Cập nhật mới

Khác Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài

Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
18. Truyền bá quốc ngữ vùng Bưởi


Các lớp chống nạn mù chữ lan rộng ra các làng ngoại ô khoảng năm 1940.

Chúng tôi hưởng ứng nhanh chóng.

Cũng không phải ngẫu nhiên.

Từ thời kỳ đầu Mặt trận Bình dân quãng năm 1937, hội ái hữu thợ dệt Hà Đông chúng tôi đã mở những lớp học chữ cho hội viên ngay tại trụ sở cái hầm trọ dó nhà anh Oánh dưới cửa hàng cho thuê xe đạp của bác cả Đức trên dốc Thành.

Tôi dạy các lớp đó cho tới khi ái hữu chuyển đi Tây Mỗ tôi còn theo vào Vạn Phúc.

Vùng tôi khá đông thợ các nghề thủ công.

Thợ cửi, thợ tơ dưới làng Nghè, làng Tân, bên Bái.

Thợ seo, can trên Đông, Hồ, Yên Thái.

Thêm những người làm mướn, quét chợ, quảy nước thuê, chăn bò, chăn dê.

Người các làng cũng như người thiên hạ đến, chẳng mấy ai đã biết mặt chữ.

Mà cũng đã quen có lớp học, huống chi bây giờ lại học không mất tiền giấy bút.

Phong trào Việt Minh cũng đương bồng bột phát triển.

Từ các làng Dày, Kẻ xuống qua Dàn, Cáo vào trong Vòng, đây là khu vực cuối ATK (an toàn khu) của Trung ương và Thành ủy Hà Nội, cũng là đường bí mật liên lạc ngắn nhất vào thành phố.

Từ bến xe điện cửa đình Thọ đến bờ hồ Gươm có sáu cây số.

Đội công tác bảo vệ ATK chủ trương làm cho bề ngoài vùng ATK êm ả như xưa nay bình thường thế.

Nhưng các làng ngoài vùng, trong Canh Diễn, hay ở Săn, ở Gạch, phiên chợ nào cũng có cán bộ về diễn thuyết kêu gọi theo Việt Minh đánh Pháp đuổi Nhật.

Sau đảo chính Nhật, nhiều làng đã nổi lên cùng cán bộ Việt Minh đi phá kho thóc của Pháp, Nhật tích trữ.

Lúc ấy, nạn đói ghê gớm đương xảy ra.

Truyền bá Quốc ngữ đã hoạt động trong tình hình nước lửa này.

Những lớp học buổi tối đầu tiên được mở ở trường làng Yên Thái.

Hai bên nhà tả vu trong sân đình vốn ban ngày cũng là lớp học vỡ lòng của thầy giáo Thịnh và ông tú Đễ, tối nào cũng đông người đến nhận sách bút ghi tên học.

Cả người đứng tuổi và trẻ con, nhưng nhiều nhất là thanh niên.

Thoạt tiên, đèn dầu tây, đèn cầy, đèn hoa kỳ, cái để đầu bàn, cái treo ba dây.

Những đêm mùa hè khói tù mù khét lẹt, mồ hôi nhễ nhại, muỗi ở dòng nước sông Tô Lịch đọng thối đen ngòm, muỗi bay à à lên mặt cả thầy và trò.

Thế mà những cô thợ seo cầu Sau tối nào cũng chịu khó đến lớp, khi tan học mới vào seo đèn đến quá nửa đêm.

Chúng tôi mở thêm lớp dưới đầu làng Nghè.

Chẳng bao lâu, các lớp học đã lan nhanh qua cánh đồng và các làng làm ruộng trồng rau ở Cổ Nhuế, ở Xuân Tảo.

Rồi đến Đức Diễn, Phú Diễn trên đường lên Sơn Tây.

Thư viện Truyền bá Quốc ngữ đã được lập ở Yên Thái cho những người thoát nạn mù chữ có sách báo đọc.

Công việc mở mang thống nhất lại, gọi các làng có lớp học là miền Tây Hà - phía tây Hà Nội của truyền bá quốc ngữ.

Nhiều loại hoạt động sôi nổi được tổ chức tuyên truyền cho Truyền bá Quốc ngữ Tây Hà.

Đêm ca nhạc ở sân đình Yên Thái có nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc và ban nhạc dưới phố lên - nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc người còm nhỏm ôm cái đàn vi-ô-lông-xen cao quá đầu.

Rạp kịch được dựng giữa chợ diễn vở Tấm lòng vàng của Nguyễn Công Hoan, vở Cái tủ chè của Vũ Trọng Can.

Tôi viết thư xin phép nhà văn Nguyễn Công Hoan, còn Vũ Trọng Can thì là người làng Thọ rồi.

Chúng tôi đều lên sân khấu.

Các anh Vũ Trọng Can, Lại Phú Cương với thầy giáo Thịnh lại sắm vai thầy giáo trong Tấm lòng vàng.

Vai nữ bấy giờ còn là chuyện khó và của hiếm.

Nhưng cũng không phải giả nữ như hồi Mặt trận Bình dân năm trước ở Nghĩa Đô kịch đoàn, tôi đã làm vai giả nữ trong các vở Gái không chồng (Đoàn Phú Tứ), Tòa án lương tâm (Vũ Đình Long) và Không một tiếng vang (Vũ Trọng Phụng).

Lần này, Vũ Trọng Can đã xuống phố nhờ cô Mỹ Ảnh đào tuồng rạp Quảng Lạc lên giúp vai nữ, nữ thật.

Không thể tưởng tượng năm mươi năm trước, những chuyện ca hát và diễn kịch còn rất mới ngay ở ngoại ô thành phố.

Sân khấu kịch nói đóng cọc lắp ván, chưa có micro mà người xem đông nghịt im phăng phắc.

Lạ, người ta rất thích.

Nhưng vui nhất một ngày hội mừng Truyền bá Quốc ngữ miền tây Hà Nội mở ở cánh bãi trước tam quan đền Sóc đầu làng Cáo.

Cờ đuôi nheo nhấp phới, trống đánh suốt ngày.

Kịch Táo quân diệt dốt, một vở kịch cương đã được ban khánh tiết của Hội đem về diễn, diễn đi diễn lại cả ngày với các trò vui nhộn.

Tôi viết một bài ca dao dài cổ động đi học được in và phát trong ngày hội.

Nhiều người có tinh thần hăng hái ở các làng ra làm "truyền bá".

Vùng nghề thủ công ở Bưởi, các tiểu chủ, hoặc nhà buôn, các chức dịch, công chức và học sinh.

Các anh Khôi, anh Oánh, anh em Quế Yên, Quế Thái ở Yên Thái, anh Yến trong Sài, các anh Cương, anh Khoát, Nam Cao và tôi dưới Nghĩa Đô.

Khi lớp học được mở vào đến các làng làm ruộng, nhiều người đương sự trong làng cũng tham gia, như anh Quyền ở Phú Diễn, anh Nhã ở Đức Diễn, anh Ngọc ở Xuân Tảo, anh Nhượng ở Cổ Nhuế...

Đến Tổng khởi nghĩa, hầu hết chúng tôi đều đã là Việt Minh.

Anh Nhã làm chủ tịch huyện Hoài Đức thời kỳ đầu kháng chiến.

Anh Ngọc, chủ tịch xã Xuân Tảo, anh Khoát, xã Nghĩa Đô.

Anh Quyền bị Pháp bắn chết trong một trận Tây càn vào Phú Diễn.

Ai cũng đi kháng chiến, tới khi hòa bình lập lại mới trở về, chỉ có anh Yến bên Sài vào giải phóng quân xung phong đi Nam tiến bị mất tin tức từ ngày ấy.

Hoạt động truyền bá quốc ngữ - chúng tôi hiểu như một việc xã hội và nhân đạo mà mình tự nguyện tham gia, chứ không biết đấy là một công tác công khai của Đảng chủ trương.

Hoạt động của các đoàn thể cứu quốc trong mặt trận Việt Minh thì bí mật, chỉ đến sau này, khi Tổng khởi nghĩa đã thành công, có dịp kể lại mới biết việc mỗi người đã theo mỗi đường dây như thế nào.

Các anh Khôi, anh Oánh mua tín phiếu Việt Minh hàng trăm đồng - một loại công trái phát hành bí mật.

Tôi đã tổ chức anh Khôi, anh Oánh, anh Nam Cao thành một tổ văn hóa cứu quốc.

Nhiều cuộc họp tổ, tổ mở rộng toàn thành của Văn hóa cứu quốc ở nhà tôi, anh Khôi đã giúp gạo và cá khô.

Anh Quế Thái, một giáo viên truyền bá chăm chỉ, cũng là chiến sĩ Việt Minh tích cực và can đảm.

Anh đã dẫn đường và bảo vệ Thôi Hữu - lúc ấy, nhà thơ Thôi Hữu bí danh là Tân, thành ủy viên phụ trách ngoại thành, Tấn đã bắn chết mật thám Cai Long người làng Yên Thái ở chỗ cổng Rong đường dưới, cạnh dốc Quần Ngựa bấy giờ.

Nguyên tắc hoạt động bí mật, nhưng Thôi Hữu vẫn cho tôi xem tờ Đuổi giặc nước của Việt Minh Thanh Hóa.

Thôi Hữu quê ở Hoằng Hóa.

Buổi tối, tôi đi dạy truyền bá, các anh Lê Quang Đạo, bí thư thành ủy, anh Trần Độ, anh Trần Quốc Hương, cán bộ công tác đội và liên lạc của Trung ương có khi về ở nhà đợi.

Các anh Nguyễn Huy Tưởng, Vũ Quốc Uy, Nguyễn Hữu Đang, Trần Huyền Trân, Như Phong ở ngoài thành phố về họp.

Tình hình trong làng và khắp nơi cực kỳ khẩn trương.

Máy bay Mỹ ngày đêm đến ném bom Hà Nội.

Cao xạ khói đen của Pháp ở pháo đài Cáo, pháo đài Láng cùng súng Nhật nổ khói trắng bắn lên máy bay Đồng Minh.

Thực dân Pháp chối cãi, nhưng đấy là sự thực mà người Hà Nội đã thấy tận mắt.

Vùng Bưởi hai lần bị bom rải thảm.

Hôm ấy chủ nhật, Quần Ngựa có đua ngựa, bom Mỹ ném xóm Quần Ngựa và cống Đõ, vạc làng Hồ, cháy cả xóm, chết nhiều người.

Giữa cuộc sống quằn quại, nạn đói khủng khiếp ập đến, chết vãn làng.

Các buổi học vắng hẳn.

Khi vào lớp, tôi hỏi người vắng mặt thì các anh vẫn ngồi cạnh thản nhiên nói nó chết đói rồi.

Ngay cả trong chúng tôi, nhiều người cũng bị đứt bữa.

Anh hai Bủng hoạt động hồi bình dân đã chết đường ở đâu không ai biết.

Sau đảo chính Nhật, Tổng hội Cứu tế có cụ Ngô Tử Hạ, một chủ nhà in lớn và một số nhà giàu đứng ra.

Cứu tế cũng chỉ kéo dài cái thoi thóp.

Mà cũng chẳng có gì.

Mỗi buổi sáng, có người vác đến cửa đền xóm tôi một bó sắn trựa.

Sắn để cả vỏ, bỏ vào nồi ba mươi đầy nước.

Người đói ngồi la liệt xung quanh đợi phát chẩn cháo sắn.

Con nhà dì tôi, thằng Vinh bưng về một bát nước sắn xám ngoét.

Đêm đảo chính Nhật, chúng tôi đang tập kịch, kịch diễn giúp quỹ truyền bá quốc ngữ miền Tây Hà.

Có Nam Cao với các anh Khoát, anh Cương.

Nam Cao đương ôn lại bài nói với khán giả trước khi mở màn.

Khoảng tám giờ tối, nghe phía thành phố ầm ầm tiếng súng lớp rồi dồn dập nổ ran ra đằng pháo đài ở đồng Cáo.

Tôi không nhớ được đến buổi tối nào thì các lớp truyền bá không còn học trò nữa.

Vì đói, người ta không đến được, vì tình hình khẩn trương, không ai ngồi yên.

Nhưng tôi có cảm tưởng và hình dung ra cả người sống và người chết ào ào như thác vượt những khủng khiếp, quyết liệt cuốn vào Tổng khởi nghĩa.

Cả vùng tôi đã vào cuộc tuần hành võ trang ngày 19 tháng Tám 1945 trước phủ Bắc bộ và trại lính Bảo An.

Tôi dạy các lớp truyền bá từ khi mở đầu, cho tới ngày sau cùng, khi ở trường làng Nghè, khi trên đình Yên Thái.

Ngày ấy, tôi viết truyện Thằng Nhó kể truyện một chú bé đi ở chăn bò mà chăm học và truyện Dấy binh lấy lau làm cờ một câu trong bài hát quen thuộc của thầy trò truyền bá chúng tôi, miêu tả quang cảnh một buổi học tối, nhưng thực lại mang ngụ ý biểu tượng hai mặt, tên truyện đã có thể hiểu ngầm "Dấy binh lấy lau làm cờ".
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
19. Thịt chó chui


Ở Sài Gòn bây giờ, chỉ một quãng phố đã lại gặp quán thịt chó.

Với những tên khêu gợi.

Thịt chó bảy món, Chả chó Hà Nội, Cầy tơ.

Vừa rủ rê lại đùa đùa, thì có hàng chữ: Thịt chó nhậu lai rai.

Có nơi viết lái chữ tên hiệu: Quán hạ cờ Tây (nghĩa là Quán hạ cầy tơ) và Quán Mộc Tồn.

Học đòi vằn vèo lối Trạng Quỳnh: mộc là cây, tồn là còn, cây còn là con cầy.

Nhưng chỉ ở Sài Gòn mới có những tên hiệu nhố nhăng tỉnh bơ thế và cũng một nét đặc biệt, như ở Quảng Ninh không đâu đề quán thịt chó, mà nhã nhặn thịt cầy.

Phố xá bây giờ loạn các quán thịt chó của dân nhậu tưng bừng bốn bề nhưng ngày trước đừng hòng ở Sài Gòn mà lại được chén thịt chó khoái khẩu.

Ở Hà Nội, khỏi nói, thịt cầy ê hề các chợ.

Người ta còn gọi đẹp đẽ là thịt hươu thềm - con hươu nuôi trước thềm nhà.

Các hiệu thịt chó hàng Đồng, Tám Mái, chợ Mơ.

Cái thang ọp ẹp, trèo dựng đứng lên gác thượng, chen chúc ngồi nhắm nhót trong khói um mà thú vị đáo để.

Cái lạ là vùng nào cũng khoe thịt chó nơi mình nhất thiên hạ.

Ở Đông Anh, các món luộc đều bỏ vào nồi ba mươi hầm cách thủy.

Canh, Diễn thì tự hào về thịt chó mộc, lấy miếng thịt luộc ngon làm đầu.

Đất Kẻ Chợ hoa hòe hoa sói, chả chó nhuộm nước hàng da bóng như sơn dầu, lại phi hành thơm điếc mũi.

Khách sành ăn vẫn cho là chẳng đấu được với thịt chó mộc thật hạt con trâu vàng.

Bởi vậy, xem ra ở Hà Nội, hầu như các quán thịt cầy đều người làng Canh mở.

Các làng Canh nổi tiếng: cam Canh, cải Canh, tỳ bà (quả bòng) ở Canh đều ngon và đẹp, chó đen chợ Canh được tiếng ngon thịt.

Nhưng ở Sài Gòn thời ấy tuyệt nhiên không có quán thịt chó.

Không ai ăn thịt chó.

Không được ăn thịt chó.

Đốc lý Pháp đặt ra luật lệ: ăn thịt chó là phạm vào phong tục xứ Nam Kỳ.

Các thầy cút-lít tóm được người thịt chó thì phạt tiền.

Còn có thể bắt ngồi nhà pha.

Vì đụng vào lễ giáo đất thuộc địa Pháp.

Bà con người Bắc vào làm ăn trong ấy thèm thịt chó lạ lùng.

Trò đời của cấm lại càng thèm là thói thường người ta.

Nhất là dân bồi bếp, thợ giày, thợ may, thợ mũ quê Bắc vốn thích cái thức ăn "quốc túy" này.

Ăn chơi thôi, nhưng mê.

Cấm kỵ lại bị kích thích cho ao ước hơn.

Oái oăm thế.

Người ta tìm cách vụng trộm.

Kể lại chuyện một đám ăn thịt vụng giữa Sài Gòn năm ấy.

Coi như câu chuyện cũ Hà Nội xảy ra ở Sài Gòn.

Để mấy ông lai rai ở trỏng bây giờ nghe chơi.

Các cô Tạ, cô Tây, cô Hòa bạn chúng tôi ở Vinh chuyên buôn lậu.

Xe lửa vào nam ra bắc như cái nhà lưu động của các cô.

Các cô thuê nhà chứa hàng bên Thị Nghè.

Có lẽ cao su, kếp, có lẽ thuốc phiện cũng không ai nói và tôi người đương ăn bám các cô, tôi cũng không dám hỏi.

Tưởng các cô buôn chui lủi thì kiêng khem nhiều.

Nhưng các cô khoái thịt chó tợn.

Các cô chỉ tránh ăn thịt chó hôm ra tàu.

Kể cả cô Tây đồng bóng, ngày thường cũng chén mạnh.

Hôm nao tìm được cái rượu đế chính cống Hóc Môn thì phải biết, thế nào cũng tầm nã kỳ được thịt chó.

Một hôm, Hòa bên Thị Nghè sang sớm.

Cô đeo cái đãy to, như mọi khi mang hàng đi đâu.

Chúng tôi ngụ trong một cái ngõ hẻm đường Ga-li-ê-ni (đường Trần Hưng Đạo bây giờ) sau rạp Nguyễn Văn Hảo.

Chúng tôi ba người.

Chủ gian buồng, Châu thợ máy nhà dây thép.

Châu ốm một trận dài quá hạn nghỉ, chủ sở đuổi.

Chưa tìm được việc nơi khác.

Một anh làm công nhật cho một xưởng củi của Tây tận Bến Cát.

Nhưng có việc về dưới này luôn.

Còn tôi, lang thang.

Ở nhờ đây và nhiều khi vạ vật nằm ở cái "kho" của mấy cô bên Thị Nghè ở ngoài Vinh - nghĩa là tối đâu ngủ đấy.

Hòa hạ chiếc đãy xuống.

Cô cởi nút miệng đãy, nhấc ra mấy chồng bát Biên Hòa.

Bát để che mắt, nếu bị khám.

Ở dưới, là một con chó vện nhỡ.

Con chó đã bị dìm nước chết, lông ướt bê bết ra cả tờ giấy dầu bọc.

Có lẽ các cô mới bắt nó trẫm mình lúc sáng sớm.

Như thế, không phải đập, không phải cắt tiết.

Chó sặc nước không kêu được, không lộ.

Mà dìm chết rồi mới làm lông cũng là một cách làm thịt chó.

Chó bị hãm tiết, thịt xám, nhưng thịt đậm.

Vùng tôi, làm thịt chó, cũng hay xích thòng lọng dìm chó xuống ao.

Tất cả hoa tay múa chân, nhảy chồm xuống giường.

Nhưng không dám reo to tiếng nào.

Rồi ra đóng cửa lại.

Cứ kể, cũng cẩn thận thôi, chúng tôi đã ngả chó chén ở nhà này nhiều lần.

Nếu không có láng giềng thù hằn, rình mò đi báo cò bót, chắc không ai biết.

Chúng tôi chẳng va chạm với ai trong ngõ.

Thường đi biền biệt cả ngày.

Mà cũng không có hàng xóm.

Một phía bãi cỏ, phía tường cao.

Trước mặt bên kia có lẽ là cái chuồng xí nhà người ta.

Nhà này chỉ một gian con con.

Có thể trước kia đây là kho chứa hàng.

Ngoài đầu ngõ, cái trường học gần rạp ở Thành Xương đã thành trại lính, có bọn lính Ấn Độ bù nhìn gọi là Oẳn Bô (1) đứng canh, tay cầm chiếc côn gỗ.

Làm sao ông oẳn có thể đánh hơi thịt chó được!

Chỉ cần giữ gìn một tý khi làm rựa mận.

Phải nấu vào buổi sáng hay xế trưa, lúc người trong ngõ đi làm cả.

Mùi rựa mận thơm nồng nàn quá đi thôi.

(1) Oẳn bô: Chandra Bose: Chính phủ bù nhìn Ấn Độ thân Nhật

Đã trữ sẵn lọ mẻ, các cô lại đem được cả riềng ở ngoài Vinh vào, vẫn để dành.

Chúng tôi xúm xít, lặng lẽ lúi húi làm.

Cô Hòa thì đeo cái đãy ra chợ Bến Thành mua bún, mắm tôm, chanh, ớt, các thứ rau thơm.

Đến trưa, bọn cô Tây, cô Tạ mới kéo đến.

Chúng tôi thích ăn, ăn chơi, ăn thô chẳng ai biết pha phách nhiêu khê, cầu kỳ ra sao.

Vả chăng, thiếu lá húng quế.

Ngày ấy, húng quế chưa thấy ở các hàng rau trong này, khác hẳn bây giờ.

Mùi chanh trong Nam lạ vị, lại không có mắm tôm Bắc.

Nhưng cứ chén ào ào.

Bao nhiêu xương và lông chó, rác rưởi, quét lại, vơ vào bọc giấy báo.

Đến chiều, cả bọn kéo đi ăn kem nhà hàng Thanh Thế, cạnh chợ Bến Thành.

Vùng phố này mới bị máy bay Mỹ ném bom, vỉa hè, mặt đường còn ụ lên từng đống tường đổ.

Nhưng người qua lại vẫn đông nghìn nghịt.

Hòa lặng lẽ buông bọc xương chó xuống chỗ cống khuất người ở ngoài rạp Thành Xương.

Bọn lính bù nhìn Ấn Độ, Cao Ly trong kia vẫn cầm gậy đứng yên, trân trân nhìn ra.

Mấy con chó hoang bên bãi cỏ xô đến, đánh mùi vào miệng cống.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
20. Thẻ thân


Thuế đò, thuế chợ, thuế xia

Bây giờ Tây bắt đóng thì thuế đinh

(Ca dao vùng Hà Nội)

Ở thành phố, mỗi nhà mỗi người phải đóng nhiều thứ thuế và nhiều cái thuế phải trả tiền hàng tháng, hàng buổi.

Nhà bà cụ Hàng Mã tối ngày kêu ồi ồi, ối giời ôi thuế, ối giời ơi thuế.

Thuế nhà đất và tiền điện, tiền nước hàng tháng, thuế đổi thùng xia, thuế môn bài cửa hàng, thuế hàng năm, hàng ngày, hàng chuyến, thuế nuôi chó, thuế xe đạp, xe kéo, xe bò, thuế người.

Người cũng phải đóng thuế, chỉ riêng đàn ông, như mọi thứ hàng hóa, đồ đạc và đất cát.

Thuế một suất sưu được phát một cái thẻ thuế thân.

Trai mười tám tuổi trở lên, hàng năm phải đóng thuế thân.

Cái thẻ thân hạng bét màu xanh bằng một miếng bìa ngang ba đốt ngón tay, dài một gang, trong ghi họ tên, tuổi, quê quán, năm phát thẻ, những chỗ chỉ dẫn trên đều in kèm tiếng Tây.

Lúc nào, đi đâu cũng phải gấp cái thẻ nhét hầu bao thắt lưng, giắt trong túi áo ngực.

Cứ sau mùa thu thuế thân vào quãng tháng ba, tháng tư, đội xếp sen đầm, khố xanh, tuần đinh gác đầu ô, đầu làng, đầu phố, quây người lại, hỏi thẻ, khám thẻ ráo riết.

Phạt tiền, phạt giam, xanh mắt.

Bố con, anh em đi đâu cũng dặn nhau không được đi người không, nhớ phải "có cái thẻ giắt đít".

Năm đầu tiên đến tuổi mười tám, tôi phải đóng suất sưu hai đồng rưỡi, cộng với mọi khoản phụ thu của xã, vị chi gần ba đồng cái thẻ.

Những năm ấy, tôi chẳng tìm đâu được việc làm.

U tôi phải chạy chọt lo tiền thuế thân cho tôi.

Không dễ dàng.

Một suất sưu đong được hơn tạ gạo gãy Sài Gòn, không phải ít.

Mà chớp mắt đã lại một năm, lại đến vụ sưu.

Tu hú trên cây gạo kêu ra rả, mùa hè chứa chan nắng, đã bắt đầu mùa sưu thuế khắp thành thị đến thôn quê.

Mùa sưu thuế, phố xá xóm làng oi ả nặng nề, ngột ngạt.

Cũng là nghe tiếng trống đình, nhưng không phải tiếng trống việc làng, cũng là trông lá cờ kỳ bay phần phật trước cửa đình, nhưng không phải cờ ông thủ từ sai anh mõ cắm sân đình ngày hội lệ tháng hai.

Các ông lý, ông phó lý, ông chánh hội, ông thư ký, các bác trương phiên, khán thủ, tuần đinh ra vào trên đình dưới nhà hội đồng tấp nập, mùa sưu thuế, ai cũng bận.

Chẳng ngửi thấy hương đèn và mùi xôi gà như những ngày sóc, ngày vọng.

Mới ủ ê làm sao!

Sáng sớm, chập tối, các đầu xóm cuối xóm mõ rao ơi ới.

Vụ thuế chỉ sát phạt trong vòng nửa tháng.

Càng đến ngày cuối càng rợn gáy, xôn xao.

Chốc chốc, một trai tuần dẫn ở xóm dưới lên một người bị trói giật khuỷu, mặt sưng húp.

Người ấy rùng rùng bước vào, bị đẩy ngồi thụp xuống chân cột đình.

Ngoài sân, ngoài tam quan, vẫn vang tiếng nạt nộ.

Có hôm, chánh tổng Dịch Vọng cưỡi ngựa ra đốc thuế.

Có khi, cả quan phủ Hoài Đức ngồi ô tô về.

Nhốn nháo lên.

Tiếng kêu khóc, tiếng nài nỉ.

Có lúc khắp nơi lại im phăng phắc.

Rồi vụ sưu thuế qua, tất cả cũng qua đi.

Mùa vải, cái nắng cũng lây màu quả vải chín đỏ chót.

Con tu hú vẫn kêu rạc người.

Buổi chiều, ngồi hóng mát cửa đình, thấy tàn đốt rừng phía núi Ba Vì bay về từng mảng như lá bàng rơi.

Đôi khi, chớp bể mưa nguồn xa xôi tận đâu lại phấp phỏng tưởng mùa thuế sắp đến nơi rồi.

Cái thuế đánh vào người ghê rợn, lúc nào cũng ám ảnh.

Tôi ở ngụ bên ngoại từ thuở bé.

Việc họ, việc làng, góp tiền cỗ hàng giáp, vào sổ đinh đều ở đây.

Bây giờ đến tuổi đóng thuế, người ta gọi ra.

Nhưng một điều oái oăm, u tôi còn phải giam thuế cho tôi cả trong làng quê nội.

Và trong làng nội, thầy tôi vẫn phải đóng thuế thân đều đều.

Dẫu thầy tôi đi Sài Gòn từ năm tôi mới lên ba, nay đã ngoài mười năm.

Chẳng có tin tức, chẳng biết còn sống không.

Thế mà ở nhà vẫn phải hàng năm đóng thuế thân cho thầy tôi.

Đóng bóng đóng vía, bởi nếu không có thẻ thân, mai kia về, ông lý không cho vào làng, phải còn làng nước trông vào, chịu mang tiếng bỏ làng.

Chỉ có bán xới đi thì chẳng cần biết thế nào, chứ còn có khi về làng, không ai dám bỏ đóng thuế quê gốc.

