Cập nhật mới

Khác [Cảm Hứng Lịch Sử] Trở Về Thời Tây Sơn

[Cảm Hứng Lịch Sử] Trở Về Thời Tây Sơn
77. Rung động


Tôi đã mơ thấy cảnh tượng trong quá khứ bao lần rồi nhỉ.

Những lần chợp mắt nghỉ ngơi vài phút cho nhẹ đầu một chút, tôi đều mơ thấy bản thân ở một khung cảnh khác hẳn so với hiện tại. không phải chỉ mơ thấy một lần, những giấc mơ này lặp đi lặp lại đến phát ngán, mỗi lần mơ là một diễn biến khác.

Có những lúc tôi mơ thấy mình đứng trên lầu cao, phóng mắt nhìn xuống khoanh đất rộng thênh, lắng nghe tiếng gió thổi vi vu từng nhịp bên tai.

Cũng có lúc tôi thấy bản thân ngồi trên một chiếc thuyền nan nhỏ, chèo xuôi dòng sông Côn, phó mặc cho dòng nước cuốn đến đâu thì cuốn.

Mỗi một lần mơ đồng nghĩa với việc tôi được sống trong những hoàn cảnh khác nhau, chu du qua đại ngàn, qua vùng núi hiểm trở, dòng nước chảy xiết hay phố chợ nhộn nhịp.

Giống như trò chơi nhập vai, mỗi người được phép nhập vào một thể xác mới để sống ở những mảnh đời không cái nào giống cái nào.

Và sự thật thì đúng là như thế thật.

Người qua kẻ lại, họ đến rồi lại đi.

Cảnh bán buôn tấp nập, phố chợ ồn ào đã quá đỗi quen thuộc với tôi, bởi tôi đi đến những nơi này đến mức mòn cả gót rồi.

Lần này tôi mơ thấy mình ở trong một cung điện nhỏ, không quá khang trang nhưng lại rất ấm cúng, bản thân ngồi lắt lư trên chiếc sập đặt ở gian chính.

Ngọn nến được thắp lên, cháy lay lắt tựa sinh linh nhỏ, bóng sáng tỏa ra in mờ trên vách.

Tôi ngó nghiêng đảo mắt khắp chung quanh, quan sát kĩ lưỡng từng chi tiết trong cung rồi thở phào.

Có vẻ chủ nhân cung điện rất thích ngăn nắp, lại còn khéo bày biện các thứ đồ giản dị nữa, trông không khác cung Từ Nhật của tôi là bao.

"Anh là..."

Tôi ngỡ ngàng nhìn người đàn ông sức dài vai rộng trước mặt, không rõ con người lạ hoắc này xuất hiện từ khi nào, và tại sao lại có thể tìm thấy tôi.

Mọi chuyện rõ là lạ, nhưng trong lòng tôi lại dâng lên một cảm giác thân thuộc khó tả, tựa việc tôi đã gặp người này lâu lắm rồi.

Dường như chàng không để tâm đến câu hỏi của tôi mà chỉ cười mỉm, đáp:

"Là tôi đây, không nhận ra sao?"

Ôi chao!

Nếu là chàng thì tôi nào có lạ lẫm gì, mấy mươi năm cho dù có trôi nhanh chậm thế nào cũng vẫn là người đó thôi.

Giọng nói thân quen này, gương mặt chững chạc, chất phác, ánh nhìn rất đỗi dịu dàng nữa.

Không đợi tôi lên tiếng, chàng đã ngồi xuống bên cạnh, điệu bộ thư thái không khác gì đang ở nhà.

Lần này thì tới lượt tôi hoang mang.

Trông nét mặt khờ khạo của tôi, chàng bật cười.

Mấy lần trước tuy có mơ thấy người nhưng chẳng thể nghe được họ nói gì, và họ cũng không biết được sự hiện diện của tôi, thế tại sao bây giờ chàng lại có thể nhìn thấy, trò chuyện cùng tôi nhỉ.

"Sao mà không nhận ra cho được, anh cứ khéo nói đùa," Tôi bắt đầu bộc bạch những gì còn sót lại trong lòng.

"Nhưng mà khoan đã... tôi có chuyện muốn hỏi anh."

Chàng chớp mắt nhìn tôi, sau đó tằng hắng nói: "Có chuyện gì trắc trở trong lòng thì cứ việc.

Hôm nay tôi không có chuyện gì làm, đến đây cốt là để cho cô có người bầu bạn cùng ."

Tôi gượng cười.

Câu nói đó tôi nghe không biết bao nhiêu lần, cũng vào thời điểm tôi đang lạc lối, mù mịt không xác định được ngã rẽ của bản thân.

Tôi dễ bị tuyệt vọng, đánh mất niềm tin trước những thứ mà tôi cho là có hứng thú với nó, bẵng đi một khoảng thời gian sau lại cảm thấy không còn thú vị như trước.

Nhưng từ khi có chàng ở cạnh thì tình trạng này diễn ra không nhiều và thường xuyên cho lắm.

Hướng mắt nhìn ra ngoài, tôi thấy quang cảnh không thay đổi là bao.

Vẫn cảnh trời đất bình dị, vẫn cảnh bầu trời trong vắt đến phát chán.

Có lẽ khi bước chân vào trong cung thì thời gian như dừng trôi hẳn, duy chỉ cuộc trò chuyện diễn ra trong đây là không bị tác động bởi cái dòng chảy chết tiệt kia.

"Tại sao anh có thể trò chuyện được nhỉ?

Thật kì lạ, trước đây bọn họ, những người xuất hiện trong giấc mơ của tôi ấy, lại chẳng hề thấy được sự tồn tại của tôi."

Chàng cười mỉm, tay buông thõng tự nhiên trên đùi.

Ánh mắt người nọ dịu đi, vất vưởng một đám mây mờ nơi đáy mắt, tựa có những tâm tư không thể nói ra.

Không biết chàng đang tìm kiếm điều gì ở ngoài xa xăm trước mắt nhỉ.

Tôi lúng túng nhìn đi chỗ khác, miệng thầm chửi rủa cái tình huống chết tiệt này.

Biết thế đã sớm tìm cách tỉnh mộng, vấn vương làm gì mấy khung cảnh không có thật này chứ.

Trong một giây phút ngắn ngủi, tôi chợt trông thấy sợi dây đỏ hiện lên, mỏng manh và thắm đỏ những tâm tình tuổi xuân.

Đã lâu lắm rồi tôi không được nhìn thấy nó, cảm giác trống trải cứ ngập tràn trong lòng, vừa thân thuộc vừa lạ lẫm.

Mà hình như... chàng có vẻ không để ý đến nút thắt của dây tơ nơi cổ tay mình thì phải.

"Là do bọn họ không quan tâm đến cô.

Vả lại, cô không biết giữa tôi và cô có một sự liên kết chặt chẽ với nhau sao," Chàng thở hắt ra, chậm rãi nhích lại gần tôi.

"Chuyện này tuy đúng là lạ thật, nhưng tôi nghĩ nếu đã quen rồi thì nó không còn lạ lẫm gì nữa đâu."

Đoạn, bàn tay kia nhẹ nhàng nâng cằm tôi lên cho đến khi hai chúng tôi nhìn thẳng vào nhau.

Ánh mắt nọ thẳm một màu, vấn vương những phong trần theo năm tháng.

Chàng đăm chiêu nghĩ ngợi rất lâu, tuyệt nhiên không nói lời nào, như muốn lưu lại thật sâu khoảnh khắc yên bình đang trôi chậm vào trong kí ức.

Tôi ngập ngừng nhìn vào mắt chàng, không rõ tại sao tâm tư người kia lại khó đoán đến thế.

Lòng dạ con người vốn là thứ không thể đo đạc được, tôi biết rõ, nhưng đã rất nhiều lần có thể đoán được chàng nghĩ gì, song bây giờ điều đấy gần như là bất khả thi.

Tôi muốn trốn tránh, muốn dùng những lời lẽ nói giảm nói tránh để hỏi han sự tình lắm, song lại chẳng thể làm gì khác.

Nến cháy đến hồi sắp tàn, dám chừng thứ ánh sáng tờ mờ ấy sẽ không thể trụ nổi quá một canh giờ tiếp theo.

Hẳn cuộc trò chuyện này sắp kết thúc, và giấc mộng kia sẽ tan biến thành từng mảnh vào cõi hư vô, rơi lả tả xuống như những mảnh vỡ vụn vặt.

"Hôm nay anh thật khác lạ," Tôi gạt tay chàng ra, phụng phịu nói.

"Thật chẳng giống anh của ngày thường tí nào."

"Thế như nào mới gọi là giống."

Chàng hơi cúi người xuống, mặt đối mặt với tôi.

Ánh nến khéo léo họa nên từng mảng sáng, mảng tối rõ rệt trên gương mặt tuấn tú kia, làm bùng lên ngọn lửa mãnh liệt trong mắt chàng.

Tôi nín thở chờ đợi.

Một con người khôi ngô, anh minh như vậy, sau này chắc chắn sẽ nuôi chí lớn mà gánh những chuyện đã từng là ước mộng viển vông của biết bao người.

Câu trả lời chưa kịp thốt ra thì bên ngoài gió bỗng to dữ dội.

Cây cối nghiêng ngả không theo hàng lối gì sất, khi thì nghiêng bên này, khi ngả bên kia, cố gắng gồng mình trụ vững.

Bụi mù cuốn tung lên, sớm không còn thấy rõ bóng cây thấp thoáng đằng xa.

Ngọn nến bị thổi tắt đột ngột, xung quanh chợt tối mù.

Chàng nhíu mày khó chịu, ngoảnh mặt xem xét tình hình.

Sao đột nhiên lại có gió thế nhỉ, mà dù gió có to đến mấy thì đâu thể nào làm lay chuyển được ngọn nến trong phòng đâu.

Vậy mà số nến cuối cùng để duy trì chút ánh sáng lẻ loi cũng tắt ngúm.

Từ lúc bước chân vào đây, tôi có linh cảm mọi chuyện không được tốt lành cho lắm.

Giống như đã có một thế lực vô hình nào đó thao túng hết mọi suy nghĩ, hành động của người khác, khiến mọi thứ diễn ra suôn sẻ đúng như kịch bản đã được định sẵn.

Quả nhiên, trời tính cũng không bằng người tính...

*

Tháng Hai năm Ất Tỵ.

Mùa xuân lần này đến có chút khang khác.

Đất trời có sự thay đổi, chồi non thay áo nhìn mới mẻ, mặt nước trong vắt, và chim có vẻ rộn rã hơn mọi khi.

Tôi cảm nhận mọi thứ qua thiên nhiên cây cỏ, tất nhiên linh cảm luôn đóng một vai trò nhất định, bởi tiên đoán của tôi từ trước đến nay chưa bao giờ trật cả.

Hình như hồ bán nguyệt hôm nay lặn sóng hơn thường ngày thì phải, bầu trời nom dịu dàng hơn khi nhìn qua tấm gương phản chiếu - ấy là mặt hồ thanh bình, tĩnh lặng.

Trong tòa thành rộng lớn, sự hăng hái, háo hức muốn đón Tết dường như len lỏi vào từng ngõ ngách của chốn cung cấm.

Mỗi lần rảo bước qua một cung điện bất kì nào đó, tôi đều thấy cảnh các cung nhân mặt mày hớn hở, không còn mang vẻ ủ rũ như trước, miệng thì xì xào nói về những điều tốt đẹp đầu năm.

Đến cả Thanh Chi cũng thế, lúc nào con bé cũng líu lo không ngừng, luôn miệng kể cho tôi nghe những kỉ niệm đẹp ngày xưa.

