Điền Văn Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm

Xin chào bạn!

Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm diễn đàn, vui lòng bạn đăng ký tài khoản để có thể sử dụng đầy đủ chức năng diễn đàn và tham gia thảo luận, trò chuyện cùng với cac thành viên khác.

Đăng ký!
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 20: Chuyến đi của băng và lửa


Sau Tết, cuộc săn bắt đầu tiến vào giai đoạn bận rộn cuối cùng.

Bão tuyết đã làm hỏng con đường đã được san bằng trước đó, tuyết dày càng khiến con đường trở nên khó đi hơn nữa.

Nhưng trong lòng Hà Điền lại tràn đầy sự tự tin.

Dịch Huyền là một đối tác đáng tin cậy.

Mặc dù bề ngoài của Dịch Huyền trông có vẻ yếu đuối, nhưng cô ấy lại có một tính cách cứng cỏi, sức lực cũng rất khủng khiếp.

Vì lý do này, thỉnh thoảng Hà Điền cảm thấy có chút áy náy và có lỗi với Dịch Huyền, cho rằng mình làm liên lụy đến cô ấy.

Sau khi các con đường dẫn đến các nhà nghỉ săn bắn được mở lại, ánh sáng ban ngày cũng dần dài hơn. Rốt cuộc thì bốn căn nhà nghỉ săn bắn bên kia sông của Hà Điền đều đã được che chắn.

Để thiết lập một con đường nối giữa bốn nhà nghỉ, ban đầu cô và Dịch Huyền đã mất một khoảng thời gian để chặt một vài cái cây, mở lại một con đường nhỏ, sau đó lát tất cả các con đường bằng những cành thông rồi để Gạo giẫm lên nó.

Nhưng kết quả thì lại rất hài lòng. Bây giờ, từ bất kỳ nhà nghỉ nào, họ cũng đều có thể di chuyển qua lại chỉ trong khoảng thời gian một tiếng đồng hồ.

Thời gian mà họ bỏ ra nhanh chóng được chứng minh là có giá trị.

Bẫy trong rừng gần bốn nhà nghỉ được tận dụng một cách tối đa, bọn họ dựa theo thứ tự, lần lượt đi qua từng nhà nghỉ một, khi quay lại nhà nghỉ đầu tiên, họ sẽ mang theo số chồn đã thu hoạch được từ nhà nghỉ thứ tư. Sáng hôm sau đến nhà nghỉ thứ hai thì trong bẫy ở nơi này đã lại bẫy được con mồi. Nói cách khác, con mồi có thể được thu hoạch hầu như mỗi ngày.

Việc săn bắt hiệu quả tiếp tục kéo dài cho đến đầu tháng hai. Suốt thời gian đó, họ mải miết chạy rong ruổi hai bên bờ sông, tận dụng ánh nắng để thu con mồi, sau khi mặt trời xuống núi thì rửa và lột da chồn trong nhà nghỉ.

Khi ánh sáng ban ngày dần dài ra, nhiệt độ cũng dần dần tăng lên.

Mặc dù thỉnh thoảng trời có tuyết nhưng nhiệt độ đã ổn định ở mức âm 20 độ.

Một tuần sau, Hà Điền nói với Dịch Huyền rằng cuộc đi săn mùa đông của năm nay đã kết thúc. Từ tháng 11 đến nay, trong 4 tháng, họ đã thu hoạch tổng cộng gần 400 bộ da chồn, cũng như nhiều con sóc, thỏ, gấu mèo và chồn chó. Con số này còn nhiều hơn cả khi cô và bà mình được mùa bội thu nhất.

Họ dọn dẹp nhà nghỉ săn bắn và dỡ bỏ các bẫy, chỉ để lại thức ăn khô không mục nát và một số quần áo ấm trong rương gỗ đựng thức ăn rồi trở về nhà.

Sông băng vẫn chưa tan. Thông thường, băng sẽ tan vào tháng 4 hàng năm. Trước đó, Hà Điền muốn tiến hành một cuộc đi bộ đường dài.

Nói cách khác, chuyến đi này sẽ phải kéo dài hơn một tuần.

Cô sẽ lùa Gạo, ngược dòng sông, xuyên rừng, sang bên kia núi.

Nơi đó, có một ngọn núi lửa đang hoạt động, một thế giới nơi băng và lửa cùng tồn tại.

Trên đỉnh núi lửa, tuyết còn chưa kịp rơi xuống đã bị cái nóng làm cho tan ra, dung nham nóng chảy thỉnh thoảng sẽ phun trào, các vết nứt trên dung nham phun trào tỏa ra khói nghẹt thở cả ngày lẫn đêm. Đôi khi những đợt phun trào quy mô nhỏ của núi lửa còn có thể gây ra động đất và xạc lở.

Nhưng thung lũng ở bên dưới chân núi lửa lại là một thiên đường ấm áp và ẩm ướt.

Suối trên núi phun ra từ lòng đất, địa nhiệt của núi lửa làm nước trong suối trở nên ấm áp, dòng suối ấy chảy dọc đến những hố sụt khổng lồ hình thành sau nhiều trận động đất, tạo thành hồ có đường kính hàng trăm km và những đầm lầy có phạm vi còn lớn hơn nữa.

Khi mùa đông lạnh giá đến, nước hồ cũng sẽ không bị đóng băng, vào mùa đông sương trắng trên mặt hồ không tan, hơi nước bay lên sẽ biến thành tuyết trắng rồi lại rơi xuống, tan thành nước, cứ thế lập đi lập lại.

Nước hồ uốn lượn theo núi tạo thành các đầm, ao, hồ lớn nhỏ dọc đường đi.

Nghe có vẻ như đây là một nơi thích hợp để sống hơn, đúng không?

Ừ thì, gấu cũng nghĩ như vậy.

Thung lũng ấm áp là nơi gấu chiếm giữ. Chúng ngủ đông ở đây. Mỗi năm sau khi mùa đông bắt đầu vào tháng 11, gấu sẽ tìm một cái ổ thoải mái và ngủ cho đến tận tháng 3 năm sau.

Sau năm tháng ngủ đông, chúng đói bụng thức dậy, lúc này cỏ trong thung lũng đã mọc cao ngang bắp chân, tươi non, mềm mại.

Gấu ăn cỏ non, vỏ cây như một chế độ ăn chay, và chịu đựng cho đến tháng 4, khi cá hồi sẽ đi ngược dòng biển và quay trở lại sông nước ngọt để đẻ trứng.

Những con cá hồi di cư này sẽ trở thành thực phẩm quan trọng nhất trong thực đơn của gấu. Chúng phải ăn thật nhanh và cố gắng hết sức để tích đủ mỡ trước mùa đông năm sau, nếu không, giấc ngủ đông sẽ trở thành một giấc ngủ dài.

Do đó, thung lũng này chỉ an toàn vào mùa đông khi gấu đang ngủ.

Hà Điền cũng không định đến thung lũng suối nước nóng này chơi, nơi đây là nơi mà cô phải đi qua.

Nơi cô muốn đến nằm gần một ngọn núi lửa đầy khói đặc và tia lửa.

Ở đó có lưu huỳnh tự nhiên.

Lưu huỳnh là nguyên liệu thiết yếu để chế tạo đạn dược. Những thợ săn không thể tự chế tạo đạn dược sẽ không thể tồn tại trong thời đại này.

Sau gần một trăm năm, ngay cả khi người dân ở một số thành phố may mắn có được những viên đạn do ngành công nghiệp vũ khí chế tạo ra trước khi cái lạnh khắc nghiệt ập đến, nhưng đến lúc này, chúng đã bị tiêu hao gần như là không còn nữa.

Chỉ một hoặc hai thành phố lớn nhất là có khả năng thực hiện ngành công nghiệp sản xuất đạn dược này. Tất nhiên là những thành phố này sẽ không hào phóng mà bán đạn cho người khác. Dù vậy, những loại đạn và vũ khí được chế tạo tốt này vẫn có thể mua được ở chợ đen, nhưng chúng rất đắt.

Vì vậy, hầu hết mọi người đều sử dụng đạn và đạn chì tự chế. Chì có nhiệt độ nóng chảy rất thấp, chỉ cần có khuôn là có thể tự làm tại nhà không quá khó. Nhưng việc sản xuất đạn thì lại nguy hiểm hơn nhiều.

Trong rừng, công thức chế tạo đạn dược và cách thức sản xuất của từng gia đình đều được giữ bí mật.

Loại đạn mạnh có thể đóng vai trò quyết định đến thời khắc sinh tử.

Nhiều người chọn mua lưu huỳnh và nitrat dùng để chế tạo vũ khí từ các thương gia vì tin rằng những hóa chất này được sản xuất ở các thành phố lớn, sẽ tinh khiết và hiệu quả hơn.

Nhưng gia đình của Hà Điền vẫn luôn chú trọng vào sự tự chủ.

Có một lý do cho sự bền bỉ này – xung quanh đây, viên đạn chì của gia đình cô được coi là mạnh nhất.

Công thức bí mật chính là lưu huỳnh.

Lấy lưu huỳnh chắc chắn là một hành trình nguy hiểm.

Leo lên ngọn núi lửa đầy khói độc và nham thạch có thể phun trào bất cứ lúc nào, tìm kiếm lưu huỳnh tự nhiên, tất nhiên là nguy hiểm, nhưng trước khi leo lên ngọn núi lửa ấy, cũng nguy hiểm không kém. Nếu gặp phải một con gấu thức dậy sau giấc ngủ đông, cô có thể sẽ không có cơ hội bị chết bởi khói độc hoặc bị chết cháy do dung nham phun trào.

Nhưng Hà Điền phải đi.

Khâu chuẩn bị quan trọng nhất cho hành trình lấy lưu huỳnh là chế tạo mặt nạ phòng độc.

Sự khác biệt giữa khuôn mặt của Dịch Huyền và khuôn mặt của bà cô là quá lớn, không thể cải tạo lại được khẩu trang và kính cũ. Vậy nên, Hà Điền đã làm một chiếc mới cho cô ấy.

Hà Điền lấy một đoạn tre trong kho củi, chọn nơi có các khớp tre, cưa một đoạn dài khoảng 10 cm, giũa các mép và khoan đều bốn lỗ nhỏ trên đoạn khớp tre ấy.

Tiếp theo, cắt một miếng vải bông có kích thước lớn hơn ống tre một chút, ngâm vào nước xà phòng, phơi khô rồi nhét vào ống tre sao cho vừa khít với mặt cắt của nó.

Sau đó, cho than đã được đập nát, mùn cưa khô và sợi bông vào ống tre.

Ống tre này chính là bộ phận quan trọng nhất của mặt nạ phòng độc – bộ lọc trên mũi và miệng.

Các khối than, mùn cưa, sợi bông và các bộ lọc khác sẽ loại bỏ được khói độc.

Một mặt nạ được thêm vào bộ lọc làm bằng ống tre này. Quá trình làm tương đối đơn giản.

Chọn một miếng da có độ đàn hồi tốt, miếng da này không cần quá lớn, cũng không cần loại da tốt, dù sao dùng một lần rồi cũng sẽ bỏ đi, vì vậy Hà Điền thường dùng da sóc để làm.

Cắt da theo hình khuôn mặt của người dùng, khoét một lỗ ở giữa nhỏ hơn ống tre một chút rồi luồn ống tre vào, các mối nối giữa da và ống tre được dán bằng keo làm từ hỗn hợp da cá và nhựa thông, phơi khô rồi dán kín. Trong giai đoạn này, có thể phải dán keo nhiều lần, sau đó lấy một miếng vải bông cắt theo kích thước vừa vặn rồi khâu da và vải bông lại với nhau, nhưng lại chừa một khoảng hở, khi sử dụng thì lấy bông vải ngâm với nước xà phòng nhét vào giữa miếng da và vải bông đó.

Lớp da bên ngoài của mặt nạ không chỉ đóng vai trò là lớp niêm phong mà nó còn chống lại sự ăn mòn của axit. Lớp vải bông thấm dung dịch xà phòng thì có thể lọc khí độc, bảo vệ da mặt.

Ngoài mặt nạ phòng độc, còn cần phải có kính.

Nếu không, sẽ không thể mở mắt vì khói độc, thậm chí không thể nhìn thấy đường, vậy thì còn làm ăn gì được nữa?!

Kính chống độc cũng được làm bằng ống tre.

Chọn kích thước tre thích hợp theo kích thước của hốc mắt, cưa thành hai ống tre nhỏ cao hai cm, đục trên bề mặt khớp tre, chỉ chừa lại một hình tròn nhỏ, đặt các mảnh thủy tinh có cùng kích thước vào ống tre, dùng keo dán thấu kính và ống tre lại với nhau, sau đó nối hai ống tre lại bằng một sợi dây da dai và đàn hồi.

Nhưng như vậy vẫn chưa phải là trang bị đầy đủ. Trước khi lên núi lửa, họ phải bịt kín mặt bằng một chiếc mặt nạ chỉ khoét ba lỗ ở mắt, mũi và miệng, tiếp đó đeo kính và khẩu trang, cuối cùng buộc chặt cổ áo và ống tay áo, không để lộ bất kỳ một khe hở nào.

Mặc dù vậy, rất khó có thể đảm bảo rằng họ sẽ không bị bỏng bởi khí độc. Nó còn phụ thuộc vào sự may mắn.

Các thiết bị quan trọng nhất đã sẵn sàng, họ đã có thể lên đường.

Ngoài thức ăn, than củi, quần áo ấm, chăn, lều, ấm đun nước và nồi sắt để nấu ăn, Hà Điền còn mang theo một chiếc thuyền.

Một chiếc xe trượt bằng gỗ được buộc dưới chiếc thuyền nhỏ, bên dưới xe trượt là một đôi giày trượt băng bằng thép và nó được buộc phía sau chiếc xe trượt kéo của Gạo. Thức ăn trong lều được chia thành hai phần, một phần trên xe trượt và một phần trên thuyền nhỏ.

Trước bình minh, họ khởi hành, chạy trên dòng sông đóng băng, dừng lại một lúc vào buổi trưa, rồi lại tiếp tục lên đường.

Càng gần đến thượng nguồn, mặt sông càng hẹp lại, tuyết trên mặt sông càng mỏng, gió thổi càng nhẹ, Gạo chạy càng nhanh.

Nơi hẹp nhất, khoảng cách giữa vách núi hai bờ thung lũng sông chỉ năm sáu thước, cành khô trên vách núi hai bên như chạm vào nhau.

Chập choạng tối, mặt sông lại rộng ra, ước chừng khoảng hai ba cây số.

Hà Điền để Gạo chạy sang bờ đối diện, trong rừng cây bên bờ có một căn nhà gỗ dột nát.

Đây là nơi họ sẽ ở lại tối nay.

Căn nhà gỗ nhỏ gần hai năm không được sửa chữa, vô cùng dột nát, trên nền đất có một lớp tuyết mỏng, ngồi trong nhà có thể nhìn thấy những khe hở giữa những tấm ván gỗ bị tuyết bám đầy. Sau khi tuyết đóng băng, ngôi nhà trông cứ như đã được niêm phong lại, không có tuyết rơi vào nữa.

Giữa nhà có một cái bếp sắt cũ, Hà Điền cho thêm hai cục than vào, nhóm lửa lên, đun chảy một ít nước tuyết, nấu một nồi cháo thịt.

Ban đêm, họ trải cành thông trên sàn hai bên bếp và chui vào những chiếc túi ngủ bằng lông hươu. Hà Điền và Dịch Huyền ngủ ở một bên bếp, Gạo thì nằm ở bên kia.

Sáng sớm hôm sau, họ lại tiếp tục lên đường.

Hai giờ sau, họ đi qua một khu rừng.

Con đường rừng này rất dễ đi, từ phía sau nhà gỗ, dẫn thẳng sang bên kia rừng.

Những cây thông hai bên đường đều bị chặt thành những gốc cao bằng một người, có một số cây đã mọc lại cành.

Hà Điền nói rằng, khi còn trẻ, bà và ông của cô đã tạo ra con đường này. Vì không cần đi săn trong khu rừng này, và chỉ muốn vượt qua thật nhanh, nên họ đã vạch ra một con đường gần nhất, chặt hết cây dọc đường rồi dựng một căn nhà gỗ ở bìa rừng.

Họ đã mất gần nửa năm để tạo nên con đường này.

Nhưng thời gian rõ ràng là xứng đáng.

Gạo có thể kéo xe trượt và chạy nhanh trên con đường rừng rộng một mét này.

Sau khi chạy ra khỏi khu rừng, họ gặp một hồ nước đóng băng.

Hai người thả thuyền xuống hồ nước, vượt qua nó rồi kéo thuyền lên bờ, tiếp tục đi tiếp, rồi lại đến một cái hồ nước khác.

Vào lúc chạng vạng, họ đến một con sông.

Con sông này không hề bị đóng băng, chỉ có cách bờ khoảng một mét là bị kết băng, nhưng nước ở giữa sông vẫn chảy, mặt sông bốc khói trắng xóa.

Trên cây cối bên sông có rất nhiều quạ, trên cây cao cách đó không xa có một cái tổ chim khổng lồ, một con đại bàng hói đang bay về phía đó.

Dưới gốc cây to, có một căn nhà nhỏ tốt hơn một chút so với căn nhà họ ngủ lại đêm qua.

Đó là nơi họ sẽ ở lại tối nay.

Hà Điền dắt Gạo vào nhà. Những con quạ đó đều thích chọc ghẹo con người, một số con đã bắt đầu mổ cái đuôi trên mông Gạo, khiến nó phải phát cáu.

“Tại sao ở đây lại có nhiều quạ như vậy?” Dịch Huyền nhìn rừng cây và cây cối ở khai bên bờ sông, những chấm đen đều là quạ.

Những con chim này thỉnh thoảng sẽ kêu một cách kỳ lạ, một con kêu, chẳng mấy chốc cả đàn vừa hót vừa kêu như hòa nhịp.

Cảnh tượng này thực sự không thể diễn tả được. Sau khi mặt trời lặn, lũ chim lần lượt cất tiếng kêu ở tia nắng cuối cùng, trông càng thêm ảm đạm.

“Vì nước sông không đóng băng nên năm ngoái có cá hồi di cư đến sinh sản, đẻ trứng rồi chết, xác cá nằm lại sông, nhiệt độ nước sông quanh năm chỉ bốn, năm độ, cá sẽ không hư thối, trở thành thức ăn của đại bàng hói. Những con quạ canh ở đây, đợi đại bàng hói bắt được cá, chúng sẽ lao lên và giật lấy.” Hà Điền đưa Dịch Huyền đến bờ sông, tuyết trên bờ đã thực sự đóng băng. Phần còn lại của cá hồi bị chia thành nhiều mảnh.

“Đại bàng cũng không thể làm gì khác hơn. Chúng còn phải nuôi con của mình.” Hà Điền chỉ vào tổ của đại bàng: “Chỉ có thể nhân lúc bầy quạ tranh giành cá mà tóm lấy một con khác rồi mang nó về tổ.”

Cá chết sau khi bị vớt lên nhanh chóng đông cứng như đá, nhưng quạ và đại bàng có mỏ và móng sắc nhọn, có thể xé xác cá ra.

Một số thịt cá vẫn còn dính nhiều máu, sau khi bị lũ quạ cắn xé và tranh giành, máu cá rơi vãi khắp nơi trên mặt tuyết.

Ngày hôm sau, họ để chiếc xe trượt lại trong nhà gỗ, chèo thuyền tiếp tục đi ngược lên.

Hà Điền và Dịch Huyền để hành lý lên chiếc thuyền nhỏ, mỗi người ngồi ở một bên đầu thuyền, chèo ngược dòng đi về phía trước.

Gạo dũng cảm nhảy vào trong sông, bơi theo sau thuyền.

Hà Điền buộc dây cương của nó vào đuôi thuyền.

Sau khi cả hai chèo thuyền khoảng một giờ, dòng nước chảy càng lúc càng chậm, mặt sông rộng ra, dần dần hình thành một cái hồ. Nhiệt độ nước cũng cao hơn, khói trắng trên hồ càng lúc càng dày, phả vào mặt rất thoải mái, từng lỗ chân lông như đều mở ra.

Lại tìm trong chốc lác, Hà Điền và Dịch Huyền cởi áo khoác lông hươu và đồ buộc chân ra, trên người trên mặt đều là mồ hôi, hơi nước ấm phả vào mặt, khiến họ như ướt sũng.

Hà Điền thay mái chèo bằng một cái cọc tre dài, đứng ở bụng thuyền chèo chống cho con thuyền, lúc này khí trắng trên mặt hồ dày đặc đến mức chỉ có thể nhìn rõ hai ba mét, Dịch Huyền không thể đoán được Hà Điền sẽ làm cách gì để phán đoán phương hướng, bởi vì mặt hồ phẳng lặng, không có gò đất, thậm chí cũng không có cỏ và bèo, chỉ có sương mù dày đặc tĩnh lặng, thỉnh thoảng có thể nghe thấy vài tiếng chim kêu từ xa.

Hà Điền có chút tự hào nói với cô ấy rằng, đây là kinh nghiệm.

Xung quanh vô cùng yên tĩnh, chỉ có tiếng thuyền cắt nước và tiếng Gạo đang bơi.

Lúc này, thân thuyền hơi rung lên, tựa như có thứ gì đó đâm vào đáy thuyền, lòng Dịch Huyền có chút bất an, nhưng Hà Điền lại nói: “Chúng ta đến rồi!”

Cô dùng sức cấm chiếc cọc tre trên tay xuống bùn, cởi ủng ra đeo nó vào cổ, rồi c** q**n da và quần vải bông ra.

Dịch Huyền nhìn thấy hai cái chân trắng nõn trong màng sương trắng, suýt chút nữa thì hét lên, vội xoay người đi, yên lặng cúi đầu cởi dây giày, liền nghe thấy tiếng Hà Điền nhảy xuống nước.

Thuyền rung lắc, hai tay Dịch Huyền giữ lấy mạn thuyền, tim đập loạn xạ.

Sau đó là tiếng Hà Điền đi trong nước, theo âm thanh này thì nước ở đây chỉ cao hơn đầu gối cô một chút, trong sông có bùn nhão, nhưng cũng không quá sâu.

Vì vậy, không hiểu vì sao trong đầu Dịch Huyền lại có một hình ảnh như thế này: Hai đôi chân dài, khỏe và trắng của Hà Điền đang đi trong làn nước ấm, còn lòng bàn chân thì chìm trong bùn khiến nước trở nên đục ngầu. Độ đục dâng lên và lan ra trong nước g*** h** ch*n khi cô tiếp tục bước đi…

Hà Điền leo lên bờ, tự hỏi tại sao Dịch Huyền không đi theo mình. Động tác của cô ấy thường nhanh lắm kia mà?

“Dịch Huyền?” Qua làn sương mù, cô không thể nhìn thấy tình hình trên thuyền.

Dịch Huyền đờ đẫn trả lời: “Tôi… tôi không thể tháo dây giày của mình! Sẽ xong ngay thôi.”

Sau khi Dịch Huyền cuối cùng cũng lên bờ, hai người mang hành lý trên thuyền nhỏ xuống, để Gạo tiếp tục vác, sau đó khiêng thuyền lên, đi dọc theo bờ một đoạn. Dọc bờ phủ đầy lau sậy, những bụi cây cao hơn đầu người một chút này sau khi khô héo vẫn một mực đứng thẳng, chỉ có phần bông màu vàng ở trên ngọn là rủ xuống. Một ít tuyết trắng đọng lại trên bông cũng đông cứng lại, lúc đụng phải, chúng cũng chỉ rung lắc một chút, còn tuyết thì lại không rơi xuống.

Dần dần cỏ cây bên bờ càng trở nên um tùm. Nhưng những bụi cây này, dù là giống cây gì, cũng đều không quá cao.

“Chúng là rừng cây mới. Cách đây 20 năm, núi lửa đã từng phun trào, không quá lớn, nhưng nó đã gây ra lở đất, chôn vùi khu rừng nguyên sinh và các loài động vật trong đó”, Hà Điền nói với Dịch Huyền. Hai người đi về phía khu rừng.

Trong rừng dường như có một loại ma thuật nào đó, khiến cho sương mù dày đặc ven hồ không dám tiến vào, sương mù dày đặc màu trắng tan đi, khu rừng lại một lần nữa hiện ra.

Tuy nhiên, trong khu rừng này không có nhiều tuyết, lá thông dày rơi trên mặt đất, lớp tuyết mỏng sau khi bị Hà Điền và Gạo giẫm qua, đến phiên Dịch Huyền thì chỉ còn là vệt nước.

Họ chỉ cần đi giày rơm là được, không cần dùng ván trượt tuyết.

Không có nhiều tuyết trên cây cối trong rừng, tuyết trên cành cây lá kim thường xanh như thông và tuyết tùng đã biến thành nước, khi nhỏ giọt từ cành và lá xanh, nó sẽ ngưng tụ thành băng và biến thành những hạt châu tròn lớn chừng hạt đào, sáng long lanh lóng lánh. Khi đi qua dưới gốc cây, thỉnh thoảng sẽ bị một viên rơi xuống đầu. Có đôi khi, ánh nắng mặt trời vừa vặn chiếu lên hạt châu, chiết xạ ra một cầu vồng nho nhỏ.

Có vẻ như điều kỳ diệu của khu rừng này không chỉ là có thể làm tan biến lớp sương mù dày đặc. Từ nơi này nhìn lên, ngay cả bầu trời cũng đặc biệt trong xanh, ánh mặt trời rất chói chang, không giống như đang ở mùa đông.

Họ tìm một mảnh đất cao trong rừng, chặt bụi rậm, san bằng rồi dựng lều, đêm nay họ sẽ ở đây.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 21: Cá nướng than lá thông


Ngay sau khi chuẩn bị lều xong, mặt trời nghiêng về phía tây, Hà Điền bắt đầu đốt lửa trại bên ngoài lều.

Không biết có phải là vì do nằm gần hồ hay là do dung nham âm thầm chảy dưới khu rừng này mà thời tiết không lạnh lắm, nhiệt độ cũng không giảm mạnh.

Sau khi Hà Điền đưa thuyền vào bờ, cô để lại chiếc cọc tre bên bờ hồ để câu cá, buộc dây câu vào cọc tre rồi treo một miếng thịt xông khói nhỏ lên móc câu.

Sau khi lửa trại được đốt lên, cô và Dịch Huyền mang theo một cái thùng cùng nhau quay trở lại bờ hồ.

Còn chưa đến gần, họ đã có thể nghe thấy âm thanh của một thứ gì đó đang nhảy dưới nước.

Dịch Huyền kéo dây câu lên, trên lưỡi câu treo một con cá mảnh mai uốn lượn như rắn. Con cá này dài tới bảy tám mươi cm, khi vùng vẫy, các vây ở hai bên bụng của nó mở ra, giống như chuồn chuồn hoặc một loài côn trùng cánh mỏng trong suốt.

Hà Điền không gỡ con cá từ lưỡi câu ra mà trực tiếp cắt đầu của nó. Đầu cá cũng nhỏ, miệng vẫn còn há ra, cô lại ném chiếc lưỡi câu gắn đầu cá này xuống nước.

Sau khi mổ và rửa sạch nội tạng, phần vây lưng màu hồng nhạt trên cá vẫn nhẹ nhàng mở ra như một chiếc quạt gấp nhỏ.

Dịch Huyền buộc một sợi dây vào thùng, ném thùng xuống hồ rồi kéo nước lên.

Hà Điền móc một ít bùn từ hồ và cho cá vào một cái thùng khác.

Hai người trở về trại, Hà Điền chặt cá thành nhiều khúc, tẩm một ít muối và bảo Dịch Huyền nhặt một ít lá thông khô dưới gốc cây ném vào xô trộn đều với bùn.

Hà Điền bôi một lớp bùn lên thịt cá đã cắt, sau đó ném xuống đất đầy lá thông, lăn vài vòng, nó biến thành những viên bùn nhỏ. Cô ném những viên bùn này vào lửa trại, nướng nó, trong đó đã có sẵn một vài củ khoai tây nhỏ mà trước đó họ đã cho vào, lúc này đã gần chín.

Tiếp theo, Hà Điền dùng bông gạc lọc lấy nước trong hồ, đặt ấm đun trên lửa, đun lên, khi nước sôi thì cho một ít nụ tầm xuân và những lát táo khô vào.

Sau khi đun xong thì trước tiên đổ vào bình nước của cả hai, cho vào túi giữ nhiệt rồi nhét vào chăn trong túi ngủ lông hươu, để tối nay có một chỗ ngủ ấm áp, sau đó lại rót cho mỗi người một ly, vừa chậm rãi uống vừa đợi đồ ăn chín.

“Ngày mai chúng ta phải chèo thuyền và tiếp tục đi lên. Tôi hy vọng chúng ta sẽ không gặp phải gấu.” Hà Điền uống trà, dùng một cành cây chọc vào những viên bùn trong lửa trại để chúng đều hơn.

Dù đang là mùa đông nhưng gấu vẫn sẽ thức dậy. Hoặc thức dậy vì đói, hoặc bị đánh thức bởi một cái gì đó.

Hà Điền thẫn thờ nhìn đống lửa trại, Dịch Huyền nhắc nhở cô: “Cá chín chưa?”

Cá đúng là đã chín. Khoai tây cũng vậy.

Hà Điền dùng cành cây khều khoai tây và viên bùn ra khỏi tro lửa, sau đó nhặt một hòn đá lên đập vào bùn, mùi thơm tươi mới của cá bỗng xông vào mũi và tràn ngập cả góc rừng.

Bùn trộn với lá thông đã cháy thành một lớp vỏ cứng, khi nứt ra, lớp vảy mỏng trên thân cá loang lổ, lộ ra phần thịt cá trắng mềm.

Vị mặn và mùi thơm độc đáo của lá thông cũng đã thấm vào cá. Có thể là vì bùn trong hồ giàu khoáng chất nhất định hoặc bản thân cá vốn ngon, Dịch Huyền cảm thấy món cá này có một vị ngọt rất đặc biệt.

Không được hoàn mỹ chính là vỏ khoai tây nướng có hơi cháy đen, có vị khét, nhưng khuyết điểm này có thể bỏ qua.

Khi cả hai đang có một bữa tối ngon lành, Gạo cũng rất vui. Trong khu rừng này đâu đâu cũng có những cành cây nhỏ, nó cứ mãi ăn, liên tục nhai mãi không ngừng.

Đến tận khi chui vào túi ngủ rồi, dường như họ vẫn còn nghe thấy tiếng nhai của nó.

Sáng hôm sau, khi trời vẫn còn tối, lửa trại sắp tắt, Hà Điền và Dịch Huyền thức dậy.

Họ đun một nồi nước nóng khác, đổ đầy hai bình nước và nấu một ít cháo.

Cháo sáng nay được nấu với khoai tây và thịt khô, cùng với một ít hạt kê ngâm đêm qua.

Sau khi ăn xong, họ lại lên đường.

Sau khi cất lều, Hà Điền mang tất cả tro than từ đống lửa trại cho vào một cái thùng sắt.

Khi đến hồ, Hà Điền rút cọc tre cắm trên bờ, lại một con cá khác mắc câu.

Cô mổ cá, rửa sạch rồi vùi vào thùng sắt đựng tro than kia. Đây là bữa trưa hôm nay.

Lúc này mặt trời ló dạng, sương mù trên mặt hồ đã tản ra một ít. Hai người chèo thuyền, Gạo lội nước, tiếp tục tiến lên phía bắc.

Khoảng hai giờ sau, cảnh vật lại thay đổi.

Mặt hồ ngày càng hẹp dần, có những lục địa lớn nhỏ rải rác, giống như một hòn đảo nhỏ với nham thạch và những cây thông cao vút, những con sóc nhảy nhót trên cành, còn có một số giống như bụi cỏ non, có một con chim nước với chiếc mỏ mảnh mai ẩn mình trong đám cỏ.

Hà Điền biết rất rõ đoạn đường này và kiểm soát được hướng đi của mình.

Giữa trưa, bọn họ dừng lại nghỉ ngơi ở ven một cồn đất nhỏ, Gạo đã hơn hai giờ đồng hồ liền bơi không ngừng nghỉ. Hà Điền kéo nó lên bờ để nó ăn cỏ khô và bụi cây. Còn cô và Dịch Huyền thì ngồi trên thuyền ăn trưa.

Dịch Huyền nhìn phong cảnh bên hồ, không khỏi thở dài: “Tôi rất muốn biết mùa xuân và mùa hè ở đây trông sẽ như thế nào.”

“Hẳn là đẹp hơn so với bây giờ.” Hà Điền dùng nước trong hồ rửa tay, nước rất ấm.

Cô nghiêng chiếc thùng trong nước, rửa sạch tro trong thùng, bẻ đôi con cá, lột lớp da trên thân nó ra, chia cho Dịch Huyền một nữa.

Sau khi nghỉ ngơi, họ lại tiếp tục lên đường.

Khi trời gần chạng vạng, cuối cùng họ cũng đến được đích đến của chuyến đi này – dưới chân núi lửa.

Dưới chân núi lác đác những hồ nước lớn nhỏ, chỉ có một lớp tuyết trắng mỏng bao trùm, nhiều chỗ lộ ra cỏ khô màu vàng nâu, thậm chí còn có cây xanh mờ nhạt ở ven một số hồ.

Ở đây ấm áp hơn, nhưng cũng nguy hiểm hơn.

Gió thổi từ trên đỉnh núi xuống sẽ luôn thoang thoảng mùi lưu huỳnh, từ đây nhìn lên núi dường như trong tầm tay, phần ẩn hiện trong làn sương trắng chính là nơi ẩn chứa lưu huỳnh tự nhiên.

Núi được chia thành nhiều đoạn bởi màu sắc khác nhau, đỉnh có màu trắng, trong sương mù trắng xóa có màu đen xám, từ trên xuống dưới chuyển dần từ nâu sẫm sang nâu vàng, rồi chuyển sang xanh vàng.

Ngoài các hồ lớn nhỏ còn có nhiều suối tự nhiên.

Đôi khi nước suối trắng xóa sẽ trào ra đột ngột như một đài phun nước, có mùi lưu huỳnh, nhiệt độ cao đến mức có thể làm chết người.

Đêm đó, bọn họ qua đêm ở hồ nước lớn nhất dưới chân núi.

Bên cạnh hồ có nhiều động vật nhỏ hơn, ngoài các loài chim nhỏ như chim sẻ và chim họa mi, còn có rất nhiều thỏ rừng. Hơn nữa, những con vật này dường như không sợ con người. Vài con chim sẻ vẫn bay đến chỗ của họ, muốn mổ hạt kê trong chậu.

Hà Điền giăng bẫy trong bụi rậm cách trại chưa đầy mười mét, chẳng mấy chốc đã tóm được một con thỏ rừng.

Vì vậy, con thỏ này đã trở thành món chính của bữa tối.

Sáng sớm hôm sau, Hà Điền và Dịch Huyền vác giỏ mây trên lưng, đeo mặt nạ phòng độc ngâm trong nước xà phòng vào đêm hôm trước, rồi đi đến ngọn núi lửa.

Khi leo đến lưng chừng núi, khói càng ngày càng nồng, dù có đeo khẩu trang nhưng họ vẫn có thể ngửi thấy mùi lưu huỳnh, càng lúc càng nóng, đường lên núi cũng không có, toàn là sỏi đá lớn nhỏ. Ở một số khe đá trên đỉnh, lửa trong dung nham bốc lên lờ mờ, khi bước lên phải dùng thanh gỗ chọc vào thử rồi mới dám đặt chân.

Khó nhọc đi bộ nửa giờ, cuối cùng họ cũng nhìn thấy lưu huỳnh tự nhiên.

Những khối khoáng sản màu vàng nằm rải rác xung quanh hang đang bốc khói lửa, nhìn vào bên trong, lớp dung nham ở sâu trong hang đang sủi bọt đỏ rực. Nhờ lớp dung nham đỏ sáng bóng kia, họ có thể nhìn thấy đường đi ở nơi đầy khói này mà không bị lạc đường.

Hà Điền lấy một thanh sắt từ trong giỏ ở phía sau lưng ra, cắm trên mép quặng lưu huỳnh, giơ búa gỗ đập mạnh vào thanh sắt, sau đó nắm thanh sắt di chuyển qua lại.

Dịch Huyền tiếp nhận, ra hiệu với Hà Điền, kêu cô nhặt quặng vỡ bỏ vào giỏ.

Với sức mạnh của cô ấy, quặng lưu huỳnh lớn nhỏ kêu răng rắc rơi xuống, Hà Điền lần lượt nhặt vào giỏ.

Đi bộ từ nhà đến đây phải mất mấy ngày, nhưng khi lấy lưu huỳnh cũng không mất nhiều thời gian, chỉ sau mười phút, chiếc giỏ sau lưng hai người đã đầy.

Hà Điền ra hiệu với Dịch Huyền, hai người nắm tay cẩn thận đỡ nhau, lảo đảo xuống núi.

Một giỏ quặng lưu huỳnh nặng chừng hai ba chục ký, đường xuống núi thì lại càng khó đi hơn, hầu như mỗi bước đi, đá vụn lăn dài từ dưới chân họ xuống tới thung lũng.

Cả người Hà Điền ướt đẫm mồ hôi, cơ vai và cổ càng lúc càng đau bởi cái giỏ nặng nề phía sau. Viền cổ áo sau gáy và những vết xước trên cổ càng lúc càng ngứa. Mồ hôi trên mặt chảy vào trong mắt, dù ngứa ngáy khó chịu nhưng vẫn phải cố mở to ra.

Bởi vì không được ở lại đây.

Đi thêm mười phút nữa, đầu gối và đùi cô bắt đầu run lên.

Hơi thở của Hà Điền càng lúc càng nặng nề, bước chân cô không khỏi chậm lại, có khi phải vịnh nham thạch để đi tiếp. Nơi này không có đường đi, lại còn phải xuống dốc, tuyệt đối không thể bị ngã xuống, cô có ngã thì cũng không sao, nhưng nếu quặng lưu huỳnh mà họ có được trong quá trình lao động vất vả lăn xuống thì sẽ rất khó tìm lại được.

Khi Hà Điền lại dựa vào nham thạch để th* d*c, Dịch Huyền ở phía sau nâng chiếc giỏ sau lưng của cô lên.

Hai người họ vì đeo mặt nạ nên không thể nói chuyện. Hà Điền lại lắc đầu xua tay, nhưng Dịch Huyền hoàn toàn không giao tiếp với cô. Cô ấy tháo chiếc giỏ của cô xuống, cũng đặt chiếc giỏ của mình xuống đất, dùng thanh sắt để cạy lưu huỳnh của Hà Điền làm đòn gánh, buộc hai chiếc giỏ vào hai đầu thanh sắt, nhấc lên gánh ở trên vai.

Lúc này, cô ấy ra hiệu cho Hà Điền để cô dẫn đường.

Hà Điền không thể làm gì khác hơn, vì vậy cô đành phải quan sát con đường phía trước, cố gắng tìm một con đường an toàn và dọn dẹp đống đổ nát trơn trượt dưới chân, để Dịch Huyền có thể bước đi dễ dàng hơn.

Cô muốn đợi cho Dịch Huyền mệt rồi thì sẽ nhận lại giỏ rồi tự mình vác về, nhưng không ngờ đến chân núi rồi mà Dịch Huyền vẫn không dừng lại nghỉ ngơi.

Khi đến gần chân núi, cả hai người đều có cảm giác như thể vừa từ địa ngục quay trở lại trần gian. Khói và sương mù dày đặc tan biến, thậm chí qua lớp mặt nạ kín bưng, nhiệt độ cơ thể cũng cảm thấy mát hơn rất nhiều.

Cởi mặt nạ xuống, hai người hít thở bầu không khí trong lành, sau đó lấy khăn tay ra lau mồ hôi trên đầu và mặt.

“Cô… khỏe quá!” Hà Điền còn đang thở hổn hển, cô vừa có chút hối hận lẫn sợ hãi. Cô thật sự không nên tham lam lấy nhiều quặng hơn trước. Trước kia, khi cô và bà mình đến đây, hai người họ tối đa chỉ mang về khoảng 3/4 giỏ quặng.

Hôm nay, khi đi đến lưng chừng núi, Hà Điền gần như muốn vứt vài mẩu quặng đi cho nhẹ gánh, đến một lần đã không dễ, lần sau sẽ lại càng gian nan hơn, vì có khả năng cô sẽ chỉ đến một mình. Nhưng mà, một người thợ săn trong rừng, không nên có ý nghĩ tham lam.

Dịch Huyền cũng ướt đẫm mồ hôi, nhưng hơi thở của cô ấy vẫn còn ổn định. Cô ấy còn có thể dùng khăn tay che miệng và mũi: “Chúng ta đi thôi. Cô cố thêm chút nữa đi.”

Lần này Hà Điền nhất quyết không để Dịch Huyền tự gánh hai cái giỏ nữa, cô lại vác đống quặng nặng lên vai, cắn răng, từng bước đi xuống núi.

Tìm được Gạo, họ đặt hai giỏ quặng lên xe trượt mà Gạo đang kéo. Lúc này Hà Điền đã hoàn toàn kiệt sức, cô trực tiếp ngồi xuống trên tuyết, kéo mở cổ áo, thở hồng hộc.

Dịch Huyền ngồi xuống bên cạnh cô, lấy bình nước trong ngực ra, mở ra đưa cho Hà Điền.

Hà Điền nhấp vài ngụm, tay cầm bình nước đang run rẩy.

Dịch Huyền có hơi do dự, nhẹ nhàng vuốt lưng Hà Điền: “Tốt hơn chưa?”

Hà Điền gật đầu, đưa lại bình nước cho cô ấy.

Quặng lưu huỳnh tự nhiên có màu vàng với các sắc thái khác nhau, phần đậm nhất có màu đỏ cam. Mùi của nó cũng không kinh khủng cho lắm. Ít nhất là so với khí, nó dễ ngửi hơn nhiều.

Hà Điền đập quặng ra thành từng mảnh nhỏ rồi chia đều cất vào trong hộp gỗ.

Những chiếc hộp này được làm rất đặc biệt. Mỗi chiếc dài và rộng 30×40 cm, được lót bằng cỏ khô và bông vải vụn, nắp được buộc chặt bằng dây rơm.

Sau khi hoàn thành những việc này, cô và Dịch Huyền cởi bỏ áo da đang tròng trên người khi lấy lưu huỳnh ra, dùng khăn ướt lau từ đầu đến chân, phủi sạch tro núi lửa và nhiều bụi khoáng khác nhau trên người.

“Tối nay ăn gì đó ngon, rồi đi tắm suối nước nóng.” Hà Điền vỗ về khẩu súng ngắn của mình: “Tôi thấy dấu chân của một con hoẵng ở gần đây. Ha ha.”

Trước khi đi bắt hoẵng, họ ăn trước một ít cháo nấu từ thịt xông khói, yến mạch và hạt kê để lót dạ.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 22: Trà bạc hà việt quất


Sau bữa trưa, Dịch Huyền ngủ ở trong lều.

Không lâu sau, một tiếng súng đã đánh thức cô ấy.

Hà Điền thật sự bắt được một con hoẵng. Nó không quá nhỏ, nặng khoảng hai mươi lăm kg.

Điều khiến mọi người vui mừng hơn nữa là bởi vì chỉ với một phát súng đã bắn trúng đầu, họ có thể giữ da của con hoẵng này lại.

Dịch Huyền giúp Hà Điền khiêng con hoẵng kia đến bờ hồ, lột da nó ra, cắt một nắm cỏ khô, nhúng vào tuyết trên mặt đất rồi lau chùi da sạch sẽ, sau đó cắt hai chân của nó để dành cho bữa tối.

Phần thịt còn lại của hoẵng được bọc trong cỏ khô, đặt trong hộp gỗ và phủ một lớp tuyết lên, cất để ăn trên đường trở về.

Hà Điền tìm một số cành cây dựng một cái vỉ nướng đơn giản trên đống lửa, cô đặt hai chiếc chân hoẵng lên vỉ rồi nướng trên lửa nhỏ, trước tiên phết một lớp mỡ ngỗng, sau đó thoa một lớp muối và ớt bột lên.

Thịt đùi hoẵng rất chắc và ít mỡ, phết một lớp mỡ ngỗng sẽ giúp thịt không quá khô và cháy, nướng cũng thơm hơn.

Cô cũng cắt một miếng thịt ức, băm nhỏ, dùng một ít củ cải muối cắt thành hạt lựu nhỏ rồi ướp gia vị, cuối cùng cho yến mạch đã ngâm và nghiền thành bột nhuyễn vào khuấy đều. Trên thực tế, nếu cho một ít bột mì hoặc tinh bột khoai tây vào thì hình dạng của những viên thịt sẽ đẹp hơn, nhưng sau khi khuấy, bột yến mạch sẽ chảy ra nước màu trắng và dính, còn những viên thịt làm bằng yến mạch thì sẽ dai hơn.

Hà Điền khuấy thịt cho đến khi không còn thấy nước nữa, sau đó nặn một viên nhỏ to hơn ngón tay, vo trong lòng bàn tay thành một viên nhỏ rồi cho vào dĩa.

Những viên thịt nhỏ này lát nữa cô sẽ hấp chín, ngày mai đem theo trên đường làm món ăn vặt, hoặc cho vào nước sôi nấu canh ăn với miến khoai tây.

Hà Điền lại treo một ấm nước khác lên bếp lửa để lửa không quá lớn và làm thịt bị cháy sém.

Sau khi hoàn thành xong những công việc chuẩn bị này, mặt trời vẫn còn chưa lặn.

Bóng lau sậy và nhiều loại cỏ dại bên hồ bị bóng chiều đổ xuống trải dài. Màn sương trắng trên mặt hồ uốn lượn như một tấm lụa mỏng, từ từ trôi nổi và biến dạng. Trên mặt hồ vẫn còn một số cành chết và lá rách sót lại của cây cỏ nước, trong màn sương trắng mờ ảo, thỉnh thoảng, khi có gió thổi qua, những bóng đen này trở nên kỳ quái lạ thường, khiến người ta cảm thấy bí ẩn, sâu thẩm.

Xa xa, có tiếng chim hót vọng lại, xen lẫn đó là âm thanh của những loài động vật không biết tên.

Hà Điền đặt bộ quần áo cần thay, một bình nước ấm, xơ mướp và xà phòng để tắm vào một cái thùng gỗ, cô cởi áo ngoài ra, gở bỏ bím tóc rồi mang chiếc thùng đến một bụi lau sậy gần hồ.

Dịch Huyền vẫn lúng túng và lề mề giống như mọi khi, sau khi Hà Điền gọi vài lần, cô ấy vẫn không theo kịp, nên cô dứt khoát tự mình đi trước.

Hà Điền vừa đi vừa xoay đầu nhìn lại, cô đi đến rìa của bụi lau sậy rồi, Dịch Huyền mới chậm chạp xách thùng đi tới.

“Đến đây! Chỗ này không nóng đến mức phỏng người đâu!” Hà Điền gạt đám lau sậy sang một bên, bước vào, rũ sạch tuyết trên vài cụm sậy, sau đó c** q**n áo, treo lên sậy rồi xuống nước. Trong nước, nước ấm lập tức quấn lấy bắp chân của cô, làm cho cô thoải mái thở ra.

Bùn từ đáy ao trào lên từ kẽ chân khiến lòng bàn chân Hà Điền ngứa ngáy. Ao nước ở đây không quá sâu, vừa bằng đến vai, dưới đáy ao nhỏ này còn có một ít tảng đá lớn, có thể dùng làm ghế để ngồi.

Chiếc thùng gỗ do Hà Điền mang theo nổi trên mặt nước, cô đẩy chiếc thùng ra giữa ao, quay người lại dùng sậy lau sạch rêu bám trên đá trong nước. Nước có chút đục nhưng không sao, một lúc nữa sẽ lại trong.

Bây giờ, từ từ ngồi xuống, để cho cơ thể thích nghi với nhiệt độ của nước.

Khi ngồi xuống, Hà Điền bị độ nóng của ao làm cho phải rên lên. Thật sự là rất thoải mái.

Cô rất vui vì đã tìm được nơi tắm tuyệt vời này, ao nước ở ven hồ là một rãnh gần như hình tròn, chỉ có một lối nhỏ nối giữa lòng hồ, nước nóng từ đáy ao và nước lạnh chảy vào trung hòa lại với nhau, nhiệt độ vừa đủ ấm để tắm. Ao nước được bao quanh bởi lau sậy cao, dù mặt trời lặn, gió cũng không thể thổi vào, bởi chúng đã bị lau sậy chặn lại.

Cô ngồi hưởng thụ được một lúc thì mới nghe thấy tiếng Dịch Huyền xuống nước.

“Dịch Huyền?”

“Ừ.”

“Cô đâu rồi?” Trong ao đầy hơi nước, lau sậy cao chắn gió lạnh từ bên ngoài thổi vào, ngăn hơi nước bên trong thoát ra ngoài, sương mù trong ao dày hơn cả mặt hồ, Hà Điền không thể nhìn thấy Dịch Huyền đang ở đâu.

“Đến rồi.” Nghe giọng nói, có vẻ như Dịch Huyền sợ nơi này sâu nên không dám xuống, còn đang ở trên bờ.

Hà Điền vẫy vẫy khăn, cố gắng phân tán một ít sương trắng: “Nước không sâu đâu! Mới đến vai tôi thôi! Nào! Đừng sợ.”

Sau một lúc thì Dịch Huyền đi tới, Hà Điền đẩy thùng đến giữa hai người: “Tôi có mang trà nóng đến! Cô uống thử xem.”

“Ừ.” Dịch Huyền cầm bình nước lên, mở nắp ra uống vài ngụm: “Ngon lắm. Cô đã bỏ gì vào vậy?”

“Ha ha, việt quất, táo đỏ, bạc hà, đợi trà nóng lên rồi thêm một chút mật ong vào.”

Lúc này, Hà Điền để ý thấy Dịch Huyền xuống nước mà vẫn mặc một chiếc áo mỏng. Tay áo trắng vì bị ướt mà trở nên trong suốt, ôm lấy cánh tay màu ngà của cô ấy. Cô không thể nhìn thấy phần bên dưới ngực của Dịch Huyền, nhưng chắc hẳn là cô ấy đã mặc luôn quần dài xuống.

“Tại sao cô vẫn mặc quần áo?” Hà Điền hỏi.

Ngay cả khi không nhìn rõ khuôn mặt của Dịch Huyền qua màn sương trắng, vẫn có thể nghe thấy giọng nói không được tự nhiên của cô ấy: “Đây… đây là ngoài trời, làm sao, làm sao có thể…”

Hà Điền cười nói: “Được rồi, được rồi, không sao, chỉ cần cô cảm thấy thoải mái là được.”

Tắm ngoài trời có thể là một khái niệm không thể chấp nhận được đối với Dịch Huyền.

Nhưng mà, đến giữa mùa hè, bọn họ vẫn phải trực tiếp đi suối núi tắm rửa mà. Hà Điền nghĩ.

Lúc này, cô chợt cảm thấy buồn vô cớ. Haizz, còn không biết Dịch Huyền sẽ ở đâu khi mùa hè đến nữa mà.

Cô sửng sốt, lắc đầu, hít một hơi, ngụp xuống nước ngâm tóc, xoa nhẹ, thoa xà phòng lên, rồi bước đến bên mép ao: “Tôi đi gội đầu.”

“Ừ.”

Hà Điền vốn định đến bên mép ao gội đầu để không làm vấy bẩn nước ở trung tâm ao, nhưng Dịch Huyền dường như nhầm tưởng là cô đang chia chỗ tắm cho hai người, cô ấy đứng tại chỗ, học Hà Điền ngụp xuống, bắt đầu gội đầu.

Sau khi Hà Điền gội đầu xong, cô ngồi trên tảng đá bên hồ, gọi Dịch Huyền: “Cô có thể đến chà lưng cho tôi được không?”

“Chà, chà lưng? Chà như thế nào?”

“Dùng xơ mướp, cô cứ đến đây đã, tôi sẽ chỉ cho.”

Dịch Huyền khựng lại một lúc, bước đến gần, đứng ngây người một chỗ.

