Cập nhật mới

Khác Chuông gió ngân, hoài cố nhân [Cảm hứng lịch sử]

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
373633595-256-k881598.jpg

Chuông Gió Ngân, Hoài Cố Nhân [Cảm Hứng Lịch Sử]
Tác giả: aoluangayxuan
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Cửa tiệm đồ mỹ nghệ nép trong một con ngõ nhỏ của kinh thành Thăng Long.

Tiệm chỉ mở bán từ lúc bình minh cho tới hoàng hôn.

Khi màn đêm buông xuống, bà lão mù sẽ đóng cửa, người thiếu nữ sẽ thắp đèn.

Thăng Long một lần nữa lại dậy sóng.

Giai thoại về tiếng chuông mang mệnh trời như dòng thác trôi dạt về nhân gian.

"Ai đi mà lấy chuông thiêng
Giang sơn trường cửu, ngai riêng vững bền."

Bài đồng dao kia liệu có phải là sự thật?

Thế thời như nước chảy, con người như cá bơi.

Mấy chục năm trước hay bây giờ, buổi loạn lạc hay khi yên ấm, có những con tốt vẫn luôn tranh giành ngôi tướng trên bàn cờ vận mệnh.
_____
Bối cảnh câu chuyện: Thời Trần, bắt đầu từ năm 1271.
*Những sự kiện, địa điểm và nhân vật trong truyện có thể không có thật, được xây dựng dựa trên trí tưởng tượng của tác giả và mượn cảm hứng từ bối cảnh lịch sử, không có tác dụng khảo cứu.



truyện-việt​
 
Chuông Gió Ngân, Hoài Cố Nhân [Cảm Hứng Lịch Sử]
Chương 1 - Bà lão mù


Cửa tiệm bán đồ thủ công mỹ nghệ nằm trên một con ngõ lát gạch rêu phủ.

Trong tiệm, một thiếu nữ ăn vận y hệt con trai, tóc giắt trâm ngà, mặt thanh mày sáng đang lúi húi tra sổ sách.

Tay phải gẩy bàn tính thoăn thoắt, tay trái lật giở từng trang giấy, cô lẩm nhẩm vài ba con số, chốc chốc lại lấy bút đánh dấu thêm vài chỗ trong sổ.

Tiếng xâu tiền va vào nhau loảng xoảng, tiếng chuông gió trước nhà lanh lảnh, hoà trộn với nhau trong cái đầm ấm của nắng sớm trước hiên, nghe thật vui tai.

Yên Thái là một trong những phường sầm uất bậc nhất xứ kinh kì.

Từ sáng tới tối, người bán, kẻ mua tấp nập.

Giấy lụa, giấy dó, giấy điều của cái phường này được các nhà quyền quý và hoàng tộc vô cùng ưa chuộng.

Vậy mà trên cái đất nhộn nhịp "kẻ đi buôn - người làm thợ" ấy, tiệm đồ thoạt trông có vẻ nhỏ bé kia đã tồn tại ngót mấy chục năm.

Bên song cửa, một bà già đang ngồi trên chiếc trường kỉ, nhàn nhã lau chùi mấy cái lư đồng được kì công chạm trổ.

- Thi, mấy nay trở trời, chân bà lại nhức mỏi rồi.

- Bà lão rên rỉ bằng cái giọng thều thào của người già.

- Vậy chiều nay cháu đi bốc thuốc cho bà.

Ông chủ tiệm thuốc đầu ngõ vẫn nợ nhà ta tiền của hai bức hoành phi, còn chưa trả đấy.

- Hoàng Thi đáp lời bà lão, mắt vẫn chưa rời khỏi bàn tính.

Bà lắc đầu, thở dài:

- Ta già cả rồi, trước sau gì cũng chết, bốc thuốc làm gì cho phí của.

Cô vẫn chăm chú đếm tiền, cất giọng bông đùa:

- Bà cứ hay nói điều gở thế nhỉ.

Chả phải mấy tuần trăng trước, có ông thầy bói bảo bà bách niên giai lão đấy thôi.

- Cháu nghĩ rằng ta có thể tin cái lão lừa gạt đó hơn chính ta à?

Thi nhún vai, rồi cất chiếc bút lông lên giá.

Bà cụ nhà cô thế mà lại tự tin quá thể.

Ngoài mặt là thế, nhưng một cảm giác lo sợ nào đấy vẫn luôn đè nén tâm can cô.

Bà nội tần tảo nuôi cô lớn, cửa tiệm này là tất cả vốn liếng của cuộc đời bà.

Nếu một ngày cô không còn bà bên cạnh nữa, đời cô sẽ u ám và trơ trọi biết nhường nào.

Suy nghĩ đó thoáng qua rồi trôi tuột đi trong khi cô sắp lại đống hàng bán của tiệm.

Những ngày tiết lập thu, trời xanh trong và heo may hiu hiu thổi.

Cái mùa thanh tao, hoàn mĩ nhất trong năm dễ khiến lòng người dấy lên thứ xúc cảm nao nao khó tả.

Rằm tháng bẩy sắp sửa tới, người ta đổ xô đến các hàng quán, lui tới trong những khu chợ, để chuẩn bị cho ngày xá tội vong nhân.

Bà lão với lấy chiếc chổi nhỏ làm bằng lông thỏ rừng treo trên giá, tỉ mần phủi bụi trên từng chiếc lư trước khi kì cọ chúng bằng khăn lụa.

- Dạo này ta hay nằm mơ thấy sao Kế Đô chiếu sáng phía Bắc trời Thăng Long, chẳng rõ là chuyện gì sắp đến nữa.

- Chắc bà lo nghĩ nhiều chuyện quá đấy.

Biết đâu là bầy heo của tên thương lái nào đó bị trộm mất cũng nên.

- Thi tặc lưỡi.

- Cái con bé này, ta chưa lẩm cẩm đến mức đấy đâu.

- Bà càm ràm.

Thi ngồi xuống cạnh bà lão, vừa đấm lưng cho bà vừa phụng phịu:

- Cháu chỉ đùa một chút thôi mà.

Nếu bà còn chưa yên lòng thì tối nay cháu sẽ mang viễn kính đi leo thành một chuyến.

Với cô, leo thành là chuyện chẳng khó gì mấy.

Mỗi lần sao trăng xoay chuyển, cô lại đem chiếc viễn kính mà cha cô để lại, khoác áo choàng, rời nhà trong đêm.

Cô tìm đường trèo lên mái ngói cao nhất của kinh thành, rồi ghi chép lại một cách tỉ mỉ vị trí của từng ngôi sao, từng đám mây trên bầu trời Thăng Long.

Đó là việc mà cha cô thường hay làm trước khi ông qua đời.

- Chưa vội, chưa vội.

- Bà lão vỗ nhẹ lên tay Thi.

Bà lại chăm chú lau chùi mấy chiếc lư đồng đến mức chúng sáng choang khi có nắng chiếu vào, cứ như được làm từ thứ kim loại quý giá nào đấy.

"Két."

Một người đàn ông đẩy cửa bước vào, nom cũng chỉ mới ngoài hai mươi, dáng người hơi gầy, lưng giắt quạt giấy, có vẻ là con trai của một gia đình giàu có nào đó trong vùng.

Thi bật dậy, chạy vội tới trước quầy, đon đả đón:

- Quan khách tới mua gì chăng?

Gã thư sinh rút chiếc quạt ra phe phẩy, cứ thế dạo một vòng quanh tiệm.

Đôi mắt gã dừng lại trên những cái lư đồng cạnh khung cửa đang ánh lên vì nắng.

- Ta muốn mua mấy cái lư này, không biết cô bán thế nào?

- Gã hất đầu hỏi Thi.

- Đồng làng Bưởi đấy!

Đồ tốt đấy!

Được giá thì tôi mới bán.

Một đồng cũng không bớt.

Một giọng nói khàn đặc vang lên, bà lão đặt chiếc lư đồng vào đế gỗ, ngẩng mặt nhìn người khách.

Tia nắng trưa chiếu qua cửa sổ rọi vào gương mặt nhăn nheo làm loé lên đôi mắt đùng đục, hai con ngươi của bà trắng bệch đương nhìn vào hư không.

Chúng khiến gương mặt vốn phúc hậu của bà trở nên u ám và bí ẩn khác thường.

Bà lão ấy bị mù.

- Ta đang hỏi chủ tiệm, chứ không hỏi bà, bà già mù ạ.

- Người đàn ông chắp tay sau lưng, lắc đầu nói.

Gương mặt bà lão từ từ giãn ra, bà cười vang, để lộ hai hàm răng móm mém:

- Cái tiệm này là do tôi dựng nên, tôi làm chủ.

Còn con bé đằng kia là cháu nội tôi.

Không tin thì quan khách có thể hỏi mấy nhà quanh đây xem thử.

Còn nữa, tôi thích được người khác kêu bằng tên hơn, người ta thường gọi tôi là bà Kỷ.

Trông thấy sắc mặt người khách hơi tối lại, Hoàng Thi lanh lẹ thưa:

- Quan khách thông cảm, người già tính khí thất thường ấy mà.

- Rồi cô lại khen lấy khen để.

- Anh đúng thật có mắt nhìn lắm đấy.

Cũng không giấu gì anh, lư đồng này là do người làng Bưởi của Kinh Bắc đúc rồi gửi lên đấy ạ.

Cả mấy ngõ quanh đây chỉ tiệm tôi có bán.

Tôi lấy rẻ cho anh mỗi lư là một quan sáu tiền thôi.

- Được, chỗ này có bao nhiêu ta lấy hết, mang ra xe ngựa giúp ta.

Tiền đây.

- Gã thư sinh ném xâu tiền lên trước quầy.

Thi niềm nở cảm ơn rồi nhanh chóng bỏ hàng vào trong hai cái bao, đem treo bên yên ngựa của gã.

Xong việc, người đàn ông toan rời đi, thì cô đã gọi với lại:

- Quan khách xin dừng bước, tiệm chúng tôi có một món quà muốn tặng quan khách.

- Chà, mua hàng cũng được tặng quà sao?

- Gã thư sinh ngạc nhiên.

- Chả trách mấy nhà giàu quanh vùng cứ thích mua đồ ở chỗ cô.