Đôi khi tôi tò mò rằng cô nhóc đây tìm không biết đâu ra lắm chuyện để kể, và cũng có thể coi con bé như là một kho tàng với đủ thứ chuyện trên đời, thế này thì tôi không cần phải lo lắng đến chuyện phải ngồi chán chê một chỗ mãi từ sáng đến tối rồi.

...

Tôi vẫn còn lưu luyến mùa xuân của năm Đinh Hợi.

Đó hẳn là cái Tết tuyệt vời nhất của tôi khi lưu lạc ở chốn toàn những người cổ xưa.

Không cần phải tất bật, không phải đôn đáo làm đủ mọi việc, cũng không cần phải gò bó trong một khuôn khổ lễ nghi nhất định.

Những ngày đó tôi chỉ việc ngồi trên sập, nhàn nhã thưởng trà hóng gió, nhìn đất trời thay đổi từng chút một, tối đến lại cùng ai kia ngắm trăng.

Điều kì lạ đó là hoài ức ấy thanh bình như một thước phim nhẹ nhàng vậy, chỉ lưu giữ lại hương trà ấm, hương trầu cau nồng nàn và hương gió thoảng nhẹ.

Còn bây giờ thì không đơn giản như thế.

Những con người năm xưa giờ đã thành công trên sự nghiệp to lớn mà họ đã từng bước gây dựng nên, ấp ủ những hoài bão khác nhau.

Ngài đã là vua - hay như những người dân tộc vùng Thượng gọi là Vua Trời - nắm trong tay quyền lực cao cả.

Tất nhiên công việc của một vị vua sẽ bận rộn hơn là của một thương nhân buôn trầu lừng danh nọ, vừa phải giải quyết mớ chính sự bề bộn vừa phải căng não ra suy tính kế lâu dài.

Ngôi Đế vương được ví như một bức tường thành, người ngồi được trên ngôi ấy phải là người dám đứng vững trên bức thành cao, bằng không sẽ dễ bị ngã.

Ừm, thế nên ngài đã lâu không ghé thăm ấy là chuyện thường thôi.

Và dĩ nhiên là tôi có thể cảm thông được phần nào.

Ấy vậy nhưng không có người qua thăm hỏi, chỉ biết ngồi thui lủi một mình, làm bạn với vách tường, ngày ngày nghe tiếng chim ríu rít ngoài sân, đôi khi cảm giác tủi thân trong tôi cứ chực chờ dâng trào mãi.

Từ sau tháng Giêng năm Ất Tỵ, thỉnh thoảng ngài chỉ đến thăm tôi độ một, hai lần, còn lại thì mất hút.

Tôi biết dẫu năm tháng cách trở đến mấy ngài vẫn dành chút ít tình cảm cho tôi, và tôi cũng biết được nguyên nhân do đâu mà ngài lại ít đến thăm đến vậy.

Có trách thì trách cơ duyên ngang trái, cớ gì lại trách do người phũ phàng.

Ngày qua ngày, đất trời cũng đổi thay.

Càng đến Tết, tôi cảm thấy thời gian như trôi qua một cách chóng vánh.

Mới ngày nào thôi tôi vẫn còn chán chường chờ đợi, không biết khi nào mới đến lúc được thưởng trà với tiết trời lành lạnh, vậy mà giờ đây đã sắp sửa sang năm mới rồi.

Thế thì trong mấy ngày lễ Tết tôi sẽ làm gì đây, viết đôi ba câu đối treo trước cung, nhâm nhi mứt quả thật ngon lành chăng?

Hay là cứ nhàn rỗi ngồi bên dưới mái hiên, thu cả quang cảnh ngày xuân vào mắt nhỉ.

Thôi, miễn sao tôi vẫn còn sống tốt, sống khỏe, chưa phải lo nghĩ đến chuyện tương lai là được rồi.

Tôi đứng ngấp nghé nơi ngưỡng cửa, đăm chiêu nhìn về phía cuối chân trời.

Mặt trời chạng vạng ánh hoàng hôn, chim én lượn lờ bay thành đàn, hối hả tìm nơi trú ngụ qua đêm trong ánh chiều tà hãy còn rực đỏ.

Mọi thứ trước mắt đều được thiên nhiên sắp đặt một cách hoàn hảo, viên mãn đến lay động lòng người.

Một khoảng sân rộng mênh mông như vậy chỉ độc mỗi những hàng cây thẳng tắp, bụi mù cuốn lên không trung, vạn dặm không phân biệt được đâu là đất, đâu là đường chân trời.

Thanh Chi lặng lẽ bước vào, khệ nệ ôm một chiếc hộp gỗ được gói ghém cẩn thận, bên ngoài bọc một lớp lụa gấm, hẳn bên trong đựng vật gì đó hết sức quan trọng.

Con bé đặt chiếc hộp lên bàn, sau đó nhẹ nhàng vén lớp lụa lên, để lộ ra lớp nước sơn bóng bẩy.

Tôi đưa mắt nhìn theo, không nhịn được mà trầm trồ hỏi:

"Cái hộp này trông đẹp quá, em lấy ở đâu vậy?"

Cô cung nữ mỉm cười nhìn tôi, nháy mắt đầy ẩn ý, đáp: "Hộp gỗ này là do bệ hạ sai người mang đến cho lệnh bà đấy ạ.

Nô tì nghe bảo đám cung nhân kia được bệ hạ dặn dò kĩ lưỡng rằng phải mang chiếc hộp này đến cung Từ Nhật đến nơi đến chốn.

Chắc là... bên trong có vàng bạc châu báu không chừng nữa."

Nghe đến hai chữ "châu báu", mắt tôi lập tức sáng lên.

Nếu bên trong chiếc hộp gỗ có nước sơn bóng loáng này có ngọc châu quý báu thật thì tôi phải làm gì với đống ngọc ấy đây.

Chỉ cần mấy hòm vàng như vậy cũng đủ dư dả để sống sung túc cả đời.

Vậy là về sau nhỡ có xảy ra chuyện bất trắc gì, tôi chỉ cần mang theo hộp gỗ chứa đống vàng ấy là có thể an phận đến khi trở về rồi.

Cơ mà, ngài lấy đâu ra lắm vàng lắm bạc dư để tặng tôi thế nhỉ.

Chẳng nhẽ ngân sách, quốc khố nhiều hơn tôi tưởng sao?

Thấy tôi thơ thẩn như người mất hồn, nhìn trân trân vào chiếc hộp mãi, con bé lay nhẹ tay tôi, lên tiếng hỏi.

"Lệnh bà mở nó ra chứ ạ?"

Tôi gật đầu thay cho câu trả lời.

Hộp gỗ này phải để chính tay chủ nhân của nó mở, bằng không sẽ không còn giá trị nguyên vẹn như thuở ban đầu.

Thanh Chi nhanh nhẹn lui về một góc, háo hức chờ đợi khoảnh khắc bí mật bên trong hộp được phơi bày.

Tấm lụa gấm vốn đã được vén sang một bên, trên nắp hộp khắc những dòng chữ ngoằng ngoèo nhỏ tí hi đã bị phai dần theo năm tháng.

Tôi đưa tay sờ nhẹ vào mặt chữ, cảm nhận được độ lõm xuống của từng nét chữ rõ ràng.

Đoạn, tôi lọ mọ tìm cách mở khóa hộp.

Cái khóa này không khó mở, nhưng với một người phụ nữ chân yếu tay mềm như tôi thì việc này đúng là mệt bở hơi tai.

Loay hoay một hồi, cuối cùng nắp hộp được mở ra.

Mùi quế thoảng trong không trung.

Tôi tròn xoe mắt nhìn vào bên trong, há hốc mồm không tin vào mắt mình.

Là một cây trâm nạm ngọc!

Đây đúng là ngọc thật, một cây trâm nạm những viên ngọc quý, tỏa ra thứ ánh sáng lấp lánh diệu huyền.

Cây trâm ngọc đó được gói bằng một tấm vải lụa mềm khác, bên cạnh là chiếc vòng ngọc màu xanh lam đẹp huyền ảo.

Sắc xanh chói lòa ấy làm tôi khựng lại trong giây lát, không biết mình có đang mơ ngủ hay không.

Cây trâm nạm ngọc quý, cùng với chiếc vòng ngọc.

Hai thứ đó cộng lại đủ tiền để tôi có thể biến mình trở thành tiểu thư đài các, chưa kể nếu không may làm hư hỏng một trong hai thì chỉ có nước lấy thân chuộc tội.

Tôi hết nhìn vào bên trong hộp, rồi lại quay ra nhìn Thanh Chi.

Con bé đứng ngóng nãy giờ hãy còn chưa biết chuyện gì, trông thấy nét mặt vừa thích thú vừa pha lẫn với vẻ bối rối của tôi thì tò mò lắm.

Chủ tớ nhìn nhau, không ai nói với ai lời nào, ấy vậy cả hai đều cùng mang một tâm trạng chung.

"Cái này..."

Tôi ấp úng nói, cẩn thận nâng niu chiếc vòng ngọc trong tay.

"Là ngài ấy tặng cho chị thật sao?

Đám cung nhân có đưa nhầm cho chị thay vì đưa cho Hoàng hậu không."

"Phụt," Cô cung nữ phì cười, vội trấn an tôi.

"Lệnh bà yên tâm, bệ hạ đã sai người đưa cho ai, chắc chắn không xảy ra chuyện nhầm lẫn đâu.

Vả lại, bệ hạ hết lòng quan tâm đến lệnh bà như vậy, lẽ nào những món quà mọn ấy người không thể nhận cho bệ hạ vui lòng ư?"

Tôi hết lắc đầu rồi lại gật đầu.

Lòng trí rối như tơ vò, mãi vẫn chưa thể đưa ra được đáp án khớp với những suy nghĩ trong tâm khảm.

Vậy là không phải đưa nhầm, mà là đưa có chủ đích.

Nhưng tại sao lại đưa cho tôi nhỉ, ngài vốn biết tôi không thích lối sống xa hoa, lại càng không thích được quà cáp có giá trị mà.

Mấy chục năm ròng vẫn trò đấy.

Xem ra đấy không còn là thói quen nữa, mà nó đã ăn sâu vào tiềm thức rồi.

"Được, được.

Chị nhận, chị nhận.

Coi như là để cho ngài ấy vui."

"Phải vậy chứ ạ," Thanh Chi tủm tỉm nói, chậm rãi tháo cây trâm trên đầu tôi ra, rồi thuần thục dùng chiếc lược ngà chải trên suối tóc.

"Đêm nay bệ hạ ngẫu hứng ghé thăm, hẳn sẽ vui hơn nhiều nếu lệnh bà chịu cài cây trâm ngọc này đấy."

Nếu lời con bé nói là thật thì...

đừng có nói với mình là đêm nay ngài ấy thật sự ghé qua đây thăm hỏi tình hình đấy nhé, Tôi bấm bụng nghĩ thầm, tay run rẩy siết chặt thành nắm đấm.

Mình sống ở đây mấy tháng qua vẫn khỏe mạnh chán, có bệnh có tật gì đâu mà phải sang thăm.

Bặt vô âm tín mấy tháng nay, không nói mình còn ngỡ như đã quên mất trong cung này chứa chấp một đứa vô danh rồi ấy chứ.

Rồi con bé cũng im bặt, mải mê vấn tóc cho tôi.

Bàn tay thon thả kia khẽ nâng một lọn tóc lên, quấn cao trên đỉnh đầu, sau đó cẩn thận ghim cây trâm nạm ngọc đó vào.

