Cập nhật mới

Khác Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
355374656-256-k880547.jpg

Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
Tác giả: peaceful_04
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Hoàn thành


Giới thiệu truyện:

"Chuyện cũ Hà Nội chính là một tập ký sự về lịch sử.

Thể này đòi hỏi ở nhà văn ngoài tài văn chương còn phải có vốn liếng kiến thức về cuộc đời, có năng lực quan sát và kỹ thuật phân tích, để trên cơ sở đó trình bày được những điều cần nói từ những sự vật, sự việc, con người.

Tô Hoài đã làm được như vậy.

Sự hiểu biết của ông về Hà Nội thời thuộc Pháp thật phong phú, thêm sự quan sát tinh, phân tích sắc, văn lại đậm đà và hóm, các mẩu chuyện dù là chân dung một nhân vật, ký họa về một cảnh, hay giãi bày một tâm sự, đều hấp dẫn, vì đó là những điều mới lạ (dù là chuyện thời cũ) và rung động lòng người vì những tình cảm chân thành nhân hậu."



xãhội​
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
Lời giới thiệu


Năm vừa qua, Chuyện cũ Hà Nội đã được Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội tặng giải thưởng Thăng Long 1997-1998.

Thật xứng đáng, vì trong khoảng chục năm trở lại đây, Chuyện cũ Hà Nội là một tập kí sự thật đặc sắc về đề tài Hà Nội.

Có thể coi đó là một thứ Vũ Trung tùy bút thời hiện đại, vì với những mẩu chuyện không dài, Tô Hoài với tư cách một chứng nhân đã ghi lại "muôn mặt đời thường" của cái Hà Nội thời thuộc Tây.

Tuy mới qua sáu, bảy chục năm mà dường như không mấy ai nhớ nữa, thậm chí đã trở thành chuyện đời xưa.

Chuyện cũ Hà Nội ở lần xuất bản đầu tiên vào năm 1986 mới chỉ có bốn chục truyện.

Tới lần tái bản này sách gồm 114 chuyện.

Không gian được mở rộng, thời gian được dãn dài, chuyện đời, chuyện người phong phú lên nhiều.

Điều đáng nói trước hết là ở lần đầu, có lẽ nặng lòng với vùng quê ven đô sâu nặng ân tình nên các câu chuyện cũng nghiêng về những miền đất ngoại ô.

Nay thì cả một nội thị Hà Nội dàn trải trong tập sách: Băm sáu phố phường, Cái tàu điện, Phố Mới, Phố Hàng Đào, Phố Hàng Ngang, Phố Nghề, Hội Tây, Bà Ba (Bé) Tý, Tiếng rao đêm, Cơm đầu ghế, Chiếc áo dài, Ông Hai Tây, Cây Hồ Gươm v.v.

Chỉ nêu vài tên bài như thế cũng thấy sự hiện diện đa dạng của cái nội thành đa đoan lắm chuyện.

Phố Hàng Đào với những "mợ Hai" khinh khỉnh, vàng ngọc đầy cổ đầy tay, phố Hàng Ngang với những chú tây đen thờ lợn, chủ hiệu vải, sinh hoạt bí hiểm song cũng đa tình, Phố Mới có nhà cầm đồ Vạn Bảo "lột da" dân nghèo, có cả chợ đưa người, một thứ chợ môi giới thuê mướn - cả mua bán - những vú em, thằng nhỏ, con sen...những thân phận nghèo hèn đem thân làm nô bộc cho thiên hạ.

Rồi cái tầu điện leng keng, những ngày Hội Tây bên bờ Hồ Gươm, những tà áo dài từ thuở thay vai và nhuộm nâu Đồng Lầm đến áo Lơ Muya sặc sỡ mốt thời trang một thời...

Cái hay ở Tô Hoài là những cái lăng nhăng sự đời ấy (chữ của Tản Đà) đã có ít nhiều người ghi lại.

Chuyện ông Hai Tây làm xiếc, Bà Bé Tý lên đồng... sách báo đã từng đề cập.

Nhưng lần này Tô Hoài lại nhìn ra những nét hoạt kê mới; hay cũng đã nhiều người viết về quà Hà Nội nhưng các bài Chả cá, Bánh cuốn, Phở của Tô Hoài có những thông tin hay, mới mẻ, ngay như Nguyễn Tuân cũng chưa phát hiện hết.

Cũng như các loại tiếng rao hàng ban đêm thì Thạch Lam đã ghi chép vậy mà ở Tiếng rao đêm của Tô Hoài vẫn có nhiều ý tứ mới.

Có một Hà Nội nhố nhăng như thế thì cũng có một Hà Nội lầm than.

Cảnh lầm than ấy càng rõ nét hơn ở các làng quê ven nội.

Thợ cửi, thợ giấy làm quần quật ngày đêm mà vẫn đói khổ, rồi nạn Tây đoan sục bắt rượu lậu và những người dân lành đói khổ phải nhận đi "tù rượu thay" để vợ con ở nhà có người chu cấp.

Sự bần cùng ấy hằn sâu nhất trong chuyện Chết đói.

Nạn đói năm 1945 đã làm vợi đi của làng Nghĩa Đô bao người.

Ngay cả tác giả và bạn văn Nam Cao nếu không có một người quen ý tứ trả công dạy học lũ con ông ta bằng gạo thì "không biết chúng tôi có mắt xanh lè giống thằng Vinh hay dì Tư không, hay còn thế nào nữa".

Những câu chuyện "tang thương ngẫu lục" ấy đủ giúp bạn đọc trẻ nhận thấy thời nay hơn hẳn thời cũ, cuộc sống khá giả hơn trước nhiều lắm.

Cho nên nói chuyện cũ mà tư tưởng sách không hề cũ.

Trong sách còn một mảng kể về phong tục.

Nhiều cái nay không còn.

Như các đám múa sư tử thì đêm Rằm Trung Thu ở những phố Hàng Ngang, Hàng Đường và đánh nhau chí tử, quang cảnh những ngày áp tết dường như cả nước kéo về Hà Nội...

Ở ven đô thì hội hè đình đám, khao vọng, đám ma...

Các bài Làm ma khô, Thẻ thuế thân, Khổng Văn Cu vừa bi vừa hài.

Có một bài tuyệt hay, đó là bài mô tả đám rước Thánh Tăng.

Đích thị là một lễ hội phồn thực có từ đời nảo đời nao mà tới tận thời Pháp thuộc vẫn còn tồn tại, lại ở ngay sát nách kinh kỳ.

Bấy nhiêu hình ảnh không bao giờ xuất hiện nữa nhưng tôi cứ nghĩ rằng ngày nay, ít ra thì những nhà làm phim lịch sử, viết truyện lịch sử, dựng kịch lịch sử rất cần đến.

Chuyện cũ Hà Nội chính là một tập ký sự về lịch sử.

Thể này đòi hỏi ở nhà văn ngoài tài văn chương còn phải có vốn liếng kiến thức về cuộc đời, có năng lực quan sát và kỹ thuật phân tích, để trên cơ sở đó trình bày được những điều cần nói từ những sự vật, sự việc, con người.

Tô Hoài đã làm được như vậy.

Sự hiểu biết của ông về Hà Nội thời thuộc Pháp thật phong phú, thêm sự quan sát tinh, phân tích sắc, văn lại đậm đà và hóm, các mẩu chuyện dù là chân dung một nhân vật, ký họa về một cảnh, hay giãi bày một tâm sự, đều hấp dẫn, vì đó là những điều mới lạ (dù là chuyện thời cũ) và rung động lòng người vì những tình cảm chân thành nhân hậu.

Chuyện cũ Hà Nội còn có thể coi là một tập điều tra xã hội học về Hà Nội thời nửa đầu thế kỷ XX bằng văn chương.

Bất luận bạn đọc ở giới nào cũng có thể tìm được những điều mình cần biết mà chưa biết.

Chuyện cũ Hà Nội được giải thưởng Thăng Long có lẽ còn vì lẽ đó.

NGUYỄN VINH PHÚC10.1999
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
Mở đầu


Ăn cơm mới nói chuyện cũ

(Tục ngữ)
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
1. Phố mới


Đứng đầu phố Hàng Mã, chỗ ngã tư Hàng Đường trông sang phố Mới - phố Hàng Chiếu bây giờ, hai hàng cây nhội, vòm lá đen sẫm, thân rêu mốc thếch, dây mộc leo quấn sởn lên.

Mặt đường lúc nào cũng thẫm mưa bụi nhớp nháp.

Hoa nhội li ti rụng đỏ xỉn lẫn với bùn vết chân người đi chen nhau.

Phần nhiều là người váy nâu áo đụp ở đầu ô Quan Chưởng vào.

Mấy năm tôi đã thôi ở Hàng Mã về Nghĩa Đô rồi, nhưng lúc nào đi qua phố Mới, vẫn thấy tương tự thế.

Năm ấy, áp tết, tôi đi với dì Năm ra nhà Vạn Bảo phố Mới.

Nhà Vạn Bảo ngay giữa phố.

Đi ra bờ sông, nhà Vạn Bảo ở tay phải.

Lúc nào cũng có chú khách gầy móp xương hóc, cởi trần ngồi cái ghế đẩu canh cửa.

Nhà cầm đồ Vạn Bảo, chủ là người Tàu.

Người cầm đồ cho vay lãi, làng tôi vô khối.

Chỉ vài đồng bạc cũng thành cái vốn còm để có thể cầm bán quanh quẩn.

Chiếc thắt lưng, bộ xà tích, chục cái bát mẫu, cái mâm, cả bát ăn cũng đem cầm được.

Lúc túng, coi như giựt nóng.

Nhà tôi thường túng bấn như nhiều nhà trong xóm.

Nhưng chẳng gì cũng có khung cửi đương làm, lại nữa các dì tôi đều chưa chồng, cho nên phải giữ mẽ đôi chút.

Khi có cái cầm bán, chẳng dám đánh tiếng hỏi han xung quanh.

Mà phải đem đi cầm tận ngoài Kẻ Chợ.

Mà nào của nả báu ngọc cho cam.

Cái áo the, cái quần lĩnh, cái mâm thau...

Nhưng cốt là còn lành lặn, "các chú khách" nhà Vạn Bảo mới cho cầm.

Dì Năm tôi đi chuộc cái áo cánh bông.

Ngày thường dù rét mướt đến đâu, có thể cứ xống áo cũ vá đụp lên, thế nào xong thôi.

Nhưng tết nhất đến nơi rồi, không thể như vậy được.

Cái áo bông của dì tôi, xa tanh đen lót lụa màu cánh chả, áo mồi đấy.

Mưa bụi.

Có lẽ mưa bụi đã nhiều ngày.

Những cây nhội che mái nhà, người qua lại trên mặt đường âm u, xám ngắt, nhẽo nhợt ra.

Mấy cửa hàng bán củ nâu hai bên cửa ô, từng đống nâu chất cao xám xịt như đống đất.

Các nhà bán thừng, bán chiếu, mưa hắt thâm xì.

Thành tên phố Mới, phố Hàng Nâu, rõ ràng chẳng phải chỉ vì ở đấy liên quan đến việc bán chiếu, bán củ nâu gần bến Nứa, của rừng bên kia sông lúc nào cũng đem sang đổ lên đấy.

Mấy ai nhớ được phố Mới, ấy là thời lão Tây buôn Đồ Phổ Nghĩa (1) đem quân Tàu Cờ Vàng tận Vân Nam về, lên chiếm đất lập "Phố Mới".

Tông tích cái phố Mới là như thế.

Về sau này, Tây lấy tên Đồ Phổ Nghĩa đặt cho phố Mới, phố Đồ Phổ Nghĩa!

Người ta vẫn gọi là phố Mới và bây giờ ai cũng chỉ biết phố Mới là cái chợ mua bán người, là nơi có hiệu cầm đồ của người Tàu mở to nhất Kẻ Chợ.

Và quanh chân cửa ô Quan Chưởng là phố Hàng Nâu.

[1] Phiên âm của Jean Dupuis tên một nhà buôn người Pháp

Trông vào phố Mới lúc nào cũng thấy ủ ê, hốt hoảng, những nét mặt người ngoài đường, người đứng tụ tập, ướt át, bẩn thỉu.

Cả đến trong cái ngách cửa hậu vào chợ Đồng Xuân cũng lôi ra được một nút người sầu thảm như thế.

Ngày trước, Vũ Trọng Phụng đã viết "Cơm thầy cơm cô", thiên phóng sự thấm thía về cái chợ buôn bán người ở phố Mới này.

Các nơi, các tỉnh quanh đây đói việc, chẳng ai bảo ai đều kéo nhau về phố Mới.

Đêm hôm rúc ráy ngủ nghê ở đâu, ban ngày bò ra đứng bày hàng từng lũ trên đường, trên hè.

Các mụ Tú Bà làm mối người te tái đi lại, thoáng trông đã đoán biết.

Nếu nhầm, chỉ nhầm với mấy con mẹ ngồi đổi tiền đằng cửa chợ có chiếc thúng nhòi để trước mặt.

Các mụ ấy thường mặc áo nâu vải rồng đóng khuy, mở khăn vấn lộn ngược.

Mụ thì gầy đét cá mắm, mụ thì béo tròn như cái cối xay.

Nước da chì xám xỉn, con mắt đảo điên, đứng đây mà nhớn nhác nhìn ra tận đằng kia.

Ngón tay vuốt mép ăn trầu cắn chỉ, cứ liến thoắng:

- Tôi kiếm cho cậu cái món được mã nhé.

Thổi cơm, giặt giũ, sai bảo, gì cũng nhanh tay, nhanh miệng.

Lại kháu nữa!

Không ỡm ờ đâu.

Nói thật.

- Cụ thì cứ kén người chân tay chắc chắn, không tốn cơm mà nuôi những của nỡm, lóng ngóng động đâu vỡ đấy.

Cụ cho giá xem nào?

- Ờ, sữa tốt, nhiều lắm, cứ vọt tứa ra thế kia.

Người đồng chiêm mà.

Nghèo thì phải bỏ con ở nhà nuôi lã lần ra tỉnh đi ở vú kiếm miếng thôi.

Chứ người khỏe như trâu lăn ấy.

Mợ định cho bao nhiêu?

Đủ loại kẻ ăn người ở trong nhà.

Con sen, con nhài, con nụ, vú em, u già, cậu nhỏ, anh xe, thằng quýt.

Cứ nhong nhóng đứng đám đấy.

Các mụ Tú Bà nháo nhác, táo tác chạy đèn cù tán tỉnh chào hàng, nói thách, ngã giá, đòi tiền lót tay.

Khách mua người đã đưa người đi rồi đến lúc ngắm lại thấy có điều không ưng, quay lại, tìm mụ, vẫn con mụ ấy, thế mà mụ phủi áo cãi phứa không biết, không biết.

Thế là một trận xỉa xói nhau lại um lên.

Người các làng cả năm cả tháng chẳng ra Kẻ Chợ đều phải khiếp cái phố Mới.

Sợ dây vào quân nặc nô.

Lo thân một ngày kia mình chẳng may sa vào đây.

Lại còn bọn thầy tướng, bọn bói bài tây, bọn chơi cua cá bạc bịp nhan nhản khắp phố, lan sang cả Hàng Đào, Hàng Ngang.

Một mụ béo núc tӵ dưng đi theo dì tôi.

Mắt cú vọ nhìn người soi mói như lạ lùng lắm.

Rồi bỗng bước lên trước mặt.

Một tay mụ vuốt lên tay áo dì tôi:

- May quá, trông cô cũng được nước đấy.

Có nhà trên phố Tây đương cần chị hai.

Chị hai, cô khâu đầm, cô vú đầm ấy mà.

Làm với Tây, tha hồ ăn trắng mặc trơn.

Khổ người như cô, mảnh dẻ, nhỏ nhắn, Tây người ta ưa.

Chị hỏi khí không phải, cô ra Kẻ Chợ có việc gì thế?

Dì tôi lúng túng:

- Tôi, tôi...

Mụ kia ngoác loe miệng, lại quệt mép trầu, nói:

- Người như cô chắc chẳng phải ra đây làm con nhài, con nụ đi ăn đi ở như người ta.

- Vâng ạ.

- Trông biết ngay mà.

Ra Vạn Bảo cầm đồ, chuộc đồ hả?

- Vâng ạ.

- Đấy cô xem, con mắt chị có tinh đời không.

Cô em tính kệ đi nhé.

Muốn đi khâu đầm.

Hay làm chị hai.

Một bước lên quan rồi!

Dì tôi vẫn lúng túng:

- Em chẳng biết thế nào.

Mụ ấy buông một câu:

- Cô em cứ ngẫm cho cẩn thận.

Chị chỉ mới cần em đưa chị một đồng bạc, đồng thơm đồng thảo lấy may thôi.

Mọi sự sau này hẵng hay.

Rồi mụ không nói gì nữa, ngoảy sang với một đám đứng hè cạnh đấy, lại nói nói cười cười với đám bên kia.

Như thể người ta còn nghĩ.

Đúng như quân bài tây lật mặt thoăn thoắt, chẳng biết thế nào.

Dì cháu tôi càng chưa kịp hiểu đầu đuôi ra sao.

Nhà cầm đồ Vạn Bảo có cái hẻm lối đi con con chỉ vừa một người len vào, thì đến một cửa mắt cáo thấy cái lỗ tròn.

Dì tôi cầm tờ biên lai, kèm với tiền chuộc, tiền lãi đặt trước ô cửa.

Chỉ thấy một bàn tay gầy gụa đen như ám khói thuốc phiện thò ra lặng lẽ vơ cả vào.

Khác nào các thứ đồ cúng dâng ông Trằn tinh trong chuyện Thạch Sanh.

Nháy mắt, đã trông thấy cái áo bông của dì tôi được gấp nếp cẩn thận, vẫn bàn tay xương xẩu lúc nãy lại thò đưa ra.

Rồi dì cháu tôi đã ra về đến giữa phố.

Vẫn ngổn ngang, túi bụi những người trên lòng đường, dưới trời bụi mưa trắng sáng.

Cái mụ mối lái người lúc nãy lại ở đâu bước tới.

Hay mụ vẫn đứng rình đợi chỗ nào, ai biết được.

Mụ nói tự nhiên, như vẫn đương dở câu chuyện.

Dì tôi bây giờ đã bạo dạn hơn, dì tôi đáp:

- Phúc đức quá, gặp bà có lòng giúp cho em.

Mời bà lên chơi nhà.

Thế nào em cũng xin chu tất.

Mụ cười bả lả:

- Đành thế rồi.

Nhất định phải lên cho biết nhà biết cửa cô em chứ.

Còn phải một bữa túy lúy cơm rượu nữa chứ, còn đi lại dài lâu nên tình nên nghĩa chứ.

Nhưng lạy thánh mớ bái, phải có một mảy làm của tin, "của tin gọi một chút này làm ghi", có của tin mới có lòng thành, em ạ.

- Mời bà lên chơi nhà...

Bà cứ nói... cứ hỏi... nhà em ở chỗ chợ Bưởi đi vào...

- Được rồi, trò chuyện bây giờ xong với em, chị còn phải chạy đi nói lại với người ta.

Tây người ta nói chắc như đinh đóng cột ấy.

Thế nào chị cũng lên nhà.

Nhưng mà phải...

- ...

Em gửi bà...

- Bao nhiêu?

- ... bà... một hào...

- Phỉ phui!

Thèm vào!

Lót tay cái rơm cái rác thế à?

Dì tôi nhăn nhó, khẩn khoản:

- Nói thực với bà.

Chuộc cái áo này, em hết tiền rồi.

Hôm nào bà lên nhà, em xin... nhà em ở chỗ chợ Bưởi vào.

Bà cứ hỏi, cứ hỏi...

Đồng hào bạc trắng, dì tôi cầm trong lòng bàn tay.

Mụ ấy nhổ bẹt một bãi nước bọt xuống đất, để làm hiệu phỉ phui đốt vía rồi chép miệng, cất cái giọng chán khê nằng nặc: "Từ sáng đến giờ!

Thôi cũng mở hàng lấy may...".

Mụ rón đầu ngón, nhặt đồng hào.

Như thể ghê tay không đáng cầm.

Trên tàu điện, dì Năm ngồi cạnh tôi, cũng như ban sáng.

Nhưng mà sao thấy lạ.

Tôi chưa thể hiểu được công việc của người lớn.

Cảm như có cái gì khác buổi sáng, khi hai dì cháu ở nhà ra đi.

Tôi cũng biết thế là dì Năm tôi sắp được xuống Kẻ Chợ làm chân chị hai, chân khâu đầm cho nhà Tây.

Tôi đã trông thấy ở phố thanh vắng, cái nhà Tây có hai cánh cửa sắt mở, ô tô chạy ra chạy vào.

Dì Năm sẽ được đi vào cái cửa ấy à?

Dì Năm đi làm việc trong ấy à?

Lấy ông bếp, ông bồi, ông tài xế hay lấy ông Tây cũng nên.

Lấy chồng Tây thì sung sướng, nhưng phải cái bị người ta gọi là con me tây.

Vùng tôi cũng chưa có ai như thế.

Tôi không biết tưởng tượng ra hơn bao nhiêu điều "ấy à" lộn xộn nhưng ngạc nhiên.

Đến hôm hẹn, cả nhà tôi cứ lẳng lặng kín đáo mà lại tấp nập khác thường.

Dì Năm quét sân, nhát chổi moi móc kỹ lưỡng cả trong góc vách.

Thế mà lát sau, ông tôi lại ra quét lại.

Tiếng chổi quẹt quẹt lạ lạ, xôn xao thế nào.

Nhà có khách, nhà sắp có khách ngoài phố về.

Khách là cái bà mặt béo xám đã cầm của dì Năm một hào bạc.

Làm sao mà tôi ghét cái con mụ!

Nhưng rồi tôi lại mong người ta đến, đem dì Năm đi làm khâu đầm, làm chị hai ở nhà Tây.

Rồi tôi lại thấy cứ ghê ghê rợn rợn, như nhà sắp có ma, nửa đêm gà gáy ma hiện ra.

Mãi tận chập tối, dường như cả nhà ai cũng đều nghe, chẳng thấy người bước vào ngõ.

Đến quãng xâm xẩm thế này thì hết tàu điện rồi.

Vậy là dì Năm tôi bị lừa mất một hào.

Năm nay dì Năm đã kém một tuổi đầy tám mươi.

Dì tôi và các em tôi ở Sơn Tây.

Chuyện này, chắc dì đã quên lâu.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
2. Bắt rượu


Năm ấy, tôi về ăn tết quê nội ở Cát Động trong Hà Đông.

Chưa đến hăm ba Tết ông Công.

Đã qua lễ sắp ấn.

Cánh đồng Thanh Oai phẳng lặng, xám ngắt phất phơ, khói từng cuộn suốt sang tận làng Mai.

Chẳng biết khói đốt gốc rạ sưởi ấm hay khói hun chuột.

Tôi theo u tôi về nhà bác Cả tôi ngoài xóm Đồng.

Nhà nhà quanh co, kề bên ruộng vào xóm.

Không phải qua cửa đình đằng bờ đê sông Đáy, mà người ra vào xóm đi tắt ngoài cổng đồng lên.

Có lẽ ngày xưa, đây cũng là ruộng, rồi có người ra làm trại ở, mới thành xóm, mà tên là xóm Đồng.

Đứng đây, trông thẳng lên đường cái tây.

Vẫn còn nghe vòng bánh xe sắt lăn rào rạt trên mặt đường đá và tiếng lá cọ xột xoạt theo nhịp chân chạy của người kéo xe tay bánh sắt đội nón mê, khoác chiếc áo tơi lá như con cò lẻo khoẻo bị hai cái càng tay tre đóng gông ngang ngực.

Bên kia, nước đồng chiêm trắng bong xuống tận Chuôn Tre, đồng Vàng giáp vùng trũng Ứng Hòa, Phú Xuyên...

Tiếng còi tàu hỏa tận cuối xa nghe như thuốn dài dưới làn nước lạnh tê.

Tới bờ ao đã nghe táo tác, nheo nhéo trong cổng ngăn tiếng trẻ con học bài.

Những cậu học trò vừa học quốc ngữ, vừa học chữ ta, có cái đầu cạo trọc, đầu mới để sắp ăn tết, đuôi tóc hoa roi dài thòng lõng xuống giữa lưng.

Bác Cả tôi ngồi giữa đám trẻ con lau nhau nhấp nhô.

Có đứa đương mài son, mài mực trong cái nghiên.

Có đứa nằm chổng mông, viết phóng.

Có đứa ê a... a... oa... i... oai... u... i... c... lét... uếch... uých...

Cái roi mây của bác Cả dứ lên dứ xuống, lặng lẽ ghê rợn.

Hai con mắt muốn bật con ngươi của mỗi cậu học trò liếc trộm cái roi.

Giữa lúc ấy, ngoài đầu đồng có tiếng nhốn nháo.

Người trong xóm nghển mắt lên trên rào bờ duối trông ra.

Rồi giật thót mình, ngơ ngác.

Từ ngoài đường cái giữa đồng, đương lúp cúp chạy vào một đám người.

Mũ trắng, quần áo vàng lốp.

Lính đoan (1) trên tỉnh về.

Gần đến đầu bờ ao, trông rõ ra người Tây đoan đi đầu, cao lênh khênh.

Người Tây mặc áo vàng, quần vàng, tay cầm ngang cái thuốn sắt dài.

(1) Đoan (tiếng Pháp: douane), cơ quan thu thế, bắt thuế thời Pháp

Đám người trong xóm luống cuống, sững sờ, không biết làm thế nào.

Cho đến lúc chẳng biết ai trong bờ rào nào hét to tướng lên:

- Tây đoan về khám rượu!

Bây giờ dường như mới nhớ ra, sợ quá.

Tất cả ù té chạy.

Trong lúc, Tây và lính đoan đã ập đến nơi.

Đám học trò quanh bác Cả đương thi nhau học gào từng chữ, bỗng im bặt.

Nhưng các cậu ấy hãi cái roi của bác tôi, vẫn không dám ngóc đầu trông ra.

Bác Cả đứng phắt dậy.

Bác bước lại trước án thư.

Bác nghiêng chiếc mâm bồng, lấy ra trong chân mâm một cái chai dài ngoẵng.

Trong chai, đựng độ hơn cút rượu ngấn lên già lưng chai.

Bác bỏ chai rượu lậu vào túi trong cái vạt áo năm thân ngay trước bụng.

Rồi bác lại ngồi xuống chỗ cũ, chùm lên vai tấm chăn khố tải xùm xòe.

