Tiên Hiệp Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân

Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 340: Biến Cố


Tạ Thiên Hoa ra khỏi cửa Hàn gia mới phát hiện sắc trời đã khá muộn. Xem ra cô nàng mất nhiều thời gian với Hàn Phú Quý và lúc kiểm hàng hơn bản thân tưởng. Cáp treo lại bảo trì đột xuất, thế là, cô nàng cũng chẳng còn lựa chọn nào khác, đành phải ở lại thành Hà Đông đến sáng hôm sau. Nếu đằng nào cũng phải ở lại, Tạ Thiên Hoa nghĩ tới nghĩ lui, cuối cùng quyết định quay lại Hàn gia, xin tá túc một đêm, nhân thể tìm cơ hội đi thăm dò thám thính luôn.

Theo như Tạ Thiên Hoa nghĩ, ở tại Hàn gia, tuy phải đối mặt với một Hàn Phú Quý háo sắc, lại phải ứng phó với sự cảnh giác của đám trưởng lão trong tộc, song cơ hội điều tra được tin tức cũng vẫn cao hơn là thuê trọ ngoài. Dẫu sao, ở nhờ bên trong dinh thự của nhà họ Hàn thì cũng bớt được công sức đột nhập từ ngoài vào. Lại nói, nếu cô nàng ở đó làm khách, dù có trót bị bắt gặp tại trận vẫn có thể nói mình là lỡ chân đi lạc. Với thân phận cùng công vụ trên người, Hàn gia có không tin lời cô nàng thì khả năng cao cũng sẽ bỏ qua không truy cứu tới cùng. Chứ nếu ngược lại, thuê trọ ngoài rồi đêm hôm tìm cách lẻn vào, nhỡ bị bắt thì thực khó lòng ăn nói.

Không nằm ngoài dự liệu, khi người của Hàn gia thấy Tạ Thiên Hoa quay lại, lấy lý do cáp treo hỏng hóc, vì bảo mật hàng hóa mà xin trọ lại một đêm, thì đều có vài phần cảnh giác. Song, những điều cô nàng nói hợp tình hợp lý, họ cũng không tiện từ chối, bèn sắp xếp cho một gian phòng trọ, chỉ bí mật cho người giám sát gần đó.

Đêm hôm đó...

Tạ Thiên Hoa thay sang một bộ quần áo tối màu, lại lấy từ nhẫn chứa đồ cá nhân ra một lá bùa. Bùa này là Đỗ Thải Hà trước khi xuất phát có chuẩn bị cho cô nàng và Trương Mặc Sênh, có tác dụng trợ giúp ẩn thân, kẻ tu vi chưa vào Vụ Hải sẽ khó lòng nhận ra. Còn đối với Lý Thanh Vân không có chân khí, tam đồ đệ của cổ viện cũng lực bất tòng tâm, bó tay không làm gì được.

Tạ Thiên Hoa truyền chân khí vào lá bùa, sau đó nhét vào trong vạt áo, đoạn đẩy cửa rón rén bước ra ngoài. Kỳ thực, với tu vi của nàng ta, có lá bùa này hay không khác biệt cũng không lớn, chả qua thêm một lần bảo đảm cũng không có gì xấu. Đương nhiên, điều mà nhị đồ đệ của cổ viện lo lắng nhất chính là nếu đối phương để một vị tộc lão đã vào Vụ Hải coi chừng mình thì cô nàng cộng thêm lá bùa cũng chả qua mắt nổi người ta.

Nhìn trước ngó sau một hồi, xác định không có ai, lại dùng thần thức quét xung quanh một lượt, cũng không phát hiện cao thủ nào, cô nàng mới nhún vai một cái. Đoạn, xoay người, dựa theo trí nhớ, đi về phía khu nghiên cứu của Hàn gia ở hậu viện. Kỳ thực, Tạ Thiên Hoa vẫn không xác định rõ là đối phương chủ quan, không phái tộc lão đã vào Vụ Hải để mắt mình, hay kẻ này sớm đã phát hiện bản thân, song còn đang ẩn mình tiếp tục quan sát trong tối. Thế nhưng cơ hội chỉ có một, cho dù có là bẫy thì cô nàng thấy vẫn nên liều một phen.

Còn sự thực lại là khả năng thứ ba mà Tạ Thiên Hoa không hề ngờ tới: Hàn gia có phái trưởng lão đã vào Vụ Hải trông chừng cô nàng, song đã bị một kẻ khác âm thầm xử lý trong tối. Có điều, ý đồ của kẻ thứ ba này đối với nhị đồ đệ của cổ viện là bạn hay là thù, tạm thời chưa thể nói.

Thẳng một đường từ phòng ngủ đến khu nghiên cứu của Hàn gia, Tạ Thiên Hoa không gặp bất kỳ trở ngại gì. Điều này khiến chính cô nàng cũng phải hoài nghi liệu có phải có một cái bẫy đã sớm được giăng ra chỉ chờ nàng ta tự chui đầu vào hay không. Song, lo nghĩ thì lo nghĩ vậy, chứ Tạ Thiên Hoa vẫn không chùn bước.

Đi tới gian nhà năm gian ở hậu viện, nhị đồ đệ của cổ viện khẽ đẩy cửa, lách vào, rồi lại nhẹ nhàng đóng lại như cũ. Nàng ta liếc mắt nhìn xung quanh, sau đó nhún mình, nhảy lên bám vào xà nhà, từ từ di chuyển về phía căn phòng hồi ban chiều phát ra linh khí chập chờn. Tạ Thiên Hoa đã có tu vi ngũ cảnh, bản thể lại còn là điểu yêu, nên việc bám đu vách tường, cột xà nhà cũng chẳng phải việc gì khó khăn.

Mon men đến vị trí trong trí nhớ, nhìn xuống, cô nàng mới phát hiện sàn nhà phòng này thấp hơn hẳn. Hay nói đúng ra là phòng ấy xây xuống dưới đất, có cầu thang dẫn xuống. Bên trong phòng, có một người mặc một bộ giáp quái dị, nom có vẻ đang thực hiện một loạt thử thách. Ngoài ra, còn có Hàn Phú Quý cùng một số người khác đứng quan sát gần đó.

Chỉ thấy, người mặc giáp lúc này vung tay một cái, tung mấy chưởng liên tiếp về phía một hàng trên dưới chục tảng đá đặt gần đó. Tất cả đống đá nọ tức thời nứt ra mấy khe, sau đó mới vỡ ra thành từng đống đá cục lớn nhỏ. Người mặc giáp bỗng cũng kêu lên oai oái. Một trong mấy người đứng xem vội tới, giúp người kia tháo giáp, lại kiểm tra cánh tay mới nãy đánh về phía tảng đá. Sau đó, người này mới quay về phía Hàn Phú Quý, nói:

“Thiếu chủ, không bị thương, song xem chừng vẫn phải cải tiến thêm hệ thống tản nhiệt. Hiện tại vẫn chưa thể đem vào thực chiến.”

“Không cần nói ta cũng nhìn ra được điều đó!”

Hàn Phú Quý gắt gỏng.

Tạ Thiên Hoa ở trên xà nhà nhìn chằm chằm xuống, cố dằn xuống trong lòng dậy sóng để tiếp thu những gì mình vừa nhìn thấy. Người mặc giáp vừa rồi có ba động chân khí rất yếu, chỉ là tu luyện giả đệ nhất cảnh, không hơn phàm nhân là bao. Song, chưởng lực phá liên tiếp mười tảng đá kia tuyệt đối có thể sánh ngang với tu luyện giả đệ tứ, đệ ngũ cảnh. Nếu thật sự có thể khắc phục vấn đề của bộ giáp, lại sản xuất đại trà được, thì gọi đây là thần khí có thể thay đổi thế cục Huyền Hoàng giới cũng chẳng ngoa chút nào. Cô nàng còn đang mải suy nghĩ thì bên cạnh đã vang lên một tiếng nói:

“Mục tiêu cuối cùng của giáp này nếu thật sự thành công, có thể giúp phàm nhân cùng tu luyện giả cấp thấp có chiến lực sánh được với cường giả Vụ Hải.”

Tạ Thiên Hoa giật mình nhìn sang, thì thấy chẳng biết từ bao giờ, bên cạnh mình đã xuất hiện một lão già đầu trọc lốc, ngồi thù lù trên xà nhà. Cô nàng suýt thì hét lên thành tiếng, song há miệng ra thì lại phát hiện có muốn thì cũng hô không ra tiếng. Lôi Tổn lúc này mới đưa tay lên bịt miệng, làm thủ thế yên lặng:

“Suỵt! Bình tĩnh nào! Ta mà muốn hại nhóc thì đã ra tay từ lâu rồi. Nãy giờ thuận lợi như vậy, nhóc không thật sự tưởng Hàn gia không đề phòng gì đấy chứ?”

Ngưng một chốc, lão lại nói:

“Mà tính ra ta còn cứu nhóc một mạng từ hồi ở Bằng Sơn Quan đấy.”

Tạ Thiên Hoa đảo mắt, trong đầu nghĩ tới một khả năng, bèn lên tiếng hỏi một câu:

“Tiền bối là người của sư phụ?”

“Còn ai vào đây nữa? Nhóc không nghĩ lần này ra ngoài chủ nhân thật sự không quản, cho các nhóc tự sinh tự diệt đấy chứ?”

“Vậy hiện tại tiền bối xuất hiện, chẳng rõ là có gì dặn dò?”

“Có hai việc. Thứ nhất, Hàn gia là quân cờ của chủ nhân sắp xếp, nhóc không cần phí công quản.”

Tạ Thiên Hoa nghe nói vậy thì hơi nhíu mày. Tuy việc giúp cho phàm nhân có sức chống lại tu luyện giả nghe qua thì đúng thật là giống điều mà sư phụ cô nàng sẽ làm – không tin cứ đi tìm gặp Lý Thanh Vân, song không hiểu vì sao nàng ta cứ cảm thấy có gì đó sai sai. Thế nhưng sai chỗ nào thì Tạ Thiên Hoa nhất thời không nghĩ ra. Cô nàng còn chưa kịp nghĩ thêm thì đã nghe Lôi Tổn nói:

“Việc thứ hai, là có một tin quan trọng mà nhóc cần biết. Kẻ thù các nhóc đã liên hợp lại, chẳng mấy chốc nữa mà toàn bộ bốn đứa chúng bay sẽ bị truy nã khắp Huyền Hoàng giới. Ngay lúc này, kẻ đang nhắm vào nhóc đã tới rất gần, còn cách đây không bao xa đâu.”

Thấy ánh mắt Tạ Thiên Hoa nhìn mình, lão lại tiếp:

“Nhìn ta làm gì? Ta chỉ phụ trách những đối thủ quá tầm chúng bay. Nếu ta xử lý hết cả đám chuột bọ thì còn gì gọi là lịch luyện nữa? Lại nói, có cứu được sư huynh đệ đồng môn hay không cũng là một phần thử thách của nhóc.”

Tạ Thiên Hoa nghe vậy thì cắn môi một cái, nói:

“Vậy thì đa tạ tiền bối báo tin. Tiểu nữ xin đi trước!”

Nói xong vội vã rời đi theo đường cũ. Do dồ đạc để cả trong nhẫn chứa đồ, nên nhị đồ đệ của cổ viện cũng không cần quay trở lại phòng, mà chỉ cần rời khỏi nhà nghiên cứu của Hàn gia, ra tới sân sau là có thể lập tức hiện nguyên hình, rồi bay khỏi dinh thự của gia tộc họ Hàn.

Lão trọc đứng ở sân sau, nhìn theo bóng con Thanh Tước mất hút ở chân trời. Tạ Thiên Hoa vừa đi chân trước, thì chân sau một kẻ khác đã xuất hiện cách Lôi Tổn chừng mười bước chân. Kẻ này mặc một cái áo choàng đen, chẳng ai khác ngoại trừ tên Địa Tôn đã cùng “Thiên Hoa tiểu thư” truy sát Lôi Tổn không lâu trước đây. Thế nhưng, không khí giữa hai người không hề giương cung bạt kiếm, lại có chút quỷ dị.

Chỉ thấy tên Địa Tôn tiến lại ngày càng gần lão trọc, sau đó… chắp tay cung kính hỏi:

“Thiên tôn, thành công rồi?”

“Bản đế tự thân xuất mã, chẳng nhẽ còn không lừa nổi một con nhóc?”

Lão trọc khoát khoát tay, song cái giọng the thé phát ra từ mồm lão thì thuộc về Thiên Tôn “Thiên Hoa tiểu thư” không sai đi đâu được. “Lôi Tổn” đưa tay lên, bấm bấm vào không gian trước mặt như thể đang tương tác với một giao diện vô hình nào đó. Sau mấy hơi thở, “lão trọc” mới trở về nguyên hình Thiên Tôn của Đế Mộ. Mụ lại nói tiếp:

“Được rồi, phái vài tên đuổi theo Tạ Thiên Hoa. Nhỡ kỹ, phải đủ nguy hiểm để con bé không có thời gian suy nghĩ hay nghi ngờ, song trước khi lùa được cả bốn đứa về một chỗ, hốt gọn một mẻ thì tuyệt đối không được hại đến mạng nó!”

“Dạ!”

Tên Địa Tôn lấy trong người ra một miếng ngọc truyền âm, sau đó âm thầm ra lệnh cho thuộc hạ. Xong xuôi, hắn mới quay về phía mụ Thiên Tôn, nói:

“Vậy còn Lý Thanh Vân ở bên kia?”

“Chuyện này ta đã sớm có sắp xếp, hiện tại chỉ cần chờ cá vào lưới thôi.”
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 341: Những Chuyện Vặt Vãnh Giữa Chiến Tranh Ác Liệt


Tạ Thiên Hoa rời khỏi Hàn gia, liền bắt đầu bay xuôi nam, trong lòng lo lắng không thôi cho ba người Lý, Đỗ, Trương. Tuy ra ngoài lần này, bọn họ đều đã xác định sẽ phải đối mặt nguy hiểm, song hai chữ “nguy hiểm” trừu tượng và một mối đe dọa thực chất quả thật không giống nhau. Cái trước chỉ có thể khiến người ta lo lắng thoáng qua, nhưng cái sau lại có thể khiến con người ta hồi hộp, bồn chồn không ngừng.

Đỗ Thải Hà và Trương Mặc Sênh hiện tại ở cùng một chỗ, dễ bề chiếu ứng bảo vệ lẫn nhau. Thành thử, trong lòng Tạ Thiên Hoa lo lắng cho ông sư huynh ngố nhất. Tuy chiến lực của Lý Thanh Vân có thể nói là cao nhất trong bốn người, song đầu óc y cũng đơn thuần nhất. Tất nhiên, ngoại trừ lý do khách quan này, nhị đồ đệ của cổ viện còn lý do chủ quan nào khác để lo lắng cho ông đại sư huynh hay không thì chắc cũng chẳng còn ai từng gặp hai người này chưa nhận ra nữa.

Thế nhưng, dù sao Tạ Thiên Hoa vẫn là người lý trí. Cô nàng nhanh chóng tìm được lý lẽ để tự an ủi mình: còn may đại sư huynh ở Đại Việt, gần sư phụ nhất, hẳn là trước mắt sư phụ có thể bảo đảm an toàn cho anh ấy. Nghĩ thông điều này, cô nàng cũng bắt đầu lên kế hoạch: trước tiên đến Đại Hàn hội họp với Trương Mặc Sênh và Đỗ Thải Hà, sau đó mới trở lại Đại Việt, tiếp ứng cho Lý Thanh Vân.

Đáng tiếc, khi Tạ Thiên Hoa vạch ra kế hoạch này, Lý Thanh Vân cũng mới chỉ vừa từ dưới đáy biển đi lên. Sau đó, cô nàng vừa cấp tốc xuôi nam, vừa trốn tránh truy sát, đương nhiên cũng không có thời gian cập nhật tin tức để mà biết thay đổi trong hành tung của y. Nhưng đó cũng là chuyện sau này…

oOo

Tạm ngưng chuyện Tạ Thiên Hoa xuôi nam tìm đồng môn, giờ kể tiếp chuyện Trương Mặc Sênh và Đỗ Thải Hà.

Chiến tranh với Hải Thú là chuyện trường kỳ, cũng không phải sự việc ngày một ngày hai. Thành thử, Nho môn cùng núi Long Hổ đương nhiên cũng không định chỉ dùng biểu hiện trong một ngày hôm ấy để phân thắng bại với cổ viện, Kiếm Trì. Kết quả cuối cùng sẽ được đem ra để so sánh, định đoạt là quân công.

Sau một thời gian, chiến tranh cũng đã vào guồng. Liễu Ân sau khi thấy việc giữa cổ viện và Nho môn, Đạo môn bớt căng thẳng, bản thân lão không cần thù lù ở đó làm chỗ dựa cho hai người Trương, Đỗ nữa, thì đã sớm bái biệt, lui về Kiếm Trì quản chuyện hậu cần từ xa. Dẫu sao, nếu không có gì bất ngờ xảy ra, thì cũng còn phải mấy tháng sau lão mới cần ra trận.

Khác biệt lớn nhất giữa hai thành Hải Nha, Tuyết Hoa có lẽ nằm ở hình thức tổ chức quân đội. Quan Hạ Băng dẫu sao cũng là tướng lĩnh trực thuộc binh mã Đại Việt, dưới trướng cô nàng đa số cũng là quân đội chính quy tinh nhuệ. Nhân sĩ giang hồ như Lý Thanh Vân tuy có nhưng cũng không nhiều, chỉ là thiểu số trong quân. Tuyết Hoa thành thì gần như ngược lại, quân thủ thành chính quy chỉ chiếm cỡ một phần tư toàn lực lượng, còn lại là nhân sĩ giang hồ. Nếu không phải đạo đồng, thiên sư của Long Hổ Sơn, sĩ tử đại nho của Lam Ba Thư Quán, thì cũng là đệ tử của Kiếm Trì hoặc người của các môn phái nhỏ khác. Mà bởi quân số đa phần là nhân sĩ giang hồ, nên hậu quả tất yếu là kỷ luật quân đội ở thành Tuyết Hoa có phần lỏng lẻo hơn.

Song, bù lại, phân chia công việc tại đây lại có phần… chuyên nghiệp hóa hơn so với ở Hải Nha. Quân đội chính quy của phủ thành chủ chỉ cần tập trung vào thủ thành, bảo vệ bá tánh trăm họ, còn việc đánh giết Hải Thú toàn bộ giao cho nhân mã các phe phái giang hồ.

Hai đệ tử cổ viện tính ra có chút đặc biệt. Tuy Lão Thụ cổ viện không phải trực thuộc quân đội chính quy, song cả hai người Trương, Đỗ lại được Hàn trưởng lão xin cho chức vụ trong quân. Đỗ Thải Hà quản kho, Trương Mặc Sênh thường xuyên ra vào nhà bếp, làm các việc liên quan đến nấu nướng cho quân. Về lý, cả hai đều làm về hậu cần, không cần tham chiến nếu không muốn. Thế nhưng, phần vì cá cược với người của Nho môn, Đạo môn, phần vì bản thân cũng cần luyện tập, nên hai người họ cũng cứ vài hôm lại lĩnh thêm nhiệm vụ ra tiền tuyến trợ giúp một tay. Thành thử, tính ra thì gọi hai đệ tử cổ viện là hậu cần cũng được, mà bảo là tiền tuyến cũng đúng.

Đương nhiên, việc hai người là đệ tử của vị Bích Mặc tiên sinh “đại danh đỉnh đỉnh” kia thu hút rất nhiều chú ý. Thế nên, mỗi lần họ ra tiền tuyến chiến đấu là lại có vô số ánh mắt theo dõi. Ai ai cũng tò mò liệu sư muội cùng sư đệ của Toái Đản Cuồng Ma – huyền thoại dùng sức người phàm đánh được với tu luyện giả – sẽ có bản lĩnh ra sao. Nhất là kể từ khi chiến tranh với Hải Thú nổ ra, vì mục đích tăng sĩ khí cho các quân, chuyện Lý Thanh Vân xông pha chiến đấu với Hải Thú ở thành Hải Nha cũng đã bắt đầu được loan truyền ra, lại được các thuyết thư tiên sinh thêm mắm dặm muối, kể không biết mệt mỏi ở khắp nơi. Có lẽ cũng không phải ngẫu nhiên mà Lý Thanh Minh nóng lòng muốn tiễn đưa cậu em cùng cha khác mẹ của y về chầu tổ tiên đến vậy...

Trương Mặc Sênh còn đỡ, dẫu sao cậu chàng tu là Trù đạo, chiến đấu chủ yếu vẫn chỉ dựa vào Nghênh Phong Bách Đao Trảm của lão tổ. Cho nên, mặc dù thành tựu luyện tập cũng khiến các phe thế lực phải trầm trồ một phen, song cũng không làm ra sự tình gì thách thức thường thức và trí tưởng tượng của mọi người. Nhưng Đỗ Thải Hà thì khác, mỗi lần cô nàng tế “máy bay” và “xe tăng” ra, là lại một lần các phe thế lực hoài nghi nhân sinh.

Phải biết, thuật người giấy của Đạo môn xưa nay tuy được biết đến với cái danh công thủ toàn diện, song có một hạn chế là chỉ có thể phỏng theo động thực vật hay yêu quái có thật hoặc các đồ vật đơn giản. Chứ nếu có thể phỏng chế pháp bảo, thì địa vị của Luyện khí sư cũng không cao như vậy trong xã hội Huyền Hoàng giới, mà Đạo môn hẳn cũng sẽ chẳng cần phải chật vật đi kiếm pháp bảo phòng thân. Thế nhưng, nếu thật sự không thể dùng thuật người giấy để phỏng chế pháp bảo, thì “máy bay” và “xe tăng” của Đỗ Thải Hà là chuyện gì xảy ra?

Có người đưa ra giả thuyết, có thể đây là thượng cổ dị thú. Sử gia của Nho môn đương nhiên không cho là phải, song do sau Phản Thiên Chi Chiến, nhiều sự kiện đã thất truyền, nên cũng chẳng thể khẳng định được điều gì. Đạo môn thì ghen tức đến đỏ mắt, cho rằng đây có thể là một nhánh đã thất truyền của thuật người giấy. Lắm kẻ động lòng tham, có ý muốn cướp bí kíp từ Đỗ Thải Hà. Đương nhiên, đây cũng chỉ là thiểu số vài kẻ hay tin Nguyễn Đông Thanh ngã bệnh mà bị cái lợi trước mặt làm mù mắt. Còn đa số những kẻ lọc lõi thì đều án binh bất động, tiếp tục quan sát tình huống. Chính trong lúc nhân tâm hỗn loạn, lòng người rục rịch, lắm kẻ đứng ngồi không yên, thì tin về buổi luận đạo giữa Bích Mặc tiên sinh và Phật môn như một làn sóng quét qua toàn bộ Huyền Hoàng giới…

Chuyện Bích Mặc tiên sinh bỗng dưng đổ bệnh đương nhiên Kiếm Trì đã sớm biết. Song vì không muốn hai người Trương, Đỗ lo lắng mà vẫn luôn giấu giếm. Tất nhiên, người của Kiếm Trì không nói, không có nghĩa là đám tiểu nhân muốn khích bác, chọc tức hai người họ không nói. Thành thử, Trương Mặc Sênh và Đỗ Thải Hà cũng đã nghe được tin này. Tuy trong lòng thì cả hai bọn họ đều bất an, nhưng dẫu sao cũng không làm gì được, nên họ cũng chỉ có thể an ủi động viên lẫn nhau rằng sư phụ ắt sẽ bình yên. Thế nên, khi Liễu Ân một lần nữa đích thân từ Kiếm Trì chạy đến báo tin bình an, lại cho hai người Đỗ, Trương xem cả một đoạn ghi chép bằng lưu ảnh thạch, thì họ như trút được gánh nặng trong lòng.

Có người vui thì đương nhiên cũng có kẻ buồn. Hai đệ tử cổ viện sảng khoái bao nhiêu, thì đám người đạo môn lại càng rụt cổ vào bấy nhiêu. Nhất là những kẻ mới đây vừa động tà tâm thì ai nấy đều chột dạ. Theo như bọn chúng thấy, đây chắc chắn là Bích Mặc tiên sinh sờ gáy, cảnh cáo chúng, vì vậy mà nơm nớp lo sợ. Ngược lại, Nho môn lại có phản ứng khá là… đặc biệt.

Tính ra thì sáu vị viện trưởng còn luận đạo với Nguyễn Đông Thanh từ trước cả Kim Thiền Tử. Thành thử, Nho môn đã sớm hiểu rõ hơn ai hết sự kinh khủng của Bích Mặc tiên sinh. Chả thế mà mặc dù bị Đỗ Thải Hà chơi một vố lớn, các vị Đại Nho, học sĩ ở thành Tuyết Hoa vẫn tránh nặng tìm nhẹ, không dám trực tiếp gây sự với hai người Trương, Đỗ. Mà cũng bởi vậy, nên khi Phật môn ăn quả đắng, đám người của Nho gia không có gì là ngạc nhiên hay sợ sệt, trái lại, còn có chút hả hê.

Chuyện Ngũ Lộ Triều Thiên có ganh đua, đấu đá lẫn nhau chả phải là bí mật gì lớn. Khi trước Nho Đạo sụp một góc từng là chủ đề khiến bốn nhà còn lại đem ra làm trò cười. Người của Nho môn khi ấy coi đó là một sự sỉ nhục. Chả thế mà phải bịa ra bài thơ bóp méo sự thật về buổi luận đạo, cốt là để tự sướng với nhau cho bớt nhục. Mà cũng quãng thời gian đó, Phật môn dấy lên tin tức chuẩn bị luận đạo với Bích Mặc tiên sinh, không ít tăng lữ cũng từng vỗ ngực nói nhà Phật đã có chuẩn bị mà đến, chắc chắn sẽ không dẫm vào vết xe đổ của Nho môn. Khi ấy, kẻ đọc sách trong thiên hạ tức giận mà không có chỗ phát tiết, chỉ biết ngậm bồ hòn làm ngọt. Có câu “cười người hôm trước, hôm sau người cười”. Đến nay, khi hay tin về thảm cảnh của Phật Đạo, một đám tiểu nhân của Nho gia sao có thể không đắc chí?

Cũng không rõ là ai khởi xướng, chỉ biết Nho môn bắt đầu cho lưu truyền một câu nói, rằng:

“Quân tử co được duỗi được. Sáu vị viện trưởng là kẻ thức thời, nào có như đám lừa trọc nào đó không biết tốt xấu? Cứ nhìn vào hiện trạng của Nho Đạo và Phật Đạo là thấy…”

Lời này được kẻ đọc sách trong thiên hạ nhiệt liệt hưởng ứng, truyền ra. Tăng lữ khắp nơi nghe mà tức, song lại chẳng phản bác nổi.

Mà tất cả những chuyện vặt vãnh này kỳ thực chỉ như một khoảng lặng trước cơn bão tố chuẩn bị ập tới…
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 342: Hội Ngộ


Đỗ Thải Hà ngồi xếp bằng trên giường, chính đang vận khí. Những bí kíp sư phụ truyền dạy mặc dù cái gì cũng tốt, song duy chỉ có mỗi lượng chân khí tiêu hao là khiến cô nàng đau đầu không thôi. Dạo thời gian này, cứ một ngày thả cửa cho “máy bay” cùng “xe tăng” càn quét, là nàng ta lại mất cỡ hai ngày nghỉ hồi sức. Nếu không phải vì thế thì Đỗ Thải Hà có khi cũng chăm nhận nhiệm vụ lên tiền tuyến hơn.

Lúc này, có tiếng gõ cửa, lại nghe tiếng Trương Mặc Sênh từ ngoài vọng vào:

“Sư tỷ! Sư tỷ! Có chuyện, có chuyện lớn rồi!”

Đỗ Thải Hà đứng lên, đi ra mở cửa, đoạn hỏi đùa một câu:

“Sao? Chuyện gì lớn? Nói gì làm phật lòng Thanh La nên cần chị đây tư vấn tình cảm à?”

“Nào có chuyện đó, sư tỷ cũng đừng rủa đệ như vậy chứ! Là nhị sư tỷ! Nhị sư tỷ liên lạc với chúng ta!”

Đỗ Thải Hà nghe vậy thì cũng giật mình. Phải biết, ở Huyền Hoàng giới, các quốc gia đều có đặt trận pháp ngăn chặn tín hiệu của các loại truyền âm, truyền ảnh thạch ở biên giới. Dẫu sao, cũng chẳng ai muốn bí mật quân cơ hay nội tình trong nước dễ dàng bị truyền ra ngoài. Thành thử, truyền âm thạch cũng chỉ có thể truyền trong phạm vi đất nước bất kỳ mà thôi. Người của các thế lực không thuộc Đại Việt chạy đến Quan Lâm thăm dò Nguyễn Đông Thanh cũng không phải ngoại lệ, đều phải bố trí người ở biên giới làm trạm chuyển tiếp. Những nước ở xa còn cần mấy trạm chuyển tiếp là đằng khác. Ngoại lệ duy nhất có lẽ là hệ thống của Trang Bức Thần Giáo. Giáo chúng thần giáo có thể chat với nhau từ bất cứ đâu tại Huyền Hoàng giới mà không lo mất hay nhiễu sóng, bảo mật lại tốt do cũng chỉ có những người có hệ thống mới có thể đọc được tin nhắn nội bộ. Chả thế mà Tề Thiên Hạ khi trước muốn Dư Tự Lực liên lạc với lão qua Trang Bức Thần Giáo. Còn việc tại sao Vọng Thiên lâu dường như có thể vượt qua được bảo mật của hệ thống sẽ được kể đến sau.

Ngoài ra, kỳ thực còn có thể kể đến Uyên Ương Bội của Trương Mặc Sênh và Phùng Thanh La. Loại hình truyền âm này có chút khác thường, không dùng đến chân khí, nên cũng không bị trận pháp cản trở, song lại có ba vấn đề chính. Thứ nhất, điều kiện để có thể truyền âm bằng vật này quá hà khắc, chỉ cần thay lòng đổi dạ, di tình biệt luyến là coi như ngọc bội thành rác rưởi. Thứ hai, tuy nói nôm na theo ngôn ngữ hiện đại là Uyên Ương Bội dùng băng tần riêng biệt, không bị nhà mạng nào quản lý, nhưng cũng vì vậy mà thu phí cũng khác biệt. Ví như Trương Mặc Sênh và Phùng Thanh La dạo thời gian này tuy vẫn có thể liên lạc với nhau từ Đại Hoàng và Đại Hàn, song khoảng cách địa lý càng lớn thì tiêu hao cũng càng lớn, lần nào nói chuyện xong là cả hai người đều mệt lử, lăn ra ngủ không biết trời đất gì. Tình trạng này thời bình không nói, nhưng giữa chiến tranh loạn lạc như hiện nay thì quả thực cũng có chút thất sách. Cuối cùng, và cũng là quan trọng nhất, Uyên Ương Bội cũng không phải luôn đảm bảo truyền đi được 100% tin tức. Chả nói đâu xa, chính lần Phùng Thanh La bị bắt cóc, sau khi thành công nói được với nhau vài câu, Trương Mặc Sênh biết tin lên đường, thì những lời nhắn sau cùng Phùng Thanh La muốn chuyển đi cũng không thể đến được tai hắn.

Nhưng nếu không tính hai ngoại lệ này, thì việc Tạ Thiên Hoa có thể truyền âm tới chỗ hai người Đỗ Thải Hà, Trương Mặc Sênh cũng đồng nghĩa với chuyện cô nàng hiện đã đang ở trong quốc thổ Đại Hàn.

