Tiên Hiệp Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân

Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 300: Dư Lực Và Lã Vọng


Tiểu nhị đưa Dư Tự Lực đến một căn phòng, bên ngoài có đứng một người đàn ông mặt chuột. Trong mắt kẻ này ánh lên nét gian xảo, lạnh lẽo. Vừa thấy hai người, hắn đã lạnh giọng hỏi tiểu nhị:

“Sao đã quay trở lại? Kẻ này là ai? Bảo ngươi đi gọi ngỗ tác cơ mà!”

Thì ra, ban nãy, khi thấy vị khách trong phòng hộc máu mà ngất đi, tiểu nhị Hồng Hoa Lâu cuống cuồng chạy đi tìm gã quản lý báo tin, muốn chạy đi hô hoán tìm đại phu cứu người. Thế nhưng, tên quản lý lo chuyện này lộ ra sẽ ảnh hưởng đến danh tiếng và sinh ý của Hồng Hoa Lâu. Lại nói, ai cũng biết, thời gian này tất cả đại phu đều bị điều ra tiền tuyến, ở Quan Lâm kiếm đâu ra người? Thế là, tên quản lý bèn phái tiểu nhị chạy đi tìm ngỗ tác. Để nhỡ sau Lã Vọng Thiên có chuyện gì thì cũng có thể chối hết toàn bộ trách nhiệm. Chỉ cần nắm cái lý trong tay, lại thêm Nhất Phẩm Cư và Hữu Tiền Liên Minh ở sau chống lưng, cho dù gia thế của khách nhân có ra sao cũng không thể đe dọa Hồng Hoa Lầu của gã. Dẫu sao, có ai mà không biết hắn là họ hàng xa của Lý Lợi Minh?

Đáng tiếc, do ban nãy khi chạy đi báo tin cho tên tổng quản, cậu tiểu nhị nọ tạo ra động tĩnh cũng không nhỏ. Thành thử, khách khứa tại Hồng Hoa Lầu cũng đã nghe được phong thanh. Tên quản lý thấy vậy thì cũng không muốn mang danh xấu không quan tâm đến tính mạng của khách nhân, nên đành đối ngoại rêu rao ra rằng bản lầu đang tìm đại phu, nếu có ai biết y thuật quanh đây thì mau mời tới. Tất nhiên, động thái này chỉ là làm màu cho có, chứ hắn cũng chẳng tin sẽ có ai đứng ra. Động thái duy nhất mang tính thực chất kỳ thực vẫn chỉ có sai cậu tiểu nhị chạy đi tìm ngỗ tác mà thôi. Nay thấy tiểu nhị mới đi ra ngoài đã trở về, lại còn dắt theo một kẻ lạ mặt, gã quản lý đương nhiên không vui.

Tiểu nhị lắp bắp:

“Lý... Lý tổng quản, vị... vị này là đại phu...”

Lý tổng quản liếc Dư Tự Lực một cái, đoạn vung tay vỗ vào ót tên tiểu nhị:

“Đại phu đâu ra? Người ta nói cái gì ngươi cũng tin sao? Thời buổi chiến tranh loạn lạc, tất cả thầy thuốc đều bị điều ra tiền tuyến, đến một tên dược đồng còn chả tìm được thì lấy đâu ra đại phu?”

Đoạn lại quay qua cậu thiếu niên:

“Vị công tử này, tôi không biết cậu là ai, nhưng mạo danh đại phu chữa lợn lành thành lợn què không có chỗ tốt nào cho cậu đâu.”

Dư Tự Lực nghe vậy thì cười nói:

“Tổng quản, tại hạ kỳ thực có học qua y. Tuy không tính là giỏi, nhưng cũng không đến nỗi là mạo danh. Lại nói, ngài cũng biết thời buổi này có muốn tìm được người có kinh nghiệm và chuyên môn hơn tôi cũng không dễ dàng gì rồi. Song lời thì cũng đã nói ra, người thì cũng đã mời tới, ngài cũng không thể thất hứa được, danh dự của Hồng Hoa Lâu biết để đi đâu bây giờ?

“Chi bằng cứ để tại hạ vào xem một chút tình hình của vị khách kia. Nếu tôi không chữa được, sẽ tự rút lui, ngài khi ấy mời ngỗ tác cũng vẫn tính là tận lực. Nhược bằng, tôi chữa được, danh tiếng của quý lầu chẳng phải sẽ càng tốt hay sao?”

Trí thông minh của Dư Tự Lực tuy chẳng thể tính là cao, thế nhưng y từ nhỏ đã bị cha mẹ ruồng bỏ, phải lăn lộn ngoài đường, nếm đủ mùi vị của tình người nóng lạnh. Thành thử, y đã luyện được khả năng nhìn nét mặt mà ứng xử. Trên đường đi theo tiểu nhị lên đây, họ Dư đã nghe được vài lời xì xào bàn tán, đoán được tình hình đại khái. Vừa rồi qua thái độ của Lý tổng quản, thì y liền đoán được cái gã để ý nhất là gì, bèn nhắm vào đó mà nói chuyện. Quả nhiên, họ Lý híp mắt lại suy nghĩ, sau đó nói:

“Thế nếu như nhà ngươi chữa hỏng đến chết người?”

“Thì tại hạ xin tự chịu trách nhiệm, quý lâu sẽ không bị ảnh hưởng. Nhưng ngài yên tâm, nếu không nắm chắc, tôi cũng sẽ không chữa.”

Lý tổng quản nghe vậy mới gật đầu một cái, chịu mở cửa cho Dư Tự Lực vào phòng.

Hiện trường trong phòng không thay đổi xê dịch gì so với lúc tiểu nhị phát hiện Lã Vọng Thiên “gặp nạn”. Dư Tự Lực lúc này liền chạy tới bắt mạch cho y. Tiếp đó, họ Dư điểm vài huyệt trên người Lã thiếu lâu chủ, lại móc từ trong túi mình ra một lọ thuốc, lấy mấy viên nhét vào miệng người bệnh. Xong xuôi đâu đó, đợi chừng một tuần trà, sắc mặt của họ Lã mới dần chuyển biến tốt. Lúc này, cậu thiếu niên mới nhờ tiểu nhị giúp mình chuyển bệnh nhân lên giường cho khỏi lạnh.

Dược Thánh chưa một ngày từng dạy qua y thuật cho Dư Tự Lực, song hắn vì quá ham học cho nên mỗi tối đều lén lút đọc y thư. Có một hôm, hắn bị đại sư huynh phát hiện. Thế nhưng sư huynh hắn thương tình, cũng không trách phạt hay báo lại với sư phụ, mà cho phép hắn đi theo phụ giúp y khám chữa bệnh, thỉnh thoảng lại chỉ dạy cho một hai. Tuy những thứ cao siêu thì sư huynh hắn cũng không dám tiếm quyền sư phụ mà chỉ dạy, song mấy thứ như việc sơ cứu thương thế hay mấy bệnh đơn giản thì y cũng tận tình chỉ dạy cho hắn. Thành thử, Dư Tự Lực nhận mình có học qua y cũng không tính là nói dối.

Cũng còn may trường hợp của Lã Vọng Thiên cũng không tính là quá khó chữa, lại vừa hay tương tự một ca bệnh mà Dư Tự Lực đã từng giúp sư huynh hắn xử lý. Thành ra, chuyện này mới êm thấm mà trôi qua như vậy...

Lại đợi thêm thời gian một tuần trà, Lã thiếu lâu chủ mới từ từ mở mắt.

Lã Vọng Thiên chớp chớp mắt với biểu cảm ngơ ngác, dường như không nhớ ra mình đang ở đâu. Bên cạnh còn thấy một thiếu niên trạc tuổi mình cùng tiểu nhị của quán. Thấy cậu chàng tỉnh, tiểu nhị mừng rỡ cuống quýt:

“Công tử gia, ngài tỉnh rồi sao? Dọa chết tôi rồi, may quá, may quá!”

Có vẻ như vui mừng đến quá bất chợt sau trận lo lắng, cậu tiểu nhị nói một tràng không rõ nghĩa, nước mắt nước mũi chảy cả ra. Dư Tự Lực thấy vậy thì ho khan một tiếng, nói:

“Được rồi, cậu ra báo cho Lý quản sự một tiếng, để vị công tử đây nghỉ ngơi một chút.”

“Đại... đại... đại phu nói phải!!! Vậy tôi... tôi đi trước!”

Tiểu nhị vừa đưa tay lên lau mặt, vừa lắp bắp đáp.

Đợi tiểu nhị đi rồi, họ Dư mới quay lại, dùng ánh mắt kiểm tra trạng huống của Lã công tử một lượt, đoạn hỏi:

“Vị công tử này, anh cảm thấy thế nào?”

Lã Vọng Thiên thở dài một hơi, não bộ cũng đã bắt đầu hoạt động để hiểu rõ tình huống hiện tại của bản thân. Điều cuối cùng hắn nhớ được, là bói ra một điều gì đó rất kinh khủng có liên quan đến nhân quả của Bích Mặc tiên sinh, trước khi bí thuật gia truyền của dòng họ giúp hắn cản lại phản phệ trí mạng. Cụ thể trước khi ngất đi bản thân đã nhìn thấy cái gì, Lã Vọng Thiên hoàn toàn không nhớ nổi, cũng không dám đi nhớ lại. Nếu không phải là thuật bói toán của Lã gia đặc biệt, dám khẳng định bất kỳ kẻ nào bói đến bí mật kia cũng đều sẽ chết bất đắc kỳ tử. Bí thuật của Vọng Thiên cung có thể cứu hắn một mạng, thế nhưng nếu Lã thiếu lâu chủ còn không biết điều mà cố nhớ lại, chỉ sợ nhẹ thì cũng thần kinh rung rinh, nặng thì tẩu hỏa nhập ma mà chết.

Thế nhưng, tuy có không chết tươi, thì bị phản phệ mạnh như vậy, tình trạng của hắn ban nãy hẳn cũng không thể nào tốt cho được. Có nói là hung hiểm vạn phần cũng không ngoa. Nếu như còn ở tại Vọng Thiên lâu thì cũng không đáng lo đâu, song ở nơi đất khách quê người này, nếu không được phát hiện kịp thời, mạng của hắn thực cũng khó giữ. Mà cũng chẳng rõ hiện tại là vị trưởng lão nào đang phụ trách hộ đạo cho hắn, hay người ta chạy đi chỗ nào rồi. Dẫu sao, có dính đến nhân quả của Bích Mặc tiên sinh, hiệu suất làm việc của Vọng Thiên lâu bọn họ cũng giảm mạnh.

Từ đó mà suy đoán, hẳn là sau khi hắn bị ngất đi, người của Hồng Hoa Lầu đã tìm vị đại phu trẻ tuổi trước mặt này tới cứu tỉnh hắn. Như vậy có thể nói người này là ân nhân cứu mạng của hắn.

Nói ra thì lâu chứ tất cả những suy nghĩ này được sắp xếp đâu vào đấy rất nhanh trong đầu Lã Vọng Thiên, chỉ thấy y nói:

“Tại hạ đã đỡ nhiều, cảm tạ đại ơn cứu mạng của huynh đài! Không biết tôn tính đại danh của huynh đây là...?”

“Tôn tính đại danh thì không dám, tại hạ gọi Dư Lực, cũng chỉ là vừa vặn may mắn biết chút y thuật, không tính là giỏi. Công tử không trách tôi vừa rồi làm liều, đem tính mạng cậu ra đùa bỡn là được rồi!”

Dư Tự Lực lăn lộn giang hồ lâu ngày, đâm sinh ra cẩn thận, nên chưa quen thân bèn rút bớt một chữ trong tên bản thân đi.

Lã Vọng Thiên nghe y khiêm tốn vậy không cho là phải, nói:

“Huynh đài quá lời rồi, vừa rồi tôi cũng biết tình trạng của mình. Nếu không phải anh có chân tài thực học, cũng không dễ cứu được tôi, sao lại nói lấy tính mạng tôi ra đùa bỡn?”

Họ Dư có vẻ cũng không muốn tiếp tục chủ đề này, ho khan một tiếng, nói:

“Vậy thì xin đa tạ lời khen của công tử, không biết nên xưng hô với cậu như thế nào?”

“Tại hạ Lã Vọng. Gặp nhau tính là nhân duyên, anh lại còn cứu tôi một mạng, chi bằng...”

Lã Vọng Thiên ra ngoài điều tra Trang Bức Thần Giáo, kỳ thực vẫn luôn dùng cái tên này. Thế là hai người Dư, Lã tuy vì lý do khác nhau, nhưng cuối cùng đều giấu bớt một chữ trong tên khi tự giới thiệu bản thân với đối phương.

Vừa rồi, theo thói quen, Lã Vọng Thiên vốn định đề nghị bói cho ân nhân mình một mạng, nhưng lời sắp nói ra thì Lã thiếu lâu chủ mới chợt nhớ ra hiện tại mình đang ở đâu. Lại nói, chưa biết chừng vị ân nhân này cũng có nhân quả với Bích Mặc tiên sinh thì Lã công tử chắc khóc không ra nước mắt mất...

Thế là, qua màn giới thiệu, không khí trong phòng có chút căng thẳng. Lã Vọng Thiên EQ thấp, bình thường toàn dựa vào trí thông minh và những gì mình biết hoặc bói được về đối phương để lựa lời mà nói, nên lúc này bó tay bó chân không biết nói gì. Mà Dư Tự Lực tuy luyện được nhìn mặt mà nói chuyện, nhưng tính cách lại hướng nội, ít nói. Bình thường y vẫn hay dựa theo lời ăn tiếng nói của người ta mà ứng biến, nay Lã công tử kia ấp úng muốn nói lại thôi khiến họ Dư cũng không biết mở miệng ra sao.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 301: Lã Vọng Thiên: Hồ Lô Của Huynh Đài Có Bán Thuốc Bổ Máu Không?


Thời gian trôi qua một cách lúng túng cũng phải chừng một tuần trà Lã thiếu lâu chủ mới nghĩ được ra cớ để mở miệng:

“Dư huynh, anh là người trong nghề, không biết có loại thuốc nào có tác dụng bổ huyết, ích khí có thể giới thiệu cho tôi hay không?”

Dư Tự Lực nghe hỏi đến chuyện mình có biết chút ít thì cũng thở phào một hơi, đoạn đáp:

“Bổ huyết ích khí có nhiều loại, thường cũng còn phải tùy vào tình trạng cơ địa từng người. Không biết Lã huynh cần vì lý do gì, có thể cho tại hạ biết hay chăng?”

Lã Vọng Thiên trầm ngâm một hồi, cuối cùng vẫn quyết định thẳng thắn:

“Không giấu gì Dư huynh, tại hạ dạo gần đây bói toán bị phản phệ mà thổ huyết mất máu. Ban nãy bị ngất đi cũng là do vậy...”

Họ Dư nghe vậy thì cũng thoáng ngạc nhiên, song y cũng không phải người nhiều chuyện, bèn lục lại trí nhớ, sau thì lấy giấy bút từ trong hành lý ra, viết vài vị thuốc đơn giản xuống, đưa cho Lã Vọng Thiên.

Lã công tử liếc mắt nhìn tờ giấy, thấy có hai dược vật gây chú ý là Đương Quy và Long Nhãn. Hai vị này cũng không có gì đặc biệt, hiệu dụng quả thực chính là bổ huyết ích khí, chả thế mà có trong thang Quy Tỳ của Đông Y. Song, lý do khiến Lã Vọng Thiên chú ý tới chúng chẳng phải vì dược hiệu, mà lại là do chúng có liên quan đến Trang Bức Thần Giáo. Hay nói đúng hơn, là chúng có liên quan tới hành vi của Trang Bức Thần Giáo dạo thời gian gần đây.

Cũng không rõ là vì sao, nhưng theo như tình báo của Lã gia, cũng như những gì Lã Vọng Thiên nghe ngóng chứng thực được, giáo chúng của Trang Bức Thần Giáo tại châu Ngọc Lân trong dạo thời gian gần đây đầu cơ tích trữ một số lượng dược vật không nhỏ. Động thái này của Thần giáo đã khiến không ít người để ý, trong đó có cả ba anh em Hạ Hầu Duyệt tại thành Bạch Đế. Chỉ có điều, đa số chỉ biết có người bỏ ra không ít tiền của thu mua dược liệu, nhưng không có mấy người biết kẻ thu mua là ai, có mục đích gì. Mà Vọng Thiên Lâu cũng chỉ biết kẻ hành động là Trang Bức Thần Giáo, còn nguyên do chúng làm vậy thì cũng chính là điều mà Lã công tử đang điều tra.

Tất nhiên, liệu động thái này của Trang Bức Thần Giáo có liên quan gì đến mục tiêu hạ sát Bích Mặc tiên sinh của Đế Mộ hay không thì lại càng là một khả năng đến cả những kẻ hữu tâm quan sát cũng không dám khẳng định hay chối bỏ. Dẫu sao, cũng không phải không có ai nghi ngờ liên quan giữa hai tổ chức tưởng chừng khác biệt như trời với vực này: một là bá chủ ngầm của Huyền Hoàng giới, còn lại là một đám du thủ du thực không tài không cán, chỉ biết lừa người. Nếu không, năm xưa Hàn Kinh Vũ cũng sẽ không giao cho các đời Hoan phái Kiếm tổ đi điều tra Đế Mộ và Trang Bức Thần Giáo.

Lã Vọng Thiên nhíu mày, hắn cảm thấy đây có thể là đầu mối quan trọng, thế là bèn rút từ trong người ra một tờ giấy. Trên giấy có ghi tên một loạt dược liệu, chính là những thứ Trang Bức Thần Giáo mua thời gian gần đây mà họ Lã điều tra được. Y đưa danh sách này cho Dư Tự Lực, đoạn hỏi:

“Dư huynh, nhờ anh xem một chút những vị thuốc trên này có thể dùng để làm gì?”

Dư Tự Lực tiếp nhận tờ giấy, song đọc đi đọc lại hồi lâu mà vẫn không nói gì, trên mặt còn một bộ mờ mịt. Sau một lúc lâu, y mới trả tờ danh sách cho Lã Vọng Thiên, gãi đầu gãi tai, nói:

“Lã huynh thứ lỗi, tại hạ tài sơ học thiển, kỳ thực không nhìn ra huyền cơ trong đơn thuốc này. Trông qua thì có vẻ như thuốc bổ, nhưng lại có mấy vị không thể phối cùng nhau...”

Lã Vọng Thiên nghe vậy thì cũng thoáng cảm thấy có chút mất mát, nhưng kỳ thực hắn không hy vọng nhiều nên cũng không quá thất vọng, bèn nói:

“Không sao, việc này của tại hạ cũng không phải quá quan trọng. Dư huynh có ơn với tại hạ, không biết có thể mời anh một bữa cơm hay không?”

Dư Tự Lực liếc bàn cơm sau lưng, song lại nhớ ra đây là chốn nào, bèn từ chối khéo:

“Chuyện nên làm mà thôi. Lã huynh có lòng là được rồi... Tại hạ hiện cũng không đói, lại còn...”

Nhưng chưa nói hết câu thì trong phòng vang lên tiếng bụng réo, phủ định câu nói dối vừa ra khỏi miệng, khiến má họ Dư cũng ửng đỏ lên. Lã công tử thấy vậy thì cười tủm tỉm, nói:

“Dư huynh, coi như nể mặt tại hạ, ăn cùng một bữa đạm bạc!”

Họ Dư lúc này mới hắng giọng, đáp:

“Lã huynh đã nói vậy, tại hạ còn tiếp tục từ chối thì cũng bất kính. Vậy xin đa tạ thịnh tình của anh!”

“Không có gì. Không có gì. Mời, mời!”

Lã Vọng Thiên làm thủ thế mời, hai người trước sau ngồi xuống bàn ăn. Bắt đầu ăn thì không khí lại có chút lúng túng, do cả hai người đều không biết nói chuyện gì.

Dư Tự Lực lúc này mới để ý đến một chuyện: Bữa cơm này từ nãy đến giờ trong suốt thời gian Lã Vọng Thiên ngất đi, được cứu tỉnh lại, lại còn trò chuyện với mình lâu như vậy, đáng lẽ đã phải sớm nguội. Vậy mà, ngoại trừ những món Lã Vọng Thiên đang ăn dở ra thì còn lại những gì được để trong mấy cái hộp kỳ lạ đều còn được giữ ấm nguyên. Họ Dư lấy làm lạ, hỏi ra thì mới biết mấy cái hộp kia gọi là cặp lồng, nghe nói là một phát minh của Bích Mặc tiên sinh, dùng để bảo quản, giữ ấm đồ ăn.

Như chết đuối vớ được cọc, hai thiếu niên bèn lấy Bích Mặc tiên sinh làm chủ đề trò chuyện, để trải qua được bầu không khí lúng túng.

Nói về Nguyễn Đông Thanh, Lã Vọng Thiên mấy lần muốn nói lại thôi. Hắn nghĩ nhờ Dư Tự Lực lên xem bệnh cho Bích Mặc tiên sinh, song lại nghĩ Nguyễn Đông Thanh xưa nay làm việc tính toán không kẽ hở, nếu hắn lắm mồm hỏng chuyện thì thực là gây họa. Lại nói, tràng nhân quả khủng khiếp mà hắn bói ra ban nãy càng khiến Lã công tử thêm kiên định giữ tiếng. Về phần Dư Tự Lực, hắn cũng nhận ra Lã Vọng Thiên có điều gì đó muốn nói, song bản thân y cũng không phải người nhiều chuyện, nên làm như không thấy.

Hai người đang dùng bữa thì bỗng nghe thấy tiếng líu ríu cãi vã ở gần đó:

“Băng Thanh, mày làm gì vậy? Hôm nay tao mới là người kiếm được nhiều nhất, mày chạy đến đây làm gì?”

“Tuyết Tiên, mày giở trò bẩn thỉu ngáng đường đừng tưởng tao không biết, hôm nay đáng lẽ phải là tao thắng!”

“Không bằng người lại còn chống chế không nhận! Rõ ràng là tao thắng... Khoan, Ngọc Khiết, Mai Mai, mày cũng chạy tới đây làm gì?”

“Hỏi gì mà hỏi? Đương nhiên là ngắm trai đẹp rồi!”

“Cút! Chúng mày hôm nay kiếm được bao nhiêu tiền mà cũng đòi đến đây tranh phần với bọn tao? Một con Tuyết Tiên giở thủ đoạn thì cũng thôi đi, sao lại còn cả hai đứa mày?”

“Lý quản sự nói ai kiếm được nhiều nhất thì có thể vào tranh thủ cơ hội với vị Lã công tử mấy ngày nay tới đây, không sai. Nên chúng mày cứ tiếp tục tranh nhau đi, bọn tao tới đây vì vị đại phu đẹp trai mới đến chữa bệnh cho Lã công tử. Chúng ta nước sông không phạm nước giếng!”

“Nói láo! Chúng mày rõ ràng tranh thủ cơ hội muốn ngắm cả hai vị công tử đẹp trai!”

“Mày thì không thế chắc? Đừng tưởng tao không biết vì sao hôm nay mày không từ thủ đoạn ngáng đường tao!”

Trước cửa phòng, bốn kỹ nữ cãi vã òm tỏi. Ở trong phòng, mặt của hai vị “công tử đẹp trai” đã đen như đít nồi.

Nhất là Lã Vọng Thiên. Hôm đầu tiên hắn vào chốn này, có đến chín, mười cô nương ca kỹ muốn chen vào phòng của hắn. Từ sau hôm ấy, mỗi ngày Lã công tử phải bỏ ra một số tiền cũng không nhỏ để nhờ quản sự không cho phép chuyện này lại xảy ra. Quản sự hứa hẹn sẽ tận lực, và đúng là sau đó không có hôm nào chuyện y hệt hôm đầu còn xảy ra. Song, ngày nào cũng vậy, cứ đến tầm giờ này là lại có một cô nương gõ cửa gạ mời gã uống trà. Tuy lần nào Lã Vọng Thiên cũng từ chối đuổi đi, nhưng ngày nào cũng vẫn có người tới. Họ Lã nói chuyện này với Lý tổng quản thì lão nói lão đã tận lực, nhưng cũng chỉ có thể làm đến vậy. Thế nhưng bây giờ xem ra, Lã thiếu lâu chủ anh danh lừng lẫy chả qua chỉ là củ cà rốt bị Lý quản sự treo lên để kích động nhân viên làm việc chăm chỉ mà thôi...

Khác với Lã công tử vẫn còn là tấm chiếu mới, chưa nhận thức quá rõ về nhan trị của bản thân, Dư Tự Lực hiểu rõ mặt hắn gây họa ra sao, cũng luôn có chút mặc cảm vì chuyện này.

Trong lúc hai người Lã, Dư còn đang chìm đắm trong suy nghĩ, cuộc cãi vã trước cửa phòng đã nâng cấp thành xô xát. Cuối cùng, cánh cửa bị đẩy mạnh ra, bốn cô gái ngã vào trong phòng, vẫn còn đang trong tư thế kéo áo giật tóc nhau...

Lã Vọng Thiên đập đôi đũa xuống bàn. Tức thì tiếng cãi vã im bặt. Bốn cặp ánh mắt nóng bỏng, hoa si như sói đói rình mồi bắn về phía hai người Dư, Lã. Có cô nương đang chảy cả nước dãi, có cô nương thì lẩm bẩm:

“Ôi chao! Công tử ca tức giận lại càng đẹp trai!”

Chỉ thấy Lã công tử đứng lên, chắp tay nói với Dư “đại phu”:

“Dư huynh, lần này là lỗi của tại hạ. Để huynh mất hứng rồi!”

Dư Tự Lực thở dài một hơi, đứng dậy, nói:

“Lã huynh, bây giờ không phải là lúc nói chuyện này!”

Đoạn, túm lấy cổ tay đồng bạn, nói một câu “Chạy thôi!” rồi kéo họ Lã theo mình, nhanh chóng rút lui khỏi chốn “đầm rồng hang hổ” “nguy hiểm trùng trùng”, “bốn bề thọ địch” này. Hai vị “công tử đẹp trai” đã đi xa, bốn người Băng Thanh, Ngọc Khiết, Tuyết Tiên, Mai Mai vẫn còn đang ngẩn ngơ nhìn theo nơi bóng lưng họ mới biến mất như còn chưa tỉnh mộng...
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 302: Thăm Khám


Chạy xuống đến đường lớn rồi, Dư Tự Lực mới buông tay Lã Vọng Thiên ra. Hai người thở phào một hơi, lại thoáng liếc xung quanh, kế đó nhìn nhau phá lên cười.

Cũng coi như là vừa “cùng chung hoạn nạn”, không khí giữa hai người Dư, Lã đã bớt lúng túng nhiều. Lã Vọng Thiên còn toan rủ Dư Tự Lực về phòng trọ, song chính lúc ấy, ở khóe mắt mình, y có thể loáng thoáng thấy một cái bóng đen vọt đến phía hai người. Lã Vọng Thiên còn chưa kịp định thần thì người mới đến đã đánh ngất họ Dư, kế đó vác y lên vai, xoay người bay mất.

Họ Lã vốn ban đầu cũng định hô hoán lên, thế nhưng một khi nhìn rõ người kia là ai thì mặt bỗng nghệt ra. Sau đó, thở ra một hơi, quay đầu bỏ đi.

Mà cùng chung phản ứng với cậu chàng là hết thảy dân chúng Quan Lâm vô tình chứng kiến màn “bắt cóc” vừa rồi. Bởi lẽ, người ra tay không ai khác chính là Hồng Đô.

Ở cái ải Quan Lâm này, có ai mà còn chưa nhìn đến nhẵn mặt Hồng hộ vệ của Bích Mặc tiên sinh? Mà bình thường Nguyễn Đông Thanh với cô nàng làm người ra sao ai ai đều biết. Lại có câu “yêu ai yêu cả đường đi lối về”. Thành thử, tuy người ta cũng vẫn thoáng ngạc nhiên khi thấy Hồng Đô ra tay bắt người giữa ban ngày ban mặt, song không ai nghĩ cậu thiếu niên gặp nguy hiểm gì cả.

Có người cho rằng đây có lẽ là một tràng đại cơ duyên mà thầm ghen tị với cậu nhóc. Còn kẻ không cho là vậy thì cũng nghĩ theo hướng Nguyễn Đông Thanh làm việc ắt hẳn sẽ có lý do. Thế nên, người nào người nấy không ai bảo ai, tất cả đều tự quay về tiếp tục công chuyện còn dang dở. Tất nhiên, cũng có vài người tò mò, chạy đến hỏi mấy cậu tiểu nhị của Hồng Hoa Lầu về thân phận của cậu thiếu niên nọ. Khi biết cậu ta có thể là đại phu thì họ đều gật gù ra vẻ đã hiểu rồi bỏ đi. Đương nhiên, việc mà họ nhìn thấy, nghe thấy ở đây hôm nay ắt hẳn sẽ trở thành chủ đề trò chuyện lúc trà dư tửu hậu, tại các bữa cơm gia đình hay những buổi họp chợ sớm chiều trong dạo thời gian tới...

Nhưng đó là chuyện về sau, còn ngay lúc này, Hồng Đô vác Dư Tự Lực trên vai, bay thẳng về Lão Thụ cổ viện.

oOo

Đến khi cậu thiếu niên tỉnh lại, thì thấy mình nằm trên một cái chõng tre trong một căn phòng không lớn không nhỏ, được bài trí đơn giản. Trong không khí còn phảng phất mùi thơm của rượu thuốc, khiến tâm trí người ta sảng khoái. Cách cái chõng không xa có một thiếu niên áo đen đang ngồi vắt chân trên ghế. Dư Tự Lực vội ngồi nhỏm dậy, đề phòng nhìn kẻ trước mặt. Tuy bề ngoài thì trông đối phương không hơn hắn bao nhiêu tuổi, song trực giác nói cho họ Dư biết, người này không đơn giản. Thấy phản ứng của cậu nhóc, thiếu niên áo đen chỉ cười nhẹ, đoạn nói:

“Tỉnh rồi? Tốt. Tự giới thiệu một chút, ta gọi Vương Tiểu Thạch. Hồng Đô đưa nhóc về đây có hơi thô lỗ chút, nhưng tình thế có chút cấp bách, xin lỗi nhé.”

Lời nói thân thiện dễ gần, nhưng ngữ khí của y thì cũng có phần hơi gượng ép. Song cái Dư Tự Lực chú ý hơn là danh xưng của y và người vừa rồi bắt hắn về đây.

“Không biết tiền bối có gì muốn sai bảo?”

Độ đâu đó trên dưới mười tháng trước, tại Võ Bảng Hội, một thiếu niên áo đen lấy sức một đấu năm, trèo lên thứ hạng hai trăm mười trên Võ Bảng từng là sự kiện oanh chấn Huyền Hoàng giới. Nhưng điều người ta chú ý hơn là việc y như từ khe đất chui ra, trước đó không có bất cứ thông tin gì, mà sau đó thông tin duy nhất người ta có về thiếu niên cũng chỉ có y là môn hạ của Lão Thụ cổ viện. Dư Tự Lực khi ấy còn chưa gặp Dược Thánh, mà đã nghe danh Vương Tiểu Thạch rồi.

Kẻ thứ hai, Hồng hộ vệ của Bích Mặc tiên sinh, thậm chí đã được nhắc tới trong cuộc trò chuyện của hắn với “Lã Vọng” không lâu trước đó.

Thành thử, trí thông minh của họ Dư dù có không cao cho lắm thì hắn cũng đoán được mình hiện đang ở đâu rồi: cấm địa số một Huyền Hoàng giới, nơi ở của Bích Mặc tiên sinh – Lão Thụ cổ viện.

Vương Tiểu Thạch thấy sắc mặt cậu nhóc biến đổi mấy lần, rồi như hiểu ra mọi chuyện, lại nghe được câu hỏi kia thì phá lên cười:

“Không cần căng thẳng thế! Cũng không có gì, chỉ định nhờ nhóc xem bệnh cho chủ nhân của ta thôi.”

Lần này, vì tầng quan hệ giữa Dư Tự Lực và Tề Thiên Hạ, Hồng Vân không tiện trực tiếp ra mặt, nên đành giao nhiệm vụ nói chuyện với cậu nhóc cho đám thuộc hạ. Trong mấy người, Lý Trầm Châu ít nói, mặt mày lại có chút bặm trợn; Bạch Sầu Phi tuy tuấn mỹ nhưng lại có nét nham hiểm khiến kẻ khác đề phòng; Hồng Đô thì vừa ra tay bắt người xong, cũng không quá phù hợp. Thành thử, cũng chỉ có thể để Vương Tiểu Thạch – kẻ bề ngoài thân thiện dễ gần nhất trong đám – ra trận.

“Tiền bối khéo nói đùa, tại hạ tài xơ học thiển, y thuật mèo cào, sao dám...”

“Ngừng! Bảo ngươi đi xem, ngươi cứ thử đi xem đi. Có không khám ra bệnh thì bọn ta cũng có ăn thịt ngươi đâu mà sợ?”

Y ngưng chốc lát, lại khoác vai Dư Tự Lực cười làm hòa, kế đó mới nói tiếp:

“Hơn nữa, chủ nhân đã chỉ đích danh nhóc rồi, hẳn không sai đâu!”

Dư Tự Lực có chút thụ sủng nhược kinh. Dẫu sao, từ những gì hắn nghe ngóng được, bị Bích Mặc tiên sinh chỉ đích danh cũng không phải là chuyện nhỏ. Song họ Dư cũng hiểu rõ hoàn cảnh hiện tại của bản thân không cho phép hắn nói nửa chữ từ chối. Thế là y bèn nói:

“Vậy xin phiền tiền bối dẫn đường.”

Vương Tiểu Thạch gật đầu một cái, nói:

“Vậy thì đi theo ta.”

Đoạn lắc mình, biến thành một con chó đen, tung tăng đi ra ngoài.

Dư Tự Lực đi theo Đá Nhỏ ra khỏi căn phòng nọ, ngoái đầu nhìn lại thì thấy mình vừa rời khỏi một căn nhà nhỏ xập xệ nằm ở mé Tây của tổng thể kiến trúc Lão Thụ cổ viện. Rõ ràng nhìn từ bên ngoài, phòng nọ trông bé hơn hẳn bên trong. Con chó dẫn y đi qua một khoảng sân nhỏ, tiến về căn nhà chính.

Họ Dư những tưởng căn chính cũng sẽ có trận pháp không gian giống căn phía tây để bên trong rộng hơn bên ngoài, song sự thật không phải vậy. Ngoại trừ được bài trí tương đối ngăn nắp gọn gàng ra thì căn phòng trông không khác gì một nhà dân thông thường. Một cái bàn nhỏ để đọc sách ở góc phòng, một cái bàn nước nhỏ, một cái tủ quần áo, cộng thêm một cái giường là hết căn phòng. Cậu thiếu niên nhìn xung quanh một lượt, bụng bảo dạ:

“Xem ra người đời đồn đại Bích Mặc tiên sinh đang trải nghiệm phàm trần, sống như phàm nhân là sự thật chứ không hề nói ngoa!”

