Cập nhật mới

Khác [Cảm hứng lịch sử] Cổ Tâm Sinh

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
397515094-256-k133379.jpg

[CảM HứNg LịCh Sử] Cổ Tâm Sinh
Tác giả: Ai_Mien_Mien
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Diên Ninh nguyên niên, triều Lê chìm trong sóng ngầm binh biến.

Tình yêu, dã tâm và máu đỏ hòa quyện.

Loạn thế hồng trần tâm bất tử,
Phong vân dạ nguyệt mộng giao minh.

Nhất niệm tình duyên khơi vận sử,
Cổ tâm trường tại, khởi sinh tình.

Tác giả: Ái Miên



tieuthuyetlichsu​
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Cổ Tâm Sinh
Lời nói đầu - Tâm thế khi đọc


Các bạn đọc thân mến,

Mình là tác giả của bộ truyện "Cổ Tâm Sinh".

Mình rất vui vì niềm đam mê với sử Việt đã đưa chúng ta tới với nhau.

Mình tin rằng mỗi bạn khi tìm đến tác phẩm này đều đã có một nền tảng lịch sử nhất định, đủ để phân định rạch ròi tiểu thuyết với chính sử.

Vì vậy, mình mong rằng khi đọc truyện, các bạn hãy giữ tâm thế thưởng thức văn chương, nhìn lịch sử qua lăng kính văn học, chứ không phải để tham khảo hay học tập như tư liệu.

Những năm gần đây, các tác phẩm liên quan đến lịch sử thường có phần nhạy cảm, bởi giữa chính sử và hư cấu luôn tồn tại ranh giới mỏng manh.

Để phục vụ cho cốt truyện, một số tình tiết cần được thêm thắt, nhân vật có thể được khắc họa khác đi.

Điều đó không có nghĩa là tác giả muốn bóp méo hay bôi nhọ lịch sử.

Trái lại, để viết nên một câu chuyện lấy cảm hứng từ lịch sử, người viết phải bỏ ra rất nhiều thời gian nghiên cứu, tìm tòi, và quan trọng nhất là đều xuất phát từ đam mê với lịch sử dân tộc.

Vì vậy, việc gán cho họ hai chữ "lật sử" thật sự là điều oan uổng.

Dẫu vậy, mình cũng hiểu rằng có những tác phẩm vì quá chú trọng vào cốt truyện mà thêm thắt tình tiết lệch lạc hoặc rập khuôn là không nên.

Với "Cổ Tâm Sinh", mình chỉ mong được gửi gắm góc nhìn riêng, tái hiện một thời kỳ đầy biến động.

Mong rằng khi bước vào trang truyện này, các bạn sẽ thấy vừa quen vừa lạ, vừa có cái chân thực của sử, vừa có cái bay bổng của văn chương.

***

Về "Cổ Tâm Sinh", vẫn là cốt truyện xuyên không thường thấy.

Một cô gái ở thời hiện đại vô tình quay trở lại thời xưa.

Truyện lấy bối cảnh năm Diên Ninh thứ năm (1458).

Tại sao lại là năm 1458?

Vì trong Đại Việt sử ký toàn thư, năm 1458 không ghi nhận sự kiện lịch sử quan trọng nào.

Nên mình có thể thoải mái xây dựng tình tiết mà không phải quá lo lắng sẽ có xung đột với chính sử.

"Cổ Tâm Sinh" là ý tưởng mình ấp ủ từ năm 2021, trong khoảng thời gian đó ngoài nghiên cứu tài liệu lịch sử, viết truyện thì mình còn làm một việc rất quan trọng nữa, đó là đi đọc "phốt".

Nhờ đó mà mình mới biết nên tránh viết gì để không thấy tên mình xuất hiện trên một diễn đàn nào đấy.

Sau khi đọc qua rất nhiều confession, mình đã phải sửa lại toàn bộ cốt truyện ban đầu, và hướng tới một bộ truyện mà không ai hoàn toàn là người xấu cả, mỗi nhân vật đều sẽ có những câu chuyện riêng.

Với tiêu chí "4 không ":

- Không "hài nhảm": Một số tác phẩm mình từng đọc bị lạm dụng quá nhiều các từ ngữ hiện đại trong một bộ truyện mang tính cổ trang.

Đối với mình thì thêm vài tình tiết gây cười vào truyện không có gì xấu cả, nhưng đôi lúc nó không mang lại tính gây cười mà làm mình bị tụt cảm xúc khi đọc truyện.

Định hình tâm thế khi đọc truyện ngay từ ban đầu là việc rất quan trọng, nếu xác định truyện đi theo hướng vui vẻ, hài hước thì thêm vài "miếng hài" vào đó không có vấn đề gì cả.

Nhưng một bộ truyện tình rất tình, hay cung đấu cực căng thì nên tiết chế mấy chi tiết ấy lại.

Nói vậy thôi chứ, trong quá trình mình viết mình thấy cảm xúc của mình lên xuống như trên tàu cao tốc vậy.

Nên các bạn cũng cần cài chắc dây an toàn giữ vững tâm thế có thể rơi bất cứ lúc nào.

- Không "tình tiết thiếu não", "coi thường IQ" người đọc: Cái này nghe có vẻ hơi căng thẳng nhưng về cơ bản là những tình tiết như trong "truyện audio" trên Tiktok vậy.

Nếu thật sự muốn xây dựng một nhân vật phản diện ấn tượng thì mình muốn làm họ thông minh một chút, thay vì những phản diện lên kế hoạch rồi bị vạch trần trong vòng 5 dòng, sống không nổi 20 dòng.

Biết là sẽ có nhưng nhân vật phản diện chính và và phản diện phụ, nhưng mà sự thật là người xưa khôn ngoan hơn chúng ta tưởng rất nhiều, nhất là tiểu thư, ái nữ trong cung đình thì càng không đơn giản.

Nhân vật phản diện phụ được vẽ ra để làm nền cho nhân vật chính nhưng đừng tôn nhân vật chính lên hàng Thánh Mẫu.

- Không làm mất lễ nghi và bản sắc văn hoá: Rất nhiều truyện và cả phim ảnh vì để ngôn tình hoá mà thêm nhiều tình tiết thân mật quá mực.

Phải biết rằng là thời kì này rất trọng Nho giáo, và "nam nữ thụ thụ bất thân" được đặt rất nặng.

Chỉ việc trao khăn trao duyên, mời nhau miếng trầu đã là một cách thể hiện rất tình ái rồi, nắm tay thì đã là mức cực kỳ thân thiết, chứ đứng nói đến việc ôm - hôn.

Nhắc đến việc hôn, châu Á thời xưa không có quan niệm hôn hay chạm môi nhau để bày tỏ tình yêu, thậm chí có thể họ còn coi việc đó là mất vệ sinh.

Các bạn hay nhìn vào thực tế thật thực tế, có thể những mỹ nam ở đây có một hàm răng nhuộm đen như truyền thống xưa thì sao?

- Không áp đặt lên nhân vật: Cái này quan trọng, mình không muốn biến một nhân vật nào thành người xấu một cách vô lý.

Không phải là tôi đang cần một nhân vật phản diện, hãy trở thành một người xấu tính và đáng ghét không vì lý do gì cả đi.

Đây không phải là một bộ truyện cung đấu, vì mình không muốn biến người phụ nữ nào trở nên xấu xa và bị mọi người ghét cả.

Nếu mà bạn vẫn cảm thấy nhân vật này thật đáng ghét thì có thể là mình chưa khai thác đến thôi.

Điều quan trọng cần nhắc lại.

Đây không phải bộ truyện cung đấu, tranh giành tình cảm.

***

Một vài lưu ý khi trong quá trình đọc.

- Trước tiên về xưng hô.

Người Việt xưa có thể vẫn bị ảnh hưởng chút ít từ Trung Hoa, tuy không xưng tỷ, muội, cô nương,... như trong điện ảnh.

Nhưng vẫn có vài tài liệu xưng là "huynh đệ".

Trong chiếu của Lê Thánh Tông có đoạn, xưng hô với Lê Khắc Xương như sau:

"Từ nay huynh Vương được đặc ân mang họ Bùi để mãi mãi tỏ rõ lòng ân quốc tính của Tiên Đế đối với dòng dõi người oan khuất."

Như vậy, giữa các hoàng tử sẽ xưng hô là huynh Vương - Vương đệ.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, tôn xưng của vua cho đến thời điểm trong truyện (1458) vẫn là Quan gia - bệ hạ, chỉ khi đến năm 1467 mới xuất hiện tôn xưng Hoàng thượng.

Hoàng Thái Hậu tự xưng là Quả nhân, khi coi chính sự vẫn xưng là trẫm.

"Việc người tốt thì thiên thời hòa.

Nay Quan gia còn trẻ mà thiên tai xảy ra luôn, trẫm rất lo sợ."

"Từ khi Quả nhân coi chính sự đến nay, thấy rõ lòng trung quân ái quốc của các đại thần đã hết sức phò tá giúp rập."

Khi muốn nhắc đến đích danh vua nhưng để tránh phạm huý thì người ta sẽ thường gọi bằng tên niên hiệu của vị vua đó.

Ví dụ như vua Quang Trung, Càn Lòng...

Nên đôi khi gọi Diên Ninh là để chỉ vua Lê Nhân Tông.

"Diên Ninh tự btết mình không phải là con của tiên đế, hơn nữa lòng người ly tán, nên ngày mồng 3, tháng 10 năm nay, đã ra lệnh cho Trẫm lên thay ngôi báu."

Về một số vai vế và cách xưng hô khác, được tham khảo từ "Cách xưng hô trong Nho giáo"

Nguồn tham khảo: https://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=23353

- Chuyện phi tần hậu cung trong sử sách.

Hầu hết các nhà chép sử thời đó, chỉ chép lại chính sử liên quan đến triều chính - chính trị, những việc về hậu cung lại ít ghi chép hơn.

Một phi tần khi được sử ghi lại thường là do có xuất thân danh giá hay sinh được hoàng tự.

Nếu một người mà xuất thân không có gì nổi bật lại không sinh được con thì lịch sử có thể sẽ không ghi lại.

Điều này thì tạm thời có thể giải thích cho việc tại sao dưới thời Lê Nhân Tông và Lê Nghi Dân lại không có bất cứ tài liệu lịch sử nào về phi tần của hai vị vua này dù cũng đã ở độ tuổi lập thất.

Nhưng Lê Nhân Tông tại vị cũng khá lâu thì việc lập phi tần là điều thiết yếu.

Vậy người xuất thân đủ hiển hách để làm vợ vua có thể là ai?

Trong quá trình tìm hiểu, mình được biết rằng gia phả Nguyễn Xí có tổng cộng 24 người con.

Trong đó có một người con gái là Nguyễn Ngọc Lệ lấy thái tử con vua, nhưng lại không ghi rõ là vị vua nào, cũng không có ghi chép nào về vị phi tần này.

Vậy nên xin phép cho mình được tạm cho rằng, Ngọc Lệ được gả cho Nhân Tông khi tuổi còn rất trẻ để phục vụ cho cốt truyện.

Chứ thật ra mình cũng biết giả thuyết này có rất nhiều lỗ hổng, vì con trưởng của Nguyễn Xí là Nguyễn Sư Hồi sinh năm 1444 (Nguyễn Xí sinh con đầu lòng ở tuổi 47?) tức là trong truyện ông mới 14-15 tuổi vậy em gái Nguyễn Ngọc Lệ thậm chí còn trẻ hơn.


- Chuyện về các giai thoại.

Đầu tiên là giai thoại Lê Thánh Tông gặp Trường Lạc Hoàng Hậu lần đầu khi đang vo gạo.

Mình nghĩ là đây chỉ là một giai thoại dân gian truyền lại để trữ tình hoá cuộc tình của vua thôi nên nó không có tính xác thực.

Trường Lạc là con của quốc công Nguyễn Đức Trung, xuất thân thế gia như vậy lại phải tự đi vo gạo sao?

Theo góc nhìn của mình thì nghiêng về một cuộc hôn nhân chính trị để củng cố quyền lực hơn vì Nguyễn Đức Trung cũng có công phò tá Lê Thánh Tông lên ngôi.

Tiếp theo là Trường Lạc là con gái còn sót lại của Nguyễn Trãi, hay người con gái câm tên Nguyễn Thị Đào sau được làm phi tần của Lê Thánh Tông.

Trong phả hệ của Nguyễn Trãi, duy nhất chỉ có một người còn sống sót tên là Phu nhân họ Lê sau sinh ra người con là Anh Vũ, ngoài ra thì không còn ai khác.

Nên nghi vấn Trường Lạc là con gái của Nguyễn Trãi là bất hợp lý, phải biết rằng cho đến khi Lê Thánh Tông minh oan cho Nguyễn Trãi vào năm 1464 thì cuộc truy sát dòng họ Nguyễn Trãi trước đó vẫn diễn ra rất gắt gao, nếu ai dám bao che thì cũng phạm phải tội bất trung.


Cuối cùng là Trường Lạc Hoàng Hậu dùng độc để giết vua Lê Thánh Tông.

Nhiều nhà sử học gần đây nghiên cứu rằng có thể Trường Lạc đang cố dùng thạch tín (trong sử sách chỉ ghi là thuốc độc) để cứu vua vì người xưa bôi thạch tín vào những vết loét để khử trùng.

Nhưng đến khoảng thế kỉ XV đấy, Đông Y cũng nhận thức rõ là thạch tín là một chất cực độc không thể tuỳ tiện sử dụng.

Về việc chữa bệnh cho vua đáng nhẽ là do ngự y chịu trách nhiệm, hà cớ gì Trường Lạc Hoàng Hậu phải đích thân bôi thuốc khi không có chỉ định của ngự y.

Và nếu bà thật sự giết vua thì triều đình biết sao có thể để yên được.

Chỉ dựa vào 2 dòng lời bình (chính xác là 1 dòng 2 chữ) của sử gia Vũ Quỳnh trong Đại Việt sử ký toàn thư, mà vội kết luận việc Trường Lạc Hoàng Thái Hậu giết vua là thiếu cơ sở.

Nên mình sẽ trung lập về vấn đề này không khẳng định cũng không phủ định.

- Chuyện về các cung điện trong Hoàng thành.

Theo nhận định ban đầu của mình thì điện thiết triều chính có thể là điện Thị Triều vì nó cũng nằm trên trục thần đạo và vì nó có tên là Thị Triều (Xem triều).

Tham khảo một số nguồn thì điện Thị Triều trước đó là Kính Thiên Môn cho đến thời Lê Trung Hưng vua chủ yếu làm việc ở đây nên mới đổi tên thành Thị Triều.

Một số nguồn khác lại nói rằng đấy là hai công trình riêng biệt.

Trong ĐVSKTT có đoạn như sau:

"Trước đó, sau khi thành phục, thần chủ mới của Thái Tổ để ở điện Càn Đức.

Mỗi khi ra coi chầu, vua đứng tựa cột bên đông điện Hội Anh."

ĐVSKTT chép Thái Tổ làm điện Kính Thiên vào ngày 22 tháng Chạp năm 1428, trong khi Cương Mục và Thông Sử lại ghi lên ngôi ngày 15 tháng 4 tại điện Kính Thiên, sớm hơn tận 8 tháng, một điều tương đối vô lý.

Về cơ bản thì Cương Mục và Thông Sử đã nhầm lẫn và gán ghép Kính Thiên là chính điện trong suốt triều Lê nhưng điều đó chưa thực sự đúng.

Và mình cũng nhấn mạnh là không nên đồng nhất điện Kính Thiêm năm 1428 với năm 1465.

Chức năng của điện trước năm 1465 là gì thì mình không rõ nhưng nơi diễn ra thi đình được mô tả là sân điện Hội Anh, phải tận sau năm 1465 mới được tổ chức ở sân điện Kính Thiên.

Và một số cung điện khác như:

"Năm 1428, cho xây dựng lại một loạt cung điện làm nơi thiết triều, nơi nhà vua làm việc và nơi ở của hoàng cung.

Trục thần đạo đi từ Đoan Môn vào là cửa Chu Tước, điện Thị Triều, điện Cần Chánh và Hậu Cung.

Tương truyền điện Ngọc Hà được xây trên nền của khu vực trước là 1 nhánh của .

Sau này xây thành Đại La người ta đã lấp nhánh sông đó đi, nước dồn lại thành 1 cái hồ nằm ngay trước điện, muốn đi vào điện phải đi qua 1 cây cầu.

Do đó mà điện mới có tên là điện Ngọc Hà.

Ngoài ra, điện Vạn Thọ, là nơi ở của các hoàng đế nhà Lê trong suốt 100 năm tồn tại.

Phía đông điện này là Đông Cung, nơi ở của Thái tử.

Lê Thái Tổ cũng cho dựng nhiều cung điện lớn như Hội Anh, Cẩn Đức, Tường Quang, Giảng Võ, Thúy Ngọc, Thừa Hoa, Kim Loan, Bảo Quang, Thừa Thiên..."



- Chuyện về hệ thống quan lại dưới thời Lê Nhân Tông.

Thời Lê Nhân Tông mới chỉ có hai bộ là Lại bộ và Lễ bộ (Theo "Dư địa chí" của Nguyễn Trãi còn có Dân bộ, tức là Hộ bộ).

Đứng đầu mỗi bộ là thượng thư, giúp việc có tả thị lang, hữu thị lang hoặc tham tri.

Dưới cấp bộ là ty.

Đứng đầu mỗi ty là lang trung với viên ngoại lang và chủ sự giúp sức.

Giúp việc trực tiếp cho hoàng đế là trung khu gồm các quan tả, hữu tướng quốc, tam thái (thái sư, thái uý, thái bảo), tam thiếu (thiếu sư, thiếu uý, thiếu bảo), tam tư (tư mã, tư không, tư khấu), bộc xạ.

Dưới trung khu là hai ban văn, võ.

Đứng đầu ban văn là quan đại hành khiển.

Các bộ, ngành thuộc văn ban là bộ Lại, bộ Lễ, khu mật viện, hàn lâm viện, ngũ hình viện, ngự sử đài, quốc tử giám, quốc sử viện, nội thị sảnh, và các cơ quan khác gọi là quán, cục, hay ty.

Đứng đầu các bộ là quan thượng thư.

Đứng đầu ban võ là đại tổng quan.

Tiếp đến là các chức đại đô đốc, đô tổng quản, tổng quản, tổng binh, tư mã.

Ban võ gồm 6 quân điện tiền và 5 quân thiết đột.

Mình có làm một sheets các nhân vật lịch sử và chức vụ trong khoảng thời gian 1442-1458 được phổ theo ĐVSKTT, các bạn cần có thể tham khảo.


Ngoài ra, một số bài thơ được tham khảo từ Thi viện: https://www.thivien.net/

Đến đây thì cũng hơi dài rồi, cảm ơn các bạn đã đọc hết những lưu ý này trước khi đi vào bộ truyện.

Nếu có bất kỳ ý kiến hay đóng góp xin hãy nói cho mình để tránh những bất đồng, hiểu lầm về sau.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Cổ Tâm Sinh
Chương 1: Lạc thời


Mắt An Nhã mở choàng.

Thứ đầu tiên cô cảm nhận được là mùi khét của rơm cháy, mùi đất nồng xộc thẳng vào mũi.

Cô ngồi bật dậy.

Bụi bay mù.

Tay sờ quanh người, không có dây chuyền, không điện thoại.

Cô đưa tay lên nhìn da tay khác lạ, không còn vết chai do cầm bút quá nhiều.

Mái tóc rối bù, cột bằng một sợi vải thô.

Dưới chân là nền đất khô nứt, bên cạnh là vách rơm mục và mái tranh rủ thấp.

An Nhã không rõ mình tới đây bằng cách nào.

Ký ức cuối cùng của cô là khi đi cùng đoàn nghiên cứu đến nơi phát hiện một bia đá cổ.

Với vai trò là một dịch giả chữ Hán Nôm, trước giờ cô chủ yếu dịch các sách về Đông y, nay được giao cho một nhiệm vụ mới nên rất háo hức.

Bia đá đã bị phủ rong rêu, thời gian làm những chữ khắc trên bia cũng rất mơ hồ.

Ngay khi An Nhã chạm tay lên tấm bia cổ chợt loé lên một luồng sáng trắng.

Khi tỉnh dậy, cô thấy mình nằm trong một căn chòi đất giữa cánh đồng xa lạ.

Cô bước ra khỏi chòi.

Mắt chói nắng.

Trước mặt là đồng ruộng cằn cỗi, xa xa có người gánh nước qua lối đất đỏ.

Không cột điện, không xe cộ.

Mọi thứ như thể vừa bước ra từ một cuốn truyện cổ.

An Nhã vỗ vào mặt mình mấy cái để lấy lại tỉnh táo.

"Chết thật... mình không mơ."

An Nhã hoảng loạn.

Toàn thân nóng bừng.

Cô quay xung quanh tìm người, miệng khô đắng.

Trong đầu là hàng chục câu hỏi xoáy lấy nhau:

"Mình đang ở đâu?"

"Có ai ở đây không?"

"Có phải mình bị cướp rồi chúng ném mình tới đây không?"

Cô ngã sụp xuống cạnh một gốc cây, mồ hôi rịn ướt lưng.

- Cô bé kia, em làm gì ở đây?

Một giọng đàn ông vang lên sau lưng.

Chững trạc, trầm thấp nhưng không dữ dằn.

An Nhã quay lại, thấy một vị sư còn khá trẻ mặc áo nâu, gầy gò nhưng ánh mắt hiền lành, tay cầm quang gánh đang đứng nhìn cô.

Cô bé ư?

An Nhã năm nay cũng đã 32 tuổi rồi thậm chí cô đoán vị sư này còn nhỏ tuổi hơn cô ấy chứ.

Bỏ qua chuyện đó thì biết đâu người này có thể giúp cô tìm đường về.

- Tôi... tôi bị lạc.

- cô lắp bắp, rồi nhận ra giọng nói mình nhẹ hơn rất nhiều.

Vị sư nhíu mày, nhìn cô kỹ hơn một chút.

- Ta là Trí Mãn.

Em tên là gì?

Đến từ đâu?

- An...

An Nhã.

Tôi là người Hà Nội.

- Ta không biết nơi đó ở đâu.

Không phải người làng này, giữa mùa dịch thế này dân làng không ai dám chứa người lạ đâu.

An Nhã nhìn y, mắt đỏ hoe:

- Xin hãy cho tôi biết nơi này là nơi nào được không?

- Đây là làng Thanh Lưu, cách Đông Kinh một ngày đường.

An Nhã ngẩng đầu lên, mắt mở lớn.

- Đông Kinh?

Chữ đó vang lên trong đầu như một tiếng trống.

Không phải Hà Nội.

Không phải Thăng Long.

Mà là Đông Kinh - danh xưng kinh đô thời Hậu Lê.

Tay cô bất giác siết chặt, móng bấm vào da.

An Nhã nuốt khan, đầu óc quay cuồng giữa cái tên lịch sử ấy và giọng nói của vị sư trẻ vẫn còn đang kể lể chuyện làng.

Những mảnh ghép rời rạc từ trước từ chiếc áo nâu kỳ lạ, từ cảnh quan và con người nơi đây bỗng gắn lại với nhau.

Cô đã xuyên không.

Không phải một giấc mộng.

Không phải trong phim.

Một cảm giác lạnh lẽo lướt qua gáy.

Cả người cô như cứng lại.

Hơi thở nghẹn nơi cổ họng.

- Vậy... cho tôi hỏi năm nay là năm bao nhiêu?

Trí Mãn khựng lại, ngẩng lên nhìn cô đầy ngạc nhiên.

- Năm nay là năm Diên Ninh thứ năm.

- Diên...

Ninh?

An Nhã sững người.

Tai ù đi.

Tim đập mạnh đến nghẹn thở.

Cô nhẩm tính.

Diên Ninh thứ năm tức là năm 1458.

Lúc này vua Lê Nhân Tông đang trị vì, trong sử sách có ghi đây là một vị vua trẻ bị sát hại trong một cuộc chính biến.

Trí Mãn thấy cô tái mặt, lo lắng hỏi:

- Em không sao chứ?

- Trí Mãn nghiêng đầu nhìn cô lo lắng.

An Nhã gượng cười, nhưng khóe môi giật giật, không thể che giấu nỗi bàng hoàng.

Cô đáp khe khẽ, như nói với chính mình:

- Chỉ là tôi nhận ra mình không còn nơi nào để về thôi.

Trí Mãn lặng thinh một lúc, ánh mắt thấp thoáng xót xa.

Gió chiều phất nhẹ vạt áo nâu sồng.

Vị sa di trẻ tuổi ngước nhìn trời, rồi quay lại, giọng trầm ấm mà dịu như nước giếng trong:

- Nếu em không ngại, xin mời về chùa tạm trú.

Tiểu tăng từng nghe sư phụ dạy rằng: cứu một người giữa cơn hoạn nạn, cũng như chắp tay vái Phật nghìn lần.

An Nhã không đáp ngay.

Cô nhìn đôi dép rơm trên chân Trí Mãn, rồi nhìn xuống bàn tay mình ngón tay dính đầy nhựa cây và bụi tro.

Mọi thứ trong cô rối bời, chưa thể biết được rằng có còn quay trở lại thời hiện đại được nữa không.

- Cảm ơn anh...

- cô nói nhỏ, mắt nhìn xa xăm về phía lối mòn dẫn ra bìa làng - Nhưng nếu tôi không phải người nơi này, liệu có thể được ở lại không?

Trí Mãn mỉm cười, đôi mắt đen hiền như bầu trời sắp tắt nắng.

- Người có tâm từ bi, ở đâu cũng có thể là người của nơi ấy.

Huống chi chốn cửa thiền không hỏi người từ đâu đến, chỉ nhìn người có cần giúp hay không.

An Nhã im lặng.

Một lúc sau, cô gật đầu.

Nhẹ như chiếc lá rơi xuống mặt nước.

Cô đi theo vị sư trẻ, bước chân khập khiễng trên con đường đất đỏ giữa chiều nghiêng.

Phía xa, mái chùa thấp thoáng trong tán tre, chuông chùa dường như vừa ngân lên một hồi xa vắng.

Chỉ còn tiếng ve râm ran như bện kín mùa hạ.

Chùa Thiên Minh nằm khuất sau rặng tre già, nền đất rêu phong, cột gỗ lim đã sẫm màu thời gian.

Khi An Nhã theo Trí Mãn bước qua cổng tam quan, trong lòng vẫn còn vương đầy hoang mang nhưng sự yên tĩnh của nơi này lại như một bàn tay nhẹ nhàng đặt lên ngực, giúp nhịp tim cô dần chậm lại.

Sư trụ trì là một hòa thượng đã ngoài sáu mươi, pháp hiệu Thiền Tịnh, trán cao và mắt sáng như đã nhìn thấu vô thường.

Nghe Trí Mãn kể chuyện, ông chỉ khẽ niệm một tiếng "A Di Đà Phật", rồi từ tốn bảo:

-Người đến là duyên.

Duyên chưa rõ từ đâu, nhưng hễ còn lòng thiện, thì cửa chùa cũng không nỡ khép.

Từ đó, An Nhã ở lại chùa.

An Nhã được cho ở nhờ trong một căn phòng sát gốc đa sau chùa.

Đêm đầu tiên ở chùa Thiên Minh, trời trở lạnh bất chợt.

Trong căn phòng nhỏ lợp mái rơm cạnh nhà bếp, An Nhã nằm trên chiếc giường tre, lưng chạm lớp chiếu mỏng mà trằn trọc mãi không ngủ nổi.

Mùi khói bếp còn vương nơi tay áo, tiếng côn trùng râm ran ngoài bụi chuối lẫn vào tiếng tụng kinh xa xa, tạo thành một bản hòa âm xa lạ khiến lòng cô cứ dâng lên từng đợt chênh vênh.

Sáng sớm hôm sau, An Nhã ra giếng sau chùa lấy nước rửa mặt.

Trí Mãn đã để sẵn một thùng gỗ nhỏ, một chiếc gáo dừa và một tấm vải sạch.

Gió sớm lành lạnh lùa qua tóc, cô cúi xuống, múc gáo nước đầu tiên rửa lên mặt.

Khi cúi nhìn vào mặt nước trong veo đang lay động, cô khựng lại.

Hình ảnh phản chiếu dưới giếng không hoàn toàn giống những gì cô từng thấy trong gương thời hiện đại.

Đường nét vẫn là của cô, nhưng có gì đó rất khác.

Mắt sâu hơn, da trắng xanh hơn, và có một vẻ mong manh rất lạ, như chỉ mới độ chưa đến đôi mươi, như thể xuyên không không chỉ xáo trộn thời gian, mà còn lay chuyển cả cấu trúc cơ thể.

Cô đưa tay sờ má, chạm trán, rồi cúi nhìn bàn tay mình.

Không còn vết chai cũ nơi cầm bút.

Tiếng nước rơi tong tong bên thành giếng, gió thổi qua rặng tre xào xạc, nhưng cô đứng lặng rất lâu.

Một cảm giác kỳ lạ len vào tim vừa như xa lạ, vừa như tái sinh.

Cô chợt nhận ra: thân thể này có thể là tiền kiếp của cô ở quá khứ xa xôi.

Lúc Trí Mãn đi ngang, thấy cô vẫn đứng bên giếng, liền hỏi:

- Em không lạnh sao?

Nước sáng sớm ở đây rét lắm.

An Nhã quay đầu lại, mỉm cười khẽ khàng, nhưng trong mắt vẫn ánh lên một nỗi ngỡ ngàng sâu thẳm:

- Em chỉ đang cảm thấy hơi lạc lõng chút thôi.

Trí Mãn không đáp ngay.

Y chậm rãi phủi bụi nơi vạt áo, rồi đến đối diện cô, giữ một khoảng cách vừa đủ.

- Ta hiểu những ngày đầu em có thể thấy chưa quen với cuộc sống trong chùa.

- Ở đây em không giống ai cả.

Trí Mãn nhìn cô một lát, rồi nhẹ nhàng hỏi:

- Em từng sống ở một nơi khác lắm sao?

An Nhã trầm ngâm.

Cô cúi đầu, giọng nhỏ dần như đang tự kể cho chính mình nghe:

- Nơi ấy có những con đường rộng thênh, đèn sáng suốt đêm, người ta dùng một chiếc máy nhỏ để nói chuyện với người ở rất xa.

Cũng có bệnh viện lớn, nơi cứu sống người nhờ máy móc hiện đại.

An Nhã ngừng một lúc, quan sát biểu cảm của Trí Mãn.

- Có phải anh thấy em kì lạ lắm đúng không?

Cô cúi đầu, bàn tay siết nhẹ vạt áo:

- Em nói những thứ không ai hiểu, dùng từ ngữ xa lạ.

Nhiều khi sợ mình giống như người điên.

Mà buồn cười là em cũng không biết mình đang tỉnh hay đang nằm mơ nữa.

Trí Mãn im lặng một lúc, rồi cất giọng trầm đều:

- Có lần thầy trụ trì nói với tôi: "Kẻ điên có thể do tâm loạn.

Nhưng người tỉnh mà sống giữa thế gian điên đảo thì lại càng khổ."

An Nhã ngẩng lên, trong lòng thấy có chút an ủi.

Trí Mãn nhìn thẳng vào mắt cô, nói tiếp:

- Em không điên.

Những điều em nói, dù người khác không hiểu.

Nhưng ta tin chúng là thật, bởi vì ta biết em không phải người gian dối.

Gió cuốn nhẹ một nhánh tóc bên má An Nhã.

Cô bất giác đưa tay lên giữ lại, lòng như vừa được ai chạm khẽ.

- Cảm ơn anh vì đã tin em.

Trí Mãn chỉ khẽ cúi đầu.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Cổ Tâm Sinh
Chương 2: Y nữ


Những ngày đầu, chính Trí Mãn là người dẫn cô đi khắp nơi, chỉ cho cô từng gian phòng, cách gánh nước từ giếng, cách đun trà bằng củi khô, thậm chí bày cô tụng vài câu kệ buổi sáng để hòa nhịp sinh hoạt cùng với chúng tăng.

Đêm đó, trời trở gió.

Mùi ẩm mốc len vào vách tre.

Một tiểu sư chạy hớt hải vào sân:

- Sư phụ bị sốt cao rồi!

Không dậy nổi!

An Nhã đang nhóm bếp.

Nghe vậy, cô vội đặt nồi xuống, chạy theo.

Trụ trì chùa sư cụ đã ngoài sáu mươi, nằm liệt một chỗ, trán nóng ran, môi khô nứt.

Các sư khác vây quanh, luống cuống không biết làm sao.

- Hôm qua con đã lấy thuốc từ thầy lang nấu cho thầy uống rồi, đêm qua thấy thầy đã hạ sốt tưởng thầy sẽ chóng khỏi - Trí Mãn nói, đầy lo lắng và sốt sắng,

- Để em xem thử!

- An Nhã nói dứt khoát.

An Nhã ngồi xuống bên giường tre.

Trụ trì sư cụ Thiền Tịnh nằm thở yếu ớt, từng hơi như rút cạn sức lực.

Bàn tay gầy guộc nhô gân xanh, trán nóng bừng, mà bàn chân lại lạnh ngắt.

Cô không có nhiệt kế, không có máy đo huyết áp, càng không có thiết bị y học gì như ở bệnh viện thời hiện đại.

Nhưng với kiến thức y tế nhỏ từ người anh trai làm bác sỹ đã từng chỉ dạy cùng những y thư về Đông Y mà An Nhã từng dịch, cô cảm thấy mình có thể giúp ích được chút gì đấy.

An Nhã khẽ đưa tay sờ mạch ở cổ tay sư cụ mạch yếu, nhanh, không đều.

Cô ngửi thấy mùi nồng ở hơi thở, nhẹ thở ra:

- Nhiễm trùng rồi, có thể là viêm phổi hoặc sốt nhiễm khuẩn.

Rồi cô nói nhanh, giọng bình tĩnh nhưng gấp rút:

- Trí Mãn, anh giúp em đun một nồi nước sạch.

Cho gừng, lá sả, tía tô, đại bi, cúc tần càng nhiều càng tốt.

Trí Mãn chưa hiểu hết, nhưng gật đầu lập tức:

- Được!

Em cần gì nữa?

- Vải sạch để lau người.

Muối và gạo rang sắc thành nước cho thầy uống.