Theo như Trương Mặc Sênh nói, nhị đồ đệ của cổ viện gọi hai người bọn họ ra tiếp ứng y thị tại Táng Thi Đinh. Nội dung tin nhắn ngắn gọn rằng có nguy hiểm, cô nàng lại đang bận trốn tránh truy sát, không tiện nói nhiều, bao giờ gặp mặt sẽ nói cụ thể sau. Đỗ Thải Hà vội vã lấy ngọc truyền âm từ túi chứa đồ ra, quả nhiên cũng nhận được tin nhắn tương tự từ Tạ Thiên Hoa. Từ Đại Yến đến Đại Hàn đường xá xa xôi, tự ý rời vị trí trong quân lại bị quy là đào ngũ, xử theo quân pháp chính là tội chết. Tạ Thiên Hoa nếu theo quân lệnh tới đây, hẳn cũng sẽ không liên lạc gọi riêng hai người họ chạy ra tiếp ứng. Lại nói, Trương Mặc Sênh được thuyên chuyển công tác là nhờ quen biết thái tử Đại Việt. Song, Đại Yến ở tận cực bắc lục quốc, xa Lục Trúc Hải cùng Đại Việt nhất mức có thể. Tạ Thiên Hoa giờ còn có thể tính là tội đồ của tộc Thanh Tước. Thành ra, hai người họ không nghĩ cô nàng sẽ gặp được đồng minh ở nước Yến. Nếu bảo Lý Thanh Vân được cử đến chỗ bọn họ có lẽ còn khả dĩ hơn, dẫu sao cậu chàng cũng còn ở Đại Việt.

Hai người Trương, Đỗ bàn với nhau, thấy khả năng cao là Tạ Thiên Hoa biết được tin gì quan trọng, hoặc gặp nguy hiểm gì cực kỳ lớn, thậm chí có thể có liên quan tới sư phụ, nên mới có thể bất chấp trái quân lệnh, gấp rút chạy tới báo tin. Nghĩ vậy, họ cũng nhanh chóng đưa ra quyết định đi tiếp ứng sư tỷ. Giữa tính mạng đồng môn và nguy cơ bị truy nã với cái án tử, bọn họ thấy cứu Tạ Thiên Hoa quan trọng hơn. Dẫu sao, nếu nhị sư tỷ mà gặp chuyện gì bất trắc trong lúc bọn họ còn chần chừ không quyết, thì họ sẽ hối hận cả đời. So với chuyện đó, một cái lệnh truy nã mà thôi, chẳng lẽ còn làm khó được sư phụ? Đỗ Thải Hà mới không lâu trước chẳng phải cũng bị vu oan giá họa, đao kề cổ tới nơi rồi bây giờ chả phải đang khỏe mạnh đứng đây hay sao?

Kỳ thực, hai người cũng nghĩ đến việc nhờ Hàn Ngọc Sương trợ giúp, kiếm cớ hoặc bao che để có thể rời đi tiếp ứng Tạ Thiên Hoa mà không bị tính là rời vị trí khi chưa được cho phép. Với quan hệ hiện tại giữa hai môn phái, Kiếm Trì đương nhiên chẳng ngại thu xếp, bán cho họ phần ân tình này. Song, sở dĩ hai đồ đệ của cổ viện không làm vậy là do mẹ con Song Vô Song đã sớm rời đi chi viện cho một cứ điểm khác từ sáng sớm hôm nay, hiện không có ở Tuyết Hoa thành. Nếu hai người Trương, Đỗ còn chần chờ tìm cách xoay xở cho vẹn cả đôi đường, chỉ sợ thật sự sẽ không kịp cứu viện Tạ Thiên Hoa. Nghĩ thông điểm này, hai người họ không nán lại thêm nữa, mà lập tức lên đường đi tới Táng Thi Đinh.

oOo

Hai người Đỗ Thải Hà cấp tốc chạy đến chỗ hẹn, thậm chí còn lăm le khí giới, ở trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Song, khi họ tới nơi, trái với tưởng tượng, Tạ Thiên Hoa không hề chật vật chạy trốn truy binh, mà đang nhàn nhã ngồi nghỉ trên một tảng đá. Thấy sư muội, sư đệ mình tới, cô nàng còn hớn hở tươi cười, vẫy tay với họ.

Trương Mặc Sênh gãi đầu gãi tai, nghểnh cổ nhìn ra phía sau Tạ Thiên Hoa, hỏi:

“Sư tỷ, truy binh đâu?”

“Đã bị chị cắt đuôi rồi. Cả một đường từ Đại Yến tới đây, không hiểu sao lắm sát thủ kinh khủng khiếp, đi đến đâu cũng gặp, chỉ tránh với cắt đuôi bọn chúng thôi đã đủ khiến chị mệt rồi!”

Tạ Thiên Hoa thở dài ngao ngán, nghĩ lại mà đã thấy phiền. Ngưng một chốc, cô nàng chuyển mình, ngắm hai người một lượt, lại nói:

“Mấy ngày không gặp mà hai đứa trông cũng trưởng thành ra đấy! Được rồi, quay lại hội quân với Kiếm Trì rồi chúng ta nói tiếp chính sự đi!”

Nghe câu này, hai người Trương, Đỗ ngẩn người, mắt giật giật mấy cái. Họ liếc nhìn nhau, như vừa mới cùng nhận ra một điều vô cùng quan trọng...

Trương Mặc Sênh nuốt nước bọt một cái, ấp úng hỏi:

“Nhị... Nhị sư tỷ, chị đến đây có được sự đồng ý của quan thống lĩnh của chị bên Đại Yến không?”

Tạ Thiên Hoa lắc lắc đầu. Trương Mặc Sênh đưa tay lên che mặt, lại hỏi:

“Vậy sư tỷ có biết tự ý dời khỏi vị trí khi chưa có sự đồng ý của cấp trên tính là đào ngũ, xử theo quân pháp là tội chết không?”

Ngưng trong chốc lát, lại nói tiếp:

“Bọn đệ vừa rồi lo sư tỷ xảy ra chuyện chẳng lành, vội vội vàng vàng chạy tới đây, chưa được sự đồng ý của cấp trên. Nên tính ra, cả ba chúng ta hiện tại đều là đào ngũ. Nếu trở về chính là đi chịu tội chết.”

Lần này đến phiên Tạ Thiên Hoa ngẩn người, mặt nghệt như ngỗng ỉa. Cô nàng lắp bắp:

“Sao... Sao có thể?”

Đỗ Thải Hà thấy phản ứng của sư tỷ, cũng đưa tay lên day day thái dương. Bình thường Tạ Thiên Hoa là người suy nghĩ cẩn thận, lại hiểu biết rộng rãi. Hai người bọn họ đã quen coi cô nàng là bộ não của cổ viện, nên cũng không nghi ngờ gì quyết định của cô nàng. Song, người thông minh, cẩn thận đến mấy thì cũng có điểm mù. Hai người Đỗ, Trương vừa rồi mới nhớ tới việc nhị sư tỷ của họ bản thể là Thanh Tước, nên khả năng cao không biết đến quy tắc trong quân đội của nhân tộc.

Tạ Thiên Hoa cũng đã hiểu mình gây họa, kéo theo cả đồng môn xuống nước, day dứt tự trách không thôi. Song, ngoại trừ áy náy, thì trong lòng cô nàng còn dấy lên một nghi vấn: chuyện quan trọng như tự ý dời đi ngang với đào ngũ, tại sao cả Cửu Liên vương phủ lẫn Nhất Phẩm Tuyền đều không có một ai từng đề cập với nàng ta? Đây chả qua chỉ là một sự trùng hợp, tất cả đều quên không nói hoặc cho là bản thân nàng đã biết, hay đây kỳ thực là một cái bẫy giăng ra chờ cô nàng tự chui đầu vào? Nghĩ đến đây, Tạ Thiên Hoa chợt nhớ tới một chuyện khác, bèn hỏi:

“Nói cách khác, vì chị chạy tới đây, lại gọi cả hai đứa ra gặp, mà chúng ta đều đã bị truy nã bởi cả Huyền Hoàng giới?”

Hai người Trương, Đỗ không hiểu tại sao sư tỷ bỗng dưng hỏi vậy, chỉ lo cô nàng tự trách quá mà nghĩ quẩn. Tiểu Thực Thần cười nhăn nhở, nói:

“Kỳ thực cũng chỉ là một cái lệnh truy nã mà thôi. Chắc chắn sư phụ sẽ có cách cứu chúng ta!”

Đỗ Thải Hà cũng vội nói:

“Phải đó, sư tỷ. Chị không biết, nên cũng không cần quá tự trách!”

Tạ Thiên Hoa chỉ lắc đầu. Điều mà lão trọc cô nàng gặp ở Hàn gia nói thật sự đã xảy ra, song lại là kết quả của chính hành động của cô nàng khi tìm cách ngăn chặn nó. Điều này cũng có nghĩa là chỉ có hai khả năng: Thứ nhất, đây chính là thử thách sư phụ sắp xếp cho bọn họ. Hoặc, thứ hai, lão trọc đó không phải người của cổ viện, mà là kẻ thù của bọn họ mạo danh. Giữa hai khả năng, Tạ Thiên Hoa không rõ cái nào tệ hơn...

Thấy sư tỷ suy nghĩ miên man, Đỗ Thải Hà chỉ lo nàng ta nghĩ quẩn, bèn tằng hắng một cái, đổi chủ đề:

“Được rồi. Dù thế nào thì cũng không nên ở đây lâu. Chúng ta rời đi nơi này rồi lại nói.”

Ba người vừa xoay người, bước được mấy bước thì bỗng thấy một hình bóng vô cùng quen thuộc ở phía xa xa nơi chân trời. Trương Mặc Sênh buột miệng kinh hô:

“Đại sư huynh?!”

oOo

Cùng thời điểm.

Tại một mảnh chiến trường khốc liệt...

Trong các thi thể đã vĩnh viễn nằm xuống, có một xác là của Song Vô Song, đã bị cắn xé làm hai mảnh bởi Hải Thú.

Cái xác còn lại của họ Song mình đầy máu, chật vật cõng lấy mẹ y mà tháo chạy khỏi đó. Tình trạng của Hàn Ngọc Sương nhìn còn tệ hơn con trai, đã sớm bất tỉnh nhân sự, sống chết không rõ...
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 343: Lịch Đăng Tết Giáp Thìn 2024 Và Một Số Trao Đổi, Chia Sẻ Từ Nhóm Tác


Một năm đã sắp hết rồi, truyện này thực ra chính là quãng này năm ngoái (lịch âm) là bắt đầu đăng lên mạng đây. Thế cho nên Tết đến xuân về, trước khi ăn bữa Tất niên, lên tổng kết lại năm cũ, chia sẻ lịch đăng Tết này cùng một số dự định trong tương lai và vài chuyện lặt vặt khác.

Đầu tiên thì chương ngày hôm qua là đám đồ đệ của Thanh đã hội ngộ, chuẩn bị đối mặt với một tràng âm mưu nhằm vào chúng nó, cho nên là bây giờ nghỉ ngơi chút đã, quay lại kể tiếp chuyện của Thanh là đẹp. Nên chương ngày mai sẽ quay lại kể tiếp các sự kiện ở Quan Lâm sau hôm luận đạo nhá.

Tiếp đến thì bật mí một chút là Thanh sắp tới đây sẽ đi nhậm chức quan mới. Việc này thực chất đã rải manh mối với hint từ lâu lắm rồi, chả biết có ai để ý không. Trong cương vị mới, thì Thanh cũng sẽ chủ động hơn và làm việc có mục đích hơn. Mà như thế thì cũng sẽ chọc phải vài tổ kiến. Đồng thời thì cũng sẽ xử lý đến một số sự kiện các arc trước đã đề cập tới. Nên là vẫn mong bà con đồng hành và ủng hộ.

Bản thảo hiện tại thực ra có dư nhưng ko nhiều, nên là Tết này có lẽ không hào phóng được như Tết trước mất rồi. Xin lỗi bà con ạ. Lịch đăng Tết năm nay theo đúng ngày nghỉ, nghĩa là từ 8-14/2 dương lịch, tức từ 29/Chạp năm Quý Mão tới mùng 5/Giêng năm Giáp Thìn. Mỗi ngày 1 chương, riêng ba ngày mùng 1-3 Tết (10-12/2 dương lịch) và ngày 5/Tết (cũng là Valentine), thì đăng 2 chương/ngày. Giờ đăng chắc là để 4h chiều cho nó sớm sủa nhé, còn mấy hôm đăng hai chương chắc sẽ thả thêm 1 chương từ sáng sớm cho ai muốn đọc trước khi đi chúc Tết thì đọc. Tất nhiên từ giờ cho đến lúc bắt đầu lịch đăng Tết thì vẫn đăng theo lịch hiện hành.

Cuối cùng, ngoài lề, nói một chút về Tây Du Ký. Cái này chả liên quan gì đến truyện này đâu, và fan bản năm 1986 của Dương Khiết, Lục Tiểu Linh Đồng mà không thích nghe sự thật mất lòng thì nên lập tức ngừng đọc. Chứ đọc tiếp xong sửng cồ lên thì chả tốt cho ai cả, năm mới Tết đến tới nơi rồi. Ai không đọc tiếp thì xin chúc các bác nghỉ Tết vui vẻ trước luôn ạ!

Chưa đi thì tức là các bạn ko ngại nghe sự thật mất lòng phải ko ạ? Thế thì bắt đầu nhé? Cái chương Thanh luận đạo với Phật môn bọn mình cũng từng nói qua rồi. Tuy không thể phủ định giá trị, sự thành công, và độ gắn bó với tuổi thơ của bản năm 1986, song nếu đọc nguyên tác của Ngô Thừa Ân và thật sự chú ý, thì sẽ nhận ra bản 1986 chế láo chế nháo rất nhiều. Nói không quá lời thì thậm chí có thể so sánh với việc Vu Chính chế truyện Kim Dung. Còn nói câu xỏ lá nhưng vẫn khá tôn trọng sự thật theo góc nhìn học thuật, thì phim chế của Châu Tinh Trì tôn trọng nguyên tác của Ngô Thừa Ân hơn bản phim nghiêm túc của Lục Tiểu Linh Đồng và Dương Khiết. Thích bản 1986 hơn thì nó là quyền của mỗi người, không ai cấm cản cả. Nhưng nếu coi nó là khuôn vàng thước ngọc để dùng chê bôi các bản khác, hay gọi nó là nguyên tác, thì chính là sự xúc phạm sâu sắc tới tiểu thuyết nguyên tác. Và tiểu thuyết nguyên tác thì tồn tại cả mấy trăm năm, cũng thành công hơn bản 1986 là cái chắc. Khi nói tứ đại danh tác/tứ đại kỳ thư là nói về tiểu thuyết gốc, chứ ko phải nói bản phim chuyển thể bất kỳ nào.

Ví như chuyện Bát Giới vừa ngốc, vừa háo sắc, hay nương tay với nữ quái, rồi thì toàn bị nữ yêu quái lừa ấy, là một cái hiểu lầm xuất phát từ bản 1986. Bát Giới thực ra trong tiểu thuyết gốc tiêu chuẩn chọn bạn gái cao vãi cả linh hồn ra! Vợ của hắn là con nhà phú hộ trong vùng nhá. Lần bị bồ tát lừa thì bồ tát cũng hóa thành một nhà giàu có, có học, cả bốn “mẹ con” đều xinh đẹp vãi hết cả các thể loại bộ phận ra. Nói nôm na là vừa xinh, vừa đảm, vừa thùy mị nết na, lại còn giàu. Các ông các bác gặp được mối này thì có cưới ko? Nói trắng ra thì nếu là trai thẳng và ko yếu sinh lý hay có vấn đề về tính dục, mấy ai không động lòng? Ngoài lần đấy, nó bị mỗi Bạch Cốt Tinh lừa, nhưng lần ấy một là là bị lừa do háu ăn chứ cũng ko phải vì gái đẹp, hai là còn có khả năng hắn vì gato với Ngộ Không, nên muốn mượn dao giết người. Thành ra, có thật sự bị lừa hay không còn chưa chắc cơ.

Vì quãng ấy thì Bát Giới vẫn nghĩ ko có Ngộ Không thì hắn cũng thừa bản lĩnh đưa Đường Tăng đi Tây Thiên, nên đây là cơ hội tốt để đâm bị thóc chọc bị gạo, tìm cách đuổi thằng sư huynh đi. Lúc ấy dù con lợn có nghĩ con khỉ nói thật, có tin lời con khỉ, nó cũng sẽ vẫn thêm dầu vào lửa để lão Đường giận con khỉ. Bằng chứng là Ngộ Không bị đuổi hắn vui lắm, nghĩ bụng thời của mình đã tới. Đến khi bị đời nó vả cho ứ chệch phát nào rồi anh í mới khôn ra, hiểu đc thằng sư huynh đáng ghét đấy, nhưng có hắn thì mình ms có thể thoải mái “chó cậy gần nhà” mà ko lo sợ gì. Chả thế mà sau này mỗi lần Ngộ Không giả chết, con lợn lập tức lớn tiếng chửi mắng thằng sư huynh. Nó dám chắc với bản lĩnh con khỉ thì chết thế quách thị phụng nào được? Mà với cách làm người của con khỉ thì cũng ko thấy chết ko cứu. Nên chắc chắn là đang biến hình núp gần đó, chỉ cần chửi cho Ngộ Không sôi máu lên sớm phút nào là nó sẽ được cứu mạng sớm phút ấy.

Ngoại trừ một lần ấy ra, mà cũng có thể là sau khi Ngộ Không bị đuổi, a í ăn quả đắng vì gieo gió gặt bão xong, khôn ra rồi (như đã phân tích ở trên), thì sau đó nữ quái chết trên đường thỉnh kinh chắc phải đến 99% là trong tay Bát Giới. Chứ chính Ngộ Không mới lại là kẻ hay nhân từ tha mạng cho nữ quái, thường thì là do con khỉ thấy là nam tử đi bắt nạt đàn bà con gái thì xấu mặt, nên nó toàn làm mấy trò vặt vãnh giữ chân nữ quái rồi té thôi. Còn Bát Giới mới là người theo chủ nghĩa “đả thảo trừ căn”, “nam nữ bình đẳng” trước Cửu Chỉ Đinh Ba.

Như cái lần 7 con nhện ấy, Ngộ Không muốn tha, Bát Giới hai lần muốn giết. Lần đầu vì vác bồ cào định bổ chết cnó mới bị bắn tơ trói lại. Vâng, các chị í là tự vệ cá nhân, bảo toàn tính mạng nên ms trói con lợn, chứ nào có phải là vì ai đó háo sắc nên bị lừa bắt như trong bản chế láo chế nháo nào đó? Và trong nguyên tác thì trói xong các chị í té gấp, chỉ sợ ở lại con lợn nó phá kén ra xong bổ mỗi chị một bổ, chứ nào có dám nấn ná ở lại hay... như bản chế láo nào đó, vác cả con lợn về hang? Theo nguyên tác thì Ngộ Không là đợi lâu quá bỏ đi tìm mới thấy Bát Giới bị trói gô bên bờ sông đấy chứ. Sau đó, đến lúc thu phục con rết, Bát Giới lại lần nữa muốn ra tay giết cnó, nếu ko phải bồ tát cản thì con lợn giết thật rồi.

Con lợn nó đúng là thích cho mồm mép bay nhảy lúc đánh với nữ quái thật, tán tỉnh là có chứ không phải không, song cái bồ cào ko bổ chậm nhịp nào đâu. Nhìn cả hành động ấy, chứ lời ong tiếng ve ai chả nói được? Chứ chả lẽ các bạn thấy thằng sát nhân vừa đuổi giết nạn nhân của nó vừa buông lời tán tỉnh, các bạn cũng đi kết luận là thằng í háo sắc, mê gái à?

Như hai nạn hồ ly tinh ấy, một nạn là người yêu con dê quốc sư giết trẻ sơ sinh, một nạn là người yêu của Ngưu Ma Vương. Cả hai lần Trư Bát Giới đều câu trước còn đang tán tỉnh các chị í, câu sau các chị í đã thành tắt thở dưới bồ cào a í cmnr. Nạn Cửu Đầu Trùng con công chúa vợ Cửu Đầu Trùng thậm chí còn chưa kịp nói câu nào đã bị con lợn tiễn đi chầu Diêm Vương. Ai háo sắc với nhân từ với nữ quái cơ? Thậm chí, đến vợ có cưới xin đàng hoàng hắn còn buông được ấy. Cái đoạn Ngộ Không biến thành Cao Thúy Lan ấy, Bát Giới còn đang bảo dù ai đến cũng không sợ, nghe thấy người đến là Tôn Ngộ Không một cái, a í phủi tay, “chào em, anh đi nhé, ở lại mạnh giỏi, a chui vào hang lánh nạn đây!” Vô cùng dứt khoát, không thừa đến một giây sĩ diện hão với gái. Ừ thì có thể bảo đấy là do hắn nhát gan, cơ mà bao nhiêu thằng dại gái có thể dứt khoát như thế thay vì gáy mấy câu sĩ diện trước mặt gái để thể hiện ta đây?

Rồi thì trên đường thỉnh kinh, Bát Giới cũng thường xuyên đấu trí với Ngộ Không, và kết quả không hề một chiều mà khá là ngang tài ngang sức. Con khỉ thì nghĩ cách bắt con lợn làm việc, còn con lợn thì tính kế lợi dụng sư phụ, khiến cho sư huynh chịu khổ. Nói trắng ra thì Ngộ Không dùng IQ để đấu với EQ của Bát Giới. Bát Giới tuy đúng là có phần hơi ngố do IQ ko cao lắm thật, cơ mà EQ rất cao bù lại. Ngộ Không tuy IQ cao nhưng EQ thực ra thấp hơn Bát Giới. Cái này là cái mà bản năm 1986 của Dương Khiết thất bại, không thể hiện được. Mà thực ra ai bảo Bát Giới “ko có đầu óc” khả năng còn ít não hơn nó.

Ngoài ra thì còn mấy chi tiết dạng như Ngộ Không thật Ngộ Không giả nữa. Bản của Dương Khiết để hai đứa đánh nhau toán loạn lúc Phật tổ ném bát nên mới gây ra hiểu lầm, sinh ra cái thuyết âm mưu Lục Nhĩ Di Hầu thay thế Ngộ Không. Chứ đọc nguyên tác lúc ấy hai đứa đứng yên tĩnh bên cạnh Phật. Phật cũng từ từ chậm rãi nói ra lai lịch của Ngộ Không giả. Thế rồi kẻ giả mạo bị vạch trần mới bỏ trốn. Nhưng Ngộ Không thật còn chưa kịp di chuyển khỏi vị trí bên cạnh Phật tổ thì Phật đã nói, “để ta!” và ném cái bát đi rồi. Theo cái nguyên tác ấy thì có cơ hội để kẻ bị bát chụp là Ngộ Không thật à? Mà cái thuyết âm mưu cũng bảo sau vụ ấy con khỉ ngoan hẳn. Cơ mà... ngoan hẳn là ngoan trong bản 1986 thôi, mà bản ấy thì Tôn Ngộ Không lúc nào chả ngoan quá chỉ định? Hung tàn với bố láo gần như mỗi hai lần bị đuổi, tại kịch bản yêu cầu thế... Trong nguyên tác có ngoan hơn quái đâu, vẫn bố láo bố đời bỏ mẹ!

Chưa kể đến, bản thân việc Lục Nhĩ Di Hầu có sức mạnh ngang với Ngộ Không chả qua cũng là nhờ Ngộ Không sinh hai lòng, bất mãn với Đường Tăng. Cái sự bất mãn ấy nó tạo ra một bản phân thân của chính hắn, cho Lục Nhĩ Di Hầu cơ hội nhảy vào làm ký sinh trùng thôi. Nếu Ngộ Không thật mà chết thì bản phân thân cũng chết theo, và Lục Nhĩ trở về với sức mạnh gốc, chứ cũng chả giữ nổi sức mạnh mượn dùng tạm kia đâu. Cái bát chụp xuống là đã tách bản phân thân ra khỏi Lục Nhĩ, để nó quy hồi nguyên chủ rồi. Nên tên giả mạo mới hiện nguyên hình. Chả thế mà lúc hai đứa đánh tới Linh Sơn, Phật tổ nói với chư phật rằng “Các vị đều chỉ có một lòng, nhìn người hai lòng đang tới kia kìa”. “Người hai lòng”, chứ ko phải “hai người”. Hay nguyên việc cái gậy như ý nhân hai thôi đã chỉ có thể xảy ra khi Ngộ Không tạo phân thân rồi. Cái gì có thể giả mạo đc chứ cái gậy thì chỉ có một. Ngoại trừ khả năng Ngộ Không đang đánh với chính phân thân của mình bị kẻ khác xúi giục ra thì chả có cách nào lòi ra đc cái gậy như ý thứ hai.

Nói đến cái gậy thì cũng phải nói đến một chuyện ngoài lề khác. Trung Quốc thời gian mấy chục năm gần đây đang có phong trào bài Phật cực mạnh, nên không thiếu chuyện xuyên tạc, cưỡng từ đoạt lý để nerf các nhân vật có liên quan đến Phật. Tôn Ngộ Không cũng bị ảnh hưởng không nhỏ bởi phong trào này. Gậy Như Ý nó có khắc hẳn tên trên thân gậy, là “Như Ý Kim Cô Bổng”, tức là nó được đúc ra để làm vũ khí. Song, vì nó quá nặng, ng đủ sức nâng nó lên cũng ứ đủ sức dùng nó như vũ khí, nên trc đó mới được dùng để đo nông sâu của biển. Yêu quái trên đường có cướp được gậy như ý thì cũng chỉ bày trong động cho đẹp, chứ ngoại trừ con khỉ, ko ai khác trong nguyên tác đủ sức dùng cái gậy như vũ khí. Nếu bản phim nào đó cho yêu quái múa gậy như ý thì đương nhiên là chế láo. Ví dụ thực tế của việc nhấc được nhưng ko dùng đc như vũ khí ấy, thì các bạn tưởng tượng lực sĩ cử tạ. Nhấc lên đến vai hay thậm chí giơ hẳn quá đầu thì vô tư, nhưng có thách cx chả ai nâng cái tạ nặng thế lên rồi múa hay nhảy breakdance được cả, phải không ạ? Hoặc gần gũi hơn thì tưởng tượng có hai con dao, kích cỡ bằng nhau, nhưng 1 cái nặng 500g, 1 cái nặng 10kg. Rõ ràng là cả hai con dao đều ở mức chúng ta dễ dàng cầm nắm, nâng lên hạ xuống, nhưng nếu dùng để thái thịt đi, thì con dao nhẹ hơn sẽ dễ sử dụng hơn chứ, đúng ko ạ? Chứ cầm con dao nặng đến 10kg để thái thịt có mà hết hơi.

Nhân nói đến vụ bài Phật nâng Đạo của Tàu, nhiều người đọc Phong Thần hay tìm hiểu Đạo giáo xong đi đánh đồng Thái Thượng Lão Quân của Phong Thần, của Đạo giáo với Thái Thượng Lão Quân trong Tây Du, xong bảo lão í không ra mặt thôi chứ chả ngán Tôn Ngộ Không. Trong nguyên tác của Ngô Thừa Ân, lúc con khỉ nhảy ra khỏi lò bát quái, Lão Quân chạy lên định giữ nó lại, bị Ngộ Không đạp cho ngã dúi dụi, lăn lóc không đứng dậy được. Và về sau, Ngộ Không cũng nhiều lần lên “bắt nạt” Lão Quân. Mỗi lần, độc thoại nội tâm của Thái Thượng Lão Quân đều cho thấy lão í ngại con khỉ vãi cả linh hồn. Và chả có ai đi diễn, đi tỏ ra mình yếu kém hơn sự thật trong độc thoại nội tâm cả. Không gáy bẩn đã là đủ lạ rồi. Đánh đồng nhân vật lịch sử, nhân vật truyền thuyết, nhân vật tôn giáo với nhân vật tiểu thuyết là hành động rất dở hơi. Đánh đồng nhân vật của hai tiểu thuyết khác nhau do hai tác giả khác nhau cx dở hơi không kém. Nhất là khi Tây Du Ký được viết trước Phong Thần Diễn Nghĩa. Thái Thượng Lão Quân của Phong Thần, của Đạo giáo có thể rất tài giỏi, rất mạnh, nhưng Thái Thượng Lão Quân trong Tây Du Ký thì không! Trong Tây Du Ký, Thái Thượng Lão Quân thật sự rất gà, rất yếu. Ngoại trừ là trùm buôn vũ khí và mai thúy, nhầm, pháp bảo và tiên đơn ra thì chả còn gì khác đáng chú ý. Thậm chí đầu óc lão í còn... hơi có vấn đề. Cái nạn trâu xanh ấy, Thái Thượng Lão Quân có thở ra một câu facepalm toàn tập. Không phải trích nguyên văn nhưng đại ý là: “muốn kháng được cái vòng ấy thì tao có pháp bảo khác, nhưng mày nên cầu nguyện con trâu lúc trộm đồ của t ko trộm nốt cái pháp bảo khắc chế được cái vòng, còn nếu nó trộm rồi thì tao cũng bó tay!” Ơ thế nó mà trộm cả hai thật rồi thì ông định thu phục con thú cưỡi của ông kiểu gì?

Rồi thì việc “tại sao Ngộ Không không đánh được yêu quái nào, nạn nào cũng phải lên trời cầu cứu binh?” nó có lẽ cũng là do Lục Tiểu Linh Đồng diễn không tới. Ừ thì Lục Tiểu Linh Đồng có tìm hiểu kỹ, vào hẳn sở thú quan sát để diễn sao cho giống khỉ, nhưng có lẽ chính vì thế mới diễn ko ra được Tôn Ngộ Không. Tôn Ngộ Không có chết cũng sẽ không để bản thân bị nhốt ở sở thú, mua vui cho thiên hạ, nên diễn theo khỉ sở thú thì sai từ cơ bản cmnr còn đâu? Tôn Ngộ Không không phải dùng tư thái “không đánh được”, “cần cầu cứu” khi lên thiên đình với nhà Phật, nó là thằng đòi nợ thuê đi dí nợ khi lên thiên đình, và khi không đòi được nợ thì về ăn vạ với chủ nợ khi đi gặp người nhà Phật.

Quãng thu phục Bạch Long Mã, Ngộ Không lừa được Bồ Tát nói, “nếu gặp khó khăn, thì nhà trời nhà phật đều sẽ có trách nhiệm giúp ngươi”. Thế cho nên, việc đánh yêu quái không được Ngộ Không coi là nhiệm vụ nó bắt buộc phải hoàn thành. Đó chỉ là việc nếu tiện tay và ko quá tốn công sức, thời gian thì nó làm cho vui thôi, còn nếu thấy phải cố gắng thì thay vì nhọc công cố gắng, nó có sự lựa chọn đi bắt thằng khác làm hộ. Như kiểu bạn là trưởng phòng, bạn có thể giao bớt việc của bạn cho nhân viên rồi chỉ cần rà soát lại trước khi nộp lên trên thôi ấy. Miễn là kết quả cuối cùng là bàn giao được Đường Tăng cho Phật tổ ở Lôi Âm Tự là được, còn cụ thể 81 nạn muốn qua kiểu gì Phật không quản. Thế cho nên tại sao phải cố gắng 100% trong khi có thể cố gắng 10% r sai sử thằng khác làm nốt việc hộ mình? Chứ hồi đại náo thiên cung nó thân cô thế cô, cũng chả có ai để đùn việc, không tự làm hết thì nhờ ai? Ai có thể thay Ngộ Không đại náo thiên cung, đánh thiên binh thiên tướng lúc ấy? Đám anh em cây khế tiệc tùng nhậu nhẹt thì có mặt đầy đủ, đại nạn lâm đầu thì chả thấy mặt ai? Hay đám hầu tử hầu tôn? Đấy là lý do tại sao lúc đại náo thiên cung thì một mình cân hết còn lúc thỉnh kinh thì việc gì cũng đi nhờ đấy. Bạn là trưởng phòng, một bên là công việc không phải bạn làm thì ko ai khác trong phòng làm được cả, một bên là công việc bạn ko làm thì bất kỳ ai khác trong phòng cũng có thể làm thay. Bạn sẽ tự làm bên nào và giao lại cho cấp dưới bên nào?

Tất nhiên, cũng có những nạn khó thật, những yêu quái thật sự làm khó được con khỉ. Nhưng nó không nhiều như nhiều người lầm tưởng. Còn tại sao nhiều người tưởng vậy thì cũng chịu chả biết tại sao. Có thể do Lục Tiểu Linh Đồng diễn chưa tới, khiến khán giả hiểu lầm rằng con khỉ nó đang thật sự hạ mình cầu cứu viện chăng?

