Trên tầng cao nhất của một tiệm trà nằm giữa con phố tấp nập nhất của phường Giang Khẩu, Hoàng Thi nhẩn nha gặm chiếc bánh ngọt, cạnh ấm trà còn nghi ngút khói.
Nơi đây vừa kín đáo để bàn luận, lại thuận tiện quan sát phố phường.
Tiếng guốc trên cầu thang gỗ lộc cộc vang lên, Nhật Duật vừa về.
Hắn ngồi xuống cạnh Thi, tự rót một chén trà, rồi rút cây quạt xếp ra phe phẩy nom hết sức nhàn nhã:
- Ta đã nhờ người gửi lời tới bà Kỷ là ngươi sẽ ở lại đây rồi.
Buổi sáng mỗi ngày sẽ có ngự y tới bắt mạch.
Ta cũng đã cắt cử một tì nữ chăm lo việc quét tước giặt giũ cho bà nội ngươi.
Hoàng Thi nâng chén trà lên bằng hai tay, tỏ ý cạn chén với hắn, thổi phù phù rồi uống cạn, chẳng hề khách sáo:
- Cảm ơn Chiêu Văn Vương.
Nhưng để bà ở nhà ban đêm một mình ta hơi lo lắng.
- Ta đã phân phó bốn ám vệ túc trực ở đó rồi.
Chẳng có gì quấy rầy được bà nội ngươi đâu.
Một thoáng ngạc nhiên hiện trên gương mặt thiếu nữ:
- Quá chu đáo rồi!
Đa tạ!
- Rồi Thi lại khẽ nhíu mày - Ngươi chỉ có mười ám vệ, nay để tới bốn người ở chỗ bà nội ta, vậy còn ngươi thì sao?
Nhật Duật bật cười:
- Ta còn trẻ, chưa chết được đâu.
Ngươi nghĩ ở Thăng Long này, liệu có bao nhiêu kẻ đủ gan động vào người trong hoàng tộc?
- Đoạn, hắn nghiêng đầu, nhìn sang tên ám vệ đứng lặng như cái bóng. – Ta nói vậy, có phải không?
Ám vệ chỉ gật đầu khẽ, tỏ ý tán thành, chẳng nói năng gì.
Mặt hắn lạnh như sương sớm phủ trên lá rụng.
Hắn xưa giờ chẳng ưa nói chuyện.
Hoặc cũng có thể, hắn chẳng mấy quan tâm chuyện đúng sai ở đời, với hắn, vương tử nhà hắn nói gì thì điều đó là lẽ phải.
Chạng vạng, một tên lính chạy về, ghé tai Duật thì thầm đôi câu.
Duật thoáng bồn chồn đưa mắt nhìn Thi rồi quay gót đi về phía cửa chính.
Thi hiểu ý, bỏ nốt chén trà chưa uống, lặng lẽ theo sau.
Y quán nằm nép bên hông chợ cũ, biển hiệu gỗ đã bạc màu, chỉ còn mấy chữ "Tường Thọ Đường" lờ mờ dưới ánh đèn lồng.
Mùi thuốc đông y bay ra tận ngoài ngõ.
Bên trong, người đàn ông trạc tứ tuần cúi đầu xếp thuốc.
Mặt y hốc hác, hai quầng mắt thâm đen như chưa từng biết đến một giấc ngủ yên lành.
Tên lính dắt hai người bước tới trước quầy:
- Dạ bẩm, đây là chủ y quán mà hai vị muốn tìm ạ.
Duật nghiêng người thi lễ:
– Xin hỏi, dạo gần đây có ai từng mua loại dược liệu hoặc thứ thuốc nào có tác dụng gây mê hoặc uống vào sẽ mất tỉnh táo không?
Đặc biệt khi đốt lên có mùi như nhựa cây cháy.