Phải công nhận Thanh Chi rất thạo những việc hầu hạ trong cung như này, nếu như không phải nhập cung quá sớm thì có lẽ giờ này con bé đã có một cuộc sống hạnh phúc, xứng đôi vừa lứa với một người thanh niên sức dài vai rộng nào đó chăng.

Sau khi mọi chuyện kết thúc, Thanh Chi mang chiếc gương đồng nhỏ đến cho tôi, tấm tắc khen không ngớt.

"Lệnh bà đẹp lắm!

Dung nhan lệnh bà tựa quốc sắc thiên hương thế này, bệ hạ thích mãi thôi."

Tôi ngắm nhìn bản thân trong gương, bất giác nhoẻn miệng cười.

Ôi dào, gì mà kính hoa thủy nguyệt, gì mà tư dung tốt đẹp, dăm ba lời lẽ đó chỉ tổ an ủi tôi một phần.

Tôi cũng đã ba mươi lăm, nào có trẻ trung gì, trên đầu hai thứ tóc, nếp nhăn trên mặt bắt đầu xuất hiện dần.

Nhan sắc bị tàn phai theo năm tháng, khó tránh khỏi dòng chảy thời gian.

Vả lại, nếu có cho tôi được trẻ đẹp như trước thì tôi nào có sánh bằng mấy cô tiểu thư đài các mặt hoa da phấn, cầm kì thi họa, tam tòng tứ đức đủ đầy.

Mà nhỡ ngài có khen thì cũng chỉ được một thời gian ngắn rồi đâu lại vào đấy, làm gì có ai mê mẩn mãi một người đâu.

Nhưng... nói gì thì nói, tôi vẫn rất khâm phục tài vấn tóc của Thanh Chi.

Búi cao, búi thấp sau ót hay nửa búi nửa xõa con bé đều làm được hết.

Kì này tôi nhất định phải học được những chiêu mẹo búi tóc đó trước khi trở về hiện đại mới được.

"À, còn cái vòng..."

Thanh Chi ngước mắt nhìn chiếc vòng ngọc còn yên vị trong hộp gỗ.

"Lệnh bà có cần nô tì đeo vào cho không ạ, hay là đợi bệ hạ..."

"Ừm, chị nghĩ chiếc vòng này nên để ngài ấy tự tay đeo vào cho chị thì hơn," Tôi mỉm cười, vỗ nhẹ vào vai con bé.

"Em vất vả rồi, nghỉ ngơi một chút đi."

Đoạn, tôi nói tiếp: "Ra ngoài sân xem hoa cúc đã khô chưa, chị nghe nói dạo đây ngài ấy trăn trở không ngủ được, cứ thức đêm thức hôm duyệt sớ đến canh ba mới chịu chợp mắt.

Nhân lúc mẻ trà đầu vừa kịp thu hoạch, chị muốn cho ngài ấy một ít trà lấy thảo, coi như là đền đáp công sức của bệ hạ bao năm qua."

Cô cung nữ gật đầu vâng mệnh, quanh đi ngoảnh lại bóng dáng nhỏ nhắn ấy đã biến mất tự thuở nào chẳng hay.

Đợi cho con bé đi rồi, tôi mới thở dài mệt mỏi, đưa tay lên day nhẹ thái dương.

Làm vua đúng là không dễ, ngồi vững được trên ngai vua đấy lại càng không dễ.

Một ngày bận rộn biết bao nhiêu mà nói, đến thời gian rỗi để nghỉ ngơi cũng không nhiều.

Vậy mà ngài lúc nào cũng luôn miệng nhắc nhở tôi phải biết để tâm đến bản thân mình, trong khi ngài lại...

Ầy thôi, không buồn nói nữa.

Càng nghĩ càng đau đầu.

*

Giờ Tuất đã điểm.

Trăng bán nguyệt đậu lơ lửng trên cành cây, đứng bơ vơ một mình, cô độc chỉ biết làm bạn với bầu trời đen kịt.

Hoàng đế ngả người ra sau đầy thoải mái, tay gác lên trường kỉ, ánh mắt phân trần không rõ là đang nghĩ ngợi chuyện gì.

Tôi ngồi ở phía đối diện, khó nhọc lắm mới giữ được vẻ ngoài bình tĩnh như thế này.

Chúng tôi đã ngồi yên lặng không nói gì với nhau cũng được hơn một tuần trà (1) rồi, người nào người nấy mải mê rong ruổi với những tâm tư khó thổ lộ trong lòng.

Tôi không lên tiếng, ngài cũng vậy, và thế là cả hai cứ để mặc thời gian trôi đi một cách lãng phí.

Làm sao để bắt chuyện đây nhỉ.

Từ lúc ngài bước chân vào đây tôi nào có buông lời ác ý, vậy mà tại sao ngài cứ "chiến tranh lạnh" với tôi miết thế.

Đúng là thời xưa toàn mấy người kì quái, chẳng nói chẳng rằng, lầm lì cứ như một khúc gỗ.

Tôi thà nhốt mình trong phòng, ngày ngày đọc sách, luyện chữ, không giao tiếp với con người còn hơn!

Trong lúc tôi đang loay hoay không biết phải làm sao thì bỗng nhiên ngài liếc mắt nhìn sang cây trâm ngọc trên đầu tôi.

Rồi, một nụ cười mãn nguyện thoáng hiện hữu trên mặt rồng.

"Nàng thích cây trâm đấy chứ?"

Hoàng đế hỏi, xoay xoay chung trà trong tay, làm nước trà bên trong sóng sánh, suýt nữa thì tràn ra ngoài.

Tôi giật mình, tâm trí vẫn còn bay bổng trên chín tầng mây.

Sau một hồi định hình lại đầu óc thì cuối cùng tôi cũng rõ được ngài đang hỏi chuyện gì.

"Cây trâm nào?

Cái này á hả," Tôi trỏ vào búi tóc mình.

Ngài gật đầu không đáp, tôi hí hửng tiếp lời.

"Tôi thích lắm, cảm ơn ngài nhé."

"Nhưng mà... sao ngài lại tự dưng kêu người đem chiếc hộp gỗ đó qua cho tôi vậy."

Nghe đến đây, ngài bỗng nhiên khựng lại.

Người nọ chầm chậm thưởng thức chung trà hoa cúc, vẻ mặt điềm nhiên trông như một thư sinh nhàn nhã.

Tôi biết ngài nuốt không trôi ngụm trà nóng ấy, lại khó tìm một câu trả lời thích hợp để nói tiếp câu chuyện còn dang dở nên cũng chẳng thúc giục gì, thỉnh thoảng tự mình châm thêm trà cho đầy chung để chờ đợi người kia suy nghĩ.

Hơi trắng mỏng vất vưởng bốc lên, phả khói nghi ngút vào không trung.

Tôi nép mình bên trường kỉ, cúi gằm mặt nhìn xuống dưới chân, sau đó nhìn sang chiếc vòng được kết bằng chỉ đỏ đính bông hoa bạc bị che khuất bởi gấu áo rộng thùng thình.

Chà, có vẻ như người làm ra chiếc vòng này cũng thật tinh xảo và khéo tay, đã nhiều năm trôi qua kể từ ngày khởi sự năm Tân Mão [1771] rồi mà bông hoa ấy vẫn ánh lên một màu bạc kim đẹp như thuở đầu.

Nếu chúng được bày bán trong phiên chợ thì hẳn chỉ trong một nhoáng là đã có đám người tranh nhau mua rồi.

"Ta cảm thấy cây trâm trước đó ta tặng nàng không còn đẹp nữa," Mất một hồi lâu hoàng đế mới lên tiếng, nhẹ đặt chung trà xuống mâm.

"Dù gì cũng sắp đến Tết, ta tặng nàng món ấy, coi như là để lấy lộc đầu năm."

Hử?

Cái gì lấy lộc cơ?

Còn chưa qua nổi Ba Mươi Tết!

Tôi bất lực chống cằm nhìn ngài, lắc đầu ngao ngán.

"Ngài quên mất tôi là người như thế nào rồi sao?

Không quá xa hoa hào nhoáng, chỉ cần những vật dụng cần thiết, như thế đủ sống đến cuối đời rồi."

Ngài không đáp mà chỉ nhìn tôi dịu dàng, nhoẻn miệng cười không rõ dụng ý phía sau.

"Nhưng ta biết nàng vẫn còn thiếu mất một thứ."

Tôi nghiêng đầu hỏi.

"Là gì vậy?"

Không nói không rằng, người nọ cầm lấy chiếc vòng tay vẫn còn bọc trong tấm lụa mềm, thong dong thả từng bước đến phía bên kia trường kỉ.

Sau đó ngài vén tà áo sang một bên, rồi ngồi phịch xuống bên cạnh.

Đoạn, vị vua nọ nâng tay tôi, từ tốn đeo chiếc vòng ấy vào, từng động tác đều hết thảy ân cần như sợ tôi sẽ khó chịu.

Bàn tay thô ráp mơn trớn đôi tay ngọc ngà một cách nhẹ nhàng, chỉ thoáng sượt qua làn da nhưng cũng đủ mang lại chút hơi ấm cỏn con chạm vào tâm hồn ngổn ngang, chất chứa những suy tư khôn kể xiết.

Ánh mắt ngài thoáng dịu dàng hơn trước.

Khi chiếc vòng ngọc nằm yên vị bên dưới chiếc vòng được kết bằng chỉ đỏ, lúc này hoàng đế mới chịu ngẩng mặt lên.

"Sinh lão bệnh tử là quy luật hiển nhiên của đất trời.

Ta biết ta không thể ở bên nàng mãi được, nên chiếc vòng này sẽ thay ta cầu cho nàng trọn đời được bình an."

Ngài siết nhẹ lấy tay tôi, khóe môi cong lên thành một đường mảnh.

Bình an tựa như ẩn ý trong cái tên của nàng vậy.

Phải rồi, sinh lão bệnh tử là vòng tuần hoàn cuộc đời của một con người, không ai là không thể né tránh số kiếp đã được định sẵn.

Tôi ở đây vô lo vô nghĩ đến độ cũng suýt quên mất điều quan trọng này, rằng dòng chảy trong lịch sử vẫn cứ tiếp diễn, và những tháng ngày đen tối đó sắp sửa đến gần.

Khi mà tất cả sự nghiệp đồ sộ hóa thành hạt cát nhỏ bé chỉ trong nháy mắt, lúc đó tôi mới nhận ra mọi thứ đã đi quá xa so với những gì tôi tưởng.

Liệu sẽ có một kết cục khác tốt đẹp hơn, đàng hoàng hơn và viên mãn hơn những gì đã được sắp đặt không nhỉ?

Tất nhiên là không!

Rồi, chợt nhận ra mình đã đi quá đà, hoàng đế húng hắng tỏ vẻ gượng gạo, sau đó cẩn trọng nhích ra một bên, cố gắng lấy lại vẻ tôn nghiêm của bậc đế vương.

Tôi ngẩn người nhìn ngài, lòng dạ hãy còn lâng lâng bởi những câu từ tuy không hoa mĩ nhưng lại ấm áp đến lạ.

Tay tôi vẫn còn đượm chút hơi ấm từ bàn tay nọ, tựa như ngọn lửa cháy âm ỉ trước khi lụi tàn.

"Ngày mai ta bận, ngày kia ta cũng bận, chẳng có lấy một ngày rỗi để ở cạnh nàng," Ngài thở dài, bấm bấm ngón tay như đang nhẩm đếm, tính toán chuyện gì.

Bỗng ngài quay sang tôi, hỏi.

"Phải rồi, ngày mồng Ba nàng có rỗi không?"

"Quanh năm suốt tháng tôi chả có việc gì để làm, thì giờ rỗi lúc nào cũng có.

