Cập nhật mới

Khác [Cảm Hứng Lịch Sử] BÓI CÁ

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
218641408-256-k61558.jpg

[Cảm Hứng Lịch Sử] Bói Cá
Tác giả: Gardenia_Augusta
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Hoàn thành


Giới thiệu truyện:

Updated: 28.11.2021
Chân thành cảm ơn beta-reader đáng yêu của tui @senn234.

"Năm mười bảy tuổi đó khi Quang Toản rút quân ra Bắc Hà để lại tôi đơn độc ở Phú Xuân, tôi thừa hiểu về sau, mỗi ngày hoặc sẽ ngắn khôn lường, hoặc sẽ dài khôn tưởng.

(...) Vạn vật trên thế gian dù là giang sơn hay tình ái đều tựa hoa trong gương, trăng dưới nước.

Con người là loài bói cá trên cành cong, không cách nào với tới trăng trên cao, chỉ biết ngó xuống và lao đầu vào đáy nước, cược một đời vào những phù hoa chưa có được đã vội biến tan."

"Bói cá" là truyện về những tháng ngày cuối cùng của Lê Ngọc Bình, công chúa nhà Hậu Lê, nguyên phối của vua Cảnh Thịnh nhà Tây Sơn - Nguyễn Quang Toản và Đức phi của vua Gia Long.

LƯU Ý:

Truyện dự kiến gồm ba phần, được viết dưới góc nhìn cá nhân, không có giá trị tham khảo lịch sử, người đọc tuyệt đối không được đánh đồng với chính sử.

Mình không phải người Huế nên không biết nhiều về tiếng địa phương, để tránh sai sót mình sẽ sử dụng từ toàn dân, bối cảnh vẫn là thành Phú Xuân (Huế).

Trong quá trình viết nếu có sai sót về mặt diễn biến lịch sử, cung cách sinh hoạt, ăn nói, rất mong được mọi người đóng góp để mình chỉnh sửa.

Tranh gốc của hoạ sĩ Raymond Cyril Watson.



viet​
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Bói Cá
1.


Một sớm cuối tháng tư, tỉnh dậy từ giấc mơ hoa xoan tím trời, tôi nghe cung nhân truyền tai nhau chuyện đóa hoa đầu tiên của cây ngô đồng ở góc điện Cần Chánh vừa nở.

Suốt tám năm nay tôi chưa bao giờ được đặt chân đến sân điện ấy, cũng chẳng muốn đến.

Oái ăm thay, tên tôi, tên chị tôi, tên vua cha lẫn tên chồng cũ, và thậm chí là cả tên của người không rõ là cha chồng hay anh rể ấy của tôi, hẳn đã được bá quan văn võ và Ngài Ngự nhắc đến nhiều lần ở đó.

Mỗi cái tên mang theo một cuộc mộng, bám lấy tôi suốt gần ba nghìn đêm.

Tám năm qua tôi vẫn ở mãi phẩm trật Chiêu viên.

Giá mà đời có chữ "luôn luôn", mùa hè năm hai mươi lăm tuổi này tôi đã ở Thăng Long làm công chúa tiền triều, có thể gả chồng từ trước hay thanh tu thỏa nguyện.

Hoặc gần hơn, tôi đã ở bên Quang Toản dù y có ra Bắc Hà hay ở lại thủ thành Phú Xuân, dù y còn sống hay đã chết.

Đêm trước khi y rút quân ra bắc tôi nhớ mình từng nói không ngại cùng y chịu cảnh ngựa xéo voi giày.

Huống hồ cái danh công chúa cựu triều còn đó, giả mà có chuyện tôi cùng lắm chỉ bị giam lỏng cả đời.

Quang Toản nghe xong ôm ghì lấy tôi; chúng tôi cứ thế ôm nhau suốt năm canh, lắng nghe đêm trôi trong mỗi nhịp thở của nhau, yên lặng không nói.

Tôi chưa bao giờ nghĩ đôi câu nói suông của mình có thể khiến y thay đổi, và y cũng hệt như tôi tưởng tượng.

Y để tôi lại Phú Xuân như dự định ban đầu.

Trong mẩu giấy cuối cùng y gửi cho tôi, y bảo theo y chỉ có cái chết.

Tôi thở dài đốt bỏ.

Y không hay năm mười tuổi, khi lần đầu ngửi mùi thuốc súng không phải ở Thăng Long tôi đã muốn xuôi tay rồi.

Năm mười bảy tuổi đó khi Quang Toản rút quân ra Bắc Hà để lại tôi đơn độc ở Phú Xuân, tôi thừa hiểu về sau, mỗi ngày hoặc sẽ ngắn khôn lường, hoặc sẽ dài khôn tưởng.

Vận mệnh chưa từng buông tha, tiếp tục ban cho tôi kiếp sống đằng đẵng kể từ lúc tôi trở thành Chiêu viên.

Phú Xuân đổi chủ, cung phi đổi chồng.

Chẳng biết rồi hậu thế sẽ nhìn tôi với ánh mắt gì, nhưng phường trà dư tửu hậu đương thời vẫn thường lấy đó làm thích thú mà rao:

"Số đâu có số lạ lùng,

Con vua lại lấy hai chồng làm vua."

Qua hai mươi mấy năm sống sót và tồn tại đầy gian nan, tôi vẫn luôn không rõ hiện tại là thực hay mơ, cũng chẳng biết mình còn sống hay đã thác rồi.

Chỉ biết, ở những ngày mang thuốc thang đổi lấy hơi tàn này ngoảnh đầu nhìn lại, mọi thứ đã cách tôi rất xa, trong đó, có cả tôi của thuở ban đầu.

Quá vãng ấy dẫu chưa từng cháy, cỗ xe lịch sử cũng sớm nghiền nó thành bụi tro.

Mà khi tro tàn, mệnh đời cũng mất.

*

* *

- Lệnh bà tiến cung bao nhiêu năm rồi nhỉ?

Dung vẫn thường vừa chải tóc vấn khăn cho tôi vừa hỏi những câu về thời gian.

Tôi biết em lo cho mình, sợ mình u uẩn đến đãng trí.

Song tôi vẫn không thể vờ như thanh thản, vui vẻ để em yên lòng, mà từ lâu em cũng biết tính nết tôi rồi.

Thành ra tôi chỉ vỗ tay em một cách sượng ngắt, đáp lời:

- Tám năm chứ mấy.

Ta nhớ mà!

- Bà gầy quá, càng lúc càng gầy, đến kì sinh nở còn nhạt miệng ít ăn.

- Dung thở dài - Hôm nay bên ngự thiện dâng điểm tâm toàn món bà ưa.

Lát nữa bà gắng ăn nhiều, còn để phần hoàng tử trong bụng nữa.

Tôi đặt tay lên bụng đã hơi nhô, nhẩm tính xem còn bao tháng mới đến ngày đứa con thứ tư này chào đời.

Tôi vẫn mong nó là con gái, dù rằng người xung quanh bảo có thể là con trai, lại thêm Dung luôn miệng gọi nó là hoàng tử nữa.

Cả Quân cũng vậy, nếu cùng là con gái như hai chị nó thì hay biết bao.

Là công chúa, ít nhất chúng nó vẫn được toàn mệnh cho đến khi hòa thân hay hạ giá; phận hoàng tử lại khó nói trước chuyện tương lai.

Tôi dù an phận không tranh giành nhưng cũng chẳng phải vừa đến Tử Cấm thành ngày một ngày hai.

Âm mưu và thủ đoạn chốn hậu cung đâu chỉ để giành ân sủng suông!

Đích ngắm chính của những hậu phi luôn là vị trí trữ quân đầy hứa hẹn và chiếc ghế rồng trên cao kia kìa!

Đã là hoàng tử, những âm mưu ấy dù ít hay nhiều vẫn khó lòng mà tránh khỏi.

Cũng như ba lần mang thai trước, Ngài Ngự không thăm tôi nhiều.

Có mấy tháng liền tôi chỉ quanh quẩn giữa cung Trường Thọ, cung Khôn Nguyên và viện Thuận Huy, không đi đâu xa vì sợ nhọc.

Dù Ngài Ngự có đến viện Thuận Huy cũng không sang nơi tôi ở, tôi cứ thế mà thảnh thơi, suốt ngần ấy thời gian không diện kiến long nhan.

Hậu cung muôn hồng nghìn tía, bản thân tôi chỉ là một Chiêu viên nhạt nhòa, tài sắc không bằng ai, lại còn từng là hậu phi của con trai kẻ thù ngài.

Chồng cũ của tôi khuất núi đã lâu, kết cục đớn đau, thảm thương của y và cả triều đại Tây Sơn tôi từng lén chứng kiến, đến nay còn ám ảnh chưa thôi.

Dù đôi mắt Ngài Ngự nhìn tôi chưa từng lóe lên hận thù hay ghét bỏ, dù tôi đã sinh cho ngài ba đứa con, cuộc thanh trừng ngày đó vẫn khiến tôi đinh ninh rằng nay mai, khi cái danh công chúa nhà Lê và hậu phi tiền triều của bản thân không còn tác dụng, tôi sẽ là người tiếp theo bị treo giữa năm con voi, chớp mắt trở thành mớ thịt vụn khi quản tượng điều cho chúng cất bước.