- Cứ mua nhiều hơn bảy quan là đều được tặng quà ạ.

- Thi nhanh nhẹn mang ra một bức thư pháp.

- Bức này làm từ giấy lụa đặc biệt của phường Yên Thái đấy ạ.

- Núi cao gió lộng, chim dang cánh vờn mây trên ngọn trúc.

- Người đàn ông đón lấy bức thư pháp, đọc thành tiếng - Câu này khá hay, chữ cũng đẹp đấy.

- Thực ra câu này còn thiếu một vế đối ạ.

- Thi tươi cười giải thích.

- Thiếu?

Vậy vế đối còn lại là gì?

- Sông sâu nước xiết, cá quẫy đuôi gợn sóng dưới chân bèo.

Giọng nói khàn đặc lại vang lên, bà Kỷ đã chuyển sang lau chùi mấy cái chân đèn bằng gốm.

Có vẻ bà rất ưa công việc này.

- Bà am hiểu thơ văn đến vậy ư?

- Vị khách trẻ nhướn mày.

- Cũng không hẳn, tôi chỉ là quen biết người viết ra câu ấy mà thôi.

- Bà lão cười hiền, trong đôi mắt đục ánh lên sự minh mẫn đến lạ thường.

Người khách đi khỏi rồi, bà lão vẫn ngồi đăm chiêu, cứ lau mãi cái chân nến trên tay.

Cách đây nhiều năm về trước, con trai bà chính là người đã viết nên hai câu đối đó.

Lẽ ra, nó đã có thể làm một vị quan văn sáng sáng lên triều chấn hưng khoa cử, đêm đêm thắp đèn phóng tác văn chương, lúc về già thì sống an nhàn, có con chăm sóc, có "ngư, tiều, canh, mục" làm thú vui.

Đáng tiếc, nó đã chọn con đường đẩy hiểm nguy, rồi cuối cùng lại mất sớm.

- Bà lại nhớ tới cha của cháu rồi à?

- Hoàng Thi ngồi xếp mấy cái giỏ mây, bần thần hỏi.

Bà Kỷ ậm ừ không nói gì.

- Bà nói xem, nếu cha cháu còn sống, chắc ông ấy cũng tầm tuổi bác Phu bán xôi đầu ngõ nhỉ?

- Chắc thế.

- Bà lão đáp gọn lỏn, bỏm bẻm nhai trầu.

Năm mà đứa con trai yêu quý của bà bị người ta hại chết, bà cũng ngoài sáu mươi.

Người tóc bạc tiễn kẻ đầu xanh, có nỗi đau nào day dứt lâu hơn thế.

Năm ấy, con bé Thi chỉ mới chừng lên hai lên ba, vậy mà đã hơn mười năm trôi qua rồi.

Nhìn đứa cháu gái chưa tròn mười bảy đã sớm tháo vát hơn người, bà Kỷ không khỏi xót xa.

Mẹ nó mất vì khó sinh, ngày con bé ra đời cũng là ngày giỗ của con dâu bà.

Mấy năm sau, con trai bà cũng qua đời, để lại nó cho bà, con bé cứ thế mà lớn lên như cỏ dại.

Hoàng Thi cất chồng giỏ mây lên nóc tủ, với lấy cái khăn lụa khác, tới ngồi lau đồ gốm cùng bà lão.

- Lâu rồi chuông gió không khua đêm bà nhỉ?

- Ừ, khua ít cũng tốt, khua nhiều dễ khiến người quanh đây nảy sinh tò mò.

- Dạo gần đây cháu cứ thấy bất an thế nào ấy.

Hôm qua cháu còn nằm mơ một mình cưỡi ngựa vượt đèo băng sông nữa.

- Thi khẽ thở dài.

- Có lẽ ông trời đang muốn nói gì đó với cháu.

- Bà lão rít lấy nước trầu, rồi nhả bã ra chiếc bát men bị mẻ góc.

Ăn trầu mang lại cho con người ta một cảm giác say say như uống rượu.

- Răng bà yếu rồi, đừng nhai trầu nhiều nữa.

- Cô phàn nàn.

- Cháu khỏi lo, ta còn khỏe chán, mấy tên thầy bói còn bảo ta sẽ bách niên giai lão đấy chứ.

Cô phì cười.

Bà nội đúng thật là... nói ngược hay xuôi gì cũng được.

Chiều đến, tà dương nhuộm màu đỏ quạch lên những mái nhà.

Kinh thành Thăng Long bỗng nhạt nhoà trong cơn mưa bất chợt.

Mưa vuốt ve cành lá, nhảy nhót trên khóm hoa.

Mưa rào rào trên ngói rêu, mưa lách tách trên tấm phên nứa.

Gió đến cùng mưa khua những chiếc chuông gió treo trước tiệm kêu leng keng.

Cả con ngõ dài trông buồn hẳn đi trong cơn mưa tầm tã.

Bà Kỷ chép miệng:

- Mưa thế này chắc sớm tối trời đấy.

- Vâng...

- Thi thả hồn theo mấy hạt mưa ngoài cửa, nghĩ vẩn vơ.

- Nhớ thắp đèn sớm đấy.

- Bà lão âu yếm giục.

- Cháu nhớ rồi.

- Bỗng cô trầm giọng xuống.

- Cháu đang nghĩ là có khi... mấy ngày tới chuông gió sẽ lại khua ban đêm bà ạ.
 
Chuông Gió Ngân, Hoài Cố Nhân [Cảm Hứng Lịch Sử]
Chương 2 - Thái uý


Đêm.

Cửa tiệm của bà Kỷ cài then im lìm dưới bóng trăng.

Gió len qua những cành cây trĩu lá, tiếng gió vù vù dội vào tấm phên nứa kêu sột soạt.

Trong tiệm, ánh đèn le lói.

Hoàng Thi co gối, thu mình trong chiếc áo mỏng, cặm cụi cuộn lại số tranh vẽ được vị hoạ sư trong triều biếu tặng, coi như là trả công cho cô đã tiên đoán được một biến cố của gia đình ông.

Bà Kỷ đương nằm ngủ trên chiếc chõng tre, tiếng thở đều đều vọng khắp gian nhà.

Trời về khuya mỗi lúc một lạnh, Thi kéo thêm chăn đắp cho bà, bóng hai bà cháu đổ dài trên vách gỗ.

Chùm chuông gió trước tiệm đột ngột khua lên tiếng rất to, có ai đó đang gõ cửa.

Trong bóng tối mập mờ của đêm sương, một vị khách bí ẩn đẩy cửa gỗ bước vào.

Người đàn ông khoác áo màu mận chín, để lộ nghi thái đầy khác thường.

Vừa nhìn qua, Thi đã biết là người của hoàng thất.

Cô bước tới cúi đầu hành lễ:

- Lạy Thái uý, nay tiệm nhỏ này có phúc được Thái uý đến thăm.

- Ngươi biết ta là ai?

- Trần Quang Khải khẽ chau đôi lông mày, trên nét mặt hiện ra vẻ băn khoăn.

- Vâng, tôi từng nhìn thấy người.

- Cô bình tĩnh đáp.

- Năm Bính Dần, Nậu Lạt Đinh nhà Nguyên sang thông hiếu, Chiêm Thành đến cống, đều là đích thân Thái Uý ra cổng thành đón vào.

- Ngươi mới thấy ta đôi lần, sao vừa gặp đã nhớ ra ngay?

- Vị võ tướng ngờ vực hỏi.

Bằng giọng nhẹ nhàng nhưng không một thoáng dao động, Hoàng Thi kính cẩn thưa:

- Dạ bẩm, cả nhà tôi xưa nay được thánh thượng và vương hầu tôn thất tin cậy đều có lí do cả.

Mời Thái uý vào ngồi.

Trần Quang Khải bước vào gian nhà, ngồi xuống chiếc trường kỉ.

Thi cời bấc, thắp thêm đèn.

Bấy giờ ông mới nhìn kĩ người thiếu nữ trước mặt.

Dáng người tuy mảnh mai nhưng cứng cáp, tuổi còn nhỏ mà phong thái đã hơn người, đối đáp với bề trên khéo léo nhưng không hề run sợ, trái lại càng toát lên vẻ khí khái, cương trực.

- "Hổ phụ sinh hổ tử".

Khẩu khí của ngươi rất giống cha ngươi.

- Thưa Thái uý, bà nội tôi cũng thường nói vậy.

- Thi mỉm cười niềm nở.

- Nếu được tài giỏi như cha thì là phúc phận của tôi, tiếc là tôi còn phải nỗ lực nhiều hơn nữa.

Trần Quang Khải gật gù:

- Cha ngươi là tâm phúc mà Thượng phụ Thái sư ngày trước [1] giữ lại bên cạnh Quan gia.

Ông ấy còn thường xuyên được vời đến giảng thiên văn cho đám học trò ở Quốc học viện [2].

Lúc sống thì cống hiến cho thịnh hưng của Đại Việt, đến lúc chết vẫn giữ vững tấm lòng với Trần triều ta.

Năm xưa, vua Thái Tông thân hành thống lĩnh sáu quân đi đánh giặc Mông Cổ, quan giữ ấn lại cất vội ấn báu ở điện, chỉ mang ấn nội mật đi theo, giữa đường ấn đó lại mất.

Lúc đó, quân Trần tạm thời rút lui, thực hiện kế thanh dã [3], để bọn Ngột Lương Hợp Thai tạm thời chiếm giữ kinh đô.

Ngờ đâu, cha cô - Thị lang Lê Trường Thu, lúc ấy sắp sửa rời kinh đô, nằm mộng thấy nơi cất hai con ấn, liền liều chết đột nhập hoàng cung rồi trộm khỏi tay giặc Thát.

Ông đã kịp nhờ người bí mật đem ấn ra khỏi cung, nhưng bản thân lại bị bọn Hợp Thai phát hiện, trúng tên độc của chúng mà chết.

Sau này trên đường xa giá về kinh, Thái Tông được người ta dâng trả ấn, người ấy cũng thuật lại đầu đuôi câu chuyện.

Cũng kể từ đó, mỗi bước lớn khôn của Hoàng Thi đều có sự bảo hộ của tôn thất nhà Trần.

