Cập nhật mới

Khác Atonement - Chuộc tội

Atonement - Chuộc Tội
BỐN


Con đường không còn làn cây tiêu huyền che chắn nửa.

Dễ bị tấn công và không có bóng râm, nó duỗi mình ra qua một vùng đất mấp mô thành những hình chữ S dài hẹp.

Anh đã hao tổn năng lượng quý giá vào những cuộc nói chuyện và gặp gỡ không cần thiết.

Mệt mỏi đã khiến anh có vẻ hoan hỉ và hào hiệp một cách giả tạo.

Bây giờ anh giảm tốc độ xuống theo nhịp của đôi bốt - anh đi/ hết qua/ vùng đất/ đến khi/ anh ra/ được đến biển.

Toàn bộ những gì thôi thúc anh bước tiếp nhất định phải nặng hơn mọi thứ cản bước anh, dù chỉ nặng hơn một chút thôi.

Trên một đĩa cân là vết thương, cơn khát, vết rộp da, mệt mỏi, nóng bức, bàn chân và cẳng chân đau nhói, đám Stuka, khoảng cách, Biển Manche; đĩa bên kia, Em sẽ đợi anh, và ký ức về lúc nàng nói câu đó, vùng ký ức mà anh đã bắt đầu coi như thánh địa.

Cả nỗi sợ bị bắt nữa.

Những ký ức nhục cảm nhất của anh - vài phút của họ trong thư viện, nụ hôn ở Whitehall - đã bạc phếch cả màu vì được dùng nhiều quá.

Anh thuộc nằm lòng từng đoạn một trong những lá thư của nàng, anh đã ghé thăm lại cuộc tranh giành cái bình ở đài phun, anh nhớ hơi ấm của cánh tay nàng trong bữa tối khi hai đứa sinh đôi mất tích.

Những ký ức đó nuôi sống anh, nhưng không quá dễ dàng.

Chúng luôn nhắc anh nhớ mình đang ở đâu vào lúc anh triệu chúng đến lần gần đây nhất.

Chúng nằm ở rìa xa của sự phân chia rạch ròi về mặt thời gian, có ý nghĩa như sự phân chia giữa trước Công nguyên và Công nguyên.

Trước khi vào tù, trước chiến tranh, trước khi việc nhìn thấy một xác chết trở thành chuyện quá tầm thường.

Nhưng những thứ dị giáo này tàn lụi hết khi anh đọc lá thư cuối cùng của nàng.

Anh chạm vào túi áo ngực.

Nó như một dạng quỳ gối. vẫn ở đó.

Đây là thứ mới trên đĩa cân.

Việc anh có thể được thanh minh mang trong nó tất cả sự giản dị của tình yêu.

Chỉ nếm náp khả năng đó thôi cũng khiến anh nhớ đến biết bao điều đã bị thui chột dần và chết.

Lòng yêu cuộc đời, chính thế, tất cả những tham vọng và khoái lạc xa xưa.

Viễn cảnh trước mắt anh giờ là một sự tái sinh, một cuộc khải hoàn vinh quang.

Một lần nữa anh có thể trở thành người đàn ông từng băng qua công viên Surrey lúc hoàng hôn trong bộ vest bảnh nhất, kiêu hãnh bước đi trước cuộc đời đầy hứa hẹn, người đã bước vào nhà chính và với niềm đam mê sáng rõ đã làm tình với Cecilia - không, hãy để anh dùng từ của hai tay hạ sĩ: họ đã đụ trong khi những người khác uống cocktail ngoài hiên.

Chuyện có thể tái hồi, điều mà anh đã dự định trong khi bước đi vào buổi tối hôm đó.

Anh và Cecilia sẽ không còn bị chia cắt.

Tình yêu của họ sẽ có không gian và một xã hội để phát triển.

Anh sẽ không đi đây đi đó mũ trên tay nhận lời xin lỗi của bạn bè, những kẻ đã lảng tránh anh.

Anh cũng sẽ không ngồi yên, kênh kiệu và dữ tợn, tránh mặt họ để trả đũa.

Anh biết chính xác mình sẽ hành xử thế nào.

Đơn giản là anh chỉ tái hồi.

Với lý lịch phạm tội được xóa bỏ, anh có thể nộp đơn vào trường y khi chiến tranh kết thúc, hay thậm chí có thể tham gia luôn Lực lượng Quân y.

Nếu Cecilia làm lành với gia đình, anh sẽ giữ khoảng cách mà không có vẻ là khó chịu.

Anh không bao giờ có thể thân thiết với Emily hay Jack.

Bà ấy đã đeo đuổi việc khởi tố anh với một sự tàn bạo lạ lùng, trong khi Jack quay lưng đi, mất hút vào cái Bộ của ông đúng lúc cần.

Chẳng có chuyện gì trong số đó là quan trọng.

Từ đây mọi thứ trông thật đơn giản.

Họ đang đi qua nhiều thi thể trên đường, trong rãnh nước hay vỉa hè, hàng chục người, quân nhân và dân thường.

Mùi hôi thối nồng nặc, len lỏi vào trong kẽ quần áo anh.

Đoàn xe đã đi vào một làng bị đánh bom, hay có lẽ khu ngoại ô của một thành phố nhỏ - nơi này giờ đây là gạch nát rồi, khó mà biết được.

Mà ai quan tâm?

Ai có thể miêu tả nổi sự hỗn loạn này, rồi tìm ra tên làng và ngày tháng cho sách sử chứ?

Và đứng ở một điểm nhìn hợp lý mà bắt đầu đổ tội?

Không ai có thể biết được nếu ở ngay nơi đây thì sẽ thấy thế nào.

Không có chi tiết thì không thể có bức tranh lớn hơn.

Những cửa hàng, đồ dùng và xe cộ bị vứt bỏ tạo thành cả một đại lộ phế liệu tràn ngập đường họ đi.

Những thứ này, và các thi thể, buộc họ phải đi vào giữa đường.

Chuyện đó chả quan trọng vì đoàn xe giờ không dịch chuyển nữa.

Binh lính đang leo ra khỏi các xe chuyển quân và đi bộ, lúi chúi vì vấp phải gạch ngói.

Những người bị thương bị bỏ lại nằm đợi trong xe tải.

Nhiều thi thể hơn bị dồn vào một khoảng hẹp hơn, nên khó chịu hơn.

Turner cứ giữ đầu cúi như thế mà theo người đi trước, đắm vào suy nghĩ của mình để tự vệ.

Anh sẽ được thanh minh.

Từ cảnh tượng ở đây, nơi ta cơ hồ không buồn nhấc chân bước qua cánh tay một phụ nữ đã chết, anh không nghĩ mình sẽ cần lời xin lỗi hay tưởng mộ.

Được thanh minh là một trạng thái tinh khiết.

Anh mơ đến nó như một tình nhân, với nỗi khát khao giản dị.

Anh mơ đến nó theo kiểu những quân nhân khác mơ đến tổ ấm hay mảnh đất trồng rau hay nghề dân sự trước kia của họ.

Nếu sự vô tội quan trọng đến thế, thì không có lý do gì mà không nên mau trở về lại Anh.

Hãy để tên anh được thanh minh, rồi để mọi người khác điều chỉnh suy nghĩ của họ.

Anh đã đầu tư thời gian, giờ đến lượt họ phải làm nốt phần còn lại.

Nhiệm vụ của anh rất giản dị.

Tìm Cecilia, yêu nàng, lấy nàng, và sống không hổ thẹn.

Nhưng còn một phần trong tất cả những chuyện này mà anh không thể nghĩ cho thông, một hình hài mờ ảo mà cảnh giết chóc hỗn loạn mười hai dặm bên ngoài Dunkirk không thể thu lại còn một nét phác đơn giản được.

Briony.

Ở đây anh va phải rìa ngoài của cái mà Cecilia gọi là tinh thần độ lượng của anh.

Và lý tính của anh.

Nếu Cecilia tái hợp với gia đình nàng, nếu hai chị em lại thân thiết, sẽ không cách nào tránh mặt con bé.

Nhưng anh có chấp nhận nó không?

Anh có thể ngồi cùng phòng với nó không?

Giờ nó xuất hiện, đưa ra một khả năng xá tội.

Nhưng không phải là cho anh.

Anh chẳng làm gì sai.

Đó là cho chính nó, cho tội ác của nó mà giờ lương tri nó không tài nào chịu đựng nổi nữa.

Chẳng lẽ anh phải cảm thấy biết ơn ư?

Và phải, dĩ nhiên, năm 1935 nó là một đứa trẻ.

Anh đã phải tự bảo lòng, anh và Cecilia đã bảo nhau, suốt như thế.

Phải, nó chỉ là một đứa trẻ.

Nhưng không phải đứa trẻ nào cũng tống một người vào tù chỉ bằng một lời nói dối.

Không phải đứa trẻ nào cũng đầy chủ tâm và ma lanh như thế, cũng nhất quán suốt như thế, chưa bao giờ dao động, chưa bao giờ nghi ngờ.

Một đứa trẻ, nhưng điều đó không ngăn anh mơ mộng trong xà lim về việc sẽ hạ nhục nó, về hàng chục cách trả thù anh có thể nghĩ ra.

Có một lần ở Pháp, trong cái tuần đông giá lạnh nghiệt ngã nhất, say cognac bí tỉ, thậm chí anh còn tưởng tượng ra nó trên đầu lưỡi lê của mình.

Briony và Danny Hardman.

Thật không hợp lý hay công bằng nếu anh ghét Briony, nhưng điều đó có ích.

Làm thế nào để bắt đầu hiểu tâm trí của đứa trẻ này đây?

Chỉ một lý thuyết là trụ lại được.

Từng có một ngày tháng Sáu năm 1932, một ngày bội phần đẹp đẽ do nó đến bất ngờ, sau một đợt mưa gió dài dặc.

Đó là một trong những buổi sáng hiếm hoi tự phô diễn chính mình, bằng một sự phung phí đến hợm hĩnh sức ấm và ánh sáng và những chiếc lá non, như sự khởi đầu đích thực, cánh cổng lớn mở vào hè, và anh bước qua nó với Briony, qua đài phun Triton, xuống qua hàng rào và đám đỗ quyên, qua cánh cổng sắt rồi ra con đường rừng hẹp ngoằn ngoèo.

Nó rất hưng phấn và nói luôn miệng.

Khi đó chắc nó mười tuổi, chỉ mới bắt đầu viết vài truyện nhỏ.

Cũng như mọi người khác, anh đã được nhận những câu chuyện viết về chính anh được minh họa và đóng thành tập, chuyện tình ái, vượt qua nghịch cảnh, đoàn viên và đám cưới.

Họ đang trên đường ra sông tập bơi như anh đã hứa với nó.

Khi họ đi khỏi nhà một đoạn, có lẽ nó đang kể anh nghe một truyện vừa viết xong hay cuốn sách nó vừa đọc.

Có lẽ nó đang nắm tay anh.

Nó là một cô bé nội tâm, ít nói, hơi nghiêm nghị theo kiểu của nó, và sự dạt dào thổ lộ thế này thật là bất thường.

Anh sung sướng lắng nghe.

Dạo ấy anh cũng tinh thần phấn chấn.

Anh mười chín, thi cử đã gần xong xuôi, và anh nghĩ mình làm bài tốt.

Chẳng chóng thì chầy anh sẽ không còn là học sinh.

Anh đã phỏng vấn rất cừ ở Cambridge và hai tuần nữa anh sẽ đi Pháp, tại đây anh dạy tiếng Anh ở một trường dòng.

Ngày hôm đó có vẻ gì đó huy hoàng, những cây sồi vạm vỡ hầu như không xao động lá, và ánh sáng rỏ xuống như ngọc xuyên qua những tán lá non mởn, tạo thành những vũng sáng giữa lớp lá khô năm ngoái, vẻ lộng lẫy này, anh cảm nhận trong lòng tự cao tuổi trẻ của mình, phản ánh xung lượng huy hoàng của đời anh.

Nó huyên thuyên nói, còn anh thì nửa nghe nửa không một cách hài lòng.

Con đường xuyên qua rừng dẫn ra bờ sông rộng lớn xanh rì cỏ.

Họ đi ngược lên nửa dặm và lại vào rừng.

Ở đây, nơi khúc quanh dòng sông, dưới những tán cây lơ lửng bên trên, là bể bơi, được đào vào thời ông của Briony.

Một đập nước bằng đá làm chậm dòng chảy và là nơi lặn và nhảy cầu được nhiều người ưa thích.

Nhưng ngược lại, nó không phải là chỗ lý tưởng cho người mới bắt đầu.

Dù từ trên đập nước hay trên bờ nhảy xuống, nước đều sâu gần ba mét.

Anh lao xuống và đạp nước, đợi nó.

Họ đã bắt đầu học một năm trước, khi sông cạn và dòng chảy chậm vào cuối hè.

Bây giờ, ngay cả trong bể bơi nước cũng xoáy liên tục.

Nó chỉ dừng lại một giây, hét lên một tiếng rồi từ trên bờ nhảy xuống vòng tay anh.

Nó tập đạp nước cho đến khi dòng chảy mang nó ngược lại cái đập, rồi anh kéo nó qua bể bơi để nó bắt đầu lại.

Khi nó thử bơi ếch sau một mùa đông sao nhãng chả tập tành gì, anh đã phải đỡ nó, không dễ gì khi chính anh cũng đang đạp nước.

Nếu anh rút tay khỏi dưới người nó, nó chỉ bơi được ba bốn nhịp là chìm nghỉm.

Nó thích thú với việc nếu ngược dòng thì có bơi mấy nó cũng ở nguyên một chỗ.

Nhưng nó không ở nguyên một chỗ.

Thay vì thế, mỗi lần nó lại bị đẩy lại chỗ cái đập, nó bám vào cái vòng sắt gỉ, đợi anh, khuôn mặt trắng trẻo của nó rạng rỡ trên nền những bức tường đầy rêu bám xanh rì và xi măng xanh lục.

Bơi lên dốc đi, nó gọi thế.

Nó muốn được bơi thêm lần nữa, nhưng nước lạnh nên sau mười lăm phút thì anh chịu hết nổi.

Anh kéo nó lại bờ và, mặc kệ nó phản đối, anh kéo nó ra khỏi nước.

Anh lấy quần áo trong giỏ rồi vào trong rừng một quãng để thay.

Khi anh quay lại nó vẫn đứng ngay chỗ anh để nó lại, trên bờ, nhìn xuống nước, khăn tắm quàng qua vai.

Nó nói, "Nếu em rơi xuống sông, anh có cứu em không?"

"Đương nhiên rồi."

Anh vừa cúi xuống giỏ vừa nói thế, và anh nghe, chứ không thấy, tiếng nó nhảy xuống.

Khăn tắm của nó nằm trên bờ.

Ngoài những gọn sóng lăn tăn đồng tâm đang tỏa ra trên mặt nước bể bơi, không thấy nó đâu cả.

Rồi nó ngoi lên, đớp hơi một cái rồi chìm xuống lại.

Cuống cuồng, anh nghĩ mình sẽ chạy đến cái đập để lôi nó lên từ đó, nhưng nước xanh đục ngầu bùn.

Anh chỉ có thể tìm thấy được nó dưới nước bằng cách quờ quạng.

Không còn lựa chọn nào khác - anh bước xuống nước, để nguyên giày, áo khoác và các thứ trên người.

Gần như ngay lập tức anh thấy tay nó, bèn luồn tay vào dưới vai nó và nâng nó lên.

Anh ngạc nhiên thấy nó đang nín thở.

Và rồi nó cười như nắc nẻ mà bám chặt lấy cổ anh.

Anh đẩy nó lên bờ và, vô cùng khó khăn do quần áo sũng nước, tự mình bò lên.

"Cám ơn anh," nó luôn miệng.

"Cám ơn anh, cám ơn anh."

"Sao em lại làm một việc dại dột ngu xuẩn thế!"

"Em muốn anh cứu em."

"Em có biết là em suýt nữa thì chết đuối đến nơi không?"

"Anh đã cứu em."

Lo lắng và nhẹ nhõm làm cơn giận anh thêm sôi sục.

Anh suýt hét lên.

"Cái đồ ngu ngốc.

Em đã suýt giết chết cả hai."

Con bé im bặt.

Anh ngồi trên cỏ, dốc nước trong giày ra.

"Em mà chìm xuống nước là anh không thấy em đâu.

Quần áo kéo anh xuống.

Chúng ta lẽ ra đã chết đuối, cả hai.

Em nghĩ đó là chuyện đùa à?

Hả, phải không?"

Không còn gì nói nữa.

Nó mặc quần áo và họ quay lại con đường, Briony đi trước, còn anh theo sau, tiếng bước chân lép nhép.

Anh muốn đi dưới ánh nắng trong công viên.

Rồi anh còn phải đi một đoạn dài về bungalow thay quần áo.

Con giận vẫn chưa tan.

Nó chả bé bỏng gì nữa, anh nghĩ, để mà không nghĩ ra nổi một lời xin lỗi.

Nó im lặng bước, mặt cúi gằm, có lẽ đang dằn dỗi, anh không thấy được.

Khi họ ra khỏi rừng và lại đi qua cổng, nó dừng chân quay lại.

Giọng nó thẳng thừng, thậm chí thách thức.

Chẳng phải sưng sỉa giận dỗi gì, nó đang tỏ ra bằng vai phải lứa với anh.

"Anh có biết vì sao em muốn anh cứu em không?"

"Không."

"Chả rõ như ban ngày ư?"

"Không, chả rõ."

"Vì em yêu anh."

Em nói câu đó một cách dũng cảm, cằm hếch lên, và mắt chớp rất nhanh khi nói, hoa mắt vì sự thật tối thượng mình vừa tiết lộ.

Anh nén lại tiếng cười muốn bật ra.

Anh là đối tượng cho cơn say nắng của một nữ sinh.

"Em nói thế nghĩa là thế quái gì?"

"Ý em cũng hệt như ý mọi người khi họ nói thế.

Em yêu anh."

Lần này những lời kia vút lên thống thiết.

Anh hiểu ra mình nên cưỡng lại ham muốn được mỉa mai nó.

Nhưng thật khó.

Anh nói, "Em yêu anh, vì thế em nhảy xuống sông."

"Em muốn biết anh có cứu em không."

"Giờ thì em biết rồi đấy.

Anh liều cả mạng sống vì em.

Nhưng thế không có nghĩa là anh yêu em."

Nó hơi nhớn thẳng người lên.

"Em muốn cám ơn anh vì đã cứu mạng em.

Em sẽ đời đời biết ơn anh."

Những câu này chắc chắn là ở trong cuốn sách nào đó của nó, cuốn nó vừa đọc gần đây, hay cuốn nó đã viết.

Anh nói, "Được rồi.

Nhưng đừng có làm thế nữa, vì anh hay bất cứ ai.

Hứa nhé?"

Nó gật đầu, và nói lúc chia tay, "Em yêu anh.

Giờ anh biết rồi."

Nó bỏ đi về phía nhà chính.

Run rẩy trong nắng trời, anh nhìn nó cho đến khi khuất dạng, rồi anh bước về nhà.

Anh không gặp riêng nó trước khi đi Pháp, và lúc anh quay về đợt tháng Chín, nó đã vào trường nội trú rồi.

Không lâu sau đó anh đến Cambridge, và tháng Chạp thì đón Giáng sinh với bạn bè.

Anh không gặp Briony cho mãi đến tháng Tư năm sau, và đến lúc đó, chuyện kia đã chìm vào quên lãng.

Mà có phải thế không?

Anh đã có rất nhiều thời gian một mình, quá nhiều thời gian, để suy ngẫm.

Anh có thể nhớ mình không hề nói chuyện gì bất thường với nó, không có một hành vi kỳ lạ nào, không một ánh mắt đầy ý nghĩa hay sự hờn dỗi nào cho thấy tình cảm nữ sinh của con bé có thể tồn tại quá cái ngày tháng Sáu đó.

Hầu như kỳ nghỉ nào anh cũng về Surrey và nó đã có rất nhiều cơ hội tìm anh ở bungalow, hay gửi cho anh một lá thư.

Khi đó anh bận rộn với cuộc đời mới của mình, chìm đắm trong những thứ mới mẻ của cuộc sống sinh viên, và đúng lúc đó cũng định giữ khoảng cách ít nhiều với gia đình Tallis.

Nhưng hẳn phải có những dấu hiệu mà anh không nhận thấy.

Trong ba năm nó hẳn đã nuôi dưỡng tình cảm dành cho anh, giấu kín, ấp ủ nó bằng ảo tưởng hoặc thêm thắt vào những câu chuyện của mình.

Nó là loại con gái sống trong suy nghĩ riêng.

Màn kịch cạnh con sông là đủ để nuôi dưỡng nó trong suốt thời gian đó.

Lý thuyết này, hay sự kết án này, nằm ở ký ức trong lần đụng mặt duy nhất - cuộc gặp gỡ dưới hoàng hôn chỗ cây cầu.

Bao năm qua anh đã day đi day lại cái cuộc đi bộ qua công viên ấy.

Nó hẳn đã biết anh được mòi đến ăn tối.

Nó ở đó, chân không, vận váy trắng ố bẩn.

Thế là đủ kỳ lạ rồi.

Chắc nó đã đợi anh, có khi còn chuẩn bị sẵn một bài nói nho nhỏ, thậm chí còn tập dượt thành tiếng khi ngồi trên cái tường chắn bằng đá.

Cuối cùng khi anh đến, nó cứng lưỡi.

Đó có thể coi là một loại bằng chứng.

Ngay cả vào lúc ấy, anh nghĩ nó không nói chuyện với anh thì thật kỳ quặc.

Anh đưa thư cho nó và nó chạy biến đi.

Vài phút sau, nó mở thư.

Nó kinh hoảng, và không chỉ bởi một từ.

Trong tâm trí nó, anh đã phản bội tình yêu của nó khi thích chị gái nó hơn.

Rồi, trong thư viện, sự chứng thực điều tồi tệ nhất, chính khi đó toàn bộ ảo tưởng của nó tan tành.

Đầu tiên, thất vọng và tuyệt vọng, rồi đến cay đắng dâng trào.

Cuối cùng, một cơ hội tuyệt đỉnh trong bóng đêm, khi đi tìm hai đứa sinh đôi, báo thù cho mình.

Nó chỉ đích danh anh - mà không ai ngoại trừ chị gái nó và mẹ anh nghi ngờ nó.

Sự bốc đồng, giây phút ác tâm, cảm giác muốn hủy hoại đầy ấu trĩ mà anh có thể hiểu được.

Cái khiến anh băn khoăn là độ sâu của cơn giận nơi đứa bé gái đó, sự cương quyết của nó khi cứ khăng khăng kể đã nhìn thấy anh trên suốt con đường đến nhà tù Wandsworth.

Giờ anh có thể được thanh minh, và việc đó đem lại niềm vui cho anh.

Anh công nhận sự dũng cảm nó cần phải có để quay lại tòa án đặng phủ nhận bằng chứng mà chính nó đã thề rồi mới đưa ra.

Nhưng anh không nghĩ một ngày nào do sự oán giận anh dành cho nó có thể xóa bỏ được.

Phải, khi đó nó con là một đứa trẻ, nhưng anh không tha thứ cho nó.

Anh sẽ không bao giờ tha thứ cho nó.

Đó là tổn thương vĩnh viễn.
 
Atonement - Chuộc Tội
NĂM


Phía trước tình hình còn rối loạn hơn, nhiều tiếng gào thét hơn.

Thật kinh ngạc, một đoàn xe bọc sắt đang lấn đường tiến của đoàn xe cộ binh lính, người tị nạn.

Đám đông miễn cưỡng tẽ ra.

Mọi người len vào những chỗ trống giữa xe cộ bỏ không hoặc nép mình vào những bức tường và cửa nhà đổ nát.

Đó là một đội quân Pháp, không đông hơn một phân đội là mấy - ba xe bọc sắt, hai háp-lrắc và hai xe chở quân.

Không có vẻ gì là ở cùng phe với họ.

Lính Anh luôn cho rằng người Pháp đã làm họ thất vọng.

Không có ý chí chiến đấu cho tổ quốc cùa chính mình.

Tức giận vì bị đẩy sang bên, lính Anh chửi thề, và chế giễu đồng minh của mình bằng những tiếng hét "Maginot!" về phần mình, lính Phớp hẳn là đã nghe tin dồn di tản.

Và giờ họ đây, được cử đi yểm hộ phía sau.

"Đồ hèn!

Lên tàu đi!

Đi mà bĩnh ra quần bọn mày!"

Rồi họ di hết, và đám đông lại quần tụ dưới một đám khói diesel, bước tiếp.

Họ đang tiến tới những ngôi nhà cuối cùng trong làng.

Trong cánh đồng phía trước, anh thấy một ông cùng với con chó collie bước sau một cái cày ngựa kéo.

Như những bà trong cửa hàng, tay nông dân này dường như không biết là có đoàn xe.

Họ như sống những cuộc đời song song - chiến tranh là thú vui với những kẻ hăng hái tham gia, song chẳng phải vì vậy mà kém phần nghiêm túc.

Giống như ta đang đi săn và cố sống cố chết theo kịp bầy chó săn, trong khi ngoài hàng giậu liền kề, nơi băng sau chiếc ô tô chạy vụt qua, một phụ nữ vẫn đang mê mải đan, và trong khu vườn trơ trụi của một ngôi nhà mới xây, một người đàn ông đang dạy con trai đá bóng.

Phải, cày cấy vẫn tiếp tục và sẽ có vụ mùa, ai đó sẽ gặt lúa và xay lúa, người khác thì ăn, và không phải rồi ai cũng chết...

Turner đang nghĩ thế thì Nettle tóm lấy tay anh và chỉ.

Đoàn quân Pháp di chuyển đã át mất tiếng động, nhưng chúng dễ thấy.

Ít nhất có đến mười lăm cái, ở độ cao khoảng hơn ba nghìn mét, những chấm nhỏ trên trời xanh, lượn vòng bên trên đường.

Turner và hai tay hạ sĩ dừng lại nhìn, mọi người bên cạnh cũng đã trông thấy chúng.

Một giọng mệt mỏi lẩm bẩm gần tai anh, "Đù mẹ.

Đám RAF đâu rồi chứ?"

Một người khác nói vẻ hiểu biết, "Chúng sẽ chỉ tấn công đám ếch Phớp thôi."

Như thể bị khích phải chứng minh là không phải vậy, một trong những đốm nhỏ kia tách đàn và bắt đầu cú lao gần như thẳng đứng, ngay xuống đầu họ.

Trong vài giây tiếng động không đến được chỗ họ.

Im lặng tăng dần giống như sức ép trong tai họ.

Ngay cả những tiếng hét gào man dại khắp trên đường cũng không làm mất đi sự im lặng đó.

Tìm chỗ trốn!

Tản ra!

Tản ra!

Ngay lập tức!

Di chuyển rất khó khăn.

Anh có thể cố lê bước đều đặn, và anh có thể dừng lại, nhưng thật là cả một nỗ lực, một nỗ lực ký ức, để hiểu ra những mệnh lệnh không quen thuộc, để tránh khỏi con đường và chạy.

Họ đã dừng lại bên căn nhà cuối cùng trong làng.

Đằng sau ngôi nhà là kho thóc và hai bên hông nhà là cánh đồng nơi gã nông dân kia đang cày ruộng.

Giờ gã đứng dưới tán cây với con chó, như thể trú một con mưa rào.

Ngựa của gã, vẫn đóng yên cương, gặm cỏ ở chỗ đất chưa cày.

Lính và dân thường đang tán loạn lao khỏi đường, túa ra tứ phía.

Một phụ nử ôm đứa con đang khóc chạy sượt qua anh, rồi cô đổi ý quay lại và đứng đó, tần ngần quay ngả quay nghiêng trên đường.

Lối nào đây?

Sân trại hay cánh đồng?

Cảnh cô đứng bất động khiến anh bừng tỉnh.

Khi anh đẩy vai cô về phía cánh cổng, tiếng rít khủng khiếp liền nổi lên.

Ai đó đã biến ác mộng thành khoa học.

Ai đó, chỉ là một con người bình thường, đã dành thời gian tưởng tượng ra tiếng rít ma quỷ này.

Và mới thành công làm sao!

Nó là âm thanh của chính sự hoảng loạn, mỗi lúc một to hơn và căng ra về phía sự tuyệt diệt mà họ đều hiểu, từng người một hiểu, là của chính họ.

Nó là tiếng động ta buộc phải riêng phần mình nhận lấy.

Turner dắt người đàn bà qua cổng.

Anh muốn cô chạy với anh ra giữa cánh đồng.

Anh đã chạm vào cô, và quyết định hộ cô, vì thế bây giờ anh cảm thấy mình không thể bỏ rơi cô.

Nhưng thằng bé ít ra cũng sáu tuổi và rất nặng, và đi cùng nhau thì họ chẳng tiến được chút nào.

Anh giằng đứa bé khỏi tay cô.

"Nhanh nào," anh hét.

Một chiếc Stuka mang theo một quả bom hạng nặng.

Cái chính là phải tránh khỏi nhà cửa, xe cộ và những người khác.

Tên phi công sẽ không hoài phí quả bom quý giá của hắn lên một người đơn lẻ trên cánh đồng.

Nhưng khi hắn đã quay lại bắn phá thì lại là chuyện khác.

Turner đã chứng kiến chúng truy đuổi một người đàn ông hộc tốc chạy chỉ để chơi cho vui.

Bàn tay không bận của anh kéo tay người phụ nữ.

Thằng bé tè ướt quần và gào thét ầm ĩ vào tai Turner.

Người mẹ có vẻ không chạy nổi.

Cô rụt tay ra, la hét.

Cô muốn đòi lại đứa con.

Thằng nhỏ ngoặt ngoẹo về phía cô, qua vai anh.

Giờ thì tiếng bom rơi rú rít.

Người ta bảo nếu nghe tiếng rít đó dừng lại trước khi bom nổ là ta tiêu đời.

Khi nằm gục xuống cỏ, anh kéo người phụ nữ xuống cùng mình và dúi đầu cô xuống.

Anh đang nằm đè một nửa trên đứa trẻ khi mặt đất rung lên bần bật với tiếng ầm không tưởng tượng nổi.

Sức ép hất họ lên khỏi mặt đất.

Họ che mặt lại tránh trận mưa cát bụi đau rát như có ngòi châm.

Họ nghe tiếng chiếc Stuka bay vút lên sau khi bổ nhào xuống, ngay cùng lúc đó họ nghe tiếng than khóc của nữ thần báo tử cho đợt tấn công kế tiếp.

Quả bom rơi xuống đường cách đó chưa đầy tám mươi mét.

Anh cắp thằng nhỏ dưới tay và cố kéo người phụ nữ đứng dậy.

"Mình lại phải chạy thôi.

Mình ở gần đường quá."

Người phụ nữ trả lời nhưng anh không hiểu cô nói gì.

Họ lại nháo nhào chạy qua cánh đồng.

Anh thấy cơn đau bên sườn như một vệt màu lóe lên.

Thằng bé trong tay anh, và một lần nữa có vẻ như cô đang kéo anh lùi lại, và cố giằng đứa bé khỏi tay anh.

Giờ thì cả ba đã chạy được hơn trăm mét trên cánh đồng, tất cả là để có chạy về phía khu rừng ở phía xa kia.

Khi bom rin rít đổ, mọi người nằm rạp xuống đất.

Nhưng cô kia không hề có bản năng cảm nhận nguy hiểm và anh lại phải kéo cô xuống.

Lần này họ gí mặt vào đất vừa bị lật lên.

Khi tiếng rít lớn hơn, cô kia hét lên tiếng gì đó như một lời cầu nguyện.

Khi đó anh nhận ra cô ta không nói tiếng Pháp.

Bom nổ ở đầu xa của con đường, cách đó hơn một trăm năm mươi mét.

Nhưng giờ chiếc Stuka đầu tiên đang quay lại làng và oanh tạc.

Thằng bé im bặt vì sợ.

Mẹ nó không đứng lên.

Turner chỉ về chiếc Stuka đang bay vào làng trên những nóc nhà.

Họ đang năm đúng đường bay của nó và không có thời gian tranh cãi.

Cô không nhúc nhích.

Anh lao mình vào luống cày.

Tiếng đạn súng máy nã thịch thịch vào đất cày và động cơ gào rú vụt qua họ.

Một người lính bị thương kêu thét.

Turner đứng lên.

Nhưng cô kia không chịu nắm tay anh.

Cô ngồi trên mặt đất mà siết chặt đứa con.

Cô đang nói tiếng xứ Flander với nó, an ủi nó, chắc chắn đang bảo với nó rằng mọi thứ sẽ ổn cả thôi.

Mẹ sẽ lo hết.

Turner không biết một từ nào của thứ tiếng này.

Mà có biết cũng sẽ chẳng thay đổi được gì.

Cô không để ý gì đến anh.

Thằng bé đờ đẫn nhìn anh qua vai mẹ.

Turner bước lùi lại.

Rồi anh chạy.

Khi anh loạng choạng qua những luống cày, trận tấn công lại đổ xuống.

Đất màu mỡ bám chặt vào bốt anh.

Chỉ trong ác mộng chân mới nặng như thế.

Một quả bom rơi xuống đường, cách đó khá xa về phía giữa làng, nơi những chiếc xe tải đỗ.

Nhưng một tiếng rít luôn che giấu trong nó một tiếng nữa, và nó rơi xuống cánh đồng trước khi anh kịp nằm xuống.

Trận nổ làm anh văng tới trước khoảng chừng một mét, mặt đập xuống đất.

Khi anh tỉnh lại, miệng mũi tai anh đầy đất.

Anh cố nhổ ra, nhưng miệng không có chút nước bọt nào.

Anh dùng một ngón tay, nhưng còn tệ hơn.

Anh cố khạc ra đất, rồi anh nôn lên ngón tay bẩn thỉu của mình.

Anh hỉ đất ra khỏi mũi.

Nước nhầy ở mũi dính đầy bùn và làm nghẹt miệng anh.

Nhưng rừng gần ngay đó, sẽ có suối và thác và hồ.

Anh tưởng tượng ra thiên đường.

Khi lại nghe tiếng hú rít càng lúc càng to của một chiếc Stuka đang lao xuống, anh cố gắng nghe ngóng xem âm thanh từ đâu.

Hết nguy hiểm rồi ư?

Đầu óc anh cũng bị tắc nghẹn.

Anh không thể nhổ hay nuốt, anh gần như không thở nổi, và anh không nghĩ được.

Rồi, khi nhìn thấy tay nông dân với con chó vẫn kiên nhẫn đợi dưới gốc cây, mọi thứ quay lại với anh, anh nhớ ra mọi thứ và quay đầu nhìn lại.

Chỗ người phụ nữ và thằng con trai là một hố bom.

Ngay cả khi nhìn thấy nó, anh nghĩ mình đã luôn biết thế.

Đó là lý do tại sao anh phải bỏ họ.

Việc của anh là sống sót, mặc dù anh đã quên tại sao phải làm vậy.

Anh tiếp tục chạy về phía rừng.

Anh đi bộ vài bước dưới tán cây, rồi ngồi dưới một bụi cây thấp mới mọc, lưng dựa vào cây phong non.

Anh chỉ nghĩ đến nước.

Có hơn hai trăm người trốn trong rừng, gồm cả những người bị thương đã lết được vào.

Có một gã, dân thường, cách đó không xa, khóc lóc và kêu gào đau đớn.

Turner đứng dậy dịch ra xa.

Tất cả những cây non này đều nói với anh duy nhất một điều là nước.

Trận tấn công tiếp diễn trên đường và cả làng.

Anh gạt lá khô ra và dùng mũ để đào.

Đất ẩm nhưng không có nước rỉ vào cái lỗ anh vừa đào, ngay cả khi đã sâu đến gần năm mươi phân.

Vậy là anh ngồi đó nghĩ đến nước, và cố dùng tay áo lau sạch lưỡi.

Khi một chiếc Stuka lao xuống, anh gần như không thể không căng thẳng và co rúm người lại, mặc dù lần nào anh cũng nghĩ là mình không đủ sức.

Đến lúc cuối chúng quay lại oanh tạc trong rừng, nhưng không hiệu quả gì.

Lá cây và cành con từ ngọn cây đổ xuống.

Rồi mấy chiếc máy bay bay đi, và trong sự im lặng khủng khiếp bao trùm khắp cánh đồng, cây cối, ngôi làng, thậm chí không có đến một tiếng chim hót.

Sau một lúc, từ phía đường cái vọng đến tiếng huýt sáo báo hiệu đã hết nguy hiểm.

Nhưng không ai cử động.

Anh nhớ chuyện này lần trước cũng thế.

Họ quá sững sờ, họ đờ đẫn khi hết lần này lượt khác bị kinh hồn táng đởm.

Mỗi đợt máy bay bổ xuống lại khiến từng người, bị dồn vào đường cùng và co rúm lại, đối mặt với án tử hình.

Khi nó không đến, cuộc thử thách sẽ lại lặp lại từ đầu và nỗi sợ không hề thuyên giảm.

Với những người còn sống, kết thúc trận oanh tạc của một chiếc Stuka là tình trạng tê liệt vì kinh sợ, những nỗi kinh sợ lặp đi lặp lại.

Những trung úy và sĩ quan trẻ có thể đến hò hét và đá mọi người đứng dậy.

Nhưng họ đã kiệt quệ và, mãi một lúc lâu, là những quân nhân vô dụng.

Vậy là anh ngồi đó thẫn thờ như mọi người, hệt như lần đầu tiên, ở ngoài một ngôi làng mà anh không nhớ rõ tên nữa.

Những ngôi làng Pháp mang tên Bỉ.

Khi anh bị tách khỏi đơn vị và, còn tồi tệ hơn cho một lính bộ binh, tách khỏi khẩu súng trường.

Đã bao nhiêu ngày rồi?

Không cách nào biết được.

Anh kiểm tra khẩu súng lục đầy đất là đất.

Anh đóc đạn ra và quẳng súng vào bụi cây.

Một lúc sau, sau lưng anh có một tiếng động và một bàn tay đặt lên vai anh.

"Cầm lấy này.

Đồ cứu trợ từ trung đoàn Green Howards."

Hạ sĩ Mace đang đưa cho anh chai nước của một người chết nào đó.

Vì nó gần như còn đầy nên anh dùng tợp đầu tiên để súc miệng, nhưng làm thế thì lãng phí quá.

Phần còn lại anh uống luôn, cả đất.

"Mace, ông là một thiên thần."

Tay hạ sĩ chìa tay ra kéo anh lên.

"Phải di chuyển thôi.

Có tin đồn là đám quân Bỉ mắc dịch đã bại trận.

Chúng ta phải đi tắt từ phía Đông.

Đường đất còn dài."

Khi họ băng qua lại cánh đồng, Nettle nhập bọn.

Gã có một chai rượu và một thanh Amo, họ chia cho nhau.

"Yến tiệc ra trò," Turner vừa nói vừa tu ừng ực.

"Đúng kiểu Phớp."

Tay nông dân và con chó collie lại quay về luống cày.

Ba người lính lại chỗ hố bom bốc mùi thuốc nổ nồng nặc.

Cái hố là một hình nón ngược cân đối hoàn hảo, các bên nhẵn thín, như thể được sàng và giần rất kỹ.

Không có dấu hiệu con người, không một mảnh áo quần hay giày dép.

Bà mẹ và đứa trẻ đã bốc hơi.

Anh dừng lại để tiêu hóa sự thực này, nhưng hai tay hạ sĩ vội vàng đẩy anh đi tiếp và chẳng mấy chốc họ nhập cùng những người lang thang trên đường.

Giờ thì dễ hơn rồi.

Sẽ không có xe cộ gì cho tới khi công binh mang xe ủi đất vào làng.

Phía trước, đám khói dầu đốt vẫn lơ lửng trên không như một ông bố giận dữ.

Máy bay ném bom tầm cao vù vù phía trên, một dòng bay hai chiều cứ bay tới mục tiêu rồi lại quay về.

Turner phát hiện ra có thể là mình đang bước vào một trận thảm sát.

Nhưng ai cũng đi đường đó, và anh không nghĩ ra cách nào khác.

Đường đi đưa họ thẳng sang bên phải đám khói, về phía Đông Dunkirk, tới biên giới Bỉ.

"Bray Dunes," anh nói, nhớ tên này từ trên bản đồ.

Nettle nói, "Nghe âm mấy chữ này thích nhỉ."

Họ đi qua những người bị bỏng rộp đến hầu như không bước nổi nữa.

Vài người đi chân không.

Một tay lính ngực bị thương đỏ lòm nằm gục trong một cái xe đẩy cổ lỗ sĩ do đồng đội đẩy đi.

Một trung sĩ dắt một con ngựa, trên lưng nó là một viên sĩ quan vắt qua thõng thẹo, bất tỉnh hoặc đã chết, chân và cổ tay thừng buộc chặt.

Một vài lính cưỡi xe đạp, hầu hết là đi bộ theo nhóm hai ba.

Một liên lạc viên của Bộ binh Highland Light chạy qua trên một chiếc Norton.

Đôi chân anh ta nhầy nhụa máu buông thõng, còn người đi cùng ngồi yên sau, hai tay băng bó chằng chịt, thì đang đạp pê đan.

Khắp đường ngổn ngang những măng tô bị người ta vứt lại vì nóng quá không muốn mang theo.

Turner cũng đã bảo hai tay hạ sĩ vứt lại áo của họ.

Họ đi được một giờ thì nghe sau lưng mình một âm thanh thình thịch đều đều, như tiếng tích tắc của một cái đồng hồ khổng lồ.

Họ quay đầu nhìn.

Thoạt tiên trông nó như một cánh cửa nằm ngang kếch xù đang bay trên đường về phía họ.

Nó là một trung đội Vệ binh xứ Wales hàng lối trật tự, súng trường vác trên vai, do một thiếu úy dẫn đầu.

Họ bước đều qua, mắt đăm đăm nhìn thẳng phía trước, tay đánh cao.

Mọi người dạt sang hai bên cho họ qua.

Đây đúng là lúc để giễu cợt, nhưng không ai liều huýt sáo.

Màn trình diễn kỷ luật và đoàn kết thật đáng hổ thẹn.

Thật nhẹ cả người khi đội Vệ binh này nện bước đi khỏi và mọi người có thể tiếp tục cắm cúi lê bước tiếp.

Cảnh tượng thì quen thuộc, các chi tiết thì y hệt, nhưng giờ có nhiều thứ hơn; xe cộ, hố bom, cát sỏi.

Nhiều thi thể hơn.

Anh bước đi cho đến khi gặp vị của biển lẫn trong làn gió mát rượi thổi qua những cánh đồng bằng phẳng nhiều đầm lầy.

Dòng người một chiều với mục tiêu duy nhất, máy bay vẫn liên tục nghênh ngang trên không, đám khói khổng lồ báo hiệu nơi họ cần đến, khiến tâm trí mệt mỏi nhưng lại bị kích thích quá mức của anh nghĩ đến một niềm sung sướng từ thuở ấu thơ vốn đã chìm vào quên lãng, một lễ hội hay sự kiện thể thao nơi tất cả thiên hạ đều hội tụ về.

Có một ký ức anh không tài nào nhớ nổi đã xảy ra khi nào, anh được cha công kênh trên vai, lên đồi về phía một cái gì đó hết sức hấp dẫn, về nguồn của một niềm phấn khích khổng lồ.

Giờ anh muốn thấy lại đôi vai đó.

Người cha mất tích của anh để lại không nhiều kỷ niệm.

Một chiếc khăn quàng cổ quấn nhiều vòng, một mùi nhất định, nét mờ mờ của một bộ dạng có vẻ cáu kỉnh, buồn bã.

Ông trốn không tham gia Thế chiến thứ nhất, hay ông chết đâu đó gần đây dưới một cái tên khác?

Có lẽ ông còn sống.

Grace tin chắc rằng ông ta quá hèn nhát, quá gian giảo nên sẽ không tòng quân, nhưng bà có lý do riêng để mà cay nghiệt.

Gần như ai ở đây cũng có một người cha vẫn còn nhớ miền Bắc nước Pháp, hoặc bỏ lại xác ở đó.

Anh muốn một người cha như thế, dù còn sống hay đã chết.

Cách đây rất lâu, trước chiến tranh, trước Wandsworth, anh thường say mê niềm tự do gây dựng đời của riêng mình, viết nên câu chuyện riêng của mình nhờ sự giúp đỡ từ xa duy nhất của Jack Tallis.

Giờ anh hiểu điều đó mới đúng là một ảo tưởng dối lừa làm sao.

Không có rễ, thế thì không đơm hoa kết trái.

Anh muốn một người cha, và cũng vì lý do đó, anh muốn trở thành một người cha.

Chẳng có gì nghịch thường khi người ta nhìn thấy quá nhiều chết chóc và muốn có một đứa trẻ.

Bình thường, vì thế rất con người, và anh muốn còn hơn thế nữa.

Khi những người bị thương kêu gào, ta mơ tưởng một ngôi nhà nhỏ đâu đó nơi ta có người để sống cùng, mơ cuộc sống thường nhật, dòng dõi gia đình, mối dây liên kết.

Khắp xung quanh anh, những con người lặng lẽ bước đi cùng những suy nghĩ của mình, cải tạo đời mình, đi đến những quyết định.

Giá tôi có bao giờ thoát khỏi được cái đận này...

Chẳng bao giờ đếm được chúng có bao nhiêu đứa, những đứa trẻ trong mơ kia, được thụ thai bằng tinh thần trên con đường cuốc bộ về Dunkirk, và sau đó được đắp da đắp thịt.

Anh sẽ tìm Cecilia.

Địa chỉ nàng trên lá thư trong túi áo, cạnh bài thơ.

Trong hoang mạc con tim/ Hãy để nguồn chữa thương khởi dòng.

Anh cũng sẽ tìm cha mình.

Họ rất giỏi truy tìm những người mất tích, Đội quân Cứu thế ấy.

Một cái tên hoàn hảo.

Anh sẽ tìm được dấu vết cha, hay câu chuyện về người cha đã chết - dù thế nào, anh cũng sẽ trở thành con trai của cha mình.

Họ đi cả buổi chiều đến khi, cuối cùng, cách hơn cây số rưỡi, nơi một quầng khói xám vàng cuồn cuộn bốc lên từ những cánh đồng xung quanh, họ thấy cây cầu bắc qua kênh Bergues-Fumes.

Giờ thì suốt cả con đường, không một ngôi nhà hay kho thóc nào còn đứng vững.

Cùng với khói, chướng khí sinh ra từ thịt rữa dật dờ trôi về phía họ - thêm nhiều ngựa kỵ binh bị giết, hàng trăm con, chất thành ụ lớn trên đồng.

Cách họ không xa là một núi đồng phục và chăn màn cháy âm ỉ.

Một tay cai quyền lực lưỡng cầm búa tạ nện xuống một loạt máy đánh chữ và máy roneo.

Hai xe cứu thương đỗ bên lề đường, cửa sau mở toang.

Từ trong xe vọng ra tiếng rên rỉ và gào rú của những người bị thương.

Một người thét lớn, hết lần này lần khác, giận dữ hơn là đau đớn, "Nước, cho tôi uống nước!"

Như những người khác, Turner đều chân bước.

Đám đông lại đang ứ lại.

Trước cầu dẫn qua kênh là một ngã tư, và từ hướng đi Dunkirk, trên con đường chạy dọc kênh, một đoàn xe tải ba tấn đi qua, quân cảnh đang cố hướng nó vào cánh đồng phía trước nơi có xác đàn ngựa.

Nhưng binh lính nhung nhúc qua đường buộc đoàn xe phải dừng lại.

Tài xế bấm còi và chửi bới ầm ĩ.

Đám đông dồn tới.

Những người mệt mỏi vì phải chờ đợi từ sau xe tải trườn xuống.

Có tiếng hét, Tìm chỗ tránh!

Và trước khi mọi người kịp nhìn quanh, một núi đồng phục lại được cho nổ.

Những mẩu vải xéc xanh lục bé xíu rơi lả tả như mưa.

Gần hơn, một phân đội pháo thủ đang dùng búa nện xuống ông ngắm và tấm thép đóng nòng những khẩu súng của mình.

Một người, Turner nhận thấy, vừa khóc vừa hủy bích kích pháo của mình.

Ở lối vào cũng cánh đồng đó, một cha tuyên úy và thư ký của ông ta đang đổ dầu lên những hòm đưng sách cầu nguyện và Kinh Thánh.

Mọi người băng qua đồng về phía một kho của Quân tiếp vụ NAAFI đặng tìm thuốc lá và rượu.

Khi có tiếng hét gọi, hàng chục người nữa rời khỏi đường nhập bọn cùng.

Một nhóm ngồi cạnh cổng trang trại, thử mấy đôi giày mới.

