Tiên Hiệp Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân

Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 260: Miệng Lưỡi Thiên Hạ


Tạ Thiên Hoa đi qua cánh cổng quái lạ, quay lại khu sinh hoạt, phát hiện Cố Tiểu Ngũ vẫn đang kiên nhẫn đứng đợi. Trông cậu chàng quần áo xộc xệch, đầu tóc bù xù, cả người lấm lem toàn là bụi đất thì đủ biết khi Tạ Thiên Hoa điều tra khu khai khoáng, cậu ta cũng chẳng đứng an nhàn, mà đã lục lọi khu sinh hoạt thêm một lần nữa.

Cố Tiểu Ngũ thấy Tạ Thiên Hoa trở lên, ho khan một tiếng:

“Để đặc sứ trông thấy dáng vẻ bất nhã này của tại hạ, thật là ngại quá. Không biết đặc sứ đã tìm được điều gì mà vội vã lên đây như thế?”

“Phát hiện Thẩm Tam Vạn có đại nhân vật trong triều chống lưng thì có tính không?”

Tạ Thiên Hoa nhún vai, nói đùa.

Cố Tiểu Ngũ giật mình, lẩm bẩm:

“Kẻ đó là ai? Liệu có thể phát sinh chuyện gì hay không?”

Cô nàng thấy cậu ta lo lắng ra mặt, thấy còn đùa nữa thì không ổn, bèn hít sâu một hơi, nói:

“Chuyện kể ra thì dài, vừa đi vừa nói đi.”

...

Thế là, trong khi hai người lên khỏi mỏ Cô Sơn, trở về trấn Thiết Khanh, Tạ Thiên Hoa thuật lại toàn bộ những gì chuyện xảy ra kể từ khi cô nàng một mình xuống khu khai khoáng cho Cố Tiểu Ngũ. Đương nhiên, chuyện về cánh cổng quái lạ có niên đại từ trước Phản Thiên chi chiến Tạ Thiên Hoa giấu nhẹm, bởi lẽ có những thứ biết rồi chỉ tổ mang lại họa sát thân cho Cố Tiểu Ngũ.

Cậu chàng nghe chuyện của hai thi hài một lớn, một bé thì nghiến răng nghiến lợi, trong mắt lửa giận như muốn trào ra ngoài. Nghe kể đến Cửu Liên vương Lăng Khiếu Thiên là kẻ đứng sau lưng Thẩm Tam Vạn thì lại hít một hơi khí lạnh, cơ hồ có thể nhìn rõ trái tim cậu chàng vừa lỡ mất một nhịp.

Tạ Thiên Hoa từ đầu đến cuối chỉ kể lại những gì đã xảy ra cho Cố Tiểu Ngũ nghe, song trong lòng lại âm thầm tính toán xem phải làm thế nào mới có thể giải quyết ổn thỏa chuyện của Thẩm Tam Vạn.

Trước khi xuống hầm mỏ, cô nàng đã cố tình bảo Kiều tri huyện dùng Tỏa Yêu Hàng để gông lão viên ngoại lại, phong tỏa yêu khí của lão. Nhưng hiện giờ nếu như buộc phải làm theo lời Cửu Liên Vương thả họ Thẩm ra thì có trời mới biết được lão có thể làm được những gì, lại sẽ làm những gì. Cô nàng có linh cảm rất không hay về chuyện này, nhưng rốt cuộc vấn đề nằm ở đâu thì không sao xác định được.

Hai người vừa đi vừa nói chuyện, chẳng mấy chốc đã quay lại Thiết Khanh trấn. Không để lãng phí thời gian, Tạ Thiên Hoa và Cố Tiểu Ngũ lập tức rảo bước nhắm thẳng đến nha môn.

Chỉ thấy lúc này, trước nha môn đã đứng lố nhố cơ man không biết bao nhiêu là người, cơ hồ tập trung đến bảy tám phần dân chúng trong trấn. Trí nhớ của Tạ Thiên Hoa rất tốt, chỉ liếc mắt là có thể phát hiện ra đứng ngay hàng đầu chính là một số thợ mỏ sống sót được, cô nàng và Cố Tiểu Ngũ đã từng đến tận nhà hỏi thăm chuyện của mỏ Cô Sơn.

Kiều tri huyện đứng ngay ở hàng đầu, vừa lau mồ hôi vừa giải thích:

“Bà con cô bác, phụ lão hương thân cứ yên tâm. Bản tri huyện đã thả Thẩm viên ngoại ra ngoài an toàn lành lặn rồi. Làm quan thân bất do kỷ, quan nhỏ như ta không thể cãi quan trên. A Bích nhà ta còn có hôn ước với Thẩm viên ngoại kia mà... Chuyện cũng là bất đắc dĩ.”

Cố Tiểu Ngũ nghe lão nói thế, nghiến răng, song đang định lên tiếng thì đã bị Tạ Thiên Hoa ngăn lại. Cô nàng nhìn cậu thiếu niên, lắc đầu một cái, đoạn thản nhiên bước ra đứng trước đám đông:

“Có vẻ Kiều tri huyện rất bất mãn với quyết định của bản đặc sứ?”

“Đào... Đào đặc sứ. Ngài... ngài không phải đang thăm dò mỏ Cô sơn hay sao?”

Kiều tri huyện thấy cô nàng bỗng dưng xuất hiện giữa cái lúc lão đang “gắp lửa bỏ tay người”, không khỏi ho khan mấy tiếng, nuốt nước bọt cũng thấy khó nhọc.

Tạ Thiên Hoa cười, nói:

“Đương nhiên là có người một tay che trời, chẳng cần lí do bằng chứng cũng ép ta thả người, nên mới phải gấp gáp lên đường. Thế nhưng, xem ra ta phí công lo lắng rồi. Tin tức của tri huyện đây linh thông ra phết đấy nhỉ?”

Kiều tri huyện rụt cổ lại, song giống như nghĩ đến sáu chữ “Cửu Liên vương – Lăng Khiếu Thiên”, như thể có một luồng sức mạnh dâng lên nơi sống lưng lão. Lão đứng thẳng lưng lại, nhìn về phía Tạ Thiên Hoa, nói lớn tiếng:

“Đào đặc sứ! Kỳ thực lão phu đã nhịn cô lâu lắm rồi. Chỉ vì một lời nói vô ý của đám hạ nhân mà cô đòi khép tội mưu phản, đến nhà khám xét, lại còn bắt giam kẻ khác hay sao? Chỉ tiếc là lão phu quan nhỏ chức quèn, thấp cổ bé họng, bất bình mà không lên tiếng được đó thôi.”

Tạ Thiên Hoa nhìn lão, không nói câu nào. Cũng cái người này mới nãy còn cảm ơn cô nàng rối rít vì đã cứu mạng con gái lão – Kiều A Bích – ra khỏi biển lửa thì hiện giờ vì cái chức tri huyện chẳng ngồi được thêm mấy năm, lão lại sẵn sàng đạp cô nàng ra làm con dê thế mạng đón lấy lửa giận của thiên hạ.

Cô nàng lại nhìn về phía dân chúng, hỏi:

“Còn các ngươi thì sao? Có gì bất mãn?”

“Đồ yêu quái!”

Câu nói của Tạ Thiên Hoa chẳng khác nào can dầu tạt vào đống lửa, nháy mắt đã khiến toàn bộ đám đông phát khùng. Gạch đá, rau quả, trứng thối thi nhau bay về phía cô nàng. Chỉ một thoáng chốc, cả người Tạ Thiên Hoa đã trở nên bẩn thỉu, hôi thối, nhơ nhớp, đầy những vỏ trứng ung và cà chua thối nát một nửa.

Kèm theo đó là những tiếng chửi mắng thậm tệ. “Chim xanh”, “yêu quái”, “đạo đức giả”, “yêu ngôn hoặc chúng” cơ hồ nhấn chìm Tạ Thiên Hoa. Trong số đó, ra tay hăng nhất, hạ khẩu ác độc nhất chẳng phải ai xa lạ, chính là những người khi trước còn tỏ ra nghi ngờ Thẩm Tam Vạn, đắc chí ngồi bốc phét với anh em chòm xóm là “vô sự hiến ân cần, phi gian tức đạo”. Khi trước, bọn họ đắc ý ta đây thông thái hiểu biết, không bị che mắt giống thiên hạ bao nhiêu thì lúc này ra tay tàn nhẫn, miệng lưỡi độc địa bấy nhiêu, giống như đang muốn chứng minh với phe ủng hộ Thẩm Tam Vạn rằng “chúng ta cũng là người cùng một phe” vậy.

Có vẻ như thấy cô nàng không phản kháng, một tên thợ mỏ được nước làm già, cầm gậy đến phang một cái vào đầu Tạ Thiên Hoa. Vừa ra đòn, hắn vừa quát lên be be:

“Mày mới là yêu quái! Cút về Lục Trúc hải đi!”

Cái gậy gỗ gãy đôi, mảnh vụn bắn tung tóe ra tứ phía.

Tạ Thiên Hoa nghiến răng, tu vi bộc phát, khí tràng tỏa ra bốn bề. Dân chúng đến nha môn toàn bộ đều là người phàm còn chưa đạp vào đệ nhất cảnh, sao có thể chịu nổi uy áp của một Thanh Tước? Nháy mắt, cả đám đã bị chấn áp, nhao nhao quỳ mọp dưới đất, cả người run lên bần bật.

Cô nàng đưa mắt nhìn chung quanh, thần quang đã bắt đầu hội tụ trong lòng bàn tay. Lúc này, chỉ cần Tạ Thiên Hoa vung tay một cái, toàn bộ người ở đây từ quan đến lính, từ thợ đến dân đều sẽ bị hóa tán thành khói xám hết.

“Sư phụ à... con không làm được. Xin lỗi...”

Cô nàng len lén rơi nước mắt, bặm môi, lắc đầu. Thần quang trong lòng bàn tay từ từ nhạt dần, cuối cùng hoàn toàn tiêu tan. Tạ Thiên Hoa ngẩng đầu nhìn lên trời, hít sâu một hơi, đoạn nói:

“Biết ta là yêu quái mà còn dám ra tay, lá gan của các người không nhỏ đâu. Kiều tri huyện!”

“C... có hạ quan...”

Kiều tri huyện ban nãy dựa vào Cửu Liên vương mới gom được một chút dũng khí nạt lại Tạ Thiên Hoa. Bây giờ cảm nhận được tu vi của cô nàng, lão mới sực tỉnh ra là nước xa khó cứu lửa gần, Cửu Liên Vương có quyền cao chức trọng cách mấy thì cũng chẳng tài nào ngăn được cô nàng ra tay giết lão.

Ừ thì đúng là nếu Tạ Thiên Hoa ra tay, có lẽ Lăng Khiếu Thiên sẽ vì mặt mũi của bản thân mà phái quân giết cô nàng, thế nhưng khi đó Kiều tri huyện đã ra người thiên cổ rồi thì còn để làm gì nữa

Cái lão cần là được sống để mà tiếp tục làm quan, chứ không phải là chết chùm chết hội với “Đào đặc sứ”.

Tạ Thiên Hoa ném cho lão một cái nhìn khinh bỉ, đoạn nói:

“Được. Các người đã muốn thì ta cũng chiều. Thả người! Sau khi rời khỏi khu mỏ, ta sẽ rời khỏi đây.”

Không ai dám lên tiếng.

Toàn bộ những kẻ đang có mặt trước cửa nha môn, từ quan cho đến dân, hết thảy đều cúi gằm mặt xuống, đến cả ho he thở mạnh một tiếng cũng chẳng dám.

oOo

Tạ Thiên Hoa rời khỏi nha môn, đi đến cổng trấn mới thấy Cố Tiểu Ngũ đã đứng chờ sẵn. Cậu chàng siết chặt hai bàn tay, môi mím chặt, hai mắt đã ầng ậng nước. Cô nàng nhìn về phía thiếu niên họ Cố, bình thản nói bằng cái giọng đều đều không cảm xúc:

“Cậu cũng đến để chửi mắng tôi à?”

“Xin... xin lỗi Đào đặc sứ. Tôi... tôi muốn rút khỏi đội điều tra hầm mỏ.”

Cố Tiểu Ngũ dậm chân, giọng nói hơi nghèn nghẹt, nhưng sắc mặt hiện lên vẻ quyết tâm sâu đậm thực không khác gì biểu cảm Tạ Thiên Hoa đã từng thấy dưới hầm.

Cô nàng gật đầu, nói:

“Kể ra thì cậu cũng chẳng giúp được gì. Được. Cứ ở lại đây đi. Đừng để vì đi với tôi mà đến nỗi bị dân chúng ghét lây.”

Cố Tiểu Ngũ không nói, cũng không giải thích. Cậu chàng đứng lặng người, chờ Tạ Thiên Hoa bước qua mới lặng lẽ ngoái lại, nhìn về hướng bóng lưng của cô nàng, bàn tay phải xòe ra đặt lên trái tim, bàn tay trái nắm lại để lên trước trán. Đối với người Đại Yến mà nói, hành động đặt tay ở mép tóc và lồng ngực này là hành động cực kỳ thiêng liêng, tương đương với lấy trái tim và linh hồn ra để thề độc.

“Đào đặc sứ, tôi biết thái độ của tri huyện và bá tánh khi nãy đã làm cô lạnh lòng, Tiểu Ngũ cũng chẳng mặt mũi nào mặt dày xin cô cứu giúp cả. Thế nhưng... trấn Thiết Khanh nói thế nào vẫn là nhà của tôi. Là thằng đàn ông, tôi... có trách nhiệm bảo vệ chốn này.”

Ngừng một thoáng... cậu chàng lại quỳ xuống, trán dập sát đất, thầm nhủ:

“Tiểu Ngũ thay trấn Thiết Khanh tạ tội.”

Nếu là lúc bình thường, bằng vào thính lực và lực cảm ứng của mình, những hành động này của Cố Tiểu Ngũ chắc chắn đã sớm bị Tạ Thiên Hoa biết. Thế nhưng, lúc này, cô nàng còn đang đắm chìm trong ký ức về chuyện ở nha môn.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 261: Người Đồng Hành Bất Ngờ


Tạ Thiên Hoa rời khỏi trấn Thiết Khanh, vừa đến cửa mỏ Cô sơn thì đã nghe sau lưng có tiếng chân người đạp lên thảm cỏ lạo xạo. Cước bộ kẻ này đến hư thoát, phù phiếm, không giống như là của tu hành giả. Loáng thoáng đằng sau lại cất lên tiếng th* d*c, có vẻ như người bám theo cô nàng đến được mỏ Cô Sơn là đã kiệt sức rồi.

Thể lực không tốt, không phải người tu hành, lại có lý do để bám theo Tạ Thiên Hoa ngay cả sau chuyện ở nha môn thì cô nàng chỉ có thể nghĩ đến một người mà thôi.

Cô nàng ngoái đầu, cười với thiếu nữ đang chống cả hai tay vào đầu gối mà thở khó nhọc từng hơi một, nói:

“Kiều tiểu thư, quả nhiên là cô.”

“Đào... Đào đặc sứ.”

Kiều A Bích vừa nói được bốn chữ, đã ho khan một tiếng, ôm ngực vì khó thở. Tạ Thiên Hoa thấy thể lực của cô nàng yếu đến thế, không khỏi lắc đầu, đi đến bên cạnh đỡ Kiều A Bích, đỡ nàng ta ngồi xuống một cái xe đẩy quáng bỏ hoang bên vệ đường. Nhìn cô nàng cả người đầy mồ hôi, hai chân rướm máu, thở cũng khó nhọc, Tạ Thiên Hoa bất giác sững người.

Lúc này, cô nàng chẳng còn nghĩ gì đến chuyện liệu mình có thể đối đầu được với Cửu Liên vương và Thẩm Tam Vạn, cũng tựa hồ như quên mất mới nãy đã phải thả người trong ấm ức và bất đắc dĩ như thế nào. Cơ hồ là theo bản năng, Tạ Thiên Hoa choàng tay qua, ôm ngang bả vai Kiều A Bích, nhỏ giọng:

“Tự mình chạy được đến tận đây, khổ sở cho em rồi. Yên tâm, không sao rồi...”

Lúc này, Kiều A Bích vùi mặt vào cánh tay Tạ Thiên Hoa, những tiếng rấm rứt nhỏ bé vang lên và vệt nước còn lưu lại trên tay áo là minh chứng duy nhất của hàng nước mắt vừa mới đổ xuống.

Tạ Thiên Hoa biết, lúc này, hành động lí trí nhất chính là nói lại đúng những câu cô nàng đã từng bảo Cố Tiểu Ngũ lại với Kiều A Bích. Nói với nàng ta rằng nàng ta quá yếu, rằng xuống dưới hầm mỏ rồi chỉ tổ trở thành gánh nặng, làm vướng chân vướng tay. Song... cô nàng không tài nào lên tiếng nổi.

“Tự dưng lại đèo bòng thêm chuyện vào người thực không giống mày chút nào, Hoa ạ.”

oOo

Cuối cùng, Tạ Thiên Hoa vẫn không yên tâm để Kiều A Bích lại khu sinh hoạt một mình như đã làm với Cố Tiểu Ngũ. Dù sao, hiện tại Thẩm Tam Vạn đã được thả ra, tin tức tiểu thư nhà tri huyện bỏ nhà đào hôn chắc chắn cũng sớm lọt đến tai lão. Lúc này, cả Thiết Khanh trấn, Kiều A Bích có thể nói là tứ cố vô thân, ngoại trừ Tạ Thiên Hoa thì chẳng còn ai để mà nương tựa.

Nếu Tạ Thiên Hoa là Thẩm Vạn Tam, thì nơi đầu tiên cô nàng đi tìm chắc chắn sẽ là mỏ Cô Sơn. Thành thử, đắn đo hồi lâu, cuối cùng Tạ Thiên Hoa vẫn quyết định để Kiều A Bích theo sát mình, cùng xuống khu khai thác.

Chuyện này đối với Cố Tiểu Ngũ mà nói quả thực là không công bằng, song sự cấp tòng quyền, cô nàng cũng chẳng còn cách nào khác.

Đã có kinh nghiệm khi trước, lần này Tạ Thiên Hoa xe nhẹ đường quen, cước trình rút ngắn rất nhiều. Lại thêm lần này xuống mỏ không cần kiểm tra kỹ lưỡng từng li từng tí một hai bên đường để tìm manh mối, thành thử, mặc dù dẫn theo một tiểu thư liễu yếu đào thơ như Kiều A Bích thì cũng chẳng tốn bao lâu, hai người đã đến cánh cổng quái lạ.

Tạ Thiên Hoa đi trước, Kiều tiểu thư nhà tri huyện theo sau, rồng rắn nối đuôi dẫm trên con đường đá gập ghềnh của mỏ Cô Sơn. Bóng tối chung quanh cảm giác như càng lúc càng trở nên đặc quánh, càng xuống sâu trong mỏ lại càng trở nên nặng nề. Xa xa, thỉnh thoảng lại vọng đến âm thanh kêu réo quái lạ, không rõ là tiếng con dơi con chuột bị cái hang khuếch đại hay thực sự là âm thanh do một loài quái vật không tên phát ra.

Chỉ biết, càng vào sâu trong mỏ, sắc mặt Kiều A Bích càng kém, gương mặt tái nhợt cả đi, thỉnh thoảng lại run lẩy bẩy, bước chân cũng bắt đầu xiêu xiêu vẹo vẹo. Tạ Thiên Hoa thấy vậy, thở dài, tìm một chỗ bằng phẳng rồi lấy trong túi chứa đồ ra một cái ghế xếp “trôm chỉa” của ông sư phụ trước khi rời khỏi Quan Lâm.

Tiểu thư nhà tri huyện lần đầu tiên trông thấy thứ ghế kỳ quái có thể xếp gọn lại như vậy, không khỏi cảm thán kêu lên một tiếng kinh ngạc.

“Đào... đặc sứ... thứ này thần kỳ quá. Tiểu... tiểu nữ được ngồi sao?”

“Thôi đừng có một câu Đào đặc sứ, hai câu Đào đặc sứ nữa. Tên thật của chị là Tạ Thiên Hoa, hai ta trông cũng không chênh nhau mấy tuổi, cứ gọi nhau là chị em nhé?”

Có thể do đồng bệnh tương liên, cũng có thể do nỗi ấm ức chuyện bị ép hôn chất chứa trong lòng quá lâu, mà Tạ Thiên Hoa vô thức cảm thấy gần gũi thân cận với Kiều A Bích. Người sau chẳng những văn tĩnh, tính cách dịu dàng tựa như hoa lê đón mưa, càng khiến người khác muốn nâng niu thương tiếc. Lại thêm cô nàng cảm thấy mình cũng chẳng còn ở trấn Thiết Khanh thêm bao lâu nữa, thành thử quyết định không tiếp tục che giấu thân phận với Kiều A Bích.

“Vậy... Tạ tỷ tỷ?”

“Thế mới phải chứ. A Bích này... em là người ở đây, lại là con nhà trâm anh thế phiệt, đọc rộng hiểu nhiều. Không biết có từng nghe truyền thuyết về núi Cô Sơn này chưa?”

Tạ Thiên Hoa tự lấy một cái ghế khác ra cho mình, đoạn hỏi.

Lần này xuống hầm mỏ, cô nàng tuy có đọc hết một lượt sử liệu liên quan đến núi Cô Sơn, cũng đã biết về “nguồn gốc” của cánh cổng tuyết tùng theo chính sử. Thế nhưng, giờ đây khi nhìn tận mắt, Tạ Thiên Hoa mới phát hiện sử liệu chính cống xem ra là không đáng tin cậy. Đám sử gia Đại Yến hiển nhiên cá mè một lứa, định che giấu sự thật về cánh cổng. Mà đám quái vật xuất hiện trong hầm mỏ Cô Sơn có thể có liên quan gì đó đến cánh cổng tuyết tùng niên đại cả vạn năm này. Đương nhiên, đấy cũng chỉ là một khả năng mà thôi.

Tạ Thiên Hoa trước là tự trách bản thân đã chủ quan, sau lập tức đã nghĩ đến truyền thuyết của dân địa phương về Cô Sơn có thể có manh mối gì đó. Vốn là cô nàng định bụng khi quay lại hầm mỏ sẽ lập tức hỏi thăm Cố Tiểu Ngũ, song cậu chàng nửa chừng lại quyết định ở lại trấn Thiết Khanh. Về sau đúng là có gặp Kiều A Bích nửa chừng, nhưng tiểu thư nhà tri huyện thân thể yếu đuối, phải cẩn thận chiếu cố.

Bao nhiêu chuyện như thế, thành thử Tạ Thiên Hoa cũng quên bẵng mất không hỏi, mãi đến lúc này dừng chân nghỉ ngơi, có thời gian cho đầu óc thả lỏng, cô nàng mới sực nhớ ra.

Kiều A Bích nói:

“Chắc chỉ có truyền thuyết kiếm tiên là nhiều người biết đến nhất thôi.”

“Kiếm tiên? Núi Tiên Phần? Em kể ra nghe xem nào...”

“Tạ tỷ tỷ đoán nhanh thật đấy. Nghe các vị lão niên trong trấn kể lại thì trước đây rặng Cô Sơn và dãy Tiên Phần vốn là một thể, là bức tường thành ngăn cách Đại Yến với ngũ quốc, xưng là Thành Sơn.

Thành Sơn che chắn Đại Yến, khiến các nước khó bề tấn công, dân chúng nước Yến từ lúc lập quốc đến giờ cũng hiếm khi phải chịu cái khổ của chiến loạn. Song sự vô thập toàn. Thành sơn khô khốc, lại cao chọc tới mây, sông Ô giang nước Tề không tài nào chảy vào được, khiến cho phương bắc Thành Sơn quanh năm hạn hán, dân chúng chẳng thể nào trồng trọt nuôi thân, chỉ có cách săn thú đẵn cây đắp đổi qua ngày. Ngặt nỗi trên núi lắm dã thú, nhiều yêu tinh, cuộc sống vô cùng khó khăn.”

Giọng kể của Kiều A Bích vừa trong vừa ấm, cơ hồ khiến Tạ Thiên Hoa nghe đến xuất thần. Mãi đến khi nàng ta ngừng lại một chốc lấy hơi, nhị đệ tử của cổ viện mới giật mình tỉnh lại, âm thầm khen một tiếng.

Lại nghe tiểu thư nhà tri huyện kể:

“Về sau xuất hiện một kiếm tiên thân cao hai trượng, cầm một thanh Thạch Kiếm khổng lồ xuất hiện. Y vung một kiếm bổ ngang, khiến Thành sơn thấp đi một nửa. Đá từ Thành sơn văng tứ phía, tạo thành núi lớn núi nhỏ trải dài hơn năm trăm dặm hai phía đông – tây Bằng Sơn quan, đến giờ được gọi là vùng Thiên Sơn. Y lại bổ một kiếm, cắt đôi Thành Sơn, khơi dòng cho Ô giang chảy vào Đại Yến, giúp dân chúng có thể trồng trọt, có nước để uống.

"Trăm năm sau, ngàn năm sau, cũng không ai biết, chỉ biết là kiếm tiên quay lại Thành sơn, dựng mộ rồi tạ thế trên núi. Từ đấy rặng phía đông Ô giang gọi là núi Tiên Phần, phía tây thì là Cô sơn.

“Kiếm tiên chết không bao lâu thì Ô giang đổi dòng, nước sông khô cạn, từ đấy lòng sông khi xưa trở thành con đường độc đạo kết nối Đại Yến với hai nước Tề, Hàn ở phía nam. Lối đó gọi là Ưng Sầu giản, do nhát chém của kiếm tiên để lại khiến vách núi hai bên nhẵn như mặt gương, chim ưng bay lượn trên không tưởng là đồng bạn, đâm đầu vào núi mà chết. Bằng Sơn quan, trước là Thái Bình thành, được lập nên là để tọa trấn đường độc đạo này.”

Kiều A Bích kể xong, lặng lẽ khép chân, hai tay đặt lên gối, yên lặng không nói tiếng nào.

Lúc này, Tạ Thiên Hoa đã chống tay lên cằm, trầm ngâm suy nghĩ, thỉnh thoảng lại chun mũi nhăn mày một cái. Nghe Kiều A Bích kể về kiếm tiên cao hai trượng mà cô nàng bất giác nghĩ đến cánh cổng gỗ quái lạ ngăn cách khu sinh hoạt và khu khai thác của mỏ Cô Sơn.

Cánh cổng ấy ngoại trừ niên đại lâu đời, dày quá khổ ra, còn cao bất thường. Cơ hồ có nói là cổng thành cũng chẳng quá. Cồng kềnh như thế, lại nặng trình trịch, đối với người bình thường thì quả thực là vô cùng bất tiện.

Thế nhưng...

Nếu như là một người có kích cỡ của vị kiếm tiên kia sử dụng, vậy thì chẳng phải vừa vặn thoải mái hay sao?
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 262: Quái Vật Dưới Hang Sâu


Phát hiện không ngờ khiến Tạ Thiên Hoa khẽ run lên một cái, dọc sống lưng có một cảm giác buốt lạnh chạy rần rần tựa như dòng điện. Cô nàng càng nghĩ, lại càng cảm thấy rất có khả năng những thứ trốn trong hầm mỏ Cô Sơn hoặc là hậu duệ, hoặc là đồng loại của vị kiếm tiên từng bổ núi giúp dân Đại Yến kia.

Nếu thứ bên trong mỏ Cô sơn chính là “tiên”, vậy thì sức mạnh xé xác thợ mỏ không cần đến chân khí cũng như tiếng kêu kinh hoàng mà không một người sống sót nào có thể xác định là của con gì có thể được giải thích.

Nhưng vì sao chủng tộc của một người từng được dân chúng phía nam Đại Yến coi là anh hùng chẻ núi, khơi sông, giúp trăm họ an cư lạc nghiệp lại trở nên khát máu hung tàn đến thế?

Tạ Thiên Hoa đứng dậy, cất ghế vào trong túi chứa đồ, nói:

“A Bích này, sắp tới đây nếu hai ta còn xuống sâu trong mỏ nửa chắc chắn sẽ có vô vàn hiểm nguy. Chị cũng không dám chắc có thể bảo vệ được cho em đâu.”

“Tạ tỷ tỷ, đừng khuyên can nữa. Đằng sau là hố lửa, phía trước là chảo dầu, đâu mà chẳng như nhau? Chí ít... tiếp tục đi xuống, còn có Tạ tỷ tỷ bên cạnh. Chí ít... em cũng hi vọng có thể được lựa chọn cách mình chết ra sao. Một lát nữa... một lát nữa nếu chẳng may có nguy hiểm gì, Tạ tỷ tỷ cứ việc bỏ mặc em mà chạy. A Bích sẽ không oán giận đâu. Chỉ tiếc là nếu thế, kiếp này e không cách nào trả ơn cứu mạng của Tạ tỷ tỷ.”

Kiều A Bích càng nói, ngữ khí càng kiên định, không cả ngoái đầu nhìn về phía cửa mỏ lấy một chút. Tạ Thiên Hoa thấy thế, lắc đầu, đáp:

“Ý chị là cẩn thận một chút, theo sát chị, đến lúc đó mới dễ bề chiếu cố cho em. Chưa gì đã trăng trối rồi.”

“Em... em xin lỗi.”

Kiều A Bích cúi đầu, lí nhí.

Tạ Thiên Hoa chờ cho cô tiểu thư nhà tri huyện nghỉ thêm một lúc nữa, rồi hai người mới tiếp tục cùng nhau tiến sâu vào mỏ. Bấy giờ, bóng tối chung quanh đã đặc quánh lại như mực, lấy thị lực của Tạ Thiên Hoa mà giơ tay ra trước mặt cũng khó thấy được năm ngón, Ánh sáng xanh nhạt trong lòng bàn tay cô nàng soi rọi những cung đường đá gồ ghề khúc khuỷu, lởm chà lởm chởm tựa như bãi chông ngoài sa trường.

Tạ Thiên Hoa đảo mắt nhìn bốn phía một lượt thì thấy nơi đây đã không còn bất cứ dấu vết đào bới khai thác nào nữa. Cô nàng đưa tay, che Kiều A Bích sau lưng mình, đoạn lên tiếng nhắc nhở:

“Hai chúng ta bây giờ đã xuống sâu quá cả khu vực khai khoáng của thợ mỏ rồi. Cẩn thận một chút. Giữ yên lặng.”

Lần này, cô nàng không nói chuyện trực tiếp nữa mà sử dụng thuật truyền âm, cốt là để nếu như đám quái vật trong mỏ mà quyết định xuất hiện ngay lúc này thì cũng không nghe được tiếng trò chuyện của hai người. Kiều A Bích không phải người ngốc, không cần nói cũng đã biết Tạ Thiên Hoa vì sao lại truyền âm cho mình. Thế là, cô nàng không lên tiếng đáp, mà chỉ gật đầu một cái ra hiệu mình đã nghe được.

Hai người Kiều, Tạ tiếp tục mò mẫm trong một nơi đã không thể gọi là cái hầm mỏ nữa, mà phải gọi là một cái hang động tối như hũ nút. Dọc đường, Tạ Thiên Hoa tiếp tục phát hiện một số hài cốt, tử trạng thê thảm không khác gì những thi hài cô nàng từng nhìn thấy trong khu khai khoáng. Kiều A Bích là hoàng hoa khuê nữ, tiểu thư nhà quan, lần đầu tiên trông thấy xương người trắng ởn thì khó tránh hoa dung thất sắc, phải tự bịt miệng mình, cố gắng lắm mới không kêu thất thanh thành tiếng.

Tạ Thiên Hoa muốn an ủi cô nàng hai câu, nhưng chưa kịp truyền âm thì đằng trước, ngay chỗ khúc quanh, tiếng chân thình thịch bắt đầu vang lên. Cô nàng vội vàng thu hồi Thanh Sắc thần quang, kéo Kiều A Bích nép vào vách tường. Cả hai người không ai bảo ai mà cùng điều chỉnh hô hấp, không dám thở mạnh, âm thầm quan sát thứ đang chuẩn bị xuất hiện ngay trước mắt họ. Tiếng động quái lạ càng lúc càng gần, thế rồi, hai giọng nói quái lạ cất lên.

Đầu Tạ Thiên Hoa long lên, hai mắt như muốn nổ đom đóm, trong ruột gan nhộn nhạo muốn nôn mửa.

Chỉ trong thoáng chốc, tiếng động ban nãy lúc nãy đã chỉ còn một tiếng “rèeeee” cao vút, nghe chưa bao lâu mà đã đau buốt lỗ tai, đầu như bị kim đâm. Ngay cả trong ký ức, tất cả những gì Tạ Thiên Hoa có thể nhớ được là cái tiếng lè nhè kéo dài tưởng như vô tận đó mà thôi. Thứ duy nhất cô nàng có thể khẳng định, đó là âm thanh đang vang lên bên tai mình quả thực là hai “giọng nói” chứ không phải tiếng kêu, tiếng rú của thú vật.

Chuyện này khiến Tạ Thiên Hoa vô cùng ngạc nhiên.

Phải biết, Huyền Hoàng giới xưa nay đều dùng chung một ngôn ngữ, mặc dù vẫn có tiếng lóng, vẫn có phương ngữ từng nước từng vùng, nhưng nhìn chung khi người nước nọ sang gặp người nước kia thì đều hiểu được nhau. Đây là lần đầu tiên trong đời, Tạ Thiên Hoa gặp phải loại chuyện quái dị này.

