Cập nhật mới

Khác 55 Ngày Đêm Ở Xứ Phương Đông

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
397640753-256-k723002.jpg

55 Ngày Đêm Ở Xứ Phương Đông
Tác giả: saulviettruyen
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Câu truyện viết về một Tiểu Đội Đức được cử đến đồn trú tại Đại sứ quán Đức tại Bắc Kinh năm 1900 , Theo chân Muller một binh nhất cùng Karl , Schmitz và Hartmann cùng các đồng chí khác chống trả lại cuộc bao vây của Nghĩa Hoà Đoàn và Nhà Thanh .



đức​
 
55 Ngày Đêm Ở Xứ Phương Đông
Chap 1


Năm Quang Tự, tháng đoan ngọ tức ngày 30/5/1900.

Tôi vẫn còn nhớ đoạn đường ấy — nhớ rất rõ.

Cứ như thể mỗi bước chân năm ấy vẫn còn in dấu trong lưng tôi mỗi khi trời chuyển gió.

Đó là một buổi sáng canh 7 khi chúng tôi hành quân từ Thiên Tân, hướng về Bắc Kinh.

Kinh đô ấy, lúc bấy giờ với tôi chỉ là một cái tên... một điểm đến.

Tình hình lúc bấy giờ Đại thanh được quản lí bởi Hoàng Đế Ái Tân Giác La Tải , tức Quang Tự .

Tiếng Thở Than Từ Cõi Giang Sơn Dưới triều Hoàng đế Quang Tự, cuộc đời dân chúng Đại Thanh chẳng khác nào địa ngục trần gian.

Triều đình tham nhũng, mục ruỗng, đẩy họ vào cảnh khốn cùng.

Không chỉ vậy, thiên tai liên miên càng đổ thêm dầu vào lửa.

Mỗi khi Hoàng Hà hay Dương Tử nổi giận, nước lũ cuồn cuộn cuốn trôi nhà cửa, nhấn chìm ruộng đồng, cướp đi sinh mạng của hàng triệu người vô tội.

Những người may mắn sống sót thì bơ vơ, màn trời chiếu đất, vật lộn với đói khát và bệnh tật.

Sự cùng quẫn dồn nén đã biến họ thành những ngọn lửa giận dữ, bùng lên trong các cuộc khởi nghĩa.

Nhưng rồi, những tia hy vọng ấy lại bị dập tắt bởi chính quyền và gót giày của các Đế Quốc .

Cuộc sống của họ mãi chìm trong nỗi lo sợ, bị thương, không một lối thoát.

Cảm giác lúc đấy lòng tôi không biết những gian nan kia sẽ đến với chúng tôi như thế nào và diễn ra làm sao .

Nhưng tôi nhận ra rằng đấy là những thứ thách không chỉ chúng tôi , mà còn những người lính của Đế quốc Đức vĩ đại luôn tiếp nhận và trải qua trong cuộc đời binh nghiệp của mình.

Karl lúc đó đi bên trái tôi, cái bóng anh ta to nhưng là người lùn nhất nhưng tính khí lại rất hiếu thắng .

Anh vừa đi vừa huýt sáo — một giai điệu nào đó, hoặc chỉ là bịa ra cho vui.

"Tụi mình đang đi đến đâu vậy hả Müller?" – anh quay sang hỏi, mồ hôi đọng trên mép chiếc nón sắt bám đầy bụi trên đường hành quân

"Bắc Kinh " – tôi đáp

"Bắc Kinh ? , tui chưa từng nghe tới nơi này luôn đấy , Muller " – anh ta trả lời với sự tò mò

Schmitz thì đi trước, đôi giày đinh cứ gõ nhịp lên đất như đang đếm từng giây cuối cùng của chuyến đi vậy .

Anh ta ít nói, nhưng nếu nói thì câu nào câu nấy đều toát lên sự hiểu biết

"Cậu nên học những lễ nghi ứng xử với họ đấy , karl , bọn họ có một nền văn hoá lâu đời và uyên thâm nên đừng tưởng chúng ta hơn họ " – cậu ta nói khi đoàn quân lướt qua một ngôi đền nhỏ.

"đúng vậy nhưng giờ đây họ lại là những người của sự lãng quên " – Karl đáp, bật cười

Còn Hartmann, người cao nhất của nhóm bốn chúng tôi , thì lặng lẽ hơn tất cả, cũng tại cậu ấy muốn làm nhà thơ nhưng đời lại muốn anh ta theo con đường binh nghiệp . cậu ta đi sau tôi, mắt luôn hướng về phía những đám cỏ lau ven đường và trầm ngâm , như thể đang tìm một thứ gì đó .

Tôi nhớ cái cách anh ta khẽ nói,

"Lá ở đây rơi không theo gió, Müller à.

Nó rơi như thể nhớ nhà... từng chiếc một, chậm rãi, không ai gọi về."

Tôi quay sang.

Nhìn một cách khó hiểu :

"Cậu lại lên cơn nhớ nhà , nhớ người yêu đang chờ đợi à ?

Karl cắt lời của tôi bằng một lời châm chọc khiến những người khác hàng sau cười ồ lên

" Cái thằng này lại bắt đầu giở chứng làm thơ à ?

"

Schmitz nghiêm nghị trả lời

"Thôi nào các cậu , để cho cậu ta làm thơ đi , số phận đã không cho cậu ta làm thơ rồi"

Nói xong cả đám không ai còn bàn tới việc đó nữa vì mọi người đều kính sợ Schmitz thứ hai chỉ sau chỉ huy Brehm , vừa nói xong viên chỉ huy liền lên tiếng

" Có vẻ tôi cảm nhận đâu đây sự nhớ nhà nhỉ ? , liệu có cần tôi hát một bài để kính lệ tinh thần ko đấy "

Cả đoàn quân cùng đồng hanh vô vang

" Jawohl!

" [tuân lệnh]

Sau đó Brehm cất lời

"Ein Schifflein sah ich fahren" [Tôi nhìn thấy một con thuyền nhỏ đang ra khơi]

Cả bọn cùng đồng thanh hát theo

" Kapitän und Leutenant " [thưa đại uý và trung uý ]

" Darinnen waren geladen " [trên thuyền đã tập hợp xong]

"Drei brave Kompanien Soldaten " [Ba đại đội với binh lính thiện chiến nhất]

" Kapitän, Leutenant, Fähnerich, Sergeant" [ Thưa đại uý , trung uý , thiếu uý , Trung sĩ]

"Nimm das Mädel, nimm das Mädel bei der Hand" [Hãy nắm lấy , hãy nắm lấy tay của các cô gái nào !]

" Soldaten, Kameraden" [này người lính , hỡi đồng chí]

Tiếng hát lan như sóng xua đuổi những sự mệt mỏi của mọi người và cả niềm nhớ nhung của Hartman , khiến chúng tôi hành quân tới chân cửa thành mà chúng tôi không thề hay biết , đến nơi cũng là lúc cơn nắng dịu đi khiến cơn uể ải của tôi phần nào giảm nhưng sự nhẹ nhõm ấy bị bóp nghẹt ngay tức thì... bởi một cảnh tượng khủng khiếp đang diễn ra trước mắt.

Ngay bên ngoài cổng thành, ngay đoạn có một khoảng đất trống nhỏ có khoảng bốn mươi đến năm mươi người — đàn ông áo chẽn, băng đỏ buộc đầu, tay cầm giáo mác, gậy gộc.

Mắt họ đầy sự phẩn nộ .

Họ đang đứng vây quanh một người đàn ông da trắng, tóc bạc, áo chùng đen thẫm dính đầy vết máu và bùn đất , đang bị những tên võ sĩ tra tấn .

Tôi và mọi người liền nhận ra ông là thương nhân Heinrich Krauss , một người tôi từng gặp lúc còn ở bến cảng Hamburg .

Giờ đây ông lại bị trúng tra tấn một cách dã man

"Ôi Trời " – Hartmann thầm thì, mắt sững sờ

Karl thì cầm chắc khẩu gewehr 88 còn Schmitz cố gắng trấn an mọi người , nhưng Trung úy Brehm giơ tay ra hiệu dừng lại và ông ra lệnh chúng tôi giữ bình tĩnh và bày toả muốn thương lượng để cứu cha sứ ấy.

"Schmitz," ông nói, giọng trầm – "Cậu biết tiếng trung quốc chứ ? cậu đi với tôi ."

"Rõ." – Schmitz đáp,

Chúng tôi đứng lại, giữ đội hình.

Brehm và Schmitz bước tới, tay không giương súng, mà thể hiện sự lịch sự để biểu lộ thiện chí.

ĐÓ là một viên quan nhà Thanh , già với thân hình to béo trái ngược với những kẻ còn lại với thân hình như bỏ đói , đứng ngay phía trước đám đông xung quanh

Schmitz nói với viên quan bằng tiếng trung quốc

"Chào ngài .

Vị thương nhân kia là công dân của Kaiser Wilhelm đệ nhị .

Chúng tôi muốn giao dịch để chuộc lại ông ấy , 2400 hào ngài đồng ý chứ ?

"

Viên quan nhà Thanh sau đó đi lại tên lực lưỡng và nói thứ tiến gì đó mà chỉ có Schmitz mới hiểu .

Rồi quay lại bảo.

"4600 hào "

Brehm nhíu mày rồi nói với Schmitz để anh ta nói lại với viên quan :

"4600 hào ?

Ông ta chỉ là một thương nhân già, không mang theo của cải.

Các ngài nghĩ chúng tôi mang theo ngân khố của vua Đức sao ?"

Tên lực lưỡng quay qua bảo với vị quan về việc gì đó rồi vị quan ấy nói tiếp

"Giá như vậy là ổn rồi .

4600 hào , vì ông ta là người ngoại quốc.

Đến xâm lược đất nước chúng tôi nên tội nặng lắm , muốn chuộc mạng thì phải cao ."

Brehm siết quai nón, im lặng một lúc.