Một tay lính má phúng phình tay ôm một hộp kẹo dẻo màu hồng trắng sượt qua vai Turner.

Cách kho bốt Wellington một trăm mét, người ta đốt mặt nạ chống độc và áo choàng không tay, khói cay sè phủ khắp dòng người đang dồn đẩy nhau về phía cầu.

Cuối cùng thì đoàn xe tải cũng chuyển bánh chạy vào cánh đồng lớn nhất nằm ngay phía Nam con kênh.

Quân cảnh đang tổ chức chỗ đậu xe, xếp theo hàng, như ủy viên ban tổ chức một cuộc trình diễn ở địa phương.

Xe tải nhập cùng xe háp-trắc, xe máy, xe bọc thép chở quân và xe bếp di động.

Phưong pháp phá hủy, như mọi khi, đơn giản - cho một viên đạn vào bộ tản nhiệt, và để mặc động cơ chạy cho đến khi cháy máy.

Cây cầu được trung đoàn Vệ binh Coldstream chiếm giữ.

Hai ụ súng máy làm bằng nhiều túi cát chất gọn gàng bao quát lối vào.

Những người râu ria nhẵn nhụi, mắt lạnh lùng, im lặng tỏ vẻ khinh bỉ đám rách rưới lộn xộn bẩn thỉu đang lê bước qua.

Phía bên kia kênh, những phiến đá sơn trắng đặt cách nhau đều đặn chỉ đường tới một cái lán dùng làm phòng chỉ huy.

Ở phía bờ xa, về hướng Đông và Tây, trung đoàn Vệ binh Coldstream được phân ra trấn thủ theo đơn vị của mình.

Nhà trên bến tàu được quân đội trưng dụng, ngói bị dỡ ra, cửa sổ chất đầy túi cát để làm ụ súng máy.

Một trung sĩ mặt mày bặm trọn đang giữ trật tự trên cầu.

Hắn bắt một trung úy cưỡi xe máy quay lại.

Tuyệt đối không dụng cụ hay xe cộ nào được cho qua.

Một gã ôm lồng vẹt buộc phải quay lại.

Tay trung sĩ này cũng điều động người làm nhiệm vụ phòng hộ vòng ngoài, và hắn làm việc đó với vẻ uy quyền gấp bội tay thiếu tá thảm hại kia.

Một phân đội đang tăng dần quân số uể oải khổ sở đứng cạnh lán chỉ huy.

Turner thấy những gì đang xảy ra đồng thời với hai hạ sĩ, khi họ vẫn còn cách đó một đoạn khá xa.

"Bọn nó sẽ túm mẹ nó lấy ông cho mà coi, chiến hữu ạ," Mace nói với Turner.

"Tội nghiệp bọn bộ binh.

Nếu ông còn muốn về nhà với mấy em xinh tươi thì len vào giữa hai bọn tôi mà khập khiễng mau."

Cảm thấy nhục nhã, nhưng cũng kiên quyết không kém, anh quàng tay qua vai hai hạ sĩ và cả ba loạng choạng bước tới.

"Chân trái đấy nhé, nhớ chưa, Cha nội," Nettle nói.

"Ông có muốn tôi xuyên lưỡi lê qua chân ông không?"

"Cảm ơn ghê gớm.

Tôi nghĩ mình tự xoay xở được."

Turner gục đầu xuống khi họ qua cầu vì thế anh không hề thấy tia nhìn hung tợn của tay trung sĩ đang thực thi nhiệm vụ kia, mặc dù cảm thấy độ nóng của nó.

Anh nghe tiếng lệnh quát, "Ê, anh kia!"

Một kẻ không may nào đó ngay sau anh bị kéo ra để tham gia chống đỡ trận tấn công chắc hẳn sẽ đến trong hai ba ngày tới, trong khi người cuối cùng của Lực lượng Viễn chinh Anh quốc đang leo lên tàu.

Khi cúi đầu như vậy, anh thấy một chiếc sà lan dài đen chạy dưới cầu về phía Fumes ở Bỉ.

Người lái sà lan ngồi ở chỗ bánh lái hút tẩu, lãnh đạm nhìn về phía trước.

Phía sau anh, cách đó mười dặm, Dunkirk đang đùng đùng cháy.

Phía trước, trên mũi tàu, hai thằng nhóc đang cúi xuống một chiếc xe đạp lật ngược lên, có lẽ đang vá lốp.

Một dây quần áo có cả đồ lót phụ nữ chăng lên phơi cho khô.

Mùi nấu nướng, mùi hành tỏi, bốc lên từ con tàu.

Turner và hai hạ sĩ đi qua cầu, qua những tảng đá quét vôi trắng, một thứ khiến họ nhớ đến trại huấn luyện và tất cả thứ kỷ luật nhảm nhí đó.

Trong lán chỉ huy, điện thoại đang réo chuông.

Mace lầm bầm, "Ông cứ khập khiễng thật ác chiến vào cho đến khi mình đi cho khuất mắt."

Nhưng đất bằng phẳng kéo dài hàng dặm và không cách nào biết tay trung sĩ kia đang nhìn theo hướng nào, và họ cũng không muốn quay lại xem thử.

Sau nửa tiếng họ ngồi xuống một máy gieo hạt gỉ sét nhìn đội quân bại trận đi qua.

Họ nảy ra ý sẽ trà trộn vào đám đông vừa mới tụ lại này, để việc Turner tự nhiên hồi phục không thu hút sự chú ý của một tay sĩ quan nào đó.

Rất nhiều người đi qua cáu kỉnh vì không thấy biển sau kênh dào.

Có vẻ như họ nghĩ đó là do người ta lên kế hoạch sai.

Dựa vào bản đồ Turner biết là còn những bảy dặm nữa, và một khi họ tiếp tục bước, nó sẽ là chặng đường gian khổ nhất, thê lương nhất mà họ đã đi ngày hôm đó.

Vùng đất rộng thênh thang chẳng cây cối gì không tạo cảm giác là ta đang tiến tới.

Mặc dù mặt trời chiều muộn đang trượt qua rìa đám khói dầu, trời vẫn nóng hơn bao giờ hết.

Họ thấy máy bay trên cảng đang thả bom.

Tệ hơn, còn thấy cả những chiếc Stuka tấn công ngay trên bãi biển nơi họ đang tiến tới.

Họ bước qua những người bị thương đang lê chân mà không đi xa hơn được nữa.

Họ ngồi xuống như ăn mày bên vệ đường, cầu xin giúp đỡ, hay ngụm nước.

Những kẻ khác thì nằm cạnh mương, bất tỉnh, hoặc chìm đắm vào vô vọng.

Chắc chắn sẽ có xe cứu thương từ vành đai phòng hộ đến, thường xuyên chạy đến bãi biển.

Nếu người ta đã có thời gian để sơn trắng đá thì hẳn cũng phải có thời gian bố trí cho việc đó.

Không có nước.

Họ đã uống sạch rượu và giờ cơn khát càng dữ dội hơn.

Họ không mang theo thuốc.

Họ mong đợi gì chứ?

Cõng một chục người trên lưng trong khi chính họ còn không nhấc nổi chân ư?

Tự dưng nổi cáu, Hạ sĩ Nettle ngồi xuống đường, cởi bốt ném ra đồng.

Anh ta bảo anh ta ghét chúng, anh ta ghét chúng bỏ mẹ, nhiều hơn tất cả cái bọn Đức chết mẹ đó gộp lại.

Và chỗ rộp bị đau đến nỗi anh ta thà vứt mẹ nó đi.

"Đi về Anh mà mang mỗi tất thì đường dài lắm đấy," Turner nói.

Anh thấy mình nông nổi một cách kỳ quặc khi xuống đồng tìm.

Chiếc thứ nhất tìm thấy ngay, còn chiếc thứ hai phải mất một lúc.

Cuối cùng anh thấy nó nằm trong cỏ gần một hình thù lông lá màu đen mà dường như, khi anh lại gần, đang cử động hay co đập.

Đột nhiên một bầy nhặng bay vù lên không trung vo ve giận dữ, để lộ ra một thi thể đang thối rữa bên dưới.

Anh nín thở, chộp lấy chiếc bốt, và khi anh vội chạy đi đàn nhặng lại sà xuống và rồi chỉ còn im lặng.

Dỗ ngon dỗ ngọt mất một lúc, Nettle mới chịu cầm lại bốt, dùng dây cột hai chiếc lại với nhau rồi quàng qua cổ đeo đi.

Nhưng gã làm thế, gã nói, chỉ là vì Turner thôi đấy.
 
Atonement - Chuộc Tội
SÁU


Trong những giây phút tỉnh táo anh lại thấy khó chịu.

Không phải vì vết thương, mặc dù cứ mỗi bước chân nó lại nhói đau, và cũng không phải vì máy bay thả bom vần vũ trên bãi biển cách vài dặm về phương Bắc.

Mà là tâm trí anh.

Một cách định kỳ, thứ gì đó cứ tuột đi.

Nguyên tắc thường nhật nào đó về sự tiếp diễn, cái nhân tố lặp đi lặp lại cho anh biết mình đang ở đâu trong câu chuyện của chính mình, đã bạc thếch đi vì dùng quá nhiều, bỏ lại anh với cơn mộng du trong đó những suy nghĩ có tồn tại, nhung chẳng thể nào thấy được ai đang mang những suy nghĩ ấy.

Không trách nhiệm, không ký ức về những giờ trước đó, không biết mình đang định làm gì, mình đang đi đâu, kế hoạch thế nào.

Và không tò mò về những chuyện đó.

Chừng đó anh thấy mình kẹt trong cái siết chặt của những điều chắc chắn phi logic.

Anh ở trong trạng thái này khi họ vòng qua rìa phía Đông khu nhà nghỉ sau ba giờ cuốc bộ.

Họ đi xuống một con đường đầy những mảnh vụn thủy tinh và gạch nát nơi bọn trẻ con đang chơi đùa và xem lính đi qua.

Nettle đã xỏ bốt lại, nhưng gã để dây lòng thòng.

Đột nhiên, như một con rối trong hộp đồ chơi, một trung úy từ Trung đoàn Dorset thò lên từ hầm một tòa nhà công sở bị trưng dụng thành sở chỉ huy.

Hắn tiến về phía họ với vẻ ngạo mạn, tay cắp cặp.

Khi hắn dừng lại trước họ, họ chào.

Ngứa mắt, hắn ra lệnh cho Nettle buộc dây giày lại ngay lập tức nếu không sẽ nhận hình phạt.

Khi tay hạ sĩ quỳ xuống làm theo, tay trung úy - vai tròn, xương xâu, dáng vẻ của kẻ suốt ngày cạo giấy và một mớ ria hoe vàng - nói, "Mày đúng là một nỗi ô nhục mắc dịch."

Trong sự tự do tỉnh táo của trạng thái mơ màng, Turner định bắn xuyên ngực tay sĩ quan này.

Sẽ tốt hơn cho tất cả mọi người.

Cũng chẳng đáng phải bàn bạc chuyện này trước.

Anh thò tay lấy súng, nhưng nó đã rơi mất - anh không nhớ nổi chỗ nào - và tên trung úy đã bỏ đi khá xa rồi.

Sau vài phút lạo xạo trên thủy tinh, dưới giày họ đột ngột yên tĩnh khi cuối đường là cát mịn.

Khi đi lên qua những chỗ nhấp nhô trên cồn cát, họ nghe tiếng biển và nếm đầy miệng vị mặn rồi mới nhìn thấy nó.

Mùi vị của những kỳ nghỉ.

Họ rời khỏi con đường và leo lên những đụn cỏ đến chỗ cao nhất và lặng thinh đứng đó suốt mấy phút liền.

Gió ẩm mát lành thổi từ Channel làm sống lại sự tỉnh táo trong anh.

Có lẽ không gì hơn ngoài nhiệt độ trong người anh lên rồi xuống theo từng đợt.

Anh đã tưởng mình không hề trông mong gì - cho đến khi nhìn thấy biển.

Anh đã nghĩ rằng cái tinh thần lì lợm của cái đội quân khi đối mặt với khả năng bị hủy diệt vẫn có thể đi sơn đá trắng rồi sẽ thắng thế.

Giờ anh cố áp trật tự lên chuyển động ngẫu nhiên trước mặt anh, và suýt thành công: những trung tâm tổ chức, những chuẩn úy đằng sau mấy cái bàn tạm bợ, những con dấu cao su và biên lai, những đường phân cách bằng dây thừng dẫn về phía những con tàu nằm đợi; những trung úy quát nạt ầm ĩ, những hàng người mệt mỏi quanh các căng tin dã chiến.

Nhìn chung, chỗ kết cho mọi khởi đầu riêng tư.

Dẫu anh không hề biết, đó mới là bãi biển mà anh đã đi bộ hàng bao ngày trời mong đến được.

Nhưng bãi biển thực sự, bãi biển mà giờ anh và hai tay hạ sĩ đang nhìn đăm đăm xuống, không gì hơn là một biến thể của tất cả những thứ đã diễn ra trước đó: có một thất bại thảm hại, và đây là trạm cuối của nó.

Giờ họ nhìn thấy rồi thì đã quá rõ ràng - đây là điều sẽ xảy ra khi một cuộc rút lui hỗn loạn không thể tiến xa hơn được nữa.

Chỉ cần vài giây để thích nghi lại.

Anh thấy hàng ngàn người, mười, hai mười ngàn, có khi hơn, tản khắp bãi biển rộng mênh mông.

Nhìn xa xa, họ như những hạt cát đen.

Nhưng không có tàu, ngoài một cái thuyền săn cá voi lật úp dập dềnh ngoài sóng đằng xa.

Thủy triều thấp và còn đến một dặm nữa mới tới mép nước.

Không thuyền bè gì chỗ cầu tàu dài.

Anh chớp mắt rồi nhìn lần nữa.

Cầu tàu đó được tạo nên từ dòng người, một dòng người dài, bề ngang cũng phải đến sáu hay tám hàng, lội xuống nước ngang đầu gối, ngang hông, ngang vai, kéo dài đến năm trăm mét trên vùng nước nông.

Họ đợi, nhưng trước mắt chả có gì, trừ phi ta tính cả những vết lờ mờ trên đường chân trời kia - tàu thuyền cháy sau một trận không kích.

Trong vài giờ tới sẽ không gì có thể vào đến bờ.

Nhưng binh lính đứng đó, đối diện với đường chân trời, đầu đội mũ thiếc, súng nâng cao lên khỏi sóng.

Từ khoảng cách này trông họ điềm đạm như bầy gia súc.

Và những người đó chỉ là một phần nhỏ trong toàn thể.

Đa phần là ở trên bãi biển, thơ thẩn không mục đích.

Vài nhóm nhỏ quây lại quanh những người bị thương trong cuộc tấn công vừa đấy của Stuka.

Cũng tha thẩn như con người, nửa chục ngựa kỵ binh phi nước đại theo bầy cạnh mép nước.

Một vài tay lính định lật chiếc thuyền đánh cá voi kia lại.

Vài người đã cởi quần áo ra để bơi.

Phía Đông đang có một trận bóng đá, và cũng từ hướng đó vẳng đến giai điệu yếu ớt một bài thánh ca do nhiều người hợp xướng nhưng rồi lặng dần đi.

Bên ngoài nơi diễn ra trận bóng đá là dấu hiệu duy nhất cho thấy hoạt động của nhà chức trách.

Trên bãi biển, xe tải đang xếp hàng và nối lại với nhau thành một cầu tàu tạm.

Nhiều xe tải hơn đang tiếp tục chạy tới.

Gần hơn, ngược lên trên bãi cát, một số người đang dùng mũ xúc cát làm hố cá nhân.

Trên cồn cát, gần nơi Turner và hai hạ sĩ đứng, một số người đã đào hố cho riêng mình, từ đó họ nhòm ra, vẻ ông chủ và tự mãn.

Như con mácmôt, anh nghĩ.

Nhưng đa phần quân đội thì tha thẩn vô mục đích trên bãi cát, như công dân của một thành phố Ý trong giờ passeggio.

Họ chả thấy trước mắt có lý do gì phải nhập vào cái dòng người khổng lồ kia, nhưng họ không chịu đi khỏi bãi biển vì biết đâu tự dưng có thuyền xuất hiện.

Bên trái là khu nghỉ dưỡng Bray, một mặt tiền nhộn nhịp những quán cà phê và cửa hàng nhỏ vào mùa bình thường sẽ cho thuê ghế ngồi bãi biển và xe đạp.

Trong một công viên hình tròn cỏ được cắt tỉa cẩn thận là một bục dàn nhạc và một vòng quay ngựa gỗ sơn đỏ, trắng, xanh.

Giữa cảnh ấy, một đại đội khác, thờ ơ hơn, đã bắt tay vào việc.

Binh lính đã mở vài hàng cà phê cho riêng họ và say xỉn ở mấy cái bàn ngoài trời, nói ông ông và cười đùa.

Người ta nô giỡn trên xe đạp dọc vỉa hè đầy vết nôn mửa.

Một đoàn những kẻ say túa ra trên bãi cỏ cạnh bục dàn nhạc mà ngủ gục.

Một tay tắm nắng lẻ loi mặc độc quần lót, mặt úp xuống khăn tắm, vai và chân loang lổ vết cháy nắng - hồng và trắng như kem dâu tây với vani.

Chọn gì trong những vòng đày đọa này thì không khó - biển, bãi biển, mặt tiền toàn tiệm cà phê và cửa hàng nhỏ ấy.

Hai hạ sĩ dợm bước bỏ đi.

Riêng cái khát thôi đã quyết định điều ấy.

Họ tìm thấy một con đường bên dải đất liền cạnh những cồn cát, rồi họ băng qua bãi cỏ lộn nhộn cát vương đầy chai vỡ.

Khi họ đi vòng qua những bàn khàn khàn những giọng, Turner thấy một nhóm lính hải quân đang tiến dọc mặt tiền ấy, liền dừng chân nhìn.

Có năm người, hai sĩ quan, ba hạ sĩ quan, một nhóm sáng chói những trắng, lam, vàng.

Không chịu ngụy trang.

Lưng thẳng tắp, nghiêm, súng lục giắt thắt lưng, họ đi với nét uy quyền lặng lẽ xuyên qua đống quân phục ảm đạm và khuôn mặt cáu bẳn, nhìn hết bên này bên kia cứ như đang đếm.

Một tay sĩ quan ghi chép lên một cái bảng.

Họ tiến về phía bãi biễn.

Với cảm giác bị bỏ rơi rất trẻ con trỗi dậy, Turner nhìn cho đến khi họ mất dạng.

Anh theo sau Mace và Nettle tiến vào không khí hôi hám sặc khói cùng tiếng ồn đinh tai nhức óc của quán bar đầu tiên nơi mặt tiền.

Trên quầy bar có hai va li mở toang đầy thuốc lá, nhưng không có gì để uống.

Mấy cái giá chạy dọc theo tấm gương đánh bóng bằng cát đằng sau quầy bar trống không.

Khi Nettle chúi vào sau quầy rượu lục lọi, chỉ có lời giễu cợt.

Ai vào đây cũng đã làm y hệt thế.

Đồ uống đã bị mấy tay bợm nhậu ngoài kia nốc sạch từ lâu.

Turner chen qua đám đông xuống một bếp nhỏ phía sau.

Nơi này hoang tàn, vòi nước khô cong.

Bên ngoài là chỗ đi tiểu và sọt không chồng thành đống.

Một con chó đang cố thò lưỡi vào trong hộp cá xác đin rỗng, đẩy cái hộp đi cả một đoạn trên nền bê tông.

Anh quay vào lại phòng chính và những giọng nói ầm ĩ ở đó.

Không có điện, chỉ ánh sáng mặt trời ố nâu, như thể do màu của thứ bia không có kia.

Không có gì uống, nhưng quán bar vẫn nghẹt người.

Người ta vào, thất vọng, vậy mà vẫn ở lại, bị cầm chân bởi thuốc lá hút miễn phí và vết tích của cuộc túy lúy vừa xong.

Máy rót bia trống không treo vẹo vọ trên tường, những chai lộn ngược đã bị giật đi mất.

Mùi cồn ngòn ngọt bốc lên từ sàn xi măng nhóp nhúa.

Tiếng ồn cùng những cơ thể người chen chúc và mùi thuốc lá ẩm ướt làm thỏa mãn cơn nhớ nhà thèm muốn một tối thứ Bảy nơi quán rượu.

Đây là đường Mile End, là phố Sauchiehall, và mọi chốn giữa hai nơi đó.

Anh đứng trong tiếng ồn ã, không biết phải làm gì.

Chen ra khỏi đám đông này cũng mất khá công sức.

Hôm qua đã có tàu, anh nghe được vậy từ một mẩu nói chuyện, và có khi mai cũng có.

Kiễng chân trên bậu cửa bếp, anh nhún vai ý bảo "xui-rồi" về phía hai hạ sĩ ở phía bên kia đám đông.

Nettle hất đầu về phía cửa và họ bắt đầu cùng hướng về đó.

Được một cốc rượu thì cũng ngon, nhưng thứ họ muốn bây giờ là nước.

Chen lấn qua đám người đông nghẹt này mà tiến thì thật quá chậm, thế rồi, ngay khi họ gặp được nhau, lối ra lại bị chắn bởi một bức tường lưng vây kín nghịt quanh một người.

Hắn ta hẳn là lùn tịt - chưa đến mét sáu tám - và Turner không thấy phần nào của hắn trừ phía sau đầu.

Có người nói, "Mày trả lời cái câu hỏi chết mẹ đó đi, thằng lỏi con chết dấp kia."

"Phải, trả lời đi."

"Này, thằng quân tử đểu.

Lúc đó mày ở đâu?"

"Mày ở đâu khi bọn nó giết đồng đội của tao?"

Một miếng nước bọt văng vào phía sau đầu tay kia và rớt xuống ở chỗ sau tai.

Turner đi vòng sang để nhìn.

Đầu tiên anh thấy áo khoác xanh xám, rồi vẻ sợ hãi chết lặng trên mặt người đàn ông.

Đó là một tay nhỏ người săn chắc, đeo kính dày cộp bám bẩn khiến cho ánh mắt sợ hãi càng bị khuếch đại.

Trông anh ta như một nhân viên văn thư, hay điện thoại viên, có lẽ từng làm việc tại một tòa nhà chỉ huy nào đó đã bị giải tán từ lâu.

Nhưng anh ta là người của RAF và lính Anh coi anh ta phải có trách nhiệm giải thích.

Anh ta từ từ xoay người, nhìn vào vòng tròn những kẻ đang tra hỏi.

Anh ta không có lời đáp cho câu hỏi của họ, nhưng cũng chẳng nỗ lực chối bỏ trách nhiệm của mình về sự vắng mặt của những chiếc spitfire và Hurricane trên bãi biển.

Tay phải anh ta bíu chặt vào mũ đến nỗi khớp ngón run lẩy bẩy.

Một pháo thủ đứng cạnh cửa xô mạnh vào lưng khiến anh ta loạng choạng nhào từ phía này sang phía kia vòng người rồi ngã dúi dụi vào ngực một tay lính, tay này ném anh ta bật ngửa ra sau bằng một cú đấm ngay đầu.

Tiếng tán thưởng vang lên.

Ai cũng đã phải chịu khổ sở, và giờ có kẻ phải trả giá.

"Thế RAF đâu?"

Một bàn tay vụt ra tát bốp vào mặt anh ta, đập văng kính xuống sàn.

Tiếng cú đánh chính xác như một tiếng roi quất.

Đây là tín hiệu cho một giai đoạn mới, một mức độ nhập cuộc mới.

Đôi mắt trần của anh ta co rút lại thành hai chấm nhỏ xíu chóp liên hồi khi anh ta ngồi thụp xuống mò mẫm quanh chân mình.

Một sai lầm.

Một cú đá từ một cái bót nhà binh bọc thép giáng ngay vào mông anh ta, làm anh ta bật dậy chừng dăm phân.

Tiếng cười nắc nẻ rộ lên khắp xung quanh.

Cảm giác một thứ gì đó ngon lành đang sắp sửa xảy ra lan khắp quầy bar và hút thêm lính tới.

Khi đám đông phình to lên quanh vòng tròn, bất cứ cảm giác trách nhiệm cá nhân nào còn lại đều rơi tuột mất.

Sự liều lĩnh vênh vang dần thống trị.

Tiếng hô vang dậy khi có người dụi thuốc lá lên đầu anh chàng kia.

Họ cười phá lên khi nghe tiếng kêu ăng ẳng tức cười của anh ta.

Họ ghét anh ta, mà anh ta cũng đáng phải chịu mọi thứ đang xảy đến với mình.

Anh ta phải chịu trách nhiệm cho việc Không quân Đức tự do bay trên trời, cho mỗi đợt Stuka tấn công, cho cái chết của từng người bạn.

Cái khung người yếu ớt kia chứa đựng mọi nguyên nhân khiến một đội quân bại trận.

Turner nghĩ mình chẳng thể làm được gì giúp người kia mà không có nguy cơ chính mình bị đem xử đẹp.

Nhưng không thể không làm gì.

Tham gia thì tốt hơn là không gì cả.

Phấn khích một cách khó chịu, anh nhoài người tới trước.

Giờ, một giọng xứ Wales vút lên câu hỏi.

"RAF đâu?"

Thật kỳ quái khi người kia không hề kêu gào giúp đỡ, hay van xin, hay cam đoan mình vô tội.

Sự im lặng của anh ta cứ hệt như anh ta đã thông đồng với số phận mình.

Anh ta ngờ nghệch đến nỗi không nghĩ ra nổi là mình có thể sắp chết ư?

Đầy ý thức, anh ta gập kính cho vào túi.

Không có kính mặt anh ta trống rỗng.

Như con chuột chũi dưới ánh sáng chói lòa, anh ta hé mắt nhìn quanh những kẻ hành hạ mình, môi hé ra, lộ vẻ hoài nghi nhiều hơn là cố nói một tiếng.

Vì không thể thấy chuyện gì sắp tới, anh ta hứng trọn một cú đánh vào mặt.

Lần này là một cú đấm.

Khi đầu anh ta oặt ra sau, một cái bốt khác nện vào ống quyển anh ta và tiếng cổ vũ nho nhỏ vang lên, lác đác vài tiếng vỗ tay, như thể dành cho một cú nhoài người bắt bóng chuẩn xác trên bãi cỏ xanh của làng.

Thật điên rồ nếu đứng ra bảo vệ người kia, nhưng sẽ thật kinh tởm nếu không làm thế.

Đồng thời, Turner cũng hiểu cơn phấn khích đang lan giữa những kẻ hành hạ kia và cũng hiểu nó có thể lấy mạng anh bằng cách quỷ quyệt đến thế nào.

Chính anh cũng có thể làm gì đó tàn bạo bằng cây mác của mình và giành được sự sủng ái của một trăm con người.

Để tránh xa khỏi ý nghĩ ấy, anh buộc mình phải ngó chừng hai hay ba tay lính khác trong vòng tròn mà anh nghĩ là to con hoặc khỏe hơn mình.

Nhưng nguy hiểm thật sự lại đến từ chính đám đông, cái não trạng tự cho mình chính nghĩa của nó.

Không gì có thể ngăn cản khoái cảm của nó được.

Tình hình bây giờ lên đến mức bất cứ ai tung cú đánh tiếp theo sẽ phải giành được sự ủng hộ của mọi người bằng cách tỏ ra khéo léo hoặc vui nhộn.

Có một bầu không khí háo hức muốn làm hài lòng mọi người bằng cách tỏ ra sáng tạo.

Không ai muốn làm gì lạc điệu.

Trong vài giây, điều kiện này có phần khiến mọi người ngần ngại.

Nhưng rất nhanh, chỉ một chút nữa, Turner hiểu điều này từ những ngày ở Wandsworth, một cú đánh thôi là sẽ trở thành một trận đòn như thác đổ.

Rồi sẽ không có đường mà quay lại, và với tay RAF kia chỉ có một kết cục duy nhất.

Một cục sưng màu hồng đã nổi trên gò má dưới mắt phải anh ta.

Anh ta đã giơ tay lên che dưới cằm - anh ta vẫn níu chặt lấy cái mũ đội trên đầu - và vai anh ta rụt lại.

Đó có thể là thế tự vệ, nhưng nó cũng là một động tác biểu thị sự yếu ớt và khuất phục càng làm dấy thêm bạo lực.

Nếu như anh ta nói gì đó, bất cứ cái gì, binh lính quanh anh ta may ra còn nhớ anh ta là một con người, không phải con thỏ sắp sửa bị lột da.

Tay người Wales đã cất tiếng hỏi kia là một tên lùn tịt, chắc nịch, người của lực lượng công binh.

Giờ gã rút thắt lưng ra giơ lên cao.

"Các chú nghĩ sao đây?"

Giọng điệu chính xác, đầy ẩn ý của hắn gọi đến sự ghê rợn mà Turner ngay tức thời không hiểu ra được.

Giờ là cơ hội hành động cuối cùng của anh.

Khi anh nhìn quanh quất tìm hai hạ sĩ, có một tiếng gầm ngay cạnh đó, như tiếng một con bò mộng bị giáo đâm.

Đám đông ngả nghiêng và loạng choạng khi Mace xông qua họ vào trong vòng tròn.

Với giọng hét hoang dại chuyển từ trầm sang kim, như Tarzan do Johnny Weissmuller đóng, gã bế anh chàng văn thư từ phía sau kiểu gấu ôm, nâng anh ta lên cách khỏi mặt sàn gần nửa mét, và lắc cái sinh vật đang khiếp đảm kia từ bên này sang bên kia.

Có tiếng hoan hô và huýt sáo, chân giẫm ầm ầm và tiếng hò reo kiểu cao bồi.

"Tôi biết mình muốn xử thằng này thế nào," Mace gầm vang.

"Tôi muốn dìm chết mẹ nó xuống biển!"

Đáp lại, ầm vang lên một trận giẫm chân và huýt sáo nữa.

Nettle đột nhiên đứng ngay cạnh Turner và họ liếc nhau.

Họ đoán Mace sắp sửa làm gì và họ bắt đầu dịch ra phía cửa, biết rằng mình phải nhanh lên.

Không phải ai cũng ham hố chuyên dìm người xuống biển.

Ngay cả vào lúc điên loạn nhất, vài người vẫn có thể nhớ ra là mép nước cách đó đến một dặm.

Riêng tay người Wales cảm thấy mình bị xỏ mũi.

Hắn giơ đai nịt lên mà gào.

Có tiếng huýt sáo lẫn với êu êu và hoan hô.

Vẫn ôm nạn nhân trong tay, Mace lao ra cửa.

Turner và Nettle đi phía trước gã, rẽ đường qua đám đông.

Khi họ tới lối ra - rất có ích, cửa đơn chứ không phải đôi - họ cho Mace qua, rồi đứng chắn lối, vai kề vai, mặc dù tỏ vẻ là không làm như vậy, vì họ cũng gào hét và dứ dứ nắm đấm lên như mọi kẻ khác.

Họ cảm thấy những thân người phấn khích áp vào lưng mình với sức nặng khổng lồ mà họ chỉ chống đỡ được trong vài giây.

Thế là đủ thì giờ cho Mace chạy, không phải ra biển, mà ngoặt phát sang trái, lại trái, lên một con đường hẹp vòng vèo sau các cửa hàng và quán rượu, cách xa khỏi mặt tiền.

Đám đông hoan hỉ đổ ào từ quán bar ra như rượu sâm banh, gạt Turner và Nettle sang bên.

Ai đó nghĩ mình thấy Mace chạy xuống bãi cát, và trong vòng nửa phút, đám đông đi theo hướng này.

Đến lúc đám đông nhận ra không phải thế mà bắt đầu quay lại, thì không còn dấu vết nào của Mace và kẻ kia nữa.

Turner và Nettle cũng bốc hơi nốt.

Bãi biển mênh mông, hàng ngàn người đợi chờ, và biển không một con tàu đẩy những tay lính Anh trở về nghịch cảnh của họ.

Họ tỉnh lại từ một giấc mơ.

Đằng Đông xa nơi đêm đang dâng lên, tuyến vành đai đang bị pháo oanh tạc dữ dội.

Kẻ thù đang đến gần còn nước Anh thì còn xa đây lắm.

Trong cái ánh sáng tù mù này không còn nhiều thời gian tìm một chỗ mà ngả lưng.

Gió lạnh từ eo Channel thổi vào, mà măng tô thì nằm mãi sâu trong nội địa bên lề đường.

Đám đông bắt đầu giải tán.

Tay RAF đã bị quên lãng.

Với Turner có vẻ như anh và Nettle đã khởi sự đi tìm Mace, rồi lại quên mất.

Họ hẳn đã lang thang khắp đường một lúc, muốn chúc mừng gã vì pha giải cứu và cười đùa chút đỉnh.

Nhưng rồi Turner không biết làm thế nào mình và Nettle lại đến đây, ở cái con đường hẹp này.

Anh không nhớ khoảng giữa thế nào, chân đau ra sao - nhưng giờ anh ở đây, dùng những từ ngữ lịch sự nhất nói chuyện với một bà già đứng ở bậu cửa hiên trước một căn nhà.

Khi anh nhắc đến nước, bà ngờ vực nhìn anh, như thể bà biết anh không chỉ muốn mỗi nước.

Bà khá đẹp lão, da nâu, ánh mắt kiêu hãnh và mũi dọc dừa, một cái khăn hoa lá trùm lên mái tóc bạc.

Ngay lập tức anh hiểu bà là một người Digan không bị tiếng Pháp của anh lừa mị.

Bà nhìn thẳng vào anh và thấy hết sở đoản của anh, biết anh đã từng ở tù.

Rồi bà khó chịu liếc Nettle, rồi cuối cùng chỉ ra dọc theo con đường đến chỗ một con lợn đang sục mũi trong máng nước.

"Mang nó lại đây," bà nói, "rồi tôi xem có gì cho các anh."

"Mẹ nó," Nettle nói ngay khi Turner dịch lại.

"Chúng ta chỉ xin một cốc nước mắc dịch thôi mà.

Chúng ta sẽ vào trong lấy."

Nhưng Turner, cảm thấy mình bị một ảo tượng quen thuộc ngự trị, không thể phủi đi khả năng rằng bà già này mang trong mình ít nhiều quyền năng.

Dưới ánh đèn tù mù không gian trên đầu bà đang đập theo nhịp trái tim anh.

Anh dựa vào vai Nettle cho vững.

Bà ta đang đặt bẫy thử anh, anh thừa từng trải, thừa cẩn trọng để mà cự tuyệt.

Anh là một tay lão luyện, về gần đến nhà thế này rồi, anh sẽ không sập cái bẫy nào cả.

Tốt nhất là cứ cẩn thận làm theo.

"Mình sẽ mang con lợn đến," anh nói với Nettle.

"Một phút chứ mấy."

Nettle đã quá quen việc làm theo những đề xuất của Turner, vì nói chung là chúng hợp lý, nhưng khi họ bắt tay vào việc tay hạ sĩ này lầm bầm, "Ông có gì đó không ổn, Cha nội ạ."

Chân bị rộp nên họ đi rất chậm.

Ả lợn nái còn tơ, nhanh nhẹn và yêu cái tự do ả đang hưởng.

Mà Nettle thì sợ ả.

Khi họ dồn được ả vào bậu cửa một cửa hàng, ả chạy xồ vào gã và gã nhảy qua một bên gào toáng lên hoàn toàn không có vẻ tự giễu chút nào.

Turner quay lại chỗ bà già định lấy một đoạn dây thừng, nhưng không ai ra mở cửa, mà anh cũng không chắc mình có vào đúng nhà không.

Tuy nhiên, giờ anh chắc rằng nếu không bắt được con lợn, họ sẽ chẳng bao giờ về được nhà.

Anh lại đang ngây ngấy sốt, anh biết, nhưng điều ấy không khiến anh sai lầm.

Con lợn đồng nghĩa với thành công.

Khi còn nhỏ, Turner từng cố thuyết phục minh rằng ngăn cho mẹ không đột tử bằng cách tránh những viên gạch nứt ở ngoài sân trường là một điều vớ vẩn.

Nhưng anh cũng chưa bao giờ giẫm lên chúng và bà đã không chết.

Khi họ ra lại ngoài đường, vẫn không tài nào mà bắt lại ả lợn cho được.

"Mẹ kiếp," Nettle nói.

"Mình không thể làm thể này được."

Nhưng chả còn lựa chọn nào khác.

Turner cắt một sợi cáp từ cột điện đổ và buộc một cái thòng lọng.

Họ đuổi theo ả lợn nái dọc con đường men theo rìa khu nghỉ dưỡng với những căn bungalow phía trước có những mảnh vườn nho nhỏ rào kín.

Họ đi mở cổng trước từng nhà cả hai bên đường.

Rồi họ đi xuống một đường nhánh để dụ con lợn và đuổi nó về lại theo đường cũ.

Đúng như dự đoán, nó chạy vào vườn và bắt đầu dũi cây.

Turner khép cửa lại, nhoài người qua hàng rào, thả thòng lọng qua đầu con lợn.

Phải mất toàn bộ sức lực còn lại họ mới kéo được ả lợn nái kêu eng éc kia về lại nhà.

May mắn thay, Nettle biết nó sống ở nhà nào.

Khi cuối cùng họ cũng buộc được nó trong cái chuồng tin hin ở vườn sau, bà già mang ra hai bình nước bằng đá.

Bà nhìn họ, còn họ sung sướng đứng uống trong cái sân bé tí cạnh cửa bếp.

Ngay cả khi bụng gần như bục toác ra, miệng họ còn thèm thuồng được uống nữa và họ tiếp tục.

Rồi bà già mang cho họ xà phòng, giẻ chùi bằng vải nỉ và hai cái chậu men để rửa ráy.

Khuôn mặt nóng bừng của Turner làm nước biến sang màu nâu xỉn.

Mấy vết máu khô đóng ở môi trên bượt hẳn đi thật dễ chịu.

Khi rửa xong, anh cảm thấy trong không khí quanh mình một sự nhẹ nhõm dịu dàng đang trượt mềm mại như lụa lên da anh và qua lỗ mũi.

Họ đổ nước bẩn vào góc bụi hoa mõm chó mà, Nettle nói, làm gã nhớ nhà, nhớ vườn sau nhà cha mẹ gã.

Bà già Digan đổ đầy bi đông nước của họ và mang đến cho mỗi người một lít rượu đỏ, nút chai đã kéo ra một nửa và một cái xúc xích lớn mà họ nhét vào túi dết.

Khi họ toan đi khỏi, bà nảy ra một ý và vào lại trong nhà.

Bà trở ra, tay cầm hai túi giấy nhỏ, mỗi túi đựng nửa chục quả hạnh bọc đường.

Nghiêm nghị, họ bắt tay nhau.

"Chúng tôi sẽ nhớ lòng tốt của bà đến tận cuối đời," Turner nói.

Bà gật đầu, và anh nghĩ bà nói, "Con lợn của ta sẽ luôn khiến ta nhớ đến các cậu."

Nhưng vẻ lạnh lùng trên mặt bà không đổi, nên không thể biết được trong lời bà có ý lăng mạ, hay hài hước, hay một ẩn ý gì.

Bà có nghĩ họ không đáng hưởng lòng tốt của bà?

Anh ngượng ngùng quay lưng đi, và rồi họ bước đi trên con đường và anh dịch lại lời bà nói cho Nettle.

Tay hạ sĩ chả ngờ hoặc gì hết.

"Bà ấy sống một mình và yêu con lợn.

Theo đúng lý mà nói.

Bà ấy biết ơn bọn mình."

Rồi gã nghi ngờ chêm thêm, "Ông vẫn thấy trong người ổn đấy chứ, Cha nội?"

"Cực kỳ ổn, cám ơn."

Bị vết rộp hành hạ, họ khập khiễng quay lại hướng bãi biển với ý nghĩ sẽ tìm Mace và chia đồ ăn thức uống.

Nhưng sau khi bắt được con lợn, Nettle nghĩ, giờ mà có khui một chai ra thì cũng công bằng thôi.

Niềm tin của gã vào khả năng nhận định của Turner đã phục hồi.

Họ vừa đi vừa chuyền chai rượu cho nhau.

Ngay cả trong bóng chiều chạng vạng, vẫn nhìn thấy được đám khói đen phía trên Dunkirk.

Ở hướng khác, giờ họ đã có thể thấy lằn đạn chóp lóe lên.

Ở vành đai phòng thủ tình hình chiến sự không dịu đi chút nào.

"Tội nghiệp mấy gã khốn khổ," Nettle nói.

Turner biết gã đang nói đến những kẻ ở ngoài lán chỉ huy tạm thời kia.

Anh nói, "Phòng tuyến không chịu được lâu nữa."

"Chúng ta sẽ bị xéo nát."

"Vì thế tốt hơn mai chúng ta nên lên tàu."

Giờ họ không còn khát nữa, tâm trí bắt đầu nghĩ đến bữa tối.

Turner đang nghĩ đến một căn phòng yên ắng và một cái bàn vuông phủ khăn vải bông xanh lá cây, có những ngọn đèn dầu bằng sứ kiểu Pháp treo trên ròng rọc rủ từ trần xuống.

Và bánh mì, rượu, pho mát và xúc xích lớn cắt ra trên thớt gỗ.

Anh nói, "Tôi nghĩ bãi biển không phải là nơi hoàn hảo nhất để ăn tối."

"Bọn mình có thể bị cướp mà không biết gì," Nettle đồng ý.

"Tôi nghĩ tôi biết loại nơi mình cần rồi."

Họ trở lại trên đường sau quán bar.

Khi liếc vào cái ngõ họ đã chạy vào, họ thấy những dáng người di động trong bóng nhập nhoạng hằn rõ trên ánh lấp lánh cuối cùng của biển, và cách xa phía họ, về một phía, là một khối sẫm hon có lẽ là đám lính trên bãi biển hay cồn cỏ hay thậm chí chính là những cồn cát.

Tìm Mace khi trời còn sáng đã khó, giờ thì bất khả.

Thế là họ tiếp tục lang thang, tìm kiếm một nơi nào đó.

Trong phần này của khu nghỉ dưỡng giờ có hàng trăm lính, rất nhiều trong số họ tụ tập thành từng toán ầm ĩ, vạ vật khắp đường phố, hát hò và la hét ỏm tỏi.

Nettle thả chai rượu vào túi dết.

Không có Mace họ thấy dễ bị tấn công hơn.

Họ đi qua một khách sạn bị đánh bom.

Turner tự hỏi có cái phòng khách sạn nào như anh đã nghĩ đến không.

Nettle thì bị ý nghĩ lôi từ đó ra một bộ chăn gối choán hết đầu óc.

Họ vào qua một lỗ trên tường, mò mẫm trong bóng tối, qua gạch vụn và kèo cột đổ, và tìm thấy cầu thang.

Nhưng hàng đống người cũng nghĩ hệt như thế.

Quả thực có cả một hàng người đang tụ lại dưới chân cầu thang, và lính tráng lặc lè bê những tấm đệm lông ngựa nặng trịch xuống.

Ở chiếu nghỉ phía trên - Turner và Nettle chỉ có thể thấy những đôi bốt và phần chân bên dưới khó nhọc chuyển từ bên này sang bên kia - đang có va chạm dẫn tới đánh nhau, tiếng gầm gừ giằng co và tiếng khớp xương nện vào da thịt kêu răng rắc.

Sau một tiếng hét bất ngờ, vài người ngã ngửa xuống cầu thang vào những người đang đợi bên dưới.

Tiếng cười rộ lên lẫn với tiếng chửi thề, rồi mọi người lại đứng dậy, chân tay lại bình thường.

Một người không đứng lên, nằm vắt qua cầu thang một cách kỳ quái, chân cao hơn đầu, thét giọng khàn khàn gần như không nghe nổi, như thể trong một cơn mơ hoảng loạn.

Ai đó giơ bật lửa trên mặt gã và họ thấy hàm răng nhe nhởn cùng hai bên mép sùi bọt trắng.

Anh ta bị gãy lưng rồi, có người nói, nhưng chẳng ai làm được gì, và giờ người ta đang ôm chăn gối bước qua gã, còn những người khác chen lấn đi lên.

Họ ra khỏi khách sạn và lại đi vào sâu trong đất liền, lại chỗ bà già và con lợn.

Nguồn cung cấp điện cho Dunkirk hẳn đã bị cắt, nhưng quanh mép những cửa sổ phủ rèm che kín họ vẫn thấy lấp lóe ánh nến và đèn dầu vàng vọt.

Phía bên kia đường binh lính đang gõ cửa các nhà, nhưng giờ không ai mở nửa.

Đây là giây phút Turner chọn để miêu tả cho Nettle nơi thích hợp để ăn tối mà lúc trước anh nghĩ đến.

Anh tô vẽ thêm để làm rõ điều cần nói, thêm vào cửa sổ Pháp mở ra ban công có lan can thép uốn với những dây đậu tía cổ luồn qua, rồi thì máy hát và bàn tròn phủ khăn viền xanh lá cây, và một tấm thảm Ba Tư trải trên ghế dài.

Càng miêu tả, anh càng chắc mẩm là căn phòng ở ngay gần đó.

Những lời của anh đang đưa nó vào sự sống.

Nettle, răng cửa bập lên môi dưới lộ vẻ bối rối hiền lành của loài gặm nhấm, để anh nói nốt rồi bảo, "Tôi biết, Tôi biết chết mẹ đi chứ."

Họ đứng bên ngoài một ngôi nhà bị ném bom, hầm chứa gần như mở toang lên trời và trông như một cái động khổng lồ.

Túm lấy áo khoác anh, Nettle kéo anh xuống một cái khe toàn gạch vụn.

Thận trọng, gã dẫn anh qua sàn hầm vào bóng tối.

Turner biết đây không phải là nơi kia, nhưng anh không thể cưỡng lại sự cương quyết bất thường của Nettle.

Phía trước, một đốm sáng xuất hiện, rồi một đốm nữa, và đốm thứ ba.

Thuốc lá của mấy tay đàn ông đã nương náu ở đó từ trước.

Một giọng cất lên, "Này.

Đi chỗ khác đi.

Bọn tôi đủ người rồi."

Nettle quẹt một que diêm giơ lên.

Khắp bốn bức tường toàn là người, họ ngồi dựa, hầu hết đã ngủ.

Vài người nằm ở giữa sàn, nhưng vẫn còn chỗ, và khi que diêm tắt, anh đè vai Turner bắt ngồi xuống.

Khi phủi cho sạch những vụn gạch vỡ dưới mông, Turner thấy áo mình ướt đầm.

Hẳn là máu, hoặc chất lỏng nào khác, nhưng lúc này thì không đau.

Nettle sắp áo choàng quanh vai Turner.

Giờ sức nặng đã được cất khỏi chân, một cảm giác đê mê nhẹ nhõm lan lên qua đầu gối và anh biết đêm đó mình sẽ không đi đâu nữa, dù Nettle có thất vọng chừng nào.

Cái cảm giác đung đưa do cả ngày đi lại chuyển xuống sàn.

Turner thấy sàn nhà bên dưới mình nghiêng đi và dịch chuyển dữ dội khi anh ngồi đó trong bóng tối hoàn toàn.

Giờ thì vấn đề là ăn mà không phải san sẻ.

Muốn sống sót thì phải ích kỷ.

Nhưng hiện tại thì anh không làm gì và đầu anh trống rỗng.

Sau một lát Nettle thúc anh tinh và luồn chai rượu vào tay anh.

Anh cho được miệng lên miệng chai, nghiêng rồi uống.

Có người nghe tiếng anh nuôt.

"Anh có gì đây?"

"Sữa cừu," Nettle nói.

"Vẫn còn ấm đấy.

Làm ít đi."

Có tiếng khạc nhổ, và thứ gì đó âm ấm nhơm nhóp rơi vào mu bàn tay Turner.

"Đồ bẩn thỉu."

Một giọng nói khác, dọa nạt hơn, cất lên, "Im mồm đi.

Tôi đang cố ngủ đây."

Cử động không phát ra tiếng, Nettle mò mẫm trong túi dết tìm xúc xích, cắt làm ba và đưa một miếng cho Turner cùng một khoanh bánh mì.

Anh nằm duỗi ra trên sàn xi măng, kéo áo choàng trùm kín đầu để ngăn mùi thịt cũng như tiếng nhai, và trong mùi hôi rình của chính hơi thở mình, cùng với những mẩu gạch và mạt đá chọc vào cổ, bắt đầu ăn bữa ăn ngon nhất đời mình.

Có mùi xà phòng thơm trên mặt anh.

Anh ăn miếng bánh mì có vị vải lều của lính, rồi xé và mút xúc xích.

Khi thức ăn xuống đến bụng anh, một cơn nóng lan ra chạy khắp ngực và cổ họng.

Anh đã đi trên khắp các con đường ấy suốt cả đời mình, anh nghĩ.