Anh bảo tiểu sư đun thêm ấm nước nữa phải giữ thân nhiệt đều.

Cô quay lại nhìn các sư đang hoảng hốt.

- Không được để thầy nằm trong gió lùa.

Che hết cửa hở lại, đốt lửa nhỏ ở góc phòng cho ấm, nhưng đừng để khói quá nhiều.

Một chú tiểu ngây người:

- Chị không phải thầy thuốc, sao lại biết mấy thứ ấy?

An Nhã mím môi, không trả lời.

Thay vào đó, cô vắt khăn sạch, lau mồ hôi lạnh và bóp nhẹ các đầu chi cho trụ trì.

Lát sau, nước xông đã chuẩn bị xong.

Cô dựng tạm một vách lều bằng chiếu, ủ cho thầy ngồi xông một khắc.

Mùi gừng sả bốc lên, mồ hôi từ trán sư cụ bắt đầu lấm tấm.

An Nhã cẩn trọng, luôn giữ ánh mắt quan sát mọi thay đổi.

Đến khi thân nhiệt dần hạ, trụ trì mở mắt mơ màng, môi khẽ mấp máy:

- Đây... là đâu?

Trí Mãn vội quỳ xuống:

- Thầy ơi, thầy tỉnh rồi!

An Nhã khẽ gật, giọng nhẹ đi:

- Không sao nữa rồi.

Người đổ mồ hôi được là tốt.

Nhưng vài ngày tới vẫn phải chăm sóc cẩn thận, tránh nhiễm lạnh.

Em sẽ sắc nước cho thầy uống thêm để bổ khí, giải độc.

Các sư trong chùa nhìn nhau, vừa mừng, vừa sửng sốt.

Trí Mãn đứng bên, bàn tay còn dính mùi khói, nhìn cô với ánh mắt khó tả một phần ngỡ ngàng, một phần thán phục.

Khi mọi người tản dần, chỉ còn hai người ở lại dọn thuốc, Trí Mãn mới khẽ hỏi:

- Em từng học y thuật ở đâu vậy?

Không giống thầy thuốc thường thấy.

An Nhã cúi đầu khuấy nhẹ nồi thuốc, tiếng gỗ chạm vành nồi vang lên từng nhịp lách cách.

Khói thơm từ thảo dược bốc lên vương nhẹ nơi vạt tóc cô, ánh lửa hắt lên gương mặt khiến đôi mắt trở nên sâu hơn, mờ đục bởi điều chưa nói hết.

- Bố mẹ em buôn thuốc cổ truyền.

Em có một người anh trai rất giỏi.

Anh ấy là bác sỹ đa khoa.

Gia đình em rất tự hào về anh trai, họ cũng muốn em đi theo nghiệp chữa bệnh cứu người như anh ấy.

Cô ngừng một chút, mắt chăm chăm nhìn vào màu nâu sẫm của nước thuốc đang sôi lăn tăn.

- Nhưng em... em cảm thấy mình quá kém cỏi, không theo nổi con đường ấy.

Em chọn học chữ Hán Nôm.

À ... em từng chép lại vài sách thuốc cổ, đôi khi cũng hiểu được ít điều.

Trí Mãn ngồi bên kia, hai tay đặt lên đầu gối, trầm mặc lắng nghe.

- Kém cỏi ư?

- Y khẽ nhắc lại - Nếu hôm nay em không có mặt ở đây, thầy đã nguy kịch rồi.

An Nhã hơi mím môi, quay sang nhìn y.

- Đó là may mắn.

Em không chắc mình làm đúng hoàn toàn.

Chỉ là khi thấy người bệnh, em không thể ngồi yên.

Trí Mãn mỉm cười, một nụ cười dịu nhẹ như sương đầu lá:

- Chẳng cần mang danh "thầy thuốc", lòng nhân ái mới là gốc của chữa bệnh.

An Nhã nhìn y hồi lâu, có điều gì đó như dịu lại trong tâm.

Gió đêm lùa nhẹ qua khe cửa tre.

Trong bếp nhỏ,chỉ còn hai người ngồi đối diện nhau giữa ánh lửa đỏ bập bùng.

***

An Nhã nghe Trí Mãn kể làng Thanh Lưu nằm bên triền sông Nhị, xưa kia từng là vùng đất trù phú, lúa tốt ngô đầy, mỗi sớm chiều đều vang tiếng trẻ con cười đùa dưới hàng cau.

Nhưng năm nay, vào cuối xuân đầu hạ, gió lạ từ phương Nam cuốn về mang theo mầm bệnh.

Ban đầu chỉ là vài người ho khan, sốt nhẹ.

Dân làng tưởng do thay đổi thời tiết nên không để tâm.

Nhưng chỉ trong nửa tháng, bệnh lan khắp thôn.

Người nhiễm bắt đầu rét run, rồi nóng bừng, ho đến tím mặt, mắt đỏ, môi nứt, nhiều người lên cơn mê sảng rồi gục ngay trên phản gỗ.

Có trẻ nhỏ đang chạy chơi cũng lăn ra sốt cao, mê man suốt ba ngày ba đêm, tỉnh lại thì không còn sức đứng dậy.

Mùi tử khí bắt đầu len lỏi giữa từng mái tranh.

Những ngôi nhà đóng kín cửa, khói bếp không còn bốc lên vào buổi sáng.

Xác người chết không kịp chôn.

Mấy người già bảo nhau đào huyệt cạn sau chùa, lấy chiếu bó thi thể.

Tiếng mõ tụng kinh buồn bã vọng qua màn sương dày như tro bụi.

Người làng vốn chất phác, nhưng khi đối mặt cái chết, ai nấy đều sợ hãi, né tránh nhau như né quỷ dữ.

Nhà có người bệnh liền bị tránh xa.

Trẻ con gào khóc khản giọng vì khát nước.

Những đêm trăng mọc, làng tối mịt.

Không đèn, không tiếng chó sủa.

Chỉ còn tiếng gió rít qua mái tranh và tiếng ho dồn dập, thưa dần rồi tắt lịm.

An Nhã lặng im suốt lúc Trí Mãn kể.

Không chen lời, không hỏi lại.

Chỉ ngồi đó, người khựng lại trên ánh mắt như đóng băng giữa căn phòng vắng.

Gió ngoài hiên khẽ lay vạt màn tre, mang theo mùi khói bếp cháy dở và cả mùi thảo dược nồng hắc trong ấm thuốc.

Nhưng bên tai cô, dường như chỉ còn lại tiếng gió rít, tiếng ho thắt nghẹn, tiếng khóc trẻ con trong cơn mê sảng từng âm thanh Trí Mãn đã vẽ bằng lời, giờ dội vang trong trí óc cô như có thật.

Cô đã từng nhập viện vì nhiễm bệnh cũng trong mùa dịch.

Cô biết sự bất lực của y tá khi đứng giữa các ca bệnh tràn lan không đủ thuốc, không đủ nhân lực, không còn giường.

Nhưng đây không phải là bệnh viện.

Là một ngôi làng, giữa thế kỷ mười lăm, không có kháng sinh, không có oxy, không có gì cả ngoài vài nắm lá cây và sự sợ hãi bao phủ như màn sương độc.

Trí Mãn rót một chén trà gừng đưa về phía cô, giọng chậm rãi:

- Thầy lang trong làng không đủ thuốc, bệnh tình thì ngày một trở nặng.

An Nhã không đưa tay nhận chén nước.

Cô nhìn Trí Mãn, giọng nhỏ nhưng rõ ràng:

- Hèn gì... hôm em đi xuống bến, chỉ thấy vài đứa trẻ gầy gò ôm nhau, không một bóng người lớn.

Đường làng thì vắng tanh.

- Họ sợ.

Người khỏe cũng sợ.

Nhà có người bệnh thì giấu.

Nhà không bệnh thì khóa cửa.

Ai cũng nghĩ: chờ qua mùa gió này, rồi mọi thứ sẽ ổn.

Nhưng em thấy đấy mỗi ngày lại có thêm người ho, thêm người sốt.

Một cơn gió thốc qua hiên chùa.

An Nhã khẽ kéo lại vạt áo.

- Em không muốn ngồi yên như này.

Trí Mãn im lặng, biết cô đã quyết.

- Em muốn dọn một nơi có thể tiếp nhận người bệnh theo từng nhóm cách ly.

Em sẽ hướng dẫn mọi người rửa tay bằng nước tro, sát khuẩn bằng muối.

Còn thuốc thì để em tìm từng vị một, gom từng chút.

- Em định làm một mình ư?

- Không.

Em cần sự cho phép của thầy trụ trì.

Và cần anh nữa.

Trí Mãn nhìn cô dáng người nhỏ bé nhưng ánh mắt thì kiên định như một ngọn đèn trong gió lớn.

Y khẽ chắp tay:

- Thầy trụ trì từng nói: "Người thật sự tu hành, không phải tụng nhiều kinh, mà là dám mở lòng giữa khổ đau của chúng sinh."

An Nhã mím môi, gật đầu.

Bóng đêm dày đặc ngoài làng.

Độ một tuần sau khi sư trụ trì đã bình phục hoàn toàn, Trí Mãn cùng An Nhã đã bày tỏ muốn lập một y trạm chữa bệnh cho dân làng.

Sư cụ Thiền Tịnh đã chống gậy ra sân, gọi các sư lại.

Giọng người già tuy yếu nhưng vẫn có uy nghiêm lặng lẽ:

- Con bé An Nhã tuy không giống ai, nhưng có lòng.

Nó cứu được ta thì biết đâu cứu được nhiều người nữa.

Từ bi không nằm ở tuổi tác hay pháp danh.

Ta cho phép nó dựng một cái lều nhỏ ngoài sân chữa bệnh cho dân làng.

Chúng tăng cúi đầu lĩnh ý.

Trí Mãn thì cúi thấp hơn cả, mắt ánh lên sự thầm vui mà không nói thành lời.

Một mảnh vườn nhỏ phía sau chùa được dọn sạch.

Cỏ dại được nhổ lên, vài khóm chuối được chặt bớt.

Trí Mãn cùng An Nhã tự tay dựng lấy một cái lều lợp lá, khung tre đơn sơ nhưng vững chãi.

Sư cụ cho mượn thêm một cái nồi đồng cũ, một chiếc bàn gỗ bị mối gặm từ lâu, và một ghè nước mưa đựng trong chum lớn.

Vài rổ lá thuốc được phơi từ hôm trước đặt bên hiên.

Một cái chõng tre cũ được kê làm giường bệnh.

Y trạm của An Nhã bắt đầu từ đó.

Không có biển hiệu, không có bảng danh, cũng chẳng ai gọi cô là "lang y" hay "thầy thuốc".

Nhưng dân làng nghe tin sư cụ được cứu khỏi trận sốt đã tưởng nguy, liền bắt đầu tìm tới.

An Nhã mỗi ngày lại đón thêm vài người.

Cô không có đủ thuốc tân dược, không có kháng sinh, nhưng những gì học được từ anh trai là một bác sĩ, những vị thuốc từng thấy qua khi ở cùng bố mẹ và từ các sách cổ cô từng chép lại, như sống dậy trong tay.

Cô biết cách sát trùng bằng nước muối đun sôi.

Biết cách chườm nóng giảm sưng.

Biết dùng lá xông, bấm huyệt.

Và quan trọng nhất cô biết lắng nghe.

Người ta đến không chỉ vì bệnh, mà vì cô không chê, không hỏi họ có tiền hay không, không nặng lời khi họ ngờ vực.

Chỉ cần một ánh mắt dịu dàng, một bàn tay ấm, một chén nước nóng đưa tận tay.

Trí Mãn mỗi ngày đều giúp cô lấy nước, nhóm bếp, sắc thuốc, kê bàn.

Vài vị sư trong chùa cũng tham gia giúp đỡ: người giữ sổ theo dõi ai đến khám, người chia gạo phát cháo, người lo đưa cơm cho nhà có bệnh nặng.

Những người đầu tiên được Trí Mãn đích thân đưa đến là người già neo đơn, trẻ nhỏ sốt cao, vài sản phụ yếu sức.

Họ ban đầu còn sợ, chỉ dám ngồi nép ngoài mép hiên, nhưng khi thấy một đứa trẻ ho sù sụ bớt sốt sau hai ngày xông và uống thuốc, lòng tin bắt đầu nhen lên.

An Nhã làm việc gần như không nghỉ.

Trí Mãn thì mỗi ngày đều gánh nước, chẻ củi, đi hái thuốc cùng cô.

Cô dạy người làng cách đun nước gạo rang pha muối để bù nước, ngâm lá tía tô xông nhà, bày họ tách riêng người bệnh và người khoẻ.

Từ y trạm nhỏ ấy, từng làn khói thuốc bốc lên, hương gừng, sả, ngải cứu len qua cả những mái tranh xa xăm.

Nhiều tuần sau, số người bệnh ở làng Thanh Lưu đã giảm đi nhiều.

Dù vẫn còn người bệnh, nhưng số người sốt cao đã giảm.

Những đứa trẻ ho khan bắt đầu chạy nhảy lại, tiếng cười rón rén quay trở về nơi giếng nước.

Đêm xuống, một vài ngọn đèn dầu lại sáng lên trong nhà dân dấu hiệu của sự sống hồi sinh.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Cổ Tâm Sinh
Chương 3: Từ giã


Trời về khuya, gió giật mạnh qua tán tre, mang theo mùi đất ẩm nồng sau trận mưa đầu mùa.

An Nhã đang chợp mắt bên nồi thuốc thì một tiếng la thất thanh vang lên từ dưới làng:

- Cứu với!

Có ai không?!

Con trai tôi... nó sắp chết rồi!

Cô bật dậy.

Tiếng chân người chạy gấp vang lên ngoài sân.

Trí Mãn vội vã xông vào, thở dốc:

- Thằng Bính, con nhà chị Lự sốt cao giờ lên cơn co giật rồi!

Không kịp mang đủ thuốc.

Không kịp suy tính.

An Nhã chỉ kịp quấn khăn, xách túi vải nhỏ, lao theo Trí Mãn trong đêm đen như mực.

Đến nơi một căn nhà lụp xụp ven lạch nước người mẹ ôm lấy đứa trẻ đang co giật dữ dội, hai tay hai chân cong quặp như cành khô, mắt trợn ngược, bọt trắng trào ra miệng.

Trong góc, một bé trai nhỏ hơn đang gào khóc thảm thiết, mặt mũi lấm lem.

- Nằm nghiêng thằng bé lại!

- An Nhã quỳ xuống, rút khăn sạch, cố gắng nhét vào miệng thằng bé ngăn cắn lưỡi.

- Đừng để đầu đập xuống đất!

Cô áp tai lên ngực bé.

Tim đập loạn, hơi thở đứt đoạn.

- Là sốt gây co giật!

Nếu không hạ nhiệt trong mười phút nữa não sẽ tổn thương!

Không điện.

Không y tá.

Không thuốc tây.

Không có gì ngoài trí nhớ, nhưng cô không cho phép mình bỏ cuộc.

- Trí Mãn!

Lấy rượu gừng.

Một nồi nước thật sôi.

Nhanh lên!

- Đây!

Cô vội xoa bóp các huyệt ở gáy, cổ tay, lòng bàn chân.

Lấy nước sôi, thấm vào vải, chườm liên tục ở trán, hõm nách, bẹn, gan bàn chân những nơi tỏa nhiệt mạnh nhất.

Cơn giật vẫn không dừng.

Cơ thể đứa trẻ lạnh dần, nhưng mặt lại nóng rát như than hồng.

Bàn tay cô cũng đỏ bừng.

- Không được ngủ!

Cố lên nào, nhóc con!

Tỉnh lại đi!

- Cô áp tay lên tim thằng bé, như muốn truyền một nhịp đập của mình vào đó.

Một phút.

Hai phút.

Cả căn nhà chỉ còn tiếng nước nhỏ tí tách, và tiếng cầu khẩn nghẹn ngào của người mẹ:

- Xin trời thương lấy con tôi... xin cứu con tôi...

Rồi bất chợt đứa bé khẽ giật nhẹ.

Mi mắt chớp một cái.

Ngực phập phồng yếu ớt.

- Em tỉnh rồi...

- An Nhã thì thầm, như chính mình mới được hồi sinh.

Đứa bé lim dim mắt.

Cơn co giật tan dần.

Đầu mềm ra.

Thân thể buông lơi vào vòng tay mẹ.

Tiếng khóc vỡ òa.

Không phải tiếng tang thương mà là tiếng của hy vọng trở về.

Trí Mãn đứng lặng một bên, bàn tay siết chặt cán nồi nước, đôi mắt hoe đỏ.

Ngoài trời, gió vẫn hú, nhưng đêm dường như đã bớt lạnh hơn.

***

Tin đồn lan nhanh như lửa gặp gió.

Người từ làng trên ghé tai người làng dưới.

Người bán muối kể lại với người thu thuế.

Ở chùa Thiên Minh, có một nữ y cứu được người mắc bệnh chết chóc.

Chuyện đến tai quan phủ huyện, rồi quan phủ mật tấu gửi về triều.

Trong cung, vị hoàng đế từ nhỏ ngọc thể yếu ớt, người dễ mang bệnh.

Lúc nghe tin có một nữ y chữa được dịch bệnh lạ, hoàng triều không thể ngồi yên.

Một sáng, khi gà vừa gáy canh tư, tiếng vó ngựa và tiếng khiên giáp rền rĩ vọng khắp cánh đồng.

Ngự binh theo lệnh từ kinh thành về thẳng làng Thanh Lưu, dẫn đầu là một viên quan trẻ mặc áo xanh, ngồi trên lưng ngựa cao lớn, tay cầm ống lệnh.

Dân làng hoang mang.

Người đóng cửa.

Người nép sau hàng rào tre.

Khi đoàn binh đến trước cổng chùa Thiên Minh, Trí Mãn đã đứng chắn ngay bậc tam cấp.

An Nhã từ y trạm bước ra, cố giữ nét mặt điềm tĩnh.

Viên quan mở ống lệnh, rút chiếu chỉ, cất giọng rành rọt:

- Phụng mệnh triều đình, nghe tin nơi trấn có người nữ y chữa được dịch quái, nay đặc cách triệu vào Kinh thành, đưa về ngự y viện kiểm nghiệm tài y thuật, dùng vào việc cứu dân, giúp nước.

Mọi người nín thở.

An Nhã vẫn đứng im.

Nhưng phía sau, tiếng xì xào dâng lên như sóng:

- Không thể!

- Cô ấy là người cứu làng ta...

- Triều đình có bao giờ đoái hoài đâu, giờ vừa nghe tin liền muốn đem đi?

Một cụ ông tay chống gậy, run rẩy bước ra:

- Cô ấy chưa đi được.

Cả làng này còn đang nhờ vào cô ấy từng ngày.

Người khác cất tiếng:

- Không ai cứu được chúng tôi ngoài cô ấy!

Các ông định bắt cô ấy đi, ai lo cho lũ trẻ?

Ai sắc thuốc cho người bệnh?

Tiếng phản đối dần biến thành làn sóng.

Dân làng kéo đến trước chùa, đứng chắn giữa đoàn ngự binh và y trạm lá nhỏ.

Có người khóc, có người lặng im nhưng tất cả đều ánh lên một điều: không muốn buông người con gái ấy đi đâu.

An Nhã nhìn đám đông, tim như thắt lại.

Cô chưa từng nghĩ mình sẽ thành chỗ dựa cho một nơi xa lạ.

Cô quay sang viên quan, giọng nhẹ nhàng nhưng dứt khoát:

- Tôi nguyện tuân mệnh triều đình.

Nhưng xin cho tôi ba ngày.

Ba ngày thôi để sắp xếp, để truyền lại cách trị bệnh cho người làng.

Sau đó, tôi sẽ theo các ngài về kinh thành, không trễ một khắc.

Viên quan nhìn đám đông.

Rồi nhìn cô gái tóc buộc vội, áo còn dính khói thuốc, nhưng ánh mắt cương quyết như một người đã trải qua ngàn kiếp sinh tử.

Y chắp tay, cúi đầu:

- Ta cho cô ba ngày.

Nhưng đúng canh tư ngày thứ ba, ngự binh sẽ chờ ngoài cổng.

Ba ngày.

Ba ngày cuối cùng ở lại làng Thanh Lưu, nơi cô đã xem như quê nhà thứ hai.

Ba ngày để dạy lại cách nấu nước xông, phân loại triệu chứng, chỉ rõ loại lá nào trị sốt, loại rễ nào hạ độc, lá nào cầm máu.

Ba ngày để An Nhã từ giã những ánh mắt biết ơn, những cánh tay nhỏ níu áo, những bàn tay già nhăn nheo run rẩy đặt vào tay cô củ khoai, một nắm muối như thể đó là cả gia tài.

Canh tư ngày thứ ba.

Trăng mờ.

Gió lặng.

Trên con đường đất hun hút dẫn ra khỏi làng Thanh Lưu, có một bóng người đang đi giữa hai hàng dân làng đứng lặng.

An Nhã mặc áo nâu sồng cũ, tóc vấn gọn, vai đeo túi vải nhỏ đựng dăm thang thuốc còn dang dở, tay cầm chiếc lọ gốm bọc vải.

Phía sau là đoàn ngự binh hộ tống, bước đi rầm rập như sóng nước.

Không ai trong làng nói gì.

Chỉ có tiếng dép kéo nhẹ trên đất, vài tiếng hít thở run rẩy, và những đôi mắt đỏ hoe.

Trí Mãn đi bên cạnh, không mặc áo tu hành như mọi khi, chỉ khoác một tấm áo xám mỏng.

Đến cổng làng, An Nhã dừng bước.

- Em đi đây.

Trí Mãn im lặng.

Một lúc sau, y khẽ nói:

- Chốn cung đình không giống nơi đây.

Xô bồ cũng nhiều toan tính.

An Nhã mỉm cười, ánh mắt dịu dàng nhưng cương quyết:

- Em biết.

Nhưng nếu nơi ấy có người cần được cứu chữa thì em vẫn phải đi.

Y cắn môi, bàn tay siết lại đến trắng bệch.

Cuối cùng, y đưa ra một chiếc túi vải nhỏ đã buộc chặt:

- Đây là một ít lá ngải, vỏ quýt khô và chút trầm.

Lỡ nơi đó quá ồn ào, gió lạnh, em có thể dùng.

Không nhiều nhưng là thứ duy nhất ta có thể gửi em mang theo.

An Nhã đón lấy.

Không nói thêm gì, chỉ cúi đầu thật sâu.

Khi cô bước lên xe ngựa, có ai đó trong đám đông bật khóc.

Rồi những tiếng nấc vang lên như sóng tràn.

Cả làng Thanh Lưu - nơi từng là cõi chết lặng im nay tiễn một người đi như tiễn cả ánh sáng mùa xuân.

***

Đoàn xe lăn bánh.

Qua rặng tre, qua cánh đồng lúa vừa gặt, qua sông Nhị phẳng lặng như gương.

Đông Kinh còn xa nhưng bóng cung cấm, triều đình và cạm bẫy đã thấp thoáng phía chân trời.

An Nhã vén rèm, nhìn về hướng làng cũ.

Không ai nói, nhưng cô biết: sẽ không thể quay về dễ dàng.

Phía trước là những bức tường sơn son, là chiếu chỉ, là chốn quan trường.

Là những cặp mắt soi mói, nghi kỵ.

Là một thế giới khác, không thuộc về dân gian, không thuộc về y trạm lá tre bên chùa, không thuộc về mảnh ruộng lặng thinh dưới sương mai.

Nhưng cô đã chọn.

Chọn đi đến cùng con đường mình tin là đúng dù phía trước là ánh vàng rực rỡ hay vực thẳm.

Kinh thành Đông Kinh tháng 7 năm Diên Ninh thứ năm.

Sáng sớm, mặt trời chưa lên khỏi lầu canh, tiếng chuông canh ba vẫn còn văng vẳng.

Một chiếc xe ngựa nhỏ tiến vào Đoan Môn, qua cửa Chu Tước uốn quanh bờ tường sơn đỏ, nơi rồng đá xếp hai hàng như đang cúi đầu.

Bên trong xe, An Nhã đang co mình lại, tay siết chặt mép áo, mùi thuốc mộc hương còn chưa tan khỏi vạt áo.

Mỗi bước tiến vào hoàng thành là một lớp khí lạnh buốt sống lưng.

Không phải vì trời.

Mà vì ánh mắt.

Thái giám, nội quan, thị vệ, cung nữ từng người lướt qua cô, đều mang cùng một dáng vẻ: Lạnh lùng.

Nhìn người như nhìn cỏ rác.

Điện Hội Anh hôm nay không mở đại triều.

Thánh thượng - Diên Ninh Hoàng Đế - Bang Cơ khi ấy vừa tròn mười bảy tuổi.

Y ngồi trên ngai rồng, mắt chăm chú đến mức lạnh lẽo.

Bên cạnh, là một người phụ nữ quý phái, ánh mắt sắc như dao - Tuyên Từ Hoàng Thái Hậu.

- Ngươi là người đã chữa khỏi dịch bệnh ở làng Thanh Lưu?

Giọng nhà vua vang lên không lớn, nhưng âm sắc như nước lạnh đổ qua tầng đá.

Cả gian điện rộng im phăng phắc.

Tất cả ánh mắt đều dồn về phía người con gái đang quỳ nơi thềm ngọc.

An Nhã cúi đầu:

- Dạ... dân nữ không dám nhận công.

Chỉ là hữu tâm hữu y.

Vua hơi nghiêng người, đôi mắt trẻ nhưng ẩn một tầng nhìn rất chững trạc:

- Ngươi học y từ đâu?

- Dân nữ học từ sách cổ.

Học từ lời người xưa truyền lại.

Nhà vua khẽ cười.

Không rõ là tán thưởng hay thử thách.

- Nếu thật là ngươi có tài hẳn trả lời được câu này.

Y ngẩng đầu.

Mắt như hồ thu tĩnh lặng nhưng bên trong vừa có ai ném xuống một hòn đá nhỏ, khẽ gợn sóng.

- Trong Kinh thư Ngũ kinh có viết: "Tâm dược như dương chi thủy, tuế tuế bất lưu hình."

Hỏi: Trong lời ấy ẩn chữ gì?

Câu hỏi nhẹ như gió lướt qua, mà đè nặng lên cả không khí trong điện.

Đây không chỉ là phép thử mà còn là thanh đao bọc nhung.

Trả lời sai là bất tài.

Trả lời đúng quá là ngạo mạn.

An Nhã cúi thấp hơn, không hốt hoảng.

Không đáp vội.

Trong đầu cô, bao nhiêu tầng nghĩa bắt đầu mở ra: thơ cổ, chữ Hán, ẩn tự, tâm pháp trị thế...

Một nhịp thở.

Rồi cô ngẩng lên, giọng trong trẻo nhưng vững vàng:

- Là chữ Nhẫn.

Vì "Tâm" đứng dưới "Đao" hợp thành chữ "Nhẫn".

Dương chi thủy là thứ nước tinh khiết từ cành liễu, nhìn như vô sắc vô hình, nhưng có thể thấm vào từng thớ đất, từng vết nứt trên đá.

Cũng như Nhẫn không hiện hình, nhưng có thể di sơn đảo hải.

Người chữa thân bệnh thì dùng dược.

Người chữa tâm bệnh thiên hạ thì phải lấy Nhẫn làm đầu.

Cả điện lặng đi.

Không tiếng quạt lụa.

Không tiếng thở mạnh.

Không ai dám cử động.

Rồi nhà vua bật cười.

Là tiếng cười thật sự không gượng gạo, không chế giễu, không phải kiểu cười trong triều để giữ mặt mũi.

- Ngươi giỏi lắm.

Không phải hạng tầm thường.

An Nhã cúi đầu sâu hơn:

- Dân nữ không dám nhận.

Vua nghiêng đầu, mắt vẫn không rời cô:

- Không cần khiêm.

Trẫm cần người hiểu được lòng trẫm hơn cả trăm lời tấu của đại thần.

Phía bên tả điện, Tuyên Từ Hoàng hậu khẽ nghiêng mặt, nhìn An Nhã.

Đôi mắt bà sâu như nước hồ tháng Chạp nhìn một lần, khó mà quên.

Bà không cười.

Không gật.

Nhưng cũng không cản.

- Ngươi từng dùng gì để hạ nhiệt cho những người bệnh ở Thanh Lưu?

Giọng nói ấy vang lên nhẹ như gió sớm, nhưng đủ khiến An Nhã giật mình.

Cô ngẩng đầu lên, bắt gặp ánh nhìn thẳng thắn từ người ngồi trên ngai nhỏ cạnh án thư.

- Tâu bệ hạ, là nước gạo rang pha cùng muối rang.

Một thứ đơn sơ, dân gian nhất.

Nhà vua không đáp.

Y chỉ khẽ đặt chén trà xuống chiếc kỷ gỗ bên cạnh, rồi đứng dậy, bước đến rất gần cô.

- Ngươi không giống người ở đây.

- ...

Dạ?

- Cách hành lễ.

Cách ngươi nói.

Không e sợ.

Cũng không lấy lòng.

An Nhã hơi lúng túng.

Cô cúi đầu, nhưng không biết nên đáp thế nào cho phải phép.

Y lại nói, giọng chậm hơn:

- Ta thường mỏi.

Nhất là về chiều.

Đầu nặng, khó ngủ, mạch nhanh, khô miệng.

Các ngự y bảo là do can hỏa vượng.

Họ kê toa, sắc thuốc nhưng uống vào, chỉ càng thêm mệt.

An Nhã khẽ gật, rồi bước lại gần.

Tay cô lạnh khi đặt lên cổ tay của vua.

Mạch nhanh.

Rất nhanh.

Không giống tạng người vốn gầy gò, thư sinh như y.

- Tâu bệ hạ... thần nghĩ, không chỉ là can hỏa.

Là do khí uất lâu ngày ảnh hưởng đến tỳ vị.

Can khí uất thì sinh hỏa, tỳ hư thì mất điều hòa.

Gốc ở tâm chứ không chỉ ở tạng.

Vua bật cười, một nụ cười không vui:

- Nói trắng ra là lòng trẫm có nhiều phiền muộn.

An Nhã ngẩng lên.

Và lần đầu tiên, cô chạm thẳng vào đôi mắt của người được gọi là thiên tử.

Mười bảy tuổi.

Là vua một nước.

Mắt y sáng và sâu như mặt hồ mùa thu lặng lẽ đến nỗi ai nhìn cũng tưởng yên ổn, nhưng chỉ cần cúi xuống là thấy đáy hồ lạnh đến buốt tim.

- Nếu bệ hạ tin thần xin kê một phương thật đơn giản.

Vài thảo dược thanh tâm kiện tỳ.

Y nhìn cô một lúc.

Rồi gật đầu.

Nhà vua xoay lại, dõng dạc:

- Truyền chỉ.

Ban cho dân nữ An Nhã chức Thảo dược y nữ, lưu tại Thái Y Viện, chuyên coi hương dược, điều phối toa thuốc.

Lãnh ba quan mỗi tháng.

An Nhã cúi đầu tạ ơn, lòng chẳng rõ là nên mừng hay nên run.

Khi bước ra khỏi gian điện, đến bên ngưỡng cửa, y quay đầu về phía cô:

- Lần sau...

Giọng y khẽ khàng, nhưng thẳng thắn:

- Đừng cúi đầu quá lâu.

Trẫm không thích người có tài lại cứ mãi nhìn xuống đất.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Cổ Tâm Sinh
Chương 4: Dược Lâm


Sau buổi yến thiết đãi tại Ngự y phòng, An Nhã trở về tịnh thất nhỏ trong cung mà cô được ban cho để nghỉ ngơi.

Nhưng vừa đến cửa, cô mới sực nhớ mình để quên một quyển sách thuốc cổ ở Thư viện Nội Các.

Vốn định đợi sáng hôm sau quay lại lấy, song trong lòng cứ cảm thấy bứt rứt không yên, cô đành bước ra khỏi điện trong đêm, lần theo lối mòn trong cung đã đi qua ban ngày.

Giữa lúc mải miết rẽ vào một ngõ nhỏ, cô chợt dừng lại.

Trước mắt không còn là con đường quen thuộc, mà là một khu vườn tràn ngập hương thơm thảo dược dịu nhẹ, tươi mát và thanh lành.

Những luống cây được chăm chút gọn gàng, đặt cạnh nhau theo từng nhóm công dụng.

Dưới ánh trăng lấp lánh, những bông hoa cúc, hoa hòe, lá bạc hà lay động nhẹ trong làn gió.

- Nơi này là đâu vậy?

- cô lẩm bẩm.

- Là Vườn Dược Lâm - một giọng nam ôn hòa vang lên sau lưng cô.

An Nhã quay người lại, ánh mắt ngỡ ngàng nhìn người thanh niên trẻ tuổi đang bước đến.

Y ăn mặc không quá cao sang, chỉ khoác áo vải màu ngà, tay cầm một cuốn sách mỏng, sắc diện bình thản.

Gương mặt y như được chạm khắc từ gỗ trầm, mang vẻ nhã nhặn, ôn tồn, ánh mắt không sắc lạnh cũng không quá nhiệt tình chỉ tĩnh lặng như mặt hồ thu.

- Ta chưa từng thấy cô đến đây, chắc là đi lạc?

An Nhã vội khẽ cúi đầu:

- Xin lỗi anh, quả thực ta đi nhầm đường, không ngờ lại lạc vào chốn này.

Y mỉm cười:

- Vậy thì cũng là duyên.

Người có tâm với y học mới có thể nhận ra đây là vườn thuốc.

An Nhã nhìn quanh, tò mò bước đến bên một luống cây lạ:

- Cây này là xuyên tâm liên?

Nhưng hình dáng hơi khác so với loại ta từng thấy.

Y hơi nhướng mày:

- Không sai.

Là giống được trồng tại vùng Thanh Hóa, ta có điều chỉnh cách chăm bón để gia tăng dược tính thanh nhiệt.

An Nhã chợt quay đầu nhìn y:

- Anh cũng nghiên cứu y dược?

Y gật nhẹ:

- Chỉ là đọc vài sách cũ, không dám nhận là tinh thông.

Cô cười, ánh mắt long lanh lấp lánh:

- Chẳng hay anh có từng đọc 'Nam dược thần hiệu' của Tuệ Tĩnh không?

Đây là một trong những cuốn sách đầu tiên mà An Nhã hỗ trợ dịch lại.

