Tiên Hiệp Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân

Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 280: Nho Môn Phản Kích


Biết Tạ Thiên Hoa có xích mích với Nho môn tại thành Đông Thanh, còn suýt mất mạng, Đỗ Thải Hà đảo mắt một cái, cười cười vỗ vai Trương Mặc Sênh:

“Tiểu sư đệ, có muốn chọc tức đám Nho sinh một trận, coi như trả thù cho Tạ sư tỷ không?”

Trương Mặc Sênh nghe gọi, chợt nghĩ đến Long U, thoáng ngẩn người tự hỏi liệu mình còn giữ cái chức tiểu đồ đệ Lão Thụ cổ viện được bao lâu nữa, song rất nhanh gạt suy nghĩ này ra sau đầu, đáp:

“Sư tỷ lại có kế hoạch gì rồi?”

Đỗ Thải Hà cười, nói ra dự định của mình. Thì ra, Đỗ Thải Hà muốn tiếp tục làm nhiệm vụ được Hồng Vân giao phó, phát tán “sở tác của sư phụ”, nhưng lần này là tặng không cho bà con bá tánh những ai hay chữ thôi. Đám thượng khách của Lam Ba trà lâu mấy hôm trước vừa mới bỏ ra mấy trăm vạn mua sách, nay mà biết tin người người nhà nhà – lại còn là cái đám dân đen dân đỏ mà Nho môn vẫn khịt mũi khinh thường không bằng bọn chúng – đều có thể đọc đống sách ấy miễn phí, không tức chết mới là lạ!

Tiểu Thực Thần thân là thiếu trang chủ Mỹ Vị sơn trang, vốn đã chả ưa gì người của Nho đạo, dạo gần đây Nho gia lại ba lần bảy lượt chọc đến người của cổ viện, nay lại thêm chuyện riêng khiến cậu chàng bực mình không chỗ phát tiết, giờ nghe sư tỷ nói vậy đương nhiên không khuyên can hay phản đối mà còn hùa theo. Song Vô Song ở một bên nhìn hai sư tỷ đệ “cấu kết với nhau làm việc xấu” mà trợn mắt, bụng bảo dạ:

“Oan có đầu, nợ có chủ, đây đâu phải trả thù? Rõ ràng là mượn cớ đi gây sự! Nho môn lần này xui xẻo rồi, chọc ai không chọc, cứ phải đi chọc người của cổ viện... Haizz, mình cũng phải về nói lại với các sư huynh đệ, truyền ngôn nói không sai, thà đắc tội Nho môn cũng quyết không thể đắc tội Đỗ tiểu thư, hậu quả quá đáng sợ!”

Cậu chàng lại nghĩ tới mấy hôm trước mình còn nói với Đỗ Thải Hà rằng:

“Nói về nhỏ mọn Nho môn nhận thứ hai thử hỏi ai dám nhận đệ nhất?”

Bây giờ nghĩ lại, tuyệt đối Đỗ tiểu thư dám nhận thứ nhất!

Đỗ Thải Hà mà biết họ Song nghĩ gì, khẳng định sẽ đáp:

“Tôi không dám, nhưng Đại Bạch tiền bối thì có thể đấy!”

Mà nếu con mèo béo nào đó nghe được cuộc nói chuyện không hề tồn tại này, hẳn sẽ khẳng định:

“Nho môn có là thứ hai thì ta cũng tuyệt đối không phải thứ nhất. Ta là Chủ Nhật!”

oOo

Hai người bàn luận một hôm, đến hôm sau Tiểu Thực Thần đã không chờ nổi, bắt đầu thực hiện kế hoạch.

Có điều, Trương Mặc Sênh lúc này đã trong biên chế quân ngũ, muốn vào thành phải xin phép. Mà cái khâu xin phép này làm cậu chàng tốn ba bốn ngày. Không rõ là tại Nho môn nghe được phong thanh gì, hay đơn giản là giận cá chém thớt, tạm thời không động được Đỗ Thải Hà mà quay sang làm khó dễ cậu chàng. Đủ các lý do xin vào thành của Tiểu Thực Thần bị từ chối, mãi đến khi cậu lấy cớ vào thành phát chẩn chống đói, giữ cho dân chúng không ai vì quá đói mà sinh bạo loạn, đơn phép mới được phê chuẩn. Song, quan trên cũng không cung cấp bất cứ vật tư, nguyên liệu, hay trợ giúp gì, mà yêu cầu Trương Mặc Sênh tự lo liệu.

Trương thiếu trang chủ đương nhiên không quan tâm vấn đề cỏn con này. Ngay hôm sau khi xin phép thành công, liền đẩy một xe đồ ăn vào thành.

Xe này gần như là bản sao y nguyên xe đồ ăn của lão Hùng ở ải Quan Lâm. Số là trước khi đi không lâu, Trương Mặc Sênh nhờ lão cho người chế thêm cho bản thân một cái. Bản vẽ ban đầu vốn là từ Nguyễn Đông Thanh mà ra, nên lão chủ quán không hề dị nghị mà lập tức thuê người đi làm. Đến ngay trước hôm mấy người xuất phát kịp làm xong, Tiểu Thực Thần nhận được liền cất vào trong nhẫn chứa vật.

Nguyên liệu nấu nướng cậu chàng cũng không thiếu. Phần là vật bất ly thân của một trù sư, phần là cậu chàng bỏ tiền túi ra mua tươi mới từ các cửa hàng trong thành. Vốn là, cậu chàng còn định đi thăm kho lương của quân, song cấp trên không cho phép, nên cũng không thể làm gì.

Đẩy xe vào thành, cậu nhóc tìm một chỗ đông người qua lại mà đủ rộng rãi thoáng mát để đỗ lại, sau đó liền bắt đầu mở hàng rao bán. Do đã có kinh nghiệm trông sạp hàng của lão Hùng ở Quan Lâm, Trương Mặc Sênh xe nhẹ đường quen mà làm việc, chả mấy chốc đã thu hút được không ít khách. Tài nấu nướng của Tiểu Thực Thần miễn phải bàn, lại vì lấy lí do phát chẩn, không thu phí, nên càng thu hút chú ý của người qua đường. Chả mấy chốc mà xung quanh xe hàng đã đầy kẻ đứng người ngồi, hàng xếp dài cả con phố.

Trương Mặc Sênh biết thời cơ đã chín muồi, bèn lấy Truyền Kỳ Mạn Lục ra, bắt đầu chào hàng. Cậu chàng cho khách ăn mượn đọc thử, rồi mới tặng chừng bốn năm cuốn cho thực khách thật sự yêu thích. Tuy là cho không, mấy người cổ viện cũng mang theo không thiếu sách, thế nhưng Tiểu Thực Thần hiểu rõ đạo lý, của không hiếm thì không quý. Nếu một lần đưa tặng quá nhiều sách, ngược lại chưa chắc đã là tốt. Nếu ai trong quán cũng được tặng sách, thì chưa chắc người ta đã trân quý, đọc kỹ “tuyệt tác của sư phụ” để mà nhận ra “vấn đề tiềm ẩn sư phụ muốn nói”, mà như vậy thì cũng không ổn. Thế nên, cậu chàng mới quyết định mỗi hôm chỉ đưa ra vài quyển, làm dần dần, không cần vội.

Kế hoạch này kỳ thực không tệ. Đáng tiếc, cả hai người Trương – Đỗ lẫn Song Vô Song đều suy nghĩ quá đơn giản, đánh giá quá thấp độ vô sỉ, ích kỷ, cùng xấu xa của Nho gia. Họ nghĩ Nho môn không dám trực tiếp công khai đối đầu với cổ viện, liền yên tâm làm việc. Thế nhưng, chính vì Nho môn không dám công khai đối đầu với cổ viện, nên mới “tránh mạnh h**p yếu”, chĩa mũi dùi về phía dân chúng. Ngay sau khi Tiểu Thực Thần phân phát sách được hai ngày, Nho môn đã có phản kích, khiến cho kế hoạch của hai người cổ viện trật ray. Sau đó, trong vòng chưa đến một tuần thì kế hoạch của hai người đã thất bại hoàn toàn, lại còn liên lụy người vô tội...

Số là, sau hai bữa đông khách thì đến ngày thứ ba, sập hàng của Trương Mặc Sênh vắng tanh. Chỉ còn vài người lai vãng. Cậu chàng cùng Song Vô Song điều tra ra thì mới biết, tất cả những người nhận Truyền Kỳ Mạn Lục đều đã bị Nho môn kéo vào sổ đen, đình chỉ cấm học cho con cháu ba đời của họ. Tuy Nho gia không nói cụ thể lý do, mà thoái thác rằng “nhân lực không đủ, đại chiến với Hải Thú lại sắp nổ ra, Nho môn khẳng định chuẩn bị nguyên khí đại thương, nên phải cắt giảm học phần, chỉ giảng dạy cho những người thật sự cần”, song nhìn vào những nhà bị cắt giảm thì chỉ cần là người có đầu óc liền nhận ra vấn đề nằm ở đâu. Thành thử, hễ ai còn muốn con cháu học chữ, biết viết, theo đường khoa cử mà dấn thân, thì đều biết thân biết phận mà tránh xa xe đồ ăn của Trương Mặc Sênh cùng Truyền Kỳ Mạn Lục. Kể cả những người không thuộc Nho Đạo, thì cũng không ít theo phương châm “tránh voi chẳng xấu mặt nào” mà từ bỏ. Dẫu sao, bị Nho môn nhắm vào cũng không phải chuyện tốt gì...

Tất nhiên, vẫn còn sót lại một số ít những người vẫn chạy đến quán ăn của Tiểu Thực Thần. Những người này đa số đều là cùng đường mạt lộ, nếu không phải là loại sống được hôm nay chưa chắc đã sống nổi ngày mai, thì cũng chỉ còn cụ già không thân thích và trẻ em mồ côi. Đối với họ mà nói, không có ăn, không có mạng thì Nho môn có nhắm vào gây khó dễ cho bản thân hay không cũng không quan trọng. Thế nhưng, những người này thì có mấy ai biết chữ hay có tâm trạng, học thức mà đi quan tâm Bích Mặc tiên sinh nghĩ gì, viết gì? Thành ra, hai người Đỗ, Trương biết vậy thì cũng chỉ đành thở dài, vứt kế hoạch của bản thân sang một bên, thật tâm chỉ muốn giữ mạng cho những kẻ xấu số này.

Tiếc thay, cây muốn lặng mà gió chẳng đừng. Nho môn vẫn quyết chí không tha cho những kẻ dám “công nhiên chống lại” bọn chúng, tiếp tục “đồng loã” với Trương Mặc Sênh. Trong vòng một tuần, toàn bộ những người còn dám lui tới xe hàng của họ Trương đều bị cưỡng bách gia nhập quân ngũ. Từ cụ già tám mươi đến đứa con nít bảy tám tuổi đều không được buông tha. Lý do mà quan sai đưa ra “mười phần chính nghĩa”: Trận đánh với Hải Thú lần này thanh thế không kém gì ba ngàn năm trước, nếu thất bại thì nước mất nhà tan, tất cả cùng phải chịu chết, còn không bằng liều mạng một phen. Người già và trẻ nhỏ thì cũng phải có nghĩa vụ với đất nước, với nhân tộc, không thể ích kỷ, tự tư tự lợi, chỉ quan tâm mạng mình được!

Đợi đến khi hai người Trương – Đỗ nhận ra bọn họ suy nghĩ không đủ chu toàn, vì cái lợi trước mắt mà hại oan người vô tội thì đã quá muộn. Bọn họ lúc này làm gì cũng không còn kịp nữa, tức hận đến đập bàn cũng vô lực phản kháng. Tuy bản lĩnh cá nhân thì bọn họ không tệ, thế nhưng chính trị chính em và quan hệ xã hội thì đích xác bị Nho gia quẳng xa cả trăm con phố. Trên đời, có rất nhiều chuyện không thể giải quyết bằng nắm đấm, đến cả tài hoa như sư phụ mà còn không thể một tay che trời, bảo vệ toàn bộ thương sinh, hai người họ đã tính là gì? Thành thử, đây cũng là lần đầu tiên kể từ khi bái nhập vào Lão Thụ cổ viện mà hai người Đỗ – Trương cảm thấy bất lực như thế này, cũng như nhận ra, xã hội Huyền Hoàng giới có thể xấu xí đến mức này...
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 281: Trương Mặc Sênh: Em Xin Dùng Sự Trợ Giúp Gọi Điện Thoại Cho Người Thân!


Sau khi bình tĩnh lại, hai người Đỗ Thải Hà, Trương Mặc Sênh lại tiếp tục bàn tính về bước tiếp theo. Đã có bài học từ thất bại lần này, họ không còn dám khinh địch nữa, mà phải cẩn thận suy tính kỹ càng mọi khả năng.

Thế nhưng, hai người họ tự nhận thấy bản thân thân cô thế cô, lại chỉ mới có mười mấy tuổi, đào đâu ra nhân mạch để mà đấu với Nho môn? Tuy nói, cả hai có “chỗ dựa vững chắc” là Lão Thụ cổ viện, song nước xa không cứu được lửa gần, huống chi ở “trạng thái hiện tại” của sư phụ, sợ là cũng không thể trực tiếp ra mặt giúp hai người họ được. Cái mà hai người Trương – Đỗ cần là quan hệ và một chỗ dựa gần hơn, cũng như địch tình để có thể lên kế hoạch cụ thể.

Nếu cứ tiếp tục nhờ người của Kiếm Trì giúp thì hai người họ cũng có chút ngại ngùng. Dẫu sao, Kiếm Trì vẫn là người ngoài. Có thể tính là đồng minh thân thiết của cổ viện, song vẫn là người ngoài. Hà huống, Kiếm Trì tính ra lại còn là nhà vợ của Trương Mặc Sênh. Con rể chưa vào nhà đã dựa hơi nhà vợ còn ra thể thống gì nữa? Họ Trương đường đường là thiếu trang chủ của Mỹ Vị sơn trang, huyết khí phương cương, đâu thể hơi tí là nhờ vả nhà vợ được. Thi thoảng nhờ vả, sau đó trả lễ, thì gọi là có đi có lại, bồi dưỡng quan hệ. Chứ nếu hơi tí đã nhờ lại không biết tự giải quyết vấn đề của bản thân thì rõ ràng là ăn hại, lợi dụng lòng tốt của người khác.

Thế nên, sau một hồi bàn bạc, thì hai người tạm quyết định: chuyện đầu tiên cần làm là Tiểu Thực Thần sẽ truyền tin về nhà, vận dụng quan hệ nhân mạch của Mỹ Vị sơn trang tìm kiếm thông tin của kẻ địch trực tiếp lần này, rồi tùy theo địch tình thu thập được mà quyết định bước tiếp theo.

oOo

Trương Mặc Sênh truyền tin về sơn trang được hai ngày thì nhận được hồi đáp, hẹn gặp mặt bí mật đêm hôm đó trong khu rừng gần thành.

Hai người cổ viện thu xếp đến được chỗ hẹn, thì thấy hai người mặc áo chùm kín mít. Trương Mặc Sênh đến gần chào hỏi thì hai người này mới vén mũ trùm ra để lộ ra thân phận: một là Hứa Mộng Dao, phong chủ Cam phong, người thứ hai không phải ai khác, chính là Tiêu Hàm Huân, phu nhân của trang chủ đương thời Quách Vân Hưng.

Từ sau sự kiện vợ chồng y thị mưu hại Dương Huyền, suýt đẩy sơn trang vào cảnh vạn kiếp bất phục, tuy về sau tràng nguy cơ được hóa giải, Nguyễn Đông Thanh lại đứng ra cầu tình, hai người được tha tội chết, nhưng tội sống thì còn đang trong quá trình sám hối. Thế nên, Tiêu Hàm Huân không được lên núi, lại luôn phải thay phiên ở dưới sự giám sát của một trong vị phong chủ. Ngoài hai điều này ra thì các vị cao tầng của Mỹ Vị sơn trang cũng không có hạn chế gì khác. Tiêu Hàm Huân kỳ thực rất thông minh, nếu không trước đây cũng không hại nổi Dương Huyền, chả qua hồi đó lầm đường lạc lối, thờ sai chủ mà thôi. Từ sau khi được tha mạng, y thị đã biết hối cải, vẫn không ngừng lập công chuộc tội, gần đây giúp Mỹ Vị sơn trang phát triển không ít.

Lần này, Trương Mặc Sênh truyền tin về nhờ trợ giúp, sau khi các vị phong chủ họp bàn, quyết định giao nhiệm vụ cho Tiêu thị đi làm. Y thị sau khi điều tra sơ bộ thì phát hiện có nhiều điểm khả nghi, bèn kiến nghị lên trên, muốn gặp trực tiếp Trương Mặc Sênh để hỏi rõ tình hình. Thế nên mới có buổi gặp gỡ hiện tại.

Thấy Trương Mặc Sênh không trả lời ngay mà còn cảnh giác nhìn mình, Tiêu Hàm Huân thở dài:

“Thiếu trang chủ, tôi biết tôi có lỗi với cha con cậu, nhưng chuyện đã rồi, chúng ta cũng không cách nào thay đổi được quá khứ. Kể từ khi cậu và tiên sinh rời đi, tôi đã suy nghĩ rất nhiều, cũng đã sám hối rất nhiều. Cậu có thể tiếp tục căm hận tôi, nhưng xin cậu cho tôi cơ hội giúp đỡ cậu. Cậu cũng có thể tin tưởng tôi sẽ không làm chuyện có lỗi với sơn trang, có lỗi với cha con cậu nữa. Từ ngày tiên sinh và cha cậu tha mạng cho tôi, tôi đã tự thề với bản thân vậy rồi.”

Hứa Mộng Dao bên cạnh cũng nói:

“Sênh, tin cô ta lần này đi. Lâu nay đúng là Tiêu Hàm Huân đã rất hối cải, cô có thể làm chứng.”

Trương thiếu trang chủ nghe phong chủ Cam phong nói đỡ như vậy mới gật đầu một cái, đoạn bắt đầu trả lời những thắc mắc của Tiêu Hàm Huân.

Hai người một hỏi một trả lời một lúc. Đến khi Tiêu Hàm Huân hiểu được ngọn căn nguồn gốc tình hình rồi mới thỏa mãn gật gù. Y thị yên lặng suy nghĩ một hồi rồi nói:

“Còn hai vấn đề cuối cùng nữa. Thứ nhất, thiếu trang chủ, Đỗ tiểu thư, hai người là đệ tử của Bích Mặc tiên sinh, liệu trong tay có thứ gì có thể đe dọa đến căn cơ của Nho môn hay không?”

Đỗ Thải Hà và Trương Mặc Sênh liếc nhau, cùng nghĩ tới bản nháp lần văn đấu khi trước của sư phụ. Tiêu Hàm Huân nhìn phản ứng của hai người, bèn nói tiếp:

“Nhìn phản ứng của hai vị tôi biết đáp án rồi. Hai người cũng không cần nói cho tôi biết là gì. Tôi có biết hay không cũng không quan trọng, chỉ cần hai người có thứ như thế trong tay là được rồi.

“Còn vấn đề cuối cùng, Đỗ tiểu thư, quan hệ của ngài và Đạo môn liệu có khả năng hòa giải hay tiểu thư liệu có thể nhường cho đạo môn được lợi hay chăng?”

Đỗ Thải Hà mặt nhìn rất khó coi, một lúc mới đáp:

“E là không được.”

Tiêu thị nghe vậy thì trầm tư một lúc rồi nói:

“Kỳ thực tôi có một cách có thể khiến Nho môn ăn quả đắng lại phải chủ động lùi một bước, không chừng có thể cứu những người xấu số kia. Thế nhưng nếu quan hệ của Đỗ tiểu thư với đạo môn xác định chắc chắn là thủy hỏa bất dung, không chung một đường, thì sợ là cách này cũng có phần hơi nguy hiểm cho tiểu thư...”

Đỗ Thải Hà nói:

“Quách phu nhân xin cứ nói!”

“Muốn áp chế Nho môn, kỳ thực dựa vào một trong các lộ khác trong Ngũ Lộ Triều Thiên là dễ nhất...”

Tiêu Hàm Huân mới nói đến đây, thì bỗng một giọng nói vang lên:

“Kế hay lắm! Kế hay lắm!”

Hứa Mộng Dao nghe thấy cũng giật mình. Bà ta đã vào Vụ Hải, bản lĩnh không thấp. Nếu có kẻ có thể đến mà bà không hay biết gì, đối phương hẳn có chút khó nhằn. Phong chủ Cam phong quay người về phía phát ra âm thanh, quát:

“Kẻ tới là ai? Mau lộ diện!”

“Hứa phong chủ yên tâm, chúng ta là bạn, không phải là thù!”

Tiếng nói lại cất lên, đồng thời, từ sau một gốc cây gần đó, ba bóng người bước ra. Hai người đi trước không ai khác chính là Song Vô Song, còn người cuối cùng – cũng chính là người vừa lên tiếng – mặc áo choàng đen, trùm mũ kín mít. Đỗ Thải Hà nghe giọng người này thì nhíu mày, ngờ vực hỏi:

“Ngài là Vân Hà Kiếm Tổ phải không?”

Liễu Ân kéo mũ trùm đầu xuống, cười nói:

“Một tháng không gặp, Đỗ tiểu thư vẫn nhạy bén như vậy!”

Đoạn lại quay qua, gật đầu chào ba người Mỹ Vị sơn trang:

“Trương thiếu trang chủ, Quách phu nhân, Hứa phong chủ!”

Chào hỏi xong xuôi, họ Liễu lại nói:

“Hàn trưởng lão truyền tin về Kiếm Trì, nói rõ tình hình gần đây, bản kiếm tổ bèn chạy tới đây, định bàn với hai vị đối sách, nửa đường gặp hai vị rời khỏi thành, lại có hai con chuột nhắt theo chân nên đã tiện tay giải quyết, rồi theo tới đây. Nhưng nếu sớm biết lần này Hứa phong chủ cùng Quách phu nhân cũng đến, thì bản tọa cũng không cần tốn công vô ích rồi.”

Đoạn, quay về phía Tiêu Hàm Huân, chắp tay nói:

“Tiêu nữ sĩ quả là tài trí hơn người, cũng không biết là may mắn hay xui xẻo ngài đã bỏ tối theo sáng, khiến bản kiếm tổ mất đi một kình địch tiềm năng.”

Tiêu Hàm Huân sửng sốt, cũng vội chắp tay đáp lễ:

“Vân Hà Kiếm Tổ nói quá rồi!”

Liễu Ân lại quay về phía hai người Trương, Đỗ, nói:

“Nhưng đằng nào cũng đến tận đây rồi, tại hạ xin góp chút sức mọn, giúp hóa giải phần nào nguy hiểm trong kế hoạch của Quách phu nhân, được chứ?”

Đơn giản vài câu nói, Liễu Ân đổi xưng hô tới mấy lần, đều có dụng ý rõ ràng, quả là lời ít mà ý nhiều. Đầu tiên gã giải thích tại sao mình tới đây, tiện nhắc nhở cho hai người Trương Đỗ cẩn thận Nho môn giám sát họ, sau lại tự hạ mình, nói lần này có Tiêu Hàm Huân cùng Hứa Mộng Dao, gã có đến hay không cũng không quan trọng. Mặc kệ điều hắn nói đúng hay không, thì cũng đều đã cấp cho Mỹ Vị sơn trang đầy đủ mặt mũi. Tiếp đó, hắn gọi Tiêu Hàm Huân là “Tiêu nữ sĩ” thay vì “Quách phu nhân”, thể hiện thái độ thưởng thức, tán dương tài năng của bản thân y thị, chứ không phải chỉ coi Tiêu thị là phu nhân của Quách Vân Hưng. Cuối cùng lại lái về chuyện chính, tự xưng “tại hạ”, nhấn mạnh “góp chút sức mọn”, nói rõ lần này không phải là hai người cổ viện nhờ Kiếm Trì gánh vác, mà gã chỉ là đến trợ giúp cho kế hoạch của Mỹ Vị sơn trang thêm suôn sẻ mà thôi. Như vậy, vừa vặn giảm sự bài xích của hai người Đỗ, Trương, lại cho họ lý do nhận sự giúp đỡ của Kiếm Trì.

Chỉ với bốn câu nói, mà Vân Hà Kiếm Tổ đã hoàn toàn làm hài lòng tất cả những người có mặt, lại thành công đưa bản thân vào lần hành động này, quả không hổ là kẻ làm chính trị, ngoại giao lâu năm, bộ não đằng sau sự tồn vong của Kiếm Trì!

Kỳ thực, từ khi nhận tin của Hàn Ngọc Sương, Liễu Ân đã đoán được người của cổ viện không muốn làm phiền Kiếm Trì quá nhiều, nhất định sẽ không chủ động nhờ vả lần này. Lúc thấy hai người lén lút rời thành, lại bị người của Nho môn theo dõi, hắn ra tay đánh ngất người của Nho môn, song cũng không lộ diện ngay, mà núp ở một bên nghe lén để tìm đột phá khẩu. Tới khi đoán được kế hoạch của Tiêu Hàm Huân, Liễu Ân mới ra mặt, lại lựa lời làm rõ lần này kế hoạch là của Mỹ Vị sơn trang, bản thân chỉ là tiện tay giúp sức một chút thôi, giải khai khúc mắc trong lòng hai người Trương, Đỗ.

Có thêm Vân Hà Kiếm Tổ nhập cuộc, kế của Tiêu Hàm Huân nhanh chóng được sửa sang đến hoàn chỉnh, kỹ càng. Và quả thực, phần rủi ro, nguy hiểm của kế hoạch giảm đi nhiều nhờ có Liễu Ân. Trương Mặc Sênh đứng một bên nghe hai người Liễu – Tiêu tính kế ăn ý như tri kỷ hận gặp nhau quá muộn mà cảm khái trong lòng:

“Đúng là sư phụ nhìn xa trông rộng! Tha mạng cho Tiêu Hàm Huân khiến Mỹ Vị sơn trang thêm một quân sư tài ba, cổ viện thêm một đồng minh mạnh mẽ!”

Đỗ Thải Hà cũng đã được nghe kể về chuyện Tiêu Hàm Huân, nên cũng nghĩ:

“Tiểu Thạch tiền bối nói không sai, tha cho một người biết hối cải kỳ thực cao tay hơn giết kẻ làm ác nhiều lắm!”

Đương nhiên, một người cũng phải rất có bản lĩnh hoặc cực kỳ can đảm mới dám tha mạng cho một kẻ thông minh. Dẫu sao, đâu thể chắc chắn trí thông minh kia sẽ không có một ngày tiếp tục được dùng để đâm bản thân một nhát từ sau lưng? Thành thử, nếu không đủ bản lãnh phòng thân, thì đây chính là đem tính mạng chính mình ra đánh cược.

Bàn bạc xong xuôi, Tiêu Hàm Huân giao cho Đỗ Thải Hà hai phần tài liệu điều tra cần thiết cho bước đầu tiên của kế hoạch, rồi bái biệt, cùng Hứa Mộng Dao trở về Mỹ Vị sơn trang. Liễu Ân tiễn chân hai người Đỗ, Trương về tận nơi nghỉ của mỗi người, rồi mới cùng Song Vô Song trở về trại doanh của Kiếm Trì, chuẩn bị dần cho phần diễn của gã.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 282: Gậy Ông Đập Lưng Ông


Mấy ngày sau đó, Đỗ Thải Hà y theo hai phần danh sách Tiêu Hàm Huân đưa mà làm việc. Danh sách thứ nhất, là những nhà trực thuộc Nho môn có con cháu trốn nghĩa vụ, tránh nguy hiểm, sợ chết không nhập ngũ lần này. Danh sách thứ hai, là những kẻ trực tiếp tham gia ăn h**p dân chúng trong thành lần này: dù là tuyên bố không dạy học, hay thúc đẩy bắt ép người già trẻ nhỏ đi lính. Những kẻ nào có trong cả hai danh sách có đánh dấu cạnh tên. Còn việc mà Đỗ Thải Hà phải làm trong bước đầu này, đơn giản là lấy chức quản kho của bản thân ra mà đường đường chính chính đến cửa những kẻ trong hai danh sách mà đòi nợ.

Nho môn tuyên truyền người già trẻ nhỏ cũng phải tham gia chống lại hải thú? Vậy thì xin mời các quý tiểu thư, công tử nhà Nho gia mau mau nhập ngũ, cùng ra tiền tuyến!

Nho môn tự nhận sẵn sàng cống hiến? Vậy thì xin mời các vị Đại Nho, tiến sĩ nhanh nhanh nộp tiền! Phí bảo trì, bảo hành vật tư, phí vận chuyển nguyên liệu, lương thực, phí dọn dẹp, tu sửa nhà kho, .v..v...

Tuy nhìn qua thì Đỗ Thải Hà có vẻ nhận một chức vụ việc nhẹ lương cao. Cô nàng còn phần lớn thời gian ở trong quán trọ, mấy bữa lại dạo phố, nhìn bề ngoài chả có gì là làm việc chăm chỉ cả. Thế nhưng ấy là do nàng ta “làm việc đúng sở trường” nên có hiệu suất cao mà thôi. Chứ thực chất, cô nàng rất nghiêm túc với công việc Kiếm Trì xin cho mình.

Có lẽ, điều mà toàn bộ mấy sư huynh đệ cổ viện đều học được từ sư phụ là tác phong làm việc và tinh thần đạo đức nghề nghiệp. Nếu đã nhận việc, thì phải làm nghiêm túc, không thì từ đầu đừng nhận việc. Dù việc đơn giản hay phức tạp, cũng phải dốc sức mà làm trong khả năng. Đây là những gì họ mắt thấy tai nghe từ Nguyễn Đông Thanh suốt một năm này.

Thành thử, trong thời gian qua, Đỗ Thải Hà đã tính toán sổ sách của nhà kho quân đội vô cùng kỹ càng. Cô nàng đã phát hiện chi phí cần thiết để bảo trì hoạt động nhà kho một cách bình thường không hề thấp. Ngoài ra, kỳ thực, nàng ta còn phát hiện ra khá nhiều điểm chưa phù hợp, có thể cải tiến để tăng hiệu suất công việc. Cô nàng vốn còn định đệ đơn lên trên, xin cấp thêm vốn để cải tổ. Nhưng bây giờ Nho môn đưa cơ hội đến tận cửa, nàng ta không nhận lấy có mà ngu!

Thế là, suốt một tuần tiếp theo trong thành, nhà cửa của các nhà Nho đâu đâu cũng có thể tả bằng bốn chữ “gà bay chó chạy”. Đỗ Thải Hà chạy khắp nơi ăn vạ đòi nợ như một cơn lốc, cuốn theo người và tiền của của Nho môn. Nàng ta vừa mang quyền hành cá nhân ra đè ép, dọa nạt khi bị cầu tình, lại lấy chính lý luận của Nho môn ra khi bị đòi nói lý lẽ. Thành thử, tuy trái tim rỉ máu, nhưng các vị Đại Nho, tiến sĩ, phu tử, học đồ trong thành cũng chỉ đành ngậm bồ hòn làm ngọt. Chỉ là sau lưng giở đủ trò, hòng ép cấp trên của Đỗ Thải Hà tạo áp lực với cô nàng.

Đáng tiếc, mọi thủ đoạn nhằm gây ảnh hưởng đến Đỗ Thải Hà đều bị ngăn chặn. Mà kẻ đứng ra ngăn cản “chuyện tốt” của Nho môn không ai khác chính là Kiếm Trì và đám mũi trâu núi Long Hổ. Phát hiện ra chuyện này, chính người của Nho gia cũng ngạc nhiên mười phần.

Ai cũng biết dạo thời gian gần đây, Kiếm Trì và Long Hổ sơn vì cổ viện mà nhìn nhau không vừa mắt, thế nên đám người Nho môn mới yên tâm gây sự với Đỗ Thải Hà, tin tưởng rằng Kiếm Trì có muốn bảo vệ nàng ta cũng sẽ bị Đạo môn ngăn cản. Ấy vậy mà việc không như tưởng tượng, đúng lúc quan trọng, Đạo môn lại chọn giúp Đỗ Thải Hà, đâm bọn họ một nhát. Các vị Đại Nho ngửi thấy có vấn đề, lập tức cho người đi điều tra, cuối cùng phát hiện dạo thời gian này Vân Hà Kiếm Tổ thường xuyên đến trại doanh của núi Long Hổ ăn uống, không biết là đàm luận những chuyện gì mà cứ mấy hôm lại tới một lần.

Thế là, tuy chẳng ai nói ra, nhưng ai nấy đều có chung một suy nghĩ: Kiếm Trì có thể đang muốn đứng ra giúp núi Long Hổ móc nối quan hệ với cổ viện. Hay chí ít, Vân Hà Kiếm Tổ đang đứng ra giúp Đỗ Thải Hà bình thường hóa quan hệ với tông môn cũ.

Sự thật kỳ thực đơn giản hơn nhiều: đám đạo nhân của núi Long Hổ bị Liễu Ân nắm đằng chuôi. Nói về phương châm đối ngoại, Vân Hà Kiếm Tổ chính là loại người “đi với Phật mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”. Đối đãi với quân tử, gã sẽ dùng lễ nghĩa, đối phó tiểu nhân, Liễu Ân cũng sẽ không từ thủ đoạn, miễn sao không phạm vào quy tắc của riêng hắn. Thành thử, kể cả khi trước lúc còn khá thân thiết với núi Long Hổ, Vân Hà Kiếm Tổ cũng đã chuẩn bị sẵn không ít hậu chiêu đề phòng đám mũi trâu trở mặt thành thù thì Kiếm Trì cũng không ở thế bị động. Về sau quyết định chọn phe cổ viện, Liễu Ân lại càng tăng cường để ý mấy thứ này, đến nay vừa hay cần dùng tới.

Gã vừa dọa vừa dỗ, khiến đối phương tạm thời trước mắt không còn lựa chọn khác, đành phải phối hợp mà thôi. Thế nhưng, sự thật này nói ra chỉ tổ mất mặt, thế nên có đánh chết mấy lão mũi trâu kia cũng sẽ không thừa nhận. Mà Vân Hà Kiếm Tổ biết rõ điều này, nên mới cố tình diễn như đang đàm luận việc gì quan trọng lắm, mấy bữa lại xách rượu ngon đi bái phỏng một lần, cốt dụ cho Văn Cung cắn câu. Một khi Nho môn không thể ngồi yên, Văn Cung vào cuộc, thì bước tiếp theo của kế hoạch mới có thể bắt đầu.