Khi nhắm mắt lại anh thấy mặt đường nhựa chuyển động và đôi bốt của chính mình chập chờn thoắt ẩn thoắt hiện.

Ngay cả khi nhai, anh cảm thấy mình rơi thụt vào một giấc ngủ vài giây liên tục.

Anh bước sang một khoảng thời gian khác, và giờ, nằm gọn gàng dễ chịu trên lưỡi anh là một quả hạnh bọc đường, vị ngọt của nó thuộc về một thế giới khác.

Anh nghe tiếng những người khác phàn nàn hầm lạnh quá và anh mừng vì có áo choàng quanh mình, và cảm thấy một niềm tự hào cha chú khi mình đã ngăn hai tay hạ sĩ vứt áo đi.

Một nhóm lính vào tìm chỗ trú và quẹt diêm, như anh và Nettle lúc nãy.

Anh cảm thấy không thiện cảm với họ và khó chịu với cái giọng West Country.

Như mọi kẻ khác trong hầm, anh muốn họ biến đi.

Nhưng họ tìm được chỗ đâu đó ngay cách chân anh một chút.

Anh ngửi được mùi brandy và càng không ưa họ.

Họ sắp xếp chỗ ngủ ầm ĩ cả lên, và khi một giọng nói từ chỗ tường cất lên, "Bọn nhà quê chết dịch," một trong những kẻ mới đến lảo đảo đi về phía đó và trong khoảnh khắc tưởng như sẽ có đánh nhau to.

Nhưng bóng tối và những lời phản đối mệt mỏi của mọi người ở đó đã giữ được an bình.

Chẳng mấy chốc chỉ còn tiếng thở và ngáy đều đặn.

Dưới người anh sàn nhà dường như vẫn nghiêng, rồi đổi sang nhịp bước đều, và một lần nữa Turner thấy mình quá ưu phiền vì những ấn tượng, quá bồn chồn, quá mệt mỏi không ngủ nổi.

Qua lần vải áo choàng anh sờ tìm chồng thư.

Em sẽ đợi anh.

Trở về với em.

Những lời đó không phải là vô nghĩa, nhưng giờ chúng không làm anh cảm động.

Thế là đủ rõ - một người chờ một người khác thì cũng như là một phép cộng số học, cũng trống rỗng không chút cảm xúc như thế.

Đợi.

Đơn giản là một người chả làm gì cả, qua thời gian, trong khi người kia tiến tới.

Đợi là một từ nặng nề.

Anh cảm thấy nó ép xuống, nặng như cái áo choàng.

Ai trong hầm này cũng đang đợi, ai trên bãi biển cũng đang đợi.

Nàng đang đợi, phải, nhưng rồi sao?

Anh cố để giọng nàng nói lên những từ đó, nhưng chỉ nghe thấy mỗi giọng mình, ngay bên dưới tiếng tim đập nặng nề.

Thậm chí anh còn không hình dung ra được mặt nàng.

Anh buộc mình nghĩ đến tình huống mới, tình huống sẽ làm cho anh hạnh phúc.

Với anh những gì phức tạp đã mất đi rồi, sự khẩn thiết đã tiêu tan.

Briony sẽ đổi bằng chứng, nó sẽ viết lại quá khứ để có tội trở thành vô tội.

Nhưng trong những ngày này tội lỗi là gì cơ chứ?

Rẻ tiền.

Ai cũng có tội cả, chẳng ai không.

Không ai được hoàn nguyên nhờ một sự thay đổi bằng chứng, vì không có đủ người, không đủ giấy và bút, không đủ kiên nhẫn và hòa bình, để ghi lại tất cả lời khai của các nhân chứng và tổng họp sự kiện.

Các nhân chứng cũng có tội.

Chúng ta chứng kiến tội ác của nhau suốt ngày.

Hôm nay ta không giết ai ư?

Nhưng ta đã để mặc bao nhiêu người chết rồi?

Trong hầm ở dưới này chúng ta sẽ giữ im lặng không nói về chuyện đó.

Chúng tôi sẽ ngủ mà quên đi, Briony ạ.

Quả hạnh bọc đường của anh có vị của tên con bé, một vị có vẻ phi thực kỳ quặc đến nỗi anh tự hỏi mình nhớ có đúng không.

Cả tên của Cecilia.

Phải chăng anh vẫn luôn coi sự lạ lùng của những cái tên này là hiển nhiên?

Ngay cả câu hỏi này cũng khó mà giữ được lâu.

Ở đất Pháp này anh còn nhiều việc chưa làm xong đến nỗi với anh dường như là dễ hiểu khi trì hoãn chuyến khởi hành trở về Anh, mặc dù hành trang anh đã xếp, những hành trang kỳ lạ, nặng nề.

Không ai có thể nhìn thấy chúng nếu anh bỏ lại đây và quay lại.

Những hành trang vô hình.

Anh phải quay lại đưa thằng bé trên cây xuống.

Trước đây anh đã làm thế rồi.

Anh đã quay lại nơi không ai có ở đó và tìm thấy hai thằng nhỏ dưới cây rồi công kênh Pierrot trên vai còn Jackson thì dắt tay, qua công viên.

Mới nặng làm sao!

Hồi ấy anh đang yêu, yêu Cecilia, yêu hai đứa sinh đôi, yêu sự thành đạt, yêu buổi rạng đông và màn sương lấp lánh gợi trí tò mò của nó.

Và một buổi tiệc đón mừng mới hoành tráng làm sao!

Giờ anh đã quen với những thứ như thế này, một nơi bình thường bên vệ đường, nhưng hồi đó, trước khi anh trở nên thô thiển và hoàn toàn chai lì thế này, khi nó còn là một thứ mới lạ và khi mọi thứ mới toanh, anh cảm thấy nó rõ ràng.

Anh để tâm khi nàng chạy vụt qua bãi sỏi và nói với anh qua cửa xe cảnh sát để mở.

Ôi, khi anh yêu em, Thì anh trong sạch và can đảm.

Vì thế anh sẽ quay lại theo lối anh đã đến, đi ngược lại tất cả những gì họ đã đi qua, qua những đầm lầy khô cạn và thê lương, qua tay trung sĩ hách dịch trên cầu, qua ngôi làng bị đánh bom, và theo con đường hẹp ngoằn ngoèo hàng dặm qua những vùng đất nông trại gợn sóng nhấp nhô, tìm con đường mòn bên trái nơi rìa làng, đối diện tiệm giày, và tiếp hai dặm nữa, đi qua hàng rào thép gai, qua khu rừng và cánh đồng tới nơi ngủ qua đêm ở trang trại của mấy anh em kia, và ngày tiếp theo, trong ánh nắng buổi sáng vàng tươi, dựa trên cái kim la bàn xoay xoay, rảo chân qua vùng quê rực rỡ với những thung lũng nhỏ suối nước và bầy ong, rồi đi theo con đường hẹp dốc ngược lên căn nhà buồn thảm cạnh đường ray.

Và cái cây.

Lượm lặt từ bùn những mảnh quần áo te tua cháy xém, những mẩu pyjama của thằng bé, rồi bế nó xuống, thằng bé xanh lét tội nghiệp, và chôn cất tử tế.

Một thằng nhỏ điển trai.

Hãy để người có tội chôn người vô tội và để không ai thay đổi bằng chứng.

Thế Mace ở đâu để giúp đào hố đây?

Con gấu dũng cảm, tay Hạ sĩ Mace đó.

Ở đây còn nhiều việc chưa làm xong và thêm một lý do nữa vì sao anh không thể bỏ đi.

Anh phải tìm Mace.

Nhưng trước tiên anh lại phải đi hàng dặm, và quay lại hướng Bắc tới cánh đồng nơi tay nông dân và con chó của hắn vẫn đi sau cái cày, và hỏi cái cô người xứ Flander kia cùng con trai cô xem họ có buộc anh chịu trách nhiệm cho cái chết của họ không.

Bởi đôi khi một người có thể tự nhận vào mình quá nhiều, trong những cơn tự trách bản thân đầy giả dối.

Cô ấy có thể nói không - người xứ Flander thích nói không.

Anh đã cố giúp mẹ con tôi.

Anh đâu thể nào mang chúng tôi qua cánh đồng chứ.

Anh đã mang hai đứa sinh đôi, chứ không phải chúng tôi, không.

Không, anh không có tội.

Không.

Có tiếng thì thầm, và anh thấy hơi thở trên khuôn mặt nóng bừng của mình.

"Ồn ào quá đấy, Cha nội."

Sau đầu Hạ sĩ Nettle là một dải trời xanh thẳm và, khắc lên nó là đường rìa màu đen nham nhở của trần hầm đổ nát.

"Ồn ào?

Tôi có làm gì đâu?"

"Hét 'không' và đánh thức mọi người dậy.

Có mấy gã hơi cáu rồi đấy."

Anh có nhấc đầu lên và nhận thấy mình không nhấc nổi.

Hạ sĩ quẹt một que diêm.

"Chúa ơi.

Trông ông tệ khủng khiếp.

Nào. uống đi."

Gã nâng đầu Turner dậy và ghé bi đông vào môi anh.

Nước có vị kim loại.

Khi uống xong, một nỗi kiệt lực giống như cơn sóng dài, lừng lững cồn lên nhấn anh chìm xuống.

Anh bước qua vùng đất cho đến khi rơi xuống biển.

Để không làm Nettle kinh động, anh cố tỏ ra lý trí hơn mình đang thực sự cảm thấy.

"Nghe này, tôi quyết định sẽ lưu lại.

Còn vài chuyện cần lo."

Bằng một bàn tay bẩn, Nettle đang lau trán Turner.

Anh không hiểu tại sao Nettle nghĩ là cần thiết phải cúi mặt gã, cái mặt như mặt chuột đầy lo lắng ấy, xuống sát mặt anh.

Tay hạ sĩ nói, "Cha nội này, ông nghe tôi nói không?

Õng có đang nghe không?

Một giờ trước tôi ra ngoài đi tè.

Đoán xem tôi thấy gì.

Có lính hải quân đi trên đường mà gọi các sĩ quan.

Họ đang tập trung trên bãi biển.

Tàu đã quay lại.

Chúng ta sắp về nhà, bạn ạ.

Có một tay đại úy từ Trung đoàn Hoàng gia Đông Kent đến đây sẽ đưa chúng ta hành quân xuống đó lúc bảy giờ.

Vì thế cố ngủ đi và đừng có mà la hét ầm ĩ nữa."

Giờ anh đang rơi và giấc ngủ là tất cả những gì anh muốn, ngủ một nghìn giờ.

Như thế dễ dàng hơn.

Nước thì vô giá trị, nhưng nó có ích, tin vừa rồi và những lời thì thầm an ủy của Nettle cũng vậy.

Họ sẽ tập trung trên con đường ngoài kia và hành quân về phía bãi biển.

Lấy bên phải làm chuẩn, xếp thẳng hàng.

Trật tự sẽ ngự trị.

Không ai ở Cambridge dạy cho biết những lợi ích khi hành quân thành hàng lối trật tự.

Họ tôn sùng tinh thần tự do, bất kham.

Những thi sĩ.

Nhưng thi sĩ thì biết gì về chuyện sống sót chứ?

Về chuyện sống sót với tư cách một tập hợp con người.

Không phá hàng lối, không lao về phía tàu, không có chuyện kẻ đến trước được phục vụ trước, không khôn sống mong chết.

Không tiếng bốt khi bước qua bãi cát đến mép nước.

Trong cơn sóng vỗ tói, những cánh tay sẵn lòng giơ ra giữ vững mạn tàu cho đồng đội trèo lên.

Nhưng biển cả lặng sóng, và giờ chính anh bình thản, dĩ nhiên anh thấy việc nàng đợi anh mới thực sự tốt đẹp biết bao.

Số học chết tiệt.

Em sẽ đợi anh là cơ bản.

Đó là lý do anh đã sống sót.

Đó là cách thông thường để nói rằng nàng sẽ từ chối mọi kẻ khác.

Chỉ mình anh.

Trở lại với em.

Anh nhớ cảm giác những viên sỏi dưới đế giày mỏng, giờ anh có thể cảm thấy nó, và cái lạnh cóng của còng số tám trên cổ tay mình.

Anh và viên thanh tra dừng lại cạnh xe mà quay lại khi nghe tiếng chân nàng.

Làm sao anh quên được bộ váy màu lá cây ấy, cái cách nó ôm lấy đường cong của hông nàng, làm nàng vướng víu khi chạy và lộ ra bờ vai tuyệt đẹp của nàng.

Trắng hơn màn sương mù sáng ấy.

Anh không ngạc nhiên khi viên cảnh sát cho họ nói chuyện.

Thậm chí anh còn không nghĩ đến điều đó.

Anh và Cecilia cư xử như thể chỉ có mình họ.

Nàng không cho phép mình khóc khi nàng bảo với anh rằng nàng tin anh, nàng cậy anh, nàng yêu anh.

Anh đơn giản nói với nàng rằng anh sẽ không quên điều đó, bằng câu ấy anh muốn nói với nàng anh biết ơn nàng đến mức nào, đặc biệt là khi đó, đặc biệt là bây giờ.

Rồi nàng đặt một ngón tay lên cái còng và nói nàng không hổ thẹn, không có gì phải hổ thẹn cả.

Nàng cầm một bên ve áo anh khẽ giật giật và đây chính là lúc nàng nói, "Em sẽ đợi anh.

Trở lại với em."

Nàng thực lòng.

Thời gian sẽ cho thấy nàng thực sự thực lòng.

Sau đó họ đẩy dúi anh vào xe, và nàng vội vã nói, trước khi òa khóc vì không thể nén hơn được nữa, và nàng bảo rằng chuyện xảy ra giữa hai người là của hai người, riêng mình họ mà thôi.

Nàng muốn nhắc đến thư viện ấy, dĩ nhiên, nó là của họ.

Không ai có thể tước đoạt.

"Đó là bí mật của chúng mình", nàng gọi lớn, ngay trước mặt tất cả, ngay trước khi cửa xe đóng sầm lại.

"Tôi sẽ không nói một lời," anh nói, mặc dù đầu Nettle từ lâu anh đã không còn nhìn thấy.

"Đánh thức tôi trước lúc bảy giờ nhé.

Tôi hứa, ông sẽ không nghe một lời nào nữa đâu."
 
Atonement - Chuộc Tội
PHẦN BA - MỘT


Cảm giác bất ổn không chỉ giới hạn trong bệnh viện.

Dường như nó dâng lên cùng với dòng sông nâu cuồn cuộn phình lên vì mưa tháng Tư, và trong những buổi tối phủ khắp thành phố tắt điện đen kịt như một bóng tối tinh thần mà cả đất nước có thể cảm thấy, dày đặc một cách câm lặng và thâm hiểm, bất khả tách ly khỏi xuân muộn giá lạnh, giấu kín mình trong từ tâm đang tỏa rộng của mùa xuân.

Có thứ gì đó đang đi đến kết cục.

Đám bác sĩ lâu năm, nhấm nháy nhau trong những nhóm ta-đây- quan-trọng ở đoạn giao nhau giữa các hành lang, đang ấp ủ một bí mật.

Những bác sĩ trẻ cao lên một chút, sải chân hùng hổ hơn, còn bác sĩ tham van trở nên đãng trí mỗi khi đi thăm bệnh, và có một buổi sáng đã đi lại bên cửa sổ đưa mắt đăm đăm nhìn ra sông mất đến vài phút, trong khi phía sau ông đám y tá đứng nghiêm đợi cạnh giường bệnh.

Những người đẩy xe già có vẻ chán nản khi đẩy bệnh nhân qua lại các khu, và dường như quên mất những câu pha trò học từ chương trình hài kịch trên đài, và thậm chí lòng Briony sẽ còn thấy dễ chịu nếu được nghe lại cái câu mà cô vốn vô cùng khinh miệt - Vui lên cưng, chuyện có thể chả bao giờ xảy ra cả.

Nhưng nó sắp xảy ra.

Bệnh viện đã bắt đầu vắng dần, một cách vô hình, trong nhiều ngày qua.

Thoạt tiên có vẻ thuần túy tình cờ, một cơn dịch sức khỏe tốt mà những thực tập sinh ít thông minh cứ muốn cho là tại những kỹ năng đang dần cải thiện của mình.

Duy từ từ người ta mới nhận ra một ý đồ.

Giường trống lan khắp khu, và qua các khu khác, như cái chết vào ban đêm.

Briony hình dung tiếng chân rút lui trên hành lang sáng bóng rộng lớn vang lên vẻ nghèn nghẹt, hối lỗi, trong khi ngày xưa từng lanh lảnh và dồn dập.

Thợ đến lắp đặt thùng mới cho vòi chữa cháy trên chiếu nghỉ ngoài thang máy, và gắn những xô đựng cát dập lửa mới, làm suốt ngày không nghỉ, và chả nói chuyện với ai trước lúc ra về, cả với người đẩy xe cũng không.

Trong khu bệnh, chỉ tám trong số hai mươi giường có người nằm, và mặc dù công việc còn nặng nhọc hơn lúc trước, có một sự bất an, một sự kinh hãi cơ hồ mê tín, làm cho đám y tá thực tập không còn dám phàn nàn khi ở riêng với nhau trong bữa trà.

Nói chung họ bình tĩnh hơn, chấp nhận hơn.

Họ không còn xòe tay ra mà so các nốt cước nữa.

Thêm vào đó là một sự lo lắng dai dẳng và lan tràn mà các thực tập sinh truyền tai nhau về việc phạm sai lầm.

Họ đều sống trong nỗi sợ hãi Y tá trưởng Marjorie Drummond, sợ nụ cười mím miệng đe dọa của bà, sợ cái kiểu bà chợt dịu đi trước mỗi cơn thịnh nộ.

Briony biết gần đây mình đã tích tụ cả đống lỗi lầm.

Bốn hôm trước, mặc dù đã được hướng dẫn kỹ càng, một bệnh nhân cô chăm sóc đã nốc một hơi nước súc miệng phenol - theo lời người đẩy xe chứng kiến, làm một hơi như là vại bia Guinness - và nôn thốc tháo ra khắp chăn màn.

Briony cũng ý thức được rằng mình bị Y tá Drummond nhìn thấy khi chỉ mang mỗi lần ba cái bô, khi mà đến lúc này các y tá lẽ ra phải đi khắp khu một cách vững chắc tay cầm chồng sáu cái, như một bồi bàn bận rộn ở La Coupole.

Còn rất nhiều lỗi khác nữa, mà cô hẳn đã mệt nhọc quên béng đi, hay thậm chí chả bao giờ biết.

Cô dễ phạm lỗi trong cách cư xử - trong những phút giây lơ đãng cô thường đổi trụ từ chân này sang chân kia theo cái cách làm cấp trên giận điên.

Lỗi vặt và thất bại nhiều khi tích lại một cách bất cẩn suốt vài ngày: một cái chổi dựng không tử tế, một cái chăn gập mà nhãn lại ngửa lên trên, một cổ áo hồ cứng dựng không thẳng dù chỉ tí ti, bánh xe chân giường xếp không thẳng hàng và quay vào trong, đi về khu bệnh tay không - tất cả đều bị lẳng lặng để ý, cho đến khi tới hạn, và rồi, nếu ta không đọc được các dấu hiệu, cơn thịnh nộ sẽ ập xuống bất ngờ.

Và đúng ngay vào lúc ta nghĩ mình đang làm mọi thứ rất ổn.

Nhưng gần đây, Y tá trưởng không mỉm nụ cười lạnh lẽo với những y tá thực tập nữa, cũng không hay nói với họ bằng giọng trầm xuống khiến họ kinh hoảng.

Bà không thèm quan tâm đến đám y tá dưới quyền.

Bà lơ đãng, và thường đứng ở sân trong cạnh khu ngoại khoa nam, thảo luận rất lâu với đồng nghiệp, hoặc có lần biến mất luôn hai ngày.

Trong một hoàn cảnh khác, một nghề nghiệp khác, bà sẽ có vẻ mẹ hiền bởi vẻ đầy đặn của mình, hay thậm chí gợi cảm, với đôi môi không tô son đỏ tự nhiên và cong lên đầy ngọt ngào, cùng khuôn mặt với hai gò má tròn trịa và màu da hồng khỏe mạnh như búp bê cho thấy một bản tính tốt bụng.

Ấn tượng này bị thủ tiêu từ sớm vào ngày một thực tập sinh cùng năm với Briony, một cô gái đậm người, tốt bụng, đi lại chậm rãi, ánh mắt bò cái tơ vô hại, gặp phải cơn giận có khả năng xé tan hoang mọi thứ của y tá trưởng khu.

Y tá Langland làm phụ tá trong khu phẫu thuật nam, và được cử giúp đỡ chuẩn bị cho một anh lính trẻ cắt ruột thừa.

Ở lại một mình với anh ta trong chừng một hai phút, cô trò chuyện với anh và cam đoan rằng phẫu thuật sẽ thành công.

Anh ta hẳn đã hỏi cái câu hỏi hiển nhiên ấy, và đó là lúc cô vi phạm quy định thiêng liêng.

Nó được ghi rõ ràng trong sách hướng dẫn, mặc dù chưa ai đoán nỗi nó được coi là quan trọng đến mức nào.

Vài giờ sau, anh lính tỉnh lại sau khi thuốc mê hết tác dụng và thì thầm tên cô y tá thực tập trong khi y tá trưởng khu mổ đứng ngay bên cạnh.

Y tá Langland bị đuổi về khu của mình trong ô nhục.

Các y tá khác được gọi tập trung lại và nhắc nhở cẩn thận.

Nếu Susan Langland tội nghiệp có vì bất cẩn hay độc ác mà giết chết hai chục bệnh nhân thì mọi sự cũng không đến nỗi tệ hơn thế.

Cho tới lúc Y tá Drummond nói xong với cô rằng cô là nỗi ô nhục cho truyền thống chăm sóc bệnh nhân của Nightingale mà cô say mê đến vậy, và cô nên coi mình đã may mắn lắm khi tháng tới được đi phân loại khăn bẩn, không chỉ mình Langland mà nửa số cô gái có mặt ở đó đã sụt sùi khóc.

Briony không nằm trong số này, nhưng đêm đó trên giường, vẫn còn hơi run rẩy, cô mở sách hướng dẫn ra đọc lại, để xem liệu có điểm quy ước nào mà cô đã bỏ qua không.

Cô đọc lại và khắc sâu vào tâm trí điều răn: trong bất cứ hoàn cảnh nào, y tá cũng không được nói cho bệnh nhân biết tên thánh của mình.

Các khu bệnh trống không, nhưng công việc lại tăng thêm.

Mỗi sáng giường bị đẩy vào giữa phòng để thực tập sinh có thể đánh bóng sàn bằng một thanh sắt lớn nặng mà riêng một cô gái thôi thì không đủ sức đẩy từ bên này sang bên kia.

Sàn phải được cọ ba lần một ngày.

Tủ trống được lau, đệm được xông thơm, móc áo khoác bằng đồng, tay đấm cửa và lỗ khóa được đánh bóng.

Đồ gỗ - cửa cũng như gờ - được lau bằng dung dịch phenol, và giường cũng thế, khung sắt cũng như lò xo.

Đám thực tập sinh cọ, lau bô và chai lọ rồi phơi khô cho đến khi chúng sáng bóng lên như đĩa ăn.

Xe tải quân đội loại ba tấn tập hợp ở sàn chất tải, chở đến nhiều giường hơn, những cái cũ rích bẩn thỉu cần cọ rửa nhiều lần trước khi được đưa vào trong khu và đẩy sát lại thành hàng, rồi lau dung dịch phenol.

Giữa các loại nhiệm vụ, có lẽ một ngày đến chục lần, các thực tập sinh rửa những bàn tay nứt nẻ và cước đến chảy máu dưới nước lạnh như băng.

Cuộc chiến chống vi trùng không bao giờ ngưng.

Thực tập sinh được thu nhận vào thứ đạo sùng bái vệ sinh sạch sẽ.

Họ học được rằng không có gì đáng ghê tởm bằng một mẩu bông ruột chăn nấp dưới giường, giấu trong nó một tiểu đoàn, cả một sư đoàn vi khuẩn.

Thông lệ hàng ngày đun sôi, cọ rửa, đánh bóng và lau chùi trở thành huy hiệu lòng tự hào nhà nghề của các học viên, vì nó mà tất cả sự dễ chịu cá nhân phải bị hy sinh.

Người đẩy xe mang lên từ sàn chất tải một khối lượng lớn những nhu yếu phẩm mới cần phải mở ra, nhập kho và sắp xếp - đồ băng bó, khay y tế, kim tiêm dưới da, ba nồi hấp mới và rất nhiều gói có ghi "Túi Bunyan" mà chưa ai giải thích cách sử dụng.

Một tủ thuốc mới được lắp đặt và xếp đầy thuốc, sau khi được cọ ba lần.

Nó được khóa lại, chìa khóa do Y tá Drummond cầm, nhưng một sáng Briony thấy bên trong là những hàng chai lọ có dán nhãn moóc phin.

Khi được sai đi làm việc vặt, cô thấy các khu khác cũng ở trong trạng thái chuẩn bị tương tự.

Một khu đã hết sạch bệnh nhân, và bóng loáng lên trong im lặng rộng rãi mà chờ đợi.

Nhưng chưa đến lúc đặt câu hỏi.

Năm trước, ngay sau khi tuyên bố chiến tranh, các khu tầng trên cùng đã bị đóng cửa hoàn toàn để khỏi bị bom đánh.

Phòng mổ giờ ở dưới tầng hầm.

Cửa sổ tầng trệt được bịt bằng bao cát, và mọi cửa sổ mái đều chít xi măng.

Một tướng quân đội đã tới thăm bệnh viện với nửa tá bác sĩ tham vấn hộ tống.

Không có lễ đón rước, thậm chí bệnh viện cũng chẳng trật tự lại khi họ đến.

Thông thường vào những dịp thăm viếng quan trọng như vậy, như người ta bảo, mũi của mỗi bệnh nhân phải thẳng hàng với vết gấp chính giữa ga trải giường.

Nhưng không có thời gian chuẩn bị.

Ông tướng và bầu đoàn bước qua khu bệnh, thì thào và gật đầu, rồi họ ra về.

Cảm giác bất ổn tăng dần, nhưng chẳng có cơ hội mà suy đoán, mà đằng nào việc này cũng chính thức bị cấm.

Khi không phải trực ca, các thực tập sinh học bài trong thời gian rảnh rỗi, hoặc nghe giảng, hoặc thao tập hoặc học một mình.

Bữa ăn và giờ ngủ bị giám sát như thể họ là những học trò mới ở trường nữ sinh Roedean.

Khi Fiona, cô gái ngủ cạnh giường Briony, đẩy đĩa đi và tuyên bố chẳng với ai cả rằng cô "không có khả năng về phương diện lâm sàng" để ăn rau luộc với một viên Oxo, y tá nhà Nightingale tới đứng canh chừng cô cho đến khi cô ăn hết mẩu cuối cùng.

Fiona là bạn của Briony, theo định nghĩa; ở ký túc, đêm đầu tiên trong đợt huấn luyện sơ bộ, cô nhờ Briony cắt hộ móng tay phải, giải thích rằng tay trái không thể cầm kéo cắt được và rằng mẹ cô luôn cắt hộ cô.

Cô tóc hoe và có tàn nhang, khiến Briony lập tức đề phòng.

Nhưng không như Lola, Fiona to mồm và nhắng, trên mu bàn tay có những chỗ lúm và một bộ ngực khổng lồ khiến các cô gái khác bảo cô ngày nào đó nhất định sẽ thành y tá trưởng khu.

Gia đình cô sống ở Chelsea.

Một đêm cô thì thầm từ trên giường rằng cha cô sắp sửa được mời gia nhập nội các thời chiến của Churchill.

Nhưng khi thành phần nội các được tuyên bố, cái họ đó chẳng thấy đâu mà cũng không ai nói gì, và Briony nghĩ tốt hơn là không nên hỏi.

Trong những tháng đầu tiên sau đợt tập huấn sơ bộ, Fiona và Briony có ít cơ hội để hiểu ra mình có thực sự quý người kia hay không.

Cứ giả sử là có đi thì thuận lợi hơn.

Họ thuộc số ít ỏi những người hoàn toàn chưa học hành gì về y tế.

Hầu hết các cô khác đã học xong khóa sơ cứu, một số người đã qua VAD và đã quen với máu và thi thể, hay ít nhất là họ bảo thế.

Nhưng tình bạn không dễ nuôi dưỡng.

Thực tập sinh làm việc theo ca tại các khu, học ba giờ một ngày lúc rảnh rỗi, và ngủ.

Thói quen xa xỉ duy nhất là giờ uống trà, từ bốn đến năm giờ, khi họ lấy từ những giá gỗ mỏng những ấm trà nâu nhỏ xíu có ghi tên mình và ngồi với nhau trong phòng công cộng nhỏ ở ngoài khu bệnh.

Các cuộc nói chuyện luôn gò bó.

Y tá nhà cũng có mặt ở đó giám sát và đảm bảo sự đúng mực.

Hơn nữa, ngay khi họ ngồi xuống, mệt mỏi tràn đến, nặng nề như ba cái chăn gấp lại.

Một cô ngủ gật tay cầm tách trà và đĩa và bị bỏng đùi - một cơ hội tốt để luyện tập chữa bỏng, Y tá Drummond nói khi bà đến xem làm sao mà ầm ĩ lên thế.

Và bản thân cô cũng tạo thành rào cản cho tình bạn.

Những tháng đầu này, Briony thường nghĩ rằng mối quan hệ duy nhất của cô là với Y tá Drummond.

Bà ta luôn ở đó, mới giây trước ở cuối hành lang, đang tiến tới với một quyết tâm khủng khiếp, giây tiếp theo đã ở bên vai Briony, lẩm bẩm vào tai cô rằng cô đã không chú ý trong đợt tập huấn sơ bộ những nghi thức đúng cách khi tắm cho các bệnh nhân nam ốm liệt giường: chỉ sau lượt thay nước tắm lần thứ hai thì mới được đưa khăn cọ mình và khăn thấm vừa xát xà phòng cho bệnh nhân để anh ta "tự làm nốt".

Trạng thái tinh thần của Briony phần lớn phụ thuộc vào việc giờ đó cô được đánh giá thế nào theo ý kiến của y tá trưởng khu.

Cô cảm thấy lạnh ngắt trong bụng mỗi khi ánh mắt của Y tá Drummond đặt vào cô.

Không thể biết được mình có làm tốt hay không.

Briony kinh sợ bị bà đánh giá thấp.

Chẳng khi nào nghe lời khen.

Ý kiến hay nhất có thể trông mong được ở bà là sự lãnh đạm.

Trong những giờ phút có cho riêng mình, thường là trong bóng tối, những phút trước khi chìm vào giấc ngủ, Briony nhấm nháp một cuộc sống song tồn ma mị trong đó cô đang ở trường Girton, nghiên cứu Milton.

Cô lẽ ra có thể đến đại học của chị mình, chứ không phải là bệnh viện của chị.

Briony đã nghĩ mình gia nhập lực lượng phục vụ chiến tranh.

Trên thực tế, cô đã khuôn hẹp đời mình vào mối quan hệ với một phụ nữ lớn hơn cô mười lăm tuổi mang quyền lực đối với cô lớn hơn quyền lực của một bà mẹ với đứa con sơ sinh.

Việc thu hẹp cuộc đời này, mà trên hết là bị tước đi tư cách cá nhân, đã bắt đầu vài tuần trước khi cô nghe đến cái tên Y tá Drummond.

Ngày đầu tiên trong đợt tập huấn sơ bộ kéo dài hai tháng, sự nhục nhã của Briony trước toàn thể lớp đã làm bài học cho tất cả.

Mọi chuyện diễn ra như thế này.

Cô đi tới trước mặt y tá để nhã nhặn chỉ ra rằng bảng hiệu tên của cô bị viết nhầm.

Cô là B.

Tallis, chứ không phải, như được viết trên cái ghim cài hình chữ nhật con con, Y.

Tallis.

Câu đáp rất bình thản.

"Cô là, và sẽ là, như cô được chỉ định.

Tên riêng của cô tôi không quan tâm.

Nào giờ xin mời ngồi xuống, Y tá Tallis."

Những cô gái khác chắc hẳn đã cười rú lên nếu họ dám, vì họ đều bị viết tắt hệt như thế, nhưng họ cảm thấy một cách đúng đắn rằng không được phép như vậy.

Đấy là giai đoạn dành cho những bài giảng về vệ sinh, và luyện tập tắm cho những hình nộm có kích cỡ to như thật - bà Mackintosh, Phu nhân Chase, và bé George với cơ thể bị tật nguyền một cách tinh tế cho phép đóng luôn vai bé gái.

Đây là lúc để làm quen việc vâng lệnh không suy nghĩ, học cách mang một chồng bô, và nhớ một quy tắc cơ bản: không bao giờ đi lên khu mà không mang theo một thứ gì đó về.

Sự khó chịu về mặt thể xác giúp khép lại chân trời tâm hồn của Briony, cổ áo cao hồ cứng cọ vào cổ đau nhói.

Rửa tay hàng chục lần một ngày dưới nước lạnh như kim châm bằng một bánh xà phòng khiến tay cô nổi những nốt cước đầu tiên.

Giày cô phải tự mua bằng tiền của chính mình thít vào ngón chân đau điếng.

Bộ đồng phục, như mọi loại đồng phục, ăn mòn dần tư cách cá nhân, và những đòi hỏi chú ý thường nhật - là li, kẹp mũ, vuốt thẳng đường may, đánh bóng giày, đặc biệt là gót - bắt đầu một quá trình theo đó những lo toan khác dần dần bị loại trừ.

Đến lúc các cô gái sẵn sàng bắt đầu khóa học thực tập sinh, và làm việc trong các khu (họ sẽ không bao giờ nói "phụ trách các khu") dưới quyền của Y tá Drummond, và tuân theo những công việc hàng ngày "từ bô đến viên bò Bovril," cuộc đời trước kia của họ đang dần nhạt nhòa.

Tâm trí họ đã trở nên trống rỗng đến một mức nào đó, sự chống trả của họ suy giảm đi, vì thế họ dễ dàng bị khuất phục trước quyền lực tuyệt đối của y tá khu.

Không thể nào có sự kháng cự một khi bà đã choán hết tâm trí trống không của họ.

Chưa bao giờ có ai nói ra, nhưng hình mẫu đằng sau quá trình này là quân đội.

Cô Nightingale, mà không ai được phép gọi tên là Florence, đã ở Crimea đủ lâu để thấy giá trị của kỷ luật, những nghiêm lệnh và đạo quân được huấn luyện tử tế.

Vì thế khi nằm trong bóng tối nghe Fiona bắt đầu ngáy suốt cả đêm - cô ấy ngủ nằm ngửa - Briony đã cảm thấy cuộc đời song tồn kia, mà cô có thể mường tượng vô cùng dễ dàng từ những lần ghé Cambridge hồi cô còn nhỏ để gặp Leon và Cecilia, sẽ rất nhanh chóng bắt đầu xa rời khỏi cuộc đời cô lúc này.

Giờ đây là cuộc đời sinh viên của cô, bốn năm kể từ đây, chế độ quản thúc này, và cô không hề mong muốn, cũng không có quyền rời bỏ.

Cô phó mặc chính bản thân mình vào một cuộc đời của những quy tắc, luật lệ, sự tuân phục, việc nhà, và nỗi sợ không ngừng bị chê trách.

Cô là một thành viên trong khóa những thực tập sinh - vài tháng lại có một đợt tuyển - và cô không có tư cách gì ngoài bảng hiệu tên của mình.

Ở đây không có dạy dỗ gì, không ai mất ngủ vì lo cho quá trình phát triển trí tuệ của cô.

Cô đổ và rửa bô, lau và đánh bóng sàn nhà, pha ca cao và chuẩn bị Bovril, đi lấy và mang về - và được giải thoát khỏi sự tự vấn nội tâm.

Ở một thời điểm nào đó trong tương lai, cô biết khi nghe những sinh viên năm thứ hai nói chuyện, cô sẽ bắt đầu thấy thích thú ở khả năng của mình.

Vừa đây cô đã nếm náp vị của nó, khi được tin tưởng giao cho đo nhịp tim và nhiệt độ dưới sự giám sát và đánh dấu trên bảng theo dõi.

Về mặt điều trị y tế, cô đã chấm thuốc tím lên chỗ bị bệnh ecpet mảng tròn, vết mung mủ trên một chỗ bị rách, và kem bôi cho chỗ thâm tím.

Song, phần lớn cô là một tớ gái, một người hầu và, trong những giờ được nghỉ, một kẻ nhồi nhét những sự kiện thuần túy.

Cô sung sướng vì không có mấy thời gian nghĩ đến bất cứ gì khác.

Nhưng khi cô đứng trên chiếu nghỉ trong bộ áo ngủ, việc cuối cùng vào buổi đêm, và nhìn qua dòng sông ngắm thành phố tắt đèn, cô nhớ cảm giác bất ổn nằm ở ngoài kia trên những con phố cũng như trong khu bệnh và giống như chính bóng tối vậy.

Không gì trong những việc làm thường nhật của cô, cả Y tá trưởng Drummond, có thể bảo vệ cô khỏi nó.
 
Atonement - Chuộc Tội
HAI


Trong nửa tiếng trước lúc tắt đèn, sau khi uống ca cao, các cô gái thường ra vào phòng nhau, ngồi trên giường viết thư về nhà, hay cho người thương.

Một vài người vẫn thút thít vì nhớ nhà, và sẽ có rất nhiều màn an ủi diễn ra lúc này, với những cánh tay vòng qua vai và những lời dịu dàng.

Với Briony làm vậy có vẻ điệu bộ, và lố bịch, những cô gái đã lớn khóc lóc nhớ mẹ, hay như một bạn vừa nói vừa nức nở, nhớ mùi ống tẩu của bố.

Những đứa làm việc an ủi đó có vẻ tự thỏa mãn hơi quá đáng.

Trong bầu không khí ngọt đến ghê người này đôi khi Briony viết những lá thư ngắn gọn về nhà, thư truyền đạt không nhiều hơn việc cô không ốm, không bất hạnh, không cần tiền tiêu vặt và sẽ không thay đổi ý định như mẹ cô đã dự đoán.

Những cô gái khác tự hào viết ra chính xác thời khóa biểu làm việc và học hành thường nhật của mình để khiến bố mẹ yêu quý sửng sốt.

Briony chỉ kể những chuyện này trong nhật ký, và kể cả lúc đó thì cũng không chi tiết cụ thể.

Cô không muốn mẹ cô biết tới thứ công việc hạ đẳng cô làm.

Cô quyết tâm trở thành y tá một phần là bởi cô muốn làm việc để được độc lập.

Với cô, điều quan trọng là cha mẹ cô, đặc biệt là mẹ, biết càng ít về đời cô càng tốt.

Ngoài một loạt câu hỏi lặp đi lặp lại vẫn không được trả lời, những lá thư của Emily phần lớn là về những người tản cư.

Ba bà mẹ với bảy đứa con, tất cả đều từ khu Hackney của London, đã trú ngụ ở gia đình Tallis.

Một trong mấy bà mẹ đã làm điều nhục nhã trong quán rượu làng và giờ bị cấm chỉ.

Một bà khác là tín đồ sùng đạo Thiên Chúa giáo đi bộ bốn dặm cùng ba đứa con đến thị trấn gần đó dự lễ mixa Chủ nhật.

Nhưng Betty, bản thân cũng là tín đồ Thiên Chúa giáo, không nhạy cảm mấy về những khác biệt này.

Bà ghét tất cả các bà mẹ và con cái của họ như nhau.

Họ nói với bà ngay buổi sáng đầu tiên là không thích thức ăn bà nấu.

Bà tuyên bố đã chứng kiến cái bà đi nhà thờ kia nhổ ra sàn ở hành lang.

Đứa con lớn nhất, thằng nhóc mười ba tuổi trông không lớn hon một đứa lên tám, đã nhảy xuống đài phun nước, leo lên tượng, rồi bẻ gãy tù và vỏ ốc và cánh tay của thần Triton, ngay chỗ khuỷu.

Jack bảo sẽ gắn lại, không phiền phức gì nhiều đâu.

Nhưng rồi cái phần bị bẻ, sau khi đem vào nhà bỏ ở phòng rửa bát, đã biến mất.

Được nghe già Hardman kể lại, Betty tố thằng bé đã ném nó xuống hồ.

Thằng nhỏ nói nó không biết gì.

Người ta bàn chuyện sẽ tháo nước ở hồ đi, nhưng lại lo cho đôi uyên ương thiên nga.

Bà mẹ bảo vệ thằng con ác liệt, bảo là khi có trẻ con mà để đài phun như thế thì nguy hiểm, và rằng bà ta sẽ viết thư báo cho quân cảnh.

Ngài Arthur Ridley là cha đỡ đầu của Briony.

Tuy vậy, Emily nghĩ họ nên coi mình may mắn khi có những người tản cư vì đã có một lúc tưởng như toàn bộ căn nhà sẽ bị quân đội trưng dụng.

Nhưng rồi họ chọn nhà của Hugh van Vliet vì bên đó có bàn bi-a.

Một tin nữa là em gái Hermione của bà vẫn ở Paris nhưng đang nghĩ đến chuyện chuyển đến Nice, và đàn bò đã được chuyển sang ba cánh đồng ở phía Bắc để cày xới công viên trồng ngũ cốc.

Hàng rào sắt dài một dặm rưỡi có từ hồi những năm 1750 đã bị dỡ đi nung chảy làm máy bay.

Ngay cả những người thợ dỡ đi cũng bảo thứ kim loại này không hợp.

Một công sự gạch và xi măng được xây cạnh con sông, ngay ở khúc ngoặt, giữa đám lau lách, phá tan ổ mòng két và chim chìa vôi xám.

Một công sự ngầm khác đang xây chỗ đường chính dẫn vào làng.

Họ lưu trữ tất cả các thứ dễ vỡ ở dưới hầm, gồm cả đàn clavico.

Betty khốn khổ đã đánh rơi cái bình của bác Clem khi mang nó xuống và nó vỡ tan thành từng mảnh trên bậc cầu thang.

Bà bảo các mảnh vỡ tự động rời ra ngay trong tay bà, nhưng nghe rắt khó tin.

Danny Hardman đã gia nhập hải quân, còn tất cả trai tráng khác trong làng thì vào East Surrey.

Jack đang làm việc quá nhiều.

Ông dự một buổi họp đặc biệt và khi quay về trông ông mệt mỏi gầy gò, và không được phép nói cho bà biết ông đã ở đâu.

Ông giận điên lên vì chuyên cái bình và quát tháo Betty ầm ĩ, xưa nay ông chẳng hề như vậy.

Thêm vào tất cả những chuyên đó, bà đã mất một cuốn sổ lương thực và đã hai tuần rồi họ phải ăn uống mà không có đường.

Cái bà mẹ bị cấm chỉ khỏi quán Red Lion đã đến mà không mang theo mặt nạ khí và sẽ không được phát đồ thay thế.

Người giám sát phòng không, chính là anh trai của cảnh sát Vockins, đã đến lần thứ ba kiểm duyệt xem nhà có chịu tắt điện không.

Ông ta hóa ra lại là một tay khá độc tài.

Chả ai thích ông.

Đọc những lá thư này vào cuối một ngày quần quật, Briony cảm thay một sự hoài nhớ mơ hồ, một sự mong mỏi lờ mờ cái cuộc đời đã mất từ lâu.

Cô khó có thể cảm thấy thương hại chính mình.

Chính cô mới là người đã cắt đứt với gia đình.

Trong kỳ nghỉ một tuần sau đợt huấn luyện sơ bộ, trước khi năm thực tập bắt đầu, cô tói ở với chú và dì ở Primrose Hill và đã lảng tránh mẹ trên điện thoại.

Sao Briony không thể về thăm, dù chỉ một ngày, khi mọi người đều mong ngóng được gặp cô và khao khát nghe cô kể chuyên về cuộc đời mới của mình?

Và sao cô lại ít viết thư về đến thế?

Thật khó mà có một câu trả lời thẳng thắn.

Hiện giờ tránh xa là một việc cần thiết.

Trong ngăn kéo tủ cạnh giường, cô giữ một cuốn sổ khổ to bìa cứng có vân cẩm thạch.

Gáy sổ buộc một sợi dây dài có cây bút chì ở cuối.

Không được phép dùng bút và mực trên giường.

Cô bắt đầu ghi nhật ký vào cuối ngày đầu tiên của đợt tập huấn sơ bộ, và cố gắng viết ít nhất mười phút hàng đêm trước giờ tắt đèn.

Các ghi chép của cô bao gồm những tuyên ngôn nghệ thuật, những phàn nàn nhỏ nhặt, những phác họa nhân vật và những đoạn tường thuật đơn giản về ngày đã qua, càng ngày càng lấn sang thế giới tưởng tượng.

Cô hầu như không đọc lại những gì mình đã viết, nhưng cô thích lật giở những trang kín đặc chữ.

Đây, đằng sau thẻ tên và đồng phục, là con người thật của cô, tích trữ bí mật, im lặng gom góp.

Cô chưa bao giờ đánh mất lạc thú tuổi thơ khi nhìn những trang giấy đầy chữ viết của mình.

Cô viết cái gì cơ hồ không quan trọng.

Vì ngăn kéo không được khóa, cô cẩn thận ngụy trang những miêu tả của mình về Y tá trưởng Drummond.

Cô đổi tên cả các bệnh nhân nữa.

Và khi đã đổi tên rồi, thì thay đổi các tình huống và phát minh ra thêm cũng dễ hơn nhiều.

Cô thích viết ra những suy nghĩ vớ vẩn của họ theo như cô tưởng tượng.

Cô chẳng bị bắt buộc phải nói sự thật, cô chẳng hứa với ai là sẽ viết sử biên niên.

Đây là nơi duy nhất cô có thể tự do.

Cô dựng lên những câu chuyện nhỏ - không thuyết phục lắm, hơi quá đà - về những người trong khu.

Có lúc cô đã nghĩ mình là một Chaucer thời Trung cổ làm nghề y, có các khu khám bệnh đông ních đủ loại người, bọn trai trẻ, đám ma men, lũ khọm già, người tử tế với những bí mật xấu xa muốn kể.

Những năm sau này cô hối hận vì không chú trọng thực tế hơn, không tự xây cho mình một kho tư liệu thô.

Sẽ rất có ích nếu biết được điều gì đã xảy ra, trông nó như thế nào, đã có ai ở đó, đã nói những gì.

Vào lúc ấy, nhật ký giữ gìn phẩm giá của cô: cô có thể trông giống và cư xử như và sống cuộc đời của một y tá thực tập, nhưng thực ra cô là một nhà văn lớn đang giấu mình.

Và trong lúc cô đã bị cắt đứt khỏi những thứ mình quen thuộc - gia đình, tổ ấm, bè bạn - chỉ có việc viết lách là sợi chỉ liền mạch.

Đây chính là thứ cô vẫn luôn làm từ trước tới giờ.

Những giây phút như thế rất hiếm, những giây phút khi tâm trí cô có thể lang bạt tự do.

Thỉnh thoảng cô được sai tới phòng phát thuốc và sẽ phải đợi dược sĩ quay lại.

Rồi cô sẽ đi dọc hành lang tới một cầu thang nơi có cửa sổ trông ra dòng sông.

Vô tình, cô sẽ nhón mình trên chân phải khi nhìn ra phía tòa nhà Hạ viện mà không thấy nó, rồi nghĩ không phải về cuốn nhật ký, mà là một truyện dài cô đã viết và gửi cho một tạp chí.

Trong những ngày lưu lại ở Primrose Hill cô đã mượn máy đánh chữ của ông cậu, chiếm lấy phòng ăn và mổ cò bản thảo cuối cùng của mình.

Cô gõ hơn tám tiếng một ngày suốt cả tuần, đến khi lưng và cổ đau nhừ, và mắt hoa lên những ký hiệu linh tinh rời rạc.

Nhưng cô không nhớ nổi đã bao giờ có được cảm giác sung sướng vô tận như khi kết thúc, lúc cô gom lại chồng giấy đã gõ xong - một trăm lẻ ba trang!

- và cảm thấy ở đầu những ngón tay đau nhừ sức nặng sự sáng tạo của mình.

Chỉ riêng mình cô.

Không ai khác có thể viết ra được.

Giữ lại bản sao giấy than cho mình, cô gói cuốn truyện (một từ mới không thỏa đáng làm sao) bằng giấy nâu, bắt xe buýt đi Bloomsbury, đi bộ đến địa chỉ ở Lansdowne Terrace, văn phòng của tạp chí mới, Horizon, và trao bản thảo cho một phụ nữ dễ thương ra mở cửa.

