Cập nhật mới

Khác [Cảm Hứng Lịch Sử] Trở Về Thời Tây Sơn

[Cảm Hứng Lịch Sử] Trở Về Thời Tây Sơn
59. Thành Quy Nhơn


Tôi ngáp ngắn ngáp dài nằm trên chõng, mơ màng nhìn ra ngoài.

Lại thêm một ngày nữa trôi qua.

Thời gian trôi nhanh thiệt chứ.

Tôi chỉ nhớ là vừa mới khởi nghĩa đây mà, cớ sao đã độ dăm ngày rồi.

Quả thật, nếu nói như vậy thì tính ra cũng đã năm năm tôi ở lại đây rồi đó.

Không biết ở thực tại đã qua tới tháng thứ mấy rồi nhỉ?

Cái quy ước tính thời gian giữa thực tại và quá khứ của lỗ hổng thời gian này rắc rối quá, tôi có hiểu cũng chẳng thể nào tính được khoảng thời gian tôi hôn mê là bao lâu.

Ờ thì tôi nghĩ việc học trên lớp tôi chắc chắn phải sa sút, và thế nào khi tỉnh lại thì tôi cũng khó lòng đuổi kịp mấy đứa trong lớp dù có ngồi ôn tới mức nào chăng nữa.

Một núi bài tập lẫn kiến thức cơ mà, rồi còn cả mấy bài kiểm tra kha khá quan trọng nữa cơ.

Nhiều lúc ngồi một mình, nghĩ đến viễn cảnh đó mà tôi lại thấy nản lòng ghê hơi.

Thôi, không cần quay về nữa đâu.

Ở đây mãi là được rồi.

Mùi trà ngào ngạt thoảng qua.

Kế tiếp là mùi nước sôi phả những khói mỏng vào bầu hư vô, bọc lấy mùi trà nhàn nhạt kia mà bay theo gió.

Hình như có người vừa mới châm trà vào chung để nhấm vài ngụm buổi sớm cho tỉnh người.

Mà cái mùi đó thì kể ra cũng lạ, trong lúc tôi ngủ ngon lành thì có biết bao nhiêu thứ mùi hương khác đã lởn vởn quanh đây, vậy mà tôi lại không hề tỉnh giấc một tí nào.

Có mỗi thứ mùi trà nóng đó mà tôi xua tan cái cảm giác gà gật trong người luôn.

Kì lạ.

Bản tính tò mò trong tôi lại trỗi lên, muốn tự thân tìm hiểu xem nguồn gốc của mùi thơm dìu dịu đó là từ đâu ra.

Chàng đâu mất rồi nhỉ, cả hai cậu em nữa.

Lý Dương thì tôi không biết y đã đi đâu, nhưng chắc anh ta không có việc gì bận đến mức phải ra ngoài đâu.

Dù gì y cũng chỉ là người không chốn nương tựa, công việc lại không ổn định, ra ngoài tìm miếng ăn thì e là khá khó khăn.

Chưa kể bọn từng đòi nợ y có thể nung nấu ý định trả thù nên vẫn tìm mọi cách để tóm y cho bằng được nữa.

Ầy, tốt nhất là không nên lặp lại cái quá khứ không mấy đẹp đẽ đó thì tốt hơn nhiều.

Nghe thấy có tiếng động, người đó lập tức quay lưng lại.

Tôi nheo mắt để nhìn cho rõ bóng hình trước mắt.

Cái thứ ánh sáng lờ mờ, lại thêm Mặt Trời chói chang thích làm người ta nhăn mặt lại thì ôi thôi, nhìn thấy quái gì đâu mà nhìn.

Cơ mà tôi vẫn có thể cảm nhận được chút xíu bóng hình của người đang ở trước mặt mình - chắc có lẽ là bằng trực giác thần kì nào đó.

"Nhật Hạ," Có một tiếng nói vang lên.

"Sao thế?"

Tôi giật nảy mình.

Cái cách gọi tôi bằng tên như thế này, chỉ có thể là chàng, hoặc là y - bởi y đã thay đổi cách gọi tôi tự thuở nào rồi.

Mà sao người nọ biết được người đang nhìn lén mình là tôi nhỉ?

Rõ ràng tôi đã cố gắng không muốn để người khác phát hiện ra mình đã tỉnh giấc từ bao đời, ấy vậy mà cũng khó tránh ghê.

Mà khoan...

Cái giọng này, nghe quen lắm.

"Không ngủ tiếp sao," Chàng đứng dậy, tiến đến chiếc chõng mà ngồi kế bên tôi.

"Lạnh quá à."

Tôi sững người ra, không rõ tình hình trước mắt như thế nào.

Chàng thì nhìn tôi rõ lâu, kiên nhẫn đợi tôi đáp lời.

Người ta mới tỉnh dậy, tâm trí vẫn còn bay bổng đâu đó trên chín tầng mây nên vẫn chưa thích ứng nhanh được.

Mất một hồi lâu tôi mới ngớ ra được tình cảnh hiện giờ, rồi vụng về trả lời:

"À không...

đột nhiên tỉnh giấc thôi mà," Tôi lớ ngớ nhìn vào đôi mắt của người đối diện.

"Hôm nay anh không xuống làng hả?"

Chàng lắc đầu thay câu trả lời.

Tôi gật đầu, ngồi co rúm người vào một xó rồi miệng lầm bầm chửi rủa vì lạnh.

Khí hàn buổi sớm vẫn còn vất vưởng xung quanh, không khác gì sương đã cố gắng thâm nhập vào đây chỉ để chờ đợi tôi vậy.

Đây là miền Thượng, không phải Đà Lạt ở thế kỉ XXI, cũng không phải nơi có khí hậu lạnh gì sất cả.

Thế mà tại sao lại lạnh vậy ta?

Chắc có thể do tôi thức dậy quá sớm, đâm ra tiết trời chưa kịp ấm đã bị người ta chê lạnh mất rồi.

Trời thì rõ sáng, mà dư âm của vài cơn gió lạnh tối qua vẫn chưa đi hẳn.

Thi thoảng tôi lại có thể thấy được bầu trời cao loãng ra theo thời gian, rồi cuối cùng bầu trời ấy sẽ dày đặc những nắng ấm và gió.

Mang đậm màu thời cuộc, và vẻ đẹp đến đau lòng của thời gian.

"Cô ngồi ở đây thêm đi, không cần ra ngoài vội," Chàng thấy vậy chỉ nhẹ nhàng khoác chiếc chăn quanh người tôi.

"Trời vẫn còn lạnh lắm."

Ờ thì trời còn lạnh...

Tôi biết đó là tình ý của chàng, vả lại đúng là tôi có chút lạnh thật nên không muốn từ chối.

Mà dù có từ chối thì cũng chẳng được lâu, hai người giằng co với nhau một hồi, người cuối cùng vẫn phải ngồi im đó là tôi - không phải chàng.

Đâu đó ở bên ngoài là tiếng nói chuyện của ai đó, lặng đi một lúc rồi lại có tiếng cười vang.

Thậm chí nếu chịu để ý một tí thì tôi còn nghe thấy cả tiếng binh khí va vào nhau loảng xoảng nữa ấy.

Ai ở bên ngoài đấy thế nhỉ?

Ừm, tuy âm thanh nghe không rõ nhưng tôi lại có thể mơ hồ mường tượng ra được đó là cậu ba.

Bởi cái giọng sang sảng đó thì không thể không nhận ra được.

Rõ sờ sờ ra trước mắt lận cơ kia mà.

Tôi ở biết bao nhiêu lâu, chôn vùi biết bao nhiêu năm ở quá khứ mà lị, sao lại không nhận ra được đó là cậu cơ chứ.

Mà lúc đầu tôi vẫn còn ngờ ngợ lắm cơ, chắc do cậu vỡ giọng mất rồi.

Không còn là một đứa nhóc lúc nào cũng ra dáng ông cụ non để chỉ bảo tôi nữa ha.

"Nhật Hạ," Chàng áp chung trà ấm nóng vào má tôi, mắt hướng ra ngoài - nơi có âm thanh ấy.

"Bọn nó đang luyện võ ngoài sân đấy.

Cô có muốn ra xem không?"

"Hai cậu ấy hả," Tôi từ từ thưởng thức trà nóng rồi ngước lên nhìn chàng.

"Sớm đến vậy ư?

Khí trời như này, tôi chỉ e..."

Chàng ngắm nhìn tôi trong bộ dạng thu nhỏ đầy hài lòng.

Đoạn, chàng đưa tay xoa lên mái đầu vẫn chưa kịp búi lên gọn gàng của tôi mà bật cười như được mùa.

Chàng cười cứ như thể tôi vừa mới nói cái gì hài hước lắm.

Người đâu mà lắm trò ngộ nghĩnh ghê hơi.

Cảm giác mình vừa mới làm một trò không ra gì, tôi chỉ biết lẳng lặng nhấm nháp vài ba ngụm trà rồi im lặng ủ mình trong chăn ấm.

Thế ra trong nhà thì tôi là người có thể làm mọi người phá lên cười - dù chỉ một chút - thôi á hả?

Vai trò nom có vẻ nghe quan trọng quá nhỉ.

Hơi nóng bốc lên, che mờ mọi thứ trước mắt trong một thoáng bằng làn khói mờ vất vưởng, sau đó tan biến vào hư vô.

Chăn ấm, trà xoa dịu tinh thần buổi sớm, lại thêm có người nọ ở bên cạnh, không thể chê vào đâu được.

Tôi vẫn còn chưa nguôi ngoai mấy buổi tự do ở nhà mà không có chàng quản, chỉ có hai cậu em bên cạnh mà thỏa thích thưởng biết bao nhiêu là trà nóng.

Lại còn có thể dễ dàng nghịch phá, để rồi khi chàng về thì lần lượt cả ba đều bị trách mắng.

Như vậy cũng vui hơn là cái khoảng thời gian rảnh rỗi nhưng lại không có việc gì để làm hết.

Mặc dù mấy lần đó bị chàng trách cho một trận cũng chẳng vui vẻ gì cho cam.

"E cái gì chứ.

Nếu không chịu được khổ cực từ sớm, có lẽ tôi đã không cho bọn nó theo cùng rồi," Chàng bảo thế, sau đó ung dung bước ra bên ngoài, bỏ tôi ngồi chơ vơ bên chiếc chõng một mình.

"Cô ngồi đó đi, tôi ra ngoài một lát."

Không gian bốn bề lại yên tĩnh như trước.

Tôi không biết nên làm gì tiếp theo nên chỉ đành ngồi thui lủi một xó, tay cầm chung trà đã cạn từ lâu mà không buồn đặt nó xuống.

Ngó quanh quất mãi mà không tháy Lý Dương đâu, anh ta đi đâu rồi ta?

Người gì đâu lại thất thường như chàng nốt, suốt ngày cứ ngẩn ngẩn ngơ ngơ, lúc hiện lúc ẩn.

Nhiều khi người ta cần mà lại chẳng thấy y đâu, thật chán nản quá trời.

Nên làm gì với chung trà này đây nhỉ?

Đập vỡ nó chăng?

Mà thôi đi, chàng trách tôi mất.

Hay ngắm nghía nó cho đến khi nào chàng trở lại đây nhể?

Cơ mà chẳng có gì để ngắm cả, ngắm đến mục nát con mắt mà không tìm được điều gì mới thì cũng công cốc hết.

Thứ thì giờ rỗi vớ vẩn!

Tôi leo xuống chõng, dụi mắt vài cái rồi đứng thần người ra.

Một mớ suy nghĩ những việc nên làm và không nên làm ngay lúc này hiện trong đầu, cứ như đã có một tín hiệu từ nơi xa xôi nào đó vừa gửi vào tần sóng não tôi ngay tức khắc vậy.

Mà đôi khi tôi lại hay nhận được thứ tín hiệu đó lắm, ấy vậy mà hồi nhỏ tôi cứ nghĩ có người ngoài hành tinh ở tuốt bên ngoài vũ trụ muốn liên lạc với tôi, hay đại loại thế.

Tiếng binh đao ngoài kia đã tắt hẳn, nhưng tiếng xì xào nói chuyện vẫn chưa chịu thôi.

Chắc là... chàng lại cùng mọi người bàn về chuyện binh nhung gì gì đó như thường lệ, sau đó mới cùng nhau đi xuống các buôn làng để làm tí chuyện vặt.

Gọi là chuyện vặt nhưng không phải chuyện vặt, tại nó là một việc mà tôi nghĩ nó rất quan trọng cho việc tạo nên danh tiếng của nghĩa quân sau này.

Kiểu như, xuống các làng và mang vũ khí - nhưng lại không làm hại ai - rồi đi cướp của của bọn nhà giàu chia cho dân nghèo.

Và vô vàn mấy hành động khác mà tôi đã từng nghiền ngẫm qua trong sách, cơ mà giờ tôi tạm thời bị quên mất rồi.

Đấy, ở nhiều nghĩ nhiều, tam ba tam bận quá nên giờ chẳng còn nhớ chút gì về cái thân thế thật của tôi nữa.

Để xem nào.

Chuyện của tôi vào vài ba năm về trước, khi mà lần đầu tôi tin vào chuyện tâm linh nào đó...

*

"Mẹ ơi.

Tiền kiếp có thật không mẹ?"

Khi ấy, tôi chỉ mới là một cô bé mười ba tuổi, nhớn nhở đi tin vào ba cái chuyện mà người lớn cho là vớ vẩn ở trong sách và trên mạng.

Lúc đó não cũng bắt đầu biết suy nghĩ được đôi chút rồi, ấy vậy mà tôi vẫn không chịu nghĩ trước làm sau.

Cứ hễ có chuyện đều là do tôi hành động trước khi làm, bị mẹ chửi cho vài trận đến ù cả tai mà vẫn không rút kinh nghiệm từ đợt trước.

Ngộ ghê hơi.

Chuyện là, tôi vô tình biết được cái thông tin này thông qua mấy đứa bạn kể, rồi đã vậy còn thêm đọc sách nữa.

Không biết thì hỏi, không hiểu thì cứ việc ngồi đi tìm thông tin thôi.

Vậy mà sau khi nghe xong, mẹ còn cười phì, bảo tôi ngốc mà tin những chuyện không có thật.

"Làm gì có chứ.

Mà thôi, mày học nhiều quá đâm ra ngốc mất, con ạ."

Bà chỉ đáp như thế rồi bỏ mặc tôi cùng một đống câu hỏi chất vấn vây quanh, thong thả làm công việc riêng của mình.

Đợi cho bóng hình của mẹ đi mất rồi, tôi mới lặng lẽ thở dài.

Tôi biết do bà ấy bận rộn nên mới không tiện trả lời tôi, hoặc là do câu hỏi của tôi quá hoang đường chăng?

Nhưng sao mà hoang đường cho được, rõ ràng tôi vẫn hay nghe người ta nhắc đến tiền kiếp và nhiều câu chuyện liên quan tới nó đó thôi.

Có người nhắc đến, tức có nghĩa là nó không hề là chuyện bịa ra - trừ vài trường hợp nào đó.

Thôi kệ, không ai trả lời mình thì mình tự tìm hiểu nó cũng được.

Mà quan trọng là tôi tìm hiểu ở đâu mới được nhỉ?

Tôi ngồi lủi thủi trong một xó nhà, xung quanh toàn là những trí tưởng tượng phong phú vây quanh.

Nhiều khi tôi lại có một cảm giác quen thuộc, hệt như tôi đã từng gặp cảnh ấy trước đây.

Nhưng mà... gặp rồi hay không thì vẫn còn là một ẩn số.

Trong một thoáng mơ hồ, tôi lại nghe thấy có tiếng người gọi mình, dù mẹ tôi đã rời khỏi nhà để đi đâu đó và cả cái căn nhà này chỉ còn lại một mình tôi cơ mà.

Vậy ai gọi thế?

Thứ âm thanh nghe như tiếng tivi bị nhiễu sóng lại truyền vào tai tôi với tần số xuất hiện nhiều hơn.

Không nghe thấy tiếng người gọi nữa, chỉ còn lại tạp âm rè rè có vẻ khó chịu và không lấy gì làm vui vẻ cho cam.

Mấy cái tín hiệu từ vũ trụ gọi vào, nghe không tin cho lắm - và cũng không thật - nhưng lại lạ lùng thiệt chứ.

À, cái cảm giác thân thuộc ấy hả?

Vốn dĩ nếu có thể, lỗ hổng thời gian sẽ giải đáp thắc mắc cho tôi...

*

Hai năm kế tiếp nữa lại trôi qua.

Một ngày nào đó của năm Quý Tỵ [1773].

Vẫn là như bao ngày khác, không có gì khác biệt hơn.

Bầu trời vẫn khoác lên mình màu xanh của nhiệt huyết, mấy tảng mây nặng nề tiếp tục công việc thường ngày của nó trong suốt mươi mấy năm qua - có khi là cả hàng thiên niên kỉ qua nữa.

Người vẫn sống, không khí tồn tại vì sự sống vốn rất cần nó, gió vẫn thổi.

Không có cái gì là rời khỏi trục quay ban đầu của nó cả.

Có đấy.

Lịch sử vẫn luôn thay đổi mỗi ngày với một tốc độ chóng mặt, nhanh đến mức mà cả tôi vẫn còn ngây ngất với thứ hào quang chớp nhoáng của ngày hôm kia.

Nhanh thật đó, đầu tôi vẫn còn nhớ mang máng sự kiện cả ba cùng khởi nghĩa năm Tân Mão cơ mà, vậy mà đã được hai năm kể từ ngày ấy rồi đấy hả?

Và tôi biết, cuộc sống của một vài người chắc chắn sẽ thay đổi theo, chỉ vì dăm ba cái sự kiện lịch sử nho nhỏ.

Ví dụ như, những người dân trên đây, hôm trước vẫn còn đinh ninh rằng cuộc đời mình sẽ phó mặc đấy cho bọn quan tham nhũng nhiễu mà không thể chống cự được gì nhiều.

Để rồi hôm sau mọi thứ xoay vòng như vũ bão, "bọn cướp đạo đức và nhân từ đối với quần chúng nghèo khổ (2)." sẽ đi xuống tận các buôn làng, người mang theo vũ khí để cướp của nhà giàu chia cho dân nghèo.

Không phải họ cướp để ham thích những thứ vàng bạc châu báu đó, đời nào ai lại đội lốt cái danh nghĩa kia mà làm thế.

Rồi, phong trào cứ vậy mà càn quét sạch cả Đại Việt.

Không còn thứ thuế má gì đó nặng nề, không còn tình trạng khủng hoảng tiền tệ một thời.

Không còn chính quyền mục ruỗng, quyền hành chỉ bị coi là thứ phù phiếm và chức tước có thể được mua bằng tiền.

Không còn nữa.

Mọi thứ đã trở về với hiện trạng ban đầu, như cái cách mà thời thái bình thịnh thế đã từng tồn tại.

Cơ mà có điều, đến khi tất cả đã được giải quyết xong xuôi, thì triều đại này cũng sụp đổ hẳn.

Gác cái chuyện buồn bã kia qua một bên đi.

Điều không thể phủ nhận được ở đây là, tôi đã 23 tuổi mất rồi.

Bằng với cái độ tuổi ban đầu của chàng năm Bính Tuất - khi mà một đứa ngơ ngơ ngáo ngáo như tôi "vô tình" xuyên về quá khứ.

Bảo là vô tình chứ thật ra nó đã có ẩn ý ở phía sau, chỉ khổ nỗi tôi không thể giải đáp được vì sao nó lại ẩn chứa ẩn ý mà lại không bộc lộ thẳng ra như vậy thôi.

Thay vì bắt người ta đi tìm đáp án, sao lại không thử gợi ý đáp án thế nhỉ?

Hai cậu em nay cũng lớn phổng phao hẳn ra, người vừa tròn hai mươi, người còn lại chỉ mới mười chín.

Nói tôi là chị của cả hai thì chắc không ai tin đâu, bởi trông tôi nhìn như em của họ thì đúng hơn nhiều đó.

Người ta nói càng lớn thì càng cao vượt bậc hơn so với ngày nhỏ, vậy mà điều này chỉ đúng cho hai cái tên nhóc chỉ kém tôi đôi ba tuổi, còn tôi thì không.

Chiều cao vẫn chỉ tăng thêm được vài centimet sau mấy tháng trời ròng rã, có khi là đến cả mấy năm sau mới chịu tăng thêm một chút.

Đấy là tình trạng của tôi.

Một ngày bất kì nào đó của năm Quý Tỵ, chắc chắn phải là một ngày đẹp trời, chứ không u ám như trí suy nghĩ hiện giờ của tôi.

Mây trắng, nắng vàng, khoảng trời nom có vẻ xanh và thoáng đãng lắm.

Thích hợp cho những buổi đi xa, những công việc cần sử dụng đến nắng và ti tỉ thứ chuyện khác.

Tôi cũng không buồn bận tâm đến chuyện đó, tại... tôi có bao giờ nhấc cái chân ra khỏi bản doanh đâu mà đòi để ý đến chứ.

Này thì nên đi hỏi chàng thì đúng hơn.

Nhắc mới nhớ, mấy đêm nay chàng thức có vẻ muộn hơn mọi khi, thì thào to nhỏ với các tướng để bàn mưu kế mới gì gì đó.

Nhiều đêm tôi chợt thức giấc, mắt mơ màng nhìn về nơi họp mặt của mọi người, lòng vẫn còn dấy lên thắc mắc không hiểu vì sao đến giờ chàng vẫn chưa ngủ.

Mà cũng có khi tôi nghe lén câu chuyện dang dở, thì hiểu được một phần rằng chàng muốn đánh chiếm đến thành Quy Nhơn để tiện làm chỗ đóng quân, sau đó dùng nơi ấy mà đánh chiếm ra mấy nơi khác.

Trước mắt thì dự định của chàng là thế.

Nhưng tôi vẫn đang hồi hộp, không biết mọi chuyện có thật sự diễn ra như đúng trong sử sách chép lại hay không.

Cái chiêu trò ngồi vào trong cũi, cho binh lính khiêng đến thành giao nộp cho Tuần phủ Khắc Tuyên, nửa đêm phá cũi xông ra thì phải gọi là hết xảy rồi.

Cái đó người ta hay gọi là vào hang cọp để bắt cọp con, cơ mà liều thế này thì có hơi nguy hiểm đó, minh chủ ạ.

Đúng là thời thanh niên liều ăn nhiều nhỉ.

Năm 1773, có một toán binh lính đi vào bên trong thành, phía sau khiêng một cái cũi nhốt người ở trong đó.

Bọn họ thưa rằng đã bắt được tướng Tây Sơn là Nguyễn Nhạc, giao nộp cho quan Tuần phủ Nguyễn Khắc Tuyên như đúng mệnh lệnh được truyền ra.

Nhưng nào ngờ đêm ấy, thành Quy Nhơn có biến.

Thủ lĩnh Tây Sơn lợi dụng thời cơ lúc nửa đêm, tự mình phá cũi xông ra, mở cổng thành cho binh lính của mình tràn vào trong làm nội ứng.

Rồi, chẳng mấy chốc mà nghĩa quân Tây Sơn chiếm được thành, lấy nơi đó để làm bản doanh, thuận tiện cho việc dùng đó làm bàn đạp để đánh ra các hướng khác...

*

Bầu trời hôm nay cao vời vợi.

Mây cũng đẹp dịu dàng, gió thoảng đưa mùi hương cỏ cây xung quanh đến.

Với tiết trời trong lành thế này thì thích hợp cho lũ trẻ thả những tấm diều mảnh lên trên không trung, để nằm ườn ra bãi cỏ mướt mà lười biếng ngắm nhìn cảnh vật một hôm.

Với nhiều người, thì đây rõ ràng là một ngày đẹp trời.

Buôn bán ắt cũng thuận lợi vì nước sông hiền hòa, thời tiết lại dễ chịu, không gặp nhiều vấn đề gì sất.

Mấy gã bỏ lỡ cơ hội này mà không chịu làm một việc gì đó có ích hơn thì tiếc nuối là điều hiển nhiên.

Thành Quy Nhơn.

Quan Tuần phủ Nguyễn Khắc Tuyên đứng thong dong trong cơ ngơi của mình, nhàn hạ hướng mắt nhìn ra ngoài.

Lão vận y phục màu đỏ, thêu thùa nom rất khéo tay, đầu đội nón trông oai phong như một vị quan có quyền thế trong triều đình.

Bên cạnh lão là mấy tên hầu cận thân thuộc đang đứng lui về một xó, đợi đến khi có lệnh của chủ nhân mới dám hành động.

Trước hiên có vài ba tên lính canh, đầu đội mũ có chóp nhọn, giáo chĩa thẳng lên trời.

Mặt ai nấy đều hậm hực, trông như thể sắp vồ tới ăn thịt những kẻ yếu đuối nếu họ vô tình đi ngang qua.

Lại bảo trong sân có vài ba người, thân thể gầy gò, mặt mày ủ rũ.

Tay họ bị xích lại với nhau, sau lưng là vài tên lính canh khác đang canh giữ họ.

Chắc là họ bị bắt vì lỡ phạm tội gì đó, đến giờ vẫn đang thầm cầu nguyện bản thân sớm được thả ra.

Hốt nhiên có một tên lính hớt hải chạy vào.

Gã nọ lập tức quỳ xuống bên thềm, không dám ngẩng mặt lên nhìn, cứ thế mà tâu lớn:

"Bẩm, đã bắt được tướng Tây Sơn là Nguyễn Văn Nhạc."

Mặt của Tuần phủ Nguyễn Khắc Tuyên bỗng sáng bừng lên giây lát.

Lão vui vẻ đáp lời:

"Được.

Cho vào đây."

Nói rồi, gã lính kia quay lưng đi ra ngoài cổng.

Sau đó gã bước vào, dẫn theo một toán người đang khệ nệ khiêng một vật gì đó nom khá là nặng.

Nếu nhìn kĩ hơn thì đó là một cái cũi đang nhốt một người nào đó ở bên trong.

Người ấy nhìn thẳng về phía trước với một đôi mắt nghiêm nghị, không tỏ vẻ nào là chùn bước khi bản thân bị nhốt như thế này.

Hẳn người ấy đang cố bình tĩnh hết mức có thể để không phải hành động ngoài ý muốn trước mặt quan Tuần phủ thế này.

Gã lính quay sang thủ thỉ với vài người phía sau, rồi đứng dạt ra cho Khắc Tuyên có thể nhìn rõ được mặt của "con hổ uy quyền nhất Tây Sơn".

Mắt chạm mắt, hai người cứ nhìn nhau không nói lời nào, mà có khi như vậy còn tốt hơn là lên tiếng nói vài ba lời qua loa với nhau.

"Các ngươi có dám chắc đó là Văn Nhạc chứ không phải ai khác chứ?"

Lão húng hắng rồi lên tiếng.

"Bẩm, phải ạ."

Người khiêng cũi đứng đầu đáp.

Lão nhếch miệng cười, tiến lên vài bước, sau đó dừng lại.

Với cái điệu bộ thế này thì lão đang xem xét người bị nhốt trong cũi một cách thận trọng, rồi tưởng tượng tới cuộc sống xa hoa phú quý trong đống vàng bạc châu báu của mình nếu áp giải tên này đến Phú Xuân, giao nộp cho Quốc phó.

Vàng chói mắt kẻ tham, ăn mòn suy nghĩ của người nhũng nhiễu, ắt hẳn không ai nỡ đánh mất cơ hội ngàn năm có một của mình.

Có điều, chính vì lẽ chủ quan của lão mà lão đã phải trả một cái giá khá đắt.

Cho cái ấn tín lão bỏ quên khi chạy, cho vợ con lão khi lão đành chạy trước để thoát thân.

Và thậm chí là cho cả cái thành Quy Nhơn khi lão trót cho bọn họ vào mà không mảy may phòng ngự.

Trăm mưu ngàn kế, ai mà biết được người ta sẽ tung kế nào, rồi biết phản công ra sao đâu.

Người trong sân đều ngước mắt lên nhìn đám người lạ mới vào.

Chắc họ đang tự nghĩ với bản thân mình rằng: "Lại có thêm người bị áp giải tới à?" hoặc đại loại thế.

Lính canh đứng trước hiên thì lẳng lặng nhìn mà không nói gì, đám hầu cận của lão cũng chỉ biết cun cút theo sau chủ nhân của mình mà chẳng buồn nán lại xem sự việc tiến triển thế nào.

"Mãnh hổ Tây Sơn, hóa ra cũng chỉ là cọp giấy mà thôi," Khắc Tuyên bảo thế rồi cất gót quay vào trong.

"Để cũi ở đấy đi, hôm sau ta sẽ cho người trình báo lên Phú Xuân."

Toán người ấy bèn vâng lệnh, hạ cũi xuống rồi quay lưng rời đi.

Trước khi đi, họ còn thì thầm với người bị nhốt trong cũi điều gì đó, trông có vẻ bí mật lắm.

Nhưng khi đám lính canh chưa kịp nghe thấy thì họ đã dứt tà áo mà rời khỏi thành mất rồi.

Một thành Quy Nhơn đầy nắng và lộng gió...

...

Nửa đêm.

Trong thành không còn một bóng người.

Tất cả đều bị bóng tối phủ lên một màu áo đen thẳm.

Xung quanh thành Quy Nhơn, tuy Tuần phủ Nguyễn Khắc Tuyên có cho trồng nhiều cây, song lại không nghe lấy một tiếng dế kêu nào cả.

Đến thứ âm thanh đặc trưng của màn đêm còn không nghe thấy được, sao có thể xuất hiện tạp âm được đây.

Trên đầu, mấy vì sao tỏa ra thứ ánh sáng lấp lánh đến huyền diệu.

Đêm nay là một đêm không trăng, nhiều mây đến nỗi chỉ cần ngước lên là có thể thấy được mấy tảng mây xám xịt, nặng trĩu trôi lững thững trên trời.

Gió lặng, mọi vật dường như bất động vì đang mải chìm vào giấc ngủ say.

Người nọ bị nhốt trong chiếc cũi ngó nghiêng khắp chung quanh.

Không một bóng người, không một tiếng động.

Đây hẳn là thời cơ hoàn hảo để trỗi dậy làm nội ứng, không sợ bị ai phá đám vì tất cả đều bị thôi miên bởi tĩnh mịch của bầu trời đêm.

Mà dù có phát hiện thì cũng đã muộn, khi mình chỉ vừa nhấc chân lên đi một bước thì hẳn người ta đã vượt cả ngàn bước mất rồi.

Bên ngoài cổng thành có tiếng bước chân.

Nhưng tiếng ấy khẽ lắm, khó lòng đánh thức được những người ở bên trong.

Đó là những tiếng bước chân của binh sĩ Tây Sơn đang chuẩn bị đợi lệnh từ minh chủ để sẵn sàng xông vào, làm náo loạn cả thành đang say ngủ.

Rắc.

Chiếc cũi nguyên vẹn như ban sáng, khe gỗ xếp khá sát lại với nhau, tưởng chừng khó ai có thể đưa tay vào vừa nay lại bị phá một cách dễ dàng.

Một điểm sai mà bọn tay sai cũng như cả Nguyễn Khắc Tuyên không ngờ tới, chính là chiếc cũi này dễ dàng bị phá nếu chỉ cần dùng một tí sức và mưu mẹo.

Thậm chí họ không phòng bị gì nhiều, nên giờ đây người bị nhốt đã có thể đứng dậy bước ra ngoài mà không sợ bị chiếc cũi làm vật cản đường.

Người nọ vươn vai đầy khoan khoái, sau đó tiến đến cổng thành mà lặng lẽ mở nó ra.

Chẳng mấy chốc cổng đã được mở.

Toàn bộ binh lính đã được tập hợp ở đó từ trước, ai nấy đều vác theo vũ khí, có người cầm trên tay cây đuốc sáng rực để soi đường cho mọi người cùng đi.

Họ nóng lòng muốn đuổi lão quan Tuần phủ này đi lắm rồi, chỉ khổ nỗi phải chờ thời cơ để phối hợp với người trong thành để làm nội ứng.

Trong đêm tối mịt mù không chút tạp âm đó, lại có tiếng hô rắn rỏi của người cầm đầu đang ra lệnh cho binh lính của mình tràn vào chiếm lấy thành.

Tiếng bước chân rầm rập, những tiếng hô hào khác vang lên, nghe như có cả một tá người đang tiến vào đây.

Như vậy đủ làm cho những người ở bên trong cũng phải sợ mất mật, huống hồ chi nghĩ đến chuyện phản công lại được.

Đến khi tỉnh ngộ ra, chí dũng cảm đã lấy lại được thì thành mất cả rồi.

"Tất cả xông lên, chiếm lấy thành Quy Nhơn cho ta!"

Nửa đêm năm Quý Tỵ hôm ấy, nghĩa quân Tây Sơn đã chiếm được thành Quy Nhơn, rồi dựa vào đó mà tấn công ra các phủ khác.

Chiến công này đều nhờ vào mưu trí của thủ lĩnh Tây Sơn, là chiến công hiển hách của khởi nghĩa trong những năm đầu gây dựng lực lượng của mình...

--------------------------------

(1) Đoạn in nghiêng trích trong phần 12: Nhà Tây Sơn, "Theo dòng sử Việt" của tác giả Lý Thành Phương.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Trở Về Thời Tây Sơn
60. Ván cờ tàn đêm khuya


----------------------------------------

Một ngày mới ở đại bản doanh mới.

Thành Quy Nhơn - chiến tích mà chàng chiếm được nhờ vào mưu mẹo của mình - tương đối rộng rãi và nhìn thoáng hơn so với trên miền Thượng.

Tất nhiên tôi ở đâu chẳng được, phận người đi theo bám đuôi mà, ai dám chê này chê nọ đâu.

Cơ mà có điều tôi thích ở chỗ mới này hơn, vừa có thể dễ dàng ngồi không bên đám cây cỏ, vừa có thể...

đi khám phá một vòng xung quanh cái thành này chăng?

Ở đâu tôi cũng có thể mơ mộng được.

Mà, cũng nhờ vào chiến tích này nên nghĩa quân đã có thể dùng đấy làm bàn đạp để tấn công ra các phủ khác.

Danh tiếng nghĩa quân ngày một lan rộng, trai tráng nô nức đi theo dưới ngọn cờ của cả ba anh em ngày một đông.

Khỏi phải nói, tầm vài năm sau, đây chắc chắn sẽ là thế lực vừa làm chúa Trịnh ở Đàng Ngoài đau đầu, vừa làm chúa Nguyễn ở Đàng Trong nắm bắt tình hình trong lo sợ.

Sau này còn trở thành một vương triều luôn cơ mà, không làm người khác lo lắng thì ít nhất cũng phải làm người ta thấp thỏm từ ngày này qua ngày khác.

Còn tôi, một đứa vô dụng thì mãi mãi là vô dụng.

Trừ cái não chứa vô vàn kiến thức của thế kỉ XXI, ít nhiều gì cũng sẽ sử dụng đến, rồi cái độ tinh tường sách sử nữa (cho dù nó không được nhiều lắm, mà cả ba người đều công nhận điều đó).

Thế đấy, tôi xuyên về quá khứ đúng nghĩa hai bàn tay trắng, không có gì mang theo hộ thân, người thân cũng chẳng có.

Chưa kể đôi khi tôi có những hành động khá là ương bướng, đúng kiểu thời điểm cứng đầu của tuổi trẻ.

Chàng chưa đuổi tôi đi là may, huống chi còn đòi được sống ở nơi ổn áp hơn nhiều.

Hai cậu chắc hẳn là bất lực với bà chị già cái đầu như tôi, chữ nghĩa thì vài ba chữ nhét đầu, ngoài ra được cái ăn hại mà thôi.

Tự hào ghê hơi luôn.

Tôi ngồi lui một xó ở trong sân - một nơi mà chàng có thể dễ tìm thấy tôi mấy lúc cần tìm đến.

Dăm ba năm gần đây tôi không còn chơi cái trò dùng cành cây khô để vạch nên mấy con chữ ngoằn ngoèo dưới đất, hay mấy dạng hình thù kì quái đến tôi còn không hiểu được.

Chắc do tôi lớn nên thay đổi hẳn, hoặc do tôi ít thời gian rỗi quá nên không buồn bận tâm.

Giờ, cái lãnh địa này là của một mình Trần Nhật Hạ tôi đây.

Dùng đầu nhọn của cành cây, vẽ nên những câu chuyện tuyệt vời trên đất.

Một khoảng đất rộng trong sân, bên thì để tôi ngẫu hứng ghi lại mấy sự kiện lịch sử, bên còn lại để dành tôi vẽ vời hay viết mấy con chữ khó nhằn này.

Người ta có đi ngang qua mà trông thấy, hỏi tôi đang làm gì thì tôi chỉ biết cười trừ cho qua.

Đi mà hỏi minh chủ của mấy người ấy, đằng nào cũng có đáp án cả thôi, nhưng có điều nó sẽ tường tận hơn nhiều.

Đang vẽ ngon lành, đắm chìm vào thế giới riêng của mình một cách say sưa thì tôi bỗng thấy có một bóng người trải dài trên mặt đất, che hẳn cái bóng ngồi lom khom của tôi.

"Nắng lắm, sao không vào trong kia mà ngồi," Chàng cúi đầu nhìn xuống, ngang hông giắt một thanh kiếm - nhưng tôi biết chàng không dùng thứ ấy để chém đầu phòng khi tôi phản nghịch đâu.

"Vẽ tôi à?"

"Không phải," Tôi phụng phịu đứng dậy, đưa chân đạp lên mấy hình vẽ nhăng nhít dưới đất rồi nhanh chóng đổi chủ đề.

"Mấy nay anh sao rồi?

Không có gì bất ổn cả chứ?"

"Vẫn ổn," Chàng ho vài cái để che đậy vẻ ngượng ngùng của mình.

"Cô muốn nói đến việc gì đây?"

"Hỏi thăm anh một xí cũng không được à," Tôi bẻ gãy cành cây làm đôi trong sự tiếc nuối.

Hiếm khi tôi nhặt được cành cây nguyên vẹn, lại đủ dài cho tôi cầm như cái này.

"Độ này tôi thấy anh bận bịu quá, chỉ e anh không thèm để tâm đến sức khỏe của mình thôi."

Chàng ngẩn người nhìn tôi trong giây lát.

Một nụ cười nhẹ thoáng qua trên môi người nọ.

Bàn tay kia nhẹ nhàng vươn ra xoa đầu tôi, sau đó rút về chắp lại sau lưng.

Tôi biết chàng còn muốn xoa đầu tôi hơn thế nữa, cơ mà cả hai đang đứng ở giữa sân - nơi thanh thiên bạch nhật, dễ dàng bị người khác bắt gặp được.

Lỡ bị nhìn thì thôi rồi, cứ thấp thỏm sợ người này truyền tai người nọ.

Một đồn mười, mười đồn trăm.

Cứ như vậy thì chẳng mấy chốc đại bản doanh này biết chuyện thì ối giời ơi.

Dù gì cũng đâu phải lần đầu.

Chính hai cậu em là người biết chuyện này, rồi sau đó mới lan dần ra nhiều người khác.

Như vậy thì tôi đành đào một cái hố để chui xuống, khỏi phải nghe mấy lời bàn tán nhảm nhí mất.

"Cô biết quan tâm tới người khác, vậy là đủ rồi," Chàng lên tiếng.

"Cơ mà có bệnh cũng không được giấu đấy."

"Biết rồi mà."

Tôi chán nản đáp lại, cất gót quay vào trong nhà.

Giấu sao qua được mắt anh mà giấu.

Thường thì khi người ta bị bệnh, sắc mặt là thứ đầu tiên phản ánh nên tất cả.

Nếu sờ trán thấy nhiệt độ cao bất thường thì hôm đó bị sốt, lạnh bất thường là do cảm lạnh.

Ngoài ra còn có một vài biểu hiện khác mà tôi không biết được.

Chỉ tại nó lằng nhằng và khó nhớ quá, cũng khó phân biệt được bệnh này với bệnh kia, bệnh kia với bệnh nọ.

Chịu, việc này đành phó mặc cho bác sĩ vậy.

Mà đến thời điểm này tôi cũng không khấm khá nổi mấy tí.

Được cái già đầu hơn một xí, trưởng thành hơn và tính tình cũng bớt năng động hơn ngày nhỏ.

Chứ cái tính không thể phân biệt hai cái có điểm tương đồng nhau, lười ra ngoài vào mỗi buổi sáng chỉ để nằm trên cái chõng để đánh một giấc đến trưa là vẫn còn đó thôi.

Chuyện này khó giải thích lắm, nhưng có thể tóm gọn một cách vắn tắt như sau: Giang sơn khó đổi, bản tính khó dời.

Đấy, ai lại đi thay đổi tính tình của mình chỉ sau một hôm ở lại đây được đâu.

"Nói thật chứ... anh liều mạng thế này nhiều lúc cũng không hay cho lắm," Tôi nhìn chàng, rồi lại nhìn xuống chân mình.

Chiếc chõng nhỏ được đặt ở vị trí thuận tiện, hứng cả một luồng gió mát, xoa dịu tâm trạng cáu gắt của người ta đi đôi chút.

"Nhỡ đâu đêm đó lão ta cho người canh gác anh cẩn thận thì sao?"

Đôi khi tôi có nghĩ đến tình huống khác rẽ nhánh của tình huống chính rồi.

Nếu như đêm hôm ấy Nguyễn Khắc Tuyên cảnh giác hơn, cử vài tên lính đứng túc trực thay phiên nhau để phòng trừ có chuyện bất trắc thì không biết mọi chuyện sẽ như thế nào nhỉ.

Có thể toán quân bên ngoài cổng thành sẽ tìm mọi cách để lẻn vào trong, rồi tùy cơ ứng biến ra sao đó thì ra.

Hoặc cũng có khi...

À quên, làm gì có chữ nếu đâu ta.

Tôi cứ mơ mộng viễn vông tới mấy tình huống không có thật miết đến độ quên mất điều hiển nhiên này.

Nếu tôi đắp chăn, mơ một giấc mơ đẹp thì may ra chuyện này còn có tỉ lệ xuất hiện cao.

Chứ đằng này đang ban ngày ban mặt mà lại nghĩ cái cảnh đó thì còn lâu mới có được.

"Vớ vẩn," Chàng đáp gỏn lọn.

"Tôi đã tính tới nước đó cả rồi."

Vậy à?

Không phải do anh cố gắng tìm lời lẽ để che đậy cái câu hỏi khó nhằn của tôi hả?

Thôi, không muốn trả lời hay tôi hỏi quá khó thì nói đại đi, gì mà "Tôi đã tính tới nước đó sẵn rồi".

Có ma nó thèm tin anh đấy, đi mà làm bạn với nó đi.

Nhìn cái bộ dạng im ỉm của anh, nhìn cái dáng vẻ muốn tránh né của anh là tôi thừa sức biết anh nghĩ gì trong đầu rồi đó.

"Cô định khi nào về?"

Chàng hỏi.

"Về đâu cơ," Tôi chớp chớp mắt nhìn chàng, lò dò bước ra ngoài sân trở lại.

"Ý anh là sao?"

"Về nhà của cô, về nơi mà cô được sinh ra ấy," Chàng dịu dàng đáp lại.

"Cũng bảy năm mất rồi.

Cô không định trở về nơi đó sao?"

À.

Nhà tôi ấy hả?

Tôi cũng đang cật lực tìm cách đào tẩu để trở về lắm đó chứ.

Khổ nỗi tôi vẫn chưa thể nắm được rõ ràng nguyên lí hoạt động của lỗ hổng thời gian nó như thế nào thôi.

Khi thì đôt nhiên trở về giữa ban ngày ban mặt rồi nằm ngất xỉu giữa đường, khi thì chỉ cần ngủ một đêm, ngay lập tức hôm sau mở mắt dậy đã thấy mình ở nơi xa lắc xa lơ.

Khó dò xét, khó nắm được tường tận mọi thứ về cái thứ lỗ hổng thời gian chết tiệt kia.

Tôi mà bắt được nó, hẳn tôi đã muốn vứt nó trong thùng rác rồi.

Với lại, nếu tôi trở về, mọi thứ vẫn sẽ xoay tròn theo đúng đường đi đích đến của nó như ban đầu.

Sẽ không có sự góp mặt của tôi ở quá khứ, không có tên tôi xuất hiện trong trí não mọi người.

Ê mà trở về cũng không vui vẻ gì lắm đâu.

Không có ba anh em, không có mấy lời trách móc quen thuộc hay dòng nắng lấp loáng trên mặt sông nữa.

Nếu muốn về thăm nơi nhà cũ của cả ba, e là tôi phải trả tiền vé chỉ để... về thăm lại nhà cũ của tôi.

Một vé tham quan vào trong Bảo tàng không đắt lắm, nhưng tôi không thích phải vào "nhà" mình mà lại đi trả tiền như thế.

Tôi lấy đồng tiền ra trả thay cho tờ tiền được không nhỉ?

Dăm ba cái câu hỏi vớ vẩn đó của chàng...

"Không về đâu," Tôi lắc đầu.

Nhận ra điểm sai trong câu nói của mình, tôi vội vàng chữa lời: "Ý tôi là... tôi cũng muốn trở về lắm.

Mỗi tội vẫn chưa thể quay về nhà được thôi.

Anh chớ hiểu lầm."

Lại thêm một nụ cười khác hiển hiện trên khóe miệng chàng.

Gió ngẫu hứng nổi lên, làm tán lá xào xạc dao động trong chốc lát.

Mọi khí nóng trong người tôi được xoa dịu xuống một cách thần kì, như một vị cứu tinh cho những người khó chịu với cái nắng chang chang ở trên đầu.

Hệt như tôi đã bước chân vào trong một cánh đồng cỏ rộng bát ngát và đầy hoa, lộng gió vậy.

Mà điên hơi gì đâu.

Tôi đang đứng trong sân của bản doanh mới của Tây Sơn - trước đó nó từng là thành Quy Nhơn của quan Tuần phủ Nguyễn Khắc Tuyên.

Không có cánh đồng, không có mấy bông hoa sặc sỡ sắc màu, chỉ có gió.

Tôi ảo tưởng vừa thôi!

Chàng nhắm mắt lại, chậm rãi hưởng thụ làn gió nhẹ nhàng phớt qua trên đôi mi rồi ngẩng đầu nhìn lên trời cao.

Tà áo bay phất phơ theo gió, sau đó hạ xuống theo vị trí ban đầu của mình.

Nắng vàng nhảy nhót trên vỏ kiếm giắt ngang thắt lưng, làm bật lên thứ ánh sáng diệu kì.

Hôm nay trời xanh, có nắng và nhiều mây.

Mây nhiều đến độ ôm lấy sắc xanh của bầu trời mà trôi dạt về một xó ưa thích của chúng.

Bồng bềnh trông to lớn nhưng lại trôi lững thững đầy chậm chạp, thích hợp cho những kẻ vốn muốn bỏ thì giờ của mình ra chỉ để ngắm nhìn cảnh vật.

Chàng trầm tư nhìn trời một hồi lâu mà không nói gì, tôi đứng bên cạnh cũng chỉ dám im lặng chờ đợi.

Mấy lúc này có thể chàng đang suy tư về điều gì đó chẳng hạn, mà không ai muốn bị người ta cắt ngang cái mạch suy nghĩ đang trôi chảy trong đầu mình đâu.

Cả tôi cũng vậy mà.

Chờ đợi lâu quá, tôi len lén ngước lên nhìn chàng, tò mò vì sao chàng lại có hứng nhìn trời đất đến vậy.

Ánh nắng khắc họa những mảng sáng trên mặt chàng, như rũ bỏ vào đấy ti tí phép thuật làm mê hoặc lòng người.

Đôi mắt kia chỉ bận hướng lên, chứ không cụp xuống để biết có kẻ đang ngắm nhìn mình đầy vụng trộm.

Chỉ đơn giản như thế, vậy mà cũng đủ làm tim tôi hụt hẫng mất một nhịp...

Ây da, người đâu điển trai thế không biết.

Tôi vội lắc đầu, muốn xua cái ý nghĩ đầy xấu hổ của mình đi.

Nhưng xua kiểu nào nó vẫn tồn đọng đôi ba ý, dù có đánh lạc hướng bản thân tôi bằng cách khác thì cũng công cốc hết cả.

May mà chàng không để ý chứ nếu không sân này rộn tiếng cười, chàng được một bận trên tôi ra trò mất rồi.

"Đâu đó vài ba hôm tôi dẫn cô đi dạo chợ một lần," Chàng ngước xuống nhìn tôi mà nói.

"Đã bao lâu tôi không cùng cô đi rồi nhỉ?"

"Ờm... kể từ hồi anh bận bịu chuyện khởi sự đến giờ," Tôi nhẩm nhẩm đếm trong đầu, sau đó đáp.

"Mà bận tâm đến làm gì.

Chuyện binh nhung còn ở trước mắt kia kìa."

Tôi ngừng lại một lúc, xem chàng phản ứng ra sao.

Nào ngờ chàng chỉ lẳng lặng gật đầu, như muốn ra hiệu cho tôi nói tiếp, còn bản thân thì chỉ đành im lặng nghe tôi nói hết rồi mới lên tiếng vậy.

Được, nếu đã được chàng cho phép thì tôi ngại gì không nói.

"Thời thế như ván cờ, nếu cứ chùn chân mãi thì có khi kết quả sẽ khác," Tôi nói, lẳng lặng lấy ra cây sáo trúc rồi ngắm nghía nó một hồi lâu.

"Giống như ván cờ anh chơi với cậu ba của hai năm trước ấy."

Chàng gật đầu, tỏ vẻ đã hiểu tất cả những gì tôi nói.

"Cây sáo đó là của chú Út tặng cô nhỉ?"

Chàng hất hàm về phía cây sáo trong tay tôi, ra hiệu ý chàng muốn nói đến là vật ấy.

"Ừm," Tôi nhanh nhẹn đáp lại.

"Cậu ấy khéo tay ghê đó."

"Đỡ hơn cô nhiều."

Chàng tiện miệng trêu tôi, thử xem phản ứng của tôi như thế nào.

"Anh cứ khéo đùa tôi mãi thôi," Tôi hậm hực đánh vào vai chàng vài cái.

"Người gì đâu chỉ toàn biết chọc con gái nhà lành."

Ấy thôi, bỏ qua cái chuyện dở hơi này đi.

Có cãi vả cũng chẳng làm nên ích lợi gì đâu.

May là tôi vẫn còn giữ cây sáo này.

Đấy là vật duy nhất mà cậu út làm tặng tôi, hình như khi ấy tôi cùng chàng đến sông Côn để xem hai cậu nghịch gì ở đó thì phải.

Nhanh thật, mới đó mà đã năm năm qua, một nửa thập kỉ rồi.

Tôi không biết thổi sáo, nhưng vẫn luôn giữ theo bên mình, xem như là vật kỉ niệm nhỏ, khi cần thì dùng đến.

Nhận cho cậu vui, không nhận cậu lại dỗi cả ngày mất đấy.

Thật ra cây sáo trúc này không khó làm lắm đâu.

Trước tôi có về miền quê thôn dã, có ra ngoài cánh đồng rộng để xem lũ trẻ ở nơi ấy bày đủ thứ trò.

Bọn nó khéo tay lắm, hay chỉ tôi làm diều để thả lên trời, cũng có khi là làm sáo để thổi cho vui nữa.

Thấy người hiện đại làm sáo rồi, nhưng tôi vẫn chưa một lần được nhìn thấy người xưa làm những thứ này như thế nào.

Được cậu cho, tôi quý lắm chứ.

"Nếu không biết tận dụng thời cuộc sao cho hợp lí, lúc đó e là muốn gỡ cũng không kịp nữa," Chàng nắm tay tôi để làm lành.

"Nhỉ, Nhật Hạ?"

Tôi siết nhẹ tay chàng thay cho câu trả lời, e thẹn nhìn xuống dưới đất.

Cây sáo đó vẫn còn trường tồn mãi theo thời gian, nhưng có lẽ sắc màu của nó đã ngả dần.

Làm gì có thứ nào trụ được qua mấy mươi năm đâu, nói chi đến dăm ba năm trôi qua.

Dù gì đi nữa tôi vẫn sẽ cố giữ thứ này xem, nó có thể theo tôi du hành thời gian trở về thế kỉ XXI được không.

Khi ấy tôi sẽ cho thằng Thiên chiêm ngưỡng món "cổ vật" từ hơn hai trăm năm trước, chắc nó trầm trồ lắm.

Nhắc mới nhớ, không biết ở tương lai, cậu ta đã từ bỏ việc đến thăm tôi vào mấy ngày rảnh chưa nhỉ.

Tôi hôn mê mãi mà, từ độ tôi tỉnh dậy đến giờ hẳn cũng đã mấy tháng - tương đương với năm năm ở thời điểm này.

Lòng người dù bền bỉ đến đâu, cũng khó có thể chịu nổi với một thói quen chán ngắt lặp đi lặp lại mà không thu được tí kết quả nào.

Vậy mà cậu ấy...

Xùy, cậu kiên trì bao nhiêu, nhẫn nại được đến đâu, tôi biết chứ.

Những lần thất bại sau mấy bài kiểm tra lặt vặt, nhiều lần tôi đã chứng kiến một cậu bạn suốt ngày học đi học lại để né cái hố mà lần trước cậu va phải.

Hay sau lần thi Học sinh giỏi cấp trường điểm không cao hoặc sai mấy câu đơn giản, cậu ta đã quyết định lên đến cấp Thành phố không được lặp lại lỗi sai đó nữa.

Ờ, chứ gặp tôi là nản mất rồi.

Nói chung giờ lòng tôi hướng về nhiều người lắm.

Không biết nên nghĩ về ai đầu tiên đâu.

Hơi ấm từ tay người kia, truyền qua cho bàn tay người nọ.

Chiếc vòng nằm đủng đỉnh trong cái nắm tay mật thiết đó, bông hoa bằng bạc ánh lên sắc vàng của ánh nắng.

Không thấy các tướng, cũng như hai cậu em ở đâu, chỉ thấy một không gian yên tĩnh bao trùm lên cả hai chúng tôi.

Gió nổi, mây trôi...

Tôi cụp mắt xuống, vờ nhìn xuống dưới chân nhưng thật ra tôi đang lén lút theo dõi cử chỉ của chàng.

Còn chàng cũng thế, có điều dạn hơn tôi một xí.

Chàng hướng mắt nhìn ra ngoài - nơi có mấy lùm cây xanh đang chìm trong nắng sáng.

Không biết lần này là lần thứ bao nhiêu chàng tự đánh lừa bản thân bằng cách nhìn ra ngoài sân như vậy.

Giờ thì...

Nắm tay xong thì mình làm gì tiếp theo nhỉ?

Cứ im lặng miết thì hai bên không biết nên xử trí như nào đâu đó.

"Nhật Hạ," Chàng đột ngột lên tiếng, đôi mắt nâu đen phản chiếu hình bóng của vòm trời xanh ở bên ngoài.

Bên tay còn lại của chàng chạm vào vỏ kiếm bên thắt lưng, vẻ như có một việc gì đó chàng sắp sửa phải thực hiện nó vậy.

"Tôi có việc rồi.

Khi khác tôi sẽ dành ít thì giờ ra nói chuyện với cô sau."

Việc gì mà gấp thế?

Kìa, tôi cần một người nào đó để sẵn sàng ngắm nhìn cảnh vật nên thơ này cùng tôi mà, nỡ lòng nào...

Chỉ cần nán lại với tôi đôi ba phút nữa thôi, như vậy cũng đủ rồi.

Hay là chàng đang tìm cách lảng tránh tôi đi ta.

Nhưng mà cũng không đúng, nhỡ đâu chàng bận thật, níu giữ chàng lại chẳng khác gì đang dùng sức kiến cản đường con voi cả.

Như vậy có được tính là đang ngăn cản bánh răng lịch sử chuyển động đúng hướng của nó không nhể?

Ba cái chuyện nhảm nhí...

Chàng đi được vài bước về phía cổng thành rồi ngoái đầu vào nhìn tôi.

Dường như chàng đang giữ một mối day dứt trong lòng, chưa quyết định được nên đi hay nên ở lại với tôi.

Ba mươi tuổi đầu nắm trong tay cả mấy vạn quân, là thủ lĩnh đứng đầu của một phong trào rầm rộ nọ.

Vậy mà chàng vẫn chưa thể nắm bắt được sự lựa chọn của mình, thậm chí là không thể đưa ra quyết định đúng đắn nữa cơ.

Thế đưa đây, tôi quyết định hộ anh luôn.

"Tôi đi nhé?"

Hai chữ gỏn lọn ấy được thốt ra, nhưng lại là cả một quá trình nan giải từ việc đấu tranh tư tưởng đến việc có nên mở miệng ra nói hay không.

Ôi dào.

Nếu không nói ra thì tôi còn không biết anh đã ba mươi chứ không phải trẻ lên ba ấy.

Tưởng tôi bất cẩn, ngốc nghếch đến mức sẵn sàng làm hư hỏng mọi việc hay dễ gặp chuyện không hay đến mức đó sao?

Anh lo vừa vừa phải phải thôi chớ.

"Anh cứ đi," Tôi gật đầu, không quên vẫy tay chào tạm biệt chàng.

"Thì giờ vẫn đầy cả ra đó, anh không cần phải tìm cơ hội để nói chuyện với tôi đâu.

Đằng nào ngày nào tôi và anh chả gặp nhau mà."

Phải.

Đằng nào chả gặp nhau.

Nhưng, nếu tôi đột ngột quay về hiện tại thì e đến việc tìm cách trở về đây cũng hơi khó.

Và từ đó giấc mộng được chiêm ngưỡng quá ngứ của tôi cũng tan thành mây khói mất luôn.

Khỏi gặp mặt nhau gì sất, cũng khỏi phải nghe mấy lời nài nỉ đến nhàm cả tai của chàng nữa.

Cơ mà bảo vậy thôi, chứ không được gặp chàng một ngày, tôi cũng buồn lắm.

Chàng mím môi cười, sau đó nhanh nhẹn rời đi mà không nói một lời nào.

Từ cái ngày mà cả hai chúng tôi thân với nhau được một xíu - tiến triển hơn so với thuở ban đầu - thì đôi khi tôi vẫn thấy chàng mỉm cười với tôi.

Về những sự phát triển nhỏ nhặt của tôi, về cái độ ngơ ngơ ngẩn ngẩn của tôi, hay về mấy thứ lặt vặt ven đường tôi từng khoe với chàng.

Dễ cười ghê gớm, sao ban đầu không dễ tính, cởi mở như vậy đi.

Đỡ tốn công tôi ngồi nghĩ xấu đi về anh lắm đó.

Tôi ngẩn người ra nhìn, tâm trí vẫn còn ngây ngất với cuộc trò chuyện ngắn ngủi khi nãy.

Nó thấm thoát trôi qua nhanh như chó chạy ngoài đồng, đầu tôi còn văng vẳng lời chàng của mấy phút trước cơ.

Chỉ nhỉnh hơn chục lời được thốt ra thôi, vậy mà người này người nọ đều phải chấm dứt cuộc trò chuyện trong sự tiếc nuối của mình.

Tiếc thật đó, nhưng làm gì được giờ?

Không làm gì được hết.

*

Một đêm không mây, có trăng tại thành Quy Nhơn.

"Chị Hạ.

Chị đi nước cờ này mà không lo phòng bị nước khác thì dễ bị kẻ khác đảo thế lại lắm đó."

Cậu ba chán chường nhìn tôi, còn tôi thì lúng túng không biết nên đi nước nào cho hợp lẽ.

"Tên ngốc nhà cậu đừng lải nhải nữa," Sau một hồi suy nghĩ thì tôi dằn mạnh quân cờ xuống bàn cờ, với một gương mặt rất tự đắc.

Mà thật ra kĩ năng của tôi chả là bao cả, đôi khi nghênh mặt được một xíu cho giống người ta rồi thôi.

"Đấy, cậu đi cho tôi xem."

Cậu nhếch miệng cười, như thể đang có ý xem nhẹ vẻ tự dương tự đắc của tôi.

Con cờ trong tay cậu được nâng lên, dừng lại giữa không trung trong vài giây rồi hạ xuống.

Có thể nói bầu không khí giữa đôi bên đang rất căng thẳng, cố gắng tính từng mưu kế sao cho đúng đắn nhất để bản thân giành được thắng lợi.

Ờ thì dạo đây tôi được hai cậu thay phiên dạy chơi cờ, và giờ tôi có thể tự tin đấu với một trong hai (dù cậu ba khó tính đã nói rằng tôi chơi vẫn còn kém lắm).

Việc nhớ hết quân cờ là một cái khó, cái khó thứ hai là nhớ nước đi của từng quân cờ đó.

Cái khó thứ ba là phải có một cái đầu nhanh nhạy để sẵn sàng đối phó với kế hoạch của đối phương.

Tưởng chừng tôi sẽ chơi rất ngon lành, hạ gục cậu trong tích tắc.

Vậy mà chưa gì hết đã bị ba cái khó đó hạ gục trước rồi ấy chứ.

Chết tôi mất...

"Chị thua rồi," Cậu mỉm cười nhìn tôi.

"Đây là ván thứ ba, mà chị chẳng tiến bộ lên một tí nào."

Tôi ngơ ngác nhìn bàn cờ, đầu vẫn chưa kịp mã hóa xong.

Gì thế này, khi nãy rõ ràng tôi có thể chuyển từ bại thành thắng.

Chỉ trong ít giây mà cậu hoàn toàn đẩy tôi vào thế bí, không cho tôi đi nước nào nữa hết trơn ấy.

Người ta chưa kịp đi, cậu đã đi hộ tôi, sẵn tiện thắng giúp tôi luôn.

Tình nghĩa chị em gì tầm này.

"Cậu... rốt cuộc có phải là người không vậy," Tôi nhăn mặt nhìn mấy con cờ bất động.

"Tôi vẫn đang trong thế thắng cơ mà?"

"Chị đi chậm như thế, để người ta biết được mưu kế của mình thì còn trách ai được," Cậu thở dài, cầm lấy chung trà lên mà hớp vài ngụm cho bình tâm.

Có lẽ, thứ duy nhất khiến cậu bất lực nhất là dạy tôi làm một cái gì đó.

"Chị thua như vậy là phải."

"Tôi mà chơi đàng hoàng là dễ gì cậu thắng."

Tôi bĩu môi nói, tiếc nuối cầm lấy con cờ mà khi nãy tôi đã trót đi một nước sai lầm.

Nhắc mới nhớ, từ nãy đến giờ cậu út chỉ đứng phía sau lưng tôi để xem cả hai chơi cờ từ góc nhìn ở dưới lên.

Trông thấy cuộc trò chuyện nhuốm màu trẻ con đầy rẫy cả ra đấy, cậu chỉ biết tủm tỉm cười cho qua.

Hôm nay cậu từ chối không chơi, để cho tôi tự thân đấu với cậu ba xem thực lực tôi tới đâu.

Nào ngờ, mọi thứ lại đi ngược với dự đoán của cậu.

Hi vọng nhỏ nhoi của cậu về tôi cũng tan biến mất tiêu luôn.

Cười cái khỉ gì chứ!

"Anh Ba nói thế, cũng vì muốn chị phấn đấu hơn thôi," Cậu mím môi, cố nén cơn cười hết mức có thể.

"Chi bằng anh muốn chị thua mãi thì bảo thế làm gì."

"Nhưng cậu xem anh cậu kìa," Tôi trỏ vào cái con người đang ngồi đối diện tôi mà bảo: "Có ai muốn người khác phấn đấu nhưng lại chê tôi chơi kém không hả?"

Cậu cười mỉm không đáp.

Ván cờ tàn, trà cũng nguội dần.

Gió lạnh lùa vào ngày càng nhiều, nếu ngồi ở đây mãi thì đâm ra cũng không tốt lắm.

Dễ đổ ốm, hay chân thật nhất là hôm sau đã có triệu chứng cảm lạnh, thân nhiệt tăng bất thường rồi không muôn đi đâu hết.

Và thế là tôi sẽ nhận được vô vàn lời hỏi han dồn dập từ nhiều người - gồm cả cậu út đây - rồi thêm cả mấy lời trách móc từ chàng nữa.

Người ta bị bệnh do thời tiết, có phải do cơ địa đâu.

Biết tôi không còn đủ kiên nhẫn để chơi sau ba ván cờ thắng không thắng, bại thì có đầy, cậu chỉ đành ngồi nhìn tôi hậm hực trong sự bất lực.

Không biết cậu nghĩ gì về tôi sau khi dạy tôi học chữ - mà thứ cậu nhận được cũng chỉ là vài ba con chữ đơn giản mà tôi nhớ được.

Ngoài việc dạy học ra thì cậu còn dạy tôi chơi cả cờ nữa - kết quả cũng có thể dự đoán được.

Cậu thắng, không phải tôi.

"Tại chị không biết chơi đó chứ..."

Cậu ba lẩm bẩm đáp lời, tay thì gõ thành nhịp lên miệng chung như trò tiêu khiển cho vơi bớt thì giờ rỗi.

Tên ngốc này.

Được rồi.

Muốn bình tĩnh thì phải hít vào, thở ra thật sâu, cốt đẩy những cảm xúc không đáng trong người đi.

Vậy mà tôi hít hít thở thở mấy lần rồi, không thu lại được kết quả nào trông có vẻ nổi trội hết.

Toàn bị cái nhìn của cậu phá đám thôi.

Tôi mách anh cậu cho cậu chừa bây giờ.

Trăng treo lủng lẳng trên đầu, rọi thứ ánh sáng bàng bạc vào trong chung trà nguội ngắt.

Gió thổi, đưa cái lạnh từ bên ngoài thoảng vào, lay động cả mấy vạt áo dài đến độ quá thắt lưng.

Ánh đèn dầu lạc cháy lay lắt, yếu ớt dần qua từng đợt gió mạnh, vẽ nên những bóng dài trên mặt đất.

Tầm này là giữa giờ Hợi, bảo sao bóng tối thăm thẳm trên trời ngày càng đặc thêm, sớm không còn thấy ánh sáng le lói từ mấy vì sao tinh tú nữa.

Mục phu cô độc trên cánh đồng hoang liêu rộng bạt ngàn, cùng mấy chú cừu đang thiêm thiếp ngủ bên cạnh.

Dạo này tôi không còn hứng ngắm trăng nhìn sao, hay đi lung tung các thứ.

Mỗi ngày trôi qua của tôi đều bị bó buộc trong thành, trong những bánh xe đầy rẫy những cuộc chiến cam go để quyết định xem ai mới là người kế thừa ngôi vị cao quý đó.

Mười phần chết bảy còn ba, chết hai còn một mới ra thái bình.

Câu nói ấy tôi nghe loáng thoáng không rõ nguồn gốc từ đâu, nhưng có lẽ nó chứa nhiều ẩn ý bên trong đấy.

Ờ thì, thiên tư tôi không sáng suốt đến độ có thể phân tích được một tràng những ý nghĩa của nó đâu.

Nhưng ít ra hiểu sơ sơ thì tôi còn có thể.

Chàng, hai cậu em, sẽ không còn tại thời điểm bánh xe lịch sử dừng lại.

"Chị Hạ.

Sao thế," Cậu ba chống cằm, nhướn mày nhìn tôi.

Mái tóc trên đầu cậu bay theo gió, không vội vàng mà còn vô cùng chậm rãi.

"Chị lại thơ thẩn nghĩ gì nữa rồi."

Không thấy tôi lên tiếng, cậu nói tiếp:

"Tôi đẹp lắm à?"

Khi nãy cậu hỏi, làm gián đoạn mạch suy nghĩ trong đầu.

Và cứ thế, tôi như được trở về từ chín tầng mây.

Mắt thì đăm chiêu nhìn về phía trước, lòng thì bộn bề ngang trái.

Tôi nghĩ về tương lai của cậu sau này đó, ngốc ạ, không phải do cậu đẹp nên tôi mới bị hút hồn đâu.

Tự tin vừa thôi!

"Ai mà thèm một đứa suốt ngày cau có như cậu đâu chứ," Tôi vội phản biện lại, đưa tay ra cho cậu xem rõ cái vòng tay chàng tặng tôi.

"Mà có đẹp đến mấy cũng không bằng đâu nhé."

"Ý chị là tôi không đẹp bằng anh Hai sao," Cậu chỉ ngó qua chiếc vòng một cái rồi phớt lờ nó luôn.

"Bảo sao cả hai cứ quấn lấy nhau miết."

Lúc này đôi má tôi đỏ ửng cả lên, đầu như muốn bốc khói tới nơi.

Suỵt, nói đúng thì nói nhỏ nhỏ thôi, chứ nói to thì tôi ngại lắm.

Tôi chăm chú nhìn theo tay cậu đang nhanh nhẹn thu dọn lại bàn cờ, lòng thầm cầu nguyện cậu đừng hỏi tôi bất cứ câu nào liên quan đến cái chuyện xí hổ tôi vừa nói ra.

Biết cậu không có hứng thú gì với chiếc vòng trên tay, tôi thu tay về, thôi không khoe nữa.

Cậu út đã bỏ vào trong từ nãy giờ, bỏ lại cả hai tự giải quyết việc riêng với nhau.

Không có cách giải quyết cho việc riêng này.

"Tôi với anh cậu có quấn lấy nhau nhiều như cậu bảo đâu," Tôi tằng hắng cho ra dáng người lớn một xí.

"Chỉ tại... anh cậu tự đi tìm tôi trước ấy."

Tiếng chung trà đặt nhẹ xuống khay đồng vang lên.

Cậu húng hắng ho vài cái, tỏ vẻ phủ nhận mọi điều tôi nói.

Hay nói đúng hơn, cậu không tin một chữ trong câu khi nãy.

Một chữ cũng không.

Cái thái độ đó là gì đấy?

Ầy, nhìn cái nét mặt của cậu, có ai nghĩ rằng chỉ tầm khoảng mười lăm năm sau nữa thôi, người ngồi đối diện tôi sau này sẽ trở thành vua.

Một vị hoàng đế bách chiến bách thắng, lãnh đạo một đội quân hùng hậu đi đánh đuổi giặc ngoại xâm lại có một quá khứ không đáng để nhắc lại.

Chắc nếu có ai rò rỉ chuyện này ra ngoài, kẻ đó phải gánh chịu hậu quả nom cũng khá nặng nề mà tôi cũng không muốn nhắc đến đâu.

Tôi toan quay lưng đi vào trong thì cậu đã cất tiếng để giảng hòa.

Biết bản thân mình đã lỡ làm tôi buồn, nếu để chuyện này trôi theo cách của nó thì e là không được.

Mà như vậy sẽ làm mất thiện cảm giữa đôi bên, thế cũng không tốt.

"Anh Hai lo cho chị đến thế, lẽ nào tôi không nhận ra được tình ý trước mắt hay sao," Cậu thở dài thườn thượt.

"Cứ mấy lúc trời trở nghịch là anh Hai đều lo rằng chị bị bệnh.

Trăm lần như một, phải nghe tin chị không sao mới chịu thôi."

Tôi nghệch mặt ra, lắng nghe từng chữ một của cậu.

Thế ra mấy lúc chàng xuống các buôn làng mà không may trời nổi bướng, người đầu tiên được nghĩ đến là tôi đó hả?

Lo gì mà lo tới vậy nhỉ, tôi có phải thuộc dạng người mong manh dễ vỡ đâu.

"Ôi dào, cậu cứ đùa," Tôi cười trừ, phẩy phẩy tay từ chối.

"Ba chuyện lằng nhằng này, cậu đừng để tâm đến.

Tính anh cậu là thế rồi, biết trách ai được đây."

Trách lỗ hổng thời gian ấy.

Nếu như đêm đó người bị cuốn về quá khứ là người khác, không phải tôi thì có phải mọi chuyện đã thay đổi rồi không.

Sẽ không có chuyện tôi đau đầu học mấy con chữ lằng nhằng khó nhớ này, cũng không có chuyện tôi bị đánh giữa chừng rồi bị tống tiền nữa.

Cơ mà, nếu như mọi thứ thật sự thay đổi, thì tôi không còn được ngồi bên ánh đèn cháy lờ mờ mà ngắm ánh trăng màu xám bạc bên ai đó.

Không được thấy mặt nước của sông Côn gợn sóng, lấp loáng dưới ánh mặt trời, không được thấy cảnh nhộn nhịp của bến Trường Trầu khi xưa.

Không có tất cả.

Mà nói làm gì cho buồn não ruột thêm.

Tầm này chỉ mới bắt đầu thôi, vẫn chưa có mấy sự kiện lằng nhà lằng nhằng hay mấy cuộc chiến đẫm máu.

Vẫn còn thời khắc tươi đẹp mà nhàn hạ chán - là khi dòng nắng sáng nhảy nhót trên lưỡi đao, tạo thành những tia sáng huyền bí.

Nếu cứ ngồi ngẫm nghĩ về mấy chuyện tiêu cực miết thì đâm ra tôi già trước tuổi mất thôi.

Tích cực lên nào!

Sau khi nghe thấy những lời được thốt ra từ miệng tôi, cậu đứng ngây người nhìn tôi mất một hồi như đang xác định xem người trước mặt cậu có phải là bà chị ngốc của mình không.

Chắc thường ngày tôi toàn phát ngôn ra mấy câu mất não, nghe bị mất logic nên cậu đã bình thường hóa việc nghe tôi nói như thế.

Vốn đã quen với một "tôi" của ngày thường, nay lại bị "tôi" của ngày hôm nay dọa cho sợ phát khiếp nên cậu cần dừng vài giây để phân biệt.

"Sau bao năm thì chị mới lấy được một ngày bình thường như này, may thật."

Cậu thở phào nhẹ nhõm rồi mím môi cười với tôi.

Cũng như cậu, trăm năm tôi mới có lấy một ngày được thấy cậu cười mà không phải dạng sắp nổi cơn cuồng thịnh đến nơi.

"Làm như trước đó tôi khác lắm ấy," Tôi xua tay.

"Còn cậu, đi vào trong nghỉ ngơi đi.

Hôm sau không khéo bị bệnh thì chẳng trách anh cậu lại đổ thừa cho tôi nữa đó."

Cậu lắng nghe nốt mấy lời cuối của tôi, sau đó thong thả bước đi.

Còn tôi thì để mặc cậu lướt ngang qua mình mà không buồn níu giữ cậu lại thêm.

Gian nhà chính giờ còn có mình tôi, bên cạnh là cái chõng tre nằm hiu quạnh.

Gió khe khẽ ru, lá cây rơi xuống đất thành từng cụm nhỏ, tán cây xào xạc đầy ồn ào.

Mục phu đã chìm vào giấc ngủ bên cạnh đàn cừu nhỏ đang say giấc của mình.

Trăng treo quá đỉnh đầu từ lâu, sớm đã không còn thích hợp cho những kẻ thích ngắm sao nhìn trăng.

Văng vẳng trong hư vô là những tiếng cười, hay những tiếng binh đao va vào nhau của một vài kẻ đang luyện võ nghệ đương lúc trời tối muộn.

Cái lạnh thâu đêm bắt đầu đi lộng hành - như cách nó đã làm ròng rã suốt mấy mươi năm qua - để hạ gục những người vốn dễ bị cảm lạnh.

May mắn thì còn có thể chạy chữa kịp thời, còn nếu chậm chân thì thôi, không còn cách nào khác ngoại trừ việc vái lạy bốn phương cả.

Tôi cũng không khác gì đâu, bản thân cũng bị ốm suốt mấy chặp cả rồi.

Tôi không muốn phải nhìn tương lai xa vời vợi ở trước mắt, cũng như cách nó kết thúc đầy bi thảm.

Đến tôi là người của tương lai, vô tình đọc được những sự kiện ấy qua mấy trang sách sử thôi cũng đã đủ sởn hết cả da gà lên.

Không biết những người chứng kiến tận mắt ở nơi đó sẽ như thế nào, buồn vui, căm hận ra sao.

Sự đời thật phũ phàng, nhân gian đầy luyến tiếc...

----------------------------------------
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Trở Về Thời Tây Sơn
61. Một lòng thương


-------------------------------

Một ngày nào đó của năm Quý Tỵ.

Tiết trời bấy giờ đang lúc mùa thu.

Gió lành thổi khắp nơi, nắng ấm chiếu rọi đến mấy bụi cỏ mọc thấp lè tè.

Chí ít ra thì nó vẫn dễ chịu hơn cái tiết trời nóng oi ả của mùa hè, cũng đỡ hơn cái lạnh đến run cả người của mùa đông - nhất là khi mấy đợt mưa bắt đầu xuất hiện vào tầm cuối năm.

Gọi là mùa đông cho nó sang thế thôi, chứ thật chất chả có tí tuyết rơi xuống, cũng không có đống tuyết trắng xóa, dày cộm.

Mà thay vào đó là những cơn mưa rào lướt qua, đậm hơi ẩm của đất và hương mát của cỏ cây.

Lại nói một chút về đại bản doanh mới của Tây Sơn - thành Quy Nhơn.

Đấy là một tòa thành kiên cố có tường xây bằng đá ong, trên một dải gò cao.

Xung quanh thành có hào sâu bao bọc lấy nên nom nhìn vững chắc lắm.

Liệu thế mà đánh thì e là đánh không nổi, cũng có khi là bị phản công lại nữa cơ.

Trước khi quyết định dùng mưu để chiếm thành, chàng cho quân dốc toàn lực đánh chiếm mà không được, ba ngày trời liền vẫn chưa có tí tiến triển nào.

Đã thế còn gặp Khắc Tuyên cứng đầu, lão ta cho đóng cửa thành để cố thủ, đành ra không bên nào chịu nhường bên nào.

Một khi con người ta bị đẩy đến đường cuối cùng, họ sẽ tung ra chiêu cuối để giành lấy chiến thắng về họ.

Nhờ vậy mới có tin chấn động: Minh chủ Tây Sơn ngồi trong cũi, vờ bị bắt để binh lính khiêng vào trong thành đó.

Không phải bị bắt thật đâu, người ta đâu bất cẩn đến thế.

Chẳng qua cái kế đó là kế "vào hang cọp bắt cọp con" thôi ấy mà.

Dạo này chàng bận dăm ba chuyện binh chuyện lính lắm, nên không còn gặp chàng thường xuyên nữa.

Nào hết đánh trận này đến trận khác, lo từ việc này đến việc nọ.

Ngay sau khi chàng chiếm được thành Quy Nhơn xong, việc canh giữ thì giao cho Trần Quang Diệu và các tướng khác, bản thân mình thì tự cầm hai đoàn quân xuống Càng Rang, Nước Ngọt để đánh lấy hai kho lương thực.