Cái thẻ thân của người đi vắng thì người nhà không được giữ, mà phải để ở nhà lý trưởng.

Bởi thế, có lý trưởng tham và liều thường cho thuê, bán thẻ thân cho những người cơ nhỡ, người buôn lậu, những người hội kín bí mật cũng hay mua thẻ giả thế.

Hai suất thuế hai mang ở quê, u tôi đều phải chạy.

U tôi vẫn lặng lẽ, chẳng phàn nàn một câu.

Cái số vất vả trời đã định rồi.

Đã đành, trong âm thầm mà thật khốn khổ, cũng không dám cho ai biết, sợ mang tiếng.

Tết nhất xong, còn tính toán chùng chình, u tôi chưa dám đem xống áo xuống nhà cầm đồ Vạn Bảo.

Nấn ná tới vụ thuế mới đành bước chân ra phố Mới.

Những rồi đến một khi chẳng lo, chẳng chạy nổi nữa, năm ấy, u tôi không còn đào đâu ra tiền đắp vào suất sưu đóng hờ ở quê nội, năm nay lại thêm suất của tôi ở ngoài này, hai nơi.

Trong quê, bác Cả vốn tính cẩn thận, năm nào cũng ra Bưởi vào những ngày sắp đến vụ thuế.

Nghe u tôi kể nỗi khó, bác Cả thở dài:

- Thím ạ, nhờ trời còn có ngày chú ấy nhớ vợ thương con, chú ấy tai qua nạn khỏi mà về...

U tôi chẳng biết nói thế nào, nhấc dải yếm lau nước mắt.

Giá mà còn cào cấu nổi vào đâu, chắc u tôi vẫn cố.

Bởi vì cái tai tiếng thấm thía còn đau đớn hơn người ta chửi bới day dứt, không biết đến thế nào.

Tết năm ấy, u tôi không đem tôi về quê.

Sang giêng, bác tôi ra chơi.

Cho tôi bánh tày, chục bánh gai nhà làm.

Bác Cả nói:

- Thím nhớ cho cháu về quê.

Để nó biết nhớ quê quán.

Còn suất sưu của chú ấy năm nay tôi cũng đậy điệm được rồi.

Bác Cả gan thế, bấy giờ mới cho u tôi biết.

Rồi đến khi bác Cả cũng không thể gắng năm nào cũng chạy đóng đậy thuế sưu cho bố tôi được.

Dạo trước, bác còn ngồi bảo học trong Kệ trên châu Lương Sơn.

Học trò đường ngược biếu xén mật ong, mật gấu, còn có của rừng mang về.

Bây giờ chỉ dạy trẻ quanh quẩn trong xóm ở nhà, chẳng thể đắp tiền cho suất sưu đóng khống mãi.

Phó lý xách gậy xông đến hỏi, bác Cả nói:

- Chú cháu đi làm ăn đất khách quê người, bao nhiêu năm chẳng có tin tức về, không biết thế nào.

Ông phó ạ, thôi đành anh em kiến giả nhất phận, năm nay thì tôi chịu.

Rồi không thấy các chức dịch làm lôi thôi.

Chắc bởi bấy lâu món tiền sưu làng thu của những người đi xa vẫn chạy cả vào túi các ông chánh lý cũng nhiều.

Các ông lấy tiền mà không phải đưa thẻ.

Khi thu thuế, ông lý vẫn đằng hắng lên giọng nói mỹ tự:

- Cái thẻ đinh mỗ, đinh giáp, đinh ất kia, làng giữ.

Chẳng ai đòi về làm gì.

Người ta chỉ nghĩ lo tròn suất sưu để khỏi tai tiếng, cho mát mặt với xóm làng.

Đến thời kỳ Mật trận Bình dân bên Pháp, tại Đông Dương, Tây cũng bày vẽ ra cải cách thu thuế người - cái thuế dã man nhất.

Thật sự thì vẫn như mọi khi, thuế mới chẳng trừ ai, miễn ai, thuế mới chỉ chia thành nhiều hạng.

Hạng có tài sản (đất cát, nhà cửa, buôn bán) và ruộng nương thì đóng từ hai đồng rưỡi trở lên.

Người giàu có cũng chẳng quản ngại phải nộp nhiều tiền, như thế lại tỏ ra ta đây khác bọn khố rách áo ôm.

Còn người vô sản thì xót ruột mất một đồng bạc.

Đâu đâu cũng bàn tán.

Thế này thì Nhà nước lợi to.

Lại có dư luận đồn thổi không biết từ đâu ra.

Cầm cái thẻ cùng đinh vô sản mỏng dính như mảnh lá chuối, chỉ tổ xấu mặt.

Bởi thế, bài bổ thuế của làng ông lý trưởng bảo ai không bằng lòng là vô sản muốn đóng thuế hữu sản cũng được, Nhà nước cho làm thuế.

Những lời đồn cứ tung ra.

Nhưng thanh niên làng tôi có phong trào chống thuế.

Nói đúng hơn, chống bất công và các trò bịp trong việc đóng thuế thân.

Ông chánh, ông lý làm sổ thuế không muốn nhận một đồng bạc thuế vô sản.

"Hay hớm gì cái vô sản.

Làng này lắm đứa không cửa không nhà thế?

Chẳng biết xấu hổ với thiên hạ".

Không phải chúng tôi nghĩ ra cách chống thuế, mà chúng tôi đã đọc báo Tin Tức.

Thằng Điều với tôi đã ra tận Cửa Đông hỏi tòa báo Tin Tức.

Các anh tòa báo nói mọi nơi vô sản chỉ đóng thuế vô sản, có nơi hăng hái còn kéo nhau lên huyện, lên phủ kêu hoãn thuế.

Làng Vạn Phúc trong Hà Đông giàu có vậy, mà những nhà có một khung cửi cũng bảo nhau chỉ nộp thuế vô sản.

Người ta sùng bụng đến thế mới giỏi.

Thanh niên chúng tôi không còn "xấu hổ" phải đóng thuế vô sản như bọn chánh lý sỉ vả thế nữa.

Chúng tôi nhất quyết chỉ đóng hạng một đồng bạc.

Nhưng thật không phải dễ.

Những người chức việc nhiều mưu mẹo đã đành, mà người đóng thuế không phải ai cũng răm rắp một bụng.

Có nhà con cái chưa có của nả riêng, bố mẹ còn cho ăn chung cũng rêu rao cũng ra thuế hữu sản loại hai đồng rưỡi.

Nhất là những nhà có máu mặt.

Người ta vẫn băn khoăn muốn nghe lời ông lý và sợ xấu cái tiếng.

Chim tu hú kêu inh ỏi trong tiếng ngũ liên gay gắt.

Lúc nào ngớt tiếng trống, lại văng vẳng mõ rao: chiềng làng chiềng nước... ai chưa đóng thuế... ra đình đóng thuế...

Lại nghe đồn ông lý Sùng đã tâng công với quan trên trình trước lên phủ rằng làng tôi không có ai đóng sưu hạng vô sản.

Người không có đất cắm dùi cũng tình nguyện nộp hai đồng rưỡi.

Nhưng chúng tôi quả quyết.

Cả bọn hơn hai chục người.

Nó trình phủ làng này không có thuế vô sản hả.

Chúng ông không đóng.

Cho mày sạt nghiệp.

Chúng ông chỉ có một đồng bạc.

Hơn hai mươi người kéo ra đình.

Nhiều người trong tay cầm tờ báo Tin Tức đã đăng tin thanh niên Nghĩa Đô chống thuế.

Tôi đã viết tin ấy đem xuống tòa báo, được đăng ngay.

Ông lý Sùng quay ra, quát:

- Các anh kéo lũ ra đây làm gì?

Tôi nói:

- Chúng tôi vô sản, chúng tôi đóng thuế vô sản.

Báo đăng như thế đây này.

Ông lý khôn ngoan, ngọt nhạt:

- Con trai làng ta ai cũng như các anh thì làng này đẹp mặt đấy.

Đòi làm vô sản à?

Ừ, đòi có máu mặt mới khó chứ làm thằng đóng khố vô sản thì dễ thôi.

Thế thì đóng ngay đi nào.

Cả bọn lúng túng.

Nhiều anh chẳng có một xu trong lưng.

Chúng tôi ra đình diễu oai thế chứ chưa nghĩ đến việc đóng thuế ngay.

Tôi còn khó nghĩ hơn.

Trong họ, tôi phải gọi ông lý Sùng bằng cậu, cho nên ông mới hỏi mỉa mai tôi thế.

Ở ngoài đình về, tôi thấy u tôi đứng đợi đầu ngõ.

Vẻ mặt u tôi lo lo.

Chao ôi, tôi cùng bè bạn đi cãi vã sát phạt thế, nhưng chạy cho ra suất sưu, dù suất sưu vô sản một đồng, vẫn một tay u tôi kiếm mà thôi.

Bởi vậy, trông thấy u, tôi thương u.

Bao nhiêu hăng hái lúc nãy nhụt đi đâu mất.

Tôi len lén đi tới và nói:

- Ta chỉ phải đóng một đồng, u ạ.

Các ông ấy dọa già dọa non thế thôi, u đừng sợ.

U tôi rụt rè nói:

- Đừng có đua đả đi cãi nhau với các quan.

Mày phải gọi ông lý là cậu, ông lý cũng người họ Lê đằng nhà bà.

Hay là cứ đóng hai đồng rưỡi như mọi năm.

Sức u còn chạy được.

Tôi nói:

- Nhà nước đã định ra luật rõ ràng, báo cũng đã nói thế rồi.

U tôi hỏi lại:

- Sao u vẫn thấy nhiều đứa ở xóm ngoài, xóm trong cũng như mày, vẫn đóng sưu hai đồng rưỡi như mọi năm.

Con ơi!

Con cứ bướng thế, ngộ nhỡ bao giờ tìm được việc làm, người ta cứ bắt làm vô sản, không cho đóng hạng sưu hai đồng rưỡi, không được đi làm, thì có phải chết dở không?

Con cứ để u chạy.

Những sĩ diện vớt vát theo đuổi cả đến người cùng túng.

Như u tôi mà cũng nghĩ ra được cái lo xa oái oăm ấy.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
21. Phố Hàng Đào


Một tháng sáu phiên, ngày một và ngày sáu, là phiên chợ tơ lụa - ở Hàng Đào cũng như trong chợ Đơ.

Từ sáng sớm, nhà nhà trong làng đeo đãy lụa đi chợ.

Các khung cửi, các vầy tơ chỉ lách cách đến cơm trưa xong, rồi thợ tơ, thợ cửi đủng đỉnh, thong thả nghỉ đến tối.

Ở Hàng Đào, ở Hàng Gai khác trong chợ Đơ, không có các nhà buôn bày chõng ngồi đo lụa chiếm một gian đầu cầu chợ mà có những cửa hàng, các thổ mua lụa ở trong nhà.

Lụa khung cửi đổ ra từng tấm năm bảy chục thước, nhà buôn người ta mua cả tấm, bán mộc vào Sài Gòn.

Rồi lại những nhà buôn lụa có tơ bán luôn cho người có khung dệt.

Tơ ấy của các làng nuôi tằm ươm tơ đem về bán cho các nhà buôn lụa.

Tơ Tứ Tổng, tơ Phùng, tơ Hưng Yên - lớp sau này có cái tơ dứa cuộn trắng bên Hồng Kông nhập vào.

Cuộn tơ Tàu đã đánh chết con tơ của ta.

Các nhà buôn lụa rồi bán tơ.

Tây đo lụa xong khấu luôn tiền tơ.

Cửa hàng được tiếng buôn bán lớn, nhưng cũng là thu cửa này phát cửa khác, cứ thế mà phát tài.

Chỉ có các làng tơ cửi lo sốt vó.

Giá hàng theo tàu Sài Gòn ra vào lên xuống từng phiên.

Một đãy lụa cũng chỉ mua được nén tơ, còn lại ít đồng về trang trải công sá thợ cửi, thợ hồ, và lo liệu cơm nước cho đến phiên chợ sau.

Ở chợ, hàng họ các làng tơ cửi thì xiêu liêu thế, nhưng dần dần, trên Hàng Ngang, Hàng Đào mọc ra những nhà buôn ba bốn tầng giàu có.

Hiệu Lê Thuận Khoát đứng buôn lại của các nhà buôn lụa Hàng Đào, Hàng Gai.

Không phải gửi đi Sài Gòn, mà mua góp lại rồi bán ngay đấy.

Nhà Vũ Văn An dựng mấy trăm khung dệt ở nhà Tam Đa đầu làng Thụy.

Nhà Lợi Quyền, xưởng dệt Hàng Ngang, lại còn xưởng trên Bưởi.

Nhà Mỹ Bảo đương xây nhà máy dệt ngay cổng làng Đông.

Chẳng biết những nhà buôn to còn ghê gớm đến như thế nào.

Chỉ những như các cửa hàng buôn lụa Hàng Đào, Hàng Gai này cũng đã làm tao loạn được cả mấy làng tơ cửi rồi.

Bởi vì, bao nhiêu con người cả xóm cả làng hong hóng trông vào cái khung cửi.

Chỉ một nhà tôi cũng đủ rõ.

Anh Năm thợ dệt bên Bái.

Cô Thìn làm hồ.

Mấy ả thợ tơ Thái Bình.

Bà Mùi trong Noi bán gạo.

Bà Viết khâu vá.

Nửa cút rượu ngữ buổi chiều của ông tôi.

Cái váy, cái yếm bà tôi.

Vành khăn nhiễu hoa đỏ đuôi gà của các dì tôi.

Ngày giỗ, ngày tết, việc mừng, việc phúng...

Lại rau cỏ, chợ búa...

Tất tật chờ đợi ở mấy chục thước lụa ngày phiên đem xuống bán cho hàng mợ Hai Hàng Đào.

Tôi cũng được biết cái quang cảnh ngày phiên ở Hàng Ngang, Hàng Đào thế nào rồi.

Nhiều phiên tôi được đi tàu điện xuống phố theo bà tôi, dì tôi.

Trẻ con phải ngồi vào xó bậc cửa nhà người ta.

Tôi ngồi đấy, cứ việc ngắm nghía.

Gian ngoài vuông vắn.

Phòng giữa là cái sân con tun hút tối mờ mờ thấp xuống, trên mảnh đất lát gạch vuông lộ thiên lắp kính, cái bể cạn giữa có hòn núi non bộ, cây si uốn giả cổ thụ tí hon.

Nắng lên hắt vào cửa.

Anh xe trong nhà ra, cầm chiếc sào bằng cái lao màn móc tấm màn cửa vải tây vàng sẫm lên, những người bán lụa tránh nắng chen chúc trong bóng râm quây lại.

Mợ Hai ngồi xếp bằng giữa cái sập.

Mợ chít khăn nhung vành dây, mặt phấn tròn húp híp.

Tai đeo hạt ngọc xanh.

Cổ quấn dây chuyền vàng, tay mấy tầng vòng ngọc thạch, lại thêm cái mặt lập lắc vàng lóng lánh, áo nhiễu trắng, tấm quần lụa trắng tôn người mợ Hai lên thành một ụ lụa, lút vào trong những bó lụa mộc.

Mọi người lấy trong đẫy ra từng chồng xếp cao lù lù quanh sập, cả dưới mặt gạch hoa.

Người bán lụa ngồi xổm từ ngoài cửa vào kín lối đi.

Người đến sau bước rón rén, nói nịnh vu vơ một câu: Nhà lát đá hoa thế này mà được ngả lưng một cái còn mát bằng vạn cái giường thổ tả nhà tôi, các ông các bà ạ.

Rồi cúi đầu xuống, đảo mắt nhìn xung quanh.

Có người đứng dậy, vào rút đệp lụa nhà mình đặt lên trên.

Rồi cầm cái quạt lông, khẽ phảy một bên tóc mai mợ Hai.

Ý muốn nhắc khéo mợ đo cho nhà cháu trước.

Lại quạt thái sư thêm mấy cái.

Mấy người ngồi gần đấy nguýt dài ngoảnh đi.

Mợ Hai vẫn điềm nhiên giơ thước lần lượt đo từng bó.

Mợ soi mặt hàng lên, tìm cái gùn, cái gút.

Để còn mặc cả bớt chiết chứ chẳng phải rỡn.

Nhà nào sắp đặt khéo, biết giấu lá lụa kém phía trước vào trong.

Mợ Hai giở xem mấy thước, thấy mặt hàng phẳng, mép biên gọn ghẽ.

Thế là được.

Mợ vứt toạch xấp lụa xuống chân sạp.

Anh thư ký xướng tên chủ lụa, số thước rồi ghi vào sổ cái.

Bà bán được lụa nét mặt tươi hơn hớn.

Chỉ còn đợi lấy tiền rồi bà bước ra, te tái lên Đồng Xuân, ù một cái vào chợ xách ra xâu lòng bò, quả dứa ta rồi đứng đợi tàu điện trước cửa chợ, hôm nay may mắn được về sớm.

Mợ Hai vẫn thong thả đo từng thước.

Trên trần, cái quạt máy quay lọc cọc, khật khưỡng như ngái ngủ.

Người ngồi lố nhố tận ngoài chen vào lại nịnh khéo, xuýt xoa kêu mát quá.

Bà bên cạnh chép miệng: rõ hươu vượn khen phò mã tốt áo.

Cái người vừa nhích lên, ngồi phải chỗ hắt nắng, vẫn nói: hây hẩy thế này mát quá, mát quá.

Làm như không để ý câu nói mỉa.

Mà cả Hà Nội, có lẽ các phố Hàng Ngang, Hàng Đào này chật hẹp nhất, nóng nhất.

Từ Hàng Giấy xuống hết Hàng Đào, ngang Hàng Bồ lên cổng Đục, sang Hàng Bạc ra hẻm Phất Lộc, các phố ngõ trơ trụi không một bóng cây - trừ mỗi cây đa cửa miếu trong Ngõ Gạch.

Hai bên hè, đen nhẻm cột dây điện, tàu điện, nắng chang chang vàng rực đường.

Người xách ấm nước vối, nước gạo rao ời ợi.

Màn che cửa các nhà bên này đường tỏa xuống lùng nhùng trên đầu người đi.

Người qua lại nhốn nháo dưới hiệu Tây đen bán vải màn cửa sòng sọc đỏ.

Hiệu thuốc người Tàu có gương hình soi lùn người, cái màn màu lục.

Các nhà buôn ta, sọc xanh, trắng vàng.

Tàu điện Bờ Hồ lên từ từ giật chuông "keng ầm" như con trâu nghé ngọ qua giữa phố đông.

Ai đến phố Hàng Đào, Hàng Ngang cũng phải quen mặt một anh chàng dở hơi.

Người thong thả ngồi trong nhà cả ngày ngóng ra lại càng nhẵn mặt anh ấy.

Ngoài đường lũ lượt ăn mày dong phố.

Có người bôi lầy nhầy, khắp mình như mụn mọc.

Làm cho người ta khiếp phải cho tiền ngay.

Có người lòa đi hát.

Kìa cái anh điên hiền lành đi tới.

Không biết anh dở hơi ấy ở đâu mà đến sớm, hôm nào cũng thế.

Anh đã đến kia.

Mặt ngăm ngăm đen, áo trắng dài khuy cổ đóng cẩn thận, đi đôi guốc mộc.

Nếu trông thấy anh một lần, chỉ tưởng là người nghiêm nghị đi đâu có việc, vừa đi vừa nghĩ ngợi, suy tính, như mọi người ngoài đường.

Nhưng suốt ngày anh ngược xuôi tha thẩn hai bên phố Hàng Đào, Hàng Ngang lên Hàng Đường rồi quay lại, nét mặt vẫn đăm đăm.

Lạ sao, cứ nhà nào có con gái anh đều thuộc và anh chỉ thuộc những nhà có con gái đẹp chưa chồng ngồi hàng.

Đến trước cửa, anh dừng lại.

Anh đứng rón rén cạnh thạp đường, thạp chè, hay cái tủ kính bày tạp hóa.

Sáng sớm, cô gái trong nhà ra dỡ cánh cửa xếp ngang xuống, rồi vào ngồi phản trong ngoảnh mặt ra, trông hàng.

Anh ấy liếc cặp mắt trô trố nhìn cô.

Anh nhếch môi cười.

Một tay giơ lên xốc khuy áo cổ, sửa lại cho ngay ngắn, đứng đắn.

Cái áo trắng mặc đã dầu dã, cứ chốc lại mó đến, cái mép cổ đã thành vệt vàng mờ.

Anh lại mỉm cười.

Anh cứ cười tủm như thế, mắt nhìn cô gái ngồi trong hàng đến lúc nào cô mỉm cười lại với anh một cái, anh mới hý hửng bước đi.

Anh đi sang cửa hàng khác, có cô gái bán hàng khác.

Anh lại xốc cổ áo, đứng lại và cười tủm, nhìn vào.

Tất cả các cô con gái đôi bên hàng phố đều nhẵn mặt cái anh dở hơi mặc áo trắng dài, đi guốc, nhìn mình cười và đợi mình cười trả lời.

Thế thôi.

Thế thôi.

Rồi anh ấy lại nhẹ nhàng, thảnh thơi đi cười với người khác và đòi cái cười của người khác.

Anh như con bướm lượn, nhưng là con bươm bướm ma.

Các cô cho anh một cái cười, chẳng mất mát gì.

Anh chỉ làm vui đôi bên hàng phố.

Có hôm tối đã lâu, tàu điện chuyến vét đã nối đuôi chạy ầm ầm về qua, mà còn thấy anh dở người vơ vẩn trước các cửa hàng đã lên cánh.

Một người đàn bà đứng tuổi, áo dài nâu, cơ chừng vừa ở ngoài đầu ô vào.

Người ta bảo bà ấy là mẹ anh.

Anh lặng lẽ đi theo bà.

Hàng phố đồn anh đang đi học, phải một cơn ốm rồi đâm ra lẩn thẩn vậy.

Có người kể anh đã sắp thi tú tài.

Bị người bỏ bùa, thế là hóa rồ.

Cũng chỉ toàn nghe hơi, chẳng biết thật thế nào.

Chỉ biết mỗi buổi sáng thấy anh lượn phố Hàng Đào từ bảnh mắt.

Cái áo dài trắng và đôi guốc mộc.

Anh điên cười tình chen giữa những du côn, kẻ cắp và bạc bịp đi rủ rê người khờ đánh bất, đánh xì, xem bói, cứ giơ quân bài tây, con ít xì lên đầu.

Đương buổi chợ, càng đông.

Không biết đâu kẻ cắp, đâu người ngay.

Ai cũng cắp nắp, khư khư, trông trước trông sau, sợ đứa nào giựt mất.

Chỉ có anh điên bước lững thững.

Đột nhiên trông thấy hàm răng vàng bựa của anh nhe ra.

Y như rằng, nhìn lại sau lưng, thế nào cũng thấy một cô con gái ngồi trong cửa hàng.

Trong nhà, mợ Hai vẫn mải đo lụa, cẩn thận, thong thả.

Khổ lụa mộc chưa chuội, bụi hồ rụng xuống mặt sập, trắng như bột nếp.

Ánh nắng đã xiên ra hàng gạch giữa hè.

Thế mà người đợi lụa được đo, được mợ Hai tính trả tiền vẫn đông.

Tiếng người thư ký xướng số thước và tên người bán lụa cứ khàn khàn như giọng người đói thuốc phiện.

Bỗng tiếng trẻ reo à à ập vào.

Ngoài vỉa hè, chiếc xe nhà sơn then vừa hạ càng.

Anh xe đeo kính râm, mặc quần thâm, nón dứa, quai nón vải hoa tím buông như cái tua y môn bàn thờ sặc sỡ dưới cằm.

Chắc không mấy ai nhận ngay ra được cũng vẫn anh này lúc sáng cầm cái lao ra hè mắc màn cửa che nắng.

Lũ trẻ trên xe nhảy xuống chạy vào nhà.

Các cậu đi học về, quần tây cộc, dép trắng.

Các cô mặc váy đầm, hoa lốm đốm.

Dây cặp đeo trên vai.

Anh xe dắt cái xe nhà gọng vàng lững thững quay ra phía đầu Hàng Dép.

Anh cho xe vào cửa sau, lối Hàng Quạt.

Mấy đứa oe con này chỉ ngồi lớp đồng ấu, lớp ăng-phăng-tanh, lớp bét mà thôi.

Còn ông, ông đã học lên đến moay-ăng oong (1) ông hơn chúng mày bốn năm lớp kia.

Thế mà trông thấy chúng nó đi học ngồi xe nhà, cặp đeo cặp cắp hớn hở, mình ơ mặt, quên mất cả chữ.

Tưởng chúng nó mới là học trò.

(1) Ăng-phăng-tanh (Enfantin), lớp vỡ lòng.

Moay-ăng-oong (Moyen 1) tương tự bậc học phổ thông cơ sở.

Mợ Hai Hàng Đào vẫn ngồi bệ vệ đo lụa.

Cũng không phải tôi trông thấy mợ Hai hàng ngày, nhưng tôi cứ luẩn quẩn mỗi khi nhớ đến phố Hàng Đào, lại hình dung ra mợ Hai.

Có lẽ chỉ vì tôi cũng lây cái lo của bao nhiêu người làng tôi chờ đợi bán được lụa.

Rồi lại nhớ sang cái anh dở hơi quanh năm đi cười tình với con gái đôi bên hàng phố.

Anh ấy cứ đi mãi, đi mãi, cái oan hồn không được giải oan.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
22. Tìm vàng


Trẻ con thích nghe người lớn nói chuyện ma.

Đã sợ, nhưng lại hay tò mò.

Rồi nhìn ra chỗ nào cũng thấy có ma.

Gốc gạo đường ngõ Noi, ngõ Cả.

Mô đất gốc nhãn ao đình, cầu Điều, miếu Đôi, những cây muỗm trên quán, đâu cũng có ma.

Đêm sáng trăng suông ma mặc áo dài trắng đánh đu trên cây.

Ma ngồi cành nhãn, thò chân xuống.

Ma cười khanh khách.

Ma khách, ma xó...

Nhưng tôi trợn nhất những chuyện tìm vàng nửa thực nửa ma.

Chuyện ma mà lại có vàng.

Các chuyện về vàng ám ảnh u ám khắp làng.

Ở trong làng, trông vào đâu cũng thấy những chuyện ấy.

Lại sợ nữa.

Người ta nói đương chân tay không, nghèo một xu không dính túi thế này mà bắt được vàng, sướng quá, thì phát rồ hay có khi chết ngay đấy.

Lại càng ngẩn ngơ cả người.

Sợ mà lại thèm.

Câu chuyện một cô thợ seo làng Đông thấy vàng thì lạ lùng nhất.

Áp phiên chợ giấy tối hôm ấy, tàu nào cũng seo đến khuya.

Hết tàu rồi, cô thợ đi về trong ánh trăng rằm sáng vằng vặc.

Đến chỗ cây đề rẽ vào đầu làng.

Không biết run rủi thế nào, tự dưng cô lại không đi vào đường làng.

Cô ra bến bãi bìa trên bờ sông.

Chỗ miếu Đồng Cổ bên kia sông cũng có cây đề to như cây đề đầu làng cạnh dãy vạc nấu dó.

Cô thợ seo trông ra dòng sông loáng anh trăng, thấy một tòa nhà vàng ngời.

Cô bước tới sờ tay vào cái cổng, tay cô mát lạnh.

Rồi những bậc cửa vàng lồng lộng dẫn xuống.

Chẳng còn thấy đâu những cái xóm làng Đông tiều tụy tường nhà nọ dựa tường nhà kia.

Đây san sát từng tòa ngang dãy dọc, mái ngói vàng rồng leo phượng múa.

Đâu cũng vàng, toàn vàng.