Văn Cung ở Huyền Hoàng giới, vốn khi xưa do các đời Văn Thánh trưởng quản. Nhưng kể từ khi Mặc Ngạn Bác “bỏ mình” trong Phản Thiên Chi Chiến, khiến một trong các chí bảo của Gia Cát Thủ Ngã cũng thất lạc, thì không còn có thêm một đời Văn Thánh nào nữa. Văn Cung cũng từ đó theo chế độ “dân chủ”. Đứng đầu Văn Cung là sáu vị viện trưởng, mọi quyết định đều thông qua bỏ phiếu. Phía dưới các vị viện trưởng, còn rất nhiều đại nho, học sĩ làm đại biểu, cử tri, đại diện cho các đại quan trong triều, các quan nhỏ địa phương, các địa chủ, thậm chí thương nhân.

Nếu ai từng đọc sử Châu Á nói chung và sử Việt Nam nói riêng, hẳn từng nghe xã hội phong kiến chia ra bốn giai cấp: Sĩ – Nông – Công – Thương. Sĩ là cao nhất, Thương là thấp nhất. Ở Huyền Hoàng giới, khác biệt lớn nhất có lẽ nằm ở chỗ cao nhất là tu luyện giả, trong đó sĩ tử chỉ là tập hợp con của tu luyện giả mà thôi. Còn đâu bà con bá tánh cũng vẫn phân chia lần lượt Nông – Công – Thương, với thương nhân ở đáy của xã hội. Song, cánh lái buôn biết mua biết bán, biết chặt biết chém, nên tiền tài không thiếu. Tiền tài nhiều, lại có thể bỏ ra mua danh, làm giả bằng giả cấp. Dẫu chưa từng một ngày đọc sách thánh hiền cũng có thể tranh thủ một chức quan nhỏ địa phương, tiếp tục vơ vét cho Nho môn. Những kẻ nào thiên phú không đến nỗi còn có thể được các Đại Nho, phu tử nhận về làm đồ đệ, một bước lên trời. Thành thử, chỉ cần đám thương lái ủng hộ đủ nhiều tài vật, liền có thể đổi đời, từ Thương thành Sĩ. Thế nên, tuy là tầng lớp dưới “đáy xã hội”, nhưng lại vẫn có người đại diện, vẫn có tiếng nói nhất định ở Văn Cung.

Quay về chuyện hiện tại, hành động lần này của Đỗ Thải Hà và Liễu Ân quả thực đã khiến Văn Cung chú ý. Sau khi sáu vị viện trưởng họp bàn, cuối cùng quyết định cử đại diện hẹn gặp Đỗ Thải Hà một buổi, đàm phán cho rõ ràng. Dẫu sao, cứ tiếp tục đấu nhau kiểu này Nho môn hoàn toàn không có lợi gì. Khoan nói việc Đỗ Thải Hà cũng không phải quả hồng mềm dễ bóp, khiến bọn chúng nếm khổ không ít. Chỉ riêng việc không thể công khai làm gì đối phương, lại còn phơi lưng ra cho bốn đạo còn lại trong Ngũ Lộ Triều Thiên thừa cơ ám toán đã đủ để thấy rõ lần hành động này rõ ràng là cái được không bù nổi cái mất!

oOo

Trái lại với không khí khẩn trương như lâm đại địch của Nho gia, Đỗ Thải Hà cùng Liễu Ân sau khi giăng lưới xong xuôi thì đều khá thanh thản, lại rảnh rỗi. Hôm nay, mấy người Kiếm Trì, cổ viện tụ tập ăn một bữa do đích thân Trương Mặc Sênh vào bếp.

Vốn kế hoạch ban đầu của Tiêu Hàm Huân định giao cho Trương thiếu trang chủ của chúng ta đi thuê người phao tin đồn, đánh tiếng với người của Long Hổ sơn rằng trên người Đỗ Thải Hà có vật có thể đánh vào căn cơ của Nho Đạo. Để cho tin tức này thúc đẩy đám mũi trâu cho Đỗ Thải Hà chỗ dựa chống lại Nho môn, hòng chiếm đoạt được chỗ tốt.

Sở dĩ nói kế này gây nguy hiểm cho Đỗ Thải Hà bởi lẽ nó là con dao hai lưỡi. Tuy trước mắt biến núi Long Hổ thành chỗ dựa cho cô nàng trả thù Nho môn, nhưng ngay sau đó lại không khác nào treo lên sau lưng nàng ta một cái bia ngắm khổng lồ. Sẽ không chỉ núi Long Hổ có ân oán sâu xa với Đỗ Thải Hà muốn mạng nàng ta, mà toàn bộ Đạo gia, thậm chí cả Phật giáo, Vu Đạo, Võ Đạo cũng sẽ động sát tâm. Dẫu sao, dụ hoặc đánh đổ Nho Đạo là quá lớn đối với bốn lộ còn lại trong Ngũ Lộ Triều Thiên. Thế cho nên Tiêu thị mới hỏi thăm khả năng hòa hảo của Đỗ Thải Hà cùng Đạo môn có tồn tại hay không. Nếu muốn tránh thoát cái họa sát thân này sau khi để lộ ra tin tức tày đình kia, cách đơn giản nhất chính là có quan hệ hảo hữu với một trong năm nhà.

Song, vì Liễu Ân nhập cuộc, lại có thủ đoạn khác bắt đám đạo sĩ nghe lời, nên Tiểu Thực Thần tự dưng rảnh rỗi không có việc gì làm, mà Đỗ Thải Hà cũng tránh được phen nguy hiểm. Tuy nếu sau này chuyện về bản nháp của Nguyễn Đông Thanh lộ ra thì đám đệ tử vẫn có thể sẽ bị nhắm tới, nhưng giấu được ngày nào hay ngày ấy. Huống chi, mấy sư huynh đệ bọn họ cũng chỉ cần nhất là thời gian và không gian để phát triển mà thôi. Đợi đến sau này họ đủ lông đủ cánh, người khác tự khắc sẽ biết mà không chọc vào.

Mấy ngày này, Trương Mặc Sênh ngoại trừ nấu ăn thì cũng chỉ còn nghiên cứu công thức nấu ăn, tôi rèn trù nghệ mà thôi. Thế nên hôm nay, “đại công cáo thành” làm được món mới trong “bí tịch” của sư nương đưa, mới vui vẻ mời khách như thế này...
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 283: Ăn Cua Nói Chuyện Yêu Tộc


Tuy Kiếm Trì tính ra là thế lực của Đại Hàn, song có quan hệ với rất nhiều quốc gia khác. Lại nói, lục quốc cùng Đại Việt đã có hiệp ước với nhau. Để tránh bất kỳ nước nào “thừa nước đục thả câu”, nhân lúc Hải Thú công kích mà cho quân đi đánh chiếm nước khác, thế lực của các nước đều phải chia quân đi trợ giúp các nước khác trong thời gian chiến tranh nổ ra. Sứ giả cũng phải đi lại giữa các nước, nhằm bảo đảm hợp tác suôn sẻ. Chả thế mà Nguyễn Đông Thanh phải tất tả ngược xuôi tiếp xứ dạo thời gian gần đây.

Thành thử, hiện tại, Lâm Phương Dung cùng Trần Thanh Lãng đều đã dẫn nhóm đi nơi khác, còn nhóm đệ tử Kiếm Trì dưới tay Hàn Ngọc Sương tính ra cũng chỉ mười mấy người. Vốn là, Liễu Ân cùng chừng trên dưới ba mươi đệ tử trấn thủ tại Kiếm Trì, đề phòng có biến. Nhưng vì chuyện của hai người Đỗ – Trương mà Vân Hà Kiếm Tổ cũng tạm trú tại trại doanh của Kiếm Trì trong quân đội. Tính ra, bữa này mời khách, riêng Kiếm Trì thôi cũng gần hai mươi suất cơm rồi. Còn may Trương Mặc Sênh nhờ được mấy anh em binh lính Đại Việt khi trước cùng hành quân đến với mình giúp một tay, nếu không thì cũng hơi nhọc.

Tiểu Thực Thần đặt một cái khay lớn có đậy lồng lên bàn chính. Ở đây có Liễu Ân, Hàn Ngọc Sương, Chân Lợi Kiếm, Song Vô Song, cùng Đỗ Thải Hà ngồi. Các anh em binh lính cũng mang bưng khay lên các bàn khác. Khay mở ra, hương cay bốc lên nghi ngút. Mấy người tò mò nhìn kỹ, thì chỉ thấy trên đĩa bày sáu con cua đỏ au nối đuôi nhau xếp thành hình sao sáu cánh trên nền một loại nước sốt sền sệt màu cam. Xung quanh đĩa còn bày không ít rau cỏ trông rất đẹp mắt. Lại nghe Trương Mặc Sênh giới thiệu:

“Món này theo như cẩm nang của gia sư gọi là Cua sốt ớt, nghe nói xuất xứ từ một nơi gọi là Xinh...”

Cậu chàng chép miệng, uốn lưỡi mấy lần rồi mới nói tiếp:

“Xinh ga bo thì phải? Theo sách ghi chép thì có thể ăn với bánh mì hoặc cơm trong điều kiện không đủ nguyên liệu, thế nhưng chuẩn vị nhất thì phải ăn với món này...”

Vừa nói, Tiểu Thực Thần lại nâng tiếp một cái khay khác giấu sau lưng ra, đặt lên bàn. Sau khi lồng đậy được mở ra, nhìn rõ món thứ hai, Đỗ Thải Hà thốt ra:

“Bánh bao chiên?”

Trương Mặc Sênh khẽ gật đầu, lại lên tiếng mời:

“Liễu kiếm tổ, Hàn trưởng lão, sư tỷ, cùng các vị khách quý Kiếm Trì, mời thưởng thức trù nghệ của tiểu tử!”

Cậu chàng nói xong thì cũng ngồi xuống chủ bàn cạnh Đỗ Thải Hà. Về phần các binh sĩ, sau khi đưa món ăn lên tất cả các bàn thì cũng kéo nhau ra một bàn khác được sắp xếp sẵn, kéo ghế ngồi xuống, chuẩn bị tự phục vụ phần riêng của mình. Những người này chịu giúp tuy chủ yếu vẫn là nhờ giao tình với Tiểu Thực Thần, nhưng phần nào cũng do cậu chàng hứa có suất ăn cho riêng họ nếu họ chịu phụ một tay.

Người của cả bảy bàn sau vài lời mời cơm cho đủ lễ nghĩa thì cũng lần lượt động đũa. Tướng ăn của Hàn Ngọc Sương y như cách làm việc của y thị, cũng có thể dùng bốn chữ “lôi lệ phong hành” mà hình dung. Song Vô Song đưa tay lên che mặt, len lén liếc về phía hai người cổ viện. Ngược lại với Hàn trưởng lão, Vân Hà Kiếm Tổ ăn rất có tư thái thưởng thức. Nhìn qua là biết gã có không ít kinh nghiệm ăn hải sản.

Chân Lợi Kiếm yên lặng ngồi một góc, từ từ ăn. Từ hôm mới tới Tuyết Hoa Thành đến nay, đây là lần đầu tiên hắn có cơ hội gặp lại Đỗ Thải Hà. Hàn Ngọc Sương sau khi thấy tâm tính hắn có vấn đề, bèn dứt khoát cấm cửa không cho phép họ Chân đi tìm cô nàng. Nhất là sau khi Đỗ Thải Hà chọc tới Nho môn thì Hàn trưởng lão quản Chân thánh tử càng chặt. Y thị tự biết bản thân không quá khéo léo trong ngoại giao, nên dứt khoát giảm thiểu tối đa các tác nhân có thể khiến thế cục thêm loạn. Và thật đáng tiếc cho Chân thánh tử, hành vi của hắn xung quanh Đỗ Thải Hà trên suốt quãng đường từ thành Bạch Đế đến đây đã khiến Hàn Ngọc Sương không thể không liệt hắn vào danh sách này.

Suốt thời gian này, Chân Lợi Kiếm đương nhiên trong lòng bất mãn, khó chịu. Thậm chí, gã còn có chút ghen ghét Song Vô Song. Thế nhưng lúc này, ngồi cùng bàn với hắn không chỉ có một vị Hàn trưởng lão, mà còn một vị Vân Hà Kiếm Tổ. Thành thử, y dù trong lòng có bão nổi, cũng chỉ có thể thành thật mà ngồi đó nhai nuốt, không dám nói hay làm gì quá phận.

Ở các bàn khác từ sớm đã vang lên các loại tiếng chép miệng, nuốt nước bọt, húp nước sồn sột, cùng tiếng tấm tắc khen ngợi món ăn lạ, ngon. Liễu Ân sau một hồi thưởng thức cũng nhẹ nhàng nói:

“Trương công tử quả nhiên tài nghệ hơn người, có phong phạm của cựu trang chủ năm xưa!”

Trương Mặc Sênh nghe vậy thì ngạc nhiên:

“Liễu kiếm tổ quen biết nghĩa phụ?”

“Cũng không tính là quen biết. Ba mươi năm trước lão phu tình cờ may mắn được nếm thử trù nghệ của cựu trang chủ, đến nay vẫn còn nhớ mãi không quên. Chỉ đáng tiếc...”

Liễu Ân nói đến đây liền thở dài một hơi, song lại tiếp:

“Nhưng không sao, với tài năng của cậu lại được tiên sinh chỉ điểm, hẳn hai năm rưỡi sau có thể khiến kẻ ác đền tội!”

Tiểu Thực Thần kiên nghị gật đầu, song cũng không muốn tiếp tục chủ đề này, bèn nói:

“Kỳ thực, tiểu tử vẫn chưa thật sự hài lòng với món ngày hôm nay. Không giấu gì Kiếm tổ, món cua sốt ớt này yêu cầu về nguyên liệu nấu ăn nếu muốn thật ngon cũng rất khắt khe. Thế nhưng, tiểu tử đã lùng sục khắp thành, lại hỏi thăm cả cánh chài lưới cũng vẫn không tìm được những con cua thực sự ưng ý.”

Vân Hà Kiếm Tổ nghe vậy thì cũng trầm ngâm:

“Ồ? Yêu cầu cao như vậy sao? Theo như Liễu mỗ thấy thì cua hôm nay chất lượng đã rất cao so với tình hình hải sản mấy năm gần đây rồi mà...”

“Kiếm tổ nói không sai. Tiểu tử vì biết vậy nên cũng đành chịu. Ngài là dân bản địa, không biết liệu có biết lý do tại sao thủy triều mấy năm nay càng ngày càng yếu hay không?”

Liễu Ân vân vê râu một hồi mới đáp:

“Sợ là phải làm cậu thất vọng rồi. Tuy thủy triều mỗi năm một yếu ai cũng có thể nhận ra, nhưng lại chẳng ai rõ lý do là gì. Kẻ có thể biết điều này có lẽ cũng chỉ có Long tộc. Ngặt một nỗi, Long tộc cùng nhân tộc chúng ta ít qua lại, muốn hỏi vấn đề này e rằng không đơn giản...”

Trương Mặc Sênh nghe nhắc đến Long tộc, bất giác lại nhớ đến cô nhóc tham ăn lại xấu tính suốt ngày nhận bừa là tiểu đồ đệ trên danh nghĩa của cổ viện tại ải Quan Lâm, thoáng có chút thất thần. Ngược lại, Đỗ Thải Hà lại bắt đầu có chút hứng thú, hỏi:

“Không biết có thể phiền Kiếm tổ giới thiệu cho bọn tiểu nữ biết về Ngũ đại thánh tộc của yêu tộc hay chăng?”

Kỳ thực, trong đám đệ tử ở cổ viện, ngoại trừ Tạ Thiên Hoa xuất thân là thánh nữ tộc Thanh Tước là được dạy tương đối nhiều mấy vấn đề chính trị của Huyền Hoàng giới ra, ba người còn lại đều biết khá ít. Lý Thanh Vân thì do xuất thân thôn quê, sau lại chả ở Lý gia được bao lâu trước khi xảy ra chuyện. Đỗ Thải Hà khi ở núi Long Hổ chỉ chăm chăm vào báo thù, không quan tâm tìm hiểu chuyện khác. Còn Trương Mặc Sênh, tuy mang tiếng là thiếu chủ Mỹ Vị sơn trang, sơn trang cũng là thế lực lớn ở đời, nhưng khổ nỗi bản thân các đời trang chủ của Mỹ Vị sơn trang cũng toàn là hạng trù si. Tuy không đến mức quá ngu ngơ, song ít khi màng thế sự. Cù Vũ Tuyền, Dương Huyền, Tiêu Hàm Huân kể ra là dạng đặc biệt, có quan tâm chính trị. Thế nhưng chính cha nuôi Tiểu Thực Thần lâu nay cũng chỉ quan tâm nấu nướng, không quản sự đời, nếu không, Tiêu Hàm Huân khi xưa cũng không dễ dàng đắc thủ như vậy. Liễu Ân biết Bích Mặc tiên sinh đang “ở trong trạng thái kỳ lạ”, “không tiện tự giảng dạy” mấy thứ này cho mấy người Đỗ Thải Hà, bèn cười đáp:

“Không phiền. Không phiền.”

Đoạn, bắt đầu giới thiệu vắn tắt về ngũ đại yêu tộc của Huyền Hoàng giới cho hai người nghe:

“Đứng đầu ngũ đại yêu tộc là Long tộc, bá chủ của biển Phong Bạo, vốn xuất thân từ thiên ngoại. Một đám chỉ coi trọng huyết thống, coi khinh tất cả các tộc loài khác. Trước khi Long Bá Thiên trở thành Long Vương, Long tộc cứ một dạo thời gian lại đánh lên bờ, công kích nhân tộc ta.

“Sau khi Long Bá Thiên lên, thái độ của Long tộc đối với nhân tộc hòa hoãn nhiều, nhưng vẫn chỉ dừng lại ở mức không mặn không nhạt. Nếu có cơ hội, chúng vẫn sẽ không ngại tấn công chúng ta. Ví như ba mươi năm trước khi Nghiêm Hàn càn quét lục quốc, tấn công Đại Việt, Long Thanh Y từng dẫn quân đánh lên bờ, cuối cùng trận năm đó Võ Hoàng một mình chặn ải, phá tan kế hoạch của cả Đại Tề lẫn Long tộc.”

Cả hai người Trương – Đỗ đều từng gặp Long Thanh Y ở Quan Lâm. Tuy họ cũng từng nghe qua việc y thị là quân sư của Long tộc, quyền cao chức trọng, nay lại nghe được từ Vân Hà Kiếm Tổ sự tích năm xưa của y thị, song vẫn khó lòng mà tưởng tượng cô gái ba lần bốn lượt chạy đến cổ viện lấy lòng sư phụ khi mặc chiến giáp dẫn quân đánh trận sẽ có bộ dạng như thế nào. Lại nghe Liễu Ân nói:

“Điểu trung đế hoàng chính là tộc Thanh Tước của nhị sư tỷ hai vị. Thanh Tước quanh năm ở trong Lục Trúc Hải, không mấy khi ra ngoài, nội tình lại giấu rất kỹ, nên thông tin tại hạ thu thập được kỳ thực cũng không nhiều. Thế nhưng thiết nghĩ, nếu hai vị thật sự muốn biết, hỏi thẳng Tạ tiểu thư là được. Chỉ có điều, Tạ tiểu thư một năm nay ở cổ viện, tin tức có lẽ cũng không linh thông, muốn thông tin chính xác, có lẽ phải hỏi Tạ phong... Khụ, Tạ đại hiệp.”

Vân Hà Kiếm Tổ nổi danh là không ưa yêu tộc, khi trước, mâu thuẫn chính của gã với Lâm Phương Dung chính là việc y thị có quan hệ tình cảm với Tạ Hàn Thiên. Tuy nay chú cháu họ Tạ có quan hệ với cổ viện, lại thêm sau lần gặp Nguyễn Đông Thanh ở thôn Đoài, Liễu Ân đã bắt đầu có những thay đổi trong nhận thức, song muốn hoàn toàn thay đổi thói quen, loại bỏ thành kiến đã hình thành trong suốt cả đời người cũng không phải việc một sớm một chiều. Gã ho khan, lại nói tiếp:

“Tiếp đến phải kể đến Phượng tộc. Sử sách ghi chép Phượng tộc cùng Long tộc từng đại chiến, suýt thì bị diệt tộc, từ đó về sau ẩn náu dưỡng thương, suốt mấy vạn năm nay không rõ tung tích. Cũng vì thế mà nói, nếu Phượng tộc không phải bị Long tộc ép phải chạy trốn không thể lộ diện, Thanh Tước tộc chưa chắc đã có thể trở thành điểu trung đế hoàng. Còn về việc Phượng tộc trốn đi đâu, Liễu mỗ đoán có thể là trong địa phận của một trong lục quốc. Nếu không, Long tộc hẳn đã truy tung được.

“Phía cực Bắc có Chiến Hổ ‘nhất’ tộc trên Thiên Đảo. Một đám man di, bạo lực, não cơ bắp, cuồng chiến tranh. Chúng tự xưng là nhất tộc, nhưng bản thân trong tộc lại chia năm xẻ bảy, các bộ lạc quanh năm suốt tháng nội chiến. Ngoại trừ chiến lực kinh người thì chính là một lũ đần.

“Cuối cùng là Mộng Yểm Thụ Tinh tộc...”

Nói đến đây, Liễu Ân bỗng giật mình một cái, như nghĩ đến chuyện gì. Gã đảo mắt nhìn Đỗ Thải Hà như có điều suy nghĩ, rồi một lúc mới nói tiếp:

“Trước khi nói về đại tộc cuối cùng, Đỗ tiểu thư, không biết có thể hỏi một chút về chuyện của tiểu thư tại thành Bạch Đế hay không?”
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 284: Manh Mối Bất Ngờ


Đỗ Thải Hà nghe vậy thì cũng phản ứng được:

“Liễu Kiếm tổ nghi ngờ chuyện của tiểu nữ có liên quan đến Mộng Yểm Thụ Yêu hay sao?”

Liễu Ân gật gật đầu, nói:

“Tuy còn chưa dám chắc chắn, song đúng là lão phu có suy nghĩ này. Nhưng trước hết phải nghe tiểu thư kể lại chuyện khi đó cái đã.”

Hàn Ngọc Sương ngồi một bên nghe vậy, cúi đầu xuống tiếp tục ăn. Tuy y thị cũng có gửi thư về Kiếm Trì báo cáo mọi chuyện, song dù sao cũng không phải đương sự, lại chẳng tham gia vào buổi xử án Đỗ Thải Hà ở phủ của Chưởng Ấn quan, thành thử cũng chỉ biết đại khái.

Đỗ Thải Hà gật đầu, đoạn thuật lại toàn bộ những gì xảy ra hôm đó ở thành Bạch Đế.

Liễu Ân càng nghe, thần sắc trên mặt lại càng ngưng trọng. Đôi lông mày lão díu lại, khiến làn da trán xô vào nhau tạo thành hình chữ xuyên (川). Mấy ngón tay lão bất giác bắt đầu gõ lên mặt bàn từng tiếng đều đều, đều đều.

Chờ Đỗ Thải Hà kể xong, thì lúc này biểu cảm trên mặt Liễu Ân chỉ có thể sử dụng hai chữ “khủng hoảng” để mà hình dung. Lão đưa hai ngón tay day thái dương, thỉnh thoảng lại bóp bóp cái trán, chốc chốc lại buột miệng nói:

“Không thể nào...”

“Vô lý thật...”

Đỗ Thải Hà không ngờ Liễu Ân lại có phản ứng mạnh đến thế, không khỏi tò mò hỏi:

“Chuyện nghiêm trọng lắm sao kiếm tổ?”

Liễu Ân biết mình thất thố, ho khan một tiếng, đoạn nói:

“Đỗ tiểu thư có điều không biết. Trong năm đại thánh tộc, chỉ có Mộng Yểm Thụ Tinh là hiếm khi va chạm với lục quốc, thành thử cũng là tộc quần thần bí hạng nhất, có lẽ chỉ sau phượng tộc thấy đầu không thấy đuôi mà thôi. Mà nguyên nhân của chuyện này cũng là lý do lão phu hơi thất thố một chút.”

Lão ngừng một chốc, đoạn giải thích:

“Thực ra, Mộng Yểm Thụ Tinh không phải không muốn chiếm đóng lục quốc. Trái lại là đằng khác. Trong ngũ đại thánh tộc, có lẽ nếu nói tộc nào có dã tâm bành trướng lớn nhất có lẽ không ai khác ngoài bọn chúng. Sở dĩ Mộng Yểm Thụ Tinh hiếm khi có va chạm với lục quốc chẳng phải do bọn chúng không thèm thuồng mảnh đất đai màu mỡ phía đông, mà là không thể làm gì khác...”

Chân Lợi Kiếm nghe đến đây, lập tức lanh chanh lên tiếng:

“Ha! Chẳng nhẽ đám thụ tinh này chẳng qua là hạng giá áo túi cơm, thùng rỗng kêu to mà thôi?”

“Ài... Truyền nhân cường kiếm phái có khác. Chẳng biết biến báo gì cả. Nếu Mộng Yểm Thụ Tinh tộc hữu danh vô thực thì há lại có thể chiếm đóng phía tây đại lục cả vạn năm nay không một nước nào dám giành lại?”

Liễu Ân lườm thánh tử nhà mình một cái, bụng bảo dạ:

“Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe đi con. Cứ phải tự rước nhục vào thân trước mặt ý trung nhân là thế nào?”

Chân Lợi Kiếm vẫn chưa phục lắm, nói:

“Chẳng phải là do phía tây cằn cỗi khô hạn, có chiếm cũng chẳng để làm gì sao?”

“Loại văn lừa trẻ con ấy mà mày cũng tin? Chẳng qua không lấy được thì chê bôi cho đỡ quê mà thôi.”

Liễu Ân đáp, đoạn cũng chẳng thèm quan tâm đến Chân Lợi Kiếm nữa. Lão nhìn về phía Đỗ Thải Hà và Trương Mặc Sênh, đoạn vung tay một cái. Lập tức, trước mắt hai người Đỗ, Trương trải ra một tấm bản đồ của Huyền Hoàng giới. Trung tâm là một lục địa ba mặt bao bọc bởi biển, phía bắc là Thiên Đảo, phía đông và nam là biển Phong Bạo. Thế nhưng, về phía tây dãy Hoàng Liên thì chỉ có một vùng xám xịt rộng chẳng thua gì đất của sáu nước.

Liễu Ân chỉ vào vùng xám trên bản đồ, nói:

“Nơi này là Huyễn Ảnh sâm lâm, còn có tên khác là Mộng Huyễn sâm lâm, chính là lãnh địa của Mộng Yểm Thụ Tinh tộc. Thánh tộc này có bản thể là cây cối, trời sinh rất khó rời khỏi vị trí được sinh ra. Thành thử, Mộng Huyễn sâm lâm mới mở rộng chậm chạp đến vậy.”

Lão nói đến đây, lại nhìn sang Đỗ Thải Hà một cái:

“Mộng Yểm Thụ Tinh tộc thiện dùng huyễn thuật, ảo ảnh, có thể nói là độc bộ thiên hạ, lão phu tự thẹn không bằng. Một khi lạc vào địa bàn của chúng thì cho dù là cường giả đã đạp sâu vào Vụ Hải tu vi cũng dễ dàng ôm hận. Còn nhớ năm xưa Kiếm Thánh vào Huyễn Ảnh sâm lâm cứu em trai mà cũng suýt chút nữa thì mãi mãi nằm lại nơi đó.”

Ở Kiếm Trì, Hoan Kiếm phái chủ trương dùng biến chiêu cùng thần thông lừa gạt thị giác của đối thủ mà giành phần thắng. Vân Hà Kiếm Tổ lại là kẻ đứng đầu phái này hiện tại, nếu bàn về hiểu biết sử dụng huyễn thuật, ở trong lục quốc, sợ là chẳng ải vượt nổi họ Liễu. Nguyên đó đủ hiểu thần thông bản mệnh của Mộng Yểm Thụ Yêu kinh khủng ra sao. Ngừng một chốc, Liễu Ân lại kể:

“Thế nhưng, huyễn thuật dù sao cũng là giả, không thể nào đạt đến mức thiên y vô phùng được. Vậy mà cứ như lời kể của Đỗ tiểu thư thì chuyện xảy ra ở thành Bạch Đế chẳng những thật giả lẫn lộn đến lão phu cũng không rõ huyễn cảnh bắt đầu lúc nào, kết thúc ở đâu mà còn có thể tạo ra được một ‘Hạ đại ca’ giống hệt như người sống nữa. Thành thực mà nói, ngoại trừ tộc Mộng Yểm Thụ Tinh ở Huyễn Ảnh sâm lâm ra lão phu không nghĩ ra được người thứ hai có thể có tạo nghệ huyễn cảnh đến mức đó.

“Song... Mộng Yểm Thụ Tinh rời khỏi Mộng Huyễn sâm lâm là một chuyện đại sự can hệ đến tồn vong của lục quốc, nhất là trong cái cảnh hải thú đánh lên bờ thế này. Lão phu cũng vì thế mà không dám nói bừa... Lại nói, cho dù có là tộc Mộng Yểm Thụ Tinh thì cũng không cách nào lí giải được Hạ đại ca kia của tiểu thư.”

Kỳ thực, trong đầu Liễu Ân còn một suy nghĩ to gan hơn mà lão không dám chia sẻ với ai. Ấy là huyễn thuật kia có thể lại là nghiên cứu của một vị Thiên Tôn dựa trên thần thông bản mệnh của Mộng Yểm Thụ Tinh. Muốn hiểu nguyên do đầy đủ đằng sau suy đoán này của Vân Hà Kiếm Tổ, phải nói tới một bí mật của Hoan Kiếm phái suốt ba ngàn năm nay.

Chuyện là, trước khi lâm chung, Phạt Hải Kiếm Thánh từng giao cho lão kiếm đồng một nhiệm vụ: bí mật điều tra Đế Mộ và Trang Bức Thần Giáo, không được để bất kỳ ai biết, bao gồm cả hai đệ tử của y. Lão kiếm đồng dành cả đời mình thi hành nhiệm vụ, đến khi tuổi già sức yếu, lại bí mật truyền lại cho truyền nhân của lão. Kể từ đó, các đời Hoan phái Kiếm tổ đều nhận nhiệm vụ này khi nhậm chức, lại bí mật thực thi, không để cho cả hai Kiếm tổ còn lại của Kiếm Trì hay biết. Tất cả những gì điều tra ra đều được ghi chép lại, truyền tiếp cho đời sau. Đến nay đã trên dưới ba ngàn năm, thông tin nếu nói là nhiều thì không nhiều, nhưng bảo ít thì cũng chẳng ít.

Trong đó, ngoại trừ tin tức về việc Đế Mộ có phân chia Thiên Tôn, Địa Tôn cực ít người biết ra, thì có một thông tin còn bí mật hơn: trong tám vị Thiên tôn, có một người chuyên nghiên cứu, sáng tạo đủ các loại cấm thuật. Tỉ như tà công tu luyện bằng sinh mệnh lực của đám quỷ đói, hay thuật hấp thụ hồn phách, trí nhớ mà đám sát thủ hay dùng để nằm vùng tương truyền đều là từ tay kẻ này mà ra. Lần này hại Đỗ Thải Hà có Đế Mộ đứng sau giật dây, nên Liễu Ân mới liên tưởng đến vị kia. Thế nhưng, ngay lập tức lão ta gạt phắt cái suy nghĩ này đi.

Không thể nào! Quá đáng sợ! Khả năng người của Đế Mộ có thể dùng huyễn thuật cao minh sánh ngang được với Mộng Yểm Thụ Tinh còn đáng sợ hơn nhiều so với việc đám thụ yêu này đặt chân vào lãnh thổ nhân tộc!

Liễu Ân còn đang mê man suy nghĩ liệu vấn đề đáng sợ này có thể là thật hay chỉ là chính lão đang thần hồn nát thần tính, thì Đỗ Thải Hà đã đáp:

“Tiểu nữ hiểu rồi. Cảm ơn kiếm tổ đã giải đáp.”

Đỗ Thải Hà cũng hiểu tin tức thụ tinh ra được khỏi Mộng Huyễn sâm lâm lúc này sẽ có tác động như thế nào lên lòng dân cả sáu nước, cũng khó trách Liễu Ân cẩn thận không dám khẳng định liều.

Vân Hà kiếm tổ bấy giờ mới lắc đầu xua tan suy nghĩ kia đi, lại nói về chính sự:

“Nói đến Mộng Yểm Thụ Tinh thì thực ra còn một chuyện nữa lão phu muốn nói với hai vị. Thôi thì chọn ngày không bằng gặp ngày, không rõ Đỗ tiểu thư và Trương thiếu trang chủ có chịu nán lại thêm một chút nghe lão già này thưa chuyện hay chăng?”

“Cầu còn không được. Xin rửa tai lắng nghe!”

Cả Đỗ Thải Hà và Trương Mặc Sênh nghe lão nói thế thì đều đứng dậy, chắp tay. Hai người tuy không rõ Liễu Ân sắp kể chuyện gì, song nhìn nét mặt ngưng trọng của lão thì đủ biết tính nghiêm trọng của vấn đề.

Liễu Ân chỉ vào vùng xám trên bản đồ, kể:

“Tương truyền Phật môn phát tích ở hướng tây, Phật tổ đạp mây sen mà đến Huyền Hoàng giới, thế nhưng mấy nước phía tây lục quốc là nước Tề, nước Sở lại chẳng có mấy vết tích của chùa chiền, phật tháp. Hai vị một người là người Tề, một người là dân Sở có thấy kỳ lạ hay không?”

Đỗ Thải Hà nhíu mày một cái, Trương Mặc Sênh thì vỗ trán:

“Kiếm tổ không nói thì tiểu tử cũng không nhận ra, đúng là lạ thật. Vậy thì Phật môn phát tích ở...”

Cậu chàng chưa hỏi hết câu thì chợt ngừng lại, ánh mắt nhìn về phía vùng xám trên bản đồ Huyền Hoàng giới.

Đỗ Thải Hà cũng hỏi:

“Chẳng nhẽ tổ địa của Phật môn nằm ở nơi bây giờ là Huyễn Ảnh sâm lâm, sau đó vì nguyên do nào đó mà họ phải bỏ đất Phật để vào lục quốc truyền đạo?”

