Trời chuyển sang thu, mưa nhiều dần, nắng vẫn chưa bận nào thôi gay gắt.
Tôi bắt đầu nhớ da diết cái se lạnh xứ bắc mỗi độ thu về, và càng nhớ lại càng nhạt lòng với tiết trời Phú Xuân.
Dường như chưa bao giờ tôi muốn gắn bó với Phú Xuân dù Phú Xuân có Ngọc Ngôn, Ngọc Khuê và Quân, hay thậm chí là hồi Phú Xuân có Quang Toản.
Huống hồ Quang Toản giờ đây chỉ còn lại một nắm xương tàn và chính tôi còn chẳng có quyền nhận y làm chồng mình.
Tôi không giống mẹ.
Với mẹ, phụ hoàng là chồng; còn với tôi, Quang Toản hay Ngài Ngự đều là quân.
Đạo quân thần khác nghĩa phu thê, càng khác với phúc phần tri kỷ.
Sau cuộc binh đao, sơn hà đổi chủ, có quá nhiều thứ khiến tôi không thể cố chấp xem y là người đàn ông duy nhất trong đời mình.
Người khiến y vong mạng và người tước quyền ấy từ tôi không ai khác ngoài Ngài Ngự.
Buồn cười là tôi không hận ngài, chỉ thấy mình càng lúc càng uể oải và cuộc đời như dài ra những thời khắc vô nghĩa.
Trong mắt người xung quanh, kẻ như tôi được tha sống, lại còn trở thành Chiêu viên của ngài hẳn đã là ân huệ.
Tôi biết thế nên chẳng khát cầu gì hơn, cũng từng ngỏ ý xin ngài để mình được chay tịnh đến già.
Trớ trêu là ngài không bằng lòng, còn sau cùng tôi lại xuôi thuận, sinh cho ngài những ba đứa con.
Dung là người của Lê triều, theo tôi đến Phú Xuân lúc tôi gả cho Quang Toản.
Vẻ như chẳng tìm được ai tốt hơn y, sau cái đêm tôi hầu thánh giá, Dung dập đầu hỏi rốt cuộc tôi đặt Quang Toản ở nơi nào trong lòng.
Tôi cười buồn.
Nơi của Quang Toản vốn không ở trong lòng.
Y với tôi là một tín ngưỡng, một chỗ dựa, cũng là người nhiều lần khiến tôi cảm nhận cái chết bủa vây.
Tôi biết thế nhưng không trả lời, chỉ im lặng kẻ mày tô son, chuẩn bị sang cung Khôn Nguyên thăm hỏi Hoàng hậu theo lễ.
Hoàng hậu hôm ấy lại cho tôi một câu hỏi nữa, rằng tôi có biết vì sao Ngài Ngự giữ tôi ở lại không.
Tôi vẫn quỳ, rũ mắt mà thưa:
- Bẩm bà, em không dám tự tiện đoán ý bề trên.
- Em không hay thật hay chỉ vờ thôi?
Hoàng hậu cười nâng tôi dậy, bảo thị nữ dâng một chiếc trâm ngọc rồi tự tay cài lên tóc cho tôi.
Tôi vẫn điềm nhiên cho đến khi bà nhìn tôi, thở dài nói khẽ:
- Ngài Ngự rất mến em.
Chữ "mến" đó bao hàm những gì, đến tận bây giờ tôi vẫn chưa rõ.
Tôi ngày ấy không hỏi lại Hoàng hậu, chỉ đánh cược khi lướt nhìn đôi mắt bà một lần.
Chỉ một lần mà tôi bắt được trong đó vô số điều ý.
Có xót thương, có đồng cảm, cũng có vẻ khó xử và muộn phiền.
Hoàng hậu quá trưởng thành để còn bày ra vẻ hờn ghen, nhưng tôi chắc mười mươi trong lòng rằng bà thừa hiểu, rằng việc giữ tôi lại chỉ như một cái cớ thuận lòng dân chúng.
Người của lưỡng triều như tôi, dẫu chỉ phận đàn bà thôi đã thuận xuôi theo Ngài Ngự rồi, thế thì người bên ngoài còn gì mà luyến tiếc nhớ mong triều đại cũ.
