Cập nhật mới

Khác Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài

Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
38. Bên đời bên đạo


Ở vùng tôi, ai đi đạo thì gọi là bên đạo, ai không thì là người bên đời.

Cả vùng chỉ có một cái nhà thờ xứ họ trên làng Đông.

Đôi khi, đến mùa gió nồm, cứ khuya khuya nghe phía ấy tiếng chuông đính đoong...

đính đoong... xa xa.

Xung quanh, vòng hồ Tây bên tận Phú Gia mới lại thấy cái chỏm nhà thờ ở Bạc.

Cạnh Quần Ngựa có một tòa nhà, mọi người hay gọi là nhà thờ Liễu Giai.

Nhưng không phải, đấy là trường thần học làm trên đất trại Liễu Giai.

Trong sân, trên tường cũng có tượng thánh, nên người ta nhầm là nhà thờ.

Cạnh Quần Ngựa có cái trường con gái La Coọc-đe của các bà sơ nhà đạo.

Phải lên đầu Giảng Võ gần mả quan ba Ngạc Nhe mới lại gặp một nhà thờ họ lẻ, một gian lợp ngói tây ụp xụp.

Các làng lác đác người đi đạo.

Chẳng có ai theo đạo Tin Lành.

Cùng là đạo thờ Chúa nhưng người bên Gia Tô lại chửi người Tin Lành là quân đạo dối.

Nói đến bên đạo, làm sao làng nước cứ có cảm tưởng ngài ngại, xa lạ.

Chỉ bởi trong làng ít người đi đạo, mà người nào đi đạo cũng chỉ vì chạy chọt, như lo lót và kiện tụng phải luồn lách đấm mõm quan trên đồn, trong phủ.

Chả là vì bên đạo nhiều thế lực với Tây.

Có nhà ông ấy ở ngoài chợ nuôi người ở.

Người này đột nhiên chết.

Không ai hiểu sao, hay là bọn ác khẩu muốn làm hại người, cứ đồn rầm lên vợ ông ta ác lắm, đã đánh chị người ở vào chỗ phạm, chết tươi.

Tiếng đồn lan tràn.

Ông kia sợ lắm.

Cũng may mà chị người làm ở quê xa.

Bấy giờ, các nơi lên đây đi ở nhiều nhất người dưới Nam Định, Thái Bình.

Đám ma cái người ở này, nhà chủ phải lo liệu, đã ra phố Mới thuê được bọn khóc mướn về đưa đám.

Các mụ khóc mướn đi theo cái áo quan bốn người khiêng trần.

Mụ khóc mướn xổ tóc ra gào thảm thiết: "Ối cha mẹ ơi, ới cha mẹ thiên hạ ơi", mà mắt ráo hoảnh.

Người đi xem đám ma về kể chuyện trò cười như thế.

Trong làng cứ âm ỉ lo thay là nhà ấy đánh chết người thế nào cũng có đứa cáo giác, phải đi theo kiện có khi tù chung thân đến nơi.

Rồi họ hàng người ta ở quê đâu xa cũng sẽ biết mà lên bỏ đơn kiện.

Ít lâu sau làng xóm lại vừa thì thào vừa kể với nhau chuyện lão ấy đã đi đạo rồi.

Nhưng lão ta kín đáo.

Sáng chủ nhật, không lên nhà thờ Đông, mà đi xem lễ ngoài Cửa Bắc, đến còi mười giờ mới về.

Ai cũng chép miệng: "Thế thì thôi, thế là xong hết.

Khôn thế.

Cái người kia chết oan rồi".

Có bác tư Đa ngoài xóm Giếng.

Chẳng hiểu cơn cớ gì, vợ bác ấy trẫm mình xuống cái ao ngay trong vườn nhà.

Láng giềng có người nói thảo nào nghe tiếng khóc ti tỉ từ gà gáy, đến gần sáng thấy im.

Sáng ra, người xuống ao vo gạo đụng phải cái lưng áo nổi phập phồng, mới hô hoán lên.

Thôi thế là thêm cái ao ma.

Năm nọ, ngoài ao đền có đứa trẻ chết đuối.

Nghe nói ngày trước cũng có người chết đuối ở ao ấy.

Mùa hè nào cũng phải cúng cầu mát ở ao đền, thầy cúng bắt quyết tay oanh oách trước cái thang dóng bẹ chuối quấn trang kim bắt từ mặt nước cho oan hồn có đường lên.

Mà cái ao đền vẫn vắng, chẳng ai lai vãng.

Những ngày nóng nực, nước trong vắt.

Giờ lại thêm cái ao ma này.

Cả vùng lũ lượt đến xem chỉ nhìn cái ao mà cũng đông.

Người ta hay tò mò kéo nhau đi xem bất kể cái buồn hay cái vui.

Đám cưới, đám ma, nhà cháy, người thắt cổ, chọi gà, thả chim, thả diều cô đồng Bãi xiên lình, nghe đồn bụi cây có ma nén - hễ động biết là kéo nhau đến, đi qua nhìn vào đông như hội.

Ai cũng nói rồi bác Tư đến phải tù mọt gông.

Chắc bác ấy uống rượu rồi chửi đánh vợ.

Bác Tư giai cục tính lắm.

Bác Tư gái uất quá trẫm mình.

Sớm sớm, bác tư Đa đi đâu, bỏ đến một cuốn cửi tầm sáng.

Có hôm lúc chợ đông mới về.

Người ta bảo bác ấy đi lễ, bác ấy theo bên đạo rồi.

Lại nhà ông lang Ngạc cũng đi đạo.

Vì sao ông đi đạo, không hiểu.

Nhưng nhà thờ làng Đông đã cho ông ấy làm cái vườn nhà tràng ở cuối xóm.

Ngày trước, nhà thờ cắm chỗ đất ấy định để làm nhà tràng.

Ông bà ngoại tôi đi kiện giữ nhà hương hỏa dựa thế nhà thờ đã được làm cái vườn ấy vài năm, đến năm ông bà tôi không đi lễ nữa, nhà thờ lấy lại.

Vườn to, có ruộng, có ao, cấy và trồng rau được.

Có năm ông tôi đắp lò nung gạch, rồi cho người đến thuê trồng rau.

Bây giờ, nhà ông lang Ngạc được làm.

Có người sói móc sao ông ấy đi đạo lại lấy vợ bé.

Bên đạo không cho lấy hai vợ mà.

Nhà ông ấy thờ tượng chúa lại có cả bàn thờ ông vải.

Ai mà mách, chắc cố đạo xuống phá cái bàn thờ ông vải.

Bên đạo người ta không cúng giỗ.

Nhưng cũng chẳng ai rỗi hơi, ngại lôi thôi.

Người bên đạo trong làng không có nhưng cũng phải kể ngày trước ông bà tôi đã đi đạo.

Bởi chạy kiện tranh hương hỏa.

Chẳng biết ai sui ông tôi đi đạo.

Quả nhiên, bên đạo bênh cho được kiện.

Ông bà tôi được kiện rồi thì cũng nhạt đạo.

Đến khi tôi biết, chỉ còn thấy ở cũi bát trong buồng, giữa chồng bát chiết yêu, bát mẫu đong chè, có cái tượng Đức Bà con con bằng sứ trắng, bụi đã bám đen nhẻm.

Đôi khi tôi đi chơi cũng vào xem nhà thờ Cửa Bắc.

Góc bờ tường cao cửa kính tím.

Và những hàng ghế ngồi một lượt.

Tôi chỉ thấy dửng dưng xa xôi.

Trông tượng Đức Bà mặt gầy gầy, mũi nhọn hoắt, lại thấy khó chịu.

Nhưng Nam Cao với nhà thờ, cảm tưởng của anh khác hẳn tôi.

Vào nhà thờ, anh thấy nhà thờ đầm ấm, quen thuộc.

Đêm nghe thấy tiếng chuông nhà thờ làng Đông, tiếng đính đoong đỏng đảnh bao giờ cũng làm anh bồi hồi nhớ nhà.

Nam Cao đã khô đạo từ lâu, từ năm vào kiếm ăn trong Sài Gòn.

Chỉ còn kỷ niệm thuở ấu thơ về cái nhà thờ họ lẻ ở Đại Hoàng một làng đạo sôi đỗ, thế mà anh vẫn nhớ dai thế.

Anh chẳng có thú vãng cảnh đình chùa như tôi.

Trông tượng Phật, anh thấy ghê ghê, như tôi không thích cái tượng sành men trắng có hình người giang tay trước cái thập ác, mới lạ mắt làm sao.

Tôi thích đứng trong mùi hoa mộc, hoa sói thoang thoảng ngoài giại bể trước nhà tĩnh, nhà hậu ngoài đền nhưng Nam Cao thì dửng dưng.

Anh nghe tiếng chuông chùa trong tĩnh lặng ban chiều, cũng bằng nghe trống ngũ liên hộ đê hay trống thúc thuế.

Bởi hình ảnh nhà thờ với anh đã thành kỷ niệm từ thơ trẻ.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
39. Đường về quê


Những con đường hằn vết chân trong đời người.

Ấy là đường về quê nội không xa mấy, chỉ hai mươi cây số con đường cái đá từ huyện Từ Liêm về huyện Thanh Oai, thế mà mỗi khi trở lại, dù đã luống tuổi rồi, vẫn cứ thấy mình nho nhỏ đôi mắt trẻ thơ.

Lúc nào cũng vẫn là con đường của tuổi lên mười, tuổi mười lăm.

Bao giờ thấy con đường về quê mình nghĩ cũng xa hơn, dài hơn con đường thật đương đi.

Nhớ lại quang cảnh phía nam thị xã Hà Đông, một khoảng trời xanh xám úp chụp xuống đồng ruộng ngay sau vách ngôi nhà rách rưới, ở cuối cái tỉnh lẻ im lìm mờ mịt hoàng hôn.

Cánh đồng liền với chân tường, khi những cơn gió bấc hun hút đưa mùa đông đến suốt chân trời, đôi chỗ đùn lên một đám khói của bọn trẻ trâu ngồi run rẩy sưởi quanh đống gốc rạ vừa được nhen lửa lên.

Khi mùa mưa tới, màu xám cánh đồng lại tan thành một vùng nước trắng bệch.

Trên mặt nước, lội bì bõm những người lót chiếc thừng quấn lá chuối khô cho đỡ rát cái vai lệch một bên, người làm trâu kéo cày và người đẩy cày.

Ruộng đồng lầy lội triền miên tưởng không bao giờ khác như thế.

Ba La Bông Đỏ man mát bóng nước ruộng và tiếng ríu rít những đàn chim sáo đá bay qua.

Trên đường phố xép lơ thơ mấy nóc nhà bên cánh đồng trũng.

Nhà hát cô đầu lẫn lộn với những nhà buôn thúng bán mẹt, hàng xay hàng sáo ở bám ngoài đầu ô.

Những nhà cô đầu cổng tỉnh, cô đầu phố huyện cũng là cảnh vui buồn đêm hôm Ba La Bông Đỏ.

Cô đầu nhà quê - người ta gọi thế.

Các cô đầu rượu, đêm tiếp khách khứa, ban ngày lại ra đồng cấy gặt.

Những con người khốn khổ ấy cũng thường bỏ hầu hạ ở nhà hát, trở về làng, đi phu cao su Nam Kỳ, đi Tân Thế Giới.

Người nào được khách chơi cho tiền chuộc ra, theo về làm người ở con hầu trong nhà, ngỡ như thoát chết đuối.

Cái tưởng không bao giờ có, tôi đã thấy, ấy là những ngày cuối năm 1946, mặt trận Hà Nội đã lan ra đến Thanh Xuân.

Ba La Bông Đỏ ngày đêm trực chiến.

Tự vệ ra thị xã gác tận ngoài bến tàu điện bên kia cầu, nấp vào lưng cái toa tàu lật chắn ngang đường.

Trông thấy Tây quần áo vàng lố nhố đằng Phùng Khoang, quán Bún.

Trong đội tự vệ ấy có những chị em cô đầu rượu hôm qua.

Các cô gánh cơm tiếp tế, cứu thương tải thương, đi liên lạc...

Người cô đầu ra làm tự vệ ấy cũng dị dạng - cô khoác áo tơi lá, trong mặc áo lụa dài màu hoa cau mỏng mảnh, tấm áo mồi mọi đêm.

Nhưng chân đi đất, đầu tùm hụp khăn vuông.

Ngang mình quấn chiếc thắt lưng da to tướng.

Thắt lưng da của tự vệ các làng đã tịch thu cái hôm khởi nghĩa hạ được trại khố xanh quản Dưỡng.

Kìa kìa, đã về đến Cầu Khâu!

Đường đá lổn nhổn, khấp khểnh, trơ trọi hai bên đồng cạn không một bóng cây.

Trong lặng lẽ, chốc chốc lại nghe lắc rắc, lạo xạo tiếng cái bánh xe sắt.

Trên xe, ngồi chồng chất hai ba người.

Trong tay xe, người kéo xe ngửa ngực chạy, mồ hôi ướt sũng xuống đến hai bàn chân bụi đường sạm đen, như lội bùn.

Cầu Khâu!

Cầu Khâu!

Nhớ những đêm lặng lẽ, cái xe bò người kéo người đẩy nặng nề đi qua.

Trời rét buốt tưởng như những mảnh sao sắc rơi xuống cứa cả vào mặt mũi.

Người kéo xe, đẩy xe cứ đổi thay nhau chạy quanh các xe nồi, xe nón, xe thúng mủng mang từ các làng chuyên đan lát, bốc nặn ở Canh Hoạch, ở Quảng Bị, ở Quán Tròn, ở Chuông.

Vất vả, khó nhọc và cũng thật ly kì, những đêm thời loạn Pháp Nhật ấy.

Trong cái xe bò ngất ngưởng kia có bó truyền đơn và báo bí mật của Việt Minh.

Cứu Quốc, Cờ Giải Phóng, Kèn Gọi Lính nhét khe những nồi, nón, thúng mủng.

Xe lắc lư đến một quãng, vừa lúc gà gáy dồn.

Chúng tôi đã có hẹn, người các cơ sở đầu làng ra đợi lấy tài liệu xuống.

Những cái xe bò lại lững thững vào bóng tối về qua cầu Am làng Vạn Phúc.

Ở Cầu Khâu, dù khuya canh ba canh tư vẫn có hàng cơm thịt chó đến suốt sáng.

Ai quen qua lại đường này mà chẳng biết tiếng thịt chó Cầu Khâu.

Cửa hàng mùa đông là những cây rơm rỗng ruột, khách ăn chui vào bụng cây rơm, gió hú bốn phía.

Trong cây rơm, thôi thì thịt luộc, sáo chó, rượu ty, rượu ngang.

No say rồi nằm lăn ngủ cho đến sáng bạch mới thò cổ trông ra.

Con người lại bị đẩy ra giữa ban ngày run rẩy gió những nhạt nhẽo, lo âu.

Ngày nay, qua Cầu Khâu - không biết cái cầu bắc qua lạch nước hay cái quán có mái, (vùng Hà Đông, những cái quán cũng gọi là cầu), cứ đi qua rồi mới biết đã qua.

Ở Cầu Khâu còn quán thịt chó không, có còn cũng chẳng còn những cây rơm thú vị, và chắc chẳng khác thịt chó Kim Bài, Ngã Tư Vác không phân biệt rõ ràng được.

Cầu Khâu hay Ba La, hay Thạch Bích, những hàng quán, những kho tàng xưởng máy, trạm bảo dưỡng đường xá, lò gạch, nhà cửa chen chúc, nườm nượp các thứ xe với người đi bộ.

Không thể đâu còn những cây rơm rỗng lòng chồm hỗm bên mép cánh đồng nước, người trốn rét chui vào tận âm ti địa ngục ấy ăn uống rồi đánh giấc luôn trong ruột rơm.

Quãng đường dằng dặc vắng hẳn làng xóm dài nhất từ Thạch Bích về Bình Đà - ngày trước, phố huyện lỵ huyện Thanh Oai, bây giờ cũng lổm ngổm những nhà là nhà.

Bình Đà vẫn ở thế trung tâm huyện, nhưng huyện lỵ đã xuống Kim Bài.

Phiên chợ Tư chợ huyện đông nghịt quanh những gốc muỗm cổ thụ.

Khách tíu tít xuống chuyến xe hàng Hà Đông vào.

Hiệu bách hóa, hàng thuốc, kho gạo, cửa hàng ăn và giải khát.

Mỗi ngôi nhà phố huyện cũ đã vào nền nếp, phong tục và sinh hoạt mới.

Tôi ghé lại đầu phố Bình Đà cũ uống cốc bia.

Xưa kia, khi chiều tối, chuyến ôtô hàng sơn vàng của nhà Mỹ Lâm chạy đường lẻ ỳ ạch về dưới bờ tre, bụi đường và ánh nắng bốc lên đỏ xuộm.

Trong làn bụi, mờ mờ thấy hàng cơm, quán nước, rồi lại mấy nhà hát cô đầu - tiêu điều cô đầu phố phủ, như ngoài Ba La Bông Đỏ.

Không biết đã đến Nga Mi hay cầu Nảy.

Tiếng khóc.

Tiếng rú.

Một đám cướp, một vụ giết người.

Bình Đà về Kim Bài, quãng ấy cũng chỉ trống không.

Hai bên đường giữa đồng chiêm trũng, làng xóm xa trong chân tre.

Nỗi lo rợn gáy vì đường vắng càng khó hiểu đối với một người bây giờ thảnh thơi ngày đêm như nhau cũng đi trên quãng ấy.

Rồi cầu Nảy.

Cái tên cầu Nảy càng gợi ghê rợn hơn.

Xung quanh cầu Nảy đồng nước phơ phất một cái lều chăn vịt.

Những người chăn vịt cũng chỉ dám trú chân ban ngày ở đây.

Chiều đến, bọn cướp giật, cướp đói ở đâu đã ra ngồi rình như cái gò ông Đống cạnh đường.

Những quán ông Bảo, miếu Giời ơi là chỗ này đây.

Tôi đi trong chạng vạng chiều cầu Nảy.

Lò gạch và cánh đồng khoai tây san sát bên này đồng cao Nga Mi, Cát Động bây giờ ruộng màu lan cả sang bên kia đường mà ngày trước chỉ là đồng sâu bỏ trắng vụ tháng mười.

Chỗ Cây Sữa ấy rẽ vào Cát Đông, làng nội tôi.

Con nông giang lững lờ dưới nhịp cầu bắc qua.

Khu đồng màu đã xanh xẫm những khoảng ruộng khoai tây.

Xưa kia chỉ trồng được khoai tây ở ruộng trên Thanh Thần.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
40. Ghi lại


Khi ấy, Thôi Hữu cùng với Thép Mới làm báo Thủ Đô, báo hàng ngày của khu 2 mặt trận Hà Nội.

22 tháng giêng năm 1947, mùng một Tết âm lịch kháng chiến đầu tiên.

Thôi Hữu và tôi, chỉ có hai người ở lại chùa làng Sống ở An Thọ huyện Hoài Đức.

Cơ quan báo và Thép Mới còn đóng bên Phú Mỹ.

Không nhớ vì sao chúng tôi lại đến ở đây.

Một đoạn nhật ký của tôi:

22 tháng giêng - Trong chùa lạnh lẽo.

Tấn và tôi dự lễ năm mới trước bàn thờ Tổ quốc với bà con trong xóm.

Bàn thờ dựng ngay gian giữa thờ Phật.

Đêm qua trở rét nữa, và mưa to.

Đường lầy quá, rét như teo cả cảnh vật lại.

Gió hun hút hơn mọi ngày.

Không có tiếng trống, tiếng chuông.

Trong đình miếu nào, đâu đây vẳng lại tiếng hát đồng thanh của thanh niên.

Tiếng súng đằng cầu Diễn vọng vào.

Thế là Pháp đã tràn đến Bưởi.

Súng máy đặt ở cống Vị và đầu làng Bái, bắn suốt đầu làng ra cánh đồng vào cầu Điều.

Chết mấy người làng mò về lấy đồ đạc, về định ăn Tết ở nhà.

Không trở về làng được nữa!

Đêm ấy, Thôi Hữu kể chuyện đời anh cho tôi nghe.

Quê anh trong Thanh.

Anh vẫn tưởng anh là con một gia đình tổng lý trong làng.

Học trường Kỹ nghệ Huế, năm ấy, về quê nghỉ hè.

Tình cờ, có người làng kể với anh là anh không phải con nhà ấy.

Anh là một cái thai hoang vứt ngoài ruộng.

Nhà ấy nhặt được, làm phúc đem về nuôi.

Tấn trở lại trường, rồi đi hoạt động rồi bị bắt, phải án năm năm giam ở Hỏa Lò, rồi vượt ngục, rồi về phụ trách ngoại thành Hà Nội, rồi cách mạng thành công và cho đến bây giờ, trở lại làm báo làm thơ, từ ấy Thôi Hữu không về Thanh Hóa lần nào nữa.

Thôi Hữu có giọng ngâm thơ thật buồn.

Nghe anh ngâm thơ đêm khuya, tôi tưởng như trong cái giọng thăm thẳm não lòng của anh phảng phất nỗi u ẩn này.

Thôi Hữu sang làm báo Vệ Quốc Quân rồi báo Sự Thật.

Quãng năm 1951, nghe tin anh suýt chết trên mặt trận biên giới phía bắc.

Cũng trong trận ấy, Trần Đăng đã hy sinh.

Rồi tôi gặp lại Thôi Hữu ở Đại Từ.

Nghe Thôi Hữu kể về cái chết của Trần Đăng.

Trên biên giới phía bắc, tình hình đương khẩn trương.

Hồng quân Trung Quốc tiến xuống Hoa Nam.

Quân đội Tưởng Giới Thạch thua đã chạy dồn xuống.

Bộ đội ta tiến lên biên giới có nhiệm vụ bắt liên lạc với Hồng quân Trung Quốc.

Bộ đội ta đã vượt biên giới, tiến công quân Tàu Tưởng, giải phóng một loạt thị trấn từ Thủy Khẩu đến Hạ Đống bên Trung Quốc.

Quân ta ra sức ép bọn Tàu Tưởng, hất chúng nó chạy dạt sang phía tây.

Trần Đăng và Thôi Hữu cùng đi với một tiểu đoàn đương chiến đấu làm nhiệm vụ trên.

Được tin một đơn vị Hồng quân Trung Quốc đã xuống gần Hạ Đống, cho người đến bắt liên lạc với ta.

Ban chỉ huy tiểu đoàn quyết định đi gặp.

Lúc đầu, định đi cả ban chỉ huy.

Sau đổi lại kế hoạch.

Tuy vậy, cũng chỉ để một bộ phận nhỏ của ban chỉ huy, còn đi hết.

Tiểu đoàn Hùng Sinh, chính trị viên tiểu đoàn Bùi Thịnh, cả hai phóng viên báo Vệ Quốc Quân là Thôi Hữu và Trần Đăng.

Gặp gỡ quân bạn trên đường Nam Hạ, còn gì hồi hộp và phấn khởi bằng.

Mặc dầu vẫn phải cẩn thận, hẹn giờ ấy, giờ ấy, nếu chưa thấy trở lại, bộ phận ở nhà sẽ đưa quân lên tìm ở X.

Cả tám người đi.

Ai cũng náo nức.

Nhưng ta bị mắc lừa.

Quân Tàu Tưởng đã giả làm Hồng quân.

Vừa bước vào địa điểm hẹn, đã bị trói tất cả?

Ở ban chỉ huy, quân ta đã biết tin dữ ấy.

Lập tức, đưa quân đuổi.

Bọn Tàu Tưởng rút chạy.

Thôi Hữu kể:

- Chúng tôi bị chúng đẩy chạy cùng.

Chúng tôi đã truyền được cho nhau một cái hẹn bí mật: không ai tự ý chạy trốn, khi nghe tiếng hô của tiểu đoàn trưởng Hùng Sinh tất cả hãy chạy.