Cô nàng bất giác nhớ lại có một hôm, sư phụ từng tấm tắc khen khả năng của Hồng Vân tiên tử rất “thần kỳ”, có thể tự động “phiên dịch” sách từ thứ tiếng nọ sang ngôn ngữ kia. Tạ Thiên Hoa mới tò mò chạy đến hỏi thăm thì mới biết đến khái niệm “ngoại ngữ”, về một thế giới mà trên cùng một đất nước người ta nói chuyện bằng năm bảy thứ tiếng, thậm chí người phía bắc không hiểu người phương nam.

Tạ Thiên Hoa còn đang ngờ ngợ rằng thứ mà đám quái vật đang sử dụng để chuyện trò với nhau chính là một “ngoại ngữ”, thì hai cái bóng cao lêu đêu đã xuất hiện ngay ngoài ngã rẽ. Trong bóng tối của căn hầm, Tạ Thiên Hoa lờ mờ thấy hai bóng dáng cao cỡ hơn một trượng, trên đầu có một cái bờm dài phủ xuống tận nền hang. Bọn “chúng” đi lại bằng cả bốn chi, hai chi trước dài ngoằng, khiến khớp vai dựng lên cao, trông chẳng khác nào chân sau của loài châu chấu, Hai chi sau từ đầu gối trở xuống lại mềm oặt như không có xương, thành thử hai quái vật sử dụng gối để đi lại, còn bàn chân thì kéo lê dưới đất.

Người chúng phủ một lớp gì đó chẳng rõ là da hay vải, chỉ biết là nó lông lá, lòa xòa, và bốc lên một cái mùi khó ngửi giống như rác rưởi lưu cữu lâu năm. Môi hai quái vật dẩu ra, trong miệng còn lạo rạo nhai hai cái cẳng chân người đã hư thối và bắt đầu phân hủy.

Hai con quái vật đi ngang qua chỗ của Tạ Thiên Hoa thì bỗng nhiên đứng lại, đoạn rống lên một tiếng giận dữ. Không để cô nàng kịp hoàn hồn, cánh tay dài lêu nghêu đã vụt tới chẳng khác nào cái cột đình bằng sắt, lực đạo mạnh mẽ chẳng thua kém gì một đòn toàn lực của tu hành giả ngũ cảnh. Cô nàng lắc mình, ôm Kiều A Bích, dưới chân chớp lóe ánh sáng xanh, né khỏi cú đánh.

Thanh Sắc thần quang vừa chớp lên, hai quái vật đã đưa tay che mắt, miệng ngoác ra gào lên một tiếng chẳng khác nào sấm nổ. Lần này, không giống như lúc trước, tiếng kêu thét của hai quái vật không còn là thứ âm thanh “rè rè” quái đản nữa.

Tạ Thiên Hoa chặc lưỡi, vung tay sử dụng một chiêu Thanh Sắc thần quang – Bá Kiếm thức. Hai ngón tay cô nàng chụm lại, cột sáng xanh theo đó b*n r*, hóa thành lưỡi kiếm, phạt mạnh một cái ngang qua cổ của hai quái vật. Ánh sáng chói lòa rọi khắp cả hang động, khung cảnh đẫm máu trong hang động hiện lên trong mắt hai cô gái.

Hai con quái hình thể khổng lồ, riêng cái cổ cũng phải dày đến hai gang tay. Da dày thịt béo là thế, ấy vậy mà lưỡi kiếm do Thanh Sắc thần quang tạo thành vẫn nhẹ nhàng cắt qua, thoắt cái đã chém đứt yết hầu, khiến cả hai quái vật đầu một nơi thân một nẻo.

Hai cái xác khổng lồ lắc lư một cái, rồi đổ đánh rầm xuống đất. Từ vết cắt ở cổ không thấy máu tràn ra, mà bốc lên một làn khói xám mờ mờ ảo ảo. Tạ Thiên Hoa bảo Kiều A Bích lui lại một bước, còn chính cô nàng thì nhẹ nhàng bước về phía tây hai mươi bước, đoạn sử dụng Thanh Sắc thần quang, soi xuống mặt đất dưới chân.

Chỉ thấy, ngay lúc này, Tạ Thiên Hoa đang đứng bên mép một cái hố đường kính ước chừng sáu trượng, sâu không biết bao nhiêu mà kể. Bên dưới, nằm thành đống ở một góc, là vô số những thi hài mình mặc quần áo thợ mỏ bị cắn nham nhở, lòi xương trắng hếu. Mà lúc này, bò lúc nhúc giữa những đụn thịt đỏ hỏn bốc mùi tanh tưởi cao đến cả trượng là một đám... đầu người.

Những cái đầu người tròn lăn lẳn, biểu cảm chết trân, đang dùng miệng xé thịt từ những cái xác bị gặm nham nhở ở một góc hố, sau đó lon ton chạy đến chỗ những đụn thịt trên những cái chân người trắng ơn ởn. Bọn chúng nhả miếng thịt đang ngậm ra, sau đó lại tiếp tục công việc của mình, giống như những con kiến thợ cần mẫn. Sự xuất hiện của ánh sáng xanh chẳng hề khiến chúng bận tâm hay có bất cứ phản ứng nào khác cả.

Bọn chúng không để ý, nhưng Tạ Thiên Hoa thì có. Cô nàng bụm miệng, nén cơn buồn nôn lại, sau đó lắc đầu một cái. Tạ Thiên Hoa là Thanh Tước, cũng chưa phải chưa từng thấy những chuyện kinh khủng máu me. Thế nhưng, những gì đang xảy ra ngay trước mắt cơ hồ lật đổ nhận thức của nàng, khiến Tạ Thiên Hoa cảm thấy ghê tởm. Lại thêm bị tiếng “rè rè” do hai quái vật phát ra lúc nãy ảnh hưởng, đến giờ còn chưa hết nôn nao, thành thử mới khiến cô nàng kém chút là không nén nổi, miệng phun cầu vồng.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 263: Lý Vô Danh


“Tạ tỷ tỷ, có chuyện gì đáng sợ lắm phải không?”

Kiều A Bích nãy giờ đứng nép vào tường, không nói tiếng nào. Hiện tại thấy hai con quái vật đều đã bị xử đẹp, nàng ta mới lò dò tiến tới, thấp giọng hỏi.

Tạ Thiên Hoa lắc đầu, đáp:

“Không. Không có chuyện gì.”

Cô nàng đưa tay, tự vuốt ngực mình một lúc, rốt cuộc cũng khiến cảm giác buồn nôn bứ ở cổ họng từ nãy đến giờ dịu lại. Tạ Thiên Hoa lắc đầu một cái, chạy đến kiểm tra hai cái đầu to quá khổ vừa bị Thanh Sắc thần quang – Bá Kiếm thức – chặt xuống.

Dưới ánh sáng xanh, hai cái thủ cấp to như cái bàn ăn cỗ hiện lên mười phần quái đản.

Trông chúng na ná như đầu người, nhưng trán ngắn, cằm dài, hai con mắt bên nổ bên xịt, toàn bộ con ngươi chỉ có một màu trắng phớ cùng những tia máu chằng chịt, có vẻ là mù lòa bẩm sinh. Nước da hai con quái sần sùi, dày cộm, xanh xám và đầy những mụn cóc, nhọt độc. Mái tóc bù xù dài ngoằng, cáu bẩn đầy bụi đất che lại đôi tai to bằng bàn tay người trưởng thành. Đôi môi trề, dẩu ra như hải quả chuối đều bị hở hàm ếch, để lộ ra bốn hàm răng lởm chởm, vàng khè và sâu lỗ chỗ bên trong. Tạ Thiên Hoa nhíu mày, cảm thấy dường như giả thuyết quái vật là hậu duệ của kiếm tiên năm xưa của mình đã chệch hướng.

Tuy vẫn nói “cái áo không làm nên thầy tu”, nhưng nếu như kiếm tiên bổ núi quả thực có hình dáng quái đản tay dài chân gãy như hai con quái này, người ta nhìn thấy là đã sợ vỡ mật, chớ nói chi là sùng kính như anh hùng, truyền lại cho đời sau.

Tạ Thiên Hoa vốn cũng định tìm cách “câu” một con nhện đầu người chỗ cái hố thịt lên, nhưng vừa nghĩ đến, cơn buồn nôn đã quay lại, nên đành từ bỏ ý nghĩ đó.

Kiều A Bích im lặng từ nãy đến giờ đột nhiên nói chen vào:

“Tạ tỷ tỷ, hay là đừng điều tra nữa. Chị phát hiện được hai con quái này đã đủ để về giao phó cho triều đình rồi mà.”

“Cảm ơn. Thế nhưng chuyện nào ra chuyện nấy. Chị đã nhận lời thì cần phải làm đến nơi đến chốn mới được. Mấy cảnh tượng buồn nôn thôi, chỉ vì thế chùn bước thì còn xứng mặt nữ lưu hay không?”

Tạ Thiên Hoa ngoài miệng thì nói vậy, nhưng thực ra trong lòng cô nàng cũng thực lòng lấy làm tò mò muốn điều tra kỹ hơn về mối liên quan giữa hai quái nhân và cánh cổng tuyết tùng. Hơn nữa, từ một nơi xa xăm giống như có một âm thanh đang nói cho Tạ Thiên Hoa, cô nàng nhất định phải chớp lấy cơ hội này điều tra tỏ tường Cô Sơn.

Bằng không sẽ hối hận cả đời.

Kiều A Bích “a” một cái, cuối cùng lắc đầu:

“Em thấy thân là nữ nhi, sợ hãi cũng đâu có vấn đề gì? Hơn nữa Cô sơn lớn như vậy, tìm đến bao giờ mới hết?”

Tạ Thiên Hoa thấy cô nàng nói cũng có lý, còn đang đắn đo phân vân thì con gà con toàn thân đen sì từ trong áo nhảy ra. Nó lắc mình, rũ đám lông tơ xù bung lên, kế lon ton chạy về phía lối rẽ. Cứ chạy một đoạn, gà đen lại cúi đầu mổ mổ nền hang, trông cứ như là chó săn đánh hơi con mồi. Tạ Thiên Hoa thấy thế cũng phải thầm giật mình, nghĩ bụng:

“Rốt cuộc mình lai giống ra là gà, Hắc Tước hay là chó không biết nữa?”

Trong lòng tuy còn nghi ngờ về khả năng dánh hơi của của một con gà trông mới chỉ mấy ngày tuổi, song cô nàng vẫn dắt tay Kiều A Bích, đuổi theo sát con gà lông đen. Có thể nói lúc này, Tạ Thiên Hoa cơ hồ đã ôm tâm thái thử đại một lần, không trâu bắt chó đi cày rồi.

Hai người đuổi theo con gà, xông qua lối rẽ, thì thấy trước mắt là cả một hang động mới rộng bạt ngàn, trần hang cao vô cùng. Tạ Thiên Hoa dùng Thanh Sắc thần quang kiểm tra, thì phát hiện từ trần động đến nền hang cũng phải đến sáu trăm trượng, có nói là khoét rỗng một nửa núi Cô sơn cũng không ngoa. Trong hang động tối đen, vô số côn trùng toàn thân phát ra ánh sáng nhàn nhạt bay lượn dập dờn khắp bốn phía, tựa như là một biển sao trời.

Nếu phải so sánh, thì núi Cô Sơn này có kết cấu giống như một nhà hát.

Đoạn hầm mỏ phía trên giống như một hành lang hẹp, thấp để khách khứa đi lại, còn hang động chính trước mặt này là chính sảnh, là sân khấu chính với trần cao lồng lộng và không gian rộng bao la. Mà chỗ hai người bọn họ đang đứng là trên một vách đá dựng đứng, cách nền động gần hai trăm trượng. Mé tả có một đường núi dốc xuống thoai thoải, dẫn xuống một vùng hoàn toàn bị bóng tối bao trùm bên dưới.

Gà con vỗ mạnh đôi cánh, lắc lư bay xuống khỏi gờ đá. Tạ Thiên Hoa lắc mình, sau lưng vươn ra một đôi cánh chim, kế một giữ lấy eo Kiều A Bích, tay kia khống chế Thanh Sắc thần quang thay cho đèn đuốc, vỗ cánh đuổi theo.

Càng xuống sâu, Tạ Thiên Hoa lại càng phát hiện những dấu vết kỳ quái. Nền hang, vách động đều có những vết hằn sâu, rộng phải ba bốn gang, dài đến hàng trượng, thoạt nhìn có phần giống với vết chém của đao kiếm. Lại có những hố lớn hố nhỏ, miệng hố tròn vành vạnh, vết cắt cũng nhẵn thính như gương, không rõ là do binh khí gì tạo ra, Ngoài ra, nền hang khắp nơi là xương trắng, kiếm mẻ, đao gãy, chiến giáp vỡ vụn, thành quách hoang tàn.

Dọc đường, giữa những tàn tích, đám quái nhân khổng lồ lê thân xác quá khổ trên hai đầu gối, lang thang lật từng khúc xương lên giống như đang kiếm tìm thứ gì đó. Chốc chốc, lại thấy bọn chúng lấy từ trong lớp da đang choàng trên người ra một nắm thịt nhễu nhão, bỏ vào miệng mà nhai sần sật.

Vô luận là hài cốt, khí giới, giáp trụ hay tường thành nhà cửa đều to lớn lạ thường, không phải thứ một người bình thường có thể sử dụng. Tỉ như gác trên vách động phía tây, cách chỗ hai người một gà không xa, có một cái đầu lâu to bằng cả cái cối đá.

“Nơi này... dường như rất lâu về trước... từng có một vương quốc của những người khổng lồ. Là do những người giống như hai quái nhân kia tạo nên sao?

“Thế nhưng nhìn thành quách kiến trúc, vũ khí chiến giáp này, thì có vẻ vương quốc cổ này cũng có văn hiến lắm. Hai quái vật kia hành xử hệt như loài man di, không có vẻ gì là có trí khôn cả. Rốt cuộc... là có chuyện gì xảy ra?”

Tạ Thiên Hoa vừa nhìn cảnh sắc trong động, vừa nghĩ thầm.

Gà con dẫn đường, chẳng mấy chốc hai người Kiều, Tạ đã đến trước tàn tích của một bậc thang bằng đá, dẫn lên được chừng năm bảy bậc thì đứt đoạn, có lẽ đã đổ sập từ lâu. Nằm giữa đống đá vụn, đổ nát là một bộ hài cốt khổng lồ còn nguyên vẹn toàn thây duy nhất trong cả hang động rộng lớn. Thấp thoáng giữa những cái xương sườn cong vút, to lớn quá khổ của di hài, Tạ Thiên Hoa loáng thoáng trông thấy một bóng lưng với mái tóc trắng bạc xõa tung, thế nhưng lúc vừa định thần nhìn kỹ lại thì chẳng còn thấy gì nữa.

Chẳng hiểu sau, ngay sau khi cùng Kiều A Bích đáp xuống bậc thang đá, trong lòng Tạ Thiên Hoa lại dần dần dâng trào một nổi buồn khó mà diễn tả bằng lời. Chỉ biết ngay lúc này, trái tim cô nàng như bị cứa từng nhát dao, như bị một bàn tay bóp nghẹt đến không thể thở nổi. Tạ Thiên Hoa ngẩn người, nhìn không chớp mắt về phía bộ xương khổng lồ.

Nếu như... nếu như di hài này cũng tồn tại cùng thời với cánh cổng tuyết tùng trên kia, vậy thì chắc hẳn nó cũng đã cả vạn năm tuổi. Tạ Thiên Hoa chỉ vừa mới ra đời cách đây chưa đến bốn mươi năm, cho dù cô nàng có sống thêm trăm kiếp cũng chưa chắc đã có thể quen biết được thi dài lúc còn sống. Thế nhưng, nhìn bộ xương trắng nằm bất động, chẳng rõ vì sao cô nàng lại cảm thấy như từng quen, cũng mơ hồ cảm thấy dường như mình mắc nợ người đang nằm vật trong đống đổ nát.

Chợt, bên tai cô nàng vang lên tiếng kinh hô của Kiều A Bích:

“Tạ tỷ tỷ, túi chứa đồ của chị đang sáng lên kìa!”

Tạ Thiên Hoa giật mình, vừa mới cúi đầu nhìn, thì từ trong túi chứa đồ, quyển sách “Truyền Kỳ Mạn Lục” mà Hồng Vân đưa cho cô nàng trước lúc lên đường đã nhảy ra ngoài. Trước con mắt ngạc nhiên và ngờ vực của hai cô gái, quyển sách bỗng nhiên vặn mình, cuộn xoắn, hóa thành một quả cầu ánh sáng.

Quang cầu đón gió hóa lớn, mới đầu còn chỉ như nắm tay, sau đó đã có đường kính đến cả trượng. Cuối cùng, ánh sáng dần dịu bớt, để lộ ra bóng người của một thiếu niên tuổi chừng hai mươi, áo trắng như tuyết, tóc đen xõa ngang vai. Trên tay y cầm một thanh kiếm đen, trông như được tạc ra từ một loại thủy tinh nào đó.

Thiếu niên nhìn Tạ Thiên Hoa một cái, lại ngó sang Kiều A Bích, đoạn cười, hỏi:

“Ai là chủ của quyển sách vậy?”

“Là tôi. Anh là ai?”

Tạ Thiên Hoa nheo mắt, nhìn thiếu niên nọ một cái, trên mặt thoáng hiện ra vẻ đề phòng. Cũng giống như Nguyễn Đông Thanh, cô nàng hoàn toàn không thể cảm nhận được một chút chân khí nào trong người gã cả.

Thiếu niên gật đầu, đáp:

“Tại hạ tên Lý Vô Danh. Người đưa quyển sách này cho cô nương nhờ tại hạ giúp một chuyện. Cô nương không phiền chứ?”

Vừa nói, Lý Vô Danh vừa bình thản chìa chuôi thanh kiếm đen ra trước mặt của Tạ Thiên Hoa, hất đầu ra hiệu cho cô nàng mau nắm lấy chuôi kiếm.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 264: Cô Sơn Lẫm Lẫm


Tạ Thiên Hoa thấy bỗng nhiên quyển Truyền Kỳ Mạn Lục của Hồng Vân tiên tử lại hóa thành một thiếu niên đeo kiếm, toàn thân không có một chút tu vi nào giống hệt ông sư phụ nhà mình thì cũng choáng mất mấy giây mới hoàn hồn.

Sau đó, đoán biết được Hồng Vân tiên tử sẽ không hại mình, Tạ Thiên Hoa mới gật đầu, làm theo yêu cầu của Lý Vô Danh.

Bàn tay cô nàng vừa chạm vào chuôi kiếm, tức thì cảnh sắc trước mắt cô nàng đã thay đổi.

Nơi Tạ Thiên Hoa đang đứng lúc này vẫn là Cô sơn, nhưng lại không phải tàn tích với kiếm gãy, đao mẻ, thi thể ngang dọc khắp nơi nữa. Cô nàng thấy được một Cô sơn tràn đầy sức sống, với những mái nhà cao to, những dải tường thành phức tạp cao thấp không đều. Dọc theo những con phố, những con người cao đến hai trượng tất tả mưu sinh, kẻ cầm cuốc, người mang lưới, không ai là không bận bịu.

Thế nhưng, lúc đi ngang qua chỗ Tạ Thiên Hoa, người nào người nấy đều dừng lại, mỉm cười chào hỏi.

“Âu Dương tiểu thư, xin chào. Tiểu thư đến thay Thế Tôn kiểm tra ‘thứ đó’ sao?”

“Thế Tôn đại nhân có khỏe không?”

“Ở đây có một chút quà quê, khoai sắn lạt miệng, nhưng của ít lòng nhiều. Phiền tiểu thư mang về cho Thế Tôn, xem như một phần tâm ý của Sơn Trung chúng ta.”

Tạ Thiên Hoa không rõ vì sao những người khổng lồ kia lại gọi mình là “Âu Dương tiểu thư”, cũng không rõ vị “Thế Tôn” mà bọn họ nhắc đến là ai. Chỉ biết, lúc này đầu của cô nàng bỗng nhiên không chịu khống chế, nhẹ nhàng gật một cái đáp lại những lời thăm hỏi của đối phương. Hiện tại, Tạ Thiên Hoa cảm thấy giống như đang trở thành một vị khán giả trong cơ thể của chính mình vậy. Cô nàng có thể quan sát, có thể nghe, có thể ngửi, song lại không thể chủ động làm bất cứ hành động gì. Cho dù là những hành động nhỏ nhặt nhất như quay đầu, đảo mắt, ho khan hắng giọng hay nhếch mép nhăn mày cũng không được.

Quốc gia nằm lọt thỏm trong núi Cô Sơn này phố lớn ngõ nhỏ đan vào nhau chẳng khác nào mê cung, người nào không rõ đường đi lối lại, chắc chắn sẽ lạc đường. Ấy vậy mà “Tạ Thiên Hoa” lúc này nhẹ nhõm đi dọc qua các con đường phức tạp của Sơn Trung, thẳng tiến đến một chỗ mà cô nàng không thể nào quen thuộc hơn.

Bậc thang đá...

Thế nhưng, hiện tại, bậc thang đá đã không còn là tàn tích nữa, mà nguyên vẹn hoàn hảo. Từng phiến đá, từng viên gạch đều được mài nhẵn bóng trơn láng, chẳng hề có một chút vết tích thời gian nào cả, hiển nhiên là vừa được khánh công chưa lâu. Trên thềm đá không dính lấy một hạt bụi, giống như có người thường xuyên quét dọn.

Điểm cuối cùng của bậc thang là một cái đài cao, trên đó, một người khổng lồ to lớn dị thường đang đứng. Ngay cả khi so với các đồng loại ở Sơn Trung, người này cũng cao gấp rưỡi, từ chân đến đầu cũng phải ba trượng có lẻ. Y quay lưng về phía Tạ Thiên Hoa, không rõ là nhìn cái gì.

Cô nàng lại thấy mình từ từ bước lên trên cầu thang, miệng cất tiếng gọi tên khổng lồ đứng trên bậc cao nhất:

“Vô Phong quốc chủ!”

Người nọ quay đầu, trên gương mặt vuông chữ điền của y, khuôn miệng rộng từ từ nhếch lên một nụ cười hào sảng. Hai hàng chân mày sâu róm chun lại với nhau, cặp mắt báo nửa khép nửa hở:

“Tưởng ai, hóa ra là Âu Dương tiểu thư. Các vị công tử, tiểu thư khác lần này không đi cùng ngài hay sao?”

“Bọn họ có chút chuyện cần phải giải quyết thay Thế Tôn, không đến được.”

Tạ Thiên Hoa đáp gọn, ngữ khí có vẻ hơi lạnh lẽo, trái hẳn với vẻ nhiệt tình sởi lởi của Vô Phong quốc chủ. Thế nhưng, gã khổng lồ dường như cũng không phát hiện, hoặc giả là y chẳng để ý, đến những chuyện vặt vãnh lông gà vỏ tỏi như thế.

Gã khịt mũi một cái, nói:

“Lần này tiểu thư đến kiểm tra Cô Sơn Lẫm Lẫm sao? Mọi chuyện vẫn ổn. Có lẽ chỉ một năm nữa thôi là đại kế của Thế Tôn sẽ thành. Đáng tiếc... Địa Hỏa Chi Sơ đã bị lão già Trương Thất vô tình lấy được, nếu không thì có lẽ hiện giờ Cô Sơn Lẫm Lẫm đã thành hình rồi.”

Vừa nói, gã vừa chỉ ra phía sau lưng, cũng là nơi mà cái đài cao đang nhìn thẳng xuống. Tạ Thiên Hoa không thể tự chủ, từ từ bước lên bậc cao nhất, đi sát tới mép thạch đài. Đập vào mắt cô nàng là một quả núi rỗng ruột, chổng ngược lên, đầu cắm xuống đất, đáy chổng lên trời. Cứ chốc chốc, trên nền hang lại có một giọt chất lỏng trắng ngà như sữa nhỏ xuống lòng núi, mắt thấy cũng đã đổ gần đầy quả núi con. Tạ Thiên Hoa nhìn về phía thứ được tên khổng lồ gọi là Cô Sơn Lẫm Lẫm, nhìn từng giọt tinh hoa của đại địa nhỏ xuống chặc lưỡi một cái:

“Đây là thứ sẽ thay thế cho Thế Tôn sao? Xem ra cũng chẳng có gì đặc biệt.”

“Tiểu thư có điều không biết. Phải đến lúc đại địa tinh hoa đầy tràn khỏi mép núi, Cô Sơn Lẫm Lẫm mới phát huy diệu dụng. Không biết Thương Hải Mang Mang hoàn thiện đến đâu rồi? Lần sau ghé thăm, nếu tiểu thư không phiền, xin nói cho tại hạ biết.”

Vô Phong quốc chủ nhìn về phía quả núi ngược, trong mắt hiện lên vẻ tự hào không hề che giấu, lại loáng thoáng là nét cười háo thắng.

Lại nghe, Tạ Thiên Hoa đáp:

“Lần sau? Không cần đâu. Không có lần sau...”

Lời chưa dứt, trên tay nàng ta đã hiện lên thần cung, một mũi Thanh Linh tiễn bắn xuyên qua lồng ngực của Vô Phong quốc chỉ, đánh thủng ngọn núi ngược Cô Sơn Lẫm Lẫm. Đại địa tinh hoa theo đó mà chảy tràn ra lênh láng khắp nơi.

Vô Phong quốc chủ miệng trào máu, vết thương ở ngực bốc khói xì xì, thế nhưng y vẫn lồm cồm bò dậy, dùng bàn tay quá khổ bấu lấy miệng núi, cố gắng bịt lỗ thủng lại. Thế nhưng, từng dòng đại địa tinh hoa trắng sữa vẫn theo các kẽ ngón tay của y chảy tràn ra.

“Ngươi... ngươi... không phải...”

Vô Phong quốc chủ ho sặc ra một búng máu lẫn với bọt khí, khó nhọc trở người lại nhìn về phía Tạ Thiên Hoa.

“Không cần phải đoán già đoán non, ta đúng là Thiên Hoa tiểu thư, Âu Dương Ngọc.”

“Âu Dương... ngươi... phản bội Thế Tôn?”

“Có thể cho là thế. Được rồi, nhà ngươi cũng đã biết vì sao ta ra tay, coi như chết được minh bạch. Lên đường đi!!!”

Tạ Thiên Hoa thấy bản thân lạnh lùng tung thần cung lên cao, tức thì, hàng vạn mũi Thanh Linh tiễn đã trút xuống Sơn Trung quốc chẳng khác nào một trận mưa đoạt mạng. Chỉ trong một sát na đó, tộc khổng lồ ở Sơn Trung từ già đến trẻ, từ nam đến nữ, từ vật nuôi đến chuột bọ đều không còn bất cứ một ai sống sót nổi. Cho dù có tướng quân kịp thời phản ứng lại, có binh sĩ theo bản năng giơ khí giới lên cản, song đứng trước Thanh Linh tiễn vẫn là châu chấu đá xe, chúng sinh bình đẳng. Những mũi tên do Thanh Sắc thần quang tạo thành cắm xuyên qua vách đá, tạo thành những lỗ tròn vành vạch.

Cô Sơn chỉ trong một giây đã trở thành một tòa thành chết.

Nhưng chưa dừng ở đấy, Âu Dương Ngọc – Tạ Thiên Hoa – còn mở bung hai cánh, lấy lông vũ làm đao, chém liên tiếp mười sáu nhát ra xung quanh. Dực đao quét đến đâu, thành quách nhà cửa sập xuống đến đó, ngay cả vách động cũng bị bổ ra những vết cắt sâu hoắm, dài ngoằng.

Làm xong đâu đấy, Âu Dương Ngọc mới nhìn về phía thi thể của Vô Phong quốc chủ, nói:

“Kiếp sau nên thức thời một chút.”

Dứt lời, nàng ta bốc quả núi rỗng – Cô Sơn Lẫm Lẫm lên, ném ra bên ngoài cửa hang nơi Tạ Thiên Hoa và Kiều A Bích để mò lần xuống. Núi ngược c*m v** đá, tạo thành một cái hố tròn, dường như chính là cái hố với những đụn thịt mà cô nàng tìm thấy bên ngoài.

Âu Dương Ngọc bỏ đi, nơi đây cũng thành phế tích.

Thời gian cứ thế trôi, chẳng rõ là đã bao lâu kể từ ngày Sơn Trung diệt quốc. Bỗng nhiên, vào một hôm nọ, một số thi hài của khổng lồ bắt đầu sinh da sinh thịt. Những khổng lồ vốn đã bị sát hại từ từ đứng dậy, miệng gào lên một tiếng, thế nhưng âm thanh phát ra từ miệng chúng lại chỉ có những tiếng “rèeeee”. Xương chân của bọn họ đều đã hỏng hết, thành thử tuy là sống lại, nhưng chỉ có thể bò lê bò lết trên hai đầu gối.

Một số người muốn xông ra ngoài, thế nhưng vừa mới lết lên được lối mòn dẫn lên gờ đá thì vách đá hai bên đã b*n r* Thanh Sắc thần quang, lần nữa g**t ch*t những kẻ dám bén mảng bước lên.

Bất lực, tuyệt vọng, thống khổ đều dồn nén thành một tiếng gào khóc thất thanh, chỉ tiếc thứ duy nhất lắng nghe chính là khoảng không vô tận của nơi từng là Sơn Trung quốc.

Dần dần...

Các khổng lồ vì sinh tồn, đành phải bẻ xương đồng loại m*t tủy mà ăn, thậm chí cắn xé x*c th*t những người đã ngã xuống dưới Thanh Sắc thần quang lúc trước. Đời sau của bọn họ dần dần cũng trở nên dị hình, dị dạng, Tạ Thiên Hoa nhìn mà chợt nhớ đến “hậu quả của giao phối cận huyết” từng đọc trong sách của sư phụ. Cuối cùng, các khổng lổ trở nên mù hẳn, nhận thức khi xưa cũng mất. Một chủng tộc có văn hiến, có lịch sử lâu đời, cuối cùng biến thành những quái vật hung tợn và vô tri, sống hoàn toàn bằng bản năng.

Mãi đến một ngày kia...

Một bóng người khoác ào choàng, cái đầu bên dưới mũ chỉ là một cái đầu lâu trắng hếu xuất hiện ở tàn tích Sơn Trung cổ quốc. Thấy tình cảnh của các khổng lồ, ả ta cười lên the thé, cũng chẳng buồn lên tiếng với những kẻ đã trở thành dã thú vô tri làm gì. Ả chỉ bình thản đưa tay ra, phẩy cái bàn tay xương xẩu một cái.

Những chiếc lông vũ xanh biếc từ trong các hốc tròn do Thanh Linh tiễn lưu lại lao vút ra, trở lại trong tay bộ xương khô.

Từ đó, hậu duệ của những khổng lồ khi xưa lại có thể ra ngoài.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 265: Chiều Kinh Hoàng Ở Trấn Thiết Khanh


Tạ Thiên Hoa thẫn thờ, bàn tay bất giác rời khỏi chuôi thanh kiếm đen, khung cảnh chung quanh lại trở về cái tàn tích của nước Sơn Trung ban nãy. Kiều A Bích vội vàng chạy đến, hỏi han:

“Tạ tỷ tỷ, không sao chứ? Mặt chị tái lắm...”

Cô nàng không đáp lời nàng tiểu thư nhà tri huyện, mà vội vàng đưa ánh mắt nhìn về phía Lý Vô Danh, lên tiếng. Giọng Tạ Thiên Hoa nghe vừa van lơn, vừa khẩn khoản, nghe không giống như một câu hỏi mà giống một lời cầu xin hơn:

“Chuyện... chuyện ban nãy...”

Thiếu niên lắc đầu:

“Là sự thật, không phải ảo cảnh, cũng không phải chuyện ‘có thể’ hay ‘đáng lẽ’ sẽ xảy ra. Còn rốt cuộc tiểu thư nhìn thấy gì, có liên quan tới ai hay không, thứ cho tại hạ không cách nào giải đáp. Vô Danh được người ta mời đến, rốt cuộc đây là đâu, từng trải qua chuyện gì, đều không phải chuyện tại hạ có thể biết được.”

Lý Vô Danh nói đến đây, thân hình đã bắt đầu mờ dần. Gã nhìn Tạ Thiên Hoa, gật đầu một cái, đoạn biến mất, chỉ để lại quyển sách Truyền Kỳ Mạn Lục nằm chỏng chơ trên mặt đất.

Tạ Thiên Hoa vừa muốn nhặt lại quyển sách, thì bỗng nhiên bên mạng sườn nhói lên một cái. Cô nàng chỉ thấy toàn thân bã ra, cả người vô lực bải hoải, muốn động một ngón tay cũng không nổi. Kiều A Bích từ đằng sau nhẹ nhàng bước đến, nhặt quyển Truyền Kỳ Mạn Lục rơi trên mặt đất lên.

“Kiều... cô...?”

“Xin lỗi. Kiều A Bích thực ra đã bỏ mạng ngay cái hôm bỏ chạy khỏi trấn Thiết Khanh rồi. Ta là Mão, người của Sát Thần điện.”

Mão bỏ quyển sách vào túi chứa đồ, nhìn về phía Tạ Thiên Hoa một cái, đoạn vung tay lên. Tức thì, chân khí sôi trào, cuộn lại trong lòng bàn tay nàng ta trở thành một bức màn.

oOo

Trấn Thiết Khanh...