Cầm chiếc roi mây - lại như lúc nãy, gõ đẹt đẹt xuống mặt chiếc phản mọt, nói dõng dạc:

- Đứa nào cứ yên chỗ ấy.

Học đi!

Bọn lính đoan đã vào giữa sân.

Người Tây đoan, tây lai, nói sõi như ta:

- Ông đồ ngồi bảo học à?

- Vâng ạ.

- Phải chắp tay nói: "Bẩm quan lớn nhà đoan, vâng ạ" mới lễ phép chứ!

- Bẩm quan lớn nhà đoan...

- Nhà ông đồ có nấu rượu lậu không?

- Bẩm quan lớn nhà đoan, không ạ.

- Quan khám thấy có rượu thì ông đồ đi tù mười tám tháng nhé.

Sắp tết rồi mà phải ra tỉnh ngồi nhà pha, khổ vợ con lắm đấy.

Bác tôi chẳng biết nói thế nào, chỉ thỉnh thoảng buông một câu "vâng ạ" đánh nhịp ngẩn ngơ.

Người Tây đoan cầm chiếc thuốn sắt chọc lên bàn thờ.

Cái thuốn nhọn hoắt như ngửi được hơi rượu, tinh thế.

Nó đẩy nghiêng đế cái mâm đồng.

Nhưng đế rỗng, chẳng có gì cả.

Tôi biết thế rồi, tôi vẫn run cầm cập.

Có lẽ mặt tôi tái mét.

Bởi vì chai rượu lậu vừa ở đế mâm bồng bỗng chui vào trong áo bác tôi, ngay cạnh đây thôi.

Nó ngửi thấy hơi rượu thì nguy tai.

Tây đoan quay lại, hỏi u tôi:

- Cái nhà chị này đến cất rượu lậu về bán tết à?

Bác tôi nói:

- Không, thím nó là người nhà ở ngoài tỉnh về chơi.

Tây đoan quát:

- Người nhà cũng khám!

Rồi Tây đoan nhấc cái tay nải nâu của u tôi lên.

Đầu thuốn sắt gõ vào.

Chỉ nghe tiếng lịch bịch xống áo vải.

Tây đoan buông cái tay nải xuống.

Rồi trỏ ngọn thuốn sắt vào bác Cả:

- Thầy đồ giả vờ, thầy đồ giấu rượu trong chăn.

Chúng mày khôn lắm.

Ông đã bắt được chúng mày cất rượu trong chăn nhiều lần rồi.

Muốn sống thì bỏ cái chăn ra.

Nom bác tôi lúc ấy cứ như con gà mái ấp xòe cánh.

Chưa kịp nhấc cái chăn trên vai, đầu thuốn của thằng Tây đã quều xuống.

Bây giờ thì cái thuốn sắp chọc đến chỗ, chỗ chai rượu ở bọng áo bác tôi.

Tôi cuống queo, nắm quanh váy u tôi.

Cái chăn rơi xuống rồi, mà bác tôi vẫn ngồi trơ ra đấy.

Tôi càng sợ.

Tây đoan ngắm nghía, rồi lại quát:

- Thầy đồ đứng dậy!

Bác Cả tôi từ từ đứng dậy.

Hai con mắt toét nhoèn viền vải tây của bác tôi vẫn gấp gay nhìn thẳng, chẳng khác lúc nãy.

Người Tây đoan im một lát rồi lạnh lùng nói:

- Chỉ làm mất thì giờ các quan!

Rồi Tây đoan xách cái thuốn bước ra.

Nhưng còn như nghi ngờ, như tinh nghịch, như quen tay, lại chọc thuốn lên mái một cái nữa.

Tàu lá cọ thủng, trông thấy cái lỗ tròn tròn trên trời.

Tây, lính và các người xem ra cả rồi, bác Cả lại ngồi xuống.

Nhưng đám học trò quanh bàn đã biến mất từ lúc nào.

Bọn lính đoan đi sục thuốn khắp các vườn và bờ rào quanh xóm.

Xem có chỗ nào chôn giấu rượu, bã rượu.

Không thấy gì, cả bọn đùng đùng kéo vào xóm trong.

Đến tận trưa, đám lính nhà đoan khám rượu mới trở ra đường cái tây, lôi theo nhiều thứ bắt được ở xóm dưới bãi.

Cái nồi đồng ba mươi với lưng nồi bã, một thúng gạo nếp đã vo sẵn.

Mấy cái bong bóng trâu, có cái bẹp rúm, có chiếc đã phồng rượu.

Đủ đồ nghề, cái cần trúc xe điếu chuyên nước cất, cái mai rùa gỗ, cái chõ...

Nhà ai lắm đồ nghề nấu rượu thế mà không tẩu tán kịp!

Chúng nó bắt được tuốt.

Đứa nào báo Tây đoan mà để hại người ta thế.

Tết nhất đến nơi.

Bắt được rượu đích xác, chỉ bởi có đứa báo thôi.

Định làm mẻ rượu bán tết mà hóa ra sạt nghiệp.

Lại còn tù tội nữa.

Bọn lính đoan đi trước.

Đằng sau, lũ lượt người cung cúc theo.

Không biết người nhà hay tuần phiên khiêng các thứ nhà đoan vừa bắt được.

Có cả chú bếp Mỡ hớt hải từ trong xóm ra chạy lẫn vào đám bắt rượu.

Nhiều người gọi:

- Chú bếp!

Chú bếp Mỡ quay lại, trông thấy tôi, nói to:

- A thằng cu Bưởi về quê ăn tết à?

Chú đi tù rượu đây.

Mẹ con cháu ở nhà chơi nhé.

Đi tù rượu!

Câu nói cứ ngọt như không.

Tôi vẫn nghe kể ngày trước chú bếp Mỡ đã đi lính sang Tây.

Khi về, chẳng có lon đội, lon ách gì, chỉ được người ta gọi chức bếp, bếp Mỡ.

Sang tận bên Tây về rồi chú lại vẫn đi cày thuê, đào ao, rào vườn cho người ta.

Vẫn như ngày trước.

Những buổi chăn trâu, chú toàn kể các chuyện bên Tây.

Về quê bao giờ tôi cũng đến nhà chơi nghe chuyện đường xa của chú bếp Mỡ.

Chú ấy nói thế nào?

Chú tù rượu.

Chú đi tù rượu?

Chú vừa rảo chân vừa xỏ tay khoác cái khố tải, cười hí hí và nói thế.

Thím bếp Mỡ với lũ con đứng đầu xóm nhìn theo.

Đến lúc cả bọn với các người nhà đoan khuất vào gốc những cây muỗm, thím bếp Mỡ trở vào, đi giữa đám người đương cười hê hê.

Qua các ngõ, nghe người ta nói cợt: "Thế là tự dưng giời cho nhà bếp Mỡ cái tết nhé, sướng nhé".

Chẳng biết thím bếp Mỡ đùa hay thật, thím cứ chép miệng lẩm nhẩm: "Sướng, sướng quá!".

Thì ra Tây đoan khám rượu, bắt được cái lò nhà ông lý hào (2) ngoài bãi ngô dưới bờ sông.

Rõ ràng có đứa xấu bụng đi báo ăn thưởng.

Nồi rượu còn đương đun.

Không tẩu tán được mảy may.

(2) Lý hào: người bỏ tiền ra mua chức lý trưởng

Ông lý hào phải vội nhờ người đi bảo chú bếp Mỡ theo tang vật lên tỉnh.

Nói một câu thế, chú đã biết lệ.

Có gì thì chú bếp cứ đứng ra nhận nhà chú nấu rượu rồi chú vào ngồi nhà pha.

Qua tết, sang giêng còn phải tù hay được về, đợi ra tòa xong rồi cái ấy sẽ liệu với nhau sau.

Ở nhà, vợ con chú bếp được ông lý hào hẵng đưa món tiền chục bạc ăn tết đã.

Bên làng Mai còn nhiều nhà nấu rượu lậu, có những người đã quen đi ở tù thay người bị bắt rượu như thế.

Tù mấy ngày mấy tháng, đã có giá hẳn hoi.

Có người ngồi tù thuê đến mười tám, hai mươi tháng.

Chủ rượu ở nhà phải nuôi vợ con, lại đóng thuế thân cho người tù thay đến hai năm.

Thôi thì đằng nào cũng vậy, người khôn của khó, ở nhà cũng phải mửa mật mới kiếm nổi miếng.

Cánh đồng vẫn im phắc.

Không biết tại rét quá, người ta rúm lại hay vì giá buốt đến cóng cá mà tưởng ra như thế.

Đám khói gốc rạ vẫn nghi ngút đằng xa, càng vắng ngắt vắng ngơ.

Bỗng một cậu học trò bấy giờ mới thò đầu chui trong gầm phản ra.

Bác tôi điềm nhiên bảo anh trưởng tràng:

- Sang giêng, ngoài rằm khai trường nhé.

Bảo chúng nó thế.

Rồi bác Cả rút chai rượu lậu trong bụng áo ra, lại cất vào dưới lỗ hổng ở chân mâm bồng, như lúc nãy.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
3. Cái xe đạp


Vào những năm ấy, xe đạp còn hiếm, không lắm như bây giờ.

Không phải nhà nào cũng có xe đạp và ai cũng có xe đâu.

Với nhiều người, xe đạp là một thèm muốn cao cao.

Mác xe của các hãng khác nhau ở Sanh Ê-chiên bên Pháp ai cũng nhớ vanh vách và phân biệt mọi đặc điểm ngóc ngách cái phanh, cái lốp, mặc dầu không mấy người có xe đạp.

Chưa bao giờ tôi có xe đạp.

Đến năm 1945, tôi rời ra phố, mới tậu xe đạp - hồi ấy chưa gọi là mua xe đạp, mà người ta nói trịnh trọng: "Tậu xe đạp" như tậu ruộng.

Cái xe đạp đầu tiên của tôi trơ trụi có khung và bánh gọi là xe cởi truồng.

Xe đạp, cái xe đạp ước ao.

Muốn có, nên lúc nào cũng thèm như có thật.

Cả làng tôi cũng chỉ một ông đội Lộng có xe đạp.

Trên đầu chợ, bên vườn Bàng, ông Tây đen ma tà Ca ra ta Sanh đi gác thuê cũng có một cái - chẳng biết của sở cho mượn đi, hay của ông.

Mỗi khi nghe chuông kính coong, kính coong tận ngoài đầu đường, người trong xóm đã chạy à ra xem xe đạp qua.

Quái thật, bây giờ không thấy ai tập xe đạp, rồi đến cả trẻ con, cũng tự nhiên biết đạp xe nhoay nhoáy.

Ngày trước, phải tập xe ngã lên ngã xuống, mướt mao mồ hôi mồ kê.

Ở dốc đường Thành, hàng bác cả Đức cho thuê xe đạp, có những cái xe tã dành riêng cho thuê tập.

Gom tiền lại, thuê giờ.

Thằng giữ xe, thằng trèo lên yên.

Cũng phải bao phen choét đầu gối.

Có lẽ vì bây giờ nhiều xe đạp, lúc nào cũng thấy người đạp, chỉ trông người ta đạp xe mà rồi trẻ con tự nhiên cũng biết đi.

Nhưng có một cái xe đạp thời ấy cũng khá nhiêu khê.

Không phải chỉ bởi mua xe nhiều tiền.

Không phải vì công phu hầu hạ, sửa sang nó.

Mỗi ngày, đi đâu về, lại lau xe, ngày nào cũng lau từ hang hốc cái khung, cái bàn đạp, cái nan hoa.

Người ta không chểnh mảng với xe như bây giờ.

Chỉ những tốn kém rắc rối xung quanh cái xe đạp cũng đã lôi thôi rồi.

Bây giờ tôi vẫn lau xe đạp theo thói quen kỹ lưỡng như thế.

Tôi đương đạp xe qua cầu Đơ thị xã Hà Đông.

Có hai người đội xếp bỗng đạp theo.

Nói cho đúng, tôi đã trông thấy hai người đội xếp đứng ở đầu cầu.

Nhưng không ngờ họ lại đương chú ý đến tôi.

Vâng, đi đâu mà chẳng phải nhìn đội xếp, dù là những người ngay ngắn, lương thiện.

Bởi vì hầu như các ông đội xếp cứ trông thấy mặt ai là rình bắt, rình khám, rình phạt.

Từng quãng trong thành phố, lại thấy một đội xếp Tây đội mũ lưỡi trai, đeo súng lục, đạp xe Pơgiô bánh to (lốp 650).

Hai đội xếp ta đội mũ cát đít vịt lợp vải vàng đi theo hai bên.

Hai người này cũng vắt vai cái dây da, bao súng lép kẹp, mà ai cũng biết trong nhét giẻ lau xe.

Nhưng con mắt chăm chằm, rình rình.

Thềm nhà có rác, phạt.

Phơi quần áo, tã lót, chiếu trước cửa, phạt.

Cống bẩn, phạt.

Đánh nhau, phạt cả đôi bên.

Ven đường khắp Hà Nội không đâu có nhà đái công cộng.

Mà đái đường thì phải phạt hẳn sáu hào.

Bởi vậy, trẻ con trong làng đi phố mót đái cứ vừa đi vừa đái ra quần.

Các bác cu li kéo xe thì vừa chạy vừa đái vào bẹn.

Chả là hình như không có lệ phạt người vừa đi vừa đái.

Nhưng cũng chẳng có cơn cớ gì cũng rút giấy biên phạt, thu tiền.

Người ta nói các bóp đã định trước số tiền phạt thu hàng tháng rồi, đội xếp cứ trông đấy mà liệu đi phạt cho đủ.

Đến giữa cầu, một người đội xếp đạp xe vượt lên trên tôi.

- Này này...

Phanh lại.

Tôi lúng túng tìm cái tay phanh.

Tôi bóp phanh bánh trước két két...

- Bánh sau!

Phúc đức phanh bánh sau ăn ngay.

Chiếc xe tôi đứng khựng lại.

Hai người đội xếp châu đầu vào tôi.

- Xe không phanh à?

- Phanh ăn thế mới đứng lại được ạ.

- Chỉ có phanh bánh sau!

Tôi nhăn nhó, rụt rè nói khó.

Rồi đưa một hào bạc.

Người đội xếp hầm hầm:

- Không rỡn với nhà anh đâu.

Xe lại mất cả gác đờ bu.

Gặp người ác thì biên lai phạt rồi đấy, biết chưa.

Đồ nhà quê, thôi cút.

Hú vía, xe tôi đi mượn!

Tôi lặng lẽ nghĩ có lẽ hai cái lão đội xếp ấy cũng còn có phần nhân đức.

Xe không chắn bùn, phanh bánh trước không ăn, mà chỉ phải đút có một hào cho hai người chia nhau.

Thời ấy, nuôi được cái xe đạp, nhọc lắm.

Xe phải gắn một mảnh sắt, mảnh kền khắc tên, số nhà, tên phố của chủ xe.

Không có, phạt.

Đèo nhau, phạt.

Trông cái xe mướp quá, ngứa mắt, cũng phạt.

Ba đồng một tạ gạo Sài Gòn lẫn gạo gãy hàng vừa, giá trị một đồng bạc không phải nhỏ.

Thế mà thuế xe đạp mỗi năm đóng mất một đồng bạc, được lĩnh về một miếng lập lắc bằng đồng vặn vít đeo vào xe.

Đầu năm, chỉ hết tháng giêng, đội xếp đã đứng đường tóm phạt các xe chưa có lập lắc mới.

Chập tối, xe phải có đèn.

Không thì một tay cầm nắm hương vung lên.

Cái đèn ló phao dầu tây cắm vào cọc đèn trước ghi đông, khói mù mịt, khét lẹt.

Có việc ra phố chập tối, phải sắp sẵn từ chiều cái phao đầy dầu.

Thế nào mà khi về, qua đường Quan Thánh, gió hồ thổi lên, đèn tắt ngóm mất.

Người đội xếp lù lù hiện ra như ma hồ Trúc Bạch lên.

- Ê!

Xe không đèn, đứng lại!

- Đèn tôi mới vừa tắt.

- Không biết, a lê, về bóp!

Tôi dắt xe đi với người đội xếp về sở cẩm (1) Hàng Đậu.

Xe không đèn - hay xe đèn tắt cũng thế, tôi đã biết phải nộp phạt ba hào.

Không có tiền thì để cái thẻ thuế thân và xe đạp lại, mai đem tiền đến.

Nếu không, phải cất công vào ngồi nhà giam sở cẩm, chịu đói khát hai mươi bốn tiếng, đúng giờ này ngày mai thì được đem xe về.

Còn tiện nhất thì khấn anh đội xếp một hai hào, chắc được thả cho đi ngay.

(1) Cẩm do tiếng Pháp: commissariat.

Nhưng tôi theo cách "vào ngồi nhà giam".

Chẳng phải vì bướng, mà bởi một lẽ dễ hiểu.

Xe đạp đi mượn, tôi lại không có tiền, mà lúc nào tôi cũng thong thả thừa thì giờ.

Thế mà chưa dứt nỗi lo.

Ngồi nhà giam, nhưng phải làm sao cho trông thấy cái xe đạp cả đêm, sợ nó nẫng mất.

May cũng có nhiều người đi xe không đèn, phải bắt giam, chịu khó ngồi nhà muỗi, để khỏi nộp phạt.

Xe chất trước cửa buồng chồng đống cao hơn đầu người.

Nhưng lại nghĩ lo xa nỗi tối mai được thả vào giờ này, xe vẫn không đèn.

Dẫu không dám đi, chỉ dắt về tận nhà, ngộ chẳng may gặp đội xếp, nó lại bảo mình đương đi vừa nhảy xuống, cứ phạt, thì rồi không biết ra sao đây.

Lôi thôi quá!

Cái buồng giam ở bóp Hàng Đậu khai tịt cả mũi.

Suốt đêm, người lúc nhúc ngồi bó gối, chen nhau.

Muỗi đói đốt, gáy sần lên như gai gạo.

Vậy mà nghe kể hôm nọ cũng có người thắt cổ.

Ở cái chỗ đêm ngày đông ních như thế này, không hiểu thắt cổ vào lúc nào mà chết được.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
4. Những nhà hàng xóm


Bây giờ bốn bên hàng xóm, năm này qua năm khác, dường như bao giờ cũng vẫn thế.

Người lớn già đi và cứ mỗi năm càng lắm trẻ con.

Khi nào cũng nghe tiếng trẻ cười nói inh ỏi.

Ừ, mà khác thật, cái làng đã được đổi thành thị trấn - thành phường.

Cái xóm 1, xóm 2, xóm 3, xóm 4 gọn ghẽ.

Không còn chỉ quanh quẩn bên này bên kia cũng chia ra làng Tân, làng Nghè.

Làng Nghè lại còn những xóm Trong, xóm Giữa, xóm Trẽ, xóm Ngoài, rắc rối đến lắm tên.

Mấy nhà quanh quanh tôi chẳng có gì khác.

Bác đôi Lạc bằng tuổi tôi vẫn đi công tác.

Bên kia bờ chuôm, ông bà Tám đã nghỉ hưu.

Thỉnh thoảng lên chơi cậu con trai làm bác sĩ trên Thái Nguyên.

Mấy nhà bà con Việt kiều ở Thái Lan về được đưa đến định cư đây, đã thành người làng.

Nhà bác Ba chung sân với nhà tôi cũng vậy.

Bác Ba cũng bằng tuổi tôi.

Tôi nghe nói cái năm Thân ấy các chị trong làng ở cữ đẻ toàn con trai.

Chúng tôi già đi.

Nhưng con cái, các anh các chị nhà bác Ba lớn lên, mỗi người mỗi công việc.

Chỉ ngắm gia cảnh nhà bác ấy cũng đủ thấy ra một nếp quen thuộc, hầu như mọi nhà trong làng đều na ná thế và cũng khác thế.

Hai bác đã quá tuổi, nghỉ việc dệt của hợp tác từ lâu.

Các chị lớn đã đi lấy chồng.

Người làm công nhân nhà máy phibrô xi măng.

Người bán hàng mậu dịch.

Các anh, người đi công nhân, người đi bộ đội, một anh đã hy sinh trong trận Khe Sanh, một anh hy sinh ở Quế Sơn, bác gái đã vào tận nơi thăm mộ.

Anh Kỳ lái xe đoàn 559 Trường Sơn, trung đoàn Quang Trung anh hùng.

Anh thương binh ấy công tác ở sở Thương binh Xã hội thành phố.

Mấy cây dừa vẫn một năm hai vụ trĩu quả.

Bác gái, thỉnh thoảng đi Bắc Giang quảy lồng gà về bán ở chợ.

Nhà nuôi mấy lứa lợn.

Bác trai sắm cái xe ba gác chở than cho hợp tác xã.

Ngoài sáu mươi rồi, bác cầm càng vẫn vững tay.

Ngày xưa, chỉ nghĩ đến kéo cái xe bò của nhà mình.

Bác Ba đi xe than, chiều về sang giếng tắm rồi lên ngồi cái ghế xi măng ở bờ ao, trông ra cây đa cổ thụ đầu làng - cây đa già cỗi vắt rễ cây nọ sang cây kia, thành một cây hai gốc, vẫn trơ ra như thế từ bao đời.

Bác cười khà khà, bảo tôi: "Chú cứ về đây chịu khó đi đẩy xe than với anh rồi chiều chiều anh em làm vài chén rượu thuốc, bệnh huyết áp cũng tiêu tan ngay thôi".

Rồi lại cười với nhau.

Nhưng mà ngày trước không như thế đâu.

Ở xóm này chỉ có cái nhà tây một gian có trần của ông xã Lịch, còn thì nhan nhản toàn nhà tranh tường đất mấp mô như những con rùa bò.

Cái xóm nhà tôi ngày trước ẩn mình trong những bụi tre, mấy cây nhãn và giữa những ao chuôm bờ lau la liệt khoai nước và chim cuốc hoàng hôn về kêu khắc khoải.

Trông làng xóm san sát bây giờ, người ở lứa tuổi mới lớn ngỡ xưa nay vẫn thế.

Không phải.

Thuở xưa, người ta mải miết đi kiếm ăn, kiếm gần chẳng ra, phải bò ra xa, tận Đất Đỏ, Dầu Tiếng trong "Sà Ghềnh", đi không về, nhiều lắm.

Như vậy đấy.

Đôi bên hàng xóm không phải như bây giờ.

Nhiều nhà không còn nữa.

Nhà chú Cát ngay đằng sau tường.

Vợ chồng chú ấy thật khỏe mạnh.

Thím ấy núc ních béo tròn.

Chú ấy ngày ngày quảy nước thuê, chặp tối lại ra Kẻ Chợ kéo xe.

Cái tường đất đầu nhà có bờ rào xương rồng.

Trẻ con bảo nhựa cây xương rồng bà, xương rồng ông mà nhỡ quệt vào mắt, nổ mắt.

Đứa nào cũng sợ.

Mảnh xương rồng nở hoa vàng li ti bên những cái gai sắc gớm ghiếc.

Đành đứng xa nhìn.

Vợ chồng chú Cát đi làm vắng, ngõ chỉ rấp một cành rong.

Chẳng có gì đáng của, nhà không biết đến cái khóa bao giờ, mà trẻ con thì sợ cây xương rồng.

Tưởng như cái hoa và cây xương rồng bà dữ tợn với cành rong rấp ngõ, hàng bờ rào dậu lưa thưa ấy cứ đứng đấy mãi, lâu dài đến sốt ruột như trẻ con mong bao giờ thành người lớn.

Thế mà cũng biến mất cả.

Nhà chú Cát, nhà ông Hương Cam đã bán cho người ta năm nào, tôi không nhớ.

Chúng tôi có những hàng xóm mới, bác đội Xị, bác ba Dương...

Xế cửa, nhà ông hương Lãng.

Nghe nói không phải nhà ông, ông hương Lãng ở trên Yên Thái xuống ở nhờ nhà chú Dự hay nhà ai.

Nhà ở nhờ có khác, chẳng quét tước dọn dẹp.

Cái sân lạnh lẽo, đầy cứt giun đùn.

Lại nghe đồn nhà có ma, cánh cửa gỗ lúc nào cũng khép hờ.

Cây hoa hồng ta bên cái phên nứa, nở vô khối mà cứ rữa ra không ai dám vào hái.

Tháng hai, hoa bưởi rụng, mùi thơm và màu hoa trắng rờn rợn.

Một năm kia, chú Dự ở ngoài Uông về.

Chú ra Uông Bí làm gì ngoài ấy, không biết.

Hình như bấy lâu chú cũng vạ vật ở Uông chứ cũng chẳng kiếm được công việc ra hồn.

Chú trở về làng một mình.

Chẳng đem theo được cô vợ thiên hạ.

Nhiều người làng đi làm ăn xa thường có vợ lẽ về theo.

Như ông cai Thảnh, ông Bẹp, ông xã Vị...

Cái nhà ba gian vẫn âm thầm thế.

Tôi không biết Uông là đâu, nhưng cứ tưởng người làm ăn tận chốn nào về phải to lớn, khác lạ hơn người làng.

Không, chú Dự mặc cái áo xanh đã bạc mốc hai vai.

Người bé nhỏ, mà già úa, mặt choắt, xanh xám như cơn mưa.

Rồi tôi cũng mang máng biết ít lâu sau chú Dự xin được chân làm ở sở tàu điện ngoài Thụy.

Chúng tôi hỏi:

- Chú Dự được đi tàu điện không mất tiền à?

Chú Dự cười tủm tỉm.

Chúng tôi lại hỏi:

- Chú Dự biết nhảy tàu chứ?

Chú Dự không nói.

Nhưng chắc là chú Dự biết nhảy tàu.

Người nhà tàu điện phải biết nhảy tàu chứ.

Trong làng chẳng mấy ai có việc ra Kẻ Chợ, nên chẳng đi tàu điện mấy khi.

Thường ngồi bàn tán về tàu điện nhiều hơn.

Vốn xưa nay các tay ăn chơi lên xuống tàu điện đều nhảy tàu chứ không đợi tàu đỗ mới bước lên như mọi người ta.

Tàu đang chạy nhanh, ra cửa đứng nghiêng người, nhẹ nhàng thả chân xuống.

Mà dù đã đợi ở bến, cũng cứ chờ tàu chạy rồi mới nhún lên.

Có thế mới là tay chơi, tay thạo.

Bỗng lúc chập tối, nghe trong xóm nói chú Dự bị chết chẹt tàu điện rồi.

Chỗ cổng Rong ấy, đường xe đường tàu thong dong hai hàng, làm sao lại ngã đâm vào tàu điện được.

