Cập nhật mới

Khác Atonement - Chuộc tội

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
247531334-256-k122506.jpg

Atonement - Chuộc Tội
Tác giả: BoTrinhngLm
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Hoàn thành


Giới thiệu truyện:

Tác giả: Ian McEwan
Người dịch: Nguyễn Hạnh Quyên



tiểuthuyết​
 
Atonement - Chuộc Tội
Tác giả


Ian McEwan sinh ngày 21/6/1948 tại Aidershot, Anh.

Ông từng học ngành Văn học Anh tại Đại học Sussex và tốt nghiệp cử nhân năm 1970, sau đó lấy tiếp bằng Thạc sĩ Văn học Anh tại Đại học East Anglia.

Các tác phẩm của McEwan được giới phê bình thế giới đánh giá cao.

Ông đã giành giải thưởng Somerset Maugham Award năm 1976 cho tập truyện ngắn First Love, Last Rites; giải Whitbread Novel Award (1987) và Prix Femina Etranger (1993) cho tác phẩm The Child in Time; đồng thời giành được cả giải Germany's Shakespeare Prize vào năm 1999.

Ông đã nhiều lần lọt vào danh sách đề cử chốt của giải Man Booker Prize và đến năm 1998 đã giành được giải thưởng cao quý này cho tác phẩm Amsterdam.

Cuốn tiểu thuyết Atonement đã giành được giải WH Smith Literary Award (2002), giải National Book Critics' Circle Fiction Award (2003) của giới phê bình Anh, giải Los Angeles Times Prize dành cho thể loại hư cấu (2003) và giải Santiago Prize dành cho Tiểu thuyết Châu Âu (2004).

Năm 2000, ông cũng được trao giải CBE, giải thưởng cao quý của Hoàng gia Anh dành cho những người có cống hiến xuất sắc.

Năm 2006, cuón tiểu thuyết Saturday của ông đã giành được giải James Tait Black Memorial Prize.

Còn tại lẽ trao giải British Book Awards 2008, Trên bãi biển Chesil đã giành được giải Book of the Year (Cuốn sách của năm) đồng thời đem lại cho tác giả của nó danh hiệu Author of the Year (Tác giả của năm).

McEwan đã kết hôn hai lần.

Người vợ thứ hai của ông, Annalena McAfee, từng là biên tập viên cho mục Bình luận của tờ The Guardian danh tiếng.

Ngoài sự nghiệp, ông còn khá nổi tiếng trên mặt báo khi vào năm 1999 người vợ đầu tiên của ông bắt cóc đứa con trai 13 tuổi khi tòa trao quyền giám hộ con chỉ cho mình ông.

Tiểu thuyết Chuộc tội cũng từng bị cáo buộc là đạo văn từ cuốn No Time for Romance của Lucilla Andrews.

Tuy nhiên McEwan công khai khẳng định mình vô tội trên tờ The Guardian, lý do là trong ghi chú cuối tiểu thuyết của mình, ông đã nêu rõ tác phẩm của Andrews.

Bộ phim cùng tên dựng lại từ tác phẩm Chuộc tội của McEwan đã được đề cử bảy giải Oscar quan trọng và giành được giải Nhạc nền xuất sắc nhất tại lễ trao giải Oscar lần thứ 80 năm 2008.

Cùng năm đó, bộ phim cũng đồng thời giành được giải Phim hay nhất ở cả giải Quả cầu Vàng và giải British Academy Film Awards của Viện Điện ảnh Anh Quốc.
 
Atonement - Chuộc Tội
LỜI CẢM ƠN


Tôi biết ơn nhân viên Bộ phận Tư liệu của Bảo tàng Chiến tranh Đế quốc vì đã cho phép tôi xem những lá thư, bài báo và hồi ký không công bố của quân nhân và y tá phục vụ trong năm 1940.

Tôi cũng biết ơn những tác giả và tác phẩm sau: Grego Blaxlanci, Destination Dunkirk; Walter Lord, The Miracle of Dunkirk; Lucilla Andrews, No Time for Romance.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Claire Tomalin, Craig Raine và Tim Garton-Ash vì các nhận xét hữu ích và sâu sắc của họ, và trên hết là đến vợ tôi, Annalena McAfee, vì đã động viên tôi và đã đọc kỹ càng ghê gớm.

Cuốn sách này là một tác phẩm hư cấu.

Tên, nhân vật, nghề nghiệp, tổ chức, địa điểm, sự kiện và tình tiết đều là sản phẩm trí tưởng tượng của tác giả hoặc được sử dụng một cách hư cấu.

Bất kỳ sự tương đồng nào với người thật, còn sống hay đã chết, sự kiện, hay nơi chốn đều hoàn toàn ngẫu nhiên.

Xin trân trọng cảm ơn vì đã cho phép trích từ tài liệu có bản quyền: "In Memory of W.

B.

Yeats" từ W.

H.

Auden: Collected Poems của W.

H.

Auden.

Copyright © 1940 và được hồi phục năm 1968 bởi w.

H.

Auden.

Cùng với sự cho phép của Random House, Inc.

TẶNG ANNALENA

"Tiểu thư Morland thân mến, hãy suy ngẫm bản chất kinh khiếp của những nghi ngờ mà cô đang ấp ủ.

Cô đã dựa vào đâu để phán xét?

Hãy nhớ chúng ta đang sống ở đất nước và thời đại nào.

Nhớ rằng chúng ta là người Anh: rằng chúng ta là người Cơ Đốc giáo.

Hãy tự vấn óc suy xét của chính cô, cảm giác của chính cô về những điều khả thể, những quan sát của chính cô về những điều đang diễn ra quanh cô.

Liệu nền giáo dục của chúng ta có giúp chúng ta sẵn sàng trước những điều khủng khiếp ấy?

Luật pháp của chúng ta có nhắm mắt làm ngơ chúng đi không?

Những điều ấy có thể nào bị phạm phải mà không ai hay biết ở một đất nước như thế này, nơi sự giao thoa xã hội và văn học dựa trên một nền tảng như thế, nơi mỗi người đều bị vây quanh bởi những hàng xóm tình nguyện làm gián điệp, và nơi đường phố cũng như báo chí công khai mọi thứ?

Tiểu thư Morland yêu quý ơi, trong đầu cô đang chứa chấp những ý tưởng gì vậy chứ?"

Họ đã đến cuối hành lang; và nước mắt lưng tròng vì xấu hổ, cô chạy vụt về phòng.

Jane Austen, Northanger Abbey
 
Atonement - Chuộc Tội
PHẦN MỘT - Một


Vở kịch - mà vì nó Briony đã thiết kế áp phích, tờ chương trình và vé, dựng quầy bán vé từ một bình phong xiêu vẹo quây lại và lót hộp thu tiền bằng giấy kếp đỏ - được em viết trong hai ngày sáng tác vũ bão, khiến em bỏ mất một bữa sáng và một bữa trưa.

Khi mọi chuẩn bị đã chu tất, em chỉ còn việc thưởng ngoạn bản thảo hoàn chỉnh và đợi các em họ từ phương Bắc xa xôi đến.

Sẽ chỉ có một ngày duy nhất để diễn tập trước khi anh trai em về.

Lúc ớn lạnh xương tủy, khi buồn đau bén ngọt, vở kịch kể một câu chuyện của trái tim mà thông điệp được của nó, được chuyển tải trong phần mào đầu có vần điệu là tình yêu không được dựng xây trên nền tảng lý trí thì rồi sẽ lụi tàn.

Nỗi đam mê bồng bột của nhân vật chính Arabella dành cho một tên bá tước ngoại quốc gian ác đã bị vận rủi trừng phạt: nàng mắc phải bệnh tả khi bốc đồng lao đến một thị trấn ven biển cùng kẻ ngỡ là sẽ cưới ấy.

Bị hắn và hầu như hết thảy mọi người ruồng bỏ, nằm liệt giường trên một căn phòng gác xép, nàng khám phá ra tự trong mình khiếu hài hước.

Số phận đem lại cơ hội thứ hai cho nàng xuất lộ dưới hình hài một vị thầy lang bần hàn - thực ra là chàng hoàng tử vi hành tự nguyện lao động giữa những người cùng khổ.

Được chàng chữa lành bệnh, Arabella lần này chọn lựa một cách sáng suốt, và được đáp đền bằng cuộc đoàn tụ với gia đình và lễ cưới với chàng hoàng tử-thầy lang trong "một ngày xuân ngập tràn nắng và gió".

Bà Tallis đọc bảy trang vở kịch Những gian nan của nàng Arabella trong phòng ngủ, tại bàn trang điểm, với vòng tay của tác giả choàng qua vai suốt thời gian ấy.

Briony chăm chú theo dõi từng dấu hiệu biến đổi cảm xúc trên khuôn mặt mẹ, và Emily Tallis chiều lòng con bằng vẻ mặt khi thảng thốt, lúc khúc khích hân hoan, rồi cuối cùng, nụ cười khích lệ và những cái gật đầu lịch duyệt, tán thành.

Bà vòng tay ôm con gái vào lòng

- Ôi, cái cơ thể nhỏ nhắn mịn màng ấm nóng bà nhớ từ khi còn đỏ hỏn này, vẫn còn chưa lìa khỏi bà, chưa lìa hẳn - và bảo vở kịch thật "tuyệt diệu", rồi ngay lập tức thì thầm vào vành tai đang căng ra của con gái đồng ý cho phép trích dẫn từ này lên tấm áp phích sẽ treo trên giá dựng ở tiền sảnh cạnh quầy vé.

Khi đó Briony cơ hồ chưa biết, nhưng lời nhận xét ấy chính là cực điểm thành công của công trình này.

Không gì đem lại cảm giác thỏa nguyện hơn thế, tất cả còn lại chỉ là mộng mơ và thất vọng.

Có những khoảnh khắc chiều hè chạng vạng, khi ánh sáng phòng lụi tắt, vùi mình trong sự ảm đạm ngọt ngào của chiếc giường bốn cọc màn, em khiến tim mình rộn lên bằng những tưởng tượng lung linh, khao khát, mang trong chúng những vở kịch ngắn nho nhỏ, từng vở một đều có vai chính là Leon.

Ở vở này, khuôn mặt to, hiền lành của anh nhăn lại vì đau đớn khi Arabella rơi vào cảnh cô đơn và quẫn bách.

Ở vở kia, kìa anh đó, ly cocktail trên tay tại một quán bar thành phố thời thượng, đang lớn tiếng huênh hoang với đám bạn: Phải, em gái tớ đấy, văn sĩ Briony Tallis, các cậu hẳn đã nghe tiếng rồi.

Vở thứ ba, anh đắc chí đấm tay vào không khí khi sân khấu hạ màn, mặc dù chẳng có tấm màn nào hết, cả khả năng tồn tại một tấm cũng không.

Vở kịch em viết không phải để dành cho mấy đứa em họ, nó dành cho anh của em, để chào mừng anh trở về, để khơi dậy ở anh lòng ngưỡng mộ và hướng anh tránh xa khỏi hàng loạt cô bạn gái kế tiếp nhau một cách thiếu suy nghĩ, đến hình mẫu người vợ chân chính, người vợ sẽ thuyết phục anh về sống ở vùng quê, người vợ sẽ dịu dàng đề nghị Briony làm phù dâu cho lễ cưới.

Em là đứa trẻ bị ám ảnh bởi nỗi khát khao biến thế giới thành nơi trật tự tuyệt đối.

Trong khi phòng chị em là mớ hổ lốn những sách không gấp, áo quần không xếp, giường không dọn, gạt tàn không đổ, thì phòng Briony là một thánh đường cho vị thần thích kiểm soát trong em: mô hình trang trại đồ chơi trải ra trên bậu cửa sổ sâu vào phía trong, gồm những súc vật quen thuộc, nhưng tất cả đều hướng về một phía - chủ nhân của chúng - như thể toan cất lời đồng ca, và ngay cả đàn gà mái trên sân trại cũng được quây lại gọn ghẽ.

Mà thực ra, phòng Briony là căn phòng ngăn nắp duy nhất ở tầng trên trong nhà.

Các em búp bê lưng được đặt thẳng đứng trong biệt thự nhiều phòng của chúng dường như tuân theo một chỉ thị nghiêm ngặt là không được phép chạm vào tường; vô vàn các con giống đồ chơi to cỡ ngón tay cái trên bàn trang điểm - những chàng cao bồi, những thợ lặn biển sâu, những chú chuột hình người - được sắp xếp theo hàng lối ngay ngắn và cách nhau đều đặn như một đạo dân quân đang chờ lệnh.

Thích vật thu nhỏ là một khía cạnh của tinh thần ngăn nắp.

Một khía cạnh khác là đam mê bí mật: trong chiếc tủ đánh véc ni quý giá có một ngăn kéo bí mật chỉ mở ra được bằng cách nhấn vào thớ gỗ của cái mộng đuôi én khớp lại một cách khéo léo, ở đó em cất giấu cuốn nhật ký khóa bằng móc gài, và cuốn sổ viết bằng thứ mật mã do em tự chế ra.

Trong cái két đồ chơi mở bằng mật mã sáu số, em lưu thư từ và bưu thiếp.

Một hộp thiếc cũ đựng tiền nhỏ xíu được giấu dưới một tấm ván sàn cạy lên được dưới gầm giường em.

Trong hộp là kho báu em tích trữ được trong bốn năm qua, bắt đầu từ lần sinh nhật chín tuổi: một quả sồi đôi đột biến, viên quặng pyrit, một bùa làm mưa mua tại hội chợ giải trí, một cái sọ sóc nhẹ bẫng như chiếc lá.

Nhưng ngăn kéo bí mật, nhật ký khóa cài và hệ thống mật mã không che được cho Briony một sự thật giản dị: em chẳng hề có bí mật nào.

Khát khao vươn tới một thế giới trật tự hài hòa tước khỏi em khả năng bốc đồng làm điều sai trái.

Phá hỏng và hủy diệt là những thứ quá hỗn loạn không phù họp với sở thích của em, và bản tính em cũng không phải là người ác nghiệt.

Thân phận thực tế là đứa trẻ duy nhất trong nhà, cộng với việc ngôi nhà gia đình Tallis khá hẻo lánh, đã khiến em, ít ra là trong suốt những ngày nghỉ hè dài dặc, không tham dự vào các trò con gái với đám bạn.

Không gì trong cuộc sống em đủ độ hấp dẫn hay đáng xấu hổ đến mức phải giấu đi; không ai biết về cái sọ sóc dưới gầm giường, mà cũng chẳng ai buồn biết.

Không gì trong số những điều vừa kể là nỗi ưu phiền gì đặc biệt; có chăng chỉ phảng phất vậy khi hồi cố lại, mà khi đó, giải pháp đã được tìm ra.

Năm mười một tuổi, em viết câu chuyện đầu tay - một chuyện tình xuẩn ngốc, mô phỏng đến quá nửa tá truyện dân gian và thiếu, sau này em nhận ra, sự hiểu biết thiết yếu về cách thế giới vận hành để buộc độc giả phải ngưỡng phục.

Nhưng thử nghiệm vụng về đầu tiên này mở ra cho em biết trí tưởng tượng, chỉ riêng nó thôi, đã là cả một nguồn sản sinh bí mật: một khi em bắt đầu một câu chuyện, sẽ không ai biết gì cả.

Ngụy tạo thế giới bằng ngôn ngữ là việc quá không chắc chắn, quá yếu ớt, quá xấu hổ không thể để ai biết được.

Ngay cả viết ra những cô nói, những và rồi cũng khiến em nhăn mặt, và thấy mình thật ngốc nghếch khi tỏ vẻ hiểu cảm xúc của một sinh vật tưởng tượng.

Tự phơi bày chính mình là điều không thể tránh khỏi khi em miêu tả sự yếu mềm của nhân vật; độc giả buộc phải ngờ rằng em đang miêu tả chính em.

Em còn có tư cách nào khác nữa chứ?

Chỉ khi câu chuyện kết thúc, mọi số phận được dàn xếp ổn thỏa và toàn bộ vấn đề đã hoàn toàn khép lại để giống như, ít nhất ở khía cạnh này, mọi câu chuyện có kết thúc khác trên thế giới, thì em mới cảm thấy yên tâm, và sẵn sàng đục lỗ trên lề, dùng dây đóng các chương lại, vẽ bìa bằng màu hay chì đen, rồi mang tác phẩm hoàn tất đến khoe với mẹ, hoặc cha, khi ông có nhà.

Mọi người khuyến khích những nỗ lực của em.

Thực ra, nhà Tallis hoan nghênh nỗ lực ấy khi họ bắt đầu nhận ra đứa bé út trong nhà sở hữu một trí óc kỳ lạ và năng lực đặc biệt với ngôn từ.

Em ngồi suốt những buổi chiều đằng đẵng tra từ điển và từ điển đồng-phản nghĩa soạn ra để dành cho những kết họp từ ngô nghê, nhưng ngô nghê đầy ám ảnh: những đồng xu tên vô lại giấu trong túi thật "huyền hoặc", tên lưu manh bị bắt khi ăn trộm chiếc xe nhỏ nước mắt "trâng tráo tự giải trừ tội lỗi", nữ nhân vật chính cưỡi con tuấn mã thuần chủng lao đi đầy "khinh suất" xuyên đêm trường, lông mày đức vua nhíu lại là "tượng hình" cho sự mếch lòng của ngài.

Briony được khuyến khích đọc to những truyện em viết trong thư viện và cha mẹ cùng chị gái em thường kinh ngạc khi thấy bé gái vốn rụt rè thể hiện sao mà mạnh bạo, tay phác những cử chỉ phóng khoáng, mày nhướng cong khi giả giọng các nhân vật, và thỉnh thoảng lại đưa mắt lên khỏi trang giấy vài giây, nhìn đau đáu vào hết mặt người nghe này đến người nghe kia, không khoan nhượng đòi hỏi cả nhà tập trung tuyệt đối khi em tung lá bùa kể chuyện.

Ngay cả khi không nhận được sự chú ý, tán thưởng và vui thích ra mặt của họ, cũng không gì ngăn được Briony tiếp tục viết.

Dù có thế nào, em vẫn dần nhận ra, như rất nhiều nhà văn trước em, rằng không phải sự công nhận nào cũng hữu ích.

Sự nhiệt tình của Cecilia chẳng hạn, có vẻ hơi cường điệu quá, có lẽ nhuốm lẫn hạ cố, và lộ liễu nữa; chị gái em muốn từng tập truyện phải được ghi vào danh mục sách, rồi xếp lên giá trong thư viện, giữa Rabindranath Tagore và Quintus Tertullian.

Nếu đây có là trò giễu cợt thì Briony cũng mặc kệ.

Em giờ đi trên con đường của mình và đã tìm thấy cảm giác thỏa nguyện ở mức độ khác; viết truyện không chỉ đồng hành với sự bí mật, mà còn đem đến cho em khoái cảm được thu nhỏ mọi thứ.

Một thế giới có thể được tạo ra chỉ trong năm trang giấy, một thế giới thú vị hơn mô hình trang trại đồ chơi nhiều.

Thời hoa niên của một hoàng tử được nuông chiều có thể khuôn trong nửa trang, ánh trăng lướt qua ngôi làng tĩnh mịch gói gọn trong một câu khúc chiết nhịp nhàng, phải lòng có thể diễn tả bằng một từ duy nhất - liếc mắt.

Những trang giấy chứa câu chuyện vừa viết xong gần đây dường như đang phập phồng trong tay em với tất cả hơi thở cuộc sống chúng mang trong mình.

Niềm đam mê ngăn nắp cũng được thỏa mãn, bởi một thế giới hỗn loạn có thể được sắp đặt đâu vào đây.

Khủng hoảng trong cuộc đời nữ nhân vật chính được dựng lên tình cờ trùng với mưa đá, bão tố và sấm chớp, trong khi lễ cưới thường được ban ánh sáng rực rỡ và gió mềm lơi lả.

Tình yêu trật tự cũng khuôn hình những nguyên tắc công bằng, với cái chét và hôn nhân trở thành hai động lực chính để duy trì gia đình, cái chết dành riêng cho kẻ băng hoại đạo đức, hôn nhân là phần thưởng được trì níu đến tận trang cuối cùng.

Vở kịch em viết chào mừng Leon trở về là cuộc dạo chơi đầu tiên của em sang thể loại kịch, và em nhận thấy sự chuyển tiếp này tương đối nhẹ nhàng.

Thật nhẹ cả người khi không phải viết những cô nói, hay miêu tả thời tiết hay cảnh lập xuân hay đường nét khuôn mặt nữ nhân vật chính - cái đẹp, em đã khám phá được, luôn nằm trong khuôn khô hạn hẹp.

Cái xấu, ngược lại, có được vô vàn biến thể.

Vũ trụ, khi được quy về những thứ được cho là tồn tại bên trong nó, chính là sự gọn ghẽ, gần như đến mức hư vô, và để bù lại, mỗi lời nói đều được thốt ra ở cực điểm cảm xúc nào đó, để thể hiện điều đó tuyệt đối không thể vắng mặt dấu chấm than.

Những gian nan của nàng Arabella có lẽ là một vở melodrama, nhưng tác giả của nó chưa từng nghe đến thuật ngữ này.

Vở kịch dự định sẽ khơi gợi không phải tiếng cười, mà lần lượt là nỗi khiếp đảm, sự nhẹ nhõm, lời chỉ dạy và tình cảm nồng nhiệt ngây thơ Briony mang theo khi khởi sự thực thi công trình này - áp phích, vé, quầy bán vé - khiến em cực kỳ dễ rơi vào tình trạng bị tổn thương nếu thất bại.

Lẽ ra em đã có thể dễ dàng chào đón Leon bằng một trong số những câu chuyện đã viết khác, nhưng chính việc nghe tin ba đứa em họ từ miền Bắc đến chơi đã thúc đẩy bước nhảy này sang một dạng thức mới.

Việc Lola, mười lăm tuổi, và hai cậu em sinh đôi chín tuổi, Jackson và Pierrot, phải tị nạn khỏi một cuộc nội chiến gia đình cay đắng lẽ ra đã khiến Briony để tâm hơn.

Em nghe mẹ chỉ trích hành vi nông nổi của em gái là dì Hermione, xót xa cho hoàn cảnh của ba đứa trẻ, đồng thời lên án cậu em rể Cecil nhu nhược, thoái thác trách nhiệm đã đánh bài chuồn đến nơi an toàn - All Souls College thuộc Đại học Oxford.

Briony đã nghe mẹ và chị phân tích những khúc mắc và những đỉnh điểm cãi vã gần đây nhất, những cáo buộc lẫn nhau, và em biết lần đến chơi của chị em họ này có một thời hạn còn bỏ ngỏ, và thậm chí có thể lưu lại dài dài.

Em đã nghe nói rằng nhà mình sẽ rất dễ thu nhận ba đứa trẻ, và rằng các chị em nhà Quincey có thể lưu lại lâu chừng nào tùy thích, miễn là cha mẹ chúng, nếu tình cờ cùng lúc ghé thăm, thì cũng đừng rước những cãi vã của họ vào ngôi nhà của gia đình Tallis.

Hai phòng gần phòng Briony đã được quét bụi, treo rèm mới và kê đồ đạc từ các phòng khác chuyển sang.

Bình thường thế nào em cũng tham gia việc sửa soạn này, nhưng tình cờ lại trùng với hai ngày viết lách của em và việc bắt đầu dựng tiền sảnh khán phòng.

Em mơ hồ hiểu rằng ly dị là một nỗi đau, nhưng không xem như một chủ đề phù hợp, và chẳng màng để ý đến.

Nó là một mối chỉ thế tục đã đứt lìa không cách nào nối lại, và vì thế chẳng dành cơ hội nào cho người kể chuyện: nó thuộc về lãnh địa của sự hỗn loạn.

Hôn nhân là, hay nói đúng hơn, lễ cưới là, với trật tự trang trọng của đức hạnh được tưởng thưởng của nó, sự choáng ngợp trước trang phục lộng lẫy và yến tiệc ngoạn mục, và lời hứa gây choáng váng về sự kết hợp trọn đời.

Một lễ cưới tốt lành là sự thể hiện không được thừa nhận của điều tới lúc đó vẫn là không tưởng - hạnh phúc tình dục ngất ngây.

Giữa những hàng ghế của nhà thờ miền quê hay giáo đường thành phố lớn, trước sự chứng kiến và ủng hộ của toàn thể gia đình và bạn bè, nam và nữ nhân vật chính lên đến cực điểm của sự ngây thơ trong họ và chẳng cần tiến xa hơn nữa.

Nếu ly dị có phút giây nào tự phơi bày là phản đề hèn nhát của tất cả những điều trên, thì nó đã dễ dàng bị đẩy sang đĩa cân bên kia, nằm cùng với phản bội, bệnh tật, trộm cắp, hành hung và vu khống.

Nhưng không, nó bày ra một khuôn mặt không chút quyến rũ chỉ toàn nhũng rắc rối nhàm chán và cãi cọ liên miên.

Giống như vấn đề tái vũ trang, Abyssinia và làm vườn, ly dị đơn giản không phải là một chủ đề; và khi, sau cả một buổi sáng thứ Bảy chờ đợi đằng đẵng, Briony cuối cùng cũng nghe tiếng bánh xe trên con đường trải sỏi dưới cửa sổ phòng mình và vơ vội các trang viết lao xuống cầu thang, chạy qua tiền sảnh và bổ vào ánh sáng ban trưa chói lóa ngoài trời, không phải sự vô tâm mà chính là tham vọng nghệ thuật dồn nén cao độ đã khiến em hét lên với ba vị khách trẻ đang sững sờ đứng túm tụm vào nhau cạnh đống hành lý, "Chị đã bố trí vai cho bọn em, đâu vào đấy cả rồi.

Buổi diễn đầu tiên vào ngày mai!

Buổi diễn tập sẽ bắt đầu trong năm phút nữa!"

Ngay lập tức, mẹ và chị em có mặt để chen vào một thời gian biểu dễ thở hơn.

Các vị khách - cả ba đều tóc đỏ hoe và mặt đầy tàn nhang - được dẫn về phòng, va li thì Danny con trai của Hardman mang lên, rồi chúng uống nước hoa quả dưới bếp, tham quan nhà một lượt, bơi ở hồ bơi và ăn trưa ở vườn phía Nam, dưới bóng dàn nho.

Suốt quãng thời gian ấy, Emily và Cecilia Tallis cứ luôn miệng hỏi han theo kiểu chắc chắn sẽ tước khỏi ba vị khách sự dễ chịu mà họ định đem lại.

Briony hiểu nếu mình băng qua cả hai trăm dặm đường đến một ngôi nhà xa lạ, thì những câu hỏi vui vẻ và những câu đùa xếp hàng chào đón, và việc bị căn dặn theo hàng trăm kiểu rằng mình được tự do lựa chọn, sẽ trở thành áp lực.

Mọi người thường không nhận ra rằng thứ trẻ con muốn nhất là được yên thân.

Tuy nhiên, bọn trẻ nhà Quincey đã cô sức tỏ ra thích thú và tự tại, và điều này là điềm lành cho vở Những gian nan của nàng Arabella: bộ ba này rõ ràng có sở trường vờ vĩnh là loại người không phải mình, dù chúng chẳng mấy giống các nhân vật sắp thủ vai.

Trước bữa trưa Briony lẻn vào phòng tập trống không - phòng trẻ - và bước tới bước lui trên lớp sàn gỗ sơn cân nhắc việc phân vai.

Nhìn bề ngoài, Arabella, tóc đen giống Briony, không thể nào là hậu duệ của một cặp bố mẹ mặt đầy tàn nhang, hay chạy trốn với tên bá tước ngoại quốc mặt đầy tàn nhang, thuê căn phòng gác xép của ông chủ quán trọ mặt đầy tàn nhang, trao con tim mình cho một vị hoàng tử mặt đầy tàn nhang và được một cha cố mặt đầy tàn nhang tổ chức đám cưới trước sự chứng kiến của một đám người mặt đầy tàn nhang được.

Nhưng mọi việc rồi sẽ đành phải thê.

Nước da của ba chị em họ chói quá

- Gần như sáng rỡ!

- không che đi được.

Điểm tốt duy nhất có thể nhắc đến là việc Arabella không có tàn nhang là dấu hiệu - tượng hình, có thể Briony sẽ viết thế - cho nét độc đáo của nàng.

Tâm hồn trinh khiết của nàng sẽ không bao giờ bị hoài nghi, dù nàng có trầm mình qua một thế giới ô uế.

Hai đứa nhóc sinh đôi kia còn nhiều vấn đề hơn, người lạ không thể nào phân biệt được chúng.

Có hợp lý không khi tên bá tước gian ác lại giống như hai giọt nước với chàng hoàng tử đẹp trai, hay cả hai lại cùng giống hệt cha của Arabella và cha cố?

Nếu Lola được phân vai hoàng tử thì sao nhỉ?

Jackson và Pierrot có vẻ là hai thằng nhóc hăng hái điển hình, chúng sẽ bảo gì làm nấy.

Nhưng chị gái chúng có chịu đóng vai con trai không?

Cô ta có mắt xanh lá và mặt xương xẩu, má hóp, và trong sự trầm lặng của cô có gì đó căng thẳng cho thấy ý chí mạnh mẽ và tính khí dễ nổi cáu.

Cứ thế mà trao vai diễn cho Lola thì dễ gây ra sự cố rắc rối, hơn nữa, Briony liệu có thể nắm tay cô ta trước bệ thờ, trong khi Jackson cao giọng đọc phần trích từ Sách Kinh Cầu nguyện Chung?

Phải đến năm giờ chiều hôm đó em mới tập hợp được các diễn viên vào phòng trẻ.

Em đã xếp ba ghế đẩu thành một hàng, còn em thì đặt mình lên chiếc ghế cao kiểu cổ dành cho em bé - một phong cách phóng túng trao cho em lợi thế chiều cao của trọng tài quần vợt.

Cặp sinh đôi đầy miễn cưỡng sau ba tiếng liên tục vầy nước ở hồ bơi.

Chúng đi chân không và mặc áo lót bên trên quần bơi đang nhỏ nước tong tong xuống sàn gỗ.

Nước cũng chảy thành dòng từ mái tóc bết vào nhau xuống cổ, và cả hai đứa đều đang run cầm cập, đầu gối đánh vào nhau thật lực cho ấm người lên.

Ngâm nước lâu làm da chúng nhăn lại và trắng nhợt ra, vì thế dưới ánh Sáng mờ mờ ở phòng trẻ, những nốt tàn nhang của chúng biến thành màu den.

Cô chị gái ngồi giữa chúng, chân trái vắt thăng bằng trên đầu gối phải, thì hoàn toàn tưong phản, điềm tĩnh tuyệt đối, đã thoải mái xức nước hoa và diện váy dài vải bông kẻ xanh lá cây cho da bớt sáng rỡ đi.

Đôi xăng đan để lộ chiếc lắc đeo ở cổ chân và móng chân sơn màu đỏ son.

Nhìn thấy những móng chân đó Briony có cảm giác co thắt lại ở quanh vùng xương ức và ngay tắp lự em biết mình không thể yêu cầu Lola đóng vai hoàng tử.

Mọi người đã ổn định chỗ ngồi và nhà soạn kịch toan bắt đầu bài diễn văn nho nhỏ tóm tắt cốt truyện và khơi dậy niềm hứng khởi diễn xuất trước các khán giả người lớn tại thư viện tối mai.

Nhưng Pierrot lại lên tiếng trước.

"Em ghét kịch và tất cả những thứ kiểu thế."

"Em cũng ghét kịch, cả hóa trang nữa," Jackson nói.

Lúc ăn trưa mọi người đã giải thích rằng có thể phân biệt được cặp sinh đôi nhờ một chi tiết là Pierrot bị mất một miếng thịt hình tam giác trên dái tai trái vì bị chó đớp hồi ba tuổi trong khi hành hạ con chó đó.

Lola đưa mắt nhìn đi chỗ khác.

Briony từ tốn nói, "Sao hai em lại ghét kịch?"

"Chỉ được cái phô trương."

Pierrot nhún vai khi phát ngôn ra sự thật hiển nhiên này.

Briony biết nó có lý.

Đây chính xác là lý do vì sao em thích kịch, hay ít nhất là kịch của em; vì mọi người sẽ ngưỡng mộ em.

Nhìn hai thằng bé ngồi trên ghế, bên dưới chúng nước đang đọng lại thành vũng chờ ngấm vào những kẽ nứt trên sàn gỗ, em biết chúng sẽ không bao giờ hiểu được tham vọng của em.

Sự khoan dung làm giọng em dịu hẳn.

"Em nghĩ Shakespeare chỉ phô trương thôi sao?"

Pierrot liếc qua đùi chị về phía Jackson.

Cái tên nghe như tên quân đội này chẳng mấy quen thuộc, phả ra vẻ chắc chắn của trường học và người lớn, nhưng cặp sinh đôi tìm thấy ở nhau sự bạo dạn.

"Ai chả biết ông ấy thế."

"Rõ là thế."

Khi Lola nói, cô quay sang Pierrot trước và từ nửa câu còn lại đến khi hết thì nhìn Jackson.

Ở nhà Briony, bà Tallis chưa bao giờ có chuyện gì cần truyền đạt mà phải nói với hai cô con gái cùng một lúc.

Giờ thì Briony đã biết cách nói như thế là thế nào.

"Hai em sẽ đóng kịch, hay ăn một cái tát, và chị sẽ mách bố mẹ nào?"

"Nếu chị tát bọn em, bọn em sẽ mách bố mẹ."

"Hai em sẽ đóng kịch, nếu không chị sẽ mách bố mẹ."

Việc lời đe dọa được thu gọn lại không có vẻ gì làm giảm bớt uy lực của nó.

Pierrot bặm môi dưới.

"Sao bọn em phải làm thế?"

Mọi thứ được gói gọn lại trong một câu hỏi, và Lola đánh rối cho mái tóc dính bết của nó bồng lên.

"Nhớ bố mẹ nói gì không?

Chúng ta là khách ở nhà này và chúng ta phải cư xử lễ độ - chúng ta phải làm gì để cư xử lễ độ?

Nào nói đi.

Chúng ta làm gì để cư xử lễ độ?"

"N-goan ngoãn," hai đứa sinh đôi khổ sở đồng thanh, cơ hồ lắp bắp khi phát âm từ lạ.

Lola quay sang Briony nở một nụ cười.

"Kể bọn em nghe về vở kịch của chị đi."

Bố mẹ.

Bất kể thứ sức mạnh được thể chế hóa nào bị giam trong cái danh từ số nhiều này đều sắp tan tành, hay vốn đã tan tành, nhưng tại thời điểm này điều đó không thể được thừa nhận, và ngay cả những đứa còn bé nhất cũng bị đòi hỏi phải có lòng dũng cảm.

Đột nhiên Briony thấy xấu hổ với thứ mà em đã bắt đầu một cách ích kỷ, bởi em chưa từng nảy ra ý nghĩ rằng chị em họ kia có thể không muốn đóng vai nào trong Những gian nan của nàng Arabella cả.

Nhưng chúng đang gặp gian nan, một thảm họa của riêng chúng, và bây giờ, với tư cách là khách trong nhà em, chúng tin mình có nghĩa vụ phải tuân phục.

Điều tệ hơn là, Lola đã thể hiện rõ cả cô cũng vì bất đắc dĩ mà phải diễn.

Những đứa trẻ nhà Quincey yếu ớt bị ép uổng.

Dù thế, Briony vắt óc để nắm được suy nghĩ rắc rối này: phải chăng ở đây đang diễn ra sự thao túng, phải chăng Lola đang sử dụng cặp sinh đôi để thay cô nói lên điều gì đó, điều gì đó thù địch hoặc tiêu cực?

Briony thấy yếu thế khi nhỏ hơn Lola hai tuổi, khi phải đối trọng với sự tinh tế hơn mình tới hai năm tròn, và giờ đây vở kịch của em hóa ra lại là một thứ khiến người khác bẽ bàng, khổ sở.

Tránh ánh mắt Lola trong suốt thời gian còn lại, em tiếp tục phác lại cốt truyện, ngay cả khi sự xuẩn ngốc của nó bắt đầu choán lấy em.

Em không còn lòng dạ nào mà khơi dậy ở ba chị em họ kia sự hào hứng trước đêm diễn đầu tiên.

Ngay khi em dứt lời Pierrot nói, "Em muốn là tên bá tước.

Em muốn là kẻ xấu."

Jackson thì chỉ nói, "Em là hoàng tử.

Em vốn luôn là hoàng tử."

Em những muốn kéo ngay chúng vào lòng mà hôn lên khuôn mặt nhỏ xinh của chúng, nhưng lại chỉ nói, "Thế cũng được thôi."

Lola thả chân xuống, vuốt thẳng váy rồi đứng dậy, như thể toan bỏ đi.

Cô cất lời trong một tiếng thở dài buồn bã, hoặc cam chịu.

"Em nghĩ vì chị là người viết vở kịch nên chị sẽ là Arabella..."

"Ô không," Briony nói.

"Không.

Không nhất thiết."

Em nói không, nhưng lòng em bảo phải.

Đương nhiên em sẽ diễn vai Arabella.

Thứ em phản đối là từ "vì" của Lola.

Em đóng vai Arabella không phải vì em viết vở kịch này, em đóng vai ấy vì không có khả năng nào khác nảy ra trong đầu em, vì Leon sẽ phải trông thấy em như vậy, vì em là Arabella.

Nhưng em lại vừa nói không, và giờ Lola đang mở lời ngọt ngào, "Thế thì em đóng vai nàng ấy có được không?

Em nghĩ em có thể diễn rất tốt.

Thực ra, trong hai chúng ta..."

Cô bỏ dở câu nói, và Briony chằm chăm nhìn cô, không kìm nổi nỗi kinh hoàng lộ ra trên nét mặt, và không cất nổi lời.

Nó đang tuột khỏi tay em, em biết, nhưng em không tài nào nghĩ ra nổi điều gì muốn nói để mà đưa nó quay lại được.

Lợi dụng sự im lặng của Briony, Lola dấn bước.

"Năm ngoái em bị ốm rất lâu, vì thế em có thể diễn cả phần đó khá tốt."

Cả phần đó?

Briony không hiểu kịp cô gái lớn hơn kia nói gì.

Nỗi khổ sở trước việc không thể tránh khỏi đang giăng mây che mờ lý trí em.

Một trong hai đứa sinh đôi tự hào nói, "Và chị ấy từng đóng kịch ở trường rồi."

Làm sao em nói với họ được Arabella không phải là một người mặt đầy tàn nhang?

Da nàng trắng, tóc nàng đen, và suy nghĩ của nàng là suy nghĩ của Briony.

Nhưng làm sao em từ chối một người chị em họ phải lưu lạc rất xa nhà và có một tổ ấm đang đổ vỡ tan tành?

Lola hẳn đã đi guốc trong bụng em vì bây giờ cô đang chìa ra con bài cuối cùng, quân át không tài nào khước từ nổi.

"Xin chị đấy.

Đây sẽ là điều tốt lành duy nhất đến với em trong hàng tháng trời qua."

Đồng ý.

Không thể uốn lưỡi thốt nên từ đó, Briony chỉ gật nổi đầu, và cảm thấy khi mình làm vậy, một cơn rùng mình dằn dỗi sinh ra khi phải ưng thuận tự hủy diệt mình lan chạy suốt bề mặt da và căng phồng lên, khiến căn phòng tối sầm lại trong tiếng mạch đập thình thịch.

Em muốn bỏ đi, em muốn ngả xuống nằm một mình, mặt úp xuống giường và nhấm nháp vị cay cay kinh tởm của khoảnh khắc này, rồi quay ngược lại lần theo từng đường của những hậu quả đang nảy sinh cành nhánh kia đến điểm trước khi sự hủy diệt bắt đầu.

Em cần nhắm nghiền mắt mà thưởng ngoạn lại sự quý giá trọn vẹn của thứ em vừa đánh mất, thứ em vừa trao đi, và hình dung ra cục diện mới.

Không chỉ phải cân nhắc đến Leon, mà bộ váy xa tanh màu kem và hồng đào may theo kiểu cổ mẹ đang sửa soạn cho em để mặc trong lễ cưới của Arabella thì sao đây?

Bộ cánh ấy giờ sẽ chuyển sang tay Lola.

Làm sao mẹ em có thể từ chối được cô con gái đã yêu quý mẹ trong suốt bao năm qua?

Khi phải nhìn bộ váy kia bó vừa khít người cô em họ một cách hoàn hảo và chứng kiến nụ cười vô tâm của mẹ, Briony biết em chỉ có một lựa chọn thỏa đáng duy nhất là bỏ đi, sống dưới bờ giậu, ăn quả mâm xôi và không nói chuyện với ai, rồi vào một buổi sớm mai mùa đông em được một bác tiều phu râu ria xồm xoàm tìm thấy đang nằm co quắp dưới gốc cây sồi cổ thụ, xinh đẹp và đã chết, chân không, hay có thể mang đôi giày ba lê vải mem thắt nơ hồng...

Nỗi tủi thân cần được em dốc toàn tâm để ý tới, và chỉ khi cô quạnh em mới có thể thổi hồn vào từng tiểu tiết đau lòng nhường ấy, nhưng ngay khi em đồng ý - chỉ nghiêng xương sọ một cái đã có thể biến đổi một cuộc đời cơ đấy!

- Lola đã nhặt tập bản thảo của Briony từ dưới sàn lên, và cặp sinh đôi tụt xuống khỏi ghế chạy theo chị chúng vào khoảng giữa phòng trẻ mà Briony dọn sạch từ hôm trước.

Em có dám bỏ đi ngay giây phút này?

Lola bước đi bước lại trên sàn gỗ, một tay đặt lên trán, đọc lướt qua vài trang đầu vở kịch, lẩm nhẩm các câu đoạn mở đầu.

Cô tuyên bố chẳng mất mát gì khi bắt đầu ngay từ đầu, và giờ cô đang phân hai đứa em làm cha mẹ Arabella, mô tả đoạn mở đầu cho chúng, tỏ vẻ biết hết thảy những điều cần biết trong cảnh đó.

Việc Lola dan tới nắm quyền chi phối thật tàn nhẫn và khiến chuyện tủi thân trở nên không phù hợp.

Hay sẽ càng bội phần ngọt ngào đến không sao chịu đựng?

- vì Briony thậm chí còn không được phân vai mẹ Arabella, và bây giờ chắc chắn là lúc để lén ra khỏi đây, về phòng và đổ nhào xuống giường, mặt úp sầm xuống.

Nhưng chính sự hăm hở của Lola, sự vô tâm của cô ta đối với bất cứ gì không phải việc của mình, và niềm tin chắc chắn của Briony rằng cảm xúc thật của em thậm chí sẽ không lộ ra mặt, như thế sẽ bớt thấy tội lỗi hơn, đã truyền cho em sức mạnh cưỡng lại.

Sống một cuộc đời êm ấm và được bảo bọc kỹ càng, trước đây em chưa từng một lần thực sự đương đầu với ai.

Giờ thì em thấy: điều này giống như lặn xuống hồ bơi vào đầu tháng Sáu; đơn giản là ta phải buộc mình làm thì mới được.

Khi em siết chặt cái ghế cao nhổm mình tụt xuống và bước lại chỗ cô em họ đang đứng, tim em khổ sở nện thình thịch, hơi thở em gấp gáp.

Em giật kịch bản từ tay Lola rồi nói bằng giọng đanh thép hơn bình thường, "Nếu em là Arabella, chị sẽ là đạo diễn, cám ơn rất nhiều, và chị sẽ đọc đoạn mở đầu."

Lola giơ bàn tay lom đom tàn nhang lên che miệng.

"Xin lỗiiiii!" cô rú lên.

"Em chỉ đang cố khởi động mọi thứ thôi."

Briony không biết đáp lại thế nào đành quay sang Pierrot nói, "Trông em không giống mẹ Arabella lắm."

Vụ hủy bỏ quyết định phân vai của Lola và tiếng cười của hai thằng nhóc trước việc đó đã đánh dấu bước chuyển đổi tương quan quyền lực.

Lola nhún đôi vai xương xẩu một cách cường điệu rồi bước lại cửa sổ đưa mắt nhìn ra ngoài đăm đắm.

Có lẽ chính cô cũng đang vật lộn với cám dỗ được lao ra khỏi phòng.

Mặc dù cặp sinh đôi bắt đầu trò vật nhau, và cô chị chúng ngờ là sắp bị đau đầu, buổi tập dượt vô hình trung vẫn được bắt đầu.

Trong bầu không khí im lặng căng thẳng, Briony đọc đoạn mở đầu.

Chuyện kể rằng nàng Arabella bồng bột Cùng một tên ngoại quốc bỏ trốn đi Cha mẹ nàng buồn đau ủ dột.

Trông cảnh cô con gái đầu lòng Biến khỏi nhà đi xứ Eastbourne mà không được phép.

Đứng ở cánh cổng sắt uốn của dinh thự, vợ kế bên, cha Arabella trước nài xin con gái cân nhắc lại quyết định của nàng, sau cùng quẫn ra lệnh nàng không được phép đi đâu cả.

Đối diện với ông là nữ nhân vật chính buồn bã nhưng ngang ngạnh, gã bá tước đứng cạnh nàng, và đôi ngựa của họ, được buộc vào cây sồi gần đó, đang hí vang nện móng xuống mặt đất, nóng lòng xuất phát.

Nỗi đau đớn của người cha nên được thể hiện bằng giọng run run khi ông cất tiếng,

Con thân yêu của cha, con trẻ trung và xinh đẹp, Nhưng non dại, và mặc con nghĩ rằng thế giới này nằm dưới chân con, Nó có thể vùng dậy và giẫm đạp lên con.

Briony bố trí vai diễn của mình; em tự mình bám lấy cánh tay Jackson, Lola và Pierrot đứng cách đó vài bước chân, tay trong tay.

Khi mắt hai thằng bé gặp nhau, chúng rúc rích cười khiến hai đứa con gái cùng phải lên tiếng suỵt.

Tưởng thế đã đủ rắc rối, nhưng phải đến khi Jackson bắt đầu cất tiếng đọc thoại từ tờ giấy nó cầm bằng một giọng đều đều khổ sở, như thể mỗi từ là một cái tên trên danh sách những người đã chết, và không tài nào phát âm được từ "non dại" mặc dù đã dạy nói rất nhiều lần, mà còn bỏ lại hai từ cuối cùng trong câu - "nó có thể vùng dậy và giẫm đạp", thì Briony mới bắt đầu hiểu ra được lỗ hổng cách biệt giữa ý tưởng và thực tiễn.

Còn Lola, cô nói dòng thoại của mình chính xác nhưng hời hợt, và đôi khi mỉm cười không đúng lúc với những ý nghĩ riêng, kiên quyết thể hiện rằng đầu óc dở cô dở bà của cô còn đang lãng đãng ở một nơi nào khác.

Và cứ thế họ tập, mấy chị em từ phương Bắc ấy, trong trọn vẹn nửa tiếng đồng hồ, liên tục phá hoại thành quả sáng tạo của Briony, chính vì vậy quả là may mắn, khi chị gái em xuất hiện, túm cổ cặp sinh đôi đưa đi tắm rửa.
 
Atonement - Chuộc Tội
Hai


Phần vì sức trẻ của nàng và sự huy hoàng của ánh ngày, phần vì con thèm đến bứt rứt một điếu thuốc, Cecilia Tallis ôm hoa rảo chân men con đường nhỏ ven sông, ven hồ bơi cũ có tường gạch rêu xanh cũ kỹ, rẽ vào rồi đi xuyên qua cánh rừng sồi.

Hàng tuần hè trì trệ liền sau đợt thi cuối kỳ cũng tiếp thêm sự hối hả cho đôi chân; từ lúc về nhà, cuộc đời nàng lặng lờ đi và một ngày đẹp thế này khiến nàng bồn chồn, cơ hồ liều lĩnh.

Vòm rừng cao và mát lạnh khiến lòng nàng khuây khỏa, nét tinh xảo như được chạm khắc của những thân cây mang vẻ mê đắm diệu kỳ.

Khi đã qua được hai cánh cổng sắt, qua khóm hoa đỗ quyên dưới bờ giậu, nàng băng qua bãi cỏ rộng bao la - đã bán đứt cho một nông dân trong vùng để chăn thả bò - và bước lại đằng sau đài phun nước có lớp bệ bao quanh, bản mô phỏng nhỏ bằng một nửa đài phun Triton do Bemini thiết kế trên Quảng trường Barberini ở Rome.

Hình người lực lưỡng kia, nửa ngồi nửa quỳ hết sức thoải mái trên tấm vỏ sò, chỉ có thể thổi vọt qua vỏ ốc xà cừ tia nước cao chưa đầy năm phân, áp suất quá yếu nên nước lại rớt xuống trở lại đầu chàng, lên mái tóc bằng đá và chảy dọc rãnh sống lưng hùng dũng, để lại một vết ố xanh thẫm lóng lánh.

Phải xa quê xa quán mà lưu lạc ở khí hậu miền Bắc xa lạ này, nhưng chàng vẫn đẹp rạng rỡ dưới ánh ban mai, và bốn chú cá heo đỡ cái vỏ sò có mép lượn sóng mà chàng đang ngồi lên cũng không kém phần đẹp đẽ.

Nàng đưa mắt nhìn mấy cái vảy đầy phi thực trên thân bốn con cá heo và cả trên đùi Triton, rồi về phía ngôi nhà.

Đường nhanh nhất vào phòng đón khách là băng qua bãi cỏ và sân hiên rồi đi qua khung cửa sổ Pháp kia.

Nhưng anh bạn từ thuở ấu thơ và lên đại học chỉ còn là người quen của nàng, Robbie Turner, lại đang quỳ gối rẫy cỏ dại chỗ bờ giậu mai khôi, mà nàng thì không muốn phải bắt chuyện với anh.

Hay ít nhất là không phải bây giờ.

Từ lúc về lại nhà, làm vườn đã trở thành niềm đam mê áp chót của anh.

Giờ thì lại nghe bảo sẽ thi tiếp vào trường y, lấy bằng văn chương rồi mới theo đuổi chuyện đó thì có vẻ khá kiêu căng.

Ngạo mạn nữa, vì chính cha nàng mới là người phải trả tiền học phí.

Nàng nhúng bó hoa xuống bể đài phun cho tươi, bể đài phun thì to như thật, sâu và lạnh, và tránh Robbie bằng cách vội quành tới mặt tiền ngôi nhà - nàng nghĩ đây là cớ để lưu lại bên ngoài thêm vài phút nữa.

Ánh nắng buổi sáng, hay bất kỳ ánh sáng nào, cũng không thể che đậy nổi vẻ xấu xí của ngôi nhà Tallis – gần bốn mươi năm tuổi, gạch màu vàng thổ, thấp tè, cửa sổ khung bọc chì kiểu Gothic quý tộc, có lần bị Pevsner, hay ai đó trong nhóm của ông ta, chỉ trích trên một bài báo là thảm kịch của những cơ hội bị phí hoài, và bị một cây viết trẻ theo trường phái hiện đại chê là "vô duyên đến độ khiếm khuyết".

Một dinh thự xây theo kiểu Ađam đã tọa lạc ở đây cho đến khi bị lửa thiêu rụi vào cuối những năm 1880.

Những gì còn lại chỉ là đảo và hồ nhân tạo với hai cây cầu bằng đá bắc ngang làm đường xe chạy, và ven mép nước, là một điện thờ trát vữa xiêu vẹo.

Ông nội của Cecilia, lớn lên từ tiệm bán đồ sắt và xây dựng gia tài nhờ một xê ri bằng sáng chế nào khóa móc, nào then cửa, chốt và bản lề, đã áp sở thích mọi thứ chắc chắn, an toàn và thực dụng của mình lên ngôi nhà mới.

Mặc dù vậy, nếu một người xây lưng lại lối vào phía trước và phóng tầm mắt hết đường xe chạy, bỏ qua đám ngựa Friesian chưa gì đã tụ tập dưới bóng râm những cây đứng cách xa nhau, thì quang cảnh cũng đèm đẹp, tạo ấn tượng về một sự tĩnh lặng phi thời, bất dịch, những điều càng khiến nàng chắc chắn hơn bao giờ hết rằng mình phải sớm rời khỏi đây.

Nàng bước vào trong, lanh lẹ băng qua tiền sảnh lát gạch đen trắng - tiếng chân nàng bước vang vọng mới thân thuộc làm sao, mới khó chịu làm sao - rồi dừng lại ở bậu cửa phòng khách lấy hơi.

Nhỏ những giọt nước mát lạnh xuống đôi chân mang xăng đan của nàng, bó hoa liễu diệp và diên vỹ lộn xộn khiến tâm trạng nàng dễ chịu hơn.

Chiếc bình hoa nàng tìm nằm trên một cái bàn gỗ anh đào của Mỹ bên cánh cửa kính ban công đang khép hờ.

Vị trí hướng Đông Nam của ngôi nhà cho phép những vạt ánh nắng ban mai dấn bước qua cả tấm thảm xanh màu nước biển.

Hơi thở nàng điều hòa trở lại và cơn thèm thuốc lá càng dữ dội hơn, nhưng nàng vẫn nấn ná nơi cửa, trong khoảnh khắc bị trì níu bởi sự hoàn hảo của khung cảnh - bởi ba cái sofa Chesterfield đã lợt màu kê quanh lò sưởi kiểu Gothic gần như mới toanh trong có dựng một loạt những khúc gỗ lách đặc trưng cho mùa đông, bởi cây đàn clavico lạc giọng, vắng tay người chơi và giá nhạc bằng gỗ hồng sắc không dụng tới, bởi những tấm rèm nhung nặng nề, treo trễ nải bằng dây có núm tua xanh và cam, đóng khung một mảnh trời không mây và sân hiên đốm vàng đốm xám nơi cam cúc và cúc thanh nhiệt trồi lên giữa những kẽ lát đá.

Bậc thềm dẫn xuống bãi cỏ nơi Robbie vẫn đang mải miết làm việc ở rìa, bãi cỏ kéo dài ra tít tận đài phun Triton cách đó năm mươi lăm mét.

Tất thảy những thứ này - sông, hoa, chạy, những thứ nàng hiếm khi làm vào những ngày này, những cành sồi đẹp đẽ vươn ra trên thân như những dẻ sườn, căn phòng trần cao, vòm ánh sáng, tiếng tim đập trong tai chìm vào tĩnh lặng - khi sự thân thuộc hóa thành nét xa lạ quyến rũ, tất thảy những thứ này bỗng làm nàng khoan khoái.

Nhưng nàng cũng cảm thấy muốn quở măng nỗi nhàm chán khi ở ru rú trong nhà.

Nàng từ Cambridge về mang theo một niềm tin mơ hồ rằng mình nợ gia đình một khoảng thời gian ở bên họ liên tục.

Nhưng cha nàng vẫn còn lưu lại thành phố, còn mẹ nàng, khi bà không phải lo chăm chứng đau nửa đầu thì lại có vẻ xa cách, thậm chí thiếu thân thiện.

Cecilia có lần đã bưng khay trà đến tận phòng mẹ - bẩn thỉu đến ngoạn mục không kém gì phòng nàng - nghĩ rằng biết đâu có thể chuyện trò thân mật.

Nhưng, Emily Tallis chỉ muốn chia sẻ những bực dọc nhỏ nhặt chuyện nhà chuyện cửa, hoặc ngồi tựa gối, nét mặt u sầu khó hiểu, im lặng uể oải nhấp cạn tách trà.

Briony thì đắm mình vào mộng tưởng viết lách - việc trước đây có vẻ là thú vui dở hơi thoáng qua giờ hóa ra lại là nỗi ám ảnh bao chiếm trọn vẹn.

Sáng hôm đó Cecilia đã gặp bọn trẻ trên cầu thang, em gái cô dẫn ba chị em họ kia, những đứa trẻ đáng thương vừa mới chân ướt chân ráo đến hôm qua, lên phòng trẻ để tập vở kịch Briony muốn diễn vào buổi tối, khi Leon và bạn anh về.

Còn quá ít thời gian, mà một trong hai đứa nhóc sinh đôi đã bị Betty phạt nhốt trong phòng rửa bát vì đã làm gì đó sai trái.

Cecilia chẳng buồn nghĩ đến chuyện giúp đỡ - trời nóng quá, mà dù nàng có làm gì chăng nữa, dự án kịch kia cũng két cục trong tai họa, vì Briony đã trông đợi quá nhiều, trong khi không một ai, đặc biệt là đám chị em họ, đủ khả năng đáp ứng được viễn tượng điên rồ của em.

Cecilia biết mình không thể cứ hoài phí tháng ngày trong cái ngột ngạt của căn phòng bừa bộn, nằm trên giường trong làn khói thuốc mờ ảo, tay chống cằm, sởn gai ốc khắp cánh tay trong lúc mải mê đọc Clarissa của Richardson.

Nàng từng hờ hững bắt đầu vẽ một cây phả hệ, nhưng về đằng nội, ít nhất cho đến khi ông cô nội của nàng mở cái cửa hàng đồ sắt xoàng xĩnh ấy, tổ tiên nàng chỉ chìm đắm không gì cứu vãn nổi trong vũng lầy toàn việc trang trại đồng áng, những vụ đổi họ đáng ngờ và khó hiểu của cánh đàn ông, và các cuộc hôn nhân theo tập tục chứ không được ghi chép lại trong sổ sách xứ đạo.

Nàng không thể lưu lại đây mãi, nàng biết mình nên lên kế hoạch, nhưng nàng chẳng động tay chân.

Có rất nhiều khả năng, nhưng hết thảy đều chẳng hề câu thúc.

Nàng có ít tiền trong tài khoản, đủ cho nàng sống tằn tiện trong khoảng một năm.

Leon không ngớt mời nàng đến ở cùng anh tại London.

Bạn bè đại học đề nghị giúp nàng tìm việc làm - một công việc nhàm chán, tất nhiên, nhưng nàng sẽ tự lập.

Nàng có những bà dì ông cậu thú vị luôn sẵn lòng gặp nàng, gồm cả dì Hermione phóng túng, mẹ của Lola và hai thằng bé, hiện giờ đang ở tận Paris với người tình làm việc tại đài truyền thanh.

Không ai níu Cecilia lại, không ai đặc biệt quan tâm nếu nàng đi.

Không phải sự uể oải kìm giữ nàng - nàng vẫn thường bồn chồn đến mức dễ cáu kỉnh.

Đơn giản là nàng chỉ thích cảm thấy có ai đó ngăn nàng ra đi, có ai đó cần đến nàng.

Hết lần này lượt khác nàng thuyết phục bản thân rằng nàng ở lại là vì Briony, hay để giúp mẹ nàng, hay bởi thực sự đây là kỳ lưu lại cuối cùng liên tục ở nhà nên nàng sẽ không bỏ dở.

Nhưng thực ra nàng cũng chẳng mấy hào hứng với ý nghĩ đóng gói va li rồi bắt chuyến tàu buổi sớm.

Ra đi chỉ vì ra đi.

Nấn ná lại đây, vừa nhàm chán vừa dễ chịu, là một dạng tự trừng phạt nhuốm màu khoái cảm, hoặc nàng cũng trông đợi nó như vậy; nếu nàng ra đi biết đâu sẽ có chuyện gì đó tồi tệ xảy ra, tệ hơn thế, biết đâu lại có chuyện gì đó tốt lành, chuyện gì đó mà nàng không nên để lỡ.

Lại còn Robbie nữa, anh làm nàng giận điên lên được với cái vẻ bộ tịch xa cách, với những kế hoạch vĩ đại chỉ bàn bạc với cha nàng.

Hai người quen nhau từ hồi mới lên bảy, nàng và Robbie, và nàng thấy buồn bực vì hai người vẫn gượng gạo khi nói chuyện.

Mặc dù nàng cảm thấy phần lớn đó là lỗi của anh - phải chăng cái vị trí luôn đứng đầu đã khiến anh mê muội?

- nàng biết mình phải làm cho ra ngô ra khoai chuyện này rồi mới nghĩ đến việc ra đi.

Qua khung cửa sổ mở lẩn vào mùi phân bò thoang thoảng, luôn hiện hữu trừ ngày đông giá lạnh, và chỉ những ai đi xa về mới để ý thấy.

Robbie đã bỏ xẻng xuống và đứng lên quấn thuốc, một thói quen tàn tích từ thời gian sinh hoạt đảng Cộng sản của anh - một đam mê dở hơi bị bỏ rơi khác, cùng với những tham vọng trong ngành nhân chủng học, và kế hoạch đi bộ từ Calais sang Istanbul.

Mà thuốc lá của nàng thì lại cách chỗ nàng đang đứng đến hai đợt cầu thang, đâu đó trong mấy cái túi.

Nàng tiến vào phòng, tống chỗ hoa vào bình.

Cái bình hồi xưa là của bác Clem, nàng còn nhớ khá rõ lễ tang của ông, hay cải táng thì đúng hơn, vào những ngày cuối chiến tranh: chiếc xe vốn để chở pháo tiến vào sân nhà thờ ở quê, quan tài được phủ cờ trung đoàn, những thanh kiếm giơ cao, đống đất bên huyệt, và đáng nhớ nhất với một đứa trẻ năm tuổi là cảnh cha nàng nức nở.

Clem là người anh duy nhất của ông.

Câu chuyện làm thế nào bác lại có cái bình được kể lại trong một trong những lá thư cuối cùng viên trung úy trẻ viết về nhà.

Ông làm nhiêm vụ liên lạc bên quân khu của Pháp và đề xướng tản cư một thành phố nhỏ phía Tây Verdun vào phút chót trước khi nó bị pháo kích.

Khoảng năm mươi phụ nữ, trẻ em và người già đã được cứu mạng.

Sau đó, thị trưởng và những quan chức khác đưa bác Clem vào lại thành phố đến một bảo tàng đã bị thiêu hủy quá nửa.

Cái bình được lấy ra từ một kệ kính đã vỡ tan tành và trao tặng để tỏ lòng biết ơn.

Không thể nào từ chối, dù có bất tiện đến đâu khi phải đi chiến đấu với một cái bình sứ Meissen kè kè kẹp dưới một bên tay.

Một tháng sau, cái bình được để lại một trang trại cho an toàn, và Trung úy Tallis đã lội qua sông mùa nước lên để tìm lại nó, rồi giữa đêm lại lội ngược lại dòng nườc đó để nhập với đơn vị.

Vào những ngày cuối cùng của cuộc chiến, ông được cử đi tuần tra và đã gửi lại cái bình cho một người bạn để cất giữ an toàn.

Cái bình từ từ tìm đường quay lại sở chỉ huy trung đoàn, rồi được gửi đến nhà Tallis vài tháng sau lễ tang bác Clem.

Đúng là chẳng ích gì khi cô cắm lại đám hoa dại.

Chúng cứ ngã nhào vào chuẩn cân đối của riêng chúng, và đúng là phân bố hoa diên vỹ và liễu diệp quá đều nhau đã làm hỏng hết ấn tượng.

Nàng mất đến vài phút chỉnh lại để bình hoa có được vẻ lộn xộn tự nhiên.

Trong lúc đó, nàng băn khoăn không biết có nên ra ngoài lại chỗ Robbie.

Để khỏi phải chạy lên cầu thang.

Nhưng nàng thấy khó chịu và nóng nực, và muốn nhìn thử dung mạo mình trong tấm gương mạ vàng lớn đặt trên lò sưởi.

Nhưng nếu thế, anh mà quay lại - anh đang đứng xây lưng lại nhà, hút thuốc - thì sẽ nhìn thắng ngay vào phòng.

Cuối cùng nàng cũng chỉnh xong hoa và lại đứng lên.

Giờ thì bạn anh nàng, Paul Marshall, sẽ tin rằng hoa đơn giản đã được thả vào bình một cách không chủ ý hệt như khi chúng được hái vậy.

Nàng biết thật vô nghĩa khi cắm hoa vào bình mà chưa đổ nước - nhưng đằng nào cũng thế rồi; nàng không cưỡng lại được việc chỉnh chúng trước, vả lại không phải mọi thứ con người làm đều có thể theo một trật tự logic, chính xác, nhất là khi họ chỉ có một mình.

Mẹ nàng muốn để hoa trong phòng khách và Cecilia vui vẻ vâng lời.

Nơi lấy nước là ở bếp.

Nhưng Betty đang chuẩn bị nấu bữa tối, va đang trong tâm trạng rất dễ nổi đóa.

Không chỉ thằng nhỏ, Jackson hay Pierrot, mới co rúm lại run rẩy - mà cả người giúp việc thêm từ làng lên cũng thế.

Từ phòng khách này đã có thể nghe được tiếng hét nóng giận nghèn nghẹt thỉnh thoảng vút lên và tiếng chảo đập loảng xoảng lên mặt lò bằng một lực không mấy bình thường.

Nếu giờ mà Cecilia ló mặt vào, nàng sẽ phải làm trung gian hòa giải giữa những lời chỉ dẫn mơ hồ của mẹ và tâm trạng kích động của Betty.

Rõ là họp lý hơn khi ra ngoài lấy nước vào bình chỗ đài phun.

Hồi mười mấy tuổi, có lần một người bạn của cha Cecilia làm việc ở Bảo tàng Victoria and Albert đã đến xem xét cái bình và khẳng định nó khá quý.

Nó là đồ sứ Meissen thật trăm phần trăm, tác phẩm của nghệ sĩ vĩ đại Horoldt, ông vẽ nó vào năm 1726.

Gần như chắc chắn nó từng thuộc sở hữu của Vua August.

Mặc dù nó được liệt vào thứ đáng giá hơn những thứ khác trong nhà Tallis, hầu hết là những thứ tạp nhạp ông nội Cecilia sưu tầm, Jack Tallis vẫn muốn cái bình luôn được sử dụng, để tưởng nhớ người anh trai.

Nó không nên bị giam cầm trong tủ kính.

Lý lẽ là nếu đã sống sót được qua chiến tranh, thì nó có thể sống sót giữa những người nhà Tallis.

Vợ ông không phải không đồng tình.

Sự thật là, dù giá trị của nó vĩ đại cỡ nào, và bất chấp mọi moi liên hệ mà cái bình mang trong nó, Emily Tallis vẫn không thích nó lắm.

Hình vẽ mấy người Trung Hoa nhỏ xíu trịnh trọng tụ tập quanh bàn trong một khu vườn, xung quanh là cây cối rườm rà và lũ chim chóc trông đầy giả tạo, tạo cảm giác ngột ngạt và cầu kỳ rối mắt.

Phong cách Trung Hoa nói chung thường khiến bà thấy nhàm chán.

Cecilia thì không có ý kiến gì đặc biệt, dù thỉnh thoảng nàng vẫn tự hỏi ở nhà đấu giá Sotheby's thì cái bình bán được bao nhiêu.

Cái bình được tôn kính không phải chỉ vì tài nghệ tráng những lớp men đa sắc siêu phàm của Horoldt hay những họa tiết trang trí kiểu dây da bện và hoa văn cành lá màu xanh dương và vàng chói quấn quýt vào nhau, mà vì bác Clem, vì những sinh mạng bác đã cứu sống, vì con sông bác đã băng qua lúc nửa đêm, và vì cái chết của bác chỉ một tuần trước ngày đình chiến.

Hoa, đặc biệt là hoa dại, có lẽ là tặng vật thích hợp.

Cecilia đứng một chân giữ chặt cái bình sứ mát lạnh bằng cả hai tay, chân còn lại đẩy cánh cửa sổ Pháp mở toang.

Khi nàng bước ra ánh sáng rỡ ràng, mùi đá nóng sực lên như một vòng tay thân mật.

Hai con chim nhạn đang chao cánh trên đài phun, và bài ca của một chú claim chích vang lên xuyên qua không trung từ bên trong tán lá gần như tối thẫm của cây tuyết tùng khổng lồ xứ Lebanon vạm vỡ.

Những cánh hoa rập rờn trong làn gió nhẹ, khẽ mơn trớn mặt nàng khi nàng bước qua sân hiên và thận trọng đưa chân bước lên ba bậc lung lay dẫn xuống con đường lát sỏi.

Robbie thình lình quay lại khi nghe tiếng nàng bước đến.

"Tôi đang mải nghĩ," anh cất lời giải thích.

"Anh quấn cho tôi một điếu Bolshevik anh đang có được không?"

Anh ném điếu thuốc của mình qua một bên, nhặt chiếc hộp thiếc nằm trên áo khoác trên bãi cỏ rồi sánh bước cùng nàng đến đài phun.

Trong một lát, hai người lặng thinh.

"Hôm nay trời đẹp nhỉ," rồi nàng nói trong tiếng thở dài.

Anh nhìn nàng bằng ánh mắt nghi ngờ thích thú.

Có thứ gì đó giữa hai người, ngay cả nàng cũng phải thừa nhận rằng một lời nhận xét nhạt nhẽo về thời tiết nghe thật gượng gạo.

"Clarissa hay không?"

Anh cụp mắt xuống nhìn ngón tay đang quấn thuốc.

"Chán lắm."

"Chúng ta đâu được phép nói vậy."

"Tôi mong cô ta sẽ làm tới luôn."

"Có chứ.

Rồi chuyện hay hơn nhiều."

Họ bước chậm lại, rồi dừng hẳn để anh đưa ngón tay quấn nốt vòng cuối cho điếu thuốc của nàng.

Nàng nói, "Tôi thà đọc Fielding còn hơn."

Nàng có cảm giác vừa nói một điều ngu xuẩn.

Robbie đưa mắt nhìn qua bãi cỏ và lũ bò tới cánh rừng sồi nằm trong thung lũng sông, khu rừng sáng đó nàng đã chạy qua.

Anh có thể sẽ nghĩ nàng đang bóng gió với anh, khơi gợi rằng nàng thích người cường tráng và gợi tình.

Dĩ nhiên điều đó không đúng, nàng lúng lúng và không biết làm cách nào để nói cho anh hiểu đúng.

Nàng thích mắt anh, nàng nghĩ, hòa quyện không lẫn lộn hai màu cam và xanh lá cây, dưới ánh nắng mặt trời trông càng như có hạt óng ánh.

Và nàng thích sự thật rằng anh rất cao.

Một sự kết hợp quyến rũ ở người đàn ôngng: trí thông minh và sức dài vai rộng.

Cecilia cầm lấy điếu thuốc và anh châm cho nàng.

"Tôi hiểu ý cô," anh nói trong khi họ bước đi nốt vài mét đến chỗ đài phun, "ở Fielding có nhiều yếu tố đời sống hơn, nhưng về mặt miêu tả tâm lý thì ông hơi thô so với Richardson."

Nàng đặt bình xuống cạnh mấy bậc mấp mô dẫn lên bể đá của đài phun.

Nàng chẳng lòng dạ nào muốn tranh luận như khi học đại học về văn chương thế kỷ mười tám.

Nàng không hề nghĩ Fielding thô, hay Richardson là một nhà tâm lý tài ba, nhưng nàng sẽ không sa vào, biện hộ, giới thuyết, bác lại.

Nàng chán những thứ đó rồi, mà Robbie khi tranh luận thì ngoan cố lắm.

Nên nàng chỉ nói, "Hôm nay Leon về đấy, anh biết không?"

"Tôi có nghe phong thanh.

Thật tuyệt quá."

"Anh ấy đưa bạn về, anh ấy tên là Paul Marshall."

"Nhà tỉ phú sôcôla.

Ôi không!

Và cô sắp tặng hoa cho anh ta!"

Nàng mỉm cười.

Phải chăng anh đang vờ vĩnh ghen tuông để che giấu sự thật là anh thực sự đang ghen tuông?

Nàng không còn hiểu được anh nữa.

Hai người đã không liên lạc với nhau từ hồi ở Cambridge.

Quá khó để làm gì đó khác.

Nàng bèn đổi chủ đề.

"Ông Già bảo anh sẽ làm bác sĩ."

"Tôi đang suy nghĩ."

"Anh hẳn là yêu đời sinh viên lắm."

Anh lại đưa mắt nhìn đi chỗ khác, nhưng lần này chưa đến một giây, và khi anh quay lại nàng nghĩ mình vừa thấy một thoáng tức giận.

Có phải giọng nàng nghe có vẻ hạ cố?

Nàng lại nhìn vào mắt anh, những đốm cam và xanh lá cây, như hòn bi ve của một cậu bé.

Nhưng khi nói giọng anh lại hoàn toàn dễ chịu.

"Tôi biết cô chẳng bao giờ thích những thứ như thế, Cee ạ.

Nhưng còn cách nào khác để trở thành bác sĩ nữa chứ?"

"Ý tôi là vậy đấy.

Lại sáu năm nữa.

Để làm gì?"

Anh không mếch lòng.

Nàng mới là người hay suy diễn, dễ kích động mỗi khi có mặt anh, và nàng khó chịu với chính mình.

Anh trả lời câu hỏi của nàng một cách nghiêm túc.

"Thực sự sẽ không ai trả lương cho tôi làm một anh thợ làm vườn.

Tôi không muốn dạy học, hay thi vào ngạch công chức.

Vả lại y học cũng khiến tôi hứng thú..."

Anh ngừng bặt khi nảy ra một ý nghĩ.

"Nghe này, tôi đã đồng ý sau này trả lại tiền cho cha cô.

Thỏa thuận là thế."

"Tôi hoàn toàn không định nói chuyện đó."

Nàng ngạc nhiên khi anh nghĩ nàng đang đưa vấn đề tiền nong ra.

Anh thật tủn mủn.

Cha nàng đã bao cấp việc học hành của Robbie từ trước đến giờ.

Đã ai lên tiếng phản đối chưa?

Nàng đã nghĩ mình tự tưởng tượng ra, nhưng hóa ra nàng đúng - gần đây có gì đó khó chịu trong cách xử sự của Robbie.

Anh luôn có cách chặn họng nàng bất cứ khi nào có thể.

Hai hôm trước anh đã bấm chuông cửa trước - tự việc này đã kỳ quặc rồi, vì anh luôn được tự do ra vào ngôi nhà.

Khi tiếng chuông gọi nàng xuống, anh đang đứng ngoài lớn tiếng hỏi vọng vào trong bằng giọng lạnh lùng rằng cho anh mượn cuốn sách được không.

Khi việc đó xảy ra, Polly đang bò cả người ra lau sàn ở sảnh vào.

Robbie trịnh trọng tháo ủng ra mặc dù chúng chẳng bẩn chút nào, rồi nghĩ thêm, cởi luôn cả tất, và rón rén theo kiểu cường điệu rất hoạt kê đi trên sàn ướt.

Mọi việc anh làm đều nhằm mục đích giữ khoảng cách với nàng.

Anh đang đóng vai con trai của người lau dọn đến nhà lớn chạy việc vặt.