Điều làm cô phấn khích về thành công của mình là bố cục của nó, cấu trúc hình học thuần túy, và sự không chắc chắn quy định toàn bộ tính chất câu chuyện, mà theo cô nó phản ánh một tâm thế hiện đại.

Thời đại của những câu trả lời rõ ràng đã kết thúc rồi.

Thời đại của nhân vật và cốt truyện cũng vậy.

Mặc cho những phác thảo nhân vật trong nhật ký, cô không còn thực sự tin vào nhân vật nữa.

Chúng là những phương tiện lỗi thời thuộc về thế kỷ mười chín.

Ngay khái niệm nhân vật cũng được hình thành trên những sai lầm mà tâm lý học hiện đại đã vạch trần.

Cả cốt truyện cũng như cỗ máy gỉ sét bánh xe không còn quay được nữa.

Một tiểu thuyết gia hiện đại không còn có thể viết nhân vật và cốt truyện được, cũng như một nhà soạn nhạc hiện đại không thể viết một bản giao hưởng Mozart.

Chính suy nghĩ, cảm nhận, cảm giác mới làm cô thích thú, nhất là ý thức như một dòng sông chảy qua thời gian, và làm thế nào để diễn tả những con sóng lăn ập vào bờ của nó, cũng như tất cả những sông nhánh nhập mình vào khiến nó đầy lên, và những chướng ngại khiến nó đổi dòng.

Giá như cô có thể tái tạo ánh sáng trong vắt của một buổi sáng mùa hạ, cảm giác của một đứa trẻ đứng cạnh cửa sổ, nét cong và lượn xuống của đường bay một con chim nhạn trên mặt nước.

Tiểu thuyết của tương lai sẽ không giống với bất cứ thứ gì trong quá khứ.

Cô đã đọc The Waves của Virginia Woolf ba lần và nghĩ rằng đang có một sự chuyển hóa lớn lao hình thành trong chính bản chất con người, và rằng chỉ tiểu thuyết, một loại tiểu thuyết mới, mới có thể bắt được bản chất của sự thay đổi đó.

Thâm nhập vào một đầu óc và thể hiện nó hoạt động thế nào, hay bị điều động ra sao, và thực hiện điều đó trong một bố cục cân đối - đây sẽ là một thành tựu nghệ thuật.

Đấy là những ý nghĩ trong đầu Y tá Tallis khi cô lần lữa gần trạm thuốc, đợi dược sĩ quay lại, và nhìn qua sông Thames, quên béng đi nguy hiểm mình có thể gặp, khi bị Y tá trưởng Drummond phát hiện đang đứng trên một chân.

Ba tháng đã trôi qua, và Briony không nghe gì từ Horizon cả.

Một tác phẩm viết nữa cũng không có hồi âm nào.

Cô đã đến phòng hành chính bệnh viện và hỏi địa chỉ Cecilia.

Đầu tháng Năm cô viết thư cho chị.

Giờ cô bắt đầu nghĩ rằng im lặng là câu trả lời của Cecilia.
 
Atonement - Chuộc Tội
BA


Những ngày cuối tháng Năm, nhiều thiết bị y tế được chuyển đến hơn.

Thêm nhiều ca không khẩn cấp lắm được cho về nhà.

Nhiều khu lẽ ra đã trống hoàn toàn nếu không phải nhận thêm bốn mươi thủy thủ - một loại bệnh vàng da hiếm hoi đã quét qua Hải quân Hoàng gia.

Briony không còn thời gian để ý.

Những khóa học mới về làm y tá trong bệnh viện và dẫn nhập cơ thể học đã bắt đầu.

Những sinh viên năm một vội vã chuyển từ ca trực sang lớp giảng, tới bữa ăn rồi sang tự học.

Sau khi đọc ba trang sách, tỉnh táo được là một việc khó khăn.

Chuông Big Ben điểm từng thay đổi trong ngày, và có những lần tiếng chuông long trọng duy nhất lúc mười lăm phút làm bật ra những tiếng rên rỉ trong kinh hoảng bị kìm nén khi các cô gái nhận ra giờ này mình đáng lẽ phải ở nơi khác.

Nằm bẹp trên giường tự nó được coi là một cách chữa trị.

Hầu hết bệnh nhân, dù tình trạng thế nào, bị cấm dù chỉ đi vài bước ra phòng rửa mặt.

Vì thế ngày bắt đầu với những chiếc bô.

Y tá trưởng không cho phép cầm bô "như cầm vợt tennis" mà đi lại trong khu.

Bô phải được mang "như để vinh danh Chúa," và đem đổ, kỳ cọ, rửa sạch và xếp chồng trước bảy rưỡi, khi đến giờ uống trà buổi sáng.

Suốt cả ngày, bô, giặt chăn màn, cọ sàn.

Các cô gái càm ràm đau lưng vì phải dọn giường, và chân đau nhức vì phải đứng cả ngày.

Thêm một nhiệm vụ cho y tá là kéo màn che kín các cửa sổ lớn trong khu để ngăn ánh sáng lọt ra ngoài.

Đến cuối ngày, rửa nhiều bô hơn, đổ ca đựng đờm dãi, pha ca cao.

Hầu như không có thời gian trống giữa lúc kết thúc một ca và bắt đầu lớp học để mà quay về ký túc xá lấy vở và sách giáo khoa.

Một ngày nọ, có hai lần Briony bị y tá khu mắng khi chạy trên hành lang và ở cả hai bận đó lời quở trách đều được thốt ra bằng giọng đều đều.

Chỉ có trong trường hợp xuất huyết và hỏa hoạn thì y tá mới được phép chạy.

Nhưng địa phận chính yếu của các thực tập sinh năm thứ hai là phòng giặt rửa.

Mọi người bảo là máy rửa bô và rửa chai tự động đang được lắp đặt, nhưng đây thuần túy chỉ là tin đồn về một miền đất hứa.

Còn bây giờ, họ phải làm như những người đi trước đã làm.

Vào cái ngày cô bị mắng vì chạy hai lần, Briony được sai đến phòng giặt rửa để làm thêm một phiên nữa.

Đó hẳn là một sự cố trong bảng phân công không được viết ra, nhưng cô nghi ngờ lắm.

Cô kéo cửa phòng giặt rửa đóng lại sau lưng mình, và buộc tạp dề cao su nặng nề quanh hông.

Bí quyết đổ bô, thực ra là cách duy nhất cô có thể làm việc đó, là nhắm mắt lại, nín thở và quay đầu đi.

Rồi đến việc cọ bằng dung dịch phenol.

Nếu lười mà để mặc không kiểm tra xem tay cầm bô đã sạch và khô chưa, cô sẽ gặp phiền phức lớn với y tá trưởng.

Xong nhiệm vụ này cô chuyển thẳng sang việc dọn dẹp khu đã gần như trống vào cuối ngày - sắp xếp tủ khóa, đổ gạt tàn, thu báo trong ngày.

Một cách tự động, cô liếc qua một trang gấp lại của tờ Sunday Graphic.

Cô đã theo dõi thời sự bằng những mẩu tin nhỏ rời rạc.

Chẳng bao giờ đủ thời gian ngồi xuống mà đọc một tờ báo cho ra đọc.

Cô biết việc chọc thủng phòng tuyến Maginot, việc đánh bom Rotterdam, quân Hà Lan đầu hàng, và đêm hôm trước vài cô gái đã nói chuyện Bỉ sắp bại trận.

Chiến tranh diễn ra càng lúc càng tồi tệ, nhưng chiến sự sẽ được cải thiện.

Giờ đây điều khiến cô chú ý là một câu nói xoa dịu - không phải vì nội dung câu nói, mà vì điều nó trắng trợn cố giấu đi.

Quân đội Anh ở miền Bắc Pháp đang "rút lui theo chiến lược về lại vị trí đã chuẩn bị trước đó."

Ngay cả cô, người không biết gì về chiến lược quân đội hay ngôn ngữ báo chí, cũng hiểu rằng đấy là uyển ngữ cho việc bại trận.

Có lẽ cô là người cuối cùng trong bệnh viện hiểu chuyện gì đang xảy ra.

Khu này khu khác cứ trống dần, đồ tiếp tế liên tục chuyển về, cô đã nghĩ đấy chỉ là một phần của sự chuẩn bị chiến tranh thông thường.

Cô đã quá thu mình trong những lo lắng cỏn con của mình.

Giờ cô thấy những mẩu tin tức rời rạc nối kết với nhau thế nào, và hiểu ra điều có lẽ mọi người khác đều biết cả, và là điều ban điều hành bệnh viện đang chuẩn bị để đối phó.

Quân Đức đã đến Biển Manche, quân Anh đang gặp khó khăn.

Tình hình đã trở nên hết sức tồi tệ ở Pháp, mặc dù không ai biết tệ đến mức nào.

Linh cảm ấy, sự sợ hãi câm lặng ấy, chính là thứ cô đã cảm thấy xung quanh mình.

Đúng lúc này, vào cái ngày những bệnh nhân cuối cùng được tiễn ra khỏi khu, có một lá thư cha cô gửi đến.

Sau vài câu chào hỏi và hỏi han vắn tắt việc học hành và sức khỏe của cô, ông kể lại thông tin nghe được từ một đồng nghiệp và được gia đình khẳng định: Paul Marshall và Lola Quincey sẽ thành hôn vào ngày thứ Bảy tuần tới ở Nhà thờ Thánh Ba ngôi tại Clapham Common.

Ông không nói lý do vì sao ông lại nghĩ là cô sẽ muốn biết, và bản thân cũng không bình luận gì về chuyện đó.

Ông chỉ đơn giản ký nguệch ngoạc cuối thư – "luôn yêu con".

Suốt buổi sáng, khi thực thi nhiệm vụ, cô nghĩ đến tin đó.

Cô đã không gặp Lola từ mùa hè ấy, vì thế cô mường tượng ra ở bàn thờ là một cô gái dong dỏng mười lăm tuổi.

Briony giúp một bệnh nhân sắp chuyển đi, một cụ bà ở Lambeth, gói ghém va li, và cố tập trung nghe những lời phàn nàn của bà.

Bà bị gãy ngón chân và được hứa là sẽ được nằm nghỉ mười hai ngày, thế mà mới nằm có bảy ngày.

Bà được đỡ vào xe đẩy và một người đẩy xe đưa bà đi.

Khi làm nhiệm vụ trong phòng rửa Briony nhẩm tính.

Lola hai mươi, Marshall hai mươi chín.

Không ngạc nhiên gì; sự kinh ngạc là ở lời chứng thực.

Briony không chỉ dính líu vào cuộc hôn nhân này.

Chính cô đã làm cho nó xảy ra.

Suốt cả ngày, đi qua lại trong khu, dọc các hành lang, Briony cảm thấy tội lỗi quen thuộc lại đeo đuổi mình với một sức cộng hưởng mới mẻ.

Cô cọ những tủ không, giúp rửa khung giường bằng dung dịch phenol, quét và cọ sàn, đến phòng phát thuốc và người phát chẩn với tốc độ gấp đôi mà vẫn không phải là chạy, được sai đi cùng một thực tập sinh khác giúp băng nhọt trong khu ngoại khoa nam, và làm thay việc cho Fiona khi cô này đi khám nha sĩ.

Vào cái ngày đầu tháng Năm thực sự đẹp đẽ này cô đổ mồ hôi dưới lớp đồng phục hồ cứng của mình.

Tất cả những gì cô muốn là làm việc, rồi tắm và ngủ cho đến lúc phải làm việc lại.

Nhưng tất cả đều vô ích, cô biết.

Dù cô có làm công việc của người tớ gái hay y tá hèn mọn thế nào, và dù cô có làm nặng nhọc hay hoàn hảo đến mức nào, dù cô đã từ bỏ bất cứ sự khai sáng gì trong việc học hành, hay khoảnh khắc để đời trên bãi cỏ một trường đại học, cô sẽ không bao giờ cứu vãn được thiệt hại.

Cô không thể được tha thứ.

Lần đầu tiên trong bao năm qua cô nghĩ mình muốn nói chuyện với cha.

Cô đã luôn coi sự xa cách của ông là tự nhiên và không trông đợi gì.

Cô tự hỏi liệu khi gửi một lá thư với thông tin cụ thể như thế, có phải ông đang cố nói với cô là ông biết sự thật.

Sau bữa trà, còn lại quá ít thời gian, cô đi ra quầy điện thoại bên ngoài cổng vào bệnh viện gần Cầu Westminster và cố gọi cho ông ở chỗ làm.

Tổng đài nối máy cho cô đến một giọng mũi tốt bụng, rồi đường dây bị chết và cô phải bắt đầu lại.

Rồi cũng lại bị như thế, và lần cố gắng thứ ba đường dây chết cứng ngay khi có giọng nói - Đang cố kết nối.

Lúc này cô hết tiền lẻ và đã đến lúc phải quay lại khu.

Cô dừng chân lại bên ngoài quầy điện thoại để chiêm ngưỡng đám mây khổng lồ chất chồng trên nền trời xanh trứng sáo.

Dòng sông mang con nước mùa xuân đổ ra biển phản chiếu màu trời xen những vệt xanh lá cây và xám.

Big Ben dường như không ngừng ngã về phía trước trên nền bầu trời không yên ả kia.

Mặc cho khói xe cộ, vẫn có một mùi hương cây cối mơn mởn, cỏ mới cắt có lẽ từ vườn bệnh viện, hoặc từ những cây non ven sông.

Mặc dù mặt trời chói rực, trong không khí vẫn có sự mát mẻ dịu ngọt.

Cô đã không nhìn thấy hay cảm thấy cái gì dễ chịu đến thế suốt bao ngày qua, có lẽ hàng tuần rồi.

Cô đã ở trong nhà quá nhiều, hít thở chất tẩy uế.

Khi cô ra về, hai sĩ quan trẻ, quân y sĩ từ bệnh viện quân đội ở Millbank, mỉm cười thân ái với cô khi họ lướt qua.

Tự động, cô nhìn xuống đất, rồi ngay lập tức hối hận mình đã không nhìn vào mắt họ.

Họ đi ngược chiều với cô, băng qua cầu, quên tiệt mọi thứ trừ câu chuyện của riêng mình.

Một trong hai làm điệu bộ vươn lên cao, như thể mò mẫm tìm thứ gì đó trên giá, và anh bạn cười phá lên.

Được nửa đường họ dừng lại ngắm nhìn một pháo hạm lướt dưới cầu.

Cô nghĩ những bác sĩ ở RAMC trông mới sinh động và tự tại làm sao, và ước giá chi mình cười đáp lại họ.

Có những phần trong con người cô mà cô đã lãng quên hoàn toàn.

Cô đã bị muộn và có rất nhiều lý do để chạy, mặc cho giày đang sít vào ngón chân.

Ở đây, trên vỉa hè bẩn thỉu, lệnh của Y tá Drummond "không được rửa bằng nước phenol" không được áp dụng.

Không có xuất huyết hay hỏa hoạn, nhưng đấy là một lạc thú thể xác bất ngờ, nếm trải tự do chóng vánh, khi được chạy hết sức mình trong cái tạp dề hồ cứng về cổng bệnh viện.
 
Atonement - Chuộc Tội
BỐN


Giờ đây sự chờ đợi uể oải lan khắp bệnh viện.

Chỉ những thủy thủ bị vàng da là còn lưu lại.

Các y tá nói rất nhiều chuyện vui nhộn và hấp dẫn về họ.

Các hạ sĩ quan dẻo dai này ngồi trên giường mạng tất của họ, và khăng khăng đòi tự tay giặt quần áo lót, rồi đem phơi trên những dây phơi tự chế, treo dọc trên các lò sưởi.

Những anh còn buộc phải nằm trên giường thà chịu đau đớn còn hơn là nhờ người mang chai tiểu đến.

Mọi người còn bảo rằng các thủy thủ còn khỏe cố còn nài để tự họ chăm sóc khu và đã đảm nhiệm việc quét dọn và đẩy cái thanh đẩy nặng nhọc.

Các cô gái chưa từng chứng kiến đàn ông biết làm những chuyện nhà như thế, và Fiona bảo cô sẽ không lấy anh nào chưa từng phục vụ trong Hải quân Hoàng gia.

Không vì lý do cụ thể nào, các thực tập sinh được cho nghỉ nửa ngày, không phải học hành gì, tuy nhiên vẫn phải mặc đồng phục.

Sau bữa trưa Briony đi cùng Fiona qua sông, băng ngang Nhà Nghị viện vào Công viên St.

James.

Họ tản bộ quanh hồ, mua trà ở một quán rong, và thuê ghế dựa dài để nghe những ông già thuộc Đội quân Cứu thế chơi nhạc Elgar chuyển thể cho nhạc cụ đồng và bộ gõ.

Trong những ngày tháng Năm này, trước khi câu chuyện về nước Pháp được hiểu một cách cặn kẽ, trước khi thành phố bị đánh bom vào tháng Chín, London có những dấu hiệu bên ngoài của thời chiến, nhưng tâm thế thích hợp thì chưa.

Đồng phục, bích chương cảnh báo chống bọn nội phản, hai hầm tránh máy bay lớn đào dưới bãi cỏ công viên, và khắp mọi nơi, bộ máy hành chính gắt gỏng.

Trong khi các cô gái ngồi trên ghế dựa, một người đàn ông đeo băng tay và đội mũ tiến tới đòi xem mặt nạ phòng độc của Fiona - nó bị áo choàng của cô che mất một phần.

Trừ những thứ đó, đây vẫn là thời gian yên bình.

Trong một khoảnh khắc, những lo lắng về tình trạng ở Pháp đã lan khắp đất nước cho đến lúc đó chợt tan biến trong nắng chiều.

Người chết vẫn chưa xuất hiện, những người vắng mặt được coi là còn sống.

Cảnh tượng như trong giấc mơ bởi quá bình thường.

Những xe nôi lướt trên con đường, rèm hạ xuống che nắng chói, và những em bé trắng trẻo sọ còn mềm há hốc miệng nhìn thế giới bên ngoài lần đầu tiên.

Những đứa bé hình như trốn tản cư chạy trên cỏ hò hét cười đùa, ban nhạc vật lộn với thứ âm nhạc vượt ngoài khả năng của mình, và ghế tựa vẫn giá hai xu một chiếc.

Thật khó tin được rằng chỉ cách đó chưa đến trăm dặm là một thảm họa chiến tranh.

Suy nghĩ của Briony vẫn dính chặt vào những chủ đề của cô.

Có lẽ London sẽ ngộp trong khí độc, hay bị giày xéo dưới chân lính dù Đức được đám nội phản trên mặt đất giúp đỡ, trước khi đám cưới của Lola có thể diễn ra.

Briony đã nghe một người đẩy xe biết tuốt bảo, nghe giọng khá là thỏa mãn, rằng giờ thì không gì có thể ngăn nổi bọn Đức.

Chúng có chiến thuật mới còn mình thì không, chúng hiện đại hóa, còn mình chưa.

Lẽ ra các ông tướng phải đọc cuốn sách của Liddell Hart, hoặc đến phòng người đẩy xe ở bệnh viện trong bữa trà và căng tai nghe như nuốt từng câu.

Ngồi cạnh cô, Fiona nói về thằng em trai bé bỏng đáng yêu của mình và những thứ hay ho thằng bé nói lúc ăn tối, còn Briony giả vờ nghe mà nghĩ đến Robbie.

Nếu đang chiến đấu ở Pháp, rất có thể anh đã bị bắt.

Hay còn tệ hơn.

Làm sao Cecilia chịu đựng nổi cái tin ấy?

Khi âm nhạc, sống động lên nhờ những âm nghịch tai không có trong tổng phổ, lên đến đỉnh cao khàn đặc, cô bóp chặt tay vịn ghế gỗ, nhắm mắt lại.

Nếu có chuyện gì xảy đến với Robbie, nếu Cecilia và Robbie không bao giờ được ở bên nhau...

Nỗi đau khổ bí mật của cô và cơn chinh chiến làm đảo lộn cả đất nước trước nay luôn có vẻ như là hai thế giới tách biệt, nhưng giờ cô hiểu rằng chiến tranh có thể làm cho tội ác của cô nặng nề hơn đến mức nào.

Giải pháp duy nhất có thể tưởng tượng được là quá khứ chưa bao giờ xảy ra.

Nếu anh không quay về...

Cô khao khát được có quá khứ của một ai khác, được là một ai khác, như Fiona nồng nhiệt với cuộc đời không vết chàm trải dài phía trước, và gia đình đầm ấm đông đúc của cô, có chó và mèo đặt tên theo tiếng Latin, nhà là nơi tụ họp nổi tiếng cho dân nghệ sĩ ở Chelsea.

Tất cả những gì Fiona phải làm là sống đời mình, đi theo con đường phía trước và khám phá những điều sẽ xảy ra.

Với Briony, có vẻ như cả đời cô sẽ sống trong một căn phòng, không cửa.

"Briony, cậu ổn chứ?"

"Sao cơ?

Ừ, dĩ nhiên.

Tớ ổn, cám ơn cậu."

"Tớ không tin.

Tớ lấy cho cậu ít nước nhé?"

Khi tiếng vỗ tay dồn dập vang lên - dường như không ai quan tâm ban nhạc này chơi dở thế nào - cô nhìn Fiona băng qua bãi cỏ, qua đám nhạc công và người đàn ông vận áo choàng nâu cho thuê ghế, tới chỗ quán cà phê nhỏ giữa đám cây.

Đội quân Cứu thế đang bắt đầu chơi bài "Bye Bye Blackbird" mà họ có vẻ thành thạo hơn hẳn.

Mọi người ngồi trên ghế cất giọng hát cùng, một số còn vỗ tay nhịp theo.

Hát cùng nhau có nét gì đó hơi gượng ép - khi những người chưa từng quen biết lại cố tìm mắt nhau trong lúc trỗi giọng hát lên - mà cô cương quyết cưỡng lại.

Tuy thế, nó vẫn làm tinh thần cô phấn chấn, và khi Fiona quay lại tay cầm một tách nước, còn ban nhạc bắt đầu một liên khúc những bài yêu thích thuở xưa với "It's a Long Way to Tipperary", họ bắt đầu nói về công việc.

Fiona kéo Briony vào buôn chuyện - họ thích ai trong số đám y tá chuyên nghiệp, và ghét những ai, về Y tá trưởng Drummond mà Fiona có thể giả giọng, và bà quản lý vừa bệ vệ vừa lãnh đạm chẳng kém gì bác sĩ tham vấn.

Họ điểm lại các kiểu lập dị của bệnh nhân, và họ chia sẻ những chuyện cần than thở - Fiona cáu tiết vì mình không được phép để cái này cái nọ lên bậu cửa sổ, Briony ghét việc cứ đến mười một giờ là phải tắt đèn - nhưng họ buôn chuyện với sự thích thú e dè và càng lúc càng cười như nắc nẻ, đến nỗi mấy cái đầu bắt đầu quay về hướng họ, và những ngón tay đặt lên môi ra hiệu một cách khoa trương.

Nhưng những cử chỉ đó chỉ nghiêm nghị nửa vời thôi, và hầu hết họ đều ngồi trên ghế quay lại mỉm cười bao dung, vì có gì đó ở hai cô y tá trẻ - y tá trong thời chiến - vận váy dài đeo thắt lưng màu trắng và tím, áo choàng màu lam thẫm và mũ trắng tinh, khiến họ không thể chê trách được, như là những ma xơ.

Hai cô gái cảm nhận được mình là bất khả xâm phạm và cười lớn tiếng hon, đến thành tiếng rinh rích vừa vui nhộn vừa ché giễu.

Fiona hóa ra lại có khiếu bắt chước rất tài, và dù vui vẻ cách mấy, sự hài hước của cô có một nét ác nghiệt mà Briony lại thích.

Fiona có thổ ngữ Lambeth riêng của mình, và với sự cường điệu nhẫn tâm cô diễn tả sự dốt nát của vài bệnh nhân, những nài xin của họ bằng giọng rầu rĩ ỉ ôi van vỉ.

Tiêm tôi đấy, Y tá.

Nó luôn nằm sai bên.

Mệ tôi cũng hệt thế.

Có thật là em bé chui ra khỏi mông mình không, Y tá?

Zì tôi không biết bé của tôi làm sao mà vừa đây, khi mà cái của tôi núc nào cũng bị bịt lại.

Tôi cóa sáu đứa nhỏ, rồi tôi đi và bỏ quên một đứa trên xe buýt, chiếc tám mươi tám từ Brixton.

Hẳn nà bỏ quên ló trên ghế rồi.

Chẳng bao giờ thấy lại ló nữa, Y tá ạ.

Buồn ghê gớm, thật đấy.

Khóc hết cả nước mắt.

Khi họ đi bộ về lại Parliament Square Briony vẫn vui như khướu và đầu gối rủn ra muốn khuỵu vì cười dữ quá.

Cô băn khoăn, khi thấy tâm trạng mình chuyển biến chóng vánh đến vậy.

Những nỗi lo của cô không biến mất, chỉ tuột lại sau, năng lượng cảm xúc của chúng bị vắt kiệt tạm thời.

Tay khoác tay hai cô gái bước qua cầu Westminster.

Nước rút ra xa, và dưới ánh đèn rực sáng đến thế có một lớp óng ánh màu tía trên bờ sông đầy bùn cát nơi hàng ngàn những đụn giun đùn hắt những cái bóng sắc cạnh nhỏ xíu.

Khi Briony và Fiona rẽ phải vào đường Lambeth Palace họ nhìn thấy một đoàn xe tải quân đội tập trung bên ngoài cổng chính.

Các cô gái rên rỉ theo kiểu đùa cợt trước viễn cảnh nhiều đồ đạc sắp sửa lại phải dỡ xuống và sắp xếp.

Rồi họ nhìn thấy những xe cấp cứu dã chiến giữa các xe tải, và đến gần hơn họ thấy cáng, vô số cáng, ngổn ngang khắp trên mặt đất, và chồng đống những quần áo lính xanh lục bẩn thỉu và băng dính máu.

Cũng có cả lính đứng thành nhóm, bàng hoàng, bất động, và băng bó cũng như những người nằm trên mặt đất bằng thứ băng bẩn thỉu.

Một hộ lý đang thu thập súng trường từ phía sau một xe tải ra.

Vô số người đẩy xe, y tá, bác sĩ đang đi lại trong đám đông.

Năm hay sáu xe đẩy đã được đưa ra phía trước bệnh viện - rõ ràng là không đủ.

Trong một giây, Briony và Fiona dừng lại nhìn, và rồi, cùng khoảnh khắc đó, họ bắt đầu chạy.

Chưa đầy một phút họ chạy tới giữa đám người kia.

Khí xuân trong lành không làm tan nổi mùi xăng dầu và những vết thương thối rữa.

Mặt và tay đám lính đen sì, và với hàm râu lởm chởm lâu ngày không cạo, mái tóc đen xỉn màu, những nhãn dán được buộc tạm vào từ trạm tiếp nhận người bị thương, trông họ y hệt nhau, một giống người hoang dã từ một thế giới khủng khiếp.

Những người đang đứng có vẻ đã ngủ.

Thêm nhiều y tá và bác sĩ đổ ra từ lối vào.

Một bác sĩ tham vấn đang chỉ huy và người ta đã sơ khai hình thành thứ tự chữa trị theo mức độ vết thương.

Một vài ca khẩn cấp đang được đưa lên xe đẩy.

Lần đầu tiên trong đợt tập huấn của mình, Briony thấy mình được một bác sĩ chỉ đạo, một bác sĩ thực tập chuyên khoa cô chưa bao giờ thấy trước đó.

"Cô, cầm lấy đầu kia cáng."

Đích thân người bác sĩ cầm lấy đầu còn lại.

Cô chưa bao giờ khênh cáng và sức nặng của nó khiến cô ngạc nhiên.

Họ mới đi qua lối vào được mười thước trên hành lang thì cô biết cổ tay trái mình không nâng nổi nữa.

Cô cầm đầu cáng phía chân.

Người lính mang lon hạ sĩ.

Anh ta không đi bốt còn ngón chân xanh tái thì bốc mùi.

Đầu anh quấn băng ướt sũng máu đỏ thẫm và đen kịt.

Trên bắp đùi, bộ quân phục dính lút vào trong vết thương.

Cô nghĩ mình có thể thấy đầu xương trắng lòi ra.

Mỗi bước họ đi lại làm anh đau đớn.

Mắt anh nhắm tịt, nhưng anh há rồi ngậm miệng trong đau đớn không lời.

Nêu tay trái cô buông, cái cáng chắc chắn sẽ nghiêng.

Những ngón tay của cô đang lỏng dần thì họ đến thang máy, bước vào trong và hạ cáng xuống.

Trong khi họ từ từ đi lên, viên bác sĩ bắt mạch người lính, và lút mạnh vào qua mũi.

Anh ta quên mất là có mặt Briony ở đó.

Khi tầng hai từ từ hạ xuống trước mắt, cô chỉ nghĩ đến ba mươi mét hành lang tới khu, và liệu mình có nâng nổi tới đó không.

Bổn phận của cô là phải bảo với bác sĩ mình không làm nổi.

Nhưng anh ta quay lưng lại cô khi mở giật cửa thang máy ra, và bảo cô cầm lấy đầu cáng.

Cô dồn thêm sức lên tay trái, và cô mong tay bác sĩ đi nhanh hơn.

Cô sẽ không chịu nổi sự ô nhục nếu không làm được.

Anh lính mặt đen há miệng ra rồi lại ngậm vào như đang nhai.

Lưỡi anh ta đầy những đốm trắng.

Yết hầu đen sì trồi lên rồi xuống, và cô buộc mình phải nhìn vào đó.

Họ rẽ vào khu, và may cho cô một giường cấp cứu trống nằm ngay cạnh cửa.

Ngón tay cô đã tuột ra rồi.

Một y tá trưởng khu và y tá đã tốt nghiệp đang đợi.

Khi thận trọng chuyển cáng vào song song với giường, những ngón tay của Briony chùng lại, cô không cử động nổi chúng nữa, liền nâng đầu gối trái lên vừa kịp lúc để đỡ sức nặng.

Tay cán bằng gỗ nện vào chân cô.

Cái cáng nghiêng ngả, và chính y tá khu đã ghé vào giữ cho vững.

Viên hạ sĩ bị thương thổi qua môi một tiếng hoài nghi, như thể anh ta chưa bao giờ nghĩ cái đau lại có thể lớn đến vậy.

"Vì Chúa lòng lành, cô gái," viên bác sĩ lẩm bẩm.

Họ đặt bệnh nhân lên giường.

Briony đợi xem họ có cần mình không.

Nhưng giờ ba người kia đang bận rộn và lờ cô đi.

Y tá đang tháo băng đầu, y tá khu thì cắt quần của anh lính ra.

Tay bác sĩ quay ra chỗ có ánh đèn để đọc các ghi chú viết vội trên cái nhãn dán anh ta đã giật ra từ áo người kia.

Briony khẽ hắng giọng và cô y tá khu nhìn quanh tỏ vẻ khó chịu khi thấy cô vẫn ở đó.

"Đừng có đứng không ở đó, Y tá Tallis.

Xuống tầng mà giúp một tay đi."

Cô nhục nhã bỏ đi, cảm thấy một cảm giác trống rỗng lan khắp bụng.

Khoảnh khắc chiến tranh chạm vào đời cô, vào khoảnh khắc sức ép đầu tiên ấy, cô đã thất bại.

Nếu bị buộc phải khiêng thêm một cái cáng nữa, cô sẽ không đi nổi nửa đường tới chỗ thang máy.

Nhưng nếu bị sai làm, cô sẽ không dám từ chối.

Nếu làm rơi cáng cô sẽ lẳng lặng ra đi, thu thập đồ đạc trong phòng cho vào va li, và sang Scotland làm nghề nông.

Sẽ tốt hơn cho tất cả mọi người.

Khi vội vã đi trên hành lang tầng trệt, cô gặp Fiona đang đi ngược lại khênh đầu trước một cái cáng.

Cô khỏe hơn Briony.

Khuôn mặt người đàn ông cô đang khênh bị băng che phủ hoàn toàn, với một cái hốc màu đen ở chỗ miệng.

Mắt hai cô gái gặp nhau và một cảm giác chạy qua qua giữa họ, kinh hoàng, hay xấu hổ vì đã cười vui vẻ trong công viên khi mà ở đây thì thế này.

Briony ra ngoài và nhẹ nhõm thấy cái cáng cuối cùng đã được nâng lên xe đẩy mới đưa tới, và người đẩy xe đang đợi đẩy đi.

Một chục y tá tốt nghiệp đang đứng sang một bên cạnh va li của họ.

Cô nhận ra vài người trong khu của mình.

Không có thời gian hỏi họ được cử đi đâu.

Chuyện gì đó thậm chí còn tệ hơn đang diễn ra ở đâu đó.

Ưu tiên bây giờ là những người bị thương còn đi lại được, vẫn còn hơn hai trăm người bọn họ.

Một y tá khu bảo cô dẫn mười lăm người lên khu Beatrice.

Họ theo sau cô xếp hàng một dài khắp hành lang, như trẻ con chơi rồng rắn ở một trường tiểu học.

Một số tay đeo băng, một số khác đầu hay ngực bị thương.

Ba người đi nạng.

Không ai nói gì.

Chỗ thang máy đường đi bị tắc lại vì những xe đẩy đợi đưa vào phòng phẫu thuật dưới hầm, và những người vẫn đang cố đi lên các khu.

Cô tìm thấy một phòng con cho mấy người đi nạng ngồi, bảo họ đừng đi đâu, và đưa số còn lại lên bằng đưòng cầu thang.

Hàng người đi rất chậm và đến chiếu nghỉ nào họ cũng dừng chân.

"Giờ không còn xa đâu," cô cứ nói thế, nhưng họ dường như không biết là có cô.

Khi họ lên đến khu, quy tắc bắt buộc cô phải báo cáo với y tá trưởng.

Bà ta không có ở văn phòng.

Briony quay lại bầy học sinh đứng túm tụm lại sau lưng cô.

Họ không nhìn cô.

Họ trân trối nhìn qua cô, về khoảng không mang dáng dấp thời Victoria rộng lớn trong khu, những cây cột sừng sững, những cây cọ trồng trong chậu, những cái giường đều tăm tắp và khăn trải giường tinh khiết, lật úp xuống.

"Mọi người đợi ở đây," cô nói.

"Y tá trưởng sẽ phân giường cho tất cả."

Cô rảo chân đi về đầu bên kia nơi y tá trưởng và hai y tá đang chăm sóc một bệnh nhân.

Có những tiếng chân lê bước sau lưng Briony.

Đoàn lính đang theo vào khu.

Kinh hoảng, cô vẫy tay ra hiệu cho họ.

"Quay lại, xin hãy quay lại và đợi."

Nhưng giờ họ đã tản ra khắp khu.

Mỗi người đều đã tìm thấy cái giường của mình.

Không đợi phân định, không cả cởi bốt, không tắm rửa không bắt chấy rận và không mặc pyjama bệnh viện, họ đang leo lên giường.

Đầu tóc bẩn thỉu của họ, khuôn mặt đen kịt của họ ngả xuống gối.

Từ đầu kia khu y tá trưởng đang sầm sập bước tới, giày cao gót nện vang trong khoảng không thiêng liêng.

Briony lại đứng cạnh một giường giật tay áo một người lính nằm ngửa mặt, ôm cánh tay bị tuột khỏi băng đỡ.

Khi duỗi thẳng chân ra, anh làm dây một vết ố dầu lên khắp chăn.

Tất cả là lỗi của cô.

"Anh phải ngồi dậy," cô nói khi y tá trưởng đã tới bên cô.

Cô yếu ớt chêm vào, "Phải có thủ tục."

'

"Mọi người cần ngủ.

Thủ tục để sau."

Giọng Alien.

Y tá trưởng đặt một tay lên vai Briony và xoay người cô lại để có thể đọc được bảng hiệu tên cô.

"Cô sẽ quay về khu của mình bây giờ, Y tá Tallis.

Mọi người sẽ cần cô ở đó, tôi nghĩ vậy."

Với một cú đẩy nhẹ nhàng, Briony được cho đi.

Khu có thể hoạt động mà không cần người chấp hành kỷ luật như cô.

Những người xung quanh cô đã chìm vào giấc ngủ, và một lần nữa cô bị chứng tỏ là kẻ ngu ngốc.

Dĩ nhiên họ cần ngủ.

Cô chỉ muốn làm điều mà cô nghĩ là người ta đòi hỏi.

Suy cho cùng đây đâu phải là quy định của cô.

Chúng đã được lải nhải vào tai cô trong suốt mấy tháng qua, hàng ngàn chi tiết cần làm khi đón nhận một bệnh nhân mới.

Làm sao cô biết được trên thực tế chúng chẳng có ý nghĩa gì?

Những ý nghĩ căm phẫn này làm cô khổ sở cho đến khi về gần đến khu của mình, thì cô mới nhớ ra nhóm người đi nạng ở tầng dưới, đợi thang máy đưa lên.

Cô vội vã xuống cầu thang.

Phòng nhỏ trống không, và không có dấu hiệu nào của họ trong hành lang cả.

Cô không muốn phơi bày sự yếu kém của mình khi đi hỏi các y tá hay người đẩy xe.

Ai đó hẳn đã tập trung những người bị thương lên trên.

Trong những ngày sau đó, cô chẳng bao giờ thấy lại họ nữa.

Khu của cô đã được cải tạo làm phòng phụ cho phẫu thuật cấp tính, song những định danh này đầu tiên chẳng có nghĩa gì cả.

Nó chẳng khác gì một trạm phân cấp thương binh ở tiền tuyến.

Các y tá trưởng và y tá cao cấp cũng được huy động tới để giúp đỡ, và năm sáu bác sĩ đang phẫu thuật những ca khẩn cấp nhất.

Có hai cha cố, một người ngồi nói chuyện với người nằm cạnh ông, người kia đang cầu nguyện cạnh một cơ thể dưới lớp chăn.

Tất cả các y tá đều đeo khẩu trang, và họ cùng các bác sĩ đã xắn hết tay áo lên.

Các y tá trưởng lanh lẹ di chuyển giữa các giường, tiêm - chắc là moóc phin - hay lắp kim truyền cho người bị thương đặng nối với những chai đựng máu và bình plasma màu vàng treo lủng lẳng như kỳ hoa dị thảo trên giá di động.

Các y tá thực tập đi lại trong khu với hàng chồng chai nước nóng.

Tiếng vang khe khẽ của những giọng nói, giọng y tế, tràn ngập trong khu, và thường xuyên bị xé toang bằng những tiếng rên rỉ gào thét đau đớn.

Tất cả các giường đều đã có người nằm, những người mới thì phải để lại trên cáng và đặt nằm giữa hai giường để tận dụng giá truyền máu.

Hai hộ lý sẵn sàng chờ chuyển người chết đi.

Ở rất nhiều giường, các y tá đang tháo băng bẩn ra.

Luôn là tùy họ quyết, hoặc làm nhẹ nhàng và chậm rãi, hoặc chắc chắn và nhanh chóng, cho mọi sự kết thúc ngay trong khoảnh khắc đau đớn duy nhất.

Khu này nghiêng về cách sau, chính vì vậy mới có vài tiếng gào thét.

Khắp nơi, một thứ hỗn hợp mùi - mùi chua chua nhầy nhầy của máu tươi, và cũng của quần áo bẩn, mồ hôi, dầu, thuốc tẩy uế, cồn y tế, và lơ lửng trên tất cả, mùi hoại tử.

Hai ca chuyển xuống phòng phẫu thuật hóa ra là phải cắt chi.

Bởi các y tá cấp cao đã chuyển đến các bệnh viện tiếp nhận những ca bị thương ở rất xa khuôn viên bệnh viện, và càng nhiều ca đổ đến, các y tá tốt nghiệp được ra lệnh thoải mái, và các thực tập viên trong khóa của Briony được giao những trách nhiệm mới.

Một y tá sai Briony tháo băng và rửa vết thương ở chân cho một hạ sĩ nằm trên cáng cạnh cửa.

Cô sẽ không băng lại mà chờ một bác sĩ đến khám xem.

Hạ sĩ nằm úp mặt xuống, và nhăn nhó khi cô quỳ xuống nói vào tai anh.

"Tôi hét thì đừng để ý," anh lẩm bẩm.

"Rửa sạch nó đi, Y tá.

Tôi không muốn mất nó."

Ống quần đã được cắt gọn ghẽ.

Lớp băng bên ngoài trông còn khá mới.

Cô bắt đầu tháo ra, và khi không thể nào luồn tay xuống dưới chân anh, cô dùng kéo cắt phéng lớp băng đi.

"Chúng nện tôi cú ấy chỗ cạnh cảng ở Dover."

Giờ chỉ còn lớp gạc, đen kịt vì máu đông, dọc theo vết thương chạy từ đầu gối đến mắt cá chân.

Bản thân cái chân thì không có lông và màu đen.

Cô sợ sẽ gặp điều tệ nhất và thở qua miệng.

"Này sao anh có thể bị một thứ như thế này chứ?"

Cô buộc mình nói vẻ hoạt bát.

"Đạn pháo tới, hất tôi bật ra sau lên cái hàng rào tôn múi."

"Rủi gớm.

Giờ anh biết là cái băng này phải tháo ra nhé."

Cô khẽ bóc một đầu lên và tay hạ sĩ nhăn mặt.

Anh ta nói, "Đếm cho tôi, kiểu một hai ba ấy, rồi giật thật nhanh vào."

Viên hạ sĩ siết chặt nắm tay lại.

Cô cầm đầu gạc đã tháo, túm chặt lấy bằng ngón trỏ và cái, rồi đột ngột giật một cái kéo phắt miếng gạc ra.

Một ký ức ấu thơ tràn đến với cô, khi nhìn thấy trong bữa tiệc sinh nhật chiều màn ảo thuật giật khăn bàn nổi tiếng.

Lớp băng tháo ra hoàn toàn, với tiếng rẹt chói tai như có dính keo.

Viên hạ sĩ nói, "Tôi nôn mất."

Cô đưa khay y tế.

Anh ta ọe, nhưng không nôn ra cái gì.

Những nếp da sau cổ anh lấm tấm mồ hôi.

Vết thương dài nửa mét, có lẽ hơn, và vòng tận sau đầu gối.

Những vết khâu vụng về không đều.

Đây đó một rìa da bị rách nhô lên cao hơn rìa kia, để lộ ra những lớp mỡ, và những chỗ da ép lại như những chùm nho màu đỏ nhỏ xíu bị đẩy dồn từ dưới chỗ rách lên.

Cô nói, "Nằm yên.

Tôi sẽ rửa xung quanh, nhưng sẽ không chạm vào."

Cô sẽ chưa chạm vào nó.

Cái chân đen và mềm như một quả chuối chín nẫu.

Cô nhúng bông vào cồn.

Sợ rằng da sẽ cứ thế sượt đi, cô rửa nhẹ nhàng, quanh bắp chân, trên vết thương chừng năm phân.

Rồi cô chùi lại, mạnh hơn một chút.

Da rất chắc, vì thế cô ấn bông xuống cho đến khi anh ta rụt người.

Cô bỏ tay ra và thấy khoảnh da trắng trẻo nhờ có cô lau sạch mới được lộ ra.

Miếng bông đen sì.

Không phải hoại tử.

Cô không kìm nổi thở hắt ra vì nhẹ nhõm.

Thậm chí cô còn thấy họng mình nghẹt lại.

Anh ta nói, "Sao thế, Y tá?

Cô có thể nói cho tôi biết."

Anh nhỏm dậy và cố nhìn qua vai.

Giọng anh nghe có vẻ sợ hãi.

Cô nuốt nước bọt rồi bình thản nói, "Tôi nghĩ nó đang lành lại khá ổn."

Cô lấy thêm bông.

Đó là dầu, hay dầu nhờn, trộn với cát biển, và nó không chịu để lau đi một cách dễ dàng.

Cô lau một khoảng mười lăm phân trở lại, chỉ ở vùng xung quanh vết thương.

Cô đang lau được vài phút thì một bàn tay đặt lên vai cô và một giọng phụ nữ vang lên trong tai cô, "Tốt lắm, Y tá Tallis, nhưng cô phải nhanh tay hơn."

Cô đang quỳ gối, cúi bên trên cáng, áp sát vào giường, và không dễ quay đầu lại.

Đến khi quay, cô chỉ thấy dáng hình quen thuộc đang xa dần.

Anh hạ sĩ đã ngủ mất khi Briony bắt đầu lau quanh những vết khâu.

Anh rụt người và nhúc nhích nhưng không tỉnh dậy hẳn.

Mệt mỏi là thuốc mê hữu hiệu.

Khi cuối cùng cô đứng thẳng lên, thu thập khay y tế và đống bông thấm bẩn, một bác sĩ đến và cô được cho đi.

Cô kỳ cọ tay và được giao cho một nhiệm vụ khác.

Với cô giờ mọi thứ đều rất khác khi cô đã đạt được một thành tựu nho nhỏ.

Cô được giao đi tiếp nước cho các binh lính đã ngất xỉu vì kiệt sức trong trận chiến.

Không để họ bị mất nước là điều rất quan trọng.

Nào uống nào, Binh nhì Carter, uống cái này rồi anh có thể ngủ tiếp.

Giờ ngồi dậy...

Cô cầm một ấm trà tráng men nhỏ màu trắng và cho họ mút nước từ vòi trong khi cô đỡ cái đầu bẩn thỉu của họ cho ngả vào tạp dề mình, như những em bé khổng lồ.

Cô lại đi cọ rửa, và lần này đi vòng quanh thu bô.

Cô chưa bao giờ thấy việc này ít khó chịu như thế.

Cô được sai đi chăm sóc một người lính bị thương ở bụng, anh ta cũng bị mất một phần mũi.

Cô có thể thấy xuyên qua chỗ sụn đầy máu vào thẳng miệng anh ta, cả mặt trên cái lưỡi rách nát nữa.

Nhiệm vụ của cô là lau mặt cho anh.

Lại một lần nữa, là dầu trộn với cát ăn vào da vì sức ép.

Anh vẫn tỉnh, cô đoán, nhưng nhắm chặt mắt lại.

Moóc phin đã khiến anh nằm yên, và anh khẽ xoay từ bên này sang bên kia, như thể đong đưa theo tiếng nhạc trong đầu.

Khi những đường nét trên mặt bắt đầu hiện ra sau lớp mặt nạ đen, cô nghĩ đến những cuốn sách bằng giấy bóng trống trơn mà hồi nhỏ cô dùng một cây bút chì cùn tô lên để làm cho bức tranh hiện ra.

Cô cũng tưởng tượng một trong những người này rất có thể là Robbie, cô sẽ băng vết thương cho anh mà không biết anh là ai, và dùng miếng bông nhẹ nhàng lau mặt anh cho đến khi những đường nét quen thuộc của anh hiện lên, và anh sẽ quay nhìn cô biết ơn, nhận ra cô là ai, và cầm tay cô, và im lặng siết chặt, tha thứ cho cô.

Rồi anh sẽ để cô ngả anh nằm xuống chìm vào giấc ngủ.

Nhiệm vụ của cô khó khăn lên.

Cô được cử cầm kẹp phoóc xếp và khay y tế đến một khu gần đó, tới giường một phi công bị mảnh trái phá găm vào chân.

Anh cảnh giác nhìn cô khi cô đặt dụng cụ xuống.

"Nếu phải lấy hết ra, tôi thà phẫu thuật còn hơn."

Tay cô run run.

Nhưng cô ngạc nhiên khi nó đến với cô lại dễ dàng đến vậy, cái giọng nhanh nhẹn của cô y tá không-vớ-va-vớ-vẩn.

Cô kéo mành lại quanh giường anh.

"Đừng ngốc nghếch.

Mình sẽ lấy hết ra trong nháy mắt thôi.

Sao lại bị thế này hở?"

Trong khi anh ta giải thích cho cô rằng nhiệm vụ của anh là xây dựng đường băng trên những cánh đồng miền Bắc nước Pháp, mắt anh vẫn nhìn cái kẹp phoóc xếp bằng thép mà cô lấy từ nồi hấp ra.

Nó nằm nhỏ nước trong khay y tế có cạnh xanh da trời.

"Bọn tôi cứ thế làm việc thôi, rồi Jerry đến và thả bom của hắn xuống.

Bọn tôi rút đi, bắt đầu lại từ đầu trên một cánh đồng khác, rồi lại Jerry và chúng tôi lại lùi ra sau.

Cho đến khi chúng tôi rơi xuống biển."

Cô mỉm cười và kéo chăn đắp của anh ra.

"Xem một cái thế nào nhé?"

Dầu và bụi bẩn đã được rửa sạch khỏi chân anh để lộ ra một khoảng dưới bắp đùi nơi những mảnh bom găm vào thịt.

Anh cúi tới, lo lắng nhìn cô.

Cô nói, "Nằm lại đi để tôi xem ở đó có gì."