Hay việc Bồ Đề Tổ Sư rốt cuộc là thuộc Đạo giáo hay Phật môn kỳ thực bản tiểu thuyết gốc cố tình ko làm rõ. Nghe qua thì có vẻ Đạo gia, nhưng các danh tự như “Linh Đài Phương Thốn Sơn”, “Tà Nguyệt Tam Tinh Động”, hay thậm chí chính “Bồ Đề” trong danh tự của sư phụ Ngộ Không, đều có liên quan mật thiết đến Phật giáo.

Rồi thì mấy vụ như Bạch Long Mã bị NTR, Kim Sí Đại Bàng đại náo lôi âm tự đều là Dương Khiết chế láo. Trong nguyên tác không hề tồn tại.

Nói chung là, nên đọc bản truyện chữ của Tây Du Ký và thật sự cảm nhận nó, chứ nếu cứ tin theo bản phim 1986 thì toang. Và cái này chả riêng gì Việt Nam mình, chính dân Trung Quốc nhiều đứa cũng tin theo bản 1986, thế rồi tưởng tượng ra là mấy cái chế láo chế nháo có trong nguyên tác, đến khi tranh luận với fan nguyên tác chân chính, đi tra cứu lại nguyên tác mới ngã ngửa ra là bao lâu nay họ vẫn hiểu sai, nhớ nhầm. Còn nếu hỏi bản phim nào sát nguyên tác nhất ấy, thì cá nhân bọn mình thấy là bản của Trương Kỷ Trung năm 2011.

oOo

Bên trên tên biên tập chia sẻ về góc nhìn Tây Du Ký của hắn dựa trên nguyên tác, còn ở đây tác sẽ nói qua về sử dụng từ Hán – Việt và văn convert, QT.

Trước tiên phải nói rõ, mình có đọc văn QT, convert và không có vấn đề gì với thể loại này cả. Sự xuất hiện của nó là hiển nhiên, khi mà truyện mạng Trung Quốc có độ dài ngày càng cao và không thể nào bắt một người dịch cẩn thận từng chương mà vẫn kịp tác, đảm bảo tiến độ ra chương đều đặn được. Nhưng văn QT dùng cho truyện nước ngoài là một nhẽ, hành văn y sì như vậy trong truyện sáng tác lại là chuyện khác.

Trước đây, mình từng tranh cãi với một số hội nhóm tác giả về chuyện này. Nhìn chung giờ chưa biết đã khác chưa, nhưng vẫn có một số bộ phận độc giả / tác giả cho rằng văn phong convert là một loại hành văn, một loại phong cách. Sau đó, bọn họ đánh đồng chuyện sử dụng từ Hán – Việt với cái cách hành văn biến dạng quái thai này của họ.

Mình nghĩ nhiều người không hiểu cái lập luận “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” của Bác. Tất cả những ví dụ Bác đưa ra trong bài văn đều là các khái niệm mới, ví dụ như sân bay, xe lửa. Tức là, theo ý mình hiểu, Bác nói ở đây là khi chúng ta xuất hiện một khái niệm mới, một từ mới thì nên ưu tiên đặt tên thuần Việt cho nó. Còn Bác hoàn toàn không có vấn đề gì với từ Hán – Việt, miễn sao dùng đúng chỗ, phù hợp.

Bản thân bạn nào đọc Nhật Ký Trong Tù chắc chắn sẽ thấy, thơ Bác làm bằng chữ Hán còn nhiều hơn là chữ Nôm cơ.

Thế nên, mình hi vọng sau này các bạn gặp tác giả nào bảo “hành văn convert” ấy thì hiểu là đang đánh lận con đen. Chẳng có cái gì loại hành văn nào lại lắp từ Việt vào ngữ pháp Trung Quốc cả, trừ khi chúng ta công nhận thêm một lối hành văn chị gu gồ.

Có một trang bọn mình dùng để đọc truyện convert có thể bấm vào từng từ để hiển thị từ gốc tiếng Trung, từ đó suy ngược ra cách hành văn của tác Tàu. Dùng cái này mới thấy thực ra hoàn toàn không có chuyện lối viết máy dịch râu ông nọ cắm cằm bà kia là một văn phong như mấy tác bị lậm nói cả. Nhưng vì trang này không phải yy, càng không phải trang mxh cá nhân của bọn mình nên nhóm tác xin phép không đưa link, cũng không nhắc tên.

Thôi, chia sẻ chút chút với mọi người thế thôi. Chúc bà con nghỉ Tết vui vẻ ạ!
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 344: Phản Kích Của Đan Dược Hội


Long Hoa tự...

Ngày xảy ra buổi luận đạo giữa Nguyễn Đông Thanh và Kim Thiền Tử.

Dược Thánh và Tiêu Thiên Hóa chính đang ngồi trên đệm gấm, trước mặt là hai chén trà bằng sứ có thiếp chỉ vàng, bên trong hương trà nghi ngút.

Đối diện, một vị lão tăng mặc cà sa báu nạm vô số chân châu, phỉ thúy, mã não, xà cừ, lại dùng kim tuyến chỉ vàng, dưới ánh nến lộng lẫy phát sáng. Lão tăng vuốt chòm râu dài, cười:

“Chuyến này chắc hẳn mã đáo thành công, lão nạp dùng trà thay rượu, kính hai vị thí chủ.”

“Trụ trì quá lời. Nếu không có quý tự ở ngoài sáng hấp dẫn sự chú ý của thiên hạ thì chỉ sợ cho dù là lão hủ ra tay cũng sẽ sinh biến.”

Tề Thiên Hạ nâng chén trả lễ, hai bên khách sáo thổi phồng nhau mấy lời, cùng lấy đó làm vui. Tiêu Thiên Hóa thỉnh thoảng cũng chêm vào mấy câu, hàm ý chúc mừng. Trong ba người lão tu vi yếu nhất, hoàn toàn không biết lúc này vị trụ trì Long Hoa tự – Huyền Quan thiền sư – chính đang truyền âm với Dược Thánh, đương nhiên, là sử dụng thân phận khác.

“Đến nay đã là kiếp thứ mấy rồi?”

Tề Thiên Hạ hỏi.

“Đã được chín kiếp. Chỉ nốt một đời này là công đức viên mãn.”

Huyền Quan đáp, trong ngữ khí hơi có vẻ đắc ý.

“Con vịt sắp chín còn dám để nó đi gặp Bích Mặc tiên sinh, rồi còn thách đấu luận đạo. Ngươi không sợ nó bay mất à?”

“Chuyện ấy thì ngài chớ lo. Đám người kia bây giờ trốn chui trốn nhủi kéo dài hơi tàn, cho dù có là đích thân Thế Tôn hiện thế cũng vị tất đã có thể trợ giúp hắn tranh giành lại với chúng ta. Cần nhớ là, Lục Giác Hóa Sinh Trì của Phật môn hiện giờ chỉ là phảng chế theo, chứ không phải nhân – quả do Thế Tôn chưởng quản. Lại thêm nhân quả trường hà đã ẩn mình, chuyện này mười phần chắc chín. Cho dù không thăm dò ra được hư thực của hắn cũng có thể toàn thân thối lui.”

Tề Thiên Hạ nghe Huyền Quan khẳng định chắc nịch, cũng gật đầu:

“Kế hoạch tỉ mỉ đến thế, lần này hẳn là sẽ vạn vô nhất thất.”

...

Hai tên Đế Tôn của Đế Mộ truyền âm, một kẻ tu vi trung bình khá trong Vụ Hải như Tiêu Thiên Hóa đương nhiên không tài nào phát hiện ra được. Hắn cứ ngồi im, thỉnh thoảng lại tiếp lời “Huyền Quan” và “Dược Thánh”, không quên nhắc khéo chuyện hợp tác ăn chia.

Té ra, Huyền Tiêu cung mặt ngoài nhìn là đối thủ cạnh tranh của Đan Dược hội, nhưng bản chất lại là một con đường giúp tuồn đan dược ra ngoài thị trường. Tề Thiên Hạ biết độc quyền vật đặc thù như đan dược thuốc thang rất khó, làm không cẩn thận có thể khiến thiên hạ bất mãn, vì giành thuốc mà đánh nhau, thế nên mới tìm cách tránh nặng tìm nhẹ.

Trước tiên lão tìm đến Mỹ Vị sơn trang, giả ý truyền bá Y Thực Đồng Nguyên cho trang chủ đời thứ chín của họ, hòng làm dịu dư luận. Sau đó ít lâu lại cho người âm thầm đến sơn trang tàn sát, thiêu hủy hết những ghi chép về Y Thực Đồng Nguyên, khiến cho Mỹ Vị Sơn Trang “thất truyền” mất một tuyệt kỹ trong trù đạo.

Sau lại cử người đến Hữu Tiền Liên Minh làm cung phụng, chuyên luyện chế những đan dược phổ thông cho đám tu hành giả tầng dưới chót, cầu bất cầu bơ.

Cuối cùng, gần đây mới đẩy Tiêu Thiên Hóa lên đài, thành lập Huyền Tiêu cung nhắm vào các thế lực cỡ nhỏ, cỡ trung đang muốn phát triển thần tốc. Thuốc bớt nửa phần, dùng thêm hai phần thuốc cũ thuốc hỏng, tinh luyện ra một loại đan nửa tàn chỉ có tối đa sáu thành công hiệu của đan dược do Đan Dược hội cung cấp, kế mượn danh Huyền Tiêu cung bán ra ngoài.

Cứ thế, hai thành chia cho Hữu Tiền Liên Minh, một thành phân cho Huyền Tiêu cung, bảy thành lợi nhuận từ đan dược trong thiên hạ đều đổ về Đan Dược hội. Mà Tề Thiên Hạ cũng thành công khống chế được thị trường béo bở này.

Huyền Quan bị gã níu kéo gạ đầu tư mãi, mới hắng giọng, kêu:

“Mô phật, thí chủ lượng thứ, bản tự miếu nhỏ ít tăng, tiền nhang khói cũng chẳng đủ dùng. Cái chuyện đầu tư gì đó xem ra là vô duyên.”

Tiêu Thiêu Hóa nhìn một vòng đại hùng bảo điện lộng lẫy vàng son, mắt trợn ngược lên như muốn hỏi “đại sư, ngài nói dối nhẹ tênh như thế chẳng nhẽ không thấy Phật tâm rung chuyển sao?”

Gã mới nghĩ đến đây, thì tự nhiên lại ứng nghiệm. Chỉ thấy Huyền Quan tím mặt, miệng phun ra một búng máu.

Lão lảo đảo, khoanh chân tọa thiền, miệng tụng kinh, tay bắt quyết, cố gắng trấn áp Phật tâm đang rung chuyển. Tề Thiên Hạ ngồi bên cạnh giống như cũng phát giác ra có chuyện chẳng lành, nhắm mắt lại, tinh thần li thể nhìn về phía Thiên Ngoại Thiên.

Tương truyền cách bầu trời ba ngàn dặm, gần chỗ khởi nguồn của Tuế Nguyệt trường hà có một chốn hư không. Nơi này có các loại đại đạo trôi nổi, dài ngắn khác nhau, Ngũ Lộ Triều Thiên tung hoành vạn dặm, tục xưng làm Thiên Ngoại Thiên.

Không nhìn thì thôi, Dược Thánh vừa đưa mắt đã sửng sốt rợn người. Chỉ thấy Phật đạo trước thì bị người ta đánh dẹp một đoạn, sau lại bị kẻ dùng đại lực đánh tõe ra làm hai, tuy đầu đuôi vẫn dính vào nhau, nhưng khúc giữa thì quả thật phải nói là cực kỳ tàn nhẫn. Có thể nói, kể từ lúc Huyền Hoàng giới thành hình đến nay, ra tay độc ác đến vậy chỉ có ba người. Một là Táng Hoa Sinh vung Lệ Đao chém rụng Vô Tình đạo, sau đó là Thế Tôn tế Bản Nguyên Tứ Kiếm trọng thương Thiên Đạo...

Kẻ thứ ba chính là “kẻ mà ai cũng biết là ai”.

Thế nhưng chuyện đâu đã dừng ở đó? Ngay lúc lão còn đang ngẩn người, thì bỗng nhiên trong hư không hiện lên hai mươi tám chữ đỏ như máu, giáng xuống in thẳng lên đại đạo dát vàng.

Ly tịch phương ngôn tịch diệt khứ,

Sinh vô sinh hậu thuyết vô sinh.

Nam nhi tự hữu xung thiên chí,

Hưu hướng Như Lai hành xứ hành.

Bài thơ Hưu Hướng Như Lai lúc này bỗng nhiên vang lên lồng lộng trong Long Hoa tự. Huyền Quan ngồi trong đại hùng bảo điện xếp bằng lúc này giống như bị cao thủ đánh cho hai mươi tám quyền tan vàng vỡ đá vào người, miệng phun máu phè phè, khí tức phập phồng bất định.

Tuy thân là Đế Tôn, sẽ không vì những chuyện này mà vong mạng, thế nhưng hiện giờ Thiên Đạo có thiếu, muốn khôi phục tu vi e là khó khăn.

“Đáng chết! Nguyễn Đông Thanh!!!”

Huyền Quan thấy tình trạng của Phật đạo ở Thiên Ngoại Thiên, hai mắt như muốn phun ra lửa. Lão nghiến răng trèo trẹo, nói:

“Dược Thánh, cảm phiền ngài ra tay trợ giúp một phen.”

“Chuyện này...”

Tề Thiên Hạ mặt ngoài tỏ vẻ do dự, lại âm thầm truyền âm hỏi Huyền Quan:

“Lão lừa trọc, rốt cuộc chuyện gì vừa mới xảy ra ở Quan Lâm vậy?”

“Phật đạo mất khống chế, bị Bích Mặc ma đầu bắt lấy, cưỡng ép hiển hóa dị tượng.”

Tề Thiên Hạ nghe lão nhắc đến chuyện đại đạo ở tận Thiên Ngoại Thiên bị người ta cưỡng chế lôi ra dùng, bất giác rùng mình nhớ lại trận Phản Thiên Chi Chiến năm nào.

“Có thể làm được như vậy, thế gian hiện giờ trừ Bách Hiểu Sinh chỉ còn có Thế Tôn.”

“Cũng có thể là tàn đảng của đám người Thiền tông ngày xưa giở trò sau lưng. Bách Hiểu Sinh bằng mặt không bằng lòng với chúng ta, song không đời nào gã lại đi trợ giúp Thế Tôn. Dược Thánh, báo chuyện này lên cho các Thiên Tôn. Nguyễn Đông Thanh nếu không phải Thế Tôn thì cũng có quan hệ không tệ với y. Chuẩn bị ra tay toàn lực.”

Huyền Quan nói.

Tề Thiên Hạ cười lạnh:

“Chuyện này nói thì dễ, chẳng phải ngài quên hiện giờ Thiên Tôn còn đang phải khổ sở thế nào sao?”

“Cái này...”

“Việc ở Quan Lâm ta sẽ giúp ông một tay. Chuyện này vẫn sẽ nói với chư vị Thiên Tôn, nhưng còn phải chờ họ giải quyết tai họa ngầm rồi mới định đoạt được.”

“Mẹ kiếp... một đám sinh sau đẻ muộn...”

Huyền Quan nghe Tề Thiên Hạ nhắc đến chuyện tám Thiên Tôn hiện tại ngày thường làm chuyện gì để giết thì giờ, hai hàm răng nghiến vào nhau trèo trẹo. Tiêu Thiên Hóa ngồi một bên cũng bị giật mình đánh thót một cái.

“Đại sư! Bây giờ không phải khi trước, chúng ta thực sự không phải đối thủ của Thiên Tôn. Vẫn nên ăn nói cẩn thận.”

“Cũng chỉ có thể như thế.”

...

Cùng ngày, ở Quan Lâm, Dư Tự Lực vừa mới thu quầy dọn sạp thì bỗng nhiên bên hông nóng lên. Cậu chàng đưa tay, bắt lấy một tấm lệnh bài. Thời gian gần đây Dư Tự Lực vẫn ở Quan Lâm chờ sư phụ hồi âm, trong thời gian này cũng dùng một chút y thuật cứu trị bệnh nhân trong thành. Đương nhiên, với cái y thuật mèo ba cẳng học lóm của đám sư huynh đệ tỷ muội ở ngoại môn thì Dư Tự Lực cũng chỉ chữa được những chứng bệnh bình thường như cảm vặt, ho ốm.

Thế nhưng bệnh vặt mắc phải cũng khó chịu, lâu dần trở nặng cũng có nguy cơ mất mạng. Trong thành chính lúc tìm không thấy y sĩ, cậu chàng xuất hiện tựa như đưa than trong ngày tuyết lạnh, rất được dân chúng ủng hộ.

Lại nói Dư Tự Lực nắm lệnh bài bên hông, nhớ lại lúc được đưa vật này. Ấy là thứ sư phụ đưa cho cậu chàng lúc chính thức được nhận làm đệ tử ký danh, đại biểu cho thân phận trong Đan Dược hội.

Thế nhưng thứ này cũng chỉ có vậy, là một biểu tượng không hơn không kém, không thể chứa đồ như lệnh bài của đệ tử ngoại môn, lại càng không thể truyền âm như thứ trong tay đám người nội môn.

Nghe đồn lệnh bài thân phận của đệ tử thân truyền còn có thể truyền tống, giúp bọn họ giữ mạng khi hành tẩu bên ngoài, thế nhưng Dư Tự Lực địa vị thấp kém, hoàn toàn không tiếp xúc được với những thứ cao như thế, thành thử cũng không rõ thực hư.

Lần này ra ngoài, ngoại trừ lệnh bài thân phận, Dư Tự Lực còn mang theo ngọc giản truyền âm để dễ bề liên lạc với Đan Dược hội. Nếu như ngọc bài của cậu chàng có thể truyền âm liên lạc mà nói, thì cớ gì phải vẽ vời thêm chuyện? Thành thử, khi thấy ngọc bội bắt đầu phát sinh phản ứng quái lạ gần giống với lúc ngọc giản truyền âm nhận được liên lạc, Dư Tự Lực không khỏi cảm thấy ngờ vực.

Không đợi cậu chàng kịp phản ứng, bên tay đã cất lên giọng nói của Dược Thánh:

“Tự Lực. Đại sự có biến, mau thực hiện chuyện vi sư giao phó.”
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 345: Đại Dịch Quan Lâm


Dư Tự Lực nghe mà cả kinh, nói:

“Sư... sư phụ. Lần trước đệ tử truyền tin người đã nhận được chưa?”

Cậu chàng ngày đó ngờ tới bài thuốc của sư phụ mình độc nhiều hơn dược, rải ra Quan Lâm thì chẳng những không cứu mạng ai, có lẽ còn có thể khiến sinh linh đồ thán. Nhất là trong tình cảnh hiện giờ cả thành không một bóng thầy lang, không một người biết bắt mạch bốc thuốc.

Ở bên kia, Tề Thiên Hạ cười lạnh:

“Chuyện con hỏi vi sư đã biết, cũng không ngại thừa nhận thứ trong tay con đúng là độc dược. Thế nhưng con yên tâm y kế hành sự, sẽ không hại đến mạng người.”

“Nhưng... nhưng mà... biết là hại người vẫn cố tình làm, há chẳng phải đi ngược lại bản tâm hành y tế thế của Y đạo ta sao? Sư phụ, vì sao cần phải...”

“Chuyện liên quan rất lớn, con không cần biết lý do.”

Ở Long Hoa Tự, Tề Thiên Hạ nghe cậu chàng nói, sắc mặt càng lúc càng trầm.

Dư Tự Lực nghe thế, hít sâu một hơi, nói:

“Sư phụ, thứ cho đồ nhi vô lễ, không thể phục tùng sư mệnh.”

Dược Thánh nghe mà hai hàm răng cứ thế nghiến vào nhau nghe kèn kẹt, thầm nghĩ nếu không phải Dư Tự Lực dường như có liên quan đến một trong tám Thiên Tôn, thì chỉ với việc dám không nghe lão điều khiển, lão sớm đã giết Dư Tự Lực, há lại để cậu chàng sống đến lúc này, còn cần phải tốn công điều cậu chàng đến tận Quan Lâm để mà “mượn dao giết người” làm gì?

Cố nén cơn giận, lão mới đổi giọng:

“Đồ nhi có điều chưa biết, Long Hoa tự từng có ơn cứu mạng vi sư, lại thêm khi xưa bọn họ chế ngự hai quỷ vương ở Lãnh Kính Hồ có công với thiên hạ, vi sư không thể không giúp. Lần này tạo nên dịch bệnh, cốt là để Phật môn ra tay cứu trị, vãn hồi mặt mũi. Dù sao Bích Mặc tiên sinh lần này ra tay có chút độc ác.

“Đồ nhi chẳng nhẽ muốn vi sư vào chịu tiếng bội nghĩa hay sao? Chỉ cần con ra tay, vi sư cam đoan khi trở về sẽ dốc túi truyền thụ, thiết nghĩ với tư chất của con chẳng mấy chốc sẽ có thể dương danh thiên hạ, thành một đời danh y.”

Dư Tự Lực nghe thấy có thể theo thầy học y, bất giác lộ vẻ do dự.

Trước, cậu chàng ở Quan Lâm, có thể tận mắt chứng kiến cách Nguyễn Đông Thanh đánh Phật đạo biến dạng, quả tình cũng có mấy phần tàn nhẫn. Sau lại nghĩ tới tâm nguyện cả đời, cộng thêm Tề Thiên Hạ đã cam đoan sẽ không hại đến tính mạng dân chúng, thế là bắt đầu băn khoăn đắn đo chuyện được mất.

Dược Thánh thân là Đế Tôn, đã sống cả vạn năm tuổi, có thể nói là một lão quái vật. Gừng càng già càng cay, Tề Thiên Hạ thấy Dư Tự Lực không đáp ngay, há lại không biết cậu chàng đã bắt đầu động tâm? Thế nhưng ý niệm sinh ra nhanh thì cũng biến mất nhanh, muốn để nó ăn sâu bám rễ, khiến Dư Tự Lực đưa ra quyết định mà lão muốn thì Dược Thánh còn phải đẩy cậu chàng một cái, rèn sắt khi còn nóng mới được.

Tề Thiên Hạ nghĩ là làm, bèn tiếp tục truyền âm:

“Khi xưa Y Tổ thân phó chiến trường, sử dụng địch quân, tử tù thử thuốc mới có y đạo ngày nay. Hiện tại y đạo ta cũng có dược nhân, dược thú chuyên dùng để thử thuốc, đều là những người công đức vô lượng đó thôi.

“Đồ nhi chớ nên băn khoăn. Một danh y một đời cứu được ngàn người vạn người, tuyệt đối là hơn xa dân số một thành. Thế nhưng một kẻ không biết chút y thuật nào thì cả đời cũng chỉ loanh quanh trong thôn xóm, trị chút thương hàn cảm sốt bình thường. Càng huống hồ nếu có thể qua đó khiến dân chúng Quan Lâm nhiều người hướng Phật, tu thành chánh quả, há chẳng tốt lắm thay? Đại trượng phu làm việc đừng câu nệ tiểu tiết, nên chú trọng kết quả sau cùng.”

Giọng nói lão như có ma lực, lại thêm đúng là trong dược đạo địa vị của Dược Nhân và Dược Thú tự nguyện thử thuốc rất cao, cơ hồ có thể sánh với Tì Kheo, La Hán, Thiên Sư, Đại Nho của các nhà khác. Dư Tự Lực nghe cũng xuôi xuôi tai, cuối cùng hạ quyết tâm hành động...

oOo

Chỉ một ngày sau đó...

Ải Quan Lâm đột nhiên bùng phát một dịch bệnh quái lạ.

Dân chúng nhiễm bệnh mình nổi mẩn tím, quanh viền mắt đỏ lên, cả ngày nước mắt dàn dụa. Đến tối thì cả người nóng hầm hập, nhưng bệnh nhân lại run lên như cầy sấy, miệng không ngừng kêu rét. Sang ngày thứ hai thì toàn thân bải hoải vô lực, không thể rời giường.

Bệnh này truyền nhiễm rất nhanh, một lây mười, mười lây trăm, chẳng mấy chốc cả thành Quan Lâm nhìn làng trên xóm dưới đều chỉ thấy bệnh nhân. Nhưng lạ một nỗi chứng bệnh quái dị này dường như chỉ nhắm vào phàm nhân, người nào có chút tu vi dù chỉ đạt đệ nhất cảnh thì đều bình an vô sự.

Tu luyện giả đại đa số thiên tính ích kỷ, suốt đời không tranh thì cướp, nay chuyện không ảnh hưởng đến mình thì đương nhiên đều lựa chọn mắt điếc tai ngơ, sống chết mặc bay. Không ít kẻ xấu bụng còn nhân lúc này chế nhạo hành vi xem trọng phàm nhân mà coi thường tu sĩ của Vũ Tùng Lâm ở trận chiến hộ thành lần trước.

Mộc Thanh Hiên và Tế Thế đường đã lên tiền tuyến, hiện giờ chỉ còn vài hộ vệ ở lại bảo vệ người già trẻ nhỏ trong tộc. Quan Lâm gặp đại dịch, dân chúng gọi trời trời không thấu gọi đất đất không nghe chỉ biết chạy đến Mộc gia trang đập cửa cầu cứu. Số khác thì chạy đến Nhất Phẩm Cư của Lý Lợi Minh trả tiền mua thuốc uống bừa, coi như có bệnh thì vái tứ phương, có chữa lợn lành thành lợn què cũng đành chịu. Họ Lý nhân cơ hội này tăng giá thuốc lên gần hai lần, kiếm tiền trên xương máu kẻ khác, húp một cái miệng đầy máu mỡ.

Nếu không phải Vũ Tùng Lâm kịp thời can thiệp, có lẽ Lý Lợi Minh còn định tăng giá thuốc lên gấp ba, gấp bốn nữa.

Mà Vũ tổng binh hiện giờ cáng đáng Quan Lâm cũng hết sức mỏi mệt. Trước dịch bệnh tràn đến như nước lũ, sau thì có gian thương trục lợi ăn người không nhả xương, lại thêm đám tu sĩ tiểu nhân đắc chí chơi trò ngáng chân trong tối. Bên ngoài, Hồ Ma Huyền Nguyệt mượn cớ sơn tặc ở Lệ Chi sơn bành trướng thế lực, yêu cầu lấy Quan Lâm làm hậu phương khổ chiến, chuẩn bị mộ lính trưng binh. Quả thực là nhà đã đổ vì gió lại dột vì mưa.

Bấy giờ, đám cậu ấm cô chiêu đến bái sư lấy Hoàng Sở Sở và Lâm Cảnh Trung cầm đầu, không tiếc dùng tiền cứu tế người dân. Cũng vì có bọn họ ra tay kịp thời mà dân chúng liệt giường không thể ra ngoài mưu sinh không đến nỗi phải chết đói chết khát.

Đương nhiên, chuyện này động chạm đến lợi ích của đám thương nhân, đặc biệt là cánh buôn gạo thịt cá tôm. Dĩ nhiên, cánh thương lái này không dám công khai đối đầu với tiểu thư công tử của các thế lực lớn, bèn bỏ số tiền lớn cấu kết với đám tu sĩ trong thành. Đám tu sĩ bình thời coi phàm nhân nào có bằng cỏ rác? Hiện tại được dịp phát tiết ác độc trong lòng thì càng ra tay tàn nhẫn, lúc thì đánh đập, khi thì phá nhà dỡ cửa, ép bệnh dân không được tìm đến điểm phát chẩn của đám người Hoàng, Lâm.

Bọn này làm việc bí mật, lại thêm quân đội đồn trú ở Quan Lâm bị Hồ Ma Huyền Nguyệt điều đi, thành thử canh phòng trong thành lỏng lẻo phần nào. Vũ Tùng Lâm túng quẫn, chỉ đành đến tìm đám người Long Hoa tự xin trợ giúp, thế nhưng lại bị bọn chúng cho ăn món “canh đóng cửa”. Lão sư béo dẫn đầu nói vì đại đạo bị thương, nhân mã Long Hoa tự phật tâm bất ổn, không giúp gì được.

Lời này không rõ thật giả, nhưng quả thực trước đó không lâu Phật đạo bị Nguyễn Đông Thanh đánh cho biến dạng, Vũ Tùng Lâm thân là phái ủng hộ của Bích Mặc tiên sinh, không thể làm gì khác hơn là ngậm bồ hòn làm ngọt.

Lão cũng từng đến gặp Nguyễn Đông Thanh, thế nhưng Bích Mặc tiên sinh của chúng ta mà đủ trình thi trường y dược thì có lẽ đến giờ còn chưa ra trường. Lại thêm ở Huyền Hoàng giới không có thiết bị y tế, hắn có muốn cũng chẳng giúp gì được, chỉ đành dặn Vũ Tùng Lâm cách li người bệnh, thực hiện sát trùng thường xuyên, khống chế dịch bệnh lây lan. Thế nhưng đối mặt với dịch bệnh nhân tạo, lại thêm quan, thương, tu sĩ tam phương cấu kết cùng làm chuyện xấu, phương pháp của Nguyễn Đông Thanh cũng không tạo nên bao nhiêu tác dụng. Điều này càng khiến Vũ Tùng Lâm như kiến bò trên chảo, tình hình dịch bệnh lửa xém lông mày.

Mà Phật môn thấy Bích Mặc tiên sinh không động thủ thì mừng húm. Cả đám chính đang đợi đến lúc dịch bệnh hoàn toàn mất kiểm soát, dân chúng Quan Lâm tuyệt vọng thì sẽ lấy tư thái chúa cứu thế xuất hiện, giải quyết dịch bệnh, từ đó thu hoạch dân tâm củng cố đại đạo.

Nhất Phẩm cư của Lý Lợi Minh nghe được phong thanh, bắt đầu bỏ số tiền lớn đầu cơ tích trữ hương hoa, nhang thơm oản chuối ở các vùng khác, chỉ chờ lúc Phật môn lấy thế lôi đình quật khởi là sẽ vận về Quan Lâm, kiếm chác một mớ lớn từ đám tín đồ mới “xuất xưởng”. Mặt khác lại chọn sẵn một địa điểm trước có cổ thụ, sau có ao sen, dùng đủ thủ đoạn lấy về tay, chỉ chờ bán cho Phật môn xây chùa dựng tháp.

Kế hoạch trên giấy thì lúc nào cũng thuận lợi, đọc xong khiến người ta sướng rơn.

Thế nhưng thực tế mà nói, trên đê luôn luôn có một tổ kiến, vào thời điểm mấu chốt khiến cho toàn bộ con đập sụp xuống, khiến lũ tràn bờ.

Mà trong lúc Phật môn, Dược Thánh chính đang đắc ý rằng nắm đúng điểm yếu, khiến kẻ “đang giả làm phàm nhân” như Nguyễn Đông Thanh bó tay bó chân thì “tổ kiến” – Trường Mệnh Trùng Hạ Hầu Duyệt – đã làm ra tác dụng không ngờ.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 346: Hồng Vân Ra Tay


Số là Hạ Hầu Duyệt bị người ta đánh bất tỉnh giữa chợ, hết sức lấy làm phẫn nộ, ngay hôm đó đã hầm hầm chạy đến phủ thành chủ hưng sư vấn tội, muốn đòi một câu trả lời từ Vũ Tùng Lâm.

Vốn Trường Mệnh Trùng nghĩ Vũ tổng binh sẽ phải hạ mình xin lỗi, sau đó bồi thường cho y một khoản kha khá. Nào ngờ, Vũ Tùng Lâm thấy y đến thì chỉ đáp một câu cụt lủn:

“Người đánh đại nhân là hộ vệ của Bích Mặc tiên sinh, Vũ mỗ không điều khiển được, vẫn xin đại nhân lượng thứ.”

Hạ Hầu Duyệt bấy giờ còn đâu dám tơ tưởng đến bồi thường, đến xin lỗi nữa? Hắn nghe đến người ra tay đánh mình là “hộ vệ của Bích Mặc tiên sinh” thì điếng cả người, thiếu điều khóc nấc lên một tiếng. Đến giờ gã vẫn nhớ như in vì cớ gì mà hắn đang sống yên ổn ở thành Bạch Đế lại phải lên tiền tuyến vận chuyển vật tư.

Khi đó Nguyễn Đông Thanh còn chẳng thèm cố ý nhắm vào, mà hắn đã phải khốn đốn khổ sở. Lần này hộ vệ của y tự mình ra tay, Trường Mệnh Trùng há có thể không hoảng hốt?