Rồi quay sang Schmitz:

"thôi được rồi .

Để tôi chuộc ông ấy với giá , 4600 hào "

Schmitz nói, nhưng bọn kia lại muốn cái giá cao hơn Một tên khác đá vào bụng ông Krauss.

Khiến ông ngã ra, máu trào từ mép.

Karl gầm lên phía sau:

"mẹ kiếp lũ khốn này !"

"bình tĩnh nào !" – tôi cố chấn an anh ta trong lúc cuộc giao dịch đang diễn ra căng thẳng

Sau vài phút thương lượng nữa, giá lại tăng thêm một ít và chúng chốt với cái giá 5000 lạng , nhưng Brehm vẫn giữ lập trường với giá 4600 lạng , từ xa một tên trong đám giơ súng hoả mai kiểu cũ lên chỉa thẳng về phía Trung úy Brehm.

Mọi thứ như đông cứng.

Tôi đứng cách họ khoảng ba mươi bước.

Tay đã đặt trên cò súng từ trước, như một phản xạ.

Nhưng lúc đó – khi cái nòng súng của hắn ánh lên dưới ánh chiều tà, tôi biết rõ ý định của hắn .

Tôi hít một hơi, ngắm thẳng, .

Hắn chưa kịp bóp cò thì tôi khai hoả.

ĐOÀNG!

Tiếng súng nổ vang phá tan không khí căn thẳng và xác hắn rơi xuống bên cạnh nơi ông Krauss bị chúng đánh đập .

Tiếng súng khiến chúng giật mình lùi lại, và không dám manh động vài tên theo bản năng giơ gươm giáo lên .

Nhưng viên quan nhà Thanh chỉ ra lệnh bọn chúng không được manh động vì ông ấy cũng không muốn xảy ra xích mích và liền kêu những kẻ kia cởi trói cho ông Krauss ra ,

Brehm rút từ chiếc túi mà ông hay mang theo bên mình , đếm đúng 4600 hào, rồi đưa cho vị quan chiếc túi rồi nói :

" Ngài cầm lấy và bảo bọn chúng hãy lo ma chay cho tên đã bị lính của tôi bắn chết "

Vị quan ấy , cầm lấy chiếc túi đếm đúng 4600 hào rồi chia chắc cho từng tên còn lại , có kẻ còn vui sướng đến độ bỏ mặc kẻ đã bị tôi bắn nằm lăng lóc ở một góc

Nhanh chóng tôi và Hartman cùng vài người khác chạy đến để dìu vị thương nhân ấy , mặt ông bầm tím bởi những trận đòn tra tấn , máu khô dính hai bên thái dương, chiếc áo rách tả tơi vì những màn tra tấn và bấm đầy bụi đất , một anh lính quân y liền đến và quỳ xuống, kiểm tra nhịp tim, và các vết bầm của ông ấy .

"Ngài ấy vẫn còn sống .

Nhưng tình trạng đang rất nghiêm trọng" – cậu ấy nói, rồi lấy chiếc khăn y tế mang theo bên mình và lau những vết máu hai bên thái dương , Brehm bước tới, cùng mọi người đở người thương nhân lên ngựa và không quên quay lại nói với tôi :

" là cậu đã bắn tên kia à muller ? , bắn tốt đấy "

Chúng tôi đặt ông ngồi tựa nghiêng lên yên ngựa, còn Brehm bước lùi lại, hô vang

"Tập hợp hàng ngũ!" – ông quát.

Tiếng giày đinh dập đất vang lên rầm rập.

Những người lính Đức chúng tôi trong sắc phục nâu sẫm bám đầy bụi đất liền điều chỉnh đội hình, khẩu Gewehr trên vai, nét mặt không biểu cảm, nhưng ánh mắt sáng rực một niềm tự hào khó tả và chúng tôi tiến vào Bắc Kinh với sự thoải mái và phấn chấn khi vừa cứu một mạng người và cũng đã đến nơi sau chiến hành quân từ Thiên Tân

Cánh cổng thành Bắc Kinh khép mở chậm rãi như mi mắt một gã khổng lồ ngủ quên.

Bọn tôi bước qua cái lằn ranh ấy, mà có cảm giác như mình đang chiêm ngưỡng một kiệt tác có một không hai , và những gì hiện ra sau bức tường thành ấy — tôi nhớ rõ — không ai trong đơn vị có thể quên được cảnh tượng choáng ngợp ấy

Không giống Thiên Tân hay Thượng Hải là Athens của Trung Hoa thì Bắc Kinh như là một nơi giao thoa giữ nền văn hoá phương đông cổ kính và Châu Âu hiện đại .

Đường phố rợp bóng cây ngô đồng, mái ngói cong như sống biển .

Nhưng giữa những cánh cổng những ngôi đền cổ và những dòng chữ Hán , thì đâu đây tôi lại cảm nhận được cả một nét châu âu thu nhỏ từ bảng hiệu khách sạn và công trình kiểu châu âu.

Bọn tôi đi thành hàng, theo tiếng lệnh của Brehm nhưng giờ đây chúng tôi như đang bị mê hoặc bởi cảnh tượng xung quanh và cả các cô gái.

Không chỉ các cô gái Trung Hoa mặc sườn xám đi guốc gỗ khiến đoàn chúng tôi mê hoặc , mà còn có cả những cô gái người Pháp, người Ý, và người Nga – tóc vàng, mắt nâu, má hồng phấn nhìn chúng tôi như như nhìn các chàng hiệp sĩ trong truyện cổ tích.

Karl đánh vai tôi một cái:

"Müller, mày đúng là tay thiện xạ đấy!

Một viên đạn của mày không chỉ giết một tên võ sĩ , mà còn cho tụi tao đến một nơi không ngờ tới luôn đó !"

Cả nhóm cười ồ.

Hartmann thì mỉm cười kín đáo, mắt vẫn quét qua những cánh cửa sổ hé mở, nơi vài bóng thiếu nữ đang vén rèm nhìn theo đoàn quân.

Một cô gái người Hoa đi ngang đoàn chúng tôi môi cô ấy đỏ như vỏ táo, liếc nhìn Karl rồi bật cười che miệng.

"Schmitz!

Dạy tớ nói vài câu tán tỉnh bằng bằng tiếng Trung Quốc đi " – Karl nói vừa liếc nhìn các cô gái khác

Schmitz đảo mắt, rồi nói

"Được rồi , cậu cứ nói.

'wǒ xiǎng hé nǐ yuē huì' nghĩa là anh muốn hẹn hò với em "

Karl nghe xong đơ hết cả người , khiến chúng tôi có cớ để chọc cậu ta

" Vậy mà cũng đòi tán gái "- nói xong cả bọn người ồ lên

Ngay cả Trung úy Brehm cũng khẽ bật cười, lắc đầu.

Đoàn quân đi tiếp trên đường lát đá, hai bên là hàng quán, những chiếc xe kéo, những bức tường quét vôi màu hồng nhạt và mùi thức ăn đang dậy lên từ đâu đó khiến những kẻ lấm lem bụi đất như chúng tôi không khỏi cưỡng lại được

Khi tới gần đại sứ quán Đức , chúng tôi phần nào nhẹ nhõm vì cuối cùng cũng đến , khu Ngoại Giao của Đức nằm gần góc phía đông bắc của tường thành trong , đối diện là đại sứ quán Nhật và Pháp và kế bên là Tây Ban Nha

Ngay khi chúng tôi vừa dừng bước trước cổng sắt của tòa Đại Sứ Quán — một tòa nhà hai tầng kiến trúc pha giữa cổ điển Đức và ngói gốm phương Đông — kèn hiệu nổi lên.

"Achtung!" – Brehm hô lớn.

Đội hình lập tức nghiêm chỉnh.

Một sĩ quan khác tiến lên, hô lệnh dõng dạc.

Và rồi — trong ánh nắng buổi chiều đổ xuống mặt sân lát đá xám — lá cờ Đế quốc Đức tung bay phất phới trong niềm kiêu hãnh và vinh quang bắt đầu được kéo lên đỉnh cột cờ.

Chúng tôi đứng im, không ai nói một lời vì đang đắm chìm trong niềm kiêu hãnh .

Tôi không rõ mình nghĩ gì lúc ấy, chỉ thấy tim đập tròn nhịp như tiếng trống hành quân ngày đầu ra trận.

Sau buổi lễ, Trung úy Brehm được một người mời vào trong tòa nhà.

Chúng tôi thì được sắp xếp tại một trại lính , Schmitz nói với mọi người trong đoàn quân

"Hiện tại chỉ huy Brehm đi gặp ngài đại sứ Ketteler nên các cậu sắp xếp đồ đạc của mình còn tôi sẽ lo phần ngài thương nhân "

Nói xong Schmitz cùng người lính quân y dẫn ngài thương nhân đến một bệnh viện gần đó để chữa trị

Cùng lúc đó – phía ngoài

Bọn tôi được dẫn tới khu nhà gạch phía sau, nơi dành riêng cho lính trú phòng.

Tường vôi, cửa sắt, có vài chiếc giường sắt xếp dọc theo dãy nhà.

Có chỗ để ba lô, có kệ súng, có cả thau nhôm để rửa mặt — xa xỉ gấp chục ở trên những con tàu bẩn thỉu mà chúng tôi đến đây .

Karl nằm bẹp xuống giường như đã lâu không được nằm trên một nơi êm ái , còn hartmann thì sắp xếp đồ đạc gọn gàng và không quên nhét vài cuốn sách vào dưới gối , còn tôi chỉ nhẹ nhàng ngồi xuống , lau chùi khẩu gewehr đã đồng hành tôi từ Thiên Tân đến đây

( Còn Tiếp )
 
55 Ngày Đêm Ở Xứ Phương Đông
chap 2


Đêm đó, trong thành Bắc Kinh không trăng mà chỉ có gió.

Gió lùa qua sân lát đá của doanh trại, xào xạc dưới mái ngói.

