạp vào cái đống nằm ở giữa kia.

    Lê Hạo tò mò, mon men lại gần, giật mình nhận ra bọn nó đang vây quanh hai đứa trẻ khác.

    Nhưng nó bé quá, không thể kiễng lên để nhìn qua vai mấy đứa này được, nên đành cúi cúi người xuống ngó nghiêng qua chân bọn nó.

    Là hai đứa con trai.

    Đứa lớn hơn đang ôm đứa bé hơn, quay đầu ra đúng lúc gặp ánh nhìn hiếu kì của Lê Hạo.

    Lần đầu tiên trong cuộc đời, Lê Hạo nghĩ rằng có thể dùng từ cầu cứu để miêu tả ánh mắt của đứa lớn lúc ấy.

    Tựa như có một nguồn động lực to lớn thúc vào sau lưng, Lê Hạo đứng thẳng người, chống nạnh quát to.

    "Này mấy đứa kia, sao lại cậy đông bắt nạt người yếu thế?"

    Tiếng cười im bặt, cả đám trẻ con không động tay động chân nữa, từng đứa một quay người lại nhìn Lê Hạo.

    Đến khi nhận ra chủ nhân của giọng nói đanh thép ấy là một đứa trẻ con còn bé hơn bọn nó, tiếng cười đùa lúc nãy lại ồ lên nhưng lần này vang hơn, dài hơn, như muốn chế giễu vào cái tính anh hùng rơm của Lê Hạo.

    Tự nhiên, trong người Lê Hạo có một cơn tức giận ùa lên, nó xông tới, húc đầu mình vào bụng đứa béo nhất đám.

    Thằng béo bị đòn bất ngờ, lùi ra sau mấy bước, chới với suýt ngã vào đám rễ rau cạnh đấy.

    Giữ được thăng bằng rồi, thằng béo ba máu sáu cơn đứng thẳng người, đẩy uỵch một cái vào vai Lê Hạo, khiến nó ngã dúi dụi, đầu va vào thanh gỗ người ta dựng ở đó để chăng mái.

    Thằng béo còn định lao đến chỗ Lê Hạo lần nữa cho bõ cơn tức thì bị thằng lớn nhất đám ngăn lại.

    Thằng lớn nhìn thứ gấm vóc Lê Hạo đang mặc trên người, lại nhìn lên cái trán đã bắt đầu rỉ máu của nó, thì thầm vào tai thằng béo rồi hất tay.

    Cả đám trẻ con chục thằng chạy biến về phía cuối chợ, không ngoái đầu lại.

    Phải một lúc sau, Lê Hạo mới định thần, nhận ra bọn nó đã đi hết, chung quanh im lìm, chỉ có tiếng gió sột soạt.

    Nó sờ tay lên trán thì thấy máu đã thấm đầy đầu ngón tay.

    Nhưng cơn đau và nỗi sợ chưa kịp đến thì đập vào mắt nó là hai đứa trẻ con từ nãy đến giờ vẫn đang ôm nhau nằm co ro trên đất.

    Nó bò lồm ngồm ra chỗ ấy, lay lay người chúng nó.

    "Này, này, hai anh ơi, hai anh có sao không?"

    Lê Hạo dùng hai tay hai chân để bò về phía chúng nó chứ chẳng kịp đứng thẳng lên.

    Nếu không phải lúc nãy nhìn thấy ánh mắt của đứa lớn vô cùng thảm thiết, thê lương, Lê Hạo đã nghĩ rằng đây là hai xác chết.

    Chúng nó hoàn toàn không phản ứng gì khi Lê Hạo chạm vào người.

    Đến lúc này thì Lê Hạo hoảng sợ thật.

    Nó ra sức lay hai cơ thể đang quấn chặt lấy nhau ấy để chúng nó nhúc nhích, hoặc ít nhất là dựng được chúng nó thẳng dậy.

    Hình như đây là hai anh em.

    Đứa anh ôm chặt đứa em, dùng cả thân thể lớn hơn của mình để che chở cho em.

    Lê Hạo lay mãi, lay mãi đứa lớn mới phản ứng một chút.

    Lê Hạo phải dùng hết sức mới kéo được hai đứa nó ngồi dậy, dựa lưng vào cái cột ọp ẹp phía sau.

    Sức của một đứa trẻ mới sáu tuổi, lại vừa bị một đám lớn hơn bắt nạt, giờ còn phải kéo hai đứa này ngồi dậy, đã hoàn toàn cạn kiệt.

    Lê Hạo ngồi bệt xuống đối diện hai đứa chúng nó, thở hổn hển.

    Đứa anh nhìn Lê Hạo đầy ái ngại, nhưng không biết nên làm gì, cũng chẳng biết nên nói gì, chỉ biết thì thào trong họng "Đội ơn cậu."

    Mặt mũi chúng nó bê bết bùn đất, lẫn giữa bùn đất còn nhằng nhịt cả những vết xước rơm rớm máu.

    Làn da chúng nó trắng bủng trắng beo.

    Đây không phải làn da trắng mịn màng như mẫu thân, cũng không phải làn da trắng hồng như quả đào giống Lê Hạo.

    Nó chắc chắn đây không giống làn da của người sống mà giống mấy xác chết trôi người ta hay vớt được ở dưới sông lên hơn.

    Lê Hạo nhìn những mạch máu chỗ đỏ, chỗ tím loang lổ trên gương mặt, trên bàn tay, trên bàn chân, trên bất cứ chỗ nào lộ ra khỏi lớp quần áo của chúng nó.

    Nó nhìn lớp áo quần mỏng tang, vá nhằng vá nhịt, rách nát thảm thương hai đứa đang mặc trên người rồi nhìn lại lớp áo bông của mình.

    Thì ra làn da của chúng nó trông như con ma da* vậy là do mặc không đủ ấm.

    *Người chết đuối biến thành ma quỷ làm loạn dưới nước.

    Lê Hạo nhìn anh em nó đến ngẩn cả người.

    Nó biết trong cuộc sống có người giàu, có người nghèo, có người sống sung sướng từ tấm bé, như các anh của nó, có người hồi bé tí không sướng lắm nhưng giờ cũng sung sướng như nó, nhưng có người thì từ hồi còn nhỏ xíu đã phải sống khổ sở như anh em nhà này.

    Lê Hạo thì chỉ việc ăn, học chữ, chơi với ba anh em An Hải rồi làm việc nhà.

    Từ bé đến giờ, nó chưa bao giờ phải chịu sự thiệt thòi nào.

    Thậm chí đến bây giờ, ba anh em An Hải cũng phải khom lưng, cúi đầu với nó y như với mẫu thân.

    Nhưng nhìn hai anh em này mà xem.

    Đứa anh chắc tầm tuổi anh Nghi Dân của nó, còn đứa em chắc bằng tuổi nó, nhưng ngồi cạnh thì bé hơn hẳn Lê Hạo.

    So với cái dáng béo tròn của Lê Hạo, trông đứa em không khác gì cây tò hè mà ông cụ già tóc bạc hay nặn mỗi khi có lễ có hội.

    Thằng cu vừa bé, vừa gầy lại vừa mỏng manh, cảm tưởng chỉ cần ai đó lỡ tay là người nó sẽ gãy làm đôi y như tò he vậy.

    Tự nhiên nó thấy hai anh em nhà này thật đáng thương.

    Nó chợt nhận ra đây là cảm giác những đứa trẻ con muốn bảo vệ nhau.

    Vậy mà cái lũ mất nết kia lại dám đánh người ta ra nông nỗi này.

    Đứa anh ho khù khụ, đôi mắt mệt mỏi muốn cụp xuống.

    Lúc ấy Lê Hạo mới thấy đôi mắt đứa em có rung động.

    Nó vỗ vỗ lưng anh mình, bặm môi không biết nên nói gì.

    Đứa anh thở chẳng ra hơi, trong cơn ho lại hắt xì một cái, máu mũi cứ thế ào ào chảy xuống.

    Đứa em càng cuống hơn, nhưng vẫn nhất quyết không hé răng nửa câu.

    Lê Hạo không biết làm thế nào, đành rón rén bò lại gần, thì thầm với chúng nó.

    "Cậu phải đưa anh cậu tới thầy lang thôi."

    Đứa em ngước mắt lên lườm nó, khiến Lê Hạo giật mình ngồi ngửa ra phía sau né tránh ánh nhìn ấy.

    Rõ ràng nó chỉ là một đứa trẻ con giống Lê Hạo, nhưng đôi mắt của nó thật khác biệt.

    Đôi mắt của nó rất đẹp, nhưng cũng rất buồn.

    Lê Hạo nhìn vào sâu thẳm con ngươi đen láy ấy, nó như thấy được một thứ ánh sáng trong suốt như viên mã não.

    Viên mã não ấy đang nứt vỡ thành hàng ngàn những mảnh nhỏ xíu như dằm gỗ cứa vào đôi mắt người đối diện.

    Nó ngớ người mất vài khắc, rồi mới nhận ra mình thật vô duyên.

    Trông hai anh em nhà nó thế này, mùa đông còn phải đi chân đất, lại bị đám trẻ con kia bắt nạt, cơm chưa chắc đã được ăn, lấy đâu ra tiền để đi chữa bệnh.

    Lê Hạo ngượng chín mặt.

    "Nhưng sao mấy đứa đó lại bắt nạt anh em cậu vậy?"

    "Anh trai muốn tìm đồ ăn thừa nhưng chúng nó bảo chúng ta là lũ mồ côi ăn cắp."

    Đứa em mím chặt môi, nói như gằn ra từng lời trong cổ họng.

    Hẳn là nó phải uất ức lắm, giọng nói mới vừa run rẩy, vừa căm phẫn như thế.

    Lê Hạo không biết nên làm thế nào cả.

    Hai đứa trẻ này đáng thương quá.

    Vừa bị đói, vừa bị rét, lại bị bệnh, lại không có tiền, lại còn bị mấy đứa trẻ con lưu manh đổ oan.

    Đột nhiên Lê Hạo cảm thấy hơi ấm đang toả ra từ trong ngực áo mình.

    Dù trong lòng vô cùng tiếc nuối, nó cũng hào phóng lôi hai cái bánh dày ra, ấn vào lòng đứa em.

    "Tôi không có tiền, tôi chỉ có bánh thôi.

    Hai người ăn đi đã, tôi vừa mới mua đấy.

    Đừng đi đâu cả, đợi tôi một lát tôi sẽ tìm người tới giúp."

    Nói rồi, Lê Hạo đứng bật dậy, phủi phủi áo quần.

    Trước khi biến mất sau những sạp hàng chằng chịt trong chợ, nó vẫn không quên dặn hai anh nọ "Đừng có đi linh tinh, tôi sẽ quay lại ngay!"

    Nhưng khi Lê Hạo kéo được An Hải tới nơi thì chợ đã chẳng còn ai nữa.

    Nó nhớn nhác nhìn ngang ngó dọc, chỉ thấy miếng lá chuối gói bánh chỏng chơ ở chỗ vừa nãy ba đứa ngồi với nhau.

    An Hải liếc qua, không nhịn được cơn tức, chửi thề một câu, rồi nhanh chóng bịt kín miệng vì biết mình vừa làm sai.

    Lê Hạo quay ra cười cười bắt thóp được An Hải.

    Nhưng từ bé đến giờ, nó lúc nào cũng nhường An Hải vì cái vẻ cao ngạo, lạnh lùng lúc nào cũng treo giữa mặt kẻ này.

    An Hải kéo một bên mép lên, lệch cả một bên mũi, cố gắng trưng ra trên mặt vẻ bực bội nhất có thể.

    "Cậu Hạo của tôi ơi người ta ăn bánh của cậu xong còn không thèm để lại một lời cảm ơn nữa.

    Tôi về mách phu nhân thì lại ăn no đòn cùng cậu."

    An Hải cúi xuống nhặt miếng lá chuối, tung tẩy đưa đi đưa lại trêu ngươi trước mặt Lê Hạo.

    Lê Hạo không thèm để ý đến cái dáng vẻ kiêu căng của An Hải, đứng mím môi suy nghĩ, không biết hai anh em nhà kia đã chạy đi đâu mất rồi.

    Hai đứa nó đang bị thương, đứa lớn vừa nãy còn bị chảy máu mũi nữa.

    Bộ dạng của đứa lớn ấy xem chừng không ổn chút nào.

    Nếu không nhanh đưa nó đi khám thầy lang, Lê Hạo chỉ sợ nó sẽ mất máu mà chết mất.

    Nó lại sờ sờ lên chỗ trán vừa được băng lại.

    Cũng vì An Hải lôi nó đến chỗ thầy lang băng bó lâu quá, nên chắc hai anh em nhà kia không đợi được nó, đành dắt nhau đi chỗ khác rồi.

    Lê Hạo chưng hửng, lại quay ra nguýt dài An Hải một cái.

    Cái thói kiêu ngạo của tên này ngấm vào sâu tận trong máu từ bé, Lê Hạo chẳng bao giờ thèm chấp.

    Kể cả trong cái lần đầu tiên gặp An Hải, dù mặt mũi cả ba anh em nhà nó đều nhem nhem nhuốc nhuốc như vừa được sư thầy lôi từ bãi rác ra, thì trên người An Hải vẫn toả ra sự kiêu căng khó gần hơn hai đứa em.

    Lê Hạo lại nghĩ đến đứa em lúc nãy.

    Nó cũng khó gần.

    Trên người nó toả ra một thứ áp lực khiến Lê Hạo không dám tiến tới.

    Thứ áp lực ấy dường như nóng giãy, có thể khiến đôi tay bỏng rát khi chạm vào.

    Đó không phải là sự kiêu ngạo giống An Hải.

    Lê Hạo cảm giác thằng bé đó cố tình xa lánh mọi người vì không muốn phiền đến ai, trong khi chính cái sự xa lánh của nó mới khiến anh em nó khổ sở vậy.

    Thế giới của thằng bé đó ngăn cách với thế giới của mọi người bằng một bức tường vô hình, bỏng rát và cứng cỏi.

    Nhưng trước giờ, Lê Hạo luôn là một đứa hết sức vô tư, hết sức tích cực.

    Cái chưng hửng nhanh chóng tan biến đi khi Lê Hạo nghĩ đến hai cái bánh dày mà nó đã nhường cho hai đứa.

    Nó thực sự vui vẻ khi nghĩ rằng anh em nhà đó ăn đã ăn bánh dày của nó, vậy thì ngày hôm nay hai đứa sẽ không bị đói bụng nữa rồi.

    Lê Hạo mở cờ trong bụng, mặc kệ An Hải đứng đực ra như phỗng, nó quay người về phía chùa Huy Văn, vừa đi vừa huýt sáo.

    ——

    Người thiếu phụ tầm ngoài ba mươi lặng lẽ bước từng bước chậm rãi về phía thành Xương Giang xa xa.

    Vạt áo giao lĩnh lam khói thi thoảng lại phất phơ trước gió, chiếc nón quai thao che gần kín gương mặt, chặn đứng cái nhìn tò mò của mấy kẻ hiếu kỳ hai bên đường.

    Tay trái thị kéo dây cương ngựa, tay phải nắm chặt bàn tay của đứa con gái nhỏ chỉ mới hơn mười tuổi đang lẽo đẽo, cố gắng vừa như đi vừa như chạy cho kịp bước chân mẹ.

    Mấy gia đinh cũng xuống dắt ngựa, chầm chậm đi sát theo mẹ con họ.

    "Thục Giang có thích học cưỡi ngựa không?"

    Đứa con gái nhỏ giật mình khi bất ngờ nghe mẹ gọi tên.

    Nó níu lấy cánh tay rồi nhoài người về phía mẹ khiến dây xà tích đeo ở thắt lưng va vào nhau vang lên vài tiếng leng keng.

    Đôi mắt nó tròn xoe nhìn mẹ không rời, tựa như chuyện được học cưỡi ngựa là chuyện tuyệt vời nhất nó từng được nghe.

    "U vừa gọi con ạ?"

    Bước chân người thiếu phụ dừng hẳn lại, mặc cho sỏi đá dưới chân lạo xạo khô khốc.

    Thị nhìn đứa con gái nhỏ của mình hồi lâu, rồi lại đưa mắt về phía cổng thành cao lớn phía trước.

    Ánh mắt thị phủ đầy một màn khói bụi dặm trường chinh chiến như chính tòa thành cũ kỹ này.

    Cơn gió xuân hây hẩy không giúp không khí ấm áp hơn là bao.

    Nó chỉ khiến cho bụng dạ người thiếu phụ nhộn nhạo chẳng yên, giống như cảm giác xóc nảy nhưng sảng khoái khi thả hồn mình trên yên ngựa.

    "Con gái họ Trần, không ai không từng rong ruổi trên lưng ngựa giữa những cánh đồng bao la.

    Nhưng Thục Giang lại họ Phùng..."

    Giọng thị ngày một nhỏ đi.

    Những lời cuối cùng hoà vào bụi bặm hai bên đường, nương theo ngọn gió cuốn đi xa mãi.

    Đứa con gái nhỏ cố căng tai lắng nghe những lời mẹ nó nói.

    Nhưng nó không nghe thấy gì cả ngoài tiếng gió vun vút bên tai hoà với tiếng nước sông Thương thi thoảng lại ùa vào từng đợt.

    Kể từ khi biết để ý, nó đã nhận ra, đôi khi mẹ nó sẽ trầm mặc như vậy, thầm thì như vậy.

    Lắm lúc, nó còn tưởng bà đang trò chuyện với hư vô.

    Người ta đang kéo nhau ra bờ sông hát giao duyên, trao nhau những lời tình tứ bên dòng sông quan họ nhưng người thiếu phụ chỉ thẩn thơ, đưa ánh mắt mơ hồ về phía toà thành trì nhuốm màu khói lửa.

    Đôi tay bà lơi dần, bước chân vô định nhưng dứt khoát tiến về phía cổng thành Xương Giang.

    Đã mấy mùa thanh minh, Thục Giang đều lẽo đẽo theo sau mẹ về lễ bái ở Xương Giang như thế.

    Xương Giang chẳng phải quê thầy, cũng chẳng phải quê mẹ, càng chẳng phải nơi cả họ Phùng nhà nó đang ở.

    Nhưng có một sợi dây vô hình nào đó luôn cột chặt Xương Giang với mẹ nó.

    Và mẹ nó, lại cột chặt sợi dây ấy vào cuộc đời nó.

    Nó như bị mê hoặc bởi cái nắng, cái gió, cái bụi đường, cái màu sương khói, cái mùi chiến chinh luôn luẩn quẩn vương vấn lấy toà thành này.

    ———

    Hết chương 1.
     
    [Dã Sử Việt] Đông Kinh Năm Ấy - Lê Thánh Tông, Phùng Chiêu Nghi
    CHƯƠNG 2: GẶP GỠ


    Thời gian thấm thoắt thoi đưa, chẳng mấy chốc mà đứa con gái nhỏ tóc buộc một chỏm ngắn xíu đã tới tuổi cài trâm, chẳng mấy chốc mà đứa con trai bé ngày ngày chơi đùa khắp nơi đã tới tuổi đọc sách thánh hiền.

    Mùa vẫn nối mùa qua đi, cây cứ đều đặn thay lá, người cứ ngày một lớn lên.

    Thành Đông Kinh đủ rộng lớn để có những người cả đời chẳng chạm mặt nhau dù sống ngay dưới chân Thiên tử, nhưng thành Đông Kinh cũng đủ nhỏ bé để những số phận vô tình va phải nhau.

    Thục Giang ngó nghiêng ra ngoài cửa sổ xe ngựa, nhìn thấy bóng chiều đã sắp phủ đầy mặt nước Nhị Hà.

    Nàng ngồi yên vị, mon men quàng lấy tay người bên cạnh.

    "U, u cho con xuống đây một lát nhé!

    U về trước đi!"

    Đứa con gái quay sang hỏi mẹ khi xe ngựa vừa đến bến Hàm Tử.

    Thiếu nữ chớp chớp mắt, nhoẻn miệng cười, lấp ló hàm răng trắng.

    Mười ba tuổi rồi, cũng không còn là trẻ con nữa.

    Thị gật đầu đồng ý trong vô thức vì đang mải mê đuổi theo một miền suy tư xa xôi.

    Thị đang cố vẽ ra trong đầu hình ảnh của một người tướng quân đầu đội trời, chân đạp đất.

    Thị đang cố vẽ ra trong đầu hình ảnh của một biệt phủ rộng lớn, với những cột nhà đóng từ những cây lim, cây táu lớn nhất rừng núi Sơn Đông.

    Thị đang cố vẽ ra trong đầu hình ảnh của những tốp người hầu tíu tít gánh gồng, cười nói ở cổng phủ.

    Nhưng thị càng cố gắng bao nhiêu, những hình ảnh đó càng mờ mịt đi bấy nhiêu.

    Khi bàn tay đứa con gái nhỏ tuột hẳn khỏi tay mình, người thiếu phụ mới giật mình ngẩng lên.

    Cái mùi ngai ngái này là mùi nước sông Nhị, không phải mùi nước sông Thương.

    Thị vội vã vén rèm, nhìn bóng lưng nhỏ xíu của hai đứa nhanh chóng khuất sau hàng người dài gánh gồng tan buổi chợ muộn.

    Bỗng dưng, lòng thị dâng lên một cảm giác mất mát như vừa để tuột mất một món đồ vô cùng quý giá.

    Phùng Thục Giang nhảy khỏi xe ngựa, cài chặt quai nón quai thao xuống cằm, rồi kéo tay đứa hầu gái tên Ngọc chạy về bãi đá phía tả Nhị Hà.

    "Cô ba, mấy hôm trước em có nghe bà bảo rằng, sắp tới sẽ cho cô sang nhà thầy Thả để nhuộm răng đó..."

    Con bé ậm ừ, như thể còn điều muốn nói nhưng chưa biết phải nói ra sao.

    "Bà bảo nhuộm răng rồi còn... gả cô đi...

    Cô ba, cô cho em đi theo cô có được không?"

    Thục Giang quay lại nhìn con bé, nhưng vẫn nắm chặt tay nó, bước chân vẫn hướng thẳng ra phía bãi bồi.

    Cái Ngọc cứ vân vê tay áo, hết nhìn đôi chân bé tí đang ngọ nguậy trong guốc, lại quay lên nhìn nàng.

    "Em không định lấy chồng à?

    Đi theo chị thì làm sao lấy chồng được."

    Cái Ngọc ngẩn người.

    Từ hồi còn bé xíu tới giờ, nó chỉ biết quanh quẩn trong góc phủ quan, ngày ngày bám riết không rời đứa con gái thứ ba của quan lớn.

    Nó chưa từng nghĩ đến chuyện lấy chồng.

    Trong đầu óc non nớt của con bé chỉ nghĩ đến một chuyện, là được sống bên cạnh Thục Giang như bấy lâu nay.

    "Đừng nghĩ rằng chị không biết nhiều chuyện u âm thầm làm, em cũng biết nhưng toàn giấu chị."

    Nói rồi Thục Giang đi thẳng ra mép sông.

    Nàng nhìn cây gạo đúng chỗ bãi bồi đang bắt đầu bung ra những chùm hoa đỏ rực, có vẻ lừng chừng.

    Nàng nhớ có lần từng được nghe anh cả kể rằng cây gạo nào cũng có ma.

    Hồi còn bé, khi anh cả chưa lấy chị dâu, ba anh em vẫn hay ngủ cùng nhau.

    Anh cả thường kể cho nàng và chị hai bao nhiêu chuyện ma quỷ thần thánh trên trời dưới biển.

    Nàng há hốc mồm trước giọng kể cuốn hút như từng được tận mắt chứng kiến ma quỷ của anh cả.

    Dù bây giờ ba anh em đã lớn, anh cả đã có con đàn cháu đống rồi, nhưng Thục Giang vẫn nhớ như in mấy chuyện ma mà anh cả cứ hay kể đi kể lại.

    Thần cây đa, ma cây gạo, cú cáo cây đề.

    Loài cây đẹp rực rỡ thế này mà có con ma nào trú ngụ, thì chắc hẳn cũng là một yêu tinh xinh đẹp tuyệt trần.

    Nghĩ vậy, nàng mới vén váy quá gối, tháo guốc qua một bên, nửa ngồi nửa nằm tựa vào thân cây gạo.

    Nếu đây là nhà của một yêu nữ xinh đẹp như vậy, chắc hẳn yêu nữ ấy sẽ không nỡ làm hại nàng.

    Bàn chân trắng trẻo ngọ nguậy, tưởng như sắp chạm tới những đợt sóng đang thi thoảng vỗ bờ.

    Nàng đưa tay vơ mấy viên sỏi bên cạnh, chốc chốc lại lia xuống mặt sông.

    Mỗi viên sỏi được ném ra, ráng vàng trên mặt sông lại vỡ tan, biến thành vô số vòng sóng nước nhỏ lan rộng dần vào hai bên bãi.

    Cái Ngọc rón rén ngồi bó gối phía sau, không dám nói gì nữa.

    Nó cũng như Thục Giang thôi, đâu hiểu lý do bà lớn muốn nó học võ.

    Bà vú dặn nó rằng biết võ để bảo vệ tiểu thư, nhưng không được để tiểu thư biết.

    Thậm chí, thầy dạy võ còn dạy nó cách sờ vào xương cốt để phát hiện chấn thương, rồi thầy còn dạy nó cách nắn xương cơ bản.

    Có lẽ tiểu thư muốn nhắc đến những chuyện này.

    Giờ tiểu thư biết nó giấu giếm, nói dối như vậy, chắc hẳn sẽ giận nó rất nhiều.

    "Này!

    Sao lại có kẻ bất cẩn như vậy kia chứ!"

    Tiếng hô hoán khiến cái Ngọc giật mình quay về phía ấy, khiến cánh tay Thục Giang đang giơ lên định ném một viên sỏi khác cũng khựng lại giữa không trung.

    Mắt nàng dán vào hai thiếu niên đang bước gần tới.

    Gương mặt họ bị bóng tối chắn ngang, nhưng xem chừng cũng không hơn Thục Giang mấy tuổi.

    Nàng bật dậy, vội vã ném nắm sỏi xuống chân, phủi phủi váy.

    Nàng kéo cái Ngọc ra phía sau mình, miễn cưỡng nở một nụ cười với hai thiếu niên kia.

    Họ cao hơn nàng đến cả một cái đầu, trên người khoác lên thứ gấm vóc được nhuộm màu kĩ càng, hoa văn thêu thùa cầu kì, tinh tế.

    Chỉ cần nhìn qua đã biết thứ gấm vóc ấy vô cùng đắt tiền, khẳng định rằng hai thiếu niên này có xuất thân không hề tầm thường.

    "Do tôi không để ý, là lỗi của tôi."

    Kẻ mặc áo gấm đen lên tiếng.

    Dáng vẻ chững chạc, khuôn mặt góc cạnh như khắc tạc dưới ráng chiều của hắn toả ra thứ áp lực khiến người khác không khỏi e dè.

    "Vậy cô đây định làm gì để chuộc lỗi với hai anh em tôi?"

    Trên gương mặt hắn không hề xuất hiện nét đùa cợt nào.

    Đôi mắt đen sâu thẳm như những bức tượng được đẽo gọt tỉ mỉ trong mấy ngôi đền miếu.

    Cách hắn nhìn vào mắt người đối diện như một vực thẳm vô hình cuốn sâu người đó vào.

    Không thấy nàng trả lời, hắn hơi nghiêng đầu, khoé môi khẽ nhếch lên chờ đợi.

    Hắn không vội vàng, cũng không sốt sắng, nụ cười càng lúc càng quái dị, chỉ kiên nhẫn đứng đó nhìn chằm chằm vào hai thiếu nữ trước mặt.

    Cái Ngọc đứng sau Thục Giang, khẽ giật giật vạt áo.

    Gương mặt con bé vừa sợ sệt, vừa tò mò, cứ len lén nhìn hai kẻ đó qua bờ vai gầy phía trước.

    Nhưng đối lập với vẻ không đường hoàng của kẻ kia, cũng khác hẳn vẻ gấp gáp của đứa hầu gái, Thục Giang chỉ đưa mắt nhìn mặt trời đang ngả dần về tây, rồi lại nhìn về phía nội thành, nơi khói lam chiều đang bắt đầu vi vút bay lên từ những mái nhà, nhìn thẳng vào hắn, nụ cười vẫn thường trực trên môi.

    "Tiểu nữ họ Phùng.

    Hôm nay bất cẩn như vậy, mong hai cậu bỏ quá cho.

    Còn nếu lời xin lỗi chưa được chấp nhận, xin hai cậu chỉ dạy thêm sao cho phải.

    Xem chừng đã tới giờ cơm, xin hai cậu cho chị em tôi về, kẻo thầy u mong."

    "Cô có biết, thiếu nữ để lộ chân trần trước mặt nam tử nghĩa là sao không?"

    Hắn nghe dứt câu, khẽ cười, nhưng nụ cười không còn tà ma như lúc trước mà hết sức đơn thuần.

    Hắn lắc lắc đầu, nhìn đôi chân trần trắng nõn của nàng đang ngọ nguậy dưới đất.

    "Tiểu thư nên đi dép vào trước, kẻo có người lại ngẩn ngơ theo gót hồng."

    Thục Giang chưa đủ lớn để hiểu hết hàm ý trong lời nói của hắn, chỉ ngượng ngùng vì nhận ra bản thân vừa thiếu tế nhị, vừa không duyên dáng.

    Hắn nhìn mãi cũng chỉ nhìn thấy đỉnh đầu của thiếu nữ đối diện, đành chịu thua, bất lực thở dài.

    "Thôi không đùa nữa!

    Phùng tiểu thư, có duyên ắt gặp lại."

    Nghe được lời ấy của hắn, Thục Giang thở phào.

    Nàng lí nhí một câu "Đội ơn hai cậu!" rồi một tay nhấc guốc, một tay kéo cái Ngọc, ba chân bốn cẳng chạy vội về phía cửa Đông Hoa.

    Chưa bao giờ nàng vội vàng như thế vì còn đang sợ sẽ bị hai kẻ đó giữ lại thật.

    Kẻ khù khờ nhất khi nhìn vào hai thiếu niên đó cũng sẽ nhận ra rằng dây dưa vào họ không phải là một việc sáng suốt.

    Khi bóng dáng hai thiếu nữ đã khuất hẳn, hai thiếu niên mới khoát tay nhau ngồi xuống đúng chỗ gốc gạo.

    "Anh thích trêu đùa, nhưng cũng phải đúng lúc chứ!

    Trông vậy thôi, anh doạ cho con gái nhà người ta sợ xanh mắt mèo rồi đấy!"

    Người áo lam vừa nói, vừa cười, vừa phe phẩy chiếc quạt trong tay.

    Dáng vẻ thư sinh, thoát tục của người này trái ngược hoàn toàn với kẻ áo đen bên cạnh.

    Chàng nheo mắt nhìn về phía lòng sông, những gợn nước đang vẽ ra vô số hình hài lạ lùng.

    Giữa khung cảnh mờ mờ ảo ảo của ráng chiều, khi những ánh nắng cuối ngày đang hoạ lên nền trời những đường nét sáng rực tầng tầng lớp lớp khi hồng, khi cam, khi sương bắt đầu buông dần xuống những nhánh cây ngọn cỏ, kẻ áo đen lôi từ trong túi ra hai chum rượu nhỏ, hất hàm với người áo lam.

    "Chú nghĩ Lê Nghi Dân biết đùa à?

    Không vì muộn rồi, nhất định hôm nay anh sẽ bắt hai cô đó ở lại giặt áo cho anh em ta."

    Kẻ áo đen cười sang sảng, tiếng cười như chuông như khánh vang vọng khắp một khoảng bãi sông.

    Tiếng cười của hắn mang đầy vẻ phóng khoáng của trời đất, lại mang cả sự hào sảng trong chính con người hắn.

    Người áo lam không nói gì, nụ cười hiền lành chưa lúc nào nhạt trên môi.

    Chàng luôn thấy mình giống cơn gió thoảng qua cuộc đời gai góc của anh trai, dù có đi đâu xa, vẫn có tiếng cười anh trai là hoa tiêu đánh dấu để chàng biết tìm đường trở về.

    "Khắc Xương, chú cứ như vậy với đám con gái, bảo sao mật ngọt chết ruồi, ha ha.

    Nhưng cũng phải công nhận Phùng Văn Đạt khéo nuôi con gái quá!"

    Câu nói cuối cùng của Lê Nghi Dân hoà lẫn vào tiếng sóng nước vỗ đôi bờ Nhị Hà, không nghe rõ ra thứ cảm xúc gì đang ẩn giấu bên dưới.

    Hắn nhấp một ngụm rượu, rồi cứ lặng lẽ ngồi như vậy mà đợi cho ánh tịch dương buông hẳn, để bản thân hắn hoà lẫn vào bóng đen của vạn vật xung quanh.

    ——

    Phùng Thục Giang hớt hải kéo tay đứa hầu gái chạy trên con đường đất quen thuộc.

    Vầng trán lấm tấm mồ hôi, mồ hôi cũng túa ra ướt cả lòng bàn tay.

    Nàng không biết hai thiếu niên kia là con nhà nào, nhưng rõ ràng không thể dây dưa với họ quá lâu, nhất là kẻ áo đen.

    "Cô ba, cô biết hai cậu ấy à?"

    Bước chân Thục Giang hơi khựng lại, nhưng câu hỏi của cái Ngọc không có ai đáp lời.

    Qua được ô Đông Hoa, nàng mới buông cổ tay nó, mặc kệ nó thất thểu bước thấp bước cao phía sau.

    Nàng thực sự lo rằng sẽ bị hai kẻ đó giữ lại.

    Hình như nàng mơ hồ nhận ra cuộc gặp gỡ chóng vánh vừa rồi không chỉ là vô ý, mà hình như là hữu tình.

    Đi một đoạn, nàng mới nhớ tới lời cái Ngọc.

    U định đưa nàng sang nhà Phương Liên để nhuộm răng, rồi dựng vợ, gả chồng gì đó.

    Con bé nói với nàng như vậy thì phải.

    "Ngọc, em nói u muốn gả chị đi.

    Là gả vào nhà ai, em có biết không?"

    Con bé bặm môi nhìn nàng, chần chừ mãi rồi đành ghé sát vào tai nàng, thủ thỉ.

    "Hôm trước bà mời thầy bói vào phủ.

    Em hỏi mãi vú mới kể đấy.

    Thầy bói bảo mệnh cô phải lấy người mệnh Mộc.

    Nhưng có vẻ bà không ưng."

    Con bé đi sau nàng, rủ rỉ hết những chuyện mà vú nói với nó về ông thầy bói ấy.

    Ra là u nghe ông thầy ấy phán, cũng bán tín bán nghi, nên mới âm thầm nghe ngóng xem có con trai nhà nào quanh kinh thành ở cái tuổi, cái mệnh mà ông thầy nói hay không.

    Đương nhiên đã mời thầy thì phải tin thầy.

    Đương nhiên nàng mệnh Thuỷ, lấy một người chồng mệnh Mộc cũng chẳng thiệt thòi đằng nào.

    Chồng nàng mệnh Mộc, nhờ có nàng mà quan lộ sẽ rộng thênh thang, nhờ đó mà nàng sẽ được nhờ cậy.

    Có lẽ ông thầy nghĩ vậy, có lẽ ông ấy cũng muốn u và mọi người trong nhà nghĩ vậy.

    U nàng chắc sẽ nghe lời thôi.

    Nhưng u cũng không muốn cuộc đời con gái mình mãi chỉ là cái bóng phía sau lưng chồng.

    Cuộc đời u như vậy là quá đủ rồi, u không muốn cuộc đời Thục Giang cũng thế.

    Thì ra, u cứ âm thầm lo lắng cho nàng bao nhiêu chuyện như vậy.

    Thế mà nhiều lúc nàng lại nghĩ u lẩm cẩm mất rồi.

    Nàng bất ngờ quay hẳn người lại phía sau.

    Cái Ngọc vừa đi vừa nói, không để ý nên đâm sầm vào người nàng.

    "Mệnh Thuỷ như chị mà lấy chồng mệnh Mộc, để cả đời phải hầu hạ hắn à?

    Ngọc, em dạy võ cho chị đi, để chẳng may có bất trắc gì, chị còn đối phó được với hắn."

    Cái Ngọc đứng đực ra, không hiểu hết những lời tiểu thư nói nhưng vẫn gật đầu lia lịa.

    Nó không hiểu số mệnh gì cả, cũng không hiểu tương sinh tương khắc gì hết.

    Nhưng nó sẵn sàng bảo vệ tiểu thư.

    Mọi người dặn nó học võ để bảo vệ tiểu thư kia mà.

    Vậy nên nó cũng sẵn sàng cùng tiểu thư học võ để có thể đương đầu với tất thảy những sóng gió phía trước.

    ——

    Lê Tư Thành* nhấp một ngụm trà, lắng tai nghe những lời bình thơ của người bên cạnh.

    Hắn thích văn chương, điều này hắn không phủ nhận.

    Nhưng hắn thích hơn cả là được nghe những câu chuyện từ thời Hưng Đạo đại vương dẹp giặc Thát.

    Hắn mê Hịch tướng sĩ, mê mẩn đến thuộc làu từng câu từng chữ, mê mẩn đến mức mỗi lần đọc lại bài hịch ấy, hắn đều chăm chú ngắm kĩ từng nét chữ uốn lượn trên trang giấy, mê mẩn đến mức tưởng như mình đang được hoà vào thứ không khí sục sôi của cả trăm năm về trước, khi Đại Việt nhỏ bé đang nằm yên đợi đại quân Mông Cổ tiến đến để đánh hai trận tan tác chim muông.

    Câu cáo ấy lướt qua trong đầu khiến Lê Tư Thành không khỏi giật mình.

    Nhưng hắn nhanh chóng loại bỏ suy nghĩ ấy ra khỏi đầu.

    Đang ngồi trước mặt hoàng đế, hắn lại dám nghĩ đến một tội thần từng mang tội giết vua, đây là điều bất kính, cấm kị.

    Lê Tư Thành thích thơ phú, đó là chuyện đương nhiên.

    Hắn đọc như muốn nuốt từng câu từng chữ trong tất cả các cuốn sách hắn từng cầm trên tay.

    Thậm chí sách vở, thơ ca của vị tội thần kia hắn cũng vụng trộm đọc không ít lần để giờ đã thuộc nằm lòng.

    Một bụng chữ của hắn cũng là nhờ văn chương nuôi lớn tới nhường này.

    Nhưng có một sự thật khác mà không phải ai cũng tỏ, đó là hắn cũng rất thích cưỡi ngựa bắn cung, xách đao ra trận.

    Nếu để Lê Tư Thành tự nhận xét bản thân, hắn thấy mình giống một học trò xuất sắc của hai lão thái bảo Đinh Liệt, Nguyễn Xí hơn là một văn nhân nho nhã tay trói gà không chặt.

    Ánh mắt hắn không còn tập trung trên những trang giấy hay trong giọng thơ đều đều của hoàng đế nữa.

    Ánh mắt hắn vô định hướng ra phía vườn ngự, mà tâm trí thì bay lang thang khắp những cánh đồng cò bay mỏi cánh, vó ngựa vang trời.

    *Tên gọi khác của Lê Hạo sau khi trưởng thành.

    Hoàng đế để ý đến dáng vẻ thất thần của Lê Tư Thành.

    Người tinh ý, chẳng giữ hắn lâu, chỉ nhẹ nhàng khoát tay, cho hắn lui về phủ.

    Đứa em trai út của hoàng đế từ nhỏ đã lưu lạc nơi dân gian.

    Chính sự cao xa của hoàng cung và sự giản dị của phố phường bên ngoài đã vô tình tạo nên một khoảng cách giữa người và hắn.

    Hắn không chủ động xa lánh, cũng không chủ động thân thiết, hắn luôn duy trì một khoảng cách quân thần giữa bản thân và người.

    Nhưng Lê Tư Thành khiến người cảm thấy an tâm.

    Hắn hiển nhiên không đơn giản nhưng luôn bàng quan trước mọi sự, chỉ ngày ngày lên Kinh Diên học chữ, rồi khéo léo từ chối mọi cuộc vui mà thu mình vào cái kén ở phủ.

    So với Lê Nghi Dân, Lê Khắc Xương, chắc chắn hoàng đế cảm thấy thoải mái hơn hẳn khi ngồi cùng Lê Tư Thành.

    Từ khi còn được ẵm ngửa trên tay, Lê Bang Cơ đã là hoàng đế, được sống trong sự bảo bọc của Tuyên Từ hoàng thái hậu.

    Mỗi bước đường đời của người dường như đều trải đầy hoa vì đã có hoàng thái hậu lo liệu chu toàn.

    Lê Bang Cơ chưa từng vấp phải sóng gió.

    Dường như mọi đợt sóng ngầm dù là âm thầm nhất, đều được Tuyên Từ hoàng thái hậu dẹp yên trước khi chúng kịp lợn cợn trước mắt hoàng đế.

    Dường như người ta cho rằng, với Lê Bang Cơ, việc làm hoàng đế thật là đơn giản.

    Hoàng đế ngồi trên ngai vàng.

    Hoàng đế cao cao tại thượng.

    Hoàng đế có mẹ là đương kim hoàng thái hậu chở che.

    Hoàng đế đã đạp lên chính anh cả của mình để có vị trí này.

    Thiên hạ luôn cho rằng những gì thiên hạ nghĩ là đúng nhất.

    Thiên hạ thừa biết, nhưng luôn phủ nhận việc một đứa trẻ mới lọt lòng thì đâu biết gì đến tranh đoạt chốn chính trường.

    Thiên hạ thừa biết nhưng luôn phủ nhận việc đứa trẻ ấy không muốn vì ngai vàng mà tình anh em rạn nứt.

    Thiên hạ thừa biết nhưng luôn phủ nhận việc hoàng đế chính là kẻ cô độc nhất trên thế gian.

    Tam sao thất bản những sự thật từng xảy ra trong chốn cung cấm, giờ trở thành chuyện trà dư hậu tửu của những kẻ chẳng hay biết gì ngoài dân gian.

    Những đứa trẻ sinh ra trong hoàng cung này, như hoàng đế, như anh em của hoàng đế, như phụ hoàng của người, như bác cả cả người, đều chỉ là công cụ cho người lớn giật dây, đều là con rối nước trong cuộc chiến tới ngai vàng.

    "Ai bảo lũ trẻ con đó sinh ra trong gia đình đế vương."

    Hoàng đế biết, lũ trẻ con mà cung nữ già ấy vừa nói đến chính là bốn anh em người.

    Tiếng cười như ma quỷ hả hê cùng câu nói cuối cùng của mụ ấy trước khi bị quăng xuống giếng đã ám ảnh Lê Bang Cơ mãi những ngày về sau.

    Còn nhớ hôm đó, hoàng đế đứng phía sau tấm rèm rộng, len lén nhìn ra bên ngoài sân, trong khi Đào Biểu sau lưng đang cố bịt kín miệng người lại.

    Mỗi câu mụ ấy nói ra, mẫu hậu lại tát mụ ấy một cái.

    Tát đến mức miệng mụ ấy bật máu, vậy mà vẫn không ngăn được những lời nói cay độc.

    Để cuối cùng mẫu hậu chỉ buông một câu lạnh lùng, rồi cả đám thái giám, cung nữ đành mượn nước giếng để vĩnh viễn khoá chặt lại những lời ngông cuồng của mụ.

    Tiếng cười ấy lởn vởn như một bóng ma quanh hoàng đế.

    Sau này, khi đích thân nghe ngóng, khi biết cung nữ già ấy là ai, Lê Bang Cơ đã không ít lần tới đứng cạnh miệng giếng bị lấp kín ấy như muốn tìm kiếm thứ âm thanh gì đó sẽ vọng lên từ phía bên dưới kia.

    Giếng đã bị lấp, xác mụ ấy đã mãi mãi nằm lại dưới ấy, những lời mụ ấy muốn nói cũng không bao giờ có thể phát ra nữa, nhưng sự thật dù cố gắng chôn vùi qua bao năm tháng cũng sẽ có ngày bị phơi bày dưới ánh sáng mặt trời.

    Mụ ấy là cung nữ từng hầu hạ trong phủ Quận Ai vương khi xưa, là người chứng kiến hết thảy mọi chuyện phế trưởng lập thứ từ thời phụ hoàng đã có.

    Quận Ai vương mất đi ngai vàng vì một đứa trẻ con, chính là phụ hoàng người.

    Quận ai vương uất ức đến mất mạng vì một đứa trẻ con, vẫn lại là phụ hoàng người.

    Bảo sao, mụ ta căm ghét những đứa trẻ con sinh ra trong hoàng tộc đến vậy.

    Bảo sao, trong mắt mụ ta, những đứa trẻ như bốn anh em người đáng bị nguyền rủa đến thế.

    Liệu máu có thấm ướt ngai vàng một lần nữa hay không, Bang Cơ không dám chắc.

    Nhưng trọng trách đã mang trên vai, người nhất định phải gánh vác được để tiếng cười ám ảnh ấy không còn là lời nguyền cho bất kì ai trong bốn anh em.

    Cơn gió cuối xuân thổi qua thuỷ đình.

    Đào Biểu kín đáo liếc nhìn, thấy hoàng đế lại thơ thẩn rồi.

    Mỗi khi Bình Nguyên vương tỏ thái độ xa cách với hoàng đế, người sẽ đều ngẩn ngơ như vậy.

    Hoàng đế càng cố gắng đến gần, Bình Nguyên vương và hai vị vương kia đều cố gắng né tránh.

    Quả là cô độc, quả là đáng thương.

    Đào Biểu khịt khịt mũi đánh động.

    Hoàng đế giật mình khỏi những suy nghĩ miên man, ngồi thẳng người lên hơi so vai, gấp lại cuốn sách đang đọc dở, dong bước về phía cung Gia Hoà.

    Hoàng thái hậu không ưng người thiếu nữ của Lê Bang Cơ thì người cũng chỉ biết đưa nàng ấy ra ở một cung điện ở xa, hướng về phía hồ Dâm Đàm.

    Hoàng đế cũng là con người.

    Lo cho giang san, xã tắc, và cũng có cả những mối lo của riêng mình.

    Lê Bang Cơ nghĩ vậy, rồi tặc lưỡi mà bước tiếp.

    ———

    Hết chương 2.
     
    [Dã Sử Việt] Đông Kinh Năm Ấy - Lê Thánh Tông, Phùng Chiêu Nghi
    CHƯƠNG 3: SỢI DÂY TÌNH


    Trịnh Phương Liên đi bên cạnh Phùng Thục Giang, chỉ nhìn thoáng qua cũng biết là hai thiếu nữ đã gắn bó với nhau từ nhỏ.

    Một người là con gái quan gián nghị đại phu ngày ngày kề cận khuyên can thánh thượng, một người là con gái rượu của thầy thuốc nổi tiếng nhất nhì chốn Đông Kinh.

    Tài năng và đức độ của thầy Thả là chuyện mà hỏi bất kì người dân kinh thành nào cũng biết, từ cậu bé tóc còn để trái đào hay ông lão tuổi đã ngoài sáu mươi.

    Nhưng tính cách thầy thì lạ lùng, không thích vào cung, không ưa hưởng vinh hoa phú quý, chỉ thích cả đời tự do ngoài dân gian chữa bệnh cứu người.

    Vậy nên dù tiếng thơm của thầy có bay xa, dù nhiều lần quan lớn họ Phùng có ngỏ ý giới thiệu thầy vào cung, thầy vẫn một mực chối từ.

    Trong suy nghĩ của thầy Thả, tránh càng xa hoàng cung càng tốt, ấy mới là cách giữ thân an toàn.

    Vợ chồng thầy Thả chỉ có một mình Phương Liên, năm nay cũng đã đến tuổi vấn tóc cài trâm.

    Phương Liên nhẹ nhàng hơn, đoan trang hơn Thục Giang, nhưng nhút nhát hơn, hay ngượng ngùng hơn Thục Giang.

    Trái với cái miệng liến thoắng không ngừng nghỉ của bạn mình, những lúc Thục Giang mải mê kể chuyện trên trời dưới biển, Phương Liên chỉ yên lặng lắng nghe, đôi lúc lại ồ lên một vài tiếng bất ngờ.

    "Vậy có khi nào gặp lại, hai cậu ấy sẽ bắt Giang tạ lỗi không?"

    Phương Liên ngồi xuống phần gốc cây gạo đã đâm ngược lên khỏi mặt đất, tạo thành những chỗ nghỉ chân cho người đi đường.

    Nàng kéo Thục Giang xuống bên cạnh, tròn mắt hỏi lại Thục Giang.

    Phương Liên đang nghĩ, nếu người hôm đó gặp hai cậu thiếu niên là nàng chứ không phải Thục Giang, có lẽ nàng sẽ bật khóc đứng chôn chân ở đúng chỗ này.

    Thục Giang mạnh mẽ, dạn dĩ hơn nàng, da mặt cũng dày hơn nàng.

    Quả thực, Thục Giang không giống cha một chút nào.

    Phùng đại nhân là quan văn nho nhã, nhưng Thục Giang lại cứng đầu, ngang ngạnh, bướng bỉnh hơn.

    "Tôi biết làm sao được!

    Nhưng nếu người ta bắt vạ thì tôi phải chịu thôi, tôi làm bẩn áo người ta thật mà."

    Nàng bặm môi, không muốn nhắc đi nhắc lại chuyện về hai kẻ ấy nữa.

    Thục Giang vốn định kể cho Phương Liên chuyện mẹ muốn gả nàng đi, vậy mà suốt cả tháng trời ở bên nhà thầy Thả, nàng cứ phải ngậm thuốc nhuộm đến chát xít cả mồm miệng, đến ăn uống còn chán chứ đừng nói tới việc muốn trò chuyện cùng ai.

    Vừa đi, nàng vừa thủ thỉ với Phương Liên chuyện mẹ muốn gả nàng cho một cậu ấm nào đó mệnh Mộc, để sau này hắn sẽ bao bọc, chở che cho nàng.

    Chẳng mấy chốc mà bước chân của hai thiếu nữ dừng đúng gốc cây gạo hôm trước.

    Giờ thì không phải lác đác vài đóa, không phải lác đác vài cành, mà cả cây gạo đang nở xoè những bông hoa cuối cùng.

    Tán cây tròn to, che rợp cả một vùng như một cây đuốc đỏ rực đang bừng bừng chạy đua với cái nắng đầu hạ.

    Mùa này, con nước sông Nhị còn nhỏ, thuyền bè thong dong đi lại, chẳng ai bảo ai nhưng cứ đi qua đây đều chậm lại mái chèo, như thể muốn thu hết cái dáng vẻ rực rỡ của gốc gạo già.

    Phương Liên háo hức nhặt lấy vài bông gạo rụng bên gốc, vẫy vẫy Thục Giang lại ngồi cùng.

    Nàng cố nhớ lại những lời thầy dặn về công dụng của hoa gạo, nhưng chỉ nhớ loáng thoáng được vài điều.

    "Mỗi tháng u tôi đều bị đau bụng.

    U cứ đau là thầy sẽ sắc hoa gạo khô, lấy nước cho u uống."

    "Vậy thì là hoa gạo khô sắc thuốc có thể chữa được đau bụng rồi.

    Liên xin thầy cho tôi một chút hoa gạo khô được không?"

    Thục Giang khều khều cánh tay Phương Liên.

    Thiếu nữ còn đang tủm tỉm cười khi nghĩ đến cảnh thầy cần mẫn chọn từng bông hoa, rồi tỉ mỉ châm lửa sắc thuốc cho u uống.

    "Sao?

    Giang lấy hoa gạo làm gì?"

    "Tôi làm bánh, làm trà, làm món gì ngon có thể ăn được.

    Chứ thuốc thì u tôi ghét lắm!"

    "Chuyện đó thì có khó gì."

    Phương Liên nhoẻn miệng cười, để lộ hai hàm răng đều, đen bóng màu nhuộm mới.

    "Mà tôi bảo này, hoa gạo còn chữa được cả bỏng nữa đấy!"

    Tiếng vỗ tay tán thưởng phía sau khiến hai thiếu nữ giật mình quay lại.

    Nhìn thấy gương mặt quen thuộc của kẻ áo đen, Phùng Thục Giang nén tiếng thở dài, cố gắng vẽ ra một nụ cười gượng gạo.

    Kẻ áo đen lên tiếng trước, rồi bước về phía hai người.

    Vẫn là ánh mắt sắc lẹm, đen thẳm như muốn xoáy vào tâm can người đối diện.

    Nhưng hôm nay, đuôi mắt ấy lại hơi cong lên thoáng như đang cười.

    Phương Liên tò mò, mắt không rời hai người thiếu niên trước mặt.

    Toàn bộ ánh mắt nàng đổ dồn phong thái phiêu diêu tự tại của người áo lam đi phía sau.

    Trái với vẻ chăm chú của Phương Liên, Thục Giang chán chường đưa mắt nhìn họ, khẽ gật đầu.

    Kẻ áo đen bất ngờ nở một nụ cười hiền lành khác xa với vẻ cao ngạo lúc đầu.

    Trong khoảnh khắc ấy, thực sự Thục Giang đã nhìn thấy tia nắng ấm áp trong đáy mắt hắn, tựa như một nguồn sinh khí từ đâu trỗi dậy, kéo hắn về gần với con người hơn.

    Tuy hắn cười lên rất đẹp, rất rạng rỡ nhưng vẫn cô đơn, cô đơn trong giọng nói khô khốc.

    "Thôi thì thế này.

    Hai lần không hẹn mà gặp, âu cũng là cái duyên của hai học trò với các cô đây.

    Không biết hai anh em tôi có được dịp biết tên hai cô để tiện bề xưng hô hay không?"

    "Trịnh Phương Liên."

    Thục Giang chưa kịp cản thì Phương Liên đã nhanh nhảu đáp lời.

    Nhìn dáng vẻ gấp gáp, lại có đôi phần bẽn lẽn trước người áo lam của Phương Liên, Thục Giang đánh mắt đi nơi khác, trong lòng nhận ra một cơn gió xuân đang thổi khẽ trong lòng người bạn của mình..

    "Phùng Thục Giang."

    "Giang là sông?

    Bảo sao lần nào gặp cô đây cũng ở ngay sông Nhị."

    Kẻ áo đen khoát tay, ngang nhiên ngồi xuống bên cạnh hai thiếu nữ.

    Nụ cười nhạt dần, hắn quay sang phía Thục Giang, giọng nói nhẹ nhàng, không còn cảm giác bức người như lúc trước.

    "Phùng tiểu thư, Trịnh tiểu thư, thứ lỗi cho anh em ta có phần lỗ mãng.

    Học trò là Lê Nghi Dân, em trai đây là Lê Khắc Xương.

    Duyên kì ngộ chắc hẳn không đến lần hai.

    Hi vọng có thể kết bằng hữu với hai vị tiểu thư."

    Lê Khắc Xương gật đầu mỉm cười theo câu nói của Lê Nghi Dân.

    Phương Liên lén đưa mắt về phía Khắc Xương, đôi má đào hây hây trong gió.

    Yểu điệu thục nữ, hẳn là đã gặp đúng quân tử hảo cầu.

    Thục Giang không nói gì, chỉ có cái gật đầu thay cho lời đồng ý.

    Đúng là cái duyên, đúng là có thể kết bằng hữu với nhau.

    Các người cho đó là cái duyên, vậy thì cứ coi như hữu duyên thật sự đi.

    Ráng chiều nhuốm màu lên bốn bóng hình cao thấp bên gốc cây gạo cổ thụ.

    Mối lương duyên này, kết bên bờ sông Nhị, có cây đại thụ trăm năm làm chứng.

    Mối lương duyên này, bốn người họ nguyện khắc ghi suốt đời, mãi mãi chẳng bao giờ quên.

    Lê Nghi Dân, từ ngày ấy, chúng ta đã kết thành bằng hữu như vậy.

    Ta còn nhớ, anh cũng nhất định không được phép quên.

    ——

    Lê Tư Thành gấp cuốn sách đang đọc dở, chống cằm nhìn ra giữa hồ.

    Thuỷ đình này xây sát mép nam hồ, ngay gần kẻ Bưởi.

    Nắng lên, dân trong kẻ lũ lượt kéo giá ra phơi giấy.

    Len lỏi trong huyện người ấy phất phơ dây nón quai thao của hai thiếu nữ nọ.

    Nhìn thấy thiếu niên trong thuỷ đình, thiếu nữ rảo chân, bước vào đình, nhanh chóng hạ nón.

    Nguyễn Minh Huyên năm nay đã đến tuổi vấn tóc cài trâm, nhưng cái cơ duyên trong lần theo mẹ đi lễ chùa năm nào đã khiến nàng tương tư mãi một bóng hình.

    Trong đêm Trung thu năm ấy, khi thả đèn hoa đăng xuống hồ Dâm Đàm, nàng đã nguyện ước một đời một kiếp có thể bình yên bên người mà mình yêu thương.

    Nàng không còn ít tuổi.

    So với những thiếu nữ tuổi trăng rằm ngoài kia, nàng không khác nào một bà lão già đã ế chỏng chơ.

    Rồi người đời nói rằng nàng khó gần, kiêu kỳ nên không ai muốn hỏi cưới.

    Rồi người đời rỉ tai nhau do cha nàng quyền cao chức trọng nên không ai dám với cao.

    Người đời có mải mê bàn tán điều gì về nàng đi chăng nữa nàng cũng chẳng bận tâm.

    Đời người con gái chỉ cần một chính nhân quân tử, mà nàng thì lại nguyện đem cuộc đời ấy gắn liền với cái tên Lê Tư Thành.

    Hắn từng khen nàng đẹp, từng khen nàng đàn hay, từng khen nàng biết ngâm thơ, biết ra câu đối.

    Nhưng hắn chưa một lần ngỏ ý kết duyên.

    Vậy mà Minh Huyên vẫn ngây ngốc chờ đợi.

    Bữa nay, nàng mang đến cho Tư Thành cặp sáo trúc, vì nghe cha nói Bình Nguyên vương cũng có hứng thú với thứ này.

    Nhưng đáp lại sự nhiệt tình, ân cần của nàng, Lê Tư Thành chỉ khẽ gật đầu:

    "Xin cô, đã phiền cô rồi."

    Minh Huyên sượng trân trước vẻ lạnh nhạt, xa cách kì lạ của Lê Tư Thành.

    Ánh mắt hắn vẫn chăm chú nhìn về phía đàn sâm cầm đang hứng ánh mắt trời ở giữa hồ.

    Nàng lặng lẽ lui về, rồi kéo đứa hầu gái khỏi thuỷ đình, để lỡ sau lưng một cái lắc đầu tiếc rẻ.

    ——

    Thời gian thấm thoắt thoi đưa, cây vẫn đứng đó, vẫn thay lá như bao mùa.

    Chỉ có con người ngày một trưởng thành hơn, chẳng còn giống những người xưa cũ.

    Lê Nghi Dân nhìn tên thuộc hạ trước mặt, âm thầm đưa mắt đánh giá.

    Vừa mới ngày nào hắn gặp y, y mới chỉ là một đứa trẻ sáu, bảy tuổi mặt mày nhem nhuốc bùn đất, máu me, nước mắt, ngồi khúm núm bên vệ đường.

    Lê Nghi Dân còn nhớ rất rõ, lúc hắn nhìn thấy anh em Lê Đắc Ninh ngồi thu lu trong góc, anh trai y đã chết cứng rồi.

    Lê Đắc Ninh khi ấy còn quá nhỏ để hiểu được hết những mất mát mà y vừa trải qua.