Trên giường lúc này nằm một người đàn ông, sắc mặt tiều tụy, râu dài như mấy hôm chưa cạo. Y ngủ say mắt nhắm nghiền nhưng mặt thỉnh thoảng còn giật giật, lâu lâu còn trở mình như thể đang gặp ác mộng. Ngoại trừ Bích Mặc tiên sinh của chúng ta thì còn có thể là ai vào đây nữa?

Dư Tự Lực thấy tình trạng Nguyễn Đông Thanh như vậy thì cũng không tránh nổi nhíu mày lo lắng. Theo như lời đồn mà họ Dư nghe được, hắn thật không hiểu thứ gì lại có thể khiến Nguyễn Đông Thanh có bệnh tình như hiện tại. Phần vì tò mò, phần vì lương tri người thầy thuốc, cậu thiếu niên không sợ trước lo sau nữa, mà vội tiến tới, ngồi xuống bên giường, đưa tay lên bắt mạch.

Không làm thì thôi, làm rồi Dư Tự Lực lại càng không hiểu chuyện gì đang xảy ra...

Bích Mặc tiên sinh... không có mạch. Họ Dư trợn mắt nhìn người đàn ông đang mê sảng ở trên giường, lại kiểm tra lại mấy lần, song kết quả vẫn không đổi. Y đưa tay đặt lên ngực trái của Nguyễn Đông Thanh, ấn nhẹ xuống, nhưng cũng không cảm nhận được nhịp tim đập. Lúc này, lại thấy Bích Mặc tiên sinh mấp máy môi. Dư Tự Lực càng tò mò, bèn cúi người, ghé tai xuống nghe xem gã đang nói gì.

“... Lực... Lã Vọng...”

Cậu thiếu niên còn chưa kịp hoảng hồn vì những gì vừa nghe được từ miệng Nguyễn Đông Thanh, thì đã nhận ra cơ thể mình có chỗ không đúng. Cậu nhóc thấy toàn thân vô lực đến nhũn ra, trượt mình khỏi ghế, ngã ngồi xuống đất. Gương mặt tuấn mỹ của họ Dư vặn vẹo, tai và mũi của hắn dài ra. Chỉ trong thoáng chốc mà thay vào chỗ của gương mặt khiến bao thiếu nữ chết mê chết mệt đã là một cái đầu lợn.

Không sai, Dư Tự Lực là bán yêu! Mẹ hắn là người, còn cha hắn là Trư tinh. Có những lúc cơ thể mất kiểm soát, hắn cũng biến ra thành như hiện tại. Mà cái tật vuốt vành tai khi lo lắng bồn chồn của họ Dư cũng là từ đó mà ra. Hắn sờ để kiểm tra xem mình còn đang giữ được nhân dạng hay không?

Nhưng, cũng chỉ có hai trường hợp khiến hắn mất kiểm soát như lúc này: đêm trăng non hoặc khi gặp nguy hiểm tính mạng và dòng máu bán yêu cố giữ mạng cho hắn. Hiển nhiên, hiện tại là trường hợp sau.

Dư Tự Lực lúc này có thể khẳng định hai điều: Thứ nhất, Bích Mặc tiên sinh không phải tự nhiên ngã bệnh, mà là bị người hạ độc. Và thứ hai, hắn vừa rồi khi khám bệnh cho Nguyễn Đông Thanh đã bị trúng độc gián tiếp từ những độc vật còn xót lại trên người tiên sinh.

Bỗng, Bích Mặc tiên sinh đang nằm trên giường bật mở mắt. Từ trong hai cặp mắt trắng dã, hai tia sáng màu vàng uốn lượn lắt léo chảy ra ngoài, chiếu sáng cả căn phòng nhỏ trong một ảo cảnh. Trong trạng thái trúng độc nửa tỉnh nửa mê, Dư Tự Lực ngẩng đầu lên, vừa kịp chứng kiến giấc mơ sảng kỳ lạ của Nguyễn Đông Thanh đang bằng một cách nào đó được chiếu ra ngoài như phim chiếu rạp...

Phía cửa ra sân, một con chó đen và một con mèo trắng ngồi chồm hỗm nhìn tất cả những diễn biến trong phòng nãy giờ. Trông chúng không có vẻ gì là ngạc nhiên trước những chuyện đang xảy ra.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 303: Giấc Mơ Kỳ Lạ


Nguyễn Đông Thanh đang đứng trước cổng trường đại học chờ bạn gái. Hôm nay bạn gái hắn bảo vệ luận án tốt nghiệp, hắn đã hứa xong xuôi sẽ mời cô nàng một bữa chả cá Lã Vọng.

Nói về cô bạn gái này, thì kể cũng buồn cười. Nguyễn Đông Thanh quen được người ta cũng nhờ cái tính gàn của hắn. Chuyện là cô nàng hôm ấy bị mấy mụ hàng rong chặt chém ở bờ hồ, tính tiền đá trong cốc, tiền ghế đá công cộng lên gấp mấy lần tiền cốc nước. Đúng lúc hắn đi ngang qua, thấy ngứa mắt, thế là chen mồm vào cãi lý, lại dọa gọi công an phường đến. Mụ hàng nước đuối lý, lại sợ rắc rối, nên đành nhượng bộ, xong cũng dọn hàng, chạy thẳng cho lành. Nguyễn Đông Thanh khi ấy còn có hẹn phỏng vấn nên vội đi luôn, còn chả nhìn kỹ xem cô gái mình vừa giúp vóc dáng ra làm sao. Chả hiểu thế nào mấy hôm sau người ta tìm đến tận văn phòng chỗ hắn mới chuyển về làm việc để cám ơn. Rồi lại cũng chả hiểu thế nào chưa đến một tháng sau hắn đã có bạn gái...

Nguyễn Đông Thanh liếc đồng hồ, hãy còn sớm. Hắn rút điện thoại ra, đeo tai nghe vào, rồi bật phim lên xem trong lúc chờ. Màn hình điện thoại bỗng xoẹt qua những ký tự kỳ lạ, nhưng hắn cũng không để ý thấy ngay.

Đợi thêm một chút, bạn gái hắn cũng tan trường. Cô nàng chạy ùa ra, ôm hắn một cái, kế đó kéo tay hắn lôi đi. Nguyễn Đông Thanh cất điện thoại vào túi, vừa đi vừa hỏi chuyện bạn gái.

Hai người hẹn hò đã được mấy tháng, Nguyễn Đông Thanh thường xuyên bị chê là không có tí tế bào lãng mạn nào. Ví như hiện tại cô bạn gái đòi đi dạo phố cho tình cảm, còn Nguyễn Đông Thanh chỉ muốn chui quách vào một cái taxi cho mát. Thú thực thì hắn cũng tự thấy mình có chút khô khan, song nghĩ mãi mà hắn cũng vẫn chỉ có thể làm được mấy việc như rủ bạn gái đi ăn uống vào mấy dịp quan trọng.

Hôm nay Nguyễn Đông Thanh tính dẫn bạn gái đi ăn chả cá ở một quán quen. Ông chủ quán tên Lực, có quan hệ không tệ với hắn. Độ mấy năm trước, Nguyễn Đông Thanh từng dạy kèm cho thằng con của lão, thành ra đến bây giờ, lão vẫn quen mồm gọi hắn là “thầy giáo”. Nguyễn Đông Thanh sửa mấy lần không thành, bèn mặc kệ.

Phải đến cửa quán ăn, Nguyễn Đông Thanh mới ý thức được có chuyện bất thường. Đầu tiên là một cảm giác lâng lâng quen thuộc như thể tất cả những gì đang diễn ra đều đã từng xảy ra rồi (déjà-vu). Hắn vẫn không quá để ý, chỉ lắc đầu hai cái, rồi dắt tay bạn gái vào quán.

Quán có mặt tiền khá rộng, trước cửa còn treo hai câu đối chữ Hán. Nguyễn Đông Thanh đi thẳng vào không ngó ngàng gì tới, nhưng Dư Tự Lực lúc này đang xem trực tiếp giấc mơ của Bích Mặc tiên sinh thì kịp đọc:

“Thiên địa bất nhân, dĩ vạn vật vi sô cẩu.

“Thánh nhân bất nhân, dĩ bách tính vi sô cẩu.”

Quán ăn uống mà lại treo hai câu đối này, nếu không phải bất thường thì chỉ có thể là chủ quán mù chữ. Hai người vào quán, Nguyễn Đông Thanh bèn hô to:

“Chú Lực có nhà không, cho cháu hai suất chả cá Lã Vọng nhá!”

Còn chưa thấy hình ông chủ quán đã nghe thấy tiếng đáp:

“Thầy giáo Thanh đến đấy à? Đợi một chút, có ngay đây!”

Nguyễn Đông Thanh chọn một bàn, kéo ghế mời bạn gái ngồi rồi cũng ngồi xuống. Hắn ngước lên nhìn TV treo ở góc phòng, và lần thứ hai cảm thấy có gì đó khác thường...

TV đang chiếu Tom & Jerry, tập phim mà chó Spike, mèo Tom, và chuột Jerry đánh nhau, quyết định giảng hòa và chung sống hòa thuận, cho tới khi vì một miếng thịt mà lại bất hòa (1). Cảnh phim vốn đang rất bình thường, bỗng nhiên chuột Jerry hóa thành một con chuột đen, mèo Tom thành một con mèo trắng, mà chó Spike lại thành chó mực. Mà trông ba con này lại còn khá là quen thuộc... Ngoại trừ nguyên hình của Cải Thảo, Đá Nhỏ, và “Lôi Tổn” giờ còn đang lẩn trốn truy nã của Đế Mộ thì còn ai vào đây nữa?

(1: tập này tên là “The Truce Hurts”, bà con ai muốn xem lại có thể tự google tìm nhá.)

Cùng với sự biến hóa trên TV này, trong đầu Nguyễn Đông Thanh bắt đầu xoẹt qua một số ký ức, hình ảnh kỳ lạ về một ngôi nhà nhỏ với vườn rau, giếng nước trên đỉnh núi, về bốn thiếu niên nam nữ cứ một câu hai câu lại gọi hắn “sư phụ”...

Nguyễn Đông Thanh còn chưa kịp định thần để hiểu chuyện gì đang diễn ra, thì đã nghe tiếng ông Lực chủ quán:

“Chả cá có rồi đây, thầy giáo ơi!”

Hắn lắc đầu một cái, định xua tan mấy suy nghĩ quái lạ trong đầu. Song, vừa ngẩng lên nhìn ông chủ quán thì Nguyễn Đông Thanh lại đứng hình. Ông chú Lực này vóc người thì vẫn vậy, nhưng cái đầu lại là đầu lợn.

Trái tim Nguyễn Đông Thanh vọt lên tận cổ. Hắn bật dậy khỏi ghế và hét toáng lên thật to, nhưng lại phát hiện không nghe thấy tiếng hét của bản thân, và cũng chợt nhận ra mình không hề điều khiển được cơ thể. Lúc này, hắn nghe thấy “bản thân” đang rất bình tĩnh hỏi thăm sức khỏe ông chủ quán, lại giới thiệu ông ta và bạn gái mình với nhau. Ông Lực còn bá vai bá cổ hắn, giới thiệu chai rượu lão tự cất, có ý mời Nguyễn Đông Thanh mấy chén.

Mà Dư Tự Lực thì đang kinh hồn táng đảm nhìn chằm chằm ông chủ quán trong giấc mơ của Nguyễn Đông Thanh: Người này trông thật giống cha hắn, thế nhưng tính cách và biểu hiện thì khác hẳn. Nếu nói cho chuẩn, thì đây là cách mà họ Dư luôn ước ao cha hắn có thể hành xử.

Trong ảo cảnh kỳ lạ, một tiếng quát chói tai giọng nữ cất lên, một người đàn bà nhỏ thó bưng bụng bầu vọt ra, xách tai ông chủ quán lên:

“Lại chuẩn bị rượu chè đấy hử? Nói bao nhiêu lần rồi mà không nghe? Đêm nay ông muốn ngủ sô-pha phải không?”

“Ấy ấy mình bình tĩnh! Thầy giáo Thanh là khách quý tôi mới định mời, nhưng mình không thích thì thôi vậy. Bình tĩnh, bình tĩnh, đừng nóng, nóng giận không tốt cho thai!”

“Không cần ông phải dạy, cũng đứa thứ ba rồi còn gì? Đi vào nấu canh chua cho tôi ăn, dựa theo biểu hiện của ông mới xem xét có tha tội hay không!”

“Rồi rồi, ngay đây! Đau, đau, mình ơi nhẹ tay!”

Ông Lực vừa rối rít xin lỗi vợ, vừa đánh ánh mắt xin lỗi về phía Nguyễn Đông Thanh. Hắn có thể nghe thấy mình vừa cười vừa trả lời:

“Cô chú cứ thong thả nói chuyện, cháu cũng không thích uống rượu, thôi xin hẹn chú dịp khác vậy ạ!”

Bà chủ quán kéo tai chồng đi vào trong nhà, mà Nguyễn Đông Thanh cùng bạn gái cũng bắt đầu dùng bữa.

Ở bên ngoài ảo cảnh, Dư Tự Lực một mặt mê mang. Ông già của hắn tính khí rất gia trưởng, chắc chắn sẽ không hành xử như vừa rồi. Mà người phụ nữ mang thai vừa rồi cũng chắc chắn không phải mẹ hắn. Nhưng... như vậy hai người đó là ai? (2)

(2: c* Lực nghĩ đến cha hắn chứ không phải bản thân là vì cha hắn cũng tên Lực nhá, hai cha con khác nhau chữ lót/đệm chứ tên họ và tên riêng thì giống nhau. Còn cụ thể tên ông già hắn là gì thì sau này sẽ biết.)

Về phần Bích Mặc tiên sinh của chúng ta, hắn lúc này đã hoàn toàn xác định, mình đang mơ. Có lẽ đây chính là cái gọi là “giấc mơ sáng suốt” (lucid dream) mà hắn từng đọc trên mạng. Bà chủ quán vừa nãy có nét rất giống với cô thợ thủ công Hàn Thu Thủy mà hắn mới gặp ở thành Bạch Đế mấy bữa trước. Nhưng tại sao hắn lại mơ ra chuyện người ta cưới một lão đầu heo thì Nguyễn Đông Thanh cũng bó tay toàn tập, không giải thích được...

Tuy nhiên, do xác định được đây chỉ là một giấc mơ và mình chỉ ở đây với vai trò khán giả, Nguyễn Đông Thanh cũng bắt đầu thoải mái hơn nhiều. Hắn bắt đầu nhìn ngang ngó dọc, xem xem giấc mơ này còn có gì hay.

Quán ăn trông không có gì khác thường, cũng khá là khang trang. Song Nguyễn Đông Thanh cố mãi mà vẫn không phân biệt được phần nào của quán là thực sự từ trí nhớ của hắn, phần nào là hắn tưởng tượng ra. Có lẽ, giấc mơ nào cũng là như vậy, nếu phân biệt được thật giả thì đã không gọi là mơ?

Hắn bèn chuyển sự chú ý về với món ăn trên bàn. Bạn gái hắn đã chia bún vào bát cho hai người, và giờ đang lấy đũa xắn nhỏ thành miếng, chuẩn bị trộn với mắm tôm. Nguyễn Đông Thanh bèn mở vung chảo cá ra. Cái đập vào mắt hắn khiến Bích Mặc tiên sinh của chúng ta lần thứ hai muốn hét thành tiếng...

Ở chính giữa chảo cá, nằm một con... quái vật bò thẳng ra từ “hoạt hình” Nhật Bản: một cục thịt nhầy bầy với năm cái xúc tu uốn éo và hai cái hốc mắt nhưng lại chỉ có một con mắt duy nhất.

Nếu còn điều khiển được cái miệng của mình trong mơ, hẳn Bích Mặc tiên sinh của chúng ta sẽ thốt lên:

“Cái thứ của nợ này là sản phẩm của phim chế mà Nhật Bản làm dựa trên Hercules của Disney à?!” (3)

(3: Hoạt hình Hercules của Disney có nhân vật phụ ba mụ Fates chia sẻ một con mắt với nhau, nên thường xuyên có vụ móc mắt từ hốc này ra nhét vào hốc khác. Phần tại sao lại là Nhật Bản chế thì liên tưởng từ ngoại hình con quái đã miêu tả phía trên.)

Đáng tiếc, “Nguyễn Đông Thanh” trong giấc mơ không có vẻ gì là nhìn ra sự bất thường của “miếng chả cá” cả. Hắn gắp nó vào bát của bạn gái, còn bạn gái hắn thì lấy đũa móc nốt cái mắt còn sót lại của con quái vật chột mắt để riêng sang một bên. Sau đó mới gắp con quái đã mất cả hai mắt để ra góc đĩa.

Hai người cứ thế vui vẻ dùng bữa một cách ngon lành. Được một lúc thì ông chủ quán chạy ra thăm hỏi xem họ có cần thêm gì không. Bạn gái Nguyễn Đông Thanh trỏ vào con quái đã mù mắt giờ còn giãy giụa, thì lão Lực cười cười, bảo:

“Vậy thì chỉ cần thay mắt cho nó thôi mà!”

Nói đoạn, lão rút từ trong người ra hai cái bóng đèn Led.

Xem được đến đây thì Dư Tự Lực dần mất đi ý thức, bất tỉnh nhân sự. Còn về phần Bích Mặc tiên sinh của chúng ta, giấc mơ của hắn vẫn tiếp tục, song tới khi tỉnh lại thì Nguyễn Đông Thanh cũng chẳng nhớ được tí gì. Duy chỉ có hai con Đá Nhỏ và Cải Thảo vừa chăm chú nhìn ảo cảnh, vừa mở miệng trò chuyện với nhau.

Bỗng, ảo cảnh trong phòng vụt tắt. Nguyễn Đông Thanh từ từ mở mắt. Hắn liếc một vòng căn phòng, “à” lên một tiếng, lẩm bẩm:

“Ra là sốt cao nên mới mê sảng... Thảo nào... Haha, mình còn tưởng mình nghe thấy Đá Nhỏ và Cải Thảo nói chuyện cơ chứ... Làm gì có chuyện...”

Sau đó lại gục đầu, nhắm mắt, ngủ tiếp...

Hai con vật nghệt mặt, trợn mắt. Sau một hồi yên tĩnh, con mèo béo mới truyền âm:

“Này, chúng ta không phải lộ rồi đấy chứ?”

Con chó đen chạy lên đặt hai chân trước lên giường, ghé vào nhìn kỹ Nguyễn Đông Thanh, đoạn truyền âm lại:

“Hẳn là chưa. Cũng may là ngài ấy đang ốm bệnh, chứ không thì lần này chúng ta thật sự quá bất cẩn rồi!”

“Đâu phải chỉ có lần này? Còn nhớ bữa tiệc chào mừng Lôi Tổn không? Nếu ta không lầm thì ban nãy đoạn ba con vật đánh nhau... Làm sao ngài ấy cũng có ý thức về chuyện đó?”

“Không rõ, nhưng từ giờ chúng ta càng phải cẩn thận hơn!”
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 304: Bất Ngờ


Khi Dư Tự Lực tỉnh lại, thì lại thấy mình trong căn nhà có mùi rượu thuốc. Lần này chờ hắn tỉnh dậy không phải Vương Tiểu Thạch mà là một con mèo trắng béo ú.

Thấy hắn mở mắt, con mèo ngáp dài một cái, đoạn nói:

“Phần việc của ngươi đã xong. Ngươi có thể xuống núi.”

Nói xong, con mèo duỗi mình đứng dậy. Trước khi rời đi, nó còn quay lại, nheo mắt nhìn cậu chàng:

“Mà chắc không cần nhắc đâu nhỉ, nhưng những điều ngươi mắt thấy tai nghe hôm nay...”

Dư Tự Lực vội ngồi thẳng người, đáp:

“Tiền bối yên tâm, vãn bối sẽ không bép xép lung tung!”

Cải Thảo nghe vậy mới gật đầu một cái, đoạn lắc mông đi ra khỏi phòng.

Dư Tự Lực nhanh chóng thu dọn đồ đạc, vội vã rời khỏi Lão Thụ cổ viện. Trên đường xuống núi, trong đầu hắn có vô vàn câu hỏi cùng thắc mắc. Đương nhiên hắn tò mò về những việc quái lạ mình vừa chứng kiến trên cổ viện, song mấy chuyện này lại không phải nguyên do khiến họ Dư bồn chồn nhất. Điều khiến hắn bận tâm lúc này kỳ thực là chất độc mà Bích Mặc tiên sinh trúng.

Thể chất Trư Tinh tuy không khiến hắn vạn độc bất xâm, nhưng gần như có thể hóa giải phần lớn các loại độc tố trên đời nếu hắn có đủ thời gian tĩnh dưỡng. Ngoài ra, tiếp xúc với một chất độc bất kỳ còn khiến hắn sinh ra mẫn cảm với các thành phần cấu thành nên độc dược đó. Chả thế mà tuy trúng độc ban nãy nhưng hắn chỉ ngủ một giấc đã sinh long hoạt hổ như thường.

Tất nhiên, họ Dư cũng tự hiểu một phần lý do không nhỏ hắn có thể tự giải độc nhanh như vậy là nhờ hương rượu thuốc trong căn phòng phía Tây cổ viện. Nếu không có trợ lực kia, có lẽ hắn phải ngủ một ngày một đêm mới có thể hóa giải hết độc tính. Dư Tự Lực không giải thích được tại sao Bích Mặc tiên sinh rõ ràng không có lý do gì để sợ hãi độc tố này lại phải “giả bệnh” rồi “mời” hắn lên “khám”, hắn cũng không dám nghĩ nhiều về vấn đề này.

Song, trải nghiệm lần này cho hắn biết chất độc kia đáng sợ đến nhường nào. Nếu không phải vì hắn có thể chất đặc thù, hẳn ngày này năm sau sẽ là giỗ đầu của hắn. Mà điều khiến hắn thấy rợn tóc gáy hơn cả là tiếp xúc với kịch độc trên người Bích Mặc tiên sinh lại khiến hắn đặc biệt mẫn cảm với toàn bộ dược vật hắn nhận được từ sư phụ cho nhiệm vụ lần này.

Họ Dư dù có ngu đến mấy thì cũng phải nhận ra có vấn đề. Thế nhưng, tín nhiệm hắn dành cho Dược Thánh tại thời điểm hiện tại vô cùng cao, gần sánh ngang với một tín ngưỡng. Thành thử, dù sự thực đã bày ra trước mắt, Dư Tự Lực vẫn không muốn tin sư phụ hắn có ý hại dân chúng Quan Lâm. Lúc này, hắn đang cố nghĩ đủ lý do để biện hộ cho Tề Thiên Hạ. Có thể lão nhầm lẫn, có thể trực giác của hắn sai, có thể phối phương khác biệt sẽ tạo nên kết quả khác biệt, .v..v...

Song, càng nghĩ thì Dư Tự Lực lại càng tự phủ định các suy đoán này. Dược Thánh xưa nay làm việc cẩn thận, suy xét kỹ càng, sẽ không thể nhầm lẫn tai hại như vậy. Nếu phối phương và tỷ lệ quan trọng như vậy, lão cũng sẽ không yên tâm giao việc cho hắn, hoặc sẽ chọn một phương thuốc khác đơn giản hơn, hoặc sẽ giao cho sư huynh hắn. Còn trực giác của hắn lại là từ huyết mạch mà ra. Tuy họ Dư luôn khổ sở việc mình mang dòng máu bán yêu, nhưng xưa nay bản năng của hắn cũng đã cứu mạng hắn không biết bao nhiêu lần.

Nghĩ đi nghĩ lại, nghĩ xuôi nghĩ ngược, cuối cùng Dư Tự Lực vẫn quyết định liên lạc hỏi lại sư phụ về mệnh lệnh lần này. Song, muốn làm được việc này thì có chút khó khăn.

Cũng không hiểu tại sao, lần này ra ngoài, sư phụ hắn nghiêm cấm hắn sử dụng ngọc giản truyền âm. Thay vào đó, Tề Thiên Hạ đưa cho họ Dư một lệnh bài, dặn hắn nếu cần liên lạc với lão, thì truyền chân khí vào lệnh bài rồi theo chỉ dẫn của lệnh bài mà tìm kiếm người có khả năng truyền tin giúp gần nhất. Dư Tự Lực cũng thắc mắc tại sao phải vòng vo tốn công sức như vậy, song không dám hỏi lại.

Hiện tại, đã quyết định liên lạc với Dược Thánh, hắn bèn lấy lệnh bài kia ra, rót chân khí vào trong. Tức thì, tấm lệnh bài nóng lên, lại như bị cái gì đó thu hút, kéo tay chủ nhân của nó về một hướng.

Dư Tự Lực cứ thế theo chỉ dẫn của lệnh bài, đi một lúc đã thấy mình ở trong một quán trọ ở Quan Lâm.

Tấm lệnh bài dẫn hắn đến một phòng trọ ở góc khá sâu, như thể chủ căn phòng này không muốn kẻ khác để ý đến họ vậy. Dư Tự Lực kiểm tra kỹ, xác định lệnh bài trực chỉ đúng phòng trọ này, thì mới cất tấm lệnh bài đi, rồi gõ cửa phòng.

Cửa còn chưa mở, đã nghe thấy tiếng loảng xoảng trong căn phòng sát vách. Song, họ Dư cũng không nghĩ nhiều mà kiên nhẫn chờ đợi. Độ nửa khắc sau, cánh cửa kẽo kẹt mở ra. Một đạo sĩ thò đầu ra khỏi khe cửa, cảnh giác hỏi:

“Tìm ai?”

Dư Tự Lực thoáng cau mày, song y cũng không chậm trễ mà vội hỏi:

“Không biết các hạ có thể giúp tại hạ chuyển lời tới gia sư hay không?”

“Không quen biết. Không biết sư phụ ngươi là ai cả. Đi lạc thì đi chỗ khác, đừng làm phiền nhã hứng của ông đây.”

Nói xong, liền đóng sập cửa lại.

Dư Tự Lực ngạc nhiên đến ngẩn người. Hắn đứng như trời trồng ở đấy, đắn đo một lúc. Sau lại lấy tấm lệnh bài ra kiểm tra một lần nữa. Bỗng hắn vỗ trán một cái như hiểu ra điều gì, lại gõ cửa phòng một lần nữa.

Cửa phòng lần này mở nhanh hơn, nhưng thái độ của đạo sĩ nọ cũng không “tốt” như lần trước. Hắn cau có:

“Muốn ăn đòn à, nhãi ranh? Sao còn chưa cút?”

Dư Tự Lực lúc này giơ tấm lệnh bài lên, hỏi:

“Vị đạo sĩ này, xin cho hỏi một lần nữa, có thể giúp chuyển lời với sư phụ tại hạ được không?”

Đạo sĩ kia còn đang mắng dở câu, nhìn thấy tấm lệnh bài bỗng nhiên im bặt. Gã chăm chú nhìn nó một lúc rồi lại cất tiếng, nhưng lúc này thái độ đã thay đổi 180 độ:

“Ôi khách quý! Mời vào phòng, mời vào phòng!”

Dư Tự Lực cất tấm lệnh bài đi, theo y đi vào phòng. Lúc qua cửa, hắn còn có thể loáng thoáng nghe thấy hình như có tiếng đồ vật gì đó bị đánh rơi ở căn phòng sát vách...

oOo

Lã Vọng Thiên ghé sát tai vào vách tường, cố lắng nghe xem phòng bên đang nói chuyện gì.

Đến giờ hắn vẫn không tin được ân nhân cứu mạng của mình lại có liên quan đến Trang Bức Thần Giáo. Hơn nữa, dựa vào thái độ của tên Bùi Xuân Luận vừa rồi, vai vế của Dư Tự Lực, hay ít nhất của sư phụ y, còn không nhỏ đối với giáo chúng của thần giáo.

Không sai, “người đưa thư” mà Tề Thiên Hạ chỉ dẫn cho Dư Tự Lực tìm, chính là giáo chúng của Trang Bức Thần Giáo. Mà hai kẻ gần nhất với hắn đương nhiên chính là Giả Cát Tường cùng Bùi Xuân Luận.

Tuy chỉ nghe được bập bõm câu có câu không, nhưng họ Lã cũng hiểu đại khái mục đích Dư Tự Lực tìm Trang Bức Thần Giáo lần này là để nhờ bọn chúng chuyển lời đến sư phụ y, có khả năng là Dược Thánh đại danh đỉnh đỉnh của Huyền Hoàng giới. Có điều, dựa theo cuộc trò chuyện này, Lã thiếu lâu chủ vẫn chưa xác định được Dư Tự Lực có biết đến bản chất của Trang Bức Thần Giáo hay người mà y tìm gặp là bọn chúng hay không.

Qua tiếp xúc, Lã Vọng Thiên đánh giá họ Dư là người tử tế, song có câu “biết người biết mặt không biết lòng”. Là một thành viên của Vọng Thiên lâu, Lã Vọng Thiên sẽ không để hảo cảm cá nhân làm ảnh hưởng đến chính sự, hay để nó làm ảnh hưởng cái nhìn khách quan của hắn. Thành ra, lúc này, não của Lã thiếu lâu chủ đã bắt đầu hoạt động hết công suất, tính cách để điều tra từ Dư Tự Lực.

Thời gian trôi qua độ hai khắc, Dư Tự Lực xong việc, bèn rời đi. Lã Vọng Thiên chờ y đi khuất thì cũng nhẹ nhàng đẩy mở cửa phòng, đi theo ra ngoài, chuẩn bị bắt đầu kế hoạch của mình.

oOo

Cùng thời gian, tại Vọng Thiên Lâu, Đại Thục.

Lã Tinh Văn, bác của Lã Vọng Thiên, anh trai của lâu chủ Lã Tinh Vũ, nhận được thông báo từ thuộc hạ:

“Bẩm phó lâu chủ, chúng ta vừa phát hiện tin nhắn nội bộ mới của Trang Bức Thần Giáo!”

“Nội dung lần này là gì?”

“Dạ bẩm, đồ đệ Dược Thánh tại ải Quan Lâm muốn chuyển lời với y, hỏi về nhiệm vụ được giao. Tuy không nói quá rõ ràng, nhưng dựa theo những gì chúng ta biết về Tề Thiên Hạ, bọn thuộc hạ nghi ngờ có thể đây là một nhiệm vụ hạ độc.”

“Lão già họ Tề đó chỉ thu một đồ đệ, lúc này đã bị cử ra tiền tuyến, sao giờ lại có thêm một kẻ nữa?”

“Chúng thuộc hạ cũng không rõ, thế nhưng hắn có thể sử dụng hệ thống của Trang Bức Thần Giáo để chuyển tin cho lão, hẳn không phải là nhận bừa.”

“Phái người đi điều tra ngay cho ta!”

Tên thuộc hạ vừa quay người định rời đi, Lã Tinh Văn như nhớ ra chuyện gì, lại gọi y lại:

“Khoan đã!”

“Dạ?”

“Thiên nhi đang ở ải Quan Lâm có đúng hay không?”

“Dạ, hình như đúng là thiếu lâu chủ đang ở Quan Lâm ạ!”

“Cái gì mà ‘hình như’? Chuyện quan trọng như vậy ngươi cũng không chắc chắn?”

Tên thuộc hạ đỏ mặt, lúng túng. Song Lã phó cung chủ cũng không truy cứu mà lại hỏi:

“Hiện tại đến phiên trưởng lão nào đi theo bảo hộ cho Thiên nhi?”

Tên thuộc hạ giở ngọc giản ghi chép ra xem lại một lượt, sau đó bẩm báo:

“Dạ bẩm, là Thương trưởng lão ạ. Ngài ấy nói có việc cần ở châu Ngọc Lân, Đại Việt, nên tiện đường đi giải quyết luôn.”

“Truyền tin báo cho hắn tình hình, bảo hắn điều tra từ phía bên đó. Đúng rồi, dặn hắn chú ý mục đích của lão già họ Tề, cứu được người thì cứu, nhưng nếu thật sự có nguy hiểm thì cần xách cổ Thiên nhi về ngay.”

“Dạ, rõ!”

“Còn nữa. Tạm thời đừng để lâu chủ và phu nhân biết chuyện, không là lại ầm ĩ lên đấy! Mà đúng rồi, nhị đệ ta cùng đệ muội hiện đang làm gì?”

Tên thuộc hạ lại kiểm tra ngọc giản ghi chép:

“Dạ bẩm, theo như phu nhân nói thì lịch hôm nay là pích-ních, đạp vịt, và rạp chiếu phim ngoài trời ở hậu viện ạ.”

Lã Tinh Văn ngẩn người, nhỏ giọng hỏi tên thuộc hạ:

“Lũ vịt chúng ta nuôi có làm gì đắc tội với đệ muội à?”

“Dạ, thuộc hạ cũng không rõ...”
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 305: Buổi Hẹn Luận Đạo


Vài ngày sau...

Chớp mắt đã đến ngày luận đạo giữa Bích Mặc tiên sinh và Kim Thiền Tử của Long Hoa Tự.

Tuy mấy ngày này không có tin tốt gì về tình hình ốm bệnh của Nguyễn Đông Thanh, song cũng tuyệt nhiên không có tin xấu. Thành thử, dân chúng Quan Lâm không ít người liếc mắt về phía cổng thành chờ mong một điều kỳ diệu xảy ra.

Ở bãi đất trống trước cổng thành, nơi năm xưa từng là chiến trường ác liệt, phía Long Hoa Tự đã cho dựng một cái đàn siêu độ. Tuy chưa tuyên bố chính thức, nhưng phong thanh là Phật môn thấy chiến trường nơi đây âm khí quá nặng, muốn mở đàn siêu độ vong linh. Lần này còn do đích thân Kim Thiền Tử của Long Hoa Tự chủ trì. Thế là, trong mấy ngày gần đây, cơ man không biết bao nhiêu là tăng lữ đã lũ lượt kéo nhau về Quan Lâm. Cũng chẳng rõ họ là đến vì tham gia buổi siêu độ có vẻ đang được chuẩn bị này, hay là đến để trợ uy cho Kim Thiền Tử trong buổi luận đạo chưa biết có diễn ra được hay không...

Ngoài cổng thành lúc này tập trung rất nhiều người: tăng lữ khắp chốn, dân chúng Quan Lâm, người của đủ các thế lực từ nơi khác được phái tới đây để theo dõi tình hình của Lão Thụ cổ viện, cũng như binh lính thủ thành theo lệnh đến để trị an.