Gió mang theo bụi, mùi hoa nhài dập nát, và đâu đó...

Tiếng nhạc hí của một người con gái thuộc đoàn kinh kịch Trung hoa cất vang với đệm sắc u buồn

Trên những mái ngói âm dương, sương trôi qua lửng lờ , còn chiếc đèn lồng đỏ leo lét trước các quán trà đã đóng cửa từ lâu, chỉ còn lại ánh sáng hắt ra từ vài ô cửa của những khu nhà ngoại giao – như những đôi mắt nửa tỉnh nửa mơ, như đang canh chừng một giấc ngủ yên.

Rồi từ xa vọng lại tiếng mõ lẻ loi – nhịp gõ cứ đều đặn đâu đó từ miếu thờ, giữa khu phố Tàu ngoằn ngoèo như mê cung xen lẫn là vài bóng người Hoa gánh nước về muộn, bước chân khe khẽ như đang sợ làm kinh động bóng tối .

Gió về khuya chuyển lạnh, luồn vào kẽ áo, tạt qua mái nhà rồi lướt trên mặt hồ Cảnh Nhân.

Cây liễu rủ ven bờ run lên khẽ khàng, như cũng biết điều gì đó đang đến.

Khi này , cả đám chúng tôi ngồi túm tụm lại một góc , quanh một cây đèn dầu đặt trên thùng gỗ.

Đèn chỉ có ánh sáng lẻ loi đủ soi sáng một nửa khuông mặt cả bọn .

Tôi , Hartmann cùng vài người lính khác cùng đơn vị cùng – chia nhau những khẩu phần thịt nguội, bánh mì thì khô khốc và nước lọc đựng trong bình sắt.

Giữa chúng tôi, Hartmann lôi ra cái tẩu thuốc cũ kỹ – thứ mà cậu ấy luôn giấu trong ba lô, như báu vật.

Mỗi người rít một hơi, rồi chuyền tay, vừa để sưởi ẩm , vừa để giết thời gian.

Khói thuốc lượn lờ dưới ánh đèn dầu, hòa cùng mùi mồ hôi, bụi đất và hơi thở dài.

"Hên là có món súp erbswurst này ít ra còn giúp ta nuốt được đống bánh mì khô khốc này " – một người lính vừa húp bát súp vừa nói .

Hartmann tựa lưng vào cột, cuốn nhật ký đặt dưới đùi, tay cầm mẩu bánh nhỏ, nhấm nháp chậm rãi như một con chim sẻ đói ăn.

"Nếu giờ được ở Potsdam," cậu ấy thì thầm, giọng nhỏ đến nỗi gần như tan vào gió, đôi mắt nhìn vào bát súp không rau không thịt, vô hồn.

"Có lẽ tao đã được mẹ nấu cho món súp củ cải nóng hổi..."

"Còn tao vẫn nhớ hồi ở Kiel, con gái tóc vàng thường nhiều như tuyết vào mùa đông " – người lính kia , mắt vẫn nhìn vào ánh chiếc đèn dầu yếu ớt

"Còn tao vẫn nhớ hồi ở Kiel, con gái tóc vàng nhiều như tuyết vào mùa đông," người lính kia nói, đôi mắt vẫn dán vào ánh đèn dầu yếu ớt, như tìm kiếm một chút ánh sáng của ký ức.

"Lâu rồi cậu không thấy con gái à?" tôi hỏi, giọng có chút ngập ngừng.

"Ừ, cũng đã rất lâu rồi," anh ta đáp, một nỗi buồn sâu thẳm thoáng qua ánh mắt.

"Từ khi tụi mình lên tàu từ cảng Hamburg đến giờ."

Ở một góc phòng, Karl cùng Schmitz và Dietrich bày ra bộ bài Tây kiểu Đức – Deutsches Blatt.

Họ chơi trò Schafkopf, vừa cười đùa ồn ào vừa đập những lá bài in hình Eichel (quả sồi), Schelle (chuông), Herz (tim), và Grün (lá) – khác hẳn bộ bài Tây kiểu Pháp mà chúng tôi hay thấy bọn lính Pháp hay chơi.

"Herz!" – Karl la lên – "Tao dẫn đầu!"

"Nhưng tao có Schelle!" – Dietrich đáp, rồi mạnh dạn ném lá chuông xuống, đầy tự tin.

"Lá chủ của tao là Eichel.

Coi như thằng nào cũng thua." – Schmitz cười khẩy, xòe lá quả sồi như thắng một trận chiến nhỏ trong lòng anh ấy .

Tôi và Hartmann chỉ nhìn họ từ xa mà không tham gia.

Không phải vì chúng tôi xa cách, mà vì cả hai cần một nơi lặng yên nhất, một khoảng không để trốn tránh khỏi thực tại nghiệt ngã.

Tôi hút một hơi cuối từ cái tẩu rồi lại nhìn ánh đèn dầu lặng lẽ cháy, lay lắt như một linh hồn nhỏ sắp tàn lụi, rồi sẽ tan biến vào bóng đêm.Rồi cả tôi, Hartmann, cùng vài người lính kéo chăn và lách vào những chiếc giường gỗ kẽo kẹt, chỉ có đúng chiếc gối.

Chúng tôi chui vào giấc ngủ như chui vào trong một hố đào tạm thời – để tìm chút bình yên, chút nghỉ ngơi sau một ngày dài mệt mỏi, đầy lo âu.

Tiếng bài vẫn còn vang sau lưng, vọng vào giấc ngủ chập chờn.Tiếng bài vẫn còn vang sau lưng.

"Eichel thắng tiếp!" – giọng Karl bật lên, cười hô hố, phá vỡ sự tĩnh lặng hiếm hoi.

"Lá chủ đấy thằng ngu!" – Schmitz hét lên , giọng lẫn tiếng cười sảng khoái, không hề biết rằng ngoài kia, Bắc Kinh đang chìm vào một giấc ngủ nghìn năm.

Ánh đèn dầu lay động lần cuối, hắt sáng mờ nhạt trên tấm cửa sổ bằng giấy, rồi vụt tắt trong tâm trí tôi, mang theo những hình ảnh cuối cùng của một đêm không trăng.

Bắc Kinh cổ kính ngàn năm chìm vào giấc ngủ, chỉ còn lại gió và những câu chuyện chưa kể.

( CÒN TIẾP )
 
55 Ngày Đêm Ở Xứ Phương Đông
Chap 3


Khi ánh mặt trời còn ngủ quên sau lớp tường thành cũ kỹ, bầu trời Bắc Kinh vẫn đen đặc như mực tàu.

Nhưng màn đêm ấy chẳng còn yên tĩnh lâu — nó run lên vì tiếng kèn vang dội từ góc sân, phá tan cái im lặng đặc quánh của một bình minh chưa đến.

Tiếng hiệu lệnh buổi sáng lôi chúng tôi khỏi giường như thể ai đó lôi về thực tại.

Không ai than vãn vì chúng tôi biết thà chết vì trễ nghi thức còn hơn bị sỉ nhục vì lười biếng .

Tiếng vải áo sột soạt, tiếng tát nước của những người lính tranh thủ đánh răng rửa mặt , tiếng bàn chải đánh giày ,xong xuôi chúng tôi khoác lên mình bộ quân phục xám lục , rồi chỉnh thẳng cổ áo như siết chặt chính mình vào kỷ luật.

Nhanh chóng , chúng tôi di chuyển đều thẳng tắp đến nhà ăn trong khuôn viên, bữa sáng chúng tôi diễn ra nhanh chóng , khẩu phần mỗi người là một mẫu bánh mì đặc ruột, một đoạn xúc xích nguội, với cà phê loãng .

Trong lúc ăn , cả bọn chúng tôi chẳng nói lời nào mà chỉ tập trung ăn

Giờ ăn nhanh chóng kết thúc , toàn đơn vị tôi nhanh chóng tập hợp tại sân trước của Đại sứ quán.

Mặt trời chưa ló, nhưng bầu trời đã rạng dần.

Sương thì vẫn còn phủ trên mái nhà, và không khí thì lạnh đến mức tôi cảm tưởng mình đang ở Siberia.

Brehm bước ra từ toà nhà đại sứ quán , mặt uy nghi , tay cầm gậy chỉ huy gõ nhịp lên nền đá.Ông đi dọc hàng quân, nhìn từng nút áo, từng thế đứng lệch vai, từng đôi giày.

Tiếng điểm danh vang lên, nghiêm túc, rõ ràng theo đúng thứ tự danh sách .

"Albrecht!" – "có!"

"Böhm!" – "có!"

"Dietrich!" – "có !"

"Hartmann!" – "có!

"

"Müller!"

- "có!"

"Friedrich!" – "có!"

"Schmitz!"

- "có!"

"Karl!" – "có!"

" Otto!"

- "có!'

" Voigt!' - "có!"

.....

Ngay khi tới tên người cuối cùng cũng là lúc tới tiết mục chào cờ.

Lá cờ Đế quốc với màu đen, trắng, đỏ – được kéo lên giữa sân, trong niềm vinh quang và uy nghi , tiếng hành khúc "Heil dir im Siegerkranz" vang lên dưới sự chỉ huy của trung sĩ già người Bavaria, như tiếng vọng của niềm kiêu hãnh và sứ mệnh.

Tất cả giơ tay chà, bàn tay duỗi thẳng, đặt nghiêng trước trán, ai cũng im lặng, nhưng từng ánh mắt như chứa đầy sự hào hùng – nhìn lá cờ như nhìn chính linh hồn mình đang bay lên cùng vinh quang tổ quốc.

Khi lời ca được cất lên

Heil dir im Siegerkranz, Herrscher des Vaterlands..."