Hai người cùng nhau vào thư viện, và khi anh tìm thấy cuốn sách mình cần, nàng mời anh lưu lại dùng một tách cà phê.

Cái kiểu run rẩy từ chối ấy đúng là một màn vờ vĩnh - anh là một trong những người tự tin nhất mà nàng từng gặp.

Nàng biết mình bị giễu.

Bị cự tuyệt, nàng ra khỏi phòng lên lầu nằm lăn ra giường với Clarissa, đọc mà không nhồi nổi vào đầu một từ nào, cảm thấy mỗi lúc một cáu giận và bối rối.

Nàng bị giễu, hay bị trừng phạt - nàng không hiểu đằng nào thì tệ hơn.

Bị trừng phạt vì đã thuộc về một giới khác khi ở Cambridge, vì đã không có một bà mẹ làm nghề lau chùi; bị giễu nhại vì cái bằng hạng xoàng của nàng - mà thực ra đằng nào người ta cũng đâu có trao bằng cho nữa giới.

Lóng ngóng, vì vẫn cầm điếu thuốc, nàng nhâc chiếc bình lên rồi khéo léo đặt nó dứng trên thành bể.

Sẽ hơp lý hơn nếu lấy hoa ra trước, nhưng nàng thì đang cáu quá.

Tay nàng vừa nóng vừa khô ran, nên nàng phài siết chật cái bình sứ hơn.

Robbie im Lặng, nhưng nhìn biểu hiện trển mặt anh - một nụ cười gượng gạo, cố căng ra trên đôi môi mím - là nàng biết anh hối hận vì đã nói thế.

Nhưng như vậy cũng chẳng giúp nàng thấy dễ chịu hơn.

Chuyện này luôn xảy ra khi họ trò chuyện với nhau những ngày gần đây; nếu không phải nàng thì cũng là anh liên tục cư xử không phải, luôn cố gợi lại lời nhận xét lần trước.

Không một chút thoải mái, không một chút bình lặng trong những câu họ chuyện trò, không cơ hội để họ thư giãn.

Thay vào đó, chỉ là những chông gai, cạm bẫy, những lần chuyển chủ đề gượng gạo khiến nàng căm ghét bản thân mình cũng nhiều ngang với căm ghét anh, mặc dù nàng không nghi ngờ gì rằng chính anh mới là người có lỗi chính.

Nàng không hề thay đổi, nhưng chắc chắn anh đã đổi thay.

Anh đặt ra khoảng cách giữa anh và cái gia đình trước nay vẫn hoàn toàn mơt rộng vòng tay với anh, trao cho anh mọi thứ.

Chỉ riêng lý do này thôi – biết thừa anh sẽ từ chối, và chính nàng trước đó đã không vui - tối đó nàng đã không mời anh đến dùng bữa tối.

Anh muốn khoảng cách chứ gì, thì cho anh có khoảng cách.

Trong bốn con cá heo dùng đuôi đỡ cái vỏ sò cho Triton ngồi quỳ, con gần Cecilia nhất có miệng mở rộng nhồi đầy những rêu với tảo.

Cầu mắt bằng đá, to ngang quả táo, xanh lóng lánh màu lá cây.

Toàn bộ mặt hướng về phía Bắc của bức tượng phủ một lớp gỉ đồng xanh nhạt, nên khi nhìn vào từ góc độ nhất định, và dưới ánh sáng mờ mờ, thần Triton cuồn cuộn cơ bắp tạo cảm giác như đang ở sâu hàng trăm hải lý dưới biển.

Dụng ý của Bemini hẳn là để nước từ vỏ sò lớn có mép mấp mô thánh thót chảy xuống bể bên dưới.

Nhưng áp suất quá yếu, vì thế nước chỉ ri rỉ men theo mặt dưới vỏ sò, nơi chất bùn nhớt tận dụng cơ hội treo mình vào trong những giọt đang nhỏ xuống, như thạch nhũ trong động đá vôi.

Bể sâu hơn một mét và sạch bong.

Đáy bể là một tảng đá láng mịn màu xanh xám, trên đó là vô số những khoảng sáng hình chữ nhật cạnh trắng in bóng sóng lăn tăn được làm nên từ ánh mặt trời bị khúc xạ hết tách ra lại gối lên nhau chồng chéo.

Nàng định nhoài người qua thành bể, để nguyên hoa trong bình rồi nghiêng bình xuống nước, nhưng đúng giây phút đó Robbie, vì muốn chuộc lỗi, bèn cố tỏ ra có ích.

"Để tôi làm cho," anh nói, chìa tay ra.

"Tôi sẽ lấy nước vào bình cho cô, còn cô cầm hoa."

"Tôi tự làm được, cám ơn."

Nàng đã chìa cái bình ra ngoài bể rồi.

Nhưng anh nói, "Này, tôi cầm rồi."

Và anh đã cầm, giữ chắc bằng ngón trỏ và ngón cái.

"Thuốc của cô ướt mất.

Cầm hoa đi."

Anh đã cô tạo cho mệnh lệnh này vẻ nam quyền cương quyết.

Hậu quả tác động lên Cecilia là khiến nàng siết chặt tay cầm hơn.

Nàng không có thời gian, và dĩ nhiên không có ý định giải thích rằng nhúng cả bình và hoa xuống nước sẽ giúp tạo ra vẻ tự nhiên mà nàng muốn có cho lọ hoa.

Nàng cầm chặt hơn và lách người khỏi anh.

Anh không dễ bị tống khứ như thế.

Một âm thanh khô như cành cây gãy rắc vang lên, một phần miệng bình rời ra trong tay anh, và vỡ tan thành hai mảnh hình tam giác rơi tõm xuống nước, nhào lộn nhịp nhàng với nhau trên đường lao xuống đáy, rồi nằm đó, cách nhau vài xăng- timét, trông méo mó trong ánh sáng bị khúc xạ.

Cecilia và Robbie chết sững trong tư thế đang giành nhau.

Mắt gặp mắt, và cái nàng nhìn thấy trong gam màu hòa quyện hai sắc xanh cam thất thần kia không phải sự kinh ngạc, hay tội lỗi, mà là một kiểu thách thức, hay thậm chí là đắc thắng.

Nàng đủ tỉnh táo để đặt lại chiếc bình mẻ kia xuống bậc trước khi để bản thân đối mặt với tầm nghiêm trọng của tai biến này.

Thật vô cùng hấp dẫn, thậm chí đáng hài lòng nửa, vì nàng biết chuyện càng nghiêm trọng thì Robbie sẽ thấy càng tồi tệ.

Người bác quá cố của nàng, anh trai thân yêu của cha nàng, cuộc chiến tranh vô ích ấy, vụ vượt sông nguy hiểm ấy, sự quý giá không tiền bạc nào sánh nổi ấy, chủ nghĩa anh hùng và lòng hào hiệp, ngần ấy năm dồn tụ đằng sau lịch sử của chiếc bình kể từ thời Horoldt thiên tài, và trước ông xa hơn nữa đến tận thời của những nghệ nhân nắm bí quyết đã tái sinh đồ sứ...

"Đồ ngốc!

Nhìn xem anh đã làm cái gì đây này."

Anh nhìn xuống nước, rồi nhìn nàng, và chỉ đơn giản lắc đầu khi đưa tay lên che miệng.

Bằng cử chỉ này anh đã nhận hoàn toàn trách nhiệm, nhưng vào giây phút đó, nàng căm ghét anh vì anh đã phản ứng quá yếu ớt.

Anh liếc về phía bể rồi thở dài.

Trong một khoảnh khắc anh nghĩ nàng sắp lùi lại giẫm lên cái bình, anh giơ tay lên chỉ, dù vẫn không nói gì.

Thay vì thế anh bắt đầu cởi cúc áo.

Ngay lập tức nàng biết anh sắp làm gì.

Không thể dung thứ nổi.

Anh ta đã đến nhà, rồi cởi giày, cởi tất - được thôi, nàng sẽ cho anh thấy.

Nàng hất phăng đôi xăng đan ra, mở cúc áo và cởi ra, tụt váy xuống và bước chân ra khỏi nó, tiến đến thành bể.

Anh đứng chống nạnh trân trối nhìn nàng mặc độc bộ đồ lót chuồi người xuống nước.

Khước từ sự giúp đỡ của anh, khước từ mọi khả năng chuộc lỗi, là hình phạt dành cho anh.

Nước lạnh cóng bất ngờ khiến nàng thở hổn hển là hình phạt dành cho anh.

Nàng nín thở và ngụp xuống, để tóc xòa tung trên mặt nước.

Tự trầm chính nàng sẽ là hình phạt dành cho anh.

Khi nàng trồi lên một vài giây sau, hai tay cầm hai mảnh sứ, anh biết tốt hơn không nên đề nghị giúp nàng ra khỏi nước.

Vị nữ thần trắng ngần mảnh mai, từ người nàng nước ầm ầm đổ xuống, tráng lệ hơn nhiều so với từ chàng Triton lực lưỡng kia, cẩn thận đặt những mảnh vỡ cạnh cái bình.

Nàng mau lẹ mặc lại váy áo, khó nhọc xỏ cánh tay ướt sũng vào tay áo lụa, rồi nhét vào váy chiếc áo chưa cài khuy.

Nàng nhặt đôi xăng đan lên rồi kẹp chặt vào dưới cánh tay, bỏ những mảnh vỡ vào túi váy rồi cầm cái bình lên.

Nàng cử động một cách bạo liệt, và không thèm nhìn vào mắt anh.

Anh không tồn tại, anh bị trục xuất, và đây cũng là hình phạt.

Anh đờ đẫn đứng đó khi nàng bước đi, chân trần trên cỏ, và anh nhìn mái tóc bị nước làm cho sẫm màu của nàng vung vẩy nặng nề trên vai, làm ướt sũng chiếc áo.

Rồi anh quay lại nhìn xuống làn nước vì nhỡ đâu nàng còn để sót một mảnh vỡ.

Rất khó nhìn vì mặt nước bị khuấy tung kia vẫn chưa hồi lại được trạng thái phẳng lặng, và sự xáo trộn đó là do cơn thịnh nộ còn nấn ná trong nàng gây ra.

Anh xòe tay khẽ áp vào mặt nước, như để mơn trớn xoa dịu.

Nàng, khi đó, đã mất dạng vào nhà.
 
Atonement - Chuộc Tội
Ba


Theo như tấm áp phích treo ở tiền sảnh, ngày công diễn đầu tiên của vở Những gian nan của nàng Arabella chỉ sau lần tập đầu tiên duy có một hôm.

Tuy nhiên, quả không mấy dễ dàng cho nhà biên kịch kiêm đạo diễn tìm được lúc nào không có vụ gì để làm việc tập trung.

Như buổi chiều hôm trước thì khó khăn nằm ở khâu tập hợp đội ngũ diễn viên.

Vào đêm Arabella bất tuân lời cha, Jackson đã đái dầm ra giường, như bao thằng nhóc xa nhà bất an khác, và bị bắt buộc làm theo lý thuyết hiện thời là mang ga trải giường cùng pyjama xuống phòng giặt tự mình giặt lấy, bằng tay, dưới sự giám sát của Betty, người đã được chỉ đạo là phải giữ khoảng cách và cứng rắn.

Việc này đưa ra không phải là để phạt thằng bé, mà chỉ để hướng cho nó có ý thức rằng những việc làm sai trái trong tương lai sẽ dẫn đến những chuyện phiền phức và vất vả; nhưng nó buộc phải cảm thấy đó thực sự là hình phạt khi đứng ở chỗ cái bồn đá to đùng cao đến ngang ngực, bọt xà phòng bò lên tận cánh tay trần làm ướt sũng hai tay áo sơ mi đã xắn lên, tấm ga ướt nặng như một con chó chết và cảm giác khổ sở tột độ bao trùm khiến nó chẳng còn thiết gì nữa.

Briony chốc chốc lại chạy xuống xem nó làm ăn ra sao.

Em bị cấm không được giúp, còn Jackson, dĩ nhiên, chưa bao giờ giặt một thứ gì trong đòi nó; hai lần giặt, vô số lần giũ và cuộc vật lộn không ngừng nghỉ bằng cả hai tay với cái máy cán là, cộng thêm mười lăm phút run lẩy bẩy sau đó ở bàn bếp với bánh mì, bơ và một ly nước, đã chiếm mất đứt hai tiếng diễn tập.

Khi Hardman từ cái nóng buổi sáng bước vào lấy vại bia, Betty bảo anh ta rằng bà hết chịu nổi khi cứ phải chuẩn bị bữa tối có món thịt nướng đặc biệt trong thời tiết thế này, và rằng cá nhân bà nghĩ đối xử với thằng bé như thế là khắc nghiệt quá, đáng lẽ chỉ nên cho vài cái phát thật đau vào mông, rồi tự mình giặt ga.

Với Briony thì nghe rất hợp nhĩ, vì buổi sáng đang sắp hết đến nơi.

Khi mẹ em đích thân xuống xem nhiệm vụ đã được hoàn thành, thì không thể tránh khỏi chuyện cảm giác được giải thoát tràn ngập lòng những kẻ can dự, còn trong tâm trí bà Tallis lại xuất hiện ít nhiều cảm giác tội lỗi không nói ra, vì thế khi Jackson lí nhí xin phép được bơi ở hồ bơi bây giờ và cho em trai đi cùng, ước muốn của nó ngay lập tức được đáp ứng, còn những lời phản đối của Briony bị gạt sang bên một cách rộng lượng, như thể chính em mới là người đang áp đặt những hình thức tra tấn không mấy dễ chịu lên một đứa nhỏ yếu ớt.

Và rồi thì đi bơi, và rồi thì hiển nhiên là đến bữa trưa.

Trước đó buổi diễn tập vẫn tiếp tục mà không có Jackson, nhưng không có cảnh quan trọng đầu tiên, buổi tiễn biệt Arabella, thì đúng là hủy hoại sự toàn hảo của vở kịch, đã thế Pierrot lại quá lo lắng cho số phận anh trai ở dưới nhà kia nên không tài nào đóng nổi vai tay bá tước ngoại quốc hèn nhát; bất cứ chuyện gì xảy đến cho Jackson cũng sẽ là tương lai của Pierrot.

Nó liên tục làm các chuyến du ngoạn đến phòng rửa mặt ở cuối hành lang.

Lúc Briony sau khi quay lên từ một trong những chuyến viếng thăm phòng giặt, nó hỏi em, "Anh ấy có bị phát vào đít không?"

"Vẫn chưa."

Như anh trai, Pierrot có sở trường tước đi bất cứ nghĩa gì trong câu thoại.

Nó phát âm một loạt từ đều đều như điểm danh: "Cô-nghĩ-thoát-nổi- nanh-vuốt-của-tôi- ư?"

Từ nào cũng có mặt và chính xác.

"Đó là câu hỏi đấy," Briony cắt lời.

"Em không hiểu à?

Phải lên giọng ở cuối câu."

"Ý chị là sao?"

"Đây.

Em vừa làm xong.

Em bắt đầu thấp giọng và cuối thì cao lên.

Đó là câu hỏi."

Nó nuốt đánh ực, hít một hơi, rồi thử lần nữa, lần này là giọng điểm danh cao hơn nửa cung.

"Ở cuối.

Lên giọng ở cuối!"

Giờ thì đến lượt một câu điểm danh đều đều như cũ, đột ngột ngắt ra, đổi từ giọng trầm sang kim, ở âm tiết cuối cùng.

Lola đã đến phòng trẻ sáng đó trong lốt vỏ người lớn, cô tự coi rằng ở tận sâu thẳm mình đã thực sự là người lớn.

Cô vận quần vải flanen chiết li phồng ra ở hông và loe ở mắt cá chân, kèm một áo ngắn tay may bằng vải cashmere.

Những biểu hiện khác của sự trưởng thành bao gồm một chiếc vòng cổ bằng nhung có đính những hạt ngọc trai nhỏ xíu, những lọn tóc đỏ hoe được thu gọn lại nơi gáy, một chiếc cặp bằng ngọc lục bảo giữ chúng lại, ba cái vòng rộng bằng bạc đeo ở cổ tay đầy nốt tàn nhang, và sự thật là mỗi khi cô đi lại, không khí xung quanh cô nức hương dầu thơm hoa hồng.

Cái kiểu hạ mình của cô, khi được kiềm chế hoàn toàn, càng có uy lực.

Cô điềm tĩnh đáp ứng những gợi ý của Briony, đọc lời thoại của mình, có vẻ cô đã học chúng suốt đêm, mặt biểu cảm vừa đủ, và còn dịu dàng khuyến khích cậu em, mà không hề xâm lấn tí nào quyền hạn của đạo diễn.

Như thế Cecilia, hay thậm chí là mẹ em, đã đồng ý dành ít thời gian đóng một vai cùng bọn trẻ con, và quyết tâm không mảy may để lộ sự chán nản.

Cái thiếu vắng chính là không có bất cứ dạng thức biểu hiện nào của sự hào hứng om sòm kiểu trẻ con.

Khi Briony cho ba chị em họ xem quầy bán vé và hộp thu tiền buổi tối hôm trước, hai đứa sinh đôi đã đánh nhau để đáng được đứng ở sảnh khán phòng hơn, còn Lola chỉ khoanh tay, cất một lời khen chín chắn, lịch thiệp qua một nụ cười nửa miệng vừa đủ mờ ảo để không ai dò ra được nét giễu cợt nào.

"Thật phi thường.

Nghĩ mà xem, Briony, chị mới giỏi khủng khiếp làm sao.

Chị tự tay làm hết đây à?"

Briony ngờ rằng đằng sau cách cư xử toàn hảo của cô em họ kia là dụng ý phá hoại.

Biết đâu Lola đang dựa vào hai đứa sinh đôi để phá hỏng vở kịch mà chẳng động tay vào, chỉ cần đứng lùi lại mà mục kích.

Những ngờ vực không chứng minh được, chuyện Jackson bị giam chân ở phòng giặt, kiểu thoại khổ sở của Pierrot và cái nóng khủng khiếp của buổi sáng làm lòng Briony nặng trĩu.

Nhận thấy Danny Hardman đang dòm ngó từ cửa phòng em càng khó chịu.

Phải bảo anh ta đi.

Em không thể hiểu thấu được sự thờ ơ của Lola hay dỗ ngọt cho Pierrot lên giọng xuống giọng bình thường như những câu giao tiếp thường nhật.

Lúc đó, thật là nhẹ cả người khi đột nhiên chỉ còn mình em trong phòng trẻ.

Lola bảo cần ngắm nghía lại tóc, còn em trai cô thì lang thang ra ngoài hành lang, đến phòng rửa mặt, hay xa hơn nữa.

Briony ngồi trên sàn, xây lưng lại tủ đựng đồ chơi cao âm trong tường, lấy tập trang bản thảo quạt mặt cho mát.

Căn nhà yên tĩnh tuyệt đối - không tiếng người hay tiếng bước chân ở tầng dưới, không tiếng nước chảy rì rầm trong đường ống; trong khoảng trống giữa hai khung kính của cửa sổ trượt đang mở, một con ruồi bị mắc kẹt đã bỏ cuộc, thôi vật lộn cố bay ra, và bên ngoài, tiếng chim hót véo von đã bay hơi dưới cái nóng.

Em duỗi thẳng chân ra để cho các nếp váy trăng vải muslin và những nếp nhăn trên da đầu gối thân thuộc, thương mến chiếm trọn tầm mắt.

Đáng lẽ sáng nay em phải thay váy rồi.

Em nghĩ mình nên chăm sóc vẻ ngoài nhiều hơn, như Lola ấy.

Không làm vậy thì thật là trẻ con.

Nhưng làm vậy mới khó làm sao.

Thinh lặng rít lên trong tai em và mọi thứ trong tầm mắt em bỗng như thoáng méo mó - đôi bàn tay đặt trên đùi đột nhiên trông to lạ thường, đồng thời lại có vẻ xa xăm, như thể nhìn từ một khoảng cách rất xa.

Em giơ một tay lên, gập ngón tay lại và tự vấn, như trước đây thỉnh thoảng vẫn làm, sao cái vật này, cái thiết bị dùng để cầm nắm này, cái hình con nhện nung núc thịt ở cuối cánh tay này, lại có thể là của em, tuyệt đối bị em làm chủ.

Liệu nó có cuộc đời nhỏ mọn nào của riêng nó không?

Em nắm tay lại rồi xòe ra.

Bí ẩn nằm trong phút giây trước khi nó cử động, khoảnh khắc phân chia giữa chưa cử động và cử động, khi ý chí sai khiến của em chờ có hiệu lực.

Như ngọn sóng trên đường òa vỡ.

Em nghĩ giá như được ở ngọn sóng, em có thể tìm được bí mật của bản thể mình, của cái phần thực sự đóng vai trò làm chủ trong em.

Em giơ ngón trỏ lại gần mặt và chằm chằm nhìn nó, nài nỉ nó cử động.

Nó vẫn yên vị vì em đang giả vờ, em không thật sự nghiêm túc, và vì ra lệnh cho nó cử động, hay toan cử động nó, thì không giống với thực sự cử động nó.

Và khi cuối cùng em cong ngón tay lại, hành động đó có vẻ như bắt đầu từ chính ngón tay, chứ không phải từ chỗ nào đó trong tâm trí em.

Khi nào nó biết phải cử động, khi nào em biết phải cử động nó?

Không gì giúp em rõ ràng được.

Hoặc là cái này, hoặc là cái kia.

Không đường may, không vết chỉ, ấy vậy mà em biét bên dưới cấu trúc mềm mại bất tận kia là cái tôi đích thực - tâm hồn em chăng?

- và nó đã quyết định thôi giả vờ, và đưa ra mệnh lệnh dứt khoát.

Những ý nghĩ này với em vừa thân thuộc, vừa khiến khuây khỏa như chính hình dạng của đôi đầu gối kia, cái vẻ ngoài hòa hợp nhưng đồng thời cũng cạnh tranh, vừa đối xứng vừa linh động.

Sau ý nghĩ đầu tiên luôn là một ý nghĩ nữa, bí ẩn này sản sinh bí ẩn khác: Những người khác có thực sự đang sống như em không?

Chẳng hạn, chị gái em có thực sự quan trọng với bản thể của chị, có quý giá với chính bản thân chị như Briony quý giá với em không?

Liệu làm Cecilia có cảm giác sống động như làm Briony không?

Chị em liệu có một cái tôi thực sự ẩn giấu sau con sóng vỡ, và chị có dành thời gian trăn trở về nó, trong lúc đưa một ngón tay lên sát mặt không?

Mọi người, cả cha em, Betty, Hardman có thế không?

Nếu câu trả lời là có, vậy thì thế giới, thế giới về phương diện xã hội, sẽ phức tạp đến khôn kham, với hai tỉ tiếng nói, và ý nghĩ của mỗi người sẽ đấu tranh một cách quyết liệt như nhau, và đòi hỏi của mỗi người từ cuộc sống cũng sẽ bạo liệt như thế, rồi ai cũng nghĩ mình là độc nhất vô nhị, mặc dù chẳng ai là thế cả.

Người ta có thể chết chìm trong những điều vụn vặt.

Nhưng nếu câu trả lời là không, thì Briony sẽ bị những cỗ máy vây quanh, bề ngoài thông minh và tử tế, nhưng bên trong lại thiếu vắng những xúc cảm mãnh liệt và thầm kín như em vẫn có.

Như thế thật xấu xa và cô độc, mà cũng bất khả nữa.

Vì, dù điều đó có xúc phạm ý niệm về trật tự của em, em vẫn biết khả năng người khác cũng có ý nghĩ như em là vô cùng có thể.

Em biết điều này, nhưng chỉ bằng một cách khá chung chung; thực sự em không cảm thấy thế.

Những buổi diễn tập cũng xúc phạm đến ý niệm trật tự của em.

Thế giới độc lập mà em vẽ ra bằng những nét vẽ rõ ràng, hoàn hảo, đã bị những nét nguệch ngoạc của các tâm hồn khác, nhu cầu khác bôi xấu; và cả thời gian nữa, thời gian, đã được phân chia trên giấy thành những hồi và cảnh dễ dàng là thế, bây giờ thậm chí lại đang bị rò rỉ đi mà không sao kiểm soát.

Hẳn là Jackson sẽ không quay lại tập cho đến sau bữa trưa.

Leon và bạn anh chỉ sẩm tối là sẽ về, mà thậm chí còn sớm hon, vở kịch đã được sắp xếp diễn lúc bảy giờ.

Ấy vậy mà chưa có nổi một buổi diễn tập ra hồn, hai đứa sinh đôi thì không biết diễn, đến đọc thoại cũng không xong, Lola thì cướp vai diễn đáng ra là của Briony, và em không thể xoay xở được gì nữa, trời thì nóng, nóng không tưởng tượng nổi.

Cô bé nén những ức chế lại và đứng dậy.

Bụi ở ván ốp chân tường làm bẩn tay em và đằng sau váy.

Mải mê nghĩ, em chùi tay vào trước váy khi bước lại cửa sổ.

Cách đơn giản nhất để gây ấn tượng với Leon lẽ ra phải là viết tặng anh một câu chuyện, rồi tự mình dúi vào tay anh, và dõi mắt nhìn anh đọc.

Tên truyện được viết hoa, bìa minh họa, những trang viết được đóng lại - clử riêng với từ đó thôi em đã cảm thấy sức hấp dẫn của sự ngăn nắp, hình thức được giới hạn và có thể kiểm soát mà em đã bỏ đi để quyết định viết một vở kịch.

Một câu chuyện thì trực tiếp và đơn giản, không cho phép bất cứ thứ gì xen vào giữa bản thân em và độc giả - không có gì trung gian giữa em với những tham vọng riêng tư hay sự kém cỏi của họ, không sức ép thời gian, không giới hạn về nguồn lực.

Trong câu chuyện ta chỉ cần mong ước, ta chỉ cần viết ra, và thế là ta sẽ có cả thế giới; trong một vở kịch thì phải xoay xở với những gì sẵn có: không ngựa, không đường làng, không bờ biển.

Không phông màn.

Giờ khi đã quá muộn, có vẻ quá rõ ràng rằng: một câu chuyện là hình thức thể hiện sự giao cảm từ xa.

Viết bằng mực những ký hiệu lên trang giấy, em có thể gửi đi ý nghĩ và cảm xúc trong tâm hồn mình đến độc giả.

Đó là quá trình kỳ diệu, nhưng lại bình thường đến mức không một ai chịu dừng lại mà thán phục.

Đọc một câu cũng giống như hiểu được nó; và như quá trình cong một ngón tay, đều diễn ra liền mạch.

Quá trình hiểu những ký tự là liên tục.

Ta thấy từ lâu đài, và lập tức hình dung ra lâu đài ở kia, thấp thoáng xa xa, phía trước là cánh rừng trải rộng giữa mùa hè, không khí phảng phất màu trời, đìu dịu với làn khói từ lò rèn bay lên, và con đường trải đá quanh co khuất dần vào bóng râm xanh non màu lá...

Lúc này em đã tới đứng trước khung cửa sổ phòng trẻ mở toang, và hẳn đã trông những gì hiện ra trước mắt từ vài giây trước khi định hình được.

Đó là một cảnh rõ ràng là giống, ít nhất khi nhìn từ xa, một lâu đài Trung cổ.

Cách địa phận nhà Tallis vài dặm là khu dồi Surrey Hills và những ngọn sồi nhấp nhô, im lìm bất động mọc san sát dày đặc, sắc xanh của chúng dịu đi dưới làn khí nóng màu trắng sữa.

Rồi, gần hơn, công viên rộng thênh thang của khu dinh thự, hôm nay trông khô cằn và thảm hại, nóng giãy như một trảng xavan, nơi những thân cây cách xa nhau chỉ ngả được chút bóng bè bè xơ xác xuống, còn cả bãi cỏ trải dài thì đã bị ánh nắng hung vàng như màu lông sư tử của ngày hè rực nóng đeo bám suốt.

Gần hơn nữa, bao trọn trong hàng bao lơn, là vườn hồng, gần hơn nữa, là đài phun Triton, đứng cạnh thành bể nước là chị gái em, và ngay trước chị là Robbie Turner.

Cách anh đứng có gì đó hơi nghiêm trang, hai chân hơi giạng ra, đầu ngả về phía sau.

Lời cầu hôn.

Briony sẽ không lấy gì làm ngạc nhiên.

Chính em đã từng viết câu chuyện về anh chàng tiều phu hèn mọn cứu công chúa bị chết đuối rồi đến cuối truyện kết hôn với nàng.

Chuyện đang diễn ra ở đây khớp đến hoàn hảo.

Robbie Turner, con trai độc nhất của một người mẹ quét dọn hèn mọn và một người cha không biết mặt biết tên, Robbie chàng trai đã được cha Briony chu cấp ăn học từ phổ thông đến đại học, từng muốn trở thành một người làm vườn, và giờ đây muốn theo đuổi ngành y, đang có tham vọng đầy táo bạo được ở bên Cecilia đến trọn đời.

Hợp lý tuyệt đối.

Những bước nhảy vượt ranh giới như thế chính là lãng mạn trong cuộc sống thường nhật.

Tuy nhiên, chuyện lại đâm ra hơi khó hiểu khi Robbie giờ đây đột ngột giơ tay lên, như thể ban ra một mệnh lệnh mà Cecilia không dám không tuân theo.

Thật lạ thường làm sao khi chị không thể cưỡng lại anh.

Trước sự kiên quyết của anh, chị bắt đầu cởi váy áo, rất lanh lẹ.

Chị đã cởi tung áo, giờ thì thả váy tuột xuống đất và bước ra khỏi nó, trong khi anh bồn chồn quan sát, tay chống lên hông.

Uy quyền kỳ lạ nào đã khiến anh điều khiển được chị?

Tống tiền?

Hăm dọa?

Briony giơ hai tay lên che mặt rồi bước lùi lại một chút khỏi cửa sổ.

Em nghĩ nên nhắm mắt lại, tránh cho mình khỏi phải nhìn thấy nỗi nhục nhã của chị gái.

Nhưng như thế là bất khả, vì những ngạc nhiên hơn nữa còn đang chờ đón.

Cecilia, may thay vẫn còn bộ đồ lót trên người, đang leo xuống bể, và đứng đó, nước ngập ngang eo, bóp chặt mũi - rồi chị biến mất.

Chỉ còn lại Robbie, áo váy trên nền sỏi, và ngoài kia là công viên im lìm, cùng rặng đồi xa xa xanh thẫm.

Phần tiếp theo thật phi lý - cảnh chết đuối, tiếp đó là cứu mạng, đáng lẽ ra phải diễn ra trước lời cầu hôn.

Ý nghĩ cuối cùng của Briony là vậy, trước khi em chấp nhận rằng mình không hiểu gì cả, và rằng em chỉ nên dõi mắt chứng kiến.

Không bị ai nhìn thấy, từ vị trí cách mặt đất hai tầng nhà, với lợi thế mà ánh mặt trời chói chang đem lại, em đã có được đặc quyền vượt trước nhiều năm để đến với hành vi của người lớn, đến với những nghi lễ và lệ thường mà cho đến giây phút đó em vẫn chẳng hiểu gì.

Rõ ràng, dưới kia đang xảy ra những chuyện như thế.

Cùng lúc đầu chị em ngoi lên khỏi mặt nước - ơn Chúa!

- Briony đã có đầu mối đầu tiên yếu ớt rằng từ đây sẽ không còn lâu đài và nàng công chúa cổ tích nào nữa, mà chỉ còn sự kỳ lạ của hiện tại, của điều vừa diễn ra giữa hai người, hai người bình phàm em quen biết, của uy quyền một người có thể tác động lên người kia, và rằng mọi chuyện có thể bị hiểu sai lạc dễ dàng đến mức nào, hoàn toàn sai lạc.

Cecilia đã leo ra khỏi bể nước và đang mặc lại váy, khó nhọc tròng chiếc áo lên làn da ướt đẫm.

Chị quay ngoắt lại, cầm lên từ trong bóng rộng do thành đài phun hắt ra cái bình hoa mà Briony trước đó không để ý thấy, rồi mang theo nó bước thẳng về phía ngôi nhà.

Không nói một lời với Robbie, không một liếc mắt về phía anh.

Anh đứng nhìn trân trối vào mặt nước, rồi anh cũng bước đi, rõ ràng đã mãn nguyện, quành qua bên hông ngôi nhà.

Bất thình lình cảnh kia trở nên vắng lặng; vạt ướt trên đất nơi Cecilia bước ra từ bể nước là bằng chứng duy nhất cho mọi chuyện vừa mới xảy ra.

Briony đứng dựa vào tường, thẫn thờ nhìn suốt phòng trẻ.

Em chợt cảm thấy một con cám dỗ trở nên bí ẩn và đầy tính kịch, và coi những gì em chứng kiến là một hoạt cảnh dựng lên dành riêng cho em mà thôi, một bài học đặc biệt dành cho em được bọc trong lớp vỏ bí ẩn.

Nhưng em biết rất rõ rằng nếu em không đứng đó vào thời điểm ấy, cảnh kia vẫn sẽ xảy ra, vì nó hoàn toàn không phải về em.

Chỉ sự tình cờ mới đưa em đến bên cửa sổ.

Đây không phải là truyện cổ tích, đây là đời thực, là thế giới người lớn nơi chàng cóc không chuyện trò với công chúa, và thông điệp duy nhất là thông điệp người ta thực sự gửi đi.

Trong em cũng trào dâng niềm cám dỗ chạy đến phòng Cecilia, đòi hỏi một lời giải thích.

Briony cưỡng lại vì em muốn rượt đuổi trong đơn độc cảm giác hồi hộp phảng phất trước khả năng có thể xảy ra mà trước kia em từng cảm thấy, sự kích thích khó lòng lý giải trước viễn cảnh mình đã đến rất gần việc định nghĩa nó, ít nhất về mặt cảm xúc.

Định nghĩa ấy sẽ tự tinh lọc qua tháng năm.

Em cần phải thừa nhận rằng có lẽ mình đã thêm vào nhiều suy diễn hơn khả năng của một cô bé mười ba tuổi là em.

Còn ngay lúc đó thì hẳn đã không có một dạng thức ngôn từ chính xác nào nảy ra trong em; trên thực tế điều em đã trải qua khi ấy chẳng là gì ngoài sự nóng lòng được bắt đầu viết lại.

Khi đứng trong phòng trẻ đợi ba chị em họ kia quay lại, em linh cảm có thể viết được một cảnh như cảnh đã diễn ra bên đài phun, có thể cho thêm vào đó một người quan sát giấu mặt như chính em nữa.

Em tưởng tượng bây giờ mình vội lao xuống phòng, đến bên chồng giấy xép phẳng phiu có kẻ hàng và cây bút máy Bakelite vỏ cẩm thạch.

Em nhìn thấy những câu đơn giản, những ký hiệu truyền cảm xúc đang tích lũy, tràn ra nơi đầu ngòi bút.

Em có thể viết đi viết lại cảnh đó ba lần, từ ba cách nhìn khác nhau; điều kích thích em là nỗi khao khát được tự do, được chuyển tải cuộc chiến dữ dội giữa tốt và xấu, giữa những người hùng và đám vô lại.

Trong ba cách nhìn ấy không cái nào xấu xa, nhưng cũng chẳng quan điểm nào đặc biệt tốt đẹp.

Em không cần phán xét.

Sẽ không nhất thiết phải có bài học đạo đức.

Em chỉ cần bộc lộ ba tâm hồn riêng biệt, sống động như tâm hồn em, vật lộn với ý tưởng rằng những tâm hồn khác sống động không hề thua kém mình.

Không chỉ đồi bại và toan tính khiến con người bất hạnh, nguyên nhân bất hạnh còn vì những hiểu lầm và bối rối; trên hết thảy, là vì không thể nhận thức được một sự thật giản đơn rằng sự tồn tại của những người khác cũng thực như của ta.

Chỉ trong truyện kể ta mới đi vào được những tâm hồn khác nhau và cho họ thấy họ có giá trị bình đẳng.

Một câu chuyện chỉ cần truyền tải bài học đạo đức duy nhất ấy.

Sáu thập kỷ sau, em sẽ miêu tả khi ở tuổi mười ba mình đã trải qua những cách viết từng phát triển trong cả một lịch sử văn học như thế nào, bắt đầu từ những câu chuyện dựa trên truyện dân gian truyền thống châu Âu, của thể loại kịch nói với ý định rao giảng đạo đức đơn thuần, rồi đến được với chủ nghĩa hiện thực tâm lý khách quan mà chính bản thân em đã khám phá ra vào một buổi sáng đặc biệt trong làn gió nóng mùa hè năm 1935.

Em cũng sẽ nhận rõ mức độ huyền thoại hóa bản thân, và sẽ ban cho những tác phẩm của chính mình giọng điệu tự giễu, hay nửa trào phúng nửa hùng tráng.

Tiểu thuyết của em nổi tiếng vì nằm ngoài phạm vi quy kết về luân lý, và như tất cả mọi tác giả bị một câu hỏi lặp đi lặp lại dồn ép, em thấy mình có nghĩa vụ phải viết ra một mạch truyện, một cốt truyện miêu tả quá trình phát triển của bản thân, trong đó bao gồm khoảnh khắc khi em trở thành chính mình với đầy đủ nhận thức.

Em biết sẽ không chính xác khi nhắc đến các vở kịch em viết ở dạng số nhiều, khi nói rằng thói thích chế giễu của em đã ngăn em khỏi đứa trẻ biết suy nghĩ, nhiệt thành trong em, rằng thứ mà em vẫn hay hồi tưởng lại nhiều đến thế không phải là bản thân buổi sáng xa xưa ấy, mà là những gì diễn ra sau đó theo cách lý giải của em.

Có lẽ những ngày đó trong tâm trí em chỉ có những suy tư về một ngón tay gập cong lại, cái ý tưởng khôn kham về những tâm hồn khác và sự ưu trội của truyện kể so với kịch nói.

Em cũng biết rằng dù cho điều gì đã thực sự xảy ra thì nó có ý nghĩa như vậy chỉ bởi nó được rút ra từ tác phẩm đã xuất bản của em và sẽ không được nhớ tới nếu không có tác phẩm ấy.

Mặc dầu vậy, em không thể hoàn toàn bội phản chính mình; chắc chắn đã có một sự tiết lộ nào đó.

Khi cô bé bước trở lại cửa sổ và nhìn xuống, cái vạt ướt trên nền sỏi đã bốc hơi.

Giờ chẳng còn dấu vết nào còn sót lại của vở kịch câm bên đài phun nước ngoài những gì đã sống sót trong ký ức.

Sự thật đã trở nên ma mị như sự sáng tạo.

Bây giờ em có thể bắt đầu, viết lại nó như khi em chứng kiến, vấp phải thử thách khi khước từ không lên án hình ảnh gây choáng váng lúc chị gái gần như lõa thể, dưới ánh ngày, ngay cạnh ngôi nhà.

Rồi cảnh đó có thể được viết lại, qua mắt Cecilia, và rồi qua mắt Robbie.

Nhưng giờ không phải lúc để bắt đầu.

Ý niệm về sự tuân phục trong Briony, cũng như bản năng đòi trật tự của em, lấn át tất cả; em phải hoàn thành cái em đã khởi xướng, em còn một buổi diễn tập dang dở, Leon đang trên đường về, cả nhà mong đợi buổi công diễn tối nay.

Em nên xuống phòng giặt thêm một lần nữa để xem những gian nan của Jackson đã kết thúc chưa.

Sự viết có thể đợi, đến khi em rảnh rỗi.
 
Atonement - Chuộc Tội
Bốn


Mãi đến chiều muộn Cecilia mới chắc chắn rằng cái bình đã được sửa xong.

Suốt cả buổi chiều nó đa nung mình trong ánh nắng khô nóng trên bàn cạnh cửa sổ trổ ra hướng Nam trong thư viện, và bây giờ ba đường gắn khúc khuỷu được đánh bóng lại thật mịn, cùng đổ về một điểm như những con sông trong cuốn atlas, là tất cả những gì lộ ra.

Sẽ không ai biết.

Khi băng qua thư viện, ôm cái bình bằng cả hai tay, nàng nghe tiếng mà nàng nghĩ là bước chân trần trên nền lát đá của hành lang ngoài thư viện.

Chủ tâm không nghĩ đến Robbie Turner trong suốt mấy giờ qua, nàng cảm thấy bị xúc phạm khi nghĩ chắc anh đã trở lại lên nhà, lại chơi màn cởi tất ra.

Nàng bước ra hành lang, cưong quyết đương đầu với sự xấc xược, hay sự nhạo báng của anh, nhưng lại đối diện với em gái mình, rõ đang buồn rầu.

Mí mắt sưng mọng lên và hồng hồng, em đang cấu vào môi dưới mình bằng ngón trỏ và ngón cái, một dấu hiệu thân thuộc cho biết Briony sắp sửa khóc nức nở.

"Kìa cưng!

Sao thế em?"

Thực ra mắt em khô ran, và chúng hơi cụp xuống để nhìn rõ cái bình, rồi em xô nàng bước vụt qua, đến chỗ cái giá treo tấm áp phích có dòng nhan đề sặc sỡ, vui mắt và một loạt hình ảnh tiêu biểu trích từ vở kịch vẽ kiểu Chagall bằng màu nước rải rác vây quanh những chữ cái viết hoa - mẹ cha mắt đẫm lệ vẫy chào, chặng đường rợp bóng trăng đến bờ biển, nữ nhân vật chính trên giường bệnh, đám cưới.

Em dừng bước trước tấm áp phích, và rồi, bằng một động tác hung bạo và theo đường chéo, xé toạc hơn một nửa và để roi xuống sàn.

Cecilia vội đặt cái bình xuống chạy lại, quỳ xuống nhặt ngay mảnh giấy trước khi em nàng kịp đạp chân lên.

Đây không phải lần đầu tiên nàng đã cứu Briony không tự hủy hoại mình.

"Em gái.

Tại mấy đứa em họ à?"

Nàng muốn an ủi em gái, vì Cecilia luôn thích âu yếm đứa bé của gia đình.

Khi em còn nhỏ và luôn gặp ác mộng - những tiếng thét dữ dội trong đêm - Cecilia đã luôn đến phòng đánh thức em dậy.

Trở lại đi em, nàng thường thì thầm.

Chỉ là mơ thôi mà.

Trở lại đi em.

Và rồi nàng sẽ bế em sang giường mình.

Giờ nàng muốn quàng tay qua vai Briony, nhưng em không còn cấu môi mình nữa, và đã bỏ đi tới cửa trước đặt một tay lên cái nắm đấm cửa vĩ đại hình đầu sư tử bằng đồng thau mà bà Turner đã đánh bóng chiều hôm đó.

"Bọn nó ngu ngốc.

Nhưng không phải mỗi chuyện đó.

Chuyện là..."

Em nghẹn lại, phân vân không biết có nên kể ra thứ mình vừa nhìn thấy không.

Cecilia vuốt phẳng mảnh giấy tam giác vừa bị xé toạc và nghĩ đứa em bé bỏng của nàng mới thay đổi làm sao.

Nàng sẽ thấy thỏa mãn hơn nếu Briony nức nở và để chị gái an ủi trên chiếc trường kỷ bọc lụa trong phòng khách.

Những cái vuốt ve và lời thì thầm dịu dàng như thế với Cecilia sẽ là cả một sự giải thoát sau một ngày bực bội với những dòng cảm xúc chồng chéo mà nàng không thích dò xét kỹ.

Giải tỏa các vấn đề của Briony bằng lời nói tử tế và sự quan tâm chăm sóc sẽ hồi phục lại trong nàng cảm giác bình tĩnh.

Tuy nhiên, trong sự bất hạnh của cô em gái lại có một yêu tôd muốn tự giải quyết.

Em đã quay người đi và mở toang cửa ra.

"Nhưng mà có chuyện gì cơ?"

Cecilia nghe thấy sự thèm khát trong giọng của chính mình.

Đằng sau em, cách xa cái hồ, đường xe chạy uốn lượn qua công viên, hẹp dần lại rồi kéo qua vùng đất cao đến điểm nơi một hình người bé tí, bị cái nóng đến hoa mắt làm biến dạng, nhưng đang to dần lên, nhấp nháy rồi dường như biến mất.

Hẳn là Hardman, ông bảo mình già quá rồi còn học lái ô tô làm sao nổi nữa, đang đánh xe ngựa đưa khách về.

Briony đổi ý và quay lại đối mặt với chị.

"Tất cả mọi thứ là một sai lầm.

Bị nhầm..."

Em hít mạnh một hơi rồi đưa mắt sang chỗ khác, một dấu hiệu, Cecilia nhận thấy, cho một từ trong tự điển sắp sửa được dụng lần đầu.

"Bị nhầm genre!"

Em phát âm nó, như em nghĩ, theo kiểu tiếng Pháp, từng đơn âm một, nhưng không uồn được lưỡi để nói âm "r".

"Jean?"

Cecilia nhắc lại.

"Em đang nói chuyện gì thế?"

Nhưng Briony đã thất thểu bước đi trong đôi giày trắng đế mềm qua đám đá cuội nóng sắp bốc lửa kia.

Cecilia vào bếp đổ nước vào bình, rồi mang lên phòng ngủ cắm lại chỗ hoa đang nằm trong chậu rửa.

Khi nàng thả hoa vào bình, chúng một lần nữa lại từ chối không chịu rơi xuống yên vị theo sự lộn xộn nghệ thuật mà nàng ưa thích, mà thay vào đó quay quay trong nước rồi bố trí thành một trật tự đầy chủ ý, thân cao hơn được xếp đều đặn quanh miệng bình.

Nàng cầm bó hoa lên rồi lại thả xuống, nhưng chúng rơi xuống thành một kiểu trật tự khác.

Mà thôi, cũng chả quan trọng gì.

Thật khó mà mường tượng quý ngài Marshall kia sẽ than phiền rằng những bông hoa cạnh giường ngủ của ngài sao mà được cắm cân đối quá mức thế.

Nàng đem bình hoa đã cắm lên tầng hai, bước qua hành lang kẽo kẹt đến phòng từng là phòng của dì Venus, rồi đặt cái bình lên nóc tủ cạnh cái giường bốn cọc màn, coi như hoàn thành sứ mệnh nho nhỏ mẹ đã giao phó cho nàng sáng đó, tám tiếng đồng hồ trước.

Tuy nhiên, nàng không bỏ đi ngay, vì căn phòng được sắp đặt thật dễ chịu bằng những đồ đạc cá nhân - thực tế, ngoài phòng Briony ra, đây là phòng ngăn nắp duy nhất.

Và giờ khi mặt trời đã đi một vòng quanh nhà, ở đây vẫn mát lạnh.

Các ngăn kéo đều trống không, mọi bề mặt trống đều không có đến bóng dáng một dấu vân tay.

Dưới khăn phủ giường sặc sỡ họa tiết hoa kia, tâm ga hẳn là trắng khiết như vừa mới hồ bột.

Nàng bỗng khao khát muốn lùa tay vào giữa những tầng khăn phủ kìa mà sờ, nhưng rồi chỉ bước vài bước nữa vào phòng Marshall.

Ở chân giường bốn cọc màn, chỗ ngồi trên chiếc sofa Chippendale đã được cẩn thận vuốt phẳng phiu đến nỗi sẽ là cả một sự báng bổ khi đặt mông xuống đó.

Không khí thoang thoảng hương nến thơm, và dưới ánh sáng như mật vàng, bề mặt bóng loáng của đồ đạc trong phòng dường như phập phồng thở.

Khi quá trình tiến lại làm góc nhìn của nàng thay đổi, hình những người đang chè chén trên nắp chiếc rương hồi môn cổ như đang quằn quại cựa mình cố thực hiện những bước nhảy.

Bà Turner hẳn đã lau chùi ở đây sáng nay.

Cecilia giũ ngay đi sự liên hệ đến Robbie.

Có mặt ở đây là một sự xâm phạm, khi người sắp ở phòng này chỉ còn cách ngôi nhà vài trăm mét.

Từ chỗ vừa bước đến cạnh cửa sổ, nàng thấy Briony đã băng qua câu lên đảo, và đang bước dọc bờ sông ngập cỏ, rồi bắt đầu khuất dạng giữa đám cây cối ven hồ vây quanh cái đền thờ trên đảo.

Xa xa, Cecilia chỉ nhìn thấy hai hình hài đội mũ ngồi trên băng ghe sau Hardman.

Giờ nàng nhìn thấy một hình người thứ ba mà trước đó nàng không để ý thấy, sải bước trên đường về phía xe ngựa.

Chắc chắn là Robbie Turner trên đường về nhà.

Anh dừng bước, và khi những vị khách tiến tới, đường nét anh như hòa tan vào với các vị khách.

Nàng có thể hình dung ra cảnh đó - những cú đấm vào vai kiểu đàn ông với nhau, những lời đùa nhả.

Nàng khó chịu vì anh trai không biết rằng Robbie đang cảm thấy rất nhục nhã, và quay đi khỏi cửa sổ, thốt ra một tiếng cáu giận, rồi bước về phòng tìm điếu thuốc.

Nàng còn một bao, và phải sau vài phút lục nháo nhào đến phát điên trong đống hổ lốn, nàng mới tìm thấy nó trong túi bộ váy lụa dài màu thiên thanh trên sàn phòng tắm.

Bước xuống cầu thang vào sảnh, nàng châm điếu thuốc, biết rằng mình sẽ không bạo gan làm thế nếu cha nàng có mặt ở nhà.

Cha luôn khắt khe trong chuyện ở đâu và khi nào phụ nữ nên để người khác nhìn thấy mình hút thuốc: không được ở trên phổ, hay bất kỳ một nơi công cộng nào, không được khi bước vào phòng, không được khi đang đứng, và chỉ khi được mời, không bao giờ hút thuốc của chính mình - những ý niệm với cha hiển nhiên như quy luật tự nhiên.

Ba năm giữa những kẻ thời lưu ở Girton cũng không đem lại nổi cho nàng dũng khí đối đầu với cha.

Những câu giễu cợt vô tư nàng hay nói giữa đám bạn bè liền bỏ rơi nàng ngay khi cha có mặt, và nàng nghe giọng của chính mình trở nên thẽ thọt khi có ý định cãi lại một cách lễ phép.

Thực ra, bất hòa với cha từ những chuyện nhỏ nhặt nhất trở đi, thậm chí những chi tiết mụt mằn trong nhà, khiến nàng khó chịu, và văn học kinh điển chẳng giúp đuợc nàng khuây khỏa hơn, không bài học phê bình thực hành nào có thể giải thoát nàng khỏi sự phục tùng.

Hút thuốc trên cầu thang khi cha làm việc ở một bộ trên đường Whitehall là tất cả nổi loạn mà những gì nàng được dạy cho phép nàng, ấy vậy mà nàng cũng phải mất ít nhiều can đảm.

Khi nàng bước xuống chân cầu thang rộng chiếm gần hết sảnh, Leon đang dẫn Paul Marshall vào qua cánh cổng trước mở toang.

Danny Harman đi đằng sau họ xách hành lý.

Già Hardman thì đứng ngay bên ngoài, câm lặng trân trối nhìn tờ năm bảng trên tay.

Nắng chiều phản chiếu, hắt lên từ bãi sỏi và lọt qua cửa sổ con trên cửa chính, đổ đầy tiền sảnh gam vàng đất của một bức ảnh kiểu sepia.

Hai chàng trai bỏ mũ ra và đứng đợi nàng, miệng mỉm cười.

Cecilia tự hỏi, thỉnh thoảng nàng vẫn làm thế khi lần đầu tiên gặp gỡ một người đàn ông, rằng đây có phải người nàng sẽ lấy làm chồng không, và liệu khoảnh khắc cụ thể này có phải là khoảnh khắc nàng sẽ lưu nhớ đến suốt đời - với lòng biết ơn, hay nỗi tiếc nuối thẳm sâu và đặc biệt.

"Em Celia!"

Leon cất tiếng gọi.

Khi họ ôm chầm lấy nhau, nàng cảm thấy xương đòn của mình tì phải một cây bút máy cộm lên qua lần vải áo jacket của anh, và ngửi thấy mùi khói tẩu thuốc vuông vất trong nếp quần áo, khiến nàng hoài niệm trong giây lát những lần đến dự bữa trà chiều trong những căn phòng của trường nam sinh, hầu như lần nào cũng tao nhã và khoan khoái, nhưng cũng không kém phần rộn rã, nhất là những ngày đông.

Paul Marshall bắt tay nàng và khẽ gật đầu.

Trên mặt anh ta thoáng một nét trầm ngâm đến khôi hài.

Câu mở lời của anh ta tẻ ngắt theo lệ thường.

"Tôi được nghe rất nhiều về cô."

"Tôi cũng vậy."

Thực ra nàng chỉ nhớ được một lần trò chuyện qua điện thoại với anh vài tháng trước, khi đó họ nói chuyện mình đã từng ăn, hay có bao giờ định ăn, ở quán Amo chưa.

"Emily đang nằm nghỉ."

Thật không nhất thiết phải thông báo điều đó.

Khi còn nhỏ, hai anh em thường tuyên bố đứng ở phía bên kia công viên họ cũng biết được khi nào mẹ bị đau đầu nhờ quan sát cửa sổ phòng nào đang tối đi.

"Còn Ông Già ở lại thành phố à?"

"Cha sẽ về sau."

Cecilia biết Paul Marshall đang đăm đăm nhìn mình, nhưng trước khi nhìn lại anh ta, nàng cần chuẩn bị gì đó mà nói.

"Bọn trẻ con đang chuẩn bị một vở kịch, nhưng trông có vẻ như tan tành cả rồi."

Marshall nói, "Hẳn cô bé tôi thấy chỗ ven hồ là em gái cô.

Cô bé đang quật cho đám tầm ma một trận nên thân."

Leon né sang một bên để con trai của già Hardman mang đống hành lý đi qua.

"Mình để Paul ở đâu đây?"

"Tầng hai."

Cecilia nghiêng đầu nói với Hardman con câu đó.

Anh ta đã bước đến chân cầu thang và giờ dừng lại, mỗi tay xách một va li da, quay mặt nhìn về phía họ tập trung, ở giữa nen gạch lát kiểu kẻ ô vuông.

Mật anh ta lộ vẻ ngơ ngác không hiểu.

Nàng để ý thấy gần đây anh chàng hay xán lại gần lũ trẻ.

Có lẽ anh ta để ý Lola.

Anh ta mười sáu, và chắc chắn không còn là thằng bé con.

Cái má mũm mĩm nàng vẫn quen thuộc đã biến mất, và vành môi con trẻ nay đã dài ra, trông dữ tợn một cách ngây thơ.

Trên trán, một vùng chi chít mụn trúng cá đã mang một vẻ mới toanh, màu đỏ lựng của nó được ánh sáng màu sepia làm dịu bớt.

Suốt ngày hôm đó, nàng nhận ra mình cảm thấy thật kỳ lạ, và trông thấy thật kỳ lạ, như thể mọi thứ đều đang ở trong quá khứ rất xa, sau khi chết lại được làm cho sống động hơn như những mỉa mai mà nàng không sao hiểu nổi.

Nàng nhẫn nại nói với anh ta, "Phòng lớn sau phòng trẻ."

"Phòng của dì Venus," Leon nói.

Dì Venus tùng là người trông trẻ không thể thiếu trong gần nửa thế kỷ trên khắp một miền đất rộng ở Bắc Canada.

Bà chẳng phải dì của ai cả, hay đúng hơn, bà là dì của người em họ theo kiểu cháu chú cháu bác đã mất của ông Tallis, nhưng chẳng ai cật vấn chuyện sau khi nghỉ hưu bà được ở trong căn phòng trên tầng hai nơi trong suốt những năm tháng hoa niên của hai anh em, bà đau ôm nằm liệt giường nhưng vẫn dịu dàng, rồi tiều tụy dần mà chết không một lời ta thán năm Cecilia lên mười.

Một tuần sau thì Briony chào đời.

Cecilia dẫn khách vào phòng đón khách, qua cánh cửa sổ Pháp, lướt qua khóm hồng về phía hồ bơi nằm sau khu chuồng ngựa và được một lũy tre dày cao bọc quanh tứ bề, với một khoảng trống như đường hầm làm lối vào.

Họ bước qua, khom đầu xuống né những cây lau mọc thấp, rồi lại đi lên bậc thềm bằng đá tảng trắng lóa nơi hơi nóng bốc lên thành luồng.

Dưới bóng râm mát, cách xa mép nước, kê một bàn thiếc sơn trắng trải vuông vải xô bên trên có một bình rượu punch ngâm trong nước đá.

Leon mở ghế gấp ra và họ cầm ly của mình ngồi xuống thành một vòng tròn nhỏ trông ra hồ bơi.

Ngồi giữa Leon và Cecilia, Marshall điều khiển cả cuộc nói chuyện bằng một đoạn độc thoại mười phút.

Anh bày tỏ với họ rằng tuyệt vời làm sao khi được cách xa thành phố, được ở giữa sự thanh bình, giữa không khí điền dã; vì trong suốt chín tháng ròng, suốt những phút còn thức của mỗi ngày, làm nô lệ cho một ý tưởng, anh ta chỉ có qua lại như con thoi giữa các trụ sở chính công ty, phòng họp ban giám đốc và nhà máy sản xuất.

Anh ta đã mua một dinh thự ở Clapham Common mà hầu như chẳng có thì giờ tạt qua.

Ra mắt được Rainbow Amo là một thắng lợi, nhưng chỉ có được sau đủ kiểu thảm họa về mặt phân phối giờ đây đã được chỉnh lại đâu vào đấy; chiến dịch quảng cáo đã làm mếch lòng vài ba giám mục già nua nên một kế hoạch khác đã được đặt ra; rồi trong thành công cũng sinh chuyện, doanh sổ bán cao không tin nổi, quota sản xuất mới, và những tranh chấp về tiền làm thêm ngoài giờ, rồi tìm kiếm địa điểm cho nhà máy thứ hai - vụ này đã khiến bốn liên hiệp có liên quan gần như sưng sỉa và cần được vuốt ve, dỗ ngọt như trẻ con; còn bây giờ, khi tất cả đã khai hoa kết trái, thì lù lù ra đó thách thức còn lớn hơn với Army Amo: bản thân thanh kẹo màu xám nhạt có khẩu hiệu Hãy chuyền Amo!; ý tưởng này dựa trên giả định rằng chi tiêu cho các lực lượng vũ trang sẽ phải tiếp tục tăng lên nếu ngài Hitler không bớt om sòm đi; thậm chí còn có khả năng thanh kẹo có thể trở thành một phần trong gói thực phẩm phát theo tiêu chuẩn; trong trường hợp đó, nếu có một chế độ cưỡng bách toàn dân tòng quân, sẽ cần phải có thêm năm nhà máy nữa; có một vài người trong ban giám đốc tin rằng nên và sẽ dàn xếp được với Đức và rằng Army Amo đã chết hẳn; một thành viên thậm chí còn buộc tội Marshall là tên hiếu chiến; nhưng, dù mệt mỏi, và bị phỉ báng, không gì có thể buộc anh chuyển hướng khỏi mục tiêu của mình, ý tưởng của mình.

Anh ta kết thúc bằng cách nhắc đi nhắc lại rằng thật tuyệt vời làm sao khi được "ở tận đây" nơi mình, đúng là như thế, lại được thở bình thường.

Nhìn anh ta trong suốt vài phút đầu bài diễn văn, Cecilia cảm thấy một cảm giác nôn nao dễ chịu trong dạ dày, nghĩ rằng thật là một sự tự hủy quyến rũ làm sao, cơ hồ khêu gợi nữa, khi kết hôn với một anh chàng gần như đẹp trai đến thế, giàu khủng khiếp đến thế, ngu xuẩn không hiểu nổi đến thế.

Anh ta sẽ cho nàng những đứa con mặt to đùng, tất cả chúng đều là những thằng nhóc to mồm, đầu đất, đam mê súng ống, bóng đá và tàu bay.

Nàng quan sát khuôn mặt trông nghiêng của anh ta khi anh ta quay đầu sang phía Leon.

Một thớ cơ dài giật giật phía trên viền hàm khi anh ta nói.

Vài ba sợi lông đen dày quăn tít lại cách xa chân mày, và từ lỗ tai những cọng đen tương tự cũng đang lòi ra, xoắn lại trông khôi hài như lông mu.

Anh ta nên bảo ban tay thợ cắt tóc tận tình.

Dịch mắt đi một chút là nàng nhìn thấy mặt Leon, nhưng anh đang nhìn bạn mình với vẻ lịch sự và dường như cương quyết không nhìn mắt nàng.

Khi còn nhỏ hai anh em thường tra tấn nhau bằng "cái nhìn" trong bữa trưa ngày Chủ nhật khi cha mẹ thết đãi những người họ hàng lớn tuổi.

Đây là dịp tuyệt vời xứng đáng để đem đồ bạc cổ ra dùng; những ông trẻ bà trẻ, ông bà đáng kính của thời Victoria, đằng ngoại, những người họ hàng khắt khe và phức tạp, một bộ tộc đã mất lại đặt chân đến cửa nhà trong những tấm áo choàng đen sau khi dằn dỗi lang thang suốt hai thập niên đầu của một thế kỷ phù phiếm, xa lạ.

Họ làm Cecilia mười tuổi và thằng anh trai mười hai sợ chết khiếp, và một tràng cười khúc khích luôn chực buột ra.

Đứa bị nhìn thì không thể không cười, đứa nhìn thì, miễn nhiễm.

Thông thường Leon mạnh hơn, mắt nhìn chòng chọc giễu cợt, và liên tục vừa trễ khóe miệng xuống vừa đảo mắt trọn tròn.

Thằng bé sẽ cất tiếng hỏi Cecilia bằng giọng ngây thơ nhất xin chuyển lọ muối được không, và mặc dù cô bé sẽ đánh mắt đi khi chuyển cho cậu, và mặc dù cô bé quay đầu đi và hít một hơi thật sâu, thật đơn giản để hiểu rằng cậu đang làm cái vẻ mặt ấy để tặng cho cô chín mươi phút tra tấn run rẩy vì phải nín cười.

Trong khi đó, Leon sẽ được tự do, chỉ cần làm mỗi việc là thỉnh thoảng bồi cho phát nữa khi thấy cô đã bắt đầu bình tĩnh lại.

Hiếm khi lắm cô bé mới cưỡng được cậu bằng một cái bĩu môi ngạo mạn.

Bởi vì bọn trẻ đôi khi được cho ngồi giữa những người lớn, nhìn nhau kiểu thế có phần mạo hiểm - làm mặt trêu nhau ở bàn ăn có thể bị mắng và bắt đi ngủ sớm.

Mánh là mạo hiểm làm thế khi chuyển cái này cái kia, chẳng hạn, liếm môi và cười toét đến mang tai, và đồng thời nhìn vào mắt đứa kia.

Có lần cả hai đứa cùng ngẩng lên và cùng lúc ném cái nhìn cho nhau, khiến Leon phì cả xúp qua lỗ mũi lên cổ tay một bà trẻ.

Cả hai đứa trẻ bị trục xuất về phòng cho đến hết ngày.

Cecilia khao khát được ngồi cạnh anh trai để bảo với anh rằng quý ông Marshall có lông mu mọc trong tai.

Anh ta đang miêu tả cuộc đương đầu trong phòng họp ban giám đốc với gã đã gọi anh ta là tên hiếu chiến.

Nàng giơ tay lên lưng chừng như thể để vuốt tóc.

Tự động, Leon chú ý ngay đến cử động đó, và trong một phần giây, nàng ném cho anh cái nhìn mà anh đã không thấy hơn mười năm qua.

Anh bĩu môi quay đi, và tìm một điểm thú vị gần giày mình mà dòm xuống.

Khi Marshall quay sang Cecilia, Leon giơ một bàn tay khum lại lên che mặt, nhưng không thể giấu nổi cô em gái cơn rung nhẹ dọc trên vai.

May mắn cho anh, Marshall đã nói đến câu kết luận.

"... nơi mình, đúng là như thế, lại được thở bình thường."

Ngay lập tức Leon đứng bật dậy.

Anh bước đến mép thành hồ bơi và ngắm một cái khăn bông màu đỏ sũng nước nằm bên trái gần ván nhảy.

Rồi anh đi lại chỗ họ, tay đút trong túi, cơ hồ đã bình thường trở lại.

Anh nói với Cecilia, "Đoán xem trên đường về bọn anh gặp ai nào."

"Robbie."

"Anh đã bảo cậu ấy đến dùng bữa cùng nhà mình tối nay."

"Leon!

Không phải thế chứ!"

Anh đang có hứng trêu chọc.

Trả thù, có lẽ vậy.

Anh bảo với bạn, "Con trai của bà lau dọn giành được một suất học bổng ở một trường phổ thông ở đây, giành một suất học bổng học ở Cambridge, cùng đi một lúc với Cee - và con bé thì hầu như không nói với anh ta một lời trong ba năm qua!

Nó không để anh ta lại gần đám bạn thân của nó ở Roedean."

"Lẽ ra anh phải hỏi em trước."

Nàng thực lòng rất khó chịu, và nhìn thấy thế, Marshall bèn dỗ dành, "Tôi biết một số người từng học trường phổ thông ở Oxford và vài ba trong số đó thông minh chết đi được.

Nhưng bọn chúng có thể cảm thây bất mãn, tôi nghĩ thế, mà nhiều là đằng khác."

Nàng nói, "Anh có thuốc lá không?"

Anh ta mời nàng một điếu trong chiếc hộp bạc, ném một điếu cho Leon và lấy một cho mình.

Giờ họ đã đứng cả lên, và khi Cecilia nhoài người về phía cái bật lửa của Marshall, Leon nói, "Đầu óc anh ta thuộc dạng số một, vì thế tôi không hiểu anh ta đang làm cái quái gì khi vầy đất ở mấy cái luống hoa ấy."

Nàng đi tới ngồi xuống ván nhảy và cô tạo ra vẻ đang dễ chịu, nhưng giọng nàng căng lên.

"Anh ta đang băn khoăn có nên theo ngành y không.

Leon, em ước giá gì anh đừng mời anh ta."

"Ông Già đồng ý rồi à?"

Nàng nhún vai.

"Nghe này, em nghĩ giờ anh nên quành xuống chố cái nhà gỗ đó và bảo anh ta đừng có đến."

Leon bước đến chỗ cuối bóng râm, đứng đối diện với nàng qua dải nước xanh loang loáng khẽ lăn tăn.

"Anh làm thế sao được?"

"Em không quan tâm anh làm thế nào.

Viện ra một cái cớ gì đó đi."

"Giữa hai đứa đã xảy ra chuyện gì đó hả?"

"Không, làm gì có."

"Nó quấy rầy em à?"

"Vì Chúa lòng lành!"

Nàng giận dữ đứng bật dậy bỏ đi, về phía thủy đình của hồ bơi, một cấu trúc mở với ba cột có đường rãnh làm trụ.

Nàng đứng tựa vào cái trụ giữa, rít thuốc và nhìn anh mình.

Mới hai phút trước họ còn hợp cạ với nhau mà giờ đã bất hòa - tuổi thơ đã thực sự trở lại viếng thăm.

Paul Marshall đứng giữa họ, quay đầu về phía này rồi phía kia để nói chuyện, như thể trong một trận quần vợt.

Ở anh ta có một vẻ trung lập, phảng phất nét tọc mạch và dường như không bị cuộc cãi cọ của đôi anh em này ảnh hưởng tới.

Ít nhất phẩm chất đó, Cecilia nghĩ, cũng có lợi cho anh ta.

Anh nàng nói, "Em nghĩ nó không biết cầm dao nĩa à?"

"Leon, thôi đi.

Anh không có quyền mời anh ta."

"Ngớ ngẩn thế!"

Sự im lặng kéo theo sau đó dịu bớt một phần nhờ tiếng vo vo của bơm lọc nước.

Nàng không thể làm được gì, nàng không thể bắt Leon làm gì, và đột nhiên nàng thấy cuộc cãi vã mới vô nghĩa làm sao.

Nàng uể oải ngả người tựa vào tảng đá nóng, uể oải rít nốt điếu thuốc và đau đáu nhìn cảnh trước mắt - dải nước khử trùng bằng clo đang dần thu lại, cái xăm đen của lốp máy kéo tựa vào cái ghế võng, hai người đàn ông vận vest vải lanh màu kem có sắc khác biệt tí ti, khói thuốc màu xam xanh bốc lên trên nền tán tre xanh lục.

Trông như được khắc tạc, bất động, và một lần nữa, nàng cảm thấy: mọi sự đã xảy ra từ lâu, lâu lắm rồi, và tất thảy hậu quả, trên mọi cấp độ - từ vi đến vĩ - đều đã nằm đâu vào đây.

Dù tương lai có chuyện gì xảy ra, kỳ lạ và đáng kinh ngạc thế nào ở bề ngoài, thì ở chúng cũng có một kiểu quen thuộc, không khiên ngạc nhiên gì, buộc nàng phải nói, nhưng chỉ với riêng mình, À phải, dĩ nhiên rồi.

Điều đó.

Mình hẳn đã biết.

Nàng khẽ nói, "Anh biết em đang nghĩ gì không?"

"Nghĩ gì?"

"Mình nên vào nhà, và anh pha cho bọn mình một thứ gì uống thật ngon lành."

Paul Marshall đập hay tay vào nhau và tiếng vỗ nảy bật giữa những cột trụ và tường sau của thủy đình.

"Tôi biết chế một món khá ổn," anh ta nói lớn.

"Trộn đá bào, rum, và sôcôla đen nấu chảy."

Đề xuất này khiến Cecilia và anh trai đưa mắt nhìn nhau, và nhờ vậy mối bất hòa được giải quyết.

Leon bước đi, rồi khi Cecilia và Paul Marshall theo chân anh và bắt kịp, sánh bước chỗ khoảng đất trống dưới rặng cây nàng nói, "Tôi thích cái gì đó đắng hơn.

Hay thậm chí chua."

Anh ta mỉm cười, và vì đến chỗ lối đi trước, anh dừng bước chìa tay ra dẫn nàng qua, như thể đây là ngưỡng cửa phòng khách, và khi bước qua, nàng cảm thấy anh khẽ chạm lên tay mình.

Mà biết đâu, đó là một chiếc lá.
 
Atonement - Chuộc Tội
Năm


Cả hai đứa sinh đôi lẫn Lola đều không biết chính xác chuyện gì đã khiến Briony từ bỏ buổi diễn tập.

Lúc đó, chúng thậm chí còn không biết em đã bỏ.

Chúng đang đóng cảnh ốm liệt giường, màn mà nàng Arabella nằm bẹp trên giường lần đầu tiên đón vào căn gác xép chàng hoàng tử cải trang thành một bác sĩ giỏi giang, và cảnh đó diễn khá ổn, hay không tệ hơn mọi khi mấy, hai đứa sinh đôi đọc lời thoại cũng không ngô nghê hơn lúc trước.

Còn Lola, cô không muốn làm bẩn váy cashmere bằng cách nằm xuống sàn, nên ngả người xuống ghế, và đạo diễn không làm sao mà phản đối được.

Cô gái lớn hơn kia bước vào trạng thái tự chủ trọn vẹn tách xa sự phục tùng đến nỗi cảm thấy mình nằm ngoài mọi lời chỉ trích.

Vừa mới đó Briony còn đang kiên nhẫn chỉ dẫn cho Jackson, rồi em dừng lời và cau mày, như thể toan chữa lại lời mình vừa nói, và rồi bỏ đi.

Không có giây phút then chốt thể hiện sự khác biệt mới mẻ, không sầm sầm tức giận hay hối hả lao ra.

Em quay người lại, rồi đơn giản là lướt ra, như thể đến phòng rửa mặt.

Ba đứa kia đợi, không hề biết rằng cả dự án kia đã tiêu tùng.

Hai đứa sinh đôi nghĩ chúng đã cố gắng rất nhiều, nhất là Jackson, vì vẫn thấy mình bị thất sủng trong ngôi nhà Tallis, vậy nó nghĩ mình nên cố cứu vãn bằng cách làm vui lòng Briony.

Trong khi đợi, hai đứa nhóc đá qua đá lại một miếng gỗ, còn chị chúng đăm đăm nhìn ra ngoài cửa sổ, khe khẽ ngân nga.

Sau một khoảng thời gian dài như bất tận, cô ra hành lang đi đến cuối nơi có một cánh cửa mở toang dẫn vào phòng ngủ không người sử dụng.

Từ đây cô nhìn thấy lối cho xe vào và mặt hồ lung linh một cột lân tinh, ánh sáng trắng lóa phát ra bởi cái nóng ác liệt cuối buổi chiều.

Trên nền cột lân tinh kia, cô chỉ nhìn thấy mờ mờ ai kia như Briony sau cái đền trên đảo, đứng ngay cạnh mép nước.

Thực ra, có lẽ em còn đứng dưới nước cơ - dưới ánh sáng lóa mắt như vậy thì thật khó mà biết được.

Trông em không có vẻ gì là sẽ quay lại.

Bước ra khỏi phòng, Lola nhận thấy cạnh giường đặt một va li bằng da thuộc trông có vẻ của đàn ông, đai lớn nặng nề, và nhãn dán dùng trên tàu đã lợt màu.

Chúng khiến cô mơ hồ nhớ đến cha, và cô bước lại bên cạnh, ngửi thấy thoang thoảng mùi muội than của hành lý khi đi tàu hỏa.

Cô giơ ngón cái ra sờ lên một cái khóa và đẩy nhẹ.

Kim loại sáng bóng mát lạnh, và cái chạm tay đó để lại những vệt hơi nước nhỏ đang dần teo lại.

Móc khóa làm cô giật nảy mình khi nó tung ra gây một âm thanh to, đục.

Cô đẩy nó lại như cũ, rồi vội vã về phòng.

Tiếp đó với ba chị em kia là một khoảng thời gian còn vô định dạng hơn lúc trước.

Lola cử hai thằng bé xuống dưới nhà xem hồ bơi có ai không - chúng cảm thấy không thoải mái khi có người lớn ở đó.

Hai đứa nhóc trở về thông báo Cecilia ở đó với hai người lớn nữa, nhưng lúc này Lola đã không còn ở trong phòng trẻ.

Cô đã về lại phòng ngủ bé tí, vuốt lại tóc trước cái gương tay dựng trên bậu cửa sổ.

Hai đứa sinh đôi nằm xuống cái giường nhỏ của chị, cù nhau, vật nhau, gào hét ầm ĩ.

Cô cũng chẳng buồn đuổi chúng về phòng.

Giờ không còn kịch kiếc gì, mà hồ bơi thì có người, thời gian không cấu trúc đè nặng lên chúng.