Nhưng một mình Trần Đăng không được biết ám hiệu như thế.

Bởi từ lúc bị trói tay, chúng để chúng tôi đi thành một bọn.

Riêng Trần Đăng, phải giải đi đằng sau, cách xa.

Có lẽ chúng ngờ anh là cấp chỉ huy trong chúng tôi.

Chúng tôi đều đi giày vải.

Mình Trần Đăng có đôi giày săng đá đế đinh, cao cổ, khác hẳn.

Chiến lợi phẩm mặt trận Đông Bắc, Trần Đăng vừa ở đông bắc về.

Đến một nơi, chúng quyết định bắn chúng tôi.

Chúng tôi bị đẩy vào đứng dàn dưới chân núi.

Tiểu đoàn trưởng Hùng Sinh hô một tiếng.

Chúng tôi chạy tán loạn.

Chúng cũng bắn tán loạn.

Trần Đăng đứng một mình tận gốc đằng kia.

Trần Đăng ngã xuống tại chỗ.

Thôi Hữu chạy thoát.

Sau đấy, về Thái Nguyên, Ít lâu, Thôi Hữu trên đường qua Hợp Thành, gặp máy bay địch.

Chẳng may, bị trúng đạn, gãy chân, máu ra nhiều quá.

Giữa đường rừng, không băng bó cấp cứu kịp.

Trần Đăng và Thôi Hữu mất đã hơn ba mươi năm rồi.

Thế mà vẫn nghe trong đêm giọng Thôi Hữu trầm buồn ngâm thơ.

Còn Trần Đăng, chợt như đầu mùa hạ vừa rồi, ở chiến dịch sông Thao 1949, chúng tôi cùng lên mặt trận Phố Ràng.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
41. Nhật kí Phan Phú


Trong kháng chiến chống Pháp, ở Việt Bắc, tôi giữ được quyển nhật ký của đại đội trưởng Phan Phú.

Không nhớ ai đưa cho.

Có những bạn đọc thật quý, hay trò chuyện và gửi tài liệu, tin cậy người viết.

Nhưng cũng không phải chữ Phan Phú ghi nhật ký ấy.

Mà của một người chép lại.

Tôi đã sao lại tập nhật ký Phan Phú ra một bản khác.

Rồi sau, quyển nhật ký chép lại của Phan Phú tôi để lán cơ quan ở Thượng Yên (Tuyên Quang) mối cũng xông mất...

Đến cả bản nhật ký tôi chép cũng tờ còn tờ mất không đủ.

Dưới đây là nguyên văn những tờ còn lại.

Phan Phú là một đại đội trưởng dũng cảm, nổi tiếng mặt trận biên giới Việt Bắc những năm ấy.

Anh đã hy sinh trong một trận đánh đồn Bản Trại ở Lạng Sơn mùa thu 1949.

Phan Phú quê Quảng Nam.

Những ngày đầu cách mạng Phan Phú đã ra Hà Nội học trường Lục quân ở Sơn Tây rồi từ Hà Nội đi chiến đấu.

Niềm thương và nỗi nhớ của anh khác nào tấm lòng và tâm tình chúng tôi khi rời thành phố những ngày đầu ra đi kháng chiến.

"29.2.1948...

Chúng tôi cùng một tiểu đội trở vào bản.

Đi sục sạo từng nhà một.

Mỗi khi bước vào một nhà, lại hơi rờn rợn.

Không biết địch để lại cái gì trong nhà: một tên bị thương liều lĩnh, một vài quả lựu đạn nổ chậm...

Trong mấy gian nhà vắng tanh, đồ đạc của chúng vẫn còn bừa bãi: chăn chiếu, ba lô, quần áo, tỏ ra địch chưa kịp lấy một thứ gì cả, đã vội phải rút lui.

Ánh nắng vẫn chiếu tưng bừng qua kẽ lá, qua mái nhà.

Con gà vừa đẻ xong vẫn cục tác vang lừng.

Tôi lấy làm ngạc nhiên vì cảnh vật có vẻ thanh bình bên cạnh một cuộc chém giết gớm ghê của loài người.

Sau khi đi qua mấy nhà, tôi lại quay trở lên sườn đồi.

Lúc ấy, đại đội 1 đang còn đánh nhau với địch ở sườn đồi trước mặt."

"3.3.

Một điều đáng chú ý là trên vùng này rất nhiều cây đào.

Hoa đào đỏ cả góc rừng.

Người ta không trồng, không quý mà đào vẫn mọc trong vườn, trong bản, trên rừng.

Một sắc đẹp không người thưởng thức.

Có khi tôi đi qua một quãng rừng đầy cả xác hoa đào như xác pháo ngày Tết.

Có khi mình trèo lên một ngọn đồi, nhọc bở hơi tai, đã thấy mấy cành đào sặc sỡ.

Có khi bên cạnh một mái tranh lụp xụp, một cây đào nở xen với một cây hoa mận trắng.

Tôi có ý định ngắt mấy cánh hoa đào ép vào sách để làm kỷ niệm.

Nhưng bận mãi thế này thì có khi hết mùa đào mất...

Tôi ngồi lục lại những kỷ niệm cũ của gia đình Thu An, của Vườn Đào và của trường Nguyễn Thái Học.

Tôi chỉ lấy những ảnh và thư ra xếp từng bó và cất vào hộp.

Tôi không dám xem kỹ, vì chiều hôm nay trời buồn, tôi sợ buồn."

"Bản Lùm 28.3.

5 giờ rưỡi chiều hôm qua sang đây.

Đi qua một tràn ruộng ướt, dưới một bầu trời xám.

Mình nhớ lại những buổi chiều đi thăm chị Ba ở Mỹ Sơn.

Sao mà cảnh giống thế."

"

Bản Nạ 31.3 - Ở đây, những buổi chiều sắp tắt, đứng trên sàn nhà trông cảnh vật giống Phú Hanh một cách lạ lùng.

Nhớ lại những ngày mình lên thăm bác Thày.

Cũng quả núi cánh rừng im lìm bên cạnh, cũng những ruộng nước rất nhiều ếch nhái kêu như thế này.

Mấy đêm nay không đêm nào và không lúc nào ngớt tiếng ếch nhái trên cánh đồng.

Tôi ở lại với bộ phận tác chiến.

Tự nhiên, bộ đội đi bớt nhiều, mình thấy có một quãng trống và thấy buồn.

Nhất là chiều nay không có việc gì làm, không có bạn nói chuyện, thấy lòng bâng khuâng, khó tả.

Nhìn cánh đồng tôi thấy nhớ nhung những cánh đồng quê nhà, nhớ nhung những buổi chiều xám ở nhà quê.

Một mối buồn man mác đến cắn rứt lòng tôi.

Cha mẹ, anh Hai, chị Ba và tất cả các em yêu quý.

Ôi, tôi đã hiến thân cho Tổ quốc, cho dân tộc, cho chủ nghĩa xã hội.

Tôi không cần sống và không sợ chết đâu.

Tôi chỉ sợ những người thân yêu của tôi, thầy mẹ, anh chị em tôi đau đớn thôi.

Làm thế nào giữ được tập nhật ký này mãi mãi và làm thế nào chuyển được về tận gia đình tôi nhỉ.

Tôi cũng cần phải căn dặn một người bạn nào đó của tôi.

Thế nhưng tôi vẫn do dự chưa dặn cho ai cả, vì mỗi khi muốn nói câu ấy tôi lại thấy ngượng, không hiểu sao.

Tính từ ngày 1.2.1946, mình lên tàu ra Bắc đến nay đã một năm rưỡi.

Nhưng thôi, cầngì..."

"Pạc Pàn (Chợ Rã) 17.4.48.

Hôm nay hành quân từLũng Pia, về Chợ Rã, hơn 40 cây số.

Leodốc đường tắt rồi lại lội suối mát rợi.

Buổi chiều về đến đồi trông xuống BảnHậu, bộ đội đi tắm, rồi những cái sàn nhà bốc khói xanh um mà lâu lắm tôi mới lại thấy vì dân ở vùng này đã vào lán ở cả... (mất mấy trang)... em, của anh Đức, chị Ba và của Tân.

Cảm động quá.

Lâu lắm mình vẫn phớt và không nghĩ đến gia đình.

Mình đã tự cho là khô khan tợn.

Không ngờ hôm nay lòng mình chan chứa nhớ thương và mình đã cảm động đến rơi nước mắt.

Chuyện chiêm bao ngây thơ của em Trực, chuyện sách hát Thu An, chuyện nền nhà cũ, chuyện mẹ và chị Ba...

Có nhiều bận tôi phải đứng dậy bước ra sân tối để che nước mắt và gạt thầm."

"Xóm Diễn 8.6.

Hôm nay đem nhật ký của Nhạn ra đọc lại.

Nhiều đoạn cảm động lắm.

Tiếc rằng mình mới hiểu được Nhạn sau khi Nhạn chết đi.

Nhạn, một tâm hồn đa cảm giấu sau bộ mặt lãnh đạm.

Hoàn cảnh gia đình của Nhạn gần giống hoàn cảnh gia đình của tôi.

Má Nhạn cũng như mẹ tôi và nhất là em gái Nhạn, thật là một phản ảnh của em Kỳ Hương.

Tôi thấy thương mẹ Nhạn, thương và... yêu em Nhạn.

Đau khổ, gia đình ấy đã mất một người cha và một người con trai, mà hai người con trai còn lại cũng chưa chắc đã giữ nổi, bởi vì đều lưu lạc bốn phương cả.

Gia đình Nhạn bây giờ vẫn còn thắc mắc như gia đình mình và như bao gia đình khác: nửa muốn tin là con chết rồi để bớt sự đau đớn về sau, nửa vẫn hy vọng con còn sống."

"14.9.

Ngày lên đường.

Hôm nay, ngày cuối cùng của mùa luyện quân.

Chiều đã lên đường rồi.

Ngày mong đợi bao nhiêu lâu nay đã đến.

Sáng thu đẹp.

Ngoài sân, lúa mới sáng rực và thơm ngây ngất.

Chiều, khi mọi sự đã chuẩn bị xong, tôi với Hoàng và Liệu ra phố Hòa Bình "uống cốc sữa cuối cùng của cuộc đời tươi trẻ" để bắt đầu vào "cuộc đời gió bụi" (để trở lại thì đúng hơn).

Xong, vào thăm các em thiếu nhi Trần Quốc Toản.

Các em ngoan ngoãn quá.

Chia tay có cảm động, nhưng mình giấu đi không tỏ vẻ nhiều tình cảm lắm.

Em út Mão bắt ẵm một quãng.

Các em khác cũng lôi kéo mãi.

Nhưng, sau cùng, cũng "dứt áo ra đi".

Về địa điểm đóng quân vừa đúng 5 giờ.

Ăn cơm chiều vội vàng rồi cho bộ đội ra chỗ tập trung của tiểu đoàn ngay.

Ra đi trong chiều thu, bóng nắng ngả dài trên sân gạch."

"24.9.

Tưởng đêm qua đã vượt phòng tuyến địch và sáng nay đã đặt chân vào vùng địch hậu xa xăm huyền bí.

Thế mà vẫn ở đây.

Chiều hôm qua, tập trung ở đình làng lúc sáu giờ.

Gió lên nhiều và chiều muốn trở rét.

Không được hát và chỉ được ngồi nhìn nhau, làm vài trò hề.

Dân làng đứng xem bộ đội.

Nhiều chị khá đẹp.

Mấy em bé học sinh.

Sau đấy, kéo vào một ngôi nhà gạch, ngồi trên sân để chờ giờ xuất phát.

Sẩm tối, ra đi.

Cả một tiểu đoàn đi hàng dọc, qua phố Rào, rầm rập, khỏe mạnh, hăng hái trong bóng tối.

Đồng bào hai bên phố đứng xem.

Lòng người dân cũng cảm xúc mà lòng người quân cũng cảm xúc.

Một em bé chừng ba tuổi, trong tay một thiếu phụ đứng bên đường, vỗ tay, lặp đi lặp lại một câu... hoan hô bộ đội... hoan hô bộ đội...

Câu nói của em bé nhắc đi nhắc lại cho đến khi đoàn quân đi hết, gieo một cảm xúc sâu xa vào tâm hồn họ.

Qua đèo Voi.

Một làng nhỏ bên bờ sông Thương, cách vị trí địch ba cây số mà vẫn sống đời tự do.

Tự do nghĩa là không có hội tề chứ không phải tự do sống một cách đường hoàng không nơm nớp sợ.

Bờ sông lầy lội, thuyền tập trung gần một trăm chiếc nhưng toàn thuyền bé và lái thuyền phần lớn là người bên kia sông, trong vùng địch.

Không đủ thuyền đi, 148 và 156 đi trước.

Trên đường về, ánh trăng đục mờ mờ, vừa đi vừa ngủ gật suốt đường bờ sông, mấy lần suýt rơi xuống nước.

Gần 3 giờ sáng mới tới Ấm Thượng.

Sáng đi ra phố chơi, ăn phở lợn, bánh đậu xanh.

Có cảm tưởng đây là bát phở cuối cùng của thu đông 1948.

Trên cánh đồng, mấy người con gái gặt lúa.

Trông làng mạc, thấy yêu yêu, nhớ nhớ.

Cuộc hành quân vượt qua phòng tuyến địch.

Chiều qua rời Ấm Thượng lúc 5 giờ, đoàn quân lại kéo qua phố Rào theo bờ sông máng.

Hai bên đường, trên những ruộng lúa chín vàng, mấy người thợ gặt trai đương nhìn chúng mình.

Chiều đẹp quá.

Êm ả như bất cứ chiều thu nào khác ở thôn quê.

Xa xa, bên kia sông, cứ điểm của Pháp hiện thành một khối vuông trắng xóa giữa các đỉnh đồi trọc.

Người dân, những ruộng lúa vàng, cứ điểm địch và người Vệ quốc quân, những hình ảnh hiện ra cùng một lúc bao hàm bao nhiêu ý nghĩa.

Nước sông Thương không biết có "đôi dòng" không?

Đi thuyền cũng thú, nhớ lại quê nhà.

Nhưng đây là một đoàn thuyền đặc biệt đông trên một trăm chiếc rầm rập đổ xuôi dòng.

Qua Đá Cóc tới Đá Bạc.

Vài nhà con con ven đường.

Đây là địch hậu, cái vùng mà mình tưởng tượng xa xăm huyền bí, cái vùng "bên kia phòng tuyến địch".

Sự thật chẳng có gì lạ cả.

Đây cũng cách Bến Tắm chừng hai cây số."

"28.9.

Mưa dầm đúng cái điệu mưa tháng chín ở trong mình.

Trên sân ướt, mấy chiếc lá xanh bị ném xuống, nằm bẹp dí, trông bẩn thỉu quá.

Vài con gà ướt đi co ro quanh mái hiên.

Giọt nước cứ đều, rả rích.

Từng cơn gió thốc vào nhà, hắt những hạt mưa vào ướt thềm nền nhà đã sũng nước.

Gió lay những cành cây ở bờ rào.

Tưởng tượng hồi mình còn ở nhà cũ, nhìn ra phía Giảng Hòa để trông chừng dòng sông mỗi ngày một lên to.

Nếu như trong mình thì mưa gió này là sắp lụt rồi.

Cảnh làm mình nhớ nhà, nhớ các em, nhớ những cảnh cô đơn mùa đông nào mình trọ học ở Bảo An.

Buồn..."

"6.10.

Hai tiểu đoàn Lũng Vài và Bình Ca tập trung nghe ban chỉ huy mặt trận 2 huấn thị.

Ông B nói kém quá, ông Q sợ anh em đứng lâu, nắng, nói rất ít.

Tác dụng động viên không do lời nói của ban chỉ huy mà do ở sự đông đúc gây nên.

Họ thấy họ đông, họ hùng tráng."

"9.10.

Trận An Châu

Từ sông Lục Ngạn tới đồn An Châu độ 9 giờ tối, một đoàn xe địch 12 chiếc từ An Châu đi về phía Đồng Chu.

Bắt đầu xuất phát từ bờ sông vào đồn.

Qua nhiều đồng ruộng khó đi, mà trên đầu đi nhanh quá.

Vì anh Dũng sợ trễ giờ.

Tôi đi vào giữa trung đội 4 và 3 mà thấy ở sau cứ đứt liên lạc.

Mãi sau mới bắt được liên lạc lên hết thì đã đến làng Ngùm, nghĩa là chỉ còn cách đồn 200 thước.

Trong làng có đèn sáng.

Trong đồn có tiếng chó cắn.

Bộ đội ngồi bên mé ao, hơi hồi hộp vì sợ lộ.

...

Lửa An Châu đã tàn.

Sương mù xuống dày đặc.

Tôi và Nguộc dìu Thanh đi qua rừng.

Từ An Châu đưa lại những tiếng khóc, tiếng đóng cọc ký cách.

Lần theo một con đường mòn gặp một nhà Tàu, hỏi đường.

Hai người con gái Tàu có vẻ thương hại Vệ quốc quân, dẫn chúng tôi lội qua sông Răng về Trại Lái.

Từ đấy chúng tôi có thể tìm về đường cũ.

Tôi nghĩ đến đại đội Ngọc Sơn và nhớ là trong trận đánh đã không gặp Pháp ở đâu cả.

Một ý nghĩa thoáng nếu bây giờ được tin Pháp chết thì sao?

Tôi đoán có lẽ đúng và nhất định tin như thế, không hiểu sao.

Sau khi về qua Khe Đào, qua chỗ đại đội Ngọc Sơn đóng, Dũng gọi tôi lại, báo tin Pháp chết.

Tự nhiên, tôi chỉ hỏi Dũng: Thế à?

Rồi dửng dưng như mình đã biết tin rồi.

Tôi vội vàng đi qua chỗ ấy, lên đến đỉnh đồi, ý nghĩa Pháp chết mới thấm vào tâm tư tôi.

Thôi hết rồi, Pháp ơi!

Pháp ơi!

Tôi đau đớn quá.

Tôi muốn gặp ngay một người nào để tôi gào lên."

"11.10.

Nghĩ lại cái chết của Pháp Pháp gặp tôi lần cuối cùng, tối hôm ấy trên bờ sông Lục Ngạn, đội mũ rộng vành, áo xanh, quần đen, áo trấn thủ, nịt bụng, đi giày đinh.

Trong bóng tối trông Pháp cao lớn, hùng dũng quá.

Theo lời Dũng kể thì Pháp đã bị thương nhẹ vào đùi khi đã vào được trong cứ điểm.

Nhưng nằm cạnh Dũng, Pháp không chịu rút.

Đến khi có kèn lệnh rút, Pháp mới ra gọi một liên lạc viên theo.

Chạy qua làng Ngùm, một quả moochiê nổ trên ngọn cây duối khi Pháp vừa đến gốc cây.

Mấy tiếng kêu hét lên, Pháp ngã sóng xoài, sấp mặt xuống đất và tắt thở ngay.

Thế là hết đời Pháp, người thanh niên hăng hái, tài ba, người bạn thân thiết nhất đời của tôi ở Bắc, Pháp đã gửi xác ở An Châu trong trận đánh cứ điểm đầu tiên của đời Pháp.

Từ ngày ở Vinh Phú, được biết là hai tiểu đoàn sẽ tác chiến cùng một chiến trường, tôi và Pháp đã từng bảo nhau: sẽ cùng được đánh chung một trận và có khi sẽ chết chung một trận.

Nhớ lại ngày Pháp đưa tôi về thăm nhà, chị dâu của Pháp đã nói: "Nếu Tết các anh có về thì về cả hai, nếu về một thì thôi đừng về"."

"14.10.

Nhớ thương Pháp quá, Pháp ơi!

Chiều hôm nay cho người sang Ngọc Sơn lấy những vật kỷ niệm của Pháp về.

Một quyển tài liệu lục quân, một sổ tay ghi công tác và sổ tay Pháp đóng từ ngày ra Bắc, có một đoạn nhật ký, mấy tài liệu thường và một tập kịch thơ.

Xem lại kịch Hận Nam quan của Pháp, nhớ tới cái mộng của Phú và Pháp là khi về quê sẽ diễn kịch ấy trong một đêm liên hoan của Vườn Đào và sẽ cùng nhau kể lại cuộc đời kháng chiến của mình ở Bắc."

"20.11 Đến Bản Quyên, làng ranh giới của khu Chi Lăng.

Trên những đỉnh đồi cao, tự vệ canh gác, có hầm súng cẩn thận.

Lội qua ngọn sông Kỳ Cùng vào làng.

Làng có vẻ giàu có, rau cỏ nhiều.

Trẻ con xúm đến xem bộ đội và súng.

Tây mới vào đây một lần, bị đánh rồi rút.

Chiều đi Bản Che, căn cứ cách Bản Quyên 5 cây số.

Qua làng Nà Hó đã thấy cả một cảnh thái bình: những nhà ngói gọn gàng, sạch sẽ, trên sàn sắn phơi trắng xóa.

Gà gáy, lợn, bò...

Trẻ con cười đùa, một bà cụ già gọi gà.

Một cụ khác gánh nước.

Quần áo tươm tất.

Lần đầu tiên từ ngày rời Mai Siu mình được gặp một làng thái bình và trù phú đến thế."

"23.11.

Tôi không có một tình yêu bạn đặc biệt thật.

Xương ơi!

Có nhớ Phú không?

Không bao giờ quên được những ngày sống gần nhau ở Thu Bồn, không bao giờ quên được buổi chiều lộng gió trên cánh đồng Kha chúng ta chia tay nhau ngồi tâm sự trên cành chiêm chiêm.

Trời ơi!

Nếu sau này trở về, nếu chúng ta thấy nhau ở hai con đường khác nhau thì sao?

Chúng ta có hiểu nhầm nhau như chị Hà đã hiểu nhầm chúng ta ngày ấy?

Và còn Thạnh nữa, Thạnh có như Pháp không?

Hiền, Hiện, Đồ, Cố làm gì?

Đi đâu?

Làng Mũm.

Cũng con đường số 1 này, cách đây hơn một nghìn cây số, quãng ấy mình đã qua lại nhiều bận và ở một cây số nào đấy, nếu người ta rẽ về phía dãy Trường Sơn, thì người ta sẽ đi thẳng tới nhà tôi."
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
42. Ông Ấm


Ông Ấm!

Ông Ấm, chúng mày ơi!

Rồi cả lũ kéo nhau chạy, như đuổi theo ông hai Tây làm xiếc, như ra xem cô đồng Bãi mặt đỏ phừng, xiền lình hai mép.

Đằng này, ông Ấm trông lạ mắt vì ông thấp hủn hoẳn, mặt choắt hai ngón tay chéo, lại để bộ ria vểnh.

Đi đằng sau trông thấy đuôi ria đen nhánh dài quá ra ngoài má, như ria chuột.

Người ông "một mẩu", nhưng ông Ấm bước vung tay, lấy điệu trịnh trọng, trường khoát, khuỳnh tay ngai như trong buổi tế đương bước tiến tước ngoài đình.

Mặt nghênh nhìn người hai bên, ra vẻ ta đây, trông càng buồn cười.

Đằng sau ông Ấm bước lủi thủi một người đàn bà, khăn vuông tùm hụp, váy chồi nhuộm vỏ dà - dáng khác lạ người vùng tôi.

Tên ông ấy không phải là Ấm.

Mà đấy là cái "chức", gọi lên thì ai cũng hiểu đấy là người gần gũi nhà quan.

Người nhà quan làm nên hoặc đỗ đạt, được gọi là ông tú, ông cử, ông thông, ông tham, quan huyện, quan thương, quan thượng.

Cũng con cháu nhà quan, nhưng đi thi trượt, không làm nghề ngỗng gì, không có học, được gọi là cậu Ấm rồi đến già gọi là ông Ấm, cụ Ấm.

Trong họ, nhiều nhà giàu, nhà quan cách nhưng cũng có chi họ nghèo, nhà nghèo, người nghèo.

Cái ông Ấm này, là ông Ấm như thế.