Mắt thấy giờ lành đã tới mà Bích Mặc tiên sinh vẫn không thấy bóng dáng đâu, một lão hòa thượng béo mập, nghe đồn là sư thúc bá gì đó của Kim Thiền Tử bước lên đài, trịnh trọng nói:

“A Di Đà Phật! Người xuất gia có lòng từ bi. Nay Bích Mặc tiên sinh đã ngã bệnh, không tiện xuống núi. Nếu đã vậy, bên Phật môn chúng ta cũng không ngại trì hoãn buổi luận đạo này một thời gian, chờ tiên sinh khỏi hẳn bệnh rồi tổ chức cũng không muộn.”

Trong thâm tâm, lão ta đang cười thầm. Mà ở Quan Lâm cũng như không ít nơi khác có kẻ hữu tâm quan sát động tĩnh của Bích Mặc tiên sinh cũng cười lạnh trong lòng. Chuyện lần này nào có đơn giản như vẻ bề ngoài? Những kẻ có thế lực lớn một chút đều đã nghe ngóng được tin lần này Dược Thánh đích thân xuất mã, quyết lấy bằng được mạng của Bích Mặc tiên sinh.

Người bình thường biết cái danh y thuật đứng đầu Huyền Hoàng giới của lão còn đã nắm chắc mười mươi lần này Nguyễn Đông Thanh khó thoát tai kiếp, nữa là số ít những kẻ biết Dược Thánh còn một thân phận lão cực kỳ ít lộ cho kẻ khác. Ấy là, lão thực chất là một trong mười một vị Địa Tôn của Đế Mộ.

Chả thế mà phe chủ chiến của Hồ Ma Huyền Nguyệt dù tiếc hùi hụi cũng không thể không phối hợp. Dẫu sao, kẻ đứng từ trong bóng tối, nắm giữ toàn quyền sinh sát của cả Huyền Hoàng giới cũng chính là Đế Mộ.

Lão tăng ngưng một chốc, lại nói:

“Thế nhưng, Kim Thiền Tử của bản tự khi đến đây, đã phát hiện chiến trường nơi đây âm khí quá nặng, nếu không siêu độ, để lâu thực không tốt. Vậy thì trong thời gian chờ Bích Mặc tiên sinh dưỡng bệnh, bản tự quyết định sẽ lập đàn siêu độ vong linh nơi đây bảy ngày bảy đêm. Mong rằng, các vong hồn có thể siêu thoát, yên nghỉ, mà bá tánh Quan Lâm cũng có thể an cư lạc...”

Lão còn chưa nói hết câu thì bỗng bị một tiếng bò rống rõ to ngắt lời.

Tất cả mọi người giật mình, sau khi quay đầu nhìn về phía tiếng động thì đều trợn mắt há mồm. Không ít kẻ còn lấy cả lưu ảnh thạch ra ghi chép lại, chuẩn bị truyền về cho thế lực đằng sau lưng mình. Chỉ riêng dân bản địa của Quan Lâm là lộ ra một nét kinh hỷ không hề che giấu.

Bởi lẽ...

Điều kỳ diệu mà dân chúng Quan Lâm chờ đợi thật sự đã đến. Bích Mặc tiên sinh mà tất cả đều chắc chắn mười mươi khó thoát kiếp này đang ngồi nhởn nhơ, đánh xe bò túc tắc đi về phía này. Tuy trông y gầy dộc hẳn đi, lại cũng có chút tiều tụy, song ánh mắt có thần, chẳng hề giống một người sắp chết...

Chẳng cần nói cũng biết, không ít kẻ trong tối đang âm thầm suy nghĩ, cái danh “y thuật đệ nhất Huyền Hoàng giới” chỉ sợ sắp phải đổi chủ.

Xe bò chậm rãi đi tới, mà Bích Mặc tiên sinh của chúng ta lúc này lại mang một vẻ mặt bất đắc dĩ, còn đang âm thầm nhìn con bò già của mình bắng ánh mắt bất thiện.

Hắn sốt cao không lùi đến tận chiều muộn hôm qua. Tuy giờ đã đỡ nhiều nhưng cảm giác thật giống như ngay trước kỳ thi học kỳ thì ốm nguyên cả tuần, chẳng ôn bài được ngày nào mà ngủ dậy đã phải chạy đi thi. Đến gần trường thi thì lại nghe tin kỳ thi được hoãn. Người ta đã có ý tốt, hắn ngu gì mà không nhận? Đang toan quay đầu, đánh xe bò âm thầm trở về cổ viện “ôn thi” thêm mấy ngày, thì cái con súc sinh trời đánh này tự nhiên rống lên rõ to, hấp dẫn sự chú ý của tất cả mọi người, đặt hắn vào thế đã rồi.

Lúc này mà Nguyễn Đông Thanh cứ thế quay xe, thì khác nào lâm trận mà bỏ chạy? Thành thử, dù có muốn về cổ viện ôn luyện thêm kiến thức thì Bích Mặc tiên sinh của chúng ta vẫn phải đến chào hỏi tất cả một tiếng trước, rồi mới mượn lời của lão tăng, cáo bệnh xin về chuẩn bị thêm mấy hôm...

Xe bò thư thư mà tới cổng thành. Nguyễn Đông Thanh vừa mới tụt xuống, còn chưa kịp làm gì thì đã bị dân chúng Quan Lâm chạy tới vây quanh, hỏi thăm đủ điều. Hắn thấy vậy thì trong lòng cũng cảm động, bèn chắp tay nói với mọi người:

“Đã để bà con cô bác phải lo lắng rồi. Kỳ thực tại hạ chỉ bị cảm sốt thông thường. Ăn vài bát cháo hành, ngủ mấy hôm cho lại sức là lại đâu vào đấy ngay ấy mà!”

Lời này Nguyễn Đông Thanh tự thấy là đúng sự thật. Ngoại trừ sốt cao đến mức mê sảng, hắn không cảm thấy cơ thể có chỗ nào khác thường. Có lẽ là do dạo gần đây cường độ công việc quá cao, mà hắn lại ít luyện tập thể dục thể thao, nên mới ngã bệnh mấy hôm mà thôi. Nguyễn Đông Thanh bụng bảo dạ, về sau này nếu tiếp tục làm công ăn lương cho triều đình, có lẽ hắn cần sắp xếp lại nhịp sinh hoạt cho điều độ hơn.

Song, vào tai những kẻ hữu tâm thì đây chẳng khác nào lời khiêu khích trắng trợn chỉ đích danh Đế Mộ và Dược Thánh. Kịch độc mà Dược Thánh bỏ kỳ công chuẩn bị suốt một năm trời, đối với Bích Mặc tiên sinh chỉ là “cảm sốt thông thường”, chỉ cần “ăn bát cháo hành”, “ngủ một hai hôm” là khỏi? Không ít kẻ suýt không nhịn được, muốn xách cổ Nguyễn Đông Thanh lên mà hỏi:

“Bát cháo hành thần thánh này có thể mua ở đâu???”

Còn may, đây cũng chỉ là suy nghĩ trong đầu. Cũng không có ai hiểu chuyện sẽ đi tin mấy lời vừa rồi của Nguyễn Đông Thanh.

Dân chúng Quan Lâm thì nào có nghĩ nhiều như vậy, có người hỏi:

“Hồng hộ vệ biết cả nữ công gia chánh ư? Nhất chú Thanh nhé!”

Nguyễn Đông Thanh nghĩ nghĩ, thấy Hồng Vân có vẻ không muốn người khác biết cô nàng là hàng xóm của gã, thế là bèn không sửa lại lời người kia, chỉ cười cười.

Chào hỏi bà con xong, hắn quay người qua phía lão tăng ban nãy, toan nói lời thoái thác, chuẩn bị cáo bệnh về “ôn bài”. Thế nhưng, không đợi Bích Mặc tiên sinh của chúng ta kịp lên tiếng thì lão hòa thượng mập đã nói:

“Nguyễn thí chủ đã khỏi bệnh thì tốt. Hôm nay là ngày lành, thí chủ có thể đúng ngày mà tới quả thật là cũng Phật môn chúng ta có duyên lắm. Chọn ngày không bằng gặp ngày, chi bằng cũng không cần trì hoãn thêm nữa, bây giờ bắt đầu luận đạo luôn đi!”

Lão tăng này cũng là tay lão luyện trong khoản nhìn người, vừa rồi lão đã nhận ra Nguyễn Đông Thanh có ý muốn bỏ về cổ viện. Theo như lão thấy, đây tuyệt đối không phải là Bích Mặc tiên sinh “lâm trận bỏ chạy”, mà là vừa rồi nghe thấy lời lão ta nói, mới ghi thù mà định ra về chuẩn bị hậu chiêu kinh khủng hơn.

Con người là vậy, đều rất dễ “suy bụng ta ra bụng người”. Lại nói, do thám của Phật môn gần đây truyền về một tin tức. Ấy là trận luận đạo với Nho môn khi trước, Bích Mặc tiên sinh đã nương tay nhiều, hậu chiêu còn chưa dùng hết. Mà tin này tương đối đáng tin, do thu thập từ tình báo về bốn đồ đệ của tiên sinh. Thành thử, đã có vết xe đổ của Nho môn ở đó, lão hòa thượng nào dám để Nguyễn Đông Thanh có thêm thời gian?

Về phần Bích Mặc tiên sinh của chúng ta, hắn thiếu điều muốn chửi thề.

“Mẹ nó! Người xuất gia không nói dối cái con khỉ! Duyên với phận cái khỉ khô gì giờ này? Đây chính là nói láo! Y hệt cách mà Phật nói dối thẳng mặt lừa gạt lũ quỷ trong ‘Sự tích cây nêu ngày Tết’!”

Bực mình không có chỗ phát tiết, Nguyễn Đông Thanh lại lườm con bò nhà mình một cái. Con bò vàng nào đó lúc này đã sớm quay đầu nhìn đi hướng khác, ngó lơ ánh mắt đầy vẻ bất thiện của “chủ nhân” mình. Song, chuyện đã rồi, đâm lao thì đành theo lao. Hắn cũng không phải loại người than thân trách phận, nên bèn nói:

“Vậy cũng được. Không biết các vị muốn luận đạo như thế nào?”

Lão tăng suy nghĩ một chút, đoạn đánh mắt với Kim Thiền Tử. Thiếu niên hiểu ý, bèn tiến lên nói:

“Đức Phật thấy chúng sinh vì ngu xuẩn mông muội mà khổ sở, từ đó hiển hoá dị tượng giáng sinh làm người. Khi mới ra đời bảy bước nở bảy đoá sen vàng, một tay chỉ trời, tay kia chỉ đất, lập hạ thành đạo chi ngôn rằng: ‘thiên thượng thiên hạ, duy ngã vi tôn, yếu độ chúng sinh, sinh lão bệnh tử’, cốt để dạy cho thế nhân cách chân tu, đạt thành chánh quả, sớm vào niết bàn. Hôm nay chi bằng chúng ta và tiên sinh cùng nhau học theo đức Phật, hiển hoá điềm lành để độ thế nhân, theo đó mà phân cao thấp, chẳng tốt lắm thay?”

Kỳ thực, trong thời gian Nguyễn Đông Thanh đáng lẽ dành ra để chuẩn bị cho buổi luận đạo này, nhà Phật cũng không ngồi chơi. Có bài học của Nho môn ở đó, Phật giáo dù có kiêu ngạo cũng không dám lơ là chuẩn bị, đã có sẵn vài phương án ứng phó. Sau khi bàn bạc, các vị cao tăng đắc đạo đều thấy, Nho môn bại ở chỗ tự đưa đạo của mình ra mời Bích Mặc tiên sinh đập phá, lại để y có cơ hội đưa ra các tư tưởng bài xích Nho giáo.

Phật môn chỉ cần tránh hai sai lầm trí mạng này, thì cho dù có kết quả buổi luận đạo này có như thế nào, hẳn hậu quả cũng không quá nặng nề. Mà phương án đấu học vấn, diễn hóa dị tượng, theo như nhà Phật thấy, hẳn là lấy sở trường của bản thân đọ với sở đoản của Bích Mặc tiên sinh. Dẫu sao, xét về độ hiểu biết và khả năng diễn giải bản chất thế giới, Phật Đạo cũng đứng đầu ngũ lộ triều thiên.

Quả nhiên, lời này vừa nói ra, đã khiến Bích Mặc tiên sinh sững sờ sửng sốt. Song, điều mà Phật môn không ngờ tới được là lý do Nguyễn Đông Thanh có vẻ mặt “khó đỡ” hiện tại.

Cứ thử tưởng tượng mà xem, chạy đến trường thi đang lo sốt vó vì chưa kịp ôn bài, lại gặp ngay cái đề hỏi đúng chuyên môn. Tuy Phật giáo so với các đạo khác kỳ thực vô cùng xuất chúng, song nếu xét về bản chất vũ trụ, thậm chí đa vũ trụ, thì Nguyễn Đông Thanh lại tự tin kiến thức khoa học tự nhiên của một người hiện đại cùng ba mươi năm kinh nghiệm xem phim khoa học viễn tưởng của hắn dư sức đấu. Tự dưng bị miếng bánh trên trời rơi xuống đập cho choáng váng, nếu không phải vì trước đó còn nghe được mấy câu “chúng sinh ngu xuẩn mông muội”, “duy ngã vi tôn” thì chỉ sợ lúc này Bích Mặc tiên sinh của chúng ta đã ngửa mặt lên trời cười như được mùa.

Cả Phật môn cùng người đến xem lúc này đều chăm chú nhìn Nguyễn Đông Thanh. Chỉ thấy nét mặt khó coi của gã thoáng chốc đã biến mất, thay vào đó là nụ cười tự tin:

“Được, cứ quyết định như vậy đi. Vậy mời đại sư bắt đầu trước.”

Hai chữ “đại sư” tuy không sai với vai vế của Kim Thiền Tử, song vì được Nguyễn Đông Thanh nhấn mạnh, với một chút địch ý không che giấu hết trong ngữ điệu, nên ai nghe cũng nhận ra Bích Mặc tiên sinh đã nổi giận. Hiển nhiên, hắn đã bị thái độ khinh thường chúng sinh của nhà Phật chọc cho máu gàn lên não. Mà bởi máu gàn lên não, Nguyễn Đông Thanh vừa rồi quên khuấy mất một chuyện:

Người ta là người tu hành, có kết nối với một trong Ngũ Lộ Triều Thiên, muốn hiển hóa ra dị tượng là chuyện đơn giản. Thế nhưng Nguyễn Đông Thanh hắn chỉ là phàm nhân, không có chân khí, lại cũng chẳng theo đạo nào, thì diễn hóa dị tượng để đấu với Kim Thiền Tử bằng niềm tin và hy vọng à?
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 306: Bích Mặc Tiên Sinh: Là Ai Đã Nhét Cái Phật Đạo Này Vào Trong Tay Ta?


Kim Thiền Tử nói:

“Nội dung thi đấu đã để Phật môn chúng ta quyết, nên để cho phải phép, xin nhường tiên sinh bắt đầu trước. Tránh cho sau này có kẻ nói ra nói vào, bảo Phật môn đã tranh ra đề lại còn chiếm cả tiên cơ của tiên sinh thì thật không công bằng.”

Nói đoạn, làm thủ thế “mời”.

Kỳ thực, nước đi này nhà Phật cũng đã có tính toán kỹ càng. Mà Kim Thiền Tử cũng càng không phải không biết “cấm kỵ” của Bích Mặc tiên sinh, lại vẫn “không biết tốt xấu” mà “chọc giận” y. Vừa rồi bày tỏ thái độ khinh thường phàm nhân cũng chính là cố tình chạm vảy ngược của Nguyễn Đông Thanh. Phật môn chính là đang đánh cược hai điều:

Thứ nhất, Bích Mặc tiên sinh sẽ không tự “phá vỡ” “nguyên tắc” của chính mình. Nguyễn Đông Thanh tự nhận mình chỉ là phàm nhân, không theo đạo nào. Như vậy, để tiếp tục “vai diễn” này, gã cũng không thể hiển hóa ra dị tượng, từ đó mà nghiễm nhiên thua cuộc. Cố tình chọc giận lúc trước cốt cũng chỉ để Bích Mặc tiên sinh không mặt dày như lần văn đấu với Nho môn mà đòi Phật môn đưa Phật đạo ra cho y “mượn dùng tạm”, tránh hậu quả khôn lường.

Thứ hai, cứ cho là Bích Mặc tiên sinh tìm được “khe hở” trong chính “quy tắc” của bản thân để lợi dụng, thì để y đi trước, Phật môn cũng có nhiều thời gian chuẩn bị hơn, lại có thể dựa theo chính dị tượng Nguyễn Đông Thanh diễn hóa ra mà phản công, giành phần thắng. Đương nhiên, nhà Phật cũng hiểu có tồn tại khả năng Bích Mặc tiên sinh ra đại chiêu mà họ không đỡ được. Song, Phật giáo có thể đặt chân ở Huyền Hoàng giới bao nhiêu năm nay, còn là một trong Ngũ Lộ Triều Thiên, nên cũng có chút lòng tự tin. Theo như họ thấy, dù có không thắng được Bích Mặc tiên sinh cũng có thể cầm hòa, không đến nỗi bại thảm.

Về phần Nguyễn Đông Thanh, lúc này não hắn mới bắt kịp mồm, nhớ ra việc mình chỉ là phàm nhân thì lanh chanh đòi thi đấu diễn hóa dị tượng với người tu hành nỗi gì? Khổ nỗi, hắn há miệng mắc quai, giờ lại mở miệng lấy lý do mình chỉ là người phàm mắt thịt để thoái thác, bảo không làm được thì cũng dở hơi.

Lại nói, chính Bích Mặc tiên sinh của chúng ta trong khi chuẩn bị cho buổi luận đạo này, trước khi ngã bệnh nằm liệt giường, cũng đã để ý tới một chuyện: Phật môn nhắm tới hắn, có thể có liên quan đến mấy lần hắn đọc thơ cho ma quỷ nghe. Mà mấy lần đó, đúng là “dị tượng” cũng không thiếu.

Nghĩ đến điều này, Nguyễn Đông Thanh bèn quyết định đánh liều. Thôi thì không theo đạo nào thì cứ khấn loạn rồi tả bừa đi vậy. Hắn tự thấy bản thân cũng có “quan hệ không tệ” với lũ ma quỷ, biết đâu lần này luận đạo với Phật lại được ma giúp cũng không chừng... Còn nếu thất bại? Cùng lắm thì trông như thằng dở hơi thôi. Sau đó, nếu bắt buộc thì đành mặt dày sau vậy.

Toàn trường nãy giờ đều chăm chú nhìn nhất cử nhất động của Bích Mặc tiên sinh. Phía Phật môn thì cười lạnh, muốn chờ xem Nguyễn Đông Thanh định xử trí thế nào, dân chúng Quan Lâm thì lo lắng cho gã, còn những kẻ từ nơi khác đến thì đều một bộ tư thái xem kịch.

Nhìn dáng vẻ trầm tư, đắn đo của Nguyễn Đông Thanh, trong đội ngũ dân buôn bán, hàng quán của ải Quan Lâm, có một người bỗng cắn môi một cái, đoạn thở dài một hơi như vừa quyết định điều gì đó quan trọng.

Nguyễn Đông Thanh vừa tính làm bừa, song còn chưa kịp có hành động gì thì bỗng thấy trời đất rung chuyển một cái.

Đợi gã hết chao đảo, định thần lại, thì đã thấy mình đứng trên một “con đường” vàng óng, trải đầy hoa sen nối thẳng từ chân mình, rồi uốn cong dần, vươn lên tới trời cao.

Sắc thái ngạc nhiên kinh hãi, lại có chút trầm trồ ngưỡng mộ trên gương mặt Bích Mặc tiên sinh của chúng ta làm dâng lên đủ loại cảm xúc trong lòng người đứng xem...

Dân chúng Quan Lâm đa số cũng ngẩn tò te giống gã. Một số ít người có máu mặt, được tiếp xúc với những tình báo cao cấp hơn về Bích Mặc tiên sinh, thì chỉ thở dài, lắc đầu. Người nơi khác tới lại rút lưu ảnh thạch ra ghi lại hình ảnh này, trong lòng thầm than “diễn kỹ” của Bích Mặc tiên sinh quả thực là xuất thần nhập hóa, mặt tiên sinh quả là dày hơn tường thành. Sự thật đã rõ mười mươi là tiên sinh có thể tùy tâm sở dục khiến thiên địa phải theo ý mình, vậy mà tiên sinh vẫn có thể cố diễn thành ngạc nhiên như thể việc này không hề có liên quan gì tới mình đến cùng cho được...

Nhưng đặc sắc nhất, có lẽ phải nói đến phản ứng của Phật môn. Người nhà Phật lần này sắp bị Nguyễn Đông Thanh chọc cho tức chết có thừa rồi.

“Mẹ nó! Không đem Phật đạo cho mượn dùng tạm thì nhà ngươi trắng trợn đem cướp về dùng phải không? Lại còn cái vẻ mặt ngạc nhiên sửng sốt kia là sao!? Chả lẽ Phật đạo tự dưng mọc ra dưới chân ngươi được chắc? Bích Mặc tiên sinh, nhà ngươi đây là sỉ nhục trí thông minh của người khác! Liêm sỉ của ngươi đâu!? Phong phạm tiền bối cao nhân đâu!?

“Mà khoan, nhà ngươi vẫn tự nhận là phàm nhân... Phàm nhân nào đánh nổi cho Nho đạo sụp một góc!? Phàm nhân nào có thể ngang nhiên cướp Phật đạo để dùng trước mặt người của Phật môn!? Xin lỗi, nhưng chúng ta mặt không dày nổi như ngươi!”

Không sai, con đường màu vàng trải đầy hoa sen bỗng dưng hiện ra dưới chân Nguyễn Đông Thanh chính là Phật đạo!

Tuy Phật môn tức thì tức thật, người khác xem cũng không nỡ nhìn thẳng thật, nhưng không ai nói gì. Bởi lẽ, nếu Bích Mặc tiên sinh cố tình chối tới cùng, cũng chẳng ai ở đây có thể ép gã thừa nhận điều gì, không biết chừng còn chọc ra cái họa khác...

Mà lúc này, trong đầu Nguyễn Đông Thanh vang lên một giọng nói lạ nhưng lại tạo cho hắn cảm giác quen thuộc:

“Tiên sinh, tôi chỉ giúp ngài được đến đây thôi, còn lại phụ thuộc ở ngài rồi. Ngài chỉ cần nghĩ trong đầu, Phật đạo sẽ tự phản ứng, diễn hóa ra dị tượng ngài muốn.”

Ngưng một chốc, lại tiếp:

“Còn nữa, xin tiên sinh tạm thời đừng để lộ cho ai việc tôi mở cửa sau cho ngài!”

Nguyễn Đông Thanh nghe được lời này thì nghĩ bụng:

“Chắc là nội bộ Phật môn cũng có người nọ người kia, cũng có nội đấu. Người ta muốn giúp mình nhưng không muốn đắc tội đồng môn rồi bị tẩy chay đây mà.”

Nghĩ vậy, hắn cũng không suy nghĩ gì thêm về vấn đề này mà chỉ gật đầu nhẹ một cái.

Có sự trợ giúp từ người giấu mặt nọ, Bích Mặc tiên sinh của chúng ta nay đã không còn phải lo lắng thi thố như thế nào nữa, chỉ cần tính xem nên sử dụng khái niệm gì, diễn hóa ra dị tượng nào mà thôi. Nguyễn Đông Thanh tự nhiên có cảm giác giống như Đường Tam Tạng thi ngồi thiền với yêu quái ở nước Xa Trì, được Tôn Ngộ Không trợ giúp đưa lên đài cao, chỉ cần tập trung vào chuyên môn.

Sau một hồi suy nghĩ, hắn quyết định sử dụng ngay đại chiêu. Theo như Nguyễn Đông Thanh biết, giáo lý của Phật tại địa cầu kỳ thực cũng có chạm đến thuyết đa vũ trụ. Tuy không phát triển đến mức như lý thuyết đa vũ trụ trong khoa học hiện đại, song so với thời đại của Phật tổ thì cũng đã quá đi trước thời đại rồi. Đây còn là thế giới tu tiên, trời mới biết cái mớ giáo lý này có phát triển hơn so với địa cầu hay không! Cho nên, nếu hắn dám khinh địch mà không nghiêm túc ứng đối, chưa biết chừng sẽ thua ở đây.

Mà đại chiêu Bích Mặc tiên sinh định sử dụng, chính là thí nghiệm “con mèo của Schrödinger”, hay cũng chính là nền móng của lý thuyết đa vũ trụ trong khoa học hiện đại.

Nói về thí nghiệm này, thì đây là nghịch lý mà nhà vật lý học Erwin Schrödinger đã tưởng tượng ra khi tranh luận với Albert Einstein về cách hiểu Copenhagen trong cơ học lượng tử. Tuy được gọi là “con mèo của Schrödinger”, nhưng thí nghiệm không hề dùng con mèo thật nào cả. Hình ảnh con mèo chỉ được sử dụng trong thí nghiệm tưởng tượng này như một ví dụ dễ hiểu mà thôi.

Về cơ bản, Schrödinger đặt ra giả thuyết về một con mèo có thể đồng thời ở trong hai trạng thái đối lập sống và chết ở trong một cái hộp kín, và chỉ khi người ta mở hộp ra thì con mèo đó mới vĩnh viễn theo một trong hai trạng thái đó mà thôi. Hiện tượng con mèo đồng thời ở hai trạng thái đối lập, còn sống và đã chết, theo lý giải của Vậy Lý, gọi là trạng thái chồng chất lượng tử, và trạng thái này thường có liên quan đến sự kiện hạt hạ nguyên tử ngẫu nhiên.

Thuyết đa vũ trụ tiến thêm một bước, giải thích rằng khi người ta mở hộp và con mèo trong hộp bị xác định vào một trong hai trạng thái, còn sống hoặc đã chết, thì cũng đồng thời tạo ra một vũ trụ song song nơi khi cái hộp được mở, con mèo đang ở trạng thái còn lại. Từ đó lại mở rộng tiếp nữa ra, lý giải rằng mọi quyết định mỗi người đưa ra trong cuộc đời họ đều tạo ra một hoặc nhiều vũ trụ song song khác nơi họ quyết định khác vậy.

Trong thí nghiệm này, còn có sử dụng đến nguồn phóng xạ cực yếu chỉ có 50% xác suất sẽ phóng xạ và một cái máy đo lường phóng xạ sẽ chỉ thải ra chất độc có thể g**t ch*t con mèo trong trường hợp phát hiện phóng xạ kia trong hộp. Đương nhiên, hai thứ này chỉ cần biết để hiểu được thí nghiệm, còn cũng không quá cần thiết đối với việc diễn hóa dị tượng.

Nguyễn Đông Thanh vừa mới chọn được ví dụ mình mong muốn, thì đúng như người kia nói, Phật đạo đã lập tức có phản ứng. Chỉ thấy trên không trung giữa Bích Mặc tiên sinh và Kim Thiền Tử xuất hiện ảo ảnh một cái hộp kim loại kín nhìn như thật.

Sau thoáng chốc ngạc nhiên trầm trồ về sự thần kỳ của Phật đạo, hắn nhanh chóng điều chỉnh trạng thái, hắng giọng nói:

“Trong cái hộp này có một con mèo. Vậy xin hỏi, nếu không dùng bất cứ cách nào quan sát vào trong hộp, theo các vị nghĩ, con mèo trong hộp còn sống hay đã chết?”

Toàn trường xôn xao vì câu hỏi bất ngờ này. Tất cả không rõ Bích Mặc tiên sinh tự nhiên hỏi vấn đề này để làm gì và đáp án tiên sinh muốn nghe là gì. Có người nghĩ bụng:

“Tương truyền Bích Mặc tiên sinh là kẻ lòng dạ nhân từ, hẳn là con mèo còn sống!”

Nên y bèn lên tiếng đáp vậy, song Nguyễn Đông Thanh chỉ cười cười không nói gì vội. Kẻ khác thấy thế lại nghĩ:

“Phải chăng Bích Mặc tiên sinh đang ‘chỉ chó mắng mèo’, mượn chuyện này để đá đểu, lên án kẻ nào khác?”

Càng nghĩ càng thấy hợp lý, thế nên kẻ này thì lại hô lên là con mèo đã chết.

Bích Mặc tiên sinh vẫn chỉ mỉm cười không đáp, khiến toàn trường càng không hiểu. Phía bên Phật môn cũng bắt đầu có tiếng xì xào nghị luận.

Thậm chí, đã có người sử dụng thử thần thông xem có thể nhìn xuyên qua thành hộp, xem chuyện ở bên trong hay không. Thế nhưng đáng tiếc, đây chỉ là ảo ảnh do Phật đạo tạo ra dựa trên suy nghĩ của Nguyễn Đông Thanh, thành ra cũng không cách nào có thể nhìn được ra điều gì khác.

Đợi mọi người ồn ào một hồi, Bích Mặc tiên sinh của chúng ta mới vỗ tay xin trật tự, đoạn nói:

“Vậy nếu tại hạ nói, con mèo trong hộp vừa còn sống, vừa đã chết, các vị có tin không?”

oOo

Lời biên tập: Không sai, tên chương chính là ref câu của Đa Long trong Lộc Đỉnh Ký bản của Tinh gia. Nhưng đây là nói suy nghĩ của người khác về hành động của Thanh chứ ko phải hành động của hắn thật.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 307: Đa Vũ Trụ Đấu Đa Vũ Trụ


Trong đầu, Nguyễn Đông Thanh lúc này lại nghĩ:

“Giá có cách nào có thể nhìn thấy con mèo trong hộp chuyển đổi liên tục giữa hai trạng thái thì tốt!”

Ý niệm vừa xuất hiện, Phật đạo đã lập tức cảm ứng. Thành hộp bỗng trở nên trong suốt, bên trong hộp, một con mèo liên tục biến đổi: lúc thì đi lại chạy nhảy, lúc thì nằm phơi xác không hề hô hấp...

Mọi người còn chưa hết ngạc nhiên về dị tượng quái lạ này, thì đã lại nghe Bích Mặc tiên sinh hỏi:

“Hiện tại, có hai lựa chọn, mở cái hộp ra, hoặc giữ nó đóng. Vậy theo các vị, nếu mở hộp ra, chúng ta sẽ thấy con mèo còn sống hay đã chết?”

Lần này, thay vì chờ mọi người trả lời, Nguyễn Đông Thanh hình dung trong đầu kết quả hắn muốn. Như trước, Phật đạo lập tức phản ứng:

Cái hộp ảo ảnh được mở ra, nhưng trong khoảnh khắc nó mở ra, tất cả mọi người có mặt cảm thấy toàn thân lâng lâng, chao đảo. Tiếp đó, cái hộp “phân thân” ra làm ba.

Không! Nói cho đúng thì toàn bộ những người đang có mặt theo dõi buổi luận đạo bị cuốn chung vào ảo cảnh, và nhân ba cùng với cái hộp. Mà tất cả mọi người đều không xác định được mình là chân thân hay chỉ là một ảo ảnh do Phật đạo tạo ra.

Trong ba phân thân, một cái hộp còn đóng nguyên, và mọi người đang tiếp tục theo dõi con mèo chuyển biến giữa hai trạng thái. Một cái hộp khác đã mở ra, và con mèo nằm im, hoàn toàn không còn động đậy nữa. Còn trong cái hộp cuối cùng, con mèo vẫn sống khỏe mạnh…

Kim Thiền Tử không hổ là thiên kiêu của Phật môn, ngộ tính rất cao, chỉ nhìn tới đây thôi bỗng thốt lên:

“Phật từng nói: Nhất hoa nhất thế giới, nhất thảo nhất thiên đường, nhất diệp nhất như lai, nhất sa nhất cực lạc, nhất phương nhất Niết bàn, nhất tiếu nhất trần duyên, nhất niệm nhất thanh tịnh.”

Nguyễn Đông Thanh cũng thoáng giật mình, song dị tượng này của hắn còn cần nốt một phần cuối cùng mới xong. Hắn bèn tập trung suy nghĩ. Tức thì, ảo ảnh chợt đổi, người xem được kéo ra khỏi ảo cảnh, còn ba cái ảo ảnh thì thu nhỏ dần đến khi chỉ còn là một chấm nhỏ trên bản đồ Đại Việt, lại thu nhỏ tiếp, trở thành ảo ảnh về toàn cảnh lục quốc và các cấm địa của yêu tộc. Ba hình ảnh vẫn chưa ngừng ở đó, mà tiếp tục thu nhỏ đến khi trở thành ba hình cầu tròn mới tạm ngừng lại.

Nếu là khi mới tới đây, có lẽ Nguyễn Đông Thanh cũng sợ không dám nói ra Huyền Hoàng giới là hình cầu. Dẫu sao, hắn cũng không muốn có số phận giống như Galileo, bị treo cổ chỉ vì dám nói ra sự thật mà không ai công nhận hay có thể chứng minh lúc đó. Thế nhưng, sau khi ở nơi này được hai năm, gã phát hiện tuy xã hội Huyền Hoàng giới vẫn là xã hội phong kiến, song không hiểu vì lý do gì đã biết việc thế giới nơi họ sống không phẳng, mà có hình cầu.

Hắn đặt giả thuyết, có thể từng có tu luyện giả đã bay ra ngoài vũ trụ nhìn lại rồi chăng, song cũng chẳng cách nào đi tìm hiểu vấn đề này, mà hỏi ra thì cũng chả ai trả lời được cho gã vì sao họ biết, chỉ bảo là được dạy từ bé thôi. Kỳ thực lý luận này của Nguyễn Đồng Thanh có thể cũng không sai, biết đâu cũng có người từng làm vậy thật, nhưng nguyên do chủ yếu thì lại là do lịch sử của Huyền Hoàng giới không thiếu người xuyên không từ Trái Đất sang. Lại nói, từ rất lâu trước đây, tiền thân của Trang Bức Thần Giáo cũng không thảm hại như hiện tại, mà từng có một quá khứ huy hoàng, gây ảnh hưởng không nhỏ đến Huyền Hoàng giới, chả qua đến giờ thì chả mấy ai còn biết đoạn lịch sử này mà thôi. Cho nên, chút thường thức này người Huyền Hoàng giới có cũng không phải chuyện gì kỳ lạ.