Nhưng cũng có người thì thào rằng bốn bên cổng Rong, chồng chất những tha ma, mả mới, mả cũ nhiều vô kể.

Nhiều lần rồi, mới chập tối đã có người trông thấy ma run rủi đưa người ta vào bánh tàu.

Đã mấy đám chết chẹt tàu đúng chỗ ấy.

Cũng chẳng hiểu chú Dự nhảy tàu ngã hay chú bị tàu chẹt.

Khi tôi đã lớn biết nghĩ rộng ra hơn, có khi tôi ngờ ngợ hay là chú đâm đầu vào tàu điện.

Cũng nhiều người đã tự tử như thế.

Ở đầu xóm cạnh ao làng có nhà ông tư Dót đông con.

Trong giữa xóm, nhà ông Hốt cũng một lũ lau nhau chạc tuổi chúng tôi.

Thằng Được nhà ông Hốt, anh em thằng Nhỡ nhà ông Dót suốt ngày chơi tha thẩn đầu làng, bên bãi, trên quán.

Đánh bi đất, nặn nồi niêu, câu cá, chơi đố lá, thả thuyền, trèo nhãn, ném nụ hoa gạo... với chúng tôi.

Có điều, bao giờ anh em nhà Được, nhà cu Nhỡ cũng vừa chơi vừa phải làm, và chúng tôi đứa nào cũng làm hộ nhà nó.

Chúng tôi nhặt lá đa, hàng thúng lá đa.

Để nhà nó lấy cái đun.

Có khi lên đường Thành bẻ cành me tây để nhà nó làm củi.

Lại có khi cả buổi trèo cây bàng đầu xóm Giếng ngắt lá rồi chúng nó lại đội lên chợ bán cho các bà gói mắm tôm, gói muối, cua mặn...

Một hôm, có đứa thì thào:

- Nhà thằng Được bán rồi.

Chúng tôi chưa hiểu nỗi khổ bán nhà, chỉ lạ cái nhà đương ở thích thế mà bán.

Cây nhãn, cây na, cây khế la liệt ra tận bụi tre bờ ao.

Lại có cây bưởi đường tháng hai đẫm mùi hoa thơm, năm nào tôi cũng được trèo hái quả bưởi cho ông Hốt bán chợ tháng tám.

Tôi hỏi Được, cho chắc chắn:

- Nhà mày bán rồi à?

Được vênh mặt nói như khoe:

- Nhà tớ vẫn ở như mọi khi.

- Bán cho người ta rồi cơ mà?

- Bây giờ nhà tớ ở nhờ.

Hình như nhà đứa nào có nhà bị bán, lúc đầu, cũng nói giống thế.

Rồi đến khi dọn biến đi bao giờ thì không ai biết.

Cũng như cái nhà ông tư Dót có bốn anh em thằng Nhỡ bán nhà không biết lúc nào.

Nhà ông Hốt, nhà ông tư Dót rồi đi ở đâu, tôi cũng quên và dường như tôi cũng không để tâm.

Từ ngày ấy, chẳng bao giờ gặp lại anh em nhà Được, nhà cu Nhỡ.

Chỉ nhớ hai nhà ấy đông con cái nhất các nhà hàng xóm.

Đứa nào cũng cởi trần quanh năm.

Chẳng biết rồi có đứa nào sống được qua nạn đói 1945 không?

Nhà bác khán Lợi cạnh nhà chú Cát, ở sát sau tường nhà tôi.

Mẹ thằng Tiếp mất đã lâu.

Thằng Tiếp bằng tuổi tôi, cũng chỉ sốt mấy hôm rồi chết.

Bác khán lấy kế một người thợ seo dưới Nam lên làm nhà ông Tám.

Năm đói, cả nhà ngắc ngoải.

Cái Lợi đi lấy chồng rồi về nhà chết đói.

Chẳng biết có phải vì cái Lợi cao lớn, ăn khỏe quá, ròng rã cả tháng chẳng kiếm được cái ăn, nên phải chết trước.

Đến khi kháng chiến, nhà bác khán Lợi tản cư trôi dạt lên mãi Vĩnh Tuy trên Hà Giang.

Nghe nói, ngày hòa bình 1954, bác khán có về thăm làng vài ngày rồi lại đi.

Tôi không được gặp.

Cái làng cũ, đối với nhà bác khán, rặt những chuyện buồn, bác chẳng về nữa.

Trên Vĩnh Tuy, nghe nói bác làm ruộng và nhà có đồi trồng chè.

Dần dà mới nhận ra làng xóm thời ấy với bây giờ khác nhau nhiều.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
5. Băm sáu phố phường


Hà Nội xưa kia không có các huyện ngoại thành.

Lên đến Bưởi đã là ngoại ô.

Ra Cầu Giấy, nói đầy đủ là ra ô Cầu Giấy đã hết địa phận thành phố.

Người Pháp đưa huyện Hoàn Long - hầu hết quận Đống Đa bây giờ, làm ngoại thành, gọi là đại lý Hoàn Long.

Tri huyện Đặng Vũ Niết về vừa nhận chức quan đại lý thì đảo chính Nhật 9.3.1945, thế là tong ghế ngồi.

Tỉnh Hà Đông, tỉnh Bắc Ninh bọc quanh, Hà Nội hẹp toen hoẻn ở giữa.

Xuống cuối đường Huế đã hết đất thành phố.

Làng Yên Phụ bờ hồ Tây thuộc Hà Đông.

Đằng Kim Liên, sau lưng bệnh viện Bạch Mai đã ra khỏi thành phố.

Đường lên Bưởi, qua cửa trường Bưởi (trường Chu Văn An) đã gặp làng Thụy Khuê ngoại ô rồi.

Bãi Giữa dưới cầu Long Biên giữa sông Hồng đã thuộc đất huyện Gia Lâm tỉnh Bắc Ninh.

Đầu phố Khâm Thiên đằng này, chỗ cái ba-ri-e chắn đường xe lửa, là hết đất Hà Nội.

Xe tay bánh sắt, gọi là xe ngoại, cu li kéo hết phố Khâm Thiên, phải đổi khách sang xe bánh cao su mới được vào phố.

Vùng Khâm Thiên còn là Hà Đông.

(Bởi vậy, có chuyện kỳ cục: Năm 1972, máy bay B52 ném bom rải thảm xuống Khâm Thiên.

Thế giới lên án Mỹ mưu toan hủy diệt Hà Nội.

Hãng tin Mỹ UPI cải chính: B52 chưa hề ném bom Hà Nội.

Có nghĩa là Mỹ đem bản đồ Hà Nội thế kỷ trước ra làm chứng.)

Phố phường thời Tây chia từng khu khác nhau.

Không có bảng chỉ dẫn, không tường chắn, không ai ngăn cấm nhưng người đi đường phải tự hiểu thế, mà liệu bước.

Các phố Hàng Bài, Tràng Tiền, Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Điện Biên, Lê Hồng Phong, Hùng Vương bây giờ là khu vực phố tây, phần đông chỉ có nhà người Pháp hoặc người An Nam nhưng giàu có, sang trọng, nhà vườn, tường hoa, cổng sắt riêng cho xe song mã và ô tô ra.

Phố Tây vắng, loáng thoáng người qua lại, phần nhiều chỉ những người đi là bồi bếp, tài xế, các cô khâu đầm, chị hai giữ trẻ nhà Tây.

Người như tôi lúc ấy, những thanh niên chân xỏ đôi guốc mộc, áo dài thâm, bước thất thiểu, qua cửa nhà sang trọng hay nhớn nhác nhòm ngó.

Thế là cũng có đội xếp dõi mắt xem có phải kẻ gian "chú chích" không.

Chẳng ai vạ gì mà lai vãng các phố Tây!

Hàng Gai, Hàng Bông, Hàng Ngang, Hàng Đào, chợ Đồng Xuân, người chen chúc đông đúc qua lại bên này hồ Gươm.

Khu buôn bán sầm uất, ở đây mới lắm các tay "chích cược" (trộm cắp) và du côn du kề.

Sinh sôi với đời sống thành phố, Hà Nội còn có hai khu khác, mà ít người nhận ra và phân biệt được.

Các phố nhỏ yên tĩnh hai bên chợ Hôm và đường Huế.

Bây giờ là Trần Xuân Soạn, Ngô Thời Nhiệm, Phùng Khắc Khoan, Hòa Mã và bên này, Mai Hắc Đế, Triệu Việt Vương, Bùi Thị Xuân.

Mới năm nào đi từ dốc cây thị Hàng Kèn xuống Vân Hồ, còn bãi hoang, đầm lầy, tre pheo làng xóm lơ thơ.

Trơ trọi cái trường Hàng Kèn, học trò phải gọi là trường Thân Trọng Huề (trường tiểu học Quang Trung bây giờ), đằng xa cũng nhìn thấy những cây bàng xanh rì mới trồng.

Rồi nhà cửa, phố xá mọc dần lên.

Người làm vô làm việc, người buôn bán, kẻ giàu người nghèo ở chen nhau.

Vùng này, phố của những công chức, các ông ký, ông thông và nhà buôn phố trên để dành tiền làm nhà, tậu nhà.

Thông thường, ngày nay còn thấy dấu vết ấy, ngôi nhà một hai tầng lợp ngói, nách tường có cửa bên.

Tấm gỗ gác lên bậc thềm.

Anh xe dắt cái xe cao su nhà ở sân trong ra.

Xe đưa cậu đến sở.

Xe kéo mợ đi chợ.

Bây giờ, nhà cửa ở các phố này còn phảng phất vẻ êm đềm phong lưu bề ngoài thời ấy.

Một vùng khác dưới bãi dọc đê sông Hồng.

Các bãi Cơ Xá, Nghĩa Dũng, Phúc Xá - bãi An Dương còn bỏ hoang, xuống dưới tới bến Phà Đen, toàn nhà lá - những túp lều lá.

Đến mùa hanh hao (nhà nào, mà theo câu tường thuật của các báo thời ấy, bị "thần hỏa ra oai") thế là cháy luôn cả dãy phố.

Đấy là nhà những người nghèo, cu-li dọn kho, bắt-tê cửa ga, kéo xe, phu phen khuân vác, đổi thùng, thợ hồ, người các vùng quê đói rách đổ ra kiếm sống ở thành phố đều chui rúc xuống ở bãi.

Có một hồi, về Hà Nội, Nguyên Hồng cũng ở một gian nhà lá thuê dưới bãi Nghĩa Dũng.

Tôi thường xuống chơi.

Khi ấy, vợ chồng anh mới có con đầu lòng, cháu Hà.

Nhà vách đất tối om, vào cửa phải cúi đầu.

Cả gian nhà kê vừa cái giường chõng.

Dưới gầm, chiếc hòm gỗ.

Tất tật, gạo nước, nồi niêu, quần áo tống cả vào hòm.

Bên chân giường dựng bó củi nứa và cái hỏa lò để chị ấy thổi cơm.

Lều lán và người nghèo rúc ráy cả dưới bãi.

Đấy cũng lại là vùng tụ tập sòng bạc và các tay chơi có hạng.

Bọn trùm gá bạc như Ba Sinh, Cả Vê, Hai Cua và bao nhiêu đầu trộm đuôi cướp khác.

Sở mật thám biết rõ tông tích mà không đụng chạm đến.

Những tù xổng làm quân cướp ngày, những chúa du côn được chủ xe hàng thuê đứng bến đánh nhau tranh khách đều sinh sống ở các xóm bãi.

Ở trên đê trông xuống chỉ thấy những mái lá lươm nhươm, nhôm nhếch bên bãi đất cái lẫn lộn với mặt nước đỏ rực.

Sáng sớm, người ra bờ sông ỉa, đi tha thẩn, con chó lũn cũn theo.

Các nhà gánh nước ăn về đánh phèn, đôi thùng cũng từ dưới sông lên, bước lẫn giữa mọi thứ củi mục, phân người, rác rưởi.

Buổi chiều, gió lạnh ngoài kia quạt hun hút.

Vùng công chức ở và vùng bãi càng ngày càng chen chúc, bởi thành phố mỗi lúc một nhiều người hơn.

Dần dần, hầu hết các làng gần xung quanh đều ra làm các nghề phục dịch.

Người ta bảo chỉ có chó chợ Canh mới ngon thịt.

Những hàng thịt chó chợ Đồng Xuân, Hàng Đồng đều người trong Canh.

Làng Mơ có nghề nấu rượu, gọi là Mơ Rượu, lại còn Mơ Cơm - các hàng cơm đầu ghế trên phố đều là người Hoàng Mai.

Người Lai Xá làm các nghề chụp ảnh.

Ước Lễ làm giò chả, mở hàng cơm tám và hiệu may quần áo tây.

Các cửa hàng này hay có chữ Ước, chữ Hương, Tân Ước, Tân Việt, Tân Hương... người Thanh Trì bán đậu phụ, đậu nướng om nghệ và bánh cuốn.

Bánh cuốn Thanh Trì là bánh mỏng soi lên được, bóc từng cánh, ăn với giò lụa chấm nước mắm cà cuống.

Làng ở các cửa cống và lạch nước rãnh, nước thải, ở Đại Từ, ở quanh Khâm Thiên, Ngã Tư Sở, cống Đõ làng Hồ cắm rau muống bè.

Nhà sành ăn chỉ chuộng rau muống sông Tô Lịch.

Luộc mềm, xanh nước, ra ống ra lá.

Làng Thụy bán quà sáng, quà trưa, bún ốc, bún chả, xôi vò chè đường...

Kẻ Nhót chuyên buôn thuốc lào bán lẻ các chợ, thành tên thuốc lào Nhót.

Đàn ông làng Thanh Nhàn xách hòm đi cắt tóc rong các phố.

Trại Thủ Lệ thầu giặt chăn đệm nhà Tây, trại lính, nhà thương.

Người Cổ Nhuế Hoàng làm hàng thầu may cắt quần áo nhà binh.

Đời sống thành phố cò con, có các ông Tây ăn trên ngồi trốc, còn thì, người ta bới bèo tìm bọ, sinh sống trên lưng nhau, nuôi lẫn nhau.

Đi ở, đi phu, đổi thùng, làm mướn, phụ bồi, phụ bếp, kéo xe, kéo quạt, cu-li san, làng nào cũng có người.

Đêm đêm, bốn phía trong cánh đồng trông lên thấy trời thành phố hửng sáng trong ánh đèn điện, thế là ban ngày lũ lượt người kéo vào.

Người vô công rồi nghề, người thất nghiệp đâu cũng nhan nhản.

Người ta thất thểu đi tìm việc qua đêm qua ngày.

Việc ở đâu, cái gì Tây cũng làm cả và từ bên Tây đem sang.

Tây moi hết tiền.

Cái nắp cống gang, ống nước bằng chì, lọ thủy tinh đựng thuốc, mảnh sắt xanh xanh đề số nhà, tên phố đều làm ở Pháp, có tàu thủy tải sang.

Cột đèn tròn, cột dây điện vuông ở góc phố, cũng đúc tận bên ấy.

Các hãng Tây buôn càng phát tài bán được nhiều thứ cho thuộc địa.

Cả đến hòn gạch, hòn ngói cũng đóng ở lò bên Mạc-xây.

Ngói gạch thời ấy thấy đề "làm tại Mạc-xây".

Mãi sau mới có nhà máy gạch Satic của chủ Tây đường Quan Thánh, rồi mới đến gạch Hưng Ký chủ ta.

Những ngôi nhà được làm từ giữa thế kỷ đổ về trước, cứ xem hòn gạch, hòn ngói, cái ống cống nước có in hiệu đều rõ tuổi công trình.

Cái nhà, bức tường, vòm cống, bờ hè viền xi măng hay viên đá xanh đều có thể đọc ở đấy ra cuộc đời và nhìn thấy tang thương Hà Nội.

Những bờ hè đầu tiên bọc vỉa đá xanh, thợ đẽo đá khiêng quảy ở núi Trầm, núi Thầy về.

Nay còn thấy cửa cống vỉa đá và đá lát hè ở đôi chỗ quãng giữa các phố Tràng Tiền, Hàng Khay, Ngô Quyền - trung tâm thành phố, nơi người Pháp ở đầu tiên.

Muốn biết rõ tuổi thọ ngôi nhà, ta trông dáng kiến trúc, hòn ngói, cái cửa sổ, hàng hiên với lan can, ở các phố Bà Triệu, Hàng Khay, đôi khi ngước lên còn nhìn thấy trên đầu tường hàng số ghi năm sinh của dinh cơ ấy: 1896, 1902, 1930...

Đừng ai nhầm những ngôi nhà mái cong tường dày, có dáng cổ kính ở đường Nguyễn Du, ở đầu trại Hàng Hoa, nhà "cô Bảo Đại" là những tòa ngang dãy dọc xưa cũ nhất thành phố.

Các nhà này còn quá non tuổi là đằng khác.

Ấy là khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra, hải quân Đức phong tỏa đường biển, Nhật đã đổ bộ lên Đông Dương, sắt thép bên Tây không tải sang được, các nhà thầu nảy ra sáng kiến làm nhà kiểu cổ.

Không tốn mấy xi măng, cốt sắt, vôi cát, các mái ngói và bờ tường dày bục bịch.

Lại hợp với phong trào "phục cổ" của Nhật!

Cách đây ít năm, lúc chập tối, một tầng trong ngõ Trần Nhân Tông cạnh hồ Thiền Quang bỗng sập xuống nguyên cả trần nhà.

Như cái bẫy chuột.

Hình như chết vùi mấy người.

Ngôi nhà ấy đã xây vào thời "phục cổ" này.

Trần nhà, đáng lẽ cốt thép, người ta đã làm bằng xi măng cốt tre.

Chúng tôi lặn lội đi tìm việc kiếm sống giữa đất Hà Nội nhốn nháo.

Có lúc bâng khuâng.

Có lúc chạy thục mạng.

Có lúc đứng lại cả buổi vẩn vơ ngắm tủ kính hàng vải vóc hiệu Tây Quăng, Tây Cú cuối Hàng Đường và gian hàng tạp hóa Tây Lùn mở số quay có thưởng ở chợ Hàng Da.

Có khi lên Bách Thảo cả ngày xem chuồng khỉ, chuồng hổ.

Không biết ông bà nào vừa hóm vừa vui tính đã đặt tên cho những người thất nghiệp là người "xỉa răng cọp".

Có khi lang thang suốt đêm nghe tiếng đồng hồ quả lắc, các nhà Hàng Đào, Hàng Ngang đánh chuông chen nối nhau đầu phố cuối phố.

Hàng đàn chuột chạy hai bên cống.

Một lúc, thấy hiện ra những bóng người đứng đập cửa chan chát, rồi tiếng gọi: Đổ thùng, đổ thùng.

Thật rõ, đấy là tiếng gọi cửa "đổ thùng, đổ thùng", phu đổi thùng xia của nhà thầu Năm Diệm đã đi làm.

Vừa đúng nửa đêm.

Trời sắp sáng, rồi trời sáng.

Quanh bờ hồ Gươm, trên chòm lá cây cọ châu Phi, những đàn sếu, đàn mòng két phương xa về đậu đen ngòm, cứt lướt thướt trắng xóa xuống.

Thi sĩ Thao Thao làm thơ "tám chữ" đã có câu tả "...ven hồ cứt trắng khô".

Trên bờ tường đá nhà pha Hỏa Lò nhô lên cái mặt đen nhoáng của người lính da đen bên đầu lưỡi lê sáng rợn.

Đã đến giờ đổi tan canh.

Năm trước, còn trông thấy cả đôi giày người lính gác bồng súng đi dạo trên mặt tường chăng dây điện cắm mảnh chai lởm chởm.

Bây giờ không thấy nữa.

Bức tường quanh nhà Hỏa Lò mới được xây cao thêm, có đến một thước, nay vẫn còn hằn cái ngấn xi măng và gờ đá.

Giữa Hà Nội quen thuộc quá mà phường phố thì thật xa lạ.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
6. Những ngày áp tết


Mỗi tháng có sáu phiên chợ Bưởi, ngày bốn và ngày chín.

Tôi vẫn nhớ đếm như thế từ khi biết đi chợ.

Lại rõ thêm chợ Bưởi có ba phiên chợ tết vào cuối tháng chạp: mười chín, hăm bốn, hăm chín.

Năm nào hăm chín bắt làm ba mươi, chợ cuối năm càng đông và tất bật.

Phiên chợ tết cũng gọi là phiên chợ trâu bò.

Bởi vì, cả năm, chỉ đến chợ tết, các làng làm ruộng trong vùng mới đem bò ra chợ bán.

Rồi lại nghe người ta nói mà biết nhận xét: chợ mười chín là chợ của người có tiền.

Ai sẵn tiền thì sắm tết sớm.

Phiên hăm bốn, chợ của mọi người ta thường thường.

Chợ hai mươi chín là chợ người nghèo.

Nhà nghèo chạy cái tết bở hơi tai, cho đến hôm tất niên mới mò được ra chợ mua miếng thịt lợn, nén hương, gọi là cho có tết nhất.

Vẫn nhớ những phiên tết chợ Bưởi như vậy.

Và nhớ thể nào tôi cũng có bánh pháo tép dài bằng gang tay.

Chốc chốc lại ra thúng hàng cụ Lựu mua miếng khế khô tẩm mật gừng về ngậm.

Thể nào u tôi cũng sắm cho tôi đôi guốc mộc mới.

Và, cái đầu tôi được cạo trọc lốc, trắng hếu, đầu mới để ăn tết.

Trẻ con cứ hí hửng cái tết bé bỏng như thế.

Nhưng lại cũng lây người lớn, biết lo buồn cái tết thật sự.

Bởi vì, những ngày áp tết, nhà tôi thường có người tới đòi nợ.

Cũng không có gì đáng ghê lắm.

Nhà tôi không đến nỗi có các du côn nặc nô khách nợ của phủ chuyên nghề đến đòi nợ thuê.

Không có tiền trả, khách nợ bắt đồ đạc, khuân bát hương đi.

Thật tình tôi cũng chỉ mới nghe nói về các chuyện lôi thôi ấy.

Mà chưa tận mắt trông thấy nặc nô đi đòi nợ hay khách nợ ăn vạ ở nhà con nợ.

Người đòi nợ nhà tôi khác.

Đây là ông phán Hàng Mã.

Ở phố, người ta cứ thấy ông ấy ngày ngày xách ô đi làm đều đặn, thế là gọi tôn ông lên là ông phán.

Chẳng biết có thật ông ấy làm ông tham ông phán không.

Tôi cũng đã kể về việc ấy một lần rồi.

Và ai cũng biết ông phán từ khi lấy người vợ hai là cô đầu, nhà càng ngày càng lục đục và khó khăn.

Bà tôi vay tiền ông phán Hàng Mã bao nhiêu, tôi không biết.

Cứ nghe lỏm những câu ông phán đòi nợ, kể lể và bà tôi khất nợ, tôi mang mang đoán biết là mẹ chú Phúc đã đứng ra "bầu chủ" cho bà tôi vay tiền.

Rồi bà tôi lần khần không trả được, hoặc chỉ trả lãi, đôi khi.

Ông phán đi đòi mãi, năm này sang năm khác.

Hình như vì lôi thôi thế mà rồi nhà tôi nhạt hẳn, không đi lại với nhà chú Phúc dưới Hàng Mã nữa.

Áp tết, năm nào ông phán cũng lên.

Cái khăn nhiễu tây, cái ô đen và tấm áo đoạn, khi đi giày tây, khi giày ta, chững chạc.

Có điều bao giờ tôi cũng chỉ thấy ông phán mặc độc bộ quần áo mồi ấy, mấy năm đã qua khăn đã sờn bạc, hai vai và lưng áo mồ hôi muối ăn ra, ngả màu nước dưa.

Và khuôn mặt ông nhợt nhạt chảy phệu xệ xuống đến nỗi mỗi lần gặp lại ông, tôi cứ ngờ ngợ đấy có phải ông phán Hàng Mã không.

Chỉ có một thói quen của ông phán thì vẫn thế.

Mỗi khi ông ho, ông lấy khăn mùi xoa ra, khạc rớt rãi vào đấy, gấp lại, rồi bỏ vào túi.

Về sau không thấy ông rút ra cái mùi xoa mà ông lấy mảnh nhật trình, ông ho rồi nhổ đờm vào giấy, rồi gấp lại, bỏ vào túi.

Có năm, ông phán lên sớm lắm.

Dễ ông đi chuyến tàu điện từ tinh mơ.

Chắc ông nghĩ lên sớm thì bà tôi thế nào cũng có nhà.

Tôi biết đấy là ông phán lên đòi nợ.

Biết thế tôi cứ vừa buồn, vừa xấu hổ, vừa sợ.

Tôi tránh đi, tôi lang thang lên chợ.

Phiên chợ tết đông hơn ngày chợ mọi khi.

Đi xem khắp hàng tranh, hàng bưởi bòng, chỗ bán trâu bò, đến trưa mới mò về.

Thế mà vẫn thấy ông phán ngồi ở ghế tràng kỷ.

Tôi chẳng nghe tiếng ông phán nói gì.

Có lẽ cả buổi ông đã nói to, ông đã quát tháo, bây giờ ông ngồi im.

Nhưng không phải cái tính ông phán hống hách thế.

Đôi khi, không vào dịp tết, ông phán chợt lên nhà tôi đòi nợ.

Cũng chỉ nghe ông thủ thỉ, nhỏ nhẹ.

Có hôm tôi trông thấy ông khóc, nước mắt ràn rụa trên khuôn mặt ủ ê.

Tôi không sợ ông phán nữa.

Mà tôi thương ông phán.

Còn bà tôi thì cứ ngồi trơ ra.

Ông phán hỏi câu nào nói câu ấy.

Bà tôi vốn lắm điều, hay nói, bà tôi nói xa xả cả ngày được.

Bà tôi xưa nay có tiếng là người đáo để.

Im lặng như thế là bà tôi thi gan với người ta.

Xem cái người đi đòi nợ ngồi dai được đến bao giờ nào.

Không có tiền, chẳng có đồng nào, trong nhà không có gì đáng nửa xu, làm gì nhau nào.

Là tôi cứ tưởng tượng ra vậy, chứ bà tôi cũng chẳng nói thế.

Bà tôi chỉ ngồi chịu chuyện nhát gừng.

Tôi đâm ra ghét bà tôi.

Một lúc sau, ông phán đứng dậy.

Ông phán nói:

- Cụ hẹn... cụ hẹn cho tôi một câu chắc chắn, sang giêng tôi lại lên vậy.

Bà tôi nói như phân trần:

- Ông trông nhà cửa thì ông biết.