Mà... ngài hỏi để làm gì vậy."

Tôi vừa xoa tay vừa đáp, chiếc vòng ngọc va chạm nhẹ với bông hoa bạc làm rộn lên tiếng 'leng keng' thật khẽ.

"Ta sẽ dẫn nàng ra ngoài kinh thành chơi một chuyến, coi như là để cho nàng mở mang tầm mắt."

Ngài châm trà đầy chung rồi tự mình uống cạn.

"Để nàng ở trong cung mãi cũng không phải là một ý định tốt lắm đâu."

Tôi ngáp ngắn ngáp dài, mi mắt nặng trĩu như có tảng đá đè lên.

Rốt cuộc tai tôi nghe chữ lọt chữ mất, nghe mỗi chữ đầu không nghe chữ cuối.

Có nốc bao nhiêu chung trà tôi cũng không thể giữ cho mình tỉnh táo.

Cuộc trò chuyện gì đâu nhàm quá đi, khi nào thì...

Mà khoan đã!

Ngài vừa mới nói gì thế.

Ra ngoài kinh thành ư?

Nghe được bốn chữ ấy, mắt tôi lập tức sáng lên, cơn buồn ngủ chợt tiêu tan.

Ôi, tôi có nghe nhầm gì không vậy.

Một người chịu cảnh làm bạn với vách tường trong cung đã bảy năm, còn gì tuyệt vời hơn được ra khỏi chốn cung cấm rộng bao la để được ngắm nhìn cảnh dân gian nhộn nhịp.

Hôm nay ngài cũng nảy ra ý tưởng đó, vậy là đã có người nói thay tiếng lòng của tôi.

Lâu không được ra bên ngoài, tôi cũng quên mất âm thanh tấp nập của chợ búa rồi.

Được, tôi đồng ý!

Ngay và luôn!

"Vậy... bao giờ chúng ta mới được đi ra ngoài thành," Tôi háo hức hỏi.

"Ngay hôm nay?

Ngày mai?"

Hoàng đế từ tốn đáp.

"Mồng Ba ta sẽ sang đón nàng.

Lúc ấy chỉ sợ nàng mê ngủ không chịu dậy thôi."

Một cơn gió bất chợt ùa vào.

Tôi khẽ rùng mình, cảm nhận được cơn lạnh ngấm vào đến tận xương tủy.

Gió buổi đêm những ngày cận Tết lại lạnh và dễ ngã bệnh hơn cả.

Chắc khi tôi đã quên không đóng cửa, hoặc ai đó đã vô tình mở toang cửa ra chăng.

Gió liên tục thổi vào cung Từ Nhật.

Tranh thủ vài giây lặng gió, tôi lại tự xoa tay mình vào nhau rồi áp lên má, cho hơi ấm từ từ lan ra hết mặt.

Đúng là càng có tuổi tác thì sức khỏe ngày một đi xuống.

Nếu như ngày xưa tôi có thể một mình chống chọi với thời tiết lạnh buốt mà không cảm thấy hề hấn gì, thì ngày nay tôi lại không thể, chỉ cần ngồi trước gió trong một canh giờ thôi cũng đủ để ho sù sụ mấy ngày liền.

Còn về phần ngài, sau khi quan sát thấy tôi ngồi co ro một góc vì lạnh thì hoàng đế lại lẳng lặng mang chăn bông đến mà không nói lời nào.

Người nọ khoác chăn lên người tôi, cẩn thận dém chăn cho thật kín, sau đó nói:

"Trời lạnh rồi, để ta đắp chăn cho nàng."

Tôi ngồi rụt người trong chiếc chăn dày, hai mắt lim dim, cố tận hưởng từng giây phút tuyệt vời.

Mặc dầu miệng hay than vãn nhưng tôi lại thích nhất kiểu trời lành lạnh như này, được vùi mình trong chăn ấm nệm êm, còn có quang cảnh trăng thanh gió lặng, rất thích hợp để thưởng một hớp trà nóng.

Nhưng mà giấc mộng hão huyền ấy đã tan biến một cách phũ phàng, không có trà nóng, không có trăng thanh gió lặng, chỉ có một tấm chăn đủ sưởi ấm cho một tâm hồn thích mơ mộng và một người lúc nào cũng tinh tế, dịu dàng.

Được nước lấn tới, ngài áp đầu tôi lên vai, vỗ nhè nhẹ vào lưng như để dỗ dành.

Đoạn, ngài thủ thỉ.

"Nàng có mong ước chuyện gì không?"

Tôi ngước lên nhìn ngài để thăm dò tình hình, rồi nắm lấy tay người kia, lắc đầu đáp.

"Tôi không có mong ước gì.

Ở chốn không người thân thích bên cạnh cũng chẳng có lấy xuất thân cụ thể, tôi còn mong chờ gì ở những điều không thực ở hiện tại kia chứ.

Chỉ cầu cho bản thân không gặp đủ loại tai ương, không bị thị phi dòm ngó, sau đó là bảo toàn tính mạng là trở về nhà, thế là đủ rồi."

Mấy ngón tay vô thức siết nhẹ vào nhau.

Tôi thoáng nghe thấy tiếng thở dài thật khẽ từ người bên cạnh.

Hẳn đây là câu trả lời không như ý muốn, nhưng biết làm thế nào bây giờ.

Đó cũng là tâm tư thật lòng của tôi rồi còn gì.

"Ta hiểu," Hoàng đế gật đầu, dịu giọng nói.

"Ta hiểu nàng không thích bị người khác bàn tán về thân phận của nàng, chỉ vì sợ họ sẽ dị nghị.

Vả lại, chốn này không được an toàn cho lắm, ta cũng chỉ cầu cho nàng có thể quay trở lại nơi mà nàng thuộc về..."

Nói đến đây, quân vương chợt im bặt, nửa vế sau mãi mãi không được thốt ra.

Đôi mắt ngài nhuốm màu buồn bã hòa lẫn với vẻ phong trần của tuổi tác.

Ngài hướng mắt nhìn ra bên ngoài, xung quanh tối đen như mực, vài ngôi sao khuya lóe lên ở đằng Đông.

Môi mím lại, ánh mắt trầm tư hơn vẻ thường ngày, đây chắc chắn không phải là một vị vua mặt hầm hố, suốt ngày cau có mà tôi quen biết.

Thế nhưng tại sao ngài lại cầu cho tôi được quay trở về, chứ không phải là ở lại đây sống nốt phần đời còn lại?

Tôi muốn mở miệng ra hỏi, song không hiểu sao từng câu chữ cứ bị ứ nghẹn nơi cổ họng.

Tôi muốn chất vấn, song không thể làm gì hơn ngoài việc ngồi yên lặng, cảm nhận từng giây phút trôi tuột qua kẽ tay một cách lãng phí.

"Suối rồi cũng phải chảy về nguồn, lá rồi cũng phải rụng về cội," Người nọ lên tiếng, liếc mắt nhìn tôi, sau đó rũ mắt nhìn nơi khác.

"Chăn ấm nệm êm, có gì nàng cần mà lại không có?

Nhưng thiết nghĩ, tốt hơn hết là vẫn nên để nàng trở về nhà."

"Nhà?

Tôi còn nhà nữa sao," Tôi cười khổ, giật nhẹ tay áo ngài.

Đợi cho người bên cạnh chịu nhìn xuống, tôi tiếp lời.

"Mười chín năm trước tôi lưu lạc ở nhà ngài, đặt dấu chấm đầu tiên cho cuộc đời lênh đênh của mình.

Nơi nào tôi đã ở rồi, tôi sẽ coi nơi ấy là nhà."

Đoạn, tôi rúc mặt vào lồng ngực rộng, sau đó lí nhí nốt câu nói còn lại:

"Vậy thì cung Từ Nhật chính là tổ ấm của tôi.

Như vậy thì cớ gì tôi lại phải bỏ rơi những gì tôi đang có cơ chứ."

Ngài đứng hình trong giây lát, mọi chuyện diễn ra quá nhanh.

Nhưng rồi, sau khi theo kịp tình hình, ngài ôm choàng lấy tôi.

Một cái ôm có thể truyền năng lượng cho nhau.

Một cái ôm có thể giúp người kia chữa lành những tổn thương tâm hồn.

Một cái ôm còn có thể giúp bù đắp những thiếu sót trong con người của đối phương.

Trong những tình huống không thể giải quyết bằng lời nói, tôi chỉ cần một cái ôm từ một người tôi tin tưởng.

"Nhật Hạ, nàng khác đi nhiều rồi."

"..."

Khác đi nhiều rồi?

À, đây là câu ám chỉ về sự thay đổi của tuổi tác ấy hả.

Hay là thay đổi tột bật của ngoại hình theo năm tháng?

Lần đầu sự trôi qua của thời gian lại biểu hiện rõ rệt trên người tôi.

Tóc thì bạc đi nhiều, tuổi cũng tăng lên, ngoại hình dần dà chẳng có gì nổi trội.

Hơn hết, tôi là một người lớn sắp qua tuổi tứ tuần, không biết đâu ra có cả đàn cháu để trông nom, chăm sóc.

Giờ đây, xung quanh tôi ai cũng mang trên mình dáng dấp của thời gian.

Ai cũng khác.

Ngài, từ một thương nhân buôn trầu sức dài vai rộng nọ, đến vị hoàng đế lập nên triều đại.

Mà năm nay ngài đã bao tuổi rồi ấy nhỉ.

Chắc là vừa độ tứ tuần hơn, nhưng tôi cũng không chắc lắm, bởi tất cả mọi người đều già đi như nhau kia mà.

"Tôi khác như thế nào vậy?"

"Điều ta ám chỉ không phải là về việc nàng bao nhiêu tuổi, mà là tính cách nàng có phần đằm thắm hơn so với ngày xưa."

Ngài kiên nhẫn đáp lời, rồi buông tay ra, chỉnh trang lại ngoại hình bên ngoài cho tôi.

"Phải rồi, nếu như ta không đến thì làm sao biết được nàng ở trong cung đã thay đổi nhiều như nào."

Người nọ định nói thêm, song nhận ra trời đã tối muộn, trăng non treo lơ lửng trên đầu, đành phải tạm gác chuyện đương nói dở sang một bên.

Ngài đứng dậy, nheo mắt nhìn xuống chung trà sen nguội lạnh, sau đó nán lại nhìn tôi mà hỏi:

"Trà này là nàng làm à?"

Tôi cúi gằm mặt xuống, gật đầu đáp.

"Phải, trà này là tôi làm.

Không biết trà sen uống không hợp khẩu vị, hay là có chuyện gì làm ngài phật lòng mà..."

"Trà uống được lắm, rất hợp ý ta.

Hậu vị ngọt dịu, không quá gắt như những thứ trà khác, đến cả trà của bọn cung nhân dâng lên cũng chẳng bì được như thế.

Lần tới nàng nhớ làm nhiều thêm một chút, rồi sai người mang qua tẩm điện," Ngài nhẹ giọng trấn an, véo mũi tôi.

"Nàng đừng sợ, ta không trách mắng nàng."

Đoạn, hoàng đế bâng quơ cốc đầu tôi một cái rồi thong dong rời đi.

Tôi đứng tần ngần mãi, vừa ôm trán xuýt xoa vừa nhìn dáng người cao lớn đang dần khuất khỏi tầm mắt.

Trán tôi thoáng chốc đã ửng đỏ, chóp mũi nhói đau âm ỉ.

Ui chao, đau quá!

Sao cái cốc đầu lần này lại ít đau hơn mấy lần trước, mà cái véo mũi này lại đau nhỉ.