Tên chư khiêm tốn chắp tay chào, rồi chậm rãi đáp:
– Bẩm quan, quả thực có một người kỳ lạ đi mua thứ thuốc đó vào sáng sớm.
Bảo muốn mua một ít "phòng phong" với chút "anh túc".
Hai thứ này đều có dược tính tựa như thuốc phiện.
Hắn nói là dùng để xua gió lạnh cho người già.
Thi hỏi xen vào:
– Người đó trông như thế nào?
Thầy thuốc đáp:
– Hắn mặc áo vải.
Mắt và lông mày hơi xếch lên.
Mặt chữ điền.
Trên lông mày trái có một nốt ruồi đậm.
Giọng miền Thượng, không phải người vùng này.
Y dừng một lát, rồi như chợt nhớ thêm điều gì, khẽ nhíu mày:
– Hắn có đeo một chuỗi tràng hạt bên hông.
Duật hỏi thêm:
- Hắn đi đến đây bằng gì, lão có nhớ không?
- Hắn đẩy một xe hàng đến, ta trộm đoán rằng là hắn làm nghề buôn bán gì đấy.
Duật và Thi liếc nhau.
Đẩy xe, mang theo chuỗi tràng hạt, trùng khớp với bà cụ bán lá thuốc từng mô tả.
Bản phác hoạ gương mặt của một tên sát thủ đã được mấy hoạ sư vẽ ra.
Cáo thị được chép tay không ngừng, tất thảy cũng hàng chục bản, đưa ngay cho lính tuần, dán khắp các ngả đường.
Binh lính đã nhận lệnh kiểm tra từng kẻ ra vào Thăng Long.
Chiếc lưới đã giăng lên, chỉ chờ một con cá quẫy đuôi sa vào là sẽ siết lại.
Tối đến, Thi ngồi trầm ngâm trên gác.
Những làn khói mỏng bay lên từ ngọn đèn dầu chập chờn như những suy nghĩ đang lượn lờ trong đầu cô.
Cô đưa tay bắt lấy, chúng tản ra, toả vào khoảng không trước mặt.
Tiếng chân Duật vang nhẹ trên bậc thang gỗ, hắn bước vào, theo sau là ám vệ trong tay cầm một bản cáo thị mới tinh.
Duật nhận lấy, lướt mắt qua một lượt rồi đặt phịch tờ giấy xuống bàn
– Lúc nãy có người báo rằng một đứa trẻ chạy chơi gần chợ Mới nhìn thấy một chiếc xe gỗ đen ám mùi rượu dừng lại trong hẻm nhỏ, cách đây chỉ vài dặm.
Thi ngẩng lên:
– Hắn chưa ra khỏi thành.
Phải bắt cho bằng được.
Duật gật đầu:
– Ta đã cho lính bao vây các lối phụ ra ngoại ô.
Còn chợ Mới thì ta với ngươi phụ trách.
Gió đêm đương rít lên ngoài song.
Hai người và ám vệ vội vã lên ngựa chạy về hướng chợ Mới, vó sắt gõ vào mặt đường lộp cộp.
Trăng non treo lơ lửng như một lưỡi liềm bạc, ánh trăng bàng bạc chiếu xuống nền đất loang loáng nước mưa.
Chợ Mới vắng tanh, chỉ có vài tiếng chày giã gạo từ những nhà dân gần đó vẳng lại.
Một tên tiểu thương đương dọn hàng run rẩy chỉ tay về cuối dãy hàng mộc:
– Ta thấy một chiếc xe gỗ đen đẩy vào trong kia.
Có người lưng còng mặc áo sẫm, trùm kín, ...
Không chờ người tiểu thương nói hết, Thi, Duật và ám vệ bước vội trong bóng tối.
Ba bóng người lập tức tỏa ra, len theo hai hẻm nhỏ dẫn vào dãy nhà kho cũ.
Đột nhiên, một tiếng "hự!" khẽ vang lên.