Cô thợ seo ngơ ngác bỗng nhìn xuống thấy xống áo mình cũng anh ánh vàng.

Và bóng cô đương tha thướt trên đường qua sân lát những viên gạch vàng lên hộc cửa.

Bỗng nghe một câu hỏi êm ái:

- Cô kia đi đâu xuống đây?

Cô thợ seo ấp úng.

Vẫn tiếng êm ru như rót vào tai:

- Này cô kia, cô chưa phải duyên phải số về đường cõi âm đâu.

Ra đây chị dẫn em trở lại.

Chẳng trông thấy một bóng người.

Tiếng nói cứ mơ hồ vời vợi.

Cô thợ seo thong thả đi theo những lời hương lời hoa, không thấy người đi trước, mà vẫn cảm như mình đương đi với ai.

Một chốc, trông lên đầu thấy miếu Đồng Cổ, bóng cây đề, lá đề lấp lánh trên bến.

Dưới chân, lung lay dòng sông ánh trăng vằng vặc.

Như cô vừa rẽ nước đi lên.

Cô thợ seo ấy nhớ rõ ràng, kể lại như thế.

Từ hôm ấy, ai ra cửa đình nhìn xuống bến cũng tưởng ra thấp thấp thoáng mái tòa nhà vàng trong bóng nước sông Tô Lịch.

Có người chép miệng nói:

- Chẳng hay hớm gì đâu.

Được bạc thì sang được vàng thì lụi bại, thì tuyệt tự.

Thế là cái số con bé còn may đấy.

Tuy vậy, câu chuyện nghe xong, ai cũng thờ thẫn.

Cả một dạo, người các nơi nô nức lên làng Đông xem mặt cô thợ seo đã lạc xuống cái đình có vàng dưới sông đầu làng.

Người ta về kể ít lâu sau cô sinh ngẩn ngơ rồi ốm.

Lại nhiều người chép miệng: "Đấy, đấy, gặp vàng thì lụi bại mà".

Ai cũng cứ vừa sờ sợ, ghê ghê lại vừa ngơ ngác, ao ước, tiếc của.

Nào ai trông thấy vàng bao giờ, mà biết thế nào là bắt được vàng thì rồi giàu có.

Lại rầm rĩ tin đồn có vàng chùa Hang ở Quán La.

Hàng năm, Tết Nguyên Đán, người trong vùng hay đi chùa Hang trên Quán La.

Ngôi chùa nhỏ gần đền Sóc bình thường như mọi chùa làng, không khang trang và nhiều khách thập phương lễ bái như chùa Láng, đền Trại.

Chỉ tương tự chùa Dâu hay chùa trại Kho Than.

Nhưng cái khác là đằng sau chùa có một ụ đất, tụt người xuống chui vào vòm gạch có đường hầm.

Cái lạ là thế.

Nhiều người tò mò đã xuống xem.

Vòm gạch cuốn thật kỹ, vẫn nguyên.

Tối om mà khô như ngói, không một đám rêu ẩm.

Thấy bảo đi mãi vào trong thì tới được tận làng Cáo, làng Dàn.

Lại nói có thể xuyên ngầm cánh đồng sang các làng Noi.

Chỉ nghe nói thế, người ta mới thập thò mon men hình như chưa ai dám chui sâu vào bao giờ.

Chuyện chùa Hang trên Quán La cứ miên man đồn đại, ly kỳ rằng cái hang ấy người Tàu để của.

Người Tàu để của có khác.

Chỉ con cháu người ta mới biết mở khóa.

Nó đã chôn sống cả những người đào hang xây hang ở trong hầm, yểm thành những con ma giữ của.

Đến khi nào con cháu người để của ở bên Tàu đem dấu, đem khóa sang mới lấy được vàng trong hang ra.

Bao giờ thì con cháu người để của bên Tàu sang.

Người ta sang thế nào hay người ta đã đến mà không ai trông thấy, làm sao biết được.

Thế rồi cái gì cũng đâm ra ngờ ngợ.

Mỗi hôm thấy chú khách thuốc ê gày kheo khư quảy đôi thùng nan mây sơn then.

Chú khách đội cái nón tu lờ màu cánh gián to như chiếc rổ sảo.

Ống tay áo rộng ngoài láng thâm, trong nhuộm nâu, chắc chắn như áo giáp.

Chốc lại cất tiếng: Thốốốc... thốốốc...

ê...

Chú khách bán thuốc ê ấy, ai trông cũng ngại, không tin.

Những lão khách bán thuốc ê giả vờ, lân la vào các làng tìm nơi ông cha để của hay lão này là người nhà của người Tàu để của ở chùa Hang trên Quán La?

Nào biết phải hay không.

Nhưng mà đến chuyện trâu vàng hồ Tây mới ghê.

Cả vùng đều biết cổ tích dưới mặt nước hồ Tây kia có con trâu vàng.

Hôm nào giở trời, trâu vàng nổi lên, vùng vẫy đánh sừng.

Thấy bảo có người thật mắt đã nhìn thấy.

Lại còn cái hèm từ xưa nhà nào có phúc sinh được chín con trai, đem ra bỏ chín con trai xuống hồ Tây thì trâu vàng nổi lên.

Cứ việc dắt trâu vàng về, tha hồ giàu có ức triệu từ đấy.

Nhưng chưa đời nào ở đâu nhà ai sinh được chín con trai đem đi ném xuống hồ.

Cứ cãi cọ lý sự loanh quanh suốt năm không dứt chuyện trâu vàng hồ Tây.

- Được trâu vàng lại mất chín con trai.

Bố mẹ ăn vàng ăn bạc sung sướng lấy một mình à?

- Mới gọi là được vàng thì tuyệt tự!

- Thế thì thèm vào!

Nhưng mà rồi các làng xóm nghèo nàn, rách rưới vẫn cứ chuyện về con trâu vàng, chuyện tìm vàng, đào vàng.

Ở xóm Cung đầu làng Tây Hồ sang đình Võng bên kia, có ngôi đền thờ trâu vàng.

Đền nhỏ, kề mép nước.

Như rồi có thể hôm nào sẽ gặp con trâu vàng lên nằm đấy.

Sóng hồ mênh mông, ra chỗ mỏm xóm chỉ thấy trên trời dưới nước lúc nào cũng như có con trâu vàng sắp nổi lên.

Đi giữa ban ngày mà cứ rờn rợn.

Thế rồi ngay ở trong làng người ta cũng nói đích rằng nhiều chỗ có vàng.

Xóm bên nhà tôi phía làng Tân có cái gò.

Không biết nguồn gốc thế nào, nhưng đã bao đời, cả xóm đến thắp hương và trồng những cụm hoa đơn đỏ thậm quanh gò đất.

Đâu có búi hoa đơn, đấy đã ra vẻ đền chùa, có thánh, có ma, có cái sợ rồi.

Bà ngoại tôi kể khi trời nhập nhoạng tối vào mùa đông trời mưa hay có đàn vịt vàng trong gò chạy ra tắm.

Bà tôi quả quyết rằng đời các cụ đã có người trông thấy đàn vịt này.

Nhưng bây giờ thì chưa ai thấy.

Cả đến trong nhà ông bà ngoại tôi ở là nhà ăn hương hỏa người ta cũng bảo ngày xưa các cụ đã để của.

Thỉnh thoảng, ông tôi lấy thuổng moi các góc nhà, các chân cột.

Ông tôi đào như thế từ năm nào, đến khi ấy đã ngoài sáu mươi tuổi, mà chưa thấy gì.

Ai cũng kêu: "Được bạc thì sang, được vàng thì lụi bại", nhưng lại cứ mơ màng giá thử được vàng một cái xem sao.

Một đêm tháng tư, chúng tôi đi hội làng Hồ về khuya đã quá nửa đêm.

Giữa đường bỗng đổ mưa to.

Mưa rào đầu mùa hạ, tiếng mưa sầm sập xuống.

Cả bọn vào trú mưa cửa đình Thọ.

Trông sang bãi tha ma bên kia, thấy những đốm xanh lập lòe, chớp lướt mướt trong mưa - hay là đàn vịt vàng ra tắm trời mưa?

Một đứa trong bọn hét to:

- Ma trơi, ma trơi ra chơi mưa trên mả mới!

Những đứa khác kêu lên:

- Vịt vàng!

Vịt vàng!

Trên bãi tha ma, vẫn lập lòe xa gần những ánh xanh rợn tóc gáy.

Không biết ma trơi hay vịt vàng.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
23. Mối tình bác Khán


Bác Khán mê cô Tỵ làng trên.

Câu chuyện không thể là thật mà cứ lăn lóc mãi lên, thành chuyện cười ở đám chơi cửa đình, ở các hàng nước cầu Dừa, đầu chợ.

Bác Khán, mặt rỗ hoa, có lẽ đã vào tuổi bốn năm mươi.

Bác Khán gái mất đã lâu, tôi chỉ nhớ bác ấy ốm sản hậu, lúc nào cũng chít khăn vuông sùm sụp, mặt xanh ngoét.

Nhà bác Khán gái ở láng giềng sau lưng nhà tôi.

Cũng như hầu hết trẻ con trong làng, cái Lợi, thằng Tiếp chẳng đứa nào biết mặt mũi lớp học ở đâu.

Bác Khán làm giấy phèn, cũng như u tôi, thường lên làng Cả cất giấy mộc nhà bác đĩ Canh.

Rồi mua da trâu người ta phơi đê Nghi Tàm về rồi bỏ phèn vào nồi đất, nung suốt đêm làm keo phèn giấy.

Rồi gấp lại thành từng trăm, bó từng nghìn giấy quảy ra Kẻ Chợ bán cho các hiệu kẹo bột và đường ta, đường phên ở phố Hàng Đường để làm giấy gói.

Tôi được biết mẹ của chị em thằng Tiếp là người trong Canh Thìa.

Chỉ vì cứ lúc chửi nhau có đứa réo:"Con mẹ Canh Thìa!

Con mẹ Canh Thìa!", thế là Tiếp tức xám mặt lại, vừa đuổi đánh thằng kia, Tiếp vừa khóc.

Đứa nào chửi bố, Tiếp cũng không thù bằng gào con mẹ "Thia Cành, Canh Thìa" như thế.

Nhưng bác Khán có nghe trẻ con chửi cũng không để ý.

Bác vốn dễ tính, vui chuyện, ruột để ngoài da, chẳng giấu ai được điều gì.

Không phải bác hay khề khà vui miệng lúc quá chén.

Bác Khán không bao giờ đụng hớp rượu, không nghiện nước chè tươi.

Bác Khán chỉ biết quanh năm chí thú làm ăn.

Thật bác Khán cũng chưa bao giờ là trương phiên, khán thủ vác tù và, tay thước đi theo lý trưởng, phó lý.

Bác cũng không phải đi tuần bao giờ, nhưng trên vách trong nhà treo cái tay thước.

Bác đã mua của làng chân khán thủ, khán thủ mua cốt để tránh phải đi phu phen tạp dịch.

Làng có lệ, học trò lớp ba đỗ cái bằng sơ học yếu lược như tôi, chỉ biết chữ quốc ngữ không biết chữ nho, nhưng nếu có tiền đóng, với mâm xôi gà sửa cái lễ cũng được vào hội tư văn, đầu tháng hai mỗi năm được ra ngồi văn chỉ lễ đức thánh Khổng Tử.

Người ta mua lý hào, hương hào, ít tiền thì mua nhiêu, mua khán, như thế cũng thành người chức việc, và người có chân tư văn không phải dân bạch đinh.

Bác Khán tính: Hàng năm, cái công mùa nước phải đi hộ đê, rồi nay ông lý gọi mai ông chánh gọi, nghe trống đình đánh thùng một tiếng, chưa biết đâu vào đâu đã phải chạy nháo đi.

Đằng này bỏ chục bạc ra, có phải đi vay, chịu thêm ít lãi nữa, cũng cốt để cả đời khỏi phải giật mình nghe tiếng trống gọi phu.

Người ta bảo số bác Khán cao, phải lấy vợ thiên hạ.

Bác tính ra thế hay thầy bói đoán số, chả biết.

Lần này, muốn đi bước nữa bác cũng toan tính chuyện xa.

Dẫu cho rổ rá cạp lại cũng phải nghĩ ra nhẽ.

Những người thích trêu chọc lại hùn vào bàn bạc bâng quơ hộ bác.

Người ta bấm đốt ngón tay đếm xem làng trên làng dưới nhà ai có gái đương thì, gái nhỡ nhàng.

Rồi loại dần, rồi chỉ còn cô Tỵ, cô Ngọ.

Bác Khán lại khoe cái nhà cô Tỵ hay ra chợ Cầu Dài mặc áo lụa tím.

Chẳng quen biết, thế mà mình chào, cô ấy cũng hay cười cười chào lại.

Khéo có tình ý gì cũng nên.

Hay là cái duyên, cái số người ta phải tìm duyên ở làng khác đã xui nên thế.

Thế là bác Khán "chấm" đám cô Tỵ.

Chẳng biết ngồi một mình bác nghĩ được bao nhiêu, xung quanh tán góp hùn vào bao nhiêu, cho đến lúc nên thật thế.

Bác Khán hay lẩm nhẩm tính toán, có khi trò chuyện tính đếm với cả trẻ con.

Bác nghĩ với mình thế là đám này xong rồi, mình nhanh nhẩu thật, còn "trên nhà gái" thế nào chứ.

Như thật.

Xóm giềng nhận ra bác Khán dạo này chịu khó diện.

Bác mua hẳn đôi giày tây màu gan gà - đôi giày cũ đánh xi lại màu vàng xỉn lổ đổ gạch cua vẫn treo đinh tường Gầm Cầu của hàng đồng nát.

Bác sắm cái nón dứa quai lụa hoa cau có chóp mạ kền.

Mặt bác rám nắng và gồ ghề, điểm đôi ba chỗ chấm rỗ huê, trông cũng nên mẽ đấy.

Bác cố làm điển được thế là quá sức.

Thường ngày, bác đi chân đất.

Mà chỉ hôm nào phiên chợ giấy, bác Khán mới đi giày, đội nón như thế.

Không phải bác sợ người ta bảo đua đòi, mà bác nghĩ: phải chân chắc đã, rồi mới diện thực sự, để dành ngày sau...

Đến bậc đá cửa đình, bọn con trai xúm xít.

- Đi với "người ta" về đấy à?

- Chú Khán ơi, có gặp "người ta" không?

- Trông thấy mặt đỏ như uống rượu thế kia cũng biết bác Khán đương số đào hoa rồi.

Khuôn mặt rỗ huê cười hiền lành, bác Khán nói cứ tự nhiên:

- Gặp gì mà gặp luôn thế!

Cả lũ tíu tít với bác Khán:

- Chú chưa gặp "người ta" thật hả?

- Chưa.

- Thế thì phải gửi quà.

Vắng mặt phải có quà, cách mặt xa lòng thì "người ta" mới nhớ được.

Chú có quà thế nào nào?

- Các cậu nghĩ hộ tớ nên quà thức gì?

Cả bọn kêu lên:

- Ôi giời ơi, nhãn lồng.

Đương mùa nhãn...

Rồi tán:

- Phải mua cái nhãn lồng nhất chợ.

Bác Khán vừa nghĩ, vừa lẩm nhẩm nói:

- Mai ngày phiên, mai...

- Cái nhãn nhất chợ, phải nhất chợ đấy.

Chúng tôi nhao nhao tranh nhau bàn góp.

- Mua đúng một trăm nhãn, chú ạ.

- Chú đi biếu chẳng tiện.

Mình phải có thớ bên nhà trai chứ.

Để tôi đem đi hộ.

Tôi cam đoan đưa được tận tay "người ta".

Bác Khán dặn, như đặt điều cược.

- Đưa ngay nhá.

- Đưa ngay chứ ạ.

Để nhãn héo thì còn ra sao, cái hoa quả đầu mùa.

Mấy người cười hề hề.

- Mùa nào thức ấy!

Gớm, chưa chi mà quấn nhau thế!

Có đứa nói nhảm:

- Ễnh bụng ra rồi thì trốn làng cỗ cưới a?

Thế rồi, hôm sau và ngày mai, ngày kia, bác Khán có lên chợ mua nhãn rồi dấm dúi nhờ đứa nào, chúng nó chẩm đi ăn với nhau, hay chỉ là câu chuyện tầm phơ.

Bởi tôi chưa bao giờ được chia quà nhãn hay múi bưởi nào của bác Khán.

Mỗi buổi chiều bác Khán đi bán giấy về, lũ con trai đã níu lại từ ngoài gốc đa.

Lục túi, đẫy, cất cả đòn gánh của bác.

Lại thi nhau tán rồng rắn.

Mai lại mua trăm nhãn, cả túm vải, rồi chục trứng gà.

Bao giờ đến mùa, thửa cho được cái hồng Lạng, hồng Hạc, lại bưởi, phải kén bưởi Phủ Đoan; dưa hấu trong Đăm lòng đỏ cát trắng ngọt mát...

Để tôi đem đi biếu cho...

Bảo là của bác Khán cháu.

Được, được, tôi gửi nhời...

Bảo là của chú Khán tôi đem biếu cô.

Lại biếu cụ nữa.

Biếu cụ chánh trước, thế mới được.

Mùa nào thức ấy cũng như sêu tết ấy mà, thế làm chạm ngõ xong, qua cái cầu chạm ngõ rồi.

"Người ta" thế nào chẳng nói đưa nói đẩy lấy lòng: cái nhà bác ấy khéo vẽ...

Bác Khán nói nhỏ:

- Đừng đứa nào về nói cho thằng Tiếp, cái Lợi đấy.

Chúng nó biết tốn kém thế, chúng nó tru tréo lên.

Bác Khán hý hửng bàn chuyện mình sôi nổi.

Phải, không được để cái Lợi, thằng Tiếp biết chuyện tiêu bốc giời thế.

Bác Khán ngỡ như bác đương cởi cái lạt xâu những đồng chinh Khải Định trong đãy ra thật.

Bọn con gái không táo tợn trêu bác như chúng tôi.

Nhưng chúng nó cũng bíu lấy bác Khán.

- Chú Khán vừa lên làng về đấy a?

Bác Khán còn đang khoan khoái về câu hỏi thú vị đã lại nghe nheo nhéo:

- Thím cháu có mạnh giỏi không?

Càng đê mê cả người.

Bác Khán ừ hữ rồi đứng dưới nói trống không, giọng vừa thân vừa chểnh mảng:

- Ấy, vẫn ra chợ Cầu Dài cất giấy mà...

- Cậu mợ vừa đi ăn cao lâu với nhau rồi...

đúng rồi...

Trông mặt chú tưng bừng thế kia, cháu biết...

Bọn chúng nó đấm lưng đấm vai nhau, cười như nắc nẻ.

Bác Khán cũng chẳng để ý chúng cười cái gì.

Bác đương phổng mũi về những câu hỏi, câu bắt nọn vơ vào thú vị của chúng tôi.

Ngày tháng qua.

Những chuyện đùa ỡm ờ của bọn trai gái vẫn xoắn xuýt với bác Khán.

Rồi cười ầm lên.

Gió mát bậc đá cửa đình bên bờ sông thổi qua suốt mùa hạ.

Câu chuyện được thêm thắt mãi, chẳng còn biết đâu thật, đâu là thêu dệt.

Năm ấy, bác Khán "rổ rá cạp lại" với một cô thợ seo người dưới Nam có đôi mắt toét viền vải tây điều.

Đẻ luôn mấy đứa nhút nhít.

Đôi giày gan gà với cái nón dứa bác đã bán hay vứt đi đâu từ lúc nào.

Nhà đông con túng hơn nữa, hai vợ chồng đều đi làm mướn.

Thằng Tiếp sốt thương hàn chết.

Cái tàu seo bằng ván thôi của nhà phải dỡ ra, đóng làm áo quan cho thằng Tiếp.

Thế là cỗ ván thôi phải chôn với người chết hai lần.

Đôi khi, cũng có người hỏi lại chuyện.

Cái cười nở nhệch nhạc mờ mịt trên khuôn mặt lốm đốm rỗ huê của bác Khán.

Không biết rồi cô Tỵ có bao giờ biết chuyện thời con gái cô được yêu vụng thế không?
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
24. Lão Ba Sinh


Chuyện về lão Ba Sinh như chuyện thần tiên, chuyện cổ tích, chuyện ma.

Mà thật lão là người làng tôi, cánh họ Nguyễn Bá hẳn hoi.

Lão bỏ làng đi đâu, từ khi nào, những người vào khoảng mười lăm, mười bảy mới lớn lên như tôi, chưa hề biết mặt.

Khi trở về, ông ấy đã già và giàu có nhất vùng.

Không biết có phải tên lão là Ba Sinh.

Hay là luật giang hồ đặt tên cho lão thế.

Lúc tôi chưa trông thấy lão, hai chữ "ba sinh" cứ làm tôi nghĩ đến những thơ mộng Truyện Kiều.

Hôm nào, các dì tôi cũng bói Kiều, ba sinh duyên nợ, ba sinh hương lửa, ba sinh, ba sinh...

Cái gì như hò hẹn, như Kim Trọng, như Thúc Sinh, có con én đưa thoi, có mày ai trăng mới in ngần...

Nhưng đến khi trông lão sao giống Ngô Đình Diệm, cũng khăn vố, áo dài thế.

Tất nhiên, phải mười mấy năm sau tôi mới trông thấy Ngô Đình Diệm ở Hà Nội năm 1945, nhưng mà thời gian trong trí nhớ người ta thường trộn vào nhau không phân biệt trước sau và xa gần.

Lão Ba Sinh làng tôi cũng lùn lùn bè bè người, mặt sùi mụn đỏ như lão Diệm.

Mặc dầu so ngược lại, tôi vẫn nhớ thế.

(Năm 1945, cách mạng thành công rồi, cơ quan tỉnh đem Ngô Đình Diệm từ Quảng Bình ra Hà Nội.

Lão ở lại cái gác áp mái tầng chót tòa báo Cứu Quốc phố Hàng Trống - tòa báo Hà Nội Mới bây giờ.

Những tầng dưới, nơi làm việc của Tổng bộ Việt Minh, của báo Cứu Quốc ra hàng ngày và nhà in.

Tôi vẫn trông thấy lão Diệm lên xuống, đi ra phố.

Lão được ở tự nhiên hay lão bị giam lỏng, rồi hôm nào lão được đưa đi chỗ khác, tôi cũng không biết và không để ý.

Bởi khi ấy thành phố ngày đêm đỏ rực cờ và khẩu hiệu, những cuộc mít tinh và tuần hành của người nội ngoại thành rầm rập quanh hồ Gươm từ sáng đến tối).

Cả làng tôi cung kính gọi lão bằng ông, ông Ba Sinh.

Cái việc lão về làng không phải thường đâu.

Bởi lão ta trở về có tiền bạc nhiều nứt đố đổ vách.

Chuyện kể về ông Ba Sinh "ba đầu sáu tay" cứ hoa cả mắt.

Ba Sinh tay trắng bỏ làng đi lang thang từ thuở còn trẻ.

Chẳng là có sức khỏe và hung bạo nên làm nghề du côn đứng bến xe.

Các chủ xe đều thuê du côn kéo khách, tranh khách.

Du côn bến Nứa, bến Nam Định, Thái Bình... bến nào cũng có các tay sừng sỏ đứng đầu.

Xe Tư Đường, xe Hợp Thành, xe Mỹ Lâm, xe con thỏ, xe ngựa vằn... chẳng bao lâu, du côn Ba Sinh thành chúa trùm các đám đầu trâu mặt ngựa có sừng có mỏ ở khắp các bến.

Thần thế đến độ đàn em đánh chết người, cũng chạy phá được án.

Rồi Ba Sinh mở sòng bạc.

Xóc đĩa to nhất Hà Nội là sòng Ba Sinh, hơn cả sòng Hai Cua, sòng Cả Vê.

Thành phố nghiêm cấm đánh bạc.

Bắt được cả quân cả cái đều bị phạt tiền và ngồi Hỏa Lò.

Chẳng mấy hôm không thấy đội xếp dắt xe đạp, tay cầm cái thừng lôi một xô một xốc con bạc dưới bãi lên.

Và báo hay đăng trang tin vặt người thắt cổ với đầu bài kiểu cách: "Thần đổ bác rủ rê nên nỗi".

Thế nhưng sở cẩm Hà Nội, sở Liêm Phóng Bắc Kỳ kể cả Tây đã ăn đút, chia lãi với các tay sụ, các sòng bạc kếch sù cứ việc lén lút nhưng mở cửa thả sức.

Khách các tỉnh về đánh bạc có người, có xe đưa đón.

Bắc Ninh, Sơn Tây, Tuyên Quang, Hải Phòng, Huế, các anh hai tay chơi Sài Gòn cũng ra đỏ đen tận đây.

Bất cứ được thua, nhà sòng đều thuê săm có gái chơi hầu hạ và ăn cao lâu Hàng Buồm.

Sòng bạc nửa kín nửa hở khắp nơi.

Nhà tây ba tầng sát phạt giữa phố Nhà Hỏa.

Có sòng cực sang cực to mà lại chui rúc trong dãy nhà tồi tàn bãi Nghĩa Dũng.

Rỗng túi rồi, sạt nghiệp rồi, mà nhà sòng vẫn rước đi chơi cô đầu và tiệc tùng nhảy đầm tiệm "La Phê gat" trên Thụy.

Khoái thế, rồi hôm sau đứa nào rút thắt lưng ra treo cổ lên cành nhãn trong vườn Bách Thú, thì cũng mặc kệ đời.

Sòng bạc Ba Sinh ở Hà Nội đã nổi tiếng Trung Nam Bắc Mên Lào một thời.

Ông Ba Sinh, sòng bạc Ba Sinh, ông là người làng tôi đấy.

Đến khi lão Ba Sinh tìm về làng, không biết có còn làm chủ sòng hái ra tiền không, hay lão chạy làng.

Chẳng mấy ai biết được.

Cũng như ngày trước lão đã đánh chết bao nhiêu người, và bao nhiêu người mất nghiệp phải uống dấm thanh thuốc phiện, phải cắt mạch máu cổ tay vì cờ bạc, vì lão, làm sao đếm xuể.

Chỉ nghe râm ran chuyện mãi không dứt.

Nhãn tiền bây giờ, thấy ông Ba Sinh lắm của, đêm ngày chuyên tu nhân tích đức làm phúc.

Thời ấy những người làm giàu mờ ám và bọn me tây có tàn có tán đều như thế.

Nhà me tây Ba Tý ở Hàng Bạc suốt mùa hè đặt vại nước vối ra hè cho người uống thí và sáng nào cũng phát chẩn gạo cho ăn mày.

Và người các vùng quê ra ai cũng đến xem con gà ba chân, con lợn hai mõm, vợ chồng thằng lùn ở "bách thú" nhà, bắt người vào xem phải chào "cô Ba Tý".

Đường làng dốc chợ xuống ngõ Noi men bờ sông um tùm những bụi lau.

Mùa hè, chỉ một trận mưa, đã úng võng xuống lẫn với dòng sông Tô Lịch, lội lõm bõm ngang đầu gối.

Có khi thuyền thúng hái rau muống bơi vào tận bậc cổng làng Tân.

Chả trách nghe nói ngày trước đây là sông lớn có bến Giang Tân, giờ còn cái cầu Dừa bên mép nước.

Lão Ba Sinh bỏ tiền ra làm đường cao ráo.

Hàng trăm thợ đấu trên Phùng xuống đội đất.

Lại thuê cai lục lộ, mặc áo tây đội mũ vàng đi xe đạp ngoài Kẻ Chợ về cắm thước mốc, căng dây, đo cả ngày.

Chẳng bao lâu, con đường đã chắc chắn như con đê ven sông.