Đến hôm nay mà đã hết cửi từ bao giờ rồi.

Tiền cọc thợ cửi, thợ hồ chẳng có, không biết sang năm xoay xỏa vào đâu.

Ông phán cũng chẳng nói thêm.

Ông phán bước ra.

- Sang giêng... sang giêng...

Hình như ông lại đương nói giở câu khác.

Bà tôi bấy giờ mới lấy trong thắt lưng ra mấy đồng xu dúi vào tay ông.

- Tôi gửi ông xuất tàu điện, ông cầm tạm vậy.

Năm sau, ông phán lại lên nhà tôi vào ngày áp tết.

Đến xẩm tối, còn thấy ông phán ở ghế tràng kỷ.

Bà tôi vẫn ngồi chịu chuyện.

Chủ nợ và con nợ ngồi im chẳng thấy ai nói ra sao với nhau cả.

Mà có gì để nói.

Đi đòi nợ, người ta không có, nhà chẳng có của nả đáng bắt nợ, mà ông phán cũng không phải người có lực đi bắt nợ.

Còn gì để nói đâu.

Bà tôi vẫn ngồi đây.

Cũng không ra vẻ người trây, người muốn vỗ nợ.

Bà tôi chỉ ngồi im, buồn thiu.

Ông phán đứng dậy, bước lừ đừ.

Bà tôi đi theo tiễn ông ra tận ngoài gốc đa đầu làng.

Ông phán bảo bà tôi:

- Cụ cho tôi xin một vé tàu điện.

Rồi ông ho sù sụ.

Tay ông lập cập, ông kín đáo nhổ đờm vào mảnh giấy báo, rồi gập lại, bỏ túi.

Giữa cảnh chợ chiều cuối năm, táo tác, vội vã, chợ búa như cướp giật.

Trước cửa đồn Bưởi, từng bọn các ông chức dịch làng Yên Thái bưng gà rượu, khăn áo súng sính.

Người làm việc các làng lên lễ tết quan đồn Tây khi vào cổng, đưa đồng hào phong bao giấy đỏ cho chú lính khố canh gác.

Mỗi năm các làng đều đi tết quan đồn cả tết tây tết ta.

Đưa đồ lễ chiều ba mươi, mai mùng một chỉ việc lịch sự nhẹ nhàng đến mừng tuổi "bông xua me xừ, bà đầm".

Rồi những năm sau, chẳng thấy ông phán Hàng Mã lên nhà tôi nữa.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
7. Đêm giao thừa


Con đường Thành - bây giờ là đường Hoàng Hoa Thám từ chợ Bưởi ra đến đầu trại Hàng Hoa chỉ khoảng hơn hai cây số.

Người các vùng ngoại ô phía Bưởi, Noi, Cáo đi làm ăn trong thành phố thường qua lại đường ấy.

Đường xa một chút, nhưng thảnh thơi, thoáng mát hơn đi đường dưới làng Thụy, dẫu cho đi đường dưới, đôi chỗ người cuốc bộ có thể nhảy trộm ngồi đuôi tàu điện được một quãng.

Nhưng đấy là trò nghịch của đám trẻ con ngoại ô ra học các trường Yên Phụ, trường Yên Thành thích chạy thi, đuổi nhau, trèo cây, bám đít toa tàu.

Chứ người lớn còn hơi sức đâu mà trèo leo.

Suốt ngày làm quần quật.

Cu li, gánh cát dưới bãi, phu hồ.

Thợ may, thợ mũ, thợ giày gù lưng, mài mắt xuống đầu gối.

Người vào phố đi làm về lác đác, lử khử, rũ rượi, âm thầm như những con cú bay đêm, con gà rù về chuồng.

Nhưng cứ vào chập tối thì chú Cát mới ra Kẻ Chợ, đi làm.

Cái đèn xe bốn mặt kính vuông giắt trong vạt áo nâu sau lưng, dưới cạp quần lá tọa.

Trông trước, trông sau, không thấy ai, chú đi nhanh xuống bờ sông.

Đấy là chú Cát đi kéo xe.

Cái việc ra Kẻ Chợ làm cu li kéo xe tay làng nước cho là xấu, bần cùng lắm mới phải cúi cổ làm con ngựa người như thế, nên người ta có ý giấu giếm.

Chú Cát không đi đằng đầu chợ.

Chú lội qua sông bãi trước cửa đình, tắt qua Đồng Vân.

Có hôm, ngược lên Cống Vị sang Quần Ngựa.

Len lén, cẩn thận, kín đáo.

Nhưng cả làng cũng chẳng lạ, cứ xẩm tối, chú Cát lại ra phố kéo xe.

Đi kéo xe đêm khó nhọc gấp mấy ban ngày.

Đôi khi mới được món khách bở ở cửa ga.

Nhưng mà kéo xe ban ngày thì ngượng, khổ thế.

Thế mà - cái sự đi kéo xe ban đêm, ở xóm tôi không mấy nhà có người lớn có sức mà lại chẳng đi, nhất là những năm hàng họ ế ẩm.

Còn bất cứ năm nào, vào những ngày áp tết, đêm ba mươi, đều có nhiều người ra Kẻ Chợ kéo xe kiếm cái tết.

Đêm ấy, hăm chín bắt làm ba mươi.

Mua lại cái xe kéo mấy giờ sắp giao thừa cũng bằng đi đánh bạc.

Được thì ăn cả, ngã thì bỏ bầm, nhưng biết sao.

Lúc nào người ta chẳng phải đánh bạc với trời.

Ở đầu chợ Bưởi cũng có hàng dãy xe đợi khách ghếch càng lên gốc cây me tây, đầu tường đồn.

Nhưng đấy là xe sắt, bánh gỗ, đi kêu lạch xạch.

Xe ngoại chỉ được phép kéo khách trên đường đá vào đến đầu ô.

Đêm áp tết, còn ma nào mò mẫm vào đầu ô, những chiếc xe sắt đỗ chổng đuôi, bỏ không.

Đường Thành đêm vắng hơn hẳn mọi khi.

Người thấp thoáng chập choạng.

Như con dơi ra bắt muỗi, rồi biến mất.

Nửa mái lá phên cũng là cái nhà, cái chỗ chui ra chui vào.

Phải vội về mà châm nén hương đêm ba mươi.

Gốc cây và mặt đường thăm thẳm, như chỉ có một mình chú Cát đi ngược lại.

Chú ra phố.

Chú Cát xuống đường Cổ Ngư giữa hồ Tây với hồ Trúc Bạch rồi rẽ trái, theo bờ tường dãy nhà in Ideo.

Các phố đã đóng cửa kín mít.

Ánh đèn le lói sau cánh cửa.

Chú Cát bước xăm xăm.

Chú Cát đến dốc Hàng Than, nơi mua lại giờ xe, vẫn chỗ mọi khi, bãi cỏ góc tường xế ngoài cổng nhà máy điện Yên Phụ.

Trong bóng tối run rẩy rét mướt đã lù lù mấy người bó gối ngồi.

Một cái xe tay đến đỗ chổng vộc.

Ánh lửa lom đom, mấy mảnh giấy, cành củi, đống bã mía đốt lên sưởi và để người ta lấy cái nòm hút thuốc lào vặt.

Chỗ này là nơi hẹn của những người mua đi bán lại giờ xe kéo.

Ai không đủ tiền thuê nhà chủ một ngày xe thì đến đây mua lại giờ của người khác.

Lúc hết giờ, người thuê lại dắt xe về trả, phải rút túi đưa cai xe một hào, lão mới chịu nhận cho.

Chẳng có lão dọa điệu ra bóp, lu loa: "Thằng này ăn cướp xe vừa mới bị tóm".

Chú Cát đã thuê lại được một cái xe.

Trụt chiếc quần cháo lòng và cái mền khố tải đụp khoác vai nhét vào thùng, chú thay bộ quần áo cu li xanh nhợt, chui vào một hàng xe, cung cúc kéo xe chạy ngay.

Năm hết tết đến, phải đuổi từng phút.

Những giờ cuối cùng trong một năm, phố xá vắng ngắt.

Chuyến tàu điện chạy vét đã dồn toa về nhà chứa trên Thụy Khuê, bến Hà Đông xe hàng và xe điện Bờ Hồ, chẳng còn một mống người.

Đến ngày thường cũng không có ô tô hàng chạy đêm, nói gì đêm nay.

Chỉ ra đến đầu ô hay sang bên kia cầu Đu Me, nhá nhem tối đã bị chịt cổ rồi.

Còn chuyến tàu hỏa ở Phòng và chuyến dưới Nam lên.

Nhưng chú Cát cũng không dám lảng vảng đến đón khách trước ga Hàng Cỏ, đất làm ăn của bọn xe kéo đã thuộc mặt.

Xe nào lạ lớ quớ tới, du côn xông ra đánh gãy tay xe, chạy hộc máu không kịp.

Đi kéo xe ngoài phố phải thuộc các phép tắc nghề nghiệp và thông thổ như thế.

Nhưng cũng lại phải biết khôn lỏi thì mới kiếm được.

Chú Cát không vào cửa ga, mà lượn lờ đón lõng các ngõ quanh ga.

Từ nãy, chú Cát đã chộp được hai đám khách, làm hai cuốc ngắn.

Đêm ba mươi, khách cũng tất tả, lật đật, chẳng còn giá cả ra thế nào.

Cu li tha hồ bóp.

Chỉ khi thoáng thấy xe khác xộc đến, sợ mất khách, bấy giờ mới chịu hót người ta lên xe đi ngay.

Có thể đã đủ tiền mua lại giờ xe, tiền đút cho cai, còn dư được sáu hào rồi.

Chú Cát thong thả bước một.

Lúc chiều, ra đầu làng gặp lão Thiện mặt rượu đỏ lựng, dù sao cũng là ra ngõ gặp trai, mới được may thế.

Chú Cát dắt xe một tay, lững thững.

Từ giờ tới giao thừa, một cuốc, hai cuốc tất niên, còn kiếm nữa, chưa biết chừng.

Chú Cát bước đều đều, cằm tựa càng xe, gà gà mắt.

Qua mấy cái nhà săm.

Những nhà săm, bảng và đèn vàng hoe bốn chữ "có phòng cho thuê" hay đặt tên đệm chữ "Lợi" đằng sau.

Săm Đồng Lợi, cửa ga Hàng Cỏ, săm Đại Lợi, Sinh Lợi, Tiến Lợi cạnh vườn Bách Thảo.

Ở nơi kín đáo, ra vào khuất mắt.

Nhưng khi nào ai giờ này còn đi chơi nhà thổ tất niên cho bị xúi quẩy, mà lượn lờ cửa các nhà săm làm gì.

Chú Cát chợt nghĩ ra.

Giữa phố Hàng Đẫy im vắng.

Tai mình lại nghe thấy tiếng chân mình bước và tiếng bánh cao su rào rạo mặt nhựa sạn cát.

Mỗi lần qua dưới một cột đèn, cái mui xe và hai đầu càng lênh nghênh rụt bóng lại rồi lại dài bóng ra.

- Ê!

Chú Cát ngoảnh lại.

Một người đội hay lính chưa rõ, nhưng mũi lõ, ria rậm hẳn hoi, đứng trên bờ hè.

Chắc thằng Tây này vừa chơi ở nhà săm đầu phố Sinh Từ ra.

Chú Cát hạ càng xe.

Áo thằng Tây có cái lon mờ chắc là cai, là ách chi đó.

Lão ách gieo lưng xuống đệm, tựa đánh huỵch một cái, chú Cát lom khom nhấc càng.

Lão ách trỏ tay phía vườn hoa Canh Nông.

Chắc lão muốn về trong thành.

Thằng ách này béo ục ịch nặng đến quá tạ.

Chú Cát kéo thong thả.

Nhưng lão lại giục tiếng ta lơ lớ: "Mao lên... mao lên... cu li...".

Chú Cát cất càng xe, bước nhanh nhanh.

Đã sang đến các phố Tây thanh vắng.

Thấp thoáng cửa sổ trong tường hoa lung linh ánh đèn.

Những phố sang trọng, chẳng phải tết nhất, quanh năm đèn vẫn rực rỡ thế.

Sau lưng chú Cát, không rõ tiếng ngáy khò khò hay tiếng thở, lão ách say rượu hay lão ngủ.

Trong vườn hoa Canh Nông, cái gò pho tượng "sĩ nông công thương" lù lù như đống rạ, trông rõ chiếc sừng trâu đen xì nghênh ra.

Bỗng tiếng giày săng đá nện thình thịch xuống sàn xe.

Chú Cát hãm tay xe.

Lão Tây bước xuống, loạng choạng.

Phải biết cách đối phó với bọn Tây say.

Nhưng không ngửi thấy mùi rượu.

Lão ách này hay không say, hay lão sâu rượu này đã say lịm trơ ra thế cũng nên.

Lão ách bỗng đặt bàn tay thô lố lên vai chú Cát.

Lão cao lênh khênh, hơn hẳn chú Cát một cái đầu.

Nhanh như cắt, chú Cát bị nắm vai đẩy vào gốc cây bóng tối trước mặt.

Gót giày lão đạp tụt cái quần chú xuống.

Chú Cát đã hiểu thằng Tây này định làm gì.

Hì hục xong rồi, lão ách vểnh râu ria, ném cho chú Cát một đồng ván (hai hào).

Rồi lại ngồi lên xe như ban nãy.

Chú Cát buộc túm cái quần lá tọa, lại bước vào càng, nhấc xe.

Chú cũng chẳng kịp nghĩ chú đương bị đau chân hay đau rát cả đít.

Có thêm hai hào.

Chỉ tởm một tý.

Thế là được gần đồng bạc.

Chú mừng, khấp khởi.

Cái tết chắc giắt cạp quần rồi.

Qua tháng giêng năm ấy, chú Cát ốm suốt tháng hai.

Không ai biết chú bị bệnh gì.

Người cứ trương lên, chỗ nào cũng đau, đít lở loét, tanh hôi không ai dám đến gần.

Chú thảm thiết kêu rống suốt đêm.

Đến hôm chú hấp hối, chú nói, xóm giềng mới hay đêm ba mươi chú bị thằng Tây đổ bệnh tim la (1) .

Xưa nay vẫn nghe nói Tây hay đổ tim la cho trâu, bây giờ tận mắt thấy nó hại cả người ta.

(1) Bệnh lậu
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
8. Làm ma khô


Tự dưng, một hôm nghe tiếng kèn đám ma tò tí te, tò tí te inh ỏi ở nhà bác đĩ Hiền.

Chẳng mấy lúc, bọn trẻ trong xóm đã chạy cả đến.

Rồi, cũng như ở các đám ma, đám cưới, đám việc hàng giáp trong xóm, trẻ con nhà xa nhà gần tới chầu chực lê la suốt ngày ở nhà có cỗ.

Chặp tối, có thui bò.

Thích nhất được xem thui bò, xem mổ lợn.

Tranh nhau huých nhau xin cái bong bóng lợn.

Thui bò thì cướp cho được cái sừng.

Đứa nào nhanh tay, có thể đập gậy gỡ sừng, khi con bò vừa được thui chín.

Thui bò buổi tối vui ghê.

Lửa rơm vàng rực, từng nạm than đỏ hồng.

Mùa rét đứng xem như sưởi ấm quanh đám lửa cháy to.

Cái gì mà nhà đĩ Hiền lại thui bò làm cỗ to thế?

Phải nhà có của, phải có việc đám cưới, đám ma, đám khao vọng, mua trương, mua trùm, đám thứ thế nào người ta mới tậu bò về chè chén linh đình.

Nhà có giỗ, cũng chỉ thịt gà, thịt sỏ hay mổ lợn đã là dinh dược rồi.

Bác đĩ Hiền chẳng phải nhà giàu mà lại dám mổ bò.

Hỏi ra mới biết bác đĩ làm ma khô rửa mặt cho bố.

Ngày trước (từ bao giở bao giờ ấy) bố bác Hiền đi phu làm đường trên Thái Nguyên.

Chẳng may, ốm ngã nước rồi chết.

Cũng không biết được bố bác đã chết ngày tháng nào, người ta chôn rấp rúi ở đâu.

Mấy lâu nay, nhà bác đĩ Hiền chỉ biết cúng giỗ vào cái ngày bố bước chân ra đi.

Chết đường là một nỗi đau, một điều khốn khổ, lại chết mất xác thì phải tiếng để đời với làng nước, với bao nhiêu âm thầm cực nhục không thể nào nói xiết.

Chỉ riêng việc xưa nay trong họ ngoài làng, nhà nào có cha già mẹ héo mà nhà mình đã đi phúng viếng, hào bạc hay chai rượu, bao hương, bao nến.

Không phải lệ làng, không có khoản khoán hương ước mà đâm trói buộc nặng nề, không có không được.

Nhà bác đĩ Hiền chạy ăn từng bữa chưa xong.

Mà vẫn phải đi mừng rỡ, phúng viếng những nhà người.

Ông bố chết đường, đã thảm hại, mà ở nhà lại mất hết, bởi vì xưa nay đi mừng đi phúng tốn kém đến điều rồi thế là từ rày không biết tính được nhà ai có dịp đền bù đáp lại nhà mình vào đâu.

Chỉ có lo cái ma khô mới rửa được tiếng và mới có cớ trả nợ miệng đòi nợ miệng.

Bác đĩ Hiền đã tính, đã lo dần như thế từ lâu rồi.

Sắm sửa, vay mượn, cầm bán, nhặt nhạnh và mượn mâm bát, dao thớt, nồi chảo nhà ai, đánh dấu vôi cẩn thận.

Chẳng hiểu sao, đám ma khô cũng khác, nhà có việc hiếu mà sạch sẽ như không.

Mùi hương đen hương vòng thơm tràn lan không cảm thấy nặng nề như mùi hương ở nhà đám lù lù chiếc quan tài giữa nhà.

Có đến hai ba ngày nhộn nhịp.

Gần khắp làng kéo đến ăn cỗ nhà bác đĩ Hiền.

Có người chỉ cầm đến thẻ hương.

Rồi đứng ngoài đầu ngõ, đợi người trong nhà ra.

Nhà có việc đã biết hiệu, một người xách chai rượu ra, thu thu trong vạt áo, nhận hai hào bạc rồi đưa cho người đến phúng đàng hoàng đem chai rượu và thẻ hương vào.

Ai phúng, phúng bao nhiêu, bác đĩ Hiền đã nhờ người ghi sổ cả.

Trên bàn thờ, đèn nến sáng trưng.

Tấm màn xô và cái gậy tre với vòng rơm đội đầu trên dải khăn sô của chú Hai đi làm ăn xa, tận sở cao su Đất Đỏ trong Sà Goòng, không về được.

Tuy không có cái quan tài kê ngang gian giữa nhà, cũng ra vẻ đám ma.

Bác đĩ Hiền chít khăn ngang đứng một bên cột, tay chống gậy, tay che lên miệng.

Ai vào viếng bác cũng hì hục lễ đáp.

Ai khóc, bác đĩ gái và mấy bà trong họ khóc theo, khóc đáp lễ.

Trong khi khắp nhà, ăn uống rào rào.

Trời nắng hanh khô ráo.

Khách đông, những mâm rượu phải bày cả ngoài sân, cạnh hàng đóng cỗ.

Chập tối, có họ bên bác gái ở làng dưới lên.

Mỗi gian treo một chiếc đèn ba dây.

Gian trong đã bày ra đĩa mỗi chiếu một cỗ tổ tôm.

Các ông phường kèn già nam ăn cỗ giã đám ra về lúc chập tối.

Đêm qua, phường kèn ỉ eo thổi bài làm "chim kêu, gà gáy" đến khuya, khéo quá.

Tiền công, phần biếu, miếng thịt, đấu xôi, chục cau của mỗi ông đánh trống, ông kéo nhị, ông thổi kèn, đâu đấy đều có gói bọc đủ cả.

Đêm thứ hai vẫn còn những chiếu tổ tôm khắp ba gian và ngoài hiên rộng, thêm một đám xóc đĩa.

Người nhà lại sắp xếp cỗ vét, dưới bếp đã bắc nồi ba mươi cháo ăn khuya.

Ai cũng nói mệt quá, buồn ngủ quá, gào khóc cả mấy hôm rồi khản cả cổ, nhưng chẳng chịu ngồi một chỗ, người nào cũng lăng xăng ra vào, và lúc nào cũng thấy những mặt rượu ngà ngà.

Thế là bác đĩ Hiền rửa được tiếng.

Dưới suối Vàng hay ở Âm phủ, ông bố chết dường như cũng được ngậm cười.

Vợ chồng bác đĩ Hiền đánh thư vào Đất Đỏ cho chú Hai biết ở nhà anh chị đã lo được "cái ma khô cho thầy".

Nhưng đợi mãi, chẳng thấy măng đa tiền chú ấy gửi về.

Mấy năm sau, thế nào mà cả hai vợ chồng bác đĩ Hiền cũng đi phu, cái công việc mà làng xóm sợ nhất, chỉ khốn cùng lắm mới tính đến nước cuối ấy là đi phu cao su.

Nhưng, không vào cao su Đất Đỏ, mà họ đi phu mộ sang tận Tân Thế Giới.

Cái nhà đã cầm đoạn mại rồi bán đứt.

Không biết có phải vì làm ma khô cho bố chẳng thu lại được vốn, như vợ chồng bác đã chắc mẩm.

Thế là cả nhà bác đĩ Hiền ra đi chẳng bao giờ về nữa.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
9. Xem phim


Sau năm 1954, có một dạo nhà văn Nguyễn Công Hoan dọn về ở làng Võng Thị.

Anh thành người vùng tôi.

Tôi mừng như thấy anh trở về quê - anh chẳng biết vùng tôi bao giờ.

Chỉ vì tình cờ, anh mua lại được cái nhà có vườn rộng trong Võng, áp bên hồ Tây.

Chúng tôi thường rủ nhau đi la cà các nơi.

Anh thuộc nhiều xó xỉnh, chẳng kém tôi.

Tôi lấy làm lạ.

Bấy giờ anh mới lộ bí mật là ngày trước anh đã thường về chơi đây.

Tôi càng lấy làm lạ:

- Anh về nhà ai?

Anh bảo:

- Về nhà cô Lý Liên.

- Ồ, cô Lý Liên là dì Phương tôi đấy mà.

Ông thông Tước hồi ấy ở Sài Gòn ra và làm cái nhà lá ba gian bên kia ao đình.

Tôi chịu nhà văn viết cốt truyện lắm cái bất ngờ mà cuộc đời lại còn ly kỳ cả trong những chuyện giăng tơ.

Cái khi anh lên nhà cô Lý Liên chơi, có lẽ tôi còn ở tuổi chơi bi, đánh đáo đầu đình.

Thảo nào, anh đã quen thuộc vùng này.

Đến cả việc phim Kim Vân Kiều ngày trước làm ngoại cảnh chỗ nào ở vùng Bưởi thì anh cũng biết, nhưng không thể biết kỹ bằng tôi.

Một hôm chúng tôi đợi tàu điện ở cửa đình Thọ.

Tôi kể với anh lần đầu tiên tôi được xem xi-la-ma phim Kim Vân Kiều, phim câm, ở sân đình Thọ.

Anh Nguyễn Công Hoan kể tên những người đóng phim ấy là đào kép tuồng rạp Quảng Lạc, anh quen.

Cái vai Thúy Kiều trong phim mặt tròn vành vạnh, làm cho từ bấy tới nay, cứ nghĩ đến cô Kiều "khuôn trăng đầy đặn" thì tôi lại hình dung ra cô Kiều mặt tròn.

Ngày ấy phim còn câm và chưa gọi là xem phim, mà là xem xi-la-ma, xem chớp bóng, chớp ảnh và trên báo viết nghệ thuật điện ảnh, nghệ thuật màn ảnh, màn bạc, kịch bóng.

Buổi tối, ở sân đình làng Thọ, đi xem phim Kim Vân Kiều không mất tiền.

Người các làng đến đứng đông như nêm.

Tôi phải trèo lên trên cái vè rễ cây đại cổ thụ mới nghển cổ nhìn được.

Cứ chốc chốc, xung quanh hét ầm ầm.

- Kìa kìa, trong ảnh có tha ma làng Cả.

- Ô này cổng Xanh làng Thọ.

- Chùa Láng nữa kia, chùa Láng...

Người cứ reo ầm lên, tôi mới bắt đầu nhận ra.

Cái đoạn chị em Thúy Vân, Thúy Kiều đi tảo mộ đến khóc ở mộ Đạm Tiên rồi gặp Kim Trọng.

Vùng trời nước nơi hoang sơ "sè sè nắm đất bên đường" là tha ma làng Yên Thái, làng Thọ, làng Đông quanh miếu Đồng Cổ bên những vạc nấu dó bờ sông Tô Lịch của người dưới Đại Từ.

Chị em cô Kiều thướt tha quanh những ngôi mộ mới, đất đắp còn vuông góc, lở tở và những cây dứa tây lá to như lá náng.

Chỗ này, khi mùa đông tới, chúng tôi hay đi khều bắt châu chấu tránh rét trong các khe lá dứa.

Xa xa, lại mồ mả gồ ghề, nhấp nhô dưới những cây dứa dại...

Cái cổng Xanh làng Thọ ở ngay sau lưng chỗ sân đình đương xem chớp bóng.

Tường cổng xây gạch vồ, ba bậc đá xanh bước lên.

Có lẽ vì những tảng đá xanh ấy mà thành tên cổng.

Lên khỏi bậc, đã vào đường xóm nhà bạn văn Vũ Trọng Can.

Trong phim Kim Vân Kiều, cái cổng Xanh là cửa vào lầu xanh nhà mụ Tú Bà.

Tú Bà đứng trên thềm đá giơ tay xuống dắt Thúy Kiều.

Nhưng qua bậc đá cổng Xanh, vào đến trong lầu, đã sang cảnh trí trong nhà Tú Bà.

Đèn lồng, trên hương án thờ thần Bạch Mi - thần lông mày trắng chúa nhà thổ, ông thần như con hổ trắng ngồi trong bức tranh thờ.

Cảnh doanh trại Từ Hải là chùa Láng thì tôi nhận ra ngay.

Mùng sáu tết năm nào hội chùa, chúng tôi cũng nhởn nhơ đi chơi chùa Láng.

Sân chùa, tường hoa thấp bao quanh.

Cây muỗm, cây thông cổ thụ dọc đường từ tam quan vào sân chùa.

Dinh Từ Hải là đấy.

Ông Từ Hải ăn mặc giống các ông tướng rạp Quảng Lạc.