Nỗi nhớ nhà ập xuống khi Pierrot bảo đói - còn lâu nữa mới đến giờ ăn tối, giờ mà đi xuống xin cái gì đó ăn thì không thích hợp.

Hơn nữa, hai thằng bé sẽ không vào bếp vì chúng rất hãi Betty, chúng vừa thấy bà trên cầu thang vẻ mặt sắt đá ôm tấm trải giường bằng cao su đỏ về phòng chúng.

Một lát sau, cả ba đứa thấy mình về lại phòng trẻ, mà trừ phòng riêng của chúng ra, đó là căn phòng duy nhất chúng cảm thấy mình có quyền được vào.

Miếng gỗ màu xanh sứt mẻ vẫn ở nơi chúng đá lúc nãy, và mọi thứ hệt như cũ.

Chúng đứng vơ vẩn và Jackson nói, "Em không thích ở đây."

Sự giản dị của lời nhận xét làm rối trí thằng em trai đang đi dọc tường, tìm thấy một thứ gì thú vị trong ván chân tường và cứ liên tục dùng mũi giày đá đá vào đó.

Lola choàng tay lên vai nó nói, "Không sao đâu.

Mình sẽ về nhà sớm thôi mà."

Tay cô gầy và nhẹ hơn tay mẹ chúng rất nhiều nên Pierrot bắt đầu nức nở, nhưng khẽ khàng thôi, bởi nó vẫn nhớ đến việc mình đang ở trong một căn nhà xa lạ nơi lịch sự là tất cả.

Mắt Jackson cũng ngân ngấn lệ, nhưng nó vẫn đủ sức cất tiếng.

"Sẽ không sớm đâu.

Chị chỉ nói thế thôi.

Mình không được về nhà nữa..."

Nó dừng lời lấy hết sức bình sinh.

"Ly dị rồi!"

Pierrot và Lola sững người.

Từ đó chưa bao giờ được dùng trước mặt bọn trẻ, và miệng chúng chưa bao giờ thốt ra.

Mấy phụ âm mềm mại kia gợi ra một thứ tục tĩu không tưởng, âm gió ở cuối thì thào nỗi nhục của gia đình.

Jackson thì trông như quẫn trí sau khi cái từ ấy buột khỏi miệng nó, nhưng không lòng dạ nào mà có ý định rút nó lại lúc này, và với tất cả những gì nó có thể biết được, nói to điều đó ra là một tội ác lớn như chính hành động ấy, dù cho đó là gì.

Không đứa nào trong chúng, kể cả Lola, hiểu điều này.

Cô bước tới chỗ nó, đôi mắt xanh lá nheo lại như mắt mèo.

"Sao em dám nói thế."

"Sự thật là vậy," nó lầm bầm nhìn ra chỗ khác.

Nó biết rằng mình gặp rắc rối to rồi, rằng nó đáng bị rắc rối, và nó toan chạy biến đi thì chị nó véo ngay tai và rướn mặt sát vào mặt nó.

"Nếu chị đánh em," nó vội nói, "em sẽ mách bố mẹ."

Nhưng chính nó đã khiến câu thần chú này vô tác dụng, một tôtem bị hủy hoại của một thời vàng son đã mất.

"Em không bao giờ được dùng từ đó nữa.

Có nghe không?"

Tủi thẹn ngập tràn, nó gật đầu, rồi cô buông ra.

Hai thằng bé thất kinh đến độ không cả dám khóc, và giờ Pierrot, hào hứng như mọi khi chữa cháy cho một tình huống tồi tệ, hân hoan nói, "Giờ mình làm gì đây?"

"Tôi vẫn luôn tự hỏi mình điều đó."

Một anh chàng cao to vận vest trắng đứng ở ngưõng cửa có lẽ đã nhiều phút rồi, đủ lâu để nghe Jackson nói cái từ ấy, và chính ý nghĩ này, chứ không phải nỗi ngạc nhiên trước sự xuất hiện của anh ta, khiến Lola cứng miệng không thốt nên câu đáp lời.

Anh ta có biết về gia đình chúng không?

Chúng chỉ trân trối nhìn và đợi.

Anh ta tiến đến và chìa tay ra.

"Paul Marshall."

Pierrot, đứng gần nhất, lặng thinh bắt tay, anh trai nó cũng làm thế.

Khi đến lượt cô gái, cô nói, "Lola Quincey.

Đây là Jackson và kia là Pierrot."

"Tên các cô cậu mới hay làm sao.

Nhưng làm thế nào tôi phân biệt được hai cậu đây?"

"Tôi thường được coi là dễ thương hơn," Pierrot nói.

Đó là câu đùa trong nhà, do cha chúng sáng chế, thường khiến người lạ cười phá lên mỗi khi họ hỏi câu kia.

Nhưng anh chàng này thậm chí còn không cười khi nói, "Cô cậu hẳn là ba chị em họ từ miền Bắc về."

Cả ba ngong ngóng đợi nghe xem anh ta biết gì nữa, và dõi mắt nhìn khi anh ta bước dọc những ván trần trong phòng trẻ, khom người nhặt miếng gỗ, ném lên cao rồi lanh lẹ bắt lại, tiếng gỗ kêu đánh bép khi chạm vào da.

"Tôi ở phòng cùng hành lang."

"Tôi biết," Lola nói.

"Phòng dì Venus."

"Chính xác.

Phòng trước đây của dì."

Paul Marshall ngồi xuống cái ghế bành vừa mới đây nàng Arabella đau buồn đã ngồi.

Khuôn mặt anh ta trông rất kỳ dị, các đường nét xô lại với nhau quanh lông mày, và một cái cằm to không râu như của Desperate Dan.

Một khuôn mặt dữ dằn, nhưng anh ta lại cư xử dễ thương, và đây là một sự kết hợp quyến rũ, Lola nghĩ.

Anh ta vừa vuốt li quần vừa nhìn từ Quincey này đến Quincey kia.

Mắt Lola bị hút xuống đôi giày da hai màu trắng đen, và anh ta biết cô thán phục chúng nên lắc lắc một chân theo nhịp điệu nhẩm trong đầu.

"Tôi rất tiếc khi nghe chuyện vở kịch của các cô cậu."

Hai thằng sinh đôi dịch lại gần nhau, đi từ vị trí dưới ngưỡng nhận thức đến những thang bậc gần sự suy xét hơn rằng nếu anh ta biết nhiều hơn chúng về buổi diễn tập, anh ta hẳn phải biết thêm rất nhiều chuyện nữa.

Jackson cất tiếng hỏi từ trung tâm của nỗi lo lắng ấy.

"Anh có biết cha mẹ chúng tôi không?"

"Ông bà Quincey?"

"Vâng!"

"Tôi có đọc về họ trên báo."

Hai thằng nhóc nhìn anh ta chằm chặp khi hấp thu chuyện này và không mở nổi miệng, vì chúng biết rằng những chuyện báo chí đề cập đến đều là rất trọng yếu: động đất và tai nạn tàu hỏa, việc các chính phủ và quốc gia làm hết ngày này sang ngày khác, và liệu có nên đầu tư thêm tiền trang bị vũ khí phòng khi Hitler tấn công nước Anh.

Chúng kính sợ, nhưng không hoàn toàn ngạc nhiên, khi thảm họa của riêng chúng lại được xép ngang hàng với những sự vụ thần thánh này.

Chuyện này có vẻ của một sự thật đang được khẳng định.

Để đứng vững, Lola đặt tay lên hông.

Tim cô đập rộn đau nhói và cô không tin nổi vào bản thân mình mà cất lời, mặc dù biết là phải nói.

Cô nghĩ người kia đang chơi trò gì đó mà cô không hiểu được, nhưng cô biết chắc là đang tôn tại một sự không phải phép, hay thậm chí cả một sự sỉ nhục.

Giọng cô nghẹn lại khi cô lên tiếng, và cô buộc phải hắng giọng mới bắt đầu lại được.

"Anh đọc được gì về họ?"

Anh ta nhướng mày lên, lông mày dày và giao nhau, rồi bật ra một tiếng thờ ơ qua môi.

"Ồ, tôi không biết.

Chả có gì.

Toàn thứ vớ vẩn thôi."

"Vậy tôi sẽ rất cám ơn anh nếu không nói ra trước mặt lũ trẻ."

Đây là một cấu trúc câu hẳn cô đã có lần tình cờ nghe lỏm, và đã thốt ra trong một niềm tin mù quáng, như học trò lẩm bẩm câu thần chú của một Magi.

Có vẻ thành, công.

Marshall cau mày nhận lỗi, và nhoài người về phía hai thằng bé.

"Giờ hai cậu lắng nghe cẩn thận từng lời tôi nói nhé.

Tất cả mọi người đều biết cha mẹ cô cậu là những người vô cùng tuyệt vời, họ yêu các cô cậu rất nhiều và nghĩ đến các cô cậu suốt."

Jackson và Pierrot nghiêm nghị gật đầu đồng ý.

Nhiệm vụ hoàn thành, Marshall lại hướng chú ý sang Lola.

Trước đó, sau hai ly cocktail gin mạnh dưới phòng khách với Leon và em gái anh, Marshall đã lên lầu tìm phòng, bỏ đồ đạc ra và thay quần áo dùng trong bữa tối.

Không cởi giày, anh nằm thẳng cẳng trên chiếc giường bốn cọc màn khổng lồ và, được sự yên bình của vùng quê, ly cocktail và khí ấm lúc sẩm tối vuốt ve, thiếp đi một lúc, trong giấc mơ các cô em gái nhỏ của anh xuất hiện, cả bốn đứa, đứng cạnh giường, huyên thuyên tán phét, chạm vào và kéo quần kéo áo anh.

Anh ta tỉnh giấc, khắp ngực và cổ họng nóng ran, ngồi dậy một cách đầy khó chịu, và bối rối mất một lúc trước khung cảnh xung quanh mình.

Chính vào cái lúc anh ta ngồi uống nước ở mép giường thì chợt nghe thấy những giọng nói hẳn đã gợi ra giấc mơ ấy.

Khi bước dọc theo hành lang cót két vào phòng trẻ, anh ta nhìn thấy ba đứa trẻ.

Và rồi anh thấy cô bé kia gần như đã là thiếu nữ, đĩnh đạc và độc đoán, khá giống công chúa nhỏ trong tranh vẽ theo phong cách Tiền Raphael với mấy lọn tóc và vòng xuyến, móng tay móng chân son và cái vòng nhung ôm sát cổ.

Anh bảo cô, "Cô có gu chọn quần áo đấy.

Cái quần cực kỳ hợp với cô, tôi nghĩ vậy."

Cô mãn nguyện nhiều hơn là e thẹn và mấy ngón tay khẽ vuốt lên vải nơi quần phồng ra quanh hông hẹp.

"Chúng tôi mua ở cửa hàng Liberty khi mẹ đưa tôi đến London xem kịch."

"Thế cô đã xem gì?"

"Hamlet."

Thực ra họ đã xem một vở kịch câm diễn vào buổi chiều ở nhà hát London Palladium và Lola đã đánh đổ nước dâu ra áo, còn cửa hàng Liberty thì ở ngay bên kia đường.

"Một trong những vở tôi yêu thích," Paul nói.

May cho cô là anh ta cũng chưa đọc hay xem vở kịch này, vì anh ta học chuyên ngành hóa học.

Nhưng anh ta cũng đủ hiểu biết để nói đầy đăm chiêu, "Tồn tại hay không tồn tại."

"Đó là vấn đề," cô tiếp lời.

"Và tôi thích giày của anh."

Anh nghiêng chân để nhìn vào nhãn hiệu nhà sản xuất.

Vâng.

Hiệu Ducker ở phố Turl.

Họ làm một cái chân bằng gỗ giống hệt chân mình và đặt vĩnh viễn trên giá.

Hàng nghìn đôi chân gỗ đó nằm dưới tầng hầm, và hầu hét trong số này đã chết lâu lắm rồi."

"Mới thật khủng khiếp làm sao."

"Em đói," Pierrot lại nói.

"À rồi," Paul Marshall nói, vỗ vỗ vào túi.

"Tôi có cái này cho cậu nếu cậu đoán được tôi làm nghề gì."

"Anh là ca sĩ," Lola nói.

"ít nhất là giọng anh hay."

"Tử tế quá, nhưng sai.

Cô biết không, cô khiến tôi nhớ đến cô em gái mà tôi rất yêu..."

Jackson cắt lời.

"Anh làm sôcôla trong một nhà máy."

Trước khi quá nhiều vinh quang chất đống lên vai anh trai, Pierrot chêm vào, "Chúng tôi nghe thấy anh nói chuyện ở hồ bơi."

"Thế thì không phải là đoán rồi."

Anh ta lôi từ trong túi ra một thanh hình chữ nhật gói trong giấy chống thấm dầu bề dài chừng bon inch bề ngang một inch.

Anh ta đặt thanh đó lên đùi, cẩn thận bóc ra rồi giơ lên cho chúng xem.

Lịch sự, chúng dịch lại gần hơn.

Nó có một lớp vỏ trơn màu xanh xám bên ngoài mà anh ta đang nhịp móng tay lên.

"Bọc đường, thấy không?

Sôcôla sữa bên trong.

Ngon lành trong mọi điều kiện, kể cả có chảy ra."

Anh ta giơ tay cao lên, nắm chặt lại, và chúng nom thấy mấy ngón tay anh ra run run, những rung động càng rõ hơn vì thanh kẹo.

"Trong ba lô của mỗi người lính trên đất nước này sẽ có một thanh kẹo loại này.

Suất tiêu chuẩn."

Hai đứa sinh đôi đưa mắt nhìn nhau.

Chúng biết người lớn không ưa gì đồ ngọt.

Pierrot nói, "Lính không ăn sôcôla."

Anh trai nó chêm thêm, "Họ thích thuốc lá."

"Mà, sao họ lại được cho không kẹo trong khi trẻ em thì không?"

"Bởi vì họ sẽ chiến đấu cho tổ quốc của họ."

"Bố em bảo sẽ không có chiến tranh gì cả."

"Vậy thì ông ấy sai."

Marshall nói nghe hơi gắt gỏng, nên Lola nói giọng trấn an, "Biết đâu sẽ có."

Anh ta mỉm cười với cô.

"Chúng tôi gọi nó là Army Amo."

"Amo amas amat," cô nói.

"Chính xác."

Jackson nói, "Em không hiểu sao mọi thứ chị mua cứ phải kết thúc bằng chữ o."

"Thực sự rất chán," Pierrot nói.

"Như Polo và Aero."

"Và Oxo và Brillo."

"Tôi nghĩ chúng đang định bảo tôi là," Paul Marsall chìa cho cô thanh kẹo và nói, "chúng không muốn ăn."

Cô nghiêm nghị nhận lấy, và rồi ném cho hai đứa sinh đôi một cái nhìn đáng-đời-lắm.

Chúng biết sẽ thế mà.

Giờ thì chúng hầu như không thể xin Amo được.

Chúng nhìn lưỡi chị mình chuyển sang màu xanh khi nó cuộn quanh rìa vỏ đường.

Paul Marshall ngả người ra ghế bành, dõi mắt sát sao nhìn cô qua hình tháp chuông dựng lên bởi hai bàn tay chắp vào nhau trước mặt.

Anh ta vắt chéo chân rồi lại thả ra.

Rồi anh ta hít một hơi thật sâu.

"Cắn đi," anh khẽ nói.

"Cô phải cắn."

Thanh kẹo vỡ rắc một tiếng khi những chiếc răng cửa sạch bong cắn vào, rồi rìa trắng của lớp vỏ đường lộ ra, và sôcôla đen nằm bên dưới.

Đúng lúc đó chúng nghe tiếng một phụ nữ gọi vọng lên cầu thang từ tầng dưới, rồi bà lại cất tiếng gọi, cương quyết hơn, chỉ ở ngay trên hành lang, và lần này hai đứa sinh đôi nhận ra giọng kia và bất thình lình mặt cả hai biến sắc hoang mang.

Miệng vẫn đầy Amo, Lola bật cười nắc nẻ.

"Betty đang tìm hai đứa đấy.

Đến giờ tắm rồi!

Giờ thì chạy đi.

Chạy đi."
 
Atonement - Chuộc Tội
Sáu


Không lâu sau bữa trưa, khi đã chắc chắn lũ con của em gái mình và Briony đã ăn uống hợp lý và sẽ giữ lời hứa tránh xa hồ bơi ít nhất hai tiếng đồng hồ, Emily Tallis rút từ cái nắng trắng lóa gay gắt của buổi chiều vào phòng ngủ âm u, mát rượi.

Bà không đau đầu, vẫn chưa, nhưng muốn rút lui trước hiểm họa đó.

Trong mắt bà xuất hiện những điểm chói sáng, khẽ đâm nhoi nhói, như thể cả thế giới nhìn thấy được là một tấm vải sờn đang được giơ lên chắn một nguồn sáng chói hơn nó nhiều.

Bà cảm thấy ngay góc bên phải não mình một sức nặng, một trọng lượng cỡ cơ thể ù lì của một con vật đang nằm cuộn tròn ngủ; nhưng khi bà sờ lên đầu và ấn, sự hiện hữu đó biến mất khỏi hai trục tọa độ của không gian thực.

Giờ nó vẫn nằm ngay ở góc trên bên phải tâm trí bà, và trong tưởng tượng, bà có thể kiễng chân lên mà giơ tay phải lên chạm vào nó.

Tuy nhiên, quan trọng là không được khiêu khích nó; sinh vật lười nhác này mà di chuyển từ ngoại vi vào trung tâm thì những cơn đau như dao cứa kia sẽ làm tắc nghẽn mọi suy nghĩ, và sẽ không có cơ hội ăn tối với Leon và toàn thể gia đình tối nay.

Nó không thù ghét bà, con vật này, nó thờ ơ trước nỗi khổ sở của bà.

Nó di chuyển như một con báo đen bị nhốt trong lồng: vì nó thức giấc, vì nó buồn chán, đi lại chỉ vì thích đi lại, hay chả vì lý do gì cả, mà cũng chẳng ý thức gì.

Bà nằm ngửa trên giường đầu không kê gối, một cốc nước trong tầm với, và ngay cạnh, một cuốn sách bà biết sẽ không đọc nổi.

Một vệt ánh sáng dài, mờ hắt lên trần phía trên thanh gỗ treo rèm là tất cả những gì phá vỡ bóng tối.

Bà nằm bất động sợ hãi, cảm thấy như đang có đầu mũi dao chĩa vào mình, biết rằng nỗi sợ sẽ không cho mình ngủ và hy vọng duy nhất là tiếp tục nằm yên.

Bà nghĩ đến hơi nóng khổng lồ dâng lên phía trên ngôi nhà và công viên, và phủ khắp vùng Home Counties như khói, bóp ngạt các nông trại và thị tứ, và bà nghĩ đến đường ray tàu lửa bị nung nóng đưa Leon và bạn nó về, và toa tàu nóc đen bị quay chín nơi hai đứa ngồi bên cửa sổ mở rộng.

Bà đã sai chuẩn bị một bữa tiệc đồ nướng cho tối nay mà trời ngột ngạt thế này làm sao ăn nổi.

Bà nghe tiếng ngôi nhà cót két nở ra.

Hay những thanh xà và cột trụ khô kiệt đang teo lại trong vôi trong vữa?

Teo lại, hết thảy đang teo lại.

Tương lai của Leon chẳng hạn, tiêu tán từ cái năm nó từ chối không nhận lời đề nghị giúp đỡ của cha, một cơ hội khá tươm trong ngạch công chức, mà cam tâm làm một nhân viên bé mọn trong một nhà băng tư, sống chỉ vì ngày cuối tuần và đua thuyền tám.

Bà có thể còn giận thằng con hơn nếu nó không ngoan ngoãn, dễ chịu và được đám bạn bè công thành danh toại vây quanh đến thế.

Đẹp trai quá mức, được yêu quý quá mức, không một gợn bất hạnh và tham vọng.

Một ngày nào đó nó có thể đưa về nhà một đứa bạn cho Cecilia kết hôn, nếu ba năm ở Girton chưa biến con bé thành một đối tượng chẳng triển vọng gì, với cái kiểu bộ tịch cô độc, rồi hút thuốc trong phòng ngủ, cả cái nỗi hoài mong không tưởng cái thời vừa mới kết thúc ấy cùng mấy cô gái béo ú đeo kính người New Zealand mà con bé từng ở chung một căn phòng như chuồng thú, hay là phòng người hầu?

Những biệt ngữ dễ chịu ở Cambridge của Cecilia - Giảng đường lớn, Vũ điệu Maids Dancing, Kỳ thi Little-Go, và tất cả những chuyến khám phá khu ổ chuột mà nàng tự mình thán phục, quần chẽn gối phơi trước lò sưởi điện và hai người dùng một bàn chải đánh răng - khiến Emily Tallis phát cáu, mặc dù có chút mơ hồ ghen tị.

Bà đã học tại nhà đến khi mười sáu tuổi, được gửi đi Thụy Sĩ trong hai năm, rồi rút lại còn một năm vì kinh tế, và bà thực sự biết rằng toàn bộ màn trình diễn đó, chuyện phụ nữ học Đại học, thực là trò trẻ con, cùng lắm là trò đùa nghịch ngây thơ, cũng như đua thuyền tám dành cho nữ, chỉ là làm dáng một chút bên cạnh đám anh em trai, có điều được khoác lên mình bộ cánh long trọng mang tên tiến bộ xã hội.

Người ta thậm chí còn không trao cho phụ nữ một tấm bằng tử tế.

Khi tháng Bảy Cecilia về nhà mang theo kết quả kỳ thi cuối kỳ - nó thật không biết điều khi tỏ ra thất vọng với điều đó!

- nó không có nghề ngỗng hay kỹ năng gì, vẫn phải tìm lấy một tấm chồng và đối mặt với bổn phận làm mẹ - những chuyện ấy thì đám nữ học giả giáo sư của con bé - đám đàn bà với những biệt hiệu ngớ ngẩn và tiếng tăm khiến người khác "sợ sệt" ấy - thì biết gì mà dạy cho nó kia chứ?

Mấy bà tự đại đó trở nên bất hủ ở địa phương bởi những trò lập dị thiển cận nhất, điên khùng nhất - dùng dây buộc chó dắt mèo, lượn lờ trên xe đạp đàn ông, vừa đi vừa ăn sandwich trên phá mặc thiên hạ nhìn.

Một thế hệ sau, những quý bà ngớ ngẩn, xuẩn ngốc này sẽ nằm sâu dưới ba thước đất mà vẫn được tôn kính quanh High Table và mỗi lần nhắc đến lại phải xuống giọng.

Cảm thấy con quái vật lông đen bắt đầu ngọ nguậy, Emily tránh xa khỏi những ý nghĩ về cô con gái lớn mà vươn cái tua cuốn lo lắng sang đứa con gái út.

Briony đáng yêu tội nghiệp, đứa bé bé bỏng dịu dàng, làm hết sức mình để chiều lòng ba đứa em họ cứng đầu bằng vở kịch nó đã viết với cả tấm lòng.

Bà thấy được xoa dịu khi yêu thương con bé.

Nhưng làm sao bảo vệ nó khỏi sự thất bại, khỏi con bé Lola kia, hóa thân của đứa em út của Emily, cũng đã phổng phao và đầy toan tính khi ở vào cỡ tuổi đó, và vừa đây đã bày mưu trốn chạy khỏi cuộc hôn nhân của mình, náu mình vào cái mà nó muốn mọi người gọi là sự suy sụp tinh thần.

Bà không đủ sức cho Hermione vào ý nghĩ của mình.

Thay vào đó, Emily, thở nhè nhẹ trong bóng tối, đoán định tình hình trong nhà bằng cách căng tai lắng nghe.

Trong hoàn cảnh thế này, đây là đóng góp duy nhất mà bà có thể làm được.

Bà đặt lòng bàn tay lên trán, và nghe thấy một tiếng "tách" khác khi căn nhà teo lại nhỏ hơn.

Từ xa bên dưới vọng lên tiếng choang của kim loại, có lẽ là tiếng vung chảo rồi; bữa tối đồ nướng chẳng vì cái gì đang trong giai đoạn chuẩn bị đầu tiên.

Từ tầng trên, tiếng bước chân uỳnh uỵch trên sàn gỗ và giọng trẻ con, ít nhất là hai hay ba đứa, nói cùng một lúc, cao giọng, hạ xuống, và lại cao giọng lên, có lẽ là bất đồng quan điểm, hoặc củng có thể hào hứng đồng ý.

Phòng trẻ ở ngay tầng trên, và cách phòng bà thẳng lên chỉ một phòng.

Những gian nan của nàng Arabella.

Nếu không quá mệt, giờ bà sẽ lên trên chỉ bảo hoặc giúp đỡ, vì bà biết như thế kia là quá sức bọn trẻ.

Đau ốm đã khiến bà không trao được cho con cái tất cả những gì mà một bà mẹ nên làm.

Cảm nhận được điều này, chúng đã luôn gọi bà bằng tên.

Lẽ ra Cecilia nên giúp một tay, nhưng nó quá khép mình, quá trí thức đến nơi chẳng buồn bận tâm chuyện trẻ con...

Emily cưỡng lại được việc theo đuổi dòng ý nghĩ này, và dường như đã mơ màng thiếp đi, nhưng không hẳn ngủ, mà bước ra khỏi mọi suy nghĩ vào vùng hư vô phi logic, và rất nhiều phút trôi qua cho đến khi bà nghe trong hành lang ngoài phòng mình tiếng bước chân giậm lên cầu thang, và dựa vào âm thanh như bị chặn lại ấy nghĩ đó hẳn là tiếng chân trần và vì vậy là Briony.

Trời nóng con bé thường không đi giày.

Vài phút sau, lại từ phòng trẻ, tiếng ẩu đả ồn ào và một thứ cứng lách cách va khắp sàn gỗ.

Buổi diễn tập đã tan tành, Briony dằn dỗi bỏ đi, hai đứa sinh đôi thì đùa nghịch, còn Lola, nếu nó giống mẹ nó nhiều như Emily thầm tin, sẽ thản nhiên và đắc thắng.

Bứt rứt khó chịu như lệ thường về chồng con, em gái, việc giúp đỡ, đã làm cho các giác quan của bà trở nên tinh nhạy; chứng đau nửa đầu, tình yêu của người mẹ và, trong suốt bao năm qua, hàng bao nhiêu giờ nằm bất động trên giường đã chưng cất từ sự nhạy cảm này ra được một giác quan thứ sáu, một tua tri nhận vươn ra khỏi bóng tối lờ mờ và trườn đi khắp nhà, vô hình nhưng biết hết thảy.

Chỉ có sự thật quay lại với bà, vì những gì bà biết, bà biết.

Tiếng lầm rầm mơ hồ của những giọng nói vọng qua sàn nhà trải thảm còn rõ ràng hơn cả một bản ghi đánh máy; một cuộc chuyện trò xuyên qua một bức tường, hay đúng hơn, hai bức tường, hiện ra dưới hình hài đã lột bỏ tất cả chỉ còn lại những điểm thắt gút cốt lõi và sắc thái cơ bản.

Cái đối với người khác chỉ là âm thanh nghèn nghẹt thì với giác quan luôn cảnh giác của bà, tinh nhạy như bộ thu sóng của một chiếc radio cổ, là sự khuếch âm cơ hồ không sao chịu đựng nổi.

Bà nằm trong bóng tối và biết mọi thứ.

Càng ít khả năng hoạt động, giác quan của bà càng mạnh.

Nhưng mặc dù thỉnh thoảng bà khao khát ngồi dậy và can thiệp, nhất là khi nghĩ Briony cần mình, nỗi sợ hãi bị đau đớn vẫn khiến bà nằm yên.

Khi tồi tệ nhất, nếu không bị kiềm tỏa, một bộ dao làm bép sắc lẹm sẽ cứa qua thần kinh thị giác bà, cứa thêm một lần nữa, bằng một lực ép xuống mạnh hơn, thế là bà sẽ bị giam hãm hoàn toàn và cô độc.

Ngay cả rên rỉ cũng làm tăng cơn đau thống khổ.

Và thế là bà cứ nằm đó khi chiều muộn trôi đi.

Cửa trước mở rồi đóng.

Briony tâm trạng như thế hẳn sẽ bỏ ra ngoài, có lẽ ra chỗ có nước, cạnh hồ bơi, hay hồ, hoặc biết đâu con bé đã đi xa ra tận sông.

Emily nghe tiếng bước chân cẩn trọng trên cầu thang - cuối cùng Cecilia cũng mang hoa lên phòng của khách, một việc cỏn con sai nó làm không biết bao nhiêu lần ngày hôm ấy.

Rồi sau đó, Betty gọi Danny, và tiếng xe ngựa trên sỏi, và Cecilia chạy xuống gặp khách, và chẳng lâu sau, mùi thuốc lá đã phảng phất lan trong bóng tối lờ mờ - đã bảo con bé hàng ngàn lần đừng có hút thuốc trên cầu thang rồi, nhưng hẳn là nó muốn gây ấn tượng với bạn Leon, mà bản thân việc đó cũng chẳng phải là chuyện tồi tệ gì lắm.

Những giọng nói vang vọng trong sảnh, Danny vật lộn mang đống hành lý lên lầu, rồi lại xuống gác, và im lặng - Cecilia hẳn đã đưa Leon và anh Marshall đến hồ bơi uống rượu punch do chính tay Emily pha sáng hôm đó.

Bà nghe tiếng một sinh vật bốn chân chạy vụt xuống cầu thang - hai đứa sinh đôi, muốn nhảy xuống hồ bơi và sắp sửa thất vọng vì ở đó đã có người.

Bà rơi vào một giấc ngủ lơ mơ, và bị đánh thức bởi giọng ồm ồm của một người đàn ông trong phòng trẻ, và bọn trẻ trả lời.

Chắc chắn không phải Leon, giờ này nó hẳn đang dính lấy em gái sau bao ngày xa cách.

Hẳn là anh Marshall phòng sát phòng trẻ, và anh ta đang nói chuyện với hai đứa sinh đôi, bà cả quyết, chứ không phải với Lola.

Emily tự hỏi liệu có phải chúng xấc xược không, vì đứa nào dường như cư xử như thể những trách nhiệm xã hội của nó bị chia làm đôi vậy.

Giờ Betty đang lên cầu thang, vừa đi vừa gọi chúng, có lẽ hơi gay gắt quá, xét đến chuyện Jackson vừa mới chịu trận sáng đó.

Giờ đi tắm, giờ uống trà, giờ đi ngủ - các mốc trong ngày: những thánh lễ trẻ thơ với nước, đồ ăn, đi ngủ này đã gần như biến mất hoàn toàn khỏi sinh hoạt thường nhật của gia đình.

Sự xuất hiện muộn màng và bất ngờ của Briony giữ cho những điều đó tồn tại trong ngôi nhà đến tận khi Emily đã ngoại tứ tuần, và chúng đã mang lại cảm giác mới dễ chịu, yên ổn làm sao: xà phòng lanolin và khăn tắm dày màu trắng, tiếng bi bô bé gái vang vọng trong không gian phòng tắm đầy hơi nước; bọc con bé trong chiếc khăn tắm, giữ chặt hai tay và đặt nó lên lòng trong một khoảnh khắc trẻ con yếu ớt mà cách đây không lâu Briony còn lấy làm thích thú tận hưởng; nhưng giờ đứa bé và nước tắm đã biến mất sau cánh cửa khóa chặt, dù thực tế cũng hiếm khi như vậy, vì trông nó lúc nào cũng như cần được tắm rửa và thay quần áo.

Nó đã mất dạng vào thế giới nội tâm không gì chạm đến được, nơi việc viết lách chẳng gì hơn vẻ bề ngoài mắt thường vẫn luôn nhìn thay, lớp vỏ bảo vệ mà thậm chí, hay nhất là, một bà mẹ lòng đầy tình thương yêu sẽ không thể xuyên qua.

Con gái bà luôn cách biệt và ở đâu đó xa xôi trong những suy nghĩ của riêng nó, vật lộn với một vấn đề thầm kín mà nó tự đặt ra cho mình, như thể cái thế giới kiệt quệ, hiển nhiên này có thể được một đứa trẻ tái tạo lại.

Vô ích nếu hỏi Briony nó đang nghĩ gì.

Từng có thời Emily luôn đưa ra được những câu trả lời hay nhất cho các câu hỏi từ nghiêm túc đén ngớ ngẩn sinh ra từ chính những câu trả lời thông thái và phức tạp mà người ta vẫn nhận được; và dù những lời giải thích dài dòng từng làm người nghe thích thú ấy giờ rất khó nhớ lại một cách chi tiết, bà vẫn nhớ mình cũng chưa từng nói được với ai hay như với đứa con út hồi nó mười một tuổi của mình.

Không vị khách của buổi tiệc tối nào, không người bạn trong các cuộc chuyện trò dưới bóng râm bên lề sân quần vợt nào từng hiểu bà dễ dàng như nó, liên tưởng phong phú như nó.

Nhưng giờ thì những con quỷ của lòng tự tôn và tài năng đã khiến con gái bà trở nên câm lặng, và mặc dù Briony không hề lạnh lùng chút nào – bữa sáng nay nó đã lân la sang đan tay vào tay bà - Emily vẫn thường tiếc cái thời hùng biện trôi chảy đã qua.

Bà sẽ không bao giờ nói như thế một lần nữa với bất kỳ ai khác, và đây chính là ý nghĩa của việc muốn có đứa con nữa.

Chẳng bao lâu nữa bà sẽ bước sang tuổi bốn mươi bảy.

Tiếng ầm ầm của hệ thống ống nước mơ hồ vọng tới - bà đã không nhận thấy khi nó bắt đầu - ngừng bặt hẳn bởi một cú giật chấn động không gian.

Giờ chắc hai thằng con của Hermione đang ở trong phòng tắm, hai thân thể nhỏ bé trơ xương ở hai đầu bồn tắm, cũng chiếc khăn tắm trắng ngày trước gập gọn nằm trên ghế liễu gai xanh da trời đã lợt màu, và dưới chân ghế, một tấm thảm khổng lồ bằng vỏ cây bần có một góc bị nhai nát bởi một con chó chết từ lâu lắm; nhưng thay vào tiếng bi bô là sự lặng im chết chóc, và không có bà mẹ nào, chỉ mỗi Betty với tấm lòng nhân hậu mà không đứa trẻ nào khám phá ra được.

Làm sao Hermione có thể suy sụp tinh thần được - cái thuật ngữ này dùng cho tay bạn làm ở đài phát thanh của nó thì có vẻ họp hơn - làm thế nào nó có thể chọn sự im lặng, sợ hãi và đau buồn cho những đứa con của mình?

Emily cho rằng mình nên đích thân trông nom việc tắm táp này.

Nhưng bà biết rằng ngay cả khi những con dao ấy không lơ lửng trên thần kinh thị giác của bà, bà quan tâm đến ba đứa cháu họ cũng chỉ vì nghĩa vụ.

Chúng không phải con bà rứt ruột đẻ ra.

Đơn giản là vậy.

Và chúng là những thằng nhóc, vì thế về cơ bản là không thích nói chuyện, không được ban cho tính dễ làm thân, và tệ hơn, chúng đã đánh lận nhân dạng của mình, vì bà chẳng bao giờ tìm thấy mẩu tam giác thịt bị khuyết nào cả.

Người ta chỉ có thể biết đến chúng một cách chung chung.

Bà thận trọng chống cùi chỏ nhổm mình dậy và cầm ly nước đưa lên môi.

Nó bắt đầu nhạt dần, sự hiện diện của con quái vật tra tấn bà, và bây giờ bà đã có thể kê hai cái gối vào tấm ván đầu giường để ngồi dậy.

Đó là một nỗ lực chậm chạp và vụng về vì bà sợ cử động đột ngột, và vì vậy giát giường cứ cọt cà cọt kẹt mãi, gần như át đi một giọng đàn ông.

Nhổm người lên một bên, bà bất động, một tay nắm chặt một góc gối, và hướng sự chú ý tinh nhạy của mình tới mọi ngóc ngách ngôi nhà.

Chẳng có gì, và rồi, như một cái đèn bật rồi vụt tắt trong bóng tối đen kịt, có một tiếng cười ré lên rồi tắt lịm.

Là Lola, trong phòng trẻ với Marshall.

Bà tiếp tục xoay người, và cuối cùng nằm lại, nhấp một ngụm nước âm ấm.

Nhà doanh nghiệp trẻ giàu có này có lẽ cũng không phải thuộc loại tồi, nếu anh ta sẵn lòng tiêu thời giờ trong ngày bằng cách chơi đùa với lũ trẻ.

Nhanh thôi, bà sẽ có khả năng mạo hiểm bật cái đèn cạnh giường lên, và trong vòng hai mươi phút, bà có thể tham gia lại vào việc nhà cửa và theo đuổi bao mối lo khác của mình.

Việc khẩn cấp nhất là phải xông vào bếp xem thử liệu giờ mà chuyển từ món nướng sang đồ nguội và salad thì có muộn quá không, và rồi bà sẽ đón chào con trai và khen ngợi cậu bạn của con, tạo cho cậu ấy cảm giác như ở nhà.

Ngay khi việc này hoàn thành, bà sẽ tự thuyết phục mình rằng hai thằng sinh đôi đã được chăm sóc tử tế, và có lẽ nên cho phép chúng được hưởng thứ gì đó hay cho để đền bù.

Rồi đến lúc phải gọi điện thoại cho Jack, thế nào cũng quên báo không về nhà được với bà.

Bà sẽ lần lượt nói chuyện với người phụ nữ cộc lốc trên tổng đài, rồi với anh chàng vênh váo ở văn phòng bên ngoài, và bà khiến chồng yên tâm là không cần phải cảm thấy có lỗi.

Bà sẽ tìm được Cecilia và đảm bảo rằng con bé đã cắm hoa như được bảo, rằng con bé nên vui vẻ góp phần mình cho buổi tối bằng cách đảm đương một vài trách nhiệm của chủ nhà, rằng nó diện bộ thật đẹp vào và đừng có bạ phòng nào cũng hút thuốc.

Và rồi, quan trọng hơn hết thảy, bà sẽ khởi sự đi tìm Briony vì chuyện vở kịch tan tành là một tai họa khủng khiếp và đứa bé cần tất cả những lời an ủi mà một bà mẹ có thể trao.

Đi tìm con bé có nghĩa là bị phơi ra dưới ánh mặt trời thuần khiết, nhưng thậm chí chỉ vài tia nắng dù đã dịu đi lúc sẩm tối cũng có thể gây ra một cơn đau nữa.

Thế thì sẽ phải tìm cho bằng được đôi kính râm, và việc này, chứ không phải chuyện bếp núc, sẽ phải là ưu tiên số một, vì nó ở đâu đó trong phòng này, trong một ngăn kéo, giữa một cuốn sách, trong một túi áo, mà chút nữa xuống kia rồi lại phải lên lầu để tìm nó thì sẽ rất khó chịu.

Bà cũng nên đi vào chân đôi giày để bằng phòng khi Briony đã đi mãi tận xuống chỗ con sông...

Và thế là Emily nằm lại trên mây cái gối thêm vài phút - con quái vật của bà đã lỉnh đi - kiên nhẫn dự tính, chỉnh sửa kế hoạch, sắp xếp chúng theo trật tự trước sau.

Bà sẽ xoa dịu ngôi nhà mà với bà, nhìn từ phòng ngủ mờ mờ bệnh tật, giống như một lục địa dân cư thưa thớt và rối loạn, từ trong khoảng bao la hoang sơ của nó những yếu tố cạnh tranh nhau đang đưa ra các cáo buộc và phản cáo buộc đòi hỏi bà phải không ngừng chú ý đến chúng.

Bà không hề ảo tưởng: những kế hoạch cũ, nếu ai đó có thể nhớ nổi, những kế hoạch bị thời gian bắt kịp rồi vượt qua, thường có khuynh hướng phấn khích và lạc quan quá mức về các sự kiện.

Bà có thể thò các tua cuốn của mình vào mọi căn phòng trong nhà, nhưng bà không thể cử chúng đi đến tương lai.

Bà cũng hiểu rằng, rốt cuộc thì, bà chỉ đấu tranh cho chính sự yên bình trong tâm trí mình; sự ích kỷ và lòng nhân hậu tốt nhất là không nên tách biệt.

Khẽ khàng, bà vươn thẳng người dậy và thả chân xuống sàn, luồn nhẹ vào đôi dép đi trong nhà.

Không mạo hiểm mà kéo rèm vội, bà bật đèn đọc sách lên, và ngập ngừng bắt đầu đi săn tìm đôi kính râm.

Bà đã quyết định phải tìm ở đâu trước rồi.
 
Atonement - Chuộc Tội
Bảy


Đền trên đảo, xây theo phong cách Nicholas Revett vào cuối những năm 1780, ban đầu định là một điểm tham quan, một nét bắt mắt đề cao sự lý tưởng đồng quê thôn dã, và dĩ nhiên hoàn toàn chẳng chứa đựng mục đích tôn giáo gì.

Nó ở vừa gần mép nước, được dựng trên phần đất nhô ra của bờ đảo, để hắt một hình ảnh phản chiếu kỳ thú xuống hồ, và từ hầu hết mọi góc nhìn, hàng cột và phào tường phía trên bị những cây đu và sồi trồng quanh khi lớn lên che khuất, thấp thoáng nửa bí ẩn nửa hiển hiện đầy quyến rũ.

Đến gần hơn, ngôi đền mang một vẻ ngoài tiều tụy: hơi ẩm bốc xuyên qua lớp vật liệu chống ẩm đã hỏng làm cho các lớp vữa rơi tung tóe.

Vào lúc nào đó khoảng cuối thế kỷ mười chín, người ta đã tiến hành vài tu sửa vụng về bằng xi măng không sơn giờ đã hóa thành màu nâu và khiến cho ngôi đền có vẻ ngoài loang lổ, bệnh hoạn.

Rải rác trong đền, những thanh lati trơ ra khỏi vữa tróc, chính chúng cũng đang mục ruỗng, bức tường giờ nhìn xuyên qua được, trông như bộ xương sườn của một con thú đang chết đói.

Cái cửa đôi mở vào một phòng rộng hình tròn có mái vòm bao trên đã bị tháo bỏ từ lâu, và sàn đá bị phủ một lớp dày cộm lá cây, đất mùn, và phân của đủ các loại chim thú từng lang thang ra vào đền.

Tất cả kính trên những khung cửa sổ xinh xắn kiểu Geonge đều không còn, hồi những năm cuối thập kỷ 1920 Leon và bạn bè của cậu đã đập vỡ sạch.

Những hốc tường cao từng đặt tượng giờ trống không chẳng còn gì ngoài lớp lớp tàn tích mạng nhện bẩn thỉu.

Đồ gỗ duy nhất bên trong là một băng ghế được mang vào từ sân chơi cricket trong làng - lại lần nữa, một thành quả của Leon lúc thiếu thời và những thằng bạn quỷ sứ ở trường.

Chân ghế bị đá gãy dùng để đập cửa sổ, và giờ nằm ngoài kia, khẽ khàng vụn tan dần vào đất mẹ giữa đám tầm ma và những mảnh thủy tinh không bao giờ thối rữa.

Giống như cái thủy đình ở hồ bơi đằng sau khu nhốt ngựa mô phỏng các đặc điểm của ngôi đền, ngôi đền được cho là bao gồm những nét tương đồng với ngôi nhà kiểu Ađam ban đầu, mặc dù không ai trong gia đình Tallis biết những nét ấy là gì.

Có lẽ đó là kiểu cột, hay phào tường, hay kích thước cửa sổ.

Ở những thời điểm khác nhau, nhưng phần lớn là vào Giáng sinh, khi tâm trạng hứng khởi lên cao, các thành viên gia đình đi tản bộ trên cây câu và hứa sẽ nghiên cứu vấn đề này, nhưng không ai bận tâm bỏ thời gian ra làm khi một năm mới bận rộn bắt đầu.

Còn hơn cả sự đổ nát, chính mái liên hệ này, ký ức đã mất về mối quan hệ lớn hơn của ngôi đền, đã khiến công trình nhỏ bé vô dụng phảng phất vẻ buồn bã.

Ngôi đền là đứa con mồ côi của một bậc phu nhân thượng lưu cao quý, và bây giờ, khi không người chăm sóc, không ai ngưỡng phục, đứa trẻ già đi trước tuổi, và để mặc mình tàn tạ.

Trên tường ngoài có một vết bồ hóng thuôn dần xuống dưới cao ngang đầu người, nơi hai tên bụi đời từng, một cách trơ tráo, nhóm một đống cửa để nướng một con cá chép không phải của chúng.

Trong một thời gian dài, có một cái bốt nhăn nhúm nằm phơi ra trên bãi cỏ được lũ thỏ thường xuyên đến cắt tỉa.

Nhưng hôm nay khi Briony đưa mắt nhìn, cái bốt đã biến mất, như cuối cùng mọi thứ đều thế.

Hình dung rằng ngôi đền, đang đeo băng tang cho chính mình, đau buồn vì thân thể tàn lụi, rằng nó đang khát khao một sự tồn tại vô hình và đường bệ, tạo ra một không khí đượm hơi hướm tôn giáo.

Nét bi thảm đã cứu ngôi đền khỏi trở thành một thứ đồ giả hoàn toàn.

Vụt đám tầm ma một lúc lâu mà không nảy ra một câu chuyện nào thì thật là khó, và chẳng mấy chốc Briony đã bị cuốn vào việc đó và thỏa mãn tuyệt đối, dù với thế giới em có vẻ như là một bé gái đang trong tâm trạng rất tồi tệ.

Em đã tìm thấy một cành phỉ mảnh và tuốt sạch lá.

Có việc cần phải làm, và em khởi sự.

Một cây tầm ma cao trông rất tự mãn, ngọn cây làm bộ e lẹ rủ xuống và mấy cái lá giữa thân xòe ra như bàn tay cam đoan mình trong trắng - đây chính là Lola, và mặc dù cô ta thút thít xin tha tội, ngọn roi dài chừng một mét cong vút lên đã phạt phăng ngang đầu gối khiến phần thân vô dụng bắn lên cao.

Làm thế này thật thỏa mãn nên em không dừng được, và mấy cây tầm ma tiếp theo cũng là Lola; cái cây này, đang nhoài tới thì thầm vào tai cây bên cạnh, bị phạt không thưong tiếc xuống ngay môi; và lại cô ta đây, đứng tách khỏi những cây khác, đầu hất lên đầy mưu mô độc địa; ở chỗ kia cô ta lại ra oai giữa một bụi những kẻ ngưỡng mộ non trẻ và thổi đi tin đồn về Briony.

Thật đáng tiếc, nhưng bọn ngưỡng mộ kia cũng phải chết cùng cô ta.

Giờ cô ta lại đứng bật lên, trơ tráo mang đủ mọi tội lỗi - kiêu ngạo, phàm ăn tục uống, tham lam, không chịu hợp tác - và mỗi tội phải trả bằng một mạng sống.

Hành động hiểm độc cuối cùng của cô ta là đổ rạp xuống chân Briony và chọc vào ngón chân em.

Khi Lola mất mạng đủ rồi, ba cặp tầm gai non nữa liền bị hiến tế vì sự kém cỏi của hai thằng sinh đôi - trả thù là không có thiên vị và không ban đặc ân nào cho trẻ con.

Rồi bản thân việc viết kịch cũng biến thành một cây tầm ma, thực ra là biến thành, một vài cây; sự thiên cận, thời gian bị lãng phí, sự hỗn loạn vì những đâu óc khác, sự tuyệt vọng khi phải giả vờ - trong khu vườn nghệ thuật, nó là cỏ dại và phải chết.

Không còn là một kịch tác gia và nhờ thế cảm thấy hoàn toàn tươi tỉnh trở lại, và cẩn thận tránh các mảnh thủy tinh, em bước ra xa hơn vòng qua ngôi đền, vừa đi vừa vụt dọc chỗ ven rìa nơi đám cỏ nham nhở giao với đám bụi cây thấp lộn xộn tràn ra từ giữa những gốc cây cao.

Hành hạ đám tầm ma trở thành một quá trình tự thanh lọc, và giờ em cất bước khỏi thời thơ ấu, em không còn cần đến nó nữa.

Chỉ có một mẫu vật khẳng khiu hiện thân cho mọi thứ em theo đuổi cho đến giờ phút này.

Nhưng như thế chưa đủ.

Giẫm mạnh chân lên cỏ, em tống khứ con người cũ trong mình từng năm từng năm một bằng mười ba cú vụt.

Em kết liễu sự phụ thuộc yếu ớt của giai đoạn bế ẵm và những ngày tháng đầu tuổi thơ, giai đoạn đi học ham muốn được phô trương và khen ngợi, và niềm kiêu hãnh xuẩn ngốc của tuổi mười một khi sáng tác những truyện đầu tay rồi tin tưởng vào ý kiến hồ hởi của mẹ.

Chúng bay vụt qua vai trái em rơi xuống chân.

Đầu cây roi mảnh tạo ra tiếng có hai âm sắc khi nó vụt qua không khí.

Không hơn nữa! em buộc nó nói.

Thế đủ rồi!

Hãy nhận lấy!

Chẳng mấy chốc, em bị chính hành động đó, và thông cáo báo chí mà em mới sửa lại theo nhịp các cú quất, làm cho mê mải: Không ai trên thế giới này có thể làm điều này giỏi hơn Briony Tallis, cô sẽ đại diện cho tổ quốc tham dự Olympic Berlin vào năm tới và chắc chắn giành huy chương vàng.

Mọi người đều chăm chú theo dõi và kinh ngạc trước kỹ thuật của cô, trước việc cô thích đi chân trần vì khi mỗi ngón chân đều thực hiện vai trò của nó, độ cân bằng của cô sẽ được gia tăng - điểm vô cùng quan trọng trong môn thể thao khó nhọc này; phong cách cô vụt bằng cổ tay và giật nhanh bàn tay về theo một đường vòng cung ngay khi kết thúc cú vụt, kiểu cô phân bổ trọng lượng cơ thể và sử dụng lực xoay của hông để có thêm sức mạnh, thói quen đặc biệt của cô khi xòe rộng bàn tay còn lại - không ai có thể sánh được với cô.

Tự học, đứa con gái út của một nhân viên cấp cao trong ngạch công chức.

Hãy nhìn sự tập trung trên mặt cô mà xem, cân nhắc góc độ, không bao giờ đánh một cú quấy quá, vụt phăng mỗi cây tầm ma bằng sự chính xác phi thường.

Để đạt đến tầm cao này cần sự cống hiến cả đời.

Vậy mà suýt nữa cô đã lãng phí cuộc đời đó để làm một nhà biên kịch!

Đột nhiên em nghe tiếng chiếc xe ngựa sau lưng mình, lóc cóc trên cây cầu đầu tiên.

Cuối cùng Leon đã về.

Em cảm thấy ánh mắt anh nhìn mình.

Đây có phải đứa em gái bé bỏng lần gần đây nhất anh gặp là ở ga Waterloo mới ba tháng trước, và giờ là một trong số tinh hoa quốc tế?

Bướng bỉnh, em sẽ không cho phép bản thân mình quay lại và thể hiện là đã nhận ra anh; anh phải hiểu rằng em bây giờ không phụ thuộc vào ý kiến của người khác, ngay cả của anh.

Em đang là một bậc thầy vĩ đại, chìm đắm vào những thứ tinh vi trong nghệ thuật của em.

Hơn nữa, nếu thế anh sẽ phải cho xe ngựa dừng lại rồi chạy xuống bờ sông, còn em sẽ phải vui vẻ mà chịu đựng sự làm phiền này.

Tiếng bánh xe và móng ngựa lùi xa dần trên chiếc cầu thứ hai chứng tỏ, em nghĩ thế, rằng anh trai em hiểu ý nghĩa của khoảng cách và sự tôn trọng của một người chuyên nghiệp.

Nhưng đồng thời, một chút buồn rầu cũng dâng lên trong lòng khi em tiếp tục vung tay quật, bước vòng quanh cái đền trên đảo xa thêm nữa cho đến khi từ con đường không trông thấy em đâu.

Một hàng dài tả tơi tầm ma bị chặt nằm trên cỏ đánh dấu bước tiến của em, cũng như những vét rộp trắng nhức nhối trên chân và mắt cá.

Đầu ngọn roi làm bằng cành phỉ ca ngân vun vút qua thân cong của nó, lá và cọng tan tác rời khỏi nhau, nhưng tiếng hoan hô của đám đông thì khó mà triệu đến được.

Trí tưởng tượng của em đang phai dần màu sắc, những khoái cảm ái kỷ tìm thấy trong sự chuyển động và cân bằng cũng nhạt dần, tay em thì đau nhức.

Em đang trở thành một con bé cô độc cầm roi quật đám tầm ma, và cuối cùng em dừng tay ném cây roi về phía đám cây, rồi đưa mắt nhìn quanh mình.

Cái giá phải trả cho giấc mơ tìm quên lãng giữa ban ngày luôn là khoảnh khắc trở lại hiện thực này, sự tái hợp giữa cái trước kia đã có và chính nó bây giờ khi đã có vẻ khá tồi tệ đi.

Mộng tưởng trong em, trước đây rõ ràng đến từng chi tiết chân thực, đã trở thành một sự ngớ ngẩn thoáng qua trước khối hiện thực đông đặc.

Trở về thật khó khăn.

Trở về đi, chị gái thường thì thào khi đánh thức em dậy khỏi một giấc mơ tồi tệ.

Briony đã mất đi quyền năng sáng tạo thần thánh, nhưng chỉ trong khoảnh khắc trở lại này, mất mát ấy mới trở nên rành rành; một phần cám dỗ của giấc mơ ban ngày là ảo tưởng với các logic làm em bất lực: bị sự đua tài ở tầm quốc tế buộc phải thi đấu ở hạng cao nhất với các đấu thủ xuất sắc nhất trên thế giới và chấp nhận những lời thách đấu luôn đi kèm với vị trí quá nổi trội trong lĩnh vực của mình - lĩnh vực chém tầm ma - buộc phải vượt qua cực hạn của bản thân để thỏa mãn đám đông đang reo hò cổ vũ, để trở thành người giỏi nhất, và quan trọng hơn cả, độc nhất vô nhị.

Nhưng dĩ nhiên, tất cả chỉ là em - do em tưởng tượng ra và xoay xung quanh em - và giờ em quay lại thế giới, không phải là cái thế giới mà em có thể tạo ra, mà là cái đã tạo nên em, và em cảm thấy mình bé lại dưới bầu trời chợp tối.

Em đã chán ở ngoài, nhưng cũng chưa muốn về lại nhà.

Chẳng lẽ cuộc đời chỉ có ngần ấy thứ, hoặc bên trong hoặc ngoài nhà?

Không có chỗ nào khác cho con người đi ư?

Em xây lưng lại cái đền trên đảo và chậm rãi lang thang qua bãi cỏ đều tắp nhờ lũ thỏ, về phía cây cầu.

Phía trước em, ánh lên dưới ánh mặt trời đang lặn, là một đám mây côn trùng, con nào con nấy nhảy lên rồi lại xuống đầy ngẫu hứng, như thể được gắn với một sợi dây chun vô hình - một vũ điệu ve vãn bí ẩn, hay đơn thuần chỉ là sự sáng động hồ hởi của côn trùng đang thách đố em tìm một ý nghĩa.

Trong tinh thần nổi loạn chống đối, em leo lên con dốc thoai thoải cỏ mọc um tùm dẫn lên cầu, và khi đứng ở lối xe chạy, em quyết định sẽ ở lại đó đợi một thứ có ý nghĩa xảy đến với mình.

Đây là thử thách em đặt ra - em sẽ không dịch chuyển, kể cả vì bữa tối, thậm chí mẹ có gọi về cũng không.

Em sẽ chỉ đứng đợi trên cầu, bình tĩnh và ương ngạnh, cho tới khi những sự kiện, những sự kiện có thực, không phải tưởng tượng của em, chấp nhận thách thức của em, và xua tan đi sự vô nghĩa của em.
 
Atonement - Chuộc Tội
Tám


Lúc chập tối, mây tầng cao trên bầu trời phía Tây tạo nên một lớp tráng mỏng màu vàng, sậm dần sau mỗi giờ trôi qua rồi tụ lại thành một quầng da cam nguyên chất lơ lửng trên những ngọn cây khổng lồ trong công viên; lá đổi sang màu nâu quả hạch, cành cây thấp thoáng giữa nền đen của tán lá mỡ màng, còn cỏ héo khô thì nhuốm màu trời.

Một họa sĩ theo trường phái Dã thú đam mê màu phi thực có lẽ đã tưởng tượng ra một phong cảnh như thế này, đặc biệt khi trời và đất cùng nhuốm sắc hồng đỏ và những thân cây to phình của loài sồi cổ thụ tối thẫm lại đến mức chúng bắt đầu trông giống màu lam.

Mặc dù khi lặn mặt trời yếu dần đi, nhiệt độ dường như lại tăng lên vì những làn gió mang đến chút cảm giác dễ chịu cả ngày đã dần bặt, và giờ không khí ù đọng, nặng nề.

Cảnh vật, hay một phần nhỏ của nó, Robbie Turner sẽ nhìn thấy qua cửa sô trên mái nhà đã đóng lại nếu anh chịu đứng dậy khỏi bồn tắm, trùng đầu gối thấp người xuống và xoay đầu.

Suốt cả ngày, phòng ngủ nhỏ xíu của anh, phòng tắm và căn phòng nhỏ nằm giữa hai phòng mà anh gọi là thư phòng ấy, bị thiêu đốt dưới phần mái dốc về hướng Nam của căn nhà gỗ.

Đi làm về, hơn một tiếng qua, anh cứ nằm trong bồn tắm nước ấm, trong lúc máu và, có vẻ như cả, suy nghĩ của anh làm nước nóng lên.

Trên đầu anh một mảnh trời đóng khung hình chữ nhật chậm chạp chuyển qua các màu của khúc quang phổ không đầy đủ, chỉ từ vàng đến da cam, trong khi anh thận trọng dò xét những cảm giác không quen thuộc và trở đi trở lại với vài ký ức.

Không hề nhàm chán.

Thỉnh thoảng, dưới mặt nước một inch, cơ bụng anh vô tình căng cứng khi anh nhớ lại một chi tiết khác.

Một giọt nước trên cẳng tay nàng.

Ướt.

Một hình hoa, một bông cúc đơn giản, thêu giữa hai bầu áo ngực nàng.

Ngực nàng cách nhau xa và nhỏ.

Trên lưng nàng, một nốt ruồi bị dây áo che một nửa.

Khi nàng leo ra khỏi bể, hiện ra loáng thoáng một vạt hình tam giác tối thẫm mà quần lót chẽn gối của nàng lẽ ra phải che kín.

Ướt.

Anh nhìn thấy nó, anh buộc mình nhìn thấy nó lần nữa.

Cái cách xương chậu của nàng khiến vải quần nàng dãn căng ra để lộ làn da, đường cong eo tuyệt mỹ, trắng ngần đến kinh ngạc.

Khi nàng với lấy váy, một chân bất cẩn giơ lên để lộ một ít đất trên gan ngón chân nhỏ nhắn xinh xắn.

Một nốt ruồi bằng đồng xu trên đùi non của nàng và thứ gì đó hơi đỏ tía trên bắp chân - một cái bớt, một vết sẹo.

Không phải nhược điểm.

Nét trang điểm.

Anh biết nàng từ hồi còn nhỏ, nhưng chưa một lần nhìn nàng.

Ở Cambridge, nàng đến phòng anh một lần với một cô gái người New Zealand đeo kính cận và ai đó nữa cùng trường, khi anh có một đứa bạn từ Downing đến.

Họ tiêu một tiếng vào những câu đùa ngượng nghịu, và chuyền tay nhau thuốc lá.

Thỉnh thoảng, họ sượt qua nhau trên đường và nhoẻn cười.

Nàng có vẻ luôn thấy ngượng ngùng - Đó là con trai người lau dọn nhà mình, rất có thể là nàng thì thầm với bạn bè như vậy khi bước tiếp.

Anh thích mọi người biết anh chẳng bận tâm - Con gái ông chủ của mẹ tôi đấy, anh có lần nói với đứa bạn.

Anh có những quan điểm chính trị để bảo vệ mình, cả những lý thuyết dựa trên nền tảng khoa học về giai cấp, và sự tự tin có phần gò ép.

Tôi là thứ tôi là.

Nàng chỉ như một cô em gái, gần như vô hình.

Khuôn mặt thuôn dài đó, cái miệng nhỏ đó - nếu có lúc nào từng nghĩ đến nàng, hẳn anh sẽ bảo nàng mặt mũi trông hơi giống ngựa.

Giờ anh thấy nó là một vẻ đẹp kỳ khôi - khuôn mặt có nét gì đó như được tạc và tĩnh lặng, đặc biệt là quanh đôi gò má nhô cao, thoải xuống phóng túng về phía lỗ mũi, và làn môi đầy đặn, bóng, mơn mởn như nụ hồng.

Mắt nàng đen và sâu thẳm.

Đấy là một gương mặt như tượng tạc, nhưng cử động của nàng lại nhanh và nôn nóng - cái bình sẽ vẫn còn nguyên nếu nàng không giật phắt khỏi tay anh bất ngờ đến thế.

Nàng bôn chồn, đã rõ, buồn chán và cảm thấy bị giam hãm trong nhà Tallis, và chẳng bao lâu nữa, nàng sẽ đi.

Và anh sẽ phải nói chuyện với nàng ngay.

Cuối cùng anh đứng dậy khỏi bồn tắm, run rẩy, không hề ngờ rằng một thay đổi lớn đang đến với mình.

Anh trần truồng qua thư phòng vào phòng ngủ.

Giường chưa dọn, một đống lộn xộn áo quần thay ra, một cái khăn trên sàn, cái nóng như ở vùng xích đạo của căn phòng gọi nhục cảm đến tuyệt vọng.

Anh nằm soài trên giường, mặt sấp xuống gói, rên rỉ.

Sự ngọt ngào của nàng, vẻ thanh tú ấy, người bạn từ thơ ấu của anh, tất cả giờ đang có nguy cơ trở nên ngoài tầm với.

Trút bỏ y phục như thế - phải, hành động đáng yêu để tỏ vẻ khác biệt ấy của nàng, nỗ lực cố tỏ ra táo bạo ấy của nàng, mang trong nó chút gì cường điệu, tự phát.

Giờ nàng hẳn đang khổ sở vì hối hận, và không hề biết mình đã làm gì với anh.

Và hết thảy mọi sự lẽ ra đã rất tốt, đã có thể cứu vãn được, nếu nàng không quá giận anh vì cái bình mẻ trong tay anh.

Nhưng anh yêu cả cơn thịnh nộ của nàng nữa.

Anh trở mình nằm nghiêng, mắt đăm đăm nhìn nhưng chẳng thấy gì, và đắm chìm vào một tưởng tượng như trong phim: nàng đâm vào ve cổ áo anh rồi khẽ nức nở ngả vào vòng tay vững chãi của anh, để mặc anh hôn nàng; nàng không tha thứ cho anh, nàng chỉ mặc kệ.

Anh xem cảnh này vài lần rồi trở về hiện thực: nàng giận anh, và nàng sẽ càng giận hơn khi biết anh là khách mời đến ăn tối.

Ngoài kia, dưới ánh nắng chói chang, anh đã không kịp nghĩ ra để mà từ chối lời mời của Leon.

Theo phản xạ, anh cứ thế đồng ý, và giờ anh phải đối mặt với sự cáu giận của nàng.

Anh lại rên rỉ, và không quan tâm dưới tầng có người nghe không, khi nhớ lại nàng đã cởi quần áo trước mặt anh như thế nào - hết mức thản nhiên, như thể anh là một đứa trẻ sơ sinh.

Đương nhiên rồi.

Giờ anh hiểu ra rõ ràng.

Nàng muốn sỉ nhục anh.

Nó đứng đó, sự thật không thể chối cãi.

Sỉ nhục.

Nàng muốn anh bị như vậy.

Nàng không chỉ thuần túy ngọt ngào, và anh không tài nào đứng hơn nàng được, vì nàng là một trường lực, nàng có thể lôi anh lên từ đáy sâu rồi dìm anh xuống thấp.

Nhưng có lẽ - anh lại nằm ngửa ra - anh không nên tin cơn thịnh nộ của nàng.

Chẳng phải nó cường điệu quá ư?

Chắc chắn dụng ý của nàng là một thứ gì đó khá khẩm hơn, ngay cả trong giận dữ.

Ngay cả trong giận dữ, nàng cũng muốn cho anh thấy nàng đẹp thế nào và buộc anh vào nàng.

Nhưng làm sao anh tin nổi một ý tưởng vị kỷ khởi phát từ hy vọng và khao khát?

Anh phải tin.

Anh bắt tréo chân, đan tay sau đầu, cảm thấy da mình mát lạnh khi khô ráo.

Freud sẽ nói gì nhỉ?

Câu này thì sao: Nàng giấu giếm ham muốn vô thức được bộc lộ bản thân với anh đằng sau một màn trình diễn nóng giận?

Hy vọng thảm hại!

Nó là một sự hạ nhục gã đàn ông trong anh, một bản án, và đây - điều bây giờ anh cảm thấy - sự tra tấn này là hình phạt dành cho anh khi làm vỡ cái bình vớ vẩn đó của nàng.

Lẽ ra anh không bao giờ nên gặp lại nàng nữa.

Mà anh lại phải gặp nàng tối nay.

Dù sao anh chẳng còn lựa chọn nào khác - anh sẽ đi.

Nàng sẽ khinh bỉ anh vì đã đến.

Lẽ ra anh phải từ chối lời mời của Leon, nhưng vào giây phút nghe lời mời, tim anh đập quýnh lên và lời đồng ý ngớ ngẩn của anh đã bay ra khỏi miệng rồi.

Tối nay anh sẽ ở cùng một phòng với nàng, và cái thân thể anh đã nhìn thấy, những nốt ruồi, màu da trắng xanh, cái bớt, sẽ bị quần áo nàng che mất.

Chỉ riêng anh biết, và Emily, dĩ nhiên.

Nhưng chỉ mình anh nghĩ đến chúng.

Và Cecilia sẽ không nói chuyện hay nhìn anh.

Thậm chí thế còn dễ chịu hơn nằm đây mà rên rỉ.

Không, không dễ chịu hơn.

Sẽ tồi tệ hơn, nhưng anh vẫn muốn vậy.

Anh phải được thế.

Anh muốn nó tồi tệ hơn.

Cuối cùng anh ngồi dậy, mặc quần vào và sang thư phòng, ngồi xuống máy đánh chữ, băn khoăn không biết nên viết thư loại nào cho nàng.

Cũng như phòng ngủ và phòng tắm, thư phòng cũng ngột ngạt dưới đỉnh mái nhà gỗ, và chẳng rộng hơn một hành lang giữa hai phòng bao nhiêu, dài chưa đầy mét tám và rộng mét rưỡi.

Như hai phòng kia, có một cửa sổ trời làm bằng gỗ thông không đánh bóng.

Chất đống trong một góc là đồ leo núi của anh - bốt, gậy leo núi, ba lô da.

Một cái bàn bếp đầy vết dao băm choán gần hết diện tích.

Anh ngả ghế ra sau và quan sát cái bàn như người ta quan sát một cuộc đời.

Ở một đầu, chồng cao sát trần nhà dôc, là cặp tài liệu và sách bài tập từ mấy tháng trước lúc anh ôn thi cuối khóa.

Sau này anh sẽ không cần dùng đến đống giấy tờ ghi chép đó nữa, nhưng bao nhiêu công sức, bao nhiêu thành công dồn nén trong đó nên anh vẫn chưa nỡ lòng vứt đi.

Nằm gần như đối diện đống sách là những bản đồ leo núi của anh, vùng North Wales, Hampshire, Surrey, và bản đồ định dùng cho chuyến đi tới Istanbul đã bị hủy bỏ.

Có một chiếc la bàn gương nhỏ anh từng dùng khi đi bộ không có bản đồ đến Lulworth Cove.

Đằng sau la bàn là cuốn Poems của Auden và A Shropshire Lad của Housman.

Ở đầu bàn bên kia là các loại sách lịch sử, chuyên khảo lý thuyết và sách hướng dẫn thực hành về trồng vườn cảnh.

Mười bài thơ được đánh máy nằm dưới lá thư từ chối của tạp chí Criterion, đích thân Eliot ký tên.

Gần nơi Robbie ngồi nhất là các cuốn sách thuộc lĩnh vực anh mới quan tâm.

Cuốn Giải phẫu học của Gray mở cạnh tập bản vẽ của anh.

Anh đã đặt ra cho mình nhiệm vụ vẽ và ghi nhớ xương bàn tay.

Giờ anh cố làm mình sao nhãng bằng cách nhớ lại vài xương, lẩm bẩm tên chúng: xương cả, xương móc, xương tháp, xương bán nguyệt...

Bức anh vẽ đẹp nhất đến bây giờ, bằng mực và chì màu, là mặt cắt ngang ông thực quản và khí quản, được đóng đinh treo trên rui nhà phía trên bàn.

Một cái ca thiếc không quai đựng tất cả bút chì bút mực.

Máy đánh chữ là một chiếc khá hiện đại của hãng Olympia mà anh được Jack Tallis tặng năm hai mốt tuổi vào bữa tiệc trưa tổ chức trong thư viện.

Leon đã phát biểu đôi lời cùng với cha mình, và Cecilia dĩ nhiên cũng có mặt.

Robbie không thể nhớ nổi dù chỉ một câu mà hai nguời có thể đã nói với nhau.

Đó có phải là lý do giờ nàng giận dữ không, vì anh đã lờ nàng đi biết bao năm qua?

Một hy vọng thảm hại nữa.

Ở mép bàn, vô số ảnh chụp: nhóm diễn vở Twelfth Night trên bãi cỏ ở trường, anh trong vai Malvolio, dây nịt bít tất chằng chịt.

Mới hợp với anh làm sao.

Có ảnh chụp một nhóm khác, anh và ba mươi đứa trẻ người Pháp anh dạy ở một trường nội trú gần Lille.

Trong một cái khung kim loại có chữ belle époque ánh sắc xanh là một bức ảnh chụp cha mẹ anh, Grace và Emest, ba ngày sau khi cưới.

Phía sau họ, chỉ dính chút xíu vào bức ảnh, là cửa trước của một cái ô tô - chắc chắn không phải của họ, và xa xa, một nhà sấy mạch nha thấp thoáng trên một bức tường gạch.

Một kỳ trăng mật tuyệt vời, Grace luôn nói, hai tuần nhặt hoa bia với gia đình chồng và ngủ trong xe moóc kiểu dân gypsy đỗ trên sân nông trại.

Cha anh vận áo không cổ.

Khăn quàng cổ và dây lưng thắt quanh quần vải ilanen rất có thể là phong cách gypsy nghịch ngợm.

Đầu và mặt ông tròn, nhưng lại không hẳn gây cảm giác vui vẻ, vì nụ cười ông nở trước máy ảnh không đủ nhiệt thành để tách môi ông ra, và thay vì nắm tay cô dâu trẻ của mình, ông lại khoanh tay lại.

Bà, thì không như vậy, bà dựa vào người ông, ngả đầu lên vai ông và hai tay ngượng ngừng bíu lấy khuỷu tay áo ông.

Grace, lúc nào cũng can đảm và nhân hậu, cười cho cả hai.

Nhưng đôi tay nhiệt thành và tâm hồn hiền hậu thôi không đủ.

Trông như thể tâm trí Emest ở nơi khác rồi, đã trôi đên bảy mùa hè sau đó, đến cái buổi tối khi ông thôi không làm người làm vườn cho nhà Tallis nữa, bỏ căn nhà gỗ đi, không hành lý, không cả một lá thư từ biệt trên bàn bếp, để lại người vợ và thằng con trai sáu tuổi đầu thắc mắc về ông suốt quãng đời còn lại.

Đâu đó, nằm lẫn giữa đống giấy tờ anh viết ra khi ôn bài, sách vở dạy trồng vườn và giải phẫu, là thư từ và bưu thiếp: phiếu ăn chưa thanh toán, thư từ giáo viên và bạn bè gửi chúc mừng anh tốt nghiệp hạng ưu, mà anh vẫn thấy sung sướng khi đọc lại, và những thư khác lịch sự hỏi anh định làm gì tiếp theo.

Lá thư gần đây nhất, viết bằng mực nâu trên giấy viết thư chuyên dùng ở Whitehall, là của Jack Tallis đồng ý giúp chi trả tiền học trường y.

Có những đơn xin nhập học, dài hai mươi trang, và những sách chỉ dẫn xin học dày cộp, đặc nghẹt chữ từ Edinburgh và London mà giọng văn chuẩn xác, đầy logic có vẻ như cho anh nếm trước mùi một thể loại chặt chẽ kiểu học thuật mới.

Nhưng ngày hôm nay chúng gọi cho anh, không phải cuộc phiêu lưu hay một khởi đầu tỉnh khôi, mà là lưu vong đày ải.

Anh nhìn nó trong viễn tượng - những con phố có mái che ảm đạm cách xa nơi này, một phòng dán giấy tường hoa với tủ quần áo thấp và ga trải giường vải bông xù, những người bạn mới chân thành hầu hết nhỏ tuổi hơn anh, những hũ phoóc môn, giảng đường lớn vang vang giọng nói - mọi yếu tố thiếu vắng hình bóng nàng.

Trong chỗ sách dạy trồng vườn, anh lấy cuốn về Versailles mượn về từ thư viện nhà Tallis.

Đó là ngày anh lần đầu tiên nhận ra sự ngượng nghịu của mình khi ở trước mặt nàng.

Khi quỳ gối xuống cởi giày ở cửa trước, anh nhớ ra tình trạng đôi tất của mình - ngón và gót thủng lỗ và, với tất cả những gì anh biết, bốc mùi - nên một cách bốc đồng anh đã lột phăng chúng ra.

Lúc đó anh cảm thấy mình ngu ngốc làm sao, chân không lót tót đi sau nàng qua sảnh vào thư viện.

Anh chỉ nghĩ duy nhất một việc là biến về càng nhanh càng tốt.

Anh trốn qua bếp và đã phải nhờ Danny Hardman đi vòng ra cửa trước lấy giày và tất hộ anh.

Nàng chắc hẳn chưa đọc chuyên khảo về thủy lực học của Versailles do một người Đan Mạch vào thế kỷ mười tám viết, tán tụng bằng tiếng Latin thiên tài của Le Nôtre.

Với sự giúp đỡ của tự điển, Robbie đã đọc được năm trang trong một buổi sáng rồi chào thua và đành tự bằng lòng lật xem các minh họa.