Đường to bằng đường cái quan, chẳng những chỉ tới cửa đình, mà lão Ba Sinh còn cho lát gạch vào tận cổng nhà lão rồi lại đắp đường cao cao qua gốc Gạo ngõ Noi vào tận cầu Điều giữa cánh đồng Cổ Nhuế.

Ngày ngày lũ lượt người các làng đi xem "ông Ba Sinh làm đường".

Có cụ già độc miệng:

- Xem như người nào đắp đường, tô tượng, đúc chuông làm phúc thì biết ngày trước tất nhiên giết người cướp của, ân oán ghê gớm rồi.

Bây giờ làm thế hòng mai kia xuống âm phủ khỏi bị quỷ sứ ném vạc dầu.

Đĩ lữa về chiều thì chịu khó ăn chay lần tràng hạt là cái tích thế.

Lão Ba Sinh lại bỏ công đức làm chùa bên Bắc.

Người ta đồn cái chùa bên Bắc còn cầu kỳ hơn cả chùa của chủ nhà máy gạch Hưng Ký dưới Mới Mơ.

Cứ kể ngôi chùa nhà ông máy gạch Hưng Ký khoe mấy trăm kiểu gạch ngói đã nức tiếng.

Năm hội khánh thành chùa, cả đất Kẻ Chợ rủ nhau đi xem.

Tôi cũng đã đi, ngắm nghía từng mảng tường gạch khác nhau rồi leo lên gác chuông.

Thế mà chùa ông Ba Sinh xây bên Bắc còn ghê hơn.

Cũng là nghe nói, không biết thật hay người ta đồn đại mỉa mai.

Bởi vì lại nghe bình phẩm dăng dăng:

- Trước nó chọc tiết bao nhiêu người, bây giờ mới rồ tiền ném xuống sông thế!

- Thì cứ nghề gá bạc đã là cái nghề lột áo, moi gan người ta, tổn âm đức rồi, chưa nói còn làm cho tàn hại mấy mươi đời con người.

Bởi thế mới phải xỉa tiền ra lót đường xuống suối Vàng.

Rồi xem sao nào, chẳng nhẽ giời không có mắt a?

Bọn trẻ con thì chỉ biết sướng điên lên vì "làng tao có ông Ba Sinh".

Đường ô tô lát gạch nghiêng vào đến tận cổng dinh cơ.

Ông ấy ngồi cái xe ôtô mui gấp về đầu làng.

Trẻ con chạy ra xem.

Ông ấy tung tiền lên, toàn xu đồng, đồng "xanh căng", đồng hào, đồng "ván" lấp lánh trắng, như rắc chấu.

Cho trẻ con tranh nhau chạy theo xe, cướp.

Hai cánh cổng sắt mở ra.

Những con chó lài mừng rít, nhảy víu ngang chấn song.

Ô tô từ từ vào nhà chứa xe, chui dưới giàn nho thấp thoáng cạnh cái ao lớn.

Dinh cơ của ông Ba Sinh thật đồ sộ.

Cái ao xây đá ông bó bờ, có cửa cống thông trông ra ao ngoài, người dạo chơi đi vòng quanh được.

Lũy tre bao bọc kín mít bốn phía.

Lũ chó lài và bác cai vườn ngày đêm canh phòng.

Bác cai vườn chỉ rình bẻ cần câu những đứa chui bờ tre vào câu trộm.

Chẳng ai biết được trong vườn trồng những cây cảnh gì quý.

Nghển lên chỉ thấy lá dừa trổ lủa tủa che mặt tường.

Tòa nhà giữa trông thẳng xuống bến ao cạnh cái nhà hai tầng.

Chưa đủ, lão Ba Sinh lại tậu đất của bà ký Tân dưới Hàng Thiếc (khiến cho nhà thằng Cắt ở giữ đất bị đuổi đi) để xây ngôi nhà nguy nga khác giữa xóm tôi.

Trên hiên treo lồng chim bạch yến.

Tường cao một đầu một với.

Trong nhà ngoài sân lối ra ngõ, lát gạch bát liền không một kẽ hở.

Bởi vì lão Ba Sinh có đến ngót nửa tá vợ, những cô Tư, cô Oanh, cô Ngó vẫn nắm tóc đánh đuổi nhau táo tác từ dinh cơ ngoài vào dinh cơ trong - mỗi khi lão vắng nhà.

Đùng một cái, lão Ba Sinh bán tuốt tuột tất cả.

Lão bán cũng nhanh như khi lão về làng xây các biệt thự.

Rồi lão chết lúc nào, lão chết ở đâu không biết (hay là tôi không biết).

Cái của phù vân, của thiên trả địa.

Vừa mới hôm qua nói thế.

Người ta chép miệng, chẳng bận đến mình mà cũng ngao ngán thay cho.

Những tòa nhà ngang dãy dọc dinh cơ của lão Ba Sinh rồi về tay chủ nhà pháo Phú Mỹ.

Phú Mỹ có cái nhà kho chứa thuốc pháo giữa đồng Noi.

Đảo chính Nhật, các làng vào phá kho.

Thuốc pháo nổ, chết cháy chết bỏng thằng Cửu và thằng con đầu cậu Ba Phát với mấy người nữa.

Về sau lại thấy nói cơ ngơi ấy thuộc về một nhà giàu có chân trong làng Tây ở Kẻ Chợ tên là Vũ Văn Hợi.

Cách mạng thành công, Chính phủ sung công nhà này và có cơ quan bí mật về đóng ít lâu.

Pháp trở lại chiếm Hà Nội.

Bỗng dưng cả vùng đồn ầm lên Tây tìm thấy ấn vàng (1) của vua Bảo Đại chôn trong vườn dừa nhà Ba Sinh.

Các báo ở Hà Nội, Sài Gòn hồi ấy đều đăng tin lễ rước ấn long trọng từ làng Nghĩa Đô về trao cho Quốc trưởng Bảo Đại.

Nhưng người làng chẳng được xem đám rước xách nào ở đâu cả.

(1) Ấn vàng (quốc ấn) của các vua nhà Nguyễn, Bảo Đại đã trao lại cho Chính phủ sau Cách mạng tháng Tám 1945, nặng 10kg vàng (Theo hồi ký "Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc" của Phạm Khắc Hòe - NXB Hà Nội, 1983).

Cùng khi ấy, có lệnh đổi tên mới cho làng tôi.

Làng Nghĩa Đô được tên mới là làng Hoàn Ấn.

Vua đã thấy lại được quốc ấn ở đây mà.

Hoàn Ấn đăng đối với Hoàn Kiếm ngoài Kẻ Chợ.

Người Tây muốn tô son trát phấn lịch sử cho lão vua bù nhìn.

Kể chúng nó vừa thâm lại cũng vừa lờ ngờ.

Ở làng người ta thì thầm cái người tìm ra chỗ chôn ấn vàng trong vườn nhà lão Ba Sinh là ông tài Nền đã được Tây trả công cho hai trăm bạc Đông Dương.

Khi hòa bình lập lại, tôi trở về làng, có hỏi ông tài Nền về việc này.

Năm ấy, ông tài Nền già yếu, bước vài bước đã thở.

Có vợ chồng người con gái thì đã di cư chạy đi Lào.

Ông ở một mình, túng bấn.

Ông tài Nền không trả lời tôi, ông chỉ thều thào:

- Anh ạ, các cụ nói chẳng bỏ đi câu nào, được bạc thì sang, được vàng thì...

Nghiệm có thế.

Hình như ông tài Nền cũng chẳng bao giờ nói với ai chuyện cái ấn vàng.

Thành thử, câu chuyện cứ thực thực hư hư.

Chỉ biết, việc vua bù nhìn với cái triện vàng và đời lão Ba Sinh với cái dinh cơ ấy đều là của phù vân mà thôi.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
25. Bà Viết


Nhà bác cu Cách trước kia ở nhờ trông nhà ở làng cho bà ký Tân có cửa hàng dưới Hàng Thiếc.

Cái nhà gỗ to đã dột nát và khoảng vườn rộng, trong đó có nhiều cây na, cây xoan, một cây dừa.

Bà ký Tân bán nhà đất ấy cho lão Ba Sinh.

Lão này phá đi tất, làm nhà tây.

Cô Oanh, cô Ngó vợ lẽ lão ở dinh cơ mới ấy.

Thế là nhà bác cu Cách phải ra nhờ làng, làm cái lều trú chân ngoài vườn đền.

Nheo nhóc quá.

Nhưng mà, cả khi ở cửa cao nhà rộng trong xóm hay bây giờ chui rúc bờ ao bờ chuôm, bà Viết vẫn thế.

Bà Viết không nhờ con, mà vợ chồng bác cu Cách với một lũ con cũng chẳng có đâu đãi mẹ nổi lưng bát cơm.

Bà Viết đỡ đần thêm nhà nó là đằng khác.

Có khi xong buổi khâu vá, ăn cơm rồi còn được công vài ba xu, bà Viết cũng mua về cho các cháu cái bánh đa, bẻ chia cho mỗi đứa một miếng.

Khi gió bấc hiu hiu thổi xao xác lá đa, lá bàng rụng, người đi ra đường, mặt gây gây xởn xơ, biết thế là mùa lạnh đã tới.

Lại đoán bà Viết sắp đến nhà tôi.

Lưng bà còng rạp.

Tay bà cắp cái thúng nhòi con con.

Bà bước vào cửa, ngước khuôn mặt bé choắt, miệng móm mém như nhai trầu.

Mỗi năm, đầu mùa trở trời thì bà Viết đến.

Bà lần lượt đi các nhà khắp làng Tân, làng Nghè rồi khoảng ấy vừa đến lượt nhà tôi.

Bà chẳng phải hỏi trước xem nhà có gì để khâu vá, mà nhà tôi cũng chẳng gọi bà đến hộ một vài buổi.

Bà đến các nhà theo lệ.

Bà Viết cũng không phải thợ khâu.

Vào khoảng một chạp, trong làng thường có các bác phó khâu ở Bằng Vồi lên.

Các nhà có may quần áo tết, váy lĩnh, tấm áo the hoa, cả chiếc mũ thóp và xống áo trẻ con, người ta đón bác phó khâu quen này về nhà.

Không mấy ai mang vải lên các lò khâu trên chợ.

Vì cuối năm, tự nhiên công khâu các lò lên đùng đùng.

Bác thợ người Bằng Vồi, cơm nuôi, chiều ngày ngày phiên có cút rượu, công xá vẫn thế, không nhiễm thói bắt chẹt của phường chợ.

Ngoài hai mươi, ăn cỗ sắp ấn xong, bác mới đi các nhà, tính toán.

Sau, bác thợ khâu quê Bằng Vồi lấy cô Cọ bán hàng nước đầu chợ, bác phó ở rể bên trại Kho Than.

Ngày hòa bình mới lập lại, tôi còn gặp.

Bà Viết không sánh được với bác thợ khâu Bằng Vồi.

Chưa chắc bà đã đưa được kim cho khỏi toạc cái chân què đũng quần trẻ em.

Bà là thợ đụp thợ vá.

Quanh năm, bà Viết đi vá.

Nhất những nhà lắm trẻ con, xống áo rách luôn, chỉ ít lâu lại phải gọi đến bà.

Bà Viết đi vá khắp các nhà, từ đầu làng đến cuối xóm, lần lượt rồi lại bắt đầu lại.

Bà Viết đã ngồi đầu phản hè, như đợi.

U tôi đem ra cái âu trầu.

Bà Viết lấy cái cối đồng giắt trong thắt lưng, bỏ lá trầu, mảnh vỏ, miếng cau rồi ngồi ngoáy trầu, chờ tôi lấy cái chiếu thủng giữa trải ra ngoài hè nhà dưới.

Bà Viết bảo có miếng trầu ăn sớm cho ấm bụng.

Bà Viết vừa thu xếp mọi thứ đâu đấy, trên mảnh chiếu rách đã thấy gọn ghẽ tươm tất.

Thúng khâu đặt một góc.

Bà nhặt trong thúng ra cái đê, một thanh tre làm thước, mảnh phấn lơ và cái kéo thưỡi một bên tay cầm.

Cuộn chỉ đen chỉ trắng.

Cả con chỉ vàng mua trên chợ của các cô bán chỉ người Tây Hồ.

Kính của bà Viết chỉ có hai tròng mắt.

Đôi gọng được thay bằng hai sợi chỉ xoe lại thành lỗ chòng lọng đeo vừa lên vành tai.

Bà Viết ngồi nhai trầu phóm phém - bà Viết chẳng còn cái răng nào, bà cứ nói những chuyện đâu đâu một lúc.

Khi lẩm nhẩm một mình, khi có bà tôi ở đấy.

Rồi bà Viết mới ngồi vào chiếu.

Trước mặt đã lù lù một đống những quần áo rách, sứt chỉ, xổ gấu của mọi người trong nhà mà u tôi vừa khuân đến.

Thôi thì cũng là vừa hôm ấy trời se se lạnh.

Cả nhà ai cũng lục lọi các xó xỉnh.

Quần áo cũ trong hòm, trong chum, cũi bát, dây treo cuối buồng, ôm ra trông chết ngốt.

Nhưng cũng không đến nỗi oi bức như mấy hôm trước.

Lại vẫn còn đem ra thêm.

Các dì tôi, u tôi, đủ thứ táp nham.

Những cái quần của tôi rách tuông cả gấu, cả đầu gối.

Cái áo dài chéo go thâm, hai bên khuỷu rách lòi, bà Viết đã vá chồng lên không biết tới lần này lần thứ mấy.

Tôi vẫn phải lấy mực bôi vào hai khuỷu tay tôi.

Cho thầy giáo khỏi trông thấy lỗ áo thủng.

Rồi cái dải áo, cái vạt, cái nách áo, chúng nó giựt lúc kéo co, đã rách mấy lần.

Tất cả bày ràn rạn trước mặt bà Viết, quanh bà Viết.

Bà Viết nhấc lên, rũ ra từng thứ xem phải ríu chỗ sứt chỉ hay vá mảnh, rồi bà lại xếp lại, chồng lên nhau, thứ tự, ngay ngắn.

Rồi mút sợi chỉ, xâu kim thong thả, bà Viết rút từng cái, lần lượt làm.

Bà Viết ngồi vá suốt ngày.

Bà Viết thật khéo giật gấu vá vai.

Cái áo nâu dài của dì tôi đã được đổi vai hẳn hoi, mà không cần thêm một miếng vải mới.

Quần áo tôi, đít quần, đầu gối, khuỷu tay, chỗ nào bàn ghế mài mòn, đít quần đầu gối hay ngã rách, nách áo hay bị giằng kéo, bà Viết vá chằng lên.

Bà Viết xẻo đằng trước đưa xuống gấu rồi đột tà, lấp lỗ khuy thành giải buộc, tự lo liệu thu xếp lấy tất cả.

Bà Viết đeo kính lên, bắt đầu khâu.

Cái lưng còng càng lom khom, rạp ngang, lẫn với đống quần áo.

Thỉnh thoảng bà kể vè kể chuyện.

Quanh quẩn, lần nào năm nào thường chỉ mỗi một bài vè dài.

Đến đỗi tôi chốc lát ngồi xem bà khâu, mà nghe nhiều thuộc gần hết, đến chán ngấy.

Chao ôi, những câu hát ngơ ngẩn ngày xưa.

Những câu vè về những chợ vùng Hà Đông, Sơn Tây, nhiều nơi tôi sau này đã có đi đến, nhưng không bao giờ tôi hiểu được trong người kể và trong câu vè ý nghĩa thế nào, những niềm mong ước vui sướng ngông nghênh và cười cợt nhạo báng ra sao.

Tưởng rằng chợ Sái mĩ miều

Chỉ lắm hàng củi với nhiều hàng cơm

Chợ Nủa hàng giậm hàng nơm

Chợ Trôi hàng vải hàng rơm dãi dầu

Chợ Nghệ thì lắm bò trâu,

Thái đoạn cũng lắm, bò trâu cũng nhiều

Sơn Đông chợ họp về chiều

Chỉ lắm hàng xén với nhiều hàng dao

Chợ Phùng hàng xén biết bao

Chợ Gạch cũng lắm thuốc lào, nhang đen

Chợ Bún nửa tháng sáu phiên

Có lắm hàng xén nguyên anh kẻ Phùng

Chợ Săn gần huyện gần sông

Kẻ buôn người bán nhưng không có nhiều

Tuy rằng chợ Hiệp mĩ miều

Chỉ lắm kẻ cắp với nhiều lái buôn

Chợ Cốc nửa tháng sáu phiên

Chỉ lắm ngô đỗ với nguyên củ từ

Thọ Lão chợ họp chán phè

Cầu quán chẳng có, y như ngoài đồng

Lờ đờ chợ Triệu mà đông

Tiếc rằng cả lớn mà không bán bồ

Chợ Mía mới họp mà to

Những thằng Mông Phụ cứ dò xuống chơi

Thế là bài chợ xong rồi

Thì em phải họa bài trời anh nghe...

Lúc nghỉ tay đi ăn cơm hay đến chập tối xếp dọn lại để mai làm, bà Viết lặng lẽ như vẫn thế.

Hôm sau vừa nhai trầu ngồi xuống, tôi đến xỏ hộ bà kim, bà lại bắt đầu cặm cụi, một chốc, lại cất tiếng ti tỉ kể cái bài vè về chợ hôm qua.

Thế nào nhỉ?

Ờ cũng sắp hết...

Những thằng Mông Phụ... thì em phải họa bài trời...

Thôi, kể lại từ đầu...

Chỗ ngồi vá của bà Viết ở đầu hè nhà dưới.

Gió bấc cứ rập rờn to dần đã nghe rào rạt trên tàu dừa.

Tôi vác đến mấy chồng giấy phèn chặn đằng trước, che gió.

Bà Viết nói đã đại hàn tiểu hàn đâu mà lo rét.

Rồi đến lúc rét cóng cá thì tính làm sao.

Cái áo bông tao vẫn nhét đáy thùng kia, chưa phải xỏ nửa ống tay vào.

Đúng vậy, chiếc áo bông ngắn lép kẹp mỏng dính của bà Viết vẫn để trong thùng cùng đôi dép kẻ Noi quai một lỗ ngón chân giữa.

Chẳng hiểu bà không biết rét hay bà vốn khỏe chịu rét, quanh năm bà đi chân đất.

Bà nói đôi dép ấy bà mua từ ngày còn con gái.

Chẳng như các cô các cậu bây giờ, dẫm phải cứt Kẻ Chợ một năm lê mòn mấy đôi guốc sơn tân thời.

Phí của làm sao!

Một người chế: "Dép bà Viết hỏng thế nào được, bà có đi đâu mà hỏng!".

Quả là bà Viết không đi dép, không đi guốc.

Đi khâu, ngồi chiếu nhà người ta, bần cùng bà mới đem theo đôi dép đến để rửa qua cái chân mà ngồi.

Bà Viết nói đi chân đất nó mát, quen từ đời các cụ rồi.

Bấy giờ bà Viết kể sang cổ tích.

Không phải chuyện Tấm Cám, chuyện bà Chúa Ba.

Bà Viết và bà tôi có một kho chuyện trong làng từ đời xửa đời xưa.

Nhớ lâu nhớ mới, không biết bao nhiêu là chuyện.

Chuyện ma, chuyện áp tết, từ gà gáy kéo nhau đi buôn tranh gà Kim Hoàng trong Canh.

Chuyện hội cờ người ở Mọc, chuyện kiệu bò đền Trại.

Chuyện các ông đề, ông lãnh nổi quân ngoài đồng.

Ai bỏ làng đi đâu.

Quân Cờ Đen bắt những ai đi khuân vác rồi mất tích, cả xóm Giếng có cái giỗ chung.

Cái năm vỡ đê Hoàng Mạc.

Chuyện chẳng khi nào dứt.

Sau này, làm nghề cầm bút, trong tưởng tượng của tôi, cái làng Nghĩa Đô xa xôi từ bao giờ lại trở về tôi, có lẽ những hình ảnh ấy đã chồng chất in xa từ những câu chuyện ngày xưa.

Trẻ con cả mấy nhà đến xúm quanh chiếu khâu của bà Viết.

Chúng nó cấu nhau, vật nhau chán rồi lại ngồi im nghe bà Viết kể vè các chợ và chuyện ma.

Bẵng đi ít lâu, một hôm nghe tiếng phèng phèng đám ma ngoài đầu làng.

Bà tôi bảo:

- Đám ma bà Viết.

Sao bà ấy đi nhanh thế, như đi ngủ.

Thôi, cũng may.

Mỗi khi gió bấc hiu hiu thổi, tưởng lại thấy bà Viết cắp cái thúng khâu, lưng còng rạp, lom khom bước vào cổng.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
26. Làng tôi


Ở các phố cũ, hầu như phố nào cũng có đình, có đền, có miếu.

Ngày trước, đâu như các phố này cũng có việc làng và tế lễ cẩn thận.

Nhiều đình thờ vọng - thờ thành hoàng làng ở quê.

Đình Phất Lộc của người gốc làng Phất Lộc.

Đình Đồng Lầm của người Đồng Lầm dưới Nam.

Có những đình thờ nghề tổ: đình Hàng Đào, của phường Nhuộm ở Đan Loan, bà con thợ bạc gốc Châu Khê xây đình Hàng Bạc.

Đình Hàng Quạt của phường làm quạt, quê cũ ở Đào Xá...

Từ các đầu ô ra, mỗi đình đền đều có sự tích gốc gác.

Nhưng đến lớp tuổi tôi cũng chẳng mấy ai biết rõ ràng.

Lõm bõm nghe lỏm các cụ kể, biết chăng hay chớ.

Tôi cũng chưa bao giờ rõ gốc gác nhà tôi, bên nội bên ngoại, các đời thế nào.

Nhà tôi chẳng có gia phả.

Tên ông nội bà nội tôi là gì tôi cũng không biết.

Cho đến bây giờ tôi cũng không bao giờ cố gắng quan tâm hơn, không hiểu tại sao.

Các gia phả, thần phả, câu đối, bia, hoành phi, trên bàn thờ nhà mình hay ở ngoài đình, cái gì thời trước để lại đều bằng chữ Hán.

Tôi còn trông thấy những người có tuổi, chít khăn mặc áo dài tươm tất, quảy đôi bồ đi nhặt từng mảnh giấy bản có "chữ ta" vương ngoài đường về đốt.

Người ta kiêng đem chữ thánh hiền làm giấy gói, giấy lau chùi bẩn thỉu.

Chúng tôi mít đặc chữ nho.

Các lớp học "tam tự kinh" của ông đồ Huỵch, ông Tú Đễ kiệt học trò từ lâu, học trò trả chữ thầy, cũng chẳng còn hội đồng môn nữa.

Ông ký Hài chuyển sang dạy một ít chữ nho và chữ quốc ngữ.

Bác Cả tôi trong quê ngoài bảo học ở nhà cũng dạy quốc ngữ xen chữ nho.

Trong làng, tuy chẳng mấy ai biết mọi thứ gốc gác ra sao, nhưng ai cũng sợ ông thành hoàng làng thiêng.

Làng có miếu quán, có đền, có đình tôi chẳng biết thờ ai, thần gì, mà vẫn sợ.

Tôi cũng được có một lần vào hậu cung đình chỗ có ngai thờ.

Một đêm năm ấy kẻ trộm lấy mất bộ áo thánh.

Nhiều người vào xem, ông từ đuổi không cho đàn bà vào.

Tôi chẳng biết tông tích thành hoàng làng và những vị thánh thờ ở đền, ở quán.

Tướng võ, tướng văn hay người đánh giậm, người ăn mày chết bất đắc kỳ tử, chết đường được hiển thánh.

Như ông Dầu, bà Dầu trên Yên Thái, ông thánh Chú bên Bái, chết đuối, ngã chết, đều được thờ đền, thờ miếu.

Nhiều đứa trẻ cũng mù mịt như tôi, có lẽ đứa nào cũng thế.

Nhưng mà đứa nào chửi nhau khi đã réo đến "tiên sự cái thằng thành hoàng làng nhà mày" là chửi ác nhất, đánh nhau to đến nơi.

Cứ xem những cái hãy còn, làng tôi trong vùng ven con sông cổ chảy quanh các phố xá ra cửa ô, chắc phải chồng chất dấu vết lịch sử.

Từ những thuở đất nước còn trong truyền thuyết, Hà Nội đã là nơi phát tích, trên bến dưới thuyền sinh sống sầm uất.

Tôi cũng chỉ biết đại khái những cái nhìn thấy như mọi người.

Thời nhiễu nhương, khi Tây mới sang, được nghe kể nhiều nhất.

Vườn Bàng cạnh đầu chợ - nhưng chẳng còn cây bàng nào, nơi bãi Tây đem chém người.

Đồn lính khố xanh và những cầu chợ mái xi măng Tây xây, hãy còn cây đề to cạnh đấy.

Thấy bảo ở cầu chợ trước có mở đố chữ và một năm đã thi khóa sinh tại chợ.

Những cánh cửa nhà ông bà tôi còn vết quân Cờ Đen đốt.

Nhiều nhà ở xóm Ngoài có cái giỗ cùng ngày.

Xóm ấy cậy có cổng vững và lũy tre ken mấy tầng, không chạy loạn.

Quân Cờ Đen trèo lọt được vào, bắt đi gần hết đàn ông khỏe mạnh, không có người nào rồi trở về.

Bậc đá cửa đình trông ra sông.

Chỗ đường dốc võng xuống ở đầu làng Tân cạnh cầu Dừa đã là bến nước.

Trên cổng cái đầu làng nay còn mờ mờ hai chữ Giang Tân.

Sông Tô Lịch thuở ấy thuyền bè xuôi ngược như lá tre.

Dòng Tô Lịch đến ngã ba góc thành gặp sông Thiên Phù phía Quán La đổ về.

Bây giờ, dọc đường ven hồ Tây, trên cánh đồng từ Nhật Tân xuống tới áp làng Bái, lòng sông Thiên Phù từng quãng còn sót lại rải rác thành những đầm nước.

Lại từ cống Bưởi đổ xuôi, sông Tô Lịch chảy giữa hai bên ruộng rau muống, liền nhau đến Cầu Giấy, qua Cót, qua Mọc sang Lủ, đấy là dòng cũ của con sông rộng xưa kia.

Chắc ngày trước làng Tân, làng Nghè là một làng.

Đình làng Tân nhỏ bé, làm sau.

Cũng như làng Dâu làng Yên Phú một làng, vốn vẫn thờ chung một đình.

Nhưng năm xưa làng nước còn phong lưu giữ phong tục rước thần đình dưới lên đình trên.

Các cụ thường nói "làng trên chạ dưới", "quan viên chạ Yên Phú, quan viên Nghĩa Đô".

Người ta gọi làng Yên Phú là làng Nghĩa Đô, lồng chung với tên xã, một xã bốn thôn.

Trong ba ngôi đình làng xã, đình Yên Phú cổ kính, tọa lạc nơi địa thế phong quang nhìn xuống sông.

Có thể Yên Phú là gốc của bốn làng.

Đình Yên Phú bị phá hồi kháng chiến không còn nữa.

Một phần, ta "tiêu thổ kháng chiến", còn bao nhiêu cây cổ thụ, đền miếu thì Tây phá nốt.

Tây đã đốt rừng ông Cụ và rặng si cửa đền Trại ở Thủ Lệ.

Triệt cho du kích không chỗ ẩn náu.

Một làng mà có các nghề thật khác nhau.

Nghề nấu kẹo mạ ở Yên Phú đã vào ca dao cổ: "Yên Phú nấu kẹo mạch nha ngọt lừ".

Làng Dâu (Vạn Long), làng Tân (Tiên Thượng), làng Nghè (Trung Nha) dệt lĩnh: "Trai làng Nghè dệt cửi kéo hoa".