Ông Từ Hải bước ra, râu ria đen ngòm, áo giáp, mũ trụ, lưng cắm cờ, chân đi hia, oai vệ ngồi giữa sân cạnh nhà bát giác, đương nâng cái chén gỗ vào tiệc, có nàng Kiều bên cạnh chuốc rượu.

Tôi lại được xem phim câm Sự tích bà Đế ở sân đình Thọ cũng xem thí không mất tiền.

Rồi mấy năm chẳng được xem phim, vì không thấy người ta đem về chiếu nữa.

Rạp ngoài phố thì xa, cả năm cũng chẳng ai đi.

Vả lại ngồi trong rạp thì mất tiền vé, không phải xem thí.

Người ta chẳng thiết.

Lâu lắm, có người mách tối thứ bảy ở bãi Quần Ngựa có phim.

Hôm sau chủ nhật thi ngựa, đêm thứ bảy, trong nhà Quần Ngựa có nhảy đầm và chớp bóng.

Màn ảnh là cái phông vải trắng cắm đầu bãi cỏ.

Ngoài cổng vào Quần Ngựa đỗ ràn rạt xe ô tô có đội xếp canh gác.

Người các làng xung quanh mót xem chớp bóng quá, kéo đến đông nghịt.

Nhưng đội xếp không cho vào, người phải đứng bu cả lại ngoài bờ rào.

Sân cỏ Quần Ngựa cách đường cái một hàng rào dây bìm leo cọc sắt và một dãy cây găng tây.

Thế là mấy bọn ra chui vào giữa rào, ngồi lố nhố dưới gốc găng.

Tối om, đội xếp không thể trông thấy.

Cái phông chiếu phim quay ra phía đám tiệc đèn điện như sao sa trong kia.

Ngồi đằng sau thế này nhìn vào lưng tấm vải trắng, vẫn xem được.

Chỉ phải cái mọi thứ đều lộn ngược, còn thì tất cả cứ rõ mồn một.

Toàn bóng tây đầm lố nhố, không biết phim gì mà cũng thích, xem đến khuya.

Mà gió mát mẻ hây hẩy ngoài bãi rộng thổi vào, chẳng khác quạt điện trong kia.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
10. Chết đói


Mỗi khi chợt nghĩ lại, tôi vẫn bàng hoàng về những năm khủng khiếp ấy.

Hình như bỗng một hôm ai vét đi hết sạch gạo.

Người ta chạy quanh, nháo nhác rồi chết đói cả một vùng.

Những làng giấy, làng lĩnh lụa, cả đời nước sông gạo chợ, hàng họ bán ra sao cho lại với hạt gạo.

Rồi cả đến gạo giá cắt cổ cũng không thấy mặt hạt nào đâu nữa.

Không còn là thóc cao gạo kém, mà không có gạo, chợ không có gạo, hết gạo.

Chỉ tháng trước, tháng sau, những lớp học truyền bá quốc ngữ buổi tối đã vãn hẳn.

Học trò "truyền bá" toàn thợ seo, thợ cửi đói gầy rạc đã bỏ đi đâu hay chết đâu.

Lại thêm người đói các nơi ùn tới.

Trong đầu chợ, nhan nhản người đem bán trẻ con.

Ở làng tôi, người quảy trẻ con sang bán ở các chợ bên kia sông Hồng.

Có người chuyên đi buôn trẻ con, như thời thường mua bán gà lợn.

Nhưng đâu bây giờ cũng hết cái ăn, ai còn mua trẻ con làm gì.

Bắt đi lắm khi lại dắt về.

Khốn khổ.

Đêm đêm, các làng quanh chợ, các anh Liêm, anh Đại ở Yên Thái, bác Bảy Nền ở làng Tân, nhiều người phải đi rà rà ngăn không cho người đói vào chết địa phận làng mình.

Thấy xác người chết, lập tức khiêng quẳng ra nơi khác.

Nói bao nhiêu về cảnh đói 1944-1945 cũng vẫn chưa thấm.

Chữ nghĩa tôi run rẩy, thổi bay được.

Khủng khiếp quá.

Tôi chỉ ghi lại về những anh em bà con quanh tôi chết đói năm ấy.

Như thắp nén hương tưởng nhớ các oan hồn.

Thằng Tây vẽ vời ra những cảnh đau lòng thật oái ăm.

Bên này đường Thành, ven hồ Tây, các làng thuộc phủ Hoài Đức ngày trước - bây giờ là huyện Từ Liêm, rộng ra cả tỉnh Hà Đông, và khắp các vùng đồng bằng, người chết đói như rạ.

Nhưng mấy làng ven nội bấy giờ thuộc đại lý Hoàn Long (hiện nay phần nhiều ở quận Đống Đa) và trong thành phố chỉ bị khiếp đảm xanh mắt về nạn đói, chưa đến nỗi phải chết.

Người Pháp che đậy, giữ tươi tỉnh bộ mặt phố xá, nên trong Hà Nội được đong gạo bông (1).

Tuy được mua gạo có ngữ, nhưng chẳng biết cái đói còn triền miên đến bao giờ, cũng không ai dám ăn no.

Bữa cơm, bữa cháo, rồi chỉ ăn cháo.

Càng phấp phỏng, càng hoảng hốt khi trông thấy lũ lượt người đói các nơi kéo vào.

Đội xếp chỉ còn có việc đánh đuổi người đói ra khỏi thành phố.

Sau đảo chính mùng chín tháng ba, lính Nhật đi đẩy người đói không xuể.

Người ngồi, người chết la liệt các vỉa hè.

Suốt ngày suốt đêm xe kéo xác chết lầm lũi qua.

(1) Bông (tiếng Pháp: bon) là cái phiếu

Vùng tôi bị xẻ làm đôi, bên này đường Thành, ba làng Yên Thái với những làng Hồ, làng Thụy được đong gạo bông cầm hơi.

Còn từ làng tôi vào vùng Noi, Cáo, Canh, Thìa... chỉ còn biết bới đất lật cỏ.

Nhà bác khán Lợi càng khó.

Thằng Tiếp đã ốm chết từ năm trước.

Vợ kế bác Khán đem hai đứa con lên làng Cả đi seo kiếm bữa.

Bác Khán cũng lên đấy, cứ trần lực đủ mọi việc.

Đạp bìa, đạp lề, vớt dó, dậm bìa, quảy nước, kéo tàu...

Nhưng thời buổi khó khăn cũng chỉ có việc buổi đực, buổi cái.

Người cứ vêu vao phờ ra.

Cái Lợi đã lấy chồng.

Gặp cơn tao đói, vợ chồng còn son rỗi mà không ai cưu mang nổi ai, đành mỗi người kiếm ăn mỗi nơi.

Lợi lại trở về nhà bác Khán.

Lúc mới về còn có khi lên đứng đón seo đầu làng Đông, làng Thọ.

Nhưng rồi đợi cả buổi cũng không ma nào đến giam cho đồng xu hẹn vào tàu hôm ấy.

Không có cái ăn, người nhợt nhạt, bủng beo ra.

Đôi khi bác Khán tạt về nhà.

Bố con trông thấy nhau, rơi nước mắt, ngoảnh đi.

Rồi Lợi chết ở đâu, không biết.

Những người đói đến lúc cảm thấy mình sắp chết thường lủi đi, nằm xuống chốn bơ vơ, chẳng muốn ai nhìn thấy.

Anh hai Bủng thợ mũ hoạt động ái hữu hồi bình dân cũng bị đói rồi chết đường.

Anh Bủng con ông đôi Ngôn ở xóm Trẽ.

Làm thợ mũ ở ngoài phố, sớm đi tối về.

Vợ anh ngày ngày quảy gánh trầu vỏ lên chợ.

Cứ trông cơ ngơi nhà anh, khi Tết đến mà trên người anh và thằng con chỉ được cái mũ lộn vải lợp lại, đủ biết nhà anh thế nào.

Trong khi, ở bờ rào râm bụt trước cửa, bảy ngày Tết ồn ào đám quay thò lò ông Thiện.

Lúc nào thua đậm, hai vành tai ông Thiện đỏ ửng như cái mặt tráp úp con thò lò.

Nhà ngay đấy mà ông cháu đôi Ngôn không có tiền, chẳng biết mặt lục, mặt tam con thò lò bao giờ.

Anh Bủng tham gia phong trào ái hữu ngoài phố.

Anh đã giác ngộ được nhiều anh em trong xóm.

Năm trước, anh Tĩnh còn sống, chúng tôi định viết lại truyện phong trào cách mạng vùng tôi, một vùng nghề thủ công ngoại thành, đã hoạt động mạnh thời kỳ thành phố chuẩn bị Tổng Khởi Nghĩa.

Anh Tĩnh đã ghi lại về anh Bủng, làm tài liệu cho tôi: "Ở trong xóm, nhà tôi gần nhà chú ba Nhậm, cách một cái ao và một nhà nữa thì đến nhà chú Bủng.

Chú Bủng là chú họ tôi.

Chú Bủng được chị gái lấy chồng ở Hà Nội có cửa hiệu làm mũ.

Chú Bủng được ra nhà chị gái học làm nghề mũ.

Mấy năm sau chú lấy vợ và thường về làng.

Chủ nhật nào chú cũng về nhà chú ba Nhậm đánh cờ và nói chuyện Hà Nội, nói chuyện thợ thuyền, nói chuyện ái hữu, nói chuyện nghiệp đoàn đấu tranh đòi quyền lợi.

Tôi đọc sách báo chú đưa và chú bảo tôi tuyên truyền người khác nữa.

Thế là tôi tuyên truyền Thường Đen, Cận, Năm Nghi, Tình, Tuất, Trương Sồ...

Chú Bủng lại bảo tôi: thằng Điều, thằng Sen cũng hoạt động lắm, liên lạc với chúng nó nữa.

Từ đấy, phong trào phát triển mạnh".

Ngoài thành phố hết việc.

Anh Bủng đi làm ngoài ấy, nhưng anh vẫn lấy thẻ thân ở làng, cho nên chẳng may không là người Kẻ Chợ, không được đong gạo bông.

Vì làng tôi thuộc tỉnh Hà Đông.

Mới hôm nào, anh Bủng khỏe mạnh hẳn hoi mà bây giờ xanh rớt.

Người vốn gầy, cao lêu đêu, cứ rạc đi như cái que.

Vào nhà tôi, hai bàn chân anh đã nề to ra, không bước lên nổi thềm đá bậc cửa.

Anh em đã cố góp nhau giúp anh, có lần tiền, có lần gạo, nhưng cũng chỉ được đôi ba lần.

Đói dài cả năm, cả tháng, làm sao cứu được nhau.

Rồi cả nhà anh Bủng bỏ đi lang thang.

Tôi vẫn nhớ cái cổ cò lộ hầu, đôi mắt tinh nhanh khi anh nói, khác hai con mắt anh lờ đờ những ngày đói.

Giữa năm phong trào cứu quốc sôi sục, quyết liệt trong nạn đói, rồi cách mạng thành công, cũng không ai gặp anh.

Chắc anh Bủng chết đã lâu rồi.

Thằng Hiền bằng tuổi tôi.

Nó là con đầu, nhưng là con nuôi.

Một nhà trên làng Cả, đông con, đi xem bói.

Thầy bói nói phải cho đận con ấy đi làm đầu con nuôi người ta, nó mới sống được.

Hiền được cho làm con nuôi nhà bác kép Niêm hiếm hoi.

Nhà bác kép Niêm mới có một gái đầu lòng.

Chưa có con trai, Hiền vẫn là anh "chống gậy".

Nhưng rồi hai bác ấy sinh được con trai, cu Hiếu.

Nhà bác kép Niêm vốn có nếp nhà quý hiếm con, vẫn coi Hiền như con trưởng.

Hiền đã biết nghề giấy, đi làm có tiền.

Một năm, bố mẹ nuôi lấy vợ cho Hiền.

Xảy nạn đói đến, ác liệt quá.

Hiền phải lê la kiếm miếng trên chợ, trông đã tã lắm, ngụp đến nơi rồi.

Hiền ngồi một chỗ, đầu rũ xuống, thở khừ khừ như con mèo ốm.

Khó lòng nhận ra đấy là thằng Hiền mọi khi quảy nước tàu seo chạy huỳnh huỵch.

Có người kể: từ hôm Hiền vào chỗ chợ hàng chuối cửa đình Yên Thái cướp nải chuối, người ta phang đòn ống gãy chân, Hiền không đi được, mới nên nỗi thế.

Vinh là con nhà dì Tài tôi.

Năm ấy, khoảng mười ba, mười bốn tuổi.

Hai mẹ con ở nhà ông bà ngoại, nhưng ăn riêng.

Có gì mà ăn lúc này!

Chân tay nó khẳng khiu, xám ngắt, tôi có thể đoán cái đói bằng con mắt Vinh.

Mắt Vinh cứ xanh dần lên.

Có hôm mắt nó xanh lét như mắt mèo.

Đói xanh mắt - có thế thật.

Các cụ ngày trước đã ví chẳng sai.

Nhưng may sao, Vinh vẫn thoi thóp. (Rồi khi cách mạng thành công, tôi đem Vinh ra Hà Nội xin làm thợ chữ nhà in báo Cứu Quốc).

Mọi người trong nhà cũng đã đói rã ra.

Năm ấy, Nam Cao lên ở với tôi.

Viết truyện kiếm thêm, năm thoảng ba thì mới được cầm đồng tiền.

Nam Cao dạy mấy đứa cháu anh Khôi tôi ở làng trên.

Anh Khôi đã ý tứ trả công thầy bằng gạo.

Phỏng thử chẳng có những xó gạo ấy, không biết chúng tôi có mắt xanh lè giống thằng Vinh hay giống dì Tư không, hay còn thế nào nữa.

Dì Tư tôi đã luống tuổi.

Dì thật hiền, dì hay cười.

Người thạo xem tướng ắt bảo ai lúc nào cũng tươi tỉnh thế, được nhàn và sung sướng.

Chẳng thấy dì tôi được nhàn, được sướng ở đâu.

Cả dạo đói, dì Tư ăn khô dầu.

Khô dầu nuốt vào trương bụng lên, đã vài hôm, bụng vẫn ành ạch.

Phân bón khô dầu xưa nay vẫn bán ở các hàng dầu hỏa, hàng thuốc lào.

Khô dầu, từng bánh xám xịt, rắn như đá.

Khô dầu để bón vườn ruộng nhưng thấy nói là bánh, bánh khô dầu, bánh thì chắc ăn được, bây giờ nhiều người ăn.

Nhưng dì Tư cũng sống ốm o được tới ngày lại trông thấy mặt hạt gạo.

Rồi dì Tư tản cư lên huyện Cẩm Khê trên Phú Thọ, khi Tây trở lại chiếm Hà Nội.

Cả chú dì Tư tôi đều bị sốt rét, mất ở Cẩm Khê.

Tôi vẫn nghe cái đói và những bánh khô dầu bón ruộng có thể còn để lại trong người dì Tư đủ thứ bệnh ác, rồi không chống lại được mới sốt rét mà mất thôi.

Bây giờ, mỗi khi đi qua chợ Bưởi, cả những ngày phiên đương đông, bỗng chớp chớp mắt tôi lại như thấy trong các cầu chợ xuống tận hai bên bờ sông Tô Lịch, lò dò đi ra những bộ xương người lảo đảo, kheo khư, nhấp nhô.

*

* *

(Nhật ký tháng ba 1945)

Nhiều người con gái năm ngoái trông còn được mắt, từ Tết đến giờ, ăn cháo mãi, mặt trắng bệch ra.

Trước cửa đình nhan nhản hàng quà, nhưng không có thứ gì bằng bột hay gạo cả, đầy những cái chậu sành da lươn toàn củ chuối thái mỏng, trộn vừng, trên rắc rau húng.

Một hào một đĩa.

Cô Lĩnh con gái ông khán Là quần áo rách tổ đỉa, mắt lồi, lượn quanh, nhặt được cái vỏ đậu nành, nhá sồn sột.

Người ta ngắm rồi chép miệng...

- Cô này chỉ nửa tháng nữa là chết.

Mấy ngày sau đảo chính, gạo xuống hơn 400, giờ lại lên 650.

Nhà bác Quỹ, bác tên là Chắt, nhưng trước làm thủ quỹ hội đồng kỳ mục, có bảy người, trước thổi hai ca, rồi ca rưỡi, rồi một ca.

Nhà này cố níu cái vỏ phong lưu, không bán đồ nhưng cũng vác ngầm đi cái lọ độc bình rồi.

Chính bác Quỹ cuối năm ngoái còn cho tiền mấy người thiếu đói họ gần, bảo đừng ra cửa đền lấy cháo cứu tế, "rồi về sau, khi yên hàn rồi, ra chốn đình trung thì ăn nói thế nào với làng nước, bảo là dạo ấy đi ăn mày xin cháo thí về à?".

Bác Khán Lợi dỡ nhà bán dần, đêm ra nằm hiên trường học.

Đêm qua, thằng Quyền đánh người đói trên chợ Bưởi.

Mỗi tối, Quyền phải đi tua nhiều vòng quanh chợ, để xem có ai lẫn vào rồi chết trong chợ không.

Nếu gặp xác chết, Quyền lẳng lặng khiêng vứt lên đầu đường Thành sang địa phận làng khác để khỏi phải thuê chôn.

Phó lý làng Yên Thái buôn cót sẵn để bó người chết.

Mua ba đồng một chiếc, bán năm đồng.

Chẳng phải chỉ có ở chợ, mà đêm đêm làng nào cũng đi xua người đói không cho đến, sợ phải chôn.

Cũng lại sinh ra một nghề mới.

Một buổi sáng, chánh hội Nên thấy có mấy người làng, những người đói dở, đến báo rằng ở đường Thành địa phận làng ta có người chết, xin ông cho tiền chôn.

Thật ra đấy là người chết đói ở nơi khác, chính những người này đã khiêng về đấy rồi đi báo làng để lấy tiền chôn - có khi lấy tiền rồi không chôn mà lại vứt cái xác sang làng khác.

Ngoài cửa chợ, một thằng bé gầy, đen nhẻm, đầu gối to hơn ống chân, bị một nhát búa bổ toác ra, trắng hếu mà không thấy máu chảy.

Thằng bé này phải trói giật cánh khuỷu với một thằng bé khác.

Quyền bảo tôi: Nhật trói nó đấy.

Thằng bé này bị Nhật trong đồn ra bổ búa vỡ đầu gối, lại xén cụt cả tóc thế kia.

Chắc Nhật ngỡ đã bắt được nó ăn cắp cái gì.

Nhưng quanh đứa bé, tang vật chỉ thấy một mẩu thừng và một mảnh chai vỡ.

Những con số khủng khiếp trong hàng triệu con số người chết đói tôi ghi lại.

Nạn đói thực dân Pháp và phát xít Nhật gây ra.

Sau đảo chính Nhật, chính quyền Nhật đã dựng nên tổ chức cứu tế, tổ chức này đi vào điều tra ở một số vùng, cũng đã phơi bày một vài sự việc và con số nạn đói cực kỳ thê thảm.

Trên báo hàng ngày Tin Mới ở Hà Nội suốt tuần lễ đầu tháng 5-1945 đã đăng bản "Điều tra từ 13-4 tới 16-4 của ủy ban liên lạc Tổng hội cứu tế về tình hình các vùng Nam Định, Thái Bình, Hà Nam, Ninh Bình, Hưng Yên" do đại biểu các thân hào thân sĩ ở Hà Nội đi điều tra, các ông Ngô Tử Hạ, Nguyễn Như Kim, Nguyễn Xuân Nha, Đỗ Ngọc Châu công bố.

Những đoạn in dưới đây đã bị phòng kiểm duyệt báo chí của Nhật bắt đục bỏ.

Tổ chức công nhân cứu quốc ở nhà in báo Tin Mới đã lén dập in lại những chỗ bị kiểm duyệt, rồi anh Thiệp, thợ chữ, nhà ở phố Quan Thánh, đêm giao tôi chuyển đi cho báo Cứu Quốc (bí mật) của Tổng bộ Việt Minh.

Nguyên văn những đoạn con số và tình hình như sau:

"Khô dầu 3 hào 2 xu một bánh, người ta ăn khô dầu.

Trẻ con bị vứt đầy dọc đường vì bố mẹ không nỡ trông thấy chúng nó chết trên tay.

Người ta nấu rêu, rang rêu lên để ăn.

Người ta ăn cỏ, ăn khô dầu, thậm chí ăn cả thịt người.

Việc này chúng tôi đã thấy tận mắt, và có chứng cớ hẳn hoi.

"Người chết nhiều đến nỗi không thể chôn kịp, vì người đi chôn cũng đã ốm đói rồi.

Khi đi nhặt xác, gặp ai ngắc ngoải, bọn này cũng lôi đi chôn, vì nếu có để lại thì rồi cũng đến chết nốt.

Lúc bị vùi xuống hố, những người ấy con chắp tay van lạy, nhưng bọn người đi chôn cũng cứ lấp đất đi vì không chôn được người thì không được trả công, bởi cũng đương đói lả đi cả, còn lo hôm sau chẳng còn sức mà đi chôn người kiếm cái ăn.

"Tại Hải Hậu (Nam Định) có làng 1.000 đinh đã chết đói tới 700.

Tại đây đã xảy ra 2 vụ ăn thịt người.

Một vụ do một bọn đàn bà thủ xướng.

Chúng giết những đứa trẻ còn mập mạp, đem bán thịt.

Các thủ phạm vụ này đã bị bắt.

"Dân phố phủ Nam Trực (Nam Định) có 16 vạn, mỗi ngày khoảng 400 người chết đói, trong số có cả lý trưởng, phó lý, các chức dịch trong làng...

"Tình hình mấy tỉnh trên đây đã đến lúc hết sức nguy ngập.

Khắp nơi, số dân chết đói rất nhiều.

Đau đớn nhất là bọn trai trẻ cường tráng, những phần tử cần thiết cho công việc đồng áng chết đói hầu hết, số còn lại cũng đương ngoắc ngoải.

"Người ta lạy van nhà nước bán thóc cho và xin tha cho đừng thu thóc vụ hàng năm sắp tới.

Đấy cũng là phương kế duy nhất có thể cứu sống được người đói.

Bằng như nếu không được thì ở đâu cũng kêu xin nhà nước gia ơn tìm cách giúp cho được chết chóng vánh, để khỏi phải kéo dài chuỗi ngày đau khổ, nhục nhằn thế này...

"Tỉnh Hà Nam có 400 làng.

Một nửa dân bị đói do sự thu thóc của Pháp từ trước kia.

Có nhiều người Pháp có đồn điền ở tỉnh này, thế mà không những người Pháp không phải nộp thóc cho nhà nước, mà còn được nhà nước lấy thóc của dân ra trợ cấp cho các đồn điền.

"Các chỗ đói nhất trong tỉnh Ninh Bình là các huyện Yên Khánh, Yên Mô, phủ Kim Sơn.

Số người chết đói tới 50 phần trăm, hoặc có nơi nhiều hơn.

"Dân số tỉnh Ninh Bình là 96.000, trong số có 24.000 đinh.

Số người chết đói hai tháng khai là 3.325 người.

Nhưng thật ra gấp ba, nghĩa là độ 1 vạn.

Ruộng mùa có 22.000 mẫu gặt được 6.362 mẫu.

Mỗi mẫu độ 3 tạ.

Số thóc đã thu nộp là 2.664 tấn.

Ruộng chiêm 22.283 mẫu.

Chỉ cấy có 10.093 mẫu.

Nhân công không có, vì chết nhiều và số tiêu tán đi là 3.724 người.

"Dân số phủ Kim Sơn (Ninh Bình) ngót 11 vạn, một vạn đã bỏ đi.

Mỗi ngày có 400 người chết.

Nếu không được cứu, đến tháng năm, số chết sẽ tới 5 vạn.

Ruộng cày được 24.000 mẫu, mỗi người hơn 2 sào.

Vụ tháng 10, sẽ thu mỗi năm nhiều nhất là 2 tạ thóc, cộng là 4.800 tấn.

"Công toa" nhà nước thu thóc đã thu 1.586 tấn, chỉ còn 3.214 tấn chia ra thì mỗi đầu người được có 32 cân, ăn trong 6 tháng.

"Có làng 400 dân, ruộng không có người làm, bán không ai mua, mỗi mẫu đáng 1.000đ bán không nổi 30đ.

Phủ này người ta đương mong được chóng chết.

Trẻ con từ 7, 8 tháng đến 1,2 tuổi bị cha mẹ bỏ hoặc cha mẹ đã chết, ngồi nheo nhóc khắp nơi, đi đường nào cũng thấy.

"Dân số phủ Nghĩa Hưng (Nam Định) có 15 vạn người, số chết mỗi ngày khoảng 500.

Thóc phải nộp nhà nước là 1.250 tấn, nhưng chức dịch chỉ thu được 986 tấn.

Dân đói phải ăn củ chuối và ăn cả thịt người.

Bắt trẻ con 5,6 tuổi rồi đào lỗ chôn xuống, lấp đất, hun lửa trên, xong đem bán lẫn với thịt chó, bán giả thịt chó.

Việc này có biên bản rõ của ông phủ sở tại kèm theo"

...
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
11. Cái tàu điện


Thằng Tây ngồi nghĩ cũng tài

Sinh ra đèn máy thắp hoài năm canh

Thằng Tây ngồi nghĩ cũng sành

Sinh ra tàu điện chạy quanh phố phường

La ga thì ở Thụy Chương

Dây đồng cột sắt tìm đường kéo lên

Bồi bếp cho chí bồi bàn

Chạy tiền ký cược đi làm "sơ vơ"

Xưa nay có thế bao giờ

Có cái tàu điện đứng chờ ngã ba

(Ca dao vùng Bưởi)

Bọn trẻ con trong làng thường đánh võng kẽo kẹt, nghêu ngao hát ngẩn ngơ như thế.

Đứa nào sợ thì hát là "ông Tây", không dám hát là thằng Tây.

Hay là lại hát câu: Ngày ngày ra đứng cửa chùa.

Trông lên Kẻ Chợ mà mua lấy sầu.

Nào vè cái tàu điện, cái đèn máy, cái cầu Đu-me, vè về công việc bồi bếp, về dạo cảnh phố phường, vè kể đi lính sang Tây.

Chứ các câu vè "thất thủ kinh đô", vè "quan ba Ngạc Nhe chết trận" thì chúng tôi không biết.

Những người viết sử bây giờ không nên quá thiên, tưởng như ai lúc ấy cũng gọi Tây là "thằng" mà lắm khi hóa ra sai sự thật.