    Anh trai y, người thân duy nhất của y trên cõi đời sẽ vĩnh viễn không bao giờ mở mắt ra ngắm nhìn vầng dương trên trời và mỉm cười với y nữa.

    Lê Nghi Dân tiến đến bên cạnh hai anh em Lê Đắc Ninh, phần vì tò mò, phần vì thương cảm.

    Chỉ cần liếc qua, Nghi Dân biết anh trai Đắc Ninh đã chết, chết vì đói, chết vì lạnh, chết vì nghèo khó, chết vì bất công.

    Hắn ngồi xuống bên cạnh Đắc Ninh, nhìn cái bánh dày đang bóc dở trong tay y còn lấm tấm vài giọt nước mắt, khẽ thở dài.

    "Mau ăn đi!

    Rồi ta giúp cậu chôn cất anh trai."

    Lê Nghi Dân đã nói với Lê Đắc Ninh như thế.

    Hắn không nhớ khi ấy đã lấy đâu ra dũng khí để nói với y như thế.

    Một đứa trẻ mười tuổi nhìn thấy người chết không sợ, lại dám khẳng định chắc nịch sẽ giúp đỡ một đứa trẻ nghèo khó khác.

    Hắn không bao giờ quên được khoảnh khắc ấy, khi Lê Đắc Ninh ngước đôi mắt ầng ậng nước lên nhìn hắn.

    Y đang cố giấu khỏi đáy mắt sự vỡ nát như thể trái tim đang bị ai đó nhẫn tâm giẫm gót giày lên.

    Từ giây phút ấy, Lê Nghi Dân biết đứa trẻ trước mặt cần một nơi để trú ngụ, cần một người dẫn dắt, cần một con đường để đi.

    Không biết duyên kiếp đưa đẩy ra sao, ngay lúc ấy, Lê Nghi Dân đã quyết định sẽ giữ Lê Đắc Ninh lại bên mình.

    Hắn đánh mắt xuống cái bánh dày lần nữa, có ý giục Lê Đắc Ninh nhanh lên.

    Từng miếng bánh hôm ấy Lê Đắc Ninh cắn vào đều mang trong đó sự ấm áp của đứa trẻ vừa giúp anh em y, sự ân cần của người thiếu niên đang kiên nhẫn ngồi đợi y, và cả sự lạnh lẽo, khô khốc của số phận.

    Những giọt nước mắt lăn dài trên gò má gầy gò của Đắc Ninh.

    Đã rất lâu rồi y không khóc.

    Khi cả gia đình họ bị đẩy ra đường vì không đóng nổi sưu thuế, y không khóc.

    Khi thầy u phải bán em gái út cho một tay buôn trà ở đạo Bắc, y không khóc.

    Khi thầy u không chịu được cái đói, cái lạnh mà gục xuống ngoài khu đất hoang ở ngoại ô, y không khóc.

    Khi anh trai cứ dần dần lạnh đi ngay trong tay mình như vừa rồi, y cũng không khóc.

    Y còn tưởng nước mắt mình đã bị sự nghiệt ngã của cuộc đời này hong khô mất rồi.

    Vậy mà khi Lê Nghi Dân nói với y câu nói ấy, y lại bật khóc.

    Cuối cùng thì người anh trai dùng cả tính mạng của mình để bảo vệ y cũng sẽ không phải chết đường chết chợ, chơ vơ nằm đó giữa đất trời lạnh lẽo nữa.

    Nước mắt giàn dụa đầy mặt, Lê Đắc Ninh vừa ăn ngấu ăn nghiến, vừa nuốt từng miếng bánh xuống vì sợ nghẹn, vừa cố cất tiếng hỏi Lê Nghi Dân.

    "Tại sao cùng được thầy u sinh ra, cùng có gia đình, có anh chị em nhưng các người thì được ăn no còn chúng ta thì không?"

    Câu nói ấy như lời đánh thức tâm trí Lê Nghi Dân.

    Câu hỏi của đứa trẻ trước mặt làm loé ra trong đầu hắn một ý nghĩ thật điên rồ.

    Đúng vậy, tại sao cùng là con người mà số phận lại không giống nhau?

    "Vì cậu là cậu, ta là ta, cuộc đời không ai giống ai hết.

    Cậu không thể biến thành ta, ta cũng không thể sống thay cậu.

    Nhưng ta có thể giúp cho cuộc sống của cậu sau này không còn khổ sở như vậy nữa."

    Lê Nghi Dân vuốt vuốt lưng Đắc Ninh, đưa cho y bình nước.

    Hắn đánh giá đứa trẻ trước mặt một lượt.

    Đứa trẻ này mang trong mình một nỗi uất hận quá to lớn.

    Y mất cha, mất mẹ, mất anh trai, mất nhà cửa, em gái bị bán đi không biết ngày tương phùng.

    Y mất hết người thân, nhà tan cửa nát, cầu bơ cầu bất giữa cuộc đời.

    Y hướng ánh mắt ngây thơ nhưng tủi buồn để nhìn vào những số phận khác, y so sánh bản thân với họ, và y hận.

    Nỗi uất hận ấy cứ ngày một lớn lên.

    Lê Nghi Dân nhìn đôi lông mi dày cụp xuống bất lực, trầm giọng hỏi.

    "Vậy theo cậu, tại sao cậu lại ra nông nỗi này?"

    Lê Đắc Ninh rón rén ngước mắt nhìn Lê Nghi Dân.

    Đắc Ninh nhận ra tong mắt hắn sự đồng cảm, thấu hiểu, không hề có chút tò mò hay đa nghi.

    Bàn tay y lúng túng không biết cất vào đâu, mấy đầu ngón tay cứ miết đi miết lại miếng lá chuối bọc bánh, không làm sao ngăn được những giọt nước mắt liên tiếp tí tách nhỏ lên lá.

    Từng lời nói đứt đoạn cùng tiếng nấc, nhưng trong mỗi câu mỗi từ ngoài đau thương còn chất chứa biết bao căm hờn.

    "Mẹ ta bảo là do thái hậu và bệ hạ vô phúc.

    Họ có cuộc sống sung sướng trong cung vàng điện ngọc nhờ tiền thuế mà dân lành nộp.

    Nhưng phải có tiền thì mới nộp được thuế.

    Mấy năm rồi dịch bệnh, sâu hại mùa màng liên tiếp, nhà ta không có gạo ăn, thì lấy đâu tiền mà nộp thuế cho họ?

    Rồi họ cho quân lính đi đánh trận, bao nhiêu anh trai gần nhà ta đã bị bắt đi hết.

    Vậy là vừa không có tiền, vừa không có người cày cấy.

    Thầy u ta chết hết rồi, anh trai ta cũng chết rồi, em gái ta bị bán đi rồi.

    Tại sao các người có tiền có của, có thể cho người khác đồ ăn, có thể cho người khác tiền bạc, còn thầy u ta đến manh chiếu bọc xác trước khi chôn cũng không có?

    Tại triều đình, tại thái hậu, tại vị bệ hạ đó phải không?"

    Hoá ra trong suy nghĩ của dân chúng, cuộc sống cơ cực của họ ngày hôm nay hoàn toàn là do triều đình.

    Vốn ban đầu chỉ là thương cảm, đến lúc ấy Lê Nghi Dân mới nhận ra ý nghĩ điên rồ vừa loé lên lúc nãy là thứ gì.

    Thứ ấy luôn được mẹ hắn gieo vào trong trí óc non nớt của hắn từ thuở tấm bé.

    Đó là sự hận thù.

    Lê Nghi Dân không còn cảm thấy cảm thông với Lê Đắc Ninh nữa, hắn chỉ cảm thấy y thật giống mình, nhưng đáng thương hại hơn.

    Chợt lòng Nghi Dân muốn thử một lần nuôi dưỡng sự hận thù trong người Đắc Ninh, để xem sau này, nó có thể lớn đến nhường nào.

    "Ít nhất thì cậu phải cùng ta đi chôn cất anh trai chứ!

    Xong chưa?

    Đứng lên đi!"

    Thấy Lê Đắc Ninh đã ăn hết cái bánh, Lê Nghi Dân phủi áo đứng dậy, không quên xách nách y theo.

    Hắn chỉ phất tay một cái, đã có hai kẻ hầu từ đâu bước tới, nhẹ nhàng khiêng anh trai Lê Đắc Ninh đi phía sau hai người.

    Từ ngày hôm ấy, Lê Đắc Ninh coi Lê Nghi Dân là thần, là người đã một lần nữa giúp y tái sinh.

    Nhưng từ trong sâu thẳm trái tim y, chưa bao giờ y ngừng tìm kiếm cậu bé ngây ngô đã cho anh em y hai chiếc bánh dày hôm nào.

    Lê Đắc Ninh thấy Lê Nghi Dân nhìn mình không chớp mắt, khẽ đằng hắng một tiếng đánh động.

    Đôi khi nhắc lại những chuyện xưa cũ, Lạng Sơn vương vẫn hỏi y đã tìm lại được cậu bé giúp anh em y ngày đó chưa.

    Những khi ấy, Đắc Ninh chỉ lặng lẽ lắc đầu.

    Hơn mười năm đã trôi qua, dù cho kí ức về ngày hôm đó mãi mãi không thể nào phai nhạt, nhưng Đắc Ninh đã quên hoàn toàn gương mặt của cậu bé đó.

    Xem chừng nếu tính tuổi, cậu bé đó cũng tầm tuổi y, nếu tính dáng vóc, cậu bé đó cũng xấp xỉ y.

    Nhưng có một điều Đắc Ninh giữ kín trong lòng không nói với Nghi Dân, là chuyện cậu bé ấy vì cứu anh em y mà bị bọn trẻ con đẩy ngã vỡ đầu, có thể nơi ấy sẽ để lại một vết sẹo.

    "Điện hạ.

    Giờ thần đã nắm được cấm binh trong tay.

    Đại sự của điện hạ, thần xin một lòng phò tá."

    Đắc Ninh biết vị trí của mình không giống với đám giang hồ được Nghi Dân huấn luyện ngoài kia.

    Chúng là đám trùng cực độc đang được hắn cất giữ đợi ngày tấn công kẻ địch.

    Còn bản thân y giống một con diều hâu săn mồi, một con bồ câu đưa thư hơn là thứ vũ khí đoạt mạng mà chủ nhân nâng niu bồi dưỡng.

    Nhưng Đắc Ninh không lấy chuyện ấy làm mình buồn rầu.

    Bởi hôm ấy nếu không có Nghi Dân đưa đôi bàn tay ra nâng y lên, có lẽ giờ y đã trở thành một trong số cả ngàn hồn ma chết bờ chết bụi, một trong số cả ngàn cái xác khô được quăng đầy ngoài ngoại ô, có lẽ thân xác y đã trở thành bữa ăn cho thú săn mồi hay thậm chí là thức ăn cho chính những người sống khác.

    Nghĩ đến đây, Lê Đắc Ninh không khỏi cảm thấy lờ lợ ở cổ họng.

    Cuộc sống của y từ xưa đến giờ luôn gắn liền với mùi thức ăn hoà lẫn mùi xác chết và mùi máu.

    Lê Nghi Dân buông quân cờ trong tay xuống, gật gù nhìn Lê Đắc Ninh.

    Đây đúng là một con chó săn mà hắn đã thuần hoá thành công.

    Ngọn lửa hận thù trong mắt Đắc Ninh ngày ấy tựa như sắp tàn đến nơi.

    Nhưng qua ngày qua tháng, qua những câu chuyện mà Nghi Dân kể cho y về cuộc đời hắn, ngọn lửa hận thù ấy đang được vun vén đợi dịp bùng lên.

    Đến ngày hôm nay, ẩn dưới đôi mắt đen sâu thẳm như viên mã não của Đắc Ninh, hắn đã nhìn thấy một ngọn lửa hận thù đang bừng bừng cháy.

    Hận thù vì nhà tan cửa nát, hận thù vì thân nhân sinh li tử biệt.

    Lê Đắc Ninh một mực tin rằng vì hoàng đế bất tài vô năng, vì thái hậu tàn ác nanh nọc nên dân chúng mới lầm than, nên gia đình y mới li tán.

    Y đã nguyện làm tất cả để cùng Lê Nghi Dân lật đổ những thứ đang khiến con người khổ đau, lật đổ triều đình không coi trọng mạng người, lật đổ những kẻ giẫm đạp lên tình cảm gia đình, ví như hoàng đế, ví như thái hậu.

    Đây là điều Lê Nghi Dân hài lòng nhất, tin tưởng nhất ở đứa trẻ mà y đã xách về mười năm trước.

    "Đừng nói đến hai tiếng "đại sự".

    Ta cũng chỉ muốn cuộc sống của mọi người đều tốt đẹp hơn.

    Những thứ vốn thuộc về ai thì phải trả về đúng cho chủ của chúng."

    Giọng nói của Lê Nghi Dân nhẹ bẫng như không hề có một chút hận thù, một chút căm ghét, một chút mưu mô nào.

    Hắn đứng lên, cất bước về phía bãi bồi ngoài sông Nhị, nơi có gốc gạo già trăm năm tuổi.

    Trong ánh mắt của hắn khi ấy sáng lên một niềm vui hân hoan như đứa trẻ đợi mẹ đi chợ về sẽ cho miếng quà.

    Lê Đắc Ninh nhẹ nhàng bước theo hắn, cách phía sau vài ba bước, như cách mà mười năm nay y vẫn thường hay làm.

    Đằng đông, vài đám mây đen chợt ùn ùn kéo đến.

    Bước chân Lê Nghi Dân không vì thế mà chậm lại, bước chân Lê Đắc Ninh cũng không ngừng theo sát chủ nhân.

    ———

    Hết chương 3.
     
    [Dã Sử Việt] Đông Kinh Năm Ấy - Lê Thánh Tông, Phùng Chiêu Nghi
    CHƯƠNG 4: LẮM MỐI TƠ LÒNG


    Lê Tư Thành nhìn từng đợt mưa đang tạt xiên tầm mắt, nhuộm trắng mọi vật trước mặt.

    Giữa chiều hè nắng cháy như muốn nướng giòn làn da, đôi khi trời lại đột ngột trở gió, mây đen ùn ùn kéo về, rồi cơn mưa không báo trước mà cứ thế ập thẳng xuống nhân gian.

    Hắn gập ô, dựng ngay thành gỗ của thuỷ đình cho ráo nước, thong dong nhìn ra bên ngoài.

    Từ trong màn mưa trắng trời, một bóng dáng bé nhỏ xé mưa lao tới.

    Thiếu nữ lúi húi lấy vạt áo che bó sen trên tay, cuống cuống tìm chỗ trú thì gặp thuỷ đình nơi hắn đang đứng.

    Thấy trong đình đã có người, bước chạy của nàng hơi chùn lại.

    Nhưng mưa mỗi lúc một mau, từng giọt nước mỗi lúc một nặng không cho phép thiếu nữ chần chừ thêm.

    Nàng lướt qua người thiếu niên đứng ở cửa, chạy vội vào giữa đình.

    Trái ngược với vẻ thản nhiên của Lê Tư Thành, Phùng Thục Giang cứ loanh quanh, đi đi lại lại mãi sau lưng hắn.

    Mái tóc dài ướt bết vào lưng áo, nước mưa vẫn đang nhỏ từng giọt từng giọt xuống chân nàng.

    Thục Giang rũ rũ nước, lo lắng nhìn bó sen trong tay, lòng cứ ngổn ngang không thôi.

    Nàng quay đi quay lại, hết nhìn bóng lưng của hắn từ nãy tới giờ vẫn kiên định không suy chuyển, lại đưa mắt nhìn xuống chiếc ô đang dựng ở góc đình.

    Nàng chau mày, nghĩ tới mấy chậu cúc vạn thọ còn chưa kịp lên cây con, không giấu diếm trút một tiếng thở dài thườn thượt.

    Nhận ra mình vừa thất thố, nàng vội quay mặt ra phía sau, hướng bóng lưng mình vào bóng lưng của thiếu niên kia, trong lòng vô cùng nhộn nhạo, khó tả.

    Tiếng thở dài của Thục Giang không lọt qua được đôi tai thính nhạy của Tư Thành.

    Hắn nhìn dáng vẻ của nàng khi ấy, thừa biết nàng đang vội, nhưng vì mưa nặng hạt quá nên buộc phải tạt vào thuỷ đình này.

    Hắn cũng nhận ra nàng cứ sốt sắng ở phía sau lưng, có lẽ là vì nhìn thấy chiếc ô của hắn chăng?

    Hắn vốn không có việc gì gấp, lại thấy thiếu nữ có vẻ ngại ngùng, nên mới quyết định nán lại trêu đùa nàng một phen.

    "Cô vội thì ta có thể đổi sen rồi cho cô mượn ô.

    Nhưng nhớ mang trả ta.

    Bằng không..."

    Lê Tư Thành lên tiếng trước, vừa cười vừa nói, vừa cầm cán ô lên rũ nước, rồi lại gõ nhẹ vào cột trụ gỗ.

    Khóe môi hắn hơi nhếch lên, lặng yên nghe động tĩnh của người phía sau.

    Nghe câu nói của hắn, Thục Giang quay phắt người lại, chăm chăm nhìn chiếc ô trong tay hắn, chưa biết trả lời ra sao.

    Lúc đầu, nàng còn nghĩ mình nghe nhầm.

    Nhưng bao quanh hai người bây giờ chỉ là mưa mù trời, hắn không nói với nàng, chẳng lẽ đang nói một mình.

    Hắn nhất quyết không quay người lại, nàng cũng nhất quyết không lên tiếng đáp lời.

    "Cô không nói gì thì coi như đã đồng ý rồi.

    Ta nhắc lại là nhớ mang trả ta.

    Bằng không, ta sẽ tìm tới tận nơi để đòi."

    Lê Tư Thành nói hết câu, dựng lại ô nơi mép cửa, xé mưa chạy về phía ngoài kia.

    Thục Giang đứng ngẩn ngơ nhìn bóng người thiếu niên chìm dần vào làn nước trắng xoá.

    Hắn không đợi người ta đưa ra quyết định đã nhanh chóng hành xử theo ý mình.

    Kẻ này quả thực kiêu căng, ngạo mạn, lại khiến người ta không thể rời mắt khỏi hắn.

    Nhưng nàng thực sự đang vội như thế, bụng bảo dạ cũng chẳng cần ngại ngần làm gì, dù sao hắn cũng đã chạy đi mất rồi.

    Thục Giang đặt bó hoa sen ngay ngắn trên bàn gỗ, mở ô, chặn đứng dòng nước mát vẫn đang ồ ạt trút xuống mặt đất, chân chạy mà lòng bồn chồn hướng về mấy chậu cây vừa mới gieo hạt hôm nào.

    Sen không hái hôm nay có thể hái hôm khác.

    Hạt giống đang nảy mầm mà để lõng bõng nước như thế thì coi như hỏng cả.

    Nhưng thiếu niên kia chạy đi trước mất rồi, hắn không định mang sen về hay sao?

    Nàng để những suy tư ấy trôi theo từng hạt ngọc trời đang tí tách trên đầu rồi tuột hẳn xuống đất.

    Tiếng bước chân tan dần vào tiếng mưa, Lê Tư Thành mới từ từ ló đầu ra khỏi xe ngựa.

    Hắn nhìn tấm áo đã ướt gần hết, chán nản tựa lưng ra phía sau.

    Hắn có hẹn với Minh Huyên, nhưng gặp đúng cơn mưa đầu hạ nên đành trú tạm vào đình, ai ngờ lại chạm mặt thiếu nữ kia.

    Mưa lớn thế này, hơn hết là vị tiểu thư họ Nguyễn nên ở yên trong phủ, kẻo hắn lại nhức đầu vì mấy lời phàn nàn của mẫu thân.

    Hắn sai thằng Trọng đội mưa, chạy ngược lại đình nghe ngóng.

    Hắn tin thiếu nữ đó sẽ để lại bó sen, mới dặn nó khi quay về nhớ mang theo.

    Hắn ôm bó hoa, nhìn ngang nhìn dọc một hồi rồi lấy tay khẽ ngắt một cánh.

    Hắn cảm nhận sự mềm mướt như lụa, mát lành như lanh và hương thơm thoang thoảng của sen Dâm Đàm trên cánh hoa.

    Trên đường về, như tiện tay, Lê Tư Thành ngắt từng cánh, thả nhẹ qua khung cửa sổ xe ngựa.

    Mấy cánh sen như những chiếc thuyền nan chòng chành trên mặt nước đọng.

    Về đến cửa phủ Bình Nguyên, bó sen trong tay hắn vừa vặn chỉ còn cành, trơ trọi mấy bát sen non vàng óng bên trong.

    Lê Tư Thành thẳng tay liệng cả bó vào đống lá rụng sáng nay thằng hầu vừa vun ngay cổng.

    Chuyện ngày hôm nay, đương nhiên là do hắn vô ý.

    Nhưng cũng đáng khen cho ông trời đã hữu tình.

    ——

    Lê Nghi Dân khom lưng bê mấy chậu hoa vào sát bên trong hiên.

    Hắn vươn vai, đấm đấm thắt lưng.

    Chậu cây đầy đất vốn đã nặng, vừa xong lại được uống thêm một bụng nước, cúi xuống nhấc mà cảm tưởng hai cánh tay sắp rụng ra, bị kéo dính vào thành chậu đến nơi.

    Mưa như trút, mái gianh trên đầu sắp không chống đỡ được cơn mưa đầu mùa, phần mái lá nhô ra ngoài đã bị nước quật cho tơi tả.

    Hắn nhìn trời, ngáp dài một hơi, rồi lại lấy chân đá đá mấy chậu hoa cúc dưới chân, bụng bảo dạ chắc chắn mấy chậu cây này đi tong rồi.

    Kể từ khi quen Phùng Thục Giang, hắn phát hiện ra rằng trồng cây, chăm hoa cũng là một việc làm không vô ích cho lắm.

    Nên thi thoảng, hắn lại cùng nàng chăm cây, xới đất, gieo hạt, mấy việc lông gà vỏ tỏi mà trước đây chưa bao giờ hắn nghĩ mình sẽ động chân động tay vào.

    Vả lại hình như nhìn vào cây cối cũng có thể tiên đoán được tương lai phía trước của người trồng.

    Hắn vốn hứng thú với việc đánh cược cùng ông Trời, nên thành ra để tâm chăm cây lúc nào không hay.

    Tiếng bước chân chạy vội đạp trên nền đất ướt phát ra mấy tiếng tũng toẵng như cá quẫy mỗi lúc một rõ, chợt khựng lại vì mái hiên nhỏ chỉ đủ để hai người đứng, giờ đã bị mấy chậu cây chiếm phần.

    Phùng Thục Giang nhìn dáng vẻ lôi thôi cùng lưng áo đã ướt mất một nửa của Lê Nghi Dân đầy ái ngại, mấy ngón tay không ngưng vân vê cổ tay áo.

    "Anh ướt hết cả rồi kìa!

    Đang nắng chang chang rồi mưa ào một cái như thế mà anh cũng chạy ra ngoài trời được.

    Anh không sợ chết à?"

    Lê Nghi Dân thần người nhìn thiếu nữ cầm ô đang đứng cách mình vài bước chân.

    Trông dáng vẻ thì e dè, ngại ngùng, nhưng phải nghe cách nàng nói chuyện với hắn, mới nhận ra nàng không hề để tâm đến xuất thân của hai người.

    Nàng đang lo hắn dầm mưa sẽ nhiễm lạnh hay sao?

    "Có gì đâu.

    Nàng xem mấy chậu hoa kìa!

    Có khi ta còn chưa kịp chết, chúng đã chết trước rồi!"

    Nghi Dân nở nụ cười, lấp ló hàm răng đen bóng được nhuộm màu kĩ càng.

    Hắn đá chân mày, đánh mắt xuống mấy chậu cây sát chân.

    Mấy cây mầm còn chưa kịp rẽ đất vươn lên, hôm nay đã phải tắm một trận đại hồng thuỷ.

    Thôi thì coi như gian nan giúp chúng nhanh chóng tìm cho mình cuộc đời mới vậy.

    Mưa vẫn xối xả không ngớt.

    Hơi đất nóng bốc lên đã nhạt dần, trong không gian chỉ còn mùi mưa mát lành.

    Nhưng tán ô trên tay Thục Giang đã bắt đầu bạt đi vì những giọt mưa không ngừng nghỉ.

    Lê Nghi Dân dùng sức đẩy một chậu cây ra sát phía mép, đưa tay kéo Thục Giang vào trong hiên.

    Bờ hiên này không phải chỗ trú mưa lí tưởng, vì chỉ cần một người đứng, dù có nép đến mấy vẫn sẽ bị mưa hắt vào người.

    "Nàng đứng tạm vào đi!

    Méo mó có hơn không, còn hơn cứ đứng ngoài trời mãi."

    "Anh đứng chỗ đó thì cũng có khác gì đứng ngoài trời đâu.

    Lui lui vào đây!"

    Thục Giang vẫn mở ô ngay cả khi đang đứng gọn dưới mái gianh, một tay kéo Lê Nghi Dân sát lại cạnh mình.

    Từng giọt nước tí tách chạm xuống, vẽ ra những nét loang lổ trên nền đất, bắn những giọt nước bé xíu lên vạt váy nàng.

    Đôi chân nàng hơi co lại vì lạnh, mấy ngón chân trong dép khẽ động đậy khi nước mưa ngấm vào.

    Lê Nghi Dân đắn đo quay sang nhìn nàng, muốn nói gì đó rồi lại thôi.

    Hắn đưa tay định giúp nàng cầm ô nhưng Thục Giang nhất quyết không thả ra, khiến hắn chưng hửng, đành chịu thua, đứng yên bên cạnh nàng.

    Cả hai đưa mắt nhìn cơn mưa đang tưới mát những ngày hè oi ả.

    Lê Nghi Dân nhìn cơn mưa vừa mang thiếu nữ đang đứng bên tới tưới mát tâm hồn chai sạn của hắn.

    Phùng Thục Giang nhìn cơn mưa vừa mang thiếu niên trong đình ban nãy tới tưới mát tâm hôn ban sơ của nàng.

    Thì ra tâm hồn hai người họ chưa bao giờ sánh vai chung đường.

    Từ một góc phía xa, dưới mái hiên của một quán ăn ven phố, ánh mắt Lê Đắc Ninh vô tình va phải nụ cười tươi sáng của Phùng Thục Giang.

    Y đưa mắt sang phía Lê Nghi Dân, rồi lặng lẽ cụp mắt, quay người rời đi.

    ——

    Lê Tư Thành cơi bấc đèn dầu cho sáng hơn.

    Tiếng muỗi vo ve bên ngoài vườn là âm thanh duy nhất trong không gian lúc này.

    Hắn nhìn kẻ áo đen đang đứng phía trước, trán cau lại, ánh mắt chứa đầy tò mò.

    Lê Đắc Ninh đưa mắt lên, giật mình nhận ra một vết sẹo mờ mờ trên trán Lê Tư Thành.

    Nhưng y nhanh chóng thu lại sự bất ngờ ấy, vẫn cúi thấp đầu, thận trọng trao vào tay Tư Thành một phong thư nhỏ.

    "Lạng Sơn vương gửi thứ này cho điện hạ.

    Vương nhắn điện hạ đề phòng.

    Thần xin phép cáo lui."

    Nói rồi hắn kéo khăn đen che kín nửa gương mặt, nhanh chóng rời đi.

    Còn lại một mình, Lê Tư Thành giơ phong thư trước mặt, ngắm nghía một hồi, cuối cùng vẫn quyết định mở ra xem.

    Hắn không cần mở ra cũng có thể hiểu được ý tứ của Lê Nghi Dân.

    Thật ra, hắn hoàn toàn có thể đốt phong thư này ngay trước mặt Lê Đắc Ninh, như lời từ chối ngồi chung một thuyền với anh trai mình.

    Nhưng cuối cùng hắn lại không làm thế.

    Thậm chí, hắn cũng tự xác định được, việc nhận phong thư này rồi mở ra đọc chính là đã ngầm ngồi xuống, gật đầu lắng nghe câu chuyện của người anh cả.

    Tờ giấy nhàu nhĩ bên trong nguệch ngoạc đôi ba chữ, chỉ là tên vài cung điện trong cấm thành mà Lê Bang Cơ ghé qua hằng ngày.

    Thì ra ngoài thời gian thượng triều, hoàng đế cũng chỉ loanh quanh ở Kinh Diên, đi thăm hoàng thái hậu, và ghé tới cung Gia Hoà.

    Tên cung điện này níu suy nghĩ của Lê Tư Thành lại.

    Hồ như hắn đã nghe được cái tên này ở đâu đó từ rất lâu rồi.

    Nếu chỉ đơn giản là một cung điện bình thường thì chắc chắn là hắn sẽ không ấn tượng đến vậy.

    Hắn mân mê tờ giấy trong tay, rồi để ngọn lửa đèn dầu liếm trọn nó.

    Chỉ trong chớp mắt, ngọn lửa đỏ đã nuốt trọn phong thư, để lại vài mảnh tro tàn bay bay trong gió.

    Lê Tư Thành nhắm mắt cảm nhận mùi khen khét của giấy cháy, chầm chậm suy nghĩ.

    Hai cái tên gắn liền với cung điện này dần dần hiện lên trong đầu hắn: Trịnh Thị Ngọc Lữ, sủng phi của Thái Tổ, và Lê Thị Ngọc Dao, sủng phi của Thái Tông.

    Những người đàn bà là chủ nhân của cung điện này đều từng có được trọn vẹn trái tim hoàng đế.

    Nhưng đổi lại hết thảy những sủng ái của những ngày đầu tiên là kết cục trái ngang mà mỗi khi nhắc lại, ai cũng kín kẽ buông một tiếng thở dài.

    Lòng dạ đàn bà trong trời đất này chính là một vực thẳm vô hình, sâu hun hút không thấy đáy.

    Nhưng lòng dạ đàn bà dù sâu đến mấy, không bao giờ có thể qua mắt được bậc đế vương.

    Lê Tư Thành cười khẩy, thổi tắt ngọn đèn dầu, phủi áo đứng dậy.

    Trong cuộc chiến ngầm này, ai là kẻ thua, ai là kẻ thắng không còn quan trọng với Lê Tư Thành nữa.

    Điều duy nhất hắn coi trọng hiện giờ, là đến khi cuộc chiến kết thúc, vở hát hạ màn, ai mới là kẻ nắm được đằng chuôi.

    Vì lắm lúc kẻ chiến thắng lại không phải kẻ có được nhiều thứ mà người khác mong muốn nhất.

    ——

    Phùng Thục Giang nhìn chiếc ô đã ráo nước đặt ngay ngắn trên mặt bàn, cán ô làm bằng gỗ tốt hằn rõ lên từng đường vân tự nhiên đầy cầu kì.

    Nàng gõ nhẹ ngón tay lên cán ô, phân vân vì câu nói của thiếu niên hôm ấy.

    Không hẹn mà trời hôm ấy lại bất ngờ đổ mưa.

    Không hẹn mà nàng tìm chỗ trú mưa lại gặp hắn.

    Không hẹn mà hắn lại cho nàng mượn ô để đổi lại bó sen non mới hái.

    Không hẹn mà hắn để lại một lời hứa trả đồ.

    "Bằng không, ta sẽ tìm tới tận nơi để đòi."

    Mấy lần, nàng vốn định mang ô ra thuỷ đình để tìm trả hắn, nhưng cứ nghĩ tới câu nói ấy, nàng lại chần chừ.

    Vậy nên đã mấy hôm rồi, chiếc ô vẫn cứ nằm yên vị khi thì trong góc tủ, khi thì trên mặt bàn ở phòng nàng.

    Phần vì nàng chẳng biết hắn là ai, con cái nhà nào.

    Phần vì nàng muốn đợi xem, hắn sẽ tìm tới tận nơi để đòi kiểu gì.

    Hắn chẳng biết nàng là ai, nàng cũng chẳng hay hắn là kẻ nào.

    Nếu tìm được nhau thật thì chắc hẳn là duyên trời định đoạt.

    Đầu ngón tay lướt trên cán ô, vô tình chạm vào phần đáy lồi lõm những đường nét đan vào nhau.

    Thục Giang bất ngờ, lật ngược ô lại.

    Phần đáy cán, một chữ "灝" (Hạo) được khắc vô cùng tỉ mỉ hiện ra.

    Không hiểu vì lí do gì, mấy hôm nay, dù ngày nào nàng cũng ngắm nghía đến độ đã nhớ từng chi tiết trên ô mà lại vô tình bỏ qua phần đáy chuôi này.

    Bảo sao, nàng thấy bóng lưng thiếu niên đó có vài phần quen thuộc, cả giọng nói và phong thái của hắn cũng thế.

    Hoá ra đều là anh em họ Lê.

    Hết anh cả đến anh hai, giờ là em út, tưởng vô tình mà hình như cố ý chạm mặt nàng.

    Đã vậy, nàng sẽ giữ chiếc ô này, đợi xem Lê Hạo sẽ mang thứ gì đến để đổi lại.

    ——

    Lê Tư Thành kính cẩn dâng trà cho Ngô sung viên, rồi nhẹ nhàng lách ra phía sau, bóp vai cho bà.

    Ngô sung viên biết tính tình đứa con trai của mình, chỉ khi có việc gì đó muốn xin xỏ, Lê Tư Thành mới bày ra cái dáng vẻ như lúc này.

    Bình thường, con trai bà là một đứa hay để ý đến xung quanh, hay quan tâm đến mọi cử chỉ, thái độ của người khác nhưng luôn kiệm lời, ít hành động, chẳng mấy khi để cảm xúc lộ ra trên nét mặt.

    Ngô Thị Ngọc Dao thích một Lê Tư Thành như vậy, hơn là một Lê Tư Thành lom khom, bẽn lẽn như bây giờ.

    Bà xua tay, ra hiệu cho đám người hầu lui ra hết, để lại không gian riêng cho hai mẹ con.

    Ngoài thời gian tới Kinh Diên học tập cùng hoàng đế và các hoàng thân, bà còn có lời gửi gắm Lê Tư Thành tới chỗ hai vị thái bảo*.

    Bà nhìn gương mặt hơi sạm đi vì những chiều nắng gió trong sân nhà Đinh Liệt, bà nhìn đôi tay có vài vết chầy xước vì những buổi lăn lộn ngoài bãi ngựa nhà Nguyễn Xí, đáy mắt ánh lên vẻ hài lòng.

    Bà có cách dạy con riêng của mình.

    Xuất thân hoàng tộc có là gì khi không thể tự mình bảo vệ mình trước những gian lao.

    Bà không muốn Lê Tư Thành trở thành một con tò he làm bằng bột chỉ cần khẽ nhúng nước là mềm oặt ra.

    Bà lớn lên giữa cảnh binh đao, hơn ai hết, bà muốn con trai bà thừa sức rong ruổi khắp chốn nên mới nhờ tới hai vị thái bảo như vậy.

    *Nguyễn Xí, Đinh Liệt

    "Mẫu thân, con muốn lấy vợ!"

    Ngô sung viên giật mình trước câu nói cộc tuếch của Tư Thành.

    Bà nhìn hắn chằm chằm như không tin vào tai mình.

    Vừa ngồi xếp bằng ở phía đối diện, gương mặt Lê Tư Thành cũng hết sức nghiêm túc, không hề tỏ ra thuận miệng hay đùa cợt.

    "Không biết con gái nhà ai lọt được vào mắt xanh của Bình Nguyên vương thế này?"

    Bà nhìn Lê Tư Thành một hồi, biết con không đùa, mới cười nhẹ, tiện tay têm ít vôi lên mấy lá trầu trong tráp.

    Chuyện dựng vợ gả chồng cho Lê Tư Thành không phải bà chưa nghĩ tới.

    Bà biết mối lương duyên bên bờ sông của Lê Tư Thành và con gái điện tiền chỉ huy sứ Nguyễn Đức Trung.

    Vô tình hay cố ý cũng được, bà hết sức hài lòng với Nguyễn Minh Huyên.

    Chỉ là bà chưa từng nghĩ tới một ngày Lê Tư Thành lại chủ động mở lời về chuyện này trước khi bà ngỏ ý.

    "Con gái thứ nhà gián nghị đại phu Phùng Văn Đạt, Phùng Thục Giang."

    "Họ hàng với tư đồ tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn?"

    Lê Tư Thành gật đầu xác nhận câu nói của Ngô sung viên.

    Thì ra bao tiểu thư lá ngọc cành vàng ở Đông Kinh này bà đều nắm rõ xuất thân cả.

    Mà có lẽ cả con người các nàng thế nào, bà cũng đã nắm trong lòng bàn tay cả rồi.

    Thà rằng nói trước xem ý bà ra sao, còn hơn đến lúc sự đã rồi lại trở tay không kịp.

    Không ngờ, Ngô sung viên chỉ nhắm mắt gật gù, rồi lại quay lại với việc têm trầu còn dang dở.

    "Tiểu thư ấy có điểm gì tốt mà điện hạ phải lòng?"

    "Về sống cùng một nhà, mẫu thân sẽ nhận ra thôi."

    "Nhỡ tiểu thư ấy không đồng ý lấy điện hạ thì sao?"

    "Vậy nên Tư Thành mới xin mẫu thân vào cung thỉnh thái hậu ban hôn."

    Lần này thì Ngô Thị Ngọc Dao thực sự ngỡ ngàng.

    Bà không ngờ Tư Thành lại kiên quyết đến thế.

    Hắn chưa bao giờ nhắc tới chuyện lứa đôi trước mặt bà, cũng chưa bao giờ tỏ vẻ quan tâm tới bất cứ thiếu nữ nào.

    Bà biết chuyện gặp gỡ của hắn với Nguyễn Minh Huyên, bà còn đồ rằng hôm nay Tư Thành muốn ướm ý bà để hỏi cưới nàng ấy.

    Vậy mà hắn lại nhắc tới một thiếu nữ khác, một người mà bà có nghe nói tới, cũng không ngờ được là con trai mình lại biết nàng.

    "Đó là người cả cuộc đời về sau này sẽ sánh vai cùng điện hạ, chứ không phải mẫu thân.

    Điện hạ nghĩ kĩ rồi chứ?"

    Không có tiếng trả lời.

    Nhưng vẻ mặt cùng ánh mắt của Lê Tư Thành chính là câu trả lời rõ ràng nhất cho Ngô sung viên.

    Hắn đã hạ quyết tâm lấy người con gái ấy, là sẽ tìm cách thực hiện cho kì được mới thôi.

    Nàng không tự giác mang trả ô, vậy thì dùng cả phần đời còn lại để trả ta vậy.

    ——

    "Anh có nghe thấy tiếng gì không?"

    "Tiếng gì?

    Ta chỉ nghe thấy tiếng nàng thôi.

    Giữ yên lặng xem nào!"

    Lê Nghi Dân ngồi xổm sau bức tượng đá trong ngôi miếu bỏ hoang, một tay bịt kín miệng Phùng Thục Giang, tay kia đã chạm vào đoản kiếm trong thắt lưng.

    Lực tay hắn mỗi lúc một mạnh, Thục Giang chỉ biết im lặng, cố gắng thở thật khẽ, làm theo những gì hắn vừa thì thầm vào tai nàng.

    Ngôi miếu hoang này nằm khuất sau khu chợ cóc gần bãi bồi, không mấy khi có người ghé qua.

    Chiều nào nàng cũng trốn thầy u ra sau miếu, lặng lẽ ngồi hàng giờ đợi Lê Nghi Dân luyện xong sẽ dạy võ cho nàng.

    Hắn bảo rằng dù là con gái đi chăng nữa, cũng nên biết chút quyền cước để có thể phòng thân.

    Hắn lắc đầu ngán ngẩm khi nàng kể lại chuyện cái Ngọc biết võ, dạy nàng chiêu này chiêu kia.

    Mỗi ngày đến đây, hắn và nàng mỗi người một cành cây khô, hắn làm mẫu, nàng bắt chước theo.

    Tối tối về nhà, nàng lại tỉ mẩn vẽ lại từng động tác ra giấy, hôm sau giơ ra hỏi lại hắn.

    Hắn cũng không vội, kiên nhẫn ngồi sửa lại nếu nàng vẽ sai.

    Ngày qua tháng lại, hắn dạy nàng ghép những động tác ấy, trở thành chiêu võ riêng mà hắn dạy cho nàng.

    Ngày nào cũng tới đây nhưng chưa bao giờ Thục Giang bước chân vào bên trong miếu.

    Vừa xong, khi ráng chiều còn chưa buông, Thục Giang còn đang mải mê cầm cành cây bắt chước theo từng đường quyền của Lê Nghi Dân, hắn bất ngờ quăng mấy cành cây qua một bên, không nói không rằng vội vã kéo nàng vào miếu, ngồi xuống phía sau bức tượng Quan Công uy nghiêm, trầm mặc.

    Hắn hơi nhích người, hé mắt ngó ra ngoài, yên lặng lắng nghe động tĩnh xung quanh.

    Nhưng đáp lại sự cảnh giác của Nghi Dân chỉ là tiếng gió thổi hun hút qua khe cửa như tiếng cười man dại của rặng tre buổi đầu đông lạnh giá.

    "Anh nghe nhầm à?"

    Thục Giang thì thà thì thào, mấy ngón tay nàng gãi gãi vào bàn tay Nghi Dân đang bịt kín miệng mình, ra hiệu không nói được.

    Rơm rạ, chiếu chăn cũ mèm, rách nát trải đầy nền miếu, mùi ẩm mốc, hôi hám bốc lên ngày càng khó chịu.

    Lê Nghi Dân nhanh chóng buông nàng ra, ngồi phịch xuống phía sau, hơi thở phào nhẹ nhõm nhanh chóng bị cơn ho đến phá nhiễu.

    Hắn ho sặc sụa vì không khí tù túng trong này.

    Thục Giang nửa quỳ nửa ngồi vỗ vỗ lưng, rút chiếc khăn lụa trong ống tay áo, dúi vào tay hắn.

    "Nàng biết thiếu nữ trao khăn tay cho thiếu niên có nghĩa là gì không?"

    Hắn nắm chặt tay nàng qua chiếc khăn lụa, cơn ho vẫn chưa dứt nhưng không kìm được mà phải trêu nàng vài câu.

    Thục Giang hốt hoảng rụt tay lại.

    "Sao anh toàn hỏi mấy câu kiểu này thế!

    Tôi mà biết thì tôi đã không làm!"

    Nàng hậm hực ngồi qua một phía, nghiêng người ngó ra bên ngoài, "Mà vừa xong anh bị làm sao vậy?

    Quân tử gì chỉ suốt ngày lôi xềnh xệch tôi từ chỗ này qua chỗ khác."

    "Sợ chết.

    Sợ chết quá sớm!

    Chưa kịp làm nhiều việc đã phải chết.

    Như việc chưa kịp làm quân tử của nàng thì đã phải chết vậy."

    Thục Giang bĩu môi, xua xua đống rơm rạ, chán chường ngồi dựa vào lưng bức tượng.

    Kể từ khi biết Lê Nghi Dân, nàng luôn thấy quanh hắn vất vưởng một thứ không khí u buồn, trầm mặc.

    Hắn không bao giờ cười, nói chính xác hơn thì hiếm khi thấy hắn cười trước mặt ai.

    Nhưng đặc biệt, hắn rất hay cười với nàng.

    Vô số lần nàng chứng kiến hắn đang vui vẻ nói cười với nàng, ngay lập tức cất giấu nụ cười ấy đi khi có người thứ ba xuất hiện.

    Rồi cái thứ không khí trầm buồn ấy lại như một lớp sương mờ bao phủ lấy hắn, ngăn cách hắn với cuộc sống xung quanh.

    Nàng biết nụ cười ấy có ý gì.

    Nhưng vô số lần hắn cười với nàng, cũng là vô số lần nàng vờ không biết mà ngoảnh đi.

    Những điều lớn lao mà bờ vai của hắn đang gánh vác, nàng không nghĩ rằng mình có thể san sẻ bớt cùng hắn.

    Nói nàng hèn nhát cũng được, nói nàng yếu đuối cũng được, nói nàng vô tình cũng được, cả đời nàng chỉ muốn giữ mãi tình bạn trinh nguyên này.

    Nhận ra vừa xong chỉ là sự đề phòng quá mức của bản thân, Lê Nghi Dân mới thả lỏng người, nhưng chiếc khăn tay thêu bộ 氵* vẫn nằm gọn gàng trong tay hắn.

    *Bộ Thuỷ

    "Nếu năm mười sáu tuổi nàng vẫn chưa có ai thèm rước, Lê Nghi Dân sẽ lấy nàng làm vợ."

    Lê Nghi Dân vừa nói dứt câu, chợt cảm thấy câu nói của mình có gì đó không đúng.

    Hình như đây là một lời hẹn ước.

    Đến chính hắn cũng bất ngờ vì câu nói của mình.

    Thục Giang ngẩn người nhìn hắn.

    Hồi lâu, tuồng như đã hiểu hết câu nói ấy, nàng mới bật cười gật đầu trả lại hắn một câu "Anh lo mà làm quân tử đi!" rồi chạy biến ra cửa.

    Bóng dáng nhỏ bé khuất dần sau những bụi cây um tùm và những gánh hàng rong đang trên đường về nhà sau một ngày dài bôn ba buôn bán.

    Năm nay nàng mười bốn, hắn hẹn nàng năm mười sáu tuổi.

    Hai năm nữa.

    Hắn tự đặt một khoảng thời gian hai năm để thực hiện hết thảy những việc trọng đại mà hắn đã vạch sẵn ra cho cuộc đời mình.

    Sau hai năm ấy, đại sự phải thành.

    Nếu không, hắn cũng không biết phải đặt cho mình thêm những mốc thời gian ra sao.

    Năm năm, mười năm, hay hai mươi năm?

    Cuộc đời không cho con người ta nhiều lần lựa chọn như vậy.

    Con đường mà Lê Nghi Dân đã chọn, hắn sẽ đi đến cùng.

    Trong cuộc sống, không bao giờ có đồng minh vĩnh viễn, chỉ có bản thân hắn và những kẻ chấp nhận hi sinh vì hắn mà thôi.

    Lê Nghi Dân cất gọn chiếc khăn lụa vào bên trong vạt áo, quay lại nhếch môi cười với tượng Quan Công "Ta chưa bao giờ muốn trở thành quân tử!", rồi như một cái bóng vô hình âm thầm rời khỏi ngôi miếu hoang.

    Lúc này, kẻ vừa gây ra tiếng động lạ khiến Lê Nghi Dân đề phòng mới chầm chậm bước ra từ sau thành giếng.

    Có lẽ đã trở thành thói quen suốt mười năm nay, khi không có việc gì làm, Lê Đắc Ninh đều lẳng lặng đi theo Lê Nghi Dân.

    Y luôn cảm thấy mình phải có trách nhiệm theo sát, để ý và bảo vệ chủ nhân, mà không biết từ khi nào, y tự thấy hành động của mình thật giống đang theo dõi người khác.

    Y bước chân vào trong miếu, ngước lên thì bắt gặp ánh mắt bức tượng Quan Công uy vũ đang chằm chằm theo sát từng hành động của mình, cả người nổi đầy gai ốc.

    Lê Đắc Ninh không thẹn với trời, không thẹn với đất, y tâm niệm mọi việc y làm đều chỉ vì muốn đòi lại những thứ vốn thuộc về gia đình y, vốn không đáng bị người khác đạp đổ vô cớ như thế.

    Đắc Ninh chưa bao giờ nghĩ việc mình làm là sai trái.

    Nhưng bỗng nhiên, khi nhìn vào ánh mắt của bức tượng vô tri vô giác cao lớn, y bỗng cảm thấy một thoáng run sợ, rụt rè.

    Liệu bao nhiêu việc y làm từ trước đến giờ cho Lạng Sơn vương có thực sự là những việc chính đáng?

    Lẩn trong mùi rơm rạ mốc meo, ẩm thấp của nơi này là hơi thở ấm áp còn sót lại của hai người vừa mới rời đi.

    Chính cảm giác ấm áp ấy khiến Đắc Ninh run rẩy.

    Dường như y đã quá quen với cái lạnh lẽo, vô tình, để đến khi có hơi ấm thoáng qua, y lại sợ hãi đến thế.

    Vì cảm giác này thật lạ lùng, vì cảm giác này thật dễ chịu nên y sợ vì biết rằng nó sẽ mau chóng tan biến đi thôi.

    Và đột nhiên Đắc Ninh muốn níu lấy nó.

    Đắc Ninh ngồi xuống phía sau, tựa lưng vào bức tượng như Nghi Dân và Thục Giang vừa làm.

    Y nhắm mắt, lắng nghe tiếng gió rít lại từ phía sau vành tai.

    Tuồng như trong một khoảnh khắc, giữa tiếng gió như ma quỷ gào rú ấy, y đã nghe được tiếng cười lanh lảnh, vui vẻ như tiếng chuông gió giữa trời.

    Đó là tiếng cười hạnh phúc mà bao nhiêu đêm y đã hằng mơ.

    Bỗng nhiên, Đắc Ninh muốn có một thanh âm như thế bên đời.

    Cả đời y sẽ chẳng bao giờ có thể cười như thế, nhưng liệu có ai chấp nhận làm một con chim nhỏ líu lo cạnh y nữa không?

    Đứa bé bảy tuổi lầm lì, yếu ớt ngày nào bất chợt sống lại trong Lê Đắc Ninh.

    Y biết những khi y buồn nhất, yếu lòng nhất, đứa bé bảy tuổi ấy sẽ sống lại.

    Nó ngăn cản y nghĩ tới những chuyện tương lai.

    Nó kéo y về cái thuở cả gia đình y tuy hàn vi nhưng hạnh phúc.

    Thuở ấy thầy y sẽ kéo trâu ra ruộng từ tờ mờ sáng, mẹ y sẽ theo các bác hàng xóm sang phường vải kéo sợi, ba anh em y sẽ ngồi ké bên nhà ông thầy đồ học mót con chữ.

    Thuở ấy tuy nghèo nhưng gia đình y đầy đủ người thân, sum vầy hạnh phúc.

    Rồi y khóc.

    Lê Đắc Ninh khóc như một đứa trẻ bảy tuổi mất hết tất cả người thân trên đời.

    Y nằm trượt dài theo đống rơm rạ dưới lưng, ánh mắt chòng chọc nhìn lên trần nhà, vẫn là ánh mắt đen trong vắt như đá mã não, vẫn là vẻ hoang vu như đại ngàn ẩn sâu dưới ấy.

    Y đưa tay gạt đi những dòng nước mắt lã chã, nụ cười cố vẽ trên môi trở nên méo mó, kì dị.

    "Đến Lạng Sơn vương còn không thể trở thành quân tử nữa là ta.

    Cả đời ta chưa bao giờ muốn và không bao giờ có thể trở thành quân tử."

    ——————

    Hết chương 4.
     
    [Dã Sử Việt] Đông Kinh Năm Ấy - Lê Thánh Tông, Phùng Chiêu Nghi
    CHƯƠNG 5: BÌNH NGUYÊN VƯƠNG PHỦ


    Gió sông Nhị thổi vào mỗi lúc một mạnh, hất tung mái tóc của mấy người đi đường.

    Bọn hầu không đứa nào bảo đứa nào, lục đục kéo nhau ra tít tận mép nước, nhặt nhạnh mấy viên sỏi lên bãi đất cạnh đấy, ngồi xuống chơi ô ăn quan.

    Mấy đứa chúng nó chẳng tập trung chơi được mấy, cứ thỉnh thoảng lại xì xà xì xầm, thi nhau liếc liếc lên phía gốc cây gạo, nơi có bốn người đang lặng lẽ ngồi.

    Một đạo thánh chỉ, thay đổi hoàn toàn số phận của những con người ngồi đây.

    Lê Khắc Xương còn đang và dở dang bát cơm trưa, buông đũa buông bát nghe thánh chỉ xong ngay lập tức hộc tốc rời phủ tìm Lê Nghi Dân, vứt lại bát cơm vẫn còn một nửa trên sập.

    Trịnh Phương Liên bị đứa hầu kéo xềnh xệch từ nhà dưới lên, phủi phủi váy áo vài cái rồi quỳ sụp bên cạnh thầy Thả, cả người run bần bật khi nội quan đọc từng câu từng chữ trong thánh chỉ.

    Nội quan còn đang ngồi thưởng trà cùng ông Thả, nàng đã lén lút trốn sang phủ họ Phùng bằng lối cổng sau.

    Lê Nghi Dân nghe như nuốt từng lời của Lê Khắc Xương, bàn tay giấu trong ống áo dài đã nắm chặt thành quyền, từng đường gân xanh nổi lên rõ ràng, lồng ngực như bị ai bóp nghẹt ngăn không cho trái tim thổn thức, nhưng gương mặt vẫn không lộ rõ cảm xúc, bình lặng như nước hồ thu.

    Dường như chỉ có tâm trạng Phùng Thục Giang không hề lay động trước đạo thánh chỉ ấy.

    Thì ra Lê Hạo dám tìm tới tận nơi để đòi thật.

    Mà hắn lại dám bắt nàng trả bằng cả một đời như thế.

    Họ ngồi yên lặng như vậy đã hơn hai canh giờ.

    Tuy cạnh nhau nhưng mỗi người lại đang theo đuổi một miền suy nghĩ riêng của mình.

    Mới đêm qua thôi, họ còn là những thiếu nam, thiếu nữ vô tư.

    Nhưng hai canh giờ trước, lời ban hôn như sấm truyền của người đàn bà quyền lực nhất trời Nam đã kéo cuộc đời họ ra các lối rẽ hoàn toàn khác trước.

    Nghi Dân đưa mắt nhìn Thục Giang, hàng mi dài của nàng khẽ rung rinh trong gió, như đang thu hết ánh chiều vàng vọt vào sâu trong đôi mắt.

    Hắn chưa bao giờ nghĩ rằng mọi sự sẽ đi theo hướng này.

    Mẹ con hắn xưa nay luôn là cái gai trong mắt Tuyên Từ hoàng thái hậu, hắn không thể đẩy việc này đi xa hơn nữa.

    Bằng không, đại sự mà hắn vẫn ấp ủ sẽ mãi là những suy tính nằm trong đầu hắn, sẽ mãi là những con chữ vô tri nằm lẳng lặng trên trang giấy trắng, sẽ mãi là trò trẻ con trong mắt Nguyễn thị.

    Đến lúc ấy, bản thân hắn cũng chưa chắc bảo vệ được chính mình, chứ đừng nói đến bảo bọc thêm cho ai.

    "Từ hôn là kháng chỉ.

    Cứ theo ý Lệnh bà mà làm."

    Lê Khắc Xương lên tiếng, phá vỡ bầu không khí ngột ngạt, khó chịu đang vây lấy họ.

    Chàng đan chặt năm ngón tay mình vào bàn tay mềm mại ấm áp của Phương Liên.

    "Tôi chưa hề có ý định từ hôn," Thục Giang ngập ngừng, nhưng rồi cũng hạ quyết tâm mà nói ra những lời từ sâu trong lòng mình, "tôi nguyện ý gả cho Bình Nguyên vương, mọi người đừng lo."

    Lê Nghi Dân sững sờ nhìn nàng, bàng hoàng như chưa kịp tin vào những gì mình vừa nghe được.

    Hắn những tưởng nàng sẽ đong đỏng đòi lấy người khác, hắn những tưởng nàng sẽ cuống quýt nhờ hắn, nhờ Khắc Xương tìm cách, hắn những tưởng nàng sẽ lu loa lên với Phương Liên rằng sẽ không lấy một người mà mình không có tình cảm, hắn những tưởng nàng đã có ý trung nhân, hắn những tưởng nàng sẽ nói với hắn rằng nàng thích hắn,...

    Bao nhiêu tưởng tượng của Lạng Sơn vương tan biến như mây khói sau lời nói chắc nịch của Thục Giang.

    Quả nhiên, là hắn tự đa tình rồi.

    Vả lại, nàng là phận con gái, cũng chẳng có quyền lên tiếng về chuyện trăm năm của chính mình.

    Nàng quay lại nhìn hắn, nở nụ cười nhẹ như làn gió trong một ngày nắng tháng ba, đuôi mắt cong cong như đong trọn tâm tình của hắn.

    "Tôi có người rước rồi nhé!

    Có duyên gặp gỡ, không có duyên kết phu thê, cả đời là bằng hữu tốt."

    Nói rồi, Thục Giang với lấy chiếc nón, toan dời bước.

    Nghi Dân đưa tay níu lấy tay nàng, rồi như có chút ngượng ngập, lại vội buông tay, để lại cánh tay mình trơ trọi giữa không trung, còn cánh tay Thục Giang mất đà buông thõng xuống.

    "Lời này của nàng, Lê Nghi Dân mãi không quên."

    Thục Giang khẽ gật đầu, quay bước.

    Đôi chân nàng đạp lên đám sỏi đá lạo xạo, đạp lên cả những suy tư ngổn ngang trong lòng.

    Bước chân nàng chầm chậm rời khỏi bờ sông.

    Con người đôi khi phải biết sống vì chính bản thân mình hơn là sống vì người khác.

    Lúc trưa, khi biết chuyện ban hôn của Nguyễn thái hậu, nàng đã cẩn thận quan sát thái độ của cả mẹ, cả thầy.

    Giọng nói nheo nhéo của viên nội quan vừa dứt, gấu áo ông ta vừa biến mất sau cánh cửa phủ cũng là lúc thầy nàng không còn đứng vững nữa.

    Thầy biết chị em nàng đã đến tuổi vấn tóc cài trâm, vốn định tìm một gia đình môn đăng hộ đối để gả vào, những mong cả đời chị em nàng được bình an mà sống như cái tên của hai nàng.

    Vậy mà không biết cơ duyên nào đẩy một đạo thánh chỉ ban hôn lên người nàng, chỉ qua một vài con chữ mà nàng trở thành vợ của Bình Nguyên vương.

    Còn mẹ nàng thì hoàn toàn vô cảm trước đạo thánh chỉ ấy.

    Bà dường như chẳng mấy bận tâm đến việc sắp trở thành mẹ chồng của thân vương, trở thành người trong hoàng tộc.

    Dường như việc lớn đến động trời đối với phủ quan gián nghị họ Phùng lại chẳng mảy may ảnh hưởng tới sự kiêu kì, khó gần của mẹ nàng.

    Thục Giang vốn cũng thắc mắc trước thái độ trái ngược của hai đấng sinh thành, nhưng lại chẳng biết mở lời ra sao nên đành im lặng.

    Lê Nghi Dân có những toan tính riêng của mình, đương nhiên Thục Giang biết.

    Tình cảm mà Lê Nghi Dân dành cho nàng, đương nhiên nàng phải là người hiểu rõ nhất.

    Nhưng nàng chỉ coi hắn là một người bạn, một kẻ tâm giao.

    Nàng không muốn mình trở thành gánh nặng cho hắn.

    Nàng càng không muốn hắn vì một người con gái không yêu mình mà hao tâm tổn trí.

    Lạng Sơn vương hay Bình Nguyên vương cũng vậy cả.

    Nhưng lệnh của Tuyên Từ hoàng thái hậu là vậy, cả gia tộc nàng cũng chẳng có quyền lựa chọn.

    Kiệu hoa năm ấy tám kẻ khiêng, tiếng pháo nổ đùng đoàng bên tai cùng khói pháo, xác pháo bay mù trời khiến Thục Giang không thể nhìn rõ con đường từ phủ quan Gián nghị tới phủ Bình Nguyên vương.

    Các cụ từng dặn, con gái trên đường về nhà chồng, không bao giờ được ngoái lại phía sau.