Trận ấy tôi không được chứng kiến tận mắt, cũng không được ai kể lại cho, chỉ biết dùng trí nhớ mà tả lại.

Rằng khi chàng cùng đoàn quân của mình xuống tận nơi cần đến rồi, thì hai viên quan giữ kho ở đấy là Đốc Trưng Đằng và Khâm Sai Lượng hết sức chống cự.

Thuyền nhỏ sao chống nổi gió to, Sai Lượng bị giết, người còn lại thì vội vã tẩu thoát.

Lương thực được chở về thành, để dành cho những trận đánh tiếp theo.

Nguy cơ tiềm ẩn của Tây Sơn đến từ hai phía, sẵn sàng dồn lực tiêu diệt một thế lực nhỏ bé này bất cứ lúc nào.

Chàng chuyên tâm phòng bị ở mặt Nam, nhưng cũng không quên phòng bị ở phía Bắc.

Bèn sai cậu út Nguyễn Lữ cùng Nguyễn Văn Lộc, Võ Văn Cao đi Phú Yên, Diên Khánh và Bình Thuận để thăm dò tình hình, sẵn vận động người dân địa phương nổi dậy hưởng ứng cuộc nam chinh lần này.

Ừm... vế còn lại tôi không nhớ được.

Chỉ nhớ mang máng thôi, không rõ lắm.

Cứ như một thước phim cũ bị lu mờ, nay chiếu lại chỉ toàn hình ảnh mờ mờ ảo ảo hiện lên trong đầu, có cố cũng không nhớ nổi nội dung nó là gì.

Nhà được ba người thì hết cả ba đều bận đầu tắt mặt tối.

Cũng may bên cạnh tôi vẫn còn có Lý Dương để có thể ngồi tán phét dăm ba chuyện khi cần.

Không quá chán, cũng không gọi là quá hồ hởi khi được ở một mình.

Tôi không đến độ dễ buồn chán đến như vậy, chỉ trừ khi một thứ gì đó cứ lặp đi lặp lại lâu dài miết.

Ờ, chẳng hạn như phải sống ở đây đến tận năm Nhâm Tuất ấy.

Gạt ba cái chuyện phù phiếm kia qua một bên đi.

Giờ tôi đang ngồi bệt xuống ở ven đường - một nơi mà tôi không rõ đấy là nơi nào - để nghỉ chân chốc lát.

Bảo là nghỉ chân thôi chứ tôi đang bận ngắm nhìn trời mây trong khi đang thơ thẩn thả bộ ngược lên miền Thượng.

Chắc chắn là phải có y đi theo, không là tôi khó lòng trụ nổi đến lúc trở về mất.

Một thân một mình đi cùng với thanh niên trai tráng mà lặn lội lên một nơi xa xôi, nghe thoáng qua cũng thật khó tin.

Y lò dò bước theo sau, tay cầm dây cương dắt theo một con ngựa tía to lớn.

Tuy nó không được lớn bằng mấy con ngựa chàng nuôi trong hàng ngũ, nhưng ít nhất nó vẫn to gấp đôi, thậm chí là gấp ba cái thân nhỏ bé này.

Mà lông bờm nó trông cũng tuyệt đẹp lắm đấy nhé, sờ vào là cảm thấy óng ả, đôi khi lại bay lất phất mỗi lúc trời có gió nữa.

Thôi, không có hấp dẫn bằng cảnh nước non hữu tình gì sất.

Tôi đứng dậy, vừa kịp lúc tiếng chân ngựa lộc cộc dừng lại.

Y thở dài lấy vài hơi, rồi cau mày nhìn tôi mà nói:

"Đi thì cũng phải đi chậm chậm, chờ người ta đi cùng.

Cô đi nhanh thế này, đến ngựa của tôi còn không đuổi kịp, huống hồ chi là nghĩ đến việc đi đến nơi khác."

"Chẳng qua anh cứ thích nói quá lên ấy mà..."

Tôi gãi trán cười ngài ngại.

"Thân là người, sao mà bì được với tốc độ của ngựa."

"Chốc nữa trở về, đừng có hòng mà đòi tôi cho đi nhờ ngựa nữa đấy."

Y phũ phàng nói, sau đó quay lưng đi, chuyển mục tiêu chú ý từ tôi sang con ngựa đang thong thả vẫy vẫy cái đuôi qua lại.

Y bảo con ngựa đấy là của người quen của y.

Hôm nay biết tôi muốn trốn ra khỏi thành mà chơi nên y đã ngầm ý đến mượn ngựa của bạn mình, cốt là để việc di chuyển thuận lợi hơn nhiều.

Mà thuận lợi đâu chả thấy, tôi chỉ thấy viễn cảnh một người cuốc bộ, người còn lại thì thong dong cưỡi ngựa mà cứ ngỡ như đi du ngoạn ý.

Công bằng ở đâu?

Dù gì tôi không biết cưỡi ngựa, giải pháp tốt nhất vẫn là nên dùng chân mà di chuyển thôi.

Lần cuối tôi được ngồi trên lưng ngựa cách thời điểm trước khi xuyên về đây độ dăm ba năm.

Xui xẻo thay, con ngựa tôi cưỡi hôm đó vừa hung hăng vừa không có kiên nhẫn, nên khi tôi vừa cưỡi được một quãng ngắn đã vội hất ngã tôi xuống rồi.

Kết cục thì không cần nói đâu, nhưng cái thân tôi đau nhức khó tưởng tượng nổi.

Điều khiến tôi nhục nhất đó là những người xung quanh cứ đứng nhìn cảnh tôi té rồi bụm miệng cười vẻ khoái chí.

Họ đâu có thể hiểu được nỗi đau tôi trải qua khi ấy đâu cơ chứ, nên việc một người té, mười người cười là thế.

Một con ngựa đau, cả tàu bỏ con ngựa đau.

Mà thôi, quay trở về chủ đề chính này.

Đến khi y bận vuốt ve con ngựa tía chán chê, tôi mới từng bước tiếp cận con ngựa.

Ban nãy nó đã tỏ vẻ không ưa tôi, nên tôi cũng không dám chọc giận nó gì nhiều.

Đằng này nếu tình cảnh không chịu tiến triển thì e lúc về đến thành, hai chân tôi run lẩy bẩy như mới chạy mười vòng sân trường xong ấy.

Không cần gấp lắm.

Chỉ cần làm con ngựa thân với mình được một tí là được, như vậy sẽ dễ dàng leo lên lưng nó để cưỡi rồi.

"Cô sợ nó lắm hay sao?"

Y bật cười trước vẻ lấm la lấm lét của tôi, rồi vỗ vỗ vào thân thể to lớn của con vật kia mà nói, như thể nó là thú cưng của y vậy.

"Không sao đâu.

Chỉ cần cô không làm nó kích động là mọi chuyện đều ổn."

"Ổn cái đầu anh," Tôi nhăn mặt phản kháng, lắc đầu phủ nhận lại mọi điều y mới vừa nói.

"Thôi tôi không muốn lên đâu đấy, anh cưỡi thì cứ việc đi."

Xem chừng y đang rất bất lực với tôi rồi đây.

"Vậy nếu cô có mệnh hệ gì, tôi không chịu trách nhiệm khi anh cô hỏi đến đâu."

Lý Dương tằng hắng vài cái, sau đó nhìn tôi.

Cái tên này.

Anh nghĩ anh có ngựa nên muốn làm gì thì làm hả?

Tôi đây cũng có ngựa đấy nhé, cơ mà tạm thời Bạch Long Câu đang tạm thời được người khác sử dụng nên tôi không thể khoe với anh được.

Mà dù bị đẩy đến tình thế nguy khốn nhất thì tôi vẫn biết cạy miệng mình ra xin quá giang đi nhờ.

Tôi không có ngốc đến vậy đâu nhé.

Mà y nói đúng.

Nhỡ hay tôi không xin quá giang được, cũng không tìm được cách thức di chuyển, xui rủi thì gặp chuyện bất trắc trên đường về.

Thế nào khi chàng về rồi sẽ phải hỏi tôi vô vàn những câu hỏi khó trả lời phết.

Giống dạng một vạn câu hỏi vì sao ấy, nhưng khác ở chỗ người ta có thể đưa ra lời giải đáp, còn tôi thì không.

Ối dào, lo làm gì chứ!

Chàng chưa về sớm đến thế đâu.

Muốn về được tới thành thì ít nhất phải chờ đến độ mấy ngày sau kìa.

Chàng về, suy nghĩ nước đi tiếp theo cho chiến trận tới, rồi lại cất quân đi ngay.

Tôi không phải lo chuyện bị chàng trách nữa.

Cùng lắm là một cái thở dài từ chàng thôi.

Được rồi, vờ xụ mặt xuống cho y vui vậy.

"Thôi được.

Giờ chỉ cần để anh đèo về là được chứ gì," Bất đắc dĩ lắm tôi mới chịu thốt ra câu đó.

Y khúc khích cười với cương vị của kẻ chiến thắng.

Đoạn, Lý Dương ghì chặt lấy dây cương, tay còn lại thì vuốt ve con ngựa đầy âu yếm.

Giống như bước đầu tiên trong việc cưỡi ngựa là phải làm cho ngựa thân với mình trước, không làm nó bị kích động.

Có thế mới dễ dàng leo lên được, cũng như quá trình di chuyển sẽ thuận lợi hơn nhiều.

Vậy chắc khi đó tôi đã lỡ chọc giận con ngựa hay đại loại thế, nên bởi vậy mới chạy được một quãng đường mà nó đã vội hất ngã tôi xuống rồi.

"Nhật Hạ, lên nào," Y vỗ vỗ lên lưng con ngựa.

"Tôi đỡ cô."

Tôi nuốt nước bọt một cách khô khan.

Gì chứ, đừng nói là ngay lúc này đấy nhé.

Tôi vẫn chưa chuẩn bị tinh thần để cưỡi ngựa đâu, anh đừng có mà gấp rút quá.

Không mấy đợi vài ba ngày nữa đi rồi mình cưỡi ngựa được không.

"Sao thế?"

Y nghiêng đầu nhìn tôi.

"À không... chẳng qua tôi đang suy nghĩ con ngựa này có chối bỏ tôi không thôi," Tôi cười trừ, nhanh chân lùi về sau vài bước.

Cái nhìn chán chường của y ghim thẳng vào người tôi.

"Không ai khó gần như cô đâu," Y thở dài bất lực.

Biết không còn sự lựa chọn nào khác, tôi đành phải xuống nước trước vậy.

Tôi dè dặt bước đến bên con ngựa tía kia, mắt dán chặt vào thái độ của con ngựa để xem nó phản ứng như thế nào.

Nào ngờ nó tỏ ra vẻ bất cần đời lắm, không mảy may quan tâm đến tôi dù chỉ một chút, cái đuôi phe phẩy ở phía sau chính là bằng chứng cho việc ấy.

Y kiên nhẫn chờ đợi, vẫn tiếp tục vuốt ve con vật để tránh làm nó hoảng sợ trước thay đổi nhỏ nhặt này.

Bây giờ hoặc không bao giờ.

Nhật Hạ, mày làm được mà.

Khó khăn lắm tôi mới bước lên được cái bàn đạp - tất nhiên là phải nhờ đến sự giúp đỡ của y ở dưới.

Bàn tay run run của tôi mò mẫm tìm sợi dây cương, chân còn lại thì cố gắng đưa qua làm sao cho tôi có thể giữ thăng bằng khi ở trên lưng ngựa.

Trông tình cảnh của tôi bấy giờ rất tức cười: Một cô gái ngốc đang tập cách trèo lên lưng ngựa, và sắp phải đối mặt với việc cưỡi ngựa một quãng đường dài.

Tôi sợ chết đi được.

Nhưng rồi, sau khi ngốn kha khá thời gian để chật vật leo lên thì cuối cùng... tôi cũng đã ngồi được trên lưng ngựa!

Tầm nhìn của tôi lúc này thật sự rất khác so với lúc đứng ở dưới đất.

Nhìn xa trông rộng, tôi có thể nhìn thấy mấy bãi đất cách xa chỗ mình tầm cỡ bao nhiêu đấy.

Gió trên này cũng thoáng hơn rất nhiều, luồng gió hăng hái cứ liên tục thổi quật vào mặt tôi không ngớt.

Uầy.

Tôi ngồi trên lưng ngựa được rồi này.

"Trên này thích ghê," Tôi hí hửng nói với Lý Dương - lúc này đang ở dưới chân tôi.

"Gió cũng mát nữa."

"Vậy à," Y mỉm cười.

"Cô bám chặt vào đi.

Tôi lên với cô."

Nói rồi, y trao dây cương cho tôi nắm, bản thân mình thì xoay xở tìm cách lên.

Không nói không rằng, y đã tự mình trèo lên lưng ngựa, còn tôi chỉ biết ngơ ngơ ngẩn ngẩn nhìn trời nhìn đất.

Không giống như tôi phải khổ sở leo lên, đằng này chỉ trong nháy mắt là y đã lên được, thậm chí là có phần hơi nhanh so với tưởng tượng của tôi.

Tấm lưng phía sau tôi từng trống trải với hàng ngàn cơn gió lùa, nay được lấp trống bởi bờ ngực rộng cũng như săn chắc của y.

Tim tôi lúc này cứ đập thình thịch như có ai mở hội lớn ấy, làm tôi không dám ngẩng đầu lên nhìn khung cảnh ngoạn mục như khi nãy nữa.

Vớ vẩn!

"Đang ngại sao?"

Y thì thầm, bàn tay kia từ phía sau vươn lên, nắm chắc lấy sợi dây cương.

Vừa hay khoảng cách giữa tay tôi với tay y khá gần nhau, cộng thêm việc tôi sợ đến mức tay run lẩy bẩy hết cả lên rồi đây này.

Bằng chứng rõ rành rành ra trước mắt như thế, y không đoán được tôi đang sợ (hoặc cũng có thể là ngại hay hồi hộp) mới lạ.

Xùy xùy.

Toàn ba cái chuyện nhảm nhí.

"Làm... làm gì có!"

Tôi vội đáp.

"Anh khéo tưởng tượng vừa thôi."

Đúng rồi.

Anh khéo tưởng tượng vừa thôi, đồ ngốc.

"Tay cô đang run kìa.

Không phải ngại thì còn gì nữa," Y tằng hắng.

Đã bảo người ta không ngại rồi mà.

Lần đầu tôi cưỡi ngựa sau mấy năm không thèm đụng tới bất kì con ngựa nào, giờ đây tôi hồi hộp hơn bình thường là phải.

Ngại ngùng cái khỉ mốc nhà anh ấy.

Tình huống này cũng thường thường thôi, không đáng để tôi phải hành động một cách vụng về gì sất.

Ờ, trừ vài ba trường hợp của chàng.

Khi đó tôi mới thật sự ngượng ngùng, đôi má ửng đỏ như trái cà tới mùa thu hoạch và cảm thấy đầu mình sắp phát nổ tới nơi.

Chàng toàn biết cách làm tôi ngại đỏ cả mặt - nhất là ở nơi đông người - mà người nọ lại chả để tâm một tí nào.

Dăm ba thứ tình cảm quỷ quái.

"Người ta chỉ hồi hộp thôi.

Anh nói nhiều nghe nhàm tai lắm," Tôi dùng chân đá vào chân y mấy cái.

"Về thành đi.

Tôi với anh đi ra ngoài từ nãy đến giờ cũng lâu rồi."

Y cười mỉm không đáp.

Nhưng có lẽ, khi nhìn thấy tôi chịu cưỡi ngựa đi về bằng con ngựa mà y đã cất công đi mượn thì y cũng vui lên phần nào.

Có con ngựa làm gì trong khi tôi còn không thèm ngó ngàng đến nó một lần.

Nếu tình huống tiến triển theo hướng đó thật thì chắc mọi chuyện thật sự đã khác.

Khác hơn bội phần.

-----------------------------------

Có một chàng trai vẫn ngày đêm mong mỏi, chờ đợi người mình thương tỉnh dậy từ quá khứ.

Dù cho cậu biết việc làm của mình có phần ngốc nghếch, chỉ cần cậu kiên trì, nhẫn nại thì ông Trời sẽ rũ lòng thương.

Và quả thật đúng là như vậy, cậu từng không từng bỏ những thứ cậu cho là ước mơ, để rồi cũng có ngày cậu có được nó.

Nhưng việc chờ đợi lần này không chỉ có sự góp mặt của kiên trì, mà nó còn có cả sự may mắn vào trong đó.

Nhỡ đâu người con gái cậu thương mãi mãi không tỉnh lại thì sao?

Mọi công sức cậu nhẫn nại chờ đợi đều đổ sông đổ biển hết cả.

Khi một người đang mải mê chìm đắm vào dòng thời gian đầy huyền ảo trong quá khứ, họ sẽ dần quên mất mục tiêu thật sự của mình là gì.

Bởi nơi ấy thật sự quá hào nhoáng, được tận mắt nhìn những con người đã chết cách đây hơn hàng trăm năm thì còn gì thú bằng.

Có khi cậu cũng quên việc trở về như tôi mất ấy.

Một khoảng cách thời đại quá xa, tôi không có cách nào thông báo cho cậu biết rằng tôi vẫn ổn.

Hay việc cậu muốn trò chuyện với tôi, cũng chỉ có thể thì thầm một mình với khoảng không bất tận.

Chỉ có thứ duy nhất níu kéo tôi với cậu, đó là sợi dây chỉ đỏ kia.

Nó vượt cả không gian và thời gian để tìm kiếm cả hai chúng tôi, để rồi khi xác nhận đúng người thì nó đẩy hai tôi lại gần nhau.

Cả về tiền kiếp, lẫn hậu kiếp đều vậy.

Người ta hay bảo rằng cặp đôi yêu nhau từ thuở kiếp trước, kiếp sau vẫn có thể gặp lại nhau.

Họ gặp lại nhau bằng cái nhìn đầu tiên, khi một thoáng lỡ nhìn vào mắt người nọ mà lại cảm thấy quen thuộc ấy.

Có lẽ thông tin truyền tai ấy là đúng, bởi khi tôi nhìn vào mắt thằng Thiên từ lúc mới gặp cậu, tôi đã thấy trong lòng gợn lên một cảm giác rất quen thuộc - có điều tôi không thể mường tượng ra.

Có một chàng trai ngày đêm mong mỏi, chờ đợi người mình thương tỉnh dậy từ quá khứ.

Có một cô gái đem lòng yêu một chàng trai, dẫu cho cả hai xa nhau một khoảng thời gian cách nhau hơn hai trăm năm.

Cả chàng trai lẫn cô gái ấy, đều là tình nhân của nhau từ kiếp trước.

Nhưng tiếc thay, mối tình ấy không được trọn vẹn.

Người sống ôm nỗi nhung nhớ về người đã mất, đến muôn đời vạn kiếp.

Đời đời kiếp kiếp dù xa muôn trùng đi chăng nữa, họ chắc chắn sẽ tìm thấy nhau.

Mãi một lòng thương, mãi một nỗi nhớ...

------------------------------

Ee mấy bạn nay ít idea quá nên chương này tạm ngắn vậy thôi nha=)

Chứ mấy chương kia dài quá trời, sợ mấy độc giả iu của toii đọc nhiều bị ngán.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Trở Về Thời Tây Sơn
62. Thành Đồ Bàn


-----------------------------

Tôi chậm rãi mở mắt, thở một hơi dài đầy phiền muộn vào bầu không khí.

Cơn gió nhẹ lùa từ cửa sổ vào khẽ khàng chạm vào da thịt, giúp tôi nhận biết được bản thân mình vừa mới tỉnh giấc.

Tôi khẽ cục cựa tay mình - nó đang được vùi trong lớp chăn ấm, và hình như có vật gì đó nặng nặng đang đè lên nó thì phải.

Mấy cây kim nối với sợi dây nhợ lằng nhằng ghim thẳng vào da tay tôi, tạo một cảm giác nhoi nhói đến kì lạ.

Tiếng bánh xe sắt của xe đẩy chuyên chở trong bệnh viện chạy ngang qua phòng, tiếng bác sĩ thì thầm với nhau ở bên ngoài là thứ âm thanh chân thật nhất tôi có thể nghe được ngay khi tỉnh dậy.

Gì thế này?

"Nhật Hạ.

Cậu không chợp mắt tí sao?"

Thằng Thiên ngẩng đầu lên, dụi mắt nhìn tôi, giọng vẫn còn mơ màng ngái ngủ.

Hả?

Khoan!

Chuyện gì... chuyện gì đang xảy ra thế?

Từ từ đã nào...

Tôi nhớ là mình cưỡi ngựa đi về với Lý Dương, và trước khi đi về thì tôi đang thơ thẩn đi ngược lên miền Thượng để trốn thoát ra khỏi thành Quy Nhơn một tí.

Thế mà giờ đây, vừa mới mở mắt dậy, khung cảnh đầu tiên chào đón tôi là cái trần nhà màu trắng quen thuộc của bệnh viện.

Quang cảnh đẹp hữu tình của tôi đâu rồi?

Gió lộng trời quang của tôi đâu rồi?

Vẫn tiếng máy thở đó, vẫn mùi thuốc sát trùng đặc trưng đó, sao nó lại quen đến thế.

Tôi xuyên trở về rồi đấy à?

Hơn thế nữa, Anh Thiên... cậu ta đang nói chuyện với tôi ư?

Cái chuyện này đúng là kì quặc thật!

Tôi vội ngồi bật dậy, đưa mắt nhìn xung quanh.

Khung cảnh đúng là khác hơn so với ban nãy, không thấy ngựa đâu, cũng không thấy y nốt.

Tất cả những gì tôi nhìn thấy là phòng bệnh quen thuộc, trần nhà trắng, giường bệnh của tôi nằm bên cạnh ô cửa sổ có thể nhìn ra khung cảnh bên ngoài.

Chỉ duy nhất bệnh nhân nằm cùng phòng với tôi là khác so với lần cuối tôi tỉnh dậy thôi.

Thằng Thiên vươn vai đầy thoải mái.

Từ cái lúc tan học, ghé đây thăm tôi một xíu rồi ngồi ngủ bên cạnh tôi đến giờ, chưa lần nào là cậu thấy sảng khoái hơn lúc này.

Đánh một giấc ngủ ngon (có điều chỗ ngủ không được êm ái cho lắm) đến thế này, ai cưỡng lại cho được.

Riêng tôi thì không tỉnh táo miếng nào đâu nhé.

Tôi hoàn toàn không chợp mắt ngủ miếng nào đâu, chẳng qua lỗ hổng thời gian bị lỗi nên tôi mới trở về đây.

Và ừm... không biết y có hoảng hốt khi thấy tôi nhưng lại không giống "tôi" xíu nào không nhỉ?

Chắc chắn có rồi.

"Cậu đừng ngồi dậy vội, cứ nằm nghỉ tí đi," Cậu ta đưa tay vuốt phẳng chiếc gối nằm cho tôi rồi sờ tay lên mặt mình.

"Mặt tôi dính gì hả?"

Tôi ngẩn người ra, xử lí mớ thông tin đột ngột từ môi trường bên ngoài đang nhồi nhét hết cả vào đầu tôi.

Mọi chuyện diễn ra quá nhanh, tôi vẫn chưa thích ứng kịp.

Cái gì mà tôi đang nằm trong bệnh viện, với đủ thứ kim tiêm cắm thẳng vào tay tôi, rồi thêm cả cái máy đo nhịp tim phiền toái ở bên cạnh đang kêu tít tít từng hồi chậm rãi nữa.

Thế là mình đã xuyên về thật rồi đấy à?

Cậu đứng đó nhìn tôi, vẫn kiên nhẫn chờ đợi câu trả lời.

Biết tôi hay lơ đễnh, không chú tâm đến câu hỏi của người khác, cậu quỳ một chân xuống, đưa tay tôi áp vào má cậu mà hỏi lại:

"Nhật Hạ, trên mặt tôi dính gì sao?"

Lúc này hồn phách tôi từ cõi mây trở về, khẽ giật mình ngạc nhiên.

Tôi lúng túng rút tay về, quay mặt đi nơi khác cho bớt ngượng.

Cái tình huống ban nãy là do tôi vô thức làm nên, không phải do trí não của tôi điều khiển đâu.

Ánh nắng nhàn nhạt hắt vào mặt tôi, làm tôi phải nheo mắt để tránh cái nắng ấy.

Nắng thời xưa thì tôi còn có thể nhẫn nhịn để nhìn, chứ nắng thời nay thì đừng hòng.

"À thì... mặt cậu có dính tri thức trên đó đấy."

Tôi ấp úng đáp lời.

"Hôm nay cậu cư xử lạ quá," Thằng Thiên phụng phịu bảo, chống tay lên cằm nhìn tôi.

"Không lanh lợi, cứ ngỡ cậu là người trên mây ấy.

Thật không giống mọi ngày tí nào."

"Thế nào mới giống tớ của mọi ngày?"

Tôi quay sang, tròn xoe mắt nhìn lại cậu.

Cậu ta cười mỉm không đáp.

Một lọn tóc bay bổng trước trán tôi.

Cậu vươn tay gạt lọn tóc ấy sang một bên rồi vén nó ra sau tai, sau đó rút tay về lại vị trí cũ.

Khoảnh khắc ánh mắt của cậu ánh lên những tia nắng ấm, tôi mới nhận ra rằng, tiền kiếp là có thật.

Câu hỏi mà tôi từng chất vấn năm mười ba tuổi, thật ra câu trả lời đang hiện diện ở cạnh tôi.

Ánh mắt của cậu, và ánh mắt của chàng, thật sự giống nhau đến kì lạ.

Chàng hay nhìn tôi bằng ánh nhìn dịu dàng đến thế nào, cậu cũng nhìn tôi bằng ánh nhìn dịu dàng đến thế ấy.

Đôi khi trong một vài tình huống không phải về đôi mắt, tôi vẫn cứ ngớ chàng vượt thời gian về, hiện lên để xuất hiện bên cạnh tôi.

Gương mặt na ná nhau như đúc, đôi mắt phủ đầy một màu dịu dàng càng làm tôi tin rằng:

Chàng và cậu là một.

"Thế này.

Vậy mới giống Nhật Hạ như mọi ngày của tôi chứ."

Tim tôi đánh hụt mất một nhịp.

Tôi có thể cảm nhận được mặt hồ trong lòng tôi đang dao động dữ dội.

Từ một nơi yên tĩnh, không tí gợn sóng của bão táp nào, nay lại lăn tăn những cơn sóng nhỏ vỗ ven bờ.

Một cảm giác nhẹ tênh, với những thanh bình nhất của đời dâng lên, làm tôi muốn hít vào rồi thở ra một cách bình thản.

Gió lặng, mây trôi.

"Được...

được rồi," Tôi làm bộ làm tịch húng hắng ho vài tiếng, lấy lại điệu bộ nghiêm chỉnh.

"Tình tứ ở nơi đông người là không được đâu nhé."

"Hôm nay tôi ghé qua đây thăm cậu như thường lệ.

Vốn cứ ngỡ tình trạng của cậu vẫn thế, không tiến cũng không lùi nên không kịp chuẩn bị gì cho cậu," Thằng Thiên thở dài, đôi mắt nhìn khắp chung quanh.

"Hay là tôi xuống căn tin của bệnh viện mua gì đó cho cậu ăn, được không?"

Hả?

Căn tin bệnh viện à?

Nơi này còn có căn tin nữa sao?

Tôi chưa một lần bước chân ra khỏi cái phòng bệnh này nên không biết được ở bệnh viện này có những gì vui.

Có căn tin nghe thì thú vị đấy, có điều bây giờ tôi không có cảm giác thèm ăn thôi.

Tôi cần được nghỉ ngơi sau... mấy tháng hôn mê và cần tịnh dưỡng lại cái đầu bé nhỏ này.

Lúc xuyên về quá khứ, tôi đã phải suy nghĩ nhiều rồi, cũng như chịu đựng vô vàn những vết thương về thể chất nữa.

Ừm, gần nhất là tôi bị mấy lũ côn đồ dùng gậy gỗ đánh vào đầu.

Hình như cũng đã ngót nghét mấy năm trôi qua rồi, nhanh thật ấy.

Vết thương cũng không có dấu hiệu đau nhức trở lại, nhưng mỗi khi nghĩ về chuyện đó, tôi lại cảm nhận rõ cái nỗi đau tưởng chết đi được.

Ối dào.

Phen đó mà giao cho bác sĩ cứu là tuyệt lắm đấy.

"Thôi không cần đâu," Tôi xua tay.

"Tạm thời tớ chưa muốn ăn gì hết.

Với lại tốn tiền của cậu lắm."

"À phải, Nhật Hạ của tôi trở về rồi này," Cậu ta mím môi cười, sau đó đứng dậy, xoa xoa một bên đầu gối tê nhức vì quỳ trong thời gian dài.

"Vậy... tôi xuống lầu gọi cho mẹ cậu đến.

Giờ cũng đã quá trưa, tôi phải về mất rồi."

Gì chứ?

Về sớm vậy?

Tôi đưa mắt nhìn ra ngoài cửa sổ một lần nữa.

Đúng là trời đã quá trưa, nắng đã quá gắt để đi lại và có thể dễ bị cảm nắng nếu đi ngoài trời quá lâu.

Vậy mà tôi cứ ngỡ trời vẫn còn tầm tám - chín giờ sáng thôi ấy.

Khái niệm thời gian của tôi cũng lạc mất kể từ ngày tôi hôn mê đến giờ.

Nằm yên một chỗ, nhắm mắt ngủ một giấc thật sâu thì làm sao biết được tình hình bên ngoài.

Không biết giờ đã là tháng mấy, đã mấy tháng trôi qua từ lúc tôi tỉnh lại lần cuối đến giờ nhỉ?

Tôi không dám mở miệng hỏi cậu, vì biết chắc cậu đang có việc gì gấp lắm mới ra về sớm đến thế.

Có còn thương người ta nữa đâu mà đòi ở lại.

"Nhật Hạ.

Sao thế?"

Trông thấy tôi ngồi thẫn thờ, cậu ta quay người lại hỏi.

"Không có gì đâu.

Cậu cứ về đi, khi nào rảnh thì vào đây thăm tớ."

Tôi cố rặn ra một nụ cười chân thật nhất có thể, đưa tay chào cậu để che đi hành động cứng nhắc của tôi.

Sau khi chắn chắn rằng tôi không còn nhờ việc gì nữa, cậu mới dám an tâm cất gót trở về.

Tiếng bước chân trên sàn nhà lạnh lẽo vang lên, nối theo sau đấy là tiếng mở cửa.

Rồi lại tiếng bước chân ấy cất lên, cuối cùng là tiếng kẽo kẹt của cánh cửa gỗ trong phòng.

Một khoảng không tĩnh lặng.

Cậu về rồi, bầu không khí ở đây thật buồn bã và ảm đạm.

Mấy chú nằm chung phòng với tôi giờ đang say giấc ngủ, hoàn toàn không để tâm tới hành động của đôi trẻ.

Tiếng xe chạy trên đường nghe thật xa xăm, như vọng về từ cõi hư vô nào đó.

Tôi thở dài, đưa tay vuốt thẳng chiếc chăn trên người.

Không biết khi nào tôi mới được xuất viện trở về nhà, không biết khi nào tôi mới được đi đến trường lại bình thường nhỉ?

Chỉ cầu cho lúc đó tôi không xuyên ngược trở về quá khứ thôi, ngoài ra mọi chuyện đều ổn cả.

Gió lùa một vài tia nắng vào mặt tôi.

Tôi tiện tay đóng cửa sổ lại, không muốn nghe thứ tạp âm ồn ã kia nữa.

Sống trong môi trường ít tiếng ồn đã quen, nay trở về với thực tại của nó thì lại chẳng quen tí nào.

Tôi nhớ âm thanh mái chèo khua nước đang lội ngược dòng, tôi nhớ âm thanh của nước trà chảy róc rách vào trong chung.

Tôi nhớ tất cả.

Nhưng... chấp nhận từ bỏ một thứ để trở về với cảm giác quen thuộc nhất với mình cũng là điều tốt mà.

Lịch sử đã qua, muốn nó sống dậy cũng thật khó.

Trước mắt tôi là tương lai rộng mở, không phải những cuộc chiến bi thảm và đẫm máu.

Nhớ về lịch sử, nhưng đồng thời cũng phải tiến về tương lai.

Tôi không biết cả tôi với thằng Thiên có duyên gì từ kiếp trước, nhưng tôi đoán rằng đó hẳn là một chuyện tình đẹp.

Có điều, chuyện tình đó có lẽ không được trọn vẹn cho lắm nên cả hai chúng tôi mới có thể gặp nhau một cách tình cờ như thế này.

Chỉ mong chuyện tình ở kiếp này kết thúc với một cái kết có hậu, thay cho điều mà chuyện tình của kiếp trước chưa từng có được.

Chuyện tình ấy đẹp đấy, chỉ tiếc rằng nó không xảy ra...

*

"May mà hồi trưa thằng Thiên nó có điện cho mẹ," Mẹ tôi kéo rèm lại, rồi quay sang nhìn tôi.

"Chứ không là mẹ cũng không biết con đã tỉnh dậy rồi đó."

"Vậy là thằng Thiên nó điện cho mẹ thật sao?

Con cứ ngỡ cậu ấy đùa."

Tôi chớp mắt liên tục, tự hỏi tại sao tên ngốc này giữ lời thế không biết.

Bà ấy chỉ cười mỉm không đáp.

Mẹ tôi năm nay ngót nghét trên dưới năm mươi, mái tóc muối tiêu đặc trưng của tuổi già nay điểm xuyết thêm mấy sợi tóc lốm đốm bạc.

Đã lâu không gặp bà nên tôi không ngờ bà lại thay đổi nhiều đến như vậy, dù cho tôi nằm viện cũng dăm ba tháng trôi qua.

Có lẽ vì lo lắng cho đứa con gái út nên sức khỏe bà bị hao mòn nhiều, có thể thấy rõ quầng thâm ngay dưới mắt - chứng tỏ đã nhiều đêm bà chưa được ngủ ngon.

Trong khi người mẹ thì hết lòng chăm con, sốt ruột chờ đợi tình trạng của con mình khấm khá hơn thì tôi - đứa con gái ất ơ này - lại chỉ muốn hôn mê tiếp chứ không muốn tỉnh dậy.

Dù có thả tôi xuống sông Hoàng Hà thì đảm bảo con sông ấy cũng không thể nào gột rửa được hết tội lỗi trong người tôi.

Bây giờ tiết trời đã dịu hơn, gió đêm thổi lồng lộng.

Mấy vì sao tinh tú đã có mặt từ rất sớm, khi bầu trời đêm vẫn chưa kịp loãng ra và dư âm của buổi hoàng hôn vẫn còn.

Trăng tròn mọc lên từ đường chân trời, chầm chậm di chuyển dần lên đến đỉnh đầu.

Có thể mọi người không biết được đâu.

Suốt buổi trưa tôi không làm gì ngoại trừ việc trở mình qua lại trên chiếc giường, rồi ngồi dậy ngắm nhìn cảnh vật bên ngoài.

Nếu như ở quá khứ, tôi có thể nắm rõ quang cảnh của sông Côn ra sao, thì ở đây tôi cũng nắm rõ quang cảnh xung quanh bệnh viện như thế ấy.

Thằng Thiên nó không đến thăm tôi.

Nghe mẹ tôi bảo rằng cậu ta bận nên không đến được, nên cô Chi - mẹ cậu ấy - đã đến thăm tôi vào buổi chiều để thay mặt cậu.

Tuy là hàng xóm hai nhà khác nhau, nhưng cô Chi lại cưng tôi như con mình đẻ ra.

Lần nào qua nhà cô chơi, thế nào tôi cũng được ưu tiên hơn cả hai thằng con trai nhà cô nữa.

Nghe tưởng bịa nhưng là chuyện thật đó.

"Con bé này ngốc ghê.

Thằng bé đó lúc nào cũng muốn nghe chuyện con đã khỏe lên chưa, sao có thể dễ dàng thất hứa được," Mẹ tôi ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh, mặt đối mặt với tôi để tiện trò chuyện.

"Để mẹ về nói lại với ba con.

Tầm hai, ba ngày gì đó, mình sẽ làm giấy tờ xin xuất viện."

Tâm trạng tôi đang ủ rũ, lại thêm mệt mỏi do suốt cả buổi trưa tôi không ngủ được miếng nào, nay nghe được tin này thì mừng khỏi nói.

Vậy là tôi sắp được trở về với tổ ấm cũ của mình, với cái giường ấm áp và bên đống sách vở chất cao như núi.

Thôi kệ không sao, được ở bên những thứ tuy áp lực nhưng quen thuộc còn hơn bị bỏ lại ở cái chốn xa lắc xa lơ.

Nhà vẫn là nhất nhé!

Không còn phải bó chân ở cái phòng bệnh chán muốn phát điên này, lòng tôi vui không tả xiết.

Nhìn thấy gương mặt tươi tỉnh cùng niềm vui nhỏ bé của tôi, dường như mẹ tôi cũng bị vui lây.

Với bà, chắc chỉ cần được nhìn thấy gia đình vui vẻ là nà cũng đủ vui rồi.

"Thật ạ?"

Tôi háo hức hỏi.

Mẹ tôi gật đầu thay cho câu trả lời.

"Thú thật thì mấy tháng nay mẹ lo cho con lắm," Bà bắt đầu thở dài, ánh mắt lạc đi như đang suy tư về điều gì đó.

"Đột nhiên ngủ mãi không tỉnh, nhịp tim lẫn hơi thở đều bình thường.

Mấy bác sĩ trong bệnh viện đều nói trường hợp của con đặc biệt hơn cả những người hôn mê mà họ gặp trước đây."

Nói đến đây thì tôi chỉ biết tủm tỉm cười một mình.

Bởi tôi hôn mê lâu đến vậy, không phải tự nhiên có bệnh quái ác nào đó bắt đầu lộng hành, mà là do một thế lực sâu xa mà người thường ít mảy may để tâm tới.

Ban đầu xuyên về tôi còn hốt hoảng lắm cơ, kiểu như: "Vì sao mình lại ở đây?"

"Sao mình lại đứng trong sân nhà của người ta thế này?"...

Èo, chưa bị ba người họ tống cổ đi là còn may chán, gặp người nhẫn tâm là họ chẳng kiêng dè chút tình nghĩa gì nữa rồi.

Thức tới mười một giờ đêm để học bài, lên giường đắp chăn đi ngủ và viễn cảnh sáng hôm sau là một khu vực khác.

Trường hợp của tôi chắc đáng để các nhà khoa học nghiên cứu và để tâm đến lắm, hệt như chết đuối vớ phải cọc ấy.

Thôi, tôi không muốn tiết lộ bí mật cho họ nghe đâu.

Còn gì là thú vị nữa.

"

Sau này không được thức khuya nữa đó, cô nương," Mẹ tôi búng vào trán tôi một cái.

"Làm cả nhà lo sốt vó hết cả lên.

Chị Hai con đang đi du học mà nghe ba mẹ điện về cũng lo lắm."

Gì cơ?

Chuyện này không những gia đình tôi và gia đình thằng Thiên, thầy cô bạn bè tôi đều biết, mà thậm chí nó còn lan tới bà chị già đầu của tôi luôn hả?

Tôi đang cố mường tượng ra nét mặt thường ngày của chị ấy, khi nghe được tin động trời về con em của chị gặp bất trắc thì sao nhỉ?

Lúc này tôi không thể tưởng tượng ra nổi.

Đã lâu không gặp rồi mà.

"Mẹ có để đồ ăn tối ở trên bàn.

Khi nào đói thì cứ mở ra ăn," Mẹ tôi đứng dậy, đẩy chiếc ghế về vị trí ban đầu của nó rồi lưu luyến nhìn tôi.

"Mẹ phải về nói với ba con càng sớm càng tốt.

Nếu ở lại qua đêm thì e là không tiện.

Thôi thì chuyện cũng đã đành, mai mẹ lại vào thăm con sau."

Tôi ngẩn người ra suy nghĩ một hồi, không biết nên gật đầu hay lắc đầu.

Tôi muốn bà ấy ở lại với tôi lắm chứ, có điều chỉ vì chút chuyện nên không thể thôi.

Ở một mình trong cái bệnh viện này cũng cô đơn không kém gì bị bỏ rơi trên một hòn đảo hoang đâu.

Cảm giác không người thân, không điện thoại để liên lạc, cách để trốn thoát cũng không.

Nhưng ở trong bệnh viện này vẫn đỡ hơn vì có người làm việc ở đây, chứ ở trên đảo hoang thì coi như hết cách thật.

"Vâng ạ.

Mẹ cứ về."

Tôi nói mà cổ họng cứ như nghẹn lại.

Lâu lắm mới có dịp mẹ con đoàn tụ thế này mà...

Bà bước ra đến cửa, chưa an tâm lắm về việc có nên ra về hay không.

Giọng tôi như muốn khóc đến nơi, nhưng nét mặt lại như chưa có chuyện gì xảy ra.

Bản thân bà cũng muốn ở lại qua đêm để chăm sóc tôi, nhưng vẫn chưa tiện lắm nên bất đắc dĩ mới phải ra về.

"Vậy... mẹ về nhé?"

Mẹ tôi chần chừ không muốn đi, cánh cửa đã hé mở được đôi chút.

Tôi lưỡng lự gật đầu, vẫy vẫy tay chào như muốn bảo tôi ở đây vẫn ổn như thường lệ.

Gió đã thôi không thổi nữa, bầu không khí trong phòng bệnh này bỗng ngột ngạt và ảm đạm hơn bình thường.

Bóng đèn trắng trên trần nhà tỏa ra thứ ánh sáng mờ ảo, bóng người kéo dài lê thê trên mặt sàn.

Hai mẹ con nhìn nhau, không ai nói với nhau nửa lời.

Chỉ bằng một ánh mắt thôi, người kia cũng có thể hiểu được người này đang muốn gì mà thậm chí không cần phải mở miệng ra nói.

Rồi, sau một phút đấu tranh tư tưởng, cùng với cái nhìn đầy tin tưởng của tôi, cuối cùng bà cũng cất gót ra về.

Cánh cửa gỗ dần khép lại, tra chốt vào ổ khóa đúng với vị trí ban đầu của nó.

Hộp cơm trên bàn nằm chỏng chơ ở đấy, bị người đời ghẻ lạnh đến mức chả ai buồn bận tâm đến nó.

Tưởng vậy nhưng không phải vậy, nó lại tỏa ra thứ mùi thơm lừng đến nức mũi, ngửi thoáng qua cũng biết đó là phần cơm mẹ nấu.

Tôi đưa mắt nhìn cơm tối của mình được bọc cẩn thận, rồi nằm gục đầu xuống gối mà nghĩ ngợi.

Có lẽ tôi cần một giấc ngủ ngắn tầm mười lăm phút gì đó thôi, cho có sức mới tỉnh dậy ăn tiếp được.

Nhưng tôi không ngờ, lần chợp mắt này đã thật sự đưa tôi về quá khứ một lần nữa...

*

Năm Bính Thân [1776].

Sau khi mở rộng địa bàn hoạt động của nghĩa quân, danh tiếng Tây Sơn ngày càng lan rộng.

Những trận đánh oai phong của một khởi nghĩa non trẻ, ảnh hưởng đến chính quyền suy thoái của hai Đàng liên tiếp diễn ra.

Thế cuộc xoay vòng như vũ bão, tình thế liên tục đổi thay khiến lòng người càng thêm rối bời.

Cuộc sống người dân từ trước đến nay vốn chưa yên ổn được ngày nào, nay lại phải chứng kiến cuộc đấu đá nhau của ba thế lực trong cùng một đất nước.

Bốn chữ "thái bình thịnh thế" luôn là những từ nghe thật xa xôi, mà ở trước mắt đây vẫn không thể thấy được.

Liệu xem phong trào non trẻ này có thể dẹp yên bốn bề, vỗ về trăm dân được hay không đây?

Chỉ thời gian mới trả lời được.

Tháng Ba năm Bính Thân, Nguyễn Nhạc cho sửa sang lại thành Đồ Bàn - xưa kia là kinh đô cũ của Chăm Pa - thành một nơi khang trang hơn, rộng lớn hơn so với thành Quy Nhơn eo hẹp của quan Tuần phủ cũ Nguyễn Khắc Tuyên.

Lại nói một chút về thành Đồ Bàn.

Năm Hồng Đức thứ hai [1471], vua Lê Thánh Tông sáp nhập kinh đô nước Chăm vào lãnh thổ Đại Việt.

Khi ấy người ta vẫn quen gọi nơi này với cái tên Chăm là Vijaya.

Một kinh thành hoa lệ ngày nào, từ khi bị sáp nhập đến giờ, nay cũng đã mấy thế kỉ trôi qua.

Thành Đồ Bàn hoàn toàn bị bỏ hoang, chứng kiến biết bao thăng trầm của lịch sử.

Hết chiến tranh, rồi lắng xuống, sau đó lại nổi dậy đấu tranh.

Vì cái gì mới được nhỉ?

Sau khi sửa sang lại thành Đồ Bàn, Nguyễn Nhạc tự xưng làm Tây Sơn Vương.

Phong cho Nguyễn Huệ làm Phụ chính Đại thần, Nguyễn Lữ làm Thiếu phó.

Phong chức tước cho những người có công trong khởi nghĩa xong, ngài bèn cho đúc ấn vàng - tương truyền ấn ấy gọi là ấn Quảng vận chi bảo.

Vậy ra thời gian đã trôi nhanh đến cỡ vậy.

Mới đó mà đã là năm Bính Thân rồi, không biết đến khi nào tôi mới được lắng nghe những câu chuyện từ miền sông nước ám đầy mùi pháo đây nhỉ?

Quay qua quay lại, cuộc chiến ấy sẽ nhanh đến thôi, nhưng trước mắt vẫn còn đầy chông gai ở phía trước lắm.

Giờ chỉ cần ngồi ngắm những sự kiện lịch sử chói lòa này đi là vừa.

Không muộn lắm đâu.

Nhắc mới nhớ.

Khi nãy tôi tỉnh dậy trong một căn phòng lạ hoắc lạ huơ, không giống như căn phòng của tôi ở thành Quy Nhơn xíu nào.

Xém tí nữa tôi đã hoảng loạn hết cả lên vì tưởng bở mình bị bắt chỉ để... tống tiền, hoặc có liên quan tới ba anh em nhà họ.

Lần này thần may mắn thật sự mỉm cười với tôi.

Tôi không bị ai bắt gì sất, cũng không bị tống tiền gì luôn.

Đơn giản là tôi nằm trong một căn phòng lạ, một nơi mà tôi chưa nhìn thấy bao giờ thôi.

"Chí ít ra thì... mình vẫn còn sống."

Tôi thở phào nhẹ nhõm, áp tay lên ngực mình để cảm nhận được tim vẫn đang thực hiện nhiệm vụ của nó.

Nhưng tại sao tôi lại xuyên ngược trở về thế nhỉ?

Cái lỗ hổng thời gian này rõ ràng hài hước ghê hơi.

Khi thì người ta vò đầu bước tai tìm mọi cách để trở về nhà thì chẳng thấy mặt nó đâu.

Khi thì người ta chả cần đến, thì nó lại xuất hiện cứ như có ai gọi hồn nó lên ấy.

Tỉnh rồi lại mê, tỉnh rồi lại mê miết.

Đến tôi là nạn nhân của nó còn phải đau đầu đây, huống hồ chi là những người xung quanh.

Giờ tôi hiểu được cản giác cũng như cảm xúc của những người trong mấy vụ án li kì có liên quan đến lỗ hổng thời gian rồi.

Đúng là chỉ có người trong cuộc mới hiểu được người trong kẹt.

Xung quanh tôi là một bầu không khí tịch mịch.

Có lẽ nó không yên tĩnh đến độ vậy đâu.

"Nhật Hạ.

Nàng tỉnh dậy rồi."

Tây Sơn Vương bước đến, thong thả đưa mắt nhìn tôi.

Tôi lớ ngớ nhìn người trước mắt, không biết nên tin vào trực giác hay không.

Ai đây?

Giọng nói thì nghe quen lắm, quen cực kì luôn.

Ối dào, ngày nào mà chả nghe, sao mà không nhớ cho được.

Có điều tôi vẫn còn hơn lạ lẫm với những gì tôi nhìn thấy, so với những gì tôi nhớ trong đầu - nhưng là của mấy năm trước.

"Sao thế?

Không nhận ra ta sao," Ngài đưa tay sờ nhẹ lên trán tôi, sau đó mới dám thở phào.

"May quá, không sao rồi."

Cái...?

Đừng có nói người này là chàng đó nha?

Hỡi ơi, tôi mới quay về hiện tại có mấy tiếng thôi, sao người lại thay đổi nhiều đến vậy thế?

Hình như cả tôi cũng thay đổi đi thì phải, nhưng tôi vẫn chưa được dịp nhìn ngắm bản thân mình trong gương ra sao.

Nên nói gì đó không đây.

"Khụ... xin lỗi, bây giờ là năm nào rồi?"

Tôi ngồi dậy, vừa giương cặp mắt con nai con lên nhìn ngài, vừa cất giọng hỏi.

Muốn biết tôi đã đi bao nhiêu lâu, cần phải hỏi năm hiện tại trước.

Tôi muốn xem cái lỗ hổng thời gian chết tiệt này nó điên rồ đến cỡ nào.

Hành tung khó đoán, cơ chế cũng khó mò nốt.

Ngài dịu dàng nhìn tôi chốc lát rồi mới chịu trả lời:

"Bây giờ là năm Bính Thân."

Ừm... hết Bính Tuất rồi Bính Thân.

Rốt cuộc là tôi đang ở năm quỷ gì đây nhỉ?

Chắc sau khi xuyên về rồi, tôi nghĩ tôi cần ngay một khóa học cấp tốc về năm nhưng gọi bằng tên con giáp.

Có kiến thức bỏ túi còn hơn ngơ ngơ ngáo ngáo trong trường hợp này.

Để tôi tính xem nào.

Năm 1773 là năm Quý Tỵ, nếu tính dần lên thì năm 1774 là năm Ngọ, 1775 là năm Mùi và năm 1776 là...

Năm Thân?

Thế ra năm Bính Thân mà người trước mặt tôi đang nói chính là năm 1776 đây sao?

Tôi đã rời đi trong suốt ba năm ấy hả?

Ôi trời đất ơi.

"Nơi này là..."

Tôi ngó quanh quất chung quanh, muốn tìm kiếm câu trả lời cho cái não nhỏ bé này.

Nó lại phải cập nhật hàng tá thông tin mới nhất cho kịp thời đại nữa rồi.

"Là thành Đồ Bàn," Ngài lên tiếng trước khi tôi kịp hỏi.

"Trong người nàng bây giờ thế nào?"

Từ từ đã.

Sao cứ hết chuyện này đến chuyện khác thay phiên nhau ập đến vậy ta.

Vừa nãy tôi chỉ mới cập nhật được chút xíu rằng nơi tôi ở hiện tại là thành Đồ Bàn, năm tôi sống hiện tại là năm Bính Thân thôi.

Giờ lại thêm cái cách xưng hô ta - nàng kì lạ kia nữa, ai chịu cho nổi.

Chuyện quái gì thế này?

Tôi có thể xác định được người trước mặt tôi không ai khác chính là chàng, minh chủ Tây Sơn - mà giờ đây đã là Tây Sơn Vương.

Đã ba năm, tầm này ngài cũng đã 33 tuổi, không còn trẻ măng như thuở xưa.

Chí ít ra thì nét mặt lẫn ánh nhìn kia là vẫn giữ nguyên, chưa bị thay đổi.

"Ta xin lỗi, làm nàng sợ quá rồi."

Ngài thở dài thất vọng, định đứng dậy ra về.

"Khoan đã...

đừng về vội," Tôi níu lấy tay ngài.

"Tôi có chuyện cần hỏi anh."

Ngài nhìn tôi giây lát, rồi gật đầu chấp thuận.

Xem ra sắp có một cuộc phỏng vấn xảy ra rồi đây.

Trong đầu tôi bây giờ có hàng tá những câu hỏi được đặt ra chỉ để cho ngài trả lời.

À, và cả việc não tôi cũng phải cẩn trọng ghi chép những thông tin đó lại nữa chứ.

Hai người, mặt đối mặt, mắt chạm mắt.

Ngài không những không gạt tay tôi ra, mà còn giữ nguyên đó cho tôi nắm lấy.

Ờ thì đúng là "ai đó" thật rồi, có điều tôi phải tập làm quen với diện mạo mới này thôi.

"Tại sao chúng ta lại ở thành Đồ Bàn thế này?"

Tôi lên tiếng hỏi câu hỏi đầu tiên.

Tây Sơn Vương chau mày, xem chừng suy nghĩ rất lâu.

Tôi ngồi chờ đợi câu trả lời mà sốt ruột hẳn lên.

Cảm giác tò mò muốn biết đáp án sắp gợi mở nó hồi hộp lắm, hẳn ai cũng trải qua hết rồi.

Bản tính của con người hết mà.

"Ta thấy thành Quy Nhơn không đủ rộng nên mới cho sửa sang lại thành Đồ Bàn này.

Vả lại, vẫn còn nhiều nguyên nhân khác mà ta không thể nói nàng nghe được," Ngài chầm chậm gõ từng nhịp xuống giường.

"Còn gì nữa?"

"Về cái cách xưng hô đó," Tôi ấp úng nói tiếp.

"Tôi không quen cho lắm..."

"Nàng không quen cũng phải," Ngài vuốt lại tóc cho tôi.

"Cũng đã ba năm rồi còn gì.

Ta không bắt ép nàng phải thích nghi với cách gọi đó đâu."

Tôi gật đầu, ngừng lại khoảng vài giây để tiếp nhận câu trả lời đó vào đầu.

Tay người nọ lướt nhẹ qua má, nằm yên vị trên mái tóc của tôi.

Thoạt đầu tôi cứ ngỡ ngài không hài lòng việc chi nên sắp sửa trừng phạt gì đó, định rụt người lại theo bản năng.

Nhưng không, cái xoa đầu nhẹ nhàng đó, cái vuốt chậm rãi đó đã trấn an tôi.

Vẫn giống như ngày nào.

Nhỉ?

"Không muốn hỏi ta câu nào khác sao," Ngài hỏi, vô tình chạm vào chiếc vòng tay năm ấy.

Bông hoa bằng bạc khẽ dao động, ánh lên những suy nghĩ miên man không dứt của ngài.

"Cái này... ta tặng nàng cũng đã lâu.

Vậy mà nàng vẫn còn giữ nó ư?"

Không giữ chứ không lẽ vứt hả?

Mà vứt tôi cũng không nỡ đâu, cứ có cảm giác day dứt đến kì lạ.

Giống như người ta có lòng tốt tặng quà cho mình, mà mình nỡ lòng nào làm hỏng món quà ấy vậy đó.

Ai tặng gì là tôi đều cẩn thận giữ lại hết cả, một vết xước cũng đừng hòng.

Thế nên có kha khá những món quà từ hồi đó tới giờ tôi được nhiều người tặng cho vẫn còn có giá trị sử dụng lắm nhé.

Gấu bông nhân ngày sinh nhật này, rồi đủ thứ linh ta linh tinh không kể đâu cho hết.

"Tôi không nỡ vứt chiếc vòng này," Tôi mỉm cười, đưa tay ra cho ngài xem kĩ hơn.

"Vả lại anh tặng cho tôi mà, ít ra nó cũng đáng giá lắm đó."

Ngài mỉm cười hài lòng, chuyên tâm ngắm nghía chiếc vòng một lúc lâu rồi mới chuyển hướng chú ý.

Ngài để ý đến tôi, đến những thay đổi nhỏ nhặt của tôi sau ba năm, đến cảm xúc của tôi.

Ngài muốn xem rằng liệu tôi có ngủ nhiều đến mức quên tất cả mọi thứ hay không.

Câu trả lời hiển nhiên là không.

Ngược lại, tôi nhớ tất cả chết đi được ấy.

Hai người nhìn nhau không nói một lời.

Bầu không khí yên tĩnh lặp lại như ban đầu, làm ai nấy đều ngại ngùng không dám mở lời trước.

Tôi e thẹn nhìn xuống dưới chân, hết xòe tay ra rồi lại nắm tay lại, muốn xem cơ thể mình có lớn đi tí nào không.

Ngài cũng chỉ biết nhìn tôi đầy viên mãn, hệt như đang ngắm một bức tranh được treo ở nơi đông người ấy.

Một nam một nữ trong một phòng, mải mê làm những việc riêng.

Cứ thế mà im lặng, có lẽ là tốt hơn so với lên tiếng rất nhiều.

"À phải!

Cậu út sao rồi?

Cả cậu ba nữa."

Tôi lên tiếng.

Suýt chút nữa là quên mất hai cậu em của tôi rồi.

"...

Ý nàng là Phụ chính với Thiếu phó?"

Ngài nhíu mày nhìn tôi.

Tôi gật đầu.

Ngài tiếp lời:

"Hai đứa nó vẫn ổn, nàng đừng lo lắng quá."

Tôi im lặng, không biết nên hỏi câu gì tiếp theo.

Khi nãy tôi còn hùng hồn nghĩ rằng mình sẽ làm khó ngài bằng những câu hỏi góc cạnh mang tính logic này kia.

Thế mà giờ đây trông tôi không khác gì một đứa bị cô lập trong căn phòng trống trải sau ba ngày cả.

Chữ ơi, em bay đi đâu mất rồi?

Ngài cũng không hỏi thêm gì nhiều, vì bản tính tôi ra sao, ngài đều nắm rõ trong lòng bàn tay hết trơn.

Giờ đây, trong căn phòng này chỉ toàn tiếng thở đều đều của hai con người vốn tưởng xa lạ mà lại gần gũi không tưởng, tiếng tay gõ thành nhịp lên bất cứ thứ gì có thể phát ra tiếng động.

Chỉ thế thôi.

Cứ ngồi đó suốt mấy canh giờ liền, không nói chuyện gì với nhau, chỉ ngồi đấy là được.

"Nếu như nàng không muốn xưng hô thế này, ta có thể đổi lại."

Tây Sơn Vương áp đầu tôi vào lòng, rồi tiện tay phủ tấm chăn dày lên người tôi.

"Không cần đâu mà," Tôi vội từ chối.

"Anh xưng như thế nào cũng được, miễn điều đó thoải mái với anh thôi."

"Vậy sao," Ngài mỉm cười, vỗ nhè nhẹ lên người tôi để dỗ dành.

"Thế thì tốt quá rồi, nhỉ?"

Tôi mơ màng nhìn về một cõi xa xăm, trong hơi ấm quen thuộc đang dần ru tôi trở lại giấc ngủ.

Co gối nằm bên giấc mộng, rũ bỏ gánh nặng mà đắm chìm vào thế giới riêng của mình.

Lá cây xào xạc ở đằng xa, tạo thành những âm thanh nhỏ nhoi chỉ những người sở hữu năng lực siêu nhiên mới nghe thấy được.

Một thoáng nghĩ qua, tưởng bở là những điều đẹp đẽ nhất của thế gian.

Hóa ra chúng chỉ khoác lớp áo rực rỡ, đánh lừa con mắt người đời, thật chất sâu bên trong là những bản chất nhớp nhúa khó thể tả.

Tất cả những gì đang diễn ra, từ quá khứ cho đến hiện tại, đều có hai mặt riêng của nó.

Điển hình như một triều đại.

Không thể chỉ có mặt tốt, lại càng không thể chỉ có mặt tối.

Tích cực lẫn tiêu cực đan xen, lẫn lộn vào với nhau, thật khó phân biệt.

Tùy vào tích cực hay tiêu cực chiếm ưu thế hơn mà người sau sẽ đánh giá và nhìn nhận lại trên phương diện đã có sẵn.

Có công, hay có tội?

Và cuối cùng, không gì có thể chống lại được sức cám dỗ của thời gian.

Mi mắt tôi nặng dần, nặng dần rồi khép lại, không thể gắng gượng thêm giây phút nào nữa.

Mà việc này cũng nhờ do bản tính tôi dễ ngủ ấy, vừa nằm trên giường được đôi ba phút là say giấc mộng mất tiêu.

Không thấy tôi cục cựa gì sất, ngài cẩn thận dém chăn cho tôi rồi đứng dậy ra về.

Suốt quá trình đó ngài không phát ra âm thanh gì, tránh gây kinh động cho tôi.

Nhưng trước khi rời đi, ngài chỉ thì thầm đôi lời duy nhất:

"Nhật Hạ, nàng ngủ ngon."

Thành Đồ Bàn cũng không thôi nức nở,

Trong sương mờ huyền ảo, lắng tai nghe.

Từ một làng xa xôi bao tiếng mõ,

Tan dần trong im lặng của đồng quê (1)...

-------------------------------

(1) Đoạn thơ trên trích từ bài thơ Đợi người Chiêm nữ, tập thơ Điêu tàn - Chế Lan Viên.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Trở Về Thời Tây Sơn
63. Hồi tưởng


Lại một ngày mới, ở đại bản doanh mới.

Quyết định của chàng quả thật là rất sáng suốt.

Bản doanh cũ của nghĩa quân Tây Sơn nhỏ, được mỗi cái khó đánh chiếm thôi - tại có hào sâu bao bọc mà lị.

Nhưng thành Đồ Bàn này có cả hai yếu tố: Rộng và khó đánh chiếm.

Tôi đứng trước mái hiên, phóng mắt nhìn ra xa.

Chỗ tôi ở tạm thời là một cung điện nhỏ, chắc chỉ mới sửa sang lại nên nhìn không khang trang cho lắm.

Cơ mà có chỗ để tá túc qua ngày vẫn là may mắn hơn rất nhiều, tôi còn đòi hỏi làm gì kia chứ.

Một khoảng trời rộng mênh mông, như một thảo nguyên bát ngát vô tận.

Cụm mây trên trời trôi dềnh dàng, tận hưởng thời gian đang chậm rãi lướt qua.

Bên ngoài cổng thành - một nơi xa hơn rất nhiều - là gì đó tôi không thể nhìn thấy được, chắc chỉ có nước tự thân ra ngoài khám phá mới biết được hết.

Ờ thì tầm này chắc là đã quá trưa, Mặt Trời đã lên tới đỉnh đầu.

Nắng trưa không mấy dễ chịu gì, lại còn dễ làm da bị đen nên tôi không muốn bước chân ra khỏi nơi có bóng mát này tí nào.

Chỉ cần ngồi một mình, bên cạnh là hàng chục nỗi suy nghĩ vu vơ để giải đáp chúng là được rồi.

Đơn giản là nhất.

Lý Dương... tôi không biết y đã đi đâu.

Từ hôm qua tỉnh dậy tới giờ, tôi chưa từng thấy y xuất hiện một lần nào, dù cho đi tìm muốn mòn mỏi con mắt.

Tôi cũng muốn hỏi ngài lắm, nhưng vì sợ phiền nên thôi, không hỏi càng tốt.

Chắc y đã ra ngoài thành vì không có bổn phận ở lại, tiếp tục lang thang tìm kiếm một công việc mới phù hợp với bản thân.

Ba năm qua, tôi cứ như người vừa mới tỉnh dậy sau cuộc ngủ đông dài đằng đẵng ấy, mọi sự cũng thay đổi theo.

Một khoảng thời gian khá dài, biết tìm y ở đâu đâu mà tìm.

Không một manh mối nào về y còn sót lại, có cho tiền chắc tôi cũng không muốn đi tìm người đâu.

Tối qua đã định bụng rằng sáng nay phải dậy cho thật sớm để ngắm ánh nắng buổi sớm đầy dịu dàng, tận hưởng cái lạnh thấu xương của màn sương đêm vẫn chưa kịp tan.

Nào ngờ sáng nay (chắc do mệt quá) tôi đẩy một giấc đến tận trưa.

Không kịp đi ngắm hay hưởng thụ gì sất.

Nghĩ có chán không cơ chứ.

À, tầm này thì chắc ngài đã bận lên đường chinh chiến tiếp rồi.

Trong suốt khoảng thời gian này, nhiều sự kiện nối đuôi nhau mà diễn ra.

Đến độ tôi đi tìm hiểu cũng phải choáng ngợp vì cái này mới dứt đã có cái kia lên thay.

Từ từ thong thả cho hậu thế nghiên cứu thôi chớ ơ hay!

Biết sẽ không có người đến đây, tôi lặng lẽ cất gót trở vào trong.

Chiều hôm qua tôi được dịp nói chuyện với ngài đôi lời về những khúc mắc trong lòng tôi.

Khi ấy bóng hoàng hôn chạng vạng sau đường chân trời, sắc cam đỏ ối quyện với chút tím nhạt đầy hài hòa.

Mây trôi dạt về nơi tổ ấm của nó một cách hờ hững, không màng đến chuyện đời, cũng không màng đến chuyện dưới phàm nhân như thế nào.

Hai con người, trong một nơi ở nhỏ bé, cùng nhau bàn chuyện vẩn vơ trên trời.

Chuyện là thế này...

*

Ngài thong thả rót cho mình một chung trà nóng vất vưởng những khói mỏng, điệu bộ bình thản như đến đây chỉ để thưởng trà - không phải trò chuyện.

Còn tôi chỉ biết ngồi không ở đấy, mơ hồ nhìn khung cảnh xế chiều qua đôi vai ngài.

Chiếc sập trải từng bóng đen dài của mình xuống nền nhà, lẳng lặng chờ đợi những âm thanh của cuộc chuyện trò vang lên.

Nhưng lại không có gì cả.

Từ lúc khởi nghĩa đến giờ, tính cũng đã được năm năm, mọi thứ đã thay đổi rất nhiều.

Ngài cũng trở nên ít nói và điềm đạm hơn hẳn, có điều ở nơi chiến trận có được như vậy hay không thì tôi cũng không biết.

Tôi gặp hai cậu em cũng không được thường xuyên nữa, may ra gặp nhau rồi nói vài ba lời thì còn được.

"Nàng không muốn hỏi ta cái gì sao?"

Trông thấy dáng vẻ im lặng đến lạ thường của tôi, ngài đành phải lên tiếng trước.

Tôi giật mình ngẩng đầu lên.

Người trước mặt tôi chỉ đăm đăm nhìn vào trong chung trà, không buồn ngước mắt nhìn tôi một cái.

Hơi nóng phả vào bầu không, ngay sau đó đã tan biến vào hư vô.

"Không phải...

Chẳng qua tôi không biết nên mở lời thế nào," Tôi ấp úng, mỉm cười đầy gượng gạo.

"Hay là... anh mở lời trước đi."

Đôi mắt nâu đen kia chuyển mục tiêu chú ý sang tôi.

Tây Sơn Vương gật đầu, nhẹ nhàng đặt chung trà xuống.

Nếu tôi đã mong muốn như thế, ngài đâu nỡ không chấp thuận được.

Ẩn nấp bên dưới làn mi mỏng đang rung rinh trước gió, là vô vàn sự dịu dàng đang muốn dành hết cho tôi.

Có điều tôi lại muốn tránh né nó không vì mục đích gì cả.

"Nàng còn nhớ nàng đã làm gì trước khi bất tỉnh chứ?"

Mở đầu cho cuộc trò chuyện của chúng tôi, ngài đã hỏi như thế.

Tôi ngồi thẫn thờ ra đấy, suy nghĩ chốc lát.

Trí não tôi bây giờ hoạt động quá công suất của nó.

Nghĩ ngợi về một vấn đề nan giải, khó tìm được câu trả lời đi không nói.

Đằng này tôi chỉ nghĩ đến việc bản thân mình của ba năm trước đã làm những gì - trong một khoảng thời gian ngắn ngủi đó.

Ba năm của quá khứ, đổi lại là vài ba tiếng của thực tại.

Nghe vớ vẩn gì đâu không.

Trong khi đó cả mấy tháng trời ở quá khứ, chỉ đổi lại có một tháng ở thực tại thôi.

"Ừm... tôi nhớ tôi cùng Lý Dương trốn ra khỏi thành Quy Nhơn để hít thở tí không khí trong lành," Tôi trả lời, giọng điệu có phần không chắc chắn lắm.

"Sau đó thì dùng ngựa mà về.

Chỉ có thế."

Cái nhìn từ người đối diện đã chặn đứng lời nói tiếp theo tuôn ra khỏi miệng tôi.

Dịu dàng đâu không thấy, chỉ thấy ánh nhìn đó như muốn dọa nạt người ta tới nơi.

"Nhớ được vậy là tốt.

Xem ra nàng không có vấn đề gì về sức khỏe."

Ngài lẳng lặng gật đầu, chậm rãi nhấp lấy vài ngụm trà.

Tôi nuốt nước bọt một cách khô khan, cảm nhận được mồ hôi lấm tấm trên trán ngày một nhiều.

Giống như đang tra hỏi bị cáo trước khi lãnh án tù chung thân vậy nhỉ.

Cơ mà như vậy cũng bớt căng thẳng hơn là đứng trước một phiên tòa thật sự, với đầy đủ hội đồng xét xử lẫn luật sư.

Bầu trời bên ngoài đã sẩm tối, trở mình một cách nhanh chóng.

Tháng ba, là tháng cuối của mùa xuân, thế mà tôi chẳng thấy dư vị của mùa xuân ở đâu hết.

Toàn thấy những khung cảnh chán ngắt đến độ không thèm để ý đến luôn.

Nếu không phải dựa trên những gì tôi lĩnh hội được sau những phen đến thư viện để tra cứu thông tin, thì tôi còn không biết tầm này là cuối xuân luôn cơ.

Thời tiết là cái quái gì, tôi còn không nhớ ngày nữa đây, huống hồ chi hỏi tôi tháng này là mùa nào.

Êu, có mà hỏi người khác ấy, đừng hỏi tôi.

"Sợ ta đến vậy à," Ngài chìa tay ra, kín đáo ra ám hiệu muốn tôi nắm lấy.

"Chuyện binh chuyện lính dạo này nhiều quá, ta không thể dành bớt thì giờ ra để ngồi lại với nàng như thế này.

Nay ta có dịp được hưởng cái phúc ấy, mà nàng chẳng chịu mở lời ra nói với ta tí nào."

"Anh cứ nhìn tôi bằng cái đôi mắt như muốn ăn tươi nuốt sống người ta, đời nào người ta chịu mở miệng ra nổi," Tôi bĩu môi đáp lời, ngập ngừng nắm lấy tay ngài.

"Tôi không muốn gì hơn, chỉ muốn anh chú tâm vào sự nghiệp cao cả của mình.

Khi đã công thành danh toại rồi, lúc đó hẵng tính sau."

"Công thành danh toại, biết khi nào mới được," Ngài uống cạn chung trà cuối cùng, đôi mắt ánh lên một vẻ buồn bã.

"Chi bằng nàng cứ hỏi ta bất kì những câu hỏi mà nàng muốn, như vậy sẽ tốt hơn nhiều."

Tôi ngó nghiêng nhìn ngài, không biết ẩn ý trong câu nói ấy có nghĩa là gì.

Chắc là về vấn đề thời gian.

Muốn nhất thống sơn hà, dẹp yên tình trạng náo loạn trong nước, e là phải chờ đợi rất lâu.

Muốn thấy được thái bình thịnh thế, trăm họ yên ổn làm ăn, e là phải chịu những mất mát rất to lớn.

Thời gian mà, nó đâu chờ đợi một điều gì đâu.

"Vậy..."

Tôi hít vào một hơi thật sâu, sau đó bình tĩnh thở ra.

Thôi được, ngài đã muốn vậy rồi, tôi nào nỡ từ chối.

"Nếu như được chọn làm lại từ đầu, anh sẽ chọn cái gì?"

Một thoáng im lặng.

Không thấy người kia trả lời, chỉ thấy một áng mây mờ nơi đáy mắt sâu thẳm.

Chung trà cạn nước, chẳng ai buồn rót thêm.

Trời trở mình, đêm tối hẳn.

Tôi khẽ khàng thắp sáng cây đèn dầu trong phòng, hòng làm cho nơi này bớt u ám lại.

Cũng chẳng khá hơn tí nào.

"Ta không chọn gì cả," Ngài ngẩng mặt lên, vươn tay ra nhéo má tôi một cái.

"Chẳng phải ta đã từng nói với nàng rồi sao.

Chúng ta không thể chọn làm lại một lỗi sai từ quá khứ.

Nếu thế thì đã không có chuyện Quốc phó chuyên quyền rồi."

"Tôi quên thôi mà," Tôi áp tay mình lên tay ngài.

"Anh nói với tôi hàng tá câu chuyện, làm sao nhớ cho hết."

"Nàng khéo chối.

Phụ chính dạy nàng biết bao chữ, vậy mà nàng cứ chữ nhớ chữ không.

Huống hồ chi ta nói với nàng nhiều điều khác, làm sao nàng nhớ được."

Tôi ậm ừ cho qua chuyện, cảm nhận được lực nhéo khá đau từ tay ngài.

Èo, đau phát khiếp luôn, hình như là độ đau đã tăng so với mấy năm trước rồi thì phải.

Ờ thì đau hơn là phải, chắc tôi bị ấm đầu dữ lắm nên cứ giữ cái tư tưởng mọi thứ quen thuộc đều không thay đổi.

Sau một hồi "nhéo yêu" thì ngài mới chịu thả tay ra.

Một bên má của tôi đỏ ửng, sờ vào thì thấy đau, hệt như ai vừa mới tặng tôi một cú tát trời giáng vậy.

Tôi bất giác đưa tay lên bên má đỏ ửng.

Bốn chữ "thương hoa tiếc ngọc" đối với ngài dường như bay hết trơn, chẳng thấm thía lại trong đầu một chữ gì sất.

Ngài phá lên cười với cái điệu bộ hóm hỉnh của tôi, xoa đầu tôi để tạ lỗi.

Mà tôi cũng không buồn giận làm gì, thấy ngài cười rõ tươi nên đành bật cười đáp lại.

Ở cái nơi ánh nến cháy lay lắt ấy, lại rộn lên những tiếng cười tưởng chừng không bao giờ tắt.

Đã lâu tôi mới có dịp được vui vẻ thế này...

*

Thực tại thì chẳng được vậy đâu.

Cũng là vị trí đó, nhưng hôm nay nó lại vắng bóng hình của một người.

Không một tiếng cười, đến cả hương trà nhàn nhạt cũng chẳng có.

Nó thiếu vắng và tĩnh lặng đến mức tôi cứ ngỡ cái khoảnh khắc hôm qua là không thật - là sản phẩm của trí tưởng tượng khéo léo của tôi thôi.

Một cơn gió vô tình thoảng vào.

Tôi đưa mắt nhìn về hướng đi của cơn gió khi nãy.

Có lẽ hướng đi ban đầu của nó là từ phía cổng thành thổi vào, tôi đoán thế.

Thành Đồ Bàn trước khi được sửa sang trông như thế nào, tôi cũng không rõ lắm.

Cái này chắc chỉ có thể hỏi ngài mới tường tận mọi việc được.

Trong đầu tôi chỉ biết một thành Đồ Bàn sau khi được sửa sang lại thì trông nó uy nghi hơn, không còn cảm giác bị bỏ hoang sau hơn mấy thế kỉ dài ơi là dài.

Nếu như...

Nếu như vua Lê Thánh Tông không sáp nhập Vijaya - hay kinh đô của Chăm Pa - vào lãnh thổ Đại Việt thì liệu sau này còn thành Đồ Bàn (và sau là thành Hoàng đế) để làm kinh đô thuở đầu cho Tây Sơn hay không?

Mà kiểu gì cũng phải sáp nhập vào thôi, miếng mồi béo bở dâng tận miệng mà lại không đớp thì kể ra cũng uổng phí của trời.

Đôi khi nghĩ vẩn vơ miết cũng không tốt lắm.

Theo trí nhớ của tôi, thành Hoàng đế sau năm Mậu Tuất rõ rộng luôn.

Nội từ điện Bát giác mà đi xuống nơi tôi ở hiện tại, e là cũng phải vác bộ cả một quãng đấy chứ không đùa đâu.

Với lại, ngài cũng cho xây hai hồ bán nguyệt đối xứng qua điện Bát giác, nom nhìn cũng đẹp lắm đó.

Nếu được thì nhân một ngày đẹp trời, ra đó đứng soi bóng của mình dưới nước thì tuyệt không còn gì bằng.

Chắc chắn là thế.

Một áng mây mờ lững thững ở đằng xa, đang từ từ tiến gần phàm dương đang tỏa nắng.

Nó hệt như một cái bóng có ý đồ xấu xa, định nuốt chửng lấy "quả cầu lửa" trong gang tấc (hoặc cũng có thể là ôm trọn lấy) rồi bọc ở đó suốt một quãng thời gian dài.

Trông sắc màu vẩn đục không mấy tốt lành là bao, cũng không thuần khiết cho lắm, tôi đoán thế nào từ giờ đến chiều sẽ có một cơn mưa rào nhẹ.

Gì chứ việc dự đoán thời tiết của tôi cũng khá đó.

"Không biết phải nói sao, nhưng mà..."

Tôi thì thầm một mình, thở dài đầy phiền muộn.

"Biết khi nào mình mới thoát ra khỏi tình cảnh này, lỗ hổng thời gian không còn trục trặc nữa đây nhỉ?"

"Ấy dào, tự nhiên cuốn mình về làm gì, sao không lôi người khác ấy," Tôi giậm chân xuống sàn mấy cái cho bõ tức.

Càng nói, càng nghĩ lại càng thấy tức và bất công cho cuộc đời mình.

"Lắm điều vớ vẩn thật."

Tôi đã quá chán với việc ngồi nhàn hạ, ngắm nhìn mọi thứ trôi qua trước mắt rồi.

Ít nhiều gì cũng phải giao việc cho tôi làm để giết thì giờ rỗi chứ.

Đằng này ai nấy đều cắm đầu vào chuyện chinh chiến khói lửa, chẳng ai nói với ai quá mười câu, không ai gần với nhau quá một giờ.

Mà tôi cũng không trách nhiều gì cho lắm.

Bởi một khi chấp nhận đảm nhận nhiệm vụ là người xoay chuyển bánh răng lịch sử, thì phải chấp nhận bản thân sẽ phải vướng vào những cuộc chiến liên miên chẳng có điểm dừng.

Kẻ thù liên tiếp nhảy vào, nguy cơ tiềm ẩn từ bên ngoài cũng đang rình rập chờ thời cơ.

Mười phần chết bảy còn ba, chết hai còn một mới ra thái bình.

Thái bình thịnh thế, luôn là bốn chữ quá đỗi xa xôi...