Hậu phi của ngài dường như không mấy để tâm đến tôi, vì dù sao trong tôi dòng máu họ Lê vẫn chảy, cái danh nguyên phối của vua Cảnh Thịnh cũng chưa từng bị lãng quên.

Dung cũng bảo, ít nhất tôi sẽ toàn mệnh trong suốt thai kì.

Hiềm nỗi sự đời vốn khó đoán, tôi và lũ trẻ về sau thế nào không ai biết trước.

Hổ dữ không ăn thịt con, Ngài Ngự tất nhiên không phải hổ, chỉ có hoàng quyền trong tay dòng họ Nguyễn Phúc là đủ sức nuốt sống tình thân và tất cả những thứ đe dọa người nắm giữ nó.

Thật ra, chỉ cần là hoàng quyền thì dù nằm trong tay họ Lê của phụ hoàng, họ Nguyễn của Tây Sơn hay Nguyễn Phúc thị của Ngài Ngự, vàng son ít nhiều cũng vấy máu.

Trưa ấy xa giá đến chỗ tôi, khốn nỗi thái giám lại không nhắn gửi gì cung nhân viện Thuận Huy.

Ngài ngự cứ thế thình lình xuất hiện trước trường kỷ, còn tôi đang một tay cầm sách, một tay ôm bụng ngủ gật.

Có lẽ sợ động thai mà ngài không bế tôi lên giường, chỉ đỡ tôi nằm xuống chiếu, dém chăn thật kĩ.

Ngài chỉ ngồi một lúc rồi đi, dặn tối nay lại đến.

Tôi vốn thức giấc từ lúc nghe tiếng mở cửa nhưng không muốn tỉnh dậy, đành ngồi yên vờ ngủ, lát sau mới ngủ thật.

Bởi, đối mặt với ngài là chuyện rất khó.

Tám năm với những cuộc ái ân, những lời lẽ tưởng chừng mặn nồng, quý mến đấy không khiến tôi quen thuộc với ngài, trái lại còn càng lúc càng sợ sệt.

Ngài không thuộc về tôi cũng như tôi chưa từng thuộc về ai, kể cả chính mình.

Điều duy nhất khiến tôi thỉnh thoảng thấy ngài gần gũi chắc là tiếng thở dài bất chợt, vô lực và não nề mỗi khi ngài đến nơi tôi.

Không có được thì khát cầu, có rồi lại muốn có thêm.

Nhưng có được càng nhiều, muộn phiền càng lắm.

Có lẽ chính ngài cũng hiểu vạn vật trên thế gian dù là giang sơn hay tình ái đều tựa hoa trong gương, trăng dưới nước.

Con người là loài bói cá trên cành cong, không cách nào với tới trăng trên cao, chỉ biết ngó xuống mà lao đầu vào đáy nước, cược một đời vào những phù hoa chưa có được đã vội biến tan.

Người như ngài so với những kẻ không muốn cược và cũng chẳng có gì để cược như tôi, dường như không ai may mắn hơn ai cả.

*

* *

Qua ngày rằm nhưng chưa đến ba mươi, trăng tháng tư cong vút vẫn tỏa sáng trên trời đêm Tử Cấm thành.

Mười lăm năm xa quê đằng đẵng, đặt chân qua non nửa non sông, không bầu trời nào trong tôi đẹp như bầu trời ở Thăng Long ngày cũ.

Phú Xuân rộng lớn đã không, huống hồ là sân viện Thuận Huy nhỏ hẹp trong Tử Cấm thành, trăng sáng sao dày cũng hóa cô liêu.

Xa giá dừng trước sân.

Tôi đang mang thai nên không phải quỳ lâu, gối vừa chạm đất người đã được Ngài Ngự chính tay nâng dậy.

Cố gắng chỉ nhìn vào hoa văn tinh xảo thêu ở gấu áo ngài, tôi nhỏ tiếng tạ ân rồi theo ngài vào nội tẩm.

Nhìn lớp phấn dày trên mặt tôi, ngài vừa đi vừa tặc lưỡi:

- Khanh rửa mặt đi đã, ở đây cũng chẳng còn ai ngoài hai ta.

Nhanh nhanh còn đến hầu trẫm chơi cờ.

Tôi vâng dạ rồi để Dung hầu tẩy đi lớp son phấn, mặt mày nhẹ nhàng hơn mới sang trường kỷ nơi ngài ngự ngồi chờ sẵn.

Ván cờ vây tháng trước chúng tôi chưa chơi xong hôm nay lại được tiếp tục.

Ngài ngự vừa chơi cờ vừa hỏi han, dặn dò tôi dăm câu, kể như không việc nào chú tâm hơn việc nào.

Phần mình tôi vẫn luôn cúi mặt một dạ hai thưa, dạ thưa đến kì đôi bên đều thấy chán mà ván cờ vẫn chưa kết thúc.

Lúc thổi đèn đi ngủ, tôi nằm nghiêng dán mắt vào dãy đèn lồng còn lập lòe ngoài hiên.

Cũng không rõ vì thai kì hay vì người đàn ông bên cạnh, tôi trằn trọc mãi không vào giấc.

Hơi thở Ngài Ngự đều đều, không có vẻ gì là còn thức.

Thế nhưng khi trống canh tư vừa điểm tôi đã nghe giọng ngài bất thần vang lên:

- Khanh còn chưa ngủ?

- Vâng ạ.

- Khanh còn trẻ mà nhiều chuyện để nghĩ quá nhỉ?

- ngài nói bằng điệu cảm thán.

Tôi rùng mình, không biết nên đón ý vua từ đâu nên đành lặng im không đáp.

Ngài cũng không định quở trách, chỉ gác tay lên trán, thở dài hết lượt này đến lượt khác, hẳn là âu chính sự.

Triều đình Phú Xuân không được lòng dân chúng vốn đâu phải chuyện xa lạ gì, mặc cho những cải chính liên tục được đề ra.

Có trách thì trách bóng dáng Tây Sơn áo vải ngày xưa quá lớn, lớn đến nỗi không cách nào xem nó là "ngày xưa", chỉ như một phần không thể nhắc đến của hiện tại.

Cộng thêm việc Ngài Ngự từng cầu cứu quân Xiêm để sơn hà càng thêm đẫm máu, bách tính lao đao giữa cảnh thù trong giặc ngoài; chỉ hai việc đấy đã biến an dân trở thành câu đố khó nhất dành cho họ Nguyễn Phúc.

Nhưng Ngài Ngự có lần buột miệng bảo, chuyện thịnh suy không khiến ngài đau đầu như chuyện hậu cung.

Ngài nghỉ ở đâu sóng gió lan theo đến đó, cả người ngài yêu thương, kính trọng nhất là Hoàng hậu cũng chẳng giữ hết dáng vẻ ban đầu.

Tôi không biết thuở còn biến loạn dáng vẻ và cung cách, tính tình Hoàng hậu ra sao.

Nghe đồn bà của xưa kia cũng chẳng khác hiện tại là mấy.

Hoàng hậu bây giờ tuy không còn trẻ nhưng vẫn duyên dáng ưa nhìn, dịu dàng và chu toàn lễ nghĩa.

Thứ đổi thay mà Ngài Ngự nhận ra nơi bà, có lẽ là tâm cơ, cũng có lẽ là trái tim.

Tựa như tôi sau ngần ấy biến động, yêu oán từng mãnh liệt nơi bà hẳn đã nguội rồi.

Những tranh đấu cả lộ liễu và ngấm ngầm của hoàng Hậu lắm khi cũng chỉ để hoàn thiện vở kịch kiếp người mà thôi.

Trời ở Tử Cấm thành nhỏ đến thế chắc chẳng nghe tiếng lòng não nề, ai oán của chúng tôi.

Đó là những kẻ chung chồng từng ôm ấp giấc mộng hoa niên đẹp đẽ cho đến khi nhận ra mình quá tầm thường, quá bé mọn, đến nỗi chẳng thể mơ cầu khi trước mặt là cánh cửa sơn son đóng kín.

Ngày ở Tử Cấm thành, đêm ở Tử Cấm thành, một đời người ở Tử Cấm thành quá dài để tồn tại, lại quá ngắn để khao khát một điều gì.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Bói Cá
2.


Thỉnh thoảng người ta vẫn hay đoán trước được vận mệnh đời mình.

Như tôi, năm mười tuổi rời Thăng Long vào Phú Xuân để gả cho vua Cảnh Thịnh mình chưa từng biết mặt, tôi đã ảo não nghĩ sau này không được về Thăng Long nữa.

Dù Thăng Long với tôi chẳng có gì ngoài người mẹ là Chiêu nghi và mười năm thơ ấu, lòng tôi vẫn dùng dằng không muốn đi.

Dù không phải nhà, chốn kinh kỳ đó vẫn là quê.

Nghĩ đến trăm năm sau mình chỉ còn lại nắm tro tàn vùi sâu dưới lớp đất Phú Xuân, tôi bây giờ chẳng lấy gì làm ảo não; bởi ảo não chỉ nảy sinh lúc thất vọng, khi cơ hội vẫn còn.

Tôi hiện tại tuy không bi quan nhưng cũng chẳng nghĩ được lý do để tiếp tục khát vọng tìm về quê hương.

Mẹ mất trong những ngày li loạn, nhiễu nhương, thành xưa đó với tôi dường như không còn bao nhiêu ý nghĩa.

Thăng Long bây giờ chỉ nơi phó thác những hoài niệm.