Đây không phải là loại sách nàng thích đọc, mà thực ra chẳng phải loại sách ai thích đọc cả, nhưng nàng đã trao nó cho anh từ bậu cửa thư viện và đâu đó trên bìa da kia là dấu tay nàng.

Bụng bảo dạ không được làm, nhưng anh vẫn giơ cuốn sách lên mũi mà hít.

Bụi, giấy cũ và mùi xa phòng trên tay anh, nhưng không có gì thuộc về nàng.

Nó lén lọt vào anh bằng cách nào, cái giai đoạn đỉnh cao tôn thờ những thư người tình chạm vào đến thế?

Chắc chắn Freud có nói gì đó trong Three Essays on Sexuality.

Và Keats cũng thế, cả Shakespeare cũng như Petrarch, và hết thảy, và điều này cũng được viết trong The Romaunt of the Rose.

Anh đã dành ba năm ròng thờ ơ nghiên cứu các triệu chứng ấy, những thứ có vẻ chẳng khác gì các ước lệ văn học, vậy mà giờ đây, khi cô đơn, như một chàng quý tộc đầu gắn lông chim mặc áo cổ xép nếp đến bìa rừng nhìn ngắm tín vật bị từ chối, anh đang thờ phụng những dấu vết của nàng - không phải cái khăn tay, mà là vân tay!

- trong khi anh héo mòn vì bị tình nương của mình khinh miệt.

Dù vậy, khi cho giấy vào máy chữ, anh không quên giấy than.

Anh gõ ngày và lời chào, rồi ngay lập tức đi thẳng vào lời xin lỗi như thông lệ vì "hành vi khinh suất và vụng về" của mình.

Rồi anh dừng lại.

Anh có nên tỏ chút cảm xúc nào không nhỉ, và nếu có, thì ở mức độ nào?

"Nếu có lý do nào đó, thì chỉ vừa mới đây thôi tôi mới nhận ra rằng mình khá nông nổi khi đứng trước mặt cô.

Ý tôi là, tôi chưa bao giờ đi chân không vào nhà ai trước đây cả.

Chắc hẳn là do trời nóng!"

Nghe mới yếu ớt làm sao, cái kiểu bông lơn tự vệ này.

Anh giống một người bị lao nặng giả vờ bị cảm lạnh.

Anh đẩy cái cần lùi hai lần rồi viết lại: "Khó có thể coi đó là một lý do, tôi hiểu, nhưng vừa đây tôi có vẻ nông nổi kinh khủng khi ở gần cô.

Tôi đã làm gì cơ chứ, đi chân không vào nhà cô ư?

Và tôi đã khi nào làm vỡ miệng một cái bình cổ trước đây chưa?"

Anh ngừng tay trên phím trong khi đương đầu với khao khát gõ tên nàng lần nữa.

"Cee, tôi không nghĩ mình có thể đổ là do trời nóng!"

Bây giờ đùa cợt đã nhường đường cho những lời thống thiết, hoặc ai oán.

Những câu hỏi tu từ luôn có một vẻ ướt át; dấu chấm than là cách thể hiện kém cỏi của những kẻ phải hét lên để nói rõ ý mình.

Anh chỉ chấp nhận dấu chấm câu này chỉ trong lá thư của mẹ mình khi năm dấu liên tục là dấu hiệu của một câu đùa vui vẻ.

Anh quay thanh dựng giấy, và gõ một chữ "x".

"Cecilia, tôi không nghĩ mình có thể đổ là do trời nóng."

Bây giờ hài hước đã bị bỏ đi, và yếu tố tủi thân bò vào.

Dấu chấm than phải được phục hồi.

Âm lượng rõ ràng không phải là nhiệm vụ duy nhất của nó.

Anh sửa chữa bản nháp thêm chừng mười lăm phút nữa, rồi cho vào vài tờ giấy mới và gõ lại một bản đẹp.

Những dòng chủ yếu còn lại bây giờ là: "Tôi tha thứ cho cô vì đã nghĩ tôi điên rồ - đi chân không vào nhà cô, hay làm vỡ cái bình cổ của cô.

Sự thật là, tôi thấy khá nông nổi và ngu ngốc khi đứng trước mặt cô, Cee, và tôi không nghĩ mình có thể đổ là do trời nóng!

Cô sẽ tha thứ cho tôi chứ?

Robbie."

Rồi, sau một vài giây mơ mộng, ngả ghế ra sau, nghĩ đến cái trang trong cuốn Giải phẫu học mà những ngày này anh cứ hay giở ra dù không định thế, anh rướn tới trước và gõ trước khi kịp ngăn mình, "Trong mơ, tôi hôn l. em, cái l.

ướt át ngọt ngào của em.

Trong suy nghĩ, tôi làm tình với em suốt ngày dài."

Rồi thế là - hủy.

Bản nháp bị hủy.

Anh kéo xoẹt tờ giấy ra khỏi máy, đặt sang một bên, và viết thư bằng tay, tự tin rằng chút gì đó cá nhân sẽ hợp với dịp này.

Khi nhìn đồng hồ anh nhớ ra trước khi đi phải đánh giày.

Anh đứng dậy khỏi bàn, cẩn thận để không cộc đầu vào rui nhà.

Anh không hề thấy tự ti - như thế thật không phải, dưới con mắt của nhiều người.

Có lần tại một bữa tối ở Cambridge, giữa một sự khoảng lặng bất ngờ trên bàn ăn, một tay không thích Robbie đã lớn tiếng hỏi về bố mẹ anh.

Robbie nhìn thẳng vào mắt gã đó và thoải mái trả lời rằng bố anh đã bỏ đi từ lâu, còn mẹ anh là lao công thỉnh thoảng kiếm thêm chút đỉnh bằng nghề bói toán.

Anh nói bằng giọng dung thứ nhẹ nhàng cho sự ngu dốt của kẻ đặt câu hỏi.

Robbie kể tỉ mỉ hoàn cảnh của mình, rồi kết thúc bằng cách lịch sự hỏi han về cha mẹ của gã kia.

Một số bảo rằng thế là ngây thơ, hay ngờ nghệch về thế giới, rằng điều đó sẽ bảo vệ Robbie khỏi bị cái thế giới này tàn hại, rằng anh là loại ngu ngốc thần thánh có thể bước qua phòng khách khắc nghiệt tương đương than nóng đỏ mà không bị làm sao.

Sự thật, như Cecilia biết, giản dị hơn.

Anh trải qua thời thơ ấu đi lại tự do giữa căn căn nhà gỗ và nhà chính.

Jack Tallis là người bảo trợ của anh, Leon và Cecilia là bạn thân nhất của anh, ít nhất cho đến khi học trung học.

Vào đại học, nơi Robbie phát hiện ra anh thông minh hơn rất nhiều người anh gặp, sự tự do của anh được hoàn chỉnh.

Ngay cả sự kiêu bạc của mình anh cũng không cần đem ra phô diễn.

Grace Turner sung sướng đảm đương việc giặt giũ cho anh - còn gì khác, ngoài những bữa ăn nóng sốt, để thể hiện tình mẫu tử khi đứa con duy nhất của bà đã hai mươi ba?

- nhưng Robbie thích tự đánh bóng giày.

Mặc áo may ô trắng và quần của bộ com lê, anh bước xuống đoạn cầu thang ngắn, chân đi tất, cầm một đôi giày đen.

Cạnh cửa phòng khách là một khoảng hẹp dẫn đến cửa ra vào kính mờ, một tia sáng màu cam ánh đỏ bị tán sắc khi chiếu xuyên qua đó, chạm nổi lên giấy dán tường màu be và ô liu những hình tổ ong đang ngùn ngụt cháy.

Anh dừng lại, một tay trên nắm đấm cửa, kinh ngạc trước sự biến đổi ấy, rồi bước vào.

Không khí trong phòng nóng ẩm, phảng phất vị mặn.

Chắc hẳn một lượt xem bói vừa mới kết thúc.

Mẹ anh ngồi bắt tréo chân trên sofa, dép đi trong nhà lủng lẳng trên chân bà.

"Molly vừa ở đây," bà nói, và ngồi thẳng người lên cho dễ nói chuyên.

"Và mẹ rất mừng được thông báo với con rằng cô ấy sẽ ổn."

Robbie lấy hộp xi trong bếp ra, ngồi xuống cái ghế bành gần mẹ mình nhất, và trải một trang báo Daily Sketch số ra ba hôm trước xuống thảm.

"Mẹ làm tốt lắm," anh nói.

"Con nghe tiếng mọi người nói nên lên tầng đi tắm."

Anh biết mình nên đi sớm, anh nên đánh giày, nhưng rồi anh chỉ ngả người ra ghế, duỗi mình duỗi mẩy hết cỡ và ngáp.

"Phí hoài!

Mình đang làm gì với đời mình thế này?"

Giọng anh hài hước nhiều hơn não nùng.

Anh khoanh tay lại nhìn lên trần nhà trong lúc xoa xoa ngón chân cái của chân này lên mu bàn chân kia.

Mẹ anh đăm đăm nhìn vào khoảng không trên đầu anh.

"Nào thôi.

Có chuyện rồi.

Con bị sao thế?

Và đừng có mà nói 'Không có gì'."

Grace Turner trở thành người lau dọn của nhà Tallis vào cái tuần sau khi Emest bỏ đi.

Jack Tallis không nỡ lòng đuổi một phụ nữ trẻ và đứa nhỏ đi.

Ông tìm được trong làng một người làm vườn và việc vặt thay thế không đòi hỏi có nhà ở.

Lúc đó mọi người cho là Grace sẽ giữ căn nhà gỗ trong một hay hai năm rồi vui vẻ trở lại hoặc tái hôn.

Bản tính nhân hậu và có biệt tài đánh bóng - sự cống hiến mà bà dành cho bề mặt các đồ vật, một câu đùa trong gia đình - khiến bà được yêu quý, nhưng chính sự kính mến mà bà có được ở cô bé Cecilia sáu tuổi và cậu anh trai Leon tám tuổi là thứ đã cứu bà, và làm nên Robbie.

Khi trường học cho nghỉ lễ, Grace được phép mang theo đứa con sáu tuổi của mình khi làm việc.

Robbie lớn lên cùng với việc trông nom phòng trẻ và những nơi khác trong ngôi nhà mà trẻ con được phép đến, cả sân ngoài nữa.

Chiến hữu cùng trèo cây của anh là Leon, Cecilia là cô em gái nhỏ luôn tin cậy nắm tay cậu và khiến cậu cảm thấy mình thông thái vô cùng.

Một vài năm sau, khi Robbie giành được học bổng đến trường trung học địa phương, Jack Tallis tiến bước đầu tiên trong việc bảo trợ lâu dài về sau bằng việc trả tiền đồng phục và sách vở.

Đây chính là năm Briony chào đời.

Sau lần sinh khó ấy là những ngày bệnh tật dai dẳng của Emily.

Sự hữu ích của Grace bảo đảm vị trí của bà: vào Giáng sinh năm đó - 1922 - Leon đội mũ chóp cao và vận quần cưỡi ngựa, lội tuyết đến căn nhà gỗ cầm theo chiếc phong bì xanh cha cậu gửi.

Một lá thư của luật sư báo cho bà biết rằng kể từ bây giờ toàn quyền sở hữu căn nhà gỗ đã thuộc về bà, bất kể bà có làm việc cho gia đình Tallis hay không.

Nhưng bà vẫn tiếp tục làm, quay lại làm việc nhà khi lũ trẻ lớn lên, đặc trách việc đánh bóng đồ đạc.

Giả định của bà về Ernest là ông đã xoay xở để được cử ra Mặt trận dưới một cái tên khác, và không bao giờ trở về nữa.

Nếu không, việc không tò mò gì về con trai mình thật phi nhân tính.

Thường thường, vào những giây phút bà có cho riêng mình mỗi ngày khi đi từ căn nhà gỗ đến nhà chính, bà sẽ ngẫm ngợi về những chuyện tình cờ tốt lành trong đời mình.

Bà đã luôn hơi sợ Emest.

Có lẽ nếu ở với nhau họ sẽ không được hạnh phúc như khi bà sống một mình cùng đứa con trai thiên tài thân yêu trong căn nhà nhỏ của riêng bà.

Nếu ông Tallis là một loại người khác...

Một vài phụ nữ, đã đến gặp bà trả một Shilling nhờ đoán vận tương lai, đã bị chồng bỏ, số người có chồng chết ngoài Mặt trận thậm chí còn nhiều hơn.

Những người phụ nữ đó thường phải sống cuộc đời cùng khổ, và đời bà đã rất dễ cũng phải giống như thế.

"Không có gì," anh trả lời câu hỏi của mẹ.

"Con chả bị làm sao cả." cầm bàn chải và hộp xi đánh giày lên, anh nói, "Vậy là tương lai Molly có vẻ xán lạn rồi."

"Trong vòng năm năm nữa thôi cô ấy sẽ tái hôn.

Và cô ấy sẽ rất hạnh phúc.

Một người miền Bắc có trình độ."

"Cô ấy hoàn toàn xứng đáng."

Họ ngồi trong im lặng dễ chịu khi bà ngắm anh đánh giày bằng một miếng giẻ vàng.

Trên gò má điển trai của anh các cơ giật giật theo từng cử động, và dọc theo cẳng tay anh chúng xòe ra rồi chuyển vị trí theo một sự tái sắp xếp phức tạp nào đó dưới da.

Hẳn phải có điểm gì đó đúng đắn trong cuộc hôn nhân với Emest nên bà mới có được một thằng con thế này.

"Vậy con sắp ra ngoài à."

"Leon vừa về tới khi con trên đường về.

Cậu ấy đưa bạn về cùng, mẹ biết đây, trùm sôcôla.

Họ thuyết phục con cùng dùng bữa tối nay."

"Ồ, suốt cả chiều nay mẹ ở đó lau đồ bạc đấy.

Và lau phòng cho cậu ấy."

Anh cầm giày lên và đứng dậy.

"Tối nay khi con nhìn vào mặt mình trên thìa, con sẽ chỉ thấy mẹ."

"Chuẩn bị đi.

Sơ mi của con treo trong bếp ấy."

Anh dọn hộp xi mang ra ngoài rồi chọn một sơ mi vải lanh màu kem trong ba cái trên giá.

Anh quay lại và chuẩn bị đi ra, nhung bà muốn giữ anh lại một chút.

"Còn bọn trẻ nhà Quincey đó nữa chứ.

Thằng nhỏ đó tè dầm ra giường và đủ thứ.

Mấy con cừu non tội nghiệp."

Anh nấn ná ở bậu cửa và nhún vai.

Anh đã nhòm vào và thấy chúng ở hồ bơi, la hét cười đùa trong cái nóng cuối buổi sáng.

Chút nữa thì chúng đã lăn cái xe cút kít của anh xuống bể bơi nếu anh không kịp chạy đến.

Danny Hardman cũng ở đó, dâm dật liếc mắt nhìn chị gái chúng trong khi lẽ ra gã phải đi làm việc.

"Chúng sẽ sống sót thôi," anh nói.

Nóng lòng ra ngoài, anh bước ba bậc cầu thang một.

Về lại phòng ngủ, anh vội vàng mặc quần áo, vừa huýt sáo vu vơ vừa cúi xuống vuốt keo và chải tóc trước gương trong tủ quần áo.

Anh không hề có tai thẩm âm, và không tài nào biết được nốt này là cao hay thấp hơn nốt kia.

Giờ đã xong xuôi cho buổi tối, anh thấy phấn khích, và thật kỳ lạ, tự do.

Mọi thứ sẽ không thể tệ hơn cái vốn đã tệ trong hiện tại.

Theo từng bước một, cùng sự khoan khoái khi thay mình làm mọi chuyện mới nhanh gọn làm sao, như thể đang chuẩn bị cho một hành trình mạo hiểm hay một cuộc viễn chinh quân đội, anh thực hiện xong những việc mọn quen thuộc - lấy chìa khóa, chắc chắn có một tờ mười Shilling trong ví, đánh răng, khum tay lại thở ra ngửi, lấy lá thư trên bàn gấp lại cho vào phong bì, bỏ thuốc lá vào hộp và kiểm tra bật lửa.

Một lần cuối cùng, anh ra đứng trước gương.

Anh nhe lợi ra, và xoay lưng lại để nhìn phía sau, và nhìn qua vai hình ảnh của mình.

Cuối cùng, anh vỗ vỗ vào túi, hân hoan xuống cầu thang, ba bậc một lần, chào tạm biệt mẹ, và bước ra ngoài con đường lát gạch nhỏ nằm giữa các luống hoa dẫn ra cổng giữa hàng rào cọc gỗ.

Hàng bao năm sau anh vẫn thường nhớ lại thời điểm này, khi anh bước trên lối mòn đi tắt qua góc rừng sồi ra đường chính lượn cong về phía hồ và ngôi nhà.

Anh không bị muộn, ấy vậy mà vẫn thấy khó kìm được bước chân.

Biết bao nguồn vui sướng, cả ở ngay gần lẫn xa hơn một chút, hòa trộn với sự đẹp đẽ của những phút giây này: hoàng hôn đỏ tía đang nhạt dần, không gian lặng gió âm ấm đẫm mùi cỏ khô và đất cháy, chân tay anh thoải mái sau khi làm việc trong vườn cả ngày, da mềm mại sau khi tắm, cảm giác khi mặc chiếc sơ mi, và cái này nữa, bộ com lê duy nhất của anh.

Sự mong chờ kèm với nỗi sợ hãi anh cảm thấy khi gặp nàng cũng là một loại khoái cảm xác thịt, và bao quanh nó, như cái ôm ghì, là niềm hoan hỉ vô bờ bên - nó có thể gây đau đớn, nó khó chịu khủng khiếp, không gì tốt lành có thể sinh ra từ nó, nhưng anh đã tự mình hiểu ra yêu là thế nào, và điều đó làm anh phấn khích.

Những nguồn phụ khác đổ đầy thêm hạnh phúc của anh; anh vẫn sung sướng âm ỉ khi nghĩ đến tấm bằng hạng ưu của mình - thủ khoa của khóa đó, người ta bảo anh thế.

Và giờ đã có lời khẳng định của Jack Tallis rằng sẽ tiếp tục hỗ trợ.

Một cuộc phiêu lưu mới mẻ trước mặt, hoàn toàn không phải lưu vong đày ải, đột nhiên anh chắc vậy.

Anh học y là đúng và tốt.

Anh đã không giải thích nổi sự lạc quan trong mình - anh đang hạnh phúc và vì thế chắc chắn sẽ thành công.

Một từ chứa đựng tất cả những gì anh cảm thấy, và giải thích tại sao sau đó anh lại quá chìm đắm vào giây phút này.

Tự do.

Trong cuộc đời anh cũng như trong cơ bắp anh.

Rất lâu trước đây, thậm chí trước khi nghe nói về các trường trung học, anh đã tham gia một kỳ thi để rồi được vào một trong số đó.

Cambridge, cho dù anh cũng rất thích, thực ra là lựa chọn của ông hiệu trưởng đầy tham vọng của anh.

Ngay cả môn anh theo học cũng được một giáo viên uy tín chọn hộ.

Bây giờ, cuối cùng, cùng với việc thực hiện ý muốn riêng, cuộc đời trưởng thành của anh đã bắt đầu.

Anh đang phác họa một câu chuyện trong đó anh làm nhân vật chính, và phần mở đầu đã ít nhiều khiến bạn bè anh kinh ngạc.

Trồng vườn thật không hơn gì một ảo tưởng bohemian, cũng là một tham vọng thảm hại - anh đã phân tích điều đó với sự giúp đỡ của Freud - để thay thế hay vượt qua người cha vắng mặt.

Giảng dạy - trong vòng mười lăm năm, lên chức Trưởng khoa Anh văn, Ông R.

Turner, MA Cantab - cũng không có trong truyện, cả đi dạy ở một trường dại học cũng không.

Mặc dù là thủ khoa, giờ khi nhìn lại nghiên cứu văn học Anh có vẻ chỉ là một trò chơi hấp dẫn trong phòng khách, đọc sách rồi nêu ra quan điểm, một thú trang trí đáng ao ước cho một cá thể văn minh.

Nhưng nó không phải là cốt lõi, dù cho tiến sĩ Leavis có nói gì trong các bài giảng của ông.

Nó không phải là sự tu hạnh cần thiết, cũng không phải là cuộc theo đuổi sống còn một trí tuệ không ngừng kiếm tìm điều mới, cũng không phải là lời biện hộ dầu tiên và cuối cùng chống lại đám man di, không hơn gì so với nghiên cứu hội họa hay âm nhạc, lịch sử hay khoa học.

Ở rất nhiều cuộc nói chuyện trong năm cuối, Robbie dã nghe một nhà phân tâm học, một thành viên của công đoàn Cộng sản và một nhà vật lý phát biểu, từng người một đều tuyên bố về lĩnh vực của mình cũng nồng nhiệt, cũng đầy thuyết phục, như Leavis khi nói về lĩnh vực cùa ông.

Những người trong ngành y chắc hẳn cũng có những tuyên ngôn như thế, nhưng với Robbie vấn đề đơn giản và mang tính cá nhân hơn nhiều: bản tính thực tế và tham vọng khoa học khôn thỏa của anh sẽ tìm được một lối ra, anh sẽ có những kỹ năng phức tạp gấp bội lần những kỹ năng học được trong phê bình thực tiễn, và trên hết anh sẽ được tự mình đưa ra quyết định.

Anh sẽ thuê nhà ở một thành phố lạ - và bắt đầu.

Anh đã ra khỏi đám cây và bước tới chỗ nơi đường mòn nhập vào lối xe chạy.

Ánh sáng đổ xuống tù bầu trời làm đậm thêm khoảng không gian mờ tối của công viên, và ánh lấp lánh vàng nhạt trên những cửa sổ ở phía bên kia hồ khiến ngôi nhà có vẻ huy hoàng đẹp đẽ.

Nàng ở đó, có lẽ trong phòng nàng, sửa soạn cho bữa tối – khuất tầm mắt, ở phần sau của ngôi nhà, trên tầng hai.

Trông ra đài phun nước.

Anh xua đi những ý nghĩ sổng động lúc ban ngày về nàng, không muốn đến đó trong tâm trạng xáo động.

Phần đế giày cứng nện lộp cộp trên mặt đường rải đá như tiếng một chiếc đồng hồ khổng lồ, và anh buộc mình nghĩ đến thời gian, kho tích trữ vĩ đại của mình, sự xa xỉ của một gia tài còn nguyên vẹn.

Trước đây anh chưa bao giờ tự ý thức mình trẻ đến thế, hay trải nghiệm sự háo hức, sự thèm muốn được bắt đầu câu chuyện của mình đến thế.

Ở Cambridge có những người trí óc nhanh nhạy, như các giáo viên, vẫn chơi được một ván tennis ra trò, vẫn chèo thuyền, mà hơn anh những hai mươi tuổi.

Ít nhất hai mươi năm nữa mới biết được câu chuyện của anh sẽ ra sao vào thời điểm anh ở mức độ thể chất ấy - gần bằng quãng thời gian mà anh đã sống.

Hai mươi năm sẽ vụt đưa anh tới năm 1955 của tương lai.

Khi đó anh sẽ biết được điều quan trọng nào giờ vẫn còn là bí ẩn?

Có thể nào ngoài khoảng thời gian đó anh còn có thêm ba mươi năm nữa, để sống đến khi trút hơi thở cuối cùng theo một nhịp trầm tĩnh hơn không?

Anh nghĩ đến mình vào năm 1962, năm mươi tuổi, khi anh hẳn đã già, nhưng không già đến nỗi thành vô dụng, nghĩ đến vị bác sĩ thông thái, lão luyện là chính mình khi ấy, với những câu chuyện bí mật, những thảm kịch và thành công chồng chất phía sau.

Và cũng sẽ có hàng ngàn cuốn sách chất chồng, vì sẽ có thư phòng, rộng thênh thang và lờ mờ tối, nhét đầy những chiến lợi phẩm của cả một đời du hành và suy tư - cỏ hiếm ở rừng rậm nhiệt đới, mũi tên tẩm độc, những sáng chế điện thất bại, tượng nhỏ làm bằng hoạt thạch, các tiêu bản sọ đã teo lại, tranh vẽ thổ dân.

Trên giá sách, sách nghiên cứu y học và thiền định, chắc chắn rồi, nhưng cũng có cà loại sách hiện giờ đang lấp đầy cái hốc kín trong gian áp mái căn nhà gỗ - thi ca thế kỷ mười tám đã gần như suýt thuyết phục được anh rằng mình nên là một thợ trồng vườn, Jane Austen ấn bản lần thứ ba của anh, Eliot và Lawrence và Wilfred Owen của anh, toàn tập Conrad, ấn bản vô giá năm 1783 cuốn The Village của Crabbe, Housman của anh, bản The Dance of Death của Auden có chữ ký tác giả.

Bởi mục đích chính là thế này, chắc chắn vậy: anh sẽ là một bác sĩ giỏi hơn vì đã đọc văn học.

Tri giác hạn hẹp của anh có lẽ sẽ hiểu sâu sắc được biết bao nỗi khốn khổ của con người, sự điên rồ tự hủy hoại hay bất hạnh thuần túy, những điều đã đẩy con người vào cành sức khỏe yếu ớt!

Sinh, tử và cái mong manh ở giữa, về thăng và trầm – đây là nhiệm vụ bác sĩ, và cũng là của văn học.

Anh đang nghĩ đến tiểu thuyết thế kỷ mười chín.

Lòng đại lượng và tầm nhìn xa, một tấm lòng nhân hậu kín đáo và đầu óc phán xét tỉnh táo; anh là loại bác sĩ sẽ hiểu rõ và sẵn lòng đón nhận mọi trò tàn ác của số phận, cả sự phủ nhận nực cười và tuyệt vọng đối với những việc không thể tránh khỏi; anh sẽ bắt mạch nhịp đã yếu, nghe từng hơi thở đang dần tắt, cảm thấy bàn tay nóng bắt đầu lạnh đi và chiêm nghiệm, theo cách mà chỉ có văn học và tôn giáo dạy, về sự yếu ớt và cao quý của loài người...

Anh nhanh chân bước trong buổi tối mùa hạ lặng gió theo nhịp những suy nghĩ hoan hỉ của mình.

Phía trước anh, cách khoảng một trăm mét, là cây cầu, và trên đó, anh cho là thế, nổi bật trên con đường tối sẫm, là một hình màu trắng thoạt tiên có vẻ là một phần của đá nhạt màu trên tường chắn.

Nhìn chăm chú vào thì các nét của nó như tan ra, nhưng vài bước gần hơn đã khiến nó hiện ra hơi mang dáng dấp con người.

Ở khoảng cách này anh không thể biết được nó xoay lưng hay nhìn về phía anh.

Nó đứng bất động và anh cho là nó đang nhìn mình.

Trong một hai giây anh cố nghĩ cho vui đó là một con ma, nhưng anh chẳng tin vào chuyện siêu nhiên, ngay cả cái đấng vị tha tột bậc đang nắm quyền tối cao ở nhà thờ Norman trong làng cũng không.

Đó là một đứa nhỏ, giờ anh đã thấy, và vì thế chắc chắn là Briony, trong bộ váy trắng anh đã thấy nó mặc trước đó trong ngày.

Giờ anh có thể thấy rõ nó, anh giơ tay lên gọi, và nói, "Anh đây, Robbie, nhưng nó vẫn không cử động.

Khi tiến tới, đầu anh nảy ra một ý rằng sẽ thích hợp hơn khi lá thư đến căn nhà trước anh.

Nếu không anh có thể sẽ phải chuyển cho Cecilia khi mọi người có mặt ở đó, có lẽ mẹ nàng sẽ dòm ngó, mà bà thì có phần lạnh nhạt với anh kể từ lúc anh về.

Mà cũng có khi anh không thể đưa được lá thư cho Cecilia vì nàng cứ giữ khoảng cách.

Nếu Briony đưa thư cho nàng, nàng sẽ có thời gian đọc và ngẫm ngợi khi ở một mình.

Một vài phút riêng tư sẽ làm nàng dịu đi.

"Anh tự hỏi không biết em giúp anh một việc được không," anh nói khi tiến lại gần em.

Em gật đầu và đợi.

"Em chạy về nhà trước và đưa thư này cho chị Cee hộ anh được không?"

Anh vừa nói vừa đặt phong bì vào tay em, và em nhận lấy, không đáp một lời.

"Vài phút nữa anh sẽ có mặt," anh bắt đầu nói, nhưng em đã quay đi rồi và đang chạy qua cầu.

Anh tì người vào tường chắn, lấy một điếu thuốc ra trong lúc nhìn theo dáng người nhấp nhô khi chạy của em lùi xa rồi nhòa vào ráng chiều.

Tuổi mới lớn của một bé gái, anh hài lòng nghĩ.

Mười hai, hay mười ba nhỉ?

Anh không nhìn thấy em trong một hay hai giây, rồi lại thấy khi em chạy qua đảo, nổi bật lên trên khoảng cây màu sẫm.

Rồi anh lại không nhìn thấy em, và chỉ đến khi em xuất hiện trở lại, ở phía xa kia trên cây cầu thứ hai, và chạy khỏi lối xe đi đường tắt qua bãi cỏ anh mới đứng bật dậy, bị nỗi kinh hoàng và sự chắc chắn tuyệt đối bóp nghẹt lấy.

Một tiếng hét tức thì, không lời bật ra khỏi anh khi anh tiến một vài bước vội vã trên đường xe chạy, ngập ngừng, rồi lại chạy, rồi lại dừng, hiểu rằng có rượt theo cũng vô ích.

Khi khum tay quanh miệng và gầm vang tên Briony, anh đã không còn thấy em nữa.

Mà thế cũng vô ích.

Anh đứng đó, căng mắt ra nhìn em - như thể việc đó có ích - và căng trí nhớ ra nữa, tuyệt vọng cố thuyết phục mình tin rằng đã nhầm.

Nhưng không nhầm lẫn gì.

Lá thư viết tay anh đặt trên cuốn Giải phẫu học của Gray đang mở, phần Tạng phủ học, trang 1546, âm đạo.

Lá thư gõ máy, anh để gần máy đánh chữ, chính là cái anh đã lấy gấp lại cho vào phong bì.

Không cần sự thông thái kiểu Freud - lời giải thích đơn giản và nhàm chán hơn nhiều - lá thư vô hại vẫn đang nằm trên hình 1236, với đám lông mu hình tam giác phóng đãng và lộ liễu, trong khi bản nháp bức thư tục tĩu của anh nằm trên bàn, ngay trong tầm với.

Anh gào tên Briony lần nữa, mặc dù biết em giờ đã đến cửa trước rồi.

Chắc chắn, trong vài giây nữa thôi, một hình thoi ánh sáng màu nâu vàng xa xa bao chứa hình dáng em sẽ mở rộng ra, ngừng giây lát, rồi thu hẹp lại chẳng còn gì khi em bước vào ngôi nhà và cửa khép lại sau lưng.
 
Atonement - Chuộc Tội
Chín


Hai lần trong vòng nửa tiếng, Cecilia bước ra khỏi phòng ngủ, nhìn thấy mình trong tấm gương khung thếp vàng trên đầu cầu thang và, ngay lập tức bất mãn, quay lại tủ quần áo cân nhắc lại.

Phương án đầu tiên của nàng là chiếc váy may bằng vải crêpe de chine đen mà, theo như tấm gương trên bàn trang điểm, có đường cắt khéo léo tạo một vẻ nghiêm nghị nhất định.

Cảm giác bất khả xâm phạm của chiếc váy càng được làm nổi rõ nhờ đôi mắt đen của nàng.

Thay vì làm dịu bớt ấn tượng đó bằng một chuỗi ngọc trai, nàng lại bất chợt hứng khởi lấy sợi dây chuyền cũng đen tuyền.

Đường son môi hoàn hảo ở lần tô đầu tiên.

Nhiều lần nghiêng đầu để nhìn được mình trong cả ba mặt gương khiến nàng an tâm là mặt nàng không quá dài, hay ít ra tôi nay thì không.

Nàng phải thấy mẹ có mặt trong bếp, còn Leon thì đang đợi nàng, nàng biết, trong phòng khách.

Dù thế, nàng vẫn tìm được thời gian, ngay lúc sắp sửa rời đi, khi vừa đóng cửa phòng ngủ lại sau lưng, để quay lại bàn trang điểm và thoa nước hoa lên khuỷu tay, một chút nghịch ngợm phù hợp với tâm trạng của nàng.

Nhưng cái nhìn công khai của cái gương trên cầu thang khi nàng vội đi về phía nó cho thấy một phụ nữ trên đường đi dự tang lễ, hơn nữa còn là một phụ nữ rầu rĩ, khổ hạnh, với bộ giáp đen có chút gì đó tương đồng với một loài côn trùng chuyên sống trong hộp diêm.

Một con bọ vừng!

Đấy chính là nàng tương lai, tám mươi lăm tuổi, trong tang phục của một quả phụ.

Không chút lưỡng lự - nàng nhìn xuống đôi giày, cũng màu đen, và lập tức trở lại phòng.

Nàng hoài nghi, vì nàng biết tâm trí có thể chơi trò lỡm.

Đồng thời, tâm trí nàng - trong mọi khía cạnh - đều nghĩ rằng nàng phải tham dự buổi tối ấy, và nàng phải thoải mái.

Nàng bước ra khỏi cái váy crêpe đen nằm trên sàn, vẫn đi giày và mặc nguyên đồ lót, xem xét các thứ có thể mặc trên giá quần áo trong tủ, hiểu rằng từng phút đang qua.

Nàng ghét cái ý nghĩ mình có vẻ ngoài khổ hạnh.

Thoải mái mới là điều nàng muốn cảm thấy, và đồng thời, cả độc lập nữa.

Trên hết, nàng muốn trông như thể nàng không hề mảy may bận tâm đến chuyện này, mà muốn thế thì lại mất thời gian.

Dưới tầng, cái nút thắt sốt ruột đang siết chặt lại trong bếp, còn những giây phút nàng định dành để ở riêng với anh trai đang cạn dần.

Chẳng mấy chốc mẹ nàng sẽ xuất hiện và muốn bàn bạc việc sắp xếp chỗ ngồi, Paul Marshall sẽ từ phòng xuống và cần có người tiếp anh ta, và rồi Robbie sẽ xuất hiện ngay trước cửa.

Làm thế nào nàng nghĩ cho rành mạch được đây?

Nàng lướt tay qua một đoạn lịch sử cá nhân, biên niên sử vắn tắt những thứ nàng thích.

Đây là những cái váy suôn nàng mặc lúc mười mấy tuổi, giờ trông chúng mới lố bịch, ẻo lả và thiếu gợi cảm làm sao, và mặc dù trên một cái có vết rượu, còn cái khác là một lỗ thủng do điếu thuốc lá đầu tiên của nàng gây ra, nàng cũng không nỡ vứt đi.

Còn đây là cái váy đầu tiên hở vai một cách rụt rè, và những cái khác theo sau càng lúc càng mạnh bạo hơn, như những bà chị gái đầy sức sống khi vứt bỏ những năm tháng trẻ con, thêm vào những đường may khoe eo và đường cong, giảm bớt độ dài của chân váy với sự phớt lờ đầy tự mãn những hy vọng của đám đàn ông.

Cái váy đẹp nhất và gần đây nhất của nàng, mua để ăn mừng kết thúc kỳ thi tốt nghiệp, trước khi nàng biết về tấm bằng hạng ba tồi tệ của mình, là chiếc váy dạ tiệc màu xanh lá cây sẫm ôm sát càt chéo hở lưng có dây buộc cổ.

Lần đầu tiên ra mắt ở nhà mà mặc thế này thì hơi diện quá.

Nàng luồn tay vào sâu hơn nữa và lấy ra một chiếc váy lụa bồng bềnh với phần áo xếp nếp và chân váy có gấu cắt lượn sóng - một lựa chọn an toàn vì màu hồng đủ nhã nhặn và cổ điển để mặc buổi tối.

Cái gương ba mặt cũng nghĩ như thế.

Nàng thay giày, đổi dây chuyền đen lấy chuỗi ngọc trai, dặm lại phấn, bới lại tóc, thoa thêm một chút nước hoa ở chỗ cổ giờ đã lộ ra nhiều hơn, và chưa đầy mười lăm phút sau đã có mặt trên hành lang.

Trước đó, nàng đã thấy già Hardman cầm giỏ mây đi khắp nhà thay bóng điện.

Có lẽ giờ trên đầu cầu thang đã sáng chói hơn, vì trước đây nàng chưa bao giờ thấy khó khăn đến thế với cái gương ở đó.

Ngay cả khi bước tới từ cách đó cả chục bước chân, nàng đã thấy nó sẽ không cho nàng qua; thực ra cái màu hồng này trông thật nhạt nhẽo xoàng xĩnh, đường chiết eo quá cao, cái váy lòe xòe như bộ đầm dự tiệc của một con bé tám tuổi.

Chỉ thiếu mỗi bộ khuy hình thỏ.

Khi nàng lại gần hơn, bề mặt không hoàn toàn bằng phẳng của cái gương cổ làm hình nàng ngắn lại và nàng đối mặt với đứa trẻ của mười lăm năm trước.

Nàng đứng lại và thử đưa tay lên đầu túm tóc lại thành hai bím.

Cũng chính cái gương này hẳn đã nhìn nàng chạy xuống cầu thang như thế hàng chục lần, trên đường đến tiệc sinh nhật buổi chiều sôi động của một đứa bạn nào đó.

Thế này sẽ không thể làm tâm trí nàng dễ chịu hơn, khi đi xuống mà trông như, hay tin rằng trông mình như Shirley Temple.

Cam chịu hơn là cáu kỉnh hay hoang mang, nàng quay về phòng.

Tâm trí nàng không hề rối loạn: những ấn tượng giả tạo, quá sống động này, sự hoài nghi vào bản thân, sự rõ ràng mà mắt thường cũng nhìn thấy hiển hiện và những khác biệt kỳ quái bao bọc ngoài cái thân thuộc, chính là sự tiếp nối, là những biến thể của những gì nàng đã trông thấy và cảm thấy suốt ngày hôm đấy.

Cảm thấy, nhưng không muốn nghĩ đến.

Hơn nữa, nàng biết mình phải làm gì và nàng vẫn luôn biết điều đó.

Nàng chỉ có một bộ duy nhất mà nàng thực lòng thích, và đó là bộ nàng nên mặc.

Nàng thả chiếc đầm hồng rơi xuống chiếc màu đen, khinh khỉnh bước qua đống ấy, với tay lấy chiếc váy dài, cái váy đầm xanh hở lưng hậu-thi- tốt-nghiệp của nàng.

Khi kéo váy lên, nàng hài lòng với cái mơn trớn mạnh bạo của vạt vải cắt chéo của váy lót lụa, và nàng có cảm giác mạnh mẽ một cách mềm mại, tha thướt và đầy tự tin; trong cái gương dài kia chính là mỹ nhân ngư hiện ra để gặp nàng.

Nàng bỏ chuỗi ngọc trai lại chỗ cũ, đổi lại đôi giày gót cao màu đen, một lần nữa chỉnh lại tóc và trang điểm, thôi không chấm thêm nước hoa, và rồi, khi nàng mở cửa, rú lên kinh hãi.

Một khuôn mặt và một nắm tay giơ lên cách nàng chỉ vài inch.

Hình ảnh lập tức hiện ra trong đầu nàng, trong cơn choáng váng, là một cảnh phối cực đoan kiểu Picasso trong đó nước mắt, mắt thâm quầng sưng mọng, môi ướt và mũi không hỉ, tấy đỏ hòa vào nhau thành một mảng màu đỏ thâm sũng đau buồn.

Rồi nàng bình tĩnh lại, đặt tay lên bờ vai xương xương và nhẹ nhàng quay cả người để có thể nhìn thấy cái tai bên trái.

Đó là Jackson, toan gõ cửa phòng nàng.

Trên tay kia là một chiếc tất màu xám.

Khi lùi lại, nàng nhận ra thằng bé đang mặc quần soóc màu xám và áo sơ mi trắng đã là phẳng phiu, nhưng lại đi chân không.

"Anh bạn nhỏ!

Có chuyện gì thế?"

Trong một giây, nó không đủ tự tin cất tiếng.

Thay vì thế, nó giơ cái tất lên và chỉ tay ra hành lang.

Cecilia nhoài ra và thấy Pierrot đứng cách một đoạn, cũng chân không, cũng cầm tất, và nhìn.

"Vậy là mỗi đứa có một cái tất nhỉ."

Thằng bé gật đầu và nuốt khan, rồi cuối cùng nó cũng nói được, "Cô Betty bảo bọn em sẽ bị ăn đòn nếu không xuống dùng trà ngay bây giờ, nhưng chỉ có một đôi tất."

"Và hai đứa tranh nhau đôi tất."

Jackson gật đầu lia lịa.

Khi nàng cùng hai thằng bé đi trên hành lang về phòng chúng, thằng thứ nhất rồi thằng thứ hai nắm lấy tay nàng và nàng ngạc nhiên khi thấy mình hài lòng như thế.

Nàng không thể không nghĩ đến bộ váy của mình.

"Sao hai em không nhờ chị gái giúp?"

"Hiện giờ chị ấy không nói chuyện với bọn em."

"Nhưng sao lại không?"

"Chị ấy ghét bọn em."

Phòng chúng là một đống lộn xộn đáng thương những quần với áo, khăn ướt, vỏ cam, những mẩu truyện tranh bị xé nhỏ xếp lại trên một tờ giấy, một đống chăn đệm lấp gần hết những cái ghế bị lật ngược lại.

Giữa hai giường là một vết ướt lớn trên tấm thảm, giữa tấm thảm là một bánh xà phòng và giấy vệ sinh ướt.

Một tấm rèm treo xộc xệch dưới hộp rèm, và mặc dù cửa sổ mở, không khí trong phòng ẩm thấp, như thể thứ không khí người ta thở ra rất nhiều lần.

Tất cả các ngăn kéo tủ quần áo đều mở toang và rỗng không.

Có cảm giác là nỗi buồn chán trong phòng kín chỉ tạm ngưng nhờ các trò thi đấu và chiến thuật - nhảy từ giường này sang giường kia, dựng trại, suýt sáng chế ra các trò chơi trên bàn rồi bỏ dở.

Không ai trong nhà Tallis trông nom hai đứa sinh đôi Quincey, và để che giấu cảm giác tội lỗi, nàng vui vẻ nói, "Chúng ta sẽ chẳng bao giờ tìm được gì khi phòng thế này cả."

Nàng bắt đầu sắp xếp lại, dọn giường, đá giày cao gót ra leo lên ghế chỉnh lại rèm, và giao cho hai thằng nhóc những việc nhỏ vừa sức.

Chúng nghe lời, nhưng im lặng và khom vai mà làm, cứ như thể nàng định trừng phạt chứ không phải cứu giúp, quở mắng chứ không phải đang tỏ ra tử tế.

Chúng xấu hổ về căn phòng.

Khi đứng trên ghế trong chiếc váy xanh sẫm lá cây bó sát người, nhìn hai cái đầu hoe vàng nhô lên nhô lên cúi xuống làm việc, một ý nghĩ giản dị đến với nàng: không có được tình yêu chúng sẽ thấy kinh khủng và sợ hãi đến mức nào, dựng xây sự tồn tại từ hư không trong một ngôi nhà lạ hoắc.

Vướng víu, vì không cúi được gối xuống thấp, nàng bước xuống, ngồi ở mép giường và vỗ vào chỗ cạnh nàng.

Tuy nhiên, hai thằng nhóc vẫn đứng, nhìn nàng hy vọng.

Nàng dùng cái giọng như khẽ hát của một cô giáo trông trẻ mà nàng từng yêu quý.

"Mình đâu cần phải khóc lóc vì mấy cái tất bị mất, phải không nào?"

Pierrot nói, "Thực ra, bọn em muốn về nhà hơn."

Nghiêm nghị, nàng lấy lại giọng nói chuyện của người lớn.

"Lúc này thì không được.

Mẹ em ở Paris với...

à đang đi nghỉ ở Paris, còn cha em thì bận ở trường đại học, vì thế các em sẽ phải ở lại đây một thời gian.

Chị xin lỗi vì đã bỏ mặc hai em.

Nhưng hai em đã rất vui khi ở bể bơi..."

Jackson nói, "Bọn em muốn diễn kịch nhưng rồi Briony bỏ đi mà vẫn chưa quay lại."

"Có thật không?"

Lại thêm một đứa nữa cần phải để mắt đến.

Lẽ ra Briony phải về lâu rồi.

Chi tiết này đến lượt nó lại khiến nàng nhớ ra mọi người đang đợi ở dưới tầng: mẹ nàng, đầu bếp, Leon, vị khách, Robbie.

Ngay cả cái nóng của buổi tối tràn vào căn phòng qua các cửa sổ mở toang tới trên lưng nàng cũng áp đặt trách nhiệm; đây là một buổi tối mùa hạ mà ta đã mơ ước suốt cả năm, và giờ cuối cùng nó đã đến với mùi hương nồng nàn, trĩu nặng niềm khoan khoái, vậy mà nàng lại bị những đòi hỏi và lo lắng không đâu làm cho sao nhãng đến mức không hưởng ứng được.

Nhưng đơn giản là nàng sẽ phải hưởng ứng.

Không làm thế là sai.

Được uống gin & tonic với Leon trên hiên nhà ở ngoài kia sẽ là thiên đường.

Chẳng phải là lỗi của nàng khi dì Hermione chạy trốn với một tay dở người chuyên đọc mấy bài nói chuyện thân mật lê thê trên đài truyền thanh hàng tuần.

Buồn rầu đủ rồi.

Cecilia đứng dậy và vỗ tay.

"Phải, chuyện vở kịch tệ quá, nhưng mình đâu làm gì được.

Đi tìm tất cho hai đứa rồi xuống thôi."

Tìm kiếm một hồi thì biết được đôi tất chúng đi đên đây đang được giặt, và trong cơn yêu đương dữ dội, dì Hermione quên béng chỉ xếp thêm mỗi một đôi dự phòng.

Cecilia vào phòng ngủ của Briony và tỉ mỉ tìm trong ngăn kéo một đôi có vẻ ít nữ tính hhất - cao đến mắt cá chân, trắng, với những quả dâu màu đỏ và xanh lá cây quanh cổ tất.

Nàng đoán giờ thể nào hai đứa cũng giành nhau đôi màu xám, hóa ra lại ngược lại, và để tránh khiến chúng buồn thêm nàng đành quay lại phòng Briony tìm một đôi nữa.

Lần này nàng dừng lại nhòm trời chiều qua cửa sổ và băn khoăn không biết em gái ở đâu.

Chết đuối dưới hồ, bị bọn gypsy bắt cóc, bị một chiếc xe hơi chạy qua đâm phải, nàng nghĩ theo phong tục, một nguyên tắc đáng tin rằng không có gì sẽ xảy ra như người ta tưởng tượng, và đây là cách hiệu quả để loại trừ điều tệ hại nhất.

Quay lại với hai đứa nhóc, nàng dùng lược nhúng vào nước cắm hoa chải tóc Jackson, ngón trỏ và ngón cái túm chặt lấy cằm nó, chẻ trên da đầu nó một đường thẳng tap, đẹp đẽ.

Pierrot kiên nhẫn đợi đến lượt, rồi không một lời chúng cùng nhau chạy xuống lầu đối mặt với Betty.

Cecilia chậm rãi bước theo sau, đi qua cái gương hay phê phán, liếc vào và hoàn toàn hài lòng với thứ mình nhìn thấy.

Hay đúng hơn, nàng đã bớt để tâm hơn, vì tâm trạng nàng đã thay đổi kể từ lúc đi cùng hai đứa sinh đôi, và suy nghĩ của nàng đã mở rộng ra để bao chứa một quyết tâm mơ hồ đang dần thành hình dù không hàm chứa cụ thể điều gì hay đưa tói một kế hoạch cụ thể nào; nàng phải đi khỏi đây.

Ý tưởng này hay ho và làm nàng dễ chịu, mà không tuyệt vọng chút nào.

Nàng xuống đến chiếu nghỉ trước tầng trệt và dừng bước.

Dưới kia, mẹ nàng, bị tội lỗi hành hạ vì vắng mặt trong việc nhà, sắp rải sự lo lắng và bối rối khắp nơi.

Thêm vào hỗn hợp này chắc chắn là tin, nếu đúng thế thật, Briony mất tích.

Thời gian và lo lắng sẽ bị vắt kiệt trước khi tìm ra con bé.

Sẽ có điện thoại từ bộ báo ông Tallis phải làm việc muộn nên ở lại thành phá.

Leon, với tài tránh né trách nhiệm thiên bẩm, sẽ không đảm nhiệm thay vai trò của cha mình.

Trên danh nghĩa, nó sẽ chuyển sang bà Tallis, nhưng rốt cuộc thì thành công của buổi tối sẽ phụ thuộc vào sự quán xuyến của Cecilia.

Mọi thứ đều rõ ràng và không đáng phải chống đối - nàng sẽ không được buông mình vào một đêm mùa hạ thơm ngát, sẽ không được nói chuyện lâu với Leon, nàng sẽ không được chân trần đi bộ trên cỏ dưới những vì sao khuya.

Nàng cảm thấy dưới tay mình thành cầu thang gỗ thông đánh véc ni đen bóng, hơi có kiểu neo Gothic, rắn chắc và giả tạo.

Trên đầu nàng là một chúc đài lớn bằng gang treo trên ba sợi dây xích, suốt từ khi nàng còn bé đến giờ nó chưa được thắp sáng một lần.

Thay vào đó, ánh sáng tỏa ra từ một cặp đèn tường được trang trí bằng núm tua với chụp đèn hình nón bằng giấy da giả.

Nhờ luồng sáng màu vàng tù mù, nàng nhón chân đi qua chiếu nghỉ để nhìn sang phòng mẹ nàng.

Cửa chỉ khép hờ, đèn phòng hắt ra thảm ngoài hành lang, cho thấy chắc chắn Emily Tallis đã ra khỏi giường.

Cecilia quay lại cầu thang và lại chần chừ, ngại không muốn xuống.

Nhưng không còn lựa chọn nào khác.

Bố trí trong nhà chẳng có gì mới và nàng cũng không thấy khó chịu.

Hai năm trước, cha nàng mất hút vào việc chuẩn bị tài liệu tư vấn mật cho Bộ Nội vụ Anh.

Mẹ nàng thì luôn sống trong vùng đất tối của người bệnh tật, Briony lúc nào cũng cần đến sự chăm sóc của người mẹ từ chị gái, Leon thì luôn tự do bay nhảy, còn nàng thì luôn yêu anh vì thế.

Nàng không hề nghĩ đảm đương lại những vai trò cũ lại dễ dàng đến vậy.

Cambridge đã thay máu cho nàng và nàng nghĩ mình trở nên mạnh mẽ.

Tuy nhiên, không ai trong gia đình nhận thấy sự biến đổi ở nàng, và nàng không thể cưỡng lại sức mạnh của những kỳ vọng theo thói quen của họ.

Không đổ lỗi cho ai, nhưng nàng nấn ná ở lại nhà suốt mùa hè, được ý niệm mơ hồ rằng mình đang tái thiết lập mối dây liên hệ quan trọng với gia đình cổ vũ.

Nhưng giờ nàng nhận ra những mối liên hệ đó chưa bao giờ bị phá vỡ, và dù sao cha mẹ nàng cũng vẫn luôn vắng mặt theo cách riêng của họ, Briony thì mải mê trong những tưởng tượng của nó, còn Leon thì ở thành phố.

Bây giờ là lúc để nàng tiến lên.

Nàng cần một cuộc phiêu lưu.

Cậu và dì mời nàng đi cùng họ sang New York.

Dì Hermione ở Paris.

Nàng có thể đi London và tìm việc làm - đó chính là điều mà cha mong đợi ở nàng.

Nàng cảm thấy niềm phấn khích, chứ không phải sự bồn chồn, và nàng sẽ không cho phép buổi tối hôm nay làm nàng thoái chí.

Những buổi tối thế này sẽ còn nữa, và để tận hưởng, nàng sẽ phải ở một nơi khác.

Được sự chắc chắn mới mẻ này thổi thêm sinh khí - việc chọn được bộ đầm phù hợp hẳn đã đóng góp một phần - nàng băng qua sảnh, đẩy cánh cửa bọc vải len tuyết và sải bước trên hành lang lát gạch vuông vào bép.

Nàng bước vào một đám khói mù mịt gồm những khuôn mặt không có cơ thể lơ lửng ở các chiều cao khác nhau, như những hình vẽ nháp trong sổ phác thảo của họa sĩ, và mọi con mắt đều nhìn xuống đống đồ bày trên bàn bếp, Cecilia chỉ thấy lờ mờ từ sau tấm lưng to bản của Betty.

Ánh đỏ lòe nhòe ở tầm ngang mắt cá chân là lửa than trong cái lò nướng đôi, cửa của nó ngay sau đó liền được một cú đá đóng lại, kêu đánh choang cùng với một tiếng quát bực tức.

Hơi nước bốc lên mù mịt từ một vạc nước sôi to không người trông.

Phụ bếp, Doll, một cô gái người làng gầy nhom với mái tóc búi lại đơn giản, đang ở bồn rửa cọ vung chảo, gây ra những tiếng loảng xoảng ầm ĩ như đang hậm hực điều gì, nhưng cả cô nữa cũng quay nửa người lại nhìn thứ Betty cho lên bàn.

Một trong các khuôn mặt là của Emily Tallis, mặt kia của Danny Hardman, mặt thứ ba của cha cậu ta.

Bồng bềnh bên trên, có lẽ là đúng trên ghế đẩu, là Jackson và Pierrot, mặt nghiêm nghị.

Cecilia cảm nhận được Hardman con đang nhìn nàng chằm chằm.

Nàng trừng mắt nhìn lại, và hài lòng khi cậu ta quay đi.

Công việc trong bếp nặng nhọc và kéo dài suốt cả ngày dưới cái nóng, và những gì còn lại của nó đang ở khắp mọi nơi: nền lát đá phiến nhớp nháp đầy mỡ của thịt nướng chảy ra và be bét vỏ trái cây bị giẫm; khăn lau bát đĩa ướt sũng, những tặng phẩm cho công sức lao động anh hùng bị lãng quên, rũ xuống trên bếp lò như lá cờ quân đội đang mục ra trong nhà thờ; thúc vào cẳng chân Cecilia, một giỏ rau thừa đầy ngập mà Betty sẽ mang về nhà cho con lợn giống Gloucester Old Spot của bà ăn, vỗ béo chờ đến tháng Chạp.

Đầu bếp ngoái đầu liếc nhìn người mới vào, và trước khi bà quay đi thì đã có đủ thời gian để kịp nhìn thấy cơn thịnh nộ trong đôi mắt đã bị gò má nung núc thịt làm cho híp tịt lại như hai lát thạch jelly.

"Bắc ra!" bà hét.

Không nghi ngờ gì sự cáu tiết ấy là dành cho bà Tallis.

Doll lao từ bồn rửa sang bếp, trượt chân suýt ngã, cầm hai miếng giẻ lên bắc cái vạc xuống.

Trong tầm nhìn giờ đang rõ hơn hiện ra Polly, cô tớ gái ai cũng bảo là chất phác, và ở lại rất muộn mỗi khi có việc.

Đôi mắt to và ngây thơ cũng dán vào bàn bếp.

Cecilia dịch khỏi chỗ sau lưng Betty để xem thứ mà ai cũng thấy - một cái khay lớn đen thui vừa được lôi ra khỏi lò nướng đựng một mẻ lớn khoai tây nướng vẫn đương xèo xèo.

Dễ phải có đến một trăm củ, nằm thành những hàng xộc xệch màu vàng nhạt được cái xẻng kim loại của Betty xục, nạo, rồi lật.

Mặt bên dưới vàng rượm, dinh dính, và điểm xuyết giữa màu nâu bóng như xà cừ có thể nhận ra những đường viền lấp lánh, và thỉnh thoảng lại xuất hiện những hoa văn tinh xảo trổ ra quanh một chỗ vỏ khoai bị nứt.

Chúng thật tuyệt hảo, hoặc là sẽ được như vậy.

Hàng cuối cùng đã được lật xong và Betty nói, "Bà muốn lấy cái này, thưa bà, làm salad khoai tây?"

"Chính xác.

Cắt những mẩu bị cháy đi, chùi mỡ đi, cho vào tô Tuscany to rồi rưới đẫm dầu oil lên, rồi..."

Emily khoát tay mơ hồ về chỗ bày hoa quả cạnh cửa chạn, nơi có thể có hoặc không một quả chanh.

Betty ngẩng lên trần nhà nói, "Có phải bà muốn salad cải Brussels không ạ?"

"Đúng rồi, Betty."

"Salad súp lơ rắc vụn bánh mì bỏ lò?

Hay salad cải ngựa rưới nước xốt?"

"Bà cứ nhặng cả lên vì chuyện không đâu."

"Bánh mì và salad pudding bơ?"

Một trong hai đứa sinh đôi khịt mũi.

Khi Cecilia vừa đoán được cái gì sẽ đến tiếp theo thì nó đã bắt đầu xảy ra.

Betty quay sang nàng, tóm chặt lấy cánh tay nàng, và khẩn khoản.

"Cô Cee, nhà mình yêu cầu làm món nướng và chúng tôi đã mất cả ngày chuẩn bị trong nhiệt độ trên cả nhiệt độ sôi của máu."

Cảnh tượng thật mới mẻ, kèm theo nhân tố bất thường là có khán giả, nhưng tình huống nan giải này khá quen thuộc: làm thế nào gìn giữ được yên bình mà không xúc phạm mẹ.

Thêm nữa, Cecilia đã cương quyết là sẽ ở cùng anh nàng ngoài hiên; chính vì thế việc ở bên với phe thắng và đẩy nhanh quyết định cuối cùng là rất quan trọng.

Nàng kéo mẹ qua một bên, và Betty, hiểu ý, ra lệnh cho mọi người quay lại làm việc của mình.

Emily và Cecilia Tallis đứng ở chỗ cánh cửa dẫn ra vườn rau lúc đó đang mở.

"Con yêu, có đợt nóng bất thường nên mẹ sẽ không đồng ý hủy món salad đâu."

"Emily, con biết là trời rất nóng, nhưng Leon muốn ăn món nướng của Betty chết đi được.

Anh ấy cứ ra rả về nó suốt.

Con nghe anh ấy khoe với anh Marshall về món này."

"Ôi trời ơi," Emily nói.

"Con đồng ý với mẹ.

Con cũng không muốn ăn đồ nướng.

Nhưng tốt nhất là cho mọi người lựa chọn.

Bảo Polly đi cắt ít rau diếp.

Trong chạn có củ cải đường.

Betty có thể làm món khoai tây mới và để nguội."

"Con yêu, con nói đúng.

Con biết mà, mẹ không thích làm Leon bé bỏng thất vọng."

Và thế là chuyện giải quyết xong và món nướng được bảo lưu.

Với một vẻ duyên dáng lịch thiệp, Betty sai Doll đi cạo vỏ ít khoai tây mới, còn Polly cầm một con dao ra ngoài.

Khi họ ra khỏi bếp, Emily đeo kính râm vào và nói, "Mẹ mừng là chuyện này đã giải quyết xong vì điều thực sự làm mẹ phiền lòng là Briony cơ.

Mẹ biết là nó buồn.

Con bé đang dằn dỗi lang thang ngoài kia và mẹ định đi đưa nó về."

"Ý kiến hay.

Con cũng lo cho nó," Cecilia nói.

Nàng không hề có ý định ngăn mẹ đi xa khỏi hàng hiên.

Phòng khách từng làm Cecilia sững sờ sáng hôm đó bằng những thoi ánh sáng hình bình hành giờ đây âm u, được mỗi một ngọn đèn đặt gần lò sưởi thắp sáng.

Những cửa sổ Pháp mở toang đóng khung một khoảng trời xanh nhạt, và trên nền trời đó, như một hình chiếu bóng ở phía xa, là cái đầu và đôi vai quen thuộc của anh trai nàng.

Khi bước qua phòng, nàng nghe tiếng những viên đá va lanh canh vào thành cốc, và khi bước ra ngoài nàng ngửi thấy mùi bạc hà hãng, cúc la mã và cúc thơm thanh nhiệt bị giẫm nát dưới chân, giờ còn gắt nồng hơn cả lúc sáng.

Không ai nhớ tên, hay thậm chí diện mạo, của người làm vườn mướn tạm, vài năm trước ông đã thực hiện kế hoạch trồng cây giữa kẽ các viên đá lát.

Vào lúc ấy, không ai hiểu ông nghĩ gì.

Có lẽ đó là lý do vì sao ông bị đuổi.

"Em gái!

Anh đã ở ngoài này đến bốn mươi phút và bị hầm chín đến nơi rồi đấy."

"Xin lỗi.

Ly của em đâu?"

Trên bàn gỗ thấp kê sát tường nhà có một cái đèn dầu tròn và xung quanh là một quầy bar giản dị.

Cuối cùng thì gin & tonic cũng ở trong tay nàng.

Nàng chụm điếu thuốc của mình vào điếu của anh châm lửa và họ cụng ly.

"Anh thích cái váy này."

"Anh ngắm nó không?"

"Xoay một vòng nào.

Xinh lắm.

Anh đã quên mất em có cái nốt ruồi đó."

"Ngân hàng thế nào?"

"Buồn tẻ nhưng hoàn toàn dễ chịu.

Bọn anh sống vì các buổi tối và ngày cuối tuần.

Khi nào thì em mới định đến?"

Họ tha thẩn bước khỏi hàng hiên xuống con đường sỏi giữa hai luống hồng.

Đài phun Triton hiện lên trước mặt họ, một khối đen như mực với những đường nét phức tạp sắc cạnh nổi bật trên nền trời đang chuyển sang màu xanh lá khi ánh sáng dần tắt.

Họ có thể nghe thấy tiếng nước tí tách và Cecilia nghĩ nàng ngửi thấy cả mùi nó nữa, bàng bạc và gắt.

Cũng có thể là mùi của ly rượu trong tay nàng.

Nàng cất lời sau một lúc im lặng, "Ở đây em sẽ điên mất."

"Lại là mẹ của tất cả mọi người.

Em có biết là, giờ có các cô gái làm đủ loại việc.

Thậm chí cả tham gia thi ngạch công chức.

Ông Già sẽ vui lòng lắm."

"Họ sẽ chả bao giờ nhận em với cái bằng hạng ba này đâu."

"Một khi cuộc đời em bắt đầu rồi, em sẽ thấy cái thứ đó chả có nghĩa quái gì cả.

Họ tới đài phun và quay lại đối mặt với ngôi nhà, im lặng trong một lúc, tì người vào thành bể, ngay chỗ nàng chịu ô nhục.

Liều lĩnh, lố bịch và trên tất cả là nhục nhã.

Chỉ có thời gian, tấm mạng vờ đoan trang dệt nên từ nhiều giờ nhiều phút, mới ngăn anh trai khỏi thấy nàng đã như thế nào.

Nhung nàng không được bảo vệ như vậy khỏi Robbie.

Anh đã thấy nàng, anh luôn luôn có thể thấy nàng, ngay cả khi thời gian làm nhạt nhòa ký ức thành một chuyện kể ở quán rượu.

Nàng vẫn bực anh trai vì đã mời Robbie, nhưng nàng cần anh, nàng muốn được chia sẻ một phần tự do của anh.

Háo hức, nàng giục anh kể nàng nghe chuyện của mình.

Trong cuộc sống của Leon, hay nói đúng hơn, trong câu chuyện anh kể về đời mình, không ai hèn hạ, không ai mưu toan, dối trá, hay phản bội.

Ai cũng được ca tụng ít nhất ở một mức độ nào đó, như thể đó là một lý do đáng kinh ngạc giải thích cho sự tồn tại của tất cả mọi người.

Anh nhớ tất cả những câu nói hay nhất của bạn bè mình.

Tác dụng của các câu chuyện phiếm của Leon là làm cho người nghe có thiện cảm với nhân loại và những khuyết điểm của nó.

Ai ai, ở mức tối thiểu, cũng là "người tốt" hay "loại tử tế", và động cơ bên trong không bao giờ bị đánh giá mâu thuẫn với vẻ bên ngoài.

Nếu xuất hiện sự khó hiểu hay bất đồng với bạn bè, Leon nhìn ra xa và tìm thấy một lời giải thích tốt lành.

Văn học và chính trị, khoa học và tôn giáo không làm anh buồn chán - đơn giản là chúng không có chỗ đứng trong thế giới của anh, cũng như bất cứ vấn đề nào làm con người bất hòa nghiêm trọng với nhau.

Anh đã có một bằng luật và sung sướng quên sạch những gì đã học.

Rất khó hình dung ra có lúc nào anh cô đơn, hay buồn chán, hay thoái chí; sự bình thản trong anh là vô hạn, cũng ngang ngửa với sự thiếu tham vọng của anh, và anh cho rằng mọi người khác cũng giống hệt mình.

Bất chấp tất cả những điều này, sự ôn tồn của anh là hoàn toàn chấp nhận được, thậm chí còn có tác dụng xoa dịu.

Đầu tiên anh kể chuyên câu lạc bộ chèo thuyền.

Vừa đây anh đã làm người giữ nhịp chèo cho đội đua thuyền tám, và mặc dù mọi người đều rất tốt, anh nghĩ mình sẽ vui hơn nếu như được chèo theo nhịp của ai đó khác.

Cũng như thế, ở ngân hàng có lời bóng gió việc thăng chức và khi không có gì xảy đến anh nhẹ nhõm cả người.

Rồi chuyện các cô gái: Mary diễn viên, cô này rất tuyệt vời trong Private Lives, tự dưng chuyển đến Glasgow không một lời giải thích mà cũng chả ai hiểu tại sao.

Anh chỉ ngờ rằng cô bận phải chăm sóc một người thân sắp chết.

Francine, cô này nói một thứ tiếng Pháp đẹp đẽ và khiến cả thế giới điên tiết lên khi đeo kính một mắt, tuần trước đã đi cùng anh tới xem một vở opera của Gilbert và Sullivan, và trong lúc giải lao họ thấy Đức Vua dường như liếc về phía họ.

Nàng Barbara dễ thương, đáng tin cậy, quảng giao trong giới thượng lưu mà Jack và Emily nghĩ anh nên lấy làm vợ, đã mời anh đến ở một tuần trong lâu đài của cha mẹ nàng ở vùng Highlands.

Anh nghĩ nếu từ chối thì khiếm nhã quá.

Mỗi khi anh có vẻ sắp cạn chuyện, Cecilia lại ném cho anh một câu hỏi khác.

Không hiểu sao tự dung tiền thuê nhà của anh ở Albany lại hạ.

Một đứa bạn cũ đã làm cho một em gái nói ngọng dính bầu, buộc phải lấy em ấy rồi cũng hạnh phúc vui vẻ cả.

Một thằng bạn khác vừa mua xe gắn máy.

Bố thằng bạn thân vừa mua nhà máy sản xuất máy hút bụi và kể rằng nó là tấm vé kiếm ra bộn tiền.

Bà một đứa can đảm ghê gớm, chân gãy mà đi bộ được đến nửa dặm.

Êm đềm như không khí buổi đêm, cuộc nói chuyện xuyên qua nàng, bao bọc quanh nàng, gợi lên một thế giới của những hảo tâm và kết quả dễ chịu.

Vai kề vai, nửa đứng, nửa ngồi, họ đối diện với ngôi nhà ấu thơ của mình, nơi những điểm lộn xộn bắt chước kiến trúc thời Trung cổ dường như giờ lại tạo cảm giác thư thái kỳ quặc; chứng đau nửa đầu của mẹ họ là màn giải lao vui nhộn giữa một vở opera hài, nỗi buồn của hai đứa sinh đôi sến quá đà, sự vụ trong bếp không hơn gì cuộc va chạm vui vẻ của những tâm hồn sôi nổi.

Khi đến lượt nàng kể chuyện những tháng vừa qua, gần như không thể nào không bị giọng điệu của Leon anh hưởng, mặc dù giọng điệu ấy qua cách nói của nàng, không thể tránh được, là sự mỉa mai.

Nàng chế nhạo những nỗ lực của mình khi vẽ bảng phả hệ; cây gia hệ ảm đạm và không cành lá, rễ cũng không.

Ông nội Harry Tallis là con trai một nông dân làm thuế, ông, vì lý do nào đó, đã đổi không dùng tên Cartwright nữa và cả ngày sinh lẫn việc cưới xin đều không được ghi chép lại.

Còn Clarissa - suốt cả ngày cuộn tròn trên giường với cánh tay tê rần - chắc chắn chứng minh quan điểm ngược lại với Paradise Lost - nữ nhân vật chính trở nên đáng ghê tởm hơn khi đức hạnh bị cái chết ám ảnh của cô ta lộ ra.

Leon gật đầu và bặm môi; anh sẽ không giả vờ hiểu nàng đang nói chuyện gì, cũng không ngắt lời.

Nàng tạo một sắc mỉa mai cho những tuần buồn chán và cô đơn của mình, cho việc nàng đã quay về ở với gia đình, đã đền bù cho thời gian mình ở xa thế nào, và phát hiện cha mẹ và em gái mình luôn vắng mặt theo cách riêng của họ ra sao.

Được thứ gần như tiếng cười rộng lượng của anh trai khích lệ, nang cô tạo ra những bức phác thảo khôi hài từ chuyện nàng thèm hút thêm thuốc mỗi ngày, việc Briony xé tấm áp phích của nó, việc hai thằng sinh đôi đứng ngoài phòng nàng mỗi đứa cầm một chiếc tất, và mẹ họ ao ước có phép lạ ở bữa tiệc - biến khoai tây nướng thành salad khoai tây.

Leon không hiểu lời ám chỉ liên quan đến Kinh Thánh ở đây.

Trong tất cả những gì nàng nói có một sự cùng quẫn, sự trống rỗng ở hạt nhân của nó, hay thứ gì bị gạt đi không nhắc đến hoặc không xác định đến khiến nàng nói nhanh hơn, và cường điệu hơn đồng thời ít thuyết phục đi.

Sự vô dụng dễ chịu của cuộc đời Leon là một món đồ nhân tạo được đánh bóng, cái vẻ giả tạo thoải mái của nó, những giới hạn của nó đạt tới nhờ lao động chăm chỉ vô hình và những ưu điểm ngẫu nhiên trong bản tính, không gì trong những thứ này nàng hy vọng cạnh tranh nổi.

Nàng luồn tay qua tay anh và siết chặt.

Đó là một đặc điểm nữa của Leon: mềm mỏng và dịu dàng khi ở bên người khác, dù qua lớp áo jacket, cánh tay anh vẫn có sự rắn chắc của gỗ rừng nhiệt đới.

Nàng cảm thấy hoàn toàn dễ chịu, và mọi thứ sáng sủa.

Anh nhìn nàng trìu mến.

"Sao thế, Cee?"

"Không sao.

Không sao hết."

"Thực sự em nên đến ở với anh và nhìn thế giới bên ngoài."

Có một người đang đi lại trên hiên, và trong phòng khách dần sáng đèn.

Briony gọi anh trai và chị gái.

Leon đáp lại.

"Bọn anh ở ngoài này."

"Mình nên vào thôi," Cecilia nói, vẫn tay khoác tay, họ bắt đầu đi về phía ngôi nhà.

Khi họ bước qua khóm hồng, nàng tự hỏi không biết thực sự còn có gì đó mà nàng muốn kể anh nghe không.

Thú nhận hành vi của nàng sáng này chắc chắn là không thể rồi.

"Em rất thích lên thành phố?"

Ngay khi nói ra những lời đó, nàng đã tưởng tượng ra có gì đó đang kéo ngược mình lại, không đóng gói nổi đồ đạc hay đến kịp giờ tàu chạy.

Có lẽ nàng hoàn toàn không muốn đi chút nào, nhưng nàng lặp lại câu ấy dứt khoát hơn một chút.

"Em rất thích."

Briony đang bồn chồn trên hiên nhà chờ đón anh trai.

Ai đó đang nói với em từ trong phòng khách và em ngoái đầu lại đáp lời.

Khi Cecilia và Leon tiến tới, họ lại nghe giọng nói đó - mẹ họ đang cố tỏ ra nghiêm khắc.

"Mẹ chỉ nói một lần nữa thôi.

Con phải đi lên, tắm rửa và thay quần áo ngay bây giờ."

Vẫn lưỡng lự nhìn về phía họ, Briony tiến lại phía mấy cửa sổ Pháp.

Trên tay em cầm thứ gì đó.

Leon nói, "Bọn anh có thể thu xếp cho em ngay lập tức."

Khi họ bước vào phòng, dưới ánh sáng của vài ngọn đèn, Briony vẫn ở đó, vẫn chân trần, mặc cái váy trắng bẩn thỉu, còn mẹ em thì đứng cạnh cửa phía bên kia càn phòng, mỉm cười bao dung.

Leon dang tay ra và giả giọng Cockney khôi hài anh dành riêng cho em.

"Đây trả phải nà iem gái bí bổng của eng seo!"

Lúc chạy nhào tới, Briony dúi vào tay Cecilia một mẩu giấy gấp làm đôi, hét ré lên tên anh trai mình và nhảy vào vòng tay anh.

Ý thức được mẹ đang nhìn mình, Cecilia tỏ vẻ tò mò thích thú khi mở tờ giấy ra.

Thật đáng tán dương, nàng có khả năng giữ được vẻ mặt đó khi nhìn vào khối chữ đánh máy nho nhỏ và trong một cái liếc mắt đã thấu hiểu toàn bộ - một đơn vị nghĩa mà sức mạnh và màu sắc có nguồn gốc từ một từ được lặp lại duy nhất.

Ngay bên khuỷu tay nàng, Briony đang kể Leon nghe về vở kịch em đã viết dành cho anh và than vãn chuyện không diễn được Những gian nan của nàng Arabella, em cứ nhắc đi nhắc lại Những gian nan của nàng Arabella.

Chưa bao giờ em có vẻ linh hoạt đến thế, phấn khích kỳ lạ đến thế.

Em vẫn vòng tay quanh cổ anh trai, và đứng nhón chân cọ má vào má anh.

Thoạt đầu, một cụm từ đơn giản cứ xoay mòng mòng trong đầu Cecilia: Đương nhiên rồi, đương nhiên rồi.

Sao nàng không nhìn ra chứ?

Mọi thứ được giải thích.

Cả ngày hôm nay, hàng bao tuần trước đó, cả tuổi thơ của nàng.

Một đời.

Giờ mọi thứ với nàng thật rõ ràng.

Còn vì lý do gì nữa mà mất nhiều thời gian đến thế chỉ để chọn một cái váy, hay cãi nhau vì một cái bình hoa, hay thấy mọi thứ sao mà khác biệt, hay không thể nào rời khỏi đây?