Mạng sống của tôi, phẩm trật Chiêu viên của tôi là lòng nhân ái quá tay của Ngài Ngự, còn cái tên Lê Ngọc Bình mãi gắn với đôi câu thơ chẳng biết là thương xót hay trách chê, khinh thị.
Những kẻ quen xếp đặt vận mệnh, nào ai quản làm chi.
*
* *
Tính luôn Dung, tôi được tất thảy ba cung tì hầu hạ.
Dạo này tôi vẫn hay gọi bọn họ lại dặn dò chuyện ba đứa trẻ, về sở thích, thói quen và tính nết chúng, mong một ngày tôi có mệnh hệ bọn họ có thể trông chúng lớn khôn.
Nhưng dẫu sao con vẫn là con mình, không phải con người, đêm đêm tôi đều cầu trời, rằng tôi bây giờ không muốn về Thăng Long hái sen câu cá, sưởi than ngày đông nữa, chỉ xin được ở lại Phú Xuân với con.
Cuối tháng chín, nắng đã chịu dịu đi một ít.
Bụng tôi to lắm rồi, áo cũng đã may mới từ lâu.
Mấy hôm tiết trời dễ chịu, tôi bế Quân ngồi ở võng mắc ngoài sân.
Thằng bé một tuổi mút ngón tay, mở to đôi mắt đen láy nghe tôi hát ru.
Giọng tôi hát khác hẳn với giọng của cung tì, nữ quan ở đây, cái vị xứ bắc thấm đẫm trong từng chữ từng âm khiến sống mũi tôi cay xót.
Lúc tôi nghẹn ngào che miệng, Quân vừa hay bắt đầu say ngủ.
Sân viện chỉ còn lại tiếng võng kẽo kẹt đưa, tiếng chổi chan chát vẳng từ ngoài vào và tiếng hít thở đều đều của con, mang theo hương sữa thơm tho, ấm áp.
Trong cả ba Quân là đứa giống tôi nhiều nhất, mặt mày tuy non nớt nhưng đã có những nét hao hao mẹ.
Nó cũng ưa theo tôi nhiều hơn Ngọc Ngôn và Ngọc Khuê mấy năm trước, khiến tôi không lúc nào muốn thằng bé rời khỏi mình.
Ngẫm lại, nếu thật có sự bất trắc, rõ ràng là tôi lìa bỏ chúng, nào phải chúng rời xa tôi.
Tôi không từng làm vợ, cũng chẳng giỏi làm phi, giờ đây lại sắp không vẹn tròn cả việc làm mẹ...
Tôi ngước mắt.
Trời thu nơi Tử Cấm thành qua màn lệ càng trong vắt, màu hi vọng nhuộm cả đất nâu mà hơi thở biệt li trong lòng không cách nào tan đi hết.
*
* *
Càng gần mùa đông, cái nắng đất Phú Xuân càng đỡ gắt, chỉ có mưa dùng dằng mãi không vơi.
Tôi đỡ nôn nghén dần, khẩu vị cũng tốt lên, thỉnh thoảng buồn chân còn bảo Dung đỡ đi dạo loanh quanh.
Một sáng giúp tôi chải chuốt, Dung vui mừng nói tôi hồng hào lên rồi.
Tôi ngó vào gương, thoáng ngạc nhiên bởi gò má xương xương hôm nào giờ đã lên da lên thịt.
Người trong gương tuy không phải tôi xưa nhưng khóe môi luôn nhẹ cong, đuôi mắt cũng thôi vương nỗi niềm u uẩn.
Có lẽ những âu sầu độ trước chỉ là lo lắng nhất thời bộc phát vì thời tiết gắt gỏng.
Đợi khi gió mây hài hòa dễ chịu, tâm tình tôi đột nhiên nhẹ bẫng lên.
Kỳ thực không phải tôi vô lo vô nghĩ, mà đang cố không đoái đến những ưu tư hôm nào.
Mẹ từng bảo với tôi con người thể như chim bói cá, tương lai là bóng cá đáy ao, và không phải khi nào chim cũng bắt được cá.
Những điều chưa xảy đến thường làm lu mờ và quỵ lụy tâm trí.
Người ta không thể không tính toán, cũng không thể mải mê hàm hồ mà lãng phí thời gian.
Mẹ bảo, bói cá có thể không ăn cá mà sống.