Màn sương trắng bên mép ao ít hơn ở giữa ao rất nhiều, Dịch Huyền cao hơn Hà Điền một cái đầu, nhưng có vẻ như cô ấy sợ lạnh, hoặc là đang xấu hổ, nên cứ co mình ở trong nước, chỉ để lộ bờ vai trở lên, chiếc áo mỏng trên người dính chặt vào vai.

Hà Điền vươn cánh tay, cầm xơ mướp làm ra điệu bộ: “Thế này, chà từ trên xuống dưới, từ trái qua phải, mà thôi, tùy cô, cứ chà toàn bộ lưng đi, lát nữa tôi sẽ chà lại cho cô.” Nói xong cô kéo tay Dịch Huyền, nhét xơ mướp vào tay cô ấy.

Thật ra, đợt Tết vừa rồi cô đã muốn nhờ cô ấy chà lưng cho mình rồi kìa! Nhưng lúc đó cả hai còn chưa thân, mới quen biết chưa đầy một trăm ngày, giờ thì khác rồi, bên nhau gần cả một mùa đông rồi! Đây là tình bạn đã cùng nhau bắt được gần 400 con chồn, chắc không có vấn đề gì khi phải chà lưng cho nhau đâu nhỉ?!

“À.” Dịch Huyền cầm xơ mướp, chà thử bên trong cánh tay mình vài cái: “Làm như thế này phải không?”

Hà Điền còn chưa kịp nói gì, cô ấy đã vứt xơ mướp đi, hét lên một cách quái dị rồi nhảy lùi lại phía sau, chỉ vào “sợi dây” màu trắng xám trên cánh tay mình: “Đây là cái gì?!”

“Hờm đó!” Hà Điền nhặt xơ mướp nổi trên mặt nước, nắm lấy cánh tay của Dịch Huyền rồi chà thêm vài lần nữa. Trong tiếng la hét của Dịch Huyền, càng có thêm nhiều chất bẩn rơi xuống.

“Kêu la cái gì! Nó không phải là ký sinh trùng, chẳng qua chỉ là lớp bụi bẩn và da chết bám trên da suốt cả mùa đông mà thôi.” Hà Điền nắm lấy cánh tay Dịch Huyền để ngăn cô ấy vùng vẫy, nâng cánh tay của cô ấy lên cao hơn một chút, lại đẩy tay áo đến nách, rồi chà sạch toàn bộ cánh tay của cô ấy hai ba lần. Lớp bụi bẩn bị chà cuộn lại giống như sợi dây rơi xuống, cánh tay màu ngà của Dịch Huyền cũng bị chà xát thành màu đỏ nhạt.

Trong lúc được Hà Điền kỳ cọ, Dịch Huyền liên tục phát ra âm thanh “Ahhhhh” kỳ quái, giống như đang bày tỏ sự cảm thán nhưng cũng có chút gớm ghiếc: “Sao tôi có thể bẩn như vậy?”

“Tôi đã nói với cô rồi, nó không bẩn, đó là da chết bị bong ra bởi nước nóng, trông hơi đáng sợ một chút mà thôi.” Hà Điền cảm thấy Dịch Huyền lúc này hơi kỳ lạ, dám chắc tám mươi phần trăm là từ bé đến lớn cô ấy chưa từng tắm mà kỳ cọ bao giờ, thảo nào cô nàng này đi tắm mà lại mặc đồ dài tay.

Hà Điền nắm lấy một cánh tay của Dịch Huyền, chà xong, sau đó nắm lấy cánh tay còn lại, kéo ống tay áo của cô ấy lên bắt đầu chà. Chẳng mấy chốc hai cánh tay đã bị Hà Điền chà cho đỏ bừng: “Ở chỗ của cô không tắm giống như thế này sao?”

“… Không có.” Trong làn hơi nước mờ mịt, Dịch Huyền đỏ mặt, không biết có phải là vì cô ấy không thể chấp nhận được việc cơ thể mình lại có những “sợi dây” như vậy hay là vì lý do nào khác, cô ấy xoay mặt đi rồi ngẩng đầu lên, nhìn chằm chằm vào màn sương lơ lửng trên đầu họ.

Hà Điền khẽ cười, nhìn thấy những giọt nước nhỏ từ tóc và lông mày đen nhánh của Dịch Huyền, cô sững sờ, vô thức đưa tay ra lau lúc nào cũng không hay.

Sau khi chà hai cánh tay xong, Hà Điền định hỏi có muốn cô chà lưng cho cô ấy trước không thì Dịch Huyền đã cầm lấy miếng xơ mướp: “Chỉ cần dùng sức thế này sao?”

“Ừ.” Hà Điền quay lưng lại, gom mớ tóc ướt từ gáy l*n đ*nh đầu, cầm đuôi tóc rồi quấn vài vòng, cố định thành búi, dùng một cây sậy mỏng cột lại. Khi quấn tóc, hai bàn tay cô đều đang ướt, nước vung tung tóe khắp nơi, có vẻ như đã bắn vào mắt của Dịch Huyền, cô ấy quay mặt đi, lau mắt.

“Xin lỗi!”

“Tôi không sao! Cô… Quay lưng lại đi, tôi sẽ lau lưng cho cô.” Dịch Huyền nói xong, ấn vai Hà Điền xuống để cô quay lưng về phía mình.

“A.” Hà Điền đã đứng vững, nhưng Dịch Huyền lại không có động tác gì, cô đang định quay đầu nhìn lại xem có chuyện gì thì một cơn gió đêm thổi qua, lau sậy xung quanh khẽ đung đưa, tuyết trên cành rơi xuống. Một số trong số chúng rơi trên mặt nước, biến thành những bọt nước nhỏ. Hà Điền vươn tay ra hứng tuyết, nghe thấy Dịch Huyền thở ra thật sâu, sau đó ấn tay trái lên bả vai của cô, tay phải nắm lấy xơ mướp, rất nghiêm túc xoa lưng cho cô.

Lúc này sắc trời đã về chiều, qua lớp hơi nước mờ ảo, họ có thể thấy bầu trời chuyển sang màu xanh tím, phía chân trời còn có viền màu cam.

Xung quanh yên lặng, chỉ có tiếng nước khi Dịch Huyền cử động.

“Tối mai trên đường trở về, chúng ta sẽ đến một suối nước nóng ở gần đây, trong nước có một ít lưu huỳnh và khoáng chất, ngâm mình cả năm sẽ không bị bệnh ngoài da, còn tốt cho xương khớp nữa. Ngay cả Gạo cũng thích ngâm ở đó, có kéo cách mấy nó cũng không chịu lên bờ.”

Hà Điền nói xong, trong lòng thở dài, người lần trước chà lưng cho cô vẫn là bà. Thực ra, buộc sơ mướp vào một thanh tre nhỏ cũng có thể tự chà lưng, nhưng làm sao có thể sạch hơn có người giúp chà được?

“Rất nhiều chất bẩn, đúng không?”

“Không nhiều giống tôi vừa rồi.”

“Hahaha! Này, cô không chê tôi bẩn đó chứ?”

“Vừa rồi cô cũng đâu có chê tôi bẩn! Từ khi sinh ra đến giờ tôi đều không có chà lau như vậy.”

Hà Điền nở nụ cười, yên lặng tận hưởng sự phục vụ của Dịch Huyền, nói: “Để tôi chà lưng cho cô.”

Tay Dịch Huyền dừng lại một lúc, giọng nói có chút buồn bực khó chịu: “Không cần đâu.”

“Sao vậy?” Cô quay đầu lại.

“Đừng quay đầu lại! Ở yên đó!” Cô ấy đột nhiên gắt giọng.

Hà Điền nhún vai khẽ cười. Cô đợi Dịch Huyền chà thêm vài cái, đột nhiên xoay người lại ôm lấy Dịch Huyền: “Haha!”

“A -” Dịch Huyền bị doạ cho nhảy dựng lên, ôm lấy ngực mình lùi ra sau, sau đó trượt xuống trong nước, chỉ lộ ra một cái đầu.

Hà Điền, người đã thành công trong trò chơi khăm, còn cười chỉ vào Dịch Huyền: “Cô tắm mà mặc quần áo thì cũng thôi đi, còn cầm gậy theo làm gì vậy hả? Cô sợ quái vật dưới nước cắn mình à?”

Mặt Dịch Huyền đột nhiên đỏ bừng lên, cô ấy trề cái miệng tam giác, thở mạnh vài cái, đột nhiên gầm lên một tiếng thật lớn, hai nắm tay đấm xuống mặt nước vì tức giận, làm cho bọt nước văng lên, phun trúng mặt và đầu Hà Điền.

Lúc Hà Điền cười ha ha lau nước trên mặt, Dịch Huyền xoay người lao vào nước bơi đi.

Hà Điền cười thêm một lúc mới nhận ra Dịch Huyền đang thực sự tức giận.

Cô nhặt xơ mướp trôi trên mặt nước, yên lặng chà lau người, một lúc sau cô mới cảm thấy có điều gì đó không ổn. Cô vốn cho rằng Dịch Huyền đã ngừng tắm rửa và lên bờ, nhưng cô ấy đã đi rồi, mà bộ quần áo thay đổi vẫn còn treo trên lau sậy.

Hà Điền gọi cô ấy vài tiếng, nhưng không thấy tiếng cô ấy trả lời, đành phải lội về phía cửa vào.

Mặt hồ phẳng lặng.

“Dịch Huyền?” Hà Điền đột nhiên trở nên lo lắng, đừng nói là cô nàng này tức giận bơi đến giữa hồ rồi chết đuối rồi đó chứ?

Sau đó Hà Điền mới nhớ ra mình chưa từng hỏi Dịch Huyền xem cô ấy có biết bơi hay không.

“Dịch Huyền ——” Hà Điền vô cùng lo lắng, vội bơi ra giữa hồ, hơi nước trên mặt hồ bốc lên trắng xóa, trời lại sắp tối, làm sao tìm được đây!

Ngay khi cô đang lo lắng, Dịch Huyền đã từ một khoảng cách ngắn gần đó ló đầu lên, vẫy tay với cô. Trên tay cô ấy đang cầm một thứ gì đó giống như một cành cây dày, trên đó vẫn còn đang ch** n**c bùn.

“Tôi không sao! Ở đây còn có củ sen!” Dịch Huyền chậm rãi lội tới, cách Hà Điền hai ba mét thì dừng lại, ném khúc cây dính bùn trên tay cho cô: “Bắt lấy! Đem đi rửa sạch, thứ này rất ngon đó.”

“Ừ.” Hà Điền bắt lấy hai khúc bùn nặng nề với vẻ ghét bỏ. Ở giữa của nó có mắt đoạn, mặt cắt là chín lỗ rỗng, thứ này có thể ăn được sao?

Lần này Dịch Huyền không bơi xa, cô ấy bơi đến bên cạnh một cây thủy sinh có lá khô lớn gần đó rồi lặn xuống nước, ngay sau đó rút lên một khúc bùn gọi là “củ sen”.

Hà Điền cầm lấy khúc bùn, à là củ sen, đem về ao rửa sạch bùn trên đó, thì thấy nó là rễ của loại cây thủy sinh đó.

Củ của nhiều loại cây có thể ăn được và rất giàu tinh bột, vì vậy có lẽ Dịch Huyền nói đúng.

Cô đặt củ sen đã rửa sạch trên cây sậy, Dịch Huyền lại chuyển lên thêm vài củ sen nữa. Một lúc sau, một đống thứ này được chất đống trên bãi sậy ven ao. Sau đó, Dịch Huyền mang về một vài vật giống như tổ ong, nói rằng nó là đài sen, trong đó có hạt giống của củ sen, gọi là hạt sen. Hạt sen ăn cũng ngon.

À… Thôi thì cứ tạm tin rằng thứ cứng như hạch này thật sự có thể ăn được đi… coi như là xin lỗi vì vừa rồi khiến cô ấy tức giận.

Khi Dịch Huyền bơi trở lại, trên mặt mang theo ý cười, như thể đã quên mất chuyện vừa rồi: “Canh nấu từ củ sen rất thơm, cô mang về, gọt sạch vỏ, cắt nhỏ rồi nấu với một ít thịt và xương, táo đỏ, chỉ cần thêm thêm một chút muối là đã ngon rồi.”

Cô ấy dặn dò Hà Điền: “Tôi đi đào thêm, cô về trước đi.”

“Ừ.” Hà Điền rửa sạch tóc, ngồi ở trên tảng đá vắt cho khô, lau khô người, quấn khăn tắm, hô to về phía mặt hồ: “Cô nhớ về sớm đó! Trời tối rồi.”

Xa xa có tiếng Dịch Huyền đáp lời.

Hà Điền đem mớ củ sen này về lều, chân hoẵng nướng trên đống lửa đã thơm vàng, ch** n**c mỡ, phát ra tiếng xèo xèo trên lửa.

Cô cắt phần đùi nướng rồi bày ra dĩa, lấy một ít sườn non chặt thành từng khúc, cho vào chảo sắt cùng với củ sen đã được cắt thành từng khoanh dày và một ít táo đỏ, nấu món canh theo ý của Dịch Huyền.

Khi đang cắt thịt ức của hoẵng, Hà Điền nhìn xuống b* ng*c của mình, nghĩ đến phản ứng vừa rồi của Dịch Huyền, cô đã hiểu được một chút.

Ngực của Dịch Huyền rất rất phẳng. Vừa rồi ở trong nước, xuyên qua hơi nước và quần áo cô đã nhìn thoáng qua, thật là đáng thương. Hơn nữa, còn không có một chút đường cong mềm mại nào cả, mà ngược lại, nó có những đường cơ rõ ràng như cánh tay của cô ấy vậy.

Lại nghĩ, trên cánh tay của Dịch Huyền nổi lên những mạch máu màu xanh, nếu không có làn da trắng và bóng loáng thì sẽ không giống với cánh tay của một cô gái một chút nào.

Hèn gì một mình mà lại có thể vác được hai cái giỏ.

Cũng khó trách cô ấy lại không vui.

Một lúc sau Dịch Huyền quay lại, vui vẻ xách một thùng đầy củ sen, phải chạy đi chạy lại hai lần mới xong.

Món canh nấu từ củ sen và xương rất ngọt, Hà Điền cắn một miếng rễ đầy lỗ, ngay lập tức thích vị bùi và ngọt của nó.

“Ngâm hạt sen, bỏ lõi bên trong, nấu chung với nấm trắng, táo đỏ, long nhãn thành món canh ngọt, ăn cũng rất ngon.”

“Bây giờ chúng ta đang ăn củ sen già. Củ sen non còn ngon hơn nữa. Cắt thành từng lát mỏng rồi rắc thêm một chút đường, vừa giòn vừa ngọt, ăn rất sướng miệng, giống như trái cây vậy.”

“Cho gạo nếp vào củ sen, hấp chín, chế mật lên…”

“Cắt thành từng lát rồi xào với đậu ngọt, hạt dẻ và đậu đàn hương…”

Nói đến cách ăn củ sen và hạt sen, Dịch Huyền nói liền một mạch.

“Còn nữa, củ sen băm nhỏ, xay bột… Ừm, chính là lấy tinh bột bên trong ra, là bột củ sen, cho nước vào nấu sôi lên là có thể ăn, rất thơm và ngọt, nếu có thể cho thêm hoa quế vào thì càng ngon hơn nữa.”

Hà Điền nghe mà nuốt nước bọt, món ngon như vậy mà cho tới hôm nay cô mới được biết đến! Hơn nữa, thứ này còn luôn được giấu ở nơi mà mắt cô có thể nhìn thấy!

Tác giả: Vì đã bỏ hết quần áo, bắt đầu từ chương sau, nhân vật nam chính luôn bị hiểu lầm là con gái sẽ chính thức trở thành “Anh”!
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 23: Miến cá viên


Khi đi họ đều mang trên mình nhiệm vụ, vì vậy trên đường họ đi rất vội vàng, không có nhiều tâm trạng để vui chơi. Khi về, vì đã thu hoạch được rất nhiều lưu huỳnh, nếu bảo quản tốt thì có thể dùng đủ đến hai hoặc ba năm, Hà Điền nghĩ đến việc sau đầu mùa xuân Dịch Huyền sẽ rời đi, về sau không biết đến khi nào mới có thể gặp lại, nên lúc này bọn họ đi rất thong thả, vừa đi vừa chơi.

Khi đi chỉ mất ba bốn ngày, còn quay về thì mất đến tận sáu ngày.

Chiều hôm sau họ lại đến một ao nước nóng khác, tắm xong thì lùa Gạo xuống để cho nó tắm rửa, anh chàng này thật sự đúng như lời Hà Điền đã nói, thoải mái đến độ không muốn đi lên.

Sau đó họ lại đi đến khu rừng mới kia. Hà Điền bắn được một con gà gô và tìm thấy một vài quả thông chưa bị sóc và sóc chuột ăn. Họ bóc những quả thông ra, cho vào bụng gà gô đã được làm sạch, dùng cỏ khô buộc chặt bụng gà lại, sau đó dùng bùn trộn lá thông bọc toàn bộ gà lại như khi nướng cá lúc trước rồi cho vào lửa trại.

Thịt của con gà này ăn ngon vô cùng.

Dịch Huyền đang ăn thịt gà, đột nhiên cảm thấy có chút tiếc vì đã không mang về một ít lá sen.

“Dùng lá sen khô bọc thịt gà, gạo nếp, một ít nấm và tôm khô lại, cho vào nồi hấp chín, làm thành món xôi gà lá sen.” Anh dùng tay ước lượng kích cỡ: “Túi to cỡ như thế này, tôi ăn một lần được đến năm sáu cái. Lá sen có một mùi thơm ngát, rất đặc biệt… “

Hà Điền nghe xong đã đại khái biết được công thức của món ăn này: “Tôi nghĩ là không phải dùng lá sen già đâu. Chắc là hái lá sen tươi về rửa sạch, phơi khô rồi mới nấu. Lá già thì đã trải qua sương gió, nắng nôi, làm sao có được mùi thơm ngát nữa.”

“Đúng nhỉ.” Dịch Huyền giật mình, sau đó mỉm cười, hai mắt sáng ngời nhìn Hà Điền: “Cô nói xem, mùa hè chúng ta có thể lại đến hồ sen đó được không? Hái củ sen tươi, hạt sen và lá sen! À! Ngoài ra còn có trà sen nữa, chọn một búp sen, đặt túi lụa đựng lá trà vào trong búp, buộc lại, vài ngày sau lấy ra, trà đã được ủ, có mùi thơm nghi ngút của hoa sen.” Anh xòe hai tay ra: “Hoa sen rất lớn, có màu hồng, trắng và cả vàng nhạt. Tâm của hoa chính là nhụy sen, khi lớn lên sẽ là đài sen đó.”

Dịch Huyền đột nhiên hào hứng vỗ vỗ cánh tay Hà Điền: “Ôi, sao tôi lại quên mất! Tên của cô là – Giang Nam khả thải liên, liên diệp hà điền điền. Cô xem, tên của cô đã nói lên tất cả, sao cô lại có thể không đi hái sen được nhỉ?”

Hà Điền nhìn khuôn mặt tươi cười của Dịch Huyền, vốn cũng cười, nhưng dần dần, cô cúi đầu xuống, nhặt một cành cây lên, khều khều củi trong đống lửa: “Chỉ có một mình tôi, muốn đến đây hái sen thì có chút khó khăn.”

Dịch Huyền nghe xong cũng trầm mặc theo.

Sau một lúc, Hà Điền ngẩng đầu lên nói: “Dịch Huyền, mùa xuân sắp đến rồi, cô có chắc là mình sẽ đi đâu chưa?” Cô mím môi nói khẽ: “Nếu… cô muốn ở lại, cũng rất tốt.” Cô nói xong, nhìn Dịch Huyền.

Dịch Huyền nhìn cô rồi quay mặt đi chỗ khác. Một lúc sau, anh nói: “Để tôi suy nghĩ lại.”

Rời khỏi rừng thông, họ tiếp tục lên thuyền, không biết có phải là do hơi thở của mùa xuân đã lặng lẽ đến khi họ đi đi về về hay là do tâm trạng thay đổi, mà dù cho những cánh rừng hai bên vẫn khoác lên mình tấm áo tuyết trắng nhưng cảnh vật lại trông khác hẳn.

Những cành cây và cỏ khô gần bờ sông đọng hơi nước, hơi nước đọng lại thành băng, sáng long lanh lóng lánh, trong suốt như là pha lê.

Dịch Huyền vừa chèo thuyền, vừa dùng một cành cây đánh rơi những viên băng nhỏ treo trên cây cỏ ven bờ, những viên băng ấy rơi xuống thuyền, phát ra tiếng vang lộp bộp, Dịch Huyền cầm nó lên, ném vào Gạo đang bơi ở bên mạn thuyền.

Gạo tưởng được thưởng nên cúi gằm mặt nhìn xuống nước, nhưng viên băng rơi xuống nước thì sao có thể tìm thấy được nữa, nó quay đầu nhìn xung quanh rồi ngửa cổ lên thất vọng hừ hừ.

Dịch Huyền bật cười, cho vào lòng bàn tay một ít đậu nành rang rồi đưa cho Gạo.

Khi đến khu rừng nơi bầy quạ sinh sống, Hà Điền nhìn thấy những con cá đông cứng trong “tủ lạnh” mà tiếc hùi hụi: “Nếu Lúa vẫn còn thì nhất định sẽ thích lắm.”

Vị của cá hồi đông lạnh cũng không đến nỗi tệ. Những khi mùa đông không được mùa, bà cô còn nhặt những con cá này đem về nhà ăn.

Lúa cũng thích ăn.

Dịch Huyền hỏi về Lúa và bà, Hà Điền nói với anh. Hiện tại cô đã có thể nói về chuyện này một cách rất bình tĩnh.

“Cô thấy đó, các bác sĩ giỏi nhất đều sống ở những thành phố mạnh nhất, nhưng nơi có nguy cơ thương tổn cho con người cao nhất, lại có ít bác sĩ nhất.”

“Đây là một nghịch lý.”

Khi một lần nữa đi qua hồ nước đóng băng, Hà Điền lấy ra hai chiếc giày trượt. Đầu tiên cô mang giày rơm vào rồi làm mẫu cho Dịch Huyền. Trên bề mặt của băng không có nhiều tuyết động, Hà Điền nhẹ nhàng lướt trên mặt băng và vẽ một vòng cung hình số “8”.

“Cô cũng thử đi!”

Dịch Huyền buộc dây giày trượt băng của mình, loạng choạng đứng lên rồi nhanh chóng trượt một cách lưu loát và duyên dáng.

Họ đặt thuyền lên, đẩy qua hồ một cách dễ dàng.

Lúc này, Gạo đã được bộc rơm vào chân, chỉ mới đi được một nửa hồ.

Hà Điền huýt sáo, Gạo mới chạy đến.

“Lúc đi, tôi quên là mình có mang giày trượt băng.” Hà Điền nói khi đang cởi giày trượt: “Mỗi năm khi mùa xuân đến, sông lại dâng cao và đóng băng, nhiều hồ băng nhỏ sẽ được hình thành trong rừng, vì vậy tôi đã mang theo chúng để chơi. Chao ôi, làm con nít thật thích.”

“Cũng không hẳn…” Dịch Huyền suy nghĩ một chút: “Ví dụ như khi tôi còn nhỏ, mỗi ngày đều bận rộn hơn bây giờ rất nhiều. Tôi phải học rất nhiều thứ. Nếu học không tốt, tôi nhất định sẽ bị thầy đánh. Rồi còn phải đi thi, xếp hạng, thành tích không tốt thì bị phạt. Cho nên lúc nào cũng sợ sệt lo lắng, thấy thầy cô thì như chuột thấy mèo.”

“Những đứa trẻ ở đó đều như vậy sao?” Hà Điền cau mày, cảm thấy những đứa trẻ sống ở thành phố thật sự rất đáng thương. Trẻ con trong rừng không có trường học, không có giáo viên, người nuôi chúng chính là giáo viên của chúng. Những lời nói và việc làm của người lớn đều rất mẫu mực, đem kỹ năng và kinh nghiệm truyền lại cho con cháu của mình.

Dịch Huyền lắc đầu: “Cũng có trẻ con được tự do ăn, uống và vui chơi. Nhưng tôi… ” Anh đột ngột dừng lại, thở dài ngao ngán: “Thầy tôi nói, những đứa trẻ được nuôi như vậy sẽ không tốt, lớn lên chỉ là người vô dụng. Một khi chết đi, sẽ giống như một con cá, mặc cho người ta xẻ thịt.”

Hà Điền ngây ngẩn cả người, “thầy” của Dịch Huyền nói cũng có lý, nhưng mà nếu học không tốt thì sẽ bị đánh ư? Chuyện này không phải quá đáng sợ rồi sao?

Ngay cả chính bản thân cô cho đến bây giờ vẫn còn viết sai chữ, có một số từ phải xem từ điển thì mới hiểu được, mấy cuốn sách trong nhà cô cũng chưa từng đọc kỹ, nét chữ cũng không đẹp, nhưng như vậy thì có làm sao?

“Chỗ của cô có tổ chức thi thố gì để được làm quan không?”

“Chưa từng nghe nói qua.”

Hai người nhìn nhau cười.

Khi băng qua con đường rừng do ông bà Hà Điền mở, Hà Điền và Dịch Huyền dần thay đổi từ tâm lý thoải mái nghỉ ngơi trở lại thái độ làm việc thường ngày.

Những cây đã bị chặt vẫn sẽ tiếp tục phát triển, chỉ cần rễ của nó vẫn còn trong đất và không bị sâu bệnh, chúng sẽ mọc ra cành mới, và chẳng bao lâu nữa sẽ chặn hết con đường trong rừng.

Vì vậy, khi Hà Điền và Dịch Huyền đi ngang qua, họ lấy ra một chiếc rìu, chặt hết tất cả những cành mới đi.

Họ về đến nhà vào sáng ngày thứ bảy.

Cuối cùng, sau khi về đến nhà, việc đầu tiên họ làm là chất đống cỏ khô dễ cháy trên lỗ băng, đốt lửa, sau đó cho gỗ nhỏ vào, để ngọn lửa làm tan băng trên lỗ, từ đó việc đục lại lỗ băng sẽ dễ dàng hơn rất nhiều.

Lần này Gạo có công rất lớn, Hà Điền cởi bỏ tất cả thòng lọng trên người nó xuống, cho nó ăn cỏ khô và đậu nành, sau đó dùng bàn chải làm từ lông heo chải từ đầu đến chân cho nó.

Cửa ra vào và cửa sổ của căn nhà không bị đóng băng, nhưng nước trong vại thì đã đóng thành băng.

Trước khi rời khỏi nhà họ đã làm cạn một vài vại nước, nước trong vại nuôi cá cũng được đỗ đi một nửa, nhưng không có bể nào bị nứt.

Họ lại một lần nữa đốt lửa lên, để cho căn nhà nóng lên trước.

Hà Điền đem số quặng lưu huỳnh vất vả lắm mới thu thập được cho vào một số vại sành, đậy kín rồi chia ra cất trong hai nhà kho. Trong kho cất giữ lưu huỳnh có một góc rất thông thoáng, là một cái bể vuông được xây bằng gạch đất sét, sau khi đặt vại sành vào đó, họ đổ cát vào giữa các vại để lấp các khoảng trống lại.

Công việc vận chuyển vại đất và cát về cơ bản đều do Dịch Huyền đảm nhận.

Cất lưu huỳnh đi, căn nhà trở nên ấm áp hơn một chút, Hà Điền và Dịch Huyền lại ra bờ sông.

Trên mặt băng, lửa xung quanh hai lỗ băng đã sắp tắt, băng ở xung quanh bề mặt lỗ cũng đã tan thành một cái khe, dùng một thanh tre nhọn c*m v** khe hở đó, đục dọc theo mép lỗ rồi túm lấy thanh gỗ mà trước khi rời đi họ đã cố định ở đó, sau đó lắc trái lắc phải, chẳng mấy chốc cả lớp băng đã tách ra.

Trong mười ngày họ ra ngoài này, lớp băng trên lỗ băng đã đóng băng lại với độ dày sáu, bảy cm.

Sau khi lỗ băng được mở ra, họ kéo lưới lên.

Lần này lưới nặng hơn trước.

Hà Điền đã sớm đoán được điều này nên đã mang Gạo theo hỗ trợ.

Lưới đánh cá cuối cùng cũng được kéo lên, đàn cá lớn thả mình nhảy trên mặt băng một lúc rồi hóa thành đá, đem tuyết trên sông và lưới đánh cá đóng băng, kết chặt lại với nhau.

Hà Điền và Dịch Huyền lần lượt vớt cá vào giỏ, tổng cộng có hai mươi mấy con cá lớn nhỏ, nếu lưới đánh cá lớn hơn một chút thì có thể sẽ lưới được nhiều cá hơn nữa. Nhưng cũng sợ rằng sẽ còn khó kéo lên hơn.

Họ mang cá về nhà, lấy nước, một lần nữa đổ đầy vại, sắp xếp hành lý và dọn dẹp lại nhà cửa.

Hà Điền lấy một chiếc bình đất trông rất độc đáo từ kho cất giữ chai lọ ra, đặt lên bàn rồi cắm một vài đài sen mà Dịch Huyền đã hái vào. Cô lùi lại vài bước, nghiêng đầu đánh giá một lúc, lại tìm vài cây cỏ lau vốn được dùng để giữ ấm cho củ sen, chọn những ngọn có bông cắt thành nhiều độ dài khác nhau cho vào lọ, điều chỉnh một chút rồi quay lưng lại hỏi Dịch Huyền, vốn đang đứng sau lưng cô lặng lẽ quan sát: “Trông đẹp không?”

Dịch Huyền nhìn Hà Điền cười một lúc lâu, duỗi một ngón tay ra, nhẹ nhàng chạm vào một lọn tóc xoăn trên đỉnh đầu của cô: “Ừ. Rất đẹp.”

Sau khi nếm thử hương vị của canh xương và thịt củ sen, thấy Hà Điền rất thích nguyên liệu mới lạ này nên Dịch Huyền đã lại đi đào thêm một ít củ sen nữa. Hà Điền cũng muốn đi, nhưng Dịch Huyền nói với cô rằng việc này cần phải có kinh nghiệm dày dặn, nếu không sẽ rất nguy hiểm, bỏ mặc cô trên bờ.

Cuối cùng củ sen được đựng trong hai chiếc hộp gỗ lớn, vận chuyển về cũng mất rất nhiều công sức.

Hà Điền sợ củ sen sẽ bị hỏng do đóng băng nên đã lót một lớp lau sậy vào hộp gỗ, giữa mỗi lớp củ sen cũng được lót một lớp để đảm bảo chúng không bị hư hỏng trên đường vận chuyển. Ruột lau sậy rỗng nên còn có thể giữ ấm.

Sau khi về đến nhà kiểm tra lại, vẫn có một số cũ bị đóng băng và gãy.

Hà Điền có chút hối hận: “Bây giờ tôi nghĩ lại, cảm thấy thật ra chúng ta không nên rửa hết bùn trên củ sen đi. Cứ mang nguyên bùn về luôn, khi nào muốn ăn thì đem bùn rửa sạch.”

“Vậy thì lần sau thử xem.” Dịch Huyền nói xong thì nhìn Hà Điền: “Dù sao thì tôi cũng vẫn phải đợi đến khi chợ xuân mở cửa, đổi lông chồn lấy tiền rồi mới có thể rời đi được. Có lẽ vẫn còn thời gian.”

Hà Điền cười cười, không nói lời nào.

Củ sen là một loại thực phẩm mà Hà Điền không quen thuộc, Dịch Huyền thì chỉ hiểu được phần “ăn”, còn về cách bảo quản thì hoàn toàn không hiểu biết gì cả, vì vậy củ sen được chia thành nhiều phần rồi đặt ở nhiều nơi khác nhau, mong rằng sẽ có cách bảo quản đúng.

Hầu hết các củ sen đều được quấn bằng cỏ khô và lau sậy rồi cho vào hầm, một số củ được cho vào bình gốm cùng với một ít nước rồi đặt ở nơi thoáng mát trong nhà.

Lúc này đã sớm qua giờ ăn trưa, Hà Điền hỏi Dịch Huyền: “Cô muốn ăn gì?”

Dịch Huyền suy nghĩ một chút: “Cũng không có gì đặc biệt muốn ăn. Cô có thể làm món miến với những viên thịt nhỏ giống lần trước không?”

“Có thể.”

Hà Điền lấy một con cá vừa bắt được hôm nay nhờ Dịch Huyền l*t s*ch da và rửa sạch, chỉ lấy phần thịt béo nhất ở hai bên thân cá rồi băm nhuyễn, nêm vào một chút tiêu và muối. Đun sôi một nồi nước nóng, lấy một cái chén nhỏ đựng tinh bột khoai tây, dùng muỗng sắt múc một muỗng thịt cá, lăn bột, vớt ra, thả vào nước sôi, những viên cá lăn tăn trong nước sôi một lúc rồi nổi lên. Tiếp đó có thể dùng một chiếc muôi tre vớt lên để một bên lát nữa dùng đến.

Dịch Huyền ngồi ở một bên xem một lúc thì ngỏ ý muốn giúp, tốc độ làm cá viên còn nhanh hơn cả Hà Điền.

Chẳng mấy chốc thịt cá băm nhỏ đã trở thành những viên cá viên, bề mặt nhẵn bóng, bốc lên cho vào miệng, thấy mềm và tươi ngon vô cùng. Nước ngọt của thịt cá dường như đều đọng lại hết bên trong cá viên.

Một con cá làm được hai dĩa cá viên lớn. Hà Điền đặt một dĩa ở ngoài cửa, đem phơi rồi cất đi, lúc nào muốn ăn thì cho vào nước sôi luộc chín.

Cô đổ nước dùng để luộc cá viên đi, đổi sang một nồi nước sạch, đun sôi, rồi cho miến khoai tây, cải chua thái sợi và cả cá viên vào.

Tô miến này đã sẵn sàng.

Những viên cá mềm và trong như pha lê, cùng với những sợi miến khoai tây có màu trắng mập mạp, được trang trí bằng cải thảo muối cay màu xanh ngọc và một chút ớt đỏ, trông rất ngon.

Ăn xong bữa cơm này đã là bốn giờ chiều, mặt trời xuống núi, ánh nắng khi mặt trời lặn phủ lên tuyết trước cửa, phản chiếu tuyết trắng thành màu da cam.

Hà Điền và Dịch Huyền ngồi bên bếp lửa, đập và lấy hạt sen ra.

Hà Điền nhìn những hạt sen đen và cứng này, trong lòng lại nghi ngờ không biết thứ này có thật sự ăn được hay không.

Cô cho hạt sen vào một cái chậu đất rồi đổ một ít nước vào, hy vọng sau một đêm ngâm, lớp vỏ cứng của hạt sen sẽ mềm và có thể lấy hạt ở bên trong ra.

Trời sắp tối.

Hà Điền và Dịch Huyền ngồi trước bếp lửa đã cảm thấy ấm áp trở lại, ngoài cửa sổ lại có tuyết rơi.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 24: Bánh bột củ sen hoa hồng và hạt dẻ


Sau khi ngâm hạt sen qua một đêm, lớp vỏ cứng màu đen cuối cùng cũng mềm hơn, hai người vất vả lắm mới tách bỏ được lớp vỏ này, Dịch Huyền ngạc nhiên khi thấy hạt sen bên trong không phải là màu trắng mà anh đã thấy trước đó. Nó có màu xám đen.

Về phần món canh hạt sen ngân nhĩ thì ở chỗ Hà Điền không có ngân nhĩ, cô chưa từng nghe qua món long nhãn này. Nhưng táo đỏ thì cô có.

Họ bóc hạt sen, bỏ lõi, nấu với táo đỏ, món canh họ nấu không ngon lắm, không nếm được mùi vị của loại nguyên liệu mới phát hiện này, chỉ có vị ngọt của táo đỏ.

Dịch Huyền cho rằng đó là do hạt sen quá già.

“Hạt sen tươi ăn rất ngon! Nhà tôi… nơi tôi từng ở… trong vườn có một cái đầm sen. Hàng năm khi mùa hạ bắt đầu, hoa sen cứ liên tục nở rộ, đóa sen rất to, bên trong là nhụy sen và đài sen, sau khi tàn trông rất đẹp, vì có một đài sen nhỏ. Đài sen lớn lên một chút, khi còn xanh thì hái, xé và lấy hạt sen ra, lúc đó vỏ của hạt sen cũng có màu xanh, có thể lột vỏ ra rất dễ dàng, hạt sen có màu trắng và vị rất ngọt, hạt sen sấy khô thì có màu vàng nhạt hoặc là trắng như răng vậy.”

Thấy Dịch Huyền cố gắng bảo vệ món ăn ngon mà anh từng thích, Hà Điền an ủi anh: “Không sao đâu. Món canh hạt sen không ngon có thể là do hạt sen quá già, hoặc vì do khác loại nên loại hạt sen này không thích hợp để ăn. Nhưng củ sen ăn khá ngon. Chúng ta thử làm món bột củ sen xem sao.”

Trước đây, họ cũng đã thử cắt lát củ sen xào lên ăn. Hà Điền đánh giá món này ăn ngon hơn rất nhiều so với giá đậu nành.

Củ sen được thái thành từng lát mỏng, bất luận là xào cùng với thịt khô và rau xanh, hay nấu trong nồi đất với cá muối, măng khô, nấm hương… thì vị giòn ngọt của củ sen cũng đều rất hợp với những nguyên liệu này.

Hà Điền đặc biệt thích xào với thịt khô và rau xanh. Cô còn nghĩ nếu củ sen có thể bảo quản được đến mùa xuân và có rau rừng thì chần qua, thêm chút dầu óc chó cho nguội rồi bào vài lát thịt đùi hươu ướp tăng thêm vị mặn, trước khi ăn thì rắc lên một chút đường trắng… Ôi, chỉ mới nghĩ đến đây mà nước miếng của cô đã chảy ra rồi.

Những củ sen mang về được bảo quản trong nhiều môi trường khác nhau, sau một tuần lễ, Hà Điền thấy những củ được đặt trong chậu là bảo quản tốt nhất. Thế là cô lại dọn một chậu nước vào trong nhà, cho củ sen vào chậu, thêm nước sạch, nước không đầy, chỉ cần vừa đủ để ngâm củ sen là được, hai ba ngày thì thay nước một lần.

Sau nhiều thử nghiệm nấu ăn khác nhau, Hà Điền chính thức xác nhận rằng củ sen là một nguyên liệu rất có triển vọng. Chỉ vì nó là một loại rau tươi có thể bảo quản được vào mùa đông ngoại trừ củ cải và bắp cải nên rất đáng được cân nhắc để trồng.

Nhưng củ sen phải trồng như thế nào?

Dịch Huyền hoàn toàn không biết gì cả.

Về cách làm bột củ sen, anh cũng không thể nói chính xác được các bước, nhưng Hà Điền đã có kính nghiệm chắt lọc tinh bột khoai tây và tinh bột khoai lang nên cô có thể hiểu được đại khái phải làm như thế nào.

Họ gọt vỏ củ sen, băm nhỏ, cho vào máy đập tay đập nát ra, cho thêm ít nước, ngâm một lúc sẽ có bột trắng chảy ra từ củ sen. Đó chính là tinh bột trong củ sen.

Trải một miếng vải bông vào trong chậu gốm, đổ cặn củ sen vào, dùng vải bông nén chặt lại rồi vắt mạnh, nước đục sẽ không ngừng chảy ra.

Đặt chậu gốm sang một bên để yên trong khoảng một giờ, khi tinh bột lắng xuống và tách khỏi nước, bột củ sen sẽ thành hình.

Hà Điền cẩn thận múc phần nước nổi bên trên đi, những gì đọng lại trong chậu là phần bột mịn màu hồng nhạt.

Cô lấy một tấm phên tre lớn vốn dùng để làm khô tinh bột khoai tây và tinh bột khoai lang ra, rồi dùng một chiếc muôi gỗ để di bột lên tấm phên tre và dàn đều.

Những giọt nước trong bột nhão chảy xuống cái chậu gỗ to dưới phên tre. Sau đó lại dùng muôi gỗ ấn nhẹ và đều vào bột để nước thừa ra hết.

Thực ra công việc chắt lọc tinh bột tốt nhất là nên làm vào mùa hè, khi thời tiết nắng nóng kéo dài. Không phải là không thể làm được vào mùa đông, nhưng phải đặt nó ở trên bếp, dùng độ nóng của lửa than để hong khô.

Buổi tối trước khi đi ngủ, phên tre không còn nhỏ giọt nữa, Hà Điền chuyển phên tre lên đặt ở trên nóc bếp rồi đặt một vài khối gỗ trên mép phên tre để có thể sấy khô bằng cách sưởi ấm và thoáng khí.

Hôm sau thức dậy, lại xới bột trong phên tre lên, tiếp tục phơi.

Sau khi toàn bộ bột đã khô và biến thành bột mịn, tinh bột củ sen xem như được chắt lọc thành công.

Bột củ sen mà Dịch Huyền vô cùng yêu thích còn có thêm mùi vị của cánh hoa quế. Nhưng Hà Điền không biết hình dạng của hoa quế trông như thế nào. Dịch Huyền nói đó là một loại hoa rất thơm và nhỏ, có lúc là màu vàng kim óng ánh, có lúc là màu trắng vàng. Cô đã từng nhìn thấy những cây tương tự trong rừng, nhưng bây giờ không phải là mùa hoa nở, lá cây cũng đều đã rụng hết. Mà cho dù nó vẫn còn lá đi chăng nữa, không có hoa, Hà Điền nghĩ Dịch Huyền cũng sẽ không nhận ra chúng.

Không có hoa quế, nhưng Hà Điền có một số hoa hồng dại và nụ hoa hồng được hái lúc đầu hè.

Cô trộn một ít bột củ sen với nụ hồng, đổ vào chậu tre, đậy kín lại. Mong rằng chậu bột củ sen này có thể hấp thụ được hương thơm của nụ hoa hồng, trở thành bột củ sen hoa hồng.

Phần bột củ sen còn lại cũng được cất đi, còn lại một lớp bột bám trên phên tre thì cô dùng một cây chổi nhỏ được làm bằng lông đuôi sóc gom lại, cho vào hai chiếc chén sành, thêm vào một chút đường.

Đun một nồi nước sôi, từ từ cho nước vào trong chén như lời chỉ dẫn của Dịch Huyền, vừa cho nước vào vừa khuấy.

Quả nhiên, bột trong chén đã biến thành một hỗn hợp sền sệt trong suốt, múc một muỗng nhỏ lên rồi đặt ở chóp mũi, còn chưa thổi nguội đã có thể ngửi thấy một mùi thơm ngào ngạt, ăn một ngụm, cảm thấy mịn và ngọt, mùi thơm càng thêm nồng hơn. Tinh bột khoai tây và tinh bột khoai lang không thể so sánh được với ưu điểm này.

Hà Điền ôm chặc Dịch Huyền: “Thật sự ăn rất ngon!”

Dịch Huyền nở nụ cười, mặt đỏ lên.

Sau khi bước vào tháng ba, ánh nắng mặt trời đã tăng lên với tốc độ có thể cảm nhận được.

Nhưng nước sông đóng băng vẫn không có dấu hiệu tan đi.

Trên đường đi lấy lưu huỳnh, họ chạy ngược dòng chảy trên sông băng, khi đi qua hai vách đá gần kề, Dịch Huyền đã nghĩ, nếu có thể xây một cây cầu ở đó, hoặc là một thứ gì đó thì họ sẽ có thể sang bên kia sông một cách dễ dàng.

Trước khi dòng sông băng tan ra, họ nên nhanh chóng hành động.

Ông bà của Hà Điền đã từng nghĩ đến việc xây dựng một cây cầu ở đó, nhưng trên vách núi không có thân cây nào đủ cao. Việc chặt cây từ nơi khác và kéo đến đó lại càng không thể. Vì vậy, họ đã thu thập rất nhiều dây leo dài, muốn bện dây thừng rồi giăng ván trên đó, làm một chiếc cầu dây, nhưng chưa kịp chuẩn bị dây thừng thì ông cô đã mất, chuyện này cũng đành gác lại.

Nhưng Dịch Huyền dường như vẫn quyết tâm xây dựng một cây cầu.

Dưới sự thúc giục của Dịch Huyền, cuối cùng Hà Điền cũng tìm được những cây dây leo dài trong một nhà kho bừa bộn đầy mạng nhện.

Có hơn chục chiếc giỏ mây to, chiếc nào cũng nặng, cho dù có được bện xong thì làm thế nào để vận chuyển vẫn là một vấn đề nan giải.

Dịch Huyền không quan tâm đến điều này, anh lấy dây ra bện. Lần này anh làm tốt hơn rất nhiều so với lần bện giày rơm. Dù sao chẳng qua cũng chỉ là bện bốn sợi mây lại thành một sợi dây thừng, một sợi dây leo dùng gần hết thì lấy một sợi khác thắt nút với sợi này lại rồi tiếp tục bện. Việc này đơn giản hơn nhiều so với bện giày rơm.

Vì vậy, trong khoảng một tuần tiếp theo, ngoài việc hàng ngày lưới cá, lấy nước và dọn dẹp, Dịch Huyền và Hà Điền còn ngồi bện dây thừng trong nhà.

Sợi dây leo thô sau nhiều năm vẫn dai, cứng nhưng thật ra cũng không dễ bện cho lắm, người bện phải thường dùng búa gỗ dần cho mềm hơn để uốn và tạo hình theo ý muốn. Cứ sau mười, hai mươi phút bện dây, các ngón tay sẽ bị đau vì phải bẻ cong dây leo thô cứng, cho dù có các dụng cụ như kìm búa này nọ, cũng chỉ khá hơn một chút.

Lúc này Hà Điền mới giật mình nhận ra, ý chí của Dịch Huyền thật là phi thường.

Anh có thể ngồi đó và không ngừng bện dây, ngón tay đau thì xoa, cổ đau thì ngoẹo đầu, rồi lại tiếp tục.

Hà Điền không làm được.

Cứ chốc lát cô lại đứng dậy pha cho hai người một tách trà, chốc lát thì đi chuẩn bị bữa trưa, chốc lát lại đề nghị: “Chúng ta làm món gì đó ngon nhé?”

Dịch Huyền ngẩng đầu lên: “Được. Cô muốn làm món gì?”

Hà Điền hỏi ngược lại: “Cô muốn ăn gì?”

Dịch Huyền suy nghĩ một lúc: “Tôi từng thích ăn một loại bánh ngọt, là nhân hạt dẻ và đậu đỏ. Tôi không biết nó có được cho thêm gì vào nữa hay không, chỉ nhớ là nó ngọt, trong suốt… nhưng cũng không quá ngọt đâu, còn có một chút hương hoa. Món này ăn khi uống trà chiều là tuyệt nhất. Nhưng mà làm món này có thể sẽ mất rất nhiều thời gian, cô không ngại phiền chứ?”

“Không phiền, không phiền!” Hà Điền nói xong, đã nghĩ về cách làm loại bánh này.

Hỏi Dịch Huyền, anh cũng chỉ có thể mô tả chi tiết hơn về hương vị và mùi vị của món ăn này ra sao, cũng như nó trông như thế nào, còn những gì trong đó, là hấp hay nướng, anh không thể nói được.

Hà Điền lấy ra đủ loại nguyên liệu nấu ăn khác nhau, đứng ở trước bếp lò suy ngẫm. Dịch Huyền lặng lẽ nở nụ cười.

Bện dây thừng vừa mệt mỏi vừa nhàm chán. Anh để cho Hà Điền nghỉ ngơi một chút, nấu chút gì đó ngon cho bọn họ. Chẳng phải là nhất cử lưỡng tiện sao? Vì vậy, anh đã nghĩ ra một món không dễ làm như vậy.

Hà Điền suy nghĩ một lúc, trong lòng đã nắm chắc nên làm như thế nào. Đậu đỏ và hạt dẻ là nguyên liệu có sẵn, bánh muốn trong mờ vậy thì phải dùng tinh bột, cái này cô cũng có. Thậm chí cô còn có tinh bột với một chút hương hoa — chậu bột củ sen hoa hồng kia bây giờ chắc là có thể ăn được rồi nhỉ?

Trước tiên, Hà Điền lấy ra một ít đậu đỏ, cho vào một cái nồi sắt nhỏ đun sôi một lúc, đặt ở ngoài nhà, sau đó nấu chín hạt dẻ trong một cái nồi khác rồi cho một ít tro thực vật vào.

Khi hạt dẻ sôi, cô đem nồi đậu đỏ vào nhà, đậu trong nồi đã đông cứng, để trên lửa đun với lửa to, nấu trong hai mươi phút vỏ đậu sẽ bung ra.

Lúc này hạt dẻ cũng đã nguội, vớt ra rửa lại bằng nước lạnh, lớp vỏ nâu có lông tơ trên hạt dẻ được tách ra rất dễ dàng.

Đậu đỏ cho vào nồi nấu hơn mười phút, đợi đậu mềm, nhừ thì cho đường vào khuấy nhẹ tay.

Lúc này lại tiếp tục nấu hạt dẻ. Sau hai mươi phút nấu, khi dùng đũa chọc vào hạt dẻ thấy nứt ra, lộ ra phần bột thì tức là hạt đã chín.

Để hạt dẻ một bên cho nguội, cho nhân đậu đỏ vào xào trước.

Trước khi xào nhân đậu đỏ, Hà Điền đã rây lại đậu bằng rây tre. Cho đậu vào rây rồi dùng muôi gỗ nhẹ nhàng ép xuống rây để đậu nhuyễn rơi xuống, những gì còn lại trong rây là bả đậu dày và vỏ.

Bình thường thì khi làm bánh đậu đỏ Hà Điền cũng không quá cầu kỳ như vậy, nhưng khi nghe Dịch Huyền mô tả “bánh đậu đỏ và hạt dẻ” có nói đến chi tiết hương vị của nó rất tinh tế, “tan chảy trong miệng”, cô cảm thấy cần phải rây lại.

Bả đậu cũng không thể bỏ đi, mà giữ lại, khi nấu cháo kê thì bỏ vào có phải rất được hay không?

Sau khi rây xong đậu đỏ, Hà Điền bắc chảo lên lửa, cho một miếng lớn dầu mỡ heo vào, đun dầu ở lửa nhỏ, sau đó cho đậu đỏ vào, tiếp tục khuấy, thỉnh thoảng cho thêm đường vào.

Chỉ mất một lúc, cả căn nhà đã tràn ngập vị ngọt.

Cô nấu nhân đậu đỏ xong, tự mình nếm thử một muỗng nhỏ, cảm thấy độ mịn và ngọt của nó cũng không tệ.

Dịch Huyền nhao nhao: “Tôi cũng muốn thử!”

Hà Điền lại múc một muỗng khác đưa cho anh, anh cẩn thận nhấm nháp: “Rất ngon!”

Hà Điền được cổ vũ, tiếp tục làm nhân hạt dẻ.

Cho hạt dẻ đã luộc mềm vào tô, dùng muỗng nghiền nát, rây qua rây một lần, thêm một chút mỡ heo ấm để tạo thành hỗn hợp sền sệt.

Sau đó Hà Điền lấy thớt ra, rắt một lớp tinh bột khoai tây lên thớt, dùng chổi lông sóc quét đều lên. Rắc lớp tinh bột này lên thớt là để khi nhào, bột sẽ không bị dính.

Hà Điền bôi dầu lên tay, cho nhân hạt dẻ vào tay vo thành một viên tròn rồi dùng một cái chài đã bôi dầu lăn thành một miếng mỏng dày khoảng hai đến ba milimét. Cô dùng một tấm gỗ mỏng đặt lên trên miếng hạt dẻ, dùng dao cắt nó ra thành hai miếng hình chữ nhật dọc theo miếng gỗ. Sau đó lại phết đều một lớp nhân đậu đỏ lên miếng hạt dẻ đó, rồi phủ miếng hạt dẻ còn lại lên trên, dùng tấm gỗ kia nhẹ nhàng nén xuống.

Bây giờ, nguyên mẫu của món điểm tâm này đã trông rất đẹp mắt, nhưng công việc của Hà Điền vẫn còn chưa xong đâu.

Cô lấy chậu tre đựng bột củ sen hoa hồng ra, mở ra ngửi thử, mùi hương của hoa hồng đã thấm vào bột củ sen, ít nhất thì bây giờ nó có mùi thơm như thế này, không biết ăn vào thì sẽ có vị như thế nào.