Liễu Ân nói:

“Chuyện này lão phu không thể xác nhận, cũng không thể phủ định. Song ta có thể nói với hai vị một câu rằng, năm xưa lúc Kiếm Thánh vào Huyễn Ảnh sâm lâm cứu em trai đã từng gặp được phế tích của một ngôi chùa tên là Lôi Âm tự. Sư phụ của hai người sắp sửa luận đạo với Kim Thiền tử. Long Hoa tự sau lưng Kim Thiền tử lại là lãnh tụ hiện giờ của Phật môn, xứng là Thiền Môn Bắc Đẩu. Lấy tính cách của tiên sinh chỉ e sắp tới Phật đạo sắp sửa thương cân động cốt một phen. Đỗ tiểu thư, Trương thiếu trang chủ nên cẩn thận với Phật môn thì hơn. Dù sao chuyện của Nho môn hãy còn sờ sờ ra đấy.”

Đỗ Thải Hà thấy Trương Mặc Sênh dường như vẫn chưa hiểu nguyên do Liễu Ân lại nói mối quan hệ giữa Phật môn và Mộng Yểm Thụ Tinh tộc thì vội vàng đánh mắt ra hiệu cho cậu chàng đừng có hỏi. Sau đó, cô nàng ôm quyền, nói:

“Cảm ơn kiếm tổ đã có lời nhắc nhở, sư tỷ đệ chúng tôi sẽ cẩn thận.”

“Chuyện ấy đã hẳn.”
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 285: Nho Môn Hẹn Đàm Phán


Liễu Ân lại nói:

“Kỳ thực lão phu cũng hơi bất ngờ. Không ngờ hai vị cũng sẽ đồng ý với kế hoạch của Quách phu nhân. Dẫu sao, thủ đoạn sử dụng với Nho môn lần này cũng không chính trực cho lắm...”

Trong suy nghĩ của Vân Hà Kiếm Tổ, Nguyễn Đông Thanh không có vẻ là người sẽ làm chuyện khuất tất hay dùng đến các thủ đoạn không quang minh chính đại để đạt được mục tiêu. Thành thử, việc hai người của cổ viện đồng ý với kế hoạch đe dọa, tống tiền Nho gia cũng có chút nằm ngoài dự liệu của hắn. Chỉ nghe Đỗ Thải Hà đáp:

“Nếu bọn chúng dám nhắm đến những người vô tội thì sớm nên biết sẽ phải gặp kết cục này. Huống chi...”

Cô nàng dừng lại trong chốc lát, rồi mới nói tiếp:

“Trước hôm bọn tiểu nữ rời cổ viện, sư phụ lão nhân gia đã sớm có nhắc nhở.”

“Ồ? Tiên sinh nói sao?”

“Người không trực tiếp nói, mà sử dụng cổ vật quý phái đã tặng, cho bốn sư huynh muội tiểu nữ xem một đoạn cố sự...”

Trương Mặc Sênh cũng gật gật đầu, hồi tưởng lại chuyện đêm muộn hôm đó.

Vào cái giờ mà bình thường sư phụ đã sớm đi ngủ, chả hiểu sao hôm ấy người tất tả chạy xuống chỗ bọn họ, kéo tất cả vào phòng, dùng cổ vật cho xem một “đoạn ghi chép”. Đoạn ghi chép này khá dài, đâu đó phải chừng trên dưới một canh giờ, về một vị quan trên trán có một vết bớt hình ngôi sao.

Mấy người bọn họ còn nhớ rõ hôm ấy quần áo trên người sư phụ loang lổ nước, mà mái tóc người cùng ướt, cứ như thể vừa tắm gội xong đã chạy vội xuống chỗ bọn họ vậy. Điều này cũng khá là kỳ lạ, do bình thường Nguyễn Đông Thanh thường tắm rửa vào buổi chiều trước bữa cơm. Quá nhiều sự bất thường, nhưng không ai trong bọn họ nghĩ Bích Mặc tiên sinh của chúng ta sẽ làm điều gì mà không có lý do. Thế là mấy người đồ đệ bàn luận với nhau, để hiểu dụng tâm lần này của gã.

Tạ Thiên Hoa là người thông minh nhất, đưa ra một cái phỏng đoán, rằng có thể Nguyễn Đông Thanh muốn thông qua “cố sự” kia để nhắc nhở mấy người bọn họ:

“Trong thời bình, đối mặt với quân tử, thì có thể quang minh chính đại mà làm việc theo đạo đức, nguyên tắc. Thế nhưng trong buổi loạn lạc, lại đối mặt tiểu nhân, khi nguyên tắc và pháp luật không bảo vệ lẽ phải, thì phải biết biến báo để thực thi công lý. Đôi khi muốn trị tham quan ô lại, muốn chống lại cái ác cần phải ác hơn, ô lại hơn chính chúng nó.”

Lời này nói ra, mấy người còn lại sau khi suy ngẫm đều cho là có khả năng nhất. Thế nên, khi đối mặt với gian kế của Nho môn, lại nghe được kế sách của Tiêu Hàm Huân, hai người Trương – Đỗ mới không dị nghị gì.

Liễu Ân nghe Trương Mặc Sênh tóm tắt lại tổng kết của Tạ Thiên Hoa thì thoáng chốc ngạc nhiên rồi phá lên cười:

“Xem ra là Liễu mỗ nông cạn, đã đánh giá sai về tiên sinh rồi!”

Vân Hà Kiếm Tổ vốn chính là người ưa thích xử lý công việc theo lối gậy ông đập lưng ông, đương nhiên vô cùng thưởng thức, tán đồng lối suy nghĩ này. Lần trước gặp mặt, gã còn cho là Nguyễn Đông Thanh quá chính nghĩa, có vẻ hợp với hai người Trần Thanh Lãng, Lâm Phương Dung hơn là chính mình. Nay nghe được chuyện này liền thoải mái trong lòng.

Mấy người tiếp tục dùng bữa, vừa ăn vừa nói chuyện vui vẻ.

Sau đó tiệc tàn, ai về nhà nấy...

oOo

Mấy ngày sau, Nho môn cuối cùng cũng hẹn Đỗ Thải Hà đi gặp mặt. Địa điểm vẫn là tại Lam Ba trà lâu, nhưng lần này, là một phòng nhỏ trên tầng ba, để đàm phán riêng tư.

Đi cùng cô nàng lần này còn có Trương Mặc Sênh và Liễu Ân, một người đại biểu cho Mỹ Vị sơn trang, một thay mặt Kiếm Trì mà đến.

Phía Đại Việt lấy cớ rằng thái tử Lê Tam Thành đã tự mình ra lệnh phải bảo đảm Tiểu Thực Thần đi đến nơi, về đến chốn, không được mất một cọng tóc nào. Thế là lại có thêm một toán binh tướng Đại Việt đi theo, ngồi ở một phòng sát vách.

Về phía Nho môn...

Lần này trong sáu vị viện trưởng đứng đầu Văn Cung, có đến hai người góp mặt.

Người đầu tiên đương nhiên không ai khác ngoài quán chủ Lam Ba thư quán. Dù sao Đại Hàn cũng là địa bàn của y, bây giờ tổ chức buổi họp trịnh trọng như vậy mà không mời Lam Ba quán chủ thì quả thực có phần không nể mặt y.

Thành thử, mới có vị thứ hai trong sáu cao tầng của Văn Cung: viện trưởng của Bạch Lộ thư viện.

Tính ra, người này cũng coi như là có va chạm với cổ viện từ trước sự kiện Nho môn luận đạo cùng Bích Mặc tiên sinh. Còn nhớ ở thành Ngự Long, Lý Thanh Vân đã đánh nát Nho tâm của Lâm phu tử Bạch Lộ thư viện, khiến lão ta mất hết tu vi. Thành thử, người ngoài nhìn vào, ắt hẳn sẽ nghĩ vị viện trưởng này đến thành Tuyết Hoa lần này là muốn thanh toán sòng phẳng thù mới hận cũ một lần với cổ viện luôn.

Thế nhưng, sự thật lại không phải vậy...

Về lý mà nói nếu buổi đàm phán này diễn ra ở bất cứ nước nào khác trong Lục quốc thì chỉ cần một vị viện trưởng có mặt thôi. Song... hễ là cao tầng của Văn Cung thì đều biết quán chủ Lam Ba thư quán làm người ra sao. Thành thử, để đề phòng trường hợp y thả cái mồm mình đi xa, cao tầng Văn Cung bèn quyết định cử thêm một người nữa đến cốt là để trông chừng Lam Ba quán chủ.

Vậy mới nói...

Lắm lúc kẻ địch còn không đáng sợ bằng người mình.

Song, Nho môn trước giờ vẫn thường bảo người khác rằng ở đời có tôn ti thứ tự, coi mặt mũi nặng tựa ngàn vàng. Nếu khen thì gọi là trọng danh dự, thanh giả tự thanh, mà chửi thì sẽ bảo là một đám sĩ diện hão. Lần này cũng không phải là ngoại lệ.

Tuy Văn Cung lần trước “thua” dưới tay Bích Mặc tiên sinh, song sáu viện trưởng vẫn chỉ coi Bích Mặc tiên sinh là người cùng bối phận với mình, không phân cao thấp. Ít nhất đối nội là như vậy.

Lần này đàm phán chỉ là đệ tử của Nguyễn Đông Thanh mà thôi, nếu như các vị viện trưởng tự mình ngồi xuống há chẳng phải đang “hạ mình” hay sao?

Thành thử...

Ngoại trừ hai viện trưởng, lần này Nho môn còn dẫn theo bốn thiếu niên để thay mặt đàm phán với Đỗ Thải Hà.

Lúc Liễu Ân và hai người Đỗ, Trương đến Lam Ba trà lầu thì đã thấy đám thư đồng tiểu nhị đã quét tước cửa chính, đứng thành hai hàng chờ sẵn. Trà lâu này tuy không phải chỗ ai muốn vào cũng vào được, song vì đặt ở thành bắc nên ngày thường cũng không thiếu đại quan quý nhân lui tới uống trà, gặp mặt, làm quen lẫn nhau.

Ấy vậy mà hôm nay vắng vẻ hiu quạnh đến độ một bóng người cũng chẳng thấy.

Đỗ Thải Hà đã ăn quả đắng một lần ở thành Bạch Đế, bây giờ thấy cách tiếp đãi của Nho môn chẳng khác nào đang bày sẵn thiên la địa võng thế này thì không khỏi giật mình, nói nhỏ:

“Nho môn chẳng lẽ muốn làm chuyện gì khuất tất mà lại đuổi hết khách khứa đi thế này?”

Trương Mặc Sênh thì lại cười hềnh hệch, nói:

“Sư tỷ cả nghĩ rồi. Lần trước Nho môn luận đạo với sư phụ đã phải ăn quả đắng, lần này không cẩn thận sao được? Người ta cũng cần mặt mũi mà. Nhỡ có người ngoài nhìn thấy Nho môn nhũn ra như con chi chi thì cái mặt mo biết giấu vào đâu?”

“Nghé con không biết sợ cọp.”

Cậu chàng vừa nói dứt câu, sau lưng đã cất lên tiếng nói the thé đầy ý châm chọc, chanh chua. Ba người Đỗ Thải Hà quay đầu lại nhìn thì phát hiện ấy không phải ai khác ngoài một toán thiên kiêu của núi Long Hổ, dẫn đầu là cặp Kim Đồng – Ngọc Nữ lần trước. Chỉ cần nhìn cái biểu cảm khinh khỉnh của vị thiếu nữ dẫn đầu kia là đủ biết người vừa lên tiếng nói móc Trương Mặc Sênh là ai.

“Lại là các ngươi à? Muốn gì?”

Trương Mặc Sênh vốn cũng không phải hạng người dễ lấn, lại thêm gần đây khổ luyện Nghênh Phong Bách Đao Trảm của tổ tông đã có thành tựu, thành thử Ngọc Nữ của Long Hổ sơn vừa mở miệng gây sự là cậu chàng vặc lại ngay. Cái mặt câng câng cùng biểu cảm gợi đòn của Tiểu Thực Thần khiến đối phương tức đến tím mặt, song lại ngại còn Kim Đồng đứng đó nên không có hành động gì, chỉ dứ dứ nắm đấm lên với hàm ý đe doạ mà thôi.

Hiển nhiên, trong thế hệ trẻ của Long Hổ sơn, địa vị của Kim Đồng cao hơn một bậc.

Thiếu niên khịt mũi một cái, hỏi:

“Sao nào? Lam Ba trà lầu mở cửa làm ăn, chúng ta đến đây uống trà không được sao? Hay Mỹ Vị sơn trang mua lại trà lầu này rồi? Thế mà không báo cho Long Hổ sơn một tiếng để chúng ta đến ăn tiệc khai trương.”

Trương Mặc Sênh còn định cãi nhau tiếp với Kim Đồng, song Đỗ Thải Hà đã lên tiếng:

“Được rồi, sư đệ, hôm nay chúng ta còn chuyện quan trọng hơn phải làm!”

Đỗ Thải Hà thân là sư tỷ của Tiểu Thực Thần, lại là người có mâu thuẫn trực tiếp với Long Hổ sơn. Bây giờ cô nàng đã lên tiếng khuyên can, nếu Trương Mặc Sênh mà không nghe thì quả thực là không biết điều. Thế là, Trương thiếu trang chủ thở dài một tiếng, lui về phía sau một bước.

Kim Đồng hừ lạnh một tiếng, đoạn dẫn đầu đám thiên kiêu của Long Hổ sơn bước qua cửa Lam Ba trà lâu. Thế nhưng, lúc đi ngang qua mặt Đỗ Thải Hà, y chợt dừng lại, lặng lẽ truyền âm một câu:

“Đề phòng Tứ Đại Tài Tử!”

Cô nàng không đáp, chỉ lặng lẽ gật đầu một cái rất khẽ, cơ hồ nếu không chú ý thì cho dù có đứng ngay sát bên cũng chẳng tài nào phát hiện được động tác của Đỗ Thải Hà.

Sau đó...

Đỗ Thải Hà đi trước, Liễu Ân và Trương Mặc Sênh theo sau, từ từ bước về phía cầu thang để lên chỗ Nho môn đã hẹn trước.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 286: Nho Môn Tứ Đại Tài Tử


Ba người vào phòng thì mới phát hiện phía Nho môn hãy còn chưa tới. Hai đứa thư đồng mặt mũi sáng sủa, mặc áo trắng chạy đến rót rượu, bày biện điểm tâm tươm tất đâu vào đó thì ra ngoài khép cửa lại.

Ban nãy, Đỗ Thải Hà cũng đã truyền âm thuật lại lời cảnh báo của Kim Đồng cho hai người Liễu kiếm tổ, Tiểu Thực Thần. Bấy giờ không có chuyện gì làm, Trương Mặc Sênh bèn truyền âm hỏi sư tỷ:

“Sư tỷ, Tứ Đại Tài Tử này là ai vậy? Có lợi hại đến thế không?”

Tam đồ đệ của Nguyễn Đông Thanh đảo mắt một cái, kém chút thì học ông thầy đưa cả bàn tay lên vuốt mặt.

Vốn là cô nàng tưởng lần này không đi cùng ông sư huynh Lý Thanh Vân thì không cần phải trả lời những câu tưởng như là thường thức của Huyền Hoàng giới này nữa, nhưng thế quái nào lại chui ra một tên thiếu va chạm xã hội tương tự như Trương Mặc Sênh.

Tiểu Thực Thần cũng biết câu mình hỏi chắc là ngu lắm, bèn cười trừ làm hoà.

Thực ra, Đỗ Thải Hà mấy năm liền lang bạt lục quốc thì Trương Mặc Sênh cũng có gần một năm chạy khắp nơi đấu trù, thành thử trong chuyện đối nhân xử thế thì cậu chàng cũng không thua kém gì cô sư tỷ, và chắc chắn là vượt xa ông sư huynh gà công nghiệp. Song Tiểu Thực Thần xưa nay ngoại trừ chiên xào nấu nướng ra thì ít để ý đến chuyện gì khác, lại thêm Mỹ Vị sơn trang và Nho môn từ xưa đã có nhiều bất hoà, nên lại càng không thèm ngó ngàng gì tới.

Đỗ Thải Hà nói:

“Luận về thiên kiêu đời này chiến lực cao nhất chắc chắn là Kiều Minh Long, Lý Thanh Minh, thế nhưng các nhà khác cũng không phải hạng giá áo túi cơm. Long Hoa tự có Kim Thiền Tử, Đạo Môn có Đạo Khả Đạo. Thiên kiêu nổi bật nhất đời này của Nho môn chính là Tứ Đại Tài Tử. Danh tiếng của bốn người này có thể nói là truyền khắp cả sáu nước, có người đời làm thơ khen là ‘Anh hoa độc bộ tam thiên lý / Lương tài hoành áp ngũ bách niên’. Nếu không bàn đến lực chiến đấu thì không dễ đối phó đâu.”

Trương Mặc Sênh à lên một tiếng, chợt lại gãi đầu, truyền âm cho hai người đi cùng:

“Quái lạ. Thiên kiêu của Nho môn yếu như vậy thì sao có thể là đối thủ của Võ đạo? Không tính Kiều Minh Long và Lý Thanh Minh, riêng hội thiên kiêu của Đao Sơn, thiên kiêu của Kiếm Trì cũng dễ dàng vượt mặt bọn chúng.”

Liễu Ân cười:

“Cảm ơn lời khen của thiếu trang chủ, nhưng thiên kiêu đời này của Kiếm Trì ta quả thực là không bằng đời trước, thật là hổ thẹn.”

Lão ngừng một chốc, đoạn nói:

“Võ đạo dễ nhập môn, tiến cảnh nhanh, thành thử nhiều người theo học, song các đạo khác không phải không có điểm đặc sắc của nó. Nếu nói về Nho môn, thì dùng bốn chữ ‘hậu tích bạc phát’ để hình dung là chuẩn nhất. Người theo Nho đạo trong lúc thanh xuân đều chú trọng mài dũa tài hoa, ôn dưỡng hạo nhiên chính khí. Đợi đến khi ba mươi tuổi, văn khí quán đỉnh, có thể thẳng bước vào Vụ Hải. Thế nên, trong Ngũ Lộ triều thiên, Nho môn mới là nhà có nhiều cường giả bậc trung, trung thượng nhất.

“Chuyện này đương nhiên cũng có nguyên nhân của nó...”

Liễu Ân vừa định giải thích đầu đuôi ngọn ngành thì phía ngoài đã có tiếng nói truyền tới, cắt đứt câu chuyện của lão:

“Đã để Liễu kiếm tổ, hai vị cao đồ chờ lâu, thật là thất lễ quá.”

Liễu Ân cười, vuốt râu, nói:

“Quán chủ nói quá lời. Lần này lão phu cũng là mượn hơi hai vị cao đồ của cổ viện mà mặt dày tham gia thôi. Quán chủ không phiền chứ?”

“Không phiền... đương nhiên... không phiền...”

Lam Ba quán chủ chưa kịp đáp, Bạch Lộ viện trưởng đã vội vàng tiến lên một bước đáp thay. Miệng lão nở nụ cười hiền hòa, đôi mắt híp lại, che dấu một tia khinh bỉ nơi đáy mắt.

“Có mà đến chống lưng cho hai đứa nhóc này thì có.”

Hai người quán chủ, viện trưởng vào phòng rồi, sau lưng lại có bốn thiếu niên nhẹ nhàng bước vào. Trương Mặc Sênh và Đỗ Thải Hà nghiêng đầu nhìn sang, chỉ thấy ấy là bốn thanh niên mặt mày sáng sủa, mày kiếm, môi mỏng, diện mạo cũng thuộc dạng tuấn tú dễ nhìn, song nếu so với Lý Thanh Vân thì không tránh được có một chút âm u, so với Lã Vọng Thiên thì nhiều mấy phần nham hiểm.

Một kẻ áo đỏ, tay cầm bút lông, tóc trên đầu vấn thành búi rồi buộc một cái khăn trắng. Y cúi đầu hướng về ba người Đỗ Thải Hà, nói:

“Liễu kiếm tổ, hai vị học huynh học tỷ, học trò Tề Thi Hồng có lễ.”

Một kẻ áo vàng, tóc để xõa tung, chính đang nhìn hai người Trương, Đỗ nhoẻn miệng cười. Chân mày gã rất sắc, hẹp mảnh như lợi kiếm chĩa lên trời, hai con mắt lúc cười híp lại như lá liễu, khiến cho kẻ khác bất giác cảm thấy nguy hiểm. Y cũng chắp tay, nói:

“Tại hạ Sở Họa Vân, cửu ngưỡng đại danh hai vị cao đồ đã lâu, nay mới được gặp.”

Một tên thì áo xanh, bên eo thắt một miếng ngọc hình cổ cầm, gật đầu với hai người Trương Mặc Sênh một cái. Trái với tên áo vàng, kẻ này lúc cười lên cho người ta cảm giác mát mẻ như gió xuân, ấm áp như nắng hè, làm người ta không tự chủ được cảm thấy thân cận. Y cong người cúi hẳn đầu xuống, hai tay chắp phía trước, nói:

“Chư... chư vị... không đúng. Kính... kính chào chư vị. Tại hạ... tại hạ là Ban Thục Cầm. Xin... xin chỉ giáo...”

“Ban học huynh có tiếng rụt rè, sợ người lạ, vẫn mong chư vị đừng trách. Tại hạ Hoàng Chấp Kỳ, xin được bái kiến hai vị cao đồ.”

Thiếu niên cuối cùng mặc áo trắng, mép áo viền bằng chỉ đen, cười cười nói đỡ cho kẻ áo xanh. Ban Thục Cầm cúi đầu, gãi gãi gáy, miệng thỉnh thoảng lại lắp bắp xin lỗi.

Đỗ Thải Hà gật đầu, nói:

“Nghe danh Tứ Đại Tài Tử đã lâu. Tiểu nữ thay mặt sư đệ có lễ với bốn vị công tử.”

Bên cạnh, Liễu Ân vừa kiềm chế hai người quán chủ, viện trưởng vừa nhìn cô nàng đối đáp. Thấy Đỗ Thải Hà nói chuyện với Tứ Đại Tài Tử vẫn dùng cái giọng không mặn không nhạt, không lạnh không nóng, lão mới âm thầm khen ngợi một tiếng trong lòng.

Thực ra...

Ngay từ khi bốn thiếu niên kia bước vào, cuộc “đàm phán” ngày hôm nay đã diễn ra.

Tề Thi Hồng tỏ vẻ bình đạm trầm ổn, chính là để tạo ấn tượng tốt đẹp ban đầu. Sau đó, Sở Họa Vân mới lên tiếng. Kẻ này cả người bốc lên mùi nguy hiểm rất nặng, chỉ cần không phải kẻ ngốc đều sẽ có chỗ đề phòng, cự tuyệt hắn ngoài ngàn dặm. Thế nhưng lại không biết, Sở Họa Vân chỉ là viên đá làm nền mà thôi.

Tiếp theo, Ban Thục Cầm mở lời.

Kẻ này ngay cả cái tên cũng nhu nhuyễn như tên con gái, vừa nói lắp vừa rụt rè, thực là khiến người ta muốn đề phòng hắn cũng không được. Càng huống hồ trước đó có Sở Họa Vân trợ công, thật là khác biệt như trời với vực, trắng càng thêm trắng mà đen càng thêm đen.

Thế nhưng, ngay cả Ban Thục Cầm cũng chỉ là lá xanh mà thôi. Dù sao, nói gì thì nói, một kẻ quá nham hiểm và một kẻ quá lương thiện đều khiến người ta cảnh giác, nhất là còn là lần đầu gặp gỡ.

Thành thử, cũng như cách Nho môn sắp xếp cho Tề Thi Hồng mở lời trước nhất rồi mới đến Sở Họa Vân, cố tình để Ban Thục Cầm nói lắp rồi Hoàng Chấp Kỳ cất tiếng giải vây cũng là nước cờ rất cao. Chẳng những chuyển dời sự chú ý khỏi “người tốt” Ban Thục Cầm, mà còn khiến người ta trong vô thức thấy Hoàng Chấp Kỳ giúp đỡ người khác.

Có câu trăm nghe không bằng một thấy, danh tiếng của Tứ Đại Tài Tử có tốt đến mấy cũng không thể sánh được với cảnh tượng diễn ra sờ sờ trước mặt. Liễu Ân dám tin tưởng đám thiên kiêu đời này của Kiếm Trì, bao gồm cả hai đệ tử nhà lão nếu có mặt ở đây ngày hôm nay chắc chắn cũng sẽ trúng kế, sinh ra hảo cảm với Hoàng Chấp Kỳ.

Thế nên...

Khi thấy Đỗ Thải Hà có thể giữ lòng bình thản, không mặn không nhạt từ đầu đến cuối, Liễu kiếm tổ mới không nén nổi có lời khen trong lòng.

Bạch Lộ viện trưởng thấy sắp xếp của Nho môn không thành công, chân mày hơi nhíu lại, song cũng không lấy gì làm khẩn trương cả. Dù sao, trong số anh kiệt đời sau của lục đại thư viện, số người có thể thắng được bốn người Tề, Sở, Ban, Hoàng này không có mấy ai. Mà tuổi tác trạc trạc hai đệ tử của Nguyễn Đông Thanh thì cũng chỉ có bốn người này.

Lại nói...

Tứ Đại Tài Tử chẳng những tinh thông một trong lục nghệ, mà còn giỏi tài biện chứng, nói năng hùng biện trôi chảy trơn tru, kinh sử điển cố thuộc làu làu không sai một mảy. Chẳng thế mà tuổi tuy còn nhỏ, đã có thể tọa đàm cùng các bậc đại Nho Huyền Hoàng giới. Ngay cả lão năm xưa cũng tự thẹn không bằng.

Mà danh tiếng từng người cũng không đơn giản.

Tề Thi Hồng, xuất thân từ đại Tề, theo học Thanh Hà thư viện, chủ tu là Thư trong lục nghệ, lại nổi danh thi tài độc bộ mười mấy châu, có mỹ danh là Thi công tử.

Sở Họa Vân, xuất thân từ đại Sở, học tập ở Bạch Lộ thư viện của lão. Người này chủ tu Lễ học, tài vẽ tranh nức tiếng xa gần. Tương truyền từng có mười mấy đại tộc, thế gia xếp hàng mua tranh của Sở Họa Vân, người hầu kẻ hạ xếp dọc từ đầu thành bắc đến cuối thành nam thành Ngự Long, cũng gọi là một truyền kỳ. Từ ấy thiên hạ gọi y là Họa công tử.

Ban Thục Cầm, người nước Thục, đang đọc sách ở Cổ Xuyên thư viện. Người này trời sinh Kiếm Cốt Cầm Tâm, có thể hóa tiếng đàn thành kiếm khí, từ ấy mà song tu Võ đạo, Nho đạo, song vẫn lấy Nho làm chủ. Ban Thục Cầm từng sử dụng một khúc khuynh đảo mười bốn thành, một khúc giết ba mươi hai cao thủ của Đạo môn, Phật môn, Võ đạo trong bí cảnh, nhận được danh xưng là Cầm công tử, một khúc mê người, một khúc giết người. Đương nhiên đạo mà y chủ tu cũng là Nhạc đạo.

Cuối cùng, Hoàng Chấp Kỳ, người đại Hoàng, học ở Tuyết Trai thư viện, chủ tu là Số. Y lấy kỳ thuật cử thế vô song bày bàn cờ thách đấu cao thủ sáu nước suốt mười bốn ngày không thua một trận nào, khiến người đời đặt cho mỹ danh là Kỳ công tử.

Danh sư xuất cao đồ, xưa nay Tứ Đại Tài Tử vẫn là niềm tự hào của bốn đại viện trưởng, giúp thư viện bọn họ ép được Lam Ba thư quán và Kiêu Vân thư viện một bậc. Thậm chí, khi đó để đảm bảo văn danh của bốn người Tề Thi Hồng không một vết nhơ, mấy vị viện trưởng chẳng thà ít đi một phần sức mạnh cũng không dẫn bọn họ đến luận đạo cùng Nguyễn Đông Thanh.

...

Sau đó, có vẻ Tứ Đại Tài Tử thấy đối phương không trúng chiêu tâm lý chiến của mình nên cũng ngồi xuống, bắt đầu đàm phán chuyện nghị hòa giữa cổ viện và Nho môn.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 287: Lần Đầu Thấy Hải Thú


Thời gian trôi qua ước chừng một nén hương.

Trương Mặc Sênh mới đầu còn tập trung nghe, nhưng chỉ được một lúc là cậu chàng đã chán ngấy. Đỗ Thải Hà và mấy vị “tài tử” không ngừng giành cái lý về bên mình, vừa lý luận vừa đặt bẫy nhau, có thể nói hung hiểm mười phần. Ấy thế nhưng với một gã ngoại trừ nấu ăn ra thì chả quan tâm đến chuyện gì khác như Trương Mặc Sênh mà nói thì cũng tương đương với nước đổ lá khoai, vào tai này ra tai kia chả giữ lại được tí nào. Thành thử chỉ được một lúc lâu là hai mắt cậu chàng đã díp lại, cuối cùng lăn đùng ra ngáy vang cả phòng.

Đỗ Thải Hà cũng hết cách với Trương thiếu trang chủ, song phản ứng của sư đệ không làm cô nàng ngạc nhiên cho lắm. Dù sao, trước khi đến đây Tiểu Thực Thần đã phím trước với cô nàng là chỉ góp mặt cho đủ quân số, còn đâu cái việc miệng lưỡi giao chiến thì cô nàng lo hết.

Vậy mới nói không có trông chờ thì không thất vọng, không có so sánh thì không thấy đố kỵ.

Song, Đỗ Thải Hà thản nhiên được, “Tứ Đại Tài Tử” thì lại chẳng tài nào giữ được cái đầu lạnh.

Bao nhiêu “lý luận” của bọn hắn đều bị nàng ta nói là “ngụy biện”, kế giải thích cặn kẽ, chỉ thẳng bản chất, bẻ đến cả bọn cảm tưởng xương cổ đang kêu răng rắc. Đấu khẩu với Đỗ Thải Hà mà Tứ Đại Tài Tử của chúng ta cảm thấy không khác gì đang húc đầu vào tường gạch, đâm đầu vào núi đá.

Quán chủ? Thôi bỏ đi...

Đáng chết hơn là viện trưởng Bạch Lộ thư viện bị Liễu Ân kiềm tỏa, nếu như truyền âm nhắc nhở, lão già kia chắc chắn sẽ chen vào, phá cho không ra ý nghĩa gì cả.

Vốn đã bị người ta áp chế gắt gao, như bị trói tay trói chân, bí bách không chỗ phát tiết, bây giờ lại thấy Trương tiểu thực thần lăn đùng ra ngủ ngay trước mặt.

Quả thực là giọt nước tràn li.

Người Nho môn xưa nay vẫn kiêu căng ngạo mạn, nhìn đời bằng nửa con mắt, tự cho là thanh cao. Nếu không đã không có cái chuyện vạ miệng “vạn ban giai hạ phẩm, duy hữu độc thư cao” năm nào. Tứ Đại Tài Tử lại càng tự phụ là tài tuấn đương thời, tương lai của Nho môn. Trước giờ cả bốn đã quen được người ta trọng vọng kính nể, lời nói được thiên hạ xem như châu ngọc.

Bây giờ Trương Mặc Sênh lăn quay ra ngủ như vậy có khác nào không để Tứ Đại Tài Tử bọn chúng vào mắt?

Nếu là lúc bình thường, có lẽ bốn người Tề, Sở, Bàn, Hoàng còn có thể nhịn được. Thế nhưng hiện tại liên tiếp bị Đỗ Thải Hà bắt bẻ, đầu bọn hắn đã sắp bốc khói đến nơi, đâu còn có thể bình tĩnh nổi nữa?

Sở Họa Vân nhíu mày, hỏi:

“Nói vậy tức là Đỗ cô nương nhất quyết không muốn lui một bước với thư viện?”

“Cây muốn lặng, gió chẳng chịu ngừng đó thôi. Văn Cung các người bị sư phụ dạy dỗ một lần, sau đó nhị sư tỷ lại trùng hợp bị Thanh Tùng thư viện hãm hại. Ai mà biết các người có ghi thù, giận cá chém thớt với chúng ta hay không? Dù sao, bản lĩnh lấn yếu sợ mạnh, không đánh lại thì giở trò bỉ ổi của các vị mấy ngày nay tiểu nữ cũng đã được thụ giáo. Tiểu nữ mới đốt đèn, đâu đã bằng các vị phóng hỏa?”

Đỗ Thải Hà cười lạnh, nhún vai.

Tề Thi Hồng nói:

“Nhưng hai vị trước vừa bán sách cho Nho môn ta lấy hàng vạn lượng, sau lại phát miễn phí cho đám dân thường một chữ cắn đôi không biết kia thì có phải quá đáng lắm không? Cho dù lấy thân phận của Đỗ cô nương quả thực không cần để Nho môn ta vào mắt, nhưng cũng nên tôn trọng sở tác của tiên sinh một chút.”

Đỗ Thải Hà khoát tay:

“Thôi thôi, công tử đây không biết gì về gia sư thì đừng có lấy người ra dọa tiểu nữ.”

“Ý của tiểu thư là?”

“Nói khó nghe một câu, thì là chim sẻ tưởng mình hiểu chí phượng hoàng, lươn trạch tự cho là thấu dạ rồng thần vậy. Gia sư vẫn nói cống rãnh đòi sóng sánh với đại dương, máng mương đòi tương đương với thủy điện ấy mà. À... hình như Nho môn các vị sẽ nói đấy là ‘lấy dạ tiểu nhân để đo lòng quân tử’ phải không?”

Tuy không ai trong phòng hiểu nghĩa của “thủy điện” là gì, song dựa vào văn cảnh, đại ý cả câu cũng không khó đoán.

“Đỗ tiểu thư, tại hạ kính tiểu thư là đồ đệ của tiên sinh, mong tiểu thư đừng có quá phận! Nho môn ta có không bằng cổ viện thì cũng là danh môn chính phái, một trong Ngũ Lộ triều thiên, tiểu thư có coi thường chúng ta quá không?”

Hoàng Chấp Kỳ có mấy phần không kìm nổi, gằn giọng từng chữ.

Theo hắn thấy, ẩn ý của Đỗ Thải Hà chính là cô nàng chê Nho môn bọn hắn nhỏ mọn bẩn thỉu, đặt ngang hàng với Bích Mặc tiên sinh thực là sỉ nhục.

Đỗ Thải Hà cười:

“Gia sư xưa nay vẫn tự xưng là người phàm. Đúng... chính là cái đám thường dân nửa chữ cắn đôi không biết các vị chê cười đấy. Chúng ta đâu dám trèo cao? Nhưng mà... chà... bốn vị công tử đây bỗng nhưng nhảy dựng lên như mèo bị đạp đuôi là sao? Bị nói trúng tim đen à?”