Quay lại hiện tại, toàn trường còn đang xôn xao không hiểu tự nhiên Bích Mặc tiên sinh lại cho họ nhìn ảo ảnh của ba bản sao của Huyền Hoàng giới làm gì, thì ba cái Huyền Hoàng giới thu nhỏ ấy đã tiếp tục tự nhân bản lên. Từ ba thành chín, từ chín thành hai bảy, tiếp lên thành tám mốt, mà vẫn không ngừng nhân lên. Mãi đến khi Nguyễn Đông Thanh chuyển suy nghĩ, ảo cảnh mới vụt biến mất, để lại tất cả một mặt ngơ ngác…

Phía Phật môn là tỉnh hồn lại nhanh nhất. Dù sao, trong giáo lý của Tổ Phật cũng từng nói đến khái niệm tương tự. Chỉ là, lời của đức Phật cao thâm mạt trắc, chúng đệ tử Phật môn ngộ tính lại cao thấp khác nhau. Thành thử, ai hiểu được bao nhiêu còn tùy ở duyên số. Thế nên, việc Bích Mặc tiên sinh có thể lý giải khái niệm này một cách đơn giản, dễ hiểu, lại dùng một dị tượng ba bước khiến toàn bộ người có mặt tại đây có cảm ngộ như hiện tại thôi đã đủ khiến Phật gia cảm thấy bị đe dọa sâu sắc rồi. Dù gì, một mớ triết lý suông không ai hiểu, so sánh với những điều ai cũng có thể tiếp thu, cái nào dễ đi vào lòng người, đoạt lấy nhân tâm hơn, ai cũng có thể nhìn ra.

Mà những người khác dần dà cũng hoàn hồn, sắc mặt ai nấy đều khiếp sợ không thôi. Những điều Bích Mặc tiên sinh vừa cho họ xem, mở mang tầm mắt thì mở mang tầm mắt thật đấy, song cũng làm không ít kẻ hữu tâm nhớ tới một lời đồn: Bích Mặc tiên sinh nhìn thấu nhân quả trường hà, nên mọi hành động của y nhìn thì như vô tình, nhưng ắt đều có chủ đích.

Lời đồn này cho tới nay vẫn người tin kẻ không. Mà cho dù tin, thì đa số cũng chỉ là bán tín bán nghi hoặc cho là nói quá. Dù sao thì nhân quả trường hà là một thứ quá trừu tượng, chưa có ai từng thấy tận mắt. Song, dị tượng mà họ vừa thấy, cộng thêm với lời dẫn dắt lúc trước của Nguyễn Đông Thanh khiến người ta không muốn cũng phải liên tưởng tới chuyện này. Không ít kẻ đã bắt đầu nghĩ, Bích Mặc tiên sinh đây là mượn Phật đạo để công bố cho người ta biết gã có thể nhìn thấu tất cả lựa chọn của kẻ khác và hệ lụy mang tính hệ thống.

Còn về lý do tại sao tiên sinh lại chọn lúc này để làm vậy? Hẳn là để buông lời cảnh cáo cho toàn bộ các thế lực trong tối, đừng vì cái lợi trước mắt mà chọc đến y. Dẫu sao, chuyện các đệ tử của Nguyễn Đông Thanh dạo thời gian này đi ra tiền tuyến bị nhắm vào, ám sát cũng không phải là chuyện quá bí mật. Người bình thường có thể không biết, nhưng người của các thế lực lớn đều đã nghe ngóng được.

Trong khi người thì ngơ ngác vì ảo ảnh về đa vũ trụ, kẻ thì âm thầm tính toán gửi tin về cho thế lực sau lưng mình, thì Phật môn cũng đã có động thái. Dù gì, đây vẫn đang là giữa buổi luận đạo. Cho dù dị tượng của Nguyễn Đông Thanh có đáng sợ đi chăng nữa, có thâm thúy khó vượt đi chăng nữa, nhà Phật cũng không thể cứ thế mà chịu thua được.

Kim Thiền Tử tiến lên phía trước một bước, chắp hai tay trước ngực, lầm rầm niệm kinh. Tức thì, gió cuốn, mây trôi, một v*t t* l*n đồ sộ dần dần thành hình, bay lơ lửng trên đầu tất cả mọi người, che lấp cả ánh mặt trời. Tất cả nhìn kỹ, mới thấy đây là một ngọn núi khổng lồ.

Chỉ thấy núi này có năm đỉnh, trên thân mọc um sùm những thân cây óng ánh như vàng ngọc, lại có muông thú sum vầy, chim chóc ca hót. Trông vô cùng kỳ diệu!

Ở trong đám khán giả, có người học rộng biết nhiều, lúc này hô lên:

“Tu Di sơn?!”

Không sai, ảo ảnh mà Kim Thiền Tử triệu hoán ra chính là thánh địa trong truyền thuyết của Phật giáo, núi Tu Di.

Ban nãy Nguyễn Đông Thanh đã diễn hóa ra đa vũ trụ. Thế cho nên nếu Phật môn không muốn bại trận này, bắt buộc cũng phải hiển hóa được ra dị tượng tầm cỡ tương xứng. Tu Di sơn theo quan niệm của nhà Phật được coi là trung tâm của vũ trụ, khởi nguồn của đa vũ trụ, không thể nghi ngờ chính là lựa chọn tốt nhất.

Chả thế mà Phật từng nói: “Như trong chỗ mà một mặt trời, mặt trăng vận hành khắp bốn thiên hạ, tỏa ánh sáng chiếu; có một ngàn thế giới như vậy. Trong ngàn thế giới có một ngàn mặt trời, mặt trăng; có một ngàn núi chúa Tu-di; có bốn ngàn thiên hạ, bốn ngàn đại thiên hạ, bốn ngàn biển, bốn ngàn biển lớn, bốn ngàn rồng, bốn ngàn rồng lớn, bốn ngàn chim cánh vàng, bốn ngàn chim cánh vàng lớn, bốn ngàn đường ác, bốn ngàn đường ác lớn, bốn ngàn vị vua, bốn ngàn vị vua lớn, bảy ngàn cây lớn, tám ngàn địa ngục lớn, mười ngàn núi lớn, ngàn Diêm-la vương, ngàn Tứ thiên vương, ngàn trời Đao-lợi, ngàn trời Diệm Diệm-ma, ngàn trời Đâu-suất, ngàn trời Hóa tự tại, ngàn trời Tha hóa tự tại, ngàn trời Phạm ; đó là tiểu thiên thế giới. Như một tiểu thiên thế giới, ngàn tiểu thiên thế giới như thế là một trung thiên thế giới. Như một trung thiên thế giới, một ngàn trung thiên thế giới như vậy là một tam thiên đại thiên thế giới. Phạm vi thế giới thành hoại như thế là nơi chúng sanh cư trú, gọi là một cõi Phật”.

Phật còn tả về núi Tu Di như sau:

“Cõi đất này dày mười sáu vạn tám ngàn do-tuần, biên giới vô hạn. Đất nương trên nước. Nước sâu ba ngàn ba mươi do-tuần, biên giới vô hạn. Nước ở trên gió; gió dày sáu ngàn bốn mươi do-tuần, biên giới vô hạn. Nước của biển lớn ấy sâu tám vạn bốn ngàn do-tuần, biên giới vô hạn. Núi chúa Tu-di, phần chìm xuống biển là tám vạn bốn ngàn do-tuần; phần trên mặt nước cao tám vạn bốn ngàn do-tuần; chân núi sát đất, phần lớn là phần đất cứng chắc. Núi ấy thẳng đứng, không có lồi lõm, sanh các loại cây; cây tỏa ra các mùi hương, thơm khắp núi rừng, là nơi mà phần nhiều các Hiền thánh, các trời đại thần diệu. Móng chân núi toàn là cát vàng ròng. Bốn phía núi có bốn mô đất rắn doi ra, cao bảy trăm do-tuần, nhiều màu đan xen, được tạo thành bởi bảy báu. Bốn mô đất thoai thoải, uốn cong sát mặt biển.”

“Núi chúa Tu-di có đường cấp bằng bảy báu; đường cấp ở dưới núi rộng sáu mươi do-tuần; sát hai bên đường có bảy lớp tường báu, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới giăng, bảy lớp hàng cây; tường vàng thì cửa bạc, tường bạc thì cửa vàng; tường thủy tinh thì cửa lưu ly, tường lưu ly thì cửa thủy tinh; tường xích châu thì cửa mã não; tường mã não thì cửa xích châu; tường xa cừ thì cửa các báu. Còn lan can thì cây ngang vàng thì cây dọc bạc, cây ngang bạc thì cây dọc vàng; cây ngang thủy tinh thì cây dọc lưu ly, cây ngang lưu ly thì cây dọc thủy tinh; cây ngang xích châu thì cây dọc mã não, cây ngang mã não thì cây dọc xích châu; cây ngang xa cừ thì cây dọc các báu. Trên lan can ấy, có lưới báu. Ở dưới lưới vàng ấy có treo linh bạc. Dưới lưới bạc, treo linh vàng. Dưới lưới lưu ly treo linh thủy tinh. Dưới lưới thủy tinh treo linh lưu ly. Dưới lưới xích châu treo linh mã não. Dưới lưới mã não treo linh xích châu. Dưới lưới xa cừ treo linh các báu. Còn cây vàng thì rễ vàng, nhánh vàng, lá, hoa, quả bạc. Còn cây bạc thì rễ bạc, cành bạc, lá hoa quả vàng. Còn cây thủy tinh thì rễ, nhánh thủy tinh; hoa, lá, lưu ly. Còn cây lưu ly thì rễ, nhánh lưu ly; hoa, lá thủy tinh. Còn cây xích châu thì rễ, nhánh xích châu; hoa, lá mã não. Còn cây mã não thì rễ nhánh mã não; hoa, lá xích châu. Còn cây xa cừ thì rễ, nhánh xa cừ; hoa lá các báu.”

“Trên đỉnh núi Tu-di có cung trời Tam thập tam, có bảy vòng thành, bảy lớp lan can, bảy lớp lưới, bảy lớp hàng cây báu... cho đến vô số các loài chim cùng nhau ca hót, cũng lại như thế.”

Về việc một do-tuần trong lời của đức Phật đổi ra đơn vị đo lường hiện đại là bao nhiêu, có rất nhiều tranh cãi, có người bảo là cỡ 7,2 km, có kẻ lại bảo phải cỡ 11-14 km mới đúng. Nhìn chung, do ngọn núi truyền thuyết này không xác định được có tồn tại hay không, cho nên cũng chẳng ai nói được chính xác nó cao bao nhiêu. Mà ảo ảnh Kim Thiền Tử triệu hoán ra khả năng cũng chỉ là phỏng theo tưởng tượng cùng ngộ tính của y mà thôi, chứ không phải hàng thật giá thật.

Nghe cái tên Tu Di sơn, Nguyễn Đông Thanh cũng có chút phản ứng. Tuy còn chưa kịp đọc nhiều kinh Phật trước khi ốm đau, nhưng cái địa danh này thì hắn lại đã gặp nhiều khi đọc tiểu thuyết mạng. Dẫu sao, núi Tu Di cũng đã vượt ra khỏi ranh giới của Phật pháp, trở thành một biểu tượng đại chúng ít nhiều biết tới. Bích Mặc tiên sinh của chúng ta tuy không biết nhiều về ngọn núi này, nhưng cũng đã nghe qua quan niệm Tu Di sơn là trung tâm của vũ trụ.

Mà bởi vì Nguyễn Đông Thanh nghĩ tới “trung tâm vũ trụ”, Phật đạo đã sớm có cảm ứng, một dị tượng thứ hai bỗng thành hình trên không trung...
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 308: Hố Đen Nuốt Gọn Núi Tu Di


Theo quan điểm của khoa học hiện đại, trung tâm của mỗi thiên hà đều là một cái hố đen khổng lồ. Cho nên, thứ mà Nguyễn Đông Thanh vô tình triệu hoán ra, chính là một lỗ đen cỡ cái bánh xe bò ở ngay phía trên đỉnh Tu Di sơn.

Về cơ bản, hố đen là một dị tượng thời không, sinh ra khi một ngôi sao khổng lồ kết thúc vòng đời, bùng phát nhiên liệu hạt nhân, và bị sụp đổ dưới chính trọng lực riêng của nó. Sau khi hình thành, lỗ đen có thể tiếp tục mở rộng nếu có các vật thể rơi vào bên trong nó. Thậm chí, hai lỗ đen có thể di chuyển cũng như sáp nhập lại thành một cái to hơn, và các nhà khoa học còn đặt cả giả thuyết về tốc độ mà hố đen các kích cỡ di chuyển nhanh chậm khác nhau ra sao.

Khi xem các phim khoa học viễn tưởng, nhiều người nghĩ rằng hố đen có lực hút kinh khủng, khiến tất cả những gì vào gần đều bị nó hút vào trong mất hút. Nhưng kỳ thực không đơn giản như vậy. Hố đen thực ra không hề hút cái gì vào cả. Điều thật sự diễn ra là bản thân lỗ đen là một vùng thời không nơi các tính chất vật lý không còn hoạt động như bình thường nữa. Ở xung quanh hố đen, thời gian trôi chậm hơn và vạn vật không còn thể tích, chỉ còn khối lượng cùng trường hấp dẫn. Cộng thêm với việc chính hố đen có trường hấp dẫn cực lớn, mới khiến cho không thứ gì rơi vào trong đó mà còn có thể thoát ra ngoài, bao gồm cả thời không và ánh sáng.

Nói một cách nôm na thì hố đen rất nặng, vô cùng nặng, nặng đến nỗi tất cả những thứ rơi vào trong nó đều không còn lối thoát. Tất nhiên, đấy là nếu như rơi được vào trong lỗ đen, vẫn còn khả năng đến gần thôi đã bị bóp nát bởi chênh lệch hấp dẫn tại mọi điểm xung quanh đó rồi.

Để cho dễ tưởng tượng, các nhà khoa học tính ra được một cái hố đen có kích cỡ một quả bóng chày thôi đã nặng bằng mười lần Trái Đất rồi. Mà hố đen ở trung tâm một thiên hà thường là loại khổng lồ nhất... Vậy nên, cái thứ mà Bích Mặc tiên sinh của chúng ta triệu hoán ra trên bầu trời Quan Lâm – kể cả có giống như núi Tu Di, chỉ là bản mô phỏng thu nhỏ đi chăng nữa – cũng nào có thể đơn giản?

Tuy người đứng xem vẫn còn bán tín bán nghi, không rõ tại sao Bích Mặc tiên sinh chỉ diễn hóa ra một vật bé tẹo như vậy để đáp lại ảo ảnh khổng lồ của Kim Thiền Tử, song không hiểu sao họ lại có thể cảm nhận được một sự yên lặng đến chết chóc, bất giác sinh ra sợ hãi. Không có một tiếng động, không có một ngọn gió, ánh mặt trời cũng ảm đạm hẳn, còn thời gian thì như chậm lại...

Trên bầu trời, lỗ đen bé tẹo kia và núi Tu Di ngày một gần nhau...

Thế rồi, vẫn không một tiếng động, không một lời báo trước, nhưng núi Tu Di bắt đầu lở ra từng mảng. Song, đất đá không lăn rơi xuống dưới, mà tất thảy bị hút thẳng vào trong hố đen.

Tất cả tăng lữ phật tử nhìn thấy chuyện này đều phải biến sắc mặt. Mà cả người đến xem náo nhiệt thì cũng không khá hơn là bao. Tràng cảnh “lấy trứng chọi đá” mọi người chờ đợi đúng là diễn ra, nhưng ai là “trứng”, ai là “đá” thì lại hoàn toàn trái ngược với tưởng tượng...

Toàn bộ những người ở trước cổng thành... Không! Phải nói là già trẻ trên dưới toàn ải Quan Lâm, cộng thêm yêu tộc trong Lục Trúc Hải và dân chúng Tế Kỳ thành cùng các thành lân cận khác lúc này nếu nhìn lên bầu trời đều có thể thấy hai thứ: Phật Đạo bắc ngang qua trời cùng một ngọn núi khổng lồ lơ lửng trên Phật đạo đang không ngừng sạt lở, thu nhỏ, như thể nó đang bị phân rã và hút vào trong hư vô...

Thế nhưng, sự việc kinh khủng đáng sợ này không dừng lại ở đó, mà cứ thế tiếp diễn, cho tới khi cả ngọn núi thánh khổng lồ biến mất hoàn toàn trong vật thể lạ mà Bích Mặc tiên sinh triệu hoán ra, để lại toàn bộ người có mặt chứng kiến tràng cảnh khủng khiếp này một mặt ngơ ngác không tin nổi mắt mình: một vật thể kỳ lạ chỉ bé bằng cái bánh xe bò vừa mới khiến cho một ngọn núi khổng lồ mới nãy còn che cả một góc trời biến mất không còn tăm hơi...

Những tưởng thế đã là xong, nhưng không! Lỗ đen sau khi nuốt gọn núi Tu Di thì liền đè thẳng xuống Phật đạo. Con đường màu vàng óng trải đầy hoa sen cũng không chịu nổi sức nặng của vật thể kỳ lạ bé nhỏ kia, bị ép cho bẹt xuống, lại phình ra. Nếu lúc trước có thể dùng hai đường thẳng song song để vẽ Phật đạo, thì giờ đây, ở khúc giữa nơi lỗ đen rơi xuống, phải lấy com-pa khoanh một vòng tròn có đường kính rộng gấp rưỡi khoảng cách giữa hai đường thẳng song song kia.

Còn may, ngay khi hố đen đập bẹt Phật đạo ra, thì Nguyễn Đông Thanh sau khi bị giật mình cũng vội xoay chuyển suy nghĩ, để dị tượng nọ biến mất.

Người đến xem luận đạo ai nấy đều lau mồ hôi trán, âm thầm than thở:

“Đến rồi! Bích Mặc tiên sinh lại đem đại đạo nhà người ta ra nhào nặn chơi đùa rồi! Quá đáng sợ! Quá khủng khiếp!”

Tất nhiên, vì không phải chuyện nhà mình, nên họ cũng chẳng lo lắng hồi hộp như Phật gia lúc này.

Người của Phật môn nhìn Phật đạo của nhà mình bị đập bẹt một khúc, lại nhớ tới chuyện Nho đạo sụp mất một góc, không ít người không tự chủ được mà rùng mình một cái. Nhiều người đã bắt đầu nản lòng thoái chí, hối hận buổi luận đạo hôm nay...

Là kẻ đứng mũi chịu sào, Kim Thiền Tử cũng bị phản phệ nặng nhất. Dẫu sao, núi thánh Tu Di cũng là hắn triệu hoán ra, nay đã bị hố đen nuốt gọn, thiên kiêu của Phật môn há có thể dễ chịu? Y thấy trong miệng ngòn ngọt, tiếp đó phun ra một búng máu.

Song, buổi luận đạo vẫn tiếp diễn. Kim Thiền Tử lại chắp tay trước ngực, lầm rầm niệm kinh.

Dưới chân y, một đài sen xuất hiện. Sau đó, phía trên Phật đạo, chi chít các đài sen xuất hiện, dễ phải đến cả trăm, cả ngàn cái cả thảy. Trên mỗi một đài sen, lại có một vị Phật, hoặc bồ tát, La Hán đứng. Tại đài sen ở vị trí trung tâm, một vị Phật – có thể là Tổ Phật – ngồi ngay ngắn, bộ dáng như đang giảng đạo cho chúng đệ tử. Có lẽ đây là cõi niết bàn? Hoặc chăng đây chính là thời kỳ thịnh vượng, huy hoàng của Phật giáo Huyền Hoàng giới, khi mà “Phật nhiều như hằng hà sa số”? Tràng cảnh này, thanh thế này, ắt hẳn có thể dọa bất cứ thế lực nào ở Huyền Hoàng giới. Đáng tiếc, vào mắt Bích Mặc tiên sinh của chúng ta, thì nó chỉ khiến hắn hoài niệm tuổi thơ xem Tây Du Ký mỗi mùa hè mà thôi...

Về sau, khi Nguyễn Đông Thanh đã lớn, có dịp đọc nguyên tác của Ngô Thừa Ân, thì cũng nhận ra bản năm 1986 do Dương Khiết làm đạo diễn có rất nhiều chỗ hiểu sai, làm sai, chế đi hơi xa, thậm chí một vài chỗ thiếu tôn trọng nguyên tác. Từ đó mà gây ra không ít hiểu lầm mang tính hệ lụy, hệ thống đối với khán giả, bao gồm cả khán giả Trung Quốc. Song, vẫn không thể phủ nhận việc bản phim truyền hình này gắn liền với tuổi thơ của hắn cùng biết bao thế hệ trẻ em châu Á, cũng như là thứ đầu tiên nhiều người sẽ nghĩ đến khi nhắc đến Tây Du Ký, Tôn Ngộ Không, hay thậm chí Phật giáo nói chung.

Thành thử, cảnh tượng trước mắt đối với Nguyễn Đông Thanh cũng chỉ như Linh Sơn trong phim mỗi lần Tôn Ngộ Không chạy tới ăn vạ, tính ra có khi “kỹ xảo” còn không đẹp bằng bản Tân Tây Du Ký năm 2011 của Trương Kỷ Trung làm.

Lúc này, trong đầu Nguyễn Đông Thanh lại vang lên giọng nói của người ban nãy đã giúp hắn:

“Tiên sinh cẩn thận! Ảo ảnh này có thể tính là nửa thần thông đặc hiệu của Phật môn, tên gọi Vạn Phật Triều Tông. Phật quang phổ chiếu như vầng dương, đả phá vạn tà trên đời. Đây là phòng ngự tuyệt đối của nhà Phật, nếu không thể thành công công phá vòng phòng ngự, ngược lại sẽ bị ánh hào quang như mặt trời sau lưng Đại Nhật Chân Phật – cũng chính là vị ngồi ở trung tâm ảo ảnh – bắn trả.”

Nghe được lời này, Nguyễn Đông Thanh mới có phản ứng. Tuy ngoài mặt hắn vẫn cố tỏ ra không sợ sệt, nhưng trong lòng thì không ngừng chửi bới:

“Mẹ nó! Chỉ là luận đạo thôi, có cần phải lôi ‘phòng ngự tuyệt đối’ với chả ‘tia tử thần’ ra đối phó với một tên phàm nhân không? Sẽ chết người đấy!”

Song, ngoại trừ chửi rủa ra thì Bích Mặc tiên sinh của chúng ta cũng nóng máu lên không ít. Nếu như không có người kia nhắc nhở, hắn lại chủ quan mà dùng cái dị tượng nào không “đủ đô”, không chừng chết thế nào còn không hay. Nếu nhà Phật đã muốn dồn ép hắn đến nước này, hắn mà còn không lôi toàn bộ vốn liếng ra đấu lại, thì cũng thật không “phải phép”. Nguyễn Đông Thanh tuy bình thường làm người theo phương châm “dĩ hòa vi quý”, “tha được thì tha”, song đó là khi người ta chưa tỏ thái độ muốn dồn hắn đến chỗ chết mà thôi. Còn nếu đã muốn ép hắn, thì Bích Mặc tiên sinh của chúng ta đều không ngại gàn lên mà liều mạng một phen. Mà nếu cần công kích một đòn phá được ngay vòng phòng ngự, không để thần thông kịp bắn trả, vậy thì Nguyễn Đông Thanh thấy nên dùng công kích mạnh nhất mà hắn có thể tưởng tượng ra.

Suy nghĩ của Nguyễn Đông Thanh thoáng lướt qua phản vật chất, song hắn lập tức đổi chủ ý. Dù gì hiện tại luận đạo cũng là diễn hóa dị tượng, nên hắn không dám chắc thần thông phòng ngự kia của Phật môn có thể tính là “vật chất” hay không. Nhỡ như không phải, chẳng phải là hắn tấn công thì thất bại mà còn bị bắn chết tươi hay sao? Mà nếu phản vật chất không phải lựa chọn tốt, thì hay là phản ứng nhiệt hạch đi?

Về cơ bản thì phản ứng nhiệt hạch là một trong hai loại phản ứng hạt nhân, loại còn lại là phản ứng phân hạch, hay cũng chính là nền móng của bom hạt nhân. Phản ứng nhiệt hạch là quá trình hai hạt nhân kết hợp lại làm một hạt nhân mới nặng hơn, từ đó phóng thích hoặc hấp thu năng lượng tương ứng cần thiết. Bởi vậy mà phản ứng này còn có tên gọi khác là phản ứng tổng hợp hạt nhân hay phản ứng hợp hạch.

“Nhưng, dùng gì làm nhiên liệu cho phản ứng nhiệt hạch này đây?”

Nguyễn Đông Thanh nghĩ nghĩ, quyết định thử dùng chân khí làm nguyên liệu phản ứng xem có được hay không. Dẫu sao, ở đây hai năm, hắn cũng đã sớm thấy chân khí của tu luyện giả có rất nhiều tính chất của một nguồn năng lượng. Suy nghĩ trong đầu hắn luân chuyển, Phật đạo cũng lập tức cảm ứng. Thế rồi, một dị tượng bắt đầu hình thành trên không trung.

Chỉ thấy trong không khí, có thứ gì được kéo ra ép vào nhau. Thế nhưng, khi hai hạt “chân khí” hợp lại làm một, không có vụ nổ mà Nguyễn Đông Thanh chờ đợi, thay vào đó… chả có chuyện gì xảy ra cả…

Ban nãy khi Nguyễn Đông Thanh thoáng nghĩ tới phản vật chất, Phật đạo cũng có cảm ứng, nên cũng không phải không có ai tinh mắt đã kịp nhìn thấy có dị tượng suýt thành hình rồi lập tức biến mất. Thành thử, trong đám người xem, cũng đã có tiếng xì xào bàn tán. Có người nghĩ Phật môn cuối cùng đã làm khó được Bích Mặc tiên sinh, lại có kẻ nghĩ tiên sinh có thể đang suy xét xem ra tay nặng nhẹ ra sao. Nay một lần nữa lại thấy dị tượng Bích Mặc tiên sinh tạo ra chẳng làm gì đặc biết cả, tiếng nghị luận ngày càng lớn. Mọi người đều không hiểu Nguyễn Đông Thanh tính làm gì.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 309: Hưu Hướng Như Lai


Nguyễn Đông Thanh lúc này nghĩ thầm:

“Có lẽ chân khí không có tính chất cần thiết cho phản ứng nhiệt hạch. Thôi, cũng may vì không nảy sinh phản ứng gì nên phòng ngự của người ta cũng không coi là công kích, mình mới không bị bắn cho chết toi!”

Nếu chân khí đã không dùng được, thì hắn đành dùng loại nhiên liệu phổ thông nhất của phản ứng nhiệt hạch – khí Hydro – thôi vậy.

Song, nếu đằng nào cũng sử dụng Hydro, thì Nguyễn Đông Thanh tính tiến thêm một bước, sử dụng luôn bom nhiệt hạch, hay còn gọi là bom H.

Người bình thường chủ yếu chỉ nhớ đến bom hạt nhân, hay bom nguyên tử/bom A, cũng do hai quả bom mà Mỹ thả xuống Hiroshima và Nagasaki quá chấn động địa cầu. Nhưng ít ai biết bom nhiệt hạch hay bom H còn có sức công phá, hủy diệt đáng sợ hơn bom nguyên tử cả trăm, thậm chí cả ngàn lần. Bom A sở dĩ có sức tàn phá lớn tới như vậy, là bởi phản ứng phân hạch. Còn bom H đáng sợ hơn bom A là bởi nó sử dụng cả phản ứng phân hạch lẫn phản ứng nhiệt hạch.

Nói cho chính xác, thì bom nhiệt hạch sử dụng năng lượng từ phản ứng phân hạch hạt nhân chính để nén và kích động một phản ứng tổng hợp hạt nhân thứ cấp. Cho nên có thể nói, bom nguyên tử chỉ là bom đơn, còn bom nhiệt hạch thì lại là bom kép. Nếu như bom nguyên tử có sức công phá tương đương với hàng nghìn tấn thuốc nổ TNT, thì bom H thường sẽ có sức công phá cỡ tương đương hàng triệu tấn thuốc nổ TNT. Người đời chỉ nhớ tới bom nguyên tử, vì nó đã từng được sử dụng trong chiến tranh. Còn bom nhiệt hạch, tuy có sức công phá đáng sợ hơn, song mới chỉ được một số nước thử nghiệm, chứ chưa ai dám đem chúng đi sử dụng làm công cụ cho tội ác cả.

Tuy nhiên, theo như thông tin nghiên cứu và thí nghiệm, thì quả bom mạnh nhất trong lịch sử là bom Sa hoàng do Liên Xô chế tạo năm 1961, với sức công phá tương đương 57 triệu tấn thuốc nổ TNT.

Mà ngay lúc này, Nguyễn Đông Thanh chính là đang vắt óc nhớ lại toàn bộ những gì hắn từng đọc, biết về bom Sa hoàng...

Trên bầu trời, một vật hình bầu dục dần thành hình ngay phía trên đầu ảo ảnh của Đại Nhật Chân Phật. Ngay sau đó, vật thể kỳ lạ kia cứ thế rơi tự do xuống. Kim Thiền Tử nhíu mày, định thần chuẩn bị ứng chiến. Chân Phật trong ảo ảnh cũng đưa tay lên, xòe bàn tay ra, đánh ra một chưởng về phía vật kỳ lạ kia. Thế rồi...

Oành!!!

Một tiếng nổ khiến trời đất rung chuyển, người xem váng đầu nhức óc vang lên...

Bụi bay mờ mịt, gió nóng nổi lên như lốc, cuốn ra xung quanh, khiến tất cả mọi người ở hiện trường đều phải đưa tay lên che mặt, bịt tai. Dân chúng và yêu tộc ở các vùng lân cận còn có thể nhìn thấy một đám mây hình nấm ngay phía trên Phật đạo...

Cũng còn may quả bom nhiệt hạch này chỉ là ảo ảnh do Phật đạo diễn hóa ra, mà thần thông Vạn Phật Triều Tông với sức phòng ngự phi thường cùng với bản thân Phật đạo lại đã hứng trọn phần lớn sức công phá của nó. Chứ nếu không, có lẽ toàn bộ ải Quan Lâm đã bị san bằng.

Bụi mù tản đi...

Thần thông Vạn Phật Triều Tông đã biến mất không còn tăm tích, Kim Thiền Tử đứng như trời trồng, quần áo xộc xệch, mặt mày đờ đẫn, khóe miệng có máu chảy ra. Phật đạo bắc ngang trên đầu y trông cũng ảm đạm hẳn. Không còn vàng óng như mạ vàng nữa mà giờ vẩn đục, nhấp nháy như bóng đèn điện chập chờn sắp tắt...

Bỗng...

“Rắc” một tiếng. Ở trung tâm vòng tròn bị hố đen tạo ra ban nãy, cũng chính là nơi quả bom H mới rồi phát nổ, Phật đạo vỡ ra như cửa sổ thủy tinh bị người ta lấy búa tạ đập, thủng mất một lỗ to chừng cái nhà...

Chúng đệ tử Phật môn khắp nơi đều cảm thấy trong người nhộn nhạo, Phật tâm thấp thỏm không yên. Phía sau Kim Thiền Tử, lão hòa thượng mập đánh mắt cho một đệ tử tục gia mặt sẹo. Người này hiểu ý, lui vào chỗ khuất, chắp tay trước ngực, bắt đầu lầm rầm tụng niệm gì đó.

Nguyễn Đông Thanh cũng bị thanh thế của chính quả bom mình thả dọa cho sợ ngây người. Tuy nói hắn là người hiện đại, đã nghe và đọc về V* kh* h*t nh*n không ít, thậm chí còn xem nhiều phim khoa học viễn tưởng rồi, cũng chẳng lạ gì với những cảnh nổ lớn. Song, dù gì hắn cũng sinh ra và lớn lên trong thời bình. Đến bom của Mỹ ném Việt Nam hồi chiến tranh Bích Mặc tiên sinh của chúng ta còn chưa thấy bao giờ, chứ đừng nói là chứng kiến tận mắt ở cự ly gần một vụ nổ bom nhiệt hạch. Thành thử, trong lòng Nguyễn Đông Thanh lúc này cũng chấn động không thôi. Hắn còn đang mơ màng thì bỗng lại nghe tiếng của người đã hai lần giúp mình vang lên trong đầu:

“Tiên sinh, cẩn thận!”

Nguyễn Đông Thanh giật mình ngẩng lên, thì thấy một vị hòa thượng mặt mày hung ác, cầm một thanh đao lớn, đang lao thẳng đến chỗ mình.

Hắn cuống cuồng, vội vã đưa tay lần mò tìm đống bảo vật hộ mạng mà hội phụ huynh cổ viện đưa, chỉ để phát hiện, hắn không mang theo chúng. Mấy thứ này vốn là vật bất ly thân của Nguyễn Đông Thanh trong thời gian gần đây. Song, khổ một nỗi, trong mấy ngày hắn ốm, mồ hôi mồ kê toát ra đầm đìa, nên đã có người thay quần áo hộ cho. Về việc là Hồng Vân hay cô mèo máy Hồng Đô, hắn thấy đây là việc nhạy cảm, người ta cũng là vì chăm sóc mình, nên không hỏi kỹ. Nhưng cũng vì quần áo thay ra, nên cái mớ bùa hộ mạng kia cũng phải tháo hết ra. Hôm nay hắn vội ra ngoài, nên quên không mang theo, đi được nửa đường thì cũng có nhớ ra, song lại nghĩ hôm nay chỉ đi luận đạo, đối phương còn là người nhà Phật, chắc hẳn không có gì nguy hiểm tính mạng, nên cũng không quay lại lấy. Giờ này chắc đống bùa hộ mạng ấy vẫn nằm trong phòng hắn trên Lão Thụ cổ viện.

Nào ngờ, chỉ là luận đạo thôi mà Phật môn năm lần bảy lượt muốn mạng hắn. Nay xem chừng còn sắp đắc thủ...

Mắt thấy đồ đao sắp bổ xuống đầu Bích Mặc tiên sinh, thì xung quanh Nguyễn Đông Thanh xuất hiện một tấm màn ánh sáng màu xanh bao bọc lấy y. Ảo ảnh “phóng hạ đồ đao, lập địa thành Phật” gặp màn sáng xanh lập tức tan rã thành khói tản đi. Bên cạnh Nguyễn Đông Thanh, bước ra một nam tử phong trần, tuấn mỹ, ngoại trừ chú hai của Tạ Thiên Hoa – Tạ Hàn Thiên ra thì còn ai vào đây nữa?

Tạ Hàn Thiên chắp tay với Nguyễn Đông Thanh, nói:

“Tạ mỗ đến chậm, khiến tiên sinh phải kinh sợ rồi!”

Nguyễn Đông Thanh đưa tay lên vuốt ngực, thở phào một hơi, đoạn cũng vội chắp tay đáp lễ:

“Đa tạ ân cứu mạng của Tạ huynh!”

Sau đó, hắn quay về phía Phật môn, tức giận nói:

“Đây là cách hành xử của Phật môn các người sao? Nói là luận đạo nhưng đấu không lại thì giở trò ám sát? Đây là cách mà các người phổ độ chúng sinh, đề cao thiện niệm? Nếu đây là cách Phật môn các người ‘nói đi đôi với làm’, thì tại hạ thấy các vị cũng chỉ có một mớ lý thuyết sáo rỗng, một cái bánh vẽ lừa gạt thế nhân mà thôi!”