Thật kì lạ.

Khi bóng hình quen thuộc ấy đã hòa vào bóng đêm, tôi mới an tâm ngồi phịch xuống trường kỉ.

Chiếc chăn bông to sụ vẫn còn giữ nguyên vị trí.

Tôi vô thức chạm vào vai, sau đó rụt tay về, cười tủm tỉm với chính mình.

Những ngày cận Tết trời lạnh buốt, nhưng tôi lại không thấy lạnh tẹo nào.

Chắc là do... tâm hồn tôi vừa mới được ai kia thắp lên ngọn nến thấp thoáng ánh hồng...

----------------------------------------

(1) Một tuần trà: Là thời gian từ khi rót nước sôi vào ấm đến khi nước nguội dần và cần phải thay nước mới.

Theo cách tính của người xưa, thời gian uống hết một chén trà hay thời gian một ấm trà nguội đi thường rơi vào một khắc - tầm khoảng 15 phút.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Trở Về Thời Tây Sơn
78. Đợi chờ


Tháng Ba, năm Tân Mão [1771].

Bản doanh quân Tây Sơn đặt ẩn náu sâu trong rừng rậm, nơi có những dãy núi nối đuôi nhau đến hết đường chân trời.

Khoảng trời như được phủ thêm màu xanh mát của núi rừng.

Có thể nói, Tây Sơn thượng đạo là một nơi thích hợp để đặt bản doanh, không chỉ tránh được sự truy lùng của bọn quan tri huyện mà còn đảm bảo tính tuyệt mật cho cuộc khởi nghĩa.

Những người đồng bào thiểu số vô cùng kính nể nghĩa quân.

Và những người lâm vào cảnh khốn khổ cũng nườm nượp rủ nhau đầu quân cho ba anh em, mang trong mình khẩu hiệu "lấy của người giàu chia cho người nghèo", mong mỏi một ngày nào đó công lí của họ được đòi lại.

Dưới chân đất rộng bạt ngàn đi mãi không hết, trên đầu toàn bóng cây cao vút.

Địa hình khó di chuyển, không được bằng phẳng như ở vùng hạ đạo, lại gập ghềnh những sỏi đá.

Có đoạn phải dùng ngựa mới vượt qua được, nhưng cũng có lúc chỉ người mới lọt qua được những chặng tưởng chừng khó có thể chinh phục nổi.

Bụi mù làm dáng dấp hai người lữ hành càng trở nên mờ ảo.

Tôi chật vật lắm mới giữ cho bản thân không bị té ở những đoạn có địa thế gồ ghề.

Vốn không phải là người sống ở đây, lại không quen leo trèo nên tôi suýt bước hụt chân mấy lần.

Cũng may là có cậu út nhẫn nại, lúc nào cũng di chuyển thật chậm cho tôi bám gót theo sau, thỉnh thoảng ngoái đầu lại kiểm tra xem tôi có còn ở đó hay không.

"Nè, làm sao cậu có thể đi qua mấy nơi như này một cách thành thạo mà không gặp khó khăn gì hết vậy."

Tôi mon men theo con đường mòn trơn trượt phía trước, đánh bạo lên tiếng hỏi.

Trời rũ lòng thương, hóa phép để tôi đi đoạn đường này không còn phải cực nhọc cuốc bộ nữa.

"Anh Hai từng dẫn tôi lên đây thăm dò vài lần, nên tôi cũng nắm rõ địa hình trong lòng bàn tay," Cậu mỉm cười, dừng lại một chốc để đợi tôi.

"Chúng ta sắp đến nơi rồi.

Chuyến này tôi xuống dưới miền xuôi để thay anh Hai nghe ngóng tình hình của bọn chúng, dựa vào đó để tùy thời cơ ứng biến ra sao."

Cậu đưa tay trỏ vào một nơi vô định nằm ở cuối con đường, nói tiếp.

"Nhược bằng chị cứ nằng nặc đòi đi theo mãi, tôi mới đánh liều đưa chị đi xem doanh trại của chúng ta, coi như là để mở mang tầm mắt.

Anh Hai đã căn dặn tuyệt đối không được để người ngoài biết bản doanh tọa lạc ở đâu, nhưng chị lại tò mò muốn biết.

Vì nể chút tình nghĩa trong nhà nên tôi mới đưa chị đi đấy thôi."

Tôi gãi đầu, cười ngài ngại không đáp.

Ra là sự hiếu kì của tôi đã làm khó dễ cậu.

Nhưng ông bà có câu "Đi một ngày đàng, học một sàng khôn." mà, nếu không bước chân ra ngoài để khám phá thế giới xung quanh thì làm sao khôn lên được.

Ở dưới vùng hạ đạo mãi thì chán lắm!

Đoạn, cậu út lò dò bước về phía cuối đường, xốc lại tay nải trên vai rồi quay đầu nhìn tôi.

Cậu hất đầu ra hiệu cho tôi đi theo.

Không biết tên nhóc này định rủ mình đi đâu nhỉ.

Nơi đó đã là đường cùng rồi, làm quái gì có con đường tắt nào khác để đi nữa chứ.

Trong lòng tôi canh cánh cả ngàn câu hỏi, song vẫn quyết định tin tưởng cậu em này một phen.

Đến nơi, tôi mới nhận ra đó không phải là ngõ cụt như tôi tưởng, mà là một lối đi bí mật được che giấu bởi những bụi cây rậm rạp, những thân cây to xù xì, một vài loài cây leo mọc dại và cỏ dại khác.

Cậu dùng tay gạt hết đống lá sang một bên, sau đó giải thích cho tôi hiểu: "Nếu không che đậy kĩ càng lối vào doanh trại thì bọn quan tri huyện rất dễ dàng nhận ra dấu vết, dẫu chúng ta đã ở trên vùng thượng."

Cậu thuần thục lách người qua bụi rậm, rất nhanh đã mất hút sau đám cây cỏ dày đặc.

Tôi chần chừ, nửa muốn đi tiếp nửa muốn bỏ cuộc giữa chừng.

Nhưng cậu đã vào trong đó rồi mà không có chuyện gì xảy ra, tức là không có gì nguy hiểm ẩn giấu sau mấy cái lá có vẻ ngoài bất động này.

Thế là tôi cũng làm theo những gì cậu đã làm, cẩn thận vén mấy bụi cây rồi chui vào bên trong.

Ô, hóa ra đằng sau bụi lá rậm rạp và thân cây to lớn lại không giống như trong tưởng tượng.

Trước mắt tôi không phải là cái bẫy.

Một lối đi nông hiện ra, chiều cao vừa đủ cho một người trưởng thành, bên dưới là đất bùn vón cục.

Một rãnh nứt kéo dài, sâu hun hút.

Không gian u ám và ẩm thấp.

Một luồng gió nhẹ thoảng vào cũng đủ để làm dậy mùi cỏ non.

"Giờ thì chị tin tôi rồi chứ," Cậu cười nhẹ, khoanh tay nhìn tôi.

"Chỉ cần đi một quãng ngắn nữa là đến rồi, không cần phải đi xa nữa đâu."

"Tôi bắt đầu nể phục tài năng của ba anh em nhà cậu rồi đấy," Tôi xuýt xoa cảm thán.

"Có thể đặt đại bản doanh ở nơi hẻo lánh như thế này.

Người thường đi ngang qua nếu không chịu để ý thì sẽ chẳng bao giờ nhận ra được."

"Một lát nữa chị sẽ hiểu lí do vì sao thôi," Cậu út đưa tay sờ soạng phía trước để tránh bước nhầm, đáp.

"Nào, chúng ta đi."

Tôi gật đầu, cố thích nghi với bóng tối hết mức có thể.

Song dù có cố gắng đến đâu thì tôi cũng chỉ thấy lờ mờ.

Cậu mò mẫm đi trước, tác phong vô cùng nhanh nhẹn.

Còn tôi thì lúi húi theo sau, dáng vẻ thận trọng, sợ lỡ sảy chân một cái cũng khiến bản thân nằm trên giường dưỡng thương mất mấy năm.

Cuối cùng cả hai chúng tôi cũng đến được lối ra.

Khung cảnh ở đầu bên kia thực sự khác một trời một vực so với cảnh cây cao rợp trời, đường muôn trùng dặm mà tôi đã đi qua.

Những quả đồi quanh co uốn lượn tựa như một màn chắn, bên trong dễ thủ bên ngoài khó đánh.

Bầu trời xanh thẳm, trong vắt không một gợn mây.

Dọc theo đồi núi là những căn lán trại lợp bằng lá cây rừng để che mưa che nắng, được gia cố thêm vài khúc tre, khúc gỗ.

Chính giữa là một khu đất bằng phẳng, bên trái là mấy con voi đang được huấn luyện, bên phải là binh lính đang luyện tập.

Áo mũ chỉnh tề, gươm giáo sáng loáng, mặt người nào người nấy đều thể hiện lên ý chí quyết tâm.

Ngay khu vực trung tâm dựng lên một mái lều lớn, chỉn chu và trang nghiêm hơn những căn lều khác, có lính canh gác cẩn thận.

Lá đại kì màu đỏ rực, ngay giữa là hình tròn màu vàng, bên dưới thêu ba chữ "Tây Sơn Vương" được dựng lên, kiêu hãnh bay phấp phới theo làn gió.

Và xa xa kia là buôn làng thân quen của người dân tộc, với những ngôi nhà sàn là biểu tượng đặc trưng cho các dân tộc sống ở vùng Tây Nguyên màu mỡ này.

Tôi bị choáng ngợp trước cảnh vật trước mắt.

Núi rừng vây lẫn nhau, con người sống hòa hợp với thiên nhiên.

Làm sao có thể tưởng tượng được một nơi hoang vu, đường đèo trắc trở lại mọc lên những mái lều trại, những căn cứ của những con người dám đứng lên vì chữ nghĩa.

Thậm chí nó còn hoành tráng hơn những gì tôi đọc trong sách.

Chỉ trong ít năm thôi mà đã chuẩn bị căn cứ, tập hợp lực lượng được như thế này, đó vốn không phải là chuyện dễ.

Cậu út phì cười trước vẻ thích thú của tôi.

Đoạn, cậu trỏ tay về phía căn lều lớn nhất và bảo:

"Đó là trại của minh chủ đấy!

Chị xuống đó tìm anh Hai thử xem."

Tôi nán lại ít giây để ngắm nhìn khung cảnh, sau đó mon men theo con dốc thoai thoải mà tìm lối đi xuống.

Cậu cũng nối gót theo sau, tay nải màu điều đeo chéo trước ngực, không rõ bên trong chứa gì.

Dưới chân đất mềm đi.

Cỏ mọc không đều, chỗ thì cao quá gối, chỗ thì mọc lưa thưa.

Từ trên vách hang xuống khu vực trung tâm của căn cứ không quá xa, độ chỉ tầm hai mươi bước chân, nhưng đường đi lại không được bằng phẳng cho lắm.

Binh lính canh gác phóng mắt nhìn về một nơi xa xăm, đứng oai nghiêm như trời trồng, siết chặt thanh giáo trong tay.

Mỗi canh giờ đều có người thay phiên đến túc trực, lúc nào cũng đều đặn việc thay đổi người để đảm bảo không có chuyện gì đáng ngờ xảy ra.

Càng đi lại gần, đám lính canh có vẻ càng để ý và dè chừng tôi hơn.

Cậu út thì không hề hấn gì, vì bọn họ quen mặt cậu Tư nhà đức Ông Cả, suốt ngày vào ra doanh trại thường như cơm bữa.