Ẩn ý đằng sau câu đó rất rõ ràng trên từng câu chữ, không cần phải suy nghĩ sâu xa làm gì.

"Còn ba" ở đây ý chỉ một vua một vương của Tây Sơn, người còn lại là Nguyễn Ánh đang chờ thời cơ đảo ngược lại tình thế.

Vế sau cũng thế, người ngồi vững chắc trên ngôi vị độc tôn nhất không phải là người có thế lực hùng hậu, mà là người sống sót được sau những cuộc truy đuổi gắt gao.

Đôi khi cuộc sống không hề công bằng.

Một hồi chuông vang lên, hệt như vọng về từ nơi xa xôi.

Nhưng chung quanh đây không có ai đặt chuông, cũng không có người lén lút rung chuông cả.

Chậm rãi từng nhịp, không hề vội vàng, từa tựa như đang tạo nhịp cho thảm cảnh cuối cùng của triều đại này.

Ngón út tôi bỗng xuất hiện sợi dây chỉ đỏ.

Nó mỏng manh lắm, nếu nhìn không rõ cứ ngỡ nó đã biến mất trước mắt mình ấy.

Làn gió nhẹ thôi cũng đủ làm nó rung rinh, dao động trong chốc lát rồi.

Tôi chăm chú ngắm nhìn sợi dây trong tay mình, lại ngẫm về những thông điệp vũ trụ gửi đến cho tôi.

Hừm...

ý đang muốn nói gì ấy nhỉ?

Tôi không giỏi phân tích nên đành chịu thua.

Đầu còn lại hẳn đang ở nơi rất xa, bởi tôi nhìn thấy sợi dây đó cứ kéo dài mãi mà chẳng có điểm dừng.

Chỉ có mình tôi, và những người được duyên phận chọn, mới nhìn thấy được sợi dây này.

"Ta không bắt ép nàng phải theo cách gọi đó đâu.

Chỉ cần nàng muốn gọi vậy là được rồi."

Đầu tôi lại đổi hướng sang cuộc trò chuyện ngắn hôm qua.

Sau hôm ấy, tôi không thấy bóng dáng ngài đâu nữa.

Sáng nay tôi ngủ dậy trễ đã đành, đến tầm quá trưa cũng không thấy người đâu.

Thật kì lạ!

Nhưng... ngài đã chấp nhận cho tôi giữ cách xưng hô như cũ, bản thân không thể đổi được (chắc vì quen miệng chăng?).

Ờ thì cũng lạ đời, gặp người khác là chuyện đâu vào đấy, một là bản thân mình đổi, hai là... không có lần hai đâu nhỉ.

Chắc là ngài thông cảm cho tôi mới tỉnh dậy sau ba năm, đầu óc vẫn chưa tỉnh táo hẳn nên chưa thể theo kịp.

Tôi dễ thích nghi lắm đó.

"Lời hứa dẫu chân thành, nhưng lại thật mỏng manh."

Đúng là dễ mỏng manh thật.

Trong khi ngày nay có hàng chục cặp đôi hứa hẹn với nhau toàn lời ngon ngọt, chân thành hiện đầy ra đấy, đến cuối vẫn không thể cùng nhau đi chung đường.

Vậy mà từ thuở xưa, những người yêu nhau chỉ hứa với nhau vài ba lời.

Vài ba lời cỏn con ấy, tuy ít mà chất lượng, không giả dối như bây giờ.

Nghe toàn những lời dối trá.

Tôi đứng thần ra đấy, với những hoài ức cũ xưa - những hoài ức đẹp trước khi ngài bận rộn nhiều hơn.

Mấy canh giờ trôi qua mà tôi lại chẳng hay, cứ bận đắm chìm trong thế giới riêng của mình mà mặc kệ luôn khái niệm về thời gian.

Cảm giác này tôi gặp miết, hẳn ai trên đời cũng từng một lần trải qua cảm giác đó.

Trưa hôm nay nắng đến mức làm người ta cảm thấy ngột ngạt, mây cũng nhiều đến mức làm người ta thấy bầu trời thật u ám.

Mây nặng trĩu và nhiều đến thế, nhưng lại chẳng tạo nên nổi một cơn mưa trong khoảng sân rộng này.

Nắng rực rỡ như vậy, làm tôi nhớ đến lúc tôi vẫn chưa xuyên về ghê...

*

Mùa hạ cuối cùng của năm cấp hai.

Tôi nhớ khi ấy trời mát dịu lắm.

Không có những ánh nắng làm người ta cháy cả da đầu, không còn những cơn mưa dai dẳng từ mấy đợt đầu xuân.

Mùa hạ đã tới, thay thế bằng những tiếng ve kêu râm ran trong mấy cây phượng vĩ trong sán trường.

Mà năm nay đã là năm cuối cấp - tức năm sau tôi sẽ vào cấp ba.

Không được vui chơi như mấy đứa khối dưới, chưa kể chúng tôi còn phải đối mặt với thi tuyển sinh.

Một mình chọi với hơn chục đứa khác để danh sách đậu có tên mình, thế mới khổ cơ chứ.

Dù gì bốn năm ở trong trường, đầy rẫy những kỉ niệm phải gọi là không còn gì tuyệt hơn, tôi cũng không tiếc nuối làm gì.

Có điều, thời gian tôi gắn bó với thằng Thiên ngắn quá, cậu ta chỉ mới nhập học ở trường tôi năm lớp Tám thôi.

Nhớ làm quái gì.

Sau này vẫn có thể thường xuyên gặp cậu mà.

Nhắc mới nhớ.

Từ nãy giờ cậu ta đứng dưới bóng cây phượng, trò chuyện rôm rả với mấy đứa con trai trong lớp.

Tôi đứng ở ban công tầng một nhìn xuống vẫn thấy được nét mặt cậu tươi cười như thế nào, hành động, cử chỉ ra làm sao.

Không còn là một cậu trai khó gần mà tôi từng quen nữa nhỉ.

Không biết kẻ nào xúi cậu nhìn lên, mà thế quái nào cậu ta vô tình ngước nhìn lên tôi.

Đã vậy còn nhìn thẳng vào mắt tôi trong vài giây ngắn ngủi nữa chứ.

Mắt chạm mắt, cách nhau một khoảng cũng xa, không hiểu sao tôi lại có thể hiểu được cậu nghĩ gì qua ánh mắt ấy.

Này có gọi là thần giao cách cảm không ta?

Thằng Thiên vẫy tay với tôi, sau đó chụm hai tay lại làm loa mà nói vọng lên:

"Nhật Hạ!

Xuống đây chơi với tôi đi."

Đúng lúc đó, một làn gió không biết từ đâu đến lướt ngang qua, thổi bay mái tóc khá quăn của cậu.

Nắng đậu trên tóc cậu, trải thành dòng màu vàng mật trông thật đẹp mắt.

Cả gương mặt cậu cũng thế, ánh lên thứ ánh sáng huyền diệu mà đến cả tôi còn phải ngây người ra ngắm nhìn.

Vài bông hoa phượng đỏ au rơi lả tả xuống đất.

Do nhẹ tựa như tơ nên nó bị gió đẩy đi một nơi xa, lìa khỏi thân phượng già cỗi qua mấy thế hệ học sinh.

Nhìn từ xa cứ tưởng như đốm lửa của mùa hạ rơi xuống, cháy rực lên một thời thanh xuân rực rỡ.

Khung cảnh viên mãn trước mắt, chỉ thiếu mỗi máy ảnh để ghi lại thông qua những tấm ảnh nho nhỉ thôi.

Này em ơi có hay?

Dưới tán phượng rộng ấy.

Một mối tình đơm nở,

Trong tâm hồn ngẩn ngơ.

---------------------------------
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Trở Về Thời Tây Sơn
Minh họa


Đây không phải chương mới, cũng không phải thông báo drop truyện hay gì hết.

Đây chỉ đơn giản là quả chương nho nhỏ để mọi người dễ hình dung hơn về hai nhân vật: Anh Thiên và Nhật Hạ (à không, thật ra mục đích chính là khoe con, tại nó quá đẹp) sau 62 chương truyện dài đằng đẵng.

Mình là một tác giả nghiệp dư, lần đầu thử dùng hết tất cả những kiến thức mình có để chạm đến sóng lớn.

Và con sóng trắc trở nhất ở đây là thể loại cảm hứng lịch sử.

Vô vàn những thông tin trái chiều, những kiến thức sai lệch chưa được kiểm chứng và những mẩu chuyện nhỏ ngoài lề sẽ làm cho những người mới bước vào thể loại này như mình phải hoang mang tột độ.

Mà mình cũng chỉ là một tác giả mới vào nghề (cũng được ba năm nếu không tính cả thời gian hoạt động trên Mangatoon) nên không thể không có sai sót.

Mong mọi người sót lỗi cho, để mình có thể cải thiện điểm yếu của mình cũng như để giúp truyện hoàn thiện hơn.

Ngoài việc làm tác giả thì nghề tay trái của mình là artist.

Thấy nhà người ta đặt comm bìa truyện các thứ nhìn ham, bản thân không có tiền nhưng được cái biết vẽ nên tự chơi mình ên.

Mà kết quả mình có được thấy nó cũng tự hào ra trò, dù nó kém phần lung linh lấp lánh hơn mấy tranh minh họa của các tác giả khác.

▪ Về nhân vật Nhật Hạ:

Không có gì để giới thiệu cả, vì tất cả thông tin về Nhật Hạ đã được cung cấp ở chương Đôi lời rồi.

Đơn giản là con bé có tính tình khá thất thường, khi thì dở dở ương ương, không đâu vào đâu.

Cũng có khi thì bỗng dễ tính bất bình thường, đâm ra ai cũng ngỡ con bé bị bệnh ấy.

Mà nhỏ cũng kha khá nhạy cảm nữa, gặp phải thứ quá khứ đau buồn bất kì trong đầu thì nhỏ đổ nước mắt ngay - dù không có lí do gì để khóc hết.

Dù có nhiều khuyết điểm vậy nhưng Nhật Hạ vẫn có ưu điểm nhé.

Con bé luôn dựa vào tâm trạng và cảm xúc của người khác để nói chuyện, chẳng hạn như hôm đó đối phương không được vui hay cáu gắt thì nhỏ sẽ không kể lể gì nhiều - tránh làm cảm xúc người ta xấu đi.

Hay khi người khác vui, hoặc tâm trạng đang tốt thì nhỏ sẽ đóng vai trò làm người chia sẻ cảm xúc đó với người ta ấy.

Một Trần Nhật Hạ ở quá khứ - nơi cô có thể ôm ấp những hoài bão to lớn của một vương triều - và một Trần Nhật Hạ ở hiện tại - nơi cô chỉ có thể tiếc nuối nhìn ngắm sử vàng đã qua - thật sự rất khác nhau.

Kẻ chỉ nghĩ đến một nỗi buồn nhất định, vẫn chưa mở mang trí óc về những khía cạnh chưa ai mò đến.

Và kẻ trên thông thiên văn dưới tường địa lí, viên mãn chiêm ngưỡng toàn bộ lịch sử bất động trên những trang sách sử một cách sinh động.

Hai người đó, tuy hai mà một, nhưng lại chẳng hề giống nhau.

Nói nhiều đôi khi cũng chán.

Giờ mới là phần chính của chương bên lề ngày hôm nay - minh họa nhân vật.

Vừa có minh họa cho nhân vật, vừa có tranh minh họa cho những đoạn bất kì ở trong truyện.

(Tranh minh họa Nhật Hạ do độc giả Vĩ Hạ vẽ tặng
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Trở Về Thời Tây Sơn
64. Cái ôm


------------------------------

Đúng là dòng chảy trôi qua thật nhanh, chẳng kịp cho người ta nắm bắt tí thông tin nào từ nó cả.

Tôi vừa mới "bất tỉnh nhân sự" tầm ba năm thôi, thế quái nào lại có lắm sự kiện diễn ra trong khoảng thời gian ấy.

Làm bản thân tôi ngồi nghe ngóng chuyện từ người khác muốn mòn mỏi.

Mà đi tìm đống thông tin ấy cũng khó, dù cho nhân chứng luôn xuất hiện đầy rẫy ở trước mặt tôi.

Bởi tôi nào được gặp họ thường xuyên như mọi người thường nghĩ, lúc cần tìm đã không thấy người đâu.

Lần tới tôi phải rút kinh nghiệm, khi xuyên về quá khứ phải vớ theo cuốn sách nào đó dày dày, chi tiết một chút.

Vì phần lớn thời gian rỗi tôi đều dành hết cho việc thơ thẩn ngắm nhìn trời mây, thì phần còn lại nếu không bước chân ra ngoài được thì còn có cuốn sách đọc giải khuây.

Chứ đằng này thì...

ôi thôi khỏi nói!

Tôi chỉ việc ngồi hít vào, thở ra như bao người, ngẩn ngơ làm việc ngốc như thế đến khi hết chán thì thôi.

Ai bảo xuyên về thời đấy là sướng?

Việc sung sướng không phải lo tính mạng bản thân, chỉ cần khéo mồm khéo miệng là được tha sống ngay chỉ khi xuyên về ở thời nào đó thịnh trị một chút thôi nhé.

Giống như giai đoạn thịnh vượng thời Lý, Trần hay thời Hồng Đức thịnh thế ấy, đảm bảo không phải đau đầu suy nghĩ miếng gì sất.

Chứ ai đâu như tôi, xuyên về cái thời dở dở ương ương, phải mất mấy năm mới tới sự kiện chính của triều đại ngắn ngủi này.

Nghĩ mà thấy tức dễ sợ.

Mà, dù có ngẫm, có oán trách tới đâu cũng không thể làm thay đổi vận mệnh.

Trời cao đất khiến đã xúi tôi rơi vào tình cảnh này rồi, tôi còn chống đối lại một cách vô ích để làm gì.

Chuyện gì cũng đến tay tôi, chuyện quái nào cũng đến lượt tôi phải hứng chịu nốt.

Cơ mà, xuyên trúng cái thời này nó vẫn có những ưu điểm mà mấy thời đại kia khó có được.

Đó là tôi được tận mắt chứng kiến cái thời buổi loạn lạc, suy vi quá đà của hai chính quyền thối rữa, của một đất nước mà trong đó quyền lực của vua chẳng là cái thá gì.

Quyền lực khi ấy chỉ trên danh nghĩa mà thôi, chứ thật chất tất cả đều bị chúa Trịnh nắm cả thảy.

Cái này làm tôi liên tưởng tới mấy màn múa rối, khi mà con rối gỗ phải chuyển động dưới bàn tay đầy khéo léo của nghệ nhân mà chẳng thể tự thân làm nên việc gì hết.

Ờm thì, nếu hiểu đơn giản thì nó là vậy đó.

Dù tôi biết nếu chỉ cần về đúng mấy đời vua cuối cùng của các triều đại khác thì thế nào tôi cũng sẽ chứng kiến cảnh thời buổi như vậy, không khác gì nhau.

Nhưng đằng này nó lại khác, có lẽ do việc đời nhơ nhớp kéo dài quá lâu, muôn dân lầm than khổ ải.

Đến chàng còn phải than vãn với tôi về tình cảnh như vậy, biết nói gì thêm nữa được đây.

Giờ quay lại với vấn đề chính - những sự kiện đã diễn ra trong lúc tôi bất tỉnh mất ba năm.

Tháng Mười một năm Quý Tỵ - tức hai tháng kể từ sau khi quân Tây Sơn chiếm được ba phủ Phú Yên, Diên Khánh, Bình Thuận ấy - chúa Nguyễn sai Phò mã Chưởng cơ Nguyễn Cửu Thống, Nguyễn Cửu Sách, Cai cơ Phan Tiến, Cai đội Nguyễn Vệ, Tổng nhung Tống Sùng cùng Tán lý Đỗ Văn Hoảng đi từ Quảng Nam kéo vào lấy lại Quy Nhơn.

Một toán người đông, thêm binh lính dẫn theo chắc cũng đông nốt, không biết trận này có đạt được như ý nguyện ban đầu hay không.

Khi nghe được tin ấy, ngài liền giao thành và mặt Nam của thành Quy Nhơn cho Trần Quang Diệu cùng các tướng tâm phúc giữ.

Về phần mình, ngài cùng Tập Đình, Lý Tài, Nguyễn Văn Xuân cử đại binh ra để chống cự với quân của chúa Nguyễn.

Chia quân ra làm ba đạo, hai bên là cánh quân người Hoa và người Thượng của Tập Đình, Lý Tài.

Trung quân ở giữa là do đích thân ngài chỉ huy ra trận.

Về phía quân đội bên kia, quân Nguyễn chia ra làm hai đạo theo hai đường thủy bộ.

Đạo bộ là do Nguyễn Vệ chỉ huy, có đạo quân đường thủy làm sách ứng.

Trông hùng hổ và chuẩn bị kĩ lưỡng đến vậy, nhưng lại chẳng đúng với những dự đoán của người ngoài nghe một tí nào.

Bộ binh chưa kịp qua khỏi Bình Đê đã bị Tập Đình và Lý Tài chặn đánh.

Mà khi vừa nhìn thấy quân Trung Nghĩa với Hoài Nghĩa cao lớn, mặt mày dữ tợn, quân của Vệ chưa đánh đã chạy, bị truy kích giết sạch.

Chưởng cơ Vệ còn không chống nổi hai tên tướng người Hoa của ngài nên tử trận.

Bộ binh gặp nhiều xui rủi bao nhiêu, thủy quân cũng tương tự.

Bão đắm đến mức chỉ duy nhất một thuyền do quan Công giáo điều khiển là thoát nạn, trôi dạt về doi cát của cửa sông Trà Khúc, không tiến cũng không lùi được.

Vừa hay lúc ấy ngài cũng kéo quân ra đến nơi, bắt sống được năm mươi thủy binh và thu được mười khẩu đại bác.

Quân Nguyễn bại trận như vậy, sĩ khí giảm mạnh đến mức hoảng hốt chạy về Quảng Nam, bị quân Tây Sơn chặn đánh, bỏ lại bốn thớt voi, nhiều xe lương cùng vũ khí.

Trận ấy toàn thắng, ngài cho đắp lũy cát tại Bến Ván rồi giao cho Nguyễn Xuân đóng giữ, đem chiến lợi phẩm thu được chất chở về Quy Nhơn.

Khi ấy, quân Tây Sơn đã chiếm được Quảng Ngãi.

Tôi không biết nên gọi đây là trường hợp may mắn hay không, chớ bên quân của chúa Nguyễn cũng lắm người được cử ra để đi đánh trận này cơ mà.

Thủy quân ở ngoài biển bị bão đắm, bộ binh lại gặp thêm cánh quân của Tây Sơn lao vào đánh nữa, thôi thì trước khi ra trận cũng phải vái lạy trước vài cái cho chắc.

Chuyện lỏm ở trên một phần là do tôi vẫn còn nhớ mang máng được chút ít, chứ đời nào được nghe kể bao giờ.

Tôi tự hứa với bản thân mình - nó chỉ là một lời hứa suông, không biết bao giờ mới có thể thực hiện được - rằng một ngày nào đó, tôi sẽ đi hỏi ngài tất tần tật.

Về mọi thứ tôi băn khoăn từ trước đến nay.

Chắc sẽ có thêm một buổi đàm đạo nho nhỏ nữa đó.

Ầy, tôi sợ bản thân mình khi ấy lại không mở miệng nói được lời nào nữa cơ.

Lúc đó đành phải ngồi im lặng mà nhìn nhau, là cái cảm giác mà một lời cũng không thể thốt ra được ấy.

Chỉ sợ ngài không kể tường tận cho tôi về những gì đã xảy ra, vì một lí do nào đó mà có lẽ tôi cũng biết được chút ít rồi.

Mà hình như trong khoảng thời gian này, ngài không có lấy một trận nào hết nhỉ?

Chỉ có điều, dạo này thế lực của Lý Tài quá lớn, e là trong tương lai sẽ có chuyện không lành xảy ra.

Thì giống như diều một khi đã bay cao, gặp tầng gió mạnh, nó sẽ chẳng còn nghe theo sự điều khiển của người chủ ở phía dưới nữa.

Và nếu như một ngày nào đó, tình trạng ấy diễn ra quá đà thì diều sẽ bị đứt dây.

Thế thôi.

Hôm nay được bữa tôi siêng dậy sớm, không giống như mấy bữa kia, chỉ toàn đánh một giấc ngủ tới trưa nên không kịp hưởng thụ cái lạnh vất vưởng buổi sớm.

Bảo là cuối xuân, nhưng trời vẫn lạnh như thường.

Vừa mới tỉnh dậy, mặt còn ngái ngủ, vẫn chưa kịp nhận thức được thế giới xung quanh thì cái lạnh trong không khí này đúng thật là ác nghiệt.

Trước hiên, mặt trời chói rọi.

Sương ẩm buổi sớm hóa thành hơi nước mỏng manh, bay lên trời cao theo hướng mà những tia nắng đã chiếu xuống.

Lá cây trông tươi tốt và màu xanh diệp lục của nó nổi bật hẳn lên, chắc là nhờ mấy giọt sương li ti đã đọng lại ở đó tự thuở nào.

Nắng trải thành dòng xuống mặt đất, phết một màu vàng ươm lên sự vật dưới nhân gian.

Hệt như nàng tiên đang thử trên mình tấm vải mảnh màu nắng xuân vậy.

Khí trời lạnh như vậy, nếu trong người đang bị bệnh thì bệnh ấy dễ trở nặng hơn ngay.

Chỉ vì cái se lạnh buổi sớm vẫn còn chưa tan ấy, nó giống như cánh tay phải đắc lực của tử thần để thâu tóm sinh mạng mong manh.

Mà... tôi có một chứng bệnh rất lạ.

Đó là cứ hễ nhiệt độ cơ thể chênh lệch quá nhiều so với nhiệt độ bên ngoài là tôi bị hắt xì ngay, dù cho bản thân không có bị cảm ngay lúc đó đi chăng nữa.

Mũi tôi đột nhiên bị dị ứng như một phần nào đó khó thay đổi trong cơ thể tôi.

Quỷ quái.

Đương lúc tôi còn mơ màng bỏ ngoài tai những tạp âm phiền phức, thì có người đã lẳng lặng đến ngồi bên tôi, thì thầm nói:

"Nhật Hạ.

Trời vẫn còn sớm, lại lạnh nữa.

Sao cô không vào kia ngồi?"

Úi!

Làm tôi thót cả tim.

Tôi giật mình quay lại nhìn xem kẻ nào to gan dám hù dọa tôi.

Nào ngờ kết quả lại vượt ngoài tầm dự đoán của tôi, "kẻ to gan" ấy lại chính là Lý Dương.

Y đưa mắt nhìn tôi đầy khó hiểu, không biết tôi nghĩ gì trong đầu mà lại hành xử khác thường như vậy.

Có lẽ... người đáng nhận danh hiệu kì dị nhất là tôi đây, chứ không phải y đâu.

Cái người đi bảo người ta là kẻ to gan, kì dị thì lại kì dị hơn cả kẻ đi đứng bình thường, tác phong nhanh gọn.

Thế này nhìn vào người ta còn không biết sự thật như thế nào nữa cơ.

"Anh...

đi đứng bình thường được không," Tôi thở phào nhẹ nhõm, vuốt ngực vài cái để tự trấn an bản thân.

"Dọa chết tôi rồi."

"Sao lại dọa?"

Y nhíu mày nhìn tôi.

"Là do cô tự dọa bản thân mình mà."

Tôi bĩu môi không đáp, sau đó quay mặt đi để nhìn mặt trời từ từ nhô lên cao.

Y lẳng lặng ngồi xuống bên cạnh, cũng phóng mắt nhìn ra xa, hòng muốn biết được tôi đang tìm kiếm thứ gì ở nơi ấy.

Có điều tôi chẳng tìm kiếm gì hết, chỉ tại tôi rảnh với muốn nhìn ngắm quang cảnh bên ngoài cho quen mắt thôi.

Đã ba năm, hẳn ở trong quá khứ này tôi chỉ nằm một chỗ với đôi mắt nhắm nghiền.

Nên tôi nghĩ, đã đến lúc bản thân cần phải cho đôi mắt này làm quen với những gì quen thuộc nhất rồi.

Khi nhìn chán chê với ánh nắng chói chang kia, tôi rũ mắt nhìn đi nơi khác.

Nhìn vào mặt trời trong khoảng thời gian ngắn thì còn được, chứ nhìn lâu quá thì sẽ không tốt cho mắt đâu.

Với lại, xung quanh chỗ tôi ngồi vẫn còn nhiều thứ khác để cho tôi tha hồ ngắm nhìn cơ mà.

Chẳng hạn như...

"Về câu hỏi mà anh hỏi tôi khi nãy," Tôi vừa mân mê ống tay áo của mình, vừa nói.

"Trời hãy còn sớm, đương lúc tiết trời vẫn còn lạnh.

Tôi muốn ngồi đây là để hưởng cái lạnh đó đấy."

"Không vào bên trong ngồi cho ấm, muốn ra ngoài đây ngồi.

Cô đúng thật là khác thường," Lý Dương thở dài với câu trả lời của tôi, vẻ bất lực lắm.

"Trăm năm hiếm thấy, ngàn đời cũng chẳng có ai như vậy."

Nhìn nét mặt ủ rũ của y như thế, tôi có thể đoán được phần nào những tâm tư từ trong cõi lòng của một gã đang ngồi trước mặt tôi.

Dường như y đang cố hiểu tính cách thất thường của tôi, cũng như muốn hiểu vì sao tôi lại có thú vui vừa ngộ đời vừa có hại cho sức khỏe nữa.

Con gái thời này, muốn tìm một người có tính cách giống tôi nhất cũng khó.

Bởi nếu tôi của mười sáu tuổi với cuộc sống muôn màu muôn vẻ, không lo lắng chi chuyện việc nhà này kia thì những người đồng trang lứa với tôi - ở cái thời xưa xửa xừa xưa ấy - lại khác hẳn.

Theo tôi biết thì việc kết hôn giữa nam với nữ không phải đợi đến năm hai mươi mấy mới xách đít đi làm giấy kết hôn đâu.

Họ đã đến với nhau từ khi mười ba, mười bốn, sớm nhất nữa là mười hai tuổi.

Nếu mà so với con nít thế kỉ XXI trong độ tuổi đó thì khác biệt hẳn, chúng nó chỉ biết làm màu cho ngầu, loi nhoi khắp đường phố với đầy rẫy những tiếng ồn.

Nghe cũng mệt bở hơi tai.

Trong đó, người con gái luôn là người phải chịu đủ mọi lời phán xét từ gia đình và xã hội.

Trong cái thời mà vẫn còn quan niệm trọng nam khinh nữ ấy, thì tất tần tật những việc nhà - kể cả mấy việc đơn giản như nấu cơm - cũng rơi vào tay người phụ nữ tất.

Bởi lấy chồng sớm có sướng được tí nào đâu, toàn phải gánh gánh gồng gồng làm đủ thứ chuyện.

Có điều... nếu may ra được gả vào trong một gia đình mà được chồng thương yêu, chiều chuộng đúng nghĩa thì may ra đời vẫn còn chút ánh sáng hi vọng chứ không hẳn là tối đen như mực lắm.

Ấy, tôi lại nghĩ tới chuyện ngoài lề xa lắc xa lơ nữa rồi.

"Ba năm nay anh đi đâu, sao giờ mới xuất hiện?"

Nhận ra có cái gì đó không đúng trong tình cảnh này, tôi vội lên tiếng trước khi y rời đi.

"Mấy ngày trước tôi không thấy bóng dáng anh đâu cả."

Y nhìn tôi trong giây lát, sau đó nhịp từng ngón tay lên đùi mà nghĩ ngợi.

Tôi không rời mắt khỏi gương mặt thanh thoát, toát lên vẻ điển trai của y.

Từng cử chỉ, hành động của người đối diện đều lọt vào mắt tôi hết.

Kể cả một vòm trời trong xanh từ trong mắt y nữa, trông cũng đẹp lắm chứ chẳng đùa đâu.

Nếu mọi chuyện đều do y bịa đặt thì lần này để xem y nói dối đường nào.

Sao mà qua mắt tôi được.

"Do cô không biết đó thôi."

Khóe miệng y nhếch lên thành một đường thẳng.

"Mấy ngày nay tôi bận, hôm nay mới có dịp đến đây chơi.

Nghe bảo đâu đấy cô đột nhiên 'bất tỉnh nhân sự' mất ba năm, phải không?"

Tôi gật đầu lia lịa, tỏ vẻ đồng tình với câu khi nãy y nói.

Mà lời khai đó đã hợp lí và thuyết phục chưa nhỉ?

Nghe vẫn còn ngờ vực lắm, nửa tin nửa ngờ.

Dù gì tôi cũng là người đứng bên ngoài nhìn vào, làm gì biết được thực hư rõ ràng ra sao.

Èo, người ta có kể cho là may rồi.

Tôi còn đòi hỏi thông tin đó phải thật chính xác làm gì cơ kia chứ.

"Khoảng thời gian đó cô nằm mê man bất tỉnh mãi một chỗ, có gọi mãi cũng không nghe," Y cốc nhẹ lên trán tôi một cái rồi thu tay về.

"Đành ra làm sao cô biết tôi có ở đây hay không đâu."

Tôi không mở mắt ra để xem xét tình hình bên ngoài, nhưng ít ra tôi có thể biết chuyện gì đã xảy ra xung quanh bằng những hình ảnh mơ hồ hay hiện trước mắt tôi đấy nhé.

Nên anh đừng có tưởng tôi bất tỉnh như vậy rồi cho rằng tôi mù tịt những sự kiện đã qua trong ba năm.

Ấy, ngoài ba anh em ngài ra, những người còn lại tôi không có nhu cầu tiết lộ thân phận đâu.

Nhỡ đâu người ta thắc mắc rồi hỏi tôi cả đống câu thì sao nhỉ?

Lại còn không tin, sau đó cho tôi bị điên nữa thì chết dở.

Tôi cũng phải đắn đo lắm mới chịu hé miệng ra nói những gì liên quan đến mình đó.

"Được rồi, mọi chuyện đều như ý anh tất," Tôi lườm Lý Dương.

Tên này cứ hay tìm cách chọc tôi miết thôi.

"Vừa ý anh chưa?"

"Tôi nói gì không đúng hay sao mà cô làm cái mặt như thế?"

Y bật cười, ánh mắt chợt dịu lại.

"Trời không còn lạnh nữa, tôi có thể an tâm rồi."

Mẻ trời trong lành, sương mỏng vất vưởng trong không trung cũng tan dần từ lâu.

Mặt trời hiện rõ trước mắt tôi, ngày càng nhô lên cao hơn.

Lại là một ngày mới trôi qua, như bao ngày khác, nhưng hôm nay có gì đó mới mẻ hơn so với mọi ngày.

Chắc là... hôm nay có sự có mặt của y sau những ngày "tôi" của thực tại trở về quá khứ, là "tôi" đang ngồi trước hiên đây.

Gió lành, thoảng một mùi hương cỏ cây đến khắp nơi, loãng ra trong hư vô.

Nó cũng mang mùi sách cổ xưa, nơi có những trận chiến hào hùng nằm bất động trên những trang sách vàng nữa.

Thời cuộc xoay vòng như vũ bão, không ngừng lại một lần nào, cũng không chờ đợi một ai bao giờ...

*

Ba ngày trôi qua.

Khi đó trời đã quá trưa - sang chiều, nắng không gắt lắm, nhưng cũng đủ làm người khác phải cau mày khó chịu.

Tôi hí hửng tản bộ vài vòng ở gần mấy cái cây cao cao trong thành, mặc cho nắng cháy đến bỏng da trên đầu.

Ánh phàm dương khéo léo vẽ nên những mảng sáng, mảng tối trên những lá cây, khắc họa một cách tinh tế những gì thiên nhiên ban tặng.

Lá cũng khẽ khàng lay động mỗi khi có cơn gió nhẹ lướt qua, sau đó lại nằm im bất động dưới trời nắng.

Thế kỉ XXI mà đi dưới cái tiết trời như thế này cũng đã đủ khiến người khác phải vội vàng tìm nơi để trú nắng đã đành.

Đằng này tôi lại mặc trên người những lớp vải khi mỏng khi dày, tự nhiên nổi hứng đi dưới trời nắng nóng này thì hỡi ơi... nó cũng khá choáng đầu rồi.

Một nhành hoa bay lượn lờ trên đầu tôi, chắc là từ nơi nào đó bay đến.

Tôi ngẩng mặt nhìn lên, nhưng chỉ hơi ngước lên thôi, tại ánh nắng chói chang kia chiếu thẳng vào mắt tôi.

Èo, trông đẹp lắm đó, giống như có thứ phép thuật kì diệu đã thổi hồn vào nhành hoa mỏng đó vậy.

Tuyệt.

Lần này tôi có thể nắm trọn lấy nhành hoa đó rồi giữ lấy cho riêng mình rồi.

"Của nàng đây," Tây Sơn Vương vươn tay ra nắm lấy nhành hoa kia, sau đó cúi xuống đưa nó cho tôi.

"Trời nắng thế này, nàng không định đi về sao?"

Tôi giật mình nhìn ngài, ngơ ngác nhận lấy nhành hoa ngài đưa cho.

Ôi trời đất ơi.

Ngài đến đây từ khi nào vậy ta?

Khi nãy tôi vẫn nhớ bản thân mình đi dạo một mình nơi tòa thành rộng này mà, làm gì có ai đi theo đâu.

Thế quái nào ngài đột nhiên xuất hiện sau lưng, lại còn biết tôi đã ra đây nữa cơ.

Cứ trăm lần như một.

Lần nào tôi đang thơ thẩn thả mình vào thế giới riêng thì lần ấy ngài lại xuất hiện, rất đúng lúc.

"Hửm?

Sao thế?"

Ngài áp tay vào má tôi.

"Nàng đang ngạc nhiên vì sao ta lại ở đây hả?"

Tôi gật đầu đáp lời, phụng phịu gạt tay ngài ra.

"Anh cứ thoắt ẩn thoắt hiện ấy.

Tình trạng này mà tái diễn nữa chắc tôi tổn thọ mất," Tôi thở phào nhẹ nhõm, thích thú nhìn nhành hoa trong tay mình mà phớt lờ người đối diện.

Cánh hoa màu vàng nhạt nổi bật lên trong nắng, mỏng manh đến độ chỉ cần hơi mạnh tay xíu là rách ngay.

Mà đâu có trách ai được, đặc trưng của phần lớn những loài hoa tôi gặp qua là thế mà - đều mỏng, nếu giơ lên cao thì có thể nhìn được vô vàn tia nắng chiếu xuyên qua.

Tôi xoa nhẹ cánh hoa, cảm thấy tay mình trở nên mềm mịn khi chạm vào lớp váy mỏng của một bông hoa sặc sỡ đầy sắc màu.

Không biết nó từ đâu đến, thuộc loài hoa gì, chỉ biết nó tình cờ bay đến chỗ tôi khi trời nổi gió.

Thậm chí tôi nghĩ nó đã bay một quãng khá xa mới đến được đây, vì trong tòa thành này không hề trồng hoa.

"Hoa đẹp lắm, anh nhìn xem," Tôi hí hửng đưa nhành hoa ấy cho ngài xem, háo hức chờ lời đáp lại từ ngài.

Ngài cúi người xuống nhìn, ngắm nghía nó thật lâu.

Rồi, người nọ đưa tay chỉnh lại mái tóc cho tôi mà đáp:

"Ừ, ta thấy rồi."

Tôi bất giác mỉm cười vì hành động quá quen thuộc từ người đối diện.

Đương lúc tóc mái trên đầu tôi không được chỉn chu vì đã bị cơn gió kia phá cho tan tành.

Đúng là ở lâu miết nên thần giao cách cảm của nhau cũng hợp ý nhau luôn ha.

Ngài không nói gì thêm, chỉ ngắm nhìn nét mặt của tôi đầy hài lòng.

Chốc chốc tôi lại lén nhìn lên thì bắt gặp cái ánh mắt dịu dàng ấy - ánh mắt đã theo tôi không biết bao nhiêu năm rồi - đang nhìn tôi không rời.

Đi nhìn lén người ta mà lại bị người ta nhìn lại thế này thì đúng ngượng luôn.

Ê ê, đừng có giở trò tình tứ ở cái chốn rộng thênh thang này.

Mình lớn rồi, trong tay nắm cả hơn mấy vạn quân, có cả cơ đồ sự nghiệp trong tay, không phải như cái thời còn trai tráng nữa.

Tốt nhất là nên ra dáng người cầm đầu một phong trào thì ổn áp hơn việc giở ba cái trò trẻ con này ra ấy.

Tôi dám chắc sẽ không có ai (trừ ngài) chịu đi bộ ngang qua chỗ này với lí do rất vô công rỗi nghề đâu.

Nhưng nếu có thì chắc tôi không biết nên xử trí thế nào, hay ứng xử ra sao cho thuận theo tình huống.

"Ta muốn cùng nàng đi xuống chợ," Ngài húng hắng ho vài tiếng để lấy lại điệu bộ nghiêm chỉnh như ban đầu.

"Nàng chịu chứ?"

Hả?

"Anh... mới nói cái gì vậy?"

Tôi ấp úng hỏi lại.

"Cùng nàng xuống chợ," Ngài chậm rãi nói, kiên nhẫn lặp lại cho tôi nghe rõ.

"Ta muốn nàng đi cùng."

Bớ làng nước ơi, tôi vừa mới nghe thấy cái gì thế?

Mấy lời hoa mỹ trôi tuột thật nhanh ở bên tai tôi, chỉ chừa lại những âm thanh bình dị vốn hiện diện ở đây từ lâu.

Lời nói cần thiết thì không thấy thấm vào trong đầu tôi tẹo nào, chỉ toàn thấy những chữ sau cùng trong câu nói mà thôi.

Đành ra tôi không nghe rõ là vậy đó, không phải tôi già cả nên bị lãng tai đâu.

Biết lần này tôi nghe được lời thỉnh cầu của mình, ngài háo hức chờ đợi câu trả lời của tôi.

Còn tôi thì sao?

Tôi chỉ biết nhìn xuống dưới chân, tay nắm chặt nhành hoa để nó không bị bay đi mất, phân vân tư tưởng chỉ để trả lời.

Con nhà người ta trưởng thành là biết tự thân suy nghĩ, chín chắn đưa ra quyết định và ý kiến riêng của mình, có khi còn tự quyết định cả cuộc sống của mình nữa.

Tôi đây còn phải đau đầu suy tư chỉ vì hai sự lựa chọn này quá khó.

Nghe là thấy khác biệt rõ rệt luôn.

Cơ mà, lời thỉnh cầu này có chút gấp gáp.

Trong khi tôi vẫn cứ nghĩ đến những ngày tháng không còn phải thân chinh ra trận nữa, ngài mới chịu dạo chợ cùng tôi.

Vậy mà giờ đây, ngài đã biến những điều này thành sự thật, chứ không phải đợi tới khoảng xa lắc xa lơ.

Đường đột quá nhỉ?

"Đi với anh thì... cũng được thôi," Ngẫm nghĩ dữ thần luôn, vậy mà tôi chỉ đáp bằng vài ba câu từ ngốc hết nói.

"Nhưng từ đây xuống chợ có chút xa.

Chỉ sợ lúc chúng ta về, trời cũng đã sẩm tối từ lâu."

Ngài mỉm cười, có chút kiêng dè khi vươn tay định xoa đầu tôi.

Có lẽ ngài nghĩ tôi sẽ né tránh theo bản năng như khi nãy, hoặc là do hôm nay tâm trạng tôi không tốt nên không muốn xoa đầu cho lắm.

Thường mỗi khi tâm trạng tôi xuống dốc, tôi hay tìm đến bình yên qua quang cảnh xung quanh để ngắm nhìn và đối diện với những bộn bề trong lòng.

Tôi chỉ có mỗi thú vui ấy mỗi khi chán thôi, còn lại đều không biết làm gì tiếp theo để giết thì giờ cả.

Ngài biết rõ tính tôi như nắm chặt cơ đồ trong tay vậy, thảo nào tôi muốn đi đâu đều bị ngài bắt bài hết cả thảy.

Hừ, lần tới tôi phải cố không để lộ ra những tâm tư sâu thẳm mới được, thế này thì lộ liễu quá.

"Nếu nàng không muốn, chúng ta có thể xuống chợ vào ngày khác," Tây Sơn Vương đưa mắt nhìn lên bầu trời, ánh nắng rực rỡ khắc lên những nét nghiêm nghị nhưng mềm mại trên mặt ngài.

"Ta cũng không gấp lắm đâu, chỉ cần nàng vui là được rồi."

Tôi gục gặc cái đầu, tỏ vẻ đã hiểu tất cả những gì ngài nói.

Ngài tự nhiên nổi hứng muốn đi xuống các chợ như vậy, hẳn là vì ngài vẫn còn nhớ lời hứa lần trước.

Để xem...

đã mấy ngày trôi qua nên tôi không nhớ rõ được ngày hôm ấy đã xảy ra những gì.

Những mảng kí ức đó cứ lóe lên rồi vụt tắt, không hiện rõ hình hài, cứ như mấy bóng ma vất vưởng ở những nơi bị bỏ hoang.

Tôi không nhớ được lời hứa đó, nhưng tôi có thể khẳng định một điều.

Đó là, ngài vẫn nhớ lấy những câu hứa suông kia mà chờ ngày thực hiện nó.

Giống như ngài từng nói, lời hứa dù có chân thành và thiết tha đến mấy, đến cuối cùng vẫn thật mong manh.

Nếu như những kẻ khác không nhớ về điều đấy, chắc họ cũng quên mất trước kia họ đã hứa lấy hứa để.

Để rồi bây giờ lại cố tình phớt lờ luôn cái lời hứa ấy mà không thực hiện lấy.

Cảm thấy nghịch nhành hoa trong tay chán chê, tôi buông tay cho nó rơi xuống đất.

Nó lượn mấy vòng trên không trung trước khi đáp đất, chao đảo như mấy kẻ say rượu đi đứng không vững chãi.

Gió nổi lên, đẩy nó chệch đi khỏi chiều hướng ban đầu rồi lắng xuống.

Nhành hoa vàng mềm mại kia nhẹ nhàng nằm yên trên lớp đất mềm, ngước lên nhìn trời cao đầy viên mãn.

Mặt trời vẫn treo lơ lửng trên đại dương xanh rộng bạt ngàn, một mình nó được cả bầu trời xanh bao la ôm trọn lấy.

Bởi chiều nay là một buổi chiều quang đãng, không mây, thích hợp cho những chuyến đi xa mà không phải sợ cơn mưa có thể trút những giọt nước xuống bất cứ lúc nào.

Ngài chắp tay lại sau lưng, lơ đễnh nhìn đi chỗ khác.

Đã năm năm trôi qua kể từ ngày khởi nghĩa đến giờ.

Kể ra thì cũng nhanh thật đấy, nhưng mà đã có nhiều thứ thay đổi rồi.

Đầu tiên là thời cuộc, cách bánh răng lịch sử hoạt động và tính cách mỗi người.

Thời cuộc và bánh răng lịch sử, tôi nói cũng nhàm rồi, không buồn nói lại đâu.

Tính cách mỗi người thay đổi sau ngần ấy năm, đúng là có thay đổi thật.

Đôi khi có nhiều người vẫn giữ y nguyên cái nết ấy từ năm này qua tháng nọ.

Nhưng cũng có nhiều người đã trưởng thành và vững chãi hơn sau mỗi năm trôi qua, và đúng y như rằng lần nào gặp họ là lần ấy tôi như gặp một con người khác.

Tính ngài từ trước khi khởi nghĩa thì một phần vẫn được giữ trọn vẹn: Đó là tính nghiêm nghị đúng lúc, biết vui lúc cần, thậm chí là tốt tính nữa.

Nhưng tôi cảm giác mỗi khi gặp tôi ngài không còn... sến súa nữa chăng?

Chuyện nào vào thẳng chuyện đó, không còn lòng vòng hay tìm cớ bắt chuyện với tôi.

Có điều cái tính hay thích hù dọa tôi là vẫn còn nhé.

"Nàng lớn hơn nhiều rồi, nhỉ?"

Ngài chợt lên tiếng, quay sang nhìn tôi mà mỉm cười.

"Anh muốn nói đến việc gì đấy?"

Tôi nhíu mày khó hiểu.

Rốt cuộc ngài đang muốn nói đến chủ đề nào vậy ta.

"Tôi vẫn thế mà, chỉ có điều tôi không còn là cô bé mười sáu tuổi năm xưa nữa đâu."

"Ta cảm thấy nàng không còn bướng như mọi khi," Trông thấy nét mặt hiếu kì của tôi, ngài vội sửa lời.

"Ý ta là... nàng không còn mất kiên nhẫn hơn xưa rồi ấy."

Tôi ngơ ngác nhìn ngài giây lát, rồi bật cười khúc khích, đến độ phải mất một lúc lâu mới dừng lại được.

"Ta nói có gì sai sao?"

"Anh thật sự thấy tôi thay đổi như vậy đó hả?"

Sau một cơn cười ngặt nghẽo thì cuối cùng tôi cũng có thể ngừng lại đôi ba phút để thở.

Ngài gật đầu không đáp.

Bàn tay kia chầm chậm nắm lấy tay tôi mà không có một lời xin phép nào đi kèm, dường như đó đã trở thành thói quen mỗi khi nắm tay vậy.

Tôi cũng nhẹ nhàng siết lấy, cảm nhận được hơi ấm từ tay ngài truyền qua mà không biết nên gọi thứ cảm xúc đang bùng phát trong lòng tôi là gì.

Là ngượng nghịu chăng?

Hay là một cảm giác rung động khi đứng trước người mình thầm thương nhỉ?

Đã lâu tôi không gọi tên nó nên cũng chẳng biết đối phó ra sao khi nó quay trở lại.

Cơ mà, tôi phải xác định rằng...

Có lẽ, tôi nghĩ cả hai chúng tôi hình như đã phải lòng nhau thì phải.

Nhưng từ hồi nào thì tôi không biết đâu.

"Nàng lớn thế này rồi, không lẽ... nàng không trưởng thành được thêm một tí nào ư?"

Ngài rũ mắt nhìn tôi dịu dàng.

"Nhật Hạ."

Mặt hồ trong lòng tôi chợt dao động khi nghe tên tôi được thốt lên từ miệng ngài.

Tôi tròn xoe mắt nhìn ngài, không biết bản thân mình đã phải chờ đợi bao lâu để đợi ngài gọi tên mình.

Chỉ một cái tên, không có lời nhắn nhủ phía sau, nhưng nó cũng đủ làm tôi muốn bật khóc đến nơi.

Ầy, người nhạy cảm thật khổ gì đâu.

"Mặt trời của mùa hạ," Ngài tiếp lời.

"Ta đã từng nói với nàng ý nghĩa của cái tên ấy như vậy nhỉ?"

Phải rồi.

Mặt trời mùa hạ, mặt trời mùa hạ...

Tôi là Nhật Hạ, là ánh dương sáng chói của mùa hạ râm ran đầy tiếng ve.

Dưới tán phượng vĩ đỏ rực ấy, lại hiện lên những tia nắng mang thanh xuân cuồng nhiệt của tuổi trẻ.

Đã bao lâu tôi chưa nghe lại cái ý nghĩa tên tôi rồi?

"Ừm," Tôi vui vẻ gật đầu, rồi mím môi cười.

"Trí nhớ của anh coi bộ vẫn còn tốt hơn tôi tưởng."

"Ta làm sao mà quên được chứ," Ngài đưa chân giẫm lấy nhành hoa nằm rũ xuống đất đang chờ người nhặt lên.

"Những lời hứa ta hứa với nàng, cũng như nàng hứa với ta, làm sao ta có thể dễ dàng quên được."

Tôi đứng thần người ra, lục lọi trong mớ kí ức hỗn độn đang chảy trong đầu tôi để tìm lấy lời hứa mà tôi từng hứa với ngài.

Hừm...

đừng nói là cái lời hứa khùng hứa điên của tôi vào cái thời điểm tôi tiết lộ thân phận cho ngài nghe nha.

Ôi dào ơi, lúc đó đêm tối muộn, tôi đã không tỉnh táo bởi vì cứ trằn trọc suốt đêm có ngủ được đâu.

Đã vậy còn bị ngài hù cho muốn rớt cả tim ra ngoài vì tôi cứ ngỡ bốn bề yên lặng chỉ còn mình tôi thôi ý.

Một lời hứa dở hơi, được thề thốt ra nhằm lúc cảm xúc tôi bị đẩy đến cực điểm, vậy mà ngài vẫn luôn ghi nhớ suốt bao năm nay.

Ra là thế.

"Thôi đi!

Chẳng qua là lúc ấy tôi bị điên đến mất hứa với anh cái lời sáo rỗng đó."

Tôi thở dài, vội phủ nhận tất tần tật những gì ngài nói.

"Anh đừng để tâm đến."

"Không cần ta nữa à?"

Giọng ngài nhuốm buồn, đáy mắt bị che phủ bởi vô vàn áng mây mờ.

Thiệt là...

Tôi đang đối diện với một người đã ba mươi ba tuổi, trên đầu cũng lấm tấm vài sợi bạc.

Thế mà cái cách ngài giận tôi vẫn y như hồi nào, cách đây mười năm trước ấy.

Cứ tưởng tôi đang đối diện với một "đứa trẻ to xác" không thôi.

Tôi lại phải đi dỗ người ta nữa rồi.

"Ý tôi không phải thế," Tôi cuống quýt chữa lời.

"Chẳng qua lời hứa đó không quan trọng cho lắm, nên tôi mới không muốn anh nhớ tới."

Thấy tình hình không có chút biến chuyển nào khấm khá hơn, tôi đành phải dùng chiêu bài cuối vậy.

Hi vọng lần này nó sẽ đảo ngược lại tình thế.

Tôi dang rộng tay ra với ngài, đôi mắt cún con bắt đầu được trưng ra để tăng thêm độ thành công cho chiêu bài này.

Ngài nhìn tôi bằng ánh mắt khó hiểu, vẫn chưa thông suốt được tôi sắp làm gì tiếp theo.

"Nàng đang làm gì..."

"Ôm tôi chứ?"

Tôi lên tiếng, cắt ngang lời nói của ngài.

Ngài chần chừ giây lát.

Đoạn, ngài không ngần ngại gì nữa mà ôm chầm lấy tôi.

Bờ vai vững chãi kia đã trở thành bến đỗ thứ hai cho tôi mỗi khi tâm trạng tôi không được tốt.

Cũng như tôi, ngài hay ôm tôi mỗi khi bản thân cần tìm lại năng lực đã thất thoát sau một ngày mệt mỏi.

"Nhật Hạ, ta nhớ nàng," Ngài chậm rãi nói, giọng nhỏ dần.

"Mấy tháng qua ta bận thân chinh ra trận nhiều quá, không thể dành thì giờ ra ở bên nàng được."

Tôi nhắm mắt lại, lẳng lặng để cho dòng xúc cảm trong người mình trôi qua thật nhanh, rồi chầm chậm mở mắt ra.

Bầu trời ban chiều hiện lên qua đôi vai ngài, trông mới đẹp làm sao.

Mặt trời cũng trở nên nhỏ hơn khi tôi nhìn nó lần này, không giống như những lần trước.

Chúng tôi cứ ôm nhau như thế thật lâu, dường như đã tìm lại được năng lượng cho những ngày tiếp theo mà không cần phải nghỉ ngơi gì sất.

Chính tôi cũng vậy, đã rất lâu rồi mới có dịp ôm ngài thật lâu thế này.

Ôm nhau thật chặt, tôi chỉ mong cả hai sẽ không lạc mất nhau khi dòng chảy càn quét tất cả.

Nắm tay nhau thật chặt để giữ lấy nhau khỏi bị lạc mất, đến kiếp sau vẫn còn có thể tìm thấy nhau...
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Trở Về Thời Tây Sơn
65. Cuộc hội ngộ


Tôi đã từng ghét lịch sử.

Không phải ghét theo kiểu: "Nước ta đó giờ toàn bị đô hộ, có cái gì đâu mà tự hào (1)." hay gì đâu.

Tôi ghét cái môn này, bởi vì nó quá là dài dòng, đã vậy còn lằng nhằng ba cái năm tháng trùng lặp nhau, còn khó nhớ nữa.

Gì chứ yêu nước tôi có thừa, nhưng mà nếu nói đến việc có tình nguyện học môn này hay không thì câu trả lời hiển nhiên là không.

Tuy nhiên, đó đã là quá khứ.

Tôi đã từng, nhưng giờ không phải như vậy.

Từ cái ngày quyết định bản thân mình sẽ chịu sự chi phối giữa học thuộc và viết đến chai cả tay, tôi mới ngộ nhận ra chân lí mới, từa tựa như vừa đi chùa được giác ngộ về.

Không hiểu sao cái nỗi niềm ghét trong tôi nó tự tan biến mất tiêu, đến chừng tôi kiếm lại cũng không thấy đâu nữa.

Tôi thích những chiến công hào hùng, sự hi sinh quên mình của những người dân trong một đất nước luôn bị một đất nước hùng mạnh khác gây sự.

Tôi thích những ngày tháng năm chứa những sự kiện ấy, là minh chứng ghi danh muôn đời cho một thuở oai phong đã từng diễn ra.

Mà tôi cũng thích những tác động từ bên ngoài, là điều kiện tác động không ít nhiều để gây nên chiến thắng như thế.

Kể cả cuộc hành trình vượt muôn trùng dặm của chàng thanh niên hai mươi mốt tuổi đầy lòng yêu nước và nhiệt huyết của tuổi trẻ, muốn thử làm cánh chim bay trên những miền đất xa lạ.

Để rồi cuộc đại hải trình ấy mang khát vọng tìm kiếm một con đường cứu rỗi đất nước bị một thế lực phương Tây đô hộ cũng được hơn mấy mươi năm.

Nói tóm lại, Trần Nhật Hạ tôi đây rất thích lịch sử.

Không phải như trước kia, học để đối phó nữa đâu.

Đúng là ngộ nhận ra chân lí cuộc đời thì mọi thứ nó thay đổi nhanh đến chóng mặt.

Chẳng hạn như, tủ sách của tôi trước kia không có lấy một cuốn bàn luận hay tư liệu về lịch sử nào, thế mà chỉ vài năm sau nó đã chiếm phần lớn số sách trên tủ.

Đến mẹ tôi còn chẳng ngờ rằng đứa con gái của mình có va chạm vùng đầu hay không mà sao nó lại thay đổi nhanh thế.

Không va chạm gì hết, chỉ va chạm kiến thức ấy mà.

Thôi, lảm nhảm như thế là đủ rồi.

Từ sau cái buổi được ngài rủ đi xuống chợ tới giờ, tôi cứ đứng ở trước hiên để chờ người đến dẫn đi.

Cơ mà chắc do tôi nóng lòng muốn đi quá hay sao ý, ngày qua ngày mà trước mắt tôi vẫn là khung cảnh quen thuộc, bên tai tôi là những tạp âm tôi đã nghe nó hơn trăm lần.

Mới hôm trước vừa mới nhận được lời mời thôi mà, còn phải tùy thuộc vào người khác có thì giờ rỗi không đã chứ.

Mình đang mong đợi điều gì vậy ta?

"Dẫu tan xương cũng phải tiếp tục thực hiện chí hướng của anh em cho đến lúc hoàn thành."

Tôi ngẩn người ra, cố nén tiếng thở ồn ào của mình xuống để lắng nghe cho rõ mọi thứ xung quanh.

Nhưng... dù tôi cố cách mấy thì công sức cũng đổ sông đổ biển.

Chẳng có thanh âm gì khác ngoài nhịp thở đều của một con người đang đứng đây, của đất trời rung chuyển những giận dữ suốt mấy trăm năm qua.

Cái này chắc do tôi nghe nhầm thôi.

"Dẫu nát thịt cũng phải đập tan bọn cường quyền tham bạo, đem ấm no cho những kẻ khốn cùng."

Ơ?

Rõ ràng, tiếng nói ấy cứ luẩn quẩn bên tai tôi, vang vọng lại trong đầu tôi.

Hệt như có ai đó đã xâm nhập vào trí óc mà hét thật to ở bên trong đó vậy.

Cơ mà ngoài tôi ra thì làm gì có ai ở đây đâu nhỉ?

Nếu có thì chí ít ra những âm thanh ấy phải hiện rõ mồn một bên tai, chứ không phải như vọng về từ nơi xa xăm nào đó.

Tôi vỗ vỗ mấy cái lên trán mình, lắc đầu để xua tan cái ý nghĩ vớ vẩn.

Ôi dào, tôi lại nghĩ xa quá rồi, làm gì có ai đâu.

Chẳng qua chắc là do tôi nhớ nhà quá, hoặc là bận suy tư nhiều quá nên mới nghe được những thứ như vậy thôi.

"Hồn tử sĩ hiển linh, thỉnh đăng đàn thượng hưởng."

Lúc này tôi như một con nhỏ dở chứng bệnh của mình, cứ đứng đực ra đấy, lắc đầu, rồi lại đứng thần người ra nghe.

Chắc là do não tôi đang ngồi xem lại mấy thước phim trong khi đang bận thong thả nghỉ ngơi đây mà.

Bảo sao... giọng nói này cứ quen thuộc miết, mà tôi cũng không nhớ rõ là ai.

Nhận thức đó trong giây lát đã bị che lấp, chỉ mơ hồ cảm nhận được một thứ gì đó quen quen với mình từ một thuở xưa ơi là xưa.

Có nhiều lúc tôi đi trên đường, bắt gặp một hình ảnh bất kì của nhịp sống vội vã trên phố mà trong linh cảm cứ mách bảo rằng tôi đã từng gặp nó rồi.

Này gọi là gì ta, deja vu hả?

Đầu tôi hiện lên những mảng kí ức về một ngày đẹp trời - ngày mà thế cuộc chính thức xoay chuyển.

Giọng người ở đó, nhưng người không có ở đây.

Tôi có thể hình dung ra được muôn vàn trai tráng đứng nghiêm chỉnh với nhau, người nào người nấy mặt hiện rõ quyết tâm từ sâu trong tâm can của mình.

Và, bài hịch đó vẫn còn văng vẳng trong đầu tôi, như một bài nhạc được phát đi phát lại một cách ngẫu nhiên, không theo trình tự.

Tôi ước có sách giáo khoa nào đưa một phần trích của bài hịch này vào mục đọc thêm của sách nhỉ?

Thế thì sẽ tuyệt vời hơn nhiều, mà tôi cũng có hứng thú hơn nữa.

Tất nhiên sự hứng thú đó là có sẵn, không phải đến tiết mới như vậy đâu nhé.

Dạo này tôi chỉ gặp ngài là thường xuyên thôi, còn hai cậu em thì không thấy tăm hơi ở đâu.

Rõ ràng hai cậu chắc chắn phải ở trong cái thành Đồ Bàn đồ sộ, thế mà việc gặp một trong hai thôi cũng trở thành điều khó hơn lên trời.

Thôi nào, hiện ra đây cho tôi gặp mặt một xíu thôi.

Nhắc mới nhớ, từ cái ngày tôi chơi cờ với cậu ba đến giờ, ngót nghét cũng được dăm ba năm.

Lần cuối tôi gặp cậu là thế, giờ lại không có dịp gặp mặt để trò chuyện vài ba câu.

Từ một cậu choai mười ba, trưởng thành thành cậu chàng mười tám, rồi cuối cùng là chàng trai hai mươi ba tuổi.

Thời gian đã trôi qua ngần ấy năm rồi ư?

Tôi đưa mắt nhìn bàn cờ nằm chỏng chơ trên bàn, mọi kí ức quen thuộc gắn liền với nó đều hiện lên trước mắt.

Dù đã được hai cậu em dạy cho chơi cờ, nhưng tôi vẫn không thể thắng được dù chỉ một ván.

Thứ duy nhất tôi nhớ được từ sau những ván cờ tán ấy, chính là làm quen được với một môn cờ khác với cờ vua, nhưng nó cũng na ná như vậy.

Đầu tôi chỉ thấm đượm được nhiêu đó.

Mấy cậu có bổ đôi não tôi ra mà tìm thì cũng chẳng thấy thứ kiến thức nào khác nữa đâu.

Vậy đi ha.

"Chị Hạ."

À.

Mới nhắc Tào Tháo, Tào Tháo tới thật kìa.

Một giọng nói vang lên sau lưng tôi, ngay sau đó là tiếng bước chân nặng trịch của một ai đó.

Tôi quay đầu nhìn lại, hòng muốn biết xem vị "thích khách" kia là ai mà lại xen ngang lúc người ta ngẫm về thời cuộc.

Giọng nói này nghe quen lắm.

Và, lúc mắt tôi nhìn thấy bóng dáng của người kia cũng chính là khi hàng loạt những kí ức mới mẻ lại chạy ngang dọc trong đầu tôi.

Người đứng trước mặt tôi là cậu út sao?

Phải cậu không nhỉ?

"Sao chị cứ đứng ngẩn ngơ ra thế," Cậu nhíu mày nhìn tôi vẻ khó hiểu, vẫy vẫy tay qua lại để ra hiệu.

"Là tôi đây.

Chị không nhận ra ư?"

Tôi giật mình ngạc nhiên, đứng thần người ra để nhìn thêm một lần nữa xem coi có phải đấy đúng là cậu út hay không.

Cái cậu hay rủ rê tôi đến sông Côn để chơi, cố gắng lấp liếm làm sao cho ngài bớt giận ấy mà.

Ôi dào ơi.

Mới ngày nào vẫn hay lẽo đẽo đi theo tôi, nay đã trưởng thành mất rồi.

Thậm chí nếu so về mảng chiều cao thì có khi cậu còn cao hơn tôi nữa cơ.

Sớm muộn gì, nếu không làm cho bản thân có giá trị hơn thì tôi sẽ bị bỏ lại mất thôi.

"À à... là cậu đó hả?"

Tôi cố nặn ra một nụ cười gượng gạo.

"Lớn phổng phao thế này, suýt chút nữa là tôi không nhận ra cậu đó."

"Sao lại không nhận ra cho được," Cậu thở dài.

"Tôi lớn chứ tôi có thay đổi đâu, chị Hạ."

Mặc kệ cậu cố phân bua thế nào, tôi quyết định thử xem tôi bị bỏ xa bao nhiêu rồi.

Tôi bước vài bước đến gần cậu, rồi ngước mắt nhìn lên, miệng nhẩm nhẩm để tính toán việc gì đó.

Còn cậu thì nhìn tôi, sự tò mò hiện rõ lên trên gương mặt chững chạc kia.

Quả thật, kết quả đúng như tôi dự đoán, sau vài năm không gặp, cậu đã khác.

Trong khi năm Tân Mão, cậu vẫn còn là một đứa nhóc chưa vỡ giọng xong, thì nay cậu đã thành thanh niên trai tráng trông oai phong lắm.

Nếu so với cậu thì tôi chỉ cao đến vai cậu.

Muốn nói gì đó, chắc e là tôi phải ngẩng mặt lên để nói, hoặc cậu ngước xuống để nghe tôi.

Không bằng hai anh của mình, cậu cao như vậy nhưng dáng người lại mảnh khảnh, rất ra dáng một thư sinh.

Bảo sao sử sách cứ chép cậu tính tình ôn hòa, hiền lành, ưa điều thiện, thiêng về văn nhiều hơn võ.

Nhưng chí ít ra thì cậu vẫn có vài ngón võ phòng thân lẫn thân chinh ra trận, chứ ai đâu như tôi.

Không mấy vậu cao bao nhiêu thì chia cho tôi một phần với.

Lợi cả đôi đường rồi còn gì.

"Tên ngốc này cao to quá.

Để hôm nào tôi mượn thanh kiếm của anh cậu chặt cái cao đó đi, gắn qua cho tôi mới được," Tôi đánh bôm bốp vào vai cậu mấy cái liền.

"Cậu cũng lớn rồi, không phải cứ đòi gì là được nấy đâu.

Tôi cũng không dại gì mà làm theo mấy lời nài nỉ của cậu nữa."

"Nhé, cậu Thiếu phó."

Cậu bị tôi đánh như vậy thì ôm vai mà xuýt xoa than đau.

Đàn ông con trai gì đâu mới bị tôi đánh mấy cái đã vội than rồi.

Mạnh mẽ lên cho tôi xem nào.

Thế này thì chắc phải nói lại với ngài về trường hợp này nhỉ?

"Chị..."

Cậu đứng lui lại vài bước, tránh nhận cú đánh bất ngờ từ tôi.

"Chị cái gì cũng khác.

Chỉ có tính này là không thay đổi."

Tôi lườm nguýt cậu như muốn cảnh cáo điều gì đó, rồi ngồi phịch xuống giường để bình tâm trở lại.

Được được, cậu chê tôi vẫn hung dữ như xưa, không chịu thay đổi tính tình để trở thành thục nữ đúng không.

Nhưng mà trách ai được, tôi có đổi cũng phải mất kha khá thời gian đó.

Tại giang sơn khó đổi, bản tính khó rời mà.

Trong khi ngài thì hết lời khen tôi đã lớn, không còn những tật xấu như xưa thì cậu lại trái ngược hoàn toàn.

Khen đâu không thấy, cứ hễ cậu mở miệng ra đều chê tôi hết lời mà thôi.

Tôi bảo rồi, ngày xưa thân phụ Hồ Phi Phúc bắt nhầm con của nhà nào về nuôi ấy.

Anh em nhà này mỗi người một tính, mỗi người một ý.

Nhiều khi nếu không phải nhờ học sử thì có khi tôi còn không nhận họ là anh em với nhau luôn đó.

Được cái mặt ba người na ná nhau.

Hết rồi.

"À phải.

Dạo này mọi chuyện thế nào."

Chợt nhớ ra một chuyện, tôi bèn lên tiếng trước để lúc sau không bị quên nội dung mở lời.

"Anh cậu mấy nay có ghé qua đây, nhưng tuyệt nhiên không thèm nói gì đến cậu cả."

Cậu lại nhìn tôi, như thể sáng sớm trên mặt tôi dính thứ gì đó ấy.

Ngoài việc thích xúi tôi làm ba cái điều gì đâu không thì cậu còn thích nhìn tôi, trong mấy lúc bản thân không hiểu tôi đang nói gì.

Cái tính này của cậu thì tôi nắm rõ quá rồi, lần nào mà chả bắt gặp.

"Hôm nay chị mà cũng biết thốt ra mấy lời đó ư," Cậu đưa tay lên dụi mắt cho tỉnh, sau đó nhìn tôi.

"Hay chị bị bệnh rồi?"

"Tôi mà bị bệnh thì giờ này anh cậu đã ở đây rồi, ngốc ạ."

Tôi hừ mũi.

Cậu gật đầu, tiếp thu ý kiến của tôi.

Có vẻ như cậu vẫn chưa khỏi ngạc nhiên, vì sao hôm nay trông tôi lại khác thường như vậy.

Chắc khác ở chỗ tôi nổi hứng tự nhiên đi hỏi han người ta, chứ tôi của mấy chục năm trước đời nào được thế.

Còn tôi thì vẫn đăm chiêu nhìn ra phía xa, chờ đợi câu trả lời.

Ê nói gì thì nói chứ đừng quên câu hỏi của tôi chứ.

Tôi mà nói nữa thì tốn nước bọt lẫn công sức lắm đấy.

Không dư hơi đâu mà lặp lại cho cậu nghe.

Nếu tôi được phép mang máy thu âm về đây, hẳn tôi sẽ thu lại được câu hỏi khi nãy.

Để khi cậu không nhớ thì tôi có thể phát lại, đến khi nào cậu nghe rõ được câu hỏi của tôi thì thôi.

"Chị không cần phải lo đâu," Sau tất cả thì cuối cùng cậu cũng chịu trả lời tôi, nở một nụ cười hết sức tự nhiên.

"Mọi chuyện đều ổn.

Anh Hai dạo này cũng bận nhiều lắm, chuyện lằng nhằng nhọc hết cả đầu."

Ồ, vậy sao?

Cơ mà, mọi việc cậu nói, nó là sự thật.

Nào những trận đánh nối đuôi nhau, nguy cơ từ thắng thành bại là rất cao.

Chưa kể nếu sơ sài trong việc dùng binh thì mọi thứ đã khác hẳn, có khi trong một hàng ngũ mà quân lính không nghiêm chỉnh nữa ấy.

Cả việc nội bộ nữa.

Nếu tin dùng một kẻ quá mức, đâm ra kẻ đó sẽ lộng quyền, ỷ thế bản thân nên lục đục nội bộ sẽ xảy ra.

Hoặc lỡ dùng sai người, thì kẻ kia sẽ làm nội gián, quay ra phản chúng ta.

Lắm chuyện để lo ghê ta.

Thế mới nói, để giữ vững cơ đồ của một phong trào non trẻ đến tận bây giờ, đều phải dùng cả trí lẫn mưu để giữ gìn.

Thậm chí là phải đánh đổi những cơ hội, lẫn vận may của mình để xem xem con đường rộng mở đó sẽ dẫn đến đâu.

Khâm phục tài của ngài ghê.

"Ờ thì bận," Tôi chán chường nhìn cậu.

"Bận gì mà bận đến độ mới hôm qua đã đến thăm tôi.

Đã thế còn làm tôi suýt tí nữa là hoảng loạn cả lên rồi."

Nghe đến đây, cậu không nhịn được mà bật cười tủm tỉm.

Tôi chưa kịp nói hết thì cậu đã cắt ngang lời tôi, đã vậy còn cười một cách vô cớ trong khi tôi vẫn chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra.

Đây chưa đến lúc cười đâu.

Mà tôi nhớ tôi đâu có kể chuyện cười đâu nhỉ.

"Sao đấy?"

Tôi lên tiếng hỏi.

"Vui ở chỗ nào hả?"

"Anh Hai không cố ý làm chị giật mình," Cậu hít vài hơi, rồi thở ra để nén cơn cười xuống.

"Vậy mà chị vẫn ngỡ là có kẻ nào đó định đến ám sát chị sao?"

Lần này thì cậu nói đúng quá, tôi không cãi lại được.

Mọi lời nói của cậu đều soi rõ tâm tư tôi đang nghĩ gì luôn, nên tôi chỉ đành gật đầu lấy lệ.

Không thừa nhận thì lại bảo giả dối.

Mà thừa nhận rồi thì sợ cậu chê cười cho.

Nó khổ thế đấy.

Đoạn, cậu tiến vài bước lại chỗ cái bàn - trên đó có đặt bàn cờ mà chúng tôi từng chơi.

Bàn cờ vẫn vậy, không thay đổi tẹo nào, chỉ khác ở chỗ giờ không có ai thèm động vào nó nữa.

Mọi chiến lược đều từng hiển hiện qua những con cờ và nước đi của nó, khi mà tôi chơi mãi vẫn không thắng nổi hai cậu.

Thôi đừng.

Đừng gợi lại kí ức nhục nhã đó.

Cậu ngẫu hứng cầm lấy một con cờ.

Rồi, cậu quay sang nhìn tôi, tươi cười hỏi:

"Chị Hạ.

Làm một ván không?"

Tôi nghệch mặt ra nhìn cậu.

Không định chọc quê tôi đó chứ.

Cậu định lợi dụng cái điểm yếu của tôi để hạ ván cờ này một cách dễ dàng.

Rồi từ đó mà cậu cứ luôn miệng chê tôi không ngớt, hay là cứ bảo "Tôi với anh Ba dạy chị chơi, mãi mà chẳng thấy chị thắng một ván nào." miết nhỉ?

Mà thôi, dù ý đồ của cậu là gì đi chăng nữa, tất nhiên là tôi sẽ không thể nào thoát khỏi cạm bẫy đầy cám dỗ này.

Người ta đã có lòng mời rồi, tôi dại gì không đồng ý được.

Còn việc tôi chơi có thắng hay không, đó lại là một chuyện khác.

"Tùy ý cậu," Tôi nhún vai, sau đó ngồi xuống ở bên đối diện mà chăm chăm nhìn bàn cờ.

Đây là lần thứ mấy tôi chơi cờ rồi ta.

Lần này chắc là lần thứ hai, nhưng số ván cờ tôi chơi thì nhiều hơn con số đó.

Như một điều hiển nhiên đã được tính toán từ trước, chắc chắn lần này tôi sẽ thua tả tơi dưới nước cờ cao siêu của cậu.

Hay nói đúng hơn, tôi cứ như ngựa quen đường cũ, không thắng được nổi dù chỉ một ván.

Trông thấy nét mặt ủ rũ, không tình nguyện chơi của tôi, cậu chống cằm nhìn vẻ tò mò.

Từ trước đến nay, hễ cậu rủ tôi làm gì là đúng y như rằng, tôi sẽ rất hào hứng với lời mời đó.

Cơ mà hiện tại tôi trông rất ngán ngẩm, nhìn như người mất hồn ấy.

Đúng là hồn phách của tôi đang dạo chơi trên chín tầng mây thật mà, làm gì có ở đây đâu mà tìm.

Quân cờ được sắp xếp theo đúng vị trí của nó.

Tôi hít một hơi thật sâu, thở ra một hơi dài.

Phải cố bình tĩnh để đầu óc tỉnh táo, không ngu muội mà đi nước cờ sai lầm như mấy ván trước.

Thú thật thì lỗi này không phải lỗi do tôi, mà là do xem người khác chơi hay quá nên tôi bị lôi cuốn theo, đâm ra đi mấy nước không mấy chắc chắn là bao.

"Xem chị kìa," Cậu lên tiếng, đôi mắt hiện rõ vẻ bất lực.

"Nhìn chị cứ như sắp chuẩn bị làm một chuyện đại sự gì đó ấy."

Tôi nghĩ lần sau tôi cần xin ngài một tấm vải, để có gì bịt miệng cậu lại đúng lúc.

"Ờ ờ... chuyện đại sự ở đây là chơi cờ đấy."

Tôi vờ vịt nói.

"Cậu đi trước đi."

Cậu gật đầu rồi không nói gì thêm, thong dong cầm một quân cờ lên, sau đó hạ nó xuống.

Trận này tôi có thắng hay không, đều phụ thuộc vào việc hôm nay cậu có chơi nương tay với tôi hay không.

Chứ nếu cậu vẫn chơi như thường thì thôi, không mơ mộng hão huyền làm gì sất.

Nước cờ bên kia đã đi xong xuôi.

Tôi bặm môi, mắt dán chặt vào bàn cờ như thể trên đó có khắc tên tôi vậy.

Để tôi xem... tôi nên đi như thế nào để không phải mắc lại sai lầm mà tôi đã mắc hơn chục lần trước đó đây nhỉ?

Cậu biết tôi vẫn còn yếu kém trong khoảng chơi cờ này, cho nên cũng không vội vàng gì.

Mấy ngón tay của cậu chậm rãi gõ thành nhịp trên mặt bàn, cố giết thì giờ rỗi trong khi chờ đợi tôi suy nghĩ.

Nếu - chỉ là nếu thôi nha - tôi có thể đoán được tâm tư người khác, hẳn là cậu đang rất nóng lòng muốn biết nước đi tiếp theo của tôi như thế nào, ra sao lắm.

Cậu biết, cốt là để nương tay khi chơi ấy mà.

"Đúng như tôi đoán.

Lần nào chị chơi cờ, mặt chị hiện rõ được luôn cả hai chữ 'hồi hộp' luôn kìa," Cậu chán chường nhìn tôi, như thể trước đó cậu đã gặp gương mặt mang tâm trạng này cả trăm lần vậy.

"Chơi cái này làm chị lo đến mức đó sao?"

Tôi lắc đầu, nuốt nước bọt một cách khô khan.

"Không có.

Cậu nhiều chuyện quá rồi, chơi tiếp đi."

Mặc dù tiết trời hôm nay mát thấy rõ, không có dấu hiệu của nắng gắt, vậy mà trên trán tôi lấm tấm mồ hôi như vừa mới đi dưới trời nắng xong.

Không khí trong cung bây giờ ngột ngạt ghê hơi.

Không biết có kẻ nào đã lén đốt lửa để lùa chúng tôi vào trong tình cảnh này không.

Lượt đi tiếp theo thuộc về cậu.

Tôi rũ mắt nhìn quân cờ nằm trong tay cậu, hết nhấc lên rồi lại hạ xuống.

Trong khi người ta có thể chơi cờ một cách bình thản, không lo chuyện thắng bại thế nào, còn tôi thì ngược lại.

Tôi không chắc chắn về nước cờ của mình, cứ chần chừ miết thôi.

Cảm giác hồi hộp lẫn lo sợ này, hệt như lần đầu tự sức chèo một con thuyền nhỏ ra biển lớn vậy.

Sóng cả ẩn chứa nhiều rủi ro khôn lường trước, có thể đập tan con thuyền thành nhiều mảnh nhỏ bằng chính sức mạnh của mình.

Cả tôi cũng vậy, một đứa ngơ ngơ ngáo ngáo, lớ ngớ tập chơi cờ thì sớm muộn ván cờ này cũng kết thúc trong bại trận.

"À phải rồi," Tôi ngẩng mặt lên nhìn cậu.

"Sao có mình cậu đến đây thế?

Anh Ba cậu đâu?"

Cậu thở dài, gõ gõ lên quân cờ khi nãy.

Rồi đáp:

"Anh Ba bảo bận, không đến được.

Cho nên mới nhờ tôi đi giúp anh ấy.

Cả anh Hai nữa."

Biết đáp án cho câu hỏi của tôi chỉ có thế, tôi đành gật đầu, không nói gì thêm.

Chúng tôi tiếp tục tập trung vào cuộc chơi đầy căng thẳng này, luôn phải giữ cho đầu óc mình tỉnh táo để ứng phó kịp lúc với nước đi trở mặt của đối phương.

Gì chứ chơi cái này mà để bị lừa là dở rồi.

Và tôi cũng là nạn nhân bị vướng phải cái đó đấy.

Nhìn thấy cái lối chơi của người khác cũng đủ làm tôi hoa mắt chóng mặt rồi.

Thậm chí uống năm cốc cà phê cũng không thể giúp tôi minh mẫn hơn.

Trừ khi gặp người mới chơi, trình độ kém hơn tôi là được.

Lúc ấy tôi sẽ tưởng tượng đủ kiểu.

Rằng bản thân mình thật thanh lịch khi chơi môn này, rồi trong mắt người khác, tôi là một bậc thầy.

Rất chi là này nọ luôn nhé.

Hỡi ơi.

Ngầu được với người kém hơn mình, nhưng vẫn còn quá non nớt so với những người có trình độ cao.

Thế là tôi mất ngay cơ hội được tỏa sáng rồi.