Ám vệ quay trở ra, gọi lớn:
– Hắn chạy về phía giếng nước!
Không đợi thêm, Duật lập tức rút con dao sắt giắt bên hông, phóng người đuổi theo.
Thi bám sát phía sau, chân bước nhẹ như mèo.
Bóng người áo sẫm phía trước lướt đi nhanh như cắt, hắn bỗng hất cái lưng còng giả xuống, bước chân trở nên chắc và nhanh nhẹn lạ thường.
Hung thủ quẹo gấp qua một lối nhỏ, đúng lúc ấy một bó rơm đổ xuống chắn ngang đường.
Thi không hề dừng lại, bật người lên, tay vin cột gỗ phóng qua.
Nhật Duật hừ lạnh:
– Trò trẻ con chặn đường!
Tên hung thủ toan nhảy qua bức tường thấp phía sau để ra đồng.
Nhưng hắn chưa kịp kiễng chân thì một thanh dao đã lướt gió lao tới, ghim xuống nền đất ngay trước mũi chân hắn.
Tên ám vệ lướt đến, tung một cước vào ống chân hắn, rồi thuận thế bồi thêm một đòn vào ót.
Kẻ giết người ấy loạng choạng khuỵu xuống như cây chuối bị gió xô.
Hắn toan đứng dậy phản đòn, thì bị Thi ghì cổ, quật ra đất.
Chiếc mũ trùm rơi xuống, để lộ gương mặt góc cạnh.
– Ngươi là ai? – Thi gằn giọng.
- Kẻ còn lại đang ở đâu?
Hắn im lặng, chỉ trừng mắt nhìn Duật, rồi nhổ máu xuống đất, bật ra một câu chửi khô khốc:
– Lũ các ngươi biết quá nhiều rồi đấy!
- Đừng nhiều lời!
Nói!
- Thanh dao của Duật đã kề sát cổ hắn, lưỡi dao sáng lên dưới ánh trăng.
Tên hung thủ không đáp, bật cười đầy vẻ khinh miệt.
Tiếng bước chân dồn dập vọng lại từ cuối ngõ.
Quân lính mang đuốc tràn tới, ánh lửa lập lòe soi rõ gương mặt lạnh lẽo của kẻ bị bắt, khiến hắn trông càng dữ tợn.
Mấy tên lính bước tới, trói ngoặt hai tay hắn lại sau lưng.
Dây siết chặt, kêu lên tiếng kin kít như tiếng gỗ mục miết vào nhau.
Duật lạnh lùng cất giọng:
– Giải hắn về nha môn, nhốt vào ngục kín, canh cẩn trọng.
Không cho bất kỳ ai tiếp cận.
Kẻ bị bắt không vùng vẫy, chỉ ngẩng mặt nhìn trăng.
Rồi hắn cười.
Một cái cười chẳng thành tiếng, chẳng rõ là tự giễu mình, hay là thách thức.
Trời đã vào khuya.
Trên con đường trở về căn gác của tiệm trà, gió và sương đêm lùa vào người có chút lạnh, Hoàng Thi khẽ rùng mình.
Về đến gác, chủ quán lục đục trong kho, mang ra một đống gối mền cũ, mùi trà khô vương vất trong vải.
Duật không nói nhiều, chỉ gật đầu cảm ơn, rồi quăng cho Thi và tên ám vệ mỗi người một cái.
Chăn tuy hơi sờn nhưng còn dùng tốt, đủ che gió đêm.
Hắn trải chăn, nằm xuống, nhắm mắt lại, thì thầm:
- Ngủ đi!
Chủ tiệm này là chỗ quen biết với ta.
Yên tâm mà ngủ.
Sáng mai còn phải đi kiếm tên còn lại
- Ừ.
Gió đêm thổi ngoài hiên kêu vi vu, lay lay mấy tấm liếp kêu cót két khe khẽ.
Hoàng Thi co gối, ngắm thật kĩ gương mặt người thiếu niên dưới ánh đèn.