Lão hòa thượng mập thấy ám sát thất bại, lại còn bị Nguyễn Đông Thanh chất vấn, mà Kim Thiền Tử thì vẫn còn chưa hoàn hồn thì thầm kêu đại sự không ổn. Lão vội vã tiến lên, nói:

“Tiên sinh, việc lần này là chúng ta sai, bần tăng xin có lời tạ lỗi với ngài. Song, ngài cũng không thể vì hành động của một cá nhân mà chỉ trích toàn bộ Phật môn chúng ta được. Đức Phật vì muốn giúp chúng sinh nhập niết bàn, tránh khổ ải nên mới giáng sinh...”

Lão tăng còn đang chuẩn bị thao thao bất tuyệt, thì đã nghe được tiếng cười lạnh của Bích Mặc tiên sinh. Lúc này Nguyễn Đông Thanh đã vô cùng tức giận. Giết người không thành thì định nói một câu xin lỗi cho xong chuyện? Nào có dễ thế?! Lại còn “hành động của một cá nhân”? Coi hắn là kẻ ngu chắc? Nếu thật sự là hành động của một cá nhân, Phật môn không ai khác âm thầm ủng hộ, thì cũng chả đến phiên Tạ Hàn Thiên phải cứu mạng gã. Nếu nhà Phật đã nhất quyết muốn biện hộ, thì hắn cũng không thấy cần thiết phải nhịn nữa. Nguyễn Đông Thanh nói:

“Hay cho một câu ‘giúp chúng sinh nhập niết bàn, tránh khổ ải’. Vậy xin hỏi đại sư cùng các vị Phật tử, tăng lữ một điều: người tốt mà không tin theo Phật có thể nhập niết bàn hay không? Ngược lại, kẻ xấu mà tin theo Phật thì liệu có thể nhập niết bàn hay không?

“Nếu như nhập niết bàn quan trọng ở thiện – ác, tốt – xấu, không quan trọng ở tin theo Phật hay không, thì Phật lấy gì để đòi thế nhân phải tin theo Phật? Ngược lại, nếu thiện – ác, tốt – xấu không quan trọng, hễ theo Phật thì có thể nhập niết bàn, thì Phật lấy gì để tự xưng bản thân là thiện, là tốt, là vì phổ độ chúng sinh, là vì muốn giúp chúng sinh cùng nhập niết bàn?”

Lão sư mập mở miệng ra để phản bác, song lại không nói được gì... Chúng đệ tử Phật môn có mặt tại hiện trường nghe được lời chất vấn này cũng cứng họng, vẻ mặt hoang mang ngơ ngác, có chút hoài nghi nhân sinh.

Kim Thiền Tử thì bỗng giật mình một cái, chầm chậm quay đầu nhìn về phía Nguyễn Đông Thanh với ánh mắt đờ đẫn và biểu cảm như nhớ ra điều gì, song lại rất nhanh mờ mịt như cũ...

Nguyễn Đông Thanh thấy phản ứng của nhà Phật thì cũng khá hài lòng, cơn tức giận vơi đi không ít. Lúc này, hắn lại chợt nhớ tới một bài thơ khá hợp với hoàn cảnh này, bèn nói:

“Các vị cứ chầm chậm mà suy nghĩ, bao giờ có câu trả lời, tại hạ xin rửa tai lắng nghe. Song, buổi luận đạo này tới đây là hết đi. Tại hạ tài sơ học thiển, thôi thì mượn mấy câu thơ của cổ nhân Phật môn tặng lại cho chính các vị vậy!”

Nói rồi bắt đầu ngâm:

“Ly tịch phương ngôn tịch diệt khứ,

Sinh vô sinh hậu thuyết vô sinh.

Nam nhi tự hữu xung thiên chí,

Hưu hướng Như Lai hành xứ hành.”

(Dịch nghĩa:

Lìa được sự h*m m**n đi vào niết bàn thì mới có thể bàn chuyện đi vào niết bàn,

Sinh vào cõi vô sinh rồi mới có thể bàn chuyện vô sinh.

Làm trai phải tự có chí xung trời thẳm,

Đừng nhọc mình dẫm theo vết chân của Như Lai.

Bản dịch thơ của Ngô Tất Tố:

Thoát kiếp rồi bàn câu tịch diệt

Không sinh hãy nói chuyện siêu sinh

Tài trai có chí xông trời thẳm

Giẫm vết Như Lai luống nhọc mình

Bài này tên là Hưu hướng Như Lai, của Quảng Nghiêm thiền sư, sáng tác vào thời Lý.)

Đọc xong, liền phất áo mà rời đi. Tạ Hàn Thiên nhìn xung quanh, suy nghĩ một chút, rồi cũng xoay người đi theo Nguyễn Đông Thanh.

Trên bầu trời, Phật đạo liên tục kêu lên răng rắc, cuối cùng lỗ hổng cỡ căn nhà mở rộng ra, khúc giữa của Phật đạo tách hẳn thành hai. Tuy đầu và cuối thì vẫn chập nhất, nhưng nhìn tổng thể thì Phật đạo giờ này trông thật giống một con mắt to, với hai đầu nối trời, đất là hai khóe mắt, đuôi mắt.

oOo

Lời nhóm tác: Tiện thể nói luôn, chương sau sẽ quay lại kể chuyện Lý Thanh Vân, và sẽ bắt đầu từ vài ngày trước, tức là lúc Thanh còn đang mê sảng trên giường.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 310: Oan Gia Ngõ Hẹp


Lại kể chuyện đại đồ đệ của Nguyễn Đông Thanh.

Mấy ngày này thành Hải Nha cũng coi như là yên tĩnh...

Lý Thanh Vân bị ám sát, song thương thế không nặng, tĩnh dưỡng mấy hôm là khỏi hẳn, cũng sinh hoạt như bình thường. Chỉ là thỉnh thoảng sẽ thẫn thờ nhìn ra phía khoảng không.

Quan Hạ Băng biết cậu chàng bị người ta phản bội như thế, khó trách khỏi tâm tình sa sút, song cũng chẳng biết phải khuyên bảo ra sao, chỉ đành thở dài lắc đầu.

Tính ra, thì cô nàng vẫn may mắn hơn người em cùng cha khác mẹ này nhiều.

Không kế thừa được thể chất của Lý Huyền Thiên cũng xem như là một loại may mắn. Chí ít, Quan Hạ Băng có thể bình yên trưởng thành, không bị cuốn vào âm mưu tranh quyền đoạt đích của họ Lý.

Hơn nữa...

Hiện tại Hải Thú cũng đã đánh lên bờ, cô nàng cả ngày nếu không đi đốc thúc binh sĩ thì cũng là bàn luận đối sách chống địch với Thẩm Tư Quân.

Quả thực là không lấy đâu ra tinh lực và thì giờ để nghiên cứu cách an ủi cậu em trai cả. Cô nàng cũng chỉ có thể nhờ hai anh em Hàn Thanh Tú, Hàn Anh Tuấn thường xuyên đến tìm Lý Thanh Vân, nói chuyện với cậu chàng để giải khuây.

Cũng may là Lý Thanh Vân tuy thỉnh thoảng cũng có thẫn thờ mất hồn một chút, song trên tiền tuyến cậu chàng chưa bao giờ gây phiền hà cho người khác, lúc nào cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Ngay cả cái lần đầu tiên giao đấu với Hải Thú, Lý Thanh Vân cũng chỉ bất ngờ trong thoáng chốc mà thôi.

Tinh thần trách nhiệm có thể nói là cực kỳ tốt, thậm chí còn hơn cả một số lão binh trong quân.

Lính lác xưa nay l* m*ng, chỉ thích anh hùng.

Lý Thanh Vân liên tục lập công trên chiến trường, hơn nữa cũng cứu không ít binh sĩ trong doanh, thành thử quân tướng Ngoan Thạch doanh chẳng mất bao lâu đã đón nhận cậu chàng, có thể nói là vừa kính trọng vừa thân thiết, một mối quan hệ cực kỳ vi diệu. Ngay cả người của Du Long doanh cũng không thể không thừa nhận chiến lực của Lý Thanh Vân rất quái đản, không thể dùng lẽ thường mà suy xét.

Quan Hạ Băng vừa định quay đầu, thì đã thấy hai anh em họ Hàn chạy tới:

“Lý lão đệ! Có tin tốt đây!”

Hai người này là một trong số ít người được Quan Hạ Băng nói rõ chân tướng về Tô Răng Vẩu cho. Rồi chẳng rõ là ý của ai, thế nhưng hai anh em đều sử dụng luôn cái xưng hô “lão đệ” này của y.

Lý Thanh Vân ngẩng đầu lên, đoạn cười:

“Không rõ hai vị lại cho thằng em này tìm chuyện phiền toái gì đây?”

“Còn nhớ người mà hai chúng ta vẫn kể cho cậu không? Thiên tài đệ nhất của Hàn gia đời này ấy...”

Lý Thanh Vân nhìn về phía thiếu nữ đang háo hức chạy tới, hai mắt tỏa sáng, bất giác bật cười một tiếng. Hàn Thanh Tú này thực ra cũng gọi là dễ nhìn, có tài, chẳng qua là có hơi... tự luyến, không phục bất cứ một thiếu nữ nào trạc tuổi. Chẳng thế mà ngay cả Quan Hạ Băng cũng bị bảo là xấu hơn nàng ta mười mấy hai chục lần.

Có lẽ...

Ngoại lệ duy nhất của Hàn Thanh Tú chính là vị thiên tài trẻ tuổi đệ nhất thế hệ này của Hàn gia.

Lý Thanh Vân từng được hai anh em nói chuyện, kể rất nhiều về cô thiếu nữ này. Tương truyền nàng ta cơ hồ mười phần chắc chín sẽ trở thành gia chủ kế nhiệm, nắm trong tay đại quyền của Hàn gia đại Yến.

Thế nhưng, đùng một cái chẳng khác nào sét đánh ngang tai, nàng ta chạy mất.

Mà hai anh em Thanh Tú, Anh Tuấn có hứng thú với thuật cơ quan, cũng chỉ có mình nàng ta ủng hộ hai người theo đuổi con đường mình yêu thích. Có thể nói, nếu không có vị thiên tài đó của Hàn gia duy trì, chưa chắc hai anh em đã đủ quyết tâm không theo nghiệp gia truyền.

Thành thử, Lý Thanh Vân cũng rất lấy làm tò mò về vị Hàn Thu Thủy này.

Hàn Anh Tuấn nói:

“Tiểu thư đã đến Hải Nha. Lý lão đệ chẳng phải đang buồn phiền vì không có giáp trụ sao? Đến lúc đó hai chúng ta mở lời nhờ vả, tặng lão đệ một bộ, xem như đền ơn cứu mạng hai lần luôn.”

Năm ngày trước...

Hải Thú tràn lên bờ bất ngờ, vừa lúc Ti Đằng doanh bị phái ra ngoài kiểm tra cơ quan, trận pháp trên biển, trong đó có cả hai anh em họ Hàn. Người của Ti Đằng doanh đều tu hành cơ quan thuật, trận pháp thuật, chiến lực kém cỏi, thân thể cũng chẳng mạnh là bao. Hai người Hàn Anh Tuấn, Hàn Thanh Tú dựa vào trận pháp có thể chống được Hải Thú một lúc, song chẳng thể nào quay về thành được, chỉ có nước chờ chết.

Trong hoàn cảnh Du Long doanh vì mất thủ lĩnh mà không chịu xuất chiến, Lý Thanh Vân bèn làm một chi kỳ binh, dẫn một nhóm người mở đường máu dẫn người của Ti Đằng doanh về thành. Thành chủ Hoàng Kim Thần và Quan Hạ Băng thì phụ trách đánh lạc hướng, di dời lực chú ý của Hải Thú.

Trận đánh đó, Hải Thú giằng đứt tan áo giáp, cào rách ngực và lưng Lý Thanh Vân, hai anh em họ Hàn đều nhìn rõ mồn một. Tuy nói cậu chàng có một thanh quái kiếm, có thể chữa trị thương thế cho chủ, song Toái Đản Cuồng Ma không có chân khí, thần vật có linh cũng là bèo không rễ, khả năng chữa lành không kéo dài được nhiều.

Cơ hồ...

Lý Thanh Vân giao chiến với Hải Thú một ngày, thanh kiếm lại phải nghỉ hai ngày mới có thể khôi phục lại năng lượng đã dùng.

Mà đối với chuyện này, cậu chàng cũng rất cạn lời.

Bình thường mà nói, chưởng phong của Lý Thanh Vân đánh ra, có thể dễ dàng chọc thủng phòng ngự, xuyên phá chân khí của cường giả Ngũ cảnh. Cho dù là đã đạp vào Vụ Hải, nếu không thiện về công kích cũng chưa hẳn đã phá nổi chưởng phong Hàng Long của Lý Thanh Vân.

Thế nhưng, đụng đầu với Hải Thú rồi, cậu chàng mới phát giác một chỗ quái lạ.

Bất luận là sử dụng loại võ công gì, kình phong vừa phất tới gần người Hải Thú là lập tức biến mất, tiêu tan không còn chút nào cả. Nhưng nếu Lý Thanh Vân không phát đòn cách không, tới gần người đánh nhau thì vẫn có thể gây thương hại cho chúng. Thế là, Toái Đản Cuồng Ma suốt mấy ngày nay đều thực hiện lối đánh giác đấu, tiếp cận Hải Thú, đánh theo kiểu chịu đấm ăn xôi.

Lại thêm gần đây có một nhóm quân y từ nơi khác đến chi viện, khiến cho chuyện chữa thương trị bệnh của binh sĩ không còn áp lực lớn như trước. Suy trước tính sau, Thẩm Tư Quân bèn dứt khoát điều Lý Thanh Vân đến tường thành phía đông, phụ trách đánh ngã Hải Thú muốn leo lên đầu tường, bảo vệ đội cung thủ của Ngoan Thạch doanh.

Thành thử...

Ngày nào cũng như ngày nào, mỗi lần Hải Thú lui quân là Lý Thanh Vân lại dùng dáng vẻ cả người be bét máu, từ đầu đến chân đỏ lòm đi xuống khỏi tường thành.

Binh sĩ trong quân được cậu chàng cứu mạng không có một ngàn cũng phải bảy tám trăm, cực kỳ cảm kích. Từ từ, người của Ngoan Thạch doanh bắt đầu gọi cậu chàng là Xích Hiệp.

Đối với Lý Thanh Vân mà nói...

Ngoại hiệu gì cũng như nhau, miễn sao người ta quên đi cái tên Toái Đản Cuồng Ma của mình đi được.

Mà đấy cũng là nguyên do hai anh em họ Hàn quyết định mở lời nhờ Hàn Thu Thủy chế tạo riêng cho Lý Thanh Vân một bộ hộ giáp tốt tốt một chút. Dù sao, mấy ngày nay cũng mới chỉ là khúc dạo đầu, ai biết cuộc chiến này sẽ kéo dài bao lâu, khốc liệt đến mức nào?

Có lúc, sống và chết chỉ cách nhau một bộ giáp...

oOo

Đáng tiếc là...

Sáng hôm sau, người mà ba người Lý Thanh Vân chờ đợi lại không đến.

Kẻ đến, không phải ai khác, chính là toán quân chi viện của Đại Tề do Nghiêm Quảng dẫn đầu. Không rõ là do trùng hợp hay là có kẻ cố ý sắp xếp mà lại “khéo” đến thế.

Hai họ Nghiêm, Quan có nợ máu với nhau từ đời Quan Vân Phi, trong trận Vân Nguyên chi chiến. Mà Nghiêm gia thì cũng có nợ máu với họ Lý của Đại Việt.

Tính ra, thì cả hai bên nội, ngoại của Quan Hạ Băng đều có thù với Nghiêm Quảng.

Lý Thanh Vân lại càng không cần phải nói.

Lần trước đến Tây An, cậu chàng chính là người ra tay cản Huyền Giáp Vệ, có thể nói việc Nghiêm Quảng bị tống vào ngục có một nửa là do cậu chàng. Chí ít, trên mặt nổi là như vậy.

Mà người còn lại, Trư Vương Quách Bình Minh, thì ba người Lý, Tạ, Đỗ hình như vừa cho tiểu đương gia của người ta trải nghiệm cảm giác ăn chuối cả nải ăn gà cả con xong.

Nghiêm Quảng liếc về phía ngọn Long Nha Ngân Lân Kích của Quan Hạ Băng một cái, đoạn cười hềnh hệch:

“Trước mặt là Quan tướng quân phải không? Thật là ngại quá. Bản vương thể theo hiệp nghị Trấn Hải của lục quốc, dẫn người đến chi viện. Chẳng ngờ dọc đường có chút chuyện xảy ra, đến muộn một chút. Xin tướng quân chớ có trách.”

“Không dám.”

Quan Hạ Băng đáp gọn.

Tuy nhà họ Quan của cô nàng và họ Nghiêm của đại Tề có thù với nhau, song hiện tại tình huống đặc thù, Quan Hạ Băng cũng không đến nỗi vì tư thù từ bỏ đại cục.

Song...

Không gây sự với Nghiêm Quảng, cũng không có nghĩa là cô nàng sẽ chào đón gã.

Quan Hạ Băng không kiếm chuyện với người Tề, thế nhưng người Tề chưa hẳn đã chịu an phận. Chỉ thấy một thiếu niên hai tay cầm hai thanh đao từ từ bước ra khỏi hàng ngũ.

Đao bên tay trái là một thanh trường đao, lưỡi cong như vầng trăng, mỏng như lá lúa, mũi dao chia làm hai tựa như lưỡi rắn. Toàn thân đao đỏ lòm như máu, mơ hồ còn có thể ngửi được mùi tanh nồng phả ra ngoài. Đao bên tay phải lại ngắn ngủi, vừa thô vừa dày, toàn thân đen kịt như mực, từ mũi dao bốc lên khí lạnh âm u, khiến người ta chỉ nhìn thôi cũng có cảm giác linh hồn như bị đè nén.

Người nọ nhìn chòng chọc về phía Lý Thanh Vân, cười gằn:

“Vị này chắc hẳn là Toái Đản Cuồng Ma, Lý Thanh Vân Lý thiếu hiệp phải không?”

“Chính thị. Ngươi?”

Lý Thanh Vân bình thường hành xử cũng gọi là nhã nhặn lịch sự, song thấy vẻ bất thiện trên gương mặt của Quách Bình Minh thì cũng lạnh giọng, hỏi sẵng.

Dù sao, ông sư phụ của cậu chàng vẫn dạy.

Đi với Phật mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy.

oOo

Bản thảo không quá nhiều nên là Chủ Nhật với thứ hai tới một hôm 6, một hôm 4 chương cho bà con thôi nhá. Coi như là mừng Giáng Sinh và Năm mới Dương lịch luôn. Sau đấy nhóm tác sẽ cố cày trước cho Tết ta.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 311: Trư Vương Chiến Lý Thanh Vân


Chỉ nghe Quách Bình Minh cười phá lên, nói:

“Tại hạ Quách Bình Minh, người của Đao Sơn. Các hạ lấy mạng tiểu đương gia nhà chúng ta, ta tìm các hạ nói chuyện, thiên kinh địa nghĩa, có gì mà phải bất ngờ?”

Lý Thanh Vân bất giác nhớ đến trận đánh với Lạc Thủy Thanh trong bí cảnh. Đã biết đối phương đến kiếm chuyện, cậu chàng bèn cười lạnh, nói:

“Các hạ muốn nói gì cứ việc, tại hạ phụng bồi đến cùng...”

Vốn là, cậu chàng còn dự định rắn giọng nói sẵng cùng đối phương một lúc, chẳng ngờ đâu Trư Vương Quách Bình Minh chợt đổi giọng, mắt chớp chớp như thiếu nữ hoài xuân:

“Vậy sao? Thế thì Quách mỗ muốn nói chuyện thề non hẹn biển, nam nữ tư tình với các hạ, có được không?”

Cảnh tượng một thằng cha mặt sẹo, đen thui, tuổi còn thiên kiêu mà mặt đã già như bậc trưởng lão liếc mắt đưa tình lập tức khiến toàn bộ người đang có mặt ở đây đều phải rùng mình sởn gáy. Ngay cả Quan Hạ Băng cũng phải bặm môi, xiết tay quanh cán Long Nha Ngân Lân Kích mới không đến nỗi thất thố.

Mà người đứng mũi chịu sào: Lý Thanh Vân chỉ thấy cổ họng nhộn nhạo, toàn thân nổi đầy gai ốc. Mà cũng vào lúc cậu chàng phân thần...

Quách Bình Minh chợt động thân.

Chỉ thấy gã phóng tới, cái miệng rộng trên gương mặt đen đúa đầy thẹo từ từ cong lại thành một nét cười cong như lưỡi đao. Tay trái gã hoành ngang, thanh đao dài lúc này tựa như cái móc chỉ chực chờ thọc vào giữa cổ Lý Thanh Vân. Tay phải Quách Bình Minh giơ cao quá đầu, lưỡi đao dày nặng đen đúa tựa hồ chỉ chầu chực bổ xuống ngay đỉnh đầu đối thủ.

Lý Thanh Vân giật mình thảng thốt, không ngờ Quách Bình Minh mới câu trước còn đùa bỡn cợt nhả theo kiểu buồn nôn, mắt sau đã lập tức sấn tới nhắm vào cậu chàng mà đánh. Song hiện giờ Toái Đản Cuồng Ma đã trải qua vô số trận đánh lớn nhỏ, đâu còn là thiếu niên lóng ngóng không có kinh nghiệm đối trận khi trước nữa?

Tuy bất ngờ, song Lý Thanh Vân không hoảng hốt, mà đạp chân xuống đất thi triển khinh công nhảy lui về phía sau, tránh khỏi thế công của đối thủ. Song đao của Quách Bình Minh trầm trọng hiểm độc bao nhiêu, thì thân pháp của cậu chàng hư ảo phiêu hốt bấy nhiêu. Lúc hai thanh Ẩm Huyết và Toái Cốt đánh tới, thì Lý Thanh Vân đã ở cách đó hơn ba trượng, hoàn toàn tránh khỏi thế công của đối thủ.

“Quách tướng quân nhiệt tình như thế, tại hạ mà không trả lễ thì coi sao được?”

Cậu chàng quát lên một tiếng, lại âm thầm vận Sư Tử Hống, để tiếng thét đánh về phía Quách Bình Minh. Không rõ là do chủ quan hay bất cẩn mà Trư Vương của Đao Sơn hoàn toàn không vận khí phòng ngự, tâm thần lơi lỏng. Tiếng hét của Lý Thanh Vân dội thẳng tới, y chợt ngã ngửa ra sau, sống lưng cong như một cây cung được kéo căng.

Toái Đản Cuồng Ma trong lòng thầm lấy làm lạ, song một phần là tiếc rẻ thời cơ phản công tốt nhất, phần khác cũng là tự tin vào năng lực của bản thân đủ để ứng phó. Thế là cậu chàng lại chuyển mình, chớp mắt đã nhảy đến gần chỗ của Quách Bình Minh đang đứng, song chưởng dồn tới trước.

Đúng lúc này...

Biểu cảm “thẫn thờ” trên gương mặt của Quách Bình Minh chợt bay biến chẳng còn chút tăm tích. Gã cười toét miệng, hai con mắt trừng to, đồng tử thu hẹp lại chỉ còn lại một chấm nhỏ như hạt đậu, đỏ lòm như máu. Chỉ thấy họ Quách khẽ chuyển mình, hai thanh đao Ẩm Huyết và Toái Cốt đã lấy hai góc độ cực kỳ xảo diệu đánh úp tới.

Đồng thời, khí tức của hắn cũng trở nên hư vô mờ mịt, không cách nào nắm bắt.

Quách Bình Minh đã vào Vụ Hải.

Đối với chuyện này, Lý Thanh Vân tuy là hơi giật mình, song cũng vẫn nằm trong dự liệu của cậu chàng. Dù sao, tính từ lúc Thiên Cơ các công bố Võ Bảng đến giờ đã hơn một năm. Lấy thiên phú của đám thiên kiêu như Trư Vương, lại thêm “Đại Tranh chi thế” mà ba vị Kiếm Tổ từng nhắc đến, hiện giờ nếu Quách Bình Minh vẫn còn là cường giả ngũ cảnh cậu chàng mới thấy lạ.

Nói thì chậm, song mọi chuyện diễn ra chỉ trong một cái chớp mắt. Thế công của Trư Vương rất gấp, đao khi bén nhọn từ bên trái chọc tới, một đạo khác nặng nề sắc lẻm từ bên phải chặt sang, trong thoáng chốc đã đan lại thành một tấm lưới khóa kín đường lui của Lý Thanh Vân.

Cậu chàng đề khí, tung chưởng, phát sau mà đến trước xảo diệu đánh vào hai bàn tay của Quách Bình Minh. Hiện giờ luận sức mạnh, Lý Thanh Vân vẫn chưa thể bằng được với cường giả Vụ Hải.

Thế nhưng, cậu chàng đọc Ỷ Thiên Đồ Long Ký lâu như vậy, cũng đã đại khái nắm được một chút áo nghĩa “hậu phát chế nhân”, “dùng ý không dùng sức”. Tuy vẫn chưa đạt đến mức “xoay vòng không dứt”, chưa thể bốn lạng đẩy ngàn cân, song đẩy vài chục một trăm cân thì Lý Thanh Vân đã có thể làm được tự như.

Thành thử...

Mới tạo nên ảo giác cậu chàng có thể đánh sòng phẳng với cường giả Vụ Hải.

Cả hai tay của Quách Bình Minh bị song chưởng của Lý Thanh Vân chấn lui về sau, chân khí cuồn cuộn như sóng triều dâng không có chỗ phát tiết, bảy tám phần tiêu tán trong trời đất. Trư Vương chỉ thấy các lóng tay tê rần, xương khớp ê ẩm, thiếu điều đánh rơi cả hai thanh ma đao Ẩm Huyết, Toái Cốt, vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ. Lúc này trên gương mặt gã toát lên nét cười điên cuồng, hai con ngươi vừa co lại thì giờ nở to ra, cơ hồ đã troán đầy cả hốc mắt nhìn không thấy một chút lòng trắng nào.

Mà lúc này, trước ngực gã cũng đã trúng hai cước của Lý Thanh Vân, khí huyết nhộn nhạo, ám kình tầng tầng lớp lớp chạy trong cơ thể, phá hoại lung tung. Gã lui về sau một bước, khóe miệng có máu tươi trào ra, nhuộm đỏ hai hàm răng trắng hếu của hắn.

Quách Bình Minh cười.

Đôi mắt hắn dại ra, miệng ngoác rộng, cười những tiếng như xé vải. Theo đó, lưỡi đao Ẩm Huyết càng lúc càng đỏ chót lên, lưỡi đao Toái Cốt thì càng lúc càng đen kịt lại.

Quan Hạ Băng thấy khí thế của Quách Bình Minh chẳng những không vì thương thế mà yếu bớt, trái lại dần dần trở nên lồng lộng như trời cao, mênh mông như biển rộng thì bắt đầu cảm thấy không ổn. Cô nàng nắm Long Nha Ngân Lân Kích, vừa định tiến lên một bước hòng can thiệp thì Long Tuyền đã đứng ra chặn lại. Hai tay y khoanh trước ngực, chân khí trong cơ thể trào ra, hóa thành một tấm màn chắn. Chân khí lạnh lẽo từ chỗ Quan Hạ Băng và Long Nha Ngân Lân Kích thổi tới đều bị chặn đứng. Nhất thời, chỉ nghe vô số tiếng tanh tách cất lên, tựa hồ như không khí cũng đông lại thành băng, sau đó lấy thế như mưa sa gió giật va chạm mạnh với một vách đá vậy.

Long Tuyền cười lạnh, nói:

“Quan tướng quân, lấy thân phận của ngài mà ra tay với phó tướng của tại hạ thì có phần không phải phép cho lắm đâu.”

“Tránh ra...”

Quan Hạ Băng không muốn nhiều lời, vừa nói xong, đã định lách mình tránh qua khỏi chỗ Long Tuyền đang đứng. Thế nhưng, chỉ thấy trước mắt nhoáng lên một cái, tướng quân của Tả Dực quân đã lần nữa xuất hiện, trong tay nâng một thanh kim đảng, mũi thương tạo hình giống đầu chim, hai lưỡi đao hai bên làm theo hình cánh chim uốn cong tới trước.

Kim đảng vừa xuất hiện, ánh sáng vàng chiếu rọi ra bốn phía, nhiệt khí hầm hập phả ra, áp chế lại khí lạnh trên thân Long Nha Ngân Lân Kích.

Long Tuyền cười lạnh, nói:

“Đây là đạo đãi khách của Đại Việt sao?”

“Đạo làm khách của kẻ đến ra sao, Đại Việt ta cũng sẽ tiếp đãi tương xứng. Long tướng quân đây muốn làm gì? Rửa nỗi nhục năm xưa thay cho binh khí à?”

Quan Hạ Băng hoành ngang chiến kích, chân khí quấn trên đầu mũi kích bắt đầu nhộn nhạo. Dưới mặt đất chỗ nàng ta đang đứng, một lớp sương băng mỏng bắt đầu từ từ đông kết.

Long Tuyền nghe cô nàng nói vậy, hừ lạnh một tiếng:

“Sông có khúc người có lúc, vương triều có thịnh có suy. Năm xưa không có ai đủ sức khống chế Hoàng Kim Phi Tước Đảng, để cho Long Nha Ngân Lân Kích của các ngươi đại phát thần uy, hiện giờ chưa hẳn đã như thế.”

Phải biết...

Trước khi Nghiêm Hàn xuất hiện, chinh chiến Huyền Hoàng giới, Đại Tề có ba thanh Trấn Quốc thần khí, lần lượt nằm trong tay ba vị vương gia khác họ, cũng là đại thống lĩnh của ba cánh quân Tả Dực, Hữu Dực, Hậu Kiều. Trong đó, Hoàng Kim Phi Tước Đảng là thần khí của Tả Dực quân, tương truyền bên trong phong ấn linh hồn của một con hoàng tước thời thượng cổ, đảng vung đến đâu, Hoàng Sắc thần quang b*n r* đến đó, có thể đốt cháy vạn vật.

Đảng xuất, vạn dặm luyện ngục.

Thế nhưng, năm xưa Quan Vân Phi tay cầm Long Nha Ngân Lân Kích đánh thẳng vào quốc đô Đại Tề, lần lượt đánh bại tam đại trấn quốc thần khí, không thể không nói là một trong những sỉ nhục lớn nhất trong sử sách.

Thành thử, sử gia đại Tề không thể không viết rằng...

Thời đó quốc quân vô đạo, nhân tài điêu linh, không có ai đủ sức phát huy mười thành uy lực của tam đại trấn quốc thần khí, có vậy mới để Quan Vân Phi đục nước béo cò.

Nhất là kể từ lúc Nghiêm Hàn thống ngự Huyền Giáp vệ càn quét lục quốc, ngôn luận này càng được quốc quân Đại Tề hạ chỉ tuyên truyền thật mạnh, cơ hồ ngoại trừ Lục Đại Thư Viện ra, không một nhà học nào trên đất lục quốc mà không dạy đám trẻ nhỏ như vậy.

Lại kể đến Long Tuyền...

Y đưa tay nắm chặt Hoàng Kim Phi Tước Đảng, chuẩn bị dùng sức đâm mạnh tới một nhát. Quan Hạ Băng cũng nâng kích, chỉ một khắc sau là ngọn kích sẽ xỏ xuyên qua trán của đối thủ.

Đúng lúc này...

Trên không trung, chợt có một tiếng nói vọng xuống.

Giọng nói của người nọ rất bình thản, rất nhẹ nhàng, không cần cố gằn giọng hay lớn tiếng ra lệnh, tựa như một cơn gió thoảng qua.

“Dừng lại.”

Long Tuyền rùng mình, lắc đầu thu lại kim đảng.

Đối diện, trên mặt Quan Hạ Băng thoáng hiện ra vẻ hoảng hốt và bất đắc dĩ, cuối cùng, toàn bộ cảm xúc ngổn ngang trong lòng cũng hóa thành một tiếng thở dài.

Kẻ kia không cần lớn tiếng, là vì hắn tự tin rằng có nói nhỏ cũng không ai dám không nghe thấy.

Kẻ kia không cần gằn giọng, không cần ra oai, ấy là vì hắn tự tin lời của hắn nói ra không ai dám không tuân.

“Vương đệ, lâu ngày không gặp, vẫn khỏe chứ?”

Số chương còn lại hôm nay: 5 chương chính truyện.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 312: Một Chiêu


Quách Bình Minh đã sớm thu tay lại, Lý Thanh Vân cũng không truy kích nữa. Cậu chàng từ từ ngẩng đầu, nhìn về phía kẻ đang đạp trên một đám mây trắng, tay chắp sau lưng kia.

Ánh mắt của hai người va chạm.

So với hơn một năm trước ở Võ Bảng hội, hiện giờ vô luận là khí chất hay ngôn hành cử chỉ thì Lý Thanh Minh đều trầm ổn, chắc chắn hơn trước. Nếu nói lúc trước y là thần kiếm rời vỏ, phong mang lộ rõ, thì hiện tại gã đã biết thu lại phong duệ, trở thành một đầm nước sâu tối đen như mực, khó lòng dò xét.

Mà Lý Thanh Minh cũng cẩn thận quan sát thằng em cùng cha khác mẹ kia.

Lý Thanh Vân của hiện tại không giống khi trước, trên tay đã vấy rất nhiều máu tanh, máu người có mà máu Hải Thú cũng có. Thế nhưng, đôi mắt của cậu chàng hiện giờ vẫn trong vắt, không hề vẩn một chút khát máu hay hiếu chiến nào.

Đối với một thiếu niên vừa có trong tay sức mạnh, nắm quyền sinh sát mà nói, quả thực rất khó được.

Chí ít, Lý Thanh Minh gã lúc mới đến Táng Thi Đinh không làm được.

Thế là, gã nhếch môi, cười nhạt một cái.

“Thế nào, vương đệ? Không muốn đáp lời hay định giả câm giả điếc mãi?”

“À. Thế thì nhờ hồng phúc của ông già, vẫn còn chưa chết...”

Lý Thanh Vân nghĩ một hồi, cuối cùng mới lên tiếng. Câu này của cậu chàng kỳ thực cũng không tính là nói dối, cũng không hẳn là không nể mặt Lý Thanh Minh.