Cả cung điện của tôi bây giờ, chìm trong im lặng đến đáng sợ.

Ngoại trừ tiếng di chuyển của quân cờ, tiếng thở của hai con người hiện diện trong đây thì không có bất cứ tạp âm nào khác có thể phá hoại cuộc chơi.

Nó đáng sợ đến mức thảng hoặc tôi phải ngước lên nhìn dáo dác chung quanh, xem có điều gì bất thường đang âm thầm diễn ra hay không.

Thế này thì nghi ngờ lắm, mà cũng vì thiếu bằng chứng để nói rằng sắp có một sự kiện đáng ngờ có thể xảy ra.

Trái với vẻ mặt không mấy dễ chịu của tôi, nét mặt bình thản của cậu (tôi nên gọi cậu là Thiếu phó luôn không nhỉ?) làm tôi không hiểu được.

Vì sao ván cờ này gây cấn đến thế, mà cậu lại chơi như thể đang uống trà đàm đạo vậy.

Tôi dù cố đến mấy cũng khó lòng bình tĩnh được như thế, nghĩ lại cũng thấy chán gì đâu.

Này là do tôi, không phải do cậu.

Hai con người, đắm chìm vào thế giới riêng giữa những quân cờ, mặc kệ bên ngoài trôi qua như thế nào.

Mặc dù lần hội ngộ của chị em bọn tôi chỉ nói lấy với nhau được vài ba lời thôi, nhưng ít ra vẫn đỡ hơn là không gặp nhau một tẹo, cũng không biết tin tức gì về nhau luôn.

Mà tôi cũng thích mấy lần gặp gỡ thế này lắm.

Không ồn ào, không hơi men.

Chỉ có như thế, chốc chốc lại hỏi nhau vài ba câu, thế là quá được rồi.

Thậm chí nếu được đánh giá lại, chắc có khi tôi cho những cuộc hội ngộ tương tự vậy trên cả mức tuyệt vời quá.

Người hướng nội như tôi chỉ cầu được như vậy.

Dù tôi không còn nhớ kết quả của ván cờ này ra sao, nhưng chí ít ra thứ đọng lại trong đầu tôi ngày hôm đó chính là lần gặp "tình cờ" này.

Thước phim mới đã được lưu lại trong phần kí ức, trở thành một trong những hoài ức không thể thiếu khi đã không còn cơ duyên gặp lại họ nữa.

Ôi dào, nghĩ sao mà buồn thế...

------------------------------------

(1): Bình luận của một bạn ất ơ nào đấy trên mạng xã hội.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Trở Về Thời Tây Sơn
66. Nụ hôn


------------------------------

Ngày qua ngày, nối tiếp nhau rời khỏi chốn nhân gian.

Chúng nó cứ thế mà rời đi, không kịp để lại tí kỉ niệm gì đối với những người của ngày hôm qua.

Hôm nay là một ngày mưa khá to.

Mây đen giăng kín đến tận nơi góc bể, màu trời xám xịt, vẩn đục hơn mọi ngày.

Từ những đám mây lững thững như mấy gã quái vật khổng lồ ấy, lại sinh ra hơn triệu giọt mưa.

Mưa trút xuống như đạn bắn xuống cõi phàm, khiến cây cối phải oằn mình ra để chống đỡ.

Những hạt mưa nặng trĩu ấy, rơi xuống đất không theo trình tự tí nào.

Khi thì nghiêng ngả, khi thì cắm thẳng xuống đất, thật chẳng biết đâu mà dò.

Đã thế lại đi kèm với mấy cơn gió thổi muốn sởn cả gai óc hết lên, lạnh chết khiếp đi được.

Thành Đồ Bàn hôm nay được một phen chứng kiến trận mưa to.

Vì không chịu nổi sức thổi của gió, sức tạt của mưa nên tôi chỉ cho phép bản thân ngắm mưa qua ô cửa sổ.

Ấy thế mà đôi khi trên mặt tôi còn vương vấn vài giọt mưa không biết từ đâu mà tới cơ đấy.

Trời mưa thế này, được ngồi ngâm mình trong bồn nước nóng, nghe tiếng mưa rơi dưới hiên thì còn gì bằng.

Nhưng...

đấy chỉ là mơ mộng hão huyền của tôi mỗi khi trời mưa đến.

Nhất là khi tôi vẫn chưa xuyên về đâu.

Bây giờ bị bó chân vào cái tình cảnh này rồi thì đành chịu, dù có phản kháng đến mấy cũng vô tác dụng.

Nghe được tiếng mưa dưới hiên thì còn khả thi, chứ những mong muốn còn lại, tôi cũng không biết nó có thể thực hiện được hay không thôi.

Giờ thì, đắp chăn lại và đi ngủ nào.

Có thế mới biến giấc mơ thành hiện thực được chứ.

Nhắc mới nhớ.

Cơ thể tôi cũng lắm lúc lạ thật.

Trời đột ngột trở lạnh hay có mưa một cái là bắt đầu thay đổi ngay.

Chẳng hạn như khi nãy, trông thấy một cơn gió lạnh từ ô cửa sổ thoảng vào, có cái cảm giác man mát ở trong người.

Vậy mà mũi tôi bắt đầu làm việc riêng của nó, hắt xì mấy cái liên hồi.

Đâm ra đến bây giờ tôi vẫn còn sụt sịt chút ít.

Cũng là từ chuyện đó mà ra đấy.

Dù có nốc bao nhiêu nước trà nóng hổi thì cũng được cái là ấm cổ họng, chứ không có tác dụng gì khác.

Người ta có khối liên minh công - nông vững chắc thì tôi có liên minh mũi - tay.

Vì chúng nó hết hắt xì rồi lại lạnh ở tay miết.

Chỉ biết làm khổ thân chủ mà thôi.

Tôi lẩm bẩm trong miệng thầm chửi rủa thời tiết, định rót cho bản thân thêm một chung trà nữa thì bên ngoài bỗng có tiếng gõ cửa.

Cái nơi không đáng để đến mà cũng có người đến nữa cơ à?

Quý hóa quá.

Mà mưa gió thế này, người nào mà chịu vác thân đến đây thì coi bộ cũng siêng dữ lắm.

Thậm chí là không màng đến thời tiết xấu như thế nào đi chăng nữa.

Cơ mà...

để người ta ở ngoài trời mưa như vậy thì quả thật không đúng lắm.

Tôi lười biếng rời khỏi chỗ ngồi ấm áp của mình chỉ để xác nhận xem ai ở bên ngoài.

Trời lạnh thế này, tôi dám chắc là không ai muốn di chuyển cho mấy việc cỏn con này đâu.

Nhưng theo tiếng gọi con tim, tôi đành phải vận động cái cơ thể này để bước ra kiểm chứng.

Cửa mở, tiếng mưa trút xối xả xuống sân đột nhiên lớn hơn so với lúc tôi không mở nó.

Tiếng sét đánh một tiếng làm rung chuyển trời đất.

Tiếp theo sau đó là mấy cơn sét nhỏ thi nhau xé toạc bầu trời xám xịt kia.

Người trước mặt tôi, không ai khác chính là Tây Sơn Vương.

Tôi giật mình, đưa tay dụi mắt vài cái rồi lại ngẩng mặt lên nhìn.

Không phải ảo ảnh, cũng không phải do mắt tôi bị nhòe hay gì hết.

Lại càng không phải do tôi uống trà nhiều quá nên mới nghĩ thế.

Là ngài thật đó.

Ôi trời đất ơi.

"Nàng không định để ta ở ngoài trời mưa thế này chứ?"

Ngài húng hắng, lay nhẹ tay tôi.

Lúc này thì tôi mới thật sự tỉnh giấc.

Hệt như từ cõi mộng trở về vậy.

"À không..."

Tôi lúng túng nói, né sang một bên để ngài bước vào.

"Chẳng qua anh đến có hơi đột xuất nên tôi cứ ngỡ..."

"Ngoài ta ra, làm gì có kẻ nào đến đây tìm nàng vào thời tiết thế này đâu."

Ngài bảo thế rồi thong thả ngồi xuống ghế, cạnh cái bàn mà tôi đặt bàn cờ ở trên đó.

Dường như ý của ngài là muốn phủ nhận hoàn toàn câu nói của tôi, có lẽ thế.

Nhân lúc ngài quay lưng không để ý, tôi nở một nụ cười gượng gạo chỉ để mình tôi thấy.

Thật ra thì ngài không biết được rằng, ngoài ngài ra, vẫn còn có kẻ có thể đến đây tìm tôi đấy.

Đó là Lý Dương, kẻ lúc nào cũng có vẻ nhún nhường khi ở cạnh tôi.

Ờ thì hiện tại y không có ở đây, vì một lí do nào đó mà tôi khó lòng đoán trúng được.

Thật khó đoán quá đi mà.

"Áo của anh ướt mất rồi," Tôi hốt hoảng khi thấy tấm áo rộng của người nọ ướt sũng những nước.

"Thiệt là... mưa to thế này mà anh vẫn cất công đến.

Thế nào hôm sau cũng ngã bệnh mất."

"Nàng chớ nên lo lắng quá.

Dù gì tí nữa áo của ta cũng khô lại thôi," Ngài phá lên cười, đưa tay xoa đầu tôi mấy cái liền để trấn an.

Tôi lẳng lặng gật đầu, thôi không nói gì thêm nữa.

Cái xoa đầu dịu dàng của ngài vẫn còn vương vấn chút ít trên đầu.

Nếu đúng với thực tế nhất thì tôi cảm nhận được sau bao năm, thói quen cũ ấy vẫn chưa lung lay.

Tóc tôi trong chốc lát đã bị xoa đến độ xẹp xuống, thậm chí là thấm cả ít nước mưa trên đầu.

Nhờ thế mà tôi biết được tay ngài cũng lạnh theo vì trời mưa như trút cơn giận xuống dưới nhân gian.

Hay nói đúng hơn, bàn tay ấm áp ngày nào nay đã bị nhuốm đầy cái lạnh của mưa.

Nghĩ mà xót thiệt chứ.

Tôi không thể khuyên ngài tới cùng được, vì sau đó sẽ là hàng loạt những lời từ người đối diện khiến tôi câm lặng luôn.

Kiểu như tôi không biết nên phản kháng thế nào cho hợp lẽ, tại cái đầu trống rỗng này không thể nghĩ ra lấy một lời bịa đặt nào cả.

Từ cái ngày tôi dần hòa tan tới giờ, bản tính nói dối của tôi dường như tan biến.

Này có gọi là nhập gia tùy tục thành công không ta?

Thôi thì chịu.

Tôi đứng im như một pho tượng, chỉ biết nhìn ngài, muốn cất lời nhưng lại không được.

Trong lòng tôi có một cảm giác day dứt khó tả, hay là do tôi vẫn còn vướng bận chuyện gì chăng?

Còn ngài thì mặc kệ tôi làm gì mà tự tay rót cho bản thân chung trà để làm ấm cơ thể.

Có điều, ngài đã quên mất rằng: Trước khi ngài đến đây, một mình tôi đã nốc gần cạn hết cái ấm trà đầy rồi.

Nói thì nghe có vẻ không tin, nhưng đó là sự thật.

Trời lạnh đến mức chỉ có thể trùm chăn ngủ nguyên ngày thì tôi không biết làm gì hơn ngoài việc ngồi ngắm cảnh mưa rơi bên ngoài, rồi ngồi thưởng trà cho nó thư giãn.

Mà thư giãn đâu không thấy, tôi chỉ thấy hao nước trà hơn thôi.

Khi thấy nước trà chảy ra không được bao nhiêu, ngài lấy làm lạ lắm.

Bởi bình thường người ta châm trà để uống, ai lại châm ít bao giờ.

Với lại nếu có châm ít thì cũng vừa đủ cho cuộc đàm đạo nhỏ giữa hai người, chứ đâu ít đến độ cuống họng chưa ấm thì đã cạn ấm rồi.

Có vẫn còn hơn không.

"Sao trà lại ít thế này?"

Ngài hỏi, rồi sau đó quay sang nhìn tôi.

Mặc kệ bị ánh nhìn của ngài truy xét từ đầu tới đuôi, trong tình huống nguy cấp như vậy, tôi chỉ biết cười trừ cho qua chuyện.

Nhiều khi, để giải quyết một vấn đề nan giải nào đó, bước đầu tiên ta cần làm là nở một nụ cười thật tươi.

Tôi cười như thế đã đủ tươi và nhìn chân thật chưa nhỉ?

Có lẽ về khoảng này thì tôi vẫn còn kém lắm, chắc là phải học hỏi thêm từ hoa hậu và các ngôi sao điện ảnh nổi tiếng mới có lấy nụ cười làm lay động lòng người kia.

"Ban nãy trời lạnh quá, tôi có châm trà để uống cho đỡ lạnh nên..."

Tôi ấp úng, đưa mắt nhìn ra bên ngoài.

Trông tình trạng thảm hại của tôi không khác gì bị thẩm phán tra hỏi trong một phiên tòa náo loạn cả.

"Anh thấy đó.

Mưa to, trời cũng lạnh không kém.

Sức chịu đựng của tôi có giới hạn nên đẩy một hơi gần hết ấm trà."

Ngài nhíu mày nhìn tôi, không định lên tiếng ngay.

Có vẻ như Tây Sơn Vương đây sắp hỏi tôi tất tần tật những câu hỏi liên quan, hòng tìm kiếm câu trả lời.

Nghe giống như đang phá án một vụ án kinh điển làm cảnh sát đau đầu suốt mấy ngày liền vậy ha.

Tôi đứng chôn chân mãi một chỗ, cảm thấy chân mình sắp rụng đến nơi.

Bây giờ nhu cầu cấp thiết của tôi là được ngồi, và cầu mong ai đó đến phá vây cho tôi.

Chứ cái nhìn như ghim thẳng lên người khác của ngài thì khác gì muốn đóng tôi xuống sàn đâu.

Nước trà chưa đầy đến nửa chung, dao động thật khẽ theo ngọn gió lạnh từ ô cửa sổ lùa vào.

Ánh nến cháy lay lắt phản chiếu trong chung, bỗng nhiên phát sáng đến lạ thường.

Cũng may độ ấm của trà vẫn còn giữ được nguyên vẹn, và vị ngon của nó vẫn chưa bị mất đi.

Nếu không thì chẳng ai buồn uống nó làm gì, vì còn giữ được tinh hoa của trà đâu mà uống.

"Ta hiểu ý nàng," Ngài thở hắt ra, giọng nói cũng dịu đi đôi phần.

"Trời lạnh, nàng giữ ấm bằng cách đó cũng không sao."

Tôi ngây người, tự hỏi mấy lời vừa lọt vào tai tôi có phải xuất phát từ ngài ra không.

Rõ ràng ban nãy ngài vừa mới nhìn tôi, vẻ mặt không mấy dễ chịu là bao.

Vậy mà chỉ trong một tích tắc thôi, ngài đã trở mặt nhanh hệt như lật bánh tráng ấy.

Đã vậy còn không ý kiến gì với việc uống trà giữ ấm của tôi hay tra hỏi thêm vài ba câu.

Thật lạ lùng.

Bảo sao hôm nay trời mưa to đến lạ thường.

À không, đây không đơn thuần là trận mưa to hơn mọi ngày nữa.

Nó thành bão luôn rồi.

"Anh không giận gì hả?"

Để chắc chắn hơn, tôi quyết định hỏi ngài lần nữa.

"Nước trà còn lại chỉ vừa đủ một chung cho anh uống.

Đã vậy người tiêu hao hết đống còn lại là tôi.

Vậy mà..."

"Ta bảo nàng rồi," Ngài thở dài, mấy đầu ngón tay lạnh buốt sượt nhẹ qua má tôi.

"Không nên áp đặt bản thân nhiều quá.

Chuyện vặt cỏn con đó, ta không để bụng đâu."

Trong chốc lát, nơi đôi má ấm nóng ấy, lại xuất hiện thứ cảm giác mới mẻ.

Nó lạnh, nhưng đôi khi nếu cảm nhận bằng trái tim thì nó lại ấm áp vô cùng.

Giống như ánh mặt trời chói lọi ở nơi lạnh giá, thoáng nghĩ thì nó chỉ đơn giản là mặt trời ở nơi có thời tiết thất thường.

Nhưng nếu nghĩ sâu xa hơn, thì chính ánh nắng kia đã sưởi ấm mọi sinh vật sống ở nơi ấy.

Trên là ví dụ cho trường hợp của tôi bây giờ.

Để tránh nước trà nguội dần theo thời gian, ngài thong thả cầm chung lên mà hớp lấy vài ngụm.

Tôi không biết nên thổi tắt ánh nến kia đi, hay là nên để đấy để nó thắp sáng nơi tối tăm này không nhỉ?

Dù gì chiếc đèn dầu lạc này cũng không được lợi gì nhiều, chỉ tỏa sáng ở mấy nơi gần nó, còn những chỗ ngóc ngách thì lại chỉ hưởng được chút ít thôi.

Đứng mãi đâm ra mỏi chân, tôi đành ngồi xuống ở bên ghế đối diện.

Sức chịu đựng của tôi có giới hạn đấy, không phải làm cái gì mãi cũng chịu nổi đâu nhé.

Ôi, cái chân của tôi.

Nó mỏi đến mức giờ tôi không cảm nhận được gì khác ngoài cảm giác tê ở khắp chỗ.

Kiểu này chắc tôi phải vác cả mấy tiệm mát xa cao cấp về đây mất.

Không còn thứ chất lỏng dìu dịu chảy trong cuống họng, đi khắp ngõ ngách cơ thể để làm ấm nên bất giác tôi lại thấy lạnh như cũ.

Mặc dù bên ngoài mưa đã lắng dần, nhưng dư vị lạnh của gió vẫn còn trong này.

Trên người mặc cả đống lớp vải nhưng vẫn chẳng thấy khá hơn, chiếc đèn dầu kia tỏa ra một nhiệt lượng cũng không đủ để sưởi ấm tôi.

Tôi bắt đầu cảm thấy hối hận khi ban nãy đã lỡ uống gần cạn ấm trà vì buồn miệng rồi.

Dào ôi, đêm nay dù có trùm kín chăn cũng không thể xua được cái lạnh đó.

Chết tiệt thật.

"Lạnh thì lại ngồi với ta," Mọi hành động xuýt xoa than lạnh một cách kín đáo của tôi từ nãy đến giờ đều bị ngài nhìn thấy tất tần tật.

Để làm tôi yên tâm hơn, ngài bèn phẩy tay ra hiệu.

"Kẻo hôm sau ta lại phải cất công đến thăm nàng lắm."

Tôi bật cười khúc khích với lời trêu chọc của ngài.

Dù tôi thừa biết lời trêu kia không hẳn là vì nhằm mục đích để chọc tôi, mà muốn tăng thêm sức thuyết phục.

Giống như kiểu nếu tôi không tìm cách sưởi ấm cơ thể, thì sang ngày hôm sau tôi sẽ nằm ốm bẹp giường.

Kiểu thế.

Cách này coi bộ cũng sáng tạo và hiệu quả đó chứ.

Loài người trên Trái Đất sẽ hóa trẻ con nếu như có phép màu kì diệu nào đó, hoặc khi được ở bên cạnh người mà họ thật sự thấy gắn bó.

Và nếu suy nghĩ đơn giản, không phức tạp hóa vấn đề thì để hiểu một người coi bộ cũng dễ.

Vậy mà mấy cặp đôi cứ cho rằng đối phương quá đòi hỏi, hay anh chàng kia cô gái nọ cứ không thèm chiều theo ý mình suốt.

Tôi lon ton bước đến, không quên kéo theo cái ghế để tiện bề ngồi xuống.

Ngài đưa mắt dõi theo mọi cử chỉ của tôi, để tiện bề ứng phó cho kịp lúc.

Mà gọi là ứng phó cũng không đúng cho lắm đâu, người nọ chỉ đơn giản là xem tôi sẽ làm gì tiếp theo, chứ ứng phó gì tầm này.

"Còn lạnh nữa không?"

Ngài ôn tồn hỏi.

"Không lạnh," Tôi lắc đầu, tươi cười đáp.

Tây Sơn Vương chỉ lẳng lặng gật đầu một cái, sau đó im bặt không nói gì.

Tôi ngồi thần cả ra đấy, tự xoa hai bàn tay mình lại với nhau, rồi chụm lại thành búp hoa to.

Mưa nhỏ dần, thôi không còn những tiếng rơi nặng trĩu như đang ồ ạt lao mình xuống nhân gian.

Đằng đông bắt đầu hửng sáng, ló lên những tia nắng mặt trời sáng bảnh sau làn mây xám xịt.

Tuy mây vẩn đục vẫn còn thơ thẩn xung quanh, nhưng ít nhiều gì nó cũng đã chịu tản ra, chấp nhận sự kết thúc sau mấy tiếng đồng hồ mưa dai dẳng.

Luồng không khí trong lành ùa vào, xua cái ngột ngạt vốn có ra bên ngoài.

Tuyệt, tôi thích cái mùi mới mẻ của quang cảnh sau mưa.

Nó thơm thoang thoảng mùi đất ẩm bốc lên, mùi mưa và mùi cỏ cây.

Đầy kí ức tuổi thơ hồi nhỏ đó, không đùa được đâu.

Đã đến lúc mở toang cánh cửa ra được rồi.

Nhưng vấn đề ở đây là tôi lười đứng dậy, lười vận động lắm cơ.

Giống như tôi đã dùng thứ keo dính để dính chặt cơ thể tôi xuống ghế từ trước vậy.

Sau cơn mưa, mọi thứ được gột rửa sạch sẽ các tạp chất cũ kĩ và bụi bặm, chỉ có tôi là không thể thay đổi được như trước.

Thậm chí là còn hơn thế nữa ấy chứ.

Tôi nghĩ bản thân mình cần một khóa sửa đổi tật xấu ấy nhỉ.

"Nhật Hạ," Ngài lên tiếng, ngẩng đầu lên nhìn tôi.

"Ta có quà cho nàng."

Lời nói này còn vui hơn cả tin trúng số độc đắc hay tin đậu vào ngôi trường mình mơ ước nữa.

Tâm trạng của tôi bây giờ đã khá hơn, vì trông tôi lúc này cứ háo hức như một đứa trẻ sắp được tặng quà.

Mọi niềm vui trong tôi không thể che giấu được, bởi nó đã bộc lộ một cách gián tiếp thông qua đôi mắt cứ nhìn chằm chằm vào ngài, hòng muốn câu trả lời.

Chuyện ngàn năm có một, trần đời hiếm thấy.

Thấy vẻ mặt mừng còn hơn đi trẩy hội của tôi, ngài đưa tay lên nhéo má tôi, cầm lòng không đậu mà đành buột miệng phá lên cười một cái.

"Thích đến vậy à?"

"Bình thường anh có hay tặng quà cho tôi đâu," Tôi bĩu môi nói.

"Giờ nghe anh nói như vậy thì vui thôi.

Đâu phải chuyện lạ."

Ngài gật đầu ưng thuận, thả tay ra khỏi bên má đỏ ửng vì bị nhéo.

Dạo đây thú vui mới của ngài mỗi khi gặp tôi là nhéo má hay gì ấy, sơ hở là nhéo miết.

Mà tôi cũng không lạ gì lắm, tại đó giờ toàn bị lũ bạn nhéo má suốt ấy mà.

Mọi người hay khen tôi có đôi má mềm mại, chạm vào rất êm, nên đâm ra hay tìm cớ để nhéo.

Tôi đã quá quen rồi.

Bàn tay ngài giấu nhẹm sau lưng, như đang ấp ủ một vật gì đó trong tay.

Tôi ngó nghiêng đầy tò mò, không biết lần này món quà sẽ là gì đây.

Lần trước tặng tôi cái vòng là đủ, lại chọn vào dịp khởi nghĩa để tặng nên tôi cứ ngỡ ngàng không dứt được.

Đằng này...

Chắc chắn thời tiết hôm nay có bão.

Trăm phần là thế!

"Cho nàng," Ngài chìa ra một chiếc hộp gỗ nho nhỏ, được đóng nắp kĩ càng.

Trông vật thể lạ ấy nằm lọt thỏm trong tay ngài, lại không thể thấy vật ở bên trong là gì, tôi càng nung nấu ý định muốn biết trước ngài định tặng tôi cái gì.

Tất nhiên là tôi có thể mở ra và xem nó một cách đường đường chính chính, nhưng tôi lại muốn xem qua nó hơn cơ.

Như vậy tuy không còn bất ngờ như trước, nhưng ít ra tôi vẫn còn giữ lại trong lòng chút ít cảm xúc hồi hộp.

Cái này... là cho tôi đó hả?

Tôi lúng túng nhận lấy chiếc hộp từ tay ngài, không biết nên làm gì tiếp theo.

Ờ thì được người ta tặng quà rồi đó, nhưng giờ mình làm gì nữa đây?

Nên cảm ơn, nên khui quà hay nên để đó cho qua nhỉ?

Mà đây không phải là lần đầu tiên tôi bị đưa vào tình huống này đâu.

Tôi cũng toàn được khối con trai trong khối tặng quà đấy chứ, nhất là vào mấy dịp hời ơi đất hỡi.

Có điều... nếu bảo được người cách tôi hơn hai trăm năm về trước tặng quà cho, thì đúng là lần đầu tiên tôi gặp thật.

Vận động trí não mày lên nào, Nhật Hạ.

Ngài thích thú ngắm nhìn phản ứng của tôi, vờ tằng hắng hỏi:

"Không định mở ra sao?"

Nếu được ngắm nhìn bản thân trong gương, có lẽ tôi sẽ phải ngơ ngác mất một hồi lâu vì mặt tôi lúc này trông buồn cười lắm: Hồi hộp có, ngạc nhiên có, tò mò có.

Nói chung là có đủ cả.

Thậm chí tôi còn thấy khâm phục rằng ngài nhịn cười cũng giỏi quá chứ, nhìn tôi lâu đến thế mà không chịu cười một tí nào.

Gom hết can đảm cuối cùng còn vương lại trong lòng, tôi quyết định đánh bạo mở thử.

Ngài đã không chịu hé miệng tiết lộ trước món quà bên trong, thì để tôi biết được nó - một bí ẩn mà ngài khéo léo cất giấu trong đấy.

Tôi tin chắc dự cảm của tôi là đúng, vì trước giờ vẫn thế mà.

"Mở thì mở!"

Tôi cương quyết nói thế rồi hít một hơi thật sâu, sau đó chậm rãi khui quà.

Cuối cùng nắp hộp cũng được mở ra, từ từ vạch trần bức màn sự thật ở bên trong chiếc hộp bé xinh.

Giây phút ấy, thật sự là khoảnh khắc mà tim tôi lắng lại, thời gian như trôi chậm đi.

Một giây mà tôi cứ ngỡ như một thế kỉ đã qua, một ngày ở cạnh ngài mà tôi cứ ngỡ đã hơn chục năm qua rồi.

Vật nằm trong hộp gỗ kia là chiếc vòng cổ có đính thêm mấy viên ngọc quý lên trên.

Tỏa một thứ ánh sáng đẹp huyền ảo tựa mấy vì sao trên trời, mấy viên ngọc đó đã thành công làm lay động ánh nhìn của tôi.

Nó lấp lánh đến mức, ngay cả trong mắt tôi cũng phản chiếu lại hình ảnh của nó.

Đẹp khỏi phải chê.

Tôi trố mắt ra nhìn, miệng không khỏi xuýt xoa vì độ quý lẫn độ khéo tay của người đã làm ra nó.

Giời ôi, thì ra đây chính là cảm nhận khi được ngắm nhìn quà quý trước mắt mình sao?

Èo, đắt thì thôi rồi, nhưng làm sao ngài lại chịu xuất tiền ra mua cái này về tặng tôi nhỉ?

Năm Tân Mão tặng tôi cái vòng này là đã đủ rồi, nay lại còn tặng tôi thêm chiếc vòng cổ này nữa.

Giờ tôi từ chối thì còn kịp không ta.

"Anh... tặng tôi thiệt đó hả?"

Tôi ấp úng lên tiếng, hết nhìn ngài rồi lại nhìn vào bên trong hộp.

Có đánh tôi bao nhiêu cái thì tôi vẫn một mực khẳng định rằng tôi đang nằm mơ!

"Không tặng nàng thì ta tặng ai," Ngài đứng dậy, tiến vài bước về phía tôi.

"Nàng thích không?"

Biết không thể che giấu cảm xúc của mình đi đâu được, tôi đành gật đầu đáp lời.

Tây Sơn Vương mỉm cười mãn nguyện.

Đoạn, ngài lấy vòng cổ từ trong hộp ra, tự tay đeo nó vào cổ cho tôi.

Ban đầu thì tôi định phản kháng đó, nhưng vì tác phong của tôi không nhanh bằng ngài nên không kịp lùi lại thôi.

Vả lại, dù có phản kháng kịch liệt đến đâu, tôi biết sức nữ nhi chân yếu tay mềm của tôi cũng không thể địch nổi sức người chăm tập võ công.

Thế nên, đứng yên như thế và giả vờ không biết mọi thứ là cách làm tốt nhất.

Cũng là phương án phù hợp cho tình huống này luôn.

Khi mọi thứ đã xong xuôi đâu vào đấy, ngài đưa ngón tay út vén nhẹ tóc tôi rồi thì thầm:

"Đẹp lắm."

Tôi đỏ bừng cả mặt, vội vàng phân bua:

"Anh cứ đùa.

Tính tôi như thế này thì sao mà đẹp được."

Lúc này tôi có thể cảm nhận được máu trên mặt mình dồn lại, đỏ ửng ở nơi vành tai và đôi má.

Đầu óc thì hoàn toàn trống rỗng, chẳng nghĩ thêm được lời nào để nói.

Tôi cũng không có lấy nơi để giấu cái cảm xúc ngượng nghịu này đi, bởi chung quanh đều bị bốn bức tường vây kín, trước mặt thì bị một người nhìn miết thôi.

Chỉ vì một lời khen bâng quơ thế mà tôi cũng bị ngại đỏ mày đỏ mặt, chắc là do yếu tố khác tác động vào rồi.

Tôi cần một cái xẻng.

Để đào cái hố thật sâu, thật kín, chui xuống đó để tránh đi tất cả, không bận tâm đến sự đời.

"Nàng không đẹp về tính cách, nhưng đẹp về tư dung (1)," Ngài véo nhẹ lên chóp mũi tôi.

"Ta muốn nàng phải biết chăm chút bề ngoài của mình."

Tôi bĩu môi tỏ vẻ phản đối.

Song tôi lại không nói gì thêm, chỉ biết im lặng lắng nghe để tránh đôi co lời qua tiếng lại giữa hai bên.

Nhiều khi đẹp về sắc nhưng không đẹp nết thì coi như cũng phế cả, nhưng chăm chút cho bản thân quá thì lại bị nói là điệu đà.

Giờ sống sao cho vừa lòng mọi người, ưng mắt bàn dân thiên hạ đây nhỉ?

Dù gì thì tôi cũng không phải sợ ánh mắt săm soi, bàn tán của người khác.

Vì đây là cái thời mà người ta trọng sắc lẫn tài của người con gái, hay nói đúng hơn thì đây là cái thời vẫn còn mang nặng tư tưởng trọng nam khinh nữ kia.

Tài thì tôi có, nhưng chỉ lẻ tẻ đếm trên đầu ngón tay, còn sắc thì không biết.

Ba mẹ tôi, họ hàng làng xóm, ai ai cũng khen tôi càng lớn càng xinh.

Ấy vậy mà tôi lại không thấy xinh đâu sất, chỉ thấy một đứa con gái với gương mặt chỉ đủ để ưa nhìn.

Tự ngắm bản thân trong gương, tôi không thấy mình đẹp ở đâu hết, cái đẹp của con người cốt lõi là ở trong tâm hồn.

Tôi chăm chú nhìn chiếc vòng cổ nằm yên vị trên người mình, hí hửng không khác gì đứa trẻ được tặng quà.

Nó đẹp, không có cách nào mà không thừa nhận được vẻ đẹp tuyệt vời này.

Đến độ dù có đem hàng trăm vòng cổ khảm đá quý của thế kỉ XXI về đây thì nó cũng không sánh bằng được, tại nó là vật mà ngài tặng tôi mà.

Ngài nhìn tôi đến mãn nguyện.

Ôi dào, cái vòng cổ này tỏa sáng rực rỡ, tô điểm thêm dung nhan của mỹ nhân "kì dị" từ hơn hai trăm năm sau tới, sao lại không ngắm cho được.

Kẻo đến khi bức tranh đắt giá kia được treo trong lồng kính, trưng bày trong viện bảo tàng thì lại không có cách nào để biến bức tranh đó là của mình được nữa thì khổ.

Thế đấy.

Ngài thở hắt ra, bảo:

"Nàng giữ cho kĩ, không được để thất lạc đâu đấy."

"Anh cứ ngỡ tôi là con nít à?"

Tôi ngồi bệch xuống giường, lúc lắc hai chân qua lại.

Để phủ nhận lời của ngài, tôi giơ tay lên, cho ngài thấy rõ chiếc vòng chỉ đỏ vẫn còn nằm y nguyên ở đó như ngày nào.

"Đây này.

Năm ấy anh cho tôi, đến năm năm sau tôi vẫn còn giữ đó chứ."

Tôi nhìn thẳng vào mắt người đối diện, cảm thấy bản thân mình có thể nhìn được chút dịu dàng năm nào vẫn còn vương lại trong đây.

Để tôi xem... một đêm tối nọ năm Bính Tuất, một nam một nữ giở chứng điên khùng ngồi ngoài đêm lạnh, thủ thỉ với nhau đôi lời.

Lúc ấy cũng chính là lúc lần đầu tiên tôi thấy rõ được nơi đáy mắt người kia có gì, vì sao lại làm mặt hồ trong tôi gợn sóng đến vậy.

Ngoài trời, gió lộng thổi vào.

Từng tia nắng đầu tiên sau cơn mưa nhảy nhót trên mấy ngọn cành tươi tốt, muốn hong khô những nước mưa còn đọng lại.

Thiên nhiên vẽ một bức kì họa với mây đã thôi đen hơn, nắng dần ló rạng hơn.

Vậy mà trong này lại có hai con người chẳng màng đến thời gian và không gian, không chịu đưa mắt nhìn.

Tây Sơn Vương rũ mắt nhìn tôi, làn mi mỏng ẩn chứa đôi mắt nâu đen khẽ lay động.

Ngài chầm chậm đến gần, dáng vẻ có hơi khom người xuống.

Tôi giật mình nhìn lên, đương đang đứng trước mặt tôi bình thường, tự nhiên ngài lại thu hẹp khoảng cách đến kì lạ, lại còn cúi xuống nữa chớ.

Không hề báo trước một câu về dự định sắp làm.

Định giở trò gì với thiếu nữ nhà lành thế?

Giờ tôi có nên rụt người để tránh không nhỉ?

Đầu tôi bắt đầu hoạt động hết công suất chỉ trong khoảng thời gian ngắn ngủi đó, vận động mấy dây thần kinh làm việc trong khi mọi chuyện xảy ra bên ngoài lại quá nhanh.

Thế là tôi lại nghĩ ra được vô vàn tình huống kế tiếp: Sẽ ra sao nếu như tôi né?

Giống như muốn chắc chắn cho một kế hoạch nào đó, cần phải dự tính trước cả những rủi ro tiềm ẩn của nó để phòng ngừa bất trắc ấy.

Thôi, tôi nghĩ lại rồi.

Dù có né đến nhiêu thì cũng không tránh đi đâu được cả, theo linh cảm của tôi thì là vậy.

Ngài vén nhẹ vạt tóc mai của tôi sang một bên cho đỡ vướng víu, trông gọn gàng hơn.

Hơi thở ấm nóng của người nọ phả vào bầu không khí, sau đó tiếp xúc với trán tôi.

Ánh mắt dịu dàng của ngài càng làm cho tim tôi đập thình thịch liên hồi.

Bao lâu rồi tôi mới được thấy người khác sống trong nhịp thở đều đặn như này rồi ta?

Gì?

Định làm gì tôi đấy?

Hôm nay ngài lạ lắm, rất rất lạ.

Tự nhiên đến đây thăm tôi vào một ngày trời mưa to, đã thế còn xách theo hộp gỗ để tặng vòng cổ cho.

Đã vậy bây giờ còn có hành động kì quặc, quả nhiên ra trận nhiều quá cũng không nên.

Tôi nhắm mắt lại, nén hơi thở ồn ào trong lồng ngực mình để chờ xem chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo.

Phần là vì hồi hộp, phần còn lại là không muốn tự thân coi tiếp cái diễn biến đâu.

Phải đợi nó qua rồi ngó ngàng lại sau.

Lúc khoảng cách giữa cả hai chúng tôi quá gần (gần như là có thể nhìn thấu được người kia đang nghĩ gì) thì ngài thư thả đặt lên trán tôi một nụ hôn phớt qua.

Sau đó thì dứt ra, chờ đợi phản ứng của tôi như thế nào.

Vâng, bạn không nghe nhầm đâu.

Là một nụ hôn, nhưng mà nó ở trán chứ không phải ở môi.

Chưa giập bã trầu, ngài đã hoàn tất nhiệm vụ của mình.

Tôi chỉ biết ngơ ngác nhìn, cố tiếp thu vào đầu hàng loạt dữ kiện mới.

Chỉ trong một thoáng xíu xìu xiu thôi, vậy mà tôi lại phải chứng kiến hàng loạt những sự kiện đã xảy ra một cách nhanh gọn lẹ.

Tôi, vừa được ngài thưởng cho cái hôn trên trán á?

Èo... chuyện lạ có thật.

"Anh..."

Lúc này tôi mới thốt ra được câu đầu tiên sau những giây phút im lặng như hến.

Thật sự, ban nãy tôi không thể mở miệng ra nói được câu nào cho ngon lành, làm như miệng bị dính keo 502 hay sao ấy.

"...

đang làm gì vậy?"

"Không hài lòng sao?"

Ngài siết tay thành nắm đấm rồi đưa lên che miệng, lảng tránh ánh mắt chất đầy nghi vấn của tôi.

Rõ ràng cái biểu cảm kia chính là ngượng ngùng, không thể cãi đi đâu được.

Không hài lòng?

Ê vậy cái ẩn ý ở đây là gì vậy chứ?

Hài lòng chuyện gì cơ?

Về cái vòng hay về chuyện gì?

Thấy tôi không trả lời, ngài búng nhẹ lên trán tôi, hòng làm cho tôi tỉnh táo trở lại:

"Ta xin lỗi, làm nàng sợ quá rồi."

Tôi vội níu lấy tay áo ngài, nhíu mày vẻ nghi hoặc.

Thế ra vừa rồi ngài mới hôn tôi thật à?

Nhưng mà... tôi có phần cụt hứng thật.

Cứ tưởng là ở môi, như biết bao cảnh phim anh chàng tổng tài bá đạo cúi đầu tặng cho cô gái thú vị mình thương một nụ hôn đầu đời.

Nào ngờ lại là ở trán, nơi mà tôi còn không thèm nghĩ và đưa nó vào danh sách ứng cử viên số một luôn cơ.

Thì ra ngôn tình trong phim không như tôi tưởng!

Tôi cười khổ với bản thân.

Dào ôi, đây là năm bao nhiêu, thế kỉ thứ mấy mà tôi còn đòi ba cái tiểu tiết lãng mạn làm người xem rụng đốn tim nữa.

Muốn được như thế thì chỉ có nước quay trở về, đắp chăn rồi nằm coi mấy cảnh đó thôi.

Khổ điều ở đây không có bánh trái, không có nước giải khát, cũng không có thiết bị điện tử lẫn sóng để cho tôi mở phim lên coi luôn.

Đành ra tôi chỉ biết chép miệng tiếc nuối, cất cái mơ mộng hão huyền kia đi.

Cần gì cảnh đấy?

Ngài vừa mới biến suy nghĩ của tôi thành sự thật rồi còn gì...

---------------------------------------

(1) Tư dung: Dáng vẻ và nhan sắc.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Trở Về Thời Tây Sơn
67. Thái Đức Đế


Thời gian lại thấm thoát trôi qua.

Thóc cũ không còn, thóc mới vừa gặt, độ đã được một năm.

Vậy mà chỉ vỏn vẹn trong một năm ngắn ngủi ấy, lại có biết bao chuyện đã xảy ra.

Không cần phải lội đâu cho xa.

Mới tháng Mười Một năm Bính Thân đây thôi, trong triều đình chúa Nguyễn diễn ra sự kiện lớn.

Sau khi Tống Phúc Hiệp mất, Lý Tài với Đỗ Thanh Nhơn nảy sinh mâu thuẫn.

Thế lực của Lý Tài ngày càng lớn mạnh như sóng biển gặp gió to, đến nỗi phải ép chúa Nguyễn nhường ngôi cho Nguyễn Phúc Dương.

Chuyện thế sự gần đây nó lộn xộn đến mức, chính tôi còn không hiểu được vì sao cái đấy lại xảy ra cơ mà.

Đau đầu muốn điên hơi, đúng là chỉ có những người bị cuốn vào thời cuộc mới hiểu rõ tường tận, cũng như có thể dự đoán được những gì sắp diễn ra.

Sang đầu năm Đinh Dậu (1), ngài được chúa Trịnh là Trịnh Sâm phong cho chức Trấn thủ Quảng Nam Tuyên úy đại sứ.

Trước đó ngài đã vờ xin giảng hòa với quân Trịnh, làm tiên phong đánh chúa Nguyễn ở Gia Định để tránh tình thế "lưỡng đầu thọ địch".

Thế là sẵn tiện có được cái chức Tây Sơn trưởng Hiệu Tráng tiết tướng quân luôn.

Mọi chuyện nếu sơ suất, suy nghĩ không chín chắn thì coi như toi một nước.

Công sức từ trước đến giờ cũng đổ sông đổ bể, đã thế lại rước họa vào thân.

Ngẫm đến chuyện này, tự nhiên tôi thấy ngày xưa muốn tự thân gây dựng nên một triều đại hay chính quyền cho riêng mình, chí ít ra cũng khổ lắm chứ chẳng đùa.

Trước mắt là giữ được cái mạng rác trong thời buổi loạn lạc thôi cũng tốt lắm rồi.

Tôi thở dài thườn thượt, nằm gục đầu trên bàn, mái tóc buông xỏa ra không theo thứ tự.

Nói tôi yên ổn sống ở quá khứ, không gặp phải chuyện gì thì không đúng.

Mà nói tôi gặp chuyện thì lại càng không đúng hơn.

Chẳng qua bây giờ tôi không có chuyện gì làm, lại đương lúc chán nên tâm trạng xuống dốc hẳn.

"Chán quá..."

Tôi tự than vãn với chính bản thân mình, mơ hồ nhìn về phía trước.

"Biết thế lúc trước tiện tay vớ lấy cuốn sách nào đó rồi.

Quỷ quái thật."

Giọng nói của tôi vang vọng khắp bốn bức tường, đọng lại trong hư vô.

Tôi thừa biết tiếng nói này sẽ chẳng có ai đáp lại, nguyện vọng của tôi mãi mãi không được thực hiện.

Ấy vậy mà như một thói quen, tôi vẫn im lặng chờ đợi.

Chờ đợi một người đến đây, cùng trò chuyện lấy vài ba lời cỏn con.

Chờ đợi trong vô vọng.

Trên bàn bày biện nào giấy bút, mực đen từ bút rơi nhỏ giọt, thấm đẫm qua lớp giấy mỏng.

Nghiên mực sóng sánh thứ mực đen tuyền, trên giấy hiện lên vô vàn những hình vẽ nhố nhăng, cùng hàng chữ kì quái.

Sống ở cái thời còn phong kiến cũng đã tròn mười năm, nhưng thứ tôi có thể làm khi chán vẫn chỉ là vẽ ba cái hình vớ va vớ vẩn trên giấy.

Chữ nghĩa năm nào mà cậu ba cật lực dạy tôi, giờ cũng chỉ nhớ lác đác vài chữ.

Mười năm đã trôi...

Nhưng từ đây đến năm Nhâm Tuất, e là phải trải qua muôn vàn biến cố khác.

Muốn về đến nhà thành công, đâu phải con đường nào cũng được trải thảm sẵn, đâu phải con đường nào cũng dễ dàng vượt qua.

Tôi thầm nghĩ, với lượng lớn sự kiện vây quanh triều đại này, hẳn bản thân tôi sẽ lĩnh đủ số ấy.

Có khi là ít hơn.

Cũng có khi là nhiều hơn.

Viên ngọc đỏ quý nằm yên vị trên bàn, trong tầm ngắm của tôi.

Sắc đỏ quyện với dòng nắng ươm vàng, ánh lên một màu huyền ảo.

Tôi thu vào trong mắt màu đỏ của ngọc, lười nhác đến độ không buồn ngồi dậy.

Về việc chiếc vòng cổ năm ấy, tôi cũng không có thành kiến gì nhiều.

Được tặng và nhận quà được tặng, đó là những từ đơn giản lúc nào cũng xuất hiện trong đầu tôi trước tiên mỗi khi được tặng quà.

Một tràng gió lạnh thổi vào.

Giấy tờ trong phòng cứ thế mà bay tứ tung, sà xuống đất rồi nằm ở đấy mãi.

Tôi toan đưa tay chộp lấy nhưng vô ích.

Dưới đất, đống giấy tôi đã chấm những nét mực đen lên trên đấy đều nằm xếp chồng lên nhau, cái nằm trên, cái nằm dưới, có khi là nằm bơ vơ một mình.

Khi tờ giấy cuối cùng đáp đất, cũng là lúc mọi tạp âm đều biến mất vào hư vô.

Giờ mà thu nhặt từng cái một thì có vẻ hơi vất vả.

Biết thế tôi đã không bày biện để đỡ tốn thì giờ.

Công sức đổ ra, được cái là làm tôi không bị chán hơn thôi, ngoài ra cũng không giúp ích gì thêm được nữa sất.

Tháng Ba năm Đinh Dậu, Tây Sơn Vương cử Phụ chính Nguyễn Huệ làm tướng đánh Gia Định lần hai.

Lý Tài thua trận phải bỏ chạy, đưa chúa Nguyễn chạy về Hóc Môn.

Sau đó thua trận ở Hóc Môn, lại bị quân Tây Sơn phong tỏa nên đành phải chạy về Ba Giồng (2) - căn cứ của quân Đông Sơn.

Kết cục lại bị chính quân Đông Sơn tiêu diệt.

Chạy tới chạy lui, rốt cuộc chẳng có lấy cái kết nào nên hồn.

Tháng Tư, quân Tây Sơn đánh quân của chúa Nguyễn dưới sự chỉ huy của Nguyễn Huệ.

Tân Chính Vương Nguyễn Phúc Dương cùng Định Vương Nguyễn Phúc Thuần bỏ trốn, nhưng cả hai đều không trốn thoát được, bị đem xử tử vào cuối năm Đinh Dậu.

Người duy nhất chạy thoát ra đảo Thổ Chu chính là Nguyễn Phúc Ánh, con trai của Nguyễn Phúc Luân.

Một đứa trẻ mười lăm tuổi khi ấy tự thân cưỡi sóng lớn, trải bao gian khổ, ôm một ước vọng khôi phục lại cơ đồ, thật sự mới là chủ nhân chân chính của ngôi chí tôn quý báu kia.

Ngày khải hoàn năm Nhâm Tuất, hẳn sẽ là một ngày hoàn toàn khác so với những người không cùng số phận...

*

"Lại ngồi dưới hiên để chờ đợi ai đó nữa sao?"

Lý Dương nhẹ nhàng đến bên tôi.

Không đợi tôi lên tiếng, y đã tự thân ngồi xuống bên cạnh, cùng tôi phóng mắt nhìn ra đằng xa.

"Liên quan gì đến anh," Tôi chưng hửng đáp lại, không buồn liếc mắt nhìn y.

"Tôi không có chờ đợi ai sất."

Y chỉ cười mỉm không đáp, đưa tay ra che lấy vầng dương trước mặt.

Gương mặt y ngày càng đượm vẻ buồn thấy rõ, không hiểu trong tâm trí vẩn đục kia, y đang nghĩ gì nhỉ.

Năm nay y cũng sắp chạm ngưỡng tuổi ba mươi, không phải là chàng trai mười tám tuổi năm đó, hay là chàng trai hai mươi hai tôi từng gặp với bi kịch của gia đình luôn bám theo y đằng đẵng.

Nhưng... thứ duy nhất không thay đổi sau ngần ấy năm, chính là vẻ điển trai thanh thoát không nhầm đi đâu được.

Nếu so sánh tôi và y ai đau khổ hơn.

Thì có lẽ, câu trả lời đã hoàn toàn nghiêng về phía Lý Dương.

Từng trải và từng hiểu thời cuộc này rõ tàn nhẫn như thế nào, sống trên cõi đời đầy vô vọng khi chứng kiến người thân trong nhà đều lần lượt ra đi.

Có thể mỗi một câu chuyện trong đời của chàng trai này sẽ là nguồn cảm hứng viết cho biết bao nhiêu nhà văn khi muốn sáng tác ra một tác phẩm mới đó.

Tôi cũng có đau khổ đấy.

Nhưng hiển nhiên là không thể bằng y rồi.

"Lần nào tôi đến đây, trăm lần đến là trăm lần nhìn thấy cô ngồi thẫn thờ dưới mái hiên, ngẩng mặt nhìn trời."

Y tò mò nhìn chiếc vòng cổ trên ngực tôi, không kìm được lòng mà buột miệng hỏi: "Cái này... là ai tặng cô vậy?"

"Còn ai ngoài ngài ấy đâu," Tôi chăm chú mân mê mặt trước của vòng cổ.

"Đến cũng thất thường lắm.

Phải nhằm vào hôm trời mưa to thật to mới chịu cơ."

Nói rồi, tôi thở dài một hơi để minh chứng cho sự bất lực của mình.

Y bật cười khúc khích, trông như thể tôi vừa kể chuyện cười cho y nghe, hoặc là do từ khi sinh ra, y đã có khiếu cười trước những chuyện hài hước vụn vặt.

Chúng tôi huyên thuyên hoài, huyên thuyên mãi về đủ thứ chuyện trên trời dưới đất.

Y kể cho tôi nghe những chuyện khác mà ngày xưa y từng gặp trong lúc cùng cha lên miền Thượng để buôn, tôi lại kể cho y nghe những chuyện còn vấn vương cõi lòng.

Mặc kệ người ta có tin hay không, chứ mấy chuyện cỏn con đó từng làm tôi mất ngủ suốt mấy đêm đấy.

Chưa bao giờ tôi thấy y chịu mở lòng để kể cho tôi, cũng chưa bao giờ thấy y tập trung vào câu chuyện đầy sức hút của tôi đến thế.

Chắc nay y đổi tâm đổi tính thôi ấy mà.

Mây bãng lãng trôi trên những ngọn cây, cách một khoảng tưởng gần nhưng lại khó với tới.

Vượt một quãng đường xa từ hiện đại về đến quá khứ, nhưng tôi đoán bầu trời trong xanh ấy mãi mãi chẳng thay đổi một tẹo nào.

Thảm trời của tự do, của bình đẳng, của cái thời không còn tất cả những cảnh loạn lạc hay dư âm của cuộc chia cắt.

Có điều, về độ tĩnh lặng, bình yên của nó, thì khó mà sánh bằng được với thời vẫn còn vua chúa.

Bởi vậy tôi hay dành phần lớn thì giờ rỗi của mình để thơ thẩn nhìn ngắm trời mây là thế.

"À phải rồi.

Anh không định trở về quê để lập nghiệp đấy chứ?"

Tôi chợt nhìn qua y.

"Cũng sáu năm kể từ ngày gia đình anh gặp biến cố rồi còn gì."

Lý Dương ngẩng mặt nhìn tôi, đôi môi mím lại như thể y đang định nói gì đó.

Cuối cùng, sau khi im lặng mất một hồi lâu thì y cũng đáp:

"Ban đầu tôi cũng có ý định như cô, nhưng ngẫm đi ngẫm lại thì tôi thấy vẫn còn tiềm ẩn quá nhiều rủi ro."

"Nếu anh muốn," Tôi nói tiếp.

"Tôi có thể xin ngài ấy."

Y nhìn tôi bằng ánh mắt dè chừng.

Còn tôi nhìn y bằng ánh mắt tò mò khó hiểu, không biết vì sao y lại nhìn tôi bằng cặp mắt ẩn nhiều ẩn ý đến thế.

Tôi vừa mới nói cái gì sai hả ta?

Hay là do tôi đã đưa y vào thế khó xử rồi nhỉ?

Chuyện này thì có gì khó xử, dăm ba cái chuyện vặt ấy mà.

Chỉ cần tốn ít nước bọt ra xin ngài là được, không cần phải lo lắng quá.

Mà dù kế hoạch thao túng của tôi thất bại thì chí ít ra vẫn còn mấy lần cơ hội tiếp theo, đến lúc đó tôi sẽ tha hồ mà nài nỉ.

"Có... có được không đấy," Y tằng hắng đầy gượng gạo rồi quay người hẳn đi, cố tránh né tôi.

"Tôi nghĩ anh cô không cho đâu.

Dù gì tôi cũng trót ở đây rồi, sao mà trốn được chứ."

"Với lại... cha mẹ, em gái tôi mất rồi.

Đến nhà cũng không có, biết về đâu mà ở đây."

Giọng nói của y nhuốm đầy một màu chua chát và sầu thảm.

Những áng mây mờ trôi lững thững ở nơi đáy mắt, đôi mắt ngày càng lạc đi với dòng suy nghĩ chất đống trong lòng.

Tôi lo lắng dõi theo, không biết bản thân mình có sơ ý nhắc đến quá khứ không mấy vui vẻ của y không.

Tôi không cố ý thật mà.

Đâu có ai ngờ y dễ buồn tới vậy đâu chớ.

Tên này tiêu cực thế.

Lạc quan tôi xem nào.

"Được mà."

Tôi cố nặn ra một nụ cười chân thật nhất, gật đầu lia lịa để khiến y tin tưởng mình hơn.

"Anh yên tâm đi.

Độ khi nào rảnh, tôi sẽ nói chuyện này với ngài ấy sau."

Y mỉm cười, nom có vẻ an lòng với quyết định của tôi lắm.

Nhưng tưởng vậy mà không phải vậy.

Bởi tôi biết y không còn nơi nào để về nữa, người bầu bạn cùng cũng chỉ có mình tôi.

Niềm vui, nỗi buồn gì y đều không giấu trong lòng mà cứ luôn mồm kể cho tôi nghe tường tận.

Rồi, tôi chỉ còn nghe thấy tiếng thở đều đặn của người bên cạnh, tuyệt nhiên không nghe lấy được lời nào.

Có lẽ y đã thôi không muốn nói nữa, chỉ ngồi yên như vậy suốt mấy canh giờ liền.

Chỉ một khắc tĩnh lặng như vậy thôi, mọi hoạt bát, tươi vui lẫn hào hứng mà tôi vừa thấy đã sớm tan biến vào hư vô.

Hoặc có khi, chính y đã hòa tan vào bầu không khí tĩnh lặng nữa cũng nên.

Hoài ức đáng sợ đến vậy sao?

*

Đêm tối muộn.

Tôi ngồi nhìn ngắm bản thân trong gương đồng, phía sau là ánh nến cháy lay lắt một cách yếu ớt.

Trời lạnh, gió buốt thoảng vào làm người ta không chịu được mà phải trùm kín mít trong chăn ấm.

Những ngôi sao cứ nhấp nháy trên trời đen thăm thẳm, tự do tỏa sáng mà không sợ ai ngăn cản.

Trăng khuyết rọi ánh sáng bàng bạc xuống nhân gian, nằm đung đưa vắt vẻo trên ngọn cây mà ngủ.

Nếu một thi sĩ mà được chứng kiến cảnh trời về đêm như thế này, hẳn ông ta sẽ sáng tác ra một bài thơ trong khi có hơi men trong người.

Tôi nghe dì tôi bảo rằng có vài nhà thơ đã tự thân leo lên đỉnh núi, chè chén đến khi trăng lên rồi từ từ cảm nhận quang cảnh thơ mộng, êm đềm.

Có điều tôi không có tài năng thiên phú như bọn họ nên chỉ biết ngắm trăng như một thú vui cho giết thì giờ rỗi.

Ngục trung vô tửu diệc vô hoa,

Đối thử lương tiêu nại nhược hà (2).

Trong đầu tôi bỗng vang lên hai câu thơ đầu của bài Vọng Nguyệt của vị lãnh tụ vĩ đại, bằng giọng đọc truyền cảm của giáo viên dạy cấp một thuở nhỏ.

Tôi còn nhớ ngày xưa, khi lớp học tới bài này, cô tôi đã đọc hẳn phiên âm Hán Việt của bài thơ đó cho lớp tôi nghe.

Thế là bọn tôi ai nấy cũng ngưỡng mộ không ngớt, không hiểu từ khi nào mà cả lũ cũng có thể bập bẹ ít nhiều một, hai câu thơ.

Hoàn cảnh của tôi bây giờ thật giống lắm.

Có mảnh trăng treo trên đầu, có tất cả những điều kiện thuận lợi để có một buổi tối nhàn hạ, nhưng lại chẳng có tí rượu hay trà gì sất.

Đã lâu không đưa tí hơi men vào người, tôi bỗng nhớ cái vị cay nồng trên đầu lưỡi ghê.

Có tiếng thở dài thật khẽ ở ngoài hiên.

Lý Dương đứng ở ngoài hiên suốt mấy canh giờ, giữ nguyên tư thế ngước mặt lên nhìn trăng.

Mặc kệ trời lạnh đến thế nào, tư thế đứng thế này mỏi ra sao, y vẫn bình chân như vại, bỏ ngoài tai những lời khuyên nhủ của người khác.

Ối dào.

Gặp tôi là chịu không nổi rồi.

"Chuyện thế sự xoay vòng như vũ bão, Nhật Hạ nhỉ?"

Cuối cùng y cũng chịu bước vào, xuýt xoa than lạnh.

"Ngoài này trời lạnh ghê."

"Tôi dặn anh đừng đứng ngoài đó nữa, rốt cuộc anh vẫn đứng đực ở đấy mãi."

Tôi chán chường nhìn y.

"Giờ thì lại than lạnh với tôi.

Nghĩ xem có được không cơ chứ?"

Y bật cười, thong thả ngồi xuống bên bàn.

Ngừng lại lấy hơi một lúc, y tiếp lời:

"Đúng là thời cuộc như dòng chảy xiết vậy.

Sẵn sàng cuốn trôi những kẻ bại trận dạt về một nơi, gom sạch những thế lực thừa thãi đến hồi suy yếu.

Tôi ở đây với cô cũng được sáu năm, có thể chứng kiến thời cuộc trở mình rõ rệt hơn là trở về quê nhà để làm ăn."

"Anh đã đi đâu trong suốt sáu năm qua mà nói như đúng rồi thế?"

Tôi tò mò nhìn y.

"Hơn nữa số lần anh xuất hiện trước mặt tôi chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Làm sao mà..."

Y đặt ngón trỏ lên miệng, mỉm cười đầy ẩn ý:

"Suỵt!

Thiên cơ bất khả lộ.

Tôi không thể tiết lộ cho cô nghe được đâu."

*

Lần đầu được đặt chân đến nơi này, ban đầu phản ứng của tôi có chút ngỡ ngàng.

Ngỡ ngàng vì vẻ đồ sộ của kinh đô muôn thuở, ngỡ ngàng vì may sao những di tích cũ xưa vẫn còn được giữ cho đến hiện tại.

Trước mắt tôi là những hàng cây trùng trùng điệp điệp che phủ cả một khoảng không rộng lớn, cảnh núi non hùng vĩ mới đẹp làm sao.

Đúng như những gì tôi đọc trên mạng, thành Hoàng đế có vị trí địa lí hiểm trở.

Nhưng khi được chứng kiến tận mắt, thì kết quả nó còn vượt xa tầm mong đợi của tôi nhiều.

Có lần, trường cấp hai của tôi tổ chức đi tham quan nơi này, cho lũ học sinh choai choai bọn tôi được tiếp nhận thêm thông tin mới khi đã ngồi tụng hết đống kiến thức trong sách vở.

Vì có lẽ trường thiêng về mở mang tầm mắt, áp dụng với kiến thức đã học hơn là chỉ ngồi giảng thao thao bất tuyệt mà không có lấy tí hình ảnh minh họa nào.

Một bầu trời lộng gió, mang theo cả những nét thăng trầm đã từng diễn ra cách đây hơn hai trăm năm trước đến chúng tôi.

Vốn có đầu óc sáng tạo, trí tưởng tượng phong phú nên tôi có thể dễ dàng mường tượng ra được ngày này năm xưa ra làm sao.

Dù thứ tôi nghĩ lúc đó cũng đơn giản là nghĩ về khoảng trời cao, những gì xa hoa lộng lẫy của một vương triều đoản mệnh này.

Bọn tôi đang đứng trên mảnh đất nơi từng chứng kiến sự trở mình của lịch sử.

Không một thước phim nào quay lại cảnh ấy.

Không một bức thư từ tiền bối để lại cho hậu thế sất.

Tất cả những gì chúng tôi có được ngày nay, cũng chỉ qua sách vở và những hiện vật còn lưu giữ lại.

Tôi vẫn còn nhớ khi ấy tôi đã bần thần đứng trước cổng thành rất lâu, như thể trước đây tôi đã từng đến nơi này vậy.

Đến sau khi đi chơi về, cả lũ bạn đều hỏi vì sao tôi lại bất giác chậm chạp hơn người khác, lúc ấy tôi cũng chỉ biết lắc đầu cho qua.

Những gì tôi thấy hiện giờ, không biết nó cũng chính là thứ mà người xưa từng thấy hay không nhỉ?

*

Năm Cảnh Hưng thứ 38.

Sau khi cơ bản chinh phục được chúa Nguyễn, tạm yên bờ cõi trong nước, năm Mậu Tuất [1778], Nguyễn Nhạc lên ngôi Hoàng đế, đặt niên hiệu là Thái Đức.

Ngài cho sửa sang thành Đồ Bàn, đổi tên lại thành thành Hoàng đế.

Phong cho Nguyễn Huệ làm Long Nhương tướng quân, Nguyễn Lữ làm Tiết chế, không ràng buộc với chúa Trịnh nữa.

Đất nước bị chia năm xẻ bảy, các thế lực xâu xé nhau liên miên không ngừng nay cũng đã tạm gác qua một bên, nhường cho thế lực hùng mạnh hơn.

Một triều đại võ công oai hùng chính thức được dựng lên, được hậu thế biết đến với những chiến công hiển hách vang dội trong sử vàng.

Năm khởi nguồn là hiện tại, nhưng năm kết thúc vẫn còn quá xa vời lắm.

Khi ấy chẳng ai có thể dự đoán trước được kết cục của vương triều này trong tương lai đâu.

Cây cỏ thi nhau rướn cành lá của mình để đón gió.

Sắc xanh rực lên dưới ánh nắng cũng phải khiến người khác thơ thẩn ngắm nhìn.

Nhân một hôm trời đẹp, tôi cũng muốn tản bộ ra ngoài chơi lắm.

Để tôi có thể tiện bề so sánh chốn kinh đô thuở đầu với một di tích thành cổ được khai quật và để tâm đến.

So sánh ở đây là về những vết tích khác đã bị nhà Nguyễn cho xóa đi, chứ về cơ bản thì nền móng vẫn thế.

Trong trí nhớ hỗn độn của tôi, chưa từng xuất hiện hình ảnh của một thành Hoàng đế hoành tráng và đồ sộ thế này.

Chỉ có một tòa thành mọc đầy cây cỏ dại, trên những công tình kiến trúc xuất hiện đầy vết tích của thời gian là luôn hiển hiện trong tâm trí của tôi mà thôi.

Uầy.

Nếu đem chuyện này mà kể cho các nhà khảo cổ học, các nhà sử học nghe thì chắc họ không khỏi ghen tị và phải liên tục chất vấn tôi những câu hỏi liên quan ấy nhỉ.

Mặt hồ bán nguyệt gợn sóng lăn tăn.

Tôi chăm chú soi bóng mình dưới nước, tự hỏi sao hôm nay nước trong veo hơn mọi hôm.

Lại nói đôi lời về hồ bán nguyệt.

Hồ có chiều dài là 17m, rộng 10m và cao 1m6, được xây đối xứng qua điện Bát giác - nơi vua thiết triều ở đây.

Ngoài hồ bán nguyệt ra, tôi có thể đoán được trong thành còn xây thêm nhiều dạng hồ khác nữa, cơ mà tôi vẫn chưa có dịp được tận mắt nhìn nó thôi.

Ánh mặt trời rọi xuống, mặt hồ lấp loáng những "viên kim cương trôi nổi trên nước", nhìn quá lâu có thể bị chói mắt.

Tôi e dè vục tay xuống hồ, vừa có cảm giác thích thú vừa có cảm giác lo sợ.

Nước ấm lắm cơ, không chịu ảnh hưởng của sương buổi sớm một tẹo nào.

Không phải tôi sợ có người sẽ lẳng lặng ám sát tôi từ phía sau, mà tôi chỉ sợ ai đó đi ngang qua sẽ thấy hành động kì lạ của tôi mà tưởng bỡ rằng tôi... có ý đồ xấu chăng?

Bóng người hiện lên, soi rọi cả một bầu trời quá khứ ở sau lưng.

"Cẩn thận kẻo ngã đấy."

Một giọng nói vang lên, theo sau đó là có một dáng người đang chầm chậm bước đến.

Tôi giật mình, ngồi yên tại chỗ, không dám nhúc nhích như một đứa trẻ bị phát hiện trong khi đang say sưa táy máy thứ gì đó.

Tim tôi bỗng nhiên đập nhanh hẳn lên, đầu óc thì rối như tơ vò đến độ không biết nên đối phó ra sao với tình huống này.

Tôi chần chừ rút tay về, hi vọng có thể cứu vãn ít nhiều để bù đắp cho việc mình bị bắt quả tang.

Tôi bị phát hiện rồi à?

Tôi từ tốn quay đầu lại nhìn, đôi mắt ngạc nhiên khi nhìn thấy chủ nhân của câu nói ban nãy.

Dáng người cao lớn kia thong dong thả bước, trên người mặc áo cổn mũ miện, mấy xâu chuỗi ngọc trên mũ miện cử động rung rinh theo từng nhịp đi.

Áo cổn được thêu thùa rất khéo, nếu đứng gần hơn có thể tận mắt nhìn thấy những hoa văn tinh xảo trên áo.

Đó là...

"Gì đấy?

Không nhận ra ta sao?"

Ngài tằng hắng, đưa mắt nhìn tôi vẫn còn quỳ chôn chân ở trên bệ hồ.

"Nhật Hạ?"

Trời đất ơi.

Bị gọi tên đường đột như vậy, lúc này hồn vía của tôi cũng được hoàn hồn trở lại.

Để xem nào... trong mấy bộ phim cung đấu tôi từng coi, khi thấy vua thì sẽ hành lễ, bất kể có đang vướng bận làm việc gì đi chăng nữa.

Nhưng vấn đề ở đây là hành lễ thế nào mới được.

Cách hành lễ của hai nước dĩ nhiên sẽ giống nhau, nhưng vẫn còn tùy thời, tùy triều đại nữa chớ.

Thêm cái nữa là tôi chưa từng được học lễ nghi phiền toái này kia nên không biết xử trí ra sao.

Thôi thì đành hành lễ đại vậy.

Sai thì sửa rồi học, đúng thì cứ việc phát huy.

"Tham kiến bệ hạ."

Tôi cúi người hành lễ, không dám ngước mắt nhìn lên.

Một giây im lặng cứ thế mà trôi, không ai nói với nhau một lời.

Tôi chỉ biết khấn vái tổ tiên rằng mọi động tác của tôi cũng coi như là đúng đi, và sẵn cũng khấn rằng cái mạng rác này được bảo toàn nguyên vẹn.

"Được rồi, miễn lễ cho nàng."

Ngài gật đầu hài lòng, tay chắp ra sau đầy thoải mái.

"Ngẩng mặt lên đi."

Lúc này tôi mới dám thở phào nhẹ nhõm, chầm chậm ngẩng mặt lên.

Ngài vẫn còn đứng đó, nhất thời quan sát từng cử động nhỏ nhất của tôi.

Nếu tôi có hành động không đúng đắn thì vẫn bị ngài phát hiện đầu tiên, không có cách nào xóa tan hiện trường được cả.

Hai người đứng có khoảng cách với nhau, một bên thư thái, bên còn lại thì bối rối không biết phải làm sao.

Tôi ngẩng mặt lên như lời ngài yêu cầu rồi, liệu... ngài sẽ đồng ý cho tôi rời đi mà không câu nệ thêm vài câu nào nữa chứ?

Tội tôi nặng lắm hay gì mà vẫn chưa chịu cho tôi đi thế này...

Hay là ngài đang suy xét hành động khi nãy của tôi rồi tính kế nên trách phạt như thế nào hả?

Tôi vẫn chưa muốn bỏ mạng dọc đường đâu.

Xâu ngọc trên mũ miện đung đưa qua lại trông thật chướng mắt, dao động một hồi rồi cũng trở về vị trí ban đầu của nó.

Khó nhìn thấy được ngài đang nghĩ gì, cũng khó lòng nhìn thẳng vào mắt ngài được.

Nhưng mà trước khi tôi làm được điều đó thì hẳn là hôm ấy tôi đã ăn cả tấn gan hùm nên mới dám làm hành động điên rồ như vậy.

"Sao Quan gia...

à không...

Sao thánh thượng lại ra đây vậy?"

Tôi lắp bắp hỏi, không biết nên xưng hô thế nào, chỉ biết vớ mấy từ dùng để gọi vua mà tôi biết thôi.

Thôi thì cứ việc gọi như vậy, nếu gọi đúng thì âu cũng là điều may mắn.

"Ta ra đây là để xem nàng đang làm gì," Ngài bảo thế, đưa tay vén màn xâu chuỗi ngọc sang một bên để nhìn tôi.

"Hiếm khi ta thấy nàng chịu ra ngoài này nhỉ?"

"Thánh thượng khéo đùa," Tôi gượng cười, lảng tránh ánh mắt của người đối diện đang nhìn tôi chằm chằm.

"Cũng có lúc tôi có ra ngoài mà."

Ngài nán lại nhìn tôi nốt lần cuối, sau đó rũ mắt nhìn về phía điện Bát giác.

Mái ngói đỏ cong vút, đón những tia nắng ấm áp xuống mảnh đất đầu tiên của một triều đại mới, rực lên vẻ tôn nghiêm.

Tôi nghĩ các quan đại thần vẫn chưa ra về hẳn hoi, mà có lẽ vẫn còn ở trong đó để bàn luận với nhau đôi lời.

Tiếng thở dài thật khẽ của ngài làm tôi thấy như ngồi trên đống lửa, bồn chồn day dứt không thôi.

Tôi lỡ nói gì đó làm phật lòng ngài à?

Trong lúc tôi trầm ngâm suy nghĩ tiếp những tình huống có thể xảy ra tiếp theo, thì bàn tay ngài đã chìa ra tự thuở nào.

Vẫn theo cái lối cũ mà cả hai chúng tôi ngấm ngầm tự hiểu với nhau, vẫn ẩn ý xưa mà cả hai tôi đã quá quen thuộc với điều đó.

Tôi chớp mắt nhìn, rồi đưa tay lên dụi mắt để nhìn cho rõ.

Không lẽ tôi nhìn nhầm hả ta?

"Không nắm tay ta sao?"

Thấy tôi im lặng quá lâu, ngài bèn hỏi, kiên nhẫn chìa tay ra cho tôi nắm lấy.

Tôi ngơ ngác mất một hồi lâu, rồi cười tủm tỉm một mình.

Trước mặt tôi là vị vua sáng lập ra triều Tây Sơn, chín chắn và chững chạc, có đủ tôn nghiêm của một bậc quân vương.

Ngài không còn trẻ nữa, cũng ngót nghét ba mươi lăm rồi còn gì.

Khởi nghĩa từ thuở vẫn còn là trai tráng đầu xanh, trải qua bảy năm chinh chiến, nay trên đầu xuất hiện hai thứ tóc.

Ấy vậy mà những ẩn ý nho nhỏ vẫn chưa hoàn toàn biến mất hẳn, có khi là không chịu biến mất luôn cơ.

Hẳn đây là thói quen hằn sâu trong tâm trí, một thói quen khó bỏ khi mà cả hai tôi có dịp gặp nhau trong khi xung quanh không có ai.

Nắng nhảy nhót trên những viên ngọc quý.

Chúng rung rinh thật khẽ trước mắt tôi, tỏa ra thứ ánh sáng diệu kì.

"Thời cuộc đã thay đổi thật rồi, thánh thượng nhỉ?"

Tôi nhẹ nhàng nắm lấy tay ngài, thủ thỉ nói.

"Chỉ mong thái bình thịnh thế được trường tồn như này mãi..."

Ngài lắc đầu, như muốn phủ nhận mọi điều tôi vừa nói.

Một tay nắm lấy tay tôi, tay còn lại đưa lên day nhẹ thái dương, ngài ôn tồn đáp:

"Ta nghĩ thái bình thịnh thế thật sự vẫn chưa tới đâu.

Ngoài mặt tuy đã bình định được mặt Nam, nhưng Tây Sơn ta có thể bị thế lực khác xâu xé bất cứ lúc nào.

Ta nghe nói trong hoàng tộc chúa Nguyễn chỉ duy nhất Nguyễn Phúc Ánh là còn sót lại.

Hắn chạy thoát ra đảo Thổ Chu rồi."

Tôi lẳng lặng bước từng bước chậm rãi, nén hơi thở ồn ào của mình lại để có thể nghe rõ những gì ngài nói.

Quả đúng như những gì tôi tìm hiểu được, mọi thông tin ngài kể đều hoàn toàn chính xác, không trật một li.

Thế này trông còn cuốn hút hơn nhiều so với việc đọc từng hàng chữ trong một cuốn sách dày cộm, cũng cuốn hút gấp vạn lần so với việc nghe giáo viên trên trường giảng bài.

Quá ư là chán.

Bàn tay của bậc quân vương bất giác siết nhẹ lấy tay tôi, mấy ngón tay đan vào nhau một cách vô tình.

Tôi giật mình ngẩng nhìn lên, chờ đợi xem ngài có muốn nói gì tiếp với tôi không.

Bởi tôi cứ mặc định hễ có động tĩnh gì, tức có nghĩa là người đó sắp sửa định nói một điều gì đó.

Nhưng không.

Không có chuyện gì xảy ra hết.

Một hồi im lặng cứ vậy mà kéo dài mãi.

Tôi không hiểu lí do vì sao ngài lại đột ngột lặn mất, không nói gì như vậy.

Khi nãy vẫn còn say sưa tán gẫu cùng với tôi cơ mà.

"Ta đưa nàng về cung, được chứ?"

Ngài rũ mắt nhìn tôi dịu dàng.

Đến cả giọng nói của ngài cũng dịu đi đôi phần, như thể ngài chỉ dùng một phần sức lực để thốt ra câu ấy thôi đấy.

"Sao cũng được."

Tôi chưng hửng đáp, nhún vai tỏ ý mọi sự đều do ngài quyết định tất.

"Có người đi cùng vẫn vui hơn là đi một mình mà.

Phải không, thánh thượng?"

Khóe miệng ngài nhếch lên, nom có vẻ hài lòng lắm.

Hình như... ngài đang mỉm cười thì phải.

"Ừ, có người đi cùng vẫn vui hơn."

Gió xào xạc, tán cây đung đưa, trên trời chim hót líu lo.

Tất cả đều đang cố tạo ra một bản giao hưởng, và hiển nhiên đó chính là bản giao hưởng đến từ tự nhiên.

Bản giao hưởng tình cờ đó, khó có thể được hưởng thụ trọn vẹn khi ở chốn đông người qua lại.

Bóng người trải dài lê thê xuống đất, ánh phàm dương chói rọi trên đỉnh đầu.

Cũng chính là cung đường này, cũng chính là khung cảnh này, thế sao chỉ cách nhau có hai trăm năm, mọi thứ lại thay đổi nhiều đến thế.

Trong hiện đại không có tất cả những con người thuộc về quá khứ, và trong quá khứ hiển nhiên không hề có mặt tôi.

Tất cả những gì tôi đang trải qua, đều là một chuyến du hành xuất phát từ lỗ hổng thời gian.

Không hơn, cũng không kém.

----------------------------------

(1) Đinh Dậu: Tức năm 1777

(2) Trích từ bài thơ Ngắm trăng, tập thơ Nhật kí trong tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

(3) Mậu Tuất: Tức năm 1778
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Trở Về Thời Tây Sơn
68. Bất ngờ đến chơi


Ở trong cái kinh đô bị bao vây bởi núi non trùng điệp, tôi mới phát hiện ra điều thú vị của nó.

Ngài muốn gây dựng kinh đô của vương triều Tây Sơn ở đây, đều có lí do chính đáng hết cả.

Nhưng mà lí do duy nhất tôi có thể dễ dàng ngộ nhận ra được mà không cần ai nói toẹt ra cho, chính là vị trí địa lí hiểm trở của thành Hoàng đế.

Ờ thì cái này tôi đã nhận thấy từ cái lúc còn đi chơi với trường rồi cơ.

Chỉ cần chịu khó quan sát là não vừa được khai sáng ngay ấy mà, à thêm việc đọc chút ít thông tin từ đống tư liệu tìm được nữa.

Xem ra việc tìm hiểu của tôi cũng nhàn chán, nhỉ?

Xung quanh tôi là hàng dài những rặng cây um mọc cao, đến nỗi tôi còn không biết đám cây này có đang xâm chiếm đất ở của người hay không.

Nghe bảo rằng nơi kinh đô cũ của nước Chiêm Thành được xây dựng vào trung tâm của nước, tựa vào thế vững của núi Long Cốt, non nước như phô bày ra trước mắt.

Bên hữu lấy núi Phong làm lũy, bên tả lấy bể làm hào.

Đã thế núi Cù Mông nằm tựa dáng rồng cuộn mình ở phía trước, sau có bến Thạch Tân.

Thiên hòa địa lợi, địa lí hiểm trở thế này, tôi muốn chạy trốn cũng khó lòng mà thoát được.

Đã thế, thành còn lấy núi Mò O làm tiền án ở phía Đông, núi Tam Sơn làm lá chắn ở phía Nam, phía Tây xuất hiện những dải đồi thấp nối tiếp nhau, tạo thành hàng lá chắn vô cùng kiên cố.