Y ngạc nhiên:

- Có đọc qua.

Nhưng không ngờ cô cũng am hiểu y thư đến vậy.

Hai người cùng sánh bước qua vườn, nói về từng loại thảo dược, về tính hàn, thử, táo, thấp, hoả, về việc dùng dược kết hợp như thế nào để điều trị dịch bệnh.

Cuộc đối thoại tưởng như giữa hai cố tri.

- Cô có vẻ chưa biết đến ta, nên không dè chừng?

- y bất ngờ hỏi.

An Nhã thoáng sửng sốt, rồi mỉm cười:

- Vì anh cũng không nhìn tôi bằng ánh mắt đề phòng.

Tôi nghĩ, nếu là người làm chuyện khuất tất, đã chẳng chăm sóc vườn thuốc kỹ càng đến vậy.

Y nhìn An Nhã chăm chú trong khoảnh khắc.

Trăng đổ ánh bạc lên gương mặt cô, nét dịu dàng ẩn sau sự điềm tĩnh.

- Cô tên gì?

- An Nhã.

- Tên rất hợp với người.

Y khẽ gật đầu, rồi bước nửa vòng, đứng nghiêng bên cột gỗ sơn son, tay đặt lên lan can, mắt lơ đãng nhìn vào mảng trời chiều ngoài sân điện.

- Ta là Khắc Xương.

Từng chữ buông ra chậm rãi.

Không hề nhấn mạnh.

Nhưng với An Nhã là tiếng sét.

Lê Khắc Xương.

Trí óc cô như bị kéo ngược về những dòng sử đã từng học.

Nơi đó, cái tên ấy chỉ xuất hiện một cách mờ nhạt, bị che lấp sau bóng dáng những cái tên khác: Lê Nhân Tông, Lê Nghi Dân, Lê Thánh Tông...

Khắc Xương - con thứ của vua Thái Tông.

Một vị vương gia có học thức, sống sót qua những biến loạn cung đình, nhưng cũng không được bao lâu.

Tim cô chợt khựng lại một khắc.

Bàn tay giấu trong tay áo siết nhẹ.

Nhưng gương mặt vẫn điềm tĩnh như thường.

Trong nháy mắt, hàng trăm dòng sử ký như dội ngược về.

An Nhã cắn răng, giữ tay không run.

An Nhã thoáng ngẩn người.

Ngay lập tức, như bản năng phản xạ, cô bước lùi một nửa nhịp chân, rồi quỳ gối, cúi rạp mình hành lễ, hai tay đặt nghiêm trước trán:

- Thần nữ thất lễ!

Xin kính bái Vương gia!

Phía trước, y cất tiếng, vẫn ung dung:

- Không cần.

Không ở trong cấm cung không cần hành lễ như vậy.

Gió nhẹ lướt qua tay áo y, bay qua mặt cô.

An Nhã đứng yên.

Trong lòng dâng lên một cảm giác rất khó gọi tên: là kính trọng là thận trọng hay là một dự cảm không lành?

An Nhã ngẩng đầu, từ từ đứng lên.

Nhưng đôi mắt vẫn tránh nhìn thẳng.

Cô sợ nếu để y thấy đáy mắt mình, sẽ nhận ra trong đó ẩn quá nhiều điều không nên biết.

Y im lặng.

Chỉ lặng lẽ nhìn cô thêm một chút.

Trong ánh mắt ấy, không có sự soi xét chỉ có vẻ tĩnh mịch như người đã chứng kiến quá nhiều sóng gió, nên chỉ còn lặng yên để nhìn người khác đi qua.

Y không nói gì thêm, chỉ dẫn cô ra lối nhỏ dẫn về Nội Các.

Trước khi chia tay, y dừng chân dưới gốc bạch đàn:

- Nếu có dịp, mời cô trở lại Vườn Dược Lâm.

Có một số bài thuốc ta vẫn còn muốn hỏi ý.

An Nhã gật đầu, ánh mắt sáng ngời:

- Được, nếu Vương gia không phiền.

- Ở trong nội điện này kẻ giữ được tâm bình, rất ít.

Kẻ giữ được lời nhẹ, còn ít hơn nữa.

Ta mong cô đừng mất cái bình ấy.

Dù ở cạnh ai.

Y khẽ chắp tay, nghiêng mình một lễ không theo lễ nghi cung đình, mà như một người quân tử chào một người tri kỷ chưa thành.

Rồi y quay lưng, dáng áo nhẹ nhàng khuất sau vòm lá.

Cô lặng một lúc lâu.

Ánh trăng vằng vặc phủ khắp khu vườn, thơm mùi thảo dược, gió thoảng mang theo một mùi hương lạ.

***

Trưa hôm ấy, mây lững lờ trôi qua mái điện Cần Chánh, ánh nắng chạm nhẹ lên hàng hiên cẩm thạch.

Trong nội điện, không khí im như mặt nước hồ thu.

An Nhã quỳ gối chờ, y phục gọn gàng, tóc vấn cao theo lệ ngự y, sắc mặt vẫn bình tĩnh dù trong lòng không rõ chuyện gì sắp đến.

Tấm rèm trướng vừa vén, Bang Cơ bước ra từ bên trong, vẫn vận thường triều phục, tay áo thêu hình mây vàng uốn quanh.

Dáng đi chậm rãi, nhưng thần sắc mỏi mệt, lông mày khẽ chau lại.

Y ngồi xuống ngự tọa, im lặng nhìn cô trong thoáng chốc, rồi phất tay áo:

- Miễn lễ.

Lại gần đây.

An Nhã đứng dậy, tiến thêm vài bước, cúi đầu.

- Thần nữ phụng triệu, không biết có điều chi dạy bảo?

Bang Cơ đưa tay, nhẹ nhàng lấy từ trong hộp ngọc một phong thư, cùng một tấm bản đồ cũ đã được đánh dấu bằng mực son.

- Thôn Trường Ẩn, thuộc phủ Quốc Oai, mấy ngày qua phát sinh bệnh lạ.

Quan địa phương không kiểm soát được, đã có 10 người chết.

Y dừng lại, lật nhẹ bản đồ trên án.

Giọng nói trầm, không cao nhưng từng chữ như đóng xuống:

- Quan phủ nơi ấy đã ba phen gửi tấu xin chi viện.

Nhưng Thái y viện còn đang tranh luận chưa phân được người đi.

Mỗi người chẩn một kiểu.

Kẻ nói là cảm phong nhiệt, người bảo là khí độc từ núi.

Cũng có người viết là trúng tà.

An Nhã khẽ nhíu mày.

- Là ôn dịch?

Y nhìn cô, ánh mắt sâu thêm một phần.

- Trẫm muốn đích thân ngươi đi.

An Nhã thoáng sững.

Bàn tay cô vô thức siết vạt áo.

Đây không phải là một cuộc điền dã đơn giản, cũng không còn là chữa vài bệnh phong hàn như ở Thanh Lưu.

Đây là một ổ dịch, có thể lan, có thể giết nhiều người.

Và trên tất cả, cô phải đối mặt với sự nghi ngờ của quan lại, thái y, dân chúng, có thể là cạm bẫy.

- Bệ hạ... thần nữ chỉ là một nữ y.

Không chức, không quyền, không mệnh lệnh liệu có ai nghe?

Bang Cơ cười nhẹ, rồi cầm lấy kim bài ngự chỉ, đặt xuống trước mặt cô.

- Từ nay, khanh mang danh nghĩa "Thảo dược y nữ phụ trách trạm dã y", được phép tự điều phối người trợ giúp, thuốc men, và ra lệnh cách ly khi cần.

Có thể điều động binh lính hộ tống nếu gặp trở ngại.

- Nếu có ai cản trở cứ đưa bài này.

An Nhã ngẩng lên.

Trong đáy mắt là một thoáng kinh ngạc và cũng là cảm động khó giấu.

Nhưng cô vẫn cúi đầu thật sâu, nhận lấy kim bài:

- Thần tuân chỉ.

Bang Cơ hơi nheo mắt, không rời khỏi ánh nhìn của cô.

- Dân có yên, nước mới mạnh.

Câu ấy ta từng nói, giờ đến lúc chứng tỏ.

- Thần nữ không dám để lời của bệ hạ trở thành sáo rỗng.

Y bật cười khẽ, nhưng ánh mắt không giấu nổi nét lo lắng.

Một lúc sau, Bang Cơ nói chậm:

- Đường đến Trường Ẩn xa, lại phải băng qua rừng núi hiểm trở, e rằng dọc đường, khanh sẽ gặp nhiều khó khăn.

An Nhã cúi đầu:

- Là thầy thuốc không thể chọn nơi yên ổn.

Bang Cơ nhìn cô, ánh mắt nhu hòa dần.

- Trẫm biết khanh không nói dối.

Lời nói nhẹ, nhưng rơi vào lòng đế vương như một giọt sương chạm đá.

Bang Cơ phất tay:

- Chuẩn tấu.

Người đâu!

Truyền lệnh cấp kim bài xuất thành, chuẩn bị ngựa, dược hòm, và thư thông hành cho các châu trạm.

Tiếng truyền lệnh vang dội trong điện.

Một số thị thần rón rén rút lui.

Trong gian phòng, chỉ còn lại hai người.

Một người là vua, mang thiên hạ trong tay.

Một người là nữ y, tay cầm dược nhưng lòng mang cả sinh mệnh dân lành.

Rồi y ngừng một nhịp, giọng trầm xuống:

- An Nhã.

Cô ngẩng đầu.

- Bảo trọng.

An Nhã cúi đầu thật sâu, không dám ngẩng.

***

Ba ngày sau, trời Đông Kinh đổ mưa phùn.

Gió bấc thổi lật mép áo, làm cờ trên cổng thành đập phần phật vào trụ gỗ.

Một xe ngựa không huy hiệu lặng lẽ lăn bánh qua cửa thành phía Tây.

Trên xe là một nữ tử vận áo nâu, tóc búi gọn, kèm theo hai y sinh và một hòm dược.

Ai trong thành cũng biết cô là người vừa được hoàng đế đích thân ban chỉ.

Đường đến Trường Ẩn quanh co, xe phải dừng lại nghỉ qua đêm tại trạm dịch nhỏ, rồi đi bộ thêm nửa ngày qua vùng núi thấp mới đến nơi.

Thôn Trường Ẩn nằm nép mình dưới núi Ba Vì, ruộng vườn lơ thơ, dân cư lưa thưa.

Ngay khi vừa đặt chân đến, mùi thuốc sống, tro tàn và xác người chưa kịp liệm đã xộc vào mũi.

- Cô nương, người từ kinh thành tới sao?

Cứu lấy lũ nhỏ nhà tôi... cứu lấy nó...

- một người phụ nữ tóc rối quỳ giữa đường, kéo áo cô.

An Nhã đỡ bà ta dậy, ánh mắt đảo qua các ngôi nhà phủ vải trắng.

Trong lòng có chút nhói, nhưng cô nhanh chóng ổn định lại tâm thế.

- Dẫn ta đến chỗ người bệnh.

Ngay trong chiều hôm đó, cô cùng y sinh đến xem xét giếng làng, kiểm tra nước, lật bếp, mở vại muối, kiểm tra thân nhiệt của từng bệnh nhân, ghi lại triệu chứng: tiêu chảy, đau bụng, miệng khô, lưỡi đỏ, mắt vàng.

- Không phải ôn dịch lạ - cô khẳng định.

- Là ngộ độc nước giếng, khả năng rễ cây mã tiền ngấm độc xuống lòng đất.

Ngay trong đêm, cô cho người đào kênh phụ dẫn nước từ khe suối phía sau rừng vào làng, tạm thời bịt giếng chính, rồi đun nước cát căn phát cho từng nhà.

Sáng hôm sau, số ca chuyển nặng đã giảm, vài đứa trẻ sốt cao bắt đầu tỉnh lại.

Dù ai cũng nói cô là thần y, nhưng An Nhã biết, đây không phải thần tích.

Là do phân tích đúng và một phần là do vận may.

Đến ngày thứ tư, khi mọi việc bắt đầu ổn, thuốc cũng đã vơi.

Cô quyết định tự mình lên núi hái thêm một ít sài đất, xuyên tâm liên và khổ sâm.

Trời hôm ấy nắng nhạt, lá trên núi còn đọng nước mưa đêm qua.

Cô buộc tóc gọn, đeo túi vải chéo vai, tay cầm dao hái và cuộn dây gai.

Đi được gần một canh giờ, cô tìm thấy cụm cây cần thiết mọc ven vách đá thấp.

Khi đang lom khom cắt thân cây, sau lưng đột nhiên có tiếng lá khô bị giẫm.

Cô khẽ quay đầu.

Ba bóng người xuất hiện từ sau lùm rậm.

Một kẻ gầy nhom cười khằng khặc, trên tay cầm khúc gậy:

- Một mình lên rừng sao, cô nương?

Dược thảo quý giá lắm nha... nhưng thân ngươi, e còn quý hơn.

An Nhã bình tĩnh lùi lại, lưng áp vào cây cổ thụ, tay cầm chắc dao cắt thuốc, giọng dứt khoát:

- Các người lùi lại ngay.

Ta là y nữ được triều đình phái đi cứu dân, không rảnh đùa giỡn với loại sơn tặc.

Tên thứ hai nhếch mép, đưa mắt nhìn quanh:

- Không thấy cấm vệ đi theo.

Không quan lại, không thân phận.

Dù có là hoàng hậu đi nữa, trên núi này kêu cũng chẳng ai nghe tiếng.

Bọn chúng từ từ áp sát.

An Nhã vung dao nhưng dao nhỏ và cùn không chống được ba tên đàn ông lực lưỡng.

Đúng lúc đó, một tiếng gió rít qua, sắc như dao.

Ngay sau đó, từ trên cành cây cao vút, một bóng người lao xuống như chim ưng sà mồi.

Đường kiếm dài chém xé không khí, vút một tiếng, thẳng vào vai tên cầm đầu.

Hắn chưa kịp kêu đã đổ rạp xuống đất.

Hai tên còn lại hoảng hốt quay lại, nhưng chỉ vung vài đao đã bị chém liên tiếp mấy chiêu nhanh, gọn.

Người mới đến dùng trường kiếm, thân pháp linh hoạt như gió, mỗi động tác đều trầm ổn, chính xác.

Ánh mắt người ấy sắc lạnh như sương khuya, không có lấy một chút run rẩy.

Chưa tới mười chiêu, đám sơn tặc tháo chạy, tên gầy nhất còn ngoái đầu mắng một tiếng tục tĩu rồi lảo đảo biến vào rừng sâu, mất hút trong bụi cỏ.

Còn lại chỉ là gió rì rào, mùi máu tanh, và sự im lặng nặng nề.

An Nhã lúc này mới hoàn hồn, tay vẫn ôm chặt bọc dược liệu.

Cô run rẩy bước đến.

Người kia vẫn quay lưng lại, hơi thở gấp gáp.

Mái tóc đen dài bị gió thổi tung, tà áo sau lưng dính máu một mảng đỏ sẫm đang lan rộng.

- Anh... bị thương rồi.

Người ấy khẽ lắc đầu, giọng trầm nhưng hơi nghẹn lạo:

- Chỉ là... vết chém nhẹ... không sao...

Chưa dứt lời thì cả người khụy xuống, gối chạm đất.

An Nhã hốt hoảng lao tới đỡ lấy.

Cơ thể y nặng và cao lớn, toàn thân nóng bừng như sốt.

- Tôi đã bảo rồi mà!

Không nghe lời tôi, lát nữa ngã xuống thì chẳng ai cứu nổi đâu!

- Cô nghiến răng, giọng gay gắt không giấu được lo lắng.

Dù thở dốc, cô vẫn cố kéo vai người ấy, để y dựa vào mình.

Gió trên núi quất vào hai người, lạnh và gai như kim.

Dưới chân dốc, tiếng vó ngựa vang lên vài người của trại quân y đi kiếm An Nhã.

An Nhã mừng rỡ hét lớn:

- Ở đây!

Mau giúp tôi!

Binh sĩ vội chạy tới, lập tức cho người đỡ nam nhân bị thương lên ngựa, quay đầu về trạm quân y.

An Nhã thở phào.

Nhưng khi nhìn gương mặt người vừa cứu mình khuôn mặt thanh tú nhưng đầy mỏi mệt, cô chợt cảm thấy người này không phải người tầm thường.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Cổ Tâm Sinh
Chương 5: Phục da chỉ liên


Trong ánh lửa lập lòe, nam nhân nằm nghiêng trên tấm chiếu trải tạm.

Bên ngoài, một y sinh cẩn thận tháo lớp vải quấn trên lưng, để lộ vết chém đỏ rực, máu vẫn rỉ ra từng giọt.

Hai thầy lang đứng cạnh, một người thì thào:

- Vết này cắt ngang cơ thịt, nếu không ép máu lại sẽ khó lành.

Người còn lại gật đầu, vẻ mặt hoang mang:

- Ta cũng nghe nói Nam Nhạc có thuật dùng chỉ để khâu da người, nhưng Thái y viện chưa từng cho phép dùng.

Lỡ nhiễm độc thì...

Y nằm đó, ánh mắt vẫn bình thản nhưng hơi nhíu mày:

- Ngươi nói khâu là dùng kim chỉ nối vết rách?

An Nhã lúc này đang rửa tay, ngẩng lên:

- Phải.

Là phương pháp của người phương Bắc ghi lại, có hiệu quả đặc biệt cho vết thương cơ sâu, tránh máu tụ và hoại tử.

Y im lặng một thoáng, rồi nhìn sang hai thầy lang:

- Các người có làm được không?

Hai người đồng loạt lắc đầu:

- Ta chưa từng thử, không dám mạo phạm.

Y quay đầu về phía cô, giọng không cao nhưng rõ ràng:

- Cô dám làm không?

An Nhã bước đến, đôi mắt sáng trong lửa:

- Tôi chỉ mới khâu trên mô hình giả mô da, chưa từng khâu trên người thật.

Nhưng có thể thử.

Y nhìn cô một lúc, rồi gật đầu:

- Các người lui hết xuống.

- Nhưng...

- Ta nói: lui.

Tất cả y sinh, thầy lang, thị vệ đều rút ra ngoài.

Trong chòi chỉ còn lại hai người.

Lửa kêu tí tách, bóng dao kim loáng lên trong tay cô.

Y nằm nghiêng, y phục trên người đã được cô cẩn thận cắt dọc, để lộ mảng lưng vững chãi.

Dưới ánh lửa chập chờn, làn da y trắng ngần nhưng hiện rõ đường cơ bắp không phải của một văn nhân yếu đuối, mà của người đã trải tháng ngày rèn luyện thân thể.

An Nhã ngồi phía sau, hơi thở có phần không tự nhiên.

Tay cô cầm khăn thuốc, ngón cái vừa chạm vào bờ vai y, cả người khẽ giật nhẹ.

Lưng gấm, cứng như gỗ nhưng không tì vết nếu không có vết chém đỏ thẫm vắt ngang.

Máu thấm ra ướt cả lòng bàn tay cô.

Lòng An Nhã thoáng rối, dù đã tự trấn an: "Ta là y nữ, cũng đã sống quá 30 năm cuộc đời rồi.

Nam nữ già trẻ đều đã từng chạm tới.

Không thể vì một tấm lưng trần mà rối trí."

Thế nhưng, đây là lần đầu tiên cô phải khâu vết thương trên lưng một nam nhân mà lại còn chỉ có hai người trong căn chòi vắng.

Y không nói gì, vẫn nằm im lặng, một tay gối dưới đầu, mắt nhìn trần rơm, không hề để lộ cảm xúc.

An Nhã rửa tay, rồi dùng khăn tẩm cồn lau quanh miệng vết thương.

Khi ngón tay cô trượt nhẹ qua da, nơi cổ vai gần xương bả, y khẽ rùng mình chỉ một chút như một phản xạ sinh lý, không chủ ý.

Cô khựng lại, mặt hơi nóng, nhưng cố giữ bình tĩnh.

- Sẽ hơi đau...

- cô nói khẽ, giọng nhẹ hơn thường ngày.

Y gật đầu, mắt nhắm hờ

Cô rút kim y, sợi chỉ tơ đã được luồn sẵn, đầu kim mảnh như tóc.

Đưa kim chạm vào mép da đầu tiên, cô hít một hơi dài rồi đâm xuống.

Mũi kim xuyên qua lớp da, rồi xuyên sang mép da đối diện.

Máu tứa ra thành giọt, cô dùng gạc lau.

Tay cô không run, nhưng môi đã mím chặt.

Y im lặng.

Nhưng trong lòng, một cảm giác là lạ bắt đầu nhen lên.

Có điều gì đó rất khác giữa tay nghề khéo léo của cô và vẻ khép nép, thanh nhã mà cô mang.

Vì cô vừa rất chuyên nghiệp vừa rất e dè.

Bảy mũi khâu, đường chỉ thẳng như kẻ chỉ trên lụa.

Vết thương được kéo khép lại từng chút một.

Máu dần ngừng chảy.

Lúc cô cúi sát để bôi cao thuốc lên mép khâu, vài lọn tóc sổ ra khỏi búi, khẽ chạm vào lưng y.

Y không quay lại, chỉ cười nhẹ như người vừa phát hiện một điều thú vị.

An Nhã rửa tay, lau vết kim, rồi nhẹ nhàng bôi cao thuốc:

- Khi khô vết thương, anh phải tháo chỉ.

Đừng để quá lâu.

- Ai có thể tháo?

- Nếu tôi còn ở đây, tôi sẽ tháo.

Còn không chỉ cần nước ấm, rửa sạch rồi rút nhẹ từng mũi.

Y khẽ "ừ", không hỏi gì thêm.

***

Trời về khuya, ánh trăng treo lơ lửng trên đầu ngọn tre, tiếng côn trùng ngoài rừng vọng lại nhịp nhàng như một bản khúc đêm xa xưa.

Trong căn lều tranh đơn sơ, An Nhã ngồi bên cạnh người nam nhân vừa được cô tự tay khâu vết thương.

Mùi máu, mùi thuốc, và cả mùi hương rất nhẹ từ thân thể y vẫn chưa kịp tan.

Nam nhân ấy nằm nghiêng, hơi thở ổn định hơn, nhưng gương mặt vẫn tái.

An Nhã chăm chú theo dõi sắc diện của y, tay khẽ điều chỉnh lại miếng vải lót dưới vết thương.

Dưới ánh đèn dầu lờ mờ, vết khâu hiện rõ trên làn da rắn chắc, mỗi mũi kim cô khâu ban nãy giờ đã khép lại phần nào, nhưng không thể lơ là.

Bên ngoài, mưa phùn rơi lất phất.

- Cô vẫn chưa nghỉ sao?

- giọng y khẽ vang lên, trầm nhưng không còn yếu như ban nãy.

An Nhã giật mình, khẽ đáp:

- Anh vừa bị thương, nếu trong đêm lên cơn sốt hoặc chảy máu, phải có người xử lý ngay.

Y nhếch môi cười, mắt vẫn nhắm:

- Chưa từng thấy y nữ nào to gan như cô.

Dám khâu vết thương cho nam nhân lạ mặt, lại là vết thương ở lưng.

An Nhã thoáng đỏ mặt, vội quay đi:

- Nếu không khâu lại, máu chảy mãi sẽ nguy hiểm đến tính mạng.

Y khẽ gật đầu.

Một lúc sau, mở mắt nhìn cô:

- Cô tên gì?

- An Nhã.

- Tên rất đẹp.

- Còn anh tên là gì?

- An Nhã tò mò nghiêng đầu hỏi.

- Gọi ta là Lê Hạo - Y đáp lại ngắn gọn.

An Nhã gật đầu, múc một thìa thuốc thang trong nồi đất ra bát, rồi thổi nguội.

- Anh uống thuốc này đi, giúp kháng viêm, giảm đau.

Y chống tay ngồi dậy, nhưng vừa cử động thì mặt khẽ nhăn lại, vết thương sau lưng kéo căng.

An Nhã vội bước tới đỡ, nhưng vì bất ngờ, cô ngã nghiêng về phía y, tay đỡ lấy vai, mặt kề mặt chỉ cách nhau gang tấc.

Trong khoảnh khắc ấy, ánh mắt hai người chạm nhau.

Lê Hạo bất động.

An Nhã cũng quên cả thở.

Bàn tay cô vẫn đặt nơi da thịt trần trụi của y, hơi ấm phả ra từ cơ thể y như len vào tận tâm can.

- Tôi... xin lỗi.

- An Nhã vội rút tay, quay đi, hai má ửng hồng như bị nắng thiêu.

Lê Hạo mỉm cười nhẹ:

- Không sao.

Do ta quá yếu, phiền cô phải chăm sóc đến vậy.

Cô mím môi, cố lấy lại bình tĩnh, đặt bát thuốc xuống cạnh giường

Một cơn gió đêm lùa vào khe cửa, thổi bay sợi tóc bên má cô.

Lê Hạo nhìn theo mái tóc ấy, rồi nhẹ nhắm mắt

- Ngủ đi, An Nhã.

Ta không sao.

An Nhã gật đầu, đứng dậy thu dọn bát thuốc, chăn gối.

Khi quay lại, cô thấy Lê Hạo đã ngủ yên, hơi thở đều, vẻ mặt tĩnh lặng như mặt hồ không gợn sóng.

Cô đứng lặng một lúc lâu, rồi nhẹ nhàng rút lui ra ngoài, khép cửa.

Ngoài trời, trăng lên cao, mưa đã dứt, chỉ còn tiếng gió vi vu trên những tán lá.

An Nhã ngẩng đầu, tay vô thức chạm vào má mình nơi nãy chạm phải làn da ấm của y, rồi khẽ lắc đầu, tự nhủ:

"Không được nghĩ nhiều.

Mình là một người trưởng thành, không thể vì một người đáng tuổi em mình mà nghĩ lung tung."
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Cổ Tâm Sinh
Chương 6: Thở


Hơn chục ngày rời cung, khi An Nhã trở về, trời vừa hửng sáng.

Tiếng trống chầu vang lên ba hồi, vọng xa trong màn sương mỏng, báo hiệu một buổi triều sớm đã bắt đầu.Tin mừng từ thôn Trường Ẩn truyền về kinh thành chỉ trước cô một ngày.

Quan địa phương dâng sớ tấu trình:

"Bệnh đã được khống chế, số người tử vong giảm hẳn.

Người dân khấu đầu cảm tạ triều đình ban y."

Tấu sớ ấy qua tay Thượng thư, cuối cùng dâng lên Diên Ninh hoàng đế.

Ngay sáng đó, lệnh truyền triệu An Nhã vào điện Hội Anh được ban xuống.

Bên trong chính điện, khói trầm nhẹ như tơ vương, quyện quanh các trụ gỗ, ánh nến lấp lánh phản chiếu long ỷ và sắc vàng trang nghiêm.

Mùi đàn hương dìu dịu, nhưng không che giấu được cảm giác nghiêm cẩn đang lặng lẽ bủa vây.

Bang Cơ, hoàng đế mười bảy tuổi, ngồi trên ngự tọa.

Vẻ mặt y thanh tú nhưng trầm mặc, đôi mắt nhìn về phía xa nơi An Nhã đang tiến vào, lễ phục gọn gàng, dáng người thẳng như trúc.

Khi cô quỳ xuống dập đầu, giọng nói của vua cất lên, nhẹ mà rõ ràng:

- Y nữ An Nhã hái thuốc, cứu dân, không quản hiểm nguy.

Công ấy không nhỏ.

An Nhã cúi đầu, giọng cô không cao nhưng mang theo sự vững vàng:

- Thần nữ chỉ góp sức mọn.

Cũng nhờ có triều đình phò trợ.

Không tâng bốc.

Không cầu xin.

Chỉ một câu như gió xuân mát rượi chạm vào đá.

Bang Cơ hơi gật đầu.

Y gõ nhịp nhẹ trên mặt ngự án, ánh mắt không rời cô:

- Khâm phục.

Vậy trẫm hỏi: Khanh muốn được ban thưởng thứ gì?

An Nhã ngẩng đầu, không chần chừ:

- Thần nữ chỉ xin được một bình 'Phục linh tử trầm' trong Ngự Dược Phòng, để nghiên cứu cách điều chế mới.

Điện lặng đi một thoáng.

Bên trái, một vài nội quan thoáng biến sắc.

Bởi đó là dược liệu quý hiếm, chỉ dùng riêng cho hoàng tộc ngay cả trong lúc bệnh nặng cũng khó điều động.

Nhưng Bang Cơ cười nhẹ, không thành tiếng, mà là một nụ cười thoảng như trăng soi mặt hồ:

- Không tham quan tước, không cầu bạc vàng, chỉ xin một vị thuốc.

Khanh thật sự muốn chữa người, không phải mượn y để vào đời.

Trẫm yên tâm.

Y phất tay, dứt khoát:

- Chuẩn tấu.

Ban thưởng mười lạng vàng, một bộ y phục mùa mới, cùng một lọ 'Phục linh tử trầm' theo nguyện vọng.

An Nhã cúi đầu, hành lễ thật sâu.

Trong lòng cô, có điều gì đó khẽ lay động không phải bởi vàng hay thuốc, mà là ánh nhìn ấy, giọng nói ấy, và sự đặt lòng tin quá mực từ một bậc đế vương.

Bang Cơ.

Một hoàng đế trẻ tuổi.

Thông tuệ.

Trầm lặng.

Thương dân, thấu lý, nhưng lại quá đơn độc.

Bậc quân vương ấy quan tâm dân chúng, nhận từng bản tấu cáo bệnh từ các phủ huyện với ánh mắt đau đáu, đêm khuya vẫn chưa yên giấc.

Không phải chỉ ban lời, y còn lo và đau lòng với nỗi khổ của thần dân.

"LMột người như thế tại sao lại phải chết?"

Trong sử sách, cái chết của vua Lê Nhân Tông chỉ được chép bằng vài dòng khô khốc: "Ngày 3 tháng 10 năm Kỷ Mão, Lạng Sơn vương Lê Nghi Dân làm loạn, giết vua trong cung cấm, lập mình làm vua."

Không ai ghi lại ánh mắt cuối cùng của y có oán hận hay chỉ là nỗi thất vọng?

An Nhã khẽ nắm chặt tay áo.

Cô muốn cứu y.

Nhưng nếu Bang Cơ sống, thì Lê Thánh Tông sẽ không đăng cơ.

Nếu Thánh Tông không lên ngôi, thì những cải cách huy hoàng, nền trị bình suốt bốn mươi năm thời Hồng Đức liệu còn xảy ra không?

Liệu dòng thời gian có đi đúng hướng, trong tương lai liệu cô có còn được sinh ra không ?

Đó là nghịch lý của lịch sử.

Cứu người hay cứu đất nước?

Một tiếng phù rất khẽ.

Là gió đêm hay tiếng thở dài từ chính cổ nhân?

Bóng cô đổ dài dưới hiên ngọc, hòa vào ánh nắng, dài như nỗi trăn trở không lời.

***

Điện Vạn Thọ - hai ngày sau buổi diện thánh.

Cơn mưa rào đầu thu trút xuống Đông Kinh như muốn rửa sạch những dư vị cuối cùng của mùa hạ.

Lá sấu rụng kín mặt sân đá xanh, nước đọng thành từng vũng loang loáng trên hiên gạch cổ, phản chiếu bầu trời xám bạc âm u.

Phía trong, không khí u ám như đặc quánh.

Bang Cơ đã hai ngày không đụng đến cơm, giấc ngủ chập chờn, cơn đau đầu hành hạ như có ai lấy dây mây quấn chặt quanh trán.

- Bệ hạ cần tĩnh dưỡng thêm.

- ngự y dè dặt thưa.

- Trẫm đã nghỉ ngơi rồi.

- giọng y khàn đục, ánh mắt đỏ như chưa từng khép lại qua một đêm.

Ngự y đành kê thêm một thang thuốc an thần rồi vội vàng lui ra.

Nhưng vừa uống thuốc xong, mồ hôi vua vã ra như tắm, hơi thở loạn nhịp, toàn thân nóng ran như lửa đốt.

Bang Cơ gằn giọng:

- Gọi y nữ mới.

Thái giám chấn động, quỳ xuống:

- Bệ hạ...

An Nhã chỉ là y nữ chế dược, không có phép chẩn trị...

- Gọi!

Không ai dám ngăn.

An Nhã bước vào điện.

Tà áo thấm ướt nước mưa bết vào chân, tóc còn vương hơi sương, nhưng chân cô không chùn bước.

Cô quỳ xuống trước long sàng, cúi đầu sâu.

Bang Cơ nằm nghiêng, sắc mặt nhợt nhạt, tóc rối bết mồ hôi, ánh mắt khô khốc giữa cơn bão triều chính chưa dứt.

Tất cả nét cương nghị từng có nay chỉ còn sự mỏi mệt chất chồng.

An Nhã không mang thuốc.

Cô chỉ lấy ra một vật nhỏ từ tay áo một cây kim dài mảnh, xám bạc.

- Thần xin thất lễ.

Nếu được phép thần muốn thử một phương pháp khác.

Bang Cơ nhìn cô ánh mắt ngập ngừng chỉ trong một nhịp.

Rồi gật khẽ.

Cô tiến đến, đưa kim châm thẳng vào huyệt Bách Hội nơi cao nhất trên đỉnh đầu, điểm tụ giao của trăm mạch.

Sau đó, cô dùng đầu ngón tay xoa nhẹ vùng thái dương, ấn nhẹ các huyệt Hợp Cốc, Nội Quan, những điểm nối trực tiếp tới tâm - tỳ - phế.

Mỗi động tác đều dứt khoát, trầm ổn, nhưng không mất đi nét dịu dàng vốn có của người chữa bệnh.

Đó không chỉ là Đông y.

Đó là một phần kiến thức y học hiện đại, ẩn giấu sau lớp vỏ khiêm cung và mềm mại của cổ nhân.

Bang Cơ nhắm mắt.

Lông mày khẽ giãn ra.

- Tại sao... ta thấy dễ thở hơn?

- y thì thào.

- Vì bệ hạ đã thở đúng cách.

Và đã chịu buông bỏ trong một khắc.

Y bật cười nhẹ, nụ cười mỏng như sương khuya:

- Ta không được phép buông.

Cô ngẩng lên, đối diện ánh mắt ấy là một bậc đế vương trẻ tuổi, tâm huyết, cô độc, đang oằn mình chống đỡ thiên hạ.