    Thục Giang của năm ấy, có muốn cũng chẳng thể ngoái lại nhìn.

    Cuối cùng người thiếu niên trong thuỷ đình hôm ấy cũng đến tận nơi để đòi lại chiếc ô mà hắn cho nàng mượn rồi.

    Nhưng liệu hắn có chủ đích gì không?

    Hay đơn giản chỉ là một đạo thánh chỉ ban hôn của thái hậu, còn lại toàn là những tưởng tượng hão huyền của nàng.

    Nàng nhận ra hắn vì chữ "Hạo" ấy.

    Nhưng ai dám chắc hắn có biết người kết tóc se duyên với hắn hôm nay lại là người mượn ô của hắn hôm ấy hay không?

    Hay hắn cưới nàng theo ý thái hậu, còn bản thân vẫn mải miết đi tìm người con gái ấy?

    Hay hắn cũng quên luôn chuyện chiều mưa ấy rồi?

    Lòng Thục Giang toàn những ngổn ngang.

    Bước chân xuống kiệu hơi loạng choạng, chiếc mũ cưới trên đầu nặng trĩu che khuất tầm nhìn, dồn người nàng về phía trước, suýt chút nữa đã vấp ngã khi chưa qua cổng phủ Bình Nguyên.

    Lê Tư Thành đưa một tay đỡ nàng, ánh mắt vô cảm quét qua người nàng một lượt, rồi lại lạnh lùng nhìn thẳng.

    Thì ra hết thảy mọi chuyện đều là nàng tự đa tình, hắn đâu có biết chuyện gì đâu.

    Cái Ngọc nâng tà áo đối khâm dài quá mắt cá, nhanh nhẹn đỡ Thục Giang bái lạy Ngô sung viên.

    Người phụ nữ phúc hậu chăm chú dõi theo từng cử chỉ của cả nàng dâu mới lẫn đứa hầu, mỉm cười kín đáo, khẽ gật đầu hài lòng.

    Bà đã nghe qua về người con gái này, hoàn toàn không có gì đặc biệt.

    Cái sự bình bình của nàng ta khiến bà có đôi chút lo lắng, nhưng chính cái sự bình bình hôm nay bà được tận mắt chứng kiến lại khiến bà an tâm.

    Người con gái này, có thể không giúp quan lộ của Lê Tư Thành rộng mở thênh thang, nhưng chắc chắn không cản bước đường của con trai bà.

    Thục Giang cảm thấy dường như mình đã ngồi yên lặng trong gian phòng này một vài canh giờ rồi.

    Mũ hỉ trên đầu nặng đến mức khiến nàng muốn gục cổ xuống, nhưng nhớ tới lời mẹ dặn, nàng lại tiếp tục cố gắng ngồi thẳng lưng.

    Cái Ngọc không được vào phòng, chỉ có một mình nàng nheo mắt nhìn bóng tối buông xuống không gian.

    Cánh cửa phòng tân hôn kẽo kẹt khép vào, bỏ lại bên ngoài kia màn đêm tối tăm, tiếng người cười nói hân hoan và tiếng chạm chén còn chưa dứt.

    Lê Tư Thành tiến lại, ngồi kế bên Thục Giang, người vương đầy hơi men.

    "Ta còn tưởng nàng không chịu lấy ta."

    Lê Tư Thành mở lời, không đầu không đuôi, không biết hắn đã say hay vẫn tỉnh.

    "Nghe nói buổi sáng hôm đó nàng còn đang thong thả phơi hoa gạo, ngâm trà, làm bánh để mang tặng ý trung nhân.

    Vậy mà mặt trời còn chưa kịp tỉnh giấc, xe lễ vật của Bình Nguyên vương phủ đã dừng ngay cổng nhà nàng rồi."

    Thục Giang mặc kệ hắn nói một mình, chậm rãi gỡ từng món trang sức trên người, không mấy bận tâm tới lời hắn.

    "Đáng tiếc là các anh lớn nhà ta đều đã thành gia lập thất cả.

    Từ Lê Nghi Dân, đến Lê Khắc Xương, rồi Lê Bang Cơ..."

    Thục Giang thất kinh quay lại nhìn Tư Thành.

    Hắn vừa nói thẳng tên huý của đương kim thành thượng không hề ngại ngần.

    Dù hắn có là em trai hoàng đế đi chăng nữa, dưới bầu trời này, tên huý của thánh thượng không phải thứ thích gọi là gọi.

    "Lại cứ phải nhắc đến một vài cái tên, nàng mới chịu đối diện với ta."

    Hắn lắc lắc đầu cười, kéo nàng sát vào người.

    "Điện hạ vừa gọi tên huý của thánh thượng."

    Hắn chăm chú nhìn nàng rồi bật cười thành tiếng.

    Hương rượu nồng cùng cảm giác lạ lẫm trong vòng tay hắn khiến nàng có chút không thoải mái.

    Nàng cắn môi nghĩ xem nên tiếp lời như thế nào, nhưng mắt không rời khỏi gương mặt tuấn tú của Tư Thành.

    Ánh mắt sáng ngời của hắn có chút hiền dịu của Khắc Xương, lại pha chút ngang tàn của Nghi Dân.

    Ánh mắt này với nàng không hề xa lạ.

    "Điện hạ vừa gọi tên huý của thánh thượng."

    Thục Giang cẩn trọng nhắc lại từng lời vừa nói, chặn ngang tràng cười của Tư Thành.

    Hắn cúi xuống nhìn nàng, nụ cười thu lại trên khoé môi.

    "Thánh thượng sẽ không vì một lần ta gọi tên huý mà trách phạt."

    "Nhưng còn hoàng thái hậu..."

    "Chuyện hôm nay chỉ có ta biết, nàng biết.

    Ta không nói, nàng không kể thì làm sao thái hậu có thể biết để mà trách mắng?"

    Tư Thành cười tự đắc, vòng tay hắn ngày càng siết chặt hơn.

    Hắn nhìn người con gái bé nhỏ trong lòng, mắt ánh lên vài tia ẩn ý.

    "Sao điện hạ dám chắc chắn rằng ta sẽ không kể chuyện này ra?"

    Hắn đột ngột buông tay, nhấc hai vai nàng lên, để gương mặt nàng đối diện với gương mặt hắn.

    Thục Giang cũng không e ngại, nhìn thẳng vào đôi mắt sâu thẳm như đáy vực kia.

    Hắn là người như thế nào nàng còn chưa biết rõ, sao có thể nhanh chóng lùi bước để hắn lấn lướt hơn?

    "Ta sẽ bảo vệ nàng, không để bất cứ người nào có thể biết được chuyện đêm nay."

    Hắn buông hẳn nàng ra, đứng dậy, toan dời bước.

    "Kể cả Lê Nghi Dân."

    Năm tiếng cuối cùng rớt lại nơi mép phản, bên cạnh người con gái vừa mất đà ngã xuống.

    ——

    Bình minh rót xuống đài Vọng Minh những tia nắng đầu tiên của ngày mới.

    Sáng cuối đông nhưng tiết trời vẫn còn lạnh, mưa phùn đã ngừng nhưng gió bấc vẫn hun hút khiến đôi vai thiếu nữ so lại.

    Người trong toà thành này vẫn đồn thổi nhau về xuất thân của vị cung nhân kia.

    Rằng hoàng đế đã gặp nàng ta như thế nào, rằng hoàng đế đã phải lòng nàng ta ra sao, rằng vì lẽ gì mà hoàng thái hậu lại ghét nàng ta như vậy,...

    Cuối cùng vẫn là vì xuất thân của nàng ta giống với thái hậu quá, khiến người nhớ lại những chuyện từ thuở hàn vi mà sinh bực bội, chán ghét.

    Những lời to nhỏ của đám cung nữ rỗi việc vô tình lọt vào tai Lê Tư Thành.

    Bước chân hắn không bị níu lại bởi những lời đồn đoán ấy, nhưng tâm trí khó dứt khỏi những suy nghĩ riêng.

    Cuối cùng thì anh hùng vẫn khó qua được ải mĩ nhân.

    Mới nghe tới chuyện của hoàng thái hậu và vị cung nhân kia, người ta còn tưởng đang nghe lầm chuyện của bà Đàm thái hậu* và bà Linh Từ** năm nào.

    *Mẹ đẻ vua Lý Huệ Tông.

    **Chính thất của vua Lý Huệ Tông.

    Lê Tư Thành thích những người phụ nữ không cần học nhiều hiểu rộng, nhưng không phải loại người ngu ngốc, si đần, bảo gì làm nấy.

    Biết nhiều, biết ít cũng được, nhưng quan trọng nhất vẫn là biết thân biết phận.

    Phụ nữ dù giỏi giang bao nhiêu thì vẫn là phụ nữ, cần phải biết nép mình về phía sau.

    Điều này Nguyễn Minh Huyên không giỏi bằng Phùng Thục Giang.

    Nàng ta không giấu giếm được những tham vọng in sâu trong đáy mắt.

    Câu chuyện cô thiếu nữ vo gạo bên bờ sông hắn thừa biết không phải vô tình.

    Nàng ta muốn hắn lo đời đâu đấy rồi hẵng lo những chuyện khác, vậy nếu đợi được thì nàng ta cứ việc đợi.

    Phùng Thục Giang theo Lê Tư Thành vào cung vấn an Nguyễn thái hậu.

    Nàng nghe được những lời vừa nãy, thừa biết người đi bên cạnh cũng đã nghe được.

    Bước chân hắn có chút chậm lại, nhưng không phải để nghe ngóng, mà để đợi nàng đang dần tụt lại phía sau.

    Những cảnh hồ sen, thuỷ đình, kì hoa dị thảo níu chặt ánh mắt người thiếu nữ.

    Những thành quách dọc ngang, những mái đình đỏ cong vút choáng ngợp tầm mắt của nàng.

    Tất cả danh lam thắng cảnh trên mảnh đất này đều không thể so được với toà thành lộng lẫy nơi nàng đang in dấu chân.

    Cái Ngọc đi sau khẽ thúc vào lưng, đẩy Thục Giang ra khỏi những suy tư mộng mơ của mình.

    Nhìn thấy Lê Tư Thành đã bước lên trước một đoạn, nàng vội vã nâng vạt áo, rảo bước theo sau.

    "Có những việc nên biết ít đi một chút cũng không thiệt thòi đằng nào.

    Nữ nhân các nàng, quan trọng vẫn là biết giữ mình."

    "Điện hạ dạy phải."

    Sau đêm hôm ấy đùng đùng bỏ đi, hắn cũng chẳng về phòng nghỉ nữa.

    Nghe đám gia nhân nói đêm nào hắn cũng đọc sách tới muộn rồi ngủ lại luôn ở thư phòng.

    Nàng cũng chẳng quan tâm.

    Nàng còn bận rộn hằng ngày tới phòng Ngô sung viên, hầu bà pha trà, làm bánh, theo bà đi lễ chùa, lại quay về phủ học việc nữ công.

    Thầy u yên tâm gả nàng vào phủ Bình Nguyên, phần cũng mong có cây cao bóng cả chở che, phần cũng vì người mẹ chồng như Ngô sung viên chắc hẳn sẽ dễ chịu hơn người mẹ chồng như Nguyễn Thái hậu.

    Một gián nghị đại phu như thầy nàng, chỉ mong con gái một đời yên ổn mà sống bên người quân tử.

    Còn mẹ nàng dù không nói, nhưng những tâm tư trong lòng chưa một lần bà nói ra thành lời, chỉ biết gửi gắm cho nàng qua ánh mắt.

    Trước ngày nàng bước chân lên kiệu hoa về bên Lê Tư Thành, mẹ lại nhìn nàng bằng ánh mắt chan chứa lệ, chan chứa cả biết bao nhiêu hi vọng mà nàng chưa sao hiểu hết được.

    "Nàng có muốn lên đài Vọng Minh không?"

    Rời khỏi vườn ngự, theo những lối nhỏ lát sỏi ngoằn ngoèo trong cung, Lê Tư Thành vừa đi, vừa hỏi Phùng Thục Giang.

    Thằng Trọng, thư đồng của Tư Thành, là một đứa vừa nhanh chân nhanh tay, lại vừa mau mồm mau miệng, hí hửng gật đầu lia lịa, mồm năm miệng mười đòi đi theo.

    Tư Thành quay lại lườm nó, dí đầu mấy cái cho nó tụt hẳn về sau, rồi kéo Thục Giang đi lên bên cạnh mình.

    Thằng bé xuýt xoa sờ sờ trán, mếu máo nhìn cái Ngọc.

    Được đà, con bé đi sát theo vạt áo Thục Giang, khiến thằng Trọng vừa ngượng, vừa xoa trán lếch thếch đi theo phía sau.

    "Ta hỏi nàng có muốn lên đài Vọng Minh không?"

    "Đài ấy ngay cạnh cung Gia Hoà.

    Điện hạ đi vào tận hậu cung như vậy không biết có tiện không?"

    Lê Tư Thành bật cười nói "Tiện" rồi nắm chặt tay Thục Giang, len qua những con đường nhỏ nằm khép mình giữa những hòn giả sơn, bước chân có phần gấp gáp, nên chỉ một loáng đã đứng trước ngọn đài cao nhất cấm thành.

    "Nàng có dám lên không?"

    "Đi cùng điện hạ thì có gì mà không dám!"

    Lê Tư Thành vừa bất ngờ, vừa mừng rỡ trước vẻ ngoan ngoãn kì lạ của Phùng Thục Giang.

    Chắc cũng phải nửa tháng rồi nàng và hắn không nói với nhau câu nào.

    Hắn quay lại nhìn hai đứa hầu vừa hổn hển đuổi kịp theo chủ.

    Hai đứa bé mới hơn mười tuổi, đứa trước đứa sau nhưng không đứa nào dám chạy quá nhanh, chỉ biết bước vội vàng theo chân hai người trước mặt.

    Đến nơi, hai đứa chúng nó chống gối, thở không ra hơi, mặt đỏ tía tai.

    "Hai đứa ở dưới này, không được lên theo!"

    Mặt thằng Trọng ngắn tũn.

    Nó nhìn sang cái Ngọc, con bé cũng lắc đầu.

    Nó kéo thằng Trọng ngồi xuống bệ đá ngay bậc thềm lên đài, xua xua tay, có ý bảo nghe lời chủ đi.

    Thằng Trọng tiếc hùi hụi, nó ngồi phịch xuống đất, hai tay liên tục khua đi khua lại trước mặt cho đỡ nóng.

    Tư Thành nắm tay Thục Giang bước từng bước lên những thềm đá cũ kĩ của đài Vọng Minh.

    Trên đỉnh là một đình nhỏ, không bàn, không ghế, chỉ có hai phiến đá lớn không biết do người ta vô tình hay cố ý đặt ở đây.

    "Chỗ thế này, muốn uống rượu cũng không có người uống cùng.

    Mà muốn có người cùng lên, thì không có cơ hội uống rượu nữa."

    Hắn nhìn hai phiến đá, lắc đầu chẹp miệng.

    Rồi hắn đưa tầm mắt ra phía xa, khi mặt trời đã gần đứng bóng, ánh nắng lấp loáng vàng rực cả một vùng nước non.

    "Điện hạ uống rượu làm gì?

    Uống say rồi lại đi gây sự hết người này tới người khác."

    "Thế nàng cho rằng hôm đó ta say nên mới gây sự với nàng à?"

    Hắn còn gân cổ định đôi co với nàng thì lại ngẩn ngơ trước sóng tóc mềm mượt đang rủ ngay tầm mắt, chợt nhớ tới chiếc nơ lụa trong tay áo, tiện tay cài lên tóc nàng.

    Thục Giang giật mình quay phắt người lại, nhìn hắn chằm chằm.

    Khi kịp nhận ra hắn vừa cài tóc cho mình, nàng đành đánh trống lảng, đưa mắt ra phía hồ Dâm Đàm.

    "Điện hạ gây sự với thiếp vì say thì điện hạ là con sâu rượu.

    Điện hạ gây sự với thiếp trong khi không hề say thì điện hạ là con người gàn dở rồi."

    "Được rồi, được rồi.

    Lần này nàng đúng, ta thua.

    Nhìn hướng đó làm gì?

    Đó là hướng Bắc, phủ quan gián nghị thì ở hướng Đông", hắn xoay vai nàng sang phải, "Còn đây mới là phủ Bình Nguyên nhà chúng ta."

    Nàng hướng mắt theo cánh tay đang chỉ về phía xa của Tư Thành, rồi khẽ đưa tay xoay cánh tay hắn sang phải một chút nữa, khẽ hỏi.

    "Còn đây là hướng Nam tiến đúng không điện hạ?"

    Hắn giật mình xoay người nàng lại, giữ chặt bờ vai nhỏ nhắn, ánh mắt như hố sâu hun hút xoáy thẳng vào tâm can nàng.

    "Nàng nhắc đến chuyện này làm gì?"

    Thục Giang thấy được trong đôi mắt ấy như đang có từng đợt, từng đợt sóng dồn dập trào dâng.

    Nàng như cảm nhận được một ngọn lửa khát khao đang âm ỉ cháy trong trái tim hắn.

    Mà trái tim thì biết cất giấu tâm tư, còn ánh mắt hắn thì không.

    "Cũng tiện hướng về bái tổ mà.

    Điện hạ còn phải đưa thiếp về Tây Kinh tế tổ nữa chứ."

    Lê Tư Thành thở phào như trút được gánh nặng, như giấu được một bí mật đã suýt chút bị bóc trần.

    Hắn lỏng tay hơn, nở nụ cười.

    "Còn nhiều dịp."

    ——

    Từ ngày vào phủ Bình Nguyên, Thục Giang cũng không gặp lại những người bằng hữu cũ nữa.

    Đôi khi theo lệnh bà đi lễ phủ Tây Hồ, ngang qua bãi bồi gần cửa Hàm Tử, nàng lại lưu luyến ngoái lại gốc cây gạo sáng bừng một góc sông năm nào.

    Kẻ trên, người dưới trong phủ một tiếng gọi nàng , hai tiếng khom lưng cúi đầu xưng con, khiến trong lòng nàng thoáng chút ngượng ngùng.

    Nàng dặn dò cái Ngọc thật kĩ, khi không có ai, cứ gọi theo thói cũ ở nhà là được.

    Lê Tư Thành cũng bận rộn cả ngày.

    Khi thì hắn vào chầu đức thánh thượng, khi lại đi đối ẩm ngâm thơ với vài người bạn, khi thì lại tới phủ hái bảo.

    Nghe thì có vẻ như hắn giống một thân vương rảnh rỗi, không có việc gì làm nên tới lui tư phủ của các vị đại thần, nhưng thực chất là lệnh bà có lời gửi gắm hắn cho cả Đinh Liệt, Nguyễn Xí, nhờ hai người dạy dỗ thêm.

    Mà có đôi khi, hắn lại vác giấy bút ra thuỷ đình ngoài hồ Dâm Đàm.

    Thục Giang biết, vị tiểu thư họ Nguyễn bên bờ sông Tống Sơn ngày nào cũng hay ghé thuỷ đình ấy để ngắm cảnh, bình thơ.

    Có những khuya muộn, hắn không nói không rằng, buông đũa bát là quay vào phòng theo nàng.

    Nàng cứ làm việc của nàng, tự hắn sẽ pha một ấm nước vối to, vừa đọc sách vừa tự nhâm nhi.

    Những khuya vậy hắn đều không rời phòng, nhưng đều là vì đọc đến ngủ quên luôn ngoài sập.

    Những khi ấy, nàng lại rón rén leo qua người hắn để khép cửa sổ cạnh sập, khẽ khàng thổi tắt bớt vài ngọn nến, nhẹ nhàng đắp cho hắn một tấm chăn, rồi ngồi đăm chiêu chờ trời sáng.

    Ở chung một phòng với Lê Tư Thành, nàng không ngủ được.

    Không biết hắn có hay rằng mỗi khi hắn ngủ ngoài sập như thế, thiếu nữ cũng chẳng chợp mắt, chỉ biết đếm từng khắc đợi bình minh.

    Chỉ có mình cái Ngọc biết rằng sau mỗi đêm như thế, tiểu thư nhà nó sẽ gà gật cả ngày hôm sau.

    Nó hậm hực mỗi lần nhìn thấy Lê Tư Thành xuất hiện ở cửa phòng nàng sau bữa cơm chiều.

    Sau này, thi thoảng Thục Giang lại ngồi vẩn vơ nghĩ lại những ngày tháng đã qua.

    Nàng nghĩ đến dáng vẻ ung dung của hắn lúc đọc sách trong phòng, nghĩ đến cái chau mày của hắn khi đọc một câu văn, câu thơ nào đó hay ho, nghĩ đến gương mặt nhẹ nhõm của hắn lúc ngủ quên khi trên tay vẫn là mấy cuốn sách.

    Nhiều năm qua rồi, nàng không còn thấy những điều xưa cũ ấy, tựa như mọi việc trong phủ Bình Nguyên vương, nơi có một thiếu niên vô lo, vô ưu thích đọc sách, thích ngâm thơ, thích nói chuyện phiếm nhạt nhẽo để trêu đùa Phùng Thục Giang chỉ là tưởng tượng của riêng một mình nàng.

    Cho tới đêm tháng tư năm Diên Ninh thứ sáu ấy, mây đen vần vũ kéo đến đầy trời.

    Thục Giang nghe mùi mưa lấp đầy không gian, gió giông bắt đầu vun vút qua song cửa gỗ còn để hờ.

    Gió lật tung cả mấy cuốn sách Lê Tư Thành đọc dở đặt ngay chỗ ấm nước.

    Nàng buông vội mấy quả đào đang bổ, tìm đúng trang sách đánh dấu lại cho hắn, rồi lại cuống cuồng chạy ra sân để bê mấy chậu cúc vạn thọ vào.

    Năm trước cây đã hỏng vì một trận mưa đầu mùa như thế này.

    Năm trước có Lê Nghi Dân khệ nệ bê giúp nàng mà còn chẳng cứu vãn được.

    Năm nay ông trời lại không đợi nàng nữa rồi.

    Thục Giang chạy ra sân đúng lúc mưa ập xuống, mái tóc đen dài và tấm áo giao lĩnh mỏng nhanh chóng ướt sũng nước mưa.

    "Em nghĩ là cô không trồng nổi cúc vạn thọ đâu."

    Cái Ngọc đứng trong hiên, ngay dưới chân là mấy chậu hoa, nhìn nàng cười sằng sặc.

    Hoá ra con bé chớm nghe thấy mùi mưa, đã nhanh nhảu cùng mấy đứa hầu khác bê hoa vào dưới mái hiên.

    Trong khi ấy, nàng vẫn đang lần mần tìm cách gọt đào làm sao để vỏ không bị đứt đoạn.

    Nàng liếc xéo nó một cái, rồi cũng bật cười theo nó.

    Một chủ một tớ, một đứng ngoài một đứng trong, một ướt nhẹp một khô ráo, nhưng lại chính là những tri kỉ của nhau suốt cả một đời.

    Thục Giang không nhớ đã bao lâu rồi không được cười vui vẻ như vậy.

    Hình như là từ lúc bước chân vào phủ này.

    Không phải do những người ở đây khiến nàng buồn bã, không phải người mẹ chồng kia khiến nàng sợ sệt, càng không phải do người chồng khi gần, khi xa của nàng.

    Nhưng quả thực đã lâu lắm rồi, Thục Giang mới thoải mái đến thế.

    Nàng ngửa mặt hứng từng giọt ngọc trời.

    Hồi nhỏ, có lần nàng từng bị ướt mưa, thầy thì vừa xót con nhưng vừa bực nên vẫn mắng xối xả, mắng cả mẹ.

    Còn mẹ thì kéo nàng ra sau để can thầy, rồi lại nói rằng để nó như vậy cho dạn dày sương gió.

    Khi ấy, nàng thậm chí còn chưa hiểu con gái cần phải dạn dày để làm gì.

    Đến khi đứng giữa cơn mưa rào đầu hạ trong phủ Bình Nguyên nàng cũng chưa hiểu.

    Mà để tới mãi sau này, khi đón Lê Tân* từ vòng tay Lê Tư Thành, nàng mới hiểu được tại sao mình lại cần mạnh mẽ đến thế.

    *Con trai duy nhất của Lê Tư Thành và Phùng Thục Giang.

    Những hạt nước tí tách trên tay Thục Giang bị ngăn lại bởi một tán ô rợp bóng.

    Quay người lại, Lê Tư Thành đã đứng sau nàng từ khi nào.

    Đôi lông mày có chút cau lại, nhưng trên gương mặt ấy không hề hiện ra sự không hài lòng.

    "Nàng có vẻ thích tắm mưa nhỉ?"

    "Điện hạ cũng tắm mưa đi!"

    Mặc dù Thục Giang tự thấy trong câu nói của hắn lại có ý muốn gây sự, nhưng tâm trạng của nàng hôm nay không sẵn sàng đôi co với hắn.

    Nghe nói Lê Tư Thành sinh ra ngoài dân gian, lớn lên ngoài dân gian, vậy thì chắc hẳn hắn cũng biết thú vui tắm mưa của đám trẻ con rồi.

    Nàng giật phắt chiếc ô từ tay hắn, vứt cho thằng Trọng đang đứng đằng sau, hất hàm về phía trong hiên.

    "Vào thay quần áo đi không ốm đấy!

    Nếu làm thư đồng của Bình Nguyên vương khổ quá thì Trọng tìm người khác mà theo hầu."

    Thằng bé mắt tròn mắt dẹt, há hốc mồm nhìn nàng.

    Lê Tư Thành quay ra lườm nó, miệng lẩm bẩm "Nghe lời đi!", khiến thằng bé không dám chần chừ, chạy biến vào chỗ cái Ngọc đang đứng.

    Con bé biết ý hơn, nó cầm cái ô, dựng ở hiên, rồi đẩy thằng bé về phía gian trái, còn mình thì chạy sang gian phải sắp xếp đồ.

    Hai người mặt đối mặt, dưới cơn mưa đầu mùa tầm tã, không biết nên nói gì với nhau.

    Phùng Thục Giang chưa từng tắm mưa.

    Từ bé tới giờ, nàng chỉ dám mon men ra sát bờ hiên nhà, đưa tay đón từng giọt nước rỏ xuống từ mái gianh.

    Vậy mà nhìn nàng, người ta vẫn nghĩ không có trò nghịch ngợm nào mà nàng chưa thử qua.

    Còn tuổi thơ dưới chân đức Phật của Lê Tư Thành lại lớn lên cùng những lần tắm mưa.

    Mẫu thân luôn dặn hắn, rằng mưa đầu mùa, thì phải đợi một lúc mới được chạy ra tắm, kẻo khí độc dưới đất bốc lên cùng hơi nước sẽ làm đám trẻ con lăn ra ốm.

    Nhưng từ khi trở thành Bình Nguyên vương, làm chủ một tư phủ rộng lớn, hắn lại chưa từng trải qua cái cảm giác xưa cũ ngày nào dưới những cơn mưa.

    Hắn thấy nàng bắt đầu húng hắng ho mới bừng tỉnh khỏi những miền kí ức, vội vã kéo nàng vào trong.

    Cánh cửa phòng khép kín, chặn lại bên ngoài những gió giông.

    Ánh đèn dầu trên sập chao nghiêng vì gió vẫn len qua những song cửa, bóng hai người cũng lập loè hắt lên vách tường.

    Thục Giang khẽ rùng mình, những tưởng vì gió nhưng hoá ra là vì nước lạnh đang ngấm dần qua từng nếp áo, nếp khăn.

    "Hôm qua đã không ngủ rồi, giờ còn tắm mưa.

    Nàng muốn làm gì ta không cấm, nhưng ta không muốn mang tiếng đối xử không tốt với vợ mình."

    Thục Giang đứng trân trân, để mặc tay Tư Thành đang dần gỡ xuống từng lớp áo trên người mình.

    Cho tới khi trên người chỉ còn độc chiếc áo yếm, nàng mới giật mình đẩy tay hắn ra, lùi lại phía sau mấy bước.

    "Sao người biết đêm qua thiếp không ngủ?"

    Hắn nhìn dáng vẻ hốt hoảng và câu hỏi không đầu không cuối của nàng bèn bật cười.

    "Có hôm nào ta ở đây mà nàng ngủ à?"

    Hắn vừa cười, vừa nói, vừa tiến về phía giường lấy chăn, cuộn tròn quanh người nàng, rồi nhấc bổng nàng đặt lên trên sập.

    Hắn cơi thêm bấc đèn cho cháy lớn hơn, rồi đứng quay lưng về phía nàng, bắt đầu cởi dần từng lớp áo cũng đã sũng nước trên người.

    "Nàng thích tắm mưa cũng được, nhưng phải tự biết bảo vệ cơ thể mình.

    Sinh mạng do cha mẹ sinh ra, không phải muốn đối xử thế nào cũng được.

    Mưa đầu mùa đã toàn khí độc thì đừng mặc tiếp đồ ướt để ngấm lạnh thêm."

    "Điện hạ dạy phải."

    Thục Giang lí nhí trong miệng, bắt đầu cảm nhận cái lạnh đang dần thấm vào từng mạch máu trên cơ thể.

    Tháng tư sang, trời đã bắt đầu vào hè, nhưng trong không gian vẫn còn vương lại chút lành lạnh của mùa xuân trước.

    Hôm nay nàng làm như thế này, đúng là chưa suy nghĩ thấu đáo.

    Nàng ốm thì mất công người khác phải chăm nom, mà chẳng may Lê Tư Thành có lăn ra ốm, thì người mang tội nặng nhất chính là nàng.

    Cả người Thục Giang run rẩy trong tấm chăn, phần muốn tiến ra phía sau mà mặc thêm quần áo, phần thì e dè không biết ý người đang đứng trước mặt ra sao, phần còn xấu hổ vì chưa từng như vậy trước mặt hắn bao giờ.

    Không đợi Thục Giang kịp suy nghĩ, khi trên người đã lột sạch những lớp áo ngấm mưa, Tư Thành quay phắt người lại, nhẹ nhàng bế bổng nàng về giường.

    Hắn không ngần ngại chui thẳng vào trong chăn, vòng tay rộng ôm chặt lấy thân hình đang lạnh run của nàng.

    "Người lạnh thế này còn định làm trò gì nữa!

    Đúng là tên Giang, chỉ thích nghịch nước.

    Sau này ta nhất định phải gọi nàng với cái tên khác, để bớt nghịch ngợm đi."

    Thục Giang nằm im trong vòng tay hắn, cảm nhận hơi ấm đang dần lan toả vào cơ thể nàng.

    Bảo sao, mỗi khi trời lạnh, người ta lại thường ôm nhau cho ấm.

    Hoá ra, được người khác ôm chặt trong vòng tay lại ấm áp đến nhường này.

    Vả lại, Lê Tư Thành này thật khiến nàng khó mà hiểu nổi, khi thì lạnh lùng như nước, khi lại ấm áp như bếp lửa ngày đông.

    "Năm nay nàng bao nhiêu tuổi nhỉ?"

    Lê Tư Thành hỏi vu vơ, xoay người vuốt nhẹ tóc mai che khuất gương mặt nhỏ bé đang dụi sâu vào cánh tay mình.

    Cơ thể thiếu nữ này thoảng mùi hoa sen, nhưng lại vương vấn một chút mùi hương của các loại cây thuốc.

    "Nàng kém ta hai tuổi đúng không?

    Mười lăm tuổi, cũng đến tuổi gả chồng thật."

    Tư Thành cứ tự hỏi tự trả lời như vậy, không cần người trong lòng đáp lời.

    Hắn hít hà mùi thơm thoang thoảng mà hắn vẫn nhung nhớ.

    "Thiếp cảm lạnh rồi, sẽ lây cho người mất."

    Nàng hơi xoay đầu tránh né, người cứng đờ vì sự gần gũi kì lạ này.

    Hắn lật người mình phủ lên người nàng, bốn mắt đối diện nhau.

    Rồi hắn không nói không rằng, cúi xuống hôn lên mái đầu đang trốn sau cánh tay mình, hôn dần xuống đôi gò má đang đỏ bừng lên vì ngượng ngùng, hôn tới đôi môi đỏ hồng chúm chím.

    Ban đầu còn là vụng về, dè dặt, nhưng càng về sau, hắn càng chủ động.

    Cả người nàng mềm oặt, chỉ còn biết gắt gao ôm lấy thân thể nóng bừng của hắn.

    Hình như đây là điều hắn mong đợi đã lâu, hôm nay mới được dịp bộc phát hết thảy ra khỏi cơ thể.

    "Ta cũng tắm mưa, cũng sẽ ốm giống nàng.

    Nàng chưa từng đi học nên chưa biết cảm giác được trốn học thích như thế nào đâu!"

    Tư Thành lơ đãng đáp một câu không liên quan.

    Cuối cùng, hắn lại cúi xuống, nhưng lần này đôi môi hắn chỉ nhẹ nhàng mơn man gò má nàng, xuống cần cổ gầy rồi lưu lại một vết đỏ ở ngay xương quai xanh.

    Ánh đèn dầu lập loè yếu dần, bóng hai người hắt lên khung cửa cùng mờ đi.

    Đêm ấy, mặc cho ngoài trời gió mưa thét gào, trong một góc Bình Nguyên phủ, mọi bão giông đã bị chặn lại trước vòng tay của Lê Tư Thành.

    ——————

    Hết chương 5.
     
    [Dã Sử Việt] Đông Kinh Năm Ấy - Lê Thánh Tông, Phùng Chiêu Nghi
    CHƯƠNG 6: LÊ ĐẮC NINH


    An Hải kéo An Hà, An Sơn vào quán cóc ven đường, gọi bà lão bán hàng rót ba bát nước vối.

    Dưới cái nắng giữa chiều hè oi ả, chỉ thấy văng vẳng tiếng sáo mục đồng khi gần khi xa.

    Hơi nóng đã xộc đầy vào cánh mũi, lưng áo ướt đẫm mồ hôi.

    Nên quãng đường từ phủ thái bảo Đinh Liệt về phủ Bình Nguyên vương vốn thường ngày chỉ đi mất một loáng, hôm nay ba anh em đi nửa buổi chưa thấy chốn về.

    An Hải làm một hớp hết nửa bát nước, tay cầm chuỳ chỉ trỏ về phía góc chợ.

    "Ơ này hai đứa, kia là cái chỗ năm xưa cậu Hạo kéo anh đến đấy!"

    Con đường này An Hải đã đi lại vô số lần, đi nhiều đến mức y thuộc làu làu có bao nhiêu hàng nước, có bao nhiêu hàng quà, có bao nhiêu phường hát dọc đường đi.

    Ngày nào y cũng lượn tới lượn lui vài vòng, y cứ lướt qua chợ cóc này, không mảy may để ý vì ngỡ rằng nó cũng bình thường như bao hàng quán khác thôi.

    Vậy mà hôm nay ngồi nghỉ chân ở đây, góc chợ phía xa vô tình đập vào mắt y.

    Chính là cái sạp hàng ọp ẹp trực sập xuống đến nơi trong một ngày mưa phùn bay bay mười mấy năm trước.

    Ở chỗ đó, cậu Hạo ngơ ngác tìm kiếm hai anh em nào đó, còn y thì bĩu môi trước sự ngô nghê của cậu ấy.

    Rồi khi cậu ấy tí tởn chạy về khoe với lệnh bà thì y lại bị thầy phạt một trận nhớ đời vì không biết khuyên can cậu Hạo.

    Mà An Hải nào có làm gì sai!

    "Anh mà gặp được hai cái thằng đó, anh sẽ cho một thằng một đòn."

    An Sơn không nhịn được cười, phun đầy nước trong miệng vào người An Hà.

    Từ bé đến giờ, cả hai đều biết anh cả nhà mình là kẻ hay để bụng, nhưng không ngờ chuyện đã xảy ra mười mấy năm, người ta cũng chẳng làm tổn hại gì đến y, mà y vẫn giữ mãi trong lòng, lại còn định trả đũa họ.

    Tuồng như đọc được suy nghĩ của hai đứa em, An Hải quắc mắt.

    "Chúng nó không động đến anh, nhưng vì bảo vệ chúng nó mà cậu Hạo bị đánh vỡ cả đầu.

    Bánh đã không được ăn, đến gặp thầy lang nhờ băng bó đã bị ông ấy cho một trận, về gặp sư thầy lại bị thầy phạt chép kinh thêm một tháng nữa.

    Một tháng đó thái bảo có thể dạy cho anh em ta biết bao nhiêu thứ đấy mấy đứa có biết không?"

    Tiếng kể chuyện sang sảng của An Hải khiến buổi chiều hè bớt đìu hiu.

    Bà lão hàng nước nghe y kể, không giấu được nụ cười hiền.

    Chắc hẳn bà nghĩ rằng đây đúng là ba đứa trẻ con, suy nghĩ còn hết sức ngây thơ.

    Nhưng chỉ có người trong cuộc mới biết, cả An Hải, An Hà, An Sơn nhanh nhẹn, khôn ngoan và được trui rèn kĩ lưỡng bằng đôi bàn tay của thái bảo Đinh Liệt.

    Bà hào phóng rót thêm cho mỗi anh em một bát nước, có ý bảo mau mau uống đi mà tiếp tục công việc của mình.

    Câu chuyện phiếm của An Hải dù là vu vơ, tiện miệng, chẳng liên quan đến ai nhưng vô tình thu hút sự chú ý của một kẻ đi ngang qua.

    Từ xa bước tới, nhìn thấy bóng dáng ba anh em họ Đinh, bước chân của kẻ đó đã chậm dần lại.

    Vừa đúng lúc y đi ngang qua, An Hải nhắc tới chuyện Lê Tư Thành từng bảo vệ ai đó đến mức sứt đầu mẻ trán, trong vô thức, tay y siết chặt thanh kiếm.

    Bước chân y không hề khựng lại, nhưng trái tim dường như vừa hẫng mất một nhịp.

    Đứa trẻ năm ấy cho anh em y hai cái bánh dày, đứa trẻ năm ấy chống nạnh bảo vệ anh em y, đứa trẻ năm ấy hứa quay trở lại nhưng đến khi anh trai y chết rồi vẫn không thấy nó đâu.

    Đứa trẻ ấy là Lê Tư Thành.

    Lê Đắc Ninh cúi gằm đầu, nhanh chóng bước về phía trước, không còn nghe thấy những lời về sau của An Hải nữa.

    Lòng y bắt đầu xuất hiện những cảm xúc vô cùng trái ngược.

    Y vừa bất ngờ khi biết đó là Lê Tư Thành.

    Y vừa cảm kích vì đó là Lê Tư Thành.

    Nhưng y cũng lại cảm thấy thật khó chịu khi đó là Lê Tư Thành.

    Vì sao khi ấy, Lê Tư Thành không nhanh chóng trở lại giúp anh em y?

    Hắn đã hứa chắc nịch như vậy, cuối cùng lại nuốt lời.

    Lê Đắc Ninh mang theo một loạt những suy nghĩ mâu thuẫn như vậy bước về phía phủ Lạng Sơn vương.

    Cuối cùng, y biết được đứa trẻ năm ấy, nhưng việc này không khiến y hạnh phúc như hằng tưởng tượng.

    Lê Đắc Ninh phân vân mãi, cuối cùng quyết định giấu nhẹm chuyện Lê Tư Thành với Lê Nghi Dân.

    Vốn dĩ y đã giấu Nghi Dân chuyện Tư Thành vỡ đầu, giờ biết dùng cái cớ gì để kể lại toàn bộ sự việc cho Nghi Dân nghe.

    Mà để Lê Nghi Dân biết chuyện này, y được gì mất gì, hắn mất gì được gì còn chưa biết.

    Bao năm nay, bất cứ chuyện gì về y, hắn đều nắm trong lòng bàn tay.

    Giờ đây y muốn giữ chuyện này cho riêng bản thân mình.

    ———

    Phùng Thục Giang nắm chặt lá thư nhà trong tay đến mức tờ giấy đã nhàu nhĩ cả, không còn nhìn rõ những nét chữ nhoè nhoẹt nữa.

    Mẹ dặn nàng hằng năm nhớ bái tế ông ngoại, bái tế cả ông ngoại nuôi, và nếu có thể, mỗi năm hãy xin Lê Tư Thành cho phép về Xương Giang một lần.

    Thì ra tất thảy mọi chuyện là như vậy.

    Thì ra số phận nàng không nghiệt ngã như ba đời nhà Ức Trai tiên sinh, nhưng mẹ nàng cũng từng phải bôn ba khổ sở đến như thế.

    Thì ra không bị quàng cái tội giết vua lên đỉnh đầu, nhưng mẹ nàng cũng mang cái ô danh là con của một kẻ có ý đồ mưu phản.

    Thì ra ông ngoại nuôi đã từng bất chấp tất cả an nguy của cả gia đình người, để nhặt cái mạng của mẹ nàng về sau vụ đắm thuyền trên sông Lô* năm ấy.

    *Trên đường theo lệnh vua Lê Thái Tổ về kinh, Trần Nguyên Hãn bị lật thuyền, bỏ mạng trên sông Lô.

    Bảo sao, mẹ hay kể nàng nghe về chuyện Tư đồ Trần Nguyên Hãn đã cứu binh phá thành Xương Giang như thế nào.

    Bảo sao, mẹ hay kể nàng nghe chuyện ngoài những võ tướng khai quốc người Tây Kinh, bên cạnh Thái Tổ Cao hoàng đế còn nhiều quý tộc tiền triều phò tá ra sao.

    Bảo sao, mẹ luôn dặn nàng ai cũng có công, ai cũng có tội, đừng bao giờ phủ nhận hết tất cả công lao của ai đó chỉ vì một vài chuyện mà thật giả, hư ảo không ai có thể chứng minh.

    Thì ra, mẹ nàng họ Trần thật, nhưng là con ruột của Tư đồ Trần Nguyên Hãn, còn người chỉ là con nuôi cụ Trần Công Diễn mà thôi.

    Từng chữ, từng chữ trong phong thư lẩn quẩn đầy đầu nàng.

    Mỗi nét chữ hằn lên trang giấy mỏng giống như một chiếc đinh đóng thẳng xuống đỉnh đầu.

    "Bọn Hãn, bọn Xảo ngầm nuôi mưu gian, ghen ghét hiền tài, cất nhắc bè lũ.

    Bản thân chúng đã chẳng ra gì, thì làm sao tiến cử được nhân tài!..."*

    *Trích từ bài thi Hội của trạng nguyên Nguyễn Trực.

    Cơn đau buốt quặn thắt như muốn bóp nghẹt trái tim Thục Giang, lan ra khắp toàn bộ những mạch máu trên cơ thể, ép cho nước mắt phải chảy ra.

    Nhưng cả người nàng chỉ run rẩy theo cơn đau ấy, chứ đôi mắt không hề gợn một thoáng sóng lăn tăn.

    Thật đáng khen cho một lưỡng quốc trạng nguyên học nhiều hiểu rộng, cuối cùng vẫn bị cái trung quân ái quốc của Nho học đè bẹp, khiến ông ta không ngần ngại phủi sạch mọi công lao của tư đồ Trần Nguyên Hãn và thái uý Phạm Văn Xảo như vậy.

    Mấy ngón tay nắm ngày một chặt, những móng tay dài chọc thủng tờ giấy mỏng manh đã ướt nhẹp vì mồ hôi, ghim rõ vết móng vào lòng bàn tay Thục Giang.

    Cái Ngọc đứng sau lưng nàng, chứng kiến tất cả mọi việc, lờ mờ đọc được vài chữ trên phong thư, khụt khịt mũi.

    "Chắc cụ tư đồ không mưu phản đâu cô ba nhỉ?"

    "Có mưu phản hay không thì người cũng đã đi rồi.

    Chuyện lá thư này, chỉ có hai chị em ta biết thôi.

    Em mau đi ngủ đi!"

    Nàng mệt mỏi đuổi con bé về phòng.

    Cánh cửa phía ngoài đã kẽo kẹt khép lại rồi, nàng mới uể oải nằm dài ra bàn.

    Nàng hiểu lý do triều đình họ Lê quàng lên gia tộc tư đồ cái tội danh tạo phản.

    Quý tộc tiền triều luôn là một tàn lửa đỏ âm ỉ cháy, bất cứ lúc nào cũng có thể bùng lên.

    Hơn nữa, việc tư đồ xây biệt phủ rộng lớn, đóng thuyền chiến quy mô, nuôi tới hàng ngàn tư binh, ở thời Trần là lẽ thường, nhưng thời thế thay đổi rồi, người bị Thái Tổ Cao hoàng đế nghi kị cũng là lẽ dĩ nhiên.

    Nhưng đột ngột hôm nay mẹ nàng lại nói hết toàn bộ những chuyện ấy ra, chẳng phải bà đặt lên vai nàng trọng trách quá nặng nề sao?

    Tìm hiểu ngọn ngành mọi chuyện?

    Những người nắm rõ chuyện năm ấy, người thì chết rồi, người còn sống thì chưa tới lượt nàng có thể tiếp cận.

    Mà kể cả có biết, trong mắt họ, nàng chỉ là một đứa trẻ vắt mũi chưa sạch.

    Nàng đủ tư cách nói chuyện với họ hay sao?

    Hay mẹ muốn giải oan cho ông ngoại?

    Dựa vào nàng sao?

    Dựa vào phu nhân của một thân vương không màng gì tới thế sự sao?

    Thục Giang đắm chìm vào những câu hỏi rồi nằm gục hẳn xuống bàn.

    Ngoài song cửa, một bóng người áo đen lặng lẽ quay lưng, hướng về phía thuỷ đình trong vườn.

    Bóng người vừa khuất, Thục Giang cũng ngẩng đầu, nhẹ nhàng rời phòng theo bước chân thần bí của y.

    ——

    Phùng Thục Giang phát hiện ra kẻ áo đen này khi y vô tình động khẽ tay vào chuôi kiếm sau câu hỏi của cái Ngọc ban nãy.

    Vậy nên nàng mới chần chừ mà trả lời nước đôi như vậy.

    Kẻ này đột nhập được vào phủ Bình Nguyên vương, hẳn cũng không phải kẻ tầm thường.

    Hoặc có thể, y chính là người của phủ này.

    Hoặc có thể, y được người trong phủ này mở cửa mời vào.

    Y có là dạng người gì, cũng không thể để y biết quá nhiều thứ.

    Trò mèo vờn chuột này Thục Giang chưa từng thử qua.

    Bước chân của y thoăn thoắt qua những hòn giả sơn trong vườn, nhẹ bẫng lướt qua những đường ngang lối dọc, tựa như đã thông thuộc mọi ngóc ngách trong biệt phủ của Lê Tư Thành.

    Nàng đi chân trần, kéo váy lên tới quá gối, vừa đi vừa thấp thỏm không dám thở mạnh.

    Y đang hướng về thuỷ đình ở góc phủ.

    Nơi này ban ngày rèm liễu phủ kín, chỉ một mình Lê Tư Thành hay ra đó đọc sách cho yên tĩnh.

    Còn ban đêm, dù cả phủ Bình Nguyên vương có chăng đèn sáng trưng thì ánh đèn cũng không bao giờ chiếu được tới nơi ấy.

    Nhiều lần Ngô sung viên muốn phát quang rèm liễu ấy đi cho bớt muỗi, nhưng vì Lê Tư Thành muốn giữ nên bà lại thôi.

    Không ngờ đêm nay, kẻ áo đen lại hướng thẳng tới đó.

    Đã có người đứng sẵn sau rèm liễu đợi y.

    Qua ánh sáng le lói mờ mờ của ngọn nến duy nhất thắp trong đình, Thục Giang nhận ra người đó là Lê Tư Thành.

    Chỉ có một mình hắn, ung dung tự tại phe phẩy chiếc quạt để đuổi muỗi, nhếch môi cười khi kẻ áo đen bước tới nơi.

    Quả đúng như nàng trộm đoán, kẻ này không phải bỗng dưng có thể hiên ngang đi đi lại lại trong phủ Bình Nguyên.

    Nhưng y là ai, y và Lê Tư Thành có quan hệ như thế nào, tại sao y lại âm thầm theo dõi nàng, nàng không hề hay biết.

    Vốn những điều chưa biết, hoặc không nên biết lại hay khiến cho con người ta tò mò.

    Đứng cách xa cả một đoạn sân vườn, nàng hoàn toàn không nghe thấy hai người kia đang nói chuyện gì.

    Bước thêm một bước chắc chắn sẽ kinh động đến họ, mà không bước thêm thì nàng không cam tâm.

    Thục Giang phủ phục trên nền đất, rón rén lết từng chút một lại gần thủy đình.

    Cứ gần thêm một chút, tim nàng lại đập lệch mất một nhịp.

    Mồ hôi túa đầy người, cơn gió đêm hè thổi qua khiến nàng lạnh hết sống lưng, gai ốc nổi lên từng đợt.

    "Nếu phát hiện có kẻ khả nghi, theo điện hạ..."

    Câu nói của kẻ áo đen khiến Thục Giang như chết cứng trên nền cỏ đẫm sương.

    Y đã phát hiện ra nàng.

    Cũng phải thôi, một thiếu nữ biết vài chiêu võ cỏn con, chỉ đủ để đánh lại mấy đứa trẻ ngỗ nghịch, làm sao có thể qua mắt một kẻ lướt đi như gió không hề phát ra một tiếng động nào.

    Nhưng chính câu nói ngắt lời y của Lê Tư Thành mới khiến nàng chôn chặt chân tại chỗ, không thể nhúc nhích nổi, cả người như khúc gỗ mục chỉ trực nát tan vào đất ẩm dưới chân.

    "Cứ theo thói cũ, không để việc lọt ra bên ngoài."

    Câu nói vừa dứt, một đường kiếm sáng loáng hắt ánh nến xé rèm liễu xoẹt ngang qua tầm mắt nàng.

    Y như một con diều hâu nhìn thấy xác chết, hung hăng phi tới, lưỡi kiếm như móng vuốt sắc nhọn lướt một đường từ gấu váy lên thẳng cần cổ nàng.

    Nàng chỉ kịp nhìn thấy Lê Tư Thành lao ra ngay phía sau, nhấc bổng nàng lên tránh đường kiếm của kẻ áo đen, nhưng không kịp tránh đường quyền hung bạo của y đập thẳng vào người nàng.

    Thục Giang nghe đau buốt toả ra, chạy dọc khắp cơ thể, chạy thẳng lên đỉnh đầu, chạy lan ra khắp tứ chi, trở thành một dòng máu nóng thấm ướt vạt váy nàng.

    Ánh mắt Tư Thành nhìn nàng như viên thạch anh trong đang vỡ vụn ra hàng ngàn mảnh.

    Từng mảnh vỡ ấy rơi xuống, như nước mắt tí tách trên gò má.

    Trước khi chìm hẳn vào bóng tối trong đôi mắt Lê Tư Thành, nàng chỉ loáng thoáng nghe được tiếng hắn đứt đoạn.

    "Ngươi nhầm người rồi...

    Lê Đắc Ninh..."

    ——————

    Hết chương 6.
     
    [Dã Sử Việt] Đông Kinh Năm Ấy - Lê Thánh Tông, Phùng Chiêu Nghi
    CHƯƠNG 7: HUYNH ĐỆ (1)


    Đêm hôm ấy, một góc hậu viện phủ Bình Nguyên vương sáng ánh đèn.

    Chưa bao giờ người ta nhìn thấy vẻ thất thần đến hoảng loạn như vậy trên gương mặt Lê Tư Thành.

    Hắn bế Thục Giang về đến sân viện cũng là lúc máu đã thấm ướt vạt váy bên trong, loang lổ đầy đôi chân trần còn lấm lem bùn đất.

    Hắn chưa gặp tình cảnh như thế này bao giờ, cũng không biết một quyền của Lê Đắc Ninh đã khiến nàng bị thương ở đâu.

    Kẻ hầu người hạ nghe tiếng bước chân, tiếng cửa kẽo kẹt, cả tiếng hắn gọi cái Ngọc, mới giật mình rời chăn ấm nệm êm, mắt mũi hẵng còn chưa mở hẳn, lục đục kéo ra ngoài.

    Nhìn Thục Giang cả người toàn bùn đất lẫn máu, mặt cái Ngọc trắng bệch, luống cuống chạy lại gần nhưng không biết phải làm gì.

    Bà vú già nhìn con bé như mọc rễ dưới chân, đành đẩy một đứa hầu khác tìm thằng Trọng đi mời thầy thuốc, còn bà tất bật sai người này, người kia nhóm bếp, pha nước, chuẩn bị khăn xô, vải vóc, áo quần cho Thục Giang.

    Cả quá trình ấy chỉ diễn ra trong chốc lát, mà Lê Tư Thành cảm thấy như dài cả một đời người, cho đến khi bà vú liều lĩnh kéo hắn vào bên trong phòng, hắn mới nhận ra thiếu nữ trên tay mình đang ngày càng lạnh đi.

    Máu vẫn không ngừng thấm qua từng lớp váy áo mỏng.

    Đường kiếm của Lê Đắc Ninh chưa hề chạm vào người Thục Giang, hắn chắc chắn một điều như vậy.

    Không hề có vết thương nào trên người nàng do đao kiếm gây ra hết.

    Nhưng máu không hề chảy qua khoé miệng như khi trúng quyền cước, mà thấm ra dần ở phía chân.

    Giờ hắn mới để ý, máu hoàn toàn thấm vào váy, chứ không hề thấm qua áo nàng.

    Máu chảy dưới chân, máu chảy dưới chân.

    Lê Tư Thành bàng hoàng.

    Không khí đặc quánh trong phòng bị tiếng thút thít của thằng Trọng phá vỡ.

    Nó không mời được thầy lang quen, sớm nay thầy mới ra ngoại ô bốc thuốc.

    Giữa đêm hôm thanh vắng thế này, có đi hết cả Đông Kinh quỳ lạy van nài, cũng chưa chắc có thầy lang nào muốn rời khỏi nhà.

    Hắn chạy bổ ra ngoài, thấy thằng bé nước mắt ngắn dài đứng cạnh cái Ngọc, tí lại nấc lên.

    "Thầy Thả, đúng rồi, mời thầy Thả.

    Trọng đi mời thầy Thả, tôi đi tìm cô Liên.

    Trọng phải mời thầy đến chữa cho cô Giang nhà tôi, nhớ chưa?"

    Có một tia sáng vụt qua trong đầu, con bé nói như reo lên, vỗ vỗ vai thằng Trọng.

    Không đợi Lê Tư Thành kịp phản ứng, hai đứa trẻ đã chạy vội đi.

    Ra khỏi cổng phủ, quệt ngang vệt nước mắt trên mặt, một đứa rẽ trái, một đứa rẽ phải chạy như bay sang phủ Tân Bình vương và nhà thuốc của thầy lang họ Trịnh.

    Khi thầy Thả bước thấp bước cao tới nơi là cũng đã gần sang canh hai.

    Thầy nhìn đống váy áo máu me be bét ở bậu cửa, gương mặt căng thẳng tột độ, xua hết những người không liên quan ra khỏi buồng, chỉ giữ lại bà vú và hai đứa hầu gái.

    Lê Tư Thành còn định cố nán lại thì một bàn tay to lớn khác nắm lấy cánh tay hắn, lôi đi.

    Lê Khắc Xương nhìn hắn, lắc lắc đầu, hắn mới ngoan ngoãn theo chàng ra ngoài.

    Trước khi bóng người con gái nằm im lìm trong kia khuất hẳn khỏi tầm mắt, hắn chỉ có thể nói với Phương Liên một câu "Cứu bằng được nàng, cầu xin chị."

    để nhận lại một cái gật đầu chắc nịch.

    Lê Tư Thành hoang mang nhìn những thau nước đỏ au, chốc chốc lại được mang ra bên ngoài.

    Cứ một thau nước nóng còn nghi ngút khói được bưng vào, là lại có một thau nước đỏ như thế được bưng ra.

    Hắn nghe trong không khí mùi máu ngai ngái ngày càng đậm đặc.

    Không khí yên lặng như tờ, tiếng bước chân có hơi vội vã cũng khiến bao người giật mình.

    Phải một tuần hương sau, trong buồng mới vọng ra tiếng thầy Thả.

    "Mạng nó còn dày lắm!

    Chưa chết được!"

    Lê Khắc Xương, Lê Tư Thành thở phào như trút được gánh nặng ngàn cân đang đè ngang trên ngực.

    Thầy Thả ung dung lau tay, sai thằng hầu xếp lại túi thuốc, rồi đưa đơn thuốc cho Phương Liên, toan rời khỏi phủ.

    Cả Khắc Xương và Tư Thành đều định nói gì đó, nhưng nàng ngăn lại, lặng yên bước theo cha.

    Khi đã ra khỏi sân viện, thầy mới quay lại, nói với Phương Liên một câu như lưỡi dao găm cứa từng vết vào lòng nàng.

    "Giữ được cái mạng cho nó là may mắn rồi!

    Sau này còn chửa được mà không phải mạng đổi mạng thì là kì tích."

    "Thầy..."

    "Gả con cho Tân Bình vương điện hạ là phúc hay hoạ thầy u không dám nghĩ.

    Với một số người, được sống không phải là ân huệ mà là sự dày vò."

    Nói rồi thầy buông tay con gái, quay gót rời đi.

    Phương Liên nhìn tấm lưng đã còng lại của thầy vì một đời bắt mạch, phơi thuốc, nhìn bước đi khập khiễng của thầy vì một đời mải miết chữa bệnh cho người ta, nghĩ đến làn da nhăn nheo, chai sạn của thầy vì một đời lo cho gia đình, một giọt nước mắt khẽ tràn mi.

    Phúc hay hoạ còn là do con người, nhưng cuối cùng Thục Giang đã làm gì để thành ra nông nỗi này?

    Thoáng thấy bóng Ngô sung viên hối hả đi tới, Phương Liên kéo tay Khắc Xương, ý nhị xin phép rời vương phủ.

    Chuyện gia đình người khác, hai người họ cũng không tiện ở lại quá lâu.

    Chỉ cần biết Thục Giang an toàn, vậy thì bất cứ khi nào họ cũng có thể tới thăm nàng.

    Dù còn lấn cấn trong lòng, nhưng Phương Liên duy trì thái độ im lặng suốt từ khi thầy Thả ra về, tự mình ôm những hoài nghi về phủ Tân Bình vương.

    "Điện hạ..."

    Thục Giang cố nâng mí mắt nặng trĩu, nhìn thấy bóng lưng quen thuộc lờ mờ phía trước, đang định lên tiếng thì bên ngoài có tiếng gọi.

    Là tiếng của Ngô Sung viên.

    Bà nhẹ nhàng đi vào phòng, ngồi xuống bên giường, đeo vào tay nàng chuỗi tràng hạt bồ đề.

    Bà cứ vuốt ve gò má nàng mãi, rồi buông tiếng thở dài.

    "Hạo, con nhìn xem.

    Con bé đã khóc nhiều lắm.

    Kể từ ngày Ngọc Phương xuất giá, con bé về phủ ta, ta đã coi nó như con đẻ rồi..."

    Giọng bà cứ nghẹn dần, rồi chẳng thành câu được nữa.

    Các cụ đã dạy từ xưa, một lần sảy bằng bảy lần đẻ, con bé mới mười lăm tuổi, mà đã phải chịu nỗi đau lớn đến thế, nỗi đau mà thậm chí bà cũng chưa từng phải trải qua.

    "Mấy ngày này trừ khi phải vào cung, còn đâu con cứ ở đây.

    Chuyện trong phủ cứ để mẹ lo."

    Bà nhìn Thục Giang một lượt nữa, rồi rảo bước, nói rằng về cầu siêu cho các vong linh.