Giờ tôi hiểu tại sao muốn đánh chiếm thành Hoàng đế này, e là rất khó đối với mấy lão ngông cuồng rồi đó.

Thiên nhiên vây quanh, tạo thành thế trận vừa công vừa thủ, chiếm phần lớn lợi thế nếu có giao tranh xảy ra.

Mà muốn lẻn ra ngoài thành cũng không được nốt, đành phải bó chân trong cái chốn lồng son cung cấm này.

Được bước chân vào nơi xa hoa tráng lệ, nơi kinh đô đồ sộ thì ai chả thích.

Người thường đã không dễ đặt chân vào nơi ở của vua, trong khi đó tôi lại thảnh thơi tản bộ trong khu vực Nội thành mà không gặp chút rắc rối gì hết.

Cơ mà chỉ người trong cuộc mới hiểu người trong ngõ, sống gần vua cũng không an phận thủ thường như nhiều người nghĩ đâu.

Đôi khi, nơi nguy hiểm nhất vẫn là nơi an toàn nhất mà.

*

Ngày qua tháng lại, nối tiếp nhau rời đi khỏi chốn nhân gian.

Đã hai tháng trôi qua kể từ ngày ngài làm lễ đăng cơ lên làm vua, tự lập ra một triều đại cho riêng mình.

Mọi thứ đều nằm trong đường đi của dòng chảy cả, cho nên tất tần tật đều diễn ra đúng như trong sách sử ghi chép.

Khoảng thời gian này được cho là những năm tháng yên bình, không phải vướng bận, cũng không có những trận đánh liên miên hết năm này sang năm khác.

Đùa thôi.

Đấy là người thường nghĩ thế, chứ trong hoàng cung thì mọi thứ lại khác hẳn.

Công việc của hoàng đế thì chắc chắn là sẽ tất bật từ sáng sớm đến chiều tối - có khi là đến tối muộn luôn cơ.

Để rồi sáng hôm sau đành phải dậy sớm mà thiết triều, một buổi ngồi trên ngai vàng đầy nhàm chán.

Không phải cứ làm vua là sẽ ăn sung mặc sướng, muốn ra lệnh gì là ra đâu nhé.

Tuy tôi chưa bao giờ đặt chân vào điện Bát giác đương buổi thiết triều bao giờ, cơ mà tôi vẫn có thể cảm nhận được bầu không khí không mấy dễ chịu gì.

Cuộc sống yên bình ở đây, ý tôi là cảnh nhàn hạ ngồi ngắm lá rụng, mây trôi, không màng đến chuyện phàm nhân thế sự.

Mỗi ngày trôi qua của tôi đều gói gọn trong bốn bức tường, đều gắn liền với một khoảng trời cao ngời ngợi, với những cảnh gia nô tấp nập tới lui để hầu hạ.

Sáng thì luôn ngồi co gối trước hiên, ngẩn ngơ nhìn trời đất, đến tối chỉ biết ngồi vẽ vời dưới ánh trăng.

Tôi không giỏi thêu thùa, lại không có đủ cầm kì thi họa như bao nàng tiểu thư đài các khác nên ngón nghề tôi hay làm lúc rỗi nhất chính là vẽ.

Đúng vậy, là vẽ linh tinh đến khi chán thì thôi.

Tôi vốn quen được ba mẹ rèn cho tính tự lập từ nhỏ, lại càng không muốn lệ thuộc ai nên khi ngày đầu thấy trong cung của mình xuất hiện vài ba thị nữ, tôi thoáng thấy có chút bất ngờ.

Chẳng phải ngài thừa biết tôi không muốn dựa dẫm vào người khác cơ mà, sao lại đưa người đến để hầu tôi việc cơm bưng nước rót thế này vậy nhỉ?

Dù có nhẫn nại, luôn mồm bảo rằng việc này tôi có thể làm được, họ cũng chỉ gật đầu lấy lệ.

Sau đó thì ngựa quen đường cũ, trước khi tôi kịp động tay làm việc gì đó thì đám thị nữ ấy đã nhanh hơn tôi hẳn một bước.

Nhiều khi tôi còn sợ họ sẽ giành luôn cả việc hít thở thay tôi mất.

Cơ mà, trong một vài trường hợp thì có lẽ tôi cũng cần đến sự trợ giúp của thị nữ ấy thật.

Mọi ngày việc thiết triều của hoàng đế thường kéo dài khá lâu, đợi miết đâm ra cổ sắp dài bằng hưu cao cổ rồi.

Nhắc mới nhớ, đã hai tháng qua mà ngài chưa đến thăm tôi như mọi lần, đến việc ghé gặp mặt thôi cũng không.

Tất nhiên, được thăm hay không được thăm, tôi cũng không buồn bận tâm cho lắm.

Có điều, khi một thói quen nào đó không được thực hiện một cách thường xuyên như trước, chắc chắn tâm trạng tôi lúc đó sẽ cảm thấy trống trải và hụt hẫng.

Vô vàn.

"Bẩm... hôm nay lệnh bà không được tốt ạ?"

Con bé thị nữ nhỏ tuổi nhất kính cẩn lên tiếng, lo lắng nhìn vẻ mặt chán đời và sắc mặt nhợt nhạt hơn thường ngày của tôi.

Thêm một việc này về đám thị nữ trong cung của tôi mà tôi có nhắc hoài nhắc hủy vẫn không chịu thay đổi.

Đó là cách xưng hô, nghe thoáng qua thì thấy cũng bình thường, nhưng mọi thứ lại không đơn giản đến cỡ vậy.

Họ cứ gọi tôi là lệnh bà, trong khi tôi đã đinh ninh rằng tôi vẫn không phải là người được hoàng đế sủng ái như mấy bà phi trong phim cổ trang.

Vậy mà mọi chuyện vẫn không thay đổi, thay vào đó là phớt lờ lời nói của tôi mà tiếp tục xưng theo cách cũ.

Ừ thì...

"Không sao, từ sáng đến giờ đầu chị có hơi nhức... một chút," Tôi lắc đầu, cố gượng cười.

Rồi, tôi dùng cái giọng chán chường để căn dặn cô thị nữ nhỏ tuổi.

"Mà đừng có gọi chị là lệnh bà nữa.

Cứ xưng như bình thường là được rồi."

Xưng lệnh bà như vậy, có ngày tôi tổn thọ mất.

Tôi cũng sắp sửa sang tuổi ba mươi, tuy không phải dạng đương tuổi thiếu nữ xuân thì, nhưng ít ra tôi vẫn chưa già dặn như tuổi thật của mình.

Hai mươi tám, bằng với tuổi của ngài buổi khởi nghĩa.

Mất ngót nghét bảy năm đó chứ chẳng đùa.

Cô thị nữ nhỏ tuổi đang đứng trước mặt tôi là Thanh Chi, và nếu như con bé không nhập cung để hầu hạ thì tôi đã từng nghĩ con bé xuất thân từ một gia đình quyền quý cơ.

Mặt mày sáng sủa, tháo vát và cũng rất biết phép tắc, mọi ưu điểm đó cứ liên tục làm hài lòng người khác thì thử hỏi xem, có ai nỡ ghét Thanh Chi không cơ chứ.

Tuy không hỏi tuổi nhưng tôi có thể phỏng đoán rằng con bé tầm mười một, mười hai - nếu không thì cũng nhỉnh hơn một tí.

Dáng người con bé nhỏ nhắn cùng gương mặt bầu bĩnh, lúc nào cũng nhanh nhẹn chạy đi chạy lại để hầu hạ là những hình ảnh đập vào mắt tôi mỗi buổi sáng.

Vì vốn là thị nữ nhỏ nhất cung, cho nên con bé luôn bị mấy ả thị nữ khác sai vặt dù không có lí do gì để nhờ vả, cũng coi như là một kiểu ganh ghét, khác với lòng ghét bỏ và ganh đua của mấy bà phi trong hậu cung.

Ác ôn thật sự.

"Thế thì không được đâu," Thanh Chi nài nỉ.

"Như thế thì bệ hạ xử trảm nô tì mất."

Được rồi.

Tôi đây không muốn dặn dò gì sất.

Trăm lần như một, công sức đổ ra cũng công cốc cả.

Bộ ngài cũng khó chịu lắm hay sao mà răn bảo đám thị nữ này đến độ bọn họ còn không dám thoải mái khi ở cạnh tôi vậy nhỉ?

Đám cung nữ còn lại đều đứng lui về một góc, đưa mắt nhìn cảnh hai người chúng tôi đối đáp qua lại, không ai nói gì thêm.

Trong số những người đứng đó, không có ả nào là ưa nhìn cả.

Ả thì quá mức yểu điệu, ả thì quá ganh ghét với các cung nữ mới nhập cung.

Nếu không đẹp về nhan sắc, cũng không có ai đẹp về tính cách hết.

Thanh Chi lấy chiếc lược ngà được đẽo khắc khéo léo từ trong ngăn bàn ra, từ tốn chải tóc cho tôi.

Chiếc lược thuận lợi tuôn theo suối tóc, chỉ cần rời mắt đi một tí là đã bị lạc mất dấu của chiếc lược.

Tôi chăm chú nhìn vào gương, nhìn Thanh Chi đang chăm chú làm việc.

Con bé này thích hợp về quê để sống, chứ không phải cứ bó chân ở chốn hoàng cung này mà hầu hạ mãi, cũng không phải về quê để lấy chồng sinh con, lo hết việc nội trợ trong nhà.

Tuổi Thanh Chi cũng còn rất trẻ, tôi e con bé sẽ khó lòng đảm đương được những việc hầu hạ nặng nhọc về sau lắm.

Đến khi kết thúc công việc chải tóc, Thanh Chi cẩn thận búi tóc cho tôi.

Tóc tôi được búi cao sau ót, được cố định chắc chắn bằng cây trâm cài chạm trổ nhiều hoa văn tinh xảo.

Tôi cũng không biết cây trâm này từ đâu ra, nhưng về đáp án thì tôi biết hẳn người tặng cái này là ai.

Vì sao lần này tôi không phản kháng như những lần trước?

Vì dù tôi có gạt con bé ra, muốn tự mình làm lấy thì cũng công cốc hết cả thảy, chắc chắn sẽ có cung nữ khác thay tôi làm tất tần tật.

"Về chuyện xưng hô ấy, em không cần phải lo.

Ngài ấy không biết chuyện ở nơi ít người qua lại này đâu, em cũng chớ..."

Cánh cửa đột nhiên mở ra.

Dáng người mặc Long bào vàng sẫm chợt bước vào, cắt ngang câu nói đương còn dang dở của tôi.

Thanh Chi cùng đám cung nữ thấy vậy vội cúi người hành lễ, còn tôi thì lúng túng đứng dậy, vẫn chưa kịp xử trí ra sao.

Ngài đến đường đột quá, mà đang lúc người ta đang nói hăng say nữa chứ.

Lần trước tôi gặp ngài là đã hành lễ chậm rồi, nhưng đó là chuyện của hai tháng trước.

Giờ chắc chứng nào tật nấy, vẫn chưa kịp hiểu tình hình như thế nào.

Ngài liếc nhìn một lượt vào trong cung, sau đó chuyển sự chú ý sang tôi.

Đám cung nữ vẫn chưa ngẩng đầu lên, tức có nghĩa là lệnh miễn lễ của hoàng đế chưa được ban ra.

Lệnh đó chưa được ban ra, ấy là do tôi vẫn chưa chịu hành lễ như bao người khác.

Lông mày của hoàng đế hơi nhíu lại, tỏ vẻ không hài lòng với hành động đứng trơ trơ như trời trồng của tôi.

Thôi chết rồi.

Có khi nào ngài định ban tội chết cho tôi không nhỉ?

"À... tham kiến bệ hạ."

Sau một hồi phân tích tình huống thì não tôi mới chịu hoạt động, tôi vội vàng cúi người hành lễ.

Tiết trời rõ mát, vậy mà trán tôi lấm tấm mồ hôi.

Đã thế trước đó tôi vẫn còn rất bình thản, giờ thì tim đập loạn xạ, trong lòng thầm cầu Phật mong sao cái mạng này được giữ.

Tôi còn yêu đời lắm, chưa muốn chết ngay bây giờ đâu.

Muốn len lén đưa mắt nhìn vua ư?

Mơ đi!

"Được rồi.

Miễn lễ cho nàng."

Ngài thở dài, sau đó phẩy tay ra hiệu.

Lập tức, đám cung nữ mới chịu ngẩng mặt lên, ai nấy đều rất dè dặt đứng lui về một góc.

Riêng tôi thì thở phào nhẹ nhõm, rồi từ từ ngước mặt nhìn trời mây.

À quên, tôi có ra ngoài sân đâu mà nhìn nhỉ, ở đây chỉ có mỗi ngài là để cho tôi nhìn thôi.

Có nhìn tôi cũng không dám nhìn thẳng vào mắt quân vương đâu.

Mất đầu như chơi.

"Hôm nay thánh thượng ghé qua đây bất ngờ quá."

Tôi ấp úng lên tiếng.

"Đâm ra không có gì để đãi ngài..."

"Không cần," Ngài cắt ngang lời tôi, thong dong ngồi xuống trường kỉ rồi tự rót cho bản thân một chung trà.

"Ta đến đây để thăm nàng, cũng không phải khách quý gì."

"Đừng tự làm khổ bản thân mình là được."

Hoàng đế đưa mắt nhìn tôi, sau đó rũ mắt nhìn đi nơi khác.

Tôi mỉm cười chua chát.

Ra là ngài vẫn nhớ như in cái lời dặn dò trăm lần như một của mình.

Và hễ lần nào tôi muốn tự thân làm việc gì đó, hay muốn tự sức đảm đương việc lớn, tôi đều bị ngài ngăn lại cả.

Đã thế còn bồi thêm câu "Đừng tự áp đặt bản thân mình." nữa chứ.

Đám cung nữ thấy tâm trạng hoàng đế không được thoải mái cho lắm, bèn đứng từ xa mà quan sát, chứ không dám làm phiền đến thiên tử.

Nếu cần thì họ sẽ bắt tay vào việc, chạy tới lui mà hầu hạ.

Nhưng mà... sao tới lượt tâm trạng tôi không tốt, mọi thứ lại không hề diễn ra giống như bây giờ thế nhỉ?

Tôi cứ bị chất vấn hết câu này đến câu khác miết thôi.

Ngài từ tốn hớp vài ba ngụm trà nóng, sau đó nhẹ đặt chung trà xuống mâm đồng mà ngả đầu ra sau, đôi mắt nhắm lại đầy mệt mỏi.

Trong một thoáng thôi, cả cung điện dường như chìm vào tĩnh lặng.

Đám cung nữ đã không dám lên tiếng rồi, đến tôi lại càng không.

Việc làm vua không dễ như mọi người tưởng, đành ra tôi có thể cảm thông cho ngài phần nào.

Làm vua không hẳn là nhàn như bao người hay truyền tai nhau này kia kia nọ đâu.

"Nhật Hạ," Ngài bất chợt gọi tên tôi trong vô thức.

"Lại đây."

Tôi ngơ ngác đứng đực ra đấy, vẫn chưa kịp hiểu không biết ngài có đang gọi tôi không nữa.

Mấy viên ngọc quý đính trên mũ Xung Thiên càng làm tôi thêm lóa mắt.

Khi ánh phàm dương rọi vào, nó sẽ tỏa sáng rực rỡ, càng làm tăng thêm vẻ quý giá và huyền bí mỗi khi ngài xuất hiện.

Giống như một vị thần bước ra từ trong hang động tối tăm, nhưng lạ kì thay xung quanh ông ta lại phát ra ánh sáng, mặc dù không có ai châm lửa cho đèn dầu hay cầm đuốc gì sất.

Để chắc chắn hơn, cũng như cố không làm ngài phật lòng, tôi chậm rãi tiến từng bước đến gần trường kỉ.

Sau mỗi bước, tôi dè dặt ngừng lại, đợi không có phản ứng gì thì tiếp tục tiến thêm vài bước.

Không thấy tôi trả lời, càng không nghe thấy động tĩnh nào, ngài mở mắt ra nhìn tôi, tằng hắng vài cái rồi kiên nhẫn lặp lại:

"Không nghe ta nói gì sao?

Lại đây ngồi."

Thế là không còn nghi ngờ gì nữa, mọi chuyện đã sáng tỏ rồi.

Tôi vội ngồi xuống trường kỉ, giữ một khoảng cách nhất định với ngài.

Chưa bao giờ tôi lại thấy sợ hãi như lúc này.

Nhịp tim chưa kịp hồi phục về trạng thái ổn định ban đầu đã phải đập thình thịch liên hồi.

Chung trà phả khói nghi ngút, bốc lên không trung mờ ảo, sau đó tan biến vào hư vô.

Dòng nắng mảnh mai chiếu vào, hòa làm một với hơi nước vất vưởng như bóng ma vô hình.

Hoàng đế đã thôi việc uống trà từ mấy phút trước, hoàn toàn phớt lờ mọi thứ xung quanh.

Cứ thế này thì nước trà nguội dần mất.

Chuyện tiếp theo là tất nhiên trà sẽ mất đi vị ngon tinh túy vốn có, rồi cuối cùng cũng đành phải bỏ dở một nửa.

Tôi toan châm thêm trà vào thì ngài đã nắm lấy cổ tay tôi lại mà khuyên can:

"Ta không uống nữa, đừng châm vào."

"Hả?"

Tôi khó hiểu nhìn ngài.

Bàn tay kia đã nới lỏng đi đôi chút, ắt hẳn là vì ngài không muốn làm tôi đau.

"Thánh thượng không uống nữa ạ?"

Ngài gật đầu không đáp.

Tôi chần chừ suy nghĩ một hồi, sau đó rót trà vào chung cho mình.

Nhân hôm nay là ngày đẹp trời, rất thích hợp để thưởng trà bình tâm, gạt ưu phiền sang một bên.

Hoặc đôi khi vừa ngồi uống trà vừa ngâm thơ cũng tuyệt lắm, đủ mọi cách để tận dụng một ngày hoàn hảo cả.

Lần này hoàng đế không còn ngăn cản tôi nữa, mà chỉ ngồi đó nhìn tôi làm mọi việc mình thích thôi.

Hẳn ngài cũng quá chán chường mỗi khi thấy tôi lặp lại cử chỉ quen thuộc như bao ngày, tâm tư tôi thế nào, tính tình tôi ra sao, ngài đều nằm lòng tất cả.

Dù tôi muốn thay tâm đổi tính thì e là cũng khá khó, giang sơn khó đổi, bản tính khó rời mà.

"Hai tháng qua ta bận bịu chuyện chính sự quá, không tiện đến thăm nàng thường xuyên."

Ngài nhẹ nhàng xoa đầu tôi.

"Chỉ sợ nàng buồn thôi."

Câu nói này của ngài suýt chút nữa làm tôi phun hết nước trà trong miệng ra ngoài.

Èo ôi, nay ai dạy ngài nói ba cái lời sến súa như thế vậy?

Rõ ràng đến cả mấy lời quan tâm vụn vặt mà đấng nam nhi ở thời hiện đại hay hỏi han bạn gái mình thôi còn không có, lấy chi đòi mấy lời âu yếm ngọt ngào.

Cho dù có sến tới đâu chăng nữa, thì cũng chỉ là kiểu: "Nhớ giữ ấm, đừng để bị bệnh." hay "Ta chỉ muốn làm nàng vui."

Đại loại thế.

Hôm nay thiết triều áp lực quá nên lỡ mồm thốt ra mấy câu đó thật hả?

"Thánh thượng không ghé cũng không sao," Tôi vừa ho khù khụ, vừa gượng cười để chứng tỏ bản thân mình vẫn ổn.

"Ở đây yên bình lắm, ngài không cần ghé thường xuyên đâu."

Vừa nói dứt câu, trong đầu tôi bỗng nảy ra một ý.

À há!

Giờ thì tôi hiểu tại sao trong suốt hai tháng qua, ngài ít ghé thăm tôi rồi.

Nguyên là do sau khi đăng cơ, ngài đã sắc phong Trần thị làm Chính cung, Cô Hầu Ya Dố làm Thứ phi, phong con là Nguyễn Bảo làm Thái tử.

Trước khi xuyên về đây, tôi vốn là một đứa thích đi tìm tòi tất tần tật những tư liệu lịch sử - hay nói đúng hơn, chính là tìm thêm thông tin về những khía cạnh ít được đề cập đến.

Dĩ nhiên, cái triều đại này cũng khó lòng mà thoát khỏi tầm ngắm của tôi.

Trong khoảng thời gian Tây Sơn tồn tại trên danh nghĩa là cuộc khởi nghĩa có quy mô và có sức ảnh hưởng nhất thời bấy giờ, Cô Hầu Ya Dố đóng vai trò cũng kha khá quan trọng trong những ngày đầu còn ở miền Tây Sơn thượng.

Nhờ nàng mà người dân tộc Bana gia nhập nghĩa quân đông đảo hơn, cũng nhờ nàng mà nghĩa quân có lương thực để duy trì.

Đóng góp to lớn như thế này, chả trách sao ngài lại không mến mộ nàng cho được.

Cũng nhờ thế mà tôi mới bị bỏ chơ vơ nơi cung cấm suốt hai tháng đó.

Đúng là lòng dạ đế vương là thứ khó đoán, tâm tư khó dò nhất.

Đến cả mò kim dưới biển sâu còn chẳng sánh bằng được đây.

"Nàng chắc chứ?"

Ngài hơi cau mày nhìn tôi, khoanh tay trước ngực, cơ mặt cũng giãn ra đôi phần.

"Không muốn ta ghé thăm nàng thường xuyên à?"

Tôi gật đầu lia lịa, không kịp suy nghĩ trong lòng tôi nghĩ khác đi như thế nào.

Chỉ cần ngài hỏi tới đâu, tôi sẽ vờ gật đầu tới đó như thể chuyện đó đúng với thực tại.

Còn có bị phát giác hay không thì tôi không biết.

Hoàng đế tựa lưng ra sau trường kỉ, bâng quơ đưa tay véo nhẹ lên chóp mũi tôi.

Đoạn, ngài chuyển dời sự chú ý vào mặt trước của chiếc vòng cổ, sau đó kín đáo thở dài mà nói:

"Nói dối.

Ta biết nàng muốn ta đến đây như những năm trước, cơ mà nàng không chịu thừa nhận thôi."

Tôi bĩu môi, đưa tay chạm nhẹ chóp mũi, cảm nhận được cơn đau nhói dần lên.

Quỷ quái, mũi tôi có gì đâu mà cứ thích nhéo thế nhỉ?

Vẫn cái thói cũ năm nào, giờ không bỏ được.

"Nhưng mà... sao thánh thượng biết hay thế?"

"Ta biết chứ.

Chẳng phải mọi thứ nàng nghĩ đều được thể hiện qua đôi mắt của nàng hay sao," Ngài áp lòng bàn tay vào má tôi, hạ thấp tông giọng mà đáp: "Lần nào cũng thế."

"Trăm lần, ngàn lần đều như vậy à?"

Tôi tò mò hỏi lại.

Một vạt tóc mái trước trán rũ xuống.

Ngài vươn tay ra, vén nhẹ chúng sang một bên rồi chậm rãi đáp:

"Ừ, trăm lần, ngàn lần đều như vậy."

Gấu áo rộng thùng thình của Long bào cũng theo đó mà rũ xuống vai tôi.

Nhờ thế mà tôi mới có dịp được nhìn ngắm kĩ càng hơn những chi tiết thêu rồng khéo léo trên áo, như thể trước đây tôi chưa bao giờ được nhìn những bộ trang phục thời xưa vậy.

Ngoài hình rồng ra, hình như còn thêm một vài hình khác tượng trưng nữa, nhưng với bộ óc suy nghĩ đơn giản của tôi cùng với tầm nhìn hạn hẹp thì dĩ nhiên là không nhìn ra được hình gì.

Nhìn bộ Long bào này, tôi chợt liên tưởng đến mấy tấm áo Hoàng bào cùng mũ Xung Thiên của vua thời Lê sơ, nom cũng giống lắm.

Năm Mậu Tuất, một người của Anh Cát Lợi là Charles Chapman đã ghi chép khá tỉ mỉ về những chi tiết trong lúc vào yết kiến vua Thái Đức với danh nghĩa là sứ giả, từ quá trình đi đến thành Hoàng đế lẫn với cấu trúc điện Bát giác, cả trang phục của những người ở đây.

Bởi thế nên hậu thế đời sau mới có cái mà nghiên cứu, làm tư liệu để tưởng tượng nên một thời huy hoàng đã qua.

Trong những ghi chép của Chapman, có vài nét mô tả về trang phục thiết triều thường ngày của ngài như thế này: "Nhà vua mặc một chiếc áo dài bằng lụa vàng đậm, thêu những con rồng và kí hiệu bằng chỉ vàng.

Ông đội một chiếc mũ chật, phía sau nhô lên, phía trước trang trí những đồ châu báu - nổi bật lên trên những đồ châu báu là một viên đá lớn lơ lửng trên không, cách phần phía trước mũ này 135mm và được giữ vững bằng một sợi dây vàng xuyên qua.

Mỗi lần đầu của nhà vua cử động là mỗi lần viên đá này rung rung và sáng rực lên..." (1)

Đến đây thì tôi mới chịu hoàn hồn, lớ ngớ nhìn người đối diện.

Quả nhiên theo đúng những gì được mô tả, ngài đội một chiếc mũ từa tựa như mũ Xung Thiên, nhưng đặc biệt hơn là có một viên ngọc được treo trước mũ, giữ bằng sợi dây vàng xuyên qua.

Cái này... thật sự tôi khó hình dung ra được nó là mũ gì, dù được dịp nhìn ngắm đến rõ ràng trước mắt.

Một kiểu mũ kết hợp với mũ Xung Thiên và phong cách mũ miện có dải ngọc ở phía trước hả ta?

Nhưng dù sao đi nữa, chuyện này tôi cần phải nghiên cứu nhiều lắm đây.

"Chăm chú nhìn ta đến vậy, hẳn là nàng đang định lập mưu kế gì rồi phải không?"

Ngài thu tay về rồi chống cằm nhìn tôi.

"Có thánh thượng tự nghĩ như thế, chứ tôi làm sao dám giở trò qua mặt thiên tử được."

Tôi gượng cười, cảm thấy sởn gai óc đến nơi.

Tuy chỉ là một câu nói đùa cho vui miệng thôi, nhưng nếu mọi thứ là thật thì cũng không vui tí nào.

Một thoáng tĩnh lặng lại trôi qua.

Ngài ngồi đó, ngắm nhìn tôi thêm một chốc nữa rồi đứng dậy ra về.

Đám cung nữ không ai bảo ai, thấy hoàng đế đi ngang qua thì lập tức cúi đầu, tuyệt nhiên không dám ho he gì sất.

Không có việc gì làm, tôi cũng chỉ đành nối gót theo sau, tiễn ngài ra tới cửa.

Ngồi không thế này thì kì lắm, mà tôi bị ngượng không biết phải xử trí ra sao nữa.

Nhưng mọi kế hoạch của tôi đều bị ngài biết được.

Không để tôi bước thêm bước nào ra tới ngoài hiên, ngài quay lưng lại, xua tay bảo tôi:

"Không cần tiễn ta đâu.

Nàng vào trong ngồi đi."

Tôi đứng khựng lại tại chỗ, gật đầu ậm ự cho qua chuyện.

Đợi cho bóng ngài đi xa, tôi bèn ngồi sụp xuống bên ngưỡng cửa, cố gỡ rối cho đống suy tư phiền muộn vừa phát sinh trong lòng.

Đám cung nữ lúc này mới dám ngẩng mặt lên, bắt đầu quay trở lại nhịp sống như mọi ngày.

Thanh Chi vội vàng chạy đến, luôn miệng tìm cách khuyên nhủ tôi quay trở vào trong cung ngồi.

Sao ngài vừa đi có một thoáng, trong cung bỗng yên ắng lạ thường nhỉ?

Vắng những tiếng nói chuyện quen thuộc, vắng những hình bóng vất vưởng trong tâm trí tôi.

Hai tháng qua, tôi đã chờ mòn mỏi suốt hai tháng chỉ để trông ngài ghé ngang cái nơi không mấy đặc biệt này.

Vậy mà tất cả lại diễn ra nhanh không thể tưởng, như thể những gì tôi gặp ngài chỉ mới một giây trước vậy.

Đám cung nữ đứng trong góc thì bàn tán xôn xao chuyện này chuyện kia, nhất là chuyện hai tháng qua ngài biệt tăm, không có lấy một tin tức nào, nay lại đột nhiên đến thăm tôi.

Đã thế ngài lại hết mực dịu dàng nữa cơ chứ, dường như những điều này hoàn toàn khác xa so với hình ảnh của ngài lúc nghiêm túc.

Thế này không mưa thì cũng bão.

"Thánh thượng đã căn dặn lệnh bà vào trong ngồi, chớ nên ngồi ngoài này.

Hay là để nô tì..."

"Không sao.

Chị ngồi đây hóng gió tí thôi," Tôi đáp lại ánh mắt lo lắng kia bằng một nụ cười trừ.

Được rồi, lại là cái cách xưng hô đó.

Chắc tôi cũng phải từ bỏ việc chữa cho con bé mất thôi, không có kết quả nào là xứng đáng hết.

Tôi cứ ngồi lì ra đấy, mặc cho Thanh Chi hết lòng lựa lời khuyên nhủ.

Sau một hồi tốn hơi sức với tôi, cuối cùng con bé đành để đó cho tôi có không gian riêng của mình.

Một áng mây đen mờ mịt nơi xa xăm, cứ ngỡ như đó là dấu hiệu của một ngày tốt lành...

-----------------------------------------------

(1) Đoạn in nghiêng được trích trong tác phẩm Relation d'un voyage en Cochin-Chine en 1778, trang 27 và trang 30.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Trở Về Thời Tây Sơn
69. Đêm trăng rằm


Ngày qua tháng lại, kẻ ở người đi.

Bẵng đi một thời gian, đất trời xoay chuyển tự thuở nào chẳng hay.

Mùa thu năm Mậu Tuất hẳn là mùa thu đẹp nhất từ trước tới giờ, cũng như là mùa thu đẹp nhất trong lòng tôi.

Nói vậy thì có phần không đúng lắm, bởi trước đó tôi đã được chứng kiến cảnh mùa thu lay động lòng người không biết bao nhiêu lần.

Nhưng, nếu xét về phương diện được nhàn hạ ngắm mùa thu trôi qua ở cái thời cách hiện đại hơn hai trăm năm thì đúng là mùa thu đẹp nhất lòng tôi thật.

Mấy chục năm trước dù có ngồi dưới mái hiên, vừa thưởng trà vừa ngắm trăng đấy, nhưng tất nhiên là nó sẽ không bằng rồi.

Khi cái gì đó mới mẻ tràn tới, đôi khi ta có thể quên bẵng mất những điều vốn quen thuộc đối với ta.

Ừ thì nếu hiểu đơn giản thì tôi là như vậy đó, muốn một niềm vui mới rất mau, mà quên đi niềm vui mới đó cũng rất mau.

Bầu trời chạng vạng ánh hoàng hôn.

Mặt trời màu đỏ ối lặng lẽ rời đi sau đường chân trời nơi xa xôi.

Trên trời, sắc tím pha loãng đã nhanh chóng quyện vào cùng sắc cam nhàn nhạt, báo hiệu màn đêm sắp rũ xuống.

Mây dần khuất sau lớp màn huyền ảo, biến mất cùng với ánh hoàng hôn lụi tàn.

Khi tia nắng cuối cùng của mặt trời khuất bóng, cũng là lúc tôi chịu vác thân quay trở lại cung điện của mình.

Thanh Chi đứng ở bên ngưỡng cửa chờ đợi, tay chân bứt rứt đến độ con bé phải níu chặt vạt áo để thôi không lo lắng nữa.

Vừa thấy bóng tôi xuất hiện ở đằng xa, Thanh Chi vội vàng chạy đến, tất bật hỏi han tôi khiến tôi chưa kịp trả lời câu này là con bé đã hỏi câu khác.

"Lệnh bà đi đâu vậy?

Trời muộn lắm rồi, nhỡ đâu thánh thượng vô tình tạt ngang qua nơi này thì sao?

Làm nô tì chờ sốt cả ruột."

"Ờ ờ... chị đi ra ngoài ngắm hoàng hôn.

Cũng không muộn lắm đâu, mặt trời vừa xuống núi thôi mà."

Tôi ngồi xuống trường kỉ nghỉ lấy hơi, vừa nói vừa đưa mắt nhìn cô thị nữ nhỏ tuổi vẫn đang chăm chăm lo liệu mọi chuyện.

Con bé cứ thoắt ẩn thoắt hiện trước mắt, khi thì chạy đi làm cho xong việc này, khi thì cố nán lại làm nốt việc kia, không khi nào ngơi tay hay ngồi một chỗ.

Chợt trong đầu tôi nghĩ đến điểm kì lạ, không giống với ngày thường.

Thường là đám cung nữ sẽ quây quần trong cung, mỗi người thay phiên nhau làm một việc để giúp người kia một tay.

Thế mà giờ đây lại không thấy bóng dáng của ai hết, chỉ có mỗi mình Thanh Chi ở trong này để hầu hạ thôi.

Kể ra cũng thật là ngộ nghĩnh.

"Sao lại có mình em thế?

Mấy người kia đâu?"

Cuối cùng, những nỗi niềm chất vấn trong lòng tôi ngày một tăng.

Thế là tôi đành buột miệng hỏi con bé.

"Bẩm lệnh bà, mấy cung nữ khác được điều động sang hầu hạ ở cung khác.

Đâm ra chỉ còn một mình nô tì ở đây thôi ạ."

Thanh Chi cười trừ, sau đó nhanh nhẹn bưng đến cho tôi một chung trà nóng hổi.

Tôi kín đáo buông một hơi thở dài, từ tốn nhấp vài ba ngụm trà nóng.

Sau đó, tôi hỏi tiếp:

"Em nghĩ xem, tối nay thánh thượng có đến đây, cùng chị đón trăng rằm không?"

"Thánh thượng nhất mực sủng ái lệnh bà đến vậy, sao lại không đến cho được."

Thanh Chi sửng sốt nhìn tôi.

Tôi lắc đầu, mỉm cười chua chát:

"Ngài ấy sẽ không đến đâu."

Ánh nến được thắp lên, ngọn lửa cháy bùng lên đầy sức sống mãnh liệt.

Bóng đen trườn dài thành từng vệt trên sàn, đến những nơi ngõ ngách để trú ẩn.

Gió thoảng liêu xiêu, đưa mùi hương cỏ cây, của núi non trùng trùng điệp điệp vào để khuấy động bầu không khí vốn nhạt toẹt.

Trời đã bắt đầu tối dần.

Từ xa, mảnh trăng tròn đầy đặn nhú lên, chậm chạp di chuyển ra khỏi đường chân trời.

Ánh sáng màu bàng bạc của nó rải đầy xuống chốn nhân gian, và chỉ trong ít giờ đồng hồ nữa thôi, tôi sẽ được chiêm ngưỡng trọn vẹn đêm trăng rằm ở quá khứ hơn hai trăm năm.

Tuy không có lồng đèn hình ngôi sao dán giấy bóng kính hay lồng đèn hình cá chép như của mấy đứa con ít ở thời hiện đại, nhưng may sao tôi vẫn có thể tự ăn bánh thưởng trà một mình.

Chỉ nguyện cầu trong lòng, đêm nay sẽ không có ai ghé đây chỉ vì tôi hết.

*

Trăng tròn lơ lửng quá đỉnh đầu.

Tôi ngồi ở trường kỉ, hắt xì mấy cái liền vì gió lạnh không tốt vào buổi đêm.

Mặc trên người cả đống lớp áo, thêm cả Thanh Chi cũng đang đốt lò cho không khí bên trong cung ấm lên, vậy mà tình trạng của tôi vẫn không cải thiện xíu nào.

Đương lúc ngắm trăng, chỉ tại Thanh Chi nài nỉ tôi quá nên đành bó chân ngồi trong đây thôi.

Chứ không là tôi đã ngồi trước hiên, ngẩng đầu nhìn trăng rồi.

Cử đầu vọng minh nguyệt,

Đê đầu tư cố hương (1).

Lý Bạch làm thơ quả chẳng sai.

Chịu khó ngước mặt lên là có thể thu cả một mâm trăng tròn, sáng vằng vặc vào mắt.

Nhưng đôi khi chỉ cần một hình ảnh nhỏ cũng có thể gợi cho ta kí ức hoài niệm nào đó.

Chẳng hạn như...

Nỗi nhớ nhà da diết của tôi thì sao?

Để xem...

Tôi vẫn còn nhớ lần cuối tôi được tụ tập với đám trẻ nhỏ trong xóm, cùng chúng đi rước đèn hay bày đủ thứ trò để chơi đấy nhé.

Lúc đó tôi được cho là bự xác nhất xóm rồi, đám còn lại, đứa lớn nhất cũng chỉ mới học lớp Năm.

Lần cuối tôi được thỏa thích chơi bời như thế cũng nhằm vào đêm trăng rằm thế này, trăng hôm ấy cũng sáng như vậy.

Thân xác tôi ở hiện đại sao rồi nhỉ?

Tôi vẫn còn sống sờ sờ ra đấy, cơ mà khổ nỗi tôi sống ở quá khứ - cái thời vẫn còn binh đao loạn lạc.

Đợi đó đi, một lúc nào đó, khi mà tất cả đã chấm dứt rồi, tôi sẽ tỉnh dậy cho mấy người trố mắt.

Ba mẹ, thằng Thiên, liệu họ có lo lắng cho tôi không ta?

Tất nhiên là phải có.

Đột nhiên bất tỉnh, rồi rơi vào hôn mê đến thế cơ mà.

Lại còn thảng hoặc tỉnh dậy, nói vài ba câu, xong lại hôn mê tiếp.

Thứ bệnh lạ này đến cả bác sĩ cũng phải chịu thua, chỉ biết để tôi nằm ở bệnh viện suốt mấy tháng trời ròng để tiện theo dõi bệnh tình thôi.

Bên ngoài cung điện có người đang đứng đợi.

Thanh Chi bước ra mở cửa.

Hình như con bé định thốt lên điều gì đó, song người kia lại thủ thỉ vào tai con bé vài lời mà ngay sau đó, Thanh Chi lập tức quay gót trở vào trong, mặt tuyệt nhiên không biến sắc.

Lúc này thân nhiệt tôi đã ổn định hơn nhiều, nhưng tay vẫn còn buốt chán.

"Ai vậy?"

Tôi tò mò hỏi, hai tay xoa xoa vào nhau cho đỡ lạnh.

"Bẩm, là thánh thượng ạ."

Câu nói đó làm tôi như chết lặng tại chỗ.

Tôi nhíu mày nhìn Thanh Chi.

Chẳng phải thường giờ này ngài vẫn còn phê duyệt tấu chương hay sao, sao lại đến đây vào đêm hôm khuya khoắt nữa.

Tôi từng đọc qua lịch trình một ngày của hoàng đế ở đâu đó, và theo tôi không nhầm thì thường tầm khoảng giờ này là hoàng đế sẽ phải ngồi duyệt hàng tá tấu chương đến mấy canh giờ liền, tối muộn sẽ lật thẻ bài của phi tần để thị tẩm.

Nếu như ngài không lật thẻ bài thì chí ít cũng phải ngồi duyệt sớ chứ.

"Lệnh bà, để thánh thượng ở bên ngoài cũng không hợp lẽ.

Hay là để nô tì mở cửa cho bệ hạ vào..."

Tôi ngồi yên một chỗ, không có động tĩnh gì.

Cứ trơ trơ nhìn ánh lửa hồng cháy bập bùng ở trước mắt, tay cứ xoa vào nhau trong vô thức, tiếng ồn bên tai cũng lắng dần.

Đến khi con bé lay tay tôi, kiên nhẫn hỏi lại xem tôi có muốn để ngài ấy vào không, thì tôi chỉ biết gật đầu một cách máy móc.

"Ừm.

Em cứ mở cửa cho ngài ấy vào."

Tôi vừa nói dứt câu, Thanh Chi nhanh nhẹn tiến đến mở cửa.

Cánh cửa nặng nề được mở ra, ngay sau đó là bóng người quen thuộc bước vào, che khuất cả quang cảnh tối mịt mù ở bên ngoài.

Đám thái giám đi theo sau cũng chỉ đứng ở bên ngoài chứ không dám tiến thêm một bước khi chưa có lệnh, coi như cũng tiện chạy đi sai vặt khi cần.

Thấy hoàng đế bước vào, tôi vội sửa sang lại quần áo trên người rồi cúi người toan hành lễ.

Nhưng ngài đã giơ tay ra hiệu, bảo rằng:

"Không cần.

Nàng ngồi xuống đi."

Trông thấy bộ dạng khép nép, tay cứ run bần bật vì lạnh, cộng thêm chóp mũi đỏ ửng vì khi nãy tôi hắt xì tận mấy cái liền, ngài nhíu mày tỏ vẻ không hài lòng.

Hẳn ngài sẽ định quở giọng trách mắng tôi một tràng vì tội không biết giữ ấm.

Cũng có khi ngài sẽ trách tôi vì không biết quan tâm đến sức khỏe của mình cũng nên.

Thanh Chi sớm nhìn ra nét mặt của hoàng đế liền ra tín hiệu ẩn ý cho tôi, rằng con bé muốn tôi nên khoác vội áo ấm lên người chẳng hạn.

Nhưng dù có làm mọi cách để cứu vãn đi chăng, rốt cuộc tôi vẫn bị ngài hỏi thăm lấy mấy lời.

Coi như là một thói quen đi, không có nó, không phải ngày thường.

"Trời lạnh, sao nàng không mặc thêm áo vào?"

Hoàng đế ngồi xuống bên cạnh, tiện miệng hỏi.

"Cảm tạ thánh thượng đã quan tâm.

Chẳng qua tôi định thưởng thức đêm trăng rằm xong sẽ đi ngủ.

Đâm ra tôi..."

Tôi ấp úng đáp, kiêng dè nhìn đi nơi khác.

Ngài bất lực đến độ không biết nói gì hơn, chỉ biết thở dài, rồi cởi áo choàng bên ngoài của mình ra khoác lên người tôi.

Thái giám đứng ở ngoài cửa định lên tiếng ngăn cản chủ nhân, nhưng bị ngài lườm cho mấy phát đầy đáng sợ.

Thế là bọn họ chỉ đành im thin thít, không dám xen vào chuyện riêng của ngài nữa.

Thanh Chi cũng lấy đó làm gương, đứng lui về một bên mặc dù không ai bảo con bé làm thế cả.

Tôi biết bây giờ tôi có phản kháng cũng vô tác dụng, chi bằng ngồi yên cho mọi sự diễn ra thì hơn.

Rất nhanh sau đó, hơi ấm từ chiếc áo kia đã sưởi ấm cả người tôi.

Ngày cận kề Tết năm Đinh Hợi, ngài cũng từng khoác áo ấm cho tôi một lần, khi trông thấy tôi bỗng dưng hắt xì giữa tiết trời lành lạnh.

Mười một năm, tôi đã phải trải qua mười một năm mới được dịp chứng kiến cảnh tượng này được lặp lại.

Ôi chao, nhớ biết bao nhiêu nhỉ.

Vậy mà giờ đây, ai nấy trông cũng khác xa nhiều rồi.

"Thiệt là... ta dặn nàng biết bao nhiêu lần, rốt cuộc nàng có để tâm không vậy?"

Ngài búng vào trán tôi một cái, sau đó thu tay về mà tiếp tục nhìn tôi lọt thỏm trong chiếc áo quá khổ.

"Nhỡ đâu nàng bị bệnh thì sao?"

"Có để tâm đó chớ.

Tại... thánh thượng cứ làm quá," Tôi khúc khích cười, mái tóc buông xỏa rũ xuống vai.

"Tôi có bị bệnh thì vẫn có người chăm mà."

"Ai chăm cho nàng?"

Tôi vươn tay ra, chạm nhẹ vào tấm y phục rộng của ngài mà nói tiếp:

"Thánh thượng."

Hai tiếng gọi tuy đơn giản, nhưng tôi dám chắc rằng nó đốn đổ được cả nét mặt sắc như đá của ngài.

Chỉ trong giây lát, cơ mặt ngài giãn ra đôi phần, khóe miệng nhếch lên đầy hài lòng.

Chắc là do ngài thấy tôi vẫn luôn tìm cách chọc cười người khác như năm nào, hoặc cũng là do câu trả lời làm ngài viên mãn lắm.

Ngài say sưa nâng lọn tóc của tôi lên, mặc nhiên không để tâm đến chuyện xung quanh.

Tôi lúng túng không biết phải làm gì, chỉ biết trao đổi ánh mắt với Thanh Chi, hòng muốn con bé tìm cách giải vây cho tôi.

Nhưng đáp lại lời khẩn cầu thiết tha của tôi, con bé cũng cúi gằm mặt xuống như tôi, vờ như không thấy gì.

Cả mấy tên thái giám ở ngoài cửa cũng vậy, mỗi người nhìn mỗi hướng, cứ hễ bị bắt gặp là lập tức cụp mắt nhìn chỗ khác.

"Đêm nay là đêm trăng rằm, nàng có muốn đi chơi với ta không?"

"Hả?"

Tôi ngơ ngác nhìn vị hoàng đế trước mặt mình.

Không định đùa cho tôi quê một cục đấy chứ?

"Ta muốn hỏi rằng đêm trăng rằm hôm nay, nàng muốn đi chơi với ta hay không," Ngài chậm rãi hỏi.

Tôi lẳng lặng vò chặt vạt áo, chưa vội đáp ngay.

Ngài cũng rất hiểu ý, không bao giờ hối thúc tôi trả lời ngay lập tức câu hỏi vừa được đặt ra, mà luôn luôn chờ đợi tôi một khoảng thích hợp để tôi suy nghĩ chín chắn cho câu trả lời của mình.

Đầu tôi hiện lên bảy bảy bốn chín câu từ chối khác nhau, rồi nhân tiện nghĩ luôn cả tình huống sau khi tôi từ chối.

Không biết khi tôi từ chối, nét mặt ngài sẽ như thế nào nhỉ?

Ngài sẽ tìm mọi lí do để thao túng tôi, dùng uy quyền của một vị vua để ép tôi phải đồng ý chăng?

Mà tôi nghĩ ngài sẽ không nỡ làm thế đâu.

Định bụng từ chối cho đã, cuối cùng tôi lại làm trái với những gì bản thân nghĩ, chỉ biết lưỡng lự gật đầu.

Sau đó, tôi lại lắc đầu, hệt như muốn phủ nhận hành động tôi vừa làm ban nãy.

"Để hôm khác nhé," Tôi đáp, giọng điệu có phần dè dặt.

"Bây giờ trời cũng tối, e là vẫn có mối nghi ngại khác còn đang ẩn nấp ngoài kia, không tiện để đi chơi."

"Tản bộ với ta thôi cũng không được ư?"

"..."

Lần này người bất lực lại là tôi.

Đối diện với cái ánh mắt không-thể-nhìn-thẳng kia, tôi ngậm ngùi tìm cách gỡ rối cho tình huống rối như tơ vò.

Có lẽ sau này tôi cần phải nâng cấp bộ não của tôi lên, phải nghĩ thoáng hơn một xíu để tránh trường hợp ngoại lệ như bây giờ.

Chứ không là khó trả lời lắm.

"Chuyện này gác sang một bên đi," Tôi ngẩng mặt lên nhìn ngài.

"Bây giờ... bây giờ đã là mấy giờ rồi?"

Đôi mày của ngài cau lại, tỏ vẻ ngạc nhiên vì câu hỏi của tôi.

Tuy ngạc nhiên là thế nhưng ngài vẫn trả lời:

"Giờ đang là giờ Tuất.

Có gì sao?"

Mặt tôi sáng bảnh lên.

Té ra trời vẫn còn sớm chán, thảo nào trăng chưa treo trên đỉnh đầu, mà chỉ dịch chuyển xa đường chân trời một tí.

Vả lại đồng hồ sinh học trong tôi báo hiệu trời chưa muộn hẳn, ắt là vì tôi chưa cảm thấy buồn ngủ tẹo nào sất.

Tuyệt, tôi cũng không thích lên giường nằm, trùm chăn kín mít quá sớm đâu.

Cơ mà thế này thì sao mà từ chối được nhỉ?

Coi như tôi bị loại cũng kha khá mưu kế trong đầu rồi, chỉ còn vài chiêu có thể áp dụng được.

Mà chưa chắc tôi dùng chiêu bài thành công, họa hoằn lắm mới được vậy.

"Thôi, tôi rút lại lời nói.

Không đi đâu."

Tôi thở dài, cố làm ra vẻ nài nỉ.

"Thánh thượng vừa mới bảo tôi nên giữ ấm rồi còn gì."

"Ta dặn nàng giữ ấm, chứ đâu có cấm nàng đi chơi?"

Ngài bất chợt nắm lấy tay tôi.

"Nhé, Nhật Hạ?"

Dùng dằng mãi có khi không thể thu lại được kết quả tốt đẹp gì, đành ra tôi gật đầu chấp nhận cho có lệ.

Thật ra sau khi đã tốn thì giờ rỗi vô ích để nhấc cái chân ra khỏi cửa phủ rồi, lúc ấy tôi mới chịu nghĩ đến những tình tiết xảy ra tiếp theo, rồi đành chép miệng tiếc nuối.

Một tràng những câu tự trách móc bản thân xuất hiện trong đầu tôi.

Ngài mỉm cười hài lòng, thu tay về.

Đoạn, ngài nhìn một lượt đám thái giám, trầm giọng nói:

"Trẫm ra ngoài chốc lát."

Bọn họ chỉ biết cúi đầu nhận lệnh, ai nấy đều nghe lời răm rắp, không phàn nàn lấy một lời dù bên ngoài trời khá lạnh, đi đêm lâu sẽ dễ bị bệnh.

Trước khi đi, Thanh Chi còn chu đáo thắp cho tôi một ngọn đèn, ý muốn bảo rằng tôi cầm lấy để phòng trường hợp có thích khách.

Tôi chỉ cười xòa, bảo con bé dẹp đèn đi, bởi nếu có thích khách thì một mình ngài lo liệu được tất thảy.

Phải rồi.

Ngài có thể lo liệu tất thảy mới có thể tự xoay sở lấy chuyện khởi sự ấp ủ trong lòng từ mấy năm trước năm Tân Mão được chứ.

*

Tôi thơ thẩn thả bước về phía trước, ngài chậm rãi nối gót theo sau.

Quang cảnh bên ngoài tĩnh lặng vô cùng, dễ chịu vô cùng.

Bầu không khí trong lành đến độ tôi muốn hít một hơi thật sâu những luồng khí ấy, chứ không phải hít mãi những khí độc phát sinh từ khói thải sinh hoạt hằng ngày ở hiện đại.

Từ xa, mảnh trăng tròn đung đưa trên trời đang tỏa ra thứ ánh sáng bàng bạc, chìm đắm trong cơn mê ngủ cùng hàng vạn vì sao đang nhấp nháy cạnh bên.

Hôm nay, mục phu không chăn cừu như thường ngày nữa.

Đàn cừu cũng chỉ chập chờn, lóe lên ánh sáng rồi lại vụt tắt vào khoảng không.

Nhờ vào chiếc áo choàng của ngài mà tôi đỡ lạnh đi phần nào, lời ngài nói quả không sai.

Vừa sưởi ấm thân thể, coi như cũng vừa sưởi ấm tấm lòng ở chốn hiu quạnh, không người thân bên cạnh.

Trông thấy tôi thư giãn đến thế, ngài không nỡ lên tiếng phá hoại bầu không khí yên tĩnh này.

Cũng hiếm khi ngài chịu thấy tôi vác mặt ra ngoài, nhất là vào ban đêm, khi mà tôi chỉ biết bó chân ngồi ở trong cung mà không chịu hít thở khí trời.

Đơn giản là vì tôi rất lười.

"Nhật Hạ," Ngài bất chợt dừng bước, gọi tên tôi giữa đêm khuya thanh vắng.

"Đừng đi xa nữa.

Đến đây thôi."

Tôi ngoái đầu lại, chăm chăm nhìn ngài.

Bóng ngài loãng ra dần, cơ hồ tựa như một vị thần bước từ trong cõi hư vô ra vậy.

Nếu tôi đi quá xa, chắc có lẽ tôi cứ tưởng chừng bản thân đã lạc vào trong ác mộng, như tôi đã từng mơ thấy cách đây mấy mươi năm trước.

Dáng người cao lớn mặc Long bào...

"Tôi dự định đi đến chỗ hồ bán nguyệt, gần điện Bát giác để nghỉ chân, tiện thể ngắm trăng luôn."

Tôi chép miệng, xoa xoa hai bàn tay vào nhau.

Rồi, tôi ngoảnh đầu lại nhìn ngài.

"Thánh thượng... ngài không lạnh sao?

Kiểu này thế nào đám thái giám với thái y sẽ lo sốt vó lên mất."

Ngài không nhịn được mà bật cười, sau đó lắc đầu đáp:

"Ta không lạnh."

Hầy, ngài lại nói dối nữa rồi.

Ngoài này trời tối thăm thẳm, ánh sáng yếu ớt từ chiếc trăng tròn cũng không đủ để soi sáng con đường dài hun hút phía trước.

Trong hư vô vọng lại tiếng dế kêu rả rích tựa như bản hòa ca một tối mùa thu, nhưng sao hôm nay lũ dế đó xôn xao đến lạ thường.

Chúng tôi bỏ lại phía sau những tiếng bước chân hối hả của thái giám, của những gì xa hoa lộng lẫy nhất của một cung điện, chỉ để tiến dần đến một nơi thanh tĩnh hơn.

Một cơn gió lạnh bất ngờ thổi ập đến.

Tôi theo phản xạ rụt người vào trong tấm áo dày, kéo kín đến tận cổ.

Phải chi nếu có cỗ máy du hành thời gian hay gì đấy, chắc hẳn giờ này tôi đã mang theo trong mình hàng tá món đồ mang từ thời hiện đại về đây.

Chứ không phải lúc nào lạnh là cũng mượn tạm bợ áo của người khác, nhất là khi...

À mà thôi, không kể nữa.

"Nàng nói xem, năm sau ta có thể cùng nàng ngắm trăng không?"

Ngài nhẹ giọng hỏi, ngẩng mặt lên nhìn trời.

Đôi mắt của người kia hứng mảnh trăng nơi đại dương thăm thẳm, hứng cả hàng ngàn ngôi sao nhấp nháy vào trong tâm trí của mình.

Tôi trầm ngâm suy nghĩ một hồi, sau đó quay sang nhìn ngài, đáp:

"Có thể.

Thánh thượng dù bận đến đâu, ít nhất cũng phải cùng tôi ngắm trăng một lần nhỉ?"

"Phải.

Dù bận đến đâu, ta vẫn có thể cùng nàng ngắm trăng," Ngài rũ mắt nhìn tôi, không rõ là đang nghĩ gì.

Tôi chỉ biết cười trộm trong lòng.

Rồi, tôi chợt nhận ra điểm bất thường mà từ nãy đến giờ tôi hoàn toàn không để ý đến, đó là hôm nay ngài dịu dàng đến kì lạ.

Nghe cũng không bất thường mấy, bởi ngày nào gặp tôi, ngài chả thế.

Nhưng đôi khi ở cạnh tôi, tâm trạng ngài vẫn có chút căng thẳng, không phải lúc nào cũng thư giãn tuyệt đối như bây giờ.

Thời cuộc luôn là thứ quanh quẩn trong tâm trí ngài, lượn đi lượn lại như bóng ma vất vưởng ở những nơi có người chết, không hề rời đi một li một tấc.

Những người nào cả gan đứng dậy đối đầu với thời cuộc, hẳn sẽ bị nó bám đến cùng.

Hai tháng sau khi đăng cơ, ngài từng đến thăm tôi.

Nơi đáy mắt ngài khi đó chứa nhiều nỗi muộn phiền, toàn những áng mây mờ nặng trĩu.

Ờ thì không phải lần đầu tôi thấy ngài mệt đến độ vậy đâu, ngày xưa tôi thấy dám chừng cũng hơn năm lần ấy.

Cơ mà...

"Nhật Hạ.

Không còn sớm nữa, về thôi."

Ngài đặt nhẹ tay mình lên vai tôi.

"Ta đưa nàng về."

Tôi lắc đầu từ chối, tuyệt nhiên không lên tiếng.

"Không về là ta bỏ nàng ở đây, cũng không cho cung nữ trong cung cầm đèn đi tìm nàng đâu," Ngài tằng hắng, kiên quyết thao túng tôi đến cùng.

Đến đây thì tôi mới chịu gật đầu chấp nhận.

Xời, đâu có ai dại gì mà đánh đổi cả tính mạng của mình với cái tôi cao ngút ngàn chỉ vì một phút trót dại.

Cung nữ không thể đi tìm tôi, mà tôi vẫn chưa thông thuộc địa hình của thành Hoàng đế nữa, có về cũng về đằng trời.

Kiểu này bị bỏ đói, bỏ rét trong thành là có thật.

Thôi, thà làm phiền người khác vài ba lần, còn hơn là bản thân bị chịu phiền nhiều hơn.

Quyết định vậy đi.

"Năm sau, nếu có thể, tôi vẫn muốn ở trong cung ngắm trăng hơn nhiều," Tôi vừa đi vừa nói.

"Ra ngoài đây lạnh chết mất."

"Do nàng không chịu mặc thêm áo ấm đấy thôi."

Ngài siết nhẹ lấy tay tôi.

"Ta đã căn dặn nàng hàng vạn lần, thế mà nàng có chịu nghe đâu."

Bàn tay quân vương lạnh cóng những sương lạnh buổi đêm, tựa như một người vừa bước ra từ chốn giá rét về.

Tuy lạnh là thế, nhưng ngài lại không than lấy mấy lời, lại còn luôn miệng nhắc nhở tôi phải biết giữ ấm, không được để bệnh.

Ấy vậy mà tôi vẫn có thể cảm nhận được chút hơi ấm xuất phát từ tận sâu trong đáy lòng, không khỏi tò mò chẳng biết hơi ấm ấy từ đâu mà ra.

Là do một sự liên kết kì lạ giữ tôi và ngài ư?

"Thánh thượng," Tôi lay tay ngài, hỏi.

"Ngài nghĩ thế nào về thái bình thịnh thế?"

Bước chân của ngài chợt ngắn dần, chậm hơn so với lúc ban đầu.

Tôi biết ngài đang trầm tư suy nghĩ câu hỏi của tôi nên cũng không lên tiếng thúc giục, mà chỉ chầm chậm đi theo.

Bởi đây không phải câu hỏi có thể dễ dàng trả lời bằng những lời nói hời hợt qua loa, hay những suy nghĩ chưa chín chắn, chỉ mới nảy sinh ngay khi nghĩ đến.

Quãng đường trở về cung dần trở nên xa vời, ngọn đèn lay lắt bỗng dưng bị biến thành dấu chấm ở nơi đằng xa.

Phải mất một hồi lâu, ngài mới có câu trả lời đúng đắn cho riêng mình.

"Nhật Hạ.

Thái bình thịnh thế là khi đất nước không có giặc giã, trăm họ yên tâm lập nghiệp ở những nơi hoang vu, mùa vụ liên tiếp được lợi.

Không phải lo nghĩ đến việc chiến tranh, cảnh binh đao khói loạn gác sang một bên, phân cảnh thịnh vượng được kéo dài mãi."

"Ta nghĩ... chúng ta vẫn chưa sống trong thời thịnh thế đâu," Ngài liếc mắt nhìn sang tôi, rồi đưa mắt nhìn đi nơi khác.

"Chỉ tiếc rằng một thời huy hoàng đã trôi đi quá xa, quá xa khỏi tầm với."

"Vậy... theo ngài, khi nào chúng ta mới có được bốn chữ ấy?"

Tôi ngước lên, chớp mắt nhìn ngài.

Một cảm giác lành lạnh xuất hiện trên chóp mũi.

Ngài đưa tay chạm nhẹ lên mũi tôi, sau đó đáp:

"Là khi ta và nàng có thể cùng nhau sống ở một nơi yên bình đến cuối đời, không phải bận tâm đến chuyện thiên hạ."

Rồi, ngài chợt thu tay về, chắp ở sau lưng, thong thả đi vài bước lên phía trước.

Trong lòng tôi vẫn còn cảm giác lâng lâng một cảm xúc mới mẻ, bên tai vẫn còn văng vẳng vọng lại những lời nói dịu dàng của người nọ.

Ý ngài là sao ấy nhỉ?

Là sống một đời an yên, không màng danh phận, cũng không bận lòng vì chuyện thế nhân mới gọi là thái bình thịnh thế hả?

Nhưng mà... ngài trả lời như vậy thì liên quan quái gì đâu chứ.

Vớ vẩn.

Tôi ngẩng mặt nhìn trăng, tiện thể đoán mò thời gian.

Đồng hồ sinh học trong người tôi chưa có dấu hiệu của sự buồn ngủ, nhưng trong đầu thì lại nghĩ khác, cứ tung ra một loạt những dự đoán về giờ giấc hiện tại.

Trăng đủng đỉnh trôi quá đỉnh đầu, vì sao tinh tú cũng lặn dần để chuẩn bị cho một giấc ngủ ngon.

Được ủ ấm một khoảng thời gian cũng tương đối lâu, nên tôi không còn thấy lạnh nữa, thân nhiệt cũng quay trở về ngưỡng ban đầu, bèn cởi áo ra trả lại cho ngài.

Nhịn bụng không dám mở miệng xin mượn chiếc áo đã đành, thế mà lại bị người ta đọc thấu suy nghĩ, cãi một dối hai miết nên tôi không biết đường chối như nào.

Mặc cho tôi hết lòng dúi tấm áo vào tay ngài, nhưng thế quái nào ngài lại không nhận.

Đoạn, hoàng đế chỉn chu choàng chiếc áo lên người tôi, dịu giọng bảo:

"Không cần khách sáo đâu.

Khi nào có thì giờ rỗi, nàng đến tẩm điện trả ta cũng không muộn."

Rồi sau đó, cả hai chúng tôi cùng nhau đi hết đoạn đường, không ai nói với ai lời nào.

Bởi tầm này thì ai nấy cũng đều thấm mệt, sức lực gần như cạn kiệt để tán phét với nhau quanh quẩn mấy chủ đề nhảm nhí.

Và điều vớ vẩn tiếp theo là ngài không rời đi nửa bước đến khi nào tôi chịu bước vào bên trong cung điện của mình, khi ấy ngài mới an tâm quay về tẩm điện.

Thanh Chi hớt hải chạy ra đón, vội vàng dìu tôi vào trong nhà ngồi cho ấm, lại luôn mồm trách vì sao hai người bọn tôi đi tới giờ quá giờ Tuất mới chịu về.

Đến khi thấy có cái gì đó cộm cộm nằm trong lòng bàn tay, tôi mới phát hiện ra vật nằm trong tay mình là ngọc bội màu xanh lam, trong vắt như hồ nước buổi chiều thu, được buộc bằng dải chỉ đỏ ở bên dưới.

Cái này, nó xuất hiện trong tay tôi từ khi nào vậy ta...?

-------------------------------------------

(1) Đoạn in nghiêng được trích từ bài thơ Tĩnh dạ tứ (Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh) của Lý Bạch.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Trở Về Thời Tây Sơn
70. Ngọc bội


Tôi mân mê ngọc bội trong tay, thơ thẩn nhìn đằng đông hửng sáng ở ngoài cung.

Mảnh giấy nhắn nhủ bí ẩn tôi vẫn còn giữ, cất vào một xó để chờ dịp giải mã nó.

Viên ngọc nghiêng mình đón nắng, ánh lên một màu xanh đẹp đến viên mãn.

Chính giữa chỉ khoét một lỗ nhỏ để xỏ dây vào, không chạm khắc hoa văn chi tiết gì sất.

Sắc xanh lam rực rỡ nổi bật hẳn, dù cho không được chiếu sáng đi chăng nữa, đến độ tôi phải dụi mắt mất ba lần để xác thực rằng viên ngọc trên tay mình là hàng thật giá thật, không phải là mơ.

Tuy bề ngoài của ngọc bội giản đơn là thế, không cầu kì như ngọc bội trên phim cung đấu tôi thường xem, nhưng tôi có thể phỏng đoán rằng ngọc bội này có giá trị ngất ngưỡng, muốn sở hữu nó cũng không phải dễ dàng.

Còn mảnh giấy đi kèm kia, tôi không biết rõ nội dung bên trong nói những gì.

Bởi chữ thời này thì tôi đã biết quái đâu, lụm lặt cũng được vài ba con chữ dễ nhớ vào đầu thôi, chứ nguyên một câu dài dòng như thế này thì thôi... tôi chịu.

Chắc khi nào rỗi nhờ Thanh Chi đọc giúp vậy.

Lại phải nhờ vả con bé nữa rồi.

Bị nắng rọi đến tận mặt, tôi nheo mắt lại, cố chấp đợi một thoáng nữa cho bớt nắng rồi hẵng ngắm cảnh sau.

Cơ mà đợi miết vẫn không thấy khấm khá lên tí nào, thậm chí tôi thấy khó chịu hơn ban đầu nữa, nếu không khéo thì tôi ốm liệt giường mấy hôm chứ chẳng chơi.

Tôi chưa muốn nếm thử cái vị đắng nghét của thuốc đâu, kinh chết đi được.

Thanh Chi thấy tôi ngồi thẫn thờ bên trường kỉ miết, không nói không rằng, đâm ra sợ trong người tôi không được khỏe, bèn tiến đến hỏi han.

Phải mất tận ba lần, con bé mới thành công khiến hồn phách tôi từ chín tầng mây trở về thân xác ở dưới cõi phàm.

Còn tôi thì ngơ ngác quay sang nhìn Thanh Chi, không rõ chuyện gì vừa mới xảy ra.

"Lệnh bà ơi...

Hôm nay lệnh bà không khỏe ạ?"

Tôi đưa tay vỗ lên trán mấy cái, rồi đáp: "Không có sao...

Chị chỉ đang suy nghĩ chút chuyện thôi."

Chút chuyện của tôi ở đây nó nhỏ lắm, chỉ nhỏ tầm nguyên cái đại dương ấy chứ không có gì.

Thật ra đó không phải là câu trả lời chân thật nhất của tôi đâu, mà là do tôi tiện mồm nói ra.

Đương lúc đầu óc bâng khuâng chuyện này chuyện kia, ngẫm nghĩ chuyện kia chuyện nọ, làm sao dư thì giờ để nghĩ ra câu trả lời thích hợp.

Đến việc con bé gọi tên tôi, tôi còn chẳng thèm để tâm đến thì cũng đủ hiểu rồi.

Thật ra thì Thanh Chi lo lắng cho tôi như vậy là cũng đúng.

Bởi từ khi thức dậy đến giờ, tôi chỉ ngồi im trên trường kỉ như một pho tượng, không nói không rằng, khi nào mỏi chân thì đổi thế ngồi khác.

Đúng giờ, ngự thiện được dâng lên, tôi ăn được có vài món rồi lại thôi, tiếp tục ngồi ở trường kỉ.

Có lẽ vì không hợp khẩu vị.

Mà đành chịu thôi chứ biết sao giờ.

Tôi vốn quen với ti tỉ món ăn ở thời hiện đại được nêm nếm công phu, tuy đơn giản nhưng nhìn bắt mắt, lại còn ngon miệng nữa.

Đâm ra khi quay về thời phong kiến thì tôi vẫn chưa thích nghi được cho lắm, mà đó lại là vấn đề nan giải của tôi khi mấy ngày đầu bị vướng vào dòng xoáy thời gian.

Lắm điều rắc rối thật.

Tôi chợt nhớ ra một ý, bèn giơ ngọc bội lên cho Thanh Chi xem, hỏi: "Em thấy nó như thế nào?"

Thanh Chi ngạc nhiên nhìn ngọc bội rung rinh trước mặt, môi mấp máy định nói điều gì đó nhưng không thành.

Tôi hồi hộp đến mức quên cả việc hô hấp thường ngày, nén hơi thở trong lồng ngực mà chờ đợi câu trả lời từ con bé.

Giây phút tiếp theo tôi có thoải mái chất vấn hay không, đều phụ thuộc vào biểu cảm xuất hiện trên gương mặt của Thanh Chi.

Con bé đứng chôn chân tại chỗ cũng ngót nghét năm phút rồi.

"Nô tì nghe nói từ xưa đến giờ, ngọc bội này chỉ dành cho thiên tử và các quan đại thần có vị thế cao trong triều thôi ạ."

Cuối cùng Thanh Chi cũng đáp lời.

Hình như giọng con bé hơi run thì phải.

"Lệnh bà có được cái này từ đâu vậy?"

Tôi nhún vai tỏ vẻ bất lực:

"Chị chịu.

Đêm qua vừa đi tản bộ hóng gió ngắm trăng với thánh thượng xong thì thấy cái này trong tay, đã thế còn kèm theo mảnh giấy nữa.

Trong lòng chị hiện giờ ngờ vực ngài ấy là người đưa nó, nhưng vẫn chưa biết thực hư ra sao."

"Mảnh giấy ạ?"

Con bé tròn mắt nhìn tôi.

"Ừm.

Chị cất nó trong ngăn bàn ấy.

Em muốn đọc thì để chị đi lấy."

Nói rồi tôi đứng dậy, tiến vài bước về phía chiếc bàn trang điểm đặt ở đầu giường.

Thật ra lúc trước khi ngài lên ngôi đã có sự xuất hiện của chiếc bàn này, cơ mà tôi không dùng nhiều đồ trang sức như mấy bà phi trong phim cung đấu tôi thường hay xem nên tác dụng chính là để trưng bày.

Thanh Chi nối gót theo sau, tò mò nhìn ngóng tôi đang loay hoay mò mẫm trong ngăn bàn.

Tôi giơ mảnh giấy lên, mỉm cười với con bé như đứa trẻ vừa đào được kho báu vậy.

Mảnh giấy đó được xếp lại đúng như ban đầu, chỉ khác đôi chỗ rằng nội dung trong đó đã bị đọc trước khi được lôi ra nơi ngăn bàn tối tăm.

"Đây này."

Thanh Chi nhận lấy mảnh giấy, rồi từ tốn mở nó ra.

Tôi chăm chú nhìn theo ánh mắt đi từ háo hức sang hồi hộp, rồi đến ngạc nhiên và cuối cùng là sửng sốt của con bé.

Gì thế?

Bên trong viết cái gì mà con bé phản ứng đến vậy nhỉ?

"Sao vậy?"

Tôi ngó nghiêng nhìn Thanh Chi.

"Bên trong viết gì mà trông mặt em còn ghê hơn cả chị nữa."

"Nô... nô tì tưởng lệnh bà đã đọc cái này rồi," Thanh Chi lúng túng dúi mảnh giấy vào tay tôi, sau đó ngơ ngác nhìn như thể tôi là một đứa từ hành tinh khác bị lạc vào đây.

"Lệnh bà không biết thật sao?"

?

Tôi đã đọc được cái quái gì ở trong đó đâu.

Nhìn ba cái chữ vừa ngoằng ngoèo, lại vừa nhiều nét, nhiều nghĩa, khó học như thế thì dù tôi có đoán mò cũng chịu.

Sau đợt này chắc tôi cần đăng kí gấp một khóa học chữ thời xưa, với cả phiên dịch lúc nào cũng kè kè bên cạnh mất.

Thấy tình huống không mấy khả quan hơn ngoài cái lắc đầu chịu thua và nụ cười lạc quan mọi lúc mọi nơi của tôi, Thanh Chi chỉ đành thở dài.

Rồi, con bé lên tiếng giải đáp:

"Nô tì không thể đọc cho lệnh bà nghe được, bởi nô tì nghĩ lệnh bà nên tự đọc nó thì hơn.

Nhưng nô tì chỉ có thể cho lệnh bà biết, rằng ngọc bội ấy là do thánh thượng tặng đấy ạ."

Nghe đến đây, nụ cười trên môi tôi bỗng chốc chuyển từ cười tự nhiên sang cười gượng gạo.

Tôi trân trân nhìn Thanh Chi, không rõ khi nãy mình có nghe nhầm cái gì không.

Rõ ràng ngọc bội lẫn mảnh giấy đều nằm trong tay tôi một cách bất bình thường, không rõ người đưa là ai, và vì sao nó lại ở đây.

Tưởng chừng mọi chuyện sẽ được lí giải, sáng tỏ tường tận như mấy phiên tòa đưa ra kết luận cuối cùng sau mấy ngày chờ đợi căng thẳng ấy, thì kết quả thực tế lại không đúng với mong đợi của tôi.

Hình như con bé chỉ đang trêu tôi thì phải.

Cơ mà, ngẫm đi nghĩ lại vẫn thấy có gì đó khả nghi.

Việc ngọc bội đột nhiên xuất hiện không rõ lí do, lại còn kèm theo mảnh giấy nhắn nhủ đôi lời, hẳn người đưa nó cho tôi đã có chủ đích.

Câu trả lời nửa úp nửa mở của Thanh Chi càng củng cố thêm lòng tin cho tôi, rằng có thể người đưa ngọc bội này là thánh thượng.

Ngay từ ban đầu, linh cảm đã mách bảo tôi như thế.

Quả nhiên trực giác của con người lúc nào cũng đúng.

Tôi gấp gọn mảnh giấy trong tay, rồi nhìn sang ngọc bội, không nhịn được mà thở dài.

Thật là... muốn tặng thì cứ việc đưa trực tiếp đi.

Bộ thẳng thừng nói chuyện khó lắm hả?

Gạt chuyện phù phiếm đó sang một bên, coi như mọi chuyện đã được sáng tỏ.

Tôi tự động viên bản thân mình.

Đợi khi nào có dịp rồi hỏi ngài ấy sau.

Đúng là ba cái chuyện quái quỷ, đầu đuôi không rõ mà.

Nói chung là tôi không thể hiểu được cái tình huống rắc rối này.

Cứ ngỡ sống ở đây thì mọi chuyện sẽ trôi qua như thường lệ, thế mà nó cũng rắc rối ra trò phết.

Từ những ngày tháng đầu bị kẹt trong quá khứ, tôi bị vướng toàn những chuyện dở hơi như: Chỉ vác cái thân đi dạo mấy vòng chợ thôi mà cũng vô tình đụng phải chuyện thuế má nhà người khác, rồi chưa kể đến việc tôi bị người khác gây sự tầm một, hai lần nữa ấy chớ.

Vân vân và mây mây...

*

Tôi vẫn còn nhớ khoảnh khắc những ngày đầu lập nên vương triều mới nó nhộn nhịp như thế nào.

Trong vòng mười ngày liên tiếp, trong cung tổ chức yến tiệc linh đình.

Tiếng nói cười rộn rã, cảnh người vui vẻ với nhau hiện lên trước mắt.

Đây là lần đầu tiên tôi có dịp chứng kiến cảnh chè chén, lễ tiệc tưng bừng của người xưa cách đây hơn hai trăm năm trước đầy viên mãn đến vậy.

Quan lại, tướng tá được vinh dự mời đến tham dự buổi tiệc này.

Và tất nhiên tôi cũng được mời đến, dù cho bản thân vô công rỗi nghề, không làm gì có ích, cũng không có xuất thân quyền quý gì cả.

Hẳn khi ấy mọi người có mặt ở đó, ai ai cũng bất ngờ với sự xuất hiện của tôi, bởi tôi là một nhân vật mờ nhạt, ngoài luôn hiển hiện trong mắt ba anh em ra thì làm gì có ai biết đến sự hiện diện của tôi đâu.

Đúng là chỉ có ngài mới một hai đòi tôi dự yến tiệc cho bằng được, bảo rằng: "Ngày đăng cơ của ta, nàng cũng nên xuất hiện.

Coi như là để chúc mừng cho ta vậy."

để hòng thao túng tôi.

Quả nhiên, ngài thao túng tôi thành công thật.

Hoàng đế ngồi trên ngai vàng, chống cằm nhìn xuống các quan đại thần đang say sưa với cuộc vui chưa tàn, thong thả thưởng thức quang cảnh yến hội tiệc tùng.

Sơn hào hải vị, vàng bạc châu báu, hương rượu cay nồng, người người nhà nhà mặt đỏ bừng vì say rượu.

Tôi ngơ ngác nhìn chung quanh, không biết bản thân nên làm gì tiếp theo.

Bị lạc bởi dòng người toàn có quyền thế trong triều, ai nấy đều mặc áo Mãng bào, đầu đội mũ đính trang sức bằng vàng bằng bạc, tôi lúng túng đến độ chỉ biết lui về một góc khuất ít người để ý đến, rồi làm mấy trò tiêu khiển lặt vặt thôi.

Trông tôi lúc đó cứ như con dở hơi bị tự kỉ một mình ý, không bị người khác trêu là may lắm rồi.

Thế mà vẫn bị ánh mắt của một người chú ý đến, từng hành động cử chỉ cũng như nét mặt đều không lọt khỏi tầm nhìn của người nọ.

Là ngài chứ còn ai.

Tôi đảo mắt nhìn một vòng để nắm bắt tình hình, định tìm cách trốn về.

Nhưng bất chợt ánh mắt tôi vô tình chạm ánh mắt ngài, nhìn thấy người kia đang mỉm cười với tôi, lại còn ngoắc tay ra hiệu cho tôi đến gần.

Ơ thế là đang gọi tôi đó hả?

Thời này dám chống mệnh lệnh của vua là sẽ có chuyện rủi ro xảy ra sau đó, chi bằng chỉ cần cố làm theo đúng những gì người khác bảo.

Làm không khéo thì khi đó mạng rác này muốn níu giữ cũng không kịp nữa.

"Cuối cùng cũng chịu đến rồi sao?"

Tôi lắc đầu, thở dài chán chường.

Nhìn những người có chức tước trong buổi tiệc này mà tôi muốn vác thân đi về ngay và luôn, tự thấy bản thân tôi ở đây lâu cũng không giúp ích được gì.

"Nếu không phải thánh thượng một hai đòi rủ tôi đến dự yến tiệc thì giờ này tôi đã dành cả tá thì giờ ra ngồi trong cung rồi."

Và cả đánh một giấc cho thật sảng khoái nữa.

Ngài vẫy tay gọi thị nữ đến rót thêm rượu vào chén.