- Nhưng nếu không thở nổi, thì bệ hạ còn sức đâu mà chống đỡ thiên hạ?

Lời cô như rơi xuống giữa lồng ngực căng cứng kia không phải như một lời khuyên, mà là một giọt nước lạnh buốt rơi xuống tảng đá đang nứt vỡ.

Ngoài kia, mưa vẫn rơi, cung cấm vẫn im lìm.

Nhưng trong điện, có một điều gì đó vừa dịu lại.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Cổ Tâm Sinh
Chương 7: Đông Kinh mùa thu


Nắng sau mưa như tơ mỏng rải khắp sân rêu.

Mới chớm đầu giờ Mão, một tiểu nội thị từ phủ Bình Nguyên Vương đã đến Thái Y Viện, chuyển lời mời An Nhã đến phủ khám bệnh.

Tin ấy khiến cả Thái Y Viện rúng động.

Xe ngựa che kín rèm, đi chầm chậm qua lối nhỏ dẫn đến phủ Bình Nguyên Vương.

An Nhã vén rèm nhìn ra, lòng trào lên một dự cảm kỳ lạ.

Hàng cây trước phủ nhuộm vàng, rụng lác đác theo gió, như từng cánh thư xưa rơi trong lặng im.

Khi được thị vệ dẫn vào trong sảnh chính, An Nhã vừa bước vào liền đứng khựng lại.

Người đang ngồi tựa nửa lưng vào trường kỷ, ánh sáng hắt nghiêng qua gương mặt quen thuộc, chính là người từng cứu cô khỏi bọn sơn tặc, và cũng là người đã nằm yên lặng trong gian lều cũ khi cô khâu từng mũi chỉ vào vết thương sau lưng.

- A... anh...

- An Nhã lắp bắp, tim như khựng lại trong một nhịp đập.

Người ấy quay lại, khóe môi khẽ cong:

- Gặp lại rồi.

An Nhã vội quỳ xuống:

- Thần nữ thất lễ, không biết người là...

- Đứng lên đi.

- giọng nói vẫn trầm ổn như lần đầu cô nghe thấy.

- Không cần đa lễ.

Hôm ấy không phải nhờ cô, có lẽ ta đã mất mạng trên núi rồi.

Lê Hạo khoác một chiếc giao lĩnh xanh đậm, lưng vẫn còn băng vải trắng.

Y đưa tay ra hiệu cho thị vệ lui xuống.

- Lui cả đi.

Chuyện hôm nay không để lọt ra ngoài.

Chỉ một lúc sau, trong gian điện chỉ còn lại hai người.

Không tiếng bước chân, không ánh mắt soi mói.

Không ai bên ngoài có thể tưởng tượng được một hoàng tử, lại ở riêng với một nữ y không thân thích trong chính phủ mình.

An Nhã hơi ngần ngại, nhưng ánh mắt Lê Hạo không có vẻ gì.

- Mời cô xem lại vết thương.

Hôm trước ta vẫn chưa tháo chỉ.

An Nhã cẩn trọng bước lại, nhẹ tay vén lớp áo sau lưng y.

Vết khâu đã khô miệng, da non bắt đầu liền lại, nhưng vẫn còn vết thâm tím.

Cô mím môi, trong lòng tràn ngập cảm giác bối rối.

Mặc dù đây đã là lần thứ hai cô nhìn thấy tấm lưng trần của y, nhưng trước đó đơn thuần là với thân phân bệnh nhân và y sĩ.

Giờ đây, khi biết trước một mình là một hoàng tử khiến mọi hành động của An Nhã trở lên cứng nhắc.

An Nhã im lặng một hồi khiến y không nhịn được mà liếc mắt quan sát biểu cảm của cô.

Thấy sắc mặt An Nhã đã tái đi một phần y không khỏi tò mò hỏi:

- Sao vậy?

- Chỉ là thần nữa vẫn chưa quen với việc đối mặt với Vương gia, thay vì là người đã cứu thần trên núi.

Y thoáng cười nhẹ.

- Khi chỉ có hai chúng ta cô không cần quá giữ lễ.

Ta cũng thích thái độ của cô khi ở thôn Trường Ẩn hơn.

- Ngài giữ vết thương rất tốt.

Không bị nhiễm trùng.

- cô khẽ nói, ánh mắt chuyên chú.

- Là nhờ mũi kim của cô.

Lê Hạo quay đầu nhìn cô, ánh mắt như cười mà không hẳn cười.

- Ta vẫn chưa biết sao cô lại biết khâu như vậy?

An Nhã mím môi:

- Thần nữ từng đọc qua sách y phương Bắc, có nhắc đến kỹ thuật 'phục da chỉ liên'.

Nhưng ở nước ta vẫn ít người tin tưởng nên không dám công khai.

Lê Hạo khẽ gật, như vừa hiểu thêm điều gì đó.

Im lặng một lúc, An Nhã mới buột miệng hỏi:

- Tại sao Vương gia không gọi thái y, mà lại sai người tìm ta?

An Nhã ngẩng đầu hỏi, giọng nhỏ nhưng rõ ràng.

Trong khoảnh khắc ấy, sự yên tĩnh trong gian phòng như có thể nghe thấy tiếng gió lay nhẹ tán cây bên ngoài.

Lê Hạo không trả lời ngay.

Y lặng im, ánh mắt nhìn xa qua lớp cửa gỗ hé mở, nơi ánh nắng chiều rơi nghiêng trên mái ngói phủ rêu xanh, phản chiếu sắc vàng cũ kỹ của Đông Kinh mùa thu.

Rồi, bằng một giọng trầm khàn không mang vẻ kiêu bạc của hoàng thân, cũng không nhuốm màu mệnh lệnh y đáp:

- Vì trong cung có rất nhiều tai mắt.

Ta không muốn ai biết hôm ấy ta từng bị thương.

Và ta cũng không muốn để ai khác biết hôm ấy ta đến đó.

Y ngừng lại, rồi quay sang nhìn cô.

Ánh mắt ấy, lần đầu tiên không là nghi ngại.

Cũng không là phòng bị.

Chỉ là một tia tín cẩn lặng thầm và thật lòng.

An Nhã cúi đầu, tay vẫn nhẹ nhàng lau sát trùng quanh vết chỉ mới tháo:

- Thần nữ hiểu.

Và sẽ không để ai biết.

Không cần thêm một lời thề, không cần ràng buộc.

Câu nói ấy, cô biết, là lời bảo chứng vững như đá.

Trên lưng Lê Hạo, là một vết khâu dài đã bắt đầu liền da.

Nhưng khi lau sạch máu khô, một đường sẹo mảnh vẫn hiện rõ, nhạt màu, nhưng sẽ không biến mất.

Cô khẽ nói:

- Vết này sẽ để lại sẹo.

Lê Hạo cười nhẹ, một tiếng cười khô khốc:

- Người như ta sợ gì thêm một vết sẹo?

An Nhã ngẩng lên nhìn y.

Trong mắt cô, Lê Hạo không chỉ là vị vương gia đang sống trong bóng tối giữa kinh thành, mà còn là một con người cô độc, mang vết thương không ai thấy không chỉ trên da thịt, mà còn trong tâm trí.

- Sẹo ngoài da có thể không sao.

- cô đáp, giọng chậm rãi.

- Chỉ sợ có vết không nằm trên da, mà chẳng bao giờ lành.

Lê Hạo không trả lời.

Y quay mặt đi, nhưng vai khẽ rung, như vừa nén lại một hơi thở dài.

- Ở trong cung tên ta là Tư Thành, đừng có quên đấy.

- Y nói trong lúc chỉnh trang lại y phục.

Một cơn gió thoảng qua khe cửa, mang theo mùi lá mục đầu thu.

Giữa khoảng lặng ấy, cả hai không nói gì thêm, nhưng trong lòng như vừa hiểu một điều mà không cần nói ra.

Một bí mật giữa hai người được hình thành.

***

Đêm xuống rất chậm.

Trăng lặng lẽ trôi qua hiên gác, vạch bóng sáng mờ lên vách đất nơi cô nằm.

An Nhã không ngủ.

Tay cô vẫn còn mang mùi thuốc, nhưng lòng lại rối như chỉ tơ.

Cô nhắm mắt, nhưng khuôn mặt Lê Tư Thành với ánh mắt sắc lạnh, giọng nói trầm trầm mang chút hoài nghi và lặng lẽ vẫn cứ hiện về.

Là người ấy.

Là vua Lê Thánh Tông.

Người sẽ lên ngôi sau biến cố máu đổ trong cung.

Người sẽ mở ra một thời kỳ trị bình huy hoàng, với những bộ luật hoàn chỉnh, những cuộc cải cách kinh tế, giáo dục, nông nghiệp...

được hậu thế ngợi ca là "bậc hiền minh ngàn năm có một", là vị vua biết văn, biết đánh giặc, biết trị nước, biết chọn người hiền.

Vậy mà cô lại từng chữa thương cho vị vua tương lai ấy, băng bó cho một người đang sống lặng lẽ trong bóng tối, không quyền thế, không tín nhiệm, thậm chí phải giấu cả vết thương sợ bị người phát hiện.

Y lặng lẽ.

Hơi cứng rắn.

Hơi khép kín.

Nhưng trong ánh mắt lại có thứ gì đó khiến cô không nỡ quay lưng.

Có lẽ là cô độc.

Một hoàng tử bị nghi kỵ, bị gạt ra khỏi trung tâm triều chính, nương nhờ cửa Phật từ nhỏ, không ai nhắc đến tên, không ai bận lòng quan tâm.

Y từng một mình lên núi, từng đổ máu khi cứu cô, rồi lại giấu tất cả vào im lặng.

Lòng cô dẫu muốn giữ khoảng cách vẫn bất giác dõi theo.

Như thể số mệnh hai người đã bị buộc vào nhau bởi thứ dây vô hình.

Nếu cô giúp Tư Thành tránh một bước nguy nan.

Nếu cô vô tình khiến y lệch khỏi con đường vốn có.

Liệu triều Hồng Đức còn xuất hiện?

Sống giữa quá khứ nhưng mang ký ức của mai sau, An Nhã chợt thấy mình lạc lõng hơn bao giờ hết.

Cô không còn là người của hiện đại.

Nhưng cũng không thuộc về nơi này.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Cổ Tâm Sinh
Chương 8: Bóng dáng trong chiều


Chiều phủ lên thư viện Nội Các một tầng nắng mỏng, sắc vàng nhạt như rót ra từ ấm trà cổ vừa pha, lan nhẹ trên mái ngói rêu phong và nền đá rạn.

Cây ngô đồng ở sân đã bắt đầu rụng lá, từng chiếc lá rơi chậm rãi, nhẹ như sợ làm đau một ký ức xưa cũ.

An Nhã ôm trong tay mấy quyển y thư, vừa bước qua hành lang dài lát đá thì bắt gặp một bóng người nơi hiên hồ.

Lê Khắc Xương.

Vẫn là dáng vẻ ấy: chiếc áo dài màu khói nhạt, tóc buộc gọn sau đầu, tay cầm một quyển sách.

Không lính hầu, không tỳ nữ, chỉ có một khung trời yên tĩnh phía sau vai, như thể người và cảnh đã sớm thuộc về nhau.

Thấy cô, Khắc Xương không ngẩng lên ngay, chỉ nhẹ giọng:

- Cô đã đọc đến phần 'Đồ hình khí huyết' trong Hoàng Đế Nội Kinh chưa?

An Nhã thoáng ngạc nhiên, rồi gật đầu:

- Rồi ạ.

Nhưng phần giảng giải mạch song song với khí lưu, thần thấy vẫn còn điều chưa thông.

Khắc Xương khẽ mỉm cười:

- Ta cũng thấy vậy.

Y ngẩng lên.

Ánh mắt trong như hồ mùa thu chưa gợn sóng.

- Nhưng hôm nay, ta không bàn y học.

Chỉ muốn hỏi cô một điều về thơ.

An Nhã ngẩn ra, rồi chậm rãi gật đầu.

Khắc Xương rút từ tay áo một mảnh giấy mỏng, đặt nhẹ lên mặt bàn đá.

Trên đó là bốn câu thơ Hán tự viết tay:

"Thụy ngọa tây phong nhật dĩ tà,

Tửu bôi sơ tuyệt mộng hồi gia.

Nhược giao sinh tử vi ngôn tín,

Thùy oán phong trần biệt vị ma?"

(Ngủ say trong gió tây, hoàng hôn đã ngả.

Chén rượu cạn rồi, mộng vẫn chưa đưa về quê cũ.

Nếu đã từng hứa sống chết bên nhau,

Thì còn trách ai vì phong trần chia biệt?)

Khắc Xương ngước nhìn cô, hỏi khẽ:

- Theo cô người viết đoạn này, là đang trách hay đang tự trách?

An Nhã nhận lấy tờ giấy.

Gió thổi nhẹ qua tà áo, mang theo hương sen cuối mùa từ hồ sen đã cạn.

Cô nhìn bốn câu thơ, trầm mặc một lát, rồi chậm rãi:

- Người ấy không oán trách ai cả.

Câu cuối, không phải lời buộc tội mà là sự tự vấn.

- Ồ?

- Khắc Xương nghiêng đầu, giọng khẽ hẳn, ánh mắt như cười mà chưa hẳn đã cười.

Cô nhẹ nhàng nói tiếp:

- Người từng thật lòng hứa sống chết với một ai, mà không thể giữ trọn thì thứ họ giận, không phải ly biệt mà chính là bản thân mình.

Không oán phong trần.

Không trách chia ly.

Chỉ là không đủ dũng khí để vượt qua nó.

Y ngẩng lên.

Đôi mắt trong veo lại tĩnh lặng như hồ mùa thu chưa gợn sóng.

Nhưng đúng giây phút ấy, nắng chiều rót xuống vai áo An Nhã, hắt sáng đường nét gương mặt cô.

Khắc Xương bỗng ngẩn ra.

Cái dáng hơi nghiêng đầu, cái ánh mắt sáng mà thâm trầm, lẫn cả sự lặng lẽ như không thuộc về nơi phồn hoa này tất cả trùng khớp đến lạ lùng với bóng hình đã ngủ quên trong lòng y suốt mấy năm.

Khắc Xương khẽ chớp mắt, ép mình quay trở lại hiện tại.

Y hắng giọng, giấu đi sự ngẩn ngơ:

- Cô giỏi y, hiểu thơ mà lại hiểu lòng người.

Vậy cô đã từng hối hận, vì không giữ được lời hứa với ai chưa?

An Nhã khẽ ngẩng nhìn y.

Lần đầu tiên, cô thấy một vương gia tài hoa ấy không phải là bóng dáng cao quý trong cung đình, mà là một người nam nhân mang nặng điều gì đó không thể thốt ra.

Cô đáp nhỏ:

- Đã từng.

An Nhã thoáng suy nghĩ về mối tình dang dở của mình khi vẫn còn độ tuổi thanh xuân.

Một nhịp thở trôi qua.

- Và từ đó thần không hứa gì với ai nữa.

Khắc Xương nghe, bàn tay khựng lại trên mảnh giấy.

Một khoảng lặng mỏng như lụa phủ xuống bàn đá.

Y bỗng thấy sống mũi cay, như thể câu trả lời của cô đã mở lại vết thương cũ.

Hình bóng cố nhân hiện lên.

Ngày ấy mưa thu rơi xuống áo choàng xanh, nàng ngẩng mặt nhìn trời, mắt sáng như muốn thách thức cả phong trần.

Y từng tin, chỉ cần nắm tay nàng, họ có thể vượt qua hết thảy.

Nhưng cuối cùng, lời hẹn mãi là lời hẹn.

Gió lặng dần.

Trên mặt hồ, những cánh sen cuối mùa lặng lẽ cụp xuống, như khép lại một thời hoa đã nở.

Khắc Xương chống tay lên bàn đá, nhìn ra xa.

Không phải nhìn hoa, cũng không phải nhìn nước, mà như đang ngắm một điều chỉ riêng mình biết.

Một lúc sau, y cất giọng:

- Nếu có thể quay lại, cô có giữ lời hứa ấy không?

An Nhã không đáp ngay.

Ánh chiều buông nhạt trên mái tóc cô, làm lộ rõ nét buồn trong ánh mắt.

- Thần từng nghĩ có thể.

Một giây lặng.

Rồi cô khẽ đáp:

- Nhưng con người ta không thắng được thời gian.

Lúc có thể giữ, thì không biết quý.

Đến khi muốn giữ, lại chẳng còn kịp nữa.

Dáng người nhỏ bé nhưng giọng nói vững vàng.

Tất cả quá khứ ùa về trong phút chốc, rồi tan như khói.

Khắc Xương hít một hơi thật sâu, để lại cho mình một nụ cười rất khẽ.

Trong giây lát, An Nhã cũng cảm nhận được cái nặng nề trong giọng y.

Nhưng cô không hỏi.

Có những nỗi đau người ta chỉ muốn giữ lại, không muốn chia sẻ.

Cô chỉ khẽ cúi đầu, như một sự đồng cảm lặng lẽ.

Rồi y nói, giọng chậm rãi, nhẹ đến mức như đang tự nói với mình:

- Có những lời hứa chỉ cần giữ trong lòng.

An Nhã nhìn y.

Phải rồi.

Người như Khắc Xương lớn lên giữa cung đình, giữa gấm vóc và phép tắc, sống giữa những lời hứa danh dự và trách nhiệm hẳn đã hiểu rất rõ cảm giác không giữ được một lời nào đó, không phải vì không muốn, mà vì không thể.

Giữa hai người, không ai nhắc đến tên một ai khác.

Không nhắc đến lời hứa của quá khứ.

Không nhắc đến tương lai mù mờ.

Nhưng ở giữa cái không lời đó, lại có một sự chia sẻ tinh tế đến nghẹn ngào.

Một lúc sau, Khắc Xương đứng dậy, phủi nhẹ áo:

- Lần sau, nếu cô có dịp ghé Nội Các, ta sẽ cho người mở thư viện đêm.

Ở đó có một quyển 'Y điển ký cổ' của Chiêm Thành, chỉ lưu hành một bản, chưa ai đọc kỹ.

An Nhã ngạc nhiên, hơi cúi đầu:

- Thần nữ đa tạ vương gia.

Khắc Xương bước đi, bóng y khuất sau hành lang rêu cũ.

Không nói thêm điều gì.

Nhưng trong ánh nắng cuối cùng vắt qua vai áo xám tro ấy.

***

Khi bước ra khỏi thư viện, Khắc Xương cảm thấy nhịp tim mình vẫn chưa bình lặng.

Ánh mắt An Nhã lúc cúi đầu bên trang sách, dáng ngồi thẳng như trúc lại mang vẻ hiền hoà, giọng nói vừa cương vừa nhu.

Tất cả gợi lại một hình bóng khác.

Y biết, An Nhã không phải người ấy.

Nhưng vì sao mỗi khi thấy cô, những mảnh vỡ ký ức lại trỗi dậy?

Có lẽ vì cô và người xưa có cùng một thứ - thứ khiến y vừa muốn gần, vừa sợ chạm vào sẽ tan biến mất.

Ít ai biết, năm Lê Khắc Xương mười lăm tuổi, từng có một lần rời cung, đi tế lễ ở một chùa cổ vùng Gia Lâm, nhân tiết Trung nguyên.

Hôm đó, trời mưa lớn, đoàn hộ giá phải dừng lại trong chùa.

Ở đó, y gặp một nữ thư sinh cải nam trang, con gái của một quan triều cũ đã bị giáng chức, đang nương nhờ chùa học chữ.

Nàng tên Ngọc Tuyên, thông minh, cốt cách tiểu thư, thích luận kinh thư và đàm về nghĩa lý.

Hai người quen nhau qua những buổi đọc sách trong vườn sau chùa, nói chuyện về thời thế, về đạo làm người, rồi về những điều khó gọi tên.

Khắc Xương khi ấy vẫn chỉ là một hoàng tử ít được nhắc đến, không tranh quyền, không tranh ngôi.

Nàng cũng chẳng cầu gì ngoài tự do và sách vở.

Nhưng chính cái không cầu ấy, lại khiến y thấy lòng mình dao động.

Một ngày, khi chia tay, Ngọc Tuyên nói:

- Nếu mai này, chàng giữ được tâm như nay, còn ta không bị ép gả đi, thì gặp lại nhau ở kinh sông Lô, nơi ngã ba mùa thu.

Chỉ là một câu buột miệng.

Một lời nói chơi trong mưa thu.

Nhưng Khắc Xương đã giữ câu ấy trong lòng.

Hai năm sau, khi y trở lại Gia Lâm, chùa xưa đã đổi sư, nàng đã không còn ở đó.

Có người nói nàng bị ép gả cho một viên quan ngoại trấn, rồi mất tích giữa đường về dinh thự.

Có người đồn, nàng tự tử trên đò khi thuyền qua sông Lô.

Không ai biết rõ.

Cũng không ai còn nhắc tới.

Y tìm suốt một mùa.

Rồi bỏ cuộc.

Từ đó, Khắc Xương không dám nói đến chuyện hứa hẹn.

Không nhận ai là tri kỷ.

Cũng không đem lòng mình dành cho ai nữa, chỉ có thể gửi gắm vào văn thơ.

"Nhất biệt lưỡng mang mang,

Nhân sinh vô tái ngộ."

(Một lần chia cách là muôn trùng,

Nhân sinh chẳng còn gặp lại.)
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Cổ Tâm Sinh
Chương 9: Nổi bão


Ngày mùng sáu đầu tháng, trời Đông Kinh bất ngờ nổi gió lớn.

Lá bay đầy sân, phủ lên mái ngói âm dương, cây cối trong vườn rít lên từng đợt như có điềm chẳng lành.

Chưa đến canh hai, một tin dữ đã lan ra khắp nội cung: Tổng quản Nội vụ phủ Đại thần Lưu Hành, vị đại thần phụ trách sổ sách cơ mật của triều đình, được phát hiện treo cổ chết trong thư phòng.

Ngự y, thị vệ, quan lại phủ Nội Vụ lũ lượt kéo đến như nước lũ vỡ đê.

Người đến người đi, lời ra tiếng vào, nhưng cuối cùng chỉ có một câu thông cáo được truyền ra ngoài, lạnh lẽo như đêm gió:

"Tự vẫn vì bệnh lâu ngày, sợ liên lụy quốc sự."

An Nhã, khi ấy đang chữa trị cho một cung nữ ngất xỉu vì hoảng loạn ngay tại phủ ấy, lại là người vô tình nhìn thấy thi thể trước khi được phủ vải trắng.

Thân xác Lưu đại nhân được đặt nằm nghiêng trên sập gỗ.

Dây treo cổ đã tháo xuống.

Vết bầm tím hiện rõ quanh cổ, môi thâm tím, lưỡi thè nhẹ tất cả đều là dấu hiệu thường thấy của người tự tử.

Gương mặt ông sưng phù, đôi mắt trợn khẽ, biểu cảm như nghẹn lại giữa một tiếng kêu chưa kịp bật ra.

Ai nhìn vào cũng tin là ông tự vẫn.

Nhưng An Nhã chỉ cần liếc một lần đã nhíu mày.

"Tại sao lại có một vết cắt nhỏ ở đầu ngón út tay trái?"

Không ai để ý.

Cũng chẳng ai nghe cô.

Nhưng An Nhã nhận ra móng tay út bị gãy một nửa, và một sợi chỉ hồng rất mảnh còn dính ở đó một thứ không thể nào có trong phòng làm việc của một bậc văn thần.

Cô lặng lẽ lấy khăn tay bọc ngón tay ấy, lưu lại mẩu chỉ và ít vụn da dưới móng.

Không kêu lên, không báo động, chỉ rút lui êm như chưa từng xuất hiện.

Đêm ấy trăng lên muộn, ánh sáng lặng lẽ như sợi chỉ vắt qua hiên.

Trên thềm đá ẩm sương, An Nhã ngồi dưới hiên phòng nhỏ, tay khẽ lật một mảnh giấy mỏng, trên đó là hàng chữ viết bằng bút lông:

"Thần nữ nghi ngờ cái chết của Lưu đại nhân không phải tự vẫn.

Trên thi thể có dấu hiệu chống cự nhẹ.

Vết bầm nơi cổ không khớp với góc treo.

Xin bệ hạ xem xét lại."

Chữ không đẹp, cũng chẳng thảo theo khuôn thức thư pháp.

Nhưng từng nét chừng mực, cẩn thận, như chính chủ nhân đang dò dẫm giữa mê cung cung đình nơi mọi chân lý đều phải rón rén cất lời.

An Nhã trào dâng một cảm giác nhức nhối nơi ngực trái.

"Ông ấy không tự sát"

Câu ấy, cô không dám nói ra.

Nhưng đầu óc không ngừng lặp lại.

Lưu Hành là một người đàn ông cao gầy, luôn đứng sau lưng các đại thần, tay cầm sổ sách, ánh mắt hiền hậu.

Cô chỉ gặp ông đôi ba lần khi khám bệnh cho các cung nhân trong phủ Nội Vụ.

Nhưng cô có thể thấy ông là một người chính trực, hết lòng phụng sự triều đình.

Vậy mà giờ đây, ông nằm đó, mặt tím ngắt, dây siết quanh cổ, ngón tay út gãy nửa, móng tay đứt nửa.

Và người ta chỉ nói một câu: "Tự vẫn vì lo cho quốc sự."

Dối trá đến trắng trợn.

Giết một người, rồi ép người chết thêm lần nữa bằng tiếng xấu.

An Nhã cảm thấy tay mình run lên không phải vì sợ, mà vì tức giận.

Tức giận cái cách lịch sử đã chôn vùi bao sự thật, và con người thì chấp nhận nó như chấp nhận mưa gió như không thể khác.

Khi cô đặt mảnh giấy vào phong trà, trao cho thị vệ điện Vạn Thọ, tim cô đập nhanh một nhịp.

Không phải vì sợ bị phát hiện, mà vì...

"Liệu y có đọc không?

Liệu y có tin?"

Y.

Tức Bang Cơ.

Vị hoàng đế trẻ, mắt luôn thăm thẳm như mặt hồ thu, người vừa ban thưởng cho cô, vừa âm thầm dò xét, như thể mọi việc cô làm đều đang dần lọt vào tầm nhìn của một tâm trí sắc lạnh hơn cô tưởng.

Một dòng chữ nhỏ, như một mũi kim trong đống lụa, nhưng đủ để đâm rách lớp màn che sự thật.

Gió thổi qua.

Hương sen nhạt tan trong không khí như chút đạo lý cũ bị thời cuộc lãng quên.

An Nhã ngước nhìn vầng trăng đã bị mây che một nửa.

Bức thư được niêm phong bằng sáp hồng thẫm, giấu trong khay trà, giao lại cho thị vệ Vạn Thọ, người vẫn đến lấy trà cho nội điện mỗi đêm.

Không ai biết.

Không ai nghi ngờ.

Chỉ nửa canh giờ sau.

Tại điện Vạn Thọ, khi trăng chưa tắt, sương vẫn còn đọng trên mái ngói, một bóng áo vàng âm thầm rời long sàng, tay cầm lá thư.

Bang Cơ vẫn chưa ngủ.

Trong ánh nến hắt bóng dài trên vách, y đọc kỹ từng chữ, ngón tay khẽ khựng lại, ánh mắt dần tối lại như đáy hồ dậy sóng.

Bên ngoài, gió vẫn rít, nhưng trong lòng hoàng đế đã nổi bão.

Sáng hôm sau, triều đình đột ngột triệu tập một phiên nghị triều đặc biệt.

Không hề có chiếu chỉ báo trước.

Không ai bị nêu tên.

Không ai bị truy tội.

Nhưng một đạo thánh chỉ được đọc giữa điện Hội Anh, giọng nội quan lạnh lùng và vang vọng:

"Truy xét tử thi cố Tổng quản Nội vụ phủ Đại thần Lưu Hành.

Thực hiện theo nghi lễ Thanh tra khẩn mật."

Điện lặng như tờ.

Đây là nghi thức cực kỳ hiếm gặp thường chỉ dùng trong những vụ ám sát nghi cung, khi hoàng đế nghi ngờ kẻ thủ ác đã chạm tới mạch máu chính trị trung tâm.

Các quan nội các chết lặng.

Bởi dù không ai bị điểm mặt, thì từng người đều thấy cổ áo mình hơi chật lại.

Chiều cùng ngày, một tin mới lan ra:

"Thư lại trẻ Phạm Doãn người mang đơn thuốc cuối cùng cho Lưu đại nhân đã biến mất."

Hồ sơ của hắn cho thấy đã từng kê một toa dược làm suy mạch kéo dài.

Khi tra hỏi, người này đã bỏ trốn ngay trong giờ Thìn, không để lại dấu vết.

Bang Cơ, khi nghe tin, chỉ khẽ gật đầu.

Không giận, không mừng.

Cũng không hạ thêm lệnh.

***

Tháng 8, Đông Kinh đẫm trong màn mưa lất phất kéo dài ba ngày, tưởng như chẳng muốn dứt.

Bầu trời xám đặc, đặc quánh như đá mài mòn cổ kiếm.

Gió thổi dọc hành lang điện các, lùa qua mái cong, khiến từng tiếng kẽo kẹt của gió vang lên như tiếng người thở dài dai dẳng và u uẩn giữa lòng triều chính đang lạnh dần.

Tin Lưu Hành "tự vẫn" chưa nguôi hẳn, thì một cái tên khác được đưa ra: Phạm Doãn chỉ là một thư lại nhỏ bé trong phủ Nội vụ, không có gì nổi bật, chưa từng khiến ai phải nhớ đến.

Vậy mà giờ, hắn quỳ giữa nghị sự đường, mặt trắng bệch, giọng run rẩy:

- Là... tiểu nhân đã giết Lưu đại nhân.

Vì ông ta phát hiện thần làm giả sổ sách, sẽ tấu tội cả nhà.

Thần... thần sợ.

Rồi thần mới ra tay...

để bịt miệng.

Mọi thứ được sắp xếp hoàn hảo.

Tội danh rõ ràng.

Động cơ "hợp lý".

Lời khai đầy đủ.

Thậm chí còn có nhân chứng một cung nữ từng nghe hai người cãi vã ở hành lang phủ.

Ngự sử trung thừa quỳ tấu:

- Tâu bệ hạ.

Chứng cứ đầy đủ.

Xin ra chỉ định tội, xử trảm để làm gương.

Triều thần cúi đầu đồng thuận.

Bang Cơ chỉ im lặng, tay gõ nhẹ lên mặt ngự án, ánh mắt nửa khép.

Không ai dám nhìn thẳng long nhan.

Riêng An Nhã đứng ngoài hành lang, nghe toàn bộ, mà trong lòng như có một hòn đá rơi xuống nước, không tan, không chìm, chỉ xoáy mãi.

"Không phải hắn."

Cô không có bằng chứng.

Chỉ là trực giác.

Nhưng là một trực giác được hình thành từ sự lạnh giá trong mắt Phạm Doãn, từ thái độ khai nhận quá hoàn hảo, từ một ánh nhìn lén lút khi tên thư lại ấy thoáng liếc về phía Ngự sử trung thừa vừa vội vã dâng sớ lên vua.

Như một con tốt được đẩy ra giữa ván cờ.

An Nhã quay đi, lòng bàn tay ướt đẫm mồ hôi.

Nếu cô không làm gì thì một người vô tội khác sẽ phải chết.

Nhưng biết được phe cánh phía sau việc này là ai, liệu cô có thành mục tiêu tiếp theo không?

Gió lùa mạnh hơn, thốc vào tà áo trắng của cô.

Cô siết lấy ống tay nơi vẫn cất mảnh giấy viết tay ghi lại mô tả vết thương nơi xác Lưu Hành.

Cô hít một hơi sâu.

Mưa vẫn chưa tạnh.

Và vết tích cũ kia, chưa từng phai khỏi tâm trí cô từ cái đêm ấy.

***

Đêm ấy, mưa chưa dứt.

Ngoài sân, tiếng nước nhỏ giọt từng hồi như tiếng đồng hồ cát đếm lùi về một kết cục đã được an bài.

Nhưng trong lòng An Nhã, mọi thứ vẫn chưa khép lại.

Cô rút ra một bản chép tay, nhìn lại dòng chữ cũ:

"Vết tím quanh cổ không đều.

Có dấu hiệu di chuyển thi thể.

Móng tay gãy có chỉ hồng.

Khuy áo ngực gài kín, không lệch.

Thư phòng không dấu vết xô lệch."

Từng chi tiết tách rời, nhưng khi xếp lại, không khớp với bất kỳ một vụ tự tử nào mà cô từng biết hay từng đọc qua trong sách.

Một người trước khi chết, nếu vùng vẫy áo sẽ bị xô lệch, ít nhất một cúc sẽ bung.

Nếu là treo cổ, phải có tư thế treo, dấu dây trên gáy nhưng Lưu đại nhân nằm nghiêng.

Là vì sao?

Đầu óc An Nhã quay cuồng.

Một hình ảnh bất chợt vụt qua:

"Một thân thể được đặt xuống, sau khi chết..."

Cô rùng mình.

"Là giết người, rồi dựng hiện trường giả."

Một thị nữ bâng một khay trà nóng đặt lên bàn.

- Nữ y An Nhã, mời dùng trà.

- Cảm ơn cô - An Nhã đáp, nâng chén trà khói nóng bay lên mang theo mùi hương của lê, gừng và mật ong.

An Nhã nhìn thị nữ vẫn đứng khép nép chợt như ngộ ra điều gì.

Cô đứng dậy, bước đến góc phòng nơi vẫn cất lọ mảnh chứng vật vụn cô lấy được hôm đó.

Mảnh sợi chỉ hồng dính dưới móng tay nạn nhân.

An Nhã đưa lên soi kỹ.

Ánh đèn dầu rọi xuống.

"Sợi chỉ thêu có màu đỏ hồng giống với màu y phục cung nữ."

Cô sững người.

"Không phải của Lưu đại nhân.

Là của ai đó khác mà ông ta đã cố bấu lấy trước khi chết."

Hung thủ không thể là một người đàn ông được.

***

Một ngày sau, tin tức Phạm Doãn "tự vẫn trong ngục" lan ra khắp thành Đông Kinh.

Công văn từ Ngự sử đài ghi vắn tắt: "Tội phạm do day dứt lương tâm nên treo cổ tự tử vào giờ Dậu, trong lúc ngục sĩ đi thay ca.