Cô bần thần ngồi xuống đối diện vị Tướng quốc Thái uý, ánh mắt nhìn ra ngoài cửa sổ xa xăm.

Đêm nay trời vắng sao, chỉ còn ánh trăng vằng vặc treo nơi đầu ngọn cây cổ thụ.

Thi trầm mặc ngồi yên như thế một lúc lâu mới nhẹ nhàng cất tiếng:

- Dạ thưa, những chuyện người nói tôi đều hiểu ạ.

Nhờ ơn Quan gia nể tình trọng nghĩa, không quên chuyện xưa, nên mùa đại hạn năm trước tôi và bà mới được giúp đỡ để bình an tới bây giờ.

Năm tôi lên bảy, Thân vệ Tướng quân đích thân tới dạy võ cho tôi, năm tôi lên tám, là Hưng Ninh Vương dạy tôi viết chữ, tôi cũng biết đấy là ý của Thái sư và Quan gia.

Cô vốn biết từ trước tới nay, mọi người vẫn coi cô như một đứa trẻ thơ.

Cây non thì dễ uốn, các vị tôn thất và thánh thượng cứ ỷ vậy mà suốt ngày rao giảng việc cô phải kế tục cha để làm một bề tôi trung nghĩa, phải nuôi chí lớn góp công lao của mình cho Đại Việt.

Cô đã từng vì thế mà nhiều lần bất đồng với Thân vệ Tướng quân.

Còn Hưng Ninh Vương hiểu cô hơn, người không phản bác nhưng cô cũng biết rõ Vương không cho rằng suy nghĩ của cô là phải.

Những lời nói của Thái uý vừa nãy lại một lần nữa dấy lên con sóng đã nguội trong lòng Thi.

Dường như có cái gì đó đương nghẹn lại nơi cổ họng, giọng cô lạc đi:

- Tuy thế, tôi không chắc rằng tôi sẽ đi con đường của cha tôi.

Ông ấy từ thuở thiếu niên đã tận trung với quốc gia và hoàng thất.

Cha tôi có thể vì nghĩa lớn mà quên thân mình, quên mất mẹ gìa con côi.

Nhưng tôi, - Cô quay đầu sang nhìn bà Kỷ vẫn ngủ an lành trên chõng.

- Có những người cần tôi bên cạnh.

Vị Tướng quốc Thái uý lặng hẳn đi trước lời nói của người thiếu nữ.

Trước lúc gặp mặt, ông đã nghĩ rằng con của Lê Trường Thu vẫn còn là đứa trẻ mười lăm mười sáu, làm sao đủ chính chắn để gánh vác chuyện triều chính quốc sự, thế mà Quan gia vẫn kiên quyết bảo ông đến tiệm hỏi ý kiến của con bé.

Bây giờ thì ông tin rồi, người thiếu nữ trước mặt có cái vẻ thâm trầm như đã ngoài ba mươi.

Có chăng là sự thiếu vắng tình thương của bậc phụ mẫu, cùng những biến cố thời ấu thơ đã biến một cô gái bé nhỏ phải học cách kiên cường, hiểu người, hiểu thời, để có thể bình an mà khôn lớn.

Nén dòng cảm xúc chực trào, Thi đổi chủ đề:

- Dạ thưa, hay thôi ta không nói chuyện này nữa.

Chẳng hay Thái uý có việc gì cần nhờ tôi?

Trần Quang Khải bấy giờ mới lên tiếng:

- Vừa mới đây, Quan gia nhận được cấp báo rằng sứ thần do Hốt Tất Liệt đang sắp sửa đến nước ta, e rằng hắn sẽ đòi Quan gia sang chầu.

- Vậy Quan gia định thế nào ạ?

- Thi bình tĩnh nhấc ấm trà, rót ra chén, đẩy đến trước mặt Thái uý.

- Tất nhiên là Quan gia không muốn đi!

- Vị Thái uý nâng chén trà lên, nhấp một ngụm rồi nói.

- Ngày trước, vua Cao Ly họ Vương chấp nhận yêu sách sang hầu của nhà Nguyên, cuối cùng mấy đời từ vua cha đến vua con đều chịu kiếp làm con tin.

Cô nghe vậy bèn cười mà đáp rằng:

- Thưa, việc Quan gia đã định, thì cứ thế mà làm, sao phải nhọc công Thái uý đến gặp tôi?

Trần Quang Khải xoay xoay chiếc chén gốm trong tay, ánh trăng ngoài bậu cửa rọi vào nước trà sóng sánh.

- Đúng là thế, nhưng vẫn còn thiếu một lý do.

Sứ nhà Nguyên chắc chắn không chịu trở về nếu như chúng ta không đưa cho hắn một lý do thoả đáng.

- Thế nào mới thoả đáng được đây!

- Thi bật cười - Chi bằng bảo Quan gia giả bệnh rồi từ chối lời dụ sang chầu cho xong chuyện.

- Giả bệnh?

- Vị Thái uý se sẽ giật mình, chuyện long thể của thánh thượng đâu thể đem ra đùa giỡn được.

- Cách này sẽ ổn thoả chứ?

- Thưa, phải ạ.

Nhà Nguyên cũng không đến nỗi bỏ công bỏ sức cử thêm một đoàn sứ thần sang Đại Việt chỉ để bắt mạch thỉnh bệnh cho Quan gia đâu.

Mà Hốt Tất Liệt có thâm hiểm đến thế đi chăng nữa, thì cứ bảo đó là bệnh theo mùa, hoặc tâm bệnh, rời khỏi Kinh đô là lăn ra ốm.

Thái uý về nói với Quan gia viết một bức thư hồi âm, tỏ rõ lòng thành với nhà Nguyên, cũng như nói rằng mình nhiễm bệnh, thân thể ốm yếu, đi sứ sang bên ấy dài ngày ắt không hợp thuỷ thổ, lỡ như...

- Thi nuốt nước bọt, ghé sát tai Thái uý nói.

- Lỡ như có "nằm lại" dọc đường e là chỉ sinh ra lôi thôi chứ không có lợi lộc gì cho Nguyên triều cả.

Trần Quang Khải nghe vậy vừa ngờ ngợ vừa lo lắng.

Nhưng việc Quan gia dặn đã xong, ông liền đứng dậy chào.

Thi biết ý, chắp tay đáp lễ.

- Tạ Thái uý đến thăm.

Nếu Thái uý có gặp thầy tôi, cho tôi gửi lời hỏi thăm đến ngài ấy.

Quang Khải toan dời chân thì Thi đã kịp nói thêm:

- Còn một việc tôi nghĩ không biết có nên nói hay không, vì dù gì cũng là chuyện riêng nhà Thái uý.

- Ngươi cứ nói ta xem.

- Thái uý quay trở vào, cười hiền từ.

Cô ngẩng đầu, cất giọng lễ phép nhưng hơi chút chần chừ vì sợ ông phật ý:

- Thưa, phiền người nhớ đối xử tốt với Phụng Dương công chúa.

Trong gia đình, người chồng quan trọng nhất là phải đối xử công bằng, trước là với chính thê, sau là với thiếp thất của mình.

Có như vậy thì gia quyến mới yên ổn.

- Ta hiểu.

Dù gì Phụng Dương cũng là hoàng nữ, lại là chính thất của ta, tất nhiên ta không để nàng ấy chịu khổ.

- Dạ thưa, tôi nói vậy không phải vì công chúa là hoàng nữ của Quan gia, mà là vì công chúa là một người tốt, chu đáo, thông tuệ, lại một mực vẹn tròn đạo nghĩa.

Tôi chắc chắn mai sau, công chúa sẽ giúp sức được rất nhiều cho Thái uý.

- Thi nhẹ giọng, nói.

Quang Khải đưa mắt nhìn xa xăm ngoài cửa, lặng yên không đáp.

Ánh trăng rọi tỏ khuôn mặt suy tư của vị võ tướng đương triều.

Thấy thế, Hoàng Thi cũng không làm khó ông thêm nữa, cô cúi đầu bái biệt:

- Đêm khuya gió buốt, Thái uý đi cẩn thận.

Trần Quang Khải bước ra khỏi cửa tiệm, vội vã rời đi, rồi khuất dần trong màn đêm mờ mịt.

Trống canh ba vừa điểm.

Con ngõ trước tiệm tối hơn, mùi đất đọng lại từ cơn mưa chiều dậy lên ẩm ướt và ngai ngái.

Trên sân, bóng cây sầu đâu chập chờn trong gió lạnh.

Thi nghe tiếng lá rào rào và loáng thoáng tiếng chó sủa từ mấy nhà chung quanh vẳng lại.

Cuộc đối thoại ban nãy với Thái uý vẫn quẩn quanh trong tâm trí cô.

Cạnh chiếc bàn con, đốm lửa lập loè trên đĩa đèn soi tỏ cái cái đòn gỗ ẩm ướt trong góc nhà, bức hoành phi treo trên cột đã phai màu chỉ còn mờ mờ ánh đỏ, và dăm ba món đồ thủ công mới đem từ dưới Kinh Bắc lên còn nguyên trong cái sọt để cạnh chõng tre.

Cô chợt nghĩ tới sự chơ vơ của đời mình.

- Thái Uý về rồi sao?

- Bà Kỷ thều thào.

- Vâng ạ.

- Thi bình thản trả lời.

Cô biết bà nội đã sớm thức giấc.

Dĩ nhiên bà đã đều nghe thấy hết cuộc đối thoại giữa Thái uý và cô.

Bà Kỷ im lặng một lúc, dường như nghĩ ngợi điều chi, định nói rồi lại thôi.

Bà khẽ trở mình, tiếng chõng tre kêu cót két.

- Nhớ thổi tắt đèn, cháu cũng ngủ sớm đi.

- Vâng.

- Cô đáp.

Đêm đã khuya.

Gió sông Nhị Hà thổi mát rượi.

Đá rải ven sông sáng lên lấp lánh dưới ánh trăng.

Đâu đó có tiếng bìm bịp kêu, tiếng mõ lóc cóc của dân vạn chài đi đánh cá.

