Tiên Hiệp Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân

Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 220: Tắm Chung – Phong Tục Của Sứ Quan Đại Tề


Đương nhiên, Lê Khuynh Thành vào tìm Tiểu Thực Thần cũng không phải chỉ để phàn nàn chuyện tên món ăn. Số là, bên nước Tề có một cái tập tục, tương truyền bắt đầu từ thời Quan Vân Phi đánh vào kinh đô Đại Tề hơn hai trăm năm về trước. Khi ấy, để bày tỏ thái độ nhún nhường nhằm tiễn vị ôn thần kia đi, đích thân thái tử của Tề quốc phải hầu Quan tướng quân tắm rửa.

Sự kiện ấy được sử gia Đại Tề chép lại, nhưng không coi đó là nỗi nhục, mà tuyên truyền thành bài học về hành động “nằm gai nếm mật”, đề cao hiểu biết song phương. Sau đó, qua nhiều lần sửa đổi, biến tướng, Đại Tề mỗi lần đi sứ, tiếp sứ đều có một phong tục, ấy là mời sứ quan đối phương cùng tắm chung. Trong khi tắm sẽ cùng tán gẫu, thưởng rượu, nhằm nâng cao tình hữu nghị hai phe. Thậm chí ở Đại Tề, các hiệp định quan trọng ký kết với nước khác hầu hết diễn ra trong phòng tắm.

Thành thử, vãn tiệc tối thì Nghiêm Quảng đã mời Lê Khuynh Thành tắm chung đêm khuya hôm ấy. Nàng ta là phận nữ giả nam trang, đương nhiên không muốn đồng ý, nhưng lại không có cớ từ chối. Dẫu sao, đây là phong tục của Đại Tề, cũng không thể không cho người ta mặt mũi. Lại nói, đồng giới tắm cùng chỗ cũng chả phải chuyện gì to tát. Nếu Lê Khuynh Thành không có thân phận thái tử Đại Việt, có lẽ còn có thể lấy lý do người mang bệnh – nhất là quái bệnh, không tiện tắm rửa. Thế nhưng ngặt một nỗi, nàng ta trèo lên được cái ghế hiện tại đối ngoại là do sức khỏe tốt hơn Dực hoàng đế. Hiện tại, nếu bỗng nhiên lại lòi ra một cái “quái bệnh”, thì thực chẳng khác nào lấy đá tự đập chân mình!

Thái tử điện hạ linh cơ chớp động, tính toán mười mấy phương án khác nhau trong chốc lát. Cuối cùng, cũng chỉ nghĩ ra một cách khả dĩ. Ngoài mặt, nàng ta đồng ý với yêu cầu của Nghiêm thân vương, nhưng ngay sau đó thì vội chạy đi tìm Trương Mặc Sênh hỗ trợ.

Tiểu Thực Thần nghe y thị nói tình hình xong thì một mặt ngơ ngác, hỏi:

“Nhưng cô tìm tôi thì giải quyết được vấn đề gì? Tôi cũng đâu có bản lĩnh nấu ra món gì có thể thay đổi được giới tính người ăn?”

Lê Khuynh Thành liếc mắt nhìn cậu ta một cách ai oán, nói:

“Lần này không nhờ cậu giúp với cương vị trù sư, mà là bằng thân phận đệ tử của Bích Mặc tiên sinh.”

“Nghĩa là sao?”

Thái Tử Thành một mặt hận rèn sắt không thành thép, kiên nhẫn giải thích:

“Chỉ cần tới lúc đó, cậu chạy đến cửa nhà tắm nói một câu trước mặt bọn họ là sư phụ cậu có việc tìm tôi là được rồi.”

“Ồ!”

Lúc này Trương thiếu trang chủ mới gật gù, hứa hẹn đáp ứng đến giờ sẽ chạy đến giúp.

oOo

Thế nhưng mấy giờ sau, Tiểu Thực Thần mải nghiên cứu công thức món ăn lấy được từ “sư nương”, suýt thì quên khuấy lời hứa hẹn với Lê Khuynh Thành, làm y thị gấp đến xoắn xuýt cả lên.

Đến lúc Trương Mặc Sênh nhớ ra, ba chân bốn cẳng chạy tới nơi, bắt gặp ánh mắt như muốn giết người, lột da của ai đó nhìn mình, thì cũng chỉ biết ho khan, gãi gáy.

Song, cũng không thể không nói, lấy Bích Mặc tiên sinh ra làm lá chắn là một cái cớ tuyệt vời khiến ba người Đại Tề không thể gây được khó dễ gì cho Lê Tam Thành. Dẫu sao, mấy người cũng mới hay tin Nguyễn Đông Thanh gần đây vừa bị mưu sát. Tuy chả ai trong số họ tin tiên sinh có thể thật sự xảy ra chuyện gì, thế nhưng nếu Bích Mặc tiên sinh muốn tiếp tục diễn, thì bọn họ cũng nào dám không phối hợp?

Thế nhưng, đằng nào thì chuẩn bị cũng đã hoàn tất, mà người thì cũng ở đó cả rồi. Thành ra, thái tử Thành bèn gợi ý đổi thành bộ ba của Đại Tề vào phòng tắm chung tán dóc, hưởng thụ; còn bản thân thì đi theo Tiểu Thực Thần đặng giải quyết công chuyện.

Và đương nhiên, luận về thời cơ nghe lén thì đây cũng là cơ hội có một không hai. Thành thử, hai người Trương, Lê vừa rời khỏi, thì Long U cũng theo bàn bạc từ trước mà trèo lên mái nhà phòng tắm để nghe ngóng động tĩnh bên trong.

oOo

Trong phòng tắm.

Sau vài chén, mặt của Nghiêm Quảng cũng đã bắt đầu đỏ lên, lời cũng bắt đầu ra nhiều. Lúc này y đang nói:

“Long tướng quân, hiện tại hải thú quấy rối, kỳ thực chính là thời cơ tốt để đánh Đại Sở, ngài nói có phải không?”

Long Tuyền tuy không coi trọng Nghiêm Quảng, nhưng dù gì người ta vẫn là cấp trên, nên bèn đáp:

“Nước Sở có sông Ngân thập phần quỷ dị, chỉ e cho dù có nhân cơ hội này cũng không thể giành thắng lợi.”

Nghiêm thân vương nghe vậy chỉ cười, nói:

“Năm đó phụ vương đánh Đại Sở, bản vương có đi theo cùng. Thậm chí ta còn từng được dự cuộc họp kín giữa phụ vương và quân sư khi đó, nên cũng biết một hai. Cái gọi là thần sông kia chả qua là một con dao hai lưỡi, một mối họa ngầm. Tướng quân chỉ cần tính toán hợp lý, hẳn là có thể tị hung truy cát!”

Nghe đến vị quân sư thần bí của Đại Tề năm nào, cả Long Tuyền và Quách Bình Minh bất giác chợt thẳng lưng, sắc mặt cũng nghiêm túc hơn mấy phần. Dẫu sao, tương truyền năm đó, Nghiêm tướng quân có vị kia trợ giúp không khác gì hổ mọc thêm cánh.

Chỉ tiếc năm đó, sau khi bại dưới tay Võ Hoàng, Nghiêm đại tướng quân thì bỏ mạng, mà vị quân sư thập phần kỳ bí kia do không còn minh chúa, nghe đâu đã quy ẩn sơn lâm. Có đánh chết có lẽ hai người Long, Quách cũng không thể liên hệ thần tượng trong lòng họ, vị quân sư đại danh đỉnh đỉnh của Đại Tề với tên vương tử béo phúng phính trước mặt.

Kỳ thực, chuyện Nghiêm Quảng đi cùng Nghiêm Hàn mấy năm đó ai cũng biết. Chả qua, do hắn hồi đó chỉ là một đứa nhỏ, thân phận “quân sư” kia lại được bảo mật. Thành thử, không ai biết ấy chính là hắn, lại càng chẳng ai có thể nghi ngờ nổi. Thế nên, Nghiêm thân vương mới có thể thoải mái diễn một kẻ ngu trước mặt mọi người. Nhưng cũng vì vậy, những lúc cần đưa những thông tin quan trọng mà muốn có vài phần trọng lượng cho kẻ dưới, Nghiêm Quảng cũng chỉ còn cách nói là hắn năm xưa từng nghe phụ vương và quân sư bàn như vậy, cũng không hẳn là nói dối.

Long Tuyền nghiêm túc hỏi:

“Vương gia, năm đó quân sư đại nhân nói gì ạ?”

“Ài, các ngươi không biết đâu, thần sông Ngân thật vốn đã bị một vị Đế Tôn chém giết từ lâu rồi. Thần sông hiện tại chỉ là một cái oán linh của ả. Năm đó cản đường quân ta chả qua là bản năng bảo vệ lãnh thổ mà thôi!”

Long Tuyền giật mình, không ngờ lại còn có chuyện động trời này. Long U trên mái nhà cũng bắt đầu hứng thú, nét hưng phấn lộ rõ trên mặt, tai thiếu điều vểnh lên để nghe cho rõ hơn.

Phải biết, tại Huyền Hoàng giới, sau Phản Thiên Chi Chiến, do thiên đạo bị tổn thương, luân hồi tuần hoàn không còn đầy đủ, nên người chết trong điều kiện bình thường không đi siêu sinh, đầu thai, mà đều hóa thành ma. Những người ra đi thanh thản, vì lẽ tự nhiên, thì thành cô hồn, tâm tư lương thiện hoặc chí ít không có ác ý. Ma dạng này nếu không giúp người sống thì cũng chỉ trêu ghẹo, đùa nghịch, giấu đồ mà thôi.

Còn những kẻ chết oan, bị sát hại, oán khí nặng thì hóa thành oan hồn. Khác với cô hồn, oan hồn thường mang thù trên người, nên hoặc sẽ hại người, hoặc sẽ thôn phệ các hồn ma yếu hơn mình để mạnh lên. Phía trên oan hồn còn có ác linh – tương đương với cường giả ngũ cảnh, và oán linh – tương đương với cường giả đã vào Vụ Hải.

Nói về số phận của oán linh thì, hiển nhiên, trường hợp như Bạch Vũ Ngưng – được tạo thân thể mới rồi trưng dụng làm vệ sĩ – là vô cùng hiếm, có thể nói là độc nhất vô nhị. Cũng không phải ai cũng có thể may mắn như cô nàng, được thêm một cơ hội sống mới. Oán linh bình thường khác thì một khi đủ mạnh, liền có thể gia nhập Đế Mộ.

Đây cũng chính là lý do tại sao ngay sau khi Nguyễn Đông Thanh dùng một bài văn tế siêu độ diện rộng một lượng lớn oan hồn, oán linh, thì lập tức bị Đế Mộ nhắm vào. Dù gì, Bích Mặc tiên sinh có khả năng đe dọa trực tiếp đến căn cơ của Đế Mộ. Tuy các vị Đế Tôn tu vi siêu quần, có thể không trực tiếp bị ảnh hưởng, song cũng chẳng có ai muốn làm quang can tư lệnh – làm tướng mà không có binh, làm vua mà không có dân.

Thế nhưng, cũng chẳng rõ vì sao, Phật môn mang danh tiếng và đặc quyền có thể siêu độ chúng sanh, giúp cho oan hồn siêu sinh lại không bị Đế Mộ cho vào tầm ngắm, đến nay vẫn đứng vững làm một trong Ngũ Lộ Triều Thiên.

Thần sông kia hiển nhiên khi còn sống tu vi đã vào sâu trong Vụ Hải, nên khi chết hóa thành oán linh cũng không phải chuyện lạ. Cũng khó trách năm đó Huyền Giáp Vệ có thể bị chặn tại Ngân Hà. Nghĩ đến đây, Long Tuyền chợt giật mình, nói:

“Không đúng! Nếu thần sông đó đã sớm thành oán linh, làm sao Đại Sở cho đến nay còn chưa bị diệt vong?”

Phải biết, oán linh càng mạnh thì sát tính cũng càng mạnh, càng khát máu. Đối với bọn chúng, mạng người không khác nào chất dinh dưỡng, nào có thể nhịn được? Đại Sở lại sống phụ thuộc vào sông Ngân, nếu như từ hơn ba mươi năm trước, đã có một oán linh cư ngụ trong sông, không lý nào đến nay nước Sở vẫn còn có thể tồn tại.

Nghiêm Quảng đáp:

“Đấy! Phụ vương khi đó cũng tính đợi cho oán linh tác oai tác quái thì quay lại diệt Sở, nên mới tạm lui binh. Nào ngờ đám hoàng thất Đại Sở đó quá khốn khiếp!

“Các ngươi biết không? Về sau quân sư mới điều tra được, bọn chúng thế mà tìm vớt được xác của thần sông, rồi đem đầu đi chấn yểm ở thượng lưu bên bờ lở, còn thân thì chấn tại hạ lưu phía bờ bồi! Lại mời cả đạo môn về bày trận pháp, phật môn về tụng kinh. Đám rùa rút đầu đó bày mưu bào mòn dần hận ý của oán linh đi, chỉ để lại bản năng bảo vệ địa bàn, biến ả thành thần thủ vệ cho bọn chúng!”

Nghiêm thân vương càng nói càng hăng, thêm mắm dặm muối, phun nước bọt phì phì. Quách Bình Minh lúc này lại cau mày, hỏi một câu:

“Thế nhưng nếu qua nhiều năm bị bào mòn như vậy, đáng lý ra sức mạnh của oán linh cũng phải bị sụt giảm chứ? Chả lẽ bọn chúng không sợ một khi oán linh đó yếu đi, sẽ không cản nổi Huyền Giáp Vệ của chúng ta nữa hay sao?”

Long Tuyền dường như cũng có ý này, ngờ vực nhìn Nghiêm Quảng, cũng gần như quên mất thành kiến đối với y. Nghiêm thân vương liền nói:

“Thì đấy! Thế nên nước Sở mới có Mẫu Hà đạo, mới có nạn sen máu hàng năm! Ả thần sông xấu số kia bị hoàng thất Đại Sở nuôi như một con chó giữ nhà!”

Tất nhiên, đây cũng chỉ là suy đoán của Nghiêm Quảng, còn thực hư nạn sen máu ra sao lại là câu chuyện để sau này sẽ kể.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 221: Thiên Hộ, Chủ Quán Và Tăng Nhân


Thành Tế Kỳ...

Cách truyền tống trận không xa có một quán rượu không lớn không nhỏ, vừa mới mở cửa làm ăn không lâu, độ dăm bữa nửa tháng, tên là Lưu Hương Lầu. Còn nhớ vào hôm khai trương, thành chủ vừa nhậm chức đích thân đến chúc mừng, tiền đồng rải ra đầy đất để thiên hạ chung vui, dễ phải đến dăm bảy hòm. Thành thử, dân chúng ở thành Tế Kỳ cũng rất lấy làm hiếu kỳ, không biết người đứng sau quán rượu này rốt cuộc là vị tai to mặt lớn nào.

Vẫn nói “phép vua thua lệ làng”, Lưu Hương Lầu này từ nơi khác đến, vậy mà có thể chiếm lấy vị trí đắc địa bậc nhất cả thành là quảng trường gần truyền tống trận thì thực là không đơn giản.

Thế nhưng, lạ một nỗi là...

Chốn này chẳng những rượu nồng, trà thơm, món ăn tươi rói ngon miệng, mà giá cả lại cực kỳ... bình dân. Hàng ngày ba lần vào các giờ Mão, giờ Ngọ, giờ Dậu Lưu Hương Lầu đều tổ chức vài tiết mục nhỏ mua vui. Lúc thì là ngâm thơ làm đối, khi thì là đàn ca sáo nhị. Thế là chẳng mấy chốc một đồn mười, mười đồn trăm, chỉ trong một thời gian ngắn mà Lưu Hương Lầu đã trở thành một điểm vãng lai nức tiếng, người ra kẻ vào tấp nập ở Thủy Thượng quan.

Trần Dũng mình mặc một bộ áo gấm mới toanh, eo đeo bội đao, vai mang tay nải nhẹ nhàng kéo ghế ngồi xuống, nói vọng ra:

“Tiểu nhị, cho mấy món nhanh gọn, với đổ đầy trà vào đây cho ta.”

Gã đưa quả bầu khô cho tiểu nhị, đoạn đưa tay muốn tự rót một chén ra uống. Chẳng ngờ lần này lên đường quá gấp gáp, sương đêm hơ cứng cả người, kém chút thì trượt tay làm rơi ấm nước.

“Dũng!!!”

Trần Dũng vừa nhấp được một ngụm nước chè, còn chưa kịp nuốt thì bên cạnh đã vang lên tiếng gọi quen thuộc. Gã quay phắt lại, phát hiện người vừa mới lên tiếng chẳng phải ai xa lạ, chính là bạn cũ từng làm lính thủ thành ở Quan Lâm với mình – Nguyên Phương.

“Thằng Phương? Hóa ra quán này là chú mày mở đấy à?”

“Cướp đâu ra tiền mà mua đất chỗ truyền tống trận này hả bố? Của người khác. Chỉ giao cho tao thay mặt quản lý thôi. Dù sao thằng này cũng dân ở đây... Mà thôi, đừng kể chuyện của tao nữa. Từ hồi tao rời khỏi quân mày thế nào rồi? Được Vũ tổng binh thăng chức đấy à?”

Nguyên Phương kéo ghế, ngồi xuống chỗ đối diện thằng bạn, vắt cái khăn tay ngang vai, hỏi.

Số là...

Kể từ sau trận thú triều hãm thành do Huyết Nhãn Trúc Thử tộc dẫn đầu lần trước không bao lâu thì Nguyên Phương trong một lần truy bắt tu hành giả làm loạn ở Quan Lâm bị đối phương đánh trọng thương, kinh mạch ở eo tổn hại. Tuy không ảnh hưởng đến sinh hoạt thường ngày, nhưng vết thương này khiến Nguyên Phương không cách nào điều động chân khí trong thời gian dài. Thành thử, cũng không thích hợp ở lại trong quân nữa.

Vũ Tùng Lâm bèn đồng ý để cậu ta cởi giáp về quê.

Có câu “khổ tận cam lai”, anh lính về vườn Nguyên Phương chẳng hiểu run rủi thế nào lại được Trương Uyên – cháu gái của nhà thái sư Trương Hạo, Trương Hạc – nhìn trúng. Số là sau chuyện Nguyễn Đông Thanh đọc thơ đánh sập Nho đạo, lão thái sư cũng sắp xếp để cháu gái mình chạy đến ải Quan Lâm. Ở được một thời gian, cô nàng bèn khăn gói chạy đến thành Tế Kỳ, bỏ tiền ra xây dựng Lưu Hương lâu.

Nguyên Phương theo chân Trương tiểu thư, vì nàng ta là hoàng hoa khuê nữ không tiện ra mặt nên y nghiễm nhiên trở thành ông chủ trên mặt nổi của tòa tửu lầu nức tiếng này.

Trần Dũng nói:

“Nào có. Bị cái bà Hồ Ma thành chủ cướp từ tay Vũ tổng binh ra. Cũng gọi là thăng quan, lên được chức thiên hộ đấy, nhưng nhiều việc lắm. Chết dở hơn là mới đây Hồ Ma thành chủ hay tin Đỗ cô nương đi thành Bạch Đế bị người ta bắt vào ngục, bản án có nhiều điểm khả nghi, thế nên mới đặc biệt hạ lệnh cho tao cầm ấn thành chủ chạy đến yêu cầu thả người.”

“Thế mà mày còn đứng đây? Nước nôi gì tầm này nữa! Chuyện của tiên sinh mà mày bình chân như vại thế hả thằng ranh này...”

Nguyên Phương nghiến răng, tung nắm đấm gõ vào đầu thằng bạn một cái, tức đến độ lỗ mũi cơ hồ phình ra gấp ba, thở phì phì, mắt trợn tròn xoe, long lên sòng sọc.

Trần Dũng lườm thằng bạn, nói:

“Thế mày nghĩ với tu vi của tao chạy bộ đến thành Bạch Đế thì năm nào tháng nào mới tới? Không ở đây đợi truyền tống trận mở cửa thì làm gì?”

“À quên... Xin lỗi, thế để tao mời mày một bữa, hôm nay cứ ăn uống thả cửa. Tao nghe mấy anh em binh sĩ bảo hôm nay truyền tống trận đến trưa mới mở.”

Nguyên Phương gãi gáy, nói.

Số là, cậu ta dù sao cũng xuất thân con nhà binh, giờ tuy đã cởi giáp về vườn, nhưng vẫn có rất nhiều chuyện để nói với cánh binh sĩ ở thành Tế Kỳ. Nguyên Phương tính tình lại xởi lởi, giỏi ăn nói, thành thử chẳng tốn bao nhiêu thời gian đã làm thân được với nhóm binh sĩ phụ trách trấn thủ truyền tống trận.

Trần Dũng nói:

“Thì đấy. Chú cứ lo xa nghĩ nhiều làm cái gì? Hạng như anh em mình thì được mấy lạng tài trí mà đi đoán mò ý đồ của tiên sinh? Chả nói đâu xa, chú về vườn ít hôm còn chưa biết chứ, đợt vừa rồi tự dưng tiên sinh lại nhận lời xuống núi trợ giúp Hồ Ma thành chủ. Vốn tao còn lấy làm ngạc nhiên, không hiểu vì sao người như tiên sinh lại bỗng dưng đổi thái độ. Nay hay tin Đỗ tiểu thư bị bắt mới biết...”

“Mẹ nó chứ! Tiên sinh quả thực là thần tiên sống.”

“Còn phải nói sao? Bây giờ tao nghe người ta rỉ tai nhau là tiên sinh nhìn thấu được nhân quả trường hà cơ mà. Không có lửa sao có khói?”

Hai người nói chuyện đến chỗ cao hứng, thì bỗng nghe ngoài cửa quán có mùi hương lạ thơm phức truyền tới. Cánh mũi của Nguyên Phương nhảy lên mấy cái, hơi nhắm mắt lại cảm nhận. Chỉ thấy mùi hương lạ ngoài cửa thanh mát như sen, đầm đầm như nhang trầm, lại phảng phất cả hương phẩm oản. Gã thân là dân bản xứ, có thể nhận ra được đấy là loại hương trầm quý của Kim Quang tự, chỉ dùng khi có cao tăng viên tịch.

Nguyên Phương nhìn ra phía cửa, chỉ thấy bên ngoài có một nhà sư tuổi còn trẻ, da trắng như tuyết, mắt sáng như ngọc, nếu không phải có vết tàn hương trên trán có lẽ người trong thiên hạ sẽ tưởng y là một nam sủng nhà quyền quý nào đó cải trang chạy trốn.

Tăng nhân trẻ cầm tích trượng, nhẹ nhàng bước đến gần hai người, nói:

“Tiểu tăng xin chào hai vị thí chủ. Nay lỡ đường đi ngang qua chốn này, không biết có thể xin các vị được bữa cơm chay, li trà nguội hay chăng? Vẫn mong hai vị thí chủ mờ lòng từ bi, giúp đỡ kẻ tu hành xa xứ khỏi cơn đói lòng, bần tăng xin cảm tạ.”

“Một bữa cơm chẳng đáng là bao, đại sư khách khí quá rồi. Mời ngồi.”

Nguyên Phương đưa tay, làm thủ thế mời. Sư trẻ chắp tay làm dấu chữ thập, cúi đầu.

Nói đoạn, y kéo ghế, ngồi xuống chiếc bàn ngay sát với Trần Dũng, làm như lơ đãng hỏi:

“Ban nãy hai vị thí chủ nói chuyện, bần tăng cũng vô tình nghe được một hai. Phật môn nói nhân quả, thế nên không giấu gì hai vị, tiểu tăng nghe mà cũng lấy làm tò mò. Mắt thấy còn phải một lúc nữa truyền tống trận mới mở, hay là thí chủ nói chuyện cùng bần tăng một lát. Ngài thấy sao?”

Vốn là Trần Dũng không có ý định tiếp chuyện với người lạ, thế nhưng giọng nói của nhà sư giống như có ma lực, khiến gã không hiểu sao lại bắt đầu lên tiếng. Thế là, một người kể, một người nghe, thẳng đến lúc Nguyên Phương dọn thức ăn chay lên, mở miệng tằng hắng một tiếng.

Trần Dũng giật mình, thẳng lưng lại.

Nhà sư thì thở dài, cười gật đầu một cái.

Nguyên Phương kéo ghế ngồi xuống, đặt một chén cơm trắng và đôi đũa tre xuống trước mặt vị hòa thượng, lên tiếng:

“Ban nãy không có cơ hội, chưa kịp thỉnh giáo. Đại sư xem chừng là từ nơi khác đến. Khẩu âm... hình như là người của nước Thục?”

“Chính thị. Thí chủ quả thực là tuệ nhãn như đuốc.”

“Quá khen. Được đón tiếp Kim Thiền Tử của chùa Long Hoa thì vinh hạnh là của tại hạ mới phải. Quả thực là khiến lều cỏ phát sáng.”

Nguyên Phương cười, nói.

Trần Dũng đang im lặng phẩm trà bên cạnh nghe đến đây bỗng nhiên phun cả ngụm nước còn chưa kịp nuốt xuống ra ngoài, khó nhọc lên tiếng:

“Kim Thiền Tử? Đây chẳng phải danh hiệu dành cho phương trượng kế nhiệm của Long Hoa tự sao?”

“Hư danh mà thôi, hổ thẹn.”

Kim Thiền Tử buông đũa, chắp tay, cúi đầu một cái. Nói đoạn, y lại nhìn sang chỗ Nguyên Phương, nhoẻn miệng cười:

“Bần tăng mạo muội hỏi một câu, xin thí chủ chớ trách. Vì sao thí chủ lại đoán được thân phận của tiểu tăng?”

Nguyên Phương đáp:

“Mùi hương vương trên người đại sư là loại nhang quý của Kim Quang tự. Pháp sự của Vô Trần đại sư diễn ra từ hôm qua, nếu chỉ là người bình thường dự lễ thì ắt hẳn hương thơm đã tan từ lâu.

Hiện tại trên áo đại sư hãy còn lưu mùi thì có thể đoán đại sư tiếp xúc rất gần với trai đàn, thậm chí là người thực hiện pháp sự cũng không chừng. Cộng thêm khẩu âm nước Thục, ngoại trừ người của Long Hoa tự danh tiếng lẫy lừng ra thì còn ai vào đây nữa? Còn về phần tại sao lại biết ngài là Kim Thiền Tử... làm cái nghề này ấy mà, trên răng dưới dép chả có gì, tiếng không có miếng cũng không, chỉ được cái hai lỗ tai kín đặc lời đồn giang hồ tứ xứ.”

“Thụ giáo.”

Kim Thiền Tử cười, sau đó bắt đầu động đũa ăn cơm của mình, giả như không nghe thấy một chút ý đối đầu trong lời nói của Nguyên Phương. Hai người Trần Dũng thấy y không còn lí gì tới mình nữa, ông chủ quán Nguyên Phương thoắt cái cảm thấy như đấm vào bịch bông, chỉ hậm hực kêu khẽ một tiếng, đoạn đứng dậy bắt đầu đi tiếp khách. Gã hòa thượng ngồi đến gần giờ Thìn thì đứng dậy, vái chào hai người Trần, Nguyên, đoạn cười:

“Chư vị, có duyên sẽ gặp lại. Ơn đãi bữa cơm ngày hôm nay khi khác chư vị ắt sẽ có phúc báo. Nhân quả tuần hoàn, là lời Phật dạy đấy.”

“Đại sư lên đường bình an, sớm đến ải Quan Lâm. Cũng chớ có trêu phải người không nên chọc.”

“Đã hẳn. Đã hẳn. Phật gia từ bi hỉ xả, tiểu tăng há lại có chuyện đi gây chuyện thị phi? Nói không chừng vị ‘không nên chọc’ trong lời của chủ quán có duyên với Phật môn ta cũng nên.”

Kim Thiền Tử cười, để lại một câu nói bâng quơ, sau đó nhắm hướng cửa thành mà sải bước.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 222: Sự Khó Xử Của Hồ Ma Thành Chủ


Hồ Ma Huyền Nguyệt bước về phía căn phòng gỗ nhỏ nằm biệt lập một góc ở phủ thành chủ. Tương truyền, nơi đây chính là căn phòng khi xưa kẻ gây ra Nguyên Tội đã từng sinh sống, bỏ hoang không biết đã bao lâu. Mãi đến gần đây Nguyễn Đông Thanh nhậm chức quan Tiếp Sứ, phải thường xuyên ở trong thành, ít khi về Lão Thụ cổ viện, Vũ Tùng Lâm mới đánh bạo mở niêm phong, biến Cấm Phòng thành thư phòng của vị Bích Mặc tiên sinh này.