    Trước khi rời khỏi phòng, bà khẽ nói với Tư Thành.

    "Con bé tỉnh rồi."

    Tiếng bước chân xa dần cũng là lúc tiếng thổn thức ngày một lớn hơn.

    Lê Tư Thành vội vã ôm chặt nàng vào lòng.

    Thân hình nhỏ bé trong tay hắn không ngừng run lên cùng với tiếng thút thít.

    Vòng tay hắn ngày càng chặt, như thể sợ rằng nếu lơ là một chút thôi, người trong tay sẽ biến mất như sinh linh nhỏ bé vừa lìa đời kia.

    Một giọt nước mắt bất giác rơi xuống, chạm vào mái tóc Thục Giang.

    Thì ra cảm giác mất đi một phần máu thịt nhói đau như thế này.

    Vậy mà mười mấy năm trước, phụ hoàng hắn lại đang tâm vứt một cái án voi giày ngựa xéo lên đầu vợ mình và một đứa trẻ còn chưa lọt lòng.

    "Điện hạ đang khóc đấy à?"

    Nàng ngước mặt, định đưa tay lau vệt nước trên gương mặt hắn, nhưng cánh tay giơ tới lưng chừng lại vô lực buông xuống.

    Hắn đan chặt năm ngón tay mình vào bàn tay nàng.

    "Không phải ai cũng được chứng kiến ta khóc đâu.

    Từ hồi bé tí ta đã không còn khóc trước mặt mẫu thân rồi."

    Lê Tư Thành hếch mặt tự tin.

    Lòng hắn còn đang rối bời vì bao nhiêu suy nghĩ, vậy mà chỉ một câu nói của nàng cũng có thể khiến tâm trạng hắn nhẹ nhõm đi nhiều.

    Ngay khoảnh khắc ấy, hắn đã thầm ước giá mà một quyền của Lê Đắc Ninh có thể khiến Thục Giang quên đi hết thảy mọi chuyện vừa mới xảy ra.

    "Điện hạ.

    Thế giới của chàng rộng lớn và xa xôi đến mức chưa bao giờ thiếp nghĩ rằng mình có thể đặt chân vào."

    Mỗi lời nàng nói ra, vòng tay của hắn lại bất giác lỏng đi một chút.

    Lòng Tư Thành như con thuyền nan chơi vơi giữa dòng nước sông Nhị.

    Hắn có yêu Thục Giang không?

    Nếu có, tại sao hắn nỡ để nàng ra nông nỗi này?

    Mà nếu không, tại sao hắn không đành lòng chứng kiến Lê Đắc Ninh ra tay với nàng?

    Hắn có nghi ngờ Thục Giang không?

    Có, hắn từng nghi ngờ nàng là người của Lê Nghi Dân.

    Nhưng chỉ là đã từng thôi.

    Nếu nàng là người của Lê Nghi Dân thật, Lê Đắc Ninh dám ra tay tuyệt tình đến vậy sao?

    "Còn thế giới của thiếp ở đây giống như thời tiết vậy."

    Đáp lại những lời vu vơ của nàng chỉ là trầm mặc cùng vòng tay hắn khe khẽ vỗ về, "Thiếp biết, không phải ngày nào bên chàng cũng là ngày nắng vàng chan hoà, rồi sẽ phải có mưa gió, phải có mây mù.

    Nhưng điện hạ, thiếp sẵn sàng san sẻ một cây ô để cùng chàng vượt qua giông bão kia mà."

    Tiếng nói trong vòng tay Tư Thành cứ nhỏ dần, nhỏ dần rồi hoà thành tiếng thổn thức.

    Thục Giang tủi thân nhiều hơn đau đớn.

    Chỉ trong một đêm mà bao chuyện dồn dập ập tới.

    Cây cao bóng cả mà thầy u nàng mong chờ có thể tựa vào, hoá ra lại là một bụi tre cao vút xa xăm, thân đầy gai nhọn chẳng bao giờ để người khác chạm vào.

    Hai chữ "cây ô" như một tiếng chuông đinh đang bên tai Tư Thành.

    Hắn không thể quên thiếu nữ trong thuỷ đình hôm ấy.

    Nhưng liệu nàng có biết không hay chỉ vô tình nhắc tới?

    Hơi thở thiếu nữ trong tay hắn đều hơn, nhẹ nhàng hơn, chẳng mấy chốc mà đã chìm vào giấc ngủ.

    Tư Thành cứ nghĩ mãi không thôi về những điều Thục Giang vừa nói, về thế giới của hắn, về thế giới của nàng.

    Thế giới của hắn rộng lớn đến thế sao?

    Hắn những tưởng thế giới của hắn chỉ có mẫu thân, từ ngày hôm ấy mới có thêm nàng.

    Thế giới của nàng nhỏ bé đến nhường nào?

    Hắn những tưởng thế giới của nàng trải rộng như những chiều tà ráng vàng nhuộm óng mặt nước sông Nhị.

    Thì ra hắn nhầm rồi!

    Nàng nghĩ sẽ chẳng thể đặt chân vào thế giới của hắn, vậy thì nàng hãy cứ ở yên đó, hắn sẽ là người bước lên, bước chân vào thế giới của nàng, cùng nàng vượt qua hết thảy những bão giông.

    Chắc chắn, Lê Đắc Ninh đã nghe ngóng được điều gì đó cho Lê Nghi Dân, nên hôm nay y mới trễ hẹn gần một nửa tuần hương như thế.

    ——

    Không nhớ đã bao nhiêu lâu rồi Lê Nghi Dân mới gặp lại Phùng Thục Giang.

    Hình như là một tháng, hai tháng hay nhiều tháng đã qua.

    Hắn vẫn giữ thói quen chiều chiều ra miếu hoang luyện võ một mình, vẫn giữ thói quen luyện xong sẽ ném một nhành cây khô về phía sau lưng, nhưng gần đây không còn ai đỡ nhành cây mà hắn ném nữa.

    Hắn vẫn giữ thói quen mỗi lần đi qua làng hoa lại ghé vào mua một túi hạt giống, tâm trạng bỗng trở nên vui tươi, nhưng gần đây không còn ai giúp hắn vun trồng đống hạt giống ấy nữa.

    Hắn vẫn giữ thói quen mua hai gói xôi cốm bọc lá sen mỗi khi vào mùa, mỗi tay cầm một gói, một cho Ngọc Đường, nhưng gần đây hắn đều không nói không rằng ấn cả hai gói xôi cốm vào tay chị gái mình.

    Thật ra, hắn không nghĩ rằng đó là thói quen.

    Hắn sống gần hai mươi năm trên đời, hắn chưa từng nghĩ rằng một người con gái mới xuất hiện trong cuộc đời hắn đôi ba năm lại có thể trở thành thói quen khó bỏ.

    Vậy mà hắn đã lầm.

    Ngày hắn tìm đến phủ Bình Nguyên vương, hắn đã nhận ra có những thói quen không phải phủ nhận là xong, có những con người không phải nói muốn quên là quên ngay được.

    Phùng Thục Giang bước từng bước dè dặt vào chính đường, vết thương ở bụng vẫn rấm rứt đau mỗi khi nàng lỡ đi nhanh một chút.

    Đôi chân nàng chợt khựng lại khi ánh mắt quét đến tấm lưng áo đen tuyền đang đứng bên trong.

    Hắn nghe tiếng chân, quay lưng lại vừa khéo bắt gặp nụ cười bình thản, xã giao của nàng.

    Nhìn nàng chập chững bước tới, nếu là Lê Nghi Dân của những ngày tháng trước, hoặc là hắn sẽ đỡ nàng, hoặc là hắn vẫn sẽ đỡ nàng nhưng không quên chêm thêm vài câu châm chọc.

    Nhưng tình cảnh hiện tại giữa hai người không còn cơ hội để trêu đùa nhau như vậy nữa.

    "Chẳng hay điện hạ ghé phủ có việc gì căn dặn?

    Ta đã sai bọn trẻ con đi mời Bình Nguyên vương lại nhà, phiền điện hạ thong thả uống trà."

    Nàng khéo léo tráng ấm tích, lọc bã, rót trà.

    Thục Giang vốn không phải là một người tỉ mỉ, cẩn thận như thế.

    Dường như năm tháng sống trong phủ Bình Nguyên vương đã khiến nàng trở thành một người rất khác, trầm mặc hơn, cẩn trọng hơn.

    Lê Nghi Dân chăm chú nhìn theo đôi bàn tay nàng thành thạo khơi bếp, chắt nước, thổi nhẹ vụn trà còn bám trên nắp ấm.

    Làn nước trà sóng sánh, trong vắt trong chén phản chiếu rõ gương mặt bần thần của Lê Nghi Dân và ánh mắt lạnh nhạt của nàng.

    Nàng khẽ đẩy chén trà về phía hắn, né tránh bàn tay vừa đưa ra đỡ.

    "Mời điện hạ dùng trà.

    Lá trà hái trên Bắc đạo, hy vọng hợp khẩu vị điện hạ."

    Lê Nghi Dân ngẩn người.

    Hắn nên trả lời nàng ra sao?

    Không biết từ khi nào mà giữa hai người, một vài lời xã giao cũng khó nói đến thế.

    Hắn đành gật đầu đáp lời, nhấp nhẹ một ngụm trà.

    Đây không hẳn là trà chính gốc Bắc đạo.

    Vị trà mượt, mềm, thoang thoảng hương nhài được dệt khéo léo, đọng lại nơi đáy miệng từ ngụm đầu tiên.

    Lá trà này chắc chắn được chọn từ những cây trà ở tít sâu trong bản, hương vị mới ban sơ, khác hẳn những cây trà già đã kiệt sức la liệt ngoài bìa rừng.

    Có lẽ người kiếm được thứ trà này mà mang về dệt hương, cũng đã phải lặn lội lên những bản nhỏ hẻo lánh gần nước Ngưu Hống* thuở trước.

    *Tộc người Thái đen ở Sơn La, bị sáp nhập vào Đại Việt từ thế kỉ XIV.

    Thằng Trọng từ ngoài chạy vào, quỳ lạy Nghi Dân rồi thì thầm vào tai Thục Giang vài câu, sau đó chạy biến.

    Nàng đưa tay về phía cửa, mời Lê Nghi Dân theo.

    Thục Giang khập khiễng bước từng bước một, hắn cũng không vội, chậm rãi đưa từng bước nhỏ phía sau về phía thuỷ đình đêm ấy.

    Nàng không hiểu rốt cuộc Lê Tư Thành muốn tự nàng dẫn Lê Nghi Dân đến chỗ hắn để làm gì.

    Hắn muốn nàng đi qua chính con đường của đêm hôm ấy?

    Hay hắn muốn nàng và Lê Nghi Dân nói với nhau chuyện gì?

    Cuối cùng, Lê Nghi Dân không nhịn được, đành cất tiếng hỏi, phá vỡ bầu không khí quái dị đang bao phủ lấy hai người.

    "Vết thương của nàng..."

    "Không cẩn thận nên trượt chân ngã, đội ơn điện hạ quan tâm."

    Nàng lạnh lùng cắt lời hắn, cắt đứt luôn câu chuyện phiếm còn chưa kịp bắt đầu.

    Nàng không cho hắn cơ hội hỏi thăm xã giao, thì hắn lấy đâu ra chuyện để nói nữa.

    Đến lúc này Lê Nghi Dân mới hiểu, hắn giống như một tiều phu, nàng giống như kẻ chăn cừu.

    Hắn sẵn sàng nói chuyện dông dài với nàng cả ngày, cừu của nàng ăn no rồi, thế củi của hắn thì sao?

    Rõ ràng hắn có thể bước qua, nhưng hắn không dám.

    Rõ ràng nàng có thể bước đến, nhưng nàng lại chối từ.

    Thế là cuối cùng, hai người họ thành ra như hiện tại.

    Thục Giang dừng chân trước rèm liễu, có ý mời Lê Nghi Dân tự vào trong.

    Thuỷ đình này giống như một lãnh địa riêng của Lê Tư Thành, chưa ai trong phủ từng bước qua rèm liễu ấy.

    Nàng biết đó là thế giới riêng của hắn, còn nàng chỉ ước rằng ai đó tới và cho nàng một liều thuốc để nàng quên đi mọi chuyện xảy ra đêm đó.

    "Mời vương huynh!"

    Lê Tư Thành vén mành, nở một nụ cười nhàn nhạt.

    Ánh mắt hắn quét một lượt qua người nàng, dừng lại trên đôi mắt đầy nghi hoặc.

    Hắn đưa tay nhẹ vuốt sợi tóc mai vương ở đuôi mắt, ngón tay cái mơn man trên má nàng.

    "Yên tâm, có ta ở bên cạnh nàng."

    Thục Giang quay gót, chầm chậm rời khỏi vườn.

    Lê Tư Thành nhìn bóng nàng đã khuất hẳn sau những hòn giả sơn cao thấp, mới quay người ngồi xuống sập, rót cho Lê Nghi Dân bát nước vối.

    Hương nhài thoang thoảng len lỏi trong từng nếp áo, len lỏi trong từng kẽ hở.

    Lê Nghi Dân hít một hơi, nhổ hẳn miếng trầu đang nhai dở, nhấp nhẹ một ngụm rồi mới thong thả mở lời.

    "Vẫn phải nhờ chú."

    Nghi Dân xoay nhẹ bát nước vối trong tay, làm gương mặt góc cạnh đang phản chiếu trong bát loang ra rồi vỡ tan hẳn vào làn nước.

    Tư Thành không vội đáp.

    Hắn chỉ chăm chú nhìn những sóng nước đang lan ra trong bát, đợt sóng nọ nối tiếp đợt sóng kia, như vòng gỗ trong thân cây ngàn đời không bị đứt đoạn.

    "Dân gian kháo nhau rằng Ức Trai tiên sinh vẫn còn một người vợ đang mang thai trốn thoát được sau án ấy.

    Không tìm nhanh, chú có tin là Thị Anh bịt miệng họ luôn không?"

    Lê Nghi Dân cười gằn một tiếng, rồi lại nhắm mắt tận hưởng không khí thoảng hương hoa trong thuỷ đình.

    Quả nhiên, Bình Nguyên vương là đúng là một nho sinh phiêu diêu tự tại, đến nơi hắn đọc sách, thưởng trà cũng có thể thoát tục nhường này.

    "Vương huynh đã tìm được rồi, sao còn phải vòng vo trước mặt em đây?

    Vương huynh muốn chung thuyền, nhưng lại không tin tưởng Tư Thành.

    Vậy thì con thuyền vương huynh đang chèo, Tư Thành xin phép không thể bước lên."

    Lê Nghi Dân điếng người, nụ cười trên miệng trở nên cứng ngắc.

    Bản thân hắn luôn tâm niệm, sống trên đời chỉ có thể tin tưởng bản thân, không thể đặt niềm tin hoàn toàn vào bất cứ ai.

    Mà đó hình như là suy nghĩ đã ăn sâu bén rễ trong gia tộc này từ bao nhiêu đời nay.

    Từ Thái Tổ, Thái Tông, tới anh em hắn, không một ai không có tính đa nghi.

    Lê Tư Thành đã biết được những gì hắn không nắm chắc, nhưng rõ ràng bây giờ hắn không còn là kẻ nắm đằng chuôi nữa rồi.

    Con thuyền này không thể tìm được người đồng hành, vậy thì tự hắn sẽ lèo lái nó theo hướng mà hắn mong muốn.

    "Chú nghĩ nhiều rồi.

    Một đứa con gái chân yếu tay mềm thì có thể làm gì được chứ!"

    "Có chân yếu tay mềm thật đi chăng nữa, kẻ vô dụng chắc chắn không thể giữ bên mình quá lâu.

    Suy nghĩ của Tư Thành và vương huynh không giống nhau, không thể đồng hành."

    Lê Tư Thành có ý tiễn khách.

    Cuộc trò chuyện đi vào ngõ cụt, Lê Nghi Dân cũng không có lí do gì để nán lại nơi này thêm nữa.

    Hắn bước ra khỏi thuỷ đình, nhưng hương nhài thoang thoảng vẫn đọng lại, vấn vương không rời.

    Lần này, hắn lôi kéo Lê Tư Thành thất bại, nhưng bản thân Lê Tư Thành lại tự đẩy mình vào thế đối đầu với hắn.

    Để xem khôn ngoan đối đáp người ngoài, hắn sẽ xử gọn những kẻ ngáng đường mình như thế nào.

    Lê Nghi Dân nghĩ vậy, thong dong rời khỏi phủ Bình Nguyên.

    Chỉ còn một mình, Lê Tư Thành nhổ bã trầu, bấm bấm đốt ngón tay.

    Gần hai mươi năm rồi, người ta vẫn tin vào cái thuyết Thị Lộ là con rắn báo oán cả nhà Ức Trai tiên sinh.

    Hắn cười ha hả một mình.

    Mưu sự tại nhân, mà thành sự thì tại thiên.

    Vụ án vườn vải năm đó, Ức Trai tiên sinh có cố cách mấy thì cũng không thể vãn hồi được cái kết cục phải tru di.

    Bản thân Thị Lộ tình ngay lý gian, ba đời Ức Trai tiên sinh làm sao thoát được cái chết.

    Con của Ức Trai tiên sinh mà còn sống sót cũng trở thành kẻ vất vưởng đầu đường xó chợ, chưa bao giờ thoát được án tử treo trên đầu.

    Vậy mà Lê Nghi Dân vẫn dám dùng, hẳn là hắn cũng chẳng có ý giấu diếm mưu đồ soán đoạt trước mặt Lê Tư Thành nữa rồi.

    Sự thay đổi tâm tình của người làm cha tưởng như bình thường, đến cùng lại cuốn những đứa trẻ vô can vào vòng xoáy tranh đoạt không hồi kết.

    Mỗi lần nghĩ đến chuyện ấy, Lê Tư Thành không giấu nổi một cái nhếch môi khinh bỉ.

    ——————

    Hết chương 7.
     
    [Dã Sử Việt] Đông Kinh Năm Ấy - Lê Thánh Tông, Phùng Chiêu Nghi
    CHƯƠNG 8: PHU THÊ


    Đứa hầu gái sáng nào cũng chăm chỉ tưới nước cho cả giàn hoa trong cung Gia Hoà.

    Duy chỉ có một chậu cây nằm đơn độc dưới giàn thiên lý, lệnh bà chưa bao giờ cần nó động vào.

    Mỗi ngày, lệnh bà sẽ tự tay tỉa lá non, nhặt lá già, dọn dẹp quanh chậu cây.

    Tuyệt nhiên, cũng chưa bao giờ con bé thấy có một con sâu, con bọ nào bén mảng tới chậu cây này.

    Thi thoảng nó cũng gật gù vì lời lệnh bà nói, cây này đúng là loài cây của đức Phật, những thứ dơ bẩn không thể chạm tới được.

    Thiếu nữ nhìn những bông hoa cà trắng ngần chuẩn bị bung nở, khẽ lắc đầu trước sự ngây ngô của con bé.

    Con người, biết ít đi một chút đôi khi lại dễ sống hơn là biết quá nhiều.

    Đơn giản như loài cây đang đứng im lìm trước mặt nàng đây thôi.

    Con bé chỉ cần nghe lời không tới gần, thì sẽ chẳng làm sao hết.

    Còn nếu nó biết đây là loài cây gì, có lẽ sẽ tò mò nghịch ngợm mà mất mạng lúc nào chẳng hay.

    Loài cây của đức Phật gì chứ, cũng chỉ là một sự trùng tên ngẫu nhiên.

    Vậy mà vẫn có người tin vào lời nàng nói, rằng đây là loài cây của đức Phật.

    Không phải là vài người, mà tất cả những người từng nghe nàng nói về nó, đều tin vậy.

    Kể cả người hầu kẻ hạ trong cung Gia Hoà, kể cả nội quan trong cung, kể cả Đào Biểu, kể cả Lê Bang Cơ.

    Người ấy thực sự tin đây là vũ trụ trong đôi mắt của những bậc giác ngộ.

    Nhiều khi nàng tự hỏi bản thân, nàng nói dối không chớp mắt như vậy, báng bổ hình ảnh đức Phật và đức Bồ Tát như vậy, liệu nàng có từng sợ hãi sự trừng phạt, sợ hãi cái gọi là nhân quả, nghiệp báo luân hồi, hay không?

    Nhưng số phận nàng đã nghiệt ngã đến nhường này, nàng còn sợ một chút quả báo cỏn con của những tội lỗi chốn hồng trần ư?

    Cứ nghĩ đến đây thôi, nàng lại cất sạch những suy tư vào một góc khuất trong đáy trái tim.

    Cánh hoa mạn đà la vừa rụng, thiếu nữ lẳng lặng nắm chặt trong tay, bóp giập, quay bước đon đả quỳ đón bóng rồng.

    ———

    Gió thu xào xạc thổi cuốn theo lá vàng bay ngợp trời Đông Kinh.

    Ngay từ khi còn tờ mờ chưa thấy rõ mặt người, gia nhân ở mấy phủ quan đã cầm chổi ra trước cổng, chốc chốc lại vun vài đống lá vàng vào góc tường.

    Tiếng chổi tre quệt dưới nền đất khô khốc cùng tiếng lá xào xạc khiến cho không gian có chút ảm đạm.

    Đài Vọng Minh đêm qua lập loè ánh nến, cung Gia Hoà đêm qua không ngủ.

    Thiếu nữ đứng trên đỉnh đài, ngắm nhìn vầng dương đang dần dần ló rạng ở phía chân trời.

    Đúng là mùa hạ đã qua thật rồi.

    Cây gạo đại thụ bên bãi bồi giờ chỉ còn khẳng khiu những cành là cành, tìm đâu cũng không thấy cái dáng vẻ rực rỡ độ cuối xuân.

    Thu sang, hoa tàn, lá rụng về cội.

    Chén rượu cùng tấm bài vị bày trước mặt, tàn hương rơi đầy bệ đá, tro tiền vàng bay tứ tung khắp đài.

    Nàng ta nhúng khẽ ngón tay trỏ vào chén rượu, vạch lên nền đá một chữ 英* nguệch ngoạc.

    Đây là chữ đầu tiên mà người ấy dạy nàng viết, đây cũng là con chữ mà dù có chết đi hàng vạn kiếp, nàng cũng sẽ không bao giờ quên.

    Trên miệng khẽ vẽ lên một nét cười nửa vời, nàng nhanh tay "lỡ" làm đổ chén rượu vào con chữ kia, vừa đúng khi gà báo canh điểm tiếng đầu tiên trong ngày.

    *Chữ "Anh" trong tên của Tuyên Từ Hoàng thái hậu

    Kẻ chơi đùa với tình cảm của người khác là kẻ không ra gì.

    Nhưng nàng ta thà có lỗi với thứ tình yêu đôi lứa ấy, còn hơn mang nỗi hàm oan bị tru di xuống cửu tuyền.

    Lê Bang Cơ, lỗi lầm kiếp này của biết bao kẻ đều đổ lên vai hai ta gánh vác, vậy hãy để ta kết thúc tất cả mọi chuyện.

    Ngai vàng của người là món nợ với gia tộc ta, vậy thì xin người hãy trả ngai vàng ấy về đúng cho chủ của nó, ta sẽ trả người cả kiếp này.

    "Lệnh bà..."

    Đứa hầu gái gọi với lên, gọi cả tâm hồn thiếu nữ trở về với thực tại.

    Nàng quay xuống nhìn nó, nở nụ cười tươi như chưa hề có những phút u uất vừa rồi, gói tấm bài vị vào túi lụa, nâng bước rời đài về cung.

    "Em sẽ trang điểm cho lệnh bà thật đẹp.

    Tối nay thánh thượng sẽ nghỉ ở cung chúng ta."

    Con bé ríu ra ríu rít như chim ri, giúp cho cung điện hoang vắng này bớt hiu hắt đi vài phần.

    Lê Bang Cơ hỏi nàng cần bao nhiêu người hầu, nàng chỉ gọi vài kẻ.

    Người có vẻ ngạc nhiên, rồi cũng ưng thuận.

    Nhưng người không hề biết, cứ thêm một người bước chân vào cung Gia Hoà này, thì cũng có nghĩa rằng có thêm một cái tên được xướng lên trong sổ Nam Tào.

    Và người cũng không ngoại lệ.

    Với Lê Bang Cơ, chẳng thà không gặp, sẽ không sinh ra lưu luyến.

    Chỉ vì ngay từ đầu, có ta thì không có người, có người thì không có ta, số mệnh ràng buộc trong hai ta, chỉ một người, hoặc không ai cả, được phép sống.

    Mười bảy tuổi, đương ở cái độ tuổi đẹp nhất của thì con gái, đương ôm mối tương tư sâu sắc với một người, thì chính người ấy bảo nàng nhập cung đi, người ấy sẽ lo liệu chu toàn.

    Vậy là nàng nghe lời người ấy nhập cung.

    Người ấy nhặt cái mạng mỏng của nàng về từ Quỷ Môn Quan, cho nàng ăn học, nuôi nàng khôn lớn, dạy nàng cái chữ, dạy cách cầm kiếm, dạy cách giương cung.

    Người ấy kể với nàng về ba đời của một gia tộc đã dùng máu để gội rửa ngai vàng.

    Người ấy kể với nàng về đoá mạn đà la bằng thứ âm điệu như thôi miên người khác vào thế giới bềnh bồng, hoàn hảo của những vị thần.

    Nàng say sưa trong những câu chuyện ấy, say sưa với hình ảnh luân viên cụ túc của mạn đà la đến độ bây giờ, chính nàng cũng chẳng phân biệt nổi đâu là mạn đà la của nhà Phật, đâu là mạn đà la của lòng người.

    Với người ấy, chẳng thà không dựa dẫm, sẽ chẳng phải phụ thuộc nhiều tới vậy.

    Mỗi lần Lê Bang Cơ ngự giá tới cung Gia Hoà, nàng đều nắm một nhúm hạt, hoặc một nhúm hoa mạn đà la trong tay, chính bàn tay ấy lại ân cần chăm nom cho người.

    Mỗi lần như vậy, thứ khí không mùi trong nhựa mạn đà la lại như một con trùng độc len lỏi vào trong cơ thể Lê Bang Cơ, và len lỏi vào trong chính cơ thể nàng.

    Nàng tự cảm thấy bản thân luôn như trôi nổi trên chín tầng mây mỗi khi hai người ở cạnh nhau.

    Nàng thấy ánh mắt người nhìn nàng đến say đắm, đê mê, tựa như muốn quên hết mọi chuyện bộn bề ngày ngày giằng xé tâm can người.

    Nàng mỉm cười mãn nguyện tan vào những hư ảo trong đôi mắt ấy.

    Đôi mắt giống nhau đến vậy mà Lê Nghi Dân lại luôn khăng khăng Lê Bang Cơ không phải con của Thái Tông Văn hoàng đế.

    Đôi mắt giống nhau đến mức nàng tự huyễn hoặc bản thân đang say mê bên Lạng Sơn vương chứ không phải đương kim thánh thượng.

    Lê Bang Cơ thật đáng thương, nàng thật đáng thương, Lê Nghi Dân thật đáng thương, những đứa trẻ sinh ra vào thời loạn giữa ngày thái bình ấy, đứa nào cũng thật đáng thương.

    Gần đây Lê Bang Cơ hay đến tìm nàng.

    Nhìn vào ánh mắt người những khi ấy, thậm chí nàng có thể soi rõ bóng dáng yểu điệu của mình.

    Nụ cười bẽn lẽn, đuôi mắt đong đầy ái tình, sắc xuân hây hây phớt qua đôi má ửng hồng như một bông hoa đào nở bừng trong mắt Lê Bang Cơ.

    Vậy mà nhìn vào đôi mắt ấy, nàng lại chỉ nghĩ đến một người.

    Con đường mà nàng và người ấy chọn không hề giống nhau, nhưng định mệnh đã chọn trói buộc hai người lại.

    Nàng chưa từng hận Lê Bang Cơ như người đó, nàng chỉ cần một lần đối diện Nguyễn thị để nghe bà ta kể ngọn ngành chuyện Lệ Chi viên.

    Thứ người ấy muốn không chỉ là tính mạng của em trai mình.

    Một mạng người, một ngôi vua, người khác chỉ cần một, Lê Nghi Dân thì không như thế.

    Vậy là họ đi cùng nhau.

    Không chung lối, nhưng lại cùng đường.

    Lê Bang Cơ ngủ gật nhiều dần, hay quên việc này việc kia, nhưng chưa bao giờ quên nàng.

    Nàng cũng bỏ thói quen bóp nát mạn đà la mỗi khi hầu hạ hoàng đế.

    Chuyện không thể vãn hồi, nhưng nàng lại không nỡ làm nó trầm trọng hơn.

    Những mắt xích trong cấm thành này bắt đầu móc nối dần với nhau, tạo nên một gọng kìm vô hình trói chặt toàn bộ những người đang sống.

    Độc dược, gián điệp, tin đồn, tất cả dường như đang dùng toàn bộ sức lực của chúng kẹp chết Lê Bang Cơ.

    Nhưng giữa những lúc mê man là những khi thanh tỉnh, Lê Bang Cơ chưa bao giờ quên mình là hoàng đế, chưa bao giờ quên mình là con của ai, chưa bao giờ khiến Thái Tông Văn hoàng đế thất vọng vì cốt nhục của người.

    Ngươi giăng lưới ta, ta đặt bẫy ngươi, mèo đuổi chuột, chuột vờn mèo, âu cũng là một trò chơi thú vị.

    Ngay trong đêm ấy, ba toán Thiết Đột cảm tử quân chia ra ba hướng, như một cơn gió lướt từ cấm thành về phía tư phủ Lạng Sơn vương, Tân Bình vương, Bình Nguyên vương.

    ———

    Tiếng chó gầm gừ trong đêm khuya tĩnh mịch đánh thức Lê Tư Thành.

    Đã gần hai tháng nay, thi thoảng giữa đêm, cặp chó săn mà thái bảo Nguyễn Xí tặng hắn lại nghiến răng kèn kẹt.

    Nếu có bất kỳ biến động dù là nhỏ nhất, cả hai con thường tru lên những hồi dài như tiếng sói tru giữa đại ngàn.

    Nhưng hắn để ý những lần như thế này, cả hai con đều chỉ nghiến răng như cam chịu, rồi lát sau lại nằm im ngoan ngoãn.

    Những kẻ lảng vảng quanh phủ Bình Nguyên vương gần đây hẳn là những kẻ phải khiến chúng e dè.

    Lê Tư Thành bật dậy, cẩn trọng sắp xếp lại những suy nghĩ đang rối ren trong đầu.

    Rốt cuộc những kẻ như thế nào mới có thể khiến khuyển binh của lão thái bảo, những con chó săn thiện chiến bậc nhất đã cùng ngài ấy dựng nên bao chiến công hiển hách phải dè dặt, sợ hãi?

    Chúng chưa từng biết run sợ trước bất cứ điều gì, bởi ngoài lời chủ nhân của chúng, lời của những kẻ khác đều không phải mệnh lệnh.

    Thứ gì mới có thể khiến những con chó săn trung thành, chưa từng biết sợ chết giờ đây lại chấp nhận lùi một bước?

    Một thứ như vậy...

    Chỉ có thể là một đám người chưa từng sợ chết mà chúng không hề xa lạ.

    Thiết Đột cảm tử quân.

    Năm chữ ấy vang vang trong đầu Lê Tư Thành.

    Đội quân cảm tử được Thái Tổ Cao hoàng đế huấn luyện và từng được chính thái bảo Nguyễn Xí chỉ huy.

    Đội quân cảm tử từng không sợ chết xông thẳng vào trung phong của quân địch và mang về chiến thắng Tốt Động – Chúc Động lừng lẫy.

    Nếu hắn nhớ không nhầm, Tuyên Từ thái hậu từng cắt bớt biên chế của vệ Thiết Đột, thậm chí vệ quân này còn từng phải đi làm những công việc đồng áng.

    Vậy mà, bây giờ quân Thiết Đột lại xuất hiện quanh tư phủ của hắn.

    Không biết hoàng đế hay thái hậu đã huấn luyện chúng từ quân cảm tử trở thành con chó săn cho triều đình thế này.

    Hắn nhắm mắt, rơi vào trầm tư.

    Vệ Cẩm Y của nhà Minh, vệ Thiết Đột của nhà Lê, xem ra bây giờ cũng chẳng khác nhau mấy.

    Một khi đã rơi vào tầm ngắm của đám triều đình ưng khuyển này, muốn sống yên thân cũng không xong với chúng là điều dễ hiểu.

    Hắn biết hắn mới là mục tiêu của chúng, chứ không phải bất cứ ai khác trong tư phủ này.

    Hắn bắt buộc phải thu xếp mọi chuyện chu toàn, nếu không muốn trở thành con mồi của đám "chó săn" kia.

    ———

    Thục Giang ngồi xổm, nhìn hai con chó lông rực như lửa đang quấn lấy nhau nô đùa, không ngừng thắc mắc làm cách nào mà Lê Tư Thành có thể phân biệt được chúng.

    Nghe nói chúng vốn không phải do cùng một chó mẹ sinh ra.

    Mỗi lần có dịp về quê tế tổ, lão thái bảo đều dành thời gian vào những bản xa trên núi Lam, đi đến từng nhà để tìm những con chó xuất sắc nhất.

    Mà đặc biệt, ngài ấy chỉ ưa những con chó màu lông hung vàng như ngọn lửa chinh chiến.

    Khuyển binh không còn được dùng trong thời bình, nhưng đương nhiên chẳng ai có lý do để ngăn ngài ấy nuôi chó trông nhà cả.

    Không ngờ lo lắng của lão thái bảo cũng có ngày trở thành sự thật, sự chuẩn bị của lão thái bảo tưởng như vô ích cũng có ngày phải dùng tới.

    Nàng nghe Lê Tư Thành kể lại chuyện đêm hôm trước đến đờ cả người.

    "Vậy có nghĩa là bệ hạ, hoặc lệnh bà đang cho người theo dõi chàng?"

    Lê Tư Thành chậm rãi gật đầu.

    Hắn nghiêng về khả năng Thiết Đột nghe ngóng cho hoàng đế hơn là cho thái hậu.

    Hoàng đế đã sống dưới cái bóng to lớn của thái hậu quá lâu.

    Hắn cảm tưởng hoàng đế giống như một con đại bàng đã đủ lông đủ cánh nhưng bị trói chặt đôi chân lại vậy.

    Rồi còn đại bàng ấy sẽ tìm mọi cách cắt đứt ràng buộc, tự mình vươn cánh tung hoành dưới bầu trời xanh bao la của riêng nó.

    Mà việc đầu tiên nó sẽ làm sau khi có thể tự do bay lên, chính là lượn một vòng khắp vòm trời và tìm kiếm những con đại bàng giống nó.

    Còn sau khi tìm được sẽ làm gì lại là quyết định riêng của từng loài thú săn mồi.

    Thục Giang cảm thấy giữa Đông Kinh này, ban ngày nắng vàng chan chứa, chỉ cần bước chân ra khỏi phủ, nàng sẽ nghe được tiếng người cười nói huyên náo, tiếng xe lộc cộc nện xuống sỏi đá, tiếng lá vàng lao xao trong gió, tiếng chim ríu rít trên những mái nhà, tiếng đàn tiếng hát xiêu lòng người từ các giáo phường.

    Nhưng khi nắng vàng tắt đi, những thanh âm thường nhật kia vãn hẳn, những ai tinh ý mới nghe được tiếng mạch ngầm cuộc sống đang chảy trôi dưới nền đất mà họ bước lên.

    Mạch ngầm ngày ấy chầm chậm, êm đềm.

    Mạch ngầm giờ đây bắt đầu cuộn dần lên, chẳng biết bao giờ sẽ bùng nổ thành cơn sóng to gió lớn cuốn những số phận vào trong ấy.

    Nàng vuốt vuốt cánh tay dưới hai lớp áo mỏng, nhận ra người đã nổi đầy gai ốc.

    "Điện hạ kể với thiếp chuyện này làm gì?"

    Nàng rùng mình nghĩ đến kẻ áo đen đã ra tay với nàng đêm ấy.

    Nàng không muốn nghĩ lại chuyện đó, nên chưa bao giờ hỏi Lê Tư Thành.

    Đúng như nàng từng nghĩ, mỗi người đều có thế giới riêng của mình.

    Ví như chuyện nàng có phải cháu ngoại tư đồ tả tướng quốc, ví như chuyện mối quan hệ của Lê Tư Thành và kẻ áo đen kia.

    "Ta tưởng nàng thích đi chung một ô với ta.

    Hoá ra nàng chỉ thích tắm mưa một mình."

    Tư Thành ngẫm nghĩ hồi lâu rồi mới đáp lời.

    Hắn nhận ra một điều không biết nên vui hay nên buồn.

    Hắn vốn là một kẻ ít nói, nhưng kể từ khi gặp nàng đến giờ, hắn luôn là người chủ động nói chuyện.

    Nếu nàng đáp lại, thì chắc chắn là một câu ngang ngược nào đó khiến hắn phát cáu.

    Còn nếu nàng không đáp lại, hắn sẽ nói vẩn vơ một mình, rồi loanh quanh vài câu lại thành gây sự vì nói mà không có ai nghe.

    Thục Giang nhìn hắn đến quên cả chớp mắt.

    Nàng thích nhìn vẻ mặt của hắn lúc cứng họng vì cãi nhau không thắng được nàng.

    Bình thường hắn có vẻ cao ngạo, xa lánh mọi người.

    Nhưng những lúc như thế này, trông Lê Tư Thành mới giống một thiếu niên đúng với độ tuổi của hắn.

    Những lúc như thế này, sự lạnh lùng mới tan đi chút ít, trả lại gương mặt hắn vẻ tuấn tú vốn có.

    Lê Tư Thành thật sự rất ưu tú.

    Hắn mang vẻ nho nhã của văn nhân, lại mang cả nét bụi trần của võ tướng, văn võ song toàn đến thế, thậm chí cầm, kỳ, thi, hoạ cũng chưa bao giờ là thách thức với hắn.

    Bảo sao, bao thiếu nữ chốn kinh kỳ vẫn tương tư Bình Nguyên vương, vẫn ôm mộng ước một ngày được đặt chân vào Bình Nguyên vương phủ.

    "Sao nàng cứ nhìn ta chằm chằm thế?"

    Tư Thành thấy Thục Giang ngẩn ra, khua khua tay trước mắt nàng.

    Thục Giang giật mình, liếc xéo hắn, không thèm trả lời.

    Nàng nhoài người lên bục đá Tư Thành đang ngồi, giơ tay định với cái chuông đồng mà lão thái bảo vẫn dùng để ra hiệu cho Hoả Phủ, Hoả Liêm đang nằm trong tay hắn.

    Hắn thấy nàng lại phớt lờ câu hỏi của mình, tính tự ái bùng lên, giấu cái chuông ra phía sau lưng.

    Thục Giang đang rướn người, tưởng sắp chạm tới cái chuông rồi lại mất đà, ngã nhoài vào người hắn.

    Nàng ngước lên nhìn đôi mắt Tư Thành đang đối diện với mình, cả bầu trời xanh ngắt mênh mông giờ hoàn toàn là gương mặt tuấn tú của hắn.

    Tay phải nàng vòng ra sau lưng hắn tìm cái chuông, tay trái ấn vào vết sẹo mờ mờ trên trán Tư Thành.

    "Chàng không nhìn thiếp mà biết thiếp nhìn chàng à?

    Trả cái chuông đây!"

    Tay phải hắn vẫn cầm chặt cái chuông sau lưng, tay trái ôm ghì vai nàng, ấn người nàng xuống đùi mình.

    Hắn trừng mắt nhìn nàng đang không ngừng ngọ nguậy trong lòng.

    "Chuông nào của nàng mà nàng dám đòi?

    Không biết cách dùng, liệu hồn chúng nó xông vào cắn rách áo đấy.

    Thế ta hỏi thêm một lần nữa, trời đang giông gió nhưng anh học trò nghèo Lê Hạo chỉ có một cái ô.

    Không biết Phùng tiểu thư có sẵn lòng đi chung một ô với anh ta không?"

    "Chỉ cần không bị ướt mưa thì dù anh nghèo, ta vẫn đi cùng.

    Đi thì đi!"

    Khoé mắt Thục Giang cong lên nét cười rạng rỡ.

    Lúc này Lê Tư Thành nhớ ra hình như lâu lắm rồi nàng mới cười tươi như thế.

    Hắn chợt ích kỉ, chợt muốn giữ mãi nét cười ấy trong tâm khảm mình suốt phần đời về sau này.

    ——————

    Hết chương 8.
     
    [Dã Sử Việt] Đông Kinh Năm Ấy - Lê Thánh Tông, Phùng Chiêu Nghi
    CHƯƠNG 9: VŨ LÂM (1)


    Lê Tư Thành như chạy đua với thời gian và chạy đua với một thứ áp lực vô hình đang quẩn quanh cuộc sống thường nhật của hắn.

    Hắn tức tốc vào cung xin thánh chỉ hồi hương, hắn hối hả đến trại ngựa của lão thái bảo chọn ngựa, hắn vội vã giao Hoả Phủ, Hoả Liêm lại cho Ngô sung viên.

    Tất cả chỉ gói gọn trong một ngày.

    Lúc hắn kéo được hai con tuấn mã của lão thái bảo về đến phủ, vầng trăng đã như lưỡi liềm treo vắt vẻo trên đỉnh trời.

    Hắn còn chẳng buồn rửa tay chân, mệt mỏi nằm dài ra sập, chìm vào giấc ngủ lúc nào không hay.

    Cuộc sống vốn bình lặng, thong thả của hắn bị xáo trộn theo cách mà hắn chưa đoán định trước.

    Hắn không nghĩ sóng gió sẽ nổi lên sớm như thế này.

    Thục Giang vuốt cho cặp lông mày của Tư Thành giãn ra, đắp lên người hắn tấm chăn rồi nhẹ nhàng thổi tắt đèn, về giường ngủ.

    Ngay sáng sớm hôm sau, khi gà còn chưa kịp thức giấc, Lê Tư Thành đã xông vào buồng, hất tung chăn gối lên, dựng Thục Giang dậy.

    Hắn còn chẳng cho nàng thời gian để hỏi, liên tục ấn vào tay nàng hết thứ này đến thứ khác.

    Thậm chí, trong khi nàng còn ngáp ngắn ngáp dài, mắt còn chưa mở hết, hắn đã thay nàng buộc tóc, rồi cứ thế kéo nàng về phía cổng.

    "Có chuyện gì mà điện hạ gấp vậy?"

    Nàng đi như chạy để bắt kịp bước chân hắn, cả người đổ hẳn về phía trước vì bị Tư Thành lôi đi.

    Hắn không nói không rằng, nhưng hành động thật sự vô cùng kỳ quái, khác hẳn với thường ngày, hỏi cũng không trả lời.

    Hắn lẩm nhẩm gì đó trong miệng, hình như đang tính ngày tính tháng.

    "Điện hạ nói cái gì đấy!"

    Thục Giang vung tay ra khỏi Tư Thành.

    Nàng đứng lại giữa sân chính, chống nạnh thở hổn hển nhìn hắn.

    Lúc này hắn mới quay người lại, vẻ mặt bình thản tựa như chẳng có chuyện gì xảy ra.

    "Ta đưa nàng về Tây Kinh tế tổ."

    Hôm ấy, nhằm ngày hai mươi tháng chín, Diên Ninh năm thứ sáu.*

    *Năm 1459

    Lê Tư Thành nhìn hai con tuấn mã mà hắn đã mất cả buổi chiều chọn lựa từ trại ngựa của lão thái bảo, quay sang hỏi Thục Giang.

    "Nàng có biết cưỡi ngựa không?"

    Hắn ấn dây cương ngựa vào tay nàng.

    Lúc này nàng mới nhìn tới hai con tuấn mã đang đứng thong dong trước cổng phủ.

    Nàng nhận lấy dây cương của con bạch mã lông trắng như bông, điểm xuyết bộ bờm đen óng ả, ái ngại nhìn về phía cổng thành.

    Bên cạnh nó là con ngựa ô cao lớn hơn, dưới mặt trời, lớp lông của nó ánh lên màu đỏ vàng như đồng thau.

    Lê Tư Thành nhìn nàng còn đang lưỡng lự, hất hàm về phía con ngựa ô.

    "Nếu nàng không biết cưỡi ngựa thì hai ta cưỡi chung một con."

    "Không!

    Thiếp biết."

    Tư Thành cười gật gù sau câu trả lời của nàng.

    Hắn quay lại tháo dây cương, dắt ngựa đi trước.

    Tay phải hắn nắm dây cương, thấy Thục Giang vẫn còn chần chừ nhìn cương ngựa trong tay, tay trái vẫy vẫy ra hiệu cho nàng nhanh lên.

    Thục Giang đang ngái ngủ, chưa kịp hiểu thì Tư Thành đã vùng vằng giật dây trong tay nàng, ấn vào tay trái, còn hắn nắm chặt tay phải nàng mà kéo đi.

    Phía sau, đoàn người ngựa chở theo tư trang, hành lí chậm rãi đi theo hai người.

    Sáng cuối thu, sương đêm quyện lấy từng bước chân của người đi đường.

    Những hàng quán ven lối chính trong thành Đông Kinh bắt đầu rục rịch mở cửa, mùi khói bếp khét lẹt do củi ẩm đầy trong không gian.

    Người đi chợ quẩy gánh hàng nặng trĩu, bóng lưng nhịp nhàng theo từng bước chân.

    Cả một toà thành rộng lớn đang chuẩn bị cho một ngày mới, còn đoàn người ngựa thì nối đuôi nhau đi ngang qua họ.

    Thục Giang khịt mũi, chỉ toàn thấy mùi khói quẩn quanh trong sương lạnh.

    "Về Tây Kinh sẽ không lạnh thế này nữa, nhưng tầm này đúng mùa bão thì toàn mưa thôi."

    Tư Thành nghe thấy tiếng nàng khụt khịt, lại thấy bàn tay nhỏ trong tay mình có hơi lạnh đi, mới khẽ trấn an nàng.

    Họ ra khỏi thành Đông Kinh khi ở phía chân trời, vầng dương đang dần dần ló dạng.

    Một quả cầu lửa xé tan màu u ám của đêm sương, làm đàn chim đang đậu trên cành nháo nhác vỗ cánh bay vọt lên không trung, gọi một ngày mới bắt đầu.

    Khi cánh cửa ô Cầu Dền chỉ còn là một chấm đen bé xíu khuất xa sau trập trùng mây mù, khi chung quanh chỉ toàn là những cánh đồng cò bay mỏi cánh, khi hương lúa nếp non đương độ trổ đòng lan đầy không khí, Tư Thành mới dặn dò đám gia nhân cứ thong thả mà tiến về phía Nam, hắn và Thục Giang đi trước tìm nơi nghỉ chân.

    Hắn ngước nhìn đỉnh ngọn núi đá ngay mép đường đi, mấy bóng áo đen biến mất chỉ trong chớp mắt.

    Tư Thành nhếch môi khinh bỉ.

    Chó giữ nhà, gà gáy sáng.

    Giữa ban ngày ban mặt, khôn hồn thì đám chó săn triều đình ấy đừng để hắn phải ngứa ngáy chân tay mà động thủ.

    Rồi như chưa có chuyện gì xảy ra, Tư Thành thúc ngựa, hai con tuấn mã xé gió phi vào giữa muôn trùng rừng núi.

    Tiếng vó ngựa nện xuống nền đất vừa ráo sương, tiếng gió sượt qua bên tai cùng hương thơm của sen Dâm Đàm thoang thoảng khiến Lê Tư Thành như say mê.

    Hắn hơi ghìm cương cho con ngựa ô phi chậm lại, để thiếu nữ và con bạch mã vụt lên trước.

    Dây cột tóc vướng vào một nhành cây ngả nơi lưng chừng, để lộ ra suối tóc đen dài tung bay trong gió.

    Thục Giang vội ghìm cương, đôi bàn tay thoăn thoắt búi cao mái tóc lên gần đỉnh đầu.

    "Điện hạ buộc tóc không chắc chắn gì cả!"

    Nàng quay người nhìn hắn, đuôi mắt cong lên lộ rõ nét hạnh phúc.

    Nụ cười của nàng ngày ấy không giống bất cứ người con gái nào hắn đã từng gặp trong toà thành Đông Kinh rộng lớn kia.

    Nụ cười không e thẹn, ngại ngùng, cũng không toan tính, mưu mô, càng không đong đưa lả lướt, càng không khiêm nhường, giữ mình.

    Nụ cười của nàng ngày ấy tựa như con chim sơn ca vừa được sổ lồng bay lượn.

    Nụ cười của nàng ngày ấy là nụ cười chan chứa sự tự do.

    Nếu biết rằng bốn bức tường cao của tử cấm thành có thể giết chết nụ cười của nàng ngày ấy, hẳn là hắn sẽ để nàng bay đi.

    Nhưng Lê Tư Thành đã quá ích kỉ, quá nhỏ nhen mà đến lúc chết vẫn cố chấp cho rằng mình làm như vậy là bao dung, độ lượng.

    "Vừa biết nữ công, nhưng lại biết cả cưỡi ngựa.

    Nàng còn giấu diếm những gì chưa cho ta biết?"

    Hắn cười ha hả, tiếng cười hào sảng lay động lòng người, giữ ánh mắt thiếu nữ nán lại, như muốn lắng nghe cho trọn vẹn tiếng cười ấy.

    Thục Giang ngây ngốc trước dáng vẻ anh tuấn, điệu bộ khoan dung nhưng không kém phần uy dũng của hắn.

    Khắp trong ngoài, trên dưới thành Đông Kinh đều nức nở khen Bình Nguyên vương thiên tư tuyệt đẹp, từ nhỏ đã thông hiểu lễ nghi, xứng đáng là đấng trượng phu mà biết bao thiếu nữ ôm mộng mơ.

    Lời đồn trong thiên hạ quả thực không quá chút nào.

    Nhưng nếu những kẻ ấy được nhìn thấy hắn của hiện tại, rong ruổi trên lưng ngựa giữa những rừng cây rộng lớn, hoà vào cái bao la của đại ngàn để bản thân càng vĩ đại, hẳn là họ sẽ còn ngưỡng mộ hắn thêm vạn lần, hẳn là những lời nhỏ to về Bình Nguyên vương sẽ còn kéo dài từ quán trà nọ sang quán ăn kia, từ miệng của ông chủ này sang miệng của tên làm công nọ.

    Nàng cứ ngẩn ngơ đến mức quên cả thúc ngựa chạy, cứ để bản thân lắc lư trên lưng con ngựa đang lười biếng dừng lại gặm cỏ.

    "Đừng có nhìn ta như thế nữa!

    Nàng cứ như vậy da mặt ta sẽ mòn đi mất."

    Lê Tư Thành nhảy xuống khỏi ngựa, vỗ vỗ vào lưng con bạch mã, nhắc Thục Giang.

    Lúc này nàng mới bừng tỉnh khỏi những giây phút ngẩn ngơ trước hắn.

    Lần đầu tiên nàng gặp hắn, đối diện với nàng chỉ là một bóng lưng rộng lớn.

    Hình như vì lần đầu tiên ấy, nên bây giờ, mỗi lần ở cạnh Tư Thành, nàng đều nhìn ngắm kỹ càng từng đường nét trên gương mặt hắn.

    Bóng lưng thì có thể giống nhau, có thể nhầm lẫn.

    Nhưng gương mặt của hắn, kể từ lần đầu tiên nàng nhìn thẳng trong đêm tân hôn, đã trở thành điều mà cả cuộc đời này nàng sẽ khắc ghi.

    Từ ánh mắt, đến sống mũi, đến đôi môi, tất thảy đều đã ghi sâu vào tâm trí nàng.

    Thục Giang giật mình khi nghe văng vẳng tiếng ngâm bài thơ của Phật hoàng Trần Nhân Tông.

    "Hoạ kiều đảo ảnh trám khê hoành

    Nhất mạt tà dương thuỷ ngoại minh"*

    *Trích từ bài thơ "Vũ Lâm thu vãn" của vua Trần Nhân Tông

    Thì ra là Lê Tư Thành.

    Hắn cất lời khi ngay ngoài bìa rừng, cuối con đường mòn mà hai người vừa đi qua là một cây cầu đá vắt ngang nhánh sông nhỏ.

    Vậy là họ đã đi tới tận cùng địa phận đạo Nam, sắp vào tới đạo Hải Tây.

    Trước mắt, dòng sông Ngô Đồng uốn lượn theo chân núi Tam Cốc, phản chiếu ánh tà dương vàng óng, lấp loáng.

    Cảnh tượng vừa hùng vĩ, vừa nên thơ khiến Lê Tư Thành ngay lập tức nhớ tới đôi câu thơ ấy, không ngờ thiếu nữ cạnh bên cũng nhanh chóng đáp lại.

    "Tịch tịch thiên sơn hồng diệp lạc

    Thấp vân hoà lộ tống chung thanh."

    "Xem ra Phùng tiểu thư cũng đầy một bụng chữ.

    Vậy mà trước đây Lê Hạo cứ nghĩ tiểu thư chỉ biết đọc, biết viết thôi đấy!"

    Tư Thành chẹp miệng tiếc nuối.

    Hắn buộc dây cương, để mặc đôi tuấn mã gặm cỏ, kéo Thục Giang ngồi xuống bên cạnh mình.

    Trước mắt đã là hành cung Vũ Lâm*, với con sông Ngô Đồng như dải lụa mềm mại bao quanh ôm lấy chân núi.

    Nơi tựa sơn hướng thuỷ, đắc địa như vậy đúng là phù hợp để xây dựng căn cứ, ngăn bước viễn chinh quân xâm lược.

    *Căn cứ quân sự được xây dựng từ thời Trần, nằm ở phía Nam thành Hoa Lư.

    Lê Tư Thành cứ trầm ngâm một mình như vậy, khiến Thục Giang cứ ngập ngừng không biết nên mở lời như thế nào.

    Nàng có bao nhiêu điều muốn được giải đáp, không phải chỉ để thoả cái tính hiếu kỳ, mà ít nhất, nàng đã lờ mờ đoán được nguyên nhân hắn tức tốc ra khỏi kinh thành, thì nàng cũng muốn biết tại sao hắn lại muốn lôi mình vào vòng xoáy ấy.

    Nhưng hắn thì cứ lờ đi, giả mù giả điếc coi như không biết gì.

    "Ta buồn ngủ quá!

    Sao lúc sớm nàng không bảo ta ngủ tiếp?"

    Tư Thành vươn vai, ngáp dài một cái, rồi cứ thế nằm ngả ra phía sau.

    Hắn nhìn cây ổi phía trên đang độ ra quả, quả nào quả nấy căng bóng, lúc lỉu đầy cành, lười biếng hỏi Thục Giang.

    "Nàng biết trèo cây không?"

    Thục Giang quay ra nhìn hắn, rồi kéo hẳn vạt váy thường lên quá gối, xoa xoa mấy vết bầm.

    "Điện hạ muốn ăn thì tự trèo lên mà hái.

    Chứ từ hồi năm tuổi bị ngã, thiếp đã không trèo cây nữa rồi."

    "Lại còn ngã cây.

    Này, nàng có phải con gái không thế?"

    Tư Thành ngao ngán thở dài, xoè cây quạt lụa úp lên mặt cho đỡ chói.

    Đến giờ hắn thật sự hối hận vì sớm nay không ngủ thêm một chút nữa.

    Đi muộn hơn cũng chẳng ảnh hưởng gì nhiều, thế mà hắn lại chọn cách ra khỏi thành từ lúc lờ mờ nhìn không thấy mười ngón tay trước mặt.

    "Điện hạ thích người đoan trang, thuỳ mị thì mau mau lấy vài nàng về mà hầu hạ.

    Kẻo mấy năm nữa điện hạ già xấu, lại còn khó tính như ma ấy, thiếu nữ nhà người ta không thèm để ý đến nữa đâu."

    Thục Giang bĩu môi nhìn hắn, rồi phủi váy, leo lên cành ổi đang sà xuống, chỉ nhỉnh hơn đầu nàng một tẹo.

    Nàng với tay, hết lật lá lên rồi lại úp lá xuống, mãi mới vặt một quả ổi xanh lét, vỏ còn bóng loáng, ném thẳng vào chiếc quạt lụa che mặt thiếu niên đang nằm dài dưới bãi cỏ.

    "Lại còn thêm cái tật hay nói láo.

    Nàng đừng có mà ngang ngược!"

    Lê Tư Thành bật dậy, giắt vội cây quạt vào thắt lưng, gặm một miếng ổi to tướng.

    Mặt mũi hắn nhăn nhó vì quả ổi chát xít.

    Hắn lia cả quả xuống sông, dùng toàn bộ sức bình sinh ôm lấy chân, lôi thiếu nữ đang vắt vẻo trên cành cây xuống, vác gọn ghẽ trên vai.

    Tiếng cười đùa của họ vang vọng một góc trời, mượn những cánh chim đã mải miết cả ngày cõng ánh chiều tà tìm đường bay về tổ ấm.

    ———

    Hành cung Vũ Lâm nằm khuất phía sau Tam Cốc - Bích Động.

    Muốn vào tới hành cung, họ còn phải đi thuyền dọc sông Ngô Đồng.

    Cả một vùng nước non bát ngát với những cánh đồng lúa trĩu bông, trùng trùng điệp điệp núi rừng, mây trắng sà xuống triền núi, mềm mại như dải lụa bông ôm lấy từng nhánh cây ngọn cỏ.

    Mặt trời ngả dần về phía tây, cũng vừa lúc đoàn gia nhân đã tìm được tới bến thuyền.

    Ông lão lái đò tuổi xem chừng đã ngoài bảy mươi.

    Đã ở cái tuổi thất thập cổ lai hy xưa nay hiếm, nhưng trông lão vẫn minh mẫn, nhanh nhẹn.

    Lão làm cái nghề chèo thuyền ở bến sông này từ thuở mười ba, mười bốn, cũng là cả cuộc đời gắn liền với sông nước Hoa Lư.

    Lão chứng kiến gần như toàn bộ sự sụp đổ của vương triều Trần, chứng kiến sự hung hăng, tàn độc của giặc Ngô, và chứng kiến cả những chiến công hiển hách của Thái Tổ Cao hoàng đế từ độ phất cờ khởi nghĩa ở nơi rừng núi Lam Sơn.

    Ba con thuyền một trước một sau, không vội vàng, không ồn ào.

    Đến chính người lái đò cũng khoai thai buông mái chèo để con thuyền trôi theo dòng nước.

    Ông lão lái đò nhìn Tư Thành và Thục Giang.

    Hồi lâu lão mới cất tiếng hỏi chuyện.

    "Cô cậu chắc là người xứ khác tới đây.

    Ngày cũng gần tàn, muốn tìm chỗ nghỉ chân chắc cũng phải khuya muộn."

    "Đội ơn lão.

    Qua được Tam Cốc là có người nhà cháu ra đón."

    Lê Tư Thành lảng tránh câu nói của ông lão.

    Với người khác, chắc chắn muốn tìm nơi dừng chân đêm nay phải đi hết địa phận đạo Nam.

    May mắn thì nửa đêm mới tìm được quán trọ, mà xui xẻo thì chuyện ngủ ngoài đường là không tránh được.

    Nhưng hắn vốn là thân vương, mỗi bước chân đều có người âm thầm hỗ trợ.

    Giữa sông Ngô Đồng có cây cầu đá vắt từ làng dân sang hành cung Vũ Lâm, chỉ cần tới đó, tự khắc sẽ có người của triều đình sắp xếp nơi nghỉ chân cho họ.