Lê Tắc là một thợ mỏ nhà ở đầu thôn, đầu hói, thân lùn, tính nết cộc cằn hay rượu. Một tên nghề ngỗng chẳng kiếm được mấy, lại còn nghiện rượu, thành thử đàn bà con gái ở Thiết Khanh đều chê chẳng ai thèm ngó ngàng. Chẳng rõ vì sao, y lại lấy được một cô vợ mua được ở bên Đại Tề, nghe đồn là tù binh chiến tranh từ thời Nghiêm Hàn càn quét lục quốc.

Vợ y tính tình khờ khạo, chồng bảo gì thì nghe đấy, lầm lì như cục đất chẳng bao giờ biết nói lại tiếng nào. Hai người ở với nhau mấy năm liền không có con, ai cũng bảo do Lê Tắc vô phúc.

Sau khi mỏ Cô Sơn xuất hiện việc thợ mỏ mất tích, họ Lê ở nhà vô công rỗi nghề. Thẩm Tam Vạn vừa đến, y bèn bán quách nhà cửa tổ tiên để lại lấy tiền chè chén, lại đưa vợ đến Thẩm gia trang dệt vải làm thuê. Thế là từ đấy Lê Tắc sống đời phủ phê êm ấm, không cần làm cũng có tiền nhậu nhẹt phủ phê, ăn chơi hoang đàng.

Hôm nay, cũng như mọi ngày, Lê Tắc định đi mua rượu về uống cho say quên trời đất đi thì lại nghe cánh đồng nghiệp ngày xưa rủ đến nha môn “hỏi tội” vị đặc sứ triều đình phái đến. Nghĩ bụng phen này bét cũng phải kiếm được một chút, không từ cái cô đặc sứ trẻ măng thì cũng phải được chút lòng chút dạ của lão bá hộ hào phóng Thẩm Tam Vạn. Dù sao, theo Lê Tắc nghĩ, bọn hắn cất công đến ra mặt giúp lão, để lão sớm được thả, không có công lao cũng phải có khổ lao chứ. Gã thấy, phen này mình ra mặt, ít thì cũng phải đủ chè chén nửa tháng, nhiều thì cũng phải mấy tháng tiền nhà mới bõ công ra ngoài.

Thế nhưng...

Lê Tắc chẳng những không kiếm được đồng cắc nào, còn bị “Đào đặc sứ” làm cho quỳ mọp xuống, tiểu tiện mất khống chế, trở thành trò cười một phen. Gã căm lắm, hậm hực về nhà uống thêm mấy chai rượu, định bụng chờ mụ vợ về sẽ lấy lại “oai phong” của nam nhi một phen.

Chờ mãi đến sẩm tối thì chị vợ về thật...

Vẫn như ngày thường, người vợ ngốc của Lê Tắc cúi đầu, lầm lũi bước đi, im lặng như hòn đất. Tên này thấy y thị không có gì khác lạ thì đứng chống nạnh trước cửa, hắng giọng nói to:

“Con kia? Sao giờ này mới về? Thế không định cơm nước gì đấy hả... hả???”

Gã vừa nói dứt câu, thì người vợ đã đưa tay lên, đâm mạnh vào giữa cổ hắn. Năm ngón tay y thị giờ dài ra khác thường, sắc như dao cạo, đen thui như bôi mực nước. Lê Tắc không kịp ú ớ tiếng nào, đầu đã ngoẹo sang một bên, tắc thở mà chết. Chị vợ ngẩng đầu lên, để lộ ra hai hốc mắt trống rỗng như hai cái lỗ chuột. Y thị đờ đẫn hé miệng, lộ ra hai hàm răng nanh dài, ghé miệng cắn ngập mồm vào cổ Lê Tắc. Dòng máu đỏ tươi cứ thế trào ra, đổ vào miệng người vợ ngốc. Chẳng mấy chốc, bụng của y thị đã trướng căng lên, ai không biết có lẽ còn tưởng là y thị đang bầu bảy tháng, sắp sửa đẻ đến nơi.

Giết người xong, chị vợ lừ lừ rời nhà, tiếp tục đi tìm nạn nhân tiếp theo.

Mà ở Thiết Khanh trấn, bấy giờ, chuyện tương tự liên tiếp xảy ra, cơ hồ là đâu đâu cũng có thể trông thấy. Từ Thẩm gia trang, người trong thôn lầm lũi trở về với hốc mắt đã bị đào mất, sau đó bắt đầu tàn sát thân nhân, hút khô cạn máu.

Trấn mỏ quặng ngày thường bình an bây giờ gà bay chó sủa, không còn sót lại chút yên bình nào.

Nhà của một thợ săn, trong lúc một nhà ba người đang ngồi trên phản ăn cơm thì bỗng nhiên cánh cửa bị đạp văng. Cô vợ ngốc của Lê Tắc lừ lừ bước vào, cái bụng trướng to lên, ắc ư óc ách vì máu. Y thị hiện giờ tóc tai đã bù xù, mình mẩy vấy đầy máu, hai bàn tay còn thòng lòng một đoạn ruột người, trông chẳng khác nào ma quỷ bò lên từ địa ngục.

Đứa nhỏ khóc toáng lên, người vợ vội vàng ôm chầm lấy con, kêu lên một tiếng thất thanh. Ông chồng lục tục đứng dậy, vơ đại lấy cái chĩa dưới gậm giường, đâm mấy nhát về phía vợ của Lê Tắc. Thế nhưng, y thị vẫn cứ hằm hằm tiến lên, bị ngọn chĩa đâm vào ngực đến mấy nhát tứa cả máu mà vẫn trơ trơ như không.

“Quái vật! Yêu quái!”

Thợ săn vốn là người thường, cũng gọi là tập tọe được chút tu vi, song chưa bao giờ đánh nhau với ai. Bây giờ trông thấy yêu quái, y sợ đến nỗi hai chân như nhũn ra, cả người run lẩy bẩy, nước mắt không kìm nổi. Thế nhưng, nghĩ đến sau lưng vẫn còn vợ con, người thợ săn mới gầm lên hai tiếng lớn, giống như đang cố gắng thổi bùng ngọn lửa can đảm đang chực chờ tắt ngấm trong lá gan.

Lúc này...

Chỉ nghe xoạt một tiếng, từ phía sau vợ Lê Tắc, một lưỡi kiếm đã đâm vọt tới, thấu ra ngoài đến ba tấc. Y thị kêu ré lên một tiếng, song chưa kịp làm gì, thì sau lưng đã bị bồi thêm cho một đá ngã chổng kềnh.

“Tiểu Ngũ?”

Người thợ săn thấy rõ thiếu niên đang cầm thanh kiếm vấy máu là ai, thở phào một tiếng, bấy giờ thả lỏng, cái chĩa trong tay cũng rơi đánh kịch một cái xuống đất. Cố Tiểu Ngũ rút kiếm ra, cũng không kịp lau, vội vàng quát lên một tiếng:

“Mau, dẫn người nhà đến nha môn.”

“Cố... Cố công tử... chuyện này...”

“Đồ ngơ. Giờ là lúc hỏi chuyện này đấy à?”

Người chồng thợ săn thì bị dọa choáng, nhưng chị vợ có vẻ vì lo lắng cho an nguy của đứa con nên lúc này tỉnh táo khác thường. Y thị xốc thằng nhỏ lên, kéo tay chồng chạy ra ngoài, vừa đi vừa nói:

“Không thấy phu nhân nhà Lê Tắc nằm một đống kia sao? Đào đặc sứ nói đúng rồi. Thẩm phú hộ chắc chắn là yêu ma...”

Cố Tiểu Ngũ nhìn người vợ ngớ ngẩn của Lê Tắc cúi xuống, l**m đống máu đang chảy ồng ộc ra khỏi bụng mình như một con chó l**m cơm thừa canh cặn trên sàn nhà mà không nén nổi một tiếng thở dài. Song, cậu chàng hiện giờ cũng chẳng biết làm gì hơn ngoài bỏ đi, tiếp tục cứu được ai thì cứu.

Bốn mươi thợ dệt vải ở nhà Thẩm Tam Vạn đột nhiên trở thành quái vật, đồ sát khắp nơi, trấn Thiết Khanh không ai kịp đề phòng, đâu đâu cũng có người chết. Những nhà lần trước xin việc ở Thẩm gia trang không thành lúc này không nén nổi thở phào một hơi nhẹ nhõm, lắm kẻ còn cười trên nỗi đau của kẻ khác.

Đương nhiên, cười người chớ vội cười lâu...

Những tên này tiểu nhân đắc chí chưa được mấy, thì đám quái vật đã tìm đến, tiếp tục công việc gom máu tươi của mình. Cố Tiểu Ngũ thấy có biến, vội vàng chạy đến nha môn huy động thêm người, dọc đường cũng tiện tay cứu được hai ba hộ gia đình.

Cậu chàng vừa tới nơi, đã thấy một đám dân nghèo nâng cái trống kêu oan tông vào cánh cửa đang đóng im ỉm, nha lại sai dịch đều không thấy một bóng ai. Cố Tiểu Ngũ rùng mình, tung người nhảy lên đầu tường, trèo vào nha môn thám thính xem rốt cuộc có chuyện gì xảy ra, liệu Thẩm Tam Vạn có biết trước nhắm vào Kiều tri huyện đầu tiên hay không.

Thế nhưng, kết quả cậu chàng được thấy lại khiến Cố Tiểu Ngũ thất vọng không thôi.

Chỉ thấy, Kiều tri huyện bấy giờ nấp dưới gậm bàn mà run lẩy bẩy, miệng không ngừng gào lên ra lệnh cho đám nha sai phải chặn cửa thật chắc, không cho bất cứ thứ gì được phép lọt vào, dù chỉ là một con ruồi. Cố Tiểu Ngũ vội vàng đi tới, nói:

“Kiều đại nhân, bây giờ là lúc khẩn cấp, vì sao lại chặn cửa nha môn không cho bách tính vào lánh nạn?”

“Tiểu Ngũ! Đây rồi! Mau! Đuổi hết đám điêu dân ngoài kia cút xéo đi! Sau đó bảo vệ bản tri huyện.”

“Đại nhân! Tiểu Ngũ lần này quay về là muốn xin đại nhân phái nha sai ra ngoài cứu người, đưa bọn họ đến nha môn lánh nạn. Ngài thân là quan phụ mẫu, vì sao lại chỉ bo bo giữ mình như thế?”

Cố Tiểu Ngũ vẫn còn ôm một chút hi vọng về vị Kiều tri huyện, cha đẻ của người trong mộng, nên kiên nhẫn phân trần tiếp. Chẳng ngờ lão quan huyện núp gầm bàn vừa nghe xong đã tức đỏ mặt tía tai, nói xa xả như tát nước:

“Mẹ kiếp! Cố Tiểu Ngũ, đồ ăn cháo đá bát, ăn cây táo rào cây sung! Ngươi là người của bản quan hay là người của đám dân đen đê tiện ngoài kia? Cứu mạng chúng? Cứu cái đám tiện dân mạng như sâu kiến ấy làm gì? Lúc này tính mạng của bản quan phải đặt lên hàng đầu, nghe chưa?”

Những lời nói của Kiều tri huyện chẳng khác nào mấy cái tát vào mặt Cố Tiểu Ngũ. Cậu chàng điếng cả người, ngẩn tò te ra một lúc. Lão quan huyện còn tưởng đã nói phục được Cố Tiểu Ngũ, ngữ khí có dịu lại, song vẫn hạch sách ra lệnh lắm:

“Tốt. Biết sai mà sửa thì bản quan cũng không truy cứu nữa. Bây giờ đuổi đám điêu dân bên ngoài cút khỏi đây, bản quan sẽ cất nhắc cho.”

Cố Tiểu Ngũ vung kiếm, chém cái bàn đứt làm đôi, bộ quan phục và mũ ô sa của Kiều tri huyện cũng bị cậu chàng xả ra đứt toạc, để lộ cái tấm thân trắng phớ và cái đầu hói tròn vo của lão. Cố Tiểu Ngũ lấy quan bài ra, ném xuống đất vỡ tan tành, đoạn nghiến răng, nhìn về phía các nha sai, nói:

“Các vị, ở đây ai mà không có cha sinh mẹ đẻ? Bây giờ cha mẹ thân nhân mọi người đều ở ngoài kia, bị Thẩm Tam Vạn xé thây, hút máu, mọi người vẫn còn ở đây nghe lệnh tên cẩu quan này sao?”

“Cố huynh đệ nói đúng!”

“Mẹ nó! Ông đây cũng không thèm làm nữa...”

Có Cố Tiểu Ngũ dẫn đầu, các nha sai nhao nhao xé áo, ném mũ, sau đó mở toang cửa nha môn ra, để dân chúng bên ngoài tràn vào. Lại có một toán chừng chục kẻ gan dạ, bắt đầu chia nhau tản ra khắp cả trấn, cứu được ai thì cứu.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 266: Trận Khổ Chiến Trước Cửa Nha Môn


Cố Tiểu Ngũ ngồi trước cửa nha môn, chống kiếm, vừa khôi phục chân khí, vừa trấn giữ cửa lớn. Theo hiệu lệnh của cậu chàng, những nha sai còn lại trong phủ chia làm hai bên, đứng sau cửa lớn, một khi có biến thì phải lập tức đóng cửa nha môn lại.

Nha môn có trận pháp bảo vệ, yêu tà bình thường khó mà xâm nhập, cũng không thể theo tường nhảy vào như Cố Tiểu Ngũ, thành thử là nơi tốt nhất để tử thủ. Bằng không, kẻ tham sống sợ chết như Kiều tri huyện cũng không đến nỗi bất chấp cả nguy hiểm bên ngoài từ tư dinh chạy đến đây.

Dân chúng trong trấn Thiết Khanh chạy trốn được đến nha môn kỳ thực không nhiều. Nhân khẩu cả trấn vốn cỡ đâu đó hai ba trăm người, thì hiện tại cũng chỉ còn năm mươi mấy mạng lớn nhỏ, đa số là người trẻ tuổi. Cũng khó trách, bị tập kích quá đột xuất, người già và trẻ nhỏ rất nhiều người chạy không thoát. Còn may Cố Tiểu Ngũ tin tưởng Tạ Thiên Hoa, vốn luôn nhìn chằm chằm nhất cử nhất động của Thẩm gia trang, nên mới kịp thời can thiệp, tạo cơ hội cho không ít gia đình dắt nhau bỏ chạy, chứ nếu không, có lẽ còn thảm trọng hơn nữa.

Đám quái vật sau khi hút cạn máu nạn nhân khắp Thiết Khanh trấn liền mang những cái bụng òng õng nặng nề bước ra đường chính. Kế đó, cả đoàn lê từng bước lặc lè, tiến về phía nha môn. Nếu Bích Mặc tiên sinh của chúng ta mà ở đây để chứng kiến chuyện này, hẳn sẽ so sánh cảnh tượng trước mắt với những thước phim kinh dị về xác sống. Còn liệu gã sẽ toát mồ hôi rồi cong đít lên bỏ chạy hay có tâm tình để bình luận về các “xác sống bụng bia” thì lại là chuyện khó mà đoán trước.

Hơn bốn chục quái vật hành quân trên đường chính, ngoại trừ bốn mươi thợ dệt vải, hiện tại đã có thêm cả gia đinh cùng nữ hầu trong Thẩm gia trang nhập bọn. Phàm là kẻ từng vào nhà Thẩm Tam Vạn làm việc, hiện tại đều không thoát nổi số kiếp, ngoại trừ… một người.

Trần Tứ, lão quản sự của Thẩm gia đứng trên một mái nhà bên đường, tay cầm một tấm ngọc phù, chỉ huy đám xác sống. Không sai, lão tổng quản của Thẩm gia là tay sai duy nhất ngay từ đầu đã theo Thẩm Tam Vạn và biết rõ nội tình tại Thẩm gia trang. Mà nguyên do Tạ Thiên Hoa thấy rợn người khi khám xét hậu viện, có lẽ là do phương thức mà những người làm của Thẩm gia bị biến thành đám quái vật trên phố kỳ thực là cùng một loại cấm thuật với xưởng chế tạo ma da dưới đáy sông Ngân bên thành Ngự Long.

Sở dĩ cô nàng lúc đó chỉ thấy ngờ ngợ mà không nhận ra ngay, là do căn cứ dưới đáy sông khó lòng lui tới nên không cần quá nhiều ngụy trang, cũng không cần tiến hành quá bí mật. Kẻ thi thuật có thể trực tiếp sử dụng toàn lực chế tạo ma da. Còn Thẩm gia trang tại trấn Thiết Khanh thì bất đồng. Thẩm Tam Vạn ban đầu cần che giấu thân phận, nào có thể thực hiện quá lộ liễu?

Ngoại trừ bố trí trận pháp phong tỏa, che giấu không để lộ ra yêu khí, lão còn cẩn thận giảm hiệu ứng của cấm thuật xuống rất thấp. Tuy sinh khí của toàn bộ gia đinh, người hầu, cùng thợ dệt vải đều bị rút đi mỗi ngày, song ngoại trừ cảm thấy hơi mệt mỏi ra, thì tất cả bọn họ đều không hề mảy may phát giác. Thậm chí, ngay cả việc Tạ Thiên Hoa nhận ra có trá cũng chỉ hoàn toàn là dựa vào trực giác mà thôi, chứ cũng đâu có tìm ra được điểm nghi vấn nào? Vốn dĩ, với tốc độ sinh khí bị rút ra, Thẩm Tam Vạn có thể ở lại trấn Thiết Khanh vài tháng đến hơn năm cũng sẽ không ai nghi ngờ gì. Thế nhưng, hiện tại lão đẩy nhanh kế hoạch, khiến xác sống đầy đường, thực cũng không rõ cùng Tạ Thiên Hoa có liên quan gì hay không?

Lại nói Cố Tiểu Ngũ cùng hai chục nha sai đang cố tử thủ trước cửa nha môn, nghênh đón đoàn quân xác sống. Họ Cố tuy ở trấn Thiết Khanh công phu cũng tính là không tệ, nhưng bất quá cũng chỉ mới sơ nhập Nhị cảnh mà thôi. Hai chục nha dịch thì cũng chỉ có vài người là Nhất cảnh, còn đa số chả qua là phàm nhân có tập qua chút võ công. Đội hình của bọn họ lại còn phải lấy ít địch nhiều, đối mặt với địch đông gấp đôi, quả thực là lấy trứng chọi đá. Thế nhưng cũng không còn cách nào khác, nếu bỏ nơi đây đi thì chính là thập tử vô sinh, năm mươi mấy mạng người còn lại của trấn Thiết Khanh chỉ sợ không cách nào giữ. Chỉ có dựa vào trận pháp phòng ngự của nha môn, họ may ra còn có thể cửu tử nhất sinh mà vượt qua kiếp nạn này.

Mắt thấy đám quái vật ngày một tiến gần nha môn, thiếu niên cũng từ từ đứng dậy, tay nhấc kiếm lên. Hai bên của hắn, hai mươi nha dịch cũng lăm lăm khí giới, người cầm đao thương, kẻ ôm gậy gộc. Trên mặt mỗi một người đều hiện lên cảm xúc lẫn lộn, sợ hãi nhưng kiên định. Cố Tiểu Ngũ lúc này nói:

“Các anh em, đừng loạn trận cước! Chỉ cần chúng ta thủ chắc ở đây, đợi Đào đặc sứ quay trở lại, mọi người đều có thể sống sót qua kiếp nạn này!”

Lời này nói ra, chính Cố Tiểu Ngũ cũng chẳng dám tin, song không còn cách nào khác, hiện tại anh em nha sai cần có hy vọng mới có thể tiếp tục cố gắng chiến đấu. Nãy giờ tuy hắn đã đâm chém các xác sống kia không biết bao nhiêu lần, giúp đỡ được không ít gia đình bỏ trốn, thế nhưng đám quái kia thủy chung không hề bị chết, chỉ nằm lăn lóc một hồi lại lồm cồm bò dậy. Kể cả khi bị chặt mất tứ chi hay đầu, bọn chúng vẫn có thể nối lại như cũ. Tuy không hoàn toàn lành lặn như mới, nhưng vẫn là giết không nổi.

Đối mặt với một đám quái vật không cách nào g**t ch*t – hay ít nhất với tu vi thấp như mấy người bọn họ thì thúc thủ vô sách, ngoại trừ nâng lên một hy vọng xa vời rằng nếu bọn họ có thể câu giờ đủ lâu, sẽ có cứu binh tới, thiếu niên không nghĩ ra cách nào khác để nâng cao sĩ khí.

Dân chúng trốn trong phủ nha cùng nha sai đứng trấn thủ ở cửa đều cúi thấp đầu, cảm xúc phức tạp. Ân hận có, xấu hổ có, tuyệt vọng cũng có. Dù sao mới mấy canh giờ trước, họ còn mắng chửi Tạ Thiên Hoa, đòi thả Thẩm Tam Vạn, nay ngoại trừ đặt tất cả hy vọng vào việc cô nàng có thể kịp thời quay lại cứu bọn họ khỏi nanh vuốt của Thẩm Tam Vạn thì cũng chẳng còn biết làm gì khác. Thế sự trớ trêu, nếu biết đừng làm. Đáng tiếc, trên đời không có nếu như…

Đám xác sống ngày một tiến gần. Cố Tiểu Ngũ cũng nắm chặt tay kiếm, bước về phía trước một bước. Mấy sai dịch tu vi nhất cảnh cũng tiến lên phía trước một bước. Bọn hắn sợ, thế nhưng ở đây lúc này, hơn năm mươi mạng của trấn Thiết Khanh cũng chỉ có thể trông chờ ở Cố Tiểu Ngũ và bọn hắn.

Họ Cố tự biết lượng sức mình, lại có kinh nghiệm từ nãy, bèn không tốn công sức tìm cách chém giết đám quái vật. Y chỉ tránh trái tránh phải, né thoát khỏi công kích của đối phương, rồi nhắm vào khớp tay khớp chân, vung kiếm chém tới. Đám xác sống ban đầu mới từ Thẩm gia trang ra tốc độ vốn dĩ không chậm, thế nhưng sau khi tàn sát trên dưới hai trăm mạng người ở trấn Thiết Khanh, hút no một bụng máu, thì di chuyển cũng bắt đầu chậm chạp, khó khăn. Nay bị Cố Tiểu Ngũ quấy rối, trái đâm phải thọc thì cũng bị ngã lăn lộn trên mặt đất.

Mấy sai dịch cũng theo gương thiếu niên, không đánh chính diện, chỉ tìm cách cản trở, đánh ngã đối phương rồi lại lui về thủ tại trước cửa huyện nha. Nhờ vậy, trước cửa nha môn trấn Thiết Khanh, một thế giằng co vi diệu diễn ra hồi lâu không dứt. Tuy Cố Tiểu Ngũ cùng các anh em nha sai không cách nào g**t ch*t đám xác sống, nhưng quái vật cũng vô phương đột phá trận pháp.

Nói thì nói vậy, ấy thế nhưng sức người là có hạn, mà đám quái vật thì lại như không biết mệt mỏi. Tuy chúng liên tục bị chặt tứ chi, ngã xuống như rạ, song cứ qua một hồi thời gian lại lồm cồm bò dậy, tự nối lại tay chân, quả thực là liên miên bất tuyệt. Thành thử, cả Tiểu Ngũ và anh em nha sai đều biết rõ, họ không thể kéo dài tình thế trước mắt được mãi mãi. Không sớm thì muộn, sức của bọn họ cũng sẽ bị bào mòn. Nếu đến lúc đó mà vẫn không có chuyển cơ, chỉ sợ mấy chục mạng người còn sống sót của trấn Thiết Khanh cũng không giữ nổi.

Mà điều này, đối phương cũng biết rõ.

Trần Tứ nhàn nhã ngồi trên một tán cây, quan sát trận chiến phía dưới. Lão đã chuyển từ mái nhà sang một nơi dễ quan chiến lại khó bị phát hiện hơn. Cứ mỗi khi mười xác sống ngã xuống, lão lại đưa ngọc phù trong tay lên trước mặt, lẩm nhẩm gì đó. Hình như là phát lệnh hay k*ch th*ch đám quái vật hồi phục nhanh hơn.

Tuy bản thân lão cũng không rõ tại sao Thẩm Tam Vạn muốn dùng cách này kéo dài thời gian thay vì để lão trực tiếp xuống đánh chết đám nha sai rồi tìm cách công phá vào nha môn, thế nhưng lão không hỏi, cũng không quan tâm. Đằng nào đám phàm nhân kia muốn tránh cũng không thoát số kiếp, nếu lão không phải tự mình ra tay, chính là càng đỡ việc.

Phía dưới, Cố Tiểu Ngũ bật lui lại phía sau, thở hào hển. Toàn thân thiếu niên đã sớm đẫm mồ hôi, trên thân cũng bị thương không thiếu chỗ. Tuy chủ yếu cũng chỉ là xây xát ngoài da hoặc có bị thương thì cũng không sâu đến xương cốt, song máu đó vẫn nhuộm loang lổ quân áo. Mấy nha sai kề vai sát cánh với cậu chàng cũng không tốt hơn là mấy, có mấy người không cẩn thận bị đánh trúng, không thể tiếp tục chiến đấu, đã được kéo vào bên trong nha môn dưỡng thương. Đương nhiên cũng có ké kém may mắn, bị giết tại trận, không kịp nhận cứu chữa.

Thiếu niên thở dài. Chả lẽ hắn và toàn bộ trấn Thiết Khanh thực sự phải táng mạng hay sao? Hắn thực không cam lòng. Trong đầu thiếu niên thoáng qua hình ảnh một cô gái. Tay hắn nắm chặt kiếm, ánh mắt cũng kiên định trở lại.

Một con quái vật lúc này lại vồ tới. Cố Tiểu Ngũ xoay mình định né tránh. Thế nhưng, có lẽ do đã thấm mệt, động tác của y hơi chậm một chút…

Mắt thấy móng vuốt sắc như dao cạo của xác sống chuẩn bị đâm vào cơ thể thiếu niên, chuyển cơ thực xuất hiện…

Thời gian tới nhóm tác sẽ khá bận, nên đành quay lại lịch đăng 3 chương trên tuần, xin lỗi bà con trước!
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 267: Đụng Rồi Chạy


Trước kể đến Cố Tiểu Ngũ trong chớp mắt sẽ bị xác sống đánh trúng.

Ngay khi chính họ Cố chuẩn bị tinh thần cho va chạm, một bàn tay chợt túm lấy cổ áo cậu chàng, kéo về đằng sau, kế liền ném thiếu niên vào cửa nha môn. Kẻ mới tới chính là lão già đã đưa bịch muối cho Trương Mặc Sênh, trước đó không lâu còn từng đánh lén Nghiêm Hàn và giao thủ qua với Đao Vương của Đao Sơn. Lão ta vung tay một cái, tức thì một trận gió nổi lên, cuốn bay đám nha dịch vào trong phủ theo Cố Tiểu Ngũ, rồi kéo đóng nốt hai cánh cửa lại.

Lão già trọc đầu lúc này mới quay về phía đám xác sống, mắt nheo lại liếc ngọn cây nơi Trần Tứ đang ẩn núp, miệng lẩm bẩm:

“Quả nhiên Đế Mộ không chờ được nữa rồi.”

Đoạn, tay đánh ra một cái thủ ấn. Thủ ấn nhìn qua không chút khoa trương, thậm chí không thấy chút chân khí nào. Thế nhưng, chỉ trong chớp mắt, hơn bốn chục xác sống nãy giờ bất tử bất diệt là thế bỗng như bị thiên lôi đánh trúng, nổ tung thành bột mịn, rồi lập tức bị gió cuốn đi. Ngọc phù trong tay Trần Tứ cũng bạo tạc, lão quản sự của Thẩm gia trang hoàn toàn không kịp né tránh, trực tiếp bị đánh văng từ trên tán cây xuống đất, sống chết không rõ.

Lão già trọc đánh xong một chiêu liền phất áo một cái, biến mất trong thiên địa. Sự việc nói ra thì dài chứ từ lúc lão già xuất thủ cứu Cố Tiểu Ngũ, thu thập đám xác sống, đến lúc lão biến mất bất quá chỉ là thời gian mấy hơi thở mà thôi. Lão ta vội vã rời đi không buồn nhìn đến Trần Tứ hay đi hỏi thăm tình hình đám người trong nha môn.

Lão già trọc đầu vừa biến mất, không gian nơi lão vừa đứng bỗng dưng vặn vẹo một cái. Kế đó, hai kẻ mặc áo choàng đen xuất hiện.

Hắc bào nhân đi trước quay đầu nhìn xung quanh, sau lại giơ tay lên quơ qua quơ lại một hồi. Sau đó, liền trầm mặc. Hắc bào nhân còn lại cũng nhìn trái nhìn phải một lúc, rồi mới tiến lên, hơi cúi người, hỏi:

“Thiên tôn, sao rồi?”

Không sai, hai kẻ vừa tới là Đế Tôn của Đế Mộ. Thế nhân gần như ai cũng biết đứng đầu Đế Mộ là mười chín vị Đế Tôn, tu vi siêu quần. Thế nhưng, chả có mấy người biết mười chín Đế Tôn kỳ thực cũng không phải là ngang hàng với nhau, mà có phân thứ bậc cao thấp. Kẻ có quyền quyết định cuối cùng của Đế Mộ là Nguyên Thủy Đế Tôn. Kế đó, trên danh nghĩa là ngang hàng với y, còn bảy vị Thiên tôn, tiếp đó mới đến mười một vị Địa tôn. Dựa vào cách xưng hô của hai người, này, có thể đoán được vị đứng trước là một trong tám vị Thiên tôn, mà kẻ vừa hỏi chỉ là một trong mười một vị địa tôn mà thôi.

Thiên tôn kia lúc này mới lên tiếng:

“Không sai, chính là tên chết bằm đó. Nhưng hắn đã vừa chạy rồi!”

Dựa vào giọng nói, y thị có vẻ chính là vị Đế Tôn đã đưa ra chủ ý phái quỷ đói đến thăm dò Bích Mặc tiên sinh một năm trước. Trầm ngâm trong chốc lát, mụ ta lại nói:

“Tuy chiêu thức cùng khí tức khác biệt, thế nhưng không hiểu tại sao, hắn làm bản đế nhớ tới Bát tướng.”

Xem ra hai vị Đế Tôn đúng là vì đích thân truy sát kẻ đã đánh lén Nghiêm Hàn mà tới. Tên Địa tôn kia nghe vậy thì giật mình, thậm chí hơi rụt cổ lại. Hắn liền nói:

“Thiên tôn, vậy…”

Hắn còn chưa kịp nói hết câu thì đã bị biến hóa của Thiên tôn làm động dung...

Thấp thoáng trong mũ trùm đầu, có thể thấy bộ mặt của mụ Thiên tôn biến đổi giữa một cái sọ xương xẩu và một gương mặt trái xoan mỹ mạo. Tên Địa tôn vội tiến lên thêm một bước, hỏi:

“Thiên tôn, ngài không sao chứ?”

Mụ Thiên tôn một tay đưa lên che mặt, tay còn lại khoát khoát:

“Không sao, có lẽ là do quá gần con nhỏ đó mà thôi…”

Tên Địa tôn có vẻ hiểu ra, liếc mắt về phía mỏ Cô Sơn, trầm ngâm nói:

“Vậy có cần bắt luôn Tạ Thiên Hoa về hay không?”

“Không cần, cứ để phía Kiều Minh Long và Mão xử lý con bé đi.”

Mụ Thiên tôn đưa ra quyết định. Kế đó, lại nói tiếp:

“Đuổi tên trọc kia quan trọng hơn! Cần tra rõ liên hệ của y với bát tướng và Thế Tôn!”

Tên Địa tôn nghe vậy thì cũng gật đầu đồng ý. Không gian xung quanh hai người lại vặn vẹo một cái. Một chớp mắt sau đó, liền không thấy hai vị Đế Tôn đâu nữa.

oOo

Thẩm Tam Vạn lúc này đang đi từng bước về phía hầm mỏ. Vừa đi, lão ta vừa nghĩ lại về các giao phó của “khách hàng” và suy xét bước tiếp theo của bản thân.

Kỳ thực, có gọi họ Thẩm là thương nhân cũng không sai. Chả qua, “hàng hóa” lão ta kinh doanh không phải vải vóc như dân trấn Thiết Khanh nghĩ hay bất cứ loại vật dụng nào khác, mà là sinh mệnh. Lão là một yêu quái có thành tựu không thấp trong trận pháp và cấm thuật, ngoài ra cũng nuôi một chi sát thủ. Thành thử, ngoại trừ trực tiếp nhận đơn giết người thì lão còn tham gia bày bố các loại trận pháp, cấm chế. Tỉ như xưởng chế tạo ma da dưới đáy Ngân Hà ở Đại Sở chẳng hạn.

Lần này Thẩm Tam Vạn lặn lội đường xa tới Thiết Khanh là do có hai đơn đặt hàng riêng biệt.

Đơn thứ nhất đến từ Cửu Liên Vương Lăng Khiếu Thiên và thế lực đằng sau lưng y: Phượng tộc.

Không sai, chính là một trong ngũ đại Thánh tộc, kẻ bị đồn đại là đã sớm tuyệt chủng nhưng vẫn lẩn trốn đâu đó trong nhân gian, kẻ thù mà Long tộc vẫn truy nã suốt cả vạn năm nay! Ai có thể ngờ một trong ngũ đại Thánh tộc của yêu tộc lại có thể cư nhiên sinh sống ở ngay giữa lãnh thổ Đại Yến, làm vương thân quốc thích, tham dự triều chính?