Trên sông, ông lái đò cất giọng ngâm thơ buồn não ruột:

Nguyệt quang tĩnh dạ cửu trùng,

Khải phong lay động mấy chùm phong linh. [4],[5]

___________

[1] Thượng phụ Thái Sư: ý chỉ Trần Thủ Độ

[2] Quốc học viện: Quốc Tử Giám thời bấy giờ

[3] thanh dã: kế sách "vườn không, nhà trống"

[4] khải phong: gió nam ôn hoà

[5] phong linh: chuông gió
 
Chuông Gió Ngân, Hoài Cố Nhân [Cảm Hứng Lịch Sử]
Chương 3 - Đất bằng nổi sóng


Chợ ở Kinh đô mấy ngày giáp rằm càng thêm náo nhiệt.

- Cho ngươi đấy.

Nhật Duật ném cho Thi một chiếc bánh ít đen, cô vội chụp lấy.

Bánh còn ấm, có vẻ vừa được mua ở một sạp hàng nào đó.

Hai người vừa đi vừa trò chuyện nên một lúc lâu sau cô mới để ý rằng vị Chiêu Văn Vương tự lúc nào đã chậm lại, đi sát phía sau lưng cô.

Cằm hơi hỉnh lên, hắn khe khẽ kiễng gót chân của mình theo mỗi bước đi.

- Gì thế?

- Cô né người sang một bên, quay đầu hỏi.

- Nhìn xem, ta cao hơn ngươi rồi đấy!

- Duật cười.

Thi chợt nhớ lại lần đầu gặp Trần Nhật Duật.

Trong một buổi chiều chừng hai năm về trước, nhân một hôm bác Cả từ dưới Diễn Châu lên kinh, cô nhờ bác trông tiệm thay mình, rồi đi gặp thầy.

Hôm ấy, Hưng Ninh Vương có dắt theo Nhật Duật cùng đi.

Lúc đó, cô vẫn gọi hắn là "Vương", xưng là "tôi", nhưng hắn lại gạt phắt đi "Ta muốn làm bạn với ngươi, cứ gọi ta là Duật".

Trong kí ức của Hoàng Thi, Nhật Duật năm mười bốn tuổi chỉ cao ngang vành tai cô, dáng người mảnh dẻ như con gái, đến bàn tay của hắn cũng thon nhỏ và mềm mại y hệt chiếc lá sen non.

Thế mà hai năm sau, Duật đã trở thành một chàng thiếu niên rắn rỏi, giờ còn hơn thua cả chuyện so cao thấp với cô.

Cô thấy hơi buồn cười, nhưng không muốn vị Vương trẻ phát hiện nên liền ngoảnh mặt bước nhanh thêm mấy bước.

Nhật Duật vẫn lẽo đẽo đằng sau.

- Ngươi giận à?

- Không, ngươi cao hơn ta thì tốt.

Người cao thì chạy nhanh, sau này có rủ ngươi đi vặt trộm quả nhà người khác cũng không lo bị người ta đuổi bắt.

- Ngươi không nghĩ tới thứ gì tốt đẹp được sao?

- Hắn bĩu môi.

Khu chợ nhộn nhịp họp cạnh một bến nước, ngay ven Tây Hồ.

Người ta vẫn thường gọi đấy là bến chợ.

Dọc hai bên hồ, rặng dương liễu rủ cành khẽ lay lay theo từng nhịp gió đưa, những giậu cúc vàng ươm đẹp mơ màng dưới nắng, lá thu bay bay và những triền mây trôi bảng lảng trên nền trời xanh thẳm.

Thiên nhiên của xứ Kinh kì in vào đáy nước một cái bóng rất nên thơ.

Thi và Duật ngồi chồm hỗm bên bờ hồ, nhìn đám bèo cái trôi lênh đênh trên mặt nước.

- Dạo này người ta đang truyền tai nhau vụ án phía Đông thành, chỗ có cửa Tường Phù ấy.

- Hai người bị giết ở phường Giang Khẩu ấy à?

- Ừ, sao ngươi biết?

- Ngươi biết thì ta cũng biết.

Sáng sớm nay ra chợ, nghe dân chúng đồn đại thế.

- Cô mải mê cắn chiếc bánh ít trên tay, vừa nhai vừa đáp.

- Tam ti viện chưa tra ra được là do ai làm.

Nghe bảo hung thủ đã chuồn mất.

Hỏi mấy nhà chung quanh cũng không ai biết hắn trông ra làm sao.

- Trần Nhật Duật thở dài.

- Ta muốn xin đảm nhận vụ án này.

- Ngươi điên à?

Ánh mắt sắc lẹm như lưỡi dao đồ tể của Nhật Duật lướt qua cô.

Thi biết mình đã lỡ lời.

Nhưng cô chưa kịp nói gì thì hắn đã buông một câu chọc ngoáy:

- Vì làm bạn với ngươi nên ta mới điên đấy.

Cô cười hì hì, lại cắm cúi ăn cái bánh ít hắn cho.

- Vụ án này sợ là có uẩn khúc gì đó, một mình ta e là khó điều tra.

- Nhật Duật quay sang cô đề nghị.

- Ngươi có muốn giúp ta một tay chăng?

Cô trố mắt nhìn hắn.

Vị Vương trẻ ấy rất nghiêm túc chờ đợi lời đáp từ cô, không một thoáng dao động hay tỏ vẻ bông đùa.

Cô biết hắn đang hỏi thật.

- Thần tài hèn sức mọn, đâu thể nào phụ giúp Chiêu Văn Vương giải quyết một vụ án lớn như thế.

- Thi chống chế.

Nhật Duật nguýt dài một cái:

- Tài hèn sức mọn mà dám hiến kế cho cả Quan gia à?

Cô gãi đầu gãi tai, nói:

- Thực ra là bà nội ta mấy ngày nay không được khoẻ, ta phải chăm sóc...

- Ta cử ngự y tới chăm sóc cho bà ấy, ngươi không cần lo.

Thi vội xua tay:

- Không phải, không phải, mà là ta sang phường bên ấy không quen biết ai, không hợp thuỷ thổ, dễ bị...

- Ta không bắt ngươi ngủ lại bên ấy, đi vài canh giờ trong ngày rồi về, việc này ngươi cũng không cần lo.

- Vậy thì...

- Ngươi không muốn đi chứ gì?

- Duật cắt ngang, nhíu mày nhìn cô, giọng gắt lên giận dỗi.

Cô cười giả lả trước ánh nhìn khó chịu của cậu bạn thân thiết:

- Quả là Chiêu Văn Vương anh minh!

Nhật Duật nhặt một ven sỏi dưới đất rồi thảy ra giữa hồ.

Viên sỏi nảy lên vài lần rồi chìm xuống, mặt nước bị xáo động gợn sóng thành những vòng tròn đồng tâm lan toả dần.

Duật lặng yên đăm đăm nhìn mặt hồ.

Mi mắt hắn khẽ cụp xuống, giọng buồn hẳn đi:

- Tối qua, ta có hỏi anh Khải xem ai có thể đảm nhận vụ án.

Anh Khải bảo các vị quan liên quan tới Tam ti viện đều lấy lí do là bận trăm công nghìn việc, bọn họ thoái thác hết cả.

Ta bèn nghĩ rằng ta có thể đảm nhận vụ này, biết đâu lại điều tra ra được điều gì đó.

Vốn dĩ ta tưởng rằng ta coi ngươi là bạn thì ngươi sẽ bằng lòng giúp cơ chứ.

Hoàng Thi ném vỏ bánh xuống nước, chùi tay vào vạt áo.

Cô đặt tay lên vai Duật, vỗ nhẹ ra chiều an ủi.

- Không phải là ta muốn bỏ mặc ngươi.

Nhưng ngươi biết đó, ta trước giờ chỉ muốn bình an mà sống qua ngày.

Bà nội ta già rồi, mắt bà không còn sáng nữa, bà cần một người thân bên cạnh chăm sóc.

Mấy người họ hàng sống cũng không dễ dàng gì, cũng đều phải bươn chải để kiếm miếng ăn, không thể nhờ họ được.

Nếu ta xông pha nơi đầu sóng ngọn gió, e rằng đến cái mạng cỏn con này của ta, ta cũng không giữ nổi.

Nhật Duật đáp một câu "Ta hiểu" rất khẽ.

- Ta nói thế này có lẽ sẽ khiến ngươi phật ý.

Ngươi sinh ra đã ở trong chăn êm nệm ấm, cơm nước có người chăm lo, những nỗi khổ của thường dân có lẽ ngươi hiểu nhưng chưa bao giờ phải nếm trải.

Cha ta mất, bà nội ta đã rất đau lòng, ta không muốn nhìn thấy cõi lòng bà tan nát thêm lần nữa.

Nhật Duật im lặng không nói gì thêm.

Hắn cũng chẳng phản bác, cứ đăm chiêu di di ngón trỏ trên đất.

Thi phủi tay đứng dậy:

- Đến giờ phải về rồi, ta đi trước đây.

Chiều đến.

Mặt trời lừng lững xuống sau luỹ tre ngà, rải một áng màu hung hung đỏ lên những mái nhà lợp cói.

Tiếng quạ kêu thê lương, tiếng cót két của những chiếc xe bò đương lăn bánh về nhà sau giờ tan chợ, khiến buổi chiều của con phố êm đềm trở nên tiêu điều và buồn tẻ.

Một đám đông náo loạn giữa phố, người ta đang đứng xì xào to nhỏ.

Tiếng chửi rủa của một bà cô nào đó vang lên nghe thật chát chúa.

"Ối giời ơi, chúng mày thấy người sang thì bắt quàng làm họ à.

Tao cũng thương chúng mày lắm nhưng không nuôi chúng mày được đâu con ạ."

Mấy chuyện kì khôi như thế, Thi vốn chẳng buồn để tâm.

Nhưng hình như xen lẫn trong tiếng chửi ngoa ngoắt đó còn có tiếng trẻ con khóc.

Bước chân bần thần của thi chợt khựng lại, cô lách người qua đám đông.

Hai đứa trẻ rách rưới đang ngồi khúm núm trên mặt đất.

Đứa nhỏ chắc tầm hai tuổi, còn chưa dứt sữa, đứa lớn thì chừng lên tám lên mười.