    Thục Giang vung tay xuống dòng nước sông mát lành, trong veo.

    Sông chảy quanh Hoa Lư, không mang cái màu phù sa đỏ nặng như sông Nhị, cũng không mang vẻ hiền hoà như câu hát giao duyên bên bờ sông Thương.

    Dòng sông này vừa mang cái hùng vĩ bắt nguồn từ đại ngàn phía trên, chảy trôi qua cả vạn dòng suối, về đến đây lại mang cái bình lặng, ôn hoà, trong trẻo và dịu êm như tâm trạng của nàng bây giờ.

    Đôi bờ sông mướt màu xanh của lúa nếp trổ đòng và những cây ngô đồng đang yêu kiều rủ bóng.

    Dọc hai bên bờ sông, người ta trồng những hàng ngô đồng chỉ cao lưng chừng đầu người, nhưng cành nào cành ấy vươn lên mạnh mẽ, là điểm tựa vững vàng của lá, của hoa.

    Ngô đồng cuối tháng chín rộ hoa, chỉ lác đác vài lá non sót lại trên thân mẹ khẳng khiu.

    Chỉ một khúc sông không dài mà hoa ngô đồng nở rực như những đám mây tím hồng vấn vít trên áo người đi đò.

    Đám gia nhân, kẻ hầu đang ở thuyền sau cũng hiếu kì nhìn xung quanh, trầm trồ vì khung cảnh hùng tráng của nơi này.

    Có lẽ từ nhỏ đến giờ, họ chưa từng rời khỏi bốn bức tường cao vút của phủ quan lớn, chứ nói gì tới chuyện được ngao du, tận mắt chứng kiến thiên nhiên tươi đẹp như thế này.

    "Giang sơn này là do Thái Tổ Cao hoàng đế và biết bao anh hùng, nghĩa sĩ đã ngã xuống dùng máu để đổi lại.

    Giang sơn này tươi đẹp còn vì được dệt nên từ mồ hôi và xương máu."

    Thục Giang gật gù trước câu nói tưởng như vu vơ của Tư Thành.

    Nàng luôn cảm nhận được một mạch ngầm luôn luôn sục sôi trong con người hắn, chỉ chờ ngày được bùng lên.

    Ấy là mạch ngầm của khát khao được cưỡi trên lưng voi, vác đao ra trận.

    Nàng luôn cảm thấy cuộc sống của một thân vương nhàn hạ giữa thời thái bình này chưa thể thoả được chí lớn của Lê Tư Thành.

    Hắn luôn muốn nhiều hơn chuyện hằng ngày chong đèn đọc sách.

    Hắn luôn muốn nhiều hơn chuyện hằng ngày đi quanh Đông Kinh ngắm cảnh, bình thơ.

    Chợt Thục Giang nhìn thấy đôi bươm bướm đang rập rờn, lấp ló sau những chùm hoa ngô đồng.

    Nàng lẩm nhẩm vài câu thơ mà bản thân cũng nhớ nhớ quên quên vì đều đọc được trong sách của anh trai.

    "Xuyên hoa giáp điệp thâm thâm hiện

    Điểm thuỷ thanh đình... cái gì nữa điện... mình nhỉ?"

    "Khoản khoản phi."*

    *Trích từ bài thơ "Khúc giang, kì II" của Đỗ Phủ.

    Hắn nhanh chóng đáp lời.

    Quả không hổ danh là thần đồng đầy một bụng chữ.

    Nhiều khi Thục Giang cũng tự đắc vênh mặt với nhiều tiểu thư khác, rằng nàng biết chữ, thậm chí còn thuộc được bao nhiêu thơ văn.

    Nhưng có lẽ lượng thơ văn mà nàng thuộc, chỉ là hạt cát ngoài sa mạc nếu so với những gì mà Lê Tư Thành đã nằm lòng.

    Hình như không bài thơ nào hắn không biết, không bài vè nào hắn không thuộc, không bài phú, bài hịch, bài cáo nào không nằm trong đầu hắn.

    Chỉ cần người ta nhắc một chữ thôi, hắn sẽ tuôn được cả bài.

    Thi thoảng nàng cũng thấy hắn ngoằng ngoằng vài chữ ra giấy.

    Từ giờ đến hết đời, hắn còn viết bao nhiêu nữa, nàng chẳng dám phỏng đoán.

    Tư Thành nhìn theo ánh mắt Thục Giang đang dán vào đôi hồ điệp, không khỏi bật cười.

    Vì đôi hồ điệp mà nàng nghĩ tới bài thơ của Thiếu Lăng dã lão Lý Bạch, mà không biết rằng mùa này ở Vũ Lâm, nếu có chuồn chuồn giỡn trên mặt nước thật, ắt sẽ có bão to đến đổ đình đổ chùa.

    "Chàng từng nghe đến câu chuyện Lương – Chúc* chưa?"

    *Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài

    Thục Giang ngồi phía trước, quay ngoắt người lại hỏi Tư Thành.

    Quả thực, khi nhìn thấy bươm bướm thành đôi bay lượn bên nhau, đầu nàng nghĩ đến Lương – Chúc, nhưng miệng lại bật ra câu thơ của Thiếu Lăng dã lão, rồi lại để hắn được dịp chê cười.

    "Nàng biết lắm chữ để đọc mấy chuyện tình hão huyền, sướt mướt đó đấy à?"

    "Nhưng chuyện ấy cũng cảm động thật mà ông lớn."

    Cái Ngọc ngồi cạnh Thục Giang, nghe nàng nhắc đến chuyện Lương – Chúc thì hứng thú hẳn.

    Hồi còn ở phủ quan gián nghị, cô hai, cô ba từng giấu ông bà đọc trộm câu chuyện ấy, họ cùng nhau cười khúc khích rồi khi gấp sách vào thì lại khóc sụt sùi.

    Nó từng năn nỉ mãi, cuối cùng hai cô cũng kể lại cho nó nghe.

    Hồi ấy nó còn bé tí, nghe mười chữ thì hiểu được hai, ba chữ, nhưng cũng biết là chuyện tình ấy thật đẹp.

    Lê Tư Thành nguýt dài một tiếng "Chủ nào tớ nấy!" rồi không thèm nói chuyện với Thục Giang nữa.

    Hắn lại rơi vào thế giới riêng của mình, cẩn trọng đưa mắt qua từng vách núi đá dựng đứng gần bờ sông.

    Thằng Trọng nhanh nhảu hớt chuyện cùng cái Ngọc.

    Từ hồi cái Ngọc vào phủ, nó cũng đỡ buồn hơn hẳn.

    Dù con bé là con gái, tính tình lại có chút khó gần, nhưng vì tầm tuổi như nhau, nên cũng dễ chơi hơn những người lớn trong phủ.

    Ít ra còn có người chơi cùng, thằng Trọng đã nghĩ như thế.

    Nên bất cứ lúc nào có cơ hội, nó đều sán đến chỗ cái Ngọc, lân la nghe kể chuyện này chuyện kia, mắt tròn mắt dẹt trước những cảnh, những chuyện trong mỗi lời kể của con bé.

    Con bé kiên nhẫn kể lại chuyện Lương – Chúc cho thằng Trọng.

    Thằng bé nghe xong, nước mắt ngắn dài ra chiều xúc động lắm.

    Nó cứ ngồi thần ra, đầu óc suy nghĩ mông lung.

    Xong như có người đánh thức, nó giật mình, nhìn cái Ngọc, nhìn Thục Giang rồi lại nhìn Tư Thành.

    Nó mon men lại gần Thục Giang, thì thà thì thào.

    "Con thấy điện hạ nhà mình..."

    "Điện hạ làm sao?"

    Thục Giang thấy dáng vẻ lén lút của nó, trong lòng cũng tò mò không biết nó nghĩ gì.

    "Điện hạ giống Mã Văn Tài thật đấy!"

    Thục Giang nghe chưa hết câu đã cười đến không thể ngồi thẳng được người.

    Nàng cố gắng bình tĩnh, quay ra phía sau nhìn Lê Tư Thành một hồi, rồi không nhịn được mà lại bật cười thành tiếng.

    Hoá ra trong mắt thư đồng, Lê Tư Thành lại hống hách, ngang ngược như vậy.

    Quả nhiên, hắn nhìn nàng đang cười ngất, mặt mũi căng thẳng, rồi quay sang lườm cả thằng Trọng lẫn cái Ngọc, nhưng nhất quyết không hỏi han câu gì.

    Chẳng mấy chốc, vang vọng theo tiếng cười của Thục Giang, thuyền cũng cập bến, sau một hồi len lỏi qua những nham động tối om, sâu hun hút.

    ——————

    Hết chương 9.
     
    [Dã Sử Việt] Đông Kinh Năm Ấy - Lê Thánh Tông, Phùng Chiêu Nghi
    CHƯƠNG 10: VŨ LÂM (2)


    Màn đêm buông xuống nước non Hoa Lư, trả lại cho không gian vẻ tịch mịch.

    Hương trầm thoang thoảng, ánh nến lập loè hắt lên tường bóng hình một nam một nữ, một cao một thấp.

    Thảng hoặc lại có tiếng chão chuộc rẽ nước lõng bõng, kêu lên vài tiếng gọi bạn tình.

    Mọi người đều đã say giấc, chỉ còn hai người, việc ai người ấy làm, không ai lên tiếng, không ai bận tậm, không ai phá vỡ không gian riêng của người còn lại.

    Lê Tư Thành đi đâu cũng ôm theo một chồng sách, thản nhiên lôi ra đọc như thói quen hằng ngày.

    Thục Giang ngồi thần người, nhìn đống chữ trong quyển sách trên tay Tư Thành mà hoa cả mắt.

    Nàng mơ hồ cảm thấy bất an trong đêm đầu tiên ở ngoài thành Đông Kinh.

    Liệu đám triều đình ưng khuyển mà Tư Thành kể cho nàng có theo hắn tới tận đây không?

    Ngón tay nàng vô thức gõ gõ lên mặt bàn, đều đặn như tiếng mõ mỗi sáng của Ngô sung viên.

    Lê Tư Thành rời mắt khỏi sách, nhìn dáng vẻ uể oải của nàng.

    Hắn biết nàng muốn hỏi hắn nhiều chuyện, vì chỉ cần ngồi với hắn, nàng lại lúng túng y như lần đầu tiên hắn gặp nàng.

    "Nếu cứ tiếp tục ở lại Đông Kinh, quân Thiết Đột sẽ không manh động.

    Chúng sẽ chỉ lảng vảng như thời gian vừa qua rồi thôi.

    Ta muốn xem thực hư mọi chuyện là thế nào."

    Lê Tư Thành gấp gọn cuốn sách, xoay người nhìn thẳng vào Thục Giang.

    Hắn biết trong mắt nàng là sự tò mò, hoài nghi trước hành xử kì quặc của mình suốt hai ngày vừa rồi.

    Nàng đủ thông minh để hiểu rằng đang yên đang lành, không việc gì hắn phải gấp gáp về Tây Kinh như vậy.

    Không, chính xác là rời khỏi Đông Kinh.

    "Và thế là chàng dùng chính bản thân mình làm mồi nhử?", bây giờ Thục Giang mới ngước nhìn thẳng vào mắt hắn, "Mà không phải...

    Chàng luôn là người chủ động trong mọi chuyện rồi."

    Nói rồi nàng mở lại đúng trang sách Tư Thành đang đọc dở, ấn vào tay hắn, còn mình tiếp tục nhìn những làn khói đang bay lên từ lư trầm.

    "Chuyện hôm ấy nàng có thể hận ta.

    Nhưng sẽ không có chuyện tương tự xảy ra nữa, ta đảm bảo rằng có thể bảo vệ nàng."

    Tư Thành nói hết câu rồi buông một tiếng thở dài.

    Mặc dù đắm trong những tình cảm lẫn lộn, chưa giây phút nào hắn lơ là việc lắng nghe mọi việc xung quanh.

    Không có động tĩnh gì lạ.

    Cũng phải thôi, kể cả muốn ra tay thật, đám chó săn ấy cũng không dám động thủ ở nơi mà bao quanh toàn nhà dân như thế này.

    "Điện hạ, nếu không làm vợ điện hạ, không biết cuộc sống của thiếp sẽ tẻ nhạt đến mức nào!"

    Bất chợt Thục Giang bật cười chua chát.

    Tư Thành tròn mắt nhìn nàng, hồ như vẫn chưa hiểu hết những điều nàng vừa nói.

    Hắn không lên tiếng, ánh mắt hướng về nàng đủ ân cần để nàng hiểu rằng hắn vẫn đang lắng nghe.

    "Nếu không làm vợ điện hạ, chắc chắn cả ngày thiếp chỉ cần đi ra, đi vào, ngoan ngoãn làm vợ người ta, sẽ chẳng bao giờ phải thấp thỏm lo lắng không biết rồi ai sẽ bảo vệ mình."

    Giọng Thục Giang cứ trầm trầm, đều đều giống như đang nói với bản thân chứ chẳng phải nói với hắn.

    Tư Thành vừa nghe hết câu liền quăng cuốn sách trong tay qua một bên, gắt gao nắm chặt lấy tay Thục Giang.

    Nàng ngồi thẳng người, dứt khoát rụt tay lại, để bàn tay hắn nằm trơ trọi trên mặt bàn.

    "Vài ba chiêu võ con con của thiếp chỉ đủ để đánh chó đuổi gà thôi, chẳng biết có thể sánh bước bên điện hạ không nữa.

    Điện hạ không cần kể với thiếp nhiều quá làm gì."

    "Không hề nhiều, ta muốn nàng biết.

    Đừng đôi co với ta.

    Ta đã nói rồi, nàng hận ta cũng được, nhưng nàng phải biết..."

    Tư Thành bỏ câu nói lửng lơ giữa những cảm xúc lẫn lộn.

    Có vẻ như nàng hiểu hắn quá, hiểu đến mức đọc được những suy tư, toan tính trong đầu hắn.

    Còn hắn hiểu nàng được bao nhiêu thì hắn không biết.

    Sao bỗng dưng nàng lại nhắc đến chuyện làm vợ người khác?

    Có chăng nàng đã có ý trung nhân trước khi được gả cho hắn?

    Có chăng chuyện hắn cho nàng mượn ô chỉ có mình hắn hữu ý, còn nàng hoàn toàn không hay biết gì về chữ Hạo tự tay hắn khắc lên?

    Có chăng chuyện làm vợ hắn là việc vô cùng miễn cưỡng, khiến nàng luôn trăn trở, khiến đứa hầu gái của nàng luôn nhìn hắn với ánh mắt không mấy thiện cảm?

    Có chăng người trong lòng nàng lại là anh trai hắn?

    Tư Thành không ngại ngần kể cho Thục Giang nhiều chuyện như vậy vì hắn luôn muốn kéo nàng lại gần hắn hơn.

    Nàng luôn giăng ra giữa hai người một sợi dây vô hình, dù hai người đã kết phu thê.

    Nàng luôn cho rằng kẻ biết nhiều nhất sẽ là kẻ sớm bị thủ tiêu nhất.

    Trong khi Lê Tư Thành chưa bao giờ nghĩ sẽ dễ dàng bỏ đi một con tốt trên bàn cờ.

    Bởi nếu hắn sẵn sàng hi sinh một quân cờ dù là nhỏ bé, sau này thành công rồi, ắt hẳn hắn sẵn sàng hất đổ cả bàn cờ năm xưa.

    Mà Lê Tư Thành chưa từng muốn bản thân sẽ trở thành một kẻ như vậy.

    Hơn nữa, Thục Giang chưa bao giờ là một quân cờ, nàng với hắn là nghĩa phu thê, là má ấp vai kề, sinh tử có nhau.

    Thục Giang không cự lại lời hắn nữa, hắn cũng im lặng, cả hai người lại rơi vào trầm tư.

    Hồi lâu, Tư Thành mới duỗi dài cánh tay trên bàn, vỗ vỗ, có ý bảo Thục Giang cứ gối lên đó mà ngủ.

    Thấy nàng có vẻ không hiểu, hắn đành chỉ vào đầu nàng, rồi chỉ xuống tay mình, thậm chí còn tự mình gối lên tay cho nàng xem.

    Dáng vẻ phóng túng, tuỳ tiện như vậy hắn chưa từng thể hiện ra trước mặt ai, kể cả mẫu thân, trừ nàng.

    ———

    Đoàn người ngựa men theo con đường mòn xẻ ngang cánh núi, lòng chợt chùng lại khi những xóm làng đang xa dần.

    Phía mặt trời mọc, mấy nhánh núi cao thấp đan xen nhau, hắt bóng xuống dòng sông Ngô Đồng lấp loáng.

    Hành cung Vũ Lâm khuất dần sau những tán cây, không gian xung quanh sực mùi lá ẩm.

    Lê Tư Thành nhìn mấy ngọn núi cao dựng đứng như bức tường thành, tự hỏi vì lí do gì mà người ta vẫn chưa đặt tên cho chúng.

    Tư Thành vén rèm xe, dòng sông Ngô Đồng xa dần rồi chỉ còn là một chấm vàng rực rỡ phía sau.

    Hắn đặt giấy bút vào tay Thục Giang, khẽ gật đầu.

    Nàng hiểu ý, chăm chú lắng nghe lời thơ của hắn, cẩn trọng đặt từng nét bút lên trang giấy dó nhẹ tênh.

    "Giang nhân triều thượng Hoàng lưu hợp" *

    *Trích trong bài thơ "Kinh Điệp sơn" của Lê Thánh Tông.

    Tư Thành nhắc lại về lịch sử của dòng sông Ngô Đồng và sông mẹ Hoàng Long*.

    Đây là con đường thuỷ nối liền đạo Nam với đạo Hải Tây.

    Đi đường bộ như họ bây giờ còn phải tạt ngang rẽ dọc, chọn đúng đường mòn đã được người dân ở đây khai quang thì mới có thể rời khỏi rừng.

    Nhưng nếu muốn nhanh, chỉ cần thả thuyền tự do trôi theo dòng nước Hoàng Long, chắc chắn kẻ đi thuyền sẽ tới được Tây Kinh trước những người đi ngựa.

    *Một nhánh của sông Đáy, chảy qua địa phận cố đô Hoa Lư.

    Tư Thành quay sang Thục Giang, nhìn dòng thơ nàng vừa chép, đôi chân mày cau lại.

    Hắn với bút, khoanh tròn vào chữ đầu tiên, miệng lầm bầm.

    "Tên mình mà viết xấu thế này?", rồi hắn nắn nót viết lại một chữ "江" xuống dưới.

    "Thế này xem chừng nàng không viết nổi tên ta đâu."

    *Chữ "Giang"

    Thục Giang ngượng chín mặt nhìn những nét chữ uốn lượn trên trang giấy.

    Tư Thành nói không sai, chữ nàng không đến mức quá xấu, người biết chữ nhìn vào vẫn có thể đọc được.

    Nhưng nếu so với chữ hắn, thì quả là một trời một vực.

    Nét bút như lướt trên trang giấy, nhất là nét hất nhẹ nhàng, phóng khoáng tựa như dòng nước sông lững lờ.

    Tư Thành nhìn nàng, biết lần này đã thắng thế, bèn được đà, giở giọng đùa giỡn.

    "Giờ ta đã biết một điểm xấu của nàng.

    Nàng thử đối lại câu thơ của ta xem tài văn thơ có cứu vớt được nét chữ không."

    Thục Giang cắn môi suy nghĩ.

    Từ bé tới giờ, chưa bao giờ nàng cho rằng mình có tài thơ phú.

    Bỗng dưng máu thi sĩ của hắn nổi lên thế này mà cứ để hắn tự đắc, huênh hoang thì nàng không cam tâm.

    Lần này chắc chắn phải ra được câu thơ đối lại, để từ rày hắn bớt cái trò trêu chọc nhạt nhẽo này đi.

    "Thiếp có thể viết luôn vào đúng không?"

    Nàng kéo cây bút và quyển sách trong tay Tư Thành về phía mình, vẻ mặt vờ như đang trầm ngâm suy nghĩ rất nhiều.

    Hắn đưa đưa ngón tay trước mặt nàng, ra hiệu cho nàng đọc trước, từ từ hẵng viết vào giấy, vẻ mặt đầy ngóng đợi.

    "Tại thượng Hoàng hà ưng khuyển chu"

    (Thuyền chở "chó săn" đang trôi trên sông Hoàng.)

    Thục Giang nhìn thẳng vào mắt Tư Thành, vừa như chờ đợi cơn cuồng phong từ hắn, vừa cố gắng nhịn cười.

    Nàng đáp lại sự ngóng đợi của hắn bằng câu thơ phá vỡ mọi quy tắc về vần điệu, về luật bằng trắc của thơ Đường, lại vừa có ý châm chọc hắn giấu diếm chuyện vệ Thiết Đột theo sát từng bước chân của họ từ khi rời khỏi phủ Bình Nguyên vương.

    Nhưng trái với suy đoán của Thục Giang, Tư Thành cũng giống nàng, không nhịn được mà vừa cười, vừa lắc đầu, vừa lấy tay véo tai nàng.

    Hắn véo tai nàng rồi, lại gãi gãi trán, ra vẻ nghĩ ngợi một lát rồi lại bật cười bất lực.

    Nàng thắng hắn một ván, thế là hai người lại hoà nhau.

    Sau chuyện làm thơ trong xe ngựa xóc nảy hôm ấy, Lê Tư Thành mới rút ra được bài học mới, không nên chọc vào người con gái đang ngồi bên cạnh làm gì.

    Không cần hơn thua với nàng ấy, nàng ấy muốn thắng hắn cũng được.

    Bởi nàng ấy còn đi cùng hắn cả đời, giữa hai người, dù cho ai thắng đi chăng nữa cũng chẳng quan trọng, vì kẻ thắng người thua vẫn đồng hành cùng nhau.

    "Câu thơ này nàng nên giữ lại mà dùng, sau này nhớ đọc lại cho con chúng ta nghe..."

    Nhận ra bản thân lỡ nhắc tới chuyện chẳng mấy vui vẻ, Lê Tư Thành ngập ngừng giây lát rồi nhanh chóng lảng sang chuyện khác, "Thôi, nàng chép đi, ta đọc cho.

    Nhớ viết cẩn thận một chút."

    Tiếng cười tắt hẳn.

    Thục Giang cúi gằm đầu không trả lời hắn, chăm chăm vào cây bút trong tay và quyển sách trước mặt.

    Vậy là giữa khoảng không chật hẹp trong xe ngựa, hắn cứ ngâm vài câu, nàng lại viết vài chữ; hắn cứ bảo chưa được, nàng lại lặng lẽ xoá đi.

    Ngâm đi ngâm lại, viết tới viết lui một chốc, xe ngựa đã ra khỏi vùng nước non Hoa Lư hữu tình.

    Sau khi bước chân vào địa phận đạo Hải Tây, đi thêm gần một ngày đường nữa thì đoàn người ngựa cũng thấy thấp thoáng những mái đình cong vút của Tây Kinh.

    Ai nấy phấn chấn hẳn lên, vì gần như sau khi ra khỏi đạo Nam, họ không còn nhìn thấy nhà cửa nhộn nhịp, phố phường huyên náo nữa mà chỉ lác đác vài căn nhà nhỏ, vài khu chợ cóc, còn lại toàn là đường mòn um tùm cỏ cây.

    Đạo Hải Tây đang vào mùa bão, chốc chốc lại có những cơn mưa khiến đường đi thêm phần lầy lội, bùn nhão dưới chân cản bước vó ngựa thiên lí.

    Những con ngựa chở người, chợ đồ nặng nhọc cất từng bước tiến về phía trước.

    Mưa bão một chốc lại đến, một chốc lại đi nhưng cả ngày không ngớt, khiến Lê Tư Thành dù muốn cũng không thể tiếp tục cưỡi ngựa.

    Hắn ngao ngán nhìn trời, buông rèm ngồi dựa lưng, nhìn thiếu nữ bên cạnh đã gà gật ngủ.

    "Lần trước nàng nhắc đến chuyện Nam tiến là có ý gì?"

    Tư Thành vỗ nhẹ vào má Thục Giang, trực tiếp vào thẳng câu chuyện.

    Hắn không biết lần đó nàng lỡ lời hay cố tình, trong lòng hắn vẫn luôn thắc mắc.

    Bởi vậy, ban đầu hắn mới nghĩ rằng nàng là người của Lê Nghi Dân.

    Rồi chuyện không hay đêm đó đã khiến hắn thay đổi suy nghĩ.

    Nhưng câu hỏi trong lòng thì vẫn cần câu trả lời rõ ràng.

    Hắn không giống nàng ở điểm đó.

    Có điều gì còn canh cánh, nàng thì vòng vo, bối rối không biết phải mở lời ra sao, còn hắn, nếu không rõ ngọn ngành, hắn sẽ trực tiếp tìm hiểu.

    Thấy nàng vẫn còn ngơ ngác, hắn không nhắc lại câu hỏi, mà chỉ nói rõ hơn từng câu từng chữ.

    "Ta biết nàng không chỉ muốn nhắc đến chuyện đi về Tây Kinh."

    Giờ Thục Giang mới hiểu hắn muốn nói tới chuyện gì.

    Tham vọng trong đôi mắt của Tư Thành là một ngọn lửa, mà ngọn lửa ấy dù có âm ỉ hay bập bùng, thì ánh sáng cũng không bao giờ tắt đi.

    Nàng còn không hiểu được người đàn ông đầu ấp tay gối với mình suốt một năm trời vừa qua hay sao?

    Ít nhất, có mười phần hắn muốn giấu đi thì nàng tin chắc mình đã nắm được bốn, năm phần.

    Mà Tư Thành hoàn toàn chưa bao giờ giấu diếm tham vọng Nam tiến của mình.

    Mỗi lần nhắc tới những mảnh đất ở phương Nam xa xôi, trong ánh mắt hắn đều ẩn chứa một niềm hân hoan, hứng khởi ít ai được nhìn thấy.

    Thục Giang nhìn hắn, sự thấu hiểu ngập tràn ánh mắt.

    "Điện hạ không muốn người khác biết thì đừng làm, cũng đừng nghĩ tới.", nàng ngập ngừng giây lát, "Mấy trăm năm tranh chấp với Chiêm Thành, chưa lần nào quân Đại Việt tổn thất nặng nề như lần đó, đến Duệ Tông Khâm hoàng đế* còn phải bỏ mạng nơi đất khách quê người."

    *Trần Duệ Tông (1337-1377), hoàng đế thứ 10 của triều Trần, bỏ mạng khi thân chinh đi đánh Chiêm Thành.

    Nhắc đến Chiêm Thành, Lê Tư Thành nắm chặt tay đầy căm hờn.

    Lũ man di mọi rợ phương Nam ấy, cả ngàn năm nay nhũng nhiễu Đại Việt, sớm ngày phải đánh cho chúng nhà tan cửa nát, phải đánh cho chúng mất nước, phải khiến chúng không bao giờ có thể ngóc đầu lên được nữa.

    "Mẫu thân kể với thiếp rằng quân Chiêm bao vây tứ phía, Chế Bồng Nga* còn vờ không phòng bị ở cửa Thi Nại để quân ta chủ quan tiến vào, rồi lấy đó làm chốt chặn thuỷ binh rút quân.

    Thêm chuyện họ Đỗ, họ Lê** kia đớn hèn, nên Khâm Hoàng vong mạng, Đại Việt thất thế là điều chẳng thể tránh khỏi."

    *Vua Chiêm, 5 lần đánh ra phía Bắc, 4 lần chiếm được Thăng Long

    **Đỗ Tử Bình, Hồ Quý Ly

    Giọng Thục Giang cứ nhỏ dần, thì thầm bên cạnh Tư Thành như đang cố nhớ lại những lời mẹ kể về trận chiến trên đất Chiêm năm nào.

    Bàn tay mềm mại vô tình đặt trên nắm tay đã nổi đầy gân xanh của Tư Thành, xoa dịu những hận thù đang trỗi dậy trong lòng hắn.

    "Nàng có nhớ câu Nhổ cỏ phải nhổ tận gốc không?

    Nếu đã không đánh thì thôi, còn một khi đã đánh, phải chuẩn bị lực lượng thật kĩ, phải đánh cho chúng chỉ có thể sống thoi thóp đợi tới ngày mạt vận.

    Thái hậu từng sai quốc thượng hầu Trịnh Khả* và bao tướng lĩnh tinh nhuệ của ta phạt Chiêm, đã bắt được Bí Cai** đưa về kinh sư, nhưng lại dễ dàng tha cho chúng về Nam.

    Nàng biết chuyện ấy chứ?"

    *Khai quốc công thần, làm quan ba đời vua Lê, từng dẫn quân đi đánh Chiêm Thành.

    **Vua Chiêm

    Chuyện đã xảy ra mười mấy năm, Thục Giang chỉ được nghe loáng thoáng qua lời kể của anh trai.

    Tư Thành chắc cũng chỉ được nghe kể lại, nhưng hắn là người của hoàng thất, những chuyện hắn biết, đầu đuôi sự việc có lẽ nhiều hơn nàng bao nhiêu lần.

    Lúc thả Bí Cai về Đồ Bàn*, thái hậu đã tính toán điều gì, lúc nghe kể lại chuyện đó, Tư Thành đã cảm thấy ra sao, giờ đây hắn vừa nhắc lại chuyện đó, hẳn là đã tỏ rõ ý tứ trong lòng với nàng.

    *Kinh đô nước Chiêm

    "Những điều ấy, điện hạ cứ tiếp tục ấp ủ.

    Nhắc tới quốc thượng hầu Trịnh Khả, thiếp chỉ biết ngài ấy từng bị hàm oan, rồi lại từng được phục tước, ban thưởng.

    Chuyện rốt cuộc là thế nào?"

    Lê Tư Thành lại rơi vào trầm tư.

    Bỗng dưng có bao nhiêu công thần từng tham gia chiến dịch phạt Chiêm năm ấy, Thục Giang lại chỉ nhắc đến một mình Trịnh Khả.

    Hắn muốn tin tưởng nàng.

    Nhưng mỗi khi hắn gần như đặt hết niềm tin vào nàng, nàng lại thốt ra những lời khiến hắn đắn đo.

    Những gì gia tộc quốc thượng hầu đã làm cho mẹ con hắn, dù có dùng cả đời này để báo đáp cũng là không đủ.

    Vả lại, không phải ai cũng hiểu hết chuyện năm ấy, người bị oan thì không được thấu hiểu, người chẳng có mấy công cán vô tình lại được thiên hạ tung hê.

    Thật nực cười!

    "Nàng chỉ cần nhớ một điều.

    Mẫu thân sinh ra ta, ta như hạt mầm được ươm trong đất, mà mảnh đất lành ấy được chính quốc thượng hầu Trịnh Khả vun vén.

    Không có ngài ấy sẽ không có Lê Tư Thành ngồi nói chuyện cùng nàng ngày hôm nay."

    Nhắc tới Trịnh Khả, Tư Thành bất chợt nghĩ đến những khai quốc công thần đã vào sinh ra tử cùng Thái Tổ Cao hoàng đế* từ thuở nếm mật nằm gai.

    Thời gian không đợi một ai, chớp mắt đã hơn ba mươi năm rồi.

    Bao nhiêu người đã bỏ mạng nơi sa trường, còn lại bấy nhiêu người cũng đều bị chính trường diệt trừ từng người, từng người một.

    Những khai quốc công thần cuối cùng còn lại như nhị vị thái bảo** chẳng phải cũng vài lần vào tù ra tội đó sao?

    Dũng tướng thời chiến, gặp thời bình, đôi khi lại là con đường họ chưa từng đi qua.

    Nhưng không trao cho họ cơ hội, cũng chính là tự chặn đứng con đường trước mặt của mình.

    Xung quanh Nguyễn Thị Anh toàn những người tài đã được trui rèn bằng khói lửa chiến trận, vậy mà người đàn bà ấy lại dùng những luật lệ hà khắc của thời bình để họ không yên lòng nhắm mắt xuôi tay.

    Quả là uổng phí nhân tài!

    *Lê Thái Tổ - Lê Lợi

    **Nguyễn Xí, Đinh Liệt

    "Lặn lội ngàn dặm về phương Nam xa xôi bị phủ mờ bằng cái nắng, cái gió, cuộc phạt Chiêm năm ấy hẳn không dễ dàng.

    Ta nghe kể lại rằng, xứ ấy nắng cháy da bỏng thịt, đất đai cằn cỗi chó ăn đá gà ăn sỏi.

    Lạ nước lạ cái, thiên nhiên khắc nghiệt đến như vậy mà các ngài ấy vẫn có thể giành được chiến thắng, bắt được tù binh, mà là chúa Chiêm chứ chẳng phải con chó, con gà.

    Nàng nghĩ xem, những người tiên phong năm ấy như quốc thượng hầu Trịnh Khả có cam lòng nhìn Bí Cai ngông nghênh trở lại Chiêm Thành không?

    Chắc chắn là không!"

    Chưa bao giờ Thục Giang thấy giọng Tư Thành khắc khoải đến thế.

    Qua lời hắn kể, nàng đang vẽ ra trong đầu cảnh tượng một vùng đất hoang vu, cằn cỗi, nắng mưa thất thường, nắng thì cháy da, mà mưa thì thối đất, nàng cũng đang vẽ ra trong đầu cảnh tượng những người dân lấm lem vì nắng gió, nước da sạm đen vì thiên nhiên không ưu ái cho họ.

    Nàng nghĩ đến những người dân Chiêm, những con người cần lao đang chống chọi lại sự khắc nghiệt để sống sót, những con người dù trong gian lao vẫn xây nên cho mình một vương quốc xinh đẹp, với những điệu múa, những lời ca tiếng hát mà chỉ những người con gái Chiêm mới có thể phô bày hết ra.

    Nhưng suy nghĩ của Tư Thành lại rộng lớn hơn.

    Hắn nghĩ đến cả vương quốc của họ, nghĩ đến lãnh chúa ngạo mạn của họ, nghĩ đến những lần quân Chiêm tiến đánh vào tận kinh đô Thăng Long thuở xa xưa.

    Phu quân của nàng có một tham vọng lớn lao đong đầy trong ánh mắt.

    Nàng nhìn xuống bàn tay mình đã nằm trọn trong bàn tay Tư Thành, bật cười nhìn hắn.

    "Đây là chàng...", Thục Giang chỉ vào lòng bàn tay hắn, "... còn đây là chúa Chiêm.", nàng xoè bàn tay mình ra, "Bàn tay chàng nắm tay thiếp dễ dàng thế nào, thiếp tin việc chàng bắt sống chúa Chiêm một ngày không xa cũng dễ dàng như thế."

    Lê Tư Thành nắm chặt bàn tay nhỏ bé của nàng.

    Hắn không ngờ câu so sánh tưởng như ngô nghê, vô lí của Thục Giang hôm ấy bỗng nhiên vừa trở thành thách thức, vừa trở thành mục tiêu mà Tư Thành muốn đạt được.

    Đúng vậy, hắn muốn san phẳng Đồ Bàn, bắt được chúa Chiêm đem về kinh sư hiến tế trước vong linh của cả vạn dân Đại Việt đã phải bỏ mạng trước thói ngông cuồng của xứ ấy.

    ———

    Hết chương 10.
     
    [Dã Sử Việt] Đông Kinh Năm Ấy - Lê Thánh Tông, Phùng Chiêu Nghi
    CHƯƠNG 11: NIỀM TIN


    Tây Kinh dựa mình vào núi, trùng trùng điệp điệp những rừng gỗ lim cao vút như chạm tới mây xanh.

    Cả một vùng rừng núi mênh mang, chốc chốc lại có vài tiếng chim hót xa xăm như vọng lại từ trời cao.

    Thục Giang nhìn khung cảnh phía trước đến ngẩn ngơ cả người.

    Vĩnh lăng của Thái Tổ là một lăng mộ hoành tráng, kiên cố nằm ngay phía sau hành cung.

    Nàng nhìn hai tượng voi đá trấn ngay cửa lăng, trong lòng không ngớt trầm trồ.

    Chắc hẳn những người thợ xây lăng đã phải vô cùng kì công, tỉ mỉ mới có thể khắc tạc ra đôi voi này.

    Tư Thành còn chỉ cho nàng cây ổi cười.

    Quả thực như lời hắn nói, cành cây ổi khẽ rung rinh như đang cười vui khi có người chạm vào.

    Sau khi bái tế Vĩnh lăng, nàng hỏi Lê Tư Thành đường ra Hựu lăng*.

    Hắn có thoáng chần chừ giây lát, song cũng vẫn dắt nàng theo.

    Giữa màn khói hương nghi ngút, Thục Giang thành kính cúi đầu, còn Tư Thành chỉ đứng nhìn từ xa, đôi mắt lạnh nhạt không thể hiện chút cảm xúc nào.

    Hắn nhìn nàng một hồi rồi quay lưng, ngắm nhìn khoảng đất rộng rãi phía trước lăng.

    *Lăng Lê Thái Tông

    Hắn cất tiếng hỏi khi thấy bước chân Thục Giang đã ở ngay phía sau.

    "Người ta thường nói đất lành chim đậu.

    Nàng có nghĩ rằng miền đất này lành không, khi mà đám người đó theo chúng ta tới tận đây rồi?"

    Thục Giang giật mình đảo mắt nhìn chung quanh.

    Nhưng phía trước nàng chỉ là một vùng rừng núi bát ngát, đâu đâu cũng là những con đường đất rải sỏi na ná, ngoằn ngoèo, chằng chịt đan xen không có quy tắc.

    Nếu thật sự đám người ấy muốn ra tay, đây chính là nơi đắc địa cho chúng.

    "Điện hạ không chết được đâu."

    "Thục Giang không muốn ta chết à?"

    "Thiếp sẽ chết trước điện hạ."

    Thục Giang quả quyết như vậy.

    Nàng luôn đinh ninh trong đầu rằng những việc mấy hôm nay Tư Thành kể với nàng, dù là khó khăn, nguy hiểm rình rập, thì với hắn chỉ là chút chuyện cỏn con.

    Không phải hắn có năng lực phi thường gì, mà chỉ là nàng tin hắn có thể vượt qua tất thảy.

    Hắn chưa bao giờ kể với nàng những chuyện trước khi trở lại cung làm một thân vương, nhưng không phải nàng không biết.

    Chừng ấy chuyện mà mẹ con hắn còn có thể đương đầu và chiến thắng, vậy thì vài ba con chó săn triều đình không thể làm khó dễ được người đàn ông này.

    Chắc hẳn Lê Tư Thành đã chuẩn bị tất cả để đối diện với chúng, nàng tin là vậy.

    Tư Thành nghe dứt câu nói của nàng, bật cười thành tiếng nhưng không nói gì, chỉ quay người lại, nhẹ nhàng xoa đầu nàng, rồi nắm tay nàng bước tiếp về phía trước.

    Phải sau đôi ba lần tạt ngang rẽ dọc, đoàn người mới quay lại đúng bia Vĩnh lăng.

    Người hầu biết ý, tản về hành cung, mỗi người một việc chuẩn bị cho bữa cơm xế chiều.

    Chỉ còn lại hai người, Tư Thành dắt Thục Giang về phía giếng ngọc.

    Giếng thả đầy hoa sen, nhưng mùa hoa vừa hết, chỉ còn màu xanh ngắt của lá hoà vào màu xanh trong veo của nước giếng.

    Hắn kéo nàng ngồi xuống bậc thềm giếng, vai kề vai.

    Rồi như thói quen, hắn tuỳ tiện tựa đầu vào vai nàng, thở dài thườn thượt.

    "Thật ra ta muốn chết trước nàng.

    Nhưng thôi, nàng chết trước ta cũng được."

    "Tự nhiên điện hạ cứ nhắc đến chuyện ấy làm gì?"

    Thục Giang tiện tay bứt một vài nhánh cỏ bên người, ngồi đan lại thành một cái vòng đuôi sam.

    Nàng không quan tâm lắm đến những lời hắn nói, có điều nàng không muốn nhắc tới chuyện sống chết lúc này.

    Hai người còn chưa tới đôi mươi, công danh sự nghiệp hắn còn chưa vẹn toàn, bách tính còn đói khổ cơ hàn, sao cứ phải nhắc tới chuyện sống chết?

    "Thế chẳng may đêm nay đám chó săn ấy xử lí ta thì sao?"

    "Thiếp đã bảo sẽ chết trước điện hạ kia mà.

    Điện hạ thích chết sớm như Thái Tông Văn hoàng đế cũng được, nhưng thiếp không muốn liên luỵ tới người nhà..."

    Biết mình lỡ lời, Thục Giang im bặt không nói nữa.

    Người bên cạnh nàng cũng không lên tiếng, như đang bận băng bó một vết thương vừa mới lành nay lại bị người khác xé toạc ra.

    Phải một lúc sau, nàng mới len lén đưa mắt sang phía hắn.

    Gương mặt Tư Thành không có biến chuyển gì, vẫn chỉ có đôi mắt hắn là không biết nói dối.

    Đôi mắt bình thường vô cùng kiên cường đến mức xa cách lúc này lại chan chứa nước, đỏ hoe, mà chủ nhân của chúng dường như đang dùng hết sức để ngăn không cho những giọt lệ ấy tràn khỏi mi mắt.

    "Nàng không coi ta là người nhà à?"

    "Điện..."

    "Nàng đã bao giờ gọi tên ta chưa?

    Nàng có biết tên ta là gì không?"

    Ánh mắt hắn vẫn kiên định nhưng giọng nói mỗi lúc một nghẹn lại.

    Nàng đã vô tình động vào nỗi đau từ thuở lọt lòng của hắn.

    Lê Tư Thành không thích người khác chủ động nhắc tới cái chết của Thái Tông Văn hoàng đế, Lê Tư Thành không thích những câu chuyện về gia đình có đầy đủ phụ mẫu tử tôn, Lê Tư Thành không thích người ta kể về phụ thân trước mặt hắn...

    Nàng không nhớ phải mất bao lâu, phải dồn nén bao nhiêu dũng khí, nàng mới dám cất tiếng trả lời.

    Nàng gỡ bàn tay đang nắm chặt của hắn ra, đặt vào lòng bàn tay dây cỏ vừa tết, rồi khẽ nắm lấy, nhẹ nhàng vỗ về.

    "Điện hạ, xin lỗi chàng..."

    Câu chuyện bỏ lửng giữa một buổi chiều đầu đông mưa vừa ráo.

    Sau mấy ngày đường mệt mỏi, Lê Tư Thành lại bỏ bữa chiều.

    Hắn hạ lệnh ngoài Thục Giang, không ai được bước vào phòng, rồi tự nhốt mình trong đó đến khuya.

    Hôm ấy nhằm ngày hai mươi bảy tháng chín, Diên Ninh năm thứ sáu.

    Họ đã rời kinh tròn một tuần.

    Mùa này rặt bão.

    Đêm buông xuống chưa bao lâu, sao chưa kịp đuổi trăng đi, mây đen đã ùn ùn kéo về.

    Mùi đất ẩm mưa ngai ngái xộc lên.

    Mùi vị này làm Thục Giang nhớ tới mùi rơm mốc trong căn miếu hoang phía sau chợ cóc.

    Nàng ngồi bó gối ở góc sập, nhìn bầu trời đen kịt phía ngoài khung cửa sổ.

    Hôm đó hình như nàng cũng ngồi y như thế này, nín thở nhìn Lê Nghi Dân ngó nghiêng ra ngoài từ sau bức tượng Quan công.

    Ngẫm lại mới thấy, anh em họ thực sự vô cùng giống nhau, từ dáng vóc, cử chỉ, điệu bộ, cách nói chuyện, đến từng cái cau mày, từng cái nhếch môi.

    Cả Nghi Dân, cả Khắc Xương, cả Tư Thành đều giống nhau, kể cả đương kim thánh thượng cũng giống họ như đúc.

    Thục Giang từng nghe mấy lão nông tan buổi cày ngồi ở quán cóc ven đường làm chén nước chè kháo nhau về chuyện thánh thượng không phải là con ruột của tiên đế.

    Nàng không biết kẻ ác miệng nào đã thêu dệt nên câu chuyện vừa hoang đường, vừa bất nhân bất nghĩa ấy.

    Chắc hẳn tin đồn ấy có lợi cho kẻ tung ra, thì nó mới âm thầm từ miệng người nọ qua miệng người kia, lan rộng khắp trên dưới Đông Kinh như vậy.

    Bất lợi cho thánh thượng... vậy chỉ có thể làm lợi cho Nghi Dân.

    Nghĩ đến đây, một cơn rùng mình đột ngột chạy dọc sống lưng Thục Giang khiến nàng ớn lạnh, nhanh chóng đẩy câu chuyện ấy ra khỏi đầu.

    Từ chiều đến giờ, gần như Lê Tư Thành không nói tiếng nào.

    Câu nói dù là lỡ lời của Thục Giang cũng khiến cổ họng hắn như bị bóp nghẹt đến độ hít thở cũng vô cùng khó khăn.

    Mẫu thân luôn tránh nhắc tới phụ hoàng trước mặt hắn.

    Mẫu thân là người mẹ, mẫu thân làm thay cả trách nhiệm của người cha, mẫu thân dạy hắn tất cả.

    Dường như cuộc đời mười bảy, mười tám năm của hắn chỉ cần có mẫu thân là đủ.

    Vậy mà tự dưng nàng nhắc tới tên phụ hoàng, khiến hắn như đang bước xuống bậc thang mà hụt mất một nhịp, cả người chới với giữa không trung.

    Câu nói của nàng khiến hắn suy nghĩ mãi xem rốt cuộc với hắn, phụ hoàng có vị trí như thế nào.

    Kí ức duy nhất về phụ hoàng chỉ là câu chuyện trong quán ăn bị người ta thổi phồng lên về những âm mưu của đàn bà chốn hậu cung, rằng mẫu thân hắn thực sự làm bùa chú hay bị người ta hãm hại mà hắn chưa ra đời đã bị kết án voi giày ngựa xéo cùng mẫu thân.

    Chỉ có vậy, không có gì khác nữa.

    Tay hắn đang cầm quyển sách mà hồn lại lạc trôi về tận nơi nao.

    Cánh cửa sổ phía ngoài bật mở, một bóng đen như tia chớp bật người bay vào.

    Thục Giang giật mình hoảng hốt, bò về phía Tư Thành.

    Nhưng hắn chỉ ngồi im không động, buông quyển sách xuống sập, khoan thai nhìn kẻ áo đen quỳ gối đang chầm chậm tháo khăn bịt mặt.

    "Điện hạ."

    Y ngước mắt nhìn Thục Giang, ngập ngừng giây lát.

    Nhận được cái gật đầu của Tư Thành, y mới khẩn trương tường thuật lại toàn bộ những gì vừa tra được.

    "Có hai toán người đang theo dõi Tây Kinh từ ngoài bìa rừng.

    Chính là đám người không rời mắt khỏi điện hạ từ khi rời Đông Kinh.

    Chúng không hề đông, mỗi toán không tới chục người, nhưng chắc chắn đều là những kẻ thân thủ phi phàm.

    Trên đường đi, chúng hoàn toàn không kinh động đến bất cứ người dân nào, chỉ nhóm lửa nghỉ trên đường, cũng không hề chạm mặt nhau."

    Tư Thành nghiêng người nhìn Thục Giang đang không rời mắt khỏi kẻ áo đen, khẽ gật đầu trấn an nàng.

    Hắn ngầm đoán được Thiết Đột sẽ theo sát từng đường đi nước bước của mình, nhưng không ngờ còn có cả một đám người không rõ lai lịch khác cũng chung mục đích với chúng.

    "Tại sao các ngươi dám chắc chúng là hai toán quân chứ không phải một?"

    "Chúng thần chắc chắn.

    Một là Thiết Đột, chúng vẫn dùng mặt nạ sắt như hồi còn dưới trướng thái bảo đại nhân.

    Toán người còn lại... xin điện hạ trách phạt, chúng thần chưa nắm chắc nên chưa thể khai báo.

    Nhưng thần khẳng định không phải Thiết Đột.

    Quân Thiết Đột vô cùng sùng bái mặt nạ sắt, chúng sẽ chỉ tháo bỏ mặt nạ trong hai trường hợp, trước mặt thủ lĩnh và sau khi chết."

    Lê Tư Thành biết người sau lưng mình đang run lên từng đợt.

    Cũng phải thôi, dù thế nào nàng cũng là tiểu thư lá ngọc cành vàng, xuất thân từ gia tộc văn chương chứ chẳng phải võ biền.

    Mẹ nàng dù thế nào cũng chỉ là con gái quý tộc tiền triều, nàng dù thế nào cũng chỉ biết vài chiêu võ đánh chó đuổi gà.

    Phải chứng kiến rồi trở thành mục tiêu của những chuyện chém giết, tranh chấp thế này, e là quá sức đối với nàng.

    Hắn với ra sau tìm kiếm, nắm chặt lấy bàn tay đã ướt đẫm mồ hôi của nàng.

    Muốn bảo vệ mình, bảo vệ nàng, trước hết hắn phải suy nghĩ thấu đáo cách giải quyết đám chó săn ngoài kia.

    Đây không phải là thời điểm cho bất cứ hành động sai lầm nào.

    "Ngay trong đêm nay, mang về trước mặt ta mỗi bên một tên.

    Đặc biệt, nhớ quy tắc của ta, cần người, không cần xác.

    Việc thứ hai nhẹ nhàng hơn nhiều, chỉ cần để đám người còn lại biết đến sự xuất hiện của quân Thiết Đột.

    Không chém, không giết, đất tổ không phải nơi dành cho những thứ dơ bẩn."

    Lê Tư Thành phất tay ra hiệu cho y lui.

    Kẻ áo đen cúi đầu tuân mệnh, kéo khăn đen che kín gương mặt.

    Giống như khi xuất hiện, trước khi rời đi y dùng thiết chuỳ dài giấu trong tay áo mở cửa sổ, nhanh chóng biến mất vào màn đêm qua khung cửa ấy.

    Chắc chắn cánh cửa đã được khép chặt, Tư Thành mới quay người ra phía sau, ân cần nhìn Thục Giang, bàn tay vẫn không buông.

    Nàng nhìn bàn tay bé nhỏ đang nằm trong tay hắn, giọng nói run rẩy xen lẫn sự chua chát.

    "Điện hạ, rốt cuộc người đang kéo thiếp vào những chuyện gì thế này!"

    "Là kẻ khác kéo chúng ta vào, nhưng ta có cách riêng của ta.

    Kẻ vừa rồi vốn là người của phủ thái bảo*.

    Nàng có thể không tin ngài ấy, nhưng kẻ đó đã làm việc cho ta, nàng phải tin ta."

    *Đinh Liệt

    Thục Giang vung tay ra khỏi hắn, lùi lại phía góc sập như lúc trước.

    Nàng toan đứng dậy rời khỏi phòng thì bị Lê Tư Thành ngăn lại.

    "Tại sao ta phải tin điện hạ?"

    "Vì ta tin nàng."

    Tư Thành buông tay, nhưng đôi chân trần của Thục Giang cũng chôn chặt xuống nền, không nhúc nhích.

    Hai người cứ đứng yên lặng như vậy gần nửa canh giờ thì cửa sổ lại đột ngột bật ra một lần nữa, là kẻ áo đen ban nãy trở lại.

    Y vừa khép kín cửa đã vội vã quỳ gối.

    "Xin điện hạ trách phạt."

    "Người đâu?"

    Kẻ áo đen không lên tiếng, chầm chậm lắc đầu.

    Ánh mắt Lê Tư Thành hiện lên rõ hai chữ thất vọng.

    Hắn ra lệnh cho thuộc hạ mang về hai người, nhưng giờ y chỉ quay lại một mình, chắc hẳn nhiệm vụ mà hắn giao cho đã thất bại một nửa.

    "Ngươi đã làm được những gì, An Hải?"

    Lúc này, kẻ áo đen tên An Hải mới ngước mắt, khẽ gật đầu.

    Lê Tư Thành phất tay cho y đứng lên.

    "Chúng thần đã giao tranh với cả hai toán người đó.

    Kì lạ là Thiết Đột không hề tấn công, mỗi đòn chúng tung ra đều là những đòn tự vệ.

    Nhưng chúng bày binh bố trận rất tốt nên không thể bắt được người.

    Vì vậy... vì vậy chúng thần đành để chúng chạy thoát."

    Tư Thành không vội, Thục Giang cũng không bất ngờ khi nghe lời y nói.

    Những gì y kể đúng với suy đoán ban đầu của Tư Thành.

    Vệ Thiết Đột chỉ đến để nghe ngóng, không hề có ý định động tới một sợi lông chân nào của Lê Tư Thành.

    Đám chó săn triều đình ấy tuy trung thành tới mức cực đoan, nhưng không phải kẻ thù mà thủ lĩnh đã ra lệnh, nhất định chúng sẽ không động thủ.

    Câu chuyện của kẻ áo đen cũng khiến Thục Giang tò mò phần còn lại, nàng hướng ánh mắt ngóng chờ về phía y.

    "Đám người kia...

    Khi giao tranh với chúng, thần đã cố tình hô "Không phải Thiết Đột!".

    Dám chắc toàn bộ những kẻ ở đó đều đã nghe được.

    Tuy nhiên, chiêu thức của chúng vô cùng cổ quái, thần thật sự chưa gặp bao giờ.

    Hơn nữa, chúng dùng trường kiếm của kẻ này làm đòn bẩy để kẻ khác tẩu thoát.

    Kẻ cuối cùng ở lại, đã tự cắt cổ tự vẫn rồi."

    "Thục Giang, lấy giấy bút!"

    Lời nói của Tư Thành khiến Thục Giang giật mình.

    Nàng lật đật chạy đi tìm giấy bút theo yêu cầu của hắn.

    Khi giấy, bút, mực đã sẵn sàng phía trước, Tư Thành chỉ đưa mắt ra hiệu, An Hải ngay lập tức vừa đánh lại những chiêu thức của đám người mà y mới giao tranh hồi nãy, vừa cẩn trọng mô tả lại cho Tư Thành.

    Đôi tay Tư Thành như bay trên trang giấy, những hình vẽ, những con chữ dần dần hiện đầy trên nền giấy trắng theo lời An Hải.

    "Tất cả chúng đều dùng trường kiếm, rất mảnh, nhẹ.

    Lưỡi kiếm mỏng, gần như xé gió mà lao tới, không hề gây ra tiếng động.

    Mỗi chiêu thức tung ra đều đánh vào những nơi hiểm yếu trên cơ thể.

    Đường kiếm..."

    "Khoan đã!"

    Thục Giang bất ngờ hô lên khiến cả hai người còn lại đều tròn mắt nhìn nàng.

    An Hải nhanh chóng trở lại dáng vẻ nghiêm trang, cúi thấp đầu như mọi khi.

    Còn bàn tay cầm bút của Tư Thành khựng lại giữa trang giấy đã sắp kín những hình vẽ các thế võ và những dòng ghi chép lại mô tả của An Hải.

    Ngay từ lúc An Hải chuẩn bị, Thục Giang đã cảm thấy tư thế của y vô cùng quen mắt.

    Chỉ cần đến chiêu thứ ba, những suy đoán của nàng đã được khẳng định tới tám, chín phần.

    Nàng muốn hắn dừng lại, để chính mình tự kiểm chứng cho những gì đã nghĩ.

    "An Hải, những chiêu thức ngươi vừa đánh lại là của đám sát thủ vô danh?"

    "Vâng phu nhân!"

    "Ngươi chắc chắn đã thể hiện đúng hết những chiêu thức đó?"

    "Khoảng... sáu, bảy phần."

    "Nếu gặp lại chính những chiêu thức đó, ngươi có thể hiện lại được đúng cả mười phần không?"

    "Phu nhân...

    Điện hạ?"

    Lê Tư Thành nhếch môi, không biết lại sắp được chứng kiến màn kịch hay gì.

    Quan sát những biến chuyển trên gương mặt hắn, cả Thục Giang và An Hải biết hắn đã ngầm đồng ý.

    Hắn gác bút sang một bên, khoanh chân trên sập, dáng điệu khoan thai như sẵn sàng xem kịch.

    "Ý phu nhân là...?"

    "Ngươi vẫn là ngươi, ta sẽ đóng vai tên sát thủ đó."

    Thục Giang quay lại nhìn Tư Thành, gương mặt tràn đầy vẻ đắc ý.

    Chưa bao giờ hắn nhìn thấy biểu cảm như vậy của nàng, sự thong thả lúc đầu đã giảm đi ít nhiều, giây phút này còn xen lẫn vài phần hiếu kì, lại có vài phần lo lắng.

    Thục Giang với lấy thanh kiếm ngự ban của Tư Thành, lưỡi kiếm dài sáng loáng dần lộ ra bên trong vỏ kiếm mạ vàng.

    "Phu nhân, đắc tội."

    An Hải cầm lại thiết chuỳ, nhường cho Thục Giang ra tay trước.

    Nàng không ngần ngại lao về phía y.

    Chiêu đầu tiên, mũi kiếm như xé gió mà lao tới, không hề gây ra tiếng động, nhắm thẳng vào yết hầu An Hải.

    Y chỉ cầm chuỳ nhẹ nhàng gạt mũi kiếm của nàng về một bên.

    Chiêu thứ hai, nàng dùng kiếm cắm thẳng trên nền nhà làm trụ, xoay người lấy đà rút kiếm lên rồi nhắm thẳng vào ngực trái An Hải.

    Đôi mắt y có chút kinh hãi, nhưng phản ứng vô cùng nhanh nhạy, ngửa người ra phía sau tránh đòn.

    Theo đà kiếm găm thẳng vào cột trụ, Thục Giang ngay lập tức đạp lên lưỡi kiếm còn đang rung rung, thân thể mảnh mai xoay vòng trên không trung.

    Lần này An Hải quăng chuỳ đánh ngã nàng về phía sau, tay còn lại rút lưỡi kiếm trên trụ nhà.

    Chưa đầy một chớp mắt, kiếm trong tay An Hải đã lạnh lùng kề trên cổ Thục Giang, giữa cần cổ nàng và lưỡi kiếm ấy là cây quạt lụa của Lê Tư Thành.

    "Điện hạ, kẻ này... phu nhân..."

    An Hải không cam lòng, buông kiếm lăn lóc, phủ phục trước mặt Tư Thành đang nửa quỳ nửa ngồi đỡ Thục Giang ngã sõng soài trên nền.

    "Các ngươi vất vả cả đêm, nên nghỉ ngơi sớm đi, nhưng không được lơ là cảnh giác.

    Chuyện vừa xong, không để người thứ tư biết.

    Những việc khác bản vương khắc có kế hoạch."

    An Hải cúi đầu, vẫn như lần trước không nói lời nào, nhanh như chớp biến mất theo đường cửa sổ.

    "Điện hạ ngăn An Hải lại làm gì?"

    Thục Giang định tự ngồi dậy nhưng vai vừa bị An Hải đả thương, vô lực ngã lại vào vòng tay Tư Thành.

    Bỗng nhiên, ngay khi An Hải rút kiếm lao hướng về phía mình, nàng đã nghĩ liệu y có thực sự ra tay không, liệu y thực sự ra tay thì Lê Tư Thành sẽ làm gì.

    Nàng nhận ra bản thân thật ngu xuẩn khi vừa dùng chính tính mạng của mình để kiểm chứng cái gọi là vì ta tin nàng của Tư Thành.

    "Dù ta tin An Hải sẽ không xuống tay, nhưng ta càng muốn nàng tin rằng ta thực sự tin nàng.

    Lần sau dù có muốn chết cũng tìm cách khác mà chết, đừng làm như vậy, cũng không được chết trước mặt ta."