Bọn họ làm việc một cách máy móc, hết đi nhanh nhanh chóng chóng rồi lầm lủi lui về, tuyệt nhiên không ngước mặt lên nhìn ai, cũng không nói với ai tiếng nào.

Hương rượu cay nồng lan tỏa, khuếch tán vào bầu không khí vốn đã tràn ngập hơi men từ trước.

Đoạn, ngài tự tay đưa chén rượu đó cho tôi, thong dong đáp:

"Nàng đã cất công đến đây rồi, không thể để công sức của nàng đổ sông đổ bể được.

Chi bằng... nàng cùng uống với ta một chén thì vẫn được hơn chăng?"

Tôi ngại ngùng cúi gằm mặt, cuối cùng cũng đành miễn cưỡng nhận lấy chén rượu.

Đã lâu tôi chưa động vào thứ đồ uống có thể dễ làm người ta mất kiểm soát này, kể từ năm Đinh Hợi đến giờ, cũng lâu phết chứ không đùa đâu.

Ngần ấy say quên đường về, không có cậu ba dìu về thì tôi đã ngủ gục trên bàn của quán người ta mất.

Nhục mất.

Nhưng mà... mùi rượu ở đây thật khác với mùi của loại rượu thông thường.

Tuy không phải kẻ bợm rượu hay người sành sỏi về thức uống cho lắm, có điều thính giác lẫn giác quan thứ sáu đều cho tôi biết thế.

Mà cũng đúng thôi, ngày lễ trọng đại, yến tiệc trong cung kéo dài đến mười ngày cơ mà, không đãi thứ rượu quý thì đãi cái gì?

"Không uống à?"

Ngài bật cười khi thấy điệu bộ lúng túng của tôi, phẩy tay phủ dụ cho tôi an lòng.

"Ta đã mời thì nàng cứ việc, đừng bận tâm chuyện khác, cũng không cần nề hà phép tắc, lễ nghi quá làm chi.

Chẳng qua là một chén rượu nhỏ thôi mà."

"Thánh thượng có chắc ngài không sai người bỏ độc vào để hãm hại tôi đấy chứ?"

Tôi nhíu mày nhìn chén rượu, rồi chuyển sang nhìn ngài.

"Không có chuyện một người giả vờ tốt với kẻ vô danh tiểu tốt như tôi đâu..."

Bàn tay của người nọ vươn ra, véo nhẹ bên má của tôi như một thói quen khó bỏ.

Ngài nhẹ nhàng đáp lời:

"Nếu có dã tâm như thế, thì ta đã làm từ mấy mươi năm trước rồi.

Nàng khéo nghĩ quá đó."

Tôi mỉm cười cho qua, từ tốn nâng chén rượu lên ngang tầm mắt.

Đến khi hạ thấp chén rượu xuống rồi, hai ánh mắt của hai con người có vị thế khác biệt lại giao nhau, người này hiểu ý người kia đến kì lạ.

"Một kẻ không có chữ nghĩa như tôi cũng không biết nên chúc thánh thượng như thế nào cho đúng.

Thôi... quan trọng vẫn là tấm lòng mà nhỉ."

Tôi ngừng lại giây lát, đánh ực một hơi hết cạn chén rượu.

Vị tê cay bám trên đầu lưỡi, lan tỏa trong miệng, và dần trôi xuống cuống họng.

Đoạn, tôi thì thầm nói tiếp những lời vốn còn đang dang dở:

"Chỉ biết chúc cho ngài, ngôi vua này, và cả vương triều này, mãi mãi được trường tồn."

Mãi trường tồn theo thời gian, và mãi trường tồn theo dòng lịch sử...

*

"Lệnh bà ơi, có người muốn gặp lệnh bà đấy ạ."

Tôi giật mình, ngơ ngẩn nhìn xung quanh, đưa tay lên vỗ vào trán vài cái cho tỉnh mộng.

Đầu tôi đau như búa bổ, choáng váng hết cả mặt mày, biểu cảm ngô ngố của tôi không khác gì người từ trên trời rớt xuống.

Thanh Chi thấy tôi cuối cùng cũng có biểu hiện của "một người bình thường" nên thở phào nhẹ nhõm, vuốt ngực để tự trấn an chính mình.

Tôi là ai, đây là đâu?

"Sao thế?"

"Bẩm, bên ngoài có thánh thượng đang đứng chờ."

Con bé kiên nhẫn đáp.

Lại cái vụ gì nữa đây?

Lần trước tôi lại mong hoài mong hủy mà không thấy bóng dáng ngài đến suốt hai tháng ròng, tưởng chừng một điều hiển nhiên nào đó đột nhiên chuyển hướng.

Nay tôi lại gặp tình trạng hai, ba tuần ngài sẽ đến thăm tôi một lần, có khi còn phụ thuộc vào tâm trạng vui hay buồn.

Cầu được ước thấy, muốn gì có đó.

"Lệnh bà à... nô tì nghĩ chúng ta không nên để thánh thượng ở ngoài lâu đâu ạ."

Thanh Chi vội vã thúc giục tôi.

Không còn suy nghĩ nào khác, tôi đành gật đầu một cách máy móc:

"Được rồi, em mở cửa cho ngài ấy vào đi."

Dứt lời, Thanh Chi nhanh nhẹn bước ra mở cửa, tuyệt nhiên không chậm trễ một giây phút nào hết.

Ánh sáng từ bên ngoài đột ngột rọi thẳng vào cung, làm tôi nhức mắt chết khiếp đi được.

Mà cũng phải thôi, nãy giờ tôi ngồi bất thần như người mất hồn ấy, gọi gì cũng không nghe, bảo gì cũng không nhìn.

Tôi lại quay về khoảng thời gian thích ngẩn ngơ nhìn trời như hồi đó nữa rồi.

Hoàng đế ung dung bước vào, bộ Long bào vàng sẫm được thay thế bằng bộ thường phục màu đỏ sau khi thiết triều xong, đầu chít khăn gọn gàng.

Theo sau ngài có vài tên thái giám luôn hớt hả chạy theo chủ nhân.

Không biết trong lúc không cần động tay động chân làm việc, bọn họ có ngơi tay giây nào không nhỉ?

Thanh Chi vội cúi người hành lễ, nín thở chờ đợi cho ngài đi qua.

Tôi đứng dậy, mắt chữ A mồm chữ O, ngơ ngác nhìn cảnh tượng trước mắt, chân cứ như bị dính chặt xuống đất, không thể di chuyển được.

Thấy vua mà không hành lễ, cũng không thốt ra được bất cứ câu gì thì ôi thôi... rất đáng được ban tội chết ấy chứ.

Hoàng đế ung dung bước vào, đảo mắt nhìn một lượt khắp cung điện, gật gù vẻ hài lòng.

Rồi chợt nhiên ngài nhìn thẳng vào mắt tôi.

Tôi giật mình, cố lảng tránh đi ánh mắt ấy, tay vò chặt lấy gấu áo mà lòng bồn chồn không dứt.

"Được rồi, miễn lễ.

Đứng dậy đi."

Ngài phẩy tay ra hiệu, thong dong đến ngồi bên trường kỉ.

Đoạn, ngài vỗ vỗ vào chỗ ngồi cạnh bên, quay sang nói với tôi: "Còn nàng nữa, đến đây ngồi với ta.

Đừng có đứng đực ra như thế."

Tôi nghiêng đầu nhìn, không rõ bản thân mình có dại quá hóa khờ mà nghe sót chữ nào hay không.

Cũng may là có Thanh Chi cứu viện, thì ra là con bé đã nhìn thấu được tôi không hiểu ý ngài là gì nên đã bước đến, nhanh trí thì thầm đôi lời vào tai tôi:

"Bẩm lệnh bà, thánh thượng muốn lệnh bà ngồi cùng đấy."

Tôi chớp mắt nhìn Thanh Chi, vậy là muốn tôi đến ngồi thật đấy à?

Con bé gật đầu thay câu trả lời, còn bồi thêm nụ cười tự tin để lòng tôi thấy an tâm hơn.

Tôi thở dài, cô cung nữ nhỏ tuổi này ít ra vẫn được cộng một điểm vì luôn lạc quan trong mọi tình huống, vẫn đỡ hơn mấy cung nữ khác.

Còn lại thì không mấy khả quan tí nào.

Tôi lót tót đến ngồi bên trường kỉ, khép nép ngồi về một bên, giả vờ đưa mắt nhìn quang cảnh thoáng mát ngoài cửa.

Hoàng đế từ tốn thưởng thức trà, sau đó đặt nhẹ chung xuống mâm mà lên tiếng:

"Ngoài kia có gì thú vị lắm sao, nàng nhìn mãi thế?"

Tôi nuốt khan, cảm thấy sống lưng lạnh toát.

Không nghe thấy động tĩnh gì, ngài ngẩng mặt lên nhìn tôi, nhíu mày hỏi lại:

"Ta nói gì không đúng à, nàng làm cái mặt đó, ý muốn nói gì đây?"

Tôi vội vàng lắc đầu.

Bây giờ tôi mới thở được như thường, chứ khi nãy sợ quá đâm ra nén thở để nghe ngóng tình hình mà quên luôn cả việc thở.

Ngài đưa tay búng nhẹ lên trán tôi, nói:

"Không phải thì trả lời ta xem nào, Nhật Hạ."

"Thánh thượng..."

Tôi ngập ngừng đáp, đưa tay vuốt ngực mấy cái rồi thở phào.

"Ngoài kia không có gì thú vị, chẳng qua...

đó là thói quen khó bỏ của tôi rồi, không nhìn ra ngoài thì chán lắm.

Mà ngài đừng có làm vẻ mặt hầm hố đó được không?

Dọa chết tôi mất."

Nghe đến đây, ngài bỗng bật cười một hồi, sau đó chống cằm nhìn tôi chăm chú.

Tôi lại rơi vào tình thế bị người khác nhìn chằm chằm, chưa kể còn bị ánh nhìn đó ghim thẳng lên người.

Mọi cử chỉ, nét mặt buồn vui hay trong thâm tâm tôi nghĩ gì đều bị người nọ nhìn thấu hết cả thảy.

Có giấu giếm việc chi cũng không được.

Ngày gì mà xui khiếp thế nhỉ.

"Ta chỉ hỏi nàng thôi, xem ngoài kia liệu có thú vui gì mà đến cả nàng cũng bị thu hút đến vậy."

Hoàng đế thở dài, xem chừng cũng đã quá quen với nét mặt, tính cách của tôi.

"Không cố ý làm nàng sợ đâu."

Rồi, tôi chợt nhớ ra ngài đến đây không đơn thuần chỉ đến thăm như thường lệ, ắt hẳn ngài muốn thông báo một chuyện hệ trọng gì đó, hay đại loại thế.

Không thể nào mà thì giờ rỗi lại đến cái chốn ít để lại trong đầu người ta ấn tượng thế này, dù có ngẫu hứng đến thì tôi cũng không tin.

Nghĩ là làm, tôi lập tức nhỏm dậy, nghiêm túc nhìn thẳng vào mắt ngài.

Trái lại, người nọ chỉ ngạc nhiên một thoáng, sau đó lại bình thản như thể chưa có chuyện gì xảy ra.

Bởi đó giờ có ai to gan dám nhìn thẳng vào mắt vua như vậy đâu, dù có khoản tiền hậu hĩnh để đãi cũng không dám, ngàn đời còn không dám nghĩ đến chuyện đó.

Bọn thái giám hoảng hốt, cứ đinh ninh nghĩ rằng ngài sẽ nổi trận lôi đình rồi ban tội chết cho tôi, hay ít ra là ba cái hình phạt nặng này kia.

Đến cả Thanh Chi cũng nhìn về phía tôi trong lo sợ, định bụng tìm cách nhắc khéo tôi.

Nhưng mọi thứ lại yên lặng đến mức đáng sợ.

"Thánh thượng cất công đến đây, không biết ngài định nhờ vả chuyện gì chăng?"

Tôi tò mò hỏi.

Ngài chậm rãi đưa chung trà lên thưởng mấy ngụm trà nóng, rồi đáp:

"Không hẳn là nhờ vả.

Chẳng qua ta có chuyện muốn kể nàng nghe.

Với lại ta nhớ nàng."

Đôi mắt tôi sáng bảnh lên, tủm tỉm cười trong vô thức.

Ôi dào, tưởng chi ba cái chuyện chính sự đau đầu đó, thì ra là chút chuyện cỏn con ngài muốn kể cho tôi.

Thế thì tôi có thể ngồi yên cả canh giờ liền chỉ để được nghe kể đủ thứ chuyện trên trời dưới đất, thậm chí là không bao giờ thấy nhàm chán ấy.

Chuyện của thiên hạ thì nhiều không kể xiết, quan trọng là có người nào chịu ngồi một chỗ, cùng tôi bàn chuyện hay không.

"Thích nghe kể đến vậy hả?

Đúng là tật xấu của nàng mãi không chữa được nhỉ."

Ngài mỉm cười, vén nhẹ một bên tóc rũ xuống đang che khuất tầm nhìn của tôi.

"Ta hiểu tại sao năm đó nàng suýt bị kẻ khác đánh giữa chợ rồi.

Vốn dĩ ban đầu ta không muốn kể cho nàng nghe đâu, nhưng nếu nàng thích như vậy thì... ta sẽ kể một phen vậy."

Tôi châm một chung trà thật nóng, thật đầy rồi quay sang ngồi xếp bằng hai chân, mặt hiện rõ vẻ háo hức khó lòng nào mà che giấu được.

Không gian tứ bề bỗng chìm trong thinh lặng...

*

Theo những gì tôi nhớ được trước khi xuyên về, thì ngài ở ngôi vua mười năm, đến năm Mậu Thân [1788] thì từ bỏ đế hiệu, nhún xuống làm Tây Sơn Vương.

Ấy vậy mà ngài vẫn dùng niên hiệu Thái Đức đến năm Quý Sửu [1793] mới thôi.

Một khoảng thời gian không dài, nhưng đã đi gần hết hai mươi tư năm tồn tại của triều đại Tây Sơn.

Tất nhiên như bao ông vua khác lên ngôi, việc tất yếu nhất sau khi đặt niên hiệu chính là bắt tay vào chỉnh đốn bộ máy hành chính.

Đơn vị hành chính ở địa phương có chút thay đổi, ngài bỏ dinh, chỉ để phủ và huyện.

Từ Bắc chí Nam (1) chia ra làm sáu phủ: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Phú Yên, Diên Khánh, Bình Thuận.

Đứng đầu là phủ, dưới phủ là huyện.

Trừ phủ Quy Nhơn ra, ba phủ Tuy Viễn, Phù Ly, Bồng Sơn đều trực thuộc trung ương.

Chức danh Tuần phủ được đổi thành An Phủ sứ và Phòng Ngự sứ.

Trong đó An Phủ sứ cầm đầu phủ lớn, còn Phòng Ngự sứ coi giữ phủ nhỏ.

Ừm... rắc rối ra trò phết nhỉ?

Tôi chỉ hiểu mỗi cái chức An Phủ sứ thôi, cũng giống như Hồ Quý Ly khi lên ngôi đã tiến hành hàng loạt các cải cách ngày trước: Đặt chức An Phủ sứ để cai quản mọi việc trong phủ, châu, huyện ấy.

Mà cũng phải, vốn dĩ tôi có phải là người của thời này đâu, nếu là người ở đây thì hẳn sẽ quen với việc này mỗi khi một triều đại mới dựng lên.

Việc hiển nhiên ấy mà.

Nhắc mới nhớ, bữa trước ngài đến thăm tôi mà không đả động gì đến chuyện ngọc bội, tôi cũng quên béng mất phải hỏi ngài, cho nên không ai nói với ai chuyện viên ngọc đó hết.

Thực tình...

Nếu chẳng phải do tôi mơ mơ màng màng về buổi yến tiệc thì có lẽ đầu tôi đã được khai sáng phần nào về viên ngọc kì bí kia.

Chắc phải luôn giữ khư khư ngọc bội bên người, hễ thấy bóng dáng ngài xuất hiện thì lập tức đem viên ngọc ấy ra làm chủ đề trò chuyện mất.

Thanh Chi đứng bên cạnh, đều tay quạt cho tôi, thi thoảng lại ngừng tay đôi lúc, ánh mắt lạc đi nhìn về nơi xa xăm.

Trong khi người ta bận tay bận chân làm việc này đến việc kia không ngớt, tôi thư thả ngồi vò vạt áo của mình đầy thích thú.

Thằng Thiên bảo tôi bị mắc chứng tăng động, cứ đương lúc rảnh rỗi là tôi phải tìm lấy một việc vặt để làm cho đỡ nhàm đi đôi chút, không ngồi yên một chỗ được.

Tôi đưa tay lên nhẩm đếm.

Lần cuối cung nữ tập trung đầy đủ trong cung của tôi, tính ra cũng đã lâu.

Những lần sau đó toàn thấy mỗi Thanh Chi ở đây hầu hạ không quản nắng mưa.

"Lệnh bà ơi!"

Con bé khẽ khàng cất tiếng.

"Hả?

Sao thế?"

Tôi ngơ ngẩn ngước nhìn lên, bắt gặp ánh mắt trong veo của cô cung nữ nhỏ tuổi.

"Nô tì nghe các cung nữ khác kể lại rằng, thứ phi Ya Dố xin thánh thượng xuất cung rồi ạ."

Thanh Chi lễ phép đáp.

Tôi cau mày.

Trong một thoáng, đầu tôi suy nghĩ hàng tá những chuyện khác nhau.

Không phải là tôi mới biết nên bị sốc đâu, chẳng qua là vì chuyện này đến quá nhanh nên tạm thời tôi thấy lạ lẫm.

Chuyện Thanh Chi nói không phải là sai.

Thứ phi Ya Dố vốn là con gái của tù trưởng người Ba Na, gắn bó với miền Thượng như cá gắn bó đại dương, hổ quấn lấy nơi rừng rậm.

Những điều giản dị, bình yên và khổ cực, nàng để nó vào trong lòng, vui vẻ chấp nhận điều hiển nhiên ấy.

Trong chốn cung cấm toàn lễ nghi phiền toái, sơn hào hải vị thế này, quả thật không hợp với nàng.

Mặc dù được chính cung Trần thị đối đãi rất tốt như chị em trong nhà, lại được hoàng đế sủng ái hết mực, ấy vậy nhưng tiếng gọi xuất phát từ vùng Thượng mới là thứ lôi kéo nàng đi.

Phần sau thì ai cũng biết rồi đấy, thứ phi Ya Dố xin xuất cung, trở về Tây Sơn Thượng sinh sống.

Hẳn ngài cũng quyến luyến lắm, nhưng làm sao có thể bắt ép một người phải theo mình mãi được?

"Chuyện này có từ hồi nào mà sao tới giờ em mới nói?"

"Bẩm..."

Thanh Chi lúng túng.

"Nghe nói thứ phi xuất cung cũng đã lâu.

Nay nô tì mới hay tin, xin lệnh bà thứ lỗi."

Ầy.

Bảo sao ngài năng đến cung của tôi thường xuyên hơn, làm tôi nghi ngờ không biết có ý đồ gì hay không.

Tâm trạng thất thường, tính tình khó đoán của ngài làm tôi đau đầu mất.

Bởi tôi không biết khi nào thì ngài sẽ vui, và khi nào ngài không có tâm trạng để đùa-cợt-như-ngày-thường.

Khó nhằn lắm cơ.

Chuyện rõ rành rành là thế.

Tôi đưa mắt nhìn ngọc bội, ngón tay mân mê mấy sợi dây đỏ treo lủng lẳng phía dưới.

Thanh Chi thấy tôi im lặng không đáp, nhầm tưởng tôi giận hờn chuyện gì nên cuống cuồng hỏi hết câu này đến câu khác.

"Sau khi thứ phi xuất cung, thánh thượng như thế nào?"

"Dạ?"

Thanh Chi ngơ ngác nhìn tôi.

"Thánh thượng ấy ạ?"

Tôi cười trừ, gật đầu tỏ ý "Đúng vậy".

Con bé tiếp tục quạt cho tôi, luôn miệng nói:

"Thời gian đầu trông bệ hạ ủ rũ lắm, hẳn trong lòng ngài ấy vẫn còn hoài thương thứ phi, không nỡ để người thương xuất cung.

Nhưng một thời gian sau thì khác, bệ hạ không còn đả động đến chuyện ấy, cũng không nhắc lại nữa."

Đoạn, Thanh Chi nháy mắt với tôi, thì thầm vào tai:

"Nhờ vậy mà lệnh bà mới được thánh thượng để ý nhiều hơn đó ạ."

Tôi nhếch miệng cười, đung đưa ngọc bội trước mắt.

Không phải tôi tỏ thái độ không hài lòng với chuyện đấy, mà là tôi muốn sống một đời vô danh trong mắt những người trong quá khứ.

Định bụng sẽ tìm một nơi thật xa, cách xa ngài để ở đến năm Nhâm Tuất thì rời đi, nào ngờ lại phải bó chân trong cái kinh thành rộng thênh thang này.

Con gái tới tuổi cập kê thời xưa, muốn được hoàng đế để mắt đến, hay giữ thẻ, ban hoa trong kì tuyển tú thôi còn không được.

Tôi đây không làm gì cũng bị người khác ngó ngàng tới, thậm chí là có những hành động... không ngờ tới ấy.

Mỡ dâng tận miệng mà mèo không buồn đớp, thật phí của trời.

Xùy xùy, lại nghĩ chệch sang hướng khác nữa rồi.

Vậy là từ nay về sau, trong kinh thành này vắng bóng một người mà ngài nhớ nhung một đời...

---------------------------------

(1) Từ Bắc chí Nam: Ý chỉ khu vực mà Nguyễn Nhạc cai quản.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Trở Về Thời Tây Sơn
71. Người cũ


Hôm nay Lý Dương bất chợt xuất hiện.

Lần này y không đi tay không như những lần trước, y mang theo cả vò rượu đến, vẻ mặt hào hứng không giấu đi đâu được.

Nhìn thấy y như vậy, hẳn tôi cũng biết sắp có một cuộc nói chuyện với nhau đi kèm với rượu rồi.

Năm nay nhìn y có chút khang khác, già dặn đi đôi phần.

Không phải là già về tuổi, mà là già về ngoại hình cơ.

Lý Dương năm nay sắp sang tuổi ba mươi, không còn là chàng trai mười tám hăng hái làm mọi thứ tôi gặp năm xưa nữa.

Mặt y nghiêm nghị, hành động dứt khoát và lời nói rắn rỏi.

Mỗi khi không được ạ chú ý đến, y hay thơ thẩn đứng một mình, ngẩng mặt nhìn cao xanh như thể đang tính toán điều gì đó.

Nhớ lại chuyện cũ chăng?

Nhưng mà... có nhìn kĩ đi chăng nữa tôi vẫn thấy vẻ khổ nhọc năm nào vẫn còn hiện diện qua đôi mắt lúc nào cũng cụp xuống ấy.

Nỗi buồn ngày nào chắc chưa biến mất hẳn.

Chí ít ra là thế.

Tôi vui vẻ khi thấy bóng dáng Lý Dương từ xa, vẫy tay không ngớt để ra hiệu cho y.

Để đáp lại cái vẫy tay nhiệt tình của tôi, y cũng cười mỉm mà vẫy chào.

Sau một đợt phải đi bộ mòn mỏi để đến được đây, y ngồi phịch xuống trường kỉ, đặt vò rượu lên bàn.

Thanh Chi lấm lét nhìn người lạ, lúc nào cũng len lén dòm ngó để xem y có làm gì đáng ngờ không.

Tôi cười xòa, bảo con bé rằng không có việc gì phải lo lắng quá.

Dù sao lâu ngày mới gặp, đột nhiên xuất hiện là chuyện thường.

Thời gian đầu tôi cũng cảm thấy kì quặc khi y lúc ẩn lúc hiện, nhưng sau này thì thôi không còn thắc mắc nữa.

"Rượu chứ?"

Lý Dương rót rượu ra hai chén nhỏ, sau đó đưa chén rượu đầy ắp cho tôi.

"Tiên chủ hậu khách, đưa cho cô trước đã."

Tôi vốn định đưa tay từ chối.

Việc uống say rồi ngủ quên mất mấy ngày thì không ổn, nhất là khi ngài năng đến thăm tôi thường xuyên hơn.

Chưa kể tôi từng đọc qua sự việc khá tếu về Trần Anh Tông Trần Thuyên, vì uống rượu quá đà mà ngủ say li bì hai ngày liền, suýt nữa ngôi vua bị phế.

May là có Đoàn Nhữ Hài soạn giúp bài biểu tạ lỗi cho, nếu không thì...

Vế sau chắc ai cũng có thể đoán được kết cục mà nhỉ?

"Anh tốn công đến đây, tôi không có gì để đãi anh mà lại phải để anh mời rượu.

Thật mất mặt quá."

Tôi chép miệng tự trách bản thân, lắc đầu không hài lòng.

Không cần phải chờ đợi gì, Lý Dương đưa chén rượu lên nhấp từng ngụm nhỏ đến cạn cả chung, rồi dùng mui bàn tay lau rượu dính trên mép.

Y rót tiếp chén thứ hai, thong thả đáp lời:

"Không phải cuộc đến thăm nào chủ nhà cũng cần phải đãi khách đâu."

Tôi cười trừ.

Vốn dĩ bản thân không hiểu được dụng ý thâm sâu trong câu nói đó, lại càng không muốn phức tạp hóa vấn đề nên tôi chọn im lặng không đáp.

Không biết rượu này có bỏ độc vào chưa ta.

Thấy y nhâm nhi từng chén rượu như đang bình thản thưởng trà, không có dấu hiệu nào cho thấy rượu có vấn đề nên tôi cũng an tâm phần nào.

Ở hiện đại, hương vị của rượu thế nào thì tôi không rõ, bởi tôi có được uống quái đâu.

Vẫn còn ở độ tuổi thanh xuân đẹp nhất đời người, chưa tới tuổi được phép đưa các loại đồ uống có cồn vào bụng nên tôi chỉ nhớ mang máng vị của thứ thức uống đó qua sách vở mô tả thôi.

Khốn nỗi khi xuyên về rồi thì tôi nào sợ gì ba cái quy luật khắt khe ấy.

Cho nên tôi mới lân la mò vào tửu quán để "thử" đồ uống đầy hơi men khiến người ta say chếnh choáng, coi như là trải nghiệm đầu đời đi.

Sau khi nếm thử qua vài ngụm rượu đầu, thấy không có gì bất ổn nên tôi không chần chừ gì sất, đưa chén rượu lên ực một hơi hết cạn.

Ngay lập tức tôi cảm nhận được men rượu lan tỏa trong miệng mình, nhẹ nhàng nhưng cũng đủ làm đầu óc người ta lâng lâng đôi phần.

Mặc dù biết mình đang uống rượu sai cách nhưng mà thôi...

Biết sao giờ.

Rượu gì mà ngon thế nhỉ?

"Đây là..."

Tôi đưa mắt nhìn vò rượu, tự hỏi không biết y lấy rượu ở đâu, và tại sao hương rượu này khác với loại mà mấy bậc phụ huynh lớn tuổi hay tụm lại rồi uống với nhau trong mấy quán nhậu.

"Là rượu Bầu đá," Lý Dương mỉm cười.

Mặt người đối diện lúc này đỏ ửng, nom có vẻ y đã ngà ngà say rồi.

"Loại rượu này ngày xưa nhà tôi hay dùng trong mấy dịp lễ lớn, cũng có khi được dùng để uống cho đỡ nhàm miệng trong cuộc hội ngộ."

Tôi gật gù.

Xem ra đây cũng không phải là thức rượu tầm thường uống cho vơi đi nỗi buồn mà.

Cơ mà tôi không rành cho lắm.

Nghe bảo ngày xưa các cụ nhà chế ra được nhiều loại rượu như rượu hoa cau, rượu hoa cúc, vân vân và mây mây...

để uống thay vì rượu nhạt thông thường.

Thế mới thấy tinh túy của ẩm thực nước ta tuyệt vời như thế nào.

Nghe nói muốn có được rượu Bầu đá để thưởng thức, cũng phải trải qua kha khá những công đoạn, đã thế rượu còn đòi hỏi phải chọn đúng nguồn nước nữa cơ.

Nào là chọn nguyên liệu không cái nào giống cái nào, rồi tùy thuộc vào thời tiết và nhiệt độ.

Coi bộ một vò rượu Bầu đá thế này cũng lâu khôn xiết, thế mà lúc uống thì chỉ ực vài giây là xong.

Uống cạn một chén, tôi lại với tay ra rót tiếp chén thứ hai.

Chắc do rượu vừa thơm, vừa có vị cay nhẹ, lại ngọt ở hậu vị nên tôi không tài nào cưỡng lại được cám dỗ ngon tuyệt hảo này.

Không biết là do nhìn thấu được tương lai, hay là do có tính hay lo mà Thanh Chi vội vàng chạy đến can ngăn:

"Lệnh bà uống ít thôi ạ.

Thánh thượng mà hay tin thì không được đâu."

"Không sao," Tôi cười xòa, phẩy tay phủ dụ cho con bé an lòng.

"Nhằm nhò gì ba cái rượu này.

Ngày xưa thánh thượng cũng từng chứng kiến cảnh chị uống say bét nhè đấy thôi."

Nỗi ô nhục lớn nhất của tôi khi xuyên không là để người xưa chứng kiến cảnh mình say khướt.

Là con trai thì không sao, vấn đề ở đây tôi là con gái.

Nhục mất mặt.

Với lại, nếu tôi không nhầm thì rượu này có say cũng không say nặng, choáng váng mặt mày, chỉ cần đánh một giấc là tỉnh ngay.

Bởi vậy dù có uống bao nhiêu vẫn không sợ.

Chuyến này tôi có thể uống mấy chén vẫn không sợ bị ngài phát giác rồi.

Lý Dương nhìn tôi, ánh mắt bất chợt dịu lại, hơi thở nồng nàn mùi men.

Tôi chỉ vừa mới uống xong chén thứ nhất, chén thứ hai vừa kịp rót ra thôi, thế mà y đã uống tới mấy chén không rõ.

Rồi, tôi thấy hướng mắt y nhìn về phía ngọc bội của tôi đang treo lủng lẳng trên thắt lưng.

Hẳn y đang thấy tò mò về sự xuất hiện của ngọc bội này.

"Anh nhìn cái gì vậy?"

Tôi cau mày, nghiêng đầu nhìn y.

"Nè?"

Lý Dương giật mình.

Đoạn, y gãi đầu, lúng túng đáp:

"Không có gì...

Tôi lại nghĩ vớ vẩn nữa rồi."

Tôi nheo mắt nhìn, đấu tranh tư tưởng xem có nên tin vào lời nói tạm bợ của y hay không.

Y ực nốt nửa chén rượu còn lại, tiếp tục công việc bị gián đoạn của mình như thể chưa có chuyện gì xảy ra.

Đúng là chuyện giả nai giả vịt thì y lại nhập vai giỏi lắm, xuất sắc lắm.

Chắc là tôi phải học hỏi y nhiều rồi.

Thấy y muốn mở miệng hỏi chuyện ngọc bội nhưng lại không dám, tôi đành phải lên tiếng trước để tránh làm y thấy bức bối trong lòng.

"Anh muốn hỏi chuyện về ngọc bội này hả?"

Tôi nhẹ đặt chén rượu xuống.

Lúc này tôi đã uống được chén thứ hai và vẫn chưa có dấu hiệu say xỉn gì cả.

Lý Dương ngẩng mặt nhìn lên, gật đầu thay câu trả lời.

Bất chợt hai ánh mắt vô tình chạm nhau trong khoảnh khắc ngắn ngủi chưa tròn một giây.

Vẻ điển trai thanh thoát của y đập vào mắt tôi, làm toàn bộ điệu bộ cử chỉ của tôi ngừng trong giây lát.

Chết tiệt.

"Cái này... là do ngài ấy tặng cho."

Tôi lúng túng mở lời trước, hòng gỡ rối tình thế khó xử này.

"Tôi không rõ có phải ngài tặng tôi hay không, hay là do nhầm lẫn nào đó...

Nhưng mà, tạm thời thì anh cứ tin ngọc bội này trước kia từng thuộc ngài ấy đi."

Từng thuộc sở hữu của một người.

Nay lại đem trao cho người khác.

Thay người đổi chủ chỉ trong phút chốc.

Giang sơn và ngôi báu, cũng giống như một trò chơi hoán đổi người sở hữu vậy.

Đến khi ta không còn quyền sở hữu lấy chúng nữa, bắt buộc ta phải nhượng lại cho người khác.

Thế là từ đó chúng ta mang danh "người đã từng sở hữu" chúng.

Đã từng.

"Khi nãy nhìn vào, tôi đã biết người tặng đó là ai," Lý Dương đưa tay vỗ lên trán mấy cái, mặt đỏ bừng như con gà tây.

"Cơ mà tôi vẫn hỏi cô để xác thực lại thôi."

Tôi tròn mắt nhìn y, không rõ y đã suy nghĩ ra đáp án từ trước, hay là y nghe tôi nói xong rồi cố bào chữa lại câu nói của mình.

Dù sao thì không cần nói cũng biết, chỉ cần chịu khó động não là ra.

Trong cái kinh đô rộng tít tắp này, tôi cứ như bóng ma luẩn quẩn xung quanh ấy, không để lại chút ấn tượng nào trong đầu người khác - trừ ngài.

Lại còn thi thoảng tặng tôi mấy món đồ có giá nữa chớ.

Chừng ấy thông tin cũng đủ có được đáp án, không cần phải đi hỏi ai.

Nãy giờ tôi kiệm lời ghê hơi, chỉ lẳng lặng ngồi đó nhấp từng ngụm rượu đầy chậm rãi.

Tính ra tốc độ tôi uống thế này vẫn còn chậm chán so với Lý Dương, thế mà chưa gì tôi đã bắt đầu có dấu hiệu say rồi.

Say ngà ngà thôi, chứ không phải cảm giác váng đầu, đầu óc lâng lâng, mặt đỏ bừng như lần trước tôi uống.

Ba chén...

Bốn chén...

Đầu óc lâng lâng, gương mặt tôi lúc này chắc cũng đã đỏ lên.

Ừm... uống thêm đôi ba chén nữa chắc không muộn nhỉ.

Hơi men chếnh choáng luôn làm người ta say, có khi là vơi đi cả nỗi buồn.

Nhưng cũng có khi chính men nồng ấy lại làm người ta mất cả lí trí mà hành động dại dột, ngược với bản tính thường ngày của họ.

"Lệnh bà à...

Mình dừng lại đến đây được rồi," Thanh Chi lo lắng nhìn tôi.

"Đừng uống nữa.

Thánh thượng mà biết thì..."

Tôi gật đầu, đưa mấy ngón tay xộc vào mớ tóc mềm.

Chắc vài hôm nữa tôi không tiếp ngài được, bị ngài hỏi chuyện thì bị bại lộ mất.

Giờ tôi bắt đầu thấy váng cả đầu, nhìn đâu cũng thấy hình ảnh đó mờ mờ ảo ảo, phân thân ở trước mắt.

Cũng vừa hay lúc này Lý Dương say bét nhè rồi, không muốn tiếp tục cuộc vui nữa, cho nên y cũng đồng ý ra về.

Một tay y ôm vò rượu, tay còn lại miết nhẹ lên thái dương.

Dáng đi loạng choạng không vững, thân hình cao lớn đảo hết bên này đến bên khác.

Y cứ thế mà cất gót ra về, tuyệt nhiên không để lại lời chào cho tôi.

Lâu rồi không gặp, tôi không nhắc thì y cũng tự động bỏ đi biệt tăm, thi thoảng mới xuất hiện để cho trí não tôi đừng quên.

Không tung tích, chỉ để lại cái tên, làm tôi muốn đi tìm y cũng khó.

Cơ mà hành tung của y không rõ ràng, và một đứa chậm tiêu như tôi cũng không biết kế hoạch hiện tại của y là gì.

Và vì sao lại đột ngột quay trở về như vậy.

Thanh Chi nhìn bóng người xa lạ dần khuất mắt bằng ánh nhìn tò mò, nửa còn lại là nghi ngờ vì ngỡ Lý Dương định hãm hại tôi và con bé.

Còn tôi không bận tâm cho lắm, chỉ muốn đánh một giấc đầy sảng khoái để rũ bỏ bớt mệt mỏi đang bám trên người tôi dai dẳng.

Thế là, tôi ngã lưng xuống trường kỉ, nằm vắt tay lên trán nhìn trần nhà mà nghĩ ngợi.

Trăm năm, ngàn năm, không biết khi nào những con người vốn từng gặp mặt nhau mới có dịp hội ngộ cùng nhau nhỉ?

Dù chỉ một lần thôi cũng được.

Người ta đã quá bận bịu để nhận ra, những người xung quanh mình đã rời đi tự thuở nào chẳng hay.

*

Tại điện Bát giác.

Buổi thiết triều vẫn đang diễn ra như thường lệ.

Không khí ngột ngạt bỗng nhiên tăng đáng kể.

Bên trong điện tuy thiếu uy nghi và xa hoa lộng lẫy như những triều đại khác, hay qua những phân cảnh hiện trong phim cung đấu, nhưng ít nhiều gì nó vẫn mang lại cảm giác có gì đó ra vẻ tôn nghiêm.

Ngai vàng đặt cách sàn nhà hai, ba bậc thềm.

Phía trước là bức ngăn bằng cây.

Trên bậc thềm đó là chiếc ngai sơn son thếp vàng, trang trí hình đầu rồng.

Chiếc bàn nhỏ đặt gối tựa đỏ thêu hoa vàng tựa tay để ở trước ngai.

Hai bên ngôi vị cao quý là hai chiếc ghế dành cho em vua.

Một chiếc bỏ trống, chiếc còn lại có quan Tiết chế Nguyễn Lữ ngồi đấy.

Quan lại mặc Mãng bào, đeo thắt lưng, đầu đội nón trang trí trang sức bằng vàng, ngồi ở trường kỉ được đặt ở phía sau hai chiếc ghế ấy.

Kẻ mặc áo màu tía, người mặc áo màu lam, không hề thống nhất chung một màu.

Tuy không cầu kì, cũng không sang trọng như quan đại thần bên phương Tây và cả bên láng giềng Đại Thanh, nhưng trông họ vô cùng sặc sỡ.

Dựa theo thứ tự ngồi từ thấp đến cao trên trường kỉ cũng đủ để phân biệt được thứ bậc của người này với người kia.

Hoàng đế ngồi trên ngai vàng, chống cằm nhìn xuống bá quan trong triều.

Trước mũ Xung Thiên treo viên đá quý, giữ bằng sợi dây vàng xuyên qua.

Tay áo rũ xuống bên gối tựa, nằm yên nhất thời chờ cử động của nhà vua.

"Trẫm nghe nói tên Nguyễn Phúc Ánh kia đã lấy lại Gia Định, chiếm lấy Bình Thuận rồi củng cố lực lượng.

Nghe đâu đấy bọn tướng tá cũ đón hắn về lập chúa Nguyễn mới, suy tôn làm Nhiếp quốc chính."

Ngài đập tay xuống bàn, tức giận quát: "Đúng là giống cỏ dại, nhổ bao lần vẫn không sạch được."

Quan lại ngồi bên dưới, nghe tiếng quát của vua cũng phải im thin thít, không ai dám hó hé một lời, lập tức ngồi nghiêm chỉnh trở lại.

Đến cả Tiết chế Nguyễn Lữ ngồi bên cạnh cũng giật mình đôi chút, bên ngoài bình thản như thế chứ bên trong đang tìm cách lựa lời khuyên ngăn đây mà.

"Bẩm... bẩm thánh thượng," Một viên quan lén phén tâu, giọng run rẩy.

"Phúc Ánh phúc lớn mạng lớn, khó có thể diệt được trong sớm chiều.

Nhiều lần hắn may mắn trốn thoát dưới sự truy sát của ta, lênh đênh trên biển khơi mấy ngày liền.

Cho nên..."

Cơn giận của ngài khi nãy đạt chín tầng mây, chỉ chực chờ một ngọn gió thổi đến.

Vừa hay câu nói của viên quan kia vô tình trở thành giọt nước làm tràn ly.

Hoàng đế định mở miệng trách mắng thì Tiết chế ngồi cạnh vội vàng lên tiếng đỡ lời thay:

"Không phải chuyện lạ.

Lần nào bệ hạ cử ta hoặc Long Nhương tướng quân lấy lại được Gia Định, thì đúng y như rằng một thời gian sau hắn lại tập trung lực lượng mà nhanh chóng chiếm vùng đất phía Nam."

Đoạn, Tiết chế thở dài, rồi nhìn qua anh mình mà nói tiếp:

"Kẻ đánh người đuổi như thế, biết bao giờ mới dẹp tận gốc được.

Chỉ e chiến tranh kéo dài liên miên, mà người khổ nhất vẫn là bách tính vô tội mà thôi."

Xem ra lời lẽ của Tiết chế rất hợp ý, các quan ngồi bên dưới đều gật gù tán thành.

Cũng may cơn giận của ngài đã dịu xuống, chứ không thì cả điện này phải ngồi nghe tiếng quát tháo đinh tai nhức óc rồi.

Hoàng đế gật đầu ưng thuận, xem ra đã hài lòng với lời lẽ như vậy.

Mọi người sôi nổi bàn tán đôi ba vấn đề thêm chốc lát rồi thôi không nói nữa.

Cũng phải, bởi vấn đề trước mắt đã quá rõ ràng, ai ai cũng hiểu rõ sắp tới sẽ phải xảy ra những gì nên chẳng ai thèm đả động đến.

Họ chỉ trao đổi với nhau bằng ánh mắt, bằng những cái nhìn ẩn ý chứa lời nói không thể thốt ra.

Rồi, khi thấy không còn gì để nói, ngài quyết định bãi triều.

Các quan đứng dậy, lần lượt hành lễ rồi cáo lui về cung riêng của mình.

Điện Bát giác lại chìm trong vẻ tĩnh lặng...

*

Thằng Thiên từng nói, rằng ngay khi lần đầu cả hai chúng tôi gặp nhau lần đầu vào năm lớp Tám, cậu ta cảm nhận được vẻ quen thuộc trong mắt tôi.

Tuy lần đó tôi gặp cậu, chẳng qua là một lần gặp gỡ tình cờ thôi, ấy vậy mà nó đã gieo vào cậu vô vàn những suy nghĩ khác nhau.

Trong khi cậu thấy tôi quen quen kiểu gì, như thể chúng tôi đã gặp nhau ở đâu đó, còn tôi lại chẳng cảm thấy gì hết.

Chỉ biết cậu học giỏi, cao ráo và đa tài.

À, còn khó bắt chuyện nữa.

Khi nghe cậu nói về ấn tượng lần đầu gặp, tôi suýt chút nữa đã phun hết đống nước vừa mới uống ra rồi.

Chưa bao giờ tôi nghĩ có ngày cậu sẽ nói như thế, và cũng chưa bao giờ tôi nghĩ cậu đã từng nghĩ như vậy.

"Cậu nói thật chứ?"

Tôi vừa ho vừa nhìn cậu.

"Không đùa tớ hả?"

Thằng Thiên bình thản ngồi ghi ghi chép chép vào vở.

Tuy bận rộn là thế nhưng tôi nói gì cậu vẫn nghe, thậm chí là còn trả lời lại, không sót một câu nào luôn.

"Tất nhiên.

Đó giờ tôi đã lừa dối cậu lần nào đâu, sao hỏi câu lạ thế?"

Cậu ta chống cằm nhìn tôi với một bên mày nhướn lên.

"Vậy tại sao cậu lại cố tỏ ra vẻ im ỉm với xa cách mỗi khi tớ bắt chuyện vậy?"

Cậu đóng tập lại, chăm chú nhìn tôi như thể tôi là người ngoài hành tinh vậy.

Tôi cũng nhìn cậu không chớp mắt, bồi thêm nụ cười lạc quan trong mọi tình huống.

Lúc nào cũng phải nở một nụ cười tự tin.

Anh Thiên búng vào trán tôi, rồi điềm nhiên trả lời:

"Là do tôi muốn được cậu để ý hơn."

Tôi nhìn cậu thiếu niên choai choai trước mắt, không rõ bản thân cậu ta học quá hóa liều hay không.

Nhưng mà quả thật...

Sau đợt đấy trở đi, cậu cũng có mở miệng ra nói chuyện với tôi vài ba lời, dần dà thành thói quen ăn mòn trong não.

Thế là cậu từ chàng trai mặt đơ như đá thành cậu chàng lúc nào cũng trông chờ mong đợi tôi bắt chuyện.

Tính cách con người được mài dũa theo năm tháng là vậy đó hả?

Đúng là chán nản ghê...

*

Nhật Hạ," Hoàng đế chống cằm, nhướn một bên chân mày lên nhìn tôi.

"Nàng đang nghĩ cái gì vậy?"

Tôi giật mình nhìn ngài, chợt thấy hồn phách tôi từ cõi thần tiên lập tức quay trở về thân xác cũ.

Trước mặt tôi là hằng ha sa số những quân cờ nằm ngổn ngang trên bàn, cùng với hai chung trà vẫn còn phả khói nghi ngút.

Hôm nay ngài nổi hứng ghé qua chơi, lại còn đưa ra quyết định chơi cờ cho khuây khỏa nữa chứ.

Hẳn ngài chưa biết tôi là bậc thầy chơi cờ trong việc... chơi ván nào thua ván đó đây mà.

Đến độ hai cậu bất lực mà đành phải nhún xuống vờ thua cho tôi thắng lấy một bàn.

Nhưng số trời đã định rồi, tôi nào thắng được đâu.

Ấy vậy mà ngài vẫn quyết rủ tôi chơi cùng cho bằng được.

"Không nghe ta nói gì à?"

"Không... không có," Tôi ấp úng, đưa tay vỗ trán vài cái rồi ngẩng mặt lên nhìn ngài, nở một nụ cười gượng gạo.

"Thánh thượng cứ khéo đùa mãi thôi."

Rồi, tôi nhấc quân cờ lên, nhanh tay hạ nó xuống ở đúng vị trí của nó.

Ngài đã đợi tôi một khoảng khá lâu để chơi tiếp, nhỡ làm phật lòng nữa thì có nước ngồi niệm phật trong góc mất.

Cũng may cho tôi là người nọ không nổi cáu cái gì sất, chỉ lẳng lặng ngồi nhìn bàn cờ, sau đó tiếp tục cuộc chơi như trước đó chưa từng có chuyện gì xảy ra.

Hẳn ngài đã quá quen với cái tính ngẩn ngẩn ngơ ngơ như người mất hồn của tôi từ trước nên không bận tâm lắm, cũng như bao ngày ấy mà.

May mắn cho tôi ghê, ứng xử không khéo thì bay đầu mất rồi.

"Ngủ không đủ hay sao mà mặt khờ thế kia," Hoàng đế nhấc quân cờ lên, chăm chú nhìn nó.

"Hay tối qua nàng ngủ không được?"

Tôi bất giác đưa tay sờ lên mặt mình, ngơ ngác nhìn ngài.

Bộ mắt tôi lờ đờ, mặt tôi khờ khạo trông giống mấy người thức khuya nhiều lắm hả ta?

Đêm qua tôi cũng không thức khuya mấy, ngồi nghĩ ngợi vu vơ đến tầm quá giờ Hợi mới chịu vác thân lên giường nằm.

Thanh Chi ngồi gà gật đến mức suýt ngủ quên tại chỗ, nhưng vẫn phải cố thức để hầu hạ tôi.

Ờ thì... thấy bản thân trở thành chướng ngại vật cho người khác thế này, tôi cũng ngại lắm chứ, có điều tôi không biết cách để chữa tật xấu đó.

Chịu.

Bởi giờ này tôi mới phải uống ít trà lại, kẻo tối lại thức như cú đêm ấy.

"Sao thánh thượng biết hay vậy?"

"Làm sao ta không biết được.

Tính tình nàng thế nào, ra sao, ta đều nắm rõ trong lòng bàn tay cả mà."

Ngài gõ lên bàn cờ, ra hiệu cho tôi đi tiếp.

"Dạo này trời trở lạnh nhiều, nàng nhớ giữ ấm.

Đừng có để bị bệnh, kẻo ta lại phải cất công đi thăm nàng."

"Biết chưa, Nhật Hạ?"

Tôi gật đầu kèm với nụ cười không mấy tự nhiên, cầm lấy ngẫu nhiên một quân cờ, rồi hạ nó xuống.

Với lí do muốn cả hai chúng tôi có không gian riêng vừa trò chuyện vừa chơi cờ nên Thanh Chi xin phép đứng đợi bên ngoài, không đứng sau lưng tôi để chờ lệnh như mọi khi.

Tôi dám chắc ngài đã dùng thủ đoạn để con bé phải ra ngoài (hay đại loại thế) để có một buổi nói chuyện trọn vẹn hơn.

Ôi dào, dăm ba cái chiêu trò đấy.

Nhưng mà dù gì đi nữa, từ nãy đến giờ tôi với ngài cũng có một khoảng thời gian kha khá trọn vẹn để chơi cờ mà không gặp phải sự phá đám của bất kì ai.

Tôi vốn chỉ định để ngài nói vài ba lời thôi, ai dè nó biến tướng thành một buổi chơi cờ dài đằng đẵng, rốt cuộc người thắng vẫn là ngài.

"Ta muốn qua thăm nàng thường xuyên hơn, chỉ tại...

Dạo này việc triều chính bận rộn, đành ra ta khó lòng thu xếp thì giờ được."

Hoàng đế thở dài, đưa tay miết nhẹ lên thái dương.

Tôi cúi gằm mặt xuống, biểu cảm thay đổi một góc ba trăm sáu mươi độ, lẩm bẩm tỏ vẻ không đồng tình: "Chứ không phải đang tìm cách để được thấy mình mỗi ngày hả ta?"

"Nàng không trách ta chứ?"

"Hả?"

Tôi giật mình ngẩng đầu lên.

"Trách gì cơ?"

Ngài chống cằm, vươn tay ra búng nhẹ vào trán tôi: "Trách ta không nhớ đến nàng."

Kì thực ban nãy tôi ngại ghê hơi, cảm giác máu dồn lên hết cả mặt với hai bên tai.

Ừ thì cứ cho là tôi nhạy cảm, dễ đỏ mặt với một vài tình huống không đáng mấy đi, nhưng với tình huống vừa nhanh gọn vừa đánh úp bất ngờ như vậy thì tôi không ngượng sao được.

Cũng may là Thanh Chi không có mặt ở đây, chứ không là tội nghiệp cho tâm hồn mong manh và tính tình ngây thơ kia lắm.

Ván cờ vốn đang dang dở, chung trà vẫn chưa cạn hẳn.

Vậy mà ở đây có một người sẵn lòng bỏ dở cả một ván cờ lẫn chung trà còn đầy chỉ để... theo đuổi việc riêng của mình?

Đúng thật là kì quặc.

"Thánh thượng ngày nào cũng đến, tháng nào cũng thăm.

Có tẩy não thì tôi cũng không quên được đâu," Tôi nhoẻn miệng cười, đưa mắt ra nhìn cảnh vật bên ngoài cung.

Gió mát thổi lồng lộng, cành lá liêu xiêu, mặt hồ gợn sóng.

Quang cảnh thật yên bình, không vướng bận muộn phiền, càng không bộc lộ cái kết thảm của triều đại này.

Một bầu trời trong vắt thế này, làm sao nghĩ được những điều ẩn ý và buồn thảm mà nó muốn gửi đến đâu.

Đừng để bản thân bị lừa bằng những điều đơn giản nhất.

"Cho nên... trách sao được mà trách chứ."

Không thể trách ai được, cũng không thể trách thời gian quá phũ phàng.

Chẳng qua trách tôi vẫn còn thờ ơ với mọi thứ quá, những điều nhỏ nhặt nhất thì không buồn để tâm đến.

Rồi đến khi lỡ tay đánh mất tất cả thì lại bắt đầu giở trò nhớ nhung, mơ mộng hão huyền về một thế giới nếu như tôi chưa mất thứ ấy.

Hoàng đế gật đầu, tạm chấp nhận cho câu trả lời vờ vịt, khả nghi và qua loa đó.

Nhân lúc tôi không để ý, ngài nhìn tôi bằng ánh mắt khác thường, dịu dàng lẫn âu yếm xen kẽ với nhau.

Đoạn, ngài chạm nhẹ vào chiếc vòng chỉ đỏ nằm trên tay tôi đã được bảy năm, không hề bị thay thế bằng những vật đắt tiền khác.

"Nhật Hạ, ta nhớ nàng."
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Trở Về Thời Tây Sơn
72. Nguyễn Bảo


Hậu cung là một nơi đầy rẫy những kẻ sẵn sàng chà đạp người khác, hãm hại hay thậm chí là bày mưu lập để có được quyền lợi mà mình mong muốn.

Thú thật nó không khác gì địa ngục trần gian cả, nếu may mắn thì có thể sống an phận ở đó mà không bị đoái hoài gì.

Còn nếu hôm ấy lỡ bước chân trái ra khỏi nhà thì cuộc đời từ nay về sau sẽ luôn bị các phi tần khác dòm ngó.

Bởi thế nên dù được gả cho hoàng đế, được sủng hạnh bao nhiêu, hạnh phúc ở nơi đó thường không kéo dài mãi.

Không biết người ta có thể đến với nhau vì tấm chân tình, bên nhau đến đầu bạc răng long, vô dục vô cầu không nhỉ?

Thay vì đôi bên yêu nhau vì quyền lợi cá nhân, vì muốn được hưởng phúc lợi, chúng ta có thể yêu nhau bằng cách lành mạnh hơn mà.

Với kinh nghiệm hai năm cày phim cung đấu nên tôi biết rõ chốn hậu cung không khi nào được yên bình, thế nên suốt ngày tôi cứ cầu mong sao năm tháng trôi qua ngài ngày càng ít để tâm đến tôi càng tốt.

Dăm ba cái thứ tình cảm nam nữ đó.

Nếu không phải do ngài có cảm tình với tôi từ lâu thì giờ này tôi đâu phải sống với kiếp chim trong lồng.

Nghĩ đến đây, tôi đập mạnh cây cọ xuống bàn, làm mực văng tung tóe ra khắp chung quanh.

Trên tờ giấy viết vài ba con chữ ngoằn ngoèo, giữa trang giấy rộng thênh thang đó thấm đẫm một giọt mực vừa rơi xuống.

Thế nếu như tôi không bị cảm xúc chi phối, không để một người nào đó chiếm trọn tình cảm của bản thân thì liệu giờ này tôi có ở đây hay không?

Tất nhiên là không.

Tôi định hình lại tinh thần, cố lấy lại bình tĩnh lúc ban đầu.

Đưa mắt nhìn giọt mực đen loang lổ trên giấy đang phá hỏng những con chữ tôi vừa viết được, rồi lại nhìn những giọt mực li ti văng ra bên ngoài và cây cọ dính lấm lem những mực là mực, tôi biết chắc rằng mình khó mà tránh khỏi những lời chất vấn của ngài.

Ầy, biết làm sao được.

Chỉ vì một giây nông nổi mà thành ra như này.

Thôi thì hôm nào rảnh cố phi tang chứng cứ vậy.

Tôi hì hục dọn dẹp tất cả sang một bên, rồi ngồi phịch xuống ghế, thơ thẩn nhìn ra bên ngoài qua ô cửa nhỏ.

Tự nhiên tôi thấy buổi đầu của một vương triều không vui bằng những lúc làm dân thường, khi ngài vẫn còn là nông dân áo vải ngược xuôi lên miền Thượng để buôn trầu.

Một cuộc sống tự do với một cuộc sống gò bó trong chốn cung cấm, có lẽ nơi dân dã kia vẫn thoải mái hơn nhiều.

Ừm, để xem nào...

*

Những buổi chiều không đi buôn, chàng hay dẫn tôi ra sau sân nhà để vừa trò chuyện vừa được ngồi hóng mát dưới bóng cây me.

Chúng tôi thủ thỉ với nhau đủ thứ chuyện trên trời dưới đất mà không thấy chán.

Đôi khi đến mùa me chín, chàng sẵn lòng hái vài trái cho tôi để có cái nhâm nhi cho đỡ nhàm miệng.

Ngồi mát ăn me, rửa mặt cho tỉnh táo bằng nước giếng mát lạnh thì tuyệt khỏi nói.

Chàng ngồi xuống bên cạnh, ngó quanh quất chung quanh, chốc chốc lại liếc mắt sang nhìn tôi đang ăn me ngon lành mà không nói lời nào.

Ngoài kia dẫu trời nắng chói chang hay trời âm u khó chịu, tôi vẫn cứ theo thói quen mà ngẩng mặt lên nhìn trời qua những kẽ hở của tán lá.

Hôm nay trời xanh, nắng nhiều phết.

Ăn hết đống me chàng vừa mới hái xong, tôi ngồi lắc lư hai chân qua lại cho giết thì giờ.

Bảo là ra ngoài sân ngồi trò chuyện cùng nhau mà lại vác thân trở vào nhà sớm thì có hơi kì cục không nhỉ.

Chàng còn ngồi đây, kiên nhẫn chờ đợi tôi mở lời thì sao mà nhẫn tâm bỏ đi trước được.

Không được.

Thế thì khác gì tự cắn đứt lương tâm của chính mình đâu.

Đợi một hồi lâu mà không thấy tôi lên tiếng, chàng quyết định xuống nước trước:

"Nhật Hạ, hôm nay cô không khỏe hay sao mà ngồi yên đó vậy?"

Tôi quay qua nhìn chàng, bắt gặp ánh mắt dịu dàng kia vẫn đang nhìn chằm chằm vào tôi không rời.

Thế là tôi lập tức ngoảnh đầu đi chỗ khác, cố nghĩ đến chuyện khác mà phớt lờ người đang ngồi bên cạnh.

Sơ hở là nhìn tôi miết thôi.

"Không trả lời tôi mà đã vội quay mặt đi chỗ khác rồi sao?"

Chàng nói, giọng điệu có hơi khác so với thường ngày.

Có lẽ chàng đang cảm thấy buồn cười, và hẳn chàng đã nén dữ lắm mới cố không bật cười tại chỗ.

"Hôm nay cô lạ lắm đó, Nhật Hạ."

"Anh nghĩ linh tinh vừa thôi," Tôi liếc xéo người nọ rồi ngồi xé vỏ me nằm vương vãi ở dưới đất ra thành từng miếng nhỏ.

"Khỏe hay không khỏe gì tầm này.

Cây nhà anh che nắng cho tôi rồi, lấy gì không khỏe được."

Đó lại là một thói quen khác của tôi những lúc chán, xé nát những vật nằm trong tầm với thành những miếng không đồng đều nhau.

Tôi có nhiều thú vui ngộ đời lắm, không hề giống với người khác tẹo nào.

Gọi là thú vui giết thì giờ cho sang miệng vậy thôi, chứ thật chất tôi đang cố bình tĩnh hết mức có thể trước những lời chòng ghẹo của chàng.

Phải thật bình tâm, phải thật bình tâm, phải thật bình tâm.

Tuyệt đối không được đánh người.

"Ngày nào anh cũng dẫn tôi ra đây ngồi hóng mát, đã mấy ngày trôi qua rồi mà không thấy anh bộc lộ tâm tình gì hết."

Tôi thở dài, chợt nhớ đến nguyên nhân mà chàng rủ tôi ra ngoài này chơi chứ không phải ngồi trong nhà thủ thỉ với nhau.

Ban đầu tôi không định đồng ý, dại gì mà rời bỏ chỗ mát mẻ cũng như vị trí ngồi nhìn thuận lợi trên chiếc chõng đâu.

Nhưng chàng cứ nhất quyết muốn ra ngoài, bày đủ thứ lí do rồi tóm lại bằng một câu nói dở hơi gì đâu không.

Gì mà để tán gẫu với nhau chứ, thấy cùng nhau im lặng thì có.

Chàng đưa tay vén nhẹ mớ tóc mai vướng víu của "kẻ dị nghị từ hai trăm năm sau" sang một bên như một thói quen khó bỏ, rồi không ngần ngại gì mà nắm lấy tay tôi.

Kì thật thì sau bao lần ngại ngùng các thứ, không dám mạnh dạn làm điều mình muốn thì nay chàng đã tự tin nắm tay tôi mọi lúc mọi nơi, chỉ trừ khi cả hai bị người khác nhìn đến độ phán xét.

"Bộc lộ hay không, đều phụ thuộc vào cô cả," Chàng thì thầm, ngẩng mặt lên nhìn trời qua mấy tán lá cao.

"Cô không thổ lộ điều gì, làm sao tôi nói ra được tâm tình của mình chứ."

Tôi nghệt mặt nhìn, cảm thấy có gì đó không đúng trong này.

Ô hay, thế ra muốn người ta bộc lộ tâm tư thì trước hết bản thân mình cũng phải nói trước à?

Ở đâu ra cái quy luật kì cục kẹo vậy.

Rủ rê người ta cho đã, xong tóm lại vẫn bắt người khác lên tiếng trước.

Nếu không phải vì tôi vẫn đang bị kẹt ở quá khứ, thì hẳn giờ này tôi đã ngồi chửi anh một tràng rồi đó.

Quái quỷ thật.

"Thôi được.

Anh muốn tôi nói trước thì cũng được thôi," Tôi thở dài, siết nhẹ lấy tay người nọ.

"Anh biết không, lần đầu gặp anh, tôi đã từng nghĩ anh khó gần lắm.

Rất khó gần là đằng khác."

Thử nghĩ xem, mặt lúc nào cũng nghiêm nghị, mắt nhìn chằm chằm như muốn ăn tươi nuốt sống tôi ấy.

Đã thế cơ mặt chàng những ngày đầu lại không giãn ra xíu nào, tôi muốn ngồi xuống bên cạnh để nghỉ mệt thôi cũng thấy áp lực ghê hơi.

Nói chàng có tính hào sảng và lương thiện thì cũng đúng đấy, cơ mà phải tiếp xúc nhiều mới biết được bản tính thật của chàng, còn không thì tôi vẫn cứ ngỡ chàng vốn tính im lìm rồi.

Mặt ra dáng người tốt bụng nhưng lại không chịu cạy miệng ra nói lời nào, nếu không nhờ tôi kiên trì thì hẳn chàng đã bị trừ âm điểm trong mắt tôi rồi.

Cậu ba thì đỡ hơn đôi phần, coi như cũng có lòng tốt mà mời tôi vào nhà ngồi, thậm chí còn lịch sự giới thiệu tên tuổi cho.

Đâu như ai kia, cứ thích làm nguời vô danh trong mắt tôi suốt...

Nghe đến đây, chàng nhướn mày ra vẻ tò mò lẫn hứng thú.

Hẳn là chàng bất ngờ lắm với lời kể của tôi, bởi trước đây tôi không hay phán xét người này kẻ nọ các thứ mà chỉ toàn tìm cách nhập gia tùy tục, hòa nhập với họ không thôi.

Thấy chàng nhìn tôi chăm chú mà không nói lời nào, tôi vội đưa tay lên che miệng, cụp mắt nhìn đi nơi khác.

Hình như tôi vừa nói điều không nên nói thì phải, có hơi quá lời nói xấu chàng quá không ta?

"Ra là cô nghĩ như vậy," Người nọ nhanh nhẹn bắt lấy lá me đang chao đảo trước mặt, rồi đặt nó vào trong lòng bàn tay tôi.

"Chỉ thế thôi sao?

Không nghĩ rằng tôi là người tàn ác, bạo ngược à?"

"Mặt anh lương thiện thế kia, nghĩ xấu sao nổi."

Tôi chán chường nhìn chàng.

Đoạn, chàng đứng dậy, chậm rãi tiến vài bước về phía trước, sau đó bỗng dưng đứng khựng lại.

Tôi đưa mắt dõi theo, tò mò không biết người nọ sắp sửa định làm gì đây.

Tự nhiên rời khỏi chỗ mát mà đi ra ngoài nắng, đúng là dở hơi gì đâu.

Trong lúc tôi còn đang đối phó với hàng tá những câu hỏi chất đống trong đầu thì chàng đã quay lưng lại nhìn tôi, tay chắp ra sau đầy thoải mái.

Dựa vào dáng vẻ lẫn điệu bộ của chàng hiện giờ thì tôi có thể phỏng đoán được ít nhiều rằng chàng đang rất thư thái.

Quả là một cơ hội tốt cho tôi nếu muốn nói năng linh tinh theo cảm tính.

"Nhật Hạ.

Ngày đầu tiên tôi bắt gặp cô xuất hiện trong nhà tôi, cũng là ở dưới gốc me này nhỉ?"

Tôi giật mình, hết nhìn chàng rồi lại ngước lên nhìn tán cây me như để kiểm chứng xem lời chàng nói có đúng hay không.

Trong cái kí ức sâu thẳm của tôi về một ngày mùa hạ năm Bính Tuất [1766] nào đó, quả thật lúc ấy tôi ngơ ngơ ngáo ngáo đứng dưới cây me nhà chàng rồi bắt gặp cậu ba đang ngồi trong nhà.

Nhờ vào cái nguyên nhân xuất hiện quá đỗi kì quặc kia mà tôi mới được giữ lại đây, không thì tôi lưu lạc ở xó khỉ ho cò gáy nào cũng chả biết.

Ầy, đây hẳn là nhân duyên quỷ quái nào đó mà dòng thời gian đã xô đẩy tôi gặp họ rồi.

Tôi lưỡng lự trả lời: "Ừm thì...

đúng là vậy thật."

"Tình cờ ghê," Chàng nhoẻn miệng cười.

"Lần này ta lại ngồi với nhau dưới gốc me nữa này."

Lần đầu gặp nhau trong khung cảnh bình dị, người với người mắt chạm nhau, không hề hay biết nửa kia của cuộc đời mình đã xuất hiện tự thuở nào...

*

Mùa đông, năm Thái Đức nguyên niên.

Hoàng đế vẫn đến thăm tôi như mọi khi.

Lần này ngài không đi một mình như những lần trước, mà còn dẫn theo khách mời đặc biệt đi cùng.

Trên tay ngài là một đứa trẻ đang tò mò nhìn khắp chung quanh.

Thằng bé ngó quanh quất, hết nhìn cây cỏ bên ngoài lại ngước lên nhìn trần nhà, như thể nó đang phiêu lưu sang một thế giới mới.

Thanh Chi đương sửa soạn lại tóc tai cho tôi, thấy ngài bước vào thì bỏ dở việc đang làm mà vội cúi người hành lễ.

Ngài chỉ phẩy tay ra hiệu miễn lễ, sau đó thong thả ngồi xuống trường kỉ, không quên để cậu nhóc ngồi cạnh bên.

Trộm vía nhóc tì này rất ngoan, ngồi yên một chỗ, không quậy phá hay leo trèo gì sất.

Uầy, đáng yêu ra trò phết nhỉ.

Giới thiệu một chút, cậu nhóc mà người nọ dẫn theo đây chính là thái tử Nguyễn Bảo - con trai trưởng của ngài - được sắc phong làm thái tử khi mới ba tuổi.

Ba tuổi... thế ra cậu nhóc sinh năm Ất Mùi [1775], một năm trước khi ngài tự xưng làm Tây Sơn Vương, cho sửa sang thành Đồ Bàn và đóng đô ở đây à?

Cũng đặc biệt chán.

Tôi len lén đi vòng ra sau lưng cậu bé, hòng muốn hù cậu một phen ra trò.

Nhóc tì cũng không để tâm gì mấy, chăm chú nhìn Thanh Chi rồi lại quay sang nhìn vua cha như muốn nói gì đó.

Hoàng đế cũng rất hợp tác với tôi, vờ không biết mọi chuyện mà đưa mắt nhìn con trai mình với điệu bộ ung dung tựa chưa có chuyện gì xảy ra.

Trêu chọc con nít là nghề của tôi.

Nhân cơ hội thằng bé không để ý, tôi chạm nhẹ vào vai nó một cái, "hù" một tiếng thật lớn.

Cậu nhóc giật mình quay phắt lại, mông lung nhìn tôi không chớp mắt.

Đôi mắt to tròn của nhóc tì cứ dán thẳng lên người tôi, hệt như tôi là một pho tượng đáng giá được treo trong viện bảo tàng vậy.

Tôi vẫy tay chào, mỉm cười thân thiện nhìn cậu: "Cậu bé, nhóc tên gì?"

"Cháu..."

Thằng bé bập bõm trả lời.

"... tên Bảo ạ."

Tôi gật gù.

Xem ra ngài cũng rất biết cách đặt tên cho con, vừa hay mà vừa có ý nghĩa nữa chứ.

Thử nghĩ xem, tên Bảo đó không phải là cái tên tầm thường đâu, cái tên ấy chứa nhiều hi vọng mà ngài mong muốn ở đứa con mình.

"Bảo vật quý hiếm", kiểu thế.

Thằng bé lúi húi đứng dậy, tựa vào thành trường kỉ để đứng cho vững mà không cần đến sự giúp đỡ nào từ vua cha.

Gương mặt non nớt, bầu bĩnh đến búng ra sữa thoắt ẩn thoắt hiện trước mắt tôi.

Đôi môi chúm chím mím lại thành một đường mảnh, như thể nhóc Bảo đây định nói điều gì đó với tôi vậy.

Nhóc tì huơ huơ tay ra, muốn chạm vào má tôi.

Nhìn kĩ lại thì mắt cậu nhóc to tròn, đôi mắt nâu đen kia trong vắt tựa hồ mặt nước buổi sớm, phảng phất vẻ hồn nhiên của trẻ nhỏ.

Nét mặt của cậu "thái tử" đây giống hoàng đế y xì như đúc, có điều ánh mắt lẫn khuôn miệng là có chút giống với chính cung Trần thị thôi.

Hự, sao mà đáng yêu thế này!

Hoàng đế thấy tôi cứ đứng mãi mà không lại ngồi như mọi khi nên đâm ra cũng thắc mắc lắm, bèn vỗ vỗ vào khoảng trống kế bên Nguyễn Bảo mà nói:

"Ta đến đây để trò chuyện với nàng.

Cớ sao không ngồi mà lại đứng đó thế kia?"

Thế là tôi đành cố ghìm cái chột dạ đang nhộn nhịp trong lòng mà lót tót đặt mông xuống trường kỉ ngồi.

Mặc dù được ngài cho phép bản thân muốn làm gì thì làm, cộng thêm việc đây là cung của tôi, nhưng thói quen phải đợi ngài lên tiếng mới dám tung hoành ngang dọc thật sự đã ăn sâu vào máu rồi.

Lại nói, cậu nhóc sau khi nhìn tôi chán chê thì ngồi thụp trở lại xuống ghế, thoải mái nhìn ngắm thế giới to lớn xung quanh.

Cho nên khi tôi đến ngồi bên cạnh thì cậu có chút phật ý, níu lấy ống tay áo của ngài rồi bĩu môi nhìn.

Ối giời, cha nào con nấy có khác.

Thấy nét mặt nhóc tì đây ra chiều phản đối, tôi đành phải dùng chiêu trò khác để dụ cậu vậy.

Tôi sẽ ngồi đàm đạo với cậu vài ba câu, kết hợp với lời khuyên đến từ hoàng đế để hòng làm cậu nhóc quên đi ý đồ cũ.

"Bảo cho chị ngồi cùng với được không?"

Tôi mỉm cười nhìn cậu.

Thật tình thì tôi không biết xưng hô với thằng bé thế nào cho hợp lẽ.

Gọi cháu xưng cô, xưng dì thì nghe già quá.

Mà tôi cũng không rõ cậu nhóc này sẽ xưng hô thế nào, ra sao, cho nên cứ nhằm thẳng mà tiến.

Sai thì sửa.

Không sợ, không sợ.

Nhóc Bảo nhìn tôi một hồi lâu, cuối cùng cũng gật đầu, lưỡng lự đáp: "Được ạ."

Hoàng đế chống cằm ngồi nhìn cả hai chúng tôi, khóe miệng nhếch lên thành một nụ cười.

Có mơ ngài cũng không tin được một "tôi" năm mười sáu tuổi từng ghét trẻ con, nay lại thích thú chơi đùa cùng cậu nhóc nhỏ thế này.

"Sao khi nãy nhóc lại không cho chị ngồi vậy," Tôi khều vào cặp má mềm nhũn của thằng bé.

"Nhìn chị giống người xấu lắm hả?"

Nguyễn Bảo ngớ người ra một hồi rồi lắc đầu.

Lần này thì có vẻ thằng bé đã dạn hơn một chút, thôi không nhìn tôi bằng cặp mắt cảnh giác nữa.

Nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc cậu đã buông mọi nghi ngờ trong lòng mà vui vẻ với tôi đâu nhé.

Đúng là đứa trẻ này thừa hưởng nguyên vẹn tính khí im lìm của ngài đây mà.

Cậu nhóc vừa vò chặt vạt áo của mình đầy thích thú như một trò tiêu khiển giết thì giờ, vừa dùng chất giọng đáng yêu để trả lời tôi: "Cô không giống người xấu đâu ạ.

Tại... tại cháu..."

Tôi mỉm cười nhìn cậu.

Mất một lúc lâu tôi mới nhận ra điểm bất bình thường trong cách xưng hô của nhóc tì đây.

Biểu cảm trên mặt tôi thay đổi ba trăm sáu mươi độ, thậm chí là nhanh hơn tốc độ lật bánh tráng, từ niềm nở đến nụ cười gượng gạo không mấy tự nhiên cho lắm.

Tôi gọi nhóc, xưng chị.

Thế mà cậu nhóc nhỏ này gọi cô xưng cháu à?

Một mũi tên vô hình bỗng đâm một phát trúng phóc vào tim tôi.

Ứ hự, vậy ra trong mắt thằng bé, trông tôi già đến độ phải xưng bằng cô mới đúng với tuổi của tôi sao?

"Nàng bị sao thế," Hoàng đế thấy nét mặt tôi không được hào hứng như trước nên lên tiếng hỏi.

"Không khỏe chỗ nào à.

Có cần ta gọi thái y đến không?"

"Khỏe... khỏe lắm, thánh thượng không cần lo đâu," Tôi xua tay, vỗ vỗ vào má vài cái cho tỉnh rồi quay sang nhìn nhóc Bảo đang chăm chăm nhìn mình.

"Ai dặn nhóc phải xưng 'cô' với chị như vậy?

Nghe già lắm đó."

Thằng bé lập tức ngoảnh đầu nhìn vua cha của mình với cặp mắt ngây thơ vô tội, sau đó quay lại nhìn tôi mà nhanh nhảu đáp: "Cha cháu dặn cháu phải gọi bằng 'cô' ạ."

Cậu vừa dứt câu thì tôi ngước mặt lên nhìn ngài bằng ánh mắt hận đời, cắn chặt môi để khỏi phải bật ra những lời oán trách từ sâu tận đáy lòng.

Trái lại, người nọ chỉ liếc nhìn tôi như thể đang trao đổi ám hiệu bằng mắt, nhoẻn miệng cười đắc chí.

Cơ mà tôi có hiểu ngôn ngữ khác ngoài tiếng mẹ đẻ quái đâu mà thần giao với chả cách cảm, nên dù ngài có ra hiệu cho tôi cách mấy cũng công cốc.

Cậu thái tử chớp mắt, hết nhìn tôi rồi nhìn tới ngài, vẫn không hiểu chuyện gì đang xảy ra.

Bất chấp hai người lớn đây đang đấu tranh tư tưởng bằng niềm tin vững chắc, cậu nhóc vẫn ngoan ngoãn ngồi yên chơi một mình, không hỏi này hỏi kia hay làm khó chúng tôi gì sất.

"Được rồi.

Từ nay nhóc muốn gọi chị là cái gì cũng được."

Tôi thở dài, đưa tay vuốt nhẹ mái tóc của Nguyễn Bảo.

Tóc thằng bé mượt, hãy còn ngắn lắm chứ chưa đủ dài để búi lên như người lớn, nhưng sờ vào rất đã.

Nhìn lại tóc của tôi... chắc không có cửa để so sánh với một cậu nhóc lên ba đâu.

Thế bây giờ tôi bắt cóc thằng bé này, đem giấu trong cung rồi nuôi lớn được không nhỉ?

Đáng yêu chết mất!

Nhắc mới nhớ, từ đầu hồi đến thăm đến giờ hoàng đế vẫn không nói lời nào, chỉ nói hai ba câu lấy lệ rồi im lặng nhìn tôi chơi với trẻ con mà thôi.

Mà điều khác thường ở đây chính là cách ngài nhìn tôi, hài lòng và viên mãn như thế nào, bỏ mặc cả đứa con trai quý báu của mình chỉ để xem tôi trò chuyện với cậu bé ra sao.

Đúng thật chuyến này làm tôi đứng ngồi không yên mà.

Tôi dang rộng tay, nhìn nhóc Bảo đầy thích thú, miệng tủm tỉm cười như thể tôi khó lòng che giấu được nguyện vọng sâu thẳm tâm can.

Cậu thái tử nghiêng đầu nhìn tôi, vẫn chưa hiểu tôi định làm gì tiếp theo, đôi mắt tròn xoe màu nâu của thằng bé cứ xoáy vào trong tâm khảm tôi suốt.

"Chị bế nhóc được không?"

"Dạ...

được."

Cậu nhóc lưỡng lự gật đầu đồng ý, một tay vịn trường kỉ, tay còn lại níu lấy tay ngài rồi lúi húi đứng dậy.

Cậu bước từng bước lò dò tiến về phía tôi, tay cũng dang rộng ra để chực chờ một cái ôm sắp tới.

Đến khi khoảng cách giữa tôi với cậu ngắn lại, lúc này tôi mới vươn tay ra, bế bổng cậu lên, sau đó ôm cậu nhóc vào lòng.

Ban đầu thì cậu vẫn còn rụt rè chán, chỉ đành ôm choàng lấy cổ tôi cho không bị ngã.

Nhưng lúc sau thì cậu đây đã dạn hơn, yên tâm ngả đầu lên vai rồi nhìn ngắm khung cảnh ngoài xa qua tầm nhìn nhỏ tí xíu.

Lần đầu được ôm một đứa trẻ trong tay, tôi lúng túng đến độ không biết nên bế tư thế nào cho đúng, hay ôm cậu ra sao để cậu nhóc này không bị ngã.

Nhỡ đâu cậu thái tử quý báu đây mà xảy ra chuyện gì thì lúc đó tôi có nài nỉ van xin đến đâu cũng không được hoàng đế tha thứ.

Tình thân ruột thịt cũng chẳng thể cứu vãn nổi tôi trong trường hợp đó.

...