Hôm tôi ở Duyệt Thị Đường xem kịch cùng Ngài Ngự, Thái hậu cùng các hậu phi và một số đại thần ngoại quốc, gánh hát tình cờ lại diễn vở kịch tôi từng xem khi lên năm.

Lúc ấy tôi ngồi trong lòng mẹ, loay hoay tới lui chỉ để tìm bóng dáng vua cha, không để ý vở diễn nói gì.

Có điều khi giọng người trên sân khấu vút cao, câu thoại của người đó khiến tôi nhớ mãi.

"Nếu biết mình không hợp áo bào, sao mi còn mặc lấy?"

Tôi của năm tuổi bảo mẹ rằng mình không hợp xem kịch, thế có được bỏ về trước khi kịch hạ màn không.

Mẹ tôi lặng lẽ lắc đầu.

Cái lắc đầu đó hệt như cách con tạo khước từ mọi cầu xin khi tôi thầm thưa mình không hợp làm Hoàng hậu chủ quản hậu cung, không hợp làm cung phi, cũng không hợp sinh con đẻ cái.

Nếu ngược về lúc chưa được sinh ra, phỏng tôi đã từng hỏi trời già: tôi không hợp để tồn tại, thế có phải sống hay không?

Trời hẳn là nhắm mắt và đáp ứng một nửa "yêu sách" đớn hèn của tôi.

*

* *

Ngọc Ngôn và Ngọc Khuê rất ưa ngồi để tôi vừa kể chuyện vừa tết tóc cho.

Từ lúc có thêm Quân, chúng thích kéo nhau ra sưởi nắng cùng tôi và thằng bé.

Những hôm nắng ráo, bốn mẹ con chúng tôi ngồi trước hiên.

Tôi bế Quân, ve vuốt, gãi rôm dọc sống lưng nhỏ bé, Ngọc Khuê và Ngọc Ngôn ôm mặt chăm chú nghe tôi kể về đô thành Thăng Long ngày cũ.

Thật ra thuở ấy tôi còn chưa đi hết một góc Hoàng thành.

Phố phường nhộn nhịp đằng sau những cửa ô trăm năm, những đợt chùa trẩy hội, đêm hội hoa đăng sáng rực chân trời, thú đàn ca văn nhã lúc thảnh thơi... toàn bộ đều do cung tì, thị nữ truyền lời nhau kể lại.

Phồn hoa tôi quyến luyến một thời sau rốt cũng chỉ là mộng tưởng.

Tựa như trong giấc mơ hôm trước, tôi thấy mình trở về Thăng Long, cùng Dung chèo thuyền trên hồ Tây hái sen.

Giấc mơ khiến tôi nhớ về cành đào đất bắc Đức Tây Sơn Thái Tổ từng mang về cho Bắc Cung hoàng hậu.

Cành đào ấy là ký ức đẹp nhất chị Ngọc Hân còn giữ đến kỳ nhắm mắt xuôi tay.

Mùa hạ ấy tôi đột nhiên da diết khát cầu một đóa sen gửi từ quê cũ.

Nhưng quanh đi ngoảnh lại, mùa sen sắp qua mà tôi chỉ biết cười tự giễu, lần nữa gửi nỗi khắc khoải vào tiếng mưa rả rích trên mái ngói viện Thuận Huy.

Tháng bảy, bụng tôi lớn hơn, thế nhưng áo ngũ thân may hồi đầu xuân vẫn còn vừa vặn.

Tôi hỏi Dung có sửa áo giúp không, em chỉ lắc đầu đưa gương soi cho tôi, mắt ầng ậng nước.

Soi không thấy mình trong đó, tôi thở dài cười cho qua chuyện.

Người đàn bà hai mươi lăm tuổi da mặt tái nhợt, hốc mắt trũng sâu, gò má trơ xương kia không phải công chúa Lê Ngọc Bình được mẹ tôi nâng niu, cũng không phải cung phi Lê Ngọc Bình mà Quang Toản từng bảo muốn gắn bó đến già.

Tôi vẫn đinh ninh rằng bị lãng quên là việc đáng sợ, bởi vậy mà tám năm nay chưa bao giờ tôi thôi cố gắng khắc tạc những khuôn mặt cố nhân.

Ngày ấy soi gương mới phát hiện, hóa ra nỗi bi ai lớn nhất đời người là tự lãng quên chính mình dù trí nhớ chưa lần mòn hao.

Ngược xuôi ngần ấy năm trường, ai cũng dần đánh mất bản thân của ngày đẹp nhất.

Tôi đột nhiên không quá xót thương hoàng hậu Tống Phúc thị nữa.

*

* *

Việc tôi nghĩ mình từng yêu Quang Toản cũng buồn cười như việc tôi nói mình nhớ Thăng Long song lại không muốn trở về vậy.

Giả mà tôi đã từng yêu thật, đó cũng là chuyện của quá khứ rồi.

Chiêu viên Lê thị hiện tại có tưởng đến y cũng chỉ quẩn quanh tự hỏi, liệu y có tha thứ cho quyết định của tôi hay không mà thôi.

Hết lần này đến lần khác tôi dặn lòng là y sẽ, bởi đây gần như là bước đường mà y thay tôi xếp đặt: y muốn tôi sống bằng bất cứ giá nào.

Dẫu biết không có "nếu", tôi vẫn thầm ao ước ngày ấy Quang Toản bớt trù tính cho tôi đi.

Tôi và y cùng ra Bắc Hà, chúng tôi có thể phải treo cổ thủ tiết như vợ chồng Quang Thùy ở ngoại thành Thăng Long.

Nếu ngày đó nhìn thấu tương lai của tôi, lắm khi y đã nằng nặc kéo tôi cùng chạy ra bắc.

Dù biết quyết định thế nào cũng có phần vị kỷ, nhưng cùng nhau chết tôi sẽ chẳng trách y, càng không phải âm thầm kêu gào tên y trong những đêm đau bệnh đến hôn mê như thế.

Tôi quá lạc lõng để nhớ tên một ai khác ngoài mẹ và Quang Toản.

Nhưng mẹ đi xa rồi; còn Quang Toản, tôi vẫn ích kỷ cầu mong linh hồn y đang ngụ đâu đó ở đất Phú Xuân, sẽ đáp lời tôi khi tôi khẩn thiết xin được che chở.

Cũng như những ngày tôi rời Thăng Long đến với Phú Xuân mờ bụi và nồng mùi thuốc súng, y là người duy nhất kiên nhẫn vỗ về tôi đêm đêm.

Giọng nói và bàn tay trẻ con ngày ấy tựa như cành đào đất bắc trong hồi ức của chị Ngọc Hân, có hương quê nhà, cũng có vị chát của nước mắt kẻ lãng lưu.

Chỉ hai, ba năm sau khi Quang Toản lên ngôi, Tây Sơn nội chiến gần như đến đỉnh điểm.

Độ ấy y mới mười hai tuổi.

Tôi gả cho y sau đó không lâu, cùng năm Cảnh Thịnh thứ ba.

Thế lực Bùi Đắc Tuyên vừa được dẹp yên lại đến Trần Quang Diệu và Vũ Văn Dũng đối đầu nhau, khiến bao kẻ sĩ vong mạng oan uổng.

Quang Toản không thích hợp làm vua.

Y nói lời ấy với tôi và còn nhiều điều khác về sự bất lực của mình trước cảnh tứ trụ đại thần tị hiềm lẫn nhau khi bọn tôi lén lút ra sông Hương câu cá.

Tháng ba thiều quang rạng rỡ, trời lững thững những mây, tán cây soi bóng trong con nước lặng lờ xuôi chảy.

Tôi thiếp đi trên cánh tay Quang Toản, bỏ quên những muộn phiền y vừa trút, thầm nghĩ "yên hoa tam nguyệt" mình từng đọc chắc cũng đến thế mà thôi.

Quả thật là như vậy.

Những mùa xuân sau chúng tôi ngày càng trưởng thành.

Quang Toản bận bịu chính sự, tôi cũng dần quen với việc không ai kề cạnh an ủi, quen loanh quanh dạo ở nội cung, chiều chiều lại đến thủy đình hóng mát.

Tôi tảng lờ đi cuộc đao thương bên ngoài và những mưu tính, ám hại bên trong, thậm chí có chút chờ mong một ngày không xa sẽ được về trời nhờ tên bay đạn lạc.

Thảng hoặc ngắm nắng tháng ba rơi trên mái ngói cung điện Phú Xuân, tôi ngơ ngẩn thở dài.

"Yên hoa tam nguyệt" ra cũng chỉ có thế.

Một năm sau cuộc tiến đánh Quảng Nam của Ngài Ngự vào năm Cảnh Thịnh thứ năm, mâu thuẫn nội bộ triều Tây Sơn dậy như sóng dữ.

Nguyễn Bảo định hàng triều Nguyễn bị nhấn nước chết, Lê Trung bị buộc tội khởi mưu phải chịu cảnh chém đầu, thiếu phó Nguyễn Văn Huấn cũng bị giết sau đó không lâu.

Trong tứ trụ đại thần, Trần Quang Diệu sớm đã bị thu binh quyền, Nguyễn Văn Huấn chết vì gièm pha, khiến trung thần triều Tây Sơn ngày một nản chí.

Quang Toản kể với tôi tất cả bằng nụ cười đầy ý vị.