    Hắn bế bổng nàng đặt lên sập.

    Chần chừ một lúc, hắn tự tay cởi từng lớp áo của Thục Giang xuống.

    Vết thương trên vai trái đã tím bầm lại, máu tụ thành một khoảng, nhưng xem chừng may mắn không tổn thương đến xương.

    Tư Thành cắn môi, chau mày, vốn muốn gọi thái y đi cùng vào xem xét vết thương của nàng, nhưng lại không muốn đánh động đến mọi người.

    Hắn đành đốt rượu thuốc trên đĩa cho nóng, nhanh tay xoa vào vết thương cho nàng.

    "Điện hạ không thắc mắc vì sao thiếp biết những chiêu thức của đám sát thủ ấy hay sao?"

    Thục Giang đẩy tay Tư Thành ra, kéo lớp áo trong cùng lên phủ kín người.

    Tay hắn hẫng giữa không trung, đành với xuống nhặt thanh kiếm lên.

    "Khi muốn nói, nàng sẽ tự nói, ta không cần cưỡng ép.

    Theo những chiêu thức mà nàng vừa đánh về phía An Hải, thanh kiếm này chưa đủ mảnh để những đường tấn công có thể kết liễu đối phương theo đúng những gì nàng đã được học.

    Nàng không muốn giết An Hải, nàng chỉ muốn y nhận ra những chiêu thức ấy.

    Nàng muốn chứng minh với ta rằng nàng không hề giấu diếm ta chuyện gì hết.

    Thục Giang, cảm ơn nàng đã tin ta."

    Hắn nhìn thanh kiếm trầm ngâm, không hề nhìn vào mắt nàng, nhưng giọng nói mỗi lúc một run rẩy.

    "Điện hạ..."

    "Thục Giang,..."

    Tư Thành đột ngột quay sang, nắm chặt bàn tay nàng, "Đừng bao giờ đùa giỡn với mạng sống của mình như vậy thêm lần nào nữa.

    Nàng có thể chết trước ta như nàng muốn, ta cũng có thể gặp rồi cưới thêm nhiều thiếu nữ đoan trang, thuỳ mị như nàng từng nói.

    Nhưng ta sẽ không bao giờ có thể tìm được một Phùng Thục Giang nào khác."

    Tư Thành ôm chầm Thục Giang vào lòng, cằm hắn gục hẳn vào hõm vai nàng.

    "Ta xin nàng...

    Thục Giang.

    Xin nàng đừng bao giờ làm như vậy nữa!"

    Thục Giang chầm chậm vòng tay phải ra phía sau lưng, ôm lấy Tư Thành.

    Bàn tay nàng vỗ nhẹ sau lưng, ngón trỏ khẽ đưa trên lưng hắn, viết lên một chữ 琮*, miệng thầm thì "Xin lỗi...".

    Rồi một giọt nước mắt tràn mi, thấm vào vai áo Tư Thành.

    Vòng tay hắn đang ôm nàng cứng đờ giây lát, đôi mắt nhắm nghiền như không muốn tin vào những điều vừa hay biết.

    Đêm ấy dài đằng đẵng, cũng không nhớ đã là đêm thứ bao nhiêu Lê Tư Thành thức trắng.

    Từng người, từng người một muốn kéo họ ra khỏi cuộc sống bình lặng, muốn kéo họ bước xuống đầm lầy mà những người đó đang vùng vẫy.

    Lê Tư Thành dù không muốn bản thân sa vào đó, nhưng giờ bắt buộc hắn phải tham gia.

    Lê Tư Thành dù không muốn Phùng Thục Giang cùng mình đối mặt với những cạm bẫy ấy, nhưng hắn thà để nàng đi cùng, còn hơn bỏ nàng một mình phía sau cùng bao nguy hiểm.

    *Tông: tên ngoại giao với nước ngoài của Lê Nghi Dân.

    ***

    Hết chương 11.
     
    [Dã Sử Việt] Đông Kinh Năm Ấy - Lê Thánh Tông, Phùng Chiêu Nghi
    CHƯƠNG 12: HUYNH ĐỆ (2)


    Phủ Lạng Sơn vương, rạng sáng ba mươi tháng chín, Diên Ninh năm thứ sáu

    Lê Nghi Dân quắc mắt nhìn đám người áo đen đang đứng trước sập.

    Một, hai, ba,...

    đếm đi đếm lại, hắn chỉ đếm được đúng năm người.

    Trước khi rời Đông Kinh, hắn đã dặn dò kĩ lưỡng chúng không được manh động, không hiểu vì lí do gì chúng đi sáu, nhưng giờ về chỉ còn năm.

    Lê Tư Thành là con cáo già hay con thỏ non hắn chưa chắc, đánh rắn động cỏ như vậy, e là phần thua thiệt lại thuộc về Lạng Sơn vương rồi.

    Lê Nghi Dân chưa một lần nổi điên với đám sát thủ do tay mình huấn luyện nên này.

    Hắn nhặt chúng về từ trong đám đầu trộm đuôi cướp ô hợp phía ngoại ô, chúng ăn cơm vương phủ, uống nước vương phủ, được huấn luyện bằng tất cả những gì tinh tuý nhất mà vương phủ này có.

    Chúng coi Lê Nghi Dân là thần, chúng chưa một lần làm trái lời hắn.

    Vậy mà lần này...

    "Người của Bình Nguyên vương phát hiện ra chúng thuộc hạ.

    Chúng nhầm chúng thuộc hạ với..."

    Kẻ đứng đầu tiên phủ phục trên sàn, cả bốn người phía sau đồng loạt hành động y hệt.

    "Với ai?"

    "Thưa điện hạ... với quân...

    Thiết Đột."

    Kẻ đó vừa dứt lời, Lê Nghi Dân đã đứng bật dậy, hất tung ván cờ tàn đang bày sẵn trên mặt bàn.

    Biết mình thiếu kiềm chế, hắn phất tay cho đám người lui xuống, không quên dặn dò chúng nhớ ngày hai mươi bảy tháng chín hằng năm làm giỗ cho kẻ đã bỏ xác ở Tây Kinh.

    Thiết Đột, lại là Thiết Đột.

    Lê Nghi Dân vô tình phát hiện có một đám người thường xuyên lảng vảng quanh Lạng Sơn vương phủ vào những đêm khuya thanh vắng.

    Hắn không cần nghe ngóng nhiều, tự Lê Đắc Ninh đã nhỏ to với hắn đó là người của triều đình.

    Vệ Thiết Đột này tưởng chừng như đã mất hoàn toàn vị thế trong quân doanh, giờ lại như bóng ma xuất hiện ngay gần hắn.

    Vẫn là triều đình họ Lê không tin tưởng trưởng nam của Thái Tông Văn hoàng đế.

    Lê Nghi Dân lắc đầu, khoé môi nhếch lên đầy khinh bỉ.

    Cũng phải thôi, hắn là trưởng nam, lại từng là Đông cung hoàng thái tử, giờ bị giáng xuống tước vương để nhìn em trai ngồi lên ngai vàng.

    Người khác nghĩ hắn không yên phận âu cũng là lẽ thường tình.

    Hắn có định liệu của hắn, đám chó săn triều đình ấy có đánh hơi được điều gì thì cũng mặc xác chúng.

    Nhưng hà cớ gì mà chúng đi theo cả Bình Nguyên vương?

    Lê Nghi Dân vắt óc đưa ra từng giả thiết trong đầu, tỉ mỉ sắp xếp lại từng sự việc một.

    Vệ Thiết Đột theo dõi hắn, theo dõi cả Lê Tư Thành, không loại trừ khả năng có một đám đã cắm rễ bên ngoài Tân Bình vương phủ của Lê Khắc Xương.

    Chỉ có thể do hoàng đế không tránh khỏi thói đa nghi, không tin tưởng bất cứ anh em nào, kể cả Lê Tư Thành.

    Vậy mà ngoài mặt Lê Bang Cơ và ả đàn bà rắn độc kia vẫn giả đò diễn vở kịch anh em trên kính dưới nhường với mẹ con Ngô sung viên.

    Nhưng người của hắn truyền tin ra rằng Lê Bang Cơ đã trúng độc mạn đà la nặng đến mức một ngày có mười hai canh giờ, hoàng đế dành tới gần tám canh giờ để mơ màng.

    Liệu hơn bốn canh giờ tỉnh táo còn lại, Lê Bang Cơ còn nhớ đến việc từng lệnh cho vệ Thiết Đột theo dõi các anh em của mình không?

    Xem ra, Lê Nghi Dân đã đánh giá sai Lê Bang Cơ và hiểu nhầm cả Lê Tư Thành rồi.

    Đương kim hoàng đế không đơn giản như những gì hắn vẫn thấy, mà Bình Nguyên vương lại không phức tạp như những gì hắn vẫn tưởng.

    Con đường hắn đang đi không có đồng minh, nhưng hắn chắc chắn tới chín phần Lê Khắc Xương và Lê Tư Thành không phải kì đà cản mũi.

    Một phần còn lại, nếu có xảy ra, thì là số mệnh đã định đoạt.

    ***

    Điện Vạn Thọ, đêm mồng một tháng mười, Diên Ninh năm thứ sáu

    Đào Biểu khép cánh cửa điện Vạn Thọ, kính cẩn dâng trà lên cho hoàng đế.

    Lão nội thị kín đáo hé mắt, cố gắng đọc những suy tư đang hiện lên trên vầng trán của đức thánh thượng.

    Nói rằng lão coi Hoàng đế như con thì có phần mạo phạm, nhưng với kẻ sinh ra đã là một nam nhân không hoàn chỉnh như lão, việc được vào cung hầu cận ấu đế bao năm nay là một đặc ân mà không phải lão nội quan nào cũng có được.

    Lão nhìn đống tấu chương xếp chồng trước mặt Hoàng đế, nén tiếng thở dài.

    Người tuổi mới đôi mươi, nhưng sinh ra đã mang trên vai trọng trách quá đỗi nặng nề.

    Lão hiểu hơn ai hết lí do mà lúc nào gương mặt người thiếu niên ấy cũng âu sầu.

    Hoàng đế đã trưởng thành, muốn thoát khỏi cái bóng to lớn của thái hậu, muốn bá quan, bách tính hiểu rằng người cũng có thể trở thành vị minh quân, nên những tấu chương này người đều ôm tới đêm muộn.

    Những chuyện phiền hà của buổi chầu ban sáng vẫn còn lưu lại trên gương mặt non trẻ của hoàng đế.

    Thấy Đào Biểu cứ loanh quanh mãi, Lê Bang Cơ ngước lên, phất tay cho lão lui ra ngoài.

    "Bệ hạ, đêm đã khuya, nên đi nghỉ sớm để giữ gìn long thể."

    Nói rồi lão lẳng lặng lui ra ngoài.

    Một tia chớp rạch ngang nền trời quang đãng.

    Nhiều khi Đào Biểu đã nghĩ, nếu thực sự có kiếp sau, lão chẳng dám mong sẽ được làm một nam nhân hoàn chỉnh, vì kiếp người thực sự vô cùng gian truân.

    Kiếp sau lão chỉ muốn làm cái cây, mãi mãi đứng ở đó, không vui, không buồn, tuy trầm mặc mà ngoan cường giữ mình trong đất.

    Loanh quanh hồi lâu, đôi tay Đào Biểu vẫn vô lực không đẩy nổi cánh cửa điện.

    "Bệ hạ...

    Người vẫn nên đi nghỉ thì hơn."

    Hoàng đế nhìn lão, cảm tưởng như đã bất động cả một đời, rồi một giọt nước mắt khẽ lăn khỏi bờ mi.

    Nhìn tấm lưng đã hơi còng xuống của Đào Biểu, Lê Bang Cơ đã nhiều lần trộm nghĩ, nếu phụ hoàng còn sống, liệu lưng người có còng như lưng Đào Biểu hay không?

    "Đào Biểu, nếu không có lão ở bên nữa, trẫm sẽ rất cô đơn."

    Lê Bang Cơ cất giọng đều đều mà đượm buồn, "Nhiều khi, trẫm nghĩ mình còn may mắn hơn Tư Thành, vì được một người như lão chăm nom.

    Bang Cơ sinh ra trong vòng tay phụ hoàng còn chưa kịp ấm thì người đã băng hà.

    Nhưng nhờ lão mà tuổi thơ của trẫm dường như đủ đầy hơn rất nhiều những đứa trẻ khác bên ngoài kia."

    Bỗng nhiên Hoàng đế làm Đào Biểu nhớ lại rất nhiều năm về trước.

    Một năm nào đó, Nguyễn Thần phi bồng đến chỗ lão đứa trẻ còn ẵm ngửa trên tay, nói rằng mẹ con người trông cậy cả vào lão.

    Năm ấy, Đào Biểu ngoài ba mươi.

    Một năm khác, ấu đế mới chỉ năm hay sáu tuổi, nằng nặc không chịu dậy, không chịu thiết triều, không chịu mặc vào bộ long bào nặng trịch.

    Năm ấy, Đào Biểu đã khóc sướt mướt khi Hoàng đế nói rằng lão không còn thương người nữa mới bắt người làm vua như thế, cuối cùng chấp nhận làm con ngựa cho hoàng đế cưỡi, người mới chịu lên thiết triều.

    Lại một năm khác nữa, thái hậu nói với lão rằng hoàng đế nay đã khôn lớn, đã có thể tự xử lí quốc sự, xin lão hãy nhận từ thái hậu một lời cảm tạ.

    Năm ấy, lão ngoài bốn mươi, tóc cũng đã điểm bạc, quỳ gối trước Thái hậu, khóc rằng ấy là trách nhiệm của lão, xin người đừng làm lão tổn thọ.

    Hoá ra đã nhiều năm như vậy trôi qua rồi.

    Đào Biểu không còn là viên nội thị trẻ mới vào cung nữa, mà hoàng đế cũng không còn là đứa trẻ thơ ngây cả ngày bi bô bên tai lão.

    "Đào Biểu này, nếu kiếp sau trẫm được tái sinh làm người một lần nữa, lão có thể làm cha đẻ của trẫm được không?"

    Đào Biểu quỳ sụp gối, dập đầu xuống đất mà lạy.

    "Bệ hạ..."

    Lê Bang Cơ đặt tấu chương qua một bên, bước ra khỏi long sàng, ngồi xuống bên cạnh Đào Biểu đang phủ phục.

    "Lão muốn quỳ ở đây, trẫm không cản.

    Nhưng đêm nay lão phải nghe trẫm nói.

    Từ xưa đến nay, bất cứ chuyện lớn, chuyện bé gì, trẫm đều muốn kể với lão chứ không phải với mẫu hậu.

    Trẫm phải tranh thủ những khi tỉnh táo hiếm hoi này để nói hết cho lão biết.

    Lão sống cả cuộc đời trong cấm cung rồi, lão thử nói cho trẫm nghe.

    Trong chốn này, những thứ gì có thể giết chết một con người?"

    "Bệ hạ...", lúc này Đào Biểu mới dám ngẩng đầu lên, trán viên nội thị đã sưng tấy vì những cái dập đầu không ngớt vừa rồi, "Bệ hạ...

    đó là..."

    Lê Bang Cơ chớp mắt, nghiêng đầu nhìn Đào Biểu, tựa như một đứa trẻ nhỏ đang chăm chú lắng nghe những câu chuyện li kì của người lớn.

    Lê Bang Cơ đã lớn lên cùng những câu chuyện kể như thế của Đào Biểu.

    "Lời đồn và độc dược?"

    Câu nói giữa khoảng trầm lặng trong điện Vạn Thọ của hoàng đế khiến Đào Biểu hốt hoảng.

    Lời đồn và độc dược.

    Đúng, hoàng đế nói đúng.

    Lão nghĩ đi nghĩ lại, đúng là chỉ có lời đồn và độc dược.

    Vì dù có dùng cách gì đi chăng nữa, cuối cùng vẫn chỉ có những thứ ấy mới đủ để vu oan giá hoạ, giết chết con người.

    "Bệ hạ..."

    "Lão không cần nói gì hết, tự trẫm đã có câu trả lời.

    Lời đồn vây quanh trẫm còn nhiều hơn những tấu chương mà trẫm đã từng phê.

    Còn độc dược...", hoàng đế tựa người vào thành bàn phía sau, nhắm mắt suy tư, "Lão đã từng nghe đến loại độc nào có thể khiến con người ở trong trạng thái nửa mê nửa tỉnh chưa?"

    "Bệ hạ...

    Chẳng nhẽ trong cung có kẻ dám ăn gan hùm, tác oai tác quái đến vậy?"

    Lê Bang Cơ chậm rãi gật đầu.

    "Là vương huynh."

    "Tân Bình vương?

    Phu nhân nhà ngài ấy là thầy thuốc.

    Mà không, chẳng lẽ là...

    Lạng...

    Lạng Sơn vương?"

    Đào Biểu không dám tin vào những điều vừa nghe được.

    Nói Lạng Sơn vương, Dương chiêu nghi còn oán hận vì chuyện xảy ra năm ấy thì lão tin.

    Nhưng nếu nói rằng họ dám âm mưu giết vua cướp ngôi, quả thật là đại nghịch vô đạo, là loạn thần tặc tử của Đại Việt.

    Cả người viên nội thị run rẩy vì một cơn ớn lạnh vừa chạy dọc cơ thể.

    Lạng Sơn vương Lê Nghi Dân...

    Nhưng Lạng Sơn vương mới vào cung dự yến đúng một lần, làm thế nào mà vị vương gia này có thể dùng độc trong cung?

    "Mấy chuyện này chắc chắn lão không lạ lẫm gì, vậy để trẫm nhắc lại một lần nữa cho lão nhớ.

    Vì sao nhà Hạ, nhà Thương, nhà Chu ở phương Bắc khi xưa mất nước vào tay ngoại xâm?"

    "Mỹ nhân...

    Mỹ nhân hoạ quốc?

    Bệ hạ, ý người là..."

    Một lần nữa Lê Bang Cơ lại gật đầu, cắt ngang lời Đào Biểu.

    Nhưng cái gật đầu lần này dường như chậm hơn rất nhiều, xen lẫn bao xót xa.

    "Trẫm mới phát hiện một tháng nay.

    Vào cái hôm mà lão giục trẫm đi ngủ vì đã thức suốt một ngày dài.

    Nhưng trẫm không hề buồn ngủ, cũng không hề mệt mỏi, thậm chí trẫm còn không nhớ suốt khoảng thời gian trước đó trẫm đã làm gì.

    Lão còn nhớ cây hoa ở cung Gia Hoà không?

    Tất cả những lời nàng ấy từng kể về loài hoa tên mạn đà la, tất cả những câu chuyện về nhân sinh trong mắt Đức Phật mà nàng ấy nói, tất cả đều là những lời bịa đặt.

    Mạn đà la trong mắt Đức Phật không phải một loài hoa, mà loài hoa trong cung Gia Hoà dù tên là mạn đà la thật nhưng lại không phải thứ ấy.

    Dân gian vẫn gọi loài hoa đó với cái tên khác, là cà độc dược."

    Đào Biểu nghe dứt câu, hai đầu gối đang quỳ không chống đỡ nổi nữa, khiến lão ngồi bệt hẳn xuống sàn.

    Cà độc dược hay dương kim hoa chẳng phải cái tên xa lạ gì với lão.

    Trong viện thái y có tới hàng đống lá dương kim hoa đã sao khô, phòng những lúc trong cung có người đau răng, viêm khớp.

    Nhưng loài cây này sẽ giết người như thế nào mà Lạng Sơn vương rắp tâm mưu hại hoàng đế như thế?

    "Trẫm cũng không lạ gì lá cà độc, hồi bé trẫm bị đau răng, chính lão là người nghiền lá cà ra để rắc vào chân răng cho trẫm.

    Nhưng độc tính nằm ở hoa và hạt cà.

    Trúng độc rồi, nhẹ thì hay buồn ngủ, đầu óc mơ màng, nặng hơn thì hay đau đầu, hay mê sảng.

    Còn nếu để độc ngấm vào tận từng mạch máu, người trúng độc sẽ nửa điên nửa tỉnh, sẵn sàng động thủ với những người xung quanh và với chính bản thân mình.

    Những điều này có khiến lão nghĩ tới ai không?"

    Lê Bang Cơ khoan thai thuật lại tất cả những gì Thiết Đột báo với người khi được lệnh tìm hiểu về cà độc dược.

    Quả thật, việc trong giang hồ, phải để những kẻ trong giang hồ ra tay mới có thể giải quyết được.

    Thái y trong cung biết về dược tính của cà độc dược, nhưng họ chữa bệnh bằng lá, không dùng hạt, dùng hoa.

    Còn trong giang hồ, hạt và hoa cà độc dược lại là những thứ thuốc độc tầm thường nhất, bởi vậy mới có thể dễ dàng qua mắt mọi người.

    "Bệ hạ, người mà bệ hạ muốn nhắc tới chẳng phải là...

    Quận Ai vương...

    Lê Tư Tề* đó sao?"

    *Con trai cả của Lê Thái Tổ

    "Không sai!

    Ham mê quyền lực đến phát điên, vô cớ giết hại kẻ hầu người hạ, không còn đủ năng lực để làm vua một nước, đó là con đường Quận Ai vương từng sa vào.

    Vương huynh đang muốn dồn trẫm vào con đường giống ngài ấy năm đó.

    Nhưng lão nghĩ mà xem.

    Năm đó, trên Quận Ai vương vẫn còn Thái Tổ Cao hoàng đế, ngài ấy oan thật đi chăng nữa thì dù có mười cái miệng cũng chẳng thể cãi nổi nếu ý Thái Tổ đã quyết.

    Năm đó, ngài ấy là quân cờ, cả nhà ngài ấy là những con tốt thí.

    Nhưng trẫm của hiện tại là kẻ đánh cờ.

    Nếu trẫm thắng, mọi sự vẫn sẽ tiếp diễn như những gì vốn có.

    Nếu trẫm thua, chắc chắn sẽ có người thay trẫm chơi nốt ván cờ này với vương huynh.

    Ván cờ này chỉ kết thúc khi vương huynh mất những quân cờ tốt nhất.

    Nhưng đáng lo cho vương huynh là ván cờ này sẽ sớm ngã ngũ thôi, có quá nhiều người đang lăm le muốn nhảy vào cùng tham gia rồi."

    Đào Biểu hiểu những nước cờ mà hoàng đế nói.

    Sống trong cung ngần ấy năm, loại tranh quyền đoạt vị nào cũng đã từng chứng kiến, lão hiểu lí do hoàng đế vẫn sủng ái vị cung nhân đó, hiểu lí do hoàng đế khẳng định sẽ có người chơi tiếp ván cờ với Lạng Sơn vương.

    "Hơn nữa, nói ra chắc chắn sẽ khiến lão hoảng sợ, nhưng nàng ấy chính là con gái của Ức Trai tiên sinh* năm xưa."

    *Nguyễn Trãi

    Lần này thì Đào Biểu hoảng sợ thật.

    Chuyện động trời như vậy mà qua lời Lê Bang Cơ nhẹ tựa lông hồng, tựa như chẳng có mối liên hệ gì với cuộc sống của người.

    Lạng Sơn vương này tội chồng thêm tội, chứa chấp con cái kẻ phản nghịch, cài cắm nội gián trong cung, giờ còn âm mưu giết vua soán vị.

    Nhưng đã dám làm đến bước này, chắc hẳn Lạng Sơn vương đã sắp đặt mọi chuyện ổn thoả.

    Hoàng đế bây giờ một mình một thuyền, Bình Nguyên vương đi xa, Tân Bình vương né tránh hoàng quyền, các vị đại thần e ngại cái uy thái hậu mà không dám hết mình vì ấu đế.

    Đào Biểu thở dài, hoàng đế thực sự quá cô độc trên con đường gập ghềnh này.

    "Tại sao đến giờ bệ hạ mới nói cho lão nô biết?"

    "Vì độc đã ngấm đến tận xương tuỷ trẫm rồi, ngấm sâu tới mức nàng ấy còn chẳng thèm hạ độc thêm nữa.

    Trẫm sẽ chẳng thể chơi trọn vẹn với vương huynh ván cờ này.

    Trẫm phải tranh thủ từng giây từng phút để trăm ngàn bách tính không phải khổ lao vì một lần đế vị đổi chủ, để ngoại bang không thể thừa dịp tân đế lên ngôi nước đục thả câu, để anh em họ Lê không phải dùng máu tắm cho ngai vàng thêm một lần nào nữa.

    Đào Biểu... cái chết của Quận Ai vương và những lời cuối cùng của cung nữ bị ném xuống giếng năm ấy chưa bao giờ trẫm quên."

    "Bệ hạ... lão nô vẫn nghĩ nên truyền thái y thì hơn."

    Đào Biểu không biết nên nói gì nữa.

    Lời nói thốt ra lão mới thấy thật nực cười, đúng là lão già cả lú lẫn mất rồi.

    Không thấy Lê Bang Cơ trả lời, lão mới đánh bạo hỏi thêm một câu, mà câu trả lời của hoàng đế vừa như một đòn đau giáng lên người lão, vừa như một ngọn đèn mới được thắp lên cuối con đường hầm tăm tối.

    "Lão nô to gan lớn mật dám hỏi bệ hạ.

    Theo người, ai sẽ cùng Lạng Sơn vương kết thúc ván cờ này?"

    "Bình Nguyên vương Lê Hạo."

    ***

    Hết chương 12.
     
    [Dã Sử Việt] Đông Kinh Năm Ấy - Lê Thánh Tông, Phùng Chiêu Nghi
    CHƯƠNG 13: MÁU NHUỘM CẤM THÀNH


    Lê Tư Thành liên tục hắt hơi, nheo mắt nhìn ra bên ngoài khung cửa sổ, những giọt mưa đang chồng chéo lên nhau tạt ngang.

    Căn phòng nghỉ ở hậu cung Tây Kinh thoang thoảng mùi hăng hắc của rượu thuốc.

    Hắn không thích không khí im lặng đến sốt ruột như thế này, nhưng chưa biết phải nói chuyện gì, phải mở lời ra sao.

    "Điện hạ khép cửa vào kẻo mưa."

    Giọng Thục Giang khàn khàn phía sau làm Tư Thành giật mình.

    Hắn chỉ khép hờ cửa sổ, mặc kệ những giọt mưa thi thoảng lại hắt vào bên trong phòng.

    Hắn quay người lại, đã thấy Thục Giang cầm chiếc áo khoác mỏng giơ trước mặt mình.

    "Phiền điện hạ tự mặc kẻo lạnh.

    Hôm nay thiếp không thể hầu điện hạ mặc áo như mọi khi."

    Tư Thành ái ngại nhìn cánh tay trái vẫn buông thõng xuống, nhận áo nhưng không mặc vào mà khoác lên người nàng.

    Hắn vốn định nói lời xin lỗi, nhưng loanh quanh một hồi, cuối cùng lại quyết định cất lời xin lỗi ấy ở sâu trong lòng.

    Thục Giang nhìn tấm áo đang khoác trên vai mình, buông một câu hờ hững.

    "Anh em nhà các vị thật đáng sợ như nhau."

    Lê Tư Thành giật mình, nắm chặt hai cánh tay Thục Giang, nàng nhăn mặt nhưng hắn không hề buông lỏng.

    "Nàng biết những việc vương huynh làm từ khi nào?"

    "Trước khi thiếp bước chân vào phủ Bình Nguyên vương.", nàng không cố giãy ra khỏi đôi tay hắn nữa, "Từ khi thiếp biết Lạng Sơn vương, chưa bao giờ ngài ấy giấu diếm thiếp những ý định của mình.

    Thiếp biết trong tư tưởng của nam nhân các người, chỉ cần có suy nghĩ như Lạng Sơn vương thôi đã là bất trung, bất nghĩa rồi, chứ đừng nói tới làm ra những chuyện ấy.

    Thiếp cũng biết mình không có quyền lên tiếng rằng thiếp thấy thế này, thiếp nghĩ thế kia, thiếp không là gì so với những ước vọng lớn lao mà các người đang hướng tới.

    Điện hạ, Nghi Dân có cách nghĩ của ngài ấy, có cách hành động của ngài ấy, có những lí tưởng dù là điên rồ nhưng đó lại là mục đích mà ngài ấy sống tới tận ngày hôm nay.

    Chẳng phải chàng cũng thừa biết mưu đồ của Nghi Dân hay sao?"

    "Một câu Nghi Dân, hai câu Nghi Dân, nàng có từng nghĩ lí do ta vội vã kéo nàng lặn lội đường sá xa xôi về tận đây không?"

    Tư Thành buông Thục Giang ra, cố kìm nén cơn bực tức đang dồn lên như sóng thần chuẩn bị cuốn phăng tất cả mọi thứ.

    "Lí do?

    Điện hạ nghĩ thiếp cần biết lí do hay sao?

    Nếu không có thiếp, điện hạ cũng sẵn sàng một mình đi về tận đây để biến các anh của mình thành quân cờ cả thôi."

    "Nàng đừng nghĩ nàng quan trọng với ta đến thế!

    Nếu phải mang một người đi theo để bảo vệ, ta sẽ đi cùng mẫu thân chứ không phải nàng!"

    "Nhưng lệnh bà không phải là quân cờ mà Nghi Dân muốn!"

    "Nàng lại ảo tưởng vị trí của mình trong lòng vương huynh rồi."

    "Ít nhất Nghi Dân thật lòng với ta hơn chàng!"

    Đột nhiên Lê Tư Thành cảm thấy mối quan hệ vốn là phu thê giữa họ giờ như một tấm gương mỏng đang rạn nứt thành vô vàn các mảnh nhỏ li ti.

    Thục Giang biết nhiều hơn những gì hắn nghĩ, nàng hiểu Nghi Dân, thậm chí còn cảm thông cho những hành động của anh trai hắn, nhưng nàng chưa bao giờ chấp nhận ngồi xuống dù chỉ một khắc thôi để lắng nghe và hiểu cho hắn.

    Câu nói cuối cùng của nàng là một đòn chí mạng với Tư Thành, đầu óc hắn hoàn toàn trống rỗng, cơ thể dường như không còn là của hắn nữa, một bụm máu tươi trào ra khỏi cổ họng.

    "Tư Thành!"

    Hắn không còn nghe thấy gì nữa, mọi vật trong phòng đang nhoè ra thành ảo ảnh xoay vòng vòng trong đầu hắn trước khi tối sầm lại.

    Khi Lê Tư Thành mở mắt, màn đêm đã lại trùm lấy núi rừng Tây Kinh.

    Hồi sáng, có vẻ như hắn đang cãi nhau với Thục Giang thì không còn kiểm soát được mọi chuyện, có vẻ như hắn nghe được tiếng ai đó gọi tên, sau đó không còn nhớ gì nữa.

    Tư Thành nghe tiếng mở cửa, cố gắng vươn người dậy, thấp thoáng bóng thằng Trọng lom khom bê khay thuốc vào.

    Mùi thuốc bắc nồng nặc khiến hắn lại thấy choáng váng.

    Thằng bé nhận ra Tư Thành đang mở mắt chằm chằm nhìn mình, vội vã đặt khay thuốc qua một bên.

    "Điện hạ, điện hạ tỉnh rồi, để con đi tìm phu nhân."

    "Từ từ đã!

    Có chuyện gì xảy ra vậy?"

    "Dạ, sáng nay đúng lúc mưa to thì con nghe tiếng phu nhân, con chạy qua thì thấy phu nhân đang đỡ điện hạ, phu nhân sai con đi gọi thái y.

    Đến lúc thái y với mọi người tới nơi mới đỡ điện hạ về giường được.

    Thái y bảo người bị suy nhược cơ thể do thiếu ngủ và tâm trạng bị kích động, người chỉ cần uống đúng thuốc theo đơn thái y kê thôi.

    Thái y muốn chẩn mạch cho phu nhân nhưng phu nhân không cho ạ."

    "Đưa thuốc cho ta!"

    Thằng Trọng thắc mắc vì sao điện hạ không hỏi han gì đến phu nhân nhưng không dám lên tiếng nữa, chỉ ngoan ngoãn làm theo lời Tư Thành.

    Lúc sáng, nó nhìn phu nhân không cho ai động vào người trừ cái Ngọc, trong lòng nó đã thấy có gì đó không ổn.

    Hơn nữa, lúc cái Ngọc đỡ phu nhân, mặt con bé biến sắc hẳn, con bé quay lại lườm nó rồi dứt khoát bước ra cửa.

    "Ngươi làm sao đấy?"

    Tư Thành uống một hơi, nhìn thằng bé luống ca luống cuống mới cất tiếng hỏi, khiến nó giật mình, suýt chút nữa đánh rơi bát thuốc hắn vừa đưa.

    "Con đang định hỏi... có cần mời phu nhân không ạ?"

    Tư Thành không trả lời, phất tay cho nó lui ra ngoài.

    Từng lời nàng nói ban sáng hắn vẫn nhớ như in.

    Thục Giang luôn nghĩ rằng hắn nghi ngờ nàng là người do Lê Nghi Dân cài cắm vào, nàng dùng chính mạng sống của mình để chứng minh với hắn điều ngược lại.

    Đến khi hiểu lầm được hoá giải thì những rắc rối khác lại tiếp tục xuất hiện.

    Nàng cho rằng hắn đang dùng nàng làm quân cờ để dụ Lê Nghi Dân lọt vào thế cờ mà hắn đã mai phục sẵn.

    Tư Thành chưa bao giờ nghĩ đến điều điên rồ ấy.

    Hắn sẵn sàng dùng bất cứ ai làm quân cờ, trừ mẫu thân và Thục Giang.

    Hắn kéo theo nàng về đây vì lo rằng Lê Đắc Ninh đã kịp nhận ra vị trí của nàng trong lòng hắn và nhỏ to lại với Lê Nghi Dân.

    Nhưng không ngờ hôm nay chính miệng Thục Giang lại chắc nịch rằng nàng quan trọng với vương huynh của hắn vô cùng.

    Chẳng lẽ chiều mưa hôm ấy, nàng đã nhầm Lê Tư Thành với Lê Nghi Dân?

    Nàng không phát hiện ra chữ 灝 (Hạo) hắn tỉ mẩn tự tay khắc lên cán ô mà hắn đã đưa nàng hay sao?

    Nhưng chẳng phải chữ 琮 (Tông) nàng viết lên lưng hắn là lời đoạn tuyệt với Lê Nghi Dân của nàng?

    Tư Thành hiểu bản thân mình không thể mang cả rổ thắc mắc ấy tới hỏi Thục Giang.

    Nhưng nếu ôm mãi ở trong lòng, hắn sợ rằng mình sẽ xao nhãng mà đi sai một nước cờ nào đó.

    Tới lúc ấy, hậu quả khôn lường, hắn không chắc có thể vãn hồi được.

    Tư Thành muốn nghe lời thái y, muốn dỗ dành mình đi vào giấc ngủ nhưng không thể.

    Hắn cứ trằn trọc không yên, lăn qua lăn lại trên giường với một đống những suy nghĩ ngổn ngang.

    Hắn thấp thỏm, lo lắng không phải vì những điều vừa rồi.

    Lòng hắn cứ dâng lên một cảm giác bồn chồn như một kẻ tử tù bị xử lăng trì, da thịt trên người như đang bị ai dùng con dao cùn xẻo đi từng miếng một.

    Ấy là đêm mồng hai tháng mười, Diên Ninh năm thứ sáu.

    ***

    Phủ Bình Nguyên vương, đêm mồng hai tháng mười, Diên Ninh năm thứ sáu

    Ngô sung viên quỳ gối trước tượng Quan Âm bồ tát trong gian thờ, hơi thở đều đều theo từng nhịp gõ mõ.

    Cả gian thờ im ắng, chỉ có ánh nến lập loè hắt lên tường bóng dáng mình hạc xương mai của người thiếu phụ.

    Hoả Phủ, Hoả Liêm ngoan ngoãn như những con chó nhà, nằm im ngoài bậu cửa.

    Hai con chó cả ngày quẩn quanh bên chân bà, không rời nửa bước.

    Đêm buông xuống, bà nhớ lời Tư Thành dặn trước khi rời đi, hoàn toàn không thấy chúng có điểm gì bất thường.

    Gió đêm mang hương hoa quỳnh ngoài vườn vào trong.

    Cuốn kinh Phật mở trước gối khẽ lật vài trang theo gió.

    Bà dừng mõ, gấp gọn cuốn kinh, đặt ngay ngắn dưới chân lư hương trước mặt Phật bà.

    Bao năm nay bà vẫn tìm kiếm sự an yên nơi cửa Phật.

    Thời gian khiến người thiếu niên khôi ngô năm nào giờ đã về tận Tây phương, thời gian cũng khiến người thiếu nữ mộng mơ năm nào giờ mái tóc đã hoa râm điểm bạc.

    Bà vẫn nhớ như in hình ảnh bậc đế vương năm ấy, mỉm cười khẽ vuốt mái tóc và thì thầm bên tai bà lời hứa trọn đời.

    Những ngón tay lần tràng hạt có chút lúng túng.

    Đúng là tâm không yên thì nên tìm đến cửa Phật.

    Nhưng tìm đến cửa Phật rồi mà tâm vẫn rối bời thì hãy đứng dưới bầu trời ngoài kia mà gỡ mối bận tâm ấy trước.

    Bà khẽ khàng thu gọn chuông, mõ, nhất cử nhất động đều khoan thai, cẩn trọng như lo rằng sẽ vô tình đánh thức ai đó giữa đêm khuya.

    Trần thế này có ngang trái bao nhiêu, bà vẫn là người được chọn để ở lại chứng kiến.

    Chút tình mới chớm ngày ấy, tưởng như gió thoảng mây bay vậy mà lại thành vương vấn cả một đời.

    Một đời này dốc lòng dốc sức mà nuôi dạy Lê Tư Thành nên người, cũng là một đời này Ngọc Dao đã sống trọn nghĩa vẹn tình với Lê Nguyên Long.

    Chuỗi tràng hạt trong tay bất ngờ đứt đoạn, từng hạt bồ đề rơi ngoài hiên vắng lách ta lách tách như những giọt nước mắt đang rơi.

    Hồi trưa Bùi thị ghé qua phủ, gửi biếu bà một cuốn kinh A di đà.

    Trăng có tàn, đêm có tận, bà vẫn còn những người chị em ở ngay đây bầu bạn, tâm tình.

    Bao nhiêu ghen ghét, bon chen, đấu đá của thuở xưa cơ hồ đã qua mấy kiếp rồi.

    Một tia chớp loé lên đằng cung thành, rạch lên nền trời đen thẫm một đường sáng loáng.

    Ngô sung viên khép kín cửa để ngăn cơn giông muộn, bỏ quên những hạt bồ đề lăn lóc ngoài hiên.

    Từ bữa Tư Thành về Tây Kinh tế tổ, lòng bà cứ bồn chồn không yên.

    Lời kinh rơi lại bên thềm đá, Ngô sung viên vội vã ngồi xếp bằng, mở cuốn kinh hồi nãy ngay ngắn trước chân.

    Tiếng gõ mõ lại đều đều vang lên hoà lẫn vào tiếng mưa tiếng gió bên ngoài.

    ***

    Thiếu nữ nhìn sáu xác người nằm la liệt ngoài sân, ánh mắt không lưu lại chút tình cảm nào.

    Bốn cung nữ, một bà vú, một nội thị.

    Bước chân vào cung Gia Hoà là phải chết.

    Đời người sống chết có số, nhưng nếu không phải là người của tẩm cung này, các người cũng không phải chết một cách đột ngột như thế.

    Có lẽ là sẽ chết vì tuổi già ập đến, có thể là sẽ chết vì bệnh tật ghé qua, cũng có thể là sẽ chết vì tai nạn hoạ vô đơn chí, nhưng ít ra là không chết vì một nhát dao chí mạng giữa cần cổ như thế này.

    Mà thậm chí họ còn chưa kịp hiểu lí do vì sao mình phải chết.

    Nàng ta ngồi xuống cạnh xác tiểu cung nữ mới sớm nay còn ríu rít vấn tóc, thoa son cho nàng, một tiếng gọi lệnh bà, hai tiếng gọi lệnh bà.

    Con bé này năm nay lên mười.

    Thôi thì sống lại kiếp khác, chứ cả đời làm một cung nữ hèn kém thế này, biết bao giờ mới có thể thực hiện được mơ ước làm phượng hoàng bay cao.

    Bàn tay vừa dính máu vuốt đôi mắt cho tiểu cung nữ.

    Các người có thể yên nghỉ được rồi.

    Dao găm trong giấu kĩ trong ống tay cạnh tấm bài vị gói khăn lụa, nàng ta buộc chặt lại dây đai quanh thắt lưng, kéo khăn kín mặt, lăm lăm tiến về phía điện Kính Thiên.

    Đêm nay, cấm thành Đông Kinh sẽ còn sáng hơn Lệ Chi viên năm nào.

    Tiếng gươm đao mỗi lúc một lớn, tiếng hô hào mỗi lúc một gần, bóng hình nàng ta đang ngóng chờ cũng ngày một rõ ràng.

    Một thân hắn khoác áo gấm đen, mái tóc đen tung bay ngang tàn trong gió.

    Trên mặt hắn vương một vệt máu dài, có lẽ là máu của một kẻ xấu số nào đó vừa hắt lên.

    Trên tay hắn là tấm áo hoàng bào sũng máu, dưới chân hắn là một thân hình đang quỳ gục mà dáng dấp vẫn kiên cường.

    Đó không phải Lê Bang Cơ!

    Những ngày đầu ấp tay gối với Lê Bang Cơ giúp nàng ta chắc chắn điều ấy.

    Lời hắn như sấm truyền, lệnh cho toàn bộ cấm binh giết hết những kẻ còn chống đối.

    Tiếng nháo nhác vãn hẳn, tiếng gươm đao rơi xuống đất của những kẻ quỳ gối quy hàng ngày một dày lên.

    Lê Đắc Ninh nhếch môi nhìn toàn bộ vệ cấm binh đang quỳ gục trước sân rồng, chúng là những kẻ chỉ nghe lời một mình y.

    "Đào Biểu mưu phản, khoác long bào ngồi trong điện Kính Thiên.

    Hộ giá thánh thượng!"

    Tiếng hắn sang sảng, vang tới những cung điện xa nhất của cấm thành, vang tới tận những nơi sâu thẳm nhất trong lòng người.

    Một tên nội thị quỳ gối từ trong điện ra, cả người run lẩy bẩy, lắp bắp không thành câu.

    "Thán...h th..ượng.. c..ho t..ruy..ề....n L..ạ...n.g S...ơ...n... vư...ơ..n...g.."

    Lê Nghi Dân quay người vào trong điện, quăng tấm long bào lên thi thể Đào Biểu, tiện đưa một kiếm, tên nội thị vừa rồi lăn ra đất, từ cổ trào ra một dòng máu tươi.

    Ngay khoảnh khắc ấy, thiếu nữ chợt nhận ra cảm giác Lê Nghi Dân chiến thắng, Lê Bang Cơ thua cuộc hình như không đáng mong đợi như nàng ta vẫn nghĩ.

    Nàng ta quay gót, hướng về phía tẩm cung của Nguyễn Thái hậu.

    Tiếng chuông báo canh đầu tiên vang lên trong cung cấm.

    Hôm ấy nhằm ngày mồng ba tháng mười, Diên Ninh năm thứ sáu.

    ***

    Lê Tư Thành nhìn thấy Thục Giang bước vào, bàn tay vô thức vò nát tờ giấy báo tin từ phủ thái bảo.

    Hơn ba ngày rồi, nàng lặng thầm như một cái bóng, đi vào phòng hắn, làm hết mọi việc như thường lệ rồi lại thầm lặng đi ra.

    Hắn không hỏi, nàng cũng không lên tiếng.

    Nhưng hôm nay, dù muốn dù không, Tư Thành cũng phải nói với nàng chuyện này.

    "Lê Nghi Dân đảo chính thành công rồi!"

    Thục Giang lùi lại mấy bước, cả cơ thể trượt xuống theo cột nhà sau lưng, nhắm nghiền mắt, cố gắng cắt nghĩa trọn vẹn điều Tư Thành vừa nói.

    Tri kỉ của nàng đã đạt được tâm nguyện của cuộc đời, đã giành lại được những thứ mà theo anh ta chúng vốn không thuộc về Lê Bang Cơ, nhưng tại sao nàng lại thấy chênh vênh thế này!

    Anh ta vừa đạp lên mạng sống của em trai mình để làm bước đệm chạm tới ngai vàng đó sao?

    Nàng quyết định tiết lộ về đám sát thủ mà Lê Nghi Dân phái tới Tây Kinh cho Tư Thành, những mong hắn có thể ngăn cản Lê Nghi Dân dùng nồi da nấu thịt, nhưng cuối cùng mọi chuyện vẫn không thể vớt vát được chút nào.

    Lê Bang Cơ chết rồi!

    Dù người ấy có chết thế nào đi chăng nữa, người được lợi nhiều nhất vẫn là Lê Nghi Dân.

    Trong mắt nàng, dù trực tiếp hay gián tiếp, tri kỉ của nàng vừa giết chết chính em trai mình.

    Nàng nên nói với Lê Tư Thành rằng hãy ngăn Lê Nghi Dân lại, nhưng nàng đã không làm thế.

    Nếu Thục Giang thẳng thắn với Tư Thành hơn, biết đâu mọi chuyện không trở nên đau đớn như thế này.

    "Thục Giang..."

    Tư Thành quỳ xuống bên cạnh nàng, nhẹ nhàng gọi tên nhưng không nỡ chạm vào những cảm xúc đang dồn lên trong tâm trí nàng.

    Hắn thấy một giọt nước mắt vừa tràn mi, vội vã đưa tay gạt qua gò má nàng.

    Rồi hắn cũng dựa lưng vào cột, ngồi sát vào Thục Giang, khẽ ôm nàng vào lòng vỗ về.

    "Ta biết lời "Xin lỗi!" của nàng hôm đó là dành cho Lê Nghi Dân.

    Giờ nàng lại cảm thấy có lỗi với Diên Ninh đế.

    Tại sao nàng luôn tự vơ vào mình những lỗi lầm không phải do nàng gây ra?

    Người đáng phải tự dằn vặt là ta chứ không phải nàng.

    Nàng xem, ta chỉ biết trốn chạy.

    Nhẽ ra lúc này nàng không được khóc, nàng phải mạnh mẽ mà mắng chửi ta mới phải.

    Thục Giang, nàng đã làm hết sức để mọi chuyện tốt đẹp nhất có thể.

    Nhưng bánh xe vận mệnh đã xoay đến thế này, dù là ai đi chăng nữa cũng bắt buộc phải thuận theo."

    "Tư Thành, chúng ta quay về Đông Kinh có được không?"

    Dù tiếng nàng nói xen lẫn những tiếng nấc, chỉ còn lí nhí trong miệng nhưng hắn vẫn kịp nhận ra Thục Giang vừa gọi tên hắn.

    Những khi Tư Thành ép buộc thì nàng không chịu, đến những lúc hắn không ngờ tới nhất thì lại được nghe nàng gọi tên mình.

    Hắn vỗ nhẹ vào vai nàng, thủ thỉ "Được!".

    Lê Tư Thành biết đoạn đường từ Tây Kinh trở lại kinh sư không còn hiểm nguy rình rập nữa, nhưng về tới Đông Kinh rồi sẽ là một hành trình mới dành cho hắn.

    Hành trình này sẽ vô cùng dài, vô cùng lạ lẫm.

    Nhưng hành trình này chính là hành trình mà Lê Nghi Dân đã từng đi qua.

    Tư Thành sẽ không đi theo vết xe đổ ấy, hệ tư tưởng của hai người khác nhau.

    Nhưng hắn chắc chắn có một nước cờ hắn đã đi đúng.

    Lê Nghi Dân đã đổ dồn toàn bộ nghi kị, hận thù lên người Diên Ninh đế.

    Trong lòng Lê Nghi Dân từng dựng lên một bức tường đề phòng với Tư Thành, bức tường ấy đã được đám sát thủ đêm trước giúp sức phá vỡ hoàn toàn.

    ***

    Hết chương 13.
     
    [Dã Sử Việt] Đông Kinh Năm Ấy - Lê Thánh Tông, Phùng Chiêu Nghi
    CHƯƠNG 14: QUÂN CỜ


    Thục Giang nhìn hậu viện xa lạ, trong lòng dâng lên một nỗi trống vắng hoang hoải.

    Giang sơn nay đã đổi chủ, phủ Bình Nguyên vương rực rỡ thuở nào nay đã trở thành một đống lụp xụp đổ nát, hoang phế.

    Cảnh không còn, người cũng đã xa, mọi sự đã trôi qua rất lâu rồi.

    Nàng đã quên hoàn toàn gương mặt Diên Ninh đế, Tuyên Từ thái hậu, nàng cũng không còn nhớ rõ nụ cười của Lê Nghi Dân năm xưa.

    Dường như từng việc một, từng người một đã trôi dần vào dĩ vãng.

    Bỗng nhiên, nàng nhận ra rằng, những giấc mơ êm đềm thuở nào đã nhạt phai theo tháng năm.

    Nàng đâu thể ngờ được rằng cái lần xa lắc xa lơ suýt cãi nhau ở phủ Bình Nguyên vương lại là lần cuối cùng nàng được trò chuyện cùng Lê Nghi Dân trong cuộc đời.

    Gặp nhau là cái duyên, quen nhau là cái phận nhưng cuộc đời đẩy đưa hai người họ ra hai con đường hoàn toàn xa nhau.

    Có một lần Phương Liên từng nói, mà nàng chỉ nghe loáng thoáng câu được câu chăng, rằng thà không gặp nhau thì sẽ không phải xa nhau.

    Lần đó, nàng đã nghĩ Phương Liên lo lắng xa xôi, mà ai ngờ mọi điều sau ấy khiến nàng phải trăn trở suốt cả quãng đời còn lại.

    Thục Giang tìm cách né tránh mọi yến tiệc trong cung từ ngày ngai vàng đổi chủ.

    Phương Liên kể với nàng về ánh mắt ngóng đợi của Lê Nghi Dân mỗi khi hoàng thân quốc thích tụ họp, Lê Tư Thành sẽ xuất hiện.

    Rồi ánh mắt hắn nhanh chóng cụp xuống khi bên cạnh Lê Tư Thành chỉ là Ngô thái phi chứ không còn ai khác.

    Mỗi lần nghe những chuyện ấy, Thục Giang đều bật cười xót xa.

    Nàng chỉ muốn gìn giữ tình bạn trong trẻo thuở ban sơ, vậy mà giờ đây mọi thứ như dòng nước trôi qua kẽ tay, càng giữ càng tuột đi mất không thể níu lại được.

    Tiếng mưa rơi tí tách trên mái hiên, nhỏ qua giọt gianh rồi thành bong bóng vỡ tan trên nền đất.

    Thục Giang nghe mùi mưa trong không gian, nghe cả tiếng tim lạc nhịp.

    Bước chân Lê Tư Thành vẫn dừng lại ở cửa viện, chần chừ một lát rồi mới bước vào.

    Tháng ba sang, xuân tàn, hoa rụng tả tơi trước cơn mưa cuối mùa.

    Những bước chân chần chừ của Lê Tư Thành kéo trái tim nàng trùng lại theo, trùng như những cành cây trơ trọi lá.

    Kể từ đêm định mệnh ấy, nàng lặng lẽ hơn, hắn cũng trầm mặc hơn.

    Kể từ đêm định mệnh ấy, dường như giữa hai người có một thứ khoảng cách vô hình đang dần rộng hơn ngày trước.

    Kể từ đêm định mệnh ấy, hắn đều đặn đến hậu viện này mỗi khuya muộn, ngồi xuống bên nàng, rồi cả hai người đều chìm vào suy tư.

    Chưa sáng nào Lê Tư Thành không tới phủ thái bảo, chưa trưa nào Lê Tư Thành không vòng qua hồ Dâm Đàm với Nguyễn Minh Huyên, chưa chiều nào Lê Tư Thành không cùng Ngô thái phi hàn huyên chuyện mỗi ngày.

    Hình như những cuộc gặp mặt hằng ngày ấy khiến hắn không còn muốn nói chuyện khi tới bên nàng, mà những ngày dài chán chường trong cung Gia Hưng* cũng khiến nàng ngại mở lời bắt chuyện với hắn hơn.

    *Tên gọi khác của cung Tiềm để mà Lê Nghi Dân ban cho Lê Tư Thành sau khi lên ngôi.

    Nàng không lí giải nổi thứ cảm giác khó tả dâng lên trong lòng mỗi khi nghĩ đến tình cảnh hiện tại.

    Nàng nên mừng cho Lê Nghi Dân đã lên ngôi Hoàng đế, đã đòi lại được những thứ vốn thuộc về mình?

    Hay nàng nên tiếc thương cho Diên Ninh đế tuổi hẵng còn trẻ, còn bao nhiêu hoài bão, dự định mà phải chết một cách hết sức đau thương?

    Nàng đâu thể quên nụ cười nhàn nhạt trên môi Tư Thành khi nghe rằng Diên Ninh tự biết mình không phải con của Tiên đế*.

    Nàng tự hỏi lòng mình rằng rốt cuộc Lê Tư Thành đang suy tính những gì trong đầu.

    *Trích trong Chiếu đại xá thiên hạ khi lên ngôi của Lê Nghi Dân.

    Trên đường trở lại kinh sư, họ đã nghe được vô vàn lời bàn ra tán vào của bách tính.

    Người khóc thương cho số phận Lê Bang Cơ.

    Người nhỏ to lời đồn Lê Bang Cơ không phải con ruột Thái Tông Văn hoàng đế.

    Kẻ cười nhạo Lê Nghi Dân giết em để cướp ngôi.

    Kẻ vỗ đùi cảm thán trước khí khái anh hùng của Lê Nghi Dân.

    Tất cả đều vô tình mà cố ý lọt vào tai họ.

    Lê Tư Thành chỉ im lặng, nhắm mắt lắng nghe hết tất cả.

    Hắn muốn lắng nghe tiếng nói của bách tính, như từ xưa đến giờ hắn vẫn làm.

    Khi cánh cổng ô Cầu Dền mở ra đón họ, năm Thiên Hưng thứ nhất cũng đã bắt đầu.

    Dường như tất thảy mọi biến cố trong cấm thành đêm ấy đều chẳng liên quan tới họ.

    Dường như tất thảy mọi tranh quyền đoạt vị họ đều đứng từ xa mà trông theo.

    Đêm nay, như mọi đêm khác trong nửa năm qua, Lê Tư Thành lại đến, ngồi lặng im trên sập, vừa đọc sách, đôi khi lại chấm bút viết vài chữ, vừa thi thoảng nhấp một ngụm vối tươi.

    Thi thoảng trong đêm, An Hải lại dùng chuỳ đẩy cửa sổ nhảy vào, báo với hắn tin này tin nọ.

    Ánh mắt y nhìn Thục Giang đã ít dần sự đề phòng, đôi khi y cũng gật đầu chào đáp lại nàng.

    Cánh cửa sổ kẽo kẹt, hai người biết An Hải lại đến.

    "Điện hạ, chúng thần tìm được trong cung Gia Hoà một chậu cây đã bị hoại hết, vứt xó trong góc vườn.

    May sao vẫn còn sót lại rễ cây trong ụ đất."

    Y mở bọc vải, trải ra nền, bên trong là vài mảnh sành vỡ lẫn với chút vụn đất.

    Thục Giang tò mò ngồi xổm xuống cạnh y, chăm chú quan sát nắm đất.

    Quả thực trong đống vụn đất và mảnh sành hổ lốn ấy, loáng thoáng có vài mẩu rễ cây nâu sậm, nếu không nhìn kĩ, khó mà nhận ra được.

    Nàng bới bới đống đất, nhặt một mẩu rễ, phủi hết bụi đất đi, định cho lên ngửi thì bàn tay An Hải đã kịp chặn lại.

    "Phu nhân, thứ này chạm vào được, nhưng tuyệt đối không được ngửi."

    Lúc này Lê Tư Thành mới rời sập, ngồi xuống bên cạnh hai người.

    Với đám người đi mây về gió như An Hải, Tư Thành rất kiệm lời, chẳng mấy khi thấy hắn lên tiếng.

    Cặp lông mày hắn cau lại nhìn An Hải thay cho câu hỏi.

    "Rễ cà độc dược.

    Vốn dĩ người ta hay dùng lá loài này làm thuốc, nhưng hạt và quả của chúng lại chứa độc tố.

    Tuy không phải kịch độc, chúng thần cũng chưa từng nghe nhắc tới rễ loài cây này, nhưng tốt nhất vẫn không nên ngửi thì hơn."

    "Độc này được dùng như thế nào?"

    Tư Thành vo vo vụn đất, ngắm nghía rất kĩ đống rễ cây lẫn trong ấy.

    Rõ ràng có người cố tình hoại chậu cây này đi nhằm che giấu một điều gì đó, mà điều đó không tránh khỏi có liên quan đến độc tính của loài cây này.

    "Thần biết có người từng dùng bột nghiền từ hạt cà độc để mượn tay giết chết một bản xa ở vùng cao đạo Bắc.

    Chúng hạ độc vào nguồn nước, để tất cả dân bản dùng nguồn nước ấy đều trúng độc, vì bột hạt cà hoàn toàn không có mùi.

    Khi ấy, người trúng độc không thể kiểm soát được hành động của mình.

    Giống như một cách điều khiển tâm trí người khác, chúng dẫn dắt người trúng độc tự sát theo một nỗi đau thầm kín nào đó trong trái tim họ."

    "Là sao?"

    Cả Tư Thành và Thục Giang đồng thanh hỏi, rồi nhìn nhau bật cười.

    Câu chuyện An Hải kể nghe vừa hợp lí, vì hạ độc vào nguồn nước chính là cách giết người tập thể nhanh nhất, nhưng lại vừa khó hiểu.

    Rốt cuộc tự sát theo nỗi đau thầm kín là như thế nào!

    "Đây chỉ là chuyện thần được nghe người trong giang hồ kể lại, tưởng chừng khó hiểu nhưng điện hạ cho phép, thần mới dám nói.", An Hải ngập ngừng, thấy Tư Thành gật đầu, y mới tiếp lời, "Ví dụ như...

    Có một người từng mất cả vợ cả con do vợ anh ta sinh khó.

    Sau khi trúng độc hạt cà, anh ta tự dùng dao đâm vào bụng mình, trước khi mất máu mà chết anh ta còn dùng tay lôi hết lục phủ ngũ tạng trong người ra, giống như cách người ta lôi đứa trẻ ra từ..."

    "Thôi được rồi, đủ rồi!

    Ngươi nhắc anh em về nghỉ ngơi sớm.

    Mà khoan, An Hải, ta nhắc cho ngươi nhớ, các ngươi giờ đã là người của phủ Gia vương."

    An Hải gật đầu chắc nịch, dọn dẹp hết đống lộn xộn vừa bày ra.

    Rồi giống mọi lần, y lại nhảy qua cửa sổ, không gây ra tiếng động nào.

    Lê Tư Thành đã thực sự rùng mình trước câu chuyện của An Hải.

    Hắn đẩy Thục Giang về giường ngủ, bản thân cũng chui lên giường, nằm ngay ngắn bên cạnh nàng nhưng không sao chợp mắt nổi.

    Hắn thấy thiếu nữ bên cạnh cũng trằn trọc không yên vì câu chuyện ấy.

    Đinh An Hải có thể chọn bất cứ chuyện nào khác làm ví dụ, nhưng y dám lấy câu chuyện sinh khó mất vợ mất con ra kể trước mặt hai người, chắc hẳn là thái bảo đã dặn dò y rất kĩ càng.