("Kính chào hoàng đế đức , nhà lãnh đạo tối cao của tổ quốc ta")

Khi lễ kết thúc, cũng là lúc Brehm đọc bảng phân công ca trực sáng náy .Karl và Hartmann được cử ra gác cổng chính của đại sứ quán, còn những người trong tiểu đội tôi và một số binh lính hải quân khác ở đây từ trước thì được phân công canh khác xung quanh .Tôi thì may mắn hơn họ , khi tên tôi không có trong danh sách ca sáng với Schmitz, Albrecht, và Voigt, chúng tôi được phân công vào buổi chiều.

"Vậy giờ ta nên đi đâu bây giờ?" – Albrecht hỏi

"Hãy là ra khu chợ đi , để mua một số nhu yếu phẩm ." – tôi đáp

Cả bọn liền đồng ý .

Rồi quân phục chính tề , súng đeo lên vai , bước qua cổng sắt rồi rẽ theo con đường lát đá dẫn ra khu phố người Âu .Không khí buổi sáng giờ đã ấm, Một vài người Tây mặc áo vest băng qua phố.

Rồi những cô gái từ Pháp , Anh và đặc biệt là phụ nữ Nga khiến tôi xao xuyến.

Kế đó là Mùi bánh nướng , tiếng rao bán tấp nập rồi mùi bơ tan chảy, rượu vang, thuốc lá, quyện lại trong không khí vừa lạ lẫm mà cũng vừa thân quen.

Cả bốn chúng tôi vừa rẽ qua một con ngõ nhỏ rợp bóng cây thì bắt gặp một tiệm phô mai người Ý.

Voigt chỉ tay vào đống phô mai được bày bán trên gian hàng :

"Nếu tao xuất ngũ , tao sẽ mở một tiệm pizza ở Naples "

"Ừ , lúc đó tụi tui sẽ dẫn cả tiểu đội đến quán cậu ăn " Schmitz đáp , vừa nhìn ngắm những chiếc phô mai được bày trên gian hàng.

Albrecht đứng chắp tay sau lưng, nhìn nghiêng vào gian hàng bán sách bằng tiếng Pháp.

"Tôi không ngờ ở giữa lòng Bắc Kinh lại có một Paris thu nhỏ như thế này cả" Anh nhướng mày, môi khẽ cười khi chiêm ngưỡng những công trình đó.

Tôi im lặng, mắt lướt qua đám đông: phụ nữ Nga váy dài cầm ô ren, doanh nhân Nga đeo Monocle, sĩ quan Anh cười nói.

Xa xa, người Hoa múa quạt giấy vẽ hoàng cung — từng khoảnh khắc như vẽ nên bức tranh đa sắc, hòa trộn Đông Tây.

Tôi chậm bước, bị mê hoặc bởi sắc màu và nhịp sống phi thực.

Và rồi...

Rầm!

Một cú va mạnh khiến tôi chao đảo, ngã đổ xuống nền đá.

"Ối ?!" – Tiếng cô gái trẻ.

"Tôi... tôi xin lỗi , tôi không cố ý đụng trúng cô !" – tôi bật dậy theo phản xạ, thấy mình đã đụng trúng một cô gái trẻ.

Cô gái ấy mặc đồng phục y tá màu kem nhạt, viền xanh lam, mái tóc nâu sáng búi gọn phía sau gáy, vài lọn bung ra vì cú ngã.

Đôi mắt xanh biếc của cô mở lớn nhìn tôi, vừa ngạc nhiên, vừa... ngượng nghịu.

Tôi đỏ mặt, vội vàng đỡ cô dậy.

"Thành thật xin lỗi... lỗi là tại tôi không chú ý đường đi."

"Không sao..." – cô nói bằng tiếng Đức, hơi ngọng – "...tôi cũng đang vội."

và như phản xạ , tôi vội vàng nhặt lại những món đồ từ rơi ra chiếc cặp da sẫm của cô : một hộp thuốc, cuộn băng gạc, một cuốn sổ tay nhỏ với tờ giấy mỏng xộc xệch – trong khoảnh khắc khi cúi xuống nhặt, tôi vô tình đọc thấy dòng chữ ghi tên: Maria Ivanov.

Tôi thoáng khựng lại vài giây , tay đưa đồ cho cô, nhưng không hé lộ điều gì.

Chỉ là một ánh nhìn chừng mực và một cái gật đầu nhã nhặn.

"Của cô đây."

"À, cảm ơn." – Maria nhận lại, cúi nhẹ đầu rồi quay đi, dáng nhỏ bé lẫn vào đám đông, tôi đứng nhìn theo bóng dáng ấy, tim như chậm lại giữa màu sắc và những bảng hiệu rực rỡ.

Và tôi... vẫn đứng đó, như một kẻ vừa lỡ chuyến tàu mà lại không tiếc, chỉ muốn nhìn cái đuôi tàu khuất bóng thật lâu .

Khi bóng hình cô ấy dần hoà lẫn vào đám đông, tôi quay lại với nhóm sau khi Maria đã khuất hẳn trong biển người, lòng vẫn còn vương vất như có một giai điệu dịu dàng nào đó vừa ngân lên rồi tan biến.

Vừa tới nơi, Schmitz đã quay sang, nheo mắt hỏi:

"Cậu đi đâu đấy, Müller?"

Tôi chỉ lắc đầu, nở một nụ cười mơ hồ:

"À... chỉ...vướng vào vài rắc rối nhỏ thôi."

Schmitz nhướn mày định hỏi thêm, nhưng rồi lại thôi.

Có lẽ anh ấy cũng nhận ra giọng tôi pha chút gì đó không muốn ai chạm tới.

Cả bốn chúng tôi quay về con đường cũ để quay lại đại sứ quán đức , men theo một con đường đường tắt. bước chân có phần khẩn trương hơn.

Khi vừa tới cổng sắt, Karl và Hartmann đang đứng gác lập tức quay sang, mắt sáng rỡ.

"Cuối cùng tụi bây về!" – Karl nói, giọng nhẹ nhõm.

"Tụi tao tưởng tụi bây đi luôn rồi chứ." – Hartmann cười, mắt liếc cái túi đựng đồ chúng tôi đã mua.

"Chỉ là tụi tui dạo quanh khu chợ một vòng thôi với mua vài thứ cần thiết ." – Schmitz đáp, khẽ nhún vai

Ngay lúc đó, từ bên trong vọng ra tiếng chuông báo giờ ăn trưa.

Karl thẳng người, đưa tay chỉnh lại mũ rồi quay về phía cổng khuôn viên, cất giọng to:

"Tới giờ ăn trưa rồi các cậu ơi !

"

Từ các điểm gác xung quanh, những binh lính Đức khác lục đục bước vào, gỡ súng và đặt ngay hàng thẳng lối , lau mồ hôi trên trán, ai cũng phấn kích , bởi trong văn hoá nước Đức – bữa trưa là bữa ăn quan trọng nhất trong ngày, không chỉ vì khẩu phần đầy đặn hơn và có các món nóng , mà còn bởi đó là khoảnh khắc nghỉ ngơi và đổi ca gác dài đằng đẵng.

Cả tiểu đoàn đứng xếp thành hàng dài, mỗi người cầm trên tay một khay thiếc.

Mùi thịt hầm, bắp cải chua và khoai tây luộc dậy lên từ nhà bếp như một cơn gió gọi hồn, khiến bao chiếc bụng trống rỗng réo vang.

Đâu đó vang lên tiếng thì thầm, tiếng cười nén lại.

Schmitz quay sang tôi:

"Ăn xong là tới ca gác chúng ta đấy."

Tôi gật đầu, lòng vẫn vương vấn hình bóng Maria — đôi mắt xanh biếc và nụ cười ngượng ngùng.

Sau bữa ăn, tôi cùng mọi người mang khay và muỗng đi rửa sạch ở khu vực rửa đồ phía sau khu bếp dã chiến.

Khi mọi thứ đã xong xuôi cũng là lúc đến lượt tôi cùng Schmitz, Voigt, Albrecht và Dietrich nhận ca gác.

Tôi và Dietrich được phân công đứng canh ngay phía trước cổng chính, trong khi Schmitz, Voigt, Albrecht cùng vài người lính khác thì đi tuần tra vòng ngoài.

Trời chiều ngả bóng, ánh nắng vàng úa rơi như khói từ vòm cây trụi lá.

Tôi đứng lặng, ánh mắt bắt gặp bóng dáng quen thuộc — Maria.

Cô bước nhẹ nhàng trên lối đá, áo khoác trắng phất phơ.

Gặp tôi, chúng tôi chỉ gật đầu như hai người xa lạ chia sẻ mảnh ký ức mơ hồ.

Nhưng trong tôi, nỗi thân quen đè nặng, nhói đau.

Ca gác kết thúc lúc hoàng hôn tắt, trời tối nhanh như tấm màn đen rơi.

Sau bữa tối đơn giản, tôi được phép ra ngoài.

Dưới ánh đèn đường ấm áp, tôi đi bộ qua phố lát đá ẩm sương, nhà cửa kiến trúc Tây phương với cửa gỗ cao vút, ánh đèn dầu hắt từ ô cửa sổ vòm cong.

Quán bar nhỏ cuối phố bảng hiệu tiếng Pháp treo lơ lửng bên cửa gỗ, khói thuốc, tiếng nhạc Jazz, tiếng cười, ly chạm, ngôn ngữ xen lẫn như thế giới thu nhỏ.

Sĩ quan Nga áo trắng muốt cười lớn, người Nhật lạnh lùng nâng ly sake, sĩ quan Pháp ôm người tình trong tiếng nhạc.

Tôi ngồi góc phòng, gọi ly cocktail đơn giản, giữa âm nhạc và ánh đèn, lòng lạc lõng.

Cánh cửa gỗ mở ra, bóng dáng mảnh mai xuất hiện — Maria.

Áo khoác màu be hờ hững trên vai, váy xanh đậm điểm ren trắng theo bước chân.

Tôi khựng lại, như định mệnh trêu ngươi.

Cô nhìn tôi, đôi mắt xanh ngạc nhiên, nụ cười dịu dàng.

Tôi đứng dậy, kéo ghế mời cô ngồi theo phép lịch sự .