Dù sao, không giống mấy cô sư muội, sư đệ, Lý Thanh Vân từng có một đoạn thời gian làm tiểu tốt trong quân ở Quan Lâm. Cái chuyện một người đắc tội với nhân vật lớn, làm tất cả đều bị liên lụy, cậu chàng đã thấy qua nhiều, đã nghe qua lắm.

Vũ Tùng Lâm là quan thanh liêm, là quan tốt, cũng không có nghĩa thuộc hạ của lão đều như vậy.

Thành thử, Lý Thanh Vân mặc dù rất ghét Lý Thanh Minh, nhưng ngay lúc này, vì binh mã cả thành từng sát cánh với mình vào sinh ra tử suốt thời gian qua, cậu chàng lựa chọn lui bước.

Không rõ nghe cậu chàng trả lời như vậy, Lý Thanh Minh nghĩ thế nào. Chỉ thấy gã nhếch mép lên cười nhạt, đoạn nói:

“Thế mới ngoan chứ. Vương đệ đã lễ phép như thế, vương huynh cũng phá lệ, nói cho vương đệ một chuyện động trời.”

Gã ngừng một chốc, đoạn cười:

“Vương đệ có biết hiện tại Bích Mặc tiên sinh đã ngã bệnh, nguy trong sớm tối? Tiếc là toàn bộ y sư, dược sĩ, thầy lang thầy thuốc ở ải Quan Lâm đều đã được điều lên chi viện cho tiền tuyến, không có một ai thăm khám cho tiên sinh được cả. Ài... giá như tiên sinh không vì sử dụng bí pháp mà phải hóa trang thành phàm nhân thì đâu đến nỗi?”

Vừa nói, Lý Thanh Minh vừa híp mắt lại, len lén quan sát cách biểu cảm trên gương mặt Lý Thanh Vân, thử xem có thể xác nhận được thực hư chuyện của Nguyễn Đông Thanh hay không. Dù sao, nói thế nào đi nữa thì vị Bích Mặc tiên sinh này cũng vô cùng thần bí, những gì lưu truyền trên giang hồ về y phần lớn là phỏng đoán của các đại thế lực, không có gì là đáng tin hoàn toàn cả.

Nếu Lý Thanh Minh có thể biết được hư thực chuyện y “giả làm phàm nhân”, thì cũng bằng với việc có trong tay một con bài đàm phán

Chỉ thấy, biểu cảm của Lý Thanh Vân dần dần biến đổi từ sững sờ, sang lo lắng gấp rút, đoạn lại nhìn về phía Quan Hạ Băng.

Thế nhưng, Lý Thanh Minh xuất hiện ở chốn này, lại kể việc của Nguyễn Đông Thanh cho Lý Thanh Vân nghe thì chuyện này Quan Hạ Băng há lại có thể giải quyết được?

Cuối cùng, Lý Thanh Vân thở dài, ngẩng đầu lên:

“Không biết Linh Vương đến đây làm gì? Chỉ là rảnh rỗi muốn nhìn tại hạ thương tâm, hả hê một phen, hay là còn lý do nào khác? Thứ cho tại hạ cô lậu quả văn, không hiểu được thế giới của các đại quan quý nhân, công hầu vương tước các người.”

Bấy giờ, Lý Thanh Minh giống như chỉ chờ có vậy. Khóe miệng gã khẽ nhếch lên, tạo thành một nét cười nửa miệng, trong mắt thoáng hiện vẻ khinh khỉnh coi thường. Chỉ nghe, gã chậm rãi lên tiếng:

“Đã lâu ngày không gặp, vương huynh cũng muốn xem đệ tiến bộ đến đâu rồi. Nếu như có thể tiếp được một chiêu của bản vương thì xem như Bích Mặc tiên sinh biết dạy học trò, có chân tài thực học, bản vương phá lệ sai người đến khám cho y một lần cũng không thành vấn đề. Thế nhưng, nếu như vương đệ không đỡ nổi, vậy thì chỉ có thể nói là cái tên Bích Mặc tiên sinh kia chẳng tài cán gì, có sống cũng vô dụng. Bản vương cũng sẽ không vì một con chó không thể đi săn mà lãng phí hơi sức. Thế nào?”

Lý Thanh Vân nghiến răng, hai nắm đấm siết lại thật chặt, các lóng tay đều bắt đầu đổi sang màu trắng. Bên tai cậu chàng lúc này vang lên giọng truyền âm của Quan Hạ Băng:

“Vân, đừng có nghe hắn khích tướng. Mau lùi xuống!”

Chuyện mà cô nàng nói, thực ra Lý Thanh Vân cũng có thể đoán được. Dù sao, Lý Thanh Minh vốn dĩ không thèm che giấu ý đồ, đến đứa trẻ lên ba cũng có thể nghe ra giọng khiêu khích của hắn rõ mồn một. Lý Thanh Vân tuy có hơi gà công nghiệp một chút, song cũng không đến nỗi đầu óc không dùng được.

Thế nhưng...

Đối với Lý Thanh Vân mà nói, nhục mạ cậu chàng thì được, khích bác xỉa xói cậu chàng cũng chẳng sao, song một khi động đến ông sư phụ thì chẳng có chỗ để mà nói chuyện nữa. Hà huống, theo những gì cậu chàng biết về ông thầy, rất có thể Nguyễn Đông Thanh sẽ “thà chết chứ không chịu từ bỏ đóng vai phàm nhân”.

Thành thử...

Lý Thanh Vân hít sâu một hơi, đoạn nói:

“Được. Một chiêu thì một chiêu. Hi vọng Linh vương điện hạ nói lời giữ lời, đừng có mà mở miệng như đánh rắm.”

“Yên tâm. Bản vương dù sao cũng là con cháu nhà họ Lý, người của danh gia vọng tộc. Cho dù không cần mặt mũi cá nhân thì cũng vẫn còn danh tiếng thế gia ở đó.”

Lý Thanh Minh vừa đáp, vừa tản bộ từng bước, từng bước một xuống đất. Y đạp lên không trung, chân khí trong người bắt đầu bị thả ra, tựa như con ngựa mất cương, thoát khỏi khống chế. Mái tóc, áo bào của gã bay lồng lộng, trong đôi mắt từ từ dâng lên một quầng sáng màu vàng kim, choán đầy hai đồng tử.

“Huống hồ...”

“Đối phó với vương đệ, chỉ e một chiêu còn là nhiều!”

Lý Thanh Minh nói đến đây, chợt giơ thẳng cánh tay, một luồng chân khí theo đó xông vào chín tầng trời. Chỉ thoáng chốc, bầu không trên đầu thành Hải Nha trở nên quang đãng dị thường, mây trắng trong chu vi hơn mười dặm cơ hồ đều bị thổi tan, không còn một gợn một áng nào hết.

Chân khí cuồn cuộn quanh người hắn chợt hội tụ, quện lại thành một quả cầu nhỏ như quả nhãn, lơ lửng trên đầu ngón trỏ. Lý Thanh Minh cười lạnh một tiếng, đưa tay chỉ về phía trước. Theo đó, chân khí trong trời đất cũng hóa thành một cái vòi rồng, cuồn cuộn đổ vào quả cầu nhìn như đang đứng yên trên tay gã. Bấy giờ, mấy người đứng quan chiến mới giật mình phát giác té ra không phải quả cầu chân khí Lý Thanh Minh tạo ra đứng yên, mà là nó xoay chuyển quá nhanh, khiến người ngoài nhìn vào tưởng là nó bất động thôi.

“Đừng chết sớm quá nhé, vương đệ. Chiêu này gọi là Tù Thiên Chỉ - Vạn Lý Thanh Minh.”

Lý Thanh Minh nói xong, cũng chẳng buồn nhìn tiếp, cong ngón tay lại búng quả cầu về phía đối thủ. Trên gương mặt gã là vẻ hờ hững, đạm mạc, bình thản. Ánh mắt của gã lạnh lùng, không hàm chứa một chút cảm xúc nào, không cả trào phúng mỉa mai, không cả khinh thường căm ghét.

Lúc này, trong mắt Lý Thanh Minh...

Lý Thanh Vân đã là một người chết.

Lý Thanh Vân nghiến răng, song chưởng nâng lên, đánh về phía quả cầu ánh sáng nhỏ xíu của đối phương. Thế nhưng, vừa mới động thân, cậu chàng đã cảm giác được chân khí tạt đến rát mặt, khó thở, chui cả vào mũi vào miệng. Đầu óc Lý Thanh Vân ù cả đi, toàn thân bị một lực lượng quái dị bao phủ, hệt như rơi vào đầm lầy, hãm thân trong cát lún, nửa bước khó đi.

Lý Thanh Vân thầm hô không ổn, song lúc này, chiêu thức Vạn Lý Thanh Minh đã đánh tới rát mặt. Cậu chàng có thể đoán được trong lúc toàn thân bị hãm cứng lại, không có cách nào cử động hóa giải kình lực mà bị một thứ đang xoay tròn với tốc độ hãi người thế kia đánh trúng thì sẽ có kết cục be bét ra sao. Thế nhưng hiện giờ, Lý Thanh Vân đã không còn bất cứ một đường nào để lui cả.

“Hỏng!”

Quả cầu chân khí bắn tới, nhấc bổng cậu chàng lên cao, bắn tung về phía tường thành. Miệng Lý Thanh Vân cảm thấy ngòn ngọt, ngũ tạng lục phủ cơ hồ bị vặn xoắn cả vào nhau, xương ở hai cánh tay bị bẻ gãy từng đốt từng đốt một. Da thịt trên người cậu chàng nứt toác, sau đó tróc xuống hết tảng này đến tảng khác. Đôi chân Lý Thanh Vân cày ra hai cái rãnh dài, sâu đến nửa gang trên đường. Máu thịt vương vãi trên người cậu chàng theo đó mà rơi xuống, thoáng chốc đã hóa thành hai cái rãnh máu.

“Lý Thanh Vân!”

Quan Hạ Băng cắn răng, hai mắt trợn to. Cô nàng có thể cảm nhận sinh cơ của cậu em cùng cha khác mẹ đang yếu dần, yếu dần đi. Thế nhưng, trước là Long Tuyền, Quách Bình Minh, sau là Lý Thanh Minh đang nhìn chằm chằm, cô nàng muốn động thân ứng cứu cũng chẳng được.

“Aaaa!”

Tiếng hét thảm thiết của Lý Thanh Vân cất lên cao vút, sau đó chỉ nghe “bành” một tiếng đinh tai nhức óc. Trong ánh nhìn kinh ngạc của mấy người Quan Hạ Băng, Trương Thắng, Lý Thanh Minh, Long Tuyền, đòn Vạn Lý Thanh Minh đã bị Lý Thanh Vân hất sang một bên. Dư lực chưa hết, quang cầu còn lao đi thêm hơn ba mươi trượng, tàn phá một vùng rộng cả sào ruộng mới chịu tiêu tán.

Quan Hạ Băng vội vàng nhào tới, đỡ lấy thân thể mềm nhũn của cậu em trai lảo đảo sắp ngã. Lúc này đây, lưng của Lý Thanh Vân đã đập vào tường thành Hải Nha một cái, cả người không có một chỗ nào là không nhiễm đầy máu tươi, trên thân không có một khúc xương nào lành lặn.

So với những trận đánh gần đây với Hải Thú thì còn ác liệt, thảm khốc hơn nhiều. Nếu không phải có thể cảm nhận được Lý Thanh Vân vẫn còn giữ được một hơi thở mỏng manh như sợi tơ, có lẽ Quan Hạ Băng đã cho người chuẩn bị hậu táng cậu em mình rồi.

Mà về phía Lý Thanh Minh, khi thấy Lý Thanh Vân hãy còn thoi thóp sau một chiêu của mình, gã chỉ khẽ nhếch môi, chậm rãi vỗ hai bàn tay vào nhau, liên tiếp nói ba tiếng:

“Tốt. Tốt. Tốt!”

Gã ngừng một chốc, phất tay áo bào, đoạn nói:

“Chuyện bản vương đã hứa với vương đệ, tự nhiên là sẽ hoàn thành thỏa đáng. Hình như ở Hải Nha này cũng có một vị y sĩ mới tới, chính là đệ tử chân truyền của Dược Thánh, y thuật cao minh vô cùng. Thiết nghĩ chỉ cần y ra tay, tính mạng tiên sinh sẽ không cần lo ngại.”

Giống như đã bàn nhau từ trước, bấy giờ chợt thấy Chiến Vương Nghiêm Quảng bước lên một bước, cười gằn:

“Linh Vương điện hạ, ngài người lớn nhiều việc, chẳng nhẽ đã quên ước định của bảy vị quốc quân hay sao?”

Số chương còn lại hôm nay: 4 chương chính truyện.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 313: Âm Mưu


Quan Hạ Băng nghe Nghiêm Quảng nhắc đến “hiệp ước của bảy nước”, trong lòng xuất hiện dự cảm không lành. Thế nhưng hiện tại cô nàng còn đang bận sử dụng chân khí băng hàn bảo vệ tâm mạch của Lý Thanh Vân, quả thực là không tiện lên tiếng chất vấn. Bằng không một khi chân khí không bị khống chế, hai mạch Nhâm – Đốc không thông, thì chẳng những cô nàng phải chịu phản phệ mà tính mạng của Lý Thanh Vân cũng nguy trong sớm tối.

Lý Thanh Minh nhếch mép, nói:

“Chuyện ấy bản vương nào dám quên, nhưng vương gia cũng nhìn thấy tình cảnh hiện giờ của xá đệ rồi... Ài...”

Nghiêm Quảng lắc đầu:

“Thế thì không được.”

Gã chậm rãi tiến lên trước một bước, nhìn quanh một lượt, đoạn nói:

“Năm xưa lúc Đại Việt lập quốc đã có ước hẹn với sáu vị quốc chủ sẽ phòng thủ mặt nam, vô luận là tiền của hay nhân lực đều phải ra sức bằng với sáu nước. Bây giờ trên chiến trường đã thấy bóng dáng Vương Tộc, là lúc cần người. Dực hoàng đế cũng đã chấp đồng ý vương lệnh chung của sáu nước, coi kẻ không lên chiến trường là đào ngũ, theo quân luật pháp mà xử. Bây giờ Linh Vương điện hạ lại muốn đặc cách cho tiểu vương gia... thế này... không hợp tình hợp lý cho lắm.”

Nghiêm Quảng cười nấc lên, nói:

“Tại hạ thì cũng dễ nói chuyện thôi, thế nhưng... ài... Long tướng quân và Quách phó tướng có hơi không phục. Chuyện này... chuyện này... Linh vương điện hạ xem phải giải quyết thế nào mới phải đây?”

“Đúng thế.”

“Há lại có chuyện chúng ta ở ngoài đánh đánh giết giết, lại có người nằm ở hậu phương ngồi mát ăn bát vàng được?”

Đầu tiên là Long Tuyền, sau đó Quách Bình Minh cũng kích động. Chẳng mấy chốc, tiếng reo hò phản đối của toàn bộ quân Tả Dực do Nghiêm Quảng mang theo đã vang dội cả một vùng rộng lớn. Thanh thế của quân Tả Dực quá lớn, lại thêm thân phận của Lý Thanh Minh còn đặt ở đó, khiến cho binh tướng Ngoan Thạch doanh không ai dám mở lời nói đỡ cho Lý Thanh Vân.

Hai anh em Thanh Tú, Anh Tuấn nghiến răng, thầm mắng bản thân rằng nếu như có thể mời được Hàn Thu Thủy đến sớm hơn, để Lý Thanh Vân có một bộ chiến giáp ưng ý thì chưa hẳn đã đến nỗi trọng thương gần chết thế này. Vốn là, hai người này thuộc diện máu liều nhiều hơn máu não. Nếu không phải Hoàng Kim Thần ngăn lại kịp thời thì có lẽ hiện giờ hai anh em nọ đã nhảy xổ tới liều mạng với Lý Thanh Minh rồi.

Mấy tên ở Du Long doanh tuy không nhân cơ hội này tát nước theo mưa, bỏ đá xuống giếng, song cái vẻ hả hê khinh khỉnh thì hiện rõ mồn một trên gương mặt. Tên nào tên nấy ắt hẳn đều đang chửi Lý Thanh Vân là kẻ không biết tự lượng sức, tự chuốc họa vào thân, chết vì ngu xuẩn sĩ diện mà thôi.

Thẩm Tư Quân đưa tay chống cằm, lại âm thầm đá một cái vào chân của Trương Thắng. Lão phó tướng vốn là bình chân như vại, lúc này mặt cũng nhăn nhó, làm ra cái vẻ khổ não lắm. Cũng may, trong mắt của Lý Thanh Minh ở nơi đây chỉ có bốn người mà hắn cần phải lưu tâm: Quan Hạ Băng, Lý Thanh Vân, Nghiêm Quảng và Thẩm Tư Quân. Thành thử, động thái quái lạ của lão Trương Thắng không bị gã chú ý đến.

Trên mặt Lý Thanh Minh lộ rõ vẻ bất đắc dĩ, nhìn về phía Quan Hạ Băng và Lý Thanh Vân, cười trừ:

“Chuyện này... phải làm sao cho phải đây? Đệ tử của Dược Thánh lão tiên sinh chỉ có một, đâu thể nào phân thân được như phụ hoàng?”

Quan Hạ Băng nghiến răng.

Cô nàng bấy giờ cũng đã hiểu vì sao Lý Thanh Minh lại bình thản thờ ơ đến vậy khi Lý Thanh Vân đón được một đòn của y mà không chết.

Lấy thương thế của cậu chàng, cho dù có thần y dùng tiên dược tục mệnh thì cũng cần vài ngày mới có thể khôi phục hoàn toàn. Trước không nói đến chuyện chưa biết bao giờ phải lên chiến trường đánh nhau với Vương Tộc của Hải Thú, chỉ riêng lấy tính cách của Lý Thanh Vân mà nói, cậu chàng há lại có thể vì bản thân mà đoạt đi cơ hội sóng sót của Nguyễn Đông Thanh?

Thành thử...

Lần này Lý Thanh Minh xuất hiện, cũng không e ngại Lý Thanh Vân có thể nhìn ra một chiêu khích tướng ban đầu của y, ấy là bởi hắn đã lập sẵn liên hoàn kế.

Bất luận lần đánh cược khi nãy giữa hai người kết quả ra sao, Toái Đản Cuồng Ma đều khó thoát cái chết.

Đương nhiên, đấy là nói theo lẽ thường.

Bấy giờ...

Lý Thanh Vân nôn một búng máu đỏ lòm ra, gật đầu với Quan Hạ Băng một cái. Cậu chàng nhìn về phía Lý Thanh Minh, gằn giọng, gắng gượng lên tiếng:

“Chuyện ấy... vẫn xin... Linh Vương... phái người... cứu gia sư.”

Lý Thanh Vân nói được hết câu, lại ọe ra một búng máu tươi nữa, sau đó nhắm mắt lại. Kỳ thực, nếu không phải khi nãy Quan Hạ Băng sử dụng chân khí khuếch đại tiếng nói của cậu chàng lên, thì có lẽ ở đây chỉ có nhóm Lý Thanh Minh, Long Tuyền, Quách Bình Minh là có thể nghe thấy Lý Thanh Vân vừa nói gì.

Nghiêm Quảng nghe vậy, cười phá lên, vỗ tay bôm bốp:

“Chậc chậc. Lý thiếu hiệp bây giờ đã thế này rồi, lòng vẫn còn nghĩ đến sư phụ. Đại hiếu thay! Đại nghĩa thay! Quả thực là khiến người ta nghĩ ngay đến hai câu ‘tôn sư trọng đạo’, ‘nhất nhật vi sư, trung thân vi phụ.’ Hành động của Lý thiếu hiệp thật là có thể khiến trời cao cảm động, kẻ có lương tri lương năng khắp thiên hạ đều phải nghiêng mình thán phục, thực là có phong thái của Võ Hoàng điện hạ năm nào. Nghiêm mỗ bội phục, bội phục...”

Đoạn, hắn lại nhìn về phía đám binh mã của Tả Dực quân sau lưng mình, quát:

“Còn đứng trơ ra đấy à? Sao không vỗ tay tán dương tiểu vương gia?”

“Vô vị.”

Lý Thanh Minh hừ lạnh một tiếng, những tràng vỗ tay và tiếng “bội phục” lẫn trong những tràng cười hô hố của Tả Dực quân bị y ngó lơ hoàn toàn. Gã hết nhìn về phía Quan Hạ Băng, chuyển sang Thẩm Tư Quân, rồi đến Nghiêm Quảng Long Tuyền, giống như đang suy nghĩ chuyện gì đó.

Song, cuối cùng, Lý Thanh Minh vẫn phất tay áo, đạp gió bay vút về phương xa.

oOo

Sáng hôm sau...

Trời còn chưa sáng, trống trận đã nổi, tiếng tù và thúc quân dồn dập từng hồi.

Quan Hạ Băng chỉ vừa mới nai nịt y giáp, tay nắm Long Nha Ngân Lân Kích ra khởi cửa lều thì đã thấy Long Tuyền dẫn theo Quách Bình Minh và một toán Tả Dực quân chạy đến tường thành phía đông. Gã tướng quân cười, thanh kim đảng gác sau lưng, nói:

“Quan tướng quân, trận này thuộc hạ của ta phải đứng vào đâu, đánh thế nào còn cần ngài hạ lệnh đây.”

Quan Hạ Băng lườm gã một cái, nói:

“Tốt. Nếu tướng quân đã chịu nghe lệnh Quan mỗ, thì tiểu nữ cũng không khách khí. Người đâu! Bỏ lỡ quân cơ, nhiễu loạn quân trận, không tuân quân kỷ, ba tội hợp một. Nay phạt Long Tuyền ba trăm quân trượng, Quách Bình Minh hai trăm quân trượng, biếm làm Bật Mã binh hai tháng để lấy đó làm gương. Có dị nghị gì không?”

Long Tuyền khẽ nhíu mày, bị động thái của cô nàng làm cho ngẩn người. Vốn là gã muốn dùng chuyện của Lý Thanh Vân áp chế Quan Hạ Băng một phen, chẳng ngờ cô nàng Ngân Lang tướng này hoàn toàn không hành xử theo lẽ thường, khiến gã có phần trở tay không kịp.

Vốn là...

Long Tuyền cũng biết lần này quân Đại Tề tập kết ở Hải Nha chậm mất một tháng, không kịp tập trận cùng binh lính dưới tay Quan Hạ Băng. Thành thử, nếu cô nàng muốn lấy chuyện này ra bắt chẹt Đại Tề bọn hắn thì không khó, cũng không thiếu gì cách.

Nếu là ở nơi khác, thì Long Tuyền không lo lắng mấy. Dù sao, tuy hiện giờ Nghiêm Hàn đã cưỡi hạc về trời, song Đại Tề vẫn là thượng quốc, năm nước còn lại chịu phục làm chư hầu, nói chuyện cũng sẽ thấp hơn hắn một đầu. Cho dù binh mã Đại Tề có lỡ vi phạm chút chuyện cũng chẳng đáng ngại, phần lớn tướng lĩnh năm nước đều sẽ hoặc e ngại hoặc nể mặt gã mà mắt nhắm mắt mở.

Thế nhưng Đại Việt lại không giống.

Thành thử, Long Tuyền vốn dự định mượn việc của Lý Thanh Vân để thương lượng với Quan Hạ Băng, hai bên mỗi người lui một bước. Bọn hắn giúp cô nàng lấp l**m chuyện của Lý Thanh Vân, cô nàng bỏ qua việc quân đội Đại Tề đến muộn.

Song...

Nước cờ này của Quan Hạ Băng khiến Long Tuyền vô cùng lúng túng, không biết phải đánh tiếp thế nào. Kỳ thực quân trượng hắn không coi vào đâu. Bản thể của gã vốn là Xi Vẫn, vảy cứng thịt dày, không sợ đánh đập. Mà Quách Bình Minh trời sinh đã có ma đao theo hộ thể, cũng rất giỏi chịu đòn.

Điều làm hắn sợ là sau khi gã và Quách Bình Minh bị biếm làm Bật Mã binh rồi, Quan Hạ Băng có ra đòn hiểm hay không.

Hiện tại, Ngân Lang hoàn toàn có thể lấy cớ là quân Tả Dực của gã chưa từng luyện binh với binh mã thành Hải Nha, không thạo hiệu lệnh, không thuộc trận thế, cho vào đánh cùng quân thủ thành chỉ tổ làm loạn trận cước, được không bù nổi mất. Thế nhưng vì quân lệnh của bảy vị quốc quân ước thúc, binh sĩ không lên chiến trường sẽ mặc nhiên coi là đào ngũ, quân Tả Dực không thể không tham chiến được.

Mà “cách tốt nhất”, không gì ngoài cho quân Tả Dực tự kết lại thành một đội, xông ra ngoài thành giao chiến chính diện với Hải Thú. Quân không tướng, rắn không đầu, lại bị ép từ bỏ địa lợi giao tranh trực tiếp với đám quái vật hung hãn ngoài biển kia, vậy có khác nào đi làm cảm tử quân chịu chết?

Xuất phát từ “suy bụng ta ra bụng người”, Long Tuyền cho rằng Quan Hạ Băng nếu không làm như vậy thì cũng sẽ lấy chuyện này ra làm quân bài để đàm phán, yêu sách thêm lợi ích từ chỗ bọn chúng. Dù sao, đấy cũng là cách có tối ưu nhất về mặt lợi ích.

Thế là, hắn hừ lạnh một tiếng, nhẹ giọng mỉa mai:

“Không ngờ Quan tướng quân không hề quan tâm gì đến Lý thiếu hiệp. Tại hạ xem như là được mở mang tầm mắt rồi.”

Số chương còn lại hôm nay: 3 chương chính truyện.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 314: Trần Phan Nam Của Ngọc Hư Cung


“Chuyện ấy thì không cần tướng quân phải quan tâm.”

Quan Hạ Băng cười lạnh, nhún vai một cái, hoàn toàn không để câu nói móc máy của Long Tuyền vào tai.

Không thể không nói...

Mưu kế lần này của Lý Thanh Minh có thể nói là cơ hồ là hoàn mỹ, đo ni đóng giày cho Lý Thanh Vân. Có lẽ nếu là nhắm vào kẻ khác, mưu kế của hắn sẽ có tỉ lệ thất bại khéo phải đến bảy tám phần. Song nếu là dùng để đối phó với Toái Đản Cuồng Ma thì quả thực trăm phát trăm trúng.

Mà sở dĩ âm mưu lần này của Lý Thanh Minh thất bại cũng vì một yếu tố mà không ai có thể lường trước được: thanh kiếm quái dị của Lý Thanh Vân.

Dù sao, cô nàng cũng không thể không thừa nhận.

Lý Thanh Minh lần này thua không oan.

Có ai có thể tưởng tượng được trên đời lại tồn tại một bảo vật có thể không cần tiêu tốn chân khí, không nhìn cảnh giới cao thấp, tùy thời tùy lúc đều có thể chữa trị cho chủ nhân một cách hoàn hảo như Lăng Xương Kiếm? Nếu không phải được tận mắt nhìn thấy, lại nghe chính Lý Thanh Vân giải thích vật này lấy trong bí cảnh ra, có lẽ đến giờ Quan Hạ Băng vẫn không tin lại có một thần vật nghịch thiên như vậy tồn tại trên đời.

Dù sao...

Long Nha Ngân Lân Kích của nhà họ Quan thực ra cũng là vật trong bí cảnh, song lại không có công năng b**n th** như Lăng Xương Kiếm.

Quan Hạ Băng quay đầu, đi tìm Thẩm Tư Quân bàn chuyện phòng ngự Hải Thú tiến công, chẳng thèm ngó ngàng gì đến Long Tuyền và cánh quân Tả Dực của hắn nữa.

Bấy giờ, trong lòng cô nàng toan tính nếu như quân Tả Dực của gã tự giác lên chiến trường hỗ trợ không thiếu một ai thì mọi chuyện còn dễ nói, nhược bằng cho rằng Lý Thanh Vân được đặc cách, định sử dụng chuyện này tạo áp lực cho cô nàng để mình không phải ra sức...

Quan Hạ Băng đương nhiên cũng sẽ không nương tay.

Nàng có thể lấy đại cục làm trọng, có thể không mượn việc công báo thù riêng, nhưng nếu đối phương quả thực tri pháp phạm pháp, tự đưa cổ đến trước cửa xin được chém...

Vậy không trách được nàng ta.

Về phần Lý Thanh Vân...

Cô nàng còn có dụng ý khác.

oOo

Lại qua mấy ngày...

Cân nhắc mãi, cuối cùng Long Tuyền và Quách Bình Minh cũng đành phải khuất phục trước Quan Hạ Băng, để quân đội phối hợp phòng ngự hết sức có thể.

Cả hai đều bụng bảo dạ, rằng một khi chuyện này êm ắng lại, Nghiêm Quảng liên lạc được với Đồng châu chủ tố cáo thì chắc chắn sẽ khiến Quan Hạ Băng đẹp mặt.

Mà trong mấy trận chiến này...

Ma Kình tộc tràn lên bờ cát, lê tấm thân to như những quả núi lớn của chúng càn vào thành Hải Nha, mỗi một con đều có sức xung phong không kém gì cường giả Vụ Hải. Quân Tả Dực đối diện với thanh thế kinh khủng như vậy, khó tránh khỏi thương vong thảm trọng, mười thành chết hai, bị thương phải ba bốn.

Long Tuyền thấy Tả Dực quân của mình tổn thất nghiêm trọng như vậy, trong lòng sớm đã mắng cả tông ti dòng họ của Quan Hạ Băng bảy bảy bốn mươi chín lần. Thế nhưng, lần này đối phương chiếm lý, hắn thân là người học binh pháp cũng không tiện nói gì thêm được. Mắt thấy thương vong càng lúc càng lớn, Long tướng quân chỉ còn cách đánh tiếng với Chiến Vương nhà mình giật dây một phen, điều chi viện từ nơi khác đến, đặng giúp Tả Dực quân chống đỡ một phần áp lực.

Nghiêm Quảng vừa đến Hải Nha, lập tức như cá gặp nước, cả ngày không phải đang chè chén đàn đúm thì là dạo chơi hát ca, dáng vẻ phế vật đến độ khiến người ta không thể nào nhìn thẳng được. Lúc Long Tuyền đến tìm gã nói chuyện thương vong của quân Tả Dực, tên này còn dửng dưng như không, đáp:

“Tả Dực thì Tả Dực thôi, nước Tề ta lắm nhân tài, chết thì lại chiêu mộ mấy hồi.”

“Không thì nếu tướng quân thích ai bên quân Hữu Dực thì có thể nói với Hải thúc một tiếng, cứ bảo lời của ta nói.”

Phải đến khi Long Tuyền kém chút là không chịu đựng nổi, muốn nổi đóa lên thì Chiến Vương mới gật đầu một cái, vỗ vai y trấn an:

“Yên tâm. Chuyện này bản vương tự đã có sắp xếp, Long tướng quân chớ có lo lắng.”

Long Tuyền cũng không rõ rốt cuộc cái vị vương gia nếu không ra ngoài khi nam bá nữ thì chỉ nằm nhà ngồi không hưởng lạc này của mình có thể có “sắp xếp” gì, song hiện tại, hắn cũng chỉ có thể dựa vào Nghiêm Quảng mà thôi.

Chờ Long tướng quân đi khuất, Nghiêm Quảng chợt đưa tay gảy một cái vào khoảng không. Trước mặt gã lập tức hiện ra một giao diện mà nếu Bùi Xuân Luận, Giả Cát Tường có mặt ở đây chắc hẳn sẽ thấy vô cùng quen thuộc.

Chính là “hệ thống” của Trang Bức Thần Giáo.

Nghiêm Quảng gõ gõ ngón tay lên không khí, miệng lẩm bẩm vài cái tên, mắt lướt qua một cái danh sách dài dằng dặc. Những hàng chữ ngay ngắn có cái tỏa sáng, có cái mờ tối, có cái lại hoàn toàn ảm đạm vô quang, bị gạch chéo bằng hai nét mực đỏ.

Ánh mắt Chiến Vương thoáng dừng lại ở một cái tên đã bị gạch trong tích tắc, kế mới di dời sang một cái tên khác ở cách đó ba hàng, Gã chép miệng một cái, lẩm bẩm:

“Lần này trăm sự nhờ ngài rồi, thiên sư đại nhân của Ngọc Hư cung.”

oOo

Lúc này, cách Hải Nha hơn hai ngàn dặm về phía nam, ở một tòa thành không lớn không nhỏ nằm sát biển, một đạo sĩ tuổi trung niên ngồi xếp bằng chợt mở đôi mắt ra, trên gương mặt lão thoáng hiện ra vẻ ngờ vực.

Lão chính là Trần Phan Nam, hiện tại đã là thiên sư ở Ngọc Hư cung. Đồng thời, cũng là người đã đến móc nối cho Bùi Xuân Luận đầu tư vào võ đài ngầm ở thành Bạch Đế khi trước.

Có thể nói là thành viên cộm cán một thời của Trang Bức thần giáo.

Trước mắt lão lúc này, một hàng chữ vừa quen thuộc vừa xa lạ từ từ hiện lên:

“Nhiệm vụ mới: đi đến thành Hải Nha, điều tra tung tích và tình trạng của Lý Thanh Vân – đại đệ tử của Bích Mặc tiên sinh.

Phần thưởng: đạo thống kì lạ của Lý Thanh Vân, có thể trợ giúp túc chủ tu hành.

Nhiệm vụ quan trọng, không thể từ chối.”

Cơ hồ lúc này, có thể nhìn rõ trái tim của Trần Phan Nam đã nhảy lên đến cổ họng, gương mặt vì hưng phấn mà đỏ bừng cả lên. Trong đôi mắt lão, vẻ tham lam hiện rõ mồn một chẳng che giấu chút nào. Trần Phan Nam khẽ l**m môi một cái, đảo mắt, bắt đầu tính toán thiệt hơn được mất của chuyện này.

Lão đến thế giới này đã nửa đời người...

Từ lúc còn là thanh niên đến giờ, có lúc nào mà Trần Phan Nam không mơ tưởng có một ngày mình có thể đạp chân lên con đường tu hành, trở thành cường giả tuyệt thế đứng đầu thiên hạ.

Tỉnh nắm quyền thiên hạ, say ngủ gối mỹ nhân...

Ấy cũng là ước mơ đã phủ bụi một thời của lão.

Đáng tiếc, sự thật trêu ngươi. Cái hệ thống của lão so với đa cấp còn biết lừa người ta lên thuyền giặc hơn. Kể từ Trần Phan Nam tu hành cái gọi là “công pháp đứng đầu mảnh thiên địa này” của hệ thống, thì cũng đã xác định lão đặt chân lên con đường lừa người lấy tiếng không có đường về.