Thành chủ thành Bạch Đế gật đầu chào người cơ quan Hồng Đô đang đứng canh ngoài cửa một cái, đoạn nói:

“Hồng Đô cô nương, có thể vào thông báo một tiếng hay chăng?”

Cô mèo máy nhướn mày, dùng ánh mắt ngờ vực nhìn về phía Hồ Ma Huyền Nguyệt, đoạn nói:

“Không biết thành chủ đến tìm tiên sinh nhà tôi là có chuyện gì? Nếu không có gì quan trọng, xin thành chủ cứ nói, Hồng Đô sẽ chuyển lời cho tiên sinh.”

Cô nàng ngừng một thoáng, lại nói:

“Vẫn mong thành chủ thông cảm. Tiên sinh vừa mới bị ám sát, mà hiện giờ Đỗ tiểu thư lại đang ngồi tù ở chỗ ngài. Hồng Đô thân là hộ vệ, có chức trách bảo đảm an toàn cho tiên sinh, thành thử không thể để người chưa rõ bạn hay thù như thành chủ vào gặp tiên sinh được.”

Hồ Ma Huyền Nguyệt thở dài:

“Tiểu nữ vốn là muốn đến tạ tội, thế nhưng Hồng Đô cô nương đã nói như vậy, Huyền Nguyệt cũng chẳng còn biết nói gì. Vậy tiểu nữ xin cáo từ trước, những mong Hồng Đô cô nương chuyển lời đến tiên sinh giúp cho.”

Hồng Đô vừa gật đầu, đang định đuổi khách, thì đã nghe trong căn phòng sau lưng có tiếng nói vọng ra:

“Hồng Đô, bên ngoài có khách à?”

Cô mèo máy giật mình, cuối cùng thở dài một hơi, đáp:

“Tiên sinh, có Hồ Ma thành chủ đến bái phỏng, không biết có...”

“Thành chủ đến thì tốt. Mau mời vào!”

Hồng Đô nghe vậy, bèn hạ giọng:

“Tiên sinh đã lên tiếng, chắc hẳn là tự có sắp xếp của mình, tiểu nữ cũng không tiện cản đường cản lối nữa. Hồ Ma thành chủ, xin chớ trách. Mời.”

“Cô nương làm đúng chức trách của mình mà thôi, tiểu nữ nào dám trách cứ?”

Hồ Ma Huyền Nguyệt nói lời khách sáo một câu, đoạn nhẹ nhàng đi qua Hồng Đô, đẩy cửa vào. Chỉ thấy căn phòng gỗ bị niêm phong nhiều năm ở phủ thành chủ lúc này đã được dọn dẹp cẩn thận, cách bài trí thì mười phần đơn sơ mộc mạc. Một bên là tủ sách, chính giữa là bàn giấy dùng để làm việc, bên còn lại mắc một cái võng.

Nguyễn Đông Thanh ngồi bên bàn làm việc, trước mặt là một đống giấy tờ xếp lộn xộn, gác trên nghiên mực là một cây bút. Cán bút có vết răng cắn hằn vào thân gỗ nham nham nhở nhở, vừa nhìn là biết ngay thủ phạm là ai.

Vừa thấy y thị, Bích Mặc tiên sinh đã đứng lên, vái chào:

“Hạ quan bái kiến châu chủ. Không biết lần này châu chủ đến tìm hạ quan là có gì muốn chỉ giáo?”

“Tiên sinh quá lời. Lần này tiểu nữ đến chính là để tạ tội chuyện của cao đồ.”

Nguyễn Đông Thanh nghe thấy quả nhiên là đến vì chuyện của Đỗ Thải Hà, vội vàng đứng thẳng dậy, hỏi:

“Thành chủ, không biết nghịch đồ thế nào, rốt cuộc là chuyện gì xảy ra?”

Vốn là hôm vừa nghe tin Đỗ Thải Hà bị bắt vào ngục, Bích Mặc tiên sinh cơ hồ quýnh cả lên, vội vàng chạy đi định tìm gặp Hồ Ma Huyền Nguyệt hỏi thăm một chút. Nhưng đến giữa đường, gã mới ngừng lại, sau đó ép bản thân quay về.

Không phải Nguyễn Đông Thanh không lo cho đệ tử, mà gã sợ vạn nhất Đỗ Thải Hà thực sự gây chuyện thị phi, thành Bạch Đế bắt đúng người đúng tội. Gã đến nói chuyện, nhờ vả Hồ Ma Huyền Nguyệt thả người, vậy há chẳng phải lạm quyền làm bừa hay sao?

Cháu nó ở nhà ngoan lắm bản dị giới à?

Hiện tại, thành chủ thành Bạch Đế chủ động đến gặp, lo lắng trong lòng có chỗ phát tác, thế là Nguyễn Đông Thanh cơ hồ nhảy cẫng lên, không chờ nổi hỏi thăm chuyện của Đỗ Thải Hà.

Hồ Ma Huyền Nguyệt gật đầu, nói:

“Không giấu gì tiên sinh, sau khi bản thành chủ đọc lại sổ sách, cảm thấy vụ án này có nhiều điểm khả nghi, thế nên đã lệnh cho kẻ dưới chạy đến thành Bạch Đế thả người. Ngoài ra... Chưởng Ấn quan làm việc vô năng, hàm oan người tốt, xử án hồ đồ, đã bị tiểu nữ biếm làm thường dân.”

Nói đến câu cuối cùng, nàng ta cơ hồ cắn răng lại, thế nhưng cuối cùng cũng không thể không nói.

Nguyễn Đông Thanh nghe thế, “à” một cái, gật đầu:

“Hồ Ma thành chủ làm việc nghiêm minh, trong cái thế đạo cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan này mà vẫn giữ vững bản tâm, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn, quả thực là tấm gương sáng để tại hạ học theo.”

Hồ Ma Huyền Nguyệt:

“...”

Không! Nhà ngươi mới làm việc nghiêm minh, cả nhà ngươi mới gần bùn chẳng hôi tanh mùi bùn!

Trong mắt y thị, Nguyễn Đông Thanh há lại không nhìn thấu hết thảy? Thành thử, lời khen của Bích Mặc tiên sinh rơi vào tai của Hồ Ma thành chủ lại vô cùng khó nghe, giống như đang nói kháy vậy.

Thế nhưng, ả làm sao dám bất mãn?

Hiện tại, Hồ Ma Huyền Nguyệt cảm thấy sợ hãi.

Nguyễn Đông Thanh khi không lại khen người hay bao che khuyết điểm như y thị là làm việc nghiêm minh, há lại không phải một cách uyển chuyển để biểu đạt sự bất mãn trong lòng? Bây giờ Hồ Ma Huyền Nguyệt ngẫm lại, vị tiên sinh này vừa xuống núi chưa được bao lâu, đồ đệ của y dã bị thuộc hạ của ả nhắm vào, khiến Hồ Ma Huyền Nguyệt không thể không thí Chưởng Ấn quan...

Bây giờ chức Chưởng Ấn quan bỏ trống, mà trước đó ả vẫn đau đầu không biết phải sắp xếp cho Bích Mặc tiên sinh này nhậm chức gì.

Cứ như vậy, Nguyễn Đông Thanh vừa xuống núi đã có thể êm ả kế nhiệm chức Chưởng Ấn quan, thuận lợi một cách đáng ngờ, đến mức người ta không thể không hoài nghi...

Rằng thực tế y đã nhắm đến chức quan Chưởng Ấn này từ đầu.

Hồ Ma Huyền Nguyệt hít sâu một hơi, nắm chặt bàn tay lại, cố gắng che giấu cảm xúc đang cuộn trào trong lòng. Y thị nặn ra một nụ cười, nói:

“Tiên sinh quá khen rồi.”

“Không thể nói thế được. Thành chủ quả thực là tấm gương của người làm quan trong thiên hạ. Ôi... nếu như trên đời có nhiều người như thành chủ thì chắc hẳn tiếng oan đã chẳng dậy đất, bầu trời đã chẳng đến nỗi chướng khí mù mịt.”

Nguyễn Đông Thanh nói đến giữa chừng, bỗng nhiên cảm thán, thở dài một tiếng.

Ngay như ở địa cầu, trong văn học cổ cũng đâu thiếu những chuyện quan lại lạm quyền, dân chúng thấp cổ bé họng kêu trời trời chẳng thấu gọi đất đất chẳng nghe? Thậm chí, theo Bích Mặc tiên sinh của chúng ta thấy nếu không phải Đỗ Thải Hà là đệ tử của gã, người ta cũng nể nang một hai điều tra lại cẩn thận thì chắc hẳn hiện giờ cô nàng đã hàm oan trong ngục.

Cộng thêm gần đây gã đọc tư liệu sứ đoàn các nơi, phát hiện trong quân ngũ các nước cũng chẳng thiếu những người bị oan uổng, lưu đày phương xa, sau đó mới tiến thân bằng binh nghiệp. Những kẻ còn sống còn đông như thế, vậy thì những người bị oan khiên mà chết bơ vơ xứ người, hoặc rục xương trong ngục còn đến mức nào?

Vốn là, Nguyễn Đông Thanh chỉ cảm thán một câu bâng quơ, thế nhưng Hồ Ma Huyền Nguyệt lại nghe thành ý khác.

Y thị cắn răng, thầm nghĩ:

“Hắn kêu than thế đạo bất công, quan trường trướng khí mù mịt, há chẳng phải đang đòi ta nhanh chóng đưa chức Chưởng Ấn quan cho hắn hay sao? Phải làm thế nào mới tốt đây... Bích Mặc tiên sinh, rốt cuộc nhà ngươi muốn gì?”

Đến lúc này, Hồ Ma Huyền Nguyệt có phần hối hận đã chạy đến thăm dò gã.

Hiện tại thì tốt, vốn chỉ muốn dùng một câu mời chào rời núi bâng quơ, chẳng ngờ đã bị Nguyễn Đông Thanh tương kế tựu kế, xảo diệu đổi thành tự lấy đá đập chân, mua dây buộc mình.

Muốn khóc cũng chẳng biết phải khóc với ai.

Ngay lúc ả còn đang quắn quéo cả lên, thì bỗng nghe bên ngoài có tiếng Hồng Đô hô to:

“Tiên sinh! Bên ngoài có thái tử điện hạ của đại Sở đến cầu kiến.”

oOo

Thượng Quan Trường Không nghênh ngang vênh váo bước vào, chiếm ngay lấy ghế chủ vị ngồi phịch xuống. Gã dùng con mắt phải, gà gà nhìn một lượt từ đầu đến chân gã đàn ông mặc phục sức quan văn đứng bên cạnh, bàn tay gõ cồm cộp xuống mặt bàn.

Tính ra, đây không phải lần đầu tiên Thượng Quan Trường Không gặp Nguyễn Đông Thanh. Đâu đó gần một năm trước, trên Võ Bảng Hội ở nước Tề, gã đã chứng kiến tận mắt kẻ được người đời vừa kính vừa sợ này.

Thế nhưng, hồi đó khoảng cách cũng xa, lại thêm hắn còn bận dò xét Lý Thanh Vân đặng tìm cách dò la tung tích Giám Bảo Thần Mục, nên cũng không kịp nhìn kỹ.

Bây giờ, Bích Mặc tiên sinh đứng lù lù trước mặt, gã lại cảm thấy có chút không thực.

Người này trông quá mức bình thường...

“Không biết thái tử hôm nay tự mình hạ cố đến chỗ tại hạ là có chuyện gì cần sai bảo?”

Thượng Quan Trường Không chỉ thấy cái người danh chấn Huyền Hoàng giới kia bấy giờ nhẹ nhàng cung tay, hơi cúi mình, miệng mỉm cười. Thái độ hòa ái, động tái khiêm nhường, lễ số với thái tử một nước như gã đầy đủ không thiếu chút nào, mười phần tôn trọng. Thế nhưng khi Nguyễn Đông Thanh thi lễ lưng vẫn giữ thẳng, chỉ cung phần eo một chút, quả thực là khiêm nhường mà không luồn cúi, lễ phép mà không xu nịnh.

Vừa tròn đạo hiếu khách, vừa giữ quốc thể...

Thượng Quan Trường Không chỉ nhìn một vài động tác rất nhỏ này là đủ thấy kẻ trước mặt mình “không hề đơn giản”.

Gã hắng giọng, nói:

“Bản thái tử lặn lội đường xa đến đây, các người lại chỉ quăng bọn ta vào một căn phòng, ngày ba bữa ăn, chẳng khác nào ngồi tù? Đây mà gọi là đạo đãi khách à?”

Hồ Ma Huyền Nguyệt chính đang nẫu hết cả ruột lên vì chuyện của chức Chưởng Ấn quan, bây giờ tên Thượng Quan Trường Không đến gây sự chẳng khác nào chọc tổ kiến lửa. Y thị lạnh giọng, đôi mắt nheo lại, b*n r* những ánh nhìn chẳng khác nào mũi giáo về phía tên thái tử cà lơ phất phơ:

“Thế... thái tử điện hạ muốn gì?”
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 223: Yêu Sách Của Thượng Quan Trường Không


Thượng Quan Trường Không tuy không ngu ngốc như những gì hắn thể hiện ra, thế nhưng cũng không có nghĩa là hắn từng kinh qua chiến trường đẫm máu. Hiện giờ bị Hồ Ma Huyền Nguyệt lườm cho một cái, sát ý kinh khủng tựa hồ như nước trong con đập vỡ đê trào ra, thoáng chốc đã nhấn chìm Trường Không thái tử. Thoáng chốc, Thượng Quan Trường Không cảm thấy bản thân giống như kẻ chết đuối, lóp ngóp cố ngoi đầu giữa dòng nước, hổn hển thở từng cơn khó nhọc.

Chợt, Nguyễn Đông Thanh bỗng nhiên hắng giọng một cái, nói:

“Hồ Ma thành chủ, làm ơn đừng dùng ánh mắt đằng đằng sát khí đấy nhìn người khác được không? Tại hạ là một phàm nhân hai tay trói gà không chặt, quanh năm chỉ ở Quan Lâm, có hơi kham không nổi.”

Gã nói dứt câu, hơi rùng mình một cái, gãi gáy vẻ áy náy.

Thượng Quan Trường Không há lại không biết Nguyễn Đông Thanh đang bắc thang cho gã xuống, không muốn để gã phải mất mặt ở Quan Lâm. Y nghiến răng, hắng giọng một cái, thu hết can đảm, cất tiếng:

“Cô nói: cô ở đây không có chuyện gì để làm, chán muốn chết. Đấy là ải Quan Lâm các người tắc trách, đón khách không chu toàn.”

Hồ Ma Huyền Nguyệt thấy tên thái tử điện hạ kia tuy ngoài miệng nói cứng, nhưng không cách nào che giấu được sự sợ hãi trong đáy mắt, nói chuyện mà giọng cũng run lẩy bẩy, không khỏi cảm thấy buồn cười.

Bao nhiêu áp lực và khó chịu vì chuyện của chức quan Chưởng Ấn ban nãy cũng thoắt cái đã tiêu biến phần nào, ánh mắt cũng nhu hoà hơn trước.

Nguyễn Đông Thanh hắng giọng:

“Là tại hạ thất trách. Bình sinh Đông Thanh chưa thấy ai đi đánh trận còn có nhã hứng hưởng lạc như điện hạ. Hôm nay được gặp, thực là mở mang tầm mắt.”

Thượng Quan Trường Không giống như không nghe thấy hàm ý mỉa mai trong lời đáp của Bích Mặc tiên sinh, câng câng cái mặt lên, nói:

“Đương nhiên! Cô chính là người mặc kệ thân ở nơi nào cũng không mất đi cái thú cao nhã như vậy đó.”

Dĩ nhiên, hắn nói xong câu này, cũng đã là vét hết toàn bộ can đảm trong lá gan của mình. Thượng Quan Trường Không len lén nhìn Hồ Ma Huyền Nguyệt một cái, cơ hồ suýt thì không che giấu được sự sợ hãi trong lòng.

Nguyễn Đông Thanh nói:

“Thụ giáo. Điện hạ đã có yêu cầu, Đông Thanh đương nhiên sẽ thay mặt cho hoàng đế Đại Việt, làm đúng chức trách. Tối hôm nay sẽ không để cho thái tử điện hạ phải thất vọng.”

Thượng Quan Trường Không chỉ chờ mỗi câu đáp ứng này của Bích Mặc tiên sinh, bấy giờ trong bụng y mở cờ chẳng khác nào tử tù được đại xá. Y phất áo quay gót cút thẳng khỏi thư phòng của Nguyễn Đông Thanh.

Hồ Ma Huyền Nguyệt nhìn sang, cau mày:

“Tiên sinh, lần này thằng ranh Thượng Quan Trường Không đưa ra yêu sách gấp như vậy, rõ ràng là muốn làm nhục quốc thể của Đại Việt. Không biết tiên sinh có đối sách gì, sẵn nhân thủ hay chưa? Nếu cần trợ giúp, chỉ nói một tiếng là được. Tiểu nữ đương nhiên sẽ giúp ngài hết lòng.”

Y thị nói xong, khoanh tay chờ Nguyễn Đông Thanh trả lời. Kỳ thực, ý tứ của Hồ Ma Huyền Nguyệt rất đơn giản:

“Bây giờ ngài đang cần gấp người, muốn điều động từ nơi khác rất khó, mà không hoàn thành yêu sách của Thượng Quan Trường Không thì có nhục đến quốc thể. Thế nhưng, Hồ Ma Huyền Nguyệt ta đây còn có hai ngàn binh sĩ. Chỉ cần ngài nhờ vả, coi như hai ta không ai nợ ai.”

Chỉ cần Nguyễn Đông Thanh gật đầu, thì Hồ Ma Huyền Nguyệt sẽ có cớ để xí xoá chuyện quan Chưởng Ấn dưới quyền bắt oan Đỗ Thải Hà, từ đấy không cần giao chức quan quan trọng của thành Bạch Đế cho người khác.

Đáng tiếc, Bích Mặc tiên sinh của chúng ta lại nghĩ:

“Chuyện của con bé Hà đã nhờ vả người ta phải bôn ba một phen, bây giờ lại nhờ vả thành chủ thì coi sao được? Lại nói, người của thành chủ phần lớn là binh sĩ, bảo múa đao lộng kiếm thì được, bày trò tiêu khiển cho Thượng Quan Trường Không thì bỏ đi. Chẳng nhẽ lại dạy người ta múa điệu Con đ* Đánh Bồng?”

Nguyễn Đông Thanh cười, chắp tay:

“Cảm tạ ý tốt của thành chủ. Chuyện này sơn nhân tự có diệu kế, đến lúc đó thành chủ hạ cố đến xem là nể mặt tại hạ lắm rồi.”

Hồ Ma Huyền Nguyệt nghe vậy, sắc mặt tối sầm, bụng bảo dạ:

“Quả nhiên tên Bích Mặc tiên sinh này muốn cái chức Chưởng Ấn quan. Thế nhưng... có thể không giao được sao? Ài...”

Tâm tình y thị thoáng cái sa xuống đáy vực, Hồ Ma Huyền Nguyệt thở hắt ra một hơi, đoạn nói:

“Nếu tiên sinh đã có sắp xếp thì xem như lo lắng của tiểu nữ là thừa thãi rồi. Tối nay tiểu nữ đương nhiên sẽ cùng thuộc hạ đến chung vui, tạo thế cho tiên sinh.”

“Vậy Đông Thanh xin cảm tạ trước. Làm phiền thành chủ quá.”

Nguyễn Đông Thanh vừa hành lễ, ngẩng đầu dậy thì đã chẳng thấy Hồ Ma Huyền Nguyệt đâu nữa. Gã nhún vai một cái, gọi với ra bên ngoài:

“Hồng Đô! Có chuyện này cần cô ra ngoài chạy một vòng.”

“Được rồi tiên sinh!”

Cô mèo máy Hồng Đô gật đầu một cái, đoạn lao vút ra khỏi phủ thành chủ. Bích Mặc tiên sinh của chúng ta lúc này cũng phủi áo, lóc ca lóc cóc chạy sang thư phòng của Vũ Tùng Lâm, cao giọng:

“Vũ tướng quân! Tại hạ có chuyện cần nhờ!”

oOo

Chi Mai các...

Nơi này đâu đấy độ nửa năm trước vốn là cái chuồng ngựa bỏ hoang, hiện tại đã được người ta xây lại thành một toà lầu tinh xảo. Bên mé tả có cầu đá vắt qua con mương nhỏ, bên bờ có liễu rủ xuống soi bóng. Phía hữu lại trồng một rặng trúc xanh biếc, cảnh sắc mười phần u nhã thi vị.

Hai bên cửa lớn cho khắc hai câu thơ bằng chữ đỏ, rằng:

“Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”

Cái tên Chi Mai các của ngôi lầu này cũng từ đó mà ra.

Trong các, một đám công tử tiểu thư chính đang thưởng trà, kẻ thì khảy đàn, người thì viết chữ, bầu không khí mười phần hài hoà, lại có vài phần thư nhã.

Những người này chẳng phải ai xa lạ, đương nhiên đều là các cậu ấm cô chiêu của thế lực lớn, đến Quan Lâm xin học.

Bích Mặc tiên sinh vì mặc cảm thân phận “lưu manh giả danh tri thức” của bản thân, không dám nhận. Thế nhưng những tiểu thư công tử này sau lưng đại biểu cho thế lực các phương, dây mơ rễ má chính trị chính em rất phức tạp. Vũ Tùng Lâm cảm thấy, nếu có thể thông qua những tiểu thư công tử này tác động đến thế lực sau lưng bọn họ thì ải Quan Lâm cũng chẳng đến nỗi giật gấu vá vai nữa.

Mặc dù hồi đó Nguyễn Đông Thanh tham gia Mỹ Thực Tiến Vua đã giúp Quan Lâm không còn đứng chót, song triều đình xưa nay vẫn vậy, hành chính rối rắm, số lương bổng bổ sung của Quan Lâm nhanh thì ba tháng, chậm thì nửa năm mới có thể đến nơi được.

Thế nhưng...

Vũ Tùng Lâm lại nghĩ “tiên sinh tự có chủ ý của mình”, không dám tìm Nguyễn Đông Thanh nói chuyện. Mà với cái EQ của Bích Mặc tiên sinh thì có đấm vỡ mồm hắn hắn cũng chẳng hiểu đầu cua tai nheo gì những chuyện lợi ích bất thành văn thế này.

Cũng may, nửa chừng có Cố Văn xuất hiện.

Ông đồ Cố Văn một mặt thì dùng Lưu Ảnh Thạch ghi lại những giờ giảng của Nguyễn Đông Thanh, một mặt lại cố ý tuồn thơ văn mỗi lần Bích Mặc tiên sinh của chúng ta hứng lên ngâm đọc ra cho những cậu ấm cô chiêu này. Kế y lại lựa lời nói nhẹ nhàng, rằng thực ra Bích Mặc tiên sinh đang thử lòng bọn họ, bọn họ cũng không khác gì đệ tử ký danh của y.

Đám công tử tiểu thư các nhà các phái bấy giờ mới mừng rỡ, tiếp tục ở lại Quan Lâm.

Hai câu thơ đề trước cửa Cố Văn cũng bảo những người này là Nguyễn Đông Thanh cố tình làm tặng bọn họ, hàm ý là “đừng từ bỏ, người có lòng nhất định sẽ được đáp lại”.

Cố Văn cũng không ngờ mấy cậu ấm cô chiêu này lại thích hai câu thơ mình “mượn tạm” đến thế, lấy ý cảnh đặt cho toà lầu các mới xây này.

Không sai.

Kể từ sau khi nghe Cố Văn, những tiểu thư công tử của các thế lực lớn bèn mua lại chuồng ngựa bỏ hoang, xây một nơi ở chung, thường ngày cùng đàm luận văn thơ, rèn luyện lục nghệ bát nhã, xưng là Chi Mai các.

Lại có người bỏ tiền thỉnh Đại Nho dùng thần thông viết hai câu thơ được Bích Mặc tiên sinh “tặng” lên trước cửa.

Giấy không gói được lửa, chuyện này chẳng mấy chốc là đến tai Nguyễn Đông Thanh.

Gã cũng có tìm Cố Văn hỏi chuyện, nhưng về sau ông đồ nói nghe có lý quá, lại thêm chuyện can hệ đến bách tính cả thành, Bích Mặc tiên sinh cũng chỉ đành ậm ờ cho qua, mặt mo đỏ tấy như đít khỉ.

Nơi Hồng Đô chạy đến chính là Chi Mai các.

Cô mèo máy vừa đi đến cửa, tức thì trong bóng tối đã có mười mấy đạo thần thức quét đến. Biết đấy là cao thủ đi theo bảo hộ cho các cậu ấm cô chiêu trong Chi Mai các, thành thử Hồng Đô cũng không thấy phản cảm.

Dù sao, đổi lại là cô nàng, nếu như có người lạ chạy đến chỗ Nguyễn Đông Thanh thì Hồng Đô cũng sẽ sử dụng thần thức thăm dò.

“Hồng hộ vệ đại giá quang lâm, không nghênh đón từ xa, thực là thất lễ.”

Hồng Đô vừa mới đẩy cửa, thì các thiếu niên nam nữ trong Chi Mai các đã dừng tay, có vẻ là được cường giả hộ đạo nấp trong bóng tối thông báo. Cả đám nhanh chóng đứng thành hai hàng nam trái nữ phải. Cầm đầu bên nam là một thanh niên mình mặc áo trắng, đầu đội ngọc quan, tay cầm quạt xếp. Người vừa lên tiếng chào đón Hồng Đô cũng chính là y.

Dẫn đầu bên nữ là một tiểu thư mình mặc váy dài màu vàng, tay áo dài thướt tha, bên eo buộc hai cái chuông nhỏ nhìn như thể làm bằng vàng. Nàng ta nhẹ nhàng nhún mình một cái, hỏi:

“Không biết Hồng hộ vệ hôm nay hạ cố ghé thăm Chi Mai các là có chuyện gì cần phân phó?”

Hồng Đô cũng không lãng phí thời giờ nói chuyện khách sáo. Cô mèo máy nhìn cả bọn một cái, nói:

“Tiên sinh gặp chút phiền toái, cần có người hỗ trợ. Không biết các vị có sẵn sàng giúp một tay hay chăng?”
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 224: Kế Sách Của Bích Mặc Tiên Sinh


Hồng Đô đi Mai Hoa các thông báo một chuyến, chờ đám tiểu thư công tử lên đường là lập tức ngựa không dừng vó chạy đến nơi khác, tiếp tục thay Bích Mặc tiên sinh làm thuyết khách. Dù sao, những cậu ấm cô chiêu này ở Quan Lâm người nào mà không đại diện cho một thế lực tiếng tăm, hoặc là danh gia vọng tộc ở Đại Việt?

Đại Việt tuy lập quốc chưa lâu bằng sáu nước khác phía bắc Trúc Hải, thế nhưng vẫn nói chim sẻ tuy nhỏ, vẫn có đủ nội tạng. Nội bộ Đại Việt cũng có chia năm sẻ bảy, kéo bè kết phái, dây mơ rễ má rối như tơ vò. Đương nhiên sẽ không thể nào có chuyện toàn bộ những người đến xin theo học Nguyễn Đông Thanh đều cùng một phe, có thể sớm chiều nhìn mặt nhau.

Chỗ tương tự như Mai Hoa Các ở Quan Lâm này thực ra còn mấy nơi nữa, Hồng Đô đều phải đi một lượt mới có thể coi là hoàn thành nhiệm vụ.

Sau độ nửa canh giờ...

Hồng Đô dẫn một nhóm tiểu thư, công tử cuối cùng ở Quan Lâm đến phủ thành chủ, vào một căn phòng lớn hội họp cùng những người khác. Nguyễn Đông Thanh ngồi ở chủ vị, chờ cho cô mèo máy và đoàn người cuối cùng vào ổn định chỗ ngồi, gã mới đứng dậy, chắp tay:

“Các vị, có câu vô sự bất đăng tam bảo điện, thiết tưởng trước khi đến đây hộ vệ của tại hạ cũng đã nói với mọi người lần này Đông Thanh có việc cần nhờ vả. Ngày thường song phương cũng chẳng qua lại gì mấy, hiện giờ có việc mới đến tìm, quả thực làm tại hạ áy náy vô cùng. Vậy mà mọi người vẫn trượng nghĩa đến giúp, quả thực là khiến tại hạ thụ sủng nhược kinh, xin nhận một lễ này...”