"Tôi tưởng cô giờ đây phải chăm sóc bệnh nhân?"

" Hôm nay không có bệnh nhân , nên tôi ghé qua đây tìm người thân tôi" cô ấy đáp.

Chúng tôi trò chuyện — từ công việc, cuộc sống, những khoảnh khắc im lặng bên ly rượu và tiếng nhạc.

Có lúc cười, có lúc im lặng, nhưng sự im lặng ấy chứa đựng thấu hiểu không lời.

Bản nhạc chậm vang lên, tiếng piano ngân như gió trôi mặt hồ.

Tôi nhìn Maria, ánh mắt cô gần gũi, xa cách — khoảng cách mong manh dần thu hẹp.

Tôi chầm chậm đưa tay ra, hơi cúi đầu:

"Maria... tôi không giỏi khiêu vũ .

Nhưng tôi muốn nhảy cùng cô một bản nhạc "

Cô nhìn tôi vài giây.

Đôi môi khẽ mím, rồi nở thành một nụ cười dịu nhẹ rồi đồng ý.

Cô nhìn tôi, mỉm cười đồng ý.

Tay cô đặt lên vai tôi — nhỏ, ấm, mềm như lụa.

Chúng tôi hòa vào điệu nhạc, giữa ánh đèn hổ phách rọi bóng dài trên sàn gỗ.

Âm nhạc là nhịp tim, chậm rãi, dịu dàng và day dứt.

"Anh khiêu vũ không tệ " Maria nói nhỏ.

"Tốt sao?" tôi cười, cúi gần.

Maria nghiêng đầu:

"Anh là người Đức, phải không?"

"Phải, còn cô?"

"Tôi là người Đức gốc Nga."

"Thảo nào cô nói tiếng Đức giỏi."

Maria cười bối rối, tay siết lấy tay tôi nhẹ nhàng.

Đây không còn là tình cờ, mà là khởi đầu một điều gì đó.

Bản nhạc kết thúc, chúng tôi đi bên nhau qua phố vắng.

Maria cười dịu dàng, tôi không thể rời mắt khỏi đôi mắt ấy — sâu thẳm như mùa đông nước Nga, dịu dàng đến nao lòng.

Maria tựa đầu vào vai tôi, tôi siết tay cô — không nói, chỉ cảm nhận hơi ấm chân thật.Chúng tôi đi đến cổng bệnh viện.

Ánh đèn hắt xuống như dải lụa, tôi nắm tay cô:

"Mai em lại phải bận với công việc à?" – tôi hỏi, giọng như pha chút tiếc nuối.

"Ừm, nhưng nếu anh rảnh... ghé ngang một chút thôi cũng được" – cô cười, tay siết lấy ve áo tôi.

"Anh sẽ đến.

Dù chỉ vài phút."

"Anh không sợ bị sĩ quan mắng à?" – cô trêu.

"Em không cần phải lo đâu."

Chúng tôi im lặng, rồi cô nói:

"Anh à, đã 8 giờ rồi, em phải vào làm đây."

Tôi mỉm cười, hôn nhẹ trán cô — lời hứa thầm.

Cô bước đi, dáng nhỏ nhắn lướt trên đá, tay vẫy như đốm lửa trong đêm.

Tôi đứng lại — chỉ có đêm yên bình, một người con gái tên Maria, và trái tim tôi, lần đầu biết rung động.
 
55 Ngày Đêm Ở Xứ Phương Đông
CHAP 4


20 Tháng Sáu, Năm 1900 Bắc Kinh, Trung Hoa

Ngày hôm ấy khởi đầu như mọi ngày.

Nhưng mãi sau này, tôi mới nhận ra: đó là ngày định mệnh.Tiếng chuông điểm 4 giờ 50 vang lên trong bóng mờ của buổi bình minh chớm đỏ.

Toàn tiểu đội bật dậy như thể cơ thể đã được gắn dây cót.

Không ai chần chừ, không ai than vãn.

Mỗi người chăm chú vào nhiệm vụ riêng – lau súng, kiểm tra đạn dược, mặc quân phục – những động tác lặp đi lặp lại đến mức trở thành bản năng.

"Giờ thì tao chẳng cần cà phê nữa cũng dậy sớm được." – Schmitz vừa cười vừa kiểm tra khóa an toàn khẩu Gewehr 88

Voigt, đang cúi rửa mặt dưới bể nước lạnh, đáp lời: "Cà phê à?

Ở đây chẳng khác gì nước pha đường với mùi đậu rang cháy."

Ở một góc khác, Albrecht bâng quơ nói: "Tối qua tao mơ thấy mình đánh nhau với đám trông như võ sĩ đạo.

Mặt mày bôi đen, áo giáp đỏ chói..."

Không ai trả lời.

Chẳng ai còn tâm trí để quan tâm đến giấc mơ – dù lạ lùng đến đâu.

Bữa sáng chỉ là bánh mì khô cứng và vài lát thịt hộp.

Nhưng điều đó chẳng ai than phiền.

Sau đó, cả đại đội xếp thành hàng trước sân.

Dưới ánh nắng hồng ban mai, quốc kỳ Đức tung bay trên đỉnh cột cao, và bản quân hành Bavaria vang lên hùng tráng.

Chỉ huy Brehm đứng trước hàng ngũ như một pho tượng đồng.

Bên cạnh ông là Đại sứ Clemens von Ketteler – vóc dáng cao gầy, khuôn mặt nghiêm lạnh với bộ ria cứng như dây thép, ánh mắt lạnh lùng nhìn về phía chân trời.

Khi quốc ca vang lên đến đoạn cuối, ông đặt tay phải lên ngực trái – một động tác dứt khoát, không chút mềm yếu.

Phân công bắt đầu.

Brehm đọc danh sách như một thẩm phán đọc cáo trạng:

"Schmitz, Albrecht, Otto, Friedrich – vòng ngoài phía sau.

Còn Müller, Voigt – cổng chính."

Tôi bước ra, Voigt theo sau.

Trời bắt đầu sáng rõ, những tia nắng Bắc Kinh trút xuống nền đá trắng một cách chói chang, như thể muốn nung chảy cả những suy nghĩ âm thầm nhất.

Tôi đứng bên trái cổng, Voigt bên phải.

Hai bóng áo xám như tượng đá.

Nhưng trong lòng – tôi không hiểu sao – có một nỗi bồn chồn mơ hồ, như thể trời sắp mưa, mà mây thì vẫn xanh.

Khoảng 7 giờ 50, Đại sứ Ketteler xuất hiện.

Ông mặc quân phục nghi lễ, bước lên chiếc xe kéo với vẻ uy nghi không lay chuyển.

Tôi giơ tay chào theo điều lệnh.

Ông không nhìn lại, chỉ gật đầu – ánh mắt vẫn xa xăm.

Albrecht lặng lẽ đến gần tôi, thì thầm:

"Müller... mày thấy không khí hôm nay có gì lạ không?

Tao có cảm giác... nó giống trong giấc mơ của tao tối qua...

Những kẻ mặc như võ sĩ.

Tao vừa thấy vài tên như thế quanh khu chợ."

Tôi liếc nhìn anh ta, có chút hoài nghi .Nhưng đôi mắt Albrecht lúc đó – không phải ánh mắt của một kẻ nói đùa.

"Tôi cũng có cảm giác đó," – tôi đáp khẽ. – "Nhưng cứ về vị trí đi.

Lệnh là lệnh."

Chiếc xe của Ketteler rời khỏi cổng.

Tôi nhìn theo cho đến khi nó khuất nơi khúc rẽ, lòng nặng trĩu.

Những viên đá lát đường như hấp thụ ánh nắng và nung lên không khí.

Bỗng tôi lại nhớ về Maria.

Con đường dẫn đến khu chợ vắng lặng lạ thường.

Không còn bóng dáng thiếu nữ tóc nâu sậm, dáng người gầy và đôi mắt màu tro xám ấy – người thường đi ngang đây mỗi chiều.

Tôi thấy một khoảng trống lạnh len vào lồng ngực – như thể thiếu vắng một điều gì thiêng liêng mà tôi chẳng thể gọi tên.

Nhưng tôi gạt cảm xúc sang một bên, ép mình quaylại nhiệm vụ.

Rồi...tiếng thét.

Một người phiên dịch của đại sứ hộc tốc lao về cổng.

Mặt bê bết máu, chân khuỵu, miệng run rẩy:

"Ketteler... bị phục kích!

Bởi một đám trông như võ sĩ...

đã giết ông ấy!

Bọn chúng...

đánh đến chết... ngay trước cổng thành..."

Sét đánh ngang tai.

Voigt nắm chặt báng súng, còn Karl thì gào lên, đấm vào tường đá.

"Chết tiệt!

Tao sẽ khiến bọn chúng trả giá!"

Brehm bước đến.

Ánh mắt ông tối lại, nhưng giọng vẫn trầm tĩnh như thép nguội:

"Bình tĩnh.

Đây không phải lúc hành động ngu ngốc."

Ông quay sang Otto và Hartmann:

"Khiêng anh ta vào trong.

Nhanh."

Rồi ông nhìn cả tiểu đội: "Tôi đã thấy ánh mắt chúng – từ ngày đầu tiên.

Bọn chúng không che giấu được thù hận."

Điếu thuốc cháy dở trên môi ông như một lời tiên tri đã được báo trước.Ông rít một tẩu thuốc thật sâu, rồi ra lệnh:

"Tất cả quay lại vị trí.

Canh gác nghiêm ngặt.

Không ai được phép rời trạm cho đến khi có chỉ thị mới."

" Rõ !

"-chúng tôi đáp

Thời gian cứ thế trôi, như từng hạt cát rơi xuống đáy đồng hồ cát của một thế giới trước chiến tranh .

Đúng mười hai giờ – khi chỉ huy Brehm quay về với gương mặt sắt lại như báo hiệu điều gì đó bất an , phía sau lưng vẫn còn ướt đẫm mồ hôi sau những cuộc tranh luận căng thẳng.