Lời cô nàng vừa nói ra, lập tức đã làm bốn tài tử nghẹn họng chết trân.

Ban nãy trong cơn tức giận, lại bị Đỗ Thải Hà quạt gió thổi lửa, thành thử cả đám mới quên mất thói quen tự xưng là người thường của Bích Mặc tiên sinh.

Đứng trước Đại Nho, cường giả mắng người thường, chuyện ấy đương nhiên là được.

Dù sao, trong mắt cường giả mà nói, địa vị của phàm nhân tuy không đến mức ngang với cỏ rác, song cũng chẳng lấy gì làm cao, không thể nào sánh được với người tu hành. Lại thêm Nho môn xưa nay tự cho là thanh cao, các đạo khác đều bị bọn chúng coi là thấp hơn mình nửa bậc, huống chi là đám người phàm “chân đất mắt toét” không có lấy một chút tu vi nào cả? Thế nhưng, Nguyễn Đông Thanh lại là ngoại lệ.

Lúc này...

Liễu Ân khẽ cau mày, chặc lưỡi một cái. Hai vị viện trưởng, quán chủ cũng giống như thốt nhiên nhận được tin tức gì. Chỉ thấy viện trưởng Bạch Lộ thư viện bình tĩnh lên tiếng:

“Đỗ tiểu thư, nếu là hai bên đã không cách nào tìm được tiếng nói chung, thiết nghĩ lãng phí thời giờ ở trên bàn cũng chẳng được gì.”

Lão ngừng một chốc, lại tiếp:

“Chẳng bằng hai ta mỗi bên lui một bước, lấy chiến công đối kháng Hải Thú để so tài một phen. Lão phu nguyện tự mình lấy mặc bảo làm phần thưởng, sau này bất luận là ai thắng hai nhà đều hóa can qua thành bạch ngọc. Nho môn ta chủ trương lấy dân làm gốc, tiên sinh cũng tâm hệ thiên hạ, chắc hẳn sẽ không phản đối. Tiểu thư thấy sao?”

“Vậy thì xin nghe viện trưởng.”

Đỗ Thải Hà đáp, trong lòng lại âm thầm lắc đầu.

Nho môn quả thực chủ trương “lấy dân làm gốc, dân là nước có thể dâng thuyền có thể nhấn thuyền”.

Song, sư phụ cô nàng từng nói, ấy chẳng qua là vẻ bề ngoài. Ý thực sự của Nho môn là dân cũng là một loại tài nguyên, giống như đất đai hoa màu, rừng núi sông hồ. Khai thác quá mức sẽ khánh kiệt. Nói trắng ra vẫn là ánh mắt của kẻ ngồi trốc ăn trên, khuyên bảo nhau chớ có bóc lột quá mức tàn nhẫn đó thôi.

Dù sao, có áp bức thì sẽ có phản kháng.

Còn cô nàng có thể cảm nhận được...

Sư phụ mình quả thực tin rằng dân là gốc rễ của thiên hạ, hoàng quyền vì dân mà sinh, vì dân mà diệt.

Song...

Đỗ Thải Hà thấy, có thể vì chuyện này mà khiến Nho môn dốc lòng đối kháng Hải Thú, không chỉ miệng thì hô hào chân thì đá người khác ra chết thay như hiện tại có lẽ cũng đã là chuyện tốt...

Có hai điều duy nhất cô nàng không ngờ đến.

Thứ nhất, đột nhiên Tiết Bình Thiên của Long Hổ sơn sử dụng thuật Thân Ngoại Hóa Thân xuất hiện trong phòng, nói màn cược này Đạo Môn bọn hắn cũng muốn một chân.

Yêu cầu của hắn cũng rất đơn giản, nếu như Long Hổ sơn chiến thắng thì chỉ cần mấy vị đệ tử cổ viện hỗ trợ chuyển lời cho Tạ Hàn Thiên trả lại Long Ảnh Đào Mộc kiếm cho hắn, còn tên điên có đồng ý hay không không quan trọng.

Mà điều thứ hai...

Tin tức mà kiếm tổ, hai lão viện trưởng nhận được ban nãy chính là tin Hải Thú công đánh vào bờ sớm hơn dự kiến.

oOo

Đỗ Thải Hà, Trương Mặc Sênh, nhân mã Đại Việt ở phòng đối diện đồng thời đứng dậy, kéo nhau về phía Thiên Thê. Dọc đường, còn có thể loáng thoáng thấy đệ tử Long Hổ sơn tay nắm kiếm gỗ, eo buộc một túi trữ vật. Kim Đồng – Ngọc Nữ đồng thời phát hiện được bóng dáng của Đỗ Thải Hà, thế nhưng kẻ trước không nói gì, người sau lại le lưỡi một cái, vừa sán lại chỗ Kim Đồng vừa nhìn cô nàng với vẻ thách thức và đắc ý.

Trương Mặc Sênh múa hai con dao trên tay, cười:

“Sư tỷ, không ngờ lại có người ghen với cả sư tỷ cơ đấy. Tỷ với vị Kim Đồng kia chẳng nhẽ...”

“Nhiều chuyện.”

Đỗ Thải Hà lườm cậu chàng một cái, sẵng giọng. Tiểu Thực Thần đáp lại bằng một tràng cười khanh khách.

Hai người vừa trêu chọc nhau vừa chạy, chẳng mấy chốc đã lên đến Thiên Thê, nhìn xuống dòng sông cạn bên dưới hai bức tường thành. Khác với dòng sông tràn đầy xương khô lúc trước...

Hiện tại, cửa biển phía đông Tuyết Hoa thành chính đang không ngừng có một đám quái vật tràn vào, bò lên xương trắng mà tràn tới.

Có thể nói, đây là lần đầu tiên Đỗ Thải Hà nhìn thấy Hải Thú. Chỉ thấy từng con từng con vật nhìn như rắn biển, thân dài hơn một trượng, không lông, không vảy, nước da xanh trắng bủng beo như ngâm nước lâu ngày, bước trên hàng chục cái cẳng cố gắng tiến vào đất liền. Các chi của Hải Thú cao lêu nghêu, có bốn khớp, lúc chuyển động giật lên giật xuống nhìn rất quái dị, song lại nhanh đến đáng sợ. Bàn tay của chúng như tay người, chính đang gỡ đá, cầm xương cốt lẳng về phía Thiên Thê.

Từ trên cầu và hai tường thành, quân sĩ thủ thành không ngừng dội thần thông xuống bên dưới.

Thần thông đủ loại màu sắc, lại thêm chiến thi, phù chú đạo thuật công kích trúng lưng, trúng đầu đám Hải Thú bên dưới. Cả đám bị đau rú lên một tiếng, ngẩng đầu gầm thét.

Con mắt đỏ lòm của một Hải Thú nhìn chòng chọc lên Thiên Thê, vô tình phát hiện Đỗ Thải Hà.

Cô nàng cũng thấy được “mặt” của Hải Thú.

Chúng có mặt người.

Một khuôn mặt người to bè như cái mâm, ngũ quan biến dạng lệch vị trí, răng chìa vẩu ra ngoài, mũi khoằm nổi đầy mụn cóc, đôi mắt lồi to và cái trán dô lớn, nhìn qua xấu xí không nhìn nổi. Song có thể chắc chắn khẳng định...

Hải Thú giống như người.

Cô nàng nhìn nước da của Hải Thú, bất giác rùng mình một cái. Ký ức từ cái lần trước đi Võ Bảng hội, chứng kiến Ma Da được “sản xuất” dưới đáy sông cùng Tạ Thiên Hoa thoáng chốc trở về rõ mồn một.

Mà lúc này, dưới cầu.

Đám Hải Thú tựa hồ như bị ai bón thuốc k*ch th*ch, gào thét điên cuồng, giống như không cần mạng bò lên hai vách tường thành.

Mục tiêu trực chỉ Đỗ Thải Hà.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 288: Vạn Hoa Tề Phóng, Vạn Điểu Tề Minh, Đại Tranh Chi Thế


Trương Mặc Sênh vung tay, khống chế hai cây dao làm bếp phá không rời khỏi cây cầu, chém ngay đầu một con Hải Thú. Hàn khí từ lưỡi đao nhập thể, lập tức khiến máu của con Hải Thú xấu số đông cứng lại, không tài nào chảy ra ngoài. Chỉ thấy con quái trợn mắt lên, chới với quờ tay về phía Thiên Thê một cái, cuối cùng ngã xuống.

Đám Hải Thú chung quanh cũng chẳng vì đồng bọn chết đi mà đau buồn, trái lại việc nhẹ đường quen, đưa tay xé từng tảng thịt của cái xác bỏ vào miệng nhai nuốt.

Mà cảnh tượng này, ở dưới dòng sông cạn hiện giờ đâu đâu cũng có.

Trên cầu, trên đầu hai tường thành, ngoại trừ một số ít người từng đến Táng Thi Đinh lịch luyện, phần lớn thiên kiêu chưa từng thấy Hải Thú. Bây giờ chứng kiến cảnh tượng buồn nôn và ghê tởm bên dưới, người nào người nấy vô luận nam nữ đều bụm miệng, gắng gượng chịu đựng cảm giác buồn nôn.

Mà ngay cả những người từng chiến đấu với Hải Thú ở Táng Thi Đinh thì cũng rùng mình lạnh gáy một phen, len lén nuốt một ngụm nước bọt.

Phải biết, tuy là bọn hắn từng giao chiến với Hải Thú, song đều là một số đi lẻ đàn, đơn đả độc đấu. Cảnh tượng hàng ngàn hàng vạn Hải Thú cùng tràn lên như sóng, con sau xâu xé con trước như hiện giờ bọn hắn cũng là lần đầu tiên được trải nghiệm.

Trương Mặc Sênh sử dụng pháp quyết Nghênh Phong Bách Đao Trảm thu hồi hai con dao làm bếp, lắc đầu:

“Sư tỷ, có phải kiếp trước tỷ cấu kết với gian dương đại đạo, buôn lậu vũ khí, đẩy bà già xuống biển, cưỡng...”

Chưa nói hết câu, cái lườm dài cả dặm của Đỗ Thải Hà đã làm cậu chàng ho nấc lên một cái, vội vội vàng vàng nuốt nửa câu sau vừa học trong “đoạn ghi chép” của ông thầy vào bụng.

Tiểu Thực Thần ho khan, lại nói:

“Tỷ hẳn là kiếp trước cứu rỗi thương sinh, nếu không đám Hải Thú sao lại có vẻ căm hận sư tỷ như thế? Rốt cuộc là thù giết cha hay cướp vợ?”

“Sao bằng sư đệ được? Ngay cả Hải Thú trông thế kia cũng lôi ra làm xa xi mi được.”

Câu so sánh của cô nàng lập tức khiến Trương Mặc Sênh rùng mình một cái, giơ tay đầu hàng.

Đỗ Thải Hà thở dài, tuy ngoài miệng thì đấu khẩu với Tiểu Thực Thần vậy thôi, chứ thực ra chính cô nàng cũng rất lấy làm khó hiểu.

Cô nàng thân là thôn nữ, nước Sở lại nằm về phía tây Huyền Hoàng giới, thành thử từ bé đến lớn, Đỗ Thải Hà chưa từng ra đến biển. Cho dù là lúc lang thang khắp nơi tìm cách học thuật trừ quỷ báo thù, thì cô nàng cũng chưa có lúc nào léng phéng lại gần mấy châu thành ven biển cả.

Dù sao...

Đối với đại đa số người ở Huyền Hoàng giới mà nói, biển Phong Bạo là một chỗ cấm địa. Ngoài đó trừ đảo đá chó ăn đá gà ăn sỏi ra thì chính là lãnh địa của Hải Thú, của Long tộc.

Còn có Đảo Quỷ thần bí.

Tựu chung, kỳ ngộ chưa hẳn là không có, nhưng nguy hiểm tính mạng thì chắc chắn vô khối.

Mạnh như Phạt Hải Kiếm Thánh xông vào biển cũng phải quy kiếm quay về, lắc đầu nói biển Phong Bạo này hắn không công phá được.

Một con nhóc như Đỗ Thải Hà ra đó làm gì? Làm đồ ăn vặt à?

Thành thử...

Cô nàng dám khẳng định, mình và đám Hải Thú gần như là hai đường thẳng song song.

Thế nhưng...

Hải Thú bên dưới sông cạn hễ nhìn thấy cô nàng là bắt đầu nổi khùng nổi điên như có thù giết cha diệt tộc, gào thét xông tới.

Thành thử...

Thiên Thê nơi Đỗ Thải Hà đứng là chỗ Hải Thú xông tới đông nhất, cũng là chỗ mà bọn chúng vong mạng nhiều nhất.

Đám người Trương Mặc Sênh, Song Vô Song bạo phát thần thông, giết đến bải hoải tay chân mà Hải Thú bên dưới vẫn càn tới, cơ hồ vô cùng vô tận. Người của Kiếm Trì kết kiếm trận, trong tức thời phi kiếm bay đầy trời, kiếm khí tung hoành ngang dọc không ngừng trảm kích tứ phía. Quân sĩ Đại Việt thì kéo cung, cài tên, đầu mũi tên ngậm lấy một quả cầu chân khí to bằng nắm đấm. Mỗi một mũi tên phóng ra, nện trúng Hải Thú, lập tức tạo thành một vụ nổ khủng khiếp như trời đánh.

Ở một mặt tường khác.

Tứ Đại Tài Tử cũng đã tham chiến.

Ban Thục Cầm ngồi trên Thiên Thê, đưa tay gảy đàn, tức thì cầm âm thánh thót cất cao, vô số kiếm khí rơi xuống bên dưới dòng sông cạn. Quanh gã, không ít danh cơ, kỹ nữ chính đang vừa hát múa phụ họa, vừa không ngớt lời khen ngợi, xướng tụng “khẩu hiệu” của Ban Thục Cầm “cầm trung tàng kiếm, kiếm phát cầm thanh”.

Tề Thi Hồng mở miệng, hạo nhiên chính khí phát ra, nhiễm vào đầu bút. Chớp mắt, một bài chiến thi đã được hắn ngâm đọc xong đâu vào đấy. Có thể nhìn thấy từng chữ từng chữ lớn như phượng múa rồng bay được Tề Thi Hồng viết lên không khí thoáng chốc tan vào trời đất, chân khí cuồn cuộn dâng lên, hóa thành thiên quân vạn mã kim giáp sáng ngời, tế ngựa vung đao lao xuống chém giết với Hải Thú.

Sở Họa Vân cũng múa bút, nhanh chóng vẽ lên nào là cột rồng điện ngọc, nào là văn võ bá quan. Ngồi chính giữa là một nam tử trung niên, mặt không nhìn rõ ngũ quan, mình vận long bào, tay cầm ngọc tỷ, bá khí lẫm nhiên.

Chỉ thấy y đưa tay, giáng một ấn xuống, lập tức khiến một mảng lớn Hải Thú nhộn nhạo.

Mà Hoàng Chấp Kỳ cũng chẳng chịu tụt lại sau.

Gã chỉ nhẹ nhàng lắc mình, hạo nhiên chính khí trong thân ngưng tụ thành ba mươi tám đường tung hoành mảnh như sợi chỉ. Hai tay gã vung đến đâu, quân cờ đen, trắng bằng chân khí đánh vào trên bàn cờ đến đó. Cờ động, những đường tung – hoành cũng theo đó mà xà xuống khúc sông cạn bên dưới, thoáng chốc đã cắt chém lên người Hải Thú.

Máu Hải Thú đỏ lòm bắn tung lên, bám lấy các bức tường thành.

Bên phía núi Long Hổ cũng không chịu thua kém.

Lúc này, thiên kiêu trẻ tuổi của Long Hổ sơn đã chia làm hai nhóm, phân ra mà đứng trên tường thành. Một nhóm gồm hai mươi bốn ni cô mặc đạo bào đen, chia làm ba bát quái trận, lấy Kim Đồng làm trung tâm. Kim Đồng áo bào trắng bay múa phần phật, tay cầm kiếm gỗ đào, miệng lầm rầm đọc chú.

Nhóm còn lại gồm hai mươi ba đạo sĩ trẻ tuổi, mình mặc đạo bào trắng, lấy Ngọc Nữ làm trung tâm mà đứng, cũng bày trận bát quái như bên ni cô. Ngọc Nữ mình mặc áo đen, tay cầm gương bát quái, hợp với bảy người dư ra, tạo thành một bái quái nữa.

Chỉ thấy...

Trận này của Long Hổ sơn lấy âm dương tương sinh tương khắc làm chủ trận, lấy bái quái tiên thiên làm phụ trận, vừa đúng bảy mươi bảy bốn chín. Kim Đồng làm trận nhãn chính, Ngọc Nữ làm trận nhãn phụ, đối ứng với công pháp Lưỡng Nghi Thái Huyền Kinh, vô cùng huyền diệu.

Lại thấy, Kim Đồng vừa cắn tay, bôi máu lên lưỡi kiếm, chỉ một cái. Từ đầu mũi kiếm gỗ, một tia sét đỏ lòm như máu đánh ra, dội thẳng vào tấm kính bát quái đã chờ sẵn của Ngọc Nữ. Nàng ta giơ gương lên cao, bốn mươi bảy ni cô, đạo sĩ theo đó mà động thân, thi triển đạo thuật, chân khí theo đó cũng bị dẫn động. Tức khắc, một đòn Ngự Lôi của Kim Đồng theo đó mà một hóa tám, tám hóa sáu mươi bốn, cứ mỗi lần bát quái xoay một vòng, số lôi điện lại nhân lên tám lần.

Đến lúc sáu vòng tiên thiên bát quái chuyển động hoàn tất, trong kính bát quái của Ngọc Nữ đã có tổng cộng hơn ba vạn tia chớp, đạo nào đạo nấy đều có sức mạnh tương đương với một kích của Kim Đồng. Nàng ta nhẹ nhàng lật úp kính một cái, cả một trận mưa sấm sét trút xuống rãnh hẹp bên dưới Thiên Thê. Tiếng nổ rả rích không ngớt, mùi khét bốc lên nồng nặc, ánh sáng đỏ lòm chiếu rọi ra bốn phía chói lóa cả mắt. So với Tuệ Lăng Chân Nhân lúc sử dụng cấm thuật thì uy lực không bằng, nhưng thắng ở phạm vi rộng lớn vô cùng, kéo dài liên miên mãi mới dứt.

oOo

Bấy giờ...

Trên không trung vạn dặm, nằm lẫn trong chín tầng trời, ba bóng người một trước hai sau không ngừng di động, lấy tốc độ khủng khiếp dịch chuyển, nháy mắt đã vượt qua khoảng cách hàng chục dặm.

Lôi Tổn tay cầm ma đao, hết nghiêng bên trái lại né bên phải, vừa bỏ chạy vừa chửi mắng:

“Đồ ác ôn! Đồ không nói võ đức! Đồ không có đạo đức lý tưởng, lối sống văn hóa, thuần phong mỹ tục!!!”

Sau lưng lão, Thiên Tôn và Địa Tôn của Đế Mộ vừa đuổi sát, vừa nắm bàn tay lại thật chặt. Bọn chúng truy sát Lôi Tổn đến nay đã được mười ngày có dư, thế nhưng cái lão già vô sỉ này cứ thoắt ẩn thoắt hiện như chuột, hơn nữa cái miệng không khác gì cái đít vịt. Vừa mở ra là bắn liên thanh không ngớt một lố ô ngôn uế ngữ, có vần có điệu hơn cả người ta làm thơ hát khúc.

Mười ngày truy đuổi...

Cũng là mười ngày bị lão chửi cho xói máu đầu.

Miệng chửi, đương nhiên tay thỉnh thoảng cũng ngứa nghề, bổ một đao về phía sau, ép cho hai Đế Tôn không thể không chuyển hướng.

Hai người cảm thấy đánh nhau, lão không phải đối thủ của chúng.

Thế nhưng lão này trơn như trạch, nhanh như cá, cứ sơ sểnh một cái là lão xổng đi mất. Thiên Tôn và Địa Tôn đuổi theo lão hỏi tội chuyện Nghiêm Hàn, ép hỏi tung tích Mặc Ngạn Bác mà không tài nào bắt nổi.

Lôi Tổn lao đến Tuyết Hoa thành thì chợt dừng lại...

Ánh mắt lão nhìn về phía biển, đoạn quay về phía hai Đế Tôn đang đuổi sát tới, nhún vai:

“Muốn kinh động đám người ở dưới không?”

“Ngươi là cái thá gì, cũng dám...”

Hai chữ “uy h**p” chưa rời khỏi miệng, tên Địa Tôn đã rùng mình một cái, cúi đầu bước lui về phía sau. Rất hiển nhiên, chuyện Hải Thú đánh vào bờ đối với Đế Mộ mà nói cũng có một tác dụng, hoặc là lợi ích nào đấy, không muốn bị ảnh hưởng.

Ả Thiên Tôn chậm rãi bước lên một bước, lạnh giọng:

“Xem ra nhà ngươi biết rất nhiều. Chẳng nhẽ là cá lọt lưới từ thời đại đó?”

“Ông đây nói mình là một trong Bát Tướng, nhà ngươi tin không?”

Lôi Tổn nhướn mày, cười phá lên, gõ sống đao lên vai mình mấy cái.

Áo nghĩa của cửu cảnh đã chìm vào Vụ Hải, chỉ còn sót lại cái khung của năm cảnh giới đầu, như cái vỏ không. Trừ phi là cường giả từ trước Phản Thiên Chi Chiến, lĩnh hội được áo nghĩa của Lục Cảnh Trường Sinh, bằng không thì không thể nào sống lâu đến thế được.

Cho dù là Long tộc, Thanh Tước tộc tuổi thọ dài hơn người thường thì cũng chỉ được ba ngàn, năm ngàn năm mà thôi.

Về phần lão nói mình là một trong Bát Tướng...

Y thị chưa bao giờ để trong lòng.

Bởi lẽ, trong Phản Thiên Chi Chiến khi xưa, Bát Tướng vì cản một đòn của Thiên Đạo giúp Thế Tôn đã hình thần câu diệt tất cả. Lại thêm chuyện Nhân Quả Trường Hà biến mất, luân hồi tiêu tan, trên đời đã không còn chuyện kiếp sau kiếp trước nữa.

Lấy đâu ra Bát Tướng trên đời?

Thiên Tôn bình thản hỏi:

“Nhà ngươi câu giờ được mười ngày, thế đã đủ chưa?”

Lấy tốc độ của Lôi Tổn, lão đã có thể chạy đến đây từ sớm. Thế nhưng, lão lại cứ rầy rà dây dưa với hai người bọn chúng, rõ ràng là có mục đích khác. Mà ngoại trừ thời gian, Thiên Tôn không nghĩ ra nguyên do nào khác.

“Cho mười năm tám năm được không? Đế Tôn rộng lượng, lão đầu đây rất cảm kích.”

Lôi Tổn vừa nói, mặt lão vừa nhăn lại, hai bên khóe mắt nặn ra hai giọt nước mắt. Diễn quả thật rất đến nơi đến chốn, cực kỳ kính nghiệp, hơn mấy diễn viên bây giờ khóc còn phải dùng nước mắt giả nhiều.

“Mười năm tám năm? Nhà ngươi định chờ đại tranh chi thế hay sao?”

“Vạn hoa tề phóng, vạn điểu tề minh, đây là thời đại của người trẻ tuổi. Người của thời đại trước chúng ta cũng nên rút lui khỏi vũ đài, để đám thiếu niên có thiên hạ của mình. Nhà ngươi nói đúng không? Thiên Hoa tiểu thư?”

Lôi Tổn cười.

Ngay lúc lão nói bốn chữ “Thiên Hoa tiểu thư”, Thiên Tôn đã vung tay một cái, Thanh Sắc thần quang tràn ra bốn phía chẳng khác nào một dải cực quang, trùm lên nhấn chìm Lôi Tổn.

Chợt...

Đao khí trùng thiên, chém bức màn thanh quang đứt làm hai nửa.

Lôi Tổn nâng đao ngang mặt, y phục nửa thân trên đều đã bay biến cả, hai chòm ria mép của lão cũng trụi lủi. Ma đao Bất Ứng trong tay lão hừng hực lửa đen, lại nghe trên đao phát ra tiếng gì đì đùng như tiếng sấm nổ, như xa như gần, liên tiếp vang lên không ngớt. Lôi Tổn phun một miếng nước bọt xuống, mắng:

“Mẹ nó! Lão phu nuôi bao lâu mới được mấy sợi tóc, nhà ngươi đốt đi thì cũng thôi. Bây giờ ria mép của lão phu cũng không tha sao? Đã vậy... thù mới hận cũ, bây giờ tính luôn một lượt đi!”

Lão nâng đao, hét lớn một tiếng...

Sau đó, vụt.

Cong mông lên bỏ chạy.

Người ra đi đầu không ngoảnh lại, sau lưng hai Đế Tôn nghệt mặt ra như bò xem khẩu hiệu.

oOo

**Lời nhóm tác:** Tạm ngưng arc của Hà & Sênh, tuần sau lại về với Thanh. Nhân tiện thì thứ 2 tới là ngày nhà giáo Việt Nam nên chắc là đăng 4 chương thay vì 1 (2+0+1+1). Đồng thời, do bản thảo cũng tương đối ổn định lại, mà bọn mình cũng tạm thời vãn vãn việc rồi, nên từ tuần sau sẽ quay lại lịch đăng 4 chương vào thứ 2, 4, 6, CN nhá. Cũng định 5 chương như cũ, nhưng vì đề phòng đến lúc lại bận tiếp thì phía bọn mình cũng đỡ vội, cho nên bà con thông cảm!
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 289: Dược Thánh


Lại kể chuyện Bích Mặc tiên sinh của chúng ta...

Sau khi đến thành Hải Nha mượn kinh thư của thành chủ Hoàng Kim Thần, đồng thời bị tên đại đồ đệ bán đứng một phen, Nguyễn Đông Thanh lập tức ba chân bốn cẳng sử dụng truyền tống trận rời đi.

Có thể nói là ngựa không dừng vó, không kịp ngồi ấm mông đã lên đường.

Kể từ lúc xuyên không đến Huyền Hoàng giới đến giờ, chưa có lần nào mà Nguyễn Đông Thanh lại phải gấp gáp khẩn trương, bôn ba xuôi ngược, lội suối chèo đèo như lần này. Cho dù là cái lúc đến Mĩ Vị sơn trang cầu trù, hay là cái lần đi thành Cổ Long dự hội cũng không thể nào so sánh được.

Bởi nhẽ, Kim Thiền Tử đã giao hẹn luận đạo vào nửa tháng sau buổi tiếp thái tử Trường Không lần trước.

Thực lòng mà nói, nếu có thể, Nguyễn Đông Thanh chỉ muốn từ chối quách cho rảnh nợ.

Sau cái lần nổi máu gàn với Nho môn, vô tình khiến tiên hiền vãng tháng của người ta khóc như mưa rào trút nước lần trước, có thể nói Bích Mặc tiên sinh của chúng ta chẳng lúc nào được yên thân. Kẻ thì tìm đến mộ danh bái sư, người thì đập cửa nhà học yêu cầu tỉ thí. Thậm chí cũng không thiếu kẻ rình sẵn trên đường tập kích ám hại. Tuy đến giờ Nguyễn Đông Thanh vẫn chưa mất cọng tóc nào, song cũng khiến gã nơm nớp lo sợ, tinh thần uể oải chẳng thể nào tập trung nổi.

Thậm chí, Bích Mặc tiên sinh của chúng ta còn cảm thấy nếu chuyện này còn tiếp tục nữa thì gã đến thần kinh rung rinh, mắc chứng hoang tưởng mãn tính mất.

Đáng tiếc, người tính chẳng bằng trời tính.

Chẳng hiểu tên nào có cái mồm như cái đít vịt mà tin tức truyền nhân của chùa Long Hoa đòi thách đấu luận đạo trên đất Đại Việt lọt vào tai Lê Dực. Trư Đế nói thời Đại Việt lập quốc, Phật môn góp sức không nhỏ, thời thái tổ Đồ Thành còn là quốc giáo, phát triển rực rỡ mười phần, tự xưng là không thua kém gì Phật giáo phương bắc. Mà Long Hoa tự chính là thái sơn bắc đẩu, đại diện của Phật gia lục quốc, uy vọng chỉ hơn chứ chẳng kém các thánh địa như Kiếm Trì, Phần Thiên Cốc, hay lục đại thư viện của Nho môn chút nào.

Bây giờ có cao tăng chùa Long Hoa vượt non qua biển tìm đến “giao lưu”, nếu như Đại Việt không chịu nhận lời thì quá bằng thừa nhận là thua kém người ta. Thế là, ngay trong đêm đó, Trư Đế cho người truyền khẩu dụ “thay mặt Bích Mặc tiên sinh nhận lời”, hỏa tốc lao tới ải Quan Lâm. Lệnh vua khó trái, Bích Mặc tiên sinh của chúng ta chỉ đành bưng cái mặt méo xẹo nhăn hí như khỉ ăn ớt ra mà tiếp chỉ.

Thế vẫn chưa hết, lần này Nguyễn Đông Thanh lại còn gặp phải cái cảnh chó cắn áo rách nữa.

Khi hắn chạy sang nhờ Hồng Vân chép cho mấy quyển kinh Phật ở địa cầu nghiên cứu như mọi lần, thì nàng ta nói không giúp được cho gã. Nghe cô hàng xóm bảo kinh Phật toàn những câu tối nghĩa, cô nàng đọc chả hiểu gì cả, chép được nửa trang đã đau đầu buồn ngủ.

Bấy giờ, Nguyễn Đông Thanh mới nhớ đến cái điện thoại đã hết pin nằm chỏng chơ trong thư phòng. Gã trộm nghĩ, nếu như lúc này nó còn hoạt động, thì tự gã tải mấy bộ kinh Phật trên mạng về cũng được, chẳng cần đến Hồng Vân giúp đỡ. Thế nhưng bây giờ đang lúc rục rịch chiến tranh, hải thú có thể tràn lên bờ bất cứ lúc nào, Lâm Phương Dung cần phải cùng Kiếm Trì trấn thủ biên cương. Nguyễn Đông Thanh dẫu sao cũng là người có ăn có học, sao có thể tìm đến làm phiền Lôi Đình Kiếm Tổ trong quãng thời gian này được?

Bích Mặc tiên sinh của chúng ta hết cách, cực chẳng đã, chỉ đành bôn ba ngược xuôi hết từ nam lại đến bắc. Vừa là để mượn kinh sách về Phật môn của Huyền Hoàng giới, lại vừa tiện đường công tác hỏi thăm tìm cách làm một cái sạc điện thoại, theo cái kiểu “có bệnh thì vái tứ phương”, Hoàng Kim Thần nghe gã hỏi, lập tức giới thiệu hai anh em họ Hàn ở Ti Đằng doanh.

Đáng tiếc, hai người họ cũng đành bó tay, nói với tay nghề của họ thì không tài nào có thể chuốt một sợi đồng mảnh như sợi chỉ thế được.

Vốn là Nguyễn Đông Thanh định tiu nghỉu quay lại Quan Lâm, thì chợt nhận được truyền tin của Hồ Ma Huyền Nguyệt rằng ở thành Bạch Đế người ta vừa khai quật được một tấm bia đá, trên có chép kinh Phật cổ, rất có giá trị tham khảo. Đồng thời, y thị cũng bóng gió rằng ở thành Bạch Đế có một thiếu nữ rất giỏi cái nghề rèn đúc, thủ công. Nếu Bích Mặc tiên sinh không có việc gì khác, chi bằng đến thành Bạch Đế một chuyến thử vận may.

Nguyễn Đông Thanh nghe y thị nói vậy, bụng bảo dạ cũng hợp lý. Chuyến này lên đường vừa giải quyết công chuyện, lại vừa tiện đường thăm thú dân tình luôn. Dù sao sắp tới đây gã cũng sẽ đến thành Bạch Đế nhậm chức một thời gian, giờ lấy thân phận khách phương xa đến điều tra quan sát cũng tốt.

Vì một nguyên nhân nào đó, mặc dù dân chúng Bạch Đế và Hải Nha ghét nhau như chó với mèo, song lại có một truyền tống trận nối thẳng hai thành với nhau, thế nên chuyện di chuyển cũng sẽ không tốn bao nhiêu thời gian.

Thế là, Bích Mặc tiên sinh của chúng ta lập tức khăn gói quả mướp sử dụng truyền tống trận đến thẳng thành Bạch Đế.

oOo

Bấy giờ, ải Quan Lâm...

Hồ Ma Huyền Nguyệt bình thản đặt ấn thành chủ của mình xuống, phất tay ra hiệu cho mấy người lính hầu lui xuống. Những tên này đi theo y thị đã nhiều năm, giỏi nắm bắt ý chủ. Thành thử, không đợi Hồ Ma Huyền Nguyệt phải có thêm bất cứ một hành động nào, cả đám đã lục tục vén tấm liếp che cửa lều lên, nhẹ nhàng rút khỏi soái trướng.

Còn lại một mình, thành chủ thành Bạch Đế mới quay sang, nhìn lão già đang đứng nhởn nhơ trong lều, nói:

“Mộc gia chủ đêm hôm khuya khoắt đến tìm tiểu nữ thế này có phải là có hơi không hợp lễ nghi hay không?”

Mộc Thanh Hiên nhăn răng cười, nói:

“Hồ Ma thành chủ cần gì phải giả vờ với lão phu nữa? Ban nãy ai là người đã nhờ thành chủ dụ Bích Mặc tiên sinh đến thành Bạch Đế, hai ta đều đã tỏ tường. Có trách thì cũng chỉ trách tên Nguyễn Đông Thanh này đụng vào vảy ngược của Đế Mộ thôi.”

“Ồ? Vậy đường chủ đến tìm tiểu nữ là muốn làm gì? Uy h**p ư?”

Hồ Ma Huyền Nguyệt nhíu mày, từ từ đưa tay đặt lên túi chứa đồ, tinh thần căng như dây đàn. Bấy giờ, chỉ cần Mộc Thanh Hiên có bất cứ một động tĩnh nào khả nghi, y thị sẽ lập tức tuốt khí giới, chỉ trong vòng một hơi thở, chắc chắn giữa trán lão sẽ có thêm một lỗ máu. Song, ngay cả khi trước mặt chỉ là một kẻ tu vi tam cảnh, y thị vẫn chẳng thể nào bình tĩnh. Về lý mà nói, đối thủ chỉ là một lão già tu vi tam cảnh, lại học y thuật, sức chiến đấu chẳng có bao nhiêu. Hồ Ma Huyền Nguyệt lúc này lẽ ra đã đứng ở thế bất bại mà nhìn xuống, đáng nhẽ phải là kẻ nắm đằng chuôi.