Con chị cứ ôm khư khư đứa em trong lòng, nhìn bà cô đang chửi lanh lảnh kia đầy thành khẩn.

"....

Nhà này đã năm miệng ăn rồi, không có chỗ cho chúng mày."

Thi lại nghe mấy người đứng cạnh bàn tán.

"Nghe nói là người bên Giang Khẩu."

"Vụ án Tường Phù đấy phỏng."

"Khổ thân, thầy u mất nên mới phải nương nhờ họ hàng."

Bàn tay chợt siết lại, cô lao đến chỗ hai đứa nhỏ, dúi cho con chị cái bánh bao vừa mới mua, rồi chạy biến đi, để lại con bé lớn ngồi nhìn trơ trơ vào bóng người vừa mất hút sau đám đông.

Hoàng Thi lảo đảo về nhà, lách người qua cửa gỗ.

Cô bò lên chõng tre, thu mình nằm cạnh bà, rồi thiu thiu chìm vào giấc ngủ.

Tờ mờ sáng, chưa hết canh năm, Thi đã lật đật trở dậy đun nước pha trà.

Chuyện đó đã thành thói quen của cô từ lúc mới lên tám lên mười.

Hồi đó, mắt bà vẫn còn chưa loà đi bởi tuổi già, nhưng cô vẫn học làm để đỡ đần bà thêm một chút.

Suốt buổi sáng, chỉ trừ lúc có dăm ba vị khách ghé qua, cô cứ lặng thinh, chẳng hé môi nói nửa lời.

Bà Kỷ biết cô đang nghĩ ngợi cái gì đó, cũng có thể là nặng lòng bởi mấy lời đồn đại gần đây.

Bà thương cháu, nhưng cũng chẳng buồn hỏi, có lẽ cô cũng chưa muốn nói với bà lúc này.

Mãi cho đến chiều, khi tiệm đã vãn khách, cô mới chịu mở lời.

- Có một chuyện cháu biết rằng theo lẽ phải là nên làm - Giọng Thi run run.

- nhưng cháu lại e sợ kết cục của nó đối với chính mình và cả bà nữa.

Cháu phải làm gì đây hở bà?

- Cứ nói ta nghe, có những chuyện giấu mãi trong lòng không tốt đâu cháu.

- Chuyện vụ án bên Tường Phù dường như có uẩn khúc đằng sau.

Chiều nay, cháu gặp Chiêu Văn Vương, Vương có hỏi rằng cháu có muốn đảm nhận vụ án này với cậu hay không?

- Cháu trả lời thế nào?

- Cháu đã từ chối.

Cháu biết thế là hèn nhát.

- Ôi cháu gái của ta, chẳng sao cả, đừng vì thế mà nói bản thân mình hèn nhát.

Trước sóng gió, con người đều lo lắng cả thôi.

Cô se sẽ "Vâng" một tiếng.

- Nhưng trong lòng cháu vẫn muốn đi, đúng chứ?

Cô lặng thinh vài khắc, rồi chậm rãi kể:

- Sau khi từ chối Nhật Duật, cháu vẫn nghĩ rằng mình làm thế là không trái với lòng.

Nhưng lúc gần chập tốt, trên đường về, cháu có gặp hai đứa trẻ lang thang.

Chúng phờ phạc và rách rưới đến đáng thương.

Bố mẹ chúng là hai người bị người ta giết tại Tường Phù hôm đó.

Hai chị em dắt díu nhau đi nhờ xe bò của người ta sang Yên Thái tính xin ngủ lại nhà họ hàng, nhưng người họ hàng đó lại đuổi chúng ra ngoài.

Cháu...cháu không yên lòng được.

Bà Kỷ nắm lấy đôi tay của Thi thủ thỉ:

- Cháu của ta, trong lòng cháu đã có câu trả lời rồi đấy.

Cứ làm những điều cháu muốn làm.

Cô mỉm cười nhìn bà, mắt long lanh.

Đêm xuống.

Hoàng Thi rón rén leo lên tường thành rồi ngồi phịch xuống.

Nhật Duật đã chờ sẵn ở đấy tự bao giờ.

Hai đứa ngửa mặt nhìn sao trời, luyên thuyên mấy chuyện không đầu không cuối.

Thi bỗng đổi chủ đề:

- Này, chuyện bên Tường Phù ấy?

- Sao?

- Nhiều người bên ấy cũng hoảng, chạy sang Yên Thái lánh nạn.

Bọn họ có kể rằng chuyện hình như xảy ra gần đền Bạch Mã.

Ta nghĩ nếu đến đó có thể kiếm được manh mối gì đó.

- Ngươi đổi ý rồi à?

- Nhưng ngươi phải đồng ý với ta vài chuyện.

Nhật Duật gật đầu, Hoàng Thi tỉ mỉ dặn dò cậu từng điều.

Trên nền trời thăm thẳm, chòm Kế Đô sáng trưng như báo hiệu một hung tin sắp tới gần.

- Sáng mai hẹn ngươi ở Dương Minh môn.

- Cô dặn khẽ.

- Không cần khoa trương thế đâu, sáng mai ta đến đợi ngươi ở đầu ngõ, càng ít người biết càng tốt.

- Được, cứ thế nhé.

Thi nhảy phắt khỏi tường thành, nhẹ nhàng đáp xuống cái bục gỗ rồi chuồn đi mất, để lại Nhật Duật ngồi ngẩn ngơ dưới trăng.

Về đến nhà, Hoàng Thi cẩn thận cài then khép cửa.

Bà nội đã ngủ rồi, chỉ còn ánh nến lập loè vẫn đang thức đợi cô.

Thi chúi đầu vào những trang sách.

Lại một đêm dài trôi qua.
 
Chuông Gió Ngân, Hoài Cố Nhân [Cảm Hứng Lịch Sử]
Chương 4 - Vó câu


Tờ mờ sáng hôm sau, khi sương còn vương trên mái rạ của cửa tiệm nhỏ phường Yên Thái, Nhật Duật vận thường y, đem theo một ám vệ, lẳng lặng chờ người ở cuối ngõ.

Hoàng Thi từ ngõ nhỏ bước ra.

Kẻ lên ngựa, người trùm nón, vụt biến đi, hoà mình vào dòng người ngược xuôi trên mặt phố.

Căn nhà xập xệ của đôi vợ chồng xấu số dần hiện ra trước mặt Thi và Duật.

Trước ngõ, những vết chân ngựa ngoằn ngoèo như nét bút trẻ con viết dở, khô cứng lại cùng bùn đất.

Có lẽ hung thủ cố tình thúc ngựa vòng đi vòng lại chỗ này để che dấu hướng đi của hắn sau khi động thủ với nạn nhân.

Duật và Thi lách mình qua cổng, vào trong.

Hai tên nha sai đã tới trước, mặt lạnh tanh.

Thấy người lạ, chúng xẵng giọng:

– Các ngươi là ai, vào đây làm gì?

Nơi này là địa điểm điều tra, chớ cản trở công vụ.

- Ta phụng mệnh Tam ti viện tới đây điều tra.

Đây là giấy lệnh.

- Nhật Duật rút từ túi ra một phong thư nhỏ đưa cho hắn.

Đọc xong, bọn nha lại đổi sắc mặt:

- Mời các vị.

Hạ quan sẽ túc trực ở ngoài cổng, các vị cần gì cứ gọi.

Hoàng Thi đẩy cửa, bước vào, bên trong lặng ngắt, chỉ có mùi tanh ngai ngái của máu đương se lại, mùi thi thể xộc lên trong không khí ẩm mốc của gian nhà trơ trọi.

Hai thi thể nằm song song trên manh chiếu rách giữa nhà, mắt vẫn mở.

Trên người họ không có dấu hiệu vùng vẫy hay giằng co, cứ như thể cái chết đến quá nhanh, quá bất ngờ.

Cả hai đều không có vết thương nào ngoài một đường cắt mảnh ở cổ, gọn, sạch và không lệch hướng.

Mắt nạn nhân mở trừng, môi hé chưa khép hẳn, để lộ biểu cảm ngỡ ngàng đến mức rợn người, như thể chưa kịp hiểu chuyện gì đang xảy ra thì đã bị động thủ.

Rất bén, rất gọn gàng, hẳn phải là vết cắt của kẻ dùng đao kiếm quen tay.

Ngoài hai thi thể xấu số ra, mọi vật dụng, đồ đạc trong nhà đều chẳng lộ ra điều gì bất thường, có lẽ hung thủ đã thu dọn trước khi rời đi.

Trên nền đất, không có vết chân hỗn loạn, chỉ vài dấu bùn loang lổ dẫn từ cửa vào đã khô cứng, không rõ dấu giày, đủ để cho thấy hung thủ không ở lại lâu.

Duật xì xào điều gì đó với mấy tên nha lại rồi chạy vào ngay sau Thi, thì thầm:

- Mấy tên lính phụng mệnh điều tra có xác nhận vài tin.

Họ bảo, người chồng làm thầy đồ cho mấy nhà trọc phú quanh vùng, vợ buôn bán nhỏ ở đầu chợ.

Họ đều là người hiền lành, có phần hơi nhút nhát, ít giao du, không phải là dạng dễ gây thù chuốc oán.

- Nếu không phải trả thù thì có thể là trộm cướp, dù nhà này trông chẳng có gì đáng giá để trộm cướp cho lắm.

- Ai mà biết được.

Biết đâu ông ta giấu vàng hoặc bản đồ nơi giấu vàng ở dưới gối.

- Duật nhún vai.

Thi nheo nheo mắt, nhìn hắn như muốn nói "Nếu ngươi còn không nghiêm túc thì ta sẽ bỏ ngươi ở đây một mình".

Nhật Duật ho khẽ, thu lại thái độ bông đùa lúc nãy, mặt hơi xị xuống.

Thi kéo hắn tới gần thi thể:

- Ngươi nhìn này, đây là vết kiếm chém, rất bén, một đường rất ngọt, chứng tỏ người này rất giỏi dùng kiếm.

- Nếu bị chém chết thì phải có tiếng la hét chứ nhỉ?

Ta muốn thử hỏi mấy người xung quanh xem hôm ấy có thấy gì lạ không.