Thành thử, suốt từ bấy đến giờ, Hạ Hầu Duyệt đều cắm rễ ở Quan Lâm không dám rời khỏi một bước, chỉ chờ khi “tiên sinh” dùng đến là gã sẽ lập tức đến tận núi vô danh nghe hiệu lệnh. Hắn thân là mệnh quan triều đình, nhờ Vũ Tùng Lâm cấp cho một phòng ở phủ thành chủ để sinh hoạt cũng chẳng phải chuyện gì quá khó.

Mà hắn quả thực cũng không cần phải chờ lâu.

Gần như ngay khi buổi luận đạo kết thúc, thị nữ Thiêm nhi và Hồng Đô đã xuất hiện trong phòng ở của Hạ Hầu Duyệt.

Trường Mệnh Trùng nhiều năm là tán tu, trực giác đối với nguy hiểm rất mạnh. Thành thử tuy tu vi không bằng hai cô gái, song hắn vẫn có thể tỉnh dậy kịp lúc. Đương nhiên, nếu là đánh nhau sống chết, thì Hạ Hầu Duyệt thức hay ngủ đối với Hồng Đô và Thiêm nhi mà nói cũng chẳng khác biệt gì, song lần này hai người đến không phải để đánh nhau. Sự nhạy bén của y cũng khiến hai người cảm thấy kinh ngạc.

Trường Mệnh Trùng thấy cái “người cơ quan” từng đấm mình xỉu giữa chợ xuất hiện, cũng chẳng quản hiện giờ chỉ mặc áo ngủ, vội vội vàng vào leo xuống giường hành lễ:

“Tiểu... tiểu nhân bái kiến Hồng hộ vệ.”

Gã nói xong, lại len lén ngẩng đầu dậy, cười đầy vẻ lấy lòng:

“Không... không biết tiên sinh có việc gì cần dùng đến tiểu nhân? Vẫn mong Hồng hộ vệ cho biết.”

Hồng Đô thấy Hạ Hầu Duyệt hành xử rất “biết điều”, xem chừng lại giỏi đoán ý nói hùa, mới tằng hắng một cái, nói:

“Chủ ta bấm độn biết được dạo trước nhà ngươi có đầu cơ một số thảo dược, đều ghi trên danh sách này. Hiện giờ cần phải dùng tới, nhưng thiết nghĩ trong phạm vi năm trăm dặm quanh đây những thuốc này đều đã bị kẻ gian gom sạch, khan hàng khó mua. Ta mặc kệ nhà ngươi sử dụng cách nào, nội trong ba ngày phải vận toàn bộ tồn kho nhà ngươi đầu cơ được đến Quan Lâm để chủ ta sử dụng. Hiểu?”

“Tiên... tiên sinh thật là thần nhân.”

Hạ Hầu Duyệt đọc thấy những gì ghi trên trang giấy, khẽ rùng mình, hoàn toàn không ngờ rằng thứ Bích Mặc tiên sinh nhắm tới chính là một bộ phận thảo dược y tích trữ để mà phòng thân.

Chuyện xảy ra cũng được một đoạn thời gian rồi, điều này khiến gã không khỏi nghi ngờ không biết từ lúc nào mà một đại nhân vật như Bích Mặc tiên sinh đã chú ý đến nhất cử nhất động của một tên tiểu tốt vô danh thành Bạch Đế như hắn. Đương nhiên, việc “chủ nhân” của Hồng Đô và “tiên sinh” là hai người khác nhau cả thiên hạ này e cũng chỉ có nội bộ Lão Thụ cổ viện và Huyền Thanh biết mà thôi.

Càng nghĩ lại càng sợ, Hạ Hầu Duyệt không còn cách nào khác ngoài nhăn mặt cười trừ, cố gắng che giấu nội tâm đang dậy sóng.

Hồng Đô chẳng buồn quản hắn đang nghĩ gì, chỉ hỏi tiếp, giọng đã hơi có vẻ mất kiên nhẫn:

“Còn không mau đi làm đi? Ba ngày sau nếu ta quay lại mà còn chưa có...”

“Hồng hộ vệ cứ yên tâm giao chuyện này cho tại hạ. Đảm bảo không đến hai ngày, dược thảo sẽ được đưa đến tận tay Vũ tướng quân.”

“Tiên sinh” trong lòng Hạ Hầu Duyệt càng lợi hại, thì hắn lại càng không dám có chút chậm trễ nào. Mà việc ngay khi hắn vừa thu xếp để dược liệu được chuyển về Quan Lâm xong, trong thành quả thật bắt đầu bùng phát một dịch bệnh lạ lại càng khiến Trường Mệnh Trùng khiếp vía trước “khả năng tính toán” của Bích Mặc tiên sinh.

oOo

Năm ngày kể từ lúc bùng dịch...

Huyền Thanh nương nương mượn cớ đám tu sĩ gần đây gây náo loạn cả một vùng, khiến y thị không thể thanh tu, bèn phái nữ tì Thiêm nhi dẫn đầu một toán điểu tinh vào thành tuần tiễu. Bà ta thì tự mình vào phủ thành chủ, mỗi ngày mười hai lần thả tu vi ra hù dọa đám tu sĩ trong thành, căn thời gian còn chuẩn xác hơn cả trống canh.

Mấy ngày trước đám tu sĩ cấu kết với gian thương hà h**p trăm họ thoải mái bao nhiêu, thì hiện tại phải sống những tháng ngày tựa như cực hình bấy nhiêu.

Trên đầu không lúc nào không có điểu tinh tuần tiễu, mà con nào con nấy đều có tu vi tứ cảnh đổ lên, hoàn toàn không phải một đám tán tu có thể so sánh được. Lại thêm bị uy áp của Huyền Thanh nương nương kh*ng b* tinh thần, lắm kẻ đã lên kế hoạch bỏ chạy khỏi thành, bằng không chỉ sợ ở thêm dăm bữa nửa tháng, không chết vì mệt cũng phát điên.

Mà càng là những kẻ hay treo cái câu “đạo lý nằm trong tay kẻ mạnh” ra làm bình phong để ức h**p trăm họ thì lúc này lại càng tỏ ra uất ức. Bọn chúng tự treo lên cổ mình một cái biển nạn nhân, tố cáo Huyền Thanh nương nương bá đạo không nói đạo lý. Thậm chí không thiếu kẻ kéo bè kéo lũ, kích động đồng bạn tìm đến phủ thành chủ tố cáo Vũ Tùng Lâm.

Vũ Tùng Lâm phối hợp với Hoàng Sở Sở, Lâm Cảnh Trung, luận tội mà phạt. Đám tu sĩ kẻ vào ngục, kẻ chịu đòn, nhất nhất khai ra đám thương nhân đằng sau. Ngoại trừ Lý Lợi Minh có thế lực Nhất Phẩm của Hữu Tiền Liên Minh chống lưng là chỉ bị phạt tiền, hầu hết đám thương lái đều bị tống vào ngục, tịch biên tài sản.

Đối với chuyện này, nhân mã chùa Long Hoa lựa chọn mắt điếc tai ngơ. Bọn hắn sắp tới còn cần phải ra mặt “cứu dân”, cần phải bảo toàn thanh danh. Đám thương lái kiếm lời tuy cũng có “cúng giường” một phần, thế nhưng chỉ có thể coi là “chim chết vì ăn, người chết vì tiền”, nhân quả nghiệp chướng đã rõ ràng đó thôi.

Thế nhưng, vừa cười người hôm trước, hôm sau nhân mã Phật môn đã khóc không ra nước mắt.

Hồng Vân nhận được dược thảo từ chỗ Hạ Hầu Duyệt, lại bỏ ra vài ngày để hoàn thiện, cuối cùng chuyện dấm dấm dúi dúi nghiên cứu trong phòng hơn một năm nay mới có kết quả. Thuốc đặc trị bệnh lạ được điều chế thành công.

Nàng ta lại mượn danh nghĩa Hồng Đô, phối hợp với Huyền Thanh nương nương và đám người Hoàng Sở Sở chia thuốc cho trăm họ. Vũ Tùng Lâm cũng sử dụng toàn bộ nhân lực vật lực của phủ thành chủ tương trợ. Thuốc đến bệnh hết, cơ hồ chỉ trong vòng một ngày, tình hình dịch bệnh ở Quan Lâm đã được khống chế. Dư Tự Lực lần đầu làm chuyện đánh thuốc nguồn nước, để lại rất nhiều sơ hở, thành thử vào lúc thu lưới cậu chàng cũng bị tóm sống.

Lúc này nhân mã Long Hoa tự vội vàng đứng ra, tiếc là đã trở thành dệt hoa trên gấm, không tạo thành tác dụng gì lớn còn bị dân chúng Quan Lâm xì xào. Dẫn đầu không phải ai khác ngoài chị hàng gà, nói rằng:

“Có truyền thuyết Phật cắt thịt cho ưng, lấy đó làm từ bi hỉ sả. Sư tăng Long Hoa tự ngó lơ trăm họ lầm than gần một tuần, Vũ tổng binh đến xin cứu viện cũng không đoái hoài đến, chỉ lo chữa trị thương thế của mình. Hiện giờ thấy Bích Mặc tiên sinh thành công chế được thuốc thần lui bệnh mới vội vội vàng vàng trườn mặt ra, ý đồ mua danh chuộc tiếng rõ như ban ngày, lấy mặt mũi đâu mà nói đến hai chữ ‘từ bi’?”

Vốn là Phật môn đánh lén Bích Mặc tiên sinh, thanh danh ở Quan Lâm đã không tốt lắm. Hiện giờ có chị hàng gà đứng ra công kích, cơ hồ tăng sư Long Hoa tự đã thành chuột chạy ngoài đường, người người kêu đánh.

Lão sư cầm đầu nhân mã Long Hoa tự ở Quan Lâm không còn cách nào, đành phải truyền âm về cho Huyền Quan:

“Bẩm trụ trì, kể từ sau lần luận đạo Kim Thiền Tử thường xuyên thất thần, tâm ma khốn nhiễu, giờ đã lâm vào khô thiền không thể lay gọi. Mưu đồ truyền giáo ở Quan Lâm cũng thất bại, không thể lấy hương hỏa chi lực tương trợ Phật tử phá chướng. Đệ tử bất tài, thúc thủ vô sách, vẫn xin trụ trì quyết định.”

Huyền Quan nghe mà mặt đỏ tía tai, mặt trầm như nước. Lão nói:

“Phật tử đã tiến vào khô thiền thì không thể tùy ý di chuyển. Thế nhưng hiện giờ danh tiếng Phật môn ở Quan Lâm xem như là mất sạch, e là không thể mở chùa để Kim Thiền Tử tĩnh tu. Chư tăng trước hãy cử một hai người ở lại chiếu ứng cho phật tử, sau đó nhanh chóng trở về bản tự. Quan Lâm có thể coi là địa bàn của Nguyễn Đông Thanh, mọi người ở lại cũng có nguy hiểm nhất định.”

“Thiện tai. Thiện tai.”

Tiếng nói bên kia vừa dứt, Huyền Quan đã nghiến răng mắng:

“Bích Mặc tiên sinh khinh ta quá đáng!”

Tề Thiên Hạ bấy giờ vẫn đang ở chùa Long Hoa để tiện bề phối hợp với nhân mã Phật môn, nghe lão chửi ầm lên cũng chỉ biết lắc đầu, nói:

“Bản tọa cũng vừa mới mất liên lạc với quân cờ sắp xếp ở Quan Lâm. Ài... Cảm giác nghẹn khuất này hệt như một vạn năm trước đối đầu với Thế Tôn vậy. Xem ra...”

“Không biết Dược Thánh có cao kiến gì để đối phó với Nguyễn Đông Thanh hay không?”

Huyền Quan cũng coi là hùng chủ một phương, nâng lên được thì bỏ xuống được. Lão thấy đối đầu trực tiếp thì khó mà đánh lại Lão Thụ cổ viện và Bích Mặc tiên sinh, lại thêm Long Hoa tự đã đắc tội với hắn, bèn nghĩ cách tránh nặng tìm nhẹ.

Tề Thiên Hạ cau mày, đoạn nói:

“Như vậy đi, hai chúng ta lấy danh nghĩa Đế Mộ mệnh Quan soái để hoàng đế Đại Việt thảo một bản chiếu thư, lệnh Nguyễn Đông Thanh mau chóng đến thành Bạch Đế nhậm chức. Hiện giờ chưa rõ hắn là Thế Tôn thoát ra hay có quan hệ mật thiết với ma đầu, cứ tách hắn khỏi Lão Thụ cổ viện trước đã.”
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 347: Chưởng Ấn Quan – Nguyễn Đông Thanh


Chuyện Hạ Hầu Duyệt điều động thảo dược đến Quan Lâm không tính là bí mật, Trường Mệnh Trùng cũng chẳng đủ quyền lợi mà che giấu được ánh mắt soi mói của Đan Dược Hội và Đế Mộ. Thành thử, chẳng tốn bao công sức, hai người Dược Thánh và trụ trì chùa Long Hoa đã biết sự thật rằng “Bích Mặc tiên sinh” đã bắt đầu cho người vận thảo dược về Quan Lâm trước cả khi dịch bệnh bùng phát.

Phong thái hành xử này cực kỳ giống Thế Tôn hơn vạn năm trước, thành thử hai tên Địa Tôn cơ hồ càng thêm hoảng sợ ngạc nhiên, có chút thần hồn nát thần tính. Thành thử, xuất phát từ cẩn thận, chưa đến nửa ngày sau, một đạo khẩu dụ đã từ thành Cổ Long tìm đến Quan Lâm.

Trư Đế Lê Dực nói hiện tại chiến tranh với Hải Thú đã bắt đầu vào thế ổn định, không còn cần đón tiếp quân đội các nước đến chi viện nữa. Chức quan tiếp sứ của Nguyễn Đông Thanh cũng coi như miễn. Chức Chưởng Ấn quan của thành Bạch Đế đã để trống lâu ngày, nay Bích Mặc tiên sinh đã có ý muốn phò tá Hồ Ma Huyền Nguyệt thì nên nhanh chóng tiến về Bạch Đế nhậm chức.

Nguyễn Đông Thanh không ngờ vừa mới ốm dậy đã phải đi công tác xa, song xét về công về tư, gã đều không tiện từ chối hoàng đế Đại Việt, bèn tiếp chỉ tạ ơn.

Gã bàn chuyện bàn giao “chức vị” lại với Vũ Tùng Lâm, bởi dù sao cái danh “Bích Mặc tiên sinh” cũng là lão cho, hơn một năm nay Nguyễn Đông Thanh cũng cầm không thiếu một tháng bổng lộc nào của lão. Ban đầu Vũ tổng binh gặp Nguyễn Đông Thanh cũng hoảng hồn sợ hãi, nhưng hơn một năm qua biết cách làm người của gã. Bấy giờ thấy Bích Mặc tiên sinh chuẩn bị rời núi vô danh chuyển đến thành Bạch Đế thì lại có chút không nỡ.

Thế nhưng, lão cũng biết tất cả đều là “tính toán của tiên sinh”, thế nên rất nhanh, Vũ Tùng Lâm đã đè những cảm xúc này xuống, coi là chuyện lông gà vỏ tỏi.

Nguyễn Đông Thanh quay về nghiên cứu, biết đại khái Chưởng Ấn quan chủ nội vụ của châu chủ châu Ngọc Lân, từ kinh tế đến trị an đều có tiếng nói, quan cao tước lớn. Gã thấy mình là một người phàm, lời nói chỉ sợ không đủ để phục chúng. Tuy nói hội phụ huynh cổ viện cũng toàn là thú dữ, nhưng tính hắn xưa nay công tư phân minh. Trừ khi là chuyện liên quan đến tính mạng bản thân, hoặc là có can hệ trực tiếp với đám đồ đệ, bằng không Nguyễn Đông Thanh cũng không muốn mở lời nhờ vả mấy người Võ Hoàng, Long Vương, Kiếm Tổ.

Lại thêm Bích Mặc tiên sinh xuất thân bình dân, trong triều không phe không phái nâng đỡ, trừ Hồng Đô ra quả thực không có người để dùng.

Bích Mặc tiên sinh nói việc ấy với Vũ Tùng Lâm, lão nghe mà bất giác thấy đồng bệnh tương lân, nghĩ lại hồi vừa đến Quan Lâm lão cũng chẳng có một binh một tốt, hiện giờ cũng không có lấy một vị phó tướng quân sư nào nghe lệnh.

Thương thân trong một tích tắc rồi thôi, bấy giờ lão lại cười thầm, trộm nghĩ:

“Tiên sinh vẫn như xưa, thích giả vờ giả vịt. Rõ ràng chuyện nhân thủ đã giải quyết ổn thỏa từ trước, thế mà vẫn cứ phải đến diễn cùng lão già này mới gọi là đủ quy trình. Ài... thôi được. Để lão đầu đây diễn với ngài một lần trước khi chia tay.”

Lão ho khan một tiếng, nói:

“Đúng rồi, tiên sinh còn nhớ chuyện dịch bệnh vài ngày trước?”

“Vẫn nhớ. Quả thật là nguy hiểm. Cũng may mà kịp thời khống chế được, không thẹn là ăn bổng lộc của tổng binh.”

Mỗi lần nhớ chuyện vài ngày trước, Nguyễn Đông Thanh lại thấy đau đầu, mặt đỏ lên. Cái chuyện Lý Thông cướp công Thạch Sanh này bình thường gã rất phản cảm, cho dù hứng chí đọc thơ cũng nhất thiết phải nói rõ nguyên tác giả mới yên lòng. Lần này nhận vơ công lao của Hồng Vân tuy là chuyện bất đắc dĩ, song gã cũng hết cách.

Cô hàng xóm ở cổ viện xưa nay còn ẩn cư hơn cả hắn, bình thường không muốn ai biết đến. Muốn để Hồng Vân ra tay, thì cô nàng mãnh liệt yêu cầu Nguyễn Đông Thanh phải đứng ra hứng toàn bộ công lao. Ở đời vẫn thường có chuyện tướng tá tranh công mà thành phá người chết, thần tử đoạt lợi mà nước mất nhà tan. Có lẽ cả Huyền Hoàng giới cũng chỉ có Lão Thụ cổ viện là ngược đời như vậy, người nọ đùn đẩy công lao cho người kia, tránh cứ như là tránh tà.

Vũ Tùng Lâm nói:

“Bản tướng đã bắt được kẻ gây chuyện, thả độc dược vào nguồn nước khiến dân chúng Quan Lâm đổ bệnh, theo lý là phải xử treo cổ. Nhưng thiết nghĩ người này từng cứu giúp không thiếu bách tính, thế nên mới định gửi gắm cho đi theo tiên sinh làm tôi đòi, chờ đoái công chuộc tội.”

Nguyễn Đông Thanh nghe vậy, cau mày:

“Như thế thì không phải phép cho lắm, há lại có chuyện làm sai mà không bị phạt?”

“Tiên sinh có điều chưa biết. Người này chỉ biết chút y thuật, há lại có thể điều chế được thứ độc dược cao minh đến vậy? Sau lưng ắt có kẻ khác sai khiến, nếu bây giờ theo luật giết y, vậy thì tên chủ mưu có thể phủi tay. Lại thêm lần này tuy động tĩnh lớn, nhưng không có thương vong về nhân mạng, chiếu theo luật của Đại Việt có thể giảm nhẹ...”

Vũ Tùng Lâm không hiểu vì cớ gì Nguyễn Đông Thanh lại cứ bắt lão phải “thuyết phục” gã thu nhận người gã đã sắp xếp tính toán, song xuất phát từ lòng tin với Bích Mặc tiên sinh, lão cũng không hỏi nhiều.

Nguyễn Đông Thanh nghe lão nói, cười lắc đầu:

“Vũ tổng binh, dạo gần đây Đông Thanh cũng coi như là có kinh nghiệm quan trường. Nơi đây chỉ có hai ta, tổng binh hà tất phải lấy lí do tránh né? Có phải do kẻ đứng sau sai khiến người này địa vị thế lực quá lớn, pháp luật Đại Việt không ước thúc được, thế nên ngài mới không đành lòng phạt một lâu la trong khi kẻ chủ mưu còn đang tiêu dao ngoài vòng pháp luật hay không?”

“Tiên sinh liệu sự như thần. Theo bản tướng xem, chuyện lần này hẳn là hội trưởng Đan Dược hội, Dược Thánh ra tay. Cũng may mục tiêu của hắn có lẽ chỉ là muốn giúp Phật môn dựng lại thanh danh, bằng không chỉ sợ cho dù có thuốc giải thì thường nhân trong thành dễ cũng phải chết đến hai ba phần mười.”

Vũ Tùng Lâm nói đến đây, thấy sắc mặt Nguyễn Đông Thanh càng lúc càng khó coi, khiến chính lão cũng lấy làm tò mò.

Phải biết Dược Thánh ra tay, người thường há có thể nhìn rõ bản chất của thứ tràn qua Quan Lâm vừa rồi. Nếu không phải Hồng Vân lên tiếng, thì hiện giờ lão vẫn tưởng ấy là dịch bệnh do trời giáng xuống.

Hồng Vân mượn miệng của Nguyễn Đông Thanh, thành thử trong mắt lão, Bích Mặc tiên sinh đáng nhẽ sớm đã biết chuyện này. Thế mà hiện tại lại lộ thần sắc như thể trước đó chưa hay biết gì khiến lão cũng chẳng biết phải diễn tiếp như thế nào.

Té ra, Bích Mặc tiên sinh nãy giờ vẫn tưởng người Vũ Tùng Lâm muốn bắt là kẻ đầu xỏ xúi giục thương lái cấu kết với tu sĩ ức h**p trăm họ. Sau đó nghe lão giải thích mới biết thì ra người mà lão tổng binh nhắc đến lại là kẻ chủ mưu đầu độc. Mà vụ việc lần này cũng từ thừa họa trục lợi trở thành sử dụng vũ khí hóa học, trong lòng Nguyễn Đông Thanh độ nghiêm trọng của bản án cơ hồ là nhảy vọt một lần sáu bảy cấp.

Hai người đều cho là đối phương “cao minh”, cuối cùng trống đánh xuôi kèn thổi ngược, ông nói gà bà nói vịt một phen.

Nguyễn Đông Thanh ho khan một tiếng, lại nói:

“Vậy đi, kể ra cũng là kẻ đáng thương. Thế nhưng lấy thế lực của đối phương, chẳng nhẽ Vũ tổng binh không sợ nửa chừng có người vào ngục giết người diệt khẩu hay sao? Lại nói đối phương có tài dùng độc cao minh như vậy, tính mạng của người kia phải làm gì?”

“...”

Vũ Tùng Lâm nghe Bích Mặc tiên sinh phân tích mà tá hỏa, sau lưng mồ hôi túa ra đầm đìa. Lão khẽ nuốt khan một ngụm nước bọt, chỉ sợ mình làm việc không chu toàn, hỏng mất tính toán của tiên sinh. Những năm này lão phòng thủ Quan Lâm, bị quan lại trong triều xa lánh, lại thêm áp lực tầng tầng, vừa phải cân bằng thế gia vừa phải chiếu ứng tu sĩ, thành thử cũng sinh ra tính lo được lo mất.

Thế nhưng lại qua một lúc, nhìn Nguyễn Đông Thanh bình chân như vại, lão mới giật mình sực tỉnh. Chính chủ cần dùng người còn đang nhởn nhơ như không, một kẻ làm trung gian như lão gấp gáp làm cái gì?

Vũ Tùng Lâm đảo mắt, giả ý cười:

“Tiên sinh yên tâm. Người này bản tướng đã kiểm tra qua, là một bán yêu. Y da dày thịt béo, hơn nữa cơ thể có kháng tính với độc chất rất cao. Muốn hạ độc hắn không phải chuyện dễ.”

“Kể cũng phải. Nếu cả mình cũng trúng độc thì ai lại nhận đi bỏ thuốc bao giờ.”

“Vậy thì mời tiên sinh đến nhà lao một chuyến?”

Vũ Tùng Lâm đoán chừng diễn kịch thế là đã đủ, cũng không muốn tiếp tục cùng Bích Mặc tiên sinh “bịt tai trộm chuông” nữa. Lão hắng giọng, đứng dậy, đưa tay làm thủ thế mời. Nguyễn Đông Thanh đi theo Vũ Tùng Lâm đến nhà lao, phát hiện kẻ ngồi trong ngục là một thiếu niên có phần quen mặt. Ngưng thần nhớ lại, thì dường như người này đã có mặt trong phòng gã ngay trước hôm luận đạo. Gã có thể khỏi ốm xem chừng cũng do cậu ta ra tay giúp đỡ.

Nguyễn Đông Thanh bấy giờ mới hiểu, té ra Vũ Tùng Lâm tha mạng cho người này còn là vì nể mặt y từng cứu mình. Gã không khỏi hít sâu một hơi, nói:

“Vũ tổng binh cần gì phải làm thế.”

Vũ Tùng Lâm đại khái cũng hiểu cách làm người của Bích Mặc tiên sinh. Bấy giờ lão len lén đưa tay lau mồ hôi, đoạn nói:

“Tiên sinh đừng hiểu nhầm, bản tướng tha mạng cho y chủ yếu là do người này chỉ phụng mệnh hành sự. Chủ mưu còn tiêu dao pháp ngoại, bản tướng quả thực không nhẫn tâm trừng phạt y quá nặng.”
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 348: Quân Sư Quạt Mo Lã Vọng Thiên


Mấy ngày này Dư Tự Lực có thể nói là nếm hết tình đời ấm lạnh.

Từ chỗ có chút thanh danh, đến sa vào ngục. Cậu chàng tuy không biết bên ngoài thế nào, nhưng có thể tưởng tượng được hiện giờ chắc hẳn ở Quan Lâm người người đều đang nguyền rủa mình. Tối tối, Dư Tự Lực đều âm thầm tự trách, nhất là khi thường xuyên nghe thấy giám ngục mắng chửi một đám thương nhân, tu sĩ thừa lúc bệnh dịch cấu kết với nhau bắt chẹt dân thường.

Hai ngày này, cậu chàng cũng mấy lần bị ám sát bởi ngục tốt, đủ thấy chân rết của Đan Dược hội vươn xa đến mức nào.

Đương nhiên, ngục tốt không dám qua mặt Vũ Tùng Lâm ra tay giết người trong tối, mà chỉ len lén bỏ độc trong thức ăn nước uống. Dư Tự Lực thân là bán yêu, cơ thể có tính kháng độc mạnh, hơn nữa mười phần mẫn cảm với nguy hiểm. Cậu chàng vừa ăn đã phát hiện độc tố trong cơm canh của mình có nguồn gốc từ Đan Dược hội, há lại không hiểu vị sư phụ kia định qua cầu rút ván, nhổ cỏ tận gốc?

Càng buồn hơn là chính bởi vì Tề Thiên Hạ chẳng buồn để ý đến Dư Tự Lực rốt cuộc là ai, nên độc kế mới không thành. Nếu như lão chịu bỏ chút tâm tư, biết cậu chàng là thân bán yêu, thì lấy bản lĩnh của Tề Thiên Hạ, Dư Tự Lực có mười cái mạng cũng đã chết hết.

Dù sao, danh hiệu Dược Thánh cũng không phải để trưng cho có.

Bấy giờ bên ngoài phòng giam có tiếng huyên náo, lại nghe ngục tốt hô lên hai tiếng “tổng binh”, Dư Tự Lực đương nhiên biết là người nào đến. Cậu chàng ngẩng đầu, phát hiện bên ngoài trấn song ngoại trừ tổng binh ải Quan Lâm Vũ Tùng Lâm ra còn có một người đàn ông tuổi chừng ba mươi, mình mặc áo vải, mép lún phún ria. Ngoại trừ vị Bích Mặc tiên sinh mười phần thần bí cậu chàng từng gặp mấy ngày trước ra thì còn ai vào đây nữa?

Dư Tự Lực nhìn hai người, bất giác cụp mắt, cười khổ lắc đầu, thầm nghĩ chỉ vì một miếng bánh vẽ mà cậu chàng bán rẻ tín niệm của bản thân. Hiện giờ đối mặt với Nguyễn Đông Thanh, bất giác cảm thấy không có mặt mũi.

Bích Mặc tiên sinh trông cậu chàng một cái, lại hỏi:

“Không biết tôn tính đại danh của các hạ?”

“Tội dân Dư Tự Lực, vài ngày trước từng được may mắn đưa đến cổ viện, chiêm ngưỡng tôn dung của tiên sinh.”

Dư Tự Lực trả lời, lại cẩn thận quan sát biểu cảm của người đang đứng trước mặt. Câu nói vừa nãy của cậu chàng có ý ám chỉ, rằng chuyện Nguyễn Đông Thanh giả vờ đau ốm Dư Tự Lực cũng đã biết. Tuy hiểu rõ hành động này của mình rất dễ đắc tội đối phương, song cho dù phải mạo hiểm thì cậu chàng cũng muốn thăm dò rốt cuộc cái vị Bích Mặc tiên sinh kia có ý đồ gì, muốn gì ở mình.

Kể từ sau khi biết bị Dược Thánh phản bội, Dư Tự Lực cơ hồ giống như chim sợ cành cong, không dám dễ dàng tin tưởng người khác. Cậu chàng tự nhận bản thân tứ cố vô thân, không tiền không thế, lại càng chẳng có thiên phú gì nổi trội. Thế nhưng, Vũ Tùng Lâm bắt Dư Tự Lực xong lại giam cậu chàng trong ngục, không xét xử cũng không hành hình, khiến cậu chàng càng lấy làm ngờ vực.

Nguyễn Đông Thanh không nghe hiểu hàm ý nói kháy của đối phương, gật đầu một cái, bình tĩnh nói:

“Không dám nhận. Sắp tới tại hạ phải đến thành Bạch Đế nhậm chức, Vũ tổng binh thấy dưới tay Đông Thanh không có người để dùng, nên tiến cử Dư đại phu cho tại hạ.”

Vũ Tùng Lâm lúc này cũng tranh thủ giải thích:

“Bản tướng quân đã tra kỹ, lấy chút y thuật của nhà ngươi hoàn toàn không có khả năng điều chế được thứ độc dược xuất hiện ở Quan Lâm. Lão phu nghĩ đến cảnh kẻ chủ mưu còn tiêu diêu pháp ngoại, nếu để một thằng nhóc chân chạy như cậu hứng chịu toàn bộ hậu quả thì thật là... ài...”

“Ý tổng binh là?”

Dư Tự Lực ngẩng đầu, giọng nói hơi run lên, nơi đáy mắt phản chiếu ba phần kinh ngạc, bảy phần ngờ vực hoài nghi.

Vũ Tùng Lâm thấy cậu chàng hãy còn xoắn xuýt những chuyện động cơ mục đích, thầm nghĩ thằng nhóc này quá không biết điều, bèn lạnh giọng:

“Lấy công chuộc tội.”

Ngoài miệng chỉ nói bốn chữ, nhưng trong tối lão lại âm thầm truyền âm cho Dư Tự Lực, sẵng giọng:

“Tiểu tử... đừng có mà không biết điều. Lấy bản lĩnh của tiên sinh há lại cần phải lừa gạt một đứa nhóc con hỉ mũi chưa sạch như ngươi? Ngay cả Đan Dược Hội, Long Hoa Tự cũng có thể trong lúc không hay không biết tự đạp vào tính toán của tiên sinh, muốn thằng nhóc nhà ngươi làm chút chuyện chẳng nhẽ còn khó? Đừng đánh giá mình quá cao, cũng đừng coi nhẹ bản thân.”

Dư Tự Lực nghe lão truyền âm, bất giác toàn thân chấn động. Nhất là câu sau cùng đối với cậu chàng mà nói chẳng những không phải lập lờ nước đôi, mà giống như bát vân kiến nhật (rẽ mây thấy ánh mặt trời). Nửa vế trước ám chỉ cậu chàng chẳng là gì so với Long Hoa tự, Đan Dược hội, còn chưa xứng đáng để Bích Mặc tiên sinh phải tự mình đối phó. Nửa câu sau lại nhằm khích lệ động viên Dư Tự Lực không cần tự ti, bởi lẽ Nguyễn Đông Thanh rất có thể thực sự thấy được tiềm năng gì đó ở cậu chàng.