Thi thể được phát hiện khi còn ấm."

Tin vừa đọc qua đã thấy hợp lý, càng củng cố kết luận trước đó: kẻ sát nhân đã chết, mọi chuyện khép lại.

Nhưng đêm ấy, trước cửa đại lao, một thị vệ trẻ phụ trách canh ngục, vô tình bật ra một câu:

- Cổ hắn máu vẫn ứa khi kéo xuống.

Dây còn treo lưng chừng.

Mắt thì mở trừng trừng, như muốn nói gì đó mà chưa kịp...

Lời ấy rơi vào tai một người đứng nép sau bức tường mặt che một lớp khăn lụa mỏng.

Người đó không nói gì, chỉ im lặng rồi rời đi.

Không ai biết đó chính là An Nhã.

Khi về đến thư phòng, cô ngồi lặng rất lâu trước chiếc đèn dầu leo lét.

Bàn tay cô lần qua các ghi chép: dấu bầm nơi cổ Lưu Hành, móng tay gãy, khuy áo không giằng co.

Rồi đến cái chết kỳ lạ của Phạm Doãn kẻ duy nhất bị ép làm "tội nhân hoàn hảo".

Bức tranh không hoàn chỉnh, nhưng lại quá tròn trịa.

Chính điều đó khiến An Nhã bất an.

Mọi mối dây đều bị cắt đúng lúc.

Nến chập chờn.

Gió khẽ lùa qua cửa sổ chưa khép kín, mang theo mùi ẩm mốc và cả cảm giác mơ hồ.

***

Đêm sau, khi sương đã dày kín mặt hồ, An Nhã được truyền vào điện Cần Chánh nơi hoàng đế thường ở lại tới tối để đọc tấu chương.

Cô không rõ vì sao được triệu gấp.

Chỉ biết, khi bước qua ngạch cửa, cô đã thấy Bang Cơ ngồi một mình bên ngọn đèn bạc, tay cầm chén trà không uống, ánh mắt soi thẳng vào những hàng chữ cô từng gửi lên.

Lá thư cô kín đáo gửi qua mật tín đã đến tay y từ lâu.

Y không nhìn cô ngay.

Chỉ khẽ nói, giọng trầm hơn thường lệ:

- Khanh thông minh hơn nhiều người trong triều.

Nhưng cũng vì vậy mà nguy hiểm hơn họ tưởng.

An Nhã im lặng.

Cô biết, đây không phải lời khen.

Bang Cơ đặt chén trà xuống, đôi mắt vẫn không rời lá thư viết tay của cô:

- Vụ án của Lưu Hành không đơn giản là một cái chết.

Cũng không chỉ là việc của riêng Thái y viện hay Nội các.

Nó đã chạm đến ranh giới của hai chữ 'quyền thế'

Rồi y ngẩng đầu, ánh mắt như gió thổi qua rừng trúc:

- Khanh là y nữ, không phải ngự sử.

Đừng nhúng tay quá sâu.

An Nhã chắp tay, cúi đầu:

- Thần nữ không điều tra vì tò mò.

Chỉ vì người chết có thể là người vô tội.

Bang Cơ đứng dậy, bước ra gần hiên.

Sương đêm bám mờ vai áo vàng thêu loan phượng, nhưng y không quay đầu lại:

- Người vô tội chết là nỗi đau.

Nhưng một người vô tội sống sót để phơi bày sự thật có khi phải trả giá bằng nhiều tính mạng.

Im lặng một lúc, y nói tiếp, giọng đã dịu lại:

- Trẫm sẽ âm thầm cho người điều tra.

Nhưng khanh, từ nay về sau, không được đơn độc dò xét bất cứ manh mối nào nữa.

Nếu khanh gặp chuyện không ai trong cung này có thể bảo toàn cho khanh được.

An Nhã hơi run.

Không phải vì sợ.

Mà vì trong khoảnh khắc ấy, cô nhận ra: Y không chỉ lo cho thể diện hoàng gia.

Y còn lo cho một người hữu tâm hữu tài nơi chốn cung đình.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Cổ Tâm Sinh
Chương 10: Viên đá rơi xuống mặt hồ


Trời Đông Kinh mùa thu, sương như khói, gió như than.

Từ hôm đó, tin đồn về huyết thống của Bang Cơ - Diên Ninh hoàng đế một lần nữa rì rầm trong lòng triều chính.

Có kẻ nhắc lại chuyện Tuyên Từ Thái hậu nhập cung mới sáu tháng, mà đã sinh hoàng đế.

Ban đầu chỉ là lời xì xào nơi bàn trà của vài vị quan nhỏ, rồi dần len lỏi đến trong cung, các phủ.

Bang Cơ chỉ lặng lẽ như mặt hồ đóng băng giữa mùa đông, gió thổi thế nào cũng không động.

Nhưng những người hầu thân cận biết rõ hoàng đế không còn ngủ trọn một canh giờ nào.

Bữa ăn thường bỏ nửa chừng.

An Nhã ngồi trong góc viện nhỏ của Thái Y Giám, tay lật một cuốn y thư cũ, nhưng mắt đã rời dòng chữ từ lâu.

Mấy ngày nay, những lời đồn không còn rỉ tai lén lút.

Chúng len qua từng khe cửa, rơi vào tai từng quan lại, thái giám, cung nữ, và giờ cả những người không muốn nghe.

An Nhã hiểu rằng đó là âm mưu gieo vào lòng thần dân, quan lại sự nghi hoặc về vị hoàng đế tại vị.

Cô biết.

Sự im lặng của Bang Cơ những lúc này chính là lý do khiến lời đồn ngày càng lan rộng.

Thế nhưng, càng nghe, lòng An Nhã càng nghẹn lại.

Cô nhớ dáng hình y, giữa đêm khuya.

Nhớ ánh mắt y sâu mà buốt lạnh, lại quá tĩnh lặng so với tuổi mười bảy.

Bang Cơ không phải vị hoàng đế hoàn hảo.

Y yếu bệnh.

Y cô độc.

Nhưng chưa một lần nào An Nhã thấy y quay lưng với dân.

Chưa một lần nào cô thấy y dùng uy quyền để trấn áp điều đúng.

Y là một vị vua không có tội.

Nếu có lỗi, thì chỉ là sinh ra giữa thời loạn.

Bang Cơ là minh quân.

Nhưng không có thời.

An Nhã từng học lịch sử.

Từng biết trước kết cục bi thảm sẽ đến.

Nhưng giờ đây, khi nhìn thấy rõ hơn sự cô đơn trong lòng người trị quốc, cô không nỡ.

Không nỡ để người ấy chết như một cái bóng bị xóa đi khỏi lịch sử.

Không nỡ để lời đồn lấn át hết cả công lao.

Giữa chính đạo và nhân tâm, cô không có lựa chọn nào dễ dàng cả.

***

Điện Vạn Thọ

Trong phòng đốt trầm, ánh sáng từ chiếc đèn lồng treo giữa xà nhà hắt xuống từng vệt dài lên đôi tay gầy guộc của người phụ nữ mặc y phục màu lam, tóc bạc điểm vài sợi rối.

Bang Cơ đứng lặng.

Áo bào thấm hơi sương, vẫn còn mùi giấy mực chưa phai.

Tuyên Từ Hoàng Thái hậu ngồi phía trước, quay lưng lại, giọng trầm thấp:

- Con định im lặng như thế đến bao giờ?

Bang Cơ cúi đầu, đáp nhẹ:

- Chỉ là lời đồn thổi.

Nếu Trẫm càng phản ứng, thì càng khiến họ nghĩ ta phải dùng máu để bịt miệng dân.

Hoàng thái hậu buông một tiếng cười lạnh, tay khựng lại trên tràng hạt:

- Hoàng vị mà giữ bằng cách nhẫn nhịn, thì e đến một thái giám cũng dám vạch ngọc thể.

Bà quay lại, nhìn thẳng vào mắt con trai:

- Con không hiểu đâu, Bang Cơ.

Làm vua không thể chỉ có lòng thương dân.

Phải có lúc đổ máu.

Bang Cơ siết chặt tay.

- Trẫm không muốn máu đổ vì mình.

- Không vì mình, thì vì ngai vàng con đang ngồi.

- Hoàng thái hậu nói, không cao giọng, nhưng mỗi chữ như gõ vào tim.

- Ngai vàng không phải dành cho kẻ mơ mộng.

Chỉ cần một lời rỉ tai, là bao nhiêu kẻ sẽ nhân danh 'tông thất' để lật đổ ngôi vị.

Bà dừng lại, rồi nói chậm:

- Nếu con không ra tay thì để ta.

Bang Cơ ngẩng đầu, đôi mắt đỏ quạnh trong ánh trăng xuyên qua mành trúc.

- Mẫu hậu định làm gì?

- Làm những gì một người mẹ nên làm để con ta còn sống mà làm vua.

- Khi ngai vàng lung lay, thì phải cắm gươm sâu hơn.

Không ai nói gì thêm.

Chỉ có tiếng gió đêm lùa qua, lật vài trang trong cuốn ngự thư trên án, tiếng giấy khẽ kêu.

***

Cung Trường Lạc

Trời se lạnh.

Ánh mặt trời rọi nghiêng lên từng bậc tam cấp.

Nhưng trong nội điện, không khí lại lạnh hơn gió đầu đông.

Tuyên Từ Hoàng Thái hậu ngồi thẳng trên ghế gỗ đàn hương, tay lần tràng hạt, sắc mặt không giận nhưng khiến ai bước vào cũng thấy khó thở.

Ba vị ngự sử, hai nội giám, một quan nội vụ đều quỳ dưới sân, mồ hôi túa ướt lưng áo.

- Ta nghe lời đồn trong cung mỗi lúc một lan.

Đến cả đứa tỳ nữ hầu trầu cũng dám lén nói chuyện thiên gia đại sự.

Bà dừng tay.

Hạt chuỗi đặt xuống mặt bàn "cốc" một tiếng.

- Vậy thì hôm nay, ai khai được tên người lan truyền lời đồn hãy đứng ra.

Không ai động đậy.

Bà gật đầu, giọng vẫn nhẹ như nước:

- Không ai nói?

Vậy ta bắt đầu từ phủ Nội Vụ.

Mỗi phòng cho tra soát lời lẽ, nhật ký trực.

Mỗi người một tờ khẩu cung.

Người nào chối giam ba ngày, không xét.

Tiếng quỳ lạy đồng loạt vang lên.

Một nội thị run rẩy dập đầu:

- Bẩm Thái hậu... hạ thần... chỉ nghe được từ một tên giám mã... dưới chuồng ngựa...

- Tên hắn là gì?

- bà ngắt lời.

- Ngô Phúc, ạ.

- Bắt đánh ba mươi trượng.

Tịch biên giấy viết, tước lương, đày làm sai dịch ở biên ải.

Giọng bà không lớn.

Nhưng từng chữ rơi xuống như dội cả cung đình.

Tuyên Từ đứng lên, bước xuống một bậc thềm, mắt quét qua từng người đang quỳ:

- Kẻ nói chuyện đế vương là khi quân phạm thượng tội chém đầu.

Người để lọt tin ra ngoài là tội lăng trì.

Bà dừng lại, hạ giọng, nhưng mắt sắc như dao:

- Hoàng đế là con của ta.

Dù là quỷ Dạ Xoa cũng không được phép động vào tông thất Đại Việt.

- Từ nay trở đi, ai còn để lọt lời đồn, xử trảm.

Ai còn viết vào sổ, truất.

Ai còn tụ họp thì tru di ba họ dù là quan hay dân.

Ngự sử quỳ rạp.

Nội giám không dám ngẩng đầu.

Tuyên Từ phất tay áo:

- Truyền chỉ: nội cung thiết luật cấm mọi lời đồn liên quan đến thân thế hoàng đế.

Kẻ nào vi phạm, y theo gia hình cũ của tội khi quân luận xử.

Tiếng "Tuân chỉ" vang lên như tiếng trống tang.

Trong ba ngày sau đó, bảy người bị biếm chức, mười một người bị lưu đày, và ba nô tài treo xác thị chúng với mảnh vải trắng viết: "Loạn ngôn, nhiễu quốc".

***

Đêm ấy, phủ Lạng Sơn Vương mịt mù trong mưa phùn.

Gió bấc từ sông Nhị thổi về mang theo hơi ẩm mát lạnh, quẩn quanh mái ngói rêu xanh, len lỏi qua khe cửa gỗ.

Trong đại sảnh, chỉ thắp ba ngọn đèn dầu, ánh sáng run rẩy hắt lên vách tường, như bóng ma nghiêng ngả.

Bốn người cùng bước vào: Lê Đắc Ninh - thân hình vạm vỡ, đôi mắt sắc bén đầy cảnh giác.

Phạm Đồn và Phan Ban hai thủ hạ thân tín đi cùng nhau, áo choàng còn đẫm nước mưa.

Cuối cùng là Trần Lăng người ít lời, gương mặt bình thản nhưng bàn tay không rời chuôi kiếm.

Họ đều biết đêm nay không phải một bữa tiệc thông thường.

Trên cao, Lê Nghi Dân mặc giao lĩnh gấm tía ngồi khoan thai, bên cạnh chỉ có một án thư, không rượu, không nhạc.

Y mỉm cười nhạt:

- Các ngươi chắc hẳn đang thắc mắc vì sao được ta triệu đến cùng lúc.

Không ai đáp.

Chỉ có tiếng mưa ngoài hiên.

Nghi Dân khẽ gõ ngón tay lên mặt bàn:

- Bởi chuyện đêm nay, một khi đã nghe, thì không còn đường lui nữa.

Lời vừa dứt, không khí trong sảnh chùng xuống.

Đắc Ninh nhíu mày, chắp tay:

- Vương gia, nếu là chuyện hệ trọng, xin cứ nói thẳng.

Bốn người chúng thần không phải hạng thích vòng vo.

Nghi Dân khẽ cười, ánh mắt chậm rãi quét qua từng gương mặt:

- Vậy được.

Ta sẽ nói thẳng.

Các ngươi có thật sự tin rằng Diên Ninh là con ruột của Tiên đế Thái Tông không?

Câu hỏi ấy như mũi dao ném xuống giữa sảnh.

Phạm Đồn chau mày:

- Vương gia, lời này xin chớ nói bừa.

Đó là tội khi quân.

Nghi Dân không nổi giận, chỉ nghiêng người rót chén trà, giọng đều đều:

- Ta đâu có nói bừa.

Các ngươi trong triều đã nghe tin đồn chưa?

Rằng Hoàng Thái Hậu mang thai 6 tháng đã sinh ra bệ hạ.

Tin này, ngay cả trong Cấm thành, kẻ hầu người hạ đều rỉ tai.

Các ngươi không thể chưa nghe.

Cả sảnh im lặng.

Chỉ có ánh đèn dầu bập bùng như muốn tắt.

Phan Ban hạ giọng:

- Nghe thì có nghe.

Nhưng chỉ là lời ong tiếng ve.

Không thể lấy đó làm chứng cứ.

Nghi Dân cười nhạt:

- Ong tiếng ve, mà sao lại lan khắp Đông Kinh?

Một lời bịa đặt, làm sao sống sót qua từng ấy năm, không ai dập tắt được?

Các ngươi nghĩ kỹ đi: Bệ hạ từ nhỏ ốm yếu, tư chất chẳng bằng ai, thế mà được chọn kế vị.

Vì sao?

Đắc Ninh im lặng.

Hắn vốn căm tức bọn quan văn triều đình được coi trọng hơn võ ban, nhưng lòng trung thành với hoàng thất vẫn còn.

Nghe đến đây, mồ hôi lạnh rịn ra ở lưng.

Nghi Dân nhìn thấy, liền dấn thêm:

- Nếu bệ hạ thật không phải máu mủ Tiên đế, thì là gì?

Một kẻ soán ngôi vị đội lốt hoàng đế.

Các ngươi thề trung thành với ai?

Với hoàng thất nhà Lê, hay với một con rối?

Phạm Đồn đập mạnh tay xuống bàn:

- Nếu là thật thì đây là tội của cả triều đình!

Nghi Dân cười gằn:

- Đúng.

Là tội của kẻ nào dựng Diên Ninh lên.

Nhưng các ngươi nghĩ xem, một khi thiên hạ biết bệ hạ không chính thống, lòng người còn phục chăng?

Binh sĩ còn sẵn sàng chết trận vì vua chăng?

Trần Lăng, từ đầu im lặng, giờ mới cất lời, giọng trầm thấp:

- Vương gia, ngài muốn gì từ chúng ta?

Ánh mắt Nghi Dân lóe sáng.

Hắn chậm rãi đứng dậy, bước từng bước ra giữa sảnh, bóng kéo dài trên nền gạch ẩm:

- Ta muốn lấy lại ngôi vị vốn thuộc về tông thất nhà Lê.

Ta là con trưởng của Tiên đế.

Ta mới là người được chọn ban đầu.

Chỉ vì phe cánh hậu cung, ta bị gạt bỏ.

Các ngươi tự hỏi lòng mình đi: ai xứng đáng hơn kẻ có dòng máu nhà Lê, hay kẻ sống nhờ trò tráo đổi huyết thống?

Không khí nặng nề như chì.

Đắc Ninh nghiến răng:

- Nếu những lời ngài nói là thật thì giữ Diên Ninh trên ngôi chẳng khác nào nuôi ong tay áo.

Nhưng bằng chứng đâu?

Nghi Dân nhìn thẳng vào y:

- Bằng chứng trong tay ta chưa tiện nói.

Nhưng ta hứa, khi thời cơ đến, ta sẽ cho các ngươi thấy.

Điều quan trọng là trong thâm tâm, các ngươi có tin hay không.

Phan Ban nhìn đồng bọn, giọng thăm dò:

- Nếu chúng ta giúp vương gia, đổi lại được gì?

Nghi Dân cười, giọng chắc nịch:

- Đắc Ninh, khi ta lên ngôi, võ ban sẽ ngang hàng văn ban.

Ngươi không còn phải chịu nhục dưới lũ nịnh thần đó nữa.

- Đồn, Ban, hai ngươi sẽ được cho trấn thủ một trấn, trở thành chỉ huy quân trại ngoại thành.

- Lăng, ngươi sẽ là tay kiếm bên cạnh ta, không ai dám xem nhẹ.

Ánh đèn run rẩy soi bốn gương mặt.

Không ai nói, nhưng tim đều đập dồn dập.

Một lát sau, Đắc Ninh cất giọng khàn đặc:

- Nếu quả thật bệ hạ không chính thống, thì theo ngài, phò tá ngài chẳng khác nào phò tá chân mệnh.

Phạm Đồn gật đầu:

- Kẻ sĩ không sợ chết, chỉ sợ hy sinh cho người không đáng.

Nếu bệ hạ không phải máu mủ của tiên đế thì ta không muốn lưỡi gươm mình nhuốm máu vì ngoại thích.

Trần Lăng chỉ khẽ nói:

- Ta không giỏi suy tính.

Chỉ biết đi theo người xứng đáng để ta theo.

Nghi Dân nghe, khẽ nhắm mắt.

Nụ cười hiện ra nơi khóe môi, không hẳn là vui, mà như một kẻ đã gieo được mầm mống vào lòng đất.

Y quay lại án thư, đặt tay lên chén trà còn nóng:

- Vậy thì các ngươi đã nghe xong điều cấm kỵ nhất.

Từ nay, chỉ có một con đường hoặc cùng ta, hoặc thành kẻ thù.

Mưa ngoài hiên càng lúc càng nặng hạt.

Bốn người nhìn nhau, không ai trả lời.

Nhưng sự im lặng ấy đã là lời thề.

Đêm đó, bốn bóng người lần lượt rời khỏi phủ Lạng Sơn Vương, áo choàng thẫm nước mưa.

Không ai nói thêm một lời.

Nhưng trong lòng họ, tiếng Nghi Dân vẫn vang lên, dai dẳng như tiếng trống trận chưa điểm.

Như những viên đá đã rơi xuống mặt hồ.

Những vòng sóng đang lan ra từng vòng, từng lớp không thể ngăn lại được nữa.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Cổ Tâm Sinh
Chương 11: Hơi ấm


Đêm mười bốn, trăng lu mờ, ánh sáng như lớp sương bạc phủ lên dãy hành lang đá.

An Nhã bước chậm rãi, tay ôm quyển sách vừa mượn từ thư viện Nội Các.

Trời khuya, gió đầu mùa rít qua mái cung, thổi vào những khe ngói xô lệch tạo thành tiếng vút vút lạnh người như tiếng ai thì thầm trong mộng dữ.

Tà áo khẽ phồng lên theo từng cơn gió.

Ánh trăng nhuộm trắng bậc đá dưới chân.

Rồi đột ngột một bóng đen lao ra từ sau cột hành lang.

Một lưỡi dao sáng lạnh vung lên, nhắm thẳng vào ngực cô.

An Nhã phản xạ theo bản năng, nghiêng người, tay không buông quyển sách mà vung mạnh.

Phập!

Gáy sách đập trúng cổ tay kẻ thích khách.

Đường dao chệch đi, sượt qua vai cô, rạch một đường dài từ bả vai đến khuỷu tay.

Máu trào ra ngay tức thì, nhuộm ống tay áo thành sắc đỏ sẫm.

Tên thích khách gầm lên định tung thêm một đòn kết liễu, nhưng chưa kịp ra tay.

"Có thích khách.

Bắt sống hắn!"

Một loạt tiếng hô vang từ phía rặng trúc cuối hành lang.

Toán thị vệ bất ngờ ập đến như từ trong bóng tối mọc ra, vây kín.

Tên kia hoảng hốt quay đầu bỏ chạy, nhưng chỉ trong vài chiêu đã bị quật ngã, trói gô lại dưới nền đá lạnh.

An Nhã khuỵu xuống, bàn tay siết chặt lấy bờ vai rỉ máu.

Mắt cô hoa đi, hơi thở gấp gáp.

Trong khoảnh khắc mờ mịt trước khi ngất lịm, cô chợt thấy một bóng người cao lớn bước ra từ phía rặng trúc.

Y phục xanh tím, gương mặt lạnh lùng như tượng đồng dưới ánh trăng.

Lê Tư Thành.

Đôi mắt y nhìn cô, không chớp mắt, ánh nhìn như có thể chẻ đôi bóng tối.

***

Ngày hôm sau.

Không có đại thần nào được triệu vào triều.

Không có chỉ dụ nào ban xuống.

Không một án văn nào được viết.

Tên thích khách, theo lời các thị vệ "đã tự vẫn trong ngục."

Nhưng xác thì không tìm thấy.

Vết máu khô còn trên nền đá, song phòng giam trống không như chưa từng có ai bị giam giữ.

Bang Cơ ngồi trong nội điện, trước án thư trải tấm bản đồ thành Đông Kinh.

Dưới ngọn đèn dầu leo lét, ánh mắt y trầm như nước giếng, không một gợn sóng.

Một bóng người lặng lẽ bước vào, không báo trước.

Lê Tư Thành.

Y khom người hành lễ, nhưng Bang Cơ chỉ phất tay, giọng trầm ổn:

- Thích khách không phải người thường.

Vào được khu nội cung, lại ra khỏi ngục mà không để lại dấu vết chỉ có thể có nội ứng.

Y dừng lại một thoáng, rồi đẩy về phía Tư Thành một thẻ ngọc nhỏ, khắc hình một cánh sen.

- Chiếu chỉ này không qua Thượng thư lệnh, cũng không ghi chép vào sổ ngự vụ.

Từ giờ, Vương đệ hãy thay mặt trẫm, bí mật tra xét việc này.

Tư Thành ngẩng đầu, nhẹ gật đầu.

Trong mắt hiện lên một tia sáng lạnh.

- Thần xin nhận lệnh.

Bang Cơ nhìn ra ngoài điện.

Gió thổi dạt tấm rèm, để lộ một khoảng trời mờ xám.

- Ta không tin thích khách đến vì mối thù cá nhân.

Cũng không tin đây là ngẫu nhiên.

Y quay lại, lần đầu nhìn thẳng vào Tư Thành:

- Vương đệ là người hiểu rõ nhất thế lực các hoàng thân.

Nếu có kẻ muốn giết một y nữ mà dám động thủ ngay trong nội cung thì mục tiêu không chỉ là một người.

Tư Thành đáp, giọng chắc nịch:

- Thần hiểu.

Thần sẽ điều tra việc này đến cùng.

Y gật đầu, giọng trầm xuống như gió qua khe đá:

- Tìm ra kẻ đứng sau, nhưng đừng để ai biết.

Và nếu An Nhã gặp chuyện, hãy bảo vệ nàng trước rồi mới bẩm báo.

Cả triều đình hiện tại, ta chỉ có thể tin một mình Vương đệ.

***

Hai ngày sau, An Nhã sốt cao, vết thương tuy không sâu nhưng lại nhiễm lạnh do hôm đó ngấm mưa.

Cơn sốt không dữ dội, nhưng dai dẳng như mưa phùn Đông Kinh âm ẩm, thấm sâu từng thớ thịt.

An Nhã nằm nghiêng trên chiếc giường tre nhỏ trong phòng thuốc, tấm chăn đắp hờ lên vai.

Mồ hôi ướt tóc mai, môi khô, cổ họng nóng ran như có lửa nhỏ thiêu đốt bên trong.

Ngoài hiên, gió lay nhẹ giàn dây cúc tần, rơi xuống mấy cánh hoa úa.

Tiếng bước chân khe khẽ.

Một thị nữ bưng vào một khay gỗ đơn sơ, trên đó đặt một ấm trà men xanh đã ủ sẵn trong ấm tích, vẫn còn âm ấm.

- Nữ y An Nhã , có người đưa đến một gói trà dưỡng khí, có thể giúp cô đỡ hơn.

- cô gái nói nhỏ, đặt xuống bên mép giường.

- Có bạc hà, hoắc hương và kỷ tử.

An Nhã nhíu mày, gắng nhỏm dậy.

Đôi môi nứt nẻ lẩm nhẩm:

- Là ai đưa đến...?

Thị nữ ngập ngừng một nhịp, rồi khẽ đáp:

- Dạ, không rõ tên.

Thị vệ chỉ dặn là có người gửi.

Rất kín đáo.

Tay An Nhã run nhẹ khi nâng ấm trà.

Cô ghé mũi ngửi.

Thoảng trong hương bạc hà dịu mát, là một chút mùi đất phảng phất trầm lặng, ấm áp, và vô cùng quen thuộc.

Như thể từng vương lại nơi vạt áo ai đó, trong một buổi chiều ở thư viện Nội Các.

Ký ức chậm rãi trở về.

Một lần, trong căn phòng đầy sách cũ, Lê Khắc Xương từng nói:

"Người ốm không nên dùng nhân sâm.

Khi tạng phủ đang yếu, thứ của quý lại thành áp lực.

Tốt nhất là trà có mùi đất dịu, vị mát nhẹ như bạc hà, hoắc hương.

Càng thanh, càng vào khí."

An Nhã siết chặt ngón tay quanh chén trà.

Không tên, không lời nhưng hương thơm kia, là câu trả lời rõ ràng nhất.

Cô thổi nhẹ cho trà nguội bớt rồi đưa chén trà lên môi.

Nước ấm vừa chạm đầu lưỡi, vị the mát của bạc hà lan ra trước tiên nhẹ như một làn gió đầu thu lướt qua ngực.

Kế đó là vị hơi ngăm của hoắc hương, rồi dịu lại bằng cái hậu ngọt trầm của kỷ tử.

Tất cả quện vào nhau, như một bài thuốc, không sắc nồng, chỉ đủ để khiến lòng người đang lạnh run chợt ấm lên.

Mắt cô khẽ nhắm.

Cổ họng khô khốc như được tưới mát, ngực bớt nghèn nghẹn, đầu cũng nhẹ đi một phần.

An Nhã đặt chén xuống, bàn tay nhỏ khẽ vuốt qua thân gốm men xanh.

Cô bỗng mỉm cười.

Rất nhẹ.

An Nhã thiếp đi một lúc, giấc ngủ chập chờn giữa những hồi mê man.

Trong cơn mơ, cô thấy tiếng gió luồn qua hiên đá, tiếng chân ai khẽ khàng bước tới.

Cửa mở.

Không phải thị nữ.

Cũng không phải y quan.

Là Bang Cơ.

Y bước vào, vận thường phục thêu rồng, tóc không cài ngọc quan, chỉ xõa nhẹ sau vai.

Gương mặt không phảng phất uy nghiêm, chỉ còn lại một người con trai mười bảy tuổi đứng lặng dưới ánh đèn.

An Nhã giật mình định ngồi dậy, nhưng một bàn tay kịp đặt nhẹ lên vai cô, giữ lại:

- Khanh không cần đa lễ.

- giọng y khẽ, như gió lướt qua giấy lụa.

Y ngồi xuống bên mép giường, tay chạm lên trán cô.

Vẫn nóng.

Sốt chưa lui.

Trán ướt mồ hôi.

- Trẫm đã biết chuyện.

- y nói.

An Nhã gật đầu, lặng lẽ.

Ánh mắt cô chạm vào mắt y và lần đầu tiên, cô thấy đôi mắt ấy thật mỏi mệt.

Quầng thâm dưới mắt không giấu được.

Mắt đỏ, nhưng không phải vì khóc mà vì không ngủ.

- Bệ hạ... không nên đến đây giữa đêm.

Nếu có ai thấy, sẽ rất bất tiện.

Bang Cơ mỉm cười một nụ cười nhạt như sương tan trên lá sen:

- Thái y nói vết thương không sâu, chỉ lo khanh sốt lâu ngày hại khí huyết.

Khanh có thấy khó thở hay đau ngực không?

An Nhã hơi nghiêng đầu, giọng khàn:

- Chỉ là nóng sốt, chưa đến mức nguy hiểm.

Bệ hạ xin yên tâm.

Y im lặng một lát, đôi mắt trĩu xuống như đang cân nhắc.

Rồi chậm rãi nói:

- Từ ngày khanh bước vào cung, trẫm đã nghe không ít kẻ bàn tán.

Nhưng nay, nếu khanh vì trẫm mà vướng họa, trẫm lại chẳng biết bảo vệ thế nào cho vẹn.

An Nhã ngước nhìn.

Trong ánh mắt ấy, cô thấy không phải dáng dấp một đế vương cao cao tại thượng, mà là một chàng trai tuổi mười bảy, gánh vác cả thiên hạ nhưng vẫn còn mang nét non trẻ.

- Thần vốn chỉ mong yên phận, chăm việc y dược, không nghĩ sẽ gây thêm phiền lo cho bệ hạ.

Bang Cơ lắc đầu, khóe môi nhếch một thoáng như cười mà không thành:

- Không phải khanh gây họa.

Mà là có kẻ không muốn khanh tồn tại.

Trẫm đã hiểu rõ.

Y hơi nghiêng người, giọng hạ thấp xuống như sợ người ngoài nghe thấy:

- An Nhã, khanh chớ nghĩ mình nhỏ bé.

Người càng tưởng là vô hại, lại càng dễ thành đích ngắm.

An Nhã mím môi, ngón tay siết chặt vạt chăn.

Một cơn ớn lạnh khác len dọc sống lưng, không phải từ sốt rét mà từ những lời y vừa nói.

- Thần... không biết nên đối diện ra sao.

Bang Cơ nhìn cô thật lâu.

Từ tay áo, y rút ra một mảnh lụa nhỏ đã được gấp gọn, buộc bằng sợi chỉ chậm rãi đặt gói lụa xuống cạnh gối:

- Trong đây có dược phương phòng độc, một gói tán hương tránh sát khí.

An Nhã đón lấy mảnh lụa.

Tay cô run nhẹ vì sốt.

Nhưng lòng ấm lên lạ kỳ.

- Thần nữ tạ ơn bệ hạ.

- Khanh cứ yên tâm dưỡng bệnh.

Những gì ngoài kia, để trẫm và Bình Nguyên Vương lo liệu.

Khanh chỉ cần nhớ, có điều gì lạ thì phải nói thẳng với trẫm.

Chớ giấu.

An Nhã thoáng ngạc nhiên:

- Bệ hạ tin thần đến vậy ư?

Ánh mắt y khẽ lóe sáng, nhưng rồi dịu đi:

- Trẫm chỉ biết, trong triều, càng nhiều kẻ vây quanh thì càng khó phân thật giả.

Nhưng lời khanh nói thì trẫm tin.

Trong gian phòng nhỏ, im lặng rơi xuống sau câu nói ấy.

An Nhã cúi đầu, tim khẽ run lên, không rõ là vì sốt hay vì ánh mắt y nhìn mình.

Cánh cửa khẽ khép lại, tiếng bước chân xa dần trên hành lang đá lạnh.

Trong phòng chỉ còn ngọn đèn lồng leo lét, lay động như muốn tắt.

An Nhã ngồi lặng hồi lâu, chăn buông trên vai mà không kéo lên.

Vết thương trên cánh tay âm ỉ nhức nhối, nhưng cảm giác trong lồng đã nặng trĩu.

Tin tưởng.

Nhưng vì sao lại là cô?

Một nữ y nhỏ bé, không quyền, không thế, chẳng chút chỗ dựa.

Chẳng lẽ chính vì vậy mà dễ trở thành kẻ để người khác nhắm vào?

Ngón tay cô khẽ chạm vào mảnh lụa bên gối.

Sợi chỉ xanh buộc ngoài gói thật giản đơn, song lại mang theo sức nặng như một lời ủy thác.

Một làn gió đêm lọt qua khe cửa, thổi mùi hương cúc tàn ngoài hiên lẫn vào.

An Nhã rùng mình, kéo chăn che kín vai.

Mí mắt nặng trĩu vì cơn sốt, nhưng tâm trí lại chẳng dễ yên.

Lời Bang Cơ như còn văng vẳng.

Trong cơn mê chập chờn, An Nhã thoáng nhớ lại bóng người mờ mịt, ánh mắt lạnh lẽo ẩn trong bóng tối.

Cô khẽ siết lấy gói lụa, tựa như bấu vào một điểm tựa duy nhất.

Đêm ấy, giấc ngủ đến muộn, chập chờn giữa những đợt sốt nóng và lạnh, giữa cảm giác được bảo vệ và nỗi lo không biết mai này còn bao nhiêu cơn sóng dữ chờ phía trước.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Cổ Tâm Sinh
Chương 12: Kiếm và trăng


Trời se lạnh, sương phủ trắng các lối đi trong Cấm Thành dù chưa sang đông.