    Đương nhiên không thể coi An Hải là kẻ thờ hai chủ được, vì gia đình hắn với nhị vị thái bảo tuy ba mà như một.

    Nhưng hắn không còn là đứa trẻ ranh nứt mắt nữa, nhị vị thái bảo đã giao ba anh em họ Đinh cho hắn, thì cũng nên tin tưởng những quyết định mà hắn đưa ra.

    Tư Thành vòng tay xuống dưới gáy Thục Giang để nàng gối đầu lên, trùm chăn kín mặt nàng, ép nàng phải ngủ trong khi bản thân vẫn thao láo mắt nhìn lên trần nhà.

    Tại sao lại có cây hoa độc xuất hiện ở nơi con gái Ức Trai tiên sinh sống?

    Không lẽ Lê Nghi Dân mượn tay mỹ nữ, đầu độc giết vua?

    Phải chăng vì thế mà chỉ với vài trăm người, cộng thêm vài chục cấm binh của Lê Đắc Ninh, Lê Nghi Dân đã có thể dễ dàng đảo chính thành công?

    Lê Bang Cơ chết như thế nào không một ai trong triều hay biết.

    Chỉ biết qua lời Lê Nghi Dân, cái chết của em trai hắn nhẹ nhàng như vốn dĩ điều ấy thật đúng đắn, phải xảy ra từ lâu rồi mới phải.

    Tư Thành nghe nói đến vô số cách thức đầu độc trong cung cấm, cũng biết vô số loại độc dược mà chỉ cần một lượng nhỏ như đầu móng tay thôi cũng có thể khiến con người chết bất đắc kì tử.

    Nhưng tại sao Lê Nghi Dân phải dùng loại độc dược vô danh, cùng cách đầu độc vô cùng rắc rối, lại dễ gặp rủi ro này?

    Có lẽ ngoài cô con gái của Ức Trai tiên sinh kia, Lê Nghi Dân còn có thêm tay chân khác trong cung, vô cùng am hiểu về thuốc và độc.

    Mượn thuốc làm độc, thành thạo đến như thế, có lẽ là thầy lang...

    Hai cái tên lướt qua đầu khiến mọi giác quan trên người Lê Tư Thành như đông cứng lại – Lê Khắc Xương và Trịnh Phương Liên.

    Lê Nghi Dân dùng mọi cách để lôi kéo đồng minh.

    Lê Nghi Dân từng muốn rủ rê hắn xuống chung một con thuyền.

    Hắn là một đồng minh mà Lê Nghi Dân hướng đến, không loại trừ khả năng hai anh trai lớn của hắn đã lựa chọn cách liên thủ với nhau.

    Nhưng Tư Thành vẫn không muốn tin Lê Khắc Xương lại là người như vậy.

    Vả lại, Bang Cơ hay Nghi Dân làm vua, Khắc Xương cũng không ảnh hưởng gì.

    Vậy thì anh hai của hắn không việc gì phải làm một việc bất nhân bất nghĩa như thế.

    Tư Thành lắng nghe hơi thở đều đều trong vòng tay mình, cố nén tiếng thở dài.

    Chắc chắn không phải Lê Khắc Xương.

    Hắn có thể không tin nhiều điều, nhưng Thục Giang tin vợ chồng Khắc Xương, còn hắn thì tin nàng.

    ***

    Lê Tư Thành nhìn trời.

    Sáng cuối tháng năm, mặt trời còn chưa tỉnh giấc, không khí oi nồng đã bao trùm khắp nơi.

    Sương mờ giăng đầy lối đi, dự báo ngày hôm nay sẽ nắng đến vỡ đầu.

    Hắn tranh thủ lúc trời còn chưa sáng, khẩn trương sang phủ thái bảo.

    Sợ tới lúc nắng lên rồi, cái bí bách của ngày hạ sẽ khiến đầu óc con người trì trệ, không thể suy nghĩ thấu đáo bất cứ chuyện gì.

    Tư Thành đi một mình, phía sau vài trượng là ba anh em An Hải, An Sơn, An Hà lặng lẽ bước theo bảo vệ hắn.

    Ba anh em y được Ngô thái phi chăm nom từ hồi bà còn ở chùa Huy Văn, tên cũng là do bà đặt, chỉ với mong muốn cuộc đời ba anh em y sẽ được bình yên, không sóng gió.

    Lớn lên một chút, ba người được bà gửi gắm cho thái bảo Đinh Liệt.

    Với họ, Ngô thái phi chính là người đã tái sinh cuộc đời, còn thái bảo Đinh Liệt là người dạy họ biết thế nào là đáng sống.

    Mà những người cha, người mẹ ấy dốc lòng vì Lê Tư Thành, thì họ, sẵn sàng dùng phần đời còn lại để phò tá người thiếu niên ưu tú đang bước phía trước họ kia.

    Lê Tư Thành men theo con ngõ dẫn tắt vào phủ Đinh Liệt.

    Những mảng tường hai bên được trát bằng những mảnh đá vỡ loang lổ, không theo bất cứ trật tự nào.

    Giữa kẽ hở của những tảng đá không kín khít, rêu xanh phủ kín, đẫm sương đêm.

    Tư Thành khẽ chạm lên mảng tường đầy rêu ấy, như được sự thanh mát của sương đọng trên tường đánh thức, lòng phấn chấn đến kì lạ.

    Hắn đã ôm cái sự uể oải trong người gần một tháng nay, từ hôm các vị Đỗ Bí, Lê Thụ* mưu đồ lật đổ hoàng đế, bị giết chết ngay tại chính điện.

    Chọn được ngày hôm nay tâm trạng tốt lên một chút, hắn mới tới tìm Đinh Liệt, muốn học hỏi thêm từ lão thái bảo.

    *Hai trong số các vị quan mưu lật đổ Lê Nghi Dân nhưng không thành công.

    Tư Thành tới nơi đã thấy Nguyễn Xí, Đinh Liệt ngồi xếp bằng đối diện trên chiếc phản con ngoài vườn nhà, giữa hai người là một bàn cờ đã gần tàn cuộc.

    Hai lão chiến thần này, chắc có lẽ đã ngồi chơi cờ từ đêm qua đến giờ.

    Đinh Liệt còn song sĩ, song xe, trong khi Nguyễn Xí chỉ còn một xe, song tượng.

    Thế cờ tưởng chừng như đã ngã ngũ với phần thắng thuộc về Đinh Liệt, nhưng Lê Tư Thành thấy không phải vậy.

    Gật đầu đáp lại lời chào của hai lão Thái bảo, Tư Thành ngồi xuống bên bàn cờ, chăm chú nhìn thế cờ trước mặt.

    Nguyễn Xí hoàn toàn có thể lấy lại thế chủ động chỉ với hai quân tượng, một quân xe.

    "Điện hạ nghĩ sao về thế cờ này?"

    Nguyễn Xí nhìn vẻ mặt đăm chiêu của Tư Thành, cất tiếng hỏi trong khi Đinh Liệt vừa hô bọn hầu đi pha thêm nước têm trà.

    Tư Thành nở nụ cười với hai lão thái bảo, mân mê đầu ngón tay trên quân xe đen của Nguyễn Xí.

    "Đây là quân chủ lực.

    Còn đây, đây và đây...", hắn lần lượt chạm ngón tay vào quân tướng và hai quân tượng còn lại, "... là ta, và hai vị các hạ."

    Nguyễn Xí cau mày suy tư, rồi nhanh chóng chuyển thành gật gù tán thưởng.

    Chỉ với một thế cờ tàn vừa lướt qua, Lê Tư Thành đã nhìn ra được tình thế hiện giờ của hắn.

    Người ngoài nhìn vào có thể không nhận ra thế chủ động của Tư Thành.

    Nhưng những người từng trải qua chiến tranh, hít khói pháo, ăn gan uống máu quân thù mà sống như hai lão Thái bảo đây, không khó để cảm nhận được sức sống như một dòng chảy mãnh liệt lúc nào cũng cuồn cuộn trong con người hắn.

    Không phải tự nhiên mà Lê Tư Thành để yên cho ba anh em An Hải vô tư báo tin thích khách ở Tây Kinh về cho Đinh Liệt.

    Từ trước đến giờ hắn luôn cẩn thận giấu kín những suy nghĩ của mình, không bao giờ để lộ ra tin tức gì.

    Khi Đinh Liệt cho Nguyễn Xí xem tờ giấy báo tin, lúc đầu lão cũng không hiểu được hết hàm ý trong ấy.

    Nhưng một người biết, hai người hay rồi sẽ tới nhiều người nghe bóng nghe gió, và cả triều đình bắt đầu rỉ tai nhau về chuyện đương kim thánh thượng từng cho người mưu sát Gia vương.

    Đúng là một giọt máu đào hơn ao nước lã, nhưng trong mắt đương kim thánh thượng của họ, hình như Gia vương, Cung vương hay vị đại hành hoàng đế vừa bị giết chết kia cũng chẳng khác nhau là bao.

    Họ sợ hãi hoàng đế, họ lo cho Gia vương, họ lo cho mạng sống của mình.

    Họ sợ một ngày nào đó hoàng đế sẽ nổi điên mà sai người giết chết họ.

    Họ đề phòng hoàng đế.

    Nỗi sợ hãi trong họ ngày một lớn lên, còn niềm tin của họ với hoàng đế dần dần lung lay, như ngai vàng hoàng đế đang ngồi.

    Mà toàn bộ sự việc từ đầu chí cuối, Lê Tư Thành không hề lên tiếng một câu nào.

    Đến lúc ấy Nguyễn Xí mới thực sự bội phục những tính toán của người thiếu niên trẻ đang ngồi thong dong nghĩ thế cờ trước mặt lão.

    Quả là tuổi trẻ tài cao, quả là con trai của Thái Tông, quả là hậu duệ xứng đáng nhất của Thái Tổ.

    "Vậy quân xe đen của điện hạ?"

    Lúc này Đinh Liệt mới lên tiếng hỏi.

    Lão hiểu bản thân và Nguyễn Xí là hai quân tượng đồng hành cùng Lê Tư Thành, nhưng ai mới xứng đáng là quân xe mạnh nhất, nguy hiểm nhất, linh động nhất kia?

    Tư Thành hiểu những lo lắng của Đinh Liệt, hiểu những rủi ro mà lão Thái bảo đang nghĩ tới.

    "Các vị có biết vì sao vốn định giết chết ta, nhưng bây giờ thánh thượng lại hết mực tin dùng ta không?"

    Đương nhiên cả Nguyễn Xí và Đinh Liệt đều hiểu, không phải tự nhiên mà Lê Nghi Dân lại sủng ái Lê Tư Thành như hiện tại.

    Chắc chắn không phải vì tài đức của Lê Tư Thành khiến Lê Nghi Dân cảm động.

    Trước giờ con trai út của Thái Tông luôn luôn như một con mãng xà ẩn mình trong vỏ bọc của một con rắn ráo nhỏ bé, vô hại.

    Ngoài việc từ nhỏ đã được khen ngợi là học đâu nhớ đó, tính cách ôn hoà, hiếm có ai hiểu được hết con người Lê Tư Thành.

    Hai vị Thái bảo cùng chung thắc mắc, và cũng cùng chung suy nghĩ rằng Lê Tư Thành đã động tay động chân ở đâu đó, khiến Lê Nghi Dân sẵn sàng xoá bỏ mọi nghi kị trước đây hắn từng dồn lên Tư Thành.

    Chưa đợi hai lão thái bảo có câu trả lời, Lê Tư Thành đã đột ngột chuyển chủ đề.

    "Quân cờ mạnh nhất trên bàn cờ thì đương nhiên thánh thượng, hai vị đồng ý chứ?

    Mà ta cũng muốn hỏi...

    Hai vị có tin tức gì của Vệ Quốc công chúa* không?"

    *Lê Ngọc Đường.

    Con gái lớn nhất của Lê Thái Tông.

    Nguyễn Xí chầm chậm lắc đầu.

    Tin tức lão nghe được thì nhiều, dăm bảy loại thượng vàng hạ cám gì cũng có, hết âm mưu này đến tin đồn nọ, nhưng chắc chắn đều không đúng sự thật.

    Vệ Quốc công chúa đã cùng gia đình nhà chồng lĩnh án chu di, cái chết là không thể thoát được.

    Thuộc hạ của lão cũng nghe ngóng được trước đêm xử tử, thánh thượng có đến đại lao, song không có biến cố gì xảy ra.

    Thánh thượng đến một mình, đi về cũng một mình, nhưng gương mặt khi ra khỏi đại lao cũng nhẹ nhõm đi nhiều, tưởng như bao nhiêu gánh nặng trong tim đã được rũ bỏ sạch sẽ.

    Sự gắn bó của hai chị em Ngọc Đường, Nghi Dân không phải câu chuyện một sớm một chiều trong cung cấm, mà bất cứ ai khi chứng kiến hai đứa trẻ ấy lớn lên đều phải cảm thán trước tình cảm mà cả hai dành cho nhau.

    Lão cũng không dám vụng đoán chuyện gì đã xảy ra trong đại lao đêm ấy, vì bản thân Lê Ngọc Đường không thể nói được.

    Từ nhỏ đến lớn, chỉ có Lê Nghi Dân nói một mình, Lê Ngọc Đường dùng ánh mắt, vậy là hai đứa có thể hiểu nhau.

    Âu cũng là duyên kiếp nghiệt ngã, Nguyễn Xí lặng lẽ trút một tiếng thở dài.

    "Hồi còn nhỏ, ta hay thích theo mẫu thân qua phủ hai vị các hạ.

    Đương nhiên là chẳng phải thích trà cháo gì đâu,..."

    Tư Thành nhấc nắp hộp trà, khẽ đưa lên mũi, cảm nhận hương thơm đặc trưng của ngọc lan lẫn trong hương trà, "... chủ yếu là ta thích đi chơi, đến đây lại có miếng quà miếng bánh.

    Trẻ con nào mà chẳng thích.

    Giờ ta vẫn hay ghé qua, phần vì qua thăm hai vị, phần vì uống trà ở phủ thái bảo đúng là có khác biệt với trà ở những nơi khác.

    Phần nữa là vì, ta ghé qua để gặp một số người mà hai vị cũng như mẫu thân muốn ta gặp."

    Ánh mắt Lê Tư Thành hướng ra phía lối đi từ tiền đường xuống sân, như vầng mặt trời chiếu thẳng vào người chỉ huy sứ Nguyễn Đức Trung đang bước tới.

    Hắn đặt hộp trà xuống phản, từ chối bàn tay Đinh Liệt đang định tráng chén cho hắn, thong dong đứng dậy.

    "Nhưng thứ lỗi cho Tư Thành, hôm nay ta lại không có hứng thú, mong hai vị hiểu cho.

    Thế cờ tàn này phiền hai vị các hạ cùng ta chơi nốt.

    Tàn cuộc rồi, vẫn hi vọng các vị dốc lòng dốc sức cho giang sơn Đại Việt."

    "Điện hạ, nhanh thì một tuần trà nho nhỏ,...", Nguyễn Xí gõ gõ lên miệng chén, "... chậm thì một tuần."

    Tư Thành kính cẩn cúi đầu, phe phẩy quạt, bước ngang qua Nguyễn Đức Trung, khoé miệng vẽ ra nét cười đầy khách sáo.

    ***

    Hết chương 14.
     
    [Dã Sử Việt] Đông Kinh Năm Ấy - Lê Thánh Tông, Phùng Chiêu Nghi
    CHƯƠNG 15: CỜ TÀN


    Lê Tư Thành chưa bao giờ thích cảm giác đếm ngày đếm tháng như bây giờ.

    Hắn nhớ đúng hôm chạm mặt Nguyễn Đức Trung ở phủ thái bảo, Nguyễn Minh Huyên có đến tìm hắn.

    Đó là lần đầu tiên hắn thấy nàng ấy mạnh dạn như vậy.

    Nhưng không một ai trong cung Gia Hưng tiếp nàng ấy.

    Tư Thành loanh quanh ngoài phường tới tận khi mặt trời gần đứng bóng, còn Thục Giang cứ mơ mộng trong thế giới riêng của nàng, chẳng mảy may quan tâm đến xung quanh.

    Có lẽ Minh Huyên nghĩ rằng đã đến lúc hắn lo đời đâu đấy rồi?

    Hắn không muốn bận tâm đến mấy việc đó, nhưng mẫu thân hắn một mực khẳng định Nguyễn Minh Huyên chính là người sau này sẽ có ích với hắn rất nhiều.

    Đã ba ngày kể từ hôm đó.

    Tư Thành cảm thấy cái nắng chói chang giữa mùa hạ này đang muốn thiêu đốt hắn.

    Hắn rảo bước tới hậu viện và bất ngờ nghe thấy tiếng cười của Thục Giang.

    Đột nhiên trong đầu Tư Thành bật ra một câu hỏi, đã bao lâu rồi hắn mới được nghe thấy tiếng nàng cười?

    "Thục Giang, nàng có muốn đi xa một chuyến với ta không?"

    Hắn vô tư xen vào giữa câu chuyện của nàng với cái Ngọc, tự ngồi xuống chiếc ghế tựa ngoài sân, tự với lấy bát nước vối vừa kịp nguội, tu một hơi hết sạch cả bát.

    Thục Giang véo nhẹ vào tay cái Ngọc, làm con bé hậm hực liếc nàng một cái, rồi chạy biến ra sau vườn.

    Nàng giật lại cái bát trong tay Tư Thành, rót đầy, đứng tựa vào bàn thổi bớt hơi nước nóng trong bát.

    "Điện hạ muốn đi xa là đi đâu?

    Cứ nghe điện hạ bảo đi xa là thiếp thấy có chuyện chẳng lành rồi."

    Tư Thành biết có một nơi mà chắc chắc chỉ cần nghe tên thôi, Thục Giang sẽ đồng ý đi ngay.

    Nhưng hắn còn đang phân vân, lấy lí do gì để đi tới chỗ đó.

    Dáng vẻ đăm chiêu suy nghĩ này của Lê Tư Thành đã rất lâu rồi Thục Giang mới nhìn thấy.

    Chỉ khi hắn thực sự nghiêm túc, dành hết tâm tư cho một việc gì đó, hắn mới bày ra vẻ mặt này trước mặt nàng.

    Bấy giờ Thục Giang mới biết Tư Thành không đùa.

    Hắn thực sự muốn đưa nàng đi đâu đó.

    Nàng ngồi xổm xuống bên cạnh ghế, trao vào tay hắn bát nước vối, nhẹ giọng.

    "Nguội rồi, điện hạ uống đi!

    Năm mười lăm tuổi, thiếp từng đồng ý đi cùng anh học trò nghèo Lê Hạo đến bất cứ đâu.

    Nên dù năm năm, mười năm, hai mươi hay ba mươi năm trôi qua đi chăng nữa, điều ấy cũng không thay đổi.

    Hơn nữa..."

    Thục Giang bỏ lửng câu nói, cong mắt nhìn Tư Thành cười đầy ẩn ý.

    "Hơn nữa cái gì?"

    Hắn biết thừa nàng cố tình trêu hắn, nhưng vẫn hùa theo nàng.

    Vì lâu lắm rồi bầu không khí giữa hai người họ mới dễ chịu thế này.

    "Hơn nữa bây giờ điện hạ đâu còn nghèo nữa.

    Thiếp chỉ cần ăn no, mặc ấm thôi, tội tình gì mà không đi theo điện hạ."

    Nương theo ánh nắng tàn cuối ngày, Tư Thành biết nụ cười của nàng là thật lòng, những lời nàng nói không có nửa câu giả dối.

    Nói Thục Giang thực dụng cũng phải thôi.

    Con người nào lại từ chối một ngày đủ ba bữa cơm, quần áo trên người toàn gấm vóc lụa là, có kẻ hầu người hạ chăm lo từng li từng tí một kia chứ.

    "Về Xương Giang nhé!"

    Dứt câu nói, Thục Giang ngước lên nhìn hắn, ánh mắt sáng ngời, thậm chí còn sáng hơn tiếng cười của nàng khi nãy.

    Hơn một năm vừa nghe ngóng, vừa nắm bắt, vừa cố gắng hiểu nàng, Tư Thành biết nhiều hơn về người con gái đang ngồi cạnh mình.

    Có thể hắn chưa biết hết, hoặc không bao giờ có thể biết hết, nhưng hắn biết Xương Giang quan trọng với Thục Giang như thế nào.

    Hắn tin chắc chắn về với Xương Giang, hắn sẽ nhìn thấy nàng cười nhiều hơn nữa, vui vẻ nhiều hơn nữa, hạnh phúc nhiều hơn nữa.

    Hắn biết hắn sẽ nuối tiếc khi suốt quãng đời còn lại, tiếng cười của nàng, những giây phút vui vẻ, hạnh phúc của nàng sẽ không còn được như hiện tại nữa.

    Hắn muốn tranh thủ những ngày tháng ngắn ngủi đang đếm ngược về con số không để lưu lại hết thảy hình ảnh tinh khôi, hồn nhiên nhất của Thục Giang.

    Đưa nàng về Xương Giang, hắn nhất định sẽ không bỏ lỡ những ngày tháng ngắn ngủi ấy.

    Một tuần mà Nguyễn Xí hẹn, đã trôi qua được ba ngày.

    ***

    Mùa hạ, mồng năm tháng sáu, Thiên Hưng năm thứ hai

    Một tiếng uỵch phát ra ngoài sân, giống như vừa có vật gì nặng rơi đập xuống đất.

    Giờ này ba anh em An Hải không còn quanh quẩn gần cung Gia Hưng nữa, vạn vật đã chìm hẳn vào giấc ngủ êm đềm.

    Thục Giang thấy động, khẽ đẩy cửa bước ra sân.

    Cánh cửa vừa mở, trước mặt nàng là một người áo đen, thân hình nhỏ bé, thậm chí còn thấp hơn nàng.

    Thục Giang lờ mờ đoán được người vừa tới là ai, nghiêng người nhường đường cho nàng ta bước vào.

    "Cô không sợ?"

    Thiếu nữ đặt con dao găm lên mặt bàn, thủng thẳng ngồi vào sập, lên tiếng khi Thục Giang vừa khép kín cửa.

    Nàng quay người về bàn, rót cho nàng ta một chén nước lọc, bình thản ngồi đối diện nàng ta.

    "Chẳng kẻ giết người nào lại để lộ hành tung của mình với con mồi hết.

    Vả lại, nếu cô muốn làm gì ta thật, thì đã hành động từ lâu rồi."

    Thục Giang đánh mắt xuống chén nước.

    Thiếu nữ nhìn bóng mình sóng sánh phản chiếu trong chén, chần chừ một lúc mới nhấp một ngụm nhỏ.

    Lúc này Thục Giang mới ngắm nhìn kĩ nàng ta.

    Nếu đứng đối diện nhau như vừa rồi, rõ ràng, nàng ta chỉ cao đến tai nàng.

    Dáng người nhỏ bé khiến người khác nhìn thấy chỉ muốn chở che.

    Gương mặt không đến mức khuynh quốc khuynh thành nhưng cũng có thể gọi là kiều diễm.

    Đôi mắt nàng ta phảng phất nét buồn man mác.

    Nếu so sánh, đôi mắt nàng ta như mùa đông buốt giá dù ngoài kia đang là đầu tháng sáu, trời nóng hầm hập.

    Lạnh lùng, nhưng buồn thương.

    Cũng phải thôi, bị ép giữa hoàn cảnh éo le như vậy thì làm sao có thể vui cho được.

    "Bệ hạ cảm nhận được biến cố, người bảo ta rời khỏi cung."

    Lời nói của nàng ta gần như không mang một chút tình cảm nào.

    Nó cứ văng vẳng như vọng về từ một miền nào đó rất xa xăm, rất mơ hồ.

    Thục Giang cũng phải mất một lúc mới xác định được vị bệ hạ mà nàng ta vừa nhắc đến là Lê Nghi Dân.

    "Ta còn tưởng bệ hạ sẽ giết chết ta ngay sau khi hoàn thành đại nghiệp."

    Nàng ta bật cười chua chát.

    Chấp nhận làm một quân cờ trong tay Lê Nghi Dân để trả mối thù gia tộc, nàng ta đã không còn đường lùi, không còn quyền tự quyết bất cứ điều gì trong cuộc sống.

    Đến tận khi Lê Bang Cơ chết dưới tay Lê Nghi Dân rồi, đến tận khi chính tay nàng ta giết chết Nguyễn Thị Anh rồi, nàng ta mới nhận ra không còn gì để cố gắng đạt được trên cõi đời này nữa.

    Nàng ta đã từng nghĩ, có lẽ cái chết sẽ là sự giải thoát cho mình.

    Nhưng cuối cùng Lê Nghi Dân vẫn giữ lại mạng sống cho nàng ta.

    Mà cái mạng này được mẹ con hắn nhặt về, hắn chưa cho phép, nàng cũng không dám tự ý kết thúc cuộc sống.

    "Cô đến tìm ta để làm gì?"

    Thục Giang nghe những lời trong lòng nàng ta, không khỏi cảm thương cho số phận bi đát ấy.

    Nàng biết Ức Trai tiên sinh còn một người con trai nữa vẫn còn sống, triều đình họ Lê cũng không đuổi cùng giết tận, âu cũng là sự ghi nhận những đóng góp dù nhỏ bé của ngài ấy trong sự nghiệp bình Ngô, cũng là sự thấu hiểu cho ngài ấy vì một người thiếp mà luỵ đến cả ba đời.

    Nhưng tại sao nàng ta phải trôi dạt ngoài đường đến mức bị Lê Nghi Dân lôi về thao túng?

    "Để nói cho cô biết rằng ta rất ghen tị với cô.

    Cùng là con cháu khai quốc công thần bị hàm oan, nhưng gần như tất cả mọi người đều bảo vệ cô, còn ta luôn phải tự vẫy vùng giữa những thế cờ mà người ta bày sẵn."

    "Nhưng thầy u cô không có tội.

    Điều bất hạnh nhất là thầy cô có một người thiếp như Thị Lộ thôi."

    Thục Giang với cái quạt mo, phẩy phẩy cho bớt nóng.

    Nàng không muốn nhắc lại chuyện này một lần nào nữa, nhưng nhân tiện đêm nay nàng ta tự tìm đến đây, nàng cũng muốn một lần cuối cùng nói rõ suy nghĩ trong lòng.

    Vì thật ra tâm sự với người xa lạ lại dễ dàng hơn với những người đã quá hiểu mình.

    "Ai cũng biết kẻ có tội là Thị Lộ, đại nhân nhà cô chỉ mang vạ.

    Còn việc ông ngoại ta nuôi tư binh, đóng thuyền chiến, xây phủ đệ là chuyện cả thiên hạ này đều thấy được.

    Người đời sẽ hiểu cho đại nhân nhà cô.

    Còn ông ngoại ta sẽ không bao giờ có thể gột sạch được vết nhơ ấy."

    Thiếu nữ ngước mắt nhìn Thục Giang, vẻ nghi hoặc hiện rõ trên gương mặt nàng ta.

    Thục Giang mỉm cười nhìn gương mặt thanh tú ấy, nhỏ giọng.

    "Vả lại, cô thật sự xinh đẹp.

    Cô thật sự hợp với hình ảnh con gái một văn nhân nho nhã hơn là hình ảnh trước mặt ta.

    Tại sao cô lại lựa chọn như thế vậy Nguyễn..."

    "Lãnh Dương.

    Lãnh trong lạnh lẽo, Dương là vầng mặt trời."

    "Cái tên quá nặng nề đối với một người con gái.

    Không lẽ đại nhân nhà cô nỡ đặt lên vai con gái mình sứ mạng nặng nề đến vậy?

    Phải chăng ngài ấy đã tiên đoán được điều gì?"

    "Không phải tên phụ thân đặt cho ta.", Lãnh Dương cắt lời Thục Giang, "Là bệ hạ.

    Lí do ta lựa chọn con đường này cũng là vì bệ hạ.

    Không người cha người mẹ nào sinh ra con gái lại muốn con mình phải gánh vác những việc quá sức như vậy.

    Nhưng vì bệ hạ, ta sẵn lòng."

    Nói tới đây, từng giọt nước mắt lã chã lăn trên gò má Lãnh Dương.

    Nàng ta rơi nước mắt mà đến Thục Giang còn phải mềm lòng.

    Có lẽ trước đây, nàng ta dùng chính những giọt nước mắt này để làm tan chảy trái tim Lê Bang Cơ.

    Nàng đưa nàng ta chiếc khăn tay, góc khăn thêu ba nét 氵* như mọi chiếc khăn tay khác của nàng, như chiếc khăn tay mà nàng từng đưa cho Lê Nghi Dân trong ngôi miếu hoang.

    Lãnh Dương nhận lấy, tinh ý nhận ra nét thêu ở góc khăn, miệng thì thầm "bộ Thuỷ" rồi ngước đôi mắt vẫn còn ầng ậng nước lên nhìn nàng.

    *bộ Thuỷ

    "Bệ hạ cũng có một chiếc khăn như thế này.

    Người trân trọng nó hơn hết thảy những thứ quý giá khác trong cung.

    Thì ra là của cô."

    Thục Giang không bất ngờ, cũng không vội vã, nàng chỉ bình thản gật đầu đáp lại nàng ta.

    "Bộ Thuỷ trong tên ta, bộ Thuỷ trong tên Gia vương.

    Ta mong cô có thể hiểu được điều này.

    Mỗi người đều có một lí tưởng riêng trong cuộc sống, với Nghi Dân là ngai vàng, với cô là nỗi hàm oan của cả gia tộc, còn với ta chỉ đơn giản là cả đời này được gắn bó với Tư Thành.

    Ta không có ý tranh đoạt với cô, cũng không việc gì phải tranh đoạt với cô.

    Điều ta và cô trân trọng hoàn toàn không giống nhau.

    Lãnh Dương, cô được sinh ra những hai lần.

    Lần đầu tiên là nhờ thầy u cô mang nặng đẻ đau chín tháng mười ngày, cô có thể không coi trọng mạng sống ấy.

    Nhưng lần thứ hai là nhờ Nghi Dân cho cô được sống một lần nữa.

    Anh ta còn sống sờ sờ ở đó, ta càng hi vọng cô coi trọng công sức và sự tin tưởng mà anh ta dành cho mình."

    Thục Giang đứng dậy, rảo bước ra mở cửa, có ý tiễn khách.

    Thiếu nữ bên trong lướt qua nàng, mỉm cười gật đầu, rồi nhẹ như bay biến mất sau trùng trùng mái nhà trong kinh kì.

    Quả thật ban đầu nàng ta cố tình đánh động cho nàng biết.

    Thục Giang nở nụ cười, khẽ lắc đầu.

    Nguyễn Lãnh Dương, cô là vầng mặt trời, dù có cô đơn, lạnh lẽo nhưng mong rằng cô mãi mãi toả sáng như cái tên của mình.

    ***

    Cánh cửa sắt nặng trịch của đại lao dần dần mở ra, mang theo tiếng kẽo kẹt như tảng đá lớn đè thẳng lên trái tim.

    Đêm tháng sáu, ngoài trời hẵng còn tiếng ve kêu rát tai, nhưng trên tầng cao, mây đã kéo đi, trả lại bầu trời quang đãng lấp lánh muôn vì tinh tú.

    Lê Tư Thành ngước nhìn bầu trời, giữa hàng vạn ngôi sao nhỏ lấp lánh kia, không biết có nơi nào cho những linh hồn mới rời xa nhân thế trú ngụ hay không?

    Hắn nhếch mép cười nhạt, rồi nhanh chóng thu nụ cười ấy về, xốc lại mũ áo, bước chân qua cửa đại lao.

    Đám cai ngục thấy Gia vương bất ngờ xuất hiện, vội vã khom lưng cúi đầu, không dám thở mạnh.

    Ai cũng biết Gia vương Lê Tư Thành là người được hoàng thượng tin dùng nhất.

    Bây giờ hắn lại đột ngột tìm đến, họ không dám đoán là việc dữ hay việc lành.

    Viên quản ngục không nói lời nào, dẫn đường cho Lê Tư Thành.

    Hành lang dài, sâu hun hút, từng đợt gió rít ngang qua tai khiến người ta có chút tê lạnh.

    Tháng sáu, bên ngoài trời nóng như thiêu như đốt, nhưng bên trong nhà lao, nơi hành lang là lằn ranh mong manh ngăn cách sự sống và cái chết, nơi cái chết đang được nuôi dưỡng từng ngày, sự lạnh lẽo của những số mệnh sắp xa lìa dương thế cứ bủa vây.

    Hắn nhớ như in lời dạy của Nguyễn Xí.

    Lão thái bảo từng dặn hắn không bao giờ được run sợ trước không khí trong nhà lao.

    Bởi đại lao được sinh ra để dành cho cái chết.

    Không có cái chết của kẻ thất bại, sẽ không có thành công của kẻ thức thời.

    Lê Tư Thành hít thật sâu, để hơi lạnh đầy mùi tử khí của nơi này thấm dần vào từng mạch máu trong cơ thể.

    Chẳng mấy chốc mà bước chân viên quản ngục dừng lại ở căn phòng giam tách biệt cuối hành lang dài.

    Y biết ý, nhanh chóng mở cửa ngục rồi lui về sau, đuổi đám lính cai ra xa.

    "Cuối cùng thì trẫm cũng đợi được Gia vương."

    Nghe tiếng bước chân, Lê Nghi Dân ngước lên.

    Mái tóc dài rối bời xoã ra che hết nửa gương mặt trầy xước, tấm áo hoàng bào bị lột ra chỉ để lại trên người lớp áo giao lĩnh trắng đã lấm lem, nhưng đôi mắt Nghi Dân vẫn sáng ngời, nụ cười nhàn nhạt vẫn thường trực trên môi.

    Người đời vẫn đồn rằng hắn giống Thái Tông Văn hoàng đế nhất trong số bốn anh em, có lẽ điều này không hề sai.

    Lê Nghi Dân này nhìn thế nào cũng ra dáng bậc quân vương.

    Tư Thành duy trì thái độ im lặng, bước hẳn vào trong phòng giam, ngồi xuống, lôi từ trong giỏ ra bầu rượu và hai cái bát con.

    Mùi rơm rạ ẩm mốc xộc lên, đúng là làm giảm bớt đi vài phần thi thú của việc đối ẩm như thế này.

    "Rượu được ủ giống rượu đãi quân từ thời Thái Tổ Cao hoàng đế dấy binh.

    Hi vọng hoàng huynh không chê chút quà mọn."

    Lê Nghi Dân bật cười ha hả.

    Tiếng xiềng xích dưới chân lẻng xẻng vọng đi vọng lại trong không gian hẹp tạo nên một thứ âm thanh chát chúa va vào tai như tra tấn.

    Lê Tư Thành nhìn xuống, khẽ lắc đầu.

    Với một kẻ đơn thương độc mã như Lê Nghi Dân lúc này, mấy thứ xiềng xích quả là thừa thãi.

    "Đã là rượu đãi quân của Lam Sơn, thì dù là binh hèn tướng mọn đến mấy cũng đã từng nếm qua.

    Thiết Đột cũng không ngoại lệ phải không hoàng huynh?

    Mời!"

    Nụ cười đóng băng trên gương mặt Nghi Dân.

    Kẻ đối diện hắn bỗng dưng nhắc tới quân Thiết Đột, hẳn phải có ý đồ gì đó.

    Đúng là hoạ hổ, hoạ bì, nan hoạ cốt, tri nhân, tri diện, bất tri tâm.

    Tưởng như hắn đã có tất cả trong tay, nhưng giờ bỗng chốc chẳng còn lại gì.

    Tưởng như hắn đã hiểu hết Lê Tư Thành, nhưng giờ bỗng chốc đứa em trai trước mặt như một vực sâu đen ngòm không đáy.

    Thì ra con người luôn có lòng riêng.

    Người sống trên đời không vì mình thì trời không dung, đất không tha.

    "Hoàng huynh đã không tin thì không dùng, còn đã dùng là phải tin*, thì không việc gì phải đắn đo nữa."

    *Câu nói của Tào Tháo.

    Lê Tư Thành cũng uống cạn chén rượu, rồi bật cười nhìn Lê Nghi Dân.

    "Người đời luôn nói muốn ngồi lên vị trí cửu ngũ chí tôn, thì phải dám làm những chuyện không ai dám làm, kể cả những việc khiến trời tru đất diệt.

    Hoàng huynh, nhân quả chỉ là chuyện sớm muộn."

    "Lê Hạo ơi là Lê Hạo, để trẫm nhắc lại cho hiền đệ hay.

    Từ Đại Hành hoàng đế nhà Tiền Lê, rồi Thái Tổ hoàng đế đời Lý, đến Thái Tông hoàng đế triều Trần, có ai không từng bị coi là gian hùng.

    Suy cho cùng vẫn là cảnh chà đạp lên sinh mệnh người khác để ngồi lên ngai vàng mà thôi."

    Nghi Dân ngửa đầu cười, tự tay rót đầy một bát rượu khác, uống cạn.

    "Đệ nghĩ xem cảnh nồi da nấu thịt như ngày hôm nay, chẳng phải đã có mầm mống nhen nhóm từ ngày Thái Tổ Cao hoàng đế phế bỏ Quận Ai vương, lập phụ hoàng chúng ta làm thái tử hay sao?

    Con hơn cha là nhà có phúc.

    Thái Tổ Cao hoàng đế có hai người con trai, phế một người, người còn lại lên ngôi.

    Thái Tông Văn hoàng đế còn xuất sắc hơn nữa.

    Sinh được bốn người con.

    Bang Cơ làm vua, Nghi Dân làm vua, sắp tới không biết Khắc Xương hay Tư Thành làm vua đây ha ha."

    Hắn giương đôi mắt đỏ ngầu nhìn chòng chọc vào đôi mắt phẳng lặng như hồ nước của Tư Thành.

    Không thấy đối phương có chút gì lay động cảm xúc, hắn lại tự rót thêm một bát rượu nữa, thong dong uống cạn.

    "Mà không phải," giọng Nghi Dân đột ngột nhỏ lại, thì thầm ra vẻ thần bí, trầm ngâm, "Thái Tông Văn hoàng đế chỉ có ba người con trai thôi chứ.

    Nhưng không sao, vẫn giỏi hơn ông nội chúng ta rồi."

    Lê Tư Thành đứng phắt dậy, quăng mạnh cái bát trên tay vào tường khiến nó vỡ ra thành những mảnh nhỏ sắc lẹm.

    Vết cắt sáng loáng, phản chiếu ánh đuốc ngoài hành lang vào đôi mắt hừng hực lửa của hắn.

    Trái ngược với sự mất bình tĩnh của Tư Thành, bây giờ Nghi Dân lại duy trì vẻ phiêu diêu, tự tại, xoay xoay cái bát ngọc trước mắt như vui đùa.

    "Hơn nữa...

    Con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa đi quét lá đa.

    Tư Thành, chú nhìn xem, Đại Việt vẫn trường tồn, thiên hạ vẫn nằm trong tay họ Lê ta.

    Kết cục của thứ nghiệt chủng con rơi con vãi như Bang Cơ chỉ có thể là cái chết thôi.

    Trẫm không làm vua cũng được, trẫm chết đi vẫn oai phong lẫm liệt, thiên hạ này vẫn là của chúng ta chứ không phải của mẹ con ả rắn độc đó ha ha ha."

    Điên rồi, hắn phát điên rồi, Lê Tư Thành đã nghĩ như vậy khi Nghi Dân càng nói càng say sưa về ước vọng Đại Việt trường tồn.

    Hình như từ nãy đến giờ, lời nào Lê Nghi Dân nói ra đều đúng, làm Tư Thành bỗng nhớ tới Cáo bình Ngô.

    "Tuy cường nhược thì hữu bất đồng,

    Nhi hào kiệt thế vị thường phạp.*

    Hoàng huynh còn điều gì tiếc nuối không?"

    *Trích trong "Bình Ngô đại cáo"

    Hắn lên tiếng, kéo Nghi Dân về với thực tại.

    Thực tại giữa ngục lao tăm tối, ẩm thấp.

    Thực tại giữa ranh giới mong manh của ngày và đêm, của sự sống và cái chết.

    "Trẫm còn đương đợi sắc phong của vua Minh.

    Nhưng cũng không chấp nhận cảnh ngàn năm khom lưng cúi đầu trước xứ Bắc.

    Tư Thành, đệ nghĩ xem, đến khi nào Đại Việt mới sánh ngang hàng Đại Minh?"

    "Khi không một ai dám nhòm ngó tới Đại Việt, chứ không phải thấp thỏm đợi sắc phong.

    Hoàng huynh, quốc gia hưng thịnh là khi không kẻ thù nào dám xâm lăng.

    Còn khi kẻ thù thèm khát và tìm cách đánh chiếm, quốc gia ấy vẫn chưa thực sự hùng mạnh.

    Huynh có trong tay một quốc gia toàn vẹn, với kẻ đứng đầu bất khuất, với quân đội tinh nhuệ, ấy là khi huynh không cần vài ba cái sắc phong bỏ xó của đám giặc cỏ, mà chúng cũng không dám lên mặt với huynh."

    "Hay!

    Nói rất hay!

    Lê Tư Thành mà ngồi lên được ngai vàng, Đại Việt ta sẽ mãi mãi trường tồn!"

    Lê Nghi Dân vỗ tay, tiếng xiềng xích vẫn va vào nhau không ngớt, rồi hắn quăng bát qua một bên, cầm trực tiếp bầu rượu mà tu.

    Xem ra, Đại Việt đã tìm được chủ nhân đích thực rồi.

    Chủ nhân mới này sẽ đưa Đại Việt tới những tháng ngày vinh quang.

    Chỉ tiếc rằng, hắn không còn bấy nhiêu thời gian để chứng kiến những giây phút huy hoàng ấy.

    "Hạo này...", giọng Nghi Dân trở nên nghiêm túc lạ thường, "Chú lên ngôi chỉ là chuyện một sớm một chiều.

    Chú sẽ đưa Đại Việt tới đỉnh cao chỉ là chuyện của mấy mươi năm nữa.

    Đáng tiếc, vận số của ta đã hết, chỉ kịp làm gian hùng thời loạn, không có cơ hội làm con dân dưới chân thiên tử thời bình.

    Tư Thành...", hắn không còn xưng "trẫm" nữa, mà đột ngột xưng hô như những ngày tháng xa xưa, "ta cũng muốn thử cảm giác là một dân đen bình thường dưới triều đại của minh quân, thánh đế.

    Xin hãy nhận của Lê Nghi Dân một lạy."

    Hắn quỳ sụp trước mũi giày Tư Thành.

    Vẻ trịnh trọng của Nghi Dân khiến Tư Thành có chút lúng túng, nhưng ngọn lửa khát vọng vẫn cháy trong đôi mắt đen sâu thẳm.

    "Hoàng huynh...

    Vương huynh..."

    Tư Thành loanh quanh giữa những cách gọi.

    Đột nhiên kí ức đưa hắn trở về khoảng thời gian vẫn sống ngoài dân gian.

    Kí ức đưa hắn trở về lần đầu tiên gặp lại hai anh lớn.

    "Ta là Nghi Dân.

    Con trưởng của Thái Tông Văn hoàng đế.

    Chú ấy là Khắc Xương.

    Từ rày, chú phải gọi hai chúng ta là Vương huynh."

    "Chú đánh trận giả giỏi như thế, sau này ắt hẳn sẽ trở thành tướng tài."

    "Chú nhiều mưu kế như vậy, mà chỉ làm một thân vương, một bầy tôi trung thành thì lãng phí cả một đời."

    "Bây giờ anh có quăng chú ra giữa chợ, chú cũng vẫn sống sót thôi.

    Sức mạnh của chú phi thường thế kia mà."

    Chính miệng Lê Nghi Dân đã nói những lời ấy.

    Nhưng kí ức cũng đưa Tư Thành trở về một đêm mưa dầm dề ở Tây Kinh, khi giữa núi rừng trùng điệp là hàng chục con chó săn đang rình rập cắn trộm hắn.

    Mà lũ chó ấy đâu phải xa lạ gì, là đám quân ô hợp do chính anh cả của hắn đào tạo nên đấy thôi.

    Tư Thành xẵng giọng, lên tiếng hỏi Nghi Dân một câu nữa.

    "Vì sao ta từ chối lời mời ngồi chung thuyền với hoàng huynh, mà về sau này hoàng huynh vẫn ưu ái ta đến vậy?"

    Đây giống như một lời thách thức hơn là một câu hỏi.

    Nếu Nghi Dân thực sự hiểu Tư Thành, hắn sẽ hiểu được nguyên do bị đẩy tới tận bước đường này.

    Còn nếu Nghi Dân không trả lời được, hắn thực sự không đủ tư cách trở thành đối thủ của em trai mình.

    "Thông cảm vì ta giống hoàng huynh và Cung vương, đều bị Diên Ninh đế cho người theo dõi, đều có thể chết dưới mũi kiếm của Thiết Đột bất cứ lúc nào?"

    Câu hỏi của Tư Thành khiến Nghi Dân trầm ngâm.

    Lệ Đức hầu đang cố nhớ lại vì sao lại biết Lê Tư Thành cũng bị người của Lê Bang Cơ bám theo về tận Tây Kinh.

    Hình như là qua lời của đám sát thủ mà hắn phái đi nghe ngóng động tĩnh của Lê Tư Thành.

    "Chúng nhầm chúng thuộc hạ với quân Thiết Đột."

    Đúng vậy, đám sát thủ của hắn đã nói như vậy.

    Người của Lê Tư Thành đã giao tranh với chúng, và đã giao tranh với cả quân Thiết Đột.

    Chính người của Lê Tư Thành đã cho chúng biết điều đó.

    Móc nối tất cả lại, kết cục của một vở kịch sắp hạ màn đã được phơi bày ra trước mắt Lê Nghi Dân.

    Lê Tư Thành biết quân Thiết Đột theo dõi cả ba người trước hắn nên cố ý sai thuộc hạ làm vậy, khiến hắn ban đầu vốn không tin tưởng cả Tư Thành lẫn Khắc Xương, bấy giờ được tin sẽ hướng toàn bộ ác ý vào Bang Cơ.

    Hiển nhiên, Tư Thành và Khắc Xương, hai kẻ từng từ chối ngồi chung thuyền với hắn sẽ không mảy may sứt mẻ chút nào.

    Và bằng cách nào đó, Lê Tư Thành lại biết được đám sát thủ còn lại trong đêm ấy là người của hắn, nên Tư Thành vừa an nhàn sống dưới chân hắn, vừa ôm hận hắn có ý đồ giết em.

    Bảo sao, trước khi lột tấm hoàng bào ra khỏi người hắn, Đinh Liệt đã chửi hắn là một kẻ bất trung, bất hiếu, bất nhân, bất nghĩa.

    Suốt quãng đường từ cửa Sùng Vũ vào tới tận đây, Nghi Dân vẫn không ngừng tự vấn, hắn bất trung với ai, bất hiếu khi nào, bất nhân ở đâu, tại sao lại là kẻ bất nghĩa.

    Thì ra là vậy.

    Đám lão thần già cả lú lẫn ấy vẫn chưa chịu chấp nhận sự thật Bang Cơ không phải con của Thái Tông nên chửi hắn bất trung.

    Hắn giết Lê Bang Cơ để giành lại ngai vàng nên chửi hắn bất nhân.

    Hắn giết bớt đám tể thần lắm lời, cả ngày can gián việc hắn làm nên chửi hắn bất nghĩa.

    Còn chuyện bất hiếu.

    Hẳn là vì đám lão thần ấy tin rằng hắn muốn trừ khử chính hai đứa em ruột còn lại của mình để củng cố ngai vàng, nên hắn là đứa con bất hiếu của Thái Tông Văn hoàng đế.

    Hắn thực sự là đứa con bất hiếu và tệ hại đến vậy sao?

    Đúng là miệng lưỡi thiên hạ, dù có cả trăm lí lẽ cũng không thể kêu oan.

    Sau một hồi trầm mặc xâu chuỗi tất cả, Lê Nghi Dân lắc đầu bất lực.

    Hắn còn nhớ trong đêm chính biến, sau khi bước vào điện Kính Thiên, Lê Bang Cơ đã tiếp hắn bằng một ván cờ tàn* và nói rằng sẽ có kẻ tiếp theo sẵn sàng thay người đó chơi nốt ván cờ đó với hắn đến khi ngã ngũ.

    Ai ngờ được kẻ đó lại là Lê Tư Thành.

    *Một số thế cờ được bày ra khi ván cờ chỉ còn rất ít quân cờ, khi đó sức mạnh của quân Tướng/Vua được thể hiện rất rõ.

    "Đa tạ sự tin tưởng của hoàng huynh dành cho Tư Thành.

    Hi vọng ta có thể hiện thực hoá toàn bộ những khát vọng mà hoàng huynh đã vẽ nên."

    Lê Tư Thành phủi áo, ném cái nhìn khinh bỉ cuối cùng về phía kẻ thất thế nửa ngồi, nửa quỳ trước mặt.

    Đột nhiên, Lê Nghi Dân quên đi hết thảy mọi hận thù, mưu tính, hắn chợt nhớ tới người con gái từng ném đá cuội ướt áo hắn bên bờ sông Nhị Hà năm nào.

    Hắn nhớ mãi người con gái tỉ mẩn chỉ cho hắn cách trồng hoa, chăm hoa, cách nàng nâng niu từng búp cây bé xíu rồi liên tục mắng hắn là kẻ không kiên trì.

    Hắn nhớ mãi người con gái vụng về bắt chước từng chiêu võ mà hắn dạy, rồi còn cẩn thận vẽ lại vào trang giấy.

    Hắn sẽ chẳng thể quên lời hứa năm nàng mười sáu tuổi sẽ rước nàng làm vợ.

    Năm nay nàng vừa tròn mười sáu tuổi.

    Nhưng hắn thì đang ngồi đây, đếm từng ngày đợi xuống hoàng tuyền khấu đầu tạ tội với liệt tổ liệt tông nhà họ Lê.

    Còn nàng, đã trở thành vợ người khác mấy năm rồi.

    Kiếp này trải đủ mọi vinh nhục, cuối cùng tất thảy vẫn là hoa trong gương, trăng trong nước, chạm khẽ là biến tan.

    Nàng không yêu hắn, nàng chưa từng yêu hắn.

    Thì ra đến sau hay đến trước đâu có quan trọng, quan trọng là định mệnh trói buộc ai với ai.

    Kiếp này, hắn và nàng là hai dòng nước chảy song song, cứ bên nhau mà không thể chung dòng.

    Nếu thực sự có kiếp sau, xin ông trời hãy để hắn cất hết hùng tâm tráng trí, cất hết những ngạo nghễ của một thuở thiếu thời, để hắn có thể một lòng một dạ chở che cho người con gái mà mình yêu thương.

    "Lê Hạo, ta chỉ còn một chuyện muốn khẩn cầu."

    Lê Tư Thành im lặng không nói, nhưng sự im lặng ấy đã thay cho lời đồng ý.

    "Đừng để người con gái mà ngươi thật lòng yêu thương đứng trước đầu sóng ngọn gió.

    Cây cao đón gió lớn, hậu cung của ngươi sau này sẽ có muôn hồng nghìn tía giúp người củng cố ngai vàng.

    Thục Giang không hợp, cũng không còn chỗ dựa để tranh đoạt với hậu cung của ngươi.

    Ta chỉ dám xin ngươi cho nàng ấy một mái nhà."

    Lê Tư Thành nghe hết câu, quay người bước đi, bỏ lại sau lưng dằn vặt của một kẻ hết thời, thất thế, bỏ lại sau lưng khát vọng dở dang về một Đại Việt trường tồn, bỏ lại sau lưng đau đáu hoài niệm về một mối tình dang dở.

    Lê Nghi Dân không có hậu cung, là vì hắn chưa kịp lập, hay vì hắn còn đang trông chờ nữ chủ nhân đích thực đây?

    Ước vọng giang san, khát khao về một mái nhà yên ấm cho nàng ấy, hãy cứ để ta hoàn thiện cho vương huynh.

    Còn đoạn đường cuối cùng này, đành để vương huynh cô độc bước nốt mà thôi.

    ***

    Hết chương 15
     
    [Dã Sử Việt] Đông Kinh Năm Ấy - Lê Thánh Tông, Phùng Chiêu Nghi
    CHƯƠNG 16: CUNG GIA HƯNG


    Cái Ngọc bày trước mặt Thục Giang một xấp giấy ghi nhằng nhịt những chữ là chữ.

    Có vẻ như toàn là tên người, tên con gái thì phải, có ghi cả gia thế, gốc gác, tuổi tác.

    Nàng tròn mắt nhìn con bé thay cho câu hỏi, tay cũng chưa buồn động tới chồng giấy.

    "An Hải cho em đấy!"

    Con bé nhún vai, đắc ý nhìn nàng.

    Từ ngày cả người cả vật ở cung Gia Hưng này chuyển hẳn vào cấm thành, chỉ có An Hải ngày nào cũng chịu khó lui tới đây.

    Kẻ dưới trong phủ xưa, người thì chọn vào cung hầu hạ Ngô thái phi, người thì chọn về quê làm ăn, gây dựng lại cuộc sống.

    Thằng Trọng cũng chọn về quê theo lão quản gia, nên cả một cung Gia Hưng rộng lớn chỉ còn nàng với cái Ngọc.

    Sự dè chừng của An Hải đối với nàng đã không còn nữa.

    Trong ba anh em, y cũng là người duy nhất chưa chịu vào cung cùng Lê Tư Thành.

    Y viện cớ ở lại bên ngoài để chăm nom cho Hoả Phủ, Hoả Liêm.

    Nhưng miệng nói vậy, hằng ngày, y vô tư nhảy qua tường nhà để ăn trực nằm chờ một vài bữa cơm của hai chị em nàng, mồm năm miệng mười kể chuyện tấp nập bên ngoài phường kia.

    Hai con chó săn ăn cơm cái Ngọc nấu mà lớn lên ngoan ngoãn, chứ chưa được bữa ăn ngon nào của An Hải.

    Nàng hết đánh mắt nhìn cái Ngọc, lại hướng mắt nhìn An Hải đang ngồi vắt vẻo trên bậu cửa sổ, cuối cùng dừng lại ở xấp giấy con bé vừa bày ra.

    Liếc qua tờ đầu tiên, Thục Giang đã nhìn thấy cái tên Nguyễn Minh Huyên hiện rõ mồn một, nhưng vẫn nói với ra để trêu An Hải.

    "Ngươi muốn nhờ chị em ta chọn vợ giúp à?"

    An Hải nghe dứt câu, vội vã nhảy tót từ trên cửa xuống, chạy bổ vào bên cạnh sập.

    Dù không còn e dè với nàng nữa, y vẫn giữ thói quen trước đây, không làm bất cứ hành động nào quá phận.

    Y chỉ chỉ vào xấp giấy, trầm giọng với nàng.

    "Phu nhân đừng giả vờ.

    Thần đã cố tình đặt cái tên đó lên đầu tiên, không lẽ phu nhân còn không nhận ra?

    Phu nhân, người ta con đàn cháu đống, hậu cung ba nghìn mĩ nữ đến nơi rồi mà phu nhân vẫn bình thản ngồi ở đây sao?"

    An Hải như muốn than trời với thiếu nữ đang ngồi trước mặt y.

    Người con gái này từng dùng cả tính mạng của mình để chứng minh sự trong sạch với bệ hạ, đến khi ra tay với y cũng hoàn toàn không có sát ý, rồi cuối cùng vẫn không cho thái y động vào người vì sợ ảnh hưởng đến bệ hạ.

    An Hải vẫn cứ nghĩ Thục Giang là một người đầy khát khao, tham vọng.

    Không ngờ được rằng gần một năm trôi qua, nàng cứ sống vật vờ như một bóng ma đơn côi trong cung Gia Hưng này, cùng duy nhất một đứa hầu gái.

    Mà lạ một điều rằng nàng chẳng có vẻ gì chán chường với cuộc sống hiện tại.

    "Phu nhân, bệ hạ có con đầu lòng rồi, là con gái.

    Nhưng vị sung nghi ở cung Vĩnh Ninh* cũng sắp sinh rồi.

    Thái hậu từng chiêm bao rằng Thượng đế sẽ cho sao Thiên Lộc xuống làm con sung nghi Vĩnh Ninh.

    Mà đây có phải giấc chiêm bao đầu tiên của lệnh bà đâu.

    Phùng tiểu thư của tôi ơi, người không sốt ruột chút nào sao?"

    *Huy Gia hoàng thái hậu, mẹ ruột vua Lê Hiến Tông

    "Ta sốt ruột làm gì?

    Ngươi từng đánh ta một chuỳ lệch cả vai.

    Giờ trông ta còn giống viên tướng trong giấc mơ của lệnh bà hơn là ngọc nữ đấy."

    Câu nói đùa của Thục Giang làm An Hải im bặt, cúi gằm mặt vì tiếng nguýt dài của cái Ngọc.

    Nàng nhìn điệu bộ ăn năn của y, không nhịn được mà bật cười thành tiếng.

    Đúng là hai chị em nàng vẫn ghi chuyện An Hải đánh nàng trong lòng, nhưng chuyện ấy đã qua lâu rồi.

    Vả lại lúc ấy, nàng đùng đùng đòi đánh nhau với y, chẳng nói rõ lí do, y tưởng nàng là sát thủ nên ra tay quyết liệt như vậy cũng phải.

    Lỗi ban đầu rõ ràng thuộc về nàng, nhưng An Hải vẫn luôn lấy làm hổ thẹn khi nhắc lại chuyện ấy.

    Giờ nàng còn mang chuyện ấy ra trêu khiến y mặt đỏ tía tai, không biết cãi lại như thế nào.

    "Ta đùa đấy!

    Mà thôi, hai đứa tự xem xét đống giấy này đi, không thì để nhóm bếp cũng được.

    Không cần đưa cho ta, ta không quan tâm đâu."

    Thục Giang ngáp dài, dúi đống giấy vào người cái Ngọc.

    Con bé hiểu ý chạy tót xuống sau nhà, để lại không gian riêng cho nàng và An Hải.

    Nhìn bước chân thoăn thoắt của con bé đã khuất hẳn, Thục Giang mới ra hiệu cho An Hải ngồi xuống đối diện mình, rót cho y một bát nước vối, nghiêm túc nhìn thẳng vào mắt y.

    "Trong cung có chuyện gì à?"

    "Mẹ ruột trưởng công chúa do sinh khó mà qua đời, được bệ hạ phong làm tu nghi*.

    Hậu cung đồn đại nhỏ to, rằng người có vị trí cao nhất trong hậu cung giờ còn phải đứng dưới một người đã chết."

    *Bậc thứ tư trong Cửu tần dưới thời Lê Thánh Tông, xếp dưới tam phi và tam chiêu.

    Thục Giang ngớ người vì câu chuyện của An Hải.

    Tên giang hồ này kể chuyện gì cũng li kì, hấp dẫn và vô cùng khó hiểu.

    Còn đàn bà con gái trong hậu cung của Lê Tư Thành hình như cả ngày không có việc gì làm, nên chuyện gì họ cũng thêu dệt nên được thì phải.

    Nàng chắc mẩm sớm muộn thôi Lê Tư Thành sẽ có cách dẹp yên những lời nhỏ to ấy.

    Nhưng sống giữa bầu không khí mệt mỏi như vậy, cuộc đời còn gì đáng hưởng thụ nữa!

    Chẳng phải như nàng bây giờ, cơm ăn một ngày đủ ba bữa, áo quần có tới cả chục bộ để thay, nữ trang cũng không phải quá thiếu thốn, mới là người có cuộc đời đáng sống hơn họ sao?