Gã nói chưa dứt câu, bên dưới đã nhao nhao có tiếng nói:

“Tiên sinh xin đừng làm thế.”

“Đúng vậy, đúng vậy.”

“Chúng ta thật không dám nhận.”

“Lần này đến trợ giúp, về công về tư đều là thiên kinh địa nghĩa. Há lại có thể nhận đại lễ của tiên sinh?”

Nguyễn Đông Thanh không khỏi lấy làm ngạc nhiên, sau đó chợt thấy vô cùng áy náy, hắng giọng ho khan một cái. Hắn vẫn biết câu có qua có lại mới toại lòng nhau, ngày thường gã chẳng giúp gì những cậu ấm cô chiêu này, đến nay có chuyện mới tìm đến, quả thực là không phải đạo cho lắm. Vốn là Bích Mặc tiên sinh của chúng ta còn tưởng những tiểu thư công tử kia đều là hạng con ông cháu cha, vua con một cõi, cao cao tại thượng đã quen. Bây giờ gặp phải chuyện thế này, trong lòng ắt có bất mãn. Cả khách quan lẫn chủ quan như vậy, thế nên Nguyễn Đông Thanh vừa bắt đầu đã hành lễ, nói lời không phải.

Không ngờ bọn họ lại ứng xử hoàn toàn trái ngược với những gì gã nghĩ, khiến Bích Mặc tiên sinh bất giác cảm thấy mình “lấy dạ tiểu nhân đo lòng quân tử”.

Gã hắng giọng, nói:

“Không giấu gì các vị, lần này mời các vị đến đây là do thái tử nước Sở – Thượng Quan Trường Không bỗng nhiên yêu sách, nói Đại Việt ta tiếp đón không chu toàn, không có gì cho y giải trí hưởng lạc. Tuy tại hạ cũng chẳng thích thú gì cái yêu cầu vô lý này của y cho cam, thế nhưng trước y là khách, sau cũng là thái tử một nước, lễ phép không thể thiếu. Song chuyện xảy ra quá gấp, Đông Thanh lâm vào đường cùng, chỉ có thể xin các vị giúp cho một tay.”

Công tử áo trắng ở Chi Mai các nghe đến đây, mày kiếm chếch lên, trong mắt cơ hồ trào ra lửa giận, đập bàn mà quát:

“Lý nào lại thế? Một nước Sở cỏn con mà thôi, vậy mà cũng dám làm khó tiên sinh? Chẳng nhẽ chúng coi Đại Việt ta dễ bắt nạt hay sao?”

“Lâm công tử, bình tĩnh, chớ có lúc nào cũng nghĩ đến chuyện động đao động thương như kẻ vũ phu thế. Tiên sinh hôm nay mời chúng ta đến đây là để hỗ trợ chuyện tiếp sứ, chứ không phải khiến chuyện bé xé ra to, gây chiến với Đại Sở.”

Ở góc phòng đối diện, một thiếu niên áo đen bình thản lên tiếng, chữ nào chữ nấy đều hướng đầu mũi giáo về phía Lâm công tử.

Hiển nhiên, thế lực sao lưng hai người này không ưa gì nhau.

Lâm công tử nghiến răng, biết mình lỡ lời, vội vàng nói:

“Tiên sinh chớ trách, tại hạ trẻ tuổi nóng máu, mới nhất thời lỡ lời.”

“Không dám. Kỳ thực nếu tại hạ trẻ lại mười năm, chắc cũng sẽ có phản ứng tương tự như cậu.”

Nguyễn Đông Thanh cười, bầu không khí trong thoáng chốc đã hòa hoãn lại.

Hồng Đô ho khan một tiếng, nhắc:

“Tiên sinh, thời gian có hạn, vẫn nên vào thẳng chuyện chính đi thì hơn.”

Bích Mặc tiên sinh của chúng ta húng hắng ho một cái, gật đầu, đưa một xấp giấy cho vị Lâm công tử áo trắng khi nãy, nói:

“Những gì cần làm tại hạ đều đã viết kỹ càng ở đây. Mọi người tập dượt qua một lần, thiết nghĩ các vị ở đây đều là người đã quen những thú cao nhã, đến tối là có thể thực hiện trơn tru đâu đấy. Đông Thanh xưa nay không thạo những chuyện cầm ca diễn xướng này, không bêu xấu nữa.”

Thiếu nữ váy vàng lướt qua nội dung trên trang giấy một lượt, đoạn nói:

“Tiên sinh, tiểu nữ có mấy lời không biết có phải mạo phạm hay chăng, mong tiên sinh chớ trách.”

“Tiểu thư xin cứ nói.”

“Những gì tiên sinh viết ở đây, đối với mấy người chúng ta mà nói chẳng phải chuyện gì lớn, chỉ một canh giờ là xong. Thế nhưng một bàn tay vỗ không lên tiếng, ngoại trừ chuyện nội dung ra thì hãy còn những việc như hầu hạ phục dịch, điểm tâm nước trà, sân khấu trị an. Không biết tiên sinh đã có sắp xếp hay chưa?”

Thiếu nữ nói dứt lời thì nhẹ nhàng lui lại một bước, đưa mắt nhìn gã, trong lòng thấp thỏm lo âu, trái tim trong lồng ngực đập càng lúc càng nhanh. Chỉ thấy lúc này Bích Mặc tiên sinh của chúng ta vừa đứng gật gù, vừa chặc lưỡi giống như tán thưởng, khiến nàng ta vui như mở cờ trong bụng.

Mà những tiểu thư công tử khác trong phòng thấy phản ứng của Nguyễn Đông Thanh thì trong lòng hối hận thối cả ruột, nhao nhao lên tiếng đồng tình với thiếu nữ áo vàng. Kỳ thực bọn họ xuất thân đều từ thế lực lớn, có số có má ở Đại Việt. Số lần bọn họ tham gia các buổi tụ họp lớn, những bữa tiệc tiếp đãi nhân vật quan trọng có lẽ còn nhiều hơn số lần Nguyễn Đông Thanh đi từ cổ viện đến ải Quan Lâm.

Thành thử, những cô chiêu cậu ấm này há lại không nhìn ra được những gì cô gái áo vàng vừa nói? Chẳng qua là bọn họ đều cho là “Bích Mặc tiên sinh liệu sự như thần, không đề cập đến chắc chắn là có chủ đích”, nên ai nấy đều chọn im lặng.

Biết mà không điểm phá.

Duy chỉ có thiếu nữ áo vàng là lựa chọn trái hẳn với số đông. Kỳ thực, lúc nàng ta lên tiếng, không ít người còn âm thầm chê là ngu ngốc, lấy làm hả hê chờ xem Nguyễn Đông Thanh khó chịu.

Kết quả không nói cũng biết, hoàn toàn trái ngược với những gì bọn họ tưởng tượng.

Nguyễn Đông Thanh chờ đám cô chiêu cậu ấm nhao nhao xong đâu vào đấy mới hắng giọng, lên tiếng:

“Tiểu thư nhắc nhở rất phải. Tại hạ chính cũng đang định lên đường xử lý chuyện này đây.”

“Hóa ra tiên sinh đã có sắp xếp, tiểu nữ múa rìa qua mắt thợ lo lắng thừa thãi, xin tiên sinh chớ trách.”

“Nào dám, nào dám. Vẫn có câu một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao. Thêm một người là thêm một cặp mắt mà.”

“Tiên sinh dạy phải. Nếu thế tiểu nữ không làm phiền tiên sinh nữa. Mọi người, còn không nhanh chóng học thuộc kỳ văn của tiên sinh?”

“Sư tỷ, xem ra sau này chúng ta còn phải học hỏi dài dài.”

Đám công tử tiểu thư khác bấy giờ nhao nhao kéo lại chỗ cô gái áo vàng, mặt cười thân thiện, giọng nói ngọt như bôi mật, người nào người nấy đều cố gắng lấy lòng cô nàng. Ngay cả Lâm công tử áo trắng cũng không ngoại lệ.

Đáng tiếc, tràng cảnh củ chuối này Bích Mặc tiên sinh của chúng ta không được chứng kiến.

oOo

Sau khi rời khỏi phủ thành chủ, Nguyễn Đông Thanh lập tức nhờ Hồng Đô cưỡi mây chở về ngọn núi Vô Danh. Cô nàng mèo máy thấy ông tiên sinh nhà mình cứ thúc ngựa truy phong, chẳng thấy nói năng gì, mới tò mò hỏi:

“Tiên sinh, không biết ngài đã có sắp xếp gì chưa? Có thể bật mí cho Hồng Đô được hay không?”

Bích Mặc tiên sinh của chúng ta bấy giờ đằng vân đã quen, không còn lóng nga lóng ngóng như lần đầu nữa. Tuy thỉnh thoảng chẳng may nhìn xuống dưới vẫn run run, song đã có thể nói chuyện bình thản với Hồng Đô rồi. Gã nghe cô mèo máy hỏi, hắng giọng một cái:

“Chuyện nhân thủ Vũ tổng binh đã hứa là sẽ trợ giúp. Cái việc bếp núc vốn là định nhờ thằng Sênh, nhưng hiện giờ nó đang có nhiệm vụ khác trên người, nên cứ để Dương lão lo liệu cũng được. Duy chỉ có phần sân khấu là hơi cam go.”

“Vũ tổng binh cũng không giúp được sao?”

“Không phải không muốn, dù sao về tình thì hai bên cũng là chỗ quen biết, về lý thì tổng binh cũng có nhiệm vụ hỗ trợ chuyện tiếp sứ lần này. Thế nhưng hiện giờ ải Quan Lâm vừa có binh mã nước Tề, vừa có người ngựa nước Sở, có hơi quá tải. Phần lớn nhà trọ dịch trạm đã được trưng dụng làm nơi dừng chân tiếp sứ thần, tạm thời quả thực là không tìm đâu ra địa điểm.”

“Còn đám người mộ danh tiên sinh đến cầu học nữa thì đúng là đất chật người đông thật.”

Hồng Đô đế thêm một câu, thuận tiện nhắc nhở ông tiên sinh nhà mình rằng cái cơ sự của hôm nay cũng có một phần là lỗi của gã.

Quan Lâm vốn là một cửa ải hòng chống cự thú triều, vốn là nhân khẩu cũng không đông lắm, thành trấn cũng chẳng gọi gì là to tát, không thể nào so được với những nơi như Bạch Đế, Đông Thanh được. Trước đây nơi này chó ăn đá gà ăn sỏi chẳng ai thèm lui tới thì còn rộng rãi thoáng đãng, hiện tại người từ tứ xứ đổ về thì quả thực có chút chật hẹp bí bách.

Nguyễn Đông Thanh thấy chút tiểu xảo của mình thoắt cái đã bị cô mèo máy chọc thủng, mặt mo hơi đỏ, vội vàng đổi sang nói chuyện khác:

“Chính vì Vũ tổng binh cũng không giúp được nên mới phải nhờ đến hàng xóm của cổ viện.”

“Ra là muốn đến gặp Huyền Thanh nương nương. Vậy tiên sinh ngồi cho chắc, Hồng Đô chuẩn bị tăng tốc đây.”

Cô mèo máy vừa dứt lời, thì lập tức bắt quyết, khiến đám mây dưới chân lao nhanh về phía đầm nước của Huyền Thanh nương nương.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 225: Huyền Thanh: Kỳ Thực Bản Cung Rất Ham Chơi


Đầm nước của Huyền Thanh nương nương mấy tháng trước còn trở thành chủ đề nóng hôi hổi như khoai vừa nướng, là “mốt” trong phong trào ngồi lê đôi mách buôn dưa lê bán dưa chuột của cánh chị em. Dù sao, đang yên đang lành, thú triều vừa rút một cái, sáng hôm sau tự dưng ngoài thành xuất hiện một cái đầm nước to tổ chảng.

Quả thực là một câu chuyện li kì.

Thành thử, dân Quan Lâm không thiếu người bắt đầu đoán già đoán non, đồn ra tán vào về nguồn gốc xuất xứ của cái đầm nước.

Có kẻ khăng khăng bảo rằng ông chú con rể của bà hàng xóm nhà ông ngoại xa của thằng em kết nghĩa ông thân sinh nhà mình nghe được bà đầu bếp trong phủ thành chủ bảo: “Có một đại năng từng ẩn cư trong Lục Trúc Hải, sau trận đánh thú triều hồi ấy thì mất hảo cảm với đám thú tộc trong rừng nên chuyển ra ngoài ẩn cư.”

Người lại vỗ ngực khẳng định chắc như đinh đóng cột rằng cái đầm ấy gọi là Đình Chiến Đàm, là do thú tộc thua đứt đuôi quá đau đớn nên phải đào cái đầm ấy cho dân chúng Quan Lâm có nước tưới tiêu sinh hoạt, coi như làm minh chứng trận thua hôm ấy. Còn về nguyên nhân Vũ tổng binh chưa cho khơi dòng dẫn nước vào thành là do còn phải chờ xem thú tộc Lục Trúc Hải có giở trò táy máy gì không. Hễ có ai hỏi y đều bảo tin của y do đích thân một ông anh kết nghĩa có ông hàng xóm từng qua lại lăng nhăng với cô hàng vải vợ một anh lính thủ thành kể cho.

Lại có người bảo đấy là hậu chiêu của thú tộc, một khi bọn chúng chuẩn bị đủ quân số sẽ dâng nước đánh thành, thuận tiện lấy nước đó làm nước uống cho quân luôn. Y mãnh liệt yêu cầu cả thành cùng tấu lên Vũ Tùng Lâm yêu cầu cho người lấp quách cái đầm đi tránh khỏi đêm dài lắm mộng.

Tên này vốn là người hâm dở điên điên có tiếng ở Quan Lâm, thành thử lời y nói ra cũng chẳng có ai để ý.

...

Thôi thì đủ loại giả thuyết, lắm cái còn ảo ma hư cấu, bốc phét điêu toa nghe còn giật gân hơn cả Lan Hạ giật tít. Thế nhưng giữa bạt ngàn những giả thuyết về cái đầm thình lình xuất hiện ngoài thành kia, tất cả đều có một điểm chung duy nhất.

Tên của đầm nước.

Cả Quan Lâm đều gọi nơi này bằng cái tên đơn giản – đầm Nhất Dạ – ý là hình thành sau một đêm. Không nói cũng biết, Bích Mặc tiên sinh của chúng ta vừa nghe đến cái tên này thôi, ngụm trà uống dở kém chút thì phun ra ngoài.

Cũng không biết có ai tìm thấy trai đẹp khỏa th*n d*** bùn ở đầm này chưa.

Lại nói, người khác có lẽ không biết, thế nhưng dù sao cũng là hàng xóm láng giềng, đám đệ tử dăm bữa nửa tháng lại từ chân núi chạy đến chỗ người ta hỏi này hỏi kia, Bích Mặc tiên sinh há lại không tinh tường ẩn cư ở đây là một vị phu nhân? Đặt tên là đầm Nhất Dạ... có hơi quá không?

Hồng Đô đạp gió, chẳng mấy chốc hai người đã xuất hiện ở bên bờ đầm.

Nguyễn Đông Thanh đưa mắt ra hiệu, cô mèo máy bấy giờ mới đề khí, cất giọng:

“Hôm nay tiên sinh nhà chúng ta đến đây bái phỏng có chuyện cầu kiến, không biết phu nhân có thể nể mặt hay không?”

Lời vừa dứt, thì ở cái gò giữa đầm, tì nữ Thiêm nhi đã chống sào đẩy thuyền về phía hai người. Huyền Thanh nương nương đứng trên đầu thuyền, mình vận một cái áo bông, tay lại cầm quạt khẽ phe phẩy, tạo hình nửa đông nửa hè này quả thực khiến người ta liên tưởng đến câu “thời trang phang thời tiết”.

Kỳ thực, Hồng Đô cũng thừa hiểu thị nữ nô tỳ dưới trướng vị phu nhân này đều là điểu tinh, khi nãy cô nàng cưỡi mây mà đến, bọn họ sớm đã phát hiện rồi. Chẳng qua tiên sinh nhà mình hiện giờ còn đang bận làm phàm nhân, người ta không muốn điểm phá nên cần có một câu gọi để ra mặt mà thôi.

Huyền Thanh nương nương đặt quạt xuống bên mạn thuyền, cười hỏi:

“Không biết ngọn gió lành nào đưa tiên sinh hạ cố hàn xá, thực là rồng tới nhà tôm. Dám hỏi tiên sinh đến thăm là có chuyện gì?”

Nguyễn Đông Thanh cười khổ, nói:

“Ngày thường đám học trò thường xuyên đến làm phiền, chưa kịp báo đáp mà nay đã có chuyện phải nhờ vả, không thể không mặt dày đến cửa bái phỏng được, thật là ngại quá. Vẫn mong phu nhân lượng thứ cho sự thất lễ này.”

“Tiên sinh khách khí rồi. Kỳ thực tiểu nữ ẩn cư nơi đây, ngày thường cũng nhàm chán u tĩnh, không có việc gì làm. Có mấy vị cao đồ sang chuyện trò mua vui cũng là chuyện giải khuây. Đúng rồi, không biết điều gì có thể làm khó được tiên sinh?”

“Không dám giấu gì phu nhân. Đông Thanh gần đây được thánh thượng tin tưởng giao cho chức quan Tiếp Sứ, phụ trách tiếp đón sứ đoàn các nước theo minh ước Kháng Hải nhập quan. Chỉ là... thái tử điện hạ của Đại Sở Thượng Quan Trường Không quả thực là một... nhân tài. Hành quân đánh trận mà y vẫn muốn hưởng lạc, nằng nặc đòi ở Quan Lâm phải có việc gì mua vui cho y. Tại hạ không muốn làm to chuyện vào cái lúc nước sôi lửa bỏng này, chẳng còn cách nào khác ngoài mặt dày đến đây nhờ cậy phu nhân giúp cho một tay cái chuyện địa điểm.”

Nguyễn Đông Thanh thở dài, sau lại len lén nhìn Huyền Thanh nương nương, lòng cứ lo lắng không biết rốt cuộc vị phu nhân này sẽ phản ứng ra sao trước câu nói của mình.

Trước là câu “dọn hồ đến đây”, sau lại nghe từ đám học trò và vị Vũ tổng binh, thành thử Bích Mặc tiên sinh của chúng ta cũng biết vị phu nhân đang ngồi thuyền phía trước là một người tu hành tu vi thông huyền. Cái chuyện dâng đất chuyển cây, xây một sân khấu ngoài trời đặng tiếp đãi Thượng Quan Trường Không chắc hẳn đối với Huyền Thanh mà nói chỉ dễ như trở bàn tay.

Thành thử, khi Vũ Tùng Lâm thấy không giúp gì được gã cái chuyện bến bãi sân khấu này thì lập tức đề cử vị Huyền Thanh nương nương đang ẩn cư gần Lão Thụ cổ viện.

Dù sao, lão còn nhớ như in cái võ đài lần trước dùng trong thú triều là bà ta dùng đại thần thông tạo nên.

Huyền Thanh nương nương nghe xong, gật đầu:

“Chuyện không có gì to tát cả, tiên sinh cứ giao cho tiểu nữ. Đúng rồi, không biết tiên sinh dự định tiếp đón thái tử nước Sở bằng tiết mục gì? Không biết có thể cho tiểu nữ đọc trước một hai hay chăng, cũng tiện để đám Thiêm nhi phối hợp với người tiên sinh. Còn nếu đây là cơ mật không tiện tiết lộ, thì xem như tiểu nữ nhiều lời.”

Nguyễn Đông Thanh xua tay, đáp:

“Không dám. Nào phải cơ mật gì? Chỉ là lần này Thượng Quan Trường Không ra yêu sách gấp quá, tại hạ chỉ mới kịp viết một bản, hiện tại vẫn còn trong tay của...”

Gã nói đến đây, mới sực nhớ ra là mình quên béng không hỏi tên tuổi của thiếu nữ áo vàng ban nãy. Hồng Đô ôm mặt, thầm nghĩ nếu không phải cả thiên hạ đều hay đều biết chuyện Lý Thanh Vân bị người ta cướp đi Võ Thánh Chi Hồn, khéo cô nàng còn nhầm tưởng vị đại sư huynh của cổ viện chính là con tư sinh của tiên sinh nhà mình.

Dù sao...

Cái phong thái ngố rừng này quả thực từ một khuôn đúc ra.

Đương nhiên, trong lòng đá đểu tiên sinh nhà mình một câu thế thôi, Hồng Đô vẫn thực hiện rất nghiêm túc nhiệm vụ của một hộ vệ. Cô nàng khẽ hắng giọng, truyền âm cho Nguyễn Đông Thanh:

“Người ta là con gái của thành chủ Hải Giác thành – Hoàng Sở Sở.”

Bích Mặc tiên sinh của chúng ta chẳng khác nào người chết đuối vớ được cọc, tiếp tục câu nói bỏ dở ban nãy:

“Của Hoàng cô nương thiên kim nhà thành chủ Hài Giác thành.”

“Chuyện ấy thì có là gì? Tiểu nữ bây giờ cùng tiên sinh về Quan Lâm một chuyến chẳng phải là xong rồi sao? Thiêm nhi...”

“Vâng. Tiên sinh, Hồng hộ vệ, mời lên thuyền.”

Tì nữ Thiêm Nhi cúi đầu, đưa tay làm thủ thế mời. Nguyễn Đông Thanh mặc dù không hiểu đầu đũa ra làm sao, song lại nghĩ: chuyện của giới tu hành, một tên phàm nhân như gã thì thắc mắc nhiều làm gì? Thế là Bích Mặc tiên sinh của chúng ta bình thản bước lên thuyền, tìm một chỗ ngồi xuống.

Chờ Hồng Đô cũng lên thuyền, Thiêm nhi mới chống sào, nhấn xuống một cái. Cả con thuyền nhỏ cứ thế nhanh chóng lao vút lên không, nhoáng một cái đã vượt qua biển mây trắng phau trên đầu. Không đợi Nguyễn Đông Thanh kịp kinh ngạc, tì nữ Thiêm nhi đã dộng sào xuống ván thuyền một cái.

Lập tức, chiếc thuyền gỗ xé gió lao vút về phía ải Quan Lâm, tốc độ quả thực không khác gì máy bay phản lực. So với cái lần ngồi kiệu bay khi trước và mấy lần đi ké đằng vân thuật của Hồng Đô thì nhanh hơn không biết bao nhiêu cho kể.

oOo

Thuyền của Thiêm nhi phanh gấp ngay trên đầu phủ thành chủ, lập tức khiến kẻ không có tu vi như Nguyễn Đông Thanh lăn vòng dúi dụi, từ đầu thuyền lăn thẳng vào khoang thuyền.

Nếu không nhờ có Hồng Đô và màn chân khí dùng để che chắn gió mạnh trên không bao quanh con thuyền thì chắc hiện giờ Bích Mặc tiên sinh của chúng ta có lẽ đã bắn từ đầu thuyền này sang đầu thuyền kia, thậm chí cosplay phái Thanh Thành thi triển “Thí Cổ Hướng Hậu, Bình Sa Lạc Nhạn Thức” cũng không biết chừng.

Nếu quả thực ngã khỏi thuyền, rơi từ hơn trăm mét xuống đất, lại còn đầu dưới đít trên như Nguyễn Đông Thanh thì sang năm chắc làm giỗ đầu cho hắn là vừa.

Huyền Thanh nương nương là người đứng dậy trước tiên, không nói lời nào, đạp lên mũi thuyền bay xuống. Một vị phu nhân ăn mặc hoa quý, động tác phi hành cũng khí chất mười phần, quả thực có thể đùng “trích tiên giáng phàm” để hình dung.

Hồng Đô thì che mặt, có chút không dám nhìn thẳng ông tiên sinh nhà mình. Cô tì nữ Thiêm nhi bật cười thành tiếng:

“Tiên sinh đây là làm phàm nhân nhiều quá đâm nghiện chăng?”

Nguyễn Đông Thanh lúc này mới định thần, lom khom đứng dậy phủi áo. Khoang của chiếc thuyền độc mộc bình thường Huyền Thanh nương nương vẫn dùng không lớn lắm, ban nãy hắn lăn một vòng, khiến vật dụng trong khoang thuyền đều rối tung, lộn xộn.

Bích Mặc tiên sinh xưa nay thích sách, mặc dù không cố ý xâm phạm sự riêng tư của Huyền Thanh nương nương nhưng đôi mắt vẫn vô thức nhìn về phía bìa của mấy cuốn sách rơi dưới sàn.

Không nhìn thì thôi, vừa đọc được tên những quyển sách mà vị nương nương này trân tàng, Bích Mặc tiên sinh của chúng ta đã trợn mắt, há hốc mồm.

Ngôn tình nữ cường?

Ngược luyến tàn tâm? Ngọt sủng phúc hắc?

Loại nào cũng có, hơn nữa không chỉ một bộ. Nhìn cảnh này, không nói Nguyễn Đông Thanh cũng biết số tiểu thuyết trong phòng của Huyền Thanh nương nương là từ đâu mà ra.

Trong thoáng chốc, ấn tượng một phu nhân hoa quý, thần bí mà cường đại trong lòng Bích Mặc tiên sinh ầm ầm sụp đổ.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 226: Nhân – Quả - Hai Người


Trước khoan kể chuyện Nguyễn Đông Thanh đối phó với yêu sách của Thượng Quan Trường Không ra sao.

Sau khi gặp Trần Dũng, Nguyên Phương ở Tế Kỳ thành, truyền nhân của chùa Long Hoa – Kim Thiền Tử – nhanh chóng lên đường thẳng hướng Quan Lâm.

Một tay y cầm tích trượng, trên đầu che nón tu lờ, phăm phăm bước từng bước một. Kim Thiền Tử thân là người kế nhiệm của phương trượng Long Hoa tự, một thân tu vi đã sớm tiến sâu vào Vụ Hải, hơn nữa phật pháp thông huyền.

Thậm chí, có người còn nói luận chiến lực chưa chắc Kim Thiền Tử đã dưới cơ hai thiên kiêu đứng đầu Huyền Hoàng giới hiện nay: “long đằng vạn lý, hổ khiếu thanh minh”.

Kim Thiền Tử sớm đã luyện thành thần thông “Súc Địa Thành Thốn” của Phật môn, cho dù không lăng không phi hành cưỡi gió đạp mây thì cũng có thể vượt qua khoảng cách trăm dặm trong thoáng chốc. Tốc độ tuyệt không thua ai.

Thế nhưng hiện giờ y lại đi từng bước từng bước, chậm rãi tiến lên, không dùng một tí chân khí nào, ngoại trừ tố chất thân thể sớm đã đạt Kim Thân La Hán ra thì chẳng khác nào phàm nhân.

Kim Thiền Tử sớm đã được nghe Bích Mặc tiên sinh ưa thích giả làm phàm nhân, cảnh giới cao thâm mạt trắc, thủ đoạn sâu không lường được. Kim Thiền Tử lần này đi tới Quan Lâm không dùng truyền tống trận, không sử dụng thần thông, âu cũng là một cách thể hiện kính ý của hắn.

Đương nhiên, kỳ thực còn một nguyên nhân khác nữa.

Tuy tố chất thân thể vượt xa cường giả bình thường, song đi từng bước từng bước một, thành thử tuy Kim Thiền Tử đi đã được nửa ngày, nhưng cũng chỉ mới đến bến sông nơi Lý Thanh Vân gặp được chủ tớ Quế Như Ngọc.

Gã ngừng lại, lần tràng hạt, con ngươi bên phải từ từ chuyển từ màu nâu nhạt sang một sắc ánh kim lấp lánh như vàng ròng. Kim Thiền Tử nhìn về phía dòng sông trước mặt, nhoẻn miệng cười, sau đó thu hồi thần thông ở mắt. Lúc con ngươi của y khôi phục màu sắc lúc trước thì gã đã ngồi xuống bên bờ, một chiếc dép dùng làm ghế, chiếc còn lại để kê chân.