Bên nội tôi có họ với bà Ấm.

Cũng xa lắc, từ đời tám hoánh.

Chúng tôi chẳng tưởng ông ấy họ Lê hay họ Nguyễn.

Chỉ đoán chắc họ nhà ông Ấm phải lắm người làm quan.

Nhưng ông Ấm thì nghèo, đích xác là nghèo, nghèo xác nghèo xơ.

Nhà ông Ấm dưới ô Cầu Dền.

Chỉ có một gian trong sân sâu, tối ẩm ướt như hũ nút.

Thỉnh thoảng, tôi được u tôi cho xuống nhà ông chơi.

Dù sao, cũng là đến nhà họ hàng ở Kẻ Chợ.

Được ăn phở.

Bà Ấm đặt cái liễn con đậy vung, xách quang đi mua bát phở một xu rưỡi nhiều nước.

Một xu phở không, thêm nửa xu, được phở thịt.

Bà Ấm đổ cơm nguội trộn vào liễn phở.

Rồi xẻ ra mấy bát chiết yêu.

Thằng con bà Ấm và tôi, cả ông bà, cả u tôi cùng chén một liễn chia thành năm sáu bát phở cơm nguội như thế.

Mới đầu tôi không thể ngỡ nhà ông Ấm lại khốn khó.

Cả ông bà lúc nào cũng ăn mặc oách lắm.

Bà Ấm chững chạc cái áo đoạn thâm, lót sa-tanh cánh chả, giày mõm nhái.

Khăn len tua nâu quấn rườm rà quanh cổ.

Ông Ấm càng chỉnh tề hơn.

Đôi giày ban đánh xì đạt đen nhánh.

Quần là ống sớ thẳng tắp.

Đến lúc nghe ông ngoại tôi bình phẩm:

- Chẳng ra cái gì đâu, toàn là lộn kiếp người ta thải đấy mà.

Nón dứa cụt mẹ nó cả cái núm chóp bạc kia kìa.

Tôi mới ngớ ra.

Mọi khi, trông chiếc nón dứa bóng nhoáng, đã choáng mắt.

Nhìn kỹ, quả là cái nón đã bị tháo mất chóp.

Tun hút một lỗ xuống đỉnh đầu, thò ngón tay vào ngoáy được.

Mép nón đã sờn, rủ tua mành mành.

Nhưng khi vào nhà, ông Ấm gác nón cẩn thận lên cái dây mây dưới giọt gianh.

Rồi cứ mỗi lần lại tìm thêm ra những xấu xí trong cái choáng lộn ở người ông Ấm.

Những vòng tròn hoa chữ triện to như cái trôn bát trên tấm áo gấm trần.

Nhưng ở cuối vạt gần gấu chỉ còn phảng phất màu tím.

Các hoa trên thân áo là những vết tròn mờ mờ.

Hai bên bả vai.

Mồ hôi muối đã ăn ra thành màu xỉn gỉ sắt.

Có đứa reo to:

- Chúng mày ơi, quần ông Ấm có lỗ dán giấy.

Quả nhiên, ống quần ông chỗ thủng đút lọt đồng xu đã dán bịt miếng giấy trắng.

Ông Ấm hét:

- Xà!

Láo nào!

Lũ trẻ đứng cả lại ngoài cổng.

Tôi đã biết lệ mọi khi.

Tôi cúi xuống gầm phản, lấy cái thau ra chum múc nước mưa.

Tôi khệ nệ bưng đặt thau nước lên đầu hè.

Rồi đem đến một đôi guốc mộc, để bên cạnh.

Thấy thế, ông Ấm vuốt ria cười khành khạch, vui hẳn, khác lúc ông vừa nhăn nhó quát.

Ông móc cái ví dạ cá da rắn ráo giắt ở cạp quần, thưởng cho tôi đồng chinh Khải Định nửa xu.

Lúc ông bà tôi ra chào mời ông Ấm vào nhà, ông Ấm nói khẽ với bà tôi:

- Bà lùa con cái Hai nó vào bếp cho tôi.

"Con cái Hai" vẫn đứng ngoài cổng.

Bà tôi ra cổng, chen vào đám người trong xóm đã xúm xít đến.

Rồi ông Ấm tụt đôi giày ban ra.

Ông Ấm xỏ tạm đôi guốc mộc.

Ông Ấm vỗ nước mấy cái lên mặt rồi lau mặt bằng vạt áo cánh trong.

Ông Ấm cầm từng chiếc giày, giơ lên, té nước.

Ông cọ mũi, má giày, miết ngón tay quanh đế, lại lau cả dưới gót.

Ông Ấm rửa giày thong thả, kĩ lưỡng.

Đôi giày ban cũng chẳng thấy bùn bẩn.

Ông rửa chỉ vì đã quen rửa thế.

Đôi giầy ướt thượt, bạc thếch như đôi guốc tre.

Rồi ông dựng nghiêng từng chiếc giày lên cạnh bậc của.

Xong đâu đấy mới vào ngồi uống nước trong ghế tràng kỷ với ông tôi.

Ông Ấm nói như cắt nghĩa cái việc cẩn thận rửa giày vừa rồi:

- Ấy, nhà quan cách người ta, cái xó luôn cũng sạch không một hạt bụi, mà nghĩ cho cùng nhẽ, các thứ trên người, bẩn nhất là cái thằng giày, suốt ngày xéo đất, phải thế không nào?

Ông Ấm cười, hai tay vuốt xoắn làn ria mép.

Mỗi lần lên nhà ông bà tôi buổi chiều, thế nào ông Ấm cũng ở lại.

Hôm sau, khi đã đội nón cẩn thận, ông lấy trong ví ra một hào, có khi hai đồng kền năm xu, đã phong bao vào mảnh giấy điều, đưa cho bà tôi, và nói:

- Lấy may, lấy may nhé.

Ông cũng chỉ uống rượu ngữ, chưa đến nửa cút con hươu, mặt đã đỏ lựng.

Nhắm có miếng đậu nướng chấm muối.

Nhưng chuyện thì rôm rả toàn của ngon vật lạ từ trên rừng dưới bể những nhà ai nhà ai.

Cỗ bàn la liệt ăn uống từ nhà ông thông phố Hàng Quạt lên ông phủ Quốc trên Sơn, ông phủ Lâm ở Hưng Hóa.

Đến khuya chưa dứt chuyện.

Ngoài ngõ, chốc trẻ con lại reo à lên.

Chị Hai vẫn ngồi nép trong xó cổng.

Cái khăn nâu mỏ quạ chụp kín cả đầu, cả mặt.

Đứa nào xúm lại gần, chị ấy lại giơ tay ra quào.

Bàn tay khum lại như chân mèo.

Không biết có phải chị Hai dọa dứ hay còn nghe tiếng chửi lẩm bẩm, rì rầm.

Thế là trẻ con lại kêu ré lên.

Chị Hai lù lù theo bà tôi vào.

Ông Ấm đương ngồi, quay ra, nói to:

- Bà cứ để nó ngoài ấy.

Mặc xác nó!

Ông Ấm quên vừa bảo bà tôi lùa chị ấy vào bếp.

Bà tôi cứ lẳng lặng.

Ông Ấm thôi không nói nữa.

Xóm giềng cũng đã quen thấy, đôi khi đến nhà tôi, ông Ấm đem người theo.

Ông Ấm đi đưa người, chuyên làm mối người hầu hạ các nhà quan họ hàng ông.

Đấy cũng là một việc kiếm ăn của ông Ấm, bà Ấm.

Chị Hai vào ngồi dúi cạnh bếp.

Chẳng ai thóc mách, mà khắp xóm đã biết sự tình chị ấy ra sao.

Mỗi khi tôi nhớ lại chuyện này, cứ vẩn vơ như nghe chuyện đứa trẻ lạc, đứa trẻ bị mẹ mìn dỗ đi.

Không bao giờ thấy nữa, mà bao giờ cũng ngỡ sắp thấy.

Người nghe chuyện cũng chung nỗi đau người mẹ phải chịu nhớ thương vật vã cả đời.

Năm trước, ông Ấm đã đưa chị Hai đến ở nhà quan án trên phủ Lạng.

Không phải chị Hai vào làm kẻ ăn người ở nhà này như những cô nụ, cô nhài khác.

Cũng không phải chị đi ẵm em, ở vú.

Nguyên vì, ông án phủ Lạng có đến mấy phòng mà chỉ sinh một đống con gái.

Bà án không ưng cho ông lấy vợ lẽ hẳn hoi nữa.

Bà nói nuôi những đứa lẽ mọn chỉ tốn cơm tốn của, mà "chúng nó cãi nhau điếc tai".

Nhưng bà bằng lòng thu xếp cho người vào cửa nhà bà ít lâu, ăn ở với ông cốt lấy con.

Thế rồi chị Hai có mang.

Ai cũng biết.

Thầy đề, quan huyện tư pháp, nho lại, nhà ông trạm tráng, ông ký rượu ngoài phố, cả đến quan Tây giám binh trên đồn cũng biết chị Hai ở nhà quan án đã có mang.

Chỉ những người ác khẩu thì thào, không ra tiếng mà như ai cũng nghe biết, rằng "Chẳng biết con mẹ ấy chửa với thằng tài xế, thằng cai vườn, thằng đội lệ hay là cả ba thằng cùng trèo lên bụng nó mà chóng thế, chứ cái lão mắt trắng môi thâm, nghiện oặt xà lai ấy thì ăn thua gì".

Rồi một ngày kia ông Ấm được tin quan nhắn lên phủ Lạng.

Ông Ấm hí hửng tưởng được gọi lên thưởng công vì chị Hai đã đẻ con trai.

Không ngờ bà án sai ông Ấm đem chị Hai trả về quê dưới Thái Bình.

Đã mượn vú em có sữa tốt rồi, người ta đuổi mẹ đi cho mất hơi hướng.

Ông Ấm dắt chị Hai ra tàu từ lúc gà gáy.

Phố xá chưa nhà nào mở cửa.

Nhiều người lúc nãy đứng xem ngoài ngõ lúc ấy đã vào cả cửa nhà dưới.

Tiếng trẻ con bảo: Cười đi!

Cười đi!

Tiếng cười của chị Hai khanh khách rợn lên, tiếng cười của người hóa dại.

Hàng xóm cứ chạy qua chạy lại túm tụm trước của.

Bà tôi lên bảo:

- Cái Hai nó đi đâu rồi...

Từ nãy chị Hai nằm đắp chiếu ở xó bếp.

Chị vừa trở dậy, bước ra.

Tưởng chị ra ngoài sân.

Nhưng mãi không thấy vào.

Ông Ấm đã ngà ngà rượu.

Ông phảy tay:

- Mặc xác nó!

- Ông ạ, hay là người ta uất quá người ta dại dột đâm liều.

Xóm này cũng lắm ao chuôm...

Ông Ấm lại gắt:

- Đã bảo thây kệ nó mà.

Tội vạ đâu Ấm mỗ này chịu cả.

Nhưng bà tôi không thể bằng chân như vại.

Bà tôi quanh ra gốc đa, gốc gạo, gốc nhãn rồi mò mẫm xuống bờ sông lại ra ngoài ao đền.

Chẳng thấy tăm hơi.

Một lúc thật lâu, tư dưng chị Hai ở đâu lù lù về.

Cả đêm, văng vẳng tiếng khóc.

Chị Hai khóc tức sữa.

Hay chị Hai khóc nhớ con.

Có lúc thấy bóng người như cái gốc chuối ngay đầu giọt gianh.

Chị ra đứng đấy.

Sáng sớm, ông Ấm đã đội nón chóp, cắp đôi giày ban vào nách, ra đi.

Chị Hai lùi lũi theo sau.

Người trong xóm, ai cũng nói, cái nhà chị Hai này đến phát rồ mất rồi.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
43. Ghi lại


Chuyện này, anh Lê Quang Đạo kể cho tôi nghe, chị Tạc ở một cơ sở giao thông bí mật là người làng tôi.

Mật thám Pháp đương ráo riết lùng bắt B - một cán bộ chủ chốt của Thành ủy.

Mấy nơi đến được đã bị địch chăng bẫy không thể trở lại.

Thế là B có công tác khẩn, phải đi qua thành phố.

Tạc được nhiệm vụ đón rồi đưa B đến một trạm liên lạc phía tây.

Vùng tôi chuyên nghề tơ cửi.

Các chị quanh năm quay tơ dệt cửi trong nhà.

Đôi mắt lư đừ, cổ tay trắng ngần.

Thuộc đến lắm thơ Nguyễn Bính.

Tháng chạp cho cải hoa vàng...

Em ơi, em ở lại nhà...

Khi cách mạng đến, các chị đã tham gia ráo riết.

Như nhiều cô gái khác trong làng, Tạc đi giao thông, đem báo Cứu Quốc, báo Cờ Giải Phóng, tạp chí Cộng sản đến các cơ sở.

Có khi bán tín phiếu Việt Minh.

Có khi gánh cả thuốc súng sang bên kia sông.

Chuyến nào cũng làm được, Tạc đi chót lọt êm như không.

Trước ga Hàng Cỏ.

Chặp tối.

Chuyến tàu Nam vừa lên, người chen lấn đông nghịt.

Phố Hàng Lọng đã lên đèn nhấp nhem lẫn lộn với bóng tối xám ngắt trùm xuống đám người nhớp nháp trên lòng đường.

Chỗ chạy đùng đùng, chỗ ùn lại.

Hớt hải, nháo nhác chặp tối thành phố lên đèn.

Tàu Bắc lại đã sang, rầm rầm qua cầu vào ga.

Hơn tám giờ rồi.

Nhưng vẫn chưa nhận được ra người phải đón, mà đến quá mười hai giờ mới có chuyến tàu chợ Phủ Lạng Thương về.

Không biết làm thế nào, Tạc vẫn phải đợi.

Đêm hôm, con gái một mình thơ thẩn cửa ga, bất trắc không lường được.

Tạc chít khăn vuông kín đáo, xách quang gánh như người tan buổi chợ.

Nhưng tấm áo nâu non đồng lầm, cái dáng đương thì của lứa tuổi, không thể bí mật giấu đâu được.

Mà cuộc sống ban đêm của thành phố không phải chỗ đi đứng cho cô gái con nhà làm ăn.

Xó xỉnh nào cũng sẵn bọn chơi bời đi săn "bò lạc", bọn trộm cắp dụ dỗ lừa người nhỡ tàu xe, bọn "đội con gái" [1] giả và thực đi hỏi giấy gái điếm, cốt để làm tiền.

[1] Đội con gái: Đội xếp đàn ông đi xét giấy hành nghề bán dâm của gái điếm.

Một lúc, Tạc thấy một người đi từ đầu Hàng Lọng xuống.

Người ấy đã nhận ra Tạc và bước tới.

Đúng các ám hiệu đã được dặn trước.

Chỉ khác, không phải ở cửa ga ra.

Tạc đã quen nhận đón đưa cán bộ, Tạc có cảm tưởng là đúng.

Nhưng không khỏi ngỡ ngàng vì chị không tưởng tượng trước ra được cán bộ B là một người trai trẻ, vóc bé nhỏ, mặc áo the dài, giày ba- ta trắng, đội mũ cát trắng - như người làm công hiệu buôn, tan tầm làm đêm về.

Đã hết nỗi lo đứng bơ vơ cửa ga.

Nhưng lại có cái phải nghĩ khác.

Nơi mà Tạc phải đưa cán bộ B tới tận trên Tứ Tổng.

Các làng dọc sông Bồng Lai, Bá Giang rồi Sù, Gạ xuống, ban ngày lúc nào cũng qua lại đông người.

Đường ô tô bến Chèm ngày mấy chuyến.

Nhưng đêm hôm bây giờ thì vắng ngắt, chỉ còn có cướp đường.

Đi bộ nửa đêm từ đây lên Tứ Tổng không thể được.

B bảo:

- Ta tìm nhà trọ nào quanh đây, rồi mai đi sớm.

Tôi có đủ giấy tờ, không lo.

B lại nói, giọng tự nhiên:

- Nếu bị hỏi, ta nhận là vợ chồng ở quê ra sắm sửa.

Quê ở gần chùa Hương, làng Đốc Tín.

Thế, đồng chí ạ.

Tình thế ấy chỉ còn làm thế nào biến báo, được việc, không thể nghĩ khác.

Một mặt phố Hàng Lọng trông sang nhà ga đủ hạng các hàng cơm, chứa trọ.

Khách sạn ga, săm Đồng Lợi ba bốn tầng, có buồng, màn tuyn, giường Hồng Kông.

Quãng giữa sang đầu phố Sinh Từ, liền nhau các nhà săm Vạn Lợi, Hòa Lợi rẻ tiền hơn.

Đằng gần Cửa Nam, hai bên cạnh đường tàu chắn, các túp nhà lá chứa trọ như cái lều tựa vào nhau.

Bên ngoài, các quán cơm đầu ghế.

Gian trong, khách xếp đồ đạc, nằm ngồi lăn lóc đợi tàu.

Không thể ngủ ngồi hàng cơm trơ mặt ra ở đấy cho đội xếp, mật thám qua lại nhòm ngó.

Cũng không dám chung chạ với người chen chúc ở dãy phản ọp ẹp.

Hai người vào hỏi thuê cái buồng trên gác một nhà săm giữa phố cửa ga.

Nhà chứa trọ, chủ săm coi như vợ chồng đi nhỡ độ đường.

Đêm nào ngày nào chẳng có những người cơm ngang khách tạm như vậy.

Căn buồng kín đáo.

Đôi trai gái lạ.

Một đêm, không quen biết, chưa biết nhau bao giờ.

Cũng không tiện trò chuyện.

Mà trò chuyện gì.

Công tác phải giữ bí mật.

Về sau, B kể lại:

- Chị ấy nằm đắp chiếu trên giường.

Mình nằm dưới sàn nhà, cứ nguyên cả áo dài.

B cười:

- Không ngủ được!

Rồi lại nói:

- Có lẽ chị ấy cũng thế.

Nghe tiếng chiếu sột soạt cả đêm.

Mà không dám trở dậy.

Cũng không dám để đèn.

Sợ buồng có khe nhòm được, người ta thấy cảnh nằm trên giường dưới sàn khác thường thì có thể lôi thôi.

Cuối cùng, một đêm cũng qua êm thấm.

Bảnh mắt, B và Tạc đã xuống đường cái, ra khỏi nhà trọ.

Một lão râu cá trê, mặc áo tây vàng, đeo kính râm, xăm xăm tới chặn trước mặt.

- Ê!

Lão sừng sộ:

- Tao là đội con gái đây.

Để yên cho anh chị khoái tỉ cả đêm đấy nhé.

Giấy đâu?

B đưa thẻ thân ra.

Lão "đội con gái" cười khẩy:

- Khéo vờ!

Tớ không cần cái thẻ thân của đằng ấy.

Tớ hỏi giấy đi nghề nhà thổ của con "bò lạc" này.

Nhà lục xì khám gái đĩ lậu ngay chỗ cạnh cửa tòa án kia thôi.

A lê, mau lên.

May quá, chị Tạc còn được một đồng bạc trong người.

Dúi vào tay lão, lão cầm tờ giấy bạc, còn vờ làm mặt hầm hầm, nhưng rồi đi thẳng.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
44. Hội Tây


Quốc khánh nước Cộng hòa Pháp hàng năm vào ngày 14 tháng 7.

Người ở phố cũng như ở làng quen gọi là hội cát tó[1], hội Tây.

Mà hội Tây thật chứ không phải hội ta, không giống hội ta.

Chẳng nhà nào cỗ bàn, thắp hương, như mọi ngày hội, ngày tết trong làng xóm, ở phố xá.

Chẳng nhà nào rượu chè, ăn uống.

Cả những nhà có máu mặt cũng im lìm.

Người ta chỉ kéo ra phố xem mọi trò vè lạ mắt, mà hội làng không có.

[1] Cát tó (tiếng Pháp): mười bốn.

Nhà ông cai Mấu, ngày trước ông cai đã đi lính sang Tây.

Chẳng biết ông đã đóng chức cai chưa "Ba năm đi lính trở về.

Súng trả nhà nước, ắc ê hãy còn", ai đi lính về cũng cứ được gọi là ông cai, ông ách, bét ra cũng là ông binh, ông quyền, ông bếp.

Làng nước rõ khéo đặt nịnh chức tước.

Nhà ông cai Mấu có cái ao dài.

Mỗi năm đến ngày hội Tây, ông cai mở trò chơi bắt vịt ở ao nhà ông.

Lặn đuổi vịt, và phải tóm được chân vịt từ dưới nước.

Có cả chục trai làng hụp xuống ao.

Loạn xạ suốt.

Năm nay lại thêm trò mới.

Ông cai Mấu cầm cái cần câu đứng đầu cầu ao.

Dây câu buộc chiếc mũ thổ công giấy vàng chóe.

Người lặn xuống, thình lình nhô lên, đội trúng vào mũ, thế là có thưởng đồng "săng căng" kền năm xu.

Ông cai Mấu làm hội Tây ở nhà ông.

Người xem cười đến tận chập tối.

Nhưng chẳng ai lặn bắt được vịt và nhô lên trúng cái mũ thổ công.

Tối rồi, ông cai sai anh Mấu bơi ra đuổi con vịt lên.

Con vịt lặn hụp chạy người cả buổi, đầu ngấm nước tét lại bằng đầu con le.

Và cái mũ thổ công treo đầu cần câu đã ướt tuột hết giấy, chỉ còn trơ nan.

Năm nào chúng tôi cũng ra ao dài xem hội Tây nhà ông cai Mấu.

Chưa bao giờ thấy ông cai mất một con vịt hay đồng năm xu tiền thưởng.

Nhưng người lặn bắt vịt và người xem vẫn đông.

Rồi kéo lên chợ.

Các đám leo cột mỡ, liếm chảo, đập nồi, bịt mắt bắt dê, chạy bị.

Những trò ấy quan đồn Tây bày ra.

Toàn trò chơi cù người ta cười.

Ngoài phố, các chợ, các ngã tư, đâu cũng những trò vui như thế.

Trước cửa tòa Đốc Lý có điểm binh.

Buổi tối, nhà binh rước đèn từ trong thành ra đi vòng Bờ Hồ.

14 tháng bảy, quốc khánh nước Pháp.

Nguyễn Công Hoan cũng đã kể một lần có đám rước đèn một ông đã tinh nghịch ném gạch vào.

Nhưng trong quyển Xứ Bắc Kỳ ngày trước của Cờ-lốt Bua-ranh, một người Pháp đã đem một gánh kịch nói bên Tây sang diễn kiếm ăn ở Đông Dương, có tả một ngày điểm binh hội Tây kỳ quái như sau:

"Ngày 14 tháng 7 năm 1890 được đánh dấu bằng một cuộc diễu binh có quân kỵ mã tham gia.

Các đoàn quân hùng dũng đi.

Cuối cùng, tới một đám quan trọng, đội nhạc binh kèn đồng bóng nhoáng dàn đều đằng trước đại đội lính ngự lâm oai vệ, áo choàng đỏ, ủng cao ngang đầu gối, gươm dài chấm khoeo.

Đoàn quân bước vuông như bàn cờ.

Rồi đến những cỗ xe bốn ngựa kéo.

Trong xe có quan năm, quan sáu võ, có cả ông bảy toàn quyền Đông Dương.

Các quan ngồi, mặt nhìn thẳng cứng.

Những cánh tay và cầu vai lon vàng, lon đỏ rực rỡ.

Chặp tối, có đoàn người cầm đèn lồng, đèn xếp, lại cả đuốc trong thành bước ra.

Bây giờ mới tới chỗ vui hơn cả.

Vui nhất khi một tiểu đoàn trá hình diễu qua.

Đấy là mấy trăm người lính tập An Nam mặc giả làm đàn bà da đen nước Đa-hô-mây bên châu Phi.