Hà Điền dùng muỗng nhỏ múc khoảng nửa tô bột củ sen, rồi cầm nụ hoa hồng lên, dùng ngón tay bóp nát nụ hoa ra. Cô chỉ giữ lại những cánh hoa nguyên vẹn và tươi sáng, còn đài hoa, tâm và nhụy còn lại thì bỏ đi.

Sau đó, cô từ từ cho nước sôi vào tô, vừa chế vừa dùng đũa khuấy đều bột củ sen trong tô.

Cô chỉ cho thêm vào một chút nước, bột củ sen lúc này là những cục bột lớn nhỏ khác nhau.

Chờ một lúc, bột củ sen nguội đi, Hà Điền nhào bột củ sen thành một khối bột mịn.

Rắt một ít tinh bột khoai tây lên bột, đặt lên thớt rồi cán thành từng lát mỏng, dùng một tấm gỗ nhỏ cắt thành hai lát, để yên một lúc, sau đó cẩn thận đặt lớp nhân hạt dẻ với nhân đậu đỏ lên trên, rồi lại chồng thêm một lớp bột nữa, sau cùng dùng một tấm gỗ nhỏ ấn nhẹ xuống.

Bây giờ, nhìn từ một bên thì món tráng miệng chưa hoàn thành này có năm lớp, lớp ngoài cùng là màu trắng hồng, sau đó là hai lớp màu vàng nhạt, và một lớp nhân đậu đỏ ở giữa.

Dịch Huyền không khỏi dừng lại công việc trong tay, nhìn chằm chằm vào chiếc thớt: “Đẹp quá!”

Hà Điền cầm lấy con dao, hô lớn: “Bây giờ tôi chuẩn bị cắt đây, cũng không biết là có thành công hay không nữa. Giờ tôi mới nhớ ra là mình đã quên phết một lớp nước đường vào giữa hai lớp da bánh rồi. Nó đóng vai trò như một loại keo dính vậy. Cắt xong có khi nào bị tróc ra không?”

“Nếu tróc thì lần sau làm lại!” Dịch Huyền rửa tay chạy tới, cầm lấy con dao trên tay Hà Điền: “Để tôi cắt cho.”

Anh đã thể hiện kỹ năng dùng dao của mình giống như khi cắt cá lát sống, nhưng lúc đó Hà Điền không để ý cách anh cắt nó, lần này thì cô đã được thấy.

Dịch Huyền ra tay cực kỳ nhanh, Hà Điền chỉ thấy anh thực hiện một vài đường tỷ lệ chéo trên miếng bột, liền đặt dao xuống.

Tất nhiên, da bánh cũng được cắt rất đẹp, tất cả đều là những hình chữ nhật có cùng kích thước. Nó giống như được đo rồi cắt, hoặc là sử dụng khuôn.

Hà Điền đun sôi một nồi nước, trải một lớp lá dâu tằm trong xửng hấp rồi bôi mỡ lên lá để bánh hấp không bị dính vào, rồi cẩn thận xếp những hình chữ nhật nhỏ vào trong xửng thành một hình tròn.

Hấp trên lửa lớn được khoảng mười phút, mùi thơm bắt đầu xông vào mũi.

Dịch Huyền háo hức mở nắp nồi hấp ra và hét lên vì ngạc nhiên.

Món điểm tâm này sau khi hoàn thành rất đẹp, bề mặt trong mờ, điểm xuyết những cánh hoa hồng hồng, bên dưới có thể nhìn thấy phần nhân màu vàng nhạt.

Anh không sợ phỏng tay lấy một miếng ra, đưa lên miệng thổi thổi vài cái rồi cắn một miếng, vừa hô nóng, vừa cười nói với Hà Điền: “Cô làm nó ngon hơn loại tôi đã từng ăn! Trông cũng đẹp hơn nữa.”

Hà Điền cũng cười, cô cũng muốn ăn thử một miếng, Dịch Huyền nhanh chóng lấy một miếng khác, bỏ vào dĩa rồi đưa cho cô.

Thật sự rất ngon.

Bốn nguyên liệu: bột củ sen, hoa hồng, hạt dẻ và đậu đỏ có độ ngọt khác nhau, mỗi loại có độ ngọt và mùi thơm riêng, quyện lại với nhau tạo thành một mùi thơm đặc trưng. Vỏ bánh làm từ bột củ sen là dai nhất và có hơi dính. Nhân hạt dẻ và đậu đỏ mềm, tan ngay trong miệng.

Dịch Huyền lại bóc một miếng bánh khác, cười với Hà Điền: “Cô thật giỏi/tuyệt vời!”

Hà Điền cười ha ha, lại cắn một miếng nữa: “Là cô đã chỉ cho tôi một công thức rất tuyệt vời.”

Ngoài nhà lại có tuyết rơi, nhưng bên trong thì lại ấm áp và thơm lừng mùi bánh.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 25: Mì gà viên củ cải


Sau khi bước vào tháng ba, ánh nắng mặt trời đã tăng lên đáng kể mỗi ngày. Nhưng trong rừng vẫn thường xuyên có tuyết rơi, và đôi khi tuyết sẽ rơi liên tục trong vài ngày.

Đối với Dịch Huyền, kiểu thời tiết như thế này sao mà kỳ lạ quá thể, nhưng Hà Điền đã nói với anh rằng, từ bây giờ cho đến tháng tư, thỉnh thoảng trời vẫn sẽ có tuyết rơi.

Mùa xuân trong rừng bắt đầu vào tháng năm.

Có lẽ các loài động vật trong rừng cũng cảm thấy rằng mùa đông lạnh giá sắp kết thúc, mùa xuân đang càng lúc càng gần. Bộ lông của chồn, cáo và thỏ rừng đã dần chuyển màu. Mặc dù có một số thợ săn chưa bắt được đủ con mồi trong mùa đông vẫn muốn săn tiếp, nhưng lông thú lúc này đã không thể bán được giá nữa.

Nhiệt độ cũng dần dần tăng lên, đến trưa thì nhiệt độ ngoài trời chỉ còn khoảng âm 16, 17 độ.

Khi xuân phân đang đến gần, chiếc cầu dây do Dịch Huyền và Hà Điền chế tạo đã gần như hoàn thiện.

Ngày trước ông bà của Hà Điền đã thật sự quyết tâm xây dựng một cây cầu. Họ đã thu thập được cả một nhà kho dây leo dài.

Sau khi chắc chắn việc xây dựng cây cầu, hai người đã đi đến vách đá vài lần, đo chiều rộng thực tế của sông và khoảng cách giữa các mỏm đá ở hai bên sông.

Họ trèo lên những mỏm đá hai bên vách núi để xem trên đỉnh vách đá có cây cối hay đá nào có thể dùng làm trụ cầu hay không.

Có một lần, trong lúc họ đang nói chuyện và cười đùa trên đỉnh vách đá ở một bên, thì nhìn thấy hai anh em nhà họ Phổ xuất hiện trên vách đá ở phía bên kia.

Hà Điền và Dịch Huyền ngay lập tức ngừng nói chuyện, giơ vũ khí lên.

Nhưng không ngờ là hai anh em nhà kia lại không hề tỏ ra ác ý, có thể coi là khách sáo chào hỏi. Sau đó rời đi ngay lập tức.

Có vẻ như đây là một cuộc gặp gỡ tình cờ.

Hai anh em đang ở trong rừng cây đối diện, nghe thấy có người nói chuyện nên tò mò chạy ra xem thử.

Hà Điền kinh ngạc: “Tại sao bọn họ lại đột nhiên khách sáo với tôi như vậy?”

Dịch Huyền khẽ hừ một tiếng.

Trên đường về nhà, Hà Điền ngồi trên xe trượt, bỗng nhiên thở dài.

Dịch Huyền đang ngồi sau lưng Hà Điền, nghe thấy tiếng thở dài của cô thì thấp giọng nói: “Đừng lo lắng.”

“Hả?” Hà Điền quay đầu lại: “Lo lắng cái gì?

Dịch Huyền cười nói: “Không có gì. Tại nghe thấy tiếng cô thở dài.”

Hà Điền lắc đầu: “Tôi chỉ là đang cảm thấy có hơi đói bụng.”

Dịch Huyền cho rằng Hà Điền đang lo lắng chuyện sau khi anh rời đi thì nhà họ Phổ sẽ lại tìm đến gây chuyện với cô.

Sau khi cây cầu được xây dựng, họ có thể dễ dàng đi qua đi lại, vậy thì những người khác cũng có thể dễ dàng đi qua đi lại.

Dịch Huyền không định nói với Hà Điền rằng, khi anh rời đi, anh nhất định sẽ loại bỏ gia đình kia.

Nghĩ đến việc Hà Điền sống một mình trong căn nhà nhỏ trong rừng, ngày nào cũng tự nấu ăn, buổi tối cũng ngủ một mình, những gì cô nói cả ngày có lẽ chỉ là câu “chúc ngủ ngon” tạm biệt Gạo trước khi đi ngủ, không có ai trả lời lại cô cả… Dịch Huyền cũng thở dài.

Vừa mới thở dài xong, Hà Điền đã quay đầu lại cười với anh: “Xem ra cô cũng đói bụng rồi.”

Dịch Huyền nhìn đôi mắt như biết cười của Hà Điền, biết khóe miệng mình đang không tự chủ được mà nhếch lên. Anh cưỡng lại ý muốn hôn lên mắt cô, khẽ “ừ” một tiếng: “Tôi cũng đói rồi.”

“Vậy thì mau về nhà thôi. Nào, ôm chặt tôi vào! Chúng ta tăng tốc!” Hà Điền nói xong, cả hai tay vung dây cương, Gạo ngay lập tức chạy nhanh hơn, tuyết bắn tung tóe lên hai bên thành xe trượt.

Dịch Huyền do dự, duỗi tay ra ôm lấy eo và bụng của Hà Điền, lại do dự thêm một lúc rồi ngả đầu lên sau vai trái của cô.

Hà Điền đang mặc một chiếc áo khoác lông hươu dày, khi khuôn mặt của Dịch Huyền áp vào nó, những sợi lông hươu bị gió thổi bay lướt qua mặt anh. Anh khẽ nhắm mắt lại, mùi cơ thể của Hà Điền xộc vào mũi.

Trong vài tháng qua, mùi hương đặc biệt này đã trở thành biểu tượng của sự ấm áp, an toàn và thoải mái trong trái tim Dịch Huyền.

Sau khi về đến nhà, Dịch Huyền nhảy xuống xe trượt, đột nhiên nói với Hà Điền: “Tôi muốn cho cô một cuộc sống thật tốt.”

Hà Điền sững người một lúc rồi mỉm cười, nói: “Cô yên tâm, tôi sẽ luôn sống thật tốt.”

Hai người nhìn nhau một lúc, không hẹn mà cùng quay mặt đi.

Đêm đó, Hà Điền lấy ra một số bản khảo sát ghi chép số liệu, và cả chiếc bảng cát mà cô từng học viết chữ khi còn nhỏ, cô cầm một cành cây lên liên tục vẽ rồi lau đi, một lúc sau, cô lại trèo lên gác kho lục tung lên, tìm ra một quyển sách.

Ban đầu Dịch Huyền rất thích thú khi nhìn thấy vẻ ngoài nghiêm túc của Hà Điền, nhưng khi đi ngang qua cô, anh đã rất ngạc nhiên khi thấy trên bảng cát được viết giống như một hàm cosin hyperbol.

Anh đứng sau Hà Điền và quan sát kỹ hơn, phát hiện cô thật sự đang sử dụng công thức hyperbol để tính chiều dài của dây thừng.

Sau nhiều lần thảo luận và tính toán, xem xét mùa khô (tức là thời kỳ đóng băng) và khoảng cách từ chân cầu đến mặt nước khi mực nước lên cao nhất, chiều cao của cây cối và đá trên các mỏm đá hai bên bờ có thể làm tháp cầu, và khoảng cách đến mép vách đá, cuối cùng Hà Điền quyết định xây dựng một cây cầu dây với chiều dài 5,8 mét và rộng 0,8 mét.

Cầu được làm bằng sáu sợi dây thừng, trong đó có hai sợi dưới đáy, trên đó đặt những tấm ván nằm ngang, trên ván được kê một vài cọc tre làm bề mặt cầu. Dưới vách núi có một rừng tre lớn, chẻ tre thành dải dài sẽ dễ dàng hơn nhiều so với xẻ gỗ. Bốn dây thừng còn lại thì được lắp hai bên cầu để làm tay vịn.

Mỗi sợi dây thừng phải dài ít nhất 8,4 mét. Ngoài ra, cần thêm một số sợi dây thừng nhỏ để làm tay vịn hình chữ X hai bên, sẽ an toàn hơn và cũng có thể tăng cường độ chắc chắn cho ray cầu.

Vị trí mố cầu ở hai bên rất thích hợp, một bên vách núi có hai cây sồi thô to, bên còn lại thì có thể dễ dàng cố định dây thừng dưới vách núi.

Hiện tại bọn họ dư lại khá nhiều dây thừng. Ông bà cô thật sự đã dành rất nhiều thời gian để thu thập dây leo để xây cầu.

Khi sắp đến ngày xuân phân, Hà Điền lại làm một lần nhang khác.

Thời tiết của ngày xuân phân rất giống với thời tiết ở ngày đông chí, bão tuyết cũng đến một cách đột ngột và không có dấu hiệu dừng lại.

Nhưng lần này, chỉ trong ba ngày là tuyết đã ngừng rơi.

Sau khi tuyết ngừng rơi, Hà Điền và Dịch Huyền đã chuẩn bị xong tất cả mọi thứ.

Vào ngày xây cầu, trước khi đi ra ngoài, Hà Điền đặt một dĩa gốm đựng cát trên bàn, cùng Dịch Huyền đứng song song với nhau ở sau cái bàn, dùng một cành bách thấp nhang lên, yên lặng cầu khấn.

Lời cầu khấn kết thúc, cả hai nhìn nhau mỉm cười.

Họ dắt theo Gạo, mang theo lều vải, than củi và thức ăn, dựng trại trong rừng cây dưới vách đá, tạm thời ở lại đó, dự định sau khi dựng xong cầu thì sẽ về nhà.

Lúc rạng sáng, Dịch Huyền nghe được một tiếng “cạch” phát ra từ trong rừng trúc bên ngoài lều, liền tỉnh ngủ. Anh biết có một con mồi nào đó đã giẫm phải bẫy do Hà Điền đặt.

Anh xoay đầu lại, mượn chút ánh sáng của lửa trại bên ngoài lều nhìn kỹ Hà Điền đang nằm ở bên cạnh.

Sau đó, anh duỗi tay phải ra đặt ở mép chăn, do dự một lúc, cổ tay đã tê dại vì lạnh cử động, nhanh chóng vươn ngón tay nhẹ nhàng lướt dọc theo lông mày của Hà Điền hai lần. Từ đỉnh chân mày cong nhất và cao nhất cho đến phần đuôi mảnh. Sau đó trượt từ đỉnh chân mày đến cuối chân mày, dừng lại ở phần nhạt nhất. Bên ngoài chăn bông lạnh lẽo, mày của Hà Điền vô thức nhíu lại.

Đầu ngón tay của anh dừng ở đuôi lông mày của Hà Điền, ánh mắt không khỏi nhìn vào môi cô.

Môi của Hà Điền rất đầy đặn nhưng miệng lại rất nhỏ, khi cô chìm vào giấc ngủ, đôi môi có hơi chúm lại, nhìn từ một bên, trong cô cứ như đang hôn một bông hoa vô hình.

Lại giống như một quả anh đào.

Một quả anh đào nhúng mật.

Để ngăn đôi môi nứt nẻ, Hà Điền bôi một loại thuốc mỡ lên môi vào mỗi buổi sáng và tối, giúp đôi môi căng và sáng bóng. Cô còn đưa cho anh một hộp để anh mang theo, bất cứ lúc nào cũng có thể lấy ra bôi.

Thuốc mỡ được đựng trong một chiếc hộp phẳng làm bằng ống tre mỏng cỡ hai ngón tay, nắp cũng bằng tre, phần mép nắp buộc một dây da mỏng, có thể đóng chặt lại.

Dù tay có bị gai gỗ hay gai tre đâm vào, bị dao cắt hay vô tình bị bỏng, lập tức bôi thuốc mỡ này lên; từ bên ngoài trở về, rửa chén, nhóm lửa và sau khi rửa tay cũng bôi thuốc một lần. Ngay cả bụng đầy hơi, bôi thuốc mỡ lên xoa vài cái, sẽ đỡ ngay lập tức.

Theo như lời của Hà Điền thì loại thuốc mỡ này có thể điều trị tất cả các loại vết thương nhỏ, như vết cắt và vết bỏng, vết bầm tím, ngoài ra nó cũng có thể giúp cho làn da khỏe mạnh, tránh bị viêm khớp khi về già.

Không biết khi còn bé bà cô đã nói với cô như thế nào, có vẻ như Hà Điền rất tin tưởng loại thuốc mỡ này. Nhưng thành phần trong đó chỉ là mỡ rái cá, sáp ong và một ít thảo dược. Anh ngửi được có mùi của bạc hà và mật ong.

Lúc này, lông mi Hà Điền run lên, Dịch Huyền vội vàng trở lại trong chăn, nhắm mắt lại giả vờ ngủ.

Anh nghe thấy Hà Điền trở mình và lầm bầm điều gì đó.

Sau rạng đông, Hà Điền vui mừng phát hiện ra một con gà tuyết đã bị mắc vào bẫy được đặt vào tối hôm qua.

Những con gà này rất nhút nhát và chỉ di chuyển vào ban đêm. Ngoài ra, thịt của chúng rất ngon.

Hà Điền xem xét các loại thực phẩm mà mình mang theo, cuối cùng chọn một củ cải trắng lớn. Cô sẽ làm một món ăn đặc biệt.

Sau khi ăn sáng, Dịch Huyền nhấc chiếc giỏ mây đầy dây thừng lên xe trượt, để Gạo kéo đến dòng sông đóng băng.

Bây giờ, họ sẽ đặt dây thừng trên các vách đá ở cả hai bên.

Họ buộc dây da vào hai bên dây thừng, rồi lại buộc một viên đá vào dây da.

Hà Điền trèo lên một vách đá, Dịch Huyền nối hai cọc tre dài lại với nhau rồi buộc dây da vào đó, nâng lên, đưa nó cho Hà Điền.

Hà Điền cố định dây da xong, Dịch Huyền leo lên vách đá cùng cô kéo dây thừng nặng nề lên. Đầu tiên, anh buộc lỏng dây da vào hai cây sồi đã chọn, sau đó leo sang phía bên kia của vách đá lặp lại quá trình này, kéo dây thừng lên cố định chúng trên tảng đá sẽ làm trụ.

Sau đó, cả hai quay trở lại gốc cây sồi và thắt chặt dây thừng lại.

Họ cũng làm một cái bàn tời đơn giản dưới gốc cây sồi, để Gạo dùng sức kéo, bàn tời chuyển động, dây thừng càng thêm siết chặt.

Sau khi tất cả sáu sợi dây thừng đều đã được cố định và thắt chặt, mặt trời cũng đã nghiêng về phía tây.

Nhưng trong lòng Hà Điền lúc này lại vô cùng rạng rỡ, cô nhìn chiếc cầu treo thô sơ sừng sững trên vách núi, hét vào khu rừng bên bờ đối diện: “A-a-“

Chiến công này xứng đáng được ăn mừng.

Trước đó Hà Điền đã hỏi Dịch Huyền, biết rằng chỗ của anh cũng ăn mì, vì vậy cô đã lên kế hoạch khi nào đó sẽ làm món này.

Trở lại khu cắm trại dưới núi, Hà Điền để Dịch Huyền đun sôi nước trước, còn cô thì trộn bột mì mà mình mang theo với nước ấm trong bình nước, nhào, nắm bột đập nhiều lần lên thành chậu sắt, sau đó dùng khăn ẩm phủ lên trên, để bột nghỉ ngơi.

Lúc này, nước cũng đã sôi.

Hà Điền nhổ lông và rửa sạch gà tuyết, mổ lấy nội tạng, cắt lấy phần ức gà và một phần mỡ vàng nhỏ gần nội tạng.

Sau đó, cô lấy một củ cải trắng lớn, gọt vỏ, cắt nhỏ, rắc một thìa muối và ngâm trong chậu một lúc, đợi cho muối thấm đều, sau mười phút, nước trong củ cải sẽ được muối đẩy hết ra ngoài.

Chắt bỏ nước, bọc củ cải đã cắt nhỏ vào khăn vải để vắt hết nước còn lại, cho thịt ức gà và mỡ đã băm nhuyễn vào, thêm chút bột năng, khuấy đều thành hỗn hợp sền sệt.

Ngồi bên nồi nước sôi, Hà Điền dùng muỗng nhỏ múc một thìa thịt gà củ cải, nhẹ nhàng thả vào nước sôi, nó biến thành một viên tròn, viên tròn rất nhanh đã nổi lên, đã được nấu chín.

Một chậu thịt đều được vo hết thành viên, một phần được để riêng ra, để lần sau lấy ra dùng.

Lúc này bột mì trong chậu cũng đã dậy mùi.

Dịch Huyền nhào bột lần nữa rồi đưa cho Hà Điền.

Cô ngồi trước nồi nước sôi, lấy một miếng bột, vo tròn, kéo mỏng, kéo dài cho đến khi sợi mì dài nhất, khi sợi mì bị đứt thì cho vào nước sôi, rồi lại tiếp tục kéo số bột còn lại giống như vậy.

Cô đưa cho Dịch Huyền một cục bột mì: “Cô cũng thử đi!”

Hai người vừa làm vừa chơi, làm ra một nồi mì, sau đó cho những viên thịt gà củ cải vào, ăn cùng với một ít củ cải khô.

Ăn xong tô mì này, cả người họ đều ấm cả lên.

Những viên thịt gà còn lại được đặt trong một hộp gỗ, đã sớm đông cứng lại.

“Lần sau lấy ra nấu lẩu.” Hà Điền cười nói.

Phần bột còn lại được cán thành từng lát mỏng rồi cắt thành từng dải dài bằng ngón tay, gộp ba hoặc năm dải lại cùng nhau, vo thành sợi rồi để đông lạnh. Tất nhiên, món mì kéo bằng tay này cũng có thể được cho vào nồi lẩu, Dịch Huyền nói, sau khi ăn hết rau và thịt trong nồi, cuối cùng nhấn mì xuống trong nồi nước lẩu, sợi mì sẽ hấp thụ các thành phần đã chần trong nồi trước đó. Ăn một chén mì được nấu theo cách này thì mới có thể được tính là trọn vẹn.

Sau một lần ăn cá nhúng, Dịch Huyền đã kể cho Hà Điền nghe nhiều hơn về món lẩu này.

Trong rừng không có bò và cừu, nhưng có cá và gà, sau khi băng tan, sông lại chảy, các ao đầm giữa rừng lại trở thành nơi giàu lương thực. Các loài chim di cư lại bay về kiếm ăn, v* v*n, đẻ trứng quanh ao, lúc này chim trời, vịt trời, chim nhạn, ngỗng rừng…, tôm cá trong sông cũng nhiều hơn.

Tôm sông có thể dùng làm chả tôm, nhiều loại nấm, rau rừng, cũng có thể làm nguyên liệu nấu lẩu.

Họ thảo luận đủ mọi thứ về cách chế biến món ăn ngon hơn. Mặc dù bên ngoài lều vẫn còn là thế giới băng tuyết, nhưng bên trong lều, hơi thở của mùa xuân đã phảng phất đâu đây rồi.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 26: Cơm ống tre* thịt khô


*Cơm lam.

Sáng hôm sau, Hà Điền và Dịch Huyền đến rừng tre gần trại để chặt tre.

Sự xuất hiện đột ngột của cái lạnh khắc nghiệt và kéo dài hàng trăm năm sau đó đã thúc đẩy sự đa dạng của các giống loài trong rừng ở một mức độ nào đó.

Thực vật vùng lạnh giá có được môi trường thích hợp hơn và mở rộng phạm vi sống về phía nam. Một số loài thực vật ôn đới và thậm chí là cận nhiệt đới tồn tại cả ở những vùng đã biến thành đới lạnh giá. Nhiều loài ngoại lai trước đây được con người đưa đến cũng có một số loài còn sống sót.

Ở khu rừng nơi Hà Điền sống chính là như thế.

Ngoài những cây lá kim thường gặp trong các khu rừng thưa, nơi đây còn có những rừng tre lớn, ở ven đầm lầy thì có rừng dương liễu, mãi cho đến cuối tháng mười mà vẫn còn xanh tươi mơn mởn.

Tre có một số đặc điểm mà gỗ không có đó là tính dẻo và có độ đàn hồi cao hơn, đặc điểm tốt nhất là tre rỗng, có thể làm nhiều dụng cụ như bình nước, cốc đựng nước, muôi múc nước, hộp nhỏ và các đồ đựng khác. Sau khi nối tre, một cây tre dài có thể được dùng làm ống khói, sau khi chẻ ra có thể làm đồ nội thất như ghế, giường tre, những thanh tre chẻ nhỏ có thể dùng để đan các loại rổ, rá, mành tre và các đồ dùng khác.

Tất nhiên, tre cũng có thể được sử dụng làm vật liệu xây dựng.

Dịch Huyền nói với Hà Điền rằng thành phố của họ có rất nhiều sông, một số cây cầu trên sông được làm bằng cầu dây tre, còn có một số người nghèo buộc một hàng tre lại với nhau và đặt nó xuống sông, sử dụng như tàu thuyền.

Một ưu điểm khác của tre là rỗng ruột và việc chặt tre có cùng chiều cao dễ dàng hơn nhiều so với cây gỗ.

Tre bị chặt ngã xuống, tuyết đọng trên lá tre cũng ào ào rơi xuống mặt tuyết bên dưới.

Hà Điền và Dịch Huyền vừa nói chuyện phiếm, vừa chặt bốn năm cây tre cao, cưa ngay tại chỗ thành từng đoạn dài một mét, buộc lại bằng dây thừng rồi để Gạo kéo về phía lều trại.

Đường đi giữa rừng không được êm cho lắm, có khi đi được một đoạn thì Hà Điền và Dịch Huyền thường phải mang giỏ tre trên vai, di chuyển trong rừng.

Cuối cùng trở về trại, đã gần trưa.

Hà Điền lau mồ hôi rồi lấy ấm nước ra uống.

Dịch Huyền thấy hai má cô đỏ như gấc, trán, mũi, cả người lấm tấm mồ hôi, lau xong thì lại xuất hiện một lớp nữa, biết cô rất mệt, vì vậy anh nói với Hà Điền: “Tôi ở đây chẻ tre, cô đi nấu ăn đi.”

Hà Điền ngẫm nghĩ: “Cũng được. Tôi nấu cơm trước rồi lại làm phụ cô.”

Hà Điền chọn một đoạn tre to bằng miệng chén, cưa cách đốt của đoạn tre khoảng một ngón tay, mặt còn lại cũng được xử lý theo cách tương tự, thu được hai chiếc chén bằng tre tự nhiên, có chiều sâu hơn một chút so với chén sứ thông thường để ăn.

Phần tre còn lại, cô đo chiều dọc cách đốt tre hai ngón tay rồi cưa, cái này đã trở thành nắp của chiếc chén tre.

Cô nắm một nắm tuyết cho vào hai ống tre, rồi lại lấy một nắm cỏ khô kỳ cọ thật kỹ.

Trong tre có một lớp màng khô, cũng như mùn cưa từ khi cưa các khớp tre, tất cả đều được lau sạch. Sau đó, cô lấy một ít tuyết ở những cành thông xung quanh, cho vào ống tre, dùng ly sắt dùng để uống nước đong gạo, đổ một phần ba vào một ống tre, phần còn lại thì đổ vào ống tre kia rồi lắc một cách nhẹ nhàng. Cuối cùng, cô cắt một ít thịt khô, cho vào hai ống tre, dùng đũa khuấy đều gạo, thịt và tuyết trong ống tre lại với nhau.

Hà Điền đun chảy một ít nước tuyết trong nồi sắt, đợi đến khi nhiệt độ nước ngang với nhiệt độ bàn tay thì đặt ống tre vào nồi theo chiều thẳng đứng, đậy kín nắp, thêm củi, đun trên lửa lớn.

Sau khi làm xong những việc này, Dịch Huyền ở bên cạnh trại đã chẻ được rất nhiều ván tre.

Cuối cùng họ đã từ bỏ việc đặt ván gỗ trên cầu dây. Gỗ chặt vào mùa đông không được phơi khô, đợi đến mùa hè, tấm ván ban đầu dài một mét có thể sẽ co lại chỉ còn 90 cm. Bây giờ vội vàng đặt ván gỗ lên sẽ chỉ làm biến dạng dây thừng trên cầu mà thôi.

So với gỗ, tre có kết cấu đặc hơn và tỷ lệ co rút thấp hơn, hơn nữa, việc chẻ tre dễ dàng hơn nhiều so với gỗ, thông thường chỉ cần dùng một dao là có thể chẻ từ đầu đến cuối theo các thớ tre. Bởi vậy mới có câu nói “Thế như chẻ tre”.

Để thử nghiệm, Hà Điền quyết định lót đáy cầu bằng ván tre trước, sau này sẽ thay dần bằng ván gỗ.

Dưới chân của Dịch Huyền có bảy tám tấm ván tre đã được chẻ xong, mỗi tấm dài một mét, to bằng một bàn tay.

Hà Điền có một cái máy khoan cầm tay, cô ngồi trên một khúc tre chưa chẻ đôi, lấy một tấm ván tre đặt lên đầu gối, khoan hai lỗ ở mỗi đầu tấm tre rồi xỏ hai sợi dây thừng nhỏ vào lỗ, thắt một nút ở lối vào của lỗ rồi siết chặt.

Với cách này, khi đặt lên cầu, chỉ cần cố định hai sợi dây thừng ở hai bên ván tre vào dây thừng phía dưới là đã đặt được một ván cầu.

Làm việc được một lúc, Hà Điền gọi Dịch Huyền: “Ăn cơm trước đã.”

Dịch Huyền lau mồ hôi, hỏi Hà Điền:”Chúng ta ăn gì?”

“Cơm ống tre.”

“Hả? Chúng ta còn có gạo sao?”

“Còn một ít.”

Sau khi chung sống một thời gian, Hà Điền từ lâu đã quen với khẩu vị của Dịch Huyền.

Đối với Dịch Huyền, so với mì và miến thì cơm ngon hơn. Mì phải nấu ngon, hay đẹp mắt và thú vị thì mới hào hứng. Còn cơm đó hả? Tốt nhất phải là các món mặn ngọt, ví dụ như thịt xông khói hầm với hạt dẻ.

Món sợ nhất chính là bột đậu nành. Vì sao lại có người ăn nó, là một dấu chấm hỏi mà anh vẫn không thể nào hiểu nổi.

Sau khi đến trại, còn chưa đến gần Dịch Huyền đã ngửi thấy mùi thơm ngào ngạt của cơm.

Hà Điền mở nắp nồi ra, hơi nước trắng xóa bốc lên làm ướt đẫm cả khuôn mặt.

Cơm trong ống tre đã được hấp chín rồi, bên trong ống tre xanh màu ngọc bích là những hạt cơm óng ánh, xen kẽ với những lát thịt khô hồng hồng, nhìn mà ứa cả nước miếng.

Cơm nấu trong ống tre có một mùi thơm rất đặc biệt, dùng một chiếc đệm vải bưng lấy ống tre, vừa nóng hầm hập lại vừa thơm lừng, cầm đũa tre khuấy đều lên, mùi thơm liền xông vào mũi.

Trong lúc hai người ăn cơm, Hà Điền hái vài cụm lá thông cho vào nồi, nấu sôi với tuyết trong một lúc, rồi rót cho mỗi người một ly.

Trà lá thông không có mùi vị, chỉ có mùi thơm của cây thông. Trà này uống khi ăn cơm ống tre rất hợp.

Bọn họ uống trà, nghỉ ngơi một chút rồi lại nói về đồ ăn.

Dịch Huyền nhìn ly trà vàng có khí trắng bốc lên trong tay: “Có một mùa đông, tôi cũng thấy có người nấu cơm ống tre, nhưng họ làm món này lạ hơn nhiều, gọi là cơm Tuế Hàn Tam Hữu.”

“Ba người bạn mùa đông?”

“Đó là thông, tre và mận. Vì ba loại cây này có thể sống trong mùa đông khắc nghiệt, được coi là có sức sống mạnh mẽ.” Dịch Huyền giải thích ngắn gọn “ba người bạn mùa đông” là gì, trọng tâm của nó vẫn là đồ ăn: “Tất nhiên, món chính là cơm ống tre, cũng dùng thịt khô như thịt ức hươu, thịt được cắt nhỏ trông giống như hoa mận đỏ, rất đẹp mắt, rồi cũng có trà, nhưng là trà mận vàng, hoa được đặt trong bình tre trước mặt mọi người, món cuối cùng là món điểm tâm làm từ lá thông.”

“Lá thông cũng làm điểm tâm được sao?”

“Chẳng qua là lấy một chút hương thơm từ lá thông mà thôi.” Dịch Huyền đưa tay ra ước lượng kích thước: “Dùng một chiếc lồng hấp làm bằng tre nhỏ cỡ này, phủ lá thông lên bánh, đợi hấp chín bánh đậu đỏ hình quả mận xong, không hiểu sao bên trong bánh lại có mùi mận, nhìn rất đẹp mắt, vị cũng… ừm, coi như cũng được.”

Hà Điền suy nghĩ thất thần một hồi lâu, mới hỏi Dịch Huyền: “Hoa mận và hoa mận vàng trông như thế nào?”

Dịch Huyền mỉm cười: “Tôi cứ nghĩ cô sẽ hỏi tôi món bánh này có vị ra sao.”

Hà Điền cũng cười: “Tôi định sẽ hỏi sau. Da của bánh hấp này được làm bằng bột à? Hay là nó trong suốt?”

Dịch Huyền suy nghĩ một lúc: “Nó hơi đục, giống như bột gạo nếp.”

“Gạo nếp à…” Hà Điền thở dài: “Gạo nếp đúng là có thể làm được rất nhiều món ngon. Tiếc là năm ngoái tôi không có mua. Thậm chí lúc hè tôi cũng không ăn được món bánh ú nấu bằng gạo nếp. Lần đó tôi đã dùng gạo và hạt kê để gói bánh ú. Lúc gỡ lá ra còn bị dính gỡ muốn không được, mùi vị kém hơn nhiều so với bánh ú gạo nếp.”

“Tôi thì lại rất muốn thử món bánh ú làm từ gạo và hạt kê này.”

“Vậy thì để một ngày nào đó tôi sẽ gói một ít.”

Cả hai nói chuyện một lúc, sau đó lấy lại tinh thần tiếp tục công việc.

Khi mặt trời lặn, họ chẻ hết ván tre cần dùng rồi đem số ván tre còn lại về trại, đợi sau bữa cơm tối sẽ lại khoang lỗ tiếp. Tổng cộng có bốn mươi hai miếng ván tre được chẻ ra, và cứ mười cm thì có một miếng được đặt trên sợi dây phía dưới dài hơn tám mét.

Tuy nhiên, sau khi đặt hết ván tre lên dây thừng, họ lại đổi kế hoạch, cứ 15-20 cm lại đặt một tấm.

Bởi vì trọng lượng của bốn mươi tấm ván tre cộng với sợi dây thừng cũng đã gần 30 ký. Với cùng một số lượng, số ván tre nặng hơn so với ván thông.

Nếu mặt cầu quá nặng, nó sẽ ép mặt cầu xuống gần sát với mặt nước.

Hà Điền ngồi xổm trên tuyết, tay cầm một cành cây, lại tính toán.

Một lúc sau, cô ném cành cây đi rồi đứng dậy: “Thôi kệ đi. Ngày mai lại tính tiếp.”

Nói thì nói vậy, nhưng trước khi ngủ, Hà Điền nằm trên giường, vẫn lầm bầm tính toán xem phải cần bao nhiêu tấm ván tre.

Cách lót ván cầu tốt nhất là cần làm một lượt liên tục, người lót ván cầu vác những tấm ván trên vai, giẫm lên tấm ván mình vừa lát để lót tiếp những tấm còn lại, từ đầu cầu này cho đến đầu cầu kia.

Nếu tấm ván tre mang theo không đủ, người lót sẽ phải quay về giữa chừng.

Dịch Huyền an ủi Hà Điền: “Cây cầu của chúng ta dài hơn tám mét, quay ngược lại cũng sẽ không tốn quá nhiều sức đâu, hơn nữa ở trên dây thừng mà vác theo số ván tre nặng 30kg trên lưng thì sẽ mệt lắm.”

Nghe Dịch Huyền nói vậy, rốt cuộc thì Hà Điền cũng bình thường trở lại, nhanh chóng chìm vào giấc ngủ.

Sáng hôm sau, sau khi Dịch Huyền thức dậy, anh thấy Hà Điền đang ngồi bên đống lửa, châm thêm củi, cô vẫn chưa chải đầu, mái tóc rối bù vểnh lê, ngồi ngẩn người trước ngọn lửa.

Anh không nhịn được vươn tay ra sờ vào mái tóc mềm như nhung của cô: “Sao cô dậy sớm vậy?”

Hà Điền hít một hơi: “Ngủ không được. Tại kích động quá.”

Dịch Huyền cười phá lên.

Sau bữa sáng, họ vác theo ván tre và dây thừng leo lên vách núi.

Lúc này, mặt trời vừa mới mọc, ánh nắng vàng chiếu vào sáu sợi dây thừng đã được mắc trước đó, tạo thành vài bóng đen trên sông băng dưới vách núi.

Trên dây thừng vẫn còn sương giá.

“Chúng ta đến quá sớm.” Hà Điền nói. Cô bỏ giỏ mây xuống, giậm chân một cái.

Dịch Huyền đưa cho cô một tấm ván tre: “Đến đây đi, bây giờ tạm thời lót trước một tấm, đợi sau khi sương tan rồi thì lại tiếp tục làm.”

Hà Điền suy nghĩ một chút, nắm lấy tay Dịch Huyền: “Chúng ta cùng làm.”

Hai người ngồi xổm ở hai bên dây cầu, mỗi người một bên đặt ván tre lên trên sợi dây thừng, cố định, rồi dùng dây thừng trên tấm ván tre buộc chặt lại.

Hà Điền lắc tấm ván tre để đảm bảo nó đã được cố định chắc chắn vào sợi dây phía dưới, sau đó mỉm cười với Dịch Huyền.

Sau khi lót xong tấm ván tre đầu tiên, về cơ bản họ đã có thể phác họa ra được “cây cầu” trong đầu. Trước đó nó chỉ là một vài sợi dây được vắt qua các vách đá hai bên mà thôi.

Hà Điền nhìn lên bầu trời, rồi nhìn sương giá trên dây thừng, nói với Dịch Huyền: “Tôi sẽ vác nửa số ván tre sang phía đối diện. Chúng ta mỗi người một bên, làm cho đến khi cây cầu hoàn thành là có thể hợp lại với nhau rồi!”

Dịch Huyền biết cô đang rất nóng lòng, nên nói: “Tôi sẽ vác nửa số ván sang bờ bên kia, cô cứ đứng đây đi.”

Nói xong, anh im hơi lặng tiếng vác giỏ ván tre trên lưng, bước xuống núi.

Hà Điền nhìn theo bóng lưng Dịch Huyền khuất vào trong rừng, rồi nhìn anh đi trên mặt sông băng, ngẩng đầu vẫy tay với cô, sau đó leo vào khu rừng bên bờ đối diện, khoảng hai mươi phút sau, anh xuất hiện trên vách đá ở bờ bên kia.

Dịch Huyền nhìn Hà Điền đang đứng ở mép vực bên kia sông cách nhau chưa đầy mười mét, làm một việc mà anh cho là ngây thơ, nhưng lúc này anh không thể không làm gì đó.

Anh hét về phía cô: “Hà Điền ——”

Âm thanh vang vọng trong thung lũng, mặt trời xuyên qua mây và rơi trên sông băng, tuyết trắng trên mặt băng phản chiếu ra những tia sáng vàng mỏng manh. Hà Điền đứng trên vách đá đối diện, dường như cũng được bao phủ bởi một lớp sợi vàng. Trong chiếc áo khoác lông hươu, khuôn mặt nhỏ bé của cô được bao quanh bởi một vòng lông tơ, đôi má ửng hồng và đôi mắt đen láy, trông giống như một con búp bê nhỏ.

“Hà Điền…”

Dịch Huyền lại hét lên.

Lúc này Hà Điền mới có phản ứng, hai tay cô đeo một đôi găng tay mũm mĩm, giơ nó lên vẫy chào lại anh, sau đó chụm lại trên miệng rồi gọi tên Dịch Huyền.

“Dịch Huyền ——”

“Dịch Huyền ——”

Cô cười ha ha.

Dịch Huyền cũng cười, nhưng nụ cười của anh không hề phát ra tiếng.

Anh cũng chắp tay như Hà Điền đã làm: “Hà Điền ——”

Hà Điền trả lời ngay lập tức: “Dịch Huyền ——”

Dường như có một bàn tay nhỏ bé đang khẽ chọc vào trái tim trong lồng ngực Dịch Huyền, khiến anh không hề cân nhắc gì mà hét lên tiếng lòng: “Tôi thích cô!”

Sau khi nói xong câu này, chính anh cũng ngây ngẩn cả người, trong chốc lát, cả thung lũng dường như hoàn toàn im lặng.

Anh lo lắng nhìn Hà Điền, ở khoảng cách hơn tám mét, có thể nhìn thấy khí trắng mà Hà Điền đang hít thở, nhưng anh không nhìn rõ vẻ mặt của cô.

Ngay tại thời điểm tim anh đập một cách dồn dập, Hà Điền nghiêng đầu mỉm cười, hét lên với anh: “Tôi cũng thích cô.” Cô vẫy tay, hét lên lần nữa: “Tôi thích Dịch Huyền.”

Dịch Huyền đứng đó, anh biết mình đang cười, nhưng anh không thể nào phản ứng lại được. Tất nhiên là anh rất vui khi nghe Hà Điền hét lên như vậy, nhưng một giọng nói nhỏ trong lòng anh thì lại đang nói, không, Hà Điền, “Thích” của em khác với của tôi.

Hà Điền đợi một lúc, nhìn thấy Dịch Huyền chỉ đứng ngây ra, cảm thấy khó hiểu.

Cô lại vẫy tay về phía vách đá đối diện, Dịch Huyền cũng vẫy tay với cô như một hình ảnh phản chiếu.

Sau đó, Dịch Huyền ngồi xổm, bỏ chiếc giỏ phía sau lưng xuống, bắt đầu lót cầu.

Lúc này, mặt trời đã lên rất cao, sương giá trên dây cầu cũng gần như đã tan hết.

Hai người ngồi trên những sợi dây thừng trên cầu, mỗi người một bên, lần lượt cột ván tre vào. Cứ hai ba khúc thì họ lại ngồi tạm trên ván tre, lấy dây thừng từ trong giỏ ra, buộc dây thừng hình chữ X vào hai bên thành cầu, buộc thật chặt và chắc, để lúc đi sẽ an toàn hơn.

Khi hai người đứng lên, dây cầu đung đưa rung lắc, khoảng cách cách mặt đất tuy cũng cao, nhưng bọn họ đều không hề sợ hãi.

Hà Điền đã thực hiện các biện pháp an toàn từ lâu, cô đã làm hai sợi dây bảo hộ bằng dây thừng, vòng thành thòng lọng rồi buộc vào thắt lưng. Đầu kia của sợi dây là một chiếc khóa lỏng bằng đồng, có thể dễ dàng tháo ra và buộc vào dây cầu. Cái khóa đồng này ngày xưa được ông nội cô dùng khi trèo lên cây cao.

Cây cầu dài hơn tám mét này cuối cùng đã sử dụng 28 tấm ván tre.

Mỗi khi ván cầu được lót, khoảng cách giữa Hà Điền và Dịch Huyền càng thêm gần hơn.

Cuối cùng cũng đã buộc tất cả ván cầu và dây thừng lại xong, hai người ngồi ở giữa cầu nhìn nhau mỉm cười, Hà Điền dang hai tay ra, nghiêng đầu nhìn Dịch Huyền, Dịch Huyền cũng cười, nhưng anh lại bắt đầu nhăn nhó, Hà Điền thật sự quá vui, cô bỏ qua sự khó xử về ngôn ngữ cơ thể của Dịch Huyền, chồm qua ôm chặt lấy anh: “Chúng ta thành công rồi!”

“Ừ. Thành công rồi.” Dịch Huyền cẩn thận đặt cằm lên vai cô, khẽ nói.

“Hả? Vừa rồi không phải cô rất vui sao? Sao bây giờ lại không vui nữa?”

“Tôi vui chứ.”

Lúc này đã gần trưa, ánh nắng mặt trời chiếu rọi phía trên đầu hai người, Dịch Huyền cúi đầu xuống, nhìn thấy bóng đen trên mặt băng, bóng của anh và Hà Điền xếp chồng lên nhau, hòa làm một.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 27: Bánh xuân


Cuối cùng thì cây cầu cũng đã hoàn thành, Hà Điền và Dịch Huyền đã đi thử vài lần trên cầu, cảm thấy rất hài lòng.

Điều không hoàn mỹ chính là dù sao thì nó cũng là một cây cầu dây, ván cầu còn cách nhau khoảng 20 cm, cho nên khi đi sẽ rất rung lắc.

Thử tưởng tượng vào mùa hè, dòng sông phía dưới cầu chảy xiết, sóng nước vỗ vào vách đá hai bên tạo thành tiếng ầm ầm, liên tục có nước dội lên chân lên mặt, cảm giác có lẽ sẽ khác đi rất nhiều so với bây giờ.

Hà Điền cũng tranh thủ mang Gạo đi tham quan cầu dây.

Gạo sợ đến mức chết khiếp, Hà Điền kéo nó đi được hai ba tấm ván trên cầu, sau đó thì không chịu bước tiếp nữa, cô và Dịch Huyền phải phí hết sức mới lôi được nó đi.

Xem ra, muốn để Gạo qua được cầu, họ cần phải đóng những cây tre dọc theo cầu để gia cố thêm cho đáy cầu.

Hà Điền đột nhiên có chút kích động, hai mắt đỏ hoe, cô cầm lan can cầu nói thầm trong lòng, bà nội, ông nội, hai người nhìn xem, cây cầu này đã được xây dựng rồi. Là do con và Dịch Huyền làm ra đó!

Khi xuống núi, Hà Điền lại quay đầu lại nhìn cây cầu treo vắt vẻo giữa hai bờ vách đá.

Cô cảm thấy rất tự hào.

Có cầu, mùa hè sang bên kia sông sẽ rất dễ dàng, nhưng cô cũng hơi lo lắng, rừng cây của nhà họ Phổ ở phía hạ lưu, tiếp giáp với nhà của Hà Điền, liệu có khi nào bọn họ sẽ nghĩ cô có tham vọng mở rộng lãnh địa không? Họ có cảm thấy bị đe dọa? Rồi chờ cơ hội để phá hủy cây cầu này?

Dường như Dịch Huyền biết cô đang lo lắng về điều gì, anh nhỏ giọng nói: “Bọn họ sẽ không đâu.”

“Tại sao?”

Dịch Huyền im lặng một lúc rồi giải thích: “Họ là loại người chỉ dám bắt nạt kẻ yếu và sẽ trốn tránh kẻ mạnh hơn mình.”

Hà Điền nghĩ đến lần trước gặp lại anh em nhà họ Phổ, thái độ của họ rất khách sáo, nhất thời an tâm.

Cầu dây đã được xây dựng đúng với dự định.

Hai tuần sau khi cây cầu được làm, mùa xuân trong rừng cũng đã đến.

Từ đầu tháng 11 năm ngoái đến tháng 4 năm nay, dòng sông bị đóng băng hơn năm tháng cuối cùng cũng đã thức tỉnh.

Chiều hôm đó, Hà Điền và Dịch Huyền ngồi ở nhà phân loại lông chồn.

Chồn đã được lột da và phơi khô bây giờ đã có thể tách ra khỏi ván bạch dương, vài tuần nữa thương nhân sẽ đến phiên chợ dưới núi, để chồn trông đẹp hơn, hiện tại vừa đủ thời gian để họ tân trang lại cho nó lần cuối.

Sau khi lông chồn được tách ra khỏi tấm ván vẫn còn rất cứng, Hà Điền dùng tay nắm chặt phần đầu và mông của bộ lông chồn lại, đặt phần thân lên đầu gối rồi liên tục xoa qua xoa lại. Sau khi xoa một bên, cô lật ngược nó lại, xoa bên kia, rồi đưa một tay vào vết nứt trên bụng chồn, tán lông chồn ra cho phẳng lại rồi xoa đều hai bên một lần nữa. Sau khi chà xát theo cách này, lông chồn đã hồi phục lại một số độ đàn hồi và mềm mại. Lúc này, lại một lần nữa nắm lấy đuôi chồn, lộn ngược bộ da lông lại từ lỗ thủng ở bụng, giống như một chiếc găng tay khi bị lột ra bị tuột từng ngón tay một, các chi và đuôi của chồn cũng theo đó mà trở mặt.

Sau khi lộn ngược mặt, trong tay Hà Điền đang cầm là mặt da của bộ lông chồn.

Sau khi xem bề mặt da, người buôn lông chỉ cần nhìn sơ qua là đã biết chất lượng của con chồn đó như thế nào, là loại chồn nào. Chồn có rất nhiều loại, trong đó phổ biến nhất là loài chồn chuột dầu, lông của loại chồn này sáng màu, phần lông đỉnh dựng lên và bóng. Xếp thứ hai là chinchilla. Bộ lông của loại chồn này có nhiều lông tơ, không có độ rực rỡ, nhưng phần đầu lông của chúng lại có những chấm hồng hồng, dày hơn và quần áo làm ra cũng ấm hơn.

Sau đó tùy theo màu của lông chồn mà những người buôn bán lông thú sẽ chia chồn thành các loại màu tím, đen, xám, xanh,… Tốt nhất là màu đen sáng, mỗi lần gặp ánh nắng thì đầu lông sẽ có màu cầu vồng. Loại này xếp vào loại màu tím, tiếp đó là màu đen, có quầng xanh đậm như lông của một số loài chim đen dưới ánh sáng; sau đó nữa là ba màu đen tuyền, đen xám và xám xanh. Các màu lông khác như nâu đen, nâu đỏ, v.v., được gọi là màu tạp sắc.

Quý hiếm và đắt nhất là loại chồn xám bạc. Loại chồn này có màu xám bạc, rất khó tìm. Còn hiếm hơn nữa là chồn bị bạch tạng, toàn thân trắng như tuyết, đôi mắt đỏ hoe, Hà Điền mới chỉ nghe nói đến loại chồn này chứ chưa từng bao giờ nhìn thấy. Chồn bạch tạng còn sống có giá trị hơn, chúng sẽ được thuần hóa làm vật nuôi, được cho là sẽ mang lại may mắn cho chủ nhân.

Ngoài màu lông chồn và độ hoàn thiện của bộ lông, một tiêu chuẩn đánh giá khác chính là kích thước. Với màu lông và chất lượng lông giống nhau, chồn càng lớn thì giá bán sẽ càng đắt. Các lái buôn cũng đặt ra tiêu chuẩn: Chồn có đầu và đuôi dài hơn 50 cm là chồn lớn; chồn có đầu và đuôi dài từ 50 cm đến 40 cm là chồn trung; chồn có đầu và đuôi nhỏ hơn thì là chồn nhỏ.

Tất nhiên, một trong những tiêu chí quan trọng nhất để xem xét giá trị của lông thú chính là tính toàn vẹn.

Ngay cả những con chồn bạc hiếm nhất, nếu có vết xước trên lông, hoặc bị chuột cắn, hoặc có lỗ đạn, giá trị của nó sẽ bị giảm đi rất nhiều.

Vì vậy, Hà Điền đã cẩn thận cất giữ những tấm da chồn thu hoạch được, sau khi phơi khô, cô cẩn thận đặt nó vào rương gỗ long não, sau đó cất rương trên hai cây rưới dầu.