Nhóc nhỏ ôm chặt lấy tôi, lẳng lặng không nói tiếng nào.

Ngồi yên một hồi, tôi chỉ nghe được tiếng cậu nhóc thở đều vào bầu không, bàn tay nhỏ ôm lấy cổ tôi cũng nới lỏng dần.

Dường như thằng bé đang mải mê đắm chìm vào giấc mơ thú vị và thoải mái của mình, dưới tiết trời dịu dàng, dưới làn gió mát mẻ.

Cậu thái tử cứ nằm im như vậy một lúc lâu.

Dù tôi có kín đáo vỗ nhè nhẹ vào lưng để dò soát động tĩnh thì cậu không mảy may cục cựa, mái đầu nằm nghiêng sang một bên để tìm điểm tựa ngủ cho ngon.

"Thằng bé ngủ rồi," Ngài chậm rãi lên tiếng, nhẹ nhàng đặt chung trà xuống mâm.

"Nàng đừng tốn công gọi nó dậy làm gì."

"Thật hả?"

Tôi tròn mắt nhìn ngài, sau đó lại quay sang nghía đứa nhỏ ngủ ngon lành trên vai mình.

"Ngủ gì nhanh vậy."

Ngài gật đầu thay câu trả lời.

Đoạn, hoàng đế đưa tay chạm nhẹ vào má tôi, bất giác mím môi cười.

Tôi ngồi sững người ra mà không biết phản ứng ra làm sao, cứ để mặc đấy cho mấy ngón tay của ngài sượt qua da thịt một cách nhanh chóng.

Rõ ràng cậu nhóc vẫn còn nằm ngủ ở đây, nhỡ vô tình đánh thức cậu dậy thì cũng không hay lắm.

"Ta nhớ nàng từng nói nàng không thích trẻ con mà nhỉ," Ngài nói, mắt vẫn không rời khỏi tôi.

"Giờ nàng lại đi chăm con ta.

Đúng là nàng có tài lấp liếm thật."

"Tôi cũng đã hai mươi tám, phải chín chắn hơn hồi đó chứ," Tôi gượng cười đáp.

"Thánh thượng nói toàn lời lẽ không đâu."

"Vậy sao?

Nếu nàng đã thích thằng bé đến vậy, sau này ta sẽ dẫn nó đến cung của nàng chơi thường xuyên."

Tôi bật cười, cúi xuống hôn một cái chụt lên đôi má núng nính của nhóc Bảo.

Thằng bé đã gọi tôi bằng "cô", tức có nghĩa là tôi đã trở thành người lớn, là bà cô to xác mà cậu nhóc có thể tin tưởng.

Tôi vẫn chưa nghĩ đến một ngày ngài sẽ có con nối dõi, cũng chưa nghĩ đến chuyện vai vế trong nhà của tôi cũng tăng lên một bậc.

Nếu như ngài không dặn cậu phải gọi tôi bằng biệt danh nghe già chát như thế thì có lẽ tôi vẫn chơi cùng đứa trẻ này với danh phận khác.

Rõ tức.

Hoàng đế chống cằm nhìn tôi một hồi lâu.

Cảm thấy cuộc trò chuyện đang dần đi vào ngõ cụt, ngài chủ động kết thúc nó trước.

Người nọ đứng dậy, lẳng lặng đón con trai mình từ tay tôi rồi cất gót đi về.

Để tránh làm giấc mơ của cậu nhóc bị gián đoạn, ngài bế bổng cậu lên, nhẹ nhàng ôm vào lòng.

Cậu thái tử cựa quậy đôi chút, sau đó chép miệng mà tiếp tục mơ một giấc thật đẹp, không hay biết "chiếc gối" cậu nằm đã thay đổi tự thuở nào.

Tôi vươn vai lấy lại sức sống, múa may đủ thứ động tác giãn cơ để đi tìm tuổi xuân trước đó.

Bế cậu nhóc đây có một tẹo mà đã mỏi hết cả tay, chưa kể lưng tôi cũng đau do ngồi mãi một chỗ ấy.

Nếu mỗi tháng tôi bế con trai ngài vài lần thì khéo có ngày tôi già trước tuổi mất.

"Ta về nhé?"

Tôi gật đầu, chăm chăm nhìn nét mặt bình thản của nhóc nhỏ đang say giấc ngủ ngon.

"Cậu Bảo mệt rồi, tốt nhất là thánh thượng nên để cậu ấy về cung nghỉ ngơi.

Ngài cũng về tẩm điện nghỉ đi, nắng thế này, e là..."

Hoàng đế nhìn tôi không chớp mắt, rồi bỗng mím môi cười.

Thanh Chi vội vã cúi người hành lễ sau lưng, len lén ngước mắt nhìn cả hai chúng tôi vẫn đang lời qua tiếng lại với nhau, dám chừng con bé đang đợi ngài rời đi mới có thể ngẩng mặt lên một cách đường đường chính chính.

"Được rồi, cảm ơn nàng đã lo lắng cho ta.

Nàng cũng nên vào trong nghỉ ngơi, đừng đi ra ngoài rồi đổ bệnh đấy."

Dứt lời, người cất gót ra về, tà áo màu vàng sẫm bay lất phất theo gió.

Tôi thơ thẩn đứng nhìn theo mà tai vẫn còn văng vẳng những lời dặn dò của ngài khi nãy.

Tuy ngài có lòng nhắc nhở tôi đấy, nhưng có lẽ những lời ấy chẳng thấm vào đâu đâu.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Trở Về Thời Tây Sơn
73. Lần sau


Năm Canh Tý [1780], Nguyễn Phúc Ánh xưng vương ở cõi phía Nam.

Năm Tân Sửu [1781], Nguyễn Phúc Ánh giết Đỗ Thanh Nhơn, nội bộ họ Nguyễn lục đục.

Tháng Năm năm ấy, Nguyễn Phúc Ánh đem quân đánh Bình Khang nhưng không thắng.

Tháng Ba năm Nhâm Dần[1782], vua Thái Đức cùng Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ đem hơn một trăm chiến thuyền vào cửa Cần Giờ, đánh nhau với quân của Nguyễn Ánh ở Ngã Bảy.

Trận ấy quân Phúc Ánh thua to, tên người Pháp là Manuel phải tự đốt tàu của mình mà chết.

Sau đó thì Nguyễn Phúc Ánh phải bỏ thành, chạy về đất Ba Giồng, không lâu sau thì ra lánh ở đảo Phú Quốc.

Sau khi bình xong đất Gia Định, ngài rút quân về Quy Nhơn, để hàng tướng là Đỗ Nhàn Trập ở lại giữ thành.

Năm Quý Mão (Thái Đức thứ sáu) [1783], vua Thái Đức sai Nguyễn Huệ và Tiết chế Nguyễn Lữ đem quân vào đánh.

Trong tình thế nguy cấp ấy, Nguyễn vương Nguyễn Phúc Ánh phải rước người thân ra Phú Quốc.

Tháng Sáu năm đó, Long Nhương tướng quân lại mang quân đánh Phú Quốc, Nguyễn vương chạy về Côn Lôn.

Quân Tây Sơn cũng đem thuyền đến vây, ngặt nỗi trong thế ngàn cân treo sợi tóc thì một cơn bão nổi lên làm đắm thuyền của Tây Sơn, Nguyễn Phúc Ánh liều chết phá vòng vây chạy ra ngoài, sau đó chạy về đảo Cổ Cốt, rồi cuối cùng trở về Phú Quốc.

Cuộc chiến đầy cam go với nhiều thử thách, là cuộc đua tranh giành quyền làm chủ Đại Việt của hai thế lực đối lập nhau chính thức bắt đầu.

*

"Bẩm, chè hạt sen làm xong rồi ạ."

Thanh Chi lúi húi bưng ra ngoài hiên cho tôi một chén chè, bước đi nhanh nhẹn không một động tác thừa.

Một mớ tóc mai rơi ra trên trán, tuy luộm thà luộm thuộm là thế nhưng con bé chẳng buồn nghĩ đến việc sẽ đưa tay gạt chúng sang một bên.

Thanh Chi nhẹ nhàng vén ống tay áo rộng thùng thình, rồi cẩn trọng đặt chén chè xuống, giương mắt chờ cử chỉ tiếp theo của tôi.

Năm nay con bé ra dáng thiếu nữ hơn hẳn, tuổi cũng sắp độ trăng rằm.

Nét mặt thùy mị, nết na, suối tóc lúc nào cũng búi lên gọn gàng.

Đôi mắt nâu phảng phất bóng mây du lãng trong mặt hồ buổi sớm, nhìn vào cứ ngỡ thấy cả mùa thu trong mắt cô thị nữ này.

Trong khi Thanh Chi nổi bật lên với vẻ đẹp của thiếu nữ đương tuổi xuân, còn tôi thì lại chìm xuống với cái nhan sắc "đã quá hạn sử dụng".

Ừ thì... sự thật thì tôi vẫn chưa già đến độ vậy đâu, chẳng qua là do tôi cảm thấy mình đã qua khỏi lứa tuổi đẹp nhất thời con gái nên có chút ganh tị thôi.

Tôi tạm dừng việc vẽ vời đương vẽ dở, xếp đống giấy họa cảnh núi non nghìn trùng, gác bút sang một bên rồi ngẩng mặt nhìn Thanh Chi bằng cái cau mày đầy tò mò.

Con bé lúng túng cụp mắt xuống, tay vò chặt lấy vạt áo, cúi gằm mặt không nói nên lời.

Hẳn Thanh Chi đang ngỡ rằng tôi sắp sửa trách mắng con bé điều gì đó nặng nề lắm đây.

"Cái này là của chị hả?"

Thanh Chi gật đầu lia lịa.

Đoạn, con bé đáp: "Dạ bẩm, thánh thượng lo lệnh bà bị mệt nên đã sai người làm chè hạt sen dâng lên cho lệnh bà đấy ạ."

"Ngài ấy không ăn hay sao mà dặn em bưng qua cho chị vậy?"

Sống quanh quẩn trong tòa thành đồ sộ này nhiều năm, một phen chứng kiến nhiều cảnh khiến tôi váng cả đầu.

Biết lắm thế nào cũng có người âm thầm theo dõi tình trạng của tôi, thế nào và ra sao mà.

Thậm chí chuyện lặp đi lặp lại nhiều đến mức tôi coi nó là điều hiển nhiên, không còn có phản ứng bất ngờ hay ngạc nhiên như lúc trước nữa.

Rõ ràng, việc quân việc nước khó nhằn gấp vạn lần, chuyện vỗ về trăm họ vẫn chưa thể yên tâm thực hiện, vậy mà ai kia lại đi ngó ngàng đến tôi.

Rốt cuộc bản thân tôi quan trọng đến cỡ nào thế nhỉ.

"Nô tì không biết, chắc là bệ hạ đã ăn rồi nên mới..."

Thanh Chi ấp úng.

Thiệt tình, tôi cứ ngỡ sau này lớn lên, bản tính rụt rè của Thanh Chi sẽ hoàn toàn biến mất mà thay vào đó là sự tự tin và hoạt bát.

Có nào ngờ bóng dáng cô thị nữ nhỏ tuổi năm nào giờ vẫn còn đây, có điều thể xác thay đổi chút ít thôi.

Tôi biết con bé không biết giải thích ra sao, bèn thở dài một hơi, rồi phẩy tay ra hiệu.

"Được rồi.

Chỉ cần chị ăn hết chén chè này là được chứ gì?"

Thanh Chi gật đầu không đáp, bất giác mỉm cười.

Tôi dùng chiếc thìa mà Thanh Chi mang đến, đảo thìa qua lại trong chén.

Mấy viên nhãn được tách vỏ chỉ lấy phần cơm, bên trong bọc hạt sen trông thật đẹp mắt, lại còn ngon miệng, nhìn thôi đã muốn ăn thử lấy một thìa rồi.

Trong người tôi hiện đang khó ăn khó ở, ăn không ngon mà ngủ cũng không yên.

Tối hôm qua tôi đã phải lăn lộn trên giường, chật vật cả mấy tiếng mới chợp mắt được một tí.

Tôi ngồi phân vân một lúc lâu, cuối cùng cũng bị lí trí đánh gục, không nhịn được mà ăn thử thìa chè đầu tiên để xem cái vị nó như thế nào.

Tất nhiên tôi thừa biết chè lúc nào cũng mang vị ngọt, không ngọt dịu thì cũng ngọt gắt.

Cái vị ngọt thanh của nhãn nhục lập tức lan tỏa trong miệng, xen lẫn cả cái vị bùi bùi của sen.

Tôi sững sờ, tay khựng lại giây lát rồi lại ăn tiếp thìa chè thứ hai.

Nước chè không ngọt gắt, cũng không quá nhạt nhẽo, mà nó đủ ngọt để làm tâm trạng người khác khá hơn đôi chút.

Một đứa gì cũng ăn như tôi thì dễ quá rồi, chỉ cần ăn thấy hợp miệng là sẵn lòng mở miệng ra khen tuốt.

Tôi từng nghe bảo đâu đấy rằng món chè này dùng để giải nhiệt, vừa thanh mát lại vừa bổ.

Bảo sao ngày nhỏ mẹ tôi vẫn thường xuyên làm chè hạt sen long nhãn cho tôi ăn vào mấy lúc tiết trời khá oi bức, có điều ngày nhỏ tôi kén ăn đến độ chỉ hốc toàn món ưa thích, món nào trông không bắt mắt là không ăn.

Thanh Chi háo hức nhìn tôi thưởng thức chè với tâm trạng vui không tả được.

Ngay từ giây đầu tiên, con bé cứ đinh ninh nghĩ rằng tôi sẽ từ chối chén chè, rồi sau đó bản thân phải cố lựa lời để nói cho kia nghe lọt tai hết sức có thể.

Nhưng từ khi tôi chịu ăn lấy một hai thìa chè - hay thậm chí là nhiều hơn thế - thì có lẽ biểu cảm trên gương mặt Thanh Chi thay đổi chóng vánh.

"Chị ăn chừng này... chắc là đã vừa ý thánh thượng rồi nhỉ?"

Sau năm muỗng chè thì tôi thở dài, đặt thìa xuống, thôi không ăn nữa.

"Lòng tốt của ngài ấy, tất nhiên là chị hiểu.

Cơ mà lúc rỗi lại sai người đem bưng chè đến thì quả thật... có hơi kì cục một tí."

Con bé vừa thu dọn chén chè, mỉm cười ngô nghê, vừa luôn miệng nói không ngừng.

"Là do lệnh bà vẫn chưa thấu rõ tâm tình thánh thượng đấy thôi.

Nô tì thấy dạo đây bệ hạ bận rộn nhiều, không rỗi thì giờ để đến đây, chuyện binh nhung vẫn còn rối như tơ vò.

Vậy mà ngài ấy sai người mang chè đến, có nghĩa là bệ hạ vẫn chưa quên béng lệnh bà đâu."

Tôi đưa tay chạm vào mặt ngọc bội, bỗng dưng cảm thấy thời gian trôi qua thật nhanh.

Ngài tặng tôi viên ngọc này vào năm Mậu Tuất, quanh đi ngoảnh lại cũng thấm thoát năm năm.

Mấy món lặt vặt thế này, nếu không phải là vật quý thì có lẽ tôi đã vứt một xó từ lâu, và có khi tôi quên bẵng đi ngài đã tặng tôi mấy món này như thế nào cũng nên.

Tất cả đều mang trong mình một dấu ấn mà thời gian để lại, để hàng chục hàng trăm năm sau có nhìn lại thì họ vẫn nhớ ra rằng thứ này từng tồn tại trên cõi đời.

Mục đích chung của những gì đã hiển hiện trong lịch sử là đều muốn những kẻ sau không được phép quên lãng chúng, dù chỉ một khắc duy nhất.

Tôi nhìn theo bóng lưng của cô thị nữ đang đi khỏi tầm mắt, đầu bỗng dưng suy nghĩ về những năm tháng tiếp theo của cột mốc lịch sử đầy binh biến.

Không lâu sau, trên vùng miền quê sông nước sẽ rộn lên những tràng pháo làm quân địch khiếp hãi, biến khoảng trời bình yên thành một vùng ngập trong "biển lửa".

Và rồi, vào một ngày không xa, vương triều này sẽ sụp đổ như cách mà bánh răng lịch sử đã vận hành.

Sự tồn tại của triều đại này sớm muộn gì cũng rơi vào dĩ vãng, cùng những chiến công được cho là lẫy lừng nhất thời bấy giờ, đi đôi với nó là niềm căm phẫn từ trong xương tủy của một người nào đó.

Dù gì đó vẫn là lịch sử.

Mà đã là lịch sử thì chắc chắn một điều rằng tôi không thể thay đổi được quá khứ, cũng không thể làm nó tiến triển thêm một chút, bởi như vậy khác gì làm dòng chảy chảy đi theo chiều hướng khác đâu.

*

"Tình hình mọi chuyện ra sao rồi?"

Trong một đêm tối âm u, giữa những khoảng cây xanh thiu thiu ngủ, điện Chánh tẩm bị bóng tối dày đặc bủa vây.

Bên trong tẩm điện vẫn còn sáng lên ánh nến cháy lay lắt, hẳn là chủ nhân tẩm điện vẫn còn thức để duyệt tấu lúc tối muộn.

Thái giám nghe thấy người kia lên tiếng, bèn vội quỳ xuống hành lễ.

Hoàng đế chỉ liếc nhìn tên thái giám một cái, rồi phẩy tay ra hiệu cho hắn miễn lễ, còn mình thì tiếp tục công việc duyệt sớ chán ngắt này.

Được lệnh bình thân, lúc này hắn mới dám ngẩng mặt lên.

"Bẩm, quân ta có đem binh lính vào đánh, đuổi cùng giết tận khá gay go.

Nhưng...

ông Trời quả thật bất công.

Nô tài nghe nói thuyền của ta bị bão đắm chìm, để cho Nguyễn Phúc Ánh có cơ hội chạy thoát."

Không gian bốn bề bỗng chốc yên ắng đến lạ thường.

Bầu không khí trở nên u ám và căng thẳng hơn, cho dù trước đó không có bất kì dấu hiệu nào cho thấy nó đã từng tồn tại.

Ngọn nến càng lúc càng yếu dần, ánh sáng nhàn nhạt đã không còn đủ sáng để duy trì hoạt động duyệt sớ nữa.

Mất một hồi lâu mới thấy ngài lên tiếng.

"Vậy sao?"

Hắn ta ngần ngại gật đầu không đáp, tự trách bản thân quá ngu muội nên không hiểu rõ ý đồ của ngài là gì.

Rồi, ngài cũng bận bịu việc duyệt sớ, không màng để ý đến tên thái giám đứng hầu bên cạnh.

Cho dù ban đêm trời rõ lạnh, lạnh đến thấu xương, nhưng chẳng hiểu sao nhiệt độ bên trong tẩm điện lại nóng đến lạ thường.

Thái giám cũng cảm nhận rõ điều đó, len lén đưa mắt nhìn nét mặt người kia xem có gì bất thường không.

Nhưng không, người kia vẫn bình chân như vại, tâm bất biến giữa dòng đời vạn biến mà mải mê với công việc của mình.

Khoảng không một lần nữa chìm trong thinh lặng.

Tiếng người thở đều đều, tiếng gió lộng thổi ngoài kia, và những tiếng lòng xuất phát từ tận tâm can hiếm có người nghe thấy đang hiện diện trong điện.

Nét bút dừng lại ở cuối tờ sớ, vết mực đỏ thắm đã để lại hai chữ "Phê chuẩn" ở những nơi nó đã đi qua.

Ngài nhúng cây cọ vào trong bát nước rồi gác bút lên nghiên, chấm dứt công việc dài đằng đẵng đầy nhạt nhẽo sau hàng canh giờ liền.

Người nọ đưa mắt nhìn ra bầu trời thăm thẳm bên ngoài, đôi mắt ánh lên một vài tâm tư khó thổ lộ của một bậc quân vương.

Dám chừng bây giờ cũng đã quá giờ Tuất.

Hoàng đế trầm ngâm nhìn trời trong chốc lát, sau đó quay sang nhìn tên thái giám mà nói: "Muộn thế này, chắc nàng ấy cũng đã ngủ rồi."

Hắn ta ngạc nhiên, không kìm được tò mò trong mình nên buột miệng hỏi.

"Ý bệ hạ là...?"

Ngài cười nhẹ, gõ gõ ngón tay thành nhịp lên bàn, từ tốn trả lời:

"Phải, là nàng ấy.

Một người nhìn thoáng qua cứ ngỡ không có gì đặc biệt, không có cầm kì thi họa gì sất, nhưng đối với trẫm lại có sức hút đến kì lạ."

*

Không rõ năm nay tôi lỡ đi tạo nghiệp nhiều quá, lại hay đi phán xét người khác ngầm nên mới xui khủng khiếp đến vậy.

Chuyện là nhân một ngày đẹp trời, tôi muốn thoát khỏi cái không khí ngột ngạt và cảm giác bị bốn bức tường bao quanh tứ phía nên muốn ra ngoài tản bộ để lấy lại sức sống.

Thanh Chi đi theo sau để hầu hạ, hay nói đúng hơn là nhỡ đâu có chuyện bất trắc thì chí ít ra con bé vẫn có thể bảo vệ tôi đến cùng.

Nhưng sự thật thì cô thị nữ đây chỉ có nhiệm vụ duy nhất là trông một người lớn to xác như tôi thôi.

Chẳng hiểu do tôi thả mình vào thiên nhiên cây cỏ quá đà, hay là do tôi quá chủ quan nên đang chạy tung tăng đến rặng cây dài thẳng tắp ở đằng xa thì bất ngờ tôi tự vấp phải chân mình mà té nhào ra đất.

Lòng bàn chân lật sang một bên, dẫn đến việc tôi bị mất thăng bằng, cứ thế mà tôi ngã túi bụi.

?

Trần đời chưa bao giờ nghe thấy chuyện một người chạy rồi té chỉ vì lí do rất vô lí là vấp phải bàn chân của mình đang thoăn thoắt chạy.

Nói vấp phải tảng đá hay vật gì đó to to thì nghe vẫn còn có lí, coi như tạm chấp nhận đi.

Đằng này lại...

Thanh Chi nhìn thấy tôi bỗng dưng ngã khuỵu xuống đất, lo lắng đến mức vội vàng chạy đến xem tôi thế nào.

Một vẻ hốt hoảng không thể chối bỏ hiện lên.

Con bé dáo dác nhìn chung quanh, dường như để tìm người đến giúp đỡ.

"Lệnh bà!

Lệnh bà có sao không ạ?"

Thanh Chi cẩn thận dìu tôi đứng dậy, cuống cuồng hỏi han.

"Nô tì đã dặn lệnh bà rằng đừng có chạy quá nhanh mà, kẻo lại..."

Mắt cá chân phải của tôi đau nhói lên, chắc là tôi không thể gắng gượng đi lại được trong một khoảng thời gian.

Nhờ có Thanh Chi đỡ giúp nên tôi mới trụ nổi, chân run rẩy đến mức gần như không thể đứng vững được.

Thú thật thì tôi muốn ngồi bệt xuống đất, duỗi chân ra cho đỡ đau, nhưng vì chỗ này thường xuyên có người đi qua đi lại, lại gần với điện Bát giác nên tôi không thể làm theo ý nguyện của mình.

"Chỉ tại chị ham vui nên mới thế," Tôi thở dài, vừa khập khiễng bước đi vừa tán gẫu với cô bé cho giảm bớt cơn đau.

"Bây giờ làm sao chị về được đây nhỉ.

Chặng đường về hãy còn xa quá, sợ em vất vả thôi, chứ chị thì gồng mình vẫn có thể đi được."

"Lệnh bà đừng nói như vậy.

Hay là...

để nô tì sai người đến báo thánh thượng," Thanh Chi dùng giọng nhỏ nhẹ khuyên can tôi.

"Được không ạ?"

Tôi phân vân, không biết nên chọn phương án nào cho đúng.

Gọi ngài đến thì cũng tốt, có điều không phải lúc nào ngài cũng dư hơi để giải quyết ba cái chuyện cỏn con này.

Một ngày của hoàng đế bận biết bao nhiêu là việc.

Nhưng nếu không báo trước một tiếng thì chẳng nhẽ đành chịu cuốc bộ về với cái chân bị trật?

Chết tiệt thật, đáp án nào cũng phải cân nhắc kĩ càng.

Được ăn cả, ngã thì đi về!

Ngay giây phút tôi vừa lưỡng lự gật đầu thì trong điện cũng vừa tan chầu.

Bá quan trong triều lần lượt bước ra, mũ đính trang sức lóa lên thật chói mắt.

Tôi nheo mắt nhìn theo, miệng nhẩm đếm xem buổi chầu hôm nay có bao nhiêu người đến dự.

Ba người...

Năm người...

Bảy người...

Không thấy cậu Tiết chế đâu.

Người bước ra sau cùng chính là ngài, với nét mặt căng thẳng không mấy dễ chịu gì cho cam.

Ngài chắp tay ra sau lưng, đi đi lại lại trước cửa điện, mắt đăm chiêu như bận nghĩ cái gì đó.

Đi đêm lắm có ngày gặp ma.

Tôi đứng chết trân nhìn ngài, với hi vọng rằng ngài sẽ quay sang đây được nhen nhóm ngày một lớn hơn, mặc cho Thanh Chi thúc giục tôi đi tiếp.

Chẳng hiểu do trực giác của ngài với tôi có cùng tần số nên tôi chỉ mới lủi thủi đi theo cô thị nữ đây vài bước thì người nọ bỗng ngẩng mặt nhìn tôi.

Mắt chạm mắt.

Đôi mày của ngài chau sát lại với nhau, khuôn mặt nhuốm đầy vẻ bực dọc thì nay lại càng thêm cau có hơn.

Tôi vội rũ mắt nhìn đi nơi khác, cố lảng tránh ánh mắt đùng đùng sát khí đang nhìn mình chằm chặp đang ghim thẳng lên người tôi.

Không-xê-dịch-đi-đâu-hết.

Thanh Chi thấy tôi đang đi bỗng đứng khựng lại, sợ tôi không khỏe nên đã quay sang hỏi han: "Lệnh bà bị đau chân ạ?

Có cần nô tì..."

Lúc này hồn phách tôi mới từ cõi chín tầng mây trở về.

Tôi thất thần nhìn con bé, sau đó đưa tay vỗ trán vài cái, gắng gượng cười: "Không cần.

Chúng ta về nhanh thôi, chị thấy trời cũng nắng lên nhiều rồi."

Đúng là một khi số trời đã định thì không thể trốn thoát.

Tôi đã vờ vịt làm ra vẻ như chưa biết chuyện gì mà quay lưng đi, lòng khấn trời cầu phật sao cho những gì ngài nhìn thấy vừa rồi chẳng qua là ảo ảnh.

Vậy mà...

"Nhật Hạ," Người nọ giật giọng gọi, thong dong bước từng bước về phía chúng tôi.

"Nàng đi đâu vậy?

Vừa thấy ta là đã vội quay mặt đi chỗ khác rồi sao?"

Thanh Chi bỗng nghe thấy giọng nói đầy uy quyền đó, nhanh nhanh chóng chóng cúi người hành lễ.

"Nô tì tham kiến bệ hạ."

Ngài gật đầu không đáp, phẩy tay ngỏ ý con bé lui ra sau.

Rồi, ngài tiếp tục với câu chuyện hãy còn đang dang dở, nghiêm nghị nhìn tôi.

Tôi ấp úng đáp: "Khô...

Không có.

Chẳng qua hôm nay trời bỗng nắng bất thường, tôi muốn đi về cung cho nhanh để đỡ bị cảm nắng ấy mà."

Tôi thở phào nhẹ nhõm trong lòng với lời ngụy biện quá hoàn hảo không thể hoàn hảo hơn, trộm nghĩ xem với câu nói dối đó thì ngài sẽ trả lời tôi như thế nào.

Trong lúc tôi vui mừng hơi sớm với "công trình đồ sộ" của mình thì người nọ đã tinh ý phát hiện ra điều khác lạ so với những ngày trước.

Ngài hất cằm về phía tôi.

"Chân nàng bị sao vậy?"

Câu nói này như sét đánh ngang tai.

Tôi gượng gạo nhìn xuống dưới chân - thấy bàn chân bị trật đó vẫn chưa hết đau - rồi giả vờ cười cho qua chuyện.

Thanh Chi đứng kế bên biết không thể nào tránh né được, bèn cúi gằm mặt xuống, im lặng chờ đợi giây phút tiếp theo.

Một người nhìn hai người, vô tình tạo nên bầu không khí khó xử đến kì lạ.

"Thôi được rồi, không giấu giếm gì thánh thượng nữa," Tôi quyết định xuống nước trước, thành thật khai.

"Tôi... bị đau chân."

"Nàng bị ngã à?"

Hoàng đế nhíu mày hỏi lại, nom bộ dạng ngài lúc này còn căng thẳng hơn khi nãy.

Tôi gật đầu lia lịa.

Chạy đâu cho khỏi nắng, khi mà trắng đen đã rõ rành rành như ban ngày, dù tôi có chối đến cỡ nào cũng khó lòng mà thoát được những câu hỏi chất vấn từ ngài.

Người kia tiến lên vài bước, tôi bất giác lùi lại mấy bước.

Đoạn, tôi nhăn mặt lại vì cái chân đau kia đã bắt đầu giở chứng, quên mất rằng tôi vừa bị trật chân.

"Đau lắm không," Ngài dịu giọng, chìa tay ra ngụ ý muốn làm điểm tựa cho tôi bước đi.

"Chân đau thế này thì đừng đi lại nhiều."

"Không đi thì làm sao về tới cung được?"

Đáy mắt ngài như phủ một lớp sương mờ, nhưng chỉ một tích tắc sau đã hiện lên những tia sáng hi vọng.

Hoàng đế quay lưng lại, hơi khom người xuống cho vừa tầm với tôi rồi nói:

"Ta cõng nàng."

Tôi đứng thẫn ra đấy mất một hồi lâu.

Ngài vẫn giữ nguyên tư thế khom lưng đó, không hề hối thúc tôi trả lời ngay lập tức.

Trước mặt tôi là bóng lưng to lớn, một tấm lưng mà có lẽ tôi đã phải khắc ghi thật sâu vào trong đầu mình được mấy mươi năm nay.

Người nọ muốn cõng tôi một quãng về cung á?

Tôi bối rối không biết xử trí ra sao, chỉ biết đưa mắt nhìn Thanh Chi cầu cứu.

Cô thị nữ cúi nhẹ đầu, đáp: "Bẩm lệnh bà, nô tì thấy lệnh bà nên thuận theo ý bệ hạ.

Một quãng xa thế này, đến nô tì đi còn không nổi, huống hồ chi lệnh bà đang bị đau chân nữa."

"Nhưng mà..."

Hoàng đế ngoái đầu lại nhìn tôi, ánh mắt kiên định và tràn ngập đầy... hi vọng?

Không, nhìn không đầy hi vọng tẹo nào sất, cái nhìn đó càng làm tôi thấy bất an hơn thì có!

Một lần nữa, ngài thở dài, cố bình tĩnh hết mức có thể, sau đó vỗ lên lưng mình, chậm rãi bảo lại.

"Nhật Hạ, lên đây.

Ta cõng nàng về."

Biết thì giờ có hạn, tôi đành phải nghe theo vậy.

Tôi ngần ngại quàng tay quanh cổ ngài, cố ghìm cái chột dạ mà ngả đầu trên bờ vai kia.

Rồi, trong một giây ngắn ngủi, ngài đã nhấc bổng tôi lên một cách dễ dàng.

Tất cả những sự kiện đó diễn ra trong vòng chưa đầy một giây, tôi cuống cuồng bám lấy người nọ, thấp thỏm sợ mình rơi xuống tự thuở nào chẳng hay, hoàng đế đã thủ thỉ trấn an: "Đừng sợ, nàng cứ bám chặt vào là được."

Tôi chỉ đành ậm ừ cho qua, chuyện tiếp theo diễn ra thế nào cũng chả sao.

Cái chân đau của tôi tạm thời được xoa dịu lại, tuy vẫn còn cảm giác nhoi nhói nhưng không đến nỗi tệ như thuở đầu.

Thanh Chi dõi mắt nhìn, hãy còn lúng túng vì không biết bản thân sẽ làm gì tiếp theo.

Con bé - sau khi nhìn thấy tôi yên phận trên lưng ngài, không còn càm ràm vì chân bị đau - thì thở phào nhẹ nhõm như vừa trút khỏi tảng đá to trong lòng mình xuống vực thẳm.

Mà có khi con bé cũng mừng rơn vì không bị ngài trách mắng vì tội không để ý đến tôi mất.

Cả hai chúng tôi, người cõng người nằm, lấn lướt qua những khoảng rộng mênh mông đầy ắp một màu xanh của những tán cây tươi tốt.

Núi non trùng trùng điệp điệp bủa vây tứ phía, trông thật đồ sộ, mà cũng ra dáng quang cảnh hữu tình để ngâm họa thi ca lắm.

Đi được nửa đoạn, người nọ bỗng cất tiếng hỏi tôi:

"Nàng còn đau chân nữa không?"

Tôi lắc đầu, nằm quay đầu sang một bên, sau đó nói.

"Vẫn còn, nhưng không còn đau nhiều.

Có lẽ ngồi dưỡng vài ngày là khỏi thôi, ngài cũng đừng lo lắng quá."

Vừa dứt lời, tôi nghe loáng thoáng đâu đó một tiếng thở dài thật khẽ.

Rồi, không khí lại chìm trong thinh lặng.

Hẳn ngài lại tiếp tục than phiền vì tôi chứng nào tật đó, ngựa quen đường cũ, vẫn một mực khăng khăng bảo mình không sao, trong khi trên người hiển hiện đầy vết thương tích.

Thật ra tôi cố ý nói lảng sang một bên, làm mọi chuyện tích cực thêm đôi phần là vì trật chân thế này vẫn còn nhẹ chán, chẳng to tát đến mức phải gây sự chú ý của nhiều người đâu.

"Nàng cũng hay nhỉ, không lo ngồi ở trong cung cho đỡ nắng mà phải vác thân ra tận đây để chơi.

Muốn bị bệnh lắm sao?"

Hoàng đế mắng yêu, câu từ tuy có phần nặng nề nhưng thật chất tôi biết ngài hoàn toàn không muốn trách tôi.

"Làm gì có," Tôi dài giọng, trăn trở mãi mà không chịu nằm yên.

"Phiền ngài thì chớ, một hai lần cũng đủ làm tôi ái ngại không muốn phiền nữa.

Chỉ tiếc mọi chuyện không được thuận theo ý nó cho lắm."

Ngài bất giác mím môi cười.

Đôi mắt nâu đen ẩn dưới làn mi mỏng bỗng chốc trở nên dịu dàng hơn mọi ngày.

"Thằng Bảo hay đòi ta dẫn nó sang cung của nàng chơi.

Cũng khá lâu rồi, tại dạo đây ta cứ bận suốt.

Thế sự gian nan, thời buổi trắng đen chưa rõ, làm ta không biết phải xoay chuyển theo cục diện nào."

Ngài nói cũng phải thôi.

Từ năm Mậu Tuất đến nay cũng được năm năm rồi ấy chứ.

"Cũng phải..."

Tôi lẩm nhẩm đếm, rồi gật đầu tán thành.

"Khi nào rỗi, ngài có thể dắt cậu ấy sang tôi chơi.

Một mình trong cung vắng bóng trẻ con cũng buồn lắm."

Phải rồi.

Tôi vốn quen với cuộc sống của thế kỉ XXI, khi mà xóm tôi ở lúc nào cũng tràn đầy tiếng cười giòn tan của con nít.

Mà bọn nhỏ rất thích chơi với tôi đấy nhé, cứ sơ hở là quấn lấy tôi rồi vòi vĩnh kể chuyện đủ thứ trên trời dưới đất.

Giờ quay về quá khứ rồi, hiếm lắm mới thấy bóng dáng của cậu thái tử kia xuất hiện, tôi cũng không đòi gì nhiều hơn thế.

Khoảng không lặng đi một lúc.

Mỗi người theo đuổi ý nghĩ riêng của bản thân, bận chú tâm đến những nỗi phiền hà trong lòng mà không đoái hoài gì đến người kia.

Nhịp đi của người nọ đều đều, chậm rãi chứ không vội vàng, hấp tấp.

Đôi khi, thi thoảng hoàng đế liếc mắt nhìn tôi đang tựa đầu lên vai, mắt nhắm hờ như đang mơ về một giấc mộng đẹp mà ngài lại mỉm cười.

Bóng người in dưới nước, hiện rõ đôi trẻ của hơn hai trăm năm sau đang vui vẻ trò chuyện với nhau.

Một mối tương tư không rõ kết cục thế nào, cũng chẳng cần biết kiếp sau có tìm thấy nhau giữa dòng người đông đúc hay không, chỉ mong khi duyên phận đâu lại vào đấy thì cả hai tự khắc nhận ra nhau - nhờ vào một mối tơ duyên đỏ thắm nào đó.

*

Tôi đứng một mình giữa vô vàn những mảnh ghép vụn vặt nằm rải rác ở nơi đằng xa.

Xung quanh tối mù, bóng tối kéo dài vô tận.

Dường như trước mặt tôi là một lối đi sâu hoắm, không tìm được đường ra, cũng chẳng biết nơi đó có gì.

Ấy vậy mà những mảnh ghép không hoàn chỉnh kia lại phát ra một luồng ánh sáng mờ ảo, đủ để làm chung quanh sáng lên đôi chút.

Mỗi lần lướt ngang qua chúng, tôi đều có thể xem lại những gì đã từng diễn ra.

Hoặc là cảnh ấy đã có sự chứng kiến của tôi.

Hoặc là cảnh ấy sẽ xảy ra trong tương lai, với kết cục không thể nào thay đổi được những gì đã được định đoạt.

Càng đi về phía cuối, tôi chợt nhận ra mọi thứ dần sáng lên, không còn tối thăm thẳm đến mức phải đi theo linh cảm mách bảo nữa.

Ở điểm cuối cùng - tôi nghĩ là vậy, vì sau nó không còn nơi nào khác - là một mảnh ghép lớn, hoàn chỉnh và sáng hơn những mảnh ghép tôi gặp được trên đường lần mò đến đây.

Mảnh ghép cuối cùng đó nằm đơn độc một mình, trên một tảng đá lớn, tỏa ra thứ ánh sáng diệu kì.

Nhưng kì lạ là nó lại không hiện ra những phân cảnh tương ứng, mà hoàn toàn chỉ là một mảnh ghép nhàm chán, nhạt nhẽo vào chỉ biết phát sáng.

Tôi thở dài, hẳn đây là một mảnh ghép bí ẩn mà không thể xem ngay bây giờ được, thôi thì đành chờ đến một thời gian nhất định để xem vậy.

"Sao kì lạ vậy nhỉ?

Mấy tấm khác vẫn hiện sự kiện liên quan mà, tại sao..."

Tôi chưa kịp dứt câu, vừa định cất gót quay đi thì bỗng có một âm thanh rú lên, xé toạc bầu không tịch mịch vốn có, làm tôi phải giật mình ngẩng đầu lên.

Đằng xa là mấy con voi chiến hung hăng, giận dữ huơ vòi trong không trung, giẫm từng bước nặng trịch xuống mặt đất.

Một toán lính đứng bên cạnh, người thì túm tụm lại bàn tán với nhau, kẻ thì chăm chăm theo dõi mọi chuyện.

Nhưng điểm chung của tất cả bọn họ là nét mặt trông phấn khởi như thể hôm đó là ngày vui chưa từng thấy.

Một chàng trai trẻ, tuổi độ vừa đôi mươi, tóc búi cao gọn gàng, tay chân đều bị trói chặt.

Một người, bốn voi và một đám lính, đó là tất cả những gì tôi nhìn thấy được.

Hình như sắp hành quyết đây mà, chớ đâu vì cớ gì mà có voi ở đây, lại trói người vô cứ đến thế, chưa kể là những người vô tội khác cũng bị áp giải đến.

Thôi thì chuyện của người ta, ngồi đoán già đoán non làm gì chứ, tốt nhất là nên đi tìm mảnh ghép khác để xâu chuỗi chúng lại với nhau đi thôi.

Tôi nheo mắt nhìn cảnh náo loạn lần cuối, rồi quyết định quay gót bước tiếp.

Xa xa là những con voi to dùng để hành hình, là những mảnh đời phải chấm dứt với sự tan rã của một vương triều.

Như vậy là hết, một câu chuyện lịch sử dở dang đã kết thúc, lại thêm một câu chuyện khác nổi lên, viết tiếp câu chuyện đó.

Một triều đại võ công oai hùng, bao phen làm thời cuộc lao đao, khó tránh khỏi số phận sụp đổ dưới chân voi một cách tàn nhẫn.

*

Thế sự liên tục đổi thay, dòng chảy liên tục xoay chuyển không ngừng.

Ngoài kia chiến sự tàn nhẫn đến đầu rơi máu chảy, tiếng binh đao va chạm nhau, tiếng pháo nổ vang một vùng trời, hết nổi lên rồi lại lắng xuống một thời gian.

Tuy rắc rối và đau khổ đến thế, ấy vậy lại có hai con người không màng sự đời đang ngồi thư thả đánh cờ, với những tiếng thở dài sườn sượt của nhân gian.

Hoàng đế di chuyển quân cờ, tạo một bàn cờ thế cuộc mới.

Ngài hớp một ngụm trà rồi mới từ tốn lên tiếng:

"Chân nàng không còn đau nữa chứ?"

Tôi giật mình ngẩng mặt lên, sau đó vội cúi gằm mặt xuống như thể vừa bị người khác phát hiện đang làm chuyện vụng trộm nào đó.

"Đỡ hơn lần trước nhiều rồi.

Độ vài ngày nữa chắc khỏi cả thôi."

Ngài nhìn tôi bằng ánh mắt nửa tin nửa ngờ, nom có vẻ chưa tin tôi lắm, song vẫn gật đầu cho qua.

Tôi lén đưa mắt nhìn biểu cảm trên mặt người nọ, vuốt ngực thở phào nhẹ nhõm.

Mọi chuyện coi như trót lọt thành công.

Trong lúc đợi tôi ngồi suy tính mưu kế cho nước đi tiếp theo, ngài bình thản nhìn quanh một lượt trong cung.

Dường như đã quá lâu hoàng đế không ghé đây, nên có lẽ một phần kí ức đã bị bay màu sạch sành sanh sau vài ba trận chiến khá là... cam go và gay gắt?

Một chiếc bàn gỗ kê gần giường ngủ, trên bàn là chiếc gương đồng, mặt sau chạm trổ đẹp mắt.

Rồi thì có cả mấy xâu hạc giấy được cột trên thanh cửa sổ - nó là một tuyệt tác của tôi trong lúc rỗi – và tôi còn chẳng nhớ bản thân kiếm đâu ra nhiều giấy để xếp nữa.

Ngoài chừng ấy ra thì tài sản tôi có chả còn gì khác, ngoại trừ tờ giấy viết dở đôi ba chữ lằng nhằng, trông cứ như gà bới và thanh sáo trúc mà cậu út tặng tôi từ năm nào.

"Ta để ý thấy nàng đặt xấp giấy ở trong góc từ lâu," Vừa nói, ngài vừa trỏ tay vào một chồng giấy được để ngay ngắn ở một xó xỉnh.

"Nàng viết gì trong đó vậy?"

"Chỉ là vài ba con chữ ít ỏi thôi, ngài quan tâm làm gì chứ," Tôi cố lảng đi chỗ khác bằng việc lái nó sang chủ đề tiếp theo.

"Mấy nay không thấy ngài qua chơi.

Bộ có chuyện gì cần nói..."

Người nọ tằng hắng cắt ngang lời, lườm tôi một cái lạnh sống lưng.

Theo thói quen, tôi đánh mắt một vòng để tìm kiếm Thanh Chi, nhưng lại quên mất rằng con bé ra ngoài chờ để hai chúng tôi có thể thoải mái trò chuyện.

Chỉ có thái giám của ngài đứng lui một góc để chờ đợi, còn lại không còn ai khác.

Chèn đét ơi.

Sao lúc quan trọng lại không thấy bóng dáng con bé đâu nhỉ?

Tôi vội vàng cúi mặt, thôi không tiếp tục câu nói còn dang dở nữa.

Ngài điềm đạm nhấc một quân cờ lên, thong dong nhìn ngắm nó chốc lát rồi hạ xuống.

"Nô tì của nàng không có ở đây đâu, tìm kiếm cũng vô ích."

Đoạn, ngài chống cằm nhìn tôi, đôi mày bất giác cau lại.

Bàn tay kia chìa ra, ngừng lại trong không trung, sau đó hạ cánh bằng một cú búng trán đau thấu trời.

"Không định trả lời ta sao, Nhật Hạ.

Nàng viết chuyện đại sự gì trong đó mà không cho ta coi vậy?"

"Không có chuyện đại sự gì sất.

Tôi...

Tôi chỉ viết thơ, với cả... chữ."

Tôi có thể cảm nhận nội tâm đang hứng một dòng chảy xiết vô cùng, khó điều khiển cho nó chảy chậm và điều hòa lại.

Tôi có một tật xấu, đó là những lúc ngượng ngịu hay mất bình tĩnh là đúng y như rằng tôi không thể kiểm soát được những gì mình sắp nói – thằng Thiên hay nhận xét tôi như vậy.

Bình tĩnh và hít vào một hơi thật sâu, cố sắp xếp mớ hỗn độn trong đầu sang một bên.

Giờ thì mọi thứ ổn hơn nhiều, tôi nghĩ nhịp tim của mình cũng dần trở về ngưỡng bình thường như ban đầu.

Hoàng đế gật đầu, chưa vội lên tiếng ngay mà mím môi nhìn tôi để động viên như thể ngài ấy đang ra hiệu: "Cứ nói tiếp đi, ta nghe."

Thấy ánh mắt vững vàng của ai kia đang nhìn chằm chằm vào mình, tôi quyết định đánh liều một canh bạc.

"Chỉ có thế thôi.

Nếu ngài không chê cười thì tôi rất sẵn lòng cho ngài xem."

Ngài chỉ nhún vai, hờ hững đáp lại: "Vạn sự tùy nàng, ta không có ý kiến gì."

Dường như hiểu ý chủ nhân, tên thái giám nhanh tay đến gần xấp giấy, lấy một vài tờ trên cùng, sau đó bước đến đưa ngài.

Người nọ bình thản cầm xấp giấy đó trên tay, vừa đọc vừa tranh thủ hớp lấy vài ba ngụm trà.

Giống như bị ai đấy thúc giục phải nói, tôi nhanh miệng phụ trợ thêm:

"Đấy... tôi viết lâu rồi.

Từ tận năm trước cơ."

"Còn cái đó tôi mới viết mấy tháng trước."

"Cái này... là tôi vừa viết cách đây vài ngày."

Tôi lí nhí trong miệng khi thấy ngài đang xem qua tờ giấy tôi tự viết tên bản thân vào.

Ấy chết, tờ đó tôi viết bị sai chữ 'hạ' (夏) thành chữ 'hạ' (賀) mà vẫn chưa có thời gian để sửa lại chúng, nay lại bị ngài xem trong sự tuyệt vọng chưa từng thấy.

Tưởng chừng ngài sẽ bật cười để chọc quê vốn chữ nghĩa ít ỏi của tôi, nhưng không, ngài không chọc gì hết, chỉ xem sơ qua vài tờ rồi mỉm cười một mình đầy tự hào.

Đoạn, ngài đặt nhẹ xấp giấy lên bàn cờ, trỏ vào chữ "hạ" sai bét nhè trên giấy.

"Chữ này nàng viết sai rồi."

Ngài lật ngửa lòng bàn tay tôi lên, viết những đường nét đầy điêu luyện.

"Phải viết như vậy mới đúng."

Tôi ngơ ngác nhìn người nọ, thấy não mình đang cần phải tiếp nhận một lượng lớn thông tin từ bên ngoài vào.

Chung quy lại thì chữ đó viết như nào cơ?

Mặc dù tôi biết viết được chút đỉnh, nhưng không có nghĩa là viết trên tay như thế là tôi nhận diện được liền đâu nhé.

Viết trong hư vô thế này thì mấy tay mơ hồ như tôi còn lâu mới đoán trúng phóc được.

Trông cái mặt ngu ngu đần đần của tôi, hoàng đế thở dài bất lực, rút tay lại, làm bộ làm tịch lấy lại dáng vẻ nghiêm chỉnh.

Tôi cũng giấu nhẹm tay xuống lớp vải dày, tằng hắng vài cái để bầu không khí bớt ngượng ngùng đôi chút.

Càng giả vờ, tôi càng thấy nó cứng nhắc và thiếu tự nhiên hơn.

Làm như mọi thứ lại không được trùng khớp với những gì tôi mong muốn.

"Viết được là tốt rồi, ta không chê nàng cái gì đâu," Ngài xoa đầu tôi, cố gắng phá vỡ khoảng cách vô hình giữa hai người.

"Thế này là giỏi lắm."

Một cái xoa đầu bình thường như bao ngày, một thói quen của cả hai chúng tôi, sao nay lại khiến tim tôi cảm nhận được sự ấm áp từ người đối diện vậy nhỉ.

Không phải cái nắm tay, cũng không phải cái ôm hay cái vỗ về âu yếm như thường ngày.

Do đã lâu ngài chưa xoa đầu tôi, hay do tôi dễ rung động với những điều nhỏ nhặt nhất?

Thoáng chốc, trong một phút vô tình, tôi bắt gặp được ánh mắt dịu dàng kia đang nhìn ngọc bội đầy hoài niệm.

Mảng xanh tươi mát, dễ làm người ta liên tưởng đến bầu trời, nổi bật hẳn lên trong đôi mắt thăm thẳm.

Ngọc bội này giờ đã thành vật bất li thân, đã thế lại là vật quý giá với tôi.

Nhỡ làm mất hay thiệt hại gì đó, cho dù có lấy sinh mạng rác rưởi này để chuộc tội thì cũng khó lòng xoay chuyển tình thế.

Nước trà trong chung nguội lạnh, bàn cờ chưa phân thắng bại, cuộc vui chưa tàn mà người đã vội rời đi.

Hoàng đế uy nghiêm đứng dậy, chắp tay ra sau rồi cất từng bước nặng trĩu rời khỏi cung.

Thái giám cẩn trọng cúi người hành lễ chào tôi một cái, sau đó cũng cun cút bước theo ngài mà không nói lời nào.

Bên ngoài, nắng phủ một lớp vàng nghệ vào không trung, tạo nên phong cảnh hữu tình chưa từng thấy.

Nhưng tôi không được thưởng thức trọn vẹn cái nắng ấy, bóng lưng to lớn của ai đó đã che khuất tầm nhìn đằng xa của tôi rồi.

Quỷ quái thật...

Người đi, để lại nơi đây một con người bận hoài thương những kỉ niệm đẹp trong quá khứ đã bị vùi lấp.

Để rồi nếu nàng không chịu thưởng thức chúng, thì sớm muộn nó cũng sẽ biến mất, hòa mình cùng với tro tàn và khói lửa.

"Ta về.

Lần sau ta đến thăm nàng."

Lần sau...

Sẽ không có lần sau đâu.

----------------------------------------------

▪ Lời chào từ tác giả:

- Lời mình muốn nói trước tiên chính là lời xin lỗi vì đã ra chương chậm mất mấy tháng như thế này.

Đã để mọi người đợi lâu, có khi là một thời gian lâu ơi là lâu, chỉ để có chương mới đọc nối tiếp chương trước.

- Nguyên nhân ra chương chậm không phải là do mình mất cảm hứng với truyện, bí ý tưởng,... các thứ đâu, mà là do năm nay mình cuối cấp rồi, bài vở một ngày coi bộ nó nhiều hơn năm trước lắm=) Với cả trước khi thi tuyển sinh thì mình có hai kì thi HSG quan trọng ở trước mắt nên mình vẫn ưu tiên việc học trước, nên chương này nó tận tháng Mười Một mới được ra là thế.

- Với cả các mốc thời gian tiếp theo của truyện nó liên quan đến những trận đánh lớn, mà mình nhát tay ghê, kiến thức vẫn chưa đủ vững để viết tiếp nên cần thời gian ngồi xem tư liệu với suy nghĩ xem lúc đó nên viết thế nào cho đúng.

Chứ lỡ viết sai một li là chắc chắn sẽ bị bế đi mất=))

- Chỉ vậy thôi, cảm ơn các bạn độc giả đã kiên trì nhẫn nại chờ đợi chương mới.

Đồng thời mình cũng cảm ơn các bạn độc giả mới đã tìm đến và tin tưởng khi đọc truyện của mình.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Trở Về Thời Tây Sơn
74. Cõi Nam chấn động


Tháng Ba, năm Thái Đức thứ sáu [1784].

Thời tiết đã vào cuối xuân, sắp sửa sang hè, tiết trời trở nên dịu lại.

Không còn cái cảm giác se lạnh vào đêm tối muộn mằn nữa, mà giờ đây chúng bị thay thế bởi cái nắng bắt đầu gay gắt hơn trước, và những cơn gió có thể sẽ khiến người ta có cảm tưởng như đang đứng cạnh lò lửa.

Chí ít ra thì thời khắc giao mùa này vẫn dễ chịu hơn khi từ mùa thu sang mùa đông với cơn lạnh cắt da cắt thịt ấy.

Tuyệt nhỉ, thế là từ đây tôi không cần phải cam chịu cảnh vùi mình trong chăn ấm nữa rồi!

Nhân tiện, quanh đi ngoảnh lại cũng thấm thoát sáu năm trôi qua, cậu thái tử bé tí ngày nào giờ đã lớn nhanh như thổi.

Từ một đứa nhóc lên ba tôi gặp năm Mậu Tuất đến cậu nhóc chín tuổi hay thích đánh đố tôi mấy câu lặt vặt, tính cách giống hệt y như ngài vậy.

Nhờ quan sát sự lớn lên từng ngày của cậu mà tôi mới nhận ra rằng thời gian quanh mình lại mau mau chóng chóng đến thế, chưa gì tôi đã ba mươi tư tuổi, trở thành một người lớn chính hiệu và bắt đầu có những kinh nghiệm sống khá là để đời.

Trước mặt tôi, một cậu bé đang ngồi thư thái, điệu bộ nghiêm túc hiển hiện trên gương mặt non nớt búng ra sữa kia thật không hợp với cậu.

Ánh mắt đó đăm chiêu nhìn quanh một lượt vị trí của những quân cờ trên bàn cờ, rồi mới chậm rãi nhấc con cờ lên mà đi, lặng lẽ đánh Tốt qua sông.

Ài, bây giờ nếu đem trình chơi cờ của tôi mà đem so sánh với con trai ngài, thiệt tình mà nói thì tôi đấu không lại cậu đâu.

"Ai dạy cháu chơi cờ vậy," Tôi thở dài sườn sượt mỗi khi nghĩ đến chuyện ấy, sau đó miễn cưỡng cầm quân cờ lên mà đi nước tiếp theo.

"Bảo chơi còn giỏi hơn cả cô nữa."

Thằng bé trước giờ chưa từng nghe tôi mở mồm ra khen lấy một câu, nay được khen nên khoái lắm, cười tít mắt suốt.

Ôi dào, trẻ con mà, đứa nào mà chả thích được người lớn khen cơ chứ, cả tôi ngày nhỏ cũng không khác là bao.

Sau khi tự mãn với lời khen vặt vãnh đó thì cậu cũng lễ phép đáp lời: "Một phần là do chính tay phò mã dạy bảo, phần còn lại là cha cháu dạy cho cháu ạ.

Xuân phong hóa vũ (1), cháu chơi được như thế, âu cũng là lẽ thường tình."

Tôi cười trừ, quay ngoắt sang một bên mà lẩm bẩm, biểu cảm trên mặt thay đổi hẳn một góc ba trăm sáu mươi độ: "Này mà gọi là chuyện thường đó hả?

Đến cả con nít cũng biết chơi, riêng mình lại không, khác gì đang thua một đứa nhỏ."

Đoạn, tôi chống cằm nhìn Bảo, cố gắng tìm những điểm thay đổi về ngoại hình của cậu nhóc sau sáu năm dài đằng đẵng tôi không gặp cậu.

Nếu nói cậu có thay đổi thì cũng không đổi thay mấy, bởi gương mặt và đôi mắt vẫn giống ngài y xì như đúc, chỉ có vóc dáng là khác hẳn.

Chắc do được phò mã Trương Văn Đa dạy võ từ nhỏ nên nhóc đây có hơi cao so với những đứa trẻ bằng tuổi - nhưng lại cách nhau về độ dài quá khứ.

Dám chừng đến năm cậu trưởng thành rồi lại trở thành thanh niên trai tráng sức dài vai rộng giống ngài khi xưa thì sao nhỉ?

"Thi thoảng cô hay bắt gặp cháu luyện võ ngoài sân," Tôi bắt đầu liên tưởng đến hai người, nhìn thằng bé đang ậm ự suy tính nước đi.

"Coi bộ cha cháu tìm đúng người để dạy cho nhóc Bảo đây rồi đó.

Phò mã nghiêm túc đến nỗi cô còn không dám gọi cháu một tiếng mỗi khi gặp.

Chẳng qua cô sợ phải đối mặt với vô vàn những lời chất vấn khó trả lời thôi."

"Sao cô lại không dám chứ?"

Nguyễn Bảo thắc mắc, đôi mày có hơi cau lại.

Ông cha có câu 'cha nào con nấy', bởi khi nhìn cậu nhíu mày tôi lại nghĩ đến ngài năm xưa, bày mưu nghịch ngợm cái gì đó là ngài đều cau mày tỏ vẻ không đồng tình.

Thế nên có thể nói cậu nhóc đây là bản sao thu nhỏ của ngài cũng nên.

Mới chín tuổi mà đã tò mò hỏi nhiều như vậy rồi, cũng biết hỏi mấy câu làm khó người khác, đúng là thiên tư thằng bé sáng suốt hơn người.

Có được đứa con như này thì ngài không cần phải đau đầu tính chuyện kế vị ngôi vua sau này nữa.

Cơ mà...

Đó là viễn cảnh tốt đẹp tôi tự vạch ra.

Chứ đúng như những gì lịch sử đã định thì tất nhiên, không có những chiều hướng tích cực đấy, vĩnh viễn không có.

Nói ghét mà ngoài mặt lại thân thiện thì bị nói là thảo mai, nói không sợ thì lại bị cho là nói dối, đằng nào tôi cũng tự chui vào ngõ cụt cả.

Tôi đành cười trừ, phẩy phẩy tay cho qua chuyện, muốn giấu cậu đáp án mãi-mãi-không-được-tìm-ra.

"Thì...

Thôi nói chung mọi chuyện dông dài lằng nhằng lắm, cô không tiện kể.

Mà có kể thì cháu nghe không hiểu rõ ngọn ngành đâu."

Nghe đến đây, cậu thái tử thở dài, mọi hi vọng xen lẫn hứng thú trong người đều tan biến.

Còn tôi, sau khi lắt léo khỏi tình huống khó nhằn nhất thì tủm tỉm cười như vừa lập được chiến công.

Những giây phút tiếp theo sau đó, cậu chỉ lẳng lặng xem tôi đánh cờ, nét mặt tuy buồn rầu là thế nhưng thói năng nổ trò chuyện vẫn chưa bỏ được.

Đúng là trẻ con, có giận có hờn đến đâu thì vài phút sau vẫn quay sang cười nói như thường, thậm chí là cười rõ tươi như thể trước đó chúng nó chưa giận ai bao giờ.

Thế nhưng, bánh răng lịch sử lại không cho cậu giữ nét hồn nhiên đó mãi.

Tôi hay thích ngồi nghiền ngẫm tổng thể một triều đại hoặc một cuộc kháng chiến rồi rút ra kết luận chung, vì sao thắng, thua và vì sao lại sụp đổ.

Cậu nhóc ngồi trước mặt tôi đây, sau mười bốn năm nữa sẽ lãnh "tam ban triều điển" (1) do chính người em họ mình ban ra - tức Cảnh Thịnh đế Nguyễn Quang Toản - trước khi kịp lấy lại cơ đồ sự nghiệp của ngài đã bị vụt mất.

Mười bốn năm, tưởng chừng là một khoảng thời gian dài vô tận, nhưng lại trôi qua rất nhanh khi người ta không để ý đến nó.

*

Anh Thiên rất thích viết thư tay.

Không những vậy, cậu ấy còn hay làm quà để nhét vào trong tay tôi mỗi khi sắp phải vào lớp vội.

Cậu ta siêng viết lắm, siêng hơn cả tôi, không biết ý tưởng đâu mà cậu lại viết chăm thế nhỉ?

Dù ngày đó là một ngày bình thường hay dịp lễ quan trọng, chỉ cần hai đứa gặp mặt nhau thì chắc chắn cậu sẽ dúi vào tay tôi một bức thư, kèm vài món lặt vặt chẳng hạn.

Có tìm đủ lí do lí trấu để từ chối đến mấy thì cậu cũng ậm ừ cho qua chuyện, để rồi sang hôm sau mọi chuyện đâu lại vào đấy.

Với cái thế giới đầy đủ các cách để con người có thể trò chuyện, gặp mặt nhau thông qua chiếc điện thoại thông minh như này thì cậu lại chọn viết thư cho tôi.

Những ngày khác, chúng tôi vẫn liên lạc cho nhau bằng điện thoại, nhưng chẳng hiểu sao Anh Thiên lại muốn làm cái trò tốn công tốn sức như vậy.

Cậu bảo cậu muốn mấy lời thương lời nhớ đó được khắc ghi vào giấy, được cất giữ thật kĩ càng để sau này có thể lấy ra xem lại.

Tôi nhớ có một lần tôi dùng thì giờ rỗi của mình để xem lại những bức thư tay cậu từng gửi cho tôi từ dạo năm lớp Chín đến giờ, đếm sơ qua cũng phải hơn trăm bức.

Những lá thư ấy tôi đều cẩn thận bỏ chúng vào trong một cái hộp nhỏ, không những thư mà tôi còn bỏ cả những món cậu tặng tôi vào trong đó.

Phải công nhận là chữ cậu ta đẹp lắm, không giống như bao con chữ ngoằn ngoèo như gà bới của mấy đứa con trai khác, nếu không nói đây là chữ của con trai thì hẳn người khác sẽ nghĩ đây là chữ của con gái.

Trước mắt tôi là vô vàn trang giấy với hàng chữ thẳng tắp, lời tựa mở đầu của mỗi bức thư đều như nhau, đều bắt đầu bằng dòng chữ: "Nhật Hạ, bạn nhỏ của tôi." và kết thúc bằng: "Thiên, bạn lớn của cậu."

Dào ôi, sao lại đáng yêu thế này vậy chứ!

Tôi chọn ngẫu nhiên một bức thư, cầm nó lên và mở ra đọc.

Nếu ngày nào tâm trạng không tốt, tôi sẽ lôi đống thư này ra, tỉ mẩn đọc hết tất cả để tự an ủi mình, sau đó lau nước mắt rồi trở về tâm trạng bình thường.

Nội dung bức thư đó như sau:

"Nhật Hạ, bạn nhỏ của tôi.

Xin lỗi cậu vì đã nghỉ học vài hôm.

Có lẽ là do lần trước tôi vừa từ ngoài nắng vào mà đã vội ngồi trong phòng máy lạnh nên dẫn tới việc thân nhiệt bị chênh lệch.

Nhưng cậu cũng đừng lo quá, tôi đã khá lên để viết thư cho cậu đây.

Lần viết này là ngoại lệ, vì tôi không tự tay đưa nó cho cậu được.

Thôi thì tôi nhờ anh Nguyên sang nhà cậu gửi, cậu nhớ để ý đợi thư về nhé.

À còn lọ sao giấy cậu kì công xếp nữa, tôi cất nó trên kệ sách, nếu được thì cậu sang đây chơi, tôi sẽ cho cậu thấy phòng tôi tràn ngập quà do cậu làm nhiều đến thế nào.

Chắc là ngày mai tôi sẽ đi học trở lại, dù gì bệnh tình của tôi không còn quá nghiêm trọng nữa đâu.

Nghỉ càng nhiều lại càng không có lợi, bởi mấy ngày tôi không có mặt trong lớp đó, thầy cô đã giảng sang nội dung xa rất xa rồi.

Viết cho cậu đến đây thôi nhỉ, lần sau tôi sẽ viết một lá thư khác dài hơn, kể cho cậu nghe những chuyện tôi đã bắt gặp trong lúc nằm ở nhà dưỡng bệnh.

Thiên, bạn lớn của cậu."

Đọc đến dòng cuối, lòng tôi có cảm giác day dứt khó tả.

Mặc cho tôi biết chuyện này đã cũ xưa, và giờ cậu đang khỏe mạnh, nhưng cớ sao lại thấy thương cậu ngay lúc đó vậy ta?

Tôi bệnh thì cậu ta cứ phải tạt ngang nhà tôi vài ba lần, hỏi mẹ tôi về tình trạng sức khỏe của tôi thường xuyên đến nỗi không đợi cậu mở miệng mà đã lên tiếng trước như một thói quen.

Còn lúc cậu bệnh thì lại giấu chẳng cho tôi biết, có ép hỏi đến mấy cũng không chịu khai.

Đặt lá thư ngay ngắn vào hộp, tôi lặng lẽ thở dài bất lực.

Mỗi ngày một bức thư, mỗi ngày một câu chuyện cậu kể, thế là quá đủ.

Anh Thiên sẽ chẳng bao giờ kể chuyện dư thừa, cậu ta chỉ thích kể mấy chuyện cậu cho là thú vị nhất thôi.

Cái tên học giỏi nhưng không thích chủ động làm quen người khác này, thiệt là...

*

Hôm nay tôi bệnh.

Tôi bệnh không vì một lí do gì hết.

Không phải đi dưới cái nắng gay gắt, không phải dầm mưa, không phải cứng đầu trước tiết trời không tốt.

Một người khỏe mạnh đột nhiên ngã bệnh, có lẽ đó là một chuyện khó tin, nhưng đôi khi chúng ta bắt buộc phải tin vào câu chuyện ấy vì không còn sự lựa chọn nào khác.

Ban sáng tôi vẫn còn tỉnh táo, chưa gặp vấn đề gì sất.

Nhưng đến lúc trưa thì đầu óc tôi nhức như búa bổ, trời đất trước mắt cứ quay vòng vòng.

Đã vậy tôi cảm nhận hai tay của mình lạnh buốt, sờ lên trán lại thấy nóng bừng.

Thường mỗi khi tôi bị sốt hay cảm lạnh gì đó thường sẽ kèm thêm hai triệu chứng trên.

Và không ngoài dự đoán của tôi, quả thật đến chiều là tôi không thể gượng sức ngồi dậy được nữa, bởi chỉ cần ngồi thôi đã muốn chao đảo đến nơi.

Giờ đây, tôi phải nằm dưỡng sức trên giường, với sự giúp đỡ từ vị hoàng đế thích tất bật lo lắng cho tôi kia.

Khi nãy Thanh Chi chạy đi gọi thái y đến, hắn ta bắt mạch chẩn đoán một lúc rồi nói rằng tôi chỉ bị cảm lạnh thôi, chỉ cần nghỉ ngơi là khỏi.

Hắn cũng không quên căn dặn con bé phải cho tôi uống thuốc như nào, phòng trừ trường hợp không may xảy ra.

"Trán nàng nóng quá," Ngài nói, đặt tay lên trán tôi mà thở dài mệt mỏi.

"Lại bệnh.

Nàng không thể giữ sức khỏe của mình an ổn tí hay sao?"

Tôi mím môi không đáp, để mặc bàn tay người nọ cứ sờ trán suốt.

Ánh sáng lờ mờ làm tôi không nhìn rõ biểu cảm trên mặt ngài lo lắng ra sao, chỉ đủ để biết được ngài đang hiện diện ở đây.

Một chậu nước ấm đặt cạnh bên với chiếc khăn nhỏ nhúng đẫm nước đang chườm trên trán tôi đây.

Bát thuốc đen ngòm, phả khói nghi ngút đặt ngay ngắn trong chiếc mâm đồng, lúc nào cũng sẵn sàng để chờ được tôi uống lấy.

Ngửi thấy mùi thuốc không mấy dễ chịu là tôi đã nhăn mặt, cau có không đồng tình.

Mà đành phải cam chịu vậy, không uống thì không được, mà uống rồi lại càng khó chịu hơn.

Do trong phòng có người bệnh nên tất cả các cửa đều được đóng kín, trừ cửa sổ là hé mở một phần để khí trời có cơ hội lọt vào.

Ngài liếc nhìn biểu cảm đáng thương trên mặt tôi, rồi nhanh chóng nhìn sang hướng khác, giả vờ nói tiếp: "Cũng may bệnh tình của nàng không quá nặng, nếu không thì ta cũng không biết làm gì với nàng đây."

"Để ngài phải cực nhọc rồi," Tôi cười trừ nhìn ngài.

"Thật ra thì tôi bệnh là chuyện không thể nói trước được, hệt như thời tiết mưa nắng thất thường.

Cho nên... mọi chuyện diễn ra như nào thì ngài biết rồi đó."

"Vậy à," Ngài trầm tư, siết nhẹ lấy tay tôi.

"Giống như ngày trước nàng bỗng nhiên bị bệnh, làm ta không biết phải xử trí như thế nào.

Giờ cũng giống hệt vậy, thật hoài niệm xiết bao."

Hoài niệm cái kiểu quái gì mà lạ lùng vậy Tôi nghĩ thầm trong bụng.

Chắc hoài niệm của ngài ở đây là được chăm sóc tôi một cách chu đáo nhất có thể, rồi cả hai đều có không gian riêng mà bộc bạch hết thầm kín trong lòng.

Thậm chí mình còn không muốn phải 'hoài niệm' theo cách quái dị này đâu.

Nhưng thật may ngài không để ý đến gương mặt bất mãn của tôi, chỉ bận ngơ ngẩn nhìn về một nơi xa xăm.

Tay ngài đặt nhẹ lên mu bàn tay tôi, thỉnh thoảng vỗ nhè nhẹ vài cái, dường như ngài muốn dỗ dành tôi ngủ cho đỡ mệt.

Không được nhìn thấy thế giới bên ngoài nên tôi không thể nào đoán được bây giờ đã là sáng, xế trưa hay xẩm tối.

Chỉ biết bản thân mình đã ngủ cũng khá lâu, toàn thân bắt đầu thấy đau nhức đến phát điên.

Tính cái tuổi tôi ở quá khứ cũng ngót nghét được hơn ba mươi, nhưng cái lưng chả khác gì một cụ bà tuổi xế chiều.

"Nhật Hạ," Hoàng đế ngước xuống nhìn tôi.

"Đến giờ uống thuốc rồi.

Ta có dặn bọn họ đem cháo lên cho nàng, chốc nữa nhớ nghỉ ngơi, đừng làm gì quá sức."

"Thuốc," Tôi nhăn mặt nhăn mày, nhìn bát thuốc trên tay ngài bằng vẻ xa lánh.

"Tôi không uống đâu, ngài cất nó sang một bên đi.

Không uống tôi cũng tự hết bệnh mà, tại sao..."

"Không uống thì sao ta có thể yên tâm để nàng ở đây, giao phó mọi chuyện cho thái y với thị nữ trông nom được," Ngài trông thấy tôi dở chứng không uống thuốc cũng xiêu lòng, dịu giọng đi đôi chút: "Ta từng nói nàng thế nào, lương dược khổ khấu, thuốc càng đắng mới càng trị được bệnh."

Nghe đến đây, biết mình không còn đường lui, tôi chỉ đành ngoan ngoãn mà ép buộc cơ thể chứa đựng thứ thuốc có mùi vị ghê ghê.

Ngài thấy vậy thì tiện tay đưa bát thuốc, lẳng lặng chờ đợi tôi một hơi hết cạn bát.

Thật ra thì không ực một hơi liền được đâu, phải qua hai đợt uống tôi mới nuốt được đống thuốc đen ngòm kia, mỗi đợt phải dừng lại khoảng chừng mười giây để lấy lại tinh thần.

Thật là những kỉ niệm kinh hoàng.

Tôi mà trở về với hiện tại rồi chắc chắn sẽ không thèm nhớ tới việc bị ép buộc phải nuốt thứ thuốc đó đâu.

Uống xong, tôi co gối ngồi trên giường, trùm chăn lại rồi ngồi lui ra một góc, chán chường hỏi: "Tôi uống rồi đấy.

Như vậy đã đúng ý ngài chưa?"

"Được rồi," Ngài gật đầu hài lòng, định vươn tay ra xoa đầu tôi để tán thưởng, nhưng trong thoáng chốc lại rút tay về.

"Có gì bất trắc phải sai người đi báo cho ta hay, đừng tự giấu giếm tất cả."

Gì mà "Đừng tự giấu giếm tất cả." chứ, tôi đã giấu ngài chuyện gì đâu nhỉ.

Bất kể là mấy rắc rối tôi vô tình tạo phải đi chăng thì sớm muộn tôi cũng tự khai ra tuốt, kể cả chuyện sức khỏe tôi không được ổn.

Cứ như thể nguồn cơn mọi chuyện đều do tôi mà ra vậy.

Tôi thở dài, trả lời qua loa cho hết chuyện với vẻ mệt mỏi để còn mau mau chóng chóng ngả lưng xuống giường, phủ tấm chăn thật kín rồi đánh một giấc thật ngon, chứ không phải ngồi đây cho ngài chất vấn.

Giữa tôi của năm ba mươi tư tuổi với một tôi năm mười sáu tuổi là sự khác biệt hoàn toàn lớn, chênh lệch nhau hẳn cả khúc, thế nên ba cái tính xấu lặt vặt tôi đã bỏ nó đi từ đời nào.

Ai đó trả lại sự bình yên cho tôi đi.

"Ta về nhé?"

Hoàng đế đứng dậy, đi được vài bước, sau đó ngoái đầu nhìn tôi như thể chờ xem tôi còn nguyện vọng nào muốn nói nữa hay không.

Tôi chần chừ muốn nói điều gì đó, nhưng cuối cùng lại thôi, trỏ tay lên trán ra hiệu, nghiêng đầu mỉm cười ẩn ý.

Ngài cau mày tò mò, cố giải mã ngôn ngữ hình thể khó hiểu của tôi.

Bốn mắt nhìn nhau, mãi không ai chịu lên tiếng trước, cứ nghĩ người kia rồi sẽ đáp lời cho nên cả hai chưa ai chịu cạy miệng ra cả.

Không gian bốn bề lại chìm trong thinh lặng.

Sau năm Bính Thân được ngài tặng cho vòng cổ và "nụ hôn" để đời đến giờ, tôi muốn tái hiện lại khoảnh khắc đó xem ngài còn nhớ những gì đã từng làm trong năm ấy hay không.

Và tất nhiên, lí trí của tôi lại chia làm hai phe, một bên ra sức khuyến khích tôi, bên còn lại thì ngăn cản, bởi ngần ấy năm rồi, làm gì còn ai nhớ rõ việc họ làm vào năm nảo năm nao.

Cửa chính vẫn chưa mở, tia sáng nhỏ nhoi từ phía cửa sổ không đủ để thắp sáng cung điện.

Ánh nến cháy lay lắt một cách yếu ớt, và tôi dám chừng nó sẽ chẳng thể trụ nổi qua mấy canh giờ nữa - nếu như ai đó không vào thắp một ngọn nến mới để duy trì đủ độ sáng.

Cuối cùng ngài đành hỏi: "Nàng thấy khó chịu trong người à?"

"Không phải," Tôi lắc đầu.

"Thuốc đã uống rồi, sao còn khó chịu nữa chứ.

Ngài đoán lại đi."

Hoàng đế ngẩn người một lúc lâu, cố gắng nhớ về một kỉ niệm xa xăm rồi nhếch miệng cười thích thú.

À, hóa ra là muốn như thế, nhưng không chịu cạy miệng ra nói cho tròn vành rõ nghĩa đây mà.

Đúng là chỉ cần cả hai có thể hiểu được nhau qua thần giao cách cảm là chuyện gì cũng đoán được sất.

Biết người nọ đã đoán được phần nào, tôi chìa tay ra phía trước, với hi vọng được bàn tay từ ai kia nắm lại.

Ngài từ tốn tiến đến, vén mớ tóc mai ra sau tai, sau đó cẩn thận ngắm nghía tôi.

Cơn nhức đầu nhẹ lướt qua, nhưng không còn giày vò tôi nhiều như trước, coi bộ thuốc đã phát huy đúng tác dụng của nó.

Ngài nắm lấy tay tôi, dịu dàng bảo: "Ta hiểu ý nàng rồi."

Đoạn, ngài cúi xuống, đặt một nụ hôn trên trán tôi.

Mọi động tác đó hết thảy đều nhẹ nhàng, không gấp gáp cũng chẳng vội vàng gì.

Tôi len lén ngước mắt lên nhìn, định ngắm trộm đối phương giây lát, ai ngờ bị người ta nhìn lại.

Thế là tôi bèn giả vờ nhắm mắt, cố lảng tránh cái nhìn kia, cố không nhớ hoài nhớ hủy về ánh mắt ấy, nhưng não tôi nào có nghe lời đâu.

Cho đến khi ngài ngẩng mặt lên, tôi có cảm giác trong lòng mình dấy lên một cơn gió to dữ dội, kèm với đó là mặt hồ gợn sóng nhiều hơn mọi khi.

Một hành động thân thương khó tả, lại gợi nên một cảm xúc kì lạ, vừa bồi hồi vừa ngỡ ngàng, bối rối.

Đây không phải là lần đầu tiên tôi ngượng nghịu khi ở cạnh ngài, song lần này quả thật lúng túng quá.

"Ta nhớ nàng, thật sự rất nhớ nàng," Người nọ thì thầm, chỉnh trang ngoại hình cho tôi sao ưa nhìn hết mức có thể.

"Lần sau ta lại sang chơi tiếp.

Nàng nhớ nằm dưỡng bệnh, khi nào khỏe rồi hẵng ra ngoài."

"Ta không muốn nàng bị bệnh."

Đoạn, hoàng đế quay lưng, nhẹ nhàng cất gót rời đi, bỏ lại tôi một mình ngồi chơ vơ bên cạnh ánh nến đang ngày một tàn.

Bóng lưng to lớn đó mãi chẳng thay đổi tẹo nào, mười mấy năm nay vẫn vậy.

Ngẩn ngơ nhìn trời đất một khắc thôi mà ngài đã biến mất từ đời nào chẳng hay, chỉ còn cánh cửa được mở với hàng vạn ánh sáng cùng âm thanh của thế giới bên ngoài.