"Chúng không làm phiền tôi chút nào đâu."

"Nào nằm ngửa ra."

Mảnh bom nằm khắp một vùng ba mươi phân.

Quanh mỗi chỗ rách trên da đều có những khoảng sưng và hơi viêm tay lên.

"Tôi không phiền gì đâu, Y tá.

Tôi sẽ rất sung sướng để chúng nguyên ở đó."

Anh cười không chút thuyết phục.

"Có thứ mà cho cháu chắt coi chớ."

"Chúng sẽ nhiễm trùng," cô nói.

"Và có thể lặn vào."

"Lặn à?"

"Vào trong thịt anh.

Vào máu anh và dẫn lên tim.

Hoặc não."

Anh ta có vẻ tin cô.

Anh nằm lại và thở dài nhìn trần nhà trên cao.

"Mẹ nó chứ.

Ý tôi là, xin cô thứ lỗi, Y tá.

Tôi nghĩ hôm nay mình chưa làm được."

"Đếm cùng nhau, nhé?"

Họ làm thế, đếm to.

Tám cái.

Cô nhẹ nhàng đẩy vào ngực anh.

"Chúng phải được lấy ra ngoài.

Giờ nằm lại đi.

Tôi sẽ làm càng nhanh càng tốt.

Nếu thấy có ích, cứ túm lấy thanh đầu giường phía sau anh ấy."

Chân anh căng ra và run lẩy bẩy khi cô cầm cái kẹp lên.

"Đừng nín thở nhé.

Cố thư giãn."

Anh phì ra một tiếng khịt mũi, giễu cợt.

"Thư giãn!"

Cô dùng tay trái cầm chặt tay phải.

Sẽ dễ hơn cho cô nếu ngồi xuống mép giường, nhưng thế là không chuyên nghiệp và bị cấm tuyệt đối.

Khi cô đặt tay trái lên một phần chân không bị thương của anh, anh rụt lại.

Cô chọn mẩu bé nhất nằm ở ngoài rìa đám mảnh đạn.

Phần lòi ra là một mũi hình tam giác xiên.

Cô nhíp lấy nó, dừng lại một giây, rồi kéo ra chắc chắn, dứt khoát, nhưng không giật mạnh.

"Đù má!"

Cái từ vô tình buột ra bật nảy khắp trong khu và dường như tự lặp lại vài lần.

Sau lớp mành chợt im lặng, hay ít nhất là tiếng động giảm đi.

Briony vẫn giữ mảnh kim loại dính đầy máu giữa đầu kẹp.

Nó dài chừng hai phân và thuôn thành một đầu nhọn.

Những bước chân cả quyết đang tiến đến gần.

Cô thả mảnh đạn xuống khay y tế đúng lúc Y tá trưởng Drummond kéo tấm mành qua một bên.

Bà tuyệt đối bình tĩnh khi liếc nhìn chân giường để biết tên người này và, có lẽ, tình trạng của anh ta, rồi bà đứng cạnh anh ta và đăm đăm nhìn vào mặt anh.

"Sao anh dám," Y tá trưởng khẽ nói.

Và bắt đầu lại, "Sao anh dám ăn nói như thế trước mặt y tá của tôi."

"Tôi xin lỗi bà, Y tá trưởng.

Buột mồm bay ra thôi."

Y tá trưởng Drummond khinh khỉnh nhìn xuống cái khay.

"So sánh với những ca chúng tôi đã tiếp nhận trong vài giờ qua, Phi công Young, vết thương của anh chả là cái gì cả.

Vì thế anh hãy tự coi mình là may mắn đi.

Và anh hãy thể hiện chút ít lòng dũng cảm xứng đáng với bộ quân phục của anh.

Làm tiếp đi, Y tá Tallis."

Trong khoảng im lặng sau khi bà đi khỏi, Briony rạng rỡ nói, "Mình tiếp tục nhé?

Chỉ còn bảy miếng thôi.

Khi nào xong, tôi sẽ mang cho anh một cóc Brandy."

Anh đổ mồ hôi, toàn thân run rẩy, và những khóp ngón tay trắng bợt ra quanh thanh đầu giường bằng sắt, nhưng anh không phát ra một tiếng nào khi cô tiếp tục rút các mẩu đạn ra.

"Anh biết đấy, anh có thể hét lên, nếu muốn."

Nhưng anh không muốn Y tá trưởng Drummond đến thăm lần thứ hai, và Briony hiểu.

Cô để mảnh lớn nhất lại cuối cùng.

Nó không ra luôn trong một lần rút.

Anh vùng vẫy trên giường, và rít qua hàm răng nghiến chặt.

Lần thứ hai, mảnh đạn lòi ra khỏi thịt anh năm phân.

Cô giật được nó ra trọn vẹn trong lần thứ ba, và giơ lên cho anh xem, một mẩu kim loại lởm chởm đầu nhọn mười phân đẫm máu.

Anh trân trối nhìn nó kinh ngạc.

"Rửa nó đi, Y tá.

Tôi sẽ mang thằng này về nhà."

Rồi anh gục đầu vào gối và bắt đầu nức nở.

Có thể là do từ nhà, cũng có thể là do chỗ đau.

Cô lướt đi lấy Brandy cho anh, và tạt vào phòng giặt rửa để nôn.

Trong một khoảng thời gian dài cô đi tháo băng, rửa và băng bó những vết thương nhẹ hơn.

Rồi cái mệnh lệnh mà cô sợ hãi đổ đến.

"Tôi muốn cô đi băng mặt Binh nhì Latimer."

Trước đó cô đã cố cho anh ăn bằng một cái muỗng trà đút vào phần còn lại của miệng anh, cố tránh cho anh sự nhục nhã khi mọi thứ cứ nhểu ra khỏi miệng.

Anh hất tay cô đi.

Chỉ nuốt thôi cũng đã là việc rất hành xác.

Một nửa khuôn mặt anh đã bị bắn tan.

Điều cô sợ, còn hơn cả thay băng, là ánh mắt trách móc trong đôi mắt nâu to kia của anh.

Các người đã làm gì tôi thế này?

Hình thức giao tiếp của anh là một tiếng aaa khẽ khàng từ dưới họng, một tiếng rên rỉ thất vọng.

"Chúng tôi sẽ chữa cho anh rất nhanh thôi", cô cứ liên tục lặp đi lặp lại, và không thể nghĩ ra điều gì khác.

Và giờ, tiến đến giường của anh trên tay cầm các thứ, cô hồ hởi nói, "Xin chào, Binh nhì Latimer.

Lại là tôi đây."

Anh nhìn cô không nhận ra.

Cô nói khi tháo cái băng ghim chặt trên đỉnh đầu anh, "Sẽ ổn cả thôi.

Một hai tuần nữa thôi là anh sẽ nghênh ngang bước đi ngoài kia, rồi anh thấy.

Và thế là nhiều hơn những gì chúng tôi có thể nói với rất nhiều người ở đây rồi đấy."

Đó là một điều an ủi.

Luôn luôn có ai đó nặng hơn.

Nửa tiếng trước họ đã phẫu thuật cắt bỏ tứ chi của một đại úy từ East Surrey - trung đoàn mà trai tráng làng cô đã tham gia.

Và rồi còn có cả người chết.

Dùng một cái kẹp phẫu thuật, cô bắt đầu cẩn thận kéo dải băng đã đông cứng lại vì máu ra khỏi lỗ hổng trên nửa mặt anh.

Khi phần cuối cùng kéo xong, anh chỉ còn hơi giông giống phần đầu không có mặt trước của mô hình người dùng trong lớp phẫu thuật.

Mặt anh đã nát bấy, đỏ thẫm và sống sít.

Cô có thể nhìn xuyên qua gò má bị mất của anh đến tận răng hàm trên và dưới, và cái lưỡi sáng bóng, dài một cách gớm ghiếc.

Lên trên một chút, nơi cô không dám đưa mắt nhìn, là những chỗ thịt bị bóc trần ra quanh hố mắt.

Riêng tư quá, và lẽ ra không bao giờ để người khác nhìn vào.

Binh nhì Latimer đã trở thành một con quái vật, và hẳn anh cũng đã đoán được như vậy.

Trước đây có cô gái nào yêu anh chưa?

Liệu cô ấy có thể tiếp tục không?

"Chúng tôi sẽ chữa cho anh sớm thôi," cô lại nói dối.

Cô bắt đầu băng mặt anh lại bằng một miếng gạc sạch thấm nước khử trùng vôi clorua.

Khi cô gài những cái ghim lên, anh phát ra một tiếng buồn bã.

"Tôi mang cho anh thuốc giảm đau nhé?"

Anh lắc đầu và lại phát ra tiếng đó.

"Anh khó chịu à?"

Không.

"Nước?"

Một cái gật đầu.

Chỉ còn lại một góc nhỏ môi anh.

Cô cho cái vòi ấm vào miệng anh và dốc.

Mỗi lần nuốt anh lại nhăn mặt, mà thế thì lại khiến vùng xung quanh chỗ thịt bị mất trên mặt đau đớn.

Anh không thể chịu đựng thêm nữa, nhưng khi cô bỏ ấm nước ra, anh giơ tay lên về phía cổ tay cô.

Anh phải uống thêm.

Thà đau hơn khát.

Và cứ như thế trong vài phút - anh không chịu được đau, anh cần phải uống nước.

Cô muốn ở lại với anh, nhưng lúc nào cũng có những việc khác, luôn là một y tá yêu cầu giúp hay một người lính gọi từ giường mình.

Cô được tạm rời khỏi các khu khi một người tỉnh thuốc mê nôn lên đùi cô và cô phải đi tìm một cái tạp dề sạch.

Cô ngạc nhiên khi từ cửa sổ hành lang thấy ngoài trời tối đen.

Năm tiếng đã trôi qua kể từ lúc họ từ công viên quay về.

Cô đang đứng cạnh phòng để đồ giặt mà buộc tạp dề thì Y tá trưởng Drummond xuất hiện.

Thật khó nói điều gì đã thay đổi - phong cách vẫn lãnh đạm kiệm lời, những mệnh lệnh không thể phản đôi.

Có lẽ bên dưới sự kiềm ché xúc cảm kia là một sự lân mẫn và thấu hiểu trong nghịch cảnh.

"Y tá, cô sẽ đi giúp gắn túi Bunyan cho chân và tay Hạ sĩ MacIntyre.

Cô sẽ dùng axit tanic để rửa phần còn lại cơ thể anh ta.

Nếu có khó khăn gì, đến gặp thẳng tôi."

Bà quay đi ra lệnh cho một y tá khác.

Briony đã thấy lúc họ đưa hạ sĩ vào.

Anh là một trong số rất nhiều người bị bỏng dầu nặng trên một cái phà đang chìm ở Dunkirk.

Anh được một tàu trong vùng vớt lên khỏi nước.

Dầu sền sệt bám vào da và cháy thấu vào mô.

Cái họ đã nâng lên giường là phế tích cháy rụi của một con người.

Cô đã nghĩ anh không bao giờ sống sót nổi.

Tìm ven để tiêm moóc phin cho anh không dễ.

Trong hai giờ qua có lúc cô đã giúp hai y tá khác nâng anh ngồi lên bô và anh đã gào lên khi tay họ vừa chạm vào anh.

Túi Bunyan là những túi lớn bằng giấy bóng kính cel-lophane.

Cái chân bị thương bồng bềnh bên trong, xung quanh là dung dịch nước muối phải ở chính xác nhiệt độ chuẩn.

Sai lệch một độ là không thể chấp nhận được.

Khi Briony tới, một y tá thực tập mang lò Primus trên xe đẩy đang chuẩn bị nước mới.

Túi phải được thay thường xuyên.

Hạ sĩ MacIntyre nằm ngửa dưới một cái khung chống giường vì anh không thể chịu nổi khi ga chạm vào da.

Anh rên rỉ một cách thảm hại xin nước.

Các ca bỏng luôn bị thiếu nước trầm trọng.

Môi anh cũng bị bỏng nặng, sưng phồng lên, còn lưỡi thì rộp nặng đến nỗi không uống được nước bằng miệng.

Bình nước muối của anh đã bị tuột ra.

Kim không nằm yên được một chỗ vì mạch đã nát hết.

Một y tá tốt nghiệp cô chưa từng gặp trước đây đang gắn một túi mới lên kệ.

Briony chuẩn bị axit tanic trong một cái khay và lấy cuộn bông.

Cô nghĩ sẽ bắt đầu từ chân anh hạ sĩ để không làm vướng víu chị y tá đang bắt đầu sờ cánh tay đen sì của anh, tìm ven.

Nhưng y tá đó bảo, "Ai bảo cô đến đây?"

"Y tá trưởng Drummond."

Y tá nói ngắn gọn, và không nhìn lên trong lúc đang tìm ven.

"Anh ta bị đau quá.

Tôi muốn truyền nước cho anh ta xong rồi mới bắt đầu chữa trị.

Đi tìm việc gì khác mà làm đi."

Briony làm theo.

Cô không biết bao lâu sau - có lẽ vào khoảng một hai giờ sáng khi cô được sai đi lấy khăn mới, cô mới quay lại.

Cô thấy cô y tá đó đứng cạnh lối vào phòng trực ban, khóc rấm rứt.

Hạ sĩ MacIntyre đã chết.

Giường của anh đã được dùng cho một ca khác.

Y tá thực tập và sinh viên năm thứ hai làm việc mười hai giờ không nghỉ.

Những thực tập sinh và các y tá tốt nghiệp khác tiếp tục làm việc, và không ai nhớ mình đã làm việc bao lâu trong các khu.

Tất cả những huấn luyện mà cô đã qua, sau này Briony cảm thấy, là một sự chuẩn bị hữu ích, đặc biệt là chuyện vâng lệnh, nhưng mọi thứ cô hiểu về nghề y tá cô học được là trong đêm hôm đó.

Cô chưa bao giờ thấy đàn ông khóc trước đây.

Thoạt đầu nó khiến cô kinh ngạc, và trong một giờ cô đã quen.

Mặt khác, sự khắc kỷ của vài người lính khiến cô ngạc nhiên, thậm chí ghê tởm.

Những người bị cắt cụt tay chân dường như buộc phải nói những câu đùa khủng khiếp.

Giờ tôi phải đá bu nhà tôi bằng cái gì đây?

Mọi bí mật của cơ thể bị phơi bày ra - xương lòi qua thịt, những cái nhìn mạo phạm vào ruột hay dây thần kinh thị giác.

Từ góc nhìn mới mẻ và riêng tư này, cô học được một điều giản dị, hiển nhiên mà cô đã luôn biết, và ai ai cũng biết: rằng con người, bất chấp mọi định nghĩa khác, là một sản phẩm vật chất, dễ dàng bị xé nát, không dễ dàng vá lại.

Cô đã tiếp cận chiến trường hơn hết trong cả cuộc đời mình, vì mỗi ca cô tham gia đều có những yếu tố căn bản của nó - máu, dầu, cát, bùn, nước biển, đạn, mảnh bom, dầu máy, hay mùi thuốc nổ, hay bộ quần áo chiến trận sũng mồ hôi, các túi đựng thức ăn ôi thiu cùng với những vụn chảy mềm của thanh Amo.

Thường thường, khi quay trở lại bồn rửa có vòi cao và bánh xà phòng, chính cát biển là thứ cô đang cọ đi giữa những ngón tay mình.

Cô và các y tá thực tập cùng nhóm chỉ nhận ra nhau là y tá, không phải bạn bè: cô hầu như không để ý thấy trong số những cô gái giúp đưa Hạ sĩ MacIntyre lên bô đặt trên giường có cả Fiona.

Thỉnh thoảng, khi một người lính Briony đang chăm sóc bị đau đớn dữ dội, cô chợt cảm thấy một sự dịu dàng phi con người tách cô khỏi nỗi đau đớn, để cô có thể làm việc hiệu quả hơn và không kinh sợ.

Đó là khi cô hiểu được nghề y tá nghĩa là gì, và cô khao khát được tốt nghiệp, được có huy hiệu đó.

Cô hoàn toàn hình dung được mình có thể từ bỏ các tham vọng viết lách và tận hiến đời mình để được đáp đền lại bằng những giây phút tình yêu hoan hỉ, không phân biệt này.

Lúc ba rưỡi sáng, cô được bảo đi gặp Y tá trưởng Drummond.

Bà đang ở một mình, dọn giường.

Trước đó, Briony đã gặp bà trong phòng giặt rửa.

Bà dường như có mặt khắp mọi nơi, làm mọi loại công việc.

Tự động, Briony bắt đầu giúp bà.

Y tá trưởng nói, "Hình như tôi nhớ cô có biết một chút tiếng Pháp."

"Chỉ là tiếng Pháp học ở trường thôi, thưa Y tá trưởng."

Bà gật đầu về phía cuối khu.

"Cô thấy người lính ngồi kia, ở cuối dãy không?

Phẫu thuật cấp tính, nhưng không cần phải đeo khẩu trang đâu.

Cô tìm một cái ghế, đến ngồi với cậu ấy.

Nắm tay cậu ấy và nói chuyện với cậu ấy."

Briony không thể nén được cảm giác bị xúc phạm.

"Nhưng tôi chưa mệt, thưa Y tá trưởng.

Thực tình đấy, tôi chưa mệt."

"Cô sẽ làm theo lời tôi."

"Vâng, thưa Y tá trưởng."

Trông cậu như một thằng nhóc mười lăm, nhưng nhìn bảng theo dõi của cậu thì cô biết cậu bằng tuổi cô, mười tám.

Cậu đang ngồi, được mấy cái gối đỡ lên, nhìn mọi người đi lại quanh mình với vẻ băn khoăn lơ đãng con trẻ.

Thật khó mà nghĩ cậu là một người lính.

Khuôn mặt cậu thanh tú, xinh xắn, lông mày đen, mắt xanh lục, và một cái miệng đầy tròn mềm mại.

Mặt cậu rất trắng và có một độ sáng bất thường, đôi mắt thì sáng rực một vẻ không khỏe mạnh.

Đầu cậu quấn đầy băng.

Khi cô mang ghế tới và ngồi xuống cậu mỉm cười như thể đã đợi cô, và khi cô cầm tay cậu, cậu không có vẻ ngạc nhiên.

"Te voilà enfin."

Nguyên âm tiếng Pháp có độ bật rất du dương, nhưng cô chỉ vừa đủ hiểu cậu.

Tay cậu lạnh và nhớp khi cô sờ vào.

Cô nói, "Chị bảo tôi đến chuyện vãn với anh."

Không biết từ, cô dịch từ "chị" theo nghĩa đen.

"Chị em rất tốt bụng."

Rồi cậu hếch đầu lên nói thêm, "Mà chị ấy lúc nào chả thế.

Mọi thứ với chị ấy ổn chứ?

Độ này chị ấy làm gì?"

Trong mắt cậu có cả một sự thân mật và quyến rũ, sự nhiệt thành trai trẻ muốn cuốn cô vào câu chuyện, đến nỗi cô chỉ biết thuận theo.

"Chị ấy cũng là y tá."

"Đương nhiên rồi.

Em đã kể cho tôi rồi.

Chị ấy vẫn hạnh phúc chứ?

Chị ấy lấy cái anh mà chị ấy yêu ghê gớm chưa?

Em biết không, tôi không nhớ nổi tên anh đó.

Tôi hy vọng em sẽ tha thứ cho tôi.

Vì bị thương mà trí nhớ tôi kém quá.

Nhưng họ bảo là nó sẽ sớm quay lại thôi.

Tên anh ấy là gì nhỉ?"

"Robbie.

Nhưng..."

"Giờ thì họ lấy nhau rồi và hạnh phúc chứ?"

"Ừm, tôi hy vọng họ sẽ sớm lấy nhau."

"Tôi rất mừng cho chị ấy."

"Anh vẫn chưa nói cho tôi biết tên của anh."

"Luc.

Luc Comet.

Còn em?"

Cô ngập ngừng.

"Tallis."

"Tallis.

Tên đẹp quá."

Cách cậu phát âm nó, đúng là đẹp thật.

Cậu không nhìn mặt cô nữa mà nhìn quanh khu, chầm chậm quay đầu, kinh ngạc trong im lặng.

Rồi cậu nhắm mắt lại và bắt đầu bên tục nói, khẽ khàng trong họng.

Từ vựng của cô không đủ tốt để hiểu được cậu một cách dễ dàng.

Cô nghe được, "Em đếm nó rất chậm, nắm trong tay, trên các ngón tay... khăn quàng của mẹ anh... anh chọn màu và anh sẽ phải sống với nó."

Cậu rơi vào im lặng trong vài phút.

Tay cậu siết chặt tay cô hơn.

Khi nói lại, mắt cậu vẫn nhắm.

"Em có muốn biết một điều kỳ quặc không?

Đây là lần đầu tiên tôi đến Paris."

"Luc, anh đang ở London.

Chẳng mấy chốc chúng tôi sẽ cho anh về nhà."

"Họ bảo rằng người dân ở đây lạnh lùng và không thân thiện, nhưng ngược lại thì có.

Họ rất tử tế.

Và em rất tử tế, vì đã đến gặp tôi lần nữa."

Trong một lúc cô nghĩ có lẽ cậu đã ngủ rồi.

Lần đầu tiên được ngồi sau hàng giờ liền, cô cảm thấy cơn mệt mỏi của chính mình tụ sau hốc mắt.

Rồi cậu nhìn quanh mình, đầu vẫn quay chậm chạp như lúc nãy, rồi cậu nhìn cô nói, "Đương nhiên, em là cô gái nói giọng Anh đó."

Cô nói, "Kể tôi nghe anh làm gì trước chiến tranh.

Anh sống ở đâu?

Anh có nhớ được không?"

"Em có nhớ lễ Phục sinh năm đó không, khi em đến Millau?"

Yếu ớt, cậu lắc tay cô từ bên này sang bên kia khi nói, như thể để khuấy động trí nhớ của cô, và đôi mắt xanh lục lướt nhìn mặt cô hy vọng.

Cô nghĩ lừa dối cậu là không phải.

"Tôi chưa bao giờ đến Millau..."

"Em có nhớ lần đầu tiên đến cửa hàng nhà tôi không?"

Cô kéo ghế lại gần giường.

Khuôn mặt bóng nhẫy nhợt nhạt của cậu rạng lên và phập phồng trước mắt cô.

"Luc, anh nghe tôi nói này."

"Tôi nghĩ mẹ tôi đã bán hàng cho em.

Hay có lẽ là một cô em gái của tôi.

Tôi đang làm việc với cha bên lò sau nhà.

Tôi nghe giọng em và đến nhìn em thử..."

"Tôi muốn nói cho anh biết anh đang ở đâu.

Anh không ở Paris..."

"Rồi hôm sau em quay trở lại, lần này thì tôi ở đó và em nói..."

"Anh sẽ ngủ rất nhanh thôi.

Mai tôi sẽ đến gặp anh, tôi hứa."

Luc đưa tay lên đầu và cau mặt.

Anh nói thấp giọng, "Tôi muốn nhờ em một việc nhỏ, Tallis."

"Dĩ nhiên được."

"Băng này chật quá.

Em nới ra cho tôi một chút được không?"

Cô đứng lên ngó xuống đầu cậu.

Băng thắt thành nơ để tháo ra cho dễ.

Khi cô nhẹ nhàng kéo hai đầu dây ra cậu nói, "Em út của tôi, Anne, em có nhớ nó không?

Nó là đứa xinh gái nhất Millau.

Nó thi đậu kỳ thi chuẩn âm nhạc bằng một khúc nhạc ngắn tí của Debussy, đầy ánh sáng và vui nhộn.

Ít nhất đấy là Anne nói thế.

Nó cứ râm ran trong đầu tôi.

Có lẽ em biết."

Cậu ngâm một vài nốt bất chừng.

Cô đang tháo lớp gạc ra.

"Không ai biết nó hưởng tài năng đó ở đâu.

Toàn thể gia đình tôi đều tuyệt đối không có khả năng.

Khi chơi đàn lưng nó thẳng tắp.

Nó không bao giờ cười cho đến khi chơi hết.

Đấy dễ chịu hơn rồi đấy.

Tôi nghĩ chính Anne là người bán hàng cho em khi lần đầu em đến cửa hàng."

Cô không định bỏ gạc ra, nhưng khi nới lỏng nó, lớp băng vô trùng dày cộp bên dưới tuột ra, kéo theo một phần băng đầy máu.

Một bên đầu Luc đã mất.

Tóc cạo nhẵn một khoảng rộng xung quanh phần sọ không còn.

Dưới mép xương lởm chởm là một mảng não lỗ rỗ đỏ thẫm, rộng khoảng chục phân, chạy từ đỉnh đầu đến tận chóp tai.

Cô bắt được miếng băng trước khi nó rơi xuống sàn, và cô nắm nó một lúc trong khi đợi cơn buồn nôn qua đi.

Chỉ đến lúc này cô mới nhận ra mình đã làm một việc ngu ngốc và không chuyên nghiệp đến mức nào.

Luc ngồi im lặng, đợi cô.

Cô nhìn ra khu bệnh.

Không ai để ý.

Cô thay băng vô trùng, cố định lại gạc và buộc lại nút thắt.

Khi ngồi xuống lại, cô tìm tay cậu, và cố làm mình vững vàng bằng cái siết tay lạnh nhớp nháp.

Luc lại tiếp tục nói.

"Tôi không hút.

Tôi hứa đưa khẩu phần mình cho Jeannot...

Nhìn kìa, nó ở trên bàn cả đấy... giờ dưới mấy bông hoa... con thỏ không nghe được anh đâu, ngốc ạ..."

Rồi lòi lẽ cuồn cuộn trào ra, và cô không hiểu được cậu nữa.

Sau đó cô nghe được rằng cậu nhắc đến một ông thầy hiệu trưởng cực kỳ nghiêm khắc, hay có lẽ là một sĩ quan quân đội.

Cuối cùng cậu im lặng.

Cô lau mồ hôi trên mặt cậu bằng một cái khăn ướt rồi đợi.

Khi mở mắt ra, cậu tiếp tục câu chuyện của họ như thể chưa hề bị gián đoạn.

"Em thấy bánh mì dài và bánh mì mỏng của chúng tôi thế nào?"

"Ngon lắm."

"Vì thế ngày nào em cũng đến."

"Vâng."

Cậu dừng lại ngẫm nghĩ.

Rồi cậu thận trọng nói, nhắc đến một vấn đề tế nhị, "Thế bánh sừng bò của nhà tôi?"

"Ngon nhất Millau."

Cậu mỉm cười.

Khi cậu nói, sau cổ họng cậu có một tiếng rin rít mà cả hai đều lờ đi.

"Công thức đặc biệt của cha tôi đấy.

Tất cả đều phụ thuộc vào chất lượng bơ."

Cậu mê mẩn nhìn cô.

Cậu úp tay còn lại lên tay cô.

Cậu nói, "Em biết là mẹ anh rất quý em đấy."

"Thật à?"

"Bà nói về em suốt.

Bà nghĩ chúng mình nên lấy nhau vào hè tới."

Cô đáp trả cái nhìn của cậu.

Cô đã hiểu tại sao mình được bảo đến đây.

Cậu nuốt khó khăn, và từng giọt mồ hôi đang chảy trên lông mày cậu, dọc miếng băng và môi trên của cậu.

Cô lau mồ hôi đi, và toan lấy nước cho cậu, thì cậu nói,

"Em có yêu anh không?"

Cô ngập ngừng.

"Có."

Không còn cách trả lời nào khác.

Hơn nữa, vào giây phút đó, cô có yêu.

Cậu là một cậu bé đáng yêu ở rất xa gia đình và sắp chết.

Cô cho cậu uống ít nước.

Khi cô lau mặt cậu lần nữa cậu nói, "Em đến Causse de Larzac lần nào chưa?"

"Chưa.

Em chưa tới đó bao giờ."

Nhưng cậu không bảo sẽ đưa cô đi.

Cậu chỉ úp mặt vào gối, và rồi chốc sau lại lẩm bẩm những lòi không hiểu được.

Tay cậu vẫn nắm chặt tay cô như thể cậu ý thức được sự hiện diện của cô.

Khi tỉnh táo trở lại, cậu quay đầu về phía cô.

"Em sẽ không đi chứ."

"Đương nhiên không rồi.

Em sẽ ở lại với anh."

"Tallis..."

Vẫn mỉm cười, cậu nhắm hờ mắt lại.

Đột nhiên, cậu bật thẳng dậy như thể có một dòng điện đã chạy qua tứ chi.

Cậu kinh ngạc nhìn cô, miệng há hốc ra.

Rồi cậu nhoài về phía trước, như thể nhào tới cô.

Cô nhảy bật khỏi ghế để ngăn cậu khỏi bổ nhào xuống sàn.

Tay cậu vẫn nắm tay cô, còn tay kia thì vòng quanh cổ cô.

Trán cậu tì vào vai cô, má cậu tì lên má cô.

Cô sợ tấm băng vô trùng sẽ tuột khỏi đầu cậu.

Cô nghĩ mình sẽ không đủ sức đỡ cậu hay không tài nào nhìn nổi vào vết thưong của cậu lần nữa.

Tiếng rin rít từ sâu trong cổ họng cậu lại vang vọng trong tai cô.

Loạng choạng, cô dìu cậu lên lại giường và cho cậu nằm ngả ra gối.

"Tên là Briony," cô nói, để chỉ mình cậu có thể nghe thấy.

Mắt cậu mở to như kinh ngạc và làn da nhợt nhạt của cậu sáng rực lên dưới ánh đèn điện.

Cô dịch lại gần hơn và đặt môi lên tai cậu.

Đằng sau cô có một ai đó, và rồi một cánh tay đặt lên vai cô.

"Không phải là Tallis.

Anh hãy gọi em là Briony," cô thì thầm, khi cánh tay giơ ra chạm vào tay cô, và gỡ những ngón tay cô ra khỏi tay cậu bé.

"Giờ đứng dậy đi, Y tá Tallis."

Y tá trưởng Drummond nắm lấy khuỷu tay cô và giúp cô đứng dậy.

Gò má của bà tươi tắn, và trên gò má mảng da hồng và trắng giao nhau thành một góc thẳng tắp.

Phía bên kia giường, một y tá đang kéo ga trùm mặt Luc Comet.

Bặm môi lại, y tá vuốt thẳng cổ áo Briony.

"Cô gái ngoan lắm.

Giờ thì đi rửa máu dính trên mặt đi.

Chúng ta không muốn các bệnh nhân khác lo sợ."

Cô làm như được bảo và vào phòng vệ sinh rửa mặt bằng nước lạnh, vài phút sau quay lại làm nhiệm vụ trong khu.

Lúc bốn giờ ba mươi sáng các y tá thực tập được cho về phòng ngủ, và được lệnh có mặt lúc mười một giờ.

Briony đi cùng Fiona.

Không ai nói gì, và khi khoác tay nhau dường như họ đang nối tiếp, sau cả một cuộc đời đầy trải nghiệm, chuyến tản bộ qua cầu Westminster.

Họ không thể cất tiếng miêu tả những gì đã xảy ra với mình ở khu trong thời gian qua hay nó đã làm họ đổi thay thế nào.

Còn có thể tiếp tục đi trên hành lang trống theo sau những cô gái khác đã là đủ lắm rồi.

Sau khi chúc ngủ ngon và bước vào căn phòng bé tí của mình, Briony thấy một lá thư trên sàn.

Cô không nhận ra nét chữ viết tay trên phong bì.

Một y tá hẳn đã nhận thư từ chỗ phòng thường trực và đút vào phòng qua khe cửa.

Không mở thư ngay lập tức, cô cởi quần áo và chuẩn bị đi ngủ.

Cô ngồi trên giường trong bộ đồ ngủ, thư để trên đùi mà nghĩ đến cậu bé.

Góc trời trong khung cửa sổ đã chuyển sang màu trắng.

Cô vẫn nghe được giọng nói của cậu, cách cậu gọi Tallis, biến nó thành một cái tên con gái.

Cô tưởng tượng ra một tương lai phi khả thể - cửa hàng bánh mì trên con phố nhỏ đầy bóng râm nhung nhúc những con mèo giơ xương, tiếng đàn dương cầm từ cửa sổ tầng trên, các cô chị em chồng rúc ra rúc rích trêu chọc cái giọng lơ lớ của cô, và Luc Comet yêu cô nồng nhiệt.

Lẽ ra cô có thể khóc thương anh, và khóc thương gia đình anh ở Millau đang chờ ngóng tin.

Nhưng cô không thể cảm thấy gì cả.

Đầu cô trống rỗng.

Cô ngồi đến gần nửa tiếng đồng hồ, đầu óc quay cuồng, rồi cuối cùng, mệt mỏi mà vẫn chưa buồn ngủ, cô buộc tóc lại bằng sợi ruy băng vẫn hay dùng, chui xuống dưới chăn và mở thư ra.

Cô Tallis thân mến, Cảm ơn cô đã gửi tập Hai hình hài cạnh Đài phun, và xin chấp nhận lời xin lỗi của chúng tôi vì đã trả lời chậm trễ thế này.

Hẳn cô đã biết, chúng tôi thường không có thói quen xuất bản trọn vẹn một truyện dài của một tác giả vô danh, hay ngay cả với một nhà văn đã nổi tiếng đi nữa.

Tuy nhiên, chúng tôi đã thực sự đọc với con mắt cầu thị nhằm tìm một đoạn trích để đăng.

Đáng tiếc là, chúng tôi không thể đăng phần nào cả.

Tôi gửi lại bản đánh máy trong một phong bì khác.

Mặc dù thế, chúng tôi thấy mình (thoạt đầu đi ngược lại tiếng nói của lý trí, vì còn rất nhiều việc phải làm trong văn phòng này) đọc toàn bộ truyện với một sự thích thú lớn.

Mặc dù không thể đề nghị xuất bản phần nào, chúng tôi nghĩ cô nên biết rằng trong phòng này có những người khác cũng như chính tôi rất lấy làm quan tâm những thứ cô sẽ viết trong tương lai.

Chúng tôi không lấy độ tuổi trung bình của cộng tác viên ra để tự làm cao giá, mà rất thích thú được xuất bản các cây viết trẻ có triển vọng.

Chúng tôi rất mong được đọc bất cứ thứ gì cô viết, đặc biệt là nếu cô có viết một hai truyện ngắn.

Chúng tôi thấy Hai hình hài cạnh Đài phun đủ lôi cuốn để đọc hết sức chú tâm.

Tôi không nói điều này một cách hời hợt.

Chúng tôi loại bỏ rất nhiều bản thảo gửi đến, một vài trong số đó là của các nhà văn danh tiếng.

Có một vài hình ảnh đẹp - tôi thích "cỏ dài bị ánh sáng vàng rộm như bờm sư tử của ngày hè rực nóng rình rập" - và cô vừa biết cách bắt được dòng suy nghĩ, vừa mô tả nó với sự khác biệt tế vi để cố tạo nên cá tính riêng.

Đã thâu tóm được một cái gì đó khác thường và mơ hồ.

Tuy nhiên, chúng tôi tự hỏi liệu nó có chịu ảnh hưởng kỹ thuật của bà Woolf hơi nhiều quá mức không.

Khoảnh khắc hiện tại kết tinh dĩ nhiên bản thân nó là một chủ đề quý báu, đặc biệt trong thơ ca; nó cho tác giả bộc lộ tài năng, lặn sâu xuống những huyền bí của sự tri kiến, miêu tả mô hình kết tinh của quá trình suy nghĩ, cho phép những thất thường và bất khả đoán của một cá thể riêng tư được phơi bày và vân vân.

Ai có thể nghi ngờ giá trị của thử nghiệm này?

Tuy nhiên, kiểu viết như vậy có thể trở nên quý giá khi không có cảm giác về chuyển động tiến tới.

Nói cách khác, sự chú ý của chúng tôi sẽ được duy trì hữu hiệu hơn nữa nếu có một luồng trần thuật giản dị làm lực kéo ngầm cho câu chuyện.

Sự phát triển là cần thiết.

Vì thế, thí dụ như, đứa trẻ đứng ở cửa sổ, trong câu chuyện chúng ta đọc đầu tiên - việc em không thấu hiểu ở mức căn bản tình huống hiện tại đã được nắm bắt một cách tinh tế.

Quyết tâm ngay tiếp đó của em, và cả cảm giác mình gia nhập vào những huyền bí của thế giới người lớn, cũng vậy.

Chúng ta bắt gặp cô bé này ở ngay giai đoạn bình minh của tồn tại cá nhân.

Người đọc bị lôi cuốn vào sự cương quyết của em trong việc từ bỏ truyện cổ tích và truyện dân gian tự sáng tác và cả những vở kịch em đang viết (nếu chúng tôi được thưởng thức một trong số đó thì sẽ tuyệt vời hơn rất nhiều) nhưng khi đổ thứ nước dân gian đi rất có thể em đã đổ bỏ luôn cả đứa bé sơ sinh là kỹ thuật hư cấu.

Mặc dù có bao nhiêu nhịp văn uyển chuyển và quan sát tinh tế, sau một mở đâu đầy hứa hẹn đến vậy lại không có gì xảy ra nhiều cho lắm.

Một chàng trai và cô gái cạnh đài phun, giữa họ rõ ràng là cả một trời xúc cảm nhằng nhịt, giành nhau một cái bình đời nhà Minh và làm vỡ. (Không chỉ một người trong chúng tôi ở đây nghĩ liệu một cái bình đời nhà Minh thì có quá quý giá không thể mang ra ngoài không?

Bình Sevres hay Nymphenburg thì có hợp với mục đích của cô hơn không?) Cô gái mặc nguyên cả quần áo lao xuống đài phun để nhặt lại các mảnh vỡ.

Không có ích cho cô hơn sao nếu cô bé đang đứng nhìn không thực sự hiểu ra rằng cái bình đã bị vỡ?

Với cô bé sẽ càng trở nên bí hiểm khi cô gái bỗng dưng lặn xuống nước.

Có biết bao điều có thể đâm chồi nảy lộc từ những thứ cô đã có - nhưng cô lại dành một cơ số trang rất lớn cho ánh sáng và bóng râm, và những ấn tượng rời rạc.

Rồi chúng ta được nghe chuyện từ điểm nhìn của chàng trai, rồi của cô gái - mặc dù chúng ta không thực sự thấy rằng chúng có gì quá mới mẻ.

Chỉ thêm một chút về vẻ ngoài và cảm giác về sự vật, và vài ký ức chẳng liên quan.

Chàng trai và cô gái chia tay, bỏ lại một khoảng đất ướt nhanh chóng bốc hơi - và chúng ta đã đi đến chỗ kết.

Đặc trưng tĩnh tại này không tương ứng lắm với tài năng rõ rệt của cô.

Nếu cô bé này đã tuyệt đối hiểu nhầm như thế hay bị cảnh tượng kỳ lạ bày ra trước mắt làm rối trí hoàn toàn đến thế, chuyện đó có thể ảnh hưởng tới cuộc đời của hai người lớn kia như thế nào?

Em có thể xen vào giữa họ bằng một cách thảm khốc nào không?

Hay đưa họ lại gần hơn, hoặc cố tình hoặc ngẫu nhiên?

Em có thể bằng cách nào đó ngây thơ vạch trần họ, với cha mẹ cô gái kia chẳng hạn?

Chắc chắn họ không chấp nhận quan hệ của cô con gái lớn và con trai bà quét dọn.

Có thể nào đôi trẻ cuối cùng lại dùng em làm người đưa tin không?

Nói cách khác, thay vì nhấn vào một cách khá dài dòng cách cảm nhận của mỗi người trong cả ba nhân vật kia, liệu có thể cho họ xuất hiện trước chúng ta một cách súc tích kiệm lời hơn, mà vẫn giữ lại ít nhiều những dòng đầy hình ảnh về ánh sáng, đá và nước mà cô đã viết rất tốt - nhưng rồi tiến tới tạo ra ít căng thẳng, ít ánh sáng và bóng tối nằm chính trong giọng kể.

Những độc giả sành nhất của cô rất có thể bị cuốn vào lý thuyết về ý thức kiểu Bergson mới nhất, nhưng tôi chắc họ vẫn lưu giữ một ham muốn con trẻ được nghe một câu chuyện, được ở trong trạng thái căng thẳng, để biết chuyện gì sẽ xảy ra.

Tình cờ là, từ miêu tả của cô, Bernini mà cô nhắc đến là ở Quảng trường Barberini, chứ không phải Quảng trường Navona.

Nói một cách giản dị, cô cần xương sống cho câu chuyện.

Cô có thể lấy làm thích thú khi biết rằng một trong những độc giả háo hức của cô là bà Elizabeth Bowen.

Bà ấy đã cầm tập đánh máy lên trong một phút lơ đãng khi tạt ngang văn phòng trên đường đi ăn trưa, đề nghị cầm về nhà đọc, và đọc xong chiều hôm đó.

Thoạt đầu, bà nghĩ văn "quá nhiều hình ảnh, ngọt sắc," nhưng có "những bóng dáng của Dusty Answer để đền bù lại" (tôi hoàn toàn không nghĩ ra điều này).

Rồi bà "mê mải mất một lúc" và cuối cùng bà cho chúng tôi vài nhận xét, mà, thực tế là, chúng tôi đã cài xen vào đoạn viết bên trên.

Cô có thể cảm thấy thỏa mãn tuyệt đối với những trang viết của mình như hiện tại, hay sự e dè của chúng tôi có thể khiến cô tràn ngập sự tức giận khinh khi, hay thất vọng đến nỗi không bao giờ muốn nhìn đến nó một lần nữa.

Chúng tôi thành thực hy vọng là không.

Chúng tôi mong muốn rằng cô sẽ coi những lời nhận xét của chúng tôi - được đưa ra với lòng nhiệt thành thẳng thắn - là nền tảng cho một bản thảo khác.

Lá thư mở đầu của cô ngắn gọn đáng ngưỡng mộ, nhưng cô có cho chúng tôi hiểu rằng hiện tại cô không hề có chút thời gian rảnh rỗi.

Nếu tình hình thay đổi, và cô có đi qua lối này, chúng tôi sẽ còn hơn cả sung sướng được chạm cốc cùng cô và thảo luận vấn đề này kỹ càng hơn với cô.

Chúng tôi hy vọng cô sẽ không thoái chí.

Có thể sẽ có ích với cô khi biết rằng thư từ chối của chúng tôi thường không quá ba câu.

Cô có xin lỗi, tiện thể, vì không viết về chiến tranh.

Chúng tôi sẽ gửi cô một bản số mới nhất của chúng tôi, có bài xã luận về việc này.

Như cô sẽ thấy, chúng tôi không tin rằng nghệ sĩ có nghĩa vụ phải nêu thái độ với chiến tranh.

Thật ra, họ rất khôn ngoan và đúng khi lờ nó đi và tập trung vào những chủ đề khác, vốn yếu đuối về mặt chính trị, nghệ sĩ phải sử dụng thời điểm này để phát triển những tầng sâu hơn về mặt xúc cảm.

Bổn phận của cô, bổn phận thời chiến của cô, là trau dồi tài năng, và đi theo hướng nó đòi hỏi.

Chiến tranh, như chúng tôi có nói, là kẻ thù của hoạt động sáng tạo.

Địa chỉ của cô cho thấy cô có thể là bác sĩ hoặc đang chịu một căn bệnh lâu dài.

Nếu phỏng đoán thứ hai là đúng, thì tất cả chúng tôi chúc cô mau chóng lành bệnh.

Cuối cùng, một trong chúng tôi ở đây muốn hỏi liệu có phải cô có một chị gái đã học ở Girton sáu hay bảy năm trước hay không.

Trân trọng, CC
 
Atonement - Chuộc Tội
NĂM


Những ngày tiếp theo, việc trở lại chế độ trực ca nghiêm ngặt đã xua tan cảm giác phi thời bồng bềnh của hai mươi tư giờ đầu tiên kia.

Cô tự cho mình may mắn được phân công ca ngày, từ bảy giờ sáng đến tám giờ tối với những bữa ăn trong nửa tiếng đồng hồ.

Khi đồng hồ báo thức kêu lúc năm giờ bốn mươi lăm, cô lơ mơ trồi dậy từ vực sâu êm ả của sự mệt mỏi, và trong vài giây ở vùng giao thoa giữa giấc ngủ và tỉnh táo hoàn toàn, cô dần ý thức được một sự phấn khích đang chờ đợi, một món quà, hay một thay đổi lớn lao.

Ngủ dậy khi còn nhỏ vào ngày Giáng sinh cũng như thế này - cảm giác phấn chấn trong khi vẫn mơ màng buồn ngủ, khi chưa nhớ ra tại sao.

Mắt vẫn nhắm tịt lại dưới ánh sáng buổi sáng hè trong phòng, cô sờ soạng tìm nút tắt đồng hồ và nằm ềnh ra lại trên gối, rồi nó quay lại với cô.

Cái thực tế rất trái ngược với Giáng sinh.

Trái ngược với tất cả mọi thứ.

Quân Đức sắp sửa xâm lược.

Ai ai cũng nói thế, từ những người đẩy xe đang thành lập đơn vị Tự vệ Tình nguyện địa phương của bệnh viện, đến cả Churchill, ông ta tưởng tượng ra hình ảnh đất nước bị chiếm đóng và chết đói chỉ mỗi Hải quân Hoàng gia là vẫn còn tự do.

Briony biết mọi sự rồi sẽ kinh hoàng, biết sẽ có giáp lá cà trên đường phố và treo cổ giữa công chúng, một sự xuống dốc trở về chế độ nô lệ và sự hủy hoại tất cả mọi thứ tốt đẹp.

Nhưng khi ngồi trên cạnh giường nhàu nhĩ, vẫn còn ấm, đi tất vào, cô không thể kìm nén hay khước từ sự hồ hởi khủng khiếp của mình.

Như mọi người cứ luôn miệng bảo, đất nước giờ đứng một mình, và như thế là tốt hơn.

Trông mọi thứ đều đã khác đi rồi - hoa văn bách hợp trên túi đựng đồ tắm của cô, khung kính bằng thạch cao sứt miệng, mặt cô trong gương khi chải tóc, tất cả trông đều sáng hơn, sắc nét hơn.

Nắm đấm cửa trong tay khi cô xoay gây cảm giác cứng và lạnh một cách khó chịu.

Khi đặt chân vào hành lang và nghe văng văng tiếng bước chân nặng nề trên cầu thang, cô nghĩ đến những đôi ủng Đức, và dạ dày cô quặn lên.

Trước bữa sáng cô có một hai phút cho riêng mình thả bộ trên đường cạnh dòng sông.

Ngay cả vào giờ này, khi trời đã sáng rõ, trong dòng chảy tinh khôi lướt qua bệnh viện cũng lấp lánh tia hoang bạo.

Thực sự có khả năng là người Đức sẽ chiếm cả sông Thames ư?

Sự rõ ràng của mọi thứ cô nhìn, chạm, hay nghe thấy chắc chắn không được khơi ra từ những khởi đầu thanh tân hay vẻ sum suê củachớm hè, nó là một sự ý thức đầy căm phẫn về kết cục đang dần đến, những sự kiện đồng quy về một điểm cuối cùng.

Đây là những ngày cuối cùng, cô cảm thấy, và chúng sẽ sáng rực lên trong ký ức một cách đặc biệt.

Sự rỡ ràng này, cái chuỗi ngày đầy nắng dài dặc này, là cú chơi xả dàn cuối cùng của lịch sử trước khi một quãng thời gian mới bắt đầu.

Những nhiệm vụ đầu ngày, phòng giặt rửa, lượt cho uống trà, thay băng, và sự gặp gỡ được làm mới lại với tất cả những thương tổn không chữa lành được không làm mờ nhạt đi cảm nhận mạnh mẽ này.

Nó tác động lên mọi thứ cô làm và là một hậu cảnh bất biến.

Và nó khiến các kế hoạch của cô trở nên khẩn bách.

Cô cảm thấy mình không còn nhiều thời gian.

Nếu chậm trễ, cô nghĩ, quân Đức có thể tới và cô không bao giờ còn có cơ hội nữa.

Mỗi ngày đều có các ca mới đến, nhưng không còn dồn dập nữa.

Hệ thống đang cân bằng, và ai cũng có giường nằm.

Các ca cần phẫu thuật được chuẩn bị đưa về phòng phẫu thuật dưới hầm.

Sau đó, hầu hết bệnh nhân được chuyển sang các bệnh viện xa trung tâm để hồi phục.

Tỷ lệ tử vong cao, và với các y tá thực tập giờ thì chẳng có bi kịch gì nữa, chỉ có thủ tục: màn kéo lại quanh tiếng mục sư lẩm nhẩm cạnh giường, ga kéo lên, người kéo xe triệu đến, giường lột nệm và sắp xếp lại.