Lật ngược lông chồn cũng là một công việc khá tinh tế, lông chồn khô trở nên dai, nếu không được làm ẩm tốt sẽ không đủ đàn hồi, khi lật ngược lông chồn rất dễ bị gãy hoặc nứt, nhất là khi lật đuôi và các chi. Lúc này, độ khéo léo của ngón tay, sức lực và kinh nghiệm đều rất quan trọng.

Tất nhiên, Dịch Huyền không thể làm công việc này. Anh chỉ có thể giúp lật ngửa bụng chồn, sau đó phải nhờ Hà Điền dùng dùi gỗ nhỏ để lật đuôi và tứ chi của nó.

Sau khi nghe Hà Điền nói về cách phân loại chồn, anh vậy mà lại có thể giúp được, có lẽ do trước đây anh đã xem qua rất nhiều sản phẩm tốt nên rất nhanh đã dựa theo màu sắc của chúng mà phân loại ra.

Sau đó, Hà Điền đưa cho Dịch Huyền một chiếc lược gỗ lông heo để anh chải cho bộ lông chồn được đẹp và mềm mại hơn.

Dịch Huyền cũng đã làm rất tốt.

Hà Điền khen anh mấy câu, trong lòng anh có chút tự đắc. Lúc này, anh mới vừa chải xong bộ lông chồn trên tay, liền nhìn thấy bàn tay nhỏ bé trắng nõn của Hà Điền đang cầm một cái dùi gỗ khéo léo lật qua lật lại bộ lông chồn bóng loáng, không hiểu sao có một nơi nào đó trong lòng anh cảm thấy ngứa ngáy như bị lông chồn v**t v*.

Anh nhìn bím tóc đen của Hà Điền, cầm lên hỏi: “Tôi chải nó cho cô nhé?”

Hà Điền lườm anh, cười trách: “Không nên!”

Dịch Huyền giả vờ như không nghe thấy, anh nắm lấy bím tóc của cô, nhẹ nhàng v**t v* rồi tháo sợi dây da buộc ra, sau đó, anh đứng phía sau Hà Điền, mỉm cười gỡ tóc cô ra rồi cầm trên tay, chải tóc bằng động tác chải lông chồn mà Hà Điền vừa dạy cho anh.

Lúc đầu Hà Điền còn cười nói: “Lát nữa tôi cũng sẽ chải cho cô!” Chải được một lúc, cô bận tập trung vào công việc nên không để ý đến Dịch Huyền nữa.

Dịch Huyền nắm tóc cô trong tay, chải từ đỉnh đầu đến cuối, tóc của Hà Điền vốn xoăn tự nhiên, sau khi tết thì tóc càng xoăn hơn, lúc này gỡ ra chải một lúc thì lại trở nên phồng lên, tỏa ra hương thơm thoang thoảng của hoa cúc dại.

Hôm qua họ vừa mới tắm xong.

Dịch Huyền cầm một mớ tóc, đưa lên mũi ngửi.

“Cô đang làm gì vậy?” Hà Điền đột ngột hỏi.

Dịch Huyền giật mình, nhanh chóng buông tóc cô ra, sau đó anh mới nhận ra họ đang đứng trước cửa sổ, Hà Điền nhìn thấy cử động nhỏ của anh trên tấm kính cửa sổ ấy.

Anh lắp bắp: “Ừm… sao tôi lại cảm thấy tóc của cô có mùi khác với của tôi vậy? Rõ ràng là chúng ta dùng cùng một loại dầu gội mà.”

Hà Điền tin là thật, cô đặt lông chồn và dụng cụ trong tay xuống, cầm một lọn tóc của mình lên ngửi, sau đó ngoắc Dịch Huyền lại: “Lại đây, tôi ngửi của cô thử!”

Dịch Huyền xoay người rời đi, Hà Điền bật dậy, giơ hai tay ra túm anh lại, cười lớn.

Căn nhà chỉ rộng chừng này, anh cũng không dám thật sự đẩy cô, né vài cái thì đứng yên cho cô túm.

Hà Điền ôm bả vai Dịch Huyền, cười đùa: “Cô trốn gì chứ? Để tôi ngửi!” Cô thấp hơn Dịch Huyền một cái đầu, đương nhiên không thể chạm tới tóc của anh, chỉ có thể ôm eo anh tiếp tục nhảy lên.

Dịch Huyền vừa ngượng vừa khẩn trương, không thể phủ nhận là mình đang rất vui và có hơi xấu hổ vì điều này. Vì để tránh cho Hà Điền lại ôm mình nhảy lên sẽ đụng chạm, anh nhanh chóng ngồi xổm xuống: “Được rồi, đừng rộn nữa.”

Hà Điền đưa mặt đến, ngửi một bên đầu của anh, rồi cầm tóc của mình ngửi lại: “Thật đúng là không giống nhau.”

Dịch Huyền nói thầm trong lòng, vô nghĩa, tôi là đàn ông còn em là phụ nữ, tất nhiên là không giống nhau rồi.

Khi anh nghĩ như vậy, mũi và mái tóc mềm mại của Hà Điền cọ vào tai và gáy anh, khiến con thú nhỏ trong lòng anh lại rục rịch.

“Đừng làm rộn nữa.” Anh bình tĩnh đứng dậy, nắm lấy cánh tay của Hà Điền, kéo cô trở lại chiếc bàn trước cửa sổ, lại chải tóc cho cô.

Nếu có thể cả đời chảy tóc cho em như vậy thì thật là tốt.

Ý nghĩ này chợt lóe lên trong đầu Dịch Huyền, anh lắc đầu, rủ mắt xuống.

Hà Điền cảm thấy tâm trạng của Dịch Huyền đột nhiên sa sút, cô hỏi: “Sao cô lại không vui rồi?”

Từ cửa sổ thủy tinh, cô nhìn thấy khóe miệng Dịch Huyền rủ xuống, nhưng cửa sổ lại chia thành nhiều ô gỗ, cô nhìn không thấy biểu cảm trên mặt anh từ mũi trở lên.

Sau một lúc, Dịch Huyền nói: “Tôi chỉ đang nghĩ, mùa xuân sắp đến rồi, tôi…”

Anh không nói thêm câu nào nữa, Hà Điền cũng rất buồn.

Cô rất muốn nói, vậy cô có thể ở lại đây không?

Đúng lúc này, phía xa đột nhiên có tiếng ầm ầm.

Giống như có thứ gì đó đã phát nổ, cũng giống như là có sấm sét trên bầu trời.

Nhưng bầu trời ngoài cửa sổ vẫn rất trong xanh.

Dịch Huyền hỏi: “Đó là âm thanh gì?”

Hà Điền cúi đầu, im lặng một lúc, sau đó chậm rãi quay mặt lại nhìn Dịch Huyền: “Thanh âm của mùa xuân.”

Lòng Dịch Huyền chùng xuống, ánh mắt chạm nhau với Hà Điền, cả hai đều im lặng.

Tháng Tư rồi.

Mặc dù nhiệt độ ngoài trời vẫn dưới 0 độ nhưng lớp băng đã không còn có thể ngăn được sức mạnh của dòng nước nữa, nước sông đóng băng thức tỉnh, lớp băng nứt ra từng lớp, tạo ra âm thanh ầm ầm.

Sông băng đang phá băng.

Mùa xuân thật sự đến rồi.

Những năm qua, khi sông phá băng, tiếng động lớn ấy như đang tuyên cáo rằng mùa xuân đã đến, nhà Hà Điền cũng sẽ chuẩn bị một món ăn đặc biệt, bánh xuân.

Năm nay cũng không ngoại lệ.

Cô dùng nước khuấy đều bột mì, nhào đều, cho vào chậu đậy khăn ẩm, để khoảng nửa tiếng cho bột nở. Tranh thủ thời gian này, vừa vặn có thể chế biến các thứ như thịt, rau để cuốn trong bánh xuân và nước chấm.

Hà Điền đã chuẩn bị hai loại thịt, một là cá hồi xông khói, và loại còn lại là thịt hoẵng bắt từ núi lửa lần trước đi lấy lưu huỳnh. Nếu có thể bắt được con mồi trong mùa đông, Hà Điền thường sẽ không ướp gia vị hoặc xông khói nữa. Ngoài trời vào mùa đông lạnh giá là tủ đông tự nhiên, con mồi vừa bắt được thịt còn ấm, nhân lúc này cắt thành từng miếng rồi chia ra đem cấp đông, mỗi lần muốn ăn thì lấy một miếng ra rã đông là được.

Thịt hoẵng ban đầu vốn định tối nay sẽ hầm với măng khô, củ cải trắng và nấm, bây giờ đã rã đông rồi, Hà Điền cắt thịt thành sợi rồi trộn với một ít muối, đường, ớt bột và khoai tây, để đó ướp một lúc, chuẩn bị xào thành bì.

Cô cho một miếng mỡ heo lớn vào chảo, sau khi mỡ nóng thì đổ một ít ra chén rồi xào thịt hoẵng ban nãy.

Thịt cá hồi xông khói được làm từ mùa thu năm ngoái, thái thành từng lát mỏng, bỏ thì là và một ít hạt tiêu để ướp một lúc rồi xông khói, thịt cá lúc này có màu đỏ cam mờ, phía trên có những đường vân mỡ màu ngà.

Ngoài hai loại thịt này, Hà Điền còn chuẩn bị thêm giá luộc, củ cải khô bào sợi và cải thảo muối.

Lúc này bột cũng đã nở.

Hà Điền lấy bột ra, nhào lại trên thớt, cắt thành mười hai miếng nhỏ, ép thành hình dẹt, rồi cán thành kích cỡ bằng với vỏ bánh bao.

Lúc này, quy trình chuẩn bị bột vẫn giống như làm bánh bao.

Tiếp sau đó, sẽ khác.

Hà Điền đem dầu nóng vừa chuẩn bị ra, cùng Dịch Huyền phết đều dầu lên hai mặt miếng bột đã cán mỏng rồi chồng chúng lên từng lớp.

Tiếp theo, Hà Điền dùng cây lăn để lăn chồng bột dày này vài lần, chồng bột bỗng to ra, sau đó cô cẩn thận lật chồng bột lại, lại lăn vài cái, quá trình này cứ được lập lại nhiều lần. Lăn cho đến khi nó trở thành kích thước tương đương với một chiếc dĩa gốm.

Miếng bột lúc này mỏng như lá, dầu giữa các miếng bột giúp chúng không bị dính vào nhau.

Hà Điền đổi nồi hấp, đặt một cái xửng vào nồi rồi đặt chồng bánh lên trên xửng, sau khi nước sôi thì hấp trong vòng mười phút là bánh chín.

Lấy bánh ra, cho vào dĩa, dùng ngón tay bốc mép bánh rồi nhẹ nhàng nhấc lên, bánh trong mờ như cánh ve, đặt lên dĩa, có thể thấy rõ màu sắc của chiếc dĩa bên dưới.

Cho thịt, giá, củ cải và bắp cải bào sợi vào vỏ bánh nóng, tùy theo phối hợp của người ăn, hương vị sẽ không giống nhau.

Hương vị bánh xuân rất ngon, nhưng không khí bữa cơm tối nay lại rất trầm lặng.

Cả Dịch Huyền và Hà Điền đều biết rằng thời điểm chia tay đã sắp đến.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 28: Sốt gan và mề vịt


Sau khi sông băng bắt đầu phá băng, nhiệt độ đã tăng lên đáng kể. Các vũng nhỏ và đầm lầy trong rừng là những nơi đầu tiên tan băng. Dưới ánh nắng mặt trời, nước ở trung tâm của chúng sáng lấp lánh như một tấm gương, và tấm gương này được bao quanh bởi tuyết trắng mịn và cỏ lau bị tuyết đè cho đổ rạp, bèo.

Thế rồi, suối trên núi cũng tan.

Chính giữa khe suối vốn rộng hơn một mét xuất hiện một khe nứt khoảng 20 đến 30 cm, dòng nước sống động chảy qua, băng tuyết hai bên dòng nước trở nên trong suốt, trong vắt; nước từ trên núi chảy xuống từng chút từng chút một làm xói mòn các lớp băng này, khiến chúng ngày càng mỏng hơn.

Cây cỏ bên khe suối cũng hồi phục, tuy vẫn còn màu nâu nhưng chúng đang dần dần mọc thẳng lên, lớp tuyết bao phủ cả một mùa đông không hiểu sao lại biến thành những quả cầu pha lê cuồn cuộn đủ loại kích cỡ nằm rải rác bên dưới thân cỏ.

Hà Điền và Dịch Huyền không cần lấy nước từ sông băng nữa. Dòng suối trên núi gần nhà họ chứa đầy nước trong và ngọt.

Tuy nhiên, họ tạm thời không thể câu cá trên sông.

Sau khi sông băng tan, lớp băng trở nên lỏng lẻo. Bờ sông lúc này rất nguy hiểm vì không biết khi nào thì lớp băng mình đang đứng sẽ vỡ ra và trôi theo dòng chảy.

REPORT THIS AD

Khi mùa xuân bắt đầu tan băng, chuyện lúc ra sông lấy nước giẫm vào lớp băng đó rồi trượt xuống chết đuối chết cóng cũng không phải là chưa từng xảy ra.

Lúc này Dịch Huyền mới hiểu tại sao vào mùa đông Hà Điền nhất quyết đi thu lưới đánh cá ba hoặc bốn ngày một lần.

Bởi vào mùa đông, cá bắt được chính là nguồn thức ăn chính.

Các loại ngũ cốc thu hoạch từ mùa thu năm ngoái đã dần cạn kiệt. Khoai tây, khoai lang, củ cải, kê, ngũ cốc linh tinh, cải thảo… Hoặc là nháy mắt đã ăn xong, hoặc là chúng đã bắt đầu hư hỏng sau một mùa đông dài. Chỉ còn lại vài miếng cá, thịt gia cầm, thịt động vật được ướp và xông khói của năm ngoái, vại chứa gạo và bột mì cũng đã cạn đến đáy.

Nhưng Hà Điền không lo lắng cho lắm.

Mặc dù bây giờ không thể bắt cá trên sông, cá bắt được vào mùa đông vẫn còn rất nhiều, nhưng khi nhiệt độ tiếp tục tăng lên, chúng sẽ tự động rã đông, và làm thế nào để bảo quản chúng sau khi rã đông là một vấn đề nan giải. Khi nhiệt độ tăng đến mức cá cũng rã đông, những khối băng lớn trên sông sẽ bị dòng nước đẩy ra xa, cô có thể lại một lần nữa dùng thuyền nhỏ xuống sông để bắt cá.

Hà Điền bắt đầu chuẩn bị cho chuyến đi săn mùa xuân.

Bây giờ vừa lúc có thể vá lưới đánh cá đã được sử dụng cả một mùa đông, rồi còn phải làm thêm một số vịt gỗ.

Sông như máu của rừng, nước sông lại một lần nữa lưu động, triều cường cũng sẽ đến. Băng tuyết tích tụ cả một mùa đông hóa thành nước chảy xuống núi, đổ xuống ao đầm trong rừng, nắng ấm hồi sinh cây cỏ, nhiệt độ càng ngày càng tăng, cây cỏ ngày càng đẹp, nhiều loài chim di cư cũng bay về.

Vịt trời, chim nhạn, ngỗng hoang… lần lượt bay về, quần tụ quanh ao đầm kiếm ăn, tìm bạn tình, đẻ trứng trên cỏ, nuôi dưỡng con non.

Đây là mùa tốt nhất trong năm để săn chim chóc.

Tuy nhiên, cũng giống như bắt bất kỳ loài động vật nào khác, việc săn bắt chim cũng rất điêu luyện.

Nhất là bây giờ Hà Điền đã mất đi sự trợ giúp của chó săn, nên cô càng phải chuẩn bị kỹ càng hơn.

Tất nhiên, cách săn chim phổ biến nhất là người thợ săn mang theo chó săn và một khẩu súng ngắn, canh giữ bên ao và bắn vào những con chim đó.

Cách đặc biệt hơn nữa là làm trước các tấm chắn bên bờ ao, đặt chim giả trên mặt nước hoặc trên bờ để dụ vịt trời, ngỗng hoang bay đến. Người thợ săn núp ở sau tấm chắn thổi sáo gỗ và huýt sáo bắt chước tiếng chim kêu để nhử cho chúng bay đến, sau đó bắn vào những con đang bay.

Nếu áp dụng tốt phương pháp này, một ngày có thể bắt được cả chục con.

Một đàn chim sau khi sợ hãi bay đi, và ngay sau đó, một đàn khác sẽ lại bị thu hút bởi tiếng gọi và hình bóng của “đồng loại”.

Sau khi sông băng tan, nó không chỉ đánh thức ao ngủ mà còn làm thay đổi diện mạo của những khu vực gần hệ thống nước trong rừng. Lớp băng bị vỡ ra có đôi khi sẽ rất lớn, chiều dài tối đa có thể lên tới vài km. Dòng sông tan băng đã đẩy những khối băng khổng lồ và nặng nề này đi xuyên qua khu rừng, giống như một chiếc rìu khổng lồ càn quét, quật ngã nhiều cây cối. Khi nước dâng vào mùa thu năm ngoái, những cây cối bị nước đóng băng trước đó hầu như không thoát khỏi tình cảnh này.

Những cây đổ di chuyển qua các con sông và đầm lầy trong rừng với sức mạnh phi thường do sự tan chảy của dòng sông, cuối cùng tập hợp tại đây và chảy xuôi theo dòng hạ.

Đây thực chất là một quá trình tái sinh của cây cối trong rừng.

Những cây đổ bị thủy triều mùa xuân đẩy vào dòng sông và trôi lửng lơ cùng với băng vỡ. Cây non mới sẽ lại nhanh chóng phát triển khi thời tiết dần chuyển sang hè.

Hai tuần sau khi băng tan, thân gỗ lớn nhỏ trôi trên dòng sông mênh mông. Có cả một số cây gỗ dài hơn mười mét, đường kính hơn bốn mét, đều là cây bị đổ.

Kéo những khúc gỗ này lên bờ, phơi khô dùng làm củi đốt. Nếu có thể thu thập nhiều gỗ, sẽ có củi dùng đủ trong mùa xuân này. Người đi săn có thể tiết kiệm được nhiều thời gian và công sức trong việc chặt cây.

Vì vậy, mùa xuân cũng là mùa Hà Điền đi kiếm củi.

Sáng nay, dòng sông vẫn phát ra tiếng ầm ầm rất lớn, dưới đáy sông như có một con rồng thức giấc, gào thét, giống như sẽ nhảy khỏi mặt nước và bay đi bất cứ lúc nào.

Hà Điền và Dịch Huyền mang Gạo và một chiếc thuyền nhỏ ra sông.

Bọn họ lên thuyền, cẩn thận lướt qua những tảng băng lớn nhỏ, tránh những cạnh sắc nhọn của chúng.

Tốc độ chảy của dòng sông lúc này rất chậm, chỉ cần thuyền không bị cạnh băng làm hư là có thể an toàn.

Hà Điền phát hiện một khúc gỗ trôi trên sông, cô ném sợi dây lên cao như một người chăn ngựa thuần thục.

Trên đầu sợi dây có buột một chiếc móc sắt được mài giũa sắc bén, “cạch” một tiếng, nó c*m v** khúc gỗ mà cô đang nhắm đến. Hà Điền từ từ thu sợi dây lại, thắt một nút thắt ở đuôi thuyền rồi cùng Dịch Huyền chèo thuyền vào bờ.

Chiếc thuyền chở họ, còn sức nổi đã giúp họ kéo khúc gỗ lớn trôi trên sông.

Trên đường đi, Hà Điền không ngừng dùng mái chèo để chống đỡ những tảng băng cản đường họ, còn Dịch Huyền thì kéo mạnh mái chèo, mười phút sau, con thuyền từ từ tấp vào bờ.

Hà Điền nhảy xuống thuyền và gọi Gạo đến, Dịch Huyền thì tháo dây kéo gỗ vào bờ.

Có đôi khi, nếu như vô cùng may mắn, khúc gỗ trôi vào sát bờ, họ có thể bắt được gỗ bằng cách đứng trên bờ và quăng dây.

Một tuần sau, trên bờ sông bên cạnh nhà của Hà Điền chất mười lăm mười sáu khúc gỗ to, dài từ bốn đến năm mét.

Lúc này, lớp tuyết dày tích tụ cả mùa đông đã trở thành một nguyên liệu quý giá.

Hà Điền dùng những hộp gỗ rỗng ép chúng thành những viên gạch tuyết, đặt trên một tấm mành rơm rồi mang lên xe trượt của Gạo, sau đó kéo chúng ra sông để trải một “đường mòn tuyết” từ nhà cho đến bờ sông.

Sau khi đổ nước lên mặt đường đầy tuyết, họ gắn giày trượt băng vào dưới xe trượt, cưa gỗ kéo lên bờ thành nhiều khúc rồi cho lên xe trượt và buộc lại, Gạo có thể chở được nhiều gỗ về nhà mà không hề tốn sức.

Gỗ mới thu về hiện tại không cần chặt thành những đoạn quá nhỏ, thường thì sẽ chặt thành một đoạn chừng hai mét, tất cả đều được đặt ở chỗ thoáng xung quanh kho chứa củi, trước tiên đem phơi khô. Sau khi chúng khô rồi thì mới xác định nên dùng chúng để làm gì.

Sau hơn một tuần lấy củi, khoảng không gian trống của nhà Hà Điền đều toàn là gỗ.

Tuyết trên mái nhà sẽ rơi từng mảng xuống mà không cần phải quét nữa, nước tuyết từ mái hiên nhỏ xuống, ban đêm đông lại thành băng hình nón, trong vắt, buổi sáng dùng cành cây gõ từ bên này sang bên kia, leng keng, leng keng, tất cả sẽ vỡ ra và rơi xuống.

Lớp băng trên mái hiên càng ngày càng mỏng, lúc đầu còn dày cỡ một cái dùi, giờ thì chỉ còn dày hơn một ngón tay, mép tuyết đã tan dần, biến thành đá.

Bên sông và trong rừng, thường có thể nghe thấy tiếng chim hót líu lo, và bầu trời thì trong và xanh vời vợi.

Hà Điền cũng đã sẵn sàng cho việc săn ngỗng hoang và vịt trời.

Cô vẽ lại con vịt bằng gỗ mà ông nội mình đã từng làm.

Con vịt này có kích thước bằng một con vịt thật, đầu và cổ của nó sơn màu xanh lá cây, bụng thì sơn màu đen, miệng màu vàng. Nhìn từ xa, trông nó không khác gì một con vịt thật.

Nhưng khi Dịch Huyền nhìn thấy con vịt này, anh nói: “Đây là một con vịt trống. Để thu hút lũ chim, cô phải làm một con vịt mái chứ?”

Vì vậy, Hà Điền đã tìm hai mảnh gỗ cho anh, anh vô cùng nghiêm túc chạm khắc, cuối cùng làm ra hai con vịt có kích thước nhỏ hơn rồi sơn chúng thành màu đen.

Vịt gỗ đã được phơi khô, đạn dược cũng đã chuẩn bị xong; Hà Điền làm một chồng bánh rán, lấy một ít củ hành, trên lưng mang theo một cái giỏ, cùng Dịch Huyền chèo thuyền xuôi dòng.

Lần này Gạo không đi cùng. Nó không thể ngồi trên thuyền, mà lớp băng trôi trên sông cũng ngăn nó bơi theo thuyền.

Cách nhà của Hà Điền khoảng 10 km về phía hạ lưu, sông tách ra thành các nhánh nhỏ và trở nên hiền hòa hơn. Đây là một vùng đầm lầy, cũng là nơi dừng chân đầu tiên của họ trong chuyến đi săn mùa xuân này.

Nhìn từ xa, các loài thực vật trong đầm lầy vẫn là những cành lá khô vàng, rễ và ngọn của chúng vẫn còn phủ một lớp tuyết mỏng; lại gần hơn, có thể thấy được những lớp màu xanh, trên mặt đất, rêu đang phát triển, còn có rất nhiều chồi của cây thủy sinh và một số chồi lá màu xanh nhạt mọc ra từ bụi cây có màu nâu đỏ.

Hà Điền rất thông thuộc địa hình ở đây.

Cô buộc thuyền vào thân của một cây liễu đang cong xuống đất, cùng Dịch Huyền đi vào trong những bụi cỏ.

Sậy khô và cây thủy sinh cũng như những cành cây xung quanh phát ra tiếng xào xạc khi có gió thổi qua, xa xa là tiếng chim hót líu lo.

Đi bộ khoảng mười phút, một cái ao có đường kính hai, ba mét hiện ra trước mặt họ.

Hà Điền lấy cái xẻng từ giỏ sau lưng ra, xúc tuyết trên một mảnh đất trong đám lau sậy cách ao năm sáu mét rồi mang một tấm liếp tre rộng hơn một mét và dài hai mét đến vòng quanh cái hố lại, sau đó dùng cành cây cố định nó trên mặt đất, có để hở ra một khoảng trống cho người ở bên trong nhìn ra ngoài, tiếp đó họ lại cắt thêm một số lau sậy, buộc chặt thành một bó với cỏ dại xung quanh, tách ra từ giữa, rồi che chúng lên trên liếp tre.

Đây là nơi trú ẩn của cô và Dịch Huyền.

Hà Điền để Dịch Huyền tiếp tục thu gom lau sậy, che liếp tre cẩn thận hơn, còn cô thì mang ba con vịt gỗ đến, thả hai con xuống nước, nhẹ nhàng đẩy về phía giữa đầm, con còn lại thì đặt bên cạnh bờ.

Khi cô quay lại, Dịch Huyền đã dựng xong lau sậy, còn đặt một ít trên mặt đất ở bên trong liếp tre.

Hà Điền đem một chiếc rương gỗ đến, sau đó lót nệm lông hươu cũ lên, vậy là cô và Dịch Huyền đã có thể ngồi ở nơi này một cách thoải mái rồi.

Cô vỗ vào đống bánh rán ở trong giỏ, cười với Dịch Huyền: “Nếu không bắt được gì thì hôm nay chúng ta chỉ có thể ăn bánh rán khô thôi!”

Vừa nói, cô vừa đưa chiếc áo choàng làm bằng vải trắng cho Dịch Huyền, cả hai mặc áo choàng vào và ngồi trong liếp che, hoàn toàn hòa mình với môi trường bên bờ ao.

Hà Điền rút một cây sáo gỗ từ trong áo ra rồi thổi nhẹ một cái, tiếng sáo gỗ thật giống với tiếng vịt trời kêu.

Tiếp theo, chính là kiên nhẫn chờ đợi.

Tuy nhiên, xét theo tần suất của những đàn vịt trời bay ngang qua bầu trời gần đây, họ sẽ không phải đợi quá lâu.

Quả thật là vậy, hai mươi phút sau, một đàn vịt trời bay tới lượn lờ trên đầm. Chúng nhìn thấy đồng loại của mình đang thong dong dưới lòng đầm vừa tìm kiếm thức ăn vừa v* v*n lẫn nhau, khi đang chuẩn bị đáp xuống thì, “Đoàng, đoàng——”

Một vài tiếng nổ lớn vang lên trong không trung và có mùi lưu huỳnh, mấy con vịt với khao khát những con bọ bụ bẫm và những con vịt mái xinh đẹp trong đầm đang từ trên trời rơi xuống.

“Xem ra không cần phải gặm bánh rán khô nữa.” Dịch Huyền cười, nhảy ra khỏi hố, chạy tới nhặt con mồi.

Lần này họ bắt được bốn con vịt trời. Tất cả đều là vịt trống.

Anh để cho Hà Điền chuẩn bị bữa trưa, còn mình thì tiếp tục ẩn nấp trong liếp che để đợi vịt tiếp.

Hà Điền lấy cây sáo gỗ trên cổ đưa cho Dịch Huyền: “Cứ mười phút thổi một tiếng. Bọn chúng ngốc lắm, một lát sẽ lại có vịt bay đến nữa.”

Vùng đầm lầy này không có nhiều cây cao, lại gần sông, gió thổi rất mạnh, tiếng gió thổi bay tiếng súng, tầm nhìn rộng, quả thực là một nơi rất thích hợp để bắn vịt.

Dịch Huyền cầm cây sáo gỗ, đặt nó vào giữa môi thổi như Hà Điền đã làm, đột nhiên mặt đỏ lên. Anh siết chặt cây sáo trong tay và nhìn vào nó, trong lúc đang ngẩn ngơ, trên đầu lại truyền đến tiếng chim hót.

Vịt thật là ngu ngốc.

Chúng lại tìm đến.

Hà Điền chọn một nơi có gió thích hợp, dùng một vài tảng đá làm ra một cái bếp đơn giản.

Trên đá có những vết đen hun khói, rõ ràng là cô đã từng dùng qua.

Cô bẻ những cây lau sậy xung quanh làm củi đốt, chẳng mấy chốc ngọn lửa đã bốc lên, cô đặt nồi lên, đun một nồi nước nóng.

Hà Điền chọn một con vịt trời béo nhất, rửa sạch, nhổ lông, mổ lấy gan và mề, bỏ nội tạng bên trong đi.

Những củ hành được tích trữ cả một mùa đông đã mọc lên đến chục phân, xanh mơn mởn; Hà Điền cắt bỏ những nhánh mầm này đi, bóc vỏ và rửa sạch, cắt thành từng khối nhỏ, thay nồi thành chảo, rồi cắt nhỏ mỡ vịt bỏ vào, sau đó cho tiếp hành tây cắt miếng nhỏ vào xào, khi hành tây có màu vàng nâu thì cho thêm muối và đường, dùng muỗng nghiền nát gan vịt chín ra, sau đó cho một ít nước vào đun một lúc.

Vị gan vịt và gan gà có hơi khác nhau, nhưng làm nước sốt đều ngon.

Những chiếc bánh kê rán được phủ sốt gan vịt và hành phi, ăn rất giòn và ngọt. Mề vịt còn lại thì được lột bỏ lớp màng ngoài, ninh từ từ trong nồi, chiều về nhà, trên đường đi có thể ăn như một món ăn vặt.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 29: 29: Bánh Trứng Hoa Kim Anh


Đến cuối tháng tư, tuyết trong rừng vẫn còn chưa hoàn toàn tan hết, thỉnh thoảng vẫn sẽ có tuyết rơi, nhưng băng trong dòng sông thì đã tan rồi.
Hà Điền lại một lần nữa chèo thuyền ra sông.

Dịch Huyền ngồi ở đầu bên kia của chiếc thuyền nhỏ, anh nhìn vào dòng nước xoáy ngay bên cạnh, sắc mặt tái nhợt.
Nhìn chằm chằm vào dòng sông khiến Dịch Huyền cảm thấy càng thêm choáng váng, nhưng nhìn vào sắc mặt vẫn rất bình thường của Hà Điền, làm sao anh có thể yếu thế được kia chứ?!
Hà Điền nhận ra Dịch Huyền đang khó chịu, nhưng lúc này thuyền đã ra đến giữa sông nên chỉ có thể đợi thả lưới xong rồi thì họ mới quay trở lại vào bờ được.
Cô thả góc lưới đánh cá nơi có buộc vật nặng xuống, kéo về phía bờ khoảng 5 mét rồi lại thả nửa lưới còn lại xuống.
Vật nặng chìm xuống đáy, lưới đánh cá thả trôi ngổn ngang giữa sông, đợi ba bốn ngày sau vớt lên, trong lưới đã có thu hoạch.
Sau khi sông băng tan, các lái buôn sẽ sớm đi thuyền đến dưới núi để trao đổi hàng hóa với thợ săn.
Còn một tuần nữa, chợ xuân sẽ mở ra.
Dịch Huyền nhìn chằm chằm vào dòng sông không ngừng chảy xiết, thẩn thờ xuất thần.
Phải một lúc sau anh mới để ý thấy Hà Điền chèo thuyền tiến vào một nhánh sông.

Dòng nước ở đây dịu hơn rất nhiều, nếu không nhìn kỹ, sẽ khó có thể nhìn thấy dòng sông đang chảy.

Màu nước của khúc sông này khác với mặt nước rộng và chảy xiết vừa rồi, nước ở đây có màu xanh thẫm, còn nước trên mặt sông vừa rồi gần như có màu xanh xám.
Sau mười phút chèo dọc theo dòng sông, mặt sông rộng hơn, nhưng dòng nước không tăng tốc, độ sâu của sông cũng trở nên nông hơn, đại khái chỉ sâu đến thắt lưng.

Thuyền trôi ở trên mặt nước, dựa vào mạn thuyền có thể nhìn thấy trong lớp bùn dưới đáy sông liên tục nổi lên những bong bóng nhỏ.
Mùa xuân bên bờ sông đến sớm hơn những nơi khác, chỉ trong vòng vài tuần, cây cỏ hai bên sông đã lấy lại được sức sống, chúng chuyển từ màu nâu khô sang màu vàng dịu rồi lại sang xanh vàng, có một số cây cỏ rủ vào trong nước, nhìn từ xa là một mảnh trong xanh mơn mởn, hòa vào nước sông, như thể có ai đó đã đổ màu nước xanh dọc theo dòng nước, chúng tan ra, đậm nhạt đẹp mắt.
Hà Điền lấy từ trên thuyền ra một vài chiếc lồng sau đó nhẹ nhàng thả chúng vào bên bờ sông nơi có nhiều bèo.
Chiếc lồng này được chế tạo rất đơn giản, cô dùng ba thanh tre tạo thành ba hình tròn rồi dùng lưới bao quanh chúng lại, khi đặt phẳng trên mặt đất nó sẽ có hình tròn, còn sau khi thả xuống nước, lưới và thanh tre sẽ bung ra thành hình trụ tròn, dưới đáy lưới đặt một viên đá hoặc một miếng ngói để cố định lồng lưới ở đáy sông, đầu kia thì cột dây thừng cố định vào cành cây trên bờ.
Đặt lồng ở đây vài ngày, cá sẽ tự động bơi vào, lấy đây làm nơi ở, những con cá khác nhìn thấy cũng nghĩ đây là nơi an toàn, cùng nhau bơi vào.
Tới lúc Hà Điền nhấc chiếc lồng này lên, một mẻ tóm gọn.
Tuy nhiên, Hà Điền dự định đợi một hoặc hai tuần sau mới quay trở lại nhấc lưới lên.

Bởi vì khi đó, các loại cá di cư sẽ lần lượt kéo đến, con nào con nấy mập mạp, trong bụng đều là trứng.

Sau khi thả lưới đánh cá xong, Hà Điền và Dịch Huyền chèo thuyền trở về, trên đường đi, Dịch Huyền nhìn thấy rất nhiều bông hoa màu vàng nhạt nở ở mép một khúc sông.
Đây là loài hoa đầu tiên mà họ nhìn thấy trong mùa xuân này.
Hà Điền rất ngạc nhiên: "Đó là hoa kim anh, ăn rất ngon."
Họ chèo thuyền ngược những cây nước nở hoa ấy.
Hoa kim anh là cái tên mà bà Hà Điền đã nói với cô, cô không biết tên khoa học của loài thực vật thủy sinh này, cũng không tìm thấy trong sách.
Tất nhiên là Dịch Huyền cũng không biết đây là hoa gì, chỉ thấy hình dạng của loài hoa này giống như một cái tách nhỏ, có kích thước bằng quả óc chó, cánh hoa ở gần nhị hoa có màu vàng kim óng ánh, còn xung quanh thì có màu hơi hồng.
Hà Điền cột một cái giỏ nhỏ to hơn cái chén một chút quanh eo mình, chỉ có như vậy cô mới có thể hái hoa bằng cả hai tay được.
Dịch Huyền cũng hái một bông hoa đưa lên chóp mũi khẽ ngửi, có mùi thơm thoang thoảng, anh không đoán được Hà Điền sẽ ăn hoa này như thế nào.
Chỉ thấy hai bàn tay của Hà Điền thoăn thoắt trong bụi cỏ, cô chỉ chọn những nụ sắp nở, chẳng mấy chốc đã có khoảng hai mươi bông trong giỏ nhỏ.
"Nhiêu đây là đủ rồi." Hà Điền đậy nắp giỏ nhỏ lại, đặt lên trên thuyền: "Hoa này chỉ có thể ăn khi còn tươi."
Lưới đánh cá đã thả xong, nhưng Hà Điền không muốn về nhà, cô tiếp tục chèo thuyền, loanh quanh trên các nhánh sông trong rừng.
Vào thời điểm này, các cô gái ở các thành phố ấm áp phía Nam có thể đã mặc những bộ quần áo mùa xuân mỏng manh lộ ra chiếc cổ mảnh mai và cổ tay trắng nõn.

Còn ở trong rừng, Hà Điền và Dịch Huyền vẫn còn mặc áo bông mỏng, nhưng đối với những người yêu mùa xuân, dù sống ở đâu cũng đều như nhau cả.
Khi đi qua một nhánh sông bên cạnh đầm lầy, Dịch Huyền nhìn thấy một ổ trứng màu trắng xanh ẩn dưới cỏ gần bờ!
Anh khẽ kêu lên "A", nhưng khi thấy Hà Điền làm động tác "đừng lên tiếng" thì vội bịt miệng lại.

Nhìn thấy Hà Điền cười với mình, anh không khỏi ảo não, là vì anh thật sự cảm thấy rất mới lạ mà! Nhìn đi, lại để cho cô ấy chê cười rồi!
Hà Điền nhìn cái miệng hình tam giác của Dịch Huyền, không khỏi mỉm cười vươn tay ra xoa đầu anh.

Dịch Huyền nhìn cô, khuôn mặt lập tức nóng lên, anh nhanh chóng cảnh cáo bản thân, đừng như vậy! Phải bình tĩnh! Phải điềm nhiên như không có chuyện gì! Chứ cứ động một chút là đỏ mặt thì còn ra thể thống gì nữa!
Cho dù trong lòng không ngừng gào thét, Dịch Huyền vẫn biết rằng mặt của mình càng lúc càng đỏ hơn, tim cũng đập thình thịch, anh chỉ có thể tiếp tục mím chặt môi, ngồi im re.
Sau đó, anh chợt nghĩ, sao mình lại cứ ngồi im như vậy? Bộ dạng này của anh không phải rất giống một con chó con đang chờ đợi chủ nhân xoa đầu của mình hay sao? Không được! Không thể như thế này được!
Mình...!Mình phải làm gì đây? Có nên xoa lại đầu cô ấy không? Xoa đầu lẫn nhau sẽ không giống với việc chủ nhân xoa đầu của chó! Đúng, nên như vậy! Thật ra thì ngay từ lúc cô bắt đầu xoa đầu anh thì anh nên làm điều này mới phải!
Nhưng không ngờ, anh vừa đưa tay ra, Hà Điền đã xoay người, chồm vào ổ và nhặt lên hai quả trứng.
Hà Điền quay đầu lại, thấy Dịch Huyền đang đưa tay ra, cô ngạc nhiên, đặt một quả trứng vào tay anh.
Sau đó, cô cười híp mắt, nói: "Nhìn này, trứng vẫn còn độ ấm đó.

Đây có thể là trứng vịt vừa mới đẻ, đi thôi, nó sẽ không phát hiện ra trứng bị thiếu đâu."
Ổ vịt nổi trên mặt nước, được xây bằng những cành cây nhỏ và nhiều loại cỏ trên bờ, ở nơi nước chảy chậm, ẩn hiện dưới những đám lá cỏ rủ trên mặt sông.
Trong chiếc ổ này có chín quả trứng, bây giờ còn lại bảy quả, thoạt nhìn vẫn còn rất đầy đủ.
Hà Điền vừa chèo thuyền, vừa dặn Dịch Huyền ngắt một số loại cỏ dại dưới nước, gom chúng lại với nhau rồi cho trứng vào bên trong để tránh làm vỡ.
Dịch Huyền dứt khoát để cho cô làm, còn mình thì cầm lấy hai mái chèo tiếp tục chèo theo sự chỉ dẫn của cô.
Hà Điền ngắt một nắm cỏ dài rồi nhanh chóng kết thành một chiếc rổ nhỏ, chiếc rổ rất sơ sài nhưng Dịch Huyền vẫn rất thích nó, anh bỏ hai quả trứng vào rồi đặt chiếc rổ lên đùi mình, càng nhìn càng cảm thấy đáng yêu.

Màu cỏ xanh phản chiếu khiến những quả trứng trắng cũng pha chút xanh xanh.
Khúc sông này có rất nhiều vịt sinh sống, bọn họ lại phát hiện thêm vài ổ trứng nữa.

Mỗi lần Hà Điền chỉ lấy một hoặc hai trứng mà thôi.
Có lần, họ bắt gặp một con vịt đang nằm trong ổ ấp trứng, nhìn thấy họ, nó hơi hoảng sợ, vươn chiếc cổ đen ngòm và ngửa cái đầu có chiếc mào màu đỏ ra, nhưng thấy hai người nhanh chóng lướt qua, nó lại ngồi xuống trên trứng của mình.
Không chỉ có vịt mà một số loài thủy cầm khác cũng làm tổ và đẻ trứng tại đây.
Dịch Huyền tìm thấy một vài ổ trứng trong bãi cỏ trên bờ.

Những quả trứng này nhỏ hơn một chút so với trứng vịt, trên đó có một số đốm nâu.

Hà Điền nói chúng là trứng vịt mắt vàng.
Vịt mắt vàng thích đẻ trứng ở những bụi cỏ ven bờ.
Khi họ quay thuyền trở về, tổng cộng thu được hai ba chục quả trứng.
Nhiều trứng như thế này không thể mang về nhà bằng chiếc rổ rơm tạm bợ kia được.
Hà Điền đứng đợi ở bên bờ, Dịch Huyền chạy về nhà lấy một cái giỏ tre, còn lót thêm một lớp cỏ khô, cẩn thận chuyển trứng vào.
Hà Điền cột thuyền vào một gốc cây trên bờ, từ trên thuyền nhảy xuống, cười nói: "Hôm nay được ăn ngon rồi."
Trứng của các loài chim cũng là một trong những thức ăn ngon được mùa xuân ban tặng.
Hà Điền cắt củ cải muối thành hạt lựu nhỏ, đập năm quả trứng vào tô, dùng đũa tre khuấy đều cho đến khi có lớp bọt mịn nổi lên.
Sau đó, cô đun nóng chảo rồi cho một miếng mỡ ngỗng lớn vào, khi chảo bắt đầu bốc khói, cô đổ trứng vào, trứng vàng nhanh chóng phồng lên, Hà Điền rắc củ cải thái hạt lựu lên khu vực bán lỏng ở giữa miếng trứng chiên, khi củ cải và hỗn hợp trứng đông đặc lại, cô nhấc chảo lên, tung trứng lên không trung rồi hứng trở lại chảo, trở mặt, trứng đã được chiên vàng.

Hương thơm của trứng và mỡ tràn ngập khắp nhà.
Bữa tối là cháo kê với bánh hấp và trứng chiên.

Bánh hấp này là bánh hấp cũ được giữ đông, sau khi hấp trong lồng hấp 10 phút sẽ rã đông và khôi phục lại độ mềm và đàn hồi.
Màu sắc của món ăn không tính là phong phú, nhưng độ mềm của trứng tươi tương phản với độ giòn của củ cải thái hạt lựu, củ cải muối chua chua ngọt ngọt, ăn kèm với cháo và bánh hấp, quả thật là một bữa ăn rất tuyệt vời.
Sau khi ăn cơm xong, Hà Điền đun một nồi trà lá thông trên bếp lửa để hương thơm của lá thông loại bỏ vị béo ngậy của trứng chiên.
Đêm nay trăng sáng sao thưa, tiếng gió thổi trong rừng cây nghe không giống với thường ngày.
Nửa đêm đang ngủ Dịch Huyền nghe thấy tiếng sột soạt, tưởng trời mưa, lúc bình minh mới nhận ra gió đã thổi bay lớp băng tuyết còn sót lại trên cành cây xuống.
Tuyết trên cây không tan cùng một lúc, những cây nào có thể nhìn thấy nhiều ánh sáng mặt trời thì sẽ tan chảy trước, nước chảy xuống các cành cây và nhỏ xuống các cành thấp hơn, kết tuyết lại thành một khối băng, rồi sau khi tiếp xúc với nắng và gió, nó dần dần rơi xuống đất và vỡ thành những tảng băng có hình thù kỳ lạ.
Bên dưới gốc một số cây ăn quả của nhà Hà Điền, tuyết chất thành đống cao gần cả một người.

Chúng sẽ ngăn lũ động vật nhỏ đói khát ăn vỏ cây và phá hoại cây cối.

Khi tuyết tan dần, chúng sẽ ngấm vào lớp đất, nuôi dưỡng những cây ăn quả này.
Có trứng, công thức nấu ăn trở nên phong phú hơn.
Sáng hôm sau, Hà Điền làm món bánh trứng hoa kim anh.
Cô lấy một nắm bột cho vào tô, dùng hỗn hợp trứng đã đánh bông lên trộn đều thành hỗn hợp đặc sệt, không nên quá loãng hoặc là quá đặc, nêm vào một chút đường cho vừa ăn, nếu đủ thời gian thì có thể cho thêm một ít men nở vào để bột lên men một lúc, món bánh trứng sẽ bông hơn.
Cho một muỗng mỡ lớn vào chảo, đun trên lửa nhỏ, sau đó đổ một muỗng bột vào, lắc nhẹ cho bột trải đều, phần bột ở giữa không ngừng nổi bọt lên, khi mép bột cứng lại thì lật úp mặt còn lại, chiên vàng.
Tùy thuộc vào các thành phần theo mùa, có thể thêm trái cây và rau tươi vào, chẳng hạn như quả việt quất, dâu tây, nho khô hoặc thì là.
Khi làm món bánh trứng hoa kim anh, lúc bột vừa bắt đầu sủi bọt, Hà Điền đặt phần đầu hoa đã rửa sạch và để ráo xuống bột, chiên một lúc rồi cẩn thận trở mặt.

Món bánh trứng hoàn thành, một bên mặt bánh là bốn năm cánh hoa, đài hoa hướng lên trên, những cánh hoa của nó mở ra, cứ như là được in vào bánh vậy.
Bánh ăn có vị ngọt ngọt, đài hoa và nhị hoa còn giữ được chút giòn, màu cánh hoa thấm vào bánh vàng đều, tạo thành hoa văn màu hồng nhạt xung quanh cánh hoa.
Bánh trứng hấp cũng là một món ăn ngon với nguyên liệu chính là trứng.
Cho đường vào hỗn hợp trứng, khuấy đều rồi cho vào chén sứ nhỏ, phủ một lớp lá dâu lên miệng chén, dùng dây rơm cột chặt lại để chén không thông hơi sau đó cho vào nồi hấp cách thủy khoảng năm sáu phút.

Nấu xong, bánh trứng hấp rất mềm, thơm và trơn, Hà Điền thường đổ một muỗng đường cây phong lên bánh để tăng độ ngọt và mùi thơm.
Dịch Huyền nói, nó có vị giống như sữa đông lạnh.
Hà Điền chợt nghĩ đến những hạt đậu xám mà lúc trước Dịch Huyền đã gợi ý cô dùng nó để làm nến.

Lúc đó anh cũng nói, nước ngâm đậu xám cũng có mùi thơm của sữa.
Trong rừng rậm, các chế phẩm từ sữa là loại đồ ăn khó có được.

Khi làm lại món trứng hấp, Hà Điền vớt đậu xám ra xay thành bột mịn, lúc đánh trứng cho thêm đường thì cũng cho thêm một ít bột đậu vào, món trứng hấp quả nhiên thơm hơn rất nhiều.
Ngoài bánh trứng hoa kim anh và trứng hấp, Hà Điền còn thích ăn trứng kho.
Chặt con vịt vừa bắt được ra thành từng khúc, cho vào nồi đất nấu với nấm hương, thêm ít hạt dẻ mà Dịch Huyền thích, rồi lại thêm muối, mật ong, ớt nhỏ, vài hạt hoa tiêu, chút nước tương quý hiếm cũng được hào phóng cho vào một ít, nếu có gừng khô thì cũng có thể cho một lát vào rồi đun từ từ trên lửa nhỏ.
Khi thịt vịt chuyển sang màu nâu đỏ, cho trứng luộc đã bóc vỏ vào nồi nấu cùng, lòng trắng trứng cũng sẽ nhanh chóng chuyển sang màu nâu đỏ.

Sau khi nấu trong vài giờ, trứng đã ngấm gia vị của nước thịt.
Có thể cho thịt và trứng vào nồi nước thịt lúc nào cũng được, khi nước thịt cạn đi thì nêm thêm gia vị và tiếp tục nấu.

Nồi kho nấu xong đặt ở nơi thoáng mát, mỗi ngày đun sôi một lần, có thể bảo quản được lâu.
Nước thịt cũ nấu càng lâu càng ngon, ngoài gia vị, hương vị của thịt và trứng đã nấu trước đó cũng thấm vào nước thịt.
Trứng đã kho được cắt thành sáu cánh hoa bằng dây rơm mỏng và ăn kèm với củ cải muối, hoặc là rau trộn mọc vào mùa xuân.
Đầu tháng năm, đợt rau dương xỉ đầu tiên đã xuất hiện bên dòng suối.
Chỉ lấy phần đọt non, trước khi ăn thì trụng sơ qua nước sôi, lúc này rau rút hết vị đắng, ăn giòn và mềm.

Món rau dại ngon nhất vào mùa xuân có lẽ là dương xỉ tươi.
À...!nếu không có đọt hương xuân.
Trong cánh rừng này cũng có mấy cây hương xuân.
Thoạt trông thì chúng không giống như thứ có thể ăn được.
Ông nội của Hà Điền đã chuyển một cây hương xuân đến trồng ở gần nhà, hàng năm ông đều chặt ngọn của cây để giữ cho cây không phát triển quá cao.
Khi lá của cây hương xuân to bằng ngón tay út là đã có thể ăn được, lúc này lá búp vẫn còn màu đỏ, sau khi rửa sạch và cắt nhỏ thì đem xào với trứng, thơm vô cùng.
Cuộn trứng xào lá hương xuân với bánh xuân ăn cũng rất ngon.
Năm nay Hà Điền không làm nhiều bánh xuân, với sức ăn thường ngày của Dịch Huyền, chắc chắn anh sẽ ăn hết.

Nhưng ngày hôm đó cô và Dịch Huyền không có tâm trạng, đồ ăn còn dư lại cả một nửa.
Bánh xuân còn dư được cô dùng lá dâu gói lại, phủ cỏ khô, để đông lạnh bên ngoài rồi đem cất ở trong hầm.

Khi muốn ăn thì chỉ cần cho bánh xuân lên xửng hấp lại, bánh sẽ lấy lại độ mềm và độ đàn hồi.
Lớp bánh xuân trong trong đục đục bao bọc lấy rau hương xuân xào trứng, nhìn từ bên ngoài bánh có thể thấy được lớp trứng vàng ươm cùng màu xanh bên trong, ăn trong lúc nóng hổi, phảng phất như vừa cắn một miếng mùa xuân.
Suốt cả một tuần Hà Điền đều chế biến món ăn với nguyên liệu chính là trứng, Dịch Huyền ăn không hề cảm thấy chán một chút nào.
Nhưng lúc này, chợ xuân đã mở..
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 30: 30: Vịt Hầm Củ Cải Trắng


Đoàn lái buôn đến vào buổi trưa hôm đó.
Các thuyền buôn lần lượt khởi hành từ nhiều thành phố phía Nam, tập trung ở cửa sông, rồi ngược dòng, sau nhiều ngày đêm di chuyển mới đến được chân núi.
Trước khi các thương thuyền cập bến, trên thuyền sẽ phát pháo hiệu, khói đỏ bốc lên trời kèm theo tiếng rít chói tai, nổ vang, xa xa có thể nghe thấy âm thanh, cho dù có bỏ lỡ tiếng vang thì khói đỏ cũng sẽ lưu lại ở trên bầu trời thật lâu không tan, mãi cho đến lúc mặt trời lặn cũng có thể nhìn thấy.
Lúc đó, Hà Điền và Dịch Huyền đang giăng lưới trên sông.
Cá trong lưới tung vó mừng rỡ, đuôi cá vỗ vào thuyền nghe bình bịch.
Hai người trên thuyền vậy mà đều rất im lặng.
Mang theo cá vừa bắt được về đến nhà, Hà Điền nhìn những ngọn cỏ treo trên sợi dây phơi trước cửa, nói: "Vốn muốn làm cho cô một cái ba lô bằng rơm..."
Có vẻ như đã không còn kịp nữa.
Không thể bện ba lô, rổ, rạ này nọ khi cỏ còn chưa khô hoàn toàn được.
Những năm trước, cứ đến cuối hạ là gia đình của Hà Điền đều sẽ cắt lá cỏ rồi đem phơi khô, lúc đó lá cỏ dài nhất, kết cấu dai nhất, màu sắc sau khi phơi khô cũng rất tươi và đẹp, năm ngoái cô không có thời gian để thu nhặt lá cỏ, bây giờ muốn làm ba lô cho Dịch Huyền thì chỉ có thể dùng cỏ mùa xuân.