Dường như giờ cô mới cảm nhận sâu sắc hơn so với lúc trước, rằng ẩn sau cái vỏ bọc của một vương tử thông minh, được nuông chiều từ nhỏ, là một con người bình thản và thấu đáo đến lạ lùng.
Một điều gì đó rất khác, xa rời vẻ bông đùa thường thấy ở vị Chiêu Văn Vương trẻ tuổi này.
Chợt trong đôi mắt người thiếu nữ ẩn giấu một ý cười mơ hồ.
Thi kê đầu lên gối, khẽ trở mình rồi nhắm mắt.
Chỉ một lúc sau, cô đã chìm vào giấc ngủ.
Duật từ từ mở mắt.
Hắn chưa ngủ.
Căn phòng im lìm đến mức nghe rõ cả tiếng gió lùa qua kẽ vách và tiếng thở đều đều từ người ám vệ nằm bên kia phản.
Hắn nghiêng đầu, lặng lẽ ngắm đôi vai Hoàng Thi đang khẽ động theo từng nhịp thở đều đặn.
Có một điều gì đó trong Thi khiến hắn cứ ngỡ rằng cô chẳng đơn thuần là một thiếu nữ mười sáu, như thể cô luôn đứng ngoài những ồn ã của đời sống, quan sát tất cả bằng một đôi mắt đã nhìn thấy quá nhiều.
Căn gác nhỏ dần chìm vào tĩnh lặng.
Một lát sau, Nhật Duật cũng khép mắt lại, nhẹ nhàng trôi vào giấc ngủ sâu.
Canh năm.
Trời còn mù sương, Hoàng Thi theo chân Duật vừa tới nha môn thì đã nghe lính trực gác hốt hoảng báo:
– Bẩm quan, phạm nhân đêm qua đã cắn lưỡi chết trong ngục.
Khi lính canh phát hiện thì máu đã đầy miệng, không cứu kịp.
Sắc mặt Nhật Duật đanh lại.
- Ngươi dẫn đường đi, bọn ta muốn kiểm tra thi thể.
Duật gạt tấm vải trắng che mặt thi thể, nhìn gương mặt gầy gò, máu đã khô ở môi, mắt vẫn mở trừng trừng.
Hắn im lặng, lật áo, tay chợt khựng lại khi chạm vào thứ gì cứng lạnh áp sát lồng ngực.
Là một miếng thẻ sắt, mặt thẻ chỉ khắc một chữ: "Phục".
Duật lặng người.
Thi lẩm bẩm:
– Là ký hiệu?
Duật dè dặt lên tiếng:
– Đợt Tết Nguyên Tiêu triều đình vừa vây bắt được một lô hàng lậu chuyển đến từ phương Bắc, manh mối đều biến mất, kẻ chủ mưu cũng tự vẫn, chỉ để lại thẻ sắt có chữ "Phục".
Thi thoáng rùng mình:
– Có lẽ chúng cùng một bè đảng.
Duật gật đầu, ánh mắt vị Chiêu Văn Vương thoáng trĩu nặng.
Mặt trời đã lên, sương vừa tan hết.
Thi và Duật lững thững rời khỏi nha môn.
Họ ghé một quán nước nơi đầu phố.
Quán nhỏ, ghế gỗ, vài ba người khách sáng sớm đang nhấp trà.
Gần đó, lũ trẻ con nô đùa bên vũng nước, chúng vừa nhảy nhót vừa đọc lanh lảnh một bài đồng dao kì lạ:
"Ai đi mà lấy chuông thiêng...
Giang sơn trường cửu, ngai riêng vững bền..."
Thi vẫy tay gọi một đứa nhỏ lại, chậm rãi hỏi:
- Nhóc, ai dạy cho em bài vè này đấy?
Cô bé gãi đầu, nhăn mặt:
– Dạ, mấy đứa bên chợ Mới đứa nào cũng hát.