Mà đơn đặt hàng của Cửu Liên Vương và hoàng thất Đại Yến, kỳ thực cũng có hai phần nhiệm vụ. Bố trí trận pháp tương tự như xưởng chế ma da, bí mật khai thác sinh mệnh dân trấn Thiết Khanh là nhiệm vụ ban đầu từ hoàng thất Đại Yến. Sau đó không lâu, Phượng tộc giao thêm cho Thẩm Tam Vạn một nhiệm vụ nữa. Ấy là thăm dò thực hư và ép con Hắc Tước mà Tạ Thiên Hoa mang theo ra tay. Nếu được thì bắt lại mang về.

Phải biết, Hắc Tước mấy vạn năm trước đã từng tồn tại ở Huyền Hoàng giới, nhưng đã sớm tuyệt chủng, bị thế nhân quên lãng. Thế mà không lâu trước đây, hoàng thất Đại Yến cùng Phượng tộc thu được tin tức Tạ Thiên Hoa có một con Hắc Tước, từng giao thủ qua với Đỗ Trạng Nguyên của Thanh Tùng thư viện. Có thể nói, con Hắc Tước mà Tạ Thiên Hoa lai cấy ra chính là độc nhất vô nhị, Phượng tộc sao có thể không đề phòng? Ngay cả việc cô nàng mới đến Bằng Sơn Quan đã bị Từ Vân công công chặn đường, giao mật vụ điều tra mỏ Cô Sơn cũng là do Phượng tộc giật dây, sắp xếp.

Chính vì vậy, Cửu Liên Vương mới cho người thả Thẩm Tam Vạn ra ngoài. Phượng tộc vẫn cần kẻ tiếp tục thăm dò con Hắc Tước, cũng như âm thầm khai thác sinh mệnh trấn Thiết Khanh.

Không sai, là “âm thầm”! Việc Thẩm Tam Vạn bỗng nhiên đẩy nhanh kế hoạch, thả xác sống đồ sát dân cả trấn không nằm trong tính toán của Lăng Khiếu Thiên. Kỳ thực, nếu biết sớm họ Thẩm sẽ làm vậy sau khi ra khỏi ngục, Cửu Liên Vương chưa chắc đã ép Tạ Thiên Hoa thả người.

Còn về lý do lão ta đột nhiên thay đổi kế hoạch, đâm Phượng tộc một nhát, lại là do đơn đặt hàng thứ hai khiến lão chạy đến chốn khỉ ho cò gáy này.

Đơn này, là từ Đế Mộ. Mục tiêu cuối cùng, chính là Tạ Thiên Hoa.

Thế nhưng, Tạ Thiên Hoa tính đa nghi, cẩn thận. Muốn lừa cô nàng trót lọt, không bị lộ tẩy, thủ đoạn bình thường là không đủ. Cũng may, trong các cấm thuật Thẩm Tam Vạn biết, có một kỳ thuật vừa vặn có thể dùng được.

Tương truyền, cấm thuật này ban đầu do một trong tám vị Thiên tôn của Đế Mộ sáng tạo ra. Mục tiêu nguyên bản của cấm thuật là hồi sinh người chết.

Thuật này cần tìm một người có dáng dấp, dung mạo, tuổi tác tương tự người đã khuất làm vật thí nghiệm. Sau khi thi thuật, linh hồn của người đã khuất và vật thí nghiệm trên lý thuyết sẽ dung hòa làm một, với linh hồn người đã khuất làm chủ đạo. Thế nhưng, vì nhiều lý do, lý thuyết và thực tiễn hoàn toàn không giống nhau...

Vấn đề đầu tiên chính là bản thân cấm thuật này quá cường hãn, cơ thể phàm nhân không thể chịu đựng được. Thành thử, vật thí nghiệm bắt buộc phải là tu luyện giả.

Thế nhưng, trong quá trình tu luyện, linh hồn và cơ thể một người càng ngày càng có sự gắn kết sâu sắc. Thành thử, dùng cơ thể tu luyện giả làm vật thí nghiệm mà nói, thì nảy sinh hai vấn đề:

Nếu linh hồn của người đã khuất cũng là tu luyện giả, linh hồn mới và linh hồn cũ cùng cơ thể sẽ xảy ra bài xích mãnh liệt, cuối cùng lưỡng bại câu thương, cá chết lưới rách. Nếu phải so sánh, thì có lẽ tương tự với cơ thể sinh ra phản ứng bài xích với nội tạng được cấy ghép, cuối cùng vong mạng trong y học hiện đại vậy. Cho tới nay, vị Thiên tôn kia vẫn chưa tìm ra cách giải quyết vấn đề này.

Ngược lại, nếu linh hồn người đã khuất chỉ là phàm nhân, thường sẽ không đủ cường đại để dung hợp xảy ra. Kết quả cuối cùng thường là linh hồn trực tiếp bị nuốt gọn, vật thí nghiệm vẫn là bản thân, chả qua có thêm toàn bộ ký ức của linh hồn mới mà thôi. Đây tuy là thất bại nếu so với mục đích ban đầu của cấm thuật, thế nhưng lại trở thành kỳ thuật được các tổ chức sát thủ khát vọng. Dù sao, áp dụng đúng cách, thì đây chính là phương pháp hoàn hảo để phái sát thủ đi nằm vùng mà thần không biết, quỷ không hay.

Mà đó cũng là lý do vì sao Thẩm Tam Vạn lặn lội đến tận trấn Thiết Khanh để “hỏi cưới” Kiều A Bích: ngoại hình của con gái Kiều tri huyện có bảy tám phần giống với Mão của Sát Thần Điện, tuổi tác cũng chênh lệch không nhiều.

Song, việc Kiều A Bích phát hiện ra lão không phải con người rồi tìm cách chạy trốn kỳ thực không nằm trong kế hoạch của họ Thẩm. Tuy Kiều tiểu thư cuối cùng vẫn chạy không thoát, nhưng tai nạn ngoài ý muốn này cũng khiến lão phải đẩy sớm kế hoạch trước khi thời cơ thực sự chín muồi.

Mà bởi vậy, cũng không rõ là do trạng huống cơ thể của Mão còn chưa hoàn toàn điều chỉnh tốt hay do cảm xúc của Kiều tiểu thư trước khi chết quá mãnh liệt, mà khi thi thuật xong, Mão thực sự cho mình là Kiều A Bích. Thậm chí, không rõ vì lý do gì, đến dung mạo cũng hoàn toàn thay đổi thành giống y hệt nguyên mẫu. Kế đó, y thị thực sự vì hoang mang sợ hãi mà bỏ trốn trong đêm. Chuyện tiếp đó phía trước đã kể...

Thành thử, sai gia đinh tìm Kiều thị khắp trấn không phải họ Thẩm giả mù sa mưa, diễn kịch cho Tạ Thiên Hoa xem, mà thật sự lo lắng tìm lại con tốt trong tay.

Cũng còn may, sau khi lão được thả khỏi ngục giam, đã thành công khôi phục lại trí nhớ cho Mão. Thẩm Tam Vạn hiểu rõ, một khi tấn công Tạ Thiên Hoa, dù bắt hay giết, thành hay bại, thì cũng không thể tiếp tục ở lại trấn Thiết Khanh. Tuy lão ta không muốn đắc tội Phượng tộc, thế nhưng thà đắc tội Phượng tộc còn hơn đắc tội Đế Mộ. Lửa giận của phượng tộc họ Thẩm còn hy vọng có thể trốn tránh, chứ nếu bị các Đế Tôn để mắt, lão chắc chắn vĩnh bất siêu sinh.

Vậy nên, Thẩm Tam Vạn cử nữ sát thủ đi theo Tạ Thiên Hoa trước, còn bản thân thì chuẩn bị giết người diệt khẩu, thi thuật thả xác sống ra trấn Thiết Khanh. Xong xuôi, lão liền bàn giao nốt công việc cho Trần Tứ, rồi mới đuổi theo phía sau Mão.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 268: Đột Phá Trong Hiểm Cảnh – Ứng Dụng Mới Của Thanh Sắc Thần Quang


Thẩm Tam Vạn đi đến cửa hầm mỏ, thì vừa vặn bắt gặp Mão từ dưới đi lên, liền hỏi:

“Nhiệm vụ hoàn thành chưa?”

Mão lấy cuốn sách từ trong người ra, đoạn đáp:

“Tạ Thiên Hoa đã trúng độc, mất mạng chỉ là chuyện sớm muộn, con hắc tước đã bỏ chạy, tạm thời chưa bắt được. Nhưng tìm được vật này, hẳn là có thể giao nộp cho các vị Đế Tôn.”

Thẩm Tam Vạn nghe vậy thì híp mắt lại nhìn chằm chằm nữ sát thủ. Đoạn, chẳng nói chẳng rằng bỗng dưng vung tay, tát y thị một cái.

Mão bị đánh trúng, ngã xuống đất, lại lăn đến mấy vòng. Lúc này mới nghe họ Thẩm quát:

“Vô dụng! Từ bao giờ sát thủ của Sát Thần Điện lại nương tay, chừa đường sống cho mục tiêu của mình?”

Lão tiến lên, bồi thêm một cước vào bụng nữ sát thủ, lại nói:

“Ngươi chẳng lẽ còn không rõ, mục tiêu lần này là Tạ Thiên Hoa? Sống phải bắt được người, chết phải thu lại xác. Ngươi đã không kết liễu ả, lại còn nhặt về một cuốn sách định bàn giao?”

Nói đến đây, họ Thẩm nhìn Mão đầy ý vị, trầm ngâm nói:

“Chả lẽ, ngươi vẫn không phân định được rõ, bản thân là Mão của Sát Thần Điện, hay là Kiều A Bích của trấn Thiết Khanh?”

Nghe được lời này, cơ thể của nữ sát thủ bỗng run lên nhè nhẹ. Y thị lồm cồm bò dậy, hai tay nắm thành nắm đấm, nói:

“Bản cô nương là ai còn chưa đến lượt một người ngoài như ngươi nói ra nói vào!”

Thẩm Tam Vạn cười lớn, vung tay một cái, nữ sát thủ còn chưa kịp đứng lên đã như bị một bàn tay khổng lồ tát cho một cái, cả người văng khỏi mặt đất, đập thẳng vào tường động. Thế rồi, lại như diều đứt dây, ngã xuống đất. Họ Thẩm lúc này lại nói:

“A, phải không? Ta xem chừng đúng là nhà ngươi vẫn không tỉnh táo, vẫn còn tưởng mình là Kiều A Bích, nên mới có thể yếu đuối như vậy.

“Đã vậy, bản tọa liền đánh cho đến khi nào ngươi thanh tỉnh thì thôi. Còn nếu ngươi đến chết vẫn không thể xác định mình cuối cùng là ai, vậy chỉ có thể trách bản thân ngươi. Dẫu sao thì một sát thủ không thể kết liễu mục tiêu cũng là kẻ vô dụng.”

Dứt lời, lão ta liền theo đó mà làm. Ngay gần cửa mỏ Cô Sơn, Mão liên tục bị đánh cho tối tăm mặt mũi, văng từ bên này qua bên kia, lăn lộn trên mặt đất...

oOo

Tại một chỗ khác, sâu trong mỏ Cô Sơn, Tạ Thiên Hoa mồ hôi chảy đầm đìa, răng cắn chặt, nhưng ánh mắt lại lóe lên một tia kiên định quật cường.

Hiện tại, cô nàng đang vận dụng toàn bộ kiến thức học được, thử nghiệm thành quả tu luyện của bản thân trong suốt một năm nay, để tìm đường sống trong cõi chết.

Kỳ thực, kể từ khi chứng kiến Lý Thanh Vân suýt bỏ mạng trong tay Nhậm Ngã Cuồng trong Thương Lan Kiếm Vực, rồi được kiếm Lăng Xương cứu lại một mạng, Tạ Thiên Hoa đã bắt đầu vắt óc suy nghĩ về một phương pháp khu trục các loại năng lượng, độc vật, công kích ngoại lai khỏi cơ thể.

Giả thuyết nàng ta đặt ra, là dựa trên kiến thức về hệ miễn dịch trong Sinh học và nguyên lý của phương pháp áp dụng sóng ánh sáng trong xạ trị ung thư. Nếu như có thể điều khiển Thanh Sắc Thần Quang, vừa như lợi khuẩn miễn dịch, vừa như xạ trị, nhằm thẳng vào các vật chất ngoại lai trong cơ thể, tịnh hóa chúng thì sao?

Về lý thuyết mà nói, chuyện này là hoàn toàn có thể. Thanh Sắc Thần Quang có đầy đủ các tính chất cần thiết của lợi khuẩn miễn dịch và ánh sáng phóng xạ. Điều duy nhất thiếu sót, chính là khả năng khống chế của bản thân Tạ Thiên Hoa.

Phải biết, Thanh Sắc Thần Quang từ xa xưa khi mới chỉ có lực tịnh hóa, chưa được Thanh Tước lão tổ tìm ra cách phát huy thành lực hóa tán, tuy khi ấy bị coi thường là sức chiến đấu yếu nhất trong ngũ sắc, nhưng cũng tuyệt không phải là đồ chơi. Không cẩn thận vẫn có thể mất mạng như thường. Sau Thanh Tước lão tổ, tộc Thanh Tước cũng chỉ chăm chăm đẩy mạnh sức công phá và lực hóa tán lên, nào có ai đi hướng ngược lại?

Thành thử, tuy trải qua mấy vạn năm truyền thừa, thiên tài vô số, nhưng chưa có một Thanh Tước nào dám đưa ngược Thanh Sắc Thần Quang vào trong chính cơ thể mình, rồi sử dụng nó để khử độc. Cách này nếu nói ra cho các tộc nhân của Thanh Tước tộc, khẳng định sẽ bị chê cười, cho là chán sống nên muốn tự sát. Ngay cả chú cô nàng, Tạ Hàn Thiên – cho dù thường bị người đời gọi là kẻ điên, chắc cũng không dám lấy thân thử nghiệm. Đơn giản vì lực hóa tán cùng sức công phá của Thanh Sắc Thần Quang quá lớn, độ nguy hiểm quá cao.

Mà đây cũng chính là lý do Tạ Thiên Hoa trước kia từng tìm đủ cách để điều chỉnh cho thần quang yếu nhưng bền bỉ, cuối cùng đã được sư phụ “thông qua” Lâm Phương Dung chỉ điểm trợ giúp.

Nói cách khác, nếu như đời đời Thanh Tước sau lão tổ chỉ chuyên chú vào cường hóa Thần Quang, thì Tạ Thiên Hoa lâu nay đi ngược chiều, nhược hóa Thanh Sắc Thần Quang về bản ban đầu trước Thanh Tước lão tổ, sau đó tiến thêm một bước, áp dụng kiến thức khoa học tự nhiên vào bổ trợ, tăng phúc cho thần thông bản mệnh này. Nếu như Lý Thanh Vân lý giải cốt lõi của thần công cổ viện là “đánh vào chỗ đó”, thì kiến giải của Tạ Thiên Hoa gói gọn trong hai chữ “kiểm soát”. Nàng ta kỳ thực chính là tự sáng tạo lối riêng của mình từ những gì quan sát được từ ba Đại Yêu của cổ viện.

Nhất là kể từ sau khi bị trúng một dao tẩm độc trong trận đánh với Đỗ Trạng Nguyên, cô nàng nhân họa đắc phúc, có kiến giải về trúng độc, giải độc sâu sắc hơn một chút, lại càng có thêm động lực để đẩy nhanh nghiên cứu của bản thân.

Tất nhiên cũng phải công nhận, chỉ riêng việc nàng ta có thể liên kết các kiến thức hoàn toàn mới lạ, lại tưởng chừng không hề có liên quan với nhau cùng với quan sát và lý giải cá nhân về thần thông bản mệnh của tộc Thanh Tước, sau đó đưa ra phương án áp dụng chưa từng có thôi đã đủ để khẳng định Tạ Thiên Hoa là thiên tài ngàn năm khó gặp ở Huyền Hoàng giới nói chung và trong tộc Thanh Tước nói riêng rồi. Tuy hiện tại xét về tu vi cùng khả năng thực chiến, cô nàng vẫn kém xa Kiều Minh Long, Lý Thanh Minh, thậm chí chưa chắc đã hơn nổi Lý Thanh Vân, thế nhưng nếu chỉ so sánh bộ óc cùng sự sáng tạo, Tạ Thiên Hoa tuyệt đối có thể bỏ xa đồng lứa cả mấy con phố!

Mà ngay lúc này chính là thời khắc để kiểm tra thành quả cố gắng suốt một năm nay của nàng ta.

Tạ Thiên Hoa c*n m*, cố giữ cho bản thân thanh tỉnh. Cô nàng lúc này đang trong tư thế gối trái quỳ, tay trái chống xuống đất. Tay phải nàng ta nắm bốn ngón lại, chỉ còn ngón trỏ chĩa ra. Đầu ngón trỏ có thể mơ hồ nhìn thấy một quả cầu thanh sắc nhỏ như hạt gạo. Tạ Thiên Hoa nhíu mày, nhịn đau, lại tiếp tục thu nhỏ quả cầu cho tới khi chỉ lờ mờ thấy một chấm nhỏ. Kế đó điểm nhẹ đầu ngón tay vào miệng vết thương.

Cũng còn may Mão đâm cô nàng bên hông, vết thương không khó tìm. Chứ nếu bị đâm từ sau lưng, hiển nhiên muốn tìm chính xác miệng vết thương sẽ không dễ dàng vậy. Tạ Thiên Hoa cũng thoáng ngạc nhiên do vết đâm cũng không nhằm vào yếu vị, nếu không chỉ sợ nàng ta cũng chẳng sống được đến bây giờ để tìm cách tự chữa trị. Đương nhiên ngay lúc này, cô nàng cũng chẳng có thừa tâm trí để mà phân tâm nghĩ đi chỗ khác, vì toàn bộ lực chú ý đã nằm ở lo giữ mạng rồi.

Chấm nhỏ vừa chui vào, cả người Tạ Thiên Hoa tức thì như bị điện giật, khiến nàng ta ngã ngồi xuống, tựa lưng vào thành động. Cô nàng lần nữa c*n m* ép cho bản thân tỉnh táo. Sau đó mới nhắm mắt, tự chìm vào thức hải, sử dụng thần thức điều khiển chấm nhỏ màu xanh ngược xuôi trong cơ thể, tấn công “chất độc” vốn đang hoành hành trong mạch máu của bản thân.

Chưa thử thì thôi, thử rồi Tạ Thiên Hoa mới giật mình, nhận ra thứ gọi là “cổ độc” tại Huyền Hoàng giới thì ra chính là “ký sinh trùng” trong miệng sư phụ. Mà thứ đang tác oai tác quái trong cơ thể cô nàng, gọi bằng “chất độc” kỳ thực không đúng bằng “cổ trùng”. Mẫu trùng đã bơi vào sâu bên trong, đang hướng thẳng tới tim nàng ta. Trên đường, cứ một đoạn thời gian lại đẻ thêm tử trùng. Cô nàng thấy vậy thì cũng liền đẩy nhanh tốc độ của chấm xanh, đồng thời, dựa theo lý thuyết nhân bản của tế bào, tách chấm nhỏ ra làm hai, một chấm truy diệt mẫu trùng, chấm còn lại xử lý tử trùng.

Quá trình này cứ thế yên lặng mà diễn ra. Thi thoảng có thể thấy Tạ Thiên Hoa nhíu mày vì đau đớn. Lại có những lúc cô nàng c*n m* hay tự véo lấy đùi để bảo trì tỉnh táo.

Cũng chẳng rõ bao lâu trôi qua, cuối cùng Tạ Thiên Hoa mở mắt, thở ra một hơi dài. Nàng ta vịn vào tường, chật vật khó nhọc ngồi thẳng lên, thậm chí phun ra một ngụm máu. Thế nhưng ánh mắt lại tràn đầy phấn khởi và khóe miệng không tự chủ được cong lên. Hiển nhiên, cô nàng đã thật sự thành công!

Tạ Thiên Hoa thẳng lưng, điều chỉnh lại tư thế thành ngồi xếp bằng. Tiếp đó, nhị đệ tử của cổ viện nuốt vài viên thuốc trị thương rồi nhắm mắt lại, bắt đầu vận khí tiếp tục quá trình tự chữa lành cơ thể. Cổ độc đã hoàn toàn bị tịnh hóa, thế nhưng cơ thể cô nàng cũng bị thương không nhẹ – phần do độc vật hoành hành, phần tại lần đầu thử nghiệm, lại trong điều kiện cơ thể trúng độc, không cách nào hoàn toàn chưởng khống tốt Thanh Sắc Thần Quang nên đã không may tự gây thương tích. Hiện tại tuy không còn nguy hiểm tính mạng, nhưng cũng không dễ chịu gì.

Lại qua một quãng thời gian ngắn, Tạ Thiên Hoa mới lần nữa mở mắt. Lúc này, sắc mặt cô nàng mới bắt đầu có chút hồng hào trở lại. Nhị đệ tử của cổ viện thở dài một hơi, vịn vào thành hang đứng dậy, vươn vai. Kế đó, nàng ta huýt sáo gọi con gà đen trở lại, rồi quay người, đi về phía lối ra của mỏ Cô Sơn.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 269: Kiều A Bích – Mão – Liễu Khả Hâm


Tạ Thiên Hoa đi gần lên tới cửa hang thì đã nghe thấy tiếng ẩu đả ở phía trước. Để tránh đánh rắn động cỏ, cô nàng không dùng thần thức thăm dò, mà nép sát vào thành động, rón rén bước từng bước.

Tại khoảng cách đủ gần, nàng ta cuối cùng đã có thể thấy tình hình phía trước: Thẩm Tam Vạn đang hành hạ, đánh đập Mão. Vừa đánh, lão vừa chửi rủa, mắng mỏ nữ sát thủ.

Tạ Thiên Hoa khẽ nhíu mày, nép sát hơn vào thành động, ngưng thần nghe ngóng.

Cô nàng không rõ vì sao tự dưng kẻ thù lại “nội bộ lục đục”, nên quyết định án binh bất động để quan sát.

Sau một lát, Tạ Thiên Hoa đã hiểu đại khái tình hình. Có vẻ như Mão cũng không phải ngay từ đầu đã đóng kịch lừa cô nàng mà về sau mới nhận ra mình không phải thật sự là Kiều A Bích. Về phần từ lúc nào nữ sát thủ nhận ra, hẳn là trong lúc cô nàng cùng Cố Tiểu Ngũ thám thính hầm mỏ lần đầu. Ngoài ra, dựa theo lời của Thẩm Tam Vạn, có vẻ như linh hồn của Kiều A Bích, hay ít nhất một phần linh hồn của cô ta, vẫn còn tồn tại trong cơ thể Mão, gây nên ảnh hưởng đối với hành động, ứng xử của nữ sát thủ. Điều này vừa vặn giải thích nghi vấn trong lòng Tạ Thiên Hoa về việc tại sao khi đánh lén cô nàng ban nãy, Mão lại không đâm vào bộ vị quan trọng nào.

Tất nhiên, nàng ta cũng thoáng nghĩ đến việc tất cả chỉ là một màn kịch, từ việc Mão nương tay đến những lời Thẩm Tam Vạn vừa nói. Thế nhưng sau khi suy xét thì cô nàng loại trừ khả năng này. Vừa chiến đấu giành mạng sống từ trong tay cổ trùng, nên Tạ Thiên Hoa hiểu rõ hơn ai hết sự lợi hại của độc vật này. Nếu không phải cô nàng trong thời khắc mấu chốt có đột phá, thì chỉ e lúc này đã là người thiên cổ. Nếu đối phương thực sự muốn để cô nàng sống sót, hẳn sẽ không hạ cổ độc.

Lại nói, cho dù mục tiêu của kẻ thù là bắt sống nàng ta, thì cũng nên bắt lại ngay, chứ không phải là bỏ đi rồi diễn một màn kịch nội đấu cho cô nàng nhìn. Mà cho dù có muốn diễn kịch, thì để căn được thời điểm cô nàng tự chữa trị xong đi lên cũng quá khó khăn, vì chính bản thân Tạ Thiên Hoa còn chả rõ mình vừa rồi cần bao nhiêu thời gian mới nhặt lại được cái mạng này.

Nói tóm lại, khả năng này không cao, do quá lằng nhằng rắc rối, lại đi đường vòng quá xa, trong khi mục tiêu và hiệu quả thì không rõ ràng. Hay như sư phụ cô nàng sẽ nhận xét, “pha xử lý quá cồng kềnh và đi vào lòng đất”.

Đương nhiên, nếu đối phương thực sự có bản lãnh tính toán hết thảy những điều trên, thì tức là cũng phải ngang tầm cỡ với sư phụ. Mà nếu vậy thì nàng ta cũng chỉ có thể cam bái hạ phong mà thôi.

Hiểu ra những chuyện này đã giải khai nghi vấn trong lòng Tạ Thiên Hoa, song cô nàng vẫn án binh bất động. Tạ Thiên Hoa xưa nay không phải người hành động theo cảm tính. Trước giờ, ngoại trừ sư huynh đệ đồng môn – nhất là ông sư huynh ngố – làm cô nàng phải cân nhắc thêm những cách “kém hiệu quả hơn” ra thì có lẽ người đầu tiên khiến nàng ta hành động không theo lý trí là Kiều A Bích. Cuối cùng kết quả là suýt thì mất mạng. Thành thử, nàng ta lúc này cũng không có ý định can thiệp.

Tuy nói Mão bị ảnh hưởng bởi Kiều A Bích, nhưng tại thời điểm quyết định, nữ sát thủ vẫn lựa chọn đâm Tạ Thiên Hoa một nhát. Mà như vậy thì tức là ảnh hưởng này chắc cũng không lớn là bao. Đối với một biến số không phân rõ địch ta, lý trí mách bảo nàng ta không nên dẫm vào vết xe đổ một lần nữa.

Ngay khi mắt thấy Thẩm Tam Vạn lại chuẩn bị bồi cho Mão một cước vào bụng, một thiếu niên cầm kiếm vọt vào.

Thẩm Tam Vạn khịt mũi, còn không cần ngẩng đầu hay liếc mắt, chỉ phất tay nhẹ một cái như đuổi ruồi. Tức thì, Cố Tiểu Ngũ còn chưa kịp làm gì đã bị hất văng, đập vào thành động.

Mão nằm dưới đất, lờ đờ đảo mắt nhìn sang. Đến khi nhận ra kẻ vừa đến là ai thì thân thể bỗng run lên nhè nhẹ. Đoạn, nữ sát thủ lồm cồm bò dậy khỏi mặt đất.

Kỳ thực, nãy giờ nàng ta mặc cho Thẩm Tam Vạn hành hạ mà không phản kháng, cũng không hoàn toàn chỉ vì khác biệt thực lực giữa hai người họ quá lớn, có phản kháng cũng vô dụng. Là một sát thủ của Sát Thần Điện, từ bé đã trải qua huấn luyện hà khắc, nào có chuyện chỉ vì kẻ địch mạnh mà chùn bước?

Nàng ta không phản ứng lại, phần nhiều vì nội tâm đang vô cùng rối bời. Số người từng chết trong tay Mão nhiều không đếm xuể, thế nhưng chưa bao giờ nữ sát thủ cảm giác thất lạc và tội lỗi như lúc này. Lần đầu tiên Mão đoạt mạng người, cùng bao nhiêu lần cải trang làm nhiệm vụ gộp lại cũng không cảm thấy sợ hãi và tội lỗi như lúc phản bội Tạ Thiên Hoa.

Thẩm Tam Vạn nói không sai một chữ nào, nữ sát thủ đã không còn biết bản thân là Mão của Sát Thần Điện hay Kiều A Bích của trấn Thiết Khanh nữa rồi! Nếu cô nàng là Kiều A Bích, thì tại sao lại có những ký ức xa lạ kia, những kiến thức về yếu vị trên cơ thể người cùng kiến thức về cổ độc? Nếu có nàng là Kiều A Bích, thì những phản xạ cơ thể và kỹ năng giết người từ đâu mà ra? Nếu cô nàng là Kiều A Bích, thì liệu có thể ngủ yên mà không bị những oan hồn táng mạng trong tay Mão ám ảnh hay không? Nhưng nếu cô nàng là Mão, thì tại sao lại không nỡ hạ thủ kết liễu Tạ Thiên Hoa, thậm chí thầm mong nhị đệ tử của cổ viện có thể còn sống sót? Nếu cô nàng là Mão thì tại sao khi thấy Ngũ ca bị đánh không rõ sống chết như vừa rồi, trái tim lại đau đớn như vậy? Nếu cô nàng là Mão, thì tại sao lại khát vọng một cuộc sống bình thường bên cạnh người trong lòng?

Nữ sát thủ không rõ nếu sống tiếp thì mình sẽ sống với thân phận nào, đối mặt với sự giày vò nội tâm này ra sao? Thành ra, mới mặc cho Thẩm Tam Vạn đánh đập. Nỗi đau thể xác giúp gây tê sự giằng xé trong nội tâm nàng ta. Và có lẽ, một phần nào đó sâu trong tâm khảm nàng ta cho rằng, cái chết là sự giải thoát.

Thế nhưng sự xuất hiện của Cố Tiểu Ngũ khiến nữ sát thủ không cách nào có thể tiếp tục nằm yên đợi chết. Nàng ta không coi trọng tính mạng của bản thân, song lại không muốn thiếu niên kia vì mình mà chết.

Nữ sát thủ khó nhọc đứng dậy, rút ra một con dao, chỉ về hướng Thẩm Tam Vạn, nói:

“Họ Thẩm kia, chuyện này chỉ giữa hai chúng ta, hắn ta không liên quan!”

Thẩm Tam Vạn thấy thế thì nhướng mày, cười hỏi:

“Sao? Ngươi xót? Chả lẽ ngươi thật sự đến giờ vẫn không phân định rõ mình là ai sao?”

Cố Tiểu Ngũ lúc này cũng đang lồm cồm cố bò dậy, ngẩng đầu hô lên một tiếng:

“A Bích!”

Lúc này, lại nghe nữ sát thủ nói:

“Cố Tiểu Ngũ, ngươi nhìn cho kỹ, Kiều A Bích của ngươi đã chết lâu rồi! Ta là Liễu Khả Hâm, sát thủ của Sát Thần Điện. Chúng ta vốn không quen không biết, ngươi mau cút khỏi đây, đừng chõ mũi vào việc của ta!”

Nói dứt lời thì như tên rời cung, đao rút khỏi vỏ, lao tới tấn công Thẩm Tam Vạn.

Cái tên Liễu Khả Hâm này, Mão đã không còn dùng kể từ khi gia nhập Sát Thần Điện lúc mới chỉ năm tuổi. Nàng ta vốn sinh ra trong một gia đình khá giả, song do cha mẹ không may đắc tội người ta, nên khiến cả nhà bị đồ sát. Kẻ đến lấy mạng họ là Mão tiền nhiệm. Cũng không rõ vì sao khi ấy lão quyết định tha mạng nàng ta, lại nhận về nuôi, huấn luyện thành sát thủ. Sau này, Liễu Khả Hâm cũng đã trả thù cho cha mẹ, giết cả chủ sử sau màn lẫn chính “cha nuôi” mình, trở thành Mão đương nhiệm. Vừa rồi, nàng ta báo ra tên họ này thay vì danh xưng Mão, có lẽ cũng chỉ vì muốn trước khi chết, có ít nhất một người biết tên thật của mình.

Cố Tiểu Ngũ vẫn ngồi thẫn thờ ở đó, ngẩn ngơ nhìn cô gái hắn vẫn tưởng là người trong mộng, là thanh mai trúc mã, đánh nhau với Thẩm Tam Vạn. Mặc dù sự thực đang bày ra trước mắt, mặc dù lý trí nói cho cậu chàng biết, kẻ trước mắt không thể là Kiều A Bích, họ Cố vẫn không cách nào dằn lòng mà bỏ đi. Cơ thể, cảm xúc của thiếu niên không nghe theo lý trí của hắn.

Thấy Cố Tiểu Ngũ vẫn ngây người ở đấy, Liễu Khả Hâm lại càng gấp, quát:

“Sao ngươi còn chưa cút đi? Ngươi không cút đi, ta giết xong hắn, sẽ giết cả ngươi đấy!”

Thẩm Tam Vạn nghe vậy thì cười to:

“Nói khoác không biết ngượng! Ngươi rõ ràng là không nỡ lòng nhìn hắn ta chết. Xem ra nhà ngươi là hết thuốc chữa rồi. Vậy thì đi chết đi!”

Đoạn, vung tay một cái, đánh văng con dao trong tay nữ sát thủ sang một bên, tay còn lại nhằm đầu nàng ta mà bổ tới.

Mắt thấy nữ sát thủ chuẩn bị trúng sát chiêu trong gang tấc, bỗng một luồng ánh sáng xanh bắn từ sâu trong hầm mỏ ra, nhắm thẳng yết hầu Thẩm Tam Vạn.

Họ Thẩm vội vã ngửa người, lại bật lui về phía sau mấy bước.

Luồng sáng xanh đánh trượt, chỉ thoáng lướt qua ngay trước mũi Thẩm Tam Vạn chứ không trúng da thịt lão.

Thanh Sắc Thần Quang ngay sau đó vòng một đường vòng cung trên không, lại nhằm hướng họ Thẩm đâm tới. Lão yêu quái thấy vậy thì hừ lạnh một tiếng, đoạn cũng vung tay, đánh ra một chưởng về phía luống sáng xanh.