Điều gì đã khiến nàng mù quáng đến thế, đần độn đến thế?

Nhiều giây đã trôi qua, và nếu cứ tiếp tục cắm mặt cắm mũi vào mẩu giấy thì thật không bình thường.

Khi gập nó lại, nàng nhận ra một chuyện hiển nhiên: nó không thể nào gửi đến mà không được cho vào phong bì.

Nàng quay sang nhìn em gái.

Leon đang nói với em, "Thế này nhé?

Anh giả giọng rất cừ, em thậm chí còn siêu hơn.

Mình sẽ cùng nhau đọc to vở kịch ấy lên."

Cecilia đi vòng quanh anh, để Briony nhìn thấy.

"Briony?

Briony, em đọc cái này rồi à?"

Nhưng Briony, còn bận hú hét đáp lại lời đề nghị của anh trai, bíu chặt lấy tay anh, quay đầu đi, gần như vùi mặt vào jacket của Leon.

Từ bên kia phòng Emily dịu dàng nói, "Bình tĩnh nào."

Lại một lần nữa, Cecilia chuyển vị trí để đứng cạnh anh trai.

"Phong bì đâu?"

Briony lại quay mặt đi và cười rú lên khi Leon nói gì đó với em.

Rồi Cecilia cảm nhận thấy có một người nữa cùng ở đó, ngoài rìa tầm mắt nàng, đang đi đến phía sau nàng, và khi quay lại nàng thấy mình đối diện với Paul Marshall.

Một tay anh ta nâng khay bạc đựng năm ly cocktail, mỗi ly chứa phân nửa một thứ sền sệt màu nâu.

Anh ta cầm một ly lên đưa cho nàng.

"Tôi năn nỉ cô nếm thử."
 
Atonement - Chuộc Tội
Mười


Trạng thái cảm xúc rất phức tạp khẳng định với Briony theo cách nhìn của em rằng em đang bước vào vũ đài của cảm xúc người lớn và đang giả dối, những thứ mà việc viết lách của em buộc phải dựa vào để khai thác.

Liệu bằng cách đối lập tốt xấu rõ ràng, đã từng có truyện cổ tích nào chứa đựng nhiều điều đến thế?

Sự tò mò vô tâm nhưng dữ dội xúi em xé phong bì lấy lá thư ra - em đọc ngay trong sảnh sau khi Polly mở cửa cho vào - và mặc dù nội dung gây sốc của lá thư đã hoàn toàn bào chữa cho hành động này của em, nó cũng không ngăn được em cảm thấy có lỗi.

Là sai trái khi mở thư của người khác, nhưng là đúng đắn, là cần thiết, khi em biết tất cả.

Em rất vui sướng được gặp lại anh trai, nhưng chuyện này không ngăn em khỏi việc cường điệu cảm xúc quá đà để né tránh câu hỏi buộc tội của chị gái.

Rồi sau đây, em chỉ giả vờ tỏ vẻ hăng hái nghe lời mẹ bằng cách chạy biến lên phòng; cũng là muốn chạy khỏi Cecilia, em cần ở một mình để xem xét lại toàn bộ con người Robbie, và để lên sườn đoạn mở đầu của một câu chuyện tràn đầy cuộc sống thực.

Không công chúa công chiếc gì nữa!

Cảnh bên đài phun nước, không khí đầy đe dọa xấu xa, và cuối cùng, khi họ đã đường ai nấy đi, sự vắng vẻ lóng lánh tỏa sáng trên nền sỏi ướt nhẹp - tất cả những chuyện này cần phải được nghiền ngẫm lại.

Cùng với lá thư, một thứ gì mãnh liệt, tàn bạo, có lẽ cả tội ác đã lộ ra, một quy tắc tà ác nào đó, mà thậm chí trong con phấn khích trước các khả năng khác nhau, em không hề nghi ngờ gì rằng chị gái em đang bị nguy hiểm và cần em giúp đỡ.

Cái từ đó: em cố ngăn nó vang lên trong suy nghĩ mình, ấy vậy mà nó cứ tục tĩu nhảy múa trong đầu em, con quỷ chữ đánh máy, phép đảo chữ đầy bóng gió, mập mờ đánh lận - cậu và quả hạch, "tiếp theo" trong tiếng Latin, vị vua người Anh ngày xưa từng muốn đẩy lùi sóng biển).

Những cụm từ thơ mộng thì em học được từ truyện thiếu nhi - chú lợn bé nhất trong ổ, bầy chó săn rượt đuổi con cáo, thuyền đáy phẳng trên sông Cam bên đồng cỏ Grantchester.

Đương nhiên, em chưa bao giờ nghe cái từ

đó được phát âm lên, hay thấy trong sách, hay tình cờ gặp giữa hai dấu hoa thị.

Trước mặt em không ai từng nhắc đến sự tồn tại của từ đó, và hơn thế nữa, không ai, ngay cả mẹ em, từng nói gì đến sự tồn tại của phần cơ thể em mà - Briony chắc chắn - từ đó chỉ đến.

Em không nghi ngờ gì chuyện nó chính là chỉ cái đó.

Ngữ cảnh giúp em luận ra, nhưng còn hơn thế, từ đó đồng nhất với nghĩa của nó, và gần như là một từ tượng thanh.

Ba chữ cái đầu có hình thuôn lõm, hơi khép lại, rõ ràng như một hình vẽ giải phẫu học.

Ba hình này hội lại dưới chân thánh giá.

Việc từ ấy được viết ra bởi một người đàn ông đang xưng tội trước một hình ảnh trong đầu anh ta, giãi bày nỗi ám ảnh duy nhất, làm em vô cùng kinh tởm.

Em đã trâng tráo đứng đọc lá thư ngay giữa sảnh và ngay lập tức cảm nhận được mối nguy hiểm chứa đựng trong sự khiếm nhã ấy.

Một thứ không thể phàm tục hơn, hay đàn ông hơn, là mối đe dọa cho trật tự trong căn nhà của họ, và Briony biết nếu em không giúp chị gái, tất cả họ sẽ phải khổ sở.

Cũng rất rõ rằng sẽ phải giúp chị một cách khéo léo, tế nhị.

Nếu không, từ kinh nghiệm thực tế của Briony, Cecilia sẽ giận em.

Trong lúc em rửa tay và mặt rồi chọn một bộ váy sạch sẽ, những ý nghĩ đó choán hết tâm trí em.

Em không thấy đôi tất em muốn đi ở đâu cả, nhưng em không tốn thời giờ lùng sục.

Em đi đôi khác, buộc dây giày, rồi ngồi vào bàn.

Dưới tầng, mọi người đang uống cocktail và em còn ít nhất hai mươi phút ở một mình.

Tóc có thể chải trên đường xuống.

Phía ngoài cửa sổ đang mở, một con dế đang gáy.

Một tệp giấy lấy ở văn phòng của cha ở trước mặt em, đèn bàn hắt xuống một mảng sáng vàng dễ chịu, em cầm bút trên tay.

Đàn động vật nông trại trật tự xếp hàng trên bậu cửa sổ và đám búp bê mặc váy đăng ten kiểu cổ đứng yên trong các phòng căn biệt thự trổ nhiều cửa bên của chúng đợi câu vàng ngọc đầu tiên của em.

Vào giây phút đó, khao khát viết mạnh hơn bất cứ ý nghĩ nào về việc mình sẽ viết gì.

Em muốn chìm đắm vào việc diễn đạt ra một ý tưởng khôn cưỡng, được thay dòng mực đen nhả ra từ đầu bút bằng bạc miết trên giấy sin sít và quấn thành từ ngữ.

Nhưng làm thế nào diễn đạt đúng những đổi thay cuối cùng đã biến em thành một văn sĩ thực thụ, và vô số ấn tượng lộn xộn của em, và cả sự kinh tởm và mê hoặc mà em cảm thấy?

Trật tự phải được thiết lập.

Em nên bắt đầu, như đã quyết định lúc trước, kể một cách giản dị những gì em thấy ở đài phun nước.

Nhưng trường đoạn này lúc ban ngày không hấp dẫn mấy so với lúc chạng vạng, những phút lang thang trên cầu chìm đắm trong mơ mộng, rồi Robbie xuất hiện trong cảnh tranh tối tranh sáng, gọi em, trong tay cầm một phong bì trắng nhỏ chứa lá thư có chứa từ đó.

Và từ đó chứa điều gì?

Em viết, "Có một bà già nuốt phải con ruồi."

Chắc chắn sẽ không trẻ con quá khi nói phải có một câu chuyện; và đây là câu chuyện về một chàng trai được mọi người quý mến, nhưng nữ nhân vật chính luôn nghi ngờ anh ta, và cuối cùng nàng lật tẩy được hắn là hiện thân của quỷ.

Nhưng chẳng phải em - đúng vậy, văn sĩ Briony - giờ đã thạo đời đến mức đứng trên mọi ý tưởng cổ tích thơ ngây về thiện và ác rồi sao?

Hẳn phải có một nơi nào đó cao quý, siêu phàm, nhìn từ đó ta có thể phán xét hết thảy loài người như nhau, không đối đầu với nhau như trong một trận hockey kéo dài suốt đời, mà xô đẩy nhau ầm ĩ trong toàn bộ sự bất toàn huy hoàng của chính họ.

Nếu quả tồn tại một nơi như thế, em sẽ không xứng đáng được lên đó.

Em sẽ không bao giờ tha thứ cho Robbie với trí óc đáng tởm của anh ta.

Mắc kẹt giữa khao khát được viết một đoạn nhật ký giản dị kể về những trải nghiệm trong ngày hôm đó, và tham vọng biến chúng thành thứ gì đó lớn hơn, bóng bẩy, độc lập và khó hiểu, em ngồi nhiều phút liền cau mày nhìn mảnh giấy và cái câu trẻ con kia mà không viết thêm một từ nào nữa.

Em nghĩ mình có thể miêu tả hành động khá tốt, và em có khả năng đặc biệt về viết đối thoại.

Em có thể tả cánh rừng trong mùa đông, và sự vững chãi của một bức tường lâu đài.

Nhưng cảm xúc thì làm thế nào đây?

Viết, Nàng cảm thấy buồn, hay miêu tả một người đang buồn thì làm gì, thì cũng ổn thôi, nhưng bản thân nỗi buồn là gì, chuyển tải thế nào để người khác cảm nhận được toàn bộ sự gần gũi tăm tối của nó?

Sự đe dọa còn khó hơn, hay sự bối rối khi cảm thấy các thứ mâu thuẫn nhau.

Bút trong tay, em trân trối nhìn qua căn phòng về phía những con búp bê mặt Cling đơ, những người bạn xa lạ của một tuổi ấu thơ mà em coi như đã kết thúc.

Thật ớn lạnh, quá trình lớn lên ấy.

Em sẽ không bao giờ ngồi lên lòng Emily hay Cecilia nữa, hoặc chỉ ngồi lên khi đùa.

Hai mùa hè trước, vào sinh nhật mười một tuổi của em, cha mẹ, anh trai, chị gái và người thứ năm em không nhớ được là ai đã đưa em ra ngoài bãi cỏ và dùng một tấm bạt tung em lên cao mười một lần, rồi một lần nữa cho may mắn.

Giờ em có thể tin được nó không, sự tự do vui vẻ của chuyến bay lên cao ây, niềm tin mù quáng vào cái nắm tay chắc chắn tử tế của những người lớn ấy, khi người thứ năm đó dễ là Robbie lắm?

Khi nghe thấy tiếng hắng giọng khẽ khàng của phụ nữ, em nhìn lên, giật bắn mình.

Đó là Lola.

Cô đang ló đầu đầy vẻ hối lỗi vào phòng, và ngay khi mắt chúng gặp nhau cô nhẹ nhàng gõ cửa bằng đốt ngón tay.

"Em vào được không?"

Dù sao thì cô cũng vào, đi lại không uyển chuyển lăm vì cái đầm xa tanh xanh da trời đang mặc.

Tóc xõa và chân trần.

Khi cô tiến tới, Briony bỏ bút xuống và che câu mignh vừa viết bằng góc một quyển sách.

Lola ngồi xuống mép giường và thở ra phồng cả má lên.

Cứ như thể chúng đã luôn trò chuyện kiểu chị em gái với nhau lúc cuối ngày vậy.

"Em đã trải qua một tối kinh khủng nhất đời."

Khi Briony bị ánh mắt dữ dội của cô em họ buộc phải nhướng mày lên, cô nói tiếp, "Hai đứa sinh đôi hành hạ em."

Em nghĩ đó là một kiểu nói khoa trương cho đến khi Lola xoay vai để lộ ra, chỗ cao trên cánh tay, một vết xước dài.

"Kinh khủng quá!"

Cô chìa cổ tay ra.

Trên mỗi tay là những nốt trầy xước phồng rộp lên.

"Bầm tím!"

"Chính xác."

"Chị sẽ lấy ít thuốc sát trùng cho em."

"Em tự làm tất rồi."

Đúng thế, hương nước hoa phụ nữ của Lola không thể che được mùi thuốc chống nhiễm trùng Germolene dành cho trẻ em.

Rời khỏi bàn viết lại ngồi cạnh em họ là điều ít nhất Briony có thể làm.

"Tội nghiệp em!"

Lòng thương của Brinoy khiến mắt Lola rưng rưng và giọng cô nghẹn khàn.

"Ai cũng nghĩ chúng là thiên thần vì trông chúng giống nhau, nhưng chúng là những con thú nhỏ."

Cô nén một tiếng nấc, dường như cắn chặt nó lại, cằm run lên bần bật, rồi thở sâu vài lần qua cánh mũi phập phồng.

Briony cầm tay cô và nghĩ mình đã hiểu được một người có thể bắt đầu quý Lola như thế nào.

Rồi em lại chỗ ngăn kéo tủ, lấy ra một chiếc khăn tay, mở ra và đưa cho cô.

Lola toan dùng rồi, nhưng khi nhìn thấy họa tiết vui mắt hình những nữ cao bồi và dây thòng lọng cô khẽ rít lên, ở một âm sắc cao, tiếng mà bọn trẻ hay phát khi giả ma.

Dưới tầng chuông cửa kêu, và vài giây sau, nghe rất rõ, tiếng lộp cộp hối hả của giày cao gót trên nền đá trong sảnh.

Đó là Robbie, và đích thân Cecilia chuẩn bị ra mở cửa.

Lo sợ dưới tầng có người nghe thấy tiếng Lola khóc lóc, Briony đứng lên khép cửa phòng mình lại.

Nỗi khốn khổ của cô em họ làm nảy sinh trong em một trạng thái bồn chồn, một sự kích động gần giống niềm vui.

Em vào lại giường và vòng tay ôm Lola đang giơ tay lên mặt bật khóc.

Việc một cô gái hay cáu và độc đoán như thế có thể bị hai thằng nhóc chín tuổi khiến cho buồn bã tới mức này làm Briony thấy kỳ lạ, và khiến em cảm thấy quyền lực của chính mình.

Đấy chính là thứ nằm sau cái cảm giác gần niềm vui này.

Có lẽ em không yếu đuối như mình vẫn tưởng; rốt cuộc, ta phải đánh giá chính em qua người khác - chính thế.

Đôi khi, khá vô tình, ai đó lại dạy cho ta một điều về chính bản thân mình.

Không tìm nổi lời, em nhẹ nhàng xoa vai cô em họ và nghĩ chỉ hai đứa Jackson và Pierrot thôi thì không thể nào gây ra niềm khổ đau đến thế này; em nhớ đến nỗi đau buồn khác trong đời Lola.

Gia đình ở miền Bắc - Briony hình dung ra những con phố với các nhà máy ám khói, và những người đàn ông dữ tợn lê bước đi làm tay cầm hộp thiếc đựng sandwich.

Cửa nhà Quincey đã đóng chặt và có lẽ chẳng bao giờ mở ra nữa.

Lola dần bình tĩnh lại.

Briony dịu dàng hỏi, "Đã xảy ra chuyện gì?"

Cô hỉ mũi và nghĩ một lúc.

"Em đang chuẩn bị đi tắm.

Chúng ùa đến và đâm bổ vào em.

Chúng vật em xuống sàn..."

Nhớ đến chi tiết này, cô dừng lại cố nén một tiếng nức nở đang trào lên.

"Nhưng sao chúng lại làm thế chứ?"

Cô hít một hơi thật sâu và bình tĩnh lại.

Cô bắt đầu nhìn lơ đãng qua căn phòng.

"Chúng muốn về nhà.

Em bảo không được.

Chúng nghĩ em chính là người giữ chúng lại đây."

Hai đứa sinh đôi vô cớ đổ nỗi thất vọng lên chị chúng - với Briony tất cả những điều này nghe có vẻ hợp lý.

Nhưng vào giây phút này thứ làm tinh thần kỷ luật của em lo lắng là ý nghĩ chẳng mấy chốc sẽ bị gọi xuống nhà và cô em họ cần phải thực sự bình tĩnh trở lại.

"Chúng chỉ không hiểu được thôi," Briony nói vẻ hiểu biết khi bước lại chậu rửa và đổ đầy nước nóng vào.

"Chúng chỉ là hai đứa nhóc vừa phải trải qua chuyện kinh khủng."

Buồn bã vô hạn, Lola cúi đầu xuống và gật theo một kiểu khiến Briony đột ngột cảm thương cô.

Em dắt Lola ra chậu rửa và đặt tấm khăn vải flanen lên tay cô.

Và rồi, lẫn lộn nhiều động cơ - nhu cầu thực sự muốn đổi chủ đề, khao khát được chia sẻ bí mật và cho cô gái lớn hơn kia thấy em cũng có những trải nghiệm cuộc đời, nhung trên hết bởi vì em cảm thấy quý Lola và muốn kéo cô lại gần hơn - Briony kể cho cô nghe việc gặp Robbie trên cầu, và lá thư, và em đã mở thư ra như thế nào, và trong thư có gì.

Không nói lớn từ đó ra, như thế thật không tưởng, em đánh vần nó cho cô, từ sau ra trước.

Hiệu quả với Lola thật hởi cả lòng dạ.

Cô ngẩng khuôn mặt còn nhỏ nước tong tong từ bồn rửa lên và há hốc miệng.

Briony chìa khăn lau cho cô.

Vài giây trôi qua trong khi Lola giả vờ đang lựa lời để nói.

Cô hơi cường điệu một chút, nhưng không sao, và lời thì thầm giả tạo của cô cũng cường điệu.

"Nghĩ đến nó suốt á?"

Briony gật đầu và quay mặt đi, như thể vật lộn với bi kịch.

Em học được cách diễn hơn một chút từ em họ, giờ đến phiên cô này đặt bàn tay an ủi lên vai Briony.

"Khốn khổ cho chị quá.

Gã đó là một kẻ điên."

Một kẻ điên.

Từ này có sự tinh lọc, và cả sức nặng của lời chẩn đoán y học.

Em đã biết anh ta suốt bao năm qua thế mà hóa ra đó mới là con người thật của anh ta.

Khi em còn nhỏ, anh ta thường cõng em trên vai và giả vờ là quái vật.

Em đã ở một mình với anh ta không biết bao nhiêu lần ở những vũng sâu dễ bơi, nơi vào một mùa hè anh đã dạy em cách bơi đứng và bơi ếch.

Giờ căn bệnh của anh ta đã được định rõ, em cảm thấy nhẹ nhõm trong lòng, tuy nhiên sự bí ẩn của trường đoạn đài phim nước càng bị khắc sâu hơn.

Em đã quyết định không kể chuyện đó vì cho rằng lời giải thích rất đơn giản và tốt hơn hết là không nên phơi bày sự ngờ nghệch của em.

"Chị gái chị sẽ làm gì?"

"Chị không biết nữa."

Một lần nữa, em không đề cập gì đến việc em sợ phải gặp Cecilia sau đây.

"Chị biết không, từ buổi chiều đầu tiên ở đây em đã nghĩ anh ta là quái vật khi nghe thấy anh ta quát hai đứa sinh đôi ở hồ bơi."

Briony cố nhớ lại những giây phút tương tự để phát hiện các triệu chứng tương tự của bệnh điên.

Em nói, "Anh ta luồn giả vờ tỏ ra khá là tử tế.

Anh ta lừa dối chúng ta suốt bao năm qua."

Việc thay đổi chủ đề đã có tác dụng, vì vùng quanh mắt Lola vừa rồi đỏ tấy giờ đã nhạt đi và lại đầy tàn nhang như cũ, giờ cô ta lại đúng là con người khi trước.

Cô cầm tay Briony.

"Em nghĩ cảnh sát nên biết về anh ta."

Viên cảnh sát trong làng là một người tốt bụng với hàng ria bôi sáp thơm, có bà vợ nuôi gà mái và đạp xe đi giao trứng tươi.

Kể lại lá thư và cái từ đó, dù có đánh vần ngược lại cho ông, là không tưởng.

Em định bỏ tay Lola ra nhưng cô đã siết mạnh thêm và dường như đọc được ý nghĩ của cô gái nhỏ.

"Chúng ta chỉ cần cho họ xem lá thư thôi."

"Chị ấy có thể đồng ý thế."

"Em cá là có.

Kẻ điên có thể tấn công bất cứ ai."

Đột nhiên trông Lola đăm chiêu và có vẻ toan kể cho cô em họ một tin mới.

Nhưng cô chỉ giật lùi lại, cầm lược của Briony lên và đứng trước gương sung sướng chải tóc.

Chưa chải chuốt được gì thì hai đứa nghe tiếng bà Tallis gọi xuống ăn tối.

Ngay lập tức Lola lại hờn dỗi, và Briony nghĩ tâm trạng thay đổi nhanh đến thế là một phần trong nỗi buồn bực vừa xong của cô.

"Tuyệt vọng rồi.

Em còn chưa đâu ra đâu cả," cô nói, nước mắt lại lưng tròng.

"Thậm chí em còn chưa trang điểm."

"Giờ chị xuống trước," Briony an ủi cô.

"Chị sẽ bảo mọi người là em xuống sau một chút."

Nhưng Lola đã trên lối ra khỏi phòng rồi, và có vẻ không nghe thấy cô nói.

Sau khi vuốt gọn lại tóc, Briony lưu lại trước gưong, chăm chú nhìn mặt mình, tự hỏi sẽ làm gì khi bắt đầu trang điểm, em biết chẳng chóng thì chầy một ngày sẽ phải thế thôi.

Lại một việc nữa đòi hỏi thời gian của em.

Ít ra thì em không bị tàn nhang cần phải che đi hay làm dịu bớt màu, và thế chắc là đỡ tốn công sức rồi.

Trước đây lâu lâu, hồi mười tuổi, em đã nhận thấy son sẽ làm mình trông như hề.

Quan điểm đó sớm muộn cũng phải xét lại.

Nhưng chưa đến lúc, khi còn bao thứ khác phải xem xét.

Em đứng cạnh bàn và lơ đãng thay ngòi bút máy.

Viết truyện trở thành một việc làm đầy mạo hiểm đáng thương, vô vọng khi những sức mạnh đầy quyền năng và hỗn loạn đến vậy cứ xoay quanh em, và khi những sự kiện liên tục trong suốt ngày dài đã hút trọn hay chuyển hóa điều đã xảy ra trước đó.

Có một bà già nuốt phải con ruồi.

Em tự hỏi mình có phạm phải sai lầm khủng khiếp khi giãi bày tâm sự với đứa em họ không - Cecilia sẽ chẳng hài lòng chút nào nếu con bé Lola dễ kích động kia bắt đầu vênh váo phô rằng mình biết chuyện lá thư của Robbie.

Và giờ làm sao mà xuống nhà ngồi cùng bàn với một kẻ điên được?

Neu cảnh sát bắt hắn, em, Briony, sẽ buộc phải ra trước tòa, và nói to từ đó lên, để chứng minh.

Ngần ngại, em ra khỏi phòng bước đi trên hành lang lát gỗ ảm đạm tới đầu cầu thang rồi dừng chân dỏng tai lên.

Tiếng nói chuyện vẫn ở trong phòng khách - em nghe tiếng mẹ và anh Marshall, và rồi, riêng rẽ, hai đứa sinh đôi nói chuyện với nhau.

Vậy là không có Cecilia, không có kẻ điên.

Khi bắt đầu miễn cưỡng bước xuống, Briony thấy tìm mình đập rộn lên.

Cuộc đời em đã thôi không còn đơn giản nữa.

Chỉ mới ba ngày trước em vừa viết xong Những gian nan của nàng Arabella và đợi ba đứa em họ tới.

Em đã muốn mọi thứ khác đi, và giờ thì thế này đây: không chỉ xấu đi, mà còn sắp sửa tệ hại hơn nữa.

Em lại dừng ở chiếu nghỉ đầu tiên để lên một kế hoạch, em sẽ tránh thật xa cô em họ hay kích động, không cả đưa mắt nhìn - em không đủ sức để bị lôi kéo vào một âm mưu ỉm chuyện đi, em cũng không muốn gây ra một cơn bùng phát xúc cảm dữ dội.

Còn Cecilia, người em nên bảo vệ, em lại không dám lại gần.

Robbie, rõ như ban ngày, em sẽ tránh xa vì an toàn của bản thân.

Mẹ em với cái tính nhặng xị của bà sẽ chẳng ích gì.

Có mặt bà thì không thể nào mà suy nghĩ cho mạch lạc được.

Em nên lại chỗ hai đứa sinh đôi - chúng là nơi trú ẩn của em.

Em nên ở gần và chăm nom chúng.

Bữa tối mùa hạ kiểu này luôn bắt đầu muộn - đã mười giờ hơn rồi - và hai đứa nhỏ hẳn sẽ mệt.

Hoặc nếu không, em nên tỏ ra thân thiện với anh Marshall và hỏi anh về kẹo - ai nghĩ ra kẹo, làm kẹo thế nào.

Đó là kế hoạch của một kẻ hèn nhát nhưng em không nghĩ được gì hơn.

Bữa tối sắp sửa được bưng ra, đây không phải là thời điểm để gọi cảnh sát Vockins ở làng đến.

Em tiếp tục xuống cầu thang.

Lẽ ra em nên khuyên Lola thay đồ để che vết xước trên cánh tay.

Bị bảo thế thể nào cô cũng lại bật khóc.

Nhưng nghĩ lại, chắc cũng không thể bảo cô ta thay cái váy cản trở đi lại ấy ra.

Toàn bộ chuyện trở thành người lớn chỉ là sẵn sàng chấp nhận những trở ngại như vậy.

Chính bản thân em cũng đang nhận lấy chúng.

Không phải em bị xước, nhưng em thấy mình phải chịu trách nhiệm về chuyện đó, và về tất cả mọi chuyện sắp sửa xảy đến.

Khi cha em có mặt ở nhà, cả gia đình ổn định quanh một điểm cố định.

Ông chẳng sắp xếp gì, ông không đi quanh quẩn khắp nhà lo lắng hộ người khác, hiếm khi ông bảo ai phải làm gì - thực tế, hầu như ông chỉ ngồi trong thư viện.

Nhưng sự hiện diện của ông áp đặt trật tự đồng thời vẫn cho phép tự do.

Gánh nặng được nhấc bỏ.

Khi ông ở đó, việc mẹ rút về phòng bà không còn quan trọng nữa; ông chỉ cần ở dưới nhà, sách đặt trên đùi là đủ.

Khi ông ngồi vào bàn ăn, trầm tĩnh, hòa nhã, tự tin tuyệt đối, cơn khủng hoảng trong bếp sẽ không là gì ngoài một bức phác họa khôi hài; còn không có ông, mọi chuyện trở thành một vở kịch bóp nghẹt tim.

Ông biết hết những điều đáng biết, và khi không biết; ông biết rõ nên tham khảo ở đâu, và sẽ dắt em vào thư viện giúp ông tìm kiếm.

Nếu ông không phải là, như ông mô tả, nô lệ của Bộ và của việc Lên kế hoạch Dự phòng Bất trắc, nếu ông có mặt ở nhà, sai Hardman xuống hầm lấy rượu, điều khiển cuộc trò chuyện, quyết định dưới một vẻ tự nhiên thời điểm nên "chuyển đề tài", thì giờ em sẽ không phải băng qua sảnh với bước chân nặng nề thế này.

Chính những suy nghĩ như thế về ông đã làm em bước chậm lại khi đi ngang qua cửa thư viện đóng kín một cách bất thường.

Em dừng lại dỏng tai nghe.

Từ bếp vọng lên tiếng lanh canh của kim loại va vào đồ sứ, từ phòng khách mẹ em khe khẽ trò chuyện, và gần ngay đó, một đứa sinh đôi nói giọng trong veo, the thé, "Có một chữ u trong đó, thật mà," và anh nó đáp lời, "Không cần biết.

Cho vào phong bì đi."

Và rồi, từ sau cửa thư viện, một tiếng cọ xát, theo sau là huỵch rồi tiếng thì thầm rất có thể là của một người đàn ông, hay một phụ nữ.

Trong ký ức, em đã không hề trông đợi gì - và điều đó sau này khiến em suy nghĩ - khi đặt tay lên nắm đấm cửa đồng thau mà xoay.

Nhưng em đã đọc thư Robbie, em đã tự coi mình là người bảo vệ chị gái, và em đã được đứa em họ dạy dỗ: điều em nhìn thấy chắc hẳn được hình thành một phần từ điều mà em đã biết, hay cho là mình biết.

Lúc đầu, khi đẩy cửa bước vào, em không nhìn thấy gì cả.

Chỉ một ngọn đèn duy nhất nằm trên bàn kính xanh lá cây, rọi sáng không quá khoảng mặt bàn bọc da dưới chân nó.

Khi bước vài bước nữa, em thấy họ, hai hình người tối sẫm trong góc xa kia.

Mặc dù họ bất động, ngay lập tức em hiểu ra rằng mình vừa làm gián đoạn một cuộc tấn công, một cuộc vật lộn tay đôi.

Cảnh tượng này đã hiện thực hóa những nỗi sợ hãi tệ hại nhất của em đến nỗi em có cảm giác rằng chính trí tưởng tượng lo lắng thái quá của mình đã phóng chiếu hai hình thể ấy lên những gáy sách ken dày kia.

Ảo ảnh này, hay cái em hy vọng là ảo ảnh ấy, tan biến khi mắt em vừa quen với bóng tối.

Không ai cử động.

Briony trân trối nhìn qua vai Robbie vào đôi mắt kinh hoảng của chị gái em.

Anh đã quay lại nhìn kẻ xâm nhập, nhưng không thả Cecilia ra.

Anh ép cơ thể mình lên người chị, vén váy chị lên trên đầu gối và chặn chị lại ngay chỗ giá sách giao nhau.

Tay trái anh đặt đằng sau cổ chị, túm tóc chị, còn tay phải anh cầm tay chị, đang giơ lên để chống trả, hay tự vệ.

Trông anh thật cao lớn và hoang dại, còn Cecilia với đôi vai trần và cánh tay khẳng khiu thật mỏng manh đến nỗi Briony không biết mình sẽ biết được điều gì khi bắt đầu tiến về phía họ.

Em muốn hét toáng lên, nhưng lại thở không ra hơi, và lưỡi em lờ đờ, nặng nề.

Cách Robbie chuyển động làm em hoàn toàn không nhìn thấy chị nữa.

Rồi Cecilia vật lộn giằng ra, và anh ta buông chị ra.

Briony dừng lại gọi tên chị.

Khi chị chạy vụt qua Briony, ở Cecilia chẳng có dấu hiệu nào thể hiện sự biết ơn hay nhẹ nhõm.

Mặt chị vô cảm, gần như điềm tĩnh, và chị nhìn thẳng ra cánh cửa mình sắp sửa bước qua.

Rồi chị đi, còn lại mình Briony với anh ta.

Anh ta cũng không nhìn vào mắt em.

Thay vì thế anh ta quay mặt vào góc, mải vuốt thẳng áo khoác và thắt lại cà vạt.

Cảnh giác, em bước lùi xa khỏi anh ta, nhưng anh ta không hề tiến tới tấn công em, thậm chí cả không nhìn lên.

Vậy là em quay bước chạy khỏi phòng tìm Cecilia.

Nhưng sảnh vắng tanh, không rõ chị đã đi lối nào.
 
Atonement - Chuộc Tội
Mười một


Mặc dù đã cho thêm bạc hà tươi thái nhỏ vào hỗn hợp sôcôla nấu chảy, lòng đỏ trứng, cốt dừa, rum, gin, chuối nghiền và đường cát mịn, món cocktail cũng không giúp khoan khoái mấy.

Cảm giác ngon miệng vốn đã bị cái nóng đêm hè làm cho phát ngấy giờ càng biến mất hẳn.

Gần như tất cả người lớn bước vào phòng ăn ngột ngạt đều cảm thấy buồn nôn khi nghĩ viễn cảnh bữa tối toàn món nướng, ngay cả là thịt nướng kèm salad, và có lẽ sẽ thấy sung sướng nếu có được một ly nước mát.

Nhưng nước chỉ dành riêng cho trẻ con, những người còn lại sẽ phải tự làm tỉnh người bằng rượu khai vị nóng ngang nhiệt độ căn phòng.

Ba chai rượu mở sẵn trên bàn - khi Jack Tallis vang mặt Betty thường phát huy năng lực suy đoán sáng tạo.

Không cánh cửa sổ cao nào mở được ra vì khung cửa đã cong vênh từ rất lâu, và mùi bụi bị hâm nóng từ tấm thảm Ba Tư xộc lên chào thực khách khi họ bước vào.

May mà xe tải của người bán cá mang theo món thịt cua khai vị đã hỏng giữa đường.

Cảm giác ngột ngạt càng tăng thêm do thứ ván ốp tối màu phủ từ chân sàn bao trọn cả trần, và do bức tranh duy nhất trong phòng, một bức vẽ trên bạt khổng lồ treo trên cái lò sưởi chưa nhóm bao giờ kể từ hồi mới xây - một lỗi trong bản vẽ thiết kế đã không để thừa chỗ nào mà xây ống hơi hay ống khói.

Bức chân dung, theo phong cách Gainsborough, vẽ một gia đình quý tộc - bố mẹ, hai thiếu nữ và một trẻ sơ sinh, tất cả đều môi mỏng, và nhợt nhạt như ma cà rồng - đứng trước một khung cảnh có hơi hướm Tuscany.

Không ai biết những người này là ai, nhưng có vẻ Harry Tallis nghĩ họ sẽ tạo ra ấn tượng về sự gắn bó cho ngôi nhà.

Emily đứng ở đầu bàn chỉ chỗ ngồi cho thực khách khi họ vào phòng.

Bà sắp xếp cho Leon ngồi bên phải mình, và Paul Marshall bên trái.

Bên phải Leon là Briony và cặp sinh đôi, bên trái Marshall là Cecilia, rồi Robbie, cuối cùng là Lola.

Robbie đứng sau ghế, bám chặt nó cho vững, kinh ngạc khi có vẻ không ai nghe thấy tiếng tim vẫn nện thình thịch của anh.

Anh đã thoát được món cock¬tail, nhưng cả ăn anh cũng không muốn.

Anh khẽ nghiêng người để không nhìn vào Cecilia, và khi những người khác ngồi vào chỗ, anh nhẹ nhõm nhận ra mình được cho ngồi giữa bọn trẻ.

Làm theo cái gật đầu của mẹ, Leon thì thào một đoạn cầu nguyện ngắn - Vì những thứ chúng con được nhận - mà tiếng amen đáp lại chỉ là tiếng ghế xề dịch.

Sự im lặng nối bước khi họ yên vị và mở khăn ăn ra vẫn thường dễ dàng bị xua tan đi ngay khi Jack Tallis mở vài chủ đề không mấy thú vị trong khi Betty đi vòng quanh bàn phục vụ món thịt bò.

Nhưng giờ thì, thực khách chỉ nhìn và lắng nghe bà khi bà khom người lầm bầm ở mỗi ghế, vét thìa và rữa trên cái đĩa bạc.

Họ còn có thể chú ý vào cái gì khác, khi việc duy nhất khác đang diễn ra trong căn phòng này là sự im lặng của chính họ?

Emily Tallis vẫn luôn không có khả năng bắt đầu những cuộc trò chuyện nhỏ và cũng không quan tâm lắm.

Leon, hoàn toàn dễ chịu với chính mình, ngả người trên ghế, chai rượu cầm tay, săm soi nhãn hiệu.

Cecilia chìm đắm vào những sự kiện mười phút trước đó và không thể mở miệng nói nổi một câu đơn giản.

Robbie đã quen thuộc với cả gia đình và hẳn có thể khơi chuyện gì đó, nhưng cả anh nữa cũng đang rối bời.

Riêng chuyện anh có thể vờ lờ đi cánh tay trần của Cecilia đang đặt bên tay mình - anh có thể cảm thấy hơi nóng của nó - và tia nhìn hằn học của Briony ngồi chếch xéo đối diện đã là giỏi lắm rồi.

Và ngay cả khi nếu việc trẻ con mở chuyện được coi là thích hợp, chúng cũng không thể: Briony trong đâu chỉ nghĩ mỗi đến việc mình vừa chứng kiến, Lola thì trầm hẳn vì cả cú sốc khi vừa bị tấn công thân thể lẫn hàng loạt cảm xúc ngổn ngang, còn hai đứa sinh đôi thì mải mê lên một kế hoạch.

Paul Marshall là người phá tan bầu không khí im lặng đến ngạt thở kéo dài hơn ba phút.

Anh ngả người ra sau ghế nói với Robbie sau đầu Cecilia.

"Tôi bảo này, mai mình vẫn chơi tennis đấy chứ?"

Có một vết xước hai inch, Robbie nhận thấy, từ khóe mắt Marshall chạy song song với mũi, khiến người ta chú ý đến cái kiểu mũi và miệng trên mặt anh ta đều tập trung hết ở phần trên, túm tụm lại ngay dưới mắt.

Chỉ một tí ti nữa thôi là anh ta sẽ đạt tới vẻ đẹp trai nham hiểm.

Nhưng thay vì thế, vẻ ngoài anh ta lại có vẻ lố bịch - một vùng cằm lớn nhẵn thín như để trả giá cho cái trán rậm rạp tóc, đầy nếp nhãn.

Vì lịch sự, Robbie cũng phải ngả người sau ghế để nghe anh ta nói, nhưng ngay cả trong tình trạng này, anh cũng thấy ngần ngại.

Thật là khiếm nhã, khi ngay đầu bữa ăn, Marshall lại quay khỏi chủ nhà và cất tiếng trò chuyện riêng.

Robbie đáp ngắn gọn, "Tôi nghĩ vậy," và rồi, để chữa thẹn cho anh ta, nói thêm để mọi người có chuyện, "Nước Anh mình đã bao giờ nóng hơn chưa nhỉ?"

Ngả người tránh vùng hơi ấm của cơ thể Cecilia, và đánh mắt tránh cái nhìn của Briony, anh thấy mình ném phần cuối câu hỏi vào đôi mắt kinh hãi của Pierrot đang ngồi chéo phía trái anh.

Thằng nhỏ há hốc mồm, và khổ sở, như thể đang ở trong lớp học với bài kiểm tra môn lịch sử.

Hay địa lý?

Hay khoa học?

Briony nhoài qua người Jackson chạm vào vai Pierrot, trong suốt lúc đó vẫn chằm chằm nhìn Robbie.

"Xin để nó yên," em gằn tiếng thì thầm, và rồi với thằng nhỏ, dịu dàng, "Em không phải trả lời đâu."

Emily lên tiếng từ đầu bàn mình.

"Briony, chỉ là một câu nói hoàn toàn dễ chịu về thời tiết.

Con sẽ xin lỗi, hoặc về phòng ngay bây giờ."

Mỗi khi bà Tallis thực thi quyền hành lúc chồng vắng mặt, bọn trẻ cảm thấy có nghĩa vụ phải bảo vệ bà khỏi cảnh gần như nói không ai nghe.

Briony, trong bất cứ trường họp nào cũng không bỏ rơi chị gái không ai bảo vệ, cúi đầu nói với khăn trải bàn, "Em thành thực xin lỗi.

Em ước gì mình đã không nói thế."

Rau trong đĩa có nắp, hay trên đĩa sứ Spode đã xỉn màu, được chuyền quanh bàn, và một việc như thế là hiện thân của sự lơ đễnh tập thể hay mong muốn lịch sự giấu đi cảm giác thiếu ngon miệng, thứ cảm giác gần như hết hẳn nhờ món khoai tây chiên và salad khoai tây, cải Brussels và củ cải đường, và lá rau diếp rưới nước xốt thịt "Ông Già sẽ không vui đâu," Leon đứng lên, nói.

"Là một chai Barsac 1921, nhưng giờ mở rồi."

Anh rót đầy ly mẹ, rồi ly em gái và Marshall, và khi đứng cạnh Robbie anh nói, "Và một ngụm rượu trị thương cho vị bác sĩ tài năng.

Tôi muốn nghe về kế hoạch mới này đây."

Nhưng anh không đợi nghe câu trả lời.

Vừa quay lại ghế anh vừa nói, "Tôi yêu nước Anh trong cơn nóng hè.

Nó là một đất nước khác.

Mọi quy tắc đều thay đổi."

Emily Tallis cầm dao nĩa lên và mọi người làm theo.

Paul Marshall nói, "Vớ vẩn.

Kể ra một quy tắc đã thay đổi xem."

"Được thôi.

Ở câu lạc bộ nơi duy nhất được phép cởi áo khoác là

bàn bi-a.

Nhưng nếu nhiệt độ lên đến hơn ba mươi hai độ C trước ba giờ, thì hôm sau có thể cởi áo khoác ra ở ngay bar trên tầng."

"Hôm sau!

Một đất nước thực sự khác đấy."

"Anh hiểu tôi định nói gì mà.

Mọi người dễ chịu hơn - vài ngày nắng ấm và thế là mình thành dân Ý.

Tuần trước ở phố Charlotte họ ăn tối trên bàn dọn ngoài vỉa hè."

"Cha mẹ của mẹ cũng luôn nghĩ thế," Emily nói, "rằng trời nóng khiên bọn trẻ phóng túng hơn.

Ít quần ít áo đi, có thể gặp gỡ ở cả nghìn nơi nữa.

Ra khỏi nhà, ra khỏi kiểm soát.

Bà con đặc biệt khó chịu vào mùa hè.

Bà sẽ bịa ra hàng nghìn lý do để bắt mẹ và các dì ở trong nhà."

"Vậy thì," Leon nói.

"Em nghĩ sao, Cee?

Hôm nay em có cư xử còn tệ hơn bình thường không?"

Mọi cặp mắt đổ vào nàng, và màn trêu đùa của anh trai vẫn không dừng lại.

"Ôi trời ơi, em đỏ mặt.

Câu trả lời hẳn là có rồi."

Cảm thấy mình nên chữa lời hộ nàng, Robbie cất tiếng, "Thực ra..."

Nhưng Cecilia mở lời.

"Em nóng kinh khủng, thế thôi.

Và câu trả lời là phải.

Em cư xử rất tệ.

Em thuyết phục Emily mặc dù mẹ không muốn rằng chúng ta nên ăn món nướng vì anh, mặc cho trời nóng thế nào.

Giờ thì anh lại chăm chăm ăn salad trong khi tất cả ở đây đang phải khổ sở vì anh.

Vì thế chuyển rau cho anh ấy đi, Briony, và có lẽ anh ấy sẽ bớt om sòm."

Robbie nghĩ mình nghe thấy trong giọng nói của nàng sự run rẩy.

"Em Cee giỏi lắm.

Nhất hạng đấy," Leon nói.

Marshall nói, "Thế mới cho anh thấy mình là ai chứ."

"Tôi nghĩ mình nên chọn ai đấy nhỏ hơn."

Anh nhoẻn cười với Briony ngồi cạnh mình.

"Hôm nay em có làm gì tệ vì trời nóng kinh dị này không?

Em có phá luật nào không?

Xin em đấy, bảo với bọn anh là có đi."

Anh cầm tay em giả vờ van xin, nhưng em giật lại.

Em vẫn còn là một đứa nhóc, Robbie nghĩ, hoàn toàn có thể thú nhận hay buột ra rằng đã đọc thư của anh, mà khi đó thì nó buộc phải miêu tả lại sự kiện nó vừa làm gián đoạn.

Anh quan sát em từng li từng tí khi em dần dứ, cầm khăn ăn, chấm chấm môi, nhưng anh không hề hoảng sợ.

Nếu phải thế, thì để nó xảy ra.

Dù kinh khủng đến đâu, bữa tối cũng sẽ không kéo dài vĩnh viễn, và anh sẽ tìm cách lại được ở bên Cecilia tối đó, và cùng nhau họ sẽ đối mặt với một hiện thực mới kỳ khôi trong đời - cuộc đời đã đổi thay của họ - và khởi phục cái bị bỏ dở.

Nghĩ đến điều này, dạ dày anh quặn lên.

Cho đến lúc đó, mọi thứ đều chẳng có gì liên quan đến nhau một cách rõ ràng và anh không sợ gì hết.

Anh nhấp một ngụm rượu âm ấm ngòn ngọt và đợi.

Briony nói, "Em thì chán lắm, nhưng hôm nay em không làm gì sai cả."

Anh đã đánh giá thấp em.

Từ nhấn mạnh đó chỉ có thể là dành cho anh và chị gái em.

Jackson ở cạnh khuỷu tay em lên tiếng.

"Có, chị có.

Chị không cho diễn vở kịch.

Bọn em muốn được diễn kịch."

Thằng bé nhìn quanh bàn, đôi mắt xanh ánh lên nỗi bất bình.

"Mà chị đã bảo là chị muốn bọn em diễn."

Em trai nó gật đầu.

"Phải.

Chị muốn bọn em tham gia diễn."

Không ai có thể hiểu được nỗi thất vọng của chúng đến đâu.

"Đấy, thấy chưa," Leon nói.

"Quyết định nóng nảy của Briony.

Chúng ta sẽ vào thư viện xem các buổi diễn nghiệp dư vào một ngày mát mẻ hơn vậy."

Những lời vớ vẩn vô hại này, thú vị hơn rất nhiều so với sự im lặng, cho phép Robbie rút vào sau chiếc mặt nạ tập trung thích thú.

Tay trái Cecilia khum trên má nàng, chừng như để loại anh ra khỏi tầm nhìn của nàng.

Làm ra vẻ lắng nghe Leon giờ đang kể lại lần thoáng thấy Đức Vua ở một rạp hát vùng West End, Robbie có thể ngắm nhìn vai và tay trần của nàng, và trong khi làm thế anh nghĩ nàng có thể cảm thấy hơi thở của anh trên da thịt nàng, một ý tưởng kích thích anh.

Trên vai nàng là một vết hõm nhỏ, lõm vào xương, đúng hơn là chơi vơi giữa hai xương, với một quầng mờ tối chạy dọc quanh đường viền của nó.

Lưỡi anh chẳng bao lâu nữa sẽ lần theo đường viền hình ovan rồi rúc vào cái hõm ấy.

Sự phấn khích trong anh lên đến mức gần như đau đớn và được mài sắc bởi sức ép của những điều trái ngược: nàng thân thuộc như một cô em gái, nàng kỳ lạ như một người tình; anh vẫn luôn quen biết nàng, anh không biết gì về nàng; nàng xoàng xĩnh, nàng xinh đẹp; nàng mạnh mẽ - nàng tự vệ trước anh trai dễ dàng biết bao - vậy mà hai mươi phút trước nàng từng khóc; lá thư ngu ngốc của anh đã làm nàng kinh tởm nhưng cũng cởi trói cho nàng.

Anh hối hận vì nó, nhưng anh lại hoan hỉ vì lỗi lầm đó.

Nhanh chóng thôi họ sẽ được ở lại cùng nhau, cùng nhiều điều trái ngược hơn - niềm vui và nhục cảm, vừa ham muốn vừa sợ hãi vì sự liều lĩnh của chính mình, vừa sợ hãi vừa bồn chồn muốn bắt đầu.

Trong một căn phòng trống nào đó trên tầng hai, hay ở cách xa ngôi nhà, dưới gốc cây ven sông.

Cái nào đây?

Mẹ bà Tallis quả là không ngờ nghệch.

Ngoài nhà.

Họ sẽ bọc mình trong tấm xa tanh màn đêm và bắt đầu lại.

Và đây không phải là tưởng tượng, đây là thực, đây là tương lai gần của anh, đáng khát khao và không thể tránh khỏi.

Đó chính là những gì Malvolio khốn khổ đã nghĩ, anh đã đóng vai ấy một lần trên bãi cỏ trường đại học - "không gì có thể xen vào giữa ta và viễn cảnh viên mãn đầy hy vọng của ta."

Chỉ nửa tiếng trước vẫn hoàn toàn không có hy vọng nào.

Sau khi Briony mất dạng vào ngôi nhà cùng lá thư của anh, anh tiếp tục bước, dù muốn đến khổ sở được quay lại.

Ngay cả khi anh bước tới cửa trước, tâm trí anh vẫn chưa quyết định hoàn toàn, và anh chần chừ vài phút dưới cái đèn hiên và con nhậy trung thành duy nhất của nó, cố chọn giải pháp ít thảm khốc hơn trong hai lựa chọn thảm hại.

Vấn đề chỉ còn lại thế này: giờ đi vào và đôi mắt với sự giận dữ và ghê tởm của nàng, đưa ra lời giải thích sẽ không được chấp nhận, và hầu như chắc chắn sẽ bị đuổi ra – nhục nhã khôn kham; hoặc giờ lẳng lặng đi về nhà, để lại ấn tượng rằng anh đã cố ý gửi lá thư ấy, bị giày vò suốt đem và hang bao ngày sắp tới bởi nỗi sợ hãi bí ẩn, không biết nàng phản ứng ra sao – thậm chí còn khôn kham hơn.

Và nhu nhược nữa.

Anh nghĩ đi nghĩ lại cái ý đó mà vẫn hệt như cũ.

Không có cách nào thoát, anh sẽ phải nói chuyện với nàng.

Anh đặt tay lên nút nhấn chuông.

Dù vậy, anh vẫn khao khát được quay bước.

Anh có thể viết thư xin lỗi nàng từ thư phòng an toàn của mình.

Hè nhát!

Núm sứ mát lạnh nằm dưới đầu ngón trỏ, và trước khi sự tranh cãi lại bắt đầu, anh buộc mình phải nhấn nó.

Anh đứng lùi lại khỏi cửa, cảm thấy như một người vừa nuốt viên thuốc độc – không còn gì mà làm ngoài chờ đợi.

Từ phía trong anh nghe tiếng bước chân, tiếng bước chân ngắt quãng của phụ nữ bang qua sảnh.

Khi nàng mở cửa anh thấy lá thư gấp lại trong tay nàng.

Trong vài giây họ cứ trân trối đứng nhìn nhau mà không ai lên tiếng.

Vì quá lưỡng lự trước đó, anh đã không chuẩn bị gì để nói.

Ý nghĩ duy nhất của anh là nàng thậm chí còn đẹp hơn so với nàng trong tưởng tượng của anh.

Chiếc váy lụa nàng mặc dường như tôn sùng từng đường cong ra và thắt lại trên cơ thể mềm mại của nàng, nhưng cái miệng gợi cảm nhỏ xinh kia lại đang mím lại bất bình, hay thậm chí có thể là kinh tởm.

Đèn trong nhà đằng sau nàng chói gắt trong mắt anh, làm anh khó lòng hiểu được biểu cảm chính xác trên mặt nàng.

Cuối cùng anh nói, "Cee, đó là một sự nhầm lẫn."

"Nhầm lẫn?"

Tiếng người nói qua sảnh vang tới chỗ anh từ cánh cửa phòng khách mở toang.

Anh nghe tiếng Leon, rồi Marshall.

Hẳn nỗi sợ có người làm gián đoạn khiến nàng lùi lại và mở rộng cửa ra cho anh.

Anh theo sau nàng qua sảnh vào thư viện tối om, và đứng đợi ở cửa trong khi nàng mò mẫm tìm công tắc đèn bàn.

Khi đèn bật sáng, anh đóng cửa lại sau mình.

Anh đoán trong vài phút nữa mình sẽ bước qua công viên về lại căn nhà gỗ.

"Đó không phải là bản tôi định gửi."

"Ừ"

"Tôi bỏ nhầm thư vào phong bì."

"Ừ"

Anh không phán đoán được gì qua những lời đáp gọn lỏn này và anh vẫn không thể nhìn được rõ nét mặt nàng.

Nàng dịch chuyển vào phía tối, về phía giá sách.

Anh tiến vài bước vào phòng, không hẳn theo sau nàng, nhưng không muốn để nàng đứng quá xa.

Đáng lẽ nàng đã có thể tống khứ anh từ lúc ở cửa trước, vậy mà giờ anh lại có cơ hội để đưa ra lời giải thích trước khi ra về.

Nàng nói, "Briony đã đọc thư."

"Ôi Chúa ơi.

Tôi xin lỗi."

Anh đã định sẽ vẽ lên cho nàng thấy đó là một giây phút cao hứng riêng tư, sự khó chịu thoáng chốc với câu từ công thức, ký ức sau khi đọc bản đầy đủ của cuốn Lady Chatterley's Lover mà anh đã mua chui tại một tiệm ở Soho.

Nhưng nhân tố mới này - đứa trẻ ngây thơ - khiến sai sót của anh không cách nào bào chữa được nữa.

Tiếp tục nói sẽ thật phù phiếm.

Anh chỉ có thể lặp lại chính mình, lần này là thì thầm.

"Tôi xin lỗi..."

Nàng bước xa hơn, về phía góc phòng, vào khoảng tối sâu hơn nữa.

Mặc dù anh nghĩ nàng đang chùn lại khỏi anh, anh vẫn bước thêm vài bước về phía nàng.

"Một việc ngu xuẩn.

Lẽ ra em không bao giờ nên đọc.

Không ai nên đọc cả."

Nàng vẫn thu mình khỏi anh.

Một khuỷu tay đặt trên giá sách, và dường như nàng trượt dọc theo nó, như thể sắp mất dạng giữa đám sách.

Anh nghe một tiếng ướt át, mềm mại, loại âm thanh vang ra khi một người chuẩn bị cất tiếng và lưỡi tách khỏi vòm miệng.

Nhưng nàng không nói gì.

Chỉ đến lúc đó anh mới nảy ra ý rằng có thể nàng không thoái lui khỏi anh, mà là kéo anh vào sâu hơn với nàng trong bóng tối.

Từ khoảnh khắc nhấn chuông, anh đã chẳng còn gì để mất.

Vì thế anh bước về phía nàng chậm rãi trong khi nàng lùi lại, cho đến khi nàng đứng hẳn trong góc và dừng lại nhìn anh tiến tới.

Anh cũng dừng lại, cách nàng chưa đầy bốn bước chân.

Giờ thì anh đứng đủ gần, và ở đó cũng vừa đủ ánh sáng, để thấy mắt nàng đẫm lệ và đang cố cất lời.

Hiện tại thì điều đó là bất khả nên nàng lắc đầu ra dấu bảo anh chờ một chút.

Nàng quay nghiêng và khum hai bàn tay che mũi và miệng, ngón tay nhấn vào khóe mắt.

Nàng bình tĩnh trở lại và nói, "Nó đã ở đó bao tuần nay..." cổ họng nàng nghẹn cứng và nàng buộc phải dừng lại.

Ngay lập tức, anh hiểu ra nàng định nói gì, nhưng anh gạt đi.

Nàng hít một hơi thật sâu, rồi tiếp tục trầm ngâm nói, "Có khi đã hàng tháng.

Em không biết nữa.

Nhưng hôm nay... suốt ngày đã rất lạ.

Ý em là, em thấy mọi thứ đều rất lạ, như thể lần đầu tiên ấy.

Trông mọi thứ rất khác - quá sắc nét, quá thật.

Ngay cả tay em trông cũng khác.

Có nhiều lúc dường như em cứ nhìn mọi việc như thể chúng đã xảy ra từ lâu lắm.

Và cả ngày hôm nay em giận anh điên cuồng - và giận chính mình nữa.

Em nghĩ mình sẽ cực kỳ sung sướng khi không bao giờ gặp lại anh hay nói chuyện với anh nữa.

Em nghĩ anh sẽ đi học trường y và em sẽ sung sướng.

Em giận anh vô cùng.

Em nghĩ đó là một cách không nghĩ về nó.

Thực sự khá tiện..."

Nàng cười nhỏ, căng thẳng.

Anh nói, "Nó?"

Đến lúc này, nàng vẫn gằm gằm nhìn xuống.

Khi nói tiếp, nàng nhìn anh.

Anh chỉ nhìn thấy ánh lấp lánh từ lòng trắng mắt nàng.

"Anh biết trước em.

Điều gì đó đã xảy ra, phải không?

Và anh biết trước em.

Giống như là khi rất gần một thứ quá lớn thì mình sẽ không thấy được nó.

Ngay cả bây giờ, em không chắc mình thấy.

Nhưng em biết nó ở đó."

Nàng nhìn xuống và anh đợi.

"Em biết nó ở đó vì nó khiến em cư xử lố bịch.

Cả anh nữa, dĩ nhiên...

Nhưng sáng nay, trước đây em chưa bao giờ làm bất cứ điều gì như thế.

Sau đó thì em giận vô cùng.

Mà ngay cả khi nó đang xảy ra em cũng vô cùng giận.

Em tự nhủ em đã đưa vũ khí cho anh chống lại em.

Rồi, tối nay, thì em bắt đầu hiểu ra - ôi, sao em có thể ngờ nghệch về chính mình đến thế?

Và ngu xuẩn đến thế?"

Nàng bắt đầu, bị một ý tưởng không mấy dễ chịu cuốn lấy.

"Anh thực sự hiểu em đang nói gì.

Bảo với em là anh hiểu đi."

Nàng sợ giữa hai người không hề có gì chung, sợ rằng hết thảy những giả định của nàng đều là lầm lẫn và sợ bằng những lời nói ấy mà nàng càng tách biệt hơn, còn anh thì sẽ nghĩ nàng là con ngốc.

Anh tiến đến gần hơn.

"Anh hiểu.

Anh hiểu chính xác.

Nhưng sao em khóc?

Còn chuyện gì khác ư?"

Anh nghĩ nàng sắp tung ra một trở ngại không thể vượt qua, và dĩ nhiên ý anh là, ai đó, nhưng nàng không hiểu.

Nàng không biết phải trả lời anh thế nào và nàng nhìn anh, rối bời.

Sao nàng lại khóc?

Làm sao nàng có thể mở lời mà nói với anh khi biết bao tình cảm, biết bao cảm xúc, đơn giản là đang nhận chìm nàng?

Đến lượt mình, anh lại cảm thấy câu hỏi của mình là không đúng đắn, không thích hợp, và anh chật vật nghĩ cách diễn đạt cho đúng.

Họ đau đáu nhìn nhau bối rối, không cất nổi lời, cảm nhận một thứ gì đó vừa mơ hồ thiết lập có thể vuột mất khỏi mình.

Việc họ là bạn thanh mai trúc mã giờ lại là một chướng ngại - họ thẹn thùng trước con người trước kia của họ.

Tình bạn của họ đã trở nên nhạt nhòa và thậm chí gượng ép trong những năm gần đây, nhưng nó vẫn là một thói quen cũ, và giờ để phá bỏ nó để trở thành những người dưng khác giới thân mật đòi hỏi phải làm rõ mục đích, mà việc đó tạm thời họ không thể.

Trong khoảnh khắc ấy, dường như ngôn từ không tìm được lối ra.

Anh đặt tay lên vai nàng, làn da trần của nàng mát rượi khi chạm vào.

Khi mặt họ dịch lại gần hơn anh vẫn còn ngờ vực đến nỗi nghi rằng nàng có thể vụt quay đi, hay tát anh, giống trong phim, ngay vào má bằng bàn tay xòe rộng.

Miệng nàng có vị son và muối.

Họ dứt ra một giây, anh vòng tay ôm nàng và họ lại hôn nhau, tự tin hơn.

Liều lĩnh, họ chạm vào đầu lưỡi nhau, và chính lúc đó nàng thốt ra một tiếng thở dài, nhỏ dần, mà sau này anh nhận ra, chính là cái đánh dấu sự chuyển hóa.

Đến tận khoảnh khắc đó, vẫn có gì đó buồn cười khi một khuôn mặt quen thuộc gí sát vào mặt mình.

Họ cảm thấy bị chính con người thuở ấu thơ đang bối rối của mình quan sát.

Những cú chạm của hai đầu lưỡi, thớ cơ sống động và trơn trượt ấy, phần thịt mềm ẩm ướt đặt trên nhau ấy, và âm thanh kỳ lạ khiến nàng bật ra ấy, đã thay đổi điều đó.

Âm thanh này dường như nhập vào anh, xé toạc anh từ trên xuống dưới để toàn bộ cơ thể anh mở toang ra và anh có thể bước ra khỏi chính mình mà hôn nàng thoải mái.

Điều trước kia vốn là ý thức về bản thân giờ trở thành vô ngã, gần như trừu tượng.

Tiếng thở của nàng đầy ham muốn và khiến anh cũng ham muốn.

Anh ấn chặt nàng vào góc, giữa các cuốn sách.

Khi họ hôn, nàng kéo quần áo anh, giật sơ mi, thắt lưng của anh một cách vô vọng.

Đầu họ sát vào nhau, cuốn lấy nhau khi nụ hôn trở nên ngấu nghiến.

Nàng cắn vào má anh, không hẳn là đùa.

Anh dứt ra, rồi dịch lại và nàng cắn vào môi dưới anh mạnh hơn.

Anh hôn cổ nàng, ấn đầu nàng dựa vào giá sách, nàng kéo tóc anh và dúi mặt anh xuống vục vào ngực nàng.

Mất một lúc lóng ngóng vụng về anh mới tìm thấy núm vú nàng, nhỏ và cứng, và đặt miệng mình vào.

Sống lưng nàng cứng đờ, một cơn rùng mình chạy dọc theo chiều dài của nó.

Trong một lúc anh nghĩ nàng đã ngất.

Cánh tay nàng riết quanh đầu anh và khi nàng siết chặt hơn anh trồi lên qua vòng tay ấy, thở hổn hển, đứng thẳng lên và quấn lấy nàng, ép đầu nàng vào ngực mình.

Nàng lại cắn anh và lật áo sơ mi của anh.

Khi nghe tiếng một chiếc cúc rót xuống sàn nhà, họ phải cố nhịn cười mà quay mặt đi.

Hài hước sẽ hủy hoại họ.

Nàng nhốt núm vú anh giữa hàm răng.

Cảm giác ấy thật không sao chịu đựng.

Anh nâng mặt nàng lên, và siết chặt nàng vào xương sườn mình, hôn mắt nàng và luồn lưỡi vào tách môi nàng ra.

Bất lực lại làm bật ra từ nàng một tiếng như tiếng thở dài thất vọng.

Cuối cùng họ đã trở thành người lạ, quá khứ bị lãng quên.

Họ cũng là người lạ với chính con người họ, đã quên mất mình là ai, mình ở đâu.

Cửa thư viện dày và không một âm thanh bình thường nào, những âm thanh có thể gợi họ nhớ, có thể níu họ lại, lọt được qua.

Họ vượt ra ngoài hiện tại, ra ngoài thời gian, không ký ức, không tương lai.

Không gì cả ngoài nhục cảm xóa mờ mọi thứ, run rẩy và phập phồng, và tiếng vải sợi cọ lên vải sợi, và da thịt chà trên vải sợi khi chân tay họ trượt qua trượt lại trên nhau trong một cuộc vật lộn liên tục, đầy khoái cảm.

Kinh nghiệm anh có hạn và anh chỉ biết từ những lời đồn đại rằng họ không cần phải nằm xuống.

Phần nàng, ngoài tất cả những phim đã xem, và thảy những tiểu thuyết và thơ tình đã đọc, nàng cũng không hề có kinh nghiệm gì.

Mặc cho những hạn chế này, họ không hề ngạc nhiên khi biết ham muốn của mình rõ ràng đến thế nào.

Họ lại hôn nhau, tay nàng siết chặt sau đầu anh.

Nàng liếm tai anh, rồi cắn dái tai.

Tích tụ dần, những miếng cắn kia đánh thức anh, làm anh thấy giận dữ, kích thích anh.

Anh lần tìm mông nàng dưới lớp váy và bóp mạnh, và xoay người nàng lại một chút để phát một cái trả đũa, nhưng không đủ chỗ cho lắm.

Mắt vẫn dán chặt vào mắt anh, nàng cúi xuống cởi giày.

Giờ thì càng lóng ngóng hơn, với những cái cúc và vị trí đặt chân tay.

Nàng hoàn toàn không có kinh nghiệm.

Không một lời, anh chỉ nàng đặt chân lên cái giá thấp nhất.

Họ vụng về, nhưng giờ cái tôi đã tan biến nên chẳng còn ngượng ngùng nữa.

Khi anh lại kéo cái váy lụa mềm dính sát vào người của nàng lên, anh nghĩ vẻ mặt không chắc chắn của nàng phản chiếu chính vẻ mặt anh.

Nhưng chỉ có một kết thúc duy nhất không thể tránh khỏi, và họ chẳng thể làm được gì khác ngoài tiến thẳng đến đó.

Được cơ thể anh nâng lên tì vào góc, nàng một lần nữa vòng tay sau cổ anh, và đặt khuỷu tay lên vai anh, tiếp tục hôn mặt anh.

Giây phút đó thì dễ dàng.

Họ nín thở trước khi màng môi mở ra, và khi nó mở nàng vội quay đi, nhưng không thốt ra tiếng nào - dường như đó là một điểm khiến nàng tự hào.

Họ dịch lại gần hơn, sâu hơn và rồi, trong một vài giây cuối, mọi thứ sững lại.

Thay vì một cơn khoái cảm điên cuồng, ở đó chỉ còn tĩnh lặng.

Họ im lặng bất động không phải bởi kinh ngạc khi thực sự đã tới, mà bởi một cảm giác run sợ phải quay về - họ mặt đối mặt trong bóng tối, đăm đăm nhìn vào đôi mắt hầu như không thể trông thấy hết của nhau, và giờ cái vô ngã ấy biến mất.

Dĩ nhiên, chẳng có gì trừu tượng ở một khuôn mặt.

Con trai của Grace và Ernest Turner, con gái của Emily và Jack Tallis, bạn từ thuở ấu thơ, đến thời đại học chỉ còn là người quen biết, trong một trạng thái hân hoan thanh bình căng tràn, đối mặt với thay đổi hệ trọng mà họ vừa đạt tới.

Sự gần gụi của một khuôn mặt thân thuộc chẳng có gì buồn cười mà thật kỳ diệu.

Robbie không rời mắt khỏi người phụ nữ, cô gái mà anh đã từng luôn biết, nghĩ sự đổi thay ấy hoàn toàn ở trong con người mình, và cơ bản, mang tính sinh học một cách cơ bản, như sự ra đời.

Chưa từng có gì phi thường hay quan trọng đến thế xảy ra từ ngày anh chào đời.

Nàng đáp lại cái nhìn ấy của anh, chấn động vì sự chuyển đổi trong chính mình, và choáng ngợp bởi vẻ đẹp ở một khuôn mặt mà thói quen suốt đời đã dạy nàng phải lờ đi.

Nàng thì thầm tên anh bằng sự cẩn trọng khoan thai của một đứa trẻ cố phát âm những âm riêng biệt.

Khi anh đáp gọi tên nàng, nó nghe như một từ mới - những âm tiết vẫn y hệt, nhưng nghĩa đã khác đi.

Cuối cùng anh nói lên ba từ đơn giản mà không một thứ nghệ thuật tồi tệ hay niềm tin tồi tệ nào từng có thể làm giảm giá trị đi.

Nàng nhắc lại chúng, hơi nhấn mạnh vào từ thứ hai hệt như anh, như thể nàng chính là người nói trước.

Anh không tin vào tôn giáo nào cả, nhưng thật là bất khả khi không nghĩ đến một sự hiện diện hay chứng nhân vô hình nào đó trong căn phòng này, và rằng ba từ được nói to lên đó như những chữ ký trên một hợp đồng không trông thấy.

Họ bất động đến chừng nửa phút.

Muốn lâu hơn thì phải sở hữu được sự thành thạo của nghệ thuật tình dục Mật tông ghê gớm nào đó.

Họ bắt đầu làm tình, tựa vào giá sách thư viện, cái giá cọt kẹt theo mỗi chuyển động của họ.

Sẽ là bình thường khi vào những lúc thế này mà tưởng tượng ra mình đang tới được một vùng cao và hẻo lánh.

Anh tưởng tượng mình đi tản bộ trên một đỉnh núi tròn, bằng phẳng, chơi vơi giữa hai đỉnh cao hơn.

Anh trong một tâm trạng thong thả, thăm dò, thừa thời gian để đi đến một rìa đá và hé mắt nhìn sườn núi đầy đá nhỏ gần như dốc đứng dưới kia, nơi chẳng mấy chốc nữa sẽ phải quăng mình xuống.

Gieo mình vào một khoảng không trống trải bây giờ là điều rất cám dỗ, nhưng anh là một người lịch duyệt nên có thể quay bước đi, và chờ đợi.

Không dễ dàng gì, vì anh đang bị kéo lại và anh phải kháng cự.

Chừng nào anh còn không nghĩ đến cái rìa, chừng đó anh không lại gần nó, và sẽ không bị nó cám dỗ.

Anh buộc mình nhớ đến những thứ buồn chán nhất anh biết - người đánh giày, đơn xin nhập học, khăn bông ướt trên sàn phòng tắm.

Có cả nắp thùng rác lật ngược với một inch nước mưa bên trong, và vết ố trà hình tròn đang vẽ dở trên bìa cuốn thơ Housman của anh.

Danh sách kỳ quặc này bị giọng nàng ngăn lại.

Nàng đang gọi anh, mời anh, thì thào vào tai anh.

Chính xác là như vậy.

Họ sẽ nhảy xuống cùng nhau.

Giờ anh đang ở bên nàng, hé nhìn vực thẳm, và họ nhìn thấy sườn núi kia hun hút lao xuống qua lớp mây che.

Tay trong tay, họ quay lưng lại mép vực rồi buông mình rơi.

Nàng nhắc lại, lẩm bẩm vào tai anh, và lần này anh nghe rõ.

"Có người vào."

Anh mở mắt.

Nhận ra đây là trong thư viện, ở một căn nhà, tuyệt đối yên lặng.

Anh đang mặc bộ vest diện nhất.

Phải, tất thảy trở lại với anh khá dễ dàng.

Anh căng mắt ngoái lại nhìn và chỉ thay một cái bàn sáng lờ mờ, vẫn nằm đó như trước kia, như thể nhớ lại sau một giấc mơ.

Từ chỗ họ đứng trong góc không thể nào thấy được cửa.

Nhưng không có tiếng động gì, không một tiếng.

Nàng nhầm, anh khao khát đến tuyệt vọng rằng nàng lầm và nàng thực sự lầm.

Anh quay lại nàng, và toan bảo nàng vậy, thì nàng bấu chặt hơn vào tay anh và anh ngoái đầu thêm lần nữa.

Briony chầm chậm bước vào tầm mắt họ, dừng lại chỗ cái bàn và trông thấy họ.

Nó đờ đẫn đứng đó, trân trối nhìn họ, cánh tay buông thõng bên người, như một tay súng chuyên nghiệp trong một cuộc đấu súng cao bồi.

Trong khoảnh khắc rùng mình đó anh phát hiện ra cho đến tận giờ mình chưa từng ghét một ai cả.

Ghét là một cảm giác cũng tinh khôi như tình yêu, nhưng nhạt nhẽo và lý trí lạnh lùng.

Không có gì cá nhân ở đây, vì anh sẽ ghét bất cứ ai vừa bước vào.

Có đồ uống ở phòng khách hay ngoài hiên, và lẽ ra Briony phải ở ngoài đó - với mẹ nó, và người anh trai mà nó ngưỡng mộ, và hai đứa em họ nhỏ.

Chẳng có lý do chính đáng nào mà nó lại ở trong thư viện, trừ việc để tìm anh và tước khỏi tay anh cái vốn thuộc về anh.

Anh thấy rõ ràng chuyện đó đã xảy ra như thế nào: nó mở một cái phong bì đã niêm lại để đọc thư của anh và thấy kinh tởm, rồi cảm thấy bị phản bội theo cái kiểu khó hiểu của nó.

Nó đến đây tìm chị gái - hiển nhiên là với cái ý niệm hồ hỏi rằng mình phải bảo vệ chị, hay cảnh báo chị, và đã nghe thấy tiếng động từ sau cánh cửa thư viện đóng kín.

Bị thúc đẩy từ sâu thẳm sự ngu dốt, trí tưởng tượng ngớ ngẩn và lòng chính trực kiểu trẻ con, nó đến để lên tiếng đòi dừng chuyện này lại.

Nhưng nó cũng không nhất thiết phải làm thế - lập tức không ai bảo ai, họ tách nhau ra, quay đi, rồi cả hai kín đáo chỉnh trang lại quần áo.

Đã kết thúc.

Đĩa đựng món chính đã hết sạch từ lâu và Betty quay lại với bánh mì và pudding bơ.

Là do anh tưởng tượng, Robbie băn khoăn, hay do bà có ý định ma lanh, mà khẩu phần của người lớn to gấp đôi của trẻ con?

Leon đang rót rượu từ chai Barsac thứ ba.

Anh đã cởi áo ngoài, qua đó cho phép cả hai người kia cũng làm theo.

Có tiếng gõ khe khẽ trên cửa sổ, đủ loại sinh vật bay đêm lao mình vào kính.

Bà Tallis dùng chiếc khăn ăn chấm chấm lên mặt và trìu mến nhìn hai đứa sinh đôi.

Pierrot đang thì thầm vào tai Jackson.

"Ở bàn ăn không được có bí mật gì, hai cháu.

Tất cả chúng ta đều muốn nghe, nếu cháu không phiền."

Jackson, người đại diện, nuốt khó nhọc.

Anh trai nó đăm đăm nhìn xuống đùi mình.

"Chúng cháu xin phép được đứng lên, bác Emily.

Chúng cháu có thể vào phòng vệ sinh được không ạ?"

"Dĩ nhiên rồi.

Nhưng phải dùng từ được phép, chứ không phải có thể.

Và không cần thiết phải nói cụ thể đến vậy."

Hai đứa sinh đôi trượt xuống ghế.

Khi chân chúng tới sàn, Briony ré lên chỉ tay theo.

"Tất của con!

Chúng đang đi tất quả dâu tây của con!"

Cả hai đứa sững người rồi quay lại, và xấu hổ nhìn từ mắt cá chân chúng lên bà bác.