Hai đứa tản ra, nhờ nha lại gõ cửa những căn nhà trong xóm.

Đã nửa canh giờ trôi qua, Nhật Duật thất thểu đi vào, Thi ngồi cười hì hì trước hiên:

- Sao rồi?

- Họ bảo không nghe thấy gì ngoài tiếng bước chân và tiếng vó ngựa rất khẽ.

Nhưng họ chỉ nghĩ nhà nào trong xóm thồ hàng ban đêm thôi.

Trời đêm gió lạnh chẳng ai buồn ra ngoài.

- Tên này cũng vụng nhỉ, nếu trộm cắp giết người thì sẽ lén lẻn vào chứ ai lại cưỡi ngựa bao giờ.

- Hoàng Thi tặc lưỡi.

Một cái gì đó vừa loé lên, Duật quay sang nhìn Thi.

Đúng vậy, sao họ không nghĩ đến.

Đây hoàn toàn không phải là một vụ án giết người cướp của.

Hai đứa lại lao trở về phía ngõ.

Quả nhiên, hung thủ đã tính sai một bước.

Những vết chân ngựa lộn xộn in đầy trên mặt đất, đã khô lại sau vài ngày.

Hoàng Thi dắt theo con ngựa của mình tới gần hơn để so sánh:

- Chúng có hai người.

- Thi ngồi xổm xuống trỏ tay vào những vết bùn trên đất - Móng ngựa này khuôn rất tròn, có lẽ được đóng theo kiểu cũ triều Lý.

Còn vết này khuôn dài hơn, giống móng ngựa của chúng ta, đóng theo kiểu mới.

- Cỡ chân rất to, vết móng rất rõ, chứng tỏ không phải ngựa dân nuôi thông thường.

- Ngựa của quan!

Hai người nhìn nhau đồng thanh, trong mắt ánh lên một tia sáng.

Phủ quan bị mất hai con ngựa mới đây đã được tìm thấy.

Nha lại phủ ấy vốn cho rằng do người chăn ngựa lười biếng, quên khép chuồng ngựa mới để chúng xổng mất.

Nhưng thật lạ, ngày hôm sau cả hai con đều được dân phường phát hiện đang buộc lỏng lẻo ở bên mé một thửa ruộng hoang, dây cương còn dính bùn đỏ.

Người chăn ngựa chỉ bị phạt nhịn đói hai bữa vì sơ suất, ai cũng tưởng là chuyện đã rồi.

Duật chắp tay sau lưng, bước ngang qua đám cỏ còn đọng sương, mắt dừng lại nơi hai con ngựa vừa mới được dắt về lại chuồng.

Nhật Duật cất giọng khó hiểu:

- Hung thủ đã cưỡi chúng đến hiện trường, thực hiện vụ án, rồi lại buộc trả chúng về chỗ cũ?

Bọn chúng bao dung đến thế à?

Nếu là ta thì cưỡi luôn ngựa đi mất.

Hoàng Thi không đáp ngay, cô hỏi ngược lại:

- Ngươi nghĩ nếu phủ quan của một phường lớn mất ngựa thì sẽ làm gì?

- Dán cáo thị tìm ngựa, sai lính đi tìm, kiểm tra các con ngựa trong thành.

- Nên, nếu chúng vẫn cưỡi hai con ngựa đó thì sẽ bị phát giác, trên ngựa của quan luôn có dấu ấn riêng để đề phòng bị lạc mất.

- Chúng không mang ngựa đi xa, nghĩa là vẫn còn e sợ bị phát hiện.

- Duật nói, mắt không rời chuồng ngựa - Nếu là người ngoài thành thì đã cao chạy xa bay từ đêm qua.

Nhưng chúng chọn cách buộc ngựa lại, giống như...

- ...muốn xóa dấu vết, rồi hòa vào đám đông.

- Khoé miệng Thi khẽ nhếch lên một chút.

Rời nhà hơn nửa ngày trời, cuối cùng, manh mối cũng bắt đầu lộ ra trước mắt Thi và Duật từ những chi tiết nhỏ nhất.

Không phải vì hung thủ để lại điều gì, mà vì bọn chúng tưởng rằng đã xóa sạch tất cả.

Thi đứng dậy, phủi bụi nơi đầu gối.

- Đi, xem thử những kẻ ra vào chuồng ngựa đêm qua.

Thi lật đi lật lại danh sách những cái tên đã đến chuồng ngựa đêm qua, đều là người trong phủ, đều có chứng cứ không liên quan tới vụ án, lúc đó họ đều đang có ca trực, hoặc ở đương ngủ lại trong hậu viện.

Vụ án tưởng chừng như mới hé mở lại có bế tắc.

Thi và Duật ôm đầu đứng tần ngần trước cửa chuồng ngựa.

Chỉ có hai người đang suy tư và lão chăn ngựa đang thong thả cho đám ngựa ăn, chán tới nỗi con ruồi bay qua chẳng buồn đậu lại.

Lão chăn ngựa chép miệng nói bâng quơ:

- Hai hôm nay không có rượu uống thật chán.

Duật chen thêm câu đùa, giọng hơi giễu cợt:

- Ông hay uống rượu thế, thảo nào ngựa chạy mất.

Lão chăn ngựa giật mình, kính cẩn đáp:

- Dạ bẩm, không dám, rượu phải là thứ ngon thì ta mới uống vài chén cho vui.

Hôm trước, chẳng hiểu sao uống xong lại ngủ quên mất.

Chắc do lão chủ xe rượu hay dừng bán gần đây mới đổi sang thức rượu mới nên có phần hơi nặng so với đầu óc của cái thân già này.

Duật với Thi bỗng ngẩn ra, nhìn nhau rồi chợt "a" lên một tiếng.

Duật giả vờ thân thiện hỏi ông lão:

- Rượu ngon đúng thật là không thể bỏ qua.

Chẳng hay là xe rượu nào, thường bán ở đâu?

Ông lão trỏ tay ra con đường phía trước:

- Thường vẫn hay đi ngang qua chỗ này, dừng lại bán rượu cho người qua đường và người làm trong phủ như bọn ta.

Nhưng hai ngày nay chẳng thấy đâu nữa.

Duật cảm ơn ông lão rồi kéo Thi chạy ra một góc thì thầm:

- Giả làm người bán rượu trốn ở đây, tinh vi đấy.

Người chăn ngựa vốn quen rượu, chẳng ngại gì.

Nhưng chỉ cần trong đó bỏ thêm chút dược...

- Hắn sẽ ngủ đến sáng, không biết ngựa biến mất lúc nào.

- Thi gật đầu - Khi tỉnh dậy, cứ tưởng là do mình quên khóa chuồng, liền nhận phạt.

Thi nói tiếp, giọng nhẹ như cắt:

- Kế hoạch ấy cần hai người.

Một kẻ đánh lạc hướng, chuốc say.

Một kẻ vào chuồng, dắt ngựa, chờ đêm xuống rồi rời thành.

Duật chép miệng:

- Khôn ngoan thật.

Dù tra xét cũng chỉ thấy kẻ chăn ngựa ham rượu nên sơ suất.

Thi quay người, ánh mắt đã định hướng:

- Vậy bước kế tiếp... là tìm người từng thấy chiếc xe rượu đó.

- Và người cuối cùng từng nói chuyện với kẻ giữ ngựa trước khi hắn say lịm.

Duật ngoắc tên nha lại đến, cho hắn một ít tiền rồi dặn dò:

– Đi hỏi xem quanh đây có ai từng thấy xe chở rượu nào, hoặc có kẻ nào dừng lại bán rượu xong rồi biến mất không để lại dấu vết hay không.

Tên nha lại lĩnh bạc, gật đầu rối rít rồi rảo bước đi ngay.

Thi khoanh tay, mắt nhìn xa xăm.

Ánh chiều đã ngả đỏ một góc trời, đường phường dần vắng, chỉ còn tiếng xe lộc cộc và vài tiếng rao khô khốc não nề.

Duật lật chiếc quạt giấy trong tay, khẽ gõ vào vai Thi:

– Thi này, nếu ta là hắn... thì đâu thể chỉ tùy tiện dừng lại rót rượu chuốc say một ông già.

Chắc chắn trước đó đã quan sát kỹ.

Thi đáp, giọng đều đều:

– Không những thế... còn phải rõ lịch trình sinh hoạt trong phủ, nắm được thời điểm đổi ca giữ ngựa, lúc vắng người tuần tra.

Một lát sau, tên nha lại quay về, mặt hớt hải, thở gấp:

– Bẩm... quả có người nhớ ra chuyện lạ.

Một hôm trước vụ mất ngựa, có một xe rượu gỗ sơn đen, che mui vải, đến đỗ chỗ rặng tre đầu ngõ phường.

Bán rượu xong, đi luôn, không rao tiếng nào.

Thi mỉm cười:

– Xe không rao, chỉ bán cho người trong phủ... nghĩa là không muốn ai chú ý.

Duật nói tiếp:

– Và nếu chiếc xe ấy là giả mạo... thì đâu cần bán cho ai khác.

Chỉ cần một người – đủ để gây mê, đủ để mở cửa chuồng.

Tên nha lại cúi đầu thưa thêm, giọng vừa háo hức vừa thận trọng:

– À... còn có bà cụ bán lá thuốc đầu ngõ.

Cụ nói có thoáng thấy người bán rượu hôm ấy.

Không rõ mặt mũi ra sao, nhưng nhớ rõ cái dáng ấy lắm... vì lưng hơi còng, bước đi kéo lê một bên chân.

Thi và Duật liếc nhìn nhau, mắt lóe sáng.

– Bà cụ còn nhớ được gì không?

- Duật hỏi.

– Dạ... cụ nói, người ấy mặc áo chàm, đầu đội nón lá cũ sờn, miệng ngậm cọng cỏ.

Nhưng lạ nhất là tay trái lúc nào cũng nắm chặt một chuỗi hạt gỗ, có vẻ giống như người hướng Phật.

– Một kẻ bán rượu... nhưng lại có dáng đi và hành động chẳng khác gì một nhà tu hành.

- Thi lẩm nhẩm.

Duật nhếch môi:

– Một kẻ giả dạng!