So với cỏ mùa hè, cỏ mùa xuân kém hơn về mọi mặt.

Để chọn ra những cây dài và khỏe nhất từ những thân cây ngắn thì phải mất rất nhiều thời gian.
Nhưng bây giờ, công sức chọn ra những ngọn cỏ bền và chắc dường như đã vô dụng.
Trở lại nhà, Hà Điền và Dịch Huyền như thường lệ ướp cá đã bắt được, cho vào bình rồi đậy kín, sau đó rửa tay rồi làm các công việc khác.
Hà Điền trèo lên gác lấy một chiếc ba lô cũ bằng rơm xuống.
Bên trong ba lô được lót một lớp vải thô màu đất son, bên ngoài là túi lưới làm bằng hai loại cỏ, lớp rơm này giúp túi bền và chắc hơn.
"Cô dùng cái này đi.

Cũng là do tôi làm ra đó." Hà Điền mở túi ra đặt chiếc áo choàng lông chồn bằng lụa đỏ của Dịch Huyền vào.

"Quần áo này quá sặc sỡ, nhưng nó rất có giá trị.

Cô xuống chân núi rồi đến thành phố khác bán đi, có thể được rất nhiều tiền."
Sau đó, cô bỏ thêm một ít quần áo mà mình đã dùng quần áo cũ của bà để sửa lại cho Dịch Huyền thay vào: "Thời tiết dưới núi đã nóng lên rồi, khi đến đây cô cũng không có một bộ đồ mỏng nào.

Cô đừng chê những bộ quần áo này, cứ mặc tạm chúng trước đã."
Cô lại mở hộp gỗ long não ra: "Như đã thỏa thuận, tôi sẽ cho cô một phần ba số lông chồn, ngày mai đi chợ xem thương nhân thu mua như thế nào, đổi xong tiền sẽ chia."
Cô mới nói đến đây mà đã cảm thấy rất khó chịu rồi, ngồi xuống sờ vào số lông chồn kia, cúi đầu không nói thêm gì nữa.
Từ khi Hà Điền bước vào nhà, cô không dám nhìn vào mắt của Dịch Huyền, sợ rằng mình sẽ khóc.
Nhưng hiện tại cô đang cúi đầu, mím môi, lông mi run rẩy, cũng không khác gì là khóc mấy.

Dịch Huyền cũng rất khó chịu.
Anh kéo ghế ngồi xuống bên cạnh Hà Điền, ngồi được một lúc anh lại gục đầu vào vai cô.

Không ngờ vừa mới tựa vào thế này, Hà Điền cũng tựa cái đầu nhỏ của cô vào.
Tai của hai người dụi vào nhau, Dịch Huyền không dám nhúc nhích, Hà Điền thở ra một hơi dài từ mũi, hai tay nắm lấy bàn tay đang ở gần của Dịch Huyền, thì thào nói: "Sáng mai chúng ta sẽ chèo thuyền đi, xuống đến chợ ở dưới chân núi có thể vừa giữa trưa, sau khi đổi lông chồn thì trời vẫn còn sáng, cô nhân lúc đó mà đi thôi."
Một lúc sau, cô lại nói: "Mấy ngày nay tôi nghĩ kỹ rồi.

Cô rời đi càng sớm thì tôi càng sớm thanh thản.

Bằng không...!Haizz."
Cô thở dài nói: "Cô không cần nghĩ rằng vì tôi cứu cô mà cô nợ tôi, mà cho dù có nghĩ như vậy thì cô cũng đã trả lại cho tôi hết rồi.

Mùa đông này cô đã làm giúp tôi rất nhiều việc.

Tôi rất biết ơn cô...!Cô còn giúp tôi làm cầu nữa.

Hơn nữa, mỗi ngày cô đều nói chuyện với tôi.

Ngay cả bà của tôi cũng không thích nói chuyện với tôi nhiều như vậy đâu."
Dịch Huyền nghe xong, cổ họng như có cục bông mắc nghẹn.

Cánh tay bên phải mà Hà Điền đang ôm trong tay như không còn là của anh nữa.

Không biết có phải là do tóc của Hà Điền xù hay không, hay là do tâm tình của anh khác thường mà một cảm giác kỳ lạ trong anh trỗi lên.

Bắt đầu từ bên phải cổ, đến tai, má, thái dương và toàn bộ nửa đầu bên phải, tất cả đều bị tê và ngứa.

Anh hơi quay đầu lại, chóp mũi chạm vào tóc của Hà Điền, giờ thì đến cả mũi cũng đều ngứa ngáy.
Cơn ngứa kỳ lạ này nhanh chóng đi vào xoang mũi và tiến vào ngực.
Hai người lặng lẽ dựa vào nhau như một đôi thú nhỏ ôm ấp sưởi ấm cho nhau trong mùa đông khắc nghiệt, một lúc lâu sau, Hà Điền hỏi Dịch Huyền: "Buổi tối cô muốn ăn gì?"
Buổi sáng trước khi ra ngoài kéo cá cô đã nấu sẵn cơm trưa rồi, là món vịt hầm củ cải ăn với cơm gạo tẻ.
Trước khi ra cửa, Hà Điền cho vịt vào nồi đất rồi đặt lên bếp, cô cho các loại ngũ cốc và hạt kê đã ngâm đêm qua vào trong lồng hấp, xếp lên trên nồi, hấp chín.

Khi làm xong, chỉ để lại một khúc củi trong bếp, đun vịt từ từ ở lửa nhỏ, cũng làm nóng cho cơm.
Củ cải trữ đông đã mọc ra những rễ nhỏ màu trắng, nhưng hương vị thì vẫn như cũ, và vẫn giòn.
Đem củ cải gọt vỏ, cắt miếng vuông nhỏ cỡ 2-3 cm, ninh từ từ với thịt vịt đã cắt miếng vừa ăn, rồi thêm ớt khô, vài hạt hoa tiêu, muối vào nồi, nước hầm lúc này rất thơm, củ cải không còn giòn và trong vắt nữa, mỡ đã ngấm vào và tràn đầy vị thịt, vị béo của canh cũng được loại bỏ.
Dịch Huyền và Hà Điền đều thích ăn món này.
Lúc này cơm và thịt vịt đã chín, mùi thơm lan tỏa.
Đáng tiếc là, cả hai đều không có cảm giác thèm ăn.
Sau bữa trưa, Dịch Huyền cầm rìu chặt củi khô bên ngoài chái củi thành từng miếng nhỏ.
Hà Điền ngăn anh lại: "Cô nghỉ ngơi đi.

Ngày mai có thể sẽ phải đi một đoạn đường dài."
Dịch Huyền lắc đầu, anh nghĩ, nếu anh chặt thêm củi vào lúc này, sau khi anh đi rồi, Hà Điền có thể tiết kiệm được chút sức lực.
Hà Điền gọi anh nhiều lần, nhận ra rằng mình không thể ngăn cản anh, vì vậy cô quay trở lại vào nhà.
Cô nhớ lại những món ăn mà họ đã cùng nhau ăn kể từ khi Dịch Huyền đến, muốn làm món gì đó mà anh thích, dễ mang theo và không dễ hỏng.
Ngoài ra, cô cũng phải làm một cái gì đó để ngày mai ăn.
Hành trình đi đến chợ chắc sẽ không được thuận buồm xuôi gió.
Vào thời điểm này trong năm, những người thợ săn ở những khu rừng xung quanh sẽ mang lông chồn xuống chợ dưới núi để giao dịch, họ mang theo lông chồn khi đi và mang theo tiền khi về.

Mà đi bộ trong vùng đất không người với một số tiền lớn chắc chắn sẽ có kẻ ngấp nghé.
Các thợ săn bị cướp trên đường đến và đi khỏi chợ hầu như vài năm đều có một lần.

Nếu may mắn, còn có thể nói với người khác rằng mình đã bị cướp, còn nếu không may, ngay cả xương cốt có khi còn khó mà tìm được.
Cho dù là một dòng sông chảy xiết hay một khu rừng rậm với nhiều loài động vật khác nhau, đều là một nơi lý tưởng để vứt xác.
Ngoài việc bị cướp, trong chợ còn có đủ thứ cám dỗ khiến cho tiền mà những kẻ đi săn chưa kịp bỏ vào túi hết sạch: Có xe rượu của những cô nàng bán rượu diêm dúa, rồi thì nào là các quầy với đủ loại cá cược.

Lúc trước, khi Hà Điền đi ngang qua một quầy hàng, người chủ quầy đã nói với cô rằng chỉ cần cô dùng hòn đá ném rớt chiếc hộp thiếc ở giữa trong dãy là cô sẽ có giải thưởng, cô bỏ tiền ra, nhưng tất nhiên là cuối cùng cô không được gì cả.
Sau này, bà cô kể rằng ở giữa hộp thiếc có giấu cơ quan, có gài sẵn một chiếc gậy đứng thẳng, khi chủ quầy để cho chiếc gậy hạ xuống thì chiếc hộp mới có thể hất tung đi.
"Sao bà biết ông ta nói dối rồi mà lại không nói với con sớm hơn?" Hà Điền bực mình nói.
"Bà muốn cho con một cơ hội trải nghiệm cuộc sống đó thôi!" Bà nội cười tủm tỉm nói.
Hà Điền nhớ lại chuyện cũ, khẽ cười.

Kinh nghiệm có thể được truyền dạy, nhưng chỉ có thể tự mình trải nghiệm.
Cuối cùng cô cũng làm được một chồng bánh rán và sốt gan gà, rồi lại nấu một nồi há cảo đặt trong một cái dĩa gốm lớn cho nguội.

Cô định sáng mai trước khi đi ra ngoài sẽ mang chúng đi chiên.

Một ít để ăn và một ít thì mang theo.

Há cảo chiên giòn ăn với củ cải muối xắt hạt lựu và cháo, Dịch Huyền có thể ăn một dĩa lớn cho bữa sáng.
Sau đó, cô lại làm bánh bột củ sen.

Lần này cô không làm nhiều, vì chỉ còn lại một ít bột củ sen hoa hồng, nhân bánh có hơi thô vì cô quên không rây nhân đậu.
Ngoài những món có thể ăn bất kể nóng hay lạnh này, Hà Điền còn gói cho Dịch Huyền một vài miếng thịt khô, một miếng cá muối, và làm một vài chiếc bánh với chút bột cuối cùng trong nhà.

Sau khi hấp chín, chúng được sấy khô trên bếp, sau đó nướng chín một miếng thịt khô rồi xé phần nạc thành sợi làm nhân bánh, gấp miếng bánh lại thành hình chữ nhật rồi cho vào khay đem nướng.
Bánh nướng nhân thịt khô sau khi nguội có độ giòn, có thể để được lâu mà không bị hư.

Chỉ là khi ăn, chắc chắn miệng sẽ bị khô và phải uống rất nhiều nước.
Hà Điền dùng lá dâu tằm gói bánh thành hai gói, cột bằng dây rơm mỏng rồi xếp hai chồng ngay ngắn vào chiếc ba lô đã chuẩn bị cho Dịch Huyền.
Cô cũng đổ đầy cho Dịch Huyền một hũ củ cải muối, một hũ hạt dẻ nấu chín, và một hũ thịt ức vịt làm từ vịt hoang đã bắt vài ngày trước.
Sau khi nhét thức ăn vào, ba lô đã đầy.
Hà Điền thở dài nói: "Không thể nhét thêm được nữa, nếu còn cố, sợ là cô chưa kịp ăn xong thì đồ ăn đều đã hỏng mất rồi."
Thịt khô và cá muối chỉ có thể cột bằng dây rơm rồi treo trên quai ba lô.
Cô lại nhìn miếng cá muối, thứ này thật sự không thích hợp với Dịch Huyền.
Đến thành phố mà mang theo thứ này đi kiếm việc làm liệu có bị chê cười không? Chắc chắn ngay cả tiền lương cũng sẽ bị chèn ép.
Tưởng tượng đến cảnh Dịch Huyền cao kiều xinh đẹp mang theo một cái ba lô, phía trước treo một miếng thịt khô còn phía sau thì treo một con cá muối, mỗi lần bước đi là con cá muối lại gõ vào mông cô ấy một cái...!Hà Điền gọi Dịch Huyền vào nhà, chỉ vào cá muối và thịt khô, nói: "Trên đường đi cô ăn những thứ này trước.

Nếu đến thành phố mới mà còn chưa kịp ăn xong vậy thì hãy vứt chúng đi, đừng tiếc.

Bằng không sẽ bị người ta coi thường, không tìm được công việc tốt.

Nói không chừng cũng sẽ có người cười nhạo và khi dễ cô."
Nhìn bộ dạng này của Dịch Huyền, có thể đoán được rằng trong đời cô ấy chưa bao giờ bị coi thường, chứ nói gì đến cười nhạo.
Hà Điền biết rất rõ cái cảm giác đó nó khó chịu như thế nào.

Cô nhớ đến lần đầu tiên đi chợ với ông bà, nhìn thấy đồ chơi mới lạ, định đụng vào thì bị chủ quầy cầm vỉ đập ruồi đánh một phát vào tay, còn mắng: "Con nhỏ này! Tay dơ đừng có sờ vào!"
Lần đánh đó không đau lắm, nhưng cảm giác bàng hoàng và tức giận sau khi bị làm nhục cùng với nỗi đau trên mu bàn tay hầu như đã khắc sâu vào trong lòng của Hà Điền.
Cô không muốn Dịch Huyền cũng bị đối xử như vậy.

"Nếu tìm được công việc tốt thì cô sẽ sớm mua được nhiều cá muối và thịt khô thôi.

Không nên vì nhỏ mà mất lớn."
Dịch Huyền lắng nghe, gật đầu.
Hà Điền mở một cái hộp tre trong ba lô ra, nói: "Tôi lại làm bánh hạt dẻ và đậu đỏ này.

Lần này làm không ngon như lần trước.

Tôi quên rây đậu rồi."
Trong chiếc hộp tre màu xanh ngọc có mười hai chiếc bánh hạt dẻ và đậu đỏ trong suốt, mỗi chiếc bánh được gói trong một chiếc lá dâu tằm nhỏ, tinh xảo và đáng yêu.
"Bánh này cô nhớ ăn càng sớm càng tốt, đừng tiết kiệm, nếu không sẽ rất dễ hư."
Dịch Huyền cầm lấy chiếc hộp, ôm nó trong tay, không nói gì.
Hà Điền cứ bận rộn suốt, đã hơn bốn giờ chiều, cô lại hỏi Dịch Huyền: "Tối nay cô muốn ăn gì?"
Dịch Huyền suy nghĩ một chút: "Cháo đậu đỏ và kê."
Đó là món mà Hà Điền đã cho anh ăn sau khi anh tỉnh lại.
Hà Điền nhìn anh, mím môi rồi nở nụ cười.

Cô cũng nhớ ra rồi.
Sau khi ăn tối xong, Hà Điền kiểm tra súng ngắn, đưa cho Dịch Huyền một khẩu, lại lấy ra mấy viên đạn chì đưa cho anh: "Chia làm hai phần, một phần mang trên người, một phần thì chống ẩm, cất ở trong hành lý."
Cô cất giữ đạn chì trong một cái ống trúc được thiết kế tinh xảo.
Ống trúc đã nung qua lửa, đã được cacbon hóa, vừa nhẹ vừa chống ẩm, đáy ống trúc và trên nút bịt kín có lót một lớp cỏ và bông vải chống ẩm.

Đường kính của ống trúc chỉ to hơn đường kính của viên đạn chì một chút, chỉ cần rút nút đậy ra là đạn chì có thể lăn ra từng viên, nếu cắm ống trúc vào lỗ đạn thì có thể bắn liên tục.
Hà Điền cũng đưa cho Dịch Huyền một ống trúc và một khẩu súng ngắn.

Ngoài vũ khí, còn có bản đồ.
Bản đồ này là do ông và bà của Hà Điền vẽ khi còn trẻ.

Trên đó là địa hình hai bên sông lớn, thông suốt đến vài thành phố ở hạ lưu.

Dù hàng chục năm trôi qua, sông núi vẫn không thay đổi.
Ngoài những thứ cần thiết này, Hà Điền còn chuẩn bị cho Dịch Huyền một bàn chải đánh răng làm bằng lông heo hình lá liễu, một đầu bàn chải thay thế, một hộp bột đánh răng nhỏ, một cục xà phòng trong túi vải, một vài mảnh vải làm khăn tắm, tất nhiên là không thể thiếu một hộp thuốc mỡ công thức bí truyền của bà cô.
Dịch Huyền cầm chiếc hộp tre nhỏ, mỉm cười nói: "Nó có thể chữa được tất cả các loại vết bầm tím, vết cắt, vết bỏng, vết muỗi đốt rồi cả đau đầu trướng bụng."
"Tất nhiên rồi." Hà Điền nói một cách đầy tự tin.
Sau khi kiểm tra toàn bộ hành lý vài lần, cả hai mang theo tâm sự nặng nề đi ngủ.
Một đêm im lặng..
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 31: 31: Bán Lông Chồn


Sáng sớm hôm sau, họ lên đường.
Hà Điền và Dịch Huyền chèo thuyền độc mộc, thùng gỗ long não chứa lông chồn được đặt cố định ở giữa thuyền; hành lý, thức ăn và ấm nước dùng trên đường đi thì được đặt ở đuôi thuyền; dùng mái chèo đẩy mạnh, thuyền nhanh chóng xuôi dòng.
Hiện tại đã là đầu tháng năm, vào thời điểm nóng nhất trong ngày, nhiệt độ ước chừng khoảng mười sáu, mười bảy độ.

Lúc đó khoảng sáu giờ sáng là trời đã tờ mờ sáng.

Tuyết trên mặt đất, cây cối và nhà cửa đã tan, nhưng đôi khi trên núi vẫn sẽ có tuyết, ở các cột đá và những nơi râm mát vẫn còn tuyết đọng.
Khi Hà Điền và Dịch Huyền lên đường, mặt trời vẫn còn chưa mọc, dòng sông khá lạnh, họ men theo dòng sông khoảng một giờ, mặt trời dần lên, khi đi được thêm một giờ nữa, họ phải cởi áo khoác lông ra.

Đến mười giờ, ngay cả những chiếc cúc của chiếc áo khoác bông mỏng cũng phải cởi ra để không cảm thấy quá nóng.
Tốc độ chảy của sông không phải lúc nào cũng chảy xiết, trên đường đi gặp khúc sông chảy chậm và vững vàng, Hà Điền sẽ dừng thuyền lại, hoặc nghỉ ngơi bên cạnh gò đất nhỏ giữa sông, hoặc đơn giản là thu mái chèo và thả trôi theo dòng chảy.

Khi gặp thủy cầm, Hà Điền cũng sẽ bắt một hai con làm thức ăn dự trữ, còn khi gặp tổ chim, cô cũng lấy hai quả trứng bỏ vào giỏ tre.
Đến gần mười một giờ trưa, mặt sông đột nhiên rộng lớn vô cùng, năm con sông hội tụ về đây, có hai dòng nước sông đục ngầu, sau khi hòa với nước sông khác, mặt sông biến thành hoa văn màu trắng vàng, từ từ hòa thành làm một, có thể nói đây là một cảnh tượng rất tuyệt vời.
Cảnh vật hai bên bờ sông cũng dần thay đổi, khi bắt đầu xuất phát từ nhà của Hà Điền, cây cối hai bên bờ sông trông như mùa xuân, đi chưa đầy ba tiếng đồng hồ, khung cảnh hai bên bờ đã chuyển sang đầu hạ.
Không chỉ có cành lá cây cỏ gần bờ thêm sum suê, mà trong rừng rậm trên bờ, rất nhiều cây cối nở hoa, hồng, trắng, vàng, cam, đỏ đua nhau khoe sắc, trên cỏ có vô số hoa dại, thu hút nhiều ong bướm, mơ hồ còn có thể nhìn thấy cánh hoa đang rụng xuống, trên cành cây treo đầy những quả nhỏ xanh tròn.
Trên sông bây giờ không chỉ có riêng thuyền của bọn họ nữa, một số thợ săn biết nhau, ngồi ở trên thuyền chào hỏi, hỏi nhau xem năm nay họ thu hoạch như thế nào, hoặc muốn đổi gì, thậm chí có một số chèo thuyền đến gần nhau tiến hành giao dịch ngay luôn trên sông.
Gia đình nhà họ Phổ cũng chèo thuyền đến.
Thuyền của bọn họ cũng là thuyền độc mộc nhưng dài hơn của Hà Điền rất nhiều.

Thoạt trông nó có thể chứa tối đa sáu hoặc bảy người.

Ba Phổ ngồi ở mũi thuyền còn hai con trai của ông ta thì ngồi ở phía sau.

Ba người họ đều cầm máy chèo, rất nhanh đã bắt kịp Hà Điền.
Nhưng khiến cho Hà Điền khó hiểu là, thái độ của hai anh em nhà này lại thay đổi.
Khi hai chiếc thuyền gặp nhau, ba Phổ còn nói vài lời khách sáo với Hà Điền.

Nhưng khi thuyền của họ vượt qua thuyền của Hà Điền, hai anh em nhà họ lại nhìn Hà Điền bằng ánh mắt giống như năm trước gặp được ở chợ.
Khinh nhờn và bỉ ổi.
Thậm chí họ còn quay đầu lại cười ác ý với Dịch Huyền.
Sau khi thuyền của nhà họ Phổ đi ngang qua Hà Điền và những người khác, nó càng lúc càng nhanh hơn, dường như là muốn lao đến khu chợ trước mặt nhanh hơn bọn họ càng sớm càng tốt.
Hà Điền quay lại nhìn Dịch Huyền, thấy sắc mặt của người đẹp lúc này lạnh như băng, khóe mắt rũ xuống giống như con chó nhỏ đang híp nửa mắt lại, nhìn kỹ thì có hơi đáng sợ.
Cô lo lắng trong lòng, an ủi: "Không sao đâu.

Chúng ta đến muộn cũng không sao, lái buôn thu mua lông chồn chuẩn bị nhiều tiền lắm."
Càng lúc càng có nhiều thuyền và người trên sông, dòng chảy cũng càng ổn định hơn.
Đến ngã ba, tất cả các con thuyền đều uốn mình rẽ vào một con sông nhỏ chỉ rộng năm sáu thước, nhìn từ xa đã thấy có khoảng bốn đến năm mươi chiếc thuyền.

Chợ được lập trên một khu đất bằng phẳng bên bờ sông.
Ở một ngã rẽ khác, mặt sông mênh mông, bến được tạm dựng ở gần bờ, mấy chiếc thuyền buôn cập bến, dòng nước ở đây tuy đều nhưng lại rất sâu.
Mỗi chiếc thuyền buôn vận chuyển hàng hóa đều dài từ hai mươi đến ba mươi mét, cao hai ba tầng, so với những chiếc thuyền nhỏ mà đám người Hà Điền chèo, chẳng khác gì một đàn kiến nhỏ vây quanh vài con kỳ lân.
Xung quanh mỗi thuyền buôn có đậu năm sáu chiếc thuyền nhỏ có tán, giống như châu chấu canh giữ kỳ lân, chiếc nhỏ dài khoảng mười một mười hai mét, chiếc lớn hơn thì dài tới mười bốn mét.
Giống như những chiếc thuyền buôn lớn trông giống những người khổng lồ kia, những chiếc thuyền nhỏ này cũng được trang bị động cơ.

Thỉnh thoảng chúng sẽ phát ra âm thanh sình sịch, nhanh chóng chạy từ thuyền buôn này sang thuyền buôn khác, hoặc truyền tin tức, hoặc vận chuyển hàng hóa quan trọng, hoặc dò xét.
Dịch Huyền nhìn những người lính canh mặc đồng phục và cầm vũ khí ngồi trên những con "châu chấu" này, anh lặng lẽ kéo chiếc khăn vải quanh cổ lên, cột một nút sau đầu, sau đó dùng chiếc nón da gấu mèo mà Hà Điền đã làm cho mình quạt vài cái, lau mồ hôi trên trán rồi đội lại.
Lại nhìn đến khúc quanh trên bờ sông, dưới một cái lều lớn màu đỏ vuông vắn, không gian thoáng đãng ở giữa đông đúc người, trông khá sinh động, có lẽ có loại hàng hóa đặc biệt nào đó đã được vận chuyển lên bờ.
Hà Điền cảm thấy phiên chợ năm nay khá khác so với những năm trước, thuyền của họ đã đến gần bờ, lúc này chợt có một đoàn lái buôn cử người bước ra chào đón.
Nói là "chào đón", nhưng thực ra lại giống như chỉ huy hơn.
Người nọ là một người đàn ông trung niên, nước da đen nhẻm, bụng phệ như một phụ nữ mang thai sắp sinh.

Ông ta đang cầm một cây viết và một chiếc kẹp gỗ cứng trên tay, trên chiếc kẹp ấy kẹp một xấp giấy, ông ta nhìn mọi người bằng lỗ mũi, và hét vào mặt những người trên thuyền bằng một giọng thô bạo: "Mày dừng lại trước, không được nhúc nhích.

Đăng ký trước khi lên bờ! Có bao nhiêu người đến? Bao nhiêu nam bao nhiêu nữ? Mang theo hàng hóa gì? Có lông chồn không?" Vừa hỏi, vừa viết từng cái một vào tờ giấy.
Nếu có mang theo lông chồn, thái độ của người đó sẽ tốt hơn một chút: "Được rồi, chèo thuyền qua bên đó một chút, lên bờ sẽ có người dẫn mày đến nơi đổi lông chồn."
Nếu người đến mà không có lông chồn, người đó sẽ xua tay như xua ruồi: "Đi đi đi, đi qua bên kia, đừng có chắn ở đây."
Hà Điền hơi sững sờ, cô hỏi một người thợ săn già ở phía trước: "Bà ơi, có chuyện gì vậy? Người đó là ai? Tại sao lại phải nghe theo lời của ông ta?"
Bà ấy lắc đầu thở dài: "E là chồn năm nay bán không được giá rồi."
"Tại sao vậy bà?" Hà Điền không hiểu.
Người thợ săn già không nói gì.
Dịch Huyền nói nhỏ với Hà Điền: "Dựa theo tình hình này, có lẽ đoàn lái buôn năm nay muốn làm lũng đoạn thị trường."
Dịch Huyền đã đúng.
Rất nhanh, Hà Điền đã biết được tin tức từ những thợ săn khác, năm ngoái, chủ thành của hai thành phố lớn ở phía Nam lần lượt chết và hai thành phố này đã hợp nhất lại với nhau.

Hai thành phố này muốn đi lên phía Bắc đều phải dùng đến đường thủy, vốn là mỗi bên một đầu, sau khi hợp nhất, mùa xuân năm nay, chủ sở hữu thành phố mới đã thành lập một trạm kiểm soát ở nơi gần nhất của hai con sông để thu thuế thống nhất, tất cả các lái buôn khi đi qua đều phải đăng ký.

Người chịu trách nhiệm chỉ đạo mọi người lên bờ là người do chủ thành cử đến.
Không chỉ vậy, chủ thành còn đưa ra những quy định đối với lái buôn, tất nhiên, giá lông chồn cũng chỉ có thể được tính theo ý của chủ thành.
Hà Điền tức giận: "Thật không công bằng!"
"Công bằng là gì?" Người thợ săn già nói với Hà Điền tin tức này mỉm cười nhét thêm lá thuốc vào tẩu, nói: "Gấu có thể săn được tất cả các loài động vật trong rừng, còn con hươu con thỏ thì chỉ có thể lo lắng hãi hùng mà co ro ăn cỏ.

Chủ thành có thể hợp nhất được hai thành phố, không phải còn mạnh hơn cả một nghìn con gấu hay sao? Người ta đương nhiên phải có được nhiều thứ hơn, tận hưởng sự tôn thờ của nhiều người hơn!"
Hà Điền trầm mặc trong chốc lát, ủ rũ: "Cũng đúng."
Dịch Huyền luôn im lặng, tỏ ra thờ ơ với vấn đề này, nhưng anh lại kéo tấm vải lanh cao hơn, ấn chiếc nón xuống thấp hơn.
Nón da gấu mèo do Hà Điền làm rất ngộ nghĩnh, nó được làm bằng nguyên miếng da gấu mèo, trông giống như một con gấu mèo đang bò trên đầu, tai của nó ở trên đỉnh đầu, đuôi buông thõng sau gáy, miệng nhọn thì rủ xuống trên trán.

Cô không có hạt châu, cảm thấy đôi mắt trống rỗng của nó không được đẹp cho lắm, nên đã khâu hai bàn chân trước của da gấu mèo vào mắt, như thể nó đang tinh nghịch che mắt của mình lại vậy.
Dịch Huyền kéo cái miệng nhọn hoắt của gấu mèo vào giữa trán, khuôn mặt bị che đi, chỉ có một đôi mắt lộ ra.
Hà Điền cũng không ngạc nhiên.
Khi những người khác tò mò nhìn Dịch Huyền, cô giải thích: "Chị gái tôi kỵ gió."
Kỵ gió là bệnh thường gặp ở rừng xuân, thực chất là do dị ứng với phấn hoa, da người bệnh bị sưng đỏ, sau khi gãi thì da sẽ lở loét ch** n**c vàng, nhưng cách chữa lại rất đơn giản, chỉ cần bôi thuốc mỡ rồi ăn mặc sao cho đừng đụng gió, sau một hai tuần sẽ dần hết.
Thật ra, dù không ăn mặc kín mít thì một hai tuần cũng sẽ đỡ, chỉ là thoạt nhìn trông rất xấu xí mà thôi.
Đối với một cô gái trẻ, tất nhiên là muốn che giấu.
Loại mũ lông gấu mèo này chỉ có trẻ con và những cô gái miền núi trẻ trung, sôi nổi mới đội.
Vì vậy, khi đến lượt Hà Điền và Dịch Huyền đăng ký lên bờ, cái người kiểm tra kia không một chút nghi ngờ gì, cũng không che giấu sự chán ghét, một tay che mũi, như sợ bị lây bệnh, liên tục vung vẩy giấy bút trong tay: "Đi đi! Đi đi!"
Lúc này Dịch Huyền cảm thấy thật may vì mình đã không giải thích rõ với Hà Điền.

Cho nên, cho dù sau này có người hỏi đến, ngay cả chính Hà Điền cũng sẽ tin chắc rằng mình đã cứu một cô gái, và cũng ít có khả năng bị liên lụy hơn.
Trên đường đến chợ, Dịch Huyền đã hiểu tại sao Hà Điền lại cứ đinh ninh rằng anh là con gái khi nhìn thấy anh.
Nếu những người đàn ông mà Hà Điền đã thấy trong cuộc đời này đều giống như những gì anh đã thấy hôm nay, thì Dịch Huyền anh quả thực không giống như đồng loại của mình.
Nhiều thợ săn dường như không tắm, cũng không có giặt sạch quần áo; không chỉ quần áo, cổ, mặt, ngón tay bị bẩn mà ngay cả sợi bông sờn trên cổ tay áo khoác mỏng của họ cũng đen sì.

========== Truyện vừa hoàn thành ==========
1.

Một Kiếp Hồng Trần
2.

Ta Được Kế Thừa Một Hành Tinh
3.

Hợp Đồng Định Mệnh: Ngược Chiều Yêu Thương
4.

Sổ Tay Người Vợ Có Chồng "7 Năm Ngứa"
=====================================
Không chỉ những người già, mà ngay cả những người trẻ hơn, chẳng hạn như hai anh em nhà họ Phổ kia cũng vậy, họ không biết vệ sinh cá nhân, râu ria xồm xoàm, đầu thì cạo trọc lóc.
Sau đó, anh nghe Hà Điền kể rằng có rất nhiều thợ săn thích cạo đầu vào mùa đông vì sợ chí.

Dịch Huyền cảm thấy buồn nôn kinh khủng.
Khi những chiếc thuyền tập trung ở khúc sông xếp hàng dài chờ vào bờ, cũng có một vài thanh niên trông khá ổn, nhưng khi nhìn gần thì tất cả đều quá thô kệch.
Lúc những chiếc thuyền này tiến lại gần hơn, Dịch Huyền còn sợ rằng những tên đàn ông hôi hám này sẽ lây mùi hôi sang cho Hà Điền.
Đậu thuyền vào vị trí đã định rồi cột chặt, Hà Điền và Dịch Huyền khiêng thùng gỗ bước lên ván gỗ trên bờ, có người phát cho họ một thẻ bài: "Nếu có người gọi thì đi qua đó." Người nọ chỉ về phía một loạt lều nhỏ ở phía trước.
Dãy các lều nhỏ xếp bên ngoài căn lều lớn màu đỏ, dưới mỗi lều nhỏ là một người buôn đồ da kiểm tra hàng hóa.
Giá lông chồn không thấp đáng sợ như người thợ săn già đã nghĩ nhưng cũng không cao, giá mỗi loại chồn đều được niêm yết trên một tấm bảng, trên mỗi lều đều treo một chiếc.

Hà Điền tính nhẩm một chút, cảm thấy giá này có thể chấp nhận được.
Rất nhanh đã gọi đến số của bọn họ, Hà Điền lo lắng xách thùng gỗ bước tới, lúc người nọ phân loại kiểm tra lông chồn, cô mới chợt nghĩ đến việc liệu chủ thành có chỉ thị cho bọn họ cố ý hạ chủng loại lông chồn xuống hay không? Nếu lông chồn tía bị phân loại thành lông chồn đen thì giá thành sẽ còn tệ hơn rất nhiều!
Những năm trước, nếu gặp phải một số lái buôn không tử tế, thợ săn chỉ còn cách lấy chồn của mình lại và tìm những lái buôn khác, nhưng năm nay, có vẻ như không thể nữa.
Không ngờ, người lái buôn lại đánh giá rất công bằng, thấy Hà Điền có hơn bốn trăm tấm lông chồn, hầu hết đều có chất lượng cao, họ gọi hai ba người đến đánh giá và phân loại, đo độ dài, đếm số lượng, còn một người khác thì ghi lại số liệu, hỏi Hà Điền: "Cô gái, có biết chữ và biết tính không?"
Hà Điền chợt nảy ra một ý, nói: "Tôi không biết chữ.

Còn tính toán thì...!chỉ biết sơ sơ thôi."
Cô muốn xem thử những người này có lừa dối những người thợ săn hay không, không ngờ họ lại thực sự rất có lương tâm, tính đâu ra đấy.
Hà Điền cầm một sấp tiền dày, có chút ngơ ngác.
Những người buôn lông chồn còn chỉ cho cô: "Cô đi hướng này rồi rẽ trái, sẽ có nơi bán muối, hạt giống và vải vóc.

Tiền bạc cất cẩn thận vào, ra khỏi lều này rồi thì người của chủ thành không thể kiểm soát được trộm cướp đâu."
Ra khỏi lều của người buôn lông thú, Hà Điền hỏi Dịch Huyền: "Rốt cuộc là sao vậy? Chủ thành không cần tiền để xây cửa khẩu trên sông sao?"
"Hừ, đây gọi là đôi bên cùng có lợi.

Họ cho cô chỗ tốt để cô cảm thấy họ tốt đẹp đó thôi." Dịch Huyền khoanh tay chế nhạo: "Tôi đoán chủ thành đã thu thuế của các lái buôn."
"Bọn họ đồng ý?"
"Cô không thấy dọc theo đường đi đều có người canh gác sao? Trước kia lái buôn đến thu mua đồ da đều phải thuê vệ sĩ đúng không?"
"Đúng vậy."
Đúng là như vậy.

Không chỉ có thợ săn bị cướp, mà cứ mỗi độ xuân sang khi bọn cướp bắt đầu hoành hành, những đoàn lái buôn chở đầy hàng trở về cũng là mục tiêu của chúng.

Nếu so sánh giữa lái buôn và những người thợ săn ngày ngày mang theo súng ống cùng đối đầu với gấu và sói thì đương nhiên là lái buôn sẽ dễ dàng ra tay hơn.
"Thuế mà các lái buôn giao cho chủ thành là phí bảo vệ.

Nếu chủ thành thực sự có thể đảm bảo an toàn cho họ, họ sẽ rất sẵn sàng trả thứ thuế này." Ngay cả khi họ không muốn, thì cũng không có cách nào khác cả.

Những năm trước đều giao dịch ở đây, năm nay phải đóng thuế đột xuất, họ không có cách nào chuyển địa điểm giao dịch được.

Muốn trốn thuế, buôn lậu gì đó thì phải đợi sang năm.

Nhưng nếu có được sự bảo hộ của chủ thành thì thực sự rất có lợi, tiền đóng thuế sẽ tiết kiệm được chi phí hơn so với việc thuê vệ sĩ, mở thị trường mới hoặc là buôn lậu.

E rằng sau này nó sẽ trở thành một quy luật mới.
Hà Điền lại có một vấn đề muốn hỏi: "Lái buôn nộp thuế, chủ thành thì cử người đến bảo vệ họ, cả hai đều được hưởng lợi, nhưng những người từng là vệ sĩ thì lại sẽ phải thất nghiệp.

Vậy họ phải làm sao bây giờ?" Họ không hề được cái "Lợi" nào từ chủ thành cả.
Dịch Huyền lại hừ lạnh: "Những vệ sĩ đó có thể đầu nhập làm người của chủ thành, những tên cướp không có kế sinh nhai cũng có thể bỏ gian tà theo chính nghĩa, đi làm lính canh! Còn nếu không muốn, chủ thành sẽ nhân cơ hội này thảo phạt, xây dựng uy tín, mở rộng phạm vi ảnh hưởng."
Hà Điền trầm ngâm: "Vậy thì...!có khi nào sau này chủ thành bắt chúng ta nộp thuế bằng lông chồn không? Anh ta phái người đến thu lông chồn?"
Dịch Huyền cười: "Còn tùy vào độ thông minh của anh ta.

Tất nhiên là có thể làm như vậy, nhưng nếu thợ săn không muốn bắt chồn, thì lấy đâu ra lông chồn mà thu? Thợ săn cũng đều có súng.

Hơn nữa, anh ta có thể cử ai lên núi thu thuế?"
"À." Hà Điền gật đầu, lại hỏi: "Lái buôn đều phải nộp thuế, chẳng lẽ anh ta không muốn thu khoản thuế này của chúng tôi sao?"
"Cho nên anh ta mới tiến hành định giá thị trường.

Có lẽ cũng đã cử người đến để theo dõi xem lái buôn có cố tình ép giá hay không.

Đây cũng là câu trả lời cho câu hỏi trước.

Nếu không ai muốn bắt chồn, con đường kinh doanh này sẽ bị cắt đứt, không một ai có lợi cả.

Chỉ thấy lợi trước mắt là một hạ sách.

Lúc cô lấy trứng từ ổ vịt, không phải cũng chỉ lấy mỗi ổ hai trứng thôi đó sao?"
Hai người nói đến đây thì cũng đã đến cổng chợ.

Ở đây cũng có lính canh, hỏi Hà Điền số thẻ rồi nói: "Muốn vào chợ thì phải nộp thuế!"
Hà Điền và Dịch Huyền nhìn nhau, quả nhiên, chủ thành vì xây cửa khẩu mà cử người đến thu tiền.
Sau khi các lái buôn và thợ săn giao dịch xong thì đã có người ghi lại số tiền mà họ nhận được, đưa thẻ rồi chỉ qua cổng này, còn những người không bán lông chồn thì đều bị đuổi sang phía cổng khác.

Xung quanh chiếc lều lớn được bố trí rất nhiều cổng vào.
Thuế suất là 10%, lúc nộp thuế, Hà Điền cảm thấy đau lòng kinh khủng.
Dịch Huyền còn đổ thêm dầu vào lửa: "Có khi lát nữa mua đồ cô cũng phải nộp thuế.

Thứ cô vừa nộp là thuế thu nhập, còn này gọi là thuế tiêu dùng!"
Hà Điền nghe tên thuế thì ngay lập tức che ngực "hít hà——"..
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 32: 32: Chó Dữ


Kiểm soát thị trường buôn bán đồ da ở rừng phía Bắc tương đương với kiểm soát sinh kế của người dân vùng rừng núi này.
Có lẽ vị chủ thành này không phải là người chỉ thấy lợi trước mắt, có lẽ anh ta thực sự muốn đôi bên cùng có lợi; thợ săn khi mua đồ không cần phải đóng thuế, và những người buôn bán hàng hóa cũng không dám tăng giá quá đáng.

Mặc dù mọi thứ có đắt hơn một chút so với năm ngoái nhưng năm nay cái gì cũng có, giá cả thì được tăng lên trong phạm vi có thể chấp nhận được.
Đặc biệt là các mặt hàng nhu yếu phẩm như muối, nồi sắt không những không tăng giá mà còn giảm nhẹ.
Như Dịch Huyền đã nói, nếu những người thợ săn cảm thấy khu chợ "chính thức" này không đáng để họ phải "ngàn dậm đi xa", vậy thì họ không muốn giao dịch nữa, lông chồn giữ đó cũng sẽ không bị hư hỏng (miễn là không bị chuột cắn), rất nhanh sẽ xuất hiện những kẻ buôn lậu.
Ra khỏi cửa sông của hai thành phố còn có thêm rất nhiều kênh nước, cho dù chủ thành có thu nhận tất cả những tên cướp hoạt động ở các kênh sông, thì cũng không có bao nhiêu người bắt được hết bọn buôn lậu, chỉ còn cách là nhún nhường, mỗi người đều có lợi, vậy thì mới có thể tiếp tục duy trì cái gọi là thị trường "chính thức" này.
Những người thợ săn đổi lông chồn xong, mang theo tiền bước vào khu chợ được bao quanh bởi ba chiếc lều lớn, rất nhanh, họ phát hiện ra rằng chợ chính thức không có một số lợi ích mà trước đây họ có.
Trước đây, một số lái buôn sẽ trực tiếp yêu cầu thợ săn đổi lông chồn lấy hạt giống, muối, nồi sắt, dụng cụ, họ không tính tiền, chỉ lấy lông chồn.

Nhưng năm nay họ không thể làm vậy.

Tất cả hàng hóa đều có giá cả rõ ràng.

Nếu muốn đổi lấy hàng hóa, vui lòng đi ra từ cổng phía Tây.

Chợ riêng của thợ săn nằm ở bãi sông bên ngoài.

Mọi người có thể đổi giỏ mây lấy sàng tre, đổi đồ dùng này lấy đồ dùng khác, cái gì cũng có, lái buôn cũng có thể đổi lấy một số sản vật trên núi, chẳng hạn như nấm phỉ khô, nấm thông, hạt thông hoặc đồ da như da cáo, da sói và da hươu, quạt làm bằng lông chim trĩ vàng và ngọc trai nước ngọt lớn nhỏ, hoặc động vật quý hiếm.
Những giao dịch trao đổi này không nằm trong sự quản lý của chủ thành.
Hà Điền đã mua mười kg muối, tính ra thì nó rẻ hơn gần một nửa so với những năm trước.

Bây giờ cô rất có hảo cảm với chủ thành, tự nhủ, nếu sau này chủ thành cứ tiếp tục làm như thế này thì tốt biết mấy, cho dù có thu nhiều thuế hơn cũng không sao.

Tất nhiên, tốt hơn hết là đừng bao giờ tăng thuế!
Ngoại trừ dãy lều lớn gần bờ sông chuyên thu mua lông chồn, còn lại ba cái lều lớn đều là buôn bán các loại mặt hàng, nhiều gian có tên, chính giữa có ba dãy gian hàng nhỏ.
Nơi này có các gian hàng lớn nhỏ, với nhiều loại hàng hóa, có bán muối, đường, nước tương, giấm, các loại gia vị, vải, dụng cụ sắt thép, sửa chữa cuốc sắt, còn có giống cây trồng, cây ăn quả...!Cần gì cũng đều có hết.
Còn có ba gian hàng bán các loại thuốc viên, thuốc bột, trong đó có một nha sĩ, dù ở xa cũng có thể nghe thấy tiếng la hét của bệnh nhân bên trong, trước cửa xếp hàng dài, kinh doanh rất tốt.

Có cả chỗ đo thị lực, bán kính cận.

Nếu được bảo quản tốt, một cặp kính đọc sách có thể được sử dụng đến mười hoặc tám năm, tính ra chỉ bằng giá của hai tắm lông chồn đen, quá đáng giá.
Rồi thì bán rượu, bán thuốc lá, đánh bài, thảy xúc xắc, xem biểu diễn tạp kỹ bởi các cô gái trang điểm đậm...!Tất cả đều ở trong lều ở phía Bắc.

Ở chợ cũng có nhiều mặt hàng hơn những năm trước, có bốn gian hàng thu mua vải, chất lượng vải chỗ nào cũng tốt, giá cả hợp lý.
Cũng có một vài gian hàng bán nồi sắt và sửa chữa dụng cụ như xẻng, rìu hơn những năm trước.
Có thêm năm sáu gian hàng bán hạt giống, và có thêm hai gian hàng nữa không chỉ cho phép người mua chọn hạt giống mà còn mang đến những mẫu cây trồng và sách về cách trồng những loại cây này.
Chỉ có bông vải là chỉ có một gia đình làm, chính là hai vợ chồng kia.

Họ đang ở góc phía Tây của chợ, trong lúc làm, bông gòn tung lên, làm tóc hai vợ chồng họ trắng xóa.
Ngoài những gian hàng phổ biến này, thậm chí còn có một gian hàng bán máy giặt chạy bằng sức kéo của động vật và động cơ diesel.
Anh chàng nọ nói rất to, nước miếng tung bay: "Mọi người, xin hãy xem, chân vịt của chúng tôi khi lắp trên thuyền, chỉ cần kéo nhẹ một cái thôi, sình sịch ~ Mọi người đã có thể chạy hai mươi ba mươi cây số trong một giờ mà không cần dùng đến mái chèo hay sức mạnh gì cả! Có người nói sông ở đây có rất nhiều đá, bèo và gỗ mục nát, có khi còn bị quấn vào lưới đánh cá do người ta mắc, lách cách một cái, cánh quạt mô tơ đã bị hỏng rồi!" Anh chàng bán hàng nhặt một thanh sắt trên mặt đất lên rồi hàn lại: "Cái mà người đó nói chỉ là động cơ bình thường, còn động cơ của chúng tôi là động cơ đặc biệt! Nó được thiết kế cho địa hình phức tạp dưới nước, đã được hàng nghìn chuyên gia kiểm chứng! Nếu mọi người không tin, vậy thì hãy ra cổng phía Tây và ngắm nhìn dòng sông đi.

Tổng cộng có hai mươi sáu thương thuyền lớn nhỏ, tất cả đều được trang bị bằng động cơ của chúng tôi cả!"
"...!có lớn nhỏ, có thể tùy ý lựa chọn ba kích cỡ, mọi người tùy theo kích thước thuyền của mình mà chọn."
Hà Điền nghe vậy thì rất muốn mua, chiếc thuyền của cô đi xuôi dòng thì khá nhanh nhưng khi ngược dòng thì lại rất tốn sức.

Nếu có động cơ...
Cô đang suy nghĩ thì đã có người hỏi: "Vậy dầu diesel bao nhiêu tiền một thùng?"

"Một thùng dầu diesel có thể sử dụng trong bao lâu? Có thể đi được bao xa?"
Sau khi nghe giá, Hà Điền âm thầm siết chặt túi tiền của mình.
Thôi quên đi, chèo tay cho lành!
Cô kéo Dịch Huyền đi.
Nếu như là những năm trước, Hà Điền nhất định sẽ mua sắm khắp các gian hàng lớn nhỏ, nhưng hôm nay lại khác, nghĩ đến việc sắp phải xa cách người bạn đồng hành của mình, cô nào còn có hứng thú đi mua sắm gì nữa, chỉ dựa theo danh sách những thứ cần mua, thấy giá cả phù hợp thì mua thôi.
Kể từ khi bắt đầu bắt chồn vào mùa đông Hà Điền đã liệt kê một danh sách mua sắm, khi nghĩ đến thứ mình muốn mua, cô sẽ viết ra hết, sau khi sửa lại nhiều lần, cách đây một tuần cô đã chốt danh sách này lại, sau đó cứ dựa theo danh sách mà mua, chẳng mấy chốc đã mua rất nhiều thứ.
Cái giỏ trên lưng càng lúc càng nặng, tâm tình của Hà Điền cũng càng lúc càng trĩu xuống.
Cô sợ Dịch Huyền lạc giữa đám đông, hai người nắm chặt tay nhau, tuy nhiên, sau khi mua sắm xong, cô phải quay về.

Còn sau đó, Dịch Huyền sẽ đi đâu, không còn liên quan gì đến cô nữa.
Thứ cuối cùng Hà Điền mua là một tấm vải cotton nhung đỏ.

Cổ tay áo mùa đông của cô đã sờn, hơn nữa cô cũng đã cao thêm một chút, sợ rằng quần áo mùa đông năm nay phải làm lại.
Cô chạm vào lớp vải, có chút buồn vô cớ, ngẩn đầu lên nhìn Dịch Huyền.
Dịch Huyền vẫn che mặt, nhìn vào đôi mắt ấy, chắc hẳn cô ấy cũng không muốn rời đi.
Ra khỏi chợ "chính thức" là chợ người miền núi dùng để trao đổi sản vật, nơi đây đơn giản hơn nhiều, người đến mua bán tấp nập kéo dài đến tận mép của một vùng đầm lầy có vài cây liễu to.

Người đến trước giẫm lên lau sậy và cỏ dại trên mặt đất, mở ra một không gian thoáng đãng, các loại hàng hóa được cho vào giỏ hoặc thúng treo lên, đơn giản hơn thì trải luôn trên mặt đất.
Nền đất giữa hai dãy gian hàng vẫn còn lầy lội, nhiều đôi ủng của người dân đều lấm lem bùn đất.
Từ xa, Hà Điền nhìn thấy có hai ba người bán chó con.
Cô vội vàng bước tới, lúc này cô rất cần một con chó săn.
Hà Điền cố tình đi qua gian hàng bán chó của hai anh em nhà họ Phổ, cô đi tới một gian hàng khác, ngồi xổm xuống xem bầy chó con.
Chó mẹ và chó ba cũng được chủ nhân mang đến để chứng minh lai lịch và phẩm chất của chó săn.
Hà Điền huýt sáo với con chó mẹ, thấy tai nó vểnh lên, im lặng cảnh giác nhìn mình, hai bàn chân trước khép lại, nâng cầm nhìn lên, vừa nhìn đã biết ngay nó là một con chó săn được huấn luyện rất tốt.

Phẩm chất quan trọng nhất của một chú chó săn giỏi là biết yên tĩnh.