Bàn tay Kim Thiền Tử vơ lấy một hòn sỏi, vung tay ném về phía mặt sông. Viên đá chạm nước, nhảy lên ba bận, b*n r* đến giữa dòng mới chìm. Hòa thượng làm xong, mới giật mình, cúi đầu nhìn vào bàn tay mình, lẩm bẩm:

“Tại sao mình lại làm thế?”

Kim Thiền Tử từ bé đến lớn đều trấn thủ Tháp Lâm, ngày thường quét tước lau dọn cũng có sư đệ trong chùa xách nước đến cho, từ lúc nhỏ đến nay ngay cả cái ao cũng chưa thấy, đừng nói chi là con sông rộng thênh thang trước mặt. Thế nhưng, ban nãy y lấy sỏi lia nước trong lòng lại cảm thấy rất quen thuộc, giống như là một thói quen đã làm vô số lần.

Gã lắc đầu, vết tàn hương trên trán hơi sáng lên, tâm cảnh của Kim Thiền Tử thoắt cái lại trở nên trong suốt như gương, chẳng nhiễm một chút bụi trần. Y chắp tay chữ thập trước ngực, miệng tụng câu “a di đà phật”, nói đoạn bình thản trải cà sa, tích trượng để ngang đùi, nhắm mắt lại.

Kim Thiền Tử đang chờ.

Y hiện tại đã luyện thành La Hán Kim Thân, tinh thần sung mãn, khí lực bất tận dùng mãi không hết. Chỉ cần trong trời đất còn có chân khí để khôi phục thì Kim Thiền Tử hắn có đi đến lúc trời già đất chết cũng chẳng bao giờ thấy mệt.

Đương nhiên cũng không cần ngồi xuống nghỉ ngơi.

Mà ngồi chờ bên bờ sông cũng chính là nguyên do thứ hai khiến Kim Thiền Tử không sử dụng thần thông mà từng bước từng bước một đi về phía Quan Lâm.

Phật môn nói nhân quả, nhìn duyên phận...

Mà Kim Thiền Tử trời sinh nắm xá lợi, sau đầu có phật cốt, con mắt trái cũng thức tỉnh một thiên phú mang tên Vạn Hoa Đồng. Phật nói “nhất hoa nhất thế giới, nhất diệp nhất bồ đề”, cái tên của thần thông cũng lấy từ ý này mà ra.

Thần thông Vạn Hoa Đồng của Phật Môn có thể tham thấu quá khứ, khám phá vị lai, đoán định nhân quả duyên phận. Phàm là người thức tỉnh thần thông này cơ hồ đều có thể xu cát tị hung, chẳng khác nào biết trước tương lai, yên ổn tìm kiếm cơ duyên.

Có thể nói, Vạn Hoa Đồng chẳng khác nào một loại bảo chứng.

Bảo chứng đăng lâm tuyệt đỉnh, chứng thành đại đạo.

Khai đạo tổ sư của Phật Môn – Tổ Phật – tương truyền chính là người đầu tiên thức tỉnh Vạn Hoa Đồng, từ đó tránh nạn tìm duyên, hai bàn tay trắng lập nghiệp, đẩy thiên địa huyền môn, hóa đạo truyền thế.

Phải biết, trong Ngũ Lộ Triều Thiên, Phật Môn có thể nói là lập môn gian nan nhất. Tổ Phật phát tích ở phương tây, nơi này chẳng những có Hoàng Liên Sơn Mạch mà còn là địa bàn của Mộng Yểm Thụ Tinh tộc. Một thiếu niên hai bàn tay trắng, không có thế lực không có bối cảnh, lại có thể tìm được một miếng đất cắm dùi ở nơi cực tây hung ác kia, quả thực là một truyền kỳ.

Tuy hiện giờ Thiên Đạo tổn thương, Vạn Hoa Đồng cũng không thể nào nhìn đến nơi hạ du của Tuế Nguyệt Trường Hà như ghi chép trong kinh sách. Thế nhưng sử dụng thần thông này, Kim Thiền Tử vẫn có thể thấy đại khái được ở bờ sông này, y có một lần kì ngộ.

Nếu sử dụng thần thông Súc Địa Thành Thốn lao đến Quan Lâm, thì sẽ bỏ lỡ.

Thành thử, Kim Thiền Tử từng bước từng bước một đi đến nơi này, lại ngồi xuống.

Chỉ thấy...

Từ phương nam, một bóng người áo trắng chắp tay sau lưng, đạp mây mà đến. Y vừa xuất hiện, ánh nắng dường như cũng trở nên ảm đạm, thiếu đi mấy phần diễm lệ.

Thoáng chốc, cỏ cây thất sắc.

Thiếu niên này đương nhiên chẳng phải ai khác, chính là thiếu lầu chủ của Vọng Thiên lâu – Lã Vọng Thiên. Cậu chàng đang đằng vân bỗng nhiên dừng lại, bấm đốt tay mấy cái.

Sau đó, dường như tính đến chuyện gì, Lã Vọng Thiên nở một nụ cười, nhằm hướng bờ sông mà bước đi.

Kim Thiền Tử đã chờ sẵn.

Hắn tuy là người xuất gia, thế nhưng mày kiếm mắt sáng, má như nhồi phấn môi tựa bôi son, quả thực luận nhan trị cũng không thua kém Lã Vọng Thiên bao nhiêu. Khác biệt lớn nhất có lẽ là khí chất.

Lã thiếu lâu chủ cho người ta một loại cảm giác nhẹ nhàng, pha thêm một chút yếu nhược, quả thực là bệnh công tử trong truyền thuyết.

Kim Thiền Tử lại khiến người ta cảm thấy như tắm trong nắng sớm, thiếu niên nhiệt huyết.

Hai người đứng đối diện...

Lã Vọng Thiên nhìn Kim Thiền Tử một cái, cười:

“Đại sư dường như đã biết sẽ gặp tại hạ ở đây?”

“Như nhau. Xem ra thí chủ cũng đã tính ra sẽ gặp được tiểu tăng ở chốn này.”

“Tuế nguyệt mêng mang, nhân quả mờ mịt, há lại dám nói là tính được? Cái gọi là bói toán cũng chỉ có thể nói là một loại khả năng mà thôi, không nhất định sẽ xảy ra.”

Kim Thiền Tử nghe lời này, thoáng giật mình, thầm nhủ:

“Xem ra lời đồn quả nhiên là thật. Vọng Thiên lâu cũng biết được thực hư của Nhân Quả Trường Hà. Chỉ là... biết được bao nhiêu?”

Người đời vẫn nói Nhân Quả Trường Hà là do Tuế Nguyệt Trường Hà diễn sinh ra, là một dòng hư hà. Sự tồn tại của Nhân Quả Trường Hà giống như một bóng ma, một ảo ảnh, như hoa trong gương trăng dưới nước, bắt được đầu nguồn chưa chắc đã thấy được hạ du.

Thành thử, tin tức Nguyễn Đông Thanh có thể nhìn thấu Nhân Quả Trường Hà mới gây ra chấn động lớn như thế, cũng khiến rất nhiều kẻ cho đấy là chuyện tiếu lâm.

Thế nhưng, đối với Phật Môn mà nói từ xưa đến nay nhân quả chính là một trong những giáo lý quan trọng bậc nhất trong truyền thừa nhà mình, đương nhiên là cũng biết một hai.

Tỉ như...

Nhân Quả Trường Hà vốn không phải do Tuế Nguyệt Trường Hà diễn sinh ra, mà là một tồn tại độc lập. Chỉ là bỗng một ngày, không một dấu hiệu, cũng chẳng ai biết nguyên do, Nhân Quả Trường Hà trở nên ảo ảo thực thực.

Kim Thiền Tử hít sâu một hơi, chỉnh lí lại những ý nghĩ trong đầu, cười:

“Mặc kệ là khả năng hay gì, dù sao bần tăng và thí chủ có thể tương ngộ nơi đây, âu cũng là duyên phận.”

Gã dừng một chốc, trên gương mặt tuấn tú xuất hiện một nụ cười.

Cười có mấy phần tà mị.

“Dám hỏi, thiếu lâu chủ có phiền bói cho bần tăng một quẻ hay không?”

Lã Vọng Thiên không nói lời nào, đưa tay bấm độn, sau đó mặt biến sắc, miệng ói ra một búng máu tươi. Kim Thiền Tử đứng bên cạnh cũng bị giật mình, nhảy lui lại một bước, kém một chút thì kêu ra thành tiếng.

“Phật dạy: biển khổ vô biên, quay đầu là bờ. Tại hạ mượn lời này, khuyên đại sư một câu. Quay đầu đi. Đến từ đâu thì hãy quay về nơi đó. Bằng không, hối hận đã muộn, càng lún càng sâu, e rằng vạn kiếp bất phục.”

Lã Vọng Thiên vừa nói, vừa đưa tay lau máu ở khóe miệng.

Trong lòng thiếu lâu chủ lúc này điên cuồng chửi bậy.

Cái thế đạo trời đánh! Mười dặm lại gặp một người dây dưa nhân quả với “vị đó” là thế quái nào?

Mấy ngày này hộc ra phải cả thăng máu là ít.

Không được! Sau này phải hạn chế bói toán đoán mệnh lại. Bằng không chưa bái được sư Lã Vọng Thiên này đã thiếu máu mà chết mất.

Trong lúc Lã thiếu lâu chủ còn đang xoắn xuýt xem có nên truyền tin về Vọng Thiên lâu nhờ người trong nhà mang một ít thiên tài địa bảo chuyên bổ máu hồi huyết đến không, thì Kim Thiền Tử đã lắc đầu, nói:

“Cảm ơn lời hay của thiếu lâu chủ. Chỉ là sư mệnh khó trái.”

“Là tại hạ nhiều lời, đại sư tự giải quyết cho tốt. Nho đạo chính là bài học nhãn tiền đó.”

Lã Vọng Thiên nói xong, cũng không chờ Kim Thiền Tử phản ứng lại, phất tay áo bào, đạp gió mà đi. Có đánh chết Lã thiếu lâu chủ cũng sẽ không thừa nhận mình sợ.

Sợ là nếu nán lại thêm, thằng cha sư cọ kia lại nhờ bói cho thêm vài quẻ thì có mà lấy xô ra đựng máu.

Kim Thiền Tử lắc đầu, nhìn về phía ải Quan Lâm, nói:

“Bích Mặc tiên sinh à, rốt cuộc ngài có liên quan gì tới ngã Phật hay không? Hà cớ gì lại chọc giận Đế Mộ cơ chứ...”

Lời biên tập: Đoạn bói cho Hà thằng c* cũng ói máu nhá. Trước viết đến file word trên onedrive bị lỗi sync, đã bổ sung vào chương 222: , ít nhất là trên các web chính chủ.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 227: Ải Quan Lâm Phong Vân Tế Hội


Còn chưa đến nửa ngày, thế nhưng tin tức Bích Mặc tiên sinh Nguyễn Đông Thanh muốn tự mình chuẩn bị một tiết mục đón tiếp thái tử Đại Sở Thượng Quan Trường Không đã truyền đi khắp cả Đại Việt.

Cơ hồ thế lực lớn nào cũng hay tin.

Không nói cũng biết, nếu không phải tai mắt ở Quan Lâm truyền tin về, thì cũng là mấy vị công tử tiểu thư được giao nhiệm vụ chuẩn bị nói lộ ra cho thế lực sau lưng mình.

Thành Cổ Long...

Trương Hạo nhìn bức thư trong tay, gật đầu một cái, đoạn khẽ hắng giọng một tiếng. Lập tức, trong bóng tối xuất hiện một người áo đen, cung kính quỳ gối với lão.

“Phiền Ảnh huynh đưa ta đến Quan Lâm một chuyến.”

“Thái sư quá lời. Mời...”

Người được gọi là Ảnh lão phất tay, lấy trong túi chứa đồ ra một cỗ kiệu lớn. Chờ Trương Hạo vào kiệu, Ảnh lão lập tức vận khởi đại thần thông, khiến cỗ kiệu đằng không phóng lên trời.

...

“Lâm thượng thư định đi đâu đấy?”

Binh bộ thượng thư – Lâm Doãn Hành – chỉ thoáng chốc là nhận ra giọng của kẻ vừa mới lên tiếng. Lão chỉ thấy cả người rét căm căm, sống lưng lạnh như nằm trên tảng băng. Lâm thượng thư nổi tiếng là mặt lạnh, bất cận nhân tình.

Thậm chí, không thiếu quan viên còn vụng trộm đặt cho lão một biệt hiệu – Quỷ Diện Phán Quan. Cũng nói phán quan của diêm vương nếu có thật thì cũng chỉ đến thế này mà thôi.

Thế nhưng, Lâm Doãn Hành nổi tiếng là mặt lạnh hiện giờ lại có dáng vẻ chẳng khác nào... so sánh khó nghe một tiếng, thì là “thiếu nữ vừa mới về nhà chồng”.

Lâm thượng thư quay đầu, nở nụ cười cứng nhắc. Cái mặt lão vốn lạnh, bây giờ gượng ép cười lên, trông còn khó coi hơn bình thường mười lần.

“Điện... điện hạ có gì chỉ bảo?”

Đứng sau lưng lão, mình mặc chiến giáp, mắt nheo nheo, biểu cảm bặm trợn trông như thằng đòi nợ thuê chuyên đâm thuê chém mướn không phải ai khác, chính là binh mã đại nguyên soái, Võ Hoàng, Lý Huyền Thiên.

Chỉ là...

Lý Huyền Thiên này trông rất trẻ, tóc đen thả xuống vai, râu ria tỉa cẩn thận, dáng vẻ phong trần tuấn lãng chẳng khác nào người vừa ba mươi.

So với bộ dạng lúc xuất hiện ở Võ Bảng hội hay cái lần vứt đầu người vào phủ thái sư thì quả thực khác biệt rất lớn.

Nếu không phải Lâm Doãn Hành biết rõ nguyên do, thì chắc hẳn sẽ nhận định đấy là ba người hoàn toàn khác nhau.

Lý Huyền Thiên cười, nói:

“Chỉ bảo thì không. Thượng thư vẫn chưa trả lời câu hỏi của ta, không phải sao?”

“Hạ quan... hạ quan... hạ quan tội đáng muôn chết, xin điện hạ nể tình Lâm mỗ từng lập nhiều chiến công cho Đại Việt mà giơ cao đánh khẽ, tha cho người nhà tại hạ.”

Lâm Doãn Hành rùng mình, vừa nói, vừa rút kiếm kề cổ, giống như muốn tự vẫn tạ tội.

Lý Huyền Thiên nhìn lão, nheo mắt lại, thế nhưng vẫn vung tay một cái. Một đạo chân khí b*n r*, xảo diệu đoạt được kiếm của Lâm Doãn Hành.

Binh bộ thượng thư thấy thế, cười khổ:

“Điện hạ nhất quyết giáng tội tru di cửu tộc lên đầu hạ quan sao?”

“Tội gì?”

“Hạ quan... hạ quan định đến Quan Lâm một chuyến. Tự ý rời khỏi Cổ Long trong thời điểm này há chẳng phải tội chết hay sao?”

Lâm Doãn Hành nhìn về phía Võ Hoàng.

Vốn là, dựa trên phản ứng của Lý Huyền Thiên, lão lờ mờ đoán được lần này binh mã đại nguyên soái đến đây không phải biết do đoán biết được ý đồ lén lút rời khỏi thành Cổ Long của lão để mà giáng tội. Thế nhưng, cái mặt đâm lê đó phải giải thích thế nào?

Hiện giờ đang lúc hải thú rục rịch, người thuộc binh bộ như lão đáng nhẽ phải túc trực ở Cổ Long thành chờ lệnh. Đương nhiên, luật này được Nhân Tông Lê Oanh đề ra.

Tính khí Nhân Tông thế nào, người trong quan trường có ai mà không biết?

Lại nói, thời Lê Nhân Tông không có Lý Huyền Thiên.

Võ Hoàng xuất hiện, khiến rất nhiều vị trí trong quân trở nên có phần dư thừa, thậm chí khiến toàn bộ tam quân trở nên cồng kềnh trúc trắc, vận hành xuất hiện ứ đọng trì trệ. Thế nhưng cấu trúc quân đội là từ thời Nhân Tông thịnh thế truyền xuống, Lê Dực hoàng đế nói không muốn xúc phạm tiên hiền, mặc cho Lâm Doãn Hành nhiều lần thượng tấu muốn cải tổ tinh giản lại quân đội Đại Việt đều thành công cốc.

Cuối cùng, lão quyết định nói thật.

Lý Huyền Thiên hỏi:

“Vì cớ gì khi không lại đến Quan Lâm?”

“Khuyển... khuyển tử nói... thái tử nước Sở Thượng Quan Trường Không cố ý làm khó. Tối nay Bích Mặc tiên sinh y hẹn chuẩn bị một tiết mục mua vui cho y. Khuyển tử cảm thấy giận thay tiên sinh, nên mới truyền tin cho hạ quan... để hạ quan đến trấn tràng.”

Lâm Doãn Hành một năm một mười kể hết cho Lý Huyền Thiên.

Không sai.

Lâm công tử áo trắng chính là con trai lão – Lâm Cảnh Trung.

Đương nhiên, lần này Lâm Doãn Hành chạy đến Quan Lâm không hoàn toàn vì trấn tràng, mà là muốn rào trước đón đầu. Nhỡ đâu Lâm Cảnh Trung thể hiện tốt, khiến Nguyễn Đông Thanh vui lòng thì lão cũng “tiện thể” cầu xin, biết đâu lại khiến thằng con nhà mình bái được vào môn hạ Lão Thụ cổ viện.

Đến lúc đấy chớ kể đến việc bắt chèo được với một vị đại nhân vật sờ vào nóng bỏng tay của Huyền Hoàng giới, thằng con nhà mình cũng thuận lý thành chương mà trở thành đồng môn với quý tử nhà Võ Hoàng. Đương nhiên, phe cánh của Lý Thanh Minh trong Lý gia không thừa nhận quan hệ...

Nhưng trừ phi là mắt mù, bằng không sẽ có thể nhận ra tấm lệnh bài Lý Huyền Thiên giao cho Nguyễn Đông Thanh đại biểu cho cái gì.

Võ Hoàng nghe xong, gật đầu:

“Thượng thư nói phải lắm! Đại Việt ta há lại để cho một thằng nhãi ranh đè đầu cưỡi cổ? Lần này ngài có công, đáng thưởng. Lâm thượng thư yên tâm tọa trấn Cổ Long thành, bản hoàng đích thân đi Quan Lâm một chuyến. Có ta tọa trấn, xem thử ai dám nhảy nhót trên đầu trên cổ Đại Việt!”

Lâm Doãn Hành mới đầu còn hí hửng, nghe được một nửa thì khuôn mặt thoắt cái biến thành màu gan lợn!

Môn hạ Lão Thụ cổ viện!

Đồng môn với con trai Võ Hoàng!

Ta muốn tố cáo! Võ Hoàng điện hạ ngài ra bài không hợp thói thường!

“Chuyện này...”

“Lâm thượng thư có gì muốn nói? Chẳng nhẽ bản hoàng không có oai danh bằng ngài?”

“Không! Không! Không! Hạ quan nào dám so sánh với điện hạ?”

Lâm Doãn Hành thấy ánh mắt Võ Hoàng nheo lại, trong con ngươi b*n r* ánh nhìn bất thiện thì mồ hôi toàn thân túa ra chẳng khác nào vừa mới tắm. Lão liều mạng xua tay, liên tiếp nói ba chữ “không”, giống như đang muốn nhận mạnh là chuyện quan trọng cần phải nói ba lần vậy.

Lý Huyền Thiên nghe thế, cười dài một tiếng, đoạn lắc mình, chớp mắt đã hóa thành một vệt sáng vàng xé qua chân trời, mất hút khỏi tầm mắt.

Lâm Doãn Hành cô đơn đứng trong doanh trại, cái mặt lạnh nổi tiếng triều đình giờ méo xẹo như trẻ con bị cướp kẹo, quả thực là khóc không ra nước mắt.

“Cho ngươi lắm mồm!”

“Ai bảo ngươi lắm mồm?”

“Hết rồi...”

Hôm sau, trong quân truyền ra lời đồn Quỷ Diện Phán Quan tự dưng phát bệnh trì độn tuổi già, đứng thù lù một đống trong doanh trại tự vả vào miệng mình một lúc lâu.

Mặt lạnh cũng hóa thành đầu heo, khiến binh sĩ còn tưởng phán quan hôm nay bỏ việc đi đánh bạn với đám đầu trâu mặt ngựa.

oOo

Động tĩnh của phủ thái sư đương nhiên không thể che giấu được tai mắt trong thành Cổ Long.

Có Trương Hạo làm chim đầu đàn, gia chủ Đinh gia, gia chủ Hồ gia đồng thời bay theo đằng sau cỗ kiệu. Lại thấy phía Quốc Tử giám cũng có mấy bóng người đằng không xé gió nhắm hướng bắc mà bay, định thần nhìn kỹ thì phát hiện dẫn đầu đoàn người chính là Tế Tửu và Tư Nghiệp mới.

Sau đó, lần lượt có vô số môn chủ, lão tổ trong thành, phàm là kẻ có chút địa vị và tu vi thì đều lao lên không trung, trực chỉ phương bắc.

Trong hoàng cung, Trư Đế Lê Dực trông thấy cảnh này, cười lắc đầu:

“Nếu năm đó chiếu Cần Vương các người cũng hưởng ứng nhiệt liệt như thế thì đâu đến nỗi?”

Lão thái giám giả Quan Vân Phi đứng sau lưng y cũng nheo mắt một cái, đoạn lắc mình, lẩn vào trong bóng tối. Lê Dực biết lão sẽ rời đi, song cũng chẳng ngăn lại, bởi lẽ có muốn y cũng chẳng đả động được người này.

Thành Đông Thanh...

Lâm Thanh Hồ lén lén lút lút ra khỏi thư viện. Lão chỉ có một thằng con, sớm đã bị Nguyễn Đông Thanh phế, đương nhiên trong đám công tử tiểu thư đến ải Quan Lâm bái sư không có con cháu nhà lão. Thế nhưng, Thanh Tùng thư viện dù sao cũng là thư viện đệ nhất ở Đại Việt, thân là viện trưởng, sức ảnh hưởng của Lâm Thanh Hồ vẫn rất lớn. Chuyện lão có tai mắt ở Quan Lâm kỳ thực cũng không có gì lạ.

Lần này Lâm Thanh Hồ ra ngoài hành sự bí mật, thành thử không sử dụng đến thần thông của Nho môn, mà sử dụng hạo nhiên chính khí kích phát thuật đằng vân giá vũ của Võ đạo trực chỉ phương bắc. Lão im hơi lặng tiếng bay được nửa canh giờ thì phát hiện phía trước có hai bóng người... quen quen...

“Đỗ trưởng ban? Các người...”

“Viện... viện trưởng?”

Đỗ Thám Hoa và Đỗ Bảng Nhãn bị gọi giữa không trung, giật mình giống như trẻ con bị bắt quả tang đang ăn vụng, đồng thời sử dụng động tác cứng nhắc chẳng khác nào người cơ quan quay lại.

“Hai vị trưởng ban đang đi đâu vậy?”

“Viện trưởng... nếu... nếu ta nói chúng ta ra ngoài tản bộ thì ngài tin không?”

...

Ở các nơi khác cũng xảy ra cảnh tượng y hệt như ở thành Cổ Long và thành Thanh Tùng cũ.

Một ngày này, cường giả Vụ Hải bay đầy trời, cao thủ ngũ cảnh nhiều như chó. Toàn bộ đều nhắm đến tòa thành trấn thủ Lục Trúc Hải ở cực bắc Đại Việt, không khí náo nhiệt như trảy hội, cũng là một kì cảnh có thể viết vào sử sách.

Mà kẻ gây ra tất cả mọi chuyện – Bích Mặc tiên sinh Nguyễn Đông Thanh của chúng ta – thì lúc này đang “sốc toàn tập” trước tốc độ thi công sân khấu đầy hư cấu của Huyền Thanh nương nương.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 228: Giám Bảo Thần Mục Tiến Giai


Ải Quan Lâm...

Thượng Quan Trường Không sau khi gặp Nguyễn Đông Thanh ở phủ thành chủ thì cũng không ngu ngốc đến nỗi về phòng nghỉ ngơi hưởng lạc. Y mặc một thân thường phục, sử dụng thuật dịch dung hóa thành một vị công tử con quan.

Không đến nỗi phong thần tuấn lãnh, văn nhã hơn người, song cũng có mấy phần khí chất.

Nói ngắn gọn, thì tuy có thể khiến người ta dừng lại nhìn, song tuyệt sẽ không nhớ kỹ.

Qua mấy ngày ở Quan Lâm, Thượng Quan Trường Không phát hiện nơi đây chẳng thiếu công tử tiểu thư con nhà quyền quý, thành thử mới lựa chọn cải trang thành dáng vẻ như hiện giờ.

Làm xong đâu đấy, hắn mới nghênh ngang ra ngoài, dạo qua khu chợ một vòng, kế tìm đến cửa thành âm thầm quan sát một phen.

Người chung quanh thấy hắn ra cửa thành cũng chẳng thèm chú ý đến, cứ tiếp tục sinh hoạt như thường. Kẻ bán hàng thì tiếp tục gân cổ lên chèo kéo khách, người mua hàng thì ngoác mỏ ra mà mặc cả từng đồng. Thấp thoáng ở những chỗ rẽ, đám trẻ con tiếp tục những trò chơi của mình, thằng nào thằng nấy đều tranh làm Bích Mặc tiên sinh, mà đám trẻ bị phân công đóng Lâm Thanh Tùng hoặc mấy tên viện trưởng thì mặt méo xẹo, chỉ kém khóc ra thành tiếng.

Người ta không để ý đến Thượng Quan Trường Không, hắn cũng không để vào bụng. Thái tử Đại Sở bước nhanh về phía tường thành, vừa đi vừa dùng con mắt phải Giám Bảo Thần Mục quan sát kỹ càng, cơ hồ không muốn để xót một viên gạch. Lúc này trong mắt hắn, len lỏi giữa kẽ đá là những đường vân do chân khí tạo thành, to thì như cái gậy gỗ, nhỏ thì tựa như sợi tơ. Bọn chúng tung hoành ngang dọc, đan vào nhau tạo thành một mạng lưới trải dọc cả tòa thành, phức tạp và huyền ảo.

“Kỳ quái? Sao nhìn na ná như trận văn của Truyền Tống Trận?”

Thượng Quan Trường Không nhíu mày, tự hỏi.

Không lâu trước đây, tu vi của hắn có đột phá, Giám Bảo Thần Mục cũng đột nhiên thức tỉnh công dụng mới. Hiện tại, Trường Không thái tử có thể mượn con mắt này nhìn được những thứ bị che giấu khỏi mắt thịt ngươi trần. Từ ma quỷ vong linh, cho đến sự vận hành của chân khí trong trận pháp, bùa chú đều không thể thoát khỏi ánh nhìn của Thượng Quan Trường Không.

Mà đây cũng là ý định thực sự của quốc quân nước Sở: mượn cớ chi viện để thăm dò thực hư của Đại Việt.

Trong sáu nước, nằm sát phía bắc Lục Trúc Hải nhất chỉ có Sở và Hàn. Đại Hàn vừa có thuật Văn Thân, vừa có Táng Thi Đinh che chắn phía nam, thành thử cũng không lo người Việt rời biển Trúc đánh tới cho lắm. Thế nhưng Đại Sở thì không được như vậy. Chẳng những không có kỳ thuật nào như thuật Văn Thân, mà cũng không có một dải đất đặc biệt như Táng Thi Đinh làm vùng đệm.

Thành thử...

Quốc quân và văn võ bá quan Đại Sở đều cho rằng nếu có một ngày Đại Việt dẫn binh bắc phạt, thì giữa hai nước, chắc chắn Lý Huyền Thiên sẽ chọn đánh bọn họ.

Thượng Quan Trường Không nuốt nước bọt, thầm nghĩ:

“Không đúng. Mấy ngày trước ta cũng sử dụng Giám Bảo Thần Mục kiểm tra, thế nhưng sao lại không manh mối của truyền tống trận? Chẳng nhẽ... là Bích Mặc tiên sinh?”

Thái tử đại Sở càng nghĩ càng thấy khó hiểu.