Nhưng kết cục của những con chim mãi mãi bắt chẳng được cá dưới ao đó, mẹ lại chưa từng kể với tôi.
Trước ngày tôi chuyển dạ, Ngài Ngự lần nữa đến viện Thuận Huy.
Trời dù đã cuối thu nhưng vẫn còn oi bức.
Quân chơi đùa rồi ngủ ở buồng trong, tôi để Dung ở lại trông thằng bé còn mình ngồi ở võng ngoài hiên ăn chút mứt mơ.
Mứt mơ này là dạo trước Ngài Ngự sai người ra tận Bắc Thành mua mang về.
Chẳng rõ vì sao ngài biết tôi thèm mấy món ở quê cũ, còn đột nhiên ban cho mứt như đúng ý nguyện.
Hậu phi cũng như mọi khi, không ai tìm đến tôi vì chút thánh ân mọn mằn, hiếm có ấy.
Tôi biết ơn ngài, cũng biết ơn hậu phi của ngài, chỉ đến thế, không nghĩ gì thêm để rước nhọc.
Ngài Ngự đến giữa lúc tôi đang ăn những mẩu mứt cuối cùng.
Thường thường ngài chỉ rỗi đôi chút vào buổi trưa, khi giờ mùi sắp qua hoặc bận bịu mãi đến canh ba, canh tư mới về hậu cung nghỉ ngơi một lát.
Thế mà hôm ấy thánh giá ghé nơi tôi vào giữa giờ mùi.
Ngài miễn lễ cho tôi, nhìn đĩa mứt cười cười rồi rảo bước vào trong ngồi ở trường kỷ.
Vừa đón lấy miếng trầu tôi dâng, ngài vừa hỏi:
- Khanh đã ăn hết chưa?
Dù mấy ngày này tôi ăn rất dè sẻn, chỗ mứt vẫn nhanh chóng hết nhẵn.
Tôi thực bụng đáp:
- Tâu ngài, sắp hết rồi ạ.
- Nghe bảo khanh nhớ quà ngoài Bắc Thành, mà hình như lâu rồi khanh không về đấy.
- ngài chợt dừng, mắt nhìn mông lung - Bao lâu rồi nhỉ?
Lòng tôi run lên, gờn gợn nhưng ngoài mặt vẫn hết mực cung kính:
- Tâu, thần thiếp đã mười lăm năm lẻ chưa về.
- Khanh có muốn về đó không?
Giọng nói ân cần, nhỏ nhẹ của ngài ướm lên sáu chữ ấy khiến tôi ngạc nhiên không thôi.
Cái quãng lặng người đi vì bất ngờ ấy không kéo dài, hỗn âm xung quanh được thể dừng lại, đột ngột câm bặt.
Im lặng đổ dồn làm không khí cuối thu đặc quánh lại.
Tôi bần thần đặt tay lên bụng, không nghĩ về việc Ngài Ngự vừa khơi, chỉ tự hỏi ra Bắc Thành, về Thăng Long là khi mình đã chết hay còn sống.
Hay ngài chỉ hỏi thế, để rồi dẫu xương mục xác tàn tôi cũng không thể đặt chân về nơi ấy nữa?
Phú Xuân bao rộng, một nấm mồ mất bao nhiêu đất?
Dù sao cũng chẳng được về, tôi gục mặt, lắc đầu:
- Không ạ.
"Hửm" một tiếng, Ngài Ngự có vẻ bất ngờ trước đáp án của tôi.
Ngài hỏi "Vì sao?", tôi lựa lời xuôi tai mà thưa:
- Thần thiếp may mắn được sống ở Thăng Long mười năm cùng mẹ, vậy là đủ rồi ạ.
- Không giống nhỉ?
- Ngài Ngự cười, ánh nhìn thoảng qua nét mịt mờ, hoài niệm - Thôi tùy khanh vậy.
Không biết vì sao ngày ấy, nhìn bóng hoàng bào ngồi trên võng rời đi, đô thành Thăng Long luôn đượm mùi xa cũ trong tôi dần sụp đổ.
Nơi tàn tích không có cung điện Phú Xuân hay Tử Cấm thành, chỉ có bóng hoàng hôn dâng thành dòng lặng lẽ trôi.
Mà đời tôi, soi dưới đó.
Sáng sớm hôm sau, tôi chuyển dạ.