Chúng chỉ sủa lên khi tìm thấy con mồi.
Hà Điền lại xem kỹ bộ lông của nó, mặc dù nó đang thay lông nhưng bộ lông ngắn màu vàng kim rất mượt và bóng, loại chó lông này thích nghi rất tốt với những vùng lạnh.
Chủ nhân của con chó là một cô gái lớn hơn Hà Điền vài tuổi, nước da nâu đen, đôi mắt nhỏ và dài, thấy Hà Điền có ý định mua, cô ấy bảo lũ chó săn đứng dậy cho cô nhìn kỹ.
Hai con chó vốn đang nằm nghiêng hai bên chó mẹ, nghe tiếng gọi của chủ thì lập tức phấn chấn đứng lên, chân chúng thẳng và dài, móng vuốt gọn gàng, sáng bóng, có đều hơi lấm lem bùn đất; người chủ lại cho Hà Điền xem hàm răng, lỗ tai và lòng bàn chân của chúng.
Hà Điền càng nhìn càng thích, cô nhìn mấy con chó con, chúng chỉ mới hơn ba tháng tuổi, nhưng con nào cũng rất hiếu động và ra dáng của ba mẹ.
Cô chỉ vào chú chó con vàng đứng yên lặng ở giữa, hỏi người chủ: "Nó là con đực hay con cái vậy?"
"Con đực!" Cô gái cười nói: "Những con chó của nhà chúng tôi đều là những con chó săn tuyệt vời."
Hà Điền đang định bàn lại giá cả, tên anh của nhà họ Phổ đi tới, hắn ta nhổ nước bọt xuống đất, sau đó trợn mắt nhìn người bán chó: "Chó nát mà cũng dám đem đi bán! Chó nhà cô sao có thể so với chó nhà tôi?"
Cô gái sửng sốt, sau đó nhận ra tên này đang cố ý gây sự, cô ấy lập tức lạnh lùng sờ lên khẩu súng ngắn bên hông, ngẩng đầu nhìn: "Anh muốn làm gì? Chúng ta không ai đụng chạm ai cả!"
Tên em trai cũng đi tới: "Khà khà, không muốn gì cả, nhưng cô không được phép bán chó cho cô ta!" Hắn ta chỉ vào Hà Điền: "Tin hay không, nếu cô dám bán nó cho cô ta, tôi sẽ cho chó của tôi cắn chết lũ chó con của cô!" Hắn ta nói xong, trừng mắt nhìn người bán chó bên cạnh: "Mấy người cũng vậy!"
Gia đình kia là một đôi vợ chồng già, sợ không dám nói gì, vội ôm chó bỏ đi.
Hai anh em nhà họ Phổ mỉm cười đắc thắng, vung tay lên, hai con chó săn trưởng thành mà họ mang theo ngay lập tức chạy đến, gầm gừ đe dọa, nước dãi từ răng nanh chảy dài.
Hà Điền giận đến phát run: "Mấy người dựa vào cái gì?"
Hai anh em nhà họ Phổ nhìn cô, rồi lại nhìn Dịch Huyền bên cạnh, cười khà khà: "Hà Điền, cô muốn mua chó cũng được thôi, nhưng phải mua chó của nhà chúng tôi."
"Biết vì sao không? Vì chúng tôi là đàn ông, còn các cô chỉ là một đám phụ nữ!"
"Cô có thấy ở trong rừng có con hươu cái nào bỏ hươu đực chạy tứ tung không? Không có đàn ông ở cạnh, cô cứ chờ mà bị bắt nạt đi!"
Lúc này, người bán chó rất giận nhưng mà cũng không dám nói gì, hình thể và sự hung dữ của chó săn nhà cô ấy không thua kém hai người đàn ông đang khiêu khích này, nhưng mà, chó săn được huấn luyện tốt cho dù có bị thương đến mức độ nào đi chăng nữa, một khi chủ nhân đã ra lệnh rồi thì chúng sẽ liên tục cắn con mồi và sẽ không buông tha cho đến khi con mồi chết đi.
Người bán chó tức đến mức lồng ngực phập phồng, cô ấy đau lòng cho đàn chó con của mình, không nói nữa, chỉ cầm chặt tay cầm súng mà đối đầu với hai tên to xác kia.
Đứa con thứ hai của nhà họ Phổ nhìn cô gái một cách đầy khiêu khích, sau đó nhìn Hà Điền, nói với anh trai của mình: "Khà khà, khuôn mặt và thân hình của cô gái này trông cũng được, nhưng nếu so với cô và cô nàng này —— "
Hắn ta nhìn chằm chằm Dịch Huyền, sau đó lại nhìn Hà Điền: "Vẫn là cô đáng yêu hơn!" Hắn ta nói xong thì vươn tay về phía Hà Điền, muốn sờ lên mặt cô.
Dịch Huyền chặn Hà Điền ở phía sau mình như một con gà mái già đang bảo vệ gà con, trầm giọng nói: "Phải làm gì thì các người mới để Hà Điền mua chó?"
Hai anh em nhà họ Phổ nhìn nhau, tên anh trai cười phá lên: "Khà khà, thôi thì nói thật vậy, nói cho cô biết, cho dù có muốn đổi bằng lông chồn cũng không thể được!"
Tên em cười nói tiếp: "Phải đánh đổi bằng làn da mỏng manh và mềm mại của các cô!" Hắn ta lại nhìn người bán chó: "Cô đó hả, mặt mày thì thôi khỏi nói đi, nhưng được cái là mông to!"
Xung quanh đã có rất nhiều người vây xem, có một số người tức giận, nhưng một số thì lại cười theo, nhìn chằm chằm vào khuôn mặt đỏ bừng của Hà Điền và cô gái bán chó.
Những chú chó của cô gái cảm nhận được cảm xúc của chủ nhân mình, cùng nhau cất tiếng sủa.
Dịch Huyền cười khẽ, vẫn thấp giọng nói: "Không dễ rồi." Anh hơi kéo khăn che mặt xuống, nhìn hai anh em, trong mắt mang theo ý cười, nâng cằm hướng về phía đám cỏ lau phía sau lưng họ: "Đi theo tôi!"
"Cô--" Hà Điền muốn kéo Dịch Huyền lại, cho dù cô có mạnh mẽ đến đâu, cô cũng chỉ là một cô gái mà thôi!

Dịch Huyền vỗ nhẹ vào cổ tay Hà Điền, nhẹ nhàng đẩy cô ra: "Cô mua một con chó đi!"
Rồi xoay người lại nói với người bán chó: "Các cô đợi tôi ở đây một lát."
Hai anh em tưởng mình nghe nhầm, thấy người đẹp cao gầy thật sự hất tay Hà Điền đi về phía đám lau sậy, nhìn đôi chân dài, eo thon và khuôn mặt xinh đẹp nhìn thấy trên sông sáng nay, bọn chúng cười ha ha, vội vàng đi theo.
Có một tên đứng cạnh cười đến kỳ quái: "Một lát? Vậy là khinh thường hai anh em nhà kia à?!"
Không ai trả lời anh ta.
Quy luật sinh tồn trong rừng là như vậy, có những chuyện còn tàn khốc hơn như thế này rất nhiều.
Lúc này, có người ôm ngực hét lớn: "Tiền của tôi bị mất rồi!"
Mọi người không còn tâm tình để xem náo nhiệt nữa, họ đang bận rộn kiểm tra xem tiền của mình có còn không.
"Ở đây có trộm!"
"Đi tìm lính canh đi!"
Vừa rồi Hà Điền bị Dịch Huyền hất tay ra, toàn bộ cánh tay đều bị đau và tê rần, đây là tay cô cầm súng mà!
Cô bất giác đung đưa cánh tay, rồi quay đầu lại nhìn, thôi rồi, hai đôi chân dài của Dịch Huyền đang bước đi rất nhanh, còn hai anh em nhà họ Phổ thì giống như hai con sói đói ch** n**c miếng đuổi theo sau, sắp đi vào đám lau sậy kia rồi.
Lau sậy ở đây đã sớm mọc cao hơn chiều cao của một người, xanh um, rậm rạp, vừa bước vào là mất hút, nếu muốn tìm sẽ rất phiền phức.
Hà Điền nắm chặt cánh tay đau nhức của mình định chạy vào đám lau sậy, chạy được vài bước thì cô nhận ra trên lưng mình vẫn còn mang theo một cái giỏ đựng mười ký muối và các loại đồ linh tinh khác, cô chạy lại chỗ bán chó, đặt cái giỏ xuống đất, nói: "Chị giữ nó giúp em, em —"
Cô gái nắm lấy cánh tay của cô, lắc đầu: "Đừng lo lắng.

Tôi tin bạn đồng hành của cô sẽ sớm an toàn và trở lại thôi.

Cô đi tìm có khi lại càng thêm phiền."
Hà Điền sững sờ, trong đầu trống rỗng, nghĩ xong liền lắc đầu: "Chị ơi, em không phải là người ăn chay." Cô vén vạt áo lên, lộ ra một loạt súng hỏa mai.
Cô gái đành phải buông tay ra, Hà Điền lo lắng chạy về phía đám lau sậy.
Khi chạy đến bên ngoài đám lau sậy rồi, Hà Điền đứng chết lặng.
Gió thổi qua, lau sậy phát ra âm thanh xào xạc, lá xanh chạm vào lá xanh, giữa những thân cây thẳng tắp chỉ thấy toàn là màu xanh, nhìn xuống mặt đất, một số là đầm lầy, một số là bùn nhão, khó mà biết được họ đã đi đâu.
Hà Điền lo lắng đến mức sắp khóc, gọi to: "Dịch ——"
Cô gọi được một nửa, rồi lại nhanh chóng che miệng mình lại.
Tại sao trước khi đến gần chợ và lên bờ Dịch Huyền lại che mặt mình lại? Nếu cô cứ gọi to như vậy thì sẽ còn tệ đến mức nào nữa?
Hà Điền che miệng, cằm run lên, nước mắt giàn giụa..
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 33: 33: Chia Lìa


Hà Điền ở bên này khóc nức na nức nở, ở bên kia, sâu trong đám lau sậy, hai anh em nhà họ Phổ cũng đang khóc.
Bọn chúng theo sát Dịch Huyền, nhìn dáng người mảnh khảnh của người đẹp đi qua đám lau sậy màu xanh, mái tóc đen dài óng ả buông thả phía sau không khác gì một tấm lụa đen tuyền, và nước da trắng ngần không thua gì của Hà Điền, cơ hồ muốn chảy cả nước miếng.
Vừa đuổi theo, chúng vừa hô lên: "Người đẹp, ở chỗ này được chưa? Không ai thấy nữa đâu!"
"Anh, do người đẹp đang thẹn thùng thôi!"
"Hahaha, chẳng lẽ em vẫn còn zin?"
"Đừng sợ, bọn anh sẽ thật nhẹ nhàng!"
Trong lúc hai tên này đang hưng phấn nói ra những ngôn từ dơ bẩn thì Dịch Huyền đột ngột dừng lại, anh xoay người, giật mảnh vải che mặt xuống.
Mùa đông năm nay, khi nhìn thấy Hà Điền và người đẹp này, bọn chúng còn cho rằng Dịch Huyền là một người đàn ông, bởi cô ấy khá cao, luôn che mặt và không nói gì.

Sáng nay lúc gặp ở trên sông, ha ha, so với vẻ đẹp của Hà Điền thì người đẹp này có nét phong trần hơn, dáng người thướt tha như lụa.
Trông hai anh em chúng lúc này xấu xa chẳng khác gì hai con ruồi đang cọ xát, nhìn thẳng vào Dịch Huyền.
Bọn chúng còn chưa kịp nhìn rõ, loá một cái, thằng em kêu lên một tiếng "á" kỳ quái, rồi ngã xuống đất lăn lộn, vừa lăn vừa che háng, hai chân vung vẫy.

Lăn qua lăn lại mãi, hắn ta đã đè bẹp cả một vùng sậy rộng lớn xung quanh, nên lúc thằng anh bị xử, ít nhất cũng có thể la hét và lăn lộn trên đám sậy, thay vì phải lăn lộn như một con heo đen trong bùn như em trai mình.
Hai anh em la hét lăn lộn, còn muốn rút súng ở thắt lưng ra.
Dịch Huyền cười lạnh đá vào cổ tay của chúng, rồi hằn học nói: "Mở mắt chó ra mà nhìn cho kỹ, tao là đàn ông!"
Anh em nhà họ Phổ gào thét thảm thiết, đau đến mức nước mắt chảy dài, mặt mũi lấm lem bùn đất, nhưng vẫn tỏ vẻ không tin: "Cô là đàn ông? Lừa ai vậy!"
Dịch Huyền giận tái mặt.

Ngay lập tức, anh cố nhớ lại những câu chuyện về những nhân vật phản diện chuyên đi bắt nạt người khác trong sách mà mình đã đọc khi còn nhỏ, rồi chọn một trong những kẻ phản diện th* t*c nhất, bỉ ổi nhất, bắt chước.
Anh tiến lên một bước, vén áo lên, kéo lưng quần xuống, tiểu vào hai anh em chúng, nghiến răng nghiến lợi làm ra bộ dạng cực kỳ hung ác ức h**p người mà mình tưởng tượng ra: "Giờ thì tụi mày tin rồi chứ?!"
Anh em nhà họ Phổ ướt sũng nhìn bảo vật khổng lồ của "Người đẹp" kia, ngẩn người ra, há hốc mồm, còn vô tình uống phải vài giọt "nước thánh".
"Hừ.

Người phụ nữ của ông đây, tụi mày dám quấy rối à?" Dịch Huyền buộc chặt quần lại, hài lòng với biểu cảm kinh ngạc và kinh hoàng trên khuôn mặt của hai anh em chúng, tiếp tục uy h**p nói: "Còn dám đụng đến người phụ nữ của tao, tao cắt tai, cắt mũi, cắt...!Hừ, đem cho chó của nhà tụi mày ăn!"
Hai anh em rùng mình, kẹp chân lại, liên tục van xin: "Không dám nữa! Anh tha cho tụi em!"
Dịch Huyền bị đè nén suốt cả một mùa đông, cuối cùng cũng lấy lại sự tự tôn của đàn ông, câu nói "Anh tha cho tụi em" rất thích hợp khi nói với những kẻ chuyên bắt nạt, để trị những tên ngốc không có mắt này, phải dùng thủ đoạn tàn độc như vậy mới vừa.
Anh cười lạnh quát lên: "Đứng lên cho tao, cút đi!" Lại hừ một tiếng: "Chuyện hôm nay tụi mày mà dám hó hé, hừ hừ..."
Anh em nhà họ Phổ vội nói: "Không dám! Không dám!"
Lúc này bọn chúng còn đang đau muốn ứa nước mắt, đừng nói là đi đứng, nằm một chỗ cũng đã đau muốn chết rồi, nhưng lại bị ông hung thần này hâm doạ, nào dám nói một lời nào, đành phải nhịn đau đứng lên, bụm đ*ng q**n trở về.
Lúc này hai anh em lại nhìn cảnh vật xung quanh, đám lau sậy vốn dĩ là nơi thích hợp cho chuyện hú hí, nhưng khi có gió thổi, lau sậy xào xạc, muốn kêu cứu cũng không nghe thấy được.

Cỡ như có bị giết, xác thối rữa bị giòi bọ ăn hết sạch rồi cũng chẳng ai hay.
Hai anh em rùng mình một cái, bọn chúng không hẹn mà cùng nghĩ, người đàn ông phía sau cải trang thành mỹ nữ rõ ràng là quá b**n th** mà! Ai biết được sau này tên b**n th** này còn làm chuyện b**n th** gì hơn thế này với họ nữa hay không?
Tên anh trai không nhịn được quay đầu lại nhìn, chỉ thấy khuôn mặt thâm trầm của Dịch Huyền.
Trên đường đến chợ, Dịch Huyền đã nghĩ xong rồi, người nhà họ Phổ cũng đến đây, đợi Hà Điền về rồi, anh sẽ giết họ.
Hà Điền từng nói, mọi năm ở chợ đều có thợ săn chẳng may gặp phải cướp bóc, cũng có nhậu nhẹt, cờ bạc và gây rối giết người, nếu năm nay nhà họ Phổ gặp bất hạnh, cũng không có gì phải ngạc nhiên cả.
Nhưng không ngờ người tính không bằng trời tính, "chủ thành" đã kiểm soát toàn bộ phiên chợ, không chỉ có rất nhiều lính canh mà còn có cả người đặc biệt ghi lại số thợ săn đến chợ.

Mặc dù người lính đứng trên bờ không hỏi cụ thể, nhưng nhìn thoáng qua cũng sẽ biết giới tính và tuổi tác của mọi người.
Anh em nhà họ Phổ chủ động khiêu khích, rất nhiều người đã nhìn thấy, nếu lúc này bọn chúng xảy ra chuyện, chắc chắn sẽ có người nghi ngờ Hà Điền.
Kế hoạch giết người và ném xác của Dịch Huyền đã bị phá hủy, giờ còn phải giữ lại mạng cho hai tên ngu ngốc này.

Muốn làm việc chính nghĩa mà không suôn sẻ, nhìn thấy tên anh đang nhìn trộm mình, anh liếc mắt: "Nhìn cái gì?"
"Không có...!không có, không dám!"
Tên anh nơm nớp lo sợ quay đầu lại, nhịn đau bụm đ*ng q**n đi về phía trước, đang đi thì nghe thấy tiếng lách cách từ phía sau, như là có người bẻ gãy cây sậy, hắn ta ngay lập tức cả kinh.
Hắn ta từng nghe ba mình nói năm xưa có một nhóm cướp xông vào nhà của một thợ săn trong núi, trong nhà cũng chỉ có một —— bà già và một thiếu niên hai mươi tuổi, bọn cướp này đè con người ta ra làm bậy, còn dùng cành cây c*m v**...!Làm cho người ta nằm ở trên giường nửa năm cũng không thể nào xuống đất được, mỗi lần đi cầu là lại thấy đau đớn.
Hắn ta sợ hãi, hai chân mềm nhũn quỳ trên mặt đất, một tay che ở phía trước, còn tay kia thì che mông, khóc lóc: "Anh ơi, xin anh thương xót! Đừng "động" em mà.

Hu hu, anh ơi! Ui da!"
Dịch Huyền bẻ nhành lau quất vào lưng hắn ta một cái: "Câm miệng! Đi tiếp!"
Một đòn đánh vào chỗ hiểm cộng với sỉ nhục và đe dọa này thật ra cũng không lâu.

Thời gian họ đi vào và ra khỏi đám lau sậy tính ra cũng chỉ trong mười phút.
Anh em nhà họ Phổ nhìn thấy bờ rìa lau sậy, cảm giác cứ như vừa trải qua mấy đời, thấy Hà Điền đứng ở phía trước, chúng như nhìn thấy người thân, đứng một chỗ khóc ré lên.
Hà Điền không ngờ đến mình vừa tìm thấy dấu chân của ba người họ, đi chưa được bao lâu thì đã thấy Dịch Huyền và hai anh em nhà họ Phổ quay trở lại.
Mặt mày của hai tên đàn ông này tái mét, trán lấm tấm mồ hôi, lấy tay che đ*ng q**n, hai đùi kẹp lại bước đi, nhìn từ xa trông không khác gì đang bắt chước tướng đi của vịt.
Vừa nhìn thấy Hà Điền, bọn chúng liền bật khóc nức nở: "Bà cô nhỏ, mau mua chó của cô đi, nếu cô thích mấy con chó con của nhà tôi thì cứ lấy luôn đi! Không dám đắc tội với cô nữa."
Hà Điền sửng sốt, lại nhìn Dịch Huyền, anh vẫn đang che mặt, ánh mắt nhìn không ra là đang cười hay tức giận, trên tấm vải che cũng không có dấu vết của mồ hôi.

Không giống như đã làm điều gì đó với anh em nhà họ Phổ.

Hoặc là, hai bên có sự chênh lệch về sức mạnh quá lớn, căn bản là họ không có đánh nhau gì cả, mà chỉ có một bên ra tay.
Anh quay đầu lại quát: "Mày cũng đáng để nói chuyện với cô ấy? Còn dám nói với cô ấy một câu nữa, tao cắt lưỡi.

Biến đi!"
Hai tên kia vội vã bỏ chạy.
Khi anh em nhà họ Phổ đi rồi, Hà Điền nắm lấy tay Dịch Huyền, còn chưa mở miệng mà mũi đã trở nên đau xót, thiếu chút nữa là đã khóc luôn: "Cô làm tôi sợ muốn chết."
Dịch Huyền nắm lấy vai cô, lại lau nước mắt trên khóe mắt: "Cô không sao chứ?"
Hà Điền sụt sịt: "Cô làm gì bọn họ vậy?"
Dịch Huyền nói: "Không có gì.

Chỉ lấy lý phục người mà thôi."
"Tôi mới không tin đâu."
"Tôi dùng chân để phân rõ phải trái.

Tôi đã nói rồi mà, bọn chúng bắt nạt kẻ yếu, sợ hãi kẻ mạnh.

Sau khi dạy chúng một bài học, chúng không dám đắc tội cô nữa đâu."
Nhưng trong lòng anh thì lại không nghĩ như vậy.

Nếu không phải năm nay chủ thành đột nhiên bày trận lớn như vậy, quái vật thì ít mà dân treo auto thì nhiều, khó tránh khỏi có người làm hỏng chuyện.

Chỉ cần một dao g**t ch*t hai "con chó" này là chuyện dễ dàng như trở bàn tay.

Có thể dạy ra loại người khốn kiếp này, "chó già" nhà chúng, cũng phải giết.
Quay lại chợ, cô gái bán chó vẫn đang đợi họ, chiếc giỏ của Hà Điền được đặt ở phía sau sạp hàng, do con chó ba canh giữ.
Hai bên thương lượng giá cả, khi thu tiền xong, cô gái trả lại cho Hà Điền một trăm đồng, mỉm cười nhìn Dịch Huyền: "Cô giúp tôi trừng trị kẻ xấu, đây là tiền cảm tạ."
Dịch Huyền trả lại tiền cho cô ấy: "Cảm ơn.

Không cần đâu." Sau đó kéo tay Hà Điền rời đi.
Hà Điền ôm con chó nhỏ lông vàng, như nhặt được bảo bối, không quan tâm đến việc gì nữa hết, cười với cô gái rồi đi theo Dịch Huyền.
Họ đi xa rồi cô gái mới mỉm cười nói: "Còn là một anh chàng rất kêu ngạo."
Hà Điền mua chó xong thì không muốn mua thêm gì nữa.

Cô tìm một nơi vắng vẻ rồi chia số tiền bán lông chồn với Dịch Huyền.

Cô nhìn anh chằm chằm một lúc rồi nhìn vào chiếc túi anh đang mang: "Cô...!Hãy cẩn thận."
Cô cúi đầu nói: "Cô đi nhanh đi.

Đi qua đầm lầy lau sậy này rồi đi về phía Tây, đi hơn hai tiếng đồng hồ sẽ có một bến phà, ở đó có phà đến thị trấn bên cạnh.

Khi đến thị trấn, cô có thể tiếp tục đi thuyền, hoặc là mua một con ngựa...!"
Cô dừng lại, nói: "Tôi...!tôi cũng phải đi rồi."
Bây giờ đã hơn một giờ trưa.

Lúc về Hà Điền phải đi ngược dòng, hơn nữa còn phải chèo thuyền một mình, cô phải khởi hành càng sớm càng tốt về nhà trước khi trời tối, nếu không đi ngay, cô chỉ có thể ngủ lại đây một đêm.
Nói xong, một tay cô ôm lấy con chó con, tay kia thì giang ra, dùng sức ôm chặt Dịch Huyền.
Lúc trước, vào những lúc cảm thấy vui vẻ hay là ăn mừng này nọ, Hà Điền đều sẽ ôm Dịch Huyền như vậy, nhưng cô nàng này luôn khó chịu né tránh, hoặc cứng đơ như một khúc gỗ, vậy mà hôm nay, cô ấy lại đáp trả một cách nồng nhiệt.
Dịch Huyền ôm chặt lấy Hà Điền.
Anh siết chặt Hà Điền bằng hai tay, siết luôn cả chú chó con ở giữa, khiến nó la ăng ẳng.
Sự kháng nghị của chú chó con ngay lập tức phá hủy bầu không khí lưu luyến không rời khi chia tay này.

Hà Điền vốn sắp khóc rồi, nhưng giờ cô lại cười.
Lần duy nhất đáp lại lại thất bại như vậy, Dịch Huyền không khỏi cười khổ.
Hà Điền ngẩng đầu nhìn anh: "Cô đi nhanh đi.

Đừng có kỳ kèo nữa."
"Ừ." Dịch Huyền mím chặt môi.
Hà Điền lại nhìn anh: "Nếu cô muốn trở lại, có thể quay lại bất cứ lúc nào."
"Ừ."
Hà Điền khẽ thở ra một hơi, xoay người rời đi không nhìn lại.
Sau khi đi được hơn mười phút, dường như chú chó con mà cô đang ôm trong lòng cũng biết được rằng nó sắp phải rời xa ba mẹ mình mãi mãi, bắt đầu rên ư ử.
Hà Điền dừng lại, đứng đó một lúc rồi từ từ quay đầu nhìn về phía xa nhất có thể nhìn thấy, chỉ còn lại những đám lau sậy đung đưa trong gió.
Không thấy Dịch Huyền đâu nữa.
Tác giả:
Tôi không muốn viết một câu chuyện dài như vậy về khu chợ này đâu, nhưng nơi này về sau sẽ được nhắc lại, nên tôi đành phải dành nhiều tâm huyết để viết, viết và viết..
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 34: 34: Bất Ngờ


Hà Điền quay trở lại bến thuyền, đưa thẻ mà lúc đậu thuyền cô đã nhận cho người canh giữ, sau đó mang theo chú chó con, người bạn đồng hành mới của mình về nhà.
Cô đặt chó con vào trong chiếc giỏ có lót một miếng da thỏ.
Lúc đầu chó con còn kêu gào thảm thiết, một lúc sau nó nằm trong giỏ nghịch lông đuôi trên da thỏ.

Nó học theo bộ dáng của ba mẹ mình, vừa cắn đuôi thỏ vừa khuỵu người xuống, gầm gừ vung vẩy đầu, sau đó nó lại nhảy lên, vồ vào đuôi thỏ một cách ác ý.
Sau một hồi, đuôi thỏ bị cắn ướt, cơ hồ sắp đứt rời khỏi bộ lông luôn rồi.
Hà Điền vốn cho rằng sau khi Dịch Huyền đi rồi, cô sẽ vừa chèo thuyền ngược dòng, vừa nước mắt lưng tròng, nhưng sau khi vượt qua cửa năm con sông, cô mới biết muốn buồn cũng cần phải có sức.
Chèo ngược dòng, nếu không tiến về phía trước thì sẽ bị đẩy lùi lại.
Cô không thể buông lỏng một phút một giây nào.
Hai mái chèo nâng lên hạ xuống, không ngừng lặp lại một động tác.
Trong sách nói rằng não sẽ tự động tiết ra dopamine trong quá trình tập thể dục.

Đây là một loại hormone có thể k*ch th*ch sự hưng phấn.

Nghe nói, trước khi xuất hiện thời kỳ lạnh giá này, nhiều bác sĩ đã khuyến nghị tập thể dục như một phương pháp điều trị bổ sung cho bệnh nhân trầm cảm.
Ngay cả trầm cảm cũng có thể thuyên giảm, huống chi là tâm trạng đau buồn khi phải chia ly?!
Hà Điền đã chèo hơn một tiếng đồng hồ, khi đến một đoạn sông tương đối hiền hòa, cô cho thuyền tấp vào bờ của một gò đất nhỏ ở giữa sông.
Chó con trong giỏ ngửi thấy mùi thơm, nó lập tức vẫy đuôi giãy giụa nhảy ra khỏi giỏ, ngồi xổm trước đầu gối của Hà Điền, yên lặng nhìn cô.
Con chó con này ngồi rất ngay ngắn, trông giống như một con chó săn được huấn luyện tốt, nhưng chiếc đuôi nhỏ phía sau của nó lại không ngừng lắc qua lắc lại, đập vào đáy thuyền, tạo ra âm thanh lạch cạch.
Hà Điền không khỏi mỉm cười.
Kể từ bây giờ, cô sẽ phải tiến hành việc huấn luyện cho chú chó con này, nó không phải được mua về để làm thú cưng, nếu người chủ mới không nuôi dạy đúng cách, nó rất khó có thể đảm đương được trách nhiệm của một con chó săn.
Hà Điền ăn mấy miếng bánh rán bọc sốt gan gà, sau đó gắp một miếng sốt gan gà đặt xuống đáy thuyền, chó con lập tức chạy tới ăn.
Hà Điền giữ đầu nó lại không cho nó cử động, sau đó vỗ nhẹ vào mông ra hiệu cho nó ngồi xuống.
Chó con rên ư ử vài tiếng tỏ ý không hài lòng, nhưng ngay sau đó đã ngồi xuống, lại ngẩng đầu lên, nhìn Hà Điền bằng đôi mắt đen láy.
Hà Điền đặt một miếng sốt gan gà khác lên ván thuyền, lần này, cô đặt nó gần hơn, gần như chó con chỉ cần cúi đầu xuống là có thể ăn được ngay.

Lỗ mũi của nó liên tục mấp máy, cổ cũng giật giật, dường như đang nuốt nước miếng.

Tất nhiên là nó đã ngửi thấy mùi thơm và bị cám dỗ, nhưng nó vẫn im lặng ngồi đó.
Hà Điền đặt miếng sốt gan gà thứ ba xuống trước bàn chân của chó con, chó con nhìn xuống rồi lại nhìn lên cô.
"Ăn đi!" Hà Điền vỗ đầu nó chỉ vào đồ ăn, chó con nuốt miếng sốt gan gà đó, hừ một tiếng, sau đó l**m l**m miệng không khác gì lúc Trư Bát Giới ăn quả nhân sâm.

Một lần nữa nhìn Hà Điền với ánh mắt "vẫn chưa dính kẽ răng đâu".
Hà Điền lại chỉ vào một miếng sốt gan gà khác: "Ăn đi."
Nó lập tức chạy đi ăn, sau khi ăn xong, nó có vẻ chần chừ một lúc, quay đầu lại nhìn Hà Điền, không biết nó đã lấy được thông tin gì từ mặt và mắt cô, vội vàng chạy về bên chân của Hà Điền, đối với miếng sốt gan gà thứ ba làm như không thấy.
Hà Điền v**t v* đầu và cổ của c* cậu để tỏ ý khen ngợi, rồi ra lệnh cho nó ăn miếng đồ ăn thứ ba.
Con chó săn này thực sự là một giống tốt.

Người chủ trước cũng nuôi dưỡng rất khá.
Sau khi chó con đã ăn hết thức ăn, nó chạy lại chỗ Hà Điền muốn chơi với cô, Hà Điền chạm vào lớp lông tơ mềm mại đặc biệt của chó con trên người nó, ôm nó lên cho vào giỏ rồi ngắt một ít cỏ trên bờ, làm thành một quả bóng ném cho nó chơi.
Hà Điền uống một chút nước, tiếp tục chèo thuyền về nhà.
Lúc đi, khí hậu càng lúc càng ôn hòa, khi về thì mặc càng lúc càng dày.
Một lần nữa nghỉ ngơi cũng đã là gần bốn giờ chiều, Hà Điền lại mặc áo khoác lông chồn vào, rồi ăn uống bồi bổ sức lực.
Chó con yên lặng ngủ một giấc, sau đó tỉnh dậy, nằm trên mạn thuyền, đưa đầu ra thăm dò dưới sông uống vài ngụm nước.
Hà Điền nhấc nó lên, đặt ở trên gò đất, nó nhanh chóng xoay một vòng rồi đi tiểu trên mặt đất bên cạnh một cây sậy.
Sau khi tiểu xong, nó sủa lên rồi chạy trở lại thuyền, sợ Hà Điền sẽ bỏ mình lại.
Hà Điền mang nó trở lại thuyền, gấp một chiếc hộp vuông nhỏ bằng lá sậy, rồi đập vỡ một quả trứng mà lúc sáng cô đã nhặt được, cho vào chiếc hộp đó.
Lần này chó con nhìn thấy đồ ăn thì đã biết mình phải làm gì.
Hà Điền sờ đầu nó: "Ăn đi."
Nó vẫy đuôi, ngồi xổm bên thành hộp, l**m trứng, chốc chốc vài cái đã ăn xong, trên ria mép và lông tơ phía dưới vẫn còn dính vài vết lòng đỏ trứng.
Hà Điền lại lên đường.
Sau đó lại chèo thêm hai tiếng đồng hồ nữa mới dừng lại nghỉ ngơi.
Lúc này trời đã nhá nhem tối, mây trời lồng lộng, mặt sông hiền hòa, hai bên bờ cỏ xanh rì múa may theo gió, đàn vịt trời bay ngang bầu trời.
Hà Điền chợt rơi nước mắt.
Nhưng cô chỉ khẽ nức nở vài cái, sau đó dùng ống tay áo lau đi những giọt nước mắt đó, cử động mái chèo và lại tiến về phía trước.
Về đến nhà đã hơn bảy giờ tối, bầu trời một màu xám xanh lơ thơ, từ trong rừng, có thể nhìn thấy một vài ánh hoàng hôn màu cam giữa bóng lá.
Sau khi về nhà, Hà Điền đi xem Gạo trước.
Gạo ở trong chuồng cả một ngày, đã sớm không kiên nhẫn được nữa, nó ngửa cổ ưỡn người, nhìn thấy con chó con trong tay Hà Điền thì giật mình lùi lại một bước, rồi lại lập tức cảm thấy con vật nhỏ này không có gì đáng sợ, lại nghểnh cổ về phía Hà Điền, xin ăn.
Hà Điền lấy ra cho nó một nắm đậu nành, thắp ngọn đèn dầu treo trên vách chuồng lên, nhắm mắt hít sâu một hơi rồi nhanh chóng quét dọn phân của Gạo, sau đó rắc tro và cỏ khô lên.

Máng nước cũng được thay nước sạch.
Trong khoảng thời gian này, chó con cũng không hề nhàn rỗi, nó cứ chạy ra chạy vào theo cô, Hà Điền suýt chút nữa đã giẫm lên cái chân mập mạp của nó.
Thấy Hà Điền cầm chổi quét nhà, nó còn sủa lên chạy theo cắn chổi.
Sau khi dọn dẹp chuồng xong, trời tối hẳn.
Hà Điền dắt Gạo trở lại chuồng, sờ sờ lỗ tai của nó: "Ngủ ngon nhé."
Gạo ăn đậu nành no rồi, không kiên nhẫn lắc lắc lỗ tai, mặc kệ cô.
Hà Điền khóa cửa lại, mang theo chó con quay trở lại nhà gỗ.
Cô đun một nồi nước rồi cho nước lạnh vào chậu rửa chân của mình.
Chó con chưa biết mình sắp gặp xui xẻo, nó hưng phấn nhảy cẫng lên, đánh hơi khắp nhà.
Lúc còn ở nhà chủ cũ nó đã được huấn luyện, biết ở đây không được tiểu bậy, một lúc sau nó cào lên cửa, Hà Điền mở cửa ra, nó vội vàng chạy đi, đứng ở trên hiên nhà, do dự, lúc nhảy xuống thì ngã chúi nhào thành chó gặm bùn, sau khi xoay quanh ở trên khoảng đất trống trước nhà một lúc, nó mới chạy đến một gốc cây xả nước tiểu rồi chạy nhanh trở lại.
Sau khi trời tối, nhiệt độ ngoài trời sẽ giảm xuống nhanh chóng.
Hà Điền đóng chặt cửa ra vào và cửa sổ lại, cô cho nước nóng vào chậu gỗ, túm lấy chó con bỏ vào chậu, dùng bàn chải lông heo nhúng xà phòng rửa sạch từ đầu đến chân cho nó.
Chó con r*n r*, không tình nguyện, nhưng cũng không có cách nào phản kháng được.
Tắm xong, Hà Điền quấn nó trong một miếng vải nhung rồi lau khô, sau đó lấy một cái lược tre ra chải lông cho nó.

Hà Điền ngồi ở bên cạnh bếp lửa, mượn ánh sáng của lửa, cô bắt được vài con bọ chét và rận đang điên cuồng tháo chạy trong đám lông, ném vào trong bếp lò, vang lên một tiếng "bốp" nhỏ.
Sau khi chải thêm vài lần, lông của chó con đã khô hẳn.
Hà Điền dùng ngón tay v**t v* bộ ria mép của nó: "Xong rồi, để chị bôi chút phấn cho cưng."
Phấn diệt côn trùng được chứa trong một cái ống tre, cô đổ phấn ra miếng vải nỉ, rồi thoa lên tay, vỗ nhẹ vài cái lên người chó con, nó bị phấn làm cho sặc, hắt hơi liên tục vài cái.
"Ngày mai lại cho cưng uống một ít thuốc diệt bọ nữa."
Hà Điền dùng lược lông heo chải cho nó thêm vài cái rồi tìm một cái giỏ tre nhỏ, trải một miếng vải nhung bên trong, lại cột một tấm da lửng trên tay cầm của giỏ.

Một cái ổ nhỏ ấm áp và thoải mái đã hoàn thành.
Cô xách ổ nhỏ đến đặt ở bên cạnh bếp: "Đêm nay cưng sẽ ngủ ở đây."
Cô lại lấy thêm hai cái chén nhỏ bằng gốm ra, một cái đựng đầy nước sạch, cái còn lại thì đập một quả trứng vào, đặt cạnh vại nước.
Chó con nhảy xuống ghế, đầu tiên là đi uống nước, sau đó thì ăn trứng.
Hà Điền ngồi xổm nhìn nó, lẩm bẩm một mình: "Đặt tên cho cưng nha, tên gì đây? Hạt kê nhé? Cưng cũng có lông vàng nè.

Thôi, gọi là Lúa Mì đi.

Bột được làm từ lúa mì, mà lúa mì chín cũng có màu vàng nữa."
Chó con - bây giờ đã là Lúa Mì, ăn xong rồi, cô lau sạch chất lỏng trứng trên miệng và mặt của nó, nói: "Ngoan ngoãn ngủ nhé.

Chị biết hôm nay là ngày đầu tiên cưng rời xa ba mẹ, ban đêm nhất định là sẽ khóc, chị sẽ luôn canh chừng cưng, nhưng không thể ôm cưng ngủ được, vì đây là quy định do bà chị đặt ra.

Hơn nữa, cưng còn chưa có uống thuốc diệt bọ đâu."
Hà Điền đoán không sai.
Khi cô vừa mới leo lên gác ngủ thì chú chó con vừa mới xa gia đình này đã bắt đầu rên ư ử.
Nếu đổi thành một đứa con nít, đoán chừng là lúc này đã khóc lóc đòi ba mẹ rồi.
Mấy lần nó nằm ở chỗ thang gỗ leo lên gác, r*n r* nhưng không lên được, Hà Điền hạ quyết tâm không để ý đến nó nữa, cho dù có cào cầu thang cũng vô dụng thôi!
Lúc này không còn ai thêm củi vào bếp lò nữa, lúc nằm ở trong ổ thì rất ấm, vừa chui ra khỏi ổ là đã lạnh ngay, Lúa Mì giằng co một hồi, lạnh run, lại rên ư ử chạy về ổ của mình.
Dù không còn đốt củi nhưng bếp lửa vẫn ấm, ổ nhỏ bên cạnh bếp lại càng ấm hơn.
Cứ như vậy vài lần, đương nhiên Hà Điền cũng không thể ngủ ngon.
Cô đang nghĩ, bây giờ Dịch Huyền đang ở đâu? Đã đến trấn nhỏ chưa? Ngủ ở đâu? Đã ăn tối hay chưa?
Cho dù trong đầu luôn lo lắng về Dịch Huyền, nhưng cô cũng không thể nào cản được sự mệt mỏi của cơ thể.

Hôm nay chèo thuyền cả một ngày, hành trình trở về càng đặc biệt mệt mỏi, Hà Điền suy nghĩ một lúc rồi ngủ thiếp đi.
Không biết đã trôi qua bao lâu, cô lại mơ màng tỉnh dậy.
Lúa Mì lại đang k** r*n, nhưng lần này không phải là tiếng rên ư ử muốn được ôm, mà là tiếng sủa cảnh cáo không đủ uy lực.
Hà Điền tỉnh dậy.

Bên ngoài có người!
Cô ngay lập tức mặc quần áo vào, nắm chặt khẩu súng ngắn rồi trèo xuống gác.
Cô không thắp đèn lên.
Trong đêm tối, đốt đèn lên thì không khác gì lạy ông tôi ở bụi này, tự nộp mạng cho đối thủ.
Hà Điền nhẹ nhàng bước tới dưới bệ cửa sổ, tim đập thình thịch, ánh mắt lúc này mới từ từ thích ứng với ánh sáng.
Cô nghe thấy trước hiên nhà phát ra một tiếng động nhỏ, ai đó đã bước vào hiên và có thể lúc này đang đứng ngoài cửa.
Cũng có thể là một con gấu.
Lúa Mì phát ra tiếng gầm gừ đe dọa hết sức ngây thơ, chạy theo Hà Điền.
Toàn thân nó run rẩy, không biết là vì lạnh nên run, hay là đang sợ hãi cũng không chừng.
Lúc này, bên ngoài nhà lại có tiếng động khó có thể nghe được.
Là tiếng người thở khi lạnh.

Chắc là người nọ đang hà hơi sưởi ấm tay mình.
Không phải gấu!
Hà Điền vốn còn đang bình tĩnh, nghe xong thì chợt thấy kinh hoàng.
Nếu là gấu, chỉ cần canh ở cửa và cửa sổ, nó không vào được và không tìm được thức ăn, cùng lắm thì phá hoại một lúc rồi sẽ bỏ đi.

Kiếm ăn ở trong rừng, dù là người hay là thú, đều phải chú ý đến hiệu suất.
Nhưng nếu là con người...
Hà Điền suy nghĩ một lúc, nhẹ nhàng chuyển chiếc bàn dưới bệ cửa sổ đặt ngược lại để làm nơi trú ẩn.
Cô nấp sau bàn, cẩn thận lắng nghe động tĩnh bên ngoài.
Không biết bên ngoài có bao nhiêu người?
Chúng muốn làm gì?
Cô nín thở lắng nghe một lúc, chỉ nghe thấy tiếng người bên ngoài lại bước xuống mái hiên, cô đang thắc mắc thì chợt nghe thấy tiếng giậm chân rất nhỏ nhưng có phần dồn dập.
Hà Điền khó hiểu.
Người này có phải là kẻ trộm không? Đi ăn trộm mà không nhịn được giậm chân để giữ ấm thì quả là vô dụng.
Hay, tên trộm này được cử đến đây để điều tra? Lực lượng chủ lực vẫn còn đang ở phía sau?
Nghĩ đến đây Hà Điền lại có chút khẩn trương hơn, cô tháo hai khẩu súng ngắn treo sau cửa xuống đeo lên ngực.
Hai khẩu súng ngắn này cũng sử dụng hộp đạn hạt, nhưng hộp đạn này là một hộp dẹp, những viên đạn chì trong đó đều là đạn ngắn có chiều dài 5 phân, đường kính 11 li.
Hà Điền nghĩ thầm: "Bọn mày có bao nhiêu người cũng chấp hết, chị đây trước giờ bắn không trượt phát nào!"
Đạn của súng ngắn khác với đạn chì thông thường, tầm bắn tuy không xa, nhưng khi bắn một cái là ra cả một chùm, tất nhiên là sẽ không trượt phát nào.
Trước đây, hầu hết đặc công và cảnh sát chống bạo loạn đều sử dụng loại đạn này.
Có súng trong tay thì không sợ gì cả!
Hà Điền hạ quyết tâm, chỉ cần bọn trộm này xông vào, cô sẽ lao ra khỏi nhà đối đầu với chúng.
Giằng co gần một tiếng đồng hồ, trời cũng đã tảng sáng.
Tên trộm vô dụng kia vẫn còn đang đi loanh quanh ở bên ngoài, hình như còn đang xoa xoa cánh tay vì lạnh.
Hà Điền đang không thể nào hiểu nổi, đột nhiên nghe thấy người nọ hắt xì hai cái.
Cô ngạc nhiên, trong lòng tự hỏi, sao tiếng hắt xì này nghe quen quá vậy?!
Lúc Dịch Huyền hắt xì cũng giống như vậy, anh sẽ vội bịt mũi và xoay người đi, còn nói xin lỗi nữa.
Nhưng cô lại lắc đầu, tên trộm đến đây là để thăm dò, tất nhiên là phải kín tiếng rồi.
Đang lưỡng lự thì ngoài hiên vang lên tiếng bước chân, tên trộm lại đứng dưới hiên.
Hà Điền nghe thấy kẻ đó đi đến cửa, cô nghĩ, mình có nên cách cánh cửa bắn cho tên trộm này thủng vài lỗ luôn không? Haizz...!Vậy thì cửa nhà mình sẽ hỏng mất, làm lại thì phiền lắm.

Mấy ngày nay thời tiết rất tốt, còn phải đem mấy củ khoai tây nảy mầm đi trồng nữa, thời gian đâu mà đi sửa cửa?!
Khi cô còn đang suy nghĩ, cánh cửa vang lên ba lần gõ.
Hà Điền sững sờ.
Tên trộm này lịch sự ghê.
Không lẽ, không phải là trộm, mà là có người đi lạc đường?
Hừ, mặc xác mày là yêu ma quỷ quái phương nào, bà đây có súng.
"Ai?" Cô lớn tiếng quát.
"..." Người ngoài cửa có vẻ kinh ngạc, giật mình không hiểu nổi tại sao lại có người trả lời nhanh như vậy, nghe ra thì biết cô đang ở cách cửa không xa, mới đáp: "Là...!tôi."
Hà Điền bật dậy từ sau bàn, lao ra cửa, gỡ trụ trên cùng và kéo chốt sắt ra——
Khi làm điều này, cô liên tục tự hỏi, cô có đang mơ không? Lần đầu thì mơ thấy bị bọn trộm tấn công, và sau đó là mơ thấy Dịch Huyền đã trở lại?
Cô mở cửa, vừa vui mừng mà cũng vừa khó hiểu, không phải Dịch Huyền đang đứng ngoài cửa thì còn ai vào đây nữa?
Dịch Huyền cười có chút ngượng ngùng: "Cô nói bất cứ lúc nào tôi cũng có thể trở lại.

Tôi đã trở lại rồi đây."
Hà Điền hét lên "Aaaaa", nhào đến ôm chặt lấy Dịch Huyền.
Cả người của cái đồ đần này lạnh ngắc.
"Sao cô không gõ cửa sớm hơn?"
"Tôi sợ đánh thức cô..."
"Tôi tỉnh lại lâu rồi!"
"Hả?"
"Tôi, tôi còn tưởng rằng cô là trộm! Suýt nữa thông qua cánh cửa xử cô luôn rồi!"
Hà Điền nắm lấy tay Dịch Huyền lắc qua lắc lại, thấy cô nàng này suýt nữa thì bị bắn thành cái sàng rồi mà vẫn còn cười ngây ngô, không biết chuyện gì đang xảy ra, nước mắt bất chợt ứa ra.
"Cô có đói bụng không? Có lạnh không? Tôi nghe thấy cô hắt hơi!"
"Tôi không lạnh."
"Đừng có xạo! Tôi còn nghe thấy cô giậm chân nữa."
"Haha." Dịch Huyền cười, lướt những ngón tay mát lạnh của mình trên mặt Hà Điền: "Cô đừng khóc.

Tôi đã về rồi."
Tác giả: Há há há.
Có bất ngờ không? Ngạc nhiên không? Hết hồn không?
Có một số bạn đọc đã cmt và nhắn tin riêng hỏi về văn án của truyện này, nên bây giờ tôi sẽ nói lại một lần nữa, văn án chính của truyện này chính là cuộc sống ở trong rừng rậm, không có rắc rối gì lớn cả, chủ yếu là tự lực cánh sinh.

Trên văn án có viết rõ hết rồi mà ta, sao không ai để ý hết zị?
Cho dù "nam chính" có bị thay thế bằng một chú chó thì Hà Điền vẫn sẽ sống vui vẻ và mạnh mẽ nha bà con.
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 35: 35: Cơm Trứng


Sau một hồi kích động vừa khóc vừa cười, Hà Điền kéo Dịch Huyền vào nhà.
Chạm vào đôi bàn tay lạnh ngắt của anh, cô nhanh chóng túm lấy Lúa Mì bên chân đặt vào tay Dịch Huyền: "Cô ôm nó tạm đi! Tôi đi lấy ấm đun nước cho cô."
Lúa Mì hừ hừ không tình nguyện, nó có phải là đồ ủ ấm tay đâu?!
Hà Điền lại nhóm lửa lên, đầu tiên cô cho một ít cỏ khô dính mỡ lấy từ kho thịt xông khói vào bếp lò, sau khi lửa bắt đầu cháy, cô lại cho thêm một ít vụn củi mỏng vào, chờ cho vụn củi cháy đều rồi thì thêm củi.
Ngay khi ngọn lửa bốc lên, căn nhà nhanh chóng trở nên ấm áp.
Dịch Huyền ngồi bên bếp lửa hơ tay, Hà Điền đặt một miếng gỗ sạch lên hai bên bếp lò, kêu anh cởi giày và vớ ra rồi đặt chân lên đó để hơ.
Anh vẫn giống như mọi khi, ngại ngùng một lúc rồi mới cởi giày ra.
"Cô..." Hà Điền muốn hỏi, sao cô lại trở về đây rồi? Nhưng khi những lời này vừa đến bên miệng, lại đổi thành: "Cô muốn ăn gì?"
Ai biết được rốt cuộc đã có chuyện gì xảy ra với Dịch Huyền, nên mới buộc cô ấy phải quay trở lại đây?
Hà Điền không ngốc.

Tại sao hôm qua Dịch Huyền cứ một mực phải che mặt? Tại sao khi nói về "đức chính*" của chủ thành mới cô ấy lại cười lạnh? Trong lòng Dịch Huyền có bí mật.
*Chính sự có ích cho dân.
Nếu như ngay cả chợ phiên ở thung lũng sông cũng có người canh gác, vậy thì rất khó để đảm bảo rằng bến thuyền và thị trấn không có người được cử đến.
Dường như Dịch Huyền biết cô muốn hỏi điều gì, anh v**t v* đầu của chú chó con trong tay: "Tôi đã qua sông và đến thị trấn nhỏ, chuyến đi rất bình yên."
Hà Điền tạm thời yên tâm.
Sắc mặt Dịch Huyền hơi ửng hồng, trầm giọng nói: "Vừa đến thị trấn nhỏ, tôi nghĩ, cái gì tôi cũng không biết, đến thành thị rồi, tôi nên tìm công việc gì đây? Tôi..." Anh nói xong, giọng càng nhỏ xuống: "Mấy tháng nay tôi chỉ học được đi săn, bắt cá và trượt xe trượt tuyết...!Ở thành thị chắc cũng không kiếm được công việc nào tương tự như vậy.

Hơn nữa ở các thành phố lớn chắc có nhiều kẻ xấu hơn.

Tôi nghe người dân trong thị trấn kể, sau khi hai thành phố hợp lại, chủ thành của các thành phố nhỏ gần đây đã bắt đầu bắt người đi làm công ích.

Nếu đến đó, tôi e rằng mình sẽ bị bắt đi chuyển gạch và lao động khổ sai.

Tôi suy nghĩ lại, hay là đợi cho đến khi yên bình hơn rồi lại đi cũng không muộn."
Anh nhìn Hà Điền, lúc này lỗ tai cũng đỏ bừng: "Cô...!sẽ tiếp tục cưu mang tôi chứ?"
Hà Điền cuối cùng cũng có bạn đồng hành, cô vốn cũng không muốn để cho Dịch Huyền đi, Dịch Huyền còn cố tình nói những lời thăm dò e dè này, làm sao cô có thể nói rằng không thể đây!
"Ừ!"
Hà Điền mở rộng vòng tay ôm lấy Dịch Huyền.
Anh lại muốn né tránh, nhưng lại quên mất mình còn đang gác chân lên trên thanh gỗ, suýt chút nữa thì thò luôn chân vào bếp, không dám nhúc nhích nữa, bị Hà Điền ôm chặt.
Sau một đêm, Dịch Huyền lại được ngửi thấy mùi thơm thoang thoảng trên tóc của Hà Điền, lập tức cảm thấy toàn thân không khỏi bồn chồn, cả bàn chân tê rần vì lạnh cũng trở nên ấm áp.
Những gì anh nói với Hà Điền có thật mà cũng có giả.
Anh thật sự đã đi đến thị trấn nhỏ.
Tuy nhiên, anh chạy về đây không phải vì sợ trên đường đi không yên ổn, cũng không phải vì khó có chỗ đứng trong thành phố lớn.

Cũng không như Hà Điền lo lắng, là thế lực của chủ thành đang tìm kiếm và muốn bắt giữ anh.
Dịch Huyền đi qua đám lau sậy theo hướng mà Hà Điền chỉ và đến được bến phà nhỏ, ở đó có một hàng liễu rủ thưa thớt, bảy tám thợ săn và người miền núi đang đứng đợi thuyền.
Hà Điền nói thị trấn nhỏ này có hơn hai trăm người sống bằng nghề đánh cá ở các hồ và đầm lầy lân cận.