Trước tôi chẳng biết vì đâu y tin tưởng tôi, sau khi thấy nụ cười ấy rồi tôi mới hiểu rõ một hai.

Nhà Lê vong, Quang Trung băng hà, chị Ngọc Hân mất hết quyền lực phải đưa con đến sống ở chùa Kim Tiền.

Tôi ở cung điện Phú Xuân, nhỏ nhoi và cô lẻ, xung quanh toàn là người của Tây Sơn nên chẳng khác nào bị giam hãm.

Chỉ một câu khai tử của y, ngay đến nửa lời tôi cũng khó lòng loan ra.

Cũng may y chỉ dừng ở cái cười đầy đe dọa.

Quang Toản tự nhận nhu nhược nhưng chưa từng nói mình sẽ thuần lương, cao khiết như nắng tháng ba.

Y có thể không kìm hãm được bọn lộng quyền nhưng việc cơ bản nhất là giữ kín quốc sự y vẫn thừa khả năng.

Tôi khi ấy rất muốn nghĩ do y tin mình nên mới chia sẻ việc nước với một người con gái suốt ngày vùi chân trong cung cấm, vậy mà cuối cùng vẫn không tự thuyết phục được bản thân.

Chẳng biết là may mắn hay bất hạnh, sự tỉnh táo khi ấy đã ngăn tôi lao vào tình yêu như con thiêu thân.

Có lẽ với tôi của thuở thiếu thời, đó là may mắn; còn tôi của hiện tại lại tiếc nuối không thôi.

Tôi thừa hiểu mình chẳng còn bao nhiêu thời gian nữa.

Sống ngần ấy năm không được ai lưu luyến cũng chẳng lưu luyến ai, đó là thất bại buồn cười, cũng là lãng phí rất lớn.

Ngẫm nghĩ, tôi lại thơ thẩn nhếch khóe môi.

Quang Toản bảo tôi lớn chậm, khờ khạo cũng không phải không có lý.

Chẳng nói đâu xa, chỉ so với hậu phi của Ngài Ngự, tôi rõ là kẻ thiếu khôn ngoan thừa tuổi tác, càng già càng ưa nhớ chuyện hồi con trẻ.

Đong ngày đếm tháng, hóa ra chỉ gom được bấy nhiêu để hoài niệm.

Không thể trách cuộc đời ngắn dài, chỉ trách qua bể cả nương dâu rồi tôi lại níu không nổi hồi ức.

Dù có sống thêm mười năm tôi cũng không phải là tôi thực, mà là một chiếc áo rỗng biết đi.

Xưa nay thân bất do kỷ không phải chuyện hiếm.

Quang Toản có từng yêu tôi hay không, tôi chẳng biết.

Chỉ nhớ vào cái đêm chúng tôi thực sự nên nghĩa phu thê, y từng để tôi gối đầu lên tay mình và hỏi tôi muốn làm gì nhất.

Tôi lúc ấy bảo nhớ Thăng Long quá, muốn về thắp hương cho mẹ.

Tôi muốn ba mươi ra Hoàng thành xem đốt pháo, Nguyên Tiêu thì vừa uống chè đặc vừa đọc thơ dưới trăng tròn.

Tháng ba ngắm hoa gạo, hoa xoan, đến Thanh Minh thì đi tảo mộ.

Tháng tư thả diều, tháng năm tự gói bánh ăn Đoan Ngọ, tháng sáu ăn hết lựu, nhãn, vải, chèo thuyền hái sen ở hồ Tây, xem người ta ướp chè trong những búp sen hồng nõn.

Tháng bảy đi câu, ra vườn hái măng về hầm, ăn thêm một bát chè nhãn nhục hạt sen thanh dịu để xua bớt cơn nhiệt cuối mùa.

Đêm rằm tháng tám dạo phố chợ chơi Trung Thu, chờ đến tháng chín lại ra ngoài Hoàng thành thăm hồ Tả vọng.

Từ tháng mười trốn miết ở nhà sưởi than, hoặc cuộn người trong chăn tránh rét, hoặc xiên lũ muồm muỗm thành một xâu rồi mang đi nướng ăn, đồ một chõ xôi ăn với cá kho khô trong niêu đất.

Quang Toản bảo sau này thỉnh thoảng y sẽ đưa tôi thăm thú khắp Bắc Hà, lại ghé về Thăng Long dăm hôm.

Tôi cười to, bảo tin ai chứ chẳng tin y được.

Y thừa biết thế, cũng chẳng có vẻ tin mình.

Chúng tôi chỉ nhìn nhau cười, cười đến khi nước mắt tôi ướt gối.

Thứ sót lại trong ký ức của tôi về đêm đó, ngoài những lời hứa hẹn đầy tuyệt vọng chỉ có một màu xám xịt tang thương.

Hoàng cung Phú Xuân im lìm, sự sống tựa hồ chôn sâu dưới tro tàn, biết đâu chừng ngày mai sẽ rã rượi, tan hoang theo dấu chân những toán lính công thành và quân Tây Sơn rời thành thủ mạng.

Dù đã trù sẵn kết cục, những thứ ập đến sau tháng năm năm Bảo Hưng nguyên niên vẫn khiến tất thảy trong tôi như nắng Phú Xuân sau trận mưa rào, rơi giòn trên mái ngói lưu ly, vỡ tan hay vẹn lành cũng mông lung như ảo mộng.

*

* *

Tôi vươn vai, đưa tay xoa bả vai đã mỏi, đánh mắt ra vạt nắng ngoài sân.

Giờ này hẳn đã quá ngọ rồi, cả viện Thuận Huy im ắng, chỉ nghe sợi gió thu sượt qua khe hoa văn trên cửa sổ.

Tiếng con trẻ không còn vẳng bên tai, người tôi hốt nhiên buồn buồn, chán ngắt.

Ngóng con mãi tôi mới sực nhớ, bèn hỏi Dung:

- Ba đứa ngủ cả rồi à?

- Dạ bẩm, vâng ạ.

- Dung phe phẩy quạt cho tôi, hàm răng đen nhánh thấp thoáng sau cái cười mỉm - Giờ đã qua đầu giờ mùi rồi, bà nghỉ tay để em hầu bà nghỉ trưa.

Tôi không vội đáp lời Dung, chỉ mân mê món đồ trên tay.

Ngọc Ngôn vòi tôi khâu túi tiền cho con bé, Ngọc Khuê thấy thế cũng làm nũng xin xỏ.

Mang thai nhàn hạ đến chán, tôi bèn khâu cho chúng mỗi đứa một chiếc, chẳng biết vì sao càng khâu càng nhiều, quên cả giờ giấc.

Vừa túi tiền, vừa khăn tay và túi hương, tôi khâu như thể làm của để dành cho con dù những thứ đấy đều có kẻ dưới lo liệu.

Cũng bởi giờ đây, tôi mơ hồ nhận ra mình chẳng còn bao nhiêu thời gian ở bên cạnh con.

Nếu không thể chăm chúng tới mai sau, tôi muốn nhân lúc chưa yếu quá làm sẵn thứ gì cho con mình.

Thực tâm tôi không nề hà con trẻ chê những món đấy xấu hơn đồ của thợ thêu may.

Chúng có thể gọi đấy là quà hoặc có thể kể như di vật từ người mẹ vắn số, miễn sao chúng nhận lấy, đặt đâu đó gần nơi mình sống để tôi được bên con cả đời.

Vốn tự nhủ lòng không nên xót xa sớm, tôi vẫn ủ rũ thất thần, không tài nào thêu nốt cánh xoan dang dở.

Tôi chán chường đặt cả xuống, theo thói quen tựa lưng lên gối xếp.

Một tay tôi nhẹ nhàng vuốt ve bụng, thầm nghĩ việc cuối cùng mình phải làm sau khi vượt cạn là gửi gắm chúng cho một người đáng tin, cậy người ta trông nom đến lớn.

Có điều, chắc gì tôi đã đợi được đến ngày con chào đời?

Và không có thân mẫu cận kề, chắc gì con tôi an khang đến ngày trưởng thành.

- Ngủ thôi, bà ạ.

Khi tôi đương sầu não, Dung đứng cạnh sập chắn hướng ánh sáng, nài nỉ tôi nên nghỉ trưa.

Tôi gật đầu.

Ngủ một giấc và mơ thấy những điều tốt đẹp, biết đâu chừng tôi không còn quá bi quan hay thiếu sức sống.

Buổi trưa hôm ấy tôi chập chờn trong vài lần mộng mị.

Mùi mưa đầu thu hóa thành mùi của nước mắt, vị mặn đắng in hằn nơi chót lưỡi.

Mái ngói mờ rêu không biết của viện Thuận Huy hay Thăng Long ngày xưa bốc cháy ngùn ngụt, mà thứ châm ngòi chỉ là một vạt nắng gắt giòn của đất Phú Xuân.

Bóng người ẩn hiện chốn khói lửa mịt mù, một bàn tay đưa ra, rồi cả vòng tay ôm lấy tôi âu yếm, vỗ về.

Ngẩng đầu, ngắm hoa gạo đỏ đến mải mê, một góc trời đượm mùi Thăng Long tôi hằng mong nhớ, và nắng tháng ba thuở thịnh Đường dịu dàng đậu trong đôi mắt có ánh nhìn xa xăm.