Thế nhưng, trực giác của y thị lại mách bảo rằng đường chủ của Tế Thế đường không hề đơn giản như vẻ bề ngoài. Một khi Hồ Ma Huyền Nguyệt mất cảnh giác, chắc chắn sẽ phải ăn quả đắng.

Mộc Thanh Hiên cười hề hề, nói:

“Không phải, không phải, lão đầu đến đây là muốn ngỏ lời muốn phân ưu giúp đại nhân. Hi vọng thành chủ có thể làm trung gian nói khéo cho mấy lời, nếu được Dược Thánh đoái hoài, Mộc mỗ nguyện làm thân trâu ngựa đáp đền ơn nghĩa.”

Hồ Ma Huyền Nguyệt nghe đến đoạn này cũng đã lờ mờ đoán được ý của lão. Y thị nhìn tay đường chủ của Tế Thế đường một cái, nghiêng đầu, hỏi:

“Không biết đường chủ định phân ưu với Dược Thánh đại nhân như thế nào?”

“Mộc mỗ tài hèn sức mọn, so với thành chủ đây chẳng là cái thá gì. Thế nhưng ở cái đất Quan Lâm này, tại hạ cũng gọi là có chút ảnh hưởng. Chỉ cần thành chủ chịu chuyển lời giúp, Mộc mỗ dám cam đoan trong vòng một tháng toàn bộ Quan Lâm này không có bóng một dược đồng, chớ nói chi là thầy thuốc.”

Lão dừng lại một chốc, giống như chột dạ, đoạn lại gãi gáy, cười:

“Mộc mỗ thấp cổ bé họng, không có lệnh của Dược Thánh đại nhân, thực tình là không dám đối đầu với một người tầm cỡ như Bích Mặc tiên sinh. Kính mong thành chủ hiểu cho cái khó khăn của tại hạ.”

“Chuyện ấy thì đã hẳn. Đừng nói là Mộc lão, cho dù là tiểu nữ hay hoàng thượng cũng đâu dám chen vào tranh chấp của Bích Mặc tiên sinh và Đế Mộ?”

Hồ Ma Huyền Nguyệt cười nhạt, trong lòng thì bắt đầu tính toán thiệt hơn. Giữa Bích Mặc tiên sinh cực kỳ thần bí và thành quả hơn một năm khổ công lao lực của người được mệnh danh là y đạo độc bộ thiên hạ ở Huyền Hoàng giới thì bên nào có cơ hội chiến thắng cao hơn.

Kỳ thực, không chỉ y thị, lúc này trong bóng tối có không ít cao tầng âm thầm quan sát cuộc giao đấu giữa Đế Mộ và Bích Mặc tiên sinh.

Hơn nữa, Hồ Ma Huyền Nguyệt cũng biết không thiếu người mong chờ phần thắng nằm về phía Nguyễn Đông Thanh.

Bởi lẽ, chỉ khi Bích Mặc tiên sinh chiến thắng được Đế Mộ, bọn họ mới được rảnh tay thôn tính càng nhiều thế lực yếu đuối, cắn nuốt càng nhiều tài nguyên hơn.

Nhìn cả Huyền Hoàng giới, không phải ai cũng tâm phục khẩu phục sự thống trị của Đế Mộ. Chẳng qua mười chín Đế Tôn chiến lực thông huyền, nhìn khắp cả thiên hạ có lẽ chỉ có đám điên Chiến Hổ mới dám công nhiên trái ý Đế Mộ.

Ít nhất…

Hồ Ma Huyền Nguyệt dám khẳng định, Lê Dực là một trong số đó. Nếu không phải Đế Mộ như thanh kiếm treo trên đầu không cho phép xuất binh, thì có lẽ y sớm đã phái Lý Huyền Thiên vượt qua biển trúc rồi.

Cái Đế Mộ muốn là một thế cục cân bằng, ổn định.

Các thế lực lớn lại thấy bàn cờ bảy nước hiện giờ quá mức tù túng, cần phải khuấy đục ao nước này lên, có như vậy mới dễ bề khuếch trương, mở rộng.

Mà Bích Mặc tiên sinh chính là hòn đá, là cái gậy khuấy nước chọc trời mà vô số thế lực, cao tầng trông cậy vào.

Chờ hơn một năm ròng rã…

Cuối cùng y và Đế Mộ cũng vạch mặt.

Số chương còn lại hôm nay: 3 chương chính truyện.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 290: Lần Đầu Đến Thành Bạch Đế


Lại kể chuyện Nguyễn Đông Thanh sử dụng truyền tống trận, chỉ tốn vài hơi thở đã từ Hải Nha vượt qua vạn dặm đến thành Bạch Đế.

Kể ra, đây là lần đầu tiên Bích Mặc tiên sinh đến châu thủ của châu Ngọc Lân. Nhìn khắp nơi, người người tấp nập lại qua, buôn bán nói cười, đàn ca sáo nhạc.

Phố lớn thì giăng đèn, đường nhỏ thì kết hoa, không khí thịnh vượng hơn ải Quan Lâm không biết bao nhiêu mà kể.

Nguyễn Đông Thanh nhìn một lượt khắp nơi, hơi nhíu mày lại.

Thành Bạch Đế này càng thái bình, gã lại càng cảm thấy quái dị.

Hiện tại đang lúc Hải Thú áp bờ, lúc nào cũng có thể tràn lên công kích. Thời gian gần đây Nguyễn Đông Thanh thường xuyên tiếp đón sứ đoàn các nước, cũng nắm được lần tràn bờ này của đám Hải Thú có cả vương tộc tham gia, quy mô có thể so với trận chiến ba ngàn năm trước.

Bích Mặc tiên sinh chỉ thấy trong lòng rối bời. Gã không rõ cảnh thái bình trước mắt là một màn kịch được đám cựu quan bày ra để cho mình xem, hay thực sự dân thành Bạch Đế có thể bình chân như vại trong cái cảnh lửa sém lông mày như vậy. Hắn cũng chẳng rõ, rốt cuộc giữa hai khả năng đó thì cái nào hỏng bét hơn.

Nghĩ vẩn vơ một thoáng, chợt cái bụng của Nguyễn Đông Thanh bắt đầu không nghe lời chủ, biểu tình dữ dội. Lúc này, Bích Mặc tiên sinh mới chợt nhớ ra hôm nay gã vội vàng lên đường, còn chưa có gì bỏ vào bụng.

Đúng là khi trước, nếu không có việc gì quan trọng thì gã thường ngủ trương xác đến lúc mặt trời chiếu đến mông mới lục tục bò dậy. Hơn nữa trước đây cổ viện có chút giật gấu vá vai, thành thử Bích Mặc tiên sinh của chúng ta cũng thường bỏ luôn bữa sáng cho tiết kiệm.

Thế nhưng kể từ lúc nhận Trương Mặc Sênh làm đệ tử, nhịp sinh hoạt của gã cơ hồ bị đảo lộn hoàn toàn. Cho dù đang nằm mơ giấc mộng đẹp đến mức nào đi chăng nữa thì cứ đúng đầu giờ Thìn (1) là gã mò dậy, ăn sáng cái đã rồi ngủ tiếp thì ngủ mà vào Quan Lâm đi dạy thì vào. Có thể nói, cái mồm của Nguyễn Đông Thanh đã bị thằng đệ tử chiều hư, không thể trở về như trước đây được nữa.

(1: giờ Thìn theo cách tính giờ hiện đại là 7-9h sáng)

Bích Mặc tiên sinh tặc lưỡi một cái, thầm nghĩ:

“Có thực mới vực được đạo. Cứ kiếm cái gì bỏ bụng trước rồi tính.”

oOo

Truyền tống trận mà Bích Mặc tiên sinh sử dụng để đến thành Bạch Đế được đặt trên một cái đài cao, bốn phía thoáng đãng không một chỗ che chắn, thành thử có thể phóng ánh mắt nhìn khắp toàn thành. Bên dưới đài là một quảng trường rộng bao có tường cao che chắn, nối tám tòa tháp thủ thành lại thành một hình bát giác. Nếu có kẻ dám lẻn vào thành qua truyền tống trận, thì chưa cần đến một hơi thở, trận mưa tên từ tám ngọn tháp sẽ biến chúng thành cái tổ ong ngay.

Hôm nay, không rõ vì duyên cớ gì mà toàn bộ truyền tống đài trừ Nguyễn Đông Thanh ra chẳng có lấy một bóng người, muốn hỏi đường đi lối lại trong thành cũng không biết phải hỏi ai. May sao, truyền tống trận nói cho cùng thì cũng không phải thứ gì xa xỉ, người bình thường sử dụng rất nhiều, thành thử truyền tống đài nơi gã đang đặt chân cũng có cầu thang bộ cho phàm nhân đi lại. Nếu không, có lẽ hiện tại Bích Mặc tiên sinh chỉ có cách ngồi khóc chờ người đưa xuống.

Mất chừng năm phút đồng hồ, Nguyễn Đông Thanh cũng đã xuống được tới mặt đất, băng qua khoảng sân rộng đến trước một cánh cổng lớn, trên đỉnh tạc một cái đầu quái thú bằng đá, chẳng phải chim thú cũng không phải bò sát, chẳng hiểu là giống loài gì. Khác với những nơi mà gã từng ghé thăm, truyền tống đài ở Bạch Đế thành hoàn toàn không có lính canh bảo vệ. Nguyễn Đông Thanh vừa lại gần cánh cổng, đầu con quái thú bằng đá đã mở trừng hai mắt ra liếc gã một cái. Lập tức, toàn thân gã cứng đờ, sau lưng toát lên một cơn ớn lạnh cứ như thể bị ai dí súng vào thái dương.

Cũng may, cảm giác quái lạ ấy chỉ kéo dài đâu đấy mấy hơi thở là hết. Bích Mặc tiên sinh của chúng ta chỉ vừa kịp vuốt ngực, thở phào ra một hơi nhẹ nhõm thì cánh cổng lớn trước mặt đã chầm chậm dịch sang một bên, nhường lối cho gã. Sau cánh cổng lớn là một con đường rộng, bẳng phẳng trải ngút tầm mắt, lát bằng những viên gạch sần sùi đen nhánh chỉ to bằng bàn tay. Hai bên là các dãy nhà lùn thấp lè tè, lợp bằng mái tranh, thậm chí còn chẳng đủ cho một người cao lớn đứng thẳng.

Nguyễn Đông Thanh thấy con đường có vị trí đắc địa ngay sát truyền tống trận thế này mà lại không có lấy một bóng người, hoàn toàn khác với cảnh sắc phồn hoa gã nhìn thấy khi đứng trên đỉnh truyền tống đài. Điều này càng khiến Bích Mặc tiên sinh của chúng ta cảm thấy chuyến đi đến thành Bạch Đế lần này có hơi khả nghi, hoàn toàn không giống với những gì đám đệ tử từng kể.

Tay nắm chặt lệnh bài của Võ Hoàng, gã nhắm mắt lại, cố gắng hồi tưởng lại những gì đã được thấy khi đứng trên đài cao nhìn xuống. Trong đầu Nguyễn Đông Thanh hiện lên một quảng trường lớn, chính giữa là một cây bạch đàn cổ thụ xum xuê. Khắp cả thành Bạch Đế, dường như nơi ấy chính là chốn náo nhiệt nhất.

Nghĩ là làm, gã rảo bước trên con đường gạch đen, nhắm thẳng đến cái cây ở đằng xa.

Con đường trải đá đen dẫn đến một cái mương rộng chừng bốn trượng, nước trong vắt thấy được cả đáy, hững hờ chảy từ thành tây về phía thành đông. Từ “thượng nguồn”, cơ man chẳng biết bao nhiêu quả nhìn vừa giống lê, vừa giống quýt trôi theo mương nước, mùi thơm cay the the phả ra thơm ngào ngạt.

Lại thấy có khoảng mấy chục con vật nhìn như con chuột lang nước, nhưng chỉ to cỡ bàn tay người lớn, kết đàn đuổi theo đám quả cây đang trôi giữa dòng nước. Bọn này có vẻ rất dạn người, hẳn là ở thành Bạch Đế này chúng chẳng bị ai lùng bắt đánh bẫy cả. Nguyễn Đông Thanh lại gần mà đám này cứ tròn xoe mắt ra nhìn, mấy con non chỉ to cỡ ba hai ngón tay còn ngúng nguẩy leo lên bờ, lúc lắc cái đuôi ngắn cũn chạy đến bên cạnh, há miệng kêu lên mấy tiếng “cách cách”, đứa thì hít hít ngửi ngửi bàn chân gã, con thì chạy lại cọ cọ vào mắt cá chân.

Nguyễn Đông Thanh nhón chân, tránh đám chuột lạ, bước về phía dòng nước. Gã thấy con mương này không quá rộng, nước lại có vẻ nông, nên định xắn quần lội nước đi về phía cây bạch đàn như trong dự kiến thì chợt nghe phía tây có người gọi váng cả lên:

“Này! Này! Vị đại nhân kia, chờ một chút đã!”

Nguyễn Đông Thanh giật mình, ngừng chân, ngẩng đầu nhìn về phía tiếng nói. Chỉ thấy từ “thượng nguồn” có một ông lão mặc áo vải, trên đầu đội một cái lá sen to thay cho nón, chống cây sào tre đẩy một con thuyền thúng về phía gã.

Bích Mặc tiên sinh cười, hỏi:

“Chào cụ, không biết cụ có gì dạy bảo?”

Thực ra, đến tận bây giờ, Nguyễn Đông Thanh vẫn chưa quen cái việc bị người ta gọi là “đại nhân”, rồi cứ một câu thảo dân hai câu kẻ hèn để mà tự xưng cho lắm. Dù sao, Bích Mặc tiên sinh cũng là người hiện đại, cho dù có đi làm công ăn lương thì với sếp cũng gọi nhau bằng anh em, chú cháu mà thôi. Thế nhưng, ra làm quan cũng đã được một thời gian, nhất là làm quan tiếp sứ còn được tiếp xúc với đủ hạng người, gã càng hiểu rõ thêm sự phân hóa giai cấp ở Huyền Hoàng giới nói chung và Đại Việt nói riêng sâm nghiêm đến mức nào. Cái chuyện đối với gã là khó chịu, là cấn cấn thì đối với trăm họ nơi đây lại hết sức bình thường, hoàn toàn tự nhiên.

Hiện tại, gã đang mặc áo quan, tự dưng đòi ông lão xưng hô với mình như người thường có khi còn khiến cụ “thụ sủng nhược kinh”, rồi lại càng mất tự nhiên hơn.

Ông cụ xua tay:

“Thảo dân học được mấy chữ bẻ đôi nào đâu, sao dám dạy bảo đại nhân? Chẳng qua là thấy đại nhân hình như từ xa đến đây, không rõ chuyện của thành Bạch Đế, nên vội vàng đến nhắc nhở. Sông này gọi là Tiểu Ôn Hà, nước ấm hơn sông bình thường mấy lần.

Nhiều người không biết lội qua sông, vừa đi bước đầu tiên đã giật mình ngã nhào, ướt hết cả quần áo trên người. Lão thấy hành lý của đại nhân gọn nhẹ như vậy, sợ là không mang xiêm áo để thay, nếu như mặc áo ướt vào thành thì coi sao được?”

Nguyễn Đông Thanh bấy giờ mới “à” một tiếng, chặc lưỡi, bụng bảo dạ rằng khó trách đứng bên bờ mương nước đã ngửi được mùi vỏ quýt thơm lừng. Gã nhìn ông cụ chèo thuyền, cười:

“Cám ơn cụ đã có lòng. Không biết có thể phiền cụ cho quá giang một đoạn được không?”

“Đại nhân khách khí quá. Đây là vinh dự của thảo dân. Tiểu nhân còn đang sợ đại nhân chê thuyền cũ chật hẹp đây.”

Ông cụ lái thuyền vừa đáp, vừa tấp lại gần bờ, giang tay đỡ Nguyễn Đông Thanh lên thuyền, chờ gã ngồi vững rồi mới bắt đầu chèo dọc theo mương nước, xuôi về phía đông. Bích Mặc tiên sinh của chúng ta thấy lão không sang bờ bắc luôn, lấy làm ngạc nhiên, vội hỏi:

“Này cụ, sao không sang bờ bên kia luôn cho tiện?”

Ông cụ chèo thuyền đáp:

“Đại nhân chắc là lần đầu nhận công văn đến đây, hoặc là mới đến thành Bạch Đế nhậm chức nên có điều không biết rồi. Chỗ Ải Thị phía bắc thành này là nơi khi xưa thái tổ xin của Bạch Đế làm chỗ dừng chân, xây dựng thành lũy, chống cự Bạo Long. Sau này thành chủ các đời đều lấy đó làm trọng địa quân sự, cấm người thường lai vãng. Nếu không phải lão đây sinh được thằng con trai tốt, có quân công, thì cũng chẳng dám lại gần chỗ đó mà đón đại nhân đâu.”

Lão kể đến đây thì hất đầu, nhìn về phía xa:

“Trong thành thực ra còn một truyền tống trận nữa. Bình thường người ta tới lui thành Bạch Đế này đều sử dụng cái bên đó cả.

“Trừ khi là có thánh chỉ của hoàng thượng, tín vật của thành chủ, hoặc là quan ấn của ba vị Chưởng Quan, bằng không tiến vào đấy thì chỉ có đi mà không có về. Ở phía đông có một bến nước, lên ở đấy lão yên tâm hơn.”

Số chương còn lại hôm nay: 2 chương chính truyện.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 291: Chưởng Bút Quan – Hoắc Kim Trọng


Nghe ông cụ nói, Nguyễn Đông Thanh mới biết mình vừa thoát được một cái họa sát thân. Gã thở phào một hơi, vừa định đưa tay lau mồ hôi trán thì cái bụng không có gia giáo lại bắt đầu kêu gào ầm ĩ. Ông cụ nghe vậy, bật cười lên, nói:

“Xem ra đại nhân bận trăm công nghìn việc, từ sáng đến giờ chưa được miếng nào vào bụng đây mà.”

“Đã để cụ cười chê rồi. Tại hạ là khách phương xa, không thạo đường đi lối lại. Cụ là thổ địa ở đây, không biết có thể giới thiệu một hai quán ruột được chăng?”

Nguyễn Đông Thanh hắng giọng ho khan, cố tình chuyển chủ đề sang chuyện khác. Ông cụ lái đò làm người cũng xởi lởi không so đo tính toán gì, lập tức hồ hởi:

“Quán ăn ở thành Bạch Đế này thì nhiều, nhưng không chỗ nào qua được Hoài Âm tửu quán do chính Hồ Ma thành chủ mở. Đại nhân đến chỗ Bạch Đế thì tìm đường Hoài Âm, đi thêm một đoạn là đến. Quán là một tòa lầu tám tầng, rộng đến ba thửa ruộng, biển đề chữ vàng, không lẫn đi đâu được đâu.”

Bích Mặc tiên sinh của chúng ta nghe vậy, mới hỏi:

“Quán Hoài Âm này nghe chừng có vẻ là nơi tiêu tiền như nước, không biết cụ đã vào lần nào chưa?”

“Bẩm đại nhân, thảo dân làm gì có cái phước ấy? Chẳng qua là nghe người ta nói mà thôi. Còn nếu quan lớn muốn biết một quán mà đám dân đen dân đỏ như lão thường lui tới thì đi cứ đến ngay dưới tán cây bạch đàn tìm quán nước của Chu thị vợ anh Hoàng Lâm hỏi quán Phẩm Nhân Gian người ta chỉ cho. Quán bình dân, không thuê được chỗ đắc địa, hơi khó tìm. Quan cứ bảo nhà Chu hàng nước là có lão Đăng lái đò giới thiệu là được.”

oOo

Nguyễn Đông Thanh bái biệt lão Đăng, leo tót lên bờ, đoạn theo chỉ dẫn của lão mà đi. Từ bến sông phía đông chỗ lão lái đò tấp cái thuyền thúng vào đến cây bạch đàn cổ thụ không xa lắm, gã đi chỉ hết thời gian uống xong chén trà là đến.

Rời khỏi Ải Thị rồi, nhân khí và sự phồn hoa của thành Bạch Đế mới hoàn toàn trải rộng trước mắt Bích Mặc tiên sinh. Gã hòa lẫn vào dòng người, nghe tiếng người ta cười nói bông đùa, bàn nhau sang khu chợ khác mua ôn quả thả xuống Tiểu Ôn Hà, sau đó lên núi Tuyên ở thành nam trảy hội Thiên Trì, hát đối giao duyên mà không khỏi lấy làm tò mò.

“Hay hôm nay là lễ hội gì đấy ở thành Bạch Đế nên mới nô nức náo nhiệt hơn thường ngày?”

Nguyễn Đông Thanh vừa đi, vừa lẩm bẩm nghĩ bụng.

Chẳng mấy chốc, quán nước con con nằm dưới tán cây bạch đàn đã xuất hiện trong tầm mắt. Có lẽ giờ này dân chúng đang đi chơi hội hè, chẳng mấy ai ghé lại uống nước, nên mặc dù quán nằm ở chỗ có thể nói là đắc địa bậc nhất cả thành thì hiện giờ cũng chẳng có mấy người khách. Một thiếu phụ tuổi chừng ngoài ba mươi, tóc vấn đuôi gà chính đang phe phẩy cái quạt tre đuổi ruồi, tay cầm chén trà lên uống, miệng thì cứ tóp ta tóp tép chẳng rõ là đang nhai thứ gì. Mắt y thị lơ đãng hết nhìn trời mây lại ngó lên tàng cây, chẳng rõ là muốn học thuật nhìn mây đoán mệnh hay đếm lá trên cành.

Nguyễn Đông Thanh bước lại gần, kéo ghế ngồi xuống, y thị còn chưa có phản ứng gì. Gã đành phải hắng giọng, gọi:

“Bà chủ...”

Chu Diễm Quỳnh nghe vậy, thoáng giật mình, ngẩng đầu lên. Vừa thấy có khách, sắc mặt y thị thoắt cái đã quay ngoắt một trăm tám mươi độ. Cái vẻ lơ đãng và lười biếng ban nãy thoắt cái đã bay biến chẳng còn chút tăm hơi nào, thay vào đó là một nụ cười ngọt vào và ánh mắt sáng long lanh đầy vẻ niềm nở:

“Chu choa, tiểu nữ cứ tự hỏi vì sao cả tháng nay vắng khách như vậy, té ra phước phận cả ngày đều dồn hết vào hôm nay được nghênh đón quan lớn hạ cố vào quán. Mời đại nhân uống nước. Không rõ ngài có gì muốn biết ạ?”

Nguyễn Đông Thanh thấy bà cô hàng nước này lật mặt nhanh như lật bánh tráng thì cũng hơi bị bất ngờ, cả người ngẩn tò te ra một thoáng mới hoàn hồn. Vốn là gã còn định tìm lời dễ nghe để hỏi đường, song Chu Diễm Quỳnh đã đi tắt đón đầu, chủ động lên tiếng mời mọc giới thiệu, không để khách hàng là gã phải lên tiếng. Cái sự chuyên nghiệp và biết việc đến đáng sợ này hiển nhiên cần phải là người có EQ rất cao, lại thêm kinh nghiệm nhìn người nhiều năm mới có thể đúc kết ra được.

Bích Mặc tiên sinh của chúng ta cũng chỉ có thể trố mắt ra nhìn, tự biết cả đời cũng chưa chắc đã có thể đạt đến cảnh giới này của Chu Diễm Quỳnh.

Nguyễn Đông Thanh hắng giọng, nói:

“Bà chủ khéo nhìn người quá. Quả thật tại hạ có mấy chuyện cần hỏi thăm.”

“Mời quan lớn dùng trà. Quan lớn cứ hỏi đi ạ.”

Gã chưa nói dứt lời thì Chu Diễm Quỳnh đã tay rót nước, tay đưa trầu, thoắt cái trước mặt Bích Mặc tiên sinh đã có một chén trà xanh còn bốc khói nghi ngút và một cơi trầu đỏ au, bên trong là năm miếng trầu cánh phượng được xếp ngay ngắn quanh một hũ vôi con con.

Nguyễn Đông Thanh gõ ngón tay lên bàn một cái, hỏi:

“Không biết hôm nay thành ta có ngày lễ hội gì mà đông vui đến vậy?”

“Đại nhân chắc từ xa đến nên không biết, hôm nay là ngày hội Thiên Trì. Năm xưa lúc thái tổ Đồ Thành làm lễ cưới với quốc mẫu Âu Dương Thiến đã xa giá đến đây, nhờ Bạch Đế làm chủ hôn chứng giám cho mối duyên của hai người. Thành ra cứ ngày này hàng năm, thành chủ và các vị quan chưởng ấn đều có tục lên núi Tuyên dâng hương cho quốc tổ, quốc mẫu. Dân chúng thì mua ôn quả thả xuống Tiểu Ôn Hà, coi đấy là đại diện cho đoàn thuyền của thái tổ vượt biển vào nam khi xưa.”

Y thị ngừng một chốc, cười:

“Đại nhân cứ uống chén trà đi kẻo nguội, từ từ dân nữ sẽ kể hết.”

Từ nãy đến giờ do mải nghe kể chuyện, thế nên Nguyễn Đông Thanh vẫn không hề động tay động chân vào mấy thứ đặt trên bàn. Gã cười cười, gãi đầu, tỏ vẻ áy náy:

“Thất lễ rồi.”

Chu Diễm Quỳnh gật gù, lại tiếp:

“Hội Thiên Trì là dịp trai gái gặp nhau, đối đáp giao duyên, cũng giống như ngày lễ Quy Điền vậy. Chẳng qua một đằng là cả bảy nước cùng tổ chức, một đằng thì chỉ riêng mỗi thành Bạch Đế mới có thôi. Không biết đại nhân còn...”

Y thị còn chưa nói được hết câu, thì bỗng nghe phía xa có tiếng ai kêu cứu bai bải vọng tới.

“Nhị tẩu! Nhị tẩu! Cứu em với!”

Nguyễn Đông Thanh cơ hồ có thể nhìn thấy một đám gân xanh từ từ nổi lên ở trán cô chủ quán nước. Hai thái dương của y thị giật giật mấy cái, tròng mắt co rụt lại, nụ cười đang nở trên môi thoáng chốc đã trở nên cứng ngắc. Chu Diễm Quỳnh hít sâu một hơi, cười khổ:

“Để quan lớn thấy được chuyện xấu trong nhà rồi, thật là ngại quá...”

Nguyễn Đông Thanh còn chưa kịp đáp, thì từ đám đông, một thiếu nữ đã tách ra khỏi đoàn người đang trảy hội, hớt hải chạy về phía quán nước của Chu Diễm Quỳnh. Cô nàng dáng dấp nhỏ nhắn, thấp hơn Đỗ Thải Hà và Tạ Thiên Hoa cả một cái đầu, thậm chí so với Long U cũng chỉ cao hơn độ một hai đốt ngón tay mà thôi. Có lẽ cũng vì thế mà cô nàng có thể chen lấn len lỏi trong đám đông lại không xô đẩy ai hay làm người khác khó chịu.

Mái tóc màu nâu hạt dẻ được buộc thành hai cái đuôi ngựa thả thõng trên vai, cái tạp dề lấm lem đất bùn trước ngực bây giờ cũng xộc xà xộc xệch.

Bà chủ hàng nước lắc đầu, nghiêm mặt hỏi:

“Lần này lại gây ra cái họa gì nữa?”

“Em... em thề không phải lỗi tại em. Nhị tẩu phải ra mặt nói lời công bằng đấy.”

Thiếu nữ nọ vừa thanh minh, vừa ngồi xuống ngay hàng ghế của Nguyễn Đông Thanh, vơ chén trà uống cạn, lại nhón một miếng trầu bỏ vào mồm nhai rạo rạo mấy cái, Bích Mặc tiên sinh của chúng ta ngồi một bên, thấy cô bé này mặt mũi ráo hoảnh, ánh mắt tỉnh rụi, cứ tự nhiên như ruồi thì không khỏi ngỡ ngàng.

Dưới sự ảnh hưởng của Nho đạo, Huyền Hoàng giới quả thực rất hiếm thấy có một thiếu nữ nào mà có ngôn hành cử chỉ như cô bé trước mặt.

Bấy giờ...

Chu Diễm Quỳnh khép tay thành thủ đao, táng một cú ngay giữa đỉnh đầu thiếu nữ, làm cô nhóc ôm đầu kêu oai oái. Bà chủ hàng nước nghiến răng trèo trẹo, nói:

“Đã bảo bao nhiêu lần rồi! Con gái con đứa thì ý tứ một chút.”

“Nhưng...”

“Cô nhóc” này không phải ai khác, chính là Hàn Thu Thủy – em kết nghĩa của Trường Mệnh Trùng Hạ Hầu Duyệt, cũng chính là cô thợ thủ công mà Hồ Ma Huyền Nguyệt muốn giới thiệu cho Nguyễn Đông Thanh.

Chuyện còn chưa kịp rõ đầu cua tai nheo thế nào, đằng xa đã có tiếng quát tháo chửi rủa vọng lại.

“Chu Diễm Quỳnh! Khôn hồn thì đừng có mà bao che cho nó! Giao con khốn đó ra đây!”

Chỉ thấy, từ xa có một toán lính lác tay cầm giáo dài, mình mặc giáp sắt rầm rập chạy tới. Dẫn đầu là một trung niên mặt chữ quốc, mày rậm mắt to, râu dài tỉa gọn, một tay cầm quạt xếp, bên hông đeo một cây bút ngọc. Y vừa tới đã gõ quạt vào lòng bàn tay mấy cái, nói:

“Chu Diễm Quỳnh à Chu Diễm Quỳnh. Cái tủ lạnh bản quan yêu cầu các người làm bỗng nhiên vỡ tung, làm hạ nhân trong phủ ta bị thương không nhẹ, thực là không coi Hoắc Kim Trọng này ra gì. Chuyện này có phải nên có một câu trả lời hay không?”

“Đại nhân, chuyện này...”

Chu Diễm Quỳnh bặm môi, mồ hôi lạnh bắt đầu tứa ra đầy đầu.

Hàn Thu Thủy nghe thế, lập tức đập bàn, quát, vô tình để lộ ra hai cái răng mèo:

“Này! Không phải làm chức Chưởng Bút quan là có thể nói gì thì nói nhé! Đừng có mà ngậm máu phun người cái đồ mặt cuốc râu bàn chải!”

“Còn dám nhục mạ bản quan à? Người đâu! Bắt!”

Trung niên tự xưng là Hoắc Kim Trọng phẩy tay một cái, ra hiệu cho đám lính đằng sau động thủ. Hàn Thu Thủy nhìn trái nhìn phải một lúc, nghiến răng một cái, mó tay lấy cái búa con con đằng sau, quát:

“Mẹ nó! Tưởng bà đây là đàn bà con gái mà dễ hà h**p phải không? Có giỏi thì lên cả đây!”

“Gượm đã!”

Lúc này, Nguyễn Đông Thanh cảm thấy không thể khoanh tay đứng nhìn nữa, vội vàng lên tiếng.

Số chương còn lại hôm nay: 1 chương chính truyện.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 292: Thiên Tài Hàn Gia


Vừa lên tiếng còn chưa dứt câu, Nguyễn Đông Thanh đã thò tay vào áo rút tấm lệnh bài của Võ Hoàng đưa tặng ra, giơ lên cao cho đám lính lác và cả tên quan Chưởng Bút Hoắc Kim Trọng kia xem. Nếu gã trẻ lại độ mười lăm tuổi, chắc hẳn là sẽ giả vờ thần bí để đám người trước mặt khinh thường mình, đến phút cuối cùng rồi mới lấy lệnh bài ra để vả mặt đối phương, thu hoạch cảm giác thành tựu từ sự xấu mặt của kẻ khác.

Thế nhưng... Bích Mặc tiên sinh của chúng ta dù sao tuổi cũng đã có đầu ba rồi, cứ như văn hóa phong kiến ngày xưa thì sắp có cháu bế đến nơi, đâu thể nào làm cái chuyện của mấy cậu thanh niên thừa hoóc môn kia nữa?

Ở cái tuổi này của mình gã chỉ thấy cái chuyện “trang bức, đánh mặt” khoái khẩu của nhân vật chính của truyện mạng này phiền bỏ mẹ, khi không lại tự rước bực dọc vào mình mà chả được cái khỉ gì cả, chỉ tổ tốn thời gian của mình. Thế là, vừa mới lên tiếng can gián, Nguyễn Đông Thanh đã lập tức lôi hậu trường vững chắc nhất của mình ra cho rảnh nợ.

Quả nhiên...

Vừa nhìn thấy lệnh bài của Võ Hoàng, cả đám sĩ tốt đã giật mình quỳ thụp xuống đất, miệng hô to:

“Khấu kiến đại nhân.”

“Vị này chắc hẳn chính là Bích Mặc tiên sinh Nguyễn Đông Thanh rồi. Hạ quan có lễ. Dạo này thành chủ đi xa, hạ quan bận bịu nhiều chuyện, không kịp nghênh đón tiên sinh từ xa, thật là thất lễ quá. Mong tiên sinh chờ cho một chút. Đợi hạ quan giải quyết cái chuyện lông gà vỏ tỏi này xong sẽ lập tức cung nghênh tiên sinh về phủ để tiếp đãi thỏa đáng.”

Hoắc Kim Trọng cười tít mắt, hai chòm râu cứ giật lên giật xuống, trông cứ như hai cái cần gạt mưa.

Nguyễn Đông Thanh thấy lão liến thoắng luôn một tràng thì cũng chỉ gật đầu đáp lễ qua loa, đoạn nói:

“Vị cô nương đây xem chừng có điều oan khuất muốn giãi bày?”

“Bẩm quan, con bé này là Hàn Thu Thủy, vốn là anh em kết nghĩa của chuyết phu. Ngày thường tuy hay thêm cái nọ sửa cái kia mà không hỏi ý khách, nhưng tuyệt nhiên không phải người làm chuyện qua loa tắc trách. Vẫn mong đại nhân minh xét.”

Chu Diễm Quỳnh có vẻ vẫn chưa bình tĩnh lại, nghĩ Nguyễn Đông Thanh cùng một giuộc với Hoắc Kim Trọng diễn bài mặt đỏ mặt trắng, bắt đầu giải thích phân trần tràng giang đại hải.