Trong sông còn nuôi trai, tôm và ếch này nọ.

Trong thị trấn có nhà hàng, khách sạn và nhà tắm, quan trọng nhất là còn có bác sĩ.

Các dịch vụ này chủ yếu nhắm đến chủ xí nghiệp sử dụng người dân miền núi gần đó, chất lượng không cao nhưng nhiều thợ săn sau khi bán lông thú trở về đều thích trọ lại ở đây, an toàn và tiện nghi.
Các mặt hàng "giải trí" cũng đa dạng và rẻ hơn nhiều so với ngoài chợ.
Mặc dù cũng mặc quần áo giống như những người khác, nhưng chẳng bao lâu sau, những người dân miền núi đều nhận ra rằng Dịch Huyền khác với họ, không ai nói chuyện với anh.
Tình hình mấy năm gần đây không được yên ổn, có rất nhiều người đã chạy trốn khỏi thành phố vào rừng, thị trấn nhỏ và làng mạc.
Sau khi thuyền đến, tất cả mọi người đều lên thuyền, người chèo thuyền là một bác gái và con gái của bà, sau khi nhìn thấy một vài thanh niên trên thuyền, bác gái này bắt đầu hỏi xem hành khách đã có gia đình hay chưa.
Nghe tin một vài thợ săn trẻ chưa kết hôn, bác gái bắt đầu không tiếc công sức chào hàng cô con gái nhỏ của mình.
Chiếc thuyền này dài chưa đến mười mét, mọi người trên thuyền đều có thể nghe thấy.
Cô gái trạc tuổi Hà Điền, mặt tròn, răng khểnh, cũng không hề mắc cỡ, thoải mái quan sát một vài thợ săn trẻ, thuyền đi được nửa đường thì cô gái nhìn trúng một người thợ săn, hai bên bắt đầu hát đối dân ca.
Dịch Huyền nghe mà tâm phiền ý loạn, mấy bà thím bên cạnh vẫn còn ồn ào không chịu ngừng.
Anh nghĩ đến những gã thợ săn mà mình đã gặp hôm nay, mặc dù họ có vẻ bẩn thỉu và hèn mọn như hai anh em nhà họ Phổ, nhưng trông họ cũng khá dũng mãnh.
Vùng này không coi trọng đàn ông "đẹp trai", họ thích người có dáng vẻ oai hùng.
Hầu hết đàn ông trưởng thành đều để râu, muốn làm cho mình càng trông giống như một con gấu thì càng tốt.
Trong lòng Dịch Huyền đột nhiên vang lên một giọng nói: "Không ai trong số họ xứng với Hà Điền cả!"
Giọng nói lại cất lên: "Nhưng cô ấy có thể tìm được người phù hợp với mình ở đâu?"
Lúc xuống thuyền, cô gái chèo thuyền đã vừa mắt người thợ săn hát đối dân ca với mình, bà mẹ muốn đêm nay người này ngủ lại nhà mình.
Những kẻ không khác gì một con gấu này vậy mà lại rất được hoan nghênh.
Đến được thị trấn thì trời đã chạng vạng, Dịch Huyền tìm một quán ăn và gọi một tô mì.
Khi mì được dọn ra, anh không hề muốn ăn nó một chút nào.
Chiếc tô sành bị mẻ, đôi đũa dính đầy vết dầu mỡ, trên bàn cũng bóng loáng không kém.
Dịch Huyền không ăn mì, đi ra khỏi quán ăn, ngồi bên sông, lấy đồ ăn khô mà Hà Điền đã chuẩn bị cho mình ra.
Anh cắn một miếng bánh khô với thịt muối, uống một chút nước, rồi nhìn dòng sông, lần đầu tiên anh cảm thấy muốn khóc mà không biết lý do tại sao.
Lúc này anh mới nhận ra rằng đã vài tháng trôi qua, nhưng anh chưa từng lên kế hoạch nghiêm túc cho tương lai của mình.
Những kỹ năng mà anh có từ thời tiểu học dường như chỉ có công dụng khi ở bên Hà Điền.
Nhưng khi đến những thành phố khác thì sao?
Tất nhiên anh sẽ không tìm được công việc hoặc sống với tư cách của một công dân như Hà Điền tưởng tượng.
Có thể anh sẽ tìm cơ hội để thể hiện tài năng của mình, sau đó, có lẽ cũng sẽ được chủ thành trọng dụng.

Hoặc, vừa trọng dụng, nhưng cũng vừa kiêng kỵ.
Sau đó thì sao?
Anh nhớ lại, cuộc sống ăn ngon mặt đẹp nhưng đầy mưu mô và thi thoảng đẫm máu với súng ống khi xưa đã là "thói quen" của anh rồi sao? Hay đó chính là thứ mà anh "mong muốn"?
Lúc trước anh muốn rời khỏi khu rừng đó là bởi vì anh sợ có người tới truy tìm tung tích của anh rồi làm liên lụy đến Hà Điền.

Nhưng xem ra, có vẻ như anh đã thực sự đánh giá quá cao tầm quan trọng của mình.
Hai thành phố đã sáp nhập, địa vị của chủ thành vẫn còn chưa vững, trông thì có vẻ như có thể hô mưa gọi gió, có thể làm được vài việc trọng đại, nhưng sợ rằng cuối cùng cũng chỉ là kẻ lót đường cho người khác mà thôi.

Vẫn còn đang tiếp tục đấu đá kia kìa!
Những người này còn đang bận tranh giành quyền lực, hơi sức đâu mà truy tìm tung tích của anh? Đợi bọn họ đấu đá xong rồi, ai còn nhớ đến anh nữa?
Sau khi được Hà Điền cứu, cô đối xử với anh rất tốt.

Liệu đời này anh có thể lại gặp được một người đối xử chân thành với mình như vậy nữa hay không?
Anh lắc đầu.
Nếu anh ở lại thành thị cố gắng lăn lộn một thời gian, có thể sau này sẽ có tương lai, nhưng nếu anh muốn leo cao một lần nữa, sợ là không có khả năng.
Lúc này, chiếc thuyền đang chuẩn bị rời bến lần nữa, người lái thuyền hét lên: "Còn ai lên nữa không? Chuyến cuối cùng! Là chuyến cuối cùng rồi!"
Dịch Huyền chợt bừng tỉnh, anh nhảy lên thuyền, cười ha ha vài tiếng.
Người trên thuyền nhìn anh, anh cũng làm như không thấy.
Trước thời kỳ lạnh giá, thành phố lớn nhất thế giới có cả hàng chục triệu người.

Những người này làm hơn hàng nghìn nghề nghiệp, còn có cả công nghệ có thể đưa con người lên vũ trụ...!Nhưng dù là một người ăn xin hay là ông trùm dầu mỏ, tổng thống của một đất nước hay là bà thím ngoài đường, ai cũng điều cần có chốn dung thân và một ngày ba bữa.
Chỉ cần có chốn dung thân và một ngày có ba bữa cơm, cuộc sống sẽ hạnh phúc biết dường nào.
Anh đúng là một kẻ ngốc.
Những ngày này là những ngày hạnh phúc nhất trong cuộc đời ngắn ngủi của anh.

Tại sao anh lại từ bỏ và muốn tìm lại những tháng ngày bất hạnh trước đây? Vừa mới game over cấp độ địa ngục xong, giờ lại còn muốn thử lại độ khó của nó nữa hay sao?
Dịch Huyền càng nghĩ thì càng thông suốt, anh lại bật cười, những hành khách đứng gần anh đều sợ hãi tránh ra xa.

Nhưng con thuyền này vừa nhỏ vừa hẹp, khi gặp đoạn sông nguy hiểm, hành khách phải cùng nhau giúp giữ thăng bằng, nếu không thì mọi người đã chạy sang đứng ở đầu thuyền hết rồi.
Quay lại bến, Dịch Huyền vội vã xuống thuyền.
Những hành khách khác nhìn anh chạy về phía đám lau sậy, và họ đều thầm nghĩ, thằng cha này bị điên à? Bây giờ trời đã tối rồi, không đến ngôi làng gần bến mà trọ, lại đi chạy về phía đám lau sậy làm gì?
Đến lúc này, trời gần như tối hẳn.
Dịch Huyền vội vã chạy đến chợ trong thung lũng.
Anh đi một vòng, chạy đến mép lều phía Tây, lẳng lặng bước vào, quả nhiên tìm thấy phòng của lính gác ở một góc.

Trong phòng có hai người, đang nằm trên giường trại ném xúc xắc.
Dịch Huyền cười thầm, chủ thành này đúng là tuyển quân linh tinh, kỷ luật quá lỏng lẻo, có người bước vào mà cũng không biết.
Anh đánh cho hai tên lính canh ngất xỉu rồi c** q**n áo của một người trong số họ ra mặc vào, khi đến bến thuyền, anh ẩn nấp, nhảy lên thuyền tuần tra rồi âm thầm tháo động cơ mô tơ trên thuyền ra.

Lại lặng lẽ không một tiếng động đi đến phía mà người dân trên núi đậu thuyền, tùy tiện tìm đại một chiếc, tháo dây buộc rồi chèo đi.
Chèo ra xa, anh lắp mô tơ, kéo dây khởi động, động cơ kêu ong ong, mô tơ làm cho cánh quạt quay nhanh, nhanh hơn chèo tay rất nhiều.
Chuyện trộm thuyền và trộm động cơ, Dịch Huyền cũng chỉ nói một cách mơ hồ.

Hà Điền cũng đang tự hỏi vì sao anh lại quay trở lại và làm thế nào mà anh lại đi nhanh như vậy.

Nhưng lúc này lại vì mừng quá mà quên mất, thậm chí là cũng không hề muốn hỏi.
Cô đun một ấm nước nóng, để Dịch Huyền đi tắm, sau đó hỏi anh muốn ăn gì.
Dịch Huyền lấy hộp tre trong túi ra, mở ra, bánh trong đó vẫn còn chưa ăn hết: "Tôi muốn uống trà lá thông và ăn chút điểm tâm nhẹ."
Hà Điền liền nấu trà.
Cô và Dịch Huyền mỗi người uống một ly trà nóng, ăn bột củ sen hoa hồng và bánh hạt dẻ, nhìn nhau mỉm cười.
Ăn xong vài chiếc bánh, sắc trời đã sáng rõ.
Hà Điền mới nhớ ra tối qua cô cũng không ăn cơm, chỉ ăn vài cái bánh rán dọc đường cho đỡ đói.
"Có gạo mới mua, bột mì, trứng hôm qua nhặt được..." Hà Điền suy nghĩ một chút: "Làm cơm trứng ốp lết đi."
Trời đã sáng, có rất nhiều công việc hàng ngày đang chờ họ hoàn thành.
Dịch Huyền xuống suối lấy nước, Hà Điền dọn dẹp chuồng của Gạo, thả nó ra rồi dẫn nó vào khu rừng gần nhà để nó tự kiếm gì đó mình thích ăn.
Sau khi thời tiết ấm dần lên, trong nhà chỉ còn lại một cái vại nước nhỏ, nước trong chiếc vại này là nước để dành, nấu ăn sinh hoạt cơ bản đều dùng nước ngọt lấy từ suối trên núi.
Sau khi Hà Điền quay lại, cô và Dịch Huyền cùng nhau sắp xếp lại tất cả những thứ mà ngày hôm qua họ đã mua.
Vừa cất đồ, cô vừa lấy ra một ít gạo, vo sạch, cho vào hộp tre, sau đó bào vài lát thịt muối rồi cho vào gạo, trộn đều tay rồi cho lên xửng hấp.
Miếng thịt muối này là phần ức của con hoẵng, nó đã chuyển sang màu đỏ thẩm, phần mỡ ở mép trong như pha lê.
Trong lúc hấp cơm, Hà Điền kiểm tra lại các loại hạt mua hôm qua.
Trên giá gỗ đầu tiên phía trên bếp có những giỏ rơm nhỏ với nhiều kích cỡ khác nhau được sắp xếp gọn gàng, bên trong đã mọc lên những chồi nhỏ có chiều cao không đồng đều, Hà Điền dời chúng xuống bàn, chọn lấy những mầm cao và khỏe nhất.
Tháng Tư tràn ngập hương sắc, hoa đào trên núi đã bắt đầu nở.
Ở đồng bằng dưới núi, trong tiết thanh minh đã bắt đầu gieo hạt rồi, nhưng ở trên núi thì cần phải đợi thêm khoảng một tháng nữa.
Trồng sớm quá, sương giá qua đêm sẽ làm cây con chết hết, trồng muộn quá, khoai tây sau khi thu hoạch còn sót lại chưa kịp lớn lên, vụ thứ 2 chưa xong mà mùa thu thì đã đến rồi.
Thứ mà hôm nay Hà Điền sẽ trồng chính là mầm khoai tây.
Một tuần trước Hà Điền đã đặt những củ khoai tây giống này dưới bệ cửa sổ, chẳng bao lâu, chúng đã nảy mầm.
Khoai tây giống là những củ khoai tây mập mạp và tròn trịa nhất được thu hoạch vào năm ngoái.
Sau khi củ nảy mầm, Hà Điền cắt khoai tây giống thành từng miếng vuông nhỏ khoảng 4 cm, trên mỗi miếng có đến mấy chồi nhỏ trên đó, tiếp tục phơi khô, sau khi mặt cắt khô và cứng lại, các chồi đã mọc cao thì có thể trồng xuống đất.
Nhiệt độ trên núi thấp hơn ở đồng bằng, vì vậy Hà Điền đợi thêm vài ngày nữa cho đến khi mầm khoai tây cao vài cm và mọc ra những chiếc lá nhỏ thì mới trồng.
Cô mang theo một rổ khoai tây giống, còn Dịch Huyền thì vào kho nơi cô để dụng cụ lấy cuốc và cào, sau đó hai người đi đến vườn ươm.
Sau nhiều thập kỷ canh tác trên sườn đồi nơi gia đình Hà Điền tọa lạc, địa hình nhấp nhô ban đầu giờ đây đã trở nên rất bằng phẳng.

Tất cả cây cối xung quanh đã bị chặt hạ để cây trồng và đất có thể tiếp xúc hoàn toàn với ánh sáng mặt trời.
Mảnh đất trồng khoai tây hơi dốc, đã qua nhiều lần cày xới, đất đai ở đây màu mỡ, tơi xốp, vì ở độ dốc khoảng 15 độ nên thoát nước rất tốt.
Hà Điền dạy Dịch Huyền sử dụng xẻng để đào một rãnh đất rộng khoảng 10 cm và sâu 15 cm trên nền đất đã được làm phẳng; cách anh hơn 10 cm, cô cũng đào một rãnh đất giống vậy.

Mảnh đất này không được vuông vắn, rãnh đất mà họ đào chỉ dài khoảng sáu mét và rộng bốn mét, ở một góc dốc khác, Hà Điền đào hố san sát, mỗi cái rộng khoảng 7~8 cm, sâu 15 cm.
Sau khi đào xong rãnh, đã có thể trồng khoai tây giống.
Khoai giống nên trồng cách nhau khoảng 30 cm, không nên vùi sâu quá, nên lấp đất khi mầm cao khoảng hơn 10 cm, lúc này khoai giống của Hà Điền chỉ cao khoảng 10 cm, nhìn vào trông giống như những hàng hố trũng.
Dịch Huyền đeo găng tay da sóc do Hà Điền làm, trồng từng cây khoai tây bằng xẻng nhỏ làm bằng ống tre.
Mỗi lần trồng xuống một cây giống, anh lại đứng lên xem chúng đã ngay ngắn hay chưa, Hà Điền thấy vậy thì nói: "Không cần phải chỉnh tề như vậy đâu! Cũng không phải đang trong quân đội duyệt binh.

Không lẽ cô còn định đo luôn khoảng cách giữa từng cây con?"
Dịch Huyền cười nói: "Chỉnh tề trông mới đẹp."
Hà Điền lắc đầu, lại nhìn cây con trên khoảng đất mà mình đã trồng, không đồng đều một chút nào hết.
Cây con được trồng dọc theo những chiếc hố hình tròn được đào, khoảng cách giữa chúng đều gần 30 cm nhưng tính thẩm mỹ thì quả thật không thể so với Dịch Huyền.
Cô đã sớm trồng xong mảnh đất của mình, lại đi giúp Dịch Huyền, cùng anh ngồi song song, dùng xẻng tre đào một cái hố, đặt cây khoai tây vào, lấp thêm đất rồi vỗ nhẹ.
Bận đến tận lúc mặt trời lên cao, cuối cùng thì họ cũng trồng hết khoai tây.
Trong khoảng thời gian này, Lúa Mì cứ chạy quanh ruộng, lúc đầu nó còn muốn đào mầm khoai tây lên, nhưng sau khi bị Hà Điền mắng, nó ủ rũ nhìn xung quanh, Dịch Huyền ném một quả thông rỗng ở rìa mảnh đất cho nó.

Nó lập tức vừa sủa vừa đuổi theo, nhặt về, lắc đầu vẫy đuôi muốn được khen ngợi.
Hà Điền thấy vậy liền ném quả thông ra xa hơn, Lúa Mì bận rộn nên không đến làm phiền nữa.
Đợi đến khi bọn họ trồng khoai tây xong, nó đã mệt mỏi nằm ở trên bờ rìa chạy không nổi nữa, thè lưỡi ra thở hổn hển.
Sau khi trồng khoai tây xong cần phải tưới nước thường xuyên nhưng không được quá nhiều, nếu không mầm khoai mới trồng sẽ dễ bị thối, mốc, tuy mầm ở ngoài đất nhìn có vẻ xanh tốt nhưng lâu ngày sẽ bị chết hết.
Cho nên tốt nhất là nên tưới nước vào buổi sáng.

Bằng cách này, sau một ngày dài, nước trong lá và đất sẽ bay hơi hết, nhưng đất vẫn giữ được độ ẩm.
Hà Điền và Dịch Huyền lấy một cái thùng, tìm thấy Gạo bên rừng, vội vàng kéo nó đi lấy nước trong suối trên núi, sau vài lần đi đi lại lại, họ đã tưới xong mảnh đất mới trồng.
Trời đã trưa, cả hai đã đói bụng lắm rồi, về đến nhà thì bếp lửa đã tắt, cơm cũng đã hấp xong.

Tuy lửa lúc này không đủ để tiếp tục đun nước trong nồi hấp nhưng cũng đủ để giữ cho cơm bên trong luôn nóng.
Hà Điền dời nồi hấp sang một bên, xới xới tro tàn, cho thêm một nắm cỏ khô vào đám than sắp tàn rồi lại thêm vài mảnh gỗ vụn, sau khi lửa bén, thêm một khúc củi rồi dùng ống tre thổi, ngọn lửa nhanh chóng bùng lên.
Cô cho mỡ vào chảo, đập vài quả trứng, cho một ít muối vào, dùng đũa tre khuấy đều, khi mỡ đã nóng thì đổ trứng vào chảo.

Lắc nhẹ chảo để cho trứng trải đều sau đó dùng xẻng lật cho trứng được chiên vàng đều hai mặt rồi đổ ra dĩa sành.
Bên này, Dịch Huyền cũng dùng đũa tre xới nhẹ cơm theo hướng dẫn rồi đổ lên một mặt của trứng chiên.

Hà Điền dùng xẻng lật mặt còn lại rồi đắp lên, món trứng chiên trở thành một nửa chiếc sủi cảo vàng lớn, sau đó cô lại cho thêm một vài lát củ cải muối xắt nhỏ và đầu củ cải muối lên phía bên kia của dĩa.
Hà Điền suy nghĩ một chút, từ trong tủ lấy ra một hũ thủy tinh nhỏ, trong đó có tương cà làm từ cà chua thu hoạch năm ngoái, cô dùng muỗng múc một muỗng, vẽ một đường cong trên chiếc sủi cảo vàng.
Dùng muỗng múc lên, miếng trứng chiên mềm bọc lấy cơm trắng như pha lê, kèm theo những lát thịt muối đỏ au mà chỉ nhìn màu sắc thôi là đã thấy ngon miệng.
Buổi sáng hai người chỉ ăn một chút đồ ăn vặt rồi bắt tay vào công việc, lúc này vị chua chua ngọt ngọt của tương cà k*ch th*ch vị giác, dĩa cơm trứng nhanh chóng sạch sành sanh.

Thấy Dịch Huyền ăn như hổ đói, Hà Điền sợ anh khó tiêu nên đã nấu hai ly trà lúa dại rang để mình và anh uống.
Hai người ngồi ở một bên bàn, mỉm cười nhìn làn hơi nước từ từ bốc lên trên ly trà, ánh mặt trời mùa xuân chiếu vào họ qua ô cửa kính, cả người trở nên ấm áp và thoải mái, không muốn di chuyển.
Ngoài cửa sổ, dưới nắng xuân, đất đen và rừng cây xanh tươi tràn đầy sức sống..
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 36: 36: Bánh Hấp Canh Cá


Bữa cơm này ăn quá no, Hà Điền và Dịch Huyền gần như cả đêm không ngủ được, cũng không biết ai là người đề nghị trước, hai người trèo lên trên gác, quyết định ngủ trưa.
Sau khi tỉnh dậy, Hà Điền vội vàng kiểm tra thời gian, đã hơn ba giờ chiều.
Lúc này, đầu óc cô cuối cùng cũng tỉnh táo lại.
Dịch Huyền vẫn còn đang quấn trong chăn bông ngủ ngon lành.

Có lẽ là do cả đêm không ngủ, vừa lạnh vừa mệt, sáng ra còn tranh thủ làm cả buổi sáng, sợ là đến khi mặt trời lặn Dịch Huyền mới có thể dậy nổi.
Hà Điền nhẹ nhàng trèo xuống gác, Lúa Mì ngay lập tức chạy đến vòng quanh quanh chân cô mừng rỡ.
Cô mang theo Lúa Mì ra ngoài.
Đầu tiên, cô mở hầm, lấy ra hai con cá vừa câu được hôm trước, sau đó đến hầm khoai lang chọn ra một rổ khoai căng mọng nhất.
Với nhiệt độ hiện tại của hầm, cá tươi có thể bảo quản được khoảng ba đến năm ngày.

Nếu nhiệt độ nóng hơn, hiệu quả bảo quản có thể sẽ không còn được như bây giờ nữa.
Nhưng Hà Điền đã sớm bỏ vào hầm mấy vại băng đá, dù giữa mùa hè, hầm vẫn có thể dùng làm tủ lạnh, thịt cá vừa bắt về sẽ không bị hư ngay.
Cá sẽ được dùng cho bữa tối, còn khoai lang thì để chuẩn bị cho vụ gieo trồng tiếp theo.
Hà Điền đi đến một nhà kho, lấy ra một số thứ.
Có hơn ba mươi chiếc cốc gốm, mỗi chiếc đều có một sợi dây rơm để làm xách tay.

Ngoài ra còn có rất nhiều que tre.
Hà Điền đem khoai lang đến bên bờ suối, ngâm cả rổ trong dòng nước chảy, nước suối trong vắt lạnh lẽo nhanh chóng rửa sạch củ khoai.
Hà Điền lại lựa chọn ra những củ khoai lang chất lượng nhất trong số đó, cắt thành những miếng dày 3 hoặc 4 cm, sau đó cắm vài que tre bên ngoài củ.
Tiếp đó, cô dựa theo que tre mà cắt từng miếng khoai lang ra, cho vào cốc gốm, đặt que tre sao cho củ treo trên miệng cốc, nửa lộ ra ngoài và nửa ở trong cốc.
Tất cả cốc đều được Hà Điền đặt trên bàn dưới bệ cửa sổ, bây giờ, chiếc bàn chỉ còn dư lại một nửa.
Tiếp theo, Hà Điền đổ đầy nước vào tất cả các cốc, sao cho ít nhất một nửa số khoai lang treo trong cốc được nhúng vào nước.
Với ánh nắng mặt trời và nhiệt độ ấm áp, nội trong vài ngày hoặc hai ba tuần sau củ sẽ nảy mầm.
Khoai lang là loại cây ưa ấm nên trồng muộn hơn các loại cây trồng như khoai tây.

Khi củ nảy mầm, mọc cao vài cm thì tách mầm này ra, đây là khoai lang giống.
Lúc này khoai lang chưa mọc rễ, nhưng ngâm trong cốc hai ba ngày thì nó sẽ bén rễ, sau đó chọn ngày nắng ráo đem ra cấy ở ngoài trời.
Từ khi cắt thành khúc, ngâm ủ đến khi trồng vào đất, tính từ hôm nay thì thời gian cũng phải đến một tháng.
Sau khi Hà Điền làm xong, cô nhẹ nhàng leo lên gác xem thử, Dịch Huyền vẫn còn chưa tỉnh.
Cô ngâm một chén kê và một ít táo đỏ, cắt thịt hai bên con cá thành từng miếng dày 1 cm, ướp với nước tương và đường, nghĩ một chút, rồi lại cho thêm vài quả ớt.
Lúa Mì ngửi được mùi tanh của cá, nó đã thèm thuồng hồi lâu, nhưng Hà Điền không lên tiếng, nó cũng không dám phát ra tiếng động, chỉ có thể dùng đôi mắt đen nhỏ nhìn cô chằm chằm, cái đuôi nhỏ gõ gõ xuống sàn.
Hà Điền cho đầu và xương cá còn lại vào nồi đất, đun sôi với nước, để nguội một chút rồi cho vào tô sành lớn, cạo sạch thịt cá rồi đặt vào chén của Lúa Mì.
"Ăn đi." Cô nhẹ nhàng nói.
Lúa Mì ngay lập tức chạy đến, vùi đầu vào chén gừ gừ ăn, chỉ mấy miếng là nó đã ăn xong, rồi lại không ngừng l**m mạnh vào chén, đáy chén bị nó làm cho nghiêng qua nghiêng lại, chạm vào sàn nhà kêu lạch cạch.
Hà Điền sợ Lúa Mì quá nhỏ sẽ bị mắc xương cá, nhưng bây giờ nó không thể chỉ ăn mỗi thịt được, cô cẩn thận nhớ lại những năm đó bà mình đã nuôi Lúa như thế nào, rồi nhớ ra bà từng mài một số ngũ cốc làm thành bột.
Những loại ngũ cốc này sau khi được mài ra và rang lên sẽ được ăn như lương khô.
Hà Điền bèn chắt phần canh cá còn lại trong nồi đất đổ vào một cái chậu nhỏ, khuấy đều với bột ngũ cốc rồi thêm một chút men, nhào thành bột.
Cá tuyết sông không có mùi tanh, còn là cá tươi, nước canh nấu rất thơm, Lúa Mì lâu lâu ngửi thấy mùi thơm, thấy Hà Điền nhào bột nó lại tưởng là cho mình, nên ngồi dưới chân cô đợi.
Không ngờ, đợi một lúc lâu, cô chủ đặt chậu lên bệ bếp, đứng dậy bảo nó cùng ra ngoài.
Đi ra ngoài! Đi ra ngoài cũng vui lắm! Cái kẻ to xác mà nó gặp hồi sáng cũng rất vui!
Lúa Mì đi theo sau Hà Điền, vừa ngoắc đuôi vừa chạy vào rừng.
Trong rừng còn thú vị hơn!
Đối với một con chó con, đây chính là một sân chơi!
A, cái kẻ to xác kia cũng ở đây nè.

Thấy Gạo, Lúa Mì lại sủa trêu chọc nó, nó sủa một hồi dưới chân Gạo rồi chạy lên trước mặt nhảy lung tung, nhưng Gạo cũng chẳng thèm đoái hoài đến người bạn mới này, nó làm ngơ, cúi đầu không ngừng gặm cỏ non, lá mới.
Khu rừng mùa xuân này chính là sân chơi của Lúa Mì và là nhà hàng buffet sang trọng phục vụ cho Gạo.
Hà Điền xách một cái giỏ tre nhỏ, tìm nấm thông dưới tán thông.
Mấy ngày hôm trước có một trận mưa.
Khi thời tiết ấm áp, những lá thông tích tụ quanh năm dưới tán thông sẽ trở thành luống ấm cho các loại nấm sinh sôi.

Chất mùn của lá thông chứa đầy chất dinh dưỡng, sau khi tuyết mùa xuân tan, nhiều cây nấm nhỏ sẽ mọc lên dưới ánh nắng mặt trời.
Có hai loại phổ biến, một loại màu đen xám, giống như một chiếc ô gập lại và có cán dài, loại còn lại là loại ô nhỏ màu trắng, nhưng bề mặt ô dường như bị gió mạnh lật ngược, có tâm trũng xuống, tay cầm mũm mĩm.
Cả hai loại nấm này đều ngon, dù là đem xào hay nấu canh.
Hà Điền thích hương vị của nấm màu xám, còn Dịch Huyền thì thích ăn nấm trắng, anh nói hương vị của nó giống như vị của con bào ngư mập mạp.
Hà Điền mang theo Lúa Mì, không chỉ để tránh nó đánh thức Dịch Huyền ở nhà, mà còn để cho nó làm quen với khu rừng càng sớm càng tốt, hơn nữa nó còn phải học cách làm việc.
Những cây nấm mà Hà Điền hái được đặt dưới mũi của Lúa Mì để nó đánh hơi.

Vỗ nhẹ lên cái đầu nho nhỏ của nó, cô nói: "Đi tìm những thứ này đi."
Lúc đầu, Lúa Mì không hiểu cô chủ đang muốn nó làm gì, đem những cây nấm này cắn nát bấy, nhưng Hà Điền đã dắt nó từ cây thông này sang cây thông khác, khi nhìn thấy những chiếc ô nhỏ đó thì ngồi xổm xuống, vui vẻ hái chúng rồi đưa cho nó xem, sau đó bỏ vào trong giỏ.
Lặp lại điều này hai ba lần, rốt cuộc thì Lúa Mì cũng đã hiểu.
Nó chạy trong rừng thông, cái đuôi vàng nhỏ vung vẩy sau lưng, khi tìm thấy cây nấm dưới gốc thông, nó ngẩng đầu lên sủa vài tiếng.
Lúc đầu, nó cố gắng giúp cô chủ moi những chiếc ô nhỏ này lên, nhưng cô chủ đã nhanh chóng ngăn nó lại, sau đó nó hiểu rằng chỉ cần giúp cô chủ tìm thôi, nó không cần phải moi lên.
Hà Điền dùng một chiếc kéo tre để cắt nấm.

Hai đầu của một khúc tre dai được vuốt thành một lưỡi cắt mỏng và sắc, sau đó hơ trên lửa và uốn thành hình chữ U, chỉ cần nhấp ở giữa là có thể cắt được phần thân mềm của nấm.
Làm vậy sẽ không làm thương tổn đến rễ của nấm, nó sẽ sớm mọc trở lại.
Nếu gặp những cây nấm có phần cuống to thì phải dùng dao tre, còn nếu không được nữa thì nhổ luôn cây nấm lên, sau khi cắt gốc thì vùi lại vào đất để nấm mới mọc trở lại.
Với sự trợ giúp của Lúa Mì, Hà Điền nhanh chóng hái được rất nhiều nấm thông.

Mỗi khi Lúa Mì tìm thấy nấm thông, cô sẽ xoa cổ và đầu của nó để thể hiện sự động viên và khen ngợi.
Những cây nấm thông này được đặt trong một cái rọ, một nửa ngâm vào trong suối núi, rửa sạch cát bụi, sau đó được Hà Điền đặt vào một chiếc phên tre để phơi khô.
Nấm thông phơi khô có thể bảo quản được lâu và là một trong những loại ngũ cốc dự trữ chuẩn bị cho mùa đông.

Hái nấm thông là công việc tốn nhiều thời gian, năm ngoái cô hái không được nhiều, chỉ được vỏn vẹn mấy cây nấm.
Lúc này đã gần sáu giờ, trời sắp tối, bột nhào với canh cá trên bếp cũng đã nở to gấp đôi so với lúc trước.
Cô cho một ít dầu ngỗng vào bột rồi nhào thật kỹ, trong bột ngũ cốc trộn lẫn rất nhiều loại hạt như kê, đậu nành, đậu đỏ, yến mạch, lúa dại và một ít bột mì nên bột làm ra có màu đỏ nâu.
Hà Điền ngắt một viên bột nhỏ, đặt trong lòng bàn tay vo nặn rồi đặt vào lồng hấp.
Chẳng mấy chốc, lồng hấp đã xếp đầy những chiếc "nón nhỏ" có đầu tròn.
Hà Điền cho hạt kê và táo đỏ đã ngâm lúc chiều vào nồi đất để nấu cháo, đặt lồng hấp lên nồi, đậy kín nắp rồi nhét một nắm cỏ khô và hai khúc củi vào trong bếp.
Một lúc sau, cháo sôi lên, mùi bột bốc lên từ lồng hấp.
Hà Điền tính toán thời gian, cùng Lúa Mì đi dắt Gạo về nhà, dọn dẹp chuồng cho Gạo.
Khi cô quay lại, Dịch Huyền đã tỉnh, đang đứng trước bếp khuấy cháo, lồng hấp cũng được nhắt xuống, nhưng...
"Sao cô lại ăn nó?" Hà Điền nhìn Dịch Huyền một tay đang khuấy cháo một tay cầm bánh hấp, rồi lại nhìn xuống Lúa Mì đang ngẩng đầu lên l**m miệng.
Dịch Huyền ngay lập tức hiểu chuyện gì đang xảy ra, anh bật cười, ngồi xổm xuống xoa đầu Lúa Mì: "Xin lỗi nhé!" Sau đó nói với Hà Điền: "Nó ngon lắm! Cô cũng thử một cái đi?"
Bữa tối của họ là cháo kê, cá phi lê xào với nấm, và bánh khô phủ thịt muối thái nhỏ mà Hà Điền đã làm cho Dịch Huyền trước đó.
Không có gì lạ khi Dịch Huyền nhầm tưởng rằng bánh trong chiếc lồng hấp này là dành cho họ.
Sau khi hấp chín, bánh hấp có màu tím đậm, có lẽ là do màu của lúa dại cuối cùng cũng chiếm ưu thế hơn, và do bột mì được trộn với canh cá và thêm mỡ ngỗng nên không chỉ có mùi thơm mà nó còn trông rất ngon, da bánh bóng lưỡng, dùng tay nhấn một cái thì khẽ rung lên, từng chiếc một, nhỏ nhắn và tinh xảo.
Có ai mà nghĩ đến nó được nấu là để dành cho chó ăn đâu kia chứ!
Trên bàn bây giờ đều là những chiếc cốc gốm đựng đầy những khối khoai lang, Hà Điền và Dịch Huyền chỉ có thể ngồi ở một bên bàn trước cửa sổ, vừa ăn vừa mong chờ những khối khoai lang trơ trụi này nhanh chóng nảy mầm.
"...!Sau khi lá khoai lang mọc ra chúng ta có thể ăn nó như một loại rau! Lặt đọt khoai xào với thịt vịt rừng, hoặc luộc rồi trộn với dầu óc chó và muối..." Hà Điền uống cháo: "Mùa xuân chính là mùa được ăn rau tươi!"
Bên bếp lò, Lúa Mì cũng đang thưởng thức đồ ăn thơm phức, Hà Điền ngâm bánh với một chút nước nóng cho mềm, lại thêm một ít cá sống cho nó.
Hà Điền nói đúng, mùa xuân là mùa ăn rau tươi.
Dương xỉ đã mọc nhiều lắm rồi.
Chúng mọc ở bãi cỏ, trên vách núi, có khi mọc thành tán lớn ở kẽ nứt của đá.
Chồi của cây dương xỉ vừa mới mọc có màu xanh non mềm, xoắn thành hình đuôi phượng, trên ngọn có một ít quầng màu vàng nhạt, bẻ nhẹ một cái thì sẽ gãy ngay.

Hà Điền rất thích độ giòn của thân cây, khi hái còn cố tình ngắt lâu hơn một chút.
Cô nói với Dịch Huyền, lúc nhỏ xem trong sách cổ trang thấy những cô gái đeo đầy trang sức ở trên đầu rất xinh đẹp, cô rất hâm mộ, vì vậy đã lấy những cành dương xỉ cấm lên tóc của mình, nói là "trâm ngọc bích".
"Có cả xơ mướp nữa! Không phải sợi sơ của nó rất xoăn sao? Nếu kéo nó ra là thành "tơ phượng hoàng" rồi!" Hà Điền kể về câu chuyện thời thơ ấu thú vị của mình, lại hỏi Dịch Huyền: "Còn cô? Lúc nhỏ cô có vậy không?"
Dịch Huyền cười nhạt, lắc đầu một cách dứt khoát: "Không có."
Hà Điền thở dài: "Chung quanh đây không có cô gái nào bằng tuổi tôi cả, cô cũng vậy sao?".

Bạ???? có biết t????a????g t????????yệ???? # ???? R????????????R????YỆN﹒v???? #
"..." Dịch Huyền bậm môi: "Không có."
Dương xỉ sau khi hái được cho vào một cái rọ tre, nhúng trực tiếp cái rọ vào dòng suối trên núi rồi để nước suối rửa sạch.
Dương xỉ tươi chần qua nước sôi sẽ hết vị chát, không trộn với dầu hay muối vẫn giòn, thơm, xào với thịt khô thì có hương vị khác hẳn, sau khi cho vào trong dĩa thì màu sắc trông cũng rất đẹp, rau dương xỉ có màu xanh như ngọc bích, kết hợp với màu đỏ tươi của thịt khô.

Có thể hái nhiều dương xỉ một chút, cho vào vại sành, rắc muối tinh rồi đem đi chôn, có thể bảo quản đến mùa đông.

Vào những ngày tuyết bay, mở vại rau muối ra, món ăn tuy mất đi độ giòn và trở nên mềm nhũn nhưng vẫn giữ được ba phần màu sắc và bảy phần hương vị.
Lúc này trong vại có rất nhiều nước, tất cả đều là phần nước từ trong rau dương xỉ muối chảy ra.
Vớt rau dương xỉ đã mềm như sợi mì ra, ngâm vào trong chậu nước sạch, để đến ngày hôm sau, sau đó vắt ráo, xào với món gì cũng ngon.
Đó chính là hương vị của mùa xuân đã được lưu giữ suốt cả một năm!
Năm ngoái Hà Điền không thu hoạch đủ lông chồn nên đổi ít muối hơn bình thường, mùa xuân cũng không có nhiều thời gian để đi hái rau dương xỉ, vì vậy không có rau dương xỉ muối để dành.
Không có muối thì không thể làm được nhiều món ngon.
Chẳng hạn như trứng vịt muối.
Có nhiều cách để ngâm trứng vịt muối, có người thích ướp trực tiếp trứng vịt vào nước muối nồng độ cao, có người lại phủ bùn lên vỏ trứng.
Phương pháp mà Hà Điền dùng là phương pháp sau.
Bùn là bùn đen trộn với bã than, trộn với nhiều muối, mùn cưa và một lượng nước đun sôi thích hợp - về khâu này, bà cô bảo nhất định phải dùng nước sôi.

Trứng nếu không được ngâm kỷ sẽ bốc mùi hôi.

Đáng sợ hơn là, ăn chúng vào sẽ còn bị tiêu chảy.
Sau khi trét bùn lên trứng vịt, trứng ngỗng xong, đợi khô được một nửa thì lăn chúng trong lá thông.
Trứng bọc lại to gấp hai lần ban đầu, cho lần lượt vào hũ, cuối cùng đậy kín hũ bằng bùn và đặt ở nơi thoáng gió.
Sau khi ngâm vài tuần, phải mở ra xem.

Nếu nhìn thấy những con giòi nhỏ li ti trên đất của trứng vịt muối thì chắc chắn đã thất bại, còn nếu ngược lại, khả năng thành công là rất cao.
Tiếc nuối lớn nhất đối với Hà Điền là mùa đông năm ngoái không ăn được trứng muối, nên sau khi muối rau dương xỉ xong, cô còn muối luôn hai hũ trứng vịt.
Mùa xuân chỉ mới bắt đầu, còn có thể nhặt được nhiều trứng hơn nữa, đến lúc đó có thể làm nhiều thêm vài hũ..
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 37: 37: Mỹ Thực Trong Rừng Tre


Trong rừng rậm, mùa nào cũng đều bận rộn cả.
Đặc biệt là vào mùa xuân, cư dân của khu rừng - dù là sóc hay là thợ săn, đều có cho mình một lịch trình dày đặc.
Sau khi trồng khoai tây xong, tiếp đó sẽ tiến hành trồng kê.
Đợt cuối mùa thu năm ngoái, sau khi Hà Điền nghiên cứu kỹ sách trồng trọt, cô đã tuân thủ nghiêm ngặt phương pháp trong sách, đầu tiên là đốt hết kê và cỏ còn sót lại dưới đất để tiêu diệt sâu và mầm bệnh, sau đó xới đất lên vài lần, đem tất cả đá, thân rễ và cỏ dại diệt trừ hết, rồi bón phân, bây giờ đã đến lúc gieo hạt.
Hà Điền và Dịch Huyền lại xới đất lên hai lần, sau khi đảm bảo rằng đất màu mỡ, độ pH thích hợp và thoát nước tốt, vào một buổi sáng yên lành, họ gieo hạt kê xuống.
Hạt kê là một trong những loại hạt chính mà năm nay Hà Điền đã mua.
Năm ngoái kê mất mùa, cô không lựa ra được bất kỳ hạt kê nào có thể dùng làm hạt giống cả.
Trước khi trồng, họ tưới nước một lần nữa cho đất ẩm, có như vậy thì hạt kê mới không dễ bị gió thổi bay.
Họ cũng trải thêm một lớp cỏ rất mỏng trên mặt đất.
Cứ cách vài chục cm lại khoét trên lớp cỏ một lỗ nhỏ, Hà Điền và Dịch Huyền ngồi xổm xuống, dùng xẻng tre đào một cái lỗ nông trên cái lỗ mà lớp cỏ lộ ra để gieo hạt xuống.
Lớp cỏ này không chỉ đóng vai trò giữ nhiệt mà còn ngăn chặn sự phát triển của cỏ dại.
Nơi có lớp che không nhìn thấy ánh sáng mặt trời, cỏ dại tự nhiên khó mọc, có thể đảm bảo chúng sẽ không lấy đi chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển của cây kê.
Sau khi gieo hạt xong, công việc cũng chỉ xem như mới thực hiện được một nửa.
Hà Điền và Dịch Huyền lại cắm các cọc tre xung quanh mảnh đất trồng kê.

Các cọc tre được buộc lại bằng cỏ khô, dây leo, lá và cả vải vụn, trên một số cọc tre còn gắn những tấm lưới tròn làm từ các lát tre.
Những tấm lưới tròn này được cố tình làm rất thưa, được đóng đinh vào cọc tre, có cái đóng cao, có cái đóng thấp, khi gió thổi thì quay cuồng như cối xay gió, những cành lá khô héo quấn quanh cũng bay lên bay xuống theo.
"Hy vọng làm như vậy có thể đuổi lũ chim đi." Hà Điền dựng chiếc cọc tre cuối cùng xong, đứng dậy, vỗ vỗ bùn đất trên găng tay.
"Nếu còn không được nữa thì thỉnh thoảng lấy súng ra bắn mấy phát." Dịch Huyền đề nghị.
Mùa xuân đến, con người bận rộn gieo hạt, chim muông và động vật thì bận rộn tìm kiếm thức ăn.
Trước khi hạt kê được gieo, những chú chim nhỏ đã tụ tập quanh những tán cây xung quanh, nhìn chằm chằm vào chúng.
Những cây mầm khoai tây trước khi được gieo xuống cũng là thức ăn ưa thích của chuột chũi, chuột đồng và thỏ rừng.
Trồng trọt trong rừng, kẻ thù lớn nhất chính là những người "hàng xóm" này.

Ban ngày chim chóc đến ăn trộm hạt, ban đêm nhím và chuột đến cắn lá non và mầm cây.
Người dân miền núi chỉ có thể nghĩ ra nhiều cách khác nhau để chiến đấu chống lại những con vật nhỏ bé và bảo vệ những cây trồng mà họ vất vả lắm mới trồng được này.
Nếu có một nhà kính nhựa hoặc lớp phủ bằng nhựa, thì đâu cần phải khổ cực như vậy?
Thế nhưng, trong thời kỳ lạnh giá khắc nghiệt này, các sản phẩm nhựa từng bay đầy trời đầy sông gần như đã tuyệt chủng rồi.

Sau khi đợt rét đậm đến, đầu tiên là nguồn điện cung cấp từ nhiên liệu bị cắt, sau đó là đến các nhà máy thủy điện và điện hạt nhân ngừng hoạt động.

Năng lượng gió và năng lượng mặt trời tồn tại lâu hơn một chút, nhưng khi các tấm pin mặt trời bị lão hóa và hư hỏng thì năng lượng mặt trời cũng không còn nữa.

Nếu không có điện làm nguồn năng lượng, việc khai thác và lọc dầu trở nên vô cùng khó khăn, và các ngành công nghiệp sử dụng các dẫn xuất dầu mỏ làm nguyên liệu thô sẽ chết.

Đứng mũi chịu sào chính là sản phẩm nhựa.
Theo như Dịch Huyền nói, ở một số thành phố có thể sử dụng điện, cáp và dây điện đều được làm bằng gốm sứ, làm vật liệu cách điện.
Không có điện, luyện thép đều phải dùng đến than củi, còn xe lửa thì dùng động cơ hơi nước.
Nếu không có lớp phủ nhựa, người trồng chỉ có thể sử dụng các phương pháp trước đây để phủ đất bằng cỏ khô hoặc các vật liệu khác, riêng các thành phố có khả năng trồng quy mô lớn thì dùng bạt đen đục lỗ sẵn.
Những người như Hà Điền không có khả năng mua được loại hàng hóa cao cấp này, chỉ có thể dùng phương pháp sinh thái nguyên bản cổ xưa để thực hiện từ những thứ có sẵn.
Tình hình của mầm khoai tây lúc này rất khả quan, nhưng cũng giống như hạt kê, mối nguy hại lớn nhất đối với nó đều đến từ các loài động vật nhỏ xung quanh.
Hà Điền và Dịch Huyền dựng một khung tre trên ruộng khoai tây, rồi phủ một lớp lưới đánh cá đã sờn lên.

Khi tưới nước, hai người chia nhau ra, bắt đầu đi từ hai phía, vừa đi vừa lắc tay để có thể duy trì hiệu quả mà không làm nhau ướt.
Thùng nước tưới cây cũng được làm bằng tre.
Hà Điền cảm thấy may mắn vì trong khu rừng nơi cô sống có rất nhiều tre.
Bây giờ là mùa tre sinh trưởng mạnh nhất, qua một đêm mưa xuân, trong một đêm cây tre có thể cao hơn cả chục phân.
Cây tre lớn nhanh đã cung cấp cho Hà Điền những vật liệu xây dựng với nhiều kích cỡ khác nhau.
Ngoài ra, họ thường xuyên đến thăm rừng tre, cũng là vì măng mùa xuân.
Măng tươi sau khi l*t s*ch vỏ thì chần qua nước sôi, thậm chí không cần chần sơ qua nước sôi cũng được, thái sợi nhỏ rồi đem xào, hoặc cho ít ớt, hoa tiêu, cà rốt cắt sợi, rau dương xỉ vào xào chung, hương vị thơm ngon, ngọt dịu khó mà hình dung được.
Măng to được cắt khúc vừa ăn, kho với thịt ba chỉ, nấm, hạt dẻ, nước dùng thơm phức, rưới lên cơm mới nấu xong, đừng nói Dịch Huyền, ngay cả Hà Điền cũng có thể ăn liền hai chén cơm.
Thức ăn ngon như vậy đương nhiên phải chế biến thành thức ăn dự trữ.
Măng tươi được cắt thành từng khoanh, treo trên dây cho khô, phơi nắng gió.

Khi nào muốn ăn thì ngâm măng khô vào nước một thời gian, có thể dùng để kho hoặc xào.
Ngoài măng, trong rừng tre cũng có một loại nấm nhỏ mọc lên rất nhiều.

Những cây nấm nhỏ này có màu trắng trong, mọc thành từng cụm dài, mảnh, lá tre tích tụ nhiều năm đã cung cấp chất dinh dưỡng và tạo cho chúng có một hương vị rất độc đáo.
Sau khi hái về, rửa sạch rồi cho vào trong một cái chén, để đó.

Đầu tiên là dùng một miếng cá muối hoặc một cái đùi vịt muối đem hầm với măng khô, đun trên lửa liu riu trong vài giờ, khi dậy mùi thơm thì múc canh ra, đổ trực tiếp vào trong chén nấm.

Nấm trong chén trở nên hoàn toàn trong suốt, chiếc ô nhỏ mở ra, mùi thơm của canh trong chén trở nên rất đặc biệt.
Loại nấm này dùng để ăn lẩu cũng rất tốt.
Sau khi nấu nước lẩu xong, cho miến khoai tây vào trước, sau đó mới đến nấm, trên bề mặt nước lẩu nổi lên vài giọt mỡ chấm vàng, chiếc đùi vịt đỏ au ẩn hiện trong nước lẩu, miến khoai tây thì trong như pha lê.

Nếu như lại cho thêm vào mấy đọt dương xỉ xanh biếc, phải nói là quá tuyệt vời.
Tiếc là loại nấm thơm ngon này không thể bảo quản bằng cách phơi khô được.
Nhưng vẫn may là còn có nấm tre.
Hình dạng của nấm tre nhìn không hề thấy ngon chút nào cả.

Nó mọc gần các gốc tre khô, nhìn hơi giống như ruột mướp nhỏ, hoặc là túi lưới, trông nó không chắc cho lắm, có đầy các lỗ lớn nhỏ, khi chạm vào là có thể bị vỡ ra ngay.
Nhưng sau khi cẩn thận hái thứ này về, làm món salad ăn sống rất giòn và mềm, còn nếu cho vào trong canh thì còn tuyệt vời hơn nữa.
Nấm tre khô bảo quản được lâu, chỉ có một nhược điểm là sợ bị đè ép, khi ép xuống thì sẽ bị nát ngay.
Dùng thịt gà rừng tươi, vịt trời hoặc thịt động vật khác nấu canh, thêm nấm tre, hình dạng giống ruột mướp và miếng bọt biển của loại nấm này có thể hút đầy nước canh thơm ngon, hơn nữa còn loại bỏ được chất mỡ.

Nấm tre thấm nước canh lấy lại được vị giòn khi còn tươi, trông rất mềm mại, nhưng khi ăn ở trong miệng lại có cảm giác rất giòn.
Lá tre tươi non cũng là một nguyên liệu đặc biệt, có thể dùng để nấu trà.
Lá tre rửa sạch, phơi khô, đựng ở trong ống tre, dù là mùa hè oi bức hay đêm đông bên bếp lửa, ngâm trong ly, uống vào thơm nồng, trong lòng sảng khoái.
Những chiếc lá tre lớn lên đặc biệt mập mạp và to cũng rất hữu ích.

Hà Điền hái chúng xuống, lau khô và giữ lại để sau này gói bánh.
Tất nhiên, công dụng lớn nhất của tre là làm vật liệu xây dựng.
Sau khi bắt đầu cày bừa vụ xuân, Dịch Huyền đề nghị xây dựng một kênh dẫn nước để dẫn nước từ suối trên núi trực tiếp đến đất trồng.
Vì vậy, họ chặt một số lượng lớn tre to như cái chén, xẻ đôi, mở các mối đốt tre, sau đó dựa theo bản kế hoạch và tình hình thế núi mà xây dựng một kênh dẫn nước với tổng chiều dài hơn 20 mét, dẫn nước suối trực tiếp chảy đến.

Các đường dẫn nước đều được làm bằng ống tre, họ chọn những cây tre cao nhất có thể có ở rừng tre này, mỗi cây cao khoảng sáu, bảy mét, bên dưới mối nối, đặt khớp của ống tre kế tiếp vào rồi dùng dây buộc chặt, khoảng trống được lắp lại bằng vật liệu làm bằng hỗn hợp bong bóng cá nấu với da cá và da vụn cắt thành cỡ hạt gạo, sau khi đông đặc hầu như sẽ không bị rò rỉ nước.

Bên dưới đường ống tre là một giá đỡ hình chữ X.