_____

Chú thích

[1] Yên hoa tam nguyệt: Lấy từ câu thơ "Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu" của Lý Bạch trong bài Hoàng Hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng.

Mình chú ý và sử dụng ý thơ này khi đọc "Tháng ba" trong tập thơ "Tấm" của tam.

Cảm ơn bạn nhiều lắm! ^-^

Nguồn tư liệu

Phần này có nhắc đến một số mốc thời gian và các chi tiết về nếp sống trong Tử Cấm thành Huế, mình tham khảo ở Wikipedia và đối chiếu với các nguồn:

- Việt Nam Sử Lược (Trần Trọng Kim).

- Sử ta chuyện xưa kể lại (quyển 3 & 4).

- Đời sống cung đình triều Nguyễn (Tôn Thất Bình).
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Bói Cá
3.


Trời chuyển sang thu, mưa nhiều dần, nắng vẫn chưa bận nào thôi gay gắt.

Tôi bắt đầu nhớ da diết cái se lạnh xứ bắc mỗi độ thu về, và càng nhớ lại càng nhạt lòng với tiết trời Phú Xuân.

Dường như chưa bao giờ tôi muốn gắn bó với Phú Xuân dù Phú Xuân có Ngọc Ngôn, Ngọc Khuê và Quân, hay thậm chí là hồi Phú Xuân có Quang Toản.

Huống hồ Quang Toản giờ đây chỉ còn lại một nắm xương tàn và chính tôi còn chẳng có quyền nhận y làm chồng mình.

Tôi không giống mẹ.

Với mẹ, phụ hoàng là chồng; còn với tôi, Quang Toản hay Ngài Ngự đều là quân.

Đạo quân thần khác nghĩa phu thê, càng khác với phúc phần tri kỷ.

Sau cuộc binh đao, sơn hà đổi chủ, có quá nhiều thứ khiến tôi không thể cố chấp xem y là người đàn ông duy nhất trong đời mình.

Người khiến y vong mạng và người tước quyền ấy từ tôi không ai khác ngoài Ngài Ngự.

Buồn cười là tôi không hận ngài, chỉ thấy mình càng lúc càng uể oải và cuộc đời như dài ra những thời khắc vô nghĩa.

Trong mắt người xung quanh, kẻ như tôi được tha sống, lại còn trở thành Chiêu viên của ngài hẳn đã là ân huệ.

Tôi biết thế nên chẳng khát cầu gì hơn, cũng từng ngỏ ý xin ngài để mình được chay tịnh đến già.

Trớ trêu là ngài không bằng lòng, còn sau cùng tôi lại xuôi thuận, sinh cho ngài những ba đứa con.

Dung là người của Lê triều, theo tôi đến Phú Xuân lúc tôi gả cho Quang Toản.

Vẻ như chẳng tìm được ai tốt hơn y, sau cái đêm tôi hầu thánh giá, Dung dập đầu hỏi rốt cuộc tôi đặt Quang Toản ở nơi nào trong lòng.

Tôi cười buồn.

Nơi của Quang Toản vốn không ở trong lòng.

Y với tôi là một tín ngưỡng, một chỗ dựa, cũng là người nhiều lần khiến tôi cảm nhận cái chết bủa vây.

Tôi biết thế nhưng không trả lời, chỉ im lặng kẻ mày tô son, chuẩn bị sang cung Khôn Nguyên thăm hỏi Hoàng hậu theo lễ.

Hoàng hậu hôm ấy lại cho tôi một câu hỏi nữa, rằng tôi có biết vì sao Ngài Ngự giữ tôi ở lại không.

Tôi vẫn quỳ, rũ mắt mà thưa:

- Bẩm bà, em không dám tự tiện đoán ý bề trên.

- Em không hay thật hay chỉ vờ thôi?

Hoàng hậu cười nâng tôi dậy, bảo thị nữ dâng một chiếc trâm ngọc rồi tự tay cài lên tóc cho tôi.

Tôi vẫn điềm nhiên cho đến khi bà nhìn tôi, thở dài nói khẽ:

- Ngài Ngự rất mến em.

Chữ "mến" đó bao hàm những gì, đến tận bây giờ tôi vẫn chưa rõ.

Tôi ngày ấy không hỏi lại Hoàng hậu, chỉ đánh cược khi lướt nhìn đôi mắt bà một lần.

Chỉ một lần mà tôi bắt được trong đó vô số điều ý.

Có xót thương, có đồng cảm, cũng có vẻ khó xử và muộn phiền.

Hoàng hậu quá trưởng thành để còn bày ra vẻ hờn ghen, nhưng tôi chắc mười mươi trong lòng rằng bà thừa hiểu, rằng việc giữ tôi lại chỉ như một cái cớ thuận lòng dân chúng.

Người của lưỡng triều như tôi, dẫu chỉ phận đàn bà thôi đã thuận xuôi theo Ngài Ngự rồi, thế thì người bên ngoài còn gì mà luyến tiếc nhớ mong triều đại cũ.

Mạng sống của tôi, phẩm trật Chiêu viên của tôi là lòng nhân ái quá tay của Ngài Ngự, còn cái tên Lê Ngọc Bình mãi gắn với đôi câu thơ chẳng biết là thương xót hay trách chê, khinh thị.

Những kẻ quen xếp đặt vận mệnh, nào ai quản làm chi.

*

* *

Tính luôn Dung, tôi được tất thảy ba cung tì hầu hạ.

Dạo này tôi vẫn hay gọi bọn họ lại dặn dò chuyện ba đứa trẻ, về sở thích, thói quen và tính nết chúng, mong một ngày tôi có mệnh hệ bọn họ có thể trông chúng lớn khôn.

Nhưng dẫu sao con vẫn là con mình, không phải con người, đêm đêm tôi đều cầu trời, rằng tôi bây giờ không muốn về Thăng Long hái sen câu cá, sưởi than ngày đông nữa, chỉ xin được ở lại Phú Xuân với con.

Cuối tháng chín, nắng đã chịu dịu đi một ít.

Bụng tôi to lắm rồi, áo cũng đã may mới từ lâu.

Mấy hôm tiết trời dễ chịu, tôi bế Quân ngồi ở võng mắc ngoài sân.

Thằng bé một tuổi mút ngón tay, mở to đôi mắt đen láy nghe tôi hát ru.

Giọng tôi hát khác hẳn với giọng của cung tì, nữ quan ở đây, cái vị xứ bắc thấm đẫm trong từng chữ từng âm khiến sống mũi tôi cay xót.

Lúc tôi nghẹn ngào che miệng, Quân vừa hay bắt đầu say ngủ.

Sân viện chỉ còn lại tiếng võng kẽo kẹt đưa, tiếng chổi chan chát vẳng từ ngoài vào và tiếng hít thở đều đều của con, mang theo hương sữa thơm tho, ấm áp.

Trong cả ba Quân là đứa giống tôi nhiều nhất, mặt mày tuy non nớt nhưng đã có những nét hao hao mẹ.

Nó cũng ưa theo tôi nhiều hơn Ngọc Ngôn và Ngọc Khuê mấy năm trước, khiến tôi không lúc nào muốn thằng bé rời khỏi mình.

Ngẫm lại, nếu thật có sự bất trắc, rõ ràng là tôi lìa bỏ chúng, nào phải chúng rời xa tôi.

Tôi không từng làm vợ, cũng chẳng giỏi làm phi, giờ đây lại sắp không vẹn tròn cả việc làm mẹ...

Tôi ngước mắt.

Trời thu nơi Tử Cấm thành qua màn lệ càng trong vắt, màu hi vọng nhuộm cả đất nâu mà hơi thở biệt li trong lòng không cách nào tan đi hết.

*

* *

Càng gần mùa đông, cái nắng đất Phú Xuân càng đỡ gắt, chỉ có mưa dùng dằng mãi không vơi.

Tôi đỡ nôn nghén dần, khẩu vị cũng tốt lên, thỉnh thoảng buồn chân còn bảo Dung đỡ đi dạo loanh quanh.

Một sáng giúp tôi chải chuốt, Dung vui mừng nói tôi hồng hào lên rồi.

Tôi ngó vào gương, thoáng ngạc nhiên bởi gò má xương xương hôm nào giờ đã lên da lên thịt.

Người trong gương tuy không phải tôi xưa nhưng khóe môi luôn nhẹ cong, đuôi mắt cũng thôi vương nỗi niềm u uẩn.

Có lẽ những âu sầu độ trước chỉ là lo lắng nhất thời bộc phát vì thời tiết gắt gỏng.

Đợi khi gió mây hài hòa dễ chịu, tâm tình tôi đột nhiên nhẹ bẫng lên.

Kỳ thực không phải tôi vô lo vô nghĩ, mà đang cố không đoái đến những ưu tư hôm nào.

Mẹ từng bảo với tôi con người thể như chim bói cá, tương lai là bóng cá đáy ao, và không phải khi nào chim cũng bắt được cá.

Những điều chưa xảy đến thường làm lu mờ và quỵ lụy tâm trí.

Người ta không thể không tính toán, cũng không thể mải mê hàm hồ mà lãng phí thời gian.

Mẹ bảo, bói cá có thể không ăn cá mà sống.

Nhưng kết cục của những con chim mãi mãi bắt chẳng được cá dưới ao đó, mẹ lại chưa từng kể với tôi.

Trước ngày tôi chuyển dạ, Ngài Ngự lần nữa đến viện Thuận Huy.