An Nhã đang cẩn thận xếp lại những túi thảo dược trong kho sau Thái Y Viện, tay áo hơi vướng vào giá treo khô, mùi quế chi và cam thảo phảng phất trong không gian, thì một tiếng gọi cất lên phía sau:

- Nữ y An Nhã, có chỉ truyền.

Cô quay lại.

Một thái giám áo xanh cúi đầu, giọng đều đều:

- Xin mời cô đến phủ Lạng Sơn Vương.

Có lời mời riêng từ Vương gia.

Tay An Nhã khựng lại.

Lạng Sơn Vương có phải là Lê Nghi Dân?

Con trai trưởng của Tiên Đế.

Người từng được sách lập làm Thái tử rồi bị phế truất.

Cô chưa từng trực tiếp gặp mặt người này nhưng từ sau cái chết mờ ám của quan Lưu Hành, cái tên ấy đã vang lên như một tín hiệu ngầm trong mọi lời thì thầm nơi hậu cung.

Cô chậm rãi gập nốt gói thuốc, gài lại ngăn hòm, rồi phủi tay, đứng dậy:

- Mời dẫn đường.

***

Trên xe ngựa lắc lư rời khỏi cửa cung phía Tây, An Nhã khẽ vén rèm nhìn ra ngoài, ánh nắng nhạt chiếu trên mái ngói lưu ly của thành Đông Kinh.

Lúc ấy, cô bất giác nhớ đến lời nội giám nói: Bình Nguyên Vương và Tân Bình Vương được đặc cách cho vào ở gần nội điện, theo học cùng các quan học sĩ.

Một phần bởi học hạnh hai người đều tốt, lại không có phe cánh riêng nên được triều thần tin tưởng.

Còn Lạng Sơn vương Nghi Dân, thân phận là con trưởng của Tiên đế, từng giữ Đông cung, sau bị phế, nay dẫu vẫn được phong vương nhưng phủ đệ đặt bên ngoài hoàng cung.

Người trong triều ngấm ngầm dè chừng, chẳng ai muốn để y gần vua trẻ và cơ mật triều chính.

Tiếng vó ngựa đều đều, An Nhã khẽ rùng mình.

Phủ Lạng Sơn vương đang ở phía trước.

Phủ Lạng Sơn Vương tuy ở ngoài nội cung nhưng vẫn được trấn giữ cẩn mật, tường gạch xây cao, mái ngói xanh rêu.

Cổng lớn mở ra một lối đi lát đá ong, hai bên là vườn mai vừa tàn, hoa rụng trắng nền đất như sương giá phủ mờ.

An Nhã được một cung nhân dẫn đi, chân bước khẽ khàng theo tiếng chân vang nhẹ.

Cô không nói, chỉ chăm chú nhìn khung cảnh quanh mình.

So với trong cung, nơi này thiếu vẻ huy hoàng, nhưng lại lặng lẽ, kín đáo và đầy uẩn khúc.

Một giọng nói vang lên từ trong bóng tối:

- Mời vào.

Cô bước qua bậc cửa.

Cánh cửa sau lưng khép lại âm thanh khe khẽ mà tựa như cắt ngang bầu khí lạnh.

Lê Nghi Dân đang ngồi đó.

Người nam nhân trước mặt khoảng độ hai mươi, dáng cao, gương mặt điềm tĩnh.

Đôi mắt dài, ánh nhìn không sắc bén, nhưng lại có cảm giác như thanh gươm đang nằm trong vỏ.

- Nữ y An Nhã.

- Nghi Dân mỉm cười, giọng nói dịu, êm như lụa, không gợn sóng.

- Ta từng nghe danh cô ở Thái Y Viện.

Gần đây lại là vụ việc ở hành lang phía Đông.

An Nhã đáp nhỏ:

- Vương gia quá lời.

Thần nữ chỉ là người sắc thuốc.

Nghi Dân nhếch mép cười, đặt chén trà xuống:

- Ta có đôi lúc nhức đầu, nặng ngực.

Thầy lang chẩn mãi không ra nguyên do.

Hôm nay gọi đến, là để xem liệu bàn tay nữ nhi có tài hơn đám nam nhân già lọc cọc kia không.

An Nhã lặng lẽ bước lại, bắt mạch cử chỉ chuyên nghiệp, không ngước mắt.

Một lúc sau, cô lên tiếng:

- Thưa Vương gia, mạch đập hoàn toàn ổn định.

Không có dấu hiệu phong hàn hay hỏa vượng.

Có lẽ chỉ do lao lực, hoặc phiền lòng.

Nghi Dân mắt khẽ nheo lại:

- Phiền lòng?

An Nhã giữ lễ độ, không lùi:

- Thần chỉ nói điều bắt được từ mạch.

Không hề suy đoán thêm.

Im lặng.

Một khoảng dài.

Rồi Nghi Dân chậm rãi đứng dậy, đi một vòng quanh cô không chạm vào, nhưng đủ gần để khiến không khí đặc quánh.

Y đứng sau lưng cô, khẽ nghiêng đầu nói nhỏ:

- Nếu một người như ta muốn giữ một nữ y tài giỏi bên mình, làm việc riêng thì có được không?

An Nhã ngẩng mắt.

- Vương gia nói 'làm việc riêng', nghĩa là...?

Nghi Dân đi đến bàn, rót trà cho cả hai, một hành động bất thường đối với một hoàng tử, y không trả lời thẳng:

- Người như cô... ta thấy tiếc.

An Nhã cảm thấy lưng mình căng lên.

Nhưng vẫn cố giữ giọng bình thản:

- Vương gia tiếc điều gì?

- Người giỏi không nên bị chôn vùi nơi viện nhỏ, chịu quản thúc bởi đám già trong Thái Y Viện.

Một trí tuệ như thế, sao lại đặt lòng cho một người bị trói buộc bởi ngai vàng?

Ở bên cạnh ta sẽ có nhiều việc thú vị hơn.

An Nhã im lặng một khắc, rồi từ tốn:

- Nếu tâm của bệ hạ dành cho giang sơn, đó là điều thiên hạ nên mừng.

Lê Nghi Dân khẽ cười, ngón tay xoay nhẹ chén trà trong tay, y rướn nhẹ người về phía cô, giọng trầm xuống một nhịp:

- Nữ y An Nhã, hôm nay ta mời cô đến không phải chỉ để chẩn bệnh.

Ta chỉ muốn hỏi cô một câu: Giả như một ngày người cô tin tưởng ngã xuống.

Và người đối diện cho cô một con đường khác.

Cô sẽ theo ai?

Một câu hỏi như bức rèm kéo hờ bỗng bị gió thốc tung.

An Nhã nhìn thẳng vào mắt y.

Rồi chậm rãi nói:

- Thần nữ không giỏi chọn phe.

Chỉ giỏi giữ lấy điều đúng.

Không khí trong phòng lặng đi như một mặt hồ vừa bị gió chạm.

Nghi Dân đặt chén trà xuống bàn, tiếng va chạm nhỏ như mệnh lệnh đã ban.

- Vậy mong cô giữ vững, ngay cả khi không còn ai đứng bên điều đúng ấy nữa.

An Nhã không đáp.

Cô đứng thẳng, ánh mắt không hạ xuống quá mức cần thiết, cung kính mà không rụt rè.

Ra khỏi phủ Lạng Sơn Vương, An Nhã bước chậm dọc theo hành lang đá.

Mùi gió thu lùa qua tà áo, lạnh như một bàn tay vô hình áp lên ngực.

Từng lời nói của Nghi Dân không phải là lời dụ dỗ, cũng chẳng hẳn là đe dọa.

Mà giống như lời cảnh báo trước khi bão đến.

Ngoài trời bắt đầu đổ mưa bụi.

Lê Nghi Dân không đe dọa.

Y cũng không hứa hẹn.

Nhưng từng câu chữ được lựa chọn cẩn thận, từng ánh mắt như soi thấu tâm can lại khiến cô cảm thấy một áp lực vô hình, chẳng khác nào đang bị dồn dần vào một ván cờ không thể rút lui.

"Giữ lấy điều đúng?"

Cô lặp lại trong đầu câu trả lời vừa rồi một câu nghe tưởng chừng mạnh mẽ, nhưng giờ đây lại nặng trĩu trong ngực.

Thế nào là đúng?

Là cứu người, không phân thân phận?

Là giữ vững đạo lý giữa một triều đình đầy tranh đoạt?

Cô nhớ ánh mắt của Bang Cơ mệt mỏi nhưng vẫn gắng giữ lấy từng tia lý trí.

Nhớ đến giọng nói âm trầm mà khẽ khàng giữa.

Giữa họ, giữa bao nhiêu mạch chảy quyền lực, còn cô chỉ là một nữ y.

Nhưng lòng cô biết rõ ở chốn cung đình này, không chọn phe chính là một lựa chọn nguy hiểm nhất.

Tiếng mưa rơi xuống, một giọt nhỏ rơi xuống vết thương chưa lành nơi vai vẫn âm ỉ nhói.

Cô siết chặt ống tay, ngẩng đầu nhìn về hướng nơi xa xa, nơi đèn lồng đỏ treo giữa mưa như một trái tim đang dần lụi tàn.

An Nhã biết, cuộc đời cô đã không còn lối trở lại như ngày đầu bước vào đây.

An Nhã không biết rằng, từ một góc, Lê Tư Thành đang dõi theo từng bước cô rời phủ.

Y nhìn bóng dáng đang dần khuất sau làn gió, lòng không yên.

***

Điện Giảng Võ nằm phía đông nam hoàng thành, nơi binh lính luyện võ, cấm vệ thao binh, và cũng là nơi các ngự y thường xuyên lui tới mỗi khi luyện binh lúc mà xương cốt dễ thương tổn, da thịt dễ nứt, và những vết thương cũ âm ỉ trở lại.

An Nhã bước qua cổng tam quan, tay ôm hòm thuốc, bước chân nhẹ mà không vội.

Tiếng binh khí va nhau vang lên phía sân luyện, xen lẫn tiếng hô rền từng hồi như xé tan sương giá.

Cô được Thái Y Viện phái tới để xem xét một số binh sĩ bị chấn thương trong đợt luyện khắc nghiệt.

Không phải lần đầu cô thấy máu, lệch khớp, hay vết găm sâu dưới lớp thịt tím bầm.

Nhưng lần nào cũng vậy vẫn có cảm giác nghèn nghẹn trong ngực khi nhìn gương mặt còn rất trẻ, ánh mắt còn rất trong mà đã mang theo nét chịu đựng của người từng trải.

- Đau không?

- cô hỏi, khi rửa một vết thương ở cánh tay một binh sĩ.

- Chưa đến mức không chịu nổi, coi như không đau.

- người lính trẻ cười gượng.

An Nhã lấy băng vải, tay vừa siết lại nút buộc vừa khẽ nói:

- Lần sau ngã, đừng cố đứng lên quá nhanh.

Để xương còn kịp phản ứng.

Gã binh sĩ ngẩn người, rồi bật cười:

- Nữ y, cô nói giống thầy dạy võ quá.

An Nhã cũng cười, không trả lời.

Cơn gió bất ngờ lùa qua hiên nhà, làm ống tay áo cô khẽ lật lên, để lộ một đường sẹo mảnh đã nhạt màu nơi bả vai vết tích để lại sau vụ ám sát chưa lâu.

Không ai hỏi.

Nhưng không ai là không biết.

Gần tối, sân điện Giảng Võ thưa người, từng tốp binh sĩ đã lác đác lui về nghỉ.

Trời chuyển sắc, một lớp sương mỏng bắt đầu trườn qua các mái ngói cong.

An Nhã thu dọn hộp thuốc và chồng thảo dược, tay áo nhuốm mùi thuốc, bước chầm chậm qua sân tập để trở về.

Nhưng khi vừa đến mé hiên, một âm thanh rạch gió vang lên, dứt khoát như xé toang không gian lặng lẽ.

Cô dừng lại, ngẩng đầu.

Một người đơn thân luyện kiếm giữa sân gạch không giáp trụ, không lính hầu.

Chỉ khoác chiếc áo lam mỏng đã đẫm mồ hôi, từng động tác uyển chuyển, rắn rỏi, như thể hòa tan cả thân thể vào luồng khí lạnh mùa thu.

Lê Tư Thành.

Dưới ánh chiều tà nghiêng đổ, đường kiếm của y không hoa mỹ, không dư thừa.

Mỗi nhát chém đều mang theo tiết chế không phải để phô diễn, cũng không mang sát khí mà như đang gắng gìn giữ sự cân bằng trong một cõi lòng đã bắt đầu lệch nhịp.

An Nhã đứng yên bên hiên, tay ôm y hòm, ánh mắt dõi theo từng nhịp thở của người trước mặt mà không cất lời.

Cho đến khi y dừng lại, kiếm chạm đất, mồ hôi ứa thành giọt trên trán.

Y quay lại, chợt bắt gặp ánh nhìn của cô.

- Cô vẫn chưa về?

An Nhã khẽ nghiêng người, như sực tỉnh:

- Thần nữ xin lỗi.

Chỉ là không nỡ làm phiền.

Tư Thành rút khăn tay lau mồ hôi, bước chậm về phía cô, ánh mắt bình lặng như mặt hồ nhưng không giấu được vệt sâu suy tư:

- Có vẻ như cô xuất hiện ở đâu là nơi đó thường có chuyện xảy ra.

- Núi thuốc, hành lang phía đông đêm hôm ấy và...

Phủ Lạng Sơn Vương - Y nhìn cô, giọng không trách, chỉ như chạm vào một điều chưa từng nói ra.

An Nhã không lảng tránh.

- Thần nữ chỉ đến nơi có người bệnh cần chữa trị.

Tư Thành thoáng cười, nụ cười nửa như thừa nhận, nửa như thăm dò.

Rồi đột nhiên, y hỏi:

- Nếu một ngày cô phải chọn giữa hai người cô sẽ chọn ai?

An Nhã thoáng sững lại, rồi đáp, vẫn điềm đạm như thường:

- Nếu là giữa hai bệnh nhân, thần nữ chọn người đang gần cái chết hơn.

- Còn nếu là giữa hai người tranh ngai vàng?

- Tư Thành hỏi tiếp, giọng không đổi.

Không khí lặng đi.

Gió cuốn theo mùi thuốc bắc từ viện dược gần đó, trộn lẫn với tiếng hít thở nặng nề sau buổi tập cuối ngày.

An Nhã ngẩng nhìn y, rất lâu sau mới hỏi ngược lại:

- Vậy Vương gia có muốn làm vua không?

Tư Thành không trả lời ngay.

Y ngước nhìn lên, ánh trăng đã ló sau tầng mây.

Ánh sáng bạc soi rõ những giọt mồ hôi còn đọng trên gò má và sống mũi.

Nhưng trong đôi mắt sâu ấy không phải chỉ là vầng sáng của trăng, mà là ánh lửa âm ỉ, bị nén chặt từ rất lâu.

Cuối cùng, y nói, chậm và khẽ:

- Ta không mơ ngai vàng.

Nhưng ta sợ nhìn thấy người ngồi trên đó không xứng đáng, là người không khiến đất nước bình yên.

Một câu, nhẹ như gió.

Nhưng An Nhã hiểu kẻ nói ra lời ấy không phải vô tâm.

Mà là người đang gồng mình gìn giữ lý tưởng trước búa rìu của số mệnh.

Cô không đáp.

Nhưng trong lòng dâng lên cảm giác nặng nề như cánh cổng gỗ khép chậm.

Kể từ khi bước chân vào hoàng cung, đã bao lần cô đối diện máu, dối trá và toan tính?

Mỗi người có một lý do để sống, để đi tiếp còn cô, chỉ mong mình sống sót qua những âm mưu do tham vọng gây ra.

Im lặng kéo dài.

Đột nhiên, An Nhã khẽ cất tiếng, giọng trầm mà rõ:

- Vương gia tin rằng Bệ hạ là người xứng đáng chứ?

Tư Thành ngẩng đầu, đôi mắt sâu trong bóng tối phản chiếu ánh trăng, không giận, không giấu.

- Có gì khiến cô hỏi vậy?

- Thần nữ từng nghĩ hoàng cung này là một mê cung quyền lực.

Kẻ đứng cao nhất phải là người lạnh lùng nhất.

- cô dừng một nhịp, rồi nói tiếp - Nhưng Bệ hạ toàn tâm toàn ý lo cho nhân dân, nhiều đêm thần thấy điện Cần Chánh sáng đèn đến khuya.

Ánh mắt ấy không giống kẻ chỉ biết vương vị.

Tư Thành im lặng hồi lâu, rồi gật nhẹ:

- Bệ hạ... không phải người lạnh lùng.

Bệ hạ là người mang gánh nặng từ khi còn rất nhỏ.

Khi Tiên đế băng hà, mọi thứ trong cung đều rối loạn, một tay Hoàng Thái Hậu đứng ra lo triều chính.

Bệ hạ lên ngôi khi ấy mới chỉ là một thiếu niên mười hai tuổi.

Y ngẩng nhìn lên mái hiên phủ ánh trăng:

- Bệ hạ có thể không toàn vẹn.

Nhưng là người có tấm lòng.

Từ khi sinh ta đã sống xa chốn cung đình, không lầu tía gác son, không ai dạy ta lễ nhạc hay võ nghệ.

Chỉ có mẫu thân và tiếng mõ chiều.

Mãi sau, khi ta lên bốn, Thái Hậu mới đưa ta trở về Đông Kinh, cho học tại kinh diên cùng bệ hạ.

Giọng Tư Thành chậm lại, như một tiếng thở sâu từ ký ức:

- Lần đầu ta gặp bệ hạ, ngài đã coi ta như anh em ruột thịt.

An Nhã ngẩn ra.

Một mẩu ký ức đơn sơ.

Tư Thành tiếp lời, giọng chân thành như đang nói với chính mình:

- Nhiều người nghĩ ta và bệ hạ ấy là đối thủ tranh ngôi báu.

Nhưng từ nhỏ, ta và bệ hạ đã là huynh đệ tốt.

Không có oán hận, không có dòm ngó ngôi vị.

Ta chỉ mong bệ hạ sống sót giữa cái lưới đang giăng khắp kinh thành.

An Nhã lặng đi.

Thì ra có những điều mà lịch sử không thể rõ.

Những điều nằm ngoài trang sử đen trắng.

Từ nhỏ, Tư Thành đã sống như một chiếc lá bị gió cuốn, nhưng lại có một bàn tay khác chìa ra với mình.

Còn Thái hậu người bị hậu thế oán trách lại từng đưa một hoàng tử mà người ta vẫn nói là mối đe doạ cho ngai vàng của Bang Cơ - cho ăn học, cho cơ hội còn yêu thương như con đẻ.

- Hoàng thái hậu...

- An Nhã nói chậm, như vừa hiểu ra - Người không phải như những gì thần từng nghĩ.

Tư Thành gật đầu, nhưng ánh mắt vẫn bình lặng:

- Là nữ nhân trong cung, không cứng rắn thì không sống được.

Nếu không có Thái hậu, ta đã không có ngày hôm nay.

Y quay sang nhìn An Nhã, ánh mắt dịu lại:

- Ta nói những điều này không để cô tin ai, hay đứng về phía ai.

Nhưng ta mong cô đừng vì hoài nghi mà quên đi điều mình đã cho là đúng.

Trăng rọi lên bậc thềm đá.

An Nhã siết chặt tay quanh hòm thuốc.

Cô đã phần nào hiểu hơn về những người đàn ông đang gánh trên vai vận mệnh của một triều đại.

Và cũng hiểu trái tim họ, không phải toàn là sắt thép.

Mà có những góc yếu mềm, chưa từng được gọi tên.

Khi An Nhã quay lưng rời khỏi hành lang, trăng đã lên cao.

Cô ngoái lại thấy Tư Thành vẫn đứng đó, tay không cầm kiếm, chỉ lặng lẽ nhìn về phía bắc.

Nơi cửu trùng điện của hoàng đế.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Cổ Tâm Sinh
Chương 13: Xử án


Mưa lất phất từ đêm hôm trước, đến sáng vẫn chưa dứt.

Trời xám lặng như phủ một tấm màn u buồn lên khắp Cấm Thành.

An Nhã vừa bước vào nội viện Thái Y Viện, tà áo còn vương hơi nước, thì bị hai nội giám chặn lại.

Một cung nữ theo sau, mặt tái xanh, cúi đầu khẽ báo:

- Bệ hạ trúng độc!

Trong trà có dấu hiệu bất thường.

Toàn thân An Nhã lạnh đi.

Cô chưa kịp cất lời, hai thái giám đã bước tới, không dùng xiềng xích, nhưng đứng sát hai bên, đưa thẳng cô về phía ngục thất.

Trong sân viện, tiếng mưa nhỏ rơi lộp độp trên mái lá, xen giữa tiếng chân giày lướt vội trên đá ướt.

Từng bước một, An Nhã như đang đi giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết không phải của chính mình, mà là của một người cô không thể không quan tâm.

Trà đã được niêm phong trong hộp bạc, dán dấu niêm đỏ của ngự sử đài.

Trong lúc An Nhã còn chưa hết bàng hoàng, lời truyền lạnh lùng vang lên từ phía nội quan giám lệnh:

- Ngự chỉ: tạm giam nữ y An Nhã, chờ điều tra rõ ràng.

Không ai được tiếp xúc.

Không ai được thẩm tra khi chưa có lệnh mới.

Mưa rơi dày hơn.Trong mắt An Nhã, cảnh vật xung quanh bỗng nhòe đi không phải vì nước mưa.

Mà vì nỗi lo đang bóp nghẹt tim cô.

Và trong lòng cô, một dự cảm chẳng lành lặng lẽ nổi lên.

An Nhã bị dẫn vào một phòng giam nhỏ.

Không có cùm gông, nhưng bốn bề tường đá, chỉ có một cửa sổ lưới cao, gió mưa lùa vào lạnh đến tận xương.

Cung nữ đi theo bị giữ lại bên ngoài.

Một mình cô, giữa không gian đặc quánh, chỉ nghe rõ tiếng mưa rơi lộp độp trên mái ngói ẩm.

Trong lòng An Nhã rối bời.

"Trúng độc... trà có vật lạ..."

Tại sao lại là Bang Cơ?

Ai có thể hạ độc giữa chốn thâm nghiêm?

Và tại sao lại là trà đến từ phòng thuốc nơi cô là người cuối cùng kiểm soát?

Cô ngồi xuống, tay run nhẹ.

Không vì sợ tội.

Mà vì lo.

Lo cho vị hoàng đế trẻ.

Chẳng lẽ lần này, là họ muốn dùng cô để giết vua?

Tiếng cửa mở đánh mạnh vào dòng suy nghĩ.

Một thị vệ tiến vào, giọng dứt khoát:

- Có chỉ truyền thẩm tra.

Mời cô theo ta.

Không thể chối từ.

An Nhã gật đầu.

Trong đầu cô nhớ lại đã lặng lẽ rà lại từng lọ trà, từng túi hương, từng bàn tay từng động đến khay trà trước giờ dâng lên bệ hạ.

Cánh cửa đá mở ra, dẫn cô đến một căn phòng sáng đèn phía đông viện.

Bên trong không phải là ngự sử, cũng không phải là quan thẩm.

Mà là Lê Tư Thành.

Tư Thành mặc thường phục, tay cầm một chồng thư.

Trên bàn, khay trà được niêm phong đặt bên cạnh một lọ nhỏ dường như là phần nước trà còn lại, đã được thử độc bằng bạc.

Y ngẩng lên, ánh mắt vẫn bình tĩnh, nhưng giọng nói đã trầm hơn thường lệ:

- An Nhã, lần này không dễ để chứng minh vô tội.

An Nhã siết tay:

- Thần nữ không làm.

Nhưng nếu phải chứng minh, xin vương gia cho điều tra kỹ hộp trà trong Ngự dược phòng.

Và người thị vệ mang trà đi hôm qua.

Tư Thành gật đầu:

- Ta đã cho người đến kho kiểm tra.

Nhưng cần thời gian.

Trong lúc đó cô không được rời khỏi nội viện nửa bước.

An Nhã chậm rãi gật đầu.

Đã vào vòng nghi ngờ, thì dù vô tội cũng khó thoát ngay.

Tư Thành nhìn cô thêm một lúc, rồi đưa một gói nhỏ:

- Còn đây là trà trong phần trà còn dư.

Ta đã cho người thử không có độc.

Điều đó phần nào chứng minh cô không chủ ý bỏ độc.

Nhưng...

- y khựng lại - Chỉ cần có người tráo trà trong khay đưa lên điện, thì...

An Nhã tiếp lời, giọng khàn khàn:

- ...thì tội vẫn sẽ rơi vào thần nữ.

Một khoảng lặng kéo dài.

Cuối cùng, Tư Thành nói khẽ:

- Tin ta.

Ta sẽ tìm ra kẻ đó.

Trước khi triều đình buộc tội cô.

Rồi y quay đi, ra hiệu cho thị vệ đưa cô về lại phòng tạm giam.

Khi An Nhã rời đi, Tư Thành đứng lặng rất lâu.

Y biết vụ này không chỉ là mưu sát một vị vua.

Mà là muốn đẩy An Nhã vào bước đường chết.

Và nếu không nhanh tay, lần này e rằng y sẽ không thể kịp cứu lấy cô như trước nữa.

***

Dưới cơn mưa chưa dứt của ngày mười tám, Đại công đường trong Cấm Thành được dựng màn, trải chiếu đỏ, ghế thẩm xét một nghi thức xưa nay hiếm thấy, khi một nữ y không phẩm hàm lại bị triệu ra công đường với tội danh mưu sát hoàng đế.

Tuyên Từ Hoàng Thái Hậu thân mặc y phục màu xám khói, mặt không điểm phấn son, bước lên ngự tọa.

Gương mặt bà trầm tĩnh đến mức khiến người khác không dám nhìn thẳng.

Một vài vị đại thần được mời đến ngồi bên hữu, trái lại bên tả chỉ có một chiếc ghế trống.

An Nhã quỳ giữa sân đường.

Mưa nhẹ lất phất bám lên mái tóc, tà áo ướt lạnh dán vào người, nhưng cô không run.

Thái Hậu nhìn xuống, giọng sắc lạnh:

- Nữ y An Nhã.

Ngươi phụng mệnh vào Thái Y Viện, hầu cận thuốc men cho thiên tử.

Nay trong trà có độc, bệ hạ suýt mất mạng.

Ngươi có gì để nói?

An Nhã dập đầu.

- Thần nữ không biết gì về độc dược trong trà.

Càng không có lý do hại bệ hạ.

Hoàng thái Hậu không gắt, giọng cũng không dịu đi.

- Không biết, không có nghĩa không liên can.

Trừ phi có người chứng minh được điều ngươi nói là thật.

Một vị quan Ngự sử đứng lên:

- Nhưng trong cặn trà có lẫn phấn Diêm hoàng và một vị hương độc từ mê thảo tử.

Những thứ không thể có trong phương dược bình thường!

An Nhã quỳ giữa đại công đường, hai tay đặt trên nền đá sần sùi, đầu cúi thấp.

Sức lực đã cạn dần.

Lòng cũng vậy.

Cô không sợ bị tội.

Cô chỉ sợ sự thật bị chôn vùi.

Mọi lời giải thích đều trở thành vô nghĩa khi đối diện với quyền lực.

Cả triều đình này, còn mấy ai tin vào chân lý?

Một nữ y, xuất thân không rõ ràng, vốn không là ai cả giữa chốn triều nghi bề thế này.

- Thần tin nữ y An Nhã vô tội.

An Nhã ngẩng lên, đôi mắt chạm phải dáng người quen thuộc ấy - Lê Khắc Xương.

Áo không chỉnh tề như thường ngày, tóc buộc vội, giọng nói khàn khàn vì vội vã.

Không mang theo văn thư hay bằng chứng, chỉ là một lời nói giữa trăm ánh mắt nghi ngờ.

- Nếu không có bằng chứng, không nên vội vàng kết luận như vậy.

Tất cả quay đầu lại.

Lê Khắc Xương mặc áo màu lam nhạt, bước ra giữa điện, mang một ánh mắt bình tĩnh:

- An Nhã không có động cơ, lại thường xuyên dâng trà cho bệ hạ nếu hạ độc vào trà chẳng phải tự tìm đường chết sao.

Thái Hậu, xin người xét lại.

Trà ấy vốn do nội thị dâng lên.

Hôm đó An Nhã không trực tiếp dâng trà.

Một làn sóng xôn xao nhỏ dấy lên.

Hoàng thái Hậu khẽ nhíu mày.

- Lời con đáng quý.

Nhưng Khắc Xương à, lời quý không bằng chứng thực.

Con không có bằng chứng.

Khắc Xương im lặng.

Vẻ mặt y vẫn điềm đạm, nhưng đôi mắt lại mang một tia lo lắng không che giấu được.

Bỗng một tiếng bước chân vang dội trong sân lát đá.

Lê Tư Thành bước vào, toàn thân lấm lem bùn đất.

Tay áo trái có một vết rách dài, miệng cắn chặt vì mệt.

Nhưng ánh mắt không hề dao động.

Tay cầm chặt một ống trúc bọc vải.

Y cúi đầu trước Thái Hậu, rồi nói:

- Nhi thần có chứng cứ.

Trong khoảnh khắc ấy, mọi âm thanh như lùi xa.

Cả trống lệnh, tiếng mưa, tiếng xì xầm trong sân đều nhạt đi, chỉ còn một bóng người áo lam, vai áo sũng nước, tay áo rách toạc, gương mặt mỏi mệt nhưng ánh mắt vẫn sáng tiến về phía cô như thể vượt qua cả trăm ngọn đồi hiểm trở.

An Nhã không kịp nói gì.

Cổ họng nghẹn lại.

Cô không biết Tư Thành đã đi đâu, tìm thấy gì, phải trả giá ra sao.

Nhưng cô biết, để đứng được ở đây lúc này, y đã đánh cược.

Thái Hậu hơi sững lại:

- Nói đi.

Tư Thành mở ống trúc, lấy ra một mảnh giấy và một bao nhỏ.

- Thần đến muộn.

Nhưng không thể để oan sai kết án giữa ban ngày.

Tư Thành quỳ một gối, tay đặt xuống đất một túi gấm dính bụi, trong đó là một túi trà bị vùi sâu trong bếp phụ Ngự thiện phòng nay bỏ hoang.

- Ba đêm qua, thần cho người âm thầm lục lại toàn bộ lò đốt rác, kho chứa trà hỏng, và ngách bếp các cung cấm.

Cuối cùng, trong một lò củi bỏ hoang tìm thấy túi trà này.

- Trà chứa độc 'mê thảo tử', loại giống hệt phần đã gây độc cho bệ hạ.

Nhưng điều đáng nói hơn...

- Đêm hôm qua, thần cho tra lại toàn bộ sổ vào ra của kho trà, và phát hiện có dấu xóa sửa trong nhật trình ngày mười sáu.

- Người đổi hộp trà dùng cho bệ hạ không phải An Nhã.

Mà là Tạ Phúc một nội giám phụ trách sắp trà, đã biến mất từ sáng hôm trà bị đổi.

Tạ Phúc là cháu ruột của Trần Tư Lộc nội quan giám trông kho dược.

Một ngự sử bỗng bước lên, giọng gấp:

- Trần Tư Lộc được báo đã chết, vừa được vớt xác từ sông Nhị chiều hôm qua.

Tiếng bàn tán lại dậy lên.

Tuyên Từ Hoàng Thái Hậu hơi cau mày:

- Vậy người kia đâu?

Tư Thành đáp:

- Tạ Phúc đã trốn khỏi nội cung.

Thần đã điều động binh lính truy tìm tung tích của hắn, chắc chắn sẽ sớm tìm được ra.

Cả công đường lặng như tờ.

Không ai còn nghi ngờ gì nữa.

Trần Tư Lộc đã dùng Tạ Phúc để đổi trà.

Kẻ hạ độc thật sự đã chết.

An Nhã được lệnh cởi trói, bước ra, tay còn run.

Cô cúi thấp đầu:

- Thần nữ không biết phải tạ ơn ra sao.

Thái Hậu đứng dậy.

Lần đầu tiên bà nhìn cô với ánh mắt không còn lạnh lùng nữa:

- Nếu khanh không sai, thì chính là lỗi của kẻ có tội mà không xét.

Lui đi.

Khắc Xương bước lên đỡ cô.

Nhưng Tư Thành đã tiến trước một bước, đưa tay ra, mắt không rời cô.

- Để ta đưa cô về.

Ngoài trơi mưa lại rơi như gột sạch tất cả.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Cổ Tâm Sinh
Chương 14: Trăng mờ


Trời Đông Kinh trở lạnh đột ngột.

Sương đọng kín mái ngói, gió bấc luồn qua khe cửa như tiếng rên rỉ trong đêm tối.

Trong Cấm Thành, băng giá không chỉ ngoài trời mà còn trong tâm trí từng người đứng quanh long sàng.

Sau vụ việc bị trúng độc trong trà, Bang Cơ mê man đã hai ngày.

Sốt cao không dứt, môi tái xanh, ngực phập phồng nặng nề.

Các đại y của Thái y viện thay nhau kê phương, đổi thuốc, châm cứu... nhưng mọi thứ đều vô hiệu.

Thuốc vào sốt vẫn tăng.

Xoa ấm tay chân tứ chi vẫn lạnh buốt.

Mạch lúc nhanh như trống trận, lúc lại lặng như sợi tơ nhện chực đứt.

Gian điện như đóng băng.

Không ai dám thở mạnh.

Chỉ có tiếng dây chuông gió ngoài hiên va vào nhau, thê lương như lời tiễn biệt.

Tuyên Từ Hoàng Thái Hậu ngồi suốt bên giường.

Vẻ ngoài vẫn điềm tĩnh, vẫn là bậc mẫu nghi thiên hạ nhưng bàn tay nắm lấy góc áo đã trắng bệch, móng tay hằn sâu vào lớp gấm thêu rồng.

Hoàng thái Hậu gọi tất cả y quan đầu triều đến hội chẩn.

Các thái y quỳ vòng quanh, mở sách, mở hộp thuốc, tranh nhau đọc mạch nhưng ánh mắt lại nhìn nhau lẩn tránh.