Hoắc Kim Trọng mới nói:

“Hồ đồ, làm gì có ai gọi chồng mình là chuyết phu? Chồng gọi vợ chuyết kinh, vợ gọi chồng là cảo châm, xưa nay cương thường đã vạch, đạo lí đã tường. Xưng hô chẳng trên chẳng dưới thì để tam tòng tứ đức đi đâu? Đại nhân, lời của cái đám tiện dân này sao mà tin được?”

“Ồ? Thế tức là cứ là người học chữ thì không biết nói dối sao?”

“Quân tử đọc sách thánh hiền mới biết tôn trọng tam cương ngũ thường, đám dân đen hạ tiện sao so sánh được?”

Nguyễn Đông Thanh nghe tên Hoắc Kim Trọng kia tiếp tục ăn nói khinh người, chỉ lườm hắn một cái, lắc đầu.

Đoạn, gã quay sang chỗ Hàn Thu Thủy, khoát tay, nói:

“Hàn cô nương phải không? Sự thể đầu đuôi thế nào xin cô nương cứ việc phân trần. Tại hạ sẽ đứng ra làm chủ chuyện này.”

Cô thợ thủ công có vẻ cũng không ngờ vị “đại quan” này lại chịu ra mặt cho mình, bấy giờ mới buông cái búa ra. Hàn Thu Thủy lườm Chưởng Bút quan đại nhân một cái, nói:

“Mấy hôm trước vị Hoắc đại nhân này có đến chỗ tiểu nữ, đặt hàng làm một cái tủ lạnh. Thế nhưng lúc thấy giá tiền, y lại chê quá đắt, bắt tiểu nữ phải sử dụng loại gỗ rẻ tiền để giảm chi phí còn một nửa. Tiểu nữ đã khuyên can giải thích nhiều, song Hoắc đại nhân đây nghe không lọt lỗ tai, còn đe dọa đập quán nữa. Tiểu nữ làm ăn nhỏ, đâu dám chống lại quan binh? Hết cách thì chỉ đành phải nhắm mắt làm theo lời của Hoắc đại nhân thôi. Chuyện này đều là đại nhân đây tự làm tự chịu, sao lại trách tiểu nữ?”

Hoắc Kim Trọng đỏ mặt tía tai, nghiến răng trèo trẹo nhìn về phía Bích Mặc tiên sinh đang đứng, miệng cứ lắp ba lắp bắp:

“Chuyện này, chuyện này...”

Nguyễn Đông Thanh nghe Hàn Thu Thủy kể, cũng thấy tên Chưởng Bút quan này nói chuyện mâu thuẫn đùng đùng. Song, gần đây gã cũng gọi là có ra làm quan, thế nên có thể đoán được trong lời nói của họ Hoắc có ẩn ý khác.

Chu Diễm Quỳnh nghe thế, giống như đã hiểu, nhưng lại nhìn Bích Mặc tiên sinh rồi ấp úng nửa muốn nói nửa không.

Lúc này, Nguyễn Đông Thanh chợt vỗ trán, nói:

“Chẳng nhẽ Hoắc đại nhân muốn Hàn cô nương phải tự bỏ tiền túi mua gỗ tốt làm một cái tủ cho mình? Hành vi đạo tặc trắng trợn cướp giữa ban ngày này quả thực là chí nhân, chí nghĩa đấy.”

Câu thứ hai gã nói với cái giọng mỉa mai xỉa xói mười phần, khiến Hoắc Kim Trọng dậm chân hừ lạnh một tiếng, song không dám phát tác. Cái kết cục đau thương của tên đồng liêu làm quan Chưởng Ấn hãy còn mới nguyên trong ký ức, bây giờ có cho vàng chắc Hoắc đại nhân cũng không dám đứng ở phía đối nghịch với cái gã Bích Mặc tiên sinh này.

Bằng không, chưa nói đến tấm lệnh bài tượng trưng cho Lý Huyền Thiên kia, dám chắc thành chủ thành Bạch Đế sẽ thí nốt cả lão.

Nguyễn Đông Thanh cười, nói:

“Đương nhiên, đây cũng chỉ là lời từ một phía. Nếu Hoắc đại nhân có ý kiến gì thì không bằng để tại hạ dẫn Hàn cô nương về tận nhà kiểm tra cái tủ vỡ một chuyến, ba mặt một lời với nhau.”

Hoắc Kim Trọng nghiến răng, song không dám phát tác. Thấy ở lại cũng chỉ tổ chuốc nhục vào thân, lão đành phải hừ lạnh một tiếng, phủi áo bỏ đi mất.

Nguyễn Đông Thanh thấy y cuốn gói, mới nhìn sang phía Hàn Thu Thủy bằng ánh mắt đầy vẻ hứng thú:

“Cô nương nói mình có thể tạo ra tủ lạnh? Không biết vật này có tác dụng gì?”

Kỳ thực, từ lúc Hàn Thu Thủy nhắc đến hai chữ “tủ lạnh”, Bích Mặc tiên sinh của chúng ta đã có hứng thú với cô nàng. Lần này gã đến thành Bạch Đế ngoại trừ việc xem kinh văn của Phật môn ra thì còn là để tìm một người có nghề thủ công đủ cao để chế tạo củ sạc cho cái điện thoại Lâm Phương Dung tặng ngày trước.

Bấy giờ gặp được người có thể chế tạo ra tủ lạnh, gã há lại có thể không mừng thầm?

Đương nhiên, để cho chắc chắn, Nguyễn Đông Thanh vẫn cẩn thận hỏi lại Hàn Thu Thủy một câu. Dù sao, trời mới biết ở Huyền Hoàng giới này liệu có thứ pháp bảo nào cùng tên gọi mà khác công dụng với tủ lạnh của trái đất hay không.

Cô thợ thủ công đáp:

“Tủ lạnh tên sao thì công dụng y như thế, bên trong tủ lạnh hơn bên ngoài mười mấy hai mươi độ. Đồ ăn thức uống để vào trong đó có thể giữ được lâu mà không thiu thối. Ngắn thì một hai hôm, dài thì nửa tháng. Bình thường đại ca của tiểu nữ vẫn dùng để chứa nem chua mời khách.”

Nguyễn Đông Thanh giật mình, hỏi:

“Ở đây cũng có nem chua rồi sao?”

Chu Diễm Quỳnh thấy gã ngạc nhiên, còn tưởng rằng vị Bích Mặc tiên sinh trước mắt khó chịu vì món ăn y nghĩ ra bị học lỏm mất, vội vàng giải thích:

“Đúng là có chuyện này, nhưng tiên sinh xin hãy yên tâm. Hồ Ma thành chủ đã hạ lệnh nghiêm cấm tự ý chế biến, mua bán nem chua khắp cả thành, tuyệt nhiên không ai dám làm giả làm lậu công thức của tiên sinh cả. Số nem mà đại ca lấy ra mời khách đều là nhờ người mua trực tiếp từ Quan Lâm về, số lượng rất có hạn, chỉ dùng để mời khách. Nếu tiên sinh thấy nhớ thì để tiểu nữ về lấy.”

Chu Diễm Quỳnh tuy chỉ là phận buôn gánh bán bưng, trong xã hội Huyền Hoàng giới địa vị không cao là bao, nhưng tin tức thì linh thông chẳng thua gì ông đại ca đã xung quân Hạ Hầu Duyệt.

Ban nãy nghe cách Hoắc Kim Trọng xưng hô với Nguyễn Đông Thanh thì y thị đã biết người đàn ông mặc áo quan trước mặt mình chính là nhân vật nóng bỏng tay, vừa nhắc đến là các thế lực lớn đều hết sức lấy lòng chèo kéo: Bích Mặc tiên sinh của Lão Thụ cổ viện. Chuyện Nguyễn Đông Thanh dùng nem chua tham gia hội Mỹ Thực Tiến Vua, khiến Tế Tửu Lâm Thanh Tùng trở thành môn thần giữ cửa nhà xí cơ hồ cả Đại Việt đều biết, người như Chu Diễm Quỳnh há lại không tỏ tường?

Thành thử, nghe Bích Mặc tiên sinh nhắc đến nem chua, y thị còn tưởng gã nổi giận vì “công thức bí truyền” bị người ta tuồn ra ngoài, nên vội vàng giải thích phân trần.

Nguyễn Đông Thanh nghe vậy, cười:

“Chị nhà hiểu nhầm. Món ấy cũng đơn giản, sao không làm tận nơi cho trăm họ cùng thưởng thức? Quan Lâm cách đây xa xôi ngàn dặm, mỗi lần đều đến đó mua thì một cái nem có giá trên trời, bà con bình thường sao mà mua nổi? Chuyện lệnh cấm tại hạ sẽ có lời với Hồ Ma thành chủ, nhưng chuyện ấy bàn sau. Lần này tại hạ không quản đường xa đến đây là còn có nguyên do khác...”

Lời đáp của gã hoàn toàn đi ngược lại thái độ của các trà lầu tửu quán lâu đời ở khắp Huyền Hoàng giới, khiến Chu Diễm Quỳnh có mấy phần không kịp phản ứng. Y thị hãy còn chìm đắm trong suy nghĩ đi tắt đón đầu làm nem chua bán thì kiếm lời được bao nhiêu, thì Hàn Thu Thủy đã lên tiếng:

“Tiên sinh chẳng nhẽ là có việc cần đến công tượng, nên mới tìm đến tiểu nữ?”

“Hàn cô nương nói đúng, quả thực là tại hạ có chuyện cần nhờ.”

Nguyễn Đông Thanh mỉm cười, đoạn lấy trong tay áo ra một cái khung bằng đồng, một viên thủy tinh hình trụ to bằng hai ngón tay và một viên đá nam châm to độ đầu ngón tay cái. Hàn Thu Thủy nhìn màu sắc và hình dáng, đoán ấy là Lôi Thạch, nhưng cũng chỉ đến thế mà thôi. Nàng ta tuy là thiên tài hiếm có Hàn gia, song hiện giờ cũng chẳng rõ rốt cuộc vị Bích Mặc tiên sinh này muốn làm gì.

Hết chương hôm nay. Thứ 4 lại có chương, tuần này bắt đầu lịch đăng 2, 4, 6, Chủ Nhật.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 293: “Từ Không Sinh Có”


Chân khí của Huyền Hoàng giới thực ra cũng có thuộc tính, bao gồm: kim mộc thủy hỏa thổ phong lôi quang ám.

Song... tính chất của chân khí thực ra không quá quan trọng đối với người chưa vào Vụ Hải. Người chân khí thuộc tính thủy ở Huyền Hoàng giới vẫn có thể sử dụng thần thông hệ hỏa như bình thường, tuy rằng uy lực không bằng người khác, nhưng khác biệt chưa lớn. Chỉ đến khi đạp chân vào Vụ Hải, cần có một “đạo” của bản thân để tìm hiểu chuyên tu, thuộc tính của chân khí mới trở nên cần thiết.

Thành thử chuyện chân khí có thuộc tính khác nhau không quá phổ biến, ngay cả trong các thánh địa tu hành. Đệ tử lúc vừa nhập môn tuy cũng có sử dụng Trắc Khí Thạch để đo tu vi sâu cạn, thuộc tính chân khí là gì, song cũng chỉ biết để đấy mà thôi. Phải đến khi tu vi đã đến ngũ cảnh thì sư phụ mới giảng giải chuyên sâu, giúp người nọ chọn một con đường phù hợp nhất với thuộc tính chân khí của mình.

Lôi Thạch là một loại tinh thể hiếm thấy, thường có trên Thiên Đảo, rất mẫn cảm với thuộc tính lôi trong chân khí. Khi tiếp xúc với chân khí ngậm thuộc tính lôi, tinh thể này sẽ phát sáng, mạnh yếu ra sao tùy thuộc vào mức độ nồng, nhạt của nguyên tố sấm sét trong chân khí. Vì thế, người ta thường sử dụng Lôi Thạch trong lõi của Trắc Khí Thạch để kiểm tra thuộc tính chân khí của người tu hành. Đương nhiên, tám thuộc tính còn lại cũng có các loại tinh thể tương tự.

Nói đến Trắc Khí Thạch thì vật này là một tinh thể hình trụ, thường cao khoảng một xích, gồm chín cạnh. Bên trong nó đặt chín cái lõi, chia làm các tầng khác nhau, sau đó dựa vào cấu trúc tinh thể phức tạp để dẫn dắt, khuếch đại ánh sáng của tinh thạch tương ứng ra ngoài, từ đó thay vì phải kiểm tra thủ công chín lần thì người ta chỉ cần làm một lần là xong, tiết kiệm được không ít thời gian.

Thân là con cháu Hàn gia, Hàn Thu Thủy đương nhiên đã tiếp xúc với Trắc Khí Thạch không biết bao nhiêu lần, thậm chí quá trình chạm khắc một cái cô nàng cũng được tham dự. Song ngay cả như vậy, cô nàng cũng chẳng hiểu nổi vì sao Nguyễn Đông Thanh lại lấy một viên Lôi Thạch hớ hênh ra như vậy.

Bích Mặc tiên sinh dường như đã quen với biểu cảm trên mặt cô nàng lúc này, thành thử y chỉ cười một cái, nói:

“Hàn cô nương, cô cầm thử miếng từ thạch và Lôi Thạch này rồi đưa qua cái khung đồng này xem. Nhớ đừng sử dụng đến chân khí đấy.”

“Tiên sinh muốn nói gì thì mời lên tiếng đi, sao lại bảo tiểu nữ làm cái chuyện vô bổ này?”

Hàn Thu Thủy tuy vẫn mở miệng kêu ca một câu, song vẫn đưa tay làm theo chỉ dẫn của Nguyễn Đông Thanh. Xem ra cô nàng này tuy tính cách tếu táo, ăn nói bỗ bã ruột để ngoài da, song cũng không phải kiểu người không biết ý tứ, thiếu suy nghĩ.

Bích Mặc tiên sinh của chúng ta trông thấy thì chỉ cười cười, nói:

“Tiểu thư nhìn Lôi Thạch đã rồi hẵng nói.”

Cô thợ thủ công làm theo, thì trừng mắt há miệng, đến độ tưởng như có thể nhét hai quả trứng vịt vào vẫn còn chỗ. Chỉ thấy Lôi Thạch trên tay cô nàng không cần truyền chân khí lôi thuộc tính vào vẫn phát sáng lập lòe. Dù ánh sáng trong miếng tinh thể chỉ mờ nhạt le lói còn thua cả ánh sáng đom đóm, thế nhưng dưới con mắt của Hàn Thu Thủy lúc này, nó lại rõ ràng chói lóa hơn cả vầng dương trên đầu.

Cô nàng ngẩn ra, trong đầu tưởng như có vô số tiếng rầm rầm cất lên tưởng như có cả một tòa đại thành đang đổ sụp. Thế nhưng, đằng sau những mảng tường đổ vỡ kia, lại là một chân trời mới mà Hàn Thu Thủy chưa từng tiếp xúc, ngay cả trong những giấc mơ hoang đường nhất của mình.

Nguyễn Đông Thanh thấy thế thì nhún vai một cái, dùng ánh mắt đồng cảm nhìn cô thợ thủ công. Gã còn nhớ cái hồi cấp hai, lúc được tự tay thực hành thí nghiệm chứng minh sự tồn tại của lực điện từ, gã cũng có phản ứng na ná như Hàn Thu Thủy bây giờ, chẳng qua là không khoa trương bằng thôi.

Bích Mặc tiên sinh của chúng ta đứng lên, nói với Chu Diễm Quỳnh:

“Ở đây tại hạ có một bức thư, cùng với một vật nhỏ, phiền bà chủ chờ lát nữa Hàn cô nương tỉnh lại thì giao cho cô ấy. Trong thư đã viết rõ yêu cầu của tại hạ. Hiện tại Đông Thanh còn có chút việc trong người, dám hỏi bà chủ tàn tích của Thanh Trúc tự đi đường nào?”

Bà chủ hàng nước họ Chu nhận cái túi con, đoạn đáp:

“Chỗ thành vệ quân đào được Thanh Trúc Tự là ở chân núi Tuyên phía thành nam, cách đây cũng không xa lắm. Đại nhân theo đường này ra phố Vạn Hoa là có thể tìm được chỗ thuê xe.”

“Vậy tại hạ xin đi trước.”

Nguyễn Đông Thanh cười, cúi chào bà chủ hàng nước, đoạn chắp tay sau lưng, thủng thẳng bước đi. Bóng lưng gã từ từ, từ từ khuất vào trong biển người đang trảy hội Thiên Trì.

Dễ phải đến gần một khắc sau, Hàn Thu Thủy mới choàng tỉnh. Cô nàng nuốt nước bọt, hết ngó ngang lại nhìn dọc, song chẳng tài nào tìm thấy tăm hơi của Nguyễn Đông Thanh đâu cả. Chu Diễm Quỳnh lại gần, đưa tay cóc lên trán cô nàng một cái, mắng:

“Khỏi cần tìm nữa. Trong lúc em còn đang bận nằm mơ giữa ban ngày thì tiên sinh đã đi rồi. Ở đây có một bức thư và túi đồ tiên sinh để lại, tự mà sắp xếp thời gian hoàn thành yêu cầu của ngài ấy đi.”

Ngừng một chốc, y thị lại hỏi:

“Đúng rồi, có miếng Lôi Thạch phát sáng mà thôi, có cần phải làm quá lên thế không hả em? Chị còn nhớ lúc anh Duyệt mày bị người ta cho đi tòng quân ở xa mày cũng chẳng phản ứng mạnh đến thế.”

“Chị à, chị không phải người trong nghề, chị không hiểu được đâu. Chuyện mà tiên sinh vừa làm giống như từ không sinh có vậy. Rốt cuộc là thứ gì đã khiến Lôi Thạch phát sáng? Chân khí đó từ đâu mà ra? A... chỉ nghĩ thôi là đã thấy run hết cả người lên rồi.”

Hàn Thu Thủy nuốt nước bọt, lầm bầm:

“Hơn nữa, hơn nữa... ngài ấy quả thực không có chút chân khí nào. Thế nhưng Lôi Thạch vẫn có thể phát sáng. Chẳng nhẽ ngoại trừ Nho đạo, tiên sinh thực ra còn là một cao thủ luyện khí???”

Chu Diễm Quỳnh nghe vậy, lắc đầu:

“Tuy chị không hiểu rốt cuộc em muốn nói gì, nhưng có vẻ những gì tiên sinh vừa mới làm rất lợi hại. Vậy mà ngài ấy lại làm giữa thanh thiên bạch nhật thế này, liệu có hơi... nguy hiểm quá không? Chị cứ có trực giác như thể tiên sinh đang tuyên chiến với cả thiên hạ vậy. Chuyện này em phải cân nhắc kỹ đấy Thủy. Trâu bò đánh nhau ruồi muỗi chết. Người ta có thể sẽ e dè Bích Mặc tiên sinh, nhưng cái ngữ nhà em thì...”

“Biết rồi! Nhưng mà... nhưng mà... thế này thì sao mà em từ chối cho nổi? Chị à? Hay là mình đi báo quan, nói Bích Mặc tiên sinh bắt cóc em lên thuyền giặc...”

Hàn Thu Thủy vừa nói, vừa phồng hai bên má lên. Chu Diễm Quỳnh cũng bị hành động và lời nói bất ngờ của cô nàng chọc cười, bầu không khí bớt căng thẳng đi hẳn. Thế nhưng, hai người lại hoàn toàn không hề hay biết ngay lúc này, trong bóng tối, có một đôi mắt đang âm thầm quan sát hết thảy.

Chẳng những y đã nghe được từ đầu đến đuôi những gì Nguyễn Đông Thanh đã chỉ cho Hàn Thu Thủy, mà còn đoán biết được hướng gã đã đi và nơi mà Bích Mặc tiên sinh sẽ dừng chân nữa.

Nếu Đỗ Thải Hà đang ở đây thì sẽ phát hiện cái người đang đứng nấp trong góc khuất, dùng ánh mắt ác độc và vẻ mặt vặn vẹo xấu xí nhìn ông sư phụ mình không phải ai khác ngoài Hạ đại ca, người đáng nhẽ đã “chết” dưới tay cô nàng.

Người nọ nhếch mép, trong mắt hiện lên một tia oán độc, thầm nhủ:

“Bích Mặc tiên sinh ơi là Bích Mặc tiên sinh, chẳng nhẽ ngươi không biết mạng mình lúc này như chỉ mành treo chuông, ngọn đèn trước gió hay sao mà còn cố tình đến đây thể hiện đại thần thông? Lần này có chuyện hay để xem, cái đám xác khô ở Đế Mộ mà không nhảy cẫng lên thì ông đây đi đầu xuống đất.”

Gã nghĩ đến chỗ này, thì mép bỗng nhếch lên, tạo thành một nụ cười lạnh lẽo.

Bởi lẽ, ngay vừa nãy thôi, Hạ đại ca vừa nhận được truyền âm của Đế Mộ.

Đưa Bích Mặc tiên sinh Nguyễn Đông Thanh vào đối tượng tất sát.

oOo

Lại nói đến Nguyễn Đông Thanh...

Sau khi chia tay chị em cô hàng nước, Bích Mặc tiên sinh của chúng ta cứ thủng thẳng bước đi, tay chắp sau đầu, thỉnh thoảng lại huýt sáo một hai tiếng. Ngặt nỗi gã đâu có cái tài lẻ ấy, thành thử lúc phun phì phì hai cái Nguyễn Đông Thanh mới giật mình phát giác. Cũng còn may không ai để ý đến, bằng không Bích Mặc tiên sinh của chúng ta khéo phải đào cái hố rồi rúc đầu xuống cho đỡ xấu hổ.

Hôm nay là hội Thiên Trì, nam thanh nữ tú cả thành cơ hồ đều dắt díu nhau đi về hướng núi Tuyên cả. Thành thử, Nguyễn Đông Thanh chỉ cần bám theo chân cánh thiếu niên nam nữ kia là không sợ lạc đường.

Giữa một bên là công tử văn hoa, một bên là tiểu thư mỹ lệ lại thòi ra một ông chú già râu ria lún phún, quần áo xộc xệch, quả thực chẳng khác nào trên gương mặt trắng ngần không tì vết của một đại mỹ nhân thình lình mọc lên một cái nhọt viêm đỏ tấy. Nguyễn Đông Thanh bước thấp bước cao đi về phía trước, hòa lẫn trong dòng người đang không ngừng chỉ chỏ, bàn ra tán vào vì quả giao diện khó đỡ của gã.

Đường cũng không quá xa, thành ra chẳng mất bao lâu, Bích Mặc tiên sinh đã đến thành Nam, được mục sở thị núi Tuyên. Núi nằm trong thành, là loại núi thấp, cao đâu đấy chưa đến hai trăm trượng. Có lẽ chỉ thêm mấy ngàn năm nữa, gió mưa bào mòn, núi Tuyên sẽ thành một quả đồi. Sườn phía bắc có một con đường trải đá dẫn l*n đ*nh núi duy nhất, bên trên bấy giờ đã lố nhố không biết bao nhiêu là người. Chân núi để bia đá, bên cạnh tạc hai bức tượng đá, gần giống với cách bài trí ở Ngũ Vị sơn. Có điều khác với Mỹ Vị sơn trang, hai bức tượng đặt ở chân núi Tuyên là của một trung niên mặc giáp và một thiếu phụ thướt tha, có lẽ là chân dung của Thái Tổ và hoàng hậu.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 294: Họp Phụ Huynh


Nguyễn Đông Thanh không tiếp tục trảy hội cùng cánh nam thanh nữ tú trong thành nữa, mà theo một lối mòn khác, vòng ra phía hậu sơn. Sau núi Tuyên cũng thuộc vào địa phận thành Bạch Đế, hơn nữa còn là một nơi trọng địa trấn thủ mặt nam tường thành. Chỉ thấy trước mắt thành tựa vào núi, núi chèn lên thành, dọc triền núi là những tháp phòng, quân sự, bình đài nhô ra ngoài. Dễ thấy, một khi có chiến tranh, lính thủ thành có thể dựa vào độ cao của núi Tuyên mà công kích.

Bích Mặc tiên sinh của chúng ta xem cái thế thành tựa vào núi này của mặt nam thành Bạch Đế, không khỏi tấm tắc nhớ lại di chỉ cố đô Hoa Lư mà hắn từng có dịp được đi du lịch cùng mấy ông anh bên đại học xã hội nhân văn.

Cũng vì lẽ đó, mà mặt nam núi Tuyên được coi là trọng địa quân sự, dân chúng bình thường tuyệt nhiên không được bén mảng tới. Nếu không phải có sự cho phép của Hồ Ma Huyền Nguyệt, có lẽ Nguyễn Đông Thanh cũng không dám tới gần nơi này, đề phòng khi không lại bị người ta hiểu nhầm là gian tế.

Vừa rời khỏi đường chính chưa bao lâu, thì bỗng nghe “soạt” một tiếng, trước mặt gã đã xuất hiện một bóng người áo đen, trên mặt đeo một tấm mặt nạ quỷ. Tốc độ của y nhanh vô cùng, song bước chân có hơi lảo đảo không vững, giống như đã bị thương.

Y vừa xuất hiện đã không nói hai lời, giơ tay muốn tóm lấy cổ Nguyễn Đông Thanh, ánh mắt hiện lên đầy vẻ bất thiện. Ngay sau đó, lúc mà Bích mặc tiên sinh của chúng ta hãy còn chưa kịp định thần, thì từ trong khu rừng sau lưng kẻ áo đen, một tiếng quát lanh lảnh đã vang lên:

“Gian tế chạy đâu? Bắn tên!”

Lời vừa mới dứt, một trận mưa tên đã từ trong các tàng cây lao vút ra, dội thẳng xuống đầu Nguyễn Đông Thanh và kẻ áo đen, Trên đầu những mũi tên ngậm đầy chân khí, tỏa ra ánh sáng lập lòe, trông chẳng khác nào một trận mưa sao băng giữa thanh thiên bạch nhật cả. Thế nhưng, Bích Mặc tiên sinh của chúng ta đương nhiên chẳng có tâm tư nào để mà thưởng thức cảnh đẹp cả.

Gã không nói không rằng, cũng chẳng thèm đẩy tên áo đen ra mà hét lên một tiếng quái dị, kế đứng sững như trời trồng giữa đường. Nếu không nhìn thấy cái biểu cảm mắm môi trợn mắt cố tỏ ra mình ổn của gã lúc này, chắc lắm kẻ sẽ nhầm Bích Mặc tiên sinh của chúng ta với Từ Hải lúc cuối đời, hay Vô Danh trong phim Anh Hùng của Trương Nghệ Mưu.

Đến gã áo đen thấy phản ứng ngược đời của Nguyễn Đông Thanh cũng giật mình thảng thốt trong giây lát. Gã ngang dọc Huyền Hoàng giới đã nhiều năm nay, kinh qua không ít chiến tranh đấu đá ở đời, nhưng đời thuở từ bé đến giờ gã chưa từng thấy ai đứng trước mưa tên lại có phản ứng quái đản như cái tên Bích Mặc tiên sinh này cả. Song, kẻ đeo mặt nạ quỷ thoáng chốc đã định thần, trong tay xuất hiện một cây dao găm nhỏ, trực chỉ đâm thẳng vào yết hầu của Nguyễn Đông Thanh.

“Ngươi sử dụng tu vi thì tâm cảnh vỡ nát, không sử dụng đến thì một đao này đủ lấy mạng. Lại thêm trên dao còn có kịch độc kiến huyết phong hầu, ta không tin lần này ngươi còn có thể sống.”

Ngay lúc gã áo đen còn đang chê cười chuyện Bích Mặc tiên sinh của chúng ta “giả làm phàm nhân”, thì đã thấy trước mắt xuất hiện một bóng người cao lớn.

Chỉ thấy ấy là một trung niên mặt chữ quốc, râu quai nón, dáng vẻ đường hoàng bệ vệ. Nổi bật lên giữa mái tóc xanh rì màu rong rêu của y là một cặp sừng cong vuốt, vàng óng ánh tưởng như ánh hoàng kim. Đôi mắt của trung niên một màu tím, một màu vàng, con ngươi lại chẻ dọc như loài thằn lằn rắn rít, hiển nhiên không phải là con người.

“Long... Long Vương?”

“Huyết Nhãn Trúc Thử?”

Long Vương – Long Bá Thiên – nhíu mày một cái.

“Không ngờ quý tộc lại hạ thủ nhanh như vậy. Xem ra Tạ mỗ đến trước mà lại về sau rồi.”

Lại thấy, một chùm sáng xanh, một cột sét rộng cả trượng đồng thời đánh ra, đón đỡ lấy màn mưa tên đang đánh về phía Nguyễn Đông Thanh.

Từ sau lưng của Long Bá Thiên, một nam một nữ từ từ bước ra, nhìn về phía khu rừng. Chỉ thấy nam anh tuấn tiêu sái, giữa hai hàng chân mày có giấu một chút khinh cuồng ngông nghênh, trong mắt như có hoa đào, ngoại trừ kẻ được xưng là tên điên Tạ Hàn Thiên ra thì còn ai vào đây nữa?

Mà đi cùng với Tạ Phong Tử của Thanh Tước tộc, đeo một thanh cự kiếm to đùng sau lưng không phải ai khác ngoài Lôi Đình Kiếm Tổ Lâm Phương Dung.

“Không dám. Có Võ Hoàng ở đây, ba chúng ta e là có đến cũng chỉ là dệt hoa trên gấm thôi.”

Long Bá Thiên lắc đầu, nhún vai một cái.

Cuối cùng, một trung niên mặc giáp lạnh lùng xuất hiện, vung tay chộp lấy cổ tên áo đen mà nhấc bổng lên không trung. Kẻ đeo mặt nạ hai chân chới với không chạm đất, muốn phản kháng mà toàn thân như nhũn ra trước ánh mắt như điện chớp của người trước mặt. Lý Huyền Thiên cất cao giọng, nói:

“Trong rừng là ai? Lăn ra đây cho bản hoàng!”

Thì ra, trong lúc nguy hiểm nhất, Bích Mặc tiên sinh của chúng ta đã sử dụng tuyệt chiêu bí truyền:

Gọi điện cho hội phụ huynh của cổ viện.

Số là...

Nguyễn Đông Thanh cảm thấy mình không đủ thủ đoạn giữ mạng. Tuy là nếu muốn thì gã có thể nhờ Hồng Đô theo bảo vệ, nhưng hiện tại cô mèo máy không quan không chức, xem như là người ngoài biên chế triều đình. Mà xem chừng Hồng Vân tuy không phản đối ngay mặt, song cũng không muốn cô mèo máy dính dáng đến hoàng thất cho lắm.

Lại nói, Hồng Đô tuy tu vi cao, nhưng nếu kẻ đã có tâm ám hại thì chắc chắn sẽ nghiên cứu cô nàng một cách cẩn thận. Có câu mãnh hổ nan địch quần hồ, lấy thân phận hiện giờ của gã có thêm cô mèo máy đi cùng đã không còn an toàn nữa.

Lệnh bài của Võ Hoàng tuy có thể tự động hộ chủ, cũng có thể điều động quân đội Đại Việt. Song vì gã không có chân khí, thành thử lúc nguy hiểm chỉ có thể dựa vào khả năng tự động hộ chủ của lệnh bài – thứ hoàn toàn có thể bị đám sát thủ lợi dụng, qua mặt như cái lần gã đi cùng Long Tuyền.

Thế là, nghĩ tới nghĩ lui, Nguyễn Đông Thanh quyết định đánh tiếng cho “hội phụ huynh” cổ viện xin một vài thủ đoạn giữ mạng.

Hội phụ huynh có ai mà không “biết” Bích Mặc tiên sinh của chúng ta hiện giờ đang “ở trong một trạng thái vi diệu”? Thành thử, không ai hỏi ai câu nào.

Cơ hồ là ngay lập tức...

Long U và Long Thanh Y thay mặt Long tộc đưa đến một miếng vảy của Long Bá Thiên, dặn khi cần thiết chỉ cần tâm niệm đến tên y, thì phân thân của Long Vương sẽ lập tức xuất hiện.

Sau đó, Tạ Hàn Thiên cũng tặng một cái lông vũ của mình cho Bích Mặc tiên sinh.

Nhưng nói đến nhiệt tình thì không ai qua được Kiếm Trì.

Tam tổ suy đi tính lại, thấy xét ra song phương cùng lắm là quan hệ thông gia, sư tổ – đồ tôn mà thôi, so với cánh Tạ Hàn Thiên, Lý Huyền Thiên thì thấp hẳn một bậc. Liễu Ân mới nói với tam tổ cùng dốc sức, biết đâu khiến tiên sinh cảm động, không chừng lại có thể giúp một đồ đệ của Kiếm Trì bái được vào môn hạ của Nguyễn Đông Thanh cũng nên. Thành thử, ba vị kiếm tổ dốc hết vốn liếng, tạo ra một thanh Tam Sắc pháp kiếm tặng cho Bích Mặc tiên sinh.

Tam Sắc pháp kiếm chẳng những có trận pháp phòng vệ, một khi cảm thấy chân khí đánh tới sẽ tự động thi triển, bên trong lại còn giấu ba phân thân của ba vị kiếm tổ. Nếu chẳng may Lâm Phương Dung bị đánh bại, hoặc bị kẻ khác cuốn lấy không cách nào bảo vệ Nguyễn Đông Thanh, phân thân của Liễu Ân sẽ xuất hiện, sử dụng huyễn thuật câu giờ, hoặc phối hợp với Lâm Phương Dung đối địch.

Nếu ngay cả Vân Hà Kiếm Tổ cũng không thể bảo vệ Bích Mặc tiên sinh tru toàn, thì lúc này phân thân của Sóc Phong Kiếm Tổ Trần Thanh Lãng sẽ nhảy ra, sử dụng tốc độ của mình liều một con đường máu, đưa Nguyễn Đông Thanh chạy trốn.

Loại thủ đoạn gần như bao trọn gói này cơ hồ khiến Bích Mặc tiên sinh của chúng ta vui như mở cờ trong bụng. Vốn, Nguyễn Đông Thanh cũng định ẩn giấu một vài con bài tẩy, không sử dụng toàn bộ ngay lập tức. Dù sao một khi thủ đoạn phòng thân lộ ra ngoài ánh sáng, cái đám muốn đầu hắn rơi xuống đất thể nào chẳng động não vắt óc suy tính cách khắc chế? Vẫn nói quân tử phòng thân, tiểu nhân phòng bị gậy là vậy.

Đáng tiếc, Nguyễn Đông Thanh đánh giá hơi quá cao bản thân.