Riêng họ Lại làng Nghè chuyên làm giấy sắc cho các đời vua, mặc dầu làng làm giấy nào cũng có thể seo được giấy dó.

Cả khi nhà Nguyễn đã rời đô vào Phú Xuân, giấy cho nhà vua, phong thần, viết sắc, sau này nhà thầu Tài Ngọc vẫn về mua ở làng Nghè tải đi Huế.

Bà ngoại tôi cũng đã được đi tàu hỏa vào tận Huế đòi tiền bán giấy sắc, mà tôi đã được nghe bà kể bao chuyện đường trường và chuyện kinh đô ly kỳ xa xôi, nhất là chuyện phải cởi váy, mặc quần trắng vào xem các lăng vua.

Đình làng Nghè ở ven sông rậm rạp, um tùm những bụi cây duối, cây si, cây móc diều, lại càng âm u dưới bóng cây đa rễ vắt chằng chịt thành hai cây bá vai nhau.

Có một cái miếu trong thờ một con hổ bằng đá.

Người ta gọi là "rừng ông Cụ".

Rừng ông Cụ, Tây sợ du kích đã đốt quang.

Nhưng hai cây đa vắt vai nhau, bao nhiêu trăm năm trôi qua vẫn như nguyên.

"Ông cụ" hổ đá thì lưu lạc xuống chùa Dâu nhưng rừng cây mất rồi, cũng chẳng ai buồn rước cụ về đâu nữa.

Chùa làng Tân là chùa họ.

Chùa Dâu của làng, giữa vườn nhãn to ngõ Noi.

Cái văn chỉ bây giờ người ta chiếm đất làm nhà rồi.

Mọi xó xỉnh đều có thần đất, có ma cây gạo.

Những cái bình vôi trắng tởn, trông đã rợn, buộc thòng lọng vào rễ đa, rễ si.

Ở xóm trong bên cái giếng đất, nghe nói thờ hai bà - hai chị em lấy một chồng.

Rằm, mồng một suốt ba tháng hè, cúng cháo.

Tiếng tiu, tiếng cảnh, ông trùm Dưỡng cất giọng đọc bài cúng cháo ê a.

Trẻ con đứng xúm xít đợi cướp quà.

Đền đầu làng Tân, trong bóng cây hoa ngọc lan, gọi là đền Tam Thánh.

Bên cổng làng Nghè còn có cái quán, bệ thờ xây lộ thiên trên gò cao.

Giờ chỉ còn hai cây muỗm.

Ngày trước, ở đây um tùm những muỗm, nhãn cổ thụ trên gò đất hoang vu.

Tường hoa phía trước dựng tấm bia khắc hai chữ hạ mã rêu phủ xanh đen.

Cuối làng Yên Phú, ngay bờ sông trong bóng cây si âm u, có cái miếu Đôi.

Tiếng đồn miếu Đôi thiêng.

Người mất của, người cờ bạc hay ra miếu Đôi cầu xin.

Đứng cửa miếu Đôi, trông sang bên kia sông thấy một miếu nhỏ dưới gốc đa.

Vòng tròn bờ cỏ cao quanh Đấu Đong, "cái đấu ông Cao Biền đong người đem về Tàu".

Tay phải, đền thờ ông Đại Điên trông ra cầu sang Cống Vị.

Nhưng đấy đã sang địa phận các làng khác.

Cánh đồng sau làng vào giáp trong Vòng, trong Noi, trên Cáo.

Phía làng Dâu, còn cái quán Ba Thành.

Bệ thờ và tường xây quanh, giữa ruộng.

Trong sân quán, những quả chàng ràng rụng hạt đỏ lấp lánh.

Nhiều gò đống trong cánh đồng cũng có những cái tên riêng không biết được từ đâu thành những tên ấy.

Đằng kia, đồng Lỗ Vàng.

Đằng này, gò Mũ Đồng Cân.

Ngay trước mắt, có thế đất thanh đao.

Ai để mả trúng huyệt vào đấy, con cháu không nổi tướng thì thành kẻ cướp, người làng ngại thế cho nên vùng xứ đồng ấy trống trơ không có cái mả nào.

Qua cánh đồng sau lưng làng Nghè sang Mả Mái, nhìn thấy chỏm cây muỗm ở quán Cây đầu làng Bái.

Lại một cái quán.

Gò đất quán Cây bên cạnh ao Cá.

Ông tôi nói quán Cây thờ đức thánh Chú.

Khi ông Dầu, bà Dầu bị lính đẩy xuống ngã ba sông Thiên Phù để vua Lê được khỏi đau mắt, lúc ấy ông em đương ở nhà trên Dàn.

Nghe tin dữ, chạy vội về đến đấy thì vấp ngã rồi hóa.

Quán Cây thành miếu thờ thánh Chú.

Quán ở trên gò bên ao cá.

Ao có con cá thần, lúc nào cũng bơi cựa quậy cho nên tường quán và bệ thờ đều long lở, rạn nứt.

Chữa lại, cũng vẫn thế.

Người ta bảo tại con cá thần quẫy.

Bãi Cơm Thi ở đồng Vân bên kia sông, đầu làng.

Qua gốc đa, rồi cái giếng ven đường, cây ngọc lan trên sân đền cạnh giếng thơi, những búi hoa đơn đỏ.

Chỉ vài bước chân quanh mấy xóm cỏn con, mà chỗ nào cũng chằng chịt, chồng chất sự tích các đời.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
27. Người ngụ cư sau cùng


Nhiều làng xóm chen chúc, không cách sông, cách hồ, mà lạ, giọng nói thật khác nhau.

Tiếng Đông, Hồ khác Sài, Bái.

Tiếng Ba Làng, Yên Thái khác tiếng Nghĩa Đô.

Mà bốn làng Nghĩa Đô giọng nói cũng khác nhau cả bốn.

Cả làng đều làm nhiều nghề khác nhau.

Nghề giấy phải mua liềm seo trên Cáo.

Cây dó tận Yên Bái thả bè về, vỏ bo, kễnh làm giấy xấu hơn thì ở Bắc Giang, ở Hòn Gai.

Nghề lĩnh lụa, tơ mái mua tơ ở Phùng, ở Hưng Yên.

Từ Kẻ Noi lên Kẻ Phùng, tiếng nghe càng khó.

Thế mà còn có những người rất lạ đến ngụ cư.

Chẳng phải ở vùng khác, mà người nước khác.

Tôi cũng có lần kể về người Ấn Độ và người Nhật (1) đến ở vùng tôi.

Cũng chẳng lạ, bởi vì các làng mạc đều ở bên cạnh thành phố.

(1) Tự truyện, hồi ký (đã in lại nhiều lần)

Những người Tàu đến ở từ bao giờ.

Mấy đời nhà ông Sồi bán thịt lợn.

Chú khách Lâm bán phở đầu dốc chợ.

Có khi tôi còn xam tiếng, chứ con cái nhà chú Sồi cả đời ru rú xó làng, nói giọng Bưởi đặc.

Những người Tàu thợ đập bạc làm vàng lá ở đầu làng Đông, ai cũng cao lớn, lực lưỡng.

Hội tháng tư, chú khách Quang áo quần bi-da-ma lụa bảnh bao diện đi chơi khắp làng Đông, làng Hồ, các cô thợ seo mê tít.

Tháng Tám năm 1945, quân Tàu Tưởng làm quân đội Đồng Minh kéo vào miền Bắc nước ta nhận sự đầu hàng của Nhật.

Đông vô kể.

Bọn đổ bộ vào Hải Phòng.

Bọn từ Quảng Tây, từ Vân Nam theo đường Lạng Sơn và Hà Giang đi bộ xuống.

Những toán ở Vân Nam đến Hà Nội trước tiên, từ phía Lào Cai.

Người đi xem lính Tàu như xem hội có phường chèo đóng đường.

Chẳng ra vẻ lính tráng gì cả.

Hàng trăm người xốc xếch, mũ áo vàng đất thó, bắp chân quấn xà cạp, chân đi giày cỏ.

Thỉnh thoảng mới có ông quan đeo khẩu súng lục hộp gỗ đã lên nước mồ hôi đen nhoáng.

Đằng sau, loi thoi bọn quảy thùng, chảo, buồng chuối xanh, bắp ngô, một bó dây khoai lang, các thứ quơ được dọc đường.

Hình như không phải là lính, các quan Tàu nhặt vội ở đâu được những người này rồi lùa đi.

Có người đau chân khập khiễng, rồi ngồi xụp tựa gốc cây.

Ống xà cạp tụt xuống che bàn chân nhợt nhạt.

Bởi thế, nhanh chóng, người ta đặt tên là "Tàu phù".

Một bọn lính Tàu về đóng ở trường đạo La Cooc-đe gần Quần Ngựa.

Ngày nào cũng đi chợ.

Những ông quan đeo khẩu poọc hoọc hộp gỗ ngang đầu gối cũng đi la cà trong vùng.

Lính tráng thì la liếm, nhớn nhác.

Khí thế những ngày khởi nghĩa còn đương sôi sục trên đường cái.

Các đoàn biểu tình trương cờ liên tiếp trong phố từ ngoài đầu ô vào.

Người ra trụ sở ghi tên đi Vệ quốc đoàn.

Tiếng trống liên hồi tối ngày.

Nhưng cơn đói khủng khiếp vẫn còn phảng phất rã rời đâu đây.

Lều chợ, cầu chợ rỗng không.

Mà dẫu cho có miếng bánh, mớ rau, cứ thấy lính Tàu vào chợ, ai cũng vội giấu biệt.

Giấy bạc quan kim xanh xanh.

Đi chợ, người lính Tàu phải đeo từng bó, có khi quảy cả gánh tiền.

Mấy chục tờ quan kim chưa chắc mua nổi bó rau muống.

Thế là cứ vơ bừa lấy.

Lính Tàu cũng đói vêu vao, chỉ nháo nhác sục ăn.

Cướp cả những bánh khô dầu của cái chợ đói còn sót lại.

Vớ được thúng củ cải, một lũ ngồi duỗi thẻ hai cái chân quấn xà cạp, nhá rau ráu.

Nhưng rồi có những cánh quân khác lắm súng hơn bọn Vân Nam.

Cái hôm cả vùng kéo ra biểu tình tuần hành tiến đến vườn hoa Con Cóc bao vây rồi trèo vào phủ Thống Sứ, mà khí giới rặt dao quắm, tay thước.

Đội tự vệ cũng chỉ tập súng gỗ, lựu đạn gỗ.

Thế mà bây giờ bọn lính phù thũng kia có súng, cứ lừ khừ đi, ngứa cả mắt.

Nghe nói ở trên bến Chèm, tự vệ tuần sông đã tóm lại rồi tẩu tán cả thuyền người thuyền súng.

Chẳng may, một lính Tàu nhảy xuống sông, trốn thoát.

Cán bộ cả xã còn đương bị ngồi Hỏa Lò đợi xử.

Chết chém là cầm chắc.

Súng và người quân Đồng Minh kia mà.

Nghĩ kỹ đi, mà thó khẩu súng của lính Tàu đi chợ có thể khác.

Nhưng biết đâu nhỡ nó chạy được, nó về gọi cả lò ra.

Nó đốt chợ.

Nó đốt cả làng.

Làm thế nào?

Tình hình cả nước và ngay trong thành phố còn đương bối rối.

Trong Nam Bộ, quân Anh đội danh nghĩa Đồng Minh vào đem lậu theo cả quân đội Pháp.

Cuộc kháng chiến đã nổ ra giữa Sài Gòn.

Trên nửa nước, từ Đà Nẵng ra, chỗ nào quân Tàu Tưởng đến treo cờ ru-líp (2) chỗ ấy có Quốc Dân Đảng núp bóng.

Quốc Dân Đảng đã cướp các tỉnh lỵ Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Yên...

Ở Hà Nội, đã chiếm khu Ngũ Xã trong bán đảo hồ Trúc Bạch.

Quốc Dân Đảng còn ở rải rác nhiều nơi: trường Yên Thành, phố Hàng Bún, phố Quan Thánh, phố Ôn Như Hầu gần hồ Thiền Quang.

Quân Pháp thì đóng trong thành, trường Bưởi, nhà Diêm.

Quân Nhật bại trận giữ phủ Toàn Quyền chưa giao cho ai.

Ngày ngày, lính Pháp đi gầm ghè với tự vệ các phố của ta.

Có hôm, quân Tàu và quân Pháp bắn nhau quanh hồ Hoàn Kiếm ngay trước cửa tòa báo Cứu Quốc của chúng tôi.

(2) Cờ Tàu Tưởng Giới Thạch màu xanh có hình mặt trời tia trắng, trông giống cái líp xe đạp.

Người Hà Nội gọi là cờ "ru-líp"

Rồi một hôm người ta thì thào rỉ tai kể chuyện có một bọn lính Tàu quảy bồ đi chợ, lại theo người vào trong làng.

Hình như đi mua lợn.

Nhưng chẳng thấy đứa nào ra.

Những người khác nói đấy là Việt Minh nhử chúng nó đi theo.

Rồi ra hiệu bằng tay, bằng mắt, vào đây vào đây bán cho.

Con gà gáy kéc ke ke.

Con lợn kêu éc éc.

Hai tay ta lùa vào miệng vờ và cơm.

Cái cổ ngửa lên giả cách tu rượu.

Cả cơm, cả rượu, mấy người lính cười chìa hàm răng vẩu, lững thững đôi bồ vào làng.

Lính Tàu đi chợ, cứ mất tích cả bọn, cả súng ống, không ai biết.

Thế mà có người lính Tàu ấy vẫn đi chợ.

Làng nước xì xào.

Người này có vẻ quan, không phải lính.

Ông quan Tàu mặc áo rộng ống tay, đội mũ cái lưỡi trai bóng nhoáng.

Khẩu súng poọc hoọc bao gỗ đeo lủng lẳng đằng lưng áo.

Chân đi giày vải xám.

Mặt mũi trắng trẻo, nho nhã.

Ông quan Tàu không vào chợ.

Không phải ông ấy đi chợ.

Ông ấy lên dốc Sài.

Không biết từ bao giờ và chẳng biết ai mách, ông ấy đã biết cái nhà thổ mụ Tìu ở trên ấy.

Phố chợ Bưởi không có nhà hát cô đầu như dưới ô Cầu Giấy hay mả ông Năm.

Bởi hầu hết chỉ có dân thợ ít tiền, lại đương đói.

Cảnh ăn chơi ở đây cũng đìu hiu.

Ấy là hàng phở Trương Hàm, phở trâu ở dốc Sài, bên này đê có cái lều nhà thổ mụ Tìu.

Nhà Tìu chứa gái, lại cả bàn đèn thuốc phiện.

Đấy là cái bẫy mấy anh thợ cửi làng Nghè, thợ thâm trong Võng, thợ cưa xẻ ở xưởng nứa dốc Tân và bến tàu điện.

Cái lều nhà thổ mụ Tìu im lìm hệt đống rạ nát.

Đêm đến, đèn đóm lom đom, người bước vào vội, chập choạng, thấp thoáng như con dơi đảo cánh bắt muỗi.

Cũng không mấy ai trông thấy các cô nhà thổ mụ Tìu.

Người đàn bà khốn khó ngã vào nhà Tìu chắc không khi nào còn ló đầu ra khỏi cái cửa khép có cành rong rấp cả ngày.

Dạo sắp khởi nghĩa, anh Tĩnh với tự vệ cứu quốc làng Bái đã kề súng lục vào khe liếp, bắn chết mật thám ba Lự nằm hút thuốc phiện trong ổ rơm nhà mụ Tìu.

Có người nói anh Nghĩa làng Bái bắn ba Lự.

Anh Tĩnh bảo anh Tĩnh bắn.

Tôi không rõ thực hư thế nào.

Ông quan Tàu này chẳng biết những việc dữ dội ấy.

Ông quan cứ kéo cành rong, bước vào nhà Tìu giữa cả ban ngày.

Khắp vùng đã biết ông quan Tàu mê một cô gái nhà thổ.

Ngày nào ông quan Tàu cũng đến.

Không hiểu sao ngon ăn thế mà chẳng có du kích làng nào tìm cách cướp súng của ông quan này.

Một ngày kia, đám quân quan đóng trên đường La Coóc-đe ở Quần Ngựa kéo đi hết.

Thế mà vẫn thấy ông quan ấy ngoài chợ.

Vẫn cái áo vàng lụng thụng.

Nhưng lạ sao, ống quần xắn lửng thửng ngang đầu gối.

Mũ lưỡi trai vứt đi đâu, lộ ra cái đầu trọc tếu.

Ông ấy đi với cô nhà thổ, hai người ra chợ.

Người ta mới tường mặt cô này.

Cô nhỏ bé, mặc áo cánh nâu.

Cô xách một bó củi.

Nét người dịu dàng, hiền hậu.

Nếu chẳng biết là gái điếm ở nhà mụ Tìu, người ta ngỡ cũng như đấy là cô hàng bán cau khô ngồi trong cầu chợ.

Cả vùng đồn ầm lên ông quan ba hay ông quan tư này trốn lại, đến ở nhà mụ Tìu.

Ông quan Tàu mê cô nhà thổ, đưa tiền chuộc cho nhà chứa.

Mấy hôm sau, hai vợ chồng ra thuê một gian ở dãy nhà cuối phố chợ.

Sớm sớm, ông quan Tàu xách đôi thùng lên giếng Yên Thái, quảy nước thuê đổ vào các tàu seo.

Ông quan Tàu làm nghề quảy nước.

Đến khi kháng chiến, người các làng trong vùng tản cư lên Phú Thọ.

Không biết cặp vợ chồng nhà ấy đi theo, hay đi đâu, không gặp nữa.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
28. Đôi nét


Nguyễn Công Hoan kể khi anh học trường sư phạm Cửa Bắc, chỗ quanh ga Hàng Cỏ còn loáng thoáng những cánh ruộng nước.

Từ dốc Cây Thị Hàng Gà xuống đến nhà Diêm (nhà máy Trần Hưng Đạo bây giờ) sang Vân Hồ vẫn hoang vắng toàn bụi lau.

Và sông Hồng chưa đổi dòng về phía Gia Lâm, nước sông đỏ ngàu lều bều rác rưởi vào sát chân đê bến Nứa.

Ấy là chưa kể, trước kia ba mươi sáu phố phường còn chen chúc những khúc sông cũ đã thành đầm hồ bên sông Hồng, sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu.

Từ hồ Tây ngược lên Sù, Gạ, xuôi về hồ Cổ Ngựa, hồ Tả Vọng, Hữu Vọng, xuống đầm Sét đến đầm Linh Đường.

Khi tôi biết nhìn biết nhớ thì những vùng Hà Nội lúc ấy không khác bây giờ là bao.

Nhưng nghĩ lại, cũng phải giật mình.

Cả chỗ vườn hoa dựng tượng Lý Tự Trọng ngày trước hãy còn ở trong lòng hồ.

Cổng đền Quan Thánh trông ra hai cột trụ bên đường, chỉ xuống mươi bậc đá đã hái trộm được bông hoa sen hồ Tây.

Chỗ góc đường bên chùa Trấn Quốc là một khoảng hồ rộng, còn là đường một chưa có đường đôi, chưa có quán bánh tôm và bãi cỏ.

Đầu dốc trại Hàng Hoa và trên ô Yên Phụ hãy còn sót lại cái chòi xây gạch, sáu mặt xinh xắn.

Chắc ít người biết cái nhà con con ở nơi được thế đẹp mắt ấy là chỗ ngồi của người thu thuế hàng chuyến, hàng rong.

Gánh rau cải, thúng hoa cúng, quảy bánh đúc, một bó giấy đem vào phố đến đấy phải đứng lại.

Không đứng, người thu thuế cũng ra bắt nón, vít quang gánh.

Ngọn chổi phiết hồ lên nón, lên đòn gánh, lên mẹt, rồi dán cái tem thuế chợ hai hào, ba hào.

Dạo chơi mấy vườn hoa.

Chỉ có vườn hoa Hàng Đậu vẫn còn cái đài nước lù lù, các vườn hoa khác đã đổi nhiều.

Vườn hoa Cửa Nam trước có một pho tượng hình con đầm đầu trổ lủa tủa những nét ánh sáng.

Người ta tiện đặt tên gọi luôn là tượng Đầm Xòe, vườn hoa Đầm Xòe.

Hoàng Đạo Thúy kể: (1)

"Tượng Đầm Xòe này là công trình cóp thu nhỏ cái tượng thần Tự Do đặt ở cửa bể và cảng Nữu Ước nước Mỹ, sáng tác của một nhà nặn tượng Pháp.

Đầu tiên, tượng Đầm Xòe được dựng trên đỉnh tháp Rùa giữa hồ Gươm.

Rồi chẳng biết cái tượng Đầm Xòe để đấy chướng quá hay vì nó ngật ngưỡng thế nào trên nóc tháp, Tây mang về đặt ở vườn hoa Cửa Nam".

(1) Người và cảnh Hà Nội của Hoàng Đạo Thúy (NXB Hà Nội, 1982).

Vườn hoa Chi Lăng cạnh đường Điện Biên Phủ bấy giờ gọi là vườn hoa Canh Nông.

Cũng là người phường phố nghĩ ra và gọi thế rồi thành tên.

Chứ Tây đặt là vườn hoa Rô Banh - tên một quan cai trị người Pháp.

Thời các quan ta, chỗ ấy là hồ Voi.

Lính chăn voi dẫn voi trong thành ra tắm ở đấy.

Sau Tây lấp hồ, làm vườn hoa, dựng lên một nhà bia và một pho tượng kỷ niệm chiến thắng chiến tranh thế giới lần thứ nhất 1914-1918.

Cả một quần thể tượng đồng đồ sộ, ngửa mặt lên nhìn mới hết.

Cao nhất, một lính Pháp đứng chỉ tay, một lính An Nam lom khom dưới khoeo người lính Pháp, ngắm con ruồi đầu súng vào Cột Cờ trong thành.

Bốn xung quanh, hình các giới sĩ, nông, công, thương.

Thầy đồ búi tóc áo dài, cắp tráp.

Người đi buôn quảy quang gánh.

Anh thợ cày, vai vác cày, tay dắt trâu...

Tượng con trâu nghênh sừng dài quá choán một góc đài.

Bụng trâu to phình ra như cái chum đại.

Đằng xa trông lại, chỉ thấy sừng và bụng trâu.

Vì thế, mà thành tên gọi là tượng Canh Nông.

Vườn hoa bên hồ Gươm, công viên đầu tiên của Tây làm ra.

Vườn Bôn Be, - vẫn tên một quan Tây.

Vườn này được xây cùng một lúc với bốn dinh thự đầu tiên của thành phố: nhà Thị Chính, nhà Kho Bạc, nhà Dây Thép, phủ Thống Sứ.

Trước khi có các công sở này, cơ quan hành chính của Pháp còn đóng bên phố Hàng Gai.

Ngày ngày đi làm, chúng họ chèo thuyền qua hồ Gươm sang.

Ban đầu, vườn hoa Bôn Be chỉ có cái vườn với đường lát sỏi, ở giữa có cái nhà tròn tám mái, gọi là nhà kèn.

Chiều thứ bảy, lính Tây đem kèn "bú dích" ra thổi.

Cho nên người ta gọi là vườn hoa Nhà Kèn.

Tây đầm ngồi ghế xếp sắt sơn xanh nghe kèn.

Tượng toàn quyền Bôn Be đầu vườn đằng này.

Đã thành chỗ chơi nhởn rồi mà Tây cũng vẫn đem chém người ở đấy.

Chém người giữa phố.

Cái nhà kèn tám mái cong giống như bây giờ, có đội kèn Tây ngồi trong.

Ngoài bãi sỏi bày bàn bia, nước chanh, cam, chuối với hàng ghế tây đầm ngồi xem, xống áo, mũ trắng lốp, đội xếp đứng hàng rào chắn xung quanh.

Người An Nam ở ngoài ngó cổ vào.

Thời tôi còn bé đã được trông thấy cảnh như thế.

Bên bờ hồ, chỗ những cây vông cho đến trước cửa nhà hàng Thủy Tạ, các hàng bán kem cốc.

Còn gọi là kem "sờ" vì thấp thoáng những cô nhà thổ lậu lượn quanh.

Đèn dầu nhấp nhô, le lói.

Các cô hàng chít khăn nhung, môi son, rõ "con gái trại Hàng Hoa".

Kem Bờ Hồ chẳng khác thứ "te cớ", "xê cấu" đường và đá ướp chanh bán rong các phố.

Nhưng kem Bờ Hồ được tiếng vì câu hát điệu bình bán của anh lính khố đỏ khoe với vợ ở nhà quê ra: Mình ơi, có đi Bờ Hồ...

Ăn kem, ăn kem kẹo dừa...

Quán kem mái che bạt vải trắng, vải bố kẻ dọc đỏ.

Hàng bán đến khuya lại dỡ bạt, chiều tối mai chăng lên.

Nhà nhiếp ảnh Võ An Ninh nói các quán kem ấy đã cắm cành vông để néo dây bạt.

Cành vông cắm đấy rồi nhiều năm thành những cây vông - bây giờ là những cây vông cổ thụ.

Kem Bờ Hồ hồi ấy là kem cốc, cái cốc nông, chân cao.

Không phải kem que, kem bát, đến quãng Nhật sang, có kem que gọi là kem Nhật rồi hồi đầu 1940, cửa hàng "Dê phia" nổi tiếng kem bát ở phố ven Bờ Hồ.

Đi đến vườn hoa Con Cóc xem tượng cóc phun nước, đã là xa, rạc cả cẳng.

Chẳng biết vườn hoa ấy tên Tây là gì.

Rồi xuống phía Nam, đến các hồ Bảy Mẫu, Ba Mẫu.

Bảy mẫu, ba mẫu là lối gọi ước lượng chứ không phải thước đo đúng như thế.

Người ở Đồng Lầm dưới Nam Định lên ngụ ven hồ Ba Mẫu chuyên nhuộm vải nâu non, rồi sinh sôi nảy nở ra cả cái cửa ô Đồng Lầm.

Làng mạc vùng này ngoi ngóp trên mặt nước, phải có những cầu nổi cho người vịn đi dập dềnh vào các xóm ẩn náu trong bùn lầy lau sậy.

Nhưng rồi các làng phía nam dần dần nhập vào phố xá.

Làng Đức Viên, làng Giáo Phường, làng Hòa Mã.

Một năm, các xóm quanh chùa Vân Hồ, bỗng cháy tiệt.

Hay là Tây ngầm cho người đi đốt để mở rộng thành phố lại phao tại trời hanh cháy nhà.

Các báo đăng tin "thần hỏa ra oai".

Làng Thể Giao cạnh Vân Hồ, Tây đốt trước mắt mọi người.

Tây bảo: "Làng này có bệch dịch hạch".

Đốt cho chết hết chuột mới diệt được bệnh dịch hạch truyền nhiễm.

Làng Thể Giao bên hồ Bảy Mẫu cháy trụi.

Đấy là năm 1906, Hà Nội có bệch dịch hạch, chết hàng nghìn người.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
29. Con nhà người


Khoảng mấy chục năm nay, những tiếng gọi bố mẹ thay đổi rất nhanh.

Riêng một vùng Hà Nội đã thấy khác xưa.

Ngày trước, ở phường phố, con cái gọi bố mẹ là thầy đẻ, thầy me (me chứ không phải mẹ).

Nhà có đi đó đi đây, bắt chước các nơi đôi chút, gọi là ba má (hoặc ba mẹ).

Vợ chồng còn trẻ cho con gọi là cậu mợ.

Khi có tuổi mới đổi là thầy mẹ.

Hoặc đã quen thuộc, cứ gọi "cậu mợ" đến già.

Chưa kể, còn gọi là "ông bà" thay con.