Chuỗi hạt không phải để niệm Phật... mà để người khác nghĩ rằng hắn từng đi tu, hoặc từng khất thực.

Che giấu xuất thân bằng một vỏ bọc dễ gây cảm tình.

Thi gật đầu:

– Nếu giả làm người từng khất thực, thì không ai để ý xe rượu ấy từ đâu đến...

Duật chen vào:

– Và cũng dễ thâm nhập nơi mình muốn.

Tên nha lại chợt lên tiếng:

– Còn một điều nữa... bà cụ bảo rằng sau khi xe rượu đi rồi, có mùi gì rất lạ còn vương lại, không giống mùi rượu thường.

Nồng hơn mà còn hăng hắc như mùi... nhựa cây hoặc củi khô cháy.

Thi trầm ngâm:

– Mùi thuốc phiện... hoặc dược liệu đã đốt lên.

Có lẽ chúng đã dùng thứ ấy làm thuốc mê.

Duật siết quạt lại:

– Tốt.

Thế thì, ta sẽ bắt đầu từ các y quán quanh phường.

Ai từng mua loại dược liệu đó, không sớm thì muộn hắn cũng phải lộ mặt.
 
Chuông Gió Ngân, Hoài Cố Nhân [Cảm Hứng Lịch Sử]
Chương 5 - Chuyện xưa kể lại


Trên tầng cao nhất của một tiệm trà nằm giữa con phố tấp nập nhất của phường Giang Khẩu, Hoàng Thi nhẩn nha gặm chiếc bánh ngọt, cạnh ấm trà còn nghi ngút khói.

Nơi đây vừa kín đáo để bàn luận, lại thuận tiện quan sát phố phường.

Tiếng guốc trên cầu thang gỗ lộc cộc vang lên, Nhật Duật vừa về.

Hắn ngồi xuống cạnh Thi, tự rót một chén trà, rồi rút cây quạt xếp ra phe phẩy nom hết sức nhàn nhã:

- Ta đã nhờ người gửi lời tới bà Kỷ là ngươi sẽ ở lại đây rồi.

Buổi sáng mỗi ngày sẽ có ngự y tới bắt mạch.

Ta cũng đã cắt cử một tì nữ chăm lo việc quét tước giặt giũ cho bà nội ngươi.

Hoàng Thi nâng chén trà lên bằng hai tay, tỏ ý cạn chén với hắn, thổi phù phù rồi uống cạn, chẳng hề khách sáo:

- Cảm ơn Chiêu Văn Vương.

Nhưng để bà ở nhà ban đêm một mình ta hơi lo lắng.

- Ta đã phân phó bốn ám vệ túc trực ở đó rồi.

Chẳng có gì quấy rầy được bà nội ngươi đâu.

Một thoáng ngạc nhiên hiện trên gương mặt thiếu nữ:

- Quá chu đáo rồi!

Đa tạ!

- Rồi Thi lại khẽ nhíu mày - Ngươi chỉ có mười ám vệ, nay để tới bốn người ở chỗ bà nội ta, vậy còn ngươi thì sao?

Nhật Duật bật cười:

- Ta còn trẻ, chưa chết được đâu.

Ngươi nghĩ ở Thăng Long này, liệu có bao nhiêu kẻ đủ gan động vào người trong hoàng tộc?

- Đoạn, hắn nghiêng đầu, nhìn sang tên ám vệ đứng lặng như cái bóng. – Ta nói vậy, có phải không?

Ám vệ chỉ gật đầu khẽ, tỏ ý tán thành, chẳng nói năng gì.

Mặt hắn lạnh như sương sớm phủ trên lá rụng.

Hắn xưa giờ chẳng ưa nói chuyện.

Hoặc cũng có thể, hắn chẳng mấy quan tâm chuyện đúng sai ở đời, với hắn, vương tử nhà hắn nói gì thì điều đó là lẽ phải.

Chạng vạng, một tên lính chạy về, ghé tai Duật thì thầm đôi câu.

Duật thoáng bồn chồn đưa mắt nhìn Thi rồi quay gót đi về phía cửa chính.

Thi hiểu ý, bỏ nốt chén trà chưa uống, lặng lẽ theo sau.

Y quán nằm nép bên hông chợ cũ, biển hiệu gỗ đã bạc màu, chỉ còn mấy chữ "Tường Thọ Đường" lờ mờ dưới ánh đèn lồng.

Mùi thuốc đông y bay ra tận ngoài ngõ.

Bên trong, người đàn ông trạc tứ tuần cúi đầu xếp thuốc.

Mặt y hốc hác, hai quầng mắt thâm đen như chưa từng biết đến một giấc ngủ yên lành.

Tên lính dắt hai người bước tới trước quầy:

- Dạ bẩm, đây là chủ y quán mà hai vị muốn tìm ạ.

Duật nghiêng người thi lễ:

– Xin hỏi, dạo gần đây có ai từng mua loại dược liệu hoặc thứ thuốc nào có tác dụng gây mê hoặc uống vào sẽ mất tỉnh táo không?

Đặc biệt khi đốt lên có mùi như nhựa cây cháy.

Tên chư khiêm tốn chắp tay chào, rồi chậm rãi đáp:

– Bẩm quan, quả thực có một người kỳ lạ đi mua thứ thuốc đó vào sáng sớm.

Bảo muốn mua một ít "phòng phong" với chút "anh túc".

Hai thứ này đều có dược tính tựa như thuốc phiện.

Hắn nói là dùng để xua gió lạnh cho người già.

Thi hỏi xen vào:

– Người đó trông như thế nào?

Thầy thuốc đáp:

– Hắn mặc áo vải.

Mắt và lông mày hơi xếch lên.

Mặt chữ điền.

Trên lông mày trái có một nốt ruồi đậm.

Giọng miền Thượng, không phải người vùng này.

Y dừng một lát, rồi như chợt nhớ thêm điều gì, khẽ nhíu mày:

– Hắn có đeo một chuỗi tràng hạt bên hông.

Duật hỏi thêm:

- Hắn đi đến đây bằng gì, lão có nhớ không?

- Hắn đẩy một xe hàng đến, ta trộm đoán rằng là hắn làm nghề buôn bán gì đấy.

Duật và Thi liếc nhau.

Đẩy xe, mang theo chuỗi tràng hạt, trùng khớp với bà cụ bán lá thuốc từng mô tả.

Bản phác hoạ gương mặt của một tên sát thủ đã được mấy hoạ sư vẽ ra.

Cáo thị được chép tay không ngừng, tất thảy cũng hàng chục bản, đưa ngay cho lính tuần, dán khắp các ngả đường.

Binh lính đã nhận lệnh kiểm tra từng kẻ ra vào Thăng Long.

Chiếc lưới đã giăng lên, chỉ chờ một con cá quẫy đuôi sa vào là sẽ siết lại.

Tối đến, Thi ngồi trầm ngâm trên gác.

Những làn khói mỏng bay lên từ ngọn đèn dầu chập chờn như những suy nghĩ đang lượn lờ trong đầu cô.

Cô đưa tay bắt lấy, chúng tản ra, toả vào khoảng không trước mặt.

Tiếng chân Duật vang nhẹ trên bậc thang gỗ, hắn bước vào, theo sau là ám vệ trong tay cầm một bản cáo thị mới tinh.

Duật nhận lấy, lướt mắt qua một lượt rồi đặt phịch tờ giấy xuống bàn

– Lúc nãy có người báo rằng một đứa trẻ chạy chơi gần chợ Mới nhìn thấy một chiếc xe gỗ đen ám mùi rượu dừng lại trong hẻm nhỏ, cách đây chỉ vài dặm.

Thi ngẩng lên:

– Hắn chưa ra khỏi thành.

Phải bắt cho bằng được.

Duật gật đầu:

– Ta đã cho lính bao vây các lối phụ ra ngoại ô.

Còn chợ Mới thì ta với ngươi phụ trách.

Gió đêm đương rít lên ngoài song.

Hai người và ám vệ vội vã lên ngựa chạy về hướng chợ Mới, vó sắt gõ vào mặt đường lộp cộp.

Trăng non treo lơ lửng như một lưỡi liềm bạc, ánh trăng bàng bạc chiếu xuống nền đất loang loáng nước mưa.

Chợ Mới vắng tanh, chỉ có vài tiếng chày giã gạo từ những nhà dân gần đó vẳng lại.

Một tên tiểu thương đương dọn hàng run rẩy chỉ tay về cuối dãy hàng mộc:

– Ta thấy một chiếc xe gỗ đen đẩy vào trong kia.

Có người lưng còng mặc áo sẫm, trùm kín, ...

Không chờ người tiểu thương nói hết, Thi, Duật và ám vệ bước vội trong bóng tối.

Ba bóng người lập tức tỏa ra, len theo hai hẻm nhỏ dẫn vào dãy nhà kho cũ.

Đột nhiên, một tiếng "hự!" khẽ vang lên.

Ám vệ quay trở ra, gọi lớn:

– Hắn chạy về phía giếng nước!

Không đợi thêm, Duật lập tức rút con dao sắt giắt bên hông, phóng người đuổi theo.

Thi bám sát phía sau, chân bước nhẹ như mèo.

Bóng người áo sẫm phía trước lướt đi nhanh như cắt, hắn bỗng hất cái lưng còng giả xuống, bước chân trở nên chắc và nhanh nhẹn lạ thường.

Hung thủ quẹo gấp qua một lối nhỏ, đúng lúc ấy một bó rơm đổ xuống chắn ngang đường.

Thi không hề dừng lại, bật người lên, tay vin cột gỗ phóng qua.

Nhật Duật hừ lạnh:

– Trò trẻ con chặn đường!

Tên hung thủ toan nhảy qua bức tường thấp phía sau để ra đồng.

Nhưng hắn chưa kịp kiễng chân thì một thanh dao đã lướt gió lao tới, ghim xuống nền đất ngay trước mũi chân hắn.

Tên ám vệ lướt đến, tung một cước vào ống chân hắn, rồi thuận thế bồi thêm một đòn vào ót.

Kẻ giết người ấy loạng choạng khuỵu xuống như cây chuối bị gió xô.

Hắn toan đứng dậy phản đòn, thì bị Thi ghì cổ, quật ra đất.