“Ầm!!!”.

Cả đường hầm rung chuyển. Bụi bay mù mịt.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 270: Nhân Họa Đắc Phúc – Thanh Sắc Thần Quang Lại Có Thêm Ứng Dụng Mới


Bụi mù tản đi…

Để lộ ra Thẩm Tam Vạn đứng đó. Tuy trông lão ta khá là chật vật nhưng không có vẻ gì là bị thương. Lão yêu quái lạnh giọng:

“Xem ra Đào đặc sứ phúc lớn mạng lớn, vẫn chưa cưỡi hạc về trời.”

Ngưng trong chốc lát, lão lại nói tiếp:

“Ồ, hay bây giờ phải gọi ngài là Tạ thánh nữ nhỉ?”

Tạ Thiên Hoa thở dài một hơi, cũng tiến ra ánh sáng, đáp:

“Bản tiểu thư đã sớm không còn là Thánh nữ của tộc Thanh Tước, hẳn chuyện này Thẩm viên ngoại đã sớm biết.”

Nói đoạn, lại cười nhẹ một tiếng:

“Còn phúc lớn mạng lớn thì cũng không dám nhận. Dù sao cũng chỉ là cổ độc nho nhỏ mà thôi, chả lẽ còn có thể làm khó dễ Bích Mặc tiên sinh? Còn phải cảm ơn phúc của các hạ, cho ta cơ hội thực hành chỉ dạy của sư phụ. Sau nếu có dịp, tiểu nữ nhất định phải mời gia sư rời cổ viện đích thân đến tạ ơn ngài đây.”

Lời này nói ra, cả ba người còn lại mặt đều biến sắc. Cố Tiểu Ngũ còn đỡ, chủ yếu cậu chàng chỉ ngạc nhiên về thân phận thật của Tạ Thiên Hoa mà thôi. Dù gì, đối với một tu luyện giả cấp thấp như cậu, nghe đến danh của Lão Thụ cổ viện cũng như Bích Mặc tiên sinh cũng đã là giỏi rồi. Còn những thứ cao siêu như cổ độc, họ Cố cũng chỉ cần biết là rất kinh khủng thôi. Thế nhưng, đối với “người trong nghề” như nữ sát thủ cùng Thẩm Tam Vạn thì lại khác.

Cả hai bọn họ đều hiểu khá rõ về cổ độc. Tại Huyền Hoàng giới, trong các loại độc, cổ độc vi tôn. Ngoại trừ chính người hạ cổ, cũng chỉ có rất ít người có khả năng giải được cổ độc, số người có thể tự giải cho bản thân lại càng ít. Nhất là loại cổ độc hạ cho Tạ Thiên Hoa ban nãy còn chuyên dụng để giết người, phát tác cực nhanh, trong vòng hai đến ba canh giờ sẽ lấy mạng nạn nhân. Chả thế mà khi nãy hay tin Tạ Thiên Hoa mới chỉ trúng độc, chưa chết, họ Thẩm cũng không vội vã hay lo lắng gì. Tại trong điều kiện bình thường, thì lời Mão cũng không sai, sống chết của nhị đệ tử cổ viện đáng lẽ chỉ là chuyện sớm muộn sau khi trúng cổ.

Lại nói, trong số những kẻ có thể giải cổ độc, có ai mà không phải đại lão một phương, tu vi siêu quần? Mà điều quan trọng hơn, là bất cứ ai trong số họ muốn giải cổ độc, còn cần phải trả giá lớn, không mất mười ngày nửa tháng tĩnh dưỡng thì cũng vô phương hồi phục thực lực. Thế nhưng vừa rồi, tiếp một chiêu của Tạ Thiên Hoa đã khẳng định cho họ Thẩm biết, cô nàng đã khôi phục cỡ bảy tám thành.

Điều này đồng nghĩa việc Bích Mặc tiên sinh có cách để Tạ Thiên Hoa, một kẻ còn chưa bước chân vào Vụ Hải, tự giải cổ độc, lại không cần trả đại giới. Thông tin này thực quá mức kh*ng b*!

Thẩm Tam Vạn còn chưa kịp tiêu hóa tin tức này thì bỗng mắt lão trợn to, nhận ra cơ thể mình có chỗ không đúng. Lão quái vật có thể thấy người mình đang bốc khói, dùng thần thức thăm dò thì mới kinh hãi phát hiện, trong cơ thể lão, không biết tại sao lại tồn tại vô số điểm sáng nhỏ đang liên tục hấp thụ chân khí trên người và hóa tán máu thịt lão từ trong ra ngoài.

“Ngươi ra tay lúc nào?”

Thẩm Tam Vạn vừa tức giận, vừa kinh hãi hỏi.

Thì ra, ban nãy khi chiến đấu với con cổ trùng để giành giật mạng sống, Tạ Thiên Hoa ngoài ý muốn có thu hoạch không nhỏ. Cô nàng nhận ra cách sinh hoạt, phản ứng của cổ trùng khá giống với virus mà cô nàng đọc được trong sách giáo khoa. Vậy là vừa truy giết cổ trùng, vừa nghiên cứu nó.

Tạ Thiên Hoa lại đặt ra một cái giả thuyết, nếu như thay đổi một chút nguyên lý của việc dùng Thanh Sắc Thần Quang để thanh trừ công kích của ngoại vật vào cơ thể, đảo ngược dùng như một ám sát chiêu thì sẽ như thế nào? Đưa một con virus tạo từ Thần Quang vào cơ thể kẻ thù, để nó tự hấp thụ chân khí và nhân bản vô tính, sau đó hóa tán cơ thể địch nhân từ trong ra ngoài.

Thành thử, ban nãy, không phải là Tạ Thiên Hoa đánh trượt yết hầu của Thẩm Tam Vạn, mà thực chất chỉ là giương đông kích tây, thả cho virus thâm nhập cơ thể lão qua đường hô hấp. Chuyện sau đó thì y như giả thuyết được đặt ra. Cô nàng tiếp tục cho Thần Quang vòng lại tấn công, lại bước ra ngoài nói chuyện, kỳ thực cốt là để phân tán sự chú ý của họ Thẩm, để virus có thời gian hoành hành.

Đáng tiếc, do là lần đầu thử nghiệm, Tạ Thiên Hoa vẫn chưa hoàn toàn cân bằng được sức công phá và tốc độ lan truyền của virus, nên đã bị Thẩm Tam Vạn phát hiện ra quá sớm. Lão ta vận khí, dồn hết toàn bộ virus ra cánh tay trái rồi vung tay phải một cái, tự chặt đứt cánh tay “nhiễm độc”.

Cành tay vừa đứt ra, còn chưa kịp rơi xuống đất thì đã hoàn toàn bị tịnh hóa thành khói xanh, tản mát trong thiên địa.

Thẩm Tam Vạn toàn thân đầm đìa mồ hôi lạnh, quăng một ánh mắt đầy căm thù về phía Tạ Thiên Hoa. Rồi, lão cũng không dám ở lại lâu hơn, phất áo biến mất, chỉ còn nghe thấy giọng lão quái vật nói một câu:

“Chuyện ngày hôm nay còn chưa xong đâu!”

Tạ Thiên Hoa nhìn ra phía cửa hầm mỏ, trong ánh mắt vừa mừng, vừa sợ, lại có chút tiếc nuối, nhưng không đuổi theo. Mừng, vì giả thuyết của cô nàng lại một lần nữa áp dụng thành công bước đầu. Tuy vẫn sẽ phải nghiên cứu, thử nghiệm thêm, nhưng từ giờ cô nàng lại có thêm một đại sát chiêu. Sợ, vì uy lực của ám sát chiêu này còn hơn xa cô nàng tưởng tượng, nếu vừa rồi không bị Thẩm Tam Vạn phát hiện sớm, tin chắc đã có thể lấy mạng lão ta. Tiếc nuối, cũng chính là vì lần đầu thử nghiệm, còn chưa hoàn toàn khống chế tốt, để xổng một cái hậu hoạn.

Song, Tạ Thiên Hoa cũng hiểu rõ, thực lực của bản thân hiện tại tuyệt không phải là đối thủ của họ Thẩm. Tuy vừa rồi, nàng ta có thể dọa cho lão ta kinh hãi, đề phòng, rồi biết khó mà lui. Thế nhưng nếu cô nàng mà cố đuổi cùng giết tuyệt, dồn lão vào góc tường khiến lão chó cùng dứt dậu, thì khẳng định người chịu thua thiệt sẽ là bản thân nàng ta. Thành thử, tiếc nuối thì tiếc nuối đấy, nhưng Tạ Thiên Hoa cũng không ngu gì mà đuổi theo. Thay vào đó, cô nàng chuyển sự chú ý sang hai người Liễu Khả Hâm, Cố Tiểu Ngũ.

Gặp phải ánh mắt của cô nàng, Liễu Khả Hâm vội vàng quỳ xuống, nói:

“Tạ tiểu thư, tôi biết tội của tôi đối với ngài quá nặng. Không dám mong tha thứ, chỉ xin tiểu thư cho tôi chết một cái chết nhanh chóng!”

Cố Tiểu Ngũ nghe vậy thì mặt biến sắc, thốt lên:

“A Bích!”

“Ta không phải A Bích của ngươi, không cần vì ta mà lo lắng!”

“A Bích, anh biết em vẫn còn ở trong đó. Nếu không, vừa rồi tại sao phải lo lắng cho anh?”

“Ai lo lắng cho ngươi? Đừng tự mình đa tình!”

Tạ Thiên Hoa chưa kịp nói gì cứ thế bị vung cho cơm chó đầy mặt: “…”

Kỳ thực vừa rồi nàng ta ra tay đánh Thẩm Tam Vạn, cứu Liễu Khả Hâm một mạng vài phần là do cơ thể phản ứng trước não bộ, bị hành động xả thân cứu Cố Tiểu Ngũ của nữ sát thủ làm cảm động. Thế nhưng, lúc này có thời gian suy nghĩ kỹ hơn thì lại không rõ mình muốn làm sao. Chỉ là, cô nàng vừa mới rồi hồi tưởng lại lúc mình giết đám cướp đường, thì bên tai lại nghe văng vẳng hai câu nói:

“Ta không dám cho bản thân quyền phán xét người khác đã ‘hết thuốc chữa’ hay vẫn còn có thể hối cải, làm lại cuộc đời.”

“Ai mà chẳng có lúc vấp ngã? Chỉ cần còn sống, là người ta còn có thể thay đổi, tốt lên hoặc xấu đi… Giết một kẻ ác, các ngươi có thể giúp thiên hạ bớt đi một ác nhân, nhưng nếu có thể tha cho một kẻ biết hối cải, rồi truyền cảm hứng cho họ làm lại cuộc đời, thì lại có thể khiến giữa trời đất tăng thêm một người lương thiện.”

Trong đầu Tạ Thiên Hoa lúc này chợt xuất hiện một ý nghĩ: Hay là, làm theo gương sư phụ một lần, tha cho Liễu Khả Hâm một mạng?

Tằng hằng một tiếng, cô nàng mới nói:

“Ai nói ta muốn giết cô? Nếu cô thật sự thấy có lỗi với ta, thật sự muốn hối cải, ta cũng không ngại tha cho cô một lần này.”

Cố Tiểu Ngũ nghe vậy thì mừng rỡ, vội lạy cô nàng như vái sao. Nhưng Liễu Khả Hâm lại lắc đầu, nói:

“Tạ tiểu thư, tôi tội nghiệt quá nặng, trong người lại có ấn ký của Sát Thần Điện. Chỉ sợ cho dù tôi có muốn cả đời sám hối, Sát Thần Điện cũng không cho phép…”

“Nếu chỉ là vấn đề này, thì bản tiêu thư có cách xóa bỏ ấn ký trong người cô. Bây giờ ta hỏi cô một lần nữa, cô có nguyện ý sám hối, sống đời lương thiện hay không?”

Liễu Khả Hâm nghe vậy thì cũng rung động, toan nói “không thể nào”, nhưng nhớ ra thân phận đệ tử cổ viện của Tạ Thiên Hoa cùng việc đến cả cổ độc chính bản thân cũng không biết giải mà người ta còn tự giải được thì lời đến khóe môi lại nuốt ngược trở lại. Thậm chí, còn có chút hy vọng cùng chờ mong. Kỳ thực, cũng không phải Liễu Khả Hâm chưa bao giờ mơ tưởng đến việc rời khỏi Sát Thần Điện, chả qua là biết rõ đã gia nhập, trừ khi chết đi, không cách nào thoát ly tổ chức nên mới bỏ cuộc mà thôi.

Nữ sát thủ trầm ngâm hồi lâu, cuối cùng cắn môi một cái, nói:

“Tạ tiểu thư, nếu ngài thực sự có cách, tiểu nữ nguyện cả đời còn lại sám hối lỗi lầm. Còn nữa, ơn này như phụ mẫu tái sinh, sau này tiểu nữ nguyện làm trâu làm ngựa đền đáp ngài!”

“Làm trâu làm ngựa thì cũng không cần. Cách của ta cũng không phải hoàn toàn nắm chắc không có nguy hiểm. Có nắm bắt được cơ hội hay không còn phải xem ở quyết tâm thay đổi và vận khí của cô.”

Cách xóa ấn ký mà Tạ Thiên Hoa nói, kỳ thực chính là cùng một phương pháp với giải cổ độc khi trước. Theo như lý luận của cô nàng, ấn ký của Sát Thần Điện hẳn cũng có thể tính là dị vật ngoại lai, có thể dùng Thanh Sắc Lợi Khuẩn xạ trị sạch sẽ. Chỉ có điều, ấn ký này đã ở trong người Liễu Khả Hâm nhiều năm, chỉ sợ đã có nhiều loại gắn kết với cơ thể nàng ta. Nếu bây giờ tiêu trừ, e rằng sẽ có một số tác dụng phụ khó lường. Thế nhưng, nếu không tiêu trừ, không những Liễu Khả Hâm không thể có cơ hội làm lại cuộc đời, mà chính Tạ Thiên Hoa về lâu về dài chỉ sợ cũng không cách nào yên tâm để nàng ta tiếp tục sống. Thành ra, nếu không làm một bước này thì cô nàng cũng không còn cách nào có thể tha mạng cho nữ sát thủ.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 271: Sau Cơn Mưa, Trời Lại Sáng


Có kinh nghiệm tự xạ trị cổ độc ban nãy, Tạ Thiên Hoa không tốn quá nhiều công sức để xóa đi ấn ký trong người Liễu Khả Hâm. Đương nhiên, quá trình suôn sẻ cũng không đồng nghĩa với không phải trả giá gì khác.

Xong xuôi, Tạ Thiên Hoa thu tay, mở mắt, đoạn nói:

“Liễu cô nương, ấn ký của Sát Thần Điện ở trong cơ thể của cô quá lâu ngày, lại được hạ ở đan điền, có liên quan trực tiếp đến tu vi của cô. Tuy ta đã xóa đước ấn ký, trả cho cô tự do, thế nhưng cũng vì thế mà thực lực của cô giảm mạnh. Sau này liệu có thể khôi phục hay không, cũng chỉ có thể xem ở duyên phận.”

“Không sao. Còn giữ được cái mạng nhỏ này, nghênh đón tân sinh là tôi đã mãn nguyện rồi. Đa tạ tiểu thư thủ hạ lưu tình!”

“Được rồi, không nói chuyện này nữa. Tiểu Ngũ, tại sao cậu lại chạy đến đây?”

Tạ Thiên Hoa có chút lúng túng, không biết nên đối xử ra sao với Cố Tiểu Ngũ cùng Liễu Khả Hâm. Dù sao, gần gũi quá thì cảm thấy không hợp lý, nhưng xa cách quá thì lại cũng thấy sai sai. Thế là đành nói lảng sang chuyện khác.

Cố Tiểu Ngũ bèn đem chuyện phát sinh ở trấn Thiết Khanh kể lại cho cô nàng nghe. Kế đó nói:

“Đến khi chúng tôi mở cửa nha môn ra thăm dò, thì đã không còn bóng dáng của quái vật nữa. Cả tôi và mấy anh em nha sai đều không nhìn rõ diện mạo của vị tiền bối đã ra tay cứu giúp. Sau đó tôi vì không tìm thấy A Bích, lại lo cô ở trên này xảy ra chuyện, nên mới chạy lên đây.”

Nói xong, ánh mắt cậu chàng liếc qua Liễu Khả Hâm, rồi lại vội nhìn đi chỗ khác, tâm tình phức tạp. Về phần nữ sát thủ, từ đầu đến cuối vẫn luôn né tránh ánh mắt của họ Cố, có vẻ tâm tình còn phức tạp hơn. Tạ Thiên Hoa nhìn hai người, lại thở dài một hơi.

Một người phát hiện thanh mai trúc mã, ý trung nhân chết đi, sau đó hồi sinh lại, nhưng cũng không hoàn toàn là người cũ mà còn một phần linh hồn, nhân cách mới. Một kẻ đến bản thân là ai còn không xác định được, nói gì đến chuyện tình cảm nam nữ? Mà cả hai người này, đều là bị vướng vào nhân quả của Tạ Thiên Hoa nên mới có kết cục như hiện tại. Cô nàng kỳ thực cũng đã hiểu ra, Kiều A Bích nguyên bản cũng sẽ không tao ngộ tai ương nếu kẻ thù không phải nhắm tới nàng ta. Thành thử, tuy Tạ Thiên Hoa biết mình không có lỗi gì, song vẫn cảm thấy khó chịu, như mình mắc nợ hai người trước mắt này. Cô nàng tằng hắng một tiếng, lại hỏi:

“Vậy… hai người có dự định gì cho tương lai chưa?”

Liễu Khả Hâm yên lặng không nói, không biết đang nghĩ gì trong đầu. Cố Tiểu Ngũ cũng trầm mặc hồi lâu. Tạ Thiên Hoa thấy vậy, đành nói:

“Kỳ thực, sư phụ tôi từng nói, muốn hiểu rõ chính mình đôi khi phải rời khỏi hoàn cảnh quen thuộc, đi xa để bình tâm tự vấn. Nếu hai người có khúc mắc trong lòng, chi bằng tạm thời rời đi trấn Thiết Khanh, đi du lịch một chuyến?”

Cố Tiểu Ngũ suy nghĩ rồi đáp:

“Tạ tiểu thư, trấn Thiết Khanh là nhà của tôi, nó vừa trải qua hoạn nạn như vậy, tôi không yên tâm rời đi lúc này. Có lẽ phải đợi một thời gian nữa mới có thể.”

Thế nhưng, Liễu Khả Hâm thì lại nói:

“Tiểu nữ vẫn chưa thể xác định mình là ai. Nếu ở lại trấn Thiết Khanh, nơi ai nhìn thấy cũng coi tôi là Kiều A Bích... Có lẽ tiểu nữ xin nghe theo gợi ý của tiểu thư, rời đi nơi này, đến một nơi khác tìm kiếm khởi đầu mới.”

Họ Cố nghe vậy thì hốt hoảng nhìn sang, nhiều lần muốn nói lại thôi, cuối cùng yên lặng thở dài. Tạ Thiên Hoa nhìn hai người, cuối cùng nói:

“Được rồi, trước hết tạm thời về trấn Thiết Khanh nghỉ ngơi mấy ngày rồi lại quyết cũng không muộn.”

oOo

Ba người về đến nơi thì mới hay tin Kiều tri huyện mất tích. Dân chúng trấn Thiết Khanh đa số khi nhìn thấy Tạ Thiên Hoa thì đều không dám nhìn thẳng, hổ thẹn đi đường vòng. Chỉ có vài người có dũng khí tiến lên nhận sai, xin lỗi cô nàng một cách tử tế.

Tạ Thiên Hoa giữ thái độ không mặn không nhạt. Cô nàng tuy không để bụng, nhưng vẫn có chút khó chịu, nên cũng không muốn cùng những người này thân cận, chỉ ậm ừ chấp nhận lời xin lỗi cho qua chuyện rồi lấy cớ mệt mỏi, lui vào trong phòng khách của huyện nha nghỉ ngơi.

Liễu Khả Hâm do đã quyết định sẽ bỏ đi khỏi đây, không muốn phải tiếp tục làm Kiều A Bích, tiếp xúc với người dân trấn Thiết Khanh, đã sớm lẻn vào trong phủ từ trước. Chỉ có Cố Tiểu Ngũ vì là người chiếm được lòng tin của dân chúng là còn bận bịu ở ngoài lo phân công xây dựng lại trấn và chuyện hậu sự cho các nạn nhân xấu số, đến tối mới trở vào.

Mấy ngày tiếp theo đó, trấn Thiết Khanh xảy ra rất nhiều chuyện. Tuy không có việc nào kinh tâm động phách như trận đồ sát của xác sống, nhưng cũng có thể dùng bốn chữ “thay da đổi thịt” để hình dung.

Từ Vân công công chạy từ Bằng Sơn Quan tới trấn Thiết Khanh, mang theo một số quan binh, vật tư, giúp xây dựng lại trấn. Nghe nói vật tư là xuất từ kho của Cửu Liên Vương – Lăng Khiếu Thiên. Sau chuyện lần này, nghe nói Cửu Liên Vương đã tự thân đến điện rồng chịu tội. Đồng thời, hắn cũng phải xuất ra không ít hàng hóa, vật tư để bồi thường, cứu trợ nạn dân trấn Thiết Khanh mới làm tan được lửa giận của Quốc Quân Đại Yến.

Mặt khác, theo như lời Từ Vân công công, hoàng đế Đại Yến vô cùng hài lòng với công trạng của Tạ Thiên Hoa, nếu không phải đang trong lúc nước sôi lửa bỏng, Hải Thú ngấp nghé, chắc chắn sẽ ban thưởng cô nàng hậu hĩnh.

Tạ Thiên Hoa đối với tin tức này chỉ cười trừ. Cô nàng tuy không rõ hoàng thất và Cửu Liên Vương muốn gì, nhưng cũng không dễ dàng tin tưởng mấy cái động thái ngoại giao này.

Thi thể Kiều tri huyện được người ta tìm thấy ở cách trấn Thiết Khanh không xa, mặt bị phỏng nặng, dung mạo không còn rõ ràng, chỉ có thể nhận diện qua dáng người và quần áo. Theo như điều tra của quan binh triều đình, lão ta là bị giết trong lúc hỗn loạn. Sau đó, nghe nói là vì đề phòng tránh cho xác sống trỗi dậy, cả Kiều tri huyện lẫn các nạn nhân của vụ đồ sát mấy hôm trước đều bị lập tức đem đi hỏa táng.

Liễu Khả Hâm đã theo đúng kế hoạch rời đi nơi khác. Trước khi đi, cô nàng nhận được một bản thảo Truyền Kỳ Mạn Lục từ Tạ Thiên Hoa. Nữ sát thủ sau khi nghênh đón tân sinh, lại được nghe Tạ Thiên Hoa nói bản lĩnh xóa ấn ký của cô nàng là học được từ Bích Mặc tiên sinh, đã hoàn toàn tin tưởng vận mệnh của bản thân nằm trong tính toán của tiên sinh. Vì vậy liền hứa hẹn sẽ đem sở tác của tiên sinh đi truyền bá khắp thiên hạ.

Cố Tiểu Ngũ được sắc phong làm tri huyện mới, cũng không rõ là do cậu chàng được lòng dân chúng hay đây cũng chỉ là động thái lấy lòng Tạ Thiên Hoa của hoàng thất Đại Yến. Chỉ biết, nhậm chức này xong, e là họ Cố sẽ bận tối mắt tối mũi nhiều năm, dù có muốn dứt ra để chạy theo Liễu Khả Hâm cũng không dễ dàng gì.

Tạ Thiên Hoa vì con đường tình duyên gian nan trắc trở của hai người họ mà mặc niệm. Nhưng cô nàng cũng hiểu rõ, đây là điều cả hai người họ cần ngay lúc này. Có đôi khi, phải tách nhau ra để làm rõ tình cảm của bản thân thì mới có thể biết người kia liệu có đúng là nửa còn lại của mình hay không. Đồng thời, cô nàng cũng vì nhân duyên của chính mình mà mặc niệm. Cũng không rõ bao giờ bản thân và ông sư huynh ngố mới có thể làm rõ tình cảm. Nếu đợi lâu quá, liệu có khi nào cũng sẽ mỗi người một ngả như hai người Cố, Liễu hay không?

Ngoài ra, cũng không rõ ai là người khởi xướng, nhưng dân chúng Thiết Khanh bắt đầu truyền tai nhau một tin đồn, ấy là khi tính mạng năm mươi mấy người khắp trấn gặp nguy hiểm, chính là Thiết Nương Tử – Hồ Cẩm Sắt đã hiển linh, đánh tan quân đoàn xác sống.

Theo như Cố Tiểu Ngũ giải thích cho Tạ Thiên Hoa thì Hồ Cẩm Sắt từng là một trong các nữ tướng nổi danh của Đại Yến, nguyên quán tại trấn Thiết Khanh, tính tình lại cứng rắn nên mới có ngoại hiệu Thiết Nương Tử. Khi Nghiêm Hàn càn quét lục quốc, Hồ Cẩm Sắt từng chặn ải gần chục năm, khiến quân Tề không công phá được. Thế nhưng về sau, tại sao Thiết Nương Tử qua đời cũng như vì sao triều đình quy hàng Nghiêm Hàn thì sử sách không nói rõ. Chỉ biết, trấn Thiết Khanh có lập đền thờ Hồ Cẩm Sắt.

Tạ Thiên Hoa kỳ thực cũng có nghi vấn về việc người đã ra tay cứu giúp Cố Tiểu Ngũ liệu có liên quan gì đến cổ viện hay không. Song, vì không có chứng cớ xác thực, lại nhớ đến dặn dò của Hồng Vân trước khi mấy người xuất phát, rằng lần này sẽ không có người hộ đạo đi theo bọn họ, nên cuối cùng cũng không thể khẳng định chắc chắn.

oOo

Lần trước đến truyền chỉ, Từ Vân công công cũng đã báo cho Tạ Thiên Hoa biết, việc cô nàng nhờ, lão đã cơ bản làm xong. Lão cũng hỏi cô nàng liệu muốn về khách đ**m ở Bằng Sơn Quan hay tiếp tục nghỉ lại trấn Thiết Khanh thêm mấy bữa. Khi ấy, cô nàng còn muốn trò chuyện thêm với Cố Tiểu Ngũ cùng Liễu Khả Hâm, nên quyết định ở lại, chỉ nhắn lão công công bao giờ Bằng Sơn Kiếm Hội sắp bắt đầu thì hãy quay lại đón mình.

Nay, Tạ Thiên Hoa chờ được đến khi gặp lại Từ Vân công công, những tưởng chuẩn bị về tham gia Kiếm Hội, thì lão công công lại báo cho cô nàng một cái tin như sấm đánh ngang tai: Hải Thú bất ngờ tập kích lên bờ sớm hơn so với dự đoán!
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 272: Tuyết Hoa Thành


Lại kể chuyện của Đỗ Thải Hà...

Cô nàng ngồi trong nhà giam chừng ba ngày thì Trần Dũng mang thư lệnh của Hồ Ma Huyền Nguyệt đến thành Bạch Đế. Thế là, chẳng những Đỗ Thải Hà được thả ra, Chưởng Ấn quan đại nhân ngày nào còn ngồi trên công đường oai như cóc cụ thì hiện giờ bị hai tên lính đeo gông vào cổ, cùm xích vào tay, giải vào ngục ngồi chơi với kiến. Phong hồi lộ chuyển, Đỗ Thải Hà và vị đại nhân Chưởng Ấn cứ thế mà đổi vị trí cho nhau, khiến cô nàng không khỏi cảm thấy thế sự ở đời xoay chuyển khó lường.

Hàn Ngọc Sương, Chân Lợi Kiếm và Song Vô Song đã chờ sẵn ngoài cửa ngục. Vừa thấy cô nàng đi ra, “bốn người” đã lập tức dắt cô nàng đi Truyền Tống môn. Đỗ Thải Hà biết chuyện mình bị bắt giam đã làm trễ nải thì giờ, nên cũng không phản đối gì cả, chỉ thuận miệng hỏi Ngự Kiếm trưởng lão một câu:

“Trưởng lão, không biết vị Lã công tử khi trước đâu?”

Chân Lợi Kiếm chạy bên cạnh nghe cô nàng nhắc tới thiếu lâu chủ của Vọng Thiên lâu thì chặc lưỡi, khẽ rên một tiếng. Song Vô Song thấy chuyện này là lạ, nhưng tuổi đời còn trẻ, chưa biết đến yêu đương, thành thử cũng không nghĩ nhiều.

Hàn Ngọc Sương từng trải nhiều chuyện, há có thể không nhìn ra tâm tư của thánh tử nhà mình? Y thị thở dài, nói:

“Vừa được thả ra là Lã thiếu lâu chủ đã tức tốc chạy đến Quan Lâm, nói là tính được phải gặp một người, không thể chậm chễ.”

“Hừ. Lấy cớ thôi...”

Chân Lợi Kiếm nhỏ giọng, thì thầm với vẻ không phục.

Đỗ Thải Hà lắc đầu, nói:

“Thánh tử nói thế không đúng. Lã công tử và tiểu nữ vốn cũng là bèo nước gặp nhau, người ta chịu đến nha môn lên tiếng biện bạch, cùng vào ngục với Thải Hà đã là chí tình chí nghĩa, sao có thể bắt Lã công tử ở lại Bạch Đế chờ tiểu nữ mãi được?”

Chân Lợi Kiếm nghe thế, lại hiểu rằng cô nàng đang trách mình khi đó không đến phủ Chưởng Ấn quan bảo vệ nàng ta, nhất thời tự ái tím cả mặt, nói:

“Chuyện này... thực ra...”

Hàn Ngọc Sương thấy tình hình có vẻ không ổn, mới vội vàng lên tiếng giải vây:

“Thực ra người không để hai đứa nó đến phủ quan Chưởng Ấn là ta. Cô nương có muốn trách thì cứ trách Hàn Ngọc Sương này.”

“Trưởng lão nói đùa, tiểu nữ không phải không hiểu chuyện. Bây giờ là thời điểm phi thường, trưởng lão dẫn người đến Đại Việt đón tiểu nữ là đã quý hóa lắm rồi, sao có thể vì tiểu nữ mà liên lụy đến Kiếm Trì được? Nếu vì tiểu nữ mà Kiếm Trì can thiệp vào nội bộ Đại Việt, khiến hai bên bằng mặt không bằng lòng ngay trước thềm đại chiến thì quả thực là phải tội với thiên hạ.”

Mặc dù hai người Đỗ, Hàn nói thế, nhưng Chân Lợi Kiếm vẫn nghiến răng, cảm thấy Đỗ Thải Hà đang nói xéo mình.

Lã Vọng Thiên thì cũng là người nơi khác, Vọng Thiên lâu cũng là thế lực bên ngoài, hơn nữa quan hệ với Lão Thụ cổ viện chắc chắn không thân thiết bằng Kiếm Trì. Vì sao một bên có thể bất chấp nhúng tay, cứu mạng Đỗ Thải Hà, còn Kiếm Trì thì không? Há chẳng phải đang nói... Lã Vọng Thiên mới thật lòng, còn Chân Lợi Kiếm hắn thì chỉ là cái phường xun xoe miệng lưỡi thôi sao?

Gã tưởng đấy chính là ý nghĩ trong đầu tam đồ đệ của Bích Mặc tiên sinh, mày nhăn hí lại, ruột gan quặn xoắn một thứ cảm xúc ngang ngược.

Chân Lợi Kiếm càng nghĩ, càng cảm thấy chuyện này rất có khả năng. Nếu không phải Đỗ Thải Hà có ý gì với đối phương, vì sao phải ra mặt nói chuyện thay cho hắn?

Đương nhiên, Chân Lợi Kiếm dù sao cũng là thánh tử của Kiếm Trì, vẫn khống chế được tâm tình, không để cảm xúc thực sự lộ ra.

oOo

Ngay buổi trưa hôm đó, Hàn Ngọc Sương dẫn Đỗ Thải Hà truyền tống đến thành Tuyết Hoa.

Nơi này là một thành trấn thuộc về trung du của nước Hàn, nhân khẩu vào khoảng mười ba vạn. Thành phân làm hai nửa bắc, nam, lấy một nhánh của sông Ngân gọi là sông Thiên Phù làm giới tuyến, cơ hồ phân thành làm hai nửa.

Thành bắc là nơi tập trung bộ máy hành chính, từ phủ thành chủ đến nha môn, quân doanh đến nhà tù, có thể nói là đều đặt ở đây cả. Ngày thường dân chúng mà muốn kiện cáo, đệ đơn trình tấu gì thì hầu như đều phải qua cầu Thiên Thê sang thành bắc.

Phía nam là nơi trăm họ cư ngụ, cũng là chỗ đặt phố chợ. Nơi này tửu lầu hàng quán mọc lên như nấm, tông môn võ quán đâu đâu cũng thấy, thương nghiệp phát triển, sầm uất nhộn nhịp vô cùng.

Địa thế vùng này dốc thoải, bờ bắc sông Thiên Phù cao hơn bờ nam thành thử thành bắc của Tuyết Hoa cũng cao hơn thành nam đâu đấy chừng hai ba trượng, Ngăn cách hai thành là hai bức tường dày, cao đến sáu trượng, so với các bức tường bao quanh tòa thành thì cao hơn đến hai trượng có dư. Giữa hai tường thành nối với nhau bằng cầu treo, dùng xích sắt to bằng bắp tay người lớn để cố định, gọi là Thiên Thê.