Tôi sinh không dễ nhưng chưa đến nỗi quá khó, ba lần sinh trước dạy tôi chú ý nhiều đến hơi thở và việc giữ sức.
Thế nhưng lần này dù cố thế nào đứa bé cũng không chịu ra, tôi ngất đi giữa chừng vì hụt sức.
Bà đỡ ấn vào nhân trung giúp tôi tỉnh lại, vật vã hai canh giờ mới xem như vượt cạn xong.
Trước khi tận mắt nhìn đứa con vừa sinh, tôi lại chìm vào cơn mê man.
Vừa tỉnh dậy đã thấy Dung kề cạnh, lệ ướt nhòe.
Trong gian phòng nhỏ hẹp đã bắt đầu vương hơi se chỉ có tiếng thút thít của Dung, còn con tôi lại chẳng thấy bóng.
Tôi chưa nghe tiếng khóc của nó, cũng chưa thấy mặt nó.
Tim như ngừng đập, tôi chỉ biết cuống lên, quờ quạng tay hỏi tung tích con mình.
- Thưa bà, là hoàng tử.
- Dung cầm nước mắt, giữ tay tôi lại - Nhũ mẫu và cung tì đang chăm ngài ấy ngủ, lát nữa sẽ bế vào.
Bà hôn mê hai ngày rồi, nghỉ ngơi cho lại sức đi ạ.
Hóa ra sinh thằng bé xong tôi hôn mê những hai ngày!
Thử gượng mình ngồi dậy, tôi thẫn thờ phát hiện mình chẳng còn chút sức, lồng ngực nóng ran, cả người không nơi nào không ê ẩm và nhơ nhớp."
Như thế cũng đã tốt lắm rồi", tôi nhìn mành che đang buông mà tự nhủ.
Còn Dung, Dung vẫn khóc.
Tiếng em nức nở khiến tôi không yên lòng được nhưng cũng chẳng thể làm gì hơn, chỉ biết lơi dần trong cơn đau rồi thiếp đi lần nữa.
*
* *
Thái y nói sức khỏe tôi rất kém, cần bồi bổ nhiều.
Tôi cũng biết vậy sau mấy ngày gần như không nhấc nổi cánh tay, và xem chừng sự còn ngày càng tệ.
Tôi cứ mê man đến mê man đi, chẳng nhìn con được bao nhiêu lần.
Không ai tiện đến nơi tôi vào những ngày này.
Nghe Dung bảo lại, Ngài Ngự đã ban tên cho thằng bé rồi, gọi là Cự.
Tôi ngẫm một lúc, không rõ ý tứ ngài đằng sau cái tên là gì.
Chữ "Cự" ấy có nghĩa là khoảng thời gian này, trong khi độ ấy có điều chi để nhớ, để níu giữ mà phải gọi như thế?
Suy đi ngẫm lại, tôi nhận ra không bao nhiêu người lấy "Cự" làm tên cho con.
Có lẽ ngài chỉ mong thằng bé đặc biệt đôi chút, ở cái tầm không quá nổi trội cũng chẳng đến mức không ai đoái hoài.
Bốn hôm sau khi sinh tôi cuối cùng cũng gượng dậy được.
Một ngày chớm lạnh, Hoàng hậu đích thân đến viện Thuận Huy thăm tôi.
Cách một bức sáo mành, tôi vừa bất ngờ vừa hoài nghi dán mắt vào bóng người đàn bà bên ngoài.
Tóc mai bà từ đen đã đổ trắng, giọng nói nhỏ nhẹ, tiếng cười vẫn hiền hậu và khoan dung.
Suốt buổi bà không nói vì sao đến đây, tôi cũng chẳng dám xem việc này là đặc ân mà quá phận cất tiếng hỏi.
Chỉ đến khi lời đã cạn bà mới sựng lại, gọi tôi:
- Chiêu viên Lê thị này...
- Vâng ạ?
- Em biết vì sao năm đó Ngài Ngự đưa em vào hậu cung của ngài không?
Đưa vào bất chấp cả lời can ngăn của bá quan văn võ...
- bà hơi chậm lại, che miệng cười - Và cả lời cầu xin của ta nữa.