Dư Tự Lực ở Quan Lâm đã lâu, đương nhiên đã được nghe rất nhiều bệnh nhân kể về Lý Thanh Vân. Từ một người bị phế tu vi, đi đến bước lấy thân phàm nhân trấn thủ cả thành, hóa giải nguy cơ thú triều, Toái Đản Cuồng Ma ngoại trừ cái danh hiệu không mấy dễ nghe ra thì cơ hồ là tấm gương, thần tượng vô số thiếu niên người phàm ở Quan Lâm nhắm đến.

Mà người đứng sau trợ giúp, tạo nên truyền thuyết người phàm quật khởi này, không phải ai khác ngoài Nguyễn Đông Thanh.

Dư Tự Lực hít sâu một hơi, đoạn nói:

“Vậy sau này nguyện bán sức trâu ngựa cho tiên sinh.”

“Dễ nói.”

oOo

Nguyễn Đông Thanh “bảo lãnh” Dư Tự Lực ra tù, vừa tạm biệt Vũ Tùng Lâm chưa được bao lâu, người cũng chỉ mới đi được vài bước thì trước mặt đã có một thiếu niên đứng chờ sẵn.

Chỉ thấy người nọ phong độ ngời ngời, áo trắng như tuyết, tay cầm quạt xếp khẽ phe phẩy, mày mắt quả thật tuấn tú như vẽ. Bích Mặc tiên sinh thân là người hiện đại, truyền thông giải trí phát triển, cái gọi là tuấn nam mỹ nữ cơ hồ là nhan nhản trên mạng. Nhưng ở cái thời đại ăn mặc không lo, dao kéo can thiệp cũng trở thành chuyện thường, lại có cả ứng dụng, bộ lọc làm đẹp tương trợ mà cũng không tìm ra một ai có thể tuấn tú như thiếu niên trước mặt. Gã khẽ giật mình, nhìn sang bên cạnh, phát hiện trên cả con đường này cũng chỉ có thằng nhóc họ Dư vừa “vào tù ra tội” là có thể tranh phong một phen với người thiếu niên nọ.

Thiếu niên kia trông thấy Bích Mặc tiên sinh thoáng nhíu mày, mới cung tay, cười:

“Kính chào tiên sinh. Tại hạ họ Lã, tên Vọng Thiên. Gần đây nghe đến tiên sinh sắp đến Bạch Đế nhậm chức, lại khổ vì thủ hạ không người, nên mới mặt dày đến tự tiến cử. Vừa khéo Dư huynh đệ cũng ở đây, không biết có thể nói giúp tại hạ một lời hay được chăng?”

Người chặn đường Nguyễn Đông Thanh chẳng phải ai khác, chính là thiếu lâu chủ của Vọng Thiên lâu – Lã Vọng Thiên.

Đương nhiên, cậu chàng không giỏi nghe ngóng tình báo. Chuyện Bích Mặc tiên sinh được thăng quan mà không có người để dùng là do Thương trưởng lão của Vọng Thiên lâu thu được, sau đó truyền âm về bản lầu xin chỉ thị. Cuối cùng, người hiến kế cho Lã Vọng Thiên “tự tiến cử” vào môn hạ của Nguyễn Đông Thanh chính là lâu chủ phu nhân của bọn họ.

Những ngày này Lã Vọng Thiên không dám tùy tiện bấm độn bói toán, chỉ sợ dây vào nhân quả với Bích Mặc tiên sinh rồi lại thổ huyết bất tỉnh. Đối với một người được đồn đoán là có thể nhìn thấu nhân quả trường hà, trong thâm tâm cậu chàng vừa ngưỡng mộ, vừa hiếu kỳ lại có mấy phần sợ hãi kiêng dè, chỉ muốn bái kiến thỉnh giáo một phen. Thành thử khi mẹ Lã Vọng Thiên hiến kế để con trai chủ động đến xin làm thuộc hạ, cậu chàng cũng không phản cảm.

Dù sao Lã Vọng Thiên được mẹ dạy rất nghiêm, tuy EQ thấp muốn mạng, nhưng không có cái tính công tử, chưa bao giờ nhìn người bằng nửa con mắt, lại càng chẳng tự cho mình là thanh cao. Bằng không lúc đầu đến thành Bạch Đế cậu chàng cứ dựa vào gia tộc là được, hà tất phải tự loay hoay mở hàng bói toán kiếm sống. Thế nên nghe đến chuyện tương đương với làm gia thần cho Bích Mặc tiên sinh, cậu chàng cũng không coi ấy là hạ mình.

Hiện giờ có Dư Tự Lực là chỗ quen biết sơ sơ đã đi trước một bước, trở thành thủ hạ của Bích Mặc tiên sinh, Lã Vọng Thiên lại càng cảm thấy chuyện này ắt không phải là trùng hợp ngẫu nhiên. Ngoại trừ lang y họ Dư, một người nữa mà Nguyễn Đông Thanh tính toán chính là thiếu lâu chủ Vọng Thiên lâu chứ chẳng sai vào đâu được.

Dư Tự Lực bị lòng người hiểm ác đánh trọng thương, hiện giờ còn chưa hoàn toàn khôi phục. Cậu chàng nghe Lã Vọng Thiên đề nghị thì trước tiên im lặng, trong lòng thầm suy tính thiệt hơn:

“Mình hiện tại thân phận là kẻ có tội, Bích Mặc tiên sinh tuy có tài nhưng tính khí dở hơi.

“Nếu như Lã Vọng Thiên cũng bái làm gia thần của tiên sinh tuy địa vị chắc chắn trên mình, nhưng cũng có thể làm chỗ dựa, hấp dẫn ánh mắt của thế nhân.”

Dư Tự Lực hiện giờ tự đặt ra một mục tiêu nho nhỏ cho bản thân: an ổn sống, cúi đầu làm người, tránh né tai mắt của Đan Dược hội. Sau này trưởng thành thành tài, có thể trả thù, cũng có thể đạp đến sơn môn, đòi vị sư phụ hờ kia một câu trả lời thỏa đáng.

Có câu “cây cao gió cả”. Đi theo Bích Mặc tiên sinh, vậy thì phải chịu cảnh bị cả thiên hạ nhắm vào.

Thế nhưng nếu như bên cạnh có một kẻ kinh tài tuyệt diễm, còn có ai lại chú ý đến một tên bừa bãi vô danh? Cũng giống như đầu xuân hoa nở không ai hỏi, trăm họ chỉ nhìn thấy pháo hoa. Lã Vọng Thiên chính là nhân vật kinh tài tuyệt diễm mà Dư Tự Lực chọn mặt gửi vàng vậy.

Cậu chàng hít một hơi, đoạn nói:

“Tiên sinh, vị này quả thực đúng là chỗ quen biết của tại hạ. Lã công tử đây tài cao bắc đẩu, học phú ngũ xa, ắt hẳn sẽ là trợ lực không nhỏ cho tiên sinh buổi đầu lập nghiệp ở Bạch Đế.”

Dư Tự Lực vừa lên tiếng, miệng phun hoa thơm, khen đến độ chính chủ Lã Vọng Thiên còn đỏ mặt ngại ngùng.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 349: Cố Văn Cũng Muốn Đến Thành Bạch Đế


Chúc mừng năm mới Giáp Thìn 2024!!!

Sau khi xem lại bản thảo và nội dung chương thì nhóm tác quyết định đăng 3 chương mỗi ngày mùng 1, mùng 2, mùng 3 Tết, tức hôm nay, ngày mai, và ngày kia. Tức là thay vì hết Tết đăng đến chương 379: thì sẽ lên đến chương 382: . Tuy cũng không nhiều hơn mấy nhưng vẫn mong bà con thông cảm do bản thảo ko nhiều.

oOo

Nguyễn Đông Thanh từ trong những lời khen ngợi có cánh của Dư Tự Lực bắt được hai điểm mấu chốt.

Thứ nhất, ấy là Lã Vọng Thiên có trí nhớ hơn người.

Thứ hai, là cậu chàng có tài bói toán cao siêu quỷ thần khó dò.

[Biên tập
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 350: Lâm Thanh Tùng Cùng Đồ Mạt Lộ


Cách Quan Lâm không xa, Lệ Chi sơn...

Tại sơn trại, Phó Kinh Hồng đã nhường ra ghế chủ vị cho một lão già đầu trọc. Lão ngồi co một chân lên, chân còn lại vắt qua tai ghế, một tay ngoáy mũi, tay kia gãi mông, hoàn toàn trái ngược với vẻ ngoài hung dữ bặm trợn, khiến kẻ khác không khỏi cảm thấy vừa nực cười lại vừa đề phòng lão.

Họ Phó cười lấy lòng, hỏi:

“Lôi lão đại này, không biết kế tiếp ngài có sắp xếp gì không?”

Phó Kinh Hồng từ khi còn trẻ đã được giao chức cao quyền trọng, một người trấn thủ một thành cũng là yếu địa quân sự, có thể nói là xuân phong đắc ý, thiếu niên khinh cuồng. Đáng tiếc kể từ sau chuyện Đại Sở diệt khẩu, cuộc đời gã rơi xuống đáy cốc, chạy đến Đại Việt lại bị Hồ Ma Huyền Nguyệt chỉnh cho thảm không chịu nổi, bao nhiêu cao ngạo năm xưa sớm đã bị mài nhẵn.

Hắn biết, lúc này nếu mình không hạ cái tôi xuống, dựa vào Lôi Tổn, thì tuyệt đối sẽ không có ngày ngóc đầu trở lại.

Lôi Tổn nói:

“Không gấp. Mấy ngày này nhóc lăn lộn ở Táng Thi Đinh vừa đoạt người vừa cướp vật, chẳng nhẽ không phát hiện được chuyện gì là lạ sao?”

“Chuyện làm ăn gần đây đúng là không thuận lợi cho lắm, còn thường xuyên bị kẻ khác mai phục. Thế nhưng tiểu đệ đã cho người điều tra rồi. Những tên này xuất thân từ các thế lực khác nhau, nhiều kẻ tông môn sau lưng còn là tử địch, chắc hẳn không phải cùng một bọn, thiết nghĩ cũng chỉ là trùng hợp... Dù sao Táng Thi Đinh cũng là đất hỗn loạn, rồng rắn hỗn tạp. Chúng ta cướp người cướp hàng há lại không có kẻ nào đỏ mắt ghen tị?”

Phó Kinh Hồng nói.

Lôi Tổn cười phá lên, hỏi:

“Chẳng nhẽ gần một năm nay chú mày bị cố quốc truy nã uổng phí cả rồi à? Vẫn chưa vỡ thêm cái gì sao? Chính trị không đơn giản như vẻ bề ngoài đâu.”

Phó Kinh Hồng gãi đầu, nói:

“Thực ra chuyện có một thế lực đứng sau giật dây tất cả tiểu đệ cũng đã nghĩ tới, nhưng tự thấy dưới tay chỉ có một nhóm sơn tặc, làm chút chuyện trộm gà bắt chó ở Táng Thi Đinh. Hẳn... hẳn là không chọc phải con quái vật nào khổng lồ đến độ có thể ra lệnh cho hàng chục thế lực bá chủ một phương hợp tác thế chứ?”

Lôi Tổn không đáp, vươn vai một cái:

“Xem ra vẫn cần phải tìm cho chú mày một tay quân sư bày mưu tính kế, chứ để chú mày tự thân vận động thì đến đời tám hoánh cũng chẳng xong được chuyện của chủ nhân. Thôi được rồi, vì một tiếng ‘lão đại’ của nhóc, Lôi mỗ giúp thêm một lần.”

“Tiểu đệ kỳ thực cũng có lòng cầu hiền, ngặt nỗi tiền thiếu lương ít, ai lại bỏ cuộc sống bình yên theo tiểu đệ lên núi làm giặc kia chứ?”

Phó Kinh Hồng cười khổ, lắc đầu.

Trước đây gã trấn thủ thành Ngự Long, quen thuộc dựa vào thành cao đất hiểm phòng thủ, dần dần dưỡng thành tính kiêu ngạo. Khi mới đến núi Lệ Chi lại cậy bộ tốt năm xưa kiêu dũng thiện chiến, trang bị tinh lương, tu vi cao hơn xa đám sơn tặc chiếm núi cướp trại, quả thật là cảm thấy “trời sinh ta tài tất hữu dụng, ngọc quý ném chỗ nào cũng sáng”.

Thế nhưng những ngày này đánh nhau với quân của Hồ Ma Huyền Nguyệt, Phó Kinh Hồng mới hiểu mình ngây thơ đến mức nào. Gã cũng nhìn ra được quân của thành Bạch Đế không dùng sức, đánh nhau có chỗ nương tay, mèo vờn chuột với gã. Nếu như Hồ Ma Huyền Nguyệt để ba quân tấn công tổng lực thì sớm đã san phẳng núi Lệ Chi từ lâu rồi.

Có câu leo càng cao, ngã càng đau...

Người trước đây càng phong quang, càng tự tin, càng thuận buồm xuôi gió thì lúc té ngã lại càng dễ suy sụp tự ti. Hiện giờ Phó Kinh Hồng đối với sơn trại núi Lệ Chi, đối với bản thân quả thực không cảm thấy có hi vọng hoài bão gì cho tương lai cả, ngay cả khi có Lôi Tổn tương trợ thì gã cũng chỉ mong sao có thể bình đạm sống tiếp nửa đời, nếu được thì mai danh tìm lại cô em gái là được.

Chỉ là Kiếm Trì cách Đại Việt đâu chỉ mấy chục vạn dặm, ở giữa còn có Lục Trúc Hải, Táng Thi Đinh cắt ngang. Muốn tìm đến Tẩy Kiếm Trì còn chẳng biết là năm nào tháng nào.

Lôi Tổn cười nhạt, nói:

“Chuyện ấy nhóc không cần lo, Lôi mỗ xưa nay lời nói ngàn vàng, chắc như đinh đóng cột. Thế nhưng thằng nhóc nhà ngươi cũng phải chịu khổ một chút, tỏ ý thành tâm, với lại chuẩn bị sẵn túi thơm, ngọc thơm càng nhiều càng tốt. Binh sĩ mà nôn mửa trường kỳ thì còn sức đâu mà đánh đấm?”

Lão trọc nói câu này chính khí lẫm nhiên, hai Đế Tôn bị lão vừa chửi vừa lừa vừa đánh lén hoàn toàn bị quăng tít tận đẩu tận đâu. Chuyện Phó Quân Sước chạy đến cổ viện, theo học Lý Thanh Vân lão cũng nhất nhất làm theo ý Hồng Vân, trước tiên giấu không nói cho họ Phó biết.

Phó Kinh Hồng nghe lão nói mà chẳng hiểu gì cả, mắt trợn lên, miệng há hốc.

oOo

Cách núi Lệ Chi ba dặm có một rừng đào mười dặm, gọi là Thập Lý Đào Viên.

Nghe đồn ở đây có tiên hồ ẩn cư, từng vì thương cảm mà cứu sống Thẩm Tư Quân một mạng trong cái đêm đen tối ba mươi năm trước. Đương nhiên, chuyện này chính chủ thủ khẩu như bình, không phủ định cũng chẳng xác nhận tin đồn trên giang hồ, thành thử Thập Lý Đào Viên càng thêm thần bí.

Trong văn đàn cũng không thiếu Đại Nho lên tiếng bác bỏ chuyện tiên hồ, mà nói rằng Thập Lý Đào Viên chính là chỗ năm xưa Tam Tuyệt Đại Nho Đỗ Ngọc Trai ẩn cư chờ minh chủ. Thẩm Tư Quân may mắn nhận được truyền thừa của tiên hiền nên mới có thể thoát được một kiếp.

Người sáng suốt trong thiên hạ đều biết Nho môn bịa câu chuyện này chẳng qua là do mất mặt, muốn “hợp lý hóa” chuyện thua trí đàn bà mà thôi. Song kẻ đọc sách trong thiên hạ thế lớn, dân chúng bình thường chỉ biết ngậm bồ hòn làm ngọt.

Phó Kinh Hồng đến Thập Lý Đào Viên, y theo chỉ dẫn của Lôi Tổn mà tìm kiếm. Đại Nho hay tiên hồ thì gã chẳng thấy, song quả thật đúng như lời lão già đầu trọc, ở dưới một cây đào cách cửa rừng không xa có một cái lán nhỏ bằng rơm, trước kê mấy hòn đá làm bàn, mé tả trồng một hàng giá đỗ, bên hữu có một cái ao con con. Lán nhỏ cửa đóng then cài, trước thềm không thấy dấu giày vết chân, hiển nhiên là chỗ ẩn cư ít người lui tới.

Phó Kinh Hồng hít sâu một hơi, nói:

“Bên trong có phải Lâm tiên sinh không?”

“Lâm mỗ chỉ là một kẻ thân bại danh liệt mà thôi. Hai tiếng tiên sinh thực không dám nhận.”

Vải che cửa lều được vén lên, một người đàn ông mình mặc áo vải chậm rãi bước ra. Làn da y nhăn nheo, đầy những đốm đồi mồi, chòm râu mái tóc trắng phau không còn một sợi đen. Nếu không phải danh tiếng của người này quá lớn, ngay cả Phó Kinh Hồng ở trên Lệ Chi Sơn cũng đã nghe danh thì chắc hắn đã nhầm tưởng người nọ là một vị tiền bối ẩn thế nào đó tuổi đời đã tính bằng trăm, chứ nào có phải một kẻ chỉ mới ngoài bốn mươi tuổi.

Người nọ vừa rời khỏi lều, mùi khai thối đã bốc lên nồng nặc, cho dù có hương hoa đào che bớt song cũng khiến Phó Kinh Hồng rùng mình một cái. Trong lòng gã thầm cảm ơn Lôi Tổn đã dặn chuẩn bị sẵn túi thơm, ngọc bội, bằng không chỉ bằng cái mùi của vị quân sư này đã đủ khiến bữa cơm trưa của gã vào cửa nào thì ra cửa đó.

“Ngài đây là... Phó tướng quân?”

Lão già tóc trắng – cựu Tế Tửu của Quốc Tử giám Lâm Thanh Tùng – cũng đã nhận ra thân phận của kẻ đến thăm. Lúc Phó Kinh Hồng bị đại Sở tróc nã, Lâm Thanh Tùng hãy còn là kẻ quan cao lộc hậu ở Cổ Long, cáo thị hoàng thất Đại Sở chuyển đến Đại Việt nhờ phối hợp bắt tội phạm lão cũng có xem qua. Khi ấy, Lâm Thanh Tùng còn nhớ đã tự nhủ rằng Phó Kinh Hồng sau khi gặp đám đồ đệ của Nguyễn Đông Thanh mới thân bại danh liệt, trong chuyện này chắc chắn có dây mơ rễ má gì đó, nên mới ghi nhớ nằm lòng dung mạo của y.

Chẳng ngờ thế sự vô thường, lão lại gặp Phó Kinh Hồng trong hoàn cảnh này.

Càng là như thế, Lâm Thanh Tùng lại càng cảm thấy khó hiểu, chẳng rõ họ Phó muốn gì ở kẻ phế nhân hai bàn tay trắng như lão.

Sau cái lần “luận đạo” theo kiểu giết gà dọa khỉ của Bích Mặc tiên sinh, mấy tên trưởng ban trong thư viện do hai anh em họ Đỗ dẫn đầu liên hợp gây áp lực, ép Lâm Thanh Hồ phải đại nghĩa diệt thân. Có lẽ vì không chịu nổi áp lực, cũng có thể vì bị Nguyễn Đông Thanh dọa sợ, nên hiện giờ Lâm Thanh Tùng đã bị Thanh Tùng thư viện vứt bỏ.

Lại thêm thân phận thần giữ cửa “Thính Vũ Lâu” khiến cho lão không ai chứa chấp. Bất luận là đại thành hay tiểu trấn, châu quận phồn hoa hay làng xóm tiêu điều thì người ta cũng chỉ có hai phản ứng khi Lâm Thanh Tùng xuất hiện. Hoặc là bu lại chỉ chỏ cười cợt, coi lão như con khỉ xiếc. Hoặc là trứng ung rau thối bay loạn xạ, đuổi lão như đuổi hủi.

Cực chẳng đã, Lâm Thanh Tùng đành tìm chốn núi rừng không người qua lại mà sống ẩn dật. Sở dĩ chọn Thập Lý Đào Viên là do nơi này hương hoa thơm ngát quanh năm, có thể át bớt cái mùi hương hỏa của thần giữ cửa trên người lão.

Lâm Thanh Tùng muốn phỏng đoán mục đích của Phó Kinh Hồng, bất giác nhớ lại hoàn cảnh hiện thời của mình, thế là không nén được một tiếng thở dài thương thân.

“Không biết Phó tướng quân đến tìm kẻ thân bại danh liệt như Lâm mỗ để làm gì? Chê cười sao? Hay là muốn chà đạp lên chút thể diện cuối cùng của lão già này hòng tìm kiếm tôn nghiêm của bản thân?”

Lâm Thanh Tùng lăn lộn quan trường nhiều năm, cái loại chà đạp kẻ khác xuống để tìm cảm giác hơn người lão thấy tuyệt đối không ít. Trong mắt lão hiện giờ, giá trị duy nhất của mình đối với Phó Kinh Hồng chính là quả hồng mềm cho đối phương đến nhục mạ một phen mà thôi.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 351: Cởi Chuông Phải Tìm Người Thắt Chuông


Phó Kinh Hồng nói:

“Tiên sinh yên tâm. Phó mỗ tuy chẳng tính là chính nhân quân tử gì cả, song còn chưa luân lạc đến mức làm cái trò vô bổ ấy.”

Gã biết tâm trạng hiện giờ của Lâm Thanh Tùng cũng giống hệt như gã của mấy tháng trước, khi Lôi Tổn lần đầu tiên chạy đến Lệ Chi sơn. Thế nhưng, hiểu là một chuyện, bị người khác coi là thằng hèn lại là chuyện khác.

Lâm Thanh Tùng nhìn ánh mắt họ Phó trong veo không có chút tránh né che giấu gì, mới đổi giọng:

“Là Lâm mỗ lấy dạ tiểu nhân đo lòng quân tử. Thế nhưng quả thực tại hạ không tài nào nghĩ ra vì cớ gì tướng quân lại phải cất công đi tìm một kẻ thân tàn ma dại như ta.”

Lão tuy hơi áy náy vì nghĩ xấu Phó Kinh Hồng, song vẻ dè dặt đề phòng trong mắt thì chẳng hề giảm bớt. Phải biết, việc lão bị Thanh Tùng thư viện vứt bỏ, chán nản đến rừng đào này quy ẩn là chuyện chẳng có bao nhiêu người biết. Dù sao, tính ra cũng là chuyện xấu của thư viện. Cho dù đám trưởng ban không lên tiếng, có lẽ Lâm Thanh Hồ cũng sẽ lấp l**m việc này đi.

Đến các thế lực lớn của Đại Việt có khi còn chẳng mấy ai nghe được phong thanh, kẻ đang làm sơn tặc, tình báo chỉ hạn chế ở cánh mua tin bán tức đầu đường xó chợ, quán trà hàng rượu thì lại càng là chuyện không tưởng. Ấy vậy mà Phó Kinh Hồng chẳng những biết, lại còn tìm đến tận cửa, cứ như thế nhất cử nhất động của lão đều có người biết rõ mười mươi vậy.

Chính vì lẽ đó, nên mặc dù Phó Kinh Hồng hành xử rất giữ lễ, rất tôn trọng lão thì Lâm Thanh Tùng vẫn không thể buông lỏng cảnh giác. Còn về chuyện Phó Kinh Hồng mạo hiểm tìm đến cầu hiền thì lão lại càng chẳng thèm nghĩ tới. Trước không nói hiện giờ tu vi lão đã phế, chỉ nội cái chuyện trên người Lâm Thanh Tùng có hương hỏa của thần giữ cửa nhà cầu là đã khiến người ta nhăn mặt đuổi đi.

Trên người lão bốc mùi hôi thối đã đành, quan trọng hơn là kể từ sau lần Mỹ Thực Tiến Vua kia, các thế lực muốn lấy lòng Nguyễn Đông Thanh nhao nhao phát tán tin đồn. Thôi thì đủ các loại lời ong tiếng ve, từ chuyện những hương hỏa xú uế trên người lão sẽ xua đuổi vượng khí, mang đến vận xui, thậm chí có kẻ ác độc còn nói Lâm Thanh Tùng có thể tạo nên ôn dịch.

Chính vì nguyên nhân này, nên mặc dù lão một bụng văn chương, từng làm đến tận Tế Tửu, sau lưng lại có một đại thư viện chống lưng nhưng cũng không ai dám nhận. Cuối cùng chỉ có thể trở về Thanh Tùng thư viện gác cổng chờ chết, đáng tiếc ngay cả muốn sống đời an nhàn phú quý cũng chẳng được.

Lâm Thanh Tùng nhẩm tính, cuối cùng chỉ có thể nghĩ đến một khả năng. Lão hít sâu một hơi, dè dặt lên tiếng hỏi:

“Không lẽ tướng quân thấy hai ta đều thân bại danh liệt vì Bích Mặc tiên sinh nên có ý muốn cùng tại hạ hợp tác trả mối thù này?”

“Tiên sinh nghĩ thế nào?”

Vốn là Phó Kinh Hồng muốn nói đúng những gì Lôi Tổn đã dặn, song bấy giờ nghe Lâm Thanh Tùng nói thế, lại cảm thấy hứng thú. Thế là gã đổi giọng, thử thăm dò xem y có ý đồ gì.

Dù Lâm Thanh Tùng là người “Lôi lão đại” đích thân lựa chọn, song Phó Kinh Hồng dù sao cũng là một người, có ý nghĩ của chính mình. Hắn cũng không muốn bái một tên không biết trời cao đất rộng về làm quân sư. Bằng không ngày sau để gã bày mưu tính kế giúp mình thì há chẳng phải là hại đám anh em thuộc cấp cùng hắn từ thành Ngự Long chạy trốn đến tận đây hay sao?

Lâm Thanh Tùng thở dài, nói:

“Phó tướng quân, tại hạ cũng biết so với ta thì ngài lại càng oan ức, oán khí với Bích Mặc tiên sinh cũng càng lớn. Song Lâm mỗ vẫn phải khuyên ngài một lời chân thành là bỏ đi. Bích Mặc tiên sinh không phải kẻ chúng ta có thể đối phó được.”

“Vậy tiên sinh chẳng nhẽ cứ cam chịu cái cảnh thân bại danh liệt này sao? Lẽ nào ngài chưa từng nghĩ đến chuyện phản kháng?”

Phó Kinh Hồng nghe rõ lão đã có ý nản lòng, nhưng vẫn muốn thử thêm một lần nữa, bèn hỏi dò.

Lâm Thanh Tùng lắc đầu:

“Bích Mặc tiên sinh tổng cộng luận đạo hai lần, chẳng nhẽ tướng quân còn chưa hiểu ẩn ý của y hay sao?”

“Xin được thỉnh giáo.”

“Nho môn chúng ta biết khó mà lui, thế nên Bích Mặc tiên sinh cũng không đuổi tận giết tuyệt. Nhược bằng học Phật môn không biết sống chết, cứ tiếp tục đối đầu với y, vậy thì cái Phật đạo kia chính là kết cục. Lâm mỗ trước kia không tự lượng sức, muốn nhắm Bích Mặc tiên sinh, hiện giờ còn giữ được cái mạng quèn đã là phúc ba đời. Về chuyện trả thù thì ta cũng khuyên tướng quân là quên đi thôi.”

Phó Kinh Hồng nghe lão nói một tràng, đã xác định Lâm Thanh Tùng quả thực không còn ý định đối đầu với Nguyễn Đông Thanh nữa, mới bật cười:

“Lâm tiên sinh lời ấy nghe quả rất có lý, nhưng Phó mỗ còn có một câu này không biết tiên sinh đã nghe hay chưa?”

Lâm Thanh Tùng đang muốn đóng cửa, thì lại nghĩ Phó Kinh Hồng tuy hiện giờ chán nản, nhưng cũng là chủ một sơn trại, dưới trướng có hàng trăm bộ chúng. Tuy so với Bích Mặc tiên sinh thì chẳng khác nào kiến đấu với voi, nhưng so với lão thì lại là chuyện khác.

So với họ Phó, lão mới là kẻ thân cô thế cô, không quyền không thế thực sự.

Thành thử, Lâm Thanh Tùng cũng không dám đuổi khách một cách sỗ sàng. Lão nhẩm tính giờ cứ để Phó Kinh Hồng nói, riêng lão thì mặc xác thằng chả nói gì, cứ kiên quyết từ chối là xong. Dù sao hiện giờ ngoại trừ cái mạng ra, Lâm Thanh Tùng chẳng có gì cả. Con bài đánh cược duy nhất của lão chính là lão còn sống thì hữu dụng hơn là đã chết mà thôi.

“Xin được rửa tai nghe lời vàng ý ngọc của tướng quân.”

Lâm Thanh Tùng cúi đầu, hành nửa lễ sư đồ. Đối với người Nho môn như lão mà nói, cái lễ sư – đồ này lớn bằng trời. Ở Huyền Hoàng giới này, trong tam cương thì có lẽ sư – đồ còn hơn cả quân – thần, phụ – tử một bậc. Đối với Lâm Thanh Tùng, đấy đã là cực hạn của lão, không thể nào hạ mình nhún nhường hơn được nữa.

Phó Kinh Hồng cười, nói:

“Muốn cởi chuông thì phải tìm người buộc chuông. Nếu Phó mỗ đến đây là để dẫn tiến Lâm đại nho ra làm việc cho Bích Mặc tiên sinh thì sao?”

“Chuyện này sao có thể?”

Lâm Thanh Tùng trợn trừng hai mắt, lại đưa tay tự nhéo má mình một cái. Cơn đau đớn cho lão biết rằng không phải lão đang nằm mơ, Phó Kinh Hồng thực sự vừa nói những lời như vậy.

Đương nhiên, nhiêu đó cũng chỉ chứng minh chuyện vừa rồi thực sự xảy ra ngoài đời mà thôi. Về phần họ Phó nói lời thật hay giả dối, Lâm Thanh Tùng còn phải xác nhận một phen. Nếu cứ mơ mơ màng màng chạy đến hiệu lực cho một kẻ chẳng rõ thân phận mục đích thì quả thực chẳng khác nào dâng mỡ lên miệng mèo.

Sự mừng rỡ và kinh ngạc vì “đĩa bánh từ trên trời rơi xuống” đi qua, Lâm Thanh Tùng đã tỉnh táo lại. Lão hít sâu một hơi, để hàn khí tràn vào hai lá phổi, có lẽ là muốn giữ cái đầu lạnh trong cuộc đối thoại sắp tới. Một cuộc nói chuyện mà rất có thể sẽ khiến cuộc đời của lão rẽ sang trang khác, đi theo hướng khác.

Là bánh thật hay bánh vẽ đều ở một khắc này...

Lâm Thanh Tùng nói:

“Lời của Phó tướng quân quả nhiên là bùi tai dễ nghe, khiến tại hạ thất thố, để ngài chê cười. Thế nhưng Lâm mỗ còn có chuyện muốn hỏi...”

“Tiên sinh muốn bằng chứng phải không?”

“Chuyện này can hệ trọng đại, kẻ thù của Bích Mặc tiên sinh cũng không phải loại thấp cổ bé họng chúng ta dây vào được. Nếu như tướng quân không có bằng chứng, thứ cho Lâm mỗ sợ bị vạ lây, thân ruồi xác muỗi xin né khỏi cuộc húc nhau của trâu bò. Chỉ xin Phó tướng quân đừng cười Lâm mỗ gan nhỏ như thỏ là được.”

Phó Kinh Hồng nghe lão nói, gật đầu cười:

“Xu cát tị hung là chuyện thường ở đời, nhưng xưa nay Nho môn kẻ nào kẻ nấy đều bô bô coi chết như về tựa trẻ con tập đếm. Tiên sinh hóa ra lại là người hào sảng, dám thừa nhận mình muốn sống.”

Gã nhìn quanh một hồi, đoạn lại lấy một chiếc tay nải từ nhẫn chứa đồ ra, đưa cho Lâm Thanh Tùng. Lão đưa tay đón bọc đồ, thấy bên trong cũng không nặng, lại xộc xệch xê dịch, không rõ là vật gì.