Đỗ Thải Hà từ truyền tống môn phóng mắt nhìn bốn phía một lượt, mới chặc lưỡi:

“Tường thành bên trong thành sao lại cao hơn cả tường thành trấn giữ phía đông như vậy? Chẳng nhẽ chỗ này cũng giống thành Cổ Long của Đại Việt?”

Hàn Ngọc Sương vừa định lên tiếng, thì Chân Lợi Kiếm đã chớp lấy thời cơ chạy đến, vừa cười lấy lòng vừa giải thích:

“Chuyện ấy thì không hẳn. Số là ba ngàn năm trước nơi đây còn là chỗ nước nông, cửa biển rộng, hải thú dễ dàng tràn vào. Trong đại chiến ba ngàn năm trước, Đế Hậu Hàn Thanh Ca bèn cho người đóng hai doanh Tuyết Hoa ở hai bờ sông, đóng cọc nhọn hướng ra biển, ngăn chặn hải thú lẻn vào bờ.

Về sau do năm rộng tháng dài, đáy sông biến dạng, hai doanh Tuyết Hoa không còn cách nào khác đành phải xây tường thành trấn giữ sông Thiên Phù càng lúc càng cao, cốt để ngăn không cho hải thú trèo lên hai bờ nam – bắc. Phòng tuyến ngăn địch thì lùi về phía tây thêm ba mươi dặm nữa, nơi đó có một chỗ gọi là Trấn Thủy quan, có thể phối hợp với Tuyếtt Hoa thành. Sông càng lúc càng sâu, thành cũng cứ thế mà lấn lên cao mãi, cuối cùng thành ra thế này.”

Đỗ Thải Hà “à” một tiếng, gật đầu với y coi như lời cảm ơn.

Hàn Ngọc Sương hắng giọng một tiếng, nói:

“Được rồi. Những chuyện lịch sử ấy nói sau. Song Vô Song, con dẫn Đỗ tiểu thư vào thành tìm chỗ ở trước. Chờ mẹ và thánh tử đi thành bắc nghị sự về sẽ giải quyết.”

“Hàn trưởng lão, thứ cho tiểu nữ hỏi thẳng: có phải có rắc rối gì hay không?”

“Sao tiểu thư lại hỏi vậy?”

“Kẻ địch ngay từ lúc ở thành Bạch Đế đã mua chuộc được Chưởng Ấn quan đổi trắng thay đen, quyết dồn tiểu nữ vào chỗ chết. Bây giờ Thải Hà đến nơi được ghi trong quân lệnh, quá bằng đã vào chỗ đầm rồng hang hổ, bọn chúng há lại buông tay dễ dàng đến thế?”

Đỗ Thải Hà vừa nói, vừa ngước mắt, trông chờ một câu trả lời của Hàn Ngọc Sương. Y thị thở dài một cái, đáp:

“Đỗ tiểu thư đoán không sai. Lần này trấn giữ Tuyết Hoa thành do hai thế lực cùng đảm nhiệm. Một là Kiếm Trì, hai là núi Long Hổ.”

Nghe đến “tông môn cũ”, cô nàng nghiến răng một cái, nói:

“Vậy chuyện này làm phiền Hàn trưởng lão.”

“Đỗ cô nương yên tâm. Nói gì thì nói tiên sinh cũng có ơn truyền đạo với Kiếm Trì, đương nhiên bọn ta sẽ không ngồi nhìn. Đây là lệnh của ba vị Kiếm Tổ. Thế nhưng, dù nói thế nào đi nữa thì chuyện cô nương phản giáo mà đi cũng là thật, đối phương cũng thắng ở cái lý. Thời gian sắp tới đây nên chú ý đề phòng, chớ để bọn chúng bắt được đằng chuôi.”

Hàn Ngọc Sương trước là trấn an, sau lại nhắc nhở hai câu. Đỗ Thải Hà gật đầu một cái, đoạn cùng Song Vô Song đi khỏi Truyền Tống môn, hướng về phía thành nam mà đi.

Chân Lợi Kiếm nhìn Ngự Kiếm trưởng lão nhà mình, nhỏ giọng:

“Trưởng lão, trốn được mùng một không trốn được rằm, chạy được hòa thượng không chạy được miếu. Cho dù Kiếm Trì ta có nhượng bộ thì cũng là biện pháp tạm thời, không khác nào dùng bánh bao thịt ném chó, lấy thóc mà đãi gà rừng. Thiết nghĩ muốn khiến núi Long Hổ chết tâm thì vẫn cần nghĩ kế vẹn toàn...”

“Ý của thánh tử là?”

Hàn Ngọc Sương nhíu mày, nhìn Chân Lợi Kiếm một cái. Y thị không phải trưởng lão thuộc về Cường Kiếm phái của Lâm Phương Dung, xưa nay cũng ít có dịp tiếp xúc với thánh tử của Kiếm Trì. Song, trong ấn tượng của Hàn Ngọc Sương, Chân Lợi Kiếm là một thiếu niên chính trực, tự lập. Tuy có chút kiêu ngạo háo thắng, song không phải người xấu.

Thế nhưng kể từ khi từ Thương Lan Kiếm Vực về, Chân Lợi Kiếm giống như thay đổi, trở nên tâm cơ thủ đoạn hơn trước.

Chân Lợi Kiếm cười, nói:

“Tuy cổ viện và Kiếm Trì cũng có quan hệ không tệ, nhưng Long Hổ sơn cũng là minh hữu lâu năm. Bây giờ nhất bên trọng nhất bên khinh, khó tránh khỏi người thiên hạ nói chúng ta có mới nới cũ, thấy lợi mà quên nghĩa. Thế nên, muốn đảm bảo được Đỗ tiểu thư, Kiếm Trì cần một cái cớ.”

Cậu chàng ngừng một thoáng, đoạn cười:

“Giả tỉ như, nếu Đỗ tiểu thư và người của Kiếm Trì liên hôn, vậy thì một mũi tên trúng hai đích. Chẳng những chúng ta có cớ bảo đảm Đỗ tiểu thư, mà còn khiến cổ viện và Kiếm Trì thân càng thêm thân.”

“Thánh tử sao không hỏi trực tiếp Đỗ tiểu thư, nói với ta làm cái gì?”

Hàn Ngọc Sương cười lạnh, hỏi ngược lại.

Chân Lợi Kiếm cười cười, nói:

“Ài, ngài là trưởng bối, lại cùng là thân nữ nhi, thiết nghĩ ngài lên tiếng thuyết phục Đỗ tiểu thư sẽ hiệu quả hơn.”

“Chân Lợi Kiếm. Tốt nhất là chôn cái ý định đó của cậu xuống đi. Kiếm Trì chúng ta há lại có thể làm loại người thừa lúc kẻ khác gặp nguy nan mà uy h**p, chớ nói chi Lão Thụ cổ viện và tiên sinh còn có ơn với chúng ta. Lần này coi như vi phạm lần đầu, bản trưởng lão sẽ châm chước không thưa lại với Lâm kiếm tổ.”

Hàn Ngọc Sương hừ lạnh, kế phất tay áo, nhanh chóng chạy đến thành bắc.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 273: Thiên Thê


Đỗ Thải Hà hỏi ra thì mới biết Kiếm Trì tam tổ có lời nhờ vả, tranh thủ được cho cô nàng một chức quản khố, phụ trách quản lý việc xuất nhập thuốc thang cho một toán binh sĩ chừng hai trăm người, thành thử không cần phải vào quân doanh, không cần lên tiền tuyến, có thể nói là một chức quan nhàn tản an toàn, mưa không đến mặt mà nắng chẳng đến đầu.

Kỳ thực, chức vị hiện tại của Đỗ Thải Hà có thể nói là củ khoai nóng bỏng tay, được các vị đại quan quý nhân tranh nhau vỡ đầu mẻ trán cho con cháu nhà mình. Quan lại địa phương cũng vì thế mà đau đầu nhức óc, không biết phải làm thế nào đẩy các chức béo bở này ra ngoài sao cho không đắc tội ai. Nếu không phải trong đại chiến mười mấy năm trước, thành Tuyết Hoa từng là nơi Lâm Phương Dung tọa trấn, quan lại Đại Hàn bây giờ không ít thì nhiều đều có giao tình với ba vị kiếm tổ thì có lẽ chức vị này cũng chưa chắc đã đến lượt Đỗ Thải Hà ngồi.

Cũng vì không cần phải vào quân doanh sống, thế nên Song Vô Song và Đỗ Thải Hà mới cần ra ngoài tìm một gian phòng trọ cho cô nàng thuê lâu dài. Song Vô Song có vẻ rất thông thạo đường lối trong thành, thế nên chẳng mấy chốc, cậu chàng đã kiếm được một chỗ tiểu viện trang nhã, đầy đủ cả bàn ghế giường tủ, cơm ngày ba bữa đã có chủ nhà chuẩn bị. Đỗ Thải Hà vốn muốn tự trả tiền thuê, thế nhưng cuối cùng lại không có đủ lộ phí, đành phải đỏ mặt để Song Vô Song trả tiền giúp.

Tam đệ tử của Bích Mặc tiên sinh thấy phía Kiếm Trì giúp đỡ tận tình quá, bây giờ lại còn phải nhờ họ trả tiền nhà giúp thì cũng không phải phép. Thế là chờ Song Vô Song bàn bạc đâu vào đấy với chủ nhà, cô nàng mới tóm “hai người” lại, hỏi:

“Vô Song, không biết gần đây có trà lâu tửu quán nào nhiều người lui tới hay không?”

“Nổi tiếng nhất thành Tuyết Hoa thì có hai nơi: tửu quán có Tịnh Tuyết các ở thành nam, trà lầu có Lam Ba lầu ở thành bắc. Tửu quán nhiều đại hiệp tiêu sư, trà lầu lắm tao nhân mặc khách.”

Song Vô Song đáp.

Đỗ Thải Hà nghĩ một thoáng, đoạn cười:

“Vậy thì đi thành bắc một chuyến.”

Song Vô Song ho khan một tiếng, nói:

“Đỗ tiểu thư có điều không biết. Lam Ba lầu này là sản nghiệp của Lam Ba thư quán, lần trước tiên sinh cũng coi như là đắc tội với người ta. Bây giờ tìm đến tận cửa, ngộ nhỡ bị hiểu lầm là đi gây sự há chẳng phải lại để cho đám người Long Hổ sơn mượn cớ hay sao?”

Đỗ Thải Hà cười, đáp:

“Đi uống trà thôi mà. Lại nói gia sư cũng đã giúp Nho đạo khôi phục như cũ, chắc người đọc sách thánh hiền sẽ không nhỏ mọn đến thế chứ?”

“Nói về nhỏ mọn Nho môn nhận thứ hai thử hỏi ai dám nhận đệ nhất?”

Cả hai Song Vô Song cùng trợn mắt, đồng thanh nói. Bình thường Song Vô Song một hồn hai xác, có nói chuyện hay hắt hơi ho hắng thì cũng là hai thân thể làm lần lượt. Trừ phi là chuyện gì cực kỳ chấn động, hoặc trong lòng có cảm xúc mãnh liệt, cả hai thân thể của Song Vô Song mới lên tiếng đồng thanh như thế. Đỗ Thải Hà nghe mà phì cười, thầm nghĩ không hiểu Nho môn đã làm gì mà khiến quý tử nhà Ngự Kiếm trưởng lão của Kiếm Trì ác cảm đến như vậy.

Cuối cùng, Đỗ Thải Hà nài nỉ dữ quá, Song Vô Song không còn cách nào thoái thác, đành dẫn cô nàng đến Lam Ba lầu. Vì cô nàng sắp nhận chức quan thủ kho, bình thường sẽ phải sang thành bắc làm việc, thành thử chỗ mà hai người Song Vô Song chọn để thuê cách lối vào Thiên Thê cũng không xa. Hai người đi mấy bước chân là đến một tòa tháp, trước cửa có lính canh đứng gác.

Song Vô Song chìa lệnh bài thân phận cho hai người xem, vừa trả tiền lệ phí vừa giới thiệu:

“Đây là Đăng Thiên Tháp, là chỗ duy nhất có thể tiếp cận cửa vào của Thiên Thê. Cách đây bốn dặm còn có một chỗ Thiên Thê nữa cho dân chúng sử dụng, không cần lệnh bài thân phận, nhưng sẽ rất đông. Sau này chị nhậm chức rồi, cứ lấy quan ấn ra cho họ xem là được.”

Hai người lính nhận lệnh bài của Song Vô Song, nhét vào miệng của một bức tượng chó đá kê trước cửa Đăng Thiên Tháp. Lệnh bài vừa đặt vào lưỡi của chó đá thì lập tức rụt vào trong, cái miệng hé hờ của con chó đá thoắt cái ngậm chặt lại. Mắt tượng đá nhấp nháy tỏa sáng một lúc chừng mười lăm hai mươi cái hô hấp gì đó. Kế, miệng chó đá há to, âm thanh đều đều vô cảm vang lên:

“Song Vô Song: thiên kiêu của Tẩy Kiếm Trì, người Hoan Kiếm phái, con trai của Ngự Kiếm trưởng lão Hàn Ngọc Sương, thân phận Địa đẳng.”

Đỗ Thải Hà nhìn con chó đá, hai mắt tỏa sáng. Cô nàng có thể đoán được trong bụng tượng có khắc trận pháp đặc biệt chuyên để xác minh thông tin ghi trên lệnh bài thân phận, thế nhưng cụ thể thế nào thì còn phải lấy tượng đá về đục ra mới biết.

“Song thiếu gia, mời đi bên này.”

Hai tên lính canh lấy lệnh bài trong miệng tượng đá ra, trả cho Song Vô Song, đoạn cùng bước lui một bước nhường ra một con đường dẫn đến cửa Đăng Thiên Tháp.

Đỗ Thải Hà theo chân cậu chàng, đi lên một cái cầu thang bằng đá. Ba người cứ thế lên mãi, lên mãi, đi mỏi chân mới đến đỉnh. Chỉ thấy phía bắc ngọn tháp mở ra một cái ban công rộng chừng hai trượng vuông, nối với một cây cầu treo – Thiên Thê. Trên nóc ngọn tháp rủ xuống hai sợi xích đen thui, to bằng cả cái bắp đùi của Đỗ Thải Hà, giữ chặt lấy thân cầu. Ván cầu lát bằng những phiến đá đen, không trơn nhẵn như gỗ xẻ mà sần sùi lởm chởm, loáng thoáng ngửi được mùi của biển. Trên các đoạn mắt xích và ván cầu đều có khắc những trận văn phức tạp, chằng chịt đan vào nhau chẳng khác nào mê cung ma trận. Đỗ Thải Hà nhìn còn thấy hoa cả mắt, đừng nói chi là người thường không thông hiểu trận pháp.

Song Vô Song vừa bước lên cầu, vừa nhắc:

“Lát nữa chị lên cầu thì đừng sử dụng chân khí, bằng không trận pháp trên cầu phát động thì chỉ có đường chết lộn cổ xuống sông.”

“Ba người” đi đến giữa Thiên Thê, Đỗ Thải Hà mới dừng chân, vịn lấy thành cầu nhìn xuống dòng sông bên dưới. Chỉ thấy lượn lờ giữa hai bức tường thành tựa như đôi bờ vách đá là một dòng nước đen sì, bó hẹp, hờ hững trôi về phía đông. Dưới chân tường thành, lấp ló giữa dòng nước lên xuống theo thủy triều là cơ man không biết bao nhiêu là xương cốt trắng hêu hếu, chất thành một cái gò nhỏ bám lấy tường thành. Vì đứng quá cao, Đỗ Thải Hà cũng không nhìn rõ những xương cốt ấy là của người hay của Hải Thú nữa.

Cô nàng hít sâu một hơi, cảm thán:

“Chắc hẳn chiến sự mấy năm nay ác liệt lắm.”

“Cũng không đến nỗi. Dăm ba năm bọn chúng lại đến công thành một lần. Trấn Thủy quan phía tây cũng bị tập kích. Đương nhiên đều là những trận đánh quy mô nhỏ, tự Đại Hàn có thể thủ vững. Không giống trận chiến sắp tới đây.”

Song Vô Song đáp gọn lỏn, tiếp tục rảo bước về phía thành bắc.

Đỗ Thải Hà xuất thân là thôn nữ đại Sở, sau lại ru rú trên núi. Thành thử tuy cũng có một thời gian lang bạt khắp nơi, nhưng không nắm rõ tình hình chiến sự ở miền duyên hải cho lắm. Nghe Song Vô Song nói mấy năm nay Hải Thú vẫn thường đánh Tuyết Hoa thành, cô nàng bèn lên tiếng hỏi:

“Đúng, Vô Song này, thế nào là quy mô lớn, thế nào là quy mô nhỏ vậy?”

“Hải Thú ở biển Phong Bạo cũng như yêu thú trong Lục Trúc hải thôi, có tộc mạnh, có tộc yếu. Đối với Hải Thú, tứ đại vương tộc nằm quyền lực tối cao, thống ngự các tộc, chia Phong Bạo hải làm bốn phần: bắc bộ, bắc trung bộ, trung nam bộ, nam bộ. Dưới vương tộc là các hầu tộc, cai quản một vùng biển rộng bằng châu, quận trên đất liền. Dưới nữa là các bá tộc. Các tộc kém hơn bá tộc thì gọi là bất nhập lưu, không có địa bàn riêng mà sống rải rác khắp cả Phong Bạo hải.”

Cậu chàng rút kiếm, chỏ về phương đông, rồi nói tiếp:

“Vùng biển phía đông Tuyết Hoa thành là địa bàn của tộc Hải Xà, coi như là một bá tộc. Bình thường cho dù có đánh trận thì cũng chỉ có đám rắn biển này lên bờ mà thôi. Cứ cách vài chục năm, hầu tộc thống ngự Hải Xà tộc – Tiêu Giao tộc – sẽ dẫn các bá tộc dưới trướng đánh phá một vùng duyên hải Đại Hàn. Trận chiến hai mươi năm trước lúc gia mẫu thụ thương cũng là do Tiêu Giao tộc ra tay.

“Còn lần này, các vương tộc đồng thời rục rịch, có thể nói là quy mô chẳng kém gì trận Phạt Hải chi chiến ba ngàn năm trước.”

Đỗ Thải Hà gật đầu, lại nói:

“Đúng rồi. Song Vô Song này, câu hỏi này của tôi e là có hơi thất lễ, mong cậu chớ trách. Thế nhưng tôi cứ thắc mắc mãi, ba ngàn năm trước... vì sao Phạt Hải Kiếm Thánh lại vào biển Phong Bạo? Hải Thú rốt cuộc sống dưới biển hay lấy đảo làm vương quốc?”

“Chuyện này...”

Song Vô Song thất thần, hoảng hốt trong thoáng chốc. Người đời vẫn nói Hàn Kinh Vũ năm xưa một người một kiếm đánh vào biển Phong Bạo, tàn sát vô số Hải Thú, cuối cùng vì đụng phải Đảo Quỷ mới không thể không rút lui.

Thế nhưng...

Bản thân câu chuyện ấy cũng có mâu thuẫn.

Hải Thú nếu như lập quốc dưới biển, ở hẳn dưới đáy nước như long tộc, vậy thì khi Kiếm Thánh nhập hải đáng lẽ phải lặn sâu xuống đáy đại dương mới phải. Lúc đó thì sao nhìn thấy Vọng Hương sơn, sao mà đụng đầu Đảo Quỷ?

Nếu Hải Thú lấy đảo lớn đảo nhỏ làm chỗ dừng chân, vậy thì vì cớ gì suốt ba ngàn năm nay, các nước vẫn cứ để mặc Hải Thú xâm lấn hoành hành mà không phái binh tiêu diệt triệt để, nhất lao vĩnh dật?

Đáp án này, có lẽ chỉ có long tộc và bản thân Kiếm Thánh biết.

Thế nhưng, Hàn Kinh Vũ đã ôm câu trả lời xuống mộ.

Long tộc thì càng không cần phải nói, kẻ nào kẻ nấy tính khí ngạo mạn, chưa từng coi sáu nước là ngang hàng với mình. Cho dù kể từ sau khi Long Bá Thiên nhậm chức tộc trưởng, quan hệ giữa con người và loài rồng đã có hòa hoãn, song cũng chỉ dừng ở mức xã giao, nước sông không phạm nước giếng mà thôi.

Chẳng có lí do gì để long tộc khi không lại nói bí mật của biển Phong Bạo cho con người cả.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 274: Oan Gia Ngõ Hẹp


Đỗ Thải Hà thấy “hai người” Song Vô Song bần thần cả người vì câu hỏi vô ý của mình, trong lòng lấy làm xấu hổ. Cô nàng hắng giọng một tiếng, nói:

“Thôi bỏ đi. Dù sự thật có thế nào đi chăng nữa thì cũng không đến lượt đám thiếu niên chưa ráo máu đầu chúng ta để ý. Không phải sao?”

Vốn là cô nàng cũng chỉ muốn khuyên bảo Song Vô Song, để tránh cái chuyện cậu chàng vì một câu nói vô tình của mình mà đến nỗi phải hoài nghi nhân sinh.

Dù sao, nói gì thì nói, đối với đệ tử của Kiếm Trì, Phạt Hải Kiếm Thánh chẳng khác nào tín ngưỡng, là thần tượng từ tấm bé đến lúc trưởng thành. Càng chớ nói chi Song Vô Song còn là con của Hàn Ngọc Sương, con cháu của Kiếm Thánh Hàn Kinh Vũ.

Chẳng ngờ, Song Vô Song lại nghiêm hẳn sắc mặt, nói:

“Đỗ tiểu thư, lời này của tiểu thư Vô Song thấy không đúng lắm. Thiên hạ này cũng là thiên hạ của thiếu niên, người trẻ tuổi có trời đất của riêng mình.”

“Lời này hay thật, rất nhiệt huyết. Không biết là danh ngôn của người nào?”

“Thật không dám giấu tiểu thư. Tương truyền là của tằng tổ.”

...

“Ba người” vừa đi vừa nói chuyện, một bên kể về giai thoại của Hàn Kinh Vũ, một bên thuật lại những gì mắt thấy tai nghe từ Nguyễn Đông Thanh. Cứ thế chẳng mấy chốc, cả hai đã đi hết Thiên Thê, xuống khỏi thành lầu, đặt chân đến thành bắc.

So với phía nam nhốn nháo nhộn nhịp, thành bắc lại bình đạm an tĩnh hơn nhiều.

Đường phố ít người lại qua, thành thử cũng chẳng nhộn nhịp đô hội được bằng. Trên đường ít thấy người đi bộ, chủ yếu là ngựa xe võng kiệu là chính, cảnh tượng quả thực chẳng khác mấy so với Quận Nhị ở thành Cổ Long Đại Việt. Bóng hàng rong buôn gánh bán bưng, ngược xuôi tất tả ở chợ thành nam thì ở đây cũng không thấy đâu cả. Cả phố trên ngõ dưới chủ yếu là các cửa tiệm đàng hoàng.

Tạ Thiên Hoa nhìn ngang ngó dọc một hồi, thấy nơi đây nhiều nhất là các tiệm ăn vặt, chủ yếu là những món nhanh, có thể vừa đi vừa ăn như cơm nắm, chả viên xiên, ô mai, hạt dẻ.v.v...

Kế đến là các tiệm sách, chủ yếu là bán tranh chữ, thi tập, văn phòng tứ bảo. Chốc chốc lại thấy mấy thư sinh ăn mặc sạch sẽ, tay ôm mấy quyển trục vào quán, dường như là muốn gửi bán tự thiếp.

Song Vô Song chỉ tay về phía xa, nói:

“Đỗ tiểu thư, sắp đến rồi. Cái nơi nằm giữa ca phường và thanh lâu kia chính là Lam Ba trà lầu.”

Đỗ Thải Hà nhìn theo hướng cậu chàng chỏ, thì phát hiện ngay vị trí đắc địa nhất cả con đường cái gần Thiên Thê bấy giờ tọa lạc một ngôi lầu ba tầng, mặt tiền rộng đến ba mươi trượng có dư.

Trước cửa lầu ngựa xe đứng đầy như nêm cối, bốn góc đường đều có một thiếu niên tóc còn để chỏm, mặc áo thư đồng vừa cười vừa dẫn đoàn xe tiến dần về phía sau tửu lầu. Lại nghe loáng thoáng tiếng đàn ca sáo nhạc vang lên từ ca phường kỹ viện hai bên tả hữu, huyên náo mười phần. Bình thường mà nói, thì quả thực là một cảnh sắc phồn hoa náo nhiệt, giàu có sung túc.

Thế nhưng đặt trong thời điểm đại chiến sắp diễn ra, Hải Thú tràn vào bờ, thực là khiến người ta không khỏi xúc động muốn mắng to một câu là “trầm mê hưởng lạc, chẳng mấy mà lạc cực sinh bi”.

Người trong lòng không có chí lớn, chỉ mong xong việc rồi nhanh chóng về cổ viện như Đỗ Thải Hà trông thấy cảnh này còn phải nhíu mày một cái. Nếu đổi lại là ông đại sư huynh ngố rừng của cô nàng, chắc hẳn là sẽ không nén nổi xông vào đại náo, chửi mắng người ta một phen cho tỉnh ngộ.

“Đỗ tiểu thư, hay là thôi đi chỗ khác?”

Song Vô Song thấy sắc mặt của Đỗ Thải Hà khác lạ, mới hắng giọng, lên tiếng khuyên bảo.

Cậu chàng vẫn chưa quên nhiệm vụ của bản thân chính là tiếp đón vị đồ đệ thứ ba của Bích Mặc tiên sinh cho tốt. Lại thêm trong Kiếm Trì vẫn có lời đồn, tính nết của vị Đỗ cô nương này không được tốt cho lắm, rất thích chọc ngoáy gây chuyện, dường như chỉ sợ thiên hạ chưa đủ loạn. Song Vô Song cảm thấy với tính cách của khách quý như thế, nếu như Đỗ Thải Hà tiến vào Lam Ba trà lầu, chắc chắn sẽ gây nên chuyện thị phi không nhỏ, không cẩn thận còn có thể khiến cả thành Tuyết Hoa rối loạn tưng bừng.

Xuất phát từ phương châm phòng hỏa hơn cứu hỏa, Song Vô Song lập tức khuyên Đỗ tiểu thư đi nơi khác.

Thế nhưng...

Đỗ Thải Hà chỉ biến sắc một chốc, rồi gương mặt lại trở nên bình tĩnh như cũ. Cô nàng cười lên, vỗ vai một trong hai người Song Vô Song một cái, nói:

“Không sao, chẳng qua là thấy hơi bất ngờ thôi. Không ngờ vào lúc này rồi mà các vị tao nhân mặc khách còn có nhã hứng làm thơ nghe hát. Bội phục.”

“Đỗ tiểu thư, rốt cuộc ngài muốn làm gì?”

Cậu chàng trông thấy điệu cười của Đỗ Thải Hà mà sống lưng lạnh buốt, vội vội vàng vàng hỏi lại, biểu cảm trên mặt đầy vẻ đề phòng. Song Vô Song từng nghe các sư huynh sư muội trong Kiếm Trì kể, mỗi lần vị tam đồ đệ của Bích Mặc tiên sinh nở nụ cười là thể nào cũng đang toan tính chơi xỏ ai đó.

Đỗ Thải Hà đáp:

“Song huynh đệ cả nghĩ rồi. Tiểu nữ chỉ muốn kiếm thêm một khoản, sau này có thể tự chủ tự lập, chứ cứ dựa dẫm mãi vào Kiếm Trì coi sao được? Những vị tao nhân mặc khách ở đây dại chiến sắp nổ ra mà còn đến đây tiêu tiền, tiểu nữ mừng còn chẳng kịp, sao lại gây chuyện thị phi cho được?”

Song Vô Song vẫn còn thấy ngờ ngợ, song cô nàng đã nói đến vậy, cậu chàng cũng không tiện từ chối tiếp, không thì lại thành thất lễ với khách. Thế là, hai người Song Vô Song dẫn đường, đưa Đỗ Thải Hà đi thẳng qua cổng chính Lam Ba trà lâu.

Hai thằng nhóc ăn mặc giống thư đồng lúc này cũng có phản ứng, đồng thời sử dụng thần thức quét qua ba người Song, Đỗ một cái. Đỗ Thải Hà không ngờ đối phương còn trẻ, mà tu vi cũng đạp vào tam cảnh, “ồ” lên một cái, tỏ vẻ kinh ngạc. Song Vô Song lấy lệnh bài thân phận ra, hai thằng nhóc bèn đổi hẳn thái độ, cười đon đả, mình cúi thấp, làm thủ thế mời.

Vừa bước vào quán, mùi hoa mai quyện trong hương sen nồng nàn đã phảng tới, Chỉ thấy các dãy nhà của trà lâu được xây theo hình bát giác khép kín, trong sân có tám cái cầu nhỏ vây quanh một cái hồ nhân tạo ở trung tâm. Trong hồ trồng đầy hoa sen, chính đang nở rộ, từng đóa từng đóa sen hồng lấp loáng trong làn nước. Lại thấy, ở mỗi đầu cầu đều trồng hai cây tử mai, nở bung từng chùm hoa tím biếc, thỉnh thoảng gió thổi qua, hoa mai tám cánh lại rời cành, rơi xuống mặt hồ bên dưới. Đỗ Thải Hà trông thấy mấy chậu mai chỉ mọc trên dãy Hoàng Liên thuộc nước Sở, thoáng chốc trở nên thất thần, ký ức quay lại thuở niên thiếu còn là một cô thôn nữ không hiểu sự đời.

Đang lúc cô nàng ngẩn người, bên cạnh chợt vang lên giọng nói chua loét:

“Sư huynh, kia chẳng phải Đỗ sư tỷ sao?”

“Hừ! Người ta giờ đã bái Bích Mặc tiên sinh làm sư phụ, là nhân vật lớn rồi, đâu còn quan hệ gì đến tông môn nữa. Sư muội, đừng tự chuốc lấy nhục.”

Đỗ Thải Hà ngoáy đầu, phát hiện phía xa có một toán thiếu niên nam nữ, người nào người nấy đều mặc đạo bào có thêu đồ án thái cực, bên hông đeo kiếm gỗ, tay cầm gương bát quái. Tên nào tên nấy lúc này đều dùng ánh mắt đầy địch ý nhìn cô nàng, có người thậm chí khinh khỉnh nhổ toẹt một bãi nước bọt ra đất, hừ lạnh một cái.

Thế nhưng, ánh mắt cô nàng trước sau vẫn không rời khỏi thiếu niên cầm đầu.

Một cậu thiếu niên dáng người dong dỏng cao, gầy gò anh tuấn, tuy còn trẻ nhưng mái tóc đã ngả màu muối tiêu hệt như tóc của người ngũ tuần, lục tuần gì đó. Đặc biệt hơn, là hai con mắt của cậu ta có hai màu khác hẳn nhau, trái đen như mực Tàu, phải vàng như hổ phách.

Song Vô Song nhíu mày, nói:

“Chư vị bằng hữu Long Hổ sơn, Đỗ tiểu thư là khách của Kiếm Trì, xin nói chuyện cho sạch sẽ một chút.”

Nghe cậu chàng nói vậy, trong đám người của Long Hổ sơn, thiếu niên có đôi mắt hai màu khác nhau bỗng hừ lạnh một tiếng. Con mắt phải vàng óng của y dường như lập lòe sáng lên, ném một ánh nhìn lạnh lẽo về phía Đỗ Thải Hà, đoạn hỏi ngược:

“Sao? Kiếm Trì hiện giờ vì bợ đít cái vị Bích Mặc tiên sinh kia mà không cho người khác nói sự thật nữa à?”

Bên cạnh y, một thiếu nữ tóc thắt thành một cái bím dài, khóe mắt có nốt ruồi lệ bấy giờ cũng lên tiếng tiếp lời:

“Đúng vậy. Bọn ta thừa nhận, núi Long Hổ không phải đối thủ của Bích Mặc tiên sinh. Cái chuyện Đỗ Thải Hà phản bội sư môn, bái vào môn hạ nhà khác, bọn ta cũng chỉ đành ngậm bồ hòn làm ngọt, không tiếp tục truy cứu. Thế nhưng, ngay cả nói câu thật lòng Kiếm Trì cũng phải khó chịu thay mặt Nguyễn Đông Thanh sao? Đường đường là thánh địa, do đích thân Kiếm Thánh đại nhân sáng tạo nên mà giờ luân lạc đến mức đi làm chó săn cho kẻ khác rồi sao?”

“Được rồi, sư muội. Chúng ta dù sao cũng là khách.”

Thiếu niên tóc trắng đưa tay, lườm Đỗ Thải Hà một cái, đoạn quay phắt mình, rảo bước đi về phía cầu thang lên lầu.

Song Vô Song lắc đầu, cười khổ, đoạn lại hỏi:

“Đỗ tiểu thư, vẫn vào quán chứ?”

“Sao lại không vào? Không phải chỉ là mấy vị cố nhân thôi sao?”

Đỗ Thải Hà đáp gọn, giọng bình thản, giống như đang nói một chuyện hết sức hiển nhiên. Thế nhưng, Song Vô Song lại loáng thoáng cảm thấy dường như tâm cảnh của cô nàng chẳng được bình tĩnh như những gì đang thể hiện ra ngoài. Hiển nhiên, Đỗ Thải Hà và Kim Đồng, Ngọc Nữ của Kiếm Trì có uyên nguyên gì đó không muốn nói ra.