Trên đường phố bấy giờ thưa lưa, loáng thoáng xe kéo, xe bò, xe cút kít, xe đạp, ô tô, xe bình bịch.

Tây đầm mũ áo lòe loẹt ngồi trên cỗ xe song mã - sơn then, người xà ích đồng phục áo đen cổ cồn trắng đứng đội mũ vành cao cầm cương ở ghế trên.

Có khi là xe một ngựa độc mã, cả nhà tây đầm và trẻ con ngồi ghế mây quây tròn quanh người đánh xe.

Bánh cao su đặc êm êm.

Chỉ có cái xe ngựa hòm vuông sơn vàng đưa bánh tây tháng của hãng bánh mỳ Hợp Nhất, bánh sắt lăn cọc cọc, reng reng.

Bố tôi đã có dạo làm công nhật đưa bánh của sở bánh mỳ này.

Nhưng khi ấy tôi chỉ mới lên hai, lên ba, nghe kể lại bố tôi hay đem về cái bánh mỳ tròn to bằng cái rá vo gạo.

Xe ngựa, xe bánh sắt, xe cút kít một bánh gỗ rít váng óc giữa oi ả trưa hè, dần dần mất đi, chỉ có cái tàu điện vẫn còn và được nối thêm một toa, hai toa, chạy ầm ầm giữa tiếng chuông ở chân người lái tàu dận xuống, thành tiếng dài dài keng keng ầm ầm mà người vùng Bưởi gọi là tiếng "keng ầm" tàu điện.

Thân hình cái tàu điện, toa đầu tàu, đường ray đến bây giờ vẫn tương tự thế.

Chỉ khác, ngày trước người "vát nam" lái tàu đứng chong chỏng suốt ngày như chiếc cột mốc, quay chiếc vòng tay lái bằng đồng mở khấc ba thì tàu chạy chậm, mở khấc bảy cho tàu chạy nhanh, còn tay kia nắm chuôi cái hãm cũng quay quay.

Ở quê tôi đã thành tiếng địa phương, cái gì "mở bảy" tức là nhanh nhất: chạy mở bảy, làm mở bảy, ăn mở bảy...

Bây giờ thì người lái tàu có ghế ngồi.

Trong tàu ngày đó ở chỗ cửa bước vào, có một khoang nhỏ, đặt ghế bọc đệm vải sơn cánh gián.

Khác hai hàng ghế gỗ dài đồng loạt ngoài kia.

Bởi vậy, cái bài hát ru em ngô nghê "vè tàu điện" còn có câu kết rằng: "Năm xu ngồi ghế đệm bông.

Hỏi mình có sướng hay không, hả mình?"

Đường nối phố Hàng Đậu lên Yên Phụ, quãng xe điện ấy làm sau cùng, khoảng năm 1934.

Trước đấy, học trò các trường Yên Phụ, Yên Thành, Hàng Than thường lên bãi ven đê đá bóng, vật nhau, đánh nhau và đúc dế.

Từ khi làm đường tàu, mất bãi chơi.

Vì ngày nào cũng chơi nhởi hò hét ở bãi mà tôi nhớ lâu.

Nhưng trên đường xe điện này, cũng nhiều những cái bây giờ không còn.

Bến tàu đi Hà Đông ngày trước dài đến cuối phố Cầu Gỗ, bên cạnh có một nhà bàn giấy cho công việc các đường tàu.

Đường Hà Đông, tám giờ tối hết tàu, tàu không dồn về nhà tàu điện giữa làng Thụy, mà tàu và toa chạy về trạm Cầu Mới.

Sáng mai, năm giờ tàu lại ra chuyến thứ nhất.

Ở các bến giữa, bến cuối mỗi đường có một nhà đợi tàu lợp ngói, ba phía tường kín mít.

Cũng chẳng ai chui vào đấy ngồi đợi tàu.

Cái nhà thành nơi ỉa đái và ăn mày trú ngụ.

Ở bến tàu Bưởi bây giờ hãy còn hình thù căn nhà đợi tàu ngay bên kia cửa đình Thọ trông sang, cạnh một gốc sung cổ thụ trên bến đãi bìa sông Tô Lịch.

Cái nhà đợi tàu nay được sửa lại, và người ta ở giống mọi nhà trong phố.

Khó lòng ai biết được đấy lại là nơi đợi tàu và coi như cái nhà hoang.

Trên các quãng tàu tránh, từ đầu ô trở ra, mỗi khi tàu đỗ, tiếng ăn mày kêu xin, tiếng hát xẩm lại thảm thiết rên rỉ.

Ở Vọng, cổng Rong, chợ Mơ, bến chợ trâu Hà Đông.

Này anh khóa ơi...

Rồi tiếng hát cải lương và cái nhị cò cử, cái đàn bầu không phải vỏ quả bầu lọ phơi khô mà bầu đàn bằng chiếc ống bơ.

Văng vẳng tiếng chuông chùa...

Nhưng ai oán vang lên tiếng nức nở triền miên là câu kẻ khó xin ăn: Con cá nó sống vì nước.

Con sống vì các ông các bà, các ông các bà ơi!

Đôi bên hàng tàu vẫn ngồi im, chẳng ai ngoái cổ ra.

Những người tàn tật, ăn mày các bến, các chỗ tránh tàu điện thì nhiều không kể xiết.

Dẫu ai đi tàu có tò mò để ý cũng không thể nhớ lâu được người nào.

Những người ăn mày mòn mỏi chết như ma biến.

Người nào cũng chỉ thấp thoáng chỗ ấy một vài lần...

Con cá nó sống...

Lạy ông đi qua, lạy bà đi lại...

Nghe giọng khác mọi khi, nhưng người cầm cái rá, cái ống bơ, thì vẫn chỗ ấy.

Không phải người ăn mày hôm qua.

Người hôm qua chết rồi, người ăn xin mới đến này vẫn lạy van một câu thế.

Vừa lên tàu, đã có ông "sơ vơ" đeo cái túi cặp da đến bán vé.

Vé đi đâu, Bạch Mai hay lên Bưởi, hay cầu Đơ, màu vàng, màu xanh, màu hường khác nhau, chẳng cần trông số chữ, không biết chữ, cứ nhìn màu vé cũng biết được giá tiền.

Lại có vé đi từng quãng ngắn.

Bưởi xuống Quan Thánh, rồi Bờ Hồ, rồi Bạch Mai ba chặng.

Lát sau, đến người "công tôn" vào soát vé.

Người này xem lại vé rồi xé rách nửa giữa.

"Công tôn" người An Nam soát vé từng quãng đều đều.

Nhưng "công tôn" Tây Coóc thì cứ bất chợt nhảy lên tàu.

Lão Tây Coóc lùn một mẩu, mặt đỏ lựng.

Cái mũi to xùi của Tây Coóc còn đỏ gay gắt hơn.

"Công tôn" Tây Coóc có tiếng ác, mắt xanh bi ve xanh lét như mắt chó dại.

Người lên tàu xuống tàu, chẳng bận đến nó, mà cứ phải nhớn nhác sợ hãi trông nó trước.

Bắt được "sơ vơ" và "công tôn" ta để sót vé, Tây Coóc điệu đi theo nó ngay về sở.

Bị phạt trừ lương là cầm chắc.

Gặp người đi tàu đứng cheo leo ở bậc lên xuống, thấy trẻ con trèo thành tàu, Tây Coóc đẩy xuống tức thì.

Đứa nào ngã ra đường hay lăn vào bánh tàu, chết chẹt mặc kệ.

Tôi đã được chứng kiến một cảnh người chạy Tây Coóc nhảy tàu truyền toa chết hết sức thảm thương.

Chỗ ấy quãng đường uốn cong xế cửa trường Bưởi, Tây Coóc thình lình lên khám vé.

Một thằng bé, quần đùi áo nâu, cắp hộp kẹo vừng kẹo bột trốn vé chạy ra cửa tàu.

Nhưng nó vẫn ham bán kẹo - có lẽ thế.

Nó không nhảy xuống được.

Nó chuyền cuối tàu sang toa.

Thế là cả người và cái hộp kẹo lạng vào bánh tàu điện, tàu đương lượn nghiêng, bánh tàu xiết vào đường ray rên lên ken két, tôi thoáng thấy thằng bé sa xuống giữa đường sắt dưới ấy, mặt xám như đất.

Tây Coóc cũng đã bị nhiều vố đau.

Có lần Tây Coóc vừa nhảy lên cửa tàu.

Một gói giấy bọc cứt ném bịch vào lưng áo.

Tàu đương chạy, Tây Coóc đành chịu chết đứng, lưng áo tung tóe cứt.

Tây Coóc bị ném cứt, ném đá luôn - người ta nói thế.

Cái tàu điện chạy sớm, náo động cả phố xá.

Các cụ kể ngày mới có tàu điện, cả tháng liền vùng ngoại ô nô nức được đi tàu không mất tiền vé, cứ lên tàu ngồi chơi ra Kẻ Chợ.

Dẫu sao, ngót trăm năm nay rồi, cái tàu điện keng keng ầm ầm vẫn "chạy quanh phố phường".
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
12. Bẫy chim chơi chim


Mùa xuân đến, có mưa bụi.

Mưa bụi như phấn trắng dây khắp trên trời.

Trong bụi mưa, từng đàn chim nho nhỏ ríu rít bay về vườn cây trước sân.

Tôi đã nhận ra những tiếng ánh ỏi khác nhau của con chim sâu và con chim khuyên.

Hạt mưa đọng đầu cành, mép chiếc lá non, trong lòng hoa đào phai, giọt sương long lanh cánh chim lướt qua.

Hạt rơi xuống như sương sa.

Không biết đấy là hạt sương hay bụi mưa đọng.

Tôi thích nghe tiếng hót chim vành khuyên.

Vành khuyên mình nhỏ thon, vàng thẫm, chen nét lông sẫm trai lơ, nhất là đôi mắt óng ánh tình tứ trong vòng khuyên trắng ngần.

Chàng vành khuyên nhởn nhơ bay trước.

Nàng náo nức lướt theo.

Chàng cất tiếng hót từng hồi dài, trong suốt.

Nghe chim vành khuyên ríu rít hót đàn, biết là tết đã qua, sang xuân rồi.

Tiếng chim lẫn li ti trong làn sương mưa bụi.

Tôi lẩm nhẩm:

- Đàn vành khuyên này to quá.

Xuống rồi, xuống!

Sập bẫy nhà thằng Bách rồi.

Tôi ra sau nhà, núp vào bên gốc cây ngái, nhìn lên cây ổi nhà Bách.

Đàn chim lả tả xuống, rồi vụt xuống.

Chim nhiều quá, tỏa khắp, sang cả cành cây đào già trơ trụi bên nhà tôi.

Bờ chuôm có hai cây ổi nhà Bách, cây to, lá rậm rạp.

Trên một cành cao, Bách treo cái lồng bẫy.

Lồng vuông, hai tầng, bốn cửa giương lên.

Tầng dưới nhốt chim mồi và cả những con chim đã bị bẫy sập đưa xuống ở lẫn đấy.

Tầng trên cầu bẫy đặt một mẩu chuối tiêu.

Mỗi phiên, anh em nhà Bách xách lên chợ bán một lồng chim khuyên.

Bán chim được tiền, đứa nào cũng có riêng một ống tiền để dành Tết.

Tôi ngây người ra, nhìn lên cây ổi.

Cái lồng bẫy nhà Bách trông hay quá.

Cạnh mỗi miếng chuối, chiếc hoa hồng bụt đỏ tươi che chỗ then bẫy.

Con chim khờ khạo chỉ trông thấy cái hoa.

Cả chiếc lồng lơ lửng dưới vòm lá.

Hoa hồng bụt gài kín nan lồng, như hoa nở tự nhiên.

Như cái tổ chim giữa mùa sinh sôi đương ríu rít.

Sợi thừng đay có con lăn bằng lõi cuộn chỉ đưa cả lồng bẫy lên.

Tôi vẫn nhìn lên cái lồng bẫy của thằng Bách.

Lâu đến thế nào, tôi mải miết không biết, ông tôi đến đặt tay lên đầu tôi.

Ông tôi cầm cái chổi xể.

Ông vừa quét ra đến ngoài sân đất, mà tôi cũng không để ý.

Ông tôi nhẹ nhàng hỏi:

- Cháu thích cái lồng bẫy kia hả?

Tôi biết trả lời ông thế nào.

Ông tôi lại nói:

- Rồi ông làm cho.

Tôi không thể nghĩ ông tôi lại đi guốc vào bụng tôi đến như thế.

Mặc dầu, bấy lâu các thứ phải làm ở giờ đan lát thủ công của lớp học, lớp bét cũng như khi đã lên lớp ba, ông tôi vẫn làm hộ.

Cái hộp giấy.

Đôi đũa tre.

Nặn đất thó con cá, con hổ, con trâu.

Tôi đoán thầy giáo cũng biết không phải tôi khéo tay đến nhường ấy.

Nhưng thầy không hỏi và lần nào thầy cũng chấm cho tôi mười điểm đỏ hoe.

Rồi mấy hôm sau, ông tôi làm ngay cái lồng thật sự.

Ông tôi vót nan tre.

Ông tôi thổi bếp than, dùi những cột thành lồng.

Chẳng mấy lâu, đã trông thấy trước sân cái lồng con con, trên nóc giương một cái cửa bẫy.

Ông tôi treo lồng vào nóc bếp cho ám khói.

Tôi cũng sốt ruột.

Tôi nghĩ đến những cái thích sắp đến.

Một cửa bẫy to như thế mà lại hay.

Cửa to thế này, ba bốn con cùng chen vào một lúc cũng nên.

Phải buộc thêm cục gỗ.

Mấy con mắt một lúc cũng không nạy ra được.

Tôi lo xa.

Lại nghĩ đến những vui sướng rồi ngày nào cũng bẫy được chim.

Mỗi hôm, được một, được hai con, đã thích rồi.

Mà cũng chỉ có thể được thế.

Bởi vì trường tôi xa nhà quá, đến chiều tối tôi mới đi học về, chỉ được mỗi ngày mở bẫy có một lần.

Mỗi con vành khuyên, con đực hót dài tiếng, bán được những năm xu.

Tết bổ ống, có đến đồng bạc tiền bán chim.

Tôi sẽ lấy tiền bán chim đi mua rượu cho ông tôi nhắm với đậu nghệ nướng chấm muối.

Ôi chao!

Đầu mùa hạ, tôi bắt đầu treo cái lồng bẫy lên cây hồng bì.

Những chiếc nan lồng đã bắt bồ hóng đen như cái que bờ rào.

Tôi kiếm được chiếc thừng đay cũ néo cửi.

Tôi buộc lồng vào thừng rồi leo lên một cành hồng bì kín đáo dưới một túm lá.

Cũng đủ mọi thứ, chẳng kém lồng của thằng Bách ở cây ổi bên kia.

Hoa hồng bụt đỏ tươi, cạnh cái cầu sập đặt mẩu chuối.

Ngăn dưới, hai con mồi đực, chốc chốc cất tiếng hót vui tai.

Tưởng như tận ngõ ngoài cũng nghe những tiếng hót rủ rê ấy.

Trường Yên Phụ tôi học cách nhà sáu, bảy cây số.

Cả ngày thấp thỏm.

Chiều tan học, chạy một mạch về thật nhanh.

Ngẩng lên, thấy cái lồng bẫy trên cây vẫn nguyên như thế.

Chiếc lồng bốn cửa của Bách ở cây ổi bên kia, nghe tiếng chim lúc rúc, lọt xọt nhiều nhiều.

Chắc hôm nay nó phải được mở cửa bẫy đến mấy lượt.

Mình bì thế nào được với anh em nhà nó.

Chúng nó không phải đi học, chúng nó ở nhà dệt cửi quay tơ cả ngày.

Hôm sau, vẫn thế.

Mấy hôm sau nữa, cũng chẳng thấy bẫy được con nào.

Hoa hồng bụt, hoa mới.

Thay chuối khác.

Vẫn chẳng được sập cửa một lần.

Có hôm chủ nhật, tôi tha thẩn rình dưới gốc.

Đàn chim vành khuyên đương bay giữa trời nắng trong.

Chim nghe tiếng con mồi gọi hay chim trông thấy ánh hoa đỏ rồi, cả đàn tỏa xuống khắp các cây trong sân, trong vườn quanh ao.

Các cửa bẫy bên lồng của Bách sập tanh tách.

Tiếng con chim mắc bẫy lồng lộn, đập cánh sàn sạt vào nan lồng.

Tôi tưởng tượng con chim mắc bẫy, đôi mắt trong vành khuyên trắng vừa lơ láo, nhớn nhác, vừa khiếp sợ.

Có con vành khuyên đậu xuống cây hồng bì nhà tôi.

Hồi hộp quá.

Nhưng chẳng một mống nào truyền sang cành hồng bì treo cái lồng bẫy của tôi.

Rồi chim lại bay đi.

Mấy con bị mắc bẫy đương kêu choe chóe bên lồng của Bách, đã khiến chim biết sợ.

Ông tôi gật gù:

- Có nhẽ cái lồng bẫy nhà mình phải vía.

Không biết "phải vía" là thế nào.

Nhưng chắc cũng như những chuyện đen đủi tựa như ra ngõ gặp gái, như nghe tiếng kêu con cú nửa đêm, con quạ sáng sớm, con chim lợn chập tối, những điềm xấu ra sao đấy.

Trời mưa to.

Trận mưa đầu mùa hạ, nước đổ xuống giữa trưa như trút.

Tôi ngồi trong lớp trông ra, sốt ruột quá.

Những con chim mồi trong lồng treo cây, ướt bết lông đến chết mất.

Tôi lại lo giá có con chim mắc bẫy, phải trận mưa tàn hại thế này, xong rồi lại nắng, chim không chết mưa cũng chết nắng mất.

Tôi chạy vội về.

Tôi bối rối hạ cái lồng bẫy trên cành hồng bì.

Con chim mồi đã nằm chết chỏng gọng, ướt tóp lại bằng hạt mít.

Cái cửa bẫy sập.

Không biết chim lạ đã vào rồi chim lại lách hay nước mưa đánh sập then cửa xuống.

Bởi vì chẳng được con chim nào.

Tôi không phải tay bẫy chim, câu cá không sát, con rô ron cũng chẳng cắn mồi tôi.

Dạo trước, tôi đặt cái bẫy cánh cung ở bờ ao.

Chiều nào cũng nghe tiếng hót chích chòe.

Mà chích chòe không giẫm vào chòng lọng bẫy cò ke của tôi bao giờ.

Tôi thôi bẫy chim.

Cái lồng bẫy, rồi ông tôi bẻ đun bếp.

Ngày phiên chợ.

Có khi tôi xách hộ lồng chim cho thằng Bách.

Chợ chim phiên nào cũng đông, con vẹt rất hỗn, cứ ỉa toèn toẹt.

Con yểng hỏi: Ai đấy?

Ai đấy!

Người ta xúm lại chọn lồng họa mi, lồng khướu.

Trẻ con thích chơi chim ri, sáo mỏ ngà, chim vành khuyên.

Tôi mua đôi ri sừng.

Chim ri sừng, ri đá chỉ ăn thóc, dễ nuôi.

Những khi trời mưa bụi, nghe ánh ỏi tiếng đàn chim vành khuyên bay qua, vẫn khắc khoải.

Tưởng như dễ bẫy, mình sẽ bẫy được, thế mà chưa khi nào bẫy được nổi một con.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
13. Cúp tóc


Những người trạc tuổi tôi, từ thuở bé tới giờ, thông thường cũng độ ba bốn lần thay đổi kiểu tóc.

Khi ấy, cả làng cũng chẳng còn mấy cụ ông nuôi búi tóc.

Khi có cụ tư Nghênh thấp người, mớ tóc dài đen nháy.

Cụ xã Vị nho nhã, búi tóc củ hành.

Nhiều cụ khác đã để đầu húi.

Cũng có cụ dường như bực mình hay là thích quá, trước để tóc dài búi to bằng cái ấm giỏ, bây giờ cạo trọc lốc.

Đấy là ông tôi.

Và cụ xã Kín, buổi chiều uống rượu, cả cái đầu trọc nhẵn nổi lên màu rượu đỏ bóng.

Ông tôi cũng vậy.

Không rõ ngày xưa ông tôi để tóc, búi tóc thế nào, nhưng đến khi tôi biết, chỉ thấy ông tôi đã trọc đầu.

Ông tôi chẳng bao giờ cần đến bác phó cạo.

Ông tôi có con dao con.

Thỉnh thoảng, đem mài vào thành vại rồi ông tôi ngoái tay đưa lưỡi dao lên, cạo lấy.

Lắm khi máu đầu chảy lõa lợi.

Như vậy, tôi đã ở thời đàn ông ai cũng cắt tóc, húi đầu.

Nhưng hãy còn đôi chút lơ lửng.

Đầu tiên, tôi được để cái hoa roi như mọi trẻ con trong làng.

Hoa roi, một núm tóc giữa đỉnh đầu.

Bác thợ cạo xách cái hòm gỗ vuông lững thững vào xóm.

Bác đặt hòm xuống.

Trong hòm, cái kéo, cái tông đơ, con dao cạo.

Hòn đá mài, cái xoe tai, một lọ vuông đựng nước lã để rảy tưới tóc, một mảnh gương và một cái lược tròn cào gầu.

Xung quanh chỏm nhẵn thín.

Mớ tóc hoa roi của tôi càng để dài, như cái đuôi ngựa, xuống đến chấm vai, xuống ngang lưng.

Bác thợ cắt tóc đứng hý hoáy cạo vần quanh chỏm.

Tôi soi gương, trông rõ vành đầu trắng hếu nhẵn thín, cái đuôi tóc dài cong vồng lên.

Bác thợ gắt:

- Cứ cựa quậy thì dao bập vào chảy máu đầu bây giờ!

Khi đi học a b c trên lớp vỡ lòng trường làng Cả, tôi phải bỏ cái đuôi hoa roi.

Chỉ vì một lẽ giản dị: những đứa trẻ cắp sách, đội mũ đi học không đứa nào còn để tóc hoa roi.

Cả trường đều húi đầu, cái hoa roi của mình thành ra trò chơi cho chúng nó kéo rỡn làm đuôi, thì không được.

Đến cả tháng, tôi cứ vẩn vơ, chốc lại sờ tay lên đầu.

Có lúc ứa nước mắt, nhớ cái hoa roi.

Sau này còn những lần cắt tóc các kiểu khác, nhưng không lần nào tôi khóc nhớ tóc như lần mất cái hoa roi ấy.

Đầu tôi húi trọc, rồi húi cua, húi ca-rê.

Húi trọc, trọc lông lốc.

Húi cua, tóc lún phún lởm chởm.

Húi ca-rê, trên thóp còn một miếng tóc vuông vắn.

Cả ba kiểu tóc ấy đều gần như đầu trọc.

Để kiểu nào thì để, chung quy tóc cũng vẫn ngắn cũn, lâu lâu phải cạo.

Bà tôi chỉ muốn tôi để đầu trọc.

Bà bảo:

- Cho nó mát, cháu ạ.

Chỉ cái độ tôi húi ca-rê, bà tôi mới ví von mắng đùa:

- Trông chẳng khác nào thằng lính chào mào!

Cạo đầu trọc, tôi có ý khác.

Đến kỳ tóc đã lờm xờm tôi xin tiền u tôi.

Nhưng tôi không đi tìm bác phó cạo.

Tiền ấy tôi chén bánh tôm, ngốn rau xà lách, húp dấm và tôi mua bi đánh đáo, mua truyện, mua và ăn tung tẩy các thứ.

Có khi xin tiền đến vài lần, đi học về lại lội xuống ao làng vốc nước nén miết tóc xuống mà tóc vẫn tốt um.

U tôi chửi mấy lần, tôi mới chịu lên chợ cạo đầu.

Câu chuyện ăn tóc này, về sau tôi dựa vào viết thành một truyện vui: Nói về cái đầu tôi.

Tôi đến dãy hàng thợ cạo đầu ở cuối chợ.

Thợ cạo phải dọn xa một góc, bởi người ta sợ gió bay tóc vào các hàng quà.

Tôi ngồi xuống cái ghế đẩu.

Bác thợ cạo bóp tách tách thử tông đơ rồi bác miết qua lại tóc tôi vài lượt.

Tôi vừa nhăn nhó một tý, tóc đã trụi thùi lụi.

Xong, bác lấy ra cái lược cào gàu.

Lược tròn như trôn bát, mỗi răng gỗ to thô lố như "răng bừa".

Bác đặt lược lên cái đầu trọc tôi rồi ấn xuống, xoay nạo gàu quanh đầu.

Lược xoe phía nào, mặt tôi, mắt tôi, mồm tôi méo xếch lên phía ấy.

Đau quá, trong khi bụi gàu trắng bay lở tở, mù mịt.

Năm ấy, tôi lên phố chợ, vào hiệu cắt tóc bác Tiễu, ngoài cửa hiệu treo mảnh gỗ viết hai chữ "cắt tóc" chỉ có một chữ t liền nhau.

Thế là tôi đã biết làm đỏm để tóc có điệu.

Nhiều kiểu đầu con trai.

Kiểu "phi lu dốp" tóc u đằng gáy gồ lên.

Nào mai đậm, mai nhạt, vành cao, vành thấp.

Mỗi lối kén một cách, làm như đi đường, cô nào cũng phải liếc chằm chằm vào cái đầu mốt của mình.

Tôi cắt kiểu tóc thông thường của con trai bây giờ.

Tóc ngắn vừa phải, mai không đậm, không mờ.

Chải mượt rồi rẽ cạnh.

Thoạt đầu còn vuốt nước lã, sau cầu kỳ hơn, bôi tý mỡ thơm bi-ăng-tin rồi nghiêng bàn tay ấn một cái, làm tóc trên trán vồng lên, chân tóc lượn một làn.

Ngày ngày chải thế, ấn thế, lâu dần, tóc thành nếp sóng tự nhiên.

Có những cụ tuổi trạc tuổi tôi bây giờ, tóc đã lơ thơ, đã bạc trắng, nhưng cụ già vẫn quen ấn, miết ngón tay làm lược vuốt thành một nét tóc hình lượn "chải sừng".

Ấy là một thời đã qua.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
14. Tiếng rao đêm


Nhớ lại, những khi buồn bã mưa dầm gió bấc, không hiểu tại sao chỉ thấy nhớ ban đêm.

Tưởng như cả năm, đêm nào thành phố cũng toàn những rét mướt sâu thẳm.