Cuối cùng, chỉ còn những lời lặp đi lặp lại:

- Ngự thể băng lãnh là do khí âm xâm nhập, cần trục hàn tiêu nhiệt.

- Bệ hạ tâm hỏa quá vượng, cần điều hòa tâm - can - thận.

- Tỳ vị suy yếu khiến dược không ngấm, thần xin dâng phương điều tỳ trước khi hạ nhiệt.

Hoàng thái Hậu lắng nghe tất cả.

Rồi bật cười rất khẽ, mà như gươm cắt vào da.

Bà chậm rãi đứng dậy, ánh mắt quét qua từng người, giọng rít qua kẽ răng:

- Các ngươi đọc sách hơn chục năm, chỉ để nói điều mà người mù cũng nhìn ra được?

Cả phòng im phăng phắc.

Không ai dám ngẩng đầu.

Bỗng có một cung nữ trẻ, người quỳ bên góc điện, run rẩy bò đến gần.

Cô ta cúi rạp người, giọng run như gió chạm cành mai:

- Bẩm Hoàng Thái Hậu, nô tì không dám thất lễ.

Nhưng nếu người cho phép...

- Nói.

- Giọng Thái Hậu không cao, nhưng lạnh hơn gió sương ngoài điện.

- Có một người từng đoán đúng bệnh của bệ hạ, trước cả các đại y.

Người ấy là nữ y An Nhã.

Không khí trong điện dường như đông cứng.

Một vài ánh mắt đổi sắc.

Có kẻ nhíu mày, có người nhìn nhau ngầm dò xét.

Hoàng thái Hậu không quay đầu.

Nhưng bàn tay trên chuỗi tràng hạt dừng lại.

Một nhịp.

Hai nhịp.

Rồi bà chậm rãi phất tay.

- Gọi An Nhã đến.

***

Chưa đầy một khắc sau.

Điện Vạn Thọ.

Trời mưa phùn vẫn chưa dứt.

Ánh sáng nhạt chiếu qua rèm lụa khiến căn điện rực lên sắc vàng cam lặng lẽ.

An Nhã bước vào.

Áo xanh lam vắt ngang eo, tóc búi cao gọn gàng, không cài trâm ngọc.

Nhưng ánh mắt cô sáng và kiên định như thể không thứ quyền uy nào khiến cô chùn bước.

Long sàng ở giữa điện.

Bang Cơ nằm đó, gò má trắng bệch, môi tím lại, ngực phập phồng như chiếc lá nhỏ giữa cơn bão.

Mồ hôi thấm ướt cổ áo lụa, toát ra như sương tan.

Các đại y quỳ xung quanh, hoặc thất thần, hoặc thở dài lặng lẽ.

Một số đã toan nói gì đó nhưng lại thôi, không ai dám khẳng định điều gì.

An Nhã không quỳ.

Cũng không cúi đầu.Cô đi thẳng đến lư hương giữa điện nơi hương khói nghi ngút quẩn quanh như mây mù.

Cô cúi xuống ngửi, rồi cau mày rất khẽ.

- Trầm hương này... có pha hồ tiêu.

- Giọng cô vang lên rõ ràng giữa khung cảnh im ắng.

Một y quan sửng sốt, lập tức lên tiếng:

- Đó là loại quý, nhập từ phương Bắc.

Có tác dụng hành khí, tiêu đàm.

An Nhã không quay đầu.

Nhưng lời cô dứt khoát, như lưỡi dao cắt qua màn khói:

- Thứ này gây nóng gan.

Người đang sốt cao, các người lại xông cho thêm nóng?

Không ai nói gì.

Cô không đợi phản ứng.

Chỉ gật nhẹ ra hiệu.

- Tắt lửa đi.

Dập hết hương.

Mở rèm, cho gió lưu thông.

Đốt ngải cứu để tán khí.

Hai cung nữ lập tức làm theo, không dám hỏi thêm một lời.

Cả gian điện thoáng mát dần, mùi cay nồng biến mất, thay bằng mùi ngải thơm thanh.

Lúc ấy, An Nhã mới đến bên giường.

Cô đặt tay lên cổ tay Bang Cơ.

Nhắm mắt.

Tập trung.

Mạch rối loạn, đứt quãng.

Không thuận theo bất kỳ quy luật sinh lý nào.

Có lúc đập nhanh bất thường.

Có lúc chậm tới mức gần như không còn.

Hô hấp cũng không ổn định.

Cơ thể đang co rút từng đợt, huyết quản như bị siết lại theo chu kỳ.

Một tia lạnh băng lướt qua sống lưng cô.

Mê thảo tử không phải loại độc thường gặp.

- Một loại độc hiếm, gốc từ cây mê thảo rừng sâu phía bắc Đại Lý.

Thứ độc không giết người tức khắc.

Nhưng khi đi vào huyết mạch, sẽ khiến thần kinh và tim mạch co rút theo chu kỳ.

Tạo ra ảo giác.

Làm rối loạn khí huyết.

Thuốc uống vào sẽ bị đẩy ngược trở lại qua niêm mạc, vì độc làm vỡ liên kết nội tạng.

Càng uống nhiều, càng chết nhanh.- cô lẩm bẩm.

Các thái y không nghe rõ cô thì thầm.

Nhưng họ bắt đầu dao động.

An Nhã quay lại, trầm tĩnh nói với các thái y:

- Không được cạo gió.

Không được truyền dược tiếp.

Tôi cần một bát nước sâm hạ thổ, hai giọt tinh dầu bạch thược, một thang thảo mộc có ích tâm bổ khí.

Ai chấp thuận, xin làm theo.

Hoàng thái hậu nhìn cô một lúc.

Rồi gật đầu.

- Làm theo cô ta.

An Nhã lặng lẽ mở hộp thuốc mang theo.

Tay cô không run.

Ánh mắt chỉ dán vào mạch tượng, rồi nhìn Bang Cơ - người từng ngồi trên ngai vàng, ban sắc lệnh như rồng gầm giờ đang nằm đó, giữa ranh giới của sự sống và cái chết.

Cô biết nếu chẩn sai một bước, người kia sẽ không còn.

Tối hôm đó, trời Đông Kinh vẫn chưa dứt mưa.

Sương mù dày đặc phủ khắp mái ngói cung thành, ẩm lạnh len vào từng khe kẽ.

An Nhã xin được túc trực tại điện Vạn Thọ.

Hoàng thái hậu đồng ý nhưng lệnh ban xuống vẫn đi kèm điều kiện: mọi hành động đều phải được thị vệ và cung nữ giám sát, không một khắc được rời khỏi tầm mắt.

Dù được xóa tội, lòng người vẫn chưa hoàn toàn tha thứ.

Khi tất cả đã lui ra, căn điện lặng như nước giếng sâu.

Chỉ có ánh đèn bập bùng và tiếng thở mong manh của người trên giường bệnh.

An Nhã không nói gì.

Chỉ nhẹ nhàng kê lại chăn, điều chỉnh nhiệt độ than lò, rồi cẩn thận bày thuốc.

Lá sen tươi được đắp nhẹ lên trán và gan bàn chân để rút nhiệt.

Ngải cứu và hoàng kỳ được cô sắc kỹ, canh lửa bằng tuần hương.

Để bồi bổ nguyên khí đã cạn kiệt, mỗi ba canh, cô tự tay đo mạch, ghi lại từng dao động dù nhỏ nhất.

Giấy chép bệnh đặt trên bàn, chữ viết đều và gọn, không một nét run.

Ngày đầu tiên, Bang Cơ vẫn mê man.

Mạch không ổn định, lúc nhanh lúc chậm, trán vẫn nóng như than, nhưng mồ hôi đã bớt dần.

Cô không rời chỗ.

Chỉ rửa mặt bằng nước thảo dược rồi ngồi cạnh, ngủ gật đôi ba lần, nhưng tay vẫn đặt hờ lên mạch tay y.

Ngày thứ hai, mí mắt người bệnh hơi giật nhẹ.

Lần đầu tiên kể từ khi ngã bệnh, mồ hôi ngừng chảy, da dẻ bắt đầu hồng lên đôi chút dù là sắc hồng mờ như máu loãng trong nước.

Hoàng thái Hậu đến xem.

Không có lời khen, nhưng cũng không cản cô nữa.

Ngày ngày thứ ba.

Ngoài trời có trăng nhưng mây mù dày đặc, chỉ để lại một mảnh sáng lờ mờ hắt vào song cửa.

An Nhã ngồi trong ánh sáng mờ ấy, vừa gấp lại tấm chăn thì nghemột âm thanh rất nhỏ từ người đang nằm mê man.

Cô quay lại.

Bang Cơ khẽ cử động môi.

Không rõ là mơ hay tỉnh.

Nhưng đôi môi kia, giữa đêm vắng và lồng ngực thoi thóp, đã thì thầm một chữ rất khẽ.

- An...

An Nhã đứng lặng.

Trái tim cô như có ai nắm lấy.

Không rõ vì cảm xúc dội về, hay vì ba ngày qua cô đã chờ đúng khoảnh khắc này khoảnh khắc y phản ứng, không cần lời nào mà chỉ cần một tiếng gọi.

Đêm thứ ba, trời Đông Kinh mưa nhỏ, rả rích như tiếng ai gõ nhè nhẹ lên mái điện.

Trong điện Vạn Thọ, ánh đèn lồng cháy mờ, gió đêm len lỏi qua khe cửa, thổi bay mấy sợi tóc vương trên trán người vẫn đang mê man.

An Nhã thiếp đi cạnh giường, đầu tựa nhẹ vào mép long sàng, vai khoác áo choàng mỏng, nhưng khuôn mặt đã lộ rõ nét mệt mỏi sau ba ngày không rời tẩm thất.

Một tay cô vẫn đặt lên cổ tay người bệnh như thể chỉ cần rút tay lại, sinh mệnh kia sẽ rời tay cô mãi mãi.

Bất chợt một tiếng thở dài rất khẽ.

Bang Cơ mở mắt.

Ánh mắt uể oải, mờ mịt ban đầu, rồi dần dần có nét sáng trở lại.

Hơi thở tuy còn yếu, nhưng không còn đứt đoạn như những ngày qua.

Y nghiêng đầu, thấy cô đang ngủ gục bên cạnh mái tóc rối, gương mặt xanh xao, và tay vẫn đặt trên cổ tay y.

Trong một khoảnh khắc, y cứ thế nhìn cô thật lâu, như thể không tin rằng người ấy còn ở đây, vẫn sống, vẫn thở, vẫn bất chấp mọi hiểm nguy để ở cạnh mình.

Một cơn gió nhẹ thổi qua.

Mấy sợi tóc mảnh phủ lên má cô.

Bang Cơ đưa tay, chạm khẽ vào tóc cô.

Tay y còn yếu, nhưng động tác ấy vẫn dịu dàng đến lạ.

Chỉ một cái chạm.

Như để chắc rằng đây không phải là giấc mộng.

Ánh mắt của một đế vương vừa sống lại sau vực tử, không mang quyền uy, không lạnh lùng, chỉ có một điều cảm tạ và xót xa.

An Nhã hơi cựa mình trong mộng, nhưng vẫn tỉnh.

Nhưng lông mày khẽ động, tay vẫn giữ lấy mạch y như thể trong vô thức, cô sợ y tan biến.

Một cơn gió nữa lướt qua.

Đèn lồng chao nhẹ, ánh lửa phản chiếu trong đôi mắt sâu thẳm của Bang Cơ nơi không còn là con mắt của một đế vương, mà là ánh nhìn của một người nam nhân vừa biết mình từ Quỷ Môn Quan trở về.

An Nhã khẽ động.

Hàng mi run nhẹ, rồi từ từ mở mắt.

Ánh nhìn của cô chạm ngay vào đôi mắt kia.

Một thoáng im lặng.

Dài như cả mùa đông vừa kéo đến.

- Bệ hạ...!

- Cô thốt lên, bật dậy định gọi cung nữ.

Nhưng bàn tay kia đã giữ cô lại.

- Đừng.

Ở lại một lát...

- Giọng y khàn đặc, yếu nhưng rõ từng chữ.

An Nhã run tay, bàn tay vẫn đặt lên mạch của y giờ truyền ngược lại một cảm giác ấm áp mà cô tưởng đã mất.

- Bệ hạ...

đã tỉnh.

- Cô thở ra, giọng không giấu nổi nghẹn ngào.

Bang Cơ gật nhẹ, ánh mắt vẫn không rời cô.

- Khanh ở đây bao lâu rồi?

- Ba ngày, ba đêm.

Bệ hạ không tỉnh, không hạ sốt, chỉ nuốt vài ngụm cháo, thuốc sắc phải dùng khăn thấm nhỏ giọt từng chút.

Y cười rất nhẹ.

- Khanh lại cứng đầu.

Trẫm bảo rồi, đừng để bị cuốn vào...

- Thần nữ chỉ làm những gì phải làm.

- Giọng cô rắn hơn, nhưng ánh mắt thì lấp lánh.

Bang Cơ lặng im.

Rồi y đưa mắt nhìn quanh căn điện vắng, thở thật khẽ Một khoảng lặng trùm xuống.

Chỉ còn tiếng mưa lất phất ngoài hiên, và tiếng gió len vào khe rèm.

An Nhã cúi đầu.

- Nếu bệ hạ cần nghỉ, thần nữ sẽ lui ra...

Nhưng bàn tay kia vẫn chưa buông.

- An Nhã.

Cô ngước lên.

Y nhìn cô, đôi mắt mệt mỏi nhưng sâu như đáy nước:

- Trẫm tỉnh lại, cũng là nhờ khanh.

An Nhã định nói gì đó, nhưng rồi im lặng.

Trăng đêm ấy không sáng.

Nhưng căn điện ấy, lần đầu sau nhiều ngày lạnh buốt, lại có một góc ấm lên bởi một người trở lại.

***

Sáng hôm sau, trời tạnh mưa.

Ánh nắng nhàn nhạt chiếu qua mành trúc, rọi xuống bậc thềm đá ẩm sương của điện Vạn Thọ.

Tin hoàng đế tỉnh lại lan nhanh như gió.

Chưa đến giờ Mão, toàn bộ Thái y viện, cùng các ngự y cấp bậc cao nhất trong triều, đã xếp thành hai hàng ngoài điện, từng người chắp tay thỉnh an, mặt người nào cũng hiện rõ sự khẩn trương xen lẫn thấp thỏm.

Cửa điện mở ra.

Bang Cơ xuất hiện, chậm rãi bước ra dưới sự dìu nhẹ của một nội quan.

Y phục màu thẫm, tóc búi cao gọn gàng, dù thần sắc vẫn còn chút nhợt nhưng ánh mắt đã có thần, bước chân không lảo đảo, giọng nói vang lên trầm ổn:

- Trẫm không sao.

Các khanh khỏi phải lo lắng.

Cả hàng y quan sững người.

Một người vừa hôm qua còn nằm mê man như tử thi, nay đã có thể đi lại, nói chuyện, thậm chí mang khí chất uy nghi trở lại.

Ngự sử đại phu run giọng nói:

- Muôn tâu bệ hạ thật là trời đất có mắt.

Một lão ngự y già đã từng nói không thể cứu được, nay quỳ sụp xuống dập đầu:

- Lão thần vô năng xin tạ tội.

Bang Cơ đưa tay ngăn lại:

- Trẫm không trách các khanh.

Nhưng từ hôm nay, triều đình cần nhớ không phải người cứ có phẩm cấp cao là giỏi.

Trong triều, không ai dám hỏi thêm.

Nhưng tất cả đều đã biết: từ hôm nay, cái tên An Nhã không còn là một nữ y tầm thường nữa.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Cổ Tâm Sinh
Chương 15: Rời đi hay ở lại


Sau buổi thỉnh an sáng hôm đó, khi các quan đã rời đi, khi ánh nắng đã lên cao và tiếng chim trở lại trên mái điện, An Nhã đang xếp lại thảo dược trong tĩnh viện nhỏ phía sau Thái Y Viện thì một bóng người xuất hiện nơi ngưỡng cửa.

Không thị nữ báo trước.

Không tiếng gõ cửa.

Nhưng cô biết là ai vì bóng người ấy luôn bước rất nhẹ, tựa như gió xuân qua lối nhỏ, không phô trương mà vẫn không thể không nhận ra.

Lê Khắc Xương.

Y đứng đó, y phục giản dị, mái tóc buộc gọn sau đầu, thần sắc trầm lặng.

Không có vẻ oai nghi của một vương gia, càng không có ánh nhìn soi xét của triều thần.

Chỉ là một người quen cũ, một người biết rõ thế gian này đang xoay theo hướng nào.

- Dạo này trong cung có rất nhiều sóng gió.

- Ta tưởng cô chỉ giỏi bắt mạch, hóa ra cũng rất biết gây loạn.

- y cười nhẹ, rồi thêm một câu, như thể để xua tan sự căng thẳng.

An Nhã mỉm cười, nhưng không đáp. cô biết, Khắc Xương không đến để đùa.

Im lặng một lúc, Khắc Xương cất giọng thấp:

- Vết thương của cô, còn đau không?

An Nhã khẽ lắc đầu, cười nhẹ:

- Gần như đã bình phục hoàn toàn rồi.

Y nhìn cô thật lâu.

Ánh mắt chứa đựng một điều gì sâu kín, như đang tìm kiếm bóng dáng người đã xa trong đôi mắt của An Nhã.

Rồi giọng y trầm xuống:

- An Nhã.

Cô nên rời khỏi cung.

An Nhã khựng tay.

- Sao vương gia lại nói vậy?

Khắc Xương bước chậm đến gần.

Ánh mắt không dừng ở cô mà hướng về phía xa, nơi bức tường son của Cấm Thành sừng sững.

Bức tường đó không chỉ giam giữ con người, mà còn nhốt cả bí mật và âm mưu chằng chịt như rễ cây dưới đất ẩm.

Y thở ra, nói rất chậm:

- Ta đã lớn lên ở đây.

Ta biết nơi này những người có tâm cứu người sẽ bị biến thành con cờ trong tay kẻ khác.

Hôm nay cô cứu được bệ hạ, nhưng ngày mai ai sẽ cứu được cô?

An Nhã mím môi, giọng bình tĩnh:

- Thần nữ không nghĩ mình nên rời đi chỉ vì một lời cảnh báo.

- Ta không cảnh báo.

- Khắc Xương ngắt lời, giọng đột nhiên trầm xuống.

- Ta chỉ sợ.

Sợ một ngày cô không còn đứng trước ta như hôm nay nữa.

Sợ cái nhìn của cô sẽ hóa thành dĩ vãng.

An Nhã cúi mặt.

- Thần nữ chưa nghĩ đến điều đó.

Y khẽ cười, nhưng trong mắt đã ngấn đỏ.

- Cô biết không?

Có những người trong cung sống cả đời cũng không có ai dám quan tâm đến họ.

An Nhã nhìn y.

Tự nhiên trong mắt cô, bóng dáng người nam nhân này không còn là vương gia lạnh lùng đọc thơ giữa hồ nữa, mà là một người cũng từng yêu, từng hứa, và từng không thể giữ lời.

Cô hỏi khẽ:

- Nếu là vương gia, vương gia sẽ rời khỏi đây sao?

Khắc Xương đáp chậm rãi:

- Nếu có một nơi mà ta không cần phải dè chừng ánh mắt ai, không phải giả vờ mạnh mẽ, không phải gồng lên để sống sót thì ta sẽ đi.

Nhưng cung cấm không cho ta phép ta làm điều đó.

Nói đến đây, bàn tay Khắc Xương thoáng run nhẹ. y chậm rãi rút từ ống tay áo ra một lá bùa hộ thân đã cũ, mực chu sa phai màu, viền giấy mòn theo năm tháng.

Y đặt vào tay cô.

- Đừng giống ta.

Khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, An Nhã thấy ánh mắt Khắc Xương đỏ hoe.

Như thể bóng hình một người đã mất vừa hiện về qua gương mặt y.

Như thể y đang trao đi chút tàn dư cuối cùng của một lời hẹn không trọn kiếp.

Không nói thêm, Khắc Xương xoay người, bóng dáng cao gầy khuất dần sau hàng trúc trong sân.

An Nhã đứng lặng, tay vẫn nắm lá bùa, lòng nặng trĩu.

Những lời y nói không phải mệnh lệnh, cũng không phải lời ép buộc.

Mà là nỗi lo của một kẻ đã từng mất đi tất cả, không muốn nhìn người trước mặt bước vào vết xe đổ ấy.

Cô ngẩng lên, nhìn về phía bóng lưng đã biến mất.

Trong ánh nắng chói chang, hình như vẫn còn vương lại hơi thở ấm áp của một người mang theo nỗi cô đơn quá lớn.

***

Tối hôm ấy, mưa đã ngừng nhưng sương vẫn đọng thành lớp mỏng trên bậu cửa thư viện.

Gió nhẹ thổi qua hành lang, mùi giấy cũ và mực tàu len vào không khí.

An Nhã cẩn thận trèo lên kệ gỗ cao để với một cuốn y thư cổ nằm sát mép trên cùng.

Nhưng tay vừa chạm gáy sách, chân cô bất chợt trượt khỏi bậc.

Cơ thể chao nghiêng trong khoảnh khắc giữa không trung và mặt đất.

Một vòng tay rắn chắc kịp thời ôm lấy cô.

- Thật bất cẩn.

Hơi thở quen,giọng nói trầm quen thuộc.

Lê Tư Thành.

Y đỡ cô xuống, đôi tay không vội rút về, còn ánh mắt vẫn chưa rời khỏi gương mặt đang lúng túng của An Nhã.

Nhịp tim cô đập hỗn loạn không rõ vì ngã, hay vì khoảng cách quá gần ấy.

- Tại sao cô không cẩn thận hơn?

- Tư Thành hỏi, giọng pha chút trách mắng lặng lẽ.

- Thần chỉ muốn tìm một đoạn y thư.

Về độc huyết co mạch.

Y không nói gì ngay.

Chỉ im lặng nhìn cô, rồi quay đi, chậm rãi tiến đến giá sách gần đó.

Ngón tay lướt qua những cuốn bìa da cũ kỹ, cuối cùng chọn một quyển, đưa cô.

- Lần sau, đừng trèo nữa.

Trong thư viện này ta quen từng giá sách.

An Nhã đón lấy sách, khẽ cười:

- Vương gia thường lui tới đây sao?

- Nơi yên tĩnh hiếm hoi trong cung.

Mỗi khi trong lòng có chuyện, ta thường tìm đến sách.

Cô nhìn y, rồi như buột miệng:

- Nếu là Vương gia, người có nghĩ thần nên rời khỏi cung không?

Tư Thành thoáng khựng lại.

Gió bên ngoài thổi nhẹ, làm lay động bức rèm treo giữa gian thư phòng.

Y không trả lời ngay.

Mà đi chậm một vòng quanh giá sách, như đang nghĩ cách chọn lời.

Cuối cùng, y dừng lại trước mặt cô, ánh mắt nghiêm trang hơn thường lệ:

- Có người muốn cô rời đi vì họ sợ.

Sợ cô biết quá nhiều, đi quá sâu.

Còn ta...

Y ngừng lại một nhịp.

- Ta muốn cô có quyền tự chọn.

An Nhã hơi ngẩng lên, ánh mắt dõi vào ánh sáng mờ ấm hắt qua cửa gỗ.

Tư Thành tiếp lời, giọng nhỏ nhưng rõ:

- Bệ hạ chưa từng xem ta là mối họa.

Trái lại, đối đãi như ruột thịt.

Bọn ta không tranh đoạt gì cả.

Nếu có điều gì khiến ta ở lại đến giờ, ấy là vì ta còn tin rằng người ấy xứng đáng được bảo vệ.

An Nhã lặng người.

Lời nói ấy không màu mè, không tô vẽ.

Nhưng mỗi câu, mỗi chữ, đều khiến cô thấy lòng mình trĩu nặng.

Trong khoảnh khắc đó, An Nhã hiểu rằng: những gì cô đang chứng kiến, vượt xa những trang sử đã đọc.

Bởi sự thật vốn dĩ phức tạp hơn bất kỳ lời nào được ghi chép lại.

Y bước chậm dọc theo kệ sách, dừng lại bên khung cửa sổ gió lùa, rồi khẽ nói:

- Rời khỏi cung là cách dễ nhất để sống sót.

Nhưng cũng là cách nhanh nhất để rời bỏ những người cô không nỡ buông bỏ.

Y xoay người, nhìn thẳng vào mắt cô:

- Cô muốn sống, hay muốn hiểu vì sao mình vẫn còn ở lại?

An Nhã giữ yên ánh nhìn, cổ họng như nghẹn lại.

- Thần không rõ nữa.

Nhưng nếu có một điều khiến thần chưa bước ra khỏi cung, chắc là vì vẫn còn người cần được sống.

Tư Thành nhìn cô một hồi lâu.

Trong đáy mắt có sự dịu dàng dồn nén, lẫn nỗi lo không tên.

- Nếu một ngày nơi này không còn giữ được cô nữa ta sẽ là người đưa cô đi.

Không phải trốn, mà là rời đi đúng nghĩa.

Gió lùa vào, lay động rèm vải và ánh đèn.

Giữa không gian lặng im ấy, An Nhã khẽ nắm chặt cuốn sách, như giữ lấy một mạch sống mong manh.

Tư Thành không nói thêm lời nào.

Y chỉ nhìn An Nhã thêm một thoáng, như muốn khắc ghi gương mặt ấy vào trí nhớ ánh mắt kiên định, bờ vai mảnh khảnh nhưng không hề yếu đuối.

Rồi y quay người, bước chậm về phía cửa thư phòng.

Ánh sáng từ ngọn đèn dầu lay động theo từng bước chân y.

Tiếng bước chân khẽ vang lên trên nền đá, mỗi tiếng như xa dần, lặng lẽ.

An Nhã không gọi với theo.

Cô chỉ đứng yên, lắng nghe đến tận khi tiếng bước chân ấy khuất hẳn sau hành lang đá.

***

An Nhã trở về phòng thuốc khi trời đã khuya.

Dọc đường, gió lạnh rít qua hành lang dài hun hút.

Lửa trong các đèn lồng nhỏ lay động theo từng bước chân cô, hắt bóng lên những bức tường đá như những hình thù lặng lẽ theo dõi.

Cô không vội thay y phục, cũng không nhóm lửa.

Chỉ ngồi xuống bên bàn thấp, gỡ tóc, để mái tóc xõa dài tựa vào tấm rèm mỏng nơi góc phòng.

Trước mặt là ấm trà nguội và một cuốn sách y học còn dang dở.

Trong lòng cô, những lời nói ban nãy của Tư Thành vẫn văng vẳng.

Cô không phải không từng nghĩ đến chuyện rời đi.

Sau vụ đầu độc, sau những ánh mắt nghi kỵ, và sau lời khuyên của Khắc Xương, cả những thăm dò đầy ẩn ý của Lê Nghi Dân cô biết, chỉ cần rời khỏi đây, mọi thứ sẽ kết thúc.

Sẽ không còn mưu mô, không còn hiểm họa rình rập từng bước.

Nhưng cũng sẽ không còn ai cần đến cô để cứu người nữa.

Không còn ai nhờ cô đo mạch, không còn những ánh mắt tin tưởng, những sinh mạng đặt cược vào sự bình tĩnh trong nhịp thở của cô.

Cô không biết mình là gì giữa chốn cung đình này.

Một ngự nữ y?

Một quân cờ?

Hay một mắt xích lặng lẽ trong cơn sóng ngầm không ai thấy?

An Nhã khép mắt, tay đặt lên ngực áo.

Nơi đó nhịp tim vẫn đều, nhưng không hề bình lặng.

Rồi cô thở ra một hơi rất nhẹ.

Cô đã đưa ra quyết định.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Cổ Tâm Sinh
Chương 16: Quyết định


Trước lúc trời hửng sáng, sương còn đọng trắng trên mái ngói xanh, An Nhã ngồi bên án thư, dưới ánh đèn dầu sắp tàn.

Bàn tay cô run rất khẽ khi hạ bút viết từng chữ, nhưng nét chữ vẫn ngay ngắn, không lệch một dòng.

Tờ tấu nhỏ được viết bằng mực đen, niêm phong cẩn thận, gửi đến Cần Chánh điện qua một nội thị trung lập.

Không ai biết.

Không ai hay.

Trong sớ, cô viết:

"Thần nữ tự biết thân phận thấp kém, không dám vượt lễ nghĩa.

Nay thanh danh đã vấy bẩn, dù đã được rửa sạch tội danh, song e rằng sự hiện diện của thần nữ chỉ khiến triều đình thêm lời dị nghị, khiến lòng người phân tán, ảnh hưởng đến uy nghi của bệ hạ.

Kính xin bệ hạ ân chuẩn, cho phép thần nữ được rời cung, lui về nơi núi thẳm rừng sâu, ẩn thân làm y sỹ, tiếp tục chữa bệnh cứu người, không vướng bụi trần, không dây đến chính sự."

Chữ cuối vừa ráo mực, cô ngẩng đầu nhìn ra ngoài cửa sổ.

Trời vẫn chưa sáng.

Gió vẫn lạnh.

Tờ tấu ấy, nếu được chấp thuận, sẽ là dấu chấm hết.

Nhưng cô không viết nó trong giận dữ, không vì hoảng loạn, cũng chẳng phải từ sợ hãi.

Chỉ đơn giản là đã đến lúc.

Thế nhưng, chỉ chưa đầy một canh giờ sau, khi An Nhã còn chưa kịp thu dọn đồ, một thị vệ của điện Cần Chánh đã xuất hiện trước cửa phòng thuốc.

Hắn cúi đầu thấp, giọng trầm:

- Nữ y, bệ hạ có lời triệu riêng.

Xin mời đến hậu điện.

Gió ngoài hiên vừa thổi tới, tấm rèm treo khẽ bay lên một góc.

An Nhã đứng dậy, khẽ siết lấy vạt áo.

Trong sương sớm còn mờ chưa tan, An Nhã khoác áo mỏng, theo bước thị vệ tiến về hậu điện.

Không khí dọc hành lang tĩnh lặng như mặt hồ không gợn, nhưng trong lòng cô, từng nhịp tim lại đập mạnh và sâu hơn mọi ngày.

Điện Cần Chánh khi chưa có triều nghi, khác hẳn vẻ uy nghi thường thấy.

Đèn lồng chưa tắt hẳn, rèm trúc vẫn thả xuống, chỉ có ánh sáng dịu qua song cửa chiếu lên nền đá một màu hổ phách nhạt.

Thị vệ dừng lại ngoài cửa lớn.

- Bệ hạ đang chờ.

An Nhã bước vào, từng bước đều giữ thật vững.

Cô hành lễ thật sâu.

Trước mặt cô không phải là một vị quân vương trên ngai cao, cũng không khoác cẩm bào lộng lẫy.

Chỉ là một người đàn ông đang mang trên vai cả giang sơn xã tắc và gánh nặng ấy, đang dần khiến bước chân y trở nên mỏi mệt.

Bang Cơ ngồi lặng, ánh mắt u uẩn, rồi cất lời mà không vòng vo:

- Khanh từng gặp riêng Lạng Sơn Vương?

An Nhã thoáng sững lại.

Cô ngẩng đầu, ánh mắt giữ vững:

- Vâng.

Nhưng chỉ là gặp thoáng qua, chưa từng nhận lấy bất kỳ ân huệ nào.

Bang Cơ gật khẽ.

Mắt y không hướng về cô, mà lặng lẽ nhìn xuyên qua lớp rèm trúc lay động nơi những đốm sáng soi xuống sân đá âm u.

Có điều gì đó, lạnh và mỏng như một tấm lưới vô hình, đang giăng khắp lòng cung điện.

- Có kẻ đang thả lưới.

- Y nói nhỏ - Một tấm lưới rất lớn.

Và càng ngày càng nhiều người bị cuốn vào mà không hay.

Không gian chìm vào im lặng.

Rồi, như thể hỏi điều gì đó đã cất giấu từ rất lâu, Bang Cơ khẽ nói:

- Khanh nghĩ nếu một ngày Trẫm chết, thì thiên hạ sẽ về tay ai?

An Nhã khựng lại.

Cô cúi đầu, thật thấp.

Bởi trong cô, vẫn còn vẹn nguyên ký ức về những trang sách đã đọc trong đó viết rõ ràng tên người kế vị: Lê Nghi Dân.

Và sau đó là Lê Tư Thành vị quân vương khai mở thời Hồng Đức rực rỡ.

Nhưng sách chỉ ghi sự đã rồi.

Còn người trước mặt chính là người đang sống, đang thở.

Cô đáp, giọng khẽ như một hơi thở:

- Thần nữ không biết thiên hạ sẽ thuộc về ai.

Chỉ biết, nếu người trị vì gục ngã, thì kẻ còn sống sẽ phải mang thêm cả máu sau lưng.

Bang Cơ chậm rãi ngẩng đầu nhìn cô.

Y đứng dậy, bước tới gần.

Dáng đi không vội vàng, nhưng lại mang theo một nỗi niềm nén chặt.

- Trẫm không ép khanh ở lại.

- Y dừng trước mặt cô, ánh mắt dịu đi

- Nhưng nếu thật lòng khanh muốn rời đi thì là vì muốn được yên ổn sống tiếp?

Hay vì...Hay vì không dám chứng kiến những điều sắp xảy ra mà bản thân không thể ngăn nổi?

An Nhã ngẩng đầu, đôi mắt trong veo như ánh nước, lặng lẽ đón lấy ánh nhìn từ người đứng trước mặt.

Cổ họng cô nghẹn lại một nhịp, rồi đáp nhỏ:

- Vì thần nữ không nỡ...

Bang Cơ nhìn cô rất lâu.

Một lúc sau, y lùi lại nửa bước, chắp tay sau lưng, ngẩng nhìn bầu trời ngoài rèm.

- Trẫm hiểu.

- Y nói khẽ - Có những người ở lại, không phải vì trung thành.

Chỉ vì họ chưa thể an lòng mà quay đi.

Bang Cơ vẫn đứng quay lưng về phía ánh sáng đang rọi xiên qua rèm trúc.

Lúc y cất lời, giọng nói trầm thấp, không còn mang âm điệu của một hoàng đế ra lệnh.

- Khanh có từng muốn biết vì sao Trẫm lại tin tưởng khanh đến vậy không?

Y chậm rãi quay lại, ánh mắt chạm thẳng vào cô.