Các làng ngoại ô, gọi bố mẹ là thầy u, thầy mẹ, thầy bu.

Vài ba nhà giàu kệch cỡm, "giẫm phải cứt Tây", bắt con cái gọi bố mẹ là pa pa, ma măng.

Những nhà hiếm thường dạy con trai gọi bố mẹ là chú thím hay anh chị (theo hèm, gọi tránh để ma không biết là con cái nhà mình).

Thuở bé, tôi cũng gọi bố mẹ tôi là anh, chị.

Ở các vùng quê xa, trẻ con mới gọi bố mẹ là bố mẹ.

Nơi phố phường, cho hai chữ "bố mẹ" là quê kệch.

Hoặc có nghĩa thấp hèn: bố cu, mẹ đĩ.

Trong kháng chiến 1945-1954, hầu hết người thành phố đi tản cư về các vùng nông thôn.

Không biết từ lúc nào hai chữ "bố mẹ" trong cửa miệng con cái đã trở nên gần gũi, thân thương và bình thường rồi lan đi tất cả mọi nhà.

Hai chữ bố mẹ được dùng rộng rãi như ngày nay, đã trải và in dấu lịch sử phát triển tiếng nói đất Hà Nội như thế.

Nhân nghĩ về những từ bố mẹ, tôi chợt nhớ một chuyện cũ.

Hồi ấy, thời kỳ Mặt trận Bình dân, các hoạt động ái hữu, nghiệp đoàn phát triển, bên trong đã bắt đầu bí mật nhen nhóm phong trào phản đế.

Có lần tôi theo anh em về một nhà cơ sở liên lạc ở Trạm Trôi.

Trên đường Hà Nội - Sơn Tây, phố có nhiều nhà ở Nhổn, lai Xá, ở Phùng.

Chỗ Trạm Trôi chỉ lèo tèo đôi ba quán nước.

Người đi nhỡ độ đường bần cùng mới vào nghỉ nhờ nơi vắng vẻ.

Nhà anh ấy mở hàng chữa xe đạp ở Trạm Trôi, cũng là nơi liên lạc ra vào Hà Nội.

Thực oái oăm, không biết đoàn thể có đỡ anh đồng nào, chứ nhiều hôm chẳng có việc.

Hồi ấy không như bây giờ, cả ngày chưa chắc đã có một cái xe đạp đi qua.

Trước cửa nhà, trên cành rong bờ rào, to tướng ba chữ viết bằng vôi vào cái cọc tre: Chua xe đap (không có dấu).

Trên bậc cửa, đặt chiếc hộp bích quy đỏ, trong đựng mấy cái đinh ốc gỉ.

Chẳng thấy ai tạt vào sửa xe.

Nhưng anh vui tính và nhà lại thường có người lui tới vì những việc khác.

Nơi liên lạc, có người công khai, có khi bí mật, cơ sở các nơi mạn Sơn Tây về.

Không mấy khi chị ấy ra gian ngoài cửa.

Chị được hai thằng con trai trạc lên ba, bốn, thau tháu như nhau.

Có lẽ đẻ sinh đôi.

Nhà nghèo, kiếm từng bữa mà hai con đỏ thế này, khướt lắm.

Để ý kỹ, tôi thấy có những cái lạ mắt, khó hiểu.

Hai đứa con xống áo khác hẳn nhau.

Một thằng thì áo chồi vàng chóe, cái dấu bán khoán của nhà chùa đỏ sẫm to bằng bàn tay đóng giữa lưng.

Cổ đeo vòng bạc đính chiếc vuốt hổ, cách thức của con nhà hiếm.

Một thằng thì trần truồng nồng nỗng, mũi thò lò xanh xuống đến tận bụng, cái rốn lồi dài như thằng bé có hai dái.

Thằng bé cởi truồng lúc nào cũng nắm váy mẹ, khóc ê ê.

Cái thằng đeo vòng bạc áo quần tử tế kia được ẵm, hai gót chân trắng hồng.

Bé mặc áo chồi có miếng giò lụa trong bát cơm.

Thằng kia đòi, giãy đành đạch cả hai chân hai tay.

Mẹ nó dường cũng không để ý.

Cứ nhẩn nha cầm cùi dìa xúc từng thìa cơm với giò bón cho thằng bé ngồi trên lòng.

Mặc kệ, thằng kia đập bĩnh mà cũng chẳng được, lại tru lên.

Anh ấy vào dắt thằng bé đương khóc ra ngoài cửa.

Anh dỗ ngọt:

- Ra đây bố cho cái này.

Ăn giò làm khỉ gì.

Ăn cái này thích hơn giò cơ.

Anh nói thế, nhưng cũng chẳng có "cái này thích hơn giò cơ".

Thằng bé lại rống to.

Anh chỉ cười, không dỗ nữa, và nói:

- Mày cứ tập khóc, khóc khỏe vào cho giãn họng ra, ngày sau nhớn bố cho đi học hát tuồng.

Nghe con gào một lúc, anh nói như trêu:

- Khóc mãi rồi cũng phải im.

Khóc nữa đi.

Thằng bé lại gào.

Có lúc hai thằng bé cùng đùa rúc rích với mẹ.

Thằng áo chồi quệt tay lên má mẹ, gọi:

- Chị ơi!

Chị ơi!

Thằng kia kéo tụt thằng này xuống, phụng phịu:

- Bu tao!

Bu tao!

Rồi nó lại nổi cơn hờn.

Lúc lúc gặp việc uất ức, thằng bé chốc lại mếu, lại lên bài kèn khóc òa.

Như mưa bóng mây, khóc rồi nín tự nhiên, chẳng ai buồn dỗ.

Tôi thấy tội tội và nghịch mắt, khó hiểu thế nào.

Tôi hỏi:

- Sao lại thằng gọi mẹ bằng chị, thằng gọi là bu?

Chị ấy lặng im.

Anh nói:

- Để cho con ma Phạm Nhan có vào nhà bắt trẻ con thì nó nhầm, cứ cái thằng gọi bu mà bắt, không bắt thằng gọi chị.

- Vợ chồng cậu dạy con cũng tài, bé thế mà đã bảo được mỗi đứa một cách.

Anh ấy lại nói:

- Cứ cái roi là xong tất.

Thằng kia độ trước cũng gọi "chị, chị".

Cho mấy trận quắn đít là kệch.

Trẻ con cũng tinh gớm.

Không nghe lại phết nữa, kỳ phải gọi bu mới thôi.

Cháu nghe ra rồi.

Tôi lại càng không hiểu.

Thấy tôi ớ ra, anh ấy tủm tỉm cắt nghĩa:

- Chả là cái thằng gọi "chị" là con người ta ở ngoài phố đem về gửi thôi.

Ấy nhà hiếm, nên lo xa đến thế, đã gửi nuôi mà vẫn sợ ma bắt, chúng tôi phải tập cho nó gọi là chị.

Nuôi từ lúc mới ngoặp vú bú đấy.

Có lúc chị ấy kể, dân dấn nước mắt:

- Khổ lắm, anh ạ.

Mỗi lần cậu mợ ấy về chơi với con, thấy cái áo dây mũi cũng không bằng lòng, thấy thằng bé nhà tôi chạy lon ton, cứ hỏi sao nó cứng cáp hơn con nhà cậu mợ ấy, rồi đòi trừ tiền.

Lần nào cũng diếc móc đay đi đay lại chị phải nhớ chị ở vú nuôi con tôi.

Đi ở vú mà được ở nhà lại còn không biết sướng!

Tiền công, tiền lương của người ta chị ăn không à?

Nghĩ tủi thân quá.

Anh ấy cười hì hì chêm câu nói đùa:

- Mà nói trộm vía cái thằng cu nhà tôi, có chó gì ăn đâu, vẫn phổng pháp tròn như con quay.

Bây giờ, mỗi khi đi qua Trạm Trôi, tôi vẫn nghĩ và nhớ chuyện ấy.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
30. Ven hồ Tây


Ai hỏi tôi nhớ nhất chỗ nào ở Hà Nội, tôi thường chỉ nhớ những con đường ven hồ Tây.

Kỷ niệm thuở nhỏ thì không bao giờ phai được.

Tôi tìm nhặt búp đa trên đường Cổ Ngư.

Cây đa ở đây, giống đa nhựa, đa lông làm bóng đá được.

Búp to, thổi lên, phồng như khúc lòng lợn.

Ở hồ Tây cứ lâu lâu lại có người chết đuối.

Người chết đuối hay người đi trẫm mình, thật cũng không rõ.

Xác người chết nào cũng dẹp đét như con mắm.

Trông thấy xác chết được vớt lên, nằm đắp chiếu ở mép cỏ.

Thật lâu, tôi sợ không dám đến nhặt búp ở cây đa cạnh ấy.

Dần dần, suốt hai bên đường, hồ Trúc Bạch và hồ Tây, có đến hàng chục cây đa có ma người chết đuối.

Tiếng kèn lính tập vang vang cũng không át hẳn được cái hoảng sợ ma.

Buổi sáng nào cũng có một đám lính trong Cửa Bắc đi ra.

Đấy là lính tập thổi kèn.

Mỗi người lính đeo vai một chiếc kèn đồng loa cuốn vòng tròn, sáng vàng lóe.

Hàng lính bước đều đều, tay ve vẩy khoan thai, chân đi đất tăm tắp nhanh nhanh bằng nhau.

Mặt người nào cũng chăm chắm nhìn nghiêng lên cành đa.

Như tìm cái gì trên ấy.

Không phải, luật lính người ta khi đi đều phải vênh cằm, vênh mặt lên như vậy.

Một quan Tây ria vểnh chắp tay sau lưng, không bước cùng hàng với ai, đi lững thững nhìn ra hồ.

Hàng lính tụ lại bãi cỏ bên bờ.

Rồi giãn rộng ra, đứng thẳng cách nhau có đến hai đòn gánh.

Chiếc kèn loa cầm sắp sẵn bên tay.

Ông cai người ta lúc nãy bước đi đầu bây giờ ra trước hàng lính, tự dưng nói một câu lạ lắm.

Tôi chỉ đứng xem, nghe thấy mà cũng hốt.

Ông cai nói to:

- Đứng khéo, đứng khéo.

Đứng xa nhau ra!

Để Tây người ta đến tát mỗi người một cái hai cái.

Tát thế cho giãn má, biết chưa?

Có giãn má ra, mới nhiều hơi thổi kèn.

Đứng khéo, đứng khéo.

Đứng xa nhau ra, xa nhau ra!

Ông cai dõng dạc, thong thả nói lại câu ấy lần nữa.

Nhiều buổi sáng, tôi đứng xem ông cai nói rồi lão quan Tây râu vểnh bước đến giơ thẳng cánh tay tát thật lực từng người.

Những cái tát cứ phăng phăng.

Hai má mỗi người lính đỏ lự, lằn vết ngón tay chuối mắn.

Tôi trông thấy thế nhiều lần.

Làn nào nghe câu nói "đứng khéo, đứng khéo" rồi tiếng tát đốp đốp, biết trước rồi mà tôi vẫn giật mình.

Lại đến buổi trưa, con đường trải đá ra đầu ô Yên Phụ thật giãi nắng.

Nước hồ Tây ánh lên mặt đường lởm chởm trắng xóa.

Đi phải nhón gót cũng rát cả chân.

Thế mà giữa đường nắng nằm lù lù cái xe vuông sơn hắc ín đen sì bốn bánh sắt, giống cả chục cái áo quan xếp chồng lên nhau.

Một đầu đen hở cái lỗ tròn cho người chui ra chui vào.

Đấy là nhà ở có bánh xe của phu làm đường.

Tưởng như nóng bức đến độ chẳng ai dám lại gần.

Đứng xa, nhìn chỉ thấy vòm lỗ cửa tối om.

Không biết trong lỗ có người nằm ngủ, có người chui vào làm gì, hay là cái xác chết đuối vừa khiêng dưới hồ lên đem đặt tạm vào đấy.

Đi đường bên này hồ lên Bưởi.

Cuối làng Hồ có quãng thật vắng.

Bờ hồ chỗ ấy cạn.

Bãi cây rút bấc viền xanh mờ ra tận ngoài mép nước.

Đứng ở cổng Rong trông về cống Đõ chỉ thấy mồ mả nhấp nhô trong tha ma quanh những cây đa, cây muỗm trước đền Voi Phục.

Năm kháng chiến, Tây kéo ở Thụy Khê lên tạt vào sau làng Hồ sang Võng ra dốc Sài, đánh tập hậu chiếm đồn Bưởi - trụ sở ban chỉ huy tự vệ miền.

Người ta kể ngày trước chỗ gần cổng Rong có cái miếu, tên là miếu "Ông Bảo".

Lại có quán tên là quán "Giời Ơi".

Sự tích thành tên quán Giời Ơi, miếu Ông Bảo thật là rùng rợn.

Vắng vẻ quá, giữa ban ngày cũng gặp cướp đường.

"Lại đây ông bảo".

Người đi đường chạy.

Nhưng chạy đâu.

Một bên hồ nước.

Một bên bãi tha ma.

Cướp đuổi đến sau lưng rồi.

Làng Thụy, làng Hồ đều còn ở xa.

Người cùng đường kia chỉ còn giơ tay lên, gào một tiếng khủng khiếp "Giời ơi!".

Tôi đã có lúc tò mò tìm xem chỗ nào miếu "ông bảo", quán "giời ơi" mà không thấy dấu vết đâu.

Hỏi cũng không ai biết, tưởng như cái quán, cái miếu có ma đã biến mất.

Song lúc đi qua vắng vẻ vẫn cảm thấy trờn trợn, chập chờn.

Sau này, có dịp đi xa, thấy ở nhiều nơi những quãng đường thanh vắng hay có cướp đường, người ta cũng nói đấy là miếu Ông Bảo, quán Giời Ơi cùng với những chuyện ghê rợn quanh sự tích tên quán, tên miếu.

Tôi hiểu có lẽ không ở đâu có cái quán, cái miếu thật tên như thế, mà đấy là chỗ tai nạn xảy ra và nỗi lo gặp cái chết của người ta khi đi quãng đường vắng đã thành hình thù tên miếu, tên quán như câu chuyện được kể lại ở ven hồ Tây.

Không mấy ai còn nhớ.

Chỗ nào cái xe hắc ín trưa nắng đi theo tàu lu trên đầu ô...

Những người lính tập kèn...

Từng đoàn thuyền chở đất bơi lử lả suốt đêm ngang qua hồ.

Mỗi sáng tôi đã trông thấy những cảnh vất vả ấy.

Chặp tối, trăng lên sớm.

Trên bóng nước hiện ra những đoàn thuyền nối nhau chèo đi suốt đêm trên mặt hồ.

Đấy là thuyền đất thó của thợ đấu đào từ cánh đồng bên Quán La chở sang bán cho nhà máy gạch Satic của Tây.

Đầu đường Thanh Niên còn vết đường ray xe goòng.

Chỗ ấy, bến đổ đất lên cho goòng đẩy vào nhà máy giữa phố Quan Thánh.

Đoàn thuyền hàng chục chiếc, chặp tối thì bắt đầu nhổ sào.

Trăng lên, lửa thổi cơm nhập nhèm giăng dài trên mặt sóng xôn xao bóng nước, nhấp nhô cái lưng nhễ nhại ánh trăng và mồ hôi.

Cả đêm, những đoàn thuyền qua lại mặt hồ.

Kíp thuyền ấy từ đồng Quán La bơi suốt sáng đã sang bờ sen trước đền Quan Thánh, khi ngoài bờ hồ vang tiếng gõ cá trong sương.

Những nhà chài ở bên Nhật Tân đã ra hồ từ gà gáy.

Người của ông chủ Chánh Đúc ở Thụy nhà thầu cá hồ - đã đứng trên mạn thuyền, ánh đèn bão lắc lư soi vào.

Người đánh cá phải giam tiền thuế ngày xong, mái chèo nhà chài mới được động nước.

Tiếng gõ dồn cá quăng lưới vang động.

Sương lên nghi ngút như khói.

Những người thợ đấu trên thuyền đất buông tay chèo xuống, lảo đảo ngẩng lên.

Cật sức, hết sức thì vừa tới nơi.

Đàn vịt trời đen sì bay qua, đậu xuống mặt hồ phía sau lưng đình Yên Phụ, xa xa tiếng thuyền gõ đuổi cá sáng sớm.

Lúc ấy, tôi cũng đương rảo bước trên bến.

Tiếng kèn đã tan tập, trống trường tôi sắp nổi rồi.

Trường Yên Phụ ở bờ bên kia hồ Trúc Bạch, cái gốc cây sung già, ở sân dưới đi giữa đường hồ cũng trông thấy.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
31. Đức thánh Tăng


Hội hè bao giờ cũng mải mê cho những lứa tuổi đương độ.

Hội Lim, các đám quan họ dưới ruộng, trên đồi, người đi xem người đông gấp bao nhiêu các quan họ liền anh liền chị đương lí nhí đứng hát giữa bãi cỏ.

Lều quán cơm rượu dựng san sát từ dưới đường lên lưng đồi.

Đầu năm, còn đương du xuân.

Khói quạt chả chó đã thơm lựng.

Hội chùa Thầy đầm ấm nhất vào ban đêm trên núi.

Thôi thì, mặc sức.

Đàn ông đất Thầy, đất Lim được tiếng có đức tính đáng quý, vợ đưa bạn trai gặp ngày hội về nhà vẫn được tiếp đón và khoản đãi vui vẻ.

Hội rước đức thánh Tăng cũng rất lạ và thú vị.

Nhưng ít người biết, không nô nức bằng các hội kia.

Có lẽ vì đám hội này lầm lũi lam lũ quá.

Mặt trăng trắng bạch từ chặp rối rằm tháng tám năm ấy.

Đất trời tự nhiên mát mẻ, trong óng.

Tiếng trống sư tử tong tong đằng xa.

Bọn anh Lập vào rủ tôi.

- Này đi xem đức thánh Tăng.

Tôi vui chân theo các bạn.

Chúng tôi cuốc bộ tắt đồng Cáo, rồi lên đê sông Cái.

Không nhớ đấy vào quãng nào vùng Dày, Kẻ hay xa hơn nữa, chỉ còn nhớ thấy đê cao thăm thẳm.

Đã khuya rồi, trăng trong leo lẻo đỉnh đầu.

Bỗng nghe dưới kia tiếng cười nói lao xao, tiếng reo à à.

Nhưng vẫn chỉ thấy ánh trăng chứa chan.

Chúng tôi tạt vào cánh đồng.

Rồi trông ra các khoảng ruộng trống đông nghịt, càng vào càng chen chân, người đi dòng dòng về một phía đám rước.

Mà chẳng thấy cờ, long đình, kiệu đâu.

Cũng không tiếng trống, tiếng não bạt, thanh la như mọi đám rước.

Trong sáng trăng, cả một cánh đồng huyên náo sùng sục, kỳ quái, ai cũng hí hởn lạ thường.

Toàn trai gái cứ xông vào nhau cật lực, như đánh vật, lại như đập lúa.

Vào tận nơi, cũng không có đèn đóm gì hết.

Người ta xúm xít đẩy nhau khiêng cái kiệu gỗ.

Cũng không phải kiệu.

Chỉ là cỗ đòn tám vai.

Mà cả chục, cả chục vai ghé vào huých nhau, va nhau, chen nhau huỳnh huỵch.

Có những người không xô vào được, cứ đứng khuỳnh tay vòng ngoài làm như cũng đương khiêng kiệu.

Trên mặt đòn, nổi lù lù một pho tượng gỗ, tối trông đen thẫm, cao bằng đầu người.

Giữa đêm thu mát mẻ mà đám đông cứ tranh nhau, đùn nhau lên, người khiêng người.

Mùi mồ hôi, hơi trầu cau, hơi người nồng nàn.

Bọn con gái cũng gay go táo tợn chẳng kém con trai.

Cái kiệu lùi lên lùi xuống, gầm gừ không dứt ra rước về phía nào.

Suốt cả đêm, kiệu vẫn lắc lư vòng vèo loanh quanh trong cánh đồng mỗi lúc một đông hơn.

Tiếng cười rú, tiếng hú, tiếng rít rầm rầm.

Không phải hò hát.

Không ra thế nào.

Nhưng tiếng hô, câu hò thật lạ tai.

Chốc lại văng vẳng hét lên:

Đức thánh Tăng...

Đức thánh Tăng...

Đức nào không nhung nha nhung nhăng, đức thánh Tăng bóp vú mẹ nó

Đức thánh Tăng...

Đức thánh Tăng...

Đứa nào không...

Xung quanh reo à à, ầm ầm.

Lại gọi nữa, hò nữa, hí lên, réo nữa:

Đức thánh Tăng...

Đứa nào không nhung nha nhung nhăng...

Đám rước sôi sục, người quấn lấy người vần nhau quanh cánh đồng.

Đến tảng sáng thì tan hết như ma biến.

Ít lâu sau, có hôm, ban ngày tôi đi qua quãng ấy trên đê sông Hồng.

Tôi tìm đến cái điếm canh đê mà người ta bảo thờ pho tượng đức thánh Tăng ở đấy.

Không một bát hương, pho tượng chỉ là một khúc gỗ nằm còng queo trên áp mái.

Khác nào cái bùa của thầy phù thủy không phải lúc ốp đồng chẳng có vẻ thiêng liêng gì.

Ở dưới, một bọn trẻ trâu đương đốt lửa nướng thịt chuột, khói um lên.

Không thể nghĩ lại có đêm rước khúc gỗ này chơi bời tưng bừng nhung nhăng suốt đêm.

Người làng kể sự tích đức thánh Tăng.

Một năm nước to, ngoài xóm bãi vớt được khúc gỗ này.

Đưa tượng vào chùa, đức thánh không chịu.

Để ngồi thẳng, hôm sau thấy kềnh ra.

Đặt bát hương, chân hương bốc cháy, bát vỡ.

Đến khi không biết làm thế nào, người ta cứ gác tượng nằm cong queo trên nóc điếm, thế thì lại yên.

Mỗi năm, đêm rằm tháng tám, làng nước đem đức thánh Tăng đi rước "nhung nha nhung nhăng" trên cánh đồng.

Khi trời sáng, thì quang cảnh náo nhiệt đêm đã tản đi lúc nào.

Gần đây, tôi lại có lần đi tìm chỗ cái điếm có tượng thánh Tăng, nhưng không còn biết chỗ nào.

Bây giờ nhớ lại thấy như chuyện ma biến trong Liêu Trai.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
32. Ông hai Tây


Ở Hà Nội ngày trước nhiều người biết ông hai Tây làm xiếc.

Tam Lang, tác giả phóng sự Tôi kéo xe, đã có viết một bài về hai Tây.

Có người bảo tên cúng cơm, ông ấy cũng thật là hai Tây.

Người biết gốc gác, kể ông ấy vốn là Tây lai.

Ông cũng có vẻ lai thật.

Nước da trắng bệch, mũi lõ, tóc quăn queo, lòng mắt nâu mà lại lờ đờ...

Còn có người biết cả chuyện ông Hai đã đến tòa thị chính xin quan đốc lý cứu đói.

Nhưng quan đốc lý đã cho nhà thương thử máu, nhà thương bảo máu ông ấy không phải máu Tây.

Thế là tòa đốc lý không cho đồng xu nào, hai Tây lại sống lang thang.

Tôi cũng được trông thấy ông hai Tây.

Nhưng đến khi tôi thấy ông hai Tây làm xiếc thì cảnh và người ông những năm ấy đã tàn tạ lắm.

Ở phố Hàng Mã, chỗ ngã tư Hàng Lược, Hàng Đồng...

Bên kia vỉa hè có quán nước chè tươi.

Suốt ngày, đông người ra ngồi uống nước.

Thợ đánh bóng đồ đồng, thợ làm trang kim vàng mã.

Người cởi trần, khăn mặt vắt vai, xúm xít.

Cái xe bò chở gỗ xích cả cây từ phố Mới bờ sông lên cũng ghé lại.

Bác xe kéo chốc lại hạ càng vào làm bát nước.

Chiếc xe cao su đỗ chổng đuôi cạnh bờ hè.

Mỗi buổi sáng, cứ đến quãng bóng cây nhội lấn ra giữa đường, lại thấy ông hai Tây lù lù từ phía đằng Cổng Chéo chùa Tây Đen đi đến.

Trẻ con rầm rầm chạy ra, không biết chúng nó reo hay gọi:

- Hai Tây!

Chúng mày ơi, hai Tây!

Ông hai Tây đứng lại trên hè trước hàng nước.

Tôi ngẩng mặt nhìn lên thấy dưới cằm ông lủa tủa trổ một vệt râu trắng.

Tôi không dám bắt chước chúng nó gọi xếch mé: hai Tây, hai Tây.

Bởi ông hai Tây cũng già phảng phất bằng ông ngoại tôi ở nhà.

Đầu tôi chưa chắc đã tới ngang bụng ông hai Tây.

Ông cao lênh khênh mà gầy vêu cả mẩu xương cổ tay.

Hai bên má bệu ra, sần sùi như hai mảnh vỏ chai úp.

Lỗ mũi ông to huếch, bằng cái lỗ đáo, đem "cả cái" một đồng xu vào lọt được.

Thoạt đầu tôi lấy làm lạ.

Tại sao có người lỗ mũi to đến thế.

Ông hai Tây mặc bộ "quần áo Tây", khuỷu tay, đầu gối rách bươm, đã xuống màu cháo lòng, cũng như da dẻ ông nhăn nheo mốc xám.

Ông hai Tây vác trên vai một chiếc ghế băng còn cả thanh gỗ ngang dưới chân, như ông vừa khiêng trộm cái ghế ở lớp học nào ra.

Bọn trẻ lại reo:

- Hai Tây làm xiếc!

Hai Tây làm xiếc, anh em ơi!

Ông hai Tây hạ cái ghế xuống.

Lưng ông cũng khòng khòng rũ theo.

Ông uể oải dựng đứng đầu ghế lên, gõ cộc cộc xuống mặt hè.

Tiếng làm hiệu cũng không đánh động được chút ít chú ý nào của những người ngồi hàng nước.

Chẳng ai quay ra.

Ông lừ lừ nhìn quanh.

Rồi ông thò tay vào túi áo.

Một việc lần lượt như đã làm quen, trẻ con đứng xem cũng thuộc.

Tiếng trẻ kêu to:

- Hai Tây đóng đanh lỗ mũi!

Hai Tây đóng đanh lỗ mũi!

Như là chúng nó ra lệnh cho ông.

Ông hai Tây lấy trong túi ra hai cái đinh đã rỉ đen, bóng nhờ như phết mỡ.

Không phải đinh ba phân, mười phân.

Đinh này dài một gang tay, to bằng chiếc đinh đỉa đóng ván thuyền.

Tay kia ông cầm cái búa con con.

Ông hai Tây ngửa khuôn mặt nặng nề, béo bủng.

Ông kề đầu đinh vào mũi.

Tay ông giơ búa.

Cóc... cóc...

Cái búa gõ vào tán đinh...

Chiếc đinh dài tụt lủm vào lỗ mũi.

Trẻ con đâm sợ, không reo được nữa.

Ở hàng nước có tiếng nói với ra:

- Thôi ông ơi, ghê bỏ mẹ!

Ông hai Tây vẫn thản nhiên đóng cái đinh nữa vào lỗ mũi bên này.

Trong mũi, hai tán đinh thò một mẩu ra như cuống quả quýt.

Không nói, nhưng ai cũng biết đấy là ông xin tiền thưởng.

Chiếc đinh lung lay muốn tụt.

Ông hai Tây giơ búa đập cốc một cái.

Chiếc đinh lại thụt vào.

Vòm mũi ông hai Tây đã đỏ ửng như quả nhót.