Để làm giả người phụ nữ Đa-hô-mây, các ông cai đã lột trần từng người lính An Nam ra, lấy cồn trộn bồ hóng trát đen nhóng nhánh khắp người, cả chân tay mặt mũi.

Môi thì bôi đỏ.

Hai mí mắt phiết kem trắng.

Mắt cứ nhấp nháy đen trắng như ánh chớp trong cơn mưa.

Mớ tóc giả quăn queo buông xuống đến lưng, bụng thì độn phồng một túi mạt cưa, phủ chiếc tạp dề vải xanh, trên cái váy xòe vẽ hình một mảnh mặt trăng khuyết như cái miệng ngậm đầu ngón tay.

Ở ngực mỗi người buộc hai chiếc bong bóng lợn nhuộm đen thành hai cái vú giả thỗn thễn, chỏm vú chấm phẩm đỏ hây, mỗi bước đi lại bần bật nảy lên.

Đầu mỗi người chụp một cái mũ chỏm loe cắm chiếc lông đuôi công dài hơn một thước.

Thế là đã đầy đủ thành một ả da đen Đa-hô-mây chính cống.

Mấy trăm người lính tập An Nam đã biến ra những cô gái Đa-hô-mây đen bóng, hai cái vú bong bóng lợn cỡn lên, trăm người, trăm người đi đều bước giống nhau như đúc, mà đi rất nghiêm.

Qua đến đâu, hai bên đường rầm rầm nổi lên những tràng vỗ tay và những cơn cười lăn ra".

Tôi cũng đã nhiều lần đi xem điểm binh, nhớ nhất một năm bị đội xếp đánh dẹp chỗ.

Phải đi từ gà gáy.

Họa may mới tranh được chỗ đứng.

Chỗ hay nhất là quãng trước cửa nhà Đốc Lý nhìn sang Bờ Hồ.

Đứng đấy, trông rõ các quan tây quan ta ngồi ghế chéo sơn xanh trên bục gỗ.

Lại được xem các đoàn lính, đoàn ngựa, các cỗ xe song mã, tứ mã.

Diễu binh đến đấy, làm thế nào mà ngựa không hí, không đá nhau, không ỉa đái gì sất và ai cũng chào trợn mắt vênh nghiêng cằm oai nghi qua trước mặt các quan khách.

Chúng tôi chọn được một chỗ đứng dưới bóng cây.

Chúng tôi đến từ lúc tờ mờ đất, người đi xem còn loáng thoáng, mặt hồ bốc sương mù mịt.

Rồi trời sáng dần, người đông, rồi đông ngột lên.

Chen ních vòng trong vòng ngoài, nhưng tôi vẫn bám được mép hè, mặc dầu bị đẩy lui đẩy lên túi bụi.

Ngoài đường, đội xếp đã tới dàn ra hai bên.

Đoàn diễu binh sắp đến, sắp đến rồi.

Hai bên đường càng nhộn nhạo khúc rồng rắn quẫy lên.

Lớp ngoài cùng đẩy vào, ở trong tràn xuống.

Thế là bọn đội xếp vành ngoài quay lại.

Chiếc dùi cui cao su trắng quật đôm đốp như mưa xuống đám người đương đun đẩy nhau.

Những người đằng trước bỗng lùi tùn tụt lại.

Nhanh đến nỗi có người ngã ngửa.

Một bọn đội xếp khác đã nhảy vào quật dùi cui xuống phía trong.

Thế là người đứng ngoài cứ giãn ra.

Tôi đứng trong.

Bốp, bốp, hai ba bốn phát dùi cui bỗng nhiên choảng xuống vai.

Tôi ngã ngồi thụp.

Những đứa đi cùng kéo tôi ra cho xung quanh khỏi dẫm lên.

Tôi ngã xuống trên cái vệ rễ cây đa xù xì.

Ngã xuống thì tỉnh ngay cơn choáng thôi.

Cũng chẳng đứa nào biết mà để ý.

Từ sáng chưa có cái lót bụng, nên lảo đảo như ngất đi.

Ai nấy còn mãi nghển nhìn ra ngoài kia.

Tôi lại ngoi ngóp nghển đầu, kiễng chân.

Trong lòng đường, tiếng kèn đồng đã nổi lên rộn rã, tiếng chân giày "săng đá" loạt loạt kệt kệt đều bước.

Bây giờ đi qua Bờ Hồ, quãng trông sang xế cửa nhà máy điện, vẫn nhìn thấy cái chỗ gốc đa rễ vè uốn khúc rồng chầu ấy.

Ối giời ôi, hội Tây, hội Tây.

Như bài thơ Hội Tây, của Nguyễn Khuyến (1835-1909) - cụ cười lỡm:

Kìa hội Thăng Bình, tiếng pháo reo

Bao nhiêu cờ kéo với đèn treo Bà quan lếch thếch xem bơi chải

Thằng bé lom khom nghé hát chèo

Cậy sức cây đu nhiều chị nhún

Tham tiền cột mỡ lắm anh leo

Khen ai khéo vẽ trò vui thế

Vui thế bao nhiêu nhục bấy nhiêu.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
45. Đêm sau cùng ở làng


Nhật ký)

1946, tháng mười hai

6

Đêm sáng trăng.

Bóng các chiến lũy gỗ lô xô đến tận giữa xóm cô đầu Khâm Thiên.

Lính mũ đỏ khiêu khích kịch liệt: đốt tranh và áp phích dán nhà Thông tin Trung ương, đứng đái trước cửa tòa Đốc Lý, bắn vào các bóp Quan Thánh, Cửa Nam.

8

Truyền đơn nhỏ bằng bàn tay, in chữ quốc ngữ không có dấu, dưới ký Cuốc dân.

Đòi "Chính phủ phải ở lại Hà Nội kháng chiến không được chạy mà nao núng lòng dân".

Đích truyền đơn của Pháp viết tiếng ta bồi, Pháp in rồi cho Việt gian giải.

Buổi chiều lạnh.

Từng đàn sếu lớn đen sì là cánh bay về đậu trên ngọn cây gạo, ngọn dừa dại trên góc hồ Hoàn Kiếm.

17

Mười hai giờ trưa.

Tiếng súng to, Pháp bắn nhau với tự vệ trên phố Hàng Than.

Lính Pháp ra cướp hoa ở ngã tư Tràng Tiền.

Các đường phố tới tấp đào hầm.

Tiếng hát trên chiến lũy.

Rất lạ, tiếng cuốc chim bổ xuống mặt đường cái vấp đá, lạo xạo.

18

Buổi sáng, Tây mũ đỏ lại bắn chết người trên Hàng Bún, Cửa Đông.

Thư của Liên Kiểm Pháp đòi ta phá hầm lũy các phố.

Mười một giờ đêm, đại tá Pháp De Chatillon trong ban Liên Kiểm Việt Pháp lại yêu cầu ta phải để lính Pháp được "quyền bảo vệ trị an thành phố từ ngày 20".

Lý do: "Công an Việt Nam không làm tròn phận sự".

19 (THỨ NĂM)

Tám giờ mười lăm chặp tối.

Vừa vào tới nơi tạm tránh ở chùa Thông trong Mọc.

Đương chuyện bù khú với Trần Huy Liệu.

Tiếng súng nổ râm ran trên thành phố.

Súng lớn, súng nhỏ, liên tiếp.

Thế là Hà Nội bắt đầu...

1947, THÁNG GIÊNG

1

Hai tiểu đội tự vệ ở trong đình làng hát đồng ca, hát rất khuya.

Đêm trăng trong suốt.

Tiếng súng cũng suốt đêm.

Buổi sáng sông Tô Lịch mờ mờ làn sương mỏng.

Bóng người đi đen sẫm trên cầu.

Tiếng con chim chích, chim sâu hót trong bụi.

Tiếng bò rống.

Ruộng rau cải và su hào mới, hơi xanh.

Những lều canh rau, mái rơm, còn vàng xọng.

Buổi sáng rục rịch sang xuân.

Chiến sự như thường ngày.

Đêm, tiếng súng to.

Bọn quan lại và tướng tá Pháp Đác-giăng- li-ơ với Va-luy từ Sài Gòn bay ra Hà Nội đêm 29.

Suốt đêm, đại bác ta nã vào trong thành.

Hôm sau chúng nó cút vào Sài Gòn sớm, mặc dầu, cao ủy Đác vẫn tuyên bố phét lác.

Tôi đã trông thấy những người Việt Nam lục tục trở về Hà Nội.

Trên mặt ai cũng phảng phất một vẻ "thôi thế thoát nạn".

Trong làng còn lại ai đều ra đình ăn cơm chung.

Tự vệ, cứu thương, công binh...

5

Không khí chiến sự: suốt làng vắng tanh.

Thỉnh thoảng một người quảy đi qua cái nồi, cái hòm, cái ghế...

Moocchiê réo veo véo.

Liên thanh tặc tặc cao cao trên đầu.

Tiếng đại bác phía cánh đồng Cáo.

Tình hình trong làng - Ngay tối 19, tự vệ cả làng đã cùng bộ đội vào đánh mấy điểm trong phố.

Hơn ba mươi người, chỉ có giáo mác và một quả lựu đạn.

Những trận đầu tiên: trèo vào trường Bưởi đánh Tây mũ đỏ, tấn công nhà "cô Bảo Đại" ở dốc Ngọc Hà lấy được một ôm quần áo lính đem về chia ngay cho anh em.

Pháp đánh chiếm lại nhà xe điện.

Vệ quốc quân với tự vệ các làng Nghĩa Đô, Hồ Khẩu, Thụy Khê giữ nhà xe điện.

Pháp từ trong thành ra.

Đánh nhau từ 5 giờ, tàu bay, xe tăng, xe bọc sắt.

Trên đường thành, địch tiến từ trại lính nhà "cô Bảo Đại" tới nhà máy bia Ô Mền.

Các xe phá ụ, cưa cây, xúc đất, lấp hố đào đường rất nhanh.

Ở đường dưới, địch chỉ tiến được tới nhà xe điện.

Ta đóng trong nhà Nhật Trường.

Khi bên nhà máy xe điện ta rút, đây cũng rút.

Bốn giờ chiều, Pháp lấn được tới nhà máy giặt giữa làng Thụy.

Bị thương nhiều.

Chết hơn hai mươi.

Thằng Sinh tự vệ, con ông lang Ngạc, bị đạn vào bụng, lòi ruột chết trước cửa nhà xe điện.

Hết gạo.

Ban chuyển vận của đội tự vệ chạy nháo đi kiếm gạo từng ngày.

Ăn ngữ cơm nắm muối vừng.

Hết nước mắm, hết muối.

Chỉ nhiều rau cải và su hào.

Không dám ăn nhiều rau, vì tốn mắm muối.

Con gái cả làng không tản cư đã xung phong đi tiếp tế, cứu thương, ngủ la liệt trong đống rạ quanh bếp.

Cười nói như lúc thanh bình.

Nhớ ngày phiên tơ.

Có cô mặt ủ dàu dàu.

Một số người đứng tuổi ở lại, cũng không tản cư, các ông vào đội trật tự, đứng gác đầu làng đầu xóm kiểm soát giấy tờ người lạ qua lại và canh giếng nước ăn vì có tin đồn Việt gian đi bỏ thuốc độc xuống giếng.

Làng có các ban: công binh, đặc vụ, tiếp tế, tản cư, cứu thương.

Khoát làm chủ tịch.

6

Đêm sáng trăng vằng vặc

Đến hôm nay, tự vệ đã đánh cả thảy năm trận. (Một trận Tây mũ đỏ trường Bưởi, hai trận nhà xe điện và nhà cô "Bảo Đại" dốc Ngọc Hà, hai trận Trại con gái).

Mất làng, tự vệ Thụy, Ngọc Hà, Liễu Giai, Đại Yên hết đất phải chạy về đóng ở vườn chùa Dâu.

Ai cũng chán nản.

Đàn bà hốt hoảng, thở dài.

Nhưng không ai khóc.

Chỉ đứng nhìn đăm đăm như còn thấy nhà mình ở đằng kia.

Vẫn chạy gạo từng ngày.

Cả ngày chia nhau đi hái rau, cắt chuối, đánh cá, vơ vẩn lang thang.

Có hôm ăn toàn chuối luộc.

Trời râm mát.

Hắt hiu sang xuân.

Tiếng súng lác đác.

Tự vệ, tay xách đao dài, lưng đeo bị, đi lẳng lặng.

Tiếng tự vệ nói loa gay gắt, diết dóng "A lô, tản cư triệt để"...

"A lô, giết cho kỳ hết chó".

7

Đêm xem kịch của Thanh niên Xung phong bên sân đình Bái.

Đi qua Quán Cây về.

Trăng suông sáng nhạt, cánh đồng vòm cây trên gò âm thầm.

Nước ao cá man mác.

Tưởng đến những chuyện con đò cây đa nhạt phai trong đời mình.

Về qua cửa đình, nghe tiếng trẻ con hát thanh thanh: Chiến tranh bùng lan...

ước mong... cho đó đây thái bình...

Thật thương.

Khuya rồi, vẫn thấy thằng Quýnh ngồi thu lu trong ổ rơm.

Quýnh dạo trước đi lính Quốc Dân đảng.

Có người trông thấy nó đứng gác trụ sở phố Quan Thánh.

Một hôm về làng, tôi trông thấy Quýnh đội mũ dạ cứt ngựa, bốt cao cổ, đi vung vinh.

Quốc Dân đảng chạy lên Việt Trì, Quýnh cũng biến đâu mất một thôi.

Rồi lại thấy về, suốt ngày ngồi nhà.

Đêm 19 nổ súng, làng bắt giam lỏng.

Bây giờ, ban ngày làm công binh khuân vác, phá hoại đường, đắp ụ, đi đưa cơm tiếp tế.

Đêm ngủ ở đình với tự vệ, không được đi đâu.

19

Từ hôm chiếm nhà máy bia Ô Mền, nhà xe điện, Pháp cũng dừng lại ở quãng nhà dầu Tam Đa cuối làng Thượng.

Tự vệ làng lên gác tận đền Voi Phục.

Mình theo các cô tiếp tế ra đấy xem đổi gác.

Ở bên kia nó trông thấy đằng này có người ra.

Đạn bắn vào tường đền, bục bục.

Nhìn rõ búi cỏ đằng cổng Rong cạnh hồ bên tường Tam Đa, thằng lính không biết tây hay ta nhấp nhô áo vàng.

Đêm mưa to, sấm chớp, trận mưa rào đầu tiên có sấm mới.

Năm giờ sáng.

Địch tấn công theo đường lên cống Vị chiếm ngã tư dốc Cầu Giấy.

Cùng lúc, địch ở Tam Đa tiến lên chợ Bưởi.

Mình ngủ nhà Khoát ngoài xóm Giếng đã tản cư nhà bỏ trống không.

Ở đấy cơ động, dễ tháo ra đồng.

Từ nhà Tam Đa vượt lên Voi Phục.

Nhưng địch không tiến thẳng đường tàu điện.

Đến cống Đõ, rẽ vào sau xóm Đông Lân làng Hồ, men bờ hồ Tây sang Võng.

Gặp bọn địch khác đã đi ca nô qua hồ đổ bộ lên làng Sài sang dốc Bái rồi tràn ra chợ Bưởi.

Chúng nó qua Quán Cây về vườn Bàng, trèo tường vào đồn - trụ sở ban chỉ huy bộ đội và tự vệ miền.

Bấy giờ, mới biết địch đến, cuống cuồng chạy.

Viên, cán bộ chỉ huy sự miền lên đến dốc Sài bị liên thanh địch bắn chết.

Con gái ông Thiên bị đạn chết ở lũy tre cuối làng chỗ cửa chùa Dâu.

Chỉ có bà nó một mình chạy trở lại, ngồi khóc trong bếp.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
46. Con số


Từ năm 1943, tới tháng tám 1945, tổ Văn hóa Cứu quốc (Vũ Quốc Uy, Như Phong, Tô Hoài) họp bí mật lần lượt nhiều lần ở những nơi:

Phố Lô cốt Bắc (nay là phố Phó Đức Chính) số 124, nhà Vũ Quốc Uy.

Phố Giắc-canh (nay phố Ngô Thời Nhiệm), nhà Nguyễn Huy Tưởng.

Xóm Giữa làng Nghè, xã Nghĩa Đô, nhà Tô Hoài.

Xóm Cung làng Tây Hồ, nhà Như Phong.

Phố Hàng Than, nhà Trần Kim Xuyến.

Xuyến là công chức, hoạt động hội Truyền bá Quốc ngữ.

Cách mạng thành công, công tác tại Đài tiếng nói Việt Nam.

Đầu năm 1947, địch tấn công cơ sở phát thanh đóng tại hang núi Tử Trầm.

Xuyến đã hy sinh ở đấy.

Trong sách Xứ Bắc Kỳ ngày trước của Cờ-lốt-Bua-ranh có vài việc đáng ghi:

- Trước 1890, trong thành phố có 4 chợ to: Hàng Bè, Đường Thành, Hàng Bài, Hàng Gạo (chợ Gạo sau lan ra hợp với chợ Gia Ngư, chợ Cầu Đông, thành chợ Đồng Xuân).

- Vườn Bách Thảo được lập năm 1889.

- Nhà thờ Hàng Trống làm xong năm 1889.

Nhà thờ này trước ở phố Tràng Thi, nhà gỗ.

Năm 1883, nghĩa quân ngoại thành phía bắc vào đốt cháy ngôi nhà thờ bằng gỗ này.

- 1894, chữa lại đền Quan Thánh.

Đem pho tượng đồng đen từ hậu cung ra chỗ thờ ngày nay.

Tượng cao 3m70.

Nặng 4.000kg (66.000 cân ta).

Đặt lên bệ cao một thước rưỡi.

Tượng đồng đen Trấn Võ và quả chuông của đền cùng được đúc năm 1877.

Ngày lễ mừng trùng tu đền xong có các quan ta đến chủ lễ với bô lão chức sắc các xã Yên Quang, Yên Phụ.

Người các nơi kéo đến xem đông.

Có các quan Tây tới dự.

Cờ tam tài cắm lẫn cờ thần, cờ đuôi nheo.

Ngoài cổng đền dựng rạp hát chèo.

Trong sân đền đội xếp chăng dây xung quanh, các tây đầm nhảy và uống rượu vui đến tối.

- Năm 1895, thành phố bắt đầu có điện.

Nhà máy điện Bờ Hồ phát.

Nhưng chỉ riêng có điện các đường phố tây và nhà tây.

Cả thảy hơn ba trăm bóng đèn.

Ngoài đường các phố ta vẫn đèn dầu hỏa.

Chặp tối, khu nhà đèn bắc thang trèo lên cột châm đèn.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
47. Tú Mỡ bị Tây bắt


Năm ấy, cơ quan hội Văn nghệ tản cư lên chân dãy núi Tam Đảo ở làng Yên Dã huyện Đại Từ trên Thái Nguyên.

Đại hội anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quân lần thứ nhất họp tại Chiêm Hóa ở Tuyên Quang năm 1949.

Tú Mỡ được phong chiến sĩ thi đua ngành văn hóa, đi dự đại hội.

Sau đại hội, tôi về cơ quan, Tú Mỡ về gia đình đương tản cư ở Bắc Giang.

Có đến mấy tháng đã qua, chưa thấy anh Tú Mỡ về cơ quan và cũng không có tin tức.

Cũng không ai để ý.

Bên Bắc Giang, khu vực gia đình anh Tú Mỡ ở còn có nhà anh Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Kim Lân, Trần Văn Cẩn, Tạ Thúc Bình.

Trong kháng chiến ở miền Bắc, các nhà ở khuất nẻo và công tác phân tán các vùng Phú Thọ, Bắc Giang, Thanh Hóa.

Mọi việc nhanh chậm đều do đôi chân, thật "ngày rộng tháng dài".

Một hôm, thấy ai như Tú Mỡ đi từ ngoài cánh đồng vào lối cơ quan ở trong đồi.

Anh Tú Mỡ người bé nhỏ, bước nhanh nhẹn.

Đúng Tú Mỡ.

Nhưng cách ăn mặc thì khác lạ quá, không phải Tú Mỡ quần áo nâu với cái nón lá mọi khi.

Người này đội chiếc mũ sắt tùm hụp.

Bộ quần áo xám xịt, nhiều túi, có cả hai cái túi bắt gà to kềnh trên đầu gối - áo mũ của bọn com-măng-đốt Pháp.

Đôi khi thường thấy người vùng tề ra mặc như thế.

Người ấy đi gần đến nơi, thì rõ đích anh Tú Mỡ.

Bấy giờ chúng tôi mới biết trong ngót hai tháng qua anh đã bị Tây bắt.

Thoát ra, Tú Mỡ đến thẳng đây.

Nghe anh Tú Mỡ nói, ai cũng choáng người.

Rồi Tú Mỡ kể.

*

* *

Ở hội nghị chiến sĩ thi đua toàn quốc về, tôi xuống Bắc Giang.

Trên đường, ghé lại ty Thông tin Bắc Giang.

Đội chèo của ty đương dựng một vở của tôi.

Đội chèo ấy vừa biểu diễn vừa giúp đỡ cơ sở hoạt động văn nghệ dưới sông Đuống, vùng giáp ranh địch.

Tôi xuống ở với đội chèo.

Hai bên sông Đuống đã là mặt trận.

Bên kia sông, Tây chiếm rồi.

Bờ bên này vẫn là làng mạc của ta.

Thỉnh thoảng, Tây càn sang.

Nhưng người bên kia vẫn sang bên này đi chợ, thăm hỏi nhau và người tản cư vẫn theo lối đấy ra vào Hà Nội, đi cả ban ngày.

Ở bên này sông, lúc nào phải chạy Tây thì chạy, còn vẫn đi cày, vẫn chợ búa, tối tối vẫn gióng trống chèo hát.

Đội chèo của ty đóng ở một làng ngay bờ sông.

Tối biểu diễn, tiếng sáo tiếng nhị rung lên, trong khi pháo sáng và súng các đồn địch dọc sông, lên tận bến Hồ, bắn cầm canh suốt đêm.

Tôi ở với đội chèo đã được mấy hôm.

Lúc đầu cũng ngại gần địch, rồi quen dần.

Một buổi sớm, thấy người chạy táo tác ngoài ngõ.

Tiếng người kêu: Tây!

Tây!

Một lát, biết tin có một toán Tây đi thuyền sang phục từ gà gáy, bây giờ ca nô nó sang tiếp và bắt đầu lùng vào xóm.

Tôi theo người làng chạy ra đồng.

Cũng chẳng phải lần đầu Tây sang vùng này.

Cũng không phải Tây tìm bắt cán bộ hay đánh nhau với du kích, với bộ đội.

Mà người ở đây đã biết chúng đi ăn cướp.

Đến trưa, trở về, trên ca nô trên thuyền ngổn ngang gà lợn, rau cải, cà chua, những buồng chuối và cả củi đun với một vài người chúng lôi theo để bắt khuân vác.

Biết thế, người ta chỉ tránh đi.

Tôi nấp ở một đầu gò.

Mấy người khác, người trong xóm, người qua đường, người của đội chèo, cũng ngồi gần đấy.

Anh em chạy lẫn lộn với mọi người trong các ngõ đổ ra.

Chúng tôi nghe ngóng, rình xem liệu Tây vào hướng xóm nào để liệu.

Cứ tưởng chỉ có Tây trước mặt.

Bất đồ một bọn Tây và ngụy lố nhố ở xóm ngay sau lưng ùa ra.

Tôi lúng túng, ngồi thu lại sau một gò đất.

Cũng có phần bình tĩnh.

Đi công tác các vùng giáp địch đã được phổ biến kinh nghiệm đối phó.

Cách ăn mặc và dáng vẻ tôi cũng như bao nhiêu người thành phố tản cư, chỗ nào cũng gặp.

Còn giấy tờ trong người, tổ chức đã sắp sẵn cho cả cách đối phó ăn nói.

Tôi có giấy chứng minh là giáo viên bình dân học vụ.