Briony gần như đứng bật dậy.

Robbie nghĩ cảm xúc mạnh mẽ trong người con bé đang tìm lối xả ra.

"Tụi mày đã vào phòng tao và lấy đồ từ ngăn kéo của tao."

Cecilia lên tiếng lần thứ hai trong suốt bữa ăn.

Nàng cũng đang tìm chỗ xả thông những cảm xúc sâu thẳm trong mình.

"Im mồm đi, vì Chúa!

Em đúng là bà cô phiền phức.

Hai đứa nhỏ không có đôi tất sạch nào nên chị đã lấy của em."

Brinoy chằm chằm nhìn chị, kinh ngạc.

Bị tấn công, bị phản bội, do người mà em chỉ một lòng khao khát bảo vệ.

Jackson và Pierrot vẫn đăm đăm nhìn bà bác giờ đang bảo hai đứa rút đi bằng một cái nghiêng đầu khó hiểu và khẽ gật đầu.

Chúng đóng cửa lại sau lưng với sự cẩn thận quá đáng, thậm chí có lẽ là mỉa mai, và đúng giây phút chúng buông lấy nắm cửa ra Emily liền cầm thìa lên và những người còn lại làm theo bà.

Bà ôn tồn nói, "Con có thể dùng từ nhẹ nhàng hơn với em mà."

Khi Cecilia quay sang mẹ, Robbie ngửi tháy phàng phất mùi mồ hôi dưới nách nàng, làm anh liên tưởng mùi cỏ vừa cắt.

Chẳng mấy chốc nữa họ sẽ ở ngoài nhà.

Anh khẽ chợp mắt lại.

Một bình hai pint sữa trứng đặt bên cạnh anh, và anh tự hỏi mình có đủ sức nhấc lên không nhỉ.

"Con xin lỗi, Emily.

Nhưng cả ngày nay nó đã khá quá quắt rồi."

Briony nói với sự bình lĩnh của người lớn.

"Chị mà cũng hùng hồn

"Nghĩa là sao?"

Đó, Robbie hiểu, không phải là câu nên hỏi.

Ở giai đoạn này trong đời, Briony ở trong khoảng không chuyển biến mập mờ giữa thế giới trẻ con và người lớn mà em đã băng qua rồi lại bất chừng băng qua tiếp.

Trong tình huống hiện tại, là một bé gái phẫn nộ em sẽ bớt nguy hiểm hơn.

Thực ra, bản thân Briony không ý thức rõ mình định nói gì, nhưng Robbie không thể hiểu điều này khi anh vội tham gia để thay đổi chủ đề.

Anh quay sang Lola ngồi bên trái, và nói sao cho cả bàn nghe, "Hai chú bé ngoan ghê, em trai cô ấy."

"Hah!"

Briony giận dữ, và không để cho cô em họ có thời gian mở mồm.

"Thế mới thấy anh biết ít ỏi thế nào."

Emily đặt thìa xuống.

"Con yêu, nếu cứ tiếp tục thế, mẹ buộc phải mời con rời khỏi bàn."

"Nhưng nhìn xem chúng đã làm gì em ấy.

Cào mặt em ấy, và làm em ấy bầm tím!"

Mọi con mắt đổ dồn vào Lola.

Nước da cô co lại sậm hơn dưới những nốt tàn nhang, khiến những vết xước trông nhạt đi.

Robbie nói, "Trông không nặng lắm."

Briony lườm anh.

Mẹ em nói, "Tại móng tay mấy đứa nhỏ đây mà.

Mình nên bôi ít dầu cho cháu."

Lola tỏ ra dũng cảm.

"Thực ra, cháu đã bôi rồi ạ.

Giờ thì đỡ hơn rất nhiều rồi."

Paul Marshall hắng giọng.

"Chính mắt tôi thấy - phải can rồi giằng chúng ra khỏi người cô bé.

Phải nói là tôi ngạc nhiên, hai thằng bé nhỏ như thế.

Chúng tấn công cô bé..."

Emily đã đứng dậy khỏi ghế.

Bà lại chỗ Lola và cầm tay con bé lên.

"Nhìn tay cháu này!

Đâu chỉ có trầy da.

Bầm tím lên tận khuỷu đây này.

Sao tự dưng chúng lại làm thế?"

"Cháu không biết, bác Emily."

Một lần nữa, Marshall ngả người ra sau ghế.

Anh ta nói sau đầu Cecilia và Robbie với cô thiếu nữ đang nhìn anh ta nước mắt lưng tròng.

"Làm to chuyện một chút thì chả làm sao cả, cô bé ạ.

Cô vô cùng dũng cảm, nhưng cô đã bị đau lắm mà."

Lola đang cố không khóc.

Emily kéo đứa cháu vào lòng và xoa đầu nó.

Marshall nói với Robbie, "Anh nói đúng, chúng là hai thằng nhỏ ngoan.

Nhưng tôi nghĩ gần đây chúng đã phải chịu đựng nhiều chuyện."

Robbie muốn nói tại sao Marshall không đề cập đến chuyện này trước nếu đã biết Lola bị thương nặng đến thế, nhưng giờ cả bàn đang rối lên.

Leon gọi với sang mẹ, "Mẹ có muốn con gọi bác sĩ không?"

Cecilia đang đứng lên khỏi bàn.

Robbie chạm vào cánh tay nàng và nàng quay lại, và lần đầu tiên kể từ lúc trong thư viện, mắt họ gặp nhau.

Không có thời gian để thiết lập bất cứ điều gì vượt ngoài bản thân ánh mắt đó, rồi nàng vội vòng qua bàn lại chỗ mẹ, người giờ đang hướng dẫn cách chườm lạnh.

Emily cúi xuống đầu đứa cháu gái, thì thầm những lời an ủi.

Marshall vẫn ngồi yên trên ghế và rót đầy ly mình.

Briony cũng đứng dậy, và khi đứng lên, lại thét lên một tiếng chói tai lanh lảnh.

Em nhặt từ ghế Jackson lên một phong bì và giơ lên cho mọi người thấy.

"Một lá thư!"

Em toan mở ra.

Robbie không thể ngăn mình hỏi, "Gửi cho ai thế?"

"Nó viết, Gửi mọi người."

Lola nhoài ra khỏi người bác và dùng khăn ăn lau mặt.

Emily tìm được một nguồn, uy quyền mới đầy ngạc nhiên.

"Con không được mở thư.

Con phải làm như mẹ bảo và mang lại đây cho mẹ."

Briony nhận ra sắc thái bất thường trong giọng nói của mẹ và ngoan ngoãn đi vòng qua bàn cầm theo lá thư.

Rút ra một mẩu giấy trắng có kẻ hàng, Emily bước khỏi Lola một bước.

Khi bà đọc thư, Robbie và Cecilia cũng đọc được.

Bọn cháu xẽ bỏ trốn zì Lola và Betty ắc nghiệt với bọn cháu và bọn cháu muốn về nhà.

Sin lỗi vì bọn cháu lấy ít chái cây Và không diễn kịch được.

Mỗi đứa ký tên mình bằng những nét bay bướm ngoằn ngoèo.

Im lặng bao trùm sau khi Emily đọc to lá thư.

Lola đứng dậy và bước vài bước về phía cửa sổ, rồi đổi ý tiến lại về phía cuối bàn.

Cô thẫn thờ nhìn từ trái sang phải, luôn miệng lẩm bẩm, "Ôi trời, ôi trời..."

Marshall tiến lại và đặt tay lên tay cô.

"Sẽ ổn cả thôi.

Chúng ta sẽ tổ chức vài nhóm tìm kiếm và tìm thấy chúng ngay thôi."

Chính xác," Leon nói.

"Chúng chỉ mới đi có vài phút."

Nhưng Lola không nghe và dường như đã quyết định.

Vừa sải bước về phía cửa cô vừa nói, "Mẹ sẽ giết tôi."

Khi Leon cố với lấy vai cô, cô rụt vai lại tránh, rồi tiến qua cửa.

Họ nghe tiếng cô chạy vụt qua sảnh.

Leon quay sang em gái.

"Cee, em với anh sẽ đi cùng nhau."

Marshall nói.

"Trời không trăng.

Ngoài kia khá tối."

Cả nhóm tiến về phía cửa và Emily nói, "Nên có nguời đợi ở đây và có lẽ nên là tôi."

Cecilia nói, "Sau cửa hầm có đèn pin."

Leon bảo mẹ, "Con nghĩ mẹ nên gọi cảnh sát."

Robbie là người cuối cùng rời khỏi phòng ăn và người cuối cùng, anh nghĩ, thích nghi được với tình huống mới này.

Cảm giác đầu tiên của anh, cái cảm giác vẫn không tan đi khi anh bước vào sảnh tương đối mát mẻ, là anh đã bị lừa.

Anh không thể tin là hai đứa sinh đôi đang gặp nguy hiểm.

Lũ bò sẽ làm chúng sợ mà mò về nhà.

Màn đêm mênh mông bên ngoài ngôi nhà, đám cây cối đen thẫm, những cái bóng mời gọi, cỏ vừa cắt mát rượi - tất thảy những thứ này được dành sẵn, anh đã chỉ định phải dành riêng cho anh và Cecilia.

Màn đêm ấy đang đợi họ, là của họ, để họ sử dụng và chiếm hữu.

Ngày mai, hay bất cứ lúc nào không phải bây giờ, sẽ không được.

Nhưng đột nhiên căn nhà lại đổ hết những ở bên trong nó vào một màn đêm giờ đã thuộc về một cơn náo loạn gia đình khá nực cười.

Họ sẽ ở ngoài đó hàng giờ, hú gọi và vẫy đèn pin, cuối cùng tìm được hai đứa sinh đôi, mệt lử và bẩn thỉu, Lola sẽ bình tĩnh lại, và sau vài ly rượu tự chúc mừng trước khi đi ngủ, buổi tối sẽ chấm hết.

Trong vài ngày, hay thậm chí chỉ vài giờ, nó sẽ trở thành kỷ niệm buồn cười được lôi ra kể lại những dịp sum họp gia đình: cái đêm hai đứa sinh đôi bỏ nhà đi.

Nhóm tìm kiếm đã khởi sự khi anh bước tới cửa trước.

Cecilia khoác tay anh trai và họ bắt đầu đi thì nàng liếc ra sau và thấy anh đứng dưới đèn.

Nàng nhìn anh, nhún vai, như bảo - Giờ mình có thể làm gì chứ.

Trước khi anh kịp đáp lại nàng bằng cử chỉ lộ sự đồng tình đầy yêu thương, nàng đã quay đi, cùng Leon tiến bước, gọi to tên hai thằng bé.

Marshall thậm chí còn đi trước xa hơn, đang tiến về lối chính cho xe vào, chỉ nhìn thấy được nhờ có chiếc đèn mà anh ta cầm.

Không thấy Lola đâu.

Briony đang đi vòng quanh nhà.

Nó, dĩ nhiên, sẽ không muốn đi cùng Robbie, và thế là nhẹ nhõm cả người, vì anh đã quyết định: nếu không thể ở bên Cecilia, nếu không có nàng riêng cho mình, thì anh cũng, như Briony, đi tìm một mình.

Quyết định này, như sau này anh sẽ rất nhiều lần công nhận, đã biến đổi đời anh.
 
Atonement - Chuộc Tội
Mười hai


Dù căn nhà cổ xây theo kiểu Adam từng tao nhã thế nào, dù nó từng bao quát ngoạn mục cả vùng cây cối công viên ra sao, tường của nó cũng không thể vững chắc bằng tường của công trình kiểu Baronial Scotland đã thay thế nó, và các phòng của nó cũng không bao giờ sở hữu được tính kiên cố như của sự tĩnh lặng đôi khi vẫn bóp nghẹt nhà Tallis.

Giờ sau khi nhóm tìm kiếm đi khỏi, đóng cửa lại và quay bước băng qua sảnh, Emily mới cảm thấy sự hiện diện chễm chệ của nó.

Bà cho rằng Betty và những người giúp việc vẫn còn ăn tráng miệng trong bếp và sẽ không biết rằng phòng ăn đã trống sạch.

Không một tiếng động.

Tường, gỗ lát nhà, sự nặng nề lan tỏa của đồ đạc gần như mới, vỉ lò khổng lồ, những lò sưởi đồ sộ bằng đá mới sáng màu làm liên tưởng qua hàng thế kỷ đen thời của những lâu đài đơn độc trong các khu rừng câm lặng.

Bố chồng bà định, bà nghĩ, tạo nên không khí gắn bó và truyền thống gia đình.

Một người đàn ông dành cả đời chế then và khóa sắt luôn hiểu giá trị của sự riêng tư.

Tiếng ồn bên ngoài ngôi nhà bị chặn tuyệt đối, và thậm chí những âm thanh trong nhà cũng như bị bịt lại, thậm chí thỉnh thoảng bằng cách nào đó còn bị làm cho mất hẳn.

Emily thở dài, không nghe được rõ lắm tiếng của chính mình, rồi lại thở dài lần nữa.

Bà đứng cạnh chiếc điện thoại nằm trên cái bàn bán nguyệt làm bằng sắt uốn cạnh cửa thư viện, và tay bà đặt trên ống nghe.

Để nói chuyện với cảnh sát Vockins, trước tiên bà sẽ phải nói với vợ ông ta, một người phụ nữ lắm mồm thích chuyện phiếm về trứng gà và những đề tài liên quan - giá thịt gà, bọn cáo, túi giấy bây giờ dễ rách thế nào.

Chồng bà ta từ chối thể hiện sự tôn trọng mà người ta có thể mong đợi từ một cảnh sát.

Ông có cái vẻ thật thà khi thể hiện sự tẻ nhạt, cố tạo ra cho nó âm hưởng hùng tráng như của sự uyên thâm khó khăn lắm mới giành được trong bộ ngực mặc sơ mi gài khuy thít chặt: trời không bao giờ chỉ mưa mà phải là mưa như trút nước, nhàn cư vi bất thiện, con sâu làm rầu nồi canh.

Trong làng đồn rằng trước khi gia nhập lực lượng cảnh sát và nuôi ria, ông là một thành viên công đoàn.

Có người thấy ông, hồi còn tham gia Tổng Bãi công, mang truyền đơn trên một con tàu.

Hơn nữa, bà sẽ yêu cầu cảnh sát làng làm gì?

Trước khi ông bảo với bà rằng trẻ con là trẻ con thôi, và dựng nửa chục trai làng dậy khỏi giường đi tìm, thì hẳn đã một giờ trôi qua, và hai đứa sinh đôi có thể đã tự mình mò về rồi, vì sợ phát khiếp cái thế giới rộng lớn trong đêm tối.

Thực ra, bà không nghĩ đến hai thằng bé, mà đến mẹ chúng, em bà, hay đúng hơn là sự hiện thân của cô em trong dáng người săn chắc của Lola.

Khi Emily đứng dậy khỏi bàn ăn để an ủi con bé, bà ngạc nhiên khi thấy mình giận dữ.

Càng cảm thấy cơn giận, bà càng làm ra vẻ cuống lên lo cho Lola để che giấu đi.

Vết xước trên mặt con bé là không thể phủ nhận, vết thâm tím trên cánh tay nó thì thực kinh hoàng, nếu là do hai thằng bé con gây ra.

Nhưng một cảm giác thù địch cũ dằn vặt Emily.

Người mà bà đang xoa dịu là cô em gái Hermione của mình - Hermione, vai phụ bất ngờ chiếm hết chú ý dành cho ngôi sao, cô chủ nhỏ của vở kịch, người mà bà đang ghì vào ngực mình ấy.

Như hồi xưa, càng giận dữ, Emily càng tỏ ra ân cần.

Và khi Briony tội nghiệp tìm thấy lá thư của hai thằng bé, chính cảm giác thù địch đó đã kích động Emily trở nên khắc nghiệt bất thường.

Mới bất công làm sao!

Nhưng viễn cảnh con gái bà, hay bất cứ cô gái nào trẻ tuổi hơn bà, mở phong bì, và khiến căng thẳng tăng lên bằng cách mở ra một cách từ từ đầy chủ ý, rồi đọc to lên cho mọi người nghe, tung tin và biến mình thành trung tâm của vở kịch, đều khơi lại ký ức xưa và những ý nghĩ ích kỷ.

Suốt thời thơ ấu của họ, Hermione từng luôn líu lo nhún nhảy trong một vũ khúc ba lê hạnh phúc, luôn phô trương bất cứ khi nào có thể mà không suy nghĩ gì - cô chị gái lặng lẽ, cáu kỉnh tin như vậy - đến việc như thế có vẻ lố bịch và thảm hại ra sao.

Luôn luôn có người lớn vây quanh khuyến khích cái kiểu làm dáng không ngừng này.

Và khi, một cách xuất sắc, cô bé Emily mười một tuổi làm cả phòng khách choáng váng khi lao vào cửa kính và tay bị đứt sâu đến nỗi một tia máu phun thành bó hoa đỏ thắm trên chiếc váy đầm vải muslin trắng của đứa bé đứng cạnh đó, thì con bé Hermione chín tuổi đã chiếm lĩnh sân khấu chính bằng tiếng hét cuồng loạn.

Trong khi Emily nằm không ai đoái hoài trên sàn, sau sofa, được một ông chú học y buộc cho một cái ga nô chuyên nghiệp, hàng chục họ hàng lại tập trung cố gắng dỗ cho con em gái bình tĩnh.

Và giờ thì nó ở Paris tung tẩy với một gã làm ở nhà đài trong khi Emily này phải chăm lo cho con nó.

Plus ca change, cảnh sát Vockins có lẽ sẽ nói thế.

Và Lola, giống hệt mẹ nó, không ai giữ lại được.

Ngay khi lá thư được đọc to lên, nó cũng chơi trội hơn hai thằng em bỏ trốn của mình bằng cú lao bổ ra ngoài đầy kịch tính.

Mẹ sẽ giết mình mất.

Nhưng chính nó đang nuôi sống linh hồn mẹ nó.

Khi hai đứa sinh đôi quay về, bà dám cá là sẽ vẫn chưa tìm thấy Lola.

Bị nguyên tắc ái kỷ sắt đá bó buộc, nó sẽ ở ngoài lâu hơn trong bóng đêm, bọc mình bằng một sự bất hạnh tự thêu dệt nào đó, để sự nhẹ nhõm của mọi người khi nó xuất hiện sẽ càng được đậm hơn, và mọi sự chú ý lại dồn hết cho nó.

Buổi chiều đó, không cần nhổm người dậy khỏi giường, Emily cũng đoán được Lola đã ngầm hủy hoại vở kịch của Briony, một nghi ngờ được khẳng định khi nhìn thấy tờ poster trên khung bị xé toạc theo một đường chéo.

Và đúng như bà dự đoán, Briony đã ra ngoài lang thang, dằn dỗi và không ai tìm được nó.

Lola mới giống Hermione làm sao, vừa vẫn ngây thơ vô tội vừa khiến những người khác tự hủy hoại mình.

Emily phân vân đứng trong sảnh, không muốn vào phòng nào cả, căng tai nghe tiếng gọi của đám người đang tìm kiếm bên ngoài và - nếu bà thật lòng với chính mình - nhẹ cả người khi không nghe thấy gì hết.

Vụ mất tích của hai thằng bé này là một vở kịch không về cái gì cả; đây chính là cuộc đời của Hermione áp đặt lên cuộc đời bà.

Không việc gì phải lo lắng cho hai thằng sinh đôi.

Chúng sẽ không đời nào lại gần bờ sông.

Chắc chắn chúng sẽ mệt lử rồi mò về nhà.

Bà bị bao quanh bởi những bức tường dày làm bằng sự im lặng đang rít lên trong tai bà, lên cao và xuống thấp theo kiểu riêng của nó.

Bà bỏ tay khỏi điện thoại và day day trán - không có dấu vết nào của con quái vật đau nửa đầu, ơn Chúa vì điều đó - rồi bước về phía phòng khách.

Một lý do nữa để không gọi cảnh sát Vockins là Jack sắp gọi điện xin lỗi.

Cuộc gọi sẽ đến thông qua nhân viên tổng đài của Bộ; rồi bà sẽ nghe tiếng tay trợ lý trẻ nói giọng mũi hí như ngựa, và cuối cùng là giọng chồng bà từ sau bàn làm việc dội vang trong căn phòng mênh mông có trần kiểu ketxon.

Việc ông phải làm việc muộn bà không nghi ngờ gì, nhưng bà biết ông không ngủ lại ở cơ quan, và ông biết bà biết.

Nhưng không có gì để nói.

Hay đúng hơn, có quá nhiều điều.

Họ giống hệt nhau ở điểm đều rất sợ hãi phải xung đột, và việc tối tối ông gọi điện thoại về nhà, dù bà có nghi ngờ nhiều thế nào, chính là sự an ủi cho cả hai người.

Nếu sự giả vờ này có là đạo đức giả thông thường thì bà cũng phải thừa nhận nó có giá trị của nó.

Bà có những nguồn thỏa nguyện trong đời mình - ngôi nhà, công viên, trên hết, bọn trẻ - và bà muốn bảo vệ chúng bằng cách không gây chuyện với Jack.

Và bà không nhớ sự có mặt của ông nhiều bằng giọng ông trên điện thoại.

Ngay cả việc bị nói dối không ngừng, mặc dù không hề giống tình yêu, cũng mang trong nó sự chú ý liên tục; ông hẳn phải quan tâm đến bà thì mới thêu dệt tỉ mỉ đến thế và trong suốt cả một quãng thời gian dài dặc tới vậy.

Sự giả dối của ông là dấu hiệu chứng tỏ tầm quan trọng của cuộc hôn nhân giữa họ.

Vài đứa con bị đối xử bất công, rồi người vợ bị đối xử bất công.

Nhưng bà không bất hạnh như phải thế.

Vai này đã khiến bà sẵn sàng cho vai kia.

Bà dừng lại trên lối vào phòng khách và để ý thấy những ly cocktail dính vết sôcôla vẫn chưa được dọn đi, và cửa dẫn ra vườn vẫn mở toang.

Giờ một làn gió thoảng cũng làm xào xạc đám cây lách được trưng trước lò sưởi.

Hai hay ba con ngài núc ních bay vòng quanh cái đèn nằm trên đàn clavico.

Bao giờ sẽ có người chơi lại nó đây?

Việc những con sinh vật đêm kia bị thu hút về phía ánh sáng, nơi chúng dễ bị những con vật khác làm thịt nhất, là một trong những điều kỳ bí đem lại cho bà niềm hân hoan giản dị.

Bà không thích phải giải thích tường tận điều này.

Có lần tại một bữa tối trang trọng, một ông giáo sư khoa học gì đó, muốn mở một cuộc trò chuyện nhỏ, đã chỉ ra vài loại côn trùng bay quanh đèn chúc đài.

Ông đã bảo bà rằng chính ấn tượng thị giác về một vùng tối thậm chí còn sâu thẳm hơn bên ngoài vùng sáng đã hút chúng lao vào.

Ngay cả khi chúng có thể bị ăn thịt, chúng cũng phải tuân theo bản năng, thứ bản năng bắt chúng tìm kiếm nơi tối tăm nhất, ở phía kia ánh sáng - và trong trường hợp này là ảo ảnh.

Với bà nghe như lời ngụy biện, hay một lời giải thích chỉ để giải thích.

Làm sao ai đó lại có thể tự phụ rằng mình hiểu thế giói trong mắt một loài côn trùng cơ chứ?

Không phải mọi thứ đều có nguyên nhân, và vờ như không phải thế là một cách can thiệp vào lối vận hành của thế giới phù phiếm này, và có thể còn dẫn đến khổ sở.

Một số thứ chỉ đơn giản là vậy.

Bà không mong muốn biết tại sao Jack lại ở lại London nhiều đêm liên tiếp nhau đến thế.

Hay đúng hơn, bà không mong ai nói cho mình biết.

Bà cũng không muốn biết gì nhiều hơn về công việc khiến ông luôn phải ở lại làm muộn ở Bộ.

Vài tháng trước, không lâu sau Giáng sinh, bà vào thư viện đánh thức ông dậy khỏi một giấc ngủ chiều và thấy một cặp tài liệu mở để trên bàn.

Chỉ là sự tò mò nhẹ nhàng nhất của người vợ đã khiến bà liếc mắt dòm, vì bà chả mấy quan tâm đến chuyện quản lý quốc gia.

Ở một trang bà thấy một danh sách các tiêu đề: kiểm soát ngoại hối, chế độ phân phối, di tản hàng loạt ở các thành phố lớn, cưỡng bức lao động.

Trang ngoài viết tay.

Cứ vài đoạn văn bản lại chen vào một phép tính số học.

Kiểu chữ viết ngay ngắn với các nét vòng liền vào nhau bằng mực nâu của Jack bảo bà cứ giả định một cấp số nhân năm mươi.

Cứ mỗi tấn chất nổ thả xuống, cứ cho là năm mươi người bị thương vong.

Giả sử 100.000 tấn bom thả xuống trong hai tuần.

Kết quả: năm triệu thương vong.

Bà vẫn chưa đánh thức ông dậy, và hơi thở nhè nhẹ, như huýt gió của ông quyện với tiếng chim hót mùa đông vẳng tới từ đâu đó bên ngoài bãi cỏ.

Anh nắng lóng lánh gợn lăn tăn trên gáy sách và mùi bụi ấm ở khắp nơi.

Bà bước lại chỗ cửa sổ và nhìn ra ngoài, cố gắng tìm con chim giữa những cành sồi trơ trụi chĩa lên đen thẫm trên nền trời vỡ nát màu xám và phớt thiên thanh.

Bà hiểu rõ là phải có các dạng thức phỏng đoán quan liêu như thế.

Và phải, luôn có những nhân viên quản lý lo xa phải tiến hành lo liệu đảm bảo cho chính mình trước mọi kết cục có thể xảy ra.

Nhưng những con số ngông cuồng kia chắc chắn là một dạng tự phóng đại, và thiếu suy nghĩ đến mức vô trách nhiệm.

Jack, người bảo vệ cho căn nhà này, người bảo lãnh cho sự bình yên của nó, được đặt lên vai trọng trách phải có tầm nhìn xa.

Nhưng xa đến thế này thì thật ngớ ngẩn.

Khi bà đánh thức ông dậy, ông làu bàu và đột ngột vội nhoài người tới đóng cặp tài liệu lại, và rồi, vẫn ngồi, kéo tay bà đưa lên miệng và hôn một cách lạnh nhạt.

Bà quyết định không đóng cánh cửa sổ Pháp, mà ngồi xuống ở một đầu chiếc ghế Chesterfield.

Bà nhận thấy không hẳn mình đang đợi.

Bà không biết ai khác có được sở trường ngồi yên vị như bà, thậm chí không cần một cuốn sách trên đùi, sở trường di chuyển nhẹ nhàng qua những ý nghĩ của mình, như thể một người đi khám phá khu vườn mới.

Bà đã học được cách kiên nhẫn trong suốt những năm tháng tránh né chứng đau nửa đầu.

Cáu kỉnh, suy nghĩ tập trung, đọc, nhìn, muốn - tất thảy đều phải tránh, thay vào đó là dòng liên tưởng lờ lững trôi, trong khi từng phút tụ lại như tuyết dồn thành đống và im lặng thẳm sâu hơn quanh bà.

Giờ ngồi đây bà cảm thấy hơi đêm khẽ mơn man gấu chiếc váy khiến nó khẽ chạm lên cẳng chân bà.

Tuổi thơ bà bỗng trở nên hữu hình như lớp vải lụa óng ánh của chiếc váy - vị, thanh, mùi, tất thảy những cái đó, quyện thành một thực thể rõ ràng hơn nhiều một trạng thái cảm xúc.

Có một sự hiện diện trong căn phòng: cái tôi mười tuổi phiền não không ai đoái hoài của bà, một bé gái thậm chí còn kiệm lời hơn cả Briony, con bé thường băn khoăn về sự trống rỗng vô tận của thòi gian và kinh ngạc khi thế kỷ mười chín sắp kết thúc.

Mới giống bà làm sao, nó cũng ngồi trong phòng như thế này, không "tham gia".

Bóng ma này được triệu đến không phải bởi việc Lola giống hệt Hermione, hay do hai đứa sinh đôi khó hiểu biến mất trong đêm tối.

Nó được triệu đến bởi sự thu mình từ từ khỏi mẹ, cái thoái bước vào sự độc lập của Briony, báo hiệu thời thơ ấu của con bé đang sắp sửa kết thúc.

Một lần nữa nó lại ám ảnh Emily.

Briony là con út của bà, và từ giờ đến khi bà xuống mồ sẽ chẳng có gì quan trọng giản đơn hay sung sướng bằng việc chăm lo cho một đứa trẻ.

Bà không phải đồ ngốc.

Khi ngẫm nghĩ đến cảnh trông hệt như sự tàn lụi của chính mình: Briony chắc chắn sẽ đi học trường của chị nó, trường Girton, còn bà, Emily, đến ngày ấy tứ chi bà sẽ dần cứng đờ và càng ngày càng vô dụng; tuổi tác và mỏi mệt sẽ đưa Jack trở lại vòng tay bà; và sẽ chẳng ai nói gì nữa, hay không có gì cần phải nói, bà vẫn biết cảm giác thoải mái dịu ngọt viễn cảnh ấy mang lại thực ra chỉ là nỗi thương thân.

Và giờ thì cái bóng ma của thời thơ ấu bà, khuếch tán khắp căn phòng, đã buộc bà nhớ đến cái vòng cung hiện sinh hữu hạn.

Câu chuyện kết thúc mới nhanh làm sao.

Không hề lớn lao và vô nghĩa, mà vội vã, tàn nhẫn.

Tinh thần bà không hăn ủ dột đi vì những suy nghĩ thông thường này.

Bà trôi bồng bềnh bên trên chúng, vô cảm nhìn xuống, lơ đãng bện chúng lại với những mối bận tâm khác.

Bà định trồng một khóm tử đinh hương dọc lối vào hồ bơi.

Robbie đang muốn thuyết phục bà làm giàn dây leo và trồng loài đậu tía mọc chậm cho uốn lên giàn, anh thích hoa và hương của nó.

Nhưng bà và Jack có khi đã nằm sâu dưới ba thước đất trước khi hoa kịp trổ bông.

Câu chuyện sẽ kết thúc.

Bà nghĩ đến Robbie trong bữa tối, trong mắt anh có vẻ gì đó man dại và đờ đẫn.

Có thể nào anh lại đang hút thứ cần sa mà bà đọc thấy trên tạp chí không, thứ thuốc khiến thanh niên có khuynh hướng phóng túng vượt qua ranh giới điên rồ ấy?

Bà quý anh vừa phải, và mừng cho Grace Turner khi hóa ra anh lại thông minh sáng sủa.

Nhưng thực ra, anh là sở thích của Jack, là bằng chứng sống của cái nguyên tắc công bằng nào đó mà ông đã theo đuổi hàng bao năm qua.

Khi nhắc đến Robbie, không thường xuyên lắm, trong giọng ông có chút gì đó thể hiện bằng chứng rằng ông đã đúng.

Một điều gì đó được thiết lập và Emily coi đó là sự chỉ trích chính bà.

Bà đã phản đối khi ông đề nghị cho thằng bé tiền học, một việc theo bà có hơi hướng vác tù và hàng tổng, và không công bằng với Leon và hai đứa con gái.

Bà không coi mình đã bị chứng minh là sai đon giản chỉ vì Robbie tốt nghiệp Cambridge với bằng hạng nhất.

Thực ra, chuyện đó đã khiến mọi thứ khó khăn hơn với Cecilia khi nó chỉ là hạng ba, mặc dù nó thật lố bịch khi vờ tỏ ra thất vọng.

Sự nâng cao phẩm giá của Robbie.

"Sẽ chẳng đem lại gì tốt lành đâu" là câu bà thường nói, còn Jack sẽ phản ứng một cách tự mãn rằng hàng đống thứ tốt lành đã đến rồi còn gì.

Nhưng dù sao, Briony vẫn vô cùng bất lịch sự trong bữa tối khi nói chuyện kiểu đó với Robbie.

Nếu con bé có những mối oán giận riêng, Emily sẽ thông cảm.

Chuyện đó bà đã nghĩ đến.

Nhưng bộc lộ chúng ra thì thật không đúng đắn.

Lại nghĩ đến bữa tối - anh chàng Marshall kia làm mọi người dễ chịu mới tài tình làm sao chứ.

Anh ta có phù hợp không nhỉ?

Bề ngoài anh ta thì quả là đáng tiếc thật, nửa khuôn mặt trông như một phòng ngủ trang hoàng quá đáng.

Có lẽ chẳng mấy chốc nữa nó sẽ lởm chởm, cái cằm như miếng pho mát này.

Hay sôcôla.

Nếu thực sự sắp sửa được cung cấp kẹo Amo cho toàn bộ Quân đội Anh thì anh ta sẽ giàu sụ.

Nhưng Cecilia, đã học được dạng hiện đại của tính kiêu kỳ ở Cambridge, coi một người đàn ông có bằng hóa học là một con người không hoàn thiện.

Mấy từ này đặc sệt nó.

Nó lang thang ba năm ở Girton với cái loại sách nó hoàn toàn có thể đọc ở nhà - Jane Austen, Dickens, Conrad, tất cả trong thư viện dưới tầng, trọn bộ.

Làm sao cái việc theo đuổi đó, đọc những cuốn tiểu thuyết mà người khác chỉ coi là tiêu khiển, lại khiến nó nghĩ mình cao hơn mọi người khác?

Ngay cả một nhà hóa học cũng có giá trị của anh ta chứ.

Và nhà hóa học này đã tìm cách làm sôcôla từ đường, các chất hóa học, phẩm màu nâu và dầu thực vật.

Mà không hề có bơ cacao.

Để sản suất ra một tấn cái thứ này, anh ta giải thích trong khi dùng món cocktail đáng kính ngạc của mình, gần như chẳng mất xu nào.

Anh ta có thể hạ giá mặt hàng so với đối thủ và tăng lợi nhuận biên.

Nghe thì thô tục, nhưng hàng bao năm sung sướng, hàng bao năm nhàn hạ sẽ tuôn ra từ những bể nguồn rẻ mạt này.

Hơn ba mươi phút trôi qua không hay biết khi những mẩu vụn này - ký ức, phán xét, quyết định không rành mạch, hoài nghi - lặng lẽ trải ra trước bà, trong khi bà hầu như không thay đổi vị trí và không nghe tiếng đồng hồ điểm mỗi lần sau mười lăm phút.

Bà ý thức được gió đã mạnh lên, làm sập một cánh cửa kính lại, rồi lại lịm dần.

Sau đó bà bị Betty và những người phụ giúp làm phiền khi họ dọn dẹp phòng ăn, rồi những âm thanh đó cũng tắt dần và, một lần nữa, Emily lại thả mình lang bạt trên những ngả đường mơ màng, trôi bồng bềnh nhờ liền tưởng, và với sự thành thạo có được sau hàng nghìn cơn đau đầu, tránh tất tật mọi thứ đột ngột hay dữ dội.

Khi cuối cùng điện thoại đổ chuông, bà ngay lập tức đứng dậy, không hề tỏ ra ngạc nhiên, quay lại sảnh, nhấc ông nghe lên và nói to như mọi khi bằng ngữ điệu lên giọng của một câu hỏi, "Nhà Tallis nghe?"

Rồi tiếng tổng đài điện thoại, viên trợ lý nói giọng mũi, im lặng một lúc và tiếng rè rè của đường thoại đường dài, rồi giọng trung tính của Jack.

"Em yêu.

Muộn hơn mọi khi.

Anh vô cùng xin lỗi."

Đã mười một rưỡi.

Nhưng bà không bận tâm, vì cuối tuần ông sẽ về, và ngày nào đó ông sẽ về nhà vĩnh viễn nên bà sẽ không thốt ra một lời tồi tệ nào cả.

Bà nói, "Tuyệt đối không sao mà."

"Do bản sửa đổi Tuyên bố Liên quan đến Quốc phòng.

Sẽ phải in lại lần hai.

Rồi cái này dẫn tới cái kia."

"Tái vũ trang," bà dịu dàng nói.

"Anh e là vậy."

"Anh biết đấy, ai cũng phản đối nó."

Ông cuời khùng khục.

"Văn phòng này thì không."

"Cả em cũng phản đối."

"Ồ, em yêu.

Anh hy vọng ngày nào đó sẽ thuyết phục được em."

"Còn em sẽ thuyết phục được anh."

Đoạn đối thoại mang chút dấu âu yếm, và sự thân thương của nó thật dễ chịu.

Như lệ thường, ông hỏi bà ngày hôm nay thế nào.

Bà kể cho ông chuyện trời nóng ghê gớm, vở kịch của Briony tan tành, và Leon về cùng một anh bạn mà theo bà, "Anh ta theo phe anh.

Nhưng anh ta muốn có nhiều binh sĩ hơn nữa để có thể bán cho chính phủ kẹo sôcôla của mình."

"Anh hiểu rồi.

Lưỡi cày thành giấy thiếc."

Bà miêu tả bữa tối, và ánh mắt man dại của Robbie ở bàn ăn.

"Mình có nhất thiết phải cho nó học trường y không?"

"Có chứ.

Đó là một bước táo bạo.

Đúng kiểu nó.

Anh biết nó sẽ thành công."

Rồi bà kể bữa tối kết thúc vì lá thư của hai thằng sinh đôi thế nào, và nhóm tìm kiếm đang sục sạo ngoài kia.

"Bọn quỷ nhỏ.

Mà rốt cuộc bọn chúng đi đâu nhỉ?"

"Em không biết.

Em vẫn đang đợi tin."

Im lặng bao trùm, chỉ bị một tiếng tích tắc đều đều xa xăm phá vỡ.

Rồi cuối cùng ngài công chức cấp cao lên tiếng bảo ông đã quyết rồi.

Việc ông đặc biệt dùng tên riêng của bà cho thấy ông nghiêm túc.

"Giờ anh sẽ dập máy, Emily ạ, vì anh sẽ gọi cảnh sát."

"Có thực sự cần thiết không?

Đến khi họ về được đây..."

"Nếu nghe được tin gì em báo cho anh ngay lập tức nhé."

"Khoan đã..."

Nghe tiếng động bà quay lại.

Leon đang bước qua cửa chính.

Ngay sau lưng anh là Cecilia mặt mày hoảng hốt không thốt lên lời nào.

Rồi đến Briony cánh tay choàng qua vai cô em họ.

Mặt Lola trắng bệch và cứng đờ, như một cái mặt nạ đất sét, khiến Emily, dù chưa hiểu được nét mặt ấy, cũng ngay lập tức hiểu ra chuyện tệ nhất.

Hai đứa sinh đôi đâu?

Leon băng qua sảnh về phía bà, tay với ra cầm điện thoại.

Từ gấu quần anh lên đến đầu gối có một vệt đất.

Bùn, mà lại trong cái thời tiết khô cong thế này.

Anh thở nặng nhọc vì đã ráng sức, một vạt tóc bóng nhẫy rủ xuống trước mặt khi anh vồ lấy ống nghe từ tay bà và xây lưng lại.

"Bố phải không ạ?

Vâng.

Thế này, con nghĩ bố nên về.

Không, vẫn chưa, và có chuyện còn tệ hơn.

Không, không, bây giờ con không nói được.

Nếu được thì tối nay đi.

Bọn con sẽ gọi họ ngay đây.

Tốt nhất là bố về đi ạ."

Bà đặt tay lên ngực, bước vài bước lại chỗ Cecilia và hai đứa con gái đang đứng nhìn.

Leon đã hạ giọng xuống và lẩm bẩm rất nhanh vào ống nghe đang được bàn tay khum lại che.

Emily không nghe được lời nào, và không muốn nghe.

Bà thích lui vào phòng mình ở trên lầu hơn, nhưng Leon đã nói chuyện xong với một tiếng cạch vang vang của nhựa tổng hợp Bakelite và quay sang bà.

Mắt trợn trừng, và bà tự hỏi có phải mình vừa trông thấy sự giận dữ.

Anh đang cố hít thật sâu, và môi căng ra trên hàm răng trong một điệu nhăn nhó kỳ dị.

Anh nói, "Mình sẽ vào ngồi trong phòng khách."

Bà hiểu chính xác anh định nói gì.

Anh không nói cho bà ngay bây giờ, anh sẽ không để bà ngã khuyu xuống nền gạch mà vỡ sọ.

Bà nhìn anh đăm đăm, nhưng không dịch chân.

"Đi nào, Emily," anh nói.

Tay con trai bà nóng và nặng trịch đặt lên vai bà, và bà cảm thấy sự ẩm ướt của nó qua lần lụa.

Bất lực, bà để anh dẫn về phía phòng khách, toàn bộ nỗi khiếp sợ trong bà tập trung vào một sự việc đơn giản là anh muốn bà ngồi xuống trước khi nói ra tin đó.
 
Atonement - Chuộc Tội
Mười ba


Trong vòng nửa tiếng nữa Briony sẽ phạm phải tội ác của chính mình.

Ý thức rằng mình đang chung một không gian đêm với tên điên, thoạt đầu em cố đi sát vào những bức tường tối của ngôi nhà, rồi cúi thật thấp dưới bậu cửa sổ mỗi khi đi qua một cửa sổ sáng đèn.

Em biết hắn sẽ đi xuống lối cho xe chạy chính bởi chị gái em và Leon đã đi theo lối đó.

Ngay khi nghĩ rằng đã cách xa một khoảng an toàn, Briony liều lĩnh rẽ khỏi ngôi nhà theo một đường vòng cung lớn tới khu chuồng ngựa và hồ bơi.

Sẽ là hợp lý, chắc chắn thế, khi thử xem hai đứa sinh đôi có ở đó không, đang nghịch mấy cái ống nước, hay đã chết nổi lềnh bềnh rồi, mặt úp xuống nước, cho đến phút cuối vẫn không phân biệt được đứa này với đứa kia.

Em nghĩ đến việc sẽ miêu tả thế nào, cái cách chúng dập dềnh trên mặt nước lấp lánh khẽ cồn sóng, tóc chúng xõa xượi ra như những tua dây leo, còn thi thể còn nguyên quần áo của chúng khẽ va vào nhau rồi lại tách ra.

Không khí buổi đêm khô ráo luồn vào giữa váy và da em, và em cảm thấy nhẹ nhàng và lanh lẹ trong bóng đêm.

Không có gì em không miêu tả được: tiếng bước chân khẽ khàng của tên điên khi bước đi ngoằn ngoèo theo lối xe chạy, bám sát lề để làm khuất bớt đi tiếng mình đang tiến đến.

Nhưng anh trai em đang đi cùng Cecilia, nên một gánh nặng được nhấc đi.

Em có thể miêu tả cả không khí quyến rũ này nữa, cỏ đang phả ra mùi gia súc ngọt ngào, mặt đất từng bị thiêu đốt dữ dội vẫn còn giữ dấu vết âm ỉ của cái nóng ban ngày và phả ra mùi khoáng chất của đất sét, làn gió nhẹ thổi đến từ hồ mang theo hương vị của màu xanh lá và ánh bạc.

Em cất bước chạy vụt qua bãi cỏ và nghĩ mình có thể chạy miết suốt đêm, vút qua không khí óng mềm, được đẩy lao đi nhờ nền đất cứng như thép cuộn dưới chân, và nhờ cái cách mà bóng đêm tạo cảm giác chạy nhanh gấp đôi bình thường.

Em từng mơ mình chạy thế này, rồi chúi người ra trước, dang rộng tay, và ngừng chống lại niềm tin của mình - phần khó khăn duy nhất, nhưng trong giấc ngủ thì khá dễ dàng - rời khỏi mặt đất bằng cách đơn giản là bước khỏi nó, sà xuống hàng rào, cổng và mái nhà, rồi bay vút lên, hân hoan chao liệng dưới tầng mây, trên những cánh đồng, trước khi lại nhào xuống lần nữa.

Giờ em đã cảm nhận được rằng có thể đạt được điều này bằng cách nào: chỉ thuần túy nhờ khao khát; thế giới mà em chạy qua yêu em, sẽ cho em thứ em muốn và sẽ cho phép điều đó xảy ra.

Và rồi, khi nó xảy ra thật, em sẽ mô tả nó.

Chẳng phải viết lách là một cách để vút bay, một hình thái có thể đạt được của sự bay bổng, của ảo tưởng, của trí tưởng tượng sao?

Nhưng có một tên điên rón rén trong đêm với trái tim đen tối chưa thỏa thèm khát - em đã khiến hắn bực tức - và em cần xuống mặt đất để miêu tả cả hắn nữa.

Trước tiên em phải bảo vệ chị gái khỏi hắn, rồi tìm nhiều cách để tái hiện hắn một cách an toàn trên mặt giấy.

Briony chậm lại thành nhịp đi bộ, và nghĩ hắn chắc phải ghét em ghê gớm vì đã cản trở hắn trong thư viện.

Và mặc dù điều đó làm em hoảng sợ, nó vẫn là một lối vào, một khoảnh khắc vào đời, một lần đầu tiên nữa: bị một người lớn ghét.

Trẻ con chỉ ghét một cách chung chung, thất thường.

Chẳng quan trọng mấy.

Nhưng trở thành đối tượng thù ghét của người lớn là bước khởi đầu vào một thế giới trang nghiêm mới.

Đó là một bước tiến.

Có thể hắn đang khom mình, và rình đợi em với những ý nghĩ sát nhân đằng sau khu nhà ngang.

Nhưng em đang cố không sợ hãi.

Em đã nhìn chằm chằm vào mắt hắn trong thư viện khi chị gái em vụt qua, mặt không hề biểu lộ là mình vừa được cứu nguy.

Đó không phải là chuyện cảm ơn, em biết, cũng không phải chuyện đền ơn.

Đã là tình yêu vị tha thì không cần phải nói gì, và em sẽ bảo vệ chị, ngay cả nếu Cecilia không thừa nhận chị biết ơn em.

Và giờ Briony không thể sợ Robbie; cho đến lúc này tốt hơn hết là để hắn trở thành đối tượng của nỗi ghê tởm và căm ghét của em.

Họ đã cho hắn mọi thứ sung túc, gia đình Tallis: gia đình êm ấm nơi hắn lớn lên, vô số chuyến du lịch Pháp, rồi sách và đồng phục đi học phổ thông, và rồi Cambridge - vậy mà đền đáp lại, hắn đã viết một từ kinh khủng để gửi cho chị gái em và, lạm dụng lòng hiếu khách đến không thể tin nổi, hắn dùng sức mạnh chống lại cả em, và xấc xược ngồi tại bàn ăn vờ như chẳng có chuyện gì xảy ra.

Sự giả dối, em khao khát được vạch trần nó biết nhường nào!

Cuộc đời thực, cuộc đời em hiện mới đang bắt đầu, đã cử đến cho em một tên ác đồ trong hình dáng một người bạn cũ của gia đình với đôi tay khỏe mạnh, vụng về và một khuôn mặt lởm chởm râu thân thiện từng cõng em trên vai, và bơi cùng em dưới sông, giữ em giúp bơi ngược dòng nước.

Như vậy có vẻ đúng - sự thật luôn kỳ lạ và dối lừa, phải vật lộn mới giành được, đi ngược lại dòng chảy của những gì thường nhật.

Đây chính xác là điều không ai ngờ nổi, và dĩ nhiên - trên sân khấu những kẻ ác không lộ diện ngay bằng giọng rít hung tợn hay những màn độc thoại tự nhận - chúng không xuất hiện trong bộ áo choàng đen, gương mặt xấu xí.

Băng qua phía bên kia ngôi nhà, đi mỗi lúc một xa em, là Leon và Cecilia.

Có thể chị đang kể cho anh nghe chuyên mình bị tấn công.

Nếu chị kể, anh sẽ choàng tay qua vai chị.

Sánh bước cùng nhau, những đứa con nhà Tallis sẽ tách con quái thú này ra, tiễn biệt hắn ra khỏi cuộc đời họ một cách an toàn.

Họ sẽ phải đối đầu và làm cha thay đổi niềm tin, và an ủi ông khi ông giận dữ và thất vọng.

Khi người được ông che chở hóa ra lại là một kẻ điên!

Từ của Lola cời lớp bụi của những từ khác quanh nó - người, điên, rìu, tấn công, buộc tội - và xác nhận lời chẩn đoán.

Em đi vòng qua khu chuồng ngựa và dừng lại dưới cổng vòm, dưới tháp đồng hồ.

Em gọi to tên hai đứa sinh đôi, nhưng đáp trả lại chỉ là tiếng khua và cọ xuống mặt đất của móng guốc, cùng tiếng thịch của tấm thân nặng nề ép sát vào chuồng.

Em mừng vì mình chưa từng thích cả ngựa lớn lẫn ngựa con, vì chắc chắn đến giai đoạn này trong đời em sẽ lờ nó đi.

Giờ em không lại gần những con vật ấy, dù chúng cảm thấy sự hiện diện của em.

Theo cách nói của chúng, một vị chúa, một vị thần, đang lảng vảng ở rìa ngoài thế giói của chúng, và chúng cố gắng hết sức để được đấng thánh thần ấy để ý tới.

Nhưng em không quay lại mà tiếp tục tiến về phía hồ bơi.

Em tự hỏi liệu việc chịu trách nhiệm suốt đòi với một người, thậm chí một sinh vật như ngựa hay chó, có phải là đi ngược lại một cách cơ bản hành trình hướng nội và tự do của việc viết lách hay không.

Lo lắng muốn bảo vệ, gắn kết với tâm trí người khác khi mình bước văo đó, đảm nhiệm vai trò chủ đạo là người dẫn dắt số phận kẻ khác, hầu như không phải là tự do tinh thần.

Có lẽ em sẽ trở thành một trong những người phụ nữ ấy - đáng thương hại hay đáng ghen tị - chọn cách không sinh con đẻ cái.

Em theo con đường lát gạch chạy vòng quanh rìa ngoài khu chuồng ngựa.

Như mặt đất, những viên gạch đầy cát cũng tỏa ra hơi nóng còn lưu giữ lại từ ban ngày.

Em cảm thấy hơi nóng trên má mình và dưới bắp chân trần khi bước qua.

Em loạng choạng chạy vội qua lối đi như một đường hầm tối thui dưới rặng tre, và bước ra khỏi đó đặt chân lên những đường nét hình học tạo cảm giác vững dạ của những viên đá lát.

Đèn dưới nước, được lắp vào mùa xuân năm đó, vẫn còn mới toanh.

Ánh lấp lánh màu xanh lơ hắt ngược lên khiến cho mọi thứ quanh hồ bơi có một vẻ mơ hồ, như dưới ánh trăng, như một bức ảnh.

Một bình thủy tinh, hai cốc vại và một tấm vải nằm trên bàn thiếc cũ.

Một cái cốc thứ ba đựng vài miếng quả nhỏ đứng thăng bằng ở cuối ván nhảy.

Trong hồ hơi không có thi thể nào, không tiếng cười rúc rích từ trong thủy đình tối đen, không tiếng suỵt từ trong bóng rặng tre ken dày.

Em chầm chậm đi quanh hồ, thôi tìm kiếm, nhưng bị mặt nước lặng như tờ sáng như gương thu hút.

Bất chấp việc chị gái đang bị nguy hiểm vì tên điên, em vẫn thấy ra ngoài muộn thế này thật sung sướng, mà lại được phép.

Em thực sự nghĩ hai đứa sinh đôi chẳng bị nguy hiểm gì.

Ngay cả khi chúng đã thấy bản đồ khu vực lồng khung để trong thư viện, và đủ thông minh mà hiểu nó vẽ gì, và định rời khỏi đây đi bộ về phía Bắc suốt đêm, chúng cũng sẽ buộc phải đi theo đường xe vào rừng chạy dọc bên đường ray xe lửa.

Vào thời điểm này trong năm, khi tán cây che rợp con đường, lối đi sẽ chìm hoàn toàn trong màu đen.

Còn mỗi một đường nữa để đi là qua cổng, về phía mạn sông.

Nhưng cả ở đây nửa cũng không có ánh sáng, không cách nào đi được trên đường mòn hay cúi xuống tránh cành cây đâm ra, hay né đám tầm ma mọc rậm rập hai bên đường.

Chúng sẽ không đủ can đảm mà đặt mình vào nguy hiểm.

Chúng an toàn, Cecilia thì đi cùng Leon, còn em, Briony, tự do lang thang trong bóng tối và thưởng ngoạn cái ngày kỳ lạ của mình.

Khi đi xa khỏi hồ bơi, em quyết định rằng tuổi thơ của mình đã chấm dứt vào cái giây phút em xé toạc tấm áp phích.

Truyện cổ tích đã ở đằng sau em, và mới chỉ trong vài giờ em đã chứng kiến những điều kỳ bí, nhìn thấy một từ không thể nói to lên được, làm gián đoạn một hành vi tàn bạo, và bằng cách tự mình gánh chịu sự căm ghét của một người lớn mà ai ai cũng tin tưởng, em đã trở thành người tham dự vào tấn trò đời bên ngoài phòng trẻ.

Giờ tất cả những gì em phải làm là khám phá những câu chuyện, không chỉ chủ đề, mà còn là cách kể ra chúng, như thế mới xứng đáng với tri thức mới của em.

Hay ý em là, hiểu thấu sự ngờ nghệch của chính em một cách khôn ngoan hơn?

Cứ đăm đăm nhìn mặt nước vài phút liên tục, hình ảnh cái hồ in vào tâm trí em.

Có khi hai đứa kia đang trốn trong ngôi đền trên đảo.

Nó nằm khuất nẻo, nhưng không quá tách biệt khỏi ngôi nhà, một nơi nhỏ nhắn dễ chịu có nước để giải khuây cho vui mà lại không quá nhiều bóng cây bóng nhà.

Những người khác có thể đi thẳng qua cầu mà không đáo mắt xuống đó.

Em quyết định tiếp tục đi đường cũ và tiến đến cái hồ bằng cách vòng qua phía sau nhà.

Hai phút sau em đã đang băng qua luống hồng và lối đi lát sỏi trước đài phim Triton, nơi diễn ra một cảnh kỳ bí rõ ràng đã dự báo trước những cảnh tàn bạo sau đó.

Khi băng qua em nghi mình nghe thấy một tiếng hét yếu ớt, và nghĩ em thấy từ khóe mắt mình một tia sáng vụt lên rồi tắt ngấm.

Em dừng lại, và căng tai ra nghe trên nền tiếng nước tí tách.

Tiếng hét và ánh sáng đến từ khu rừng cạnh con sông, cách đó khoảng vài trăm mét.

Em đi về hướng đó trong nửa phút rồi lại dừng lại nghe.

Nhưng không có gì, không gì ngoại trừ khối bóng tối đặc quánh bao la của khu rừng hiện ra mồn một trên nền trời phía Tây xanh xám.

Sau khi đợi một lúc em quyết định quay lại.

Để trở lại đường mòn, em tiến thẳng về phía ngôi nhà, về phía hiên nơi một ngọn đèn dầu hỏa tròn tỏa sáng giữa những ly, chai và xô đá.

Cánh cửa sổ Pháp của phòng khách vẫn mở toang vào đêm tối.

Em có thể nhìn thẳng vào trong phòng.

Và dưới ánh sáng của chỉ một cây đèn, bị tấm rèm nhung che khuất một phần, em nhìn thấy ở phía bên kia phòng, trên một đầu sofa, một vật thể hình trụ nằm ở tư thế kỳ lạ, dường như đang trôi lơ lửng.

Chỉ sau khi bước thêm năm mươi mét nữa em mới hiểu rằng cái mình thấy là một cái chân người tách ra khỏi cơ thể.

Tiếp tục lại gần hơn, và em hiểu ra; dĩ nhiên chính là chân mẹ em, và bà hẳn đang đợi hai đứa sinh đôi.

Bà bị mấy tấm rèm gần như che khuất, một chân đi tất vắt trên đầu gối chân kia, tạo cho nó cái vẻ lơ lửng, nghiêng nghiêng, lạ lùng.

Briony dịch đến gần một cửa sổ bên trái rồi mới tiến thẳng đến ngôi nhà để tránh bị Emily nhìn thấy.

Em đang đứng quá xa sau lưng mẹ nên không thể nhìn thấy mắt bà.

Em chỉ thấy mờ mờ chỗ trũng xuống của hốc mắt trên gò má.

Briony chắc chắn mắt bà đang nhắm.

Đầu bà ngả ra sau, còn tay nắm hờ đặt trên đùi.

Vai phải bà nâng lên và hạ xuống khẽ khàng theo nhịp thở.

Briony không nhìn thấy miệng mẹ, nhưng em chắc nó trễ xuống, dễ nhầm tưởng thành có ý - tượng hình cho - chê trách.

Nhưng không phải thế, vì mẹ em tốt bụng và ngọt ngào và tử tê vô cùng.

Nhìn mẹ ngồi đó một mình, đêm khuya, thật buồn, nhưng cũng thật dễ chịu.

Briony tự cho phép mình tận hưởng cảm giác ấy thêm nữa bằng cách nhìn qua cửa sổ trong tinh thần từ biệt.

Mẹ đã bốn mươi sáu, già một cách buồn bã.

Một ngày nào đó bà sẽ chết.

Lễ tang sẽ tổ chức trong làng, tại tang lễ ấy sự trầm mặc cao quý của Briony sẽ ngụ ý một nỗi buồn đau tột độ.

Khi bạn bè em tới thì thầm những lời chia buồn, họ sẽ cảm thấy kính sợ trước mức độ nỗi bi thương của em.

Em thấy mình đứng cô độc trong một vũ đài lớn, trong một đại hý trường sừng sững, trước con mắt của không chỉ tất cả những người em đã quen biết mà còn tất cả những ai em sẽ quen biết, toàn bộ dàn diễn viên của vở kịch cuộc đời em, tụ tập lại để yêu thương em trong sự mất mát này.

Và tại nghĩa địa, tại nơi người ta gọi là góc dành cho ông bà, em, Leon và Cecilia sẽ đứng ghì siết lấy nhau tưởng chừng mãi mãi trên dải cỏ dài cạnh bia mộ mới, một lần nữa được người khác dõi theo.

Việc này phải được chứng kiến.

Chính lòng thương xót của những người đầy thiện ý ấy đã khiến mắt em cay cay.

Khi đó em đã có thể lại chỗ mẹ, ôm chặt bà từ phía sau và bắt đầu kể lại chuyện trong ngày.

Nếu làm thế thì hẳn em đã không phạm tội ác của mình.

Rất nhiều thứ sẽ không xảy ra, sẽ không có gì xảy ra, và bàn tay mềm mại của thời gian sẽ khiến buổi tối ấy hầu như chìm vào quên lãng: cái đêm hai đứa sinh đôi bỏ nhà đi.

Là năm ba mươi tư, ba lăm hay ba sáu?

Nhưng chẳng vì lý do cụ thể nào, ngoài cái nghĩa vụ mơ hồ là đi tìm và cảm giác sung sướng được ở ngoài muộn, em lại quay đi, và khi làm thế vai em va phải rìa một cánh cửa sổ Pháp đang mở, làm nó đóng lại.

Tiếng động rất đanh - gỗ thông lâu năm đập lên gỗ cứng của cây lá rộng - và vang vọng như một lời khiển trách.

Nếu ở lại em sẽ phải giải thích cho mình, vì thế em nhẹ nhàng rút vào trong bóng tối, nhanh nhẹn nhón chân qua những phiến đá và đám cỏ thơm mọc ở giữa.

Rồi em ra đến bãi cỏ giữa luống hồng nơi em có the chạy mà không gây ra tiếng động nào.

Em vòng qua hông ngôi nhà tới phía trước, lên bãi sỏi mà em đã chân không bước thấp bước cao qua lúc chiều.

Tại đây em đi chậm lại khi quay xuống lối xe chạy về phía cầu.

Em quay lại điểm ban đầu và nghĩ mình chắc chắn sẽ gặp những người khác, hay nghe tiếng gọi của họ.

Nhưng chẳng có ai.

Những hình khối đen kịt của cây coi đứng cách xa nhau khắp công viên làm em ngần ngại.

Có kẻ ghét em, phải nhớ điều đó, hắn khó lường và hắn hung tợn.

Leon, Cecilia và anh Marshall giờ chắc đi xa lắm rồi.

Những cây gần hơn, hay ít nhất thân của chúng, có hình dáng người.

Hay có thể che khuất một người.

Ngay cả nếu có ai đứng trước thân cây em cũng không thể trông thấy.

Giờ em mới nhận thấy rõ làn gió từ ngọn cây ùa xuống, và âm thanh quen thuộc ấy làm em bất an.

Hàng triệu cảm giác khó chịu riêng rẽ nhưng rõ rệt đổ dồn dập xuống giác quan em.

Khi gió chợt mạnh lên rồi lịm tắt, âm thanh đó dịch khỏi em, lướt qua công viên tối đen như một sinh thể.

Em dừng lại và tự hỏi không biết mình có đủ can đảm mà bước tiếp về phía cầu, băng qua, và rời khỏi nó, xuống bờ dốc ra chỗ đền trên đảo hay không.

Đặc biệt là khi thực sự chẳng có gì nhiều dưới đó - chuyện hai thằng bé có thể đã lang thang xuống dưới đó chỉ là linh cảm của em.

Không giống người lớn, em không có đèn pin.

Mọi người không hy vọng em sẽ làm được gì, sau rốt em chỉ là một đứa nhỏ trong mắt họ.

Hai đứa sinh đôi không gặp nguy hiểm.

Em đứng trên bãi sỏi chừng một hai phút, không hẳn là sợ quá đến mức phải quay lại, cũng không đủ tự tin để bước tiếp.

Em có thể quay về với mẹ và ngồi cùng mẹ trong phòng khách mà đợi.

Em có thể chọn lối đi an toàn hơn, theo đường xe chạy trở lại, trước khi nó dẫn tới khu rừng - và vẫn tạo ra ấn tượng mình có đi tìm hẳn hoi.

Nhưng rồi, chính xác là do ngày hôm đó đã chứng tỏ với em rằng em không phải là một đứa nhỏ, và rằng giờ em là một nhân vật trong một câu chuyện lớn lao hơn và phải chứng tỏ rằng mình xứng đáng với nó, em buộc mình bước tiếp và băng qua cầu.

Từ bên dưới em, được vòm cầu bằng đá khuếch đại, vọng lên tiếng rít của gió lùa qua đám lách, và một tiếng đập cánh trên nước rồi đột ngột lịm đi.

Đây là những âm thanh thường nhật được phóng đại nhờ bóng đêm.

Và bóng đêm không là gì cả - nó không phải là vật chất, nó không phải là một sự hiện diện, nó không là gì ngoài sự vắng mặt của ánh sáng.

Cây cầu không dẫn tới đâu ngoài một hòn đảo nhân tạo trên một cái hồ nhân tạo.

Nó ở đó đã gần hai trăm năm, vị trí cách biệt khiến nó nổi bật lên trên khoảnh đất, và nó thuộc về em nhiều hơn thuộc về bất kỳ ai.

Em là người duy nhất từng đến đây.

Với những người khác, nó không là gì ngoài một hành lang dẫn ra hay vào nhà, một cây cầu giữa hai cây cầu, một vật trang trí quen thuộc đến mức vô hình.

Hardman cùng con trai ông một năm hai lần đến cắt cỏ quanh đền.

Những kẻ lang thang đã mò đến đây.

Lũ ngỗng di trú lạc đường thỉnh thoảng sà xuống làm vinh dự bờ hồ đầy cỏ.

Ngoài thế ra nó chỉ là một vưong quốc cô độc của lũ thỏ, chim nước và chuột nước.

Vậy nên sẽ thật đơn giản khi chọn đi xuống bờ sông và băng qua cỏ về phía đền.

Nhưng một lần nữa, em lại do dự, và chỉ nhìn, thậm chí không gọi to tên hai đứa bé.

Vẻ nhợt nhạt mờ mịt của ngôi đền hơi ánh lên trong bóng tối.

Khi em nhìn thẳng vào, nó tan biến hoàn toàn.

Nó nằm cách em chừng ba mươi mét, và gần hơn, ở giữa trảng cỏ, là một bụi cây mà em không nhớ là có.

Hay đúng hơn, em nhớ là nó ở gần bờ hơn.

Đám cây cối khác cũng có gì đó không đúng, theo em thấy thì thế.

Cây sồi phình to ra quá, cây du um tùm quá, và trong sự kỳ quái của chúng, có vẻ chúng đang thông đồng với nhau.

Khi em giơ tay chạm vào thành cầu, một con vịt làm em giật nảy mình khi kêu lên một tiếng giận dữ, khó chịu, gần giống tiếng người ở cái điệu trầm khàn hổn hển.

Bờ hồ dốc, dĩ nhiên, và sự thật rằng xuống cũng chẳng được ích gì, làm em chùn bước, chùn ý nghĩ đi xuống.

Nhưng em đã quyết định.

Em quay lưng trượt xuống từ từ, túm vào cỏ cho vững, và ở chân dốc chỉ dừng lại để chùi tay vào váy.

Em bước thẳng về phía đền, vừa bước được bảy tám bước, đang định gọi tên hai đứa bé, thì bụi cây nằm ngay trên đường - cái bụi cây mà em nghĩ lẽ ra phải nằm gần bờ - bắt đầu rẽ ra trước mặt em, hay to gấp đôi lên, hay rung rinh, rồi phân nhánh.

Nó đang thay đổi hình dạng theo một kiểu phức tạp, ở dưới gốc thu lại như một cái cột cao chừng mét bảy, mét tám.

Em sẽ dừng lại ngay lập tức nếu không nghĩ quá chắc chắn rằng đấy là một bụi cây, và rằng em đang chứng kiến vài trò đùa của bóng tối và luật xa gần.

Một hai giây sau, tiến thêm vài bước, thì em thây đây không phải cây.

Rồi em dừng lại.

Cái vệt tối hình cột kia là một dáng người, một người đang đi xa khỏi em và bắt đầu mất dạng vào trong cái nền cây tối hơn.

Cái khối đen còn lại trên đất cũng là một người, thay đổi hình dạng khi nó ngồi dậy và gọi tên em.

"Briony?

Em nghe giọng yếu ớt của Lola - nó là âm thanh mà em đã nghĩ là của một con vịt - và ngay tức khắc, Briony hiểu toàn bộ.

Em buồn nôn vì kinh tởm và sợ hãi.

Giờ hình người lớn hơn kia xuất hiện trở lại, đi vòng bên phải rìa khoảng đất tiến về phía bờ hồ mà em vừa từ đó tiến tới.

Em biết mình nên chăm sóc Lola, nhưng em không thể không nhìn theo khi hắn ta lanh lẹ, không vất vả gì leo lên dốc, và biến mất lên đường.

Em nghe tiếng bước chân của hắn khi hắn bước về phía ngôi nhà.

Em không hề nghi ngờ gì.

Em có thể mô tả hắn.

Không có gì mà em không thể mô tả.

Em quỳ xuống cạnh đứa em họ.

"Lola.

Em có sao không?"

Briony chạm vào vai cô, và mò mẫm tìm tay cô nhưng không thấy.

Lola đang ngồi nhoài người tới trước, tay bắt tréo quanh ngực, ôm mình và khẽ run run.

Giọng nói yếu ớt và méo xệch, như thể bị một thứ như bong bóng, nước nhầy gì đó trong cổ họng chặn lại.

Cô cần phải hắng giọng.

Cô nói, mơ hồ, "Em xin lỗi, em không, em xin lỗi..."

Briony thì thầm, "Là ai thế?" và trước khi nghe được câu trả lời, em nói thêm, với tất cả sự bình tĩnh mình có được, "Chị thấy hắn.

Chị thấy hắn."

Ngoan ngoãn, Lola nói, "Vâng."

Lần thứ hai trong buổi tôi đó, Briony thấy cảm giác trìu mến với đứa em họ bừng nở trong mình.

Chúng đã cùng nhau đối mặt với những nỗi kinh hoàng đích thực.

Em và cô em họ thật gần gũi.

Briony quỳ gối, co vòng tay qua người Lola kéo cô vào lòng, nhưng người cô to xương và cứng đờ, cô ôm chặt lấy chính mình như một cái vỏ sò.

Một con ốc mút.

Lola quàng tay tự ôm lấy mình và run rẩy.

Briony nói, "Là hắn ta, phải không?"

Em cảm thấy trên ngực mình, chứ không hẳn nhìn rõ, cái gật đầu của cô em, chầm chậm, trầm ngâm.

Có lẽ là kiệt quệ.

Sau nhiều giây, Lola nói, cũng bằng cái giọng yếu ớt, ngoan ngoãn ấy, "Vâng.

Chính là hắn."

Đột nhiên, Briony muốn cô nói ra tên hắn.

Để niêm phong tội ác, đóng khung nó bằng lời nguyền của nạn nhân, chấm dứt sô phận của hắn bằng phép màu của việc chỉ đích danh hắn.

"Lola," em thì thầm, và không thể phủ nhận sự hoan hỉ kỳ lạ mình cảm thấy.

"Lola.

Là ai thế?"

Cơn run rẩy ngưng lại.

Hòn đảo trở nên tĩnh lặng.

Gần như không thay đổi vị trí, Lola dường như dịch đi, hay dịch vai, nửa nhún, nửa xoay người, rút mình ra khỏi bàn tay thương cảm đang chạm vào người cô của Briony.

Cô quay đầu đi và nhìn ra khoảng trống là cái hồ phía trước.

Rất có thể cô đã chực lên tiếng, rất có thể cô đã chực mở miệng thú nhận một tràng dài mà trong khi làm thế cô sẽ tìm thấy cảm xúc của mình và dắt mình ra khỏi sự đờ đẫn về phía một thứ giống cả nỗi kinh hoàng lẫn niềm vui.

Quay mặt đi rất có thể không phải là để tạo khoảng cách, mà là một hành động thể hiện tình thân, một cách để tự bình tĩnh mà bắt đầu nói ra cảm xúc của mình với người duy nhất cô nghĩ, khi ở rất xa nhà, có thể tin tưởng mà nói chuyện.

Có lẽ cô đã hít thật sâu và tách môi ra.

Nhưng không quan trọng vì Briony sắp sửa chen ngang cô và cơ hội sắp vụt mất.

Rất nhiều giây đã trôi qua - ba mươi? bốn mươi lăm?

- và cô gái nhỏ hơn không còn kìm được mình nữa.

Mọi thứ kết nối lại.

Đây là phát hiện của riêng em.

Nó là câu chuyện của em, câu chuyện đang được tự viết ra ở quanh em.

"Là Robbie, phải không?"

Kẻ điên.

Em muốn nói từ đó.

Lola không nói gì, cũng không cử động.

Briony lại nói lần nữa, lần này không có dấu hiệu của một câu hỏi.

Nó là lời tuyên bố sự thật.

"Là Robbie."

Mặc dù cô không hề quay lại, hay dịch chuyển chút nào, nhưng rõ ràng có điều gì đó đang thay đổi trong Lola, một làn hơi ấm tỏa ra từ da cô cùng một tiếng nuốt khan, cơ ở cổ họng cô giần giật lên xuống nghe như một loạt tiếng lách tách mạnh mẽ.

Briony lại nói lần nữa.

Đơn giản.

"Robbie."

Từ ngoài hồ xa vẳng lại một tiếng tõm to, tròn của một con cá nhảy lên, một âm thanh rõ ràng, duy nhất, vì gió đã tắt hoàn toàn.

Giờ không có gì đáng sợ trên những ngọn cây hay giữa đám lách cả.

Cuối cùng Lola chầm chậm quay mặt lại phía em.

Cô nói, "Chị đã thấy hắn."

"Sao hắn có thể," Briony rên rỉ.

"Sao hắn dám."

Lola đặt tay lên cẳng tay của em, siết lại.

Từng từ khẽ khàng của cô rời nhau ra một quãng khá xa.

"Chị đã thấy hắn."

Briony dịch lại gần cô hơn và đặt tay mình lên tay Lola.

"Em vẫn chưa biết chuyện gì đã xảy ra trong thư viện đâu, trước bữa tối, ngay sau khi chị em mình nói chuyện.

Hắn tấn công chị gái chị.

Nếu chị không bước vào, chị không biết hắn sẽ làm gì nữa..."

Dù ngồi rất gần, chúng cũng không thể đọc được nét mặt nhau.

Khuôn mặt tròn tối thẫm của Lola không thể hiện gì cả, nhưng Briony cảm thấy cô chỉ đang nghe một cách lơ đãng, và điều này được khẳng định khi cô cắt lời em mà lặp lại câu, "Nhưng chị thấy hắn.

Chị thực sự đã thấy hắn."

"Dĩ nhiên chị thấy.

Rõ như ban ngày.

Chính là hắn."

Mặc cho trời đêm ấm nóng, Lola bắt đầu run lẩy bẩy và Briony khao khát có thứ gì đó cởi ra được mà choàng lên vai cô.

Lola nói, "Hắn đến phía sau em, chị thấy đấy.

Hắn vật em xuống đất... và rồi... hắn ấn đầu em ra sau, còn tay hắn bịt mắt em.

Em thực sự không thể, em không có khả năng..."

"Ôi Lola."

Briony giơ tay ra chạm vào mặt em họ và tìm được má cô.

Nó khô, nhưng sẽ không, em biết, sẽ không khô được lâu.

"Nghe chị này.

Chị không thể nhầm hắn được.

Chị đã biết hắn suốt cả đời.

Chị thấy hắn."

"Vì em không nói chắc được.

Ý em là, em nghĩ nghe giọng thì có thể là hắn."

"Hắn nói gì?"

"Không nói gì.

Ý em là, là âm của giọng hắn, tiếng thở, tiếng ồn.

Nhưng em không nhìn thấy.

Em không nói chắc được."

"Nhưng chị thì có thể.

Và chị sẽ nói."

Và vậy là vị trí lần lượt của chúng, vị trí sẽ được công khai hóa trong những tuần và tháng tới, và rồi sẽ âm thầm đeo đuổi cả hai như những con quỷ trong nhiều năm sau, đã được thiết lập trong giây phút bên hồ này, với việc mỗi khi thấy đứa em họ có vẻ ngờ hoặc bản thân Briony lại tăng mức độ chắc chắn của mình lên.

Sau đó Lola cũng chẳng cần phải làm gì nhiều, vì cô có thể rút vào sau cái vẻ rối loạn bị tổn thương, và với tư cách một bệnh nhân được nâng niu, nạn nhân đang hồi phục, đứa trẻ bị làm hại, cho phép suốt đời mình được tắm trong lo lắng và tội lỗi của những người lớn.

Sao chúng ta có thể để chuyện này xảy đến cho một đứa trẻ?

Lola không thể, và không cần phải, giúp họ.