Tôi nheo mắt, không muốn đào bới lại ký ức về ngày mưa ướt đẫm Phú Xuân ấy, vừa định cất tiếng thoái thác Hoàng hậu đã tự mình tiếp lời:
- Giữ lại em không phải điều hay, bởi em là người của Tây Sơn; lại cũng là việc sáng suốt vì em mang dòng máu Lê triều.
Nhưng nếu hành hình em cùng với những kẻ kia, ta cam đoan không ai lên tiếng phản bác.
"Những kẻ kia" là ai, tôi biết hết thảy.
Những quan quân trung liệt đó tôi ít nhiều đều gặp một lần.
Còn Quang Toản, phần ký ức nhuốm màu bụi tro thi thoảng lại nhen lửa ấy là vết cắt đẹp đẽ nhất tôi từng có, buồn cười thay lại không hẳn là đau thương.
Bấy nhiêu người của tiền triều, từng người từng người một giờ đều ngủ yên trong tận cùng dĩ vãng được tôi chôn giấu.
Dẫu có đào lên và ngắm lại, hết thảy cũng hóa bướm mà thôi.
Hồi ức sáng rõ một thời giờ đã nhạt nhòa lắm rồi, cũng như cái tên Lê Ngọc Bình đã chìm sâu dưới đáy dòng chảy vận mệnh kể từ khi tôi được ban phẩm vị Chiêu viên.
Chúng tôi, không ai nghĩ đến chuyện quên, và cũng chẳng một ai còn nhớ.
- Nhưng ngài giữ em lại.
- tiếng Hoàng hậu lần nữa vang lên bẻ gãy suy nghĩ mông lung của tôi.
Bà tần ngần hồi lâu mới lại nói - Ừ, thật sự là "giữ".
Em biết vì sao rốt cục ta cũng ưng thuận không?
Vì ngài bảo em giống ngài thuở nhỏ, một thân một mình ở đất Phú Xuân, bị giặc dồn đến đường cung.
Trong khi xưa kia ngài luôn cố trốn chạy khỏi truy kích, còn em ngày ấy, theo lời ngài kể chỉ có vẻ cam chịu, dẫu có chết cũng không oán hờn.
Ngài nói với ta rằng ngài chỉ đang cứu vớt hình bóng mình trong quá khứ.
Kể như ta hiểu rồi, nhưng em biết sao không?
Hoàng hậu thôi không nói nữa.
Tôi nhác thấy bà dõi mắt ra chút nắng đậu ngoài bậu cửa, thở dài.
Sự lặng yên đột ngột làm tôi bất an đến nghẹn lòng, đành thử lên tiếng:
- Vâng, nhưng như thế nào ạ?
- Ta biết ngài mến em.
Cũng như lần đầu, câu từ của Hoàng hậu chỉ dừng lại ở chữ "mến", không đi xa hơn.
Tôi bắt đầu hoài nghi về cuộc gặp gỡ hôm nay và những gì bà nói, không thể tiếp tục xem như mây trôi gió thoảng.
Mến của ngài là gì?
Liệu chăng như tôi với Quang Toản ngày đó, thậm chí là cả bây giờ, có nhiều thứ vượt ngưỡng "cộng chẩm" nhưng lại chẳng thể chạm đến "phu thê"?
- Vì sao lệnh bà lại nói với em những lời này?
- Vì hôm trước Ngài Ngự kể với ta em không muốn về Thăng Long.
Em không giống ngài ngày xưa.
Ừ thì không giống thật, nhưng cái ý bảo vệ của ngài dành cho em sớm hằn sâu rồi.
Ta chỉ muốn để em biết chuyện khi thấy em xứng đáng mà thôi.
Em đã vén lại thân phận công chúa nhà Lê và Hoàng hậu của vua Cảnh Thịnh để sinh cho ngài bốn đứa con, ta còn oán hờn chi nữa.
Vả lại nếu ta không nói, chắc gì Ngài Ngự sẽ tỏ lòng với người mình mến kia?
Là vợ chồng với ngài, ta không muốn thấy ngài hối tiếc.
Câu cuối cùng hoàng hậu nói với tôi trước khi rời đi trong cái nắng đầu tháng mười đó cũng dài và khó hiểu, nhẹ nhàng nhưng chua xót.
Bà lần đầu gọi thẳng tên tôi, vén bức mành nhìn tôi cười yếu ớt.