Phó Kinh Hồng cười:

“Tiên sinh cứ mở tay nải ra sẽ hiểu.”

Lâm Thanh Tùng chẳng hiểu gã muốn làm gì, lại càng không biết rốt cuộc sau lớp vải là vật kinh thế hãi tục gì, lại có thể đại biểu cho Bích Mặc tiên sinh, cho Lão Thụ cổ viện.

Lão trịnh trọng đặt bao vải lên bàn đá, gỡ nút buộc, để lộ bên trong là một chồng mấy quyển sách. Lâm Thanh Tùng chỉ nhìn bìa sách một cái, lập tức điếng cả người, biết trước mắt tuyệt không phải phàm vật.

Trang bìa mấy quyển làm bằng một thứ nguyên liệu trơn nhẵn, mỏng tang, không phải giấy không phải vải, chẳng phải lụa không phải lá. Bên trên trang bìa vẽ bóng lưng một tướng mặc giác bạc, chống một thanh ngân đảng, áo bào thổi bay trong gió tuyết. Phong cách hoàn toàn khác biệt với danh họa hiện giờ, nét mực mảnh như sợi tơ, ngay cả bút lông quý nhất của Hữu Tiền Liên Minh cũng chẳng thể nào gảy ra được nét mực mảnh mai đến vậy. Bức tranh tỉ mỉ đến từng chi tiết, sống động như thật, khiến người ta vừa nhìn đã thấy choán ngợp bởi vẻ hùng tráng của chiến trường, thảm thiết của cái tràng sát sinh đầy tên bay kiếm gãy. Theo đó, vô thức chú ý đến bóng lưng của tướng quân không biết mặt, càng lộ ra vẻ cô độc thảm liệt. Bên dưới chiến trường nơi y đặt chân hiện rõ ba chữ vàng “Hữu Cầu truyện”.

Phó Kinh Hồng cười:

“Vật này là sở tác của Bích Mặc tiên sinh, do đích thân một vị đại yêu của cổ viện giao cho tại hạ. Phó mỗ tạm thời gửi ở đây, sau ba ngày sẽ quay lại lấy, cũng chờ một câu trả lời của tiên sinh.”
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 352: Thiên Sinh Túc Địch, Lương Sơn Tụ Nghĩa


Đừng nói là Lâm Thanh Tùng, cho dù bản thân Nguyễn Đông Thanh đứng ở đây thì cũng sẽ giật mình hoảng sợ trước mấy quyển sách Phó Kinh Hồng đưa ra.

Không vì nguyên nhân khác, mà là vì mấy quyển sách này sử dụng kỹ thuật hiện đại ở địa cầu để đóng.

Bìa sách không phải giấy không phải vải, không phải lá không phải lụa... đơn giản vì đấy là nhựa mềm. Mà kỹ thuật dùng để vẽ bìa sách đương nhiên không phải thủy mặc chấm phá mà Nho môn vẫn dạy, mà là lối vẽ của truyện tranh, sử dụng bút nước ngòi nhỏ, sau đó in bằng máy. Mang thứ này về cho người của Huyền Hoàng giới xem há lại không bị coi là thần thánh ra tay, người phàm không thể nào vẽ được như vậy hay sao?

Huống hồ...

Chẳng rõ từ lúc nào, nhưng một vài quyển sách dã sử gã viết chơi chơi vì thích đã bị Hồng Vân chuyển thể thành truyện tranh, đóng thành tập hẳn hoi. Hiện giờ đã rơi vào trong tay Lâm Thanh Tùng.

Lâm cựu Tế Tửu giở từng trang, thấy một loạt tranh ảnh sống động như thật, cơ hồ thích thú đến quên cả ăn ngủ. Nét vẽ sắc mảnh có thần, phối hợp thêm một số vòng tròn có đuôi dùng để đánh dấu lời nói của nhân vật. Tuy không sử dụng các loại hành văn tao nhã, chi hồ giả dã của nhà Nho, nhưng thắng ở tính thông tục. Thậm chí, vì lượng chữ ít ỏi mà câu chuyện lôi cuốn, Lâm Thanh Tùng cảm thấy có thể dùng thứ này để dạy người ta đọc sách cũng chưa biết chừng.

Mà lão càng nghĩ, lại càng cảm thấy đây đúng là phong cách hành sự của Nguyễn Đông Thanh. Những quyển sách này đối với cánh văn nhân nhã sĩ như lão thì chẳng có bao nhiêu tác dụng, cũng không được hấp dẫn, nhưng đối với người bình thường mà nói thì quả thật giống như đo ni đóng giày vậy. Lão đọc hết một quyển, vừa lúc nghĩ đến đây, bất giác thảng thốt nhớ lại lần “thể hiện” cầm kỳ thư họa ở thành Cổ Long ngày nào.

“Không ngờ người tìm mình quả thật là Bích Mặc tiên sinh không nghi ngờ gì nữa. Thế nhưng... nếu là y, vậy thì những câu chuyện này hẳn còn có công dụng khác.”

Mấy quyển sách lão nhận được cũng không dài. Bấy giờ lão nhắm mắt, cẩn thận ngẫm lại nội dung vừa đọc.

Sách đầu tiên, cũng chính là kể về một tướng mặc giáp bạc, cầm Bạch Hạc Tùng Vân Đảng, tên là Nguyễn Hữu Cầu. Y và Phạm Đình Trọng là tướng nhà trời, vì đánh nhau mà bị đày xuống hạ giới. Sau đó cơ duyên xảo hợp cùng học một thầy, thi thố tài năng với nhau từ bé. Lớn lên, Cầu giết quan chiếm núi xưng vương, gọi là Quận He. Quận He đánh đâu thắng đó, mãi đến lúc Chúa Trịnh tìm được Phạm Đình Trọng thì mới hàng phục được.

Cầu bị bắt giam trong cũi, đọc bài thơ Chim Trong Lồng rồi chết. Có kẻ canh tù nghe được chép lại, thơ rằng:

“Nhất lung thiên địa tàng thân tiểu

Vạn lý phong vân cử mục tần

Hỏi sao sao luỵ cơ trần

Bận tài bay nhảy, xót thân tang bồng

Nào khi vỗ cánh rỉa lông

Hót câu thiên túng trong vòng lao lung!

Chim oanh nọ vẫy vùng giậu bắc

Đàn loan kia túc tắc cành nam

Mặc bay đông ngữ, tây đàm

Chờ khi phương tiện dứt dàm vân lung

Bay thẳng cánh muôn trùng tiêu Hán

Phá vòng vây làm bạn kim ô

Giang sơn khách diệc tri hồ?”

Lạ nỗi Phạm Đình Trọng sinh sau Cầu ba năm, Cầu chết ba năm thì Trọng cũng cưỡi hạc.

Chuyện thứ hai thì kể về một người tên là Nam Cường, có thuật rải đậu làm binh, nuôi âm binh quỷ tướng, phép phù thủy cao cường. Về sau trong một lần chạy trốn, do dải áo sặc sỡ của vợ thò ra khỏi chỗ trốn mà bị bắt xử trảm.

Sách thứ ba kể về chàng Lía, cũng là kẻ chiếm núi làm vua, cát cứ cả một vùng Truông Mây rộng lớn. Về sau Lía cướp vợ quan về làm vợ, y thị làm nội ứng phá thành từ bên trong mà thua trận. Gã chạy vào trong núi, được một ông cụ kiếm củi cứu mạng cho ăn, bèn tự chém đầu mình đưa cho lão nộp quan để báo ơn. Ông cụ chôn cái đầu của Lía xuống núi, đoạn nhìn ra Truông Mây rồi hết chuyện.

Mà quyển cuối cùng thì đặc biệt hơn cả. Trừ bìa sách và chữ viết nhỏ đều chi chít, dường như là cùng một loại “thư pháp” với lời thoại trong ba quyển trước thì nó đúng là một quyển tiểu thuyết mà lão thỉnh thoảng vẫn xem.

Hơn nữa, sách này còn sớm đã bị liệt vào cấm thư của Huyền Hoàng giới.

Thủy Hử truyện.

Tương truyền sách này xuất phát từ Đại Thục, do Lương Sơn vương cho người sáng tác để quy tụ nhân tâm, lật đổ hoàng thất. Sau đó lại tiến một bước cầm quân càn quét bốn phương, đúc nên bá nghiệp đời đời.

Lương Sơn quân hấp thu nạn dân tứ xứ, đông như kiến cỏ, hung hãn như một bầy châu chấu, quả thật đã chiếm được kinh thành. Mà Lương Sơn vương cũng tự xưng là Cập Thời Vũ, tiến một bước xưng đế.

Về sau, Quan Vân Phi dẫn Quan gia quân trợ giúp vương tử Cảnh xuất chinh, trong một tháng đánh hạ bốn thành, hai quận, mười ba trấn, cũng viết nên khởi đầu trong truyền kỳ của Vạn Nhân Đồ. Vó ngựa Quan gia quân đạp bằng núi Lương, chỉ còn một đỉnh núi thấp – Táng Hoa sơn – là nguyên vẹn. Song... sáu nước thấy Đại Thục vì một quyển tiểu thuyết mà bất ổn, nhao nhao liệt Thủy Hử truyện vào hạng cấm thư.

Từ đó sách này cũng mất tăm mất tích trên Huyền Hoàng giới. Ngoại trừ giáo chúng Trang Bức thần giáo ra, thì duy chỉ có các thư viện lớn là còn biết đến.

Nếu không phải Lâm Thanh Tùng thân là Tế Tửu Quốc Tử Giám, lại là con của viện trưởng lớn nhất Đại Việt thì chắc chắn không thể nào tiếp xúc được đến sách này.

oOo

Vài ngày sau...

Phó Kinh Hồng đúng hẹn đến Thập Lý Đào Viên thì Lâm Thanh Tùng đã đứng chờ sẵn trước cửa lều, mấy quyển sách gã đưa đặt ngay ngắn trên bàn đá. Vừa thấy hắn, lão cựu Tế Tửu đã lên tiếng:

“Phó tướng quân...”

Miệng nói, tay lão cũng đã làm thủ thế mời, bàn tay hướng về một tảng đá nhỏ. Phó Kinh Hồng trả lễ xong, bèn theo lời lão ngồi xuống. Bấy giờ mặt Lâm Thanh Tùng lạnh như tiền, trong mắt hiện rõ vẻ nghiêm túc làm kẻ thân kinh bách chiến như Phó Kinh Hồng bất giác cũng ưỡn thẳng sống lưng.

Lâm Thanh Tùng chờ họ Phó an tọa, rồi mới hỏi:

“Phó tướng quân thân là người Đại Sở, sát với Đại Thục, hẳn phải biết quyển Thủy Hử truyện này là sách cấm được cả bảy nước công nhận?”

“Phải. Thực ra tại hạ đọc xong cũng hiểu phần nào nguyên do.”

Phó Kinh Hồng gãi gáy.

Thực ra, hắn còn có một câu không tiện nói ngay với Lâm Thanh Tùng, ấy là chuyện gã đọc Thủy Hử cũng thấy nhiệt huyết sôi sục, duệ khí bừng bừng. Dù sao, cái gọi là “giao thiển ngôn thâm” chính là đại kị của đời người.

Lâm Thanh Tùng nói:

“Vậy là tốt. Lâm mỗ tạm coi như tướng quân đã đọc xong Thủy Hử truyện. Dám hỏi ngài cảm thấy hành động quy an của Tống Công Minh là đúng hay là sai?”

“Chuyện này quả tình có hơi khó nói... Về lý, tại hạ cho rằng Tống Giang làm không sai. Nhưng về tình thì... có chút không sảng khoái.”

Phó Kinh Hồng biết người trước mặt là một thành viên của Nho môn, rất nhiều chuyện Lâm Thanh Tùng cũng sẽ đứng từ góc độ của Nho gia sĩ tộc để cân nhắc, trái với một tướng quân xuất thân nghiệp võ đạo như gã. Thành thử, gã mới cẩn thận lựa lời, muốn dò xét xem thái độ của y ra sao.

Lâm Thanh Tùng nhìn ra vẻ do dự trong mắt gã, xong lão chỉ cười, hỏi:

“Chúng ta là người làm đại sự, trước khoan nói chuyện tình cảm. Về lý trí thì tướng quân cho là Tống Công Minh đúng ở đâu?”

Phó Kinh Hồng nói:

“Quân Lương Sơn chỉ có ba con đường để lựa chọn. Thứ nhất là nhất quyết tạo phản đến cùng, mãi đến khi bị thảo phạt hoặc lật đổ được triều đình mới thôi, có thể nói là con đường người chết ta sống, không có lối lùi. Mà loại chuyện này thì tương đương với tự sát.”

“Xin được thỉnh giáo cao kiến của tướng quân.”

Lâm Thanh Tùng chắp tay, khách sáo một câu, đoạn chờ Phó Kinh Hồng tiếp tục giải thích.

“Lương Sơn phần lớn là tội phạm sơn tặc, quan lại bị ép phản lên núi, không có thế gia sĩ tộc chống lưng, không có ruộng đất tiền tài để mà tuyển binh mua ngựa. Thời buổi trong tiểu thuyết cũng chưa phải lúc quân phiệt cát cứ, chiến tranh loạn lạc, sĩ tộc lại càng chẳng có lí gì vào rừng làm cướp. Lương Sơn trước không có chính danh, sau lại mất thiên thời, cho dù có chiếm được quận huyện thì thế gia địa phương cũng chẳng nghe sai khiến. Đây là điều thứ nhất.

“Không nói chuyện thần quỷ hoang đường thì tướng lĩnh Lương Sơn hội họp chỉ bằng một chữ ‘nghĩa’. Lúc hàn vi thì đây là ưu, nhưng nếu muốn mở rộng thì lại là nhược điểm lớn. Về sau tướng sĩ nhiều người vẫn còn giữ tính tặc phỉ, thậm chí mở quán ăn thịt người, đối với danh tiếng của Lương Sơn chỉ có hại. Nhưng vì nghĩa khí ràng buộc, Tống Giang có muốn cũng chẳng thể làm gì. Trên không bảo được dưới, bàn gì đến tranh thiên hạ?

“Cuối cùng là nhân tâm. Tướng sĩ Lương Sơn nhiều kẻ chỉ muốn ăn miếng thịt to, uống ngụm rượu to, sảng khoái làm cướp, không có chí công thành đoạt đất. Lại thêm trên dưới Lương Sơn không có nhân tài về nội chính, chiếm được đất cũng không giữ được đất. Có ba điểm này, nếu Tống Giang muốn phản đến cùng, thì chờ đợi Lương Sơn chỉ có cái chết.”

Phó Kinh Hồng nói liến thoắng một tràng, thấy hơi khô cổ bỏng hầu mới dừng lại, lấy nước ra uống.

Lâm Thanh Tùng chờ gã uống xong, rồi lại hỏi:

“Thế còn con đường thứ hai?”

“Cố thủ một phương, dựa vào địa lợi chống cự. Triều đình đánh nhiều, hao người tốn của, chỉ cần Lương Sơn ngoan cường một lúc, sau lại tỏ ý an phận thì chưa chắc Tống triều đã cần phải nhổ cỏ tận gốc.

“Thế nhưng, đây cũng là con đường mà Tống Giang không muốn, bằng không sẽ phải chịu kết quả ô danh đời đời, ngàn năm sau vẫn bị sử sách chửi là giặc cướp. Đối với những người như Lý Quỳ thì chẳng hề chi, nhưng Tống Công Minh từ nhỏ đọc sách, vào triều làm quan, há lại có thể chấp nhận để tổ tông bêu mặt? Đánh không được, thủ không xong, chỉ có thể cầu hòa. Đây cũng là nguyên do Tống Giang muốn được chiêu an.

“Có người sẽ nói là ngu trung, là không hiểu thế cuộc. Nhưng tất cả những chuyện này, theo Phó mỗ thấy, không thoát được quan hệ với Nho môn các ngài. Nếu như có gì mạo phạm, vẫn mong tiên sinh lượng thứ cho.”

...

Không rõ khi đó Lâm Thanh Tùng đã đáp lời Phó Kinh Hồng ra sao, chỉ biết là từ đấy trở đi, sơn trại ở núi Lệ Chi có thêm một vị quân sư bốc mùi khăm khẳm.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 353: Nguyễn Đông Thanh Đến Thành Bạch Đế - Lão Anh Hùng Bái Phỏng Tiên Sinh


Sau khi trì hoãn ba ngày, Nguyễn Đông Thanh bắt đầu lục tục khăn gói hành lý đến thành Bạch Đế nhậm chức. Theo sau có Dư Tự Lực, Lã Vọng Thiên, ông đồ Cố Văn và Hồng Đô.

Cô mèo máy vì giữ chức hộ vệ cho gã, thành thử cũng được triều đình sắc phong là Đới Đao Hộ Vệ, danh hiệu là Ngự Miêu. Điều này khiến Nguyễn Đông Thanh cơ hồ tá hỏa, dọc đường cứ lẩm bẩm cái gì mà “một gậy bản quyền, hai gậy bản quyền”, rồi lại “Nhật Bản Trung Quốc, người nông dân”, khiến cả đám người đồng hành ai nấy đều căng thẳng như ngồi trên lò than, chẳng hiểu rốt cuộc “mật ngữ” của tiên sinh là có thâm ý gì, muốn bọn họ xử lý chuyện sắp tới ở Bạch Đế ra sao.

Hồng Đô thì sớm đã miễn dịch với cái kiểu thỉnh thoảng lại lẩm bẩm những lời “vô nghĩa” như kẻ dở người của ông tiên sinh nhà mình, thế nhưng mấy người còn lại thì chẳng được may mắn như thế. Trong suốt những ngày bôn ba từ Quan Lâm đi Bạch Đế, ba người Cố, Lã, Dư cơ hồ hiểu thế nào là địa ngục trần gian.

Vẫn nói gần vua như gần cọp, ông “vua” của bọn họ chẳng những “bản lĩnh hơn trời”, đã thế còn không thích nói thẳng nói thật. Ba người Dư Tự Lực chỉ thấy áp lực như núi lớn.

[Biên tập
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 354: Gậy Bản Quyền Bủa Vây Tứ Phía


Tiễn Lê Minh Đức rồi, Nguyễn Đông Thanh mới đi tìm ông đồ già Cố Văn. Ban nãy, nếu không có y, có lẽ Bích Mặc tiên sinh của chúng ta hãy còn ù ù cạc cạc, chả biết kẻ đến gặp mình rốt cuộc là ai, thân phận ra sao. Điều này không khỏi khiến gã cảm thấy hoài nghi nhân sinh.

Hai người cùng đến Bạch Đế một ngày, thế nhưng Cố Văn cơ hồ đã nắm được các nhân vật máu mặt ở đây là những ai, bối cảnh thế nào, hỏi đến là có thể trả lời vanh vách cứ như thể đoán biết được tương lai vậy. Trái lại, Nguyễn Đông Thanh thì chẳng khác nào người giời. Ngoại trừ Hồ Ma Huyền Nguyệt và hai quan Chưởng Kiếm, Chưởng Bút ra, gã cũng chỉ nắm được trong thành Bạch Đế còn có hai thế lực lớn.

Một là nhà họ Đào. Tộc này nhiều đời làm quan, nắm trong tay bốn phần ruộng đất, bảy làng nghề thủ công, lũng đoạn toàn bộ sách vở thư viện trong thành. Có thể nói, phóng mắt toàn bộ châu Ngọc Lân thì Đào thị cũng là sĩ tộc số một số hai, sức ảnh hưởng cực kỳ khổng lồ.

Mà thế lực còn lại gọi là Tham Lang bang, nghe đâu là một bang phái đã nhất thống toàn bộ thế giới ngầm thành Bạch Đế. Hầu hết những chốn ăn chơi như kỹ viện, sòng bạc, võ đài ngầm, sới đá gà chọi chó đều có bọn hắn đứng sau. Những chỗ mua sắm sầm uất nhất thành gồm bốn khu chợ ở các thành đông tây nam bắc, tám con đường lớn Càn Đoài Li Chấn Cấn Khảm Tốn Khôn vây quanh thành nội đều nộp phí bảo hộ cho bọn hắn cả. Trừ phủ thành chủ và ba Chưởng Quan, cơ hồ Đào thị là bá chủ ngoài sáng, Tham Lang bang là vương là tướng trong bóng đêm.

Còn có tin đồn rằng tiền bạc nhân mã của Tham Lang bang thực ra đều là do các thế gia sĩ tộc lớn nhỏ trong thành cung cấp. Đổi lại, Tham Lang bang sẽ thay mặt bọn họ làm đối trọng với Đào thị. Song thế gia sĩ tộc xưa này làm việc rất sạch sẽ, không để lại dấu vết bao giờ, thành thử hư thực của lời đồn kia cũng chẳng ai kiểm chứng được. Chí ít, ghi chép trong phủ Chưởng Ấn không hề có chứng cứ chứng minh các sĩ tộc lớn nhỏ trong thành cấu kết dựng lên Tham Lang bang.

Mà Lê Minh Đức đương nhiên là không có dây dưa gì với cả hai thế lực lớn ngoài sáng lẫn trong tối, cơ hồ chỉ êm ấm ở nhà làm viên ngoại giàu sang, thành thử Nguyễn Đông Thanh cũng chẳng hay biết gì đến lão.

Cứ như Cố Văn giải thích, thì Lê Minh Đức nhập ngũ trong trận đánh giữa Đại Tề – Đại Việt.

Thực chất, chiến tranh giữa hai nước cũng không đơn giản như những gì thiên hạ vẫn truyền tai nhau. Cái việc Lý Huyền Thiên cản Nghiêm Hàn ở Hoàng Liên sơn đạo chẳng qua cũng chỉ là mở đầu cho quốc chiến. Lúc ấy Đại Tề vừa đánh gục năm nước, khiến cả phương bắc xưng thần, tài lực vật lực hơn xa một nước nhỏ ở phía nam Lục Trúc Hải. Nghiêm Hàn đích thân dẫn Huyền Giáp Vệ vượt biển trúc, đánh từ phía tây vòng lại chỉ là một trong bốn đường tiến công mà thôi.

Hai quân Tả Hữu Dực thì mượn thế công của thú triều Lục Trúc Hải đánh hạ Quan Lâm, sau đó sẽ phân binh làm hai đường. Một theo kế hoạch vòng phía tây, mượn núi Lệ Chi kéo đến đánh hạ thành Bạch Đế, khống chế thành Thanh Tùng, sau đó dẫn Huyền Giáp Vệ vào, nuốt gọn hai châu Ngọc Lân, Hỉ Phượng. Cánh còn lại chiếm cứ Tế Kỳ thành, sau đó xuôi dòng nước công phá Hải Nha, đánh xuôi nam phối hợp long tộc chiếm châu Thụy Quy. Cuối cùng bốn mũi tiến công vây Cổ Long thành vào giữa, nghiền nát sự chống cự của Đại Việt.

Mà nguyên nhân Nghiêm Hàn tự vẫn thực ra không phải là tiến công bất lợi, mà do Huyền Giáp Vệ của hắn không tiến vào Đại Việt được, khiến Hữu Dực quân bị sa lầy, cuối cùng hai mười vạn đại binh đều chôn xác ở nước nam.

Cố Văn lại kể:

“Khi ấy người Tề không rõ bằng cách nào mà tạo ra được một trận pháp, lấy trụ đồng đóng lên các thành Quan Lâm, Tế Kỳ làm dẫn, có thể làm nổ nhẫn chứa đồ mang lương thảo quân nhu của Đại Việt. Thời gian đầu Đại Việt tiếp tế bất lợi, liên tiếp bại lui, đến nỗi thành Bạch Đế cũng rơi vào tay quân Hữu Dực. Về sau, Lý Huyền Cơ quay sang dùng sức người sức ngựa, thuyền bè tải lương mới hóa giải được nguy cơ.

“Mà lúc ấy Lê Minh Đức chính là một tiểu tốt vận lương. Binh mã vận lương đi vòng mặt bắc, tiếp tế cho Ải Thị, thế nhưng giữa chừng trúng mai phục. Quan vận lương đầu hàng, duy chỉ có Lê Minh Đức liều mạng phá vây đến Ải Thị báo tin. Trước trận, Lê Minh Đức chỏ tay mắng tướng sĩ quân Tề vô sỉ, quan vận lương bất trung, nên lúc Ải Thị bị phá mới bị chém đứt hai ngón tay.”

Y ngừng một chốc, chặc lưỡi, đoạn kể tiếp:

“Về sau Ải Thị cũng bị đánh hạ, toàn quân tướng sĩ chết trận, chỉ có một mình Lê Minh Đức vì có thù với quan vận lương nên bị giam trong cũi làm tên hề cho kẻ khác nhục mạ. Mãi đến lúc Hữu Dực quân sa lầy ở Ngọc Lân, binh mã Đại Việt không ngừng chặn đánh, Lê Minh Đức mới có thể thừa cơ thoát thân.

“Sau trận chiến đó lão nhân vết thương cũ cởi giáp, bắt đầu buôn bán làm ăn ở Bạch Đế. Người ta vì trận chiến Ải Thị năm xưa mà gọi lão là lão Bát Chỉ Anh Hùng.”

Nguyễn Đông Thanh nghe xong, mới hỏi:

“Cố lão thấy chuyện này thế nào?”

“Tử chiến Ải Thị, hai lần thoát chết, nếu đưa cho cánh thuyết thư tiên sinh thì quả thật là một giai thoại li kì, dễ làm dân chúng thích thú. Song nếu nhìn một cách lý tính thì quá vô lý.”

Cố Văn ngẫm một chốc, đoạn cười, đáp.

Bích Mặc tiên sinh của chúng ta thuộc loại văn dốt võ nát, thứ gần nhất với phá án hắn từng tiếp xúc trừ Bao Công, Cảnh Sát Hình Sự thì cũng chỉ còn Thám Tử Conan mà thôi. Nhưng được cái gã biết mình biết người, nên lúc này mang thái độ thỉnh giáo rất mực chân thành.

“Xin Cố tiên sinh chỉ giáo.”

“Không dám. Trong chuyện này có ba điểm đáng ngờ. Thứ nhất nếu quan vận lương thật sự hàng Tề thì vì cớ gì không để lính Tề giả làm lương đội, đoạn phá thành từ bên trong? Hữu Dực quân là một trong bốn quân đoàn lớn nhất Đại Tề, chắc chắn không thiếu mưu sĩ.”

“Thế nhưng nếu Lê Minh Đức đến Ải Thị trước thì sao?”

Nguyễn Đông Thanh chợt lên tiếng hỏi.

Cố Văn cười, lắc đầu:

“Chuyện ấy không quan trọng. Lời một vận lương quan trong quân chắc chắn đáng tin cậy hơn một kẻ binh sĩ tiểu tốt, lại có vật làm tin, một tên lính quèn cho dù đến trước cả tháng thì cũng có ích gì? Chuyện vận lương quan không cáo ngược Lê Minh Đức là phản đồ, nội gian mới càng kỳ quái hơn...

“Điểm thứ hai, quân thủ thành chẳng nhẽ cứ thế mà tin một kẻ vô danh chẳng biết từ đâu đến, đã vậy còn để y đến trước trận mắng chửi tướng địch cứ như thống lĩnh một quân? Cuối cùng, một binh sĩ về vườn thì lấy tiền đâu ra để mà làm ăn buôn bán đến nỗi tiền muôn bạc vạn như hiện giờ?

“Thế nên, tại hạ nghi ngờ cái gọi là tử chiến Ải Thị, anh hùng thoát chết đều là giả. Chân tướng chuyện này ắt có liên quan mật thiết đến động cơ ám sát của hai tên thích khách. Sở dĩ Lê Minh Đức nóng lòng đến giục tiên sinh kết thúc vụ án chẳng qua là vì chột dạ, muốn giết người diệt khẩu.”

Nghe Cố Văn nói đến đây, Nguyễn Đông Thanh mới không nén nổi “à” một tiếng, khiến ông đồ già kém chút thì ngã khỏi ghế.

Diễn xuất của tiên sinh thật lợi hại.

Bích Mặc tiên sinh của chúng ta có lẽ cũng biết hành động vừa rồi của mình rất khó đỡ, mới ho khan một tiếng, nói:

“Lời của Cố tiên sinh thật như rẽ mây thấy ánh mặt trời. Thế nhưng một lão binh dựa vào đâu mà hành xử xấc xược khinh mạn như vậy?”

“Có thể y sớm đã cấu kết cùng Chưởng Ấn quan ngày xưa nên ngựa quen đường cũ, cũng có thể là muốn nhân lúc đại nhân vừa nhậm chức, căn cơ chưa ổn định ra oai phủ đầu. Thế nhưng, bất kể là trường hợp nào thì cũng chứng minh hiện tại Lê Minh Đức đang chột dạ, nên mới hành động l* m*ng như thế.”

Cố Văn nói.

Nguyễn Đông Thanh gật đầu, đoạn hỏi:

“Đúng rồi. Hai người thích khách kia tên gì, hiện đang bị giam ở đâu? Xin phiền Cố lão chỉ đường một phen không biết có thất lễ không?”

“Nào dám, nào dám? Cố mỗ hiện tại xem như gia thần của tiên sinh, những chuyện ấy đều là chức trách của tại hạ. Mời tiên sinh đi bên này...”

Cố Văn vừa làm thủ thế mời, lại vừa nói:

“Cứ như trong sổ sách của Chưởng Ấn phủ thì hai thích khách nọ vốn là người ở tận Thụy Quy gần đây mới vào thành, xuất thân bình dân. Một tên là Vương Long, một gọi là Mã Hổ, có mấy phần sức mạnh, thân thủ tu vi đều hơn tán tu bình thường một chút. Đáng tiếc là đầu óc không dùng được, không tự lượng sức xông vào Lê gia trang...”

Y nói liến thoắng một tràng, nào có biết đâu quá nửa những gì vừa nói Bích Mặc tiên sinh của chúng ta đã không nghe vào tai nữa.

Gã trợn mắt, miệng há ra, chỉ cảm thấy lại có hai cái gậy bản quyền mon men tiến tới từ đằng sau, chỉ chực táng cho hắn mấy cái vào đầu. Nguyễn Đông Thanh nuốt nước bọt, lẩm bẩm chửi thầm:

“Mẹ nó, có một ‘Ngự Miêu’ thì cũng thôi đi, giờ lại lòi ra Vương Long Mã Hổ? Nếu ngày mai mà Trương Triều Triệu Hán tìm đến đừng trách sao thằng Thanh này làm liều, mở phủ Khai Phong ở thành Bạch Đế...”

Vốn là gã mắng nhỏ mấy câu cho mình nghe mà thôi, nhưng Nguyễn Đông Thanh nào có biết đâu, hiện tại “Cố Văn” đi bên cạnh chính đang vểnh tai lên, nghe không sót một chữ nào.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 355: Lý Quỷ Gặp Lý Quỳ


Cố Văn dẫn Nguyễn Đông Thanh đi nhà lao được nửa chừng thì Hồng Đô xuất hiện.

Có câu “thuật nghiệp hữu chuyên công”, khi Ngự Miêu Hồng hộ vệ xuất hiện, thầy đồ Cố cũng rất hợp tác bàn giao lại ông tân nhiệm Chưởng Ấn quan cho cô mèo máy. Sau đó, Cố Văn nói còn nhiều sổ sách cần kiểm tra, xin lui về thư phòng trước. Nguyễn Đông Thanh thấy dáng vẻ ông đồ lúc rời đi cứ là lạ, song gã lại gạt đi, cho là mình thần hồn nát thần tính mà thôi.

Hồng Đô và Nguyễn Đông Thanh rời khỏi phủ Chưởng Ấn, theo đường cái đi về phía thành bắc.

Thành Bạch Đế ngoại trừ Ải Thị và núi Tuyên là hai nơi đặc biệt, cũng lần lượt là nơi đặt phủ Chưởng Bút và Chưởng Kiếm ra thì đại khái phân thành năm khu. Thành Nội là đầu não hành chính, đặt phủ thành chủ, phủ Chưởng Ấn, cùng với phủ đệ của quan lại. Ngăn cách Thành Nội với phần còn lại của Bạch Đế là tiểu Ôn Hà.