Có bị hỏi thì nói ở Hà Nội tản cư ra, rồi liệu mà nhận trước kia đi buôn hay có làm công cho hãng buôn cũng được, bây giờ đương đi tìm vợ con tản cư bị lạc.

Nhưng có một điều không nghĩ ra trước.

Mà đương lúc chơ vơ giữa đồng không mông quạnh thế này thì biết làm thế nào.

Tôi có cái cặp da còn tốt đem theo từ Hà Nội.

Trong cặp có giấy tờ và bản thảo mấy bài thơ mới làm với một quyển sổ tay đẹp mới nguyên được đại hội thi đua thưởng.

Trang đầu sổ tay chữ ký và lời Hồ Chủ Tịch đề tặng chiến sĩ thi đua Bút Chiến Đấu [1].

Làm thế nào bây giờ?

[1] Bút Chiến Đấu, bút danh của Tú Mỡ dùng trong thờikháng chiến chống Pháp.

Xung quanh, những thửa ruộng mới gặt, càng thấy trống hơn.

Bọn Tây đã lùa những người ở đầu gò đằng kia lại.

Một Tây đen chạy cồm cộp đến chĩa súng bắt tôi đứng dậy.

"Tôi là thầy giáo...

Tôi đi tìm gia đình"...

Chẳng biết người lính da đen ấy có nghe thủng được câu tiếng Tây tôi nói.

Anh ta lẳng lặng giật cái cặp của tôi.

Anh ta mở cặp, mở ngăn cặp.

Người lính da đen moi các thứ trong cặp ra, cả quyển sổ tay có chữ ký của Hồ Chủ Tịch.

Người lính xếp đống giấy má và sổ sách trên mặt ruộng.

Rồi rút bật lửa.

Người lính châm lửa đốt.

Các giấy tờ và quyển sổ tay cháy tiệt.

Rồi anh ta đẩy tôi đi, nhưng tay anh ta vẫn cầm cái cặp không của tôi.

Tôi đã hiểu.

Người lính ấy, người nông dân ở một nước thuộc địa nào đấy của Pháp ở châu Phi.

Có lẽ anh không biết chữ.

Anh cũng chẳng cần biết các thứ giấy tờ sổ sách ấy thế nào, anh đốt tất cả đi cho xong chuyện.

Anh lấy cái cặp.

Cái cặp ấy đem về Hà Nội bán, cũng được vài đồng bạc.

Có thể là như thế.

Tôi cất được cái lo đầu tiên.

Nhưng sau đấy một việc rắc rối nữa xảy ra.

Những người phải bắt cùng tôi ra bị tập trung lại.

Bọn lính điệu chúng tôi ra đường cái rồi đem về đồn gần đấy.

Nhiều người trong đám đã biết những chuyện và cách như thế nào của lính đi càn.

Người ta nói, lúc đương càn chúng nó cứ bắn giết thả cửa.

Còn tóm được người thì chúng đem giao cho một đồn nào ở gần.

Đến đấy, đợi xe tải rồi tống cả lên xe, đưa về trại giam Nhà Tiền bên thành phố.

Ở Nhà Tiền, mật thám mới hỏi cung và tra khảo, rồi bỏ tù ai, thả ai sau.

Tôi lại trải một cơn lo.

Tôi mà bị về Nhà Tiền, không biết sẽ ra thế nào đây.

Nhà tôi đã mấy đời ở Hà Nội.

Tôi được sinh ra ở phố Hàng Hòm, giữa băm sáu phố phường.

Bấy lâu, đi học đi làm và viết báo, làm thơ cũng ở Hà Nội.

Thế nào chẳng có người, nhiều người biết mặt, biết rõ tông tích tôi.

Mới đây, các báo kháng chiến đều đăng nhiều thơ đả kích địch của Bút Chiến Đấu.

Biết đâu chẳng có người đã đọc, đã biết Bút Chiến Đấu là Tú Mỡ.

Cả bọn bị bắt ngoài cánh đồng đều bị giải về bốt Phù Lưu.

Bốt Phù Lưu gọi từng người hỏi qua loa.

Tôi cũng nói lại những câu như nói với người lính da đen lúc nãy.

Thấy tôi biết tiếng Tây, viên quan ba đồn giữ tôi lại làm thông ngôn.

Thế là, tôi không được thả, mà cũng không được đi ngay chuyến xe tải hôm ấy sang trại giam Nhà Tiền.

Tôi chưa bị đem về bên Hà Nội.

Công việc của tôi hàng ngày ở bốt Phù Lưu là dịch công việc cho quan ba.

Lão quan ba ấy, rồi ít lâu sau bị chết trận.

Quan ba mới được bổ đến vẫn giữ tôi làm thông ngôn.

Một hôm, quan ba gọi tôi hỏi:

- Vợ con anh hiện ở đâu?

Tôi đáp:

- Tôi đã trình với ông rồi, vợ con tôi tản cư ở Thái Nguyên.

Lại hỏi:

- Anh có muốn làm việc với tôi không?

Tôi nói:

- Tôi đương làm việc với ông.

Lại nói:

- Làm việc mãi mãi kia.

Tôi sẽ cho anh đi tìm vợ con về.

Tôi sẽ xin cho anh ở hẳn bốt này với tôi.

Anh bằng lòng không?

Quan ba lại nói:

- Tôi cấp giấy cho anh đi qua bốt Chờ của chúng tôi.

Còn từ đấy lên Thái Nguyên, anh tìm cách đi được chứ?

Anh đã là người ở vùng Việt Minh mà.

Tôi lại gật đầu.

Hôm sau, tôi đi qua bốt Chờ, đưa giấy trình quan đồn Chờ đàng hoàng.

Rồi tếch thẳng lên Thái Nguyên, về đây với các cậu.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
48. Đào hát, đào rượu


Đến thời tôi biết thế nào là "đi hát cô đầu" thì không còn nhà cô đầu ở phố Hàng Giấy - phố ả đào cổ nhất Hà Nội.

Tiếng đàn, nhịp phách, câu ngân giọng má "ứ hự" chỉ còn phảng phất trong ca dao: Trải qua Hàng Giấy dần dần.

Cung đàn, nhịp phách nên xuân bốn mùa.

Đi qua phố Hàng Giấy, tôi không hiểu những cửa hàng một gian, tối ẩm sâu, bên chồng cánh cửa hạ ngang, xếp vài ba trăm giấy bản, giấy moi, ấy thế mà xưa kia đã từng là chốn khách phong lưu "sớm đào tối mận".

Có thể là tôi cứ ngỡ theo cái thuở chơi bời nhầy nhụa bây giờ.

Ngày trước, các cụ làm được bài thơ rồi mời nhau thưởng thức, đến nhà hát nghe đào nương ngâm bài thơ của mình.

Tiếng đàn đáy tưng tửng.

Lá phách buông giòn tan.

Giọng hát nỉ non.

Ngọn roi chầu tom chát, tom tom chát.

Làng chơi khi ấy còn thanh tao chăng.

Nhưng chắc chắn không phải cảnh nhà hát cô đầu nhố nhăng như thời sau.

Thời tôi cũng còn trông thấy các cô nhà trò mặc áo the thâm, tóc bỏ đuôi gà, tay xòe quạt che miệng đứng hát cửa đình, các cô nhà trò vào lễ tiến hương tiến hoa múa bỏ bộ mà cả tháng trước khi đi hát cửa đình như thế các cô phải kiêng khem và công phu tắm táp, ăn chay nằm mộng.

Các làng có nghề hát cửa đình, ở Thanh Thần, ở Lỗ Khê, ở Kim Bảng, ở Phú Mỹ, có chi họ chỉ truyền nghề cho con cái trong họ.

Khi nông nhàn, đến dịp đình đám, mà người ta đã giữ đám hàng năm, đào kép lại khăn gói rủ nhau - hoặc có làng về tận nơi mời đi hát thờ.

Cho đến sau này thú vui ả đào tao nhã thời các cụ không phải đã mất hẳn.

Mà bao giờ cũng thế, cô đào hát và chú kép đàn vẫn là chủ trò đêm hát.

Bài hát và khổ đầu được khách và chủ nhà trả tiền, thưởng tiền như những người đi làm ăn công việc tử tế và làm giỏi thì được khen.

Cô đào hát cầm lá phách và chú kép đàn hát cho nhiều nhà trong một đêm.

Rồi người đào hát về nhà, chồng con yên ấm.

Hoặc cô ấy đầu mày cuối mắt với khách làng chơi nào, ấy là chuyện trăng gió riêng tư của người ta.

Khác những cô đào rượu - "Cô đầu, cô đít, cô đuôi.

Quan viên cạn túi, ai nuôi cô đầu", ấy là vè kể về cô đầu rượu.

Chủ nhà hát bỏ ra số tiền cọc buộc chân cô đầu rượu ở nhà hát, chẳng khác thuê con sen, con nhài.

Sắm cho manh quần lụa trắng, cái áo hàng tơ, đôi guốc "phi mã" sơn then cao gót.

Cô đào rượu không biết hát, không bận đến việc hát xướng.

Cô chuyên việc bắt nhân tình hờ với khách hát và sửa soạn màn gối khách nghỉ đêm.

Và chung chăn với khách đêm ấy nếu khách có lòng và có tiền, mà bây giờ gọi là tiền boa.

Không ham hố mấy đâu, khách chơi rất ngại nằm với đào rượu.

Vì các cô chỉ là gái điếm không đóng môn bài.

Mà gái điếm lậu là một ổ vi trùng bệnh hoa liễu.

Nhà thổ ở Hàng Mành ngõ Yên Thái, ngõ Sầm Công đi khách đóng thuế, mỗi tuần vào nhà "Lục xì" khám hai lần (nhà "Lục Xì" chỗ bệnh viện C bây giờ, cổng ra vào đằng xế cửa tòa án).

Lời ca ủ ê: "Hôm nay thứ bảy anh ơi!

Ngày mai chủ nhật, phiền tôi lục xì...", mang tiếng nhảm nhí đi nhà thổ, nhưng lại ít lo bị đổ tim la, lậu, như chung chạ với đào rượu nhà cô đầu.

Thế mà cũng có nhà hát không có cô đào rượu.

Có lẽ làng chơi khắp Đông Dương chỉ có một nhà hát bà ký Đường ở Vũ Tiên dưới Thái Bình như thế.

Nguyễn Khắc Mẫn đã viết truyện ngắn "Bà ký Đường" đăng báo "Ngày Nay".

Cũng có lần tôi theo ông Dương làng tôi lúc bấy giờ làm trùm du côn bến xe Thái Bình đến nghe nhà hát ấy.

Ông ký Đường mắt kém, ngồi đàn, bà ký tóc đã hoa râm.

Cô con gái hát phụ với mẹ, người mỏng như cái lá tre.

Xong mấy khổ hát, khách về.

Không cảnh chè chén chầu chay, chầu mặn và khách chơi vầy vò đào rượu nghiêng ngả thâu đêm.

Nhưng mà xem ra cái sự tao nhã khô khan sênh phách như nhà hát bà ký Đường ở Vũ Tiên đã là chuyện cõi tiên từ lâu.

Càng ngày càng có người đi nghe hát cô đầu, mà không biết đánh trống, không cần biết, vừa vào đã khép cửa, hô rượu uống quay thìa.

Nghe lẩy mấy câu bồng mạc, sa mạc rồi mắc màn đi nằm với đào rượu.

Gọi là cô đầu đường Cầu Giấy, cô đầu Vạn Thái nhưng không phải những phố ấy chỉ rặt nhà cô đầu.

Nhà hát cũng như cửa hàng buôn, cạnh ngôi hàng tấm, hàng xén, hàng cơm.

Cô đầu phố Khâm Thiên có tiếng nhất, ở đấy nhà hát và cửa hàng, cửa hiệu, lò khâu và hàng tạp hóa cũng chen tường nhau.

Những người đi chơi cứ tự sắp thứ hạng thế nào và chọn ra ở đâu là nhà hát sang trọng hay tồi tàn.

Nhà hát sang nhất ở phố Khâm Thiên.

Nổi tiếng nhà Đàm Mộng Hoàn, nhà Chu Thị Năm...

Đến đấy, người giàu, tay buôn, tay chơi, mật thám, trùm bạc, chúa tể đầu trộm đuôi cướp, tiêu tiền ném qua cửa sổ.

Cô đầu Ngã Tư Sở (hoặc gọi đùa Ngã Tư Khổ), chỉ có nhà hát ở dãy nhà bên đường Tàu Bay, đường Láng và cô đầu Vĩnh Hồ, Thái Hà, Vạn Thái, Hăm Bốn Gian cuối phố Huế, khách đông và tạp nham, mấy thầy ký sở tư, ông nhà văn, nhà báo đi che tàn, ông buôn nước bọt, ông giáo...

Bên Cầu Giấy, ô Kim Mã, ở phủ Hoài, ở Ba La Bông Đỏ, ở Gia Quất, Thượng Cát, nhà hát đón vét khách bên Hà Nội và khách quê, các ông chánh lý, các ông giáo hồ lơ có việc quan, việc thi cử phải về phủ huyện, các thợ mũ, thợ khảm, thợ cửi, các cậu bồi bếp... khách lái gỗ, lái dó đường ngược xuôi bè về, lên hát ở Bến Chèm.

Cô đầu Chèm, ngày đi làm cỏ đồng, bắt cua, tối hát.

Tiếng trống chầu trong nhà lá vọng xuống mặt nước nghe độp độp như dao chặt thịt gà.

Hầu như tỉnh nào, chỗ nào sông bến sầm uất đâu cũng có nhà hát.

Cả trong thành phố Sài Gòn.

Cô đầu ở Phú Nhuận toàn những ả đào thất cơ lỡ vận ngoài Bắc mò đi làm ăn xa cầu may.

Chặp tối hôm ấy, Lê Tràng Kiều và chủ hiệu sách Nguyễn Khánh Đàm với tôi ra ga xe lửa Mỹ cạnh chợ Bến Thành đón họa sĩ Văn Giáo đi vẽ ở Đà Lạt xuống.

Đèn thành phố vừa sáng, tàu vào ga.

Văn Giáo cao lênh khênh, lưng đeo ngổn ngang những ba lô giá vẽ.

Nguyễn Khánh Đàm vui vẻ:

- Mời anh xuống Phú Nhuận nghỉ chân.

- Đi đâu?

- Đi hát ở Phú Nhuận.

- Không, Văn Giáo không chơi cô đầu, Văn Giáo chỉ uống nước lã vẽ tranh thôi.

Văn Giáo nhất định không đi.

Đường Phú Nhuận lơ thơ mấy nhà lá ngoại ô, âm thầm cách vườn hai ba cái nhà hát.

Các cô ngồi lấp ló đợi ông khách Bắc nhớ quê.

Trong nhà, trơ trọi, quang lạnh, rã rời.

Không biết mới dọn đến hay sắp dọn đi.

Giường ván gỗ không chiếu trống hốc.

Cũng chẳng ra cái nhà chứa trọ.

Quần áo các cô gói gém trong bọc khăn vuông nhét gầm phản, như đi lúc nào cũng được.

Lần đầu, tôi theo anh em trong làng đi hát ở chỗ Mả Ông Năm đầu phố phủ Hoài Đức.

Loại nhà hát hạng bét, các thầy chánh lý trong Canh, trong Trôi, trong Đăm ra phủ có việc quan thường ghé đấy.

Dưới tán cây bàng tốt lá xanh om vài nhà cô đầu ở ngay sau cái mả giả lão quan năm Hăngri Rivie ngày xưa chết trận chỗ này thành tên chỗ là Mả Ông Năm.

Những tình cờ và mỉa mai của thời thế và cuộc đời.

Ngay trước cửa nhà hát, lù lù gờ thành xi măng vằn vèo uốn quanh một vòng xích sắt trang trí.

Giữa nấm mộ, mảnh đồng đúc cái mặt lão Tây chết trận nhìn ngửa lên trời mà các quan viên đi hát ngồi sau cánh cửa trong nhà trông ra thấy cái chỏm mũi lõ nhọn chong chỏng.

Tiếng trống tom chát.

Tiếng hát khe khé chua như mẻ.

Làng tôi chỉ tắt đồng một quãng đã sang đến đây.

Chẳng có việc vào hầu phủ cũng đi chơi được.

Các cô đầu đứng nhong nhóng trước cửa, trông thấy bọn khách quen liền tru lên:

- Tiên sư anh bảy Nền!

Tiên sư anh bảy Nền!

Anh vào đây chúng chị kẹp vỡ mặt anh ra!

Rồi cười khanh khách.

Anh chánh hội Nền dẫn chúng tôi vào, sau những câu mắng chửi chào hỏi vui vẻ dữ dội như thế.

Chị em lật đật khép cửa, khêu to cái đèn ba dây.

Các quan viên gom tiền lại đủ chi một chầu chay.

Nghĩa là xong cỗ hát, uống suông hai chai bia đen, đứng lên cắp đít ra về.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
49. Cửa Đông


Ta gọi phố Cửa Đông, nhưng phố này mang một cái tên tây - phố Bisô.

Đặt tên cho cái phố ngay ở cổng trại lính, chắc phải là quan năm quan bảy có công to "đánh dẹp giặc dã xứ Bắc Kỳ".

Tuy vậy, phố Cửa Đông chỉ ngắn ngủi trước hai cái cột trụ cổng vào trại lính trong thành.

Và ít người đi đến.

Phố Tây, nhà Tây đã không ai muốn lại gần, mà lại tường thành, cổng thành, trại lính, càng ngại.

Tôi cũng chưa hình dung được ngày trước có cái chợ Đường Thành Cửa Đông chuyên bán gà cho nhà bếp trong thành ra mua, ở chỗ nào.

Quãng này, cầu Đume ngoài sông Hồng kéo dài vắt qua trên đường.

Những vòm đá chân cầu cạn chống hốc, u uất tối ẩm.

Chỉ chặp tối mới có bóng người lủi ra lủi vào như chuột chạy.

Đấy là những kẻ ăn mày lang thang tối tối lại lần về rúc vào đấy.

Đêm nào đội xếp cũng lùng bắt, trục đi, mà đêm nào cũng lại lúc nhúc người đến chui vào.

Suốt từ gầm cầu qua phố Cửa Đông lên đường Thành.

Những người có việc phải qua lại đây thường hiểu Cửa Đông theo một nghĩa dài rộng hơn phố Cửa Đông.

Đấy là những quãng phố gồm các đường quanh Cửa Đông, lối vào cổng trại và cơ quan nhà binh trong thành.

Trên hè các phố ấy, càng xa ra ngoài càng đông người tụ tập, khác hẳn, nhất là lúc xẩm tối.

Suốt ngày, các nhà thầu may quần áo, thầu cơm, thầu đồng nát, thầu giặt rũ ra vào Cửa Đông.

Những người thầu thức ăn thừa đã hẹn lượt thì vào buổi chiều.

Bao nhiêu cái thừa mứa sau bữa ăn ở các trại lính, người ta vun lại, quét lại, tống vào thùng, vào bao tải.

Rồi quảy, rồi cho lên xe ba gác kéo ra.

Quanh ngoài đường kia thôi, đã thành cái chợ.

Hàng cơm gánh và nhiều người mua bán với các nhà thầu có giấy vào trong thành đã đến đứng chờ quanh đấy.

Người mua lại một nức ở đấy rồi quảy ra, đội ra bày hàng như các thức ăn thức uống trên vỉa hè, góc đường, bên gốc cây me, các cây nhội ở các phố quanh vành ngoài.

Các thứ chia ra, chia nữa cho người buôn lại và những người "bán lẻ" trên hè phố.

Cũng đã tươm tất đâu đấy, không xô bồ hổ lốn như lúc nãy, thức ăn còn trên gánh hay trên xe bò mới kéo tới.

Cái nào còn nguyên, có những người mua ngay, được giá khác hẳn.

Một chiếc bánh tây tròn xoe như cái đấu, một mảnh lườn gà luộc.

Một miếng bít tết bò xù xì tím như miếng tiết.

Cả người nhà bếp cao lâu, những hiệu Nhật Tân, Tây Nam, Mỹ Kinh trên Hàng Buồm, Asia Hàng Bông, cũng đến vơ vét chân gà, cánh gà để về rút xương nấu canh gân gà, nấm hương - bát canh đặc biệt đắt tiền chỉ cao lầu Tàu mới nấu được.

Chân gà cánh gà của vứt đi mà làm lại có nhà thầu riêng, cân từng bó như bó măng miến ngâm.

Khách ăn uống tại chỗ đã tà tà đến.

Nhấp nhem, nhộn nhạo trong bóng tối quanh cột đèn

- gánh hàng ngắn vốn hơn đã bày hàng ở xa, ngọn đèn hoa kỳ đặt ngay trong thúng.

Người ngồi xổm trước mặt, ngả ra ăn, có cả rượu, đánh chén luôn.

Đi đâu nhỡ bữa, có hôm tôi cũng đã chen vào giữa những người thu lu cái gói, nhưng tôi mua rồi bước ra vừa đi vừa ăn.

Những thịt xào, rau xào đã được trút vào cái xô nhôm thành nồi tạp pí lù bạc nhạc, xương sườn xương sụn, với cà chua, lổn nhổn hành tây, cần tây, lá xà lách.

Nước xúp cũng được dồn vào nồi ba mươi, thùng gỗ thùng nứa ghép vầu để gánh nước.

Chẳng đun được, người ta đổ thêm hàng phạng nước sôi nước máy lúc khuất mắt mà nồi canh vẫn sao mỡ vàng khè.

Rồi những thúng cái cơm gạo máy Sài Gòn, rời rã trắng nhởn.

Người có tiền ăn cơm bát úp, mua hẳn bát thịt láo nháo, nhắm rượu.

Những người lép túi ra gốc cây ngoài kia.

Bà bán hàng ngoài ấy chỉ có cái thùng, bà cầm chiếc muôi gáo dừa.

Một bên tay áo đã xắn sẵn.

Chốc chốc lại sục vào thùng đưa lên một muôi sền sệt nửa cái nửa nước.

Người mua khum bàn tay ra hứng rồi hắt luôn mấy cái vào miệng.

Mỗi hôm, các hàng cơm gánh cơm bán chớp nhoáng nháo nhào quanh Cửa Đông lúc nhập nhoạng tối.

Mùi thịt gà, xào nấu từ những của đổ đi ấy bốc thơm ngậy.

Lùa vào miệng, cũng thấy là thịt, là bánh mà giá cả những miếng ăn miếng uống này rẻ hơn hẳn ở các hàng cơm đầu bến.

Một hai xu đã lưng lưng.

Mèng quá, hai đồng xèng chinh Bảo Đại cũng xong mẩu bánh, một húp canh.

Xẩm tối, cái chợ thức ăn thừa quanh Cửa Đông ồn ào hẳn lên.

Người ngồi ếch ôp, lúi húi, như cóc nhảy.

Hầu như tất cả người kéo xe tay, xe bò khắp thành phố tụ lại đây.

Các tay "bắt tê" dưới Phà Đen về qua.

Các ông cu li Tàu đẩy cút kít, vác trên lưng cả tạ đường cát cho các cửa hiệu Hàng Buồm.

Thợ hồ, thợ ngõa, dân thất nghiệp đông vô kể kéo đến cái chợ nhọ mặt người mới dọn ra.

Tuy chẳng khi nào giáp mặt, nhưng tôi biết trên vùng tôi, nhiều người cũng quen chỗ này.

Thợ cửi chiều ngày phiên tơ ra Kẻ Chợ.

Người đi kéo xe.

Người phu hồ.

Người bán trăm giấy hẩm.

Người ta nói đùa sang trọng là đi chén cơm Tây!

Đêm ba mươi tết, chúng tôi đi chơi giao thừa ngoài phố về, gặp chú Cát trên đường Thành.

Quá nửa đêm, chú Cát đã tan buổi xe, vừa năm mới về nhà xông đất.

Tiếng pháo giao thừa đã tắt lặng từ lâu.