Thế ra, trên đời này vẫn tồn tại dạng người lúc nào cũng nhớ đến những chi tiết nhỏ nhặt nhất của hoài ức đẹp khi chỉ có hai người.

Vậy mà tôi lại cứ ngỡ người ta có thể dễ dàng quên đi chỉ vì những bận rộn và áp lực mà cuộc sống đem đến, chỉ nhớ khi có người gợi nhắc đến nó.

Đến cả lẽ thường tình họ còn quên, huống hồ chi ba cái điều lặt vặt đó chả là cái thá gì.

Phận là hai người không cùng thời điểm, nhưng lại có những nét tương đồng đến mức đáng sợ.

*

Tháng Bảy, năm Giáp Thìn.

Ngoài biển khơi, những chiếc thuyền được gió thổi căng phồng cánh buồm đang âm thầm tiếp cận Đại Việt.

Bọn chúng không phải thuyền của nước ta - tất nhiên là thế - nhưng một phần thành viên trên thuyền lại là người Việt.

Đó là những binh lính của Nguyễn vương Nguyễn Phúc Ánh tập hợp được, ước tính khoảng ba đến bốn vạn người.

Sóng cuồn cuộn xô vào mạn thuyền, bọt tuyết trắng xóa dần hòa mình vào nước biển.

Trời xanh không một gợn mây, làm người ta liên tưởng đến một ngày tốt lành, đầy may mắn...

Thủy quân Xiêm La tiến vào đất Rạch Giá, thế mạnh như chẻ tre, ào ạt vượt biển lớn đến đây.

Bọn họ không sợ gì cả, gương mặt hầm hố với quyết tâm bừng cháy phừng phực như ngọn lửa, khó lòng nào dập tắt được.

Ba trăm chiến thuyền với năm vạn quân hùng dũng cả thảy lính trên bộ, đó là tất cả những gì họ có.

Ngoài ra, vua Xiêm là Rama I còn cử Chiêu Tăng, Chiêu Sương làm tướng tiên phong, càng gia tăng thêm sức mạnh của đội quân "không mời mà đến".

Với tình thế thắng thua chưa phân định được, không ai biết tương lai trước mắt kết cục của chính bản thân mình ra sao, vận mệnh đất nước hiện tại như đang nằm trên bàn cân.

Chỉ cần chênh lệch chút ít thôi là kết quả đã khác xa nhiều rồi.

Rất nhanh chóng, bọn họ đã chiếm được Rạch Giá, tiến đánh quân Tây Sơn dưới trướng Đô đốc Nguyễn Hóa ở Trấn Giang.

Mục tiêu của họ là chiếm được Ba Thắc, Trà Ôn, Sa Đéc, Mân Thít, sau đó mới đánh ngược lên Gia Định.

Sau khi chiếm được các miền ấy một cách dễ dàng, quân Xiêm cắt một toán quân chia nhau canh giữ.

Hay tin quân Xiêm vào Đại Việt bắt đầu chiếm đóng, phò mã của vua Thái Đức là Trương Văn Đa đem quân từ Gia Định xuống Long Hồ cố thủ, mặt khác viết thư sai Đặng Văn Trấn về Quy Nhơn cấp báo.

Quân Xiêm ỷ thế đông quân nên đi đến đâu cướp bóc, hãm hại đàn bà con gái, giết người cướp của đến đấy.

Nguyễn vương Nguyễn Phúc Ánh dù cảm thấy bất bình nhưng vẫn không thể làm gì hơn ngoài chứng kiến cảnh ấy trong im lặng.

...

Thành Hoàng đế.

Buổi thiết triều hôm nay căng thẳng hơn mọi khi.

Bá quan trong triều không ai dám nói một lời, cũng chẳng ai dám thưa gì, dẫu rằng tình hình thế sự còn cam go hơn thế.

Đến cả Tiết chế Nguyễn Lữ ngồi cạnh bên vua mà cũng chỉ biết lặng thinh, đưa mắt nhìn các quan văn quan võ ngồi chầu bên dưới, chờ cho hết buổi chầu rồi ra về.

Vua Thái Đức ngồi trên ngai cao, rũ mắt nhìn khung cảnh bên ngoài thềm.

Từ cái ngày lập nên triều đại này đến giờ, kế hoạch vỗ về trăm họ của ngài chưa thể thực hiện một cách hoàn chỉnh.

Cứ hết cuộc chiến này đến cuộc chiến nọ, nhiều lần ngài phải cử tướng đi dẹp loạn, và đôi khi cả chính bản thân ngài còn thân chinh ra trận nữa kia mà.

Xét ra, nếu muốn chấm dứt cảnh đầu rơi máu chảy, các thế lực liên tiếp nổi lên đòi lại quyền lực này, e vẫn còn rất xa để có được bốn chữ "thái bình thịnh thế" đúng như mong đợi.

Lúc hoàng đế chuẩn bị cho tan chầu thì bỗng có Đô úy Đặng Văn Trấn chạy đến, quỳ gối hành lễ, rồi kính cẩn đưa cho ngài tấm thư được bao bọc rất kĩ, nói: "Bẩm thánh thượng, có thư của phò mã Trương Văn Đa gửi từ Gia Định về."

Ngài cau mày, nhận lấy bức thư từ người kia, sau đó mở nó ra xem.

Biểu cảm trên mặt ngài thoáng có sự thay đổi, lệ thuộc không ít nhiều vào nội dung bên trong.

Các quan trông thấy vậy thì liếc mắt nhìn nhau đầy ẩn ý, đoán được phần nào tình hình ở Gia Định bất ổn ra sao.

"Được rồi, ngươi mau lui ra ngoài đi."

Được lệnh, Đô úy Trấn bèn cúi đầu rồi nhanh chóng rời khỏi điện.

Khi bóng của người kia khuất sau bậc thềm, ngài mới lên tiếng, nom chừng giọng điệu không được vui cho lắm:

"Trẫm hay tin quân Xiêm La đã kéo vào nước ta, đánh chiếm được vùng Trà Ôn, Sa Đéc, có ý định dòm ngó Gia Định.

Các ngươi nghĩ thế nào?"

Không một ai ý kiến.

Họ đều cúi gằm mặt xuống, vẻ mặt cũng không dễ chịu gì cho cam.

Ngài nói tiếp: "Giờ thì trẫm cũng đã hiểu được sau khi bị quân Tây Sơn ta dí cùng đuổi tận, Nguyễn Phúc Ánh đã trốn sang Xiêm cùng bè tôi, rồi dẫn bọn chúng vào đây hòng mượn bàn tay của Xiêm La để lấy lại vương quyền."

Một vị quan ngồi bên dưới đứng dậy, nói: "Mạn phép thánh thượng, thần có cao kiến."

Ngài gật đầu không đáp, ra hiệu cho vị quan đó nói tiếp.

Ông ta dõng dạc bảo: "Tình hình nguy cấp như dầu sôi lửa bỏng, số quân của ta ở Gia Định quá ít, phò mã Trương Văn Đa cũng không thể chống cự với Xiêm La trong thời gian dài.

Dám xin thánh thượng cho quân viện trợ, cử người đi làm tướng tiên phong, như thế sẽ dễ bề trở mặt hơn."

Các quan ai nấy đều gật gù tàn thành.

Xem ra những lời lẽ này rất vừa ý ngài, lại vừa xoa dịu tình thế căng như dây đàn này.

Cuối cùng thì họ cũng có thể thấy vẻ nhàn nhã mọi khi trở về trên mặt rồng rồi.

Vua Thái Đức lên tiếng sau một hồi trầm ngâm suy nghĩ: "Vậy cử Long Nhương tướng quân cầm hai vạn quân phụng chỉ quét sạch quân Xiêm khỏi bờ cõi."

Lời vừa dứt, bá quan trong triều đều nhất mực cúi đầu tôn kính.

Buổi chầu tiếp tục duy trì thêm chốc nữa rồi kết thúc, với những kế hoạch và ý định tỉ mỉ cho những thử thách khó nhằn sắp tới.

Tháng Bảy năm Giáp Thìn - nhằm năm Thái Đức thứ sáu - cõi Nam chấn động.

Năm vạn quân Xiêm cùng ba trăm chiến thuyền tiến vào nước ta, dần dần chiếm đóng gần hết miền Tây Nam Bộ.

Bọn chúng đến giúp Nguyễn vương lấy lại cơ đồ sự nghiệp, chẳng qua là trên danh nghĩa.

Âm mưu thật sự của Xiêm La chính là dòm ngó vùng Gia Định, mở rộng lãnh thổ về hướng Nam.

Ngày khải hoàn trên miền sông nước rồi chẳng bao lâu nữa sẽ đến ngay thôi.

Tiếng pháo nổ lác đác bên sông rộn lên, kèm với đó là những chiếc thuyền của quân Xiêm cháy rực lửa, tiếng binh đao va chạm nhau không ngớt.

Vận mệnh đất nước, sớm mai này chẳng ai biết nó phồn vinh lụi tàn ra sao.

----------------------------

(1) Xuân phong hóa vũ: Tỷ dụ việc được nuôi dưỡng và giáo dục tốt nhờ vào lòng tử tế, đức ân cần của người thầy – như gió xuân thổi nhẹ, như mưa rào tưới mát cho vạn vật sinh trưởng, phát triển (Nguồn: Ngày ngày viết chữ).

(2) Tam ban triều điển: Là lệ mà hoàng đế ban cho thần tử được tự xử để giữ thể diện qua ba cách: dùng dải lụa trắng treo cổ, uống rượu độc tự tử hoặc dùng Long tuyền bảo kiếm để tự sát.

Lời chào từ tác giả:

- Hey yoo, mình đã trở lại sau một tháng ngủm lặn mất tiêu rồi đây=)) Mọi người còn nhớ chương 73 mình nói là sắp tới mình phải thi HSG nên tốc độ ra chương chậm không?

- Vâng, một tháng sau có kết quả, mình giải nhì các mom ạ=)) Mà tức cái thiếu 0.2 là nuốt được thằng giải nhất rồi 😭😭Hình như mình có duyên với giải nhì hay gì á, thi từ năm ngoái đến năm nay lần nào cũng giải nhì.

Thôi kệ, dù gì nó cũng là thành quả xứng đáng cho việc mình bỏ cả mấy tháng ngồi trong trường bồi dưỡng muốn đau cả lưng, thêm một tháng rưỡi hồi hè nữa=))

- Nói chung là, muốn khoe cho mọi người biết bạn tác giả của mọi người giỏi tới cỡ nào thôiii
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Trở Về Thời Tây Sơn
Giải đáp về tuổi tác các nhân vật


📌Lưu ý be bé xinh xinh: Do trong chính sử, một số năm sinh năm mất của các nhân vật không được thống nhất cụ thể cũng như không có tài liệu nào ghi chép rõ ràng, nên năm sinh đều phụ thuộc vào sự tính toán của tác giả.

Vui lòng KHÔNG lấy để làm tư liệu tham khảo, KHÔNG có giá trị lịch sử.

Nếu có sai sót gì thì mong các bạn góp ý.🙇

▫ Chẳng hạn như năm sinh của Trần Thị Huệ, có nguồn ghi bà sinh năm 1743, nhưng cũng có nơi không ghi chép về năm sinh của bà, tác giả chỉ dựa vào nguồn tài liệu ít ỏi đó để phỏng đoán.

Năm sinh của cô Hầu Ya Dố cũng tương tự, do không rõ thông tin mình tìm có chính xác hay không nên tác giả đã kèm thêm dấu chấm hỏi phía sau cùng, năm mất vẫn chưa xác định được rõ ràng là còn sống đến khi nhà Tây Sơn kết thúc hay đã chết từ năm 1795.

▫ Năm sinh của Nguyễn Đức và Nguyễn Lương cũng vậy, không có tài liệu nào ghi về năm sinh của hai người này, chỉ chép năm mất của họ.

Tác giả dựa vào dữ liệu trong sách Nhà Tây Sơn để ước chừng năm sinh của hai người:

"[...] bà Chánh cung họ Trần đem hai con nhỏ về sống nơi quê hương Kiên Mỹ để tiện việc hương khói cho chồng."

Nếu là con nhỏ thì độ tuổi cỡ từ bảy tuổi đến chín tuổi là cùng, mà Nguyễn Lương lại là con út nên tác giả đoán người này sinh năm 1786, còn Nguyễn Đức sinh năm 1784.

▫ Còn về năm mất của Đông Định Vương Nguyễn Lữ, các nguồn sử ghi chép cũng không giống nhau.

Có sách ghi ngài sau khi về Quy Nhơn chịu tội với vua anh thì rời đi, bốc thuốc hành đạo cho dân, rồi không rõ sống chết ra sao.

Cũng có sách ghi ngài về Quy Nhơn được vài tháng thì mất do bị bệnh đau mắt.

Để cho an toàn thì tác giả đã lựa chọn phương án đặt dấu chấm hỏi ở phần năm mất, để tỏ ý chuyện này vẫn chưa biết rõ được.

🌿Có một vài nhân vật đến giờ vẫn chưa xuất hiện, nhưng sau này sẽ được cho lên sóng.

Trước mắt cứ lên hết một dàn đi, để mốt đỡ phải làm tiếp hehee=)
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Trở Về Thời Tây Sơn
75. Khúc ca khải hoàn ở Rạch Gầm - Xoài Mút


Một khoảng trời lặng gió, một bầu trời vắng bóng mây.

Tuy hôm nay trời yên tĩnh như vậy nhưng lại mang đến cho người khác một cảm giác âm u, ngột ngạt khó tả, hệt như sắp có cơn mưa nhẹ đổ xuống vậy.

Mảng tối mảng sáng thay phiên chồng xếp lên nhau, khi thì tối tăm ở chỗ này, lúc thì sáng bảnh ở chỗ kia.

Với cái thời tiết không có nắng như này thì mấy chuyện vặt như phơi khô trà và chăn mền chiếu gối đều bị gác sang một bên, chờ cho ngày có nắng lại tiếp tục công việc đang dở dang.

Quang cảnh ảm đạm bủa vây lấy thành Hoàng đế rộng lớn.

Mái ngói đỏ nằm nghiêng nghiêng một cách buồn tẻ.

Lá cây thôi không rung động trước gió, cũng thôi rực lên sắc xanh diệp lục vốn có.

Nhưng mặc kệ tiết trời có giở chứng đến đâu, bên trong cung Từ Nhật (1) có hai con người không màng sự đời.

Một người làm quan trong triều, ăn vận giản dị với áo không thêu hoa văn cầu kì, tóc búi củ hành gọn gàng, gương mặt thanh thoát tuấn tú.

Người kia chỉ là kẻ tầm thường, không có gì trong tay, cầm kì thi họa chẳng có lấy một cái, cũng chẳng có chút uy quyền chức tước gì trong cung.

Bọn họ ngồi đánh cờ với nhau từ giờ Thìn đến quá giờ Tỵ mà vẫn chưa ai muốn rời khỏi mộng ảo để trở về với thực tại.

Ván cờ đang trong hồi căng thẳng.

Người kia thúc Mã vây Tốt, nét mặt vẫn điềm nhiên như trước.

"Xiêm La vào chiếm đóng phía Nam nước ta rồi đó, không biết chị có hay tin chưa."

Tôi gật đầu, lẳng lặng nhìn bàn cờ đại cuộc.

Ôi dào, dăm ba cái chuyện quân Xiêm bắt đầu tác oai tác oái thì tôi nào có lạ lẫm gì.

Không người này cũng có người khác thay nhau đem tin tức mới đến cho tôi thôi, nên sống ở đây không lo phải trở thành người rừng vì bị tụt hậu quá xa.

"Cậu nghĩ tôi tối cổ đến mức ấy sao," Tôi cười nhẹ, nhịp nhịp ngón tay lên con cờ.

"Quá khinh thường."

"Ta nào có dám," Tiết chế Nguyễn Lữ chỉ đáp rồi chậm rãi đưa chung trà lên hớp vài ngụm.

"Cứ ngỡ chị vẫn chưa biết, hóa ra là do có người đã nói trước cho chị nghe rồi."

Tôi ngẩng mặt lên, nhíu mày nhìn chàng.

Con người đang ngồi đánh cờ với tôi đa tài lắm hả.

Vừa biết đánh giặc, văn võ song toàn cả thảy, biết bắt mạch chẩn đoán bệnh tình rồi bốc thuốc chữa bệnh, lại vừa biết đọc thấu nội tâm người khác.

Rốt cuộc thì chàng còn bao nhiêu tài lẻ khác vẫn chưa được liệt kê ra hết vậy.

Cảnh vật bên ngoài cửa chính vẫn êm đềm như cũ, chẳng có lấy tí gió nào.

Ban trưa chỉ có được một xíu nắng nằm trải trên sân.

Bóng tẩm điện hãy còn xa lắm, và hẳn cổng thành đối với tôi giờ cứ như hạt đậu ở tít phía chân trời.

Nhìn khung cảnh tĩnh lặng, bình yên thế này, người ta nào có hay trong tương lai bọn họ sẽ phải đối mặt với những cuộc chiến ác liệt cỡ nào đâu.

Tôi thấy tình thế nguy bách liền đưa quân Xe chết thay, thở phào nhẹ nhõm khi cứu được một bàn thua trông thấy.

Chàng chỉ cười mỉm, điềm tĩnh suy nghĩ nước cờ tiếp theo, chốc chốc lại cầm chung lên uống để định hình lại tinh thần.

Coi bộ trình độ chơi cờ của tôi được nâng lên vượt bậc, ít ra vẫn còn khá khẩm hơn cái ngày tôi mới chập chững chơi nhiều.

Quả thật không uổng phí công sức của tôi mà.

Ánh mắt kia hiện lên nhiều nỗi suy tư khôn kể xiết.

Hẳn chàng đã trằn trọc suy nghĩ lắm.

Người kia lơ đễnh nhìn ra bên ngoài, ánh mắt lạc đi đôi phần.

Đoạn, chàng nói: "Phò mã Trương Văn Đa gửi thư về cấp báo xin đem quân xuống Gia Định chống đỡ."

Tôi tò mò hỏi: "Vậy ngài ấy liệu như thế nào, sẽ cho quân vào chứ?"

Tiết chế từ tốn đáp: "Quốc vận lạc long nan hiệu súy (2), thấy đất nước bị bọn giặc quấy nhiễu, há lại có thể ngồi yên nhìn chúng sang cướp nước ta?

Chị yên tâm, anh Hai đã cử anh Ba cầm hai vạn quân vào trong Nam rồi.

Nội sang năm chúng ta sẽ dẹp tan bọn chúng."

Quả nhiên cậu nhóc mới vỡ giọng của năm mười bảy với cậu chàng vừa tròn ba mươi khác nhau hẳn một trời một vực.

Nếu cậu nhóc mười bảy tuổi năm Tân Mão chỉ là một thiếu niên hãy còn mới lớn, thiên về bên võ hơn bên văn, ôn hòa hiền lành thì cậu chàng đang ngồi đánh cờ với tôi lại trầm tính, dày dặn, nhiều kinh nghiệm hơn cả.

Duy chỉ có tính tốt bụng, ưa điều thiện ấy mãi vẫn chưa phai nhòa, chí ít ra thì nó là thế.

Nghĩ đến đây, tôi chỉ biết thở dài.

Cậu em nhà Tây Sơn tam kiệt chẳng bao lâu nữa sẽ phải lên miền Thượng ở để bốc thuốc, chữa bệnh cho dân, từ đó biệt tăm chẳng thấy tung tích đâu.

Năm nay đã là năm Giáp Thìn rồi, tôi chỉ còn vỏn vẹn đúng ba năm để gặp mặt chàng, khắc ghi vào trong não những khoảnh khắc bình dị đó, sau đó thì cứ phó mặc cho dòng chảy đưa đi.

Đang chơi cờ mà chợt nhớ đến chuyện này làm tâm trạng tôi tự dưng xuống dốc hẳn, thấy từng giây từng phút trôi qua thật lãng phí xiết bao.

Trời bỗng nổi gió.

Chàng đặt quân cờ xuống, kết thúc ván cờ dai dẳng này.

Khóe miệng chàng nhếch lên, mỉm cười đắc thắng.

Còn tôi chỉ biết lắc đầu mà cười trừ, chấp nhận sự thật không thể thay đổi.

Có chơi có luyện bao lần vẫn thế thôi, tôi vẫn thua trước cái đầu cao siêu của ba anh em nhà này, chơi ván nào là thua ván đó.

Tuy thua là thế song tôi vẫn thắng ấy nhé, một phần là do ngài nhường nhịn để tôi thắng lấy một ván cho tự hào ra mặt, phần còn lại cũng nhờ ngài hướng dẫn đường đi nước bước cho.

"Sớm muộn gì tôi cũng sẽ bị tụt lại phía sau mất," Tôi đan hai tay vào nhau rồi đặt lên đùi, chép miệng tiếc nuối.

"Cậu chơi có tiến bộ hơn lần trước rồi đấy, âm mưu thâm sâu khó lường.

Có điều điệu bộ cậu trong lúc chơi vẫn như cũ, luôn bình thản, khoan thai, chẳng lấy chút nào gọi là gấp gáp cả."

"Điều binh khiển tướng cũng cần phải nhàn hạ như thế," Chàng nhịp nhịp mấy đầu ngón tay lên trên mặt bàn.

"Phận lúc nào cũng được anh Hai cử chỉ huy một toán quân, theo chân anh Ba dẹp yên một vùng, để có được chiến thắng nhất định phải có dụng kế.

Không có dụng kế thì không làm nên trò trống gì sất."

Tôi gật gù, ra chừng đã hiểu những lời chàng vừa nói.

Tuy câu từ có hơi rối rắm, khó hiểu so với người hiện đại, chí ít ra tôi đã lĩnh hội được thêm đôi phần kiến thức trong việc đánh giặc.

Tất nhiên tôi sẽ chẳng bao giờ ra trận, cũng chẳng phải đối mặt với hiểm nguy, nhưng có còn hơn không, được chỉ bảo tận tình thế này mà còn chê nữa thì đành chịu.

Sau khi thấy không còn gì để nói nữa, chàng quyết định đứng dậy ra về.

Tôi cũng không níu kéo gì, chỉ phẩy tay chào qua loa, sau đó thở dài mà ngả lưng ra sau trường kỉ.

Già rồi, xương sống cũng đau nhiều hơn rồi.

Chắc giờ cái lưng của tôi không phải tuổi xế chiều nữa, mà nó là tuổi nghỉ hưu an phận tuổi già thì có.

"Khi nào rỗi, cậu có thể qua đây bắt mạch chẩn đoán cho tôi cũng được.

Thỉnh thoảng tôi hay bị trúng gió độc lắm, gọi thái y thì phiền phức vô cùng.

Với cả... tôi muốn cậu chẩn đoán bệnh cho tôi trong thầm lặng, tại tôi không muốn ngài ấy phải vì tôi mà lo sốt vó."

Đoạn, Tiết chế quay đầu nhìn tôi, vẫy vẫy tay rồi mỉm cười trả lời: "Được, đi chuyến này xong ta sẽ qua bắt mạch cho chị."

Lời vừa dứt, bóng người đã nhanh chóng bước ra ngoài hiên, rồi khuất dần sau bậc thềm.

Tôi nhìn chàng rời đi mà lòng biết thầm những lời ấy là bất khả thi, vĩnh viễn sẽ không bao giờ có chuyện chàng đến bắt mạch cho tôi.

Những giai đoạn tiếp theo chỉ toàn chiến với chả tranh, hết đi rồi về chỉ để dẹp tất cả những "vật cản đường" trên lãnh thổ Đại Việt mênh mông này, làm gì có thì giờ rảnh mà ở đây thường xuyên đâu.

Tôi biết, nhưng lại không muốn phản kháng với cái bánh răng lịch sử đang ngày càng quay nhanh hơn.

Họ, vương triều này đang dần tiến đến ngưỡng cửa suy tàn - chỉ thoắt vài năm là đã sang một thời kì khác: Thời kì suy vong của một triều đại.

Không có một triều đại nào tồn tại mà chẳng có thời khắc sụp đổ, dù cho triều đại ấy có đạt đến thời cực thịnh đến mấy.

Mở đầu, phồn vinh và kết thúc.

Thật đáng tiếc...

*

Sóng nước lênh đênh, trăm thuyền nghiêng ngả.

Đất Gia Định là một nơi vô cùng hào nhoáng.

Từ lúc chúa Nguyễn ở Đàng Trong vẫn còn thịnh trị, nơi đây đã là một trung tâm giao thương tấp nập ở vùng đất phía Nam, cùng với Nông Nại Đại Phố, Hà Tiên và những vùng khác.

Đắm chìm trong quá khứ đầy ánh hào quang với bao phen nhộn nhịp, nhung nhúc những người là thế, nhưng giờ đây nó không thể khôi phục được tiếng tăm lừng lẫy kia.

Lòng người bề bộn, trăm mối ngổn ngang.

Hết thảy đều loạn như tơ vò, tình thế rối ren khôn kể xiết.

Người dân luôn sống trong cảnh nơm nớp lo sợ, không biết khi nào rồi sẽ tới lượt mình là nạn nhân bị dòng chảy cuốn vào đây.

Các thế lực đều nổi lên, chia ba xẻ bảy một đất nước đã phải oằn mình chịu không ít những cuộc chiến trước đó.

Cán cân phán xét vẫn đang cân bằng giữa hai bên, thắng thua chưa được phân định rõ.

Đầu bên kia đã chênh hơn một tí, và chỉ cần chút xíu yếu tố tác động từ bên ngoài nữa thôi, kết quả sẽ khác hẳn.

Đây chính là giai đoạn nan giải nhất của cả tá những chuỗi sự kiện nối đuôi nhau liên tiếp.

Làm sao có thể yên ổn đất nước được đây?

Ai sẽ đứng ra thu gom tất cả về một mối?

Câu trả lời cho câu hỏi này vẫn còn là một dấu chấm hỏi rất lớn, và ngày nhất thống sơn hà hãy còn dài.

...

Biển Đông dậy sóng.

Một chiến thuyền to đi trước dẫn đầu, phía sau là hàng tá những thuyền chiến khác lững thững đi theo.

Cờ xí đỏ căng phồng vì ngược gió, kiêu hãnh vẫy vùng trên cao.

Xung quanh họ toàn là nước, tít tắp là đường chân trời rộng vô tận, chẳng biết nơi đâu mới là điểm kết thúc của nó.

Càng đi, hai bên bờ hiện ra toàn là những bụi cây rậm rạp dày đặc không thể tưởng.

Ấy chính là nét đặc trưng điển hình của vùng sông nước.

Mặt nước gợn sóng, vỗ lăn tăn vào mạn thuyền.

Trên lầu chỉ huy, bóng người to lớn vạm vỡ, thân cao vai rộng đang lẳng lặng nhìn miền non nước, đôi mắt sáng rực lên như có tia lửa điện.

Người này mình vận áo giáp sáng loáng, thanh đại đao giắt bên thắt lưng, đầu đội mũ trụ đính hồng mao.

Bên cạnh là một vài viên tướng tháp tùng cũng mặc những bộ giáp nặng nề không kém phần, giắt vũ khí ở bên hông, ai nấy đều căng thẳng khi biết bản thân phải đối đầu với cuộc chiến cam go sắp tới.

Đoạn, Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ cất tiếng: "Xiêm La sang đây giúp đỡ Nguyễn Ánh, nhưng bọn chúng đi đến đâu cũng cướp của, giết người.

Ta đi thăm dò nhiều lần, trông thấy lòng dân oán hận đã ngút trời xanh.

Thiết nghĩ ta nên sai người đem vàng bạc, gấm vóc lụa là đến bản doanh quân Xiêm bàn việc giảng hòa, ắt chúng sẽ chủ quan mà không phòng bị.

Chỉ cần một chút sơ hở đó thôi thì thế nào ta cũng được lợi."

"Tướng quân nói chí phải."

Các tướng đồng thanh, gật đầu tỏ ý đồng tình với ý kiến sáng suốt ấy.

Cũng rõ thôi, đi đường đến nơi đâu lại thỉnh thoảng tạt ngang ở vùng đấy để cướp bóc, trấn áp, thậm chí bọn giặc còn chở đàn bà con gái đem về nước.

Lòng tham của chúng là vô đáy, nhưng nếu đem chút vàng bạc, châu báu đến cho chúng, sẵn tiện bàn bạc chuyện hòa hiếu thì sao?

Không cần nói, bọn chúng chắc chắn sẽ vui mừng ra mặt, đã thế buông bỏ cảnh giác mà lơ là không để tâm đến.

Kế giương đông kích tây, vừa đấm vừa xoa thế này dễ dàng che mắt đối phương.

Ở một nơi xa thật xa, tiếng khóc oái oăm cất lên, những giọt nước mắt bi thương của những con người rơi xuống vì thời buổi rối loạn, và vì họ bất lực đến độ chẳng biết làm gì hơn.

Nhà cửa, ruộng vườn đều đã sa vào tay giặc, hoặc là hóa thành đám lửa bùng cháy dữ dội với chút tro tàn còn âm ấm.

Nhưng cảnh bần cùng ấy chẳng kéo dài được lâu.

Ngày khải hoàn sẽ không còn xa nữa.

...

Bản doanh của quân Xiêm đặt ở Trà Tân, nằm ở phía thượng nguồn sông Tiền.

Xiêm La định bụng sẽ đánh chiếm các vùng lân cận, sau đó đánh ngược lên đến Gia Định, hoàn thành công việc chiếm đóng vùng đất phía Nam Đại Việt.

Giúp đỡ Nguyễn vương chống lại Tây Sơn chỉ thực là một lời hứa hẹn che mắt thôi, âm mưu ý đồ sâu xa còn nham hiểm hơn thế này nhiều.

Mỡ để miệng mèo, miếng mồi béo bở trước mặt to đến vậy, không nhân cơ hội này mà vớ lấy thì thật là uổng phí.

Bản doanh của quân Tây Sơn đặt ở Mỹ Tho, là một nơi có địa hình địa mạo vô cùng hiểm hóc, thiên hòa địa lợi đều hội tụ ở nơi đó cả.

Hai vị trí đặt bản doanh tuy không xa nhau là bao, nhưng để đôi bên có thể xông vào giáp chiến e là hơi khó.

Bởi để từ Trà Tân đến được Mỹ Tho thì cần đi qua một khúc sông, chưa kể trên đường đi họ có thể gặp thêm dải cù lao cùng hằng hà sa số những cây hoa lá hẹ um tùm.

Khúc sông nằm chắn giữa hai bản doanh đó chính là đoạn từ Rạch Gầm đến Xoài Mút, được Long Nhương tướng quân chọn làm nơi giao chiến sau khi đã thăm dò kĩ lưỡng.

Khúc sông này cách Mỹ Tho mười hai kilomet, dài sáu kilomet, lòng sông rộng mênh mông.

Phần sông được chọn làm trận địa quyết chiến ấy có cù lao Thới Sơn, cồn Bà Kiểu và cồn Bổn Thôn, thuận lợi cho việc đặt phục binh ở dọc hai bên cù lao.

Không chỉ có cồn và cù lao, chung quanh trận địa còn có những bụi rậm lẫn cây cỏ, có xu hướng mọc san sát với nhau.

Nói đến quân Xiêm, sau khi được tặng vàng bạc, gấm vóc thì ra chiều thích thú lắm.

Đi sang một nước, chưa kịp cất quân ra tham chiến thì lại được tặng không biết bao nhiêu là của cải đáng giá, lòng tham không đáy của chúng như được thỏa mãn một cách đầy đủ.

Đã thế trông thấy bên Tây Sơn cử người sang tận doanh trại ở Trà Tân bàn bạc chuyện hòa hoãn nữa chứ, chuyến này phần thắng thuộc về Xiêm La là cái chắc rồi.

Đêm ngày tám tháng Chạp âm lịch năm Giáp Thìn (3), Chiêu Tăng cậy thế mình đông, lại không màng những hiểm nguy rình rập, đã ra lệnh cho năm vạn quân cùng ba trăm chiến thuyền nhất tề rời khỏi doanh trại, nhằm thẳng về Mỹ Tho mà đánh.

Thuyền lấn lướt qua những cơn sóng, bọt trắng hòa vào dòng nước cuồn cuộn.

Nhìn ngắm cảnh vật vẫn đang tối sầm, Chiêu Tăng đứng trên lầu cao, nhếch miệng cười mà nói với các tướng: "Lần này ta sẽ cho đám râu hùm ngông cuồng kia biết thế nào là sức mạnh của Xiêm La ta.

Hẳn bọn chúng vừa mới nghe danh đã sợ mất mật nên mới tìm cách giảng hòa đây mà."

Khoảng đầu canh năm ngày chín tháng Chạp (4), bóng dáng đông đảo của những chiến thuyền địch dần xuất hiện.

Cả thảy ba trăm chiếc đều lọt vào trận địa, toàn bộ số cá đều đã chui vào rọ.

Đang mải miết đi thì chúng chợt nghe thấy một tiếng pháo lệnh nổ vang trời, làm kinh thiên động địa cả khu vực chung quanh, báo hiệu cuộc chơi chính thức bắt đầu.

Tức thì, không biết đâu ra mà hai đạo thủy binh bất ngờ từ khu vực mai phục lao ra khóa chặt hai đầu, dồn địch vào vòng vây đã được bố trí.

Cờ Tây Sơn bay phấp phới, căng phồng lên cho bọn giặc trông rõ lá cờ màu đỏ này.

Có một tên bỗng kêu lên: "Nguy!

Chúng ta lọt vào mai phục của bọn chúng rồi!"

Quân Xiêm chưa hết hoảng hốt thì bất ngờ từ hai bên bờ sông và dọc cù lao Thới Sơn bắn ra những đạn dược lẫn cung tên rào rào như mưa, liên tục nã đạn tới tấp về phía quân giặc.

Các khẩu thần công cùng súng hỏa mai đều được phát huy tối đa hết công dụng của nó, được ngụy trang kín đáo bằng những bụi lùm rậm rạp.

Trên đầu bọn chúng toàn là những viên đạn nóng rát, những cung tên trắng bay xối xả đến mức chẳng thấy bầu trời ở đâu.

Đoàn thuyền ẩn náu sau cù lao Thới Sơn xông ra, đánh mạnh vào phần hông của đội hình địch, quyết không chừa cho chúng một đường lui.

Tình thế vô cùng nguy bách, tiến không được, lùi cũng không xong, chúng đành chôn chân ở đây chờ chết.

Người chỉ huy đoàn thuyền đó chính là Tiết chế Nguyễn Lữ.

Nhân lúc thuyền vừa lao ra chặn đầu, quân Xiêm còn đang hoảng loạn, tinh thần bị xuống dốc thì chàng đã hô hào:

"Thiên la địa võng, đâu đâu cũng là đất của bọn ta!

Số trời đã định, các ngươi còn chạy đi đâu?"

Tiếng binh đao va vào nhau loảng xoảng, tiếng đùng đùng vang lên không ngớt của thần công.

Những đường kiếm giảo huyệt, chém vút vào trong không khí, sau đó lại đương đầu với một thanh đao khác.

Chiến sĩ trên thuyền Tây Sơn nhanh nhẹn nhảy sang chiến thuyền quân Xiêm, chém bổ đầu bọn giặc.

Máu me vấy lên người binh lính, nhưng họ chẳng màng để tâm mà chỉ tập trung vào bọn Xiêm La trước mắt.

Cảnh tượng sôi sục ý chí quyết tâm trả thù nhà khiến sĩ khí của nghĩa quân càng ngày càng tăng.

Trên lầu chỉ huy của một hạm thuyền Tây Sơn nọ, bóng người cầm Ô Long đao đứng oai hùng nhìn bàn cờ thế cuộc đang ngả sang hồi kết thúc.

Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ quắc mắt nhìn giặc chết như ngả rạ, mùi khói thuốc nồng phảng phất trong không trung.

Tướng quân vung tay ra lệnh, giọng nói truyền đi khắp nơi:

"Quân Tây Sơn chỉ có tiến không được lùi.

Kẻ nào trái lệnh, chém không tha!"

Tiếng dạ ran từ các binh thuyền vọng về.

Đâu đó trong ba trăm chiến thuyền Xiêm rộn lên những tiếng kêu hốt hoảng, những tiếng than trời trách đất và những cái tặc lưỡi bất lực:

"Quái lạ, bọn chúng lấy đâu ra nhiều binh thuyền để chiến đấu với ta thế?"

"Khốn kiếp, đường đường là kẻ trên cơ, nay tình thế bị đảo lộn rồi!"

"Không khéo điệu này bị quân Tây Sơn nướng chín cả lũ."

Đoạn, bên dưới có một vài chiếc thuyền nhỏ, nhẹ, trên đấy chở những vật liệu dễ cháy tiến sát lại gần chiến thuyền quân Xiêm.

Bất chợt mấy chiếc thuyền đó đâm thẳng vào mạn thuyền, thế là một tiếng động lớn vang lên.

Ngọn lửa bùng cháy dữ dội, nuốt chửng chiến thuyền to lớn kia.

Sắc cam đỏ rực trong mắt mọi người lóe lên như một tia chớp, sức nóng lan tỏa đến các chiến thuyền khác, làm chúng cũng bị cháy lây.

Nhóm này bị đắm, nhóm kia bị cháy đến tàn tạ.

Từng cụm, từng cụm như vậy, rốt cuộc số thuyền chiến bọn chúng đang có đã giảm mạnh đáng kể.

Quân trên bộ lẫn quân thủy của Tây Sơn phối hợp với nhau rất ăn ý, tiêu diệt địch hết đợt này đến đợt khác, hết lớp này đến lớp khác.

Máu nhuộm đỏ đầy khúc sông Rạch Gầm - Xoài Mút, xác thuyền chết nằm bất động dưới nước, ngọn lửa kiêu hãnh nhỏ dần.

Đến khi trời vừa rạng sáng, mặt trời vừa ló dạng trên biển cũng chính là lúc trận chiến này kết thúc.

Quân Xiêm từ năm vạn quân cùng ba trăm chiến thuyền bị đánh bại đến gần bốn vạn quân, trong đó hai vạn thủy binh bị phá tan trong vòng chưa đầy một ngày.

Hai tướng của Xiêm La là Chiêu Tăng, Chiêu Sương trốn lên được bờ bắc sông Mỹ Tho, hợp với Sa Uyển dẫn vài nghìn tàn quân vội chạy trở về nước.

Nguyễn vương Nguyễn Phúc Ánh cùng vài viên tướng thân cận chạy thoát ra biển, trở lại nước Xiêm mà trú ngụ ở đó thêm một thời gian.

Đâu đó trên miền non nước này, dư âm của cuộc chiến chưa lụi tàn hẳn.

Tiếng pháo nổ linh đình, tiếng thần công khai hỏa đến đinh tai nhức óc, và tiếng bùng cháy của lửa khi đâm mạnh vào mạn thuyền vẫn còn văng vẳng.

Người ta có thể ngửi thấy mùi thuốc súng, mùi gỗ cháy đượm, mùi máu tanh vương vấn lại sau khi mọi chuyện đã lắng xuống.

Vậy là hết.

Vậy là đã hết những tháng ngày chịu cướp bóc, hãm hiếp của những người nghèo khó sống ở vùng này với một toán quân kiêu căng, hung hãn.

Thế là trong trang sách sử nhuộm màu thời gian lại được liệt thêm một trận đánh mới vẻ vang và kì tích, được liệt kê vào danh sách những trận thủy chiến của nước ta.

"Bần gie lửa đóm sáng ngời,

Rạch Gầm - Xoài Mút muôn đời uy linh."

----------------------------------

(1) Cung Từ Nhật: Tên của cung điện này là do tác giả tự đặt để tiện bề gọi tên, không có liên quan gì đến tên gọi các cung điện trong lịch sử.

(2) Quốc vận lạc long nan hiệu súy: Vận nước đang suy thì khó mà xoay sở.

(3) Ngày tám tháng Chạp âm lịch năm Giáp Thìn: Tức ngày mười tám tháng Giêng năm Ất Tỵ (18/1/1785).

(4) Ngày chín tháng Chạp: Tức ngày mười chín tháng Giêng năm Ất Tỵ (19/1/1785).
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Trở Về Thời Tây Sơn
76. Chén tạc chén thù


Quy Nhơn, năm Ất Tỵ.

Hôm nay tôi nhã hứng muốn uống rượu.

Không phải do tôi nghiện rượu, mà là vì gió thoảng nhẹ, không quá lạnh như mấy ngày cận Tết.

Đã thế chung quanh tôi là cả một quang cảnh hữu tình, núi non trùng điệp bủa vây lấy, một màu xanh rờn phủ đầy trong mắt.

Mẹ thiên nhiên đã ưu ái mọi cảnh vật có nét đẹp riêng cho chốn kinh đô này, ngại gì mà không tận dụng thấu đáo.

Năm xưa hoàng đế chọn nơi đây để làm nơi đế đô cũng đâu phải chỉ nhìn thoáng qua là có thể chọn được, vừa có núi Long Cốt làm thế vững vừa lấy núi Phong làm lũy, non xanh như vậy, rất đáng để người thi sĩ thưởng rượu ngâm thơ.

Chuyện là trong cung của tôi có giấu một vò rượu gốm, được bao bọc kín đáo, đến lúc cần dùng thì mở ra.

Đấy là vò rượu Bầu Đá của Lý Dương ngày trước, anh ta bảo về sau sẽ không còn ở đây nữa nên đã lén đem nó cho tôi trước khi rời đi, coi như là quà lưu niệm.

Quái thật, tôi nhớ anh ta từng cắp vò rượu sang đây để nhâm nhi vài chén, tửu lượng anh ta cũng không phải dạng vừa, thế sao nó vẫn còn đến giờ nhỉ - thậm chí là vẫn còn hơn nửa vò một chút.

Cuộc gặp gỡ lần cuối giữa tôi với gã trai tôi gặp năm mười bảy diễn ra vào thời điểm Thanh Chi vắng mặt, điểm hẹn là ở phía sau cung Từ Nhật.

Lúc ấy trông anh ta buồn rầu ghê lắm, dám chừng như cuộc chia li này là từ biệt mãi mãi, về sau sẽ không còn gặp nhau nữa ấy.

Lý Dương khệ nệ ôm vò rượu, cố gắng giữ chặt nó trong lòng để khỏi bị tuột, sau đó là vỡ tan tành xuống đất.

Đến giờ tôi vẫn không hiểu tại sao khi đó anh ta lại khăn áo chỉnh tề đến vậy, diện mạo cũng bảnh bao khác hẳn ngày thường.

"Lần này anh tính đi đâu?"

Tôi tò mò hỏi, cau mày nhìn người đàn ông trước mắt.

Anh ta lắc đầu, đáp: "Tôi không biết.

Chắc là sẽ trở lại chốn quê nhà lập nghiệp, cố tìm kiếm lại sự bình yên trước đó chăng?"

"Nhưng... dù gì anh rời khỏi thành Hoàng đế này với hai bàn tay trắng, không có tiền bạc gì trong tay.

Về đến quê rồi, anh định kiếm sống bằng cách nào?"

Tôi cảm thấy có gì đó không đúng trong lời nói khi nãy, bèn vội vàng lên tiếng.

"Cứ tiếp tục ở đây vẫn sẽ được hơn mà."

Lý Dương lặng đi đôi chút.

Nhưng rồi, bằng niềm tin không thể lung lay, anh chỉ nhẹ nhàng nói: "Như cái cách cha tôi và tôi làm ngày trước thôi.

Vạn sự tùy duyên, tôi phó mặc đời mình cho số phận cả."

Gió thổi rì rào.

Vạt áo màu xanh lam của anh ta bay nhẹ theo gió, đất trời dường như cũng quay cuồng theo.

Tôi nheo mắt nhìn người kia, không rõ ý đồ của anh ta là gì.

Đang sống yên ổn ở một nơi không bị ai dòm ngó, nay tự dưng muốn trở về quê cũ để gây dựng lại cơ nghiệp, sinh sống nốt phần đời còn lại ở chốn xưa.

Đúng là điên hơi gì đâu.

Cả hai chúng tôi chỉ lời qua tiếng lại được đôi ba câu là thế, rồi lại yên lặng trước đối phương.

Như vậy thì sao gọi là cuộc gặp gỡ lần cuối được, đứng đực ra đấy để người kia có thể nhớ rõ hình bóng của bản thân, sau đó rời đi công cốc vậy thôi hả.

Tôi chúa ghét mấy cuộc gặp vô bổ như này, vừa tổ phí thì giờ vừa tốn công sức vô ích.

Chi bằng muốn nói gì thì bộc bạch ra hết thảy, muốn gửi gắm chuyện gì đó thì mặc sức mà làm, để sau này không có dịp gặp vẫn không ân hận đến suốt đời.

"Cô còn nhớ lần trước cả tôi với cô đều cùng ngồi trước hiên, khoan thai nhấm nháp chút rượu Bầu Đá chứ," Sau một hồi thinh lặng thì cuối cùng Lý Dương cũng là người mở đầu trước.

Tôi gật đầu, anh ta nói tiếp: "Lần tới tôi không cần dùng đến vò rượu này nữa.

Vác nó về quê thì lại nhọc công, mà tôi thì có thể ngâm một vò rượu khác thay thế.

Thiết nghĩ cô nhỡ có chuyện cần đến thì đã có ngay vò rượu này, cho nên..."

"Cho nên anh mới vác theo nó, cốt là để tặng tôi đấy phỏng?"

Tôi cắt ngang lời, vì bản thân đã hiểu được mục đích của việc hẹn nhau ra sau cung nói chuyện.

Gì mà lằng nhà lằng nhằng, không ấy mình đem vò rượu đến cung, sai người dặn lại thì có phải tốt hơn không.

Vừa không tốn thời gian mà lại vừa nhanh gọn, miễn là đạt được mục tiêu đề ra ban đầu là được.

Lý Dương mỉm cười, xem chừng tôi đã đoán trúng ý anh ta.

Anh ngẩng mặt lên, nheo mắt nhìn bầu trời đầy nắng, gương mặt thoáng chốc thay đổi.

Trời đã gần trưa, và kế hoạch khởi hành của anh ta là trước giờ Tỵ.

Mặc dù không rõ ý định thâm sâu của gã này là gì, nhưng tôi chắc mẩm là người đàn ông họ Lý kia muốn rời đi trước khi bị người bắt gặp - nhất là hoàng đế, vì cả hai chẳng ưa nhau là mấy.

Đoạn, Dương cẩn thận đưa cho tôi vò rượu nặng trĩu đó, còn tôi thì cuống cuồng ôm chặt lấy chiếc vò gốm, sợ nó sẽ tuột khỏi tay từ hồi nào chả hay.

"Không còn sớm nữa, tôi đi," Anh ta dứt khoát nói, chỉnh trang lại nai nịt cho gọn gàng, rồi vẫy tay chào tôi.

"Nếu ngài ấy có thắc mắc tôi đâu, cô chỉ cần nói tôi lưu lạc về quê, thế là được rồi."

Tôi thở dài.

Ai rồi cũng sẽ biến mất khỏi đời tôi, ai ai cũng vậy, duy có cách họ biến mất như thế nào, có lẽ chúng mãi được in sâu vào tâm trí này.

Vậy ra mọi lần đụng độ với nhau, rốt cuộc cũng chỉ là sự tình cờ.

Tình cờ một cách "cố ý" của số phận, thật trớ trêu làm sao.

Tự dưng trong lòng tôi tràn ngập cả tá câu hỏi.

Sau này anh ta làm gì nhỉ, sống ở đâu và làm nghề gì để kiếm sống.

Tuy không biết trước được tương lai, nhưng tôi cá rằng gã Dương đây sẽ tìm cho mình nửa kia để cùng sống với nhau đến đầu bạc răng long, hạnh phúc không thể tách rời.

Và rồi trong thành Hoàng đế này chỉ còn một Lý Dương đã từng tồn tại trong kí ức của tôi với ngài thôi.

...

Mọi chuyện là vậy.

Bởi thế trong cung tôi từ đó mới xuất hiện một vò rượu gốm từ "trên trời rơi xuống".

Mãi cho đến tận bây giờ tôi mới chịu đem nó ra ngoài ánh sáng sau những tháng ngày tăm tối trú ngụ trong một góc kín đáo ít người để ý.

Tôi vén ống tay áo lên, dùng hết sức bình sinh mở lấy nắp vò.

Để tránh rượu bên trong bị ảnh hưởng bởi môi trường bên ngoài nên còn có thêm một lớp vải lụa mỏng phủ lên trước khi đậy nắp nữa, bảo sao khó mở ghê hơi.

Sau một hồi mày mò, cố tìm cách phá "phong ấn" chiếc vò này thì cuối cùng trời cũng động lòng thương cho sự nỗ lực của tôi, cái nắp từ từ di chuyển.

Đoạn, tôi đặt nhẹ nắp vò sang một bên, chúi đầu vào vò mà hít lấy hít để hương rượu cay nồng bốc lên.

Uầy, không hổ danh là rượu Bầu Đá nổi tiếng của vùng đất võ trời văn, đến cả mùi hương cũng khác.

Kiểu này tôi uống chừng vài ba lần là khi về hiện đại sẽ khó lòng quên được hương vị đặc biệt của nó mất.

Tôi cẩn thận nhấc vò rượu, sau đó rót vào chén sứ đã được chuẩn bị từ trước.

Thứ rượu sóng sánh chảy vào, sủi bọt tăm nhỏ li ti trông đẹp mắt, rồi dừng lại ở mức ngấp ngưỡng miệng chén, tuyệt nhiên không làm rơi vãi một giọt nào.

Hầy, chỉ nhấc vò rượu lên để rót ra chén thôi mà đã tốn hết hơi sức, đúng là dấu hiệu tuổi già ập đến, không sai vào đâu được.

Bản thân lần đầu rót rượu lại đẹp như này, coi bộ tài nghệ tôi khéo không kém gì những người hầu rượu trong mấy quán dành cho khách buôn đâu.

Lần này tôi có thể tự do uống mà chẳng sợ ai cấm cản như trước rồi, làm điều mình thích thật tuyệt.

Gió nhẹ thổi qua đầu.

Màu xanh mát của cỏ cây, của núi rừng thu vào trong đáy mắt, làm dịu một tâm hồn vốn ưa những chốn ồn ào, tráng lệ.

Tôi từ từ đưa chén lên, hớp lấy vài ngụm, chầm chậm thưởng thức vị của nó.

Vừa cay vừa nồng, uống vào lại có cảm giác âm ấm đến từng mạch máu nhỏ nhất trong cơ thể.

Hẳn người nghệ nhân làm ra thứ rượu này đã thả mình vào trong từng công đoạn nấu, hoàn toàn tâm huyết với nghề mới có thể cho ra được loại rượu thơm ngon.

Quả không hổ danh là đặc sản Bình Định mà.

Được một chén, tôi tiếp tục rót thêm chén thứ hai.

Không biết tên Lý Dương kia ngâm rượu kiểu gì mà ra được cả một vò tuyệt hảo thế này, trước khi nhắm mắt xuôi tay - hay nói cách khác là quay về thế giới cũ - tôi nhất quyết phải học cho bằng được bí kíp của họ.

Nghe bảo đâu đấy họ dùng nước ở một nơi nào đó nên rượu mới trong veo, chưa kể trong quá trình nấu cần sự khéo léo của người nghệ nhân.

"Hình như đợt yến tiệc mừng hoàng đế đăng cơ năm Tân Mão, ngài ấy cũng đãi mình thứ rượu này thì phải," Tôi tự lẩm nhẩm trong lúc chăm chú nhìn vào trong chén rượu.

"Ra là thế.

Cứ ngỡ đâu ngài đãi rượu ngô, hay chí ít ra cũng là một loại rượu gì đấy đặc biệt lắm chứ."

Vừa dứt lời, tôi ực một hơi hết sạch chén.

Người ta uống rượu là phải nhấm nháp từng ngụm nhỏ, có như thế mới cảm nhận được vị ngon của rượu.

Còn tôi thì chớp mắt đã sạch đáy, bởi vì tôi không chịu được cảm giác hơi men nó từ từ ngấm vào người.

Rượu thì uống được hẳn hoi đấy nhé, nhưng mỗi khi ngửi thấy mùi của một người say rượu thì tôi lại né tránh như né tà.

Lúc này đây, cả người tôi bắt đầu lâng lâng, choáng váng được đôi chút.

Rượu Bầu Đá uống vào chóng say, nhưng khi đã thấy say rồi thì lại không thấy mệt tí nào.

Bảo sao lần trước tôi uống với Lý Dương đến chén thứ tư thì mọi cảm giác như mệt người, ong đầu cũng chẳng còn nữa.

Tôi thuần thục rót thêm rượu vào chén.

Chén thứ ba này tôi chỉ rót đến một nửa, chẳng qua là do tôi muốn tìm hiểu xem khi nào thì bản thân mới thực sự say rượu.

Bóng người vất vưởng hiện lên, vừa mang một nửa của quá khứ, vừa mang một nửa của hiện đại.

Rốt cuộc nhớ nhung một người cách mình cả hai trăm năm có nên hay không, và nhỡ đã thầm thương trộm nhớ nhau rồi thì nên làm thế nào để trốn tránh thực tại quá đỗi phũ phàng.

Gạt cái chuyện phiếm đó sang một bên đi.

Tôi lắc đầu, vỗ nhẹ vào trán mình để xua tan cái ý nghĩ ba xàm ba láp ra khỏi đầu, đoạn hít một hơi thật sâu mà uống cạn hết rượu trong chén.

Rượu có trữ nhiều cỡ nào cũng nhanh hết, người sống lâu cỡ nào, rồi cũng sẽ có ngày nói lời từ biệt.

Nhàm quá, ước gì có người đến uống chung vui thì thú biết mấy.

Đặt chén xuống mâm một cách từ tốn, sau đó tôi gục mặt xuống bàn, lắng nghe tiếng chim hót trên trời.

Bọn chúng vui mừng báo hiệu xuân sang, hay đang bay thành đàn để tìm một tổ ấm sinh con đẻ cái nhỉ.

Thật là...

"Nhật Hạ," Tiếng người cất lên, tiếp theo đó là bàn tay thân thuộc chạm vào mớ tóc trên đỉnh đầu.

"Nàng sao thế?

Sao lại..."

Chợt ánh mắt người đó nhìn qua vò rượu đặt cạnh, rồi thở dài ra chiều đã hiểu mọi chuyện: "Nàng vừa uống rượu đấy à?"

"Ừm...

Tôi không uống rượu," Tôi lèm nhèm, phẩy tay qua lại.

"Cái vò này đựng nước, không phải rượu đâu.

Còn mặt tôi đỏ là do thời tiết bất thường, trời trở gió mùa mới thế."

Tôi nghiêng mặt nhìn vị hoàng đế uy nghiêm ngồi cạnh bên, bỗng dưng thấy muốn ôm lấy ngài mà kể lể này kia.

Ngài nheo mắt, đôi mày chau dính lại với nhau, tay nọ vẫn nhẹ nhàng vuốt tóc tôi.

Hôm nay ngài vận y phục đơn giản, không thêu hoa rồng quá cầu kì, chiếc nút kim cương đính trên viền áo.

Trông chiếc áo lụa màu đỏ này, làm tôi sực nhớ đến mấy bộ áo dài Tết mà mọi người ở chỗ tôi hay mặc để chụp hình, sắm sửa các thứ.

Cơ mà đây là áo của vua nên nó hẳn được may riêng biệt và tốn không ít công sức vào đấy.

Mấy ngón tay kia lướt dần từ tóc xuống má, chạm nhẹ tựa người trước mắt là vật dễ vỡ.

Không cần nhìn vào gương cũng biết mặt tôi bây giờ đỏ tía như con gà tây, lại còn nồng mùi rượu, xấu chết đi được, thế mà ngài vẫn đăm chiêu nhìn mãi thôi.

Mẹ tôi hay dặn con gái con đứa không được đụng vào rượu bia, một phần là vì tôi chưa đủ tuổi, phần còn lại là do bà không muốn cô con gái út bé bỏng của bà uống nhiều đâm ra nghiện.

"Nói dối," Hoàng đế thở hắt ra, vẻ mặt không được hài lòng cho cam.

"Vò rượu đặt sừng sững như vậy mà nàng còn dám qua mặt ta ư?

Với cả..."

Ngài đưa tay quệt qua miệng tôi, sau đó nói tiếp: "Rượu nồng thế này, nàng định giấu được ai?"

Tôi gượng cười, ấp a ấp úng lấy đôi ba lời biện minh cho hợp lẽ: "Nhưng... cho dù tôi có uống thì cũng đâu có say đâu."

Người nọ thở dài bất lực, dám chừng ngài đã quá quen với cảnh này.

Còn tôi chỉ biết ngồi đó mà cười bất lực, ba phần khờ khạo bảy phần như ba.

Bị bắt bài ngay tại chỗ thì biết trốn làm sao, chưa kể đi đêm lắm cũng có ngày gặp ma, nói dối miết nên sớm muộn cũng bị ngài nhìn ra cả thảy chiêu trò định dùng.

Chết tiệt, lần sau tôi phải tinh vi, mánh khóe hơn nữa mới được.

Đoạn, ngài tiện tay quơ lấy chiếc chén của tôi, cầm lấy vò gốm đặt trên bàn, thong thả rót rượu ra chén.

Rượu chảy róc rách, nghe tiếng thật vui tai, vừa trong trẻo như suối chảy xuống thác.

Người có nhiều kinh nghiệm trong việc nấu rượu sẽ khẳng định ngay đây là vò rượu ngon mà không cần đến việc nhấp môi thử một ngụm.

Tôi không phải người sành, cũng không phải là người đã từng nấu rượu qua một lần nên chả biết cái chi, không rõ người ta dựa vào đâu để biết rượu ngon thông qua mỗi việc nghe tiếng rượu chảy ra nhỉ.

"Rượu này ở đâu nàng có vậy," Hoàng đế từ tốn hớp thử mấy ngụm.

"Không phải trộm của ta ra đấy chứ."

Tôi ngồi dậy, bĩu môi phản đối.

Vò rượu này tôi được cho hẳn hoi, lấy đâu ra mà trộm với chả cắp.

Nếu có trộm thì tôi trộm cũng không thành công đâu, chạy chưa được bao xa đã bị bắt lại rồi.

Ngài suy diễn kiểu gì mà nó lại thiếu logic thế này.

"Ai mà thèm trộm của ngài," Tôi tựa đầu vào vai ngài, hờ hững nói.

"Vò này...

ừa... là của Lý Dương.

Anh ta không còn ở đây nữa nên mới đem nó cho tôi."

Thoáng nghe thấy hai chữ "Lý Dương", nét mặt ngài bỗng biến sắc.

Từ một gương mặt thoải mái, nhàn nhã, nay khó chịu và cau có không thể tưởng.

Tôi biết hai người này vốn không ưa gì nhau ngay từ lúc khởi sự năm Tân Mão rồi.

Lần đầu gặp mặt, cả hai đã không có thiện cảm gì với người còn lại, tên họ Lý kia cố gắng hút tôi vào câu chuyện, còn người này chỉ lẳng lặng nắm lấy tay tôi từ phía sau để ngầm ẩn ý báo cho kẻ xa lạ kia nên biết giữ thân phận mình.

Người nọ đặt chén rượu lên bàn, nghiêng mặt nhìn tôi.

Ánh mắt dịu dàng ẩn dưới làn mi mỏng kia nhìn tôi chằm chằm, sớm nhuốm màu phong trần của chiến trận và thời gian.

Tôi cố lảng đi việc nhìn thẳng vào mắt ngài bằng cách phóng mắt nhìn cổng thành ở phía đằng xa, bởi mỗi lần nhìn, trái tim tôi cứ như không thể tự chủ được mà đập thình thịch liên hồi.

"Sao lại né tránh ta?

Giấu ta chuyện gì à," Ngài nói, đưa tay rót thêm rượu nữa rồi uống cạn chén.

"Nhật Hạ, ta có chuyện muốn hỏi nàng."

"Vâng?"

Tôi lên tiếng, tay bấu chặt gấu áo, nín thở chờ đợi câu tiếp theo mà lòng dạ bồn chồn không ngớt.

Chết dở, có khi nào định tra hỏi tôi chuyện gốc gác của vò rượu này không ta.

Hay chuyện tôi với Lý Dương gặp mặt nói đôi ba câu thầm kín chỉ để anh ta yên tâm trao chiếc vò đựng rượu gia truyền của nhà lại cho một người không đáng tin tưởng như tôi.

Rốt cuộc trong giây phút ngồi ngẫm nghĩ đó tôi đã suy diễn hàng chục câu hỏi ngài có thể hỏi, hàng trăm trường hợp có thể xảy ra đối với tôi.

Nhưng trái lại, hoàng đế chỉ nhẹ nhàng cất giọng: "Năm nay nàng có bằng lòng đón giao thừa với ta hay không."

Tôi ngỡ ngàng nhìn ngài, không rõ khi nãy bản thân có nghe sót câu từ nào không.

Ông bà thường nói rượu vào lời ra, nhưng riêng ngài tôi chỉ thấy rượu vào rồi mà lời nói cứ như rót mật vào tai.

Ngài chỉ cười mỉm không nói, trong đáy mắt sâu thẳm đó là mặt ngọc lấp lánh của chiếc vòng cổ trên người tôi.

Là món quà thứ bao nhiêu đấy tôi không nhớ rõ, hẳn nó cũng thuộc dạng đắt giá lắm.

"Đón... giao thừa với ngài ư?"

Tôi nuốt khan, khó nhọc lắm tôi mới thốt ra được câu từ đang nghĩ trong đầu.

Ngài rót rượu ra chén, đưa lên môi nhấp vài ngụm, làm bộ làm tịch không nghe thấy lời tôi nói.

Lúc này ngài cũng ngà ngà say rồi, mặt mày đỏ tía hết cả lên, lẫn trong hơi thở là mùi men rượu không thể nhầm lẫn đi đâu được.

Rượu Bầu Đá uống vào chóng say, ấy là điều hiển nhiên ai cũng biết, Tôi không hối thúc gì ngài, thoải mái ngả đầu lên bờ vai vững chãi kia, cảm nhận hơi men trong người mình đang dần lắng xuống.

"Ừ, đón giao thừa với ta," Ngài nắm nhẹ lấy tay tôi.

"Nàng chịu chứ?

Mấy năm nay ta bận việc chinh chiến nhiều, thì giờ dành cho nàng cũng ít.

Ta muốn nhân dịp này để bù đắp tổn thất cho nàng, coi như là để tạ lỗi."

Đón giao thừa cùng nhau, đón giao thừa cùng nhau.

Giống như mười tám năm trước, ngày đầu năm Đinh Hợi ngài dẫn tôi đi buôn ở tận trên miền Thượng, cũng lời ngỏ muốn được đón giao thừa chung ấy.

Thế mà giờ đây lại cách biệt đến vậy, thậm chí đến người cũng đổi thay.

Đồng ý đón giao thừa vì sau này sẽ không còn nhiều thời gian nhìn ngắm khoảnh khắc bình yên trôi qua, và phản đối vì một ngày vua tất bật vô cùng tận, chắc chắn không thể giữ nổi lời hứa như năm xưa.

Hứa hay không hứa nó cũng thế, chẳng qua hứa là một hình thức giúp củng cố lòng tin của một người thêm đôi chút so với việc nói suông.

Con người chúng ta có xu hướng dễ tin vào những lời sáo rỗng, để rồi mai sau lại bị chính những lời đó làm cho đau khổ.

"Cũng được, Tết đến, tôi không muốn làm ngài mất vui," Tôi ngần ngại đáp rồi ngồi dậy, vơ lấy chén rượu trên tay ngài, nói.

"Ngài đừng uống nữa.

Lỡ ngài say thì ai đưa ngài về tẩm điện đây?"

Hoàng đế bật cười, đoạn đưa tay vén tóc cho tôi mà bảo.

"Được, được, mọi sự đều nghe theo nàng."

Giành lấy được cái chén vốn thuộc về mình, tôi thở phào nhẹ nhõm, trong lòng cũng an tâm được phần nào.

Nhấc nhẹ vò rượu gốm lên, cảm nhận độ nặng nhẹ của thứ chất lỏng vị cay có trong vò, tôi phỏng đoán bên trong cũng chẳng còn nhiều rượu cho lắm.

Cũng phải, ban đầu còn nửa vò, nhưng sau đó tôi uống cũng được ba chén, ngài cũng không nhỉnh hơn tôi là bao.

Mà một chén của tôi có phải là ít đâu, nên...

Sắp hết mất rồi.

Thôi kệ, hết hay không thì ta nên bỏ xó vấn đề đó sang một bên đi, giờ cứ ưu tiên cho cuộc vui trước.

Tôi dốc ngược vò rượu xuống, đợi cho đến khi rượu mấp mé miệng chén thì dừng lại.

Bọt tăm nổi li ti, tiếng sủi của nó nghe thật vui tai.

Mê cái mẻ rượu này ghê, vừa trong veo vừa cay nồng, uống vào không những không mệt mà còn sảng khoái.

Phải chi năm xưa tôi cùng cậu Ba vào quán rượu ọp ẹp bên lề, được nếm thử đặc sản vùng đất này thì thú biết mấy, ra là do lão chủ không đem rượu này ra đãi khách à .

"Kể ra thì nàng cũng to gan," Sau một hồi lâu thì hoàng đế lên tiếng.

"Dám ngồi ngoài đây thưởng rượu một mình, nhỡ đâu gặp chuyện bất trắc thì sao."

Tôi cười trừ, lắc đầu như muốn phủ nhận lời ngài nói, sau đó cạn chén.

"Tôi nào có dám.

Mà dù có bất trắc đi chăng cũng chẳng ảnh hưởng đến tính mạng, ngài đừng lo."

"Nhật Hạ," Người nọ chợt hạ giọng, rũ mắt nhìn tôi.

"Tương lai vô định, không ai biết mai sau chúng xảy ra như thế nào.

Số phận con người mỏng manh vô cùng tận, chỉ cần lơ đễnh một thoáng là đã mất mạng như chơi.

Ta vì không muốn nàng dính líu vào những an nguy bất cập nên mới căn dặn nàng kĩ càng."

Tôi giật mình.

Ngài hiếm khi đề cập đến vấn đề này, lại càng ít tán gẫu với tôi bằng chuyện hoang tưởng như thế, bởi ngài quan niệm rằng những điều mang tính hiện thực sẽ có xác suất xảy ra cao hơn là chuyện hoang đường.

Đến chuyện tôi là tiên nữ ngài còn không tin nữa, huống hồ chi...

Người nọ chống cằm nhìn ngọc bội trên người tôi, ánh mắt dịu lại đôi chút.

Chén rượu mới uống đã vội đặt xuống bàn, vò rượu gốm đó không còn nặng như thuở ban đầu.

Không biết tự bao giờ tay ngài đặt lên tay tôi, sau đó không có động tĩnh gì thêm, cũng chả nắm tay gì.

Mỗi lần nhìn vào mắt ngài - một đôi mắt phong trần của một bậc quân vương, lúc nào cũng nhìn tôi đầy dịu dàng - tôi có cảm giác quen thuộc đến lạ kì.

Ngay cả khi lần đầu tôi gặp ngài đi chăng nữa, song tôi vẫn không thấy sự bất an nào hiện diện, mà chỉ thấy một cảm giác an toàn từ người đối diện.

Người qua kẻ lại, gặp mặt nhau đôi lời rồi lẳng lặng bước qua nhau, tựa như trước đấy họ chưa từng có mối quan hệ nào cả.

Một đời người chúng ta gặp cả vô vàn những người xa lạ khác, không thể nhớ mặt, nhớ tên được hết thảy, duy chỉ có những người để lại cho ta ấn tượng mới có thể khắc sâu vào trong tâm trí.

Chàng trai tuấn tú có sóng mũi cao, mắt sáng, nhân trung sâu thẳm, ngũ quan hài hòa ấy...

Nhiều lần tôi đã cố tìm ra nguyên tắc hoạt động của dây tơ đỏ kia, và vì sao giữa thằng Thiên và ngài lại có mối tương quan trùng khớp với nhau đến vậy.

Nhìn những cử chỉ, hành động thân thuộc ấy lại gợi cho tôi nhớ đến một trong hai người, hoặc là cả hai.

Dù biết tôi trở về quá khứ cách thời điểm tôi ở hơn hai trăm năm là để mày mò cho ra đáp án cho ẩn số này, nhưng... tôi vẫn không thể hiểu được...

Vì sao duyên phận lại chọn tôi với cậu ta, và vì sao chỉ có mình tôi được thấy những mảnh kí ức của quá khứ mà riêng Anh Thiên lại không?

"Nhật Hạ," Hoàng đế chợt lên tiếng, cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi.

"Nếu nói ngày ấy ta đã cảm mến nàng nhưng vẫn chưa muốn thổ lộ, nàng có tin hay không?"

Tôi cau mày, tỏ ý vẫn chưa hiểu câu hỏi trên.

Song, dù có thắc mắc đến đâu, tôi vẫn đáp: "Tin hay không còn phụ thuộc vào người hỏi.

Không cần ngài tiết lộ ra hết, tôi biết ngài đã cảm mến tôi từ lâu lắm rồi."

Một thoáng ngạc nhiên xuất hiện trên gương mặt nọ.

Đoạn, ngài húng hắng, cố lấy lại vẻ uy nghiêm trước đó bằng cách bình tĩnh trả lời: "Vậy sao?

Vậy nói ta nghe xem, nàng tin hay không tin."

Trước khi tôi kịp đáp lời thì bỗng có một cơn gió mạnh nổi lên, tiện tay đưa mấy lá cây khô rơi xuống hiên nhà.

Gió thổi, bao nhiêu bụi bặm cũng đi theo, một trong số chúng không may lọt vào mắt tôi.

Xấp giấy tôi cất một xó ở trong cung cũng không tránh khỏi trường hợp bất đắc dĩ ấy, chúng lảo đảo trên không một hồi rồi nhẹ nhàng đáp xuống sàn.

Tôi vén gấu áo sang một bên, sau đó đưa tay lên dụi mấy cái cho thỏa cơn ngứa, nước mắt cũng theo đó mà tuôn ra một ít.

Mắt người có một cơ chế rất hay, đó là khi mắt bỗng nhiên xuất hiện vật lạ - như bụi chẳng hạn - thì nó sẽ tự động tiết ra nước mắt nhằm loại bỏ vật đó ra khỏi mắt.

Dù không đi sâu vào chuyện đấy nhưng tôi lại có thể nhớ lời giải thích của cô tôi trong tiết môn Sinh, có lẽ là một tiết học từ hai năm về trước.

Trông thấy cảnh nhàn nhã ngắm cảnh bị gián đoạn bởi gió và bụi, người nọ nhanh nhẹn kéo tôi vào lòng, giơ một bên tay lên để che chắn.

Ống tay áo rộng thùng thình của ngài phát huy đúng công dụng của mình, không những có thể che mưa mà còn có thể chắn phần lớn gió ào ạt thổi tới.

Gấu áo rũ xuống vai tôi, hương thơm thoảng mùi thảo dược phảng phất trong không trung, mang đến một cảm giác bình yên đến lạ.

Tôi ngước mặt lên nhìn ngài, khóe mắt hãy còn ứa lệ.

Hoàng đế ngây người thêm giây lát rồi cẩn thận lau nước mắt cho tôi, lúng túng nói: "Không còn khó chịu nữa chứ?"

"Không còn," Tôi lắc đầu.

Lúc này ngài mới yên tâm buông tay xuống, tôi tranh thủ nói tiếp chủ đề vẫn còn đang dang dở.

"Về chuyện khi nãy... tất nhiên là tôi tin ngài rồi.

Không cần Tiết chế hay Long Nhương tướng quân kể gì sất, chỉ cần quan sát kĩ từng điệu bộ của ngài là tôi thừa sức biết."

Người nọ thở dài, gật đầu thừa nhận: "Phải.

Ta biết nàng khó lòng tin nổi chuyện này, nhưng việc nàng tin hay không cũng chẳng quan trọng nữa."

Đoạn, ngài nhẹ nhàng nâng mặt ngọc bội, động tác vô cùng từ tốn.

Viên ngọc sáng rực, ánh mặt trời chiếu xuống càng tôn lên độ tinh khiết và lấp lánh của nó.

Ngài ngắm nghía nó một hồi lâu, rồi nói:

"Ngọc bội này, coi như là vật giao ước giữa ta và nàng.

Còn chiếc vòng chỉ đỏ kia..."

Ngừng lại một lúc, ngài bảo.

"Ấy chẳng qua là món quà mọn năm Tân Mão mà thôi."

Mọi nghi vấn của tôi về ngọc bội cuối cùng cũng được giải mã.

Ra là đêm trăng rằm hôm ấy, không phải tự dưng ngài dúi vào tay tôi mảnh ngọc này đâu, tất cả đều nằm trong tầm dự đoán của ngài.

Mảnh giấy nhắn nhủ đi kèm chính là lời giải cho sự việc đấy, song tôi chỉ biết viết chút đỉnh chứ không biết đọc nên có gửi cũng vô dụng.

Từ khi dòng chảy, bánh răng và duyên phận bắt đầu tham gia vào hành trình lội ngược dòng lịch sử, tôi biết mọi thứ trên đời vận hành luôn theo một quy luật nào đó, và để hiểu được chúng thì chẳng cần phải tìm đâu cho xa, đáp án luôn ở trước mắt.

Hoặc đôi khi chúng không bộc lộ rành rành trước mắt mà ta cần phải băng đèo vượt suối, lật giở từng khó khăn một ta gặp trong đời để tìm kiếm đáp án.

Có điều người ta có chịu lần theo dấu hiệu mà đi, dựa vào các sự kiện diễn ra xung quanh, những manh mối mà dòng chảy bỏ lại để tự thân tìm câu trả lời hay không thì chỉ có may rủi mới trả lời được.

"Tại sao ngài lại luôn đối đãi tốt với tôi như vậy?"

Tôi thắc mắc hỏi.

"Ngài biết tôi không có lai lịch rõ ràng, gia thế không có, tiền bạc cũng không.

Cớ sao ngày đó ngài đồng ý cho tôi ở lại, đã thế còn đối xử với tôi rất tốt, không phải ủ mưu gì chứ."

Dường như ngài không hề bị câu hỏi của tôi làm cho nao núng, mà ngược lại ngài còn đáp lại bằng giọng điệu thư thái nhất có thể: "Ngay từ lần đầu gặp, ta có linh cảm nàng không phải người lòng lang dạ sói, lại không phải người xấu như bọn quan ô tham lại kia.

Với cả giữa ta và nàng có một cảm giác thân thuộc đến khó tả, nên ta quyết định cho nàng ở lại để làm rõ mọi chuyện một cách đường đường chính chính."

Tôi gật đầu, ra chiều đã hiểu.

Còn ngài, sau khi thấy tôi vỡ lẽ mọi chuyện thì chỉ mỉm cười, vẫn ngồi cạnh tôi để cùng nhau thấy những điều bình dị của thế giới này.

Và chẳng biết bàn tay thô ráp đó đã rón rén tiến đến, nhẹ nhàng ôm lấy tôi tự thuở nào.

Rượu cạn, cảnh tàn, tiệc tan.

Giọt rượu cuối cùng trong vò bị uống hết sạch.

Cảnh vật hùng vĩ, rợp bóng màu xanh đất trời dần chuyển sang cảnh sắc mới.

Hai con người ngồi chầu chực trước hiên cả canh giờ cũng thôi không cảm thấy say nữa.

Hoàng đế hít vào một hơi thật sâu, thở ra đều đều, đưa mắt nhìn quang cảnh bên trong Tử Cấm Thành.

Cơ đồ sự nghiệp của ngài kể từ lúc dựng cờ khởi nghĩa đến nay coi như là không phải lo tính chuyện tiền nong về sau, nhưng có được một thời thịnh trị để dật lạc như vậy thì có hơi khó.

Những rặng cây xanh rì khẽ khàng đung đưa cành lá trước gió, khoác lên mình chiếc áo mới đón xuân.

Hồ Bán Nguyệt gợn sóng lăn tăn, hứng cả bầu trời vào trong sắc xanh dịu dàng ấy.

Dưới nắng xuân, mái ngói của điện Bát giác rực lên màu đỏ tươi, hoàn toàn nổi bật so với xung quanh.

Liệu có thể nào kéo dài thời khắc yên tĩnh, không chút bộn bề trong lòng, cũng không cần đắn đo chuyện binh nhung không nhỉ.

Triều đại này gắn liền với những cuộc chiến, với tiếng voi rống vang trời, đồng thời cũng gắn với những chuyện thật bi thương.

Tôi nhắm mắt lại, cố gắng sắp xếp mớ hỗn độn trong đầu rồi chậm rãi mở mắt ra.

Thời thế như cũ, người vẫn ở đấy, mãi không đổi thay.

Quang cảnh thiên nhiên dường như cũng chán nản với sự khắc nghiệt của thời gian, bởi mười năm sau mọi thứ đã khác đi rất nhiều, cây cỏ có khi không còn xanh nữa.

"Từ đây đến khi tôi trở về nhà, ngài hãy hứa là sẽ ở bên tôi đấy nhé."

Hoàng đế đưa tay véo chóp mũi tôi, dịu dàng đáp:

"Ừ, ta hứa.

Ta vẫn ở đây, với nàng."

-----------------------------------------

Nhanh ghê, t nhớ năm trước mùng Năm mới viết liền mấy chương cho độc giả mà giờ đã sang năm 2025 rồi😭😭.

Chắc năm nay chương mới không còn ra đều đều nữa, tại năm nay là năm trọng điểm của t, cỡ thi giữa kì xong Sở mới cho đáp án môn thi tuyển sinh thứ ba là môn nào.

=))) Khác nào đang chơi xổ số đâu.

Còn 3-4 tuần nữa t thi HSG nên cũng hơi loo, đợt này hi vọng cái đề đừng có cho bị lỗi như hồi cấp Thành phố vừa rồi là được.

Viết từ đầu năm lớp 8 mà đến nay đã gần cuối năm lớp 9, thời gian rảnh không nhiều như năm trước nên không có chuyện tung một lượt 2-3 chương cho mấy bạn iu coi nữa, có thấy t một tháng chưa ra chương mới thì mong mấy bạn thông cảm.

Còn mấy bạn độc giả theo t từ lúc chập chững viết vài chương đầu của bộ này đến giờ, cảm ơn mấy bạn đã kiên trì đọc TVTTS nhiềuu
 
Back
Top Bottom