Người chết nhạt nhòa vào nhau mới nhanh làm sao, nhanh đến nỗi mặt của Hạ sĩ Mooney trở thành Binh nhì Lowell, và hai người tráo đổi những vết tử thương với những người khác họ không còn nhớ nổi tên.

Giờ Pháp đã sụp đổ thì việc Đức đánh bom London, hòng làm suy yếu nước Anh, chóng chầy phải bắt đầu.

Sẽ không ai ở lại trong thành phố nếu không cần thiết.

Bao cát ở các cửa sổ tầng trệt được gia cố, và thợ xây leo lên mái nhà kiểm tra xem ống khói và cửa sổ đúc xi măng có chắc chắn không.

Có nhiều buổi diễn tập di tản các khu, với rất nhiều tiếng hét và tràng còi nghiêm nghị.

Cũng có cả những buổi tập chữa cháy, và nghi thức tập trung, và đeo mặt nạ khí cho các bệnh nhân bất tỉnh hay không tự đeo được.

Các y tá được nhắc là phải đeo mặt nạ của mình trước.

Họ không còn sợ Y tá trưởng Drummond.

Giờ họ đã dạn dày, bà không còn nói với họ như với đám nữ sinh nữa.

Giọng bà khi hướng dẫn lạnh lùng, trung tính một cách chuyên nghiệp, và họ rất hãnh diện.

Trong môi trường mới này, Briony tương đối dễ dàng sắp xếp đổi một ngày nghỉ với Fiona, cô này thì hào hiệp từ bỏ ngày thứ Bảy của mình đổi lấy thứ Hai.

Vì một lộn xộn về mặt hành chính, vài người lính đã bị để lại hồi phục ở bệnh viện.

Một khi đã ngủ đến hết cả mệt mỏi, và quen trở lại với các bữa ăn thường lệ và bắt đầu tăng cân, tâm trạng họ trở nên cấm cảu hay dằn dỗi, thậm chí ở cả những người không bị thương tật gì vĩnh viễn.

Họ phần lớn là lính bộ binh.

Họ nằm trên giường hút thuốc, trầm ngâm nhìn lên trần nhà, nghiền ngẫm những ký ức vừa qua.

Hay họ tụ tập thành những nhóm nhỏ kích động mà nói chuyện.

Họ tự ghê tởm chính mình.

Vài người bảo Briony họ chưa bao giờ bắn một phát súng.

Nhưng hầu hết họ tức giận với "đám đeo lon", và với những sĩ quan của chính đơn vị mình đã bỏ mặc họ mà rút lui, và với nước Pháp chưa đánh trận nào đã quy.

Họ còn chua chát hơn với những ngợi ca trên báo chí dành cho cuộc rút quân thần kỳ và kỳ tích anh hùng của các con tàu bé xíu.

"Chẳng qua là đám lộn xộn mắc dịch," cô nghe họ lầm bầm.

"Bọn RAF mắc dịch."

Một vài người còn tỏ ra thù hằn, và bất hợp tác không chịu uống thuốc, đánh đồng đám tướng lĩnh với đội ngũ y tá.

Một bầy quan liêu không đầu óc, họ nghĩ vậy.

Y tá trưởng Drummond phải đích thân đến chỉnh cho họ một trận.

Một sáng thứ Bảy, Briony bỏ ăn sáng rời khỏi bệnh viện lúc tám giờ và đi bộ với con sông chảy phía bên phải cô, ngược lên trên.

Khi cô qua cổng Cung điện Lambeth, ba chiếc xe buýt chạy qua.

Tất cả biển ghi điểm đến giờ đều bỏ trong.

Làm cho kẻ xâm lược bối rối.

Cũng không quan trọng vì cô đã quyết định sẽ đi bộ.

Việc cô đã nhớ được vài tên đường cũng không ích lợi gì.

Tất cả các biển hiệu đã bị gỡ xuống hoặc sơn đen.

Cô mù mờ biết mình phải đi dọc sông vài dặm rồi rẽ trái, là đi về phía Nam.

Hầu hết các bản đồ và chỉ dẫn thành phố đều bị tịch thu theo lệnh.

Cuối cùng cô xoay xở tìm được một bản đồ tuyến xe buýt nhàu nhĩ từ hồi 1926.

Những chỗ gập lại giờ đã rách, ngay đúng tuyến đường cô muốn đi.

Mở ra là có nguy cơ làm nó rời thành từng mảnh.

Và cô căng thẳng sợ cái loại ấn tượng mình có thể tạo ra.

Có những bài báo kể chuyện lính nhảy dù Đức trá hình làm y tá và nữ tu, tản khắp thành phố trà trộn vào dân thường.

Chúng có thể bị phát hiện vì thỉnh thoảng lại xem bản đồ, và nếu bị hạch hỏi, vì chúng nói tiếng Anh quá chuẩn và không hề biết những bài ru trẻ thông thường.

Một khi ý tưởng đó lọt vào đầu, cô không tài nào thôi nghĩ xem mình trông đáng nghi thế nào.

Cô cứ nghĩ bộ đồng phục y tá sẽ bảo vệ mình khi đi qua các khu vực lạ.

Thay vào đó, trông cô như một gián điệp.

Khi bước ngược dòng xe cộ buổi sáng, cô lẩm nhẩm những bài hát ru còn nhớ.

Có rất ít bài cô có thể hát trọn từ đầu đến cuối.

Phía trước cô, một người giao sữa vừa nhảy từ trên xe ngựa xuống để cột chặt lại đai yên cho con ngựa.

Ông đang lẩm bẩm với con vật khi cô bước tới.

Thoáng quay lại với cô, khi cô đứng sau ông và lịch sự hắng giọng, ký ức về già Hardman và dây cương của lão.

Bất cứ ai, chẳng hạn, bây giờ bảy mươi tuổi, sẽ trạc cỡ tuổi cô hồi năm 1888.

Vẫn là kỷ nguyên của ngựa, ít nhất là trên đường phố, và các ông già ghét phải rời xa nó.

Khi cô hỏi đường, lão giao sữa trả lời thân thiện vừa phải và chỉ đường một cách mù mờ dài dòng.

Lão là một tay to lớn, râu trắng ố màu thuốc lá.

Lão bị nấm V.A khiến lời này chảy máu vào lời kia qua một tiếng ầm ừ trong lỗ mũi.

Lão vẫy tay chỉ cô tới một con đường chia nhánh sang phía trái, dưới một cái cầu có đường ray xe lửa.

Cô nghĩ rẽ khỏi con sông ở đây thì sớm quá, nhưng khi bước tiếp, cô có cảm giác ông ta nhìn theo mình và nghi sẽ là bất lịch sự nếu không đi theo lời chỉ.

Có lẽ nhánh bên trái là đường tắt.

Cô ngạc nhiên khi thấy mình vụng về và bồn chồn đến thế, sau tất cả những gì đã học và chứng kiến.

Cô thấy lạc lõng, yếu đuối khi ra ngoài một mình, và không còn là một phần của nhóm.

Bao tháng qua cô đã sống một cuộc sống khép kín từng giờ một đều được vạch sẵn trên thời khóa biểu.

Cô biết vị trí khiêm tốn của mình trong khu.

Càng trở nên thành thạo hơn trong công việc, cô nhận lệnh và làm theo các thủ tục càng tốt hơn và thôi nghĩ cho bản thân mình.

Đã lâu lắm rồi kể từ lúc cô làm thứ gì đó tự mình.

Mãi từ hồi cái tuần cô ở Primrose Hill, gõ cuốn truyện dài, và giờ cái cảm giác phấn khích đó mới có vẻ ngu ngốc làm sao.

Cô đang đi dưới cầu thì một đoàn tàu chạy ngang trên đầu.

Tiếng sầm sập đều đều như sấm ấy vang vào tận xương cô.

Thép trượt và nện ầm ầm trên thép, những thanh nối bánh xe lớn cao tít trên đầu cô trong bóng ảm đạm, một cánh cửa chả hiểu để làm gì ăn sâu trong tường gạch, ống dẫn ga to sụ bằng gang kẹt chặt giữa những thanh dầm gỉ sét và mang theo không ai biết được thứ gì - một phát minh dữ tợn đến thế thuộc về giống siêu nhân.

Cô thì đi lau sàn nhà và buộc băng.

Cô thực sự có sức mạnh cho chuyến đi này không?

Khi bước ra từ dưới cầu, qua một mảnh ánh mặt trời buổi sáng hình tam giác đầy bụi, con tàu đang phát ra tiếng lách cách ngoại ô vô hại khi chạy xa dần.

Cái cô cần, Briony lại tự nhủ, là xương sống.

Cô đi qua một công viên thành phố nhỏ xíu có sân tennis, hai người đàn ông mặc đồ flanen đang đập qua lại một quả bóng, khởi động trước trận đấu với sự tự tin lười nhác.

Có hai cô gái vận quần soóc kaki ngồi trên ghế băng dài gần đó đọc thư.

Cô nghĩ đến lá thư của mình, lời từ chối bọc đường.

Cô đã mang nó trong túi trong suốt ca của mình và trang thứ hai đã bị ố một vết phenol ngoằn ngoèo.

Cuối cùng cô đã thấy rằng, dẫu không hề cố tình, nó đưa ra một bản cáo trạng cá nhân quan trọng.

Cô có thể xen vào giữa họ bằng một cách thảm khốc nào không?

Có, thực sự.

Và khi đã làm như thế, liệu cô có che giấu được sự thật đó bằng cách chế ra một câu chuyện hời hợt, có vẻ tài tình và thỏa mãn sự phù phiếm của mình bằng cách gửi nó cho một tạp chí?

Những trang tràng giang đại hải về ánh sáng, đá và nước, một truyện kể bị chia làm ba điểm nhìn khác nhau, sự tĩnh lặng lơ lửng trong đó dường như không có gì sắp xảy ra - không điều nào trong số này có thể che giấu được sự hèn nhát của cô.

Cô thực sự nghĩ mình có thể giấu mình đằng sau những ý niệm vay mượn về kiểu viết hiện đại, và nhấn chết tội lỗi của mình trong một dòng - ba dòng!

- ý thức?

Những lảng tránh trong cuốn tiểu thuyết nhỏ của cô chính xác là những lảng tránh trong đời cô.

Tất cả những thứ cô không mong phải đối đầu cũng biến mất khỏi tiểu thuyết của mình - nhưng lại thiết yếu với nó.

Giờ cô phải làm gì?

Cái cô thiếu không phải là xương sống của truyện.

Mà là xương sống.

Cô bỏ lại công viên nhỏ phía sau, băng qua một nhà máy be bé máy móc nện ầm ầm làm cho cả vỉa hè rung lên.

Không thể nào biết được đằng sau những cửa sổ cao bẩn thỉu kia người ta đang sản xuất cái gì, hay tại sao khói vàng và đen lại ngùn ngụt bốc lên từ một ống nhôm thanh mảnh duy nhất.

Phía đối diện, trên một đường chéo cắt qua góc phố, là cánh cửa đôi mở toang của một quán rượu trông cứ như một sân khấu.

Bên trong, nơi một thằng bé có vẻ mặt quyến rũ, trầm ngâm đang đổ các gạt tàn vào xô, không khí buổi tối qua vẫn còn có vẻ xanh mờ mờ.

Hai người đàn ông đeo tạp dề da đang khiêng thùng bia từ bậc thang xe ngựa xuống.

Cô chưa bao giờ thấy nhiều ngựa đến thế trên đường phố.

Quân đội hẳn đã trưng thu hết các xe tải.

Có ai đang đẩy cửa lật đậy hầm từ bên trong.

Chúng đập mạnh lên vỉa hè, làm tung bụi lên, và một người đàn ông đầu trọc, chân vẫn còn ở bên dưới mặt đường, dừng lại quay đầu nhìn cô đi ngang qua.

Với cô ông ta như một quân cờ khổng lồ.

Đám đánh xe cũng đang nhìn cô, và một trong đó huýt sáo.

"Ổn chứ, cưng?"

Cô không khó chịu, nhưng chả bao giờ biết đáp lại thế nào.

Vâng, cám ơn anh?

Cô mỉm cười với tất thảy bọn họ, cảm thấy biết ơn những nếp gấp áo choàng.

Mọi người, cô cho là thế, đều đang nghĩ đến cuộc xâm lược, nhưng không có gì khác để làm ngoài việc cứ tiếp tục sống.

Ngay cả khi quân Đức đến, người ta sẽ vẫn chơi tennis, hay chuyện phiếm, hay uống bia.

Có lẽ trò huýt sáo sẽ kết thúc.

Khi đường uốn vòng và hẹp lại, dòng xe cộ đều đều trên đường nghe to hơn và khói nóng thốc vào mặt cô.

Một hàng hiên gạch đỏ tươi kiểu Victoria trông ra ngay vỉa hè.

Một phụ nữ đeo tạp dề có họa tiết cánh hoa đang quét thật lực phía trước nhà, qua cánh cửa mở toang thoang thoảng bay đến mùi đồ rán cho bữa sáng.

Bà đứng lùi lại cho Briony đi qua, vì đường ở đây hẹp, nhưng khi Briony chào buổi sáng bà đánh mắt sắc lẹm nhìn đi chỗ khác.

Một phụ nữ và bốn thằng bé tai nhọn đeo ba lô và kéo va li đi về phía cô.

Bọn trẻ đang xô đẩy, gào thét, và vừa đi vừa đá một cái giày cũ.

Chúng lờ đi tiếng hét khản đặc của bà mẹ khi Briony bị buộc phải đứng sang một bên cho chúng qua.

"Thôi đi, các con!

Cho cô y tá qua."

Khi cô đi qua, bà kia nở một nụ cười méo xệch xin lỗi buồn rầu.

Hai răng cửa của bà bị mất.

Bà bôi nước hoa loại mạnh và giữa hai ngón tay có kẹp một điếu thuốc lá chưa châm.

"Bọn chúng rất phấn khích khi được về quê.

Chưa bao giờ cả, cô tin được không."

Briony nói, "Chúc may mắn.

Tôi hy vọng chị có một gia đình tốt."

Bà kia, tai cũng nhọn lòi ra, nhưng bị món tóc bum bê che đi mất một phần, cười mà như rú lên.

"Bọn nó không biết sẽ gặp những gì trong hoàn cảnh thế này!"

Cuối cùng cô đến một ngã tư đường tồi tàn mà dựa theo góc tư bị rời ra của tấm bản đồ cô cho là Stockwell.

Chặn ngang tuyến đường hướng Nam là một công sự bê tông ngầm, và đứng cạnh nó, với chỉ một khẩu súng trường duy nhất, là một nhóm Dân quân Tự vệ buồn chán.

Một ông già đội mũ nỉ mềm, vận áo khoác ngoài và đeo băng tay, xương hàm bạnh xuống như con chó bull, tách khỏi nhóm và đòi xem chứng minh thư của cô.

Vẻ ta đây, ông ta vẫy cho cô qua.

Cô nghĩ tốt hơn là không hỏi đường ông ta.

Theo như cô hiểu, phải đi khoảng hai dặm thẳng theo đường Clapham.

Ở đây ít người và xe cộ hơn, đường cũng rộng hơn đường cô vừa qua.

Tiếng ồn duy nhất là tiếng ầm ầm của một xe điện đang khởi hành.

Trước một dãy căn hộ kiểu Edward tao nhã nằm cách xa mặt đường, cô cho phép mình ngồi xuống nửa phút trên một bức tường chắn thấp, dưới bóng cây tiêu huyền, và bỏ giày ra xem vết rộp ở gót.

Một đoàn xe tải ba tấn chạy qua, hướng về phía Nam, ra khỏi thành phố.

Tự động, cô liếc nhìn theo lưng họ nửa mong chờ sẽ nhìn thấy người bị thương.

Nhưng chỉ có các thùng gỗ.

Bốn mươi phút sau cô đến ga tàu Clapham Common.

Nhà thờ thấp lè tè xây bằng đá nhăn hóa ra lại khóa cửa.

Cô lấy lá thư của cha ra đọc lại lần nữa.

Một phụ nữ ở tiệm giày chỉ cho cô đi về bãi Clapham.

Ngay cả khi Briony đã băng qua đường và bước trên cỏ thoạt tiên cô cũng không thấy cái nhà thờ đó.

Nó bị lá cây che khuất mất nửa, và không hề giống như cô nghĩ.

Cô đã hình dung hiện trường một tội ác, một thánh đường kiểu Gothic, mái vòm khoa trương ngập tràn ánh đỏ và chàm hắt lên từ cái nền kính màu mô tả những thống khổ ghê rợn.

Cái hiện ra giữa tán cây mát mẻ khi cô bước lại gần là một ngôi nhà thô sơ bằng gạch nhỏ nhắn thanh nhã, như một đền thờ Hy Lạp, có mái lợp ngói đen, cửa sổ kính thường, và mái cổng thấp với những cây cột trắng bên dưới một tháp đồng hồ xây rất cân đối hài hòa.

Đậu bên ngoài, gần mái cổng, là một chiếc Rolls-Royce màu đen bóng loáng.

Cửa tài xế khép hờ, nhưng không thấy lái xe đâu cả.

Khi đi qua xe, cô cảm thấy hơi nóng của bộ tản nhiệt, ấm áp như nhiệt độ cơ thể, và nghe tiếng lách cách của kim loại đang co rút.

Cô lên cầu thang và đẩy cánh cửa đóng đầy đinh nặng nề.

Mùi gỗ ngòn ngọt như sáp, mùi đá thoang thoảng ươn ướt, cũng như trong nhà thờ ở mọi nơi.

Ngay cả khi thận trọng quay lưng lại đóng cửa, cô cũng ý thức được nhà thờ gần như trống không.

Những lời của cha sở đối âm với tiếng vọng của chính chúng.

Cô đứng cạnh cửa, nửa người bị chậu nước thánh che khuất, đợi cho mắt và tai quen dần.

Rồi cô tiến tới hàng ghế phía sau và luồn mình đi tới ghế ngoài cùng nơi vẫn nhìn được bàn thờ.

Cô đã đến dự rất nhiều lễ cưới gia đình, mặc dù hồi đó cô còn quá nhỏ nên chưa thể có mặt tại lễ cưới tưng bừng của chú Cecil và dì Hermione ở Thánh đường Liverpool, cho đến giờ cô có thể nhận ra hình dáng và cái mũ lòe loẹt của dì ở hàng trước.

Cạnh dì là Pierrot và Jackson, cao hơn chừng chục phân, kẹp giữa hai dáng hình của đôi bố mẹ đã xa lìa.

Phía bên kia lối đi là ba thành viên gia đình Marshall.

Tất cả bầu đoàn chỉ có thế.

Một buổi lễ riêng tư.

Không báo giới.

Briony lẽ ra không được có mặt ở đó.

Cô đã khá quen thuộc với lời the để biết mình chưa để lỡ khoảnh khắc chính.

"Thứ hai, Chúa trời đã phán định, như một phương cách chống lại tội lỗi và ngăn ngừa sự thông dâm, rằng những ai không có khả năng tiết chế sẽ phải kết hôn và giữ bản thân là một phần không bị ô uế của mình thánh Chúa."

Đối diện với bàn thờ, lọt giữa hình dáng cha sở mặc đồ trắng cao vượt lên, là đôi trẻ.

Cô dâu mặc đủ bộ trang phục truyền thống, màu trắng, và theo như Briony có thể thấy được từ đằng sau, cô đội mạng che kín.

Tóc buộc túm thành một đuôi sam như trẻ con từ dưới lớp vải tuyn và organdy thả xuống chạy dài theo xương sống.

Marshall đứng nghiêm, đường vai áo đuôi tôm có lót đệm nổi bật trên màu áo thụng của cha sở.

"Thứ ba, Chúa trời phán định rằng, để đảm bảo tình thân, sự giúp đỡ và an ủy lẫn nhau, thì người này phải cùng chung với người kia..."

Cô cảm thấy ký ức, từng chi tiết nhọn hoắt, như nốt phát ban, như đất trên da mình: Lola đến phòng cô nước mắt giàn giụa, cổ tay thâm tím phồng rộp, những vết xước trên vai Lola và mặt Marshall; sự im lặng của Lola trong bóng tối bên hồ khi để cô em họ sốt sắng, lố bịch, chao ôi đức hạnh tuyệt trần, người không thể phân biệt đời thực với những câu chuyện trong đầu cô ta, đưa kẻ tấn công vào chỗ an toàn.

Lola phù phiếm và mỏng manh tội nghiệp với băng đeo cổ đính ngọc trai và mùi nước hoa hồng, người khao khát vứt bỏ những kiềm tỏa cuối cùng của tuổi nhỏ, người đã cứu chính mình khỏi bị nhục nhã khi bắt đầu yêu, hay tự thuyết phục mình đã yêu, và người không tin nổi mình may mắn thế nào khi Briony khăng khăng mình sẽ là người đi vạch trần và buộc tội.

Và với Lola, may mắn ấy làm sao gọi là may mắn được - chỉ là một đứa trẻ, bị bóc tem và chiếm đoạt - khi lấy chính kẻ đã hiếp mình.

"...

Vì thế nếu bất cứ ai có thể chỉ ra bất cứ nguyên nhân nào, tại sao họ có thể không được phép kết hợp với nhau một cách hợp pháp, giờ xin hãy lên tiếng, nếu không sẽ phải vĩnh viễn im lặng."

Điều này đang thực sự xảy ra ư?

Có phải cô đang thực sự đứng lên, trên đôi chân yếu ớt với cái bụng trống rỗng co thắt và trái tim phập phồng, đi dọc hàng ghế đến chiếm lĩnh vị trí ngay giữa lối đi, và vạch ra các lý do, các nguyên nhân chính đáng của mình, bằng một giọng thách thức không hề lắp bắp khi tiến đến trong chiếc áo choàng và khăn trùm đầu, như một cô dâu của đức Kitô, về phía bàn thờ, về phía vị cha sở miệng há hốc vốn trong sự nghiệp dài lâu từ trước đến nay chưa bao giờ bị ngắt lời, về phía nhóm người với những chiếc cổ cong ngoéo, và đôi trẻ mặt trắng bệch đang quay nửa người lại?

Cô vốn không chủ định điều này, nhưng câu hỏi, mà cô đã quên rồi, từ Sách Cầu nguyện Chung, đã trở thành khiêu khích.

Và chính xác thì những điều gì ngăn trở chứ?

Giờ là cơ hội của cô để tuyên bố một cách công khai toàn bộ nỗi thống khổ thầm kín và giải tội cho chính mình khỏi tất cả những gì sai trái cô đã làm.

Trước bàn thờ của giáo hội giàu lý tính nhất trong các giáo hội.

Nhưng những vết xước và thâm tím đã lành từ lâu, và tất cả những lời chứng của cô vào lúc đó lại ngược lại hoàn toàn.

Cô dâu cũng không có vẻ gì là nạn nhân, mà cô lại được cha mẹ ủng hộ.

Hơn cả ủng hộ, rõ ràng; tay tài phiệt sôcôla, cha đẻ của Amo.

Dì Hermione hẳn đang xoa tay.

Nói rằng Paul Marshall, Lola Quincey, và cô, Briony Tallis, đã âm mưu dùng im lặng và lừa dối để đẩy một người vô tội vào tù ư?

Nhưng những lời kết tội anh ta lại là của chính cô, đọc to lên thay mặt cô ở tòa đại hình.

Án đã được thi hành.

Nợ đã trả.

Phán quyết của tòa dưới được giữ nguyên.

Cô ngồi yên trong ghế tim nện thình thịch và tay ướt đầm mồ hôi, khúm núm cúi đầu.

"Ta yêu cầu và buộc cả hai con, như các con sẽ trả lời vào ngày phán xét khủng khiếp khi những bí mật của mọi con tim buộc phải bị phơi bày, nếu ai trong hai con biết bất cứ trở ngại nào mà tại vì thế hai con không thể kết hợp với nhau thành vợ chồng một cách họp pháp, thì bây giờ hai con hãy thú nhận."

Dù ước lượng kiểu gì, còn một khoảng thời gian rắt dài nữa mới đến ngày phán xét, và cho đến khi đó sự thật mà duy Marshall và cô dâu của hắn biết trực tiếp vĩnh viễn được vùi sâu chôn chặt trong cuộc hôn nhân của họ.

Ở đó nó sẽ nằm an toàn trong bóng tối, rất lâu sau khi bất cứ ai có để tâm cũng đã chết rồi.

Mỗi từ trong buổi lễ này là thêm một viên gạch đặt vào nơi đó.

"Ai dẫn người phụ nữ này đến làm lễ với người đàn ông này?"

Chú Cecil trông như một con chim nhanh nhẹn bước lên, rõ là rất háo hức muốn làm cho xong nghĩa vụ để còn vội vàng quay về lại chỗ ẩn náu ở All Souls College, Oxford.

Căng tai ra bắt lấy bất cứ sự ngờ vực hoặc lưỡng lự nào trong giọng nói của họ, Briony nghe Marshall, rồi Lola, lặp lại lời cha xứ.

Cô dâu ngọt ngào và chắc chắn, trong khi Marshall oang oang, như thể phản kháng.

Thật trắng trợn, dâm dục làm sao, cái giọng vang vọng trước bệ thờ khi cô ta nói, "Em tôn thờ anh bằng cơ thể mình."

"Chúng ta hãy cầu nguyện."

Rồi bảy hình dáng cái đầu ở hàng ghế trước cúi xuống và cha sở tháo kính đồi mồi ra, cằm hếch lên, mắt nhắm lại, cất tiếng nói với quyền năng thần thánh bằng lời ê a buồn rầu mệt mỏi của ông.

"Ôi Thượng đế Vĩnh hằng, Đấng Tạo tác và Bảo vệ cả nhân loại, Người trao mọi ơn thiêng, Đấng Sáng tạo sự sống trường cửu: Hãy ban phước cho những kẻ nô bộc của Ngài, người đàn ông và người phụ nữ này..."

Viên gạch cuối cùng đã được đặt vào chỗ khi cha sở đeo kính lên lại, phát ra lời tuyên bố đáng mong đợi - người đàn ông và vợ của mình - và cầu khẩn Chúa Ba ngôi mà nhà thờ của ông được đặt tên theo.

Sau đó lại thêm kinh cầu nguyện, một bài thánh ca, kinh Lạy Cha và một bài dài nữa trong đó những nốt của lời từ biệt nhỏ dần đi hợp thành một kết cục sầu muộn.

"...

Hãy ban cho các con ơn huệ dạt dào của Người, thánh hóa và ban phúc cho các con, để các con có thể làm hài lòng Người cả trong thể xác lẫn linh hồn, và sóng với nhau trong tình yêu thiêng liêng cho đến cuối đời."

Ngay lập tức, từ đàn organ thánh thót phun trào một liên ba confetti bay lả tả khi cha sở quay gót dẫn đôi tân hôn xuống lối đi và sáu thành viên gia đình nối bước phía sau.

Briony, vẫn quỳ gối giả vờ cầu nguyện, giờ đứng dậy và xoay người đối diện với đám rước khi nó tiến tới.

Cha sở có vẻ hơi vội vã, đi trước cả đám một đoạn dài.

Khi ông liếc sang bên trái nhìn thấy cô y tá trẻ, ánh mắt nhân hậu và cái nghiêng đầu của ông biểu lộ cả sự chào đón lẫn tò mò.

Rồi ông sải bước tới kéo cửa lớn mở toang ra.

Một vạt nắng xiên tạt vào đến tận chỗ cô đứng và soi rõ mặt cô cũng như khăn trùm đầu.

Cô muốn họ thấy mình, nhưng không phải rõ ràng đến thế.

Giờ thì cô không còn lẫn vào đâu được nữa.

Lola, đi bên phía Briony, tiến tới và mắt họ gặp nhau.

Mạng của cô ta đã kéo lên rồi.

Những vết tàn nhang đã biến mất, nhưng trừ cái đó ra cô ta không thay đổi nhiều lắm.

Có lẽ chỉ cao hơn chút đỉnh, và xinh hơn, mặt tròn và mịn hơn, và lông mày tỉa không thương tiếc.

Briony chỉ đứng đó nhìn.

Tất cả những gì cô muốn là cho Lola biết cô có mặt ở đó và tự hỏi tại sao.

Ánh nắng làm mắt Briony bị chói khó nhìn, nhưng trong một phần giây, một sự cau có khó chịu tí ti có lẽ đã lộ ra trên mặt cô dâu.

Rồi cô ta bặm môi và nhìn tới trước, rồi đi mất.

Paul Marshall cũng nhìn thấy cô, nhưng không nhận ra, và dì Hermione hay chú Cecil không gặp cô từ hàng bao năm nay cũng không nốt.

Nhưng hai thằng sinh đôi, đi sau cùng mặc quần đồng phục nhà trường ngắn cũn, rất khoái chí khi nhìn thấy cô, làm điệu bộ giả vờ kinh ngạc trước trang phục của cô, và há miệng trợn tròn mắt như hề, hai tay ầm ĩ đưa lên bưng miệng.

Rồi cô còn lại một mình trong nhà thờ với tay chơi organ không thấy đâu vẫn tiếp tục chơi cho chính bản thân.

Kết thúc chóng vánh quá, và không có gì chắc chắn đạt được.

Cô vẫn đứng yên tại chỗ, bắt đầu cảm thấy mình hơi ngu ngốc, ngại ngần không muốn ra ngoài.

Anh ngày, và cuộc trò chuyện gia đình tầm phào, sẽ làm tiêu tán mất bất cứ hiệu ứng nào cô đã gây ra được bằng sự xuất hiện sáng chói đầy ma mị.

Cô cũng không đủ can đảm mà đối đầu trực diện.

Và cô sẽ giải thích về mình thế nào đây, một vị khách không mời, cho dì và chú?

Họ có thể khó chịu, hay tệ hơn, không khó chịu, và muốn đưa cô tới một bữa sáng đau khổ nào đó ở một khách sạn, cùng với ông bà Paul Marshall lồ lộ căm thù, và Hermione vốn không che giấu nổi sự khinh miệt với Cecil.

Briony nấn ná thêm một hai phút nữa, như thể bị âm nhạc níu chân, rồi, khó chịu vì sự hèn nhát của chính mình, vội vàng ra mái cổng.

Cha sở đã ở cách đó ít nhất một trăm thước, rảo chân qua bãi cỏ tay đánh vung vẩy.

Đôi tân hôn ngồi trong chiếc Rolls, Marshall cầm lái, cài số lùi để quay vòng.

Cô chắc chắn họ đã nhìn thấy mình.

Có tiếng rít đầy thanh kim khi hắn sang số - có lẽ là một dấu hiệu tốt lành.

Chiếc xe lăn bánh đi, và qua cửa bên cô thấy thân người hắng muốt của Lola rúc vào cánh tay người lái.

Còn đoàn rước kia, nó đã biến mất hoàn toàn trong đám cây.
 
Atonement - Chuộc Tội
SÁU


Qua bản đồ cô biết Balham nằm ở đầu kia bãi Common, theo hướng cha sở đang đi.

Không xa lắm, và riêng việc đó thôi khiến cô ngại bước tiếp.

Cô sẽ đến quá sớm.

Cô chưa ăn gì, cô khát, hai chân đau nhói và đã dính chặt vào gót giày.

Giờ trời đã ấm lên, và cô sẽ phải băng qua một bãi cỏ không có tán cây che, chỉ có những con đường thẳng hải nhựa và nhà tránh bom cắt qua.

Xa xa là một bục dàn nhạc có mấy người đàn ông vận đồng phục màu lam thẫm đang đi vơ vẩn xung quanh.

Cô nghĩ đến Fiona người mà cô đã hoán ngày nghỉ, và buổi chiều của họ ở Công viên St.

James.

Nó như một thời ngây thơ, xa xăm lắm, thế mà mới chỉ cách nay chưa hơn mười ngày.

Fiona giờ chắc đang đi đổ bô lượt thứ hai.

Briony đứng yên dưới mái hiên mát mà nghĩ mình sẽ mua cho bạn một món quà nhỏ - thứ gì đó ngon ngon, một quả chuối, cam, sôcôla Thụy Sĩ.

Những người đẩy xe biết làm cách nào mua được những thứ này.

Cô đã nghe họ nói rằng mọi thứ, bất cứ thứ gì, đều có thể kiếm được, nếu có đủ tiền.

Cô nhìn dòng xe cộ chạy quanh Common, cùng tuyến đường, và cô nghĩ đến đồ ăn.

Lát thịt xông khói, trứng chần nước sôi, một cái đùi gà quay, thịt hầm Alien đặc, bánh trứng đường chanh.

Một tách trà.

Cô ý thức được tiếng nhạc hối hả kích động sau lưng đúng giây phút nhạc tắt, và trong chiều sâu im lặng đột ngột mới mở ra, dường như đem lại tự do này, cô quyết định mình phải ăn sáng.

Trên hướng đường phải đi chẳng thấy cửa hàng nào, chỉ đầy những khu căn hộ xám xịt xây gạch màu cam đậm.

Vài phút trôi qua, tay đánh dương cầm bước ra, một tay cầm mũ, một chùm chìa khóa nặng ở tay kia.

Cô đã định hỏi anh ta đường đến quán cà phê gần nhất, nhưng anh ta là một gã trông kích động giống y như thứ âm nhạc của gã, và có vẻ cương quyết lờ cô đi khi đóng sầm cửa nhà thờ và khom người xuống khóa lại.

Gã ấn mũ xuống đầu rồi vội vã bỏ đi.

Có lẽ đây là bước đầu tiên trong việc hủy bỏ kế hoạch của mình, nhưng cô đã trở bước rồi, giẫm lại những bước chân ban sáng, về hướng xa lộ Clapham.

Cô sẽ ăn sáng, và cô sẽ suy nghĩ lại.

Gần ga điện ngầm cô đi qua một máng uống nước bằng đá và rất muốn được sung sướng vục mặt xuống đấy.

Cô tìm thấy một quán nhỏ buồn tẻ cửa sổ đầy vết ố bẩn, đầu thuốc lá khắp trên sàn, nhưng không thể có thứ thức ăn nào tệ hơn thứ cô đã quen dùng.

Cô gọi trà, ba miếng bánh mì nướng phết bơ thực vật, và mứt dâu hồng nhạt gần như không màu.

Cô cho vào trà hết thìa đường này đến thìa đường khác, vì đã chẩn đoán chính mình đang bị giảm glucoza trong máu.

Vị ngọt không che nổi vị khử trùng.

Cô uống tách thứ hai, mừng là nó âm ấm vì thế có thể ực một ngụm, rồi vào cái phòng rửa mặt không có ghế ngồi hôi thối ở bên kia sân rải sỏi phía sau cửa hàng cà phế.

Nhưng không có mùi hôi nào có thể gây ấn tượng cho một y tá thực tập.

Cô nhồi giấy vệ sinh vào gót giày.

Nó sẽ giúp cô dễ chịu được thêm một hai dặm nữa.

Một chậu rửa tay có mỗi một vòi nước bắt vào tường gạch.

Có một bánh xà phòng vân xám cô không muốn đụng vào.

Khi mở nước, nước bẩn xối thẳng vào óng quyển.

Cô dùng tay áo lau khô đi, và chải tóc, có mường tượng mặt mình trên tường gạch.

Tuy vậy, cô không thể bôi lại son mà không có gương.

Cô dùng khăn tay ướt chấm chấm lên mặt, và vỗ nhẹ lên má cho hồng hơn.

Quyết định đã được đưa ra - mà không có cô, dường như vậy.

Chính là cô đang chuẩn bị cho một buổi phỏng vấn, vị trí tuyển chọn: cô em gái yêu thương.

Cô ra khỏi quán cà phê, và khi bước dọc Common, cô cảm thấy có một khoảng cách ngày một rộng hơn giữa cô và một Briony khác, không kém thực hơn, đang đi ngược lại về phía bệnh viện.

Có lẽ Briony đang đi về hướng Balham là một nhân vật tưởng tượng hay một bóng ma.

Cảm giác phi thực này càng đậm thêm sau nửa tiếng, khi cô đến một xa lộ khác, chả khác gì mấy con đường cô đã bỏ lại sau lưng.

Ra khỏi khu trung tâm thì London đâu cũng chỉ thế này, một mớ tích tụ những thị trấn nhỏ nhàm tẻ.

Cô cương quyết sẽ không bao giờ sống ở bất cứ chỗ nào trong số đó.

Phố cô đang tìm cách ga tàu ba chỗ rẽ, một bản sao y hệt.

Những mái hiên thời Edward, có rèm buông và xơ xác, chạy thẳng đến nửa dặm.

43 phố Dudley nằm ở giữa, không gì khác biệt với những nhà khác trừ chiếc Ford 8 cũ, không bánh xe, nằm trên mây cột gạch, chiếm nguyên cả khu vườn trước.

Nếu không có ai ở nhà, cô có thể bỏ đi, tự nhủ mình đã cố gắng.

Chuông cửa không kêu.

Cô để vòng sắt đập cửa rơi xuống hai lần rồi lùi lại.

Cô nghe giọng một phụ nữ giận dữ, rồi tiếng sập cửa và tiếng chân thùm thụp.

Briony lùi thêm một bước.

Giờ mà thối lui ra ngoài đường vẫn chưa muộn.

Có tiếng dò dẫm mở chốt cửa và tiếng thở hắt khó chịu, và cửa mở ra bởi một phụ nữ cao lớn, mặt góc cạnh chừng ngoài ba mươi đang thở không ra hơi vì hoạt động quá sức kinh khủng nào đó.

Bà ta đang giận điên lên.

Bà bị phá ngang giữa chừng một cuộc cãi lộn, nên chưa kịp điều chỉnh nét mặt - miệng há hốc, môi trên cong tớn lên - trong lúc cho Briony vào.

"Cô muốn gì?"

"Tôi tìm cô Cecilia Tallis."

Vai bà sụm xuống, và bà quay đầu lại, như thể chùn lại vì bị sỉ nhục.

Bà nhìn Briony từ đầu đến chân.

"Trông cô giống cô ta."

Hoang mang, Briony cứ đứng đó nhìn bà ta chăm chằm.

Bà kia thở hắt ra phát nữa nghe gần như tiếng nhổ bọt, và đi hết hành lang đến chân cầu thang.

"Tallis!" bà hét.

"Khách!"

Bà quay lại nửa chừng hành lang đến cửa phòng khách của mình, ném cho Briony một cái nhìn khinh bỉ, rồi mất dạng, đóng cửa đánh sầm lại.

Căn nhà yên lặng.

Briony nhìn qua cửa trước mở toang thấy một tấm lót sàn hình hoa lá và bảy hay tám bậc thang dưới cùng phủ thảm đỏ thẫm.

Thanh sắt chắn bậc thứ ba bị mất.

Kê giữa hành lang là một cái bàn bán nguyệt dựa vào tường, trên đó có một kệ gỗ đánh bóng, giống như giá đựng bánh mì nướng, đựng thư.

Kệ trống không.

Lót sàn chạy quá cầu thang đến một cánh cửa có ô kinh mờ có lẽ là dẫn vào bếp ở phía sau.

Giấy dán tường cũng hình hoa lá - một chùm ba hoa hồng xen kẽ với các bông tuyết.

Từ bậc cửa đến chỗ lên cầu thang cô đếm được mười lăm bông hồng, mười sáu hoa tuyết.

Rủi rồi.

Cuối cùng, cô nghe tiếng cửa mở ở tầng trên, có lẽ là cái cô đã nghe đóng sầm lại khi mới gõ cửa.

Rồi tiếng cọt kẹt ở một bậc thang, và đôi chân đi tất dày xuất hiện, và một phần da trần, và một áo lụa ngủ màu lam mà cô nhận ra.

Cuối cùng, mặt Cecilia nghiêng xuống khi nàng cúi đầu xem ai đứng ở cửa trước để khỏi phải phiền phức đi xuống, trong lúc ăn mặc lôi thôi.

Phải mất một lúc nàng mới nhận ra em gái.

Nàng từ từ bước xuống thêm ba bậc nữa.

"Ôi trời ơi."

Nàng ngồi xuống và khoanh tay lại.

Briony vẫn đứng một chân ở ngoài lối đi trong vườn, chân kia trên bậc thềm trước.

Đài trong phòng khách bà chủ nhà bật lên, và tiếng khán giả cười ré lên khi đèn chân không ấm dần.

Rồi đến đoạn độc thoại phỉnh nịnh của tay diễn viên hài kịch, cuối cùng cũng kết thúc bằng một tràng vỗ tay, và một ban nhạc vui nhộn bắt đầu chơi.

Briony bước một bước vào hành lang.

Cô thì thào, "Em phải nói chuyện với chị."

Cecilia toan đứng dậy, nhưng rồi đổi ý.

"Sao em không báo trước là sẽ đến?"

"Chị không trả lời thư, vì thế em tới."

Nàng quấn áo ngủ quanh người, và đập vào túi, hẳn là hy vọng có điếu thuốc.

Nàng đen đi rất nhiều, cả tay nàng cũng rám nâu.

Nàng không tìm thấy thứ mình cần, nhưng lúc này nàng không buồn đứng dậy.

Nàng nói, để nhẩm tính thời gian thì đúng hơn là chuyển chủ đề, "Em là y tá tập sự."

"Vâng."

"Khu của ai?"

"Y tá trưởng Drummond."

Không thể biết được là Cecilia có biết cái tên này không, hay nàng có khó chịu khi em gái thực tập cùng bệnh viện với mình.

Thêm một sự khác biệt rõ ràng nữa - Cecilia trước kia luôn nói với cô một cách âu yếm hoặc chiếu cố.

Này em gái!

Giờ không có chỗ cho việc đó.

Trong giọng nàng có kiểu gằn cảnh báo Briony đừng có mà hỏi thăm Robbie.

Cô bước thêm một bước nữa vào sảnh, ý thức được cửa trước đang mở sau lưng mình.

"Thế chị ở đâu?"

"Gần Morden.

Nó là EMS."

EMS, một bệnh viện cấp cứu Khẩn cấp, nơi trưng dụng cho quân đội, hầu như chắc chắn phải hứng chịu đòn nặng nhất, đòn tàn bạo nhất từ đợt chuyển quân; Có quá nhiều thứ không thể nói ra, hay hỏi.

Hai chị em nhìn nhau.

Mặc dù Cecilia có cái vẻ nhàu nhĩ của người vừa ra khỏi giường, nàng cũng đẹp hơn Briony còn nhớ.

Khuôn mặt dài luôn trông kỳ quặc, và mỏng mảnh, giống mặt ngựa mọi người đều bảo thế, ngay cả dưới ánh sáng thích hợp nhất.

Giờ trông nó gợi cảm táo bạo, với vành môi đỏ tròn đầy nổi bật.

Mắt thâm đen và to hơn nhiều, chắc do mệt mỏi.

Hoặc đau buồn.

Cái mũi dài thon, cánh mũi thanh thanh - khuôn mặt có gì đó như chiếc mặt nạ được tạc nên, và bất động.

Và khó mà đoán được, vẻ bề ngoài của chị gái làm tăng thêm sự khó ở trong người Briony, và khiến cô cảm thấy vụng về.

Cô hầu như không biêt người phụ nữ này, cô đã không gặp chị năm năm qua.

Briony không thể chắc chắn một điều gì.

Cô đang tìm kiếm một chủ đề bình thường khác, nhưng không có gì không dẫn ngược lại về những chủ đề nhạy cảm - những chủ đề dù sao đi nữa cô sắp phải đối đầu - và chỉ vì không thể nào chịu đựng thêm sự im lặng và ánh mắt trân trối kia mà cuối cùng cô cất tiếng.

"Chị có nghe tin tức gì của Ông Già không?"

"Không, không có."

Xuống giọng ý là nàng không muốn, và sẽ không quan tâm hay không trả lời nếu có tin.

Cecilia nói, "Còn em?"

"Em có nhận một lá thư viết tay cách đây vài tuần."

"Tốt."

Rồi không còn gì để nói thêm về chuyện đó nữa.

Sau một đoạn ngừng, Briony lại thử lên tiếng.

"Tin nhà thì sao?"

"Không.

Chị không liên lạc.

Còn em?"

"Mẹ thỉnh thoảng viết cho em."

"Thế mẹ kể chuyện gì, Briony?"

Câu hỏi và cách gọi tên em thật nhạo báng.

Và cô buộc mình nhớ lại, cô cảm thấy đang bị vạch trần là kẻ phản bội lại công cuộc đấu tranh chính nghĩa của chị gái.

"Nhà mình cho dân tản cư ở nhờ và Betty ghét họ.

Công viên đã được cày lên để trồng ngũ cốc."

Cô im bặt.

Thật là điên rồ khi đứng đó mà liệt kê những tiểu tiết.

Nhưng Cecilia lạnh lùng nói, "Kể tiếp đi.

Còn gì nữa?"

"Ừm, hầu hết thanh niên trong làng đã gia nhập East Surrey, trừ..."

"Trừ Danny Hardman.

Phải, chị biết tất cả những chuyện đó."

Nàng

mỉm cười kiểu rạng rỡ giả tạo, đợi Briony tiếp tục.

"Họ xây dựng một công sự bê tông ngầm cạnh bưu điện, và họ lấy tất cả những thanh cọc rào cũ.

Ừm.

Dì Hermione sống ở Nice, và ồ phải, Betty làm vỡ cái bình của bác Clem."

Chỉ đến lúc này Cecilia mới tỉnh khỏi vẻ lạnh lùng.

Nàng thôi khoanh tay và tì một tay lên má.

"Vỡ à?"

"Bà ấy làm rơi xuống bậc thang."

"Ý em là vỡ hoàn toàn, thành các mảnh?"

"Vâng."

Cecilia ngẫm ngợi.

Cuối cùng nàng nói, "Tệ nhỉ."

"Vâng," Briony nói.

"Tội nghiệp bác Clem."

Cuối cùng chị gái cô cũng thôi nhạo báng.

Thẩm vấn tiếp tục.

"Họ có giữ lại các mảnh vỡ không?"

"Em không biết.

Emily bảo Ông Già quát Betty."

Đúng lúc đó, cửa mở đánh sầm và bà chủ nhà đứng ngay trước mặt Briony, gần đến nỗi cô có thể ngửi thấy mùi bạc hà trong hơi thở của bà.

Bà chỉ ra cửa trước.

"Đây không phải ga tàu.

Hoặc cô vào, thưa quý cô, hoặc đi ra."

Cecilia đứng dậy chẳng vội vã gì, và buộc dây lụa áo choàng ngủ lại.

Nàng uể oải nói, "Đây là em gái tôi, Briony, bà Jarvis ạ.

Khi nói chuyện với nó thì cô cư xử cho tử tế."

"Trong nhà tôi thì tôi nói gì tùy tôi," bà Jarvis nói.

Bà quay sang Briony.

"Ở lại nếu cô muốn, nếu không thì đi luôn giờ đi, nhớ đóng cửa lại."

Briony nhìn chị mình, đoán rằng lúc này chị chắc không để mỉnh đi.

Bà Jarvis vô tình lại hóa ra là đồng minh.

Cecilia nói như thể chỉ có riêng họ.

"Kệ bà chủ nhà.

Cuối tuần này chị đi rồi.

Đóng cửa lại rồi lên đây."

Briony bắt đầu theo chị lên cầu thang trong khi bà Jarvis vẫn nhìn theo.

"Và còn cô, Quý cô Bẩn Tưởi," bà chủ nhà gọi với.

Nhưng Cecilia quay ngoắt lại và chặn họng bà.

"Đủ rồi đấy, bà Jarvis.

Thế là khá đủ rồi."

Brinony nhận ra kiểu giọng này.

Nightingale thuần túy, dùng cho những bệnh nhân khó chiều hay thực tập viên lắm nước mắt.

Phải mất rất nhiều năm mới thành thạo được.

Chắc hẳn Cecilia đã được thăng lên chức y tá khu.

Ở chiếu nghỉ tầng một, khi chuẩn bị mở cửa, nàng nhìn Briony, một cái liếc lạnh lùng cho cô biết rằng không gì thay đổi, không gì dịu đi.

Từ phòng tắm đối diện, qua cánh cửa mở hé, tạt ra một luồng hơi ẩm thơm thơm và một tiếng nước rỏ đùng đục.

Chắc Cecilia định đi tắm.

Nàng dẫn Briony vào căn hộ.

Một vài y tá sạch sẽ nhất khu sống trong phòng riêng như một mớ hổ lốn, và cô sẽ không ngạc nhiên khi thấy một phiên bản mới cảnh hỗn độn trước kia của Cecilia.

Nhưng ấn tượng ở đây lại là một cuộc sống giản dị và cô độc.

Một căn phòng cỡ trung đã được chia làm một căn bếp hẹp và, có lẽ, một phòng ngủ cửa bên.

Tường dán giấy kẻ sọc nhạt màu, như pyjama trẻ con, càng làm bật lên cảm giác giam hãm.

Lót sàn là những mảnh thừa chắp vá lấy từ tầng dưới, và ở nhiều chỗ, ván sàn xám lộ ra.