Một người giãy nảy, hét:

- Rút ra đi thôi!

Cái đinh lại toan tụt.

Cóc, cóc... vào.

- Rút!

Rút ra!

Muốn xin tiền thì xin hẳn hoi, chứ làm cái trò khỉ ấy, không ai thí cho đâu.

Ông hai Tây thong thả rút hai chiếc đinh trong lỗ mũi ra.

Nhưng cũng không thấy đồng chinh nào bỏ vào bàn tay ông vẫn ngửa trước mặt.

Ông hai Tây lại lẳng lặng làm sang trò mới.

Ông hai Tây lùi lùi nhấc chiếc ghế băng, giơ lên trên đầu.

Ông thở phè phè lấy hơi.

Rồi ông thưỡn hàm dưới nhe răng cắn cái ghế dựng đứng.

Ông hổn hển bước lên, bước xuống.

Chẳng biết cái miếng xiếc của ông cốt làm điệu thế hay nặng quá, ông run run sắp ngã.

Một người đứng dậy, giơ tay nắm chiếc ghế lại:

- Thôi thôi, đổ ghế vỡ đầu người ta.

Mấy cái răng sắp rơi nốt ra đây kia, định ăn vạ à?

Có một đồng chinh vứt xuống bờ hè.

Ông hai Tây hạ ghế xuống, cúi xuống nhặt đồng tiền rồi không nói không rằng như từ lúc mới đến, ông lủi thủi vác ghế đi về phía Hàng Đồng.

Tiếng trẻ con reo như đuổi theo:

- Xiếc hai Tây!

Xiếc hai Tây!

Hôm sau, ông hai Tây lại đến chỗ hàng nước.

Cũng vào quãng nắng đổ bóng cây nhội ra giữa đường.

Những người ngồi hàng nước không phải người hôm trước.

Nhưng chẳng hôm nào thấy ai xem hết được cả hai trò xiếc đóng đinh lỗ mũi và cắn ghế dựng đứng.

- Thôi, thôi...

- Một chinh đây.

Rút đinh ra, rút ra.

Ghê bỏ mẹ!

Mộthôm nào, không thấy ông hai Tây vác ghế đến chỗ hàng nước ngã năm ấy nữa.

Hômnào, cũng không ai để ý.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
33. Trèo me, trèo sấu


Có người hay mắng trẻ con lêu lổng lười học: Mày là thằng trèo me, trèo sấu, mày là đồ trèo me, trèo sấu.

Câu "trèo me, trèo sấu" có sự tích từ ngày trước.

Và không phải những việc để thành câu nói cửa miệng ấy chỉ có nghĩa như ghét bỏ, mắng mỏ.

Những chuyện thật để nên sự tích này thì thương tâm nhiều.

Thời ấy có quan đốc lý Tây cai trị cả thành phố.

Hàng năm tòa đốc lý đã canh giữ và cho đấu thầu hoa quả tất cả các cây đường phố, từ quả me đến quả sấu.

Nhiều nhất cây me, cây sấu ở các đường vắng trong vườn Bách Thảo.

Nhà thầu hoa quả đã thuê đội xếp giữ cây hay là người ta ăn lương nhà nước đi gác, không biết, chỉ thấy đội xếp tuần đường phải nhìn cả lên cây.

Nhất là đến mùa quả me, rồi lại mùa quả sấu.

Người các nơi bấy lâu kéo về Hà Nội kiếm ăn, đội xếp đuổi không xuể.

Trẻ con lang thang quanh năm trèo cây bẻ cành khô làm củi, bây giờ, đến mùa quả, lại leo lên hái trộm.

Đám trẻ con trèo trộm nối nhau trên lưng cây me như những con mối tìm mồi.

Bọn trộm nhãi nhép sao qua được mắt cú vọ của các người đội xếp.

Họ chưa cần nhìn lên cây.

Cứ trông thấy lá me rụng chỗ nào, lá me xanh bay phơi phới xuống, thế là đội xếp dừng xe đạp lại.

Hai đội xếp ta ghếch xe vào gốc cây me.

Đội xếp Tây vẫn ngồi trên yên, thả hai chân xuống đất, chống nạnh tay lên mạng sườn, nhìn lên.

Lá me xanh um, thân me, nhiều nhánh, mọc thẳng, trẻ con dễ nép vào đấy, dưới đất không nhìn thấy.

Người đội xếp ta ngửa mặt lên cây, quát to:

- Những đứa nào trên ấy, muốn sống thì xuống ngay.

Không có, quan cẩm đòm cho một phát, chết tươi đấy.

Im lặng.

Người đội xếp lại cong cổ lên, quát:

- Này, ...oong...

đơ... này...

đòm...

Bỗng dưng, trên cây tụt xuống, nhanh như tàu cau rơi, một đứa, hai đứa, ba đứa, bốn đứa.

Đứa nào cũng cởi truồng co ro, gầy đét, trần trụi như cành củi khô gãy xuống.

Cái quần, hai ống quần mỗi đứa buộc vắt quanh cổ, lèn chặt cứng tận cạp những quả me.

Lũ trẻ đứng lố nhố.

Người đội xếp lừ mắt đẩy chúng dàn ra hàng ngang, rồi giơ tay tát, tát trái mỗi đứa một cái.

Tưởng méo mặt đi được.

Người đội xếp quát: "A lê hấp!", như ra lệnh chạy thi.

Cả mấy thằng trần truồng, vai quấn cái quần phồng đầy quả me, thất thểu chạy suốt phố Cửa Bắc về sở cẩm Hàng Đậu.

Ba người đội xếp Tây và ta đạp xe hàng ba thong dong đằng sau.

Chẳng biết bọn trẻ khốn khổ bị giam mấy ngày trong bóp.

Chỉ chắc chắn, khi được thả ra, thì đi cởi truồng.

Những cái quần buộc túm đựng quả me phải để lại đấy "cúng" các ông đội xếp.

Và cũng chắc chắn rồi chúng nó lại đi trèo nữa.

Quả me, quả sấu đem bán để sinh sống hàng ngày, có khi nuôi cả nhà.

Bị bắt luôn, nhưng may ra có hôm thoát.

Chẳng mấy ngày không trông thấy ngoài đường Quan Thánh, đường Cửa Bắc và trên Bách Thảo những cái xe đội xếp lững thững đằng sau một lũ trẻ con cởi truồng đeo cái bị, cái quần buộc túm trên cổ đi về bóp.

Mùa quả me, mùa quả sấu nào cũng vẫn cảnh thương tâm ngơ ngác ấy.

Bắt tợn thế mà những cây me, cây sấu sai quả cứ trụi lụi, mất nhiều.

Đội xếp đành chịu.

Biết là mất trộm chẳng làm gì được.

Ban ngày đi tua nhìn kỹ từng cây đến thế nào cũng thấy và trị được.

Nhưng bây giờ người trèo cây toàn trộm về đêm.

Sáng ngày ra, quanh gốc sấu, gốc me, cành gãy với lá rụng ngổn ngang hè phố.

Đội xếp đi tuần đêm cũng biết thế.

Nhưng đêm hôm, cả đến lão đội xếp Tây đeo súng lục cũng không dám đứng lại.

Nghe rắc trên cây mà cứ đạp xe đi như không biết.

Chẳng dám ngửa mặt lên nhìn nữa.

Ánh điện và bóng tối chập chờn, bóng cây bóng lá, người trên cây ép mình như con nhái bén, ai mà rõi ra được.

Lại nhỡ ở trên cây nó choảng xuống một cái gì thì bỏ đời.

Thế là đội xếp đi thẳng.

Từ năm ấy người hàng phố ít trông thấy đám trẻ cởi truồng vác quần đựng quả sấu bị đội xếp lùa về bóp.

Nhưng một cảnh đau lòng khác lại thường bày ra.

Ấy là, đôi khi buổi sáng, ở gốc cây, giữa những đám lá, đám quả rụng có cành cây gãy bê bết máu và những vũng máu.

Cành sấu, cành me vốn giòn như cành xoan, cành khế.

Không dai thớ như ổi, như nhãn.

Dẫu cành sấu cành me to đến thế nào, gãy một cái là rơi thẳng, không vướng víu vào đâu được.

Mà quả sấu, quả me bao giờ cũng mọc chơi vơi ngoài đầu cành.

Những vũng máu đã khô đen.

Không biết người ngã gãy chân hay vỡ đầu.

Lũ trẻ đã khiêng nhau đi từ trong đêm.

Cái gốc của bốn chữ "trèo me, trèo sấu" còn đượm ý nghĩa và hình ảnh xót xa như thế, chứ không phải chỉ là câu sỉ vả.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
34. Đón giao thừa


Bây giờ không mấy ai còn biết ba chữ "tháng củ mật" nữa.

Nhưng cả ngày trước, cũng chẳng ai biết "củ mật" nghĩa là thế nào.

Không hiểu, nhưng sợ thì sợ lắm.

Bởi vì, ai cũng biết "tháng củ mật" là tháng áp Tết có nhiều trộm cướp.

Đêm ngoài kia, mưa dầm rã rích, tiếng giọt gianh hay tiếng nước trên tàu chuối.

Nhà nhà rào chuồng lợn, gà qué thì cho vào bu bỏ trong buồng, đóng chặt then cửa, nêm đóng thật chắc.

Suốt đêm thấp thỏm.

Chợt rùng mình đến lạnh gáy, khi nghe trong bóng tối, tiếng tù và, tiếng trống ngũ liên, tiếng kêu thất thanh: Ối làng nước ơi!

Cướp!

Cướp!

Có khi ánh lửa lấp ló vào cả khe vách.

Kẻ cướp đang bật hồng làm đuốc soi đường kéo vào phá cổng nhà ai ngõ trong kia...

"Tháng củ mật" dồn dập những cái lo sợ rợn người.

Người nghèo lo trốn nợ, người thù hằn nhau sợ bị người ta bỏ rượu báo Tây đoan về khám, sợ đứa thù đốt nhà...

Trong thành phố "tháng củ mật" lại diễn ra những bối rối khác.

Các sở cẩm có bao nhiêu đội xếp đều suốt ngày đêm đi "tua" ngoài phố.

Đội xếp Tây giắt lưng khẩu súng lục.

Đội xếp ta, nách đeo lủng lẳng chiếc dùi cui trắng cao su đặc.

Gặp ai cũng hoa dùi cui lên hỏi thẻ thân, phạt người đi trái đường, đi bộ tay trái, đi nhỡ chân xuống lòng đường, hỏi "lập lắc" xe đạp, hỏi chuông, hỏi phanh, phạt cả xe đi rẽ loạng choạng.

Cái gì ngứa mắt cũng phạt.

Chốc lại thấy dong qua một dòng dài người nọ nhằng vào người kia, cánh tay bị thừng trói, đội xếp áp tải đằng sau đằng trước, không biết bị điệu về bóp vì tội đánh bạc hay kẻ cướp.

Những ngày áp Tết, trẻ con ở đâu chui ra mà lắm thế.

Chẳng biết con nhà đói khó hay đứa bơ vơ.

Cũng lại từng xâu những đứa trẻ, tay buộc thít giằng vào nhau, phải bắt về nhốt sở cẩm Hàng Đậu, Hàng Trống...

"Tháng củ mật", "tháng củ mật" ở phố xá càng nhốn nháo hơn.

Thế nhưng trẻ con lang thang càng nhiều như kiến.

Không ai bắt hết được kiến.

Đám trẻ lưu lạc, mà đội xếp gọi là "ma cà bông" như kiến đen, kiến gió, lủi rất tài.

Năm giờ chiều, chợ Đồng Xuân đuổi chợ.

Người cai chợ cầm cái khóa xích to nặng bằng quả tạ quàng từng vòng lên những dóng cửa sắt.

Thế là, trong tiếng chuông dóng dả lùa người ra khỏi chợ, những người cu li quét chợ bắt đầu cầm vòi rồng cao su lia nước xối xả, ai vào chợ muộn tha thẩn, chậm chân bước ra bị ướt như ngã xuống ao, mặc kệ.

Thời ấy, mùng bốn Tết, sau lễ hóa vàng, tiễn ông bà ông vải, các chợ mới mở khai xuân.

Chiều ba mươi tất niên, khác thường khi, rửa chợ xong, chợ nghỉ thông qua luôn ba ngày Tết.

Vòi rồng phun nước rào rào trên mặt phản hàng và dưới lối đi.

Rác rưởi bị đẩy xuống rãnh băng ra các cửa cống ngoài tường đằng Hàng Khoai.

Ở đấy, mấy cái xe bò chở rác đã đợi sẵn.

Những người phu quét chợ ra về, rồi cai chợ khóa trái nốt cửa sau.

Thế là cả mấy cầu chợ mái tôn, trong ánh điện mờ mờ, không một bóng người.

Chợ sạch người trong ba ngày tết.

Ngoài phố, trời đã tối hẳn, lại mưa phùn rét buốt đêm ba mươi.

Một lúc sau, từ gầm quầy rau quả, dưới các phản hàng, cả trên nóc những xích đông hàng thô, lô nhô bóng người chui ra, leo xuống.

Chẳng mấy lúc, ở giữa chợ, quanh chỗ các phản hàng thịt khuất nhất, đã tụ lại một đám lúi húi, lũn cũn toàn trẻ con.

Thì ra, lúc ông cai lắc chuông đuổi chợ, đám trẻ con đã lẻn vào từ bao giờ núp dưới các mặt phản hàng, quầy hàng từ trước, nước phun rửa chợ cứ việc ào ào phía trên.

Người lia vòi rồng cũng chẳng ai buồn nhìn lại chỗ vừa được xả nước.

Có đến mấy chục đứa trẻ im lặng ngồi chụm vào nhau cho ấm.

Không dám đứng, không dám nói thì thào.

Không dám đấm đá nhau.

Bởi trước cửa và nách chợ phía Hàng Khoai, phố Mới song sắt thông thống, đội xếp đi tuần mà nhìn vào thoáng thấy bóng người trong này thì chết cả lũ.

Tiếng pháo giao thừa nổ, lan khắp thành phố, ấy là lúc bọn trẻ bíu nhau lũ lượt trèo ra.

Chúng nó trèo qua chỗ tường thấp phía sân bóng rổ Lơ-pa, tụt xuống bãi Bắc Qua.

Chốc lát, những đứa trẻ cầu bơ cầu bất lang thang đi đón giao thừa đã lẫn lộn trong đám người lễ đền Ngọc Sơn, đền Quan Thánh, người đi hái lộc, người xuất hành lấy may.

Làm sao mà cả trăm đứa trẻ không nhà không cửa biết được chỗ trú ẩn kín đáo khéo vậy.

Khi kháng chiến, liên khu một bị bao vây, nhiều trẻ con sinh sống quanh chợ Đồng Xuân đã gia nhập Trung đoàn Thủ đô, làm liên lạc, đi trinh sát.

Sau ra Việt Bắc, có em vệ túm đã là thiếu sinh quân kể cho tôi biết chuyện này.

Có gì đâu, quanh chợ Đồng Xuân, hàng mấy trăm trẻ em hàng ngày bán nước vối, đánh giày, bới rác, đi ăn cắp, ăn mày.

Cái chợ như cái nhà chúng nó ấy mà.

Cả dạo áp Tết không dám ngủ ngoài đường, sợ đội xếp hót đi, đêm nào cũng trốn vào ngủ vụng trong chợ, sớm tinh mơ lủi ra.

Nhưng đêm nay giao thừa, thèm đi bát phố như người ta chơi đông ngoài kia, nửa đêm trèo tường kéo ra.

Người xuất hành tiễn năm cũ đón năm mới khắp các ngả đường.

Chợt nghe ở ngã năm đằng kia tiếng lũ nhóc réo lên:

Líp líp lơ

Con ma quay tơ

Con gà mái ghẹ

Con mẹ đổi thùng

Thầy đội xếp nghiêng mặt hơi lạ tai, quay xe đạp lại.

Ma cà bông

Ma cà cúi

Lúi húi vườn hoa

Đội xếp đi qua

Hỏi nhà mày đâu

Nhà tao ở phố Đầu Cầu...

Thầy độidắt xe đạp thủng thỉnh đi tới, cái dùi cui cặp nách.

Nghe đến "đội xếp đi qua...hỏi..." giật thót mình.

Quái, cả tháng củ mật, bắt bỏ bóp rồi tống ra các cửa ô lắmđến thế mà vẫn còn "ma cà bông líp líp lơ" đi giao thừa.

Chúng nó ở chỗ nào?

Chỉ nghe tiếng réo như chửi đội xếp trong đám đông.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
35. Hội làng


Trong làng, không kể nhà giàu nhà nghèo, có cái ăn hay không một đồng xu, cũng không tính các ngày giỗ và đám ma, đám cưới, bốc mộ, "dưng" sao, đặt tự ở đền chùa và ốm đau phải cầu cúng, từng nhà cũng như việc làng, việc xã và ngày giỗ tổ của họ, chi họ, việc hàng giáp, chòm xóm - nghĩa là những dịp phải đóng góp và có động đũa động bát, cứ kể riêng các thứ lo tết nhất trong một năm, mỗi nhà theo cho có được bát nước cúng và nén hương, cũng đã nhiều, đã khướt, huống hồ lắm khi lại phải kiếm ra lẻ gạo nếp, miếng thịt lợn và cút rượu để lên giường thờ.

Con người ta làm và ăn đều khó nhọc cả.

Hãy đếm những cái tết trong một năm.

Trước tiên, tết Nguyên Đán, Tết cả.

Kể cho kỹ trước và sau tết lớn này, còn có những ngày râu ria mà nhà nghèo rớt mồng tơi cũng phải có được gói hoa, nén hương.

Hai mươi mốt giỗ tổ - tổ nghề giấy, tổ nghề lụa, chẳng biết tổ là ông bà nào, nhưng mọi nhà vẫn đầy đủ giỗ chạp.

Hai mươi hai, ngày sắp ấn.

Các quan làng hôm ấy cất triện, nghỉ việc.

Làm người bạch đinh chân trắng thì chẳng bận gì, mà nhà nào cũng cúng lễ sắp ấn.

Hai mươi ba, tết ông công - vua bếp hai ông một bà.

Chiều ba mươi, lễ tiên thường rồi tối cúng trừ tịch.

Cúng trừ tịch tiễn năm cũ và lễ tiên thường khấn mời các cụ dưới âm về sớm kịp mùng một ăn Tết với cả nhà con cháu.

Thế rồi, mùng một, mùng hai, mùng ba, đến mùng bốn lễ hóa vàng, mùng bảy hạ lễ cây nêu và động thổ, nhà nhà vào khung cửi đưa mấy nhát thoi lấy may.

Đến rằm tháng giêng, ngày Phật lên chùa "lễ Phật quanh năm không bằng rằm tháng giêng", mới thật cạn những cái tết trong tháng đầu năm.

Sang mùng ba tháng ba - tết bánh trôi nước, bánh chay cúng ông Giới Tử Thôi bên Tàu chết cháy trong rừng, phải kiêng lửa.

Mùng năm tháng năm, tết Đoan Ngọ, mừng hoa quả mới.

Mùa hè nắng nôi oi ả, toàn những cái khiếp đảm.

Cửa đền miếu cúng quan ôn, cúng cháo vảy ra bờ bụi cho các âm hồn bơ vơ lang thang được hớp nước ngũ cốc, ngọc thực.

Kịp đến tháng bảy, tết rằm vong nhân xá tội.

Rằm tháng tám, trung thu của trẻ con và cả người lớn.

Rồi gió heo may thổi giải đồng, vào tháng mười, mùng mười mùa gặt hái đến, tết cơm mới.

Các làng làm lĩnh lụa, làm giấy chẳng gặt hái làm ra được một hạt thóc, cũng cúng mừng cơm mới.

Kể ra đến đầu cái tết, chứ còn có lo được mọi tết, đủ các việc làng việc họ cùng là các thứ giỗ chạp như thế, không phải nhà nào cũng chạy vạy bằng nhau được.

Nhưng mà "sống ở làng, sang ở nước", đến ngày tết gặp kỵ, thấy hàng xóm bốn bên rộn rịch cũng áy náy, không yên.

Rồi phải vay mượn, giựt nóng, bán tào bán huyệt.

Cùng quá, không trông vào đâu được, đành nhịn.

Nhưng thế thì không còn mặt mũi nào nhìn ai, rồi phải đến bỏ làng, tha phương.

Những tang thương ấy, các làng ở đâu thế nào thì người thiếu thốn khó khăn ở làng tôi cũng tương tự.

Lệ làng giỗ tết và hội hè đình đám, vừa bồi hồi, vừa nghiêm ngặt.

Mỗi năm, làng nào cũng có một dịp việc làng.

Tế thành hoàng làng, mở hội hay không, còn tùy.

Có làng hội hè linh đình.

Cho là có hèm, đói cũng phải làm vậy.

Có làng chỉ xôi gà qua loa xong rồi ông từ đóng cửa đình, cửa đền.

Cũng là cái "sự tích ông thánh" thế.

Nhưng thật ra cũng chỉ vì từ xa xưa đã làng thì có, làng thì chẳng bằng ai mà thành lệ.

Làng tôi không có hội, kể từ khi tôi biết.

Cả đời chỉ đi xem hội thiên hạ.

Dưới làng Mọc Cự Lộc, Mọc Quan Nhân tháng giêng vào hội đánh cờ người.

Riêng sắm sửa xống áo cho quân cờ cũng phải nhà khá giả mới lo được.

Các làng này nhiều quan to và người làm việc nhà nước.

Cả vùng cơm đùm cơm nắm trảy hội Mọc từ gà gáy.

Đi nửa buổi đã tới cống Mọc.

Tháng giêng, tháng tám hội đền Ghềnh bên kia sông.

Khế cơm không chua không ngọt, bánh đa đường gấp, bà đồng khăn chầu áo ngự về đền, người xem hội càng nô nức.

Đền trại ở Thủ Lệ thì rước kiệu bò.

Kiệu bát cống sơn son thếp vàng nguy nga.

Mười tám trai kiệu thong dong bốn phía.

Người đô tùy nào cũng lực lưỡng cởi trần, đóng khố điều, đầu chít khăn nhiễu tam giang, mắt đeo kính râm.

Một tay xòe mở quạt tàu lụa bạch.

Lúc cất tiếng hí, kiệu bay kiệu bò, tay lại mở quạt che miệng.

Nhiều nơi rước xách, song chỉ đến đền Trại mới xem kiệu bò.

Đám rước kiệu bò từ cánh đồng lên cái gò dài song song với cái hồ nước trước đền mà người ta bảo ấy là lưng con rồng.

Rước đến chỗ kiệu bò lên đồi mới là lúc hay nhất, thiêng liêng nhất.

Các đô tùy nghỉ ở chân gò được đưa cho nhấp một chén rượu, mặt đỏ phừng cùng một loạt nhấc đòn kiệu lên vai, cất tiếng hí ran như cả đàn ngựa động đực rồi nâng "kiệu bay" xoay tròn trong cánh đồng.

Các trai kiệu lần lượt người quỳ người đứng giữ bát nước cúng trên mâm bồng không đổ một giọt, cái kiệu từ từ bò lên mặt gò.

Người xem hội đông nghịt khắp đến các chân tre.

Trên gò cao đứng xa đến đâu cũng nhìn được cái kiệu bát cống lên gò rực rỡ lộng lẫy thật sướng mắt.

Các làng quanh làng tôi cũng có hội.

Nhưng hội nhạt nước ốc, chẳng mấy ai nô nức.

Hội bơi ở Đăm, mấy chiếc thuyền đã tróc sơn bơi rào rạt trong cái đìa đầu làng.

Vui xem hát, nhạt xem bơi là thế.

Hội Noi thì, quan viên đi rước quần nâu xắn móng heo.

Chỉ đáng xem có mỗi cái kiệu bát cống mà cái năm Tây hạ thành, người Noi đã vào trong thành Cửa Bắc khiêng ra được.

Hội làng Đông, làng Hồ được chờ đợi hơn cả.

Hội Đông, Hồ khoảng từ rằm tháng tư trở ra, kéo dài một phiên chợ.

Nhưng làng Đông cũng chỉ có tế thần và mấy tối chèo hát sân Đình.

Bên làng Hồ vui hơn.

Làng Hồ có rước to.

Rước về đình từ đền Voi Phục bên kia cống Đõ hay từ cái miếu ở xế cổng xóm Đông Lân, không nhớ.

Chỉ thấy người xem cứ đông ngộn lên.

Các cô gái làng khiêng long đình.

Mỗi cô một cái quạt đào.

Chốc lại xòe quạt, che miệng, khẽ hí đều một tiếng.

Các cô kén đâu được khăn sa tanh, áo dài hoa đào, quần lĩnh tía, giày cườm.

Con trai cầm tán, che lọng.

Các ông trạc năm mươi, mới lên lão, áo the hoa khăn luợt, bưng đồ bát bửu dùi đồng, phủ việt thong thả bước sau phường bát âm, tiếng trúc thánh thót, sinh tiền réo rắt, tiếng nhị cò cư, người gõ cảnh, đánh tiêu...

Người xúm quanh xem anh đánh trống.

Chiếc trống cái hai người khiêng.

Người thủ hiệu mặc diện khăn nhiễu tây, nón dứa chóp kền mạ bạc, quai lụa điều.

Mắt đeo kính râm, áo the hoa cặp.

Quần là ống sớ.

Chân bít tất lụa đào xỏ trong đôi giày Gia Định mõm đen nhoáng.

Tay lót mùi xoa lụa mỡ gà viền chỉ hồng, cầm cái dùi trống sơn đỏ.

Khi đánh trống, múa dạo mấy vòng, đổi bên tay mùi xoa, rồi giơ cao, quay người uốn éo, nhô lên cúi xuống thấp thoáng qua lại, mắt kính nghiêng ngả nhìn ra hai bên người đương trầm trồ, tấm tắc khen thủ hiệu múa dẻo.

Thế rồi, một tay chống nạnh, nghiêng nghiêng, thong thả buông một dùi vào mặt trống.

Xong lại lui ra, hoa dùi lên múa mấy vòng rồi mới đứng yên.

Rồi lại đổi mùi xoa lót tay cầm dùi, bắt đầu múa lại.

Tiếng trống nổi.

Đằng kia, tiếng chiêng nhịp nhàng đập.

Tùng... bi... li...

Tùng... bi... li... bi... li...

Nhưng người xem càng đông hơn quanh đám phường chèo đóng đường.

Các đào kép phường hát đón bên Bắc về đi giễu ban ngày giữa đám hội.

Môi son má phấn, mũ giáp, cờ cắm lủa tủa sau lưng.

Có người đóng ông phễnh đeo chiếc mặt nạ gõ to bằng cái mẹt điệp bạc, áo thụng tay phe phẩy chiếc quạt mo.

Trẻ con và bọn con gái thì xán đến trước hai anh trai làng mặc giả gái làm "con đĩ đánh bồng".

Áo the đổi vai cánh sen, vạt hoa lý thắt quả găng, quần lĩnh tía, khăn vuông láng thâm, cũng má phấn môi son trai lơ.

Đôi vú độn to bằng chiếc ấm giỏ phồng lồi trong yếm, vai đeo quai chiếc trống cơm dài ngoẵng.

Các "cô" bước núng nính, hai bàn tay tõe cong ngón, đập khe khẽ vào mặt trống.

Tiếng trống cơm bùng bùng, xàm xạp, ngẩn ngơ.

Những cô gái làng càng chen xô vào nhìn tận mặt "con đĩ đánh bồng", như chưa biết bao giờ, rồi đấm lưng nhau cười rinh rích.

Hai anh trai làng đóng đĩ đánh bồng, vẫn thản nhiên núng nính hai tay vỗ bập bùng hai mặt trống cơm, "các anh ả mặt chín lừ" - mấy cô bấm nhau thế.