Nhưng còn tôi, một người lạ mặt, chưa từng xuất đầu lộ diện trước đám đông, cũng chưa từng được chàng nhắc lấy một lời.

Lẽ nào lần này cậu Tư đi về lại dẫn theo một gián điệp từ triều đình cài vào chăng?

Tôi nói với cậu: "Làm sao tôi vào trong được?

Ngoài đây canh nghiêm ngặt quá."

Trái với vẻ lo lắng của tôi, cậu chỉ bình tĩnh đáp.

"Chị đừng lo, tôi vào bảo họ vài câu, chắc chắn họ sẽ cho chị vào thôi."

Thế là cậu điềm nhiên đi đến chỗ mấy tên lính, thì thầm với họ điều gì đấy mà tôi không thể nào nghe được nội dung cuộc trò chuyện.

Đám lính gác hết nhìn cậu rồi lại nhìn tôi, thôi không còn cảnh giác nữa.

Không rõ cậu đã nói gì mà ai ấy cũng gật đầu răm rắp nghe theo, điệu bộ hết sức cung kính.

Xong xuôi mọi chuyện, cậu út quay đầu, ra hiệu cho tôi bước vào.

Tôi ngượng ngùng đi qua giữa những thanh niên trai tráng áo vải bình dân, tay cầm vũ khí kia, song họ chỉ đứng im như pho tượng, mặt không chút biểu cảm nào.

Cậu vén cửa lều sẵn cho tôi, dặn dò: "Chị vào gặp anh Hai trước đi, tôi bận ít việc nên không thể vào ngay."

Đợi tôi vào trong trại rồi, cậu mới yên tâm rời đi.

Bên ngoài ngổn ngang, bừa bộn bao nhiêu thì bên trong lều lại gọn gàng và chỉn chu bấy nhiêu.

Dường như mọi hỗn tạp của thế giới lần lượt bị rũ bỏ khi bước vào trong này.

Một chiếc bàn dài được kê ở vị trí trung tâm, bên trên là sa bàn cắm chi chít những cờ đỏ, cờ xanh.

Trướng hùm được đặt ở nơi trang trọng nhất, cách mặt đất độ hai, ba bậc thềm, bên cạnh là hai chiếc ghế cho hai người em trai, nhưng hiện giờ hai chiếc ghế đó tạm thời bỏ trống.

Vài ba cây giáo cùng một vài thanh đoản đao khác chất đống trên hòm gỗ.

Trong lều không có ai khác ngoài tôi và chàng.

Người nọ dùng vải lau sạch bụi bặm trên thanh Độc Thần kiếm, ngó nghiêng nhìn lưỡi kiếm sắc bén một hồi rồi tra vào vỏ, dám chừng đã khá ưng ý với độ bóng loáng của nó.

Từng đường nét gương mặt hiện lên rõ ràng với vầng trán rộng, mũi lân, nhân trung sâu thẳm.

Đôi môi mảnh kia thi thoảng mím lại, ánh mắt mơ màng nhìn vào hư vô.

Một người có nhan sắc thuộc hạng tầm trung, không quá nổi bật, song trí tuệ thì hơn hẳn người thường.

"Nhật Hạ, cô định đứng chôn chân ở đấy mãi đến bao giờ," Giọng nói quen thuộc ấy bất thần vang lên.

Không rõ chàng đã thôi không còn bận bịu, chăm chăm để ý đến tôi từ khi nào.

"Không lại đây ngồi với tôi à."

Tôi giật mình, ngẩn ngơ nhìn người trước mặt, cuống cuồng không biết phải ứng xử như thế nào.

Nãy giờ tôi cứ như người mất hồn vậy, hai bên tai ù đi, thời gian cũng ngừng trôi hẳn.

Tấm nhu bào (2) màu xanh biển trông thật đẹp, rất hợp với khổ người cao ráo như chàng.

Người đẹp vì lụa, cổ nhân nói quả thật không sai.

"Khô... không cần đâu, tôi đứng đây là được rồi."

Tôi lắp bắp trả lời, trống ngực đập thình thịch liên hồi.

Chỗ trướng hùm đó vốn là dành cho chỉ huy cùng các tướng tá thân cận ngồi cạnh để bàn luận việc nước, không phải là chỗ tôi có thể tùy tiện ngồi.

Mặc dầu được cho phép, song tôi không dám làm gì quá mức, vì tôi biết danh phận mình chẳng qua cũng chỉ là cái bóng mờ nhạt thôi.

Thấy tôi có vẻ sợ sệt, chàng đành giấu thanh kiếm ra sau lưng, cốt để cho tôi an lòng.

Đoạn, chàng lấy lại vẻ hòa nhã thường ngày, vừa gõ nhịp tay lên đùi vừa hỏi thăm:

"Cô đến doanh trại bằng cách nào thế?

Đường xa trắc trở muôn trùng, người thường rất khó vào đây, huống hồ chi phận cô lại là nữ nhi chân yếu tay mềm, không quen chịu gian khổ."

"Cũng may là có cậu út dẫn đường," Tôi cúi gằm mặt, vò chặt vạt áo trong tay, hệt như đứa trẻ đang bị trách phạt.

"Cái gì không quen thì phải tập cho quen dần, không thể nào suốt đời ôm nhược điểm ấy mãi được, dễ gây ra phiền toái cho người khác lắm.

Cho nên... anh không cần phải lo lắng cho tôi quá đâu, đi hai ba lần là rành rọt địa hình liền ấy mà."

Chàng im lặng, không vội đáp ngay.

Đôi mắt nọ chất đầy những suy nghĩ bộn bề mấy ai thấu cho hết.

Cặp mày chau lại, không phải vì người kia không chấp thuận với hành động của tôi, mà là vì chàng đang tìm cho mình một câu trả lời thích hợp.

Nhìn y phục tươm tất của tôi bị bẩn, gương mặt lem luốc bùn đất, mấy đầu ngón tay đau rát vì mấy tảng đá nhọn, càng nghĩ chàng càng thấy xót lòng.

Còn tôi, một phần vì mỏi mệt do đi bộ đường dài, một phần vì quá lúng túng nên quên bẵng đi cái đau âm ỉ kéo dài.

Chàng gật đầu tỏ vẻ đồng tình, thở hắt ra, nom đã bình tĩnh lại.

"Tôi cũng định đưa cô đi xem doanh trại một chuyến để mở mang đầu óc.

Song nghĩ lại thời cuộc vẫn còn rối ren, đường xá còn chưa thuận tiện nên tôi tạm để cô ở dưới hạ đạo một thời gian."

Rồi chàng đứng dậy, đi về phía tôi, không nói không rằng mà nắm lấy đôi bàn tay ửng đỏ.

Tôi chợt lùi lại theo phản xạ, nhưng mãi vẫn không thể rút tay về.

Hơi ấm từ tay chàng truyền đến, chinh phục được rào cản thời gian, sau đó nhẹ nhàng chạm đến nơi sâu nhất của tâm hồn.

"Lần tới có đến thì nhớ bảo tôi một tiếng, tôi còn sai người đến rước, để cô không phải cực nhọc như này.

Nhìn xem, tay cô đầy những vết trầy xước rồi."

Tôi ngẩng mặt lên, môi mấp máy định nói điều gì đó, song cuống họng như nghẹn lại.

Chuyện binh đao khói lửa chỉ mới bắt đầu, cảnh loạn lạc kéo dài triền miên.

Lá cờ khởi nghĩa chỉ vừa được phất lên không lâu, dân chúng nhiều nơi vẫn còn chưa biết đến danh tiếng của nghĩa quân, bọn quan lại tham nhũng vênh váo lộng hành hơn trước.

Biết bao nhiêu khó khăn tiềm ẩn chưa được giải quyết, cán cân thời cuộc còn bấp bênh, chao đảo.

Vậy mà thỉnh thoảng chàng vẫn dành cho tôi một sự quan tâm nhất định, như cái thuở chàng còn là anh Hai Trầu tốt tính hào sảng kia.

Chàng nhìn tôi, thở dài bất lực.

Có lẽ chàng không ngờ đến việc cô bé đi lạc vào nhà mình năm năm trước lại có thể thay đổi rõ rệt về tư tưởng sống đến vậy.

Song cô nhóc ấy cũng gan dạ, một mình vượt cả chặng đường đèo trập trùng cùng với em trai chàng để đến đây mà không chịu suy nghĩ trước hậu quả bất trắc có thể gặp phải.

Năm lần bảy lượt hết thảy đều làm chàng mệt bở cả hơi tai.

"Thôi được rồi, cô trở về đi, kẻo lại không tiện đường" Chàng dịu giọng.

"Tầm mươi ngày tôi xuống hạ đạo có chút việc, tiện ghé Kiên Thành để thăm cô.

Không được tự tiện lên đây một mình, nhỡ cô có mệnh hệ gì thì tôi biết xoay sở như nào.

Đã nhớ rõ chưa?"

"Tôi nhớ rõ rồi, anh làm như tôi là con nít lên ba chắc."

Tôi phụng phịu đáp, vẫy tay tạm biệt chàng, sau đó rời đi.

Thế là tôi đã hoàn thành ước nguyện của mình thành công.

Đi chuyến này về, tôi không những được mở mang tầm mắt, mà còn lưu lại trong tâm trí những hình ảnh sống động của bản doanh và độ kỉ luật nghiêm ngặt của nghĩa quân.

Đó chính là tài trí thao lược của những người chủ tướng, cần phải cân nhắc thật kĩ lưỡng từng đường đi nước bước.

Chỉ một sai sót nhỏ thôi là mọi chuyện vỡ kế hoạch ngay, như bầy ong vỡ tổ.

Cửa lều được vén lên, rồi buông xuống.

Bầu không khí yên tĩnh và trầm mặc.

Gió thổi hiu quạnh, đua nhau xô vào căn lều to nhất.

Ngọn nến cháy mãnh liệt hơn bao giờ hết.

Chàng đứng thẫn thờ, vò chặt vạt áo trong tay, hãy còn hụt hẫng vì mọi thứ diễn ra quá nhanh.

Bàn tay người nọ vẫn còn đượm cảm giác nóng hổi.

Bên tai chàng còn văng vẳng câu trả lời không mấy ưng ý của cô nhóc đầu hai mươi.

Chàng bất giác nhoẻn miệng cười, áp tay vào lồng ngực, cảm nhận tiếng nhịp tim đập chậm rãi.

"Nhật Hạ, đi về bảo trọng."

Khi hai người gắn kết với nhau, đến cả trái tim cũng chung một nhịp đập.

*

Tôi từng nghe nói, nếu như ở bên cạnh người mình thương vào đêm Giao thừa, thì sau này cả hai sẽ mãi mãi được gần nhau trọn đời trọn kiếp.

Dĩ nhiên, độ chính xác của tin đồn đó vẫn chưa thể xác thực được.

Thế nhưng tôi vẫn nửa tin nửa ngờ, muốn một lần cùng ngồi với nửa kia, chúc nhau một vài câu thật ý nghĩa, chờ đợi thời khắc chuyển giao năm mới đến.

Nhỡ đâu lời người ta đồn là thật thì sao.

Và nhỡ đâu ông Tơ bà Nguyệt se duyên cho hai người thành đôi thật thì sao?

Ngày trước, lúc thân xác ở thời hiện đại chưa rơi vào trạng thái hôn mê, tôi hay ngủ qua đêm ở nhà thằng Thiên, được trông thấy nồi thịt kho ê hề những tảng thịt ngon của cô Chi, ngồi xem Táo quân trong không khí rộn ràng đến khi mệt thì thôi.

Cậu ta không quên nhiệm vụ, mỗi năm mỗi chúc tôi, câu nào câu nấy không xuất hiện quá một lần.