Ông gọi tất cả chúng tôi lại, ánh mắt nghiêm nghị nhưng không giấu được nét căng thẳng.

"Bây giờta chẳng còn hy vọng đàm phán gì cả .Các sứ thần nước khác giờ đã nhất trí ở lại , giờ nhàThanh giờ đã tuyên chiến với tất cả chúng ta."

-Brehm hút một hơi tẩu thuốc rồi nói

Rồi Brehm nói tiếp

"Bây giờ các anh hãy lập công sự từ bàn ghế, giường , tủ, bất cứ thứ gì ngăn được chúng , tôi sẽ lo phần các thường dân Đức và người Trung Quốc"

Cả khuôn viên sứ quán thành tổ ong hỗn loạn.

Bàn ghế, tủ giường – mọi thứ có thể chắn đạn đều được kéo ra làm công sự.

Tôi, Schmitz, Karl – ai nấy đầm đìa mồ hôi, tay đầy dằm gỗ.

Một vị giáo sư Đức tiến tới, trừng mắt nhìn cuốn "Lịch sử nước Mỹ" và "Ẩm thực Anh Quốc" trong tay Schmitz:

"Anh tưởng cái này chặn được kiếm của tụi nó sao?"

Karl nhếch môi:

"Cái gì dày thì chặn được.

Kể cả truyện cười nước Đức."

Tiếng cười thoáng bật ra.

Nhưng rồi tôi nhìn thấy Maria.

Áo trắng dính máu.

Mắt đỏ hoe.

Tôi bước đến, đặt hai tay lên vai cô.

Không gian như nén chặt.

"Cả buổi sáng nay... em ở đâu?"

"Ở bệnh viện," – cô thở dốc, tóc bết mồ hôi – "Có dân Nga bị chém, bị bắn... có người mất chân...

Em đã cố hết sức...Nghe đại sứ bị giết... em sợ cho anh..."

Tôi ôm chặt cô vào lòng.

Không còn lời nào.

Chỉ là ánh mắt chạm nhau – vết thương lặng thầm và thấu hiểu.

Tôi không nói "Anh yêu em."

Chỉ đơn giản là "Anh vẫn ở đây."

Rồi tiếng súng nổ.Từ xa, đoàn người hỗn loạn tràn về.

Tiếng hét, tiếng chân, tiếng khóc.

Bọn võ sĩ xuất hiện như dòng lũ.

Đầu quấn vải đỏ, tay cầm đao, súng cũ, giáo mác.

Tiếng súng nổ.

Một viên đạn sượt ngang má tôi, cắm vào tường.

"Vào trong!" – Tôi hét, rồi bế bổng Maria lao vào bên trong.

Karl chạy phía sau, gào lên gọi dân thường.

Khói súng ngập lối đi, ánh lửa phản chiếu trong gương mắt Maria.

Bên ngoài, lính Pháp bị tràn ngập.

Những tiếng hô bằng tiếng Pháp:

"Rút lui!

Chúng đông quá !"

Chúng tôi vào vị trí.

Brehm hét:

"Bắn!

Không để một đứa sống sót!"

Cả đội đồng loạt nổ súng từ bên trong đại sứ quán.

Tiếng súng vang lên chát chúa, dội vào đoàn quân chúng .

Mảnh vữa bay tung tóe, xác chết chúng chất đầy lối đi.

" Nhanh lên nhanh lên , bên này "-Schmitz hét lên với mọi người

"Mẹ cha nó !

"-Karl nói khi thấy hết đám này tới đám khác tràn lên

"Ai mà biết được , cứ bắn chết nó đi."

-Tôi trả lời vừa căng mắt khai hoả chúng

"Cố lên !

"– tiếng Brehm rền vang như kèn chỉ huy.

Đạn nổ.

Xác người đổ.

Tiếng hô của chúng dần yếu.

Cuối cùng, chúng tháo chạy.

"Đó!

Phải như thế!" – Brehm gầm lên, mắt vẫn áp vào ống nhòm.

Dưới bóng chiều đỏ ửng , tôi thở phào – lồng ngực tôi như vừa được mở ra sau cơn hoảng loạn.

Nhưng tôi biết – đây mới chỉ là khúc dạo đầu.

Một cơn bão còn dài phía trước đang chờ...

" Bắn cả tê dại cả ngón tay mà vẫn chẳng đẩy lùi chúng"-Hartman nói vừa nằm gục xuống đất

" Vấn đề là ở chỗ đó, ưu thế của chúng là quân đông nhưng thiếu kĩ luật"-Brehm nói khi tay đặt lên vai Hartmann

Rồi Brehm nói tiếp

" Mà vừa rồi các cậu bắn hơi phí đạn đấy"-Brehm nói với chúng tôi như một người thầy

Khi chiều buông, tôi ngồi bên cửa sổ – súng đặt ngang đùi.

Bên ngoài, đám nghĩa hòa đoàn vẫn còn quanh quẩn ở đâu đó.Tôi hiểu – trận đánh đầu tiên đã xong.

Nhưng đây chưa phải kết thúc.Không.Chúng tôi vừa bước vào địa ngục , và giờ đây chỉ còn sót lại mùi khói súng và những vệt máu khô loang lổ trên mặt đất.

Ở một góc gần doanh trại, tôi thấy Maria.

Cô ngồi xổm bên một người đàn ông Trung Hoa, tay khéo léo băng bó vết thương nơi bắp tay ông – máu vẫn còn rỉ ra qua lớp vải cũ.

Gần đó là hai đứa trẻ, khoảng chừng bảy tám tuổi, một đứa khóc nấc, đứa kia thì mặt tái nhợt như giấy, mắt nhìn vô định.

Maria thỉnh thoảng ngước lên trấn an, rồi lại tiếp tục công việc của mình.

Chiếc váy trắng cô mặc đã dính đầy máu và bụi, nhưng không làm lu mờ dáng vẻ dịu dàng đến kỳ lạ ấy – như một đóa hoa mọc lên giữa bùn lầy của chiến tranh.

Tôi bước đến, lòng như bị níu kéo bởi một sợi dây vô hình.

Khi Maria băng bó xong cho người đàn ông cuối cùng.

"Em vẫn ổn chứ?"

-tôi hỏi

Cô quay lại, ánh mắt chạm vào tôi – mệt mỏi, nhưng vẫn để lộ sự quyết tâm .

Giọng cô khẽ như một làn gió:

" Em ổn.

Nhưng....những...người này... họ không có lỗi gì cả.

Chỉ là... vô tình bị cuốn vào."

Tôi ngồi xuống bên cạnh, nhìn vết máu còn vương trên tay áo cô.

Tôi muốn đưa tay ra, lau đi, rồi muốn ôm cô vào lòng, giữ chặt lấy cô – như giữ lại chút ánh sáng hiếm hoi trong bóng tối đang tràn ngập nơi đây.

Nhưng tôi không làm gì cả.

Tôi chỉ ngồi đó, lặng im.

"Em phải đi rồi " – cô nói sau một khoảng im lặng ngắn – "Còn nhiều đồng bào của em ở khu người Nga nữa ...họ cần em."

Tôi gật đầu, dù tim muốn níu giữ.

Cô đứng dậy, chỉnh lại giỏ thuốc, rồi quay sang tôi, nở một nụ cười nhẹ – buồn nhưng không tuyệt vọng:

"Anh nhớ giữ mình... nhé."

Tôi gật đầu lần nữa, không biết phải nói gì.

Có hàng trăm lời tôi muốn thốt ra – nhưng tất cả nghẹn lại trong cổ họng.

Cuối cùng, chỉ thốt được hai từ:

"Maria... em cũng nhớ bảo trọng nhé."

Cô gật đầu, rồi bước đi.

Mỗi bước chân cô như rút ra một phần gánh nặng khỏi tim tôi.

Tôi ngồi lại đó, nhìn theo bóng cô xa dần giữa những con đường ngổn ngang xác chết , trong ánh chiều sắp tắt.

Không gian lặng đi như thể mọi âm thanh đã tan biến, chỉ còn tiếng thở dài của lòng tôi.

Bỗng nhiên Bohm khìu vai tôi.

" Này Muller , ra dọn xác bọn này thôi , để chúng vậy thì bốc mùi kinh khủng lắm"

"Ừ"-Tôi trả lời lòng cũng gạt qua nỗi nhớ một bên

Giờ đây con đường giữa đại sứ quán Pháp và Đức giờ như một nghĩa địa ngoài trời – chi chít xác của bọn võ sĩ nằm phơi thây, chật kín lối đi.

Có những kẻ chết trong tư thế quỳ, đầu cúi xuống như đang cầu nguyện; có những kẻ chết với hai mắt trợn ngược, miệng há hốc, như vẫn còn đang gào thét điều gì đó có kẻ chết tay vẫn nắm chặt gươm, giáo, vài kẻ thì chết mà mắt vẫn còn mở trừng trừng như chưa kịp hiểu tại sao mình gục xuống.

Tôi cùng mọi người ra ngoài, súng vẫn đeo trên vai.

Chúng tôi bắt đầu công việc dọn dẹp – không ai nói gì, chỉ có tiếng thở, tiếng xẻng va vào đá, và tiếng ruồi đã bắt đầu vo ve quanh những thân thể bầm dập.

Nắng trưa trút xuống như tấm khăn nặng trĩu mồ hôi.

Friedrich khạc một tiếng, phủi tay rồi lẩm bẩm:

"Thứ này mà gọi là võ sĩ à?

Chết mà vẫn còn cau có như lũ khỉ."

-Friedrich nói trong khi nhìn xác một tên võ sĩ

"Giờ chúng đã đã nhận thấy hậu quả khi dám giết sứ thần của nước Đức "Karl cười nhạt khi lục xác từng tên để kiếm những món đồ có giá trị.

Brehm bước đến, vẫn cầm khẩu C96 của ông.