Briony trao cho cô cơ hội, và theo bản năng cô tóm lấy; thậm chí còn không hẳn tóm lấy - cô cứ để nó tự đậu xuống mình.

Chẳng có gì nhiều nhặn mà cô phải làm ngoại trừ tiếp tục im lặng sau sự sốt sắng của chị họ.

Lola không cần nói dối, hay nhìn thẳng vào mắt kẻ được cho là đã tấn công cô và thu hết can đảm buộc tội hắn, bởi vì tất cả những việc đó đã được cô gái nhỏ hơn kia làm hộ, một cách ngây thơ, và không hề xảo trá.

Lola chỉ cần phải im lặng không nói ra sự thật, xua đuổi nó, quên hẳn nó đi, và thuyết phục mình tin không phải vào một câu chuyện ngược lại nào đó, mà đơn giản vào sự không chắc chắn của chính mình.

Cô không thể thấy, tay hắn bịt mắt cô, cô kinh sợ, cô không nói chắc được.

Briony luôn ở đó giúp cô trong mọi giai đoạn.

Theo như em biết, mọi thứ đều khớp; hiện tại khủng khiếp này làm trọn vẹn quá khứ vừa xong.

Những sự kiện em tận mắt trông thấy đã báo trước với em về thảm họa này của cô em họ.

Giá mà em, Briony, ít ngây thơ hơn, ít ngu ngốc hơn.

Giờ em thấy, sự việc quá nhất quán, quá cân xứng, không thể là thứ gì đó khác với thứ em khẳng định là nó.

Em buộc tội mình vì đã giả định đầy trẻ con rằng Robbie sẽ giới hạn sự chú ý của mình vào Cecilia.

Em nghĩ gì thế không biết?

Sau rốt hắn là một kẻ điên cơ mà.

Với hắn thì ai mà chẳng được.

Và hắn sẽ tấn công kẻ yếu đuối nhất - một cô gái mảnh khảnh, mò mẫm trong bóng tối ở một nơi xa lạ, dũng cảm tìm kiếm hai thằng em trai khắp ngôi đền trên đảo.

Y hệt như điều chính Briony định làm.

Việc chính mình rất có thể là nạn nhân của hắn làm cơn giận dữ và sự hăng hái của Briony tăng lên.

Nếu đứa em họ tội nghiệp của em không có khả năng nói ra sự thật, thì em sẽ làm thay cho nó.

Chị có thể.

Và chị sẽ làm.

Ngay đầu tuần tiếp theo, bề mặt nhẵn bóng của lời buộc tội không phải không có những chỗ rạn và kẽ nứt.

Mỗi khi em nhận ra chúng, dù không thường xuyên, em lại bị đẩy trở lại, cùng cảm giác chợt nhói lên trong dạ dày, với nhận thức rằng điều em biết không thực sự, hoặc không chỉ, dựa trên những gì em nhìn thấy.

Sự thật đó em rút ra không chỉ bằng đôi mắt.

Trời tôi quá không thể nhìn rõ được.

Ngay cả mặt Lola ở cách mười tám inch cũng chỉ là một hình ôvan trống không, mà kẻ kia còn cách đó rất nhiều bước chân, lại còn quay lưng về phía em khi hắn vòng qua khoảnh đất lủi mất.

Nhưng hắn cũng không vô hình, và khổ người cũng như cách di chuyển em nhìn rất quen.

Mắt em đã xác nhận dựa trên tổng số tất cả những gì em biết và vừa mới trải qua.

Sự thật luôn cân xứng, hay có thể nói, nó có nền tảng trong lương thức.

Sự thật chỉ dẫn cho mắt em.

Vì thế khi em nói, lặp đi lặp lại, tôi thấy hắn, em nói thực lòng, tuyệt đối trung thực, và nhiệt thành.

Điều em muốn nói phức tạp hơn khá nhiều so với điều mọi người nhiệt tình hiểu, và những khoảnh khắc khó chịu liền đến khi em cảm thấy mình chẳng thể diễn tả những sắc thái khác biệt này.

Em thậm chí còn không thử cố gắng một cách nghiêm túc.

Không có cơ hội, không có thời gian, không được cho phép.

Chỉ trong vài ngày, không, chỉ trong vài giờ, câu chuyện đã diễn biến quá nhanh và vượt quá tầm kiểm soát của em.

Lời của em đã triệu đến những thế lực khủng khiếp từ cái thị trấn nên thơ và thân thuộc ấy.

Cứ như thể những nhà chức trách dễ sợ này, những đặc vụ mặc đồng phục này, đã nằm sẵn sau mặt tiền các tòa nhà xinh xắn đợi một thảm họa mà họ biết sẽ phải đến.

Họ hiểu đầu óc mình nghĩ gì, họ hiểu mình muốn gì và tiến hành thế nào.

Em được thẩm vấn đi thẩm vấn lại, và khi em lặp lại những gì mình đã nói, gánh nặng phải nhất quán đè nặng lên em.

Điều em đã nói sẽ phải nói lại lần nữa.

Những sai lệch nhỏ nhặt khiến em nhận được từ người nghe những nét cau lại trên đôi mày thông thái, hay ít nhiều lạnh nhạt và sự thông cảm bị giám sát.

Em trở nên khao khát được làm cho họ hài lòng, và nhanh chóng hiểu ra rằng những đặc điểm nhỏ nhặt em có thể chêm vào sẽ phá vỡ quá trình mà chính em đã khởi sự ra.

Em như một cô dâu tương lai bắt đầu cảm thấy nôn nao khi ngày cưới đến gần, và không dám nói ra suy nghĩ của mình vì người ta đã chuẩn bị quá nhiều vì em.

Niềm hạnh phúc và sự thoải mái của quá nhiều người tốt có thể bị đe dọa.

Đó là những khoảnh khắc bất an riêng tư ngắn ngủi, chỉ bị xua tan bằng cách thả mình vào niềm vui và sự phấn khởi của những người xung quanh em.

Nhiều người tử tế đến thế thì không thể sai lầm được, và mối nghi ngờ như em đang có, em được mách bảo, cũng là bình thường thôi.

Briony không muốn hủy hoại toàn bộ sự dàn xếp này.

Em không nghĩ mình đủ can đảm, sau bằng ấy sự chắc chắn ban đầu và hai ba ngày thẩm vấn kiên nhẫn, tử tế, để mà rút lại lời chứng của mình.

Tuy nhiên, em thích giải thích rõ, hay làm phức tạp, cách em sử dụng từ "Thấy".

Ít giống nghĩa "nhìn thấy" hơn, giống nghĩa "biết" nhiều hơn.

Rồi em có thể để mặc cho những người thẩm vấn quyết định xem họ có tiếp tục cùng nhau điều tra nhân danh những gì em đã trông thấy theo cách đó hay không.

Họ dửng dưng mỗi khi em dao động, và cứng rắn gợi em nhớ đến những lời chứng đầu tiên của mình.

Cung cách của họ ngụ ý rằng không biết em có phải là một con bé ngu ngốc đang làm mất thời gian của mọi người?

Và họ chọn một cách nhìn đơn giản về chuyện có thể trông thấy hay không.

Có đủ ánh sáng, họ quyết định như vậy, từ sao, và từ chân mây phản chiếu đèn đường của thị trấn gần đó.

Hoặc em có thấy, hoặc em không thấy.

Không có gì ở giữa; họ không nói nhiều đến thế, nhưng sự cộc cằn của họ ngụ ý vậy.

Chính trong những giây phút này, khi em cảm thấy sự lạnh lùng của họ, mà hồi phục nhiệt huyết ban đầu và nói lại một lần nữa.

Em thấy hắn.

Em biết đó là hắn.

Rồi thật là dễ chịu khi cảm thấy em đang khẳng định điều mà họ đã biết.

Em sẽ không bao giờ có thể an ủi chính mình rằng em bị sức ép hay ép buộc.

Em chưa bao giờ bị.

Em tự làm mình mắc kẹt, em tiến thẳng vào mê cung do chính em xây dựng, và quá trẻ, quá khiếp sợ, quá ham muốn được làm thỏa mãn người khác, để kiên quyết lật lại lời khai của mình.

Em không được ban cho, hay đủ lớn để sở hữu, sự độc lập đến thế về mặt tinh thần.

Một giáo đoàn oai nghiêm đã tụ họp quanh những chắc chắn đầu tiên của em, và bây giờ họ đang chờ đợi và em không thể làm họ thất vọng ngay trước điện thờ.

Những nghi ngờ của em bị vô hiệu hóa chỉ bằng cách dấn xuống sâu hơn nữa.

Bằng cách bám riết lấy cái em tin là mình biết, thu hẹp suy nghĩ lại, lặp lại lời khai, em có thể giữ cho đầu óc mình không nghĩ tới sự tổn hại mà em lờ mờ cảm nhận được là mình đang gây ra.

Khi sự việc kết thúc, khi bản án được tuyên và giáo đoàn giải tán, một sự quên lãng đầy tàn nhẫn của tuổi trẻ, một sự xóa sạch đầy chủ tâm, đã bảo vệ em chắc chắn cho đến khi lớn lên thành thiếu nữ.

"Chị có thể.

Và chị sẽ làm."

Chúng ngồi im lặng một lúc, và Lola bắt đầu hết run.

Briony nghĩ mình nên đưa cô em họ về nhà, nhưng em ngại phá vỡ sự gần gũi trong lúc này - em vòng tay ôm vai cô gái lớn hơn và giờ dường như cô đã chấp nhận cho Briony chạm vào.

Từ phía xa bên kia hồ chúng nhìn thấy một tia sáng chập chờn - một cái đèn pin đang di chuyển dọc theo đường xe chạy - nhưng chúng không nói gì về nó cả.

Khi cuối cùng Lola cũng lên tiếng, giọng cô vẻ trầm ngâm, như thể đang cân nhắc kỹ lưỡng một loạt các phản biện tinh tế.

"Nhưng không hợp lý.

Hắn là bạn thân với gia đình chị.

Có thể không phải là hắn."

Briony lẩm bẩm, "Em sẽ không nói thế nếu em ở cùng chị trong thư viện."

Lola thở dài và chầm chậm lắc đầu, như thể cố bắt mình cam chịu sự thật không thể chấp nhận được.

Chúng lại im lặng và chúng có thể sẽ ngồi lâu hơn nếu không phải do hơi ẩm - chưa kịp đọng thành sương - đang bắt đầu tụ lại trên lá cỏ khi mây tan và nhiệt độ giảm.

Khi Briony thì thầm với em họ, "Em nghĩ mình có đi được không?" cô gật đầu đầy can đảm.

Briony đỡ cô đứng dậy, và đầu tiên là tay khoác tay, sau đó trọng lượng của Lola dồn lên vai Brony, và chúng đi qua khoảng đất về phía cây cầu.

Chúng đến chân dốc và tại đây cuối cùng Lola bật khóc.

"Em không thể lên đó được," phải cố lắm cô mới nói được.

"Em yếu quá."

Sẽ tốt hơn, Briony quyết định, nếu em chạy về nhà gọi người giúp, và khi em sắp sửa giải thích điều này cho Lola và đỡ cô ngồi xuống đất thì chúng nghe thấy tiếng người vọng tới từ con đường phía trên, rồi ánh đèn pin rọi vào mắt chúng.

Thật là phép màu, Briony nghĩ, khi em nghe tiếng anh trai.

Như một anh hùng đích thực, anh tiến xuống bờ sông chỉ bằng vài bước sải chân dễ dàng và thậm chí không hề hỏi có chuyện gì, ôm lấy Lola bế cô lên như thể cô là một đứa trẻ nhỏ xíu.

Cecilia đang gọi xuống bằng một giọng nghe khàn đặc vì lo lắng.

Không ai trả lời chị.

Leon đã bước lên dốc với tốc độ phải cố sức mới theo kịp được.

Dù có thế, trước khi họ lên được đường xe chạy, trước khi anh có cơ hội đặt Lola xuống, Briony bắt đầu kể cho anh việc đã xảy ra, chính xác như em đã nhìn thấy.
 
Atonement - Chuộc Tội
Mười bốn


Ký ức về cuộc thẩm vấn, lời chứng và lời khai có ký tên, hay về nỗi khiếp sợ của em bên ngoài phòng xét xử nơi vì còn bé quá em không được vào, trong những năm sau đó sẽ không khiến em đau khổ bằng những hồi tưởng đứt đoạn về chính cái đêm khuya khoắt và buổi rạng đông mùa hè đó.

Tội lỗi đã tinh luyện nên phương thức tự tra tấn mới tài tình làm sao, xâu các hạt chi tiết thành một cái vòng vô tận, một tràng hạt để lần tay cho cả một đời người.

Cuối cùng cũng vào lại nhà, thế là bắt đầu một khoảng thời gian như trong mơ với những người mặt mũi nghiêm trọng kéo tới, nước mắt và giọng nói thì thào và những bước chân khẩn cấp qua sảnh, và sự phấn khích hèn hạ đã giữ chân cơn buồn ngủ của chính em ở đằng xa.

Dĩ nhiên, Briony đủ lớn để biết rằng giây phút này hoàn toàn là của Lola, nhưng rất nhanh chóng cô đã được những bàn tay phụ nữ thương cảm dẫn vào phòng ngủ đợi bác sĩ đến khám.

Briony nhìn từ chân cầu thang khi Lola đi lên, nức nở rền rĩ, Emily và Betty đi sát bên, còn Polly thì theo sau mang chậu và khăn.

Đứa em họ biến mất để lại cho Briony sân khấu chính - vẫn chưa thấy Robbie đâu - và cái cách em được lắng nghe, được chiều theo ý muốn, và dịu dàng thúc giục ấy dường như đồng nhất với sự trưởng thành mà-em nghĩ mình mới vừa đạt được.

Hẳn là cũng vào khoảng lúc này một chiếc Humber đã tới đậu bên ngoài nhà và hai thanh tra cùng hai cảnh sát được dẫn vào.

Briony là nguồn tin duy nhất của họ, và em buộc mình nói thật bình tĩnh.

Vai trò chính yếu của em củng cố thêm sự chắc chắn trong em.

Cảnh này đã diễn ra trong một khoảng thời gian phi cấu trúc trước những cuộc thẩm vấn chính thức: em đứng đối mặt với các sĩ quan trong sảnh, Leon một bên, còn mẹ em bên kia.

Nhưng sao mẹ em lại xuất hiện từ giường của Lola nhanh đến thế?

Mặt viên thanh tra lớn tuổi hơn nặng như chì, đầy sẹo chằng chịt, như thể được chạm ra từ đá granit có nếp rãnh.

Khi kể câu chuyện của mình cho cái mặt nạ bất động đầy cảnh giác ấy, Briony thấy sợ ông ta; nhưng đồng thời em cũng cảm thấy một gánh nặng được nhấc khỏi mình và một cảm giác phục tùng ấm áp lan từ bụng xuống chân.

Nó giống như là tình yêu, một tình yêu bất thần dành cho người đàn ông cảnh giác đang đấu tranh, một cách kiên định, cho căn nguyên của cái thiện, người luôn có mặt bất cứ thời điểm nào để chiến đấu nhân danh điều đó, và người được toàn bộ sức mạnh và sự sáng suốt từng tồn tại của loài người hậu thuẫn.

Dưới ánh mắt vô cảm của ông ta, cổ họng em nghẹn lại và giọng em bắt đầu méo xệch đi.

Em muốn viên thanh tra ôm em, an ủi và tha thứ cho em, dù cho em hoàn toàn vô tội.

Nhưng ông ta chỉ nhìn em và nghe.

Chính là hắn.

Cháu thấy hắn.

Nước mắt của em là bằng chứng cao hơn cho sự thật mà em cảm thấy và nói lên, và khi tay mẹ vuốt ve gáy em, em hoàn toàn suy sụp và được đưa vào phòng khách.

Nhưng nếu em ở đó được mẹ an ủi trên chiếc ghế Chesterfield, làm thế nào em lại nhớ được bác sĩ McLaren đã đến, vận áo gilê đen và cái sơ mi kiểu cũ với cổ áo dựng, mang cái túi Gladstone hai quai xách từng chứng kiến sự ra đời của ba đứa trẻ và những lần ốm đau bệnh tật hồi chúng còn bé của gia đình Tallis?

Leon bàn bạc với bác sĩ, chúi người tới phía ông lẩm bẩm tóm tắt các sự kiện theo kiểu đàn ông.

Vẻ khinh khoái vô tư lự của Leon giờ đâu rồi?

Kiểu thì thào bàn bạc này diễn ra liên tục trong những giờ sau đó.

Người nào mới đến cũng được tóm tắt theo cùng một lối; mọi người - cảnh sát, bác sĩ, thành viên trong nhà, người hầu - đứng thành tốp rã ra rồi tụ lại ở góc phòng, sảnh và hiên bên ngoài cửa sổ Pháp.

Không gì được tổng hợp hoàn chỉnh, hay trình bày một cách công khai.

Ai cũng biết thông tin về vụ hãm hiếp khủng khiếp, nhưng nó cũng lại là bí mật của mỗi người, được chia sẻ trong những lời thì thầm của từng nhóm lúc họp lúc tan rồi trịnh trọng tản ra, ra vẻ ta đây có việc khác để làm.

Thậm chí nghiêm trọng hơn, có khả năng xảy ra hơn, là việc hai đứa trẻ mất tích.

Nhưng quan điểm chung, được lặp lại liên tục như một bùa chú, là chúng đang an toàn ngủ ở chỗ nào đó trong công viên.

Bằng cách ấy, sự chú ý vẫn chủ yếu tập trung vào cảnh ngộ của cô gái trên lầu.

Paul Marshall đi tìm về và nghe tin từ hai viên thanh tra.

Anh ta bước tới bước lui trên hàng hiên với họ, mỗi người một bên, và mời họ thuốc lá từ cái hộp bằng vàng.

Khi nói chuyện xong, anh ta vỗ vai tay thanh tra lớn tuổi và có vẻ như bảo họ làm tiếp việc của mình.

Rồi anh ta vào trong bàn bạc với Emily Tallis.

Leon dẫn bác sĩ lên tầng, một lúc sau ông ta đi xuống và trong con mắt những người đứng dưới bỗng mơ hồ trở nên vĩ đại bởi ông vừa có một cuộc chạm trán đầy tính chuyên môn với trung tâm mối quan tâm lo lắng của họ.

Ông ta đứng bàn thảo lâu lắc với hai viên cảnh sát mặc thường phục kia, rồi với Leon, và cuối cùng với cả Leon và bà Tallis.

Trước khi ra về một lúc, ông bác sĩ đến đặt bàn tay nhỏ nhắn khô ráo quen thuộc lên trán Briony, xem mạch và tỏ vẻ hài lòng.

Ông cầm túi lên, và trước khi ông đi lại có một màn hỏi han thầm thì cuối cùng bên cửa trước.

Cecilia đâu?

Nàng quanh quất đi ngoài nhà, không nói chuyện với ai, rít thuốc liên tục, đưa điếu thuốc lên môi bằng một động tác nhanh, thèm khát, và rút nó ra đầy kinh tởm giận dữ.

Lúc khác nàng vò cái khăn tav khi bước qua bước lại trên sảnh.

Bình thường, với một tình huống thế này Cecilia hẳn đã nắm quyền kiểm soát, chỉ đạo chăm sóc Lola, an ủi mẹ, nghe lời khuyên bác sĩ, bàn bạc với Leon.

Nhưng giờ, khi Leon qua nói chuyện với Cecilia, Briony ở gần đó, nàng chỉ quay đi, không lòng dạ nào mà giúp, hay thậm chí là nói.

Còn mẹ nàng, khá là bất thường khi bà lại đứng ra đương đầu với thảm họa, không bị đau đầu cũng như không cần được ở một mình.

Thực sự vai trò của bà đang lờn dần lên khi đứa con gái lớn của bà rút vào trong nỗi đau riêng.

Có những lần khi dược gọi ra để kể lại chuyện, hay một vài chi tiết nào đó, Briony nhìn thấy chị gái mình tiến lại đứng trong khoảng cách vừa đủ nghe thấy và nhìn em bằng một ánh mắt căm hờn, không sao hiểu nổi.

Briony trở nên sợ màng và ở sát bên mẹ mình.

Mắt Cecilia đỏ ngầu.

Trong khi những người khác tụ tập thành nhóm thì thầm, nàng bồn chồn di đi lại lại trong phòng, hay từ phòng này sang phòng khác, hay, ít nhất là hai lần, ra đứng ở ngoài cửa trước.

Căng thẳng, nàng đổi cái khăn tay từ tay này sang tay kia, cuộn nó lại giữa các ngón tay, tháo ra, quấn nó thành một quả tròn, chuyển sang tay kia, châm điếu thuốc nữa.

Khi Betty và Polly mang trà tới, Cecilia không buồn đụng đến.

Trên tầng báo xuống là Lola, được bác sĩ cho uống thuốc an thần, cuối cùng đã ngủ, và tin này tạm thời làm mọi người nhẹ nhõm.

Một cách bất thường, những người đã tụ tập trong phòng khách uống trà bỗng chìm trong im lặng mệt mỏi.

Không ai nói ra, nhung họ đang đợi Robbie.

Thêm nữa, ông Tallis sẽ từ London về bất cứ lúc nào.

Leon và Marshall đang nhoài người ra vẽ tấm bản đồ khu nhà cho tay thanh tra.

Ông ta cầm lên, nhìn và đưa cho tay trợ lý.

Hai cảnh sát được cử ra ngoài tham gia cùng những người đang đi tìm Pierrot và Jackson, và chắc hẳn nhiều cảnh sát nữa cũng đang trên đường xuống căn nhà gỗ phòng khi Robbie về đó.

Như Marshall, Cecilia ngồi tách riêng, trên ghế đẩu của đàn clavico.

Có một lúc, nàng đứng dậy để xin anh trai lửa, nhưng tay chánh thanh tra ngăn nàng lại bằng cách dùng bật lửa của ông ta bật cho nàng.

Briony ngồi cạnh mẹ trên sofa, còn Betty và Polly cầm khay trà đi quanh.

Briony thực sự không nhớ thứ gì đột nhiên thúc giục em.

Một ý tưởng rõ ràng mạch lạc và đầy thuyết phục không hiểu từ đâu đến, và em không cần phải tuyên bố mục đích của mình, hay hỏi xin sự cho phép của chị gái.

Bằng chứng bất khả bác bỏ, hoàn toàn độc lập với những gì em vừa khai.

Bằng chứng xác nhận tội ác đó.

Hay thậm chí xác nhận một tội ác khác, riêng rẽ.

Em làm cả phòng giật mình bằng tiếng thốt ra khi ý nghĩ ấy nảy tới, và khi đứng dậy suýt làm đổ cốc trà của mẹ lên đùi bà.

Tất cả nhìn theo khi em vội vã lao ra khỏi phòng, nhưng không ai hỏi em, cái mệt mỏi chung đã hiện hình đến thế.

Còn em, ngược lại, bước hai bậc cầu thang một, được tiếp thêm năng lượng từ ý thức rằng mình là người tốt và đang làm việc đúng đắn, sắp sửa tung ra một ngạc nhiên chắc chắn sẽ mang lại cho em lời khen ngợi.

Nó khá giống như cảm giác buổi sáng Giáng sinh khi chuẩn bị tặng một món quà chắc chắn sẽ đem lại niềm vui sướng, một cảm giác hân hoan của lòng ái kỷ vốn không có lỗi gì.

Em chạy dọc hành lang tầng hai đến phòng Cecilia.

Chị em sống mới bẩn thỉu và luộm thuộm làm sao!

Cả hai cánh cửa tủ quần áo đều đang mở tung.

Bao váy áo treo lệch nghiêng trên giá, vài cái còn sắp sửa tuột khỏi móc.

Trên sàn hai cái váy, một đen, một hồng, đều bằng lụa và trông đắt tiền, nằm lộn xộn, quanh đống này là đôi giày đã bị đá văng ra nằm chỏng chơ.

Briony bước tới, vòng qua đống bừa bãi ấy tới bàn trang điểm.

Sức mạnh bản năng nào đã ngăn Cecilia không đậy lại nắp, nút của đồ trang điểm và lọ nước hoa?

Sao chị không bao giờ đổ cái gạt tàn hôi hám ấy đi?

Hay dọn giường, hay mở cửa sổ cho không khí trong lành tràn vào?

Ngăn kéo đầu tiên em mở thử chỉ được vài inch - nó kẹt cứng, đầy chặt những chai và hộp các tông.

Cecilia có thể lớn hơn em mười tuổi, nhưng ở chị thực sự có gì đó vô cùng vô vọng và yếu ớt.

Dù Briony có sợ ánh mắt hoang dại của chị gái nhìn em ở dưới tầng, thì - em nghĩ trong khi kéo mở một ngăn kéo nữa - việc em có mặt ở đây vì chị, suy nghĩ sáng suốt thay cho chị vẫn là đúng đắn.

Năm phút sau, khi em đắc thắng bước lại vào phòng khách, không ai để ý gì đến em, và mọi thứ vẫn hệt như cũ - người lớn mệt mỏi, khổ sở nhấp trà và hút thuốc trong im lặng.

Trong cơn phấn khích, em đã không cân nhắc xem mình nên đưa lá thư cho ai; trí tưởng tượng của em theo thói quen muốn mọi người phải cùng đọc một lúc.

Nhưng rồi em quyết định nên để Leon đọc trước.

Em băng qua phòng về phía anh trai, nhưng khi em tới trước ba người đàn ông, em đổi ý và dúi tờ giấy gấp lại đó vào tay viên cảnh sát có khuôn mặt đá granit.

Nếu mặt ông ta có biểu hiện gì, nó cũng không thay đổi khi ông nhận lá thư cũng như khi đọc rất nhanh, gần như chỉ liếc qua.

Mắt ông ta gặp mắt em, rồi đảo sang nhìn Cecilia đang xây lưng lại.

Bằng một chuyển động cơ hồ không nhận thấy của cổ tay, ông ra hiệu cho tay cảnh sát kia cầm lấy lá thư.

Khi ông đọc xong, nó được chuyển sang cho Leon, anh đọc, rồi gấp lại, và chuyển lại cho viên thanh tra lớn tuổi.

Briony ngỡ ngàng trước phản ứng không lời này - đúng là sự trần tục của ba người đàn ông.

Chỉ đến lúc này Emily Tallis mới để ý thấy họ đang để tâm chuyện gì.

Trả lời cho câu hỏi đều đều của bà, Leon nói, "Chỉ là một lá thư thôi."

"Mẹ sẽ đọc nó."

Lần thứ hai trong buổi tối hôm đó Emily buộc phải đòi quyền của mình với một lá thư viết tay đang chuyền tay trong gia đình mình.

Cảm thấy không ai cần mình phải làm gì nữa, Briony đi đến ngồi xuống cái ghế Chesterfield và từ chỗ mẹ nhìn thấy sự ngại ngần kiểu lịch thiệp đang chuyền qua chuyền lại giữa Leon và hai viên thanh tra.

"Mẹ sẽ đọc nó."

Nghe khá đáng ngại, bà không hề thay đổi ngữ điệu.

Leon nhún vai và buộc phải nở một nụ cười hối lỗi - anh còn phản đối được gì cơ chứ?

- và ánh mặt dịu dàng của Emily chuyển sang hai viên thanh tra.

Bà thuộc về một thế hệ đối xử với cảnh sát như họ là đầy tớ, dù họ mang cấp bậc gì.

Tuân theo cái gật đầu từ cấp trên, tay thanh tra trẻ bước qua bên kia phòng đưa lá thư cho bà.

Cuối cùng Cecilia, người hẳn đã chìm đắm rất sâu trong những suy nghĩ của mình, cũng tỏ ra quan tâm.

Rồi lá thư mở ra trên đùi mẹ nàng, và Cecilia đứng bật dậy khỏi cái ghế đẩu ngồi chơi đàn clavico đi về phía họ.

"Sao em dám!

Sao các người dám!"

Leon cũng đứng dậy và chìa bàn tay ra làm một động tác xoa dịu.

"Cee..."

Khi lao tới giật lá thư khỏi mẹ, nàng thấy không chỉ anh trai mà cả hai tay cảnh sát đứng ngáng đường.

Marshall cũng đang đứng đó, nhưng không can dự.

"Nó là của con," nàng hét.

"Mẹ tuyệt đối không có quyền!"

Emily thậm chí còn không buồn rời mắt khỏi lá thư đang đọc, và bà tự cho phép mình thong thả đọc đi đọc lại lá thư vài ba lần.

Khi đọc xong, bà đối đầu với cơn thịnh nộ của con gái bằng cơn thịnh nộ của chính mình, chỉ lạnh lẽo hơn.

"Nếu cô đã hành động đúng đắn, thưa quý cô, khi được học hành tử tế như thế, và đến gặp tôi đưa cái này, thì ta đã kịp làm một thứ gì đó, và em họ của cô sẽ không phải trải qua cơn ác mộng này."

Cecilia đứng một mình giữa căn phòng trong một lúc, ngón tay phải run rẩy bất lực, trân trối nhìn mặt từng người, không thể tin nổi mình lại có liên quan đến những kẻ như thế, không thể mở lời mà nói cho họ biết mình biết gì.

Và mặc dù Briony cảm thấy mình được chứng minh là đúng qua phản ứng của người lớn, và đang trải qua bước đầu của trạng thái mê li ngọt ngào tận thâm tâm, em vẫn thấy dễ chịu hơn khi được ngồi ở sofa với mẹ, được những người đàn ông đang đứng kia che chắn bớt khỏi ánh mắt khinh bỉ đỏ ngầu của chị gái.

Nàng siết chặt họ trong ánh mắt ấy vài giây rồi quay đi bước ra khỏi phòng.

Khi băng qua sảnh, nàng hét lên một tiếng của lòng phẫn nộ thuần túy, tiếng thét được khuếch đại nhờ hệ thống truyền âm thô sơ là sàn lát đá trần.

Trong phòng khách, một cảm giác nhẹ nhõm, gần như là dễ chịu lan tỏa, khi họ nghe tiếng nàng đi lên tầng.

Khi sau đó Briony nhớ ra nhìn lên, thì lá thư nằm trong tay Marshall và anh ta đang đưa lại cho viên thanh tra, ông này để nguyên nó đang mở như vậy đặt vào một bìa hồ sơ mà tay cảnh sát trẻ mở ra cho ông ta.

Buổi đêm trôi qua thêm vài tiếng nữa mà em vẫn không thấy mệt.

Không ai nghĩ đến chuyện đưa em về giường ngủ.

Sau một khoảnh khắc như dài vô tận sau khi Cecilia về phòng mình, Briony cùng mẹ vào thư viện để được thẩm vấn chính thức lần đầu tiên với cảnh sát.

Bà Tallis vẫn đứng, còn Briony ngồi ở một bên bàn viết và hai viên thanh tra ngồi ở đầu kia.

Người với khuôn mặt đá cố, chính là người đặt câu hỏi, hóa ra lại vô vàn tử tế, hỏi những câu chậm rãi bằng một giọng cộc cằn nghe vừa dịu dàng vừa buồn bã.

Vì em có thể chỉ cho họ địa điểm chính xác nơi Robbie tấn công Cecilia, cả hai bước lại chỗ góc giá sách đó nhìn cho kỹ càng hơn.

Briony chen vào, lưng tì vào sách chỉ cho họ thấy chị gái mình đứng ở tư thế như thế nào, và thấy những tia rạng đông xanh nhạt đầu tiên chạm đến kính cửa sổ cao trong thư viện.

Em bước ra và quay lại để thể hiện tư thế của kẻ tấn công và chỉ nơi em đã đứng.

Emily nói, "Nhưng sao con không kể cho mẹ?"

Hai tay cảnh sát nhìn Briony, chờ đợi.

Một câu hỏi hay, nhưng em chưa bao giờ nghĩ đến chuyện quấy rầy mẹ.

Việc đó sẽ chẳng đem lại điều gì ngoài những cơn đau đầu của bà.

"Bọn con bị gọi xuống ăn tối, rồi đến chuyện hai thẳng nhỏ bỏ đi."

Em giải thích mình nhận lá thư như thế nào, trên cây cầu lúc xế chiều.

Điều gì đã khiến em mở nó ra?

Miêu tả cái khoảnh khắc bốc đồng đó thật khó, khoảnh khắc khi em không cho phép mình nghĩ đến những hậu quả trước khi hành động, hay chuyện em-văn sĩ, vào riêng ngày hôm ấy, đột nhiên thấy cần phải biết, phải hiểu mọi thứ xảy đến với mình đến nhường nào.

Nên em chỉ nói, "Con không biết.

Con đã tò mò khủng khiếp.

Con ghét chính mình."

Đến đúng lúc này, một viên cảnh sát thò đầu vào cửa báo tin có vẻ rất họp với tai họa của đêm đó.

Lái xe của ông Tallis gọi điện thoại từ một bốt điện thoại gần sân bay Croydon.

Xe của Bộ, vốn báo một cái là sẵn sàng ngay nhờ sự tốt bụng của bộ trưởng, đã bị hỏng ở ngoại ô.

Jack Tallis đắp mền ngủ ở ghế sau và có lẽ phải đi tiếp về bằng chuyến tàu sáng đầu tiên.

Khi những sự kiện này đã được mọi người tiêu hóa và than vãn xong, người ta nhẹ nhàng đưa Briony trở lại với bản thân tai họa đó, với những sự việc ở đảo trên hồ.

Ở giai đoạn đầu này, viên thanh tra thận trọng không thúc ép cô bé bằng những câu hỏi thăm dò, vậy là trong cái không gian được tạo tác một cách tinh tế ấy, em có thể xây dựng và khuôn hình chuyện kể của mình bằng ngôn từ riêng và thiết lập những sự kiện chủ chốt; có vừa đủ ánh sáng cho em nhận ra một khuôn mặt quen thuộc; khi hắn quay đi khỏi em và vòng qua khoảng đất, cử động và chiều cao của hắn với em cũng quen thuộc.

"Khi đó cháu trông thấy hắn."

"Cháu biết chính là hắn."

"Quên chuyện cháu biết đi.

Cháu đang nói cháu thấy hắn."

"Vâng, cháu thấy hắn."

"Như là cháu thấy ta."

"Vâng."

"Cháu thấy hắn bằng chính mắt cháu."

"Vâng.

Cháu thấy hắn.

Cháu thấy hắn."

Lần thẩm vấn chính thức đầu tiên kết thúc như thế.

Khi em ngồi trong phòng khách, cuối cùng cũng cảm thấy mệt mỏi, nhưng không muốn đi ngủ, thì mẹ em được thẩm vấn, rồi Leon và Paul Marshall.

Già Hardman và con trai lão, Danny, cũng được gọi vào thẩm vấn.

Briony nghe Betty bảo rằg Danny đã ở nhà suốt cả tối với bố, ông có thể làm chứng cho anh ta.

Rất nhiều cảnh sát nữa sau khi tìm kiếm hai thằng sinh đôi về đến cửa trước liền được dẫn thẳng vào bếp.

Trong thời khắc rối mù và không có gì đáng nhớ lúc rạng sáng ấy, Briony được biết Cecilia từ chối ra khỏi phòng, từ chối xuống nhà để thẩm vấn.

Những ngày sau đó nàng không còn được lựa chọn và khi cuối cùng nàng miễn cưỡng tiết lộ lời kể của riêng nàng về chuyện đã xảy ra trong thư viện - theo cách của nó, còn gây choáng váng hơn nhiều chuyện của Briony, dù cuộc chạm trán giữa họ và nó có thống nhất đến mức nào - thì cũng chỉ khẳng định quan điểm chung đã hình thành: Turner là một kẻ nguy hiểm.

Cecilia liên tục gợi ý rằng họ nên nói chuyện với Danny Hardman, nhưng người ta chỉ nghe rồi bỏ đấy.

Hoàn toàn đáng thông cảm, dù dưới hình thức thương hại, khi cô gái trẻ này muốn bao che cho bạn bằng cách đổ vấy nghi ngờ lên một cậu trai vô tội khác.

Lúc nào đó sau năm giờ, khi có người bảo đang chuẩn bị bữa sáng, ít nhất là cho cảnh sát, vì ngoài ra không ai đói cả, khắp nhà bỗng lan truyền một tin rằng một dáng người có thể là Robbie đang băng qua công viên.

Có lẽ đã có người quan sát từ cửa sổ tầng trên.

Briony không biết bằng cách nào mà tất cả mọi người đều quyết định ra ngoài đợi hắn ta.

Đột nhiên, tất cả đều ở đó, gia đình, Paul Marshall, Betty và đám người giúp việc của bà, cảnh sát, cả một đội hình đón tiếp đứng túm tụm chen chúc trên lối vào.

Chỉ có Lola là mê man ngủ vì thuốc, và Cecilia đang giận điên cuồng là ở lại trên lầu.

Có thể là do bà Tallis không muốn linh hồn ô uế đó bước vào nhà mình.

Cũng có thể do viên thanh tra e ngại sẽ xảy ra bạo lực, mà thứ này thì dễ dàng xử lý hơn khi ở bên ngoài, không gian rộng rãi hơn nếu phải tiến hành bắt bớ.

Giờ tất cả sự kỳ diệu của buổi rạng đông đã biến mất, và thay vào đó là buổi sáng sớm xám xịt, chỉ được nhận ra duy nhất nhờ làn sương mù mùa hạ chắc chắn sẽ nhanh chóng hoàn toàn tan biến.

Thoạt đầu họ không thấy gì, mặc dù Briony nghĩ mình có thể nhận rõ tiếng giày nện trên lối xe chạy.

Rồi mọi người đều nghe thấy, một loạt tiếng rì rầm cùng tiếng rục rịch chuyển tư thế nổi lên khi họ nhìn thấy một hình dạng không xác định, không hơn một vết màu xám trên nền trắng, cách đó chừng trăm mét.

Khi cái dáng đó định hình, nhóm người đang đợi lại rơi vào im lặng.

Không ai tin nổi vào cái đang hiện ra.

Chắc chắn đây là trò lừa gạt của sương mù và ánh sáng.

Không ai vào cái thời đại của điện thoại và ô tô này lại có thể tin được rằng người khổng lồ cao tới hai mét, hai mét mốt lại tồn tại ở ngay vùng Surrey đông đúc.

Nhưng nó đây, một bóng ma đúng kiểu phi nhân như mục đích của nó.

Thứ đó không thể có trên đời nhưng lại không thể phủ nhận, và đang tiến về phía họ.

Betty, một tín đồ Công giáo ai cũng biết, làm dấu thánh khi đám đông nhỏ ấy túm tụm lại gần lối vào hơn.

Chỉ có viên thanh tra lớn tuổi tiến vài bước về phía trước, và khi ông làm vậy mọi thứ trở nên rõ ràng.

Manh mối là một hình dạng thứ hai nhỏ xíu nhấp nhô bên cạnh hình đầu tiên.

Rồi nó hiện ra rõ ràng - đây là Robbie, với một thằng nhỏ ngồi trên vai còn thằng kia nắm tay anh và tụt lại phía sau một chút.

Khi còn cách chưa đầy chục mét, Robbie dừng bước, và có vẻ chuẩn bị lên tiếng, nhưng lại đợi vì viên thanh tra và mấy cảnh sát kia đang tiến tới.

Thằng nhỏ trên vai anh có vẻ đã ngủ gật.

Thằng kia ngả đầu vào hông Robbie và kéo tay anh ra trước ngực để bảo vệ hoặc cho ấm.

Ngay lập tức Briony cảm thấy nhẹ nhõm thấy hai thằng bé an toàn.

Nhưng khi nhìn Robbie đứng đó điềm tĩnh đợi, em giận điên lên.

Hắn tin là có thể che giấu tội ác của mình sau cái vẻ tử tế bề ngoài, sau cái màn phô bày là một người chăn chiên tốt bụng ư?

Đây chắc chắn là một nỗ lực bất chấp đạo lý nhằm giành được sự tha thứ cho việc không bao giờ có thể tha thứ.

Quan điểm của em rằng cái ác rất phức tạp và lừa mị lại được khắng định thêm lần nữa.

Đột nhiên, tay mẹ an mạnh lên vai em rồi đưa em quay vào nhà, cho Betty chăm.

Emily muốn con gái mình tránh thật xa Robbie Turner.

Cuối cùng thì giờ đi ngủ cũng tới.

Betty nắm chặt lấy tay em rồi dẫn em vào trong khi mẹ và anh trai tiến tới đón hai đứa sinh đôi.

Briony ngoái lại nhìn lần cuối khi em bị dẫn đi và thấy Robbie của em giơ hai tay lên, như thể đầu hàng.

Hắn nhấc một thằng nhỏ qua khỏi đầu và nhẹ nhàng đặt xuống đất.

Một giờ sau em nằm trên cái giường bốn cọc màn trong bộ váy ngủ cô tông trắng tinh mà Betty tìm cho.

Rèm kéo xuống, nhưng những tia nắng ban ngày ở rìa rèm rất chói, và bất chấp toàn bộ cảm giác mệt mỏi xáo trộn, em không ngủ được.

Những giọng nói và hình ảnh trùng trùng điệp điệp quanh giường em, những sự hiện diện cáu kỉnh, mè nheo, chen lan và nhập với nhau, cưỡng lại các nỗ lực của em nhằm sắp xếp chúng theo trật tự.

Có thật là tất cả chỉ gói gọn trong một ngày duy nhất, một khoảng thời gian liền mạch khi giấc ngủ hoàn toàn vắng bóng, từ màn diễn tập vở kịch ngây thơ đến sự xuất hiện của tên khổng lồ từ trong màn sương mù?

Mọi chuyện diễn ra giữa hai điểm mút đó thật quá ầm ĩ, quá bất định đến mức không sao hiểu nổi, mặc dù em cảm thấy mình đã thành công, thậm chí đã thắng.

Em đá chăn ra để hở chân và tìm một góc mát hơn trên gối cho má.

Trong trạng thái choáng váng này em không thể nói cho chính xác mình đã thành công trong việc gì; nếu đó là việc giành được sự trưởng thành mới mẻ, thì em hầu như không cảm nhận được nó, vì lúc này đây em thấy mình quá yếu ớt, thậm chí vô cùng trẻ con, lại còn thiếu ngủ, đến mức em nghĩ mình có thể dễ dàng bật khóc.

Nếu vạch mặt một kẻ hoàn toàn xấu là một việc dũng cảm, thì việc hắn xuất hiện với hai thằng sinh đôi như thế thật bất công, và em cảm thấy mình bị lừa.

Giờ ai sẽ tin em đây, khi Robbie làm ra vẻ một người tốt bụng giải cứu hai đứa trẻ bị mất tích?

Toàn bộ việc làm của em, toàn bộ lòng can đảm và sự sáng suốt của em, tất cả những gì em đã làm để đưa Lola về nhà - chẳng để làm gì cả.

Họ sẽ quay lưng lại với em, mẹ em, cảnh sát, anh trai, rồi đi với Robbie Turner ấp ủ một mưu đồ người lớn nào đó.

Em muốn mẹ, em muốn vòng tay ôm cổ mẹ và kéo khuôn mặt duyên dáng của bà lại sát mặt mình, nhưng giờ mẹ sẽ không đến, giờ sẽ không ai đến với Briony, sẽ không ai trò chuyện với em.

Em úp mặt vào gối và để cho nước mắt thấm đẫm nó, cảm thấy mất mát nhiều hơn nữa khi chẳng có ai chứng kiến nỗi buồn khổ của em.

Em nằm trong phòng trẻ tối mờ với nỗi buồn dịu ngọt ấy được chừng nửa tiếng thì nghe tiếng xe cảnh sát đỗ dưới cửa sổ phòng em nổ máy.

Nó chạy qua lối sỏi, rồi dừng lại.

Có tiếng người và vài tiếng chân bước lạo xạo.

Em ngồi bật dậy rẽ rèm ra xem.

Sương mù vẫn còn đó, nhưng trời sáng hơn, như thể được chiếu sáng tự bên trong, và em khẽ khép mắt lại chờ mắt thích nghi với ánh trời chói chang.

Bốn cánh cửa của chiếc xe cảnh sát hiệu Humber đều mở toang, bên nó là ba cảnh sát đứng đợi.

Tiếng người vọng lên từ một nhóm đứng ngay bên dưới phòng em, ngay chỗ cửa trước, khuất tầm mắt.

Rồi tiếng bước chân lại vang lên, và họ xuất hiện, hai thanh tra, Robbie đi giữa.

Và bị còng tay!

Em nhìn thấy tay hắn bị buộc phải quặt ra đằng trước, và từ điểm nhìn thuận lợi này em thấy một ánh kim loại lóe lên từ dưới cổ tay áo hắn.

Sự ô nhục của nó khiến em kinh khiếp.

Đây là một sự khẳng định cao hơn về tội lỗi của hắn, và khỏi đầu hình phạt cho hắn.

Nó mang vẻ của sự đọa đày miên viễn.

Họ đến chỗ xe và dừng lại.

Robbie hơi quay người lại, nhưng em không hiểu được nét mặt của hắn.

Hắn đứng thẳng, cao hơn tay thanh tra vài inch, đầu ngẩng cao.

Có lẽ hắn tự hào về những gì mình đã làm.

Một cảnh sát ngồi vào ghế lái xe.

Viên thanh tra trẻ đi vòng ra cửa sau phía bên kia còn sếp anh ta đang sắp sửa cho Robbie ngồi vào ghế sau.

Chợt có âm thanh náo loạn ngay dưới cửa sổ phòng Briony, và giọng Emily quát lớn, rồi đột nhiên một người trong bộ váy bó sát cố hết sức chạy ra chỗ chiếc xe.

Cecilia chậm bước lại khi đến gần hơn.

Robbie quay lại và bước nửa bước về phía chị và, thật kinh ngạc, viên thanh tra lùi lại.

Cái còng tay nhìn rõ mồn một, nhưng Robbie không có vẻ gì là xấu hổ hay thậm chí để ý đến chuyện có nó ở đó khi đối mặt với Cecilia và nghiêm trang lắng nghe những gì chị nói.

Mấy tay cảnh sát dửng dưng kia nhìn lên.

Nếu chị đang đưa ra một bản cáo trạng gay gắt mà Robbie đáng phải nghe, thì điều đó cũng không hiện ra trên mặt hắn.

Mặc dù Cecilia xây lưng lại với em, Briony cho rằng chị đang nói không hăng hái cho mấy.

Lời buộc tội của chị hẳn sẽ mạnh mẽ hơn rất nhiều khi bị kìm lại như thế.

Họ đã dịch lại gần hơn, và giờ Robbie nói vài từ ngắn gọn, khẽ giơ hai tay bị còng lên rồi lại buông cho nó rơi xuống.

Chị lấy tay mình chạm vào tay hắn, và vuốt ve ve áo hắn, rồi nắm chặt lấy nó và khẽ giật giật.

Có vẻ như đây là một cử chỉ tử tế và Briony cảm động trước khả năng tha thứ của chị gái, nếu đó là điều mà em nghĩ.

Lòng tha thứ.

Trước đây từ này không hề có nghĩa gì cả, mặc dù Briony đã nghe nó hoan hỉ vang lên ngàn lần ở trường học và nhà thờ.

Vậy mà suốt bấy lâu nay, chị gái em đã hiểu.

Dĩ nhiên, có rất nhiều điều em không biết về Cecilia.

Nhưng sẽ có thời gian, vì bĩ kịch này chắc chắn sẽ kéo hai chị em lại gần nhau hơn.

Viên thanh tra tốt bụng có khuôn mặt đá granit hẳn phải nghĩ mình đã khoan dung đủ rồi, vì ông ta bước tới giằng tay Cecilia ra và đứng vào giữa.

Robbie nói gì đó với nàng thật nhanh qua vai viên sĩ quan, và quay về phía xe.

Thận trọng, tay thanh tra đưa tay lên đầu Robbie và ấn mạnh xuống, để anh không bị va đầu khi chúi xuống chui vào băng ghế sau.

Hai tay thanh tra ngồi hai bên kẻ bị bắt giữ.

Cửa xe đóng sầm, và viên cảnh sát được cử ở lại đưa tay chạm mũ chào khi xe chạy đi.

Cecilia vẫn đứng yên tại chỗ, mặt hướng theo đường xe chạy, lặng lẽ nhìn chiếc xe chạy xa dần, nhưng đôi vai đang run lên bần bật cho thấy chị đang khóc, và Briony hiểu mình chưa bao giờ yêu chị gái nhiều hơn giây phút này.

Lẽ ra nó phải kết thúc ở đó, cái ngày liền mạch bao trọn buổi đêm mùa hạ này, lẽ ra nó nên chấm dứt ở đó với cảnh chiếc Humber khuất dần về cuối đường xe chạy.

Nhưng còn một màn đương đầu cuối cùng nữa.

Chiếc xe chạy được hơn hai mươi mét thì chậm dần lại.

Một hình người mà trước đó Briony không để ý thấy đi xuống giữa đường và không hề có ý định sẽ đứng sang một bên.

Đó là một phụ nữ, khá thấp, chân bước liêu xiêu, mặc váy in hoa và cầm một cái ban đầu trông giống cây gậy nhưng hóa ra là một cái dù đàn ông có chuỗi như cái đầu ngỗng.

Chiếc xe dừng lại và bấm còi khi người phụ nữ tiến tới đứng ngay chỗ lưới tản nhiệt.

Đó là mẹ của Robbie, Grace Turner.

Bà giơ cây dù lên và hét.

Viên cảnh sát ngồi ở ghế trước phải ra khỏi xe nói chuyện với bà, rồi túm lấy khuỷu tay bà.

Viên cảnh sát còn lại kia, kẻ đã giơ tay lên mũ chào ban nãy, vội chạy đến.

Bà Turner giằng tay ra, lại giơ cây dù lên, lần này bằng hai tay, và đập xuống, cái chuôi đầu ngỗng trước, với tiếng rắc như một phát súng lục, lên nắp capô bóng loáng của chiếc Humber.

Khi hai viên cảnh sát nửa đẩy, nửa kéo bà ra lề đường, bà bắt đầu hét một từ duy nhất lớn đến nỗi Briony có thể nghe được từ phòng ngủ.

"Dối trá!

Dối trá!

Dối trá!"

Bà Turner gầm lên.

Cửa trước vẫn mở toang, chiếc xe từ từ chạy qua bà và dừng lại để tay cảnh sát chui vào lại.

Chỉ có một mình, đồng nghiệp của ông rất khó ngăn giữ được bà.

Bà nện dù một phát nữa nhưng cú đập lại chệch xuống mui xe.

Ông ta giằng cái dù khỏi tay bà rồi ném ra sau xuống bãi cỏ.

"Dối trá!

Dối trá!"

Grace Turner lại hét, rồi lùi lại vài bước tuyệt vọng sau cái xe đang chạy xa dần, rồi dừng lại, tay chống hông, nhìn nó khi nó chạy qua cái cầu đầu tiên, qua đảo, rồi cái cầu thứ hai, và cuối cùng mất dạng vào trong màu trắng lóa.
 
Atonement - Chuộc Tội
PHẦN HAI - MỘT


Đã đủ chuyện kinh hoàng rồi, nhưng chính chi tiết bất ngờ đó mới xô ngã anh và sau đó không buông tha anh.

Lúc họ đến được chỗ giao đường tàu, sau khi đi bộ ba dặm trên một con đường hẹp, anh thấy lối mòn mình tìm kiếm, nó chạy quanh co bên phải, xuống dốc rồi dẫn lên bãi trồng cây phủ kín một ngọn đồi thấp ở phía Tây Bắc.

Họ dừng lại để anh xem bản đồ.

Nhưng nó không nằm ở nơi anh nghĩ.

Nó không nằm trong túi, cũng không nhét ở thắt lưng.

Anh đã đánh rơi nó hay là đặt nó xuống chỗ dừng chân vừa rồi nhỉ?

Anh thả rơi áo choàng xuống đất, thò tay vào trong áo khoác thì nhận ra: Tấm bản đồ đang nằm trong tay trái anh và chắc nó phải ở đó hơn một tiếng rồi.

Anh liếc nhìn hai người kia nhưng họ quay mặt lại anh, đứng cách xa, im lặng rít thuốc.

Nó vẫn nằm trong tay anh.

Anh đã nạy nó ra từ tay một viên đại úy thuộc trung đoàn Tây Kent nằm dưới hào chiến đấu bên ngoài - bên ngoài chỗ nào nhỉ?

Bản đồ hậu phương như thế này rất hiếm.

Anh cũng lấy cả khẩu súng lục của viên đại úy đã chết.

Anh không định giả làm sĩ quan.

Anh bị mất súng trường và chẳng qua là anh muốn sống sót.

Đường mòn anh quan tâm bắt đầu chạy xuống từ hông một ngôi nhà từng bị bom tàn phá, còn khá mới, có lẽ là nhà của nhân viên đường sắt xây dựng lại sau lần vừa rồi.

Có dấu chân thú trong bùn quanh một vũng nước trong rãnh vết bánh xe.

Có lẽ là dê.

Nhiều mảnh vải vụn viền đen rải rác xung quanh, phần còn lại của rèm hoặc quần áo, một khung cửa sổ tan tành nằm chỏng chơ vắt ngang một bụi cây, và khắp mọi nơi là mùi bồ hóng ẩm.

Đây là đường mòn của họ, lối tắt của họ.

Anh gấp bản đồ lại cất đi, và lúc đứng thẳng người lên sau khi nhặt áo khoác vắt qua vai, anh trông thấy nó.

Hai người kia, cảm nhận động tác của anh, quay lại, và nhìn theo mắt anh.

Đó là một cái chân mắc trong tán cây.

Một cây tiêu huyền trưởng thành, toàn lá là lá.

Cái chân cách mặt đất chừng sáu mét, mắc vào chạc đầu tiên, trần trụi, bị cắt gọn gàng ngay trên đầu gối.

Từ nơi họ đứng không nhìn thấy máu hay da thịt bị rách.

Nó là một cái chân hoàn hảo, trắng xanh, mềm mịn, nhỏ nhắn như chân trẻ em.

Tư thế của nó trên chạc khiến nó trông như thể được trưng bày, cho họ thấy hoặc hiểu ra: đây là một cái chân.

Hai hạ sĩ thốt lên một tiếng kinh tởm thờ ơ và nhặt đồ lên.

Họ từ chối dây vào.

Vài ngày qua, họ đã chứng kiến đủ rồi.

Nettle, lái xe tải, vừa lây điếu nữa vừa nói, "Vậy, đường nào đây, Cha nội?"

Họ gọi anh như thế để giải quyết vấn đề khó khăn là cấp bậc.

Anh vội vàng xuống con đường mòn, gần như rảo bước.

Anh muốn tiến tới trước, khuất khỏi mắt họ, để có thể nôn, hay ỉa, anh không biết cái nào.

Đằng sau một kho thóc, cạnh một đống đá phiến vỡ nát, cơ thể anh chọn giải pháp thứ nhất.

Anh khát quá, anh không thể mất thêm nước được.

Anh uống nước trong bi đông, rồi đi quanh kho thóc.

Anh tận dụng khoảnh khắc chỉ có một mình này để nhìn vết thương.

Nó nằm phía bên phải, ngay dưới lồng ngực, to cỡ đồng nửa Curon.

Trông không tệ lắm sau khi anh rửa sạch máu khô hồi hôm.

Mặc dù lớp da quanh vết thương vẫn đỏ, nó không sưng tấy nhiều lắm.

Nhưng có gì đó ở đó.

Anh có thể cảm thấy nó nhúc nhích khi anh đi.

Một mảnh đạn cũng nên.

Lúc hai hạ sĩ Ida đuổi kịp, anh đã nhét sơ mi vào lại và vờ đang nghiên cứu bản đồ.

Khi có họ đi cùng, bản đồ là sự riêng tư duy nhất anh có được.

"Làm gì vội thế?"

"Chắc lại vừa thấy vài em xinh tươi."

"Là bản đồ thôi.

Anh ta lại đang nghi ngờ cái chết mẹ gì đấy."

"Không nghi ngờ gì, thưa quý ông.

Đây là đường mòn của chúng ta."

Anh lấy một điếu thuốc và Hạ sĩ Mace châm cho anh.

Rồi, để giấu bàn tay đang run run, Robbie Turner bước đi, còn họ theo sau anh, như vẫn theo kể từ hai hôm trước.

Hay là ba nhỉ? cấp bậc anh thấp hơn, nhưng họ theo anh và làm mọi thứ anh đề xuất, và để bảo tồn lòng tự tôn, họ chế nhạo anh.

Những khi họ cuốc bộ trên đường hay băng qua cánh đồng mà anh im lặng quá lâu, Mace bèn nói, "Ông lại đang nghĩ đến mấy em xinh tươi nữa đấy hả Cha nội?"

Và Nettle sẽ hòa theo, "Đúng con bà nó rồi, đúng con bà nó rồi."

Họ là dân thành phố không thích nông thôn và cảm thấy mình lạc lõng nơi đây.

La bàn với họ chả là gì.

Cái phần thuộc chương trình huấn luyện cơ bản này đã trôi tuột qua đầu họ.

Họ quyết định rằng để đến bờ biển, họ cần anh.

Thật khó khăn cho họ.

Anh hành xử như một sĩ quan, nhưng anh còn không có nổi một vạch trên quân hàm.

Trong đêm đầu tiên, khi trú trong nhà để xe đạp của một ngôi trường bị đốt cháy rụi, Hạ sĩ Nettle nói, "Sao một Binh nhì như ông lại nói năng như một gã thượng lưu vậy?"

Anh thấy không việc gì phải giải thích cho họ.

Anh muốn sống sót, anh có lý do chính đáng để sống sót, và anh bất cần biết họ có bám theo hay không.

Cả hai người kia nãy giờ vẫn giữ kè kè súng bên mình.

Ít nhất như thế cũng có ý nghĩa gì đó, và Mace là một tay to con, vai đô, đôi bàn tay co thể rướn tới một quãng tám rưỡi trên cây dương cầm mà gã bảo mình có biết chơi.

Turner cũng không để bụng những lời trêu chọc.

Bây giờ tất cả những gì anh muốn khi họ lần theo đường mòn tách khỏi lộ chính là quên cái chân kia đi.

Con đường nhập vào một con hẻm chạy giữa hai bên tường đá rồi xuôi thẳng xuống một thung lũng mà từ lộ chính thì không thấy được.

Ở cuối đường là một dòng suối đục mà họ băng qua bằng cách xéo lên những hòn đá nằm sâu trong tấm thảm làm từ thứ gì trông giống như mùi tây nước tí hon.

Khi họ ra khỏi thung lũng thì đường ngoặt sang hướng Tây, vẫn kẹp giữa hai bức tường cổ.

Phía trước họ, bầu trời dần rõ hơn một chút và rực sáng như một lời hứa hẹn.

Mọi thứ khác đều màu xám.

Khi họ lên đến đỉnh ngang qua bãi trồng cây hạt dẻ, mặt trời đang lặn bỗng thả mình xuống dưới lớp mây che và trùm lên khung cảnh, làm cho ba người lính chói lòa cả mắt khi họ leo dần lên, nhập vào khung cảnh đó.

Kết thúc một ngày lang bạt ở miền quê nước Pháp bằng cách đi vào giữa cảnh mặt trời đang lặn mới tuyệt vời làm sao.

Luôn là một hành động đầy hy vọng.

Khi ra khỏi bãi, trồng cây, họ nghe tiếng máy bay ném bom, thế là họ lại trở vào và hút thuốc trong khi đợi dưới tán cây.

Từ nơi này họ không thể thấy đám tiêu huyền, nhưng quang cảnh khá đẹp.

Những ngọn đồi trải ngút ra trước mắt họ khó mà gọi được là đồi.

Chúng chỉ là những nét gợn lăn tăn trong cảnh vật nơi đây, sự lặp lại kém cỏi những dãy núi sừng sững ở nơi nào đó khác.

Mỗi rặng phía sau lại nhạt nhòa hơn rặng trước.

Anh nhìn thấy một dải xám và lam nhạt dần vào mảng mờ mờ ở phía mặt trời đang lặn, như một thứ lấp lánh trên đĩa trong buổi tiệc tối.

Nửa giờ sau họ vượt mãi mới qua được một sườn núi dốc cao chạy miết về phía Bắc và cuối cùng đến một thung lũng khác, một dòng suối nhỏ khác.

Dòng này chảy xiết hơn và họ băng qua nhờ một cây cầu đá ngập đầy phân bò.

Hai viên hạ sĩ không mệt như anh, đùa nghịch, vờ khó chịu.

Một gã ném một cục phân khô vào lưng anh.

Turner không quay lại nhìn.

Những mảnh vải ấy, anh bắt đầu nghĩ, có thể là bộ pyjama của một đứa nhỏ.

Một thằng bé.

Máy bay thả bom vẫn thỉnh thoảng đến ngay sau rạng đông.

Anh cố xua ý nghĩ đó đi, nhưng nó không chịu buông tha anh.

Một thằng bé người Pháp ngủ say trên giường.

Turner muốn tách mình xa khỏi căn nhà bị đánh bom kia.

Giờ không phải chỉ mỗi không quân và lục quân Đức truy kích anh.

Nếu trời có trăng anh sẽ rất sung sướng đi bộ suốt đêm.

Hai hạ sĩ kia sẽ không thích thế.

Có lẽ đến lúc tông khứ họ đi rồi.

Xuôi theo cầu là một hàng dương, ngọn dập dờn ánh lên trong những tia sáng cuối cùng.

Ba người lính quành sang hướng khác và chẳng mấy chốc lại đi vào đường mòn, bỏ dòng suối lại phía sau.

Họ cố người len qua những bụi cây lá to bản sáng bóng.

Có cả những cây sồi còi cọc, trụi lá.

Cây cỏ dưới chân tỏa hương ngọt ngào ẩm ướt, và anh nghĩ hẳn nơi này phải có gì đó không ổn thì mới khiến nó quá khác với những thứ họ đã thấy.

Phía trước họ là tiếng rền rền như của máy móc.

Nó to dần lên, giận dữ hơn, gợi nghĩ đến những vòng quay của bánh đà hay tua bin điện quay với tốc độ kinh hoàng.

Họ đang bước vào một sảnh lớn gồm toàn những âm thanh và năng lượng.

"Omg!" anh hét lớn.

Anh phải quay đầu nói lần nữa thì họ mới nghe thấy.

Không gian đã tối sầm lại.

Anh biết loài này khá rõ.

Nếu một con dính vào tóc mình mà đốt thì khi chết, nó sẽ phát ra một tín hiệu hóa học và tất cả những con khác nhận tín hiệu đó sẽ buộc phải đến đốt và chết cùng chỗ đó.

Tổng động viên cưỡng bách!

Sau bao nguy hiểm đã qua, chuyện này thật là một thứ sỉ nhục.

Họ kéo áo măng tô lên trùm đầu và chạy xuyên qua bầy ong.

Ong vẫn vây xung quanh, họ chạy tới được một cái hào bùn than bốc mùi hôi thối rồi băng qua nó nhờ một tấm ván lắc la lắc lư.

Họ chạy tới nấp sau kho thóc, ở đó đột nhiên yên bình.

Phía trước nó là sân nhà.

Ngay khi họ vào được trong, bầy chó sủa ầm ĩ và một bà già chạy vụt ra đập tay đen đét về phía chúng, như thể chúng là bầy gà mái bà có thể xuỵt đi được.

Hai viên hạ sĩ nhờ cậy vào vốn tiếng Pháp của Turner.

Anh bước tới trước và đợi bà lại gần.

Từng có giai thoại kể rằng có người dân bán chai nước giá mười Franc, nhưng anh chưa bao giờ gặp cả.

Những người Pháp anh gặp đều hào phóng, hoặc nếu không thì chìm đắm trong nỗi khốn khổ của bản thân họ.

Người đàn bà kia trông mong manh nhưng sung mãn.

Bà có khuôn mặt tròn vành vạnh, nhăn nheo, ánh mắt hoang dại.

Giọng bà sắc lẹm.

"C'est impossible, M'sieur.

Vous ne pouvez pas Tester ici."

"Chúng tôi sẽ ở lại trong kho thóc.

Chúng tôi cần nước, rượu, bánh mì, pho mát và bất cứ thứ gì bà có thể cho."

"Không được!"

Anh dịu dàng nói với bà, "Chúng tôi đang chiến đấu vì nước Pháp."

"Các ông không ở lại đây được."

"Rạng sáng chúng tôi sẽ đi ngay.

Bọn Đức vẫn..."

"Không phải bọn Đức, Ông ơi.

Mà là các con trai tôi.

"Chúng là lũ súc sinh.

Mà chúng về ngay bây giờ."

Turner đẩy người đàn bà qua bên rồi đi thẳng tới cái máy bơm ở góc sân, gần bếp.

Nettle và Mace theo sau anh.

Trong khi anh uống, một bé gái chừng mười tuổi và một thằng nhóc còn chập chững nắm tay nó nhìn anh từ bậc cửa.

Khi uống xong và đổ đầy nước vào bi đông, anh mỉm cười với chúng, còn chúng bỏ chạy.

Hai hạ sĩ cùng nhau đứng dưới máy bơm, uống cùng một lúc.

Bà già đột nhiên đứng sau anh, túm lấy khuỷu tay anh.

Trước khi bà lại lên tiếng, anh nói, "Xin làm ơn mang cho chúng tôi cái chúng tôi xin, nếu không chúng tôi sẽ tự vào trong lấy."

"Mấy thằng con tôi cục súc lắm.

Chúng sẽ giết tôi."

Lẽ ra anh đã nói, Vậy kệ thôi, nhưng thay vì thế anh bỏ đi rồi ngoái đầu lại nói, "Tôi sẽ nói chuyện với họ."

"Vậy thì, thưa ông, chúng sẽ giết ông.

Chúng sẽ xé tan xác ông ra."

Hạ sĩ Mace là đầu bếp cũng trong Lực lượng Hậu cần Quân đội Hoàng gia như Hạ sĩ Nettle.

Trước khi tòng quân gã giữ chân thủ kho tại cửa hàng Heal's trên đường Tottenham Court.

Gã bảo mình biết chút ít thế nào là thoải mái, và bắt đầu thu xếp chỗ nằm cho cả bọn trong kho thóc.

Turner thì chỉ muốn quẳng ngay người xuống đống rơm.

Mace tìm thấy một chồng bao bố và, nhờ có Nettle giúp, gã nhồi rơm vào làm thành ba cái nệm.

Gã làm gối từ mấy kiện cỏ mà chỉ bằng một tay gã đã nhấc xuống được.

Gã đặt một cánh cửa lên đống gạch làm thành cái bàn.

Gã lấy nửa cây nến trong túi ra.

"Cũng ngon lành," gã liên tục lẩm bẩm.

Đó là lần đầu tiên họ nói những chuyện khác ngoài lời bóng gió về tình dục.

Ba người đàn ông nằm trên giường, hút thuốc và đợi.

Giờ khi đã hết khát, họ nghĩ đến đồ ăn mình sắp có và nghe tiếng dạ dày của nhau rền rĩ quặn siết trong trời chiều ảm đạm, và chuyện đó khiến họ cười phá lên.

Turner kể cho họ nghe cuộc nói chuyện giữa anh với bà già và điều bà nói về lũ con trai mình.

'"Bọn nội gián, chúng dám là thế lắm," Nettle nói.

Gã chỉ trông bé nhỏ khi so với tay bạn gã, nhưng mặt gã có nét sắc nhọn của một người đàn ông nhỏ con và dáng vẻ thân thiện, như loài gặm nhấm, dáng vẻ mà cái lối gã bập răng hàm trên lên môi dưới càng làm nổi rõ.

"Hoặc Phát xít Pháp.

Bọn ủng hộ Đức.

Như Mosley ở mình ấy," Mace nói.

Họ lặng im một lúc, rồi Mace nói thêm, "Hoặc như tất cả bọn ở quê, loạn óc vì kết hôn với họ hàng gần quá."

"Dù là cái quái gì thì tôi nghĩ giờ ông nên kiểm tra vũ khí và để trong tầm với đi," Turner nói.

Họ làm như được bảo.

Mace thắp nến, và họ làm như thường lệ vẫn làm.

Turner kiểm tra súng lục và đặt trong tầm với.

Xong xuôi, hai hạ sĩ dựng khẩu Lee-Enfield dựa vào một thùng gỗ rồi nằm lại xuống giường.

Ngay sau đó, đứa bé gái cầm giỏ tới.

Nó đặt giỏ xuống cạnh cửa kho rồi chạy biến.

Nettle với lấy cái giỏ và họ bày ra bàn những gì người ta vừa đem đến cho mình.

Một ổ bánh mì nâu tròn, một miếng pho mát mềm nhỏ, một củ hành và một chai rượu.

Bánh mì cứng khó cắt và có mùi mốc.

Pho mát thì ngon, nhưng chỉ vài giây là hết.

Họ chuyền nhau chai rượu và chẳng mấy chốc nó cũng cạn sạch.

Vậy là họ nhai bánh mì mốc và ăn hành tây.

Nettle nói, "Đến con chó mắc dịch của tôi tôi cũng không cho ăn cái này."

"Tôi sẽ lên đó kiếm thứ gì ngon hơn," Turner nói.

"Bọn tôi cũng đi."

Nhưng họ cứ im lặng nằm trên giường một lúc.

Không ai vội đương đầu với bà già.

Rồi họ nghe tiếng bước chân, liền quay lại thì thấy hai người đàn ông đứng ở cửa.

Cả hai cầm thứ gì đó trên tay, có lẽ là cây gậy, hay khẩu súng.

Trong ánh sáng lờ mờ thì không thể biết được.

Mà họ cũng chẳng nhìn rõ mặt anh em người Pháp kia.

Giọng dịu dàng.

"Bonsoir, Messieurs.

" "Bonsoir."

Nhổm người dậy từ cái giường rơm, Turner vớ lấy khẩu súng lục.

Hai hạ sĩ với tay lấy súng trường.

"Bình tĩnh," anh thì thầm.

"Anglais?

Belges?"

"Anglais.

"

"Chúng tôi có thứ này cho các anh."

"Thứ gì?"

"Hắn ta nói gì thế?" một hạ sĩ nói.

"Hắn ta bảo có cái này cho chúng ta."

"Mẹ kiếp."

Người kia bước lại gần hơn và giơ thứ họ đang cầm lên.

Súng lục, chắc chắn rồi.

Turner tháo chốt an toàn.

Anh nghe Mace và Nettle cũng làm như vậy.

"Bình tĩnh," anh lẩm bẩm.

"Bỏ súng xuống, Messieurs."

"Các ông bỏ súng xuống."

"Đợi một chút."

Người đang nói cho tay vào túi.

Anh ta móc ra một cái đèn pin nhưng không soi vào ba người lính mà vào anh trai mình, vào thứ anh ta đang cầm.

Một ổ bánh mì Pháp.

Và vào cái ở tay bên kia, một túi vải.

Rồi anh ta giơ cho họ xem hai cái bánh mì dài chính mình đang cầm nơi tay.

"Chúng tôi còn có quả ôliu, pho mát, patê, cà chua và thịt xông khói.

Và đương nhiên, rượu nữa.

Vive l'Angleterre".

"Er, Vive la France.

"

Họ ngồi xuống bàn của Mace; hai tay người Pháp, Henri và Jean- Marie Bonnet, đều lịch sự thán phục cái bàn ấy, cả ba tấm nệm nữa.

Họ thấp lùn, chắc nịch, trong độ tuổi năm mươi.

Henri đeo kính, Nettle bảo nông dân mà đeo kính trông kỳ quặc lắm.

Turner không dịch lại.

Không chỉ rượu, họ còn mang theo cả ly thủy tinh.

Năm người đàn ông nâng ly chúc cho quân đội Pháp và Anh, và sự thảm bại của quân Đức.

Hai anh em nhìn ba người lính ăn.

Qua Turner, Mace bảo rằng gã chưa bao giờ ăn thử, thậm chí chưa bao giờ nghe đến patê gan ngỗng, và từ giờ trở đi gã sẽ không ăn bất cứ thứ gì khác nữa.

Hai người Pháp mỉm cười, nhưng cung cách họ e dè, họ có vẻ không có bụng dạ nào mà say xỉn.

Họ bảo đã chạy cả quãng đường dài tới một thôn gần Arras trên chiếc xe tải nông trại sàn phẳng để tìm cô em họ và con của cô ta.

Một trận chiến lớn đã diễn ra để giành thị trấn nhưng họ không biết ai đang muốn chiếm thị trấn, ai đang bảo vệ nó, hay ai đang thắng thế.

Họ đi đường phụ để tránh đám tị nạn hỗn loạn.

Họ thấy những căn nhà đang cháy, rồi thì gặp chừng chục lính Anh chết trên đường.

Họ phải ra khỏi xe kéo những cái xác qua một bền để khỏi cán đè lên.

Nhưng một vài thi thể gần như đã lìa đôi.

Hẳn là một trận tấn công lớn bằng súng máy, có lẽ từ trên không, hoặc là phục kích.

Trở lại xe tải, Henri nôn thốc tháo, còn Jean-Marie đang cầm lái hoảng loạn quá đâm xe xuống mương.

Họ cuốc bộ về làng, mượn hai con ngựa của một nông dân mà kéo chiếc Renault lên.

Mất trọn hai giờ.

Khởi hành lại, họ thấy những chiếc xe tăng và xe bọc sắt bị thiêu rụi, của Đức cũng như Anh và Pháp.

Nhưng họ không thấy lính.

Chiến trận đã chuyển sang vùng khác.

Khi họ đến được thôn thì đã chiều muộn.

Nơi này đã bị thiêu hủy hoàn toàn và trống không.

Nhà cô em họ tan hoang, vết đạn lỗ chỗ khắp tường, nhưng còn nguyên mái.

Họ vào từng phòng và nhẹ cả lòng khi không tìm thấy ai trong đó.

Cô ấy hẳn đã đem bọn trẻ nhập vào hàng ngàn người trên khắp các ngả đường.

Sợ phải lái xe về trong đêm, họ đỗ xe trong rừng và cố ngủ trong xe.

Suốt đêm dài họ nghe tiếng pháo giã xuống Arras.

Dường như không thể nào có chuyện bất cứ ai, hay bất cứ cái gì, sống sót nổi ở đó.

Họ lái xe về theo đường khác, xa hơn rất nhiều, để tránh phải đi qua những xác lính.

Giờ, Henri giải thích, ông và anh trai ông rất mệt.

Khi nhắm mắt, họ lại thấy những thi thể bị băm nát kia.

Jean-Marie lại rót rượu vào ly.

Câu chuyện, cộng cả lời dịch liên tục của Turner, chiếm mất một tiếng.

Toàn bộ thức ăn hết sạch.

Anh nghĩ đến chuyện kể cho họ nghe chi tiết duy nhất ám ảnh mình.