Vẫn biết Hà Nội có bốn mùa, mà cứ ngỡ thế.

Ô hay vậy.

Có lẽ vì trong lòng sẵn nông nỗi về những đêm buồn.

Cái ông Phạm Đình Hổ ngày xưa viết tập ký "Vũ trung tùy bút", nhà ông Hổ ở phố Hàng Buồm.

Mỗi khi ông ghi lại những tai nghe mắt thấy và cái nghĩ về đất kinh kỳ, chắc không phải lúc nào ông cũng viết trong mưa.

Chỉ bởi trong lòng ông có mưa gió khi cầm bút mà thôi.

Cũng là một cái nhìn Hà Nội thuở nào.

Trong những tiếng đêm ấy nhiều những tiếng rao hàng của những người tha hương.

Những người Tàu bỏ đất nước đi ra ngoài cõi rải rác cả nghìn năm tới nay.

Không biết các đời trước ra sao, chứ cứ như tôi thấy thì mỗi lần bên Tàu có biến động, ở đây chật ních người Tàu chạy loạn.

Tướng Tàu các tỉnh choảng nhau, người như vỡ chợ sang Hải Phòng, sang Hà Nội.

Ông Tôn Dật Tiên cũng đã đến Hà Nội ẩn ở trường trung học Hoa kiều số nhà 19 phố Hàng Buồm (Hội Văn nghệ Hà Nội bây giờ).

Mấy năm trước còn cái cửa sổ căng lưới thép chống đạn ở căn gác hai của ngôi nhà đường Phan Bội Châu.

Ông Uông Tinh Vệ đã sang trú ở đấy.

Và những người nghèo khó bỏ quê đến làm ăn đất này đã bao năm, bao đời.

Cứ mỗi hôm, mọi hàng quà bánh ngoài đường, hàng xôi ngô, khoai mật, sắn ta, người gánh người đội, các hàng quán ban ngày của người các làng vào bán đã giạt về ngoại ô vãn cả, thì đêm đến lại ời ợi những tiếng rao hàng nghe thật lạ tai nhưng cũng thật quen thuộc.

Chập tối, gió lạnh phất phơ.

Một ông già ngồi lù rù như cái nấm mọc đầu ngõ Sầm Công, cất tiếng rao buồn buồn: Phàn sôi... phá sa.

Lạc nóng ròn và mặn vị.

Uống rượu ăn lạc và ăn chơi như nhá ngô rang.

Nhá nhem, ở quanh chân cái tháp chùa còn sót lại ven Hồ Gươm, những ông già bà già, lúi húi ngọn đèn cạnh cái hủ nước bát sặc mùi "bát bảo lèng sà" toàn cam thảo.

Ông già đầu nhẵn bóng, to thô lố như quả dưa hấu.

Chắc lại những ông quan thất thế bên Tàu sang ngồi đấy.

Rồi các ông các bà "bát bảo lèng sà" cũng biến vào trong đêm lúc nào.

Vẫn văng vẳng phàn sôi phá sa phía phố Cầu Gỗ.

Chỗ ngã tư kia hắt lại tiếng rè rè chế mà phù...

Độ tám giờ tối, các phố còn đương chen chúc, ngập ngụa người.

Bấy giờ là giờ của hàng quà ngọt chế mà phù...

Trẻ con cũng đã thuộc cái chè vừng đen này.

Một gánh, bên nồi chè, bên thùng đựng thìa bát.

Lục tào sa...

Lục tào sa... hàng chè đậu xanh, đậu đãi đủng đỉnh ra.

Gió đuổi nhau trên các hốc tường, lạt xạt như chuột chạy.

Tiếng rao lục tào sa vẫn lững thững chen vào.

Cái nón mây Hà Cối rộng vành đen dày cộp che kín nửa mặt người.

Rồi lại quảy chui ra đi hút mãi ngoài ngã tư, hàng lục tào sa đứng lại đấy, hóng khách vội vã qua.

Bỗng gừ lên như tiếng con chim gầm ghì kêu lúc hoàng hôn ở cửa rừng.

Suỵt chế...

Suỵt chế...

Chỉ là những khẩu mía hấp trong cái chảo đậy vung kín.

Khẩu mía tiện, ướp hoa bưởi, xếp đều từng lượt, nhả mùi thơm lẫn mật mía.

Người Tàu thật khéo gợi những cái lạ miệng.

Cũng một quả táo, quả ổi, quả khế đem khía ra dầm đường, trộn gừng bán được hơn tiền.

Khẩu mía hấp lên nóng hôi hổi.

Trời rét ngăn ngắt, được khẩu mía nóng hãm điếu thuốc phiện vừa ngọt lại vừa ấm bụng.

Phố xá đêm dài buồn như chấu cắn.

Cửa chợ Đồng Xuân khóa sắt đóng im ỉm.

Cuộc sống Kẻ Chợ bấy giờ cũng chưa sầm uất đến phải có những chợ đổi vai cho rau rợ các vùng ngoại thành đổ vào.

Cái chợ Bắc Qua ngày nay tấp nập suốt đêm, lúc ấy còn là khu nhà máy sợi Bắc Qua và cái nền sân bóng rổ Lơpa (Lepage) và chợ Đức Viên dưới chợ Hôm còn là một bãi cỏ, có một xưởng gỗ.

Tiếng rao tỉm sắm bao... rờn lên cuối Ngõ Gạch.

Thế là biết đã quá mười giờ.

Giờ ăn đêm của những rạp hát sắp tan.

Hiệp Thành, Sán Nhiên Đài, Quảng Lạc...

Bánh bao!

Bánh bao nóng!

Tỉm sắm bao à...

Gánh banh bao quảy rong ấy vừa đỗ.

Tiếng gọi bánh bao đằng hè phố bên trái cùng với cánh cửa lạch cạch, hay là chỉ có tiếng động hé cửa.

Thạp bánh vừa hở nắp, khói hơi thơm tuôn trắng cuộn cuộn.

Rồi im lặng.

Tiếng rao tỉm sắm bao... rời rã dần vào ngõ Quảng Lạc.

Đương buổi ăn giữa đêm.

Nhưng khách các rạp hát ra đã tan vào làn gió cuốn rào rào hai bên ngách tường bay biến đi đâu.

Thỉnh thoảng, một cái xe tay lượn qua, hai bên cánh gà gió đánh phành phạch.

Chiếc xe kiếm khách, như con cú dòm mồi, rồi lại cập quạng đi.

Lốc bểu...

Lốc bểu... xóc xách lần bờ hè Hàng Gai xuống Hàng Bông Đệm, sang Bông Lờ.

Bánh cuốn Lạng Sơn hấp trong thạp.

Đến ngã ba dừng lại.

Không biết tiếng người hay tiếng gió.

Một người ở ngõ Tạm Thương bước tới.

Có lẽ đi nhà thổ lậu trong săm ra.

Nhưng người khách ăn đêm ấy cũng không gọi gánh hàng đỗ được.

Chuyến tàu Phòng lên từ bên kia cầu sang kéo còi qua bên chợ Cửa Nam.

Còn phải đi suốt phố Hàng Lọng nữa gánh hàng mới có chỗ đón khách trên tàu xuống.

Lốc bểu!

Lốc bểu!

Tiếng lấp lửng xa xa, cao thấp, gập ghềnh.

Chẳng hiểu nghĩa thế nào, nghe trong đêm hai tiếng ngẩn ngơ đã muốn nghĩ ra cuộc đời âm u tha hương của người rao hàng.

Quá nửa đêm rồi.

Khuya trong các ngõ phố ụp xụp quanh quẩn mờ mờ các mái nhà thấp tù mù, nhạt loãng, ánh điện, ánh trăng pha với cái rét buốt sắc gợn.

Đêm sâu, tiếng hàng cháo gà thoi thóp.

Cay hạp trúc...

Cay hạp trúc...

Tiếng trúc... trúc...

đằng cuối như nấc lên đôi chút lanh lảnh trong gió.

Nhưng đã quá canh rồi.

Chiếc đòn gánh cháo gà trên vai.

Ngọn đèn lui hui đầu đằng trước.

Tiếng rao đã bặt từ nãy.

Gió may thổi qua mặt phố cứ xột xoạt lùa vào cái áo tơi lá át cả tiếng rao.

Người bán cháo với tay rút trong ngăn kéo ra hai thanh tre.

Gánh vẫn lũi lũi đi.

Thanh tre đập chéo nhau vang lên hai tiếng gọn gành, lanh lảnh.

Như chợt tỉnh.

Sực tắc...

Sực tắc...

Sực tắc...

Ai đương giở giấc nghe thính tai cũng phân biệt được đấy là hàng cháo gà hay hàng vằn thắn đương qua ngoài cánh cửa.

Tiếng "sực tắc" (thực đắc: ăn được) thanh tre thanh gỗ khác nhau của gánh hàng đương gọi khách.

Từ bấy giờ đến tan canh, tiếng gõ sực tắc chốc lại thấp thoáng văng vẳng như tiếng vạc ăn đêm.

Không biết con vạc đi ăn về lửng lơ thơ thẩn phía nào.

Bởi vì, đã lại bắt đầu một giọng khàn khàn như người ta vừa tỉnh ngủ dậy.

Lồ mái phàn...

Lồ mái phàn...

Xôi lạp xường nóng.

Cái tiếng xôi lạp xường kèn tàu ấy cất lên là lúc trời đã mờ mờ sáng.

Tiếng rao cuối cùng vào lúc đêm khuya ngày rạng, những cái ăn cái uống trong đêm rỉ rả cũng dần dần đâu mất.

Như trời sao thấp thoáng trên đầu hồi đương lặn.

Ma biến cả rồi.

Còn lại cái chao đèn đường lắc đôi chút sáng điện rớt xuống quanh quẩn trên phố Hàng Bạc, Hàng Vải Thâm, Ngõ Huyện.

Hồi ấy chưa có những hàng phở bán đêm.

Người Tàu làm ra phở, nhưng phở của người Tàu không ngon.

Cũng tàn như trong đêm vừa qua.

Ngưu nhục phần... nhục phần... nhục phần...

Tiếng rao xưa cũ chẳng mấy ai còn nhớ.

Phải đến tay người ta làm lại cái "ngưu nhục phần" thành phở bỏ chín, món quà sáng và ăn cả ngày.

Những tiếng "phơ, phơ" của bác phở gánh ở Gầm Cầu bước ra, cất tiếng chào cao cao, ấy là trời đã sáng hẳn.

Những bóng phố nhỏ, những ngõ phố ướt nhợt nhạt loãng ra.

Cái hàng phở Trưởng Ca ở đình Hàng Bạc mà Nguyễn Tuân đã đưa vào tùy bút, sau này có nhiều người nhắc lại.

Coi như một cửa hàng ăn đêm và ăn ngon của Hà Nội chơi bời.

Tôi e nó cứ sai lạc dần cái thực, nên phải ghi thêm vài chữ.

Ông Nguyễn nói đến phở Trường Ca chỉ vì cái hàng phở này liên quan đến giờ giấc của đám chơi đêm.

Chứ không phải vì phở ngon Trưởng Ca.

Đừng nhầm vốn sành ăn của ông Nguyễn với cái nước dùng thật đoảng của lão hàng phở kia.

Làm cho người đọc tưởng là ông Nguyễn đã nói vậy, ắt phở Trưởng Ca phải ra cái gì.

Không phải.

Phở Trưởng Ca chẳng ra cái gì cả.

Đêm hôm khuya khắt, cũng có đôi lần tôi vào phở Trưởng Ca ở Hàng Bạc.

Quán phở ghé một gian cửa đình, chống chếnh, huếch hoác, nửa phở gánh, nửa quán hàng.

Trên ghế tràng kỷ tre khách đương ngồi ăn, nhà hàng xóc bánh, thái thịt, lại có người khoanh tay lên đầu gối ngủ cạnh đấy.

Dễ đã ba, bốn giờ sáng.

Người chơi đêm đã đói bụng mà không thể lần đâu ra cái ăn, từ Hàng Lọng ngược lên trên này, chỉ còn mỗi gánh phở thịt trâu Trưởng Ca nhạt thếch.

Thì cũng phải rúc đầu vào mà thôi.

Ông hàng phở khéo đun cái nước dùng nóng phỏng mồm.

Tàn đêm rồi mà còn lùa được một miếng phở nóng, thôi thế cũng là thỏa vong linh.

Các hàng quán bán cho khách ăn khuya quanh năm thường thế nào cũng bán được, như thế giữa các phố khúc khuỷu.

Không bảo nhau mà đâu cũng từa tựa.

Như ở tít ngoại ô, phở Khuyển cầu Dừa xuống làng tôi, đèn le lói quá nửa đêm.

Phở Trương Hàm trên dốc Sài lên hồ Tây.

Khoảng ba giờ sáng, vẫn có phở, ngả vào làm một bát rồi về ngủ.

Cũng một thứ phở Trưởng Ca cho người chơi đêm ngoại ô.

Cái thứ phở thịt trâu, mỡ trắng ợt.

Phở nóng hẳn hoi mà miệng nhai miếng thịt cứ lạnh tanh.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
15. Cơm đầu ghế


Phố Lốc cốc No "Lô cốt Bắc" - bây giờ là phố Phó Đức Chính, gần cổng nhà máy điện YênPhụ, có một dãy hàng cơm.

Cơm đầu ghế, quán hàng gian ngoài bày cái chõng tre, đôi khi làtấm cánh cửa được ngả xuống, xếp gạch làm mễ.

Cái chõng, cái ghế dài trơ trỏng.

Người ăncơm xúm xít chen chúc trong nhà, ngoài hè.

Gọi là cơm đầu ghế, có lẽ bởi quang cảnh cái chõngcái ghế vậy.

Có đến hàng chục quán cơm ở đây.

Thợ nhà in Ideo, nhà in Viễn Đông và thợ nhà máyđiện Yên Phụ ra ăn, buổi trưa đông túi bụi.

Nhà hàng vào bưng các thứ.

Cơm đựng bát đàn úpbát chiết yêu.

Canh cà chua nấu mỡ suông.

Dưa muối.

Đậu om.

Không biết có ai làm cút rượu,ngày ấy, tôi chưa biết để ý đến rượu chè.

Toàn khách quen mọi ngày.

Chỉ có đôi ba mặt lạ,những người cu li ngồi đợi đổi giờ bán lại giờ thuê xe cho nhau cạnh chân tường gần đấy, bỗngkiến bò bụng.

Hàng cơm chỉ bán cho khách ăn trưa.

Mẹ con bà Hai thuê của chủ nhà gian ngoài có nửabuổi.

Cơm nước bán tan buổi xong lại cất dọn đâu đấy, trở về tận trên Thụy.Buổi trưa, nhà in, nhà máy điện tan tầm.

Người ra ùn ùn, chen nhau đi qua phải đứngtrước mặt lão Tây đen gác cổng.

Tây đen vuốt trên mình mỗi người xem có con chữ, xấp giấy,cái đinh, phao dầu, có ai xoáy của nhà máy đem ra không.

Đàn ông thợ, mà cả đàn bà vào muađồng nát, cũng phải Từ Hải chết đứng dạng háng giơ tay, cho người Tây đen khoặm mặt, lầncác túi và mép áo.Hàng nhà bà Hai đương đông, chẳng bỏ đâu hết người.

Hai mẹ con tíu tít trong bếp ra, lạichạy vào.

Có hôm vội, phải thêm một bà già ngồi vần nồi hai mươi cơm, giữa lửa củi đùngđùng.

Những bát cơm úp mở ra bốc hơi nghi ngút thơm khắp nhà.

Miếng đậu om, bát canhhành cà chua lõng bõng nước.

Không nhớ khi trời nóng, ngần này người chui vào cái túi ngốtngát vậy thì sao.

Chỉ biết quanh năm vẫn thế.

Khách ngồi ràn rạt kín ra đến bậc cửa.

Đủ cách đủkiểu người ăn cơm hàng.

Có người trả tháng, trả tuần theo kỳ lương.

Có người buông bát đứngdậy, cầm ngang hai chiếc đũa chùi lên mép xong móc ví lấy tiền trả rồi tất tả bước đi.

Bà chủhàng cơm sinh nghi, nhìn theo và xỉa tiền đếm lại.

Cũng phải cẩn thận thế.

Lúc đông khách, thậtkhó.

Có người ăn rồi bảo không gọi món ấy.

Có người ngồi vờ nghê nga xỉa răng, thoắt cái, lỉnhđi lúc nào.

Lại có người chén hết cả hai bát cơm úp xong bảo không có tiền, cứ ơ ra.

Cái lúc bốirối đông khách, không tĩnh tâm, không khéo mất tiệt.

Ông thợ chữ nhà in mặt béo bệu đỏ phính, đội chiếc mũ dạ thủng một lỗ.

Hôm nào cũngvào treo mũ lên đúng chiếc đinh ấy ở cột trong.

Ông chỉ ăn cơm với dưa cải muối và chan nướcdưa, hôm nào cũng thế.

Chẳng lạ, nỗi đồng lương ít ỏi, ai cũng vừa ăn vừa như đếm tiền túi.

Cáiđiều tôi nhớ là những khi ông ấy trêu bà Hai.

Chốc chốc lại cất giọng lè nhè.

Bà Hai ơi... bà...Hai... nhà nó...

ởi.

Cả gian nhà cười lung lay, vách cũng răng rắc như nổ đố.

Bà Hai đỏ lựng mặt,chu chéo: Phải gió cái nhà ông này!

Nhưng bà không giãy nảy ra, mà vẫn te tái bưng cơm.

Lạinghe the thé cái giọng ông thợ chữ: Thêm tý nước dưa, con gái nào!

Nhưng bà Hai đã quát côcon gái đi làm việc khác.

Bởi vì nước dưa ông thợ chữ chỉ xin thêm, không mất tiền.

"Nhà anhkia!

Tính tiền à...

ấy ấy...

Ba xu rưỡi, à hai xu...".

Mấy đứa chúng tôi ở làng xa ra học ngoài phố, buổi trưa phải ở lại.

Khi ăn cơm nắm.

Mỗibữa xu rưỡi, hai xu.

Nhưng dẫu có hôm u lại cho hai xu, tôi cũng chỉ chén một xu rưỡi.

Ông thợchữ nhà in ấy ăn khỏe, ăn nhiều những hai bát cơm úp, một đĩa dưa và nước dưa, cũng chỉ hếthai xu rưỡi.

Chúng tôi thường đến sớm, trước khi nhà máy điện còi ủ.

Cho bà Hai khỏi vướng chân trẻcon lúc đông hàng.

Câu chuyện cơm đầu ghế tưởng chẳng có gì đáng nói nữa, nếu không nhớ lạibát cơm nóng những ngày đông tháng giá và một câu chuyện buồn.

Mỗi phiên chợ bán giấy, u tôi lại đưa tôi tiền trả bà Hai một thể.

Cũng chẳng bao giờ quámột hào.

Bỗng có một lần tôi nghĩ ra một mẹo.

Không nhớ tại sao tôi nghĩ được cái mẹo ấy.Tuần này cứ tiêu tiền, tuần sau hãy trả.

Như thế cũng chỉ xê xích có vài hôm.

Mà vẫn là trả tiềncơm bà Hai sòng phẳng đều đặn.

Cũng chẳng tiêu pha gì đâu.

Ăn quà, chuyện xa lạ, còn lâu với tôi.

Nhưng mà tôi không thểđừng đọc truyện.

Mỗi hôm đi học sớm hay đến giờ ra chơi, thấy đứa nào cầm quyển truyệnđọc, tôi sán đến.

Ngồi xổm xuống, trông ngược lên, xem cái trang nó vừa mở.

Có khi đứng bêncạnh, ghé mắt một mảy.

Phải thằng đọc háu, lật trang phăng phăng.

Đành chịu, thế mà đọc kénhư thế cũng được vô khối truyện.

Từ hôm nghĩ ra cách trùng trình trả tiền cơm bà Hai, tôi có tiền đi mua sách.

Có quyểnsách của mình mà đọc, còn gì bằng.

Càn Long du Giang Nam, Thất kiếm thập tam hiệp... mỗituần một số ba xu, hai xu mà dài quá, có đến mấy chục số tôi không mua.

Tôi mua Bông hoarừng của Trường Xuân, chỉ hơn mười số trọn bộ.

Quyển này tôi thích hơn truyện Mắt thần vàLệ Hằng phục thù... bây giờ còn nhớ nhân vật Slao Chi Mai.

Nhưng ngoài hiệu nhiều sách hấp dẫn thế, tôi cũng chỉ dám trả chậm vài ngày tiền cơmcủa bà Hai.

Không dám để quá hơn.

Chẳng may, có một việc, không hiểu sao, tôi biết mà tôi lại không tính đến.

Mê truyệnđâm mụ mẫm mất rồi.

Mỗi năm, tôi chỉ được ăn cơm hàng vào mùa đông, còn mùa nắng thìcơm nắm ở nhà mang đi.

Ve sầu đã kêu ra rả trên cây me tây dọc đường Cổ Ngư.

Lại vào hè rồi.Cái cặp tôi phồng lên nắm cơm.

Mặt cái cặp da về vệt thâm từng đám vết nước cà muối, cuamặn.

Tôi cứ tưởng như thình lình chợt đến cái hôm ăn cơm nắm mà tôi chẳng biết trước.

Tiêuhết mất tiền cơm cái tuần lễ sau cùng ấy rồi.

Biết làm thế nào, buổi trưa, tôi quanh quẩn ngoàibãi trên bờ sông.

Không lên hàng bà Hai.

Cũng chẳng dám lảng vảng thò mặt đến đầu đườngxuống Ngũ Xã.

May quá, xế trưa trở về Thụy, mẹ con bà Hai về đằng đường Quan Thánh, khôngđi qua đây.

Tôi còn thiếu của bà Hai cả thảy một hào ba tiền cơm...

Có đến một tháng đã qua.

Rồi chẳng biết thằng khoảnh ác nào đã mách nhà tôi cho bà Hai biết.

Một hôm chủ nhật,tôi đương ngồi trong xó cột nghiền Tái sinh duyên hay Tục Tái sinh duyên chi đó.

Đương mê,chợt ngẩng lên thấy bóng bà Hai đội cái nón kinh bước vào qua cổng.

Tôi đứng lên, ngây mặt ra.

Bà Hai hỏi tôi:

- Cậu Sen đấy à?

Có ai ở nhà không?

U tôi ra mời bà Hai vào nhà.

Bấy giờ u tôi mới biết mặt bà Hai hàng cơm tôi vẫn ăn mọikhi.

Bà Hai đon đả cười nói, nhưng chắc là u tôi đương đoán ra thế nào rồi.

Tôi định lảng chânlủi ra ngõ.

U tôi lừ mắt, trỏ tay xuống bếp.

Tôi lủi thủi vào đấy.

Lát sau, u tôi tiễn bà Hai ra.

Tôi còn nghe tiếng u nói:

- Cháu làm bà mất công lên tận đây, thật không phải.

- Thôi bà cũng đừng mắng mỏ cậu ấy, trẻ người non dạ mà.

Bà Hai đi khỏi đã lâu rồi, u tôi lặng lẽ xuống bếp.

Tôi tưởng u tôi đã cầm sẵn cái "que dò",tôi sắp được ăn cả chục cái quật vào lưng như mọi lần.

Nhưng không.

U tôi hỏi khe khẽ:

- Mày có biết thương u không?

Rồi u tôi ứa nước mắt.

Bỗng nhiên tôi không sợ đòn như mọi khi nữa.

Tôi vừa mủi lòng,lại vừa cảm thấy tôi đã lớn rồi.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
16. Sáng ngoại ô


Ai ơi đứng lại mà trông

Kìa vạc nấu dó, kìa sông đãi bìa

Kìa giếng Yên Thái như kia

Giếng sâu chín trượng, nước thì trong xanh

Đầu chợ Bưởi có điếm cầm canh

Người đi kẻ lại như tranh họa đồ

Cổng chợ có miếu thờ vua

Đường cái chính xứ lên chùa Thiên Niên

Chùa Thiên Niên có cây vọng cách

Chùa bà Sách có cây đa lông

Cổng làng Đông có cây khế ngọt

Gái kẻ Cót buôn dăm buôn xề

Trai làng Nghè dệt cửi kéo hoa

An Phú nấu kẹo mạch nha ngọt lừ

Làng Vòng làm cốm để mà tiến vua

Họ Lại làm giấy sắc vua

Làng Láng mở hội kéo cờ hùng ghê.

(Ca dao vùng bưởi)

Cái xóm nách đình Yên Thái rộn rịch từ gà gáy.

Con lợn bị chọc tiết kêu đinh tai cả tiếng đồng hồ rồi thở òng ọc.

Ai cũng phải thức giấctỉnh hẳn, cho đến sáng bạch.

Cái nhà chú Sồi giết lợn bán chợ ấy đã khua cả xóm dậy.

Chỉ có một mảnh sân bằng bàn tay lổn nhổn gạch củ đậu mà chú Sồi đã một mình bắt lợnchọc tiết, cạo lông, rồi mổ, làm lòng, nhồi tiết.

Lại ra giếng cổng làng quảy nước, đổ đúng bathùng nước vào cái nồi ba mươi.

Tất cả cỗ lòng quẳng vào đấy.

Xong gọn vẫn chưa sáng hẳn.Chú Sồi vào làm tợp rượu.

Lạnh thế mà chú Sồi phanh ngực cái áo xuyến ống tay rộng ngoàiđen nhánh trong nâu, chú Sồi lăn ra tấm phản góc nhà.

Vừa đặt mình, đã ngáy khò khò.

Gió heo may sột soạt trên mái nhà tranh đưa cái rét về rồi.

Thím Sồi chui trong cửa màn ám khói đen nhẻm ra.

Thím cứ việc thổi bếp, chất thêm củicháy rừng rực quanh nồi nước luộc lòng.

Cái nồi ba mươi miệng rộng huếch hoác đã sôi rèorèo quanh mép.

Người đến mua nước xuýt xúm xít ngoài bậc cửa từ lúc nào.

Chưa ai dám vào.Còn lâu.

Phải đợi chú Sồi trở dậy vớt lòng đã.

Rồi lại xả thịt cả con lợn xếp từng vỉ cho mẹ conthím Sồi đặt vào đòn gánh, khiêng thịt ra phản ngoài chợ.

Chú Sồi vùng dậy, lại bắt tay vào việc.

Tinh tươm đâu đấy, chú Sồi mới vần chiếc thớt đạira.