Nói thế nào đi nữa thì gã cũng chỉ là một kẻ phàm nhân, trước khi xuyên không cũng chỉ là anh nghiên cứu sinh quèn, rồi làm một gã làm công ăn lương bình thường. Sau khi xuyên không rồi thì cũng chỉ quanh quẩn ở Quan Lâm làm cái nghề gõ đầu trẻ, trồng rau cuốc đất. Bảo hắn cắt tiết gà hắn còn chẳng biết làm, nói gì đến chuyện giao chiến với kẻ khác lúc sinh tử quan đầu?

Thế nên, lúc thật sự lâm nguy, Bích Mặc tiên sinh của chúng ta chẳng thể nào học theo mấy cậu thanh niên nhân vật chính trong tiểu thuyết, không tài nào giữ nổi bình tĩnh. Trong một phút hoảng hồn, gã có gì trong tay thì tung hết cả ra, ôm cái tâm lý thừa còn hơn thiếu, dù sao tính mạng mình đặt ở đó, ôm con bài tẩy xuống mồ thì quá bằng cạp đất ăn vã.

Vậy mới nói, ngồi dán mông lên ghế bốc phét, đàm binh trên giấy thì thằng nào cũng là anh hùng hảo hán, đến cái lúc mà dao dí ngay cổ súng sát bên đầu mới cháy nhà ra mặt chuột, mới biết mặt nhau. Nguyễn Đông Thanh có thể rất gàn, có lúc máu liều nhiều hơn máu não, song khi cái chết hiển hiện rõ mồn một trước mặt thì gã cũng biết sợ, cũng biết hoảng loạn, có bản năng cầu sinh như bao kẻ khác.

Nhìn chung, Bích Mặc tiên sinh của chúng ta chỉ có số làm nhân vật quần chúng thôi, chẳng lấy đâu ra can đảm gan dạ mà làm “khí vận chi tử” với cả “nhân vật chính”.

Lại nói, cũng vì Nguyễn Đông Thanh hoảng hồn mất bình tĩnh mà hội cha mẹ học sinh ở Lão Thụ cổ viện xem như có lần đầu được “họp phụ huynh”.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 295: Gặp Chưởng Kiếm Quan, Đến Thanh Trúc Tự


Sau tiếng quát của Lý Huyền Thiên, một phụ nhân thấp lùn tay cầm lang nha bổng lóc cóc từ trong khu rừng phía nam núi Tuyên đi ra. Y thị mặc một bộ giáp bạc, chế tác rất tinh xảo, có lẽ chỉ thua hộ giáp của Hồ Ma Huyền Nguyệt một chút, Cây lang nha bổng trên tay cố tổng cộng chín chín tam mươi mốt răng, hứng nắng chiếu ra từng tia sáng lạnh, đủ thấy cũng là loại thần binh hiếm có ở đời. Lưng mụ cõng một thanh kiếm gỗ chạm khắc đơn sơ, chuôi kiếm còn mẻ mất một miếng, nhìn qua cực kỳ bình thường, đặt cạnh thanh lang nha bổng của y thị thì khác biệt càng rõ như ngày với đêm.

Mụ chạy đến trước mặt Lý Huyền Thiên thì quỳ thụp một gối xuống, hô lên:

“Hạ quan Hoàng Thanh Nhàn khấu kiến điện hạ.”

Y thị vốn đã thấp bé nhẹ cân, bây giờ quỳ xuống cả người lại càng ngắn đi cơ hồ chỉ còn một mẩu, đầu chỉ quá đầu gối Lý Huyền Thiên một chút.

Võ Hoàng cau mày, quát:

“Nói... rốt cuộc là có chuyện gì?”

“Bẩm điện hạ, hôm nay là hội Thiên Trì, người lên núi Tuyên thượng vàng hạ cám. Hạ quan và Hoắc đại nhân bàn với nhau đến trấn thủ trọng địa phía núi nam đề phòng có gian tế thừa loạn trà trộn vào thành. Quả nhiên là bắt được tên này đang lén lén lút lút, dấm dúi ở gần chỗ Thanh Trúc tự.”

Hoàng Thanh Nhàn nói đến đây, Lý Huyền Thiên đã xen vào:

“Thế nên nhà ngươi cho là đang làm chuyện công, chẳng cần biết một vừa hai phải đã hạ lệnh phóng tên về phía tiên sinh phải không? Nếu như là người khác, há chẳng phải đã là vong hồn dưới tiễn của các ngươi rồi sao?”

“Chuyện này là lão hủ sai quấy, chọc phải người không nên chọc. Thế nhưng cho dù là Võ Hoàng điện hạ trách tội thì lão hủ vẫn không thấy mình làm có gì sai. Mặt nam núi Tuyên là quân cơ trọng địa, hi sinh một người để giữ bí mật thì có gì sai?”

Nguyễn Đông Thanh thấy hai người cãi nhau ỏm tỏi, mới hắng giọng một cái, nói:

“Điện hạ bớt giận, dù sao lần này tại hạ cũng đã may mắn giữ được một mạng. Coi như chuyện to co làm bé, để Hoàng đại nhân đây dẫn tại hạ đến thăm Thanh Trúc tự là được rồi.”

“Vậy bản hoàng nể mặt tiên sinh. Nhớ cho kỹ, nếu tiên sinh mà mất một cọng tóc thì mặc xác là lý do gì, bản hoàng tru di tam tộc nhà ngươi đầu tiên.”

Lý Huyền Thiên lườm Hoàng Thanh Nhàn một cái, ném lại một câu đe dọa, kế mới hướng về phía Bích Mặc tiên sinh của chúng ta gật đầu, thu bàn tay lại. Chỉ thấy phân thân của lão theo đó mà từ từ tan biến, hóa thành vô vàn điểm sáng chui vào tấm lệnh bài tùy thân của Nguyễn Đông Thanh, ngay cả một lời nói thừa cũng không có.

Bích Mặc tiên sinh của chúng ta thấy tác phong đánh nhanh diệt gọn của Võ Hoàng, cũng chỉ có thể nhún vai một cái, hướng về hội phụ huynh, chắp tay

“Xin cảm ơn chư vị ra tay tương trợ!”

“Tiên sinh khách khí rồi.”

Ba người Lâm Phương Dung, Tạ Hàn Thiên và Lâm Bá Thiên đồng thời thi lễ một cái, sau đó biến mất.

oOo

“Tiên sinh... đây chính là Thanh Trúc Tự.”

Hoàng Thanh Nhàn đi trước dẫn đường, thỉnh thoảng lại kín đáo chặc lưỡi khe khẽ một cái.

Tên “gian tế” của Huyết Nhãn Trúc Thử tộc ban nãy đương nhiên là cùng một giuộc với mụ ta, hai bên diễn một vở tuồng “tai nạn lúc bắt gian tế”, cố tình để Nguyễn Đông Thanh hãm thân trong mưa tên. Sau đó, nếu phía trên có trách cứ thì cũng là “sự đã rồi”.

Tuy nói Dược Thánh đã đích thân động thủ, song ở đời có ai chê mình quá giàu? Nếu như có thể nẫng tay trên, cướp lấy công lao này, thì cho dù hai người bọn chúng có phải từ quan, rời khỏi Đại Việt thì cũng có là gì?

Võ Hoàng Lý Huyền Thiên tuy có đáng sợ, Đại Việt dẫu có là bá chủ một phương.

Song... Đế Mộ mới chân chính là thế lực thống trị Huyền Hoàng giới.

Đương nhiên, Lão Thụ cổ viện là một ngoại lệ.

Đáng tiếc, mộng đẹp tan thành bọt nước.

Cũng may mụ và Hoắc Kim Trọng lúc bày mưu nghĩ kế vẫn chừa một đường lui cho bản thân, nếu không hiện giờ có lẽ đã đầu một nơi thân một nẻo trước lửa giận của Võ Hoàng rồi.

Câu nói bất ngờ của Hoàng Thanh Nhàn khiến người từ nãy đến giờ đầu óc vắt trên mây trên gió – Bích Mặc tiên sinh của chúng ta – giật mình thảng thốt một cái, kế dùng ánh mắt đầy áy náy nhìn về phía y thị.

Nói sao thì nói, Hoàng Thanh Nhàn cũng là Chưởng Kiếm quan của thành Bạch Đế.

Sau khi nhiệm vụ tiếp sứ chấm dứt, rất có thể Nguyễn Đông Thanh sẽ thực hiện lời hứa với Hồ Ma Huyền Nguyệt, chạy đến đây thử việc một thời gian. Hai người bọn họ tính ra cũng là nửa đồng liêu với nhau, bây giờ gã lại thiếu tôn trọng Hoàng Thanh Nhàn như vậy, quả thực có chút không nói nổi.

“Tiên sinh ngày bận trăm công nghìn việc, vừa phải lo lắng chuyện tiếp đón sứ thần, vừa phải chuẩn bị luận đạo với Kim Thiền Tử, thất thần một chút cũng là chuyện dễ hiểu.”

Chưởng Kiếm quan thay gã lấy cớ lại càng khiến Bích Mặc tiên sinh của chúng ta xấu hổ không thôi, chỉ biết cười gượng một tiếng.

Thời gian gần đây, quả thực là gã thường hay thất thần, ngơ ngơ ngẩn ngẩn. Thế nhưng lúc tỉnh lại, Nguyễn Đông Thanh lại chẳng tài nào nhớ nổi phần lớn những gì mình vừa nghĩ. Tỉ như lần này cũng vậy, tuy gã đã nghĩ ngợi vẩn vơ hồi lâu, song ý nghĩ cuối cùng mà Bích Mặc tiên sinh của chúng ta nhớ được chính là:

“Sao hội phụ huynh cổ viện lắm người tên Thiên thế nhỉ?”

Lý Huyền Thiên, Tạ Hàn Thiên, bây giờ thêm Long Bá Thiên cũng coi như một chân tạm thời trong hội phụ huynh học sinh.

Còn về cái cuộc luận đạo với Kim Thiền Tử và chuyện tiếp đón sứ thần, quả thực là Nguyễn Đông Thanh ban nãy quên béng đi mất.

Cũng may, Hoàng Thanh Nhàn không tiếp tục dừng lại ở chủ đề này, mà chậm rãi giới thiệu:

“Năm mươi năm trước khi thành chủ tiền nhiệm quyết định tiếp tục mở rộng việc xây dựng trên núi Tuyên thì đào được lối vào của một chùa cổ và một tấm bia đá đề Thanh Trúc tự. Sử quan xem qua, nói rằng chùa này rất có thể đã có niên đại cả mấy ngàn năm, bên trong chắc hẳn có rất nhiều kinh văn phật kệ. Tiên sinh nếu muốn thì cứ thong thả tìm hiểu, bà già sẽ đứng ngoài canh cửa cho, đảm bảo đến một con ruồi cũng không dám lảng vảng đến quấy rầy tiên sinh”

Nguyễn Đông Thanh nghe vậy, nhíu mày, hỏi:

“Mấy ngàn năm trước? Không phải khi đó Đại Việt hãy còn là lãnh thổ của Bạo Long hay sao? Rốt cuộc là thằng cha nào thần kinh rung rinh chạy đến đây mở chùa?”

Hoàng Thanh Nhàn:

“...”

Lối suy nghĩ của thằng cha này quả thực là khác người, lão bà bội phục.

Y thị đương nhiên biết lời giải thích của mấy tay sử gia là nói quàng nói xiên để che giấu chân tướng của Thanh Trúc tự mà thôi. Song chuyện không liên quan đến mũ ô sa của mình, Hoàng Thanh Nhàn đâu có rỗi hơi rửng mỡ mà đi đối đầu với Nho môn, với cựu thái sư Trương Hạo làm gì?

Thế nhưng...

Nguyễn Đông Thanh là người đầu tiên mụ gặp nhìn ra được mấu chốt của vấn đề, nhưng lại có kết luận đi vào lòng đất như vậy.

Người bình thường phát hiện mấy ngàn năm trước Đại Việt là lãnh thổ của Bạo Long, ý nghĩ đầu tiên chẳng nhẽ không phải: “Mấy tên sử gia này có vấn đề” hay sao?

Bích Mặc tiên sinh thì tốt, chĩa ngay mũi dùi vào mấy nhà sư xây chùa.

Đến lúc này, Chưởng Kiếm quan của thành Bạch Đế cũng chẳng rõ rốt cuộc tên trước mặt mình đang giả ngây giả dại hay thực sự đầu óc không bình thường nữa.

“Thiên hạ rộng lớn, không thiếu chuyện lạ, trên đời kỳ nhân dị sĩ đâu có ít?”

Hoàng Thanh Nhàn đáp, đồng thời lặng lẽ chèn thêm một câu trong lòng:

“Chẳng phải ngay trước mặt ta có một tên hay sao?”

“Lời ấy cũng có lý.”

Bích Mặc tiên sinh của chúng ta thì mặt tỉnh bơ như không, sau đó lách qua người bà già lùn, nhìn về phía tàn tích của ngôi chùa cổ. Không rõ do thảm họa tự nhiên nào hay bàn tay con người tác động mà ngôi chùa cơ hồ lún xuống đất đến hơn hai trượng, cổng tam quan cũng vẫn còn cách nền đất nơi Nguyễn Đông Thanh đang đứng đâu đó một gang tay. Một bậc thang lèn bằng đất dẫn vào cổng chùa, khiến gã có cảm giác như đang đứng trước lối vào một lăng mộ cổ chứ chẳng phải một chốn cửa thiền ngõ trúc.

Hoàng Thanh Nhàn thấy gã đứng trước cửa Thanh Trúc tự mà ngẩn tò te, nửa như dè chừng nửa như choán ngợp, không khỏi lộn cả ruột, chỉ biết hắng giọng giục:

“Tiên sinh, trời không còn sớm...”

“A. Thứ lỗi, thật ngại quá. Lần đầu được thấy một nơi tử khí sâm nghiêm thế này, hơi hoảng hồn.”

Hoàng Thanh Nhàn nghe gã giải thích, trợn mắt, con ngươi đảo một vòng, hai hàm răng nghiến vào nhau trèo trẹo. Nếu không phải ký ức về đội hình bảo kê đầy hung hãn của Nguyễn Đông Thanh hãy còn mới nguyên trong tâm trí, khéo mụ đã không kìm nổi mà giáng cái lang nha bổng đang cầm xuống giữa đầu hắn.

Mẹ nó...

Nhà ngươi có phân thân của Lôi Đình Kiếm Tổ, Tạ Phong Tử, Long Vương, Võ Hoàng hộ mạng mà còn có mặt mũi nói một ngôi chùa bỏ hoang là đáng sợ?

Bích Mặc tiên sinh... làm người cũng phải có liêm sỉ. Ngươi có hóa trang phàm nhân cũng không nên giở trò vô lại như thế.

Nguyễn Đông Thanh đương nhiên không biết ý nghĩ trong đầu Hoàng Thanh Nhàn lúc này. Gã hít sâu một hơi, thu hết can đảm, rồi mới lò dò dò dẫm từng bước, đi xuống ngôi chùa cổ.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 296: Huyền Tiêu Cung Chủ Và Dược Thánh


Nửa ngày sau khi Nguyễn Đông Thanh xuống Thanh Trúc Tự...

Phủ Chưởng Kiếm quan, chính sảnh, lúc này đang có năm người ngồi quanh một cái bàn làm bằng gỗ gụ, bên trên đặt một khay gỗ và một bộ ấm chén. Khay gỗ đẽo từ thứ tuyết tùng vạn năm, ấm chén làm bằng sứ trắng lấy dưới Phong Bạo Hải và men ngọc thạch của núi Hoàng Liên, giá trị liên thành.

Bấy giờ mùi gỗ, mùi men sứ hòa lẫn trong hương Yên Tỏa Bích La Thanh khiến lòng người như mê đi.

Lạ một nỗi, ấy là Hoàng Thanh Nhàn tuy mang tiếng là chủ nhà, song lại không ngồi ở ghế chính giữa. Vị trí ấy đang nhường cho một lão già tóc bạc, áo trắng, da dẻ trên trán thì nhăn nheo nhưng hai má lại căng bóng như da thiếu nữ mười tám. Trên đỉnh đầu lão có một cây trụ thép dài đóng thẳng vào huyệt Bách Hội, dáng vẻ hết sức quái đản.

Ngồi thứ hai bên phía hữu là một trung niên mặt choắt, mõm nhọn, hai mắt ti hí đầy vẻ gian giảo, hai cái ria méo cong tít lại như cây cỏ dương xỉ. Y phủi phủi cái áo lông, lại nhón tay rót cho mình một chén trà nữa, dốc ngược miệng chén uống cạn. Cái tướng ăn thùng uống vại của y có vẻ khiến ông lão râu bạc ngồi ở chủ vị thấy khó chịu, bèn lên tiếng:

“Này! Bớ cái tên họ Thích kia. Yên Tỏa Bích La Thanh của lão phu là nước lã để bay uống như ma chết đói thế hả?”

Tên mặt choắt họ Thích nhíu mày, song lại nhanh chóng nở nụ cười toe toét, nói:

“Dược Thánh thông cảm. Tiểu yêu vừa mới tổn thất một trong tam thân vào tay Võ Hoàng. Trà của ngài dược hiệu mạnh như vậy, khiến tiểu yêu theo bản năng muốn uống nhiều mấy ngụm để bồi bổ thân thể, nhanh chóng khôi phục đó mà.”

“Thật là cái tính súc sinh ăn vào cốt tủy, muốn đổi cũng chẳng được.”

Lão già Dược Thánh hếch cổ, hứ một tiếng, lời nói và ánh mắt đầy vẻ khinh khỉnh coi thường.

Họ Thích nghe vậy, đập bàn, mắng:

“Này Tề lão thất phu, muốn khai chiến phải không? Huyết Nhãn Trúc Thử bọn ta chưa chắc đã sợ Đan Dược hội của các người đâu.”

Huyết Nhãn Trúc Thử nhờ ăn được vị cao tăng kia mà đoạt được Tam Thân Thần Thông, trở thành cự đầu một phương. Từ đó mà chủ mạch cũng thi nhau lấy họ Thích, coi như là “tạ ơn” nhà sư khi xưa. Tên trưởng lão này có thể mang họ của chủ mạch, có thể thấy địa vị trong tộc cũng không thấp, hoàn toàn có thể đại diện cho Huyết Nhãn Trúc Thử tộc tuyên chiến với một thế lực khác.

Lão già họ Tề cũng chẳng chịu kém, phẩy tay như đuổi ruồi:

“Tới đi. Huyết Nhãn Trúc Thử muốn khiêu chiến với toàn bộ nhân tộc thì cứ việc. Các đạo khác trong Ngũ Lộ Triều Thiên thì bản hội trưởng không dám chắc, nhưng Võ Đạo và Đạo Môn chắc chắn san bằng Lục Trúc Hải đặng diệt toàn tộc các ngươi, có tin không?”

Lão già này tên Tề Thiên Hạ.

Cái tên nghe vô cùng bá khí, lại cũng vô cùng tục khí. Có người nói sở dĩ cha lão đặt cho lão cái tên này là để về sau lão nổi danh, y có thể đường đường chính chính được người khác gọi với cái tên bố của thiên hạ.

Chỉ đáng tiếc, lúc Tề Thiên Hạ ba tuổi, cha lão lên đường đột ngột.

Về chuyện này chín người mười ý, song cái thuyết được nhiều người tin tưởng nhất ấy là cha của Tề Thiên Hạ ra đồng làm việc, dẫm nát một con cua, bị vỏ cua vỡ ra đâm vào chân, cuối cùng vết thương ác hóa mà chết. Thằng con lão cũng từ đó quyết chí học nghề y để chữa trị cho cha.

Thế rồi chẳng hiểu ra sao, từ cái nguyên nhân củ chuối này, Tề Thiên Hạ thành tựu một đời Dược Thánh, thậm chí còn trở thành hội chủ của Đan Dược hội.

Chẳng qua, về sau vì cái tên quá mức dở hơi, nên lão kiên quyết bắt người khác chỉ được dùng danh hiệu, không được nhắc tên thật của mình.

Lại nói đến bên bàn trà, có vẻ đánh hơi thấy tên họ Thích chuẩn bị động thủ, kẻ ngồi bên trái mới cười, nói:

“Thôi. Thôi. Ở đây đều là người mình, chuyện chưa đâu vào đâu đã cắn xé lẫn nhau là thế nào? Thích trưởng lão, Tề hội trưởng, coi như là nể mặt Tiêu mỗ, mỗi bên nhường một bước.”

Lúc y cười lên, cái vết sưng băng bó trên má lại xệ xuống, trông nực cười vô cùng.

Người này không phải ai khác, chính là cung chủ Huyền Tiêu cung – Tiêu Thiên Hóa. Còn nhớ đâu đó độ một năm trước, y chạy đến Mỹ Vị sơn trang định cướp bảo vật Thiên Địa Thần Úng, giữa chừng lại bị thần vật đánh lén cho một cái ngay mặt.

Vết thương do hũ thần gây ra chẳng phải bình thường, đến giờ lấy y thuật của Tiêu Thiên Hóa mà vẫn chưa hoàn toàn lành lại. Thành thử, từ bấy đến giờ, Tiêu Đan Tử lừng lẫy anh danh mới trốn tiệt trong Huyền Tiêu cung chẳng dám ra ngoài gặp ai.

Lần này hay tin Đế Mộ muốn tiêu diệt Bích Mặc tiên sinh, cũng coi như kẻ thù gián tiếp của mình, gã mới mò ra ngoài.

“Vẫn là Tiêu cung chủ nói chuyện dễ nghe."

“Vậy bản hội trưởng đánh chó ngó mặt chủ vậy.”

Tề hội trưởng nhún vai một cái, cho dù thu cờ dẹp trống lui quân cũng không quên chửi tên họ Thích một câu.

Trong lúc ba vị “đại lão” chửi nhau tơi bời thì Hoàng Thanh Nhàn và Hoắc Kim Trọng chỉ biết ngồi im thin thít, không dám hé miệng nửa lời. Luận tu vi và sức ảnh hưởng có thể bọn hắn không bằng ai, thế nhưng kinh nghiệm quan trường thì hai người Hoàng, Hoắc dám khẳng định tuyệt không thua ai.

Bọn hắn biết Thích trưởng lão cố tình uống trà như uống nước lã là muốn giành thế chủ động.

Bọn hắn cũng biết sở dĩ Tề hội trưởng – Dược Thánh – cố ý nhắm vào Thích trưởng lão của Huyết Nhãn Trúc Thử tộc hoàn toàn chẳng phải do lão rỗi hơi rửng mỡ tự dưng lại đánh bài phân biệt chủng tộc.

Đấy chẳng qua là cái cớ muốn gõ bọn họ.

Dù sao, ba người Hoàng, Hoắc, Thích cũng cấu kết với nhau định hẫng tay trên công lao “diệt sát Bích Mặc tiên sinh” của lão. Nghe đồn, kể từ khi Tạ Thiên Hoa rời khỏi biển trúc vào hơn một năm trước, Dược Thánh đã bắt đầu điều chế độc dược chuyên môn nhắm vào y. Nghe đâu chính là do tộc trưởng tộc Thanh Tước – Âu Dương Mặc – ngấm ngầm nhờ cậy.

Người ta ủ mưu cả năm trời nay mới thò mặt ra thi thố tài năng, bọn hắn bỗng dưng nhảy ra đòi Lý Thông một chuyến, quả thực là không dễ nói chuyện.

Cũng may mà Tề hội trưởng không muốn làm căng, chỉ nhắm vào Thích trưởng lão mà thôi.

Tiêu Thiên Hóa ho khan một tiếng, nói:

“Tề huynh, chuyện gì thì cũng để sau. Lần này mọi người tụ hội ở đây là để bàn chuyện của Nguyễn Đông Thanh phải không? Thích trưởng lão, lời huynh nói là thật chứ?”

“Tại hạ dám dùng tính mạng mình đảm bảo. Lúc đó Nguyễn Đông Thanh xuống Thanh Trúc tự, chỉ nhìn quanh một vòng rồi ngẩn người ra đứng như trời trồng suốt hơn một canh giờ, hoàn toàn không hô hấp lấy một lần. Sau đó gã tỉnh lại, lắc đầu một cái, chỉ nói một câu ‘trời không có mắt’ rồi thủng thẳng rời đi.”

Lão kể đến đây thì ngừng lại trong thoáng chốc, rồi nói:

“Các vị ở đây đều là cao thủ đã vào Vụ Hải, cho dù Quy Tức công lợi hại đến mấy thì cũng không thể ngưng thở hơn một canh giờ được. Chuyện này chắc chắn không bình thường. Tại hạ thấy sự lạ, đã sử dụng Lưu Ảnh thạch ghi lại toàn bộ đây. Mời chư vị cùng xem.”

Bốn người Tề, Tiêu, Hoàng, Hoắc đồng thời chúi đầu nhìn vào Lưu Ảnh Thạch mà Thích trưởng lão lấy ra, quả thực phát hiện có một bóng người đứng trơ trơ ra trong căn phòng tối thui của chùa Thanh Trúc, hai mắt trợn ngược lên trắng dã, trông thật là ớn lạnh gai người. Tuy ánh sáng không tốt, nhưng nhìn vóc người, cả bốn đều có thể đoán được đấy chính là Nguyễn Đông Thanh.

“Bích Mặc tiên sinh... hắn rốt cuộc là thứ quái vật gì cơ chứ?”

Tiêu Thiên Hóa chẹp miệng.

Dược Thánh khịt mũi, nói:

“Mặc xác hắn là thứ yêu tà quái thai gì. Chỉ cần lúc trong Thanh Trúc tự Thích trưởng lão đã làm đúng những gì lão phu căn dặn, thì ba ngày sau sẽ là ngày chết của Nguyễn Đông Thanh.”

Hoắc Kim Trọng nuốt nước bọt, nói:

“Tiêu cung chủ, Thích trưởng lão, Tề hội trưởng học rộng hiểu nhiều, không biết có thể giải đáp một câu hỏi của hạ quan được chăng?”

“Hoắc đại nhân cứ nói.”

“Chẳng phải trong ngũ đại thánh tộc cũng có một tộc gần như không cần hô hấp hay sao?”

Thích trưởng lão nghe Hoắc Kim Trọng nói vậy, chớp chớp mắt hai cái, đoạn nói:

“Ý của Hoắc đại nhân là thực chất Nguyễn Đông Thanh không phải con người, mà là Mộng Yểm Thụ Tinh tộc?”

Tề Thiên Hạ nghe vậy, nhẹ nhàng lắc đầu, phụ họa:

“Lời này không phải không có lý. Nếu Nguyễn Đông Thanh này là tộc nhân của Mộng Yểm Thụ Tinh tộc thì đã giải thích được vì sao hắn lại biết độ hóa. Ài... khó trách Kim Thiền Tử của Long Hoa tự lại nói lần luận đạo này là đạo thống chi tranh. Ra là vậy...”

Tiêu Thiên Hóa nói:

“Chưa thể kết luận vội vàng thế được. Theo tại hạ thấy thì vẫn nên đến Long Hoa tự nói chuyện với Trùng Quang đại sư một chuyến cho chắc. Ài, kể ra cũng vô thường thật. Chúng ta hư tình giả ý lấy tàn tích của cổ Phật môn dụ Nguyễn Đông Thanh, bây giờ lại phải thực sự bái phỏng Phật môn. Nhân quả cỡ này, nói là không phải có người cố ý giật dây thì thật là khó tin.”

Lời nhóm tác: À thì chương này có đoạn Thanh “không bình thường” nên lên nói mấy câu: tất cả mấy cái bọn mình khẳng định từ đầu truyện tới giờ đều vẫn đúng nhá. Thanh là người phàm, không có tu vi, không thể tu luyện, bị một tu luyện giả bất kỳ đánh trúng là đi chầu ông bà tổ tiên luôn. Thế nhưng kỳ thực từ đầu truyện thì cũng rải rác rất nhiều hint về việc nó cũng không hoàn toàn “bình thường” rồi. Ngay lúc con Hoa mới vào cổ viện đã khẳng định nếu là người phàm bình thường thì không thể nào sống sót ở cổ viện. Mà người của Huyền Hoàng giới cũng nhiều lần tái khẳng định chuyện này. Ngoài ra thì những chuyện xoay quanh “thế tôn” và cái giếng của cổ viện cũng thỉnh thoảng lại được nhắc đến một lần, cũng không phải rỗi hơi nên nhắc chơi đâu. Tiếp đến thì là việc chính Thanh cũng không nhớ chính xác hắn xuyên không qua như thế nào, mỗi lần nhắc lại lại ra một tích mới cũng là cố tình sắp xếp chứ không phải bọn mình lâu ngày quên hay retcon lại đâu. Nói chung là, Thanh là người phàm xuyên không qua Huyền Hoàng giới thì vẫn là sự thật, nhưng Thanh có liên quan tới “thế tôn” thì chắc các bạn đọc tới nay cũng đã thấy khả năng đang rất cao, phải không ạ? Còn liên quan thế nào thì tạm thời bọn mình chưa khẳng định rõ vội.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 297: Bích Mặc Tiên Sinh Bị Bệnh


Sau khi Nguyễn Đông Thanh từ thành Bạch Đế trở về, cả Quan Lâm cơ hồ gặp cảnh gà bay chó sủa.

Nguyên nhân rất đơn giản...

Người chuẩn bị thay mặt thiên tử luận đạo với Kim Thiền Tử – Bích Mặc tiên sinh – đột nhiên ngã bệnh liệt giường, sốt cao hầm hập, mê man bất tỉnh.

Càng đáng chết hơn, ấy là trước đấy chỉ mấy ngày thôi, toàn bộ thầy thuốc trong quan đều bị điều lên chiến trường chi viện cho tiền tuyến, xung vào bổ sung cho quân y. Ở thành Quan Lâm đến dược đồng còn chẳng thấy bóng, đừng nói chi là lang y dược sĩ.

Vũ Tùng Lâm đã đến bàn với Hồ Ma Huyền Nguyệt cho người tức tốc đến cứu Bích Mặc tiên sinh, song y thị lại nói:

“Muốn tự ý rời khỏi quân ngũ thì phải hỏi ý Võ Hoàng. Lại thêm Quan Lâm ta không có truyền tống trận. Sớm thì cũng phải năm ngày mới có thể điều thầy thuốc đến thăm bệnh cho tiên sinh được.”

“Thế nhưng bệnh tình của tiên sinh…”

“Vậy mới khó. Chẳng nhẽ quả thực là trời cao đố kỵ anh tài hay sao?”

Hồ Ma Huyền Nguyệt ngửa mặt nhìn trời, than thở.

Tuy chuyện lang y bị điều lên tiền tuyến cũng có bàn tay của y thị thúc đẩy, song lúc này sắc mặt của thành chủ thành Bạch Đế cũng chẳng lấy gì làm dễ chịu, trông nhăn nhó còn hơn là cạp phải bọ xít. Nói gì thì nói, là một người theo chủ chiến phái, Hồ Ma Huyền Nguyệt đương nhiên hi vọng Nguyễn Đông Thanh còn có thể tiếp tục làm cái gậy quấy cám lợn, đâm bị thóc chọc bị gạo, xui nguyên giục bị thêm một thời gian nữa.

Thế nhưng Đế Mộ đã ra tay, bây giờ Bích Mặc tiên sinh nằm liệt giường ra đấy, y thị cũng chẳng nói gì được. Đấy âu cũng là cái khổ của phe chủ chiến ở Huyền Hoàng giới. Lệnh Đế Mộ vừa ban, cho dù trong lòng cay đắng như ăn cả cân ớt, cả trăm quả mướp đắng thì cũng chỉ biết ngậm bồ hòn làm ngọt, tươi cười giúp Đế Mộ diệt trừ nhân tố có thể đánh đổ thế cân bằng ở Huyền Hoàng giới mà chính mình trông chờ mòn cả mắt mới xuất hiện. Sau đó lại là tịch mịch, lại là chờ đợi...

Vũ Tùng Lâm thấy vẻ khó chịu và bất lực của Hồ Ma Huyền Nguyệt vô cùng khẩn khoản chân thật, cảm thấy không phải giống như đang diễn trò thì cũng không nghi ngờ gì nữa. Dù sao, tuy lão làm quan đã lâu, nhưng xa lánh triều đình, trấn thủ ải Quan Lâm. Những chuyện giả trá này quả thực Vũ Tùng Lâm chỉ nghe tên mà không biết tận mặt.

Lão lắc đầu, nói:

“Chỉ mong sao tiên sinh cát nhân thiên tướng, có thể qua được một kiếp này.”

Cái lúc Bích Mặc tiên sinh của chúng ta đổ bệnh, kỳ thực Vũ Tùng Lâm cũng định bất chấp chạy đến Lão Thụ cổ viện một chuyến, sau đó sử dụng chân khí cứu tỉnh y. Thế nhưng cân nhắc mãi, lão cuối cùng lại đổi ý, không dám tùy tiện dùng chân khí chữa bệnh, sợ là sẽ đánh vỡ “trạng thái kỳ diệu” của Nguyễn Đông Thanh.

Đến cả bà con chòm xóm trong ải Quan Lâm hay tin Bích Mặc tiên sinh bị bệnh liệt giường cũng nháo nhào cả lên. Nếu không phải có Vũ tổng binh hết lòng khuyên can, ổn định tình hình, có lẽ đám đông bá tánh đã đạp cửa thành chạy đến ngoại ô thăm gã rồi.

Đương nhiên, có người lo lắng khổ sở, thì cũng sẽ có kẻ vui cười hớn hở.

Lý Lợi Minh không thể nghi ngờ, chính là một trong số đó. Ngoài ra còn có hai con quỷ đói Lâm Sấu, Lý Bàn. Kể từ lúc Nghiêm Hàn chạy ra Phong Bạo hải lùng sục Mặc Ngạn Bác đến giờ vẫn chưa có tung tích, bọn hắn thân là nhân viên, sếp tổng tự dưng bốc hơi khỏi cõi đời có thể không co vòi rụt cổ sao?

Kể cả đã thu mình ẩn dật, những ngày này đối với một người, hai quỷ mà nói vẫn là một quãng thời gian sống trong nơm nớp lo âu, chẳng rõ lúc nào thì cái tên Bích Mặc tiên sinh kia rớ vào mình khai đao.

Nhất là Lý Lợi Minh...

Gã ỷ y vào chuyện mình cấu kết với Nghiêm Hàn, trục lợi không thiếu từ những lần chiến tranh, tiễu phỉ. Bây giờ Hải Thú công thành, đối với hắn mà nói thì chẳng khác nào cơ hội phát tài, làm một lần tiêu đến ngàn đời chưa hết.