Đây không phải lần đầu hắn sử dụng Giám Bảo Thần Mục kiểm tra thành Quan Lâm. Thế nhưng trước đó, trận pháp nơi này hoàn toàn bình thường, Thượng Quan Trường Không hoàn toàn không phát hiện được chút sơ hở nào cả.

Mãi cho đến hồi nãy... hắn giả bộ làm một tên giá áo túi cơm đến chỗ Nguyễn Đông Thanh.

Thượng Quan Trường Không càng nghĩ lại càng thấy có khí lạnh xộc từ gan bàn chân lên tận óc. Hắn hít sâu một hơi, bắt đầu chỉnh lý lại những gì mình phát hiện trong thời gian trú tại cửa quan cực bắc Đại Việt.

Mấy ngày nay thái tử Đại Sở cũng không ở không, hắn quả thực có phát hiện được một số điểm khả nghi của nơi này.

Ải Quan Lâm vốn là cứ điểm trấn thủ Lục Trúc Hải, thậm chí trong quá khứ có lẽ còn là một thành trấn phồn hoa. Bằng không người nổi tiếng là cẩn thận, sợ chết như Nhân Tông Lê Oanh sao có thể tự mình đến nơi tiền tuyến này, xây Tao Đàn đình và Lệ Chi Tiểu Uyển.

Thế nhưng, nơi này lại không có truyền tống trận để binh mã các nơi tiếp viện. Tu vi của tổng binh Vũ Tùng Lâm cũng thấp đến nực cười, chỉ có ngũ cảnh. Đánh với một vài yêu tộc huyết mạch thấp kém còn có chút tác dụng, song so với những đại tộc trong Lục Trúc Hải hoàn toàn không đủ cho chúng xỉa răng.

Thượng Quan Trường Không cứ có cảm giác...

Dường như cao tầng Đại Việt hoàn toàn không lo Quan Lâm sẽ thất thủ, yêu thú sẽ càn vào thành vậy.

Hắn vừa suy tư, vừa lơ đãng bước đi, sự chú ý hoàn toàn đắm chìm trong vô số nghi vấn về ải Quan Lâm, về Nguyễn Đông Thanh. Cứ vừa bước vừa nghĩ vẩn vơ, chẳng mấy chốc, Thượng Quan Trường Không đã ra đến cửa thành.

Thế nhưng, không đợi gã bước qua cửa, hai ngọn giáo dài sáng quắc đã chìa ra từ hai bên vệ đường, gác chéo nhau chắn ngay trước mặt gã. Tiếng kim thiết va chạm lanh lảnh đánh thức thái tử Trường Không khỏi cơn suy tưởng. Cảm nhận được hàn khí nơi đầu thương sắc lẻm khiến kẻ từ bé đã sống trong nhung lụa như Thượng Quan Trường Không giật mình một cái, theo bản năng lui lại một bước, mặt lộ vẻ e dè.

“Vũ tổng binh có lệnh, tạm thời Quan Lâm giới nghiêm, xin công tử lùi bước.”

Lính thủ thành mặt lạnh như tiền, hai mắt cũng đờ đờ chẳng thể hiện chút cảm xúc nào, cũng tuyệt không để bất cứ một chỗ trống nào để Thượng Quan Trường Không thương lượng hay kì kèo xin xỏ. Sau khi nói đúng một câu bằng một cái giọng đều đều nửa ra lệnh nửa thông báo, bọn hắn lập tức thu tay, để thương sát người, mắt nhìn mũi, mũi nhìn tâm, hoàn toàn không thèm lý gì tới Trường Không thái tử nữa.

Thế nhưng...

Thượng Quan Trường Không nào dám ngó lơ hai người lính?

Trực giác nói cho hắn biết, nếu lúc này hắn dám bước lên dù chỉ một bước thôi, hai người lính thủ thành chắc chắn sẽ lập tức động thủ không chút do dự.

Thái tử Đại Sở hít sâu một hơi, nặn ra một nụ cười, hỏi:

“Hai vị quan gia vừa mới nhậm chức phải không? Đây có chút tâm ý của tại hạ, không biết vì sao Quan Lâm ta lại giới nghiêm như vậy? Nếu không phải chuyện gì cơ mật...”

“,,,”

Không để Thượng Quan Trường Không nói hết, hai người lính đã nhướn mày, dùng ánh mắt không kiên nhẫn nhìn hắn, giống như muốn hỏi:

“Sao nhà ngươi còn chưa xéo đi?”

Thái tử Trường Không thấy hai tên lính này lạ mặt, tu vi thì cao, hơn nữa cách hành xử cũng có nhiều chỗ khác khác so với lính thủ thành bình thường dưới trướng Vũ Tùng Lâm, lòng nghi ngờ rằng Quan Lâm này đang che giấu một bí mật động trời càng đậm.

Thế nhưng, hắn hiện tại không tiện lộ thân phận, chẳng còn cách nào khác ngoài tiu nghỉu đi chỗ khác.

oOo

Trên đầu thành, Vũ Tùng Lâm và Nguyễn Đông Thanh cùng ngồi đối diện nhau, chính giữa hai người kê một cái bàn trà. Tổng binh của ải Quan Lâm tự mình rót một chén, mời vị Bích Mặc tiên sinh đang ngơ ngơ ngáo ngáo ngồi bên cạnh, nói:

“Sau chuyện lần này chắc hẳn không còn có mấy cơ hội được trò chuyện cùng tiên sinh.”

“Tướng quân khách khí rồi. Đông Thanh cũng xin cảm ơn sự chiếu cố và ưu ái của tướng quân trong thời gian gần đây. Lại nói, cũng không nhất định tại hạ sẽ phù hợp với tác phong làm việc của Hồ Ma thành chủ. Không khéo chỉ dăm bữa nửa tháng Đông Thanh lại phải quay về đây làm phiền tướng quân cũng chưa biết chừng. Khi đó chỉ mong tướng quân đừng chê thôi...”

Nguyễn Đông Thanh cười, cũng nâng chén trà mời lại Vũ Tùng Lâm.

Lão tổng binh gật đầu, trịnh trọng nói:

“Chừng nào tại hạ còn đương chức, nơi này mãi mãi giang rộng vòng tay chào đón tiên sinh.”

Dưới chân thành lúc này, Huyền Thanh nương nương chính đang sử dụng thần thông, nâng đất kéo đá xếp thành một cái bình đài cao làm sân khấu, chỗ ngồi phân làm ba cánh trung, tả, hữu, bố trí cũng không khác mấy so với các nhà hát kịch ở trái đất.

Một phía khác, ánh lửa hồng rực sáng một vùng, khói bếp bay nghi ngút. Dương Huyền và lão Hùng đứng trước một gian bếp lộ thiên, vừa làm việc không ngơi tay vừa há miệng la hét chỉ huy hơn một trăm người lớn có nhỏ có, ai làm việc nấy.

Nguyễn Đông Thanh rời mắt, nhìn về phía Tế Thế Đường, Phong Thanh Các và Nhất Phẩm Cư sừng sững trong thành, hỏi:

“Vũ tổng binh, không biết Mộc đường chủ, Phạm các chủ và Lý chưởng quầy đi đâu rồi? Chuyện hôm nay mà có bọn họ giúp đỡ một tay thì tốt.”

Bích Mặc tiên sinh của chúng ta vừa nói, vừa không khỏi hồi tưởng lại hơn một năm trước, ba vị Mộc, Phạm, Lý góp sức chung tay phát chẩn cho nạn dân sau thú triều thế nào.

Vũ Tùng Lâm đáp:

“Tế Thế đường đã lên tiền tuyến, hiện tại trong thành ngoài thiếu đường chủ Mộc Thiên Hành còn ở trong quân ngũ của tại hạ, thì chỉ còn một mình Mộc đường chủ tọa trấn. Phạm các chủ không biết vì nguyên do gì mà hai ngày trước đã đóng cửa Phong Thanh các, cáo bệnh không tiếp khách. Về phần Lý minh chủ... hiện tại còn đang bận đến biên giới hỗ trợ vận lương tiếp tế.”

Trong lời nói của lão chẳng giấu diếm vẻ mỉa mai, chỉ tiếc vị Bích Mặc tiên sinh nhà chúng ta EQ quá thấp, gần như không nghe thấy lão đang nói móc. Gã gật đầu, nói:

“Vậy thì thôi, đại cuộc làm trọng. Ài... sáu nước đồng lòng nhất chí, chắc hẳn lần này có thể chấm dứt được nạn hải thú, để cho thiên hạ được thái bình.”

Vũ Tùng Lâm gật đầu, lại cười khổ:

“Tiên sinh nói phải...”

Nếu như thực sự đồng lòng nhất chí, thì ở thời của Kiếm Thánh đã có thể tiêu diệt được Hải Thú rồi, há lại có thể để hải thú hoành hành suốt ba ngàn năm?

Lão nghĩ là nghĩ thế, song cũng không lên tiếng phản bác Nguyễn Đông Thanh. Trái lại, Vũ Tùng Lâm bắt đầu cẩn thận suy ngẫm về những gì Bích Mặc tiên sinh vừa nói, xem xem có thể từ đó đoán biết được “thâm ý” của tiên sinh hay không.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 229: Kịch


Trời dần về khuya...

“Khách khứa” từ các nơi cũng hay tin mà lục tục đến Quan Lâm.

Ảnh Lão vác kiệu hạ xuống, Trương Hạo vén màn liếp từ từ bước ra, vuốt râu chắp tay cười vang:

“Kể từ sinh thần của thánh thượng đến nay mới có dịp tái ngộ, tiên sinh vẫn mạnh khỏe chứ?”

“Cảm tạ sự quan hoài của lão thái sư. Tại hạ vẫn vậy thôi. Lão thái sư thì khác, có vẻ càng ngày càng tinh thần, thực là gừng càng già càng cay.”

Trương Hạo nghe thế, biết là Nguyễn Đông Thanh nói khách khí, cười vang:

“Lão hủ nghe nói tiên sinh quyết định rời núi vào triều đường, vốn cũng định đến chúc mừng một tiếng. Tiếc là tuổi cao sức yếu, không tiện đi xa, vẫn mong tiên sinh chờ trách.”

“Không dám, lão thái sư quá lời rồi.”

“Kể ra thì thế sự vô thường thật. Mới ngày nào tiên sinh chỉ vừa mới đến thành Cổ Long, tay áo chẳng vướng bụi công danh, thế mà bây giờ vừa ngoái đầu nhìn, lão hủ thì vẫn dã hạc nhàn vân, mà tiên sinh thì bay lên chín tầng trời, hót một tiếng vạn người kinh. Thực là phúc của Đại Việt, phúc của vạn dân vậy.”

Nguyễn Đông Thanh bị lão tán dương mà ngượng chín cả mặt, vội ho khan một tiếng, chặc lưỡi, thầm nghĩ:

“Không hổ là thái sư tiền triều, công phu bôi mật vào tai này của lão quả thực là danh bất hư truyền.”

Sau Trương Hạo, vị “khách” thứ hai đến Quan Lâm không phải ai khác ngoài binh mã đại nguyên soái của Đại Việt – Võ Hoàng Lý Huyền Thiên.

Lý Huyền Thiên vừa đến ải Quan Lâm đã lập tức đi thẳng đến chỗ Nguyễn Đông Thanh đang đứng, đưa tay qua quàng vai, bá cổ, nói:

“Tiên sinh, bấy lâu nay vẫn mạnh giỏi chứ? Không biết khuyển tử bây giờ thế nào?”

Bích Mặc tiên sinh nhìn người đang hào hứng bắn chuyện liên thanh với mình, gương mặt lộ rõ vẻ ngờ vực. Lý Huyền Thiên lúc này giống như mới nhận ra chuyện gì đó, ho khan một tiếng, nhẹ giọng giải thích:

“Tiên sinh, ta chính là Lý Huyền Thiên.”

Nguyễn Đông Thanh thấy người này tự xưng là Võ Hoàng, không khỏi cảm thấy kinh ngạc. Chỉ có thể nói người trước mắt so với vị “phụ huynh học sinh” Lý Huyền Thiên trong trí nhớ của hắn quả thực là cực kỳ khác biệt, cơ hồ ngoại trừ khí chất ra thì không thể nào tưởng nổi hai kẻ ấy chỉ là một người.

Không tính ở Võ Bảng Hội, thì lần ở Cổ Long thành Lý Huyền Thiên là một trung niên anh tuấn, kiên nghị, đầu hai thứ tóc, nếu chỉ nhìn vào ngoại hình thì có lẽ tuổi vào khoảng ngoài bốn mươi.

Còn hiện tại, đứng trước mặt Nguyễn Đông Thanh là một người cũng trạc trạc tuổi gã, chắc hơn cỡ ba bốn tuổi gì đó, mái tóc đen huyền xõa tung trên vai, gương mặt tuấn tú vẫn nhuốm vẻ phong trần, song thiếu đi vài phần nghiêm nghị, nhiều hơn vài phần tà mị sắc bén.

Lý Huyền Thiên khoát tay, nói:

“Giải thích ra thì dài dòng, chuyện này có liên quan đến thể chất gia truyền của tại hạ.”

“Ra vậy. Lần này cũng may có điện hạ hạ cố ghé thăm, thiết nghĩ đám người nước Sở cũng sẽ không dám khinh người quá đáng. Xin mời Võ Hoàng theo hạ cố đi cùng tại hạ một chuyến, chỗ ngồi của ngài ở bên này.”

Nguyễn Đông Thanh vừa nói, vừa cố tình dẫn Lý Huyền Thiên ngồi cách thật xa Trương Hạo.

Chuyện khác thì có lẽ hắn đã quên, thế nhưng cái vụ Võ Hoàng giữa đám cưới của hai họ Trương – Hồ xách nguyên cái đầu người của thị lang Lại bộ vứt vào giữa sân thì có đánh chết hắn hắn vẫn nhớ như in như tạc.

Ấn tượng khó phai đến thế, quên được mới lạ.

oOo

Sau Lý Huyền Thiên, người của các thế lực khác khắp Đại Việt cũng nhao nhao đến Quan Lâm, có thể nói đại quan quý nhân đi đầy đường, chưởng môn tông chủ nhiều như chó.

Mục đích đương nhiên đều chỉ có một: kết giao với vị “cường giả” thần bí Bích Mặc tiên sinh.

Mà kẻ đầu sỏ của chuyện này – Nguyễn Đông Thanh – sau khi tiếp Võ Hoàng và lão thái sư thì lập tức cáo bận, ngoài miệng lấy cớ là cần phải vào kiểm tra xem cánh tiểu thư công tử luyện tập đến đâu rồi. Vừa nhờ Vũ Tùng Lâm thay mình ứng phó quan khách xong, Bích Mặc tiên sinh đã ba chân bốn cẳng trốn thẳng vào sau cánh gà.

Vừa kịp đến Quan Lâm tham dự hội còn có Lã thiếu lâu chủ và Kim Thiền tử của chùa Long Hoa. Lã Vọng Thiên một mình ngồi một góc, mắt ngó ngang nhìn dọc khắp nơi, không nói cũng biết là đang tìm ai. Trái lại, vị sư trẻ Kim Thiền Tử thì lại an tĩnh hơn. Y chắp tay trước ngực, miệng lẩm nhẩm phật hiệu, mắt nhắm hờ, nhìn chẳng khác nào một bức tượng gỗ. Người của các thế lực khác thấy có một tăng nhân quái lạ như thế đến nơi này, thế mà người của phủ thành chủ không đuổi đi, cũng lấy làm hiếu kỳ.

Đương nhiên, không kẻ nào đến làm phiền Kim Thiền Tử.

Huyền Thanh nương nương thì tự mình mò đến khu khách quý, ôm một bịch hướng dương to đùng, miệng thì cắn hướng dương, hai lỗ tai thì giật giật, thỉnh thoảng lại mấp máy môi nói gì đó.

Lần này các thế lực đến Quan Lâm có thể nói là tam giáo cửu lưu, đủ mọi loại người, có đồng minh hữu hảo thì cũng có tử địch cạnh tranh. Ngày thường ngăn sông cách chợ, hiếm thấy mặt nhau thì còn đỡ. Bây giờ tụ tập chung một chỗ thì quả thực làm bầu không khí trở nên căng thẳng, sặc mùi thuốc súng. Tình cảnh trên khán đài lúc này không khác gì một mớ dây đàn căng cứng chằng chéo lên nhau, chỉ hơi động một cái là... đứt hàng loạt.

Mà kể từ lúc Huyền Thanh lôi hướng dương ra cắn, những người này bắt đầu... cãi cọ.

Nếu để Vũ tổng binh hoặc Bích Mặc tiên sinh biết vị nương nương này rảnh rỗi sinh nông nổi, dùng thuật truyền âm kích đểu các thế lực khắp nơi chửi nhau cho vui – nói theo kiểu của Nguyễn Đông Thanh là “tự tạo drama tự hít” – thì không biết sẽ nghĩ gì.

Mãi đến cuối giờ Dậu, lúc mặt trời đứng bóng thì mới nghe giọng một cậu lính trong Thủ Thành quân cất giọng thông báo:

“Đại Sở thái tử đến!”

Lời còn chưa dứt, thì từ trên khán đài, không dưới năm trăm cặp mắt bắt đầu ném những cái nhìn đầy bất thiện, sắc lẻm như dao về phía thiếu niên đang lững thững tiến về phía sân khấu. Nếu như ánh mắt có thể giết người thì dám chắc hiện giờ Thượng Quan Trường Không đã bị muôn mũi tên thấu tim mà chết.

Thái tử Đại Sở không có đại tài, song cũng không phải kẻ ngốc.

Ngay từ cái lúc hắn vào phủ thành chủ tìm Nguyễn Đông Thanh, Thượng Quan Trường Không đã đoán trước được kết quả lúc này. Tuy vậy, lúc bản thân thực sự đứng trong cảnh “vạn chúng chú mục, toàn trường công địch” thế này, gã vẫn không nén được sự sợ hãi, khẽ rùng mình một cái.

Nhất là hiện giờ...

Trên khán đài, có một đôi mắt ưng đang nhìn chòng chọc vào hắn với vẻ đầy bất thiện. Đồng thời, bên tai Thượng Quan Trường Không vang lên giọng cười lạnh lẽo và đầy châm chọc, so với gió tuyết trên Vân Nguyên còn lạnh hơn:

“Vẫn nghe thái tử Đại Sở kiệt ngạo bất tuần, mắt cao quá đầu, nay được gặp quả thực là danh bất hư truyền. Có dịp bản hoàng phải đến hoàng đô nước Sở ngồi một phen với Thượng Quan Kim Hồng, hỏi hắn xem hắn dạy con thế nào mà ra được một đứa... tuyệt phẩm như các hạ.”

Thượng Quan Trường Không nghe đến hai chữ “bản hoàng” thì cả người rét căm căm khác nào bị quăng vào hầm băng?

Người dám xưng “hoàng” ở Đại Việt, ngoại trừ cái vị một người cản ngàn quân ở Lục Trúc Hải, độc chiến Huyền Giáp Vệ, Võ Hoàng Lý Huyền Thiên ra thì còn ai nữa?

Lúc này, Thượng Quan Trường Không chỉ kịp nghĩ một câu:

“Bỏ mẹ rồi!”

oOo

Sau khi Thượng Quan Trường Không thất tha thất thểu, mất hồn ngồi vào vị trí của mình, thì trên sân khấu, một tiếng trống vang lên nghe “thùng” một tiếng vừa đanh vừa rõ. Lập tức, trên khán đài, tiếng nói chuyện rầm rĩ và cãi cọ ỉ ôi thoáng chốc đã im bặt, tất cả ánh nhìn của khách khứa đều hướng về phía sân khấu. Ngay cả Lý Huyền Thiên và Trương Hạo cũng không ngoại lệ.

Chỉ thấy, một thiếu nữ áo vàng đã đứng đó từ bao giờ, tóc mai bay múa trong gió đêm, khí chất mười phần văn tĩnh. Ba bốn luồng sáng chẳng rõ là thần thông hay ánh đuốc từ bốn phương rọi đến, vô thanh vô tức dẫn dắt ánh mắt của mọi người đổ dồn về phía nàng ta.

Người này đương nhiên chính là Hoàng Sở Sở – thiên kim của thành chủ thành Hải Nha.

Hoàng Sở Sở thân là hoàng hoa khuê nữ, trừ lần này lên Quan Lâm từ bé đến lớn chưa từng rời khỏi khuê phòng, đương nhiên cũng không có kinh nghiệm trở thành tâm điểm của muôn người. Nhất là khi trong số khách khứa còn có những đại nhân vật hiển hách hơn cả cha nàng – Võ Hoàng Lý Huyền Thiên và lão thái sư Trương Hạo.

Nàng ta mím môi, hai bàn tay giấu trong tay áo nắm chặt, thu hết can đảm, cuối cùng mới lên tiếng được:

“Chư vị đại nhân hôm nay có thể nể mặt, đường xa đến Quan Lâm chung vui, quả thực là một vinh dự to lớn. Tiểu nữ thay mặt Bích Mặc tiên sinh và Vũ tổng binh xin cúi đầu cảm tạ.”

Nói đoạn nhẹ nhàng nhún mình, đầu khẽ cúi xuống.

Trương Hạo ngồi một bên, vuốt râu, nói:

“Khuê nữ nhà ngươi quả thực là khéo hiểu lòng người. Không tệ. Nếu như để tiên sinh đích thân lên đài nói những lời này, dám chắc toàn bộ người ở đây không ai dám nhận lễ. Đám oắt con nước Sở nếu muốn bắt chẹt, thì có thể dựa vào điểm này để công phá. Đáng tiếc...”

Lão nói chuyện cũng không cố tình đè thấp âm thanh, hơn nữa cố tình hướng đầu về phía Thượng Quan Trường Không.

Hàm ý rất đơn giản...

Lần này chúng ta đến Quan Lâm, chung vui chính là mượn cớ, mục đích thực sự là chống lưng cho Bích Mặc tiên sinh. Các ngươi dẫu biết thì có thể nói gì được?

Kỳ thực, có Lý Huyền Thiên ngồi lù lù đấy, người của Đại Sở trừ khi là sống ngán, muốn đi chết, bằng không há lại dám mở mồm ra chất vấn? Thế nhưng, Trương Hạo đương nhiên không muốn thấy cảnh này.

Dù sao, trước đó đã để Võ Hoàng cướp được tiên cơ, tiếp cận Bích Mặc tiên sinh. Lần này há lại có thể để Lý Huyền Thiên tiếp tục ra mặt, khiến quan hệ giữa y và Lão Thụ cổ viện càng thân thiết thêm?

Người ngồi ngay bên dưới Trương Hạo tên là Hoàng Kim Thần – thành chủ thành Hải Nha, cũng từng là môn khách của họ Trương, nhờ thái sư mà từng bước từng bước tiến thân, trở thành thành chủ một thành.

Bây giờ, nghe Trương Hạo khen con gái mình, trên gương mặt nhăn nheo chằng chịt toàn sẹo là sẹo của y toàn bộ đều là ý cười, thực chẳng khác nào cây khô gặp gió xuân.

Lại nghe Hoàng Sở Sở lên tiếng:

“Đương nhiên, có ngày hội đêm nay, cũng là nhờ vào thái tử Đại Sở - Thượng Quan điện hạ. Nếu điện hạ không mở kim khẩu, thì cũng chẳng có việc tiên sinh mượn hoa hiến phật thế này. Vậy nên tiểu nữ mạn phép thay tiên sinh, tổng binh cùng toàn thể khách khứa đêm nay cảm tạ thái tử điện hạ.”

Cô nàng vừa dứt lời, trên khán đài đã vang lên tiếng cười không ngớt.

Thượng Quan Trường Không mặt mày tái mét, song dưới áp lực từ quần chúng, vẫn phải gượng cười.

Đương nhiên, cười so với khóc còn khó coi hơn.

Hoàng Sở Sở hơi hành lễ xong, cũng mặc kệ cái vị thái tử đáng nhẽ là nhân vật chính của ngày hôm nay, cao giọng nói:

“Hôm nay, ải Quan Lâm xin hiến tặng các vị hai vở kịch nói giải khuây, đều do chính tay tiên sinh chắp bút. Vở đầu tiên mang tên: Liễu Hạnh.”
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 230: Đáng Thương Thay Đỗ Bảng Nhãn, Nằm Không Cũng Trúng Đạn


“Liễu Hạnh???”

Trương Hạo nghe tên vở diễn, mày khẽ nhíu một cái.

Đạo lão tu hành là Nho đạo, hơn nữa còn là mạch thần bí nhất: Sử gia nhất mạch. Đây cũng là nguyên do Trương gia mặc dù tứ thế tam công, quyền thế ngập trời, thế nhưng cho dù là nhà đế vương hay Lý gia có Võ Hoàng tọa trấn cũng không thể lay chuyển nổi căn cơ của Trương gia.

Sử đạo có thể khiến người ta lưu danh thiên cổ, cũng có thể làm kẻ khác xú danh muôn đời.

Bị sỉ nhục phỉ báng hết từ năm này qua năm khác.

Mà Trương Hạo lúc này tuy nhìn như bình thản, kỳ thực thần hồn lão đang câu thông với Tuế Nguyệt Trường Hà, tìm kiếm cường giả tên “Liễu Hạnh”.

Dù sao, Bích Mặc tiên sinh Nguyễn Đông Thanh quá thần bí, giống như đột nhiên xuất hiện ở Huyền Hoàng giới mà không hề có một dấu hiệu báo trước nào vậy. Cũng không phải chưa từng có cường giả sử gia điều tra Bích Mặc tiên sinh. Kỳ thực, từ cái lần Nghiêm Hàn bôn ba khắp từ nam chí bắc, liên lạc Nho môn, cũng đã không thiếu đại Nho chủ tu sử đạo thử câu thông với Tuế Nguyệt Trường Hà tìm kiếm căn nguyên nguồn cội của y.

Đáng tiếc, mọi cố gắng đều như thể dã tràng se cát, tám đạo quân ăn niêu cơm Thạch Sanh.

Cuối cùng, không thiếu cường giả sử đạo từ bỏ, không tiếp tục ngược dòng Tuế Nguyệt Trường Hà tìm kiếm bóng dáng của Nguyễn Đông Thanh nữa.

Mà cái tên “Liễu Hạnh” này, đối với Trương Hạo mà nói, rất có thể là một điểm đột phá.

Thế nhưng...

Rất nhanh, lão đã phải thất vọng thu hồi thần thức.

Người có tên “Liễu Hạnh” từng xuất hiện tổng cộng mười tám lần tính từ Phản Thiên Chi Chiến cho đến nay, thế nhưng... không thể nào người này có ràng buộc với Bích Mặc tiên sinh.

Thành thử...

Trương Hạo lại càng thêm tò mò, không biết vở kịch mang tên “Liễu Hạnh” này sẽ có kết cục ra sao.

oOo

Kịch nói “Liễu Hạnh”, nói cho đúng thì quả thực có thể coi là “sáng tác” của Nguyễn Đông Thanh.

Hoặc càng chính xác hơn, là một bản “chuyển thể”.

Mặc dù dựa rất nhiều vào truyện “Vân Cát Thần Nữ truyện” trong Truyền Kỳ Tân Phả của nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, cùng với nhiều tích dân gian, thế nhưng lời thoại và kịch bản hoàn toàn là tự tay gã viết.

Tình tiết về cơ bản cũng không khác mấy so với tích của dân gian.

Ba lần giáng phàm, hai lần đại chiến, một lần trừng trị hoàng tử con vua, hết thảy đều giữ lại. Khác biệt lớn nhất trong bản của Nguyễn Đông Thanh chắc là thay vì hai lần nối duyên với Đào Lang, thì có thêm một lần thứ ba.

Đồng thời, các tình tiết mà gã cho là sinh ra do các đạo các phái tranh quyền – như Liễu Hạnh bị Quan Âm bắt, quy y cửa Phật, đấu với Tiền Quân Thánh – Nguyễn Đông Thanh đều không để lại, hoặc có viết khác đi. Dù sao, Bích Mặc tiên sinh vẫn cảm thấy mang cái chuyện các đạo các giáo của địa cầu đấu đá lẫn nhau, tranh giành ảnh hưởng sang dị giới thì không được hay cho lắm.

Chí ít, Nguyễn Đông Thanh không thích.