Dưới khung cửa sổ đơn kính trượt là một chậu rửa có một vòi nước và một bếp ga đơn.

Dựa vào tường, hầu như không đủ chỗ mà lách qua, là một bàn phủ khăn vải bông màu vàng.

Trên bàn đặt một hũ mứt cắm mấy bông hoa xanh, có lẽ hoa chuông, một gạt tàn đầy, và một chồng sách.

Cuốn dưới cùng là Cơ thể học của Gray và một tuyển tập Shakespeare, còn bên trên, những gáy sách mỏng hơn, với những cái tên khảm vàng và bạc đã phai màu - cô nhìn thấy Housman và Crabbe.

Cạnh chồng sách là hai chai bia đen.

Ở góc xa cửa sổ là cửa phòng ngủ trên có đính bản đồ Bắc Âu.

Cecilia lấy một điếu thuốc trong gói cạnh bếp, rồi, nhớ ra em mình không còn là một đứa trẻ, mời cô một điếu.

Có hai ghế cạnh bàn, nhưng Cecilia, lưng dựa vào bồn rửa, không mời Briony ngồi.

Hai người hút thuốc và đợi, Briony có cảm giác như vậy, cho không khí sạch mùi bà chủ nhà.

Cecilia nói giọng nhỏ không cảm xúc, "Khi nhận được thư em chị đã đi gặp một luật sư.

Không dễ dàng gì lắm, trừ phi có bằng chứng mới thực sự chắc chắn được.

Em đổi ý thôi sẽ không đủ.

Lola sẽ tiếp tục nói là nó không biết.

Hy vọng duy nhất của chúng ta là già Hardman mà giờ ông ấy chết rồi."

"Hardman?"

Những yếu tố trái ngược nhau - cái chết của ông ta, việc ông ta có liên đới đến vụ này - làm Briony bối rối và cô vật lộn với trí nhớ.

Đêm đó Hardman có ra ngoài tìm hai đứa sinh đôi không?

Ông có thấy gì không?

Liệu ở tòa có nói gì đó mà cô không biết?

"Em không biết ông ta chết rồi à?"

"Không.

Nhưng..."

"Không tin nổi."

Nỗ lực của Cecilia để nói bằng giọng trung tính, chỉ thuần túy thuật lại sự việc, đã tan thành từng mảnh.

Kích động, nàng ra khỏi khu bếp, lách mình qua bàn và đi về phía đầu kia phòng, đứng cạnh cửa phòng ngủ.

Giọng nàng hổn hển khi cô kìm cơn giận.

"Kỳ quái thế nào mà Emily lại không nói chuyện đó trong một loạt tin về những dân tản cư với bắp ngô.

Ông ta bị ung thư.

Có lẽ vì sợ Chúa mà trong những ngày cuối đời ông ta đã nói điều gì đó có phần quá bất tiện cho mọi người ở giai đoạn này."

"Nhưng Cee..."

Nàng bập luôn, "Đừng có gọi tôi thế!"

Nàng nhắc lại giọng mềm mại hơn, "Đừng gọi chị thế."

Ngón tay nàng đặt trên nắm đấm cửa phòng ngủ và trông như vẻ buổi thẩm vấn sắp đến hồi kết thúc.

Nàng chuẩn bị biến mất.

Bình tĩnh một cách bất ngờ, nàng tóm tắt lại cho Briony.

"Chị đã trả hai đồng Ghinê để biết được thế này.

Sẽ không có phiên tòa phúc thẩm chỉ bởi vì năm năm sau em quyết định nói ra sự thật."

"Em không hiểu chị đang nói gì..."

Briony muốn quay trở lại chuyện Hardman, nhưng Cecilia cần nói với cô điều ắt hẳn gần đây đã dần đi dần lại trong đầu nàng quá nhiều lần.

"Không khó hiểu gì.

Nếu khi đó em nói dối, sao bây giờ tòa lại nên tin em?

Không có sự kiện gì mới, và em là một nhân chứng không đáng tin."

Briony cầm điếu thuốc đang hút dở đến bồn rửa.

Cô thấy buồn nôn.

Cô lấy từ giá để bát một cái đĩa dùng làm gạt tàn.

Lời khẳng định tội ác của cô do chính chị mình nói nghe đã khủng khiếp rồi.

Nhưng cách nhìn này thì hoàn toàn lạ lẫm.

Yếu đuối, ngu ngốc, bối rối, hèn nhát, lẩn trốn - cô đã căm ghét chính mình bởi mình là tất cả những thứ đó, nhưng cô chưa bao giờ nghĩ mình là kẻ nói dối.

Kỳ lạ làm sao, mà với Cecilia thì chuyện đó hẳn phải rõ ràng đến chừng nào.

Nó rạch ròi, và không gì bác bỏ được.

Ấy vậy mà, trong một khoảnh khắc cô thậm chí còn nghĩ đến việc tự bào chữa cho mình.

Cô đã không hề định lừa dối, cô đã không hành động ác ý.

Nhưng ai sẽ tin cơ chứ?

Cô đứng nơi Cecilia đã đứng, lưng dựa vào bồn và, không nhìn nổi vào mắt chị, nói, "Điều em làm thật khủng khiếp.

Em không mong chị sẽ tha thứ cho em."

"Đừng lo chuyện đó," nàng dịu dàng nói, và trong một hai giây nàng rít một hơi dài, Briony lưỡng lự khi niềm hy vọng của mình trào lên một cách phi thực.

"Đừng lo," chị cô nói tiếp.

"Chị sẽ không bao giờ tha thứ cho em."

"Và nếu em không thể ra tòa được, điều đó cũng không ngăn em nói với tất cả mọi người chuyện em đã làm."

Khi chị cô man dại cười ré lên, Briony nhận ra mình sợ Cecilia đến mức nào.

Sự nhạo báng của chị còn khó đương đầu hơn cơn giận.

Căn phòng nhỏ hẹp với những vạch như chấn song này chứa đựng một lịch sử chiều dài cảm giác mà không ai có thể tưởng tượng ra nổi.

Briony tiêp tục nói.

Cô, sau rốt, đã tham dự vào cuộc đối thoại mà cô đã tập luyện trước.

"Em sẽ đi Surrey và nói chuyện với Emily và Ông Già.

Em sẽ kể cho bố mẹ tất cả."

"Phải, trong thư em nói thế rồi.

Điều gì đã ngăn cản em?

Em có năm năm.

Sao lại không làm chứ?"

"Em muốn gặp chị trước."

Cecilia bước khỏi cửa phòng ngủ và đứng cạnh bàn.

Nàng thả mẩu thuốc lá vào cổ chai bia.

Một tiếng xì nhỏ và một đường khói mỏng bốc lên từ cái chai đen.

Hành động của chị gái lại khiến Briony buồn nôn.

Cô đã nghĩ mấy cái chai kia đầy bia.

Cô tự hỏi không biết sáng nay mình có ăn gì không sạch không.

Cecilia nói, "Chị biết tại sao em không làm.

Vì em cũng nghĩ chẳng khác gì chị.

Họ không muốn nghe thêm một lời nào về chuyện đó nữa.

Sự khó chịu đó nằm cả trong quá khứ rồi, cảm ơn rất nhiều.

Cái gì xong coi như đã xong.

Giờ khuấy đảo mọi thứ lên làm gì?

Và em biết quá rõ là họ tin câu chuyện của Hardman."

Briony rời khỏi chậu rửa và đứng ngay cạnh bàn đối diện chị gái.

Nhìn vào cái mặt nạ đẹp đẽ ấy không dễ dàng chút nào.

Cô nói chậm rãi từng từ một, "Em không hiểu chị đang nói chuyện gì.

Ông ta thì có liên quan gì ở đây?

Em rất tiếc là ông ta đã chết, em rất tiếc mình không biết..."

Nghe tiếng động, cô giật bắn mình.

Cửa phòng ngủ mở ra và Robbie đứng trước mặt họ.

Anh vận quần áo quân đội và đi bốt bóng loáng, dây đeo quần lủng lẳng ở hông.

Râu ria xồm xoàm và rối bù, và anh chỉ nhìn vào mỗi Cecilia.

Nàng đã quay lại đối diện với anh, nhưng không đi về phía anh.

Trong vài giây họ im lặng nhìn nhau, Briony, bị chị gái che mất một phần, co mình lại trong bộ đồng phục.

Anh khẽ khàng nói với Cecilia, như thể chỉ có riêng họ.

"Anh nghe tiếng người và đoán là chắc bệnh viện có chuyện gì đó."

"Không có gì đâu."

Anh nhìn đồng hồ.

"Nên chuẩn bị đi thôi."

Khi băng qua phòng, ngay trước khi ra ngoài xuống chiếu nghỉ, anh khẽ gật đầu về hướng Briony.

"Xin phép."

Họ nghe tiếng cửa phòng tắm đóng lại.

Trong im lặng, Cecilia nói, như thể không có gì giữa nàng và em gái, "Anh ấy ngủ say quá.

Chị không muốn đánh thức anh ấy dậy."

Rồi nàng nói thêm, "Chị nghĩ tốt hơn là hai người không gặp nhau."

Đầu gối Briony bắt đầu thực sự run bần bật.

Một tay chống vào bàn, cô ra khỏi bếp để Cecilia cho nước vào ấm.

Briony khao khát được ngồi xuống.

Cô sẽ không ngồi cho đến khi được mời, và cô sẽ không bao giờ hỏi.

Vì thế cô đứng cạnh tường, vờ như không dựa vào, quan sát chị gái mình.

Điều đáng ngạc nhiên là sự nhẹ nhõm được thấy Robbie còn sống bị nỗi sợ phải đương đầu với anh xâm thực chóng vánh đến mức nào.

Giờ cô đã thấy anh băng qua phòng, khả năng còn lại, rằng anh có thể đã chết, dường như kỳ dị, ngoài xác suất.

Hẳn là chẳng có ý nghĩa gì.

Cô trân trối nhìn vào lưng chị mình trong lúc nàng đĩ tới đi lui quanh cái bếp bé tí.

Briony muốn nói với nàng rằng thật tuyệt làm sao khi Robbie trở về bình an vô sự.

Một sự cứu vớt thần kỳ.

Nhưng câu đó nghe sẽ sáo rỗng ghê gớm.

Và cô không có quyền nói thế.

Cô sợ chị mình, sợ sự khinh miệt của chị.

Vẫn cảm thấy buồn nôn, và giờ thì nóng, Briony tì má vào tường.

Nó không mát hơn mặt cô.

Cô thèm một ly nước, nhưng cô không muốn hỏi xin chị mình bất cứ thứ gì.

Lanh lẹ, Cecilia làm các việc, trộn sữa với nước vào bột trứng, và bày một lọ mứt, ba cái đĩa và tách lên bàn.

Briony để ý thấy, nhưng điều đó không hề khiến cô dễ chịu.

Nó chỉ làm tăng linh tính chẳng lành của cô về cuộc gặp gỡ trước mặt.

Cecilia thực sự nghĩ rằng trong tình huống này họ vẫn có thể ngồi cùng nhau mà ngon miệng ăn trứng bác ư?

Hay chị đang tự trấn an mình bằng cách cố bận tay bận chân?

Briony dỏng tai nghe tiếng bước chân trên chiếu nghỉ, và để đỡ phải bận tâm cô cô gọi chuyện.

Cô đã thấy áo choàng treo sau cửa.

"Cecilia, giờ chị là y tá khu à?"

"Ừ, phải."

Nàng nói xuống giọng như hàm ý kết thúc, khép chủ đề đó lại.

Việc họ làm chung một nghề cũng chẳng khiến họ có cái gì chung.

Đề tài nào cũng vậy, sẽ không có gì để nói chừng nào Robbie chưa quay lại.

Cuối cùng cô nghe tiếng cách khóa cửa phòng tắm.

Anh huýt sáo khi đi qua chiếu nghỉ.

Briony dịch khỏi cửa, về phía tối bên kia phòng.

Nhưng cô vẫn nằm trong tầm mắt của anh khi anh bước vào.

Anh đã giơ tay phải lên để bắt tay cô, còn tay trái vẫn lưu lại đằng sau, chuẩn bị đóng cửa lại.

Nếu anh có cố tình ngưng lại tạo kịch tính, thì cũng không có hiệu quả.

Ngay khi họ chạm mắt nhau, cả hai tay anh rơi thõng xuống và anh nặng nhọc vừa thở hắt ra vừa tiếp tục chằm chằm nhìn cô.

Dù có sợ hãi đến mức nào, cô thấy mình không thể nhìn đi chỗ khác.

Cô ngửi thấy thoang thoảng mùi nước hoa cạo râu của anh.

Thật kinh ngạc khi thấy anh đã già đi biết chừng nào, đặc biệt là quầng mắt.

Mọi thứ phải là lỗi của cô ư?

Cô ngu ngốc tự hỏi.

Chẳng lẽ không phải cũng của chiến tranh?

"Hóa ra là cô," cuối cùng anh nói.

Anh dùng chân đẩy cửa lại sau mình.

Cecilia đã đến đứng cạnh anh và anh nhìn nàng.

Nàng thuật lại một cách chính xác, nhưng dù có cố hay không, nàng cũng không nén được sự nhạo báng của mình.

"Briony sẽ kể cho mọi người sự thật.

Nó muốn gặp em trước."

Anh quay sang Briony.

"Cô có nghĩ tôi có thể ở đây không?"

Chuyện cần lo ngay trước mắt là không được khóc.

Khi đó, không gì có thể nhục nhã hơn.

Nhẹ nhõm, hổ thẹn, tủi thân, cô không biết là cái nào, nhưng nó đang đến.

Con sóng êm ả dâng lên, nghẹt cổ họng cô, khiến cô không nói được, và rồi, khi giữ bình tĩnh, mím môi, nó tan đi và cô lại an toàn.

Không nước mắt, nhưng giọng cô thì thào khổ sở.

"Em không biết anh còn sống hay không."

Cecilia nói, "Nếu định nói chuyện thì chúng ta ngồi xuống."

"Anh không biết mình có ngồi nổi không."

Anh nôn nóng bước tới bức tường kế sát, cách chừng mét rưỡi, và dựa vào đó, khoanh tay, hết nhìn Briony lại sang Cecilia.

Gần như ngay lập tức anh lại dịch chuyển, ra chỗ cửa phòng ngủ rồi xoay người để đi trở lại, song đổi ý mà đứng đó, tay đút túi.

Anh rất to lớn, và căn phòng dường như co rút lại.

Trong khoảng không chật hẹp những chuyển động của anh thật khôn quẫn, hồ như làm ngạt thở.

Anh bỏ tay ra khỏi túi và vuốt tóc sau cổ.

Rồi anh chống tay lên hông.

Rồi anh buông thõng xuống.

Mất ngần ấy thời gian, ngần ấy chuyển động, Briony mới nhận ra rằng anh tức giận, vô cùng giận, và ngay khi cô vừa nhận ra, anh nói.

"Cô làm gì ở đây?

Đừng nói với tôi về Surrey.

Chả ai ngăn cô đi cả.

Sao cô lại đến đây?"

Cô nói, "Em phải nói chuyện với Cecilia."

"Ồ phải.

Và về chuyện gì?"

"Chuyện khủng khiếp em đã làm."

Cecilia đi về phía anh.

"Robbie," nàng thì thầm.

"Anh yêu."

Nàng đặt tay lên tay anh, nhưng anh giật phắt ra.

"Anh không hiểu sao em lại cho nó vào."

Rồi với Briony, "Tôi sẽ nói thẳng thật với cô.

Tôi đang giằng xé giữa việc bẻ gãy cái cổ chết tiệt của cô ngay tại đây hay lôi cô ra ngoài và ném cô xuống cầu thang."

Nếu không nhờ trải nghiệm gần đây, cô hắn đã sợ chết khiếp.

Thỉnh thoảng cô nghe binh lính trong khu giận điên lên vì sự vô dụng của họ.

Trong đỉnh cao cơn cáu giận ấy, thật ngu ngốc khi nói lý với họ hay cố làm an lòng họ.

Nó phải bộc phát ra, và tốt nhất là đứng đó mà nghe.

Cô biết ngay, thậm chí giờ mà đề nghị ra về thì có thể càng kích động anh.

Vì thế cô đối mặt với Robbie và đợi phần còn lại, cái mình phải trả.

Nhưng cô không sợ anh, về mặt chân tay thì không.

Anh không cao giọng, mặc dù nó căng ra vì khinh miệt.

"Trong ấy thì như thế nào cô có biết tí gì không?"

Cô tưởng tượng những cửa sổ nhỏ cao trên vách tường gạch sừng sững, và nghĩ có lẽ cô có biết, theo kiểu người ta tưởng tượng những tra tấn của địa ngục.

Cô khẽ lắc đầu.

Để đứng vững cô cố tập trung vào những nét biến đổi ở anh.

Cảm giác anh cao hơn là do dáng đứng duyệt binh của anh.

Sinh viên Cambridge không người nào lại từng đứng thẳng đến như vậy.

Ngay cả trong cơn quẫn nộ vai anh cũng thẳng đứng, và cằm hất lên như một võ sĩ quyền Anh kiểu xưa.

"Phải, dĩ nhiên là cô không biết.

Thế khi tôi ở tù, cô có thấy sướng không?"

"Không."

"Nhưng cô không làm gì cả."

Cô đã nghĩ đến cuộc nói chuyện này rất nhiều lần, như một đứa trẻ chờ trận đòn.

Giờ cuối cùng nó xảy ra, và như thể cô đang không hẳn ở đây vậy.

Cô đang đứng từ xa nhìn và cô đờ đẫn.

Nhưng cô biết lời anh nói sau này sẽ làm cô đau.

Cecilia đã đứng cạnh anh.

Giờ nàng lại đặt tay lên tay Robbie.

Anh đã gầy đi, dù trông anh mạnh mẽ hơn, những múi cơ mảnh dẻ rắn chắc đầy dữ dội.

Anh quay nửa người về phía nàng.

"Nhớ này," Cecilia cất tiếng, nhưng anh nói át nàng.

"Cô có nghĩ tôi hành hung em họ cô không?"

"Không."

"Khi đó cô có nghĩ thế không?"

Cô lập bập nói.

"Có, có và không.

Em không chắc."

"Thế giờ điều gì khiến cô chắc chắn thế?"

Cô ngập ngừng, ý thức được rằng trả lời tức là cô đưa ra một câu thanh minh, một lý do, mà thế có thể càng khiến anh điên hơn.

"Trưởng thành."

Anh nhìn cô, môi hơi hé ra.

Anh thực sự đã thay đổi trong năm năm qua.

Anh mắt dữ dội kia là mới, và đôi mắt nhỏ hơn và hẹp hơn, ở khóe mắt đã hằn rõ những vết chân chim.

Mặt anh gầy hơn so với trong trí nhớ của cô, má hóp lại, như một chiến binh da đỏ.

Anh đã nuôi ít ria theo kiểu nhà binh.

Anh đẹp trai đến sững sờ, và chuyện hàng bao năm trước trở lại với cô, hồi cô mười, mười một tuổi gì đó, ký ức về cảm xúc mãnh liệt cô dành cho anh, một cú say nắng đích thực bao ngày liền.

Rồi cô thú nhận với anh một buổi sáng trong vườn và ngay tức thì quên bẵng mất.

Cô đã đúng khi cảnh giác.

Giờ đây anh chìm trong con giận dữ giả đò như là kinh ngạc.

"Trưởng thành cơ à," anh nhắc lại.

Khi anh cất giọng cô giật bắn mình.

"Mẹ kiếp chứ!

Cô mười tám rồi.

Cô cần trưởng thành bao nhiêu nữa chứ?

Bao người lính chết ngoài trận địa khi mười tám tuổi.

Đủ lớn để bị bỏ lại mà chết trên đường.

Cô có biết không?"

"Có."

Một nguồn an ủy thảm hại, đấy là anh không biết được cô đã thấy những gì.

Kỳ lạ, khi mà với tất cả tội lỗi của mình, cô vẫn cảm thấy cần phải chống lại được anh.

Hoặc thế, hoặc bị hủy diệt.

Cô chỉ gật.

Cô không dám lên tiếng.

Khi nhắc đến chết chóc, một đợt xúc cảm trào dâng nhấn chìm lấy anh, đây anh ra quá cơn giận để vào chốn tận cùng hoang mang và kinh tởm.

Anh thở không đều và nặng nhọc, anh nắm chặt bàn tay phải rồi thả ra.

Và anh vẫn đăm đăm nhìn cô, vào trong cô, với sự khắc nghiệt, sự ác bạo trong ánh mắt.

Mắt anh sáng rực, và anh nuốt khan khó nhọc vài lần.

Những đường cơ trên cổ họng anh căng lên và nổi cục.

Anh cũng đang chiến đấu chống lại thứ cảm xúc mà anh không muốn bị người khác chứng kiến.

Cô đã học được chút ít cô biết, những thứ cỏn con chẳng là quái gì khi làm một y tá thực tập, trong chốn an toàn của khu và bên giường bệnh.

Cô biết đủ để nhận ra rằng những ký ức đang dồn tụ lại, và anh không thể làm được gì.

Nó sẽ không cho anh nói.

Cô sẽ không bao giờ biết các cảnh tượng nào đang gây ra sự náo động này.

Anh tiến một bước về phía cô và cô co lùi lại, không còn chắc rằng anh vô hại nữa - nếu không nói được, rất có thể anh phải động thủ.

Chỉ thêm bước nữa là anh có thể với tới cô bằng cánh tay vạm vỡ.

Nhưng Cecilia xông vào giữa họ.

Lưng quay về phía Briony, nàng đối diện với Robbie và đặt tay lên vai anh.

Anh quay mặt đi không nhìn nàng.

"Nhìn em này," nàng thì thào.

"Robbie.

Nhìn em đi."

Anh trả lời gì Briony không nghe thấy.

Cô nghe anh bất đồng hay phản đối gì đó.

Có lẽ đó là một từ tục tĩu.

Khi Cecilia siết chặt anh hơn, anh vặn người thoát khỏi tay nàng, và trông bọn họ như một đôi đấu vật khi nàng với tay lên muốn quay đầu anh ra phía mình.

Nhưng đầu anh đã ngật về phía sau, răng sáng trắng lên trong một nụ cười giễu nhạo ma quái.

Giờ bằng cả hai tay nàng đang siết chặt lấy má anh, và lấy hết sức bình sinh nàng xoay mặt anh lại kéo nó về phía mặt mình.

Cuối cùng anh đã nhìn vào mắt nàng, nhưng nàng vẫn ôm chặt lấy má anh.

Nàng kéo anh lại gần hơn, buộc anh phải nhìn lại mình, cho đến khi hai khuôn mặt kề sát nhau và nàng khẽ hôn anh, một hơi dài lên môi.

Với sự ôn nhu dịu dàng mà Briony nhớ từ bao năm trước, khi thức dậy giữa đêm, Cecilia nói, "Trở lại với em...

Robbie, trở lại với em."

Anh khẽ gật, và hít một hơi thật sâu rồi thở ra từ từ khi nàng lỏng tay và bỏ khỏi mặt anh.

Trong im lặng, căn phòng dường như rút lại còn nhỏ hơn nữa.

Anh vòng tay ôm nàng, cúi đầu xuống hôn nàng, một nụ hôn sâu, dai dẳng và riêng tư.

Briony im lặng rút sang phía bên kia căn phòng, về phía cửa sổ.

Trong lúc cô uống một ly nước từ vòi trong bếp, nụ hôn vẫn tiếp tục, trói cặp đôi ấy vào sự riêng tư của họ.

Cô thấy mình bị xóa mờ, gạch bỏ khỏi căn phòng, và thanh thản.

Cô quay lưng lại nhìn ra những căn nhà có mái hiên yên ả dưới ánh mặt trời chói lòa, về hướng cô đã đến từ xa lộ.

Cô ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng mình không hề muốn về, mặc dù cô ngượng ngùng bởi nụ hôn dài, và sợ hãi những gì sắp tới đây.

Cô nhìn một cụ bà vận một áo choàng to sụ, mặc dù trời nóng.

Bà đi trên vỉa hè xa xa dắt theo một con chó chồn ốm yếu bụng phệ.

Giờ Cecilia và Robbie đang thấp giọng trò chuyện, và Briony quyết định rằng vì tôn trọng sự riêng tư của họ cô sẽ không quay khỏi cửa sổ cho đến khi họ gọi cô.

Thật dễ chịu khi nhìn bà cụ mở cửa trước, cẩn thận đóng lại sau mình với sự chính xác đầy kiểu cách, và rồi, được nửa đường đến cửa trước, lại khó nhọc cúi xuống nhổ một cây cỏ dại ở luống hoa hẹp chạy dọc suốt lối vào trước nhà.

Khi bà làm thế, con chó núng nính đi tới trước liếm cổ tay bà.

Bà cụ và con chó vào nhà, và đường phố vắng không trở lại.

Một con két sà xuống một bờ giậu cây thủy lạp, thấy chỗ đậu chả ưng ý gì, lại bay đi.

Một đám mây đến và nhanh chóng gây ra một khoảng râm, rồi bay đi.

Một chiều thứ Bảy hết sức bình thường.

Không có mấy dấu hiệu của chiến tranh trên con đường ngoại ô này.

Có chăng là tấm vải che ánh đèn ở cửa sổ nhà đối diện, nhà có chiếc Ford 8.

Briony nghe chị gái gọi tên mình và quay lại.

"Không còn nhiều thời gian.

Robbie phải trình diện vào sáu giờ tối mai và anh ấy còn phải bắt tàu.

Vì thế ngồi xuống đi.

Có vài thứ em sẽ làm cho anh chị."

Đây là giọng của một y tá khu.

Không hề hách dịch.

Nàng chỉ đơn thuần vạch ra chuyện không thể tránh khỏi.

Briony kéo cái ghế gần mình nhất, Robbie mang đến một cái ghế đẩu, và Cecilia ngồi giữa họ.

Bữa sáng do nàng làm đã bị lãng quên.

Ba cái tách không nằm ở giữa bàn.

Anh bỏ chồng sách xuống sàn.

Khi Cecilia đẩy hũ mứt hoa chuông sang một bên để khỏi làm đổ, nàng với Robbie liếc mắt nhìn nhau.

Anh vừa nhìn vào những bông hoa vừa hắng giọng.

Khi bắt đầu nói, giọng anh gột sạch cảm xúc.

Cứ như anh đang đọc to thành tiếng một mệnh lệnh quân sự.

Giờ anh đang nhìn cô.

Mắt anh bình lặng, và điềm tĩnh.

Nhưng trên trán anh có giọt mồ hôi, phía trên lông mày.

"Chuyện quan trọng nhất cô đã đồng ý rồi.

Cô sẽ đến chỗ cha mẹ cô càng sớm càng tốt và kể cho họ mọi điều họ cần phải biết để tin rằng bằng chứng của cô là sai.

Cô nghỉ hôm nào?"

"Chủ nhật tuần tới."

"Cô sẽ đi vào hôm đó.

Cô sẽ lấy địa chỉ của chúng tôi và sẽ bảo với Jack và Emily rằng Cecilia đang đợi tin của họ.

Việc thứ hai cô sẽ làm vào ngày mai.

Cecilia bảo cô sẽ có một tiếng vào lúc nào đó.

Cô sẽ tới chỗ luật sư cố vấn, một cố vấn chuyên chứng nhận tuyên thệ, để đưa ra lời chứng có ký tên và có người làm chứng.

Trong đó cô sẽ nói cô đã làm sai chuyện gì, và cô xin rút lại bằng chứng của mình như thế nào.

Cô sẽ gửi bản sao đến cả hai chúng tôi.

Rõ chưa?"

"Vâng."

"Rồi cô sẽ viết cho tôi chi tiết cụ thể hơn.

Trong lá thư này cô sẽ trình bày toàn bộ mọi thứ cô nghĩ là có liên quan.

Mọi thứ đã dẫn cô đến việc nói rằng cô nhìn thấy tôi cạnh hồ.

Và tại sao, mặc dù không chắc, cô khăng khăng với câu chuyện của mình suốt hàng bao tháng trước khi tôi bị xử.

Nếu cô gặp sức ép nào, từ cảnh sát hay cha mẹ cô, thì tôi muốn biết.

Cô hiểu không?

Phải là một lá thư dài."

"Vâng."

Mắt anh gặp mắt Cecilia và gật đầu.

"Và nếu cô có thể nhớ bất cứ điều gì về Danny Hardman, hắn ta đã ở đâu, làm gì, vào lúc nào, ai khác nữa nhìn thấy hắn ta - bất cứ điều gì có thể khiến chứng cớ ngoại phạm của hắn ta bị nghi ngờ, thì chúng tôi muốn nghe điều đó."

Cecilia đang viết địa chỉ ra.

Briony lắc đầu và dợm nói, nhưng Robbie mặc kệ và nói át cô.

Anh đứng dậy nhìn đồng hồ.

"Còn rất ít thời gian.

Chúng tôi sẽ đưa cô ra tàu điện ngầm.

Cecilia và tôi muốn giờ cuối cùng được ở riêng với nhau trước khi tôi phải đi.

Và cô sẽ cần phải dành cả ngày còn lại để viết lời khai, và báo cho bố mẹ cô biết cô sẽ đến.

Và cô có thể bắt đầu nghĩ về lá thư mà cô sẽ gửi cho tôi."

Tóm tắt lạnh lùng các nghĩa vụ của cô xong, anh đứng dậy khỏi bàn và đi về phía phòng ngủ.

Briony cũng đứng dậy nói, "Già Hardman chắc nói sự thật.

Danny đã ở cùng ông ấy suốt đêm đó."

Cecilia sắp sửa đưa tờ giấy gập đôi nàng vừa viết xong.

Robbie dừng chân ngay bậu cửa phòng ngủ.

Cecilia nói, "Nói thế nghĩa là sao?

Em đang nói gì thế?"

"Đó là Paul Marshall."

Trong khoảng im lặng tiếp nối, Briony có tưởng tượng những điều chỉnh đang diễn ra trong đầu hai người.

Bao năm nay nhìn nó theo một cách.

Ấy vậy mà, dù đáng lãnh ngạc bao nhiêu đi chăng nữa, nó vẫn chỉ là một chi tiết.

Nó không thay đổi được điều gì thiết yếu.

Không thay đổi vai trò của cô.

Robbie quay lại bàn.

"Marshall?"

"Vâng."

"Cô thấy anh ta?"

"Tôi thấy một người đàn ông cao bằng anh ta."

"Cao bằng tôi."

"Vâng."

Giờ Cecilia đứng lên nhìn quanh - cơn lùng thuốc sắp sửa bắt đầu.

Robbie tìm thấy và ném bao thuốc qua phòng.

Cecilia châm thuốc và nói khi nhả khói, "Chị thấy khó mà tin được.

Anh ta là một kẻ ngốc, chị biết..."

"Anh ta là một tên ngốc đầy ham muốn," Robbie nói.

"Nhưng anh không thể tưởng tượng nổi anh ta với Lola Quincey, dù chỉ mất năm phút..."

Căn cứ vào tất cả những gì đã xảy ra, và tất cả những hệ quả khủng khiếp của nó, thật phù phiếm, cô biết, nhưng Briony vẫn thấy âm thầm thích thú khi đưa ra cái tin rồi sẽ khiến hai người kia sững sờ.

"Em vừa từ đám cưới họ về."

Một lần nữa, những điều chỉnh trong kinh ngạc, nhắc lại một cách hoài nghi.

Đám cưới?

Sáng nay?

Clapham?

Rồi im lặng trầm ngâm, bị những lời nhận xét rời rạc phá tan.

"Anh sẽ tìm hắn."

"Anh không được làm việc đó."

"Anh muốn giết hắn."

Và rồi, "Đến giờ phải đi rồi."

Còn bao điều nữa lẽ ra có thể nói ra.

Nhưng họ dường như kiệt lử, bởi sự hiện diện của cô, hay bởi chủ đề đó.

Hay họ chỉ khao khát muốn được ở riêng với nhau.

Dù thế nào, rõ là họ cảm thấy cuộc gặp gỡ đã đến hồi kết thúc.

Mọi sự tò mò đã hết.

Mọi thứ có thể đợi cho đến khi cô viết lá thư.

Robbie lấy áo khoác và mũ từ phòng ngủ.

Briony để ý thấy hai vạch hạ sĩ.

Cecilia đang nói với anh, "Hắn miễn nhiễm.

Nó sẽ luôn giấu tội cho hắn."

Mất vài phút cho việc nàng tìm sổ lương thực.

Cuối cùng, nàng thôi và nói với Robbie, "Em chắc là nó ở Wiltshire, trong cái nhà tranh."

Khi họ chuẩn bị đi, và anh giữ cửa mở cho hai chị em, Robbie nói, "Anh cho là mình nợ Thủy thủ Hạng nhất Hardman một lời xin lỗi."

Dưới tầng, bà Jarvis không xuất hiện từ phòng khách khi họ bước qua.

Họ nghe tiếng đàn clarinet chơi trên đài của bà.

Khi ra khỏi cửa trước, Briony cảm thấy dường như cô đang bước sang một ngày khác.

Gió mạnh tạt vào mặt, và đường phố vắng tanh vắng ngắt, càng nắng hơn, bóng râm ít hơn.

Vỉa hè không đủ rộng cho ba người đi sóng hàng.

Robbie và Cecilia đi sau cô, tay trong tay.

Briony cảm thấy gót chân phồng rộp của mình cọ vào giày, nhưng cô cương quyết họ không được nhìn thấy cô khập khiễng.

Cô nghĩ mình chỉ được họ tiễn ra khỏi nhà thôi.

Đến giữa chừng cô quay lại bảo sẽ sung sướng được đi bộ đến tàu điện một mình.

Nhưng họ không chịu.

Họ còn phải mua sắm một số thứ cho chuyến đi của Robbie.

Họ bước đi trong im lặng.

Nói chuyện linh tinh không phải là một lựa chọn.

Cô biết mình không có quyền hỏi chị mình địa chỉ mới của chị, hay hỏi Robbie tàu đưa anh đi đâu, hay về căn nhà tranh ở Wiltshire.

Hoa chuông là trồng ở đó à?

Chắc chắn ở đó có cảnh điền viên.

Mà cô cũng không thể hỏi khi nào hai người họ sẽ gặp lại nhau.

Ba người, cô và chị gái và Robbie chỉ có một chủ đề duy nhất, và nó đã bị cố định trong cái quá khứ không thể thay đổi.

Họ đứng ngoài ga tàu Balham, mà ba tháng sau sẽ lừng tiếng một cách kinh hoàng trong vụ đánh bom.

Một dòng người mua sắm ngày thứ Bảy đi quanh họ, khiến họ, ngược với mong muốn, đứng gần nhau hơn.

Họ tạm biệt nhẹ nhàng.

Robbie nhắc cô nhớ mang tiền theo khi đến gặp viên cố vấn chứng nhận tuyên thệ.

Cecilia bảo cô đừng quên mang theo địa chỉ khi đi Surrey.

Rồi kết thúc.

Họ nhìn cô, đợi cô bước đi.

Nhưng có một điều cô chưa nói.

Cô chậm rãi nói.

"Em vô cùng vô cùng xin lỗi.

Em đã gây cho hai người khổ đau ghê gớm."

Họ tiếp tục nhìn cô, và cô lặp lại lời mình.

"Em vô cùng xin lỗi."

Nghe thật ngu ngốc và không thỏa đáng, như thể cô đã làm đổ một chậu cây ưa thích, hay quên ngày sinh nhật.

Robbie dịu dàng nói, "Cứ việc làm tất cả những gì chúng tôi yêu cầu."

Cơ hồ như hòa giải, từ "cứ" đó, nhưng không hẳn, chưa hẳn.

Cô nói, "Đương nhiên," rồi quay bước đi, biết họ vẫn nhìn mình khi bước vào phòng vé rồi đi qua.

Cô trả tiền vé đi Waterloo.

Khi đến thanh chắn, cô nhìn lại thì họ đã đi mất.

Cô trình vé và đi vào trong ánh đèn vàng bẩn thỉu, tới chỗ đầu thang cuốn cót két ầm ĩ, và nó bắt đầu đưa cô xuống, vào làn gió nhẹ nhân tạo thổi từ dưới khối đen kia lên, hơi thở của một triệu dân London làm mặt cô mát lạnh và làm áo choàng cô bay lật phật.

Cô đứng yên và để mình bị đưa xuống, biết ơn vì được chuyển động mà không phải cọ xát gót chân.

Cô ngạc nhiên khi thấy mình thanh thản đến thế, và chỉ hơi buồn.

Có thất vọng không?

Cô hầu như không hy vọng sẽ được tha thứ.

Cô cảm giác giong như là nỗi nhớ nhà hơn, mặc dù chẳng có nguồn gốc cho nỗi nhớ, làm gì có nhà.

Nhưng cô buồn khi phải xa chị gáì mình.

Cô nhớ là nhớ người chị gái - hay chính xác hơn, chị gái cô với Robbie.

Tình yêu của họ.

Cả Briony lẫn chiến tranh đều không hủy hoại nó.

Đây là điều đã làm lòng cô dịu lại trên đường xuống dưới sâu thành phố.

Cecilia đã kéo anh lại nàng bằng ánh mắt tuyệt vời đến thế.

Sự dịu dàng trong giọng nói của nàng khi nàng gọi anh quay trở lại từ ký ức, từ Dunkirk, hay từ những con đường dẫn tới đó.

Nàng đã thường nói như thế với cô, thỉnh thoảng, khi Cecilia mười sáu và cô là một đứa trẻ sáu tuổi và có chuyện tồi tệ khủng khiếp xảy ra.

Hay trong buổi đêm, khi Cecilia đến cứu cô ra khỏi cơn ác mộng và bế cô sang giường mình.

Những từ đó chị đã từng dùng.

Trở lại với chị.

Chỉ là ác mộng thôi.

Briony, trở lại với chị.

Tình cảm gia đình không suy tính này đã bị lãng quên dễ dàng đến thế nào.

Giờ đây cô đang lướt xuống, qua ánh sáng nâu lấp loáng, gần như xuống đến đáy.

Không nhìn thấy hành khách nào cả, và không gian đột nhiên tĩnh mịch.

Cô hết sức điềm tĩnh khi suy ngẫm điều mình phải làm.

Hai thứ cộng lại, lá thư gửi cha mẹ và lời chứng chính thức sẽ chẳng mất thời gian chút nào.

Rồi cô sẽ được tự do trong cả ngày còn lại.

Cô biết mình phải làm gì.

Không đơn giản chỉ là một lá thư, mà là một bản thảo mới, một lời chuộc tội, và cô đã sẵn sàng bắt đầu.

BT

London, 1999
 
Atonement - Chuộc Tội
LONDON, 1999


Thời điểm mới kỳ lạ làm sao.

Hôm nay, vào buổi sáng sinh nhật bảy mươi bảy tuổi, tôi quyết định đến thăm lần cuối cùng thư viện Bảo tàng Chiến tranh Đế quốc ở Lambeth.

Thật hợp với tâm trạng khác thường của tôi.

Phòng đọc, nằm ngay trong mái vòm tòa nhà, trước đây là nhà nguyện của Bệnh viện Hoàng gia Bethlehem - Bedlam ngày xưa.

Nơi những kẻ thần kinh từng ghé đến cầu nguyện giờ lại là nơi các học giả tụ tập nghiên cứu sự điên rồ tập thể của chiến tranh.

Xe gia đình sai đưa đón mãi sau bữa trưa mới đến, vì vậy tôi nghĩ mình có thể tha thẩn, kiểm tra vài chi tiết cuối, và nói lời tạm biệt Người Trông coi Văn thư, và với những bảo vệ niềm nở đã hộ tống tôi lên xuống thang máy trong suốt những tuần đông ảm đạm này.

Tôi cũng định tặng cho phòng lưu trữ mười hai lá thư dài ông già Nettle gửi cho tôi.

Đó là quà sinh nhật cho chính tôi, tôi đồ là vậy, để tiêu một hai tiếng đồng hồ ít nhiều vờ bận bịu, rối lên với những việc sắp xếp nhỏ nhặt cuối cùng mới nảy ra và là một phần của cái quá trình ngại ngần không muốn rời xa nó.

Cũng tâm trạng như vậy, cả chiều qua tôi bận rộn trong thư phòng; giờ thì các bản thảo đã được sắp xếp theo thứ tự và ghi ngày tháng, những nguồn tài liệu photocopy đã được dán nhãn, sách mượn sắp sẵn đợi trả, và mọi thứ đã nằm đúng chỗ của mình trong các cặp lưu trữ.

Từ trước đến nay tôi vẫn luôn thích kết thúc mọi thứ trong trật tự.

Trời rét buốt và ẩm ướt, và tôi thấy đi lại bằng phương tiện công cộng thì bất tiện quá.

Tôi bắt taxi từ Regent's Park, và suốt quãng dài bò ì ạch qua trung tâm London, tôi nghĩ đến những cố nhân u sầu ở Nhà thương điên kia, những người từng một thời là nguồn khuây khỏa, và tôi tủi thân ngẫm ngợi chuyện nay mai thôi mình cũng gia nhập vào hàng ngũ của họ.

Đã có kết quả chụp cắt lớp và tôi đã đến gặp bác sĩ sáng qua.

Tin không tốt lành cho lắm.

Ngay khi tôi đặt người xuống ghế ông ấy nói như vậy.

Những cơn đau đầu, cảm giác vùng thái dương thắt lại, có một nguyên nhân cụ thể và nguy hiểm.

Bác sĩ chỉ vào vài đốm mờ trên một phần tấm phim chụp.

Tôi để ý thấy đầu bút chì trong tay ông run run, và tự hỏi liệu có phải ông ta cũng đang bị rối loạn thần kinh không.

Trong tinh thần bắn kẻ đưa tin, tôi khá hy vọng là ông ta có bị.

Tôi đang trải qua, ông ta nói, một loạt những đột quỵ tinh vi cơ hồ không nhận thấy.

Quá trình này sẽ diễn ra chậm, nhưng não tôi, trí óc tôi, đang ngừng hoạt động.

Những lần quên nhỏ nhặt sẽ dần trở nên dễ nhận ra hơn, làm suy nhược nhiều hơn, cho đến lúc tôi không còn nhận ra chúng nữa bởi vì tôi đã mất hoàn toàn khả năng tri nhận mọi thứ.

Ngày trong tuần, những gì đã xảy ra buổi sáng, hay thậm chí mới mười phút trước, sẽ vượt ngoài tầm với của tôi.

Số điện thoại của tôi, địa chỉ, tên và đời tôi đã sống thế nào sẽ mất sạch.

Trong hai, ba, hoặc bốn năm tới, tôi sẽ không nhận ra được những bạn bè cổ lai hy vẫn còn sống, và khi thức giấc vào buổi sáng, tôi sẽ không nhận ra mình đang ở trong phòng mình.

Và chẳng mấy chốc, tôi sẽ không ở đó nữa, vì khi ấy tôi sẽ cần được chăm sóc đặc biệt liên tục.

Tôi bị mất trí nhớ do tổn thương mạch máu não, bác sĩ bảo tôi, mà ít nhiều cũng thật dễ chịu khi được như vậy.

Quá trình thương tổn diễn ra dần dần, ông nhắc đi nhắc lại dễ phải đến hàng chục lần.

Tuy nhiên, bệnh này không tệ bằng Alzheimer, với cái kiểu tâm trạng thay đổi liên tục và tính khí hung hăng của nó.

Nếu tôi may mắn, nó có thể hóa ra một thứ tương đối lành.

Tôi có lẽ sẽ không bất hạnh - chỉ là một bà khọm già lẩm cẩm ngồi ghế bành, không biết gì, không mong đợi gì.

Tôi đã yêu cầu bác sĩ nói thẳng, vì thế không thể phàn nàn gì.

Giờ ông xua tôi về.

Còn mười hai người trong phòng khám đợi đến lượt.

Tóm lại, khi giúp tôi mặc áo khoác, ông vẽ ra tôi một lịch trình: mất trí nhớ, ngắn cũng như dài hạn, sự biến mất những từ đơn - những danh từ đơn giản có lẽ sẽ ra đi đầu tiên - rồi cả ngôn ngữ, cùng với khả năng cân bằng, rồi mau chóng theo sau là tất cả hoạt động tứ chi, cuối cùng là hệ thần kinh.

Đi đường vui nhé!

Tôi không thấy đau khổ lắm, thoạt đầu thì chưa.

Ngược lại, tôi phấn chấn và muốn kể ngay cho bạn bè thân thiết.

Tôi gọi điện thoại suốt một tiếng đồng hồ để báo tin.

Có lẽ tôi đã mất tự chủ rồi.

Dường như hơi hệ trọng quá mức.

Suốt chiều tôi thơ thẩn trong thư phòng với may việc sắp xếp lặt vặt ấy, và đến khi dừng tay, có đến sáu cặp hồ sơ mới đã được xếp lên giá.

Tối đó Stella và John ghé qua và chúng tôi gọi người ta đem đồ ăn Trung Quốc tới.

Hai người nốc hết hai chai Morgon.

Tôi dùng trà xanh.

Những người bạn đáng yêu hoảng hồn vì viễn cảnh mà tôi miêu tả về tương lai của tôi.

Cả hai đều ngoại lục tuần, đủ già để phỉnh phờ mình rằng bảy mươi bảy là hẵng đương còn trẻ.

Hôm nay, trong taxi, lúc tôi đi qua London với tốc độ của nhịp chân thả bộ dưới làn mưa rét buốt, tôi nghĩ đến ít chuyện khác.

Mình sắp điên rồi, tôi tự nhủ.

Đừng làm cho tôi điên.

Nhưng tôi không tài nào tin nổi vào điều đó.

Có lẽ tôi không là gì hơn một nạn nhân của ngành chẩn đoán hiện đại; ở vào một thế kỷ khác người ta sẽ chỉ nói về tôi là vì tuổi già mà mất đi sự minh mẫn.

Tôi còn trông mong gì nữa chứ?

Khi đó chỉ còn chết dần chết mòn, tôi tan mình vào cõi vô thức.

Taxi chạy tắt qua những phố nhỏ của khu Bloomsbury, qua căn nhà cha tôi sống khi tái hôn, rồi qua căn hộ tầng ngầm tôi sống và làm việc trong suốt những năm năm muơi.

Quá một độ tuổi nhất định, hành trình xuyên thành phố trở nên gợi tưởng đến khó chịu.

Địa chỉ của những nguời đã khuất chất dồn.

Chúng tôi qua quảng trường nơi Leon đã săn sóc vợ một cách quả cảm, rồi nuôi dạy bọn trẻ om sòm với một sự tận tụy làm kinh ngạc tất cả chúng ta.

Một ngày nào đó tôi cũng sẽ gợi nên suy tưởng trong phút giây nơi hành khách nào đó trong một chiếc taxi đang băng đường.

Đó là một ngõ tắt quen thuộc, Inner Circle của công viên Regent's Park.

Chúng tôi qua sông trên cầu Waterloo.

Tôi dịch người về phía trước ra mép ghế để thu trọn vào tầm mắt cái khung cảnh thành phố mà tôi thích, và khi quay đầu, xuôi xuống nhà thờ St.

Paul, ngược lên Big Ben, toàn bộ London dành cho du lịch nằm ở giữa, tôi thấy mình tráng kiện về mặt thể chất và minh mẫn toàn vẹn về mặt tinh thần, chỉ hơi đau đầu và váng vất mệt.

Dù héo mòn thế nào, tôi vẫn thấy mình là đúng con người mà tôi vẫn luôn là.

Việc này thật khó giải thích cho lớp trẻ.

Trông chúng ta có thể thực sự giống loài bò sát, nhưng chúng ta không phải là một tông giống biệt lập.

Tuy nhiên, trong một hai năm tới, tôi sẽ không còn giữ được lời tuyên bố quen thuộc này.

Những người bị bệnh nặng, những người bị loạn trí, là một giống khác, một giống tiểu nhược.

Tôi sẽ không để ai thuyết phục tôi ngược lại đâu.

Tài xế của tôi đang chửi thề.

Sang bên kia sông, những đoạn đường đang thi công buộc chúng tôi phải rẽ vòng về phía County Hall cũ.

Khi ngoặt khỏi đường vòng ở đó, về phía Lambeth, tôi thoáng thấy Bệnh viện St.

Thomas.

Nó từng bị tàn phá hồi quân phát xít tiến hành ném bom chớp nhoáng - tôi đã không có mặt ở đó, ơn Chúa - và khu nhà thay thế cùng tòa tháp là một nỗi ô nhục dân tộc.

Tôi làm việc tại ba bệnh viện trong thời gian ấy - Alder Hey, Royal East Sussex và St.

Thomas - và trong câu chuyện tôi đã gộp chúng lại để tập trung mọi trải nghiệm của mình vào một nơi.