Đường ra ngoại ô, người đi lấy may năm mới lẫn với những người đi kéo xe, đi làm đêm lầm lụi về.

Chú Cát lủi thủi.

Người như bóng.

Vai khoác chiếc bị cói.

- Chúng mày đi giao thừa về à?

- Vâng ạ.

Về xông đất cho nhà thì vừa Chú Cát cười:

- Ừ, nhưng mà về nhà bây giờ thì nghĩ tiếc lũ chó sợ pháo đương chạy ra đồng.

Rồi chú Cát lại tặc lưỡi:

- Chẳng dễ ăn đâu!

Chúng tôi im lặng.

Chú Cát kể:

- Mọi năm, cứ đi giao thừa về tao lại cộp một con chó chạy sợ pháo, cũng là thêm thắt cho cái tết.

Nhưng mà bây giờ thời buổi khó khăn.

Vô phúc mà gặp đứa đi rình nó choảng vỡ đầu thằng đánh chó trộm.

Năm nào, làng ta đã lôi một người Yên Thái, một người Kẻ Cáo về đầu xóm trói đánh gần chết đấy.

Thế nào chúng nó cũng thù, tao sợ.

- Người ta bảo ăn tết thịt chó xúi quẩy, chú ạ.

- Kiêng khem gì, miếng thịt nào bỏ vào mồm chẳng là miếng thịt.

Rồi lẩm nhẩm nói một mình:

- Ồ, cứ nghe tiếng pháo thì nghĩ đến đi đánh chó.

Tiếc miếng thịt giữa giời thôi.

Chứ tao chẳng dại, nhỡ cái bị nó vớ được thì chỉ có què chân gẫy tay.

Tao đã có tết đây rồi.

Chú Cát đập đập tay vào cái bị cói.

- Tao ra Kẻ Chợ kéo xe đã vẹt gót, mà bây giờ mới biết.

Thế có chán không.

Có người mách cho biết cái hàng thức ăn thừa ở Cửa Đông, buổi ba mươi tết không có khách thường ế đổ đi tiệt.

Mình vẫn biết chỗ ấy, mà không nghĩ ra.

Phải, năm cùng tháng tận rồi, ai còn đi chuốc miếng cơm thừa canh cặn.

Trong bị này đủ hết, chật ních cả cái tết, mà chưa hết đồng bạc.

Hà, hà...

Chú Cát rẽ xuống chợ, mua nén hương.

Chẳng biết khuya thế rồi còn ai bán hương.

Hay là chú ấy vào đền Giếng rút trộm hương, mà nói mỹ tự ra thế.

Đến lúc tôi đi qua nhà, chưa thấy chú về.

Có khi chú ấy tiếc của giời lại biến ra đồng rồi.

Nói thế chứ, cái máu ham đi đánh chó chạy pháo vẫn còn.

Cũng không biết chừng.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
50. Đi phu mộ


Những năm trước chiến tranh thế giới lần thứ hai, quãng đầu ô các thành phố, các tỉnh thường thấy dán những tờ giấy như tờ giấy lệnh trong cái khung gỗ chằng dây thép mắt cáo.

Mỗi chữ to bằng nửa đốt ngón tay.

Thông cáo ai muốn đi Nam Kỳ và Cao Miên.

"Sở mộ phu Nam Kỳ và Cao Nguyên báo cáo để anh chị em ai muốn đi Nam Kỳ, Cao Nguyên biết.

Theo sắc lệnh năm 1927 và năm 1928 của ông Toàn Quyền Đông Dương, ông Thống Sứ, và ông Tổng trấn Bắc phần chuẩn y, bản ban sẽ được mộ phu đi Nam Kỳ trồng trọt.

1.

Năm đồng một ngày, gạo phát, đồ dùng rẻ, như thịt bò 1,70 một cân.

Đến chỗ làm, nếu không muốn thổi nấu lấy thì được ăn và Sở và phải trả 1,80 một ngày.

2.

Lúc đi được lĩnh không mất tiền một bộ quần áo, chăn, áo tơi, nón, chiếu.

3.

Có chỗ ở của Sở và nhỡ ốm đau có quan thầy thuốc trông nom không mất tiền.

4.

Khi đã biết công việc lấy nhựa sẽ được hưởng thêm 0,50 một ngày.

5.

Sở nhận nuôi ngay từ lúc ký giấy đi.

6.

Gia đình có con nhỏ có thể đi được.

7.

Tiền tàu đi về Sở chịu cả.

8.

Giờ làm việc theo sắc lệnh của thanh tra lao động Việt Nam và Pháp.

Vậy ai bằng lòng đi xin đến bản Sở ở tại số nhà 1 Immobilière (phố Belgique Hải Phòng).

Buổi sáng từ 9 giờ đến 11 giờ.

Buổi chiều từ 3 giờ đến 6 giờ".

Ở làng tôi xưa nay đã nhiều người đi phu mộ Nam Kỳ, Cao Miên, đi Tân Thế Giới - các đảo thuộc địa Pháp ở châu Đại Dương và Nam Mỹ.

Mỗi phen hàng họ nghề giấy, nghề lụa ế ẩm, người ta bỏ làng đi là thường.

Từ đời các cụ đã thế.

Đến như khi tôi biết, rải rác lâu lâu lại có người đi.

Lắm người đi nhất, ấy là mấy năm kém đói, từ quãng 1940 đổ về sau.

Các giấy thông báo kia dán khắp các tỉnh.

Nhưng ai muốn đi thì phải xuống sở mộ ở Hải Phòng.

Sở mộ đặt bàn giấy ở Hải Phòng.

Nó nghĩ cũng đã đáo để cùng kiệt.

Không chịu mất tiền đón người các nơi.

Nhà mộ chỉ phải chở tàu thủy người từ Hải Phòng đi.

Mà không dễ dàng ai đi cũng được.

Mày vào Sở mộ, lớ ngớ đưa thẻ thân ra.

Người ở Nghệ An, Hà Tĩnh, ở Vĩnh Yên, ở Yên Bái, thì đừng hòng bước ra không.

Nghệ Tĩnh gốc cộng sản.

Vĩnh Yên, quê ông Nguyễn Thái Học.

Yên Bái đã nổi loạn.

Quê mày ở đấy à?

Vờ đi phu mộ để làm hội kín, làm loạn à?

Đứng im.

Tây chủ mộ sai loong toong thẳng cánh vụt mấy chặp roi mây vào lưng vào đít, lại cho thêm vài cái bạt tai, rồi đuổi ra.

Thế là còn may.

Và những điều Sở mộ viết trên giấy chẳng giống chút nào với việc thực đi phu mộ.

Tôi cũng đã mắt thấy tai nghe.

Tàu thủy cặp bến Sài Gòn.

Phu lên ở tạm các nhà "Tân đáo" xóm Chiếu bên Khánh Hội.

Lúc nào xóm Chiếu cũng nhong nhóng cả nghìn người đợi đi.

Các sở cao su ở Dầu Tiếng, Quảng Lợi, Đất Đỏ, Lộc Ninh, ở Thủ Dầu Một, ở Tây Ninh và đồn điền Chúp bên Kông Pông Chàm xuống lấy người.

Bấy giờ mới chia phu đi.

Sở mộ nói "gia đình có con nhỏ có thể đem đi được" nhưng cái lúc giao phu, các đồn điền chọn từng người.

Thật ra cái nhà mộ phu ở Hải Phòng chỉ là nơi đi mua người để ăn hỏa hồng của các đồn điền, khéo khoác lác bịp trên giấy thông báo thế.

Đồn điền này có thể tuyển chồng, không tuyển vợ, và có cho đem con theo hay không, tùy người ta.

Chồng đi Chúp lên Cao Miên, vợ đợi đi Đất Đỏ.

Trong tay chủ hãng, người cu li như cá nằm trên thớt rồi.

Một dạo, tôi đã ở lâu vùng Dầu Tiếng đồn điền hãng Mi-sơ-lanh.

Tôi được chứng kiến những điều ghi ở giấy thông báo, đến lúc thành việc thì thế này đây.

Đồn điền Dầu Tiếng là "nước" riêng của hãng.

Giữa cánh rừng, từng lô nhà ở thành khu, gọi là làng, có đình chùa, nhà thờ - ngày nay vẫn còn lại những tên làng 1, làng 2, lô 5, lô 7 ở Bến Cát.

Chỉ có phu ở Bắc vào.

Sở cũng không mộ phu miền Nam.

Các làng ở thành dãy nhà liền vách, từng gian một.

Có gác dang Tây đen và người Khơ Me đi tuần đêm.

Thị trấn Dầu Tiếng và chợ ở xã trong các lô cao su là đất của hãng, chợ của hãng có cách mua bán sinh sống riêng.

Phu không có tiền lương, hãng phát phiếu tích kê hàng tháng.

Cân gạo, tĩnh nước mắm, cả cái tay cầm, cái chã đất cũng mua bằng tích kê.

Đến như phu cầm bán, đổi chác quần áo, đồ đạc và ăn uống, đánh bạc, cũng bằng tích kê với nhau.

Cái thẻ thân của phu thì Sở mộ thu từ Hải Phòng, giao thẳng cho chủ hãng giữ.

Không có giấy tờ, phu không dám trốn.

Một lần, tôi gặp trong một làng rừng ở Bến Rãy một ông đầu đã bạc, từng là phu cao su.

Ông ấy nói trước quê ở Ngọc Hà ngoài Hà Đông.

Đi phu mộ rồi trốn ra.

Không có thẻ tùy thân, không dám thò mặt đến thành phố.

Cứ quanh quẩn làm lực điền cho nhà giàu ở các làng.

Đã ngoài hai mươi năm rồi.

Nhiều nhà các ông hội đồng, ông hương quản, cả nhà các thầy su của hãng có dinh cơ vườn ruộng trong làng cũng được nhiều người phu trốn đến ở làm tôi tớ suốt đời, như thế.

Hãng bổ mỗi đầu phu phải trông nom, sửa sang, cạo mủ hai hàng chín trăm cây cao su.

Đến mùa cạo, sáng sớm chạy hai lần đôi bên hơn bốn trăm cây.

Một lần đặt chén và cạo.

Một lần trút mủ vào xô, rồi xách ra xe ô tô đậu đầu rừng.

*

* *

Ở làng tôi, đã có người đi phu cao su rồi mất tích.

Có người hết hạn công ta, xuống Sài Gòn làm ăn.

Chẳng mấy người trở về.

Nhưng cũng có những người vẫn xoay xỏa được trong cảnh khốn khó ấy.

Người ngoại ô thường ranh ma giỏi bắt chước, xoay xỏa.

Một dạo, bỗng dưng thấy biến mất thằng Điều.

Nghe ngóng các nơi, chúng tôi đoán không lẽ Điều đã bị bắt.

Điều hoạt động hăng hái hồi phong trào ái hữu Hà Đông.

Nhưng hỏi đâu cũng không ra tăm tích.

Đến khi nhận được thư, mới biết Điều đã đi phu mộ vào Dầu Tiếng.

Ba năm sau, hết hạn công ta, Điều về làng.

Tôi biết thêm về cái địa ngục cao su nhờ Điều kể.

Cuộc sống trong làng dạo này còn còm cõi hơn khi trước Điều ở nhà.

Bước vào năm 1943, đói to đến nơi.

Điều nói:

- Tớ lại đi đây.

Anh em bảo:

- Nghĩ cách nào khác hơn không?

Khổ chết người, còn đi phu cao su làm gì!

- Tớ chỉ nhờ cái vé tàu của Sở mộ vào thôi, còn sau đi đâu thì tùy.

Điều kể cho chúng tôi nghe Điều sẽ đi thế nào.

Rồi Điều làm đúng y như thế.

Đầu tiên, đến nhà lý trưởng mua cái thẻ thân giả một đồng bạc.

Rồi xuống Phòng, vào Sở mộ.

Đã thạo cung cách cả rồi, ở đấy vài ngày được lùa xuống tàu vào Sài Gòn.

Lại lên "tân đáo" xóm Chiếu.

Rồi luồn lách, được mộ lên Dầu Tiếng, nơi Điều đã thạo thung thổ.

Hãng phát quần áo cho phu đi làm.

Một hôm, Điều đóng bộ quần áo mới rồi ra chợ.

Đánh chén một trận, rồi đi thẳng.

Hãng có đội xếp, mã tà canh gác cả ngả đường ra vào.

Nhưng quần áo Điều còn trắng phẳng phiu, chưa dây mủ cao su.

Lính chỉ chú ý bắt phu trốn quần áo có dính mủ.

Điều mặc quần áo mới như người trong miệt rừng chở củi ra chợ và đi chơi chợ ăn nhậu nhân thể.

Về đến Thủ Dầu Một, trong mình đã sẵn cái thẻ thân thật, được nhờ gửi vào trước.

Năm sau, tôi vào Nam, lên Nam Vang, xuống đến Kam Pốt gặp lại Điều.

Lần này, Điều trốn ở Dầu Tiếng về Sài Gòn cũng chẳng tìm ra việc.

Rồi theo anh em đi Kam Pốt làm thợ dệt.

Điều lại cười, méo cả miệng:

- Khi nào về làng, muốn đi chơi Sài Gòn tớ lại xuống Phòng nhờ Sở mộ cái vé tàu.

Thạo rồi mà.

Nhưng rồi chẳng bao giờ Điều còn trở về làng.

*

* *

Hồi làm ở sở Quảng Lợi, thỉnh thoảng Điều gửi thư về.

Khi là tài liệu, khi là cái truyện ngắn hay bài thơ.

Điều và tôi hồi ấy đương ham tập tành làm thơ.

Cách mạng Tháng Tám 1945, tôi có viết lại một cái truyện ngắn của Điều rồi đăng báo "Hồn Nước" cơ quan Trung ương đoàn Thanh niên cứu quốc Việt Nam ở Hà Nội.

Quên mất tên truyện, chỉ còn nhớ truyện miêu tả quang cảnh Nam Vang, phát xít Nhật trong chiến tranh, đã lấy thành phố Nam Vang làm trại tù giam giữ tù binh Anh bị bắt ở Singapo, Mã Lai, Miến Điện đem về đấy.

Chiều chiều lính Nhật giải tù binh ra sông Mê Kông tắm.

Và nhiều tài liệu của Điều gửi cho tôi nói về đời sống làm phu cạo mủ cao su.

Sổ tay tôi còn giữ được nguyên văn một đoạn những cái Điều đã ghi về vùng cao su thời ấy:

"Sở Quãng Lợi có 9 sở lẻ: Sốc Gôn, Phú Miêng, Sốc Chào, Sacô 1, Sacô 2, Sacô 3, Sốc Xim, Tắc Lít, Chà Thanh.

Công việc quanh năm từ sáng đến chiều - Sáng cũng như chiều làm các việc kể sau đây: Trong livê làm hằng ngày kê những công việc này làm cả ngày, tùy mùa và cả năm thay đổi theo 12 tháng, nhưng vẫn những công việc như thế:

1.Đào lỗ cuốc gianh, cắt cành đau.

2 - Trồng cây, đánh cây.

3 - Đắp đê, cuốc líp.

4 - Sặc cai.

5 - Làm đất, sửa sang quét dọn trong sở.

6 - Làm đất, làm đường.

7 - Đi trút mủ buổi chiều.

8 - Phát băng.

9 - Chặt lò ô (Khoán 1 người 50 cây).

10 - Chặt cóc biển.

11 - Quét lá, đốt lá.

12 - Nấu bát, chia phần cây.

Việc ăn uống từ đầu năm tới cuối: gạo đỏ như màu củ nâu của hãng Pháp, mà cũng không đủ ăn.

Mỗi tháng 2 kỳ gạo.

Thức ăn chỉ có cá khô.

Thịt heo mỗi tháng mua hai kỳ, mỗi kỳ một kilô giá 0,50.

Không phải thịt heo, mà chỉ có xương và da heo.

Tranh nhau mua, hết không mua được thì thôi.

Mỗi tháng lĩnh 2 kỳ tiền rồi kẻ rượu, người chén thịt chó, một cắc (hào) một đĩa.

Lĩnh tiền ra, kẻ lôi túm áo chửi rủa, trông ra thì đấy là các bà cai ông cai đương đi khua tóm từng người, bắt nợ.

Mỗi kỳ tiền, dân mủ được nghỉ 3 buổi chiều.

Nhưng lại phải sửa phần cây hoặc bóc mủ đất chẳng hạn.

Không đi làm thế thì ba dăng và cai nó cũng không để yên thân.

Các thảm họa 1) Chặt tay vì cai đánh đập quá.

2) Nhảy xuống suối tự tử.

3) Thắt cổ vì ốm không được nằm nhà thương.

Ở Phú Miêng có các ông cai 54, 53, 27, ba ông này đánh chết người là thường, đánh dập lá lách không có gì là can hệ, còn người chặt tay ngay trước mặt các ông cũng khá.

Số những người trốn vào rừng bị hùm beo bắt ăn thịt uổng mạng thì luôn luôn.

Ở các nhà thương có ông huyện Đậy và thầy Sửu còn nhân đức hơn các ông cai kia.

Người nào có chết đến bụng mới hòng nằm nhà thương, còn loàng xoàng năm bảy ngày không ăn được cơm thì đừng có hòng dò đến mà mất mạng.

Buyarô của thầy Sửu được coi là nhân đức mà oai vệ không sao nói xiết.

Có những thứ sau đây: 2 cái bàn vả, 2 cái hèo với đôi mũi đồng của thầy rắn không khác một cục sắt để nguội để bốp vào ống chân xem những anh ma lát vờ hay thật.

Còn những anh xem vẻ ốm loàng xoàng thầy dùng bàn vả và hèo đánh là thường.

Xem ra không phải là ốm thì bắt về sở cúp ba ngày làm không công không gạo, sáng sớm ra sân điểm chạy, 5 hôm rồi đưa một lượt roi quất vào đầu óc mình mẩy rồi mới được đi làm, thực là một sự đau lòng cho ta.

Các thứ ăn chơi về ngày tết ra sao - 27 tháng chạp.

Bao nhiêu làm ăn vất vả và đau khổ một năm đã quên hết.

Chỉ thấy chỗ nào cũng bàn tán về sự ăn và chơi bời trong 10 ngày tết.

Đêm 28, ở trong rừng rậm còn nảy ra những ánh sáng lập lòe của những bó đuốc của những cu li vẫn đương cạo nhựa.

7 giờ sáng sớm, những cai la hét dân chút nhựa, hơn 7 giờ về tới nhà điểm nhựa, ăn uống xong ra lĩnh tiền, đi chợ mua đồ Tết, còn bao nhiêu đem đến đám lắc đĩa, hoặc là ăn hết.

Người mua được cái quần cụt, người mua cái áo ngắn.

Còn tiền thì mua tĩnh nước mắm kho cá để ra ngoài Tết sài.

Ngày Tết, thỉnh thoảng thấy năm ba người quần trắng áo thâm dắt nhau nhởn nhơ trong lô cao su, chẳng khác chim sổ lồng.

Trong sở lẻ thì thế, trong sở chính có các thú vui như bịt mắt bắt dê, đánh vật, đập niêu, nhảy bao bố v.v.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
51. Trại Găng


Trên đường xuống ô Cầu Dền, phía tay trái, chỗ ngõ trại Găng bây giờ, nhà phố chồng chất, khu tập thể san sát, người ở đông nhộn.

Không thể biết sao chỗ đông đúc ấy xưa lại có cái tên là trại Găng.

Tôi còn được thấy đôi chút hình thù nguồn gốc của cái tên trại Găng này.

Địa giới thành phố hồi ấy mới chỉ đến cuối đường Huế, rồi đường cái đá ra đầu ô, đã thuộc huyện Hoàn Long tỉnh Hà Đông.

Chưa có vỉa hè.

Một dãy những cây găng tây loăn xoăn lá mọc ven đường.

Phía cuối là một vườn hoa, cỏ mọc ngang đầu gối, có một tòa nhà hai tầng kiểu biệt thự đã đổ nát, như không có người ở.

Người ta kể xưa kia chủ biệt thự là một nhà giàu tiền bạc như nước, cho nên mới bỏ của xây dựng dinh cư ra tận ngoại ô như thế.

Nhưng mà, rồi trong gia đình nhà giàu nọ xảy ra những rắc rối oan khiên thế nào đấy, đúng đến ngày cỗ bàn khánh thành ngôi nhà thì có một người treo cổ lên xà nhà, thắt cổ chết.

Vận áo xám, cái nhà từ đấy bỏ hoang.

Đến thời tôi biết thì cái nhà bỏ hoang ấy là một cái nhà săm - loại gái điếm và khách chơi hạng bét mới chui vào nhà chứa ngoại ô tồi tàn đến thế.

Lại còn sợ ma nữa chứ.

Người ta đồn trong nhà ấy, cứ nửa đêm, từng đàn ma chạy lục cục trên gác xuống nhà, dựng cả giường chiếu người đương nằm.

Càng ít người lai vãng.

Đi ngoài đường nhìn vào, những cây găng tây xơ xác, cỏ mọc lút đầu.

Tường nhà rêu mốc, um tùm cây si, cây đề mọc cả trên tường hồi.

Những trông cảnh tang thương cũng đã tưởng tượng ra mọi chuyện ma quái, rùng rợn rồi.

Dãy nhà bếp đằng sau, người ta để chỗ thuê nhốt ngựa kéo xe tang của một nhà đòn đám ma ở gần chợ Hôm.

Một tối, chúng tôi đi chơi hát cô đầu ở Vạn Thái.

Nhà hát phía bên đường tàu điện, cũng gần trại Găng.

Có Nguyễn Đình Lạp, Đồ Phồn, Nam Cao, Phạm Ngọc Khuê... cũng là đi "che tàn", không còn nhớ vì sao lại có cuộc chơi đêm ấy.

Chủ nhà hát đã khép cửa và cuộc tom chát bắt đầu.

Nhưng người đến chưa thật đủ, vẫn còn thiếu Phạm Ngọc Khuê.

Câu chuyện oái oăm Đồ Phồn kể về cái ông bạn mà chúng tôi đương mỏi mắt trông vẫn chưa thấy đến, khiến tôi - có lẽ tất cả chúng tôi đã giật mình.

Vì tiền chi chính cho chầu hát này sẽ trông cả vào Phạm Ngọc Khuê mà Khuê còn đương đi chạy tiền, chưa thấy hồn vía người và tiền đâu cả.

Phạm Ngọc Khuê mới đỗ bác sĩ chưa có việc làm.

Gần nhà có một anh đan len - đàn ông, nhưng đan rất khéo, quanh năm có việc kiếm ra tiền.

Anh ả mê Phạm Ngọc Khuê, chết mê chết mệt như một cô người yêu thực thụ.

Cái anh chàng đồng tính này thường bao cả mọi thứ tiêu xài cho ông bác sĩ trẻ.

Phạm Ngọc Khuê đã đào được cái mỏ còm và kỳ quái ấy.

Nhưng mà được của thì Phạm Ngọc Khuê phải chịu nổi khổ của người đàn ông có nhân tình cả ghen.

Anh ả này luôn luôn rình mò và ghen tuông ghê gớm.

Khuê đi đâu không dám mặc quần áo tử tế từ nhà.

Đột nhiên, gặp giữa đường mà nó không biết anh đi đâu, thế là cơn lôi đình tam bành nổi lên.

Nó giựt cà vạt, xé áo, kêu khóc ầm ĩ ngay giữa đường.

Ai cũng đoán cái tiền chi chầu hát tối nay chỉ trông vào tiền xoay của tên đĩ đực nọ và khấn cho làm thế nào Phạm Ngọc Khuê khéo léo đi thoát được.

Đến khuya cũng chẳng thấy.

Chốc lại có anh hé cửa nhòm ra: Đường đã vắng hẳn người.

Cũng may, cả bọn chưa đến nỗi rách quá.

Bòn mót từng người cũng đủ tiền cáng nổi chầu hát với mấy chai bia đen.