"Cảm tình Ngài Ngự dành cho em là gì thật ra chính ta cũng không rõ.
Còn với ta, ta chỉ xem em như đứa trẻ không lớn của Ngài Ngự thôi.
Em đừng lo lắng."
Tiết trời Phú Xuân hôm đó đột ngột hiện rõ dáng hình xù xì của mình.
Nó lởm chởm những gai làm bàn tay tôi đang níu lấy phải chịu cảnh xây xát, ứa máu.
Nó cũng có vị: vị mặn đắng khiến mắt người ta mơ hồ.
Lời Hoàng hậu thực ra không quá khó hiểu, chỉ do tôi trước nay cố chấp không chịu hiểu mà thôi.
Nhưng biết làm sao được, tôi đã không để cho bản thân một chốn quay đầu.
May mắn thay, đến bây giờ tôi vẫn chưa từng hối hận.
Bói cá lao xuống mặt nước chỉ vì một chiếc bóng bé xíu, có khi bắt được cá, cũng có khi hụt hẫng bay đi.
Dù trong mắt kẻ ngoài cuộc là dại dột theo đuổi cuộc mộng xa vời nhưng với nó, chí ít là trong khoảnh khắc nọ, tất cả đều đáng giá.
Huống hồ hai mươi lăm năm cuộc đời của tôi quá không quá dài, chỉ đủ chỗ cho hồi ức Thăng Long, cho Phú Xuân ngày xưa và cả bóng hình Quang Toản.
Thứ con người yêu lấy, họa chăng chỉ là chấp niệm mà thôi.
*
* *
Tôi biết mình không đợi được Phú Xuân lần nữa vào mùa "yên hoa tam nguyệt".
Viện Thuận Huy những ngày này vẫn rất quạnh quẽ, bên tai tôi chỉ còn tiếng than trong chậu lép bép nổ và tiếng thở rất đều của Dung khi em thiếp đi bên giường tôi.
Hết mở mắt rồi khép mắt, tôi nhìn mành hoa phất phơ bay trong thinh lặng.
Năm đó cũng mùa đông, trong từng đợt gió se thốc thổi tôi lén lút đốt vàng mã, tự mình tiễn đưa Quang Toản.
Nếu y là người ra đi sau, chẳng biết y có tiễn tôi như kia?
Y sẽ vượt qua năm rộng tháng dài thế nào và vào khắc cuối cùng của sinh mệnh, liệu có nhớ đến nguyên phối là tôi?
Còn tôi, tôi rất muốn nhớ ai khác ngoài y, đáng tiếc là không được.
Như việc tôi không luyến tiếc Phú Xuân, chỉ không đành quên những sớm tháng ba nắng rơi êm trên mái ngói lưu ly, dòng Hương giang bao quanh điện xưa, lặng lẽ rầm rì.
Tôi không yêu Quang Toản, nhưng đời này lại không cách nào buông bỏ được vòng tay đã nâng niu tôi qua những tháng ngày tình nghĩa nhạt nhòa và xa xỉ ấy.
Sau tất thảy, báo ứng vẫn đến.
Tôi không nhớ gì ngoài tiếng mưa những đêm mình rúc lại, say sưa trong vòng tay Quang Toản nữa.
Dáng dấp và gương mặt y chỉ còn lại những mảng màu nhòe nhoẹt, mơ hồ.
Hóa ra lãng quên không đáng sợ như tôi tưởng, bởi có thứ còn đáng sợ hơn nữa.
Trong một khắc, tôi bất lực gom góp hồi ức đã ướt mèm, rã nát dưới dòng thời gian chảy xiết, lại không biết mình lãng quên bao nhiêu và những gì.
Hai mươi lăm năm của tôi không như đèn kéo quân, tháng ngày không lũ lượt kéo qua trước mặt.
Lần cuối cùng nhắm mắt, thứ vấn vương mãi trong ý thức là những chiếc bóng rất cũ.
Nơi đó không phải Thăng Long hay Phú Xuân, nhưng ánh thiều quang dịu dàng đã cho tôi hay, rằng tôi không hề đến nhầm chỗ.
Cuối cùng vận mệnh cũng ưng thuận, trả tôi về với chấp niệm của tôi.
HẾT
Cần Thơ,
01.04.2020.
Lê Bình Chi.