Trời dù đã cuối thu nhưng vẫn còn oi bức.

Quân chơi đùa rồi ngủ ở buồng trong, tôi để Dung ở lại trông thằng bé còn mình ngồi ở võng ngoài hiên ăn chút mứt mơ.

Mứt mơ này là dạo trước Ngài Ngự sai người ra tận Bắc Thành mua mang về.

Chẳng rõ vì sao ngài biết tôi thèm mấy món ở quê cũ, còn đột nhiên ban cho mứt như đúng ý nguyện.

Hậu phi cũng như mọi khi, không ai tìm đến tôi vì chút thánh ân mọn mằn, hiếm có ấy.

Tôi biết ơn ngài, cũng biết ơn hậu phi của ngài, chỉ đến thế, không nghĩ gì thêm để rước nhọc.

Ngài Ngự đến giữa lúc tôi đang ăn những mẩu mứt cuối cùng.

Thường thường ngài chỉ rỗi đôi chút vào buổi trưa, khi giờ mùi sắp qua hoặc bận bịu mãi đến canh ba, canh tư mới về hậu cung nghỉ ngơi một lát.

Thế mà hôm ấy thánh giá ghé nơi tôi vào giữa giờ mùi.

Ngài miễn lễ cho tôi, nhìn đĩa mứt cười cười rồi rảo bước vào trong ngồi ở trường kỷ.

Vừa đón lấy miếng trầu tôi dâng, ngài vừa hỏi:

- Khanh đã ăn hết chưa?

Dù mấy ngày này tôi ăn rất dè sẻn, chỗ mứt vẫn nhanh chóng hết nhẵn.

Tôi thực bụng đáp:

- Tâu ngài, sắp hết rồi ạ.

- Nghe bảo khanh nhớ quà ngoài Bắc Thành, mà hình như lâu rồi khanh không về đấy.

- ngài chợt dừng, mắt nhìn mông lung - Bao lâu rồi nhỉ?

Lòng tôi run lên, gờn gợn nhưng ngoài mặt vẫn hết mực cung kính:

- Tâu, thần thiếp đã mười lăm năm lẻ chưa về.

- Khanh có muốn về đó không?

Giọng nói ân cần, nhỏ nhẹ của ngài ướm lên sáu chữ ấy khiến tôi ngạc nhiên không thôi.

Cái quãng lặng người đi vì bất ngờ ấy không kéo dài, hỗn âm xung quanh được thể dừng lại, đột ngột câm bặt.

Im lặng đổ dồn làm không khí cuối thu đặc quánh lại.

Tôi bần thần đặt tay lên bụng, không nghĩ về việc Ngài Ngự vừa khơi, chỉ tự hỏi ra Bắc Thành, về Thăng Long là khi mình đã chết hay còn sống.

Hay ngài chỉ hỏi thế, để rồi dẫu xương mục xác tàn tôi cũng không thể đặt chân về nơi ấy nữa?

Phú Xuân bao rộng, một nấm mồ mất bao nhiêu đất?

Dù sao cũng chẳng được về, tôi gục mặt, lắc đầu:

- Không ạ.

"Hửm" một tiếng, Ngài Ngự có vẻ bất ngờ trước đáp án của tôi.

Ngài hỏi "Vì sao?", tôi lựa lời xuôi tai mà thưa:

- Thần thiếp may mắn được sống ở Thăng Long mười năm cùng mẹ, vậy là đủ rồi ạ.

- Không giống nhỉ?

- Ngài Ngự cười, ánh nhìn thoảng qua nét mịt mờ, hoài niệm - Thôi tùy khanh vậy.

Không biết vì sao ngày ấy, nhìn bóng hoàng bào ngồi trên võng rời đi, đô thành Thăng Long luôn đượm mùi xa cũ trong tôi dần sụp đổ.

Nơi tàn tích không có cung điện Phú Xuân hay Tử Cấm thành, chỉ có bóng hoàng hôn dâng thành dòng lặng lẽ trôi.

Mà đời tôi, soi dưới đó.

Sáng sớm hôm sau, tôi chuyển dạ.

Tôi sinh không dễ nhưng chưa đến nỗi quá khó, ba lần sinh trước dạy tôi chú ý nhiều đến hơi thở và việc giữ sức.

Thế nhưng lần này dù cố thế nào đứa bé cũng không chịu ra, tôi ngất đi giữa chừng vì hụt sức.

Bà đỡ ấn vào nhân trung giúp tôi tỉnh lại, vật vã hai canh giờ mới xem như vượt cạn xong.

Trước khi tận mắt nhìn đứa con vừa sinh, tôi lại chìm vào cơn mê man.

Vừa tỉnh dậy đã thấy Dung kề cạnh, lệ ướt nhòe.

Trong gian phòng nhỏ hẹp đã bắt đầu vương hơi se chỉ có tiếng thút thít của Dung, còn con tôi lại chẳng thấy bóng.

Tôi chưa nghe tiếng khóc của nó, cũng chưa thấy mặt nó.

Tim như ngừng đập, tôi chỉ biết cuống lên, quờ quạng tay hỏi tung tích con mình.

- Thưa bà, là hoàng tử.

- Dung cầm nước mắt, giữ tay tôi lại - Nhũ mẫu và cung tì đang chăm ngài ấy ngủ, lát nữa sẽ bế vào.

Bà hôn mê hai ngày rồi, nghỉ ngơi cho lại sức đi ạ.

Hóa ra sinh thằng bé xong tôi hôn mê những hai ngày!

Thử gượng mình ngồi dậy, tôi thẫn thờ phát hiện mình chẳng còn chút sức, lồng ngực nóng ran, cả người không nơi nào không ê ẩm và nhơ nhớp."

Như thế cũng đã tốt lắm rồi", tôi nhìn mành che đang buông mà tự nhủ.

Còn Dung, Dung vẫn khóc.

Tiếng em nức nở khiến tôi không yên lòng được nhưng cũng chẳng thể làm gì hơn, chỉ biết lơi dần trong cơn đau rồi thiếp đi lần nữa.

*

* *

Thái y nói sức khỏe tôi rất kém, cần bồi bổ nhiều.

Tôi cũng biết vậy sau mấy ngày gần như không nhấc nổi cánh tay, và xem chừng sự còn ngày càng tệ.

Tôi cứ mê man đến mê man đi, chẳng nhìn con được bao nhiêu lần.

Không ai tiện đến nơi tôi vào những ngày này.

Nghe Dung bảo lại, Ngài Ngự đã ban tên cho thằng bé rồi, gọi là Cự.

Tôi ngẫm một lúc, không rõ ý tứ ngài đằng sau cái tên là gì.

Chữ "Cự" ấy có nghĩa là khoảng thời gian này, trong khi độ ấy có điều chi để nhớ, để níu giữ mà phải gọi như thế?

Suy đi ngẫm lại, tôi nhận ra không bao nhiêu người lấy "Cự" làm tên cho con.

Có lẽ ngài chỉ mong thằng bé đặc biệt đôi chút, ở cái tầm không quá nổi trội cũng chẳng đến mức không ai đoái hoài.

Bốn hôm sau khi sinh tôi cuối cùng cũng gượng dậy được.

Một ngày chớm lạnh, Hoàng hậu đích thân đến viện Thuận Huy thăm tôi.

Cách một bức sáo mành, tôi vừa bất ngờ vừa hoài nghi dán mắt vào bóng người đàn bà bên ngoài.

Tóc mai bà từ đen đã đổ trắng, giọng nói nhỏ nhẹ, tiếng cười vẫn hiền hậu và khoan dung.

Suốt buổi bà không nói vì sao đến đây, tôi cũng chẳng dám xem việc này là đặc ân mà quá phận cất tiếng hỏi.

Chỉ đến khi lời đã cạn bà mới sựng lại, gọi tôi:

- Chiêu viên Lê thị này...

- Vâng ạ?

- Em biết vì sao năm đó Ngài Ngự đưa em vào hậu cung của ngài không?

Đưa vào bất chấp cả lời can ngăn của bá quan văn võ...

- bà hơi chậm lại, che miệng cười - Và cả lời cầu xin của ta nữa.

Tôi nheo mắt, không muốn đào bới lại ký ức về ngày mưa ướt đẫm Phú Xuân ấy, vừa định cất tiếng thoái thác Hoàng hậu đã tự mình tiếp lời:

- Giữ lại em không phải điều hay, bởi em là người của Tây Sơn; lại cũng là việc sáng suốt vì em mang dòng máu Lê triều.

Nhưng nếu hành hình em cùng với những kẻ kia, ta cam đoan không ai lên tiếng phản bác.

"Những kẻ kia" là ai, tôi biết hết thảy.

Những quan quân trung liệt đó tôi ít nhiều đều gặp một lần.

Còn Quang Toản, phần ký ức nhuốm màu bụi tro thi thoảng lại nhen lửa ấy là vết cắt đẹp đẽ nhất tôi từng có, buồn cười thay lại không hẳn là đau thương.

Bấy nhiêu người của tiền triều, từng người từng người một giờ đều ngủ yên trong tận cùng dĩ vãng được tôi chôn giấu.

Dẫu có đào lên và ngắm lại, hết thảy cũng hóa bướm mà thôi.