Và, tất nhiên, chầu chay suông tình thế này thì các quan viên phải ý tứ rút sớm.

Để khỏi bị rủa thầm và còn lấy chỗ đi lại.

Bởi chưa muộn lắm, may ra nhà hát người ta còn vớt vát hóng được đám khách khác.

Ra đến đường, mỗi người mỗi ngả ngay, nhạt đám.

Phần Nam Cao và tôi thì bị rầy rà nhất.

Chẳng phải vì từ chiều chưa có miếng vào bụng, ngoài vài ngụm bia.

Cái ấy chưa quan trọng.

Mà cái sự là chui vào đâu ngả lưng cho qua đêm bây giờ.

Có thể đi xe điện, nhưng tàu điện đã hết từ lúc tám giờ tối.

Mà cuốc bộ ngang thành phố về được tận Bưởi thì chẳng những xa quá, lại đêm hôm khuya khoắt làm sao tránh được mấy cái bóp đội xếp Hàng Đậu, Quan Thánh.

Khó lòng mà khỏi phải bắt bỏ bóp vì tội ma cà bông đêm khuya đi lang thang.

Tôi nói:

- Cũng còn mấy hào, hay là vào "săm" trại Găng?

- Ừ thì vào.

Cái nhà "phòng cho thuê" có ma, bệ rạc, hoang vắng, mà lại chỉ thuê ngủ không, thì vài hào cũng xong.

Lần đầu tiên, tôi vào săm trại Găng.

Nhưng bởi bia hãy còn hăng, chúng tôi xăm xăm qua vườn cỏ dưới bóng những cây găng như ma đứng trong bóng tối.

Tít trong tường mới có một ngọn đèn điện đỏ đòng đọc.

Một người bồi săm lừng lững hiện ra, hom hem thấp thoáng mắt trắng dã, như con ma hiện hình.

- Này ba hào đây, có xó nào cho hai thằng ngả lưng tạm đến sáng cũng được.

Còn có thế.

Chẳng biết vì quần áo xốc xếch, vì nét mặt chán ngắt, vì câu nói cạn ráo hay bởi con mắt tinh đời nghề hộp đêm, người bồi săm chẳng hỏi thêm câu nào nữa.

Hai chúng tôi được dẫn vào một chỗ chỉ độc một chiếc giường trơ nan giát không chiếu bên một ngọn đèn hoa kỳ tù mù đặt dưới đất góc buồng.

Người bồi rủ rỉ:

- Hỏi thật, có cần không?

- Còn đồng chó nào mà cần!

Để khi khác nhé.

Người bồi săm bước ra, sau khi đã nhặt đồng hào ván đặt trên giường.

Cũng vẫn để mặc cái cửa toang hoác, không buồn đóng.

Tôi chợp mắt được một lúc, bỗng chợt tỉnh.

Không phải mất cơn ngủ vì muỗi quá.

Mà vì có những tiếng động mạnh ngay bên tường.

Kịch... kịch... kịch... bốp bốp, kịch kịch...

Ở trong buồng tối tù mù này nghe như tiếng những hòn đất ném xuống nắp áo quan dưới huyệt... kịch... kịch...

Câu chuyện ma bỗng gờn gợn ở đâu về.

- Cái gì, mày ạ.

Thì ra, Nam Cao cũng đã thức.

Chúng tôi nghe rõ ràng tiếng động như khua dưới chân giường.

Nhà săm có ma...

Người ta đã nói thế mà...

Thảo nào, không một bóng người, không tiếng ho hắng, tiếng giày dép.

Giờ là canh hai, canh ba, không có cả tiếng gà gáy, những đêm khuya ngày rạng thế này là lúc ma đi ma về đây.

Cái giường như sắp nghiêng theo tiếng lịch kịch, lịch kịch ghê rợn, ma lật giường, ma đuổi.

Không biết từ phía nào, ánh sáng nhạt nhẽo mờ mờ hắt vào.

Nam Cao thì thào:

- Sắp sáng rồi.

Đi thôi.

Chúng tôi lẳng lặng ngồi dậy.

Và chuồn luôn.

Từ lúc nửa đêm, hai thằng vẫn nằm nguyên cả quần áo với đôi giày ba ta dưới chân.

Người bồi săm ngồi hay ngủ ở xó xỉnh nào không thấy ló mặt ra.

Chẳng ngó ngàng xem khách đi bất chợt như thế có xách đi mất thứ gì không.

Không thấy, cái bóng đèn điện vẫn đỏ bẻm trên chiếc bảng gỗ kẻ chữ: phòng cho thuê.

Ra đến chỗ vườn cỏ dưới gốc mấy cây găng tây rồi mà vẫn nghe tiếng lịch kịch, bốp bốp.

Bây giờ mới ngớ ra.

Ồ đấy là những tiếng động trong cái chuồng ngựa của nhà đòn đám ma ở dưới gian bếp.

Ra đây, nghe rõ cả tiếng ngựa thở phì phì, tiếng vó đạp nhau với tiếng đuôi ngựa xua muỗi quất đét đét... kịch kịch... cốp cốp...
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
52. Pháo


Đốt pháo là một thú chơi lâu đời, hàng năm pháo được đốt trong nhiều dịp, nhiều việc khác nhau.

Hội làng, tết Nguyên Đán, ngày cưới, lễ mừng thọ, khao vọng, khai trương và mở cửa hàng, động thổ, xuống đồng, cưới chợ...

Khi trong nhà có cụ đôi năm mươi, lúc chuyển cữu cũng đốt bánh pháo với ý nghĩa cháu, chắt, chút chít khăn vàng, khăn đỏ "mừng được phúc cụ cố".

Nhà có người ốm lâu rồi mất, khi đưa ma đốt pháo ở ngay nơi giường bệnh, có ý "đuổi tà ma" và mùi pháo khiến cho "sạch nhà".

Còn ngày cưới thì đốt pháo đón dâu, đưa dâu, lễ tơ hồng trong tiếng pháo khói pháo thơm thơm xanh lơ.

Nhưng tục pháo ngày Tết không phải đâu đâu cũng như nhau.

Phần nhiều ở miền bắc và người ta cũng chỉ đốt pháo ở thành phố và vùng đồng bằng.

Ở miền Nam, Tết cả thì người Trung Quốc đốt pháo trong Chợ Lớn râm ran suốt, ngoài Sài Gòn cũng thưa thớt thôi.

Dần dần, người Bắc vào làm ăn nhiều trong Nam đã khiến cái chơi đốt pháo thêm tưng bừng, nhất là từ đợt di cư hàng triệu người sau chiến tranh chống Pháp, nhiều vùng ở huyện Thanh Oai, huyện Ứng Hòa vào ở Quảng Nam, vào Sài Gòn tụ hội làng làm pháo, pháo thành một nghề.

Xưa kia không phải nhà nào cũng có pháo Tết.

Trong làng tôi và ở xóm tôi cả ba ngày Tết chẳng mấy nhà đốt pháo.

Chỉ vì nhiều nhà chạy ăn mửa mật quanh năm cũng còn chưa đủ, tiền đâu mà đem cho nổ ra khói.

Nhà tôi cũng chẳng mấy năm có pháo, năm có năm không.

Đêm giao thừa thức nghe pháo những nhà ai mà tiếng rào rào ngoài thành phố dội ra cũng khoái tai.

Không có thì thôi, chẳng xấu hổ hay buồn phiền vì nhà không có pháo.

Chẳng ai đua đòi nhà nào cũng ganh nhau đốt pháo, đốt tràng dài, đốt nhiều tưởng không có không được như bây giờ.

Có nghĩa là thói quen của người ta cũng thay đổi, cả cái sự chơi đốt pháo.

Mấy ai còn nhớ còn biết thú chơi pháo đẹp đẽ xưa kia.

Ngày trước đốt pháo không mảy may giống bây giờ.

Đốt pháo như bây giờ thì chỉ đáng trách, phí phạm và hung tợn.

Làm pháo, năm nào cũng thế, nhất là làm pháo bán chui, năm nào cũng nhiều người bị bỏng, bị què cụt, bị chết.

Khách nước ngoài thì quả là ai cũng ngại pháo.

Chưa một bạn nước ngoài nào mà tôi quen có dịp ăn Tết ở Hà Nội nói rằng, thích trò chơi đốt pháo.

Lịch sự và tế nhị, người ta chỉ cười, cũng không nói là hãi, là sợ.

Thật dễ hiểu, tiếng pháo nào khác tiếng súng.

Quả pháo thời trước khác hẳn quả pháo ngày nay.

Các làng vùng huyện Thanh Oai, huyện Ứng Hòa có nghề làm pháo, nhiều nhất ở làng Bình Đà, làng Từ Châu và vùng Chuôn Tre vừa rượu ngon vừa pháo giòn...

Nhưng làm pháo cũng chỉ là nghề phụ khi nông nhàn, việc đồng rỗi rãi.

Người ta đi mua giấy bản trắng và giấy báo, quét phẩm màu đào cả hai mặt để quấn pháo.

Giấy làm ngòi pháo, thứ giấy dó phải thửa riêng có sợi dai và đanh mặt, cháy chậm, nhà làm pháo đi kén giấy làm ngòi pháo ở vùng Bưởi.

Công phu nhất là thuốc pháo.

Còn nhớ khi về làng nội tháng cuối năm, tôi thấy tấp nập trong các nhà, chỗ này những con lăn quấn pháo, chỗ kia vần cối giã thuốc, luyện thuốc.

Hàng thúng bột than hạt quả xoan, hạt quả găng và hồng hoàng đỏ, trộn lại phơi khô để luyện thuốc.

Thuốc pháo thời ấy tuyệt nhiên không làm bằng thuốc nổ, thuốc súng.

Chẳng nghe ai nói ở đâu có người bị què gãy, bị chết vì làm pháo, đốt pháo như bây giờ.

Nhà giàu đốt pháo thước, pháo cối.

Còn bánh pháo thường chỉ hai lớp và dài hai ba tấc.

Năm mới, pháo nổ giòn, xác pháo màu hồng điều hây hây rơi xuống như những cánh hoa đào bích, trẻ con ùa ra sân chạy nhảy ngây ngất quơ tay đùa trong khói pháo.

Người ta đi trong khói pháo thơm ngan ngát, không kinh hãi và không phải xì mũi hắt hơi vì pháo thuốc súng khét lẹt và đen nham nhở cả tường.

Nghề làm pháo cổ truyền bị mai một dần.

Đến bây giờ thuốc pháo chỉ là thuốc nổ, kể cả pháo ở Bình Đà mà người ta cho là gốc pháo, thật ra cũng là pháo dởm.

Vậy là quả pháo toàn thuốc súng tuyệt nhiên không phải quả pháo dân giã vui chơi xưa kia đâu.

Đốt pháo bây giờ rác nhà, bẩn nhà, nổ như súng, tai nạn đã xảy ra chẳng những khi làm pháo mà cả khi đốt pháo.

Thú chơi đốt pháo bị làm sai lệch ý nghĩa, vô duyên quá.

Tết vui, tết đẹp đón xuân mà xung quanh cứ "bắn súng" đùng đoàng thì còn ra làm sao.

Ai còn nhớ quả pháo chơi xuân ngày xưa.

Nhưng chưa chắc các cụ làm pháo cổ truyền đã còn ai.

Những như tôi khi còn bé đầu trọc để chỏm kéo nhau đi xem đốt pháo đùng, đốt cây bông ở cánh đồng Bình Đà thủa ấy, nay cũng thành những ông lão ngoài bảy mươi cả rồi.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
53. "Khi người ta là lính thủy"


Những năm giữa thập kỷ ba mươi, trong thành phố bỗng rầm rộ đua nhau hát các "bài ta theo điệu Tây".

Trẻ con tay giựt dây chơi quả gỗ tròn yô yô, miệng nghêu ngao.

Hãng sản xuất máy hát Patê thu vào đĩa nhựa lời hát của các đào kép đương nổi tiếng trong Nam ngoài Bắc: Năm Phỉ, Tư Chơi, Phùng Há, Ái Liên, những bài hát, câu hát: Tôi có hai mối tình.

Đất nước tôi và Pari...

Ở Capri tôi gặp em...

Nhiều báo và truyện kiếm hiệp mỗi số ba xu ra hàng tuần, trang cuối đều in những bài hát kiểu đó.

Nhiều nhất, bài của nghệ sĩ Tư Chơi đã ra thành sách.

Năm ấy, tôi khoảng mười hai tuổi, đương học lớp nhì.

Thực sự tôi sợ giờ học hát hơn cả giờ toán pháp.

Bởi không phải chỉ hát đồng thanh, có khi bị gọi đứng lên hát một mình.

Trong các trường tiểu học, học sinh phải hát và đọc thơ La Phông-ten bằng tiếng Tây, tay chân mặt mũi làm điệu bộ như phường tuồng, thầy giáo cho điểm hẳn hoi.

Tôi được trông thấy đốc học Hà Nội là Trần Trọng Kim đến "khám" trường.

Ông béo lùn, ngồi trên bàn thầy giáo, múa tay, phồng má, trợn mắt đọc và diễn tả bài thơ "Chó sói và chó nhà" giống trên sân khấu, xem cũng hay hay.

Cả lớp một loạt hát đồng thanh rồi thầy giáo còn gọi vài đứa đứng lên hát.

Bài thường hát nhiều nhất là bài "Khi người ta làm lính thủy".

Bài này cũng được đặt lời ta theo điệu Tây có nghĩa khác hẳn.

"Sầm Sơn vui thú xiết bao!

Lòng ta ao ước khát khao!"

Nhưng ở lớp không hát lời ta mà phải hát bằng tiếng Tây.

Tôi không sợ tiếng Tây, nhưng tôi đương vỡ tiếng, không có giọng, giọng ông ổng chó lài, hát hổng không ra sao.

Tôi sợ cái nỗi ấy.

Chứ cứ gân cổ gào hét lăng nhăng, bố láo thì tôi cũng được một mũi.

Các gánh xiếc Long Tiên, gánh Mai Lâm, gánh Tạ Duy Hiển, có cả xiếc bên Tây sang diễn ở bãi Hàng Da.

Gánh nào cũng đặt những bài hát câu khách, khi bài ta theo điệu Tây, khi các điệu hành vân lưu thủy, điệu vọng cổ, kim tiền, bình bán...

"Xiếc này là xiếc Việt Nam.

Đi xe đạp trên dây gảy đàn", chúng tôi đã lái cả ra lời hát nhại cợt nhả, nhảm nhí.

Còn nhớ lõm bõm đôi ba câu bài Khi người ta là lính thủy, bài này hùng hồn có thể hát to tướng:

Cằng tông ne ma tớ lô

(Quand on est matelot)

Khi người ta là lính thủy

Luôn luôn người ta ở trên mặt nước

Thăm khắp thế giới

Đó là nghề đẹp nhất

Hoan hô người lính thủy

Từ Nam cực lên Bắc cực

Đến từng bến nhỏ

Từ Chi Lê sang tận Trung Quốc...

Những câu loăng quăng và xa xôi mơ màng.

Bản đồ ở lớp không có và chúng tôi cũng không biết Nam cực, Chi Lê, Trung Quốc, Capri là những đâu đâu.

Nhưng nghĩ như thế cũng hay, rồi ra có khi bởi thuộc lòng, hình bóng tưởng tượng in mãi vào trí nhớ, vào tâm hồn, vào sự sáng tạo và chí hướng sau này cũng nên.

Chiều hôm ấy, đến giờ học hát, cả lớp ngồi ê a một lượt vài bài theo nhịp thước kẻ bảng.

Tôi để ý chỉ thấy thầy đứng gõ nhịp, chẳng biết thầy có hát được không, thầy không hát bao giờ mà toàn bắt học trò hát.

Thường có bài mới, những đứa giọng hay lên hát – bài hát chúng nó đã thuộc, đem ở ngoài đường vào.

Thầy giáo Chương gọi mấy đứa lên.

Chết rồi, có cả tôi.

Ôi chao, thầy đã biết quá rõ tôi hát thế nào, sao lại gọi tôi làm gì cho tôi khổ.

Hay thầy trù tôi.

Mà tôi chỉ có vẻ ngoan ngoãn, cù rù, lành như đất, khi nào hư hỗn gì đâu.

Thầy vô tình gọi tôi hay thầy cố ý, tôi không hiểu.

Đến lượt, tôi khoanh tay bước lên, lúng túng chơ vơ trước cái bảng đen.

Cằng tông ne ma tớ lô

Ông ne tú dua suyếc lồ...

Vốn dĩ, tôi cũng thuộc làu cả bài.

Nhưng giọng tôi khê cứ òm òm như đứa bơi hai chân tầm phòng thế nào ấy, không cất lên được.

Miệng tôi như con cá ngáp, tay nắm chặt khuỷu, đầu gối lẩy bẩy.

Tôi mới lắp bắp được mấy câu.

Thầy giáo Chương giơ chiếc thước kẻ bảng dài bằng cái đòn gánh.

Tôi chúi đầu tránh, tôi tưởng thầy nện tôi.

Nhưng không.

Thầy gõ thước vào mép bàn, nói:

– Về chỗ!

Chắc bị điểm tồi rồi.

Nhưng dẫu sao, thế cũng đã là hát, có thể chẳng đến nỗi bị xơi con dêrô trứng ngỗng!

Thoáng nghĩ đã mừng.

Những đứa hát được thì chạy thoắt về chỗ, tôi vẫn bước từ từ.

Trống ra chơi dứt tiếng, các lớp à à xuống sân như vỡ tổ ong, bây giờ cái thằng tôi nghịch ngầm mới vênh lên bộ mặt sướng, sướng quá.

Thoát rồi, cái giờ học hát khốn khổ.

Nhiều đứa cũng khoái giống tôi.

Chúng tôi chạy cuồng như phát rồ.

Lúc nãy rụt rè, khép nép, run lập cập, bây giờ hoa chân múa tay.

Chúng tôi tụ lại dưới gốc cây lạc tây sân trên.

Không phải để xem đá cầu như mọi khi mà đứng cong cổ lên gào những câu láo lếu nhại điệu bình bán của gánh xiếc:

Xiếc này là xiếc Việt Nam

Đi xe đạp rách tan cả quần.

Lại sang bài nhảm khác, đểu quá.

Cả sân kéo đến nhập bọn mỗi lúc một đông.

Chúng tôi bíu áo, bíu tóc nhau, gào hát ầm ĩ.

Các thầy giáo đương ngồi trong nhà nghỉ uống nước.

Thầy Chương nhìn đã để ý đám ồn từ lúc nãy.

Có lẽ thầy nhận ra toàn học trò lớp mình.

Thầy nhấc cái khăn xếp cầm tay, đôi giày tây đế da cá sắt bước vội cộp cộp, crắc... crắc...

Chúng tôi vụt câm như hạt thóc.

Thầy hất tay:

– Sen!

Khai!

Bảo!

– Dạ.

– Vào lớp!

Ba đứa lấm lét bước theo nhau.

– Giang tay ra.

Úp mặt vào tường!

Thầy Chương đá mỗi đứa một đá.

Tôi nhói ở cẳng chân.

Không biết bị ăn cái đế da hay con cá sắt, tôi không dám nhìn xuống.

Ra lệnh xong, đá xong, thầy Chương lại lững thững lên nhà nghỉ uống nước.

Chưa hết mười lăm phút giờ ra chơi.

Đến lúc các lớp đã vào học, ba chúng tôi vẫn phải đứng giang hai tay như chúa Giêsu bị đóng đinh trên thập ác.

Bao nhiêu đứa hát láo lếu sao chỉ có ba thằng phải phạt?

Riêng tôi, chắc đã làm thầy cáu nhiều.

Trước mặt thầy thì run rẩy lơ láo xanh mắt, thoáng cái sau lưng đã "ma cà bông", "ma cà chớp".

Chẳng oan, thầy bực mình cũng phải.

Trống tan học, các lớp đã sắp hàng ra cổng hết cả rồi.

Chúng tôi mới được cụp tay lại về chỗ lấy cặp.

Cánh tay tôi mỏi ê ẩm.

Lên đến trên mặt đê, thoáng đãng, đã quên luôn mới bị phạt.

Vừa chạy vừa tung cặp lên, lại hét: Xiếc này...

Rách tan cả quần...

Rách tan cả quần...

Đột nhiên,tôi cúi xuống rồi kéo ống quần lên.

Cái chỗ cẳng chân – chỗ "ti bịa" tôi bị thầyđá, một vệt máu phòi ra, chảy xuống cổ chân đã khô đen xỉn, bóc ra được.Tôi vốn lành da, chỗ đau không sưng tấy, rồi khỏi lúc nàocũng không biết.

Nhưng để lại một cái sẹo, bây giờ già rồimà vẫn còn vết lõm.

Trong đời đi học, tôiđã bị hai thầy giáo đá, thầy giáo Hanh đá tôi, cũng vào cẳng chân.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
54. Chiếc xe cút kít


Bây giờ không còn có xe cút kít - vẫn còn xe bò, nhưng cũng hiếm lắm.

Chẳng mấy người còn phân biệt được xe ba gác, xe bò.

Hai cái xe bánh sắt ấy cũng tương tự nhau.

Nào ai biết xe bò có khi người cầm càng, có khi bò kéo, còn xe ba gác thì nhẹ nhàng hơn, chỉ người cầm càng mà thôi.

Ở Hà Nội, nửa thế kỷ trước có cái xe cút kít cũng quen mắt như xe tay, xe ngựa, xe bò.

Hiện nay, ngoài phố, xung quanh các xe tải rác đường có cái xe một vành bánh con xinh xẻo thoăn thoắt chuyển rác ở rãnh, ở hố lên.

Cũng có người gọi là xe cút kít, nhưng xe cút kít ngày trước thì không giống thế.

Ngày ấy, xe cút kít thường đi đi về về nhiều nhất quanh cuối phố Hàng Buồm.

Chuyện cũ về phố Hàng Buồm thường nghe kể phố ấy lắm hiệu ăn sang trọng của người Trung Quốc - mà bấy giờ gọi là hiệu "cao lầu" nhưng nếu tỉ mỉ hơn sẽ nhận ra phố Hàng Buồm từ ngã tư Hàng Ngang ra đến ngõ Phất Lộc cuối phố sang Cầu Đất bên bờ sông thì không phải nhà nào cũng cao lâu tửu quán nguy nga choáng lộn mà mỗi quãng phố ấy đều một khác.

Mới thoạt vào đầu phố, hai bên hè thơm phức, thơm ngậy mùi lê, táo, nho Hồng Kông, Vân Nam cùng những cái thớt gỗ to đùng với thịt lợn, thịt vịt quay, tiếng dao chặt côm cốp, sực nức mùi tương tàu, củ kiệu giữa đám thịt đã chặt miếng gói trong cái lá sen khô buộc lơ lửng nhẹ nhàng chiếc lạt cói.

Rải rác mấy nhà hàng ăn nổi tiếng lâu năm: Tây Nam Tửu gia, Nhật Tân lâu, Đông Hưng viên.

Mấy quán cơm tám giò chả và cao lâu Mỹ Kinh, những nhà hàng mới ra đời vài năm sau.

Còn cao lâu Siêu Nhiên và nhà Nguyên Sinh phố Thuốc Bắc - cũng như nhà hàng Lục Quốc ở phố Huế, tuy đồ sộ, đều là những hiệu ăn mở trong thời đại Hà Nội bị chiếm sau này.

Cuối phố Hàng Buồm còn sót lại những nhà ở phố cũ, từ thế kỷ trước.

Những nếp nhà trồng diêm, cửa sổ mắt bò, gác xép, mái chuôi vồ thụt ra thụt vào như hàm răng khểnh.

Ở quãng này có chen mấy nhà hai tầng.

Ngày trước cũng là cửa hàng buôn bán to, sau bị lụi bại vỡ nợ đã đem ngăn từng ô ra cho thuê.

Có tới mấy chục hộ ở, mỗi nhà một giường, hỏa lò và củi đuốc, mọi thứ đồ đạc đều nhét trong gầm giường.