Ông nhìn lướt qua bãi xác, rồi lạnh lùng ra lệnh:

"Chất hết xác chúng lại một góc.

Đốt hoặc chôn tạm , chúng mà bốc mùi thì kinh khủng lắm "

Giọng ông dứt khoát, nhưng ánh mắt ông không dữ – nó mang vẻ mỏi mệt, như vừa trải qua một địa ngục thứ hai của ông.

Khi tôi nhấc một xác một tên vạm vỡ – vai đầy máu và sưng vù – Hartmann đứng kế bên nói nhỏ: "Muller,cậu có nghĩ vì sao chúng lại nổi giận và đánh chúng ta không ?

"

" Tôi cũng..... không chắc nữa...."

-Tôi trả lời , giọng hơi ấp úng

Khi công việc dọn dẹp cuối cùng cũng kết thúc, trời đã gần năm giờ chiều.

Cả nhóm lê bước vào trong như những cái xác biết đi – bụi bám đầy quần áo, tay chân rã rời, và mồ hôi lấm tấm như vừa trở về từ một cơn bão.

Không ai còn hơi sức để nói.

Bụng chúng tôi đói lả, nhưng chẳng ai còn tâm trí để nghĩ đến việc ăn nữa.

Mùi máu và mùi thịt cháy vẫn còn vương vấn đâu đó, ám vào từng sợi tóc và lớp vải.

Tôi ngồi phịch xuống bên bức tường gần doanh trại , hít một hơi dài.

Hartmann thì nằm vật ra sàn, đầu gối lên bao cát như cái gối tạm bợ, ngủ lúc nào không ai hay.

Còn Albrecht, Voigt, và Bohm ngồi ở góc phòng, mỗi người được phát một phần bánh mì với xúc xích , nhưng chẳng ai muốn ăn.

Bohm đưa phần ăn của mình về phía một người phụ nữ Trung Quốc đang ôm đứa bé sơ sinh trong lòng.

Voigt chỉ lẳng lặng đưa những ổ bánh mì rồi xúc xích cho những đứa trẻ gần đó.

"Tao không nuốt nổi" Albrecht nói, giọng khản đặc, "cho bọn họ đi.

Họ cần nó hơn."

.Tôi tựa đầu vào tường, cảm thấy mí mắt mình nặng như đá , trong thâm tâm tôi liệu ngày mai, tôi liệu có còn được gặp Maria không ? , hay sẽ chết tại nơi xa xôi này ? .

Nhưng bây giờ, trong khoảnh khắc ngắn ngủi này tôi lại gạt những thâm tâm qua một bên mà chỉ tự nhủ bản thân mình rằng : "đời mà , cứ sống bao lâu được thì cứ sống cho trọn vẹn kiếp người "

( Còn Tiếp )
 
55 Ngày Đêm Ở Xứ Phương Đông
Chap 5


Từ sáu giờ tối, pháo sáng bắt đầu soi rọi bầu trời Bắc Kinh như những đóa hoa tử thần.

Chúng tôi gần như không có thời gian để thở đôi khi còn chẳng buồn miệng muốn ăn nữa .

Ngay cả Brehm cũng chẳng thể có phút giây nghỉ ngơi nào , mắt ông ấy cứ căng ra tay cầm chặt khẩu Mauser C96 vừa quan sát tình hình.

"Chúng kìa !

"-Bỗng có ai đó hét lên khi nhìn thấy những ngọn đuốc của chúng đằng xa.

"Voigt , Bohm , Otto , Muller , theo tôi !

Những người còn lại lập tức củng cố hàng phòng ngự!

"-Brehm quát , vừa chỉ huy bốn chúng tôi

Tôi, cùng Voigt , Bohm, và Otto, được lệnh vừa chống trả vừa củng cố lại những chiến luỹ đã bị chọc thủng từ hồi chiều .

Tay tôi run, chẳng phải vì sợ, mà vì mỏi rã vì từ chiều giờ chúng tôi chưa có giây nào ngơi nghỉ .

Từng bao cát như đè xuống toàn bộ thân thể tôi, dằn ép từng khúc xương cho đến khi không còn cảm giác gì ngoài tiếng đập thình thịch trong ngực.

"Otto!

Món này hư rồi !

Đổi cái khác!" tôi kêu, nhưng cậu ta chỉ lắc đầu

"Hết rồi , cố xếp lại những món khác đi "

Bohm bám trên gác chuông với khẩu súng trường, lia tầm ngắm xuống phố.

Mỗi lần cậu ấy bóp cò, là một tiếng nổ chát chúa lại xé tan màn đêm và tôi biết đâu đó, một thân người nữa lại ngã xuống.

"Chúng đông quá !"

Schmitz hét lớn.

"Đằng kia ,Cỡ một đại đội !

"

"Chúng nó đông như quân Nguyên vậy .

Bắn hoài không hết!" – Voigt nghiến răng, vừa bắn dè sẻn tiết kiệm từng viên đạn .

Đến băng nhạc công Bavaria, giờ cũng cầm súng sát cánh cùng chúng tôi .

Tiếng trống trận đã im từ chiều, giờ chỉ còn tiếng súng, tiếng thét và tiếng đạn rít qua đầu.

" Mẹ nó , trước đây mình đã vờn nhau với đủ loại , từ Napoleon rồi đến Napoleon đệ tam đủ loại cả nhưng...tao chưa thấy đám nào nó lại ngu đưa thân ra cho chúng ta bắn cả"-Bohm nói

Tôi gật đầu, không kịp nói gì cảm giác thời gian lúc đó như bị kéo căng ra – tôi không còn biết mình sống ở phút nào.

Chỉ có tiếng súng và máu.

Khoảng đến tám giờ tối,vẫn còn nổ ra trận đánh giằng co dữ dội ở phía Tây, nơi quân Pháp và một số lính Ý đang giữ tuyến cuối cùng trước khi bọn nghĩa hoà đoàn có thể phá cổng và tràn vào.

"Albrecht!

Bohm !

Voigt !

Otto !

Karl ! qua chi viện cho đám Pháp !" – tôi hét.

"Tao còn một băng đạn.

Còn mày?"

Karl hỏi khi chúng tôi chạy dọc hành lang.

"Tao còn nửa. cho mày hai viên nè "-tôi thở hổn hển vừa đưa hai viên đạn còn lại cho Karl

Khi tới nơi, mùi khét của da cháy và thuốc súng đập thẳng vào mặt.

Một sĩ quan Pháp – người đầy máu – hét lên:

"Giữ vị trí !

đừng để nó tràn vào !"

Chúng tôi chạy đến chiến luỹ của quân Pháp và Ý trong làn đạn của chún .

Friedrich quăng một quả pháo qua bức tường thấp.

Tiếng nổ vang lên cùng tiếng la hét chói tai của bọn chúng .

Một tên bị thổi bay cả chân, lăn lộn như con thú bị thương.

"Chẳng biết nó có bao nhiêu quân nữa ," Bohm nói trong lúc nạp đạn, giọng lạnh như nước đá.

"Tao bắt đầu chán cái cảm giác này lắm rồi ."

"Thế giờ mày chỉ còn nghĩ đến cảnh nấu Pizza ở Napoli à?"

Heinrich nói mỉa mai, mặt dính đầy bụi.

"Ừ, nếu tao có toàn mạng chở về tụi bây nhớ ủng hộ tao đấy " Bohm đáp, rồi bắn tiếp.

Đến gần mười giờ khuya, lúc này bọn chúng bắt đầu thưa dần nhưng lại khiến chúng tôi bàng hoàng khi chúng lại kéo đến.

"Nhưng sao chúng chẳng tấn công nhỉ ?

" Brehm nói, mặt đầy mồ hôi và than đen.

"Tôi thấy lần này chúng có cả mấy khẩu súng cổ lỗ sĩ kìa ."

Tôi nhìn về phía xa – nơi ánh lên hàng hàng lớp lớp bọn chúng kéo đến ngày dày đặc như một hàm răng lởm chởm .

Nhưng khi đang ngồi nghỉ, tựa lưng vào tường với khẩu súng đặt bên cạnh, Friedrich bất ngờ gằn giọng:

"Khoan đã... nhìn đằng kia kìa!"

Tôi bật dậy.

Dưới ánh sáng lờ mờ chiếu xuống từ những ngọn lửa còn cháy dở, phía đằng xa bức tường đổ nát bên kia quảng trường, tôi thấy vài bóng người động đậy.

Không phải chúng .

Họ nằm đó – quằn quại.

Một người đưa tay lên vẫy yếu ớt cầu cứu

"Chết tiệt... là lính Pháp!

Và kia...

Ý nữa," Karl nói, giọng khản đặc.

Tôi nheo mắt.

Có ít nhất ba người bị thương – một người không cử động, có lẽ đã chết.

Và sau lưng họ, ngay trong đống đổ nát, là vài hòm gỗ sẫm màu.

Nhãn dán đạn và lác đác ít nhất vài khẩu Carcano và cả vài khẩu Lebel bị bỏ lại.

"Chúng ta phải kéo họ về!" – Albrecht rít lên.

"Không được đâu, chúng đông lắm " Bohm gằn giọng.

"Tụi nó còn cỡ một tiểu đoàn đó .

Giờ mà cử ai cũng là tự sát."

Không ai nói.

Chúng tôi nhìn nhau một hồi , mọi gương mặt đều bị hun khói đen như bức tượng than.

Rồi Heinrich – cái gã nhỏ con nhất trong tiểu đội ,bước ra.

"Tôi đi," hắn nói bình thản.

Mọi người im lặng.

Tôi nhìn hắn – dáng người nhỏ thó, áo khoác xộc xệch vì bụi và mồ hôi, mắt sâu như hai giếng cạn.

"Đừng, Heinrich!

Cậu không thấy đạn réo à ?"

Schmitz gắt lên.

"Tôi nhỏ con .

Luồn lách tốt.