Cậu chàng lắc đầu, quyết định không tọc mạch vào chuyện của người khác.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 275: Nho Môn Vô Sỉ, Danh Bất Hư Truyền


Đỗ Thải Hà nhờ Song Vô Song dùng lệnh bài thân phận giúp cô nàng tìm kiếm và tiến vào phòng của thượng khách. Song Vô Song mặc dù vẫn lo ngại tam đệ tử của cổ viện gây chuyện, song lại nghĩ tạm tránh mặt đám người của núi Long Hổ cũng không phải là chuyện xấu, bèn đồng ý.

Trà lâu xây ba tầng, mỗi tầng cũng có vài phòng lớn nhỏ. Các phòng đều có khắc trận pháp cách âm đơn giản. Tao nhân mặc khách đến đây có thể tiến vào phòng lớn giao lưu, so tài. Hoặc vào các phòng nhỏ thảo luận, thưởng trà. Mà cấp bậc tôn quý của khách nhân cũng chia theo tầng, phòng của các vị thượng khách ở trên tầng ba.

Do lần này đến không có hẹn trước với ai, nên Song Vô Song dẫn Đỗ Thải Hà lên tầng ba, tiến về phía phòng lớn sang trọng nhất.

Lúc bấy giờ, bên trong phòng lớn, Lam Ba quán chủ cùng không ít các vị đại nho, tiến sĩ, phu tử, học đồ đang tiến hành trao đổi, bình luận văn chương. Thực không hổ danh là phòng thượng khách của trà lầu, người trong phòng ai ai cũng là tai to mặt lớn trong Nho môn, lại không chỉ có người ở Lam Ba thư quán, mà còn cả người từ phương xa đến nữa.

Lúc hai người Đỗ Thải Hà đẩy cửa vào, cả phòng đang sôi nổi bình luận một bài thơ mới sáng tác gần đây, nội dung chính là trận văn đấu giữa Bích Mặc tiên sinh và lục đại viện trưởng. Thế nhưng, những gì được khắc họa trong bài thơ này khác xa với bản Nghiêm lão kể ở thành Đông Thanh, lại cũng hoàn toàn chẳng giống với bản mà dân chúng Quan Lâm kể lại.

Trong bài thơ, sáu viện trưởng văn thơ tuyệt trác, trên cơ Bích Mặc tiên sinh; Nguyễn Đông Thanh “biết không thắng được”, mới định “cá chết lưới rách”, công kích Nho Đạo. Sau đó, bài thơ lại miêu tả các vị viện trưởng lòng đầy thương sinh, đã “mở lượng hải hà”, khiến Bích Mặc tiên sinh “vừa cảm kích, vừa hổ thẹn” mà khôi phục Nho Đạo như cũ.

Song Vô Song vừa bước vào phòng, nghe thấy trong phòng đang bàn về cái gì, suýt thì quyết định túm Đỗ Thải Hà, quay đầu chạy khỏi đây. Quay sang thì thấy cô nàng đang nhếch mép cười khẩy, khiến cậu nhóc rùng mình một cái.

Lại thấy Đỗ Thải Hà vỗ vỗ túi trữ vật. Song Vô Song thầm kêu không ổn, cuống lên muốn nhắc tam đệ tử của cổ viện đừng manh động. Mà lúc này, không chỉ có họ Song, toàn bộ những người khác ở trong phòng cũng đều đang dùng ánh mắt khóa chặt nhất cử nhất động của Đỗ Thải Hà.

Kỳ thực, chân dung của tất cả các thành viên cổ viện đã từ sớm lan truyền Huyền Hoàng giới. Nhất là kể từ sau khi Bích Mặc tiên sinh đánh sập một góc của Nho Đạo và siêu độ hàng loạt vong linh, thì khắp các thể lực lớn, không còn ai chưa nhìn qua dung mạo của thành viên Lão Thụ cổ viện. Mục đích đương nhiên là để biết mà cẩn thận đề phòng, không chủ động đi gây họa. Người ta không những vẽ lại chân dung của Bích Mặc tiên sinh và bốn đệ tử, mà còn vẽ cả Vương Tiểu Thạch, Lý Trầm Châu, Hồng Đô. Thậm chí, cả Bạch Sầu Phi cũng có tranh, đoán chừng là dựa trên trí nhớ của tên cai ngục Cổ Long thiên lao đã bị sưu hồn. Lý Thanh Vân và Tạ Thiên Hoa không bị nhận ra chả qua cũng là do hai người toàn chạy đến mấy vùng khỉ ho cò gáy, hoặc không tiếp xúc với người của các thế lực lớn mà thôi.

Thành thử, Đỗ Thải Hà vừa bước chân vào phòng, thì các vị tai to mặt lớn của Nho môn đều đã nhận ra và chú ý đến cô nàng. Chả qua, bọn họ có lợi thế sân nhà, lại đều là đại nho, phu tử, nếu chỉ vì nàng ta là đệ tử của Bích Mặc tiên sinh mà thất thố, thì cũng quá mất mặt mũi. Lại nói, đám người này đều đã vào Vụ Hải, chả nhẽ lại còn đi run sợ một con bé tam cảnh cỏn con? Không thắng được Bích Mặc tiên sinh, chả lẽ còn có thể bại dưới tay đệ tử của gã? Nhất là nếu Đỗ Thải Hà vì nóng nảy mà ra tay trước, thì bọn họ liền nắm cái lý trong tay, thực là cầu còn không được.

Thế nên, thấy Đỗ Thải Hà sờ đến túi trữ vật là không ít các vị đại nho ngồi trong phòng đã chuẩn bị sẵn sàng, chỉ cần cô nàng lấy ra vũ khí là lập tức trấn áp. Không khí trong phòng vì vậy mà giương cung bạt kiếm, căng thẳng vô cùng. Thế nhưng, đầu sỏ tạo nên cái thế này – Đỗ tiểu thư – thì lại làm như không nhận ra gì khác thường, chỉ lấy từ trong túi ra một tập sách dày, đưa cho Song Vô Song, đoạn nói:

“Nhờ cậu chuẩn bị phân phát cho các vị trong phòng!”

Cô nàng nói giọng bình bình, đều đều, cũng không thể hiện rõ cảm xúc, khiến các vị đại nho, phu tử, tiến sĩ, học đồ trong phòng cau mày: vừa tò mò, lại vừa lo lắng, không rõ trong hồ lô của nàng ta bán thuốc gì. Song Vô Song cầm tập sách, nghi ngờ nhìn Đỗ Thải Hà mấy hơi thở rồi mới xoay người đi tới trước mặt một vị phu tử trong phòng. Nhưng sách chưa kịp đưa thì lại nghe cô nàng nói:

“Ra là các vị viện trưởng khi đó cũng chưa dùng hết sức. Kể cũng phải, gia sư cũng nói, khi ấy chỉ là một cuộc biện luận giao hữu, không nên đánh mất hòa khí. Bản thân lão nhân gia cũng chỉ dùng ba bốn thành sức lực, điểm đến là dừng.”

Câu này vừa nói ra, cả phòng im lặng như tờ, tưởng chừng có thể nghe được cả tiếng giọt trà rơi từ ria mép một vị phu tử xuống trong cốc. Mấy vị phu tử, học đồ từ nơi khác đến, còn đỡ, chứ mấy vị đại nho, tiến sĩ là trưởng lão của Lam Ba thư quán từng theo chân quán chủ và năm vị viện trưởng còn lại đến ải Quan Lâm khi trước thì giờ phút này chỉ hồi tưởng lại tình cảnh Nho đạo lúc ấy thôi mà mồ hôi đã ướt sũng lưng áo.

Người không biết thì chỉ đang cố tự thôi miên rằng Đỗ Thải Hà chắc chắn là đang bốc phét, không lý nào Bích Mặc tiên sinh chưa dùng toàn lực đã có thể đánh sập một góc của Nho Đạo. Vì nếu điều này là sự thật, chả phải nói tiên sinh muốn phá tan Nho Đạo lúc nào cũng được hay sao? Quá kinh khủng!!! Quá đáng sợ!!! Nhất định không thể là sự thật!

Thế nhưng, Lam Ba quán chủ và những người có mặt tại hiện trường lúc đó thì lại tin chắc Đỗ Thải Hà không có nói điêu. Vì khi ấy, sau khi đánh sập một góc của Nho đạo, Bích Mặc tiên sinh thật sự định đọc thêm một bài thơ nữa nếu năm vị viện trưởng còn lại không nhanh miệng ngăn cản. Lại nghe cô nàng nói tiếp:

“Nếu như hai bên đều chưa dùng hết sức, chi bằng hẹn các vị viện trưởng dịp khác lại đến chơi. Tiểu nữ nhất định sẽ chuyển lời các vị đây tới gia sư, để người không cần quá mức khách khí, cứ thả tay mà so tài một phen cho thống khoái!”

Nghe đến đây thì các vị tai to mặt lớn trong phòng cũng tái mặt rồi. Mẹ nó! Chả lẽ hôm nay ra ngoài quên xem hoàng lịch, nên mới chọc phải họa sát thân? Bích Mặc tiên sinh “điểm đến là dừng” còn làm sập một góc Nho đạo, vậy chả phải nói tiên sinh mà “thả tay cho thống khoái” thì ngũ lộ triều thiên từ đây giảm mất một đường hay sao? Dám lắm!

Khốn kiếp! Là tên nào hôm nay quyết định đem bài thơ chết tiệt này ra để bình phẩm? Các vị tiến sĩ, đại nho của Lam Ba thư quán đổ mồ hôi mồ kê ra như tắm, hận không thể một chiêu đánh chết kẻ đã khởi xướng buổi bình thơ ngày hôm nay.

Mà vị phu tử ban nãy đề cập đến bài thơ này đầu tiên thì đang co ro một góc, tận lực giảm thiểu cảm giác tồn tại và sự hiện diện của bản thân trong phòng. Tai bay vạ gió!!! Quả thật là tai bay vạ gió!!! Gã cũng chỉ là gió chiều nào che chiều ấy, hùa theo phong trào của trà lâu khoảng thời gian gần đây thôi mà! Sao tự dưng tai họa lại rớt trúng đầu?! Tên phu tử lấm lét nhìn khắp phòng, cầu mong không ai chú ý đến hắn hay nhớ ra ai đọc bài thơ đầu tiên. Nếu không chỉ sợ hắn sẽ thành con dê tế thần!

Đang lúc các vị tai to mặt lớn trong phòng không biết mở miệng ra sao để hóa giải tràng nguy cơ từ trên trời rơi xuống này mà không làm mất hết mặt mũi, Đỗ Thải Hà bỗng tự đổi chủ đề:

“Thế nhưng, gia sư cũng dạy ‘đánh kẻ chạy đi không ai đánh người chạy lại’, ‘oán hận nên giải không nên kết’. Hôm nay tiểu nữ đến đây làm khách, cũng có chút quà gọi là ‘cây nhà lá vườn’ xin gửi đến các vị.”

Đoạn quay đầu ra dấu cho Song Vô Song bắt đầu đưa sách. Họ Song nãy giờ cũng bị mấy câu nói giật gân của tam đệ tử cổ viện làm cho đứng hình, ngây ngốc đứng đó nhìn nàng ta. Nay nhận được nhắc nhở mới hoàn hồn, liền gật đầu một cái, bắt đầu phân phát sách. Đỗ Thải Hà lúc này mới nói tiếp:

“Mấy cuốn tiểu thuyết này kỳ thực là sở tác tâm đắc của gia sư. Nếu các vị không chê thì xin nhận lấy!”

“Nào dám! Nào dám! Tiểu thư quá lời!”

Các vị tiến sĩ, đại nho, phu tử, học đồ trong phòng đang không biết làm sao xuống thang, nay được Đỗ Thải Hà mở cho một đường lui, nào dám không nhận lấy? Ai nấy đều nhao nhao phụ họa, mượn cơ hội lái chủ đề sang vấn đề khác. Không ít người còn len lén thở phào một hơi, đưa tay áo lên lau mồ hôi trán.

Một số người cũng đã bắt đầu lật mấy cuốn sách được phân phát ra đọc thử. Người vì kiếm việc tự đánh lạc hướng bản thân cho bình tĩnh trở lại, kẻ thì nghĩ cần phải biết sách viết gì thì mới có cái mà khen, mà nịnh. Dù lý do cá nhân không giống nhau, nhưng càng ngày càng nhiều người giở sách ra đọc.

Không đọc thì thôi, đọc rồi ai nấy đều mắt sáng lên, bộ dáng như nhặt được chí bảo. Đỗ Thải Hà đứng ở góc phòng, thấy vậy thì khóe miệng liền cong lên thành nụ cười.

Trong phòng, mọi người đều chăm chú đọc sách, không có ai để ý cử động này của cô nàng, duy chỉ có Song Vô Song nãy giờ một mực quan sát nàng ta là nhìn rõ. Trong bụng y lo lắng khôn xiết, không rõ tam đệ tử của cổ viện lại chuẩn bị ra chiêu gì tiếp theo...
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 276: Nho Môn Lục Nghệ: Cửu Số


Truyền Kỳ Mạn Lục của Nguyễn Dữ tuy là một tác phẩm hiện thực phê phán, nhưng lại sử dụng tư tưởng Nho gia xuyên suốt để thể hiện góc nhìn, suy nghĩ, ước mơ, khát vọng của tác giả về một xã hội tươi đẹp hơn. Thành thử, có đặt ở Huyền Hoàng giới thì nó cũng hoàn toàn có thể tính là chí bảo của Nho môn.

Nhất là trong hoàn cảnh hiện tại, khi mà Nho môn đang quân tử thì ít mà tiểu nhân và Hủ Nho thì nhiều, thì nó lại càng trân quý. Tất nhiên, kể cả đối với chính đám tiểu nhân và Hủ Nho kia, thì độ trân quý của tác phẩm cũng không hề giảm. Bởi lẽ, về hình thức thì Truyền Kỳ Mạn Lục bản chữ Hán cũng không ít hư từ (“chi hồ giả dã”). Chả thế mà trong phòng lúc này ai nấy đều đang lên tiếng tấm tắc khen ngợi.

Lúc này cũng đã có người đọc hết cả quyển sách, chú ý đến bìa sách có ghi “quyển một”, bèn hỏi:

“Đỗ tiểu thư, nếu đây chỉ là quyển một, vậy phải chăng còn quyển hai, quyển ba nữa?”

Đây kỳ thực chính là hiệu quả mà Đỗ Thải Hà mong muốn. Cô nàng vỗ vỗ túi chứa đồ, lấy ra mười cuốn sách. Đoạn đặt tất cả thành chồng ở trên bàn cạnh người, lại đặt một tay đè lên chúng, rồi mới nói:

“Ở đây tiểu nữ có ba bản ghi chép quyển hai, ba bản ghi chép quyển ba, cùng bốn quyển ghi chép vài bài thi từ ca phú của gia sư trong lúc thảnh thơi. Thế nhưng ở đây nhiều người như vậy, sách quý lại vốn nên là ngàn vàng khó cầu. Ở đời có đạo lý ‘có qua có lại’, tin tưởng các vị đại nho, học sĩ ở đây cũng không định lấy không của gia sư chứ?”

“Vậy xin hỏi tiểu thư muốn bán với giá bao nhiêu?”

“50 vạn lượng.”

Nghe con số này thì trong phòng không ít người cau mày. Tuy nói 50 vạn lượng đối với những kẻ ở tầng thứ như bọn họ kỳ thực không nhiều, song bế ngoài Nho môn vẫn luôn tuyên truyền quan lại, quân tử phải liêm khiết, giữ mình, không tham ô th*m nh*ng. Tuy ngay trước khi Hải Thú công thành, đám “tao nhân mặc khách” này vẫn ăn chơi tiêu tiền nhưng đối ngoại vẫn phải tỏ ra bản thân thanh cao, nghèo khó. Nếu bọn họ cứ vậy mà để truyền ra ngoài rằng họ sẵn sàng bỏ ra tận mấy chục vạn lượng bạc mua sách lúc “nước sôi lửa bỏng” này thì thực là không hay. Thành ra, có một vị tiến sĩ lên tiếng:

“Đỗ tiểu thư, cái giá này có chút…”

Đỗ Thải Hà dường như đã lường trước phản ứng của đối phương, lúc này liền ngắt lời:

“Thế nhưng gia sư cũng từng dạy, sách quý nên tặng người có duyên. Hôm nay tiểu nữ gặp các vị ở đây, cũng tính là nửa cái duyên, đây cũng lại là nơi để trao đổi, so tài. Chi bằng chúng ta mở một cuộc so tài giao hữu vì mười quyển sách này?”

“Xin hỏi tiểu thư định so như thế nào?”

“Ở đây tiểu nữ có 100 đề bài gia sư sưu tầm từ cổ tịch. Các vị có thể lựa chọn giải đề, mỗi người giải mười đề. Nếu lựa chọn giải đề, thì giá khởi điểm là 1000 lượng. Hễ ai giải đúng toàn bộ cả mười đề thì có thể chỉ bỏ ra 1000 lượng để mua một cuốn sách. Thế nhưng, hễ đáp sai một đề, thì giá sách lại nhân đôi. Các vị thấy thế nào?”

Các vị thượng khách trong phòng nghe cô nàng nói vậy thì thoáng ngẩn người, sau đó cau mày, âm thầm dùng ánh mắt trao đổi.

Nho môn nổi tiếng xấu bụng, thích dùng ngôn từ bẫy người. Thế nên, các vị tiến sĩ, đại nho, học đồ, phu tử trong phòng kỳ thực cũng đã phát hiện ra cái bẫy trong lời nói của Đỗ Thải Hà. Nhìn qua thì đây là một món lời, chỉ cần bỏ ra 1000 lượng để mua một cuốn sách với giá gốc 50 vạn lượng. Thế nhưng đấy chỉ là trong điều kiện trả lời đúng hết cả mười đề. Nếu sai quá nhiều đề, nhất là nếu sai cả mười, thì cái giá cuối cùng sau khi nhân lên kỳ thực không hề nhỏ, mà vượt xa giá gốc 50 vạn lượng.

Lúc này, trong góc phòng, một vị tiến sĩ của Lam Ba thư quán mấp máy môi, truyền âm cho những người khác:

“Các vị, xem ra tình báo không sai, thứ mà Bích Mặc tiên sinh truyền dạy cho Đỗ Thải Hà có khả năng cao có vài phần tương đồng với cửu số.”

Nho môn lục nghệ gồm Lễ, Nhạc, Xạ, Ngự, Thư, Số. Trong đó, Số dạy về cách tính toán, chính là tiền thân của toán học hiện đại. Môn này bao gồm chín chương, nên còn gọi là Cửu Số. Chín chương của Cửu Số lần lượt là:

Phương điền (đo ruộng): ban đầu gồm các phép tính diện tích hình vuông, hình chữ nhật, về sau có cả tính diện tích hình tròn và các hình khác;

Túc mễ (tính toán việc buôn bán): bao gồm các phép tính về thu thuế, chia tỉ lệ;

Suy phân (phép hỗn hợp quý tiện): gồm các bài toán chia tỉ lệ và quy tắc tam suất;

Thiếu quảng (bình phương và lập phương: như tên gọi, ngoài ra, có các quy tắc khai căn bậc hai, bậc ba;

Thương công (tính về công trình): tập trung các bài toán về ước tính kích thước khi xây dựng, toán thể tích;

Quân thâu (vận phí xa thuyền): gồm các bài toán về tính tổng các cấp số cộng riêng biệt, hay công suất làm việc của thợ với sức lao động khác nhau;

Doanh bất túc (tỉ lệ): gồm đủ các loại bài toán giải phương trình tuyến tính đến hệ phương trình tuyến tính;

Phương trận (phương trình thức): giải hệ năm phương trình tuyến tính, đặt nền móng cho nghiên cứu về ma trận của người châu Á;

Và cuối cùng là câu cổ (phép tam giác): xác định chiều cao, khoảng cách không thể trực tiếp đo đạc bằng các tính chất của tam giác.

Tại Huyền Hoàng giới, người bình thường chỉ chạm được tới da lông của cửu số. Địa chủ có biết một chút về phương điền, quân thâu, cánh thương nhân có sử dụng chút ít túc mễ, thợ xây dựng, kiến trúc có chút kiến thức thương công. Còn đâu cũng chỉ có người của Nho môn đi tìm hiểu sâu xa hơn.

Thành thử, kỳ thực không phải ở Huyền Hoàng giới không có toán học, hay toán học của Huyền Hoàng giới không nghiên cứu sâu rộng như toán học hiện đại ở Địa cầu. Chả qua, dân chúng bình thường thấp cổ bé họng – hoặc thậm chí, người đạo khác không thuộc Nho môn – không có điều kiện tiếp xúc sâu mà thôi.

Chính như Đỗ Thải Hà trước khi được Nguyễn Đông Thanh dạy cho số học, vốn cũng đã hiểu một số quy tắc tính toán đơn giản mà dân gian ai ai cũng biết, nhưng chính cô nàng cũng không biết những điều mình biết ấy nguồn gốc xuất xứ là từ Cửu Số của Nho Đạo. Hay Lâm Phương Dung lần đầu đến cổ viện nghe về số học ngạc nhiên đến á khẩu, trong khi những thứ mà tam đồ đệ của Bích Mặc tiên sinh nói lúc ấy cũng không vượt ra khỏi cơ bản của Cửu Số, kỳ thực cũng là do y thị là phận nữ nhi, lại không phải người của Nho môn, nên vô duyên tiếp xúc với loại kiến thức này mà thôi...

Quay trở lại nói chuyện trong phòng. Nghe được vị tiến sĩ kia truyền âm, một phu tử cũng đáp lại:

“Xem ra đúng lắm. Vậy các vị định thế nào?”

“Điêu trùng tiểu kỹ, bàng môn tả đạo mà thôi. Sao có thể so sánh với Cửu Số bác đại tinh thông của Nho môn chúng ta?”

Một vị đại nho khịt mũi khinh thường. Người này họ Trần, là trưởng lão của Lam Ba thư quán, mà Lam Ba thư quán lại vừa hay chủ tu Số trong Lục Nghệ. Tại trong thư quán, Trần đại nho có thể nói là một trong những người có tìm hiểu sâu xa về Cửu Số hạng nhất nhì. Cũng không rõ đây có phải đơn thuần là trùng hợp, hay có kẻ từ sớm đã động tay chân, cử Đỗ Thải Hà tới đây để thăm dò hư thực về tu luyện của nàng ta.

Đỗ Thải Hà tuy có thể nhận ra người trong phòng đang truyền âm với nhau, song tu vi không đủ, cũng không nghe lén được gì, đành giả vờ như không biết.

Về phần các vị thượng khách trong phòng, tuy ai cũng nhận ra cái bẫy trong lời thách đấu của Đỗ Thải Hà, nhưng đa số lại không nghĩ đề của cô nàng có thể làm khó bọn họ. Dẫu sao, lần trước văn đấu, Bích Mặc tiên sinh cũng chỉ lựa chọn biện chứng và tranh luận chứ không lựa chọn trực tiếp so tài. Tuy về sau một bài phú đánh sập Nho Đạo, một bài thơ khôi phục lại như cũ đã chấn nhiếp quần hùng, song cũng không ai ở đây bởi vậy mà nghĩ đồ đệ của gã có thể tạo ra được bao nhiêu sóng gió.

Sau một hồi, có vẻ như bàn bạc xong, Trần đại nho là người lên tiếng:

“Đỗ tiểu thư, chúng ta chấp nhận thách đấu. Trận đầu để lão phu lĩnh giáo tuyệt học của cổ viện đi.”

“Vậy tiểu nữ xin đọc đề thứ nhất!”

Đỗ Thải Hà từ khi theo học Nguyễn Đông Thanh tới nay, chưa từng gặp ai có chút hiểu biết nào trên phương diện toán học, lại càng chưa nghe về Cửu Số của Nho Đạo. Thành thử, cô nàng có chút kiêu ngạo, khinh địch, bèn lấy đại một đề toán tương đối thông dụng ra. Đề rằng:

“Vừa gà vừa chó, bó lại cho tròn, ba mươi sáu con, một trăm chân chẵn. Hỏi có bao nhiêu con gà, bao nhiêu con chó?”

Đề này là một đề dân gian. Có hai cách giải. Cách thứ nhất là giả sử tất cả là gà hoặc tất cả là chó, nhân với số chân, sau đó lấy hiệu của đáp án với 100 để xác định số chân thừa hoặc thiếu, rồi từ đó đưa ra kết luận về số lượng của hai loài động vật. Cách thứ hai chính là đặt ẩn phụ, rồi giải hệ phương trình. Trong chương trình giáo dục của Việt Nam, cách đầu tiên được giảng cho học sinh cấp tiểu học, cách thứ hai phải đợi đến cấp hai, khi các bạn nhỏ học đến hệ phương trình, mới được dạy. Cả hai cách kỳ thực đều không làm khó được Nho môn. Thế nên, rất nhanh chóng, Trần đại nho đã đưa ra đáp án:

“14 con chó và 22 còn gà.”

Đỗ Thải Hà giật mình, nhưng vẫn chưa phục. Cô nàng liếc mắt nhìn Song Vô Song, ý tưởng chợt lóe, bèn đọc tiếp đề thứ hai:

“Phạt Hải Kiếm Thánh rời Kiếm Trì đi thăm em trai là giá chủ Hàn gia ở Đại Yến. Độ nửa canh giờ sau, Hàn Xuân Phong Hàn gia chủ cũng quyết định rời Đại Yến đi thăm anh trai. Biết Kiếm Thánh ngự Kiếm cần năm canh giờ thì tới Đại Yến, còn Hàn gia chủ cưỡi mây cần tám canh giờ mới có thể đi hết quãng đường.

“Còn biết, khi Kiếm Thánh xuất phát, phải đi ngược chiều gió một canh giờ. Giả sử, cứ mỗi canh giờ trôi qua thì gió lại đổi hướng, khiến Kiếm Thánh và em trai luân phiên đi ngược, xuôi chiều gió. Hỏi hai người sẽ gặp nhau sau bao lâu, tại trên lãnh thổ nước nào?”
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 277: Số Học Đấu Cửu Số (1)


Đề toán Đỗ Thải Hà vừa đọc không những cần tính vận tốc, quãng đường, mà còn cần áp dụng thêm cả kiến thức vật lý về gia tốc cũng như lực cản của gió. Quả thực là không hề đơn giản. Đỗ Thải Hà tuy vẫn không tin Nho môn tài giỏi, song cũng không dám khinh thị như ban đầu nữa, nên mới quyết định ra đề khó như vậy.

Quả nhiên, đề này vừa đọc ra, cả chục cặp mắt trong phòng đều tập trung về nàng ta. Trong ánh mắt giảm đi mấy phần khinh thị, lại tăng mấy phần dè chừng, nghiền ngẫm. Kỳ thực, ban đầu, trong phòng không chỉ Đỗ Thải Hà coi nhẹ Nho Đạo, mà các vị tiến sĩ, học đồ, phu tử, đại nho cũng không coi trọng đối phương. Đề đầu tiên đọc ra, không ít kẻ thở phào, mừng trộm, bụng bảo dạ:

“Bích Mặc tiên sinh xem ra cũng chỉ đến thế!”

Thế nhưng bây giờ, cũng đã có vài kẻ bắt đầu lo lắng. Đáng tiếc, trong đám người đứng ngồi không yên, lại không có Trần trưởng lão của Lam Ba thư quán.

Lão đại nho chỉ thoáng cau mày, đưa tay lên bấm, mồm nhẩm tính một hồi lâu, rồi báo ra đáp án của mình. Mà khi Đỗ Thải Hà nghe được đáp án này, cũng liền phải cau mày.

Đáp án không hoàn toàn giống với tính toán của cô nàng, nhưng sai số không lớn, ở trong khoảng chấp nhận được. Trong điều kiện không có máy tính, chỉ tính nhẩm mà có thể ra được đáp số như vậy, không thể không công nhận Trần đại nho tài giỏi. Nhất là đề lại chỉ hỏi hai người sau bao lâu thì gặp, tại lãnh thổ nước nào, thì đáp án của lão hoàn toàn không thể tính là sai. Thành thử, cô nàng cũng chỉ đành công nhận đáp án kia.

Nghe được nàng ta công nhận đáp án, trong phòng không ít người thở phào nhẹ nhõm. Mà Trần đại nho thì cười tươi như xuân, vô cùng hưởng thụ ánh mắt sùng bái của đồng nghiệp trong phòng. Kỳ thực, đề này Trần trưởng lão cũng nhờ cơ duyên xảo hợp, từng gặp bài tương tự trong bí cảnh, mới làm được. Lần đó, ngoại trừ lão, còn mười chín người khác. Hai chục vị cao thủ Cửu Số cùng nhau hợp sức vượt bí cảnh, vậy mà đến mười lăm vị phải táng mạng dưới nan đề này mới tạo được cơ hội cho năm người còn lại tính ra được đáp số đúng. Trong phòng hiện tại, không có bốn người sống sót kia, nên hiển nhiên ngoại trừ Trần trưởng lão, cũng không có người thứ hai biết cách giải đề. Về phần Đỗ Thải Hà, lúc này cô nàng đang thầm nghĩ:

“Xem ra Nho môn cũng thực có chân tài thực học. Chả trách có thể làm một trong Ngũ Lộ Triều Thiên. Là mình đã khinh địch rồi!”

Nghĩ vậy, Đỗ Thải Hà cũng không dám nhẹ tay thăm dò nữa, mà liền tung chân tài thực học. Vừa rồi cô nàng cũng đã để ý đến sai số nhỏ của Trần đại nho, bèn quyết định sử dụng các đề cho phép sai số nhỏ hơn, như vậy có thể giảm bớt phần nào khả năng đối phương may mắn đáp trúng. Thế nên, đề thứ ba cô nàng chọn là một đề đạo hàm. Đề rằng:

“Có một đoàn quân hộ tống nạn dân qua một vùng nguy hiểm. Mỗi lần có thể giúp tối đa 60 người. Biết giá tiền mỗi người phải trả đoàn hộ tống bằng 3 trừ đi số khách chia cho 40, tất cả bình phương (1). Hỏi mỗi lần vận chuyển bao nhiêu nạn dân thì thu được tổng số tiền lớn nhất, và số tiền thu được này là bao nhiêu?”

[1: Tức là (3-(x/40))^2, vì đây là Hà diễn đạt cho các đại nho hiểu được nên hơi lòng vòng tí]

Trần đại nho toan trả lời:

“Chả phải cứ hộ tống tối đa 60 người thì lợi nhuận sẽ lớn nhất sao?”

Song, lão ngày lúc đó lại nghĩ, có thể lời của Đỗ Thải Hà có bẫy, bèn cẩn thận suy tính một phen. Sau một hồi suy ngẫm, lão chuyển sang ngờ vực bẫy của tam đồ đệ cổ viện chính là muốn lão nghĩ có bẫy nên không dám chọn phướng án đơn giản nhất. Theo như lão thấy, giá tiền thu được từ mỗi người có vẻ giảm dần khi lượng người tăng dần, song còn phải xét đến việc thu nhập cuối cùng là tích của số người và số tiền mỗi người phải trả nữa.

Suy đi tính lại, Trần đại nho bắt đầu thử thay số vào phương trình tính phí. Tính được lần lượt thứ nhập trong các trường hợp từ 1 đến 35 khách thì họ Trần đã bắt đầu váng cả đầu, nhưng lại cũng nhận ra số tiền có vẻ tăng dần. Thế là, lão liền khẳng định Đỗ Thải Hà cố tình lừa lão, và mạnh dạn đưa ra đáp án là 60 người, mỗi người phải trả 2.25 lượng bạc, tổng phí là 135 lượng bạc.

Đỗ Thải Hà nở nụ cười. Đáp án này sai! Đáp án đúng phải là 40 người, mỗi người trả 4 lượng bạc, tổng tiền là 160 lượng bạc. Sau khi nàng ta công bố đáp án này và cho các vị thượng khách trong phòng thời gian để thay số vào tính toán, ai nấy đều mặt xám xịt như nuốt phải con ruồi. Đặc biệt là Trần trường lão thì càng hận thối cả ruột. Ban nãy, nếu lão ta chỉ cần kiên nhẫn thử thêm 6-7 con số nữa thì có lẽ đã phát hiện ra tổng thu nhập thế mà chỉ tăng dẫn đến 40, sau đó lại giảm dần xuống. Thế nhưng, lão rất nhanh tự an ủi bản thân, rằng Đỗ Thải Hà chả qua là ăn may được một lần, dùng mánh khóe để lừa lão ta mà thôi.

Cuộc thi lại tiếp diễn. Lúc này, do đã có kinh nghiệm từ ba câu trước, nên bảy câu tiếp theo, Đỗ Thải Hà dùng hoàn toàn là đề đạo hàm, tích phân, thỉnh thoảng có vài câu chỉnh hợp, tổ hợp, và toán gia tốc khó hơn đề ban nãy. Trần trưởng lão của Lam Ba thư quán giờ đây không còn may mắn như khi trước nữa, sai liên tục các câu. Càng sai nhiều lão ta càng mất mặt, càng lo lắng, mất tập trung, rồi vì vậy mà càng dễ sai sót trong tính toán hơn. Cuối cùng, ngoại trừ hai câu đầu trả lời đúng ra, toàn bộ tám câu còn lại họ Trần đều trả lời sai.