Chỗ nào cũng lúc nhúc người và khói bếp.

Hồi ấy, tuần báo Ngày Nay đã in một phóng sự ảnh hai kỳ về ngôi nhà khiếp đảm nhất Hà Nội này.

Giữa những nếp nhà cũ, những nhà ổ chuột lại lẫn vào những tòa nhà hai tầng sàn gỗ vững chãi mà tối đen ngòm.

Đấy là những cửa hàng của người Trung Quốc chuyên buôn đường

- đường Quảng Ngãi ra Hà Nội rồi tải đi các tỉnh.

Đường ở biển vào theo đường sông lên bến Nứa, phà Đen đưa về Hàng Buồm thuận lợi và gần hơn cả.

Nhà nào gian ngoài cũng ướt nhớp nháp, chất cao những cái buồm đựng đường to như những bao tải áp lên sát trần.

Chiếc xe cút kít chuyên tải đường từ bến lên kề vào tận mép hè.

Người đẩy xe cút kít buông cái càng xuống, chui ra ngoài chiếc thừng đay nghiến hằn đỏ vai, rồi vắt mảnh khố tải choàng lên kín xuống lưng.

Những buồm đựng đường - một thứ bị cói, cao to bằng chiếc tải được xốc lên lưng, vác chạy băng băng huỳnh huỵch vào nhà, trong khi những tốp cu li khác từ trong nhà ra.

Mồ hôi những tốp người qua lại rỏ xuống cũng đủ nhầy nhụa sàn nhà.

Họ hối hả vác ra vác vào, như đàn voi, đàn trâu kéo cày, kéo bừa.

Người ta bảo chỉ có cu li Trung Quốc - đã mấy đời làm nghề đẩy cút kít và khiêng đường mới khỏe và quen việc, rồi ăn thì như rồng cuốn đến như thế, chứ không dễ ai mỗi chốc đã làm được.

Chiếc xe cút kít chỉ có một bánh, cái bánh gỗ chắp, gỗ chốt bánh gỗ đặc và dày như cái thớt chặt chịt quay, to tròn bằng chiếc vành thúng đại.

Hai càng xe như hai bắp cày duỗi về đằng sau khuỳnh khuỳnh rộng ra. người đẩy cút kít phải dang rộng hai cánh tay nắm vít đầu càng.

Những chữ "khuỳnh khuỳnh tay ngai" để chỉ chiếc xe đạp thồ gạo trên chiến trường Điện Biên Phủ chắc không phải mới, mà "khuỳnh khuỳnh tay ngai" đã ra đời từ thời kỳ những ông hiên ngang khuỳnh tay đẩy xe cút kít cũ kỹ này.

Trên bánh xe, một mặt phẳng chất hàng.

Người đẩy xe đi đằng sau là một du khách - người Trung Quốc lao động thường được ta gọi thân mật là "chú", là "thím", những ngày hè thì người nào cũng cởi trần, vắt quanh cổ cái khăn mặt đã ngả màu cháo lòng, mùa rét mặc áo khách xuyến ống tay rộng, ngoài láng thâm trong nhuộm nâu.

Quanh năm, đội trên chỏm đầu trọc chiếc nón tầu ô Hà Cối Móng Cái vành rộng phết màu vàng nghệ.

Khi đẩy xe, một chiếc thừng đay vắt chéo lên cổ, để phòng xe xuống dốc, cái cổ được chiếc dây níu lại tạo sức nặng như cái cọc, như hòn đá chèn cho bánh xe lăn từ từ.

Trên sàn xe, chồng chất những cái buồm cói, bị cói to lèn chặt những tảng đường phổi vừa được vác lên từ những đoàn thuyền trong Quảng mới ra, đổ san sát từ bến Phà Đen lên tận Cầu Đất, bến Nứa.

Cái buồm cói to bằng những chiếc thúng đại trên đậy vỉa buồm, hàng đàn ong ở đâu à à bay đuổi theo xe rúc vào trong buồm đường.

Chiếc trục gỗ quay, lăn bánh, chiếc xe được đẩy đi.

Những chiếc cút kít lũ lượt tải đường vào phố Hàng Buồm.

Tiếng bánh xe gỗ kêu cút kít... cút kít vang động trong nắng oi ả giữa cái phố trơ trụi không một bóng cây.

Chẳng hiểu vì tiếng cót két ủ ê ấy mà người ta đặt tên là xe cút kít hay tiếng Quảng Đông đọc chệch ra như thế.

Nhưng quanh năm, tiếng bánh xe gỗ ót ét rền rĩ cứ như hát, như khóc.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
55. Vườn Bách Thảo


Ngày trước, công viên ấy là Bách Thảo hay Bách Thú đều đúng nghĩa.

Bách Thú được xây năm 1890.

Thời ấy, vườn nuôi nhiều giống chim và con thú tương tự ở công viên Thủ Lệ bây giờ.

Còn gọi là Bách Thảo vì trong vườn mỗi cái cây trên lưng chừng thân đều được đeo tấm bảng bằng nhôm viết hắc ín tên khoa học của cây, cùng với tên cây thông thường, cây sấu, cây hạt dẻ, cây báng súng (tếch).

Bởi vườn ấy cũng là nơi trồng và nghiên cứu giống cây các xứ nhiệt đới thuộc địa của Pháp.

Ngày nay, muông thú đã được đem đi nơi khác, chỉ vẫn còn vườn Bách Thảo.

Nhưng cây cũng sơ sài và diện tích hẹp đi nhiều.

Cũng nên kể lại quang cảnh vườn Bách Thú xưa.

Thuở nhỏ, năm lên chín, tôi ra học trường Yên Phụ - trường Mạc Đĩnh Chi bây giờ, ngày ngày cuốc bộ từ làng Nghĩa Đô xuống trường phải qua vườn Bách Thảo, đường Cổ Ngư giữa hồ Tây và hồ Trúc Bạch.

Trưa ở lại, lang thang đợi buổi học chiều - thời ấy, các trường cấp tiểu học trong thành phố học mỗi ngày hai buổi, cả tuần chỉ nghỉ chiều thứ năm và ngày chủ nhật.

Nhưng sáng thứ năm học chữ Hán cụ Thành Ngọc Quỳnh thì cũng coi như đi chơi.

Buổi trưa đá bóng quần trên bãi ven đê, có khi kéo nhau đi nghịch ngợm linh tinh ở đường Cổ Ngư và trong vườn Bách Thú.

Con đường trải đá qua vườn song song với đường nhựa Hoàng Hoa Thám (bây giờ) ở trên, hồi ấy trống trải bãi cỏ và cây, không tường xây bịt kín như mới đây.

Ôm dưới chân núi Nùng, một phía dãy nhà một tầng chia từng ngăn, đằng trước che lưới sắt, người xem đứng ngoài lan can.

Đấy là những chuồng khỉ.

Mặc dầu mỗi ô chỉ có vài ba con, nhưng cả dãy thành một hội mấy chục khỉ láng giềng nhau, lúc nào cũng nhảy nhót, leo trèo, khẹc khẹc cãi nhau, chửi nhau hay nhăn nhó vui vẻ trò chuyện rầm rĩ những gì đó.

Điều đặc biệt là khi có đàn bà con gái đứng xem thì các chú khỉ đực nhấp nhô bám song sắt nhún nhảy gãi tai - hay ngó ra vẻ khác thường, hai con mắt tráo trưng, công tử khỉ làm dáng cũng nên.

Những con vượn, con khỉ độc - khỉ thật lực lưỡng, hai mảng đít trụi lông trơ mảng da nhăn nheo đỏ hắt và con đười ươi cao to như thằng người mặc áo chùng thâm, tay dài chấm bàn chân, khỉ độc và đười ươi được ở riêng những nhà lồng sắt tròn rải rác dọc đường đi, chẳng khác mấy những nhà lồng sắt vuông có mái che, trong đó đậu trên chạc cây cong queo những con công, con trĩ và gà gô.

Bên kia, trong gò giữa hồ sen, những con hạc, con sếu, con bồ nông lò dò ngất nghểu nhô đầu cánh.

Không biết những con chim trú đông giỏi bay xa này đã bị buộc cánh hay cắt cánh, hôm nào cũng thấy lêu đêu, dật dờ, khi trên cành, khi dưới bãi cỏ giữa đảo, khi cắm chân dưới nước ven hồ, đờ đẫn nhớ sông nước xa xôi nào mà ngước cặp mỏ nhìn người đi bên này.

Giữa bãi, dưới bóng những cây nhãn cổ thụ, có tòa nhà một tầng sừng sững như cái lô cốt.

Người ta gọi là chuồng voi.

Nhưng chẳng thấy con voi nào bao giờ.

Quá phía gần đường vào trại Hàng Hoa, khuất sau những búi song mây um tùm, rậm rì, gai góc lởm chởm, giữa nơi tĩnh mạc ấy, nổi lên một ngôi điện thờ, lúc nào cũng đèn hương nghi ngút.

Không biết thờ thần gì, trong kia là tòa nhà một tầng vuông vắn, chấn song sắt đen sì, mỗi thanh to bằng cổ tay.

Người ta quen gọi là chuồng hổ, nhưng cũng còn mấy con thú khác.

Hai con báo đốm đen, đuôi dài, mắt quắc tròn như hòn bi ve, chân cuồng đi đi lại lại thoăn thoắt suốt ngày.

Ngăn bên này, hai chuồng gấu, những con gấu ngựa, những con gấu chó đen nhánh, mắt ti hí như những con ma trong bóng tối hiện ra.

Hai ngăn giữa, hai con hổ vằn đen vằn vàng to kềnh, uể oải nằm ườn.

Ria mép trắng phếch trổ lủa tủa.

Đôi khi hổ nằm ngửa bụng đạp bốn chân lên như trẻ con chơi guồng nước.

Hổ chỉ nghịch đạp chân, không đi bách bộ như những con báo.

Bấy giờ có tiếng lóng chỉ những người thất nghiệp - người thất nghiệp hay vào ngồi vẩn vơ ở ghế gỗ trong vườn Bách Thú được gọi tên là những ông "xỉa răng cọp".

Thành tên bỡn cợt, mỉa mai này có lẽ vì những người ấy có thể sắp đi ăn trộm, sắp đi thắt cổ, còn tiếc đời lại rỗi rãi thì cả ngày chăm chú ngắm con hổ, như đương tìm cách vào xỉa răng cho các ông kễnh!

Dù các ông ba mươi đã bị giam trong chuồng cũi sắt, nhưng cũng vẫn ngài ngại thế nào.

Vả lại, ngày nào cũng có phu quét dọn mà cứt đái của các vị khai khẳn mũi.

Có một nơi chúng tôi ưa tha thẩn lâu, vì có bóng mát một rặng nhãn và cạnh bãi cỏ xanh rờn.

Khu vực nên thơ ấy bây giờ không còn nữa.

Chỗ này áp sau phủ Toàn Quyền, một bãi rộng rào lưới sắt xung quanh, nhưng vẫn thoáng.

Ở đấy có con hươu, con nai.

Những con hươu sao, đôi nhung tơ mới nứt vàng sẫm, ngây ra đứng nhìn theo.

Không hiểu sao, bởi chẳng ăn nhằm gì với nhau, chỗ khuất cạnh đấy người ta dựng cái tượng đồng bán thân, đầu quan Toàn quyền Đông Dương Văng Valănghôven mắt trố nhìn vào tấm lưới sắt rào cánh đồng hươu nai.

Sáng sớm, khi tôi đi học qua Bách Thú cũng là lúc những người phu quét lá vừa lia chổi, vừa nhác mắt lên các cành nhãn, cành cây thấp xem có người chết treo không.

Chẳng mấy đêm không có người vào thắt cổ nơi vắng vẻ này.

Rồi đến mùa quả sấu xanh, quả sấu chín vàng và mùa quả me, phu quét đường còn phải dọn cành gãy.

Ban đêm, có người vào trèo cây lấy trộm me, sấu bị sẩy tay.

Cành me, cành sấu không dai thớ như cành ổi, cành nhãn.

Người phu dọn cành, quét lá.

Những vũng máu đã thấm đen lại đọng trên mặt đường đá lổn nhổn vẫn để nguyên.

Buổi trưa yên tĩnh, bắt đầu những người làm vườn đem thức ăn và nước uống đến các chuồng.

Mọi thứ chất trên những chiếc xe cút kít bánh sắt, một người đẩy.

Tiếng bánh xe kêu rào rào, cót két, uể oải.

Những chiếc cóng sành trong chuồng chim được đổ vào thóc và ngô hạt.

Con khỉ và con đười ươi hai tay bưng miếng bí đỏ nhai rau ráu.

Những con gấu to như con trâu cũng gặm quả bí đao, bí ngô, hai mắt lim dim.

Chỉ có những con báo và hai con hổ chén thịt bò.

Miếng thịt sống có đến mấy cân đỏ tươi xiên vào những cái dĩa sắt được thả xuống sàn từ đằng song sắt cửa sau.

Hình như chỉ có đàn hươu nai đã có sẵn một cánh đồng cỏ thì người ta không phải cho ăn.

Ngày nào bọn trẻ con cũng vào Bách Thú mà không biết chán.

Tôi kể những cái nghịch tinh, nghịch ác mà các bạn nhỏ bây giờ chắc không thể hiểu, vì bây giờ không gặp cảnh như thế và có thể các bạn không chơi tai quái như thế.

Chúng tôi ném nhựa cành đa lông chảy xuống lấy cao su làm quả bóng.

Chúng tôi đặt những cái râu cong cong trong hoa phượng cho móc vào nhau chơi chọi gà.

Trong cặp tôi lúc nào cũng trữ mười lăm hòn đá củ đậu.

Vũ khí này cần thiết và lợi hại lắm.

Mỗi ngày tôi đi học sớm.

Sáu giờ sáng đã chạy nhanh nhanh trên đường cho kịp trống trường vào học bảy rưỡi.

Vào lúc ấy, người còn ngái ngủ mà đường làng, đường cái chỗ nào cũng nhiều chó chạy nhông.

Phòng chó cắn, tôi ném cừ lắm, trăm phát không trệch mấy.

Thình lình một phát vào đầu, vào bụng, con chó không kịp giật mình, ẳng ẳng được một hai tiếng, cúp đuôi mất hút.

Đến trường, tôi phải đi qua mấy làng.

Bọn lau nhau làng Yên Thái, làng Đông, làng Hồ, làng Thụy nhiều đứa đầu bò lắm, chúng tụ tập ngồi cổng làng chỉ đợi thấy trẻ lạ là ra cà khịa.

Rồi chẳng cơn cớ gì cũng xông vào đấm, đạp, kéo rách áo.

Tôi hãi, chỉ còn tránh đi đường trên.

Thế mà có khi bọn chúng cũng mò lên, đón đường sinh sự bắt nạt - bắt nạt nhau cũng là một trò chơi khoái trá của trẻ con.

Vậy thì những hòn đá trong cặp tôi được việc.

Bọn láo lếu du côn ở Thụy nhảy vào, tôi vừa ném lại, vừa kêu khóc, vừa chạy.

Và những hòn đá còn để lấy quả sấu, quả me.

Đội xếp được tiền nhà thầu thuê giữ quả từ đầu mùa rình bắt ráo riết lắm, thế mà chúng tôi vẫn ném được.

Ăn không hết thì đem về cho u luộc với rau muống.

Nói dối là bắt được quả rụng, không biết u có biết không, mà vẫn sợ.

Vậy mà những hòn đá vẫn chưa hết việc đâu.

Còn nữa.

Đi trong vườn Bách Thú âm u bỗng dưng ngứa tay.

Nhìn trước nhìn sau không thấy bóng người đội xếp, tôi lấy hòn đá ra choang lên một cái.

Xoảng!

Cái cột đèn bấy giờ uốn cong cổ, chiếc chao sắt tây tròn.

Chỉ trúng vào chao đèn cũng vỡ bóng.

Thế là vỡ cái bóng đèn.

Rồi lão đội xếp sẽ bị Tây phạt, bị cúp lương, bỏ cha lão.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
56. Sự tích làng


Mới đây, tôi có tham gia bước đầu sơ khảo "Lịch sử xã Nghĩa Đô".

Cho thật đúng, đấy là tự thuật đời sống tinh thần, vật chất và hoạt động của một địa phương ngoại thành đương dần dần đô thị hóa - người ngoại ô thành người Kẻ Chợ.

Một làng xã bình thường nhưng khơi gợi và xem xét thấy được lịch sử mỗi vùng làm nên hình ảnh cả nước, cả dân tộc, có nối tiếp và lâu dài.

Nó cũng là kỷ yếu đời người, bài học hôm nay và mai sau.

Tôi là một người sinh trưởng ở giữa đời sống làng quê - một nơi thuần phác lâu đời ở ven sông Tô Lịch phía tây kinh thành.

Chắc là tổ tiên xa xưa ở ngoài thiên hạ đã đến nơi đất lành chim đậu này làm ăn phục dịch cho Kẻ Chợ đô hội ba mươi sáu phố phường.

Những dòng họ và tiếng nói, giọng nói trong một xã mà mỗi làng nghe đã lạ tai, chứng tỏ nhiều về đặc điểm các làng ven nội.

Làng nghề lĩnh Bưởi, giấy Bưởi, kẹo mạch nha An Phú đã vào tục ngữ, ca dao.

Cam Canh, lĩnh Bưởi...

An Phú nấu kẹo mạch nha ngọt lừ...

Tương truyền danh tướng Lý Thường Kiệt đã từng ngồi học khai tâm ở Bái An.

Pháp chiếm Hà Nội, các làng tây bắc thành đã đánh nhiều trận từ Trường Thi đến Cầu Giấy.

Trước 1930, các phong trào yêu nước và khi đảng cộng sản ra đời, trong vùng có nhiều người hoạt động, tuy chưa thành phong trào.

Điều này rất điển hình về sự trái ngược ở hoàn cảnh những thành phố lớn.

Nhà cách mạng Nguyễn Phong Sắc người làng Bạch Mai ở Hà Nội lại là một trong những người lãnh đạo Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Đến thời kỳ Mặt trận Bình dân, xã Nghĩa Đô và cả vùng Bưởi đã cuốn vào cơn lốc lịch sử.

Mặt trận Dân chủ Đông Dương đấu tranh cải thiện dân sinh, Mặt trận Dân tộc, phản đế rồi Mặt trận Việt Minh với Cách mạng tháng Tám, các ngành, các giới cứu quốc tỏa khắp, Nghĩa Đô trở thành một cơ sở chuẩn bị Tổng khởi nghĩa của căn cứ địa, của an toàn khu các cơ quan trung ương và thành phố.

Hai cuộc kháng chiến khốc liệt.

Nghĩa Đô - làng trắng ven thành phố bị chiếm, không lúc nào mất liên lạc, có thời kỳ đen tối, hầm bí mật của du kích bị phá, người bị hy sinh, trong vô cùng hiểm nghèo.

Hòa bình lập lại trên miền Bắc rồi kháng chiến chống Mỹ, con em trong làng đã vào chiến trường miền nam, đi chiến trường biên giới.

Toàn xã có 125 liệt sĩ các thời kỳ, được khắc bia lưu niệm.

Có lần viếng nghĩa trang Trường Sơn, tôi đã thắp hương mộ hai liệt sĩ quê Nghĩa Đô: Nguyễn Văn Chứ và Đoàn Văn Tiến.

Kinh tế và văn hóa phơi bày thực tế mỗi giai đoạn khác nhau.

Ở Nghĩa Đô, các triều đại xưa, có người đỗ đạt cao.

Theo sử sách thống kê: Hà Nội có 525 tiến sĩ, huyện Từ Liêm 113 vị, thì Nghĩa Đô 18 người đỗ tiến sĩ và hoàng giáp.

Truyền thống hiếu học ấy qua ngót trăm năm Pháp đô hộ thì không còn gì.

Hàng xã không mấy người biết chữ, không ai có bằng cấp đáng kể.

Người ta đổ cho vì làng nghề thủ công, trẻ em từ tấm bé đã giúp được việc nhà nên sao nhãng sách vở.

Không phải.

Người Pháp chẳng cần một người An Nam đi học.

Và tiền đâu mà đi học.

Ngày nay, người thoát nạn mù chữ và người có học cao đang vươn tới đức tính ham học, mới cắt nghĩa được cái khoảng cách không chữ của làng xưa. (Đến tháng 9.1995, người đỗ đại học trở lên có 195 bằng 15% số dân, nhưng người mù chữ, tái mù vẫn còn 120).

Phường Nghĩa Đô thuộc nội thành nay gồm sáu làng cũ.

Hai thôn làm ruộng và rau màu (Đoài Môn, An Phú), bốn thôn gốc nghề dệt, nghề giấy (Vạn Long, Trung Nha, Tiên Thượng, Bái Ân).

Tất cả cánh đồng các làng đều thành phố xá nhà cao tầng thành phố cho thuê, người các nơi đến ở, coi như người làng. hiện nay số dân toàn xã 12.994.

Đông quá, làng nào cũng ở lấn ra đồng, từ nhiều năm nay.

Tôi trở về làng, tôi ở trong dãy nhà năm tầng thuê của nhà nước - chỗ ngày trước, cánh đồng cầu Điều.

Thành phố đã đô thị hóa ngoại thành, đồng bãi đất cày cấy, trồng trọt ở Nghĩa Đô chẳng còn.

Nghề dệt, nghề giấy, đặc sản kẹo mạch nha đã mai một.

Những năm trước cũng có hợp tác xã dệt, nhưng dệt khăn tắm xuất khẩu.

Không ai còn làm lĩnh, lụa như xưa.

Các hợp tác xã nghề giấy cũng đã tàn lụi.

Năm trước, hợp tác xã làng Hồ Khẩu sản xuất giấy dó in di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Nhưng giấy dó chính là nghề gia truyền của họ Lại ở Nghĩa Đô.

Tuy nhiên, họ Lại không còn người biết làm giấy dó.

Hiện giờ, nghề dệt hàng thủ công nhiều nơi đương phát triển ở Thái Bình, Hà Tây.

Làng Vạn Phúc thị xã Hà Đông, vùng La, Mỗ huyện Hoài Đức, mặt hàng the lụa Hà Đông phát đạt có bán ở thị trường trong nước và ở Pháp, ở Mỹ.

Các làng làm giấy trên tỉnh Bắc Giang được giúp đỡ vẫn tồn tại.

Riêng vùng Nghĩa Đô thì các nghề dệt, nghề giấy đã hết thời.

Mọi sự việc trong xã được thống kê thành con số của tình hình.

Nguyên nhân nghề nghiệp tàn lụi là trách nhiệm thành phố, ngoài phạm vi và quyền hạn địa phương.

Đô thị hóa không phải vô tình làm tan rã những làng nghề lâu đời mà phải tính đến công cuộc giữ gìn nghề cổ truyền chân chính.

Những người già làm nghề lụa, nghề giấy đôi khi than thở: "Nếu làng ta vẫn thuộc tỉnh Hà Đông chắc vẫn còn nghề".

Thực sự, thủ công nghiệp chưa khi nào được coi trọng đúng mức ở Hà Nội.

Một thời gian thật dài, phụ trách thủ công nghiệp thành phố là một cán bộ rất vui, chỉ mê mải viết vở cải lương và chèo và anh ấy là hội viên Hội sân khấu thành phố của chúng tôi.

Người dân vùng này hiện tình làm gì?

Làm công sở, xưởng máy trong phố, ở nhà thì làm mũ cối, làm vàng mã, thợ mộc, cắt tóc, mổ lợn, bán tào phở và buôn thúng bán mẹt chạy chợ.

Đất ở đây đang đắt như vàng, người ta bán một nửa chỗ đang ở cho người nơi khác đến, lấy tiền sinh sống trợ thời.

Những nghề cổ đã thất truyền, tiếc thay vùng nghề trù phú lâu đời chỉ còn trong tục ngữ, ca dao.
 
Back
Top Bottom