Bởi lẽ, cái công pháp kia quả thực chính là một cái gân gà, bỏ thì thương mà vương thì tội. Ngoại trừ khả năng phóng thích uy áp và mô phỏng khí chất, thay đổi bề ngoài ra thì chỉ còn mỗi khả năng đưa người khác lẻn vào bí cảnh, hoàn toàn không có chút sức chiến đấu nào cả. So với Giá Y Thần Công của Cổ Long tiên sinh, thì cái công pháp hệ thống cho Trần Phan Nam và giáo chúng thần giáo lại càng giống may áo cưới cho kẻ khác hơn.

Thế nhưng...

Hệ thống đúng là không lừa lão.

Cái công pháp bỏ đi kia của hệ thống chẳng rõ vì sao lại vô cùng bá đạo, mỗi lần lão tu hành công pháp khác, bất kể phẩm giai cao hay thấp thì đều bị nó bài xích, sau đó xóa sổ một cách vô tình tột độ.

Có thể nói...

Đối với hai chữ “biến cường”, Trần Phan Nam sớm đã không còn ôm hi vọng gì. Chuyện vấn đỉnh thiên hạ cũng được lão xếp vào một xó, nơi vứt đầy những giấc mơ dang dở của thời thanh niên.

Thế nhưng, hiện tại...

Nhiệm vụ của hệ thống lại mở ra trước mắt lão một con đường tu hành, nắm giữ chiến lực trong tay.

Trần Phan Nam há có thể không động lòng?

Chiến lực của Lý Thanh Vân ra sao, lão cũng có biết một hai. Trước chưa nói đến Ngọc Hư cung của lão cũng có va chạm với thằng nhóc, thậm chí còn tổn thất một vị Lăng Hư chân nhân, chỉ riêng cái chuyện Lý Thanh Vân dùng sức người phàm phá hủy võ đài ngầm là đã đủ khiến lão thèm nhỏ dãi thứ bí thuật có thể khiến người phàm đương đầu sòng phẳng với tu hành giả trên người cậu chàng rồi.

Cơ hồ chỉ trong một khoảnh khắc đọc được những chữ hiển thị trên thông báo của hệ thống, nhiệt huyết nguội lạnh tích chứa bốn mươi mấy năm giống như được đun sôi, lần nữa cháy hừng hực trong tim.

Trần Phan Nam cơ hồ không chờ được, vội vàng ra ngoài.

Thế là, chỉ trong một buổi chiều, không ít đạo đồng, ni cô của Ngọc Hư cung bắt đầu mò ra ngoài nghe ngóng về thành Hải Nha, về Lý Thanh Vân, và cả tung tích của kẻ thường xuyên bán tin tức cho Trần Phan Nam – Trường Mệnh Trùng Hạ Hầu Duyệt.

Có thể nói, nhân mã Ngọc Hư cung lần này tất bật phải gấp mười gấp tám ngày thường, lúc kháng cự Hải Thú.

Mà bấy giờ...

Ở thành Hải Nha, kẻ chủ mưu gây ra mọi chuyện – Chiến Vương Nghiêm Quảng – lúc này chính đang nâng chén rượu lên cười phớ lớ:

“Có câu ‘cái q**n l*t hay miếng giấy chùi đít cũng có giá trị của nó’ thật là không sai. Chó săn mất nanh thì mất nanh, nhưng hãy còn cái mũi để đánh hơi cơ mà.”

Số chương còn lại hôm nay: 2 chương chính truyện.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 315: Nhập Hải


Vài ngày trước, ngay sau hôm Lý Thanh Minh đến thành Hải Nha...

Trên Kình Cốt quảng trường ở Giải Đảo, có ba bóng người đang đứng đối diện nhau trên Chẩm Đao Đài, Một trong số đó không phải ai xa lạ, chính là Xích Hiệp – Lý Thanh Vân.

Cậu chàng chắp tay, thi lễ với hai người đang đội mũ chùm đầu che kín toàn thân trước mặt, nói:

“Chào Long sứ giả. Để ngài phải vượt ngàn dặm xa xôi đến tận đây giúp đỡ, thật là ngại quá. Tại hạ vô cùng cảm kích.”

Cậu chàng nói xong, lại quay về phía bóng người lùn tịt đứng bên cạnh Long Thanh Y, hỏi:

“Còn vị này là?”

Không đợi Long Thanh Y lên tiếng, cô nàng đã bước lên một bước, giơ tay chào:

“Kính chào đại sư huynh. Tiểu muội là Long U, là tiểu đồ đệ của tiên sinh.”

Lý Thanh Vân quả có phần bị cái vẻ hoạt bát của Long U khiến cho thất thần, song không hề thấy phản cảm. Cậu chàng tính tình thật thà, chỉ biết gãi gáy, gật đầu:

“Ra là sư muội. Không rõ sư phụ nhận tiểu muội khi nào?”

“Lý thiếu hiệp, đây là tiểu công chúa của tộc ta. Tiên sinh đã hứa dạy công chúa chuyện ca hát của con người, nên mới xưng hô như vậy. Song... cũng chưa làm lễ bái sư, chưa dập đầu đủ chín cái, có phần không đủ lễ số.”

Long Thanh Y vội vàng giải thích, lại kéo Long U lại đằng sau lưng mình. Cô bé phồng má lên, phụng phịu một tiếng, song cũng không phản bác.

Lý Thanh Vân nghe vậy lại cười, nói:

“Sư phụ xưa nay không thích lễ số rườm rà. Mấy người chúng ta cũng đã có ai làm lễ bái sư đàng hoàng đâu? Thực ra, vậy cũng tốt. Nếu không người phải áy náy là kẻ làm đại sư huynh này mới đúng. Tiểu sư muội chưa bái vào môn hạ của sư phụ mà ta đã ‘tiền trảm hậu tấu’ nhờ vả hai người rồi.”

“Không phiền. Không phiền. Đại sư huynh cứ yên tâm. Có tiểu sư muội ở đây, đảm bảo mấy con Hải Thú này nhãi nhép này không dám động vào một sợi lông của sư huynh đâu!”

Long U vỗ ngực, cười.

Long Thanh Y đứng bên cạnh, trợn mắt lên một cái, song cũng không lên tiếng.

Hải Thú có mạnh đến đâu, Vương tộc Bá tộc có khủng khiếp thế nào, đông đảo cách mấy thì Phong Bạo hải này vẫn là thiên hạ của Long tộc. Ấy là còn chưa kể bây giờ đang buổi chiến tranh giữa bảy nước với Hải Thú, Long U cũng chẳng phải Long tộc bình thường. Trừ phi đám vương tộc của Hải Thú uống nhầm thuốc, khiến cho đầu óc chập cheng, bằng không há lại có chuyện chúng khi không tự lấy đá kê chân, chọc vào con gái của Long Bá Thiên làm gì cho lão nổi cơn tam bành lên.

Long U đương nhiên không biết những suy nghĩ miên man trong đầu Long Thanh Y. Cô bé gỡ cái vỏ ốc đang đeo trên tóc xuống, đưa cho Lý Thanh Vân, nói:

“Đại sư huynh, đây là bảo vật Long tộc bọn muội hay dùng để tiếp khách. Lát nữa xuống biển sư huynh ghé miệng vào đây thì sẽ có không khí, không lo bị ngạt. Nhưng phải nhớ là thở ra qua mũi, đừng hà hơi vào bên trong vỏ ốc là được.”

Long Thanh Y nhìn cậu chàng một cái, lại nhỏ giọng:

“Chuyện này... Lý thiếu hiệp có nắm chắc chưa? Chỉ sợ chuyện cậu và Long tộc có qua lại bị kẻ khác lợi dụng thì không hay lắm.”

“Sự cấp tòng quyền. Cảm tạ lời nhắc nhở của sứ giả. Tại hạ sẽ chú ý cẩn thận.”

Lý Thanh Vân chắp tay hoàn lễ.

Quân tử phòng thân, tiểu nhân phòng bị gậy, chuyện ấy cậu chàng vẫn biết. Nhất là sau khi bị tên Tô răng vẩu của Sát Thần điện tập kích, Lý Thanh Vân càng thể ngộ rõ thế nào là lòng người hiểm ác, quỷ kế đa đoan.

Long U bấy giờ có vẻ hơi mất kiên nhẫn, giơ tay hô to một tiếng:

“Được rồi! Xuống biển!!!”

Cô nàng vừa dứt lời, bèn tung mình lên không trung, đưa tay vẩy về phía trước một cái. Tức thì, mặt biển Phong Bạo quanh năm bão tố gầm thét từ từ tách ra làm đôi. Long U cười khanh khách, nhón chân từng bước tiến vào lòng biển trong con mắt ngỡ ngàng của Lý Thanh Vân.

oOo

Thành Hải Nha...

Quan Hạ Băng nhìn gã tiểu binh đang bị trói nghiến trước mặt, lưỡi ngọn Long Nha Ngân Lân Kích từ từ đưa lên, gác ngay cổ hắn. Có lẽ do không thích ứng được với hàn khí từ lưỡi kích, tên tiểu tốt ho lên một trận dữ dội, song lại không dám nhắm mắt lại, cứ phải gắng gượng trợn mắt lên, nhìn qua rất tức cười.

Ngân Lang nhíu mày, nhìn về phía Thẩm Tư Quân một cái. Vị nữ quân sư của Tĩnh Hải quân nhẹ nhàng tiến lên trước một bước, nhỏ giọng:

“Vị tiểu ca này...”

Tên nọ nghe thấy y thị xưng hô như thế, càng thêm kinh hoảng, vội vàng nói:

“Không dám! Không dám! Quân sư đừng đề cao tiểu nhân như vậy. Tiểu nhân thụ sủng nhược kinh.”

“Vậy được rồi. Nhà ngươi chắc hẳn là đã nhìn thấy Lý thiếu hiệp an ổn rời khỏi doanh trại rồi phải không?”

Thẩm Tư Quân nghe hắn nói, lập tức thay đổi cách xưng hô, hai mắt híp lại, ném về phía gã một ánh nhìn sắc như dao cạo, mỏng như dao lam. Tên tiểu binh rùng mình một cái, hoàn toàn không thích nghi kịp khả năng lật mặt như lật bánh tráng của y thị, ngơ người ra một chút. Bấy giờ, Quan Hạ Băng lại nhẹ nhàng chuyển động ngọn kích trong tay, để lưỡi kích cắt vào cổ hắn một đoạn nhỏ.

Hàn khí tràn vào người, lập tức khiến tên này giật mình, nói:

“Có! À không... không có! Tiểu... tiểu nhân... ý tiểu nhân là...”

“Quân tình trọng yếu, không thể bị lộ. Không bằng...”

Quan Hạ Băng nói đến đây, chợt đưa mắt lườm tên tiểu binh một cái. Khí tràng của nàng ta phóng thích, sát khí cuồn cuộn trào dâng, kém chút thì khiến gã sợ bất tỉnh nhân sự. Thế nhưng, lúc này trong đ*ng q**n của tên tiểu binh cũng đã ướt ướt, kèm theo đó là một mùi khó ngửi dâng lên trong không khí.

Thẩm Tư Quân cười, xua tay:

“Chớ nên. Người ta dù sao cũng là thành viên của quân Tả Dực. Tùy tiện giết người, dễ khiến lòng quân bất an, đại binh chia rẽ năm bè bảy mảng, được không bù nổi mất.”

Y thị ngừng một chốc, lại nói:

“Chi bằng mượn cớ giam lỏng y lại, đối ngoại nói là tướng quân thiếu một tên sai vặt. Kế đó lại mang một ít lễ vật đến tặng cho Long tướng quân để lắng chuyện này xuống. Ý của tướng quân thế nào?”

Quan Hạ Băng hừ lạnh một tiếng, đoạn vung tay đánh ngất xỉu tên tiểu binh. Cô nàng bấy giờ mới nháy mắt với Thẩm Tư Quân một cái, cười:

“Mưu kế này của quân sư hay lắm.”

“Tướng quân quá khen. Bây giờ chỉ cần chờ là xong.”

Thẩm Tư Quân cúi đầu, cười.

Không thể không nói...

Có Lý Thanh Vân ở trong quân, được sử dụng quan hệ của Lão Thụ cổ viện, rất nhiều chuyện trước đây y thị ngờ tới mà lực bất tòng tâm thì hiện giờ đều có thể đi kiểm chứng.

Quan Hạ Băng cố nhiên trong tay nắm binh quyền, quân công cũng lớn, song vì nhiều nguyên do mà thường xuyên bị đưa đến những nơi khỉ ho cò gáy, các quan văn võ địa phương đều không dám tới lui móc nối với cô nàng.

Chuyện này đối với Ngân Lang mà nói thì chẳng quan trọng, cô nàng cũng không để trong lòng. Song Thẩm Tư Quân lại khác... y thị lờ mờ cảm thấy được có vẻ thế lực của thái sư trong triều không muốn ảnh hưởng của Lý Huyền Thiên tăng thêm, lại không tiện nhắm vào Lý Thanh Minh, nên mới thường xuyên tìm cách cô lập Quan Hạ Băng, không để cô nàng xây dựng tự lập tự túc. Nhất là lương thảo khí giới thường xuyên phải mượn châu chủ, có thể nói là nửa bước khó đi.

Quan Hạ Băng nói:

“Dì Thẩm, chuyện liệu có ổn thỏa hay không? Vẫn nói Long tộc là bá chủ của Phong Bạo hải, thế nhưng Hải Thú có thể tồn tại đến hiện giờ hẳn cũng có nguyên do. Chỉ sợ vạn nhất...”

“Tiểu thư, xin tin tưởng tiểu nữ, tin tưởng Lý thiếu hiệp. Cậu ấy đã nói đích thân quân sư của Long tộc sẽ đến áp trận, chuyện lần này ắt hẳn sẽ không gặp chút nguy hiểm nào. Hà huống, có những chuyện... chúng ta cần phải biết, Lý thiếu hiệp càng cần phải mắt thấy tai nghe.”

Thẩm Tư Quân lắc đầu, nhỏ giọng.

Dựa vào những gì nghe ngóng được trên giang hồ gần đây, y thị lờ mờ cảm thấy Bích Mặc tiên sinh tựa hồ muốn làm chuyện kinh thiên động địa, bằng không cũng không mạo hiểm phái học trò tản ra khắp lục quốc như hiện giờ.

Mà theo suy đoán của Thẩm Tư Quân...

Rất có thể, ý đồ thực sự của Bích Mặc tiên sinh chính là để đệ tử nhà mình thấy rõ chân tướng của chiến tranh với Hải Thú.

Quan Hạ Băng cắn răng một cái.

Cô nàng và Thẩm Tư Quân quen nhau từ lúc mới chập chững nghiệp binh đao, đến nay cũng có thể coi như nửa là chủ – tớ mà nửa là tri kỉ. Trong lúc chuyện trò, Thẩm Tư Quân từng nhiều lần tỏ vẻ hoài nghi về bản chất của chiến tranh với Hải Thú, với chuyện Phạt Hải Kiếm Thánh xách kiếm nhập hải. Đối với những nghi vấn của Thẩm Tư Quân, Quan Hạ Băng cũng rất tin tưởng tán đồng. Cô nàng cũng thực lòng không muốn phải bán mạng vô ích mà không rõ nguyên do...

Song...

Quan Hạ Băng hiểu rất rõ cái sự đáng sợ của biển Phong Bạo.

Thân là nguyên soái của Tĩnh Hải quân, đương nhiên cô nàng từng dong thuyền vào biển đại chiến với Hải Thú. Ngoài khơi chẳng những dòng biển hỗn loạn, đảo lớn đá nhỏ tựa như bãi chông, lại thêm thời tiết cực kỳ thất thường. Chưa kể, là đám Hải Thú luôn luôn ẩn náu giữa những con sóng, chỉ chực chờ thời cơ tràn lên mạn thuyền xâu xé thịt người, hoặc tóm chân kéo những binh sĩ phân tâm xuống nước.

Nay Lý Thanh Vân một thân một mình xông vào một chốn như vậy, tuy lý trí nói không sao, song một cách vô thức, Quan Hạ Băng vẫn không tài nào yên tâm nổi.

“Chỉ mong là không sao.”

Cô nàng thở dài, đoạn quay sang bàn chuyện quân cơ yếu lược, điều binh khiển tướng với Thẩm Tư Quân, hi vọng bằng cách này có thể tạm quên đi chuyện Lý Thanh Vân xâm nhập vào lòng biển Phong Bạo.

Số chương còn lại hôm nay: 1 chương chính truyện.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 316: Bên Dưới Ngọn Sóng


Ba người Lý Thanh Vân xuống nước rồi, Long Thanh Y mới bắt đầu sử dụng thuật truyền âm giới thiệu tình huống của vùng ven biển thành Hải Nha:

“Lý thiếu hiệp, long tộc và Hải Thú có hòa ước, chuyện của biển Phong Bạo không thể rời khỏi Phong Bạo hải, thế nên đến giờ tiểu nữ mới lên tiếng được, vẫn mong chớ có trách.”

Nàng ta ngừng một thoáng, đoạn nói:

“Phong Bạo hải đại khái có thể chia làm tứ đại vực: Vẫn Tinh Vực, Thiên Hà Vực, Thanh Hà Vực, Long Uyên Vực, ứng với bốn bộ bắc bộ, bắc trung bộ, trung nam bộ, nam bộ trong miệng lục quốc. Đại Việt tiếp giáp với vực Long Uyên, là lãnh địa của Ma Kình tộc. Bên dưới có hai đại hầu tộc là Đao Ngư, Hải Triết.”

Lý Thanh Vân đột nhiên ho khan một tiếng, hỏi:

“Long tướng quân, có thể cho tại hạ hỏi một câu được chăng?”

“Thiếu hiệp cứ nói...”

“Chẳng nhẽ Hải Thú không có quốc gia sao? Vì cớ gì lại lấy Vực để mà phân chia?”

Long Thanh Y cười, không nói tiếng nào. Lý Thanh Vân còn tưởng mình hỏi câu gì quá ngớ ngẩn, người ta không muốn đáp, không tránh khỏi gãi gáy mấy cái tỏ vẻ áy náy. Thế nhưng, chưa đợi cậu chàng tiếp tục lên tiếng, đã nghe Long U nói:

“Đại sư huynh! Nhìn!”

Lý Thanh Vân theo hướng tay cô bé chỉ mà phóng mắt, chỉ thấy lòng biển vốn đang trượt xuống thoai thoải đột nhiên hõm xuống thẳng đứng, tựa như một thác nước khổng lồ. Bấy giờ, cậu chàng chỉ thấy trước mắt mình trải dài một đáy vực tung hoành từ nam chí bắc, nhìn không thấy bờ bên kia, sâu không siết đâu mà kể.

Long U cười khanh khách, hỏi:

“Đại sư huynh, bây giờ đã hiểu vì sao lại gọi là vực rồi chứ?”

Lý Thanh Vân không biết thuật truyền âm, thành thử muốn nói chuyện với hai người thì chỉ có cách nói vào con ốc đang che miệng. Mà như thế thì cũng chẳng khác nào hà hơi vào vỏ ốc cả. Long U lấy vỏ ốc làm trang sức, lại hơi có bệnh thích sạch sẽ, gặp chuyện này đương nhiên là không vui, mới nhân cơ hội trêu ông sư huynh hờ trả đũa một phen.

Lý Thanh Vân EQ cao đến đâu chẳng ai còn lạ nữa, thành thử cô bé nói mà cậu chàng chỉ cười cười gật đầu, hoàn toàn không nhận ra là mình bị nói kháy.

“Lý thiếu hiệp, tiểu công chúa, tạm nấp đi đã!”

Long Thanh Y chợt kêu lên một tiếng, vội vàng kéo hai người lại, nấp sau một rặng đá ngầm gần đấy. Không một dấu hiệu báo trước, phía bờ vực chợt truyền đến một tiếng rống inh tai. Lượng lớn nước biển từ xa quạt tới, xô Lý Thanh Vân kém chút thì ngã dúi dụi. Chỉ thấy, từ mép vực thẳm, một cái bóng dài hàng trăm thước lách mình bơi tới, đôi mắt trợn to như cái bánh xe bò đặt trên cái mũi khoằm khoằm và hai hàm răng vàng hoe hoét, đều tăm tắp nhìn khắp lòng biển một lượt. Tay, chân dài bằng bảy tám người trưởng thành cộng lại, dẹp bè bè ra, lúc này chính đang rẽ nước như một cái mái chèo. Trên đầu con quái vật, mái tóc dài chấm lưng cuộn lại, bẹt như một cái đuôi cá.

Tuy chưa từng thấy một con nào kích cỡ lớn đến thế trên chiến trường, song từ khuôn mặt tứ chi như người, làn da xanh bủng beo, Lý Thanh Vân có thể đoán được thứ đang bơi trước mắt mình chính là một con Hải Thú. Cậu chàng nuốt nước bọt, thầm nghĩ:

“Đây là... tộc Ma Kình?”

Được quái vật khổng lồ dẫn đầu, hàng tá những con Hải Thú khác kết bầy kết bọn mà quẫy nước, bám sát theo sau. Lý Thanh Vân nhìn đối phương một cái, thoáng nhíu mày. Tuy hiện giờ con Ma Kình dẫn đầu không bộc phát khí thế, song luận uy áp, nó chỉ ngang ngửa với Lý Thanh Minh mà thôi. So với những người cậu chàng từng gặp như Lâm Phương Dung, Tạ Hàn Thiên thì còn kém một quãng xa. Tuy Lý Thanh Vân chưa từng thấy ông già nhà mình ra tay, song thiết nghĩ trên Võ Bảng Lý Huyền Thiên còn xếp cao hơn ông chú của Tạ Thiên Hoa, con Ma Kình này có vẻ hoàn toàn không phải đối thủ của y.

Nghĩ đến chuyện này, y mới nhíu mày lại, không khỏi nghĩ về những gì Thẩm Tư Quân từng nói.

“Kể từ sau Phạt Hải chi chiến ba ngàn năm trước, Hải Thú cứ trung bình mười năm lại đánh vào bờ, trăm năm lại có vương tộc tham chiến. Thế nhưng lạ một nỗi, mặc kệ trận chiến trước chết bao nhiêu, số lượng Hải Thú ngang ngửa cường giả Vụ Hải đều không thay đổi. Số Hải Thú có thể chiến đấu với chí cường giả xếp hạng cao trên Võ Bảng cũng vậy.

Tiếc là... Hải Thú không giống các yêu tộc khác, không hóa hình cũng không thèm nói chuyện, lại cuồng loạn mười phần, nếu không tự bạo thì cũng tự ăn thịt đồng loại ngã xuống, nên không tài nào điều tra được thực hư chuyện này.”

(**Chú thích của thằng tác giả:** ở đây nói luôn, sau Phản Thiên Chi Chiến, các tộc khác phải hóa hình thành người để tiến sâu vào Vụ Hải. Nhưng Hải Thú lại không giống. Cái này cũng là tính năng, không phải mình quên mà sinh bug. Song vì địa vị của Thẩm Tư Quân và Lý Thanh Vân không đủ cao, nên không biết những chuyện này.)

Ba người chờ cho đoàn Hải Thú tộc Ma Kình kéo lên bờ, Lý Thanh Vân mới lắc đầu, nghĩ:

“Ma Kình tộc mạnh như vậy, không biết thành Hải Nha rốt cuộc sẽ trụ được bao lâu, thương vong đến mức nào.”

Long U bấy giờ lách mình ra khỏi chỗ trốn, vẫy tay ra hiệu cho Lý Thanh Vân đi theo mình. Ba người men theo đáy biển, bắt đầu đạp lên mặt cát, nhắm thẳng đến đáy vực tối tăm. Dọc đường, Lý Thanh Vân thấy những loài thủy sinh như tôm cá cua mực vẫn thản nhiên bơi lội ngụp lặn, săn đuổi lẫn nhau. Đám Hải Thú hoàn toàn không để chúng vào mắt, mà chúng cũng ngó lơ lũ Hải Thú một cách triệt để thì không khỏi nhíu mày, quay sang hỏi hai người Long Thanh Y:

“Long quân sư, tiểu sư muội, chẳng nhẽ đám Hải Thú này không ăn gì sao?”

Thẩm Tư Quân làm quân sư của Tĩnh Hải quân cũng đã được một thời gian dài, sổ sách của ngư dân trong vùng y thị cũng được tiếp xúc. Mà điều thứ hai khiến Thẩm quân sư lấy làm khó hiểu chính là chiến tranh với con người dường như không hề làm ảnh hưởng đến sản lượng cũng như chất lượng hải sản ngư dân đánh bắt hàng năm.

Số lượng Hải Thú sau mỗi lần chiến tranh với sáu nước chắc chắn sẽ sụt giảm tính đến hàng chục vạn, thậm chí có thể là cả trăm vạn nếu tính cả bốn chiến trường chính là Đại Việt, Đại Hàn, Đại Yến, Đại Thục. Hơn nữa, trên chiến trường, chỉ cần có mắt đều có thể nhìn thấy Hải Thú tự cào xé thịt đồng loại mà ăn ngon lành, chứng tỏ bọn chúng chẳng phải trâu bò dê ngựa, ăn chay mà sống.

Thế thì...

Nếu số lượng Hải Thú tăng hay giảm đều không ảnh hưởng gì đến sản lượng thủy sản, vậy rốt cuộc chúng ăn gì?

Long Thanh Y đảo mắt một cái, nói:

“Sau khi hòa ước thiết lập, Long tộc trấn thủ Hải Nhãn, giữ quan hệ nước sông nước giếng với bốn vực của Hải Thú. Kỳ thực bọn chúng ăn uống thế nào, sinh hoạt ra sao, chúng ta cũng không rõ ràng lắm.”

Kỳ thực, nguyên do chủ yếu cũng là Long tộc tự phụ từng thắng cả Kỳ Lân lẫn Phượng Hoàng, không để các tộc khác vào mắt. Nhất là lúc trước phe Phản Tổ còn nắm đại quyền, thành thử cũng chưa từng ngó ngàng gì đến Hải Thú. Ngay cả sau khi Long Bá Thiên lên làm tộc trưởng cũng vậy.

Song... nói chuyện này ra với người ngoài như Lý Thanh Vân cuối cùng vẫn có hơi mất mặt, thành thử Long Thanh Y mới phải vội vàng tìm đại một lý do để chống chế.

Lý Thanh Vân “à” một tiếng, gật đầu không nói gì cả.

Cậu chàng cũng không đi thắc mắc vì sao Hải Thú có thể lập hòa ước với Long tộc, trong khi Thẩm Tư Quân lại nói hoàn toàn không thể câu thông được với chúng. Dù sao đi nữa, ngôn ngữ khác biệt, hà huống Long tộc lại là tộc cổ xưa bậc nhất Huyền Hoàng giới bây giờ.

Ba người rẽ nước, từ từ xâm nhập vào vực thẳm.

Chỉ thấy càng xuống, nước biển lại càng lạnh, bốn bề cũng bắt đầu xuất hiện cơ man không biết bao nhiêu là sinh vật phù du lạ lẫm, trôi nổi trong làn nước. Con nào con nấy nhìn như con tôm, toàn thân trong suốt mà tỏa ánh sáng nhàn nhạt, có thể nhìn rõ mồn một lục phủ ngũ tạng. Loáng thoáng đằng xa, cá bơi thành những đàn hàn vạn con, hợp tan tan hợp dưới sự truy đuổi bắt mồi của bầy cá kiếm hung tợn. Những con mực nhiều màu nhấp nháy lao đi vun vút, rùa biển quay cuồng chạy trốn khỏi lũ cá mập, quả thực đâu đâu cũng là cảnh lạ chưa thấy bao giờ, khiến Lý Thanh Vân không khỏi cảm thấy háo hức như một đứa trẻ lên mười.

Thỉnh thoảng, cũng có một số Hải Thú quái lạ bơi ngang qua, song không con nào có kích cỡ ngang với tộc Ma Kình ban nãy. Chỉ thấy con thì mũi và môi trên dính liền, kéo dài ra, nhìn qua như một lưỡi kiếm dẹp. Có con thì toàn thân trong suốt, thấy rõ được cả bộ não đang co bóp thình thịch trên đầu, chân tay õng ẹo. Nghe Long Thanh Y giới thiệu thì ấy chính là thành viên của hai hầu tộc Đao Ngư, Hải Triết dưới trướng vương tộc Long Uyên vực.

Bọn chúng bơi ngang qua ba người, đôi mắt chỉ lướt về phía bọn họ một chút rồi lại quẫy chân chuyển hướng sang phía khác. So với dáng vẻ cuồng sát điên dại lúc lên bờ thì tưởng như không phải cùng một giống loài, khiến Lý Thanh Vân lại càng thêm lẫn lộn về cái gọi là chiến tranh với Hải Thú.

Lại nghe Long U chỉ tay về phía trước, nói:

“Đại sư huynh, phía trước chính là dòng hải lưu mà huynh nói đấy!”

Lý Thanh Vân thấy vùng biển phía trước tối đen, ngẩng đầu lên thì thấy trên mặt biển một số dải đất đá lởm chởm rải rác, xếp lại thành hình vòng cung, có vẻ chính là vịnh đảo Hải Lưu trong truyền thuyết của người dân Hải Nha.

Cậu chàng hít sâu một hơi, thầm nghĩ:

“Nếu như Thẩm quân sư đoán không sai, vậy thì ắt hẳn đấy chính là nơi thái tổ ném bội đao Du Long xuống đáy biển sâu?”

Thái tổ Lê Đồ Thành có một thanh đao, tên gọi Du Long, chính là thứ đã kết liễu tính mạng Ma Kình Vương trên Giải Đảo. Hiện giờ, Chẩm Đao Đài ở trung tâm hòn đảo tương truyền là được dựng lên trên miệng vết thương.

Thế nhưng, kể từ lúc thái tổ vào thành Bạch Đế nói chuyện cùng Bạch Đàn tinh trở đi, đã không còn bất cứ ghi chép nào về đao Du Long nữa. Thế thì thanh đao đã đi đâu?

Thành thử, Thẩm Tư Quân ngờ rằng Lê Đồ Thành đã ném đao Du Long xuống biển trước khi rời khỏi Hải Nha. Mấy năm nay, y thị cũng đã cho người trục vớt ở những chỗ như Giải Đảo, Phi Lưu Bích, song vẫn không có tin tức. Duy chỉ còn chỗ vịnh đảo Hải Lưu kia là chưa tìm đến được do địa thế hiểm trở, tàu thuyền không dám đến gần, vừa vì sợ giông tố thiên tai, vừa do e ngại Hải Thú.

Thế nên...

Lần này, Lý Thanh Vân nhận nhiệm vụ lặn xuống biển, tìm đến dưới vịnh đảo Hải Lưu xem xem có may mắn tìm thấy đao Du Long không.

Đồng thời, cũng ôm hi vọng cậu chàng có thể nhờ đó mà phát hiện nguyên nhân thái tổ vứt đao tại đây.

Hết chương hôm nay, nhưng mai còn bạo chương tiếp.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 317: Du Long Đao Hoành Không Xuất Thế


Lại kể chuyện của Lý Thanh Vân...

Cậu chàng chính đang cùng hai người Long Thanh Y, Long U rẽ nước bơi về phía vịnh đảo Hải Lưu. Bấy giờ bên dưới bọn họ là vực thẩm khổng lồ, phía trên đầu là vô số đảo lớn đảo nhỏ, nửa nổi nửa chìm, chẳng khác nào một mê cung. Mà lúc này, ba người giống như đã xúc phạm phải một loại trận pháp, hoặc cấm kỵ nào đó. Tức thì, biển như sôi trào, từ dưới đáy vực, Hải Thú cuồn cuộn tràn đến, dễ đến hàng ngàn hàng vạn.

Con nào con nấy đều nhe nanh, giơ tay, bổ nhào về phía ba người.

Lý Thanh Vân theo bản năng một tay giữ vỏ ốc, một tay tung chưởng. Ngặt nỗi cậu chàng từ xưa đến giờ chưa từng ra biển, chính là một con gà công nghiệp. Gà mà xuống biển sâu, còn vẫy vùng được mới là lạ.

Chỉ thấy tay đưa, chân đạp đến đâu, nước biển chung quanh lại kháng cự, đè ép tới đến đó, khiến những chiêu số Lý Thanh Vân vốn đã nằm lòng hiện tại lại trúc trắc muôn phần, chẳng thể nào xuất thủ tự như. Cậu chàng vung chưởng trên bờ uy mãnh bao nhiêu, đối cứng với cường giả ngũ cảnh thế nào thì dưới này lại giống như là ca kỹ múa võ, trông thì đẹp mắt mà chẳng có tác dụng gì.

Bấy giờ, thân ở trong biển, Lý Thanh Vân mới hiểu vì sao Dương Quá dành ra mấy năm vung chưởng đánh sóng biển, công lực lại đại tiến như vậy.

Nghĩ thì chậm, đến lại nhanh. Hai người Long Thanh Y, Long U phát hiện Lý Thanh Vân hiện giờ đã vô dụng, cũng không cần trao đổi lấy một câu, lập tức chia ra hành động. Chỉ thấy Long Thanh Y vặn mình, hóa thành một con giao long mình dài mười trượng, toàn thân óng ảnh vảy xanh biếc. Y thị cuộn mình, bao bọc Lý Thanh Vân lại, trừng mắt rống một tiếng về phía đám Hải Thú.

Long U thì trái lại, hoàn toàn không hiển lộ bản thể, vẫn lấy dáng vẻ một cô bé đứng cản trước muôn vàn Hải Thú. Cô nàng đưa tay về phía trước, điểm một cái vào mặt biển, nhẹ giọng:

“Dừng!”

Tức thì, tựa như thần thông Ngôn Xuất Pháp Tùy của các đời Văn Thánh, đáy biển Phong Bạo theo một tiếng nói của Long U mà tựa như trở thành ao tù, nước đọng. Đám Hải Thú lúc trước quẫy tay đạp chân một cái có thể bắn đi cả trăm thước thì hiện tại tựa hồ như cá mắc cạn, phí sức chín trâu hai hổ mới có thể nhích được một tấc.

Lý Thanh Vân thấy cô tiểu sư muội hờ nhà mình chỉ quát khẽ một tiếng đã có thể cản được hàng vạn Hải Thú, trợn mắt há miệng, kinh ngạc không nói nổi một câu.

Thế nhưng Hải Thú từ đáy vực xông lên đâu chỉ có vài vạn? Bấy giờ, lại có mấy vạn con từ những hướng khác vọt ra khỏi đáy vực, xông tới chỗ ba người. Đại bộ phận tuy là nhắm vào Long Thanh Y, song cũng có một số không nhỏ tìm đến Long U mà cắn, mà xé. Sứ giả Long tộc khẽ rung mình một cái, quẫy đuôi đánh văng vô số đối thủ, miệng thổi ra một hơi Long Tức.