Nhưng anh không muốn chất thêm vào nỗi kinh hoàng sẵn có đó, cũng không muốn làm sống dậy cái hình ảnh đó một khi nó đã được giữ cách xa một đoạn nhờ có rượu và tình bằng hữu.

Thay vì thế, anh kể họ nghe chuyện mình bị tách khỏi đơn vị khi bắt đầu rút lui, trong một trận không kích bằng Stuka.

Anh không đề cập đến việc mình bị thương vì không muốn hai hạ sĩ kia biết.

Rồi anh giải thích họ băng qua vùng quê đến Dunkirk để tránh bị không kích trên đường chính như thế nào.

Jean-Marie nói, "Vậy những điều người ta nói là thực.

Các anh đang đào ngũ."

"Chúng tôi sẽ quay lại."

Anh nói ra điều này, nhưng không tin.

Rượu đang làm Hạ sĩ Nettle chuếnh choáng.

Gã bắt đầu huyên thuyên tán dương cái gã gọi là "Gái Phóp" - nhiều làm sao, sẵn làm sao, ngon làm sao.

Nhưng tất cả chỉ là tưởng tượng.

Hai anh em nhìn Turner.

"Anh ta bảo phụ nữ Pháp đẹp nhất thế giới."

Họ nghiêm nghị gật đầu rồi nâng ly lên.

Tất cả im lặng một lúc.

Buổi tối của họ gần như đi đến hạ màn.

Họ lắng nghe những âm thanh trong đêm mà họ đã dần quen - tiếng pháo nổ đì đoàng, tiếng súng rải rác xa xa, một tiếng nổ ầm vang xa tít - chắc hẳn công binh cho nổ cầu trên đường rút.

"Hỏi họ về mẹ của họ đi," Hạ sĩ Mace gọi ý.

"Chuyện này phải làm rõ mới được."

"Chúng tôi có ba anh em," Henri giải thích.

"Anh cả, Paul, con đầu lòng của bà, chết gần Verdun năm 1915.

Bị đạn pháo nổ trực diện.

Không còn gì chôn cất ngoài mũ sắt.

Hai bọn tôi, thì gặp may.

Chúng tôi sống sót không bị trầy xước gì.

Kể từ đó, bà luôn ghét quân lính.

Nhưng giờ đây bà tám mươi ba tuổi và mất trí thì nó trở thành nỗi ám ảnh.

Quân Pháp, Anh, Bỉ, Đức.

Bà không phân biệt được.

Với bà các anh như nhau cả.

Chúng tôi lo là khi quân Đức đến, bà sẽ đem bồ cào nhọn ra chĩa vào chúng rồi chúng sẽ bắn bà."

Mệt mỏi, hai anh em đứng dậy.

Ba người lính cũng đứng lên.

Jean-Marie nói, "Chúng tôi rất muốn tỏ lòng mến khách với các anh ở bàn ăn nhà mình.

Nhưng làm thế thì chúng tôi lại buộc phải nhốt bà trong phòng."

"Thế này là một bữa thịnh soạn lắm rồi," Turner nói.

Nettle thì thầm vào tai Mace và gã gật đầu.

Nettle lấy từ trong túi mình ra hai bao thuốc lá.

Dĩ nhiên, làm thế là phải.

Hai ông người Pháp lịch sự từ chối, nhưng Nettle đi vòng qua bàn, dúi món quà vào tay họ.

Anh muốn Turner dịch.

"Lẽ ra hai ông phải chứng kiến, lúc ấy có lệnh tiêu hủy kho quân trang.

Hai mươi nghìn điếu thuốc lá.

Chúng tôi lấy bất cứ thứ gì mình muốn."

Toàn bộ quân đội chạy trốn đến bờ biển, vũ trang bằng thuốc lá để quên đi cái đói.

Hai ông người Pháp nhã nhặn cảm ơn, khen Turner giỏi tiếng Pháp, rồi cúi xuống bàn cầm mấy cái chai rỗng và ly cho vào túi bạt.

Chắc chắn họ sẽ chẳng bao giờ gặp lại nhau nữa.

"Chúng tôi sẽ đi ngay lúc rạng ngày," Turner nói.

"Vì vậy xin tạm biệt."

Họ bắt tay.

Henri Bonnet nói, "Sau ngần ấy trận chiến chúng tôi từng tham gia hai mươi lăm năm trước.

Sau khi ngần ấy người đã chết.

Giờ bọn Đức lại trở lại Pháp.

Hai ngày nữa chứng sẽ có mặt ở đây, chiếm lấy mọi thứ của chúng tôi.

Ai mà tin được chứ?"

Lần đầu tiên, Turner cảm thấy trọn vẹn sự đê hèn của hành động rút lui.

Anh xấu hổ.

Nhưng anh vẫn nói, dù thậm chí còn ít tin tưởng hơn lần trước, "Chúng tôi sẽ quay lại đánh bật chúng đi, tôi hứa với các ông."

Hai anh em gật đầu và, với nụ cười tạm biệt cuối cùng nở trên môi, rời khỏi quầng ánh nến mờ mờ, băng qua bóng tối đi về phía cánh cửa kho mở toang, mấy cái ly va lanh canh vào chai khi họ bước đi.
 
Atonement - Chuộc Tội
HAI


Anh nằm hút thuốc một lúc lâu, đăm đăm nhìn lên khoảng đen của vòm mái.

Tiếng ngáy của hai hạ sĩ lên xuống nhịp nhàng.

Anh kiệt sức, nhưng không buồn ngủ.

Vết thương nhói lên khó chịu theo từng nhịp, nhịp nào cũng thắt lại như nhau.

Dù là cái gì trong đó, nó cũng sắc và ở gần bề mặt da, và anh muốn dùng đầu ngón tay chạm vào.

Nỗi mệt mỏi khiến anh dễ bị tổn thương vì những ý nghĩ chính anh chẳng hề mong muốn.

Anh đang nghĩ đến thằng bé người Pháp ngủ trên giường, về sự dửng dưng của những kẻ có thể rót đạn cối xuống một vùng phong cảnh đẹp thế này.

Hay trút bom lên một ngôi nhà đang say ngủ cạnh đường ray, không cần biết hay quan tâm có ai đang ở trong đó.

Nó là một quá trình mang tính công nghiệp.

Anh đã thấy các đơn vị Pháo binh Hoàng gia của chính phe họ làm việc, những đội liên kết chặt chẽ, lao động cả ngày, tự hào mình có thể ghép pháo đạn vào một lô nhanh đến thế nào, tự hào về kỷ luật, sự trui rèn, huấn luyện, phối hợp ăn ý của họ.

Họ cần không bao giờ thấy kết quả cuối cùng - một thằng bé biến mất.

Biến mất.

Khi từ này thành hình trong suy nghĩ, giấc ngủ vồ lấy anh, nhưng chỉ trong vài giây.

Rồi anh lại tỉnh, trên giường, nằm ngửa, nhìn vào bóng tôi đen kịt trong xà lim của mình.

Anh có thể cảm thấy mình trở lại nơi đó.

Anh có thể ngửi thấy mùi sàn bê tông, mùi nước giải trong xô, sơn bóng trên tường, và nghe tiếng ngáy của những người nằm thành dãy.

Ba năm rưỡi chỉ toàn những đêm như thế này, không ngủ được, nghĩ đến thằng bé biến mất khác, một cuộc đời biến mất khác vốn từng là cuộc đời anh, và đợi bình minh, rồi đổ phân và rồi lại một ngày hoài phí nữa.

Anh không biết làm cách nào mình có thể sống sót qua nổi sự ngu xuẩn thường nhật của nó.

Sự ngu xuẩn và nỗi sợ những không gian chật hẹp.

Bàn tay bóp chặt cổ họng anh.

Ở đây, náu trong một kho thóc, với một đám quân đang rút chạy, nơi chân một đứa trẻ nằm trên cây là thứ gì đó mà người bình thường có thể lờ đi, nơi cả một quốc gia, một nền văn minh sắp sửa tan rã thì vẫn tốt hơn ở đó, trên cái giường hẹp dưới ánh đèn điện mờ mờ, chờ đợi không gì cả.

Ở đây có những thung lũng đầy cây cối, dòng suối, ánh nắng trên hàng dương, những thứ họ không thể lấy đi trừ phi họ giết anh.

Và ở đây có hy vọng.

Em sẽ đợi anh.

Trở về với em.

Có một cơ hội, chỉ một cơ hội, để quay về.

Anh cất lá thư gần đây nhất và địa chỉ mới của nàng trong túi.

Đây là lý do tại sao anh phải sống sót, và khôn ngoan tránh lộ chính nơi những máy bay ném bom nhào lượn trên không chực chờ như bầy chim ăn thịt.

Rồi, anh ngồi dậy từ dưới chiếc măng tô, xỏ bốt vào, mò mẫm trong kho thóc để ra ngoài đi tiểu.

Anh hoa mắt vì mệt, nhưng vẫn chưa sẵn sàng ngủ được.

Lờ đi những con chó gầm gừ, anh đi men theo con đường nhỏ đến một gò cao rậm rịt cỏ để nhìn những tia lóe lên trên bầu trời phía Nam.

Xe bọc sắt quân Đức đang đổ về như sấm.

Anh đưa tay lên sờ túi trên, nơi có bài thơ nàng gửi kèm với lá thư.

Trong cơn ác mộng của bóng đêm, Tất cả bầy chó châu Âu sủa.

Những thư khác của nàng được cất kỹ vào túi trong áo choàng.

Đứng trên bánh xe một chiếc moóc bị vứt không, anh có thể thấy những phần khác của bầu trời.

Súng lóe lên khắp nơi trừ phía Bắc.

Quân đội bại trận đang tháo chạy đến một đường rút chắc chắn rồi sẽ co lại và chẳng mấy chốc bị cắt đứt.

Sẽ không có cơ hội chạy thoát cho những kẻ bị tụt lại.

Với họ thì may mắn nhất sẽ là bị tống vào tù tiếp.

Trại tù.

Lần này, anh sẽ không thoát được nữa.

Khi Pháp bại trận, sẽ không sao biết được chừng nào cuộc chiến tranh này kết thúc.

Không thư từ gì của nàng, và không còn đường quay lại.

Không cách gì thương lượng để được thả sớm đổi lại là gia nhập bộ binh.

Cánh tay lại siết cổ họng anh.

Viễn cảnh mở ra sẽ là một ngàn, hoặc nhiều ngàn đêm giam hãm, mắt mở trừng trừng mà lật lại quá khứ, đợi chờ cuộc đời mình tái hồi, băn khoăn liệu có bao giờ được nữa không.

Có lẽ sẽ hợp lý nếu bỏ đi ngay bây giờ trước khi quá muộn, và cứ đi mãi, suốt đêm thâu, suốt ngày dài, cho đến khi đến được biển.

Lẻn đi, để mặc hai hạ sĩ cho định mệnh của họ.

Anh quay người bắt đầu xuống dốc nhưng rồi lại nghĩ lại.

Anh hầu như không thấy được mặt đất phía trước.

Tối tăm thế này anh sẽ chẳng đi được bao xa, chưa kể còn dễ bị gãy chân nữa.

Mà có khi hai hạ sĩ kia không phải là hai tên ngu hoàn toàn - Mace với cái đệm bằng rơm, Nettle với món quà cho hai anh em nhà kia.

Nhờ tiếng ngáy của họ dẫn lối, anh lê bước vào giường lại được.

Nhưng giấc ngủ vẫn không đến, hay chỉ ập xuống rất nhanh, rồi anh lại ngoi lên khỏi nó, chống chếnh với những ý nghĩ anh không có khả năng chọn hay quyết định.

Chúng rượt đuổi anh, những chủ đề xưa cũ.

Lại nó đây, lần gặp mặt duy nhất giữa anh và nàng.

Ra tù được sáu ngày, một ngày trước khi anh nhận nhiệm vụ gần Aidershot.

Cho đến lần hẹn gặp tại quán trà Joe Lyons ở Strand năm 1939, họ đã không hề gặp nhau trong ba năm rưỡi.

Anh đến quán sớm và chọn một góc ngồi nhìn ra cửa.

Tự do vẫn còn mới mẻ quá.

Bước chân, tiếng ồn ào, màu những chiếc áo khoác, jacket, váy, cuộc trò chuyện rôm rả vui vẻ của mấy người đi mua sắm ở West End, sự thân thiện của cô gái phục vụ cho anh, sự vắng mặt toàn diện của hiểm họa - anh ngả lưng ra sau mà tận hưởng cái ôm ghì của những thứ thường nhật.

Nó có một vẻ đẹp mà riêng mình anh mới biết tận thưởng.

Trong suốt thời gian ở tù, khách phụ nữ duy nhất anh được phép gặp là mẹ anh.

Phòng khi anh bị lên cơn kích động, họ nói.

Cecilia tuần nào cũng viết thư.

Yêu nàng, nhưng buộc mình phải thật lý trí với nàng, nên một cách tự nhiên anh phải lòng từng từ nàng viết.

Khi hồi đáp, anh vờ như vẫn là con người cũ, nói dối để giữ cho mình lý trí.

Vì sợ bác sĩ tâm thần, ông này cũng là người kiểm duyệt thư của họ, họ không bao giờ được lả lơi, hay thậm chí đa cảm quá.

Nhà tù nơi anh bị giam được coi là một nơi hiện đại, đã được khai sáng, dù vẫn lạnh giá như ở thời Victoria.

Anh đã được chẩn đoán, với sự chính xác y học, là có khát vọng tình dục quá độ đến bệnh hoạn, cần phải được chữa trị cũng như chỉnh đốn.

Anh không được để bị kích thích.

Vài lá thư - cả của anh và nàng - bị tịch thu vì vài từ ngữ rụt rẽ bộc lộ tình cảm.

Vì vậy họ viết cho nhau về văn học, và sử dụng các nhân vật làm mật mã.

Hồi ở Cambridge, họ chỉ đi lướt qua nhau trên đường phố.

Tất cả những cuốn sách kia, những đôi hạnh phúc hay bi kịch kia, họ chưa bao giờ gặp nhau mà cùng bàn luận.

Tristan và Isolde, Công tước Orsino và Olivia (và Malvolio nữa), Troilus và Criseyde, anh Knightley và Emma, Venus và Adonis.

Turner và Tallis.

Có một lần, tuyệt vọng, anh nói đến Prometheus, người bị xích vào tảng đá, bị một con kền kền hàng ngày đến ăn gan.

Thỉnh thoảng nàng là Griselde kiên nhẫn.

Đề cập tới "một góc yên tĩnh trong thư viện" là mật mã cho khoái cảm tình dục.

Họ cũng kể lại đời sống thường nhật cho nhau, bằng những chi tiết tẻ nhạt nhưng đầy chăm chút.

Anh miêu tả những việc thường ngày trong tù ở mọi khía cạnh, nhưng chưa bao giờ kể nàng nghe về sự ngu xuẩn của nó.

Thế là đủ rõ ràng.

Anh chưa bao giờ bảo với nàng rằng anh sợ có khi mình gục ngã mất.

Cả điều đó nữa cũng rõ rệt.

Nàng chưa bao giờ viết rằng nàng yêu anh, mặc dù nàng sẽ viết nếu nàng nghĩ câu ấy có thể đến được tay anh.

Nhưng điều đó anh biết.

Nàng kể anh nghe đã cắt đứt với gia đình.

Nàng sẽ không bao giờ nói chuyện với cha mẹ, anh trai hay em gái nữa.

Anh theo sát từng bước chân nàng trên con đường học để thành y tá.

Khi nàng viết, "Hôm nay em đi thư viện để lấy cuốn sách giải phẫu em có kể với anh.

Em tìm thấy một góc yên tĩnh và vờ ở đó đọc," anh biết nàng cũng đang sống bằng những ký ức vẫn nghiến ngấu anh hàng đêm, bên dưới lớp chăn tù mỏng mảnh.

Khi nàng bước vào quán cà phê, mặc chiếc áo choàng y tá không tay, làm anh giật mình thoát khỏi một cơn mê dễ chịu, anh bật dậy nhanh quá đến nỗi đánh đổ cả trà.

Anh nhận thấy rõ sự quá cỡ của bộ com lê mẹ anh đã để dành cho anh.

Chiếc áo ngoài dường như không chạm vào vai anh ở bất kỳ điểm nào.

Họ ngồi xuống, nhìn nhau, mỉm cười, rồi đưa mắt đi chỗ khác.

Robbie và Cecilia đã làm tình với nhau bao năm qua - bằng thư.

Trong những trao đổi bằng mật mã họ đã dịch lại gần nhau, nhưng bây giờ sự gần gũi đó mới có vẻ giả tạo làm sao khi họ bắt đầu cất tiếng trò chuyện, nói những câu vấn đáp lịch sự yếu ớt.

Khi khoảng cách mở ra giữa hai người, họ hiểu rằng trong thư họ đã vượt quá chính mình đến mức nào.

Giây phút này đã được mường tượng và khao khát quá lâu, mà giờ lại không thể nào viên mãn.

Anh đã ra khỏi thế giới, và không đủ tự tin để mà lùi lại, mà vươn tới cái ý nghĩ lớn hơn ấy.

Anh yêu em, em đã cứu đời anh.

Anh hỏi nàng về chỗ trọ của nàng.

Nàng kể anh nghe.

"Thế em có hòa thuận với bà chủ nhà không?"

Anh không nghĩ được gì khá khẩm hơn, và sợ sự im lặng có thể sẽ tràn xuống, sợ sự ngượng ngập có thể sẽ là màn mở đầu cho việc nàng bảo anh rằng thật vui được gặp lại nhau.

Rằng nàng phải về làm việc đây.

Tất cả những gì họ có, tất cả đều dựa trên vài phút trong một thư viện cách đây bao năm rồi.

Nó có mỏng manh quá không?

Nàng có thể dễ dàng rút lại thành ai đó như kiểu em gái.

Nàng có thất vọng không?

Anh đã gầy đi.

Anh đã teo tóp lại theo mọi nghĩa.

Nhà tù đã khiến anh ghê tởm chính mình, trong khi trông nàng vẫn đáng tôn thờ như anh nhớ, nhất là trong bộ đồng phục y tá.

Nhưng nàng cũng đang căng thẳng đến khổ sở, không thể nào bước tránh khỏi những câu nói tầm phào.

Nàng đang cố tỏ ra vui vẻ kể chuyện tính khí bà chủ nhà.

Sau một vài trao đổi như thế, nàng đã thực sự nhìn cái đồng hồ nhỏ lủng lẳng trên ngực trái nàng, và bảo anh rằng giờ nghỉ trưa của nàng sắp hết rồi.

Họ đã có nửa tiếng đồng hồ.

Anh bước cùng nàng đến đường Whitehall, về phía bến xe buýt.

Trong những giây phút quý giá cuối cùng anh viết địa chỉ của mình cho nàng, một dãy lạnh lẽo những con số và từ ngữ.

Anh giải thích rằng chỉ khi nào khóa huấn luyện cơ bản kết thúc thì anh mới rời đi.

Sau đó, anh sẽ được cho hai tuần phép.

Nàng nhìn anh, lắc đầu như thể giận dữ, và rồi, cuối cùng, anh nắm lấy tay nàng siết chặt.

Cử chỉ ấy đã phải bao chứa tất cả những gì không được nói, và nàng đáp lại bằng một cái siết từ chính tay nàng.

Xe buýt đến, song nàng không thả tay anh ra.

Họ đứng đối mặt nhau.

Anh hôn nàng, khẽ khàng lúc đầu, nhưng họ kéo nhau lại gần hơn, và khi lưỡi họ chạm nhau, một phần linh hồn anh cảm thấy biết ơn một cách hèn hạ, vì anh biết giờ đây mình đã có ký ức gửi trong ngân hàng và sẽ rút dần ra cho những tháng ngày tiếp tới.

Giờ anh đang rút nó đây, trong một kho thóc ở Pháp, trong thời khắc khốn khổ này.

Họ ôm chặt lấy nhau và tiếp tục hôn trong khi hàng người đứng đợi xe cứ nhích tới dần ngang qua họ.

Một gã nào đó quang quác vào tai anh.

Nàng khóc, nước mắt rơi lên má anh, và nỗi đau đớn của nàng làm môi nàng căng ra trên môi anh.

Một xe buýt nữa đến.

Nàng dứt ra, siết cổ tay anh, và lên xe không nói một lời cũng không nhìn lại.

Anh nhìn theo nàng khi nàng tìm chỗ ngồi, và khi xe bắt đầu chuyển bánh thì nhận ra đáng lẽ mình nên đi cùng nàng, trên suốt quãng đường đến bệnh viện.

Anh đã ném mất đi mấy phút được có nàng ở bên.

Anh phải học lại cách nghĩ và hành động vì chính bản thân mình.

Anh bắt đầu chạy dọc đường Whitehall, hy vọng đuổi kịp nàng ở bến tiếp theo.

Nhưng xe nàng đã ở cách một đoạn khá xa, và nhanh chóng biến mất về phía Quảng trường Parliament.

Trong giai đoạn anh được huấn luyện, họ tiếp tục viết thư cho nhau.

Được tự do không bị kiểm duyệt và cũng thoát khỏi nhu cầu cần phải sáng tạo, họ thận trọng tiến tới.

Sốt ruột vì phải sống trên giấy, lưu tâm tới những khó khăn, họ thận trọng không dám đi quá cái nắm tay và nụ hôn duy nhất ở bến xe buýt.

Họ nói họ yêu nhau, dùng "anh yêu" và "thân yêu", và biết trong tương lai mình sẽ được ở bên nhau nhưng họ kiềm chế tránh những gần gũi bạo liệt hơn.

Nhiệm vụ của họ bây giờ là duy trì liên lạc cho tới hai tuần lễ ấy.

Qua một người bạn học ở Girton, nàng tìm được một căn nhà ở Wiltshire mà họ có thể mượn tạm, và mặc dù trong những giây phút rảnh rỗi họ ít nghĩ đến thứ gì khác, họ vẫn cố không mơ mộng quá xa trong những lá thư.

Thay vì thế, họ nói những chuyện thường nhật.

Giờ nàng làm việc ở khu sản khoa, và ngày nào cũng mang đến những điều kỳ diệu bình thường, cũng như những giây phút kịch tính hay vui nhộn.

Cũng có những thảm kịch, so với chúng những khó nhọc của họ nhạt nhòa như không: những đứa trẻ chết non, những bà mẹ chết, những chàng trai khóc than trong hành lang, những bà mẹ mười mấy tuổi đầu bàng hoàng bị gia đình từ, những đứa trẻ ra đời bị dị dạng gợi nên cả hổ thẹn lẫn yêu thương, không biết cái nào nhiều hơn.

Khi nàng miêu tả một ca đẻ thành công, cái khoảnh khắc khi trận chiến đã kết thúc và bà mẹ mệt lử lần đầu tiên ôm đứa con vào lòng, mê mẩn nhìn vào khuôn mặt mới, đó là lời mời gọi không lời cho tương lai của chính Cecilia, tương lai mà nàng sẽ chia sẻ cùng anh, là điều khiến cho những lời nàng viết có quyền năng giản dị, mặc dù thực sự là, suy nghĩ của anh ngụ ở phần sinh con không nhiều bằng ở phần thụ thai.

Đến lượt anh mô tả thao trường, nơi tập bắn súng trường, luyện tập quân sự, kỷ luật thép đối với cả những chuyện vớ vẩn nhất, trại lính.

Anh không đủ điều kiện tham gia đào tạo sĩ quan, mà cũng chẳng sao, vì chẳng sớm thì muộn anh sẽ gặp ai đó trong phòng ăn tập thể sĩ quan có biết quá khứ của anh.

Về mặt cấp bậc anh không là gì cả, nhưng hóa ra chuyện đã từng vô khám đem lại cho anh một vị thế nhất định.

Anh phát hiện ra mình đã thích nghi khá tốt với kỷ luật quân đội, với nỗi kinh hoàng của việc xếp quân trang và gập chăn thành hình vuông vuông thành sắc cạnh, với những lần điểm danh xếp hàng.

Không giống đồng đội, anh nghĩ thức ăn chẳng tệ chút nào.

Các ngày, dù mệt nhọc, lại có vẻ phong phú đa dạng.

Những chuyến hành quân qua vùng quê cho anh niềm thích thú mà anh không dám lộ ra với những tân binh khác.

Anh tăng cân và khỏe lên.

Tuổi tác và học vấn làm anh bị hạ thấp, nhưng quá khứ của anh bù đắp lại và không ai gây khó dễ cho anh.

Thay vào đó, anh được coi như là một con chim già thông thái biết kiểu cách của "họ", là người luôn có ích mỗi khi phải điền một tờ đơn.

Như nàng, anh khuôn những lá thư của mình vào những chuyện thường nhật, xen vào những mẩu chuyện vui nhộn hoặc gây hoang mang: chú tân binh đi tập trận mà thiếu một cái bốt; cừu chạy điên loạn vào trại lính và không tài nào đuổi ra được, tay trung sĩ giáo viên suýt nữa ăn đạn ở nơi tập bắn.

Nhưng có một diễn biến bên ngoài, một bóng đen mà anh phải nhắc đến.

Sau sự kiện Munich năm ngoái, anh tin chắc chắn, như mọi người khác, rằng sẽ có chiến tranh.

Đợt tập huấn của họ được đơn giản hóa đi và đẩy nhanh, một trại mới được mở rộng để lấy thêm tân binh.

Anh lo lắng không phải vì chuyện mình sẽ phải tham gia chiến đấu, mà lo vì giấc mơ Wiltshire của họ có nguy cơ không thành.

Nàng phản chiếu những nỗi sợ hãi của anh bằng việc miêu tả những chuẩn bị bất ngờ ở bệnh viện - thêm giường, các khóa học đặc biệt, thực tập cấp cứu.

Nhưng đồng thời cả hai vẫn thấy toàn bộ chuyện này có cái gì đó không thực, vẫn còn xa xôi mặc dù có khả năng xảy ra.

Chắc chắn chiến tranh sẽ không xảy ra nữa, người ta tiếp tục nói thế.

Thành thử họ tiếp tục bám víu vào hy vọng của mình.

Còn một vấn đề khác, bức thiết hơn, ám ảnh anh.

Cecilia đã không nói chuyện với cha mẹ, anh trai hay em gái từ tháng Mười một năm 1935 khi Robbie bị kết án.

Nàng không viết thư cho họ, cũng không cho họ biết địa chỉ.

Thư đến tay nàng qua mẹ anh, bà đã bán căn bunga¬low và chuyển sang làng khác.

Thông qua Grace mà nàng cho gia đình biết mình vẫn ổn và không muốn liên lạc gì.

Leon đã đến bệnh viện một lần, nhưng nàng không nói chuyện với anh.

Anh đợi ngoài cổng suốt cả chiều.

Khi thấy anh, nàng trốn vào trong cho đến khi anh bỏ đi.

Sáng hôm sau anh ở ngoài khu nội trú của y tá.

Nàng đi lướt qua anh và thậm chí không nhìn về phía anh.

Anh níu khuỷu tay nàng, nhưng nàng giật mạnh tay ra bước tiếp, không hề tỏ ra động lòng bởi sự nài xin của anh.

Robbie biết rõ hơn ai hết nàng yêu anh trai mình thế nào, nàng thân thiết với gia đình thế nào, và căn nhà và công viên có ý nghĩa thế nào với nàng.

Anh có thể không bao giờ quay lại, nhưng anh khổ sở khi nghĩ đến việc nàng đang hủy hoại một phần trong nàng vì anh.

Sau một tháng huấn luyện, anh nói với nàng mình đang nghĩ gì.

Đó không phải lần đầu tiên họ đả động đến chuyện này, nhưng vấn đề đã trở nên rõ ràng.

Nàng viết trả lời, "Họ quay lưng lại với anh, tất cả họ, ngay cả cha em.

Khi họ hủy hoại cuộc đời anh, họ hủy hoại đời em.

Họ quyết định tin bằng chứng của một con oắt loạn trí, ngớ ngẩn.

Trên thực tế, họ đã khuyến khích nó bằng cách không cho nó đường nào mà quay lại.

Nó mới mười ba tuổi đầu, em biết, nhưng em không bao giờ muốn nói chuyện với nó nữa.

Còn với những người còn lại, em không bao giờ có thể tha thứ cho việc họ đã làm.

Giờ đây khi cắt đứt, em bắt đầu hiểu sự trưởng giả nằm sau sự ngu xuẩn của họ.

Mẹ em không bao giờ tha thứ cho anh vì anh đã tốt nghiệp thủ khoa.

Cha em thích trốn mình vào công việc.

Leon hóa ra lại là một tên ngốc không xương sống, lúc nào cũng tí ta tí toét hòa hợp với tất cả mọi người.

Khi Hardman quyết định che giấu cho Danny, không ai trong gia đình em muốn cảnh sát thẩm vấn ông ta những câu hỏi rõ rành rành.

Cảnh sát truy tố anh.

Họ không muốn vụ của họ bị rối tung lên.

Em biết nghe thật chua chát, nhưng anh thương yêu của em, em không muốn thế.

Em thực lòng hạnh phúc với cuộc đời mới và bạn bè mới.

Bây giờ em cảm thấy mình có thể hít thở.

Trên hết thảy, em có anh làm mục đích sống.

Một cách thực tế, phải chọn lựa - anh hoặc họ.

Làm sao có được cả hai?

Em chưa bao giờ hồ nghi một giây phút nào: Em yêu anh.

Em tin anh hoàn toàn.

Anh là người thương nhất đời của em, lý do của đời em.

Cee."

Anh thuộc lòng những câu cuối cùng này và giờ đây nhẩm đi nhẩm lại trong bóng tối.

Lý do của đời em.

Không phải lý do để em sống, mà là lý do của cả đời em.

Thật cảm động.

Và nàng là lý do của đời anh, và lý do anh phải sống sót.

Anh nằm nghiêng, nhìn ra nơi anh nghĩ là cửa kho thóc, đợi ánh ngày đầu tiên.

Giờ anh bồn chồn đến mức không chớp mắt nổi.

Anh chỉ muốn bước đi mãi cho đến biển.

Không có căn nhà tranh nào ở Wiltshire cho họ.

Ba tuần sau khi đợt huấn luyện kết thúc, người ta tuyên chiến.

Quân đội phản ứng một cách tự động, giống như phản xạ của con trai trước ánh sáng.

Mọi kỳ phép bị hủy bỏ.

Sau đó ít lâu, người ta định nghĩa lại là "tạm hoãn".

Ngày tháng được ấn định, rồi thay, rồi hủy.

Và rồi, bằng một thông báo trước hai mươi tư giờ, lệnh lên đường bằng tàu hỏa được ban ra.

Họ có bốn ngày trước khi trình diện nhận nhiệm vụ ở trung đoàn mới.

Có tin đồn họ sẽ lại di chuyển.

Nàng phải cố gắng sắp xếp lại ngày nghỉ, và trong chừng mực nào đó đã thành công.

Khi cố lần nữa, nàng không được chấp thuận.

Đến lúc thư anh đến, báo với nàng là anh về, nàng đã trên đường đi Liverpool để tập huấn chăm sóc chấn thương nghiêm trọng tại Bệnh viện Alder Hey.

Hôm sau ngày về đến London, anh khởi sự theo nàng tới phía Bắc, nhưng tàu xe chậm không tưởng tượng nổi.

Người ta dành ưu tiên cho quân đội đi về phía Nam.

Tại ga Birmingham New Street, anh bị nhỡ tàu chuyển tiếp còn chuyến tiếp theo bị hủy.

Lẽ ra anh đã đợi đến sáng hôm sau.

Anh đi đi lại lại trên sân ga nửa tiếng đồng hồ, rối tinh không biết quyết định thế nào.

Cuổi cùng, anh quyết định quay về.

Trình diện muộn là một vấn đề nghiêm trọng.

Đến lúc nàng lừ Liverpool về, anh đang xuống tàu ở Cherbourg và mùa đông ảm đạm nhất đời anh trải ra phía trước.

Dĩ nhiên cả hai đều thấy khổ sở, nhưng nàng cảm thấy nghĩa vụ của mình là phải lạc quan và an ủi.

"Em không đi đâu cả," nàng viết trong lá thư đầu liên sau khi từ Liverpool về.

"Em sẽ đợi anh.

Trở lại với em."

Nàng đang trích dẫn lại mình.

Nàng biết anh sẽ nhớ.

Kể từ đó trở đi, đây là câu nàng dùng để kết mỗi lá thư gửi cho Robbie ở Pháp, từ lá đầu tiên đến lá cuối cùng, đến tay anh ngay trước khi có lệnh rút lui về Dunkirk.

Đó là một mùa đông dài nghiệt ngã cho Quân đội Viễn chinh Anh quốc ở miền Bắc nước Pháp.

Không nhiều chuyện xảy ra lắm.

Họ đào hào, bảo vệ đường tiếp tế, và được lệnh đi tập luyện ban đêm, chuyện này thật lố bịch với lính bộ binh vì mục đích không bao giờ được giải thích, đạn dược thì lại thiếu.

Khi không làm nhiệm vụ, mỗi người đều là tướng hết.

Ngay cả anh binh nhì cấp bậc thấp nhất cũng nói như đinh đóng cột rằng chiến tranh sẽ không diễn ra trong hào nữa.

Nhưng vũ khí chống tăng họ mong đợi đã không bao giờ đến.

Trên thực tế, họ chẳng có thứ vũ khí hạng nặng nào.

Đó là thời gian của sự chán chường, những trận đấu bóng giữa các đơn vị, đeo ba lô nặng trịch hành quân suốt ngày trèn các con đường quê, và không có việc gì làm suốt hàng giờ liên tục ngoại trừ vừa bước đều vừa mơ mộng theo tiếng bốt nện lên mặt nhựa đường.

Anh thường chìm đắm trong suy nghĩ về nàng, và hoạch định lá thư tiếp theo, trau chuốt câu từ, cố tìm ra hài hước trong sự ảm đạm này.

Có lẽ nhờ nhìn thấy cây cối xanh tươi dọc những con đường nhỏ ở Pháp và dải hoa chuông mờ mờ thấp thoáng trong rừng mà anh cảm thấy cần có sự hòa giải và những khởi đầu tươi mới.

Anh quyết định mình nên cố thuyết phục nàng liên lạc với cha mẹ.

Nàng không cần phải tha thứ họ, hay khơi lại những mâu thuẫn cũ.

Nàng chỉ nên viết một lá thư ngắn gọn, giản dị, cho họ biết nàng đang ở đâu và song thế nào.

Ai biết được những năm tới đây sẽ có những đổi thay gì chứ?

Anh biết rằng nếu nàng không làm hòa với cha mẹ trước khi một trong hai người chết, nàng sẽ ăn năn day dứt khôn nguôi.

Anh sẽ không bao giờ tha thứ cho bản thân mình nếu không khuyến khích nàng.

Vì vậy anh viết vào tháng Tư, và mãi giữa tháng Năm thư hồi âm của nàng mới đến tay anh, khi họ đã rút lui dần dần rồi, không lâu trước khi có lệnh rút lui tới tận Channel.

Dưới hỏa lực của địch không liên lạc nào diễn ra được.

Lá thư giờ nằm trong túi trên của anh.

Đó là lá thư cuối cùng của nàng đến tay anh trước khi hệ thống chuyển phát thư tan vỡ.

...

Em không định kể anh nghe chuyện này bây giờ đâu.

Em vẫn không biết phải nghĩ gì và em muốn đợi đến khi mình bên nhau.

Giờ em nhận thư anh rồi, không kể cho anh thì thật không nên.

Ngạc nhiên đầu tiên là giờ Briony không phải ở Cambridge.

Mùa thu vừa rồi nó không học lên tiếp, nó không nhận chỗ của mình.

Em kinh ngạc vì có nghe bác sĩ Hall nói nó được nhận vào học y tá.

Ngạc nhiên nữa là nó đang được huấn luyện ở bệnh viện cũ của em.

Anh có tưởng tượng nổi Briony cầm cái bô không?

Em nghĩ họ đều nói cùng một điều về em.

Nhưng nó là một đứa hoang tưởng, như mình đều biết bằng cái giá mình đã trả.

Em thấy thương bệnh nhân nào bị nó tiêm.

Thư nó gửi khó hiểu và rối tinh rối mù.

Nó muốn gặp.

Nó bắt đầu ngộ ra hoàn toàn điều nó đã làm và thế có nghĩa là thế nào.

Rõ ràng, chuyện nó không đi học tiếp có ít nhiều liên quan đến chuyện ấy.

Nó bảo muốn là người hữu ích theo một cách thực tế.

Nhưng em có ấn tượng rằng nó học làm y tá như một kiểu ăn năn.

Nó muốn đến gặp em nói chuyện.

Có thể em đã hiểu sai, và đó là lý do tại sao em đợi khi nào gặp anh thì sẽ bàn trực tiếp chuyện này, nhưng em nghĩ nó muốn công khai rút lại lời chứng.

Em nghĩ nó muốn thay đổi bằng chứng và làm việc đó một cách chính thức hay hợp pháp.

Chuyện này thậm chí còn không thể xảy ra, xét vì đơn chống án của anh bị bác.

Mình cần hiểu thêm về luật pháp.

Có khi em sẽ đi gặp cố vấn.

Em không muốn chúng mình nuôi hy vọng để rồi chẳng được gì cả.

Cũng có thể nó không có ý như em nghĩ, hoặc có thể nó chưa được chuẩn bị để hiểu hết mọi chuyện.

Hãy nhớ con bé là một đứa hão huyền thế nào.

Em sẽ không làm gì cả chừng nào chưa nghe ý kiến của anh.

Lẽ ra em không nên kể anh nghe chuyện gì cả, nhưng khi anh lại viết thư bảo em nên liên lạc với cha mẹ (em ngưỡng mộ tinh thần bác ái của anh), em phải nói cho anh biết vì tình huống có thể thay đổi.

Nếu về mặt pháp lý Briony không thể đến trước mặt quan tòa mà bảo ông ta rằng nó đã nghĩ lại, ít nhất nó cũng có thể đi nói với cha mẹ bọn em.

Rồi họ có thể quyết định họ muốn làm gì.

Nếu họ có thể buộc mình viết một lá thư xin lỗi tử tế cho anh thì may ra gia đình em có thể có khởi đầu mới.

Em cứ nghĩ mãi đến con bé.

Đi học làm y tá, cắt đứt với hoàn cảnh xuất thân của mình, chuyện đó với nó là một bước lớn hơn nhiều so với em.

Ít nhất em đã có ba năm tại Cambridge, và em có lý do rõ ràng để từ gia đình.

Hẳn là nó cũng có lý do.

Em không chối rằng em rất tò mò muốn biết.

Nhưng em đợi anh, anh yêu, nói em nghe anh nghĩ gì.

Với cả, nó cũng bảo rằng tác phẩm của nó bị Cyril Connolly ở tờ Horizon từ chối.

Vậy là ít nhất cũng có người nhìn thấu được những tưởng tượng méo mó của nó.

Anh có nhớ hai đứa sinh đôi đẻ non mà em kể không?

Đứa em chết rồi.

Chuyện đó xảy ra vào đúng đêm em trực.

Bà mẹ tiếp nhận tin đó thật khó nhọc.

Bọn em nghe bảo ông bố làm nghề phụ nề, thế mà chắc bọn em cứ đinh ninh đó là một thằng cha nhỏ con thô lỗ với một điếu thuốc trễ nải trên môi.

Anh ta ở tận East Anglia với các nhà thầu giúp việc cho quân đội, xây hàng rào phòng thủ bờ biển, đó là lý do vì sao anh ta đến bệnh viện muộn như vậy.

Hóa ra anh ta lại là một người cực kỳ đẹp trai, mười chín tuổi, cao hơn mét tám, tóc vàng lòa xòa phủ trán.

Anh ta bị tật bẩm sinh ở chân như Byron, thành thử anh ta mới không tòng quân.

Jenny bảo trông anh ta như một vị thần Hy Lạp.

Anh ta rất đáng yêu và dịu dàng, kiên nhẫn an ủi cô vợ trẻ.

Tất cả bọn em đều cảm động.

Chuyện buồn nhất là anh ta vừa mới nói được vài câu an ủi vợ thì thời gian thăm bệnh hết và Y tá trưởng đến buộc anh ta phải ra về cùng với mọi người khác.

Thế là bọn em là người phải đi hàn gắn các mảnh vỡ.

Cô gái tội nghiệp.

Nhưng đã bốn giờ rồi, và luật là luật.

Em sẽ cầm thư này chạy vội xuống phòng phân loại thư ở Balham, hy vọng nó sẽ qua được Channel trước cuối tuần.

Nhưng em không muốn kết thư buồn thế.

Em thực sự rất phấn khích trước tin về em gái em và ý nghĩa của điều đó đối với hai đứa mình.

Em rất thích chuyện anh kể về nhà xí của các trung sĩ.

Em đọc chuyện đó cho các bạn nghe, họ cười như điên.

Em rất mừng khi sĩ quan liên lạc đã phát hiện ra khả năng tiếng Pháp của anh và giao cho anh nhiệm vụ để dùng được nó.

Sao mãi họ mới phát hiện ra anh nhỉ?

Anh ẩn mình à?

Anh nói rất đúng về bánh mì Pháp - ăn xong chỉ mười phút là lại thấy đói luôn.

Toàn là không khí chứ chả có chất gì cả.

Balham không tệ như em kể, nhưng lần sau em sẽ nói nhiều hơn.

Em kèm đây một bài thơ của Auden về cái chết của Yeats lấy ra từ một số London Mercury hồi năm ngoái.

Cuối tuần này em sẽ về quê thăm Grace và sẽ tìm trong các hộp mấy bài thơ của Housman cho anh.

Em phải chạy đây.

Từng giây từng phút em đều nghĩ đến anh.

Em yêu anh.

Em sẽ đợi anh.

Trở lại với em.

Cee.
 
Atonement - Chuộc Tội
BA


Có ai đó dùng bốt đá vào thắt lưng khiến anh tỉnh dậy.

"Dậy đê, Cha nội.

Dậy mà đi thôi."

Anh ngồi dậy nhìn đồng hồ.

Cửa kho thóc là một hình chữ nhật màu đen pha ánh xanh.

Anh cho là mình đã ngủ chưa đến bốn mươi phút.

Mace miệt mài dốc hết rơm từ mấy cái bao ra và dỡ cái bàn gã tự chế.

Họ im lặng ngồi trên cỏ khô hút điếu thuốc đầu tiên trong ngày.

Khi bước ra ngoài, họ thấy một bình đất sét đậy bằng nắp gỗ dày.

Bên trong, bọc vải muslin, là một ổ bánh mì và một mẩu pho mát.

Turner chia phần thực phẩm ngay tại đó bằng một cái mác.

"Phòng khi chúng ta bị tách lẻ," anh lẩm bẩm.

Đèn trong nhà đã bật và lũ chó sủa điên loạn khi họ đi ra.

Họ leo qua cổng và bắt đầu băng cánh đồng hướng về phía Bắc.

Một tiếng sau, họ dừng chân trong một cánh rừng trồng cây làm củi để uống nước trong bi đông và hút thuốc.

Turner nghiên cứu bản đồ.

Máy bay ném bom đầu tiên đã bay trên đỉnh đầu, đội hình khoảng năm mươi lăm chiếc Heinkel, cùng hướng về phía bờ biển.

Mặt trời đang lên và trời quang mây.

Một ngày hoàn hảo cho đám Luftwaffe.

Họ im lặng đi một giờ nữa.

Không có đường, vì vậy anh phải mở đường theo la bàn, băng qua những cánh đồng bò và cừu, củ cải và lúa mì non.

Họ không được an toàn như anh tưởng, khi cách xa khỏi lộ chính.

Một cánh đồng chăn gia súc có chục hố bom, và những mẩu thịt, xương, da cháy đen bị hất bay hơn trăm mét.

Nhưng ai cũng đắm chìm vào suy nghĩ của mình và không ai nói gì.

Turner bị bản đồ làm cho bối rối.

Anh đoán họ cách Dunkirk hai mươi lăm dặm.

Càng đến gần, càng khó tránh khỏi đường chính.

Mọi thứ hội tụ lại một điểm.

Khi tiến đến cầu, nếu lại băng qua vùng quê nữa thì họ sẽ chỉ mất thời giờ mà thôi.

Lúc mười giờ hơn họ dừng lại nghỉ lần nữa.

Họ leo qua hàng rào tới một đường mòn, nhưng anh không tìm thấy nó trên bản đồ.

Dù sao thì nó cũng chạy đúng hướng, qua một vùng đất bằng, gần như trọc không cây.

Họ đi tiếp nửa giờ nữa thì nghe tiếng hỏa lực phòng không cách đó một vài dặm phía trước, họ thấy được chóp tháp nhà thờ ở đó.

Anh lại dừng để xem bản đồ.

Hạ sĩ Nettle nói, "Nó chả cho thấy mấy em xinh tươi đâu, cái bản đồ đó."

"Suỵt.

Hắn lại nghi ngờ đấy."

Turner dựa người vào trụ hàng rào.

Bên hông đau nhói mỗi khi anh giẫm chân phải xuống.

Cái vật sắc nhọn kia dường như đang chòi ra thọc vào áo anh.

Không thể cưỡng lại việc dùng ngón trỏ sờ vào xem thế nào.

Nhưng anh chỉ cảm thấy da thịt mềm mại, bị rách.

Sau đêm qua, nếu anh cứ phải nghe những lời trêu chọc của hai tay hạ sĩ kia thì thật không hợp lý.

Mệt mỏi và đau đớn làm anh cáu bẳn, nhưng anh không nói gì và cố tập trung.

Anh tìm thấy ngôi làng trên bản đồ, nhưng không thấy con đường mòn họ đang đi, mặc dù chắc chắn nó dẫn đến đó.

Đúng như anh đã nghĩ.

Họ sẽ phải đi vào đường chính, và họ sẽ cần phải đi trên nó đến tận tuyến phòng thủ ở kênh đào Bergues-Fumes.

Không còn đường nào khác.

Hai tay hạ sĩ vẫn không thôi giễu cợt.

Anh gập bản đồ lại bước tiếp.

"Kế hoạch thế nào, Cha nội?"

Anh không trả lời.

"Ôi, ôi.

Giờ ông làm nàng ấy giận rồi."

Ngoài tiếng súng cao xạ, họ nghe tiếng pháo, của quân họ, đâu đó xa xa về phía Tây.

Khi đến sát làng, họ nghe tiếng xe tải chạy rì rì.

Rồi họ thấy chúng, dàn thành một hàng dài về phía Bắc, chạy chậm như đi bộ.

Rất thèm đi nhờ một chuyến, nhung kinh nghiệm cho anh biết làm như vậy họ sẽ trở thành mục tiêu dễ đến thế nào với kẻ địch từ trên không.

Đi bộ thì ta có thể thấy và nghe được cái gì đang tới.

Đường mòn nhập vào đường chính khi nó ngoặt góc sang bên phải ra khỏi làng.

Họ nghỉ chân mười phút, ngồi trên mé máng nước bằng đá.

Những chiếc xe tải ba và mười tấn, xe cứu thương và xe háp-trắc đang nghiến ken két quanh một khúc cua hẹp với tốc độ chưa đến một dặm một giờ, rồi ra khỏi làng xuôi xuống một con đường thẳng dài với những cây tiêu huyền phòng vệ sườn bên trái.

Con đường dẫn thẳng về phía Bắc, hưóng về một đám khói dầu cháy đen kịt sừng sững trên đường chân trời, đánh dấu rõ Dunkirk.

Giờ thì không cần la bàn nữa.

Rải rác trên đường là những chiếc xe quân đội đã bị phá hỏng.

Không để lại gì cho kẻ thù sử dụng.

Từ sau những chiếc tải đang chạy xa dần, những người bị thương còn tỉnh ngây mắt nhìn ra.

Còn có cả xe thiết giáp, xe chở ban tham mưu, xe bọc thép chở quân, xe máy.

Lẩn chung với chúng, nhồi nhét hoặc chồng cao ngất đồ dùng gia đình và va li, là xe dân, xe buýt, xe tải nhà nông và xe ngựa người đẩy hoặc ngựa kéo.

Không gian xám xịt bởi khói diesel, và mệt mỏi cuốc bộ trong cái mùi khét đó, vào thời điểm này di chuyển nhanh hơn xe cộ, là hàng trăm binh lính, hầu hết bọn họ đều mang súng trường và vận những chiếc măng tô kỳ dị - một gánh nặng trong tiết trời buổi sáng mỗi lúc mỗi nóng này.

Đi cùng với lính là các gia đình đang kéo va li, túi xách, em bé, hoặc cầm tay trẻ con dắt đi.

Âm thanh con người duy nhất mà Turner nghe thấy, xuyên qua tiếng động cơ inh ỏi, là tiếng trẻ con khóc.

Có cả người già đơn độc bước đi.

Một ông già vận bộ vest vải batit mới toanh, thắt cà vạt, đi dép rơm, lê bước nhờ hai cây gậy, tiến chậm đến nỗi xe cộ vượt qua ông.

Ông thở hổn hển.

Dù có đi đâu, ông cũng chắc chắn không đến nơi nổi.

Ở phía xa bên kia đường, ngay góc, là một tiệm giày mở cửa bán hàng.

Turner thấy một phụ nữ với một bé gái đứng cạnh đang nói chuyện với người bán hàng, cô này mỗi tay giơ ra một chiếc giày.

Cả ba không để ý gì đến đoàn người phía sau họ.

Đi ngược lại dòng người, giờ đang cố lách qua ngay chỗ góc đó là một dãy xe bọc sắt, lớp sơn không bị sây sát gì sau trận đánh, tiến về phía Nam dần vào tiền tuyến của quân Đức.

Tất cả những gì họ có thể mong đợi khi đánh lại sư đoàn Panzer là giành thêm một hai giờ cho binh lính rút lui.

Turner đứng dậy, uống nước trong bi đông và bước vào dòng người, len vào sau một vài người của trung đoàn Bộ binh Highland Light (HLI).

Hai hạ sĩ theo chân anh.

Giờ anh không còn cảm thấy phải có trách nhiệm với họ nữa, khi cả ba đã nhập vào đoàn rút lui chính.

Vì thiếu ngủ, anh càng trở nên cáu bẳn.

Hôm nay những lời giễu cợt của họ làm anh khó chịu và dường như đã phản bội lại tình đồng chí của đêm qua.

Thực ra, anh cảm thấy thù ghét mọi người quanh mình.

Suy nghĩ của anh rút lại còn một điểm nhỏ nhoi: làm sao để mình sống sót được

Muốn rũ bỏ hai gã hạ sĩ, anh bước nhanh chân, chen lấn vượt qua mấy người Scotland và len qua một nhóm nữ tu đang dẫn khoảng hơn hai chục đứa trẻ vận áo dài lam.

Trông họ như một nhúm còn sót lại của một trường nội trú, như trường anh đã dạy gần Lille mùa hè trước khi đến Cambridge.

Giờ với anh đó giống như là một cuộc đời khác.

Một nền văn minh đã chết.

Đầu tiên là cuộc đời anh bị hủy hoại, giờ thì đến cuộc đời của mọi người.

Anh giận dữ sải bước, biết rằng kiểu bước này mình sẽ không giữ được lâu.

Trước kia, anh đã từng ở trong dòng người như thế này, vào ngày đầu tiên, và anh biết mình đang tìm gì.

Ngay phía bên phải anh là một cái hào, nhưng nó nông choẹt và rất lộ.

Hàng cây ở phía bên trái.

Anh chen qua đường, trước một chiếc Renault.

Khi anh làm thế, lái xe liền bấm còi.

Tiếng còi rít đinh óc khiến Turner đột ngột lên cơn thịnh nộ.

Đủ lắm rồi!

Anh nhảy ngược lại cửa xe và giật toang ra.

Bên trong là một gã nhỏ thó ăn mặc chỉn chu trong bộ vest xám và đội mũ phớt mềm, va li da chất thành chồng bên cạnh còn gia đình gã ngồi lèn ở băng ghế sau.

Turner túm lấy cà vạt của gã và đã toan bạt vào cái mặt đần độn kia bằng bàn tay phải xòe rộng thì một bàn tay khác, rất mạnh, túm lấy cổ tay anh.

"Hắn đâu phải kẻ thù, Cha nội."

Không thả tay ra, Hạ sĩ Mace kéo xệch anh đi.

Nettle, ngay phía sau, đá cánh cửa xe Renault đóng lại mạnh đến độ gương bên rụng xuống.

Mấy đứa bé mặc áo dài lam ồ lên vỗ tay.

Cả ba bước lại phía bên kia đường và đi bộ dưới tán cây.

Mặt trời bây giờ đã lên đến đỉnh và trời nóng, mà bóng râm vẫn chưa phủ kín con đường.

Một vài chiếc xe bị bắn tan tành trong đợt không kích nằm vắt qua hào.

Quanh những chiếc xe tải bị bỏ lại mà họ đi qua, quân nhu đã bị đám lính tìm thức ăn, nước uống hoặc xăng làm phân tán sạch.

Turner và hai hạ sĩ nặng nề lê bước qua những cuộn ruy băng máy chữ lòi ra từ các hộp, sổ kế toán vạch làm hai cột, đồ ký gửi gồm những bàn sắt và ghế quay, đồ dùng nhà bếp và phụ tùng động cơ, yên ngựa, bàn đạp ngựa và cương, máy may, cúp bóng đá, ghế chồng, cả máy chiếu phim và máy phát điện chạy xăng - hai thứ này đã bị ai đó dùng xà beng nằm ngay cạnh đập cho méo mó.

Họ đi qua một xe cứu thương sụp một nửa trong hào, mất một bánh.

Một tấm bảng đồng gắn trên cửa xe viết, "Xe cứu thương này là quà tặng của người dân Anh sống ở Brazil".

Turner phát hiện ra là hoàn toàn có thể ngủ gật lúc đang bước đi.

Tiếng gầm rú inh ỏi của xe tải sẽ đột nhiên chấm dứt, rồi cơ cổ anh giãn ra, đầu gục xuống, và anh sẽ giật mình tình dậy đi ngoẹo cả chân.

Nettle và Mace định đi nhờ xe.

Nhưng hôm trước anh đã kể cho họ mình nhìn thấy gì ở dòng người đầu tiên đó - hai mươi người ngồi sau xe tải ba tấn bị giết chỉ bằng một quả bom.

Lúc đó anh đang co rúm lại trong một cái hào, đầu gí xuống nước và chỉ bị một mảnh bom găm vào người.

"Hai người cứ làm đi," anh nói.

"Tôi thì tiếp tục đi bộ."

Vậy là chuyện đó bị bỏ qua.

Họ sẽ không đi mà không có anh - anh là bùa may mắn của họ.

Họ đi sau vài lính HLI nữa.

Một người đang chơi kèn túi, khiến hai tay hạ sĩ cũng huýt âm mũi nhại theo.

Turner làm như thể sắp băng qua đường.

"Nếu các anh gây sự, tôi không đi cùng đâu."

Có hai tay Scotland quay lại rồi lẩm bẩm gì đó với nhau.

"Giời đêm giăng điệp hết con bà nó sảy," Nettle gọi to bằng giọng Cockney.

Rất có thể sẽ có chuyện rầy rà nếu họ không nghe tiếng súng lục trên đầu.

Khi họ lùi lại, tiếng kèn túi tắt bặt.

Trên một cánh đồng mênh mông, kỵ binh Pháp đã tập trung đội hình và dàn thành một hàng dài.

Đứng đầu là một viên sĩ quan bắn chết từng con ngựa bằng một phát súng vào đầu, rồi chuyển sang con tiếp theo.

Mỗi binh lính đứng nghiêm cạnh ngựa của mình, mũ long trọng ôm ở ngực.

Những con ngựa kiên nhẫn đợi đến phiên mình.

Việc tuyên bố bại trận khiến tinh thần mọi người càng sa sút.

Hai hạ sĩ chẳng lòng dạ nào chòng ghẹo mấy gã Scotland nữa, mấy tay này cũng chẳng bận tâm tới họ.

Vài phút sau họ đi qua năm thi thể trong hào, ba phụ nữ, hai trẻ em.

Va li của họ nằm rải rác xung quanh.

Một phụ nữ đi dép rơm, như lão ông mặc bộ vest vải batit.

Turner nhìn đi chỗ khác, cương quyết không bị hút hồn vào đấy.

Nếu muốn sống sót, anh phải liên tục nhìn lên trời.

Anh mệt quá, cứ quên mãi.

Mà giờ trời đã nóng.

Một số người thả áo măng tô xuống đất.

Một ngày rực rỡ.

Vào thời điểm khác, trời như hôm nay sẽ được gọi là một ngày rực rỡ.

Đường đang đóc dần lên, đủ khiến anh phải kéo lê chân và làm sườn anh đau nhói.

Mỗi bước là một quyết định có ý thức.

Chỗ rộp da đang sưng tấy lên ở gót chân trái buộc anh phải đi bằng mép bốt.

Không dừng bước, anh lấy bánh mì và pho mát trong túi ra, nhưng anh khát quá không nhai nổi.

Anh châm một điếu thuốc để kìm cơn đói và cố giảm thiểu nhiệm vụ xuống mức cơ bản: mình đi qua vùng đất này cho tới khi ra đến biển.

Còn gì có thể đơn giản hơn, một khi yếu tố xã hội bị loại bỏ?

Anh là người duy nhất trên trái đất và mục tiêu của anh rõ ràng.

Anh đi qua vùng đất này cho đến khi ra được đến biển.

Hiện thực thì toàn mang tính xã hội, anh biết; những kẻ khác đang truy đuổi anh, nhung anh có được niềm an ủi vờ vịt, và ít nhất một nhịp bước cho đôi chân anh.

Anh đi/ hết qua/ vùng đất/ đến khi/ anh ra/ được đến biển.

Một câu thơ sáu nhịp.

Năm iambơ và một anapet là nhịp anh lê bước lúc này.

Đi thêm hai mươi phút nữa thì đường bắt đầu bằng phẳng.

Ngoái qua vai anh thấy ở đằng sau đoàn xe hộ tống kéo dài cả dặm dưới chân đồi.

Phía trước, anh không thấy được đầu tận cùng đoàn xe ấy.

Họ băng qua đường ray.

Theo như bản đồ, họ còn cách kênh đào mười sáu dặm nữa.

Họ đang đi vào một quãng nơi dọc theo đường là những phương tiện hư hỏng nằm nối đuôi nhau hầu như bất tận.

Nửa chục khẩu pháo hai mươi lăm pound nằm chất đống cạnh cái mương, như thể do xe ủi đất hạng nặng đẩy ùn lại đó.

Phía trên kia, nơi bắt đầu xuống dốc, có một chỗ giao cắt với đường phụ và đang xảy ra một vụ ồn ào.

Tiếng cười của lính ở chân dốc và giọng nói oang oang ở hai bên đường.

Khi lên đến nơi, anh thấy một thiếu tá của Trung đoàn Hoàng gia Đông Kent, một tay mặt hồng hào theo trường phái cũ, khoảng ngoại tứ tuần, hò hét và chỉ tay về phía khu rừng nằm bên kia hai cánh đồng cách đó chừng một dặm.

Gã đang kéo, hay cô kéo mọi người ra khỏi hàng.

Hầu hết lờ gã đi mà tiếp tục bước, một số cười nhạo, nhưng vài người thì sợ cấp bậc của gã mà dừng lại, mặc dù bản thân gã chẳng có chút uy nào.

Họ tập trung quanh gã, vẫn ôm súng trường, vẻ ngần ngại.

"Anh.

Phải, anh.

Anh sẽ làm."

Gã thiếu tá đặt tay lên vai Turner.

Anh dừng lại chào rồi mới biết mình đang làm gì.

Hai hạ sĩ ở sau anh.

Gã thiếu tá có bộ ria kiểu Hitler vắt trên đôi môi nhỏ mím chặt, đôi môi cắt những lời gã nói ra thành từng từ dứt khoát.

"Bọn tôi đã dồn được bọn Đức vào trong rừng đằng kia.

Chắc chắn là chúng thuộc nhóm tiền trạm.

Nhưng giờ chúng lặn trong đó với vài khẩu súng máy.

Chúng ta sẽ vào đó xua chúng ra."

Turner cảm thấy nỗi sợ hai làm chân anh cứng đờ và nhũn ra.

Anh chìa hai bàn tay trắng ra cho tay thiếu tá.

"Bằng cái gì, thưa ngài?"

"Bằng trí khôn và một ít tính thần đồng đội."

Cãi lại một gã ngốc như thế nào đây nhỉ?

Turner mệt quá chẳng nghĩ nổi, tuy nhiên anh biết mình sẽ không đi.

"Giờ tôi có phần còn lại của hai trung đội đang từ phía Đông tới..."

"Phần còn lại" là từ nói rõ sự tình, và khiến Mace, với tất cả kỹ năng chế giễu của mình, ngắt lời.

"Xin lỗi, thưa ngài.

Xin được phép nói."

"Không cho phép, Hạ sĩ."

"Cám ơn ngài.

Sở chỉ huy đã ra lệnh.

Tiến tới gấp rút, nhanh chóng, khẩn trương, không chậm trễ, không trệch đường hay lạc hướng khỏi Dunkirk vì mục đích di tản ngay lập tức vì chúng ta đang bị tấn công một cách 'khủng khíp' và dữ dội từ mọi ngả.

Thưa ngài."

Thiếu tá quay lại xỉa ngón trỏ vào ngực Mace.

"Nghe này anh bạn.

Đây là cơ hội cuối cùng của chúng ta để chứng tỏ..."

Hạ sĩ Nettle mơ màng nói, "Chính Lord Gort đã viết mệnh lệnh đó và đích thân gửi nó xuống, thưa ngài."

Với Turner, dường như thật phi thường khi nói với một sĩ quan theo kiểu này.

Và cũng mạo hiểm nữa.

Tay thiếu tá vẫn chưa hiểu ra là mình bị móc.

Gã có vẻ nghĩ rằng người vừa nói là Turner, vì gã lại chĩa sang anh mà thuyết.

"Cuộc rút lui này là một sự vô tổ chức chết tiệt.

Vì Chúa lòng lành, anh bạn.

Đây là cơ hội ngon lành cuối cùng để chúng ta thể hiện mình có thể làm gì khi dứt khoát và cương quyết.

Hơn nữa..."

Hắn tiếp tục huyên thuyên, nhưng với Turner thì một sự tĩnh lặng ngạt thở đã hạ xuống buổi sáng muộn rỡ ràng này.

Lần này anh không ngủ gật.

Anh nhìn qua vai tay thiếu tá về phía đầu dòng người.

Nằm ở đó, xa xa, khoảng chín mét phía trên đường, bị hơi nóng càng lúc càng tăng làm quắn lại, là cái gì đó trông như một tấm ván gỗ vắt ngang lơ lửng, ở giữa lồi lên.

Những lời của tay thiếu tá không chạm đến anh, cả những suy nghĩ tỉnh táo của chính anh cũng không.

Ảo ảnh nằm ngang kia lửng lơ trên trời mà không to lên, và mặc dù bắt đầu hiểu ý nghĩa của nó, thế nhưng, giống như trong mơ, anh không thể phản ứng hay nhúc nhắc tứ chi.

Anh chỉ mở được miệng, nhưng không thốt ra được tiếng nào, và dẫu thốt ra được thì cũng không biết phải nói gì.

Rồi, ngay giây phút khi âm thanh ào ào đổ ập trở lại, anh mới có thể thét lên, "Chạy đi!"

Anh bắt đầu chạy thẳng về chỗ trú gần nhất.

Đó là một kiểu lời khuyên mơ hồ nhất, ít chất quân nhân nhất, nhưng anh cảm thấy hai hạ sĩ không xa mấy sau lưng anh.

Chân anh không sao đủ nhanh được, cũng y hệt trong mơ.

Không phải anh thấy đau ở dưới sườn, mà là thứ gì đó đang cạo vào xương.

Anh thả áo măng tô xuống.

Phía trước năm mươi mét là một chiếc xe tải ba tấn lật nghiêng.

Cái gầm bóng dầu mỡ màu đen đó, bộ phân tốc phồng lên ấy là tổ ấm duy nhất của anh.

Anh còn cách chỗ đó không xa.

Một máy bay chiến đấu đang vãi đạn súng máy dọc dòng người.

Dải đạn rộng đang lia xuống con đường với tốc độ hai trăm dặm một giờ, rồi một tràng loảng xoảng như mưa đá khi những mảnh đạn pháo đâm trúng kim loại và thủy tinh.

Người ngồi trong những chiếc xe đang chạy chậm rì ấy, không ai có phản ứng gì.

Tài xế chỉ vừa mới tiếp nhận được cảnh ấy qua kính chắn gió.

Họ đang ở nơi anh vừa đứng trước đó mấy giây.

Đám người phía sau xe tải không biết gì.

Một trung sĩ đứng giữa đường mà chĩa súng trường lên.

Một phụ nữ hét toáng lên, và rồi súng nã xuống đầu họ ngay lúc Turner lao mình vào bóng chiếc xe tải lật úp.

Khung sắt rung lên bần bật khi bị đạn bắn vào với tốc độ dữ dội như tiếng trống đập dồn.

Rồi pháo ập tới, lao vun vút xuống dòng người, tiếng gầm của máy bay chiên đấu và cái bóng lập lòe của nó vụt theo sau.

Anh nép mình vào trong gầm xe đen kịt cạnh bánh trước.

Chưa bao giờ dầu cặn lại có mùi ngọt ngào hơn thế.

Trong lúc đợi một máy bay khác, anh gập người lại, tay ôm đầu, mắt nhắm chặt, và chỉ nghĩ đến chuyện sống sót.

Nhưng không có gì đến nữa.

Chỉ có tiếng côn trùng kiên quyết thi hành sự vụ cuối xuân, và tiếng chim hót trở lại sau một khoảng dừng vừa vặn.

Và rồi, như thể lấy tiếng chim làm dấu hiệu, những người bị thương bắt đầu rền rĩ và thét gọi, và lũ trẻ kinh hoảng bắt đầu khóc.

Ai đó, như mọi khi, đang nguyền rủa Lực lượng Không quân Hoàng gia.

Turner đứng dậy và đang phủi đất thì Nettle và Mace chui lên, và họ cùng nhau đi về phía tay thiếu tá đang ngồi trên mặt đất.

Toàn bộ sắc hồng hào đã biến mất khỏi mặt gã, và gã đang ôm tay phải.

"Đạn bay xuyên lẹm qua nó," gã nói khi họ tới.

"Thật sự cũng hên phết."

Họ giúp gã đứng dậy và đề nghị đưa gã tới xe cứu thương nơi một đại úy thuộc Lực lượng Quân y Hoàng gia (RAMC) và hai hộ lý đang khám cho những người bị thương.

Nhưng gã lắc đầu và đứng ở đó không ai giúp đỡ.

Trong cơn hoảng loạn, gã nói luôn miệng và giọng khẽ khàng hơn.

"ME 109.

Chắc là súng máy của hắn.

Đại bác thì đi toi cái tay hồng hào của tôi rồi.

Hai mươi lăm li, các anh biết đấy.

Hắn chắc hẳn đã lạc nhóm.

Phát hiện thấy chúng ta trên đường về và không cưỡng được.

Thực sự không trách hắn được.

Nhưng thế có nghĩa là bọn chúng sẽ đến thêm rất nhanh thôi."

Nửa tá đàn ông gã tập trung lúc trước đang vừa lồm cồm ra khỏi hào vừa nhặt súng ra theo rồi mỗi người bỏ đi một ngả.

Nhìn thấy họ, tay thiếu tá bình tĩnh lại.

"Được rồi, các chú.

Tập hợp."

Dường như họ không có khả năng chống lại gã nên liền đứng thành một hàng.

Lúc này hơi run run, gã nói với Turner.

"Cả ba anh kia nữa.

Ngay lập tức."

"Thực ra, anh già ạ, nói cho ngay, tôi nghĩ bọn tôi không làm đâu."

"Ô, tôi hiểu rồi."

Gã liếc nhìn vai Turner, dường như nhìn thấy ở đó

biểu hiện của cấp bậc cao.

Gã đưa tay trái lên chào ra vẻ đôn hậu.

"Nếu thế, thưa ngài, nếu ngài không phiền, chúng tôi xin rút.

Hãy chúc chúng tôi may mắn."

"Chúc may mắn, Thiếu tá."

Họ nhìn gã bước cùng biệt đội bất đắc dĩ của gã về phía cánh rừng nơi những khẩu súng máy đang đợi.

Trong nửa tiếng đồng hồ, dòng người không dịch chuyển.

Turner để viên đại úy RAMC sai bảo mình và giúp đội khiêng cáng mang những người bị thương vào.

Sau đó anh tìm chỗ cho họ trên xe tải.

Không thấy bóng dáng hai hạ sĩ đâu cả.

Anh đi kiếm mang về và giúp khuân đồ tiếp tế từ phần sau một xe cứu thương.

Nhìn viên đại úy làm việc, khâu một vết thương ở đầu, Turner cảm thấy những ước vọng cũ lại chộn rộn lên trong người.

Lượng máu nhìn thấy ở đây che mờ những chi tiết trong sách giáo khoa mà anh còn nhớ.

Dọc đoạn đường họ đang dừng có năm người bị thương và, thật đáng ngạc nhiên, không ai chết cả, mặc dù viên trung úy có khẩu súng trường bị bắn trúng mặt và không hy vọng gì sống sót.

Ba chiếc xe có đầu trước bị bắn nát và bị người ta đẩy khỏi mặt đường.

Xăng bị phụt ra hết và, thêm vào đó, lốp bị đạn bắn xuyên qua.

Khi mọi chuyện xong xuôi, ở phía đầu dòng người cũng không có tiến triển nào.

Turner lượm áo măng tô lên bước tiếp.

Anh khát quá không chờ được.

Một bà già người Bỉ bị trúng đạn ở đầu gối đã uống miếng nước cuối cùng của anh.

Lưỡi anh to phồng trong miệng và tất cả những gì anh có thể nghĩ đến bây giờ là tìm nước uống.

Việc đó, và liên tục quan sát bầu trời.

Anh đi qua các khu như khu của anh, nơi xe cộ bị phá hỏng và người bị thương được đưa lên xe tải.

Anh đi được mười phút thì thấy đầu Mace trên cỏ cạnh một đống đất.

Chỗ đó cách khoảng hai mươi lăm mét, trong bóng râm xanh rì của một hàng dương.

Anh bước lại đó, mặc dù ngờ rằng bước tiếp thì tốt hơn cho tâm trí.

Anh thấy Mace và Nettle đứng trong một cái hố sâu đến vai.

Họ đang ở công đoạn cuối cùng của việc đào một cái huyệt.

Bên ngoài đống đất, một thằng bé chừng mười lăm tuổi đang nằm úp mặt.

Một vệt đỏ thẫm trên lưng áo sơ mi trắng muốt kéo dài từ cổ xuống eo.

Mace tì vào xẻng và nhại lại một cách khá xuất sắc.

Tôi nghĩ chúng tôi sẽ không đi.

Khá lắm, Cha nội.

Lần tới tôi sẽ nhớ câu đó."

"Lạc đề hay đấy.

Ông lấy câu đó ở đâu ra thế?"

"Hắn nuốt nguyên một quả từ điển chết tiệt mà," Hạ sĩ Nettle tự hào nói.

"Tôi hồi xưa thích chơi ô chữ lắm."

"Còn 'bị tấn công một cách 'khủng khíp' và dữ dội?'"

"Giáng sinh vừa rồi tại nhà ăn tập thể có nhóm nhạc lưu diễn."

Vẫn đứng trong huyệt, gã và Nettle hát không theo giai điệu gì cho Turner nghe.

'Nói chung có vẻ thật đáng ngại khi 'bị tấn công một cách 'khủng khíp' và dữ dội' Sau họ, dòng người bắt đầu dịch chuyển.

"Tốt hơn là chôn nó đi," Hạ sĩ Mace nói.

Ba người khiêng thằng bé xuống và cho nó nằm ngửa ra.

Trên túi áo nó cài một dãy bút mực.

Hai hạ sĩ không dừng lại làm nghi thức gì.

Họ bắt đầu hất đất xuống và chẳng mấy chốc thằng bé mất dạng.

Nettle nói, "Thằng nhỏ xinh ghê."

Hai hạ sĩ đã dùng dây bện buộc hai thanh chống lều lại với nhau làm thánh giá.

Nettle dùng mặt sau xẻng nện thánh giá xuống đất.

Ngay sau khi xong việc, họ quay trở lại đường.

Mace nói, "Nó đi cùng ông bà.

Họ không muốn nó bị bỏ lại trong hào.

Tôi nghĩ họ sẽ đến tiễn biệt nó, nhưng họ đang trong tình trạng hết sức tệ hại.

Tốt hơn là chúng ta nói cho họ biết nó nằm ở đâu."

Nhưng không có chuyện đi gặp ông bà thằng nhỏ.

Khi họ bước tiếp, Turner lấy bản đồ ra nói, "Nhớ nhìn trời nhé."

Tay thiếu tá nói đúng - sau chuyến bay tình cờ của chiếc Messerschmitt, chúng sẽ quay lại.

Mà giờ chắc chúng quay lại rồi.

Kênh Bergues-Fumes được đánh dâu màu xanh đậm trên bản đồ.

Nỗi nóng lòng muốn đến con kênh đã quyện làm một với cơn khát của anh.

Anh muốn gí mặt vào cái màu xanh đó mà uống cho thật đã.

Ý nghĩ này khiến anh nhớ đến những lần bị sốt hồi còn bé, cái logic hoang dại và đáng sợ của chúng, khiến anh cứ phải tìm kiếm góc nào đó mát trên gối, và rồi tay mẹ sờ lên trán anh.

Grace thân thương.

Khi anh sờ lên trán mình, da ở đó mỏng tang và khô cong.

Cảm giác nóng rát quanh vết thương, anh cảm thấy, đang bừng dần lên, và da mỗi lúc một căng ra, rát hơn, với thứ gì đó, không phải máu, đang từ đó rỉ ra áo anh.

Anh muốn được ở một mình xem xét, nhưng nơi này thì không thể nào được.

Đoàn xe đang chuyển động với nhịp cũ không gì lay chuyển được.

Đường chạy thang đến biển - giờ thì chả còn đường tắt tiếc gì nữa.

Khi họ tiến lại gần hơn, khói đen, chắc chắn là bốc lên từ nhà máy lọc dầu đang bị cháy ở Dunkirk, bắt đầu ngự trị bầu trời phía Bắc.

Không còn gì khác ngoài việc bước về phía nó.

Vì thế một lần nữa anh cúi đầu xuống đất im lặng lê bước.
 
Back
Top Bottom