Bao nhiêu cái nhờ nhờ, lủn mủn, miếng bèo nhèo, bạc nhạc, miếng phổi còn sót, một khúckhấu đuôi cạnh đám nước lờ lờ lẫn tiết, lẫn mùn thớt, chú Sồi đưa sống con dao bầu gột cồncột, rồi nghiêng thớt trút cả vào nồi.

Rồi lại đẩy củi cho lửa reo lên.

Trong nồi, nước xuýt nổi váng đục những mùn tiết phòi ra ở đầu cái xiên sắt chú Sồi vừachọc vào khúc lòng, xem dồi đã chín chưa.

Thím Sồi đã lại ở ngoài chợ về.

Lần này, một mình thím bưng cái sảo lòng gan, cổ hũ vàcác thứ chú Sồi vừa vớt nốt trong nồi ra.

Chỉ còn nồi nước xuýt réo sùng sục.

Đám người nhấp nhô ngoài cánh cửa phên xô nhauxách quang vào.

Cái bát, cái phạng, cái liễn, cái niêu, cái nồi đồng méo mó, cái chĩnh con lồngtrong quang.

Người mua nước luộc lòng về ăn cơm sớm, đợi lượt được múc, vào ngồi quanhbếp lửa.

Trong nồi, cái nước xám như nước cống đen mờ sôi lục bục.

Thím Sồi đã khoán cả nồinước xuýt ấy cho chú Sồi bán lấy tiền bỏ túi, mua rượu và thức nhắm hai bữa.

Người mua nướcxuýt đã biết cái lệ ấy của nhà này.

Chú Sồi bỏ vào một vốc muối rồi múc nước xuýt lên nếm.Chú ném hai vốc hành dăm vào làn nước bốc khói.

Chú vục cả cái gáo dừa, đổ vào phạng chotừng người đương tranh nhau chìa quang ra.

Chốc, người chen lộn xộn, chú Sồi lại quát chửi to:Tỉu nhà ma...

Tỉu nhà ma...

Không biết chú chửi ai, hay chửi cái gì.

Chẳng để ý.

Cũng như chẳngai để ý chú Sồi là người khách.

Cái nhà Tàu này đến đây ở đã bao nhiêu đời rồi.

Thím Sồi cũngnói tiếng Bưởi.

Giọng ỏn ẻn nặng chịch.

Càng đông trẻ con huých nhau vào mua nước xuýt.

Nhiều đứa mua được rồi, xách cả liễnsang để ở xó nhà ông ký Hài - ngày trước, năm xưa ở cửa nhà ông đồ Huỵch, anh nó, bố nó,cũng để cái liễn nước luộc lòng như thế.

Lớp học ở ngay xế cổng.

Chốc nữa, tan học xong mớiđem về.

Bây giờ còn lấy sách ra.

Đứa nằm chổng mông viết phóng.

Đứa nhai nhải gào lên: tínhtương cận... tập tương viễn... tập...

đứa ngoẹo mồm đánh vần... o... a... oai...

Đứa mài mực, đứamài son cho thầy.

Có đứa đã phải nằm thẳng cẳng dưới đất, thầy đồ ngắm nghía thong thảđánh đích đáng từng ngọn roi mây vào đít nó.

Thầy rút cái khăn, lau khan trên mặt.

Như mèorửa mặt, thế là xong, rồi thầy quấn lại búi tóc.

Tiếng trẻ con nhao nhao, tiếng la khóc inh ỏi nhưve, như ong.

Ngoài đường, người quảy đòn ống chạy huỳnh huỵch đổ nước vào tàu seo.

Những đôithùng đại mai ghép, tròn và lùn, sóng sánh nước.

Mỗi chiếc tàu seo giấy phải hai người gánhnước từ gà gáy ngoài giếng thơi vào đổ đầy.

Cũng bằng lúc còn tối đất, chú Sồi đã dậy chọc tiếtlợn.

Đám người gánh nước thuê cởi trần, mồ hôi nhễ nhại giữa trời rét căm căm.

Cho tới tờ mờsáng, dãy lều dưới bóng hàng dừa bờ ao một hàng các tàu đã xâm xấp nước.

Các nhà mới ra đổ cối lề, cối dó, mẻ nước gỗ mò vào tàu.

Lúc ấy, những tay thợ kéo tàucũng vừa đến.

Mỗi tàu seo đôi seo ba phải hai người kéo tàu.

Chỉ ở dưới Cót làm giấy hẩm tàu seo mộtthì một người kéo.

Gió thổi buốt tê.

Vẫn những người cởi trần, tay cầm chiếc đòn seo khoắngdài trong lòng tàu.

Tiếng đánh nước xì xoẹt, xì xoẹt nhấp nhô, đều đều.

Khắp nơi vang động,tiếng kéo tàu đánh nước thế cho tới rạng sáng.

Mảng lề, mảng dó tơi ra, quyện đều vào nước gỗmò láng khắp.

Thế là đoạn được cái tàu cho chốc nữa các cô thợ vào ngày seo.

Cả xóm vang tiếng xì xoẹt kéo tàu sôi nổi dần lên.

Những người thợ giã dó từ các lều cốichày tay ở cuối làng bước ra, co ro mắt nhắm mắt mở trong chiếc áo tơi lá.

Tiếng chày buông"xịch xì tum... tum..." từ gà gáy tới giờ mới được một cối dó... ai cũng lử lả, sã cánh, không cốhơn được nữa....

Nhịp chày Yên Thái, mảnh gương Tây Hồ...

Cũng một quang cảnh cực nhọc ấy, thuở trước những nhà thơ thao thức trong đêm trănghồ Tây nghe phảng phất tiếng giã dó lan trên mặt nước lồng lộng.

Mà đấy là nhịp chày giã dócuối xóm Đông Lân làng Hồ.

Ngoài hồ Tây, không nghe được tiếng cối giã tận trong cầu Saulàng Yên Thái.

Dãy cối giã dó chày tay tựa vào mép nước hồ, sau lưng nhà cụ danh sĩ Lý VănPhức ở xóm Đông Lân làng Hồ.

Xịch xì tum... những tiếng chày buông tum tum nặng nề, khắckhoải thâu đêm vang ra mặt nước.

Người làm nghề giấy nhớ đêm giã dó khó nhọc cho tới sángmới được một mẻ bột rẻo mịn như đất thó đùn lên tròn quanh vành cối, rồi đem quang sọtquảy về đãi bìa.

Quãng sông Tô Lịch qua làng Hồ, làng Đông, làng Thọ có những bến sông dậmbìa, đãi bìa nước trong quang đãng.

Trời đã sáng hẳn.

Bóng những cây nhãn lồng cống Đõ láxanh đen ngả vờn bóng nước.

Nước sông buốt thon thót, lô xô người đã lội ra đãi bìa.

Bác thợ đãi bìa thả cái rá đại xuống.

Con bìa dó nở ra trắng ngà.

Chân tay rún đều mộtdáng khoan thai như múa, người đãi bìa chốc chốc lại vờn tay thục quanh cạp rá, lùa những sợidó tơi xuống.

Bóng người bóng nước lung linh, nhịp nhàng, trời rét như cắt ruột.

Ai ơi đứng lại mà trông

Kìa vạc nấu dó, kìa sông đãi bìa

...

Đầu chợ Bưởi có điếm cầm canh...

Đến thời Tây không còn "điếm cầm canh" nữa.

Ở đầu chợ, cái đồn lính xen đầm khố xanhrộng sang đến nửa vườn Bàng.

Sở cẩm Hàng Trống, Hàng Đậu rồi đến bóp cút lít[1] QuanThánh, Yên Phụ lên đến Bưởi đã là ngoại ô hết phố xá, không có đội xếp mà lính khố xanh canhgác.

Cái đồn khố xanh này bề thế choán hẳn một góc đường.

Người lính khố xanh canh cổnghay đứng trên lô cốt, ống chân quấn xà cạp, đi đất, đội nón - như quân tốt trong cỗ bài tam cúc.Người ta cũng gọi đùa tiếng lóng lính khố xanh là thằng tốt hỉn.

Lão giám binh Tây râu xồm,đội mũ đít vịt vải vàng đứng nhau nháu ngoài cổng đồn từ lúc bảnh mắt.

Tay lão cầm cái roi dacặc bò, trố mắt nhìn người qua lại.

[1] Bóp cút lít (tiếng Pháp: Poste de police) trạm gác của đội xếp.

Đêm Nhật đảo chính tháng ba 1945, chỗ ấy đọng một vũng máu.

Người ta bảo là máu lãorâu xồm Tây đồn bị quân Nhật lôi ra cắt tiết ở đấy.

Trên ngã ba đầu Thành, đầu chợ, đầu làng tấp nập từ tờ mờ đất.

Bóng người loáng thoángtrong sương mù.

Bên kia bãi tha ma, những ụ vạc nấu dó làng Yên Thái, làng Hồ mỏm vôi trắnglẫn khói trắng trong vạc tuôn ra.

Bọn con gái và các bà đi đón buổi seo đã đứng từng đám trướccổng làng Thọ, làng Đông.

Mỗi sáng, thợ seo các làng tụ tập đến hóng việc ở đấy, như cái chợngười.

Những nhà khá giả, có năm ba tàu, mượn thợ đặt cọc seo năm.

Nhưng có thợ mướn, cócả chủ mướn.

Đấy là cả nhà mỏng vốn, đi thuê tàu.

Cả tháng chỉ được vài ngày việc.

Nhiều nhànhư thế.

Sớm sớm, càng nhiều người đi đón seo, đón can, người đứng đợi người thuê làm bìa,bóc uốn.

Cứ lóng ngóng cả đám đấy, gió rét như vun người thắt lại.

Cái áo đổi vai mong manh, giólùa buốt tái mặt.

Người mướn thợ ra đặt cược vào lòng bàn tay nửa xu một xu, hẹn chốc nữavào tàu.

Ngoài bờ sông đã im từ lâu tiếng kéo xì xoẹt trong lều tàu.

Chẳng còn mấy người rahỏi thuê người seo, can.

Đã nhỡ buổi, vậy là ế.

Trời lạnh mà cởi cái áo vắt lên vai ra về.

Bụng dạrối tơ vò.

Hãy biết thế là hôm nay đói rồi.

Ngoài đường ùn ùn người.

Các làng trong Noi gánh cẳng ngô ra, đi một dãy.

Cái bồi, mỗihôm có giấy can, phải đốt đến vài gánh cẳng ngô, gánh rơm.

Các vùng bên Hối, bên Bỏi sangmua tro.

Trên Cáo xuống bán rá đãi bìa, liềm seo một seo đôi, cái thép cẳng lá thông để bồigiấy can, phèn giấy.

Tiếng người rao cất lên ười ượi, vào tận các ngõ.

Ở đâu nhô ra một cái cáng tre, chiếu đắp kín đầu đuôi.

Người ốm phù nề, bại liệt, ngườiđẻ rơi hay người bị chó dại cắn đương lên cơn.

Mùa đông hanh hao cũng là mùa chó lú.

Cáicáng hai người khiêng đi đâu.

Phải ra tận Phủ Doãn mới có nhà thương thí.

Người đi làm sớm đổ vào trong phố đã ngổn ngang trên bến tàu điện.

Thật ra, chỉ cónhững hôm chợ tơ ngoài Hàng Gai, Hàng Đào mới đông người đi tàu.

Phiên tơ, đãy lụa đeo caongang đầu, người ngồi chật đôi bên hàng tàu.

Những người ngày ngày đi làm thì chẳng mấy aibiết bước chân lên cái tàu điện.

Các nhà thợ may trong Noi lũ lượt gánh hàng thầu nhà binh raCầu Giấy.

Người phu hồ, "bắt tê", kéo xe, cả đời đi đất, cuốc bộ.

Đi về đường trên hay đườngdưới, người ta rảo cẳng một lúc, chẳng thua cái tàu điện keng keng mấy bước.

Hàng ngày tôi rahọc trường Yên Phụ cũng đi đất.

Bến đã vắng tanh.

Các cô thợ seo bên bờ sông đã vào tàu.

Tiếng nước rỉ róc rách.

Cái liềmcất lên, mấy tờ lót uốn thoáng như nước sóng sánh.

Hai cườm tay tỳ vào thành tàu gỗ ván thôi.Chưa ngâm nước mấy, mới sáng ra mà chai tay các cô đã xám như miếng thịt trâu ôi.

Các cô gáiBưởi áo hồ lơ xanh nõn, nhưng nhìn hai cườm tay thì phải ngoảnh mặt đi thôi.

Những làng tơ cửi dưới Nghĩa Đô, buổi sáng lặng lẽ hơn các làng trên làm giấy, mặc dầutrong các nhà đều biết ngày phiên, thợ vào khung cửi từ lúc sao mai còn lóng lánh.

Sớm hơn cảchú Sồi xóm Ao Đình dậy mổ lợn.

Tiếng khổ giựt thoi đều đều.

Làm rốn cuốn cửi nữa rồi mớiđổ hàng.

Cho đi chợ thêm được thước lụa.

Ông hương Cam bố thằng Bách đeo đãy hàng đứng ngõ.

Đường xóm lạnh ngắt.

Chỉ có mấycon chó chạy rông.

Ông hương Cam bước ra.

Nhưng lại thụt ngay vào cổng.

Thoáng thấy gánhtrầu chị hai Bủng lên chợ.

Ngày phiên, ra ngõ gặp gái, không xong.

Ông hương lại đứng đợi.Nhưng sốt ruột.

Đằng nào cũng áy náy.

Bởi nhỡ chuyến tàu điện, chậm mất buổi chợ cũngchẳng nên, mà vẫn không dám bước ra.

Đường xóm lại vắng.

Ông hương đeo đãy hàng, liều bước.

Đến ngã ba xóm Trẽ, gặp lãonăm Nhân lảo đảo tới giang hai tay, quay quay.

Sáng sớm mà đã bí tỉ rồi.

Làng này còn nhiềungười say.

Cụ xã Kín, rượu vào, đầu trọc đỏ hắt, nói như hét.

Ông trưởng Bưởi bệnh sa đì, cái bịdái trễ xuống tận bẹn, ông kéo vó được đồng nào, vào cái cút cả.

Mấy ông mãn lính về, ai cũngrượu. hôm vừa rồi, trong phủ gọi lính bị ban, nhiều người nghiện rượu đã đi bớt rồi đấy.

Khôngcó thì cứ buổi chiều, một lũ người say múa tay múa chân ngoài đường.

Bây giờ chỉ còn có lãonăm Nhân.

Lão buồn.

Lão có mỗi người con.

Anh Tặng đã bỏ nhà đi tha phương cầu thực rồi.Lão chỉ còn biết có chén rượu làm khuây.

Cái lão phải gió này say sớm thế.

Hôm nào cũng thế,đến chạng vạng tối, ông năm Nhân còn bè nhè làm trò vui cho trẻ con trong xóm.

Lại giang tayquay quay, mặt đỏ phừng phừng.

Ông hương Cam chậc lưỡi: Lão say, nhưng lão là đàn ông, không phải là gặp gái.

Khỏi phảiđốt vía.

Ông hương Cam đeo đãy hàng, rảo bước lên bến vừa kịp chuyến tàu sớm.
 
Chuyện Cũ Hà Nội (Tập 1) - Tô Hoài
17. Khổng Văn Cu


Tục lệ xưa, mỗi làng có một chân mõ người thiên hạ đến.

Nhưng làm mõ, người ta nói cũng lắm cách đi làm mõ.

Vì làng ấy, họ có hèm, phải cóngười đi làm đầy tớ ngoài cõi thì làng nước, họ mạc mới mở mày mở mặt được.

Ở mấy lànggần chùa Hương, nhiều người đi các nơi làm mõ.

Các cụ nói thời trước, nhà bà đĩ Niêm ở YênThái, khi các cụ mới bỏ quê Đốc Tín ra, cũng là ra làm mõ.

Thế mà rồi đến con cháu giàu kếchxù, buôn dó, buôn lụa, cửa hiệu Tín Mỹ to tát ở Hà Nội, ở Sài Gòn.

Bao người làng phải đi lại,vay mượn, qụy lụy.

Nhiều bà con vùng Đốc Tín cũng theo ra làm ăn ở chốn đất lành chim đậu.Đôi khi, còn người gọi xếch mé là nhà đĩ Niêm hay Bơ mõ, Niêm mõ.

Nhưng chỉ dám nói saulưng vậy thôi.

Vẫn biết thế, nhưng mà có điều không ai mang của cải tiền bạc đi làm mõ bao giờ.

Chỉthấy người nghèo đi làm cái nghề đầy tớ hầu làng này rồi có người trở nên khá giả.

Tôi chỉ biết có hai đời mõ làng tôi.

Làng tôi gọi anh mõ là cu Nhớn, hay tư Mít - có lẽ đểtránh tiếng mõ xấu xí.

Nhà anh tư Mít ở túp lều cạnh cái cầu để đòn đám ma đầu làng.

Ngàyxưa, người ta kiêng làm nhà đầu làng.

Chỉ có người tha hương đến hầu hạ làng chạ, người ngụcư lép vế, các cụ cho ở đâu ở đấy mới chịu cái nơi ăn chốn ở chơ vơ đầu làng, đầu chợ thế.

Túplều nhà tư Mít tường đất lợp rạ tối om om.

Vợ anh lúc nào cũng bủng beo xanh rớt, tùm hụpkhăn vuông vải thâm như người bệnh sản hậu, bệnh ngã nước kinh niên.

Thỉnh thoảng, sángsớm, thấy ra bến ao làng giặt cái váy nâu tã.

Cứ cầm chiếc dùi gỗ đập đồm độp.

Ai trông thấycũng buồn cười bảo phong tục ở dưới Nam, thùng nước cũng đội mà giặt giũ thì người ta đậpđến tơi cả áo.

Vùng tôi mà giặt chỉ vò vỗ bằng tay, khác kiểu thế.

Một ngày kia, có đứa thì thào:

- Vợ nhà tư Mít chết rồi.

Trẻ con ngơ ngác ra xem.

Cái thằng đi trước trỏ trỏ.

Tôi bám cánh tay áo nó, bước bấmchân.

Không ngờ lại trông thấy người chết ngay tức khắc.

Một cái chiếu bó, buộc dây chuối, đặtngay dưới đất trong cầu ngói cạnh chân cái long đình gỗ mộc, bộ đồ đòn đám ma của làng.

Đầuchị tư Mít vẫn bịt cái khăn vuông vải thâm bạc mọi khi.

Hai bàn chân người chết phù to, trôngrõ mảng gót nhợt nhạt, lỗ chỗ nẻ miếng.

Một đứa hoảng quá, chạy.

Thế là cả lũ tán loạn chạynốt.

Rồi có đến mấy tháng, tôi không dám đi qua chỗ ấy đằng cổng làng.

Được ít lâu, anh tư Mít bỏ đi đâu.

Chẳng nhớ.

Rồi mấy năm sau, làng lại có một anh mõkhác.

Anh này còn trẻ, cao lớn, da bánh mật, lực lưỡng ngực nở có bắp.

Lạ nhỉ, người lực điềnthế mà lại đi làm mõ.

Gian nhà vách nứa, lợp lá cẩn thận, bên kia cầu sông Tô Lịch bắc sang bãi.Anh mõ này chưa có vợ.

Lúc nào cũng thấy bố anh đứng dưới giọt gianh nhìn ra.

Ông lão cởitrần mặc cái quần vải gốc nhuộm cậy đỏ hây.

Rõ người vùng đồng chiêm.

Khỏe mạnh, quắcthước.

Càng không hiểu tại sao bố con nhà ấy tươm tất thế mà lại đi làm nghề hầu hạ.

Cái bímật khó hiểu về nhà anh mõ ấy cứ luẩn quẩn.

Tôi vẫn ngỡ người đi làm mõ phải gầy ốm, sắpchết đói, như cái vợ chồng anh tư Mít năm trước.

Các ông chức việc trong làng, ông chánh Thả, ông ký Lê, ông quỹ Chắt hay ông lý Sùng gọianh mõ ấy là thằng Mới.

Người làng cũng gọi là anh cu Mới.

Những kỳ sóc vọng trong tháng, anh Mới đội mâm xôi con gà vào đình, ông thủ từ vừamở cửa.

Khi lên quán, sang văn chỉ, vào đền.

Tay anh Mới còn xách theo mảnh thớt, con dao,cuốn lá chuối và cái cút đựng nước mắm.

Tiếng chặt thịt gà cốp cốp.

Chẳng biết chặt có khéođể chia được đều không, nhưng nghe rõ gọn, rõ giòn.

Đôi khi, anh bước nhanh nhanh, mặc cái áo nâu vải ta.

Chắc có việc các cụ sai.

- Cốc cốc cốc...

Chiềng làng chiềng xóm...

Sáng mai có quan phủ về hiểu dụ...

Các đinhmười tám tuổi trở lên ra đình nghe quan hiểu dụ...

- Cốc cốc cốc...

Chiềng làng chiềng xóm...

Các ông trương phiên, khán thủ lấy cho đủ sốđinh đi đê đêm nay ra túc trực ngoài điếm...

Chiềng làng chiềng xóm...

Cốc cốc cốc.

Anh Mới huỳnh huỵch qua.

Thoăn thoắt, rắn rỏi, đương trai trẻ thế mà đi gõ mõ raochiềng làng chiềng chạ, kể cũng thế nào ấy.

Có lẽ bởi vậy, chỉ nghe tiếng mõ anh Mới rao vàolúc nhọ mặt người.

Người lắm điều, chép miệng: Làm mõ mà cũng sĩ diện, lại còn ngượng!

Dẫu sao, anh Mới vẫn gánh đủ phận sự người mõ.

Nhà nào động mâm động bát, anh vàolàm giúp.

Gánh nước, bắt lợn.

Chọc tiết con chó.

Thui bò.

Đánh tiết canh.

Nhồi lòng.

Nhưng đếnbữa, anh giữ ý, không ngồi đóng cỗ cùng mọi người.

Anh bưng cái mâm gỗ phần anh, trongcũng đủ mỗi thứ một mảy.

Thịt luộc, bát nước xuýt nấu cần.

Đĩa dưa.

Liễn cơm.

Anh ra ngồimột mình ngoài đầu ngõ, cạnh lối người ra vào.

Có nhà có việc anh bận gì không vào làm giúp,nhưng đến bữa, anh Mới cũng cứ đến đứng đầu ngõ.

Nhà chủ trông thấy như đã biết lệ, bưngmâm ra.

Đôi khi có cả xó rượu.

Nhà nào cũng thế.

Ăn xong còn bao nhiêu cơm trút vào liễncanh mượn đem về, miếng thịt thì gói mảnh lá chuối tước ngoài vườn.

Anh Mới cũng đi làm mướn như nhiều người trai trong làng.

Việc mõ chỉ được đôi khi laliếm kiếm miếng ngoài đình, trong nhà thế thôi.

Cho nên, phải đi làm lấy cái ăn.

Anh đã họcđược kéo tàu, đạp lề, mọi việc đàn ông trong nghề giấy.

Anh làm quần quật.

Anh quảy nước ăn,nước tàu seo.

Mồng một tết, anh gánh cho mỗi nhà trong xóm một gánh nước, vừa bước vàocửa đã nói to: "Mừng nhà ta năm nay tiền của như nước như non, bằng năm bằng mười nămngoái".

Đổ gánh nước vào chum, vào vại rồi ra bà tôi đưa cho miếng trầu cau tươi và phongbao một hào tiền mở hàng.

Anh Mới vừa vảy lên một cái mái lá ven đường bên này cầu, cạnh cửa "rừng ông Cụ".

Đấylà ngôi hàng nước chè tươi của anh Mới.

Bây giờ không còn ai ghê, không muốn gần gựa dâydưa với nhà mõ.

Đủ mặt cả các cụ ngồi hàng nước anh Mới.

Hàng nước đầu làng, mọi chuyệngần xa đều kháo ở đấy ra.

Đêm sáng trăng mùa hạ, người ngồi tán đến khuya mới giã đám.

Cóngười nợ phong thuốc lào, mấy bát nước.

Bố anh Mới phết vạch vôi đánh dấu lên lưng cái cộttre.

Dạo ấy, các hàng lang đình, các cửa đền trong vùng đều mở lớp Truyền bá Quốc ngữ banđêm.

Lớp "truyền bá" làng tôi ở ngay đầu làng.

Chỗ cạnh cái cầu ngói để đòn đám ma, trông raquán nước anh Mới.T

ôi rủ Mới đi học.

Không biết anh ấy giữ ý tứ với người làng hay anh ngại:

- Cậu cho cháu kiếu, cậu ạ.

Tôi kém tuổi anh Mới.

Nhưng anh thưa gửi với tôi cứ thứ bậc như thế.

Nói thế nào, anh Mới cũng chẳng chuyển.

Lớp "truyền bá" ngay trước ngôi hàng nước.Anh Mới cứ dửng dưng ngồi trong hàng xem người ta học mỗi buổi tối.

Một hôm, anh Mới bảo tôi:

- Cậu cho cháu quyển sách i tờ.

- Đã bảo mà, phải đi học chứ!

- Cháu xin học lấy thôi.Lại một hôm, thấy anh Mới ngồi, tay cầm quyển sách đọc ê a.

Tôi hỏi:

- Học lấy à?

Anh Mới đáp:

- Cháu xem truyện Kiều.

Thì ra, anh Mới chỉ ngồi bên hàng nước trông sang lớp, nghe lỏm người khác học.

Màcũng biết chữ!

Khởi nghĩa rồi, ngày nào chỗ nào cũng nhộn nhịp.

Cả làng đổ ra xem bắt trói lý Đễ đứnggiữa sân đình, cạnh đống giấy tờ, sổ sách tịch thu ở các nhà chức việc đem ra đây đốt cháyđùng đùng.

Ủy ban giải phóng của xã ghi tên anh Mới vào sổ danh sách công dân trong làng,không phải là mõ nữa.

Tôi hỏi:

- Tên anh là gì?

- Tên cháu là Cu.

- Tên thật khai sinh ở sổ việc làng dưới quê, đầy đủ cả họ nữa.

- Thế thì cháu tên là Khổng Văn Cu.

- Thật không?

- Thật cháu là Khổng Văn Cu mà.

Cái tên, cái họ quái lạ.

Và chẳng ra làm sao.

Cùng họ với đức thánh Khổng Tử, lại tên Cu!

Có những người đã xuống chơi làng anh Mới ở vùng chiêm Đồng Quan, Cống Thần trongHà Đông.

Ai về cũng bảo tên anh ấy thật là Cu, thật là Khổng Văn Cu.

Biết đích rồi mà cứ ngờngợ, như người ta nói đùa.
 
Back
Top Bottom