Chỉ thấy ánh sao lấp lóa, không thiếu Hải Thú trúng phải thần quang, lập tức phân giải thành ánh sao, biến mất trong lòng biển.

Bên còn lại, Long U tiếp tục tập trung khống chế hơn vạn đối thủ không cho động đậy, đến nhìn cũng chẳng thèm nhìn cái đám Hải Thú đang xồng xộc lao về phía mình lấy một cái. Đám kia được thế càng làm càn, miệng máu mở rộng, cắn mạnh vào người cô bé một cái. Lập tức, thân thể Long U cứ thế đứt ra làm đôi, tưởng như đã ngọc nát hương bay.

Thế nhưng, lạ một nỗi, ấy là chỗ hai nửa thân thể cô bé đứt lìa lại không thấy máu thịt tạng phủ, trái lại bắt đầu tràn ra ánh sáng bạc lóng lánh nhu hòa, giống như ánh trăng ngày rằm, chiếu rọi bốn phía.

Lại nghe nửa người trên của Long U cất tiếng cười khanh khách, mắng:

“Dám đánh lén đúng không? Chờ ở đó!”

Cô bé vừa dứt lời, bèn đưa tay vẩy một cái. Lập tức, cái miệng há hốc của đám Hải Thú giống như bị thứ gì khống chế, kéo banh cả ra, khiến khóe miệng nứt toác, máu chảy ào ào. Cả đám trợn tròn con mắt, đồng tử đảo liên hồi, song cũng giống như hơn vạn Hải Thú đang bị Long U khống chế, bọn chúng muốn động một cái cũng chẳng được.

Lúc này, bụng cả đám bắt đầu căng phồng lên một cách quái dị, trên mặt cũng dần dần hiện lên vô vàn mạch máu, nhất là dưới đuôi mắt càng căng phồng lên dữ tợn, hệt như một đám giun đất đang bò dưới làn da. Long U nhún vai, nói:

“Tuy nói hai tộc chúng ta có minh ước, không thể tùy tiện đánh giết Hải Thú. Nhưng lần này các người động thủ trước, thế thì không trách được bản công chúa rồi. Bạo!”

Cô bé vừa quát một tiếng, lập tức cái bụng căng phồng của đám Hải Thú vỡ toạc, máu tươi ối ả xối ra ngoái, nhiễm đỏ cả một vùng biển. Mạch máu trên mặt cũng đồng thời nổ tung, đẩy văng hai con mắt lồi to tướng ra ngoài, trôi nổi trong biển. Đám Hải Thú bị trúng độc thủ của Long U lúc này hai mắt đều mất, bảy lỗ chảy máu, bụng rách toạc từ giữa ngực đến tận ngay trên thắt lưng, phủ tạng lòng thòng trượt hết ra bên ngoài, thảm không tả xiết.

So với thủ đoạn của Long Thanh Y, cảnh tượng khi cô bé này ra tay không nghi ngờ máu me be bét hơn nhiều. Đến ngay cả sứ giả của Long tộc cũng phải chau mày, lắc cái đầu giao long khổng lồ mấy cái, tỏ vẻ hết sức bất lực.

Tiếp sau đó...

Long Thanh Y phóng Long Tức, Long U thì bắt đầu tràng đồ sát đẫm máu của mình, chẳng mấy chốc vùng biển chỗ vịnh Hải Lưu nhuộm đẫm máu tươi, đứng trên mặt biển cũng có thể nhìn thấy được. Xác Hải Thú cứ thi nhau rơi rụng xuống vực thẳm bên dưới.

Lý Thanh Vân được Long Thanh Y che chở, lúc này trông thấy cô bé “hoạt bát lém lỉnh” mới nãy vừa cười khanh khách, vừa tàn sát Hải Thú, thế như hồng thủy chẳng thể ngăn trở, không khỏi nuốt nước miếng một cái.

“Sư phụ dạy xem sách không thể nhìn bìa, không thể trông mặt mà bắt hình dong thật đúng lắm thay.”

Lại qua chừng nửa khắc, số lượng Hải Thú chết không có hai ba mươi vạn thì cũng phải mười sáu, mười bảy. Bấy giờ, bên dưới đáy vực bỗng chốc bộc phát một tiếng rống đinh tai nhức óc. Chính chủ còn chưa ra mặt, nhưng biển cả đã vì tiếng kêu mà xao động dữ dội. Đám Hải Thú bị Long U khống chế nháy mắt đã lấy lại tự do, song cũng không tiếp tục nhào tới công kích mà đều cúi đầu xuống. Hai nửa cơ thể của Long U lúc này cũng liên tục gợn sóng, không thể không hợp lại, hóa thành thực thể. Bản thể của Long Thanh Y to lớn, chịu xung kích từ tiếng rống cũng nặng nhất, thoáng chốc đã bay ra ngoài đến nửa dặm, miệng ói ra một búng máu xanh.

Long U vội vàng chuyển thân, chạy đến chỗ Long Thanh Y, vừa lao đi vừa hô:

“Sư huynh! Hỏng! Có biến! Vương Thú bị kích động rồi!”

“Chuyện này...”

Lý Thanh Vân cũng có chút không dám tin nhìn về phía Long U. Nếu không phải trước đó hai người sớm đã nói không rõ ràng chuyện của Hải Thú cho lắm, cậu chàng khéo đã nghĩ cô bé cố tình chơi khăm mình, ngăn chặn Lý Thanh Vân tiếp cận vịnh đảo Hải Lưu.

Bấy giờ, vực sâu đã bắt đầu rung chuyển dữ dội, lượng lớn cát biển, nước biển chảy xuống, cơ hồ hóa thành một cái vòi rồng.

Uy áp khủng khiếp lan tràn ra, khiến Lý Thanh Vân chỉ cảm thấy tức ngực khó thở, trái tim cuồn cuộn dâng lên một thứ cảm xúc lẫn lộn khó tả bằng lời. Khóe mắt cậu chàng không tự chủ được rơi xuống một giọt lệ, nhưng lập tức đã bị cuốn vào cùng nước biển, thành thử tính cả bản thân cậu chàng, không một ai nhận ra cả.

Ngay lúc Long Thanh Y và Long U định dẫn Lý Thanh Vân tháo chạy, thì đã thấy từ chỗ đảo lớn nhất ở vịnh đảo Hải Lưu, một điểm sáng lao vút ra ngoài, đâm thẳng xuống biển, cuối cùng lơ lửng bên trên đáy vực sâu vạn trượng. Lý Thanh Vân nheo mắt nhìn, phát hiện trong điểm sáng là một thanh trường đao, lưỡi dài ba thước, sống đao thẳng tắp, chuôi đao uốn lượn như thân rồng, toàn thân đen nhánh như mực.

Theo đó, uy áp lan tràn ra từ đáy vực cũng bị trường đao áp chế, ép quay ngược trở về.

Đám Hải Thú nhìn thấy đao này, đều nháo nhào dáo dác cả lên, xem chừng là bất an lắm. Chẳng mấy chốc, con này chồm lên con kia, con kia xô đẩy con này. Tuy trên dưới không có một con chạy trốn, đều vây chặt lấy trường đao, nhưng xem dáng vẻ đứa nào đứa nấy đều cố gắng cách thanh đao càng xa càng tốt, không khỏi khiến người ta cảm thấy buồn cười.

“Đám Hải Thú vừa hận lại vừa sợ đao này, vậy thì mười phần chắc chín đó là Du Long đao của Thái Tổ rồi.”

Lý Thanh Vân nói xong, chặc lưỡi một cái, thầm nghĩ...

Thẩm quân sư không hổ là nữ trung hào kiệt, không ngờ đúng như y thị dự đoán, Du Long đao đích thực được Thái Tổ giấu ở vịnh đảo Hải Lưu.

Số chương còn lại hôm nay: 3 chương chính truyện.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 318: Phạt Hải Kiếm Thánh?


Lý Thanh Vân cảm giác thứ quỷ quái ban nãy có vẻ dè chừng Du Long đao, chính đang từ từ lặn sâu xuống đáy vực, thở phào một tiếng nhẹ nhõm. Kế đó, cậu chàng lại nhìn về phía hai người Long U, Long Thanh Y, hỏi:

“Không biết Vương Thú mà hai vị nhắc đến rốt cuộc là thứ gì? Vì sao lại có chiến lực đáng sợ đến thế?”

Tiểu công chúa của Long tộc vuốt vuốt trước ngực, cố gắng bình ổn trái tim đang đập liên thanh như vó ngựa phi, rồi mới lên tiếng:

“Chuyện này sư muội cũng không rõ lắm. Xưa nay Vương Thú vẫn luôn ẩn mình ở sâu dưới đáy của vực sâu, chưa bao giờ tìm đến Hải Nhãn, cũng chưa từng xuất hiện trước mặt ai bao giờ. Duy chỉ có một lần trong trận đại chiến giữa Long tộc và Xi Vẫn, Vương Thú bị kinh động gầm lên một tiếng như ban nãy. Sau đó ba chi đại binh của hai tộc đều tử vong, chết hàng trăm người. Cũng vì chuyện này mà các tộc các nhà trong biển Phong Bạo đều nhất trí hạ lệnh cấm, không thể chiến tranh quá lớn, hơn nữa phải phân tán mà đánh. Hiện giờ tộc chiến của Phong Bạo hải đều thiên hướng cử thiên kiêu đấu lôi đài, phái tướng lĩnh đấu pháp. Chiến tranh cỡ lớn như lúc Xi Vẫn đánh Long tộc khi xưa không bộc phát thêm lần nào nữa.”

“Thế thì lạ thật. Thứ mạnh như vậy vì cớ gì lại e dè thanh trường đao kia?”

Lý Thanh Vân nhìn về phía thanh Du Long đao đang lơ lửng trên đáy vực, gương mặt thoáng lộ vẻ hoài nghi.

Theo cậu chàng thấy, bội đao của thái tổ Lê Đồ Thành cố nhiên là mạnh, nhưng so với cái thứ bí ẩn gọi là Vương Thú chỉ bằng sự tồn tại mơ mơ hồ hồ mà khiến cả Phong Bạo hải đều nơm nớp lo âu, ném chuột sợ vỡ bình kia thì quả thực là con kiến so với con voi.

Nhưng lạ một nỗi...

Con voi kia lại có vẻ kiêng dè con kiến, chủ động rút lui.

Long Thanh Y nói:

“Chuyện này quả thực có điềm lạ, nhưng cứ đứng đây nói suông, đàm binh trên giấy thì cũng chẳng phải cách. Không bằng ba người chúng ta cùng đến xem thử xem rốt cuộc thanh đao kia là thần vật ở đâu, lai lịch thế nào mà có thể cứu được chúng ta một mạng?”

Lời còn chưa dứt, thì trong biển đã có tiếng cười sang sảng vọng tới:

“Không cần tìm, mỗ ở đây rồi!”

Ba người nhìn sang, chỉ thấy trường đao hóa thành một vệt sáng, lao vút về phía mình. Đao khí lăng lệ theo thân đao toát ra, gom lấy nước biển xung quanh đúc thành thân người, dùng đao làm xương sống. Tuy toàn thân trong suốt, không rõ ngũ quan, nhưng dáng vẻ bảy phần hiên ngang, ba phần vô sỉ, khí chất cực kỳ đặc biệt.

Lý Thanh Vân nhìn thủy nhân do Du Long đao hóa thành, lập tức liên tưởng đến bức tượng Thái Tổ bên ngoài cổng thành Hải Nha.

Người nọ chắp tay với hai người Long Thanh Y, Long U một cái, giống như tỏ ý cảm tạ. Đoạn cúi đầu, làm thủ thế mời, nói:

“Ba vị, mời đi theo mỗ một chuyến. Phía trước có một người vị thiếu hiệp đây cần tận mắt gặp một lần.”

Lý Thanh Vân cảm thấy đao trước mặt chính là Du Long đao của Lê Đồ Thành, nên cũng chỉ do dự trong thoáng chốc. Hai người Long U tuy không phải nhân tộc, không có hảo cảm gì với Lê Thái Tổ, song xét thấy đao này vừa cứu bọn họ một mạng, nên đoán chừng không có ý gia hại, bèn làm theo lời y.

Ba người men theo trường đao rẽ nước, lách qua các đảo đá, mãi đến khi gặp cái lỗ đen sì lơ lửng ngay giữa biển, vừa đủ cho một người chui vào. Bên trong tối thui không thấy được thứ gì, mà dòng biển chung quanh lại cứ thế hững hờ trôi qua, tựa như nó không tồn tại ở đó vậy.

Lý Thanh Vân nhìn cái lỗ hổng trôi nổi giữa lòng biển, vừa định quay sang hỏi hai người họ Long thì đã phát hiện vô luận là tiểu công chúa Long U hay quân sư cả tộc Long Thanh Y trên mặt đều hiện lên vẻ khó hiểu, bèn nuốt câu hỏi đã dâng lên đến cuống họng vào bụng.

Thủy nhân đưa tay, cản trước ba người, nói:

“Ba vị chớ trách. Phía trước có chút đặc thù. Nếu chẳng may nhiễm vào chỉ e là hỏng đại sự.”

“A? Phía trước có gì đặc biệt? Hay lắm sao?”

Cô bé Long U hai mắt sáng rỡ, vội vàng lên tiếng hỏi thăm người nước. Đương nhiên, thân là tiểu công chúa của Long tộc, cô nàng cũng không đến nỗi vì ham vui nghịch dại mà bỏ qua lời cảnh cáo của thủy nhân, chìa tay về phía lỗ hổng.

“Cũng không hại tính mạng, chỉ là chậm trễ thời gian của ba vị thôi.”

Tiếng nói cất lên, khàn khàn cứng cáp, trung khí mười phần, hơn nữa nhiều mấy phần nghiêm túc ổn trọng, bớt mấy phần ngả ngớn bông đùa, rõ ràng không phải do thủy nhân lên tiếng.

Lại thấy, từ trong lỗ hổng, một trung niên mặc áo bào đen, chân đi giày cỏ từ từ bước ra, đứng bên cạnh thủy nhân, chính đang mỉm cười nhìn ba người.

Lý Thanh Vân nheo mắt đánh giá kẻ trước mặt, thấy y dáng vẻ đường hoàng, mày như kiếm sắc, chỉ có điều đôi môi hơi mỏng, khiến cho khí chất chỉnh thể lại vương thêm một chút tà dị. Y bước ra khỏi lỗ hổng xong, trước nhất chắp tay gật đầu với thủy nhân, nói:

“Cảm tạ ơn hộ đạo của Lê lão đệ.”

“Nên làm. Nên làm... Vậy tiểu tử ta đây không làm phiền tiền bối nói chuyện nữa.”

Thủy nhân trả lễ xong, bỗng nhiên tan rã, hiện rõ nguyên hình là thanh trường đao đen nhánh, để ngang trước mặt ba người Long U, giống như phân ra một đường biên giới giữa song phương vậy.

Trung niên vuốt râu, cười:

“Ba vị hẳn là thiếu niên tài tuấn từ ba ngàn năm sau đúng không? Hạnh ngộ... hạnh ngộ... Lão hủ tục danh Hàn Kinh Vũ, không biết trên đời còn ai nhớ đến chăng?”

“Phạt Hải Kiếm Thánh?”

Long U thì không nói làm gì, thế nhưng Long Thanh Y thân là quân sư của Long tộc, Lý Thanh Vân là hiện giờ còn đang làm sư phụ của Phó Quân Sước, đã từng đích thân đến Kiếm Trì, xem ảnh chân dung của Kiếm Thánh thì há lại không nhận ra người trước mắt là ai?

Thế nhưng...

Hàn Kinh Vũ sớm đã quay về từ chuyến vào biển, rửa kiếm ở Tẩy Kiếm Trì, sau đó mấy chục năm thì ẩn kiếm vào mộ, nhập thổ vi an, hưởng dương chín mươi hai tuổi. Tính đến hiện giờ cũng đã là ba ngàn năm có lẻ. Ngày Phạt Hải Kiếm Thánh binh giải quy thiên, toàn bộ thế lực lớn trên Huyền Hoàng giới đều đến chứng kiến, có thể nói là kể từ Phạt Hải chi chiến ba ngàn năm trước đến giờ chưa có một ai được hưởng vinh dự lớn đến vậy.

Song hiện tại, lại có một Hàn Kinh Vũ xuất hiện ở vịnh đảo Hải Lưu, không khỏi khiến ba người cảm thấy khó mà tin được vào mắt mình.

Trung niên cười, nói:

“Kiếm Thánh thì chẳng dám nhận, hai chữ Phạt Hải lại càng là trò cười mà thôi. Mời ba vị ngồi. Dám chắc các vị thắc mắc vì sao lão hủ lại có mặt ở đây phải không?”

Ba người không hẹn, cùng gật đầu một cái, đoạn làm theo lời y, dù thân ở trong biển, khoanh chân ngồi hay không cũng chẳng cần thiết cho lắm.

Hàn Kinh Vũ chờ nhóm Lý Thanh Vân an tọa, rồi mới nói:

“Thực ra, chuyện có liên quan đến lỗ hổng sau lưng lão hủ. Ở đây, thời gian chậm lại bảy mươi lần, cũng tức là lão hủ ở dây một ngày, Huyền Hoàng giới đã trải qua gần hai tháng rưỡi. Đây cũng là lí do mà Du Long đao không để các vị tiếp cận. Mà lão hủ, thực ra là sáu mươi năm tuổi thọ của bản thể cắt ra, để lại nơi đây, tiện bề chờ người có duyên xuất hiện.”

“Cắt tuổi thọ, hóa thành thân ngoại hóa thân... Trên đời thật có thần thông bực này sao?”

Long Thanh Y nhìn về phía trung niên, cau mày tỏ vẻ ngờ vực. Dù sao, những gì mà Hàn Kinh Vũ vừa nói quả thực quá mức kh*ng b*. Phải biết, sở dĩ Võ Hoàng Lý Huyền Thiên khiến cả thiên hạ đều e ngại, có lẽ sức uy h**p chỉ dưới Đế Mộ, ấy là vì lão sở hữu cả Chiến Thần Chi Thể và Võ Thánh Chi Hồn. Dựa vào hai thể chất này, Võ Hoàng có thể dùng võ ý mình lĩnh ngộ được tạo ra thân ngoại hóa thân, từ đó một người có thể phòng ngự nhiều mặt, không thua một đội quân.

Được xưng là Võ Hoàng Đấu Pháp.

Thế nhưng, phân thân do Võ Hoàng Đấu Pháp tạo ra cũng không phải hoàn mĩ. Y sử dụng đạo này tạo ra bản sao, thì bản sao đó chỉ có thể sử dụng đúng loại võ ý đó mà thôi, hoàn toàn không thể có được chiến lực toàn thịnh của bản thể.

Thế nhưng, lúc này để chứng minh thân phận, Hàn Kinh Vũ cũng không khống chế kiếm ý của mình, để nó lan khắp cả vùng nước vịnh đảo Hải Lưu.

Trung niên bị chất vấn, cũng không cáu giận, chỉ gật đầu:

“Cô nương nói không sai, theo lẽ thường thì không thể làm được. Lão hủ dựa vào thần vật mới có thể ngồi đây nói chuyện với ba vị.”

Long U từ đầu đến giờ không nói tiếng nào, lúc này cũng mở lời:

“Hàn lão tiền bối nãy giờ tiết lộ nhiều chuyện kinh thiên động địa đến vậy, âu cũng là để ba người chúng ta tin tưởng mà thôi. Hiện tại bản công chúa thay mặt đại sư huynh nói, chúng ta tin lão tiền bối. Có thể nói chuyện chính được rồi chứ?”

“Đã hẳn...”

Hàn Kinh Vũ ngừng lại một chốc, đoạn hỏi:

“Chư vị từng nghe đến bản nguyên tứ kiếm hay chưa?”

“Tương truyền khi xưa kiếm đạo thành hình, có bốn thanh kiếm chí cao vô thượng là Thảo Kiếm, Trúc Kiếm, Mộc Kiếm, Thạch Kiếm? Bản nguyên tứ kiếm mà tiền bối nói phải chăng là chúng?”

Long Thanh Y thân là quân sư của tộc quần lâu đời bậc nhất Huyền Hoàng giới, tự nhiên là đã từng đọc qua những ghi chép về chuyện này. Nếu là ở trên bờ, có lẽ cô nàng còn e ngại bị phản phệ, nhưng ở Phong Bạo hải thì chuyện này hoàn toàn không cần lo ngại.

“Không sai.”

“Vậy tiểu nữ mạn phép phỏng đoán, thần vật mà tiền bối sử dụng để chém sáu mươi năm tuổi thọ hẳn là một trong bản nguyên tứ kiếm? Sở dĩ làm thế, là để chờ truyền nhân?”

Long Thanh Y nheo mắt, sau đó thẳng thắn nói ra suy đoán của bản thân.

Hàn Kinh Vũ nghe xong, mặt không đổi sắc, gật đầu:

“Nói đúng lắm. Cô nương băng tuyết thông minh, không giống kẻ phàm tục. Dám hỏi tôn tính đại danh, sư thừa môn phái?”

“Long Thanh Y. Quân sư của Long tộc. Xin được ra mắt tiền bối.”

Số chương còn lại hôm nay: 2 chương chính truyện.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 319: Phạt Hải Chi Mê


Lý Thanh Vân bấy giờ khoanh chân ngồi, hỏi:

“Lão tiền bối vì sao không truyền thần vật lại cho Tẩy Kiếm Trì? Chuyện này không biết có liên quan gì đến Phạt Hải hay chăng?”

Hàn Kinh Vũ vuốt râu, chậm rãi ngẩng đầu lên không, đoạn nói:

“Thực ra... lão hủ vốn không có ý định chấp kiếm vào biển. Tiền căn hậu quả của chuyện này nói ra thì dài dòng, song bản ý đều là của Đế Mộ. Chẳng qua khi đó lão hủ có một chút hư danh, bọn hắn mới đến mượn miệng của lão hủ, hòng dễ bề thuyết phục thiên hạ, xóa bỏ nghi ngờ của lục quốc mà thôi.”

Lão nói đến đây, bất giác chỉ tay về phía vực sâu thăm thẳm bên dưới đáy biển, bình thản lên tiếng:

“Song lần kia lão hủ vào biển, nhờ có thần khí, may mắn cảm giác được một chuyện kinh thiên động địa. Vị cô nương đây chắc hẳn đã biết chuyện Thế Tôn một kiếm chém đứt đôi thiên đạo, khiến nửa bên dưới sập xuống thành Vụ Hải?”

“Chuyện ấy lúc Long Vương điện hạ uống say có lỡ lời nhắc tới.”

Long Thanh Y đáp, đương nhiên rốt cuộc Long Bá Thiên tiết lộ cách Vụ Hải hình thành lúc đang say hay tỉnh thì chỉ có cô nàng mới biết. Hàn Kinh Vũ cũng không hỏi, chỉ đơn giản chỏ xuống đáy biển, nói:

“Vực sâu mà các vị nhìn thấy kia chính là minh chứng của một kiếm Diệt Đạo ngày đó.”

Ba người Lý Thanh Vân khiếp đảm nhìn cái vực sâu không thấy đáy, dài ngút tầm mắt, rộng chẳng biết bao nhiêu mà kể bên dưới. Không ai dám tin cảnh tượng hùng vĩ này lại do một kiếm duy nhất tạo nên.

Long U nhìn Long Thanh Y, trên gương mặt hiện rõ vẻ hoài nghi.

Nếu Thế Tôn có thể tạo nên hậu quả khủng khiếp đến thế thì vì sao năm xưa y lại chiến bại?

Hàn Kinh Vũ cười, lắc đầu:

“Trước đây lão hủ vào biển, tuy phần nhiều cũng vì Đế Mộ ép buộc, song cũng không phải không có ý đồ riêng muốn tìm hiểu cội nguồn của Hải Thú. Thiết nghĩ, so với một trong tứ kiếm, vị thiếu hiệp đây hẳn là hứng thú với chuyện này hơn... Lão hủ nói có đúng chăng?”

“Kiếm Thánh liệu sự như thần.”

Lý Thanh Vân gật đầu, thừa nhận.

Lại thấy lão kiếm thánh vung tay lên, trước mắt ba người lập tức hiện lên cảnh tượng một vùng cát trắng mênh mông, có vẻ như cũng nằm dưới đáy biển sâu, chung quanh là vô số kiến trúc kỳ lạ nửa chìm nửa nổi trong các cồn cát. Nếu hai người Đỗ Thải Hà, Tạ Thiên Hoa ở đây chắc chắn sẽ nhận ra khung cảnh Hàn Kinh Vũ đang cho ba người Lý Thanh Vân xem giống cảnh sắc dưới đáy sông Ngân đến đáng ngờ.

Giữa một mảnh tàn tích vắng lặng, bấy giờ chính đang có một cái bóng khổng lồ, ôm lấy một quả núi ngược. Máu trên người quái vật chảy tràn ra, lơ lửng theo dòng nước một chút, kế đó ngay lập tức đã bị quả núi chổng ngược kia thu lấy. Cứ cách một đoạn thời gian, cái thứ được quái vật ôm lấy kia lại rung lên, sau đó vô số những quả trứng trong suốt, phát sáng lập lòe tràn ra thành dòng, thành lũ, đông không biết bao nhiêu mà kể.

Từ trên cơ thể con quái vật, năm cái vòi dài tung lên, nuốt lấy những quả trứng đang trôi nổi trong dòng biển. Thế nhưng mặc cho quái vật sức ăn kinh người, trứng do quả núi ngược tạo ra mười phần nó cũng chỉ ăn được một, chín phần khác tùy ý trôi nổi khắp nơi.

Trứng lạ trôi nổi chừng ba bốn dặm thì bắt đầu tách vỏ, một con vật nhìn như con sên theo đó chui ra. Dị vật tựa hồ hút nước biển mà lớn, nháy mắt đã mọc đủ ngũ quan, tay chân lông tóc, hóa thành một con Hải Thú, kế đó lắc mình bơi đi, trên gương mặt hiện rõ vẻ thẫn thờ.

Hình ảnh tiêu tán, Hàn Kinh Vũ nhìn lên mặt biển, nói:

“Quái vật ăn trứng Hải Thú kia chính là thứ nằm dưới đáy vực này. Khi đó lão hủ bị uy áp của nó phản phệ, không thể đến gần được. Hơn nữa hình dáng của Vương Thú tựa như là một loại cấm kỵ nào đó, trực chỉ linh hồn, nhìn thấy cũng không thể hồi ức, dùng thần thông lưu lại cũng chỉ có thể thấy được một cái bóng mờ.”

Long Thanh Y cau mày, đoạn nói:

“Theo tiểu nữ thấy Hải Thú mới sinh kia hai mắt trống rỗng vô thần, giống như hoàn toàn không có thần trí. Hơn nữa, hình như trí tuệ cũng không phát triển, mãi mãi vẫn giống như lúc mới sinh ra. Thế thì có điểm lạ...”

Hàn Kinh Vũ gật đầu. Tuy nói những gì Long Thanh Y vừa nhận ra cũng chẳng có gì đáng kể, phàm là kẻ thông minh một chút đều có thể liếc mắt là biết ngay. Thế nhưng, khó được là ngay cả khi tiếp nhận lượng thông tin khổng lồ đến thế, cô nàng vẫn có thể bình tĩnh, suy luận có chương có thức, có lý có cứ,

Không thấy hai người còn lại bây giờ còn đang há hốc mồm, lâm vào trạng thái nửa tự bế hay sao?

“Hải Thú sinh ra thiếu khuyết linh hồn, không có thần trí, hành động hoàn toàn dựa vào bản năng. Sở dĩ thường xuyên kéo lên bờ tấn công sáu nước là do trong bóng tối có kẻ giật dây, hẳn là muốn khống chế số lượng Hải Thú, tránh để sinh ra quá nhiều. Hải Thú tràn bờ là thế, hòa ước với Long tộc, cũng chưa chắc đã không phải do cùng một kẻ đứng phía sau đục nước béo cò.”

Lão ngừng một chốc, đoạn nhìn về phía thanh đao:

“Chỉ có một điều lão hủ suy nghĩ suốt sáu mươi năm nay cũng không rõ. Lai lịch của Du Long đao là gì, vì sao lại có thể trấn áp được Vương Thú?”

Long Thanh Y nghe ngữ khí của lão tràn đầy vẻ bất đắc dĩ, đoán được Hàn Kinh Vũ thừa biết thắc mắc lớn nhất của ba người khi theo thanh đao đến gặp là gì. Tiếc là lão cũng không thể tìm được nguyên do, lại không tiện rời khỏi lỗ hổng, có chút lực bất tòng tâm, nên cũng không tiện hỏi thêm.

Chỉ riêng Lý Thanh Vân là lúc này ngồi nhỏm dậy, hỏi:

“Đúng rồi! Tiền bối, ngài có thể nói một chút về chủ nhân trước đây của Du Long Đao được không? Hai người gặp gỡ thế nào? Vì sao thái tổ Lê Đồ Thành lại để đao lại chốn này?”

“Hả? Tên đó lập quốc?”

Hàn Kinh Vũ nghe Lý Thanh Vân kèm theo hai chữ “thái tổ” khi nhắc đến Lê Đồ Thành, không khỏi lấy làm kinh ngạc. Bấy giờ, bên trong Du Long Đao lại có tiếng nói cất lên:

“Ấy là đương nhiên. Chủ cũ của ta ngực có chí lớn, sinh ra để làm chuyện phi thường...”

“Đúng đúng. Để ngươi ở đây hầu chuyện lão già lông bông không có chí khí như ta đúng là khổ cho ngươi. Được chưa?”

Hàn Kinh Vũ cười cười, đoạn hắng giọng một cái, nói:

“Chuyện thực ra cũng không có gì đáng để nói. Bản thể mất đi sáu mươi năm tuổi thọ, lại thêm chuyện em trai đột tử. Cuối cùng vốn là có thể sống đến ngoài trăm tuổi, lại sớm ngày quy tiên. Sở dĩ ngày bản thể lìa trần, các đại thế lực đều đến dự lễ, âu cũng chỉ là vì bản nguyên kiếm. Thế nhưng, kiếm đã lưu lại chỗ của lão hủ, bọn hắn há lại có thể tìm được? Thành thử, không thiếu thế lực bắt đầu phái người vào biển, tìm kiếm tung tích của thần vật.”

Lão ngừng một chốc, để cho ba người Lý Thanh Vân tiêu hóa lượng thông tin vừa được tiết lộ, rồi mới nói:

“Mà cái cậu Lê Đồ Thành kia, chính là người được Yến quốc cử đi tìm bản nguyên chi kiếm, cũng là người đầu tiên gặp được lão hủ. Chuyện xảy ra cũng được bốn mươi năm rồi... Tính ra, thì ở ngoài các vị ắt hẳn cũng đã là việc của hai ngàn tám trăm năm trước.

“Sáu năm trước, Lê tiểu hữu cảm thấy lúc này chắc đã bãi bể nương dâu, người Đại Yến đã cho là y đã chết, bèn bái biệt lão hủ. Được chừng hai tháng thì Du Long đao quay về đây, cũng không rõ là vì sao. Lão hủ thấy có bảo đao đuổi bớt đám lâu nhâu ruồi muỗi, không để chúng lại gần chốn này cũng tiện, nên vẫn cứ để đó.”

Hàn Kinh Vũ ngừng lại một chốc, đoạn nói:

“Chuyện chiến tranh với Hải Thú ắt có can hệ đến Đế Mộ, thậm chí kẻ đứng sau giật dây tất cả chính là bọn chúng cũng chưa biết chừng. Tiếc thay Đế Mộ thế lớn, năm đó hai vợ chồng lão hủ tuy ngờ ngợ đoán ra được bọn chúng là kẻ đứng sau màn, cũng chỉ có thể lực bất tòng tâm. Ba vị nhớ hãy chôn những gì lão hủ nói hôm nay vào lòng, chớ có tùy tiện nói với kẻ khác, bằng không chỉ e họa từ miệng mà ra.”

“Kiếm Thánh yên tâm.”

Ba người vừa chắp hai tay, đồng thanh nói.

Lý Thanh Vân bấy giờ chợt ngẫm lại lời Hàn Kinh Vũ vừa nói. Cậu chàng điếng người mất một thoáng, lại khẽ nuốt nước bọt, bụng bảo dạ:

“Chờ đã... Kiếm Thánh lặn xuống tận đáy vực thì trông thấy núi Vọng Hương kiểu gì? Chẳng nhẽ chuyện năm xưa Đế Hậu Hàn Thanh Ca bốc núi ở dãy Hoàng Liên đến bờ biển là bà ấy đang trút giận?”

Hàn Kinh Vũ đương nhiên không biết thằng nhóc trước mặt đang nghĩ linh tinh cái quái quỷ gì trong đầu. Lão khẽ vuốt chòm râu, đoạn nói:

“Lý thiếu hiệp, có hai vật này lão muốn giao lại nhờ thiếu hiệp bảo quản. Quân sư, công chúa, cảm phiền tránh mặt một lát được không?”

“Kiếm Thánh chính miệng nhờ vả, đâu dám chối từ?”

Không chờ Long Thanh Y lên tiếng, cô bé Long U đã nở nụ cười ngọt ngào, cất tiếng nói lảnh lót như chuông reo.

Chờ hai người Long U đi khỏi, cũng tự phong bế lục thức, Hàn Kinh Vũ mới thở ra một tiếng, nói:

“Lý thiếu hiệp, nguyên gốc kiếm đạo có bốn thanh bản nguyên kiếm, lần lượt là Thảo Kiếm, Mộc Kiếm, Trúc Kiếm, Thạch Kiếm. Thảo Kiếm hiện tại đang nằm trong tay Huyền Hoàng Bách Hiểu Sinh, Mộc Kiếm tương truyền rơi vào tay Đạo Môn, Trúc Kiếm không rõ tung tích. Chỗ ta có thanh cuối cùng, cũng nhờ vào nó mới có được vinh quang một đời. Nay lão hủ truyền lại Thạch Kiếm cho thiếu hiệp, chỉ hi vọng thiếu hiệp có thể hoàn thành nguyện vọng của kiếm chủ, thu hồi đủ bản nguyên tứ kiếm.”

Lão nói một thôi một hồi, lại không hề nhận ra trong lòng vị thiếu niên đang đứng trước mặt lão giờ đây đang nổi trận ba đào, mãi cũng không bình tĩnh lại nổi.

Bởi lẽ, bản nguyên tứ kiếm trong lời Hàn Kinh Vũ lại ứng với kiếm lý thảo mộc trúc thạch đều có thể làm kiếm của “Kiếm Ma Độc Cô Cầu Bại” – hay như hiện tại Lý Thanh Vân vững tin – là một thân phận khác của sư phụ gã.

Số chương còn lại hôm nay: 1 chương chính truyện.
 
Back
Top Dưới