Cứ ba hoặc năm bậc lại có một cái, được làm với độ cao khác nhau tùy theo địa hình, tất nhiên là chúng cũng được làm bằng tre, chỉ cần đục một lỗ ở giữa hai khúc tre rồi dùng dây buộc chặt lại, cố định trên mặt đất.
Sau khi đường dẫn nước đến được mép đất, họ lại dùng thêm vài ống tre nữa để phân nước đến từng mảnh đất trồng kê, khoai và củ cải trắng.
Trên mỗi mặt đất, họ khoan lỗ hai bên ống tre, sau đó lắp ống tre nhỏ hơn, xếp thành hàng trên mặt đất, rồi lại khoan lỗ nhỏ trên hai bên những ống tre này để nước tưới đều.
Đầu mỗi ống tre đều có nắp đậy, khi muốn tưới nước chỉ cần tháo nắp đậy ra, ở đầu đường ống dẫn nước cũng có một nắp đậy như vậy, sau khi mở ra thì nước từ trong lòng suối chảy vào, êm đềm chầm chậm, phải hơn ba phút mới chảy đến được đất trồng.
Công trình này khiến Hà Điền và Dịch Huyền phải làm việc rất vất vả, nhưng việc lập kế hoạch, vẽ, cân nhắc và thảo luận phải mất đến vài ngày, còn khi tiến hành xây dựng thì chỉ mất có một ngày.
Hà Điền nhìn theo dòng nước từ lúc nó chảy vào ống tre và cứ đi cùng nó, khi nước chảy xuống đất trồng, cô hét lên, ôm lấy Dịch Huyền.
Sau khi dựng xong đường dẫn nước còn phải sửa lại từ từ cho phù hợp hơn, điều này không đáng lo ngại.
Ví dụ, trong ruộng trồng cà rốt, nước chảy ra từ ống tre hiện quá nhiều đối với cây giống cà rốt, Hà Điền trực tiếp hứng nước vào thùng tưới rồi tưới cho chúng.
Thùng tưới còn được trang bị vòi tưới bằng khớp tre, trên bề mặt khớp được khoan 3 lỗ nhỏ, nước khi tưới ra rất nhẹ nhàng.
Bận rộn cày bừa vụ xuân hơn một tuần, Hà Điền vẫn còn đang rất phấn khích, Dịch Huyền nhắc nhở: "Đoàn lái buôn sắp đi rồi.

Chúng ta có cần mua thêm đồ gì nữa không?"
Khi quay trở lại, vừa mới bước vào cửa anh đã đưa tất cả số tiền mình có trong tay cho Hà Điền.
Lúc này Hà Điền mới nghĩ đến, đúng rồi, lần trước cô chỉ mua sắm dựa trên tình hình sinh hoạt trong một năm của một mình mình.
Bây giờ Dịch Huyền đã trở lại, nói rằng phải đợi "dưới núi bình yên hơn" rồi mới lại đi, nhưng ai biết được đến bao giờ mới bình yên hơn? Mấy tháng? Đến cuối mùa hè? Cuối thu? Hay mùa xuân tới? Thậm chí một hoặc hai năm sau?
Dù sao đi nữa, trước mắt cứ lên kế hoạch chi tiêu trong năm nay của hai người cái đã.

Nếu như vậy, vậy thì phải mua thêm ít nhất gấp đôi bột mì và gạo; đường muối, vải bông may quần áo cũng phải mua nhiều hơn, hơn nữa còn phải để Dịch Huyền tự chọn những gì mình thích, rồi cả mấy thứ vụn vặt linh tinh nữa.
Lúc này cô mới chợt nhớ đến, khoan đã, Dịch Huyền đã lấy trộm thuyền của người ta, còn có một động cơ nữa!
Nghĩ đến những gã lính canh kiêu ngạo trên người mang theo súng đã lên nòng của chủ thành, Hà Điền có chút sợ.
Dịch Huyền lại hoàn toàn không mấy để tâm: "Bọn họ sẽ cho rằng là do một thợ săn nào đó sau khi đến giao dịch đã đánh cắp đi.

Muốn gặp lại cũng phải ít nhất là một năm sau.

Ai có thể nghĩ rằng chúng ta sẽ quay trở lại đâu chứ?"
Mặc kệ có chột dạ hay không đi chăng nữa, muốn mua đồ thì chỉ có thể đến chợ.

Bằng không thì phải đợi một năm nữa.

Hà Điền không còn cách nào khác, chỉ có thể cùng Dịch Huyền đi chợ.
Lần này, họ mang theo Lúa Mì.
Tới sông, cô nơm nớp lo sợ hỏi: "Cái thuyền kia...!Cô ném đi đâu rồi? Cái gì? Đục thủng rồi ném bên bờ?"
"Đúng vậy, tôi đoán là xác thuyền đã bị nước cuốn trôi đi mất rồi."
"Còn...!động cơ thì sao?"
"Tất nhiên là cũng ném đi rồi.

Giữ nó để làm gì? Chúng ta mua dầu diesel không phải sẽ bị lộ liền sao?"
"Nó mắt lắm!" Hà Điền suýt chút nữa là ném mái chèo trong tay đập ngực giậm chân: "Mắt lắm đó!"
Dịch Huyền cười nói: "Cho dù có giữ lại thì cô cũng không thể mua nổi dầu diesel đâu!"
Hà Điền lắc đầu: "Không có dầu diesel, chẳng lẽ chúng ta không thể thử dùng các loại dầu khác được sao? Bà tôi có một cuốn sách, trong đó có viết, khi vừa mới xảy ra thiên tai, mọi người còn dùng dầu ăn làm nhiên liệu.

Có người túng quẫn quá dùng luôn cả Vodka nữa kìa."
Dịch Huyền lại nở nụ cười: "Đùa cô thôi.

Tôi giấu nó rồi.

Mà cho dù có thật sự vứt đi rồi, lại trộm một cái khác không phải được rồi sao!"
Nhìn dáng vẻ chẳng hề bận tâm này của Dịch Huyền, Hà Điền không thể tin được: "Cô...!trước đây cô là người thành phố, tại sao lại không có một chút ý thức pháp luật nào hết vậy?"
"Cô là dân miền núi mà còn tuân thủ luật pháp hơn tôi nhỉ?!" Dịch Huyền vẫn cười: "Nơi đây là cửa sông phía Bắc, ai cũng biết đây là vùng đất thiếu văn minh.

Mà nếu đã là vùng đất thiếu văn minh thì...!luật pháp hả? Ha ha.

Gấu với đạn chì đâu có biết nói chuyện luật pháp."
Hà Điền không thể nói lại Dịch Huyền, thở dài nói: "Thôi vậy, hôm nay chúng ta cẩn thận một chút."
Dịch Huyền hớn hở cười nói: "Được."
Hà Điền chèo thuyền một hồi mới nhớ ra, lúc Dịch Huyền đưa tiền cho cô, không ít đi mà ngược lại còn nhiều hơn.
Chuyện này là sao?
"À, tôi đã đánh ngất lính canh và lấy trộm quần áo của gã ta mặc vào, sau khi vượt qua cửa sông thì vứt quần áo đó đi rồi.

Tiền trong túi cũng không thể ném đi, đúng không?"
Hà Điền ngu ngơ trong chốc lát: "...Cô nói...!cũng có lý.".
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 38: 38: Trứng Chiên Khoai Tây Và Thịt Xông Khói


Chuyến đến chợ lần này vô cùng xuôi chèo mát mái.
Trên đường đi hai người đều cười nói vui vẻ với nhau, đã không còn cảm giác đau buồn khi phải chia xa, hơn nữa còn có anh chàng Lúa Mì dễ thương ở bên trợ hứng, dù Hà Điền có hơi áy náy nhưng không khí trên thuyền vẫn sôi động và vui vẻ.
Khi đến bến thuyền, họ lại xếp hàng dài để lấy thẻ và đăng ký, vì lần này không có lông chồn để bán, họ bị người trông giữ hờ hững phất tay đuổi sang một bên, sau khi lên bờ thì càng không ai ngó ngàng đến, họ cứ vậy mà theo dòng người đi mua đồ.
Dịch Huyền im lặng quan sát, cũng không phát hiện những người lính tuần tra căng thẳng hơn trước kia, ngược lại vì chuẩn bị rời đi nên trông họ có chút lười biếng.
Anh đoán, việc có người xấu đánh ngất lính canh và lấy trộm động cơ đã được lái buôn và người phụ trách giải quyết riêng.
Rất rõ ràng, những người lái buôn này đến đây là vì tiền, nếu những người phụ trách binh lính tăng cường cảnh giác, thậm chí tiến hành khám xét, tra hỏi gắt gao thì rất có thể người dân miền núi sẽ bị kinh động và họ sẽ chỉ mua muối, sắt và những thứ cần thiết khác rồi nhanh chóng rời đi.

Còn ai sẽ mua rượu và các dịch vụ giải trí nữa?
Người buôn bán chịu trách nhiệm bồi thường, người phụ trách thì nhân cơ hội này kiếm được chút ít, tất cả mọi người đều vui vẻ.
Hà Điền vẫn còn hơi bất an, Dịch Huyền nói cho cô biết sự thật, lúc này cô mới hoàn toàn thả lỏng tinh thần, bắt đầu thoải mái mua sắm.
Dù ở bất kỳ độ tuổi nào, mong muốn mua sắm của phụ nữ vẫn luôn mãnh liệt.

Không quá lời khi nói rằng họ là những người đóng góp lớn nhất cho sự phát triển kinh tế và tiến bộ khoa học.
Tiền bạc của phụ nữ cũng rất dễ kiếm.
Hà Điền nhanh chóng tìm thấy một số gian hàng chuyên bán đồ phụ nữ, từ quần áo may sẵn đến vải vóc, dầu gội đầu cho đến phấn phủ mỹ phẩm, hoa tai làm bằng hạt thủy tinh màu và dây cột tóc bằng sa tanh.

Ngoài ra còn có các loại băng vệ sinh siêu thấm có thể tái sử dụng.
Trong mắt Dịch Huyền, loại băng vệ sinh này trông giống như một chiếc yên ngựa nhỏ, ở hai bên có các nút cài và ở giữa là một miếng vải bông hình chữ nhật có thể tháo rời.
Anh suy nghĩ một lúc mới hiểu được thứ này dùng như thế nào, lập tức mặt đỏ tới mang tai, quay đầu giả vờ nhìn những món đồ trang sức vòng cổ trên tường.
Hà Điền rất thích thú với phát minh này, cô hỏi kỹ chủ gian hàng về cách sử dụng nó, sau đó lấy mẫu và sờ thử, chất liệu vải bông rất mềm mại.
Chủ gian hàng là một phụ nữ tuổi trạc ba mươi, thấy có nhiều cô gái trẻ tụ tập lại nhìn, nên lấy một ly nước ra làm thí nghiệm: "Mọi người nhìn xem, miếng vải này hút nước mạnh đến cỡ nào!"
Miếng vải hình chữ nhật kia bị nhúng vào trong ly nước, chẳng mấy chốc đã hút hết nửa số nước trong ly.
"Vào những ngày ra nhiều thì cứ hai tiếng lại thay một lần, còn ra ít thì năm tiếng!" Người bán hàng đã sử dụng "băng vệ sinh" thông thường chứa đầy bông gòn và tro thực vật để so sánh: "Chất liệu truyền thống hút nước kém và có thể chảy ngược, dính dớp, rất khó chịu đúng không?! Mỗi lần thay cũng thật phiền phức.

Đặc biệt là vào mùa đông thì càng khó chịu hơn! Nhìn sản phẩm mới này của chúng tôi đi, chỉ cần thay miếng bông này là được rồi! Rất dễ giặt sạch!"
"Một miếng đi kèm với ba miếng bông, mua hai miếng là đã đủ dùng rồi!"
"Các cô gái thành phố bây giờ cũng sử dụng cái này đấy!"
Chủ cửa hàng không ngừng giới thiệu, đã dụ dỗ được không ít các cô gái bỏ tiền ra mua.
Hà Điền hỏi Dịch Huyền: "Cô...!có cần không?"
Dịch Huyền chỉ muốn che mặt trốn tránh, lắc đầu: "Tôi đợi cô ở bên ngoài."
Mùa đông năm ngoái Hà Điền có hỏi Dịch Huyền rằng cô ấy có cần dùng nó không.

Bà của cô đã mãn kinh rồi.

Cô là người duy nhất trong nhà sử dụng những đồ dùng vệ sinh này.

Cô cũng không thể để Dịch Huyền sử dụng những đồ mà cô đã dùng qua này được.

Cô có thể làm cái mới cho cô ấy.

Lúc đó Dịch Huyền cũng phản ứng như thế này.
Nhưng lúc đó, trời băng tuyết, không thể chạy ra ngoài được, Dịch Huyền chỉ có thể cúi đầu, lắc đầu rồi nói nhỏ: "Tôi...!tôi chưa có."
Hà Điền nghe xong sững sờ, vội vàng an ủi: "Không sao, không sao đâu! Tôi đọc trong sách thấy có người hai mươi mấy tuổi mới có kinh lần đầu.

Có người cả đời cũng không có, hoặc là có nhưng cũng chỉ có một ít, cái này gọi là "trễ kinh"...!Đừng lo lắng...!À, mà không có có khi cũng tốt, đỡ phiền phức hơn rất nhiều."
Cô vội vàng nói một tràng, khi nhìn thấy đầu của Dịch Huyền gần như rũ xuống ngực, cô liền im bặt.
Lúc trước khi vừa mới gặp Dịch Huyền, Hà Điền đã vô cùng kinh ngạc, cô sợ người đẹp nũng nịu này không dễ hầu hạ, sau đó thì lại thay đổi suy nghĩ, dần dần cô cảm thấy đứa nhỏ này thực sự có chút thiếu tự tin.

Có lẽ là bởi vì mặc dù cô ấy trông đẹp, vóc dáng cũng cao, nhưng b* ng*c thì lại phẳng lì, thậm chí còn chưa có kinh, giống như một cô gái nhỏ chưa lớn.
Hà Điền suy nghĩ một lúc thì mua bốn cái.

Biết đâu một ngày nào đó Dịch Huyền sẽ có kinh, bây giờ mua nhiều thêm một bộ, sau này làm quà tặng!
Sau khi mua những thứ này xong, Hà Điền đi mua bột mì, gạo, muối và đường.
Dịch Huyền đề nghị: "Không bằng mua nhiều hơn một chút."
"Tại sao?" Muối và đường thì không sao cả, dễ bảo quản và ít khi hỏng, nhưng bột và gạo sẽ hỏng nếu để lâu.
Dịch Huyền nói: "Ai biết được năm sau sẽ như thế nào? Có thay đổi chủ thành nữa hay không? Cho dù không, vậy năm sau chủ thành có dùng binh lính để đánh nhau không? Hay là sẽ tăng thuế? Muối và đường cũng không dễ hư hỏng, nên cô cứ mua thêm tích trữ đi."
Hà Điền nghĩ lại cũng thấy có lý.

Vì vậy, Dịch Huyền đã dùng tiền của mình để mua rất nhiều muối.
Trên chợ còn có bán men rượu, con men và nhiều loại nước sốt.

Dịch Huyền thấy nên cũng đã mua không ít, chẳng mấy chốc chiếc giỏ ở sau lưng đã bị nhét tràn đầy.
Ngoài ra còn có các loại thuốc pha chế sẵn mua không cần đơn, anh không hề tiếc tiền mua một đống lớn về, Hà Điền thấy mà không khỏi đau lòng cho túi tiền.
Đi hết chợ chính thức, họ đến chợ buôn bán của người dân miền núi ở bãi sông, ở đây đồ đạc bày bừa ngổn ngang, còn trông lộn xộn hơn gấp bội.
Rất nhiều người bán hoặc trao đổi sản phẩm độc đáo của gia đình họ.
Dịch Huyền nhìn thấy có một sạp hàng bán đồ vải, dựa theo hiểu biết của anh thì chất lượng vải này rất tốt, không khỏi có chút kinh ngạc, vội vàng kéo Hà Điền đến sạp hàng xem.
Sau khi đến gần, anh phát hiện sạp hàng này còn bán vải lanh có màu trắng, sợi vải khít và bền chặc, sờ vào mát lạnh.
Có rất nhiều người vây xem, người bán vải là một thanh niên trạc 20 tuổi, vải đều được cho vào sọt tre rồi đặt trên một chiếc xe kéo hàng, anh ta cười chất phác, nói: "Vải này rất thích hợp làm quần áo mùa hè, mọi người xem một chút đi."
Mỗi mảnh vải có chiều rộng dưới 40 cm, phần lớn là vải chưa được nhuộm màu, có màu trắng ngà, trắng sữa, có một ít quầng vàng, một số ít được nhuộm màu thiên thanh và xanh nhạt, còn có màu đỏ tím và xanh đậm, rồi cả màu tương*.
*Màu nước tương, nước sốt.
Hà Điền hỏi giá tiền, nhìn vào tấm vải đang mở, ước tính một tấm vải như vậy có thể may một chiếc váy dài tay, hoặc là một chiếc áo cộc tay và quần dài, còn về phần Dịch Huyền thì có lẽ phải mất một tấm rưỡi thì mới có thể làm một bộ quần áo mùa hè được.
Một tấm vải tương đương với giá của một bộ lông chồn đen đắt tiền.
Giá thực tế đắt hơn nhiều so với vải cotton mỏng bán ngoài thị trường chính thức, nên có một số người nói với họ về chuyện giá cả: "Những tấm vải cotton đó còn in, hơn nữa hoa văn và màu sắc tốt hơn vải của nhà cậu nhiều, chúng mỏng, thoáng khí, cũng không phai màu.

Sao của nhà cậu lại mắt như vậy?"
Người đàn ông đứng trước sạp hàng hơi vụng về, chỉ biết cười làm lành: "Vải của chúng tôi cũng rất tốt." Nhưng anh ta không thể nói nó tốt như thế nào và nó có ưu điểm gì so với vải bông.
Có một cô gái trẻ ngồi sau quầy hàng, trông như em gái của người đàn ông, miệng còn khéo léo hơn anh trai mình: "Cô ơi, nếu cô mua cho con gái và con dâu mới cưới thì đương nhiên phải mua vải hoa của người khác, nhưng nếu cô tự mặc thì không phải con thổi phồng chứ vải lanh bền hơn nhiều so với vải cotton, cũng mát và thoáng khí hơn ạ.

Cô không tin thì sờ thử xem? Ở đây con có một miếng vải cotton nhỏ, cô kéo thử rồi so sánh với vải lanh của nhà con xem con nói có đúng không.

Nếu cô ở nhà làm việc, muốn mặc bền, mặc mát mẻ thì vải lanh là lựa chọn tốt nhất.

Tuy màu sắc và hoa văn không được đa dạng nhưng không sao đâu cô ạ.

Cô mua một tấm màu xanh lam về may cho chồng, cho con trai ở nhà, mua cho mình một tấm màu tím, ở nhà có người già hoặc những người không thích màu tối thì màu xanh thẫm hay xanh nhạt cũng rất đẹp.

Hoặc nếu cô khéo tay thì kết hợp nhiều màu lại với nhau...!" Cô ấy chỉ vào chiếc áo khoác lông thỏ đang mặc trên người: "Trông cũng không tệ đâu ạ."
Áo khoác của cô ấy được may bằng ba màu vải lanh, màu xanh lam đậm, tím và xanh thẫm.

Trông thật sự rất đẹp.
Chiếc áo khoác mà anh trai cô ấy mặc cũng may vải chắp vá, một bên là vải màu xanh lam đậm và màu tương được cắt thành dải hình chữ nhật, khâu không đúng màu, mặc còn lại là màu xanh đậm, cũng rất đẹp.
Dịch Huyền bị thu hút bởi quần áo trên người hai anh em này nên mới muốn đến xem thử, nó khá khác biệt so với những người khác.
Người mua là người phải biết nhìn hàng.
Tất nhiên là bà cô này biết nhìn hàng, sau khi nghe cô gái nói vậy thì đã rục rịch rồi, bà ấy sờ thử quần áo may sẵn của anh em họ, tính toán giá cả, rồi trả tiền.
Anh trai của cô gái kia tuy ăn nói vụng về, nhưng tính toán thì lại làm rất nhanh, tất cả đều tính nhẩm, vừa chuẩn vừa nhanh.

Có người mua bằng tiền mặt, cũng có người đổi bằng lông chồn.
Bán vải rồi, cô gái còn đưa cho người mua một túi hạt lanh: "Loại cây này rất dễ trồng, chỉ cần bốn tháng là có thể thu hoạch được.

Gia đình con sống ở một ngôi làng gần đây.

Cô hỏi "nhà Tam Tam dệt vải" thì ai cũng biết.

Cầm cây lanh thu hoạch được đến mua vải con sẽ giảm giá cho cô! Nhà con cũng thu mua cây gai dầu, nhưng với điều kiện là...!nó phải khô ạ."
Lập tức có rất nhiều người hỏi cách trồng cây lanh, rồi đến nhà cô ấy đi như thế nào, giá cả ra sao.
Còn có người hỏi cô ấy có nhận người học việc hay không.

Những người khác thì hỏi liệu họ có thể mua vải và may chúng theo phong cách quần áo của anh em nhà cô ấy không.
Hà Điền nói nhỏ với Dịch Huyền: "Cô gái này thông minh thật.

Cô ấy đã dụ người ta trồng cây lanh, rồi còn mua vải của cô ấy, thậm chí nói sẽ giảm giá.

Nhà bọn họ chắc là nhiều quá không ai chăm sóc hết được nên mới ủng hộ người khác trồng."
Dịch Huyền chỉ cảm thấy Hà Điền kề ở bên tai mình không ngừng thì thầm làm lỗ tai anh như muốn mềm nhũn cả ra, bất kể cô nói gì cũng gật đầu.
Chờ những người phía trước giải tán xong, Hà Điền lại siết chặt tay anh, lúc này anh mới nhận ra cô gái gọi là Tam Tam kia bị cà thọt.
Sau khi xảy ra thiên tai, vì thiếu thốn vắc xin mà rất nhiều căn bệnh vốn đã biến mất nay lại xuất hiện trở lại.

Bệnh bại liệt chính là một trong số đó.
Không chỉ ở những khu rừng xa xôi mà ngay cả ở các thành phố, trẻ em nghèo không đủ tiền mua vắc xin cũng mắc căn bệnh này.
Thợ săn bị thọt hoạt động rất bất tiện, họ chỉ có thể dựa vào bẫy để săn, và thu hoạch cũng ít hơn rất nhiều.
Để mưu sinh trên núi, đốn củi lấy nước, phá băng và đánh cá, ngay cả người bình thường làm việc cũng phải tốn không ít sức, huống chi là người tàn tật.
Nhưng người thợ dệt vải lanh Tam Tam này rất thông minh, cô ấy đã đem công việc trồng trọt này đẩy ra ngoài.

Đây là công việc đòi hỏi thể chất phải thật khỏe.

Cây lanh ưa môi trường ẩm nên phải trồng ở nơi nhiều nước, sau khi thu hoạch thì phải phơi khô, đập dập, rồi cột thành bó...!công đoạn nào cũng đều cần đến thể lực.
Nhưng đối với cái khung dệt ở nhà, Hà Điền cũng có giỏi mấy đâu, cái nghề quay tơ, dệt vải này thọt hay không thọt đâu có liên quan gì, chủ yếu là dựa vào kỹ thuật giỏi.
Nghề của Tam Tam là công việc dựa vào kỹ thuật, việc tốn thể lực thì có thể thuê người khác làm.

Cô ấy đã đi một lối tắt, tìm cho mình một con đường kiếm tiền.
Cuối cùng cũng đã đến lượt Hà Điền và Dịch Huyền, Hà Điền hỏi sở thích của Dịch Huyền, cô mua ba tấm vải màu thiên thanh và ba tấm màu nguyên bản, còn mua hai tấm màu trắng, rồi giao tiếp với Tam Tam một lúc.
Kết quả của cuộc trao đổi là Tam Tam đưa cho Hà Điền hai gói hạt lanh, còn v**t v* đầu của Lúa Mì, lấy một chiếc khăn nhỏ hình vuông cùng màu với bộ lông, buộc quanh cổ cho nó.
Lần này thật đúng là thắng lợi trở về.
Mạn thuyền lúc này chỉ cao hơn mặt nước khoảng 20 đến 30 cm.
Tâm trạng trên đường về lại càng khác với tâm trạng lúc trước, hai người vừa chèo thuyền vừa cười vừa nói, chỉ kém hát lên nữa mà thôi.
Khi gần về đến nhà, Hà Điền chỉ huy, chèo thuyền vào ngã rẽ.
Đây là đầu một nhánh sông, con sông nhỏ chỉ rộng sáu bảy mét, sâu hai ba mét, Hà Điền nhảy lên bờ, Dịch Huyền cấm sào trúc xuống bùn bên cạnh bờ, cột thuyền xong thì cũng nhảy lên theo.

Lúa Mì nhìn thấy hai người đều đi, sủa mấy lần mà cũng không ai thèm ôm nó xuống, nó đành phải ghé vào mạn thuyền, hai chân sau nhỏ xíu hết ngồi xuống rồi lại đứng lên, lặp đi lặp lại nhiều lần như vậy, nó gấp đến độ sủa lên, chợt lấy trớn, nhảy lên bờ, đuổi theo hai người chủ không có lương tâm kia.
Chờ nó đuổi kịp, Hà Điền ngồi xổm xuống sờ sờ cái đầu nhỏ của nó, rồi đút cho nó một miếng đồ ăn ngon, là gan vịt nấu chín.
Hà Điền chặt một ít nhánh cây, tất cả đều chặt thành từng đoạn dài hơn một mét và bó lại thành bó với đường kính 30 cm, cô và Dịch Huyền mỗi người kéo theo một bó ném xuống sông gần bờ nơi có dòng nước chảy nhẹ, rồi lại vuốt nhọn một nhánh cây khác cấm xuống đáy sông để cố định bó nhánh cây đó lại, bên trên thì dùng dây thừng buộc lại, vậy là đã hoàn thành.
Bó nhánh cây này chìm dưới đáy sông, sẽ có rất nhiều tôm sông, chạch, cá nhỏ, và cua coi nó là nhà, sau khi vớt lên đưa lên thuyền, lắc vài cái thì chúng sẽ rơi ra, rất nhiều.
Từ bờ sông đi bộ thêm vào, chẳng mấy chốc nơi đây đã trở thành một vùng đầm lầy thông nhau bằng những ao lớn nhỏ, trên bãi cỏ có đầy những chiếc ổ được làm bằng lông vũ và lá cỏ.

Vô số vịt trời nổi lềnh bềnh trên mặt ao, lẫn lộn với nhiều loài chim nước.
Hà Điền ném cho Dịch Huyền một chiếc giỏ được bện từ rơm, cả hai lần lượt nhặt trứng trong ổ.
Lúa Mì nhìn thấy trên mặt đất có rất nhiều trứng, vốn mừng rỡ muốn phát điên, nhưng khi nhìn thấy ánh mắt của cô chủ nhà mình, nó nhanh chóng kiềm chế lại, rụt rè đi theo sau Hà Điền.
Về đến nhà, Hà Điền nấu cháo kê đã được ngâm cả một ngày, đập vỡ sáu quả trứng rồi để Dịch Huyền khuấy trứng lên.
Cô rửa sạch ba củ khoai tây lớn, gọt vỏ, cắt thành từng lát dày từ hai đến ba mm, rồi lại cắt một củ hành tây, thịt thỏ xông khói cũng cắt thành từng lát mỏng.
Sau khi chuẩn bị xong những thứ này, cháo kê cũng đã được nấu trong nửa giờ.
Hà Điền nhắt cháo kê xuống, đặt chảo lên, đầu tiên, cô phi củ hành với mỡ ngỗng cho đến khi vàng, sau đó trải một lớp khoai tây lên mặt phẳng, sau đó nữa thì trải một lớp thịt xông khói, và cuối cùng lại là một lớp khoai tây.

Lúc này, cho một chút muối vào hỗn hợp trứng, đổ vào chảo, lắc nhẹ.
Một lúc sau, mùi thơm của trứng, thịt, khoai tây tràn ngập khắp nhà, làm cho Lúa Mì cũng nuốt nước miếng.
Sau khi chiên xong trứng, Hà Điền úp ngược một chiếc dĩa sứ lớn lên chảo, một tay giữ tay cầm chảo và dùng tay kia ấn vào dĩa, lật ngược lại, trứng chiên đã rơi xuống dĩa.
Khi ăn thì dùng dao cắt thành từng phần như cắt bánh ngọt, nhìn từ bên cạnh sẽ thấy trứng vàng, khoai tây, thịt hồng xếp so le nhau thành từng lớp, trông như hoa văn cẩm thạch.
Khi nếm thử, khoai tây ở giữa mềm và dẻo, phần dưới hơi cháy, thịt xông khói mặn và dai, trứng ngọt và bùi, kết cấu và hương vị rất đậm đà, lại kết hợp với cháo kê, bữa ăn này ăn vô cùng thỏa mãn.
Lúc này, mặt trời ngoài cửa sổ bắt đầu lặn, ánh vàng cam nhuộm vàng cành lá trong rừng cây, dưới bệ cửa sổ, nhiều miếng khoai lang trong cốc gốm bắt đầu mọc lên những chồi non xanh biếc.
Trong nhà đầy ấp tiếng cười, thỉnh thoảng xen lẫn tiếng chó sủa, ngoài trời, các loại cây trồng trên mảnh đất trồng đang lặng lẽ phát triển, cố gắng hấp thụ ánh nắng quý giá nhất của mùa xuân.
Tác giả:
Có bạn cmt cho tôi: "Đồ nhựa trải qua hàng trăm năm cũng sẽ không bị phân hủy." và "Không có lò điện thì không thể nung loại gốm có chất lượng cao như thế này được." Tôi đã trả lời tin nhắn nhưng dường như không có hồi âm.

Ừm.

Để giải thích lại một chút, bối cảnh của truyện này là...!một trăm năm sau khi thảm họa xảy ra và bước vào thời kỳ giá lạnh toàn cầu.
"Nhựa sẽ không phân hủy trong hàng trăm năm" - không chính xác.

Đúng là có nhiều loại nhựa không bị phân hủy hoặc biến chất trong hàng trăm năm.

Tuy nhiên, nhiệt độ cao và độ lạnh khắc nghiệt sẽ làm giảm tuổi thọ của các sản phẩm nhựa.

Ví dụ, một chai nhựa có thể bị vỡ dưới nhiệt độ cao hoặc cái lạnh khắc nghiệt.

Các mảnh vỡ có thể vẫn còn, sau hàng trăm năm nữa mới có thể bị xuống cấp, nhưng nó không thể sử dụng được nữa.

Có đúng không?
Các bạn ở khu vực Đông Bắc hoặc Bắc Mỹ có thể sẽ có nhiều kinh nghiệm hơn trong trường hợp này.

Có một lần tôi mua một chiếc lược massage trên mạng, khi mở ra thì thấy nó đã bể nát rồi.

Nhiệt độ ngoài trời nơi tôi sống là âm 30 độ.

Cùng một chiếc lược, sau này ở Singapore tôi đã mua một chiếc khác, nó mềm đến mức có thể cuộn lại.
Bạn thử nghĩ lại xem, sau thảm họa tuyết rơi 8 năm, tại sao Quý Châu lại mất điện một thời gian dài? Vì các dây cáp đều bị đứt.

Mưa đóng băng tạo thành băng trên dây cáp và làm đứt cáp.
Mất điện, xăng dầu trở thành nguồn năng lượng chính, việc sửa chữa trở nên rất khó khăn.

Nếu thời tiết khắc nghiệt như vậy kéo dài hàng chục, hàng trăm năm thì sao?
Còn nói về việc dùng gốm sứ như một vật liệu cách nhiệt.
Nếu muốn thống nhất các tiêu chuẩn, có độ chính xác và sản xuất hàng loạt, thì điều khiển điện tử là thực sự cần thiết, nhưng nếu các tiêu chuẩn được nới lỏng thì sao? Cũng như độ tỉ mỉ cao cũng không còn mấy quan trọng nữa? Vậy nên có thể dùng ống gốm mà đúng không?
Người La Mã cổ đại đã làm điều đó.

Họ sử dụng ống gốm để vận chuyển nước, và họ cũng dùng nó làm ống thoát nước ở trong nhà vệ sinh công cộng và phòng tắm.

Tuy nhiên, về sau các đường ống dẫn nước đã được đổi thành ống chì, một số học giả cho rằng đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự suy tàn của La Mã.
Tôi nói vậy là để cho mọi người hiểu thêm hơn về bối cảnh thế giới của truyện này.
Trước đây có người hỏi, một thảm họa có thể khiến cho loài người chỉ còn lại một phần nghìn dân số?
Nếu quan tâm, mọi người có thể tìm kiếm "Thảm họa Toba" (Toba catastrophe theory).

Có bằng chứng địa chất cho điều này, và bây giờ nó cũng được chứng minh từ quan điểm di truyền rằng chỉ một bộ phận người dân ở Châu Phi sống sót sau thảm họa này.
Hơn một nghìn người này là tổ tiên của loài người bây giờ.

Mọi người nghĩ xem, vào thời điểm đó, toàn bộ con người trên khắp thế giới cũng không thể lấp đầy một rạp chiếu phim hoặc một trung tâm mua sắm lớn.
Những thảm họa lớn sẽ gây ra nhiều hậu quả liên hoàn, cũng như không có nghĩa, khi mực nước biển dâng cao thì chỉ những khu vực gần biển mới bị ngập lụt.
Nếu thực sự không thể tưởng tượng được, mọi người có thể xem bộ phim thảm họa "The day after tomorrow" (Ngày mốt).
Cuối cùng, xin chúc mọi người ăn được, ngủ ngon, an yên vui vẻ..
 
Cuộc Sống Của Hai Người Ở Rừng Rậm
Chương 39: 39: Rau Dại Vào Mùa


Thời tiết ngày một nóng lên, thời gian nắng ngày càng dài, Hà Điền và Dịch Huyền cũng càng ngày càng bận rộn.
Đối với người nông dân, họ chỉ cần chăm sóc cây trồng trên ruộng của họ là được, nhưng đối với những người thợ săn trên núi, ngoài việc chăm sóc đất đai của mình, họ còn phải nắm bắt thời gian đi săn.

Bởi đến mùa đông lạnh giá, nếu thiếu đồ ăn chứa chất đạm thì khó có thể cân bằng được dinh dưỡng.
Mỗi buổi sáng, sau khi Hà Điền và Dịch Huyền tưới nước cho cây trồng xong, họ sẽ mang Lúa Mì và Gạo chèo thuyền đi đến các nhánh sông, hồ và đầm lầy gần nhà.
Lúa Mì và hai người chủ ngồi trên thuyền, còn Gạo thì được cột ở phía sau thuyền và bơi theo họ.
Khi đến nơi, bọn họ lên bờ, trước tiên thả Gạo tự do đi kiếm ăn trong khu rừng gần đó, sau đó tìm một nơi thích hợp để làm nơi ẩn nấp.
Hà Điền và Dịch Huyền khoác trên mình áo khoác màu xanh nâu và đội một chiếc mũ làm bằng cành liễu trên đầu, cùng Lúa Mì ngồi ở trong liếp che.

Và rồi một đàn vịt trời và ngỗng trời bay qua, sau khi bắn vài phát, Hà Điền ra lệnh cho Lúa Mì nhảy ra và tóm lấy con mồi, sau đó ngậm nó trở về.
Sau hai lần dạy dỗ, Lúa Mì hiểu ra, khi một con vịt trời lại rơi xuống, Hà Điền vẫy tay, nó nhảy ra khỏi liếp che và chạy đi tha con mồi về.
Lần này Hà Điền không để Dịch Huyền bắn, cô cầm lấy súng bắn trúng một con vịt trời, nó rơi xuống bụi cỏ trước liếp che khoảng mười mét.
Lúa Mì vẫn còn nhỏ, khi nó nhảy vào bụi cỏ, vì chiều cao của cỏ cao hơn nó một chút nên chỉ có thể nhìn thấy một cái đuôi nhỏ ngoắc qua ngoắc lại.

Một lúc sau, sóng cỏ tách ra, nó mang theo bộ mặt ngốc xít vụng về kéo theo một con vịt to béo chạy về.

Mặc dù vẻ mặt của chú chó nhỏ có vẻ nghiêm nghị đấy, thế nhưng bộ dáng thì trông rất buồn cười.
Khi Lúa Mì quay về, Hà Điền ngay lập tức vỗ đầu nó để động viên, sau đó cho nó ăn đồ ăn ngon.
Lần sau, con vịt bị Hà Điền bắn trúng rơi xuống xa thêm một đoạn nữa, cách chỗ họ khoảng 20m, Lúa Mì tuân theo hiệu lệnh, lại kéo con vịt to béo về.
Những lời động viên và khen thưởng của Hà Điền rất bình thường, nhưng Dịch Huyền thì lại đặc biệt khoa trương hơn.
Anh sẽ dùng hai tay nâng hai nách của Lúa Mì, đưa nó lên cao, rồi chu môi và dùng giọng điệu kỳ quái để cường điệu hỏi: "Úi chà, ai là chú chó đáng yêu nhất trên thế giới này vậy kìa? Là Lúa Mì! Là Lúa Mì đó! Còn là chú chó con thông minh nhất nữa này!" Sau khi giơ lên cao vài lần, anh hạ Lúa Mì xuống một chút, áp đầu mình lên đầu Lúa Mì, lại xoa xoa lung tung trên người nó rồi mới ngừng lại.

Lúa Mì bị anh làm cho rất phấn khích, sủa gâu gâu, đuôi chó quẫy mạnh trong không khí, đặt xuống đất rồi mà cái mông vẫn không khác gì động cơ điện cứ lắc lư mãi, thể hiện tình yêu của mình với Dịch Huyền.
Ngoài nâng lên cao để thể hiện sự yêu thích của mình, Dịch Huyền còn thích ôm Lúa Mì đặt ở trên đùi để chơi.
Nhất là buổi tối ngồi bên lửa trại hoặc bên bếp lửa, Lúa Mì buồn ngủ, nhìn thấy cái đầu nhỏ càng lúc càng gục xuống có chút khó giữ được uy nghiêm của chó săn, Dịch Huyền sẽ ôm nó lên, đặt trên đầu gối rồi lật ngược nó lại để bụng nó ngửa lên trời, sau đó kéo hai chân trước của nó lên làm tư thế đầu hàng, lúc thì gãi gãi lỗ tai, lúc thì vuốt vuốt cái đuôi.
Trước đây, Hà Điền chỉ nghĩ họ quá buồn nôn và có phần thú vị, nhưng hôm nay là đang huấn luyện chó săn, nhìn thấy hành vi này lại cảm thấy không thể chấp nhận được.
Khi Lúa Mì trở lại với con vịt to béo, Hà Điền ngăn Dịch Huyền lại: "Nó là một con chó làm việc, không phải Chihuahua, không thể làm vậy được!"
Dịch Huyền mím môi: "Làm vậy là làm sao?"
Hà Điền lắc đầu, học giọng điệu của Dịch Huyền: "Bé dễ thương, đáng yêu, cưng cưng ~ không thể như vậy!"
Cô nghiêm mặt, Dịch Huyền bĩu môi hừ một tiếng.
Sau khi Lúa Mì trở về, ngay khi đặt vịt xuống, Dịch Huyền liền ngồi xổm xuống sờ đầu nó, vừa sờ vừa lẩm bẩm.
Hà Điền cau mày: "Cô đang nói gì vậy?"
Dịch Huyền hơi nhướng mày: "Cô không nghe được, nhưng Lúa Mì có thể nghe là được rồi."
Hà Điền trợn mắt.
Có sự khác biệt rõ ràng giữa Hà Điền và Dịch Huyền về phương pháp nuôi dạy Lúa Mì.
Dịch Huyền cho rằng đây là giai đoạn đáng yêu của Lúa Mì.

Chờ nó lớn lên, làm sao còn giống như món đồ chơi nhồi bông như bây giờ nữa.

Nhưng Hà Điền thì cho rằng phẩm chất quan trọng nhất của chó săn và chó ngao là sự điềm tĩnh và điềm đạm.

Cứ chiều như vậy thì nó sẽ hư mất.

Bây giờ nó còn nhỏ, nhảy lên đùi quẫy đuôi này nọ đương nhiên là đáng yêu rồi, nhưng đến khi nó lớn, chẳng lẽ cũng để nó nhảy vào lòng chủ để làm nũng như vậy? Không ra làm sao cả!
Lúa Mì lại chạy ra ngoài để kéo con mồi về.

Lần này, Hà Điền cố tình để vịt rơi xuống giữa ao, Lúa Mì chạy đến mép nước, dũng cảm nhảy vào, bơi tới, tóm cổ con mồi rồi kéo vào bờ.
Hà Điền tranh thủ lúc này nói với Dịch Huyền: "Lúa Mì sắp được nửa tuổi rồi, mấy con chó đực nhỏ cỡ nó mỗi lần đi tiểu đều giơ chân lên, nhưng nó thì vẫn cứ ngồi tiểu.

Cô muốn nó cảm thấy mình vẫn còn là một con chó con, sau này lớn lên cứ ngồi tiểu như vậy thì làm sao bây giờ?"
Không biết Dịch Huyền đang nghĩ đến cái gì, sắc mặt đỏ bừng, thoạt nhìn có chút tức giận, dáng vẻ có chút khác với tức giận bình thường, trong lòng Hà Điền có hơi lo, nhưng sau đó trong ánh mắt anh lại hiện lên ý cười, khóe miệng có chút cong lên, lại nhìn Hà Điền, rồi quay mặt sang một bên, nhẹ giọng nói: "Khụ, tôi biết rồi."
Hà Điền ngây người nhìn Dịch Huyền đang cau mày mỉm cười, thầm nghĩ, chẳng trách ai cũng nói người đẹp nào cũng đều tính khí thất thường...
Lúc này, Dịch Huyền quay mặt lại, nhìn thấy cái miệng nhỏ nhắn của Hà Điền đang hé mở, ngây người nhìn mình, tim anh bỗng đập nhanh vài nhịp, trái tim như trở thành một con thú nhỏ có bộ lông mềm mại khiến lồng ngực ngứa ngáy, anh gần như không kìm được, muốn kéo Hà Điền vào lòng, thân mật giống như Lúa Mì vậy.
Nhưng rốt cuộc cũng chỉ có thể tưởng tượng ở trong đầu mà thôi.
Khi quyết tâm quay trở về, suốt dọc đường Dịch Huyền đều nghĩ đến việc khi gặp lại Hà Điền, không đợi cô mở miệng nói bất cứ điều gì, anh sẽ ngay lập tức nói thật cho cô biết: Tôi không phải là con gái, tôi là một thằng con trai!
Nhưng sau đó thì sao? Liệu Hà Điền có xa lánh anh không?
Lúc đầu, cô thu nhận và chăm sóc anh là vì cô cảm thấy người đồng giới không phải là mối đe dọa đối với mình.
Vậy thì...!Liệu sau khi biết anh là đàn ông, cô sẽ vui vẻ chấp nhận và thân thiết với anh hơn chứ?
Dịch Huyền không chắc.
Ở nơi mà Hà Điền lớn lên, mọi người chỉ có một tiêu chuẩn thẩm mỹ dành cho nam giới: Oai phong và dũng mãnh.
Đối với tiêu chuẩn này, chắc anh chỉ chiếm được một chữ "Dũng" mà thôi.
Nếu anh thẳng thắn bày tỏ rồi, nhưng mẫu người mà Hà Điền thích không phải là mẫu người giống anh thì phải làm sao đây? Chẳng lẽ anh còn muốn ở lì lại nhà cô không đi?
Vì vậy, sau khi quay lại, Dịch Huyền luôn ở trong tình trạng phiền muộn, có đôi khi anh sẽ nhân một chút cơ hội mà bộc phát sự nóng nảy, kiếm chuyện này nọ, hoặc là cố tình trêu chọc, và rồi Hà Điền sẽ ngồi bên cạnh nhẹ nhàng an ủi anh, có lúc cô còn chủ động ôm và lay anh, làm nũng như một đứa trẻ.

Những lúc như vậy, Dịch Huyền đều lén cười, vui vẻ và đồng thời cũng có chút hổ thẹn.

Nhưng mà khi được ở gần cô gái mình thích, vành tai tóc mai chạm vào nhau, có đôi khi còn có thể gối đầu lên vai cô, thậm chí khi cô ôm anh, anh cũng sẽ ôm lại cô một chút.

Được ôm giai nhân ở trong ngực, một chút hổ thẹn trong lòng anh càng trở nên chẳng đáng là bao.
Lúc này, Lúa Mì chạy về tới, nó đặt con vịt lớn xuống rồi thở hổn hển, Hà Điền cảm thấy rất đau lòng, hối hận vì vừa rồi đã ép nó rèn luyện quá cực khổ, nhất là lần này Lúa Mì còn nhảy xuống nước để bơi.

Bộ lông trên người của c* cậu vẫn còn chưa thay thành lông ngắn mượt của chó trưởng thành, vẫn còn là lông tơ, loại lông tơ này nhìn thì thấy rất dễ thương nhưng lại càng dễ thấm nước, cô vội vàng ôm Lúa Mì vào liếp che rồi lấy khăn lau khô cho nó, sau đó cho nó ăn một chút sốt gan ngỗng vẫn còn ấm.
Nhưng mà, không thể không tiến hành việc huấn luyện cho Lúa Mì được.
Nếu đợt xuân hè này không dạy cho Lúa Mì học được khả năng tìm con mồi của một con chó săn đủ tiêu chuẩn càng sớm càng tốt, thì đợi đến mùa đông, tuyết dày đặc sẽ làm cho nó chạy chậm hơn, hơn nữa con mồi cũng ít hơn.

Vậy thì sao có thể luyện tập được? Chờ đến mùa xuân năm sau sao?
Bắt mồi chỉ là kỹ năng cơ bản, tìm mồi, giúp chủ vây bắt con mồi, dụ con mồi vào bẫy...!mới là các kỹ năng có cấp độ cao hơn nữa.
Nhưng dù sao cũng không thể nóng vội được.
Hà Điền nghĩ vậy.
"Được rồi, hôm nay đến đây thôi."
Họ thu dọn đồ đạc, vác con mồi trên lưng quay trở lại cánh rừng bên cạnh, Gạo vẫn đang thong dong ăn cỏ non ở đó.
Đặt con mồi và liếp che trở lại thuyền xong, họ lại lùa Gạo vào rừng.
Khu rừng gần vùng đất ngập nước này là rừng mới, không có nhiều cây cao, khoảng trống giữa các cây khá xa, trên mặt đất mọc rất nhiều cỏ, xen lẫn trong đó còn có cả rau dại.
Việc tìm kiếm rau dại đều phải dựa vào sự dẫn đường của Gạo, nó thích ăn một loại rau lá mềm dày, người miền núi gọi là rau lộc nhĩ vì nó giống với lỗ tai của nai.
Trong tất cả các loại rau quả mà Hà Điền từng ăn, rau dại là một món không thể không nhắc đến.
Hà Điền và Dịch Huyền đi theo phía sau Gạo, nó đi đến đâu họ cũng vội vàng đi theo đến đó, thấy rau dại mà người có thể ăn được thì lùa Gạo sang một bên rồi hái.
Gạo cũng không thèm để ý, dù sao thì trong rừng xuân có rất nhiều đồ ăn ngon.

Gần đây nó thậm chí còn chẳng thèm đếm xỉa gì tới món đậu nành rang nữa.
Chẳng mấy chốc, giỏ rau dại của Hà Điền và Dịch Huyền đã đầy một nửa, có rau lộc nhĩ, cây tể thái, rau muối, cỏ linh lăng, tử hoa địa đinh, cẩm quỳ và tỏi dại.
Giỏ hái rau dại của Hà Điền có những liếp tre ngăn ra thành từng phần, rất thuận tiện cho việc phân loại các loại rau.
Ngoài những thứ này, Hà Điền còn đào được một thứ giống như củ bách hợp, gọi là "củ giòn", có thể đem xào hoặc là nấu canh ăn cũng ngon lắm.
Dịch Huyền chưa từng nhìn thấy nhiều loại rau dại như thế này, nhưng nghe Hà Điền mô tả, anh nghĩ có lẽ ăn sẽ rất ngon.
"Cây tể thái đem băm nhỏ làm hoành thánh là ngon nhất! Cắt phần ức của gà rừng làm nhân thịt, trộn với cây tể thái rồi cho một quả trứng vào! Thay vì dùng nước, chúng ta sẽ dùng trứng để nhào vỏ bánh của hoành thánh.

Bột nhào ra có màu vàng nhạt, cán thành từng miếng mỏng, cắt thành 4 hình vuông, nhồi nhân...!Sau khi nước luộc gà sôi, lọc lấy nước dùng rồi cho hoành thánh vào nấu, vừa thơm vừa ngon.

Mới nói thôi mà nước miếng đã chảy ròng rồi!"
"Còn rau lộc nhĩ sau khi xào xong, hương vị khác hẳn với các món ăn khác, trơn tuột, cắn một miếng như cắn phải miếng lụa ngọt ngào, chưa kịp nhai là đã nuốt cái ực rồi! Món này ăn xong còn lưu lại vị ngọt, uống nước trắng thôi cũng cảm thấy ngọt ngào...!"
"Rau muối* đem xào với thịt băm..."
* 灰灰菜(Chenopodium album Linn): Còn gọi là Thổ kinh giới trắng, thuộc họ Dền.
"Tỏi dại cắt bỏ lá xanh, chỉ để lại đầu tỏi, thoa một lớp mỡ lên vỉ nướng, cho vào nướng chín vàng, thơm như sáp, không có vị cay mà chỉ còn lại vị ngọt thôi! Sau đó đem chúng bỏ vào hũ thủy tinh rồi lại cho giấm, ớt, đường, muối vào ngâm, mấy tháng sau tỏi đã lên màu xanh, đợi đến mùa hè, buổi tối ăn cháo lấy ra một vài củ làm món ăn kèm, giòn giòn sực sực, vừa ngọt vừa cay...!À, cô ăn thử rồi sẽ biết ngay."
"Củ giòn cũng có thể ngâm theo cách này.

Củ giòn muối chua ngọt có thể nói là ngon hơn nhiều so với tỏi muối chua ngọt luôn! Nó không cay mấy, rất giòn và ngọt.

Lúc nấu cháo cũng có thể cho củ giòn vào, hoặc nấu chung khi nấu hạt dẻ đường.

Ăn như một món ăn vặt, rất bùi...!Kết hợp với trà lá tre là tuyệt nhất."
"Đọt cỏ linh lăng xào với một ít mỡ và muối..."
"Rau trộn tử hoa địa đinh*..."
* 紫花地丁: Viola philippica.

Nói về cách ăn những loại rau rừng này, cô có thể ngồi xổm trên mặt đất vừa hái rau vừa nói mà không hề cảm thấy mệt mỏi.
Sau khi giỏ rau dại đã đầy ắp, Gạo cũng dẫn họ đến tận khu rừng gần đầm lầy.
Ở lùm cây phía sau đầm lầy mọc rất nhiều đám cỏ dại, chúng quấn vào nhau, đám lớn nhất cỡ một mét vuông, nhỏ hơn thì cỡ quả bóng đá, đầu ngọn cỏ có màu xám tím, gốc thì màu xanh đậm.
"Đây là cây cỏ nhung mà lần trước chúng ta dùng để làm giày và chăn bông." Hà Điền đưa cho Dịch Huyền một chiếc liềm và dạy anh cách cắt cây cỏ nhung.
Tất nhiên là họ sẽ chọn cây cao nhất, cầm vào phần gốc, vung liềm mạnh rồi cắt gọn gàng, lúc cắt không được buông ra, rồi phải nhanh chóng dùng dây cột lại thành bó, bởi vì sau khi cắt xong cỏ nhung sẽ mềm nhũn, rất nhẹ, chỉ cần một cơn gió thổi qua là đã có thể thổi bay cả nửa số cỏ vừa cắt được ngay.
Họ cắt rất nhiều cây cỏ nhung, treo ở trên lưng của Gạo, thoạt nhìn cái bóng của Gạo trông không khác gì một con lạc đà, nhưng thật ra rất là nhẹ.
Cả nhà trở lại thuyền với mớ rau dại và cỏ nhung đã thu hoạch được, sau khi đem toàn bộ đặt lên thuyền, họ lùa Gạo xuống nước, chèo thuyền về nhà..
 
Back
Top Bottom