Ấy vậy mà chỉ vì Nguyễn Đông Thanh tồn tại, Lý Lợi Minh chỉ có thể rấm rứt án binh bất động, nhìn tiền trôi ra biển ra sông. Từng ngày trôi qua với gã mà nói là một đống của nả thi nhau đâm đầu xuống nước, đối với kẻ đã nếm mùi ngon ngọt một lần như Lý Lợi Minh thì có khác gì nghiện thiếu thuốc?

Thành thử, hai gã Lâm Sấu Lý Bàn chỉ sợ hãi mà thôi, còn gã thì vừa tiếc hùi hụi lại vừa sợ sệt lo âu, thiếu điều phát điên nghĩ quẩn.

Bây giờ hay tin Nguyễn Đông Thanh bị bệnh liệt giường, đối với Lý Lợi Minh mà nói có khác nào người vừa kinh qua giá rét của đêm đông được đón tia nắng hè đầu tiên rọi vào mặt?

Gã vui mừng, gã hớn hở, nếu không phải sợ cả thành đè mình ra đánh, chắc Lý Lợi Minh sớm đã cho chăng đèn kết hoa ăn mừng rồi.

Chia sẻ thứ cảm xúc dâng trào lúc này của ba tên Lý, Lâm còn có hai thành viên “cộm cán” của Trang Bức Thần Giáo: Bùi Xuân Luận, Giả Cát Tường.

Kể từ lần đầu đụng độ với Nguyễn Đông Thanh, hai tên này vẫn ngấm ngầm ghen ghét vì đối phương chẳng những danh tiếng ở Quan Lâm như mặt trời ban trưa, mà còn rất có thể có được một “hệ thống” xịn hơn của chúng. Bấy giờ, nghe tin Bích Mặc tiên sinh bị bệnh, Vũ tổng binh cho người lùng sục cả Quan Lâm tìm kiếm y sư mà tâm lý cua trong sọt của cả hai tên Bùi, Giả như được ăn cám tăng trọng, bành trướng phổng phao còn hơn cả thánh Gióng ăn cơm. Cả hai bấy giờ chính đang kéo nhau đi ăn mừng, trong phòng bày biện đồ nhắm chén tạc chén thù, ông anh kết nghĩa Phó Kinh Hồng ở núi Lệ Chi đã sớm bị hai thằng quăng lên chín tầng mây.

Bấy giờ, ở Lệ Chi sơn...

Phó Kinh Hồng và đám thuộc hạ cũng âm thầm thở phào, nhưng là vì nguyên do khác.

Số là, Hồ Ma Huyền Nguyệt vẫn lấy cớ thảo phạt bọn hắn để ở lại Quan Lâm. Thành thử, từ lúc Nguyễn Đông Thanh nhậm chức đến nay, y thị cứ thỉnh thoảng lại cử đại binh đến núi đánh tan tành sơn trại của bọn họ một lần, nhưng cứ hễ Phó Kinh Hồng sắp sửa bại trận thì cả đám lại rút đi còn nhanh hơn cả thỏ.

Lần một, lần hai thì cũng thôi...

Tính đến nay, Phó Kinh Hồng và đám anh em từ nước Sở đến đã bị trêu đùa bỡn cợt, như chuột bị mèo vờn như thế đã ba mươi mấy lần. Không thiếu chiến hữu năm xưa kém chút thì nhảy giếng tự tận, may mà họ Phó phát hiện kịp thời, ngăn lại đúng lúc.

Thế nhưng...

Nguyễn Đông Thanh vừa ngã bệnh, quân đội của Hồ Ma Huyền Nguyệt cũng bắt đầu lục tục rút bớt về thành Bạch Đế. Áp lực mà quân của Phó Kinh Hồng phải gánh chịu thoắt cái đã giảm đi dễ phải sáu bảy thành. Họ Phó và anh em thậm chí còn bảo nhau giết lợn lấy máu, lập bài vị, dùng rượu cúng tế vị Bích Mặc tiên sinh đang ở nơi xa sớm về chín suối giúp, để Hồ Ma Huyền Nguyệt và binh lính của ả sớm ngày khăn gói quả mướp về thành Bạch Đế cho họ nhờ...

Mà ở một nơi khác cách xa Quan Lâm, một tên thành chủ nào đấy đã bắt đầu gọi hết cả quan lại dưới trướng vào bàn họp, xem có nên đổi tên thành về như cũ hay không.

Mặc cho thiên hạ gà bay chó sủa, Lão Thụ cổ viện vẫn im lìm không thấy có một động thái nào cả. Hồng Đô không rời núi, Huyền Thanh nương nương và đám điểu tinh theo hầu cũng lấy cớ ngủ đông trốn tiệt trong đầm Nhất Dạ chả thèm thò mặt ra, khiến những kẻ hữu tâm lại càng lấy làm tò mò hơn về kết cục của Bích Mặc tiên sinh.

Bấy giờ, trong viện...

Hồng Vân nhàn nhã ngồi trên xích đu, tay cầm tách trà, trước mặt kê một cái bàn dài, phía trên để hai mươi mấy lá bài hình chữ nhật vẽ những hình thù quái dị. Cải Thảo chính đang hóa thành hình người, ngồi chồm hỗm trên ghế đối diện với cô hàng xóm, cau mày nhăn trán.

“Đánh đi chứ? Hồng Đô, vào phòng lấy thêm đồ ăn cho ta.”

Khác với mọi lần, hôm nay cô mèo máy nghe lệnh của Hồng Vân xong vẫn đứng chôn chân tại chỗ, không nhúc nhích lấy một chút. “Bạch Sầu Phi” nheo mắt lại, trên gương mặt hiện lên vẻ giảo hoạt.

“Có gì muốn nói thì cứ nói đi... Này Cải Thảo, cấm có động vào ván bài. Thiếu một quân ta chặt tay!”

Cuối cùng, cô hàng xóm rờ mãi không thấy đồ ăn, thở dài đứng dậy khỏi ghế. Đương nhiên, Hồng Vân cũng không quên cảnh cáo kẻ đang định động tay động chân với cái bàn một câu.

Hồng Đô dậm chân, nói:

“Chủ nhân, sao ngài có thể làm thế?”

“Làm thế? Tức là làm thế nào???”

“Vì sao ngài lại kiên quyết từ chối Long sứ giả? Ngài ấy biết y thuật, có thể sẽ cứu được tiên sinh một mạng. Ấy vậy mà ngài chẳng những không chịu, bây giờ còn nhởn nhơ hưởng thụ thế này? Thứ cho Hồng Đô nói thẳng, tuy chủ nhân có ơn ban cho tiểu nữ sinh mệnh thứ hai, nhưng nếu không có tiên sinh...”

Hồng Vân đưa tay ra dấu cho cô nàng ngừng lại, đoạn nhìn về phía Cải Thảo:

“Ngươi cũng nghĩ như thế sao?”

“Bạch Sầu Phi” nhún vai, nói:

“Cũng có một chút lo lắng, nhưng thiết nghĩ xưa nay chủ nhân tính toán không bỏ sót chuyện gì, chắc hẳn đã có đối sách khác.”

Hồng Vân nghe đến đây, bật cười, nói:

“Được rồi, không cần phải lo bò trắng răng. Cái tên kia sống dai như gián, các ngươi có chết hết cũng chưa chắc hắn đã làm sao. Thôi, chắc thằng nhóc cũng sắp xuất hiện rồi. Hồng Đô, ở đây có một cái cẩm nang. Bây giờ ngươi vào Quan Lâm, chờ ở cửa thành nam, bao giờ thấy một thiếu niên tuấn tú lưng mang giỏ thuốc xuất hiện thì mời về đây thăm bệnh cho tiên sinh nhà ngươi. Nếu chẳng may có dọc đường gặp phải kẻ không đối phó nổi thì giở cẩm nang ra, trong ấy tự có đối sách.”

oOo

Lời biên tập: Cuối cùng thì anh năm cũng chuẩn bị lên sóng rồi. Đội hình đệ tử cổ viện sắp đủ người rồi nhá! Còn không biết bà con có để ý không, cơ mà Thanh cứ nhận một cháu về cổ viện sống thì lại “mọc” thêm ra một vị Đại Yêu cổ viện chạy long nhong. Hai việc này có liên quan đến nhau hay không thì... bà con đoán xem! Tiện thì có ai muốn đoán luôn xem lần này sẽ là dựa theo vị nào của Ôn lão tiên sinh không?
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 298: Trường Mệnh Trùng Tái Xuất Giang Hồ


Hồng Đô chẳng hiểu mô tê gì cả, song vẫn nhất nhất làm theo lời hướng dẫn của Hồng Vân. Cô mèo máy lon ton chạy ra khỏi cổ viện, sử dụng thần thông đằng vân nhắm thẳng đến cửa ải đằng xa.

Thế nhưng...

Hồng Đô mới bay được non nửa đường, từ phương xa đã có một bóng người bay vun vút tới, nhắm thẳng hướng biển trúc mà đi. Chân khí của y thổi quét ra bốn phía, khiến cô mèo máy cũng chao đảo không cách nào đứng vững nổi, chỉ có thể hạ thấp độ cao né tránh một chút.

Chẳng ngờ, cô nàng đã dừng lại nhường đường, song người nọ có vẻ nhất quyết không chịu buông tha, bỗng nhiên chuyển hướng, bẻ ngoặt đường bay lao về phía Hồng Đô. Cô nàng không khỏi giật mình kinh hãi, vội vàng mở cẩm nang của Hồng Vân tiên tử ra đọc.

Vừa nhìn hàng chữ đầu tiên, đôi mắt của cô mèo máy đã trợn lên trừng trừng, kế thở dài lắc đầu, nhét cẩm nang lại vào túi chứa đồ như cũ.

Nói thì chậm, nhưng kể từ lúc người kia chuyển hướng đến lúc Hồng Đô đọc xong cẩm nang của Hồng Vân chỉ diễn ra trong bốn, năm cái hô hấp gì đó thôi.

Bấy giờ...

Cô mèo máy đứng thẳng lưng, không tránh không né, mặc kệ chân khí của đối phương quét tới. Khí tràng của kẻ kia vốn đang hung hãn như bão tố, thế nhưng vừa đến trước mặt cô nàng thì lại lập tức hóa thành một cơn gió nhẹ, hoàn toàn không có một chút địch ý nào cả.

Hồng Đô thở phào một cái, đoạn chắp hai tay lại, nói:

“Dân nữ bái kiến Võ Hoàng điện hạ.”

Miệng nói, trong lòng cô nàng lại không khỏi bội phục Hồng Vân tiên tử. Bởi lẽ, câu đầu tiên được viết trong mảnh giấy cất trong cẩm nang Hồng Đô vừa nhận được chính là “người quen, không cần hoảng”.

Lý Huyền Thiên lắc mình, khiến chân khí quanh thân hoàn toàn dịu xuống, đoạn nói:

“Quả nhiên là Hồng hộ vệ. Lần trước tương kiến hình như là ở sinh thần của bệ hạ. Không biết tiên sinh đã về chưa?”

“Đã về rồi. Chỉ tiếc là...”

“Tiên sinh có việc gì sao?”

Lý Huyền Thiên thấy cô mèo máy cứ ấp a ấp úng, trực giác cảm thấy có điều không lành, mới lên tiếng hỏi dồn.

Hồng Đô do dự một lần cuối, sau đó hít sâu một hơi, nói:

“Tiên sinh đã về rồi, chỉ là vừa mới về đến Quan Lâm thì bỗng dưng người đổ bệnh liệt giường. Lang y dược sĩ trong ải thì đều đã được phái đến tiền tuyến, thành thử tiên sinh không người chăm sóc... Tình trạng hiện tại của tiên sinh điện hạ cũng đã biết, thành thử cũng không ai dám sử dụng chân khí để chữa thương cho người cả.”

“Ra vậy. Hèn chi đám Huyết Nhãn Trúc Thử và Địa Chấn Man Tượng trong Lục Trúc Hải bắt đầu dị động, té ra là chúng nghe tin tiên sinh có chuyện. Đáng chết, sao lại trùng hợp đến thế được kia chứ? Không biết tiên sinh đã có đối sách gì chưa?”

Lý Huyền Thiên dậm chân một cái, nói.

Bấy giờ, cô mèo máy cũng đã hiểu vì sao đột nhiên Võ Hoàng lại bất chấp hòa ước với tộc Thanh Tước để xuất hiện ở ải Quan Lâm này.

Phải biết...

Sở dĩ Không có yêu tộc nào tu vi vượt quá ngũ cảnh xâm lấn ải Quan Lâm suốt mấy chục năm nay là do Đại Việt đã có một hòa ước với tộc Thanh Tước. Trong đó, điều kiện tiên quyết đó là Lý Huyền Thiên không được xâm nhập vào Lục Trúc Hải.

Tin Nguyễn Đông Thanh bị thương chẳng rõ bằng cách nào đã truyền vào biển trúc, khiến các tộc bại thê thảm trong trận đấu lôi đài khi trước muốn kéo quân ra trả thù. Dẫn đầu không ai khác ngoài Địa Chấn Man Tượng và Huyết Nhãn Trúc Thử. Mặt đông thì Hải Thú đã bắt đầu tấn công vào bờ, Đại Việt căn cơ lập quốc còn nông, không thể chịu cảnh lưỡng bề thọ địch được. Thế nên, Lý Huyền Thiên chỉ có thể chạy vào Lục Trúc Hải trấn áp các tộc quần bên trong.

Về phần ngoại giao với tộc Thanh Tước thì sẽ xử trí sau.

Hồng Đô đáp:

“Chuyện này... tiên sinh đã có dự liệu. Chỉ là chuyện này cũng là một canh bạc, tiểu nữ cũng không rõ rốt cuộc người nắm chắc được mấy phần.”

Vốn là cô nàng còn định nói với Võ Hoàng rằng những chuyện xảy ra những ngày gần đây thực sự quá mức trùng hợp, từ chuyện Nguyễn Đông Thanh ngã bệnh, Võ Hoàng bận tối mắt tối mày cho đến việc toàn bộ dược sĩ, y sư trong ải Quan Lâm đều bị điều lên tiền tuyết. Hết thảy cứ giống như có một bàn tay trong bóng tối thúc đẩy mọi chuyện, cố tình nhắm vào Bích Mặc tiên sinh.

Song...

Cuối cùng, cô mèo máy lại quyết định không nói.

Bởi lẽ, trong cẩm nang của Hồng Vân tiên tử có dặn kỹ rằng chuyện ở Quan Lâm tuyệt đối đừng nói nhiều với Võ Hoàng, cứ để y làm việc của y, cô nàng làm việc của cô nàng là được rồi.

Lý Huyền Thiên nghe thế, thở phào, đáp:

“Thế là tốt rồi. Hồng hộ vệ cứ yên tâm, tiên sinh tài cao bắc đẩu, những chuyện như thế này há lại có thể gia hại được? Bản hoàng còn có chuyện trên người, không tiện lưu lại lâu hơn nữa. Phiền hộ vệ chuyển lời hỏi thăm của bản hoàng đến tiên sinh.”

Lão nói xong thì cũng chẳng tiếp tục dông dài khách sáo, lại đạp gió cưỡi mây bay vút đi, nhắm thẳng về hướng biển trúc.

Cô mèo máy nhét cẩm nang vào túi, vừa lắc mình bay về phía ải Quan Lâm, vừa tự hỏi rốt cuộc những gì mình vừa làm là đúng hay sai.

Cách đó không xa...

Trong Lão Thụ cổ viện, Hồng Vân từ từ buông mấy quân bài trên tay xuống, lắc đầu, lẩm bẩm tự nói:

“Chuyện ta làm được đều đã làm rồi. Không biết y có trốn được một kiếp này hay không.”

oOo

Ải Quan Lâm...

Sau một quãng thời gian lo lắng không yên cho an nguy của Bích Mặc tiên sinh, thì người dân cũng phải quay lại với nhịp sống thường ngày. Dầu sao, ngồi lo lắng thì không ra tiền, mà con cháu trong nhà thì vẫn cần ăn, tô thuế hàng năm vẫn phải đóng chẳng thiếu đồng nào, cũng chẳng ai thay mình mưu sinh được cả.

Thế là, ai buôn gánh bán bưng thì buôn gánh bán bưng, ai trồng trọt chăn nuôi thì cũng lại quay về cái nghề gốc. Không khí của Quan Lâm lại trở về như mấy ngày trước đây. Tuy vẫn nặng nề vì chiến tranh đang đến gần, song vì ở sâu trong đất liền nên cũng không đến nỗi khẩn trương lo lắng, chí ít vẫn còn giữ được cái bình yên.

Duy chỉ có việc toàn bộ thầy lang, thầy thuốc ở Quan Lâm đều bị đưa lên tiền tuyến là khiến người ta bị ảnh hưởng không nhỏ. Những cái chuyện cảm mạo, ho vặt, đau lưng mỏi khớp bây giờ không có ai chăm sóc, có bệnh thì chỉ biết nằm nhà chờ cho tự khỏi nên người ta cũng cẩn thận hơn, cố gắng giữ gìn cho bản thân không ngã bệnh trong cái thời điểm đặc biệt này.

Hồng Đô trùm mũ, chạy vào thành theo đúng như chỉ dẫn trên cẩm nang, sau đó ngồi ôm cây đợi thỏ.

Thời gian cứ thế trôi qua, cô mèo máy không có việc gì làm bắt đầu ngủ gà ngủ gật, thì bỗng nhiên từ đằng xa xuất hiện một người áo trắng.

Thiếu niên bước trên đường cái quan, ánh nắng rọi xuống gương mặt, hiển lộ rõ những đường nét anh tuấn. Mày kiếm mắt sáng, mũi thẳng môi hồng, chỉ riêng về độ tuấn tú thì người này có lẽ còn hơn cả Lý Thanh Vân, có thể liều với thiếu lâu chủ của Vọng Thiên Lâu một trận. Trên lưng y cõng một giỏ sách, eo đeo một ống trúc xanh, vạt áo trắng không nhiễm một hạt bụi, thần thái phong độ tựa như trích tiên hạ phàm.

Hồng Đô trông thấy y, đoán ấy chính là người mà Hồng Vân tiên tử nhắc đến. Cô mèo máy vội vàng ngồi dậy, lục tục lấy cẩm nang ra. Chỉ thấy nội dung ghi trên giấy chẳng rõ tự bao giờ đã thay đổi, hoàn toàn khác với khi gặp Lý Huyền Thiên ban nãy.

Sự thay đổi bất ngờ này khiến cô mèo máy có mấy phần trở tay không kịp, ngẩn người ra một thoáng chốc. Đợi đến khi Hồng Đô ý thức được chuyện gì vừa xảy ra, lại đọc xong nội dung mới trên mảnh giấy thì thiếu niên đeo giỏ sách trên lưng đã chẳng thấy bóng dáng đâu nữa.

Thay vào đó, bước trên đường cái lúc này là một trung niên gầy gò, mặt quắt, môi mỏng. Y nghênh ngang đi ngay giữa quan lộ, cái cằm hất cao, trông cũng có cái vẻ oai nghiêm bệ vệ lắm. Chỉ đáng tiếc là ở giữa mi tâm vẫn không giấu nổi cái nét lom dom rón rén. Thành thử, người bên ngoài nhìn vào chẳng thấy cái vẻ uy phong hùng dũng đâu mà chỉ thấy “trưởng giả học làm sang” là chính.

Kẻ này không phải ai xa lạ mà chính là Hạ Hầu tổng đại danh đỉnh đỉnh của thành Bạch Đế - Trường Mệnh Trùng Hạ Hầu Duyệt.

Y đến trước cổng thành, không chịu bước vào mà ngẩng đầu lên thật cao, đến độ cái lưng cong tớn ra sau, nói lớn:

“Tổng binh ở đây đâu? Sao còn chưa chịu ra nghênh tiếp bản quan?”

Hai cậu lính gác cổng trông dáng vẻ bố láo bố toét và cái gương mặt gợi đòn của Hạ Hầu tổng thì cũng ngứa tay ngứa chân lắm, chỉ hận không thể lập tức chạy đến tống năm bảy chục quả đấm vào mồm gã. Thế nhưng, hai người nghĩ lại, cảm thấy kẻ trước mặt dáng vẻ nghênh ngang kiêu ngạo, chắc hẳn thân phận cũng không đơn giản.

Thành thử...

Một người cố nén được cơn giận thì ở lại, tươi cười chào đón Hạ Hầu Duyệt. Người còn lại thì hầm hập bỏ đi gọi Vũ Tùng Lâm, chẳng thèm ngoái lại nhìn lấy một cái.

Hồng Đô giơ tờ giấy trong cẩm nang lên, phát hiện ở góc đã có thêm một dòng chữ nhỏ, viết bằng mực đỏ thì chỉ biết cười khổ, nhún vai một cái. Nói đoạn, cô mèo máy nhẹ nhàng lách ra ngoài, đi ra cửa thành.

Bấy giờ, Hạ Hầu Duyệt đang chỉ tay mà mắng cậu lính thủ thành từng trận từng trận, cứ xa xả như sa mưa tát nước. Cậu chàng chỉ biết cắn răng, đứng chôn chân tại chỗ mà cam chịu, không dám bật lại lấy một câu.

Cô mèo máy hình thể thấp lùn, đi đến sát bên rồi Hạ Hầu tổng mới để ý. Trường Mệnh Trùng nhíu mày, quát:

“Thế này là thế nào? Chưa gọi đã dám đến thì cũng thôi, lại gần bản quan mà chẳng chào hỏi lấy được một câu à? Vô lễ quá! Dĩ hạ phạm thượng! Ải Quan Lâm các người chẳng nhẽ không có gia giáo gì, quân kỷ lỏng lẻo đến thế sao? Hay là nói nơi đây vốn chính là như thế? Thượng bất chính, hạ tắc loạn, nhà dột từ nóc. Bản quan sẽ về thưa lại với đại...”

Lời còn chưa dứt, Hồng Đô đã vả một đòn ngay má Hạ Hầu Duyệt.

Trường Mệnh Trùng tu vi không cao, cô mèo máy lại là cường giả đã vào Vụ Hải, một đòn này hắn há lại có thể phản ứng kịp? Chỉ thấy Hạ Hầu tổng trúng đòn, cả người bắn tung lên không trung, xoay mòng mòng như con vụ bảy tám vòng cái mặt của gã mới tiếp đất.

Chỉ thấy lúc này...

Hai mắt Trường Mệnh Trùng đã trợn lên trắng dã, miệng méo xẹo, bất tỉnh nhân sự. Một bên má y sưng tấy lên, có vẻ chính là chỗ bị trúng đòn. Bên má còn lại thì lấm lem bùn đất, lại có mấy chục vết xước đang rỉ máu, có vẻ chính là bên vừa mới “hạ cánh”.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 299: Lã Vọng Thiên Và Dư Tự Lực


Tạm khoan nói chuyện Hồng Đô ở cổng thành, trước kể một chuyện khác đang đồng thời diễn ra ở một phòng ăn xa hoa lộng lẫy...

Lã thiếu lâu chủ buông đôi đũa trong tay xuống, thở dài một tiếng, thầm nghĩ:

“Mình có nên đến chỗ tiên sinh không nhỉ?”

Mới nghĩ đến đây, phòng kế bên đã cất lên tiếng cười khả ố của hai thằng cha nào đấy khiến cậu chàng đứt cả mạch suy nghĩ. Lã Vọng Thiên nghiến răng trèo trẹo, hai bàn tay thu lại thành nắm đấm. Nếu không phải ban nãy cậu chàng đã đặt đôi đũa xuống bàn thì khéo lúc này chúng đã gãy làm đôi rồi.

Từ khi cậu chàng đặt chân tới ải Quan Lâm đến nay đã ngót nghét gần một tháng. Trong suốt khoảng thời gian này, Lã Vọng Thiên không dám bói lấy một quẻ. Lý do kỳ thực rất đơn giản: ở cái ải Quan Lâm này, người người nhà nhà đều có ít nhiều nhân quả với Bích Mặc tiên sinh. Thành thử, nếu họ Lã không muốn mất máu mà chết trước khi thành công bái sư, thì tốt nhất là không phải vạn bất đắc dĩ, quyết không nên bói thêm quẻ nào.

Lần này cậu chàng chạy tới đây có ba lý do chính:

Thứ nhất, cậu chàng bói ra duyên sư đồ với Nguyễn Đông Thanh, nên cũng tò mò, muốn đến tìm hiểu về gã. Dẫu sao, Bích Mặc tiên sinh cũng quá “khiêm tốn”, chưa thể hiện gì nhiều.

Thứ hai, ngoại trừ duyên sư đồ, y cũng tính được mình còn có cơ duyên khác ở đây, nhưng cụ thể là cơ duyên gì thì Lã công tử chưa biết, cũng không dám làm liều mà đưa tay lên bấm quẻ.

Thứ ba, và cũng là quan trọng nhất. Tuy lúc ở thành Bạch Đế, có quá nhiều việc cấp bách, cậu chàng không để ý ngay, nhưng về sau ngẫm nghĩ lại lời châm chọc của Chân Lợi Kiếm lúc đó, họ Lã phát hiện ra một manh mối quan trọng: Bích Mặc tiên sinh dạo thời gian trước có va chạm với một tên thầy bói giả mạo, còn vạch trần y trước dân chúng Quan Lâm.

Phải biết, lần này cậu chàng rời nhà chạy đến thành Bạch Đế, tuy mong muốn cá nhân là đi thể nghiệm cuộc sống, nhưng lý do đưa ra để cha chú trong nhà chịu thả cho ra ngoài, chính là điều tra hoạt động của Trang Bức Thần Giáo xung quanh châu Ngọc Lân. Cậu chàng cắm dùi ở thành Bạch Đế cả tháng trời, tìm mòn cả con mắt cũng không có manh mối gì. Đến lúc chán gần muốn bỏ cuộc thì nghe được manh mối từ thánh tử của Kiếm Trì, lại bói ra duyên sư đồ với Nguyễn Đông Thanh cùng cơ duyên khác ở Quan Lâm. Một đống lý do như vậy, cậu chàng chẳng có lý do gì ở lại thành Bạch Đế chôn chân, nên mới chạy vội đến đây.

Ngay khi cậu chàng chạy đến Quan Lâm không lâu thì Nguyễn Đông Thanh cũng lập tức đi xa. Đoán chừng thời cơ bái sư còn chưa đến, lại cũng vẫn còn muốn tìm hiểu thêm về ông sư phụ duyên phận này, nên thời gian tiếp đó, Lã thiếu lâu chủ thuê một phòng trọ ở Quan Lâm, ngày ngày lân la khắp thôn trên xóm dưới, nói chuyện với bà con cô bác, một là muốn tìm kiếm thông tin về Trang Bức Thần Giáo, hai là cũng tiện thể hỏi thăm trước về Bích Mặc tiên sinh luôn. Ngày bình thường, người của Lã gia có bao giờ phải đi điều tra kiểu thủ công như thế này, đưa tay lên bói một quẻ là xong. Thành ra, đây cũng tính là một trải nghiệm mới chưa từng có đối với Lã Vọng Thiên.

Cũng chính là trong khoảng thời gian này, Lã Vọng Thiên tình cờ bắt gặp Giả Cát Tường cùng Bùi Xuân Luận. Thế là, từ hôm đó trở đi, họ Lã bèn bắt đầu bí mật theo dõi, giám sát hai tên này. Nên mới có tình cảnh hiện tại.

Không làm thì thôi, làm rồi Lã Vọng Thiên mới thấm thía câu nói, “hy vọng lắm thì sẽ thất vọng nhiều”.

Khi còn ở tại Vọng Thiên cung đọc cổ tịch của gia tộc, Lã thiếu cung chủ nhớ trong đó có ghi chép không ít về Trang Bức Thần Giáo. Nào là đây là kẻ thù không đội trời chung của Lã gia suốt mấy ngàn năm nay, nào là giáo phái này còn có dính dáng đến chuyện Vọng Thiên Cung phải giải thể năm xưa. Biết những điều này, họ Lã tưởng tượng trong đầu rằng giáo chúng của Trang Bức Thần Giáo hẳn phải là đám thông minh xảo quyệt, nếu không làm sao có thể đấu trí với Lã gia lâu như vậy, cũng như có thể được liệt vào danh sách các kẻ thù không đội trời chung của Vọng Thiên lâu?

Thế nhưng, thời gian này giám sát bọn chúng, Lã công tử thiếu điều tức đến hộc máu. Hai tên này, ngoại trừ ăn uống, ngủ nghỉ, ăn chơi đàng đ**m, thì chả có vẻ gì là có mục đích gì khác cả. Mà chuyện bọn chúng nói với nhau, ngoại trừ nói xấu, chửi bới Bích Mặc tiên sinh thì cũng chỉ còn ba hoa chích chòe, hay như mẹ cậu chàng gọi là “chém gió”, về một viễn cảnh Trang Bức Thần Giáo nhất thống giang hồ, hô mưa gọi gió. Nói cách khác, suốt thời gian qua, Lã Vọng Thiên chả thu thập được thông tin gì hữu ích, chỉ mua thêm bực vào người.

Mấy hôm trước, nghe tin Bích Mặc tiên sinh ốm nặng thập tử nhất sinh, lòng cậu chàng cũng thấp thỏm lo lắng. Dẫu sao, tuy chưa xác định Nguyễn Đông Thanh có xứng đáng để chính mình bái làm thầy hay không, nhưng ấn tượng của cậu chàng về y cho đến nay cũng rất tốt. Hiện tại lại nghe hai thằng cha phòng bên vì đó mà vui sướng cười đùa, họ Lã tức đến nỗi thiếu điều tông cửa sang đấm cho bọn chúng một trận. Cậu chàng lúc này lại nghĩ:

“Tiên sinh bây giờ đang ốm nặng. Có lẽ phản phệ cũng không quá mạnh mẽ. Hay là mình cứ đánh liều bói một quẻ?”

Lã gia bói toán xuất thần nhập hóa, thành ra người nhà họ Lã cũng có một cái tật là dựa dẫm quá nhiều vào bói toán. Thậm chí, đối với nhiều người trong tộc, quẻ bói có chút giống như nghiện thuốc lá, một ngày không làm một quẻ có chút ngứa ngáy chân tay. Mà Lã Vọng Thiên gần một tháng nay không dám bói lấy một quẻ, tay chân đã không thể nào chỉ dùng “ngứa ngáy” để hình dung.

Thế là...

Mấy phút sau, khi tiểu nhị đẩy cửa phòng mang thêm thức ăn vào cho Lã công tử, thì vừa vặn bắt gặp vị khách quý trong phòng “á hự” một tiếng, phun máu một đường vòng cung như đài phun nước, trong khi cả người thì ngã ngửa về phía sau đánh “phịch” một cái xuống đất, tay chân co giật, bất tỉnh nhân sự...

oOo

Cậu thiếu niên mà Hồng Đô gặp thoáng qua ở cổng thành ban nãy tên gọi Dư Tự Lực, hiện đang bước nhanh trên đường cái, vừa đi vừa nghĩ tới sư mệnh.

Sư phụ của hắn, Dược Thánh – Tề Thiên Hạ, đã giao cho hắn một nhiệm vụ quan trọng. Hắn cần chạy đến Quan Lâm hạ dược, để tránh việc nạn dân lây bệnh cho dân chúng toàn thành.

Dư Tự Lực đưa tay phải lên vuốt tóc ra sau tai, thực chất là sờ lấy vành tai của chính mình. Đây là một thói quen khi lo lắng của y.

Trước khi gặp Dược Thánh, họ Dư từng có một quá khứ không dễ dàng gì. Cái tật này cũng đã sớm thành hình từ khi đó. Tề Thiên Hạ không những là ân nhân cứu mạng, còn như cha mẹ tái sinh hắn, chỉ có lão chìa tay ra khi Dư Tự Lực đã cùng đường mạt lộ. Cũng chỉ có lão không chê bai mà chịu nhận hắn làm đệ tử. Mặc dù cho đến nay, lão nói thiên phú hắn không tốt, đầu óc lại không đủ thông minh, nên vẫn chưa truyền dạy cho bao nhiêu y thuật. Thế nhưng, họ Dư tuyệt nhiên không oán không hối, chỉ một lòng biết ơn. Dẫu sao, nếu không có lão, thì cũng không có hắn của hôm nay.

Dư Tự Lực đang bước trên đường cái thì bỗng bị một người đâm sầm vào. Cả hai ngã ngồi xuống đất. Cậu thiếu niên nhìn lên thì thấy người đâm phải mình là một thanh niên ngoài hai mươi, cũng không lớn hơn bản thân là bao. Người này tâm trí có vẻ đang hoảng loạn, luôn miệng lẩm nhẩm:

“Chết người rồi! Chết người rồi!”

Dư Tự Lực đứng dậy phủi quần áo, đoạn hỏi:

“Vị ca ca này, anh không sao chứ?”

Thanh niên có chút thất thần, không để ý gì đến cậu nhóc, chỉ lồm cồm bò dậy, chuẩn bị bỏ đi. Dư Tự Lực cau mày, giữ y lại:

“Vị ca ca này, tôi có biết chút y thuật, nếu anh có chuyện gì thì mau nói ra, biết đâu tôi giúp được!”

Thanh niên lúc này mới nhìn cậu chàng, túm lấy như kẻ chết đuối vớ được cây cọc cứu mạng:

“Cậu là đại phu sao? Mau... Mau... Mau đi với tôi!”

Dư Tự Lực nhíu mày, sư phụ chưa chính thức dạy hắn, nên xưng hô này có chút không đúng. Song hắn không sửa lại lời của người kia, mà chỉ đưa tay ra thủ thế, bảo y dẫn đường.

Hai người quay lại một tòa nhà xã hoa bốn tầng, chính là Hồng Hoa Lầu nổi tiếng nhất ải Quan Lâm. Kế đó, tiểu nhị dẫn Dư Tự Lực lên tầng ba.

Không sai, hai tên Giả Cát Tường, Bùi Xuân Luận đến kỹ viện, mà Lã công tử của chúng ta vì theo dõi chúng nên cũng phải “xông vào đầm rồng hang hổ” theo. Với ngoại hình của Lã thiếu lâu chủ, đương nhiên là y bị các cô nương chốn thanh lâu nhìn với ánh mắt của sói đói. Lại thêm y thiếu xót trầm trọng kinh nghiệm ứng đối với phái nữ, nên chỉ đành bỏ không ít tiền ra thuê một phòng chỉ để ăn uống cạnh sát vách hai tên kia.

Đến kỹ viện chỉ để ăn uống, có lẽ ngoại trừ Tiểu Thực Thần, cũng chỉ còn Tiểu Thần Toán.
 
Back
Top Dưới