Hồi ức sáng rõ một thời giờ đã nhạt nhòa lắm rồi, cũng như cái tên Lê Ngọc Bình đã chìm sâu dưới đáy dòng chảy vận mệnh kể từ khi tôi được ban phẩm vị Chiêu viên.

Chúng tôi, không ai nghĩ đến chuyện quên, và cũng chẳng một ai còn nhớ.

- Nhưng ngài giữ em lại.

- tiếng Hoàng hậu lần nữa vang lên bẻ gãy suy nghĩ mông lung của tôi.

Bà tần ngần hồi lâu mới lại nói - Ừ, thật sự là "giữ".

Em biết vì sao rốt cục ta cũng ưng thuận không?

Vì ngài bảo em giống ngài thuở nhỏ, một thân một mình ở đất Phú Xuân, bị giặc dồn đến đường cung.

Trong khi xưa kia ngài luôn cố trốn chạy khỏi truy kích, còn em ngày ấy, theo lời ngài kể chỉ có vẻ cam chịu, dẫu có chết cũng không oán hờn.

Ngài nói với ta rằng ngài chỉ đang cứu vớt hình bóng mình trong quá khứ.

Kể như ta hiểu rồi, nhưng em biết sao không?

Hoàng hậu thôi không nói nữa.

Tôi nhác thấy bà dõi mắt ra chút nắng đậu ngoài bậu cửa, thở dài.

Sự lặng yên đột ngột làm tôi bất an đến nghẹn lòng, đành thử lên tiếng:

- Vâng, nhưng như thế nào ạ?

- Ta biết ngài mến em.

Cũng như lần đầu, câu từ của Hoàng hậu chỉ dừng lại ở chữ "mến", không đi xa hơn.

Tôi bắt đầu hoài nghi về cuộc gặp gỡ hôm nay và những gì bà nói, không thể tiếp tục xem như mây trôi gió thoảng.

Mến của ngài là gì?

Liệu chăng như tôi với Quang Toản ngày đó, thậm chí là cả bây giờ, có nhiều thứ vượt ngưỡng "cộng chẩm" nhưng lại chẳng thể chạm đến "phu thê"?

- Vì sao lệnh bà lại nói với em những lời này?

- Vì hôm trước Ngài Ngự kể với ta em không muốn về Thăng Long.

Em không giống ngài ngày xưa.

Ừ thì không giống thật, nhưng cái ý bảo vệ của ngài dành cho em sớm hằn sâu rồi.

Ta chỉ muốn để em biết chuyện khi thấy em xứng đáng mà thôi.

Em đã vén lại thân phận công chúa nhà Lê và Hoàng hậu của vua Cảnh Thịnh để sinh cho ngài bốn đứa con, ta còn oán hờn chi nữa.

Vả lại nếu ta không nói, chắc gì Ngài Ngự sẽ tỏ lòng với người mình mến kia?

Là vợ chồng với ngài, ta không muốn thấy ngài hối tiếc.

Câu cuối cùng hoàng hậu nói với tôi trước khi rời đi trong cái nắng đầu tháng mười đó cũng dài và khó hiểu, nhẹ nhàng nhưng chua xót.

Bà lần đầu gọi thẳng tên tôi, vén bức mành nhìn tôi cười yếu ớt.

"Cảm tình Ngài Ngự dành cho em là gì thật ra chính ta cũng không rõ.

Còn với ta, ta chỉ xem em như đứa trẻ không lớn của Ngài Ngự thôi.

Em đừng lo lắng."

Tiết trời Phú Xuân hôm đó đột ngột hiện rõ dáng hình xù xì của mình.

Nó lởm chởm những gai làm bàn tay tôi đang níu lấy phải chịu cảnh xây xát, ứa máu.

Nó cũng có vị: vị mặn đắng khiến mắt người ta mơ hồ.

Lời Hoàng hậu thực ra không quá khó hiểu, chỉ do tôi trước nay cố chấp không chịu hiểu mà thôi.

Nhưng biết làm sao được, tôi đã không để cho bản thân một chốn quay đầu.

May mắn thay, đến bây giờ tôi vẫn chưa từng hối hận.

Bói cá lao xuống mặt nước chỉ vì một chiếc bóng bé xíu, có khi bắt được cá, cũng có khi hụt hẫng bay đi.

Dù trong mắt kẻ ngoài cuộc là dại dột theo đuổi cuộc mộng xa vời nhưng với nó, chí ít là trong khoảnh khắc nọ, tất cả đều đáng giá.

Huống hồ hai mươi lăm năm cuộc đời của tôi quá không quá dài, chỉ đủ chỗ cho hồi ức Thăng Long, cho Phú Xuân ngày xưa và cả bóng hình Quang Toản.

Thứ con người yêu lấy, họa chăng chỉ là chấp niệm mà thôi.

*

* *

Tôi biết mình không đợi được Phú Xuân lần nữa vào mùa "yên hoa tam nguyệt".

Viện Thuận Huy những ngày này vẫn rất quạnh quẽ, bên tai tôi chỉ còn tiếng than trong chậu lép bép nổ và tiếng thở rất đều của Dung khi em thiếp đi bên giường tôi.

Hết mở mắt rồi khép mắt, tôi nhìn mành hoa phất phơ bay trong thinh lặng.

Năm đó cũng mùa đông, trong từng đợt gió se thốc thổi tôi lén lút đốt vàng mã, tự mình tiễn đưa Quang Toản.

Nếu y là người ra đi sau, chẳng biết y có tiễn tôi như kia?

Y sẽ vượt qua năm rộng tháng dài thế nào và vào khắc cuối cùng của sinh mệnh, liệu có nhớ đến nguyên phối là tôi?

Còn tôi, tôi rất muốn nhớ ai khác ngoài y, đáng tiếc là không được.

Như việc tôi không luyến tiếc Phú Xuân, chỉ không đành quên những sớm tháng ba nắng rơi êm trên mái ngói lưu ly, dòng Hương giang bao quanh điện xưa, lặng lẽ rầm rì.

Tôi không yêu Quang Toản, nhưng đời này lại không cách nào buông bỏ được vòng tay đã nâng niu tôi qua những tháng ngày tình nghĩa nhạt nhòa và xa xỉ ấy.

Sau tất thảy, báo ứng vẫn đến.

Tôi không nhớ gì ngoài tiếng mưa những đêm mình rúc lại, say sưa trong vòng tay Quang Toản nữa.

Dáng dấp và gương mặt y chỉ còn lại những mảng màu nhòe nhoẹt, mơ hồ.

Hóa ra lãng quên không đáng sợ như tôi tưởng, bởi có thứ còn đáng sợ hơn nữa.

Trong một khắc, tôi bất lực gom góp hồi ức đã ướt mèm, rã nát dưới dòng thời gian chảy xiết, lại không biết mình lãng quên bao nhiêu và những gì.

Hai mươi lăm năm của tôi không như đèn kéo quân, tháng ngày không lũ lượt kéo qua trước mặt.

Lần cuối cùng nhắm mắt, thứ vấn vương mãi trong ý thức là những chiếc bóng rất cũ.

Nơi đó không phải Thăng Long hay Phú Xuân, nhưng ánh thiều quang dịu dàng đã cho tôi hay, rằng tôi không hề đến nhầm chỗ.

Cuối cùng vận mệnh cũng ưng thuận, trả tôi về với chấp niệm của tôi.

HẾT

Cần Thơ,

01.04.2020.

Lê Bình Chi.
 
[Cảm Hứng Lịch Sử] Bói Cá
Tản Mạn


^-^ Chào mọi người!

Hiện giờ không ai đọc đến đây, nếu sau này có cho mình gửi lời cảm ơn nhé, vì truyện này, thật sự mà nói thì hơi tệ.

Nguyên nhân có thể do mình chuyển sang kể theo ngôi thứ nhất, cụ thể sẽ nói sau nha!

Trước hết, cho mình xin đề cử một bài nhạc để nghe kèm khi đọc (nói ở đây hơi muộn nhỉ?): Cố mộng của Song Sênh.

Chỉ của Song Sênh thôi mới khiến mình cảm nhận hết những gì mình cố lắm cũng không truyền tải được trong truyện ấy.

Nhân vật trong truyện có lẽ cũng khá rõ rồi, nhưng ở đây mình sơ lược lại một chút:

- Lê Ngọc Bình (tôi): con gái út của vua Lê Hiển Tông, mẹ là chiêu nghi Nguyễn Thị Điều, sau nhờ chị gái là Lê Ngọc Hân (Bắc Cung hoàng hậu của vua Quang Trung, trở thành thái hậu sau khi vua băng hà) làm mai gả cho Nguyễn Quang Toản, tức vua Cảnh Thịnh.

Năm 1801, trong cuộc chiến với Nguyễn vương Nguyễn Ánh, vua Cảnh Thịnh chạy ra Bắc Hà để lại Lê Ngọc Bình ở Phú Xuân (sử không nêu nguyên do); Nguyễn Ánh ban phẩm trật chiêu viên mặc bá quan văn võ đều ngăn cản.

Sau này khi mất bà được truy tặng Cung thận Đức phi.

- Nguyễn Quang Toản: vua Cảnh Thịnh, mất năm 1802 (19 tuổi) trong cuộc thanh trừng, cũng là trả thù triều đại Tây Sơn sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi vua.