Men theo tiểu Ôn Hà, tạo thành một hình bát giác là tám con đường sầm uất phồn hoa bậc nhất châu Ngọc Lân, lấy theo tám quẻ bát quái – Càn, Đoài, Li, Chấn, Cấn, Khảm, Tốn, Khôn. Nghe đồn nơi này khi xưa dùng làm doanh trại của thành vệ quân, về sau cha nuôi của Hồ Ma Huyền Nguyệt nắm quyền, hạ lệnh chỉ thu thuế đất, không đánh thuế hàng, từ đó hấp dẫn thương nhân thiên hạ đổ về mua nhà thuê đất. Tiền tài từ tám con đường này khiến thành Bạch Đế trở nên giàu sang phú quý, có thể nói phú khả địch quốc. Thế nhưng tên có từ “Quái” nghe hơi chói tai, các thương nhân mới họp nhau lại, nhờ cậy thành chủ đổi tên khu này thành Bát Bảo Lộ.

Bên ngoài Bát Bảo Lộ, dân chúng trong thành phân làm bốn khu, có chợ riêng, nối nhau bằng tiểu Ôn Hà. Thành bắc là chỗ hàng cơm quán nước, dịch trạm chuồng ngựa, cũng là nơi thành vệ quân hay lui tới. Nhà tù lớn nhất Bạch Đế cũng đặt ở đây. Thành tây là chỗ dân làm thủ công ngụ cư, bán những hàng vải vóc cày bừa, vòng vèo chén bát. Khu thành đông là nơi tập trung của thợ cày, học sinh, thầy đồ. Thư viện lớn nhất thành cũng đặt ở đó.

Cuối cùng là chỗ thành nam...

Thương nhân đổ về, vung tiền cho con cháu đi học, chẳng mấy đã thành sĩ tộc mới. Những người này chủ yếu tập trung ở thành nam, thành thử nơi đây cũng hấp dẫn nhiều chỗ ăn chơi cho cánh con em thế gia. Sòng bạc kỹ viện, thanh lâu ca phường cứ thế thi nhau mọc lên như nấm. Đại bản doanh của Tham Lang bang và chỗ đặt võ đài ngầm cũng là ở đây.

Về sau lại có người nói thành chủ khuyến thương là muốn tạo ra một tầng lớp sĩ tộc mới, cân bằng lại với Đào thị. Thế nhưng đối với chuyện này người trong cuộc đều từ chối cho ý kiến, thành thử đến giờ nó vẫn chỉ dừng lại ở tin đồn.

Chừng thời gian ăn hết bữa cơm, Nguyễn Đông Thanh và Hồng Đô đã đến nhà lao.

Bích Mặc tiên sinh ngước mắt nhìn bức tường đá cao phải đến bốn năm tầng nhà trước mặt, thầm nghĩ mấy di tích nhà tù thời Pháp thuộc hắn từng đến thăm cũng chẳng tường cao hào sâu đến thế này. Về phần cơ quan trận pháp, trên tường hẳn nhiên là có, nhưng Nguyễn Đông Thanh người phàm mắt thịt há lại có thể nhìn ra chỗ ảo diệu? Thành thử, hắn rất quy củ đứng cách cửa lớn năm mét có dư, yên lặng chờ Hồng Đô vào thông báo.

Vốn Nguyễn Đông Thanh tưởng lấy thân phận Chưởng Ấn quan của mình, chẳng mấy chốc cô mèo máy sẽ trở ra, nhưng đợi có lẽ phải gần hai mươi phút, Hồng Đô mới dẫn một đoàn người lục tục đi tới. Ngoại trừ một kẻ eo đeo trường đao, mặc áo quản ngục ra thì còn có hai thiếu niên bị trói nghiến hai tay.

Lạ ở chỗ là kẻ mặc áo quan sai thì hiện giờ trên mặt chỗ sưng chỗ xước, nơi tím nơi đỏ. Hai tên bị trói tay tuy dáng vẻ chật vật không chịu nổi, nhưng trên người cũng không có vết thương nào, hơi thở đều đều, quả thật là một chuyện quái lạ.

Quản ngục không đợi Hồng Đô lên tiếng, giành trước một bước chạy đến, hô:

“Tì chức Dương Trí, không phân rõ thị phi, để kẻ khác mạo danh đại nhân đến nhà lao, kém chút tạo nên họa lớn. Xin đại nhân trách phạt.”

Nguyễn Đông Thanh nghe cái hiểu cái không, nhìn về phía Hồng Đô, hỏi:

“Rốt cuộc là có chuyện gì xảy ra?”

“Tiên sinh, hai người này lợi dụng chuyện ngài vừa tới nhậm chức, ngục tốt chưa biết mặt, nên giả làm chúng ta định tiến vào ngục. Ban nãy lúc tiểu nữ đến bị ngục tốt ngăn chặn, cũng đánh với Dương giám ngục một trận. Về sau may mà có cầm theo thánh chỉ của hoàng thượng, y mới chịu tin tưởng nhường đường. Chúng ta lại tróc nã hai tên giả mạo này, thế nên mới tốn một chút thời gian.”

Hồng Đô giải thích xong, nghiêm chỉnh đứng sang một bên.

Nguyễn Đông Thanh lại nhìn hai kẻ giả mạo, đưa tay vê cằm. Hai tên này bấy giờ cũng nghển cổ, quát:

“Có giỏi thì giết đi! Cùng lắm thì mười tám năm sau hai người chúng ta lại làm một hảo hán.”

Dương Trí nghiến răng, bàn tay nắm cán đao, quát:

“Tặc đồ to gan, trước mặt Chưởng Ấn đại nhân còn dám phách lối như thế? Chẳng nhẽ quả thực cho là ta không dám động thủ sao?”

Nguyễn Đông Thanh đại khái cũng hiểu được chuyện gì xảy ra. Bấy giờ trong lòng hắn chợt nghĩ đến hai người Vương Long, Mã Hổ hành thích Lê Minh Đức, mới nổi tính trẻ con, hỏi:

“Hai người các ngươi có phải Trương Triều, Triệu Hán không? Đến đây cứu Vương Long, Mã Hổ phải không?”

“Sao ngươi biết?”

Hai người Trương Triều, Triệu Hán giật mình, không nhịn được buột miệng kinh hô. Hồng Đô thì còn đỡ, dù sao nhìn nhiều thành quen. Thế nhưng Dương Trí và thuộc hạ của hắn thì cơ hồ đồng thời cảm thấy hãi hùng khiếp vía. Nhất là họ Dương.

Lần trước hắn phối hợp với Chưởng Ấn quan gài Đỗ Thải Hà vào tròng, hiện giờ sư phụ người ta tìm đến tận cửa, hơn nữa không tiếc thi triển bản lĩnh “nhìn thấu nhân quả trường hà” cho hắn xem. Đây rõ ràng chẳng phải hành vi vu vơ không có mục đích, mà là một chiêu giết gà dọa khỉ rõ mồn một.

Hắn đương nhiên sẽ không cho rằng Nguyễn Đông Thanh sớm đã tìm hiểu về hai người này từ trước. Trương Triều Triệu Hán nhìn từ đầu đến chân chẳng qua là hai kẻ bình dân dạt từ nơi khác về, không danh không lợi, không thiên phú cũng chẳng tài trí hơn người gì cho cam.

Thành thử, ngoại trừ chuyện Bích Mặc tiên sinh chỉ vừa mượn nhân quả “mạo danh” mới đây để tra tường tận về hai người này, Dương quản ngục không nghĩ ra được khả năng nào khác.

Lần trước hắn đã bị vạ lây, từ bộ đầu trở thành ngục tốt chỉ vì cấu kết với Chưởng Ấn quan mưu đồ với Đỗ Thải Hà. Lần này nếu như Nguyễn Đông Thanh muốn làm căng thì họ Dương chẳng dám tưởng tượng kết cục của mình sẽ thảm đến mức nào.

Dương Trí chột dạ, tự nhiên là thần hồn nát thần tính.

Mà hiện tại, Bích Mặc tiên sinh “nhìn thấu nhân quả trường hà” của chúng ta đã chính thức cạn lời, đại não trống trơn.

Có đánh chết hắn hắn cũng chẳng tài nào ngờ được sẽ có hai kẻ đến cướp ngục, mà lại còn có tên là Trương Triều, Triệu Hán.

“Chẳng có nhẽ là dấu hiệu của vũ trụ? Ông trời cũng muốn mình phạm luật bản quyền mở phủ Khai Phong ở thành Bạch Đế?”

oOo

Sau chuyện xảy ra ở trước cửa ngục, Dương Trí đương nhiên không dám nói nửa chữ “không” trước yêu cầu của Bích Mặc tiên sinh.

Nguyễn Đông Thanh dẫn Hồng Đô và cả hai người Trương Triều, Triệu Hán vào nhà lao, tìm gặp Vương Long, Mã Hổ một phen.

Hai người Trương, Triệu bị mấy câu nói của Chưởng Ấn quan mới nhậm chức này dọa cho bể mật tan gan, lại thêm tu vi của Hồng Đô vượt xa hai người, nào còn dám lắm lời? Lúc này cả hai cúi đầu xuống, gương mặt bình thản tựa hồ đã coi chết như về, thỉnh thoảng lại dùng ánh mắt trao đổi lẫn nhau.

Thà chết không bội nghĩa.

Bốn người được Dương Trí dẫn đến một nhà giam, bên trong có hai người mặc áo rách nằm sụp trong góc. Nguyễn Đông Thanh trông dáng vẻ gầy trơ xương, trên người toàn là vết thương còn đang trào máu, nhiều chỗ đã sưng tấy mưng mủ thì mặt lạnh xuống.

Hắn vẫn biết Đại Việt là xã hội phong kiến, kẻ lạm dụng tư hình đông như cá diếc sang sông, đến người dân bình thường còn chẳng tránh nổi nữa là kẻ thân trong ngục.

Đương nhiên, ngục tốt cũng là người, không phải kẻ nào cũng thích tra tấn hành hạ người khác.

Nhưng, đánh đập phạm nhân càng tàn ác, thì dân chúng lại càng nghe mà kinh sợ. Phàm là có người nhà bị bắt vào ngục giam hầu hết đều bán nhà bán cửa, táng gia bại sản cũng phải lo lót cho đám ngục tốt để người thân khỏi phải đòn roi. Cái chuyện có lợi cho hầu bao của bản thân, có lẽ cho dù là kẻ lòng mềm như bún cũng sẽ động tâm.

Thế nhưng biết vậy, nhìn cảnh này, hắn vẫn lấy làm nổi nóng.

“Hồng Đô. Cách chức toàn bộ ngục tốt. Quan giám ngục phạt ba tháng bổng lộc. Thành chủ trách tội thì trả ấn cho thị.”

“Đại nhân? Vì sao lại?”

Dương Trí há lại không nghe ra được cái vị đại nhân kia đã nổi giận? Thế nhưng hắn nghĩ mãi vẫn không rõ rốt cuộc mình và thuộc hạ đã làm gì chọc giận y, để đến nỗi Nguyễn Đông Thanh không tiếc lấy chức quan Chưởng Ấn ra đe dọa.

“Thưởng phạt dùng hình ra sao là chuyện của bản quan. Đám ngục tốt các ngươi tự tiện động thủ, đấy là tiếm quyền. Chưa cho người điều tra các ngươi nuốt bao nhiêu tiền tài bất nghĩa từ dân chúng đã là nể mặt thành chủ, đừng có mà được nước làm già.”

Nguyễn Đông Thanh lườm gã một cái, gằn:

“Còn chưa cút?”

Dương Trí cả kinh, vội vội vàng vàng bỏ chạy ra ngoài, định bụng cướp trước một bước tìm đến chỗ Hồ Ma Huyền Nguyệt nói lại chuyện hôm nay.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 356: Nước Đục


Hồng Đô theo bảo vệ hắn đã lâu, quen việc thạo nghề. Chẳng đợi gã lên tiếng nhờ cậy, cô mèo máy đã dùng lệnh bài truyền âm gọi Dư Tự Lực đến nhà lao.

Dư Tự Lực tuy chỉ có chút y thuật mèo ba cẳng, nhưng nắm vững căn bản, lại thêm thể chất đặc thù, không tiếc lấy thân thử thuốc. Lần này lên đường, Hồng Đô ngoại trừ lấy “chiêu bài” của cổ viện là vi khuẩn, vi sinh vật ra còn dấm dúi đưa cho cậu chàng một vài sách vở liên quan đến y thuật được Hồng Vân đưa cho, khiến Dư Tự Lực gần đây cơ hồ trở thành một kẻ nửa trong suốt, không mấy khi ra khỏi cửa.

Đương nhiên, La Mã không phải xây trong một buổi, y thuật của Dư Tự Lực sẽ không vì một vài quyển sách mà tăng như ngồi tên lửa trong thời gian ngắn. Thế nhưng cổ viện không thiếu thuốc lạ, đám học trò của Nguyễn Đông Thanh lần nào ra làm việc mà không có một đống để giữ mạng? Trước khi Lý Thanh Vân lấy được Lăng Xương kiếm trong bí cảnh, cậu chàng cũng dựa vào đống thuốc thang này.

Vừa vào đến nhà lao, trông cái ông Bích Mặc tiên sinh bình thường nói dễ nghe là tâm bình khí hòa, khó nghe là lười chảy thây nhà mình mặt hằm hằm, mày nhăn hí, mắt rực lửa mà cậu chàng giật mình một cái.

Dư Tự Lực hãy còn nhớ lúc Nguyễn Đông Thanh bị cường giả Phật Môn ám sát trong buổi luận đạo, gương mặt gã cũng không âm trầm như lúc này.

Thế là, họ Dư rất biết điều, im lặng không nói tiếng nào đi thực hiện đúng chức trách của mình. Cậu chàng tiến vào nhà lao, lấy ra một số chai lọ và vải sạch sát trùng vết thương. Chỉ trong thoáng chốc, mùi cồn đã lãng đãng bay khắp phòng. Cứ như Dư Tự Lực đọc được trong sách, thì cái này gọi là sát trùng.

Nguyễn Đông Thanh thấy Dư Tự Lực đã bắt đầu điều trị vết thương trên người phạm nhân mà thở dài, lắc đầu.

Hắn biết mình lần này hành xử rất cảm tính, rất xốc nổi. Cái loại hành vi chống lại quy luật của xã hội, thường thức của thế gian này thực chẳng khôn ngoan một tẹo nào. Có nói là dã tràng se cát, châu chấu đá xe cũng không quá.

Thậm chí có lẽ so với mấy cậu choai choai trong tiểu thuyết hở chút là giết người diệt tộc ra thì cũng chỉ khá hơn chút đỉnh.

Bích Mặc tiên sinh hít sâu một hơi, nói:

“Hồng Đô, truyền âm về cổ viện, nhờ Vũ tổng binh đưa mấy quyển sách liên quan đến khám nghiệm ra đây.”

“Tiên sinh, ở đây ai mà không biết tính ngài? Sách thì tiểu nữ sớm đã đem đến rồi.”

Hồng Đô vẫn còn nhớ y nguyên việc Hồng Vân không muốn lộ danh tiếng, nơi này lại tai vách mạch rừng, thành thử chuyện chuẩn bị sách vở cho Dư Tự Lực cô nàng cũng vơ đại vào mình. Hơn nữa, không giống Nguyễn Đông Thanh, cô mèo máy cũng chẳng thèm lăn tăn cái chuyện Lý Thông cướp công Thạch Sanh này.

Nguyễn Đông Thanh lần này hành xử trái tính trái nết, cũng không hỏi cặn kẽ. Gã gật đầu một cái, nói Hồng Đô sắp xếp cho Trương Triều, Triệu Hán ở cùng một phòng giam với Vương Long, Mã Hổ. Bình thường Huyền Hoàng giới có lệ không giam kẻ quen thân cùng một chỗ, đề phòng phạm nhân ủ mưu vượt ngục.

Lần này Nguyễn Đông Thanh làm trái hẳn lẽ thường, khiến Trương Triều Triệu Hán đều cảm thấy kẻ này hoặc là hào phóng quá đáng, hoặc là hoàn toàn không xem hai người bọn họ ra gì. Lại thêm chuyện ở cửa ngục bị Nguyễn Đông Thanh đọc vanh vách họ tên mục đích, hai người Trương Triệu cảm thấy khả năng sau khả dĩ hơn.

“Nhà ngươi không cần phải giả mèo khóc chuột.”

“Không sai. Ta dùng dương mưu. Các người có muốn vượt ngục thì cũng phải chờ thương thế của Vương Long, Mã Hổ bình phục, đúng không? Mà ta chỉ cần chờ hai người kia tỉnh lại, hỏi rõ ràng một phen là được.”

Gã vừa nói, lại phủi tay áo, bỏ đi.

oOo

Hồ Ma Huyền Nguyệt và Chưởng Bút Hoắc Kim Trọng, Chưởng Kiếm Hoàng Thanh Nhàn nghe Dương Trí báo tin mà cả người chấn động rần rần.

Ngục ở thành bắc vốn là dùng trong thời chiến, kiên cố lại phức tạp. Bình thường cũng phải có đến bảy tám mươi ngục tốt thay phiên canh giữ. Nguyễn Đông Thanh vừa nhậm chức chưa đến nửa ngày đã vung đao chém hàng loạt, tống toàn bộ “củi” vào lò, không thể nghi ngờ là đang thách thức trắng trợn quyền uy của thành chủ.

Thế nhưng, người sợ lại không phải gã.

Hồ Ma Huyền Nguyệt cũng biết chuyện hai người Hoắc, Hoàng muốn mượn cớ giết người, lại phối hợp với Dược Thánh đầu độc Nguyễn Đông Thanh. Chỉ là y thị không ngờ Bích Mặc tiên sinh lần này động thủ nhanh đến thế, vừa đến Bạch Đế đã giở ngón đòn thù.

Hoắc Kim Trọng và Hoàng Thanh Nhàn lại càng không cần phải nói. Giờ này hai người sâu sắc hiểu rõ cảm giác của con ruồi trong trận húc nhau của trâu bò.

Dương Trí nuốt nước bọt, đầu cúi thấp.

Gã đương nhiên không hi vọng Hồ Ma Huyền Nguyệt dám công nhiên đối đầu với kẻ vừa đánh Phật đạo biến dạng.

Nhưng, Dương Trí hi vọng thành chủ và hai vị chưởng quan có thể mở một mắt lưới, biến cách chức thành “thuyên chuyển công tác”.

Hồ Ma Huyền Nguyệt im lặng hồi lâu, đoạn phất tay ra hiệu cho họ Dương về nhà chờ lệnh. Đợi gã đi khuất, y thị mới lên tiếng:

“Chuyện ngày hôm nay hai vị cảm thấy thế nào?”

“Kẻ này mưu tính sâu vô cùng, hai chúng ta thẹn không thể phân ưu với thành chủ.”

Hoắc Kim Trọng, Hoàng Thanh Nhàn nhìn nhau, cuối cùng đều thống nhất đưa ra cùng một đáp án. Đại khái là muốn nói cho Hồ Ma Huyền Nguyệt biết rằng ông Phật kia ngài rước về, bọn ta bó tay không đỡ nổi. Nhất là từ sau khi chứng kiến dáng vẻ quỷ dị dưới Thanh Trúc Tự của gã, hai người xuất phát từ tiêu chí “ăn chắc mặc bền” quyết định co đầu rụt cổ.

Chừng nào hắn còn làm Chưởng Ấn quan thì chừng đó hai người còn quyết tâm sủi đến cùng.

Hồ Ma Huyền Nguyệt trợn mắt...

Đế Mộ đánh Đông Thanh, kẻ chảy máu lại là y thị. Chẳng những giao ra chức Chưởng Ấn quan, giờ còn rước một ông thần khó tính khó chiều về hầu hạ.

Không cần liên lạc Lý Huyền Cơ Hồ Ma Huyền Nguyệt cũng có thể đoán được ở trong triều đám người thái sư chắc hẳn đang cười muốn rụng răng.

Mà hành vi của Bích Mặc tiên sinh lại càng khiến y thị cảm thấy khó hiểu.

Về công mà nói, Lý Huyền Cơ dẫn đầu, Hồ Ma Huyền Nguyệt theo sau đều là phe chủ chiến. Đế Mộ không cho phép đại chiến diệt quốc xảy ra, cũng là thế lực lớn nhất đối đầu với cổ viện. Bích Mặc tiên sinh đáng nhẽ phải hành xử theo kiểu “kẻ thù của kẻ thù là đồng minh”, thân cận phe chủ chiến như thị mới đúng.

Thế nhưng về tư...

Lý Huyền Cơ ủng hộ Lý Thanh Minh, mà đại đồ đệ của Nguyễn Đông Thanh có mối quan hệ ra sao với thằng anh cùng cha khác mẹ thì không cần phải nói nữa. Bích Mặc tiên sinh dám “vì đệ tử” mà “đánh Phật đạo biến dạng”, nói không chừng sẽ vì chút khúc mắc này mà đắc tội cả hai phe.

Đương nhiên, cái gọi là hai mặt thụ địch trên thực tế là chuyện không thể nào xảy ra. Thế lực của Đế Mộ và phe chủ chiến có chênh lệch quá lớn, mệnh lệnh ban ra, phe chủ chiến có méo mặt cũng phải giả vờ vẫy đuôi mừng chủ, ngoan còn hơn chó lão Hạc. Phía đông có hùng binh trăm vạn, phía tây loe ngoe mấy trăm bộ tốt thì sao có thể gọi là “hai bên” đều đắc tội được?

Nói một cách dễ hiểu...

Phe chủ chiến cần tranh thủ sự ủng hộ của Nguyễn Đông Thanh để đối kháng Đế Mộ, trong khi bọn họ đối với Bích Mặc tiên sinh mà nói thì có cũng được mà không cũng chẳng sao. Thành thử, xuất phát từ tâm lý muốn leo lên con thuyền Lão Thụ cổ viện, Hồ Ma Huyền Nguyệt có thể nói là nhìn chằm chằm nhất cử nhất động của Nguyễn Đông Thanh, thề phải phân tích kỹ càng động cơ mục đích của vị tiên sinh này mới ăn ngon ngủ yên.

Mà cách hành xử của Bích Mặc tiên sinh lại theo lối ỡm ờ nước đôi, trước thì nhận lời ra làm quan ở Bạch Đế, sau lại vận dụng quyền hành cách chức toàn bộ ngục tốt canh lao. Phải biết, ở Huyền Hoàng giới vì Nhân Tông có hơi thần hồn nát thần tính nên địa vị tuy thấp, nhưng lương bổng của ngục tốt rất cao.

Thời Nhân Tông là giai đoạn thịnh thế bậc nhất trong sử sách Đại Việt, thế nên có rất nhiều quy định từ thời của y đến nay vẫn được giữ lại y sì, không sửa đổi chút nào. Địa vị và đãi ngộ của ngục tốt cũng là một trong số đó. Hễ có hoàng đế định sửa đổi, chắc chắn trong triều sẽ không thiếu người dâng sớ khuyên can phải giữ lại thành tựu của Nhân Tông, giữ lại lợi ích cho gia tộc mình.

Ngục tốt chức quan thì nhàn tản, nhưng lợi lớn, lại thuận tiện chuyện nghe ngóng tình báo từ miệng phạm nhân nên từ đời Nhân Tông đến giờ, các thế gia vọng tộc đều tranh nhau đưa con em chi phụ, con thứ trong nhà vào ngục. Thành Bạch Đế khuyến thương tạo ra sĩ tộc mới đối kháng Đào thị, chức ngục tốt cũng do không thiếu con cháu của những thế gia này nắm giữ. Cũng vì thế mà Tham Lang bang mới có thể trắng trợn làm việc, không sợ vào ngục, bởi có bị giam thì cũng có người của mình chiếu cố. Hồ Ma Huyền Nguyệt biết cũng mắt nhắm mắt mở không truy cứu.

Thế nhưng hành động hôm nay của Nguyễn Đông Thanh cơ hồ là lôi các sĩ tộc mới này ra đánh tơi bời hoa lá. Cân bằng quyền lực trong thành Bạch Đế cũng vì một hành động của hắn lung lay muốn đổ.

Hồ Ma Huyền Nguyệt dám chắc ngày mai sẽ có vô số người đạp nát cửa phủ thành chủ, đến hỏi thăm chuyện hôm nay.

Cũng sẽ ép y thị lựa chọn.

Vật tụ theo bầy, quân tử không đáng sợ, vì xưa nay thế cô lực bạc.

Kẻ vì danh lợi lại càng không đáng sợ. Có thể trước khi thượng vị vì danh tiếng, bọn hắn sẽ treo nhân nghĩa dân chúng trên miệng. Thế nhưng một khi ngồi lên chỗ cao, kỳ thực cũng sẽ lộ ra nanh vuốt, không khác gì, thậm chí còn tàn nhẫn hơn những kẻ bọn hắn từng phê phán.

Thế nhưng, một kẻ chính nghĩa đến độ có chút khờ khạo, quyền thế địa vị lại không làm gì được hắn thường thường mới là kẻ đánh sập cách cuộc thâm căn cố đế nhiều đời.

Ít nhất, Hồ Ma Huyền Nguyệt cho rằng đấy là vai mà Nguyễn Đông Thanh đang muốn diễn.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 357: Thế Gia


Hồ Ma Huyền Nguyệt tối đó cho binh mã đến trấn giữ phủ thành chủ, mở toang cửa chính, lại dặn bộ hạ nếu các vị gia chủ ở thành nam phái người đến gặp thì cứ dẫn thẳng đến thư phòng của y thị. Binh sĩ dưới trướng tin tức không quá linh thông, hành động “vĩ đại” của Bích Mặc tiên sinh tạm thời vẫn chỉ hạn chế trong số ngục tốt và cao tầng của phủ thành chủ. Thành thử, đối với hành động quái dị của Hồ Ma thành chủ, đám người đều ôm một bụng hoài nghi chẳng hiểu y thị lại tính làm chuyện gì.

Song quân lệnh như núi. Tướng sĩ tuy trong đầu toàn là dấu “?”, nhưng vẫn y theo hiệu lệnh của Hồ Ma Huyền Nguyệt mà hành sự.

Mà cũng chẳng cần đợi lâu, hai người Hoắc, Hoàng vừa mới rời khỏi, ghế ngồi còn chưa lạnh, bên ngoài đã có mười mấy gần hai mươi kẻ mình đầy vòng vàng nhẫn ngọc, áo trong áo ngoài bằng lụa tốt gấm quý chen nhau mà đến.

Những người này xuất thân thương lái, theo kiểu nói dân dã thì là loại giàu xổi, còn chưa hưởng phú quý được mấy đời, bản tính khoa trương còn hiện rõ. Thành thử lần này đến phủ thành chủ, kẻ nào kẻ nấy cả người đều sáng loáng ánh vàng ánh bạc, cứ như thể đang lấy tiền tài ra tạo áp lực cho Hồ Ma Huyền Nguyệt.

Cũng không rõ y thị nói với đám gia chủ những gì, chỉ biết là sau đó không lâu, cả đám đều hớt hải chạy khỏi phủ thành chủ, khiến mấy tên lính gác cửa đều cảm thấy chưa nghênh đón đã phải tiễn khách. Lúc đến chư vị gia chủ chân bước phăm phăm, mặt giận phừng phừng bao nhiêu thì lúc về vắt giò lên cổ, mặt vàng như nến bấy nhiêu.

Hôm đó, thành Bạch Đế gà bay chó sủa.

oOo

Qua miệng Cố Văn, Bích Mặc tiên sinh của chúng ta cuối cùng cũng ý thức được hành động vĩ đại hôm qua của mình có ảnh hưởng khủng khiếp đến mức nào. Vốn là Nguyễn Đông Thanh ngồi trong phủ vững như bàn thạch, chỉ chờ thành chủ đến vấn tội, hoặc là thế gia sĩ tộc đến chỉ trích hắn. Thế nhưng Bích Mặc tiên sinh chờ đến ruồi bay vo ve, người sắp mọc mốc mà cũng chẳng ma nào thèm tới, càng khiến gã thấy quái lạ.

Thấy chuyện này có vẻ quái lạ, Nguyễn Đông Thanh bèn gọi Hồng Đô và Lã Vọng Thiên cùng lên phố đi dạo, nghe ngóng xem sao. Dù sao tình huống hiện tại có điểm là lạ, bị động chờ người đến cửa cũng không phải cách.

Ba người đi trên đường, lại phát hiện hôm nay trị an của thành Bạch Đế tốt đến lạ thường, đến dân chúng cũng cảm thấy là lạ không quen. Nguyễn Đông Thanh thử hỏi mấy người không được, đành phải nhờ Lã Vọng Thiên đi điều tra. Có vẻ cho dù là ở địa cầu hay Huyền Hoàng giới thì đẹp trai cũng là một lợi thế. Lã thiếu lâu chủ đi chưa bao lâu đã quay về, khiến Nguyễn Đông Thanh sâu sắc cảm thấy hoài nghi nhân sinh.

Lã Vọng Thiên nói sở dĩ hôm nay trong thành Bạch Đế bình an lạ thường là vì đám bang chúng Tham Lang bang bình thường ngông cuồng hống hách hôm nay đều biến mất, cứ như là bốc hơi khỏi cõi đời. Một số hạng giá áo túi cơm, con nhà sĩ tộc cũng không thấy ra đường khi nam bá nữ.

Mấy người này đột nhiên đổi tính, mới khiến thành Bạch Đế trở nên trời quang mây tạnh.

Ba người đi trên đường chưa được bao lâu, thì từ một trà lâu gần đấy đã có một người trung niên hớt hải chạy ra ngoài. Y nhìn ba người Nguyễn Đông Thanh một lượt từ đầu đến chân, đoạn nói:

“Thảo dân Cổ Trạch Thâm, tham kiến đại nhân.”

“Ra là Cổ lão bản. Không biết vì sao lão bản lại nhận ra được thân phận của tại hạ?”

Nguyễn Đông Thanh tự thấy bình thường tính cách bản thân có phần tuềng toàng luộm thuộm, không chú ý đến ăn mặc cho lắm. Hơn nữa, hắn lại quán triệt tinh thần tách bạch công việc và đời tư. Cũng giống như việc nếu phải đi làm thì hắn có thể dậy sớm, nhưng không có việc gì thì Nguyễn Đông Thanh sẽ ngủ trương xác đến trưa vậy. Nếu là vì công việc, hắn có thể ăn diện. Thế nhưng nếu là ngày thường thì gã chỉ chọn bừa một bộ quần áo vải mà thôi.

Thành thử...

Bích Mặc tiên sinh của chúng ta mới không hiểu nổi vì sao có người nhìn dáng vẻ hiện giờ của gã lại có thể liên hệ đến vị Chưởng Ấn quan quyền thế ngập trời vừa nhậm chức cho được.

Cổ Trạch Thâm cười, xoa tay vào nhau:

“Đương nhiên là vì đại nhân trên người có quý khí, cho dù là áo vải giày rơm...”

“Nói tiếng người.”

Hồng Đô không muốn lãng phí thì giờ nghe gã nịnh bợ, bèn sẵng giọng hừ lạnh một tiếng. Cổ Trạch Thâm cũng không phải hạng túi cơm giá áo, bị cô nàng lớn tiếng nạt nộ vẫn có thể bình thản như không, trái lại còn cười:

“Đã nghe danh Ngự Miêu Hồng hộ vệ đã lâu, quả nhiên là phong thái còn hơn cả lời đồn của thiên hạ.”

Y ngừng một chốc, đoạn ra vẻ thành khẩn:

“Chủ ta đã cho người vẽ lại dáng vẻ của đại nhân, báo đám kẻ dưới bọn ta nếu như gặp ngài trên đường thì nhất thiết phải mời vào, đãi làm thượng khách. Sau đó báo cho chủ ta tự mình đến bái kiến.”

Nguyễn Đông Thanh hỏi:

“Chủ ngươi là ai?”

“Một lát đại nhân tự nhiên sẽ biết.”

“Còn phải chờ bao lâu?”

“Tại hạ đã cho người dùng ngọc truyền âm thông báo, chắc hẳn đã trên đường đến rồi.”

Hai người trao đổi mấy câu, Cổ Trạch Thâm lại đích thân mời Nguyễn Đông Thanh vào quán, trà nước điểm tâm đều là những thứ thượng hạng. Cũng may Bích Mặc tiên sinh hiện giờ đã không giống với một năm trước, mồm của hắn sớm đã bị Trương Mặc Sênh chiều hư. Bằng không chỉ sợ hôm nay sẽ làm ra chuyện mất mặt.