Thành thử, trong kịch bản, đáng nhẽ là đánh nhau với kim cương thì đổi thành cường giả Kim Cương môn, Phật Bà Quan Âm và hai túi thần thì đổi thành bảo vật do lão tổ Kim Cương môn để lại. Tiền Quân Thánh được gã biến thành Hậu Vương Thần, đồng thời nguyên do Liễu Hạnh lâm vào thế yếu cũng là do Hậu Vương Thần nhắm vào người chồng kiếp thứ ba của bà.

Dù sao, ngoại trừ kinh sách của Nội Đạo Tràng ra, thì trong mắt dân gian cái vị Tiền Quân Thánh này cũng chả phải hạng gì tốt đẹp cho cam. Có lắm tích còn chửi thẳng mặt là cái loại chạy theo xun xoe cho vua quan thế tục, không đáng mặt thần linh, chưa kể còn sử dụng mưu hèn kế bẩn.

Lúc này, khán đài cơ hồ tập trung toàn bộ tinh, ý, thần vào sân khấu..

Ngay cả kẻ vốn chỉ coi chuyện này là một cái cớ như Thượng Quan Trường Không cũng không ngoại lệ.

Kịch nói hôm nay lời lẽ bình thường, không có thơ, không có nhạc, cũng chẳng có mấy câu từ hoa lệ. Thế nhưng, trước mắt người xem vẫn hiện lên một Liễu Hạnh sinh động như thật. Từ một thiếu nữ hoạt bát năng động, cho đến khi trở thành một phu nhân trầm ổn thích đùa, nhưng từ bé đến lớn, qua ba kiếp người vẫn không quên sơ tâm ghét ác như cừu cơ hồ nhảy ra khỏi sân khấu, xuất hiện trước mắt người đời.

Khán giả trên từ Trương Hạo, Lý Huyền Thiên, dưới đến các binh sĩ phụ trách tuần tra thủ vệ cơ hồ đều hết sức nhập tâm, cùng khóc cùng cười với Liễu Hạnh.

Cùng khóc, cùng cười, cùng phẫn nộ...

Ngay cả thái tử Đại Sở cũng không ngoại lệ, dù cho phân đoạn Liễu Hạnh trừng trị hoàng tử con vua, nhân vật hoàng tử được Nguyễn Đông Thanh khắc họa cơ hồ không khác mấy so với dáng vẻ hắn vẫn dùng để gặp người đời.

Cuối cùng, vở kịch kết thúc với cảnh Liễu Hạnh ôm hai đứa trẻ cốt nhục của nàng với Đào Lang cho hai nhà sư, và dặn:

“Một trong hai đứa sẽ thành nghiệp lớn.”

Sau đó...

Từng tràng từng tràng pháo tay bắt đầu nhao nhao nổ ra.

Lý Huyền Thiên cười lớn, gật đầu, nói:

“Hay! Hay lắm! Bản hoàng xưa nay ít khi phục ai, nhưng nếu vị Liễu Hạnh là người thật việc thật, thì tính là một người.”

Trương Hạo vuốt râu:

“Hồng nhan hào kiệt, yêu đào anh hùng, xứng là cân quắc anh thư, khí khái tác phong thực là không thua kém đấng mày râu vậy.”

Ngoài miệng khen ngợi, thế nhưng bấy giờ trong lòng lão đang nghĩ:

“Chẳng nhẽ... đấy mới là dáng vẻ của bậc nữ lưu trong tâm Bích Mặc tiên sinh? Thế thì chỉ e đám người kia sẽ không để yên. Ài... tiên sinh ơi là tiên sinh. Lần nào ngài ra tay cũng phải đào căn cơ gốc rễ của người ta lên ngài mới vừa lòng sao?”

Lão là cựu triều thái sư, lại là cường giả Sử Đạo, thành thử cái nhìn cũng không có đơn giản như Lý Huyền Thiên. Võ Hoàng xưa nay chiến lực thông huyền, tùy tâm tùy tính, ở Đại Việt có rất ít chuyện mà y cần phải cân nhắc.

Trương Hạo thì khác...

Lão trước là gia chủ Trương gia, cha của thái sư đương triều, sau lại là cường giả của Sử Đạo. Thành thử, cách lão suy nghĩ cũng khác.

Phải biết, mặc dù trên con đường tu luyện chẳng thiếu gì nữ cường giả, song xưa nay Lễ Học của Nho môn vẫn cho rằng “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” “nam tôn nữ ti” “tam tòng tứ đức” chính là thiên kinh địa nghĩa. Nếu không phải từ sau Phản Thiên Chi Chiến, bậc nữ lưu anh kiệt như Hàn Thanh Ca, như Tuyệt Tình Cầm Ma liên tiếp xuất hiện thì chắc địa vị của nữ giới ở Huyền Hoàng giới so với hiện giờ còn thấp đi ba bậc.

Mà cái cách Bích Mặc tiên sinh khắc họa Liễu Hạnh...

Dám yêu dám hận, nữ theo đuổi nam, nhìn tôn ti thứ bậc bằng nửa con mắt, tự nối duyên lành mà không thèm mai mối, chẳng cần xin phép song thân...

Quả thực đối với Lễ học của Nho môn mà nói thì chính thị là “li kinh phản đạo”, là “yêu ngôn hoặc chúng”. Nếu như là người khác, chỉ e chẳng mấy chốc Văn Cung sẽ phát động học lệnh tróc nã, lôi về Thư Sơn để mà... “khai sáng” đạo thánh hiền.

Thế nhưng...

Người này lại là Bích Mặc tiên sinh.

Trương Hạo biết, người trong Nho môn xưa nay nổi tiếng là kiêu căng nhỏ mọn, không dung được kẻ khác ngồi trên đầu mình. Tuy Lễ học không dám công nhiên đối đầu với Nguyễn Đông Thanh, thế nhưng chắc chắn sẽ làm khó dễ trong bóng tối.

Mà chuyện lão cần cân nhắc lúc này là giúp ai, đứng về phía bên nào.

Lã thiếu lâu chủ của Vọng Thiên lâu thì chính đang ngoác miệng ra cười như đười ươi đến tháng.

“Hay! Thế mới đáng mặt làm nữ nhi chứ! Tiên sinh quả thực là tri kỷ của gia mẫu! Thế này còn không phải duyên phận trời ban thì còn gì vào đây được nữa?”

Cũng may không ai nghe được tiếng độc thoại nội tâm của Lã Vọng Thiên, bằng không chắc chắn không thiếu kẻ hiểu nhầm thiếu lâu chủ của Vọng Thiên muốn bái sư quá phát rồ, không tiếc định cắm hai cái sừng to tổ bố lên đầu ông thân sinh nhà mình.

Kỳ thực, duyên phận trời ban mà Lã thiếu lâu chủ nói đến là duyên phận sư đồ giữa y và Bích Mặc tiên sinh.

Trong lúc Lý Huyền Thiên thì đang đắc ý quên mình, nhìn ngang ngó dọc tìm người giúp lão viết lại vở kịch vừa xem thành sách, Trương Hạo thì đang tính toán thiệt hơn được mất, thì ở một góc vắng vẻ của khán đài...

“Nhị... nhị ca...”

Đỗ Thám Hoa vừa nói, vừa vận khởi thần thông, truyền hạo nhiên chính khí sang, những mong có thể giúp Đỗ Bảng Nhãn ổn định được Văn Tâm đang rung chuyển như muốn vỡ tung. Ở một bên, viện trưởng Lâm Thanh Hồ chính đang sử dụng thần thông Pháp gia “Man Thiên Quá Hải” để che giấu dáng vẻ chật vật của hai vị trưởng ban nhà mình.

Tuy ba anh em họ Đỗ từ xưa đến nay vẫn nhắm đến cái ghế viện trưởng, muốn vặn ngã Lâm Thanh Hồ lão, song xét cho cùng vẫn là chuyện nội bộ, có gì đóng cửa bảo nhau.

Đối ngoại, Đỗ Thám Hoa và Đỗ Bảng Nhãn nói thế nào thì vẫn là trưởng ban của Thanh Tùng thư viện.

Mà lúc này...

Đỗ Bảng Nhãn giống như khôi phục một chút, vừa mở miệng muốn nói gì đó, thì bỗng gương mặt già đã đỏ tấy lên, phun ra một búng máu tươi, vấy đầy lên lưng áo của Lâm Thanh Hồ. Nếu không phải còn có thần thông Man Thiên Quá Hải che giấu thì chắc chắn động tĩnh này của lão đã khiến toàn bộ khách khứa ở khán đài chú ý đến.

Lâm viện trưởng cảm thấy sau lưng ướt đẫm, nóng bừng, lại nhớp nhớp dính dính, không cần ngoái đầu cũng biết là thằng cha trưởng ban Lễ ban nhà mình vừa thổ huyết.

Đỗ Thám Hoa cảm thấy văn tâm trong thân thể anh trai lúc này run lên một cái, tưởng như sắp vỡ tung, hoảng sợ gần chết. Hắn vội vội vàng vàng truyền hạo nhiên chính khí sang, những mong giúp đỡ Đỗ Bảng Nhãn ổn định thương thế.

Mà hiện giờ, trưởng ban Lễ ban của thư viện Thanh Tùng sớm đã hối hận gần chết, hai hàng lệ lão từ từ chảy xuôi trên gương mặt đã bắt đầu xuất hiện vô số nếp nhăn. Văn tâm của lão chấn động, hạo nhiên chính khí suy bại, thành thử cơ thể hiện giờ cũng lão hóa càng lúc càng nhanh chóng hơn.

Vốn là, hai anh em Đỗ Bảng Nhãn, Đỗ Thám Hoa định bụng đến Quan Lâm một chuyến, dự định thăm dò xem sư phụ của vị Tạ tiểu thư kia rốt cuộc tài phép cỡ nào.

Lại nói, bọn hắn cho rằng không có kẻ địch vĩnh viễn, chỉ có lợi ích vĩnh cửu. Nếu như có thể mượn cơ hội này tạ tội dâng lễ, đi lại gần với Bích Mặc tiên sinh một phen, sau đó thêm mắm dặm muối về cha con Lâm Thanh Tùng. Sau đó muốn mượn gió bẻ măng, nhờ vào sức ảnh hưởng của Nguyễn Đông Thanh vặn ngã phe cánh của họ Lâm, cướp được chức viện trưởng về tay hay sao?

Hiện giờ thì tốt...

Chỉ xem một vở kịch, đến sợi tóc của Nguyễn Đông Thanh còn chưa gặp được đã lại rơi vào kết cục tiền mất tật mang. Chỉ tội cho Đỗ Bảng Nhãn chủ tu Lễ học, lần này bị đả kích một phen, khiến văn tâm lúc nào cũng có thể sụp đổ.

Thực là nằm cũng trúng đạn.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 231: Món Ăn Kỳ Lạ – Lưỡng Phật Đấu Thuyết Ký


Chờ cho khách khứa bàn luận chán chê, Hoàng Sở Sở lại lần nữa bước lên sân khấu. Cô nàng hắng giọng một tiếng, nhìn khắp khán đài một lượt, cuối cùng ánh mắt rơi vào trên người Huyền Thanh nương nương. Chỉ thấy bà ta khẽ vung tay một cái, đột nhiên mặt đất hai bên khán đài rút đi, để lộ ra hai cửa hầm sâu hun hút.

Lý Huyền Thiên giật mình đứng phắt dậy, chân khí kinh khủng quét ra chẳng khác nào bão tố. Chung quanh y chỉ nháy mắt đã xuất hiện cảnh tượng người người ngã lăn lê bò toài, không đứng dậy nổi.

Lâm Thanh Hồ tuy cũng là cường giả Vụ Hải lâu năm, thế nhưng há lại có thể là đối thủ của Lý Huyền Thiên? Lão đảo mắt một cái, dứt khoát từ bỏ chống cự, mượn luồng chân khí của Võ Hoàng phát ra kéo cả hai thằng cha trưởng ban ngồi phía sau văng khỏi khán đài.

Lâm viện trưởng cảm thấy cứ ở lỳ nơi này phát động thần thông “Man Thiên Quá Hải” hòng che giấu cho hai anh em họ Đỗ cũng chẳng phải cách. Nếu đằng nào cũng phải mất mặt, lão bèn dứt khoát lựa chọn kết cục “bị Võ Hoàng đánh bay” còn hơn.

Chân vừa mới chấm đất, Lâm Thanh Hồ đã tóm cổ áo Đỗ Bảng Nhãn, lao vút về phía thành Đông Thanh, không ngoái đầu lại dù chỉ một khoảnh khắc. Đỗ Thám Hoa lúc này cũng đã phản ứng lại, lập tức dùng toàn bộ số hạo nhiên chính khí còn dư trong người, bay đuổi theo anh trai và viện trưởng.

Mà ở phía đối diện, Ảnh lão cũng nhanh chóng hiện thân, đề khí thủ thế, đôi mắt sáng quắc nhìn chòng chọc về phía Huyền Thanh nương nương.

Ban nãy, lúc bà ta động thủ, yêu khí tiết ra. Ảnh lão là hộ vệ của thái sư đời trước, tu vi cảnh giới không kém, đương nhiên không thể nào qua mắt được lão. Lý Huyền Thiên lại càng không cần phải bàn đến. Danh hiệu Võ Hoàng của y không phải chỉ để gọi cho vui. Huống hồ, một mình y trấn thủ ba mặt của Đại Việt, đối với yêu khí của Huyền Thanh nương nương có lẽ còn mẫn cảm hơn Ảnh lão mấy phần.

Hoàng Sở Sở thấy tình thế không đúng, vội vàng giải thích:

“Tiền bối, Võ Hoàng điện hạ, xin thu tay lại. Vị này là Huyền Thanh nương nương, chủ của đầm Nhất Dạ, tính ra cũng là chỗ hàng xóm của tiên sinh. Hôm nay mở hội ở đây, đích thân tiên sinh đã đến mời nương nương rời núi trợ giúp.”

“Thất lễ rồi.”

Cả Võ Hoàng và Ảnh lão vốn cũng là động thủ theo bản năng, hiện giờ có thời gian suy nghĩ cẩn thận, đều cảm thấy bản thân quá l* m*ng.

Bích Mặc tiên sinh là người thế nào? Vị đại yêu này có mặt ở đây chắc chắn cũng đã nằm trong sự tính toán của y.

Lý Huyền Thiên, Ảnh lão cùng toàn thể khách khứa đều nghĩ như vậy.

Hoàng Sở Sở vỗ tay ra hiệu một cái, tức thì từ trong địa đạo, một nhóm gần hai mươi người ăn vận na ná như thư đồng nha hoàn, người hầu kẻ hạ của thế gia vọng tộc rồng rắn nối đuôi đi ra. Trên tay mỗi người đều bưng một cái khay bằng gỗ, trên để ngay ngắn một chiếc cặp lồng. Chỉ thấy hai mươi người này có nam có nữ, người nào người nấy ngũ quan đều thanh tú hơn người, mắt sáng như sao.

Thiên kim của Hải Giác thành hắng giọng nói:

“Các vị, hôm nay thực ra vẫn còn một tiết mục ngắn nữa. Trong lúc giải lao, trên dưới ải Quan Lâm cố ý chuẩn bị một ít điểm tâm, chính đặc sản ở quê cũ của tiên sinh. Vẫn mong các vị đừng vì cơm canh đạm bạc mà ghét bỏ.”

Trương Hạo cười vang:

“Lần trước có khẩu phúc ăn được món của tiên sinh cũng đã hơn một năm, quả thực là khiến con sâu thèm ăn trong người lão phu rục rịch. Tiên sinh chu đáo quá. Vẫn mong cô nương chuyển lời đa tạ của lão phu cho tiên sinh.”

Có lão thái sư dẫn đầu, khách khứa nhao nhao lên tiếng cảm ơn vị Bích Mặc tiên sinh từ đầu buổi diễn đến giờ vẫn chưa thèm thò cái mặt ra lần nào.

Những nam thanh nữ tú bưng khay đến trước mặt từng vị khách một, dáng vẻ cung kính, cử chỉ lễ độ, quả thực là so với một số tiểu thư công tử có lẽ còn có gia giáo hơn, khiến cho không ít người đều tỏ vẻ ngạc nhiên, thầm so sánh con cháu nhà mình với những thiếu niên nam nữ trước mặt.

Lý Huyền Thiên thì không chú ý nhiều đến thế.

Nợ đào hoa quá nhiều, ngoại trừ Lý Thanh Vân và Lý Thanh Minh kế thừa Võ Thánh chi hồn và Chiến Thần chi thể ra, những đứa con khác của y y cũng không chú tâm để ý đến lắm. Dù sao, bất luận có bao nhiêu đứa, tính cách thế nào, thì cách Võ Hoàng đối xử với con cái trong nhà cũng chỉ gói gọn lại bằng mười hai chữ “muốn cố gắng thì cho cơ hội, muốn hưởng lạc thì nuôi cả đời” mà thôi.

So với những chuyện này, y càng tò mò về món mà Nguyễn Đông Thanh lấy ra đãi khách hơn. Thành thử, việc nghĩa không nhường ai, vừa nhận được khay gỗ là Võ Hoàng đã đưa tay, mở nắp cặp lồng...

Khói mờ bốc lên, kèm theo một mùi hương quen thuộc khiến hai cánh mũi Lý Huyền Thiên nhảy lên một cái. Lão nhíu mày, nhìn về phía sân khấu chỗ Hoàng Sở Sở đang đứng, không biết đang nghĩ điều gì.

Khách khứa đến xem kịch cũng lục tục giở cặp lồng ra, thì thấy bên trong là một đĩa gồm tám miếng, chẳng rõ là thịt loài gì, thái mỏng độ nửa đốt tay, rộng bằng con cờ. Rải lên trên là một lớp mỡ bóng loáng, điểm xuyết hành lá thái nhỏ xanh xanh. Mùi hương là lạ quyến rũ đầy mời gọi luồn vào cánh mũi, khiến nhiều người nhắm mắt lại, bình tĩnh thưởng thức phẩm vị.

Số khác, hầu hết là xuất thân quan võ, hoặc từng kinh qua sa trường trận mạc thì trên mặt đều hiện lên thần sắc khó tin. Không ai bảo ai, cả đám cùng nhao nhao nhìn về phía Võ Hoàng, giống như đang xin chỉ thị. Thấy phản ứng của Lý Huyền Thiên, bọn họ mới động đũa, cũng im lặng không nói một tiếng nào.

Kim Thiền Tử cũng thử gắp một miếng lên, cắn một cái. Lập tức cảm giác dai dai giòn giòn, hương vị thanh mát ngọt nhẹ tràn vào khoang miệng, thấm qua đầu lưỡi, đối lập lại với sự béo ngậy và thơm nồng của mỡ hành bên ngoài. Một thanh, một đậm, lại vừa đạt đến mức cân bằng, hài hòa, chẳng những không lạc quẻ, mà lại tôn nhau lên thêm.

Hòa thượng trẻ lau mép, thầm nhủ:

“Hình như là nấm, nhưng hương vị này vừa giống đông cô, vừa giống mộc nhĩ, lại có chút tanh tanh nhớt nhớt nhẹ, như thể của loài tảo, loài rong nào đó ngoài biển Phong Bạo. Không hiểu Bích Mặc tiên sinh cho người mời khách món này là có dụng ý gì?”

Giống như Lã Vọng Thiên, Kim Thiền Tử cũng rất lấy làm tò mò, không rõ vị Bích Mặc tiên sinh đến giờ vẫn chẳng thèm ló mặt ra này rốt cuộc đang tính toán điều gì.

Kỳ thực, lần này Kim Thiền Tử nhận lệnh của phương trượng chùa Long Hoa lặn lội đến Quan Lâm cũng là muốn làm rõ một việc: Liệu Nguyễn Đông Thanh có phải cường giả Phật môn hay không mà lại có thể siêu độ vô vàn vong linh ngoài thành Bạch Đế như thế? Nếu như phải, thì y là người theo chánh pháp, hay là kẻ theo ngụy Phật? Thế nhưng hiện giờ đến cái chéo áo của Nguyễn Đông Thanh y cũng chưa nhìn thấy, thế thì còn nói gì đến luận chân phật tà thuyết? Vốn là, truyền nhân chùa Long Hoa còn đang vắt óc nghĩ xem nên dùng cách nào để bái phỏng Bích Mặc tiên sinh...

Chợt, suy nghĩ của y đã bị một câu giới thiệu đơn giản của Hoàng Sở Sở cắt đứt.

Dùng thế sét đánh không kịp bưng tai, Kim Thiền Tử quay ngoắt lại, ánh mắt như lửa nóng nhìn chòng chọc về phía sân khấu.

“Chư vị, mời thưởng thức một vở kịch ngắn cũng do đích thân tiên sinh chắp bút: Lưỡng Phật Đấu Thuyết Ký.”

oOo

Nói về Lưỡng Phật Đấu Thuyết Ký, thì nguyên tác của nó vốn là một truyện ngắn trong bộ Thánh Tông Di Cảo, quyển thượng. Chuyện kể rằng Lê Thánh Tông xuôi thuyền khảo sát, xem nơi nào có nạn mà cứu trợ. Buổi tối, nghỉ lại một ngôi chùa thì vô tình nghe được tượng phật bằng gỗ và tượng phật bằng đất hạnh họe nhau. Cuối cùng cả hai bị Phật Thích Ca mắng cho một chặp, chưa kịp cãi cọ thì nghe tiếng người bên chùa nên đều im bặt. Lúc Lê Thánh Tông mở cửa, thì chỉ có gỗ đá mà thôi.

Bản gốc rất ngắn, miêu tả về các Phật cũng có phần hơi... không được chính ngạch cho lắm. Tỉ như tượng phật đất thì lại mặt râu tua tủa, tay cầm kiếm. Phật gỗ thì đội mũ hoa đi hài vẽ, Phật Thích Ca lại tay ôm bầu rượu, dáng say lảo đảo, chẳng khác nào cái anh Hoa Hòa Thượng Lỗ Trí Thâm trong Thủy Hử.

Nguyễn Đông Thanh thấy thế, bèn sửa lại đôi chút.

Thánh Tông Đại Việt ở Huyền Hoàng giới cũng có, bèn dứt khoát hợp hai làm một luôn. Trận lụt thì thay bằng Hải Thú vào bờ, dâng nước hại người. Riêng phần ba vị Phật nói chuyện cãi nhau, thì trừ việc sửa lại tạo hình cho đúng với trong chùa miếu của Đại Việt ra, thì Nguyễn Đông Thanh không đụng đến nữa.

Dù sao, trong mắt gã, thì đây cũng là ba ông Phật cãi nhau, là chuyện nội bộ cả, không phải các đạo đang tranh giành ảnh hưởng như ở tích của Liễu Hạnh. Thành thử, suy đi tính lại một phen, Bích Mặc tiên sinh của chúng ta bèn dứt khoát cứ bê nguyên xi vào chứ không cần phải sửa lại gì cả.

Tuy nhiên, phần cuối hơi cụt quá, thành thử Nguyễn Đông Thanh bèn “chế cháo” thêm một đoạn trong “Chuyện cái chùa hoang ở Đông Triều” bên Truyền Kỳ Mạn Lục vào. Trong bản kịch chuyển thể của Nguyễn Đông Thanh, Lê Thánh Tông đi trị tai thì phát hiện một làng kia có chuyện yêu ma quỷ quái, bèn nán lại chờ xem. Thế là phát hiện được chuyện ba Phật cãi nhau, phá được việc tượng thần ăn vụng.

Khách khứa đến xem phàm là người Đại Việt thì đều hoan hô vang dội. Nhất là cánh quan võ từng trải chiến trường, ai mà không có chút kính nể khâm phục Thánh Tông Lê Hạo Thanh? Bây giờ Nguyễn Đông Thanh viết một vở kịch để Thánh Tông làm nhân vật chính, quả thực chẳng khác nào gãi đúng chỗ ngứa.

oOo

**Lời tác giả:** Nhìn chung đoạn trên là đủ KPI và cũng ngưng nội dung ở đây được rồi, phía dưới trích hai truyện được dẫn ra trong chương cho anh em đỡ phải tự đi tìm ebook, cơ mà không vì thêm phần nguyên tác này mà nhóm tác ăn bớt của anh em đâu. Với cũng lưu ý thêm là lời bình cuối truyện chưa chắc đã là lời của tác giả, vì sách là do người đời sau sưu tập và gán lại thành quyển. Đồng thời lời bình cuối chương giữa các mẩu truyện cũng có mâu thuẫn với nhau.

Đương nhiên, cũng là giới thiệu cho anh em biết thái độ của Nho giáo đối với Phật giáo vào cái thời Nho đạo độc tôn nó hằn học và cực đoan đến mức nào. Đến nay ở Tàu lại thấy rục rịch ngoi lên, chả qua lần này không tôn Nho nữa mà tôn Đạo thôi.

oOo

Trích nguyên văn Lưỡng Phật Đấu Thuyết Ký (hay Chuyện hai ông Phật cãi nhau) – Thánh Tông Di Cảo:

Năm Quý Tỵ lụt to. Những nơi nước đến, rắn rết bò lên ngọn cây, người ta phải nuôi gà chó trên cành. Đến chùa phần nhiều bị nước cuốn đi hay là đổ nát.

Ngày hai mươi bảy tháng tám, nước rút, Ta đi thuyền xem xét nơi nào bị thiệt hại thì chẩn cấp cho dân. Buổi chiều, đến bến đò Văn Giang, gió mưa mờ mịt. Ta cho buộc thuyền trước chùa rồi nằm ngủ. Đến canh ba, bốn bên im lặng như tờ, ta bỗng nghe trong chùa có tiếng nói xì xào. Lúc ấy, quan hầu đều ngủ say. Ta lén đi lên bờ, tựa cửa chùa dòm trộm, thấy một tượng phật bằng đất, chân đạp lên đầu một con thú, tay cầm kiếm, râu ria tua tủa như những ngọn kích, mặt vuông đầy thước, lưng rộng ba ôm, sắc mặt giận dữ, chỉ thẳng vào mặt một tượng phật gỗ ngồi ở bên trên, mắng rằng:

- Khoảng tháng sáu, tháng bảy, Hà Bá gây ra tai vạ, chính thân ngươi cũng không thể chống nổi nước lũ, phải trôi dòng dạt bãi, lúc nổi lúc chìm, mũ hoa để lem nhem, hài vẽ để bùn lấm. Khi ấy, các mụ nhà quê trông thấy ngươi, ngờ là cây chuối nổi, thợ mộc trông thấy ngươi nghi là khúc gỗ trôi. Đã bao lâu, ngươi vẫn là chỗ để cho bọn áo nâu tay chùng nấp bóng, thế mà bây giờ ngươi không sao kiếm nổi một bữa cúng chay (1). Cũng may mà thân nhà ngươi hãy còn, được nhà sư đem về sửa lại áo mũ, tô lại vàng son. Ta nghĩ: trước ngươi đã gặp cảnh ngộ nhường ấy, nay còn mặt mũi nào dám ở trên ta mà hưởng lộc ba phẩm nữa?

Phật gỗ cũng phát khùng đứng lên nói:

- Ngươi không nghe trong kinh có câu: “Thế gian vạn sự bất như thường, hựu bất kinh nhân, hựu cửu trường”(2)hay sao? Ôi! Lụt và hạn là bởi thiên tai gây ra. Lụt thì ta cùng trôi theo nước, khi nước rút, ta lại trở về ngôi cũ, dẫu bị xiêu dạt giang hồ, nhưng có hại gì đến “chân thân” của ta? Vậy chẳng phải là “làm chủ muôn hiện tượng, không theo luật bốn mùa”(3)hay sao? Khi ở trên dòng nước lũ, ta trông về cảnh chùa nhà mà thương thay cho nhà ngươi gặp bước truân chuyên. Nước đến chân thì chân ngươi nát rữa, nước đến bụng thì bụng ngươi vỡ lở, nước đến lưng thì lưng và vai ngươi đổ sụp. Trán rộng, mi dài, thôi còn đâu nữa! Hỡi ôi, thương thay! Thân hình không giữ nổi, còn cười người chi?

Hai Phật còn đương nói, chợt Phật Thích Ca tay xách bầu rượu, dáng say lảo đảo, bước ra mà rằng:

- Chao ôi! Hai ngươi đều có lỗi cả. Trong khi nước lớn mênh mông các ngươi đã không biết vận ngũ thông, dùng lục trí (4)thét lui muôn dòng nước về biển Đông, mà chỉ biết giữ cái hình hài bằng gỗ đất, ngồi hưởng rượu thịt của dân chúng, như thế đã không biết xấu hổ, lại còn đấu khẩu với nhau, không sợ “vách có tai” ư?