- Vua Gia Long và Thừa Thiên Cao hoàng hậu Tống Phúc Thị Lan: vua Gia Long không kể thì ai cũng biết rồi, bảo mình tóm lược lại chẳng biết bắt đầu từ đâu, thôi thì tiểu sử ông với hoàng hậu của ông mọi người tìm đọc trên Wikipedia giúp mình nha! ;~;

Tên truyện được mình lấy ý từ các bài hát "Khúc thụy du" (thơ: Nguyên Sa - Nhạc: Anh Bằng): "như loài chim bói cá trên cọc nhọn trăm năm/ Tôi tìm đời đánh mất trong vũng nước cuộc đời".

Bói cá lao xuống nước bắt cá mà không rõ đó là cá thật hay chỉ là chiếc bóng, nhưng nó vẫn bắt vì đó là cái ăn, phải ăn để mà sống.

Nghệ thuật hóa lên, hình ảnh con chim trở thành những người theo đuổi cuộc đời không biết là thực hay ảo, và đời cũng chỉ như mộng thôi.

Với mình, đó là chấp niệm của kẻ sống trong mơ hồ, như mình vậy.

Thậm chí có lúc phải gặm nhấm quá khứ, phải khư khư giữ lấy chuyện đã qua người nọ mới còn cảm giác tồn tại, dù chuyện đó xa xôi lắm rồi, không níu giữ, sửa đổi gì được cả.

Cá nhân mình không thấy truyện có nét gì mới hay nổi bật, nhưng toàn bộ, từ cái tên cho đến cách Ngọc Bình kể lại những tháng ngày cuối đời đong đầy hoài niệm đó, đều phảng phất hình bóng bản thân.

Nhiều người chắc sẽ hiểu mình là người ưa hoài niệm, nhìn nhiều về quá khứ hay thậm chí là chấp mê bất ngộ.

Ngọc Bình cũng vậy, dù quá khứ đó thật ra không có tình yêu, không có thấu cảm như tri kỉ, chỉ có hai đứa trẻ từng dắt díu nhau qua một quãng ngắn cuộc đời.

Giữa Ngọc Bình và Quang Toản không phải là tình yêu hay tình thân, thậm chí nhiều tị hiềm và nghi kị vì thân phận của ai cũng cá biệt, vị trí của ai cũng nhạy cảm.

Nhưng Ngọc Bình không nhớ nhiều những điều không vui, hồi ức đeo đẳng suốt tám năm sau khi Quang Toản mất đó chỉ toàn những điều đẹp đẽ với nàng.

Không ai buộc Ngọc Bình phải quên, nhưng chắc hẳn người ta nghĩ nàng nên buông bỏ quá khứ.

Vào tay mình, nàng Ngọc Bình lại cứng đầu với chấp niệm, đến nỗi khá mù quáng, chỉ muốn đắm chìm trong quá khứ và mặc kệ hiện tại.

Mình không nghĩ hậu phi vua Gia Long sẽ không gây khó dễ gì cho nàng, mà có thể có nhưng ít vì thân phận nàng khá đặc biệt.

Mình chọn không nói đến những âm mưu đó phần vì truyện được kể qua cái nhìn của Ngọc Bình, nàng hờ hững với hiện tại; phần vì mình thiệt tình rất ngu cung đấu =,= Cái nào khó quá cho qua vậy!

Quan trọng là, Ngọc Bình hài lòng với chấp niệm của chính nàng, đến giây phút cuối cùng cũng không hối hận.

Đó cũng là điều mình mong mỏi ở bản thân.

Có làm có chịu, không hối tiếc gì nữa!

Thật ra, nhân vật này mình khắc họa thiếu nhiều lắm, về cái tình của nàng dành cho Thăng Long và người mẹ quá cố, tình cảm với Dung và đặc biệt là tình mẫu tử với bốn đứa con thơ.

Đó là điều thiếu sót, chẳng biết làm gì hơn ngoài cái cúi đầu xin lỗi mọi người.

Thời kỳ Tây Sơn - Nguyễn này trong giới đọc và nghiên cứu sử thực rất nhạy cảm.

Mình chọn viết không phải vì làm màu (bản thân mình ngán cùng ngán cực những thứ liên quan đến triều Nguyễn trừ chuyện Huệ - Ánh), dấn thân vào cái khó gì mà vì mình thích Ngọc Bình.

Nói thích cũng không hẳn là đúng, mà gần như là chấp niệm í.

Mình muốn viết về nàng từ lúc mới viết nhăng cuội rồi, ban đầu rất thương xót, cuối cùng viết lại cảm thấy nhẹ nhõm.

Có lẽ do Ngọc Bình khác Dương hậu thời Đinh - Tiền Lê, cái phận và quyết định của nàng không gắn với non sông nên dù làm cung phi của cả hai triều, nàng vẫn bình lặng hơn Dương hậu một ít.

Đó là may mắn của Ngọc Binh, cũng là may mắn của mình vậy.

Nói một chút về vua Gia Long trong "Bói cá".

Lúc đọc sử, so với Quang Trung mình quả thực có phần thích Gia Long hơn, nhưng cả nhà Nguyễn và Tây Sơn mình đều không lấy gì làm thích.

Đọc lại thứ mình viết có cảm giác như mình đang tẩy trắng một phần nào đó cho vua Gia Long vậy, nhưng thật sự là không, mìng chỉ giải thích hành động ngài để Lê Ngọc Bình làm chiêu viên trong hậu cung thôi.

Ban đầu mình nghĩ do số phần can hệ sâu với cả triều Lê lẫn triều Tây Sơn của nàng, nếu nàng theo ngài thì tốt thôi, được thêm một tiếng thuận ý trời.

Bởi lẽ ở góc nhìn của người hiện đại như mình, tuổi tác hai người chênh lệch quá lớn (23 tuổi), mình không dám nghĩ giữa họ có rung động, thề, dù có thể là có thật!

Sau đó khi viết đến phần ba mình mới chợt nghĩ ra, Lê Ngọc Bình một mình ở đất Phú Xuân, không quen biết ai, không cha mẹ, người chị cùng huyết thống đã mất, chồng thì chạy ra tận Bắc Hà, 100% sẽ bị bắt và giết; hoàn cảnh có phần tương tự vua Gia Long thuở bé.

Nên có lẽ ngài giữ lại do thương cảm, nhưng có nhiều cách để tha sống, Ngọc Bình cũng chẳng thể phất cờ khởi nghĩa được mà lo.

Thế mà ngài chọn giữ lại trong hậu cung, thì phần rung động đó không phải không có.

Thật ra mình chấp nhận sự rung động đó hết sức tình cờ, vì hôm qua đọc một đoạn chị Phương Uyên viết về mối tình của Huyền Trân công chúa và vua Chiêm Thành Chế Mân, tình, thật sự rất tình luôn.

Trước kia mình cũng lấn cấn tuổi tác họ chênh nhau, nhưng đọc xong cảm thấy nếu mình cũng tin vào những rung động đó (dù là nhất thời) hẳn cũng không quá sai, không quá lạc lõng.

Một câu hỏi nữa mình tự đặt ra lúc viết là điều gì khiến Ngọc Bình chấp thuận vua Gia Long, còn sinh con cho ngài.

Nàng có nhiều cách để khước từ, thậm chí là cái chết, nhưng lịch sử đã không như vậy.

Mình cũng chẳng rõ nữa, chỉ đoán theo mạch suy nghĩ mình đặt sẵn thôi, Ngọc Bình không đủ can đảm chết và nàng thật ra chỉ cần một nơi để nương tựa là đủ, vừa hay ngài có thể cho nàng nên nàng nhận lấy.

Giữa hai người họ chắc cũng chẳng phải tình yêu đâu, dù cho ngài từng rung động vì dáng vẻ bên ngoài như sách viết.

Đây cũng là truyện đầu tiên mình viết theo ngôi thứ nhất nên truyện còn "cấn" rất nhiều chỗ luôn, thiếu sót rất nhiều, cũng khó khăn trong việc khắc họa nhân vật.

Nhưng mình mê mẩn xưng "tôi" lắm í, cũng xem đây là một thách thức, một chặng luyện viết nên dần dần mình sẽ cải thiện chứ mình hổng có bỏ nên mọi người đừng có bỏ mình nghen ;~; Có gì mọi người cứ góp ý, mình sẽ rút kinh nghiệm mà!

Viết xong truyện này phải cảm ơn một số người truyền cảm hứng cho mình, trước hết là Mingbaochan với hệ liệt "Nam quốc hậu phi" của anh (chắc anh không biết mình nói nhăng cuội gì trong này đâu =,= Cũng cầu anh đừng biết mình làm gì!); thứ hai là tam với bài thơ "Tháng ba" trong tập thơ "Tấm" của bạn, thứ ba, luôn luôn là hai chị Phương Uyên và Zinnia Reigia.

Dĩ nhiên là không ai biết mình, đến đốc thúc mình viết hay kêu mình làm này làm nọ, chỉ là mình thích họ và muốn làm gì đó xứng đáng hơn với sự ngưỡng mộ của bản thân dành cho họ thôi ^-^!!!

Đến đây là hết những lưu ý mình... nhớ về truyện =,= Khi nào nhớ thêm gì mình sẽ bổ sung sau.

Cũng vừa đủ rồi.

Cảm ơn mọi người đã đọc đến đây và chúc một ngày tốt lành!

Cần Thơ,

02.04.2020.
 
Back
Top Bottom