Chiếc mũ trùm rơi xuống, để lộ gương mặt góc cạnh.

– Ngươi là ai? – Thi gằn giọng.

- Kẻ còn lại đang ở đâu?

Hắn im lặng, chỉ trừng mắt nhìn Duật, rồi nhổ máu xuống đất, bật ra một câu chửi khô khốc:

– Lũ các ngươi biết quá nhiều rồi đấy!

- Đừng nhiều lời!

Nói!

- Thanh dao của Duật đã kề sát cổ hắn, lưỡi dao sáng lên dưới ánh trăng.

Tên hung thủ không đáp, bật cười đầy vẻ khinh miệt.

Tiếng bước chân dồn dập vọng lại từ cuối ngõ.

Quân lính mang đuốc tràn tới, ánh lửa lập lòe soi rõ gương mặt lạnh lẽo của kẻ bị bắt, khiến hắn trông càng dữ tợn.

Mấy tên lính bước tới, trói ngoặt hai tay hắn lại sau lưng.

Dây siết chặt, kêu lên tiếng kin kít như tiếng gỗ mục miết vào nhau.

Duật lạnh lùng cất giọng:

– Giải hắn về nha môn, nhốt vào ngục kín, canh cẩn trọng.

Không cho bất kỳ ai tiếp cận.

Kẻ bị bắt không vùng vẫy, chỉ ngẩng mặt nhìn trăng.

Rồi hắn cười.

Một cái cười chẳng thành tiếng, chẳng rõ là tự giễu mình, hay là thách thức.

Trời đã vào khuya.

Trên con đường trở về căn gác của tiệm trà, gió và sương đêm lùa vào người có chút lạnh, Hoàng Thi khẽ rùng mình.

Về đến gác, chủ quán lục đục trong kho, mang ra một đống gối mền cũ, mùi trà khô vương vất trong vải.

Duật không nói nhiều, chỉ gật đầu cảm ơn, rồi quăng cho Thi và tên ám vệ mỗi người một cái.

Chăn tuy hơi sờn nhưng còn dùng tốt, đủ che gió đêm.

Hắn trải chăn, nằm xuống, nhắm mắt lại, thì thầm:

- Ngủ đi!

Chủ tiệm này là chỗ quen biết với ta.

Yên tâm mà ngủ.

Sáng mai còn phải đi kiếm tên còn lại

- Ừ.

Gió đêm thổi ngoài hiên kêu vi vu, lay lay mấy tấm liếp kêu cót két khe khẽ.

Hoàng Thi co gối, ngắm thật kĩ gương mặt người thiếu niên dưới ánh đèn.

Dường như giờ cô mới cảm nhận sâu sắc hơn so với lúc trước, rằng ẩn sau cái vỏ bọc của một vương tử thông minh, được nuông chiều từ nhỏ, là một con người bình thản và thấu đáo đến lạ lùng.

Một điều gì đó rất khác, xa rời vẻ bông đùa thường thấy ở vị Chiêu Văn Vương trẻ tuổi này.

Chợt trong đôi mắt người thiếu nữ ẩn giấu một ý cười mơ hồ.

Thi kê đầu lên gối, khẽ trở mình rồi nhắm mắt.

Chỉ một lúc sau, cô đã chìm vào giấc ngủ.

Duật từ từ mở mắt.

Hắn chưa ngủ.

Căn phòng im lìm đến mức nghe rõ cả tiếng gió lùa qua kẽ vách và tiếng thở đều đều từ người ám vệ nằm bên kia phản.

Hắn nghiêng đầu, lặng lẽ ngắm đôi vai Hoàng Thi đang khẽ động theo từng nhịp thở đều đặn.

Có một điều gì đó trong Thi khiến hắn cứ ngỡ rằng cô chẳng đơn thuần là một thiếu nữ mười sáu, như thể cô luôn đứng ngoài những ồn ã của đời sống, quan sát tất cả bằng một đôi mắt đã nhìn thấy quá nhiều.

Căn gác nhỏ dần chìm vào tĩnh lặng.

Một lát sau, Nhật Duật cũng khép mắt lại, nhẹ nhàng trôi vào giấc ngủ sâu.

Canh năm.

Trời còn mù sương, Hoàng Thi theo chân Duật vừa tới nha môn thì đã nghe lính trực gác hốt hoảng báo:

– Bẩm quan, phạm nhân đêm qua đã cắn lưỡi chết trong ngục.

Khi lính canh phát hiện thì máu đã đầy miệng, không cứu kịp.

Sắc mặt Nhật Duật đanh lại.

- Ngươi dẫn đường đi, bọn ta muốn kiểm tra thi thể.

Duật gạt tấm vải trắng che mặt thi thể, nhìn gương mặt gầy gò, máu đã khô ở môi, mắt vẫn mở trừng trừng.

Hắn im lặng, lật áo, tay chợt khựng lại khi chạm vào thứ gì cứng lạnh áp sát lồng ngực.

Là một miếng thẻ sắt, mặt thẻ chỉ khắc một chữ: "Phục".

Duật lặng người.

Thi lẩm bẩm:

– Là ký hiệu?

Duật dè dặt lên tiếng:

– Đợt Tết Nguyên Tiêu triều đình vừa vây bắt được một lô hàng lậu chuyển đến từ phương Bắc, manh mối đều biến mất, kẻ chủ mưu cũng tự vẫn, chỉ để lại thẻ sắt có chữ "Phục".

Thi thoáng rùng mình:

– Có lẽ chúng cùng một bè đảng.

Duật gật đầu, ánh mắt vị Chiêu Văn Vương thoáng trĩu nặng.

Mặt trời đã lên, sương vừa tan hết.

Thi và Duật lững thững rời khỏi nha môn.

Họ ghé một quán nước nơi đầu phố.

Quán nhỏ, ghế gỗ, vài ba người khách sáng sớm đang nhấp trà.

Gần đó, lũ trẻ con nô đùa bên vũng nước, chúng vừa nhảy nhót vừa đọc lanh lảnh một bài đồng dao kì lạ:

"Ai đi mà lấy chuông thiêng...

Giang sơn trường cửu, ngai riêng vững bền..."

Thi vẫy tay gọi một đứa nhỏ lại, chậm rãi hỏi:

- Nhóc, ai dạy cho em bài vè này đấy?

Cô bé gãi đầu, nhăn mặt:

– Dạ, mấy đứa bên chợ Mới đứa nào cũng hát.

Đứa này truyền đứa kia, chứ không ai dạy cả.

Thi cúi xuống, dịu giọng hỏi:

– Vậy em nhớ lần đầu tiên nghe là ở đâu không?

Cô bé cắn môi suy nghĩ, rồi lắc đầu:

– Không nhớ ạ.

Lâu lắm rồi, từ hồi Tết Nguyên Tiêu cơ.

Thi xoa đầu cô bé cảm ơn, dúi vào tay đứa nhỏ một đồng tiền.

Đứa trẻ reo lên chạy vụt đi.

Bấy giờ, Duật mới khẽ lên tiếng:

– Ngươi bỗng dưng lại để ý đến mấy bài đồng dao của bọn trẻ nít sao?

Thi thì thầm:

- "Giang sơn trường cửu, ngai riêng vững bền."

Ngươi nghĩ rằng bọn trẻ con nghĩ nổi ra câu đó?

- Cũng phải.

- Duật hơi ngẩn ra, rồi gật gù.

- Đưa qua miệng trẻ con.

Truyền đi êm như gió.

Hoàng Thi phóng mắt nhìn xa xăm, ngẫm nghĩ một lúc rồi bỗng hỏi:

- Ngươi có còn nhớ những giai thoại cũ thời Lý không?

Chuyện kể rằng, kẻ nào sở hữu được chiếc chuông linh thiêng là được trời ban thiên mệnh, có thể thâu tóm thế thời, xoay chuyển càn khôn.

- Ta từng đọc qua. – Duật gật đầu chậm rãi.– Chuông gió ấy, treo nơi nào là trời biết đất hay.

Nhưng cũng là thứ có thể gieo mê tín.

Người xưa tin theo, kẻ gian dễ bề lợi dụng.

- Phải!

- Thi tán thành, rồi hạ giọng, từng chữ đè nặng xuống.

- Lời đồng dao nếu ứng nghiệm, thì chiếc chuông đó có thể tiếp tay cho kẻ muốn đoạt lại giang sơn.

Mà bài đồng dao kia lan truyền từ Tết Nguyên Tiêu, trùng hợp thay, lại là lúc bùng lên vụ án buôn lậu như ngươi kể lúc sáng sớm.

Duật bỗng cảm thấy sau gáy lạnh đi như sương mai rịn vào cổ.

Những vụ án rời rạc giờ như đang được khâu lại bằng một sợi chỉ vô hình.

Thế lực kia muốn mượn giai thoại để đổi ngai vàng chăng?

Và giờ đây, những kẻ ấy đang ngấm ngầm trở mình ngay trên đất Kinh đô này.

- Ngươi biết thầy của anh Quang Khải chứ?

- Duật hỏi.

- Vị Thượng thư họ Lê chuyên viết sử đó à?

- Phải.

Về Thanh Hoá với ta một chuyến, biết đâu ông ấy có thể giải đáp cho chúng ta đôi điều về giai thoại kia.

Thi tròn mắt:

- Thượng thư không ở kinh đô sao?

Chẳng phải ta nghe nói rằng ngài ấy ngày nào cũng ngồi ở Quốc sử viện, theo lệnh Quan gia viết bộ sử ký gì đấy mà.

- Chậc!

Ông ấy vừa khăn gói về quê nửa tuần trăng trước, chỉ nhắn lại rằng "mẹ già bị bệnh, phải về phụng dưỡng".

Gió xào xạc trên ngọn cỏ, mặt trời buổi sớm đã lên đến lưng chừng, sắc nắng nhàn nhạt vương trên mái rạ của những ngôi nhà san sát.

Hoàng Thi và Nhật Duật ngồi cạnh nhau bên bàn trà, phóng tầm mắt ra xa giữa phố phường huyên náo, tự hỏi rằng trong nhân gian này còn bao điều đương ẩn giấu.
 
Back
Top Bottom