    Thục Giang thở dài thườn thượt, đẩy bát nước về phía An Hải.

    "Ngươi còn chuyện gì hay ho hơn không?"

    "Trước chính biến ở cửa Sùng Vũ, thần theo bệ hạ và phu nhân về Xương Giang.

    Thần phát hiện ra một kẻ theo dõi hai người.

    Ban đầu, thần vẫn nghĩ là hắn đi theo bệ hạ.

    Nhưng ban đêm ngồi trên mái nhà, thần mới biết hắn bám theo phu nhân."

    An Hải ngập ngừng giây lát, như muốn sắp xếp những lời định nói thật dễ hiểu, "Thần vốn định báo chuyện này với bệ hạ.

    Không ngờ chính trong buổi sáng hôm ấy, kẻ đó lại bị các vị lão đại thần giết chết ngay ở cửa Sùng Vũ.

    Vì vậy thần mới giữ kín đến bây giờ.

    Hôm nay nhân tiện không còn chuyện gì khác mới dám đem chuyện này ra kể với phu nhân.Vì dù sao kẻ đó giờ đã là một hồn ma vất vưởng rồi."

    "Tên?"

    Từ khi bắt đầu thân thiết với An Hải, Thục Giang cũng học theo thói quen kiệm lời trước mặt y giống như Lê Tư Thành.

    "Lê Đắc Ninh."

    Cái tên này vừa lạ lẫm lại vừa quen thuộc với Thục Giang.

    Hình như nàng đã từng nghe thấy cái tên này ở đâu đó.

    Nhưng hoặc là nàng đã từng nghe rất lâu rồi, hoặc là nàng mới chỉ từng nghe thấy một lần mà thôi.

    Nàng không có một chút kí ức nào về cái tên này, nhưng khi nghe An Hải nhắc lại thì dường như đã từng có một việc gì đó xảy đến với cuộc đời nàng, mà lại gắn liền với ba chữ Lê Đắc Ninh.

    Thục Giang đột nhiên rơi vào trầm tư khiến An Hải không nhiều lời nữa.

    Y rời phòng, khẽ khàng khép cửa, trả lại cho hậu viện này vẻ không xô bồ vốn có suốt một năm nay.

    Y đã nhiều lần thắc mắc về mối quan hệ giữa thiếu nữ này với vị tân đế cao cao tại thượng trong cung kia.

    Y cũng từng ướm hỏi cái Ngọc về chuyện ấy nhưng chỉ cần nhắc đến tên bệ hạ, dù đang vui đến đâu thì thái độ của con bé đều sẽ quay ngoắt, nên y chẳng hỏi được gì.

    An Hải đành tặc lưỡi, nhảy tót qua bờ tường.

    ***

    Gặp lại Lê Tư Thành sau hơn nửa năm, câu đầu tiên mà Thục Giang nói lại khiến hắn đứng chôn chân tại cửa phòng, mãi không thể cất bước đi vào.

    "Lê Đắc Ninh là ai?"

    Thục Giang đã lạnh lùng hỏi hắn như thế.

    Nàng không còn xuýt xoa khi nhận ra hắn vừa đội mưa bước tới, cũng không còn rối rít lo hắn ngấm mưa sẽ lại cảm vặt.

    Nàng nhìn hắn bằng ánh mắt lạnh nhạt, xa cách chưa từng có trước đây.

    Hắn đứng trước hậu viện, y như đêm giông đầu mùa mà nàng trao trọn cho hắn, nhìn nàng ngồi bần thần trước tờ giấy ghi vẻn vẹn ba chữ Lê Đắc Ninh.

    Nàng ngước mắt lên, bắt gặp ánh nhìn trân trân của hắn, chỉ lặng lẽ buông một câu hỏi như vậy, rồi lại cụp mắt xuống, tiếp tục chăm chú vào ba chữ kia.

    An Hải từ phía sau Tư Thành hất hất tay ra hiệu cho cái Ngọc.

    Con bé giống hệt chủ, không nói không rằng, chỉ lầm lì cúi đầu khi đi qua Tư Thành.

    Hắn nhìn dáng điệu của con bé.

    Từ lâu Tư Thành đã nhận ra cái Ngọc không thích mình.

    Hắn cũng chẳng mảy may quan tâm đến thái độ của một đứa hầu, chỉ không ngờ đến giờ Thục Giang cũng như vậy với hắn.

    Chưa kịp mở lời nói với nhau câu nào, nàng đã hỏi hắn về một cái tên mà nếu không ai nhắc tới nữa, hắn sẽ hoàn toàn quên rằng Lê Đắc Ninh đã từng xuất hiện trong cuộc đời.

    Hắn nên ém nhẹm chuyện này đi, hay hắn nên ngồi lại phân bua với nàng?

    "Nàng hỏi ta về Lê Đắc Ninh?

    Y chỉ là một kẻ đã chết rồi thôi."

    Tư Thành bước hẳn vào, cầm tờ giấy trước mắt nàng lên, bình thản đưa ra câu trả lời.

    Quả thực, Lê Đắc Ninh đúng là một kẻ đã chết.

    Còn những chuyện liên quan đến y, Tư Thành tự cho mình cái quyền không cần giải thích dài dòng với bất cứ ai, kể cả Thục Giang.

    Chẳng nhẽ hắn lại nói với nàng rằng, Lê Đắc Ninh vốn là người của Lê Nghi Dân, được hắn mua chuộc nên bất cứ chuyện gì trong cung chỉ cần Nghi Dân biết là hắn cũng biết?

    Chẳng nhẽ hắn lại nói với nàng rằng chuyện Lê Nghi Dân cài cắm con gái Ức Trai tiên sinh bên cạnh Lê Bang Cơ cũng là do Lê Đắc Ninh kể cho hắn?

    Chẳng nhẽ hắn lại nói với nàng rằng vốn dĩ Lê Đắc Ninh không đáng chết, nhưng hắn đã mượn việc công trả thù riêng, mượn mũi kiếm của các lão đại thần để trả mối thù giết con?

    Nỗi đau ấy không phải của mình hắn, mà còn là nỗi đau trong sâu thẳm tâm khảm nàng.

    Hắn hiểu nỗi đau ấy hơn bất cứ ai trên cõi đời này.

    Hắn không muốn khơi lại nỗi đau ấy trước mặt nàng nhưng ánh mắt nàng nhìn hắn như muốn xoáy sâu vào nỗi đau ấy, như muốn sỉ vả sự giấu diếm của hắn bấy lâu nay, như muốn nói với hắn rằng "dù đau lòng đến chết ta cũng ép chàng nói ra bằng hết sự thật".

    Sau một khoảng lặng ngắt, Tư Thành bất ngờ ôm chầm lấy Thục Giang.

    Vòng tay hắn vẫn ấm áp như thế, ấm áp như ánh nắng ban mai soi tỏ khắp nhân gian vạn vật.

    Bờ vai hắn vẫn vững chãi như thế, vững chãi như sẵn sàng gồng gánh cả giang sơn, xã tắc.

    Thục Giang im lặng ngoan ngoãn trong vòng tay hắn, như để cảm nhận tất thảy cái ấm áp, cái vững chãi mà nàng nhớ đến quay quắt trong suốt những tháng ngày dài vừa qua.

    Hắn chạm khẽ lên tóc, lên vai, lên hơi thở nàng đang e ấp trong vòng tay hắn.

    Tư Thành nhẩm đếm trong đầu những đoá hoa rực rỡ đang nở bừng trong hậu cung của hắn, nhẩm nhớ vài cái tên.

    Nhưng mọi ý nghĩ vẫn bị kéo về bên người thiếu nữ này.

    Nàng là người đầu tiên hắn phải lòng, nhưng điều hắn không chắc chắn nhất lại là việc nàng có từng động lòng với hắn hay không, điều hắn không chắc chắn thứ hai là việc nàng có biết rằng hắn thương nàng nhiều như thế nào hay không.

    Vậy mà Tư Thành vẫn dám hứa với Nghi Dân sẽ chở che và cho nàng một mái ấm.

    Lời hứa với người sắp giã từ cõi sống không thể là lời hứa suông, hắn buộc mình phải thực hiện, mà bản thân hắn cũng luôn ngóng chờ được thực hiện lời hứa ấy.

    "Thục Giang, vào cung với ta được không?"

    Thục Giang đẩy Tư Thành ra, mặt đối mặt, mắt chạm mắt, thẳng thắn mà nhìn vào tận sâu trong tâm hồn nhau.

    Nàng cứ ngỡ mình đã nghe nhầm.

    Không phải một lời ra lệnh, không phải một đạo thánh chỉ, hắn chỉ hỏi nàng một câu như muốn lắng nghe hết thảy mọi tâm tư, tình cảm của nàng.

    Nếu Thục Giang nói không, liệu hắn có nổi điên như đêm tân hôn mà giết chết nàng vì tội kháng chỉ hay không?

    Nếu Thục Giang nói có, không lẽ phần đời còn lại của nàng sẽ phải sống cùng những câu chuyện li kì, hoang đường như An Hải mới kể lúc chiều?

    Tư Thành kéo Thục Giang lại sập, để nàng ngồi hẳn trong lòng hắn, vòng tay vẫn chưa lúc nào lỏng ra.

    Hắn có muôn vàn lí do để bao biện cho chuyện hắn gần như quên bẵng nàng từ lúc lên ngôi tới giờ.

    Sau những buổi triều chính rối ren đến tối mắt tối mày, Tư Thành trở về làm một thiếu niên với những lời răn dạy tề gia, trị quốc, bình thiên hạ của người lớn.

    Từ mẫu hậu, đến các vị khai quốc công thần thi nhau bày ra trước mắt hắn thiếu nữ này, con gái nhà vị quan nọ, có gốc gác ra sao, có tài có sắc như thế nào, sẽ giúp ích gì cho công cuộc trị nước của hắn.

    Người đầu tiên hắn chọn đương nhiên là Nguyễn Minh Huyên, vừa hợp ý người lớn, cũng lại vừa là một thiếu nữ hắn đã biết từ lâu rồi.

    Mặc kệ gia đình nàng ấy có ý định gì, hắn luôn tin bản thân có thể nắm được mọi chuyện trong lòng bàn tay, không để hậu cung có cơ hội mon men ảnh hưởng đến triều chính bên ngoài.

    Ngoài Minh Huyên, Tư Duệ là cái tên duy nhất mà hắn nhớ được đến thời điểm này.

    Trái ngược hẳn với Minh Huyên, cũng không giống tính tình ẩm ương của Thục Giang, Tư Duệ có vẻ rất ghét hắn.

    Thiếu nữ từng gặp Tư Thành từ xưa đến giờ, chưa một ai tỏ vẻ chán ghét hắn như nàng ấy.

    Tư Thành vừa ngồi, vừa thủ thỉ với Thục Giang về Tư Duệ.

    "Thì ra bệ hạ để ý đến nàng ấy vì người bị người ta lạnh nhạt.

    Đúng là hoa càng khó hái, người hái hoa càng muốn sở hữu bằng được."

    Thục Giang gật gù khi nghe câu chuyện về thiếu nữ ấy.

    Nếu bắt nàng phải làm vợ một người mà mình không thích, nàng cũng sẽ giống Nguyễn Tư Duệ mà thôi.

    Số phận chắc vẫn thương xót nàng, nên vẫn gả nàng cho người thiếu niên duy nhất mà nàng từng động lòng.

    "Vậy bệ hạ thích người như sung nghi cung Vĩnh Ninh, hay bệ hạ thích người như liệt vinh cung Trường Xuân?"

    "Ta thích nàng."

    Lê Tư Thành đột ngột đổi giọng, rồi lại bày ra cái dáng điệu không nghiêm túc mỗi khi ở cạnh nàng.

    Lúc này Thục Giang chợt nhận ra hắn cũng mới chỉ có mười tám tuổi thôi.

    Đời người con trai, mười tám tuổi xem chừng không còn nhỏ, nhưng cũng chẳng phải là quá lớn.

    Vậy mà mười tám tuổi, hắn đang gánh trên vai cả một đất nước, cả một dân tộc, với sinh mệnh của hàng ngàn bá tính dưới chân hắn kia.

    Nàng dù không thích bon chen, dù hài lòng với cuộc sống hiện tại, nhưng nàng thực sự muốn ở bên hắn, một phần nào đó san sẻ bớt những phiền lo trên đôi vai hắn.

    "Bệ hạ, thiếp không muốn nhập cung.

    Nhưng nếu kháng chỉ là tội chết, thiếp chọn được sống."

    Thục Giang nghiêm túc nhìn thẳng vào mắt Tư Thành.

    Đã từng có một lần nàng tự treo lơ lửng mạng sống của mình bằng sợi dây mảnh trước mặt Tư Thành, lần này là lần thứ hai nàng lại lấy mạng sống của mình ra thách thức hắn.

    Lần trước chính hắn đã tự tay ngăn đòn đánh cuối cùng của An Hải lại.

    Nhưng lần ấy, hắn vẫn chỉ là một vương gia ung dung, tự tại.

    Còn lần này, hắn khác, nàng khác.

    Nàng biết ở cạnh vua như ở cạnh hổ, nhưng vẫn muốn thử thêm một lần nữa.

    Không ngờ, Lê Tư Thành gật đầu chấp thuận.

    "Ta muốn nàng nhập cung vì ta muốn biết nàng vẫn sống tốt.

    Thục Giang, đến tận khi mẹ đẻ Thanh Toại chết rồi ta vẫn không nhớ được mặt, nhớ nổi tên nàng ấy.

    Với con bé, ta không phải một phụ thân tốt, với mẹ con bé, ta càng không phải là một người chồng tốt.

    Thục Giang, ta không thể đối xử với nàng như vậy.

    Nàng hận ta cũng được, nàng nguyền rủa ta cũng được, nhưng ta muốn hằng ngày được tận mắt nhìn thấy nàng, chứ không phải qua lời kể của An Hải."

    Những lời như rút ruột ấy khiến Thục Giang không kịp tiếp nhận.

    Tư Thành mới làm vua nửa năm, tính khí hắn đã thay đổi đến mức cực đoan vậy rồi.

    Đúng là ngai vàng đã khiến hắn phải tự oằn mình để ngôi được lên ngay ngắn, vừa vặn.

    Và hoá ra, việc An Hải như một kẻ vô công rỗi việc suốt ngày lượn lờ trong cung Gia Hưng cũng là ý của hắn.

    Một ý nghĩ bất chợt loé sáng trong đầu Thục Giang, khiến nàng phần nào bớt uể oải khi nghĩ đến cảnh chuẩn bị theo hắn vào sâu trong những bức tường thành cao vun vút kia.

    "Bệ hạ, người có thể cho An Hải nhập cung cùng thiếp không?"

    Tư Thành bật cười ha hả, cười đến rung cả người, nhưng vòng tay ôm lấy nàng thì càng siết chặt hơn.

    "Đương nhiên là được.

    An Hải chỉ đợi nàng vào cung để được vào cùng đấy.

    Y từ người được Đinh lão thái bảo nuôi trở thành người của ta, giờ chỉ chăm chăm nghe lời nàng thôi."

    Thục Giang thực sự bất ngờ trước lời nói của Tư Thành, cũng bất ngờ vì quyết định của An Hải.

    Nhẽ ra nàng nên nhận ra điều này sớm hơn.

    Trong ba anh em y, An Hải tuy là không phải anh cả, nhưng lại là người được Tư Thành tin tưởng nhất.

    Y ít nói, chỉ mở miệng khi cần thiết, lại chịu khó quan sát, tinh ý tỉ mẩn, nhưng chỉ cần cho phép, y sẵn sàng thuật lại tất cả những gì tai nghe mắt thấy như một người trên thông thiên văn, dưới tường địa lí.

    Tư Thành không ép y ngày ngày kề cận bên hắn, mà sẵn sàng để y ở cạnh nàng, không biết nàng nên vui cho mình hay nên buồn thay cho An Hải đây.

    Càng không ngờ, chính An Hải cũng chấp nhận trở thành nội thị.

    Đúng là công sức nửa năm qua của nàng cho y ăn cơm cũng không uổng phí, có An Hải kề cận bên mình, cuộc sống tương lai của nàng hẳn cũng không quá mức nhàm chán nữa.

    Trong khi Thục Giang vẫn bận ăn năn trong lòng, Tư Thành đột ngột buông lỏng tay, kéo chân nàng lên sập.

    Hắn vươn vai, ngáp dài một cái, tuỳ tiện gối đầu lên đùi nàng.

    Hắn tự nói tự cười, không biết cố tình nói với nàng hay chỉ định nói cho một mình hắn nghe.

    "Ta cho người dọn dẹp sạch sẽ cung Gia Hoà rồi.

    Nhìn đi nhìn lại, chỉ có nơi ấy tách xa xô bồ, một mình nàng ở đó là vừa đẹp.

    Cung Gia Hưng chán ngắt này nàng còn ở được một năm kia mà."

    "Bệ hạ cho Phùng Thục Giang quyền lựa chọn, vậy nếu đến khi thiếp không muốn sống nữa, bệ hạ có thể cho thiếp xuất cung đúng không?

    Bệ hạ nên ngủ sớm đi, hình như lâu rồi bệ hạ không được nói nên hôm nay nói hơi nhiều thì phải."

    Tư Thành lườm nàng, miệng lẩm bẩm hai chữ "tuỳ nàng" thay cho lời đồng ý rồi chìm dần vào giấc ngủ.

    Đã lâu lắm rồi hắn mới có một giấc ngủ ngon như vậy, y như hồi họ suốt ngày gây sự với nhau trong phủ Bình Nguyên vương.

    Thời thế thay đổi, quá nhiều chuyện đã xảy ra, vị thế của người với người cũng đã thay đổi, chỉ có Tư Thành vẫn êm đềm nằm ngủ dưới những cái vỗ về của Thục Giang, mà Thục Giang như bao đêm đã qua trong phủ Bình Nguyên khi xưa vẫn khó chợp mắt nổi.

    ***

    Hết chương 16.
     
    [Dã Sử Việt] Đông Kinh Năm Ấy - Lê Thánh Tông, Phùng Chiêu Nghi
    CHƯƠNG 17: CUNG GIA HOÀ


    Người ta có muôn vàn lí do để được nhập cung.

    Người lọt vào mắt xanh của thái hậu, của thánh thượng qua những đợt tuyển tú, người được thái hậu cân nhắc thiệt hơn sau những lời giới thiệu của bá quan văn võ đại thần, người lại vô tình gặp thánh thượng rồi mang long chủng như mẹ đẻ Gia Thục công chúa.

    Nhưng Thục Giang không nằm trong số ấy.

    Kể cho người ta nghe chuyện vì sao nàng nhập cung, không khéo nhiều người nghĩ nàng đang khoác lác.

    Rồi dần dần, câu chuyện về vị tu viên ở cung Gia Hoà trở thành đề tài cho người ta bàn tán xôn xao khắp hậu cung.

    Nhưng chỉ vẻn vẹn một tháng sau khi Thục Giang nhập cung, vị sung nghi ở cung Vĩnh Ninh đã sinh cho Lê Tư Thành hoàng trưởng tử.

    Thằng bé là đứa con trai đầu tiên của hắn, cũng là người sau này sẽ giữ ngôi chính ở Đông cung.

    Bấy giờ Thục Giang mới hiểu rằng Lê Tư Thành cứ bẵng mọi chuyện đi là để bảo vệ chính bản thân nàng.

    Sự gắn bó giữa hai người là việc không ít người biết, Minh Huyên cũng biết, thậm chí nàng ấy còn biết nhiều hơn những gì Thục Giang nghĩ.

    Chuyện nàng từng chỉ điểm Lê Nghi Dân cho Tư Thành đã được An Hải báo cho thái bảo Đinh Liệt là điều chắc chắn, ngài ấy đề phòng nàng cũng là điều đương nhiên.

    Hơn nữa, có vẻ như thái hậu cũng lập lờ nghi ngờ xuất thân của mẹ nàng, khó tránh khỏi việc bà lo lắng mà khuyên con trai giữ khoảng cách với nàng.

    Nay Minh Huyên đã sinh hoàng trưởng tử, tạm thời nàng không còn là mối lo ngại của họ nữa, Lê Tư Thành mới yên tâm để nàng nhập cung.

    Mang tiếng hậu duệ của quý tộc tiền triều, nhưng giờ nàng thân cô thế cô, muốn tranh đoạt cũng không thể, mà nàng cũng vốn đâu có ý định tranh đoạt với ai.

    Thục Giang còn nhớ lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất nàng đối diện trò chuyện với Nguyễn Xí, khi ấy đã là quốc công, là vào một buổi sớm cuối hạ năm Quang Thuận thứ sáu.

    Hồi nào nàng từng nghĩ, không biết bao giờ bản thân có được tư cách để ngồi đối diện ngài ấy, vậy mà ngày đó lại tới thật.

    Ngài ấy dắt theo Hoả Phủ, Hoả Liêm vào tận cung Gia Hoà tìm nàng.

    Nàng còn đang nghĩ liệu có phải ngài ấy đang muốn dùng chút sức lực cuối đời để hỏi tội nàng hay không thì An Hải đã vội đỡ lời, nói rằng quốc công đến tìm nàng vì còn những điều trăn trở muốn được giải đáp.

    "Còn nhớ lúc thần đến cung Gia Hoà, xác người nằm la liệt, máu nhuộm đỏ cả một góc sân.

    Không ngờ sau này vẫn có người dám đến đây ở, càng không ngờ lại là Phùng tu viên."

    "Quốc công quá lời, Thục Giang không ở, chưa chắc đã có ai ở được, hơn nữa còn là thánh chỉ của bệ hạ.

    Mời quốc công uống nước!", nàng dùng cả hai tay, đưa chén nước vối về phía Nguyễn Xí, "Thục Giang vẫn quen thói cũ ngoài dân gian, mong ngài không chê."

    Nguyễn Xí khúc khắc ho, đỡ lấy chén nước từ tay nàng.

    Nghe đến cái tên này đã mấy năm, giờ lão quốc công mới được tận mắt gặp mặt, quả là không khác với những lời đồn thổi về nàng là bao.

    Nhan sắc không đủ để so sánh với muôn hồng nghìn tía trong hậu cung của bệ hạ, những gì nàng vừa làm cũng khéo léo, tinh ý nhưng xứng đáng làm bậc mẫu nghi thiên hạ thì lão không chắc.

    Không hiểu vì lí do gì, bệ hạ vẫn nhất mực trân trọng nàng đến vậy.

    "Chuyện của tả tướng quốc Trần Nguyên Hãn năm xưa, lão thần là người chứng kiến hết từ đầu đến cuối.

    Nghe nói lúc sinh thời, thân mẫu của lệnh bà vẫn trăn trở về chuyện ấy mãi tới tận khi nhắm mắt xuôi tay."

    Nguyễn Xí xoay xoay chén nước, cẩn trọng quan sát kĩ từng biểu hiện trên gương mặt Thục Giang.

    Đối diện với lão đại thần từng vào sinh ra tử chiến trận như thế này, nàng có muốn cũng không thể giấu diếm những suy nghĩ trong lòng mình.

    Hơn nữa, rõ ràng hôm nay ngài ấy tới không mang theo ác ý, nàng cũng chẳng cần quá bận tâm mà diễn tuồng trước mặt ngài ấy làm gì.

    "Quốc công, ngài từng chứng kiến, bá tính cũng từng chứng kiến, Thái Tổ Cao hoàng đế cũng từng chứng kiến, mọi chuyện tướng quốc làm đều không thể chối cãi.

    Tướng quốc đã có thể theo thuyền của Thái Tổ về kinh, oan có đầu, nợ có chủ, người ấy có oan sẽ tự kêu.

    Thục Giang là hậu thế, không dám lạm bàn chuyện ấy.

    Nhưng hà cớ gì tướng quốc lại tự mình quyên sinh xuống sông như thế, tình ngay lí gian, dù có oan thật, cũng chẳng biết nên khóc cùng ai."

    Thục Giang nhấp một ngụm nước, mỉm cười ý tứ nhìn Nguyễn Xí.

    Từng vết nhăn trên gương mặt già nua của lão quốc công xô lại đầy đắn đo, nhưng đôi mắt ngài ấy vẫn tinh anh, sáng ngời như ngọn đèn trời trên cánh đồng Tốt Động – Chúc Động năm nào.

    Ngài vuốt nhẹ lông hai con chó săn uy dũng nằm ngay dưới, đang dụi dụi đầu vào chân Thục Giang vì nhận ra chủ cũ.

    Trên gương mặt già nua ấy bất chợt vẽ nên một nụ cười hiền từ.

    "Quả là thời thế thay đổi, suy nghĩ của con người cũng dần đổi thay.

    Lệnh bà hiểu được vậy, cũng là phúc phần còn lại của tả tướng quốc.

    Giờ nghe được những lời này từ lệnh bà, thân già này đúng là không uổng chút hơi tàn cuối cùng đến tận đây."

    Nguyễn Xí đưa mắt nhìn quanh cung Gia Hoà.

    Cung điện này vẫn mang vẻ đìu hiu, buồn bã hơn những nơi khác trong cung cấm.

    Nhưng nếu nhìn đi nhìn lại, nơi này âu cũng là một chốn yên bình, không xô bồ.

    Ngồi ở đây, ngài ấy có thể nghe thấy tiếng gió khẽ thì thầm trên những ngọn lá, thảng hoặc lại có tiếng chim hót khi gần, khi xa, lại thoang thoảng cả hương sen từ ngoài hồ Dâm Đàm đưa vào.

    Người con gái mà Lê Tư Thành sẵn sàng đánh đổi tất cả sự hiểu lầm để bảo vệ ra là một người như thế này.

    "Mong quốc công tránh nói những lời không may như thế.

    Giang sơn Đại Việt cần ngài, bệ hạ cũng cần ngài.

    Chuyện của tả tướng quốc đã qua mấy chục năm, không còn người đối chứng, Thục Giang chỉ mong từ giờ về sau không phải nhắc lại chuyện này lần nào nữa."

    Nguyễn Xí không nán lại cung Gia Hoà lâu, chỉ ánh mắt vẫn còn lưu lại những góc nhỏ nhất trong toà cung điện này.

    Nơi đây đã từng là một chốn chết, nơi ghi lại cái chết của mấy mạng người vô tội, nơi chứng kiến biết bao âm mưu trùng trùng chốn triều đấu, nơi mạng người chỉ được xem như quân cờ trong cuộc chơi của người khác.

    Nơi đây đón một chủ nhân mới, liệu cô gái này có trả lại màu xanh tươi vốn có cho nơi đây hay không, đều trông mong cả vào bàn tay của nàng ấy.

    Lão quốc công thong thả dắt Hoả Phủ, Hoả Liêm ra cổng, dù tóc đã điểm bạc, lưng đã còng xuống, bước chân đã chậm chạp hơn, nhưng vẻ oai hùng của một chiến thần năm xưa vẫn không phai nhạt trên bờ vai vững chắc của ngài.

    ***

    Những câu chuyện bàn tán về vị tu viên ở cung Gia Hoà vẫn chưa khi nào ngưng hẳn, dường như Lê Tư Thành cũng không mảy may quan tâm, cứ để những tin đồn ấy bay đi khắp nơi.

    Tháng bảy năm Quang Thuận thứ hai ấy, có một thiếu nữ xinh đẹp vào cung cùng nàng.

    Nàng ấy kém Thục Giang bốn tuổi, đôi mắt vẫn trong trẻo như giọt ban mai, nụ cười vẫn tươi như nụ hoa mới nở chưa vương chút phiền nhiễu.

    Nàng ấy long lanh và tươi sáng như cái tên Phạm Hải Quỳnh của mình.

    Hải Quỳnh kém tuổi nàng, vào cung cùng nàng, thậm chí còn có con trước nàng, dù chỉ là một tiểu công chúa.

    Thế là những lời đồn thổi càng lúc càng không biết chừng mực mà bay xa hơn nữa.

    Nàng vốn chỉ coi đó là những lời gió thoảng mây bay, nhưng nhiều người ở nơi này lại muốn góp gió thành bão.

    Miệng đời ác độc đến mức nói rằng nàng vốn là thạch nữ, được bệ hạ kéo về đây vì đã cũng hắn trải qua những ngày tháng cơ hàn, chứ nàng không thể nhận ơn mưa móc của đế vương.

    Kể lại những chuyện ấy, An Hải có phần nem nép lo sợ, cái Ngọc thì không giấu được vẻ bất bình, còn Thục Giang chỉ bình thản cười nhạt.

    "Cô ba còn có con với bệ hạ trước cả khi đám người đó biết long nhan."

    Nắm tay của cái Ngọc giấu trong ống tay áo, nhưng qua giọng nói của nó, không khó đoán được nó đang tức tối tới mức nào.

    Nó biết Thục Giang không hiền lành để người khác muốn làm gì thì làm, tiểu thư nhà nó còn đang suy tính trong đầu xem nên xử lí đám người lắm điều đó như thế nào.

    Xử lí một lần một người để đảm bảo từ đó về sau không một ai dám động đến tiểu thư nhà nó nữa.

    Nhưng nói gì cũng được, đồn sao cũng có thể cho qua, chứ lời ong tiếng ve lúc này đã đi quá xa so với sức chịu đựng của người bình thường rồi.

    An Hải nghe dứt câu bèn bịt kín miệng để không phát ra tiếng thảng thốt, nhìn chăm chăm vào Thục Giang để đợi một câu trả lời rõ ràng.

    "Còn nhiều chuyện ngươi phải học hỏi cái Ngọc lắm!", Thục Giang gõ nhẹ vào trán An Hải rồi phủi phủi váy áo, đứng lên hướng ra cửa, "Ra vườn ngự học tập người khác cách sinh con cho bệ hạ xem nào!"

    Những tưởng Thục Giang chỉ nói đùa, ai dè nàng thực sự chủ động tới vườn ngự thật.

    Nói đi cũng phải nói lại, nàng dù chỉ là một tu viên nhỏ bé, nhưng xét về thứ bậc, chưa có một người nào ở hậu cung này đứng cao hơn nàng, trừ mẹ đẻ của Gia Thục công chúa đã qua đời kia.

    Nàng không thích vì vài ba chuyện lông gà vỏ tỏi mà tranh cãi với người khác, nhưng nàng không ra mặt, không lên tiếng, hình như họ quên mất ai mới là người cao nhất ở đây.

    Đến cả Nguyễn Minh Huyên khi nhìn thấy nàng còn phải chủ động lễ chào trước, vậy mà nhiều kẻ dưới của những người khác vẫn trơ mắt ra nhìn nàng, như thể lần đầu được diện kiến vị tu viên kì lạ ở cung Gia Hoà đó.

    Trước khi bước đến đây, An Hải đã chỉ điểm cho nàng tên nội thị tung tin đồn xằng bậy.

    Thục Giang không quan tâm tên nội thị đó là người của cung nào, chủ nhân của tên đó là ai, kể cả có là đương kim thánh thượng đi chăng nữa, hôm nay nàng nhất định phải cho kẻ đó một bài học nhớ đời.

    Nàng mặc kệ toàn bộ những thiếu nữ như hoa như ngọc đang nhún người hành lễ, nhiều người còn chấp chới vì đứng quá lâu, tiến gần sát đến tên nội thị đang run như cầy sấy quỳ ở mép vườn.

    Nàng ngồi xuống bên cạnh hắn, ngón tay trỏ khẽ hất hất, có ý bảo hắn ngước mặt lên.

    Nàng không nói không rằng đứng lên, rút phắt thanh kiếm của tên thị vệ đứng cạnh, kề sát vào yết hầu hắn.

    "Lần đầu và cũng là lần cuối.

    Nhớ chưa?"

    Tên nội thị lắp bắp không dám nói gì, cũng không dám ngước lên nữa, chỉ liên tục rập đầu xuống đất.

    Thục Giang trả thanh kiếm lại cho thị vệ, phủi tay, miệng lại nở nụ cười như chưa hề có chuyện vừa xảy ra.

    "Các vị ở đây cũng không cần phải lấy chuyện này làm cái cớ bôi nhọ ta trước mặt bệ hạ.", nàng nhẹ nhàng quay người về phía lối vào, nhún nhường cung kính, "Thần thiếp bái kiến bệ hạ."

    Lê Tư Thành không nói gì, chỉ nghiêm khắc nhìn nhất loạt những cái đầu đang cúi gằm đầy vườn ngự, ra lệnh cho tất cả giải tán.

    Chuyện thị phi đúng là đi đâu cũng thấy, nhưng chuyện thị phi trong hậu cung này đúng là nhiều hơn tất thảy.

    Minh Huyên còn lưu luyến chưa muốn rời, nhưng chỉ một cái quét mắt của Tư Thành lướt qua, nàng ta đã vội vã rảo bước về cung Vĩnh Ninh của mình.

    Khi nhìn chung quanh đã không còn người nào khác, hắn không nói không rằng vác ngược nàng lên vai, len qua hết những đường ngang lối dọc mà hắn từng dắt nàng đi trong lần đầu tiên vào cung, cuối cùng vẫn hướng về cung Gia Hoà.

    Đó chính là nơi đầu tiên hắn dẫn nàng tới, là nơi đầu tiên có người đọc được trong mắt hắn khát vọng Nam chinh.

    Hắn mặc kệ nàng đang vùng vẫy trên vai mình, miệng thì thầm.

    "Nàng còn giãy nữa là ngã đấy.

    Mà ngã là không sinh con cho ta được đâu!"

    Cả người Thục Giang cứng đờ như tượng gỗ, hoàn toàn không ngọ nguậy nữa.

    Nàng hành động nóng vội như vậy, đã không giải quyết hết những lời đồn, lại còn khiến người ta sợ hãi và xa lánh nàng hơn.

    Lời đồn xuất phát từ người nào, thì nên để người đó tự mình xử lí.

    Lời đồn lần này có phải xuất phát từ Lê Tư Thành hay không nàng không chắc, nhưng chỉ một mình hắn mới có khả năng khiến lời đồn ấy biến mất hoàn toàn.

    "Chắc chắn mẫu hậu sẽ phạt nàng chép kinh Phật."

    Lê Tư Thành vuốt đám tóc mai đang loà xoà trước mặt Thục Giang, bật cười khe khẽ.

    Cả người hắn toàn mồ hôi dính nhớp, Thục Giang chỉ muốn vùng chạy khỏi vòng tay hắn, nhưng còn ngượng ngùng chưa biết phải làm sao.

    Người ta đồn nàng là thạch nữ cũng đúng thôi, đây mới là lần thứ hai nàng gần gũi Tư Thành như vậy.

    Một lần sơ sẩy khiến cả hắn cả nàng đều sợ hãi tới tận giờ này, nên dù có ở cạnh nhau, hai người vẫn e dè không dám bước tiếp.

    Thục Giang đành dụi đầu vào người hắn, tìm kiếm sự ấm áp giữa đêm đông mưa phùn gió bấc.

    Bàn tay Tư Thành không an phận, liên tục vuốt ngang vuốt dọc khắp mặt rồi xuống đến cổ nàng, khiến nàng không nhịn được mà bật cười khanh khách.

    "Lần này ta chắc chắn bảo vệ được nàng."

    Tư Thành không đùa nữa, cúi đầu hôn lên gò má nàng, vòng tay cũng dịu dàng hơn.

    Hắn lơ đãng nhìn trần nhà, tuồng như đang nhớ về một kí ức nào đó rất xa xăm.

    "Hôm trước ta cùng mẫu hậu đến từ đường thắp hương cho Nguyễn thái sư*.

    Ta đã thầm khấn xin ngài ấy sẽ giáng thế đồng hành cùng ta một lần nữa.

    Thục Giang, nàng nghĩ xem liệu ngài ấy có nghe được lời khẩn cầu của ta không?"

    *Nguyễn Xí mất cuối năm 1465, sau đó được phong Thái sư.

    Thục Giang sinh Lê Tân vào giữa năm 1466.

    Thục Giang không khỏi bất ngờ, giọng nói của hắn không có chút đùa cợt nào hết.

    Tầm ảnh hưởng của vị thái sư này với cuộc đời Lê Tư Thành là vô cùng to lớn, thậm chí còn chẳng thua kém Đinh Liệt là bao.

    Cái chết của lão thái sư đã khiến Lê Tư Thành mất một khoảng thời gian dài mới chấp nhận, việc hắn coi ngài ấy như thần, như thánh cũng không có gì là lạ.

    Hiềm một nỗi, hắn nói chuyện này ra khiến nàng có phần lăn tăn trong lòng.

    "Nàng yên tâm, mọi chuyện sẽ có ta lo liệu.

    Nhưng nàng không thể lúc nào cũng hành động tuỳ hứng như vậy được, phải thay đổi dần dần đi thôi, thay đổi tất cả.

    Từ nay sẽ gọi nàng là Diễm Quý.

    "Diễm" là hạt ngọc đẹp, "Quý" trong quý giá.

    Phùng Diễm Quý, nàng là hạt ngọc lấp lánh, vô giá của chốn hoàng cung này."

    ***

    Lê Tư Thành đứng trước án, tay trái bế đứa bé vừa lọt lòng mẹ đang say sưa ngủ, tay phải chấm mực, không cần suy nghĩ mà viết lên một chữ 鑌*.

    Từ lúc đứa bé ấy ra đời, hắn không rời tay khỏi nó, cũng không hề rời khỏi căn phòng này.

    An Hải cầm theo tờ giấy dó Kẻ Bưởi nhẹ bẫng như có thể nhìn xuyên thấu qua, trên ấy nét mực hẵng còn chưa ráo, cẩn trọng trao lại vào tay Diễm Quý.

    *Tân: vũ khí, gươm đao sắc bén

    "Bộ Kim?"

    Nàng nhìn những nét chữ thanh thoát trên giấy, khẽ đánh vần.

    Chữ này nàng không biết, hoặc nàng đã gặp qua, nhưng không nhớ nữa.

    Hắn ngồi bên giường, âu yếm nhìn đứa bé trong lòng, rồi lại nhìn sang người con gái bên cạnh.

    "Tân, Lê Tân.

    Nàng yên tâm, ngọc quý thì phải được bảo vệ bằng gươm sắc."

    Tay hắn vẫn không rời đứa trẻ.

    Tân đã là đứa con trai thứ năm mà hắn có, cách hắn bế bồng, nâng niu đứa trẻ cũng không còn vụng về như ngày đầu tiên.

    Thằng bé này giống ai cũng được, nhưng tốt nhất là đừng nên quá giống đức cha của nó.

    Không biết nằm trong vòng tay đức cha, giấc mơ đầu đời của nó đẹp tới cỡ nào mà thằng bé liên tục mỉm cười.

    "Bà mụ đã dạy cười rồi.

    Thần thiếp tạ ơn thánh thượng."

    Kể từ ngày có Lê Tân, cung Gia Hoà như được thổi một nguồn sống mới, dạt dào y như sức mạnh của những chiến thần đã vào sinh ra tử trong gươm giáo.

    Có lẽ Nguyễn Xí đã thực sự nghe được lời thỉnh cầu của Lê Tư Thành, ngài ấy đã phù hộ cho Lê Tân bằng sự tin tưởng với cả đức cha lẫn thân mẫu của nó.

    Nhiều buổi chiều nàng ngước mắt nhìn lên bầu trời bao la, xanh cao phía trên, lòng thầm nói lời cảm tạ với vị thái sư đã dành cả cuộc đời để phò tá cho Lê triều.

    Ngày Lê Tân vừa đầy tuổi, Tư Thành cũng phong nàng làm chiêu nghi.

    Diễm Quý vốn đã ở vị trí cao nhất, giờ lại nhảy vọt lên thêm vài bậc, khiến những người muốn động đến nàng cũng phải dè chừng đi ít nhiều.

    Nhưng càng là sự thay đổi lớn, lại càng khiến con người ta chú ý, mà nàng vốn không hợp với những tranh đoạt ở chốn này.

    Mọi sự trong cung, nàng vẫn viện cớ Lê Tân còn nhỏ, trông cậy cả vào hoàng thái hậu.

    Có một buổi chiều tan chầu, hắn dắt tay Lê Tranh đến chỗ nàng, bảo thằng bé chơi cùng Lê Tân.

    Thằng bé mới hơn chín tuổi, béo tròn trắng trẻo, lại mới sún mất hai cái răng cửa, đuôi mắt mỗi khi cười lại tít lên khiến người khác chỉ muốn cười theo.

    Nàng nhìn hai đứa trẻ chơi đùa.

    Tân không ngớt tiếng cười khi Tranh liên tục ú oà với nó, khoé miệng cũng bất giác vẽ nên một nụ cười.

    Đúng là những đứa trẻ khiến cho hoàng cung này giống một mái ấm hơn.

    Nhưng những người làm mẹ cũng cần phải biết vị trí của mình để những đứa trẻ ấy lớn lên trong sự bình yên.

    Hẳn là các nàng đều đã nghe đến vô số chuyện tranh giành quyền lực trong đế vương gia, các nàng đều hiểu rằng với Lê Tư Thành, sẽ không có chuyện hắn để hậu cung làm lũng loạn lòng người.

    Hắn sẽ không phế trưởng lập thứ, cũng sẽ không vì một vài chuyện hậu cung khiến bức tường kiên cố trong lòng hắn lung lay.

    Vị trí của Lê Tranh vững chắc, nhưng vị trí của sung nghi Vĩnh Ninh thì không.

    Bài học từ thời Thái Tông luôn nhắc nhở hắn, người làm mẹ có thế nào đi chăng nữa, những đứa trẻ hoàn toàn vô tội.

    Phùng Diễm Quý có thể không có gì ngoài Lê Tân.

    Nhưng nàng biết, nàng còn vững vàng đứng ở đây một phần là nhờ cuộc trò chuyện với Nguyễn Xí sáng hôm đó.

    Nàng gây dựng được niềm tin với ngài ấy, cũng là gây dựng được niềm tin với Đinh Liệt, với chính Ngô thái hậu, và là lời cảnh báo cho thế lực đằng ngoại của hoàng thái tử.

    Từ thời Thái Tổ Cao hoàng đế dựng cờ mở nước tới nay, võ tướng trận mạc vào sinh ra tử cũng phải nể mặt quý tộc tiền triều ít nhiều.

    Mà vốn những vị quý tộc ấy cũng là một trong những cánh tay đắc lực của Thái Tổ năm xưa.

    ***

    Hết chương 17.
     
    [Dã Sử Việt] Đông Kinh Năm Ấy - Lê Thánh Tông, Phùng Chiêu Nghi
    CHƯƠNG 18: BÌNH CHIÊM


    Trong điện Kính Thiên, hai hàng tể thần văn võ đứng hai bên, không dám thở mạnh, chỉ cúi đầu yên lặng tuồng như muốn dò xét suy nghĩ của hoàng đế.

    Sớm nay có thư cấp báo từ biên ải phía Nam đưa về, nói rằng chúa Chiêm đã xâm lấn đến tận đất đai Đại Việt, không ngừng cướp bóc của cải, bắt cóc dân lành về bên đất ấy.

    Tướng trấn ải không chống cự nổi, đánh dồn dân vào đóng cửa thành thủ thế.

    Lê Tư Thành vò chặt tờ giấy trong tay, cả người run lên từng đợt.

    Lũ mọi rợ này bỏ cống Đại Việt, hắn vốn đã định khuất mắt trông coi.

    Giờ không thấy hắn hỏi tới, Trà Toàn lại dám xỉa răng cọp, vuốt râu hùm, động đến cả con dân Đại Việt, rồi còn dám tâu xằng tấu bậy với triều đình phía Bắc.

    Cơn giận dữ trong người hắn như cơn sóng trào lên đến tận họng, khó mà xuôi xuống ngay lập tức, nhưng trên gương mặt vẫn bày ra vẻ không quan tâm.

    Tuy không nói nhưng ai cũng ngầm hiểu, trong triều luôn chia thành hai phe chủ chiến và chủ hoà.

    Phe chủ hoà gồm toàn các quan văn, luôn đặt hoà bình, an ổn của bách tính lên hàng đầu, luôn muốn tránh xa chiến tranh cốt để lòng người được yên.

    Còn phe chủ chiến đương nhiên là các quan võ, đứng đầu là thái sư Đinh Liệt, luôn luôn giữ quan điểm không có chiến tranh sẽ không thể có yên bình.

    Hai phe vẫn ngấm ngầm đối đầu nhau, nhưng vì chưa động đến lợi ích của nhau, chưa ảnh hưởng đến triều chính, nên Lê Tư Thành vẫn để yên cho họ tự cân bằng.

    Vốn dĩ phía văn giai toàn các tao nhân mặc khách, nhìn Lê Tư Thành khôi ngô, nho nhã, yêu thơ ca, nên nghĩ hắn có phần coi trọng họ hơn.

    Nhưng Đinh Liệt thì luôn tin vào con mãnh xà mà chính ông và Nguyễn Xí đã trui rèn nên.

    Hắn không phải một thư sinh yếu đuối như những gì đám quan văn kia vẫn nghĩ.

    Tuy rằng Lê triều từ chinh chiến mà lập được nước, tuy rằng những đại thần có quyền lực lớn nhất trong triều vẫn là hàng võ giai, tuy rằng trong sân rồng võ quan đông đến áp đảo, nhưng trước thái độ có vẻ thờ ơ của Lê Tư Thành cùng miệng lưỡi sắc bén của đám văn giai lúc nào cũng đặt bình yên của dân chúng lên hàng đầu, hàng võ giai trên triều cũng đành lép vế.

    Đinh Liệt chỉ im lặng lắng nghe và quan sát động tĩnh từ phía thánh thượng.

    Dù sao một cuộc chiến tranh dặm trường cũng liên quan tới lương thảo, quân trang, vũ khí cho hàng vạn người, không phải là chuyện một sớm một chiều có thể nhanh chóng đưa ra quyết định.

    "Quách đại học sĩ nghĩ sao?"

    Lê Tư Thành hướng mắt về phía Quách Đình Bảo.

    Quách thám hoa vừa đi sứ nhà Minh về, mới được thăng tới chức đại học sĩ, là người nắm rõ nhất quan điểm của vua Minh lúc này.

    Quách Đình Bảo quay xuống hỏi các vị nho sinh đang bàn luận sôi nổi phía sau.

    "Các vị cho hỏi, những người dân chốn biên ải phía Nam ấy có phải con dân Đại Việt không?

    Có nộp đủ thuế cho quốc khố Đại Việt không?"

    Mấy vị quan văn mau mồm trả lời một câu "Đương nhiên phải".

    Đến lúc Quách Đình Bảo cung kính tâu lại với Lê Tư Thành, họ mới ngớ người.

    "Thưa bệ hạ, tất cả bách tính dù ngay dưới chân thiên tử hay xa ngàn dặm ngoài biên ải đều là con dân Đại Việt.

    Họ sinh sống thiện lương, làm ra tiền bạc, của cải, hằng năm nộp đủ thuế cho quốc gia.

    Mà họ nộp thuế để làm gì?

    Chẳng phải họ nộp thuế để nuôi sống quân đội, nuôi sống quan binh, giúp cho đất nước ngày càng phồn vinh hay sao?

    Chẳng phải họ mong muốn được triều đình, được quốc gia bảo vệ hay sao?

    Lời thỉnh cầu kêu than của bá tính đang oằn mình vì ngoại bang lại không đáng để kinh sư phải một lần cúi xuống lắng nghe hay sao?"

    Toàn bộ phe chủ chiến thuận theo ánh mắt của Đinh Liệt, nhất quyết không hé răng, chỉ có vài viên quan bên phe chủ hoà cứng họng dần, nhưng vẫn cố lắp ba lắp bắp bảo vệ cho lí lẽ của mình.

    "Quách học sĩ...

    Đây là... là một cuộc chiến tranh, cần phải bàn bạc kĩ hơn.

    Chiến trận nổ ra rồi, người khổ nhất chỉ có thể là toàn bộ dân chúng thiên hạ..."

    Quách Đình Bảo gần như không quan tâm đến lời nói của họ, chỉ cao giọng hướng về ngai vàng phía trên.

    "Bệ hạ!

    Kẻ chạm tới thiên uy của Đại Việt ta, dù có cách xa ngàn dặm cũng phải giết!

    Như vậy mới xứng đáng với hai chữ Đại Việt!

    Quân chủ như vậy mới xứng đáng là bá chủ một phương!"

    Lời nói của Quách Đình Bảo đanh thép, như một tảng đá lớn vừa được ai ném thẳng xuống giữa điện Kính Thiên, khiến cho bá quan văn võ nhất loạt im lặng.

    Giữa bầu không gian ấy, e rằng một chiếc kim rơi cũng có thể nghe rõ mồn một.

    Lê Tư Thành vẫn trưng ra vẻ mặt hời hợt, ánh mắt tuy không rời Quách Đình Bảo nhưng giọng nói lại hướng về phía Đinh Liệt.

    "Thái sư thấy thế nào?"

    Đinh Liệt thấy loé lên trong ánh mắt Lê Tư Thành một tia sáng vừa quen thuộc, vừa xa lạ.

    Ấy là tia sáng lão từng thấy trong mắt Thái Tổ Cao hoàng đế khi quyết định phế lập Trần Cảo, khi chuẩn bị bước tới hội thề Đông Quan, khi dẹp yên loạn đảng trong nước rồi giết chết gian thần.

    Trước tất thảy những sự kiện lớn nhỏ từ thời lão đi theo Thái Tổ đến khi người băng hà, trong ánh mắt người đều có tia sáng như vậy.

    Ấy là tia sáng mang khát khao của một con người vĩ đại, khát khao trở thành một bậc minh quân thánh đế, chứ không đơn thuần là khát khao bình dị của một nam nhân thường tình.

    Đinh Liệt cung kính khom người, ôn tồn nói từng lời như rút ruột.

    "Nếu bệ hạ muốn trở thành một vị vua hiền đức, chẳng gì bằng không quấy nhiễu bách tính, không hao tổn quốc khố.

    Nhưng nếu bệ hạ muốn trở thành một bậc quân vương vĩ đại, tên tuổi sánh ngang hàng những Tuyên Hiếu hoàng đế Trần Thánh Tông, Cao hoàng đế Lê Thái Tổ hay những Hán Vũ Đế, Đường Thái Tông ở phương Bắc, thần dám dùng đầu mình để khẳng định, đại nghiệp của bệ hạ không thể tách khỏi chuyện phải động binh đao."

    Cả điện Kính Thiên im ắng chờ Lê Tư Thành đưa ra quyết định.

    Ánh mắt hắn quét qua một lượt bá quan văn võ, ai nấy bắt gặp ánh mắt của hắn đều cúi thấp đầu.

    Quyết định của hắn không chỉ ảnh hưởng đến Đại Việt, mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới Chiêm Thành, tới hàng vạn bách tính, thậm chí là ảnh hưởng tới cả Minh triều ở phương Bắc.

    Quyết định hôm nay của hắn sẽ ảnh hưởng đến cả thiên hạ không chỉ của nay mai mà là của hàng trăm, hàng ngàn năm sau.

    Lê Tư Thành đứng bật dậy, giọng nói chắc nịch mang đầy quyết tâm.

    "Chuẩn tấu của Đinh thái sư!

    Tập hợp mười vạn đại quân bộ của thái sư, liên hợp với mười lăm vạn quân thuỷ do trẫm thân chinh chỉ huy, chuẩn bị Nam chinh hỏi tội Chiêm Thành."

    Bá quan văn võ trong điện Kính Thiên đồng loạt quỳ gối, tiếng hô như sấm dậy vang trời.

    "Bệ hạ anh minh!"

    Lê Tư Thành đứng thẳng người, hướng mắt ra ngoài thiên địa bao la phía xa.

    Thiên hạ này là của Đại Việt, hắn phải dùng toàn bộ những gì hắn có để bảo vệ toàn vẹn thiên hạ này, từ từng tấc đất, từng thước sông đến cuộc sống bình yên của hàng vạn con dân dưới chân hắn.

    ***

    Tư Thành trải trước mặt Diễm Quý tấm bản đồ da dê vừa vẽ ráo mực.

    Nàng nhìn những dòng chữ trên ấy.

    Thi Nại, Thái Cân, Mạc Nô, Đồ Bàn.

    Nàng nhìn những hình vẽ trên ấy.

    Cửa sông, núi đá, thành trì, doanh luỹ.

    Nàng mân mê ngón tay trên những dòng chữ, những hình vẽ ấy.

    Bản đồ Chiêm Thành.

    Bốn chữ như một tiếng chuông chấn động vang lên trong đầu nàng.

    Trước mặt nàng là bản đồ Chiêm Thành chi tiết đến từng hàng cây, ngọn cỏ.

    Trước mặt nàng là vương quốc phía Nam xa xôi đã ngàn năm nhũng nhiễu Đại Việt.

    Trước mặt nàng là miền đất hứa và cũng là miền đất chết đã chôn vùi Khâm hoàng đế Trần Duệ Tông.

    "Trẫm sẽ trở về.

    Trẫm vẫn nhớ lời nàng nói, muốn trẫm tới Đồ Bàn, bắt sống chúa Chiêm."

    Thì ra hắn vẫn nhớ.

    Hắn vẫn nhớ lời nói vu vơ của nàng trong cái lần đi về Tây Kinh ấy.

    Đó chỉ là lời nàng nhất thời nói ra khi không biết nên đáp lời hắn thế nào.

    Không ngờ hắn vẫn còn nhớ.

    "Bệ hạ không được chết trước thần thiếp."

    Diễm Quý uể oải buông một câu như thế, gấp gọn tấm bản đồ qua một góc rồi ôm chầm lấy Tư Thành.

    Nàng biết mình sẽ nhớ mùi hương này, nhớ giọng nói này, nhớ cơ thể ấm áp này, nhớ người đàn ông này xiết bao khi hắn thân chinh đi đánh Chiêm Thành.

    Nàng tin hắn sẽ thành công, sẽ không bỏ mạng nơi xứ người, sẽ trở về Đông Kinh vẹn nguyên không mảy may sứt mẻ.

    Nàng tin tưởng vào người đàn ông mà cả cuộc đời nàng đã nguyện yêu thương.

    Nhưng nàng vẫn sợ.

    Nàng sợ cái cảm giác nơm nớp khi hắn cách xa nàng cả vạn dặm, giữa chiến trường nguy nan.

    Nàng sợ cái cảm giác bồn chồn khi hắn cách xa nàng cả vạn dặm, giữa núi rừng trùng điệp.

    Nàng sợ cái cảm giác thấp thỏm khi hắn cách xa nàng cả vạn dặm, giữa bốn bề bão cát mưa sa.

    Hắn nhìn nàng hồi lâu, nhìn đôi mắt đã hoe đỏ, nhìn đôi môi đang mấp máy không nói nên lời, nhìn đôi gò má đang nhợt nhạt đi vì những lo lắng.

    "Ái khanh chỉ cần đợi trẫm.

    Không, nàng đợi ta, nhất định ta sẽ vinh quang trở về."

    "Ta tin bệ hạ, ta tin thái sư.

    Có thái sư, Đại Việt sẽ trăm trận trăm thắng."

    Nàng nhìn gương mặt ưu tư của hắn, mỉm cười nói ra những lời từ sâu trong lòng mình.

    Với nàng, từ xưa rất xưa, trong những câu chuyện của mẹ, anh em thái sư* luôn là phúc thần của Đại Việt.

    Có họ, nghĩa quân Lam Sơn thắng.

    Có họ, Thái Tổ Cao hoàng đế bình thiên hạ.

    Có họ, Thái Tông Văn hoàng đế, Nhân Tông Tuyên hoàng đế đưa Đại Việt ngày một phồn vinh.

    Và ngày mai đây, có Đinh Liệt đồng hành với Lê Tư Thành như Đinh Lễ với Thái Tổ xưa kia, nhất định hắn sẽ thực hiện đúng như lời hứa với nàng.

    Nàng xoa nhẹ vào giữa hai đầu mày đang nhíu chặt của hắn, miệng nói vu vơ vài câu, không ngờ đã chọc cho Lê Tư Thành nổi điên thật sự.

    *Đinh Lễ, Đinh Liệt

    "Nếu bệ hạ cần một Chế Thắng phu nhân*, đừng quên Diễm Quý vẫn ở đài Vọng Minh đợi người."

    *Sủng phi của vua Trần Duệ Tông.

    Theo truyền thuyết, bà đã tự hiến mình cho thuỷ thần để quân dân nhà Trần vượt biển đánh Chiêm.

    "Nàng đừng có nói linh tinh!

    Nàng không đợi ta, đừng oán trách ta độc ác."

    Lê Tư Thành khẳng định chắc nịch như vậy.

    Hắn sẽ Nam chinh.

    Hắn sẽ mang binh hùng tướng mạnh của mình đi san phẳng Chiêm Thành.

    Hắn sẽ bắt sống Bàn La Trà Toàn rồi giải về kinh sư.

    Hắn sẽ mang về Đông Kinh những chiến công hiển hách.

    Hắn sẽ không cần một Chế Thắng phu nhân nào khác vì hắn biết được sức mạnh của mình.

    Còn nàng, chỉ có hai việc trong những ngày tháng hắn xa kinh, ấy là chăm sóc Lê Tân và đợi hắn trở về.

    Đêm ấy, nàng chong đèn cùng hắn, mài mực cho hắn soạn Chiếu thư đánh Chiêm để bố cáo toàn dân thiên hạ.

    Diễm Quý đã phải nén cười trước lời văn đanh thép nhưng cũng không kém phần ngoa ngoắt của hắn khi viết về chúa Chiêm, dân Chiêm.

    Nàng còn tưởng tượng ra trong đầu vẻ mặt sượng trân của Bàn La Trà Toàn khi nghe những câu chửi không kịp vuốt mặt ấy.

    Người đàn ông này, vừa giỏi thi ca, thơ phú, vừa giỏi điều binh, đánh trận lại vừa giỏi xỉa xói, hạ nhục người khác.

    Một bụng chữ của hắn nếu chỉ dùng để chửi bới người mà hắn ghét, e rằng dùng cả đời này cũng không hết.

    Diễm Quý hiểu bình Chiêm là đại nghiệp, là cơ hội để sĩ khí của binh lính hừng hực như lửa cháy giữa rừng sau một thời gian dài ngơi nghỉ vì những mất mát đau thương khi đánh đuổi giặc Ngô.

    Nhưng đó cũng là lời khóc than của hàng vạn gia đình khi có cha, có anh, có con phải tòng quân đi ra chiến trận.

    Nàng hiểu sự sợ hãi ấy, những tiếng khóc, lời than ấy khi người thân của họ có thể sẽ chỉ còn là những mảnh xương trắng nằm la liệt nơi biên ải phía Nam.

    Nhưng cuộc đời mỗi người chỉ được sống một lần, cha họ, anh họ, con họ nguyện hi sinh vì thiên hạ Đại Việt, nàng hi vọng biết bao họ sẽ thấu hiểu được nỗi lòng ấy.

    "Cây cao sẽ đón gió lớn.

    Không muốn cây đón gió lớn, chỉ có thể trồng thêm một cái cây khác cao hơn."

    Tư Thành gác chiếu thư sang một bên cho ráo mực, lẩm nhẩm một mình, lẳng lặng mở giấy, viết thêm một đạo thánh chỉ nữa.

    Từng nét chữ như rồng bay phượng múa hiện dần lên trên mặt giấy, chẳng mấy mà đạo thánh chỉ ấy đã hoàn thành.

    Hắn đưa Diễm Quý ngọc tỉ, để tự tay nàng đóng triện lên trên thánh chỉ sắc phong Minh Huyên trở thành quý phi.

    ***

    Hết chương 18.
     
    Back
    Top Dưới