Đứa này truyền đứa kia, chứ không ai dạy cả.
Thi cúi xuống, dịu giọng hỏi:
– Vậy em nhớ lần đầu tiên nghe là ở đâu không?
Cô bé cắn môi suy nghĩ, rồi lắc đầu:
– Không nhớ ạ.
Lâu lắm rồi, từ hồi Tết Nguyên Tiêu cơ.
Thi xoa đầu cô bé cảm ơn, dúi vào tay đứa nhỏ một đồng tiền.
Đứa trẻ reo lên chạy vụt đi.
Bấy giờ, Duật mới khẽ lên tiếng:
– Ngươi bỗng dưng lại để ý đến mấy bài đồng dao của bọn trẻ nít sao?
Thi thì thầm:
- "Giang sơn trường cửu, ngai riêng vững bền."
Ngươi nghĩ rằng bọn trẻ con nghĩ nổi ra câu đó?
- Cũng phải.
- Duật hơi ngẩn ra, rồi gật gù.
- Đưa qua miệng trẻ con.
Truyền đi êm như gió.
Hoàng Thi phóng mắt nhìn xa xăm, ngẫm nghĩ một lúc rồi bỗng hỏi:
- Ngươi có còn nhớ những giai thoại cũ thời Lý không?
Chuyện kể rằng, kẻ nào sở hữu được chiếc chuông linh thiêng là được trời ban thiên mệnh, có thể thâu tóm thế thời, xoay chuyển càn khôn.
- Ta từng đọc qua. – Duật gật đầu chậm rãi.– Chuông gió ấy, treo nơi nào là trời biết đất hay.
Nhưng cũng là thứ có thể gieo mê tín.
Người xưa tin theo, kẻ gian dễ bề lợi dụng.
- Phải!
- Thi tán thành, rồi hạ giọng, từng chữ đè nặng xuống.
- Lời đồng dao nếu ứng nghiệm, thì chiếc chuông đó có thể tiếp tay cho kẻ muốn đoạt lại giang sơn.
Mà bài đồng dao kia lan truyền từ Tết Nguyên Tiêu, trùng hợp thay, lại là lúc bùng lên vụ án buôn lậu như ngươi kể lúc sáng sớm.
Duật bỗng cảm thấy sau gáy lạnh đi như sương mai rịn vào cổ.
Những vụ án rời rạc giờ như đang được khâu lại bằng một sợi chỉ vô hình.
Thế lực kia muốn mượn giai thoại để đổi ngai vàng chăng?
Và giờ đây, những kẻ ấy đang ngấm ngầm trở mình ngay trên đất Kinh đô này.
- Ngươi biết thầy của anh Quang Khải chứ?
- Duật hỏi.
- Vị Thượng thư họ Lê chuyên viết sử đó à?
- Phải.
Về Thanh Hoá với ta một chuyến, biết đâu ông ấy có thể giải đáp cho chúng ta đôi điều về giai thoại kia.
Thi tròn mắt:
- Thượng thư không ở kinh đô sao?
Chẳng phải ta nghe nói rằng ngài ấy ngày nào cũng ngồi ở Quốc sử viện, theo lệnh Quan gia viết bộ sử ký gì đấy mà.
- Chậc!
Ông ấy vừa khăn gói về quê nửa tuần trăng trước, chỉ nhắn lại rằng "mẹ già bị bệnh, phải về phụng dưỡng".
Gió xào xạc trên ngọn cỏ, mặt trời buổi sớm đã lên đến lưng chừng, sắc nắng nhàn nhạt vương trên mái rạ của những ngôi nhà san sát.
Hoàng Thi và Nhật Duật ngồi cạnh nhau bên bàn trà, phóng tầm mắt ra xa giữa phố phường huyên náo, tự hỏi rằng trong nhân gian này còn bao điều đương ẩn giấu.