Qua một tuần trà, từ bên ngoài có một phụ nhân mặc áo vàng đi tới, nhẹ nhàng cúi đầu:

“Thôn phụ Cổ Trạch Dao bái kiến đại nhân.”

“Phu nhân khách khí. Không biết hôm nay ngài cho người chờ tại hạ ở đây là có chuyện gì?”

Nguyễn Đông Thanh tự biết hắn làm người có phần bộc trực, luận chuyện chính trị chính em, nói lời khách sáo, người lừa ta gạt không tài nào sánh được với những thế gia sĩ tộc này. Thành thử, gã bèn chơi xỏ lá, lợi dụng chức cao vòng qua màn hư tình giả ý của Cổ Trạch Dao, trực tiếp đi vào vấn đề.

Cổ Trạch Dao nói:

“Đại nhân làm người thẳng thắn, dân phụ sâu sắc kính nể. Hôm nay cầu kiến đại nhân chỉ hi vọng là sau này ngài giơ cao đánh khẽ, tránh những chuyện như hôm qua, để các nhà tu chí làm ăn.”

Đoạn cúi thấp đầu.

Nguyễn Đông Thanh gõ bàn, hỏi:

“Cổ phu nhân hôm nay đại diện thế gia đến để uy h**p, hay là khiển trách tại hạ?”

Chuyện ngày hôm nay khiến gã cảm thấy rất khó hiểu. Hành động bãi chức toàn bộ ngục tốt của gã chẳng khác nào giơ tay tát lên mặt các thế gia đại tộc, quyền thế ngập trời trong thành. Ấy vậy mà hom nay bọn họ lại cử người đến giảng hòa.

Chẳng có nhẽ ở Huyền Hoàng giới này thế gia đại tộc không giống ở địa cầu, người nào cũng dễ nói chuyện như vậy?

Nguyễn Đông Thanh cũng không phải con cháu nhà giàu có, thành thử chẳng có cơ hội được tiếp xúc với giới thượng lưu. Song gã lại khoái cổ văn, thường ngày cũng có viết một hai chương truyện dã sử làm vui. Mà cái gọi là thế gia sĩ tộc ngày xưa, chính là độc quyền học vấn, người người làm quan, rễ cây bám víu vào nhau như đay rối. Nói bằng ngôn ngữ hiện đại thì gọi là lợi ích nhóm. Quyền thế ở địa phương cũng vị tất đã kém hơn kẻ có quyền có chức. Bằng không há lại có cái gọi là “phép vua thua lệ làng”?

“Không dám. Chuyện cách chức coi như là sự đã rồi, chỉ xin đại nhân đừng có đuổi tận giết tuyệt là được.”

Nếu họ Cổ biết suy nghĩ hiện tại của hắn, chắc chắn sẽ mặc xác cái gọi là phong phạm thế gia, vứt ngôn hành cử chỉ của phu nhân một tộc đi mà chửi ầm lên một tiếng.

Sĩ tộc của Huyền Hoàng giới tự nhiên là quyền thế ngập trời, hơn nữa rễ sâu gốc dày có lẽ còn hơn cả thế gia ở địa cầu. Dù sao ở đây, người trong tộc thọ hai ba trăm năm là chuyện bình thường, hơn nữa đến cái tuổi ấy, tu vi cao thâm, có thể nói là bệnh tật khó làm hại. Lại thêm những chuyện thông gia chính trị, nhận con cháu nuôi, hợp gia phân đất, Như thế càng tích lũy xuống, quyền lợi của thế gia sẽ càng lúc càng sâu dày.

Mà quả thực, thế gia ở thành Bạch Đế cũng rất có tiếng nói. Ngày thường Chưởng Ấn quan làm việc cũng phải nhìn mặt bọn họ ba phần, con cháu trong nhà phạm pháp cũng thường là chuyện to co làm bé, chuyện bé nhắm mắt cho qua.

Chuyện hôm qua các vị gia chủ kéo nhau đến phủ thành chủ đòi một câu trả lời ở chỗ Hồ Ma Huyền Nguyệt chính là minh chứng.

Thế nhưng...

Nguyễn Đông Thanh là ngoại lệ.

Hôm qua, Hồ Ma Huyền Nguyệt đã nói cho các vị gia chủ biết hắn chính là kẻ đánh biến dạng một trong Ngũ Lộ Triều Thiên, y thị tuy là thành chủ, nhưng cũng không quản nổi.

Các nhà trong đêm cho người tìm hiểu thông tin, đều đã tỏ tường cái chuyện luận đạo ở ngoài thành Quan Lâm, cũng biết Lê Dực cho người đưa thánh chỉ sắc phong đến tận Quan Lâm cho gã.

Thành thử, lần này thế gia mới lựa chọn chịu nhún nhường một phen.

Đêm qua thành Bạch Đế gà bay chó sủa, ngoại trừ vì thế gia sai người điều tra thực hư lời nói của Hồ Ma Huyền Nguyệt ra, còn là do phải nghe ngóng xem vị Bích Mặc tiên sinh kia làm người thế nào, có sở thích gì, nhờ đó mà chuẩn bị lễ vật.

Thế nhưng vừa mới điều tra, thế gia lại lần nữa đâm vào đường cụt.

Nguyễn Đông Thanh có khả năng cướp Phật đạo về, sau đó đánh nó biến dạng, cần tiền tài quyền lực thì đi tống tiền Ngũ Lộ Triều Thiên là được. Chút tiền lẻ của thế gia một thành như bọn họ trong mắt hắn có đáng là gì?

Muôn màu muôn vẻ, vì gia tộc tồn vong, kéo dài phú quý mà mưu tính, thậm chí chẳng câu nệ gì đến vinh nhục cá nhân.

Đấy là thế gia.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 358: Mượn Gia Phả Lật Lại Án Xưa


Đúng lúc này...

Nguyễn Đông Thanh chợt nói:

“Chuyện to co làm bé thì cũng đơn giản. Thế nhưng sắp tới tại hạ muốn làm một chuyện, còn phải nhờ các vị gia chủ đừng có ngáng đường.”

“Không dám. Không dám. Nguyện hết sức trợ giúp đại nhân.”

Cổ Trạch Dao chính đang sầu không biết phải dâng lên thứ gì mới có thể khiến Bích Mặc tiên sinh hồi tâm chuyển ý, thì lại nghe gã lên tiếng nói bỏ qua chuyện hôm qua. Y thị còn tưởng là mình nghe nhầm, phải đến lúc Cổ Trạch Thâm đứng bên cạnh khẽ đá chân vào cạnh ghế một cái nhắc nhở, y thị mới kịp thời đáp lại.

Tuy không rõ vì sao một kẻ có thể tiện tay đánh Phật đạo tõe ra làm hai lại không trực tiếp sai sử thế gia bọn họ làm việc cho gã, song hiện giờ Cổ Trạch Dao không dám nhiều chuyện. Có thể xuất phát điểm của bọn họ quá thấp, thế nên mới không nhìn ra nguyên nhân Bích Mặc tiên sinh cần phải hợp tác cùng bọn hắn.

Nguyễn Đông Thanh gật đầu, nói:

“Cố phu nhân khách khí rồi. Chẳng là tại hạ gần đây đọc lại sổ sách của Chưởng Ấn phủ, cảm thấy kẻ tiền nhiệm xử án có nhiều oan sai, nên muốn lật lại một vài án năm xưa. Có điều tiền căn hậu quả trong đó liên lụy đến chuyện từ nhiều năm trước, thế nên còn cần các vị cho mượn gia phả đọc một phen.”

Thời xưa, các gia tộc lớn thường ghi chép lại một số chuyện liên quan đến tiên tổ nhà mình, lấy đó làm vẻ vang với hương thân. Văn bia thần phả, gia phả ngọc phả, gọi chung lại là dã sử.

Nếu chính sử là thái độ của giới cầm quyền, của Nho gia sử quan, vậy thì dã sử nói lên thái độ của một bộ phận dân chúng đương thời. Nguyễn Đông Thanh còn nhớ tỉ như Đoàn Thượng, trong chính sử đương nhiên không được nói mấy lời tốt đẹp, nhưng ở quê hương lại nhiều chỗ lập đền thờ, đời đời hương khói.

Đương nhiên, đây cũng không phải nói chính sử thiếu công bằng, dã sử chắc chắn đúng. Chỉ đơn giản là một góc nhìn khác của cùng một sự kiện mà thôi.

Cuối cùng, lịch sử có những chỗ mãi mãi tối, có những chỗ tranh tối tranh sáng. Cứ như phóng sự năm nọ của VTV nói về “đúng sử” thì thật chẳng biết đâu mà lần, Nguyễn Đông Thanh nghe mà không rõ người viết có hiểu gì về sử hay không.

Thành thử...

Nguyễn Đông Thanh dự định thử xem trong ngọc phả của các gia tộc lớn ở Bạch Đế này liệu có ghi chép gì về chuyện của Lê Minh Đức hay không.

Sau đó...

Cổ Trạch Dao quay về nhà thông báo cho các gia chủ, Nguyễn Đông Thanh thì tiếp tục cùng hai người Hồng Đô, Lã Vọng Thiên dạo phố. Đi chưa được bao lâu, đã thấy trong một quán trà gần đấy xuất hiện một công tử áo trắng, tay nắm một cây quạt xếp, chính đang nước bọt phun năm thước.

Bích Mặc tiên sinh mới đầu còn không chú ý, nhưng vừa đi mấy bước đã nghe loáng thoáng nào là Bao Chửng, Công Tôn Sách, Triển Chiêu thì không khỏi giật mình. Đưa mắt nhìn kỹ, mới phát hiện té ra là người quen.

Công tử áo trắng kia ngoại trừ Lâm Cảnh Trung ra thì còn ai vào đây nữa?

Mới đầu Nguyễn Đông Thanh cũng không quá chú ý đến mấy cậu ấm cô chiêu mộ danh đến Quan Lâm này. Thế nhưng trước là chuyện tiếp đãi Thượng Quan Trường Không, sau là chuyện phối hợp chống dịch cũng khiến gã cảm thấy bọn họ làm người không tệ, cũng chú ý hơn đến những tiểu thư công tử này.

Ngoại trừ Hoàng Sở Sở, Lâm Cảnh Trung cũng coi như là một nửa thủ lĩnh của hội đệ tử ký danh.

Nguyễn Đông Thanh hắng giọng ho khan, bước vào trong quán trà.

Người ở dưới ban đầu cũng chỉ muốn kết giao với đại công tử của Binh Bộ Thượng Thư Lâm Doãn Hành, về sau nghe Lâm Cảnh Trung kể chuyện Bao Thanh Thiên chính đến chỗ gay cấn, cũng có phần hứng thú. Bấy giờ đột nhiên có người xen ngang, không khỏi lấy làm khó chịu. Thế nhưng Lâm Cảnh Trung vừa nhác thấy ba người mới vào quán, vội vàng cúi đầu hành lễ:

“Tiên sinh.”

Nói xong, gã mới nhận ra mình quen miệng, vội vàng cười trừ:

“Không đúng. Hiện tại phải xưng là đại nhân mới phải.”

Đoạn lại đứng thẳng lưng, đưa tay về phía Nguyễn Đông Thanh, nói:

“Vị này chính là Bích Mặc tiên sinh đại danh đỉnh đỉnh, cũng là người đã viết câu chuyện ta vừa kể cho quý vị.”

“...”

Nguyễn Đông Thanh nghe Lâm Cảnh Trung giới thiệu mình là người viết Bao Công, không khỏi giật mình. Thế nhưng gã còn chưa kịp giải thích, thì bên dưới đã nhao nhao có người lên tiếng.

“Chẳng lẽ chính là vị dùng một bài thơ tân thoại khiến tiên hiền khóc than, vãng thánh rơi lệ, Bích Mặc tiên sinh?”

“Cũng là người đánh biến dạng Phật đạo?”

“Tác giả Truyền Kỳ Mạn Lục Nguyễn Đông Thanh?”

“Truyền Kỳ Mạn Lục đáng là gì? Bích Mặc thi tập mới thật là chân bảo!”

“...”

Người bên dưới nhao nhao lên tiéng, khiến Nguyễn Đông Thanh muốn nói xen vào hay giải thích cũng không được. Hắn hằm hằm nhìn Lâm Cảnh Trung, chính đang muốn đòi một lời giải thích thì bên cạnh đã nghe Hồng Đô truyền âm:

“Tiên sinh, chuyện này đều do Hồng Vân tiên tử sắp xếp, sau tất có đại dụng. Vẫn xin tiên sinh phối hợp.”

“...”

Nguyễn Đông Thanh nghe là cô hàng xóm làm, chỉ biết thở dài, dằn cảm giác khó chịu trong bụng xuống.

Chờ đám người an tĩnh lại, Bích Mặc tiên sinh mới hỏi:

“Không ngờ lần này tại hạ nhận chỉ đến đây nhậm chức còn có thể trùng hợp gặp được công tử.”

Lâm Cảnh Trung cười:

“Thực ra cũng không phải trùng hợp. Mục đích của tại hạ và mọi người xưa nay vẫn không đổi, muốn bái vào môn hạ tiên sinh. Nay ngài đến Bạch Đế, chúng ta đương nhiên là theo sau. Chẳng qua là tại hạ ở Bạch Đế có người quen, nên đến trước một bước, giúp mọi người thuê nhà, tránh làm phiền đến dân chúng như lần trước.”

“Được... được rồi. Vậy thì các cậu thích làm gì thì làm đi.”

Nguyễn Đông Thanh mặt méo xẹo, nói chuyện nghe cũng cứng nhắc. Lời nói trái lương tâm như vậy quả thật khiến hắn kém chút không nói được ra khỏi miệng.

“Vậy ngày khác chúng ta nhất định đến bái phỏng tiên sinh.”

Lâm Cảnh Trung chắp tay, cúi đầu.

oOo

Nguyễn Đông Thanh về phủ Chưởng Ấn thì ngoài cửa đã đứng đầy người, xe ngựa nối đuôi nhau kéo dài đến hàng chục trượng. Ngoại trừ sách vở, ngọc thạch, còn có không thiếu lụa là gấm vóc.

Bích Mặc tiên sinh biết đây là thế gia sĩ tộc mượn cớ đưa gia phả “phong bao phong bì”, nên bảo Hồng Đô phàm những thứ không nằm trong thỏa thuận với Cổ Trạch Dao thì từ chối toàn bộ. Bao nhiêu sách vở, ngọc giản thu được thì hắn ôm đến chỗ Cố Văn, cùng nhau tra duyệt lại sự tình khi trước.

Lại qua vài ngày, dưới sự dốc lòng điều trị của Dư Tự Lực, thương thế của Vương Long Mã Hổ đã ổn định lại. Mà Lã Vọng Thiên, Hồng Đô lại tra ra được trước đó Lê Minh Đức đã có qua lại với ngục tốt. Chạy đến phủ Chưởng Ấn chẳng qua là một kế hoãn binh, cốt muốn kéo dài thời gian, đợi lúc Nguyễn Đông Thanh kịp phản ứng thì hai người Vương, Mã đã bị ngục tốt đánh đến độ vết thương chuyển xấu mà tiêu đời.

Mà nếu không phải Trương Triều, Triệu Hán xuất hiện, có lẽ lần này Vương, Mã phải nấp sau nải chuối thật.

Cùng ngày, Lê phủ bị phong tỏa, Lê Minh Đức bị tống vào ngục. Dân chúng thành Bạch Đế không khỏi bàng hoàng. Hồ Ma Huyền Nguyệt, Hoắc Kim Trọng và Hoàng Thanh Nhàn cũng bị bất ngờ vì cách hành xử “lôi lệ phong hành” trái hẳn với dáng vẻ thường ngày của Nguyễn Đông Thanh.

Lê Minh Đức có tiếng là anh hùng, lúc này sa vào ngục, không thiếu dư luận bắt đầu bàn tán rằng Nguyễn Đông Thanh có ý hại hiền. Cũng may lúc này mấy người Hoàng Sở Sở, Lâm Cảnh Trung lên tiếng đính chính, lại thêm thế gia sĩ tộc cũng mượn cơ hội này giao hảo với Bích Mặc tiên sinh mới dằn được dư luận trong thành xuống.

Mà lúc này, trong khi thành Bạch Đế thấp thỏm không yên, Nguyễn Đông Thanh chính đang hỏi hai người Vương Long, Mã Hổ về động cơ gây án.

Hai người Vương, Mã mới đầu biết gã là Chưởng Ấn quan mới thì cũng thủ khẩu như bình, không chịu nói nhiều. Phải đến khi tận mắt thấy Lê Minh Đức bị giải vào ngục, theo sau còn có một số con cháu thế gia từng tra tấn hành hung mình, bọn hắn mới chịu kể rõ đầu đuôi.

Bốn người Trương Triều, Triệu Hán vốn là con cháu của tướng thủ thành Bạch Đế, trấn giữ Ải Thị bây giờ.

Chuyện năm xưa cũng không phải Lê Minh Đức đến Bạch Đế báo tin, sau đó hiệp trợ thủ thành. Sự thật kẻ hàng Tề không phải ai khác, chính là Bát Chỉ Anh Hùng bây giờ. Hai ngón tay là tự hắn chặt đi, để “hợp lý hóa” câu chuyện của mình. Mà vận lương quan vì sự phản bội của hắn, hành tung bị Hữu Dực quân biết được, cuối cùng chết trận.

Sau đó, Lê Minh Đức lại dẫn đường cho quân Tề đến công hãm Ải Thị.

Khi chiến tranh Tề – Việt kết thúc, sở dĩ Lê Minh Đức có tiền làm ăn, êm ấm thành viên ngoại là bởi năm xưa hàng Tề, nhận được tiền muôn bạc vạn.

Vì Lê Minh Đức phản trắc, quân Ải Thị không nhận được tiếp tế, cuối cùng đành phải dùng hôn chiêu rút thăm chịu chết, ăn thịt nhau để mà sống. Cha mẹ bốn người Vương Long, Mã Hổ không muốn con mình phải lâm vào cảnh dùng thịt người kéo dài tính mạng, bèn giấu bọn họ trong hầm ngầm. Bốn người bọn họ đào được một cái ổ chuột, lấy đó làm thức ăn mới sống sót được.

Về sau, bốn người trốn khỏi Ải Thị, đến nơi khác mưu sinh.

Có một ngày bốn người vô tình nghe được câu chuyện về “Bát Chỉ Anh Hùng”, không khỏi lấy làm ngờ vực. Vương Long Mã Hổ bán hết gia sản, lần theo dấu câu chuyện nhiều năm mới tìm được nguồn cơn: Lê Minh Đức mèo khen mèo dài đuôi, dùng câu chuyện này để che giấu hành động năm xưa của mình.

Vương Long, Mã Hổ vốn định báo chuyện này cho quan Chưởng Ấn, nào ngờ lại phát hiện lão đi đêm với Lê Minh Đức. Hai người đói ăn vụng, túng làm liều, bèn lẻn vào Lê gia trang định bụng tự mình giết kẻ thù.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 359: Đúng Sai – Được Mất


Mùng 5 tháng Giêng, ngày cuối của lịch đăng Tết lại trùng luôn với Va-lung-tung. Sau khi xem xét lại tình hình bản thảo thì nhóm tác quyết định hôm nay thả thêm 5 chương (1+4) vào hai chương vốn có, thành 7. Chúc bà con năm mới vui vẻ và Valentine hạnh ph... yên lành! (Chúc yên lành thôi cho nó công bằng)

oOo

Nguyễn Đông Thanh thấy câu chuyện của hai người hoàn toàn ứng với những gì đã bàn với Cố Văn, cũng giải thích được hết những điểm khả nghi mà y đã đề ra ngày trước. Sau đó, gã lại đến chỗ của Lê Minh Đức, hỏi cung một phen. Quả nhiên kẻ này thời gian gần đây sống an nhàn đã quen, tự cho là chuyện mình bịa đặt thiên y vô phùng, nên kể lại hệt những gì thuyết thư tiên sinh vẫn rao giảng trên phố huyện.

Đến lúc này, chỉ chờ tìm được hầm ngầm mà cha mẹ bốn người Vương Long, Mã Hổ đã giấu bọn họ xuống thì coi như án này kết thúc.

Trong có phủ thành chủ ngầm đồng ý, ngoài có thế gia tạo thuận lợi, chẳng mấy chốc án của Lê Minh Đức đã muốn kết thúc. Thế nhưng, ngay lúc Nguyễn Đông Thanh định chọn ngày xử tội họ Lê thì đã có người quen từ thành Cổ Long đến gặp.

Chính là túi khôn của họ Lý – Lý Huyền Cơ.

Lý Huyền Cơ cung tay, cúi chào, nói:

“Lần trước gặp nhau ở Trương phủ đến nay đã có một đoạn thời gian, tiên sinh vẫn mạnh giỏi chứ?”

“Lý đại nhân khách khí. Mời ngồi.”

Nguyễn Đông Thanh tận đạo gia chủ, hai người hỏi thăm khách sáo lẫn nhau một thôi một hồi. Cuối cùng, thời gian chừng uống hết chén trà, Bích Mặc tiên sinh của chúng ta mới hỏi:

“Không biết lần này Lý đại nhân tìm tại hạ là có gì dạy bảo?”

“Dạy bảo thì không dám. Lần này Lý mỗ tuân lệnh hoàng thượng đến làm thuyết khách mà thôi.”

Lý Huyền Cơ xua tay, trên mặt giữ ý cười.

Nguyễn Đông Thanh cau mày, thầm nghĩ chuyện gần đây mình làm đủ để kinh động Trư Đế thì chỉ có hai việc. Một là bãi chức toàn bộ ngục tốt, song việc này các thế gia trong thành đã điều đình với gã, thành thử khả năng không lớn.

Như vậy, cũng chỉ còn chuyện của Lê Minh Đức mà thôi.

“Lý đại nhân nói là cái tên Bát Chỉ Anh Hùng kia?”

“Không sai.”

“Hoàng thượng hạ chỉ muốn tại hạ không truy cứu chuyện này?”

Lý Huyền Cơ thấy càng nói ngữ khí của kẻ đối diện càng lạnh lẽo, thầm cảm thấy may mắn vì kịp thời khuyên Lê Dực. Gã ho khan một tiếng, nói:

“Hạ chỉ thì không, chỉ là Trư Đế nhờ Lý mỗ đến nói chuyện được mất với tiên sinh mà thôi. Quyết định thế nào hoàng thượng không nhúng tay.”

“Vậy xin rửa tai lắng nghe.”

“Chuyện Đại Tề xâm lấn Đại Việt ba mươi mấy năm trước chắc tiên sinh cũng đã biết rồi, tại hạ tạm không nhắc đến nữa. Bây giờ chỉ nói chuyện của Lê Minh Đức.

“Thực ra chuyện kẻ này tráo trở đặt điều, triều đình sớm đã biết.”

Lý Huyền Cơ nhún vai.

Câu chuyện đầy sơ hở của Lê Minh Đức chỉ có thể lừa đời lấy tiếng với thứ dân tầng dưới chót, cả đời quanh quẩn trong một châu một huyện, ít học ít đọc. Đối với văn thần võ tướng trong triều mà nói quả thật chỉ là trò trẻ con, vừa nhìn đã bị điểm phá.

Nguyễn Đông Thanh chặc lưỡi, nói:

“Ra là triều đình dung túng, hèn gì câu chuyện vớ vẩn ấy truyền nửa đời người cũng chưa bị vạch trần.”

“Kỳ thực trong triều cũng có nỗi khổ riêng. Tiên sinh cũng đã gặp Trương lão thái sư rồi. Đây chính là quyết sách năm đó của lão thái sư.”

“Xin được thỉnh giáo.”

“Tiên sinh chắc không biết năm đó lão tiên hoàng ngự giá thân chinh, bị trúng mai phục của quân Tề đến nỗi băng hà. Tiên hoàng lúc ấy mới mười tuổi cũng vì vậy mà bị phi tần trong cung ám hại. Tuy được ứng cứu kịp thời nhưng cũng thương đến căn bản, tráng niên mất sớm, tam cung lục viện thê thiếp thành đàn lại chỉ có một hoàng tử Dực.”

Lý Huyền Cơ nói chuyện thâm cung bí sử nhà hoàng đế, thoạt nghe thì chẳng liên quan gì đến việc của Lê Minh Đức. Nguyễn Đông Thanh cũng cảm thấy khó hiểu, song cũng may tính kiên nhẫn của hắn không tính là quá tệ, thành thử không tiếp tục chen ngang lời nói của y nữa.

Họ Lý lại tiếp:

“Lúc ấy thái tử tuổi nhỏ lên ngôi, thù trong giặc ngoài. Lão tiên hoàng băng hà, lòng người bàng hoàng, châu chủ thành chủ các nơi dưới quân uy của Đại Tề rục rịch tạo phản. Cho dù nội có thái sư phò tá, ngoại có xá đệ trấn áp, song cuối cùng vẫn là ngoại lực, thủy chung không phục được người thiên hạ.

“Binh uy của Đại Tề quá lớn, muốn thắng thì cần phải có cách thu nhân tâm về một mối, quân thần đồng tâm, trăm họ sở hướng mới có thể lấy yếu thắng mạnh, chuyển bại thành thắng.”

Nguyễn Đông Thanh nghe đến đây, mày cau lại.

Gã đã lờ mờ đoán được phương pháp “quy tụ nhân tâm” mà Lý Huyền Cơ muốn nhắc tới.

Họ Lý chỉ ngừng lại trong thoáng chốc lấy hơi, rồi lại nói tiếp:

“Trương lão thái sư thấy muốn cổ vũ muôn dân, để trăm họ có đủ dũng khí đương đầu với Đại Tề thì chỉ có ‘người thật, việc thật’ mới được.

Thế là truyền kỳ về vô số anh hùng kháng Tề thuận đại thế mà sinh, kế tuôn đi khắp mọi nẻo đường. Chuyện thật có, mà nói quá chút đỉnh đương nhiên cũng không tránh được. Thái sư lại nhân đấy nói anh hùng xuất hiện cứu thế, hào kiệt ứng kiếp sinh ra đều là minh chứng khí số Đại Việt chưa tận, chính danh cho tiên hoàng bấy giờ.

“Mà quân dân Đại Việt sau đó quả thật sĩ khí như hồng, đánh tan quân Tề, nhặt lại núi sông đã đứt gãy.”

Câu chuyện của Lý Huyền Cơ có vẻ đến đây là hết.

Nguyễn Đông Thanh nghe đến đây, lại hỏi:

“Chuyện được mất khi xưa tại hạ đã tỏ tường, nhưng chuyện đã xảy ra hơn ba mươi năm, vì sao đại nhân còn ngăn cản Đông Thanh công bố chân tướng cho bàn dân thiên hạ, cho những người ngã xuống một câu trả lời thỏa đáng?”

Lý Huyền Cơ nói, ngữ khí mang vẻ khẩn khoản:

“Tiên sinh vào triều chưa lâu, chắc còn chưa biết. Hiện giờ Đại Việt ta nhìn như thành đồng vách sắt, thực ra nguy cơ tứ bề. Phía bắc các nước hãy còn rục rịch, phương đông Long Tộc nhìn chằm chằm, mặt tây lại có Sơn Man dòm ngó. Hà huống, binh mã tràn tới còn có Huyền Thiên cáng đáng, nhưng nếu là mưu kế công tâm, giết người không đao thì thật là khó bề phòng ngự. Tiên sinh thử nghĩ xem, nếu kẻ thù mượn gió bẻ măng, nói tất cả những truyền kỳ khi xưa đều là chúng ta ngụy tạo, há không khiến dân tâm dùng máu và nước mắt ngưng tụ bể tan tành hay sao?”

Lời của Lý Huyền Cơ bất giác khiến Nguyễn Đông Thanh nhớ lại chuyện ở địa cầu.

Ở đó cũng có một đám người miệng kêu là “yêu nước”, nhưng hở một chút là tìm đủ mọi cách xóa bỏ thành quả cách mạng.

Cũng có một số người ám ảnh cưỡng chế với hai chữ “lật sử”, đến độ cũng hành xử cứ như lịch sử là một thứ gì đó minh xác hoàn toàn, khuôn vàng thước ngọc.

Cứ như cái ông anh đưa sách thơ cho Nguyễn Đông Thanh mượn vẫn nói, rằng sử thực ra là một môn khoa học. Mà đã là khoa học thì phải có tinh thần sẵn sàng thách thức cái hiện có, cùng truy tìm chân lý, hoàn thiện hiểu biết chung.

Đương nhiên cũng có hơi lý tưởng hóa, nhưng chí ít, trên phương diện học thuật, gã đồng ý với quan điểm này.

Cái chuyện học thuật đấm nhau với chính trị, ổn định xã hội bóp cổ truy tìm tri thức này ở địa cầu đã làm cả Nguyễn Đông Thanh lẫn ông anh gã đau đầu, chả biết phải giải quyết sao cho phải. Không ngờ đến Huyền Hoàng giới lại lần nữa được trải nghiệm người thật việc thật.

Lý Huyền Cơ thấy gã trầm tư, mới đứng dậy vái:

“Lời hơn thua được mất tại hạ đã nói xong, cần phải về Cổ Long phục mệnh. Đương nhiên quyết định sau cùng vẫn là của tiên sinh, hoàng thượng không sẽ không can thiệp, cũng không trách tội.”

“Vậy phiền đại nhân thay Thanh tạ ơn bệ hạ khai ân.”

Nguyễn Đông Thanh mấy ngày nay cũng được Cố Văn khai khiếu, biết sở dĩ hiện giờ người ta khách khí với hắn như vậy hoàn toàn là vì biểu hiện của gã lúc luận đạo với Phật môn quá mức dọa người. Hôm nay, đến ngay cả hoàng đế cũng không trực tiếp hạ chỉ ra lệnh cho gã làm theo ý mình, chỉ sai người đến thuyết phục giải thích lại càng khẳng định suy đoán này của ông đồ.

Đối với việc này, Bích Mặc tiên sinh của chúng ta cũng dở khóc dở cười. Thế nhưng lúc đó người cho gã mượn “cửa sau” với Phật đạo đã dặn là không được tiết lộ, gã chịu ơn người ta, há lại vì cảm xúc của bản thân mà bán đứng người khác? Thành thử, cũng như với Hồng Vân, Nguyễn Đông Thanh sau khi biết chuyện cũng chỉ có thể mặt dày coi như là mình làm thật.

Lý Huyền Cơ đáp:

“Chuyện ấy đã hẳn.”

oOo

Nguyễn Đông Thanh cứ bị những chuyện được mất – đúng sai mà Lý Huyền Cơ nhắc tới quấy rầy, không tài nào hạ quyết định được. Chuyện cứ thế kéo dài thêm ba ngày.

Lê Minh Đức nằm trong ngục ngày càng càn rỡ, đám người Vương Long, Mã Hổ cũng vì sự do dự của gã mà bắt đầu nghĩ quẩn.

Cuối cùng, cực chẳng đã, Nguyễn Đông Thanh đành sử dụng biện pháp “quy tụ sức mạnh quần chúng”, gọi bốn người Hồng Đô đến vấn kế. Nếu không phải có người nhắc hiện giờ chiến tranh với Hải Thú còn đang nổ ra, có khi Bích Mặc tiên sinh còn gọi cả phân thân của hội phụ huynh cổ viện ra họp chung.

Bích Mặc tiên sinh trần thuật lại đầu đuôi sự tình, đoạn hỏi:

“Chuyện này khốn nhiễu tại hạ nhiều ngày, nghĩ mãi cũng không có cách nào ổn thỏa. Không biết mọi người thấy chúng ta phải làm thế nào?”

Lần này tính cả Hồng Đô, bốn người đều cảm thấy tiên sinh đang thử bọn họ. Đoàn người trao đổi ánh mắt, cuối cùng Cố Văn tiến lên trước một bước, nói:

“Tiên sinh, thứ cho Cố mỗ nói thẳng, ngài chẳng qua là không muốn ảnh hưởng đến trăm họ, không muốn đả phá thái bình hiện giờ mà thôi.”

Số chương còn lại hôm nay: 6 chương chính truyện.
 
Back
Top Dưới