Hai Phật bị phật Thích Ca bẻ lý, toan tìm lời chống chế, bỗng nghe bên chùa có tiếng người, ai nấy im thít.

Ta đẩy cửa trông vào, chỉ thấy đèn nến sáng choang, hai Phật cùng Phật Thích Ca đều trơ trơ ba khối đất và gỗ thôi.

o0o

1) Nguyên văn chữ Hán viết “vu bồ”. Nhưng chữ “vu bồ” chỉ có nghĩa là đánh bạc. Có lẽ đây là chữ “y bồ” nghĩa là bữa cơm chay thì đúng hơn. Chữ “y bồ” từng được dùng ở bài ký Tạ An đi chơi núi Kê Túc, trong bài ký ấy có nói việc nhà sư dọn cơm chay cho ăn, gọi là “y bồ soạn”, bữa cơm chay của người mộ đạo.

(2) Đây là hai câu kệ ở sách Phật. Có hai cách hiểu:

Ý kiến thứ nhất: “Muôn việc ở trên đời, không chi bằng bình thường, đã không làm cho người ta kinh sợ, lại được lâu đài”. Cắt nghĩa như thế, câu trên và câu dưới xuôi nghĩa với nhau một chiều. Ý kiến thứ hai: “Mọi việc ở trên đời thay đổi luôn luôn (bất như thường), nhưng lại (hựu) không làm cho ai kinh sợ và giữ nguyên được bản thể lâu dài (bất kinh nhân-cửu trường)”. Phật gỗ đem câu này ra để chứng tỏ thân mình đã qua một phen trôi dạt, rồi lại trở về chốn cũ y nguyên như trước, như trong bài đã nói: “Lụt, thì ta cùng trôi theo với nước (bất như thường), khi nước rút, ta lại trở về ngôi cũ (bất kinh nhân-cửu trường). Dẫu bị xiêu dạt giang hồ (bất như thường), nhưng có hại gì đến chân thân của ta (bất kinh nhân-cửu trường)”.

(3) Đây cũng là một câu kệ. Nguyên văn chữ Hán là: “Hựu vật tiên thiên địa, vô hình bản tịch liêu. Năng vi vạn tượng chủ, bất trục tứ thời điêu”. Dịch nghĩa: Có vật tồn tại từ trước khi có trời đất, không có hình mà vốn lại lặng lẽ, làm chủ muôn hiện tượng, không điêu tàn theo bốn mùa.

(4) Lục trí: Thần cảnh trí, Thiên nhãn trí, Tha tâm trí, Túc trụ tùy niệm trí, Lậu tận trí. Ngũ thông: Đạo thông, Thần thông, Y thông, Báo thông, Yêu thông. Nói chung là những pháp thuật thần thông của nhà Phật.

Lời bàn của Sơn Nam Thúc: Hai phật cãi nhau là việc lạ, Phật Thích Ca bẻ hai Phật, lời nói lại càng lạ. Kể thì hai phật đều là vô công, mà còn đem việc ngồi trên ngồi dưới, lộc hậu, lộc bạc để tranh nhau, nên Phật Thích Ca chê là phải. Nhưng tay xách bầu rượu, dáng say lảo đảo, thì có công gì với dân? Chẳng qua cũng như hai Phật kia thôi! Thánh thiên tử ruồng những lời nói tà, chống những việc làm lệch, chép nên bài văn lạ này, lời lẽ sâu sắc. Chẳng những kẻ ngồi không ăn lộc đọc đến phải toát mồ hôi trán, mà cả những người xuất gia đọc đến, cũng tự biết trở lại đường ngay. Thực là “đầu đề nho nhỏ, mà văn chương lớn lao”.

oOo

Trích nguyên văn “Chuyện cái chùa hoang ở Đông Triều” – Truyền Kỳ Mạn Lục

Đời nhà Trần, tục tin thần quỷ, thần từ, phật tử chẳng đâu là không có. Các chùa như chùa Hoàng Giang, chùa Đồng Cổ, chùa An Sinh, chùa An Tử, chùa Phổ Minh, quán Ngọc Thanh dựng lên nhan nhản khắp nơi; những người cắt tóc làm tăng làm ni, nhiều gần bằng nửa số dân thường. Nhất là vùng huyện Đông Triều(1), sự sùng thượng lại càng quá lắm. Chùa chiền dựng lên, làng lớn có đến hơn mười nơi, làng nhỏ cũng chừng năm, sáu. Bao ngoài bằng rào lũy, tô trong bằng vàng son, phàm người đau ốm, chỉ tin theo ở sự hư vô; gặp các tuần tiết thì đàn tràng cúng vái rất là rộn rịp. Thần, phật xem chừng cũng ứng giáng, nên cầu gì được nấy, linh ứng lạ thường.

Bởi vậy người dân càng kính tin, không dám ngạo mạn. Song đến đời vua Giản Định nhà Trần(2), binh lửa liên miên, nhiều nơi bị đốt; số chùa chiền còn lại mười không được một mà cái số còn lại ấy, cũng mưa bay gió chuyển, đổ ngã xiêu nghiêng, tiêu điều đứng rũ ở giữa áng cỏ hoang bụi rậm. Sau khi quân Ngô(3) lui, dân trở về phục nghiệp, có viên quan là Văn Tư Lập đến trị huyện ấy, thấy những cảnh hoang tàn đổ nát bèn róng rả dân đinh các xã, đánh tranh ken nứa mà sửa chữa lại ít nhiều. Ngồi ở huyện ấy được một năm, thấy dân quanh huyện khổ về cái nạn trộm cắp, từ gà, lợn, ngỗng, ngan đến cá trong ao, quả trong vườn, phàm cái gì có thể ăn được đều bị mất hết. Tư Lập than rằng:

- Ta ở vào địa vị một viên ấp tể, không có cái minh để xét ra kẻ gian, cái cứng để chế phục kẻ ác, vì nhân nhu mà hỏng việc, chính là cái lỗi tự ta.

Song Tư Lập cho là những đám trộm cắp vặt ấy, cũng không đến nỗi đáng lo ngại lắm, nên chỉ sức các thôn dân, đêm đêm phải canh phòng cẩn mật. Trong khoảng một tuần, tuy canh phòng chẳng thấy gì cả, nhưng những việc trộm cắp vặt cũng vẫn như trước. Lâu dần càng không thấy chúng kiêng sợ gì, đến nỗi lại vào bếp để khoắng hũ rượu của người ta, vào buồng ghẹo vợ con người ta, khi mọi người đổ đến vây bắt, thì kẻ gian đã biến đi đằng nào mất, chẳng thấy gì cả. Tư Lập cười mà nói:

- Té ra lâu nay vẫn ngờ oan cho lũ kẻ trộm, kỳ thực đó là loài ma quỷ, hưng yêu tác quái đó mà thôi. Những sự quấy rối bấy nay, đều tự vật này cả.

Sau đấy đi mời khắp các thầy phù thủy cao tay, xin bùa yểm trấn, làm thuyền bè mã mà tống tiễn. Song càng bùa bèn trừ yểm, sự quấy nhiễu càng tệ hơn trước. Tư Lập cả sợ, họp người dân thôn lại bàn rằng:

- Các người khi trước vẫn thờ Phật rất kính cẩn, lâu nay vì việc binh hỏa mà đèn hương lễ bái không chăm, cho nên yêu nghiệt hoành hành mà Phật không cứu giúp. Nay sao chẳng đến chùa kêu cầu với Phật, tưởng cũng là một cách quyền nghi may có thể giúp ích cho mình.

Mọi người bèn đi đốt hương lễ bái ở chùa chiền khấn rằng:

“Lũ chúng sinh này kính thờ Trời Phật, quy y đã lâu, hết lòng trông cậy ở Phật pháp. Nay ma quỷ nổi lên, quấy nhiễu dân chúng, họa hại cả đến loài lục súc, vậy mà Phật ngồi nhìn im lặng, chẳng cũng từ bi quá lắm ư? Cúi xin mở lượng thương xót, ra uy trừng phạt, khiến thần, người chẳng lẫn, dân vật đều yên, hết thảy chúng sinh, đều được đội ơn nhiều lắm. Song loạn lạc vừa yên, sinh kế chưa khôi phục được, tấc gỗ mảnh ngói khó lòng xoay xở vào đâu. Đợi khi làm ăn giàu có sẽ lại xin sửa lại chùa chiền đền công đức ấy”.

Đêm hôm ấy, trộm cắp hoành hành lại dữ hơn trước. Tư Lập chẳng biết làm sao được; nghe Vương tiên sinh ở huyện Kim Thành(4) là người giỏi bói dịch, bèn đến bói một quẻ xem sao. Vương tiên sinh bói rồi nói rằng:

Cưỡi trên ngựa tốt,

Mặc áo vải săn.

Túi da tên thiếc,

Đích thị người thần.

Lại dặn rằng:

- Ông muốn trừ được nạn ấy, sáng mai nên theo phía tả cửa huyện đi về phương Nam, hễ thấy người nào vận mặc như thế, mang xách như vậy, quyết là người ấy có thể trừ hại được, nên cố thỉnh mời, dù từ chối cũng đừng nghe.

Hôm sau, Tư Lập cùng các phụ lão đúng theo lời của Vương tiên sinh để trông ngóng xem, những kẻ đi, người lại đầy đường, chẳng thấy ai giống như thế cả. Trời đã xế chiều ai nấy chán nản sắp muốn về, chợt có một người từ trong núi bước ra, mình mặc áo vải, đeo cung cưỡi ngựa. Mọi người cùng chạy ra phục lạy ở phía trước mặt. Người ấy ngạc nhiên hỏi, mọi người cũng kể rõ bản ý của mình. Người ấy cười mà nói rằng:

- Các ông sao mà quá tin bói toán thế. Tôi từ nhỏ làm nghề săn bắn, mình không rời yên ngựa, tay không rời cung tên. Hôm qua nghe nói ở núi An Phụ(5) có nhiều giống nai, báo, thỏ tốt nên nay định đến để săn, nào có biết lập đàn thầy pháp, bắt ma vô hình là công việc thế nào.

Tư Lập nghĩ bụng người này tất là một vị pháp đàn cao tay vì không muốn nổi tiếng về thuật bùa bèn, vì sợ mang lụy vào thân, nên mới nhởn nhơ trong chốn khe núi, giấu mình ở thú chơi cung mã, bèn nhất định cố mời kỳ được. Người kia xem chừng không thể từ chối, phải gượng nghe lời. Tư Lập mời người ấy về huyện để ở trong nhà quán xá, giường chiếu màn đệm rất sang trọng, săn sóc kính cẩn như một vị thần minh. Người ấy nghĩ riêng rằng:

- Họ tiếp đãi kính cẩn với ta như thế này, chỉ vì cho ta là có tài trừ quỷ. Nhưng thực thì ta chẳng có tài gì về việc đó, thế mà đi hưởng sự cung cấp của người, sao cho đành tâm. Nếu không sớm liệu trốn đi thì có ngày xấu hổ.

Hôm ấy ước chừng nửa đêm, thừa lúc mọi người đã ngủ say, người ấy bèn rón rén ra khỏi huyện lỵ. Khi đến phía Tây cái cầu ván bấy giờ trời tối lờ mờ, trăng khuya chưa mọc, thấy có người hình thể to lớn, hớn hở từ dưới đồng đi lên, người ấy bèn lẻn vào chỗ khuất, ngồi rình để xem họ làm trò gì. Một lát, thấy họ thò tay khoắng xuống một cái ao rồi bất cứ vớ được cá lớn cá nhỏ, đều bỏ vào mồm nhai nuốt hết, lại nhìn nhau mà cười mà nói:

- Những con cá con ăn ngon lắm nên ăn dè dặt mới thấy thú, há chẳng hơn những thức hương hoa nhạt nhẽo họ thường dâng cúng chúng mình ư? Đáng tiếc là đến bây giờ, chúng mình mới được biết những vị ngon ấy.

Một người cười mà nói:

- Chúng mình thật to đầu mà dại, bấy nay bị người đời chúng nó lừa dối; ai lại đem cái oản, một vài lẻ gạo để lấp cái bụng nặng nghìn cây mà đi giữ của cho chúng nó bao giờ. Nếu không có những buổi như buổi hôm nay mà cứ trường chay mãi như trước thì thật là một đời sống uổng.

Một người nói:

- Tôi xưa nay vẫn ăn đồ mặn không phải ăn chay tịnh như các ông. Nhưng hiện giờ dân tình nghèo kiết, chúng nó chẳng có gì để cúng vái mình. Bụng đói miệng thèm, không biết mùi thịt là cái gì đã trải qua một thời gian lâu lắm, chẳng khác chi đức Khổng Tử ở nước Tề ba tháng không được đụng đến miếng thịt. Song đêm nay, trời rét, nước lạnh, khó lòng ở lâu chỗ này được, chi bằng lên quách vườn mía mà bắt chước Hổ đầu tướng quân(6) ngày xưa.

Đoạn rồi họ dắt nhau đi lên, vào vườn mía, nhổ trộm mà tước mà hít. Người kia đang ngồi núp một chỗ, liền dương cung lắp tên, thình lình b*n r*, tin luôn ngay được hai người. Bọn gian kêu ấm ớ mấy tiếng rồi ồ chạy cả, chừng độ mấy chục bước đều mờ khuất hết. Song lúc đó còn thấy có tiếng mắng nhau:

- Đã bảo ngày giờ không tốt thì đừng nên đi, không nghe lời ta, bây giờ mới biết.

Người kia kêu réo ầm ĩ lên, dân làng quanh đấy giật mình tỉnh dậy, cùng đốt đèn thắp đuốc chia nhau mỗi người đi đuổi một ngả. Họ soi thấy dấu máu vấy trên mặt đất, bèn theo dấu máu ấy đi về phía Tây. Chừng hơn nửa dặm đến một cái chùa hoang, vào thấy hai pho tượng Hộ pháp xiêu vẹo trong chùa, trên lưng mỗi tượng đều có một phát tên c*m v** sâu lắm (7). Mọi người đều lắc đầu lè lưỡi, cho là một sự lạ xưa nay chưa có bao giờ. Họ liền hẩy đổ hai pho tượng. Trong lúc ấy còn nghe có tiếng nói rằng:

- Vẫn tưởng kiếm cho no bụng, ai ngờ phải đến nát thân. Nhưng bầy ra mưu mẹo là tự lão thủy thần kia. Hắn là chủ mưu mà được thoát nạn còn chúng ta theo hắn mà phải chịu vạ, thật cũng đáng phàn nàn lắm.

Đó rồi họ sai người đến miếu Thủy thần, thấy pho tượng thần đắp bằng đất, bỗng biến sắc, mặt tái đi như chàm đổ, mấy cái vẩy cá còn dính lèm nhèm trên mép, lại phá hủy luôn cả pho tượng ấy.

Quan huyện Văn Tư Lập dốc hết hòm rương để trả ơn, người kia chở nặng mà về. Từ đấy yêu tà tuyệt tịch không còn thấy bóng tăm đâu nữa.

Lời bình:

Than ôi! Cái thuyết nhà Phật thật vô ích mà có hại quá lắm. Nghe lời nói năng thì từ bi, quảng đại, tìm sự ứng báo thì bắt gió mơ hồ. Nhân dân kính tín đến nỗi có người phá sản để cúng cho nhà chùa. Nay xem cái dư nghiệt ở trong một ngôi chùa nát mà còn gớm ghê như thế, huống ngày thường cúng vái sầm uất phỏng còn tai hại đến đâu. Song những anh quân, hiền tướng, thường muốn trừ bỏ mà vẫn không được. Bởi các đấng quân tử cao minh, thường có nhiều người rúp rập, chẳng hạn như Tô học sỹ(8) đời Tống, Lương Trạng nguyên(9) đời Lê, ước sao có hàng trăm ông Hàn Xương Lê(10) ra đời, xúm lại mà đánh, đốt hết sách và chiếm hết nhà mới có thể được.

(1) Đông Triều: nay là huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

(2) Trần Giản Định: tên là Ngỗi, dấy quân chống quân xâm lược Minh từ 1407, niên hiệu Hưng Khánh.

(3) Quân Ngô: chỉ quân xâm lược Minh.

(4) Huyện Kim Thành: thời Trần thuộc châu Đông Triều, nay thuộc địa phận tỉnh Hải Dương.

(5) Núi An Phụ: nguyên chú: “Núi ở huyện Giáp Sơn”, có lẽ nay là vùng Kinh Môn thuộc tỉnh Hải Dương.

(6) Hổ đầu tướng quân: đời vua Tấn An Đế, Cố Hải Chi làm chức Hổ đầu tướng quân, người đương thời gọi là Cố Hổ đầu. Mỗi lần ăn mía, Cố đều ăn từ ngọn xuống gốc, lại nói: “Ăn như thế thì mỗi lúc mới đi đến chỗ thú vị”.

(7) Nguyên văn: “... tên cắm ngập đến lông vũ”, tức là sâu vào đến lông vũ đuôi mũi tên.

(8) Tô Học Sĩ: Tô Đông Pha, nhà thơ lớn đời Tống, thường đến chùa Kim Sơn, chơi thân với sư Phật ấn.

(9) Lương Trạng nguyên: tức Lương Thế Vinh, người xã Cao Hương, huyện Thiên Bản (nay là huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định), đỗ Trạng nguyên năm Quang Thuận thứ 4 (1463) đời Lê Thánh Tông, rất sùng đạo Phật.

(10) Hàn Xương Lê: Hàn Dũ đời Đường. Ông có bài biểu can ngăn việc rước xương Phật, thể hiện tư tưởng bài Phật. Ông khuyên vua đốt sách kinh Phật, bắt sư phải hoàn tục.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 232: Chân Tướng


Lưỡng Phật Đấu Thuyết Ký vừa hạ màn, người đóng phật đất – Lâm Cảnh Trung – đã từ cánh gà chạy ra, dáo dác nhìn quanh tìm kiếm bóng dáng của Binh Bộ Thượng Thư – Lâm Doãn Hoành. Trông cái vẻ háo hức của thằng nhóc, Lý Huyền Thiên cơ hồ cũng thấy không đành lòng, bèn hắng giọng một tiếng, truyền âm cho Lâm Cảnh Trung:

“Gia phụ đã thay bản hoàng tọa trấn Cổ Long thành, không cần tìm nữa.”

“A!”

Lâm Cảnh Trung kêu lên một tiếng, gương mặt hiện lên vẻ không cam lòng cùng bất đắc dĩ, tiu nghỉu cúi đầu.

Lý Thanh Vân chẳng phải đã là đệ tử của Bích Mặc tiên sinh rồi sao? Võ Hoàng ngài vì cớ gì còn phải giành đi cơ hội đến Quan Lâm của gia phụ?

Đương nhiên...

Lâm Cảnh Trung cũng chỉ dám oán thầm trong lòng mà thôi. Y tuy còn trẻ, nhưng cũng là con cháu danh gia vọng tộc, cũng hiểu triều đình có rất nhiều quy định, rất nhiều nguyên tắc. Quan lộ, không phải quan phẩm càng cao lại càng không bị gò bó gì, nếu không đã không gọi là triều đình, mà gọi là giang hồ.

Tỉ như Chưởng Kiếm, Chưởng Ấn, Chưởng Bút Quan của Bạch Đế thành, tuy phẩm hàm không bằng Thượng Thư Lục Bộ, nhưng lại có rất ít hạn chế, tự do hơn nhiều, quyền tự quyết rất lớn.

Trên dưới Binh Bộ, cũng chỉ có vị binh mã đại nguyên soái cả Đại Việt, Võ Hoàng Lý Huyền Thiên vì nguyên do đặc thù mà có thể lượn le ve khắp từ nam chí bắc như con ruồi. Nếu không phải chuyện liên quan đến Bích Mặc tiên sinh, dám chắc Lâm Doãn Hoành cũng không dám mạo hiểm rời khỏi vị trí trong lúc binh hoang mã loạn thế này.

Lý Huyền Thiên giải quyết chuyện của Lâm Cảnh Trung xong thì lập tức động thân, nhoáng một cái đã đáp xuống sân khấu. Hoàng Sở Sở vừa mới từ cánh gà bước lên, còn chưa kịp định thần thì đã phát hiện vị Võ Hoàng uy danh hiển hách đứng lù lù trước mặt. Cô nàng khẽ kêu lên một tiếng, theo bản năng lui về phía sau.

Kế đó, có vẻ như nhận ra mình quá thất lễ, Hoàng Sở Sở vội vàng quỳ xuống, nói:

“Điện hạ tha tội.”

“Không trách cô bé. Mau. Sớm hoàn thành chuyện tiên sinh giao phó. Đúng... những tội... thiếu niên nam nữ kia hôm nay mới tìm đến à? Gia giáo tốt lắm...”

Lý Huyền Thiên vừa muốn nói đến hai chữ “tội dân”, nhưng được nửa chừng, y lại đổi thành “thiếu niên nam nữ”. Võ Hoàng hắn tuy xưa nay hành xử rất tùy tiện, không giống như quan lại bình thường, song chí ít cũng tiếp xúc với triều đình nửa đời người, không đến nỗi não cơ bắp chỉ biết có đánh nhau. Lý Huyền Thiên mơ hồ cảm giác được, thái độ của Bích Mặc tiên sinh đối với tầng lớp gọi là “nạn dân” ở Quan Lâm không giống với người thường.

Hà huống...

Nguyên liệu nấu ăn đặc biệt như thế, đừng nói là Lý Huyền Thiên, chỉ cần là cựu binh từng kinh qua trận hải chiến với Long tộc khi xưa đều không thể nào quên được.

Hoàng Sở Sở giật mình, nhỏ giọng hỏi:

“Điện hạ nhận ra rồi sao?”

“Thời trẻ từng ăn, ăn đến nỗi phát ngán đến tận cổ luôn. Không ngờ hôm nay được tiên sinh mời lại.”

Lý Huyền Thiên cười, đáp, mắt lim dim lại giống như đang hoài niệm về một thời quá khứ.

Hoàng Sở Sở gật đầu, tiến lên một bước, nói:

“Các vị khách quan, thực ra tối nay tổ chức kịch nói góp vui, ngoại trừ để chào đón thái tử nước Sở ra thì tiên sinh cũng có một chút lòng riêng, dự định tranh thủ dính một chút hào quang của Thượng Quan thái tử, đặng có mấy lời muốn chuyển đến các vị khách quý. Thế nên vẫn xin chư vị nể mặt tiên sinh nán lại cho ít lâu, nghe tiên sinh nói mấy lời rồi hẵng về cũng không muộn.”

Nàng vừa dứt lời, người trên khán đài đã nhao nhao lên tiếng tán đồng:

“Tại hạ xin dỏng tai lên nghe lời vàng ý ngọc của tiên sinh.”

“Đúng vậy. Ai không nghe người đó thiệt.”

“Thánh nhân nói: sớm có thể nghe đạo, chiều chết cũng cam lòng. Tại hạ nguyện ở lại chờ tiên sinh.”

“Đừng nói một lát, cho dù dăm bữa nửa tháng cũng không hề gì...”

...

Những vị tông môn chưởng giáo, văn quan võ tướng hôm nay đến Quan Lâm nếu không phải vì muốn thăm dò hư thực của vị Bích Mặc tiên sinh thần bí ở Lão Thụ cổ viện như Kim Thiền Tử, thì cũng là muốn mượn cớ kết giao với Nguyễn Đông Thanh giống Lã Vọng Thiên.

Đừng nói là bỏ đi, trước đó bọn họ còn đang vắt óc bóp trán tìm xem nên lấy cớ gì để ở lại Quan Lâm đây.

Hoàng Sở Sở thấy khách khứa đều đồng ý, cũng không ai động thân rời đi, thở phào một hơi. Lúc này nhiệm vụ của nàng đã hoàn thành, nhẹ nhàng cúi đầu một cái, đoạn lui về phía sau, nhường lại sân khấu cho một người khác.

Chỉ thấy lúc này...

Từ chỗ cánh gà, một người đàn ông mặc áo vải gai, tóc để xõa rối tung rối mù, gương mặt lấm lem bùn đất. Hai tay y đeo gông, chân cũng bị xiềng lại. Thế nhưng, gã vẫn chầm chậm bước từng bước, dáng vẻ thong dong, thần sắc bình tĩnh chẳng khác nào mặt hồ lặng gió.

Có người nóng ruột muốn gặp Bích Mặc tiên sinh, bây giờ trông thấy một kẻ dáng vẻ như tội dân bước lên đài thì cả giận, quát:

“Tội dân to gan, sao dám ngang nhiên xuất hiện ở chỗ này?”

“Im miệng!”

Trương Hạo lườm y một cái, quát.

“Trương thái sư, ta cũng không phải...”

Kẻ kia đương nhiên là không phục, dù gì y cũng là chưởng môn giáo chủ, làm tổ làm tông một cõi, há lại chịu để kẻ khác mắng nhiếc như mắng trẻ con? Y vừa định vặc lại là mình không phải người của triều đình, thì đã thấy ngực sập xuống, cả người văng thẳng ra ngoài như diều đứt dây.

Trên sân khấu, Lý Huyền Thiên thu lại bàn tay, nói:

“Nể mặt tiên sinh, hôm nay không thấy máu tươi. Còn kẻ nào ý kiến ý cò gì nữa thì bước ra...”

Trương Hạo lắc đầu, chỉ biết chửi cái thằng cha đã lên làm lão tổ tông một phái rồi mà còn ngu xuẩn đến thế, so sánh với con lợn còn sợ khiến bọn nó tự ái.

Lý Huyền Thiên đứng lù lù trên sân khấu còn chưa thèm có ý kiến, nhà ngươi nhảy ra tru tréo cái gì? Thèm đòn à?

“Cảm tạ Võ Hoàng điện hạ.”

“Tiên sinh khách sáo.”

Lý Huyền Thiên gật đầu một cái, trả lại nửa lễ, đoạn từ từ bước lệch sang bên phải hai bước. Khách khứa đến Quan Lâm tối nay có ai mà không ngồi ở vị trí cao, tu vi há lại có thể kém cỏi? Thành thử ngôn hành cử chỉ đầy khách khí của Võ Hoàng đối với tên “tội nhân” trên sân khấu đều không thể nào thoát được ánh mắt, lỗ tai bọn họ.

Khi nghe Lý Huyền Thiên gọi “tội nhân” kia là “tiên sinh”, tất cả mới vỡ lẽ.

Thì ra...

“Tội dân” vừa lên sân khấu chính là Bích Mặc tiên sinh.

Nếu là lúc trước, có lẽ còn một số tông chủ chưởng môn đồng tình với kẻ vừa bị Lý Huyền Thiên đánh, thì hiện tại lòng thương hại đã chẳng còn sót lại chút nào cả.

Đáng đánh.

Mất mặt giang hồ thảo... không đúng... giang hồ nghĩa sĩ chúng ta.

Nguyễn Đông Thanh hít sâu một hơi, nếu Hồng Đô hoặc Trần Dũng, Nguyên Phương ở đây lúc này chắc hẳn sẽ thấy dáng vẻ hiện giờ của gã rất quen.

Bích Mặc tiên sinh hiện tại trông hiên ngang chẳng khác nào khi chỉ tay mắng Đặng Không, Sở Tinh Hà khi trước.

“Các vị khách quý hôm nay nể mặt tại hạ đến đây chung vui, là may mắn của ải Quan Lâm.”

“Không dám. Tiên sinh khách sáo quá. Hôm nay đến đây chẳng ra chút sức nào còn được xem kịch nói, được mời điểm tâm, là vinh hạnh của chúng ta mới phải. Chư vị thấy đúng không?”

Trương Hạo lúc này việc nghĩa không nhường ai, nhanh chóng chộp lấy cơ hội thay mặt toàn bộ những vị khách khác đối đáp với Nguyễn Đông Thanh.

Cánh văn quan đương nhiên là không có ý kiến gì, nhao nhao hưởng ứng. Lắm kẻ thậm chí còn sử dụng thần thông “Bách Hoa Tề Phóng, Bá Điểu Tề Minh” để trợ uy. Đám võ tướng và mấy vị chưởng giáo, lão tổ thế lực giang hồ thì không vui vẻ gì với kết quả này, song lại ngại thân phận cha của thái sư đương triều của Trương Hạo, nên cũng chỉ đành ngậm tăm. Bọn tự thôi miên bản thân rằng “ván đã đóng thuyền”, rằng “thái sư có quan hệ tốt với tiên sinh”, vừa gặm nhấm cảm giác tiếc hùi hụi trong lòng.