Duy chỉ lời đồn đại được truyền tai nhau đó là lặp đi lặp lại theo năm tháng.

Tôi chống cằm nhìn lơ đễnh ra ngoài cửa sổ, không ngừng ngáp ngắn ngáp dài.

Khi nào mới sang đến ngày mùng Ba nhỉ, tôi trông chờ hôm ấy để được một lần du ngoạn bên ngoài kinh thành quá.

Ở mãi trong chốn kinh thành thinh lặng, tôi thèm được nghe những tiếng quen thuộc ngoài dân gian.

Đã lâu không được hòa mình vào những điều dân dã, suốt ngày cứ phải gò bó bản thân trong khuôn khổ lễ nghi lắm điều phiền toái, tôi quên mất trước đây mình từng được thỏa thích đi đây đi đó như thế nào.

Giống như một chú chim bị vây hãm trong lồng, khi được trao trả tự do lại quên cách bay lượn trên bầu trời thênh thang.

Khoảng sân đầy nắng vương vãi những tấm lá xanh.

Bụi cỏ may mọc thấp đang chen mình giữa những đóa hoa mới nhú mình khỏi sự che chở của lá cành.

Tôi như vừa trông thấy gì đó quen mắt, vội nhỏm người ngồi dậy, ngó nghiêng nhìn ngắm bụi cỏ may trắng toát đằng xa.

Bao lâu rồi tôi mới được dịp thấy hoa cỏ may nhỉ.

Kể từ đợt cùng ngài đi buôn ở bến Trường Trầu vào năm Bính Tuất nọ, quả thật thời gian đã đẩy tôi đi thật xa khỏi những điều quá đỗi thân thuộc.

Tuổi thơ của tôi ngày xưa đã cùng đám trẻ ở xóm bứt hoa cỏ may để kết thành vòng mà đội lên đầu.

Bó hoa cỏ năm nào, chẳng hay ngài có còn giữ chúng hay không, hay là vì mải mê chuyện tạo dựng cơ nghiệp mà quên bẵng đi mất.

Năm dài tháng rộng, người đến rồi đi, quang cảnh có chút đổi thay, song nó vẫn giữ được vẻ thuần khiết, mộc mạc nhất.

Một cái đẹp giản dị không chút phô trương, nhưng luôn tạo nên sự khác biệt.

Tôi đẩy cửa bước ra, chậm rãi đi về phía bụi hoa ấy.

Lối đi được phủ kín bằng bóng cây xanh mướt, cung đường tràn ngập mùi hương thơm dịu của mấy chùm hoa xoan tím rực.

Tâm trí tôi toàn là hoài ức ngày xưa, về xóm quê, về bến trầu năm đấy, cứ chập chờn không rõ bóng hình, hệt như thước phim đã cũ.

Khi đến được bụi cỏ may ấy rồi, tôi ngồi sụp xuống, cố gắng vươn tay ra chạm vào nó.

Một cái chạm không đơn thuần là chạm vào thiên nhiên, mà đó còn là nỗ lực để thu nhặt lại những mảnh đã vỡ nát trong kí ức.

"Nàng thích chứ?"

Hoàng đế bất thần lên tiếng, thong thả tản bộ dạo quanh sân vườn, hai tay chắp ra phía sau lưng.

Vạt áo bay phất phơ, bộ y phục màu vàng không quá cầu kì, chỉ thêu một vài họa tiết bằng chỉ vàng dọc bên tay áo.

Tên thái giám theo sau trịnh trọng lễ chào, sau đó nép mình sang một bên chờ lệnh của chủ nhân.

"Ngài..."

"Hử?

Ta làm sao," Ngài bật cười.

"Nắng oi thế này, không vào trong cho khỏe người, còn ra đây làm gì.

Đợi đến lúc nàng ngã bệnh thì ta đi thăm à."

Tôi vội vàng đứng dậy, lùi lại vẻ trốn tránh, cúi gằm mặt không dám đối diện trực tiếp với người nọ.

Nhưng tôi lùi bao nhiêu bước, ngài cũng lùi bấy nhiêu bước, đến khi phía sau lưng là thân cây to, lúc ấy tôi mới nhận ra mình chỉ còn cách thẳng thắn đối đáp với ngài.

Thấy tôi rơi vào thế bị động, ngài thôi không hỏi cung nữa, chỉ đứng cách tôi đôi ba bước chân.

Ngài liếc sang bụi cỏ may gần đó, rồi lại nhìn tôi, như đang kiên nhẫn chờ đợi câu trả lời.

"Tôi tò mò không biết tự dưng lại mọc lên khóm hoa cỏ, muốn ra ngoài tìm hiểu một phen nên..."

Tôi nuốt khan, âm lượng nhỏ dần.

"Mong ngài lượng thứ tha cho."

"Ta không trách nàng," Quân vương nhẹ nhàng nhặt lấy cánh hoa vướng trên tóc tôi.

"Ta chỉ hỏi xem nàng có thích hay không thôi.

Hoa cỏ may này là do ta sai người trồng, cốt là để nàng được vui.

Chẳng phải thuở nhỏ nàng đã từng rất thích chúng hay sao."

Sau ngần ấy năm, ngần ấy thời gian dài đằng đẵng, ngài vẫn còn nhớ đến sở thích của tôi.

Và quả thật, khóm cỏ may này là do ngài lén sai cung nhân trồng.

Ngày trước tôi hay ao ước sau này có cơ ngơi riêng sẽ dành hẳn một phần đất để trồng thứ hoa đơn giản.

Sáng hay chiều đều đều đặn ngồi trước hiên mà ngắm nhìn bụi hoa, tự tay chăm sóc đám cỏ cây mà mình trồng lấy.

"Phải...

đúng là thuở nhỏ tôi đã từng rất thích chúng..."

Mỗi tội tôi trồng cái gì, thì hốt nhiên thứ ấy đều không thể sống được, cho nên tôi đành tạm gác mong mỏi sang một bên.

Nhật Hạ tôi đây chỉ ước được sống nhàn hạ như vậy.

Không bận lòng chuyện thiên hạ, sống tốt với bản thân, như thế là được rồi.

Tự nhiên bị lôi vào dòng chảy kì quái này làm chi không biết.

"Vào trong ngồi đi, ngoài đây nắng lắm, không tốt cho sức khỏe của nàng đâu."

Tôi cố tình nán lại một chốc, bồi hồi nhìn ngắm dung nhan của người đối diện, cảm thấy cái nắng lại gay gắt hơn bao giờ hết.

Mái tóc đen nhánh lúc nào cũng được búi lên gọn gàng, nay đã lấm tấm nhiều sợi bạc, nếp nhăn dọc hai bên khóe mắt dần hiển hiện rõ hơn.

Thời thế loạn lạc đã làm ngài già đi nhiều hơn, ánh mắt phong trần khó có thể che giấu kĩ càng như trước.

Chẳng rõ ngài đang muộn phiền chuyện gì, hay là do bốn chữ thái bình thịnh thế mà ngài nằm mộng trước đây vẫn chưa thể đạt được.

Với tình hình chiến sự rối ren như thế này thì e là cảnh đầu rơi máu chảy hãy còn dài.

Chúng tôi ngồi tạm bên dưới mái hiên, trông ra sân vườn rợp bóng cây cỏ.

Trời xanh trong vắt không một gợn mây.

Nắng trải từng vệt dài xuống nền đất xứ Quy Nhơn nóng bỏng.

Tên thái giám nhìn hai người bọn tôi sắp sửa có một cuộc trò chuyện, bèn tự giác cúi đầu, sau đó lui về một bên để cả hai có không gian riêng.

Đoạn, ngài quay sang hỏi tôi: "Nàng ăn bánh chứ?"

Tôi chưa kịp trả lời thì hoàng đế đã mang ra một túi vải màu điều, bên trong chứa đầy những viên bánh tròn tròn đẹp mắt.

Ngài ra hiệu cho tôi xòe tay ra, tôi cun cút làm theo.

Thế rồi, ngài đặt viên bánh lọt thỏm trong lòng bàn tay tôi.

"Bánh này ngài lấy ở đâu vậy."

Tôi ngây người hỏi người nọ, còn chần chừ chưa muốn ăn.

Song trái ngược với suy nghĩ của tôi, ngài chỉ nhẹ cười, chăm chú nhìn tôi đang lúng túng với viên bánh.

"Cái này cho tôi thật hả."

"Ta lấy bánh ở đâu, nàng cần phải hỏi ta sao.

Với cả ta không cho nàng thì biết cho ai," Quân vương búng trán tôi, cau mày bảo.

"Ăn đi, đừng hỏi nhiều."

Không hỏi thì làm sao biết được ngài có bỏ độc vào trong bánh hay không, Tôi nghĩ thầm trong bụng, cố ghìm cục tức rồi giả vờ gặm nhấm mấy miếng cho có lệ.

Người gì đâu kì cục!

Kêu người ta ăn bánh mà tưởng đâu ép buộc ấy.

Miệng tôi giờ đầy ứ hự những vụn bánh mềm, không quá ngọt như tôi tưởng.

Người làm ra mấy viên bánh này hẳn cũng rất hiểu ý người ăn, khéo léo làm ra phần nhân bánh ngọt vừa đủ, không quá gắt cũng không quá nhạt.

Chắc là chén chè hạt sen đợt trước với món bánh này do cùng một người làm ra, thế nên hương vị dẫu có khác nhau nhưng vẫn có thể đoán ra được điểm chung của chúng.

"À phải, lần trước chẳng phải ngài nói với tôi hôm nay, ngày mai lẫn ngày mốt đều bận ư.

Sao ngài còn đến đây thế," Tôi vừa nhai bánh vừa lay tay áo hỏi ngài.

"Công việc của ngài nhàn rỗi đến vậy hả."

"Ta bảo ta bận, chứ đâu có bảo ta không thể đến gặp nàng," Hoàng đế từ tốn đáp, nhẹ nhàng vỗ vào tay tôi.

"Nàng ăn từ từ, không ai giành của nàng đâu.

Chỗ bánh này ta cho nàng cả."

Nghe đến đây, tôi ngẩng mặt lên, hãy còn ngơ ngác vì vẫn chưa tin được lời ngài nói là thực hay ảo.

Đống bánh trong túi vải nhiều lắm thay, còn lại những bốn cái.

Bao nhiêu đấy, tất cả đều cho tôi, thế thì một mình tôi ăn làm sao hết.

Mặc dù tôi dễ nuôi dễ bảo, cho gì cũng ăn, nhưng bấy nhiêu cái bánh đó thì quá sức rồi.

Dường như ngài cũng cảm nhận được tôi đang bận lòng chuyện gì - tất nhiên là nhờ linh cảm.

Quân vương chỉ tằng hắng vài cái, rồi nói: "Ta không thích ăn ngọt.

Cho nàng hết thảy cả bốn cái."

Tôi mừng rơn.

Tin này còn tuyệt vời hơn cả việc trúng số độc đắc hay được tin mình đạt giải cao của cuộc thi nào đó.

Vậy là tôi có thể thỏa thích ngốn hết mấy viên bánh kia mà không sợ đắc phải tội với vua.

Tôi thong thả thưởng thức mớ bánh còn lại, thỉnh thoảng dựa vào vai người bên cạnh cho đỡ mệt.

Nếu bảo một người lớn già đầu thích ăn bánh ngọt như trẻ con, đảm bảo rằng người khác họ sẽ chẳng tin lấy một lời.

Bởi làm gì có ai có sở thích kì quặc như vậy chứ.