Một sự bóp méo thuận tiện, vi phạm nhỏ nhất của tôi đối với sự xác tín.

Mưa bớt nặng hạt khi tài xế ngoặt một đường chữ u gọn gàng giữa đường, đưa chúng tôi đến ngoài cửa chính bảo tàng.

Loay hoay cầm túi, tìm tờ hai mươi bảng và xòe ô, tôi không nhận thấy chiếc xe đỗ ngay phía trước cho mãi đến khi taxi chạy đi.

Đó là một chiếc Rolls Royce màu đen.

Trong giây lát, tôi nghĩ không có người trong xe.

Thực ra, tài xế là một anh chàng bé tị cơ hồ khuất hẳn sau tay lái.

Tôi không chắc thứ mình chuẩn bị miêu tả đây có thực sự được coi là một sự tình cờ đáng ngạc nhiên không.

Mỗi khi trông thấy một chiếc Rolls không người lái, thỉnh thoảng tôi lại nghĩ đến vợ chồng Marshall.

Điều này đã trở thành một thói quen trong suốt những năm qua.

Họ hay lướt qua tâm trí tôi, thường không làm nảy sinh cảm xúc gì đặc biệt cả.

Tôi dần quen thuộc với ý tưởng về họ.

Thảng hoặc họ vẫn xuất hiện trên báo chí, khi có tin liên quan đến Quỹ tài trợ của họ và tất cả những việc tốt nó đã làm cho nghiên cứu y học, hay bộ sưu tập họ hiến tặng cho Tate, hay nguồn quỹ hào phóng dành cho các dự án nông nghiệp ở châu Phi Nam Sahara.

Và những buổi tiệc tùng của bà ta, và những hành động phỉ báng dữ dội chống lại báo chí trong nước.

Không có gì khác thường khi vợ chồng nhà Marshall xuất hiện trong suy nghĩ của tôi khi tôi bước tới hai khẩu đại bác khổng lồ giống nhau như đúc nằm trước bảo tàng, nhưng thấy họ bước xuống bậc thềm về phía tôi thì lại là một cú sốc.

Một đội nhân viên - tôi nhận ra giám đốc viện bảo tàng - và một tay chụp ảnh làm thành một đoàn đưa tiễn.

Hai thanh niên cầm ô che đầu vợ chồng Marshall khi họ xuống bậc thềm cạnh hàng cột.

Tôi lùi lại, bước chậm chân chứ không dừng lại hẳn, dừng lại sẽ gây chú ý.

Bắt tay một lượt, rồi một tràng cười thân ái sau câu gì đó Ngài Marshall nói.

Hắn tì vào một cây gậy, cái ba toong bóng nhoáng mà tôi nghĩ đã trở thành một kiểu thương hiệu riêng.

Hắn cùng vợ và ông giám đốc tạo dáng chụp ảnh, rồi vợ chồng Marshall ra về, hai thanh niên mặc vest cầm ô theo sau hộ tống.

Nhân viên viện bảo tàng vẫn đứng ở bậc thang.

Tôi lo nhìn xem nhà Marshall sẽ đi lối nào để biết đường mà tránh chạm trán trực diện.

Họ chọn đi qua hai khẩu súng phía bên trái của họ, và tôi đi bên trái của mình.

Được báng súng chĩa lên và ụ súng xi măng che một phần, một phần nhờ chiếc ô nghiêng nghiêng, tôi khuất mình, nhưng vẫn quan sát được.

Họ im lặng đi qua.

Mặt hắn trông cũng giống như trong ảnh.

Mặc cho những nốt đồi mồi và quầng tím thâm dưới mắt, nhìn mãi thì hắn cũng ra dáng một lão tài phiệt đẹp trai kiểu dữ tợn, mặc dù hơi xuống phong độ rồi.

Tuổi tác đã làm mặt hắn teo đi và mang lại cho hắn một vẻ mà trước đây hắn luôn hơi thiếu hụt.

Chính là nhờ hàm hắn đã thu mình lại - mất xương hóa ra lại hay.

Hắn hơi lập cập và bị chứng bàn chân bẹt, nhưng với một lão ông tám mươi tám đi lại được thế là tương đối ổn rồi.

Ai mà chẳng thành chuyên gia về những chuyện này.

Nhưng tay hắn bíu chặt vào tay ả và cây gậy không phải chỉ để trưng ra.

Nó cũng thường là để cho thấy trên đời này hắn đã làm nhiều việc tốt đến thế nào.

Có lẽ hắn đã dành cả đời để đền tội.

Hoặc có lẽ hắn chỉ vênh vang tiến tới không nghĩ suy gì, sống cuộc đời vốn luôn là của hắn.

Còn Lola - cô em họ xa hoa, nhả thuốc như ống khói - ả đó, vẫn gầy còm và săn chắc như con chó đua, và vẫn chung thủy.

Ai mà tưởng tượng được thế chứ?

Chuyện này, như thiên hạ vẫn nói, cho thấy ả cũng kiếm chác được.

Nghe có vẻ chua chát, nhưng đầu tôi nảy ra ý nghĩ đó khi liếc thấy ả.

Ả diện áo khoác lông chồn zibelin và đội chiếc mũ phớt rộng vành đỏ tươi.

Trông táo bạo hơn là phô.

Gần tám chục cái xuân xanh, mà vẫn dận giày cao gót.

Gót giày nện xuống nền lối đi tiếng bước chân của một phụ nữ trẻ hơn tuổi ấy nhiều.

Không thấy dấu hiệu một điếu thuốc lá nào.

Thực ra, quanh ả tỏa ra một làn không khí của trại tập luyện dưỡng sinh, và màu da được làm cho rám nắng trong nhà.

Giờ ả đã cao hơn chồng, và không nghi ngờ gì vẫn tràn đầy sinh lực.

Nhưng ở ả cũng có gì đó hơi khôi hài - hay tôi đang cố bới bèo ra bọ?

Ả trang điểm nặng tay, quanh miệng hơi sáng quá, còn kem nền và phấn thì hào phóng.

Nhưng tôi vốn luôn khắt khe về mục này, vì thế tôi không tính bản thân là một chứng nhân đáng tin cậy.

Tôi thấy có bóng dáng của một ả vô lại trên sân khấu ở đây - thân hình hốc hác, áo khoác đen, môi tái mét.

Chỉ cần thêm cái đót hút thuốc, con chó con kẹp dưới cánh tay là ả có thể thành mụ trộm chó Cruella De Vil lắm.

Chúng tôi đi qua nhau trong khoảnh khắc.

Tôi bước lên bậc thềm, rồi dừng lại dưới trán tường, ra khỏi mưa, nhìn nhóm người ấy tới chỗ xe.

Người ta đỡ hắn vào xe trước, và tôi thấy hắn mới yếu ớt làm sao.

Hắn không thể cúi lưng xuống được, cũng không trụ nổi trên một chân.

Họ phải bế hắn vào chỗ ngồi.

Cửa bên kia được mở ra cho Phu nhân Lola cúi người chui thoắt vào nhanh như chớp.

Tôi nhìn chiếc Rolls hòa vào dòng xe, rồi vào trong.

Nhìn thấy họ khiến tim tôi như có gì đó đè lên nặng trịch, và tôi cố không nghĩ đến nó, hay cảm thấy nó lúc này.

Ngày hôm nay tôi đã phải đói mặt đủ rồi.

Nhưng tôi nghĩ đến sức khỏe của Lola khi gửi túi ở phòng mũ áo, khi tôi vui vẻ chào hỏi những bảo vệ.

Quy tắc ở đây là khách phải được hộ tống lên đến phòng đọc bằng thang máy, mà theo tôi biết thì trong cái khoảng không thang máy chật hẹp ấy người ta buộc phải cất tiếng trò chuyện.

Khi tôi cất tiếng - thời tiết kinh thật, nhưng đến cuối tuần thế nào cũng đỡ hơn - tôi không thể cưỡng lại việc nghĩ đến cuộc tao ngộ ngoài kia theo những phạm trù cơ bản về mặt sức khỏe: tôi có thể thọ hơn Paul Marshall, nhưng Lola thì chắc chắn dai hơn tôi.

Hệ quả của chuyện này rất rõ ràng, vấn đề này đã đi cùng chúng tôi suốt bao năm qua.

Như biên tập viên của tôi từng nói, xuất bản luôn tương đương với kiện tụng.

Nhưng giờ tôi cơ hồ không đối mặt nổi với chuyện đó.

Có đủ chuyện tôi không muốn nghĩ đến rồi.

Tôi đã đến đây để được bận rộn.

Tôi nói chuyện một lúc với Người Trông coi Văn thư.

Tôi đưa cho ông tập thư mà ông Nettle viết cho tôi về Dunkirk - họ biết ơn vô vàn khi được nhận.

Chúng sẽ được lưu trữ cùng với tất cả những thứ khác tôi đã gửi.

Người trông coi đã tìm cho tôi một đại tá già sốt sắng của Trung đoàn Hoàng gia Đông Kent, bản thân ông ta cũng gần như một sử gia nghiệp dư, ông đã đọc những trang đánh máy liên quan của tôi rồi fax đến những gợi ý của mình.

Bây giờ thư của ông ta được trao lại cho tôi - vừa cáu bẳn, vừa hữu ích.

Tôi bị chúng cuốn hút hoàn toàn, ơn Chúa.

"Tuyệt đối không [gạch chân hai lần] người lính nào phục vụ trong quân đội Anh lại nói 'Ngay tắp lự'.

Chỉ lính Mỹ mới ra lệnh như thế.

Từ đúng là 'Ngay lập tức'."

Tôi yêu những thứ nhỏ nhặt này, cách tiếp cận sự thật từ tiểu tiết này, việc chỉnh lại từng chi tiết mà khi cộng lại sẽ đem lại sự thỏa mãn lớn nhường ấy.

"Chẳng ai lại nghĩ đến chuyện nói 'những khẩu súng nặng hai mươi lăm pound'.

Thuật ngữ đúng hoặc là 'những khẩu hai mươi lăm pound' hoặc là 'pháo hai mươi lăm pound'.

Cách dùng từ của bà nghe rõ là kỳ quặc, ngay cả với người không ở trong Pháo binh Hoàng gia."

Như cảnh sát trong đội truy lùng, chúng tôi lần mò bằng tay và đầu gối và bò dần đến sự thật.

"Bà cho gã công tử bột Không quân Hoàng gia ấy đội mũ nồi.

Tôi thực sự không nghĩ thế.

Ngoài Trung đoàn Xe tăng, ngay cả quân đội cũng không có mũ nồi vào năm 1940 đâu.

Tôi nghĩ tốt hơn bà nên cho anh ta một cái mũ quân đội bình thường."

Cuối cùng, viên đại tá ấy, người mở đầu thư bằng cách gọi tôi là "Cô Tallis", đã cho phép sự khó chịu với giới tính của tôi lộ ra.

Mà giới của chúng ta thì sao lại dính vào những sự vụ này chứ?

"Thưa bà [gạch chân ba lần] - một máy bay Stuka không thể chở 'một quả bom nghìn tấn'.

Bà có ý thức được rằng một tàu chiến hải quân còn chưa nặng chừng đó không?

Tôi đề nghị bà nên tìm hiểu vấn đề này kỹ càng hơn."

Chỉ là lỗi đánh máy.

Tôi định gõ "pound".

Tôi ghi chú lại những chỗ sửa chữa này, và viết thư cảm ơn ông đại tá.

Tôi trả tiền vài tài liệu photo mà tôi sắp xếp thành từng chồng ngăn nắp để làm tài liệu lưu trữ của riêng mình.

Tôi trả sách đã mượn ở bàn tiếp tân, và vứt đi đủ loại giấy tờ vớ vẩn.

Nơi làm việc hoàn toàn sạch sẽ dấu vết của tôi.

Khi chào tạm biệt Người trông coi, tôi nghe nói Quỹ Marshall sắp tài trợ cho bảo tàng.

Sau một vòng bắt tay với các thủ thư khác, và hứa hẹn sẽ bày tỏ lòng biết ơn sự giúp đỡ của bộ phận này trong cuốn sách của tôi, một nhân viên khuân vác được cử đưa tôi xuống.

Rất tử tế, cô gái trong phòng gửi áo mũ gọi một chiếc taxi, và một nhân viên trẻ gác cửa mang túi của tôi ra tận vỉa hè.

Trong suốt chuyến quay về hướng Bắc, tôi nghĩ đến lá thư của đại tá, hay nói đúng hơn, sự thích thú của chính mình với những thay đổi con con này.

Nếu thực sự quan tâm đến sự thật nhiều đến thế, lẽ ra tôi nên viết một cuốn sách loại khác.

Nhưng tác phẩm của tôi đã xong xuôi.

Sẽ không có bản thảo nào thêm nữa.

Đó là những gì tôi nghĩ khi xe chúng tôi chạy vào đường hầm xe điện cũ dưới Aldwych, ngay trước khi tôi ngủ quên mất.

Khi tôi được tay tài xế đánh thức, taxi đã đậu ngoài căn hộ của tôi ở Regent's Park.

Tôi sắp xếp giấy tờ mang từ thư viện về, làm một cái sandwich, rồi đóng gói một va li đi qua đêm.

Tôi ý thức được trong khi tha thẩn trong căn hộ, từ phòng thân thuộc này sang phòng thân thuộc kia, rằng những năm độc lập của tôi sẽ khép lại nay mai.

Trên bàn là tấm ảnh chồng tôi, Thierry, lồng trong khung, chụp ở Marseille hai năm trước khi ông mất.

Một ngày nào đó tôi sẽ hỏi ông là ai.

Tôi tự dỗ mình bằng cách dành thời gian chọn một chiếc váy mặc cho bữa tôi sinh nhật.

Quá trình này thực sự đã khiến tôi trẻ lại.

So với năm ngoái tôi gầy đi.

Khi lần ngón tay dọc theo giá quần áo tôi quên mất mình được chẩn đoán thế nào suốt may phút liền.

Tôi quyết định vận chiếc váy bằng vải casomia xám chiết eo.

Từ đó mọi thứ theo sau một cách dễ dàng: khăn xa tanh trắng cài chiếc trâm nạm đá của Emily, giày - gót thấp, dĩ nhiên - một khăn choàng lớn màu đen.

Tôi đóng va li lại và lay làm ngạc nhiên nó mới nhẹ làm sao khi tôi cầm ra hành lang.

Thư ký của tôi sẽ đến vào ngày mai, trước khi tôi quay về.

Tôi để lại cho cô ấy một lá thư, ghi rõ việc tôi muốn cô làm, rồi lấy một cuốn sách và pha một tách trà, ngồi xuống ghế bành cạnh cửa sổ trông ra công viên.

Tôi luôn giỏi giang cái khoản không nghĩ đến những thứ thực sự quấy rầy mình.

Nhưng tôi không đọc nổi.

Tôi thấy chộn rộn.

Một chuyến đi về quê, một bữa tối tôn vinh tôi, một sự tái sinh những mối gắn kết gia đình.

Ấy vậy mà tôi vừa có một trong những cuộc trò chuyện thuộc dạng kinh điển với một vị bác sĩ.

Lẽ ra tôi phải tuyệt vọng mới đúng.

Liệu có thể nào tôi, nói theo cách hiện đại, đang cố phủ nhận?

Nghĩ về chuyện này chẳng thay đổi được gì.

Mãi nửa tiếng nữa xe mới đến mà tôi thì bồn chồn.

Tôi đứng dậy khỏi ghế và đi quanh phòng một vài lần.

Ngồi lâu quá thường khiến đầu gối tôi đau.

Tôi bị ý nghĩ về Lola ám ảnh, sự ác nghiệt của khuôn mặt bự phấn già nua hốc hác đó, từng sải chân mạnh mẽ trên đôi giày cao gót chênh vênh, sức sống của ả, động tác nhanh nhẹn khi chui vào chiếc Rolls.

Phải chăng tôi đang cạnh tranh với ả khi tôi bước chân trên tấm thảm trải giữa lò sưởi và trường kỷ?

Tôi luôn nghĩ đời sống sang giàu, những điếu thuốc lá, sẽ tiễn ả nhanh về chín suối.

Ngay từ hồi chúng tôi năm mươi tuổi tôi đã nghĩ thế.

Nhưng ở tuổi tám mươi ả vẫn có cái vẻ mặt biết tuốt, háo hức.

Ả vẫn luôn là cô gái lớn hơn, trội hơn, luôn trước tôi một bước.

Nhưng trong chuyện quan trọng cuối cùng đó, tôi sẽ đi trước ả, trong khi ả sẽ tiếp tục sống đến một trăm tuổi.

Tôi sẽ không thể kịp xuất bản tác phẩm khi còn sống.

Chiếc Rolls hẳn đã làm tôi bối rối, bởi vì chiếc xe khi nó đến - muộn mười lăm phút - thật đáng thất vọng.

Thường những thứ như vậy không làm tôi bận tâm.

Nó là một chiếc minicab đầy bụi, băng ghế sau bọc lông giả có hình da ngựa vằn.

Nhưng anh tài xế, Michael, thì là một anh chàng người Caribê hồ hởi và đã khuân va li của tôi, rồi cuống quýt đẩy ghế trước ra cho tôi ngồi vào.

Khi đã xong xuôi vụ tôi không thể chịu nổi tiếng nhạc xập xinh dù vặn nhỏ cỡ nào từ loa ở rìa trần xe ngay sau đầu, và anh đã vui vẻ trở lại sau khi sưng sỉa tí chút, chúng tôi hòa hảo và nói chuyện về gia đình.

Anh chưa bao giờ biết cha mình là ai, còn mẹ anh là bác sĩ ở Bệnh viện Middlesex.

Anh ta thì tốt nghiệp ngành luật Đại học Leicester, giờ đi học ở LSE viết luận án tiến sĩ về luật pháp và nghèo đói ở thế giới thứ ba.

Trên con đường ảm đạm ra khỏi London theo lối Westway, anh nói cho tôi phiên bản cô đọng của mình: không luật sở hữu, vì thế không có vốn, vì thế không có tài sản.

"Có một câu chuyện của cánh luật sư," tôi nói.

"Hãy tự vẽ ra việc cho mình."

Anh chàng cười lịch sự, mặc dù anh ta hẳn nghĩ tôi dốt đặc cán mai.

Ngày nay khá là khó khăn để rút ra được điều gì về trình độ học vấn của một người từ cách họ nói chuyện hay ăn mặc hay từ loại nhạc họ thích.

An toàn nhất là đối xử với mọi người ta gặp như là một học giả lẫy lừng.

Sau hai mươi phút chuyện đã cạn, tôi lại ngủ quên khi chiếc xe ra đến xa lộ và động cơ chuyển sang nhịp chuyển động dần đều, khi tỉnh dậy đã thấy chúng tôi trên đường quê, và một cơn căng đau nhói thắt trên trán tôi.

Tôi lấy từ trong túi đeo ra ba viên aspirin, khó chịu nhai rồi nuốt.

Phần nào trong trí óc tôi, trí nhớ tôi, đã bị tôi đánh mất vào tay một cuộc đột quỵ tinh vi khi ngủ?

Tôi sẽ không bao giờ biết được.

Chính lúc đó, ở băng sau chiếc xe nhỏ tin hin này, tôi trải nghiệm lần đầu tiên cảm giác như là tuyệt vọng.

Hoảng loạn sẽ là một từ mạnh quá.

Một phần nó là nỗi ám ảnh sợ không gian nhỏ kín mít, một sự giam cầm vô phương ngăn lại trong quá trình mục ruỗng, và một cảm giác co rút.

Tôi vỗ lên vai Michael bảo anh ta bật nhạc lên.

Anh ta cho rằng tôi chiều anh ta chỉ vì chúng tôi sắp đến nơi rồi, nên từ chối.

Nhưng tôi cứ nài, và thế là cái tiếng bass đinh tai lại xập xình trở lại, trên nền đó là giọng nam trung mỏng hát bằng tiếng địa phương vùng Caribê theo nhịp của một bài hát thiếu nhi, hay bài hát của trẻ khi chơi nhảy dây trên sân choi.

Nó làm tôi thích thú.

Nghe vô cùng trẻ con, mặc dù tôi ngờ rằng người hát đang biểu lộ vài mối đau đớn giày vò.

Tôi không đòi phải dịch nghĩa ra.

Nhạc vẫn bật cho đến khi chúng tôi ngoặt vào đường xe chạy của khách sạn Tilney.

Hơn hai mươi lăm năm đã trôi qua kể từ ngày tôi đến đây, dự đám tang Emily.

Điều đầu tiên tôi nhận thấy là sự thiếu vắng của cây trồng trong công viên, những cây du khổng lồ đã chết vì bệnh, tôi nghĩ vậy, và những cây sồi còn sống sót bị đốn đi để lấy chỗ cho sân golf.

Giờ chúng tồi chạy chậm lại để vài tay chơi golf và đám người vác gậy cầm bóng cho họ đi qua.

Tôi không thể ngăn mình nghĩ họ là những kẻ xâm phạm.

Khu rừng bao quanh bungalow cổ của Grace Turner vẫn nằm đó, và khi lôi xe chạy dẫn đến những cây sồi cuối cùng, nhà chính hiện ra trong tầm mắt.

Chẳng cần ngậm ngùi nhớ tiếc làm gì - nó luôn là một căn nhà xấu xí.

Nhưng từ xa, nó có vẻ ảm đạm và trơ trọi.

Những dây thường xuân một thời từng làm giảm bớt ấn tượng của mặt tiền màu đỏ tươi đã bị cắt sạch, có lẽ để bảo tồn công trình xây bằng gạch.

Chắng mấy chốc chúng tôi lại sắp đến cây cầu thứ nhất, nhưng chưa gì tôi đã nhận thấy hồ nước không còn đó nữa.

Trên cây cầu ấy, chúng tôi lửng lơ ngay trên một khoảng cỏ hoàn hảo, giống như thỉnh thoảng ta vẫn thấy trong một cái hào nước cũ.

Bản thân nó thì không gây khó chịu, nếu ta không biết ngày xưa từng có gì ở đó - cây lách, đám vịt và con cá chép khổng lồ mà hai kẻ du thủ du thực đã nướng rồi chén no nê bên ngôi đền trên đảo.

Mà cái đền cũng chẳng còn.

Nơi nó từng đứng giờ là một cái ghế gỗ, và một thùng rác.

Đảo, mà dĩ nhiên không còn là đảo điếc gì nữa, giờ là một gò đất dài cỏ mọc sum suê, như một nấm mồ cổ khổng lồ, nơi đỗ quyên và các loại cây bụi mọc tràn lan.

Có một lối đi lát sỏi chạy vòng quanh, nhiều băng ghế đặt chỗ này chỗ kia, và những ngọn đèn vườn hình cầu.

Tôi không có thời gian để cố mà định vị nơi tôi từng ngồi an ủi Phu nhân Lola Marshall khi còn trẻ, vì chúng tôi đã băng qua cây cầu thứ hai và giảm tốc để rẽ vào khu đỗ xe trải nhựa chạy dọc chiều dài căn nhà.

Michael mang va li của tôi vào khu vực tiếp tân ở sảnh cũ.

Kỳ cục làm sao khi họ chắc hẳn phải rước lấy bao nhiêu khó khăn mới trải được thảm nhung sọc mịn lên trên những viên gạch trắng đen kia.

Tôi ngờ hệ thống âm thanh luôn là cái gây rắc rối, mặc dù tôi không bận lòng gì.

Một mùa của Vivaldi đang nghèn nghẹt phát ra trên loa âm.

Có một cái bàn hồng mộc tao nhã, trên mặt bàn đặt màn hình máy tính và lọ hoa, và đứng gác hai bên bàn là hai bộ áo giáp ky sĩ; gắn trên tường gỗ là đôi kích bắt chéo và một huy hiệu; trên tất cả là bức chân dung trước kia thường đặt trong phòng ăn bức tranh ông nội tôi mang về nhằm làm cho gia đình tôi có chút vẻ dòng dõi.

Tôi boa cho Michael và thực lòng chúc anh ta may mắn với quyền sở hữu tài sản và đói nghèo.

Tôi đang cố rút lại câu nhận xét ngớ ngẩn về luật sư.

Anh chúc tôi một sinh nhật vui vẻ và bắt tay tôi - nắm tay của anh ta mới rụt rè và mềm mịn làm sao - rồi ra đi.

Từ sau bàn một cô gái mặt nghiêm nghị vận bộ com lê văn phòng đưa chìa khóa cho tôi và bảo tôi rằng thư viện ngày xưa đã dược đặt riêng để tổ chức bữa tiệc của chúng tôi.

Một vài người đến trước đã ra ngoài đi dạo.

Theo kế hoạch là sẽ tập trung lại ăn uống một chút lúc sáu giờ.

Một cậu khuân vác mang va li của tôi lên.

Có một thang máy cho tôi thuận tiện đi lại.

Lúc đó vẫn chưa có ai ra chào đón tôi, nhưng tôi cảm thấy nhẹ nhõm.

Tôi thích được tận hưởng điều ấy một mình, sự thích thú khi thấy quá nhiều thứ đã đổi thay, trước khi buộc phải trở thành khách mời danh dự.

Tôi đi thang máy lên tầng hai, qua một loạt cửa kính thoát hiểm, và đi dọc hành lang sàn lát những tấm ván đánh xi bóng loáng cọt kẹt nghe quen thuộc.

Thật kỳ quặc, khi nhìn các phòng ngủ được đánh số và khóa chặt.

Dĩ nhiên, số phòng của tôi - bảy - không nói lẫn gì với tôi cả, nhưng tôi nghĩ mình đã đoán trước sẽ ngủ ở đâu rồi.

Ít ra, khi dừng lại ngoài cửa, tôi không ngạc nhiên.

Không phải phòng cũ của tôi, mà là phòng của dì Venus, luôn được coi là ở vị trí ngắm cảnh đẹp nhất trong nhà, trông ra hồ, lối xe chạy, cánh rừng và những ngọn đồi xa xa.

Charles, cháu của Pierrot đồng thời là linh hồn của ban tổ chức, hẳn đã để dành riêng cho tôi.

Thật là một sự ngạc nhiên dễ chịu khi bước vào.

Các phòng hai bên đã được nhập vào làm thành một phòng suite lớn.

Trên cái bàn thủy tinh thấp đặt một cành hoa khổng lồ trồng trong nhà kính.

Cái giường cao đồ sộ mà dì Venus chiếm rất lâu mà không ai phàn nàn gì đã bị mang đi, cả cái tủ ngăn kéo có chạm khắc và sofa lụa xanh nữa.

Bây giờ chúng là tài sản của đứa con trai cả với người vợ thứ hai của Leon và được kê trong một lâu đài đâu đó ở vùng cao nguyên Scotland.

Nhưng nội thất mới cũng đẹp, và tôi thích phòng này.

Va li của tôi được chuyển tới, tôi gọi một bình trà và treo váy lên.

Tôi thăm thú phòng khách, có một bàn viết và một đèn bàn rất tốt, và rất ấn tượng với cái phòng tắm rộng mênh mông, với túi hoa thơm và chồng khăn tắm vắt trên giá được sưởi ẩm.

Thật nhẹ nhõm khi không trông thấy mọi thứ theo kiểu chứng sẽ tàn tạ đi một cách vô vị - việc đó dễ dàng trở thành thói quen do tuổi tác.

Tôi đứng ở cửa sổ chiêm ngưỡng ánh mặt trời xiên qua sân golf, làm những cây trơ trụi sáng bừng lên trên những ngọn đồi xa xa.

Không hắn là tôi chấp nhận được sự vắng mặt của hồ nước, nhưng có lẽ một ngày nào đó nó sẽ được tôn tạo lại, hơn nữa chắc chắn rằng bây giờ, khi đã là khách sạn, tòa dinh thự này mang trong mình nhiều hạnh phúc con người hơn, so với hồi tôi sống ở đây.

Charles gọi điện thoại cho tôi một giờ sau, ngay khi tôi bắt đầu nghĩ nên thay đồ.

Ông đồ nghị sẽ lên đón tôi lúc sáu giờ mười lăm, sau khi mọi người đã tập trung đông đủ, và đưa tôi xuống để tôi xuất hiện thật long trọng.

Và thế là tôi đặt chân vào phòng hình chữ L rộng lớn, khoác tay ông, trong bộ xiêm y casơmia, mọi người vỗ tay nhiệt tình, và rồi năm mươi người họ hàng nâng ly chúc mừng.

Ấn tượng ngay lập tức nảy ra trong tôi khi bước vào là không nhận ra ai cả.

Không một khuôn mặt thân quen!

Tôi tự hỏi có phải mình đang nếm trước khả năng không tri nhận được mọi thứ như người ta đã hứa hẹn.

Rồi tà từ tôi nhìn kỹ từng người.

Ta phải tính đến năm tháng, và tốc độ mà với nó em-bé-bế-ngửa trở thành những đứa trẻ mười tuổi ầm ĩ.

Không nghi ngờ gì kia là anh trai tôi, còng và như sắp sụm xuống một bên trong xe đẩy, một chiếc khăn ăn giắt ở cổ họng để hứng sâm banh dây ra, có người nâng cốc lên tận môi anh.

Khi tôi nhoài người tới để hôn Leon, anh cố gắng nở một nụ cười ở nửa khuôn mặt vẫn còn cử động được.

Và tôi cũng không nhầm được Pierrot ngày xưa, teo tóp hết cả lại với đầu trọc sáng bóng mà tôi muốn đặt tay lên, nhưng vẫn rạng rỡ như bao đời và rất trưởng bối.

Chúng tôi ngầm chắp nhận sẽ không bao giờ nhắc đến chị gái ông.

Tôi đi một lượt quanh phòng, Charles bên cạnh, giới thiệu những cái tên cho tôi.

Thật thú vị làm sao khi được ở trung tâm của cuộc tái hợp đầy thiện chí thế này.

Tôi làm quen với lũ trẻ là cháu chắt của Jackson đã mắt mười lăm năm trước.

Thực ra, chỉ hai đứa sinh đôi thôi đã sản sinh ra kha khá người trong phòng này.

Và Leon cũng làm không tệ cho lắm, với bốn cuộc hôn nhân và làm cha một cách nhiệt thành.

Theo tuổi tác chúng tôi gồm những người từ ba tháng cho đến tám mươi chín tuổi là Leon.

Và là một tổ hợp giọng nói ồn ào, từ ồm ồm đến the thé, khi phục vụ bàn đi vòng quanh bê thêm sâm banh và nước chanh.

Con cái đã già của anh em họ xa đang chào tôi như bạn bè lâu ngày không gặp.

Mỗi giây mỗi phút đều có người muốn đưa ra vài lời nhận xét lịch sự về sách của tôi.

Một nhóm thiếu niên dễ thương bảo tôi rằng chúng đang học sách của tôi ở trường.

Tôi hứa sẽ đọc bản thảo tiểu thuyết đánh máy do con trai của ai đó viết, anh ta hiện không có mặt ở đây.

Thư từ và thiệp chúc mừng dúi vào tay tôi.

Chất đóng trên bàn trong góc phòng là những món quà mà vài đứa trẻ đã bảo tôi phải mở ra trước, chứ không phải sau khi chúng ngủ.

Tôi hứa hẹn, tôi bắt tay, hôn má và môi, ca tụng và nựng các cháu bé còn bế ẵm, và ngay khi tôi bắt đầu nghĩ mình muốn ngồi xuống chỗ nào đó quá thì liền nhận thấy các ghế đang được kéo ra, quay về một phía.

Rồi Charles vỗ tay và, hét to át tiếng ồn hầu như không thuyên giảm, tuyên bố rằng trước bữa tối sẽ có một màn tiêu khiển chúc mừng tôi.

Rồi tất cả chúng tôi ngồi xuống.

Tôi được dẫn đến một chiếc ghế bành ở hàng trước.

Ngồi cạnh tôi là Pierrot già cả, đang nói chuyện với một em họ ở bên trái.

Một sự gần như im lặng đến sốt ruột phủ xuống căn phòng.

Từ một góc tiếng thì thào khó chịu của bọn trẻ con vọng tới, mà tôi nghĩ nên lịch thiệp lờ đi không nghe.

Trong khi ngồi chờ, trong khi tôi có vài giây cho riêng mình, ấy là nói thế, tôi nhìn quanh, và chỉ bây giờ mới tri nhận được một cách đầy đủ sự thật rằng tất cả sách vở đã bị mang đi khỏi thư viện, cả các giá sách nửa.

Đó là lý do vì sao căn phòng lại có vẻ lớn hơn rất nhiều so với tôi còn nhớ.

Thứ duy nhất để đọc là tạp chí địa phương xếp trên giá cạnh lò sưởi.

Khi có tiếng đề nghị im lặng, và tiếng kéo ghế loẹt xoẹt, một thằng bé vận áo choàng đen chợt xuất hiện trước mặt chúng tôi.

Nó trắng xanh, đầy tàn nhang và tóc đỏ rực - không nhầm lẫn gì là một đứa cháu nhà Quincey.

Tôi đoán nó chừng chín hay mười tuổi.

Cơ thể nó ẻo lả, khiến đầu nó dường như to đùng và có vẻ gì đó siêu trần.

Nhưng trông nó tự tin khi đưa mắt nhìn quanh phòng, đợi khán giả ổn định.

Rồi cuối cùng nó hất cái cằm nhọn hoắt lên, hít càng phổi, và cất giọng cao trong rõ ràng.

Tồi vẫn chờ đợi sẽ có trò ảo thuật gì đó, nhưng điều tôi nghe thấy lại toát ra vẻ siêu nhiên.

Chuyện kể rằng nàng Arabella bồng bột Cùng một tên ngoại quốc bỏ trốn di Cha mẹ nàng buồn đau ủ dột Trông cảnh cô con gái đầu lòng Biến khỏi nhà đi xứ Eastbourne

Mà không được phép, lâm trọng bệnh và sống bần hàn Cho đến khi nàng chỉ còn lại sáu xu cuối cùng.

Đột nhiên, em ở ngay đó trước tôi, cô bé bận rộn, khinh khỉnh, ngạo mạn đó, và em cũng chưa chết, vì khi mọi người khúc khích cười tán thưởng từ "biến khỏi", trái tim yếu đuối của tôi - phù phiếm nực cười!

- khẽ nhảy rộn lên.

Thằng bé đọc bằng sự rõ ràng đến choáng váng, pha chút âm nghịch tai mà thế hệ tôi sẽ gọi là giọng Cockney, mặc dù tôi không hề biết vào thời này âm tắc thanh hầu t có ý nghĩa quan trọng thế nào.

Tôi biết những từ đó là của tôi, nhưng tôi gần như không nhớ chúng, và thật khó tập trung, với quá nhiều câu hỏi, quá nhiều cảm xúc đang dồn tụ lại.

Họ đã tìm được bản đó ở đâu, và sự tự tin đến phi lý này có phải là một triệu chứng của một độ tuổi khác?

Tôi liếc người ngồi bên, Pierrot.

Ông lấy khăn mùi soa ra chấm chấm mắt, và tôi không nghĩ đó chỉ là niềm tự hào của bậc ông cha.

Tôi cũng ngờ rằng tất cả đây là ý tưởng của ông.

Đoạn mở đầu lên đến cao trào hợp lý:

Cô gái bồng bột thấy ngày ngọt ngào hé nở

Khi cùng chàng hoàng tử xe duyên.

Nhưng xin cẩn trọng,

Bởi Arabella biết được hầu quá muộn Rằng trước khi yêu ta luôn cần ngẫm nghĩ!

Chúng tôi vỗ tay rào rào.

Thậm chí có cả tiếng huýt sáo thô tục.

Cuốn từ điển đó, cuốn Oxford Concise đó.

Giờ đâu rồi?

Ở Tây Bắc Scotland?

Tôi muốn có lại nó.

Thằng bé cúi đầu chào và thụt lùi lại một vài mét, rồi nhập cùng bốn đứa khác vừa tiến ra, mà tôi không để ý thấy, và đang đợi ở cái có lẽ là cánh gà.

Và thế là Những gian nan của nàng Arabella bắt đầu, với buổi tiễn biệt của hai bậc phụ huynh buồn rầu, lo lắng.

Tôi ngay lập tức nhận ra nữ nhân vật chính là chắt của Leon, Chloe.

Một con bé mới nghiêm nghị đáng yêu làm sao, với giọng trầm đục và dòng máu Tây Ban Nha của mẹ nó chảy trong người.

Tôi nhớ mình đến dự tiệc sinh nhật năm nó một tuổi, dường như đó cách nay chỉ mới vài tháng.

Tôi nhìn con bé diễn cảnh rơi vào cảnh nghèo đói và tuyệt vọng một cách đầy thuyết phục, khi bị tên bá tước gian ác - chính là thằng bé đọc đoạn mở đầu vận áo choàng đen - bỏ rơi.

Chưa đầy mười phút vớ kịch đã kết thúc.

Trong ký ức, bị cảm quan về thời gian của một đứa trẻ bóp méo, nó dường như luôn dài bằng một vở kịch của Shakespeare.

Tôi đã hoàn toàn quên bẵng rằng sau lễ cưới Arabella và chàng hoàng tử-thầy lang sẽ tay khoác tay, và đồng thanh, bước tới trước nói với khán giả những câu thơ kết cùng.

Đây là khởi đầu của tình yêu tại nơi bao gian nan kết thúc.

Vì vậy xin tạm biệt, bạn yêu ơi, chúng tôi giong buồm vào bóng hoàng hôn!

Không phải là câu hay nhất của tôi, tôi nghĩ.

Nhưng toàn bộ phòng, trừ Leon, Pierrot và chính tôi, đều đứng dậy vỗ tay.

Bọn trẻ con này mới lão luyện làm sao, cho đến tận khi ra chào khán giả lần hai.

Tay trong tay, chúng đứng sóng hàng, làm theo Chloe ra hiệu, lùi lại hai bước, tiến tới, rồi lại cúi đầu.

Trong sự ồn ào, không ai nhận thấy Pierrot tội nghiệp đã mất tự chủ hoàn toàn và gục mặt vào hai bàn tay.

Phải chăng ông đang sống lại khoảng thời gian kinh hoàng, đơn độc ở đây sau khi cha mẹ ly dị?

Buổi tối hôm đó trong thư viện, họ, hai anh em sinh đôi ấy, đã muốn được đóng kịch biết bao, và giờ đây vở kịch cuối cùng cũng được diễn, sau sáu mươi tư năm, và anh trai ông đã khuất núi từ lâu rồi.

Tôi được đỡ ra khỏi chiếc ghế dễ chịu và phát biểu vài lời cảm tạ.

Cạnh tranh với một đứa bé đang oe óe khóc ở cuối phòng, tôi cố gợi lại cái mùa hè nóng nực năm 1935 đó, khi các em họ từ phương Bắc về chơi.

Tôi quay sang đoàn diễn viên bảo chúng rằng màn trình diễn của chúng tôi sẽ không thể nào sánh được với chúng.

Pierrot gật đầu dứt khoát, Tôi giải thích rằng hoàn toàn lỗi do tôi mà buổi diễn tập hồi ấy tan tành, vì đi được nửa đường tôi lại quyết định trở thành tiểu thuyết gia.

Có tiếng cười khoan dung, thêm tiếng vỗ tay, rồi Charles tuyên bố bữa tối bắt đầu.

Và thế là buổi tối dễ chịu trải ra - bữa ăn ồn ã mà tôi thậm, chí dã nhấm một ít rượu, những món quà, rồi đến giờ mấy đứa nhỏ lên giường, trong khi anh chị lớn của chúng chạy đi xem tivi.

Rồi nói chuyện bên tách cà phê và những tiếng cười đôn hậu nhiệt tình, đến mười giờ thì tôi bắt đầu nghĩ đến căn phòng huy hoàng trên tầng của mình, không phải vì tôi mệt rồi, tôi chỉ mệt vì có nhiều người vây quanh và là đối tượng của quá nhiều chú ý, dù chân thành đến mức nào.

Nửa giờ nữa trôi qua với những lời chúc ngủ ngon và chào tạm biệt rồi Charles và vợ, Annie, tiễn tôi về phòng.

Bây giờ là năm giờ sáng và tôi vẫn ngồi ở bàn viết, nghĩ về hai ngày kỳ lạ vừa qua.

Quả thực người già không cần ngủ - ít ra là không phải vào buổi đêm.

Tôi vẫn có quá nhiều thứ phải suy ngẫm, và nhanh thôi, có khi chỉ trong năm nay, đâu óc tôi sẽ không đủ khả năng làm được việc đó.

Tôi nghĩ đến cuốn tiểu thuyết cuối cùng của đời mình, cuốn tiểu thuyết lẽ ra phải là cuốn đầu tiên.

Bản sơ thảo sớm nhất, tháng Giêng năm 1940, bản cuối cùng, tháng Ba năm 1999, và ớ giữa, đến nửa tá những bản thảo khác nhau.

Bản thảo thứ hai, tháng Sáu năm 1947, bản thứ ba... ai cần biết chứ?

Nhiệm vụ năm mươi chín năm của tôi đã xong rồi.

Ở đó có tội ác của chúng tôi - Lola, Marshall, tôi - và từ bản thứ hai trở đi, tôi bắt tay vào miêu tả tội ác ấy.

Tôi coi nghĩa vụ của mình là không được che giấu bất cứ điều gì - tên tuổi, nơi chốn, những hoàn cảnh chính xác - tôi viết ra tất cả với tư cách những ghi chép về lịch sử.

Nhưng với tư cách một sự thật mang tính pháp lý, vô số biên tập viên đã bảo tôi trong suốt những năm qua rằng hồi ký làm chứng cớ buộc tội của tôi không thể xuất bản khi những tòng phạm của tôi còn sống.

Ta chỉ có thể phỉ báng chính mình và những kẻ đã chết.

Nhà Marshall đã gây ảnh hưởng ít nhiều với tòa án kể hừ hồi cuối những năm bốn mươi, bảo vệ thanh danh mình bằng sự hung tợn đắt đỏ nhất.

Họ có thể làm sập tiệm một nhà xuất bản dễ dàng đủ bằng lời kể hiện thời của họ.

Người ta rất có thể nghĩ họ giấu giếm gì đó.

Nghĩ, đúng thế, nhưng viết thì không.

Những gợi ý rõ ràng được nêu ra - thay đổi địa điểm, biến đổi nội dung, giấu giếm.

Hãy kéo tấm màn sương tưởng tượng xuống!

Sinh ra tiểu thuyết gia để làm gì cơ chứ?

Cần đi xa chừng nào thì chỉ đi chừng ấy, hãy dựng trại quá tầm với, quá đầu ngón tay của pháp luật khoảng mươi phân.

Nhưng không ai biết khoảng cách này chính xác này là bao nhiêu chừng nào một phán xét chưa được ban xuống.

Để an toàn, ta sẽ phải nhạt nhẽo và mơ hồ.

Tôi biết mình không thổ xuất bản cho đến khi họ chết.

Và từ những gì nhìn thấy sáng nay, tôi chấp nhận rằng sẽ không thể cho đến khi tôi chết.

Chẳng ích gì nếu chỉ một trong hai bọn họ ra đi.

Ngay cả cuối cùng khi ảnh chụp cái mặt tóp của Ngài Marshall đăng trên trang cáo phó, cô em họ từ phương Bắc của tôi sẽ không chấp nhận bị buộc tội đồng lõa âm mưu.

Có một tội ác.

Nhưng cũng có đôi tình nhân.

Tình nhân và những kết cục có hậu của họ dằn vặt tâm trí tôi suốt đêm dài.

Vì chúng ta căng buồm vào hoàng hôn.

Một sự nghịch đảo bất hạnh.

Tôi chợt nhận ra sau rốt mình cũng chẳng đi được bao xa, kể từ hồi viết vở kịch nho nhỏ đó.

Hay nói đúng hơn, tôi đã lang thang lạc đường khủng khiếp và cuối cùng lại trở về điểm xuất phát ban đầu.

Duy chỉ trong bản cuối cùng này đôi tình nhân của tôi mới có kết thúc có hậu, đứng cạnh nhau trên một vỉa hè ở Nam London khi tôi bước đi.

Tất cả những bản thảo trước đều nhẫn tâm.

Nhưng giờ tôi không còn có thể nghĩ sẽ nhằm mục đích gì nếu, tỉ dụ như, tôi cố thuyết phục độc giả, bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp, rằng Robbie Turner chết vì bị nhiễm trùng máu ở Bray Dunes vào mồng 1 tháng Sáu năm 1940, hay Cecilia bị chết vào tháng Chín cùng năm khi ga tàu điện ngầm Balham bị đánh bom.

Rằng tôi không bao giờ gặp họ vào năm đó.

Rằng chuyến đi qua London của tôi kết thúc ở nhà thờ tại Clapham Common, và rằng một con bé Briony hèn nhát khập khiễng lê chân về bệnh viện, không thể đối mặt nổi với bà chị gái vừa có tang.

Rằng những lá thư đôi tình nhân viết cho nhau được lưu trữ ở Bảo tàng Chiến tranh.

Những thứ này làm sao tạo nên kết cục được đây?

Một người đọc có thể rút ra từ một câu chuyện như thế ý nghĩa, hay hy vọng, hay sự thỏa mãn nào?

Ai muốn tin rằng họ không bao giờ gặp lại, tình yêu của họ không bao giờ trọn vẹn?

Ai lại muốn tin điều đó, trừ phi để phục vụ cho thứ chủ nghĩa hiện thực đen tối nhất?

Tôi không thể làm vậy với họ.

Tôi quá già, tôi quá sợ hãi, quá yêu cái mẩu đời bé tí còn sót lại của mình.

Tôi đối mặt với làn sóng lãng quên đang ập lên, và rồi hoàn toàn chìm vào quên lãng.

Tôi không còn sở hữu sự bi quan can đảm của mình nữa.

Khi tôi chết, và vợ chồng nhà Marshall chết, và tiểu thuyết cuối cùng được xuất bản, chúng tôi sẽ chỉ tồn tại với tư cách là những sáng tạo của tôi.

Briony sẽ là một tưởng tượng không kém gì đôi tình nhân ngủ chung giường ở Balham và chọc tức bà chủ nhà của họ.

Sẽ không ai quan tâm xem sự kiện nào cá nhân nào đã bị bóp méo để làm nên một tiểu thuyết.

Tôi biết luôn có một loại độc giả nhất định cứ thấy phải hỏi, Nhưng chuyện gì đã thực sự xảy ra?

Câu trả lòi rất đơn giản: đôi tình nhân sống sót và thăng hoa.

Chừng nào chỉ có một bản, bản đánh máy độc nhất bản thảo cuối cùng của tôi, thì bà chị gái bồng bột, nông nổi của tôi và chàng hoàng tử thầy lang của chị sẽ sống sót mà yêu nhau.

Vấn đề trong năm mươi chín năm qua là thế này.

Bằng cách nào một nhà văn chuộc được tội khi mà, bằng quyền năng tuyệt đối quyết định mọi kết cục, cô ấy cũng là Chúa?

Không một ai, không một thực thể hay dạng thức cap cấp hơn nào mà cô có thể khẩn khoản cầu xin, hay hòa giải làm lành, hay có thể tha thứ cho cô.

Không gì ngoài bản thân cô.

Trong tưởng tượng của mình, cô đã đặt ra những giới hạn và điều lệ.

Không có sự cứu chuộc nào cho Chúa, cho các nhà văn, ngay cả khi họ có vô thần.

Đó luôn luôn là một nhiệm vụ bất khả thi, và chính xác là như thế.

Nỗ lực là tất cả.

Tôi đứng ở cửa sổ, cảm thấy những làn sóng mệt mỏi đang xô tan dần phần khỏe mạnh còn lại trong cơ thể mình.

Sàn nhà dường như nhấp nhô dưới chân tôi.

Tôi nhìn tia sáng màu xám đầu tiên làm rạng lên bãi cỏ và hai cây cầu trên cái hồ nước đã không còn nữa.

Cả lối xe chạy hẹp dài mà trên đó họ đã đưa Robbie đi, vào trong màu trắng bạc.

Tôi muốn nghĩ rằng đó không phải sự yếu đuối hay lẩn tránh, mà là hành động vị tha cuối cùng, đứng lên chống lại sự lãng quên và tuyệt vọng, để những người yêu nhau của tôi được sống và đoàn tụ ở kết cùng.

Tôi cho họ hạnh phúc, nhưng tôi không ái kỷ đến độ muốn họ tha thứ cho mình.

Chưa được, chưa thể.

Nếu tôi có quvền năng mời họ đến dự lễ sinh nhật của mình...

Robbie và Cecilia, vẫn còn sống, vẫn yêu nhau, ngồi bên nhau trong thư viện, nở nụ cười cho Những gian nan của nàng Arabella?

Chuyện đó không phải là bất khả.

Nhưng giờ tôi phải ngủ thôi.
 
Back
Top Bottom