Trẻ con chạy theo à à.

Đám rước rồng cuốn hút người hơn cả.

Con rồng nhấp nhô mỗi khúc một người đỡ, có hơn đến chục khúc.

Người cầm đuôi, người cầm đầu, người múa ngọc và người đánh trống, bốn người được cắt chân quan trọng nhất đám, diện bảnh chọe giống hệt nhau.

Khăn nhiễu thiên thanh, áo cánh lụa thâm, thắt lưng điều, quần túm ống vào trong xà cạp hoa đào.

Chân đi đôi giày tàu nhung đen.

Và, lại như những chàng trai ăn diện đương thành mốt, mỗi người một đôi kính râm mắt kính đen kịt.

Chiếc xe trống cái một người kéo thong thả.

Người đánh trống xe, một tay chống nạnh lấy điệu, ngả người nện liên hồi.

Con rồng vươn lên vờn ngọc, đầu bắt đuôi vẫy vùng, rồi đuổi ngọc, nhấp nhô trong tiếng ngũ liên dồn dập.

Trong sân đình làng có hội thi cây cảnh.

Cây cảnh người đem về thi treo quanh hiên ngay cạnh các giải thưởng: vuông vải điều, bánh pháo, chùm dừa.

Những quả hồng, quả na, quả bưởi, quả cam bằng sáp nhuộm khéo như thật.

Người xem tha thẩn, ngắm nghía.

Gần đấy, bên góc sân đình, cánh đu tiên tròn xoe cao hơn ngọn cây ngọc lan.

Những người đánh đu trai lẫn gái ngồi trong vòng quay bổng lên, trầm xuống như guồng vè cây suốt.

Tiếng mây tre trên đu cọ vào nhau cót két, kĩu kịt giữa tiếng cười hát inh ỏi.

Rạp chèo rung trống từ lúc lên đèn đến nửa đêm.

Người chen ra chen vào, đông như nêm cối.

Mấy ai biết mỗi năm, bên trong đám hội diễn ra biết bao cảnh ganh đua, tranh giành, những cái khổ đóng góp hàng phe hàng giáp nặng nề đến từng nhà.

Người chững chạc vai vế thế nào mới đáng kén vào cầm bát bửu, cái kích đồng, quả chùy...

Con trai nhà ai được vào chân thủ hiệu đánh trống, con gái được khiêng kiệu vai trước vai sau.

Cũng phải ngôi thứ mới được cầm tàn, cầm lọng và người được chọn múa đầu rồng, cầm đuôi rồng cũng khác những chân cầm độn các khúc giữa.

Anh độn vai kéo xe trống với anh thủ hiệu đánh trống thì giàu nghèo khác nhau trời vực rồi.

Chỉ có mấy gã đeo mặt nạ làm ông phễnh, cầm quạt mo, và người đóng đĩ đánh bồng, đấy là những anh ả trơ trẽn ăn chơi đã có tiếng, thì không kể thứ bậc gì.

Rặt những người lép vế mới phải cáng chân khiêng trống, cầm cờ ngũ hành đuôi nheo.

Lại còn công phu sắm hay đi mượn, đi thuê đâu kỳ được, xoàng ra cũng có tấm áo the mà xỏ tay.

Chẳng có phải chân trắng, không ai ngó ngàng tới, đóng vai phất phơ len lén đi xem thì xấu hổ.

Tôi xem hội làng Đông, làng Hồ từ khi còn nắm váy bà, đòi bà cõng.

Chín mười tuổi, đi theo các dì đi hội.

Lớn nữa, cùng bạn bè đua đả, đi chơi, đi chim gái, đi đánh nhau.

Trong ngày đám, con trai thường xô xát gây gổ như những con gà chọi hay con họa mi sĩ diện có mái xùy.

Trai làng choảng trai lạ đến ve vãn gái làng.

Làng này đánh nhau với làng khác.

Chẳng tối nào không có tiếng hô hoán, người chạy ầm ầm.

Nhưng ác nỗi vác gậy đi giữ mình, khác nào bảo chúng mày ra đây đánh nhau với ông.

Như thế, có thể vừa tới cửa đình đã bị ăn đòn vỡ đầu.

Thủ thân trong túi mấy hòn đá đường tàu, hòn gạch củ đậu.

Hay con dao.

Hay để sẵn gậy gộc ngoài bờ bụi đường cái.

Nghe đâu ồn ào, chúng tôi đến.

Không bận đến mình cũng vào đánh hôi.

Chẳng biết thằng ấy thằng nào.

Đòn hội chợ, phang lung tung rồi không phải đầu cũng phải tai.

Nhưng trai các làng cứ đi hội, không biết hãi.

Còn tập võ để đi đánh nhau là đằng khác.

Trong vùng có nhiều lò võ, ở làng tôi có lò ông lang Dương, đêm nào cũng đông người đến tập.

Đinh tấn, trảo mã tấn, tối tối đái vào bẹn rồi bóp cho chóng săn gân, tập cả mấy tháng vững thế đứng tấn rồi mới đến các món quyền cước.

Tôi cũng tập võ.

Nhưng tôi theo ông Tâm đi tầm sư học đạo bí mật tận lò xa.

"Để cho chúng mày thấy ông giỏi võ lúc nào mà không biết", thế mới đặc biệt.

Tôi xuống học lò võ ông Hồ ở Thể Giao, cái xóm giữa đầm lầy cạnh hồ Bảy Mẫu.

Hội quanh vùng tôi như thế.

Riêng làng tôi chẳng bao giờ có hội hè gì.

Chỉ mang máng nhớ đã lâu, tháng hai dưới làng Dâu, Yên Phú các quan viên khăn luợt áo the lên chạ Nghè, chạ Tân rước thần khênh xuống cái long đình.

Mỗi năm vào mùng mười tháng hai, làng "có tiệc", ông từ ra mở cửa đình.

Anh tư Mít vào vườn tre bà hương Nhầm xin cây tre còi chặt về, phần đóng cọc, phần làm cột cờ.

Lá cờ may bằng vuông nỉ đỏ có chữ thần to tướng, bay lất phất trên bờ sông.

Trẻ con đầy sân đình, đánh trống tòm tòm cả ngày.

Năm trước, còn có tế, có việc làng.

Mỗi giáp mổ lợn, có năm tậu bò về thui mổ, chia phần.

Những năm sau cũng bỏ.

Rồi còn kém nữa, sơ sài nữa.

Cái năm mất trộm bộ áo thánh, rồi chẳng sắm nổi cái áo mới cho ông thành hoàng.

Lạy thánh mớ bái, phải lấy vạt cờ đuôi nheo chùm lên ngai làm áo khoác cho thánh.

Năm có chèo hát, năm không.

Làng Tân, làng Dâu lại chẳng mấy khi gom nổi tiền đón phường chèo, chỉ đi xem kẹ hội hát làng bên.

Làng Yên Phú đút nút phường tuồng vào cái cầu giữa làng.

Phường kiết xác, không đủ hơi ra diễn rạp giữa trời.

Một bó giáo thanh gỗ đã tròn vẹt đầu, tróc hết sơn.

Có mỗi một cái hòm mộc đựng áo quần, mũ mãng.

Anh kép gánh đồ, phải quảy một đứa bé một bên cho cân.

Chúng tôi chen hẳn vào trong cầu lúc chặp tối đã rung trống giáo đầu rồi.

Thế nào mà chui ngay chỗ buồng trò nhìn ra.

Không biết đương diễn tích gì.

Thấy một bác kép đóng tướng, nách cài hai miếng gỗ, cắm sáu lá cờ con con, sặc sỡ như trẻ con đeo bùa túi ngày tết mùng năm tháng năm.

Bác kép vừa nghỉ vai, nhảy phắt một phát vào buồng trò che cái chiếu.

Bác ấy cởi phăng giáp trụ lôi thôi, hở trần lưng, mồ hôi nhễ nhại.

Bác vội rút miếng gỗ cắm cờ đằng lưng, gõ cạch cạch mấy cái xuống mặt hòm.

Một lũ rệp đói lép kẹp to bằng móng tay đen mờ rơi lả tả trong ánh đèn hoa kỳ nhạt nhẽo.

Rệp đốt bác từ lúc còn đứng múa hát ngoài kia.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
36. Bắt chuột


Cánh đồng bọc sau làng tôi từ đằng hồ Tây, men Quán La sang Cáo, sang Noi rồi ngoặt về giáp các làng Vòng.

Nhưng toàn ruộng xâm canh- chỉ thôn Yên Phú có một ít mảnh, còn thì toàn các làng xung quanh đến cấy hái cả.

Chỉ có mùa gặt xong, người làng tôi hay ra đồng bắt chuột.

Ở quê, có nơi ăn thịt chuột, có nơi không, nhiều người còn kinh là đằng khác.

Nhưng những ai ăn được thịt chuột, thì nghĩ vơ vào thế này: chuột đồng không phải là chuột làng, chuột đồng khác.

Chuột trong làng dơ dáy, chuột bẩn.

Chuột đồng ở nơi đồng không mông quạnh, chỉ ăn thóc như con gà con qué, con chim sẻ trong vườn nhặt hạt cơm, con sâu.

Cẩn thận hơn, tháng mười bắt chuột, người ta đi đồng xa, lặn lội xuống các đồng sâu thật xa làng.

Không bắt chuột ở Mả mái - có bãi tha ma, người săn chuột về tận xứ đồng lỗ Vàng, vào đồng Noi, ra bờ đìa Cáo.

Ai cũng biết, mà như không muốn biết, chuột đồng chẳng qua cũng chỉ là chuột trong làng.

Đến mùa gặt, chuột đói trong làng kéo ra đồng ăn thóc, trú ngụ ở các đống cao.

Mùa đông, chuột no ấm rồi lại làm ổ đẻ trong lỗ gò.

Đến khi đồng ruộng vào làm mùa, chỗ nào cũng trắng nước, không còn gì ăn, không nơi trú ngụ, chuột lại kéo về làng.

Như ông ngoại tôi nói, cơ chừng phải hơn:"Chuột nhà ra đồng vài hôm, ăn thóc, thế là thành chuột đồng sạch sẽ rồi".

Và thói quen chén thịt chuột chẳng qua cũng là cung cách ăn uống của nơi thiếu đói.

Mùa rét, đi bắt chuột đồng.

Ngày tết ra bờ tre rình đánh chó chạy pháo.

Phải nhếch nhác thiếu thốn thế nào mới ăn chuột, ăn châu chấu, cào cào nướng, ăn chẫu, nhái, ễnh ương như vậy.

Nhưng dẫu cho có là "phong tục", cũng không phải phong tục nền nếp của những làng xóm no đủ.

Làng tôi nhiều người ăn thịt chuột.

Thịt chuột làm đúng món sở thích, tôi thấy cũng ngon như thịt gà, thịt chó.

Đến mùa gió bấc rạt rào đưa cái lạnh về, người ngồi hàng nước chè tươi, lại tán chuyện thịt chuột rán ngon hay thịt chuột nấu vỏ quít ngon hơn.

Rồi khi ngoài đồng đã gặt quang, bọn con trai và trẻ con, đôi khi cả các cụ, rủ nhau ra đồng săn chuột.

Từ tờ mờ sáng.

Trời lạnh căm căm.

Cứ sau tiết đại hàn, hôm nào rét nhất mới đi.

Rét cóng cả chuột cũng ngại rét, chỉ nằm ổ trong hang.

Người lạt xạt cái khố tải khoác, cái áo tơi lá theo chân đi như chạy.

Mỗi người cầm một chiếc nòm rơm, vung vẩy cho khói lên, đỡ rét.

Mấy con chó vàng chó vện lẵng nhẵng nhô trước, tụt sau.

Chẳng phải chó nòi, chó săn, chỉ là chó nhà nuôi thôi, thau tháu lại bán, lại thịt.

Không ai rủ, chó đương nằm móp bụng, thấy người đi đông, cũng tất tưởi, loăng quăng chạy theo.

Người xách giỏ, xách thuổng, xách thùng, con dao phay.

Người ôm một xâu hom nứa để đơm cửa hang.

Các lão ông cẩn thận khi nào cũng nhớ mấy thứ vặt vãnh: cuộn thừng, sợi dây thép, đồng xu có lỗ to để bẻ răng chuột...

Mùa đông, ngay từ góc quán Ba Thành ra đã chơ vơ xám ngắt, gió ù ù thổi ngang đồng sâu sang Dàn, Cáo ra hồ Tây.

Đằng làng Noi, đã thấy người quảy rơm cẳng ngô đem ra bán cho các làng làm giấy.

Không nhìn rõ người, chỉ thấy lù lù như cây rơm, bó cẳng ngô dựng đứng biết đi.

Những con quạ xù lông đậu xuống nóc cầu Điều trên quãng đồng trống.

Bọn người đi bắt chuột qua những bờ ruộng, gò đống trên đồng cao chân tre nở vàng hoa bánh khúc.

Ở đấy, chỉ có những con chuột nhỏ, chuột nhỡ chẳng đáng bắt, và những con chuột gầy lõ xương lừ đừ vác cái bụng chửa đi tìm hang đẻ.

Vả lại, ở đồng cao đất rắn, không có nước đổ.

Chúng tôi thẳng xuống đồng sâu cạnh đìa Cáo, dưới đồng trũng hay gặp chuột đàn, lắm khi được cả tí ù - người trong vùng đặt tên "tí ù" cho con chuột to hơn cả chuột cống, tròn quay, béo nẫn như chiếc ống vầu.

Trên một bờ cỏ dọc đìa - cái đìa tháo nước từ hồ Tây sang cánh đồng Noi.

Mùa này đìa chỉ còn nước đọng từng quãng.

Những cái lá trang già lát xanh kín mặt bùn.

Mọi người chia nhau đi tìm hang chuột cạnh bờ nước.

Giữa địa phận đồng cạnh đồng sâu, trông lại những rặng tre cuối làng thấy mờ mờ lùn xuống đầm làn cỏ may xơ xác.

Bốn phía gió giật từng cơn.

Những con quạ trên cầu Điều bay lên, đương cố liệng qua cánh đồng, nhưng lông cánh cứ xởn ngược, đẩy trở lại.

Quạ cất tiếng kêu quà quà thảm thiết giữa làn gió dữ thốc cả đàn dạt lùi vào bờ tre.

Cửa hang có chuột thì thoáng đãng, không ẩm ướt, không mạng nhện.

Đôi khi mờ mờ vết móng lắt nhắt.

Hang rắn có vết hằn trườn giữa cửa nhẵn gồ sống trâu.

Những con chó cứ loăng quăng nhanh nhảu đoảng thế, chẳng thấy rít róng gọi người đến đích hang chuột chỗ nào.

Đồng xuống càng sâu, mỗi lúc một rét tê.

Có người chạy đi vơ rạ - những chân rạ còn lại, nhiều khi chuột nhắt đi đàn, chuột đẻ cũng rúc vào trú trong gốc rạ.

Rét quá, hãy đốt một đống sưởi.

Gió tạt lửa reo phần phật.

Khói lên khỏi mặt gò đã tan biến.

Ở một ụ cao cạnh đìa nước tìm thấy cửa hang có in chân chuột.

Cả bọn xúm lại, lấp những cửa khuất, ngách thượng.

Đơm hom nứa bịt tất cả các lỗ trống.

Từng nhát thuổng buông thình thịch... thình thịch...

Vừa nhấc thuổng, vừa nghe.

Con chuột nào nhút nhát thấy động nhào ra, đâm thẳng vào hom nứa.

Chỉ việc nhanh tay bẹp rọ lại rồi lôi đuôi, một tay chẹt cổ, chuột nhe răng.

Lách lỗ đồng xu vào khe răng bẻ khắc khắc.

Rồi thả chú chuột mõm lõa lợi máu vào cái giỏ to.

Đã được tới mười mấy con chuột.

Những con chó nhà hèn đớn, chẳng đi đánh hơi đâu nữa, ngồi chầu hẫu rồi lại chạy quanh cái giỏ lúc nhúc những con chuột đương lồng lộn.

Người xuống đìa lấy nước đổ.

Nước ứ tận ngách thượng.

Một con chuột lướt mướt nhảo ra.

Vẫn chuột nhỏ, chuột nhỡ.

Tổ này có vết chân chuột to, chuột tí ù.

Chuột tí ù thì chớ hòng bắt dễ.

Đất chuyển, nước ngập đến khấu đuôi, tí ù vẫn đứng yên.

Đổ nước òng ọc xuống, vẫn thấy bốc nồng hơi chuột.

Thế là lại đổi ra hun rơm.

Gió ù ù lùa khói vào hang, sặc sụa.

Mấy con chó rỗi việc xúm xít lại vẫy đuôi, cắm mũi xuống đám cỏ khô, vừa cào đất vừa sủa ăng ẳng từng hồi.

Ông lão vẫn cặm cụi chất rơm hun khói.

Lại đứng dậy, cầm thuổng.

Vừa hun vừa đào.

Những mũi thuổng hạ xuống.

Một nhát hất một tảng đất lăn ra.

Bỗng một con chuột to chùi chũi nhảy theo tảng đất xuống đìa nước.

Cả bọn đứng phắt, tay thuổng, tay dao, reo loạn xạ, đuổi.

Những con chó sủa inh, đuôi vẫy cờ, chạy theo.

Con tí ù bị thộp giữa đìa nước ướt sườn sượt.

Mùa đông năm trước, một ngày rét đậm giữa tháng mười, tôi đã rủ các anh Nguyễn Tuân, anh Kim Lân về làng đi bắt chuột.

Anh ba Hĩ, anh cả Cương cùng đi, dắt theo mấy con chó nhà.

Chúng tôi xuống đồng xa tận đìa Cáo, như mọi khi.

Cũng là cho biết mùi một chút cái thú chó săn gà chọi còm, chứ quả tình dẫu anh ba Hĩ có giơ đũa mời và tán tụng cái thú vị trần đời của món thịt chuột rán già, rắc vỏ quít thái khô, thì hai bạn văn của tôi cũng chỉ lắc đầu cười.

Xin phép nhắm miếng thịt gà.

Trời thật rét, thật gió, giò ù ù đâu trên vòm trời xám.

Không nghe gió hú vào tai.

Không cảm thấy đồng không mênh mông như ngày trước.

Cũng chẳng còn nhìn xa thấy lũy tre.

Trên cánh đồng làng, những dãy nhà cao tầng đương mọc lừ lừ, vàng rực, trắng hồng như những chiếc tàu đại dương vào đậu bến.

Bây giờ thực sự chỉ còn chuột nhà, chuột cống mà thôi.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
37. Bánh chợ


Lên đến chợ, trẻ con chỉ hoa mắt vì hàng quà.

Biết bao nhiêu thứ phải thèm.

Quả khế cơm vàng hây, mới trông thấy xâu khế đã tứa nước dãi.

Nói gì vô khối bánh trái hoa quả thế kia, nhìn đến ngốt ngát.

Những hàng quà chợ ngoại ô.

Những quảy, những gánh loi thoi, dưới đuôi quang, trên đầu mấu đòn gánh giắt, lạt buộc dây chuối, cái rơm nếp với cả thúng lá gói trên mẹt.

Lá sen khô, lá chuối gói bỏng, lá chuối tươi, lá bàng bọc bánh dầy, mo nang, mo cau cặp cơm nắm.

Thời ấy chẳng làm gì có giấy báo, miếng giấy bóng nhựa, cái dây cao su gói buộc như bây giờ.

Đầu chợ, hàng cháo bột se khói um.

Nhưng trẻ con chẳng thiết cháo.

Dù đấy là cháo bột se, cháo giun nóng quánh lại hay là cháo đặc bột lọc nguội với miếng sườn lợn, đặt từng đĩa trên cái vỉ, mỗi miếng vào miệng ngon ngọt mát thun thút.

Các bà bán cháo bột lọc nấu sườn trên Sù, trên Gạ xuống, một dãy vừa quảy qua.

Chợ đông chen người.

Bốn cái cầu chợ, biết bao các thứ hàng mà những con mắt trẻ con chỉ thấy độc có hàng quà.

Bún ốc dưới Thụy mới lên.

Ốc nhồi béo nhẫy thả vào bát nước ngậy sao, hành mỡ phi vàng hây.

Người gỡ cái bún rỗi, bún cối.

Người ăn bún từng lá.

Các cô hàng bún làng Thụy đông khách đã đẩy đi gánh ốc vặn, các bà Kẻ Vòng với chiếc gai xam xọng nhể từng con.

Cái gầu ống nứa múc dấm mật đựng trong một hũ sành mẻ miệng.

Hàng ốc Vòng mọi khi vẫn ngồi chỗ này, bây giờ bạt đi cầu chợ khác.

Chỉ ốc vặn, ốc bươu, chưa thấy ốc mút.

Thế mà ngày ấy người ta không ăn cái ốc mút lắt nhắt, tanh miệng.

Thêm bác hàng phở gánh - món quà lạ ở Kẻ Chợ mới về.

Hàng phở cầm cái ống tre cúi thổi lửa pho pho.

Chưa mấy người đụng đến thứ quà tân thời này.

Nghe người đi chợ về kháo nhau:

- Ăn bát phở rong cũng đắt bằng vào hiệu cao lâu mà chẳng biết thịt bò hay thịt trâu, mỗi miếng thịt mỏng bằng cái lưỡi mèo.

Chả chơi .

U tôi cũng bảo thế.

Bà tôi còn kể:

- Ngày trước không bún ốc, bún chả, phở phiếc gì cả.

Chỉ có cháo bột se, bột lọc, cháo hoa mà ngon.

Cứ bánh ngô, bánh đúc chén rền.

Ôi dào, lại còn chai nước chanh cổ bi ve, nước dừa, bánh tây, bánh tai voi, các thứ quà Kẻ Chợ thật nhố nhăng.

Bà kéo cháu vào hàng bánh.

Bên rìa cầu chợ, những cái lều cắm cọc, che phên dựng liền nhau.

Suốt lượt từ đằng kia, bánh tẻ, bánh nếp, bánh mật, bánh khoai, bánh hỏi, bánh gai, bánh bèo, bánh bột lọc, bánh gio...

Bánh giò nhân thịt băm với mộc nhĩ cùng là cái quà tân thời, cùng với thúng giò chả đàng cầu chợ cạnh phản thịt lợn - dạo trước, người đi Kẻ Chợ mới thấy bánh giò ngoài chợ Đồng Xuân.

Dãy đầu này, hàng bánh đúc.

Chẳng phải chỉ một hàng, mà nhiều thứ bánh đúc, những cái bánh quen thuộc.

Ai ăn bánh đúc riêu cua, bánh đúc nộm thì ra phía tường đền.

Bánh đúc dừa rắc vừng, bánh đúc lá giềng xanh ngắt đổ vào mẹt, cũng ra đằng ấy.

Bánh khoái, bánh dày thì bên dãy các bà bán bánh rán.

Chỗ này rặt hàng bánh đúc chấm tương.

Các bà bánh đúc Kẻ Cót, có lẽ nhà đã mấy đời đi chợ.

Đôi quang lên nước đen bóng, chiếc đòn gánh mòn cùn cụt.

Gánh mẹ quảy trước, cô con gái thắt lưng con cón bước nhanh theo.

Bánh đúc gạo tám trắng giòn.

Bánh đúc gạo dự đỏ màu son già.

Chiếc bánh đúc tròn xoe được lột ở bát ra, mặt bóng nhãy, xếp loạt lên mẹt như những chiếc bát đàn úp.

Bà hàng bày hai chiếc bánh đúc vào mảnh lá chuối lót.

Rồi nghiêng hũ tương để trong thúng, rót sớt ra các cái chõng.

Chỗ tương rót chỉ loáng chôn bát, tương rây rớt trên miệng, bà hàng chìa ngón tay vét khoanh miệng hũ rồi đưa lên mút chùn chụt.

Người ăn bẻ miếng bánh mỏng mảnh, nhấm nháp.

Sao mà cái tương chấm bánh mát ruột đến thế, cứ ngọt lịm, chẳng thế mà người ta chỉ rót một mảy.

Loáng cái đã nuốt veo hai chiếc.

Bà tôi bảo bà hàng lấy thêm chiếc nữa cho tôi.

Còn bà tôi ăn bánh ngô, cũng của hàng bánh đúc.

Bà tôi bảo: "Chiếc bánh đúc gạo như cái lưỡi mèo, tao ăn cả chục cũng chưa đâu vào đâu".

Đôi thúng nhà hàng, bên bánh ngô, bên bánh đúc.

Chiếc bánh đúc ngô vàng hoe tròn to, đầy tú ụ.

Giữa mỗi chiếc hõm chỗ rốn bánh, đáp miếng cháy vàng rộm.

Bà tôi bẻ bánh ngô ăn nhẩn nha.

Cái bánh ngô vàng nhai kỹ càng bùi càng đậm, ai cầu kỳ thì ăn với kẹo bột bở chẳng phải chấm cháp mắm muối lôi thôi - bà tôi lại bảo thế.

Tôi đã lẻm hết chiếc bánh đúc nữa rồi.

Bà nói:

- Tấm bánh bằng cái lá đề thế này, nửa thúng cũng chưa lửng bụng.

Ăn quà không như ăn cơm, chỉ ăn thòm thèm hương hoa thế thôi.

Bà cháu tôi đứng dậy.

Hàng bánh đúc bấy giờ mới rỡ mấy mảnh tre làm ghế dắt ở quang thúng ra.

Thì ra bà hàng vừa đến, đông người đã xúm lại, vội quá, mà tôi cũng mải ăn.

Hai bà cháu cứ ngồi xổm thế, cũng không để ý không có ghế.

Đi chợ với bà toàn ăn quà bánh đúc và tôi cũng chỉ muốn ăn bánh đúc trên chợ.

Cái chĩnh tương của nhà đội chiếc nón rách đứng giữa sân, vừa mặn vừa mùi thum thủm.

Khi ngả tương phơi màu không được nắng, bị mốc.

Thế mà bà tôi chê tương hàng người ta pha nước lã với đường, ăn ngay ngỡ ngon, để mai nó thối có ròi bò ra, chứ được nặng mùi như tương nhà đã phúc.

Tôi cũng chẳng biết thế nào.

U tôi mà cho đi chợ, lại ăn quà khác.

- Ra đằng hàng bánh đa ướt.

Bà hàng bánh cũng người cống Cót.

Bánh đa ướt xếp từng chiếc chồng nhau dầy bùng bục, trên rắc mấy đốm hành lá.

Bánh đa ướt - thứ bánh cuốn xưa nhất, chợ nào cũng có.

Ăn chấm nước mắm với đậu phụ rán, từng miếng đậu dài, phồng lên.

Bánh cuốn Thanh Trì ăn với giò lụa chỉ thấy ở ngoài Kẻ Chợ.

Bà hàng bánh đa ướt ngồi cạnh gốc cây đề cổ thụ, có hai cái ghế dài quây quanh.

Một bên, dựng mảnh thùng sắt tây che gió, trong đặt chảo.

Những miếng đậu rán nổi xèo xèo trên mặt nước mỡ dầu lạc bốc mùi beo béo.

Chiếc bánh đa ướt cuốn lại, chấm nước mắm đậu rán nóng vừa nở vàng xuộm.

Các dì tôi đi chợ không ngồi hàng bánh đúc, bánh đa.

Con gái lê la ăn quà chợ, ngại người làng trông thấy.

Các dì hay đem bánh đa về.

Bánh đa khoai ăn với kẹo mạch nha.

Cũng có khi mua bỏng nếp mật, ngô mật, bánh bỏng gói cái lá sen khô.

Ngày tôi ra ở Hàng Mã, vào chợ Đồng Xuân, u cho ăn nem chả - nem Sà Goòng.

Ngon quá, quên tiệt mọi thứ quà chợ làng.
 
Back
Top Bottom