Ngài đăm chiêu nhìn về nơi xa xăm, ánh mắt lạc đi, tuy thư thái nhưng lòng lại bận nghĩ ngợi chuyện khác.

Xa xa là dãy núi cao nhấp nhô, chạy dọc theo triền đồi xanh mướt.

"Gia Định khải hoàn rồi."

Người kia mở đầu câu chuyện bằng một tin vui.

Ngừng lại một chút, ngài nói tiếp: "Xiêm La bị tiêu diệt gần hết, chỉ có vài ngàn quân còn sống sót.

Phúc Ánh dẫn theo đám gia nô cùng gia quyến của hắn bỏ chạy, lưu vong sang đất Xiêm.

Trong Nam tạm thời được ổn định."

Tôi chỉ cười trừ cho có lệ.

Thật ra tôi không bất ngờ cho lắm, thậm chí tôi cũng đã biết trước được kết cục của trận đánh này.

Tại sao ư, bởi vì tôi là người đến từ hai trăm năm sau.

Mọi diễn biến của thời cuộc tôi đều nắm rõ, chẳng qua tôi bắt buộc phải sống tốt đến ngày cuối cùng của triều đại này thôi.

Tháng Giêng năm Ất Tỵ ghi dấu một chiến thắng vang dội.

Một chiến thắng oai hùng, diễn ra trong chớp nhoáng, làm cỏ gần năm vạn quân Xiêm, xóa sạch bóng quân thù.

"Tài cầm quân thao lược của Long Nhương tướng quân ai ai cũng trông thấy rõ như đứng giữa thanh thiên bạch nhật, lần nào ra trận cũng mang tin tốt về.

Há chẳng phải là điều lành sao."

Tôi chép miệng nhìn vào túi vải trống trơn, cảm thấy hối hận vì đã ăn sạch mấy viên bánh quá nhanh.

Ngài nghe xong thì nhếch miệng cười, lắc đầu như muốn phủ nhận lại câu nói của tôi.

Đoạn, hoàng đế thở dài một hơi nặng trĩu vào hư vô, rồi cầm lấy tay tôi mà đáp:

"Phải, tuy đó đúng là điều lành của Tây Sơn ta, nhưng... ta lại không hài lòng với chính điều ấy."

"Phàm mọi sự cũng nên đề phòng trong ngoài, suy xét sâu rộng để tính kế lâu dài cho tương lai.

Nếu quyền lực dồn hết cả vào trong tay một người, sẽ dễ sinh ra biến loạn.

Như vậy lại càng không được," Người nọ áp tay vào má tôi.

Chẳng hiểu sao hôm nay tay ngài lại ấm nóng hơn thường ngày, và đôi tay kia dường như cũng đang run rẩy.

"Ta nghĩ như vậy cũng chỉ vì muốn sơn hà xã tắc được vững bền, trăm họ được an cư lập nghiệp mà thôi."

Nhưng mà bây giờ không phải là lúc để lo xa quá như vậy, Tôi cúi gằm mặt để tránh né ánh mắt ấy, cố gắng đánh lạc hướng tâm trí bằng những chuyện vớ vẩn khác.

Ngoài kia vẫn còn lắm thế lực thù địch cần phải dẹp yên, chứ không phải đương thời thái bình thịnh thế.

Ngài làm như tôi không nắm bắt được tình hình lắm...

Ngài vốn không có chí tiến thủ, vùng vẫy làm vua trong những vùng đang cai quản, quanh quẩn trong cơ đồ sự nghiệp của mình với kho tàng chất đầy vàng bạc.

Kể cả những năm sau này, khi họ Trịnh đã được dẹp tan, Bắc Hà được trao trả lại cho vua Lê, Linh giang không còn là ranh giới chia đôi đất nước, ngài vẫn không bén mảng đến lãnh thổ bên ngoài.

Đại Việt tuy nhìn chung là đã dẹp hết các thế lực cát cứ, Nam - Bắc được nối liền, nhưng vẫn còn tồn tại việc hai vua cùng chung một nước.

Nghiền ngẫm sách sử đến phần này, tôi không ngừng lắc đầu ngao ngán.

Mặt sáng thì có, nhưng bề mặt tối của tảng băng chìm cũng đầy rẫy ra đấy.

Rồi, hoàng đế đứng dậy, phủi hết cát bụi bám trên tấm áo rộng.

Hình như ngài sắp sửa ra về thì phải.

Tôi ngước mắt dõi theo từng cử động của ngài, do thám xem ngài đây sẽ làm gì tiếp theo.

Dáng người cao lớn ấy che hết cả bầu trời.

Đôi khi, dáng người kia cũng hóa bến đỗ vô bờ, chứa chấp cả những tâm tình chưa từng được thốt ra.

Chúng còn chẳng kịp rời khỏi khuôn miệng đã bị người nọ thấu hết, cứ thế mà ứ nghẹn lại ở nơi cuống họng.

Tôi tin rằng khi hai người đồng điệu với nhau về tâm hồn, cả vũ trụ này sẽ giúp họ hiểu được tâm tư của người còn lại.

"Mồng Ba ta sang đây đón nàng.

Lúc đó không được ngủ quên đấy, nhớ chưa."

Như chợt nhớ ra chuyện gì đó, ngài quay đầu lại dặn dò.

"Nàng vào trong ngồi đi, kẻo nắng."

Ấy thế mà người nọ vẫn chưa rời đi hẳn.

Quân vương đứng đấy, kiên nhẫn chờ đợi tôi bước vào bên trong ngồi mới an tâm rời đi.

Trông thấy tôi vẫn còn lớ ngớ chưa hiểu ý, ngài nhíu mày cau có, vẻ mặt như thể sắp sửa nổi giận lôi đình.

Thế là tôi đành phải cam chịu mà nghe lời, lót tót đi vào trong cung, ngồi phịch xuống trường kỉ, sau đó giương mắt nhìn ngài.

Đến khi người kia gật đầu hài lòng, nét mặt giãn ra đôi phần, tôi mới dám thở phào nhẹ nhõm.

May là nhờ tôi chịu nhanh nhạy lẫn quan sát tốt để biết cách đối phó với tình huống này.

Nếu chậm một giây thôi, e là giờ này tôi đã phải nghe ngài quở trách rồi.

"Lâu rồi ta chưa đánh cờ.

Lần này ta quyết sẽ phân thắng bại với nàng một phen."

Ngài nhàn hạ nói, tay chắp ra sau lưng.

Tôi trộm nhìn người nọ.

Điệu bộ thư thái và thong thả như này, hẳn ngài đang tự tin về tài lược của mình sẽ thắng tôi một cách dễ dàng mà chẳng cần tốn sức là bao.

Cũng phải thôi, ai bảo tôi toàn thua lẹt đẹt, chả có lấy nổi một ván thắng làm gì.

Mười trận thì hết cả mười tôi đều thua rồi.

Tuy không nói ra, nhưng tôi biết ngài, cả Long Nhương tướng quân lẫn Tiết chế đều đã rất kiên nhẫn khi chơi cờ với tôi, thậm chí là phải nhường tôi mấy ván liền để tôi gỡ gạc lại danh dự.

Cơ mà, biết người biết ta, trăm trận trăm thắng.

Ngài khinh thường đối thủ của mình như thế, khéo lại thua một vố thật đau cho mà coi.

"Ngài hứa rồi đấy nhé."

Tôi giấu nhẹm chiếc vòng ngọc đằng sau lớp áo dày, đung đưa hai chân qua lại cho thoải mái.

"Thất hứa là không được đâu.

Cả đời này tôi chỉ chờ có mỗi mình ngài thôi."

Hoàng đế rũ mắt nhìn tôi, một ánh nhìn rất đỗi thân quen.

Mới giây trước, ánh mắt ấy còn nhuốm màu thờ ơ, phũ phàng trước sự đời đã được sắp xếp sẵn.

Thế mà giây sau tôi đã tìm thấy trong đôi mắt nọ một tâm tình khó thể nói thành lời.

Gió nổi lên.

Khoảng trời lắng xuống.

Mặt hồ dềnh dàng những đợt sóng, con nước êm đềm thả trôi lềnh bềnh theo từng nhịp gió thổi.

"Ừ, ta hứa."

"Cả đời này nàng chờ ta, vậy kiếp sau ta nhất định sẽ chờ nàng."

Ngài bước lên bậc thềm, thong dong bước vào trong như đang còn luyến tiếc điều gì.

Khoảng cách giữa tôi và ngài giờ đang rất gần, nếu như không muốn nói là chỉ cách nhau có mỗi thanh chắn của trường kỉ.

Bàn tay thô ráp ấy đặt nhẹ trên đầu tôi, theo thói quen mà từ tốn xoa lấy mớ tóc mềm.

Tuy không phải là lời nói ngon nói ngọt ngỡ rót mật vào tai, nhưng câu nói kia cũng đủ làm tôi xao xuyến một lúc lâu.

Tôi ngẩng mặt lên, vừa vặn ánh nhìn nọ cũng đang nhìn chằm chằm tôi.

Rất nhẹ nhàng, mà cũng rất dịu dàng.

Liệu em có thể cảm nhận được,

Tình yêu anh trao đến em? (4)

Bị bắt gặp đang nhìn lén người nọ, tôi vội cúi mặt xuống, tránh đối đáp thẳng thắn với ngài.

Nhưng may sao, vị hoàng đế kia như đọc được suy nghĩ của tôi, thôi không tiếp tục cuộc trò chuyện nữa.

Ngài húng hắng ho vài cái để che lấp bầu không khí gượng gạo, sau đó đánh trống lảng nhìn sang chỗ khác.

"Ta về nhé."

"Vâng, ngài về cẩn thận," Tôi gật đầu đáp lại.

"Ừm... cảm ơn ngài vì đã mang cho tôi mấy cái bánh."

Quân vương nhẹ cười.

"Vài ba cái bánh thì có sá gì, không cần phải câu nệ quá.

Vả lại dạo này ta không được khỏe, không thể ăn nhiều đồ ngọt.

Ta biết nàng thích ăn nên mới để phần cho nàng."

Đoạn, nói xong thì người kia quay lưng rời đi.

Gió thoảng đưa vạt áo bay phất phơ, hứng trọn những mảnh nắng vô tình đậu xuống.

Tôi đưa tay vuốt cho phẳng nếp dọc theo tay áo, chuẩn bị lủi thủi vào trong ngồi thưởng trà như mọi khi.

Trên người ngài lúc nào cũng thơm mùi trầu cau, mấy lần được ngồi cạnh ngài, áo tôi cũng được thơm lây theo cách đó.

Nhiều bận, áo ngài phảng phất mùi thảo mộc rất dễ chịu, đôi khi tâm trạng không tốt, ngửi thoáng qua mùi thảo mộc ấy cũng có thể khiến cho đầu óc được thanh tịnh hơn.

Lúc ngẩng mặt lên, tôi chợt nhận ra người đã biến mất tự thuở nào.

Bóng lưng quen thuộc ấy đã rời đi rồi.

Thiên nhai địa giác hữu cùng thì,

Chỉ hữu tương tư vô tận xứ (3).

-------------------------------------

(1) Giờ Mão: Từ năm giờ sáng đến bảy giờ sáng.

(2) Nhu bào: Nhu bào (hay trách tụ đoản y) là một loại trang phục của nam giới ở Đàng Trong trong khoảng thời gian từ năm 1744 đến năm 1837 với đặc điểm là phần tay áo ngắn và hẹp tay.

(3) Trích từ Ngọc Lâu Xuân - Xuân hận của tác giả Án Thù.

(4) Lời nhạc của bài Gió vẫn đợi - Sang ft.

Thế Hùng Lương.
 
Back
Top Bottom