Lũ kia sẽ khó mà thấy được tôi," hắn trả lời, giọng tràn đầy tự tin .

Brehm nhìn hắn vài giây, rồi thở dài.

"Nếu cậu quyết vậy, chúng tôi sẽ yểm trợ.

Nhưng nếu thấy không ổn – bỏ, hiểu chưa?"

Heinrich gật đầu, nhét vài băng đạn vào túi, cởi áo khoác ngoài, buộc lại súng sau lưng rồi nhảy khỏi chiến lũy mà không một tiếng động.

Như một con chuột bóng tối.

Tôi giương súng lên.

Karl, Voigt, cả Bohm nữa – tất cả đều nắm lấy vị trí.

Mỗi người hướng nòng súng về phía khu đổ nát.

Tiếng chân Heinrich rít qua mặt đất.

Rồi bóng hắn biến mất sau đống gạch vỡ.

Rồi – rắc!

Một tên võ sĩ trên mái phát hiện.

Hắn hét to một tiếng – nhưng ngay lập tức, Friedrich bóp cò.

Tên kia ngã vật xuống như bao cát bị đấm.

"Bắn yểm trợ!

Đừng để ai lại gần chỗ Heinrich !"

Brehm gầm lên.

Chúng tôi nã đạn như mưa.

Một kẻ khác lao ra – Karl bắn trúng ngực.

Tên thứ ba nấp sau cột đá, vừa ló đầu, Voigt đã tiễn hắn về trời.

Trong bóng tối, tôi thoáng thấy bóng Heinrich quỳ xuống – kéo một người lính Pháp vai bê bết máu lên lưng.

Dáng khom khom, nhưng chắc chắn.

Rồi hắn chạy ngược về phía chúng tôi.

Tôi và Bohm lao ra, nắm lấy tay kéo người lính kia qua chiến lũy.

"Còn hai người nữa!" tôi hét.

Heinrich quay lại, không một chút chần chừ.

Lần này, có một tên nghĩa hoà đoàn chạy theo sau hắn – tay cầm đao , miệng gào lên như thú.

"Bắn nó!" tôi hét.

Tiếng súng Bohm vang lên – đoàng! – tên kia gục xuống, ngay sát gót Heinrich.

Rồi sau đó , cậu ất cõng một người lính Ý, rồi lại kéo một hòm đạn theo, vừa chạy vừa trượt như một con rắn qua cát.

Đạn bay xung quanh hắn như mưa rào, nhưng may mắn cứ đứng về phía cậu ấy.

Lần cuối cùng, cậu ta cúi xuống, nhặt lấy khẩu súng lục bị bỏ lại, rồi lết trở lại chỗ chúng tôi – mồ hôi nhễ nhại, máu người bị thương dính đầy ngực áo.

Khi cậu ta nhảy qua chiến lũy và ngã xuống, cả bọn đều bất ngờ xen lẫn vỡ oà.Friedrich là người đầu tiên phá vỡ sự yên tĩnh:

"Tụi tao...không ngờ ... mày lại lập công đấy , Heinrich "

Heinrich thở hổn hển, nằm ngửa ra, cười:

"Uhm...cảm ơn nha"

Nhưng thực tại chẳng bao giờ để chúng tôi yên cả .

Bên kia đường, nơi những xác chết còn chưa lạnh, bóng người lại lấp ló.

Chúng đông.

Đông không thể tưởng nổi , chắc hơn cả một tiểu đoàn chăng ?

"Chết tiệt... bọn chúng không biết mệt à?"

- Voigt thở dốc, khẩu súng trong tay hắn đã bắt đầu lên đạn

Heinrich ngồi bệt xuống cạnh một bức tường gạch nứt, vừa băng tay bị rách vừa lẩm bẩm:

"Cái bọn này như nước lũ ấy ..."

"Chết tiệt.

Lần này nhiều hơn khi nãy gấp ba lần ."

-Bohm nhìn đằng xa , hướng những ngọn đuốc của chúng

Tôi nhìn sang Friedrich – gã không nói gì, chỉ nhét vội những viên đạn vào băng, bàn tay run run.

Đúng lúc đó, Brehm bước đến – mặt ông lạnh ngắt , khẩu Mauser C96 vẫn lủng lẳng bên hông.

Nhìn về phía ngọn lửa đỏ rực nơi bọn chúng đang tràn tới.

Rồi ông quay lại:

"Rút lui thôi các cậu"

Cả đám im lặng.

Bohm ngẩng đầu lên: "Nhưng...thưa chỉ huy... chúng ta còn giữ được..."

"Không được .Đánh với bọn biển người này ta không nên theo lối chọi trâu mà thắng được ."

Brehm ngắt lời, dứt khoát như lưỡi dao.

Ông chỉ tay về hướng tòa nhà phía sau, nơi tuyến phòng thủ thứ hai do lính Nga và vài tay súng khác trấn giữ.

"Giờ ta chuyển toàn bộ vũ khí, đạn dược, cả hòm tiếp tế về tuyến sau.

Lập chốt mới."

"Voigt, cậu và Friedrich và Albrecht – lo mấy hòm đạn.

Muller , Bohm, Heinrich. , Karl –đảm nhiệm tải những người bị thương vào trạm quân y ."

-ông ra lệnh cho chúng tôi."

Tuyến sau cách chừng ba dãy nhà, nhưng trong chiến tranh, ba dãy nhà như là một pháo đài .

Tôi và Bohm cõng hai người lính Pháp bị thương nặng – một người máu chảy ướt đẫm lưng áo tôi, hơi thở yếu như sợi chỉ.

Heinrich và Karl khiêng người lính Ý còn sống, nhưng tay đã cụt đến khuỷu.

Chúng tôi chạy dọc con hẻm đổ nát, nơi xác người và gạch vỡ nằm chen nhau như rác rưởi.

Những loạt đạn vẫn nổ loạn phía sau, nhưng tôi không quay lại.

Tôi chỉ biết phải đi, phải cứu.

Và tận sâu trong lòng, một điều khác thôi thúc tôi.

Góc ở phía đông là bệnh viện dã chiến.

Một căn phòng lớn, trần thấp, đèn dầu mờ ảo kèm tiếng rên rỉ và mùi thuốc sát trùng lẫn máu, cứa vào tâm trí tôi như con dao vậy .

Chúng tôi đặt ba người lính xuống cáng gỗ.

Một người bác sĩ Nga nhìn nhanh rồi quát:

"Đưa anh ta vào trong mau, gã người Pháp này sắp nguy kịch lắm rồi "

Tôi quay đi để lấy thêm băng gạc thì bắt gặp một ánh mắt – xanh như đá lạnh phương Bắc, nhưng ẩn dưới là một nỗi buồn sâu đến tê dại.

Maria đứng đó.

Vẫn là áo blouse trắng giờ đã nhuộm máu.

Mái tóc nâu buộc vội, rối bời.

"Maria...em...."

Tôi buột miệng.

Cô quay lại.

Một thoáng ngỡ ngàng, rồi đôi mắt ấy dịu xuống.

"Muller...anh đâu ra vậy ?

"

Tôi định bước đến, nhưng cô đã bước tới trước.

"Giúp em giữ tay anh ta " cô nói, quỳ xuống cạnh người lính Pháp đang rên rỉ vì vết thương

Tôi làm theo.

Cầm tay gã lính như đang giữ lấy cả sinh mệnh hắn.

Kim chỉ run rẩy trong tay Maria, nhưng cô vẫn kiên định.

Mỗi mũi khâu, cô cắn chặt môi đến bật máu.

Một giờ sau, cả ba người lính đều được sơ cứu và bảo toàn tính mạng .

Nhưng.....

đâu đó vẫn còn những sinh mạng kém may mắn và không qua khỏi và Maria chỉ lặng lẽ kéo tấm vải phủ mặt anh ta, không nói một lời cũng chẳng có lá quốc kỳ quấn quanh xác họ

Tôi ngồi bệt xuống đất, lưng tựa tường.

Áo tôi dính máu, tay tôi run vì đói và mệt .

Còn Maria ngồi trên một bệ đá , hai tay cũng rã rời và dính đầy iodine.

"Em từ sáng giờ đã không nghỉ ngơi được phút nào "-cô thì thào.

"Anh biết mà ."

"Mỗi tiếng hét, mỗi lời cầu xin của họ... như kéo linh hồn em xuống địa ngục."

Tôi nhìn vào mắt cô.

Những vòng tròn xanh nhạt ấy không còn là của cô gái ngây thơ tôi gặp ngày đầu.

Chúng giờ đây đã thấy máu, đã thấy cái chết.

"Có vài người em cố hết sức..." – cô nghẹn giọng – "Nhưng họ vẫn chết.

Trên tay em.nên là em vô cùng sợ hãi ."

Tôi không trả lời.

Tôi chỉ đưa tay ra, ôm cô vào lòng.

Lần đầu tiên sau cả ngày chìm trong khói lửa, tim tôi đập chậm lại.

Lồng ngực tôi có hơi ấm.

Không phải từ lửa, mà là từ người con gái đang run rẩy trong vòng tay tôi.

"Không, Maria," tôi khẽ nói, môi chạm vào tóc cô, "Em đã cố hết sức rồi .

Em đang cứu từng mạng mà bọn anh đã suýt đánh mất."

Cô vùi đầu vào vai tôi, như đứa trẻ tìm nơi ấm ấp .

"Chỉ cần anh còn ở đây..." – cô nói khẽ, giọng run như tiếng gió, "Chỉ cần anh sống sót...thì em đã yên tâm rồi."

Tôi siết chặt vòng tay, nghe rõ từng nhịp tim cô lẫn vào nhịp của chính mình.

Và trong khoảnh khắc ấy – giữa mùi máu và sát trùng, giữa tiếng đạn vọng lại từ phương xa – tôi biết: dù thế giới này có đổ nát đến đâu, chỉ cần còn cô, tôi sẽ tiếp tục sống.
 
Back
Top Bottom