Trần đại nho chật vật mà trả ra 25 vạn 6 ngàn lượng, mua được một quyển sách về. Tuy vẫn là giá khá cao, song tính ra thì cũng vẫn là giảm gần một nửa so với giá gốc 50 vạn Đỗ Thải Hà báo ra, cũng coi như an ủi phần nào.

Sau đó, một vị tiến sĩ họ Lê trong phòng tiến lên thi đấu. Vì có kinh nghiệm đấu với Trần trưởng lão của Lam Ba thư quán mới rồi, lần này cả mười đề Đỗ Thải Hà sử dụng đều là các dạng toán học cao cấp. Không đạo hàm thì tích phân, không tích phân thì cũng các loại toán gia tốc tức thời, dễ nhất chắc cũng chỉ có chỉnh hợp, tổ hợp, nhưng thường cô nàng lại xen thêm một chút xác suất thống kê vào các bài “dễ” này.

Thậm chí, có một câu, cô nàng gần như dùng lại đề đạo hàm ban nãy đã đố Trần trưởng lão, chỉ thay công thức tính phí mỗi người phải trả thành (30-5x/2)^2. Lê tiến sĩ đáp là 40 người, lại không ngờ rằng đáp án của đề này lại là 60 người.

Thế là cuối cùng, vị tiến sĩ họ Lê xấu số kia sai cả mười câu, không những không giảm được giá, mà còn phải trả gấp đôi giá tiền, bỏ ra hơn 102 vạn mua về một cuốn sách.

Kế tiếp, lần lượt hai lão phu tử họ Đông Phương và họ Trương lên thi đấu, nhưng cuối cùng không may mắn hơn Lê tiến sĩ chút nào, thất bại hoàn toàn, cả hai đều phải bỏ ra 102 vạn mua sách.

Sau thất bại của Trần đại nho, Lê tiến sĩ, và hai lão phu tử họ Trương và Đông Phương, những người khác trong phòng cũng có phần ngại ngùng, sợ sệt. Dù sao, cũng chẳng có ai muốn tiến lên chỉ để mất mặt. Lúc này, Lam Ba quán chủ chợt lên tiếng:

“Đỗ tiểu thư, các đề của Bích Mặc tiên sinh quả nhiên là trác tuyệt! Tại hạ tin mọi người ở đây đều đã biết tiên sinh là bậc đại trí, cũng chỉ đành cam bái hạ phong. Thế nhưng, nếu nói đến so tài, thì thế này cũng chẳng thể tính là tiểu thư cùng chúng ta so tài, tiểu thư nói có đúng không?”

Ý tứ cậy già lên mặt rất rõ ràng: Đề của nhà ngươi là lấy từ Bích Mặc tiên sinh, chúng ta tuy thua nhưng cũng là thua sư phụ ngươi, chứ không phải thua con nhóc vắt mũi chưa sạch nhà ngươi.

Trong phòng không thiếu kẻ ngày bình thường nhìn Lam Ba quán chủ không vừa mắt, hay chửi hắn dựa vào quan hệ mà lên chức, không có chân tài thực học, chỉ giỏi cáo mượn oai hùm, cậy già lên mặt, nghe được câu này cũng thầm rủa hắn là “chó chê mèo lắm lông”. Thế nhưng, lúc này là lúc hợp sức chống kẻ thù chung, lời này không thể nói ra. Lại nói, “chó chê mèo lắm lông” cũng được, dù sao cũng phải cám ơn Lam Ba quán chủ: May mà có hắn ở đây để nói ra một câu như vậy, vớt vát lại mặt mũi cho Nho môn.

Đỗ Thải Hà nghe vậy thì thoáng ngạc nhiên, song rất nhanh cười khẩy, đáp:

“Quán chủ nói đúng lắm. đấu tiếp thế này tiểu nữ có thắng cũng không võ. Vậy thì hay là thế này đi, chúng ta đổi phương thức so tài một chút. Các vị ai thách đấu thì liền có thể ra đề cho tiểu nữ giải. Chỉ cần tiểu nữ sai dù chỉ một câu, sách liền biếu luôn cho người thách đấu. Nhược bằng tiểu nữ trả lời đúng cả mười câu, thì mỗi câu đúng, giá sách liền nhân đôi. Giá khởi điểm vẫn là 1000 lượng. Lần này các vị không còn ý kiến gì nữa chứ?”

“Cuồng vọng!”

Có người trong phòng không nhịn được quát.

Tuy bốn người Lê tiến sĩ đều đã thua trước Đỗ Thải Hà, song đúng như Lam Ba quán chủ nói, không ai trong phòng nguyện tin tưởng đây là bản lĩnh thật sự của cô nàng cả. Tất cả các vị thượng khách chỉ cho đây là bản lãnh của Nguyễn Đông Thanh, còn Đỗ Thải Hà chả qua là cáo mượn oai hùm, có cơ hội tiếp xúc với các đề bài khó này trước họ mà thôi.

Nhất là Trần đại nho. Theo như lão ta nghĩ, nếu cho lão ta thêm thời gian, chắc chắn có thể hiểu rõ các đề này hơn Đỗ Thải Hà. Thành thử, lão thua mà không phục. Những người khác trong phòng tuy không có tự tin này của lão, song cũng không cho là một con nhãi như Đỗ Thải Hà thật sự có thể hơn được bọn họ nếu chỉ dựa vào bản lĩnh cá nhân mà không dựa hơi Bích Mặc tiên sinh. Thành ra, khi nghe cô nàng nói ra lời “cuồng ngạo” như vậy thì vô cùng tức giận.

Đỗ Thải Hà chỉ khẽ cười:

“Có cuồng vọng hay không chả phải cứ đấu thì sẽ biết sao?”

“Được, đã vậy thì để lão phu cho con nhóc nhà ngươi biết thế về bác đại tinh thâm của Cửu Số!”

Người lên tiếng là phó quán chủ của Lam Ba thư quán, cũng là anh họ của Trần đại nho khi nãy. Lão họ Trần, tên Dần, tự là Dự Chi.

Lời biên tập: mười mấy năm không phải giải đạo hàm, tích phân, vi phân rồi, xác suất thống kê thì cũng phải thi đến mấy lần mới qua môn (mặc dù chủ yếu hồi ấy là tại phải thi bằng chương trình cụ thể trên máy lại ko nhớ hết các câu lệnh nên mới fail chứ chính ra mảng kiến thức lại ko sợ lắm), nên viết chương này tí thì khóc thét. Nếu có sơ sót gì trong mấy chương đoạn này thì mong bà con bỏ qua cho... Ngoài ra thì do ko đủ thông tin về Cửu Số cũng như những gì có thể và không thể tính được chỉ dùng kiến thức Cửu Số, nên anh em tự hiểu là Cửu Số của Huyền Hoàng giới có thể không giống với Cửu Số của Địa Cầu nhá.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 278: Số Học Đấu Cửu Số (2)


Kỳ thực, Đỗ Thải Hà cũng không cuồng ngạo như nàng ta thể hiện ra. Lý do thật sự cô nàng đưa ra lời thách đấu như vừa rồi là do tò mò về bản lĩnh thật sự của Nho môn cũng như bộ môn có nhiều điểm tương đồng với Số học mà sư phụ dạy.

Sau khi đấu với bốn người Trần đại nho, Đỗ Thải Hà cũng đã nhận ra Nho đạo tu hành hẳn có một con đường khá giống với Số học. Thậm chí, nàng ta hoài nghi, liệu môn Cửu Số trong miệng phó quán chủ Lam Ba thư quán kia, có lẽ nào có chung nguồn gốc với Số học mà Nguyễn Đông Thanh dạy hay không. Chính vì vậy mới tương kế tựu kế, mượn cơ hội để tìm hiểu thêm địch tình.

Nhiệm vụ của Đỗ Thải Hà là lan truyền “sở tác của sư phụ” ra ngoài, việc cô nàng tranh thủ kiếm thêm đồng ra đồng vào làm sinh hoạt phí cho cổ viện hoàn toàn chỉ là tiện tay. Lại nói, “thất phu vô tội, hoài bích kỳ tội”. Mang nhiều tiền trong người mà không có bản lãnh tương xứng, kỳ thực chỉ tăng thêm nguy hiểm cho chính mình mà thôi. Thành thử, sau khi thắng được bốn người Lê tiến sĩ, Đỗ Thải Hà đã tương đối hài lòng. Tiếp theo đó, có thắng thêm được hay không kỳ thực đối với nàng ta không còn quan trọng. Dẫu sao, cô nàng cũng không có ý định giữ toàn bộ số tiền kiếm được hôm này mà đang chuẩn bị ném “củ khoai lang nóng bỏng tay” này cho người khác cầm. Nếu đã vậy, tội gì không hống hách một phen, triệt để khiêu khích cho đối phương giở hết chân tài thực học ra, cho bản thân dễ bề thăm dò tìm hiểu?

Dù gì, Nho môn cũng cổ viện sợ là tương lai sẽ còn có xích mích. Nên nếu chân tài thực học của Nho môn có thể làm khó được cô nàng bây giờ, thì sớm thua trận nhỏ để biết đường mà tìm hiểu thêm về đối phương cũng còn hơn là sau này không có chuẩn bị mà thua trận lớn hơn. Tất nhiên, nếu có thể tiếp tục thắng, nàng ta cũng sẽ không ngại tuyên cáo cho toàn Huyền Hoàng giới, ánh mắt chọn đồ đệ của Bích Mặc tiên sinh không kém!

Mà Đỗ Thải Hà phỏng đoán cũng không quá xa vời với thực tế: Số học hiện đại mà nàng ta được dạy có thể tính là bản đầy đủ hơn của Cửu Số, với một số khác biệt cơ bản.

Khác biệt đầu tiên và cũng là rõ ràng nhất, chính là bản thân hệ thống chữ số Ả-rập và ký hiệu toán học (còn gọi ngắn là “dấu”). Riêng cái khác biệt này thôi đã là sự biến đổi rõ ràng trong việc tiết kiệm thời gian và không gian cho tính toán rồi. Trước khi sử dụng chữ số Ả-rập và các dấu phép toán, cần quá nhiều giấy để diễn đạt các phép tính đơn giản, lại dễ xảy ra sai sót.

Khác biệt lớn thứ hai, có lẽ phải nói đến khái niệm số âm, và khái niệm vô cực. Cửu Số của Huyền Hoàng giới chưa có hai khái niệm này, còn trong Số học Nguyễn Đông Thanh dạy cho Đỗ Thải Hà, thì đây lại là một trong những khái niệm cơ bản, nền móng nhất. Mà bởi vậy, có thể tưởng tượng, khi đi sâu hơn vào các kiến thức, phương trình sau này, khác biệt cơ bản này sẽ tạo ra hiệu ứng dây chuyền, làm nền cho nhiều khác biệt mang tính hệ thống khác.

Khác biệt cơ bản cuối cùng, có lẽ phải kể đến đồ thị hàm số. Cửu Số ở Huyền Hoàng giới chưa sử dụng đến đồ thị để hình dung hàm số, còn Số học hiện đại mà Đỗ Thải Hà được học, thì lại nghiên cứu về đồ thị từ rất sớm. Thậm chí, sử dụng đồ thị để hình dung, tìm nghiệm cho phương trình.

Mà chỉ vì ba khác biệt cơ bản này, mà đi lên cao hơn, Cửu Số lại có càng nhiều thiếu sót.

Tỉ như, tuy cửu số cũng có khái niệm về bình phương, lập phương, nhưng lại chỉ có phương trình tuyến tính mà chưa có phương trình bậc hai, bậc ba, hay khái niệm nghiệm âm, cũng không biết đến đồ thị của hàm bậc hai, bậc ba. Đây kỳ thực chính là lý do tại sao Trần đại nho ban nãy phải ngồi thử thay số lần lượt từ 1 đến 35 vào phương trình lệ phí, mà không đoán được đồ thị hàm số sẽ có chỗ vòng xuống. Dẫu sao, tư duy của con người chúng ta vẫn luôn bị giới hạn bởi những kiến thức mà mỗi người được biết, được học. Và chỉ có những bậc anh tài mới có thể tư duy vượt thời đại.

Thành thử, tất cả những điều mà mỗi người hiện đại coi là kiến thức phổ thông, coi là ai cũng biết thì tại một điểm nào đó ở trong quá khứ đều từng là những phát kiến vĩ đại. Học sinh hiện đại ai cũng biết dùng định lý Pytago để tính cạnh tam giác vuông, nhưng trước Pytago, định lý này cũng không tồn tại. Thậm chí, Einstein hay Galileo còn từng bị chửi bới, tẩy chay rất nhiều khi đưa ra các lý luận khác với kiến thức chung của thời đại, nhưng những điều họ nói ngày ấy hôm nay đều được coi là thường thức.

Thế nên, kỳ thực cũng không phải là Nguyễn Đông Thanh hay Đỗ Thải Hà tài giỏi hơn nhân tài của Nho Đạo Huyền Hoàng giới, mà nói cho chính xác thì số học hiện đại đầy đủ, tinh hoa, và có tích lũy lớn hơn Cửu Số. Tất nhiên, đây là nói về bản chất vấn đề, còn biểu hiện bề ngoài và điều mà người của Huyền Hoàng giới sẽ nghĩ về trận đấu giữa Đỗ Thải Hà và các vị thượng khách của Lam Ba trà lâu thì lại là chuyện khác.

Hiện tại kể đến Trần Dự Chi, phó quán chủ của Lam Ba thư quán, thách đấu Đỗ Thải Hà.

Họ Trần đọc đề đầu tiên:

“Có chín đồng tiền cùng mệnh giá, tám đồng là thật, một đồng là giả, cùng một cán cân. Biết tiền giả nhẹ hơn tiền thật, hỏi cần cân bao nhiêu lần để tìm ra đồng tiền giả?”

“Hai lần. Chia chín đồng tiền ra thành ba nhóm, mỗi nhóm ba đồng. Cân hai nhóm bất kỳ, nếu cán cân thăng bằng, thì tiền giả nằm trong nhóm còn chưa cân. Ngược lại, nếu cán cân lệch về một bên thì tiền giả nằm ở bên nhẹ hơn.

“Lại tiếp tục lấy hai đồng bất kỳ trong nhóm đã xác định có tiền giả đem lên cân. Như trước, nếu cán cân cân bằng, thì đồng tiền giả là đồng cuối cùng chưa cân, còn nếu cân lệch về một bên, thì tiền giả chính là đồng nhẹ hơn trong hai đồng đang cân.”

Trần Dần hừ lạnh một tiếng, song không thể không công nhận đáp án của Đỗ Thải Hà. Lão ta lại hỏi:

“Có một con voi. Làm sao để biết cân nặng của nó nếu không dùng thần thông, không đi tìm người của Hàn gia trợ giúp, cũng không cho giết hay cắt nhỏ.”

Đỗ Thải Hà nghe đề này thì thoáng giật mình. Đề bài này cô nàng đã được đọc trong sách của sư phụ. Trong sách nói, đề này cuối cùng là Trạng Lường Lương Thế Vinh giải được. Thế nhưng, trong lịch sử của Huyền Hoàng giới, chưa nghe qua từng tồn tại Trạng Nguyên nào có tên như vậy. Thành thử, lúc này cô nàng hoàn toàn tin tưởng việc mình đang so đấu với người của Nho môn hẳn cũng nằm trong tính toán của sư phụ, thầm nghĩ:

“Chắc chắn sư phụ muốn mượn tay Nho môn nhắc nhở mình không thể chỉ vì là đồ đệ của người mà có thể kiêu căng, khinh địch!”

Còn về tại sao Trần phó quán chủ phải thêm giới hạn không cho dùng thần thông hay tìm đến Hàn gia ở Đại Yến nhờ trợ giúp, thì cũng là do lịch sử Huyền Hoàng giới khác biệt Địa cầu. Ở Huyền Hoàng giới không có Lương Thế Vinh, nhưng lại có một Hàn gia siêu quần bạt tụy trong chế tác đồ vật.

Tương truyền, hơn hai ngàn năm trước, sứ thần Đại Thục từng đem đề toán này làm khó Đại Yến. Đề khi đó chỉ cấm cắt nhỏ con voi ra mà thôi, nên cuối cùng bị Hàn gia chủ đời đó giải được, bằng cách... xây dựng một cái cân khổng lồ có thể cân nguyên một con voi. Chuyện này khi ấy đã trở thành truyền kỳ. Về sau, một vị Đại Nho tu Cửu Số lại dựa trên cái cân khổng lồ của Hàn gia chế tác mà sáng tạo ra Thần thông Cân Voi, chuyên dùng để cân đo đong đếm các vật nặng ngoại cỡ, trong chiến đấu cũng có thể dùng để rời núi lấp bể. Thành ra, hai cách duy nhất để giải đề này tại Huyền Hoàng giới tại thời điểm hiện tại, chính là hai cách Trần lão đầu cấm Đỗ Thải Hà sử dụng.

Trần Dần vốn đang chắc mẩm Đỗ Thải Hà không thể nào giải được đề thì đã nghe cô nàng đáp:

“Dẫn con voi lên một chiếc thuyền lớn trôi nổi trên mặt nước, rồi đánh dấu lại vị trí mặt nước bên ngoài thân thuyền. Sau đó, dẫn con voi trở lại đất liền, kế tiếp chất đá lên thuyền cho tới khi thuyền chìm lại xuống bằng vị trí đánh dấu khi trước. Cuối cùng, chỉ cần cân từng tảng đá rồi cộng tất cả lại là sẽ được cân nặng của con voi.”

Lời này vừa nói ra, thực không khác gì điểm tỉnh người trong mộng. Nụ cười của Trần Dự Chi cứng lại trên mặt lão, mà các vị thượng khách khác trong phòng mặt cũng nghệt ra. Cách này bảo khó thì không hề khó, nó thậm chí quá đơn giản khiến người ta nghe xong chỉ hận sao bản thân không nghĩ ra. Song, có lẽ đúng như Nguyễn Đông Thanh từng suy đoán, ở thế giới của người tu hành, tư duy thường sẽ suy xét với khả năng của tu luyện giả, chứ liệu sẽ có mấy người nghĩ theo hướng để phàm nhân ai cũng làm được? Chả thế mà Bích Mặc tiên sinh của chúng ta mới thu hút không ít sự chú ý khi mỗi một “phát minh” mới đều có vẻ như xoay quanh người phàm.

Lúc này, vài người trong phòng không nhịn được mà phải khen hay. Thế nhưng, đại đa số các vị đại nho, tiến sĩ, học đồ, phu tử vẫn nhìn Đỗ Thải Hà bằng ánh mắt bất thiện. Nhiều người còn ai oán lườm Trần phó quán chủ, như muốn nói:

“Làm ăn kiểu gì vậy? Mất mặt!”

Trần Dần bị nhìn như vậy thì cũng thẹn quá hóa giận, tằng hắng một cái, tiếp tục ra đề.

Đáng tiếc, mặc cho lão vận dụng phương điền, túc mễ hay suy phân, thương công, quân thâu hay thiếu quảng, câu cổ, Đỗ Thải Hà đều trả lời vanh vách, không dừng lấy một nhịp. Thậm chí, đến khi lão vận dụng cả doanh bất túc và phương trận, ra một đề hệ năm phương trình tuyến tính mà bản thân lão cũng phải tốn không ít công phu mới giải được, thì Đỗ Thải Hà cũng chỉ hơi nhíu mày, kế đó lấy giấy bút ra vẽ loằng ngoằng một hồi như vẽ bùa, rồi đưa ra đáp án chính xác...

Trần phó quán chủ sao có thể ngờ, do đề của lão không giới hạn cách giải, cũng không hề yêu cầu cô nàng phải giải thích, nên Đỗ Thải Hà bèn dùng luôn đồ thị hàm số để tìm nghiệm cho đỡ tốn công tính toán?

Thế là, trận so tài thứ năm cứ như thế kết thúc, với tam đồ đệ của cổ viện toàn thắng.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 279: Niềm Vui Bất Ngờ


Sau một trận thua thảm và bốn trận bại hoàn toàn, các vị Nho môn thượng khách trong phòng đã chẳng còn muốn đấu nữa. Trần Dự Chi không phải kẻ tầm thường. Ít nhất, trong phòng không ai dám tự tin có thể ra đề khó hơn lão. Lão đã bại hoàn toàn như vậy, nào có ai còn muốn tự rước lấy nhục vào thân để rồi tiền mất tật mang?

Ngược lại, vì là bên thắng lớn, nên Đỗ Thải Hà đã thu được cả thảy hơn 430 vạn lượng bạc. Thế mới thấy, nàng ta quả thực có đầu óc kinh doanh. Cứ nhìn vào việc cả bốn đệ tử của cổ viện đều được giao nhiệm vụ giống nhau, nhưng chỉ có mỗi Đỗ tiểu thư tranh thủ kiếm bộn tiền là rõ.

Và đây đương nhiên cũng không phải lần đầu tiên Đỗ Thải Hà ra kế kiếm thêm thu nhập cho cổ viện hay là lần cuối cùng. Khi trước, Nguyễn Đông Thanh “sáng tạo” ra cặp lồng cơm, tuy Trương Mặc Sênh là kẻ nhìn thấy giá trị kinh tế của nó đầu tiên, nhưng kế hoạch cụ thể cuối cùng và phương thức thu lãi về đã có cô nàng nhúng tay. Tất nhiên, cũng phải dựa vào tài ăn nói và diễn xuất của Tiểu Thực Thần để kế hoạch diễn ra trót lọt. Còn về sau, khi cổ viện có đầy đủ tám vị đệ tử, Đỗ Thải Hà sẽ làm người cầm đầu tổ bốn người, chuyên phụ trách kinh doanh, kiếm sinh hoạt phí cho cả nhóm. Nhưng đó là chuyện sau này.

Ngay lúc này, các vị thượng khách trong phòng đã đang bắt đầu tìm lý do thoái thác, lấy cớ để rời đi. Lý do đột nhiên rất nhiều. Nào là “ta cần về phơi bức họa tiên đế ngự ban”, nào là “ta ra ngoài quên chưa khóa cửa”, nào là “hôm nay lục phòng của ta đẻ”,.v..v... Thậm chí, hình như có vị còn lấy lý do dạng “con chó nhà mình chửa đẻ” hay “quên chưa thu quần áo phơi ngoài sân”, “quên chưa tắt bếp”...

Còn liệu mấy hôm sau, các vị này có đối ngoại nói mấy câu như “chả qua nhà có việc đột xuất, tiếc hận không thể tiếp tục so tài”, hay tự sướng với nhau rằng bản thân khi ấy đã “đọc vị, nắm rõ được Đỗ Thải Hà, nếu đấu tiếp nhất định có thể khắc chế nàng ta, chuyển bại thành thắng” hay không lại là chuyện khác.

Nói đi cũng phải nói lại. Tuy Nho môn so tài thua thiệt, hành xử cũng chẳng đẹp đẽ gì cho cam, song chọn sách để mua lại rất có chiến lược. Trong năm vị bỏ tiền mua sách, có Trần đại nho và Lê tiến sĩ lần lượt mua tập hai và ba của Truyền Kỳ Mạn Lục, còn ba vị còn lại thì đều lấy tuyển tập thơ ca “của” Bích Mặc tiên sinh. Tính thêm cả tập một được tặng không từ đầu, thì sau một cuộc mua bán, Nho môn đã cầm được toàn bộ Truyền Kỳ Mạn Lục cùng ba tập thơ. Ngoại trừ nuốt không trôi cục tức, thì tính ra cũng không lỗ gì. Dẫu sao, đối với đám tao nhân mặc khách này thì mấy trăm vạn lượng bạc cũng không tính là lớn.

Tất cả lục tục ra về, khiến Song Vô Song cũng phải á khẩu. Cậu chàng hiển nhiên cũng nhìn ra Nho môn đây là cúp đuôi mà chạy, nên liền có hảo ý mà nhắc nhở Đỗ Thải Hà cẩn thận trọng thời gian tới. Tuy hôm nay cô nàng xử lý ổn thỏa, khiến đối phương không tiện lập tức phát tác, song với tính nhỏ mọn của Nho môn, mất tiền mất mặt như vậy, không kiếm cớ tìm cô nàng tính sổ mới là lạ.

Đỗ Thải Hà gật đầu cảm ơn, đoạn nói:

“Được rồi. Bây giờ cậu dẫn tôi đi gặp quan trưởng quản quân khố một chuyến.”

Song Vô Song còn chưa hiểu ý, chỉ nghĩ Đỗ Thải Hà muốn bái phỏng “cấp trên” thôi, bèn nói:

“Cô dù sao cũng là quan quản khố, đi gặp mặt bái phỏng quan trên cũng là phải. Chỉ là, cũng không cần đi ngay hôm nay.”

“Cũng không đơn thuần là bái phỏng, tôi có tiền cần xung công quỹ!”

Đỗ Thải Hà vừa cười nói, vừa giơ đống ngân phiếu tổng trị giá hơn bốn trăm vạn lượng lên huơ huơ trước mặt Song Vô Song, sau đó mới cất chúng vào túi chứa đồ.

Sau một chuyến đi quân khố, trên người Đỗ Thải Hà chỉ còn dư lại trên dưới mười lăm vạn lượng bạc, còn lại toàn bộ hơn bốn trăm vạn đã giao nộp vào công quỹ dưới danh nghĩa tiền để chống Hải Thú. Hành động này của cô nàng rất được lòng quan trên, được tuyên dương, quảng bá khắp quân, vừa hay chính là hiệu quả mà nàng ta mong muốn. Tuy cũng chả rõ bao nhiêu trong đó thực sự sẽ được dùng để giúp dân, bao nhiêu sẽ vào túi quan trên, thế nhưng ít nhất Nho môn sẽ không thể chỉ vào khoản tiền này mà mượn cớ, dùng giọng điệu xuyên tạc nói cô nàng nhân lúc Hải Thú ngấp nghé mà tự tư tự lợi, lấp đầy túi riêng được. Còn nàng ta cũng đỡ phải lo lắng vì cầm quá nhiều tiền trên người mà trở thành cái bia ngắm biết đi.

Mấy ngày tiếp đó, Đỗ Thải Hà gần như cũng chỉ lòng vòng ở quán trọ, thi thoảng dạo phố một chút, dăm ba hôm lại chạy qua quân khố một lần để kiểm kê hay lo các thủ tục xuất nhập hàng. Nói chung thì là không có việc gì lớn.

Một hôm, cô nàng vừa mới nhập hàng xong, đang trên đường về quán trọ thì bất ngờ bắt gặp Song Vô Song đi cùng một người mà nàng ta hoàn toàn không ngờ có thể gặp lại sớm như vậy, lại còn ở chốn này...

oOo

Tiểu Thực Thần mấy hôm nay lĩnh ngộ sâu sắc câu nói “họa phúc khó lường”!

Vốn theo kế hoạch ban đầu, cậu chàng ở Lệ Chi Tiểu Uyển chờ quân Đại Việt sẵn sàng sẽ cùng hành quân đến Đại Hoàng. Thế rồi, một ngày đẹp trời, bỗng nghe được tin tam sư tỷ bị bắt giam, vụ án lại cũng có liên quan đến quỷ đói. Chả hiểu ma xui quỷ khiến thế nào, Lê Khuynh Thành xâu chuỗi các sự kiện gần đây, rồi khẳng định như đinh đóng cột, sư phụ cậu chàng hẳn là muốn sắp xếp cho cậu ta đến hội họp với Đỗ Thải Hà. Trương Mặc Sênh không cho là vậy, nhưng lại cũng có vài phần tư tâm. Y muốn gặp Phùng Thanh La, lại biết sư tỷ được phái đi Đại Hàn, còn được cả người Kiếm Trì đến đón, thế là cũng mặc cho Lê Khuynh Thành tiếp tục nghĩ theo hướng kia.

Quả nhiên, sau mấy hôm, Thái tử Đại Việt sử dụng đặc quyền, sửa lại phân phó của Tiểu Thực Thần, cử cậu ta đi Đại Hàn thay vì Đại Hoàng. Trương Mặc Sênh lúc ấy còn mừng quýnh, ngày nhớ đêm mong, chỉ hận không thể lập tức đi Đại Hàn, đến ngủ cũng mơ thấy viễn cảnh gặp lại người trong lòng, cho nàng ta một niềm vui bất ngờ. Nào có ngờ, người tính không bằng trời tính, Phùng Thanh La cũng có suy nghĩ y hệt họ Trương. Cô nàng sau khi biết phân phó ban đầu của Trương Mặc Sênh, cũng nằng nặc đòi theo sư phụ đi Đại Hoàng, muốn cho ý trung nhân một cái kinh hỉ. Thế là, vì hai người cùng muốn ở bên nhau, cùng muốn cho nhau kinh hỉ, nên kết quả là lại tiếp tục dị địa luyến, chỉ có thể gửi gắm lời yêu thương cho nhau qua Uyên Ương Bội...

Mà mãi cho tới khi Trương Mặc Sênh làm xong thủ tục báo danh, tí tởn chạy đến trại của đệ tử Kiếm Trì mới hay biết sự thực tàn khốc này. Quân lệnh như núi, cả hai lại đều đã báo danh, không còn cách nào thay đổi vị trí lần nữa, chỉ có thể nhận mệnh. Tiểu Thực Thần khi mới chạy đến còn đang tươi roi rói, biết tin xong đã ỉu xìu xìu. Song Vô Song thấy vậy, vừa buồn cười, vừa thấy tội nghiệp, liền dẫn cậu chàng đi gặp Đỗ Thải Hà. Còn Hàn Ngọc Sương thì lại bôn ba một chuyến lên phủ thành chủ, xem xét việc thu xếp cho Trương Mặc Sênh.

Ba người về phòng ăn của quán trọ ngồi nói chuyện. Đỗ Thải Hà nghe Song Vô Song kể tình hình xong thì ôm bụng cười ngặt nghẽo. Tiểu Thực Thần đang nẫu hết cả ruột, lại gặp phải sư tỷ cười trên nỗi đau của mình, bèn quay mặt đi, hứ một tiếng:

“Tiểu đệ đang bực cả mình mà sư tỷ còn cười được, lần sau đừng hỏi thằng này xin trà sữa!”

Tam đồ đệ của cổ viện lúc này mới nín cười, vỗ vỗ vai sư đệ, nói sang chuyện khác:

“Được rồi, chị không cười nữa. Thế chú mày ở chỗ thái tử mấy bữa có nghe được tin gì mới đáng chú ý không?”

Trương Mặc Sênh nghe vậy thì hừ một tiếng, rồi mới đáp:

“Cũng có vài chuyện đấy...”

Đoạn, cậu chàng bắt đầu kể vắn tắt lại chuyện mình bị quỷ đói tính kế ở Lệ Chi Tiểu Uyển. Đương nhiên, Tiểu Thực Thần tạm thời giữ bí mật về thân phận thật của Lê Tam Thành, chỉ nói là bị gài bẫy khiến có chút hiểu lầm, vì vậy mà xích mích với thái tử, nhưng sau đã giải quyết. Đỗ Thải Hà cùng Song Vô Song nghe chuyện Trương Mặc Sênh cũng bị quỷ đói tính kế thì lông mày đồng thời nhíu chặt. Cậu chàng thấy hai người phản ứng vậy liền nói:

“Chính vì thế nên Thái tử mới đoán việc của hai chị em ta hẳn có liên quan. Có thể là Đế Mộ nhắm đến sư phụ nên mới nhằm vào chúng ta. Nói không chừng phía đại sư huynh cùng nhị sư tỷ cũng có sắp xếp...”

Trương Mặc Sênh lại nói vài câu về tình hình của sư phụ, đại sư huynh, cùng nhị sư tỷ thời gian gần đây. Tất nhiên, chuyện về Tạ Thiên Hoa cũng chỉ có xích mích của cô nàng với Thanh Tùng thư viện, chứ những việc ngoài lãnh thổ Đại Việt – nhất là nơi đề cao bí mật như Đại Yến – thì Lê Khuynh Thành cũng không nghe ngóng được gì. Còn những chuyện Long U nghe lén được từ Nghiêm Quảng thì cậu chàng thấy nơi này tai vách mạch rừng, tạm thời chưa nên nói, nên giữ lại.

Đỗ Thải Hà nghe được chuyện Lý Thanh Vân dọc một đường từ Quan Lâm đến Hải Nha mà “qua ải trảm tướng”, đánh không biết bao nhiêu sát thủ, đến nơi lại liền ầm ĩ một trận với Quan thống lĩnh thì liền thở dài một hơi, cảm thán:

“Quả không hổ là đại sư huynh! Mỗi lần ra ngoài đều không chịu yên tĩnh, luôn phải khuấy đảo giang hồ, khiến người người đều nghe danh!”

Trương Mặc Sênh nghe vậy cũng gật gù kêu phải. Nếu đại đồ đệ của cổ viện mà nghe được sư đệ sư muội của mình nói gì về bản thân lúc này, hẳn sẽ ngửa mặt lên trời kêu oan:

“Toàn là người khác tìm cách giết ta, được chứ? Ta đi gây sự tìm cảm giác tồn tại bao giờ???”

Còn Song Vô Song ngồi một bên nghe được lời này thì trợn mắt nhìn Đỗ Thải Hà, trong lòng chửi bới:

“Chó chê mèo lắm lông, đệ tử cổ viện các người có ai ra ngoài mà không gây động tĩnh lớn?! Đỗ tiểu thư, cô nói về Lý thiếu hiệp như vậy mà không tự soi gương sao? Là ai mấy hôm trước tìm đến tận cửa Nho môn gây sự?”
 
Back
Top Dưới