- Bởi Trẫm biết khanh không màng thứ gì.

Im lặng bao trùm gian điện, chỉ còn tiếng gió ngoài sân lay động những khung cửa.

- Chưa từng xin quyền, xin vinh hoa, xin sủng ái.

Khanh chỉ xin được chữa bệnh, xin một chỗ để hành y, xin giữ mạng cho người khác.

Trẫm không thể không tin một người như vậy.

Giọng nói không lớn, nhưng mỗi câu, mỗi chữ đều như đâm thẳng vào lòng An Nhã.

Bang Cơ bước về phía bàn nhỏ bên rèm, lấy ra một mảnh lụa được cuộn lại cẩn thận.

Y đặt lên bàn trước mặt cô.

- Đây là lệnh bài ngự y độc lập.

Không thuộc Thái Y viện, không qua Nhập nội.

Chỉ theo chỉ lệnh của Trẫm.

An Nhã sững người.

Lệnh bài này, nghĩa là...

Y ngẩng lên, mắt chạm mắt cô:

- Nếu khanh còn ở lại, Trẫm sẽ không để khanh chỉ là 'nữ y'.

Khanh sẽ là người của Trẫm.

Một cơn gió thoảng qua, mang theo hương ngải cứu nhè nhẹ từ khu thuốc ngoài điện.

Cô đã từng chuẩn bị rất rõ ràng cho việc ra đi: sắp xếp sách vở, ghi chép bệnh án, thu dọn hòm thuốc, thậm chí viết sẵn thư để lại cho Tư Thành.

Nhưng giờ đây một câu nói ấy, một vật nhỏ ấy, một ánh mắt thẳng thừng ấy lại khiến tất cả những toan tính kia, bỗng chốc lặng đi như chưa từng.

Cô khẽ thở ra, không rõ là vì xúc động hay là vì một điều gì khác đang lớn dần lên trong lòng.

Bang Cơ lặng im một thoáng.

Trong ánh trăng sáng len qua rèm, gương mặt y hiện lên vừa mỏi mệt vừa dịu lại như thể vừa đặt xuống được một phần gánh nặng, nhưng cũng như thể đang chờ điều gì chưa rõ.

Ánh mắt y nhìn cô, không hối thúc, không ép buộc:

- Khanh hãy suy nghĩ thêm.

Một ngày, ba ngày, hay bao lâu cũng được.

Nếu khanh thật sự muốn rời khỏi nơi này hãy đến gặp Trẫm thêm một lần nữa.

Chỉ một lần thôi.

Trẫm sẽ tự tay viết chiếu phóng thích.

Y dừng lại, giọng dịu lại như lời một người đang tiễn đưa:

- Nhưng nếu không đến Trẫm sẽ tự hiểu khanh chọn ở lại.

Một cơn gió lạnh thoảng qua, hất nhẹ rèm cửa, vờn vào tà áo An Nhã đang đứng im không nói.

Cô nhìn lệnh bài ngự y đặt bên góc bàn, không ai ép cô cầm, cũng không ai giữ cô lại.

Bang Cơ không ngoái đầu, chỉ nói thêm một câu cuối:

- Quyết định ấy nên là của khanh, không vì ai, cũng không vì Trẫm.

Y đưa tay, nhẹ đẩy chiếc lệnh bài về phía cô:

- Lệnh bài này, cứ giữ lấy.

Không dùng, có thể trả.

Dùng rồi, thì không thể quay đầu.

Cô cúi đầu thật sâu, rồi lặng lẽ lui ra.

Bước chân rất chậm.

Nhưng không ai biết, phía sau đôi mắt vừa khuất khỏi bậc cửa là một trận sóng ngầm đang cuộn trào trong lòng cô.

***

Trở về phòng, An Nhã không nói với ai một lời.

Trời vẫn còn sương lạnh.

Gió luồn qua khe cửa khiến ánh nến lay động, hắt bóng cô đổ dài trên nền đất.

Trên bàn, bức thư gửi Tư Thành cô đã cẩn thận viết từ trước vẫn nằm đó.

An Nhã ngồi xuống, nhìn bức thư thật lâu.

Không phải để đọc lại, mà như đang nhìn vào chính quyết định từng được mình viết ra bằng tất cả sự tỉnh táo.

Rồi cô vươn tay, châm vào nến.

Khi ngọn lửa liếm dần qua mép giấy, khói mỏng lan nhẹ trong căn phòng nhỏ, chỉ còn tiếng lửa cháy tí tách, và nhịp tim cô dần chậm lại.

An Nhã ngồi lặng lẽ như tượng đá.

Không phải vì Bang Cơ giữ cô lại.

Không phải vì ánh nhìn của Tư Thành.

Không phải vì lời khuyên khắc khoải của Khắc Xương.

Mà vì chính bản thân cô không thể buông.

Không thể buông một triều đình đang ngả nghiêng vì giông bão.

Không thể giả vờ rằng mình chưa từng đặt tay lên mạch đập của lịch sử và thấy nó đang rối loạn, từng chút một.

Cô từng nghĩ bản thân là người ngoài cuộc.

Một kẻ lạc thời.

Một y nữ chỉ biết sắc thuốc, cứu người rồi rút lui như khói sương.

Nhưng giờ đây, An Nhã biết mình đã bước vào giữa ván cờ.

Không phải người chơi, cũng chẳng phải quân cờ mà là một người chứng kiến.

Và vì biết, cô không thể quay lưng.

Lửa tắt.

Bức thư không còn.

An Nhã nhắm mắt, ngửa tay đón lấy một chút tro bụi rơi xuống lòng bàn tay.

Những mảnh giấy vụn vụt tan, như một sự yên lòng cuối cùng.

Trong lòng cô, không còn do dự.

Cô sẽ ở lại.

Không phải vì Bang Cơ.

Không phải vì vinh hoa hay nợ nghĩa.

Mà vì cô đã thực sự bước vào lịch sử và cô chọn không lùi bước.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Cổ Tâm Sinh
Chương 17: Khoảng trắng


Trời chiều ngả vàng nhạt, ánh nắng cuối ngày rải một lớp mỏng mềm mại lên mặt hồ sen phía tây vườn ngự.

Mùa thu sắp đi qua, để lại mặt nước xao xác những cánh lá tàn úa, trơ trọi và tĩnh lặng.

Hương sen không còn, chỉ còn mùi thời gian nhàn nhạt lẩn trong gió thu.

An Nhã được gọi đến một cách lặng lẽ, cung nữ chỉ khẽ nói: "Tân Bình Vương mời."

Không kiệu rước, không thị vệ theo sau, không nghi lễ rườm rà.

Khi đến nơi, cô chỉ thấy một bóng người đơn độc bên thủy đình giữa hồ.

Lê Khắc Xương đang ngồi trên ghế đá, tay cầm bút lông, chăm chú với một bức tranh còn dang dở.

Màu mực đã khô ở nửa bức, nhưng khoảng trắng ở phía trước vẫn chưa điểm một nét nào.

An Nhã bước đến, dừng lại bên hiên đình.

Khắc Xương không quay đầu lại, giọng chậm rãi vang lên giữa tiếng gió:

- Cô nghĩ chỗ này... nên để trống, hay nên vẽ một người?

An Nhã bước chậm vào, ánh mắt dừng nơi bức tranh.

Cảnh hồ sen buồn tênh, mái đình cổ, hàng liễu rũ cong như thở dài.

Nhưng ngay lối mòn dẫn ra hồ nơi mà ánh nắng đang tắt dần lại để trắng một khoảng.

Cô hỏi khẽ:

- Nếu vẽ thêm người, thì người đó là ai?

Khắc Xương dừng tay.

Chiếc lá khô bị gió cuốn, rơi xuống ngay khoảng trắng trên giấy, rồi tiếp tục bay đi, để lại một vệt bụi mờ.

- Là người vốn không thuộc về nơi này.

Gió thoảng qua mặt hồ, lay động mấy dải rèm lụa treo trên mái đình.

An Nhã ngồi xuống bên Khắc Xương, im lặng một lúc lâu.

Làn gió cuối thu khiến tóc cô bay nhẹ.

Khắc Xương khẽ hỏi, giọng rất nhẹ:

- Vậy là cô đã quyết định ở lại?

An Nhã nhìn mặt hồ, ánh mắt như phản chiếu sắc nước hoàng hôn:

- Phải, không đi nữa.

Y không nói gì thêm, chỉ siết nhẹ cán cọ trong tay.

Một lát sau, Khắc Xương buông cọ xuống, nhìn sang cô, giọng trầm hẳn đi:

- Cô biết chứ?

Ở lại sẽ không còn đường lui.

An Nhã mỉm cười, nhưng ánh mắt lại buồn như sương phủ mặt hồ:

- Thần chưa từng có đường lui.

Chỉ là trước đây không dám nhìn thẳng vào nó.

Khắc Xương lặng đi.

Trong đáy mắt y, những tia hoàng hôn rơi xuống như vụn vỡ.

Tựa hồ y muốn nói thêm gì, muốn nắm tay kéo cô ra khỏi vòng xoáy, nhưng lại biết rõ bàn tay mình từ lâu đã bị xiềngxích bởi cung cấm.

Y chỉ có thể nhìn cô kiên định đối diện sóng gió, còn bản thân thì ôm lấy nỗi lo vào lòng.

- Cô đã cứu nhiều người.

Không cần phải hy sinh thêm gì cho hoàng cung này nữa.

An Nhã lắc đầu khẽ:

- Thần không ở lại vì hoàng cung.

Cũng không vì ai ban lệnh.

Chỉ là có những điều, nếu mình không làm, sẽ không thể tha thứ cho chính mình.

Nghe câu ấy, lòng Khắc Xương dậy lên nỗi bất an mơ hồ.

Y hiểu, một khi cô đã chọn, chẳng ai lay chuyển được.

Nhưng trong cung, mỗi một tấm lòng chân thật đều bị mài mòn bởi quyền lực và nghi kỵ.

Y sợ, đến cuối cùng, cô sẽ trở thành một bóng dáng phai nhạt giữa những toan tính như bao người khác.

Lặng im trong thoáng chốc.

Y cúi xuống, ngón tay gạt đi một giọt mực thấm cạnh bức tranh còn dang dở.

Động tác rất khẽ, nhưng như thể muốn gạt đi một ám ảnh không thể loại bỏ.

- Vậy thì hãy giữ vững lòng mình.

Dù cho phía trước có là bùn lầy, hay lửa đỏ.

Rồi quay mặt đi, để gió mang đi câu cuối nói của y:

- Ta hy vọng đến cuối cùng, cô vẫn là An Nhã như ta từng gặp.

Giọng y rất nhẹ, nhưng cũng rất rõ.

An Nhã im lặng.

Câu nói đó như vừa chỉ về bức tranh, lại như vừa xoáy thẳng vào lòng cô.

Cả hai không nói gì thêm.

Chỉ để gió thổi qua như cuốn trôi những điều chưa cần nói.

Dưới ánh tà dương, màu trời lặng như nước.

Rồi, một cơn gió lớn bất chợt ập tới.

Bức tranh bị thổi tung khỏi tay Khắc Xương, xoay tròn trong không trung như chiếc lá lìa cành, rồi rơi xuống hồ.

Giấy lụa chạm nước, mực loang ra, hình ảnh mờ dần như ký ức đang tan chảy.

An Nhã sững lại một thoáng.

Nhưng Khắc Xương không hề ngạc nhiên.

Ánh mắt y dõi theo bức tranh, không tiếc nuối.

Như thể đã biết trước điều đó sẽ xảy ra.

- Thôi vậy.

- y nói, giọng bình thản.

- Dẫu có giữ lại, cũng chỉ là điều chưa kịp hoàn thành.

Rồi y đứng dậy, phủi tay, không quay đầu lại.

Không nhặt tranh.

Không vẽ tiếp.

Chỉ để mặc nó chìm dần vào lòng nước, như một đoạn lặng không cần lời giải.

***

Đêm hôm ấy, An Nhã thức trắng.

Cô ngồi bên ngọn đèn dầu nhỏ trong viện, một mình giữa tĩnh lặng.

Ngoài sân, trăng khuya rọi xuống khoảng đá lát ánh sáng bạc lạnh như nước, loang lổ qua rặng liễu già.

Trên bàn, tờ giấy mới được trải ra.

Mực pha xong, bút đã chấm, nhưng cô vẫn chưa đề bút.

Bởi trong lòng, chỉ có một câu hỏi cứ quẩn quanh: Rốt cuộc dáng vẻ khắc khoải khi ấy của Khắc Xương là gì?

Tại sao y lại lo lắng cho an nguy của cô đến vậy?

Không ai trả lời.

Cô cũng không mong có câu trả lời.

Chỉ là không muốn để điều ấy trôi đi như thể chưa từng hiện hữu.

Cô cầm bút vẽ lại bức tranh ấy.

Không theo bút pháp cung đình.

Không tuân theo quy củ.

Không vì lễ nghi, không vì danh tiếng.

Chỉ là ký ức và cảm giác.

Trên giấy, thủy đình hiện lên trong ánh trăng nghiêng.

Hồ sen đã cạn mùa.

Mái ngói cong vút dưới bóng liễu rủ.

Nhưng giữa bức tranh nơi Khắc Xương từng để trống giờ không còn trống nữa.

Nơi đó, có một dáng người đứng xoay lưng, tay cầm một dải giấy trắng.

Người ấy đang nhìn xuống mặt hồ nơi bức tranh cũ đã chìm.

Không có hoa sen nở.

Chỉ có một chút tiếc nuối, và một cơn gió vẫn còn thổi.

***

Sáng hôm sau, khi mặt trời còn chưa qua khỏi rặng tường đông, An Nhã cho cung nhân mang bức tranh ấy đến phủ của Tân Bình Vương.

Không đề tên người gửi.

Không mong nhận hồi âm.

Chỉ mong nếu một ngày nào đó, khi gió lại nổi lên trên mặt hồ cũ y sẽ hiểu.

Khi mặt trời lên khỏi tường đông chưa bao lâu, một cung nhân lặng lẽ dâng lên phủ Tân Bình Vương một bức tranh không đề tên người gửi.

Người hầu vốn đã quen với sự kỳ quái của chủ nhân chẳng bao giờ vội vàng, chẳng bao giờ hỏi han.

Nhưng hôm nay, khi mở cuộn tranh ra, Khắc Xương lại khựng lại thật lâu.

Y không ngồi xuống.

Chỉ đứng lặng nhìn bức họa kia không chớp mắt.

Không phải tranh đẹp.

Không đúng luật phối cảnh.

Không trau chuốt nét mảnh, cũng không có những thủ pháp hoa lệ mà các học sỹ vẫn dạy.

Nhưng trong cái giản dị ấy có một thứ rất thật.

Một người đứng xoay lưng.

Tay cầm dải giấy trắng.

Ánh mắt cúi xuống mặt hồ nơi y đã để mất bức tranh chưa kịp hoàn thành.

Khắc Xương bước chậm đến gần cửa sổ.

Gió lại nổi lên.

Giống như buổi chiều hôm qua.

Giống như khoảnh khắc tranh bị cuốn bay khỏi tay.

Y không hỏi là ai vẽ.

Vì không cần phải hỏi.

Y mỉm cười.

Không phải nụ cười đắc ý.

Cũng không phải nhẹ nhõm.

Mà là một nụ cười sâu như thể trong lòng, có một khoảng trống vừa được lấp lại, dù chỉ bằng một mảnh giấy mong manh.

Khắc Xương đứng thật lâu bên cửa sổ, ngón tay lướt khẽ trên mép giấy.

Trong lòng y khẽ gợn một điều chưa từng muốn đối diện.

Từ những ngày đầu gặp An Nhã, y luôn mơ hồ thấy trong cô thấp thoáng bóng dáng người cũ - người mà y từng hứa hẹn, từng mất đi, và mãi mang trong tim như một vết khắc không thể xóa.

Chính vì thế, mỗi ánh nhìn, mỗi cử chỉ của An Nhã, y đều vô thức so sánh, vô thức tìm lại một hình bóng đã xa.

Nhưng giây phút này, y bỗng hiểu ra.

Đó không phải là nàng.

Không phải ai khác.

Không phải quá khứ.

Mà là An Nhã, người con gái đang bước đi giữa cung cấm với đôi mắt sáng và lòng không sợ hãi, dẫu biết phía trước toàn là bùn lầy, dẫu biết không có đường lui.

Y khẽ nhắm mắt, một nỗi hối hận mơ hồ dâng lên.

Sai lầm của y không phải vì đã lo lắng, mà vì đã để tình cảm của mình bị che phủ bởi ký ức xưa, mà chưa từng nhìn thật rõ người đang ở trước mắt.

Khi mở mắt ra, ánh sáng sớm mai đã tràn qua rặng tường đông, dát vàng lên từng nếp rèm.

Gió mang theo hơi lạnh còn vương lại của đêm.

Khắc Xương cười rất khẽ, nụ cười ấy dường như mang theo cả chua xót lẫn an nhiên.

Y cuộn bức tranh lại, cẩn thận như với một vật quý, đem cất vào rương sách riêng, nơi chưa từng cho ai chạm đến.

Không treo lên, không để lộ ra.

Bởi y hiểu, bức tranh ấy không chỉ là một hình họa.

Đó là minh chứng cho lần đầu tiên, y thực sự nhìn thấy An Nhã không phải như một cái bóng quá khứ, mà như chính con người cô.

Và trong cõi lòng vốn nhiều toan tính và giằng xé, y chợt nhận ra: đôi khi, có những quyết định chỉ có thể hồi đáp bằng sự im lặng.

Nhưng chính im lặng ấy, lại vang vọng hơn ngàn vạn lời.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Cổ Tâm Sinh
Chương 18: Vi hành


Đêm muộn trong cung, Bang Cơ lặng lẽ đứng trước cửa sổ, ánh trăng chiếu xuyên qua khe cửa, nhuộm màu bạc lên bóng lưng y.

Y không mặc long bào, cũng không đội ngọc quan.

Chỉ khoác áo choàng đơn giản.

Mái tóc dài buông xõa tự nhiên, không bị cài ngọc đính vàng như mọi khi.

An Nhã bước vào, cô vẫn giữ thái độ cung kính, nhưng đã có phần nhẹ nhõm hơn trước.

Dù vậy, cô không khỏi ngạc nhiên khi nhìn thấy vẻ ngoài khác biệt của Bang Cơ.

- Bệ hạ...

- Cô khẽ lên tiếng, giọng mang theo chút lo lắng.

Bang Cơ quay lại, ánh mắt trầm lặng, nhưng cũng chứa đựng sự kiên quyết.

- Trẫm muốn rời cung một thời gian, ra ngoài để nhìn thấy cuộc sống bên ngoài, để cảm nhận dân tình như thế nào, không chỉ qua lời kể của các quan thần.

- Y nói nhẹ nhàng, nhưng trong đó có điều gì đó rất rõ ràng, kiên định.

An Nhã ngỡ ngàng, cô nhìn y một lúc lâu, ngập ngừng không biết phải nói gì.

- Bệ hạ...

Điều này rất nguy hiểm.

Không ai có thể bảo vệ ngài như trong cung.

- Cô lo lắng lên tiếng.

Bang Cơ nhìn cô, ánh mắt bình thản nhưng sâu xa.

- Chính vì vậy, trẫm không thể đi một mình.

- Y dừng lại một chút, đôi mắt không rời khỏi cô.

- Trẫm cần khanh đi cùng.

An Nhã hơi sững sờ.

Chưa bao giờ cô nghĩ rằng hoàng đế lại muốn cùng mình vi hành, lén lút ra ngoài cung như một người dân bình thường.

- Nhưng bệ hạ, nếu bị phát hiện, sẽ không chỉ đe dọa đến ngài mà còn...

- Cô thấp giọng nói, vẫn còn do dự.

Bang Cơ mỉm cười, nhưng nụ cười không mấy vui vẻ.

Y tiến gần cô hơn, giọng nói thoáng có chút ấm áp.

- Trẫm không sợ.

Nhưng khanh, An Nhã, sẽ không phải đối diện với nguy hiểm một mình.

Trẫm chỉ muốn thấy, muốn biết cuộc sống của những người dân đang vất vả sống ra sao.

Khanh là người duy nhất có thể đi cùng ta, trẫm tin khanh sẽ giúp trẫm nhìn rõ hơn.

Cô không đáp ngay.

Trái tim cô lạc nhịp, những cảm xúc hỗn loạn mâu thuẫn, nhưng khi nhìn vào đôi mắt kiên quyết của Bang Cơ, cô biết đây không chỉ là một chuyến đi đơn giản.

Chuyến đi này sẽ là cơ hội để cô thấy rõ hơn những gì đã ẩn giấu, là lúc mà cô sẽ nhìn thấy con người của Bang Cơ ngoài chiếc ngai vàng quyền lực.

- Vậy chúng ta sẽ đi đâu?

- Cuối cùng, cô hỏi, giọng nói nhẹ nhàng nhưng cũng đầy sự quyết tâm.

Bang Cơ gật đầu, đôi mắt ánh lên sự quyết đoán.

- Ra khỏi cung, đến những nơi mà ta chưa từng thấy, nơi mà những người dân đang phải đấu tranh từng ngày để sống.

Chỉ có như vậy, trẫm mới hiểu được đầy đủ trách nhiệm của mình.

***

Trời chưa sáng hẳn, mây còn dày và thấp như tấm màn chắn giữa nội cung và nhân gian.

Tại một hành lang vắng của điện Vạn Thọ, An Nhã đang đợi.

Cô nhìn ra ngoài cửa sổ, bầu không khí u ám của buổi sáng lạnh bao phủ lên khắp kinh thành.

Những làn sương mỏng lơ lửng, như thể che đi mọi dấu vết, che đi mọi người.

Một chuyến đi không báo trước.

Không thái y.

Không thị vệ.

Không nội giám.

Chỉ có một nữ y và một vị hoàng đế đang muốn lặng lẽ biết dân sống thế nào.

Cánh cửa khẽ mở.

Bang Cơ xuất hiện trong bộ áo thường dân màu chàm, tóc búi cao giấu dưới khăn vải.

Hình ảnh của một hoàng đế như bị phủ đi, chỉ còn lại dáng vẻ một người nam nhân bình thường, giản dị nhưng không hề thiếu khí chất.

Ánh mắt y nhìn An Nhã với vẻ bình thản, nhưng cũng mang một nét kiên định khó tả.

- Chúng ta đi.

An Nhã gật đầu, trong lòng bỗng chợt dâng lên một cảm giác khó tả.

Đã bao nhiêu lần cô muốn lại nhìn thấy thế giới ngoài cung, nhưng lúc này, cô lại cảm thấy có chút e ngại.

Không phải vì sợ hãi, mà là vì y là người mà cô còn không hiểu rõ hết, lại đang cùng cô bước ra ngoài, như thể không còn những bức tường của cung điện và những tầng lớp quyền lực đang đè nặng.

Lý do xuất cung được báo với Nội Giám là: An Nhã đi khám bệnh cho một vị quan ở ngoại thành, cần đi gấp, không thể chờ thủ tục.

Nhưng ai mà biết rằng người đánh xe có dáng vẻ thư sinh ấy lại mang tư chất không hề tầm thường.

Họ ra khỏi cổng thành Đông Kinh trước giờ Ngọ, không ai nhận ra chỉ là một cô thầy thuốc và người phu xe trầm mặc.

Khi đã đi được vài dặm, Bang Cơ bất ngờ dừng xe ngựa lại.

- Chúng ta sẽ cưỡi ngựa để tránh sự chú ý.

An Nhã hơi sững lại, nhìn qua bên ngoài.

Cánh đồng mờ sương và những con đường đất ngoằn ngoèo dần dần mở ra, không còn là những con phố đông đúc trong thành.

Nhưng cô không biết cưỡi ngựa.

- Thần không biết cưỡi - An Nhã khẽ lẩm bẩm, ánh mắt hơi hoang mang.

Trước khi trở thành nữ y như bây cô cũng chỉ là nhân viên văn phòng làm công ăn lương thôi, chưa bao giờ phải đối diện với những thử thách thế này.

Bang Cơ không nói gì, chỉ cười nhẹ rồi bước xuống ngựa, vươn tay ra.

- Không sao, khanh chỉ cần ngồi trước ta, và giữ chặt.

Ta sẽ lo phần còn lại.

An Nhã hơi ngượng ngùng nhưng không thể từ chối.

Cô lên ngựa, và lập tức cảm nhận được sức nặng của sự chuyển động.

Tay Bang Cơ vòng qua người cô, giữ chặt dây cương.

Cô cảm thấy hơi ấm từ thân thể y truyền sang.

Một cảm giác lạ lẫm.

An Nhã bất giác nắm chặt vạt áo của Bang Cơ, cảm nhận được nhịp đập của cơ thể y qua lớp áo thô.

Cảm giác ấy khiến cô thấy bất an, nhưng cũng khó có thể phủ nhận sự an toàn mà y đem lại.

- Thần... không quen cưỡi ngựa thế này - Cô khẽ thì thầm, giọng run run.

Bang Cơ mỉm cười, nhưng không trả lời.

Y chỉ tăng tốc ngựa, chạy qua những con đường đất hoang sơ, bỏ lại đằng sau những tường thành vững chắc, những con mắt dõi theo.

Cả hai, như hòa vào không gian rộng lớn, chỉ có gió và hơi thở của nhau.

Trong khoảnh khắc ấy, mọi thứ như lặng đi.

***

Trời chiều buông xuống, ánh sáng dần nhạt, mây vần vũ che khuất mọi thứ bên dưới.

Khi An Nhã và Bang Cơ cưỡi ngựa trên con đường đất mờ sương, không gian yên tĩnh đến kỳ lạ, chỉ còn lại tiếng vó ngựa đều đều, hòa vào tiếng gió vù vù.

Nhưng trong khoảnh khắc ấy, giữa sự tĩnh mịch, Bang Cơ đột ngột thay đổi cách xưng hô.

- Ở đây nàng không cần gọi ta là bệ hạ nữa.

An Nhã nghe thấy, nhưng không dám tin vào tai mình.

Hơi thở của cô chợt nghẹn lại.

Mặt cô ửng đỏ, mắt dừng lại một chỗ trên vai áo của Bang Cơ, không dám nhìn lên.

Bang Cơ khẽ liếc qua, nhận ra vẻ ngại ngùng trên khuôn mặt cô.

Y mỉm cười nhẹ, nhưng không đẩy cô vào một tình thế khó xử hơn, chỉ thản nhiên nói:

- Chúng ta không cần giữ những hình thức cung cấm nữa.

Như vậy mới tránh bị nhận ra, phải không?

An Nhã ngập ngừng, cô chỉ khẽ cúi đầu, tay bám chặt vào yên ngựa.

Những lời của Bang Cơ làm tim cô đập nhanh hơn, không phải vì sự thay đổi cách xưng hô ấy, mà vì cảm giác lạ lẫm khi y gọi cô bằng "nàng", chứ không phải "ngươi" hay "khanh".

Một cảm giác thoáng chốc vỡ vụn sự im lặng giữa hai người.

An Nhã cảm thấy như có một bức tường vô hình giữa hai người, một bức tường mà cô không thể vượt qua.

- Thần... thần không thể...

- Cô khẽ nói, giọng như nghẹn lại.

Bang Cơ chợt dừng ngựa, quay lại nhìn cô.

- Không sao.

- Y mỉm cười, ánh mắt ấm áp.

- Nàng sẽ quen dần thôi.

An Nhã ngước lên, nhìn vào đôi mắt đầy kiên định ấy.

Lần đầu tiên, cô cảm nhận được sự chân thành không chỉ trong ánh mắt, mà còn trong từng lời nói của y.

Nhưng ngay lúc này, cô vẫn không thể gọi y là "chàng".

Hình ảnh của hoàng đế, của những lớp vương quyền ấy quá lớn để cô có thể thu nhỏ lại trong một câu xưng hô thân mật.

Cô khẽ lắc đầu, vội vàng nhìn xuống đất, như thể muốn che giấu sự xao động trong lòng.

Chiều hôm ấy, hai người dừng chân tại một nhà khách nhỏ ven chợ, nơi không quá xa lạ với những lãng khách.

Chủ quán nhìn họ từ đầu đến chân, ánh mắt dò xét rồi bật ra một nụ cười tinh quái:

- Phu thê sao?

Muốn ở phòng đôi hay phòng đơn?

An Nhã chưa kịp mở lời, Bang Cơ đã đáp ngay:

- Một phòng thôi.

Cô vội vã quay đi, không dám đối diện với chủ quán, mặt đỏ như lửa.

Nhưng Bang Cơ, đứng cạnh cô, không hề tỏ ra bối rối.

Y nghiêng đầu, thấp giọng:

- Ta là người trốn khỏi cung, Nếu chia phòng người ta sẽ sinh nghi.

An Nhã ngẩn người, cảm thấy một sự bối rối dâng lên.

Cô không hiểu tại sao những lời nói của y lại khiến cô cảm thấy như thể mình không thể cử động, chỉ còn biết đứng im trong một không gian lạ.

Phòng nghỉ đơn giản, không có gì nổi bật ngoài chiếc giường tre cũ, một bàn ghế gỗ nhỏ, và cửa sổ nhìn ra sân với giàn bầu khô xác.

Tất cả đều rất yên tĩnh, và có vẻ như cũng chẳng ai nhận ra sự hiện diện của họ.

Bang Cơ lấy trong hành lý ra một bộ y phục mới, chiếc áo đối khâm bằng lụa xanh lam cùng một bộ viên lĩnh màu trắng ngà, nhẹ nhàng đưa cho An Nhã.

- Ta thấy nàng luôn mặc đơn giản.

Ngoài cung, không ai ép nàng phải theo nghi thức nữa.

Nàng có thể mặc thứ mình thích.

An Nhã sững người, tay chần chừ cầm chiếc áo.

Lụa mềm mại, mượt mà, không quá lộng lẫy nhưng đủ để cảm nhận sự khác biệt, đủ để cô cảm thấy đây là thứ gì đó dành riêng cho chính mình, không phải là phẩm phục cho những nghi thức cung đình.

Cảm giác này thật kỳ lạ.

Cô nhìn chiếc áo, không biết nên cảm thấy thế nào.

Đây là lần đầu tiên cô nhận được một món quà không phải phải là được ban thưởng vì lập công, mà là vì chính cô, vì con người cô.

Cô không thể diễn đạt cảm giác này thành lời, chỉ mỉm cười nhẹ:

- Đạ tạ bệ hạ.

Bang Cơ nhìn cô, ánh mắt nhẹ nhàng nhưng kiên định.

Không nói thêm gì, y ngồi xuống chiếc ghế cạnh bàn, nhắm mắt một lúc, để lại không gian cho cô tự do suy nghĩ.

An Nhã, khi thay áo, cảm thấy mình như bước ra khỏi một chiếc vỏ bọc cũ kỹ, và cô không còn phải vội vã che giấu mọi thứ nữa.

Đêm, trong căn phòng nhỏ, An Nhã vẫn ngồi thẳng, cố gắng không nghĩ ngợi quá nhiều.

Không gian quá yên tĩnh, chỉ có tiếng gió thổi qua giàn bầu khô ngoài cửa sổ và tiếng bước chân của những người lạ qua lại trong thị trấn nhỏ.

Cô nghĩ đến thời gian vừa qua, những hành trình khó khăn, những quyết định quan trọng và cả sự hiện diện của Bang Cơ trong lúc này.

Khi đến lúc, cô đứng dậy, bước tới giường, chuẩn bị một chút không gian riêng cho mình.

Đôi tay của cô nhẹ nhàng kéo chăn, nhưng rồi ngừng lại.

Trong không gian lặng lẽ ấy, cô nhìn thấy Bang Cơ vẫn ngồi im lặng ở góc phòng, ánh mắt xa xăm như đang suy nghĩ về điều gì đó.

Cảm thấy không yên lòng, An Nhã cúi đầu, nhẹ nhàng nói:

- Bệ hạ, giường này có vẻ hơi nhỏ...

Thần sẽ ngủ dưới sàn.

Bang Cơ ngẩng đầu, nhìn cô một lúc lâu, rồi mỉm cười:

- Nàng không cần làm thế.

An Nhã lưỡng lự, vẫn có chút không an tâm.

Nhưng cuối cùng, cô cũng trải chiếu xuống sàn nền đất.

Trong tâm trí cô, sự ngại ngùng không chỉ là chuyện giường ngủ, mà là sự bối rối khi cùng một người mà cô không thể xác định mối quan hệ rõ ràng, lại ở chung một phòng như thế này.

Tất cả mọi thứ đều im lặng.

Sáng hôm sau, khi ánh sáng yếu ớt của bình minh le lói qua cửa sổ, An Nhã tỉnh dậy.

Cô dụi mắt, rồi nhìn xung quanh.

Đầu tiên là cảm giác kỳ lạ cô không thấy sự lạnh lẽo của nền đất, mà cảm thấy ấm áp, nằm trên chiếc giường êm ái.

Cô khẽ nhíu mày, rồi từ từ ngồi dậy.

Cảm giác thân thể nhẹ nhõm, không có cơn đau nhức hay sự mỏi mệt nào như cô vẫn thường có khi thức dậy sau một đêm dài.

Khi nhìn xuống giường, cô nhận ra mình đang nằm trong tấm chăn ấm, hoàn toàn khác với nơi mình đã nằm trước khi ngủ.

Ngẩng lên, cô thấy Bang Cơ đứng ở góc phòng, ánh mắt lo lắng nhưng vẫn giữ vẻ bình tĩnh.

- Nàng ngủ rất yên giấc.

Ta thấy nàng hơi lạnh, nên đã chuyển nàng lên giường.

An Nhã không thể tin nổi vào tai mình.

Cô định mở miệng phản đối, nhưng lại không thể nói thành lời.

Trong đầu cô văng vẳng câu hỏi, tại sao Bang Cơ lại làm như vậy?

Y không nói gì thêm, chỉ nhìn cô một lúc, như thể biết cô muốn hỏi nhưng lại ngần ngại.

Lúc đó, An Nhã cảm nhận một cảm giác không rõ ràng trong lòng, một sự ngượng ngùng pha lẫn cảm động.

Trái tim cô bỗng dưng đập mạnh hơn, như thể đang bị lôi kéo vào một câu chuyện mà chính cô chưa kịp hiểu hết.
 
Back
Top Bottom