Nguyễn Đông Thanh không ngờ Trương Hạo lại nhảy ra “kiến tạo” một pha đẹp như thế, lần nữa cảm khái trước sự nhạy bén của người từng làm thái sư đầu triều. Gã hắng giọng, nói:

“Nhắc đến điểm tâm, các vị thấy món ăn hôm nay thế nào? Phục vụ hầu hạ ra sao?”

Trương Hạo nghe vị Bích Mặc tiên sinh nói vậy, trong lòng cứ thấy ngờ ngợ, song không đợi lão kịp suy xét cẩn thận thì sau lưng đã có kẻ lên tiếng.

“Thanh tú lễ độ, khiêm nhường tận tụy, rất có gia giáo. Không biết tiên sinh mời tiểu thư nhà ai, công tử của vị đại nhân vật nào? Để bọn họ hạ mình phục vụ như thế, bản tướng thực là thụ sủng nhược kinh.”

“Chính thị. Chính thị. Đào tướng quân nói phải lắm. Có lẽ là tiên sinh khéo giáo dục nên mới được như vậy.”

Cánh võ quan cơ hồ vồ ngay lấy cơ hội, liên tục khen ngợi những thiếu niên nam nữ bê khay dâng tráp đứng hầu ở giữa hai vở kịch.

Văn ban đã có Trương Hạo dẫn đầu, võ tướng đã có Lý Huyền Thiên ra tay giáo huấn một thằng ngốc, bây giờ lại thêm đám võ tướng giật thời cơ nhanh như trảo chớp, khiến phe phái giang hồ lúc này như ngồi trên đống lửa. Không chịu thua kém, một vị chưởng giáo vội vàng lên tiếng:

“Điểm tâm hương vị độc đáo, chế biến tinh xảo, quả thực là mỹ vị nhân gian. Ăn rồi đầu lưỡi lưu hương, miệng vương mùi vị, quả thực là dư vị bất tận.”

“Quách giáo chủ nói chính hợp ý bần đạo.”

Nguyễn Đông Thanh chờ khán đài ngừng những tiếng xôn xao, khen đến chán mồm cạn lời đi, mới lên tiếng:

“Thực ra... những vị tiểu thư công tử mà các vị nói... đều xuất thân là tội dân. Món điểm tâm hôm nay Đông Thanh mời các vị chế biến từ Địa Tâm, chính là thứ mà nạn dân phải ăn để sống qua ngày.”
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 233: Bao Tinh Bạch


Sau khi Nguyễn Đông Thanh tiết lộ thân phận thực sự của những thiếu niên nam nữ và nguồn gốc của món điểm tâm, thì cả khán đài thoắt cái đã chìm vào trong tĩnh lặng. Khách khứa vô luận là văn quan, võ tướng hay cường giả giang hồ đều ngây ngẩn nhìn nhau, không ngờ Bích Mặc tiên sinh lại đi nước cờ này.

Mượn yêu sách của Thượng Quan Trường Không làm cái cớ nói lên cái khổ của tội dân?

Lẽ nào... tiên sinh muốn xóa bỏ hình phạt trục xuất, để nạn dân khôi phục thân phận, vào thành sinh hoạt?

Bấy giờ, lại nghe trên khán đài phát ra tiếng ho khan. Sau đó, một thiếu niên anh tuấn bức người từ từ đứng dậy, ngoại trừ thiếu lâu chủ Lã Vọng Thiên của Vọng Thiên Lâu ra thì còn ai khác nữa? Cậu chàng hướng ánh mắt nhìn về phía người đang ăn mặc như tù phạm trên sân khấu:

“Dám... dám hỏi tiên sinh, Địa Tâm rốt cuộc là thứ gì?”

Nguyễn Đông Thanh cũng là lần đầu trông thấy một người tuấn tú đến như thế, quả thực là hiện thân định nghĩa của hai chữ “đẹp trai”. Trước nay hắn không tin rằng cái cụm “đẹp ngất ngây”, thế nhưng khi thấy Lã Vọng Thiên, trai thẳng như Bích Mặc tiên sinh còn thấy giật mình một cái chứ đừng nói gì cánh chị em.

Nguyễn Đông Thanh hắng giọng một tiếng, vừa định giải thích, thì Lý Huyền Thiên đã bước lên một bước:

“Câu hỏi này để bản hoàng giải thích thì hơn.”

Sau khi nhận được ánh mắt “chấp thuận” của Bích Mặc tiên sinh, Võ Hoàng mới nói:

“Địa Tâm là một loại nấm mọc trên tim của xác chết, hơn nữa còn phải là chỗ tụ tập hàng ngàn hàng vạn xác chết như chiến trường mới có thể xuất hiện. Năm đó Sơn Man chặn sông, Nghiêm Hàn tiến đánh, Long tộc ép biển, bản hoàng và các anh em cũng phải dựa vào thứ này cầm cự.”

“Ra thế... khó trách Võ Hoàng phát hiện thâm ý của tiên sinh sớm hơn lão phu một bước.”

Trương Hạo nghĩ thầm.

Lão là nguyên lão trong triều, lại là quan văn, năm đó Nghiêm Hàn đánh Đại Việt, Trương Hạo ở Cổ Long thành. Tuy cũng có giật gấu vá vai, song không đến nỗi cần phải dựa vào Địa Tâm để mà sống qua ngày như chiến sĩ nơi tiền tuyến.

Bích Mặc tiên sinh của chúng ta lúc này chính đang nghĩ:

“Lại để Võ Hoàng ra mặt nói đỡ một lần. Ài... giá như có thể làm được một cái kính lão giúp y thì tốt.”

Nguyễn Đông Thanh cảm thấy Lý Huyền Thiên năm lần bảy lượt giúp đỡ, không trực tiếp thì cũng gián tiếp qua tấm lệnh bài, thế mà hắn lại chưa làm được gì cho Võ Hoàng, trong lòng cũng áy náy lắm.

Lý Huyền Thiên nói xong, lập tức đã nghe có tiếng người phản bác:

“Tiên sinh chẳng nhẽ muốn để những tội dân này khôi phục dân ngạch, vào thành sinh sống? Tấm lòng hải hà của tiên sinh bản quan bội phục. Thế nhưng nạn dân trong người chảy tội huyết, bản tính xảo trá, để chúng vào thành thì dân chúng toàn bộ Quan Lâm sẽ nghĩ thế nào? Chuyện này có phần chưa thỏa đáng, vẫn mong tiên sinh nghĩ lại.”

“Vị đại nhân đây là?”

Nguyễn Đông Thanh nhìn về phía khán đài, chỉ thấy kẻ vừa lên tiếng là một kẻ béo ục béo ịch, mặc một bộ áo trắng, từ trên sân khấu nhìn lên, quả thực giống hệt một cái bánh bao biết đi biết chạy.

“Bao Tinh Bạch, chán làm chức phó thành chủ rồi phải không?”

Nghe Lý Huyền Thiên cao giọng chất vấn mà Bích Mặc tiên sinh của chúng ta kém chút thì ngã lăn ra đất. Bao Tinh Bạch? Bánh bao trắng tinh?

Bố mẹ người này chẳng nhẽ biết thuật tiên tri hay sao?

“Võ Hoàng điện hạ tuy quyền khuynh thiên hạ, nhưng không thể một tay che trời. Bản quan là người của Lễ bộ, muốn phế truất ta, hỏi ý kiến của thánh thượng trước đi.”

Bao Tinh Bạch chẳng biết lấy sức mạnh từ đâu, thế nhưng lúc này y thẳng lưng, nghiêm mặt, đối chọi gay gắt với Lý Huyền Thiên.

Kế, gã lại nhìn về phía Trương Hạo và Ảnh Lão, nói:

“Trương lão tiên sinh tuy đức cao vọng, từng làm thái sư đầu triều, song hiện giờ đã cáo lão hồi hương, chắc hẳn không tiện xen vào chủ trương của triều đình đâu nhỉ?”

Trương Hạo nhún vai, nói:

“Lão phu đúng là không tiện hỏi chuyện trong triều, bằng không lại có người nói họ Trương chúng ta một tay che trời, coi thường thánh thượng.”

Đương nhiên, kể từ lúc Bao Tinh Bạch đứng ra thì lão cũng đã đoán được đại khái nguyên do vì sao lá gan của cái tên phó thành chủ này đột nhiên lại phổng phao hơn ngày thường, đến độ dám ngang nhiên đứng ra đối đầu với Lý Huyền Thiên.

Bao Tinh Bạch nổi tiếng là nhát gan, cam chịu, an phận thủ thường, mấy lần trước tham dự hội Mỹ Thực Tiến Vua cũng thuộc diện nửa trong suốt. Chẳng thế mà mặc dầu làm quan đã nửa đời người, đổi đến ba đời thành chủ, nhưng hắn vẫn mãi mãi dậm chân ở cái chức phó.

Người như vậy đột nhiên dám đứng ra bật cả Lý Huyền Thiên thì chỉ có thể có một nguyên do: Lễ bộ. Còn nhớ năm xưa, chính người của Lễ bộ đã định tội danh Nguyên Tội, khiến nạn dân một khi bị trục xuất thì ba đời không được vào trong thành, không thể khôi phục dân ngạch, không thuộc vào tứ dân. Địa vị của tội dân thấp hơn gia nô, kém cả ca kỹ, nguyên do cũng có thể truy nguyên về Lễ Bộ thượng thư đầu tiên mà ra.

Sau đó, lại cũng chính Lễ bộ thường xuyên nhảy ra, nói “đời sau của tội dân cũng là tội dân, phải tính ba đời lại từ đầu”. Thế là một khi người ta phạm tội bị trục xuất, tước đi dân ngạch, thì đời đời kiếp kiếp chỉ có thể làm nạn dân, mãi mãi cũng không lật được người.

Lúc này, không nói Trương Hạo cũng đoán ra.

Lễ Bộ thượng thư đã hay tin về vở diễn “Liễu Hạnh”, mới quyết chí làm khó dễ.

Dù sao, trong mắt người tu Lễ học, nhân vật không tuân tam tòng chẳng màng tứ đức, tùy tâm tùy tính, khí khái chẳng kém nam nhi như công chúa Liễu Hạnh quả thực là không thể chấp nhận được.

Nhất là vở kịch này còn xuất từ tay của thằng cha có chiến tích đặc biệt với Nho đạo như Nguyễn Đông Thanh.

Trước là “di sản” của tiền nhân là “tội dân ba đời”.

Sau lại là vở kịch “li kinh phản đạo”.

Thành thử, Lễ Bộ mới nhất quyết chống lưng cho Bao Tinh Bạch, thậm chí không tiếc đối đầu với Võ Hoàng. Nguyên nhân rất đơn giản... Khôi phục dân ngạch cho tội dân hay phổ biến vở “Liễu Hạnh”, Lễ bộ đương nhiên sẽ không nhìn Nguyễn Đông Thanh đạt được cả hai. Sở dĩ để Bao Tinh Bạch nhảy ra làm khó dễ là muốn lấy chính một trong hai yêu cầu này ra làm thẻ đánh bạc.

Chúng ta nể mặt cấp lại dân ngạch cho “tội dân” thì ngài chớ có truyền bá vở “Liễu Hạnh”.

Nếu ngài muốn truyền bá vở kịch, vậy thì rất tiếc...

Thế nhưng...

Giống như một anh ký giả nào đó từng nói: “kịch bản ấy rất đẹp, tiếc là nó không xảy ra”. Trong mắt Trương Hạo, toan tính của Lễ bộ xem ra là phải trật đường ray ngay trong trứng nước.

Bởi lẽ...

Thằng cha Lý Huyền Thiên kia xưa nay nổi tiếng là ngựa ô trên triều đình, có bao giờ hành xử theo lẽ thường đâu mà dùng thuật làm quan với y?

Chỉ nghe Võ Hoàng lạnh giọng:

“Tốt! Bản hoàng ngay ngày mai sẽ tâu với thánh thượng từ bỏ hoàng vị, cởi giáp trả kiếm, làm một chức quan thanh nhàn hưởng phước thêm mấy năm. Đúng... chức Lễ bộ thượng thư nghe có vẻ được đấy.”

Bao Tinh Bạch:

“???”

Chơi vậy cũng được???

Đại nhân, hạ quan muốn cáo trạng, Võ Hoàng không nói võ đức!

Lễ bộ thượng thư ở cách Quan Lâm vạn dặm thông qua quan ấn của Bao Tinh Bạch cũng đã nghe được hết. Lão rùng mình một cái, chỉ thấy mũ ô sa trên đầu dường như có mùi khen khét giống như sắp cháy đến nơi. Lão vội vàng vơ lấy quan phục, đội nón ô sa, đoạn nói như quát:

“Người đâu! Khởi kiệu nhập cung, cầu kiến hoàng thượng! Chết? Quan ấn vẫn chưa ngắt à?”

“...”

Ngài bỏ xe giữ tướng dứt khoát thế sao?

Bao Tinh Bạch nuốt nước bọt, nhìn lên sân khấu, đột nhiên lấy trong túi chứa đồ ra một cái búa gỗ to tướng. Y táng một phát thật lực vào đầu của mình, trán tóe cả máu, loạng choạng muốn ngã.

Lúc Bao Tinh Bạch “hoàn hồn” thì y lập tức ra vẻ kinh ngạc:

“Võ Hoàng điện hạ? Đây là đâu? Ta vừa mới làm gì? Ai? Ai dám cả gan bắt bản quan đến đây???”

“Bao phó thành chủ xem ra là tuổi già, trí lực suy kiệt, không xứng với chức vị trên người nữa. Trương lão thái sư, Võ Hoàng điện hạ, phiền hai vị chuyển giúp một tấu chương của tại hạ lên cho thánh thượng, để Bao đại nhân cáo lão hồi hương, cho người trẻ cơ hội tiến thân.”

Nguyễn Đông Thanh cười lạnh, lớn tiếng.

Giả ngu phải không? Đường đường là người đã cày Lộc Đỉnh Ký phiên bản Tinh gia và Gặp Nhau Cuối Năm từ bé, Bích Mặc tiên sinh của chúng ta há lại có thể để hắn chơi cái trò Xúy Vân Giả Dại?

Bánh bao trắng à, còn non và xanh lắm.

Bấy giờ...

Trong số khách khứa, không thiếu người nhao nhao lên tiếng:

“Tiên sinh, chút chuyện lông gà vỏ tỏi này cần gì phải làm phiền điện hạ và Trương lão tiên sinh?”

“Cứ để bọn ta lo.”

Vừa có thể dậu đổ bìm leo, vừa có thể lấy lòng Bích Mặc tiên sinh, chuyện tốt như thế há lại không làm?
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 234: Thách Đấu Luận Đạo


Bấy giờ, Trương Hạo mới hắng giọng một cái, lên tiếng:

“Chư vị, có thể nghe lão phu nói một lời được không?”

Khán đài chính đang nhao nhao sôi trào, người người muốn nhân cơ hội đạp cho Bao Tinh Bạch một nhát lúc này cũng ngừng tay, ngậm miệng, nghiêm chỉnh như học sinh chào cờ.

Đường đường là cha của thái sư đương triều, cường giả Sử gia, danh tiếng và thế lực của Trương thị cũng không phải là để trưng cho vui...

Không thể làm phật ý lão.

Trên khán đài, vô luận là quan văn hay võ tướng, chưởng giáo hay tông chủ thì đều nghĩ như vậy. Thậm chí, không thiếu kẻ cho rằng ở đây ngoại trừ Bích Mặc tiên sinh và Võ Hoàng ra, ắt hẳn không ai dám không nể mặt Trương Hạo.

Nguyễn Đông Thanh nói:

“Xin kính cẩn nghe cao kiến của Trương lão thái sư.”

“Tiên sinh khách khí rồi. Theo ngu kiến của lão phu chi bằng mỗi bên lui lại một bước?”

Trương Hạo nói, nhìn về phía Bao Tinh Bạch:

“Không biết ý của Lễ bộ thế nào?”

“Có th... không đúng. Hạ quan chỉ là một phó thành chủ cỏn con, nào dám lạm quyền thay mặt Lễ Bộ thượng thư đại nhân lên tiếng nói chuyện?”

Bao Tinh Bạch vừa bị bỏ rơi, lúc này chỉ hận không thể chuồn khỏi đây càng sớm càng tốt, thành thử mém chút nữa là buột mồm đồng ý đề nghị của Trương Hạo. Cổ hắn lúc này rụt lại, nếu không phải hình thể Bao phó thành chủ quá mức phổng phao, cổ lại ngắn, chỉ e hiện tại đầu y đã rụt thẳng vào lớp vai ngấn mỡ mất dạng, không khác gì con rùa chui vào mai.

Cũng may, mới nói được nửa chừng, Bao Tinh Bạch đã sực tỉnh, vội vàng xua tay.

Lý Huyền Thiên cười lạnh:

“Vậy sao? Không có Lễ bộ chống lưng mà dám lên giọng cãi vã với bản hoàng, Được! Can đảm lắm! Bao phó thành chủ có khí phách như thế mà bản hoàng lại không nhìn ra, quả thực là khiến người tài mai một. Bản hoàng ngày mai sẽ vào triều thượng tấu, để Bao phó thành chủ chuyển sang binh bộ, cùng bản hoàng đại chiến sa trường một phen.”

Bao Tinh Bạch vừa nghe phải nhập ngũ thì hồn vía lên mây, gương mặt vốn đã trắng bây giờ càng tái bợt đi chẳng khác bôi vôi. Y nhìn hai người trên sân khấu, hận chỉ muốn nhào lên cắn một cái.

Vốn tưởng Bích Mặc tiên sinh muốn biếm hắn làm thường dân đã đủ tàn độc.

Không ngờ Lý Huyền Thiên còn ác hơn, định kéo Bao Tinh Bạch hắn lên sa trường đánh nhau với Hải Thú, đến cơ hội sống đời yên bình làm thường dân cũng không có.

Võ Hoàng là người thế nào?

Binh mã đại nguyên soái, ngay cả Binh Bộ thượng thư gặp y cũng phải cung kính cúi đầu. Một khi Bao Tinh Bạch hắn nhập ngũ, thực sự vào Binh Bộ thì thiếu gì cơ hội để dùng ném đá giấu tay, mượn đao giết người với hắn?

Bao Tinh Bạch hối hận thối cả ruột, song lúc này ván đã đóng thuyền, chẳng còn làm gì được nữa.

Lại nghe trên sân khấu, Nguyễn Đông Thanh ho khan một tiếng, hỏi:

“Không biết mỗi bên lui một bước trong lời của Trương lão thái sư là có ý gì, xin nói rõ cho.”

“Xóa bỏ nạn dân chế là chuyện đại sự, can hệ đến ngàn năm, thiết nghĩ cho dù là Võ Hoàng điện hạ hay tiên sinh thì cũng không dám vượt quyền thánh thượng, tự quyết việc này. Lão phu có thể để khuyển tử viết một bức tấu chương thưa với thánh thượng, song cũng không phải việc một sớm một chiều mà xong được ngay. Thế nên, cần phải lùi một bước...”

Trương Hạo cười, chậm rãi nói.

Tuy cái nguyên nhân chủ yếu khiến chế độ nạn dân sừng sững từ lúc lập quốc đến giờ vững như bàn thạch được lão giấu nhẹm, không đả động gì đến, song lý luận chặt chẽ, lời lẽ tựa như lạt mềm của lão lại khiến toàn bộ khách khứa đến xem kịch đều phải gật gù lắng nghe, không tự chủ được cảm thấy lão nói rất có lý.

Đối với thái sư tiền nhiệm Trương Hạo, vô luận là ngữ khí hay cách nhấn câu, nhả chữ đều là một loại binh khí, khiến kẻ khác mặc dầu bị lão cắt tiết xẻo thịt mà cũng không hề hay biết.

Trương Hạo cố tình ngừng lại một chốc, rồi mới nói:

“Võ Hoàng điện hạ, thời thế hiện giờ kiếm bạt cung giương, hải thú biển Phong Bạo rục rịch muốn tràn lên bờ, xâm lấn đại địa. Chính là lúc cần người, dùng người vậy. Theo ngu kiến của lão phu không bằng hai chúng ta cùng viết một bản tấu chương dâng lên thánh thượng, để con cháu của nạn dân tòng quân giết giặc, lấy công chuộc tội?”

“Quả là cao kiến. Bội phục. Bội phục.”

“Trương lão tiền bối không hổ từng là thái sư đầu triều, suy nghĩ thật là chu đáo cẩn thận.”

“Im miệng. Ngươi nói thế khác nào đang chửi tiên sinh suy nghĩ xốc nổi, không biết trước sau?”

...

Nguyễn Đông Thanh tuy bề ngoài trưng ra một cái mặt cá chết, không biểu hiện chút cảm xúc nào, thế nhưng trong ruột gã thì hiện giờ đang mừng húm. Nếu không kiệt lực khắc chế biểu cảm trên mặt, dám cá hiện giờ Bích Mặc tiên sinh của chúng ta đã cười phá lên từng trận khả ố rồi.

Thực ra...

Ý tưởng dùng Địa Tâm đãi khách, để nạn dân rót nước bưng trà không phải của Bích Mặc tiên sinh, mà chính thị là tác phẩm của Vũ tổng binh. Vốn là Vũ Tùng Lâm chỉ muốn lợi dụng dịp tụ hội lần này, mượn danh của Nguyễn Đông Thanh kể cho văn quan võ tướng khắp nơi về nỗi khổ nỗi oan của nạn dân mà thôi.

Cho dù là Vũ tổng binh, hay Bích Mặc tiên sinh thì đều chẳng hề hi vọng xa vời có thể giải quyết được việc này trong một sớm một chiều.

Nào ngờ, hôm nay đến xem kịch lại có một Trương Hạo.

Đề nghị của lão đối với Nguyễn Đông Thanh mà nói đã là ngoài mong đợi, vượt chỉ tiêu, hắn há lại có thể từ chối? Thế nhưng, Bích Mặc tiên sinh dù sao cũng là người đến từ địa cầu, hắn có thể nhìn ra chế độ nạn dân có thể tồn tại từ lúc ải Quan Lâm vừa mới được xây là do trong triều có thế lực nào đó hưởng lợi từ bọn họ.

Nếu hiện tại hắn tỏ vẻ quá vồ vập, chỉ e là đối phương sẽ thừa cơ làm khó.

Thành thử, hiện tại hắn mới đang nỗ lực trưng ra cái mặt cá chết. Cũng may hiện tại Nguyễn Đông Thanh đang có tạo hình như tù nhân, tóc tai bù xù, mặt mày lem luốc, thành thử đám khách khứa đứng từ xa mới không thể nhìn ra sơ hở.

Bằng không, với cái tài diễn xuất chỉ dừng lại ở mức văn nghệ trường như gã, diễn thế quái nào được trước toàn các thành phần chẳng dày dạn quan trường thì cũng giang hồ lọc lõi này được?

Thế là, hắn chờ một chốc, lại đưa tay vê cằm giống như đang cân nhắc cẩn thận, đắn đo suy xét mãi. Cuối cùng, Nguyễn Đông Thanh mới chịu lên tiếng:

“Nếu Võ Hoàng điện hạ không có ý kiến gì thì tại hạ xin nghe lời chỉ dạy của Trương lão thái sư.”

Lý Huyền Thiên không chờ đợi lấy nửa giây, gật đầu cái rụp, nói:

“Cứ như vậy đi.”

“Cảm ơn tiên sinh đã thông cảm. Chuyện này chắc chắn lão hủ sẽ tự mình để ý, tuyệt không lơ là, sẽ sớm cho tiên sinh một câu trả lời.”

Trương Hạo thấy cuối cùng vị Bích Mặc tiên sinh kia cũng “nể mặt” lão mà “giơ cao đánh khẽ”, không khỏi thở phào. Dù sao, sử đạo hiện giờ cũng là một phần của Nho đạo, mà lão cũng có thể tính là một thành viên của Nho môn.

Vẫn nói: “Tổ chim mà cháy, há lại có trứng lành?”

Lần trước Văn Cung đến thách thức, Nho đạo sập mất một góc, lão cũng bị ảnh hưởng phần nào, văn tâm nhộn nhạo bất an. Thành thử, khi Bao Tinh Bạch nhảy ra làm khó, lão mới phải vội vàng tìm cách hòa hoãn đôi bên.

Nếu không, Nho đạo mà lại mất một mẩu nào thì đúng là không biết khóc với ai cho phải.

oOo

Vốn là...

Quan khách đến xem kịch đều cho rằng mọi biến cố đêm nay đến đây là dừng. Hiện tại là lúc vui vẻ hòa thuận, chuẩn bị khép màn, kết thúc có hậu, ai về nhà nấy.

Bỗng nhiên, không một dấu hiệu...

Chỉ thấy hương sen thoang thoảng, ánh vàng rạng rỡ chẳng khác nào mặt trời tràn ra khắp cả khán đài. Người người tắm trong ánh sáng, chỉ thấy không hề cháy bỏng chói gắt mà ấm ám nhu hòa vô cùng, tựa như là nắng ấm pha với mật ong. Lại nghe bên tai văng vẳng tiếng lầm rầm nhẩm đọc, thoang thoảng tiếng cốc cốc đều đều của mõ gỗ.

Một nhà sư trẻ hai tay chắp lại, nhẹ nhàng đạp không tiến về phía sân khấu, Mỗi lần y cất bước, dưới gót lại sinh ra một đóa sen vàng đón lấy bàn chân, sau đó tan ra thành mười mảnh lá sen, rải ra bốn phía.

Người này đương nhiên không phải ai khác, chính là truyền nhân của Long Hoa tự - Kim Thiền Tử.

Nguyễn Đông Thanh nhìn nhà sư trẻ tuổi đang đạp không tiến về phía mình, ánh váng lóe chói mắt, quanh thân phát ra những tiếng rè rè như đài phát thanh bị nhiễu. Gã nhíu mày một cái, thầm hô không ổn.

Vị hòa thượng này đột nhiên ra mặt, chắc không phải là kiếm chuyện với hắn đấy chứ?

Kim Thiền Tử đáp xuống sân khấu, nhìn Võ Hoàng một cái, đoạn cao giọng:

“Nguyễn thí chủ, bần tăng Kim Thiền Tử, đại biểu Long Hoa tự khiêu chiến các hạ.”

“Phụt. Đại sư bao giờ thì sang Tây Thiên bái Phật cầu kinh?”

Nguyễn Đông Thanh nghe pháp hiệu của nhà sư trẻ tuổi trước mặt, cười nhạt, đáp. Gã có thể nghe ra thái độ của Kim Thiền Tử này không lấy gì làm thân thiện cho cam, thành thử cũng không nhường nhịn khách sáo gì cả.

Trên sân khấu, một hòa thượng khắp người tỏa hào quang, dưới chân đạp sen vàng, chung quanh tràn ngập tiếng niệm kinh, khí chất cao tăng tỏa ra bức người. Đối diện y lại là một thằng cha đầu bù tóc rối, cổ đeo gông chân mang cùm, quả thực là đối nghịch hoàn toàn, ngược nhau chẳng khác nào trời và vực.

Kim Thiền Tử lại quay sang chỗ Lý Huyền Thiên, nói:

“Các vị, chuyện này là đạo thống chi tranh, xin chớ có cậy thế chủ nhà mà chen vào. Bằng không cũng đừng trách Long Hoa tự chúng ta không nói lý.”

“Hòa thượng, khuyên ngươi ngươi không nghe, cẩn thận đại nạn lâm đầu.”

Trên khán đài, Lã Vọng Thiên lắc đầu, nói thầm.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 235: Đến Thành Hải Nha


Vài ngày trước đó...

Châu Kim Quy, phía đông Đại Việt.

Bước ra khỏi truyền tống môn, hiện ra trước mắt Lý Thanh Vân là một bãi cát vàng rộng lớn. Xa xa phía bên phải cậu chàng có thể thấy thành Hải Nha, còn ở mé trái, chính là vịnh đảo Hải Lưu trên biển Phong Bạo.

Tương truyền năm xưa, khi thái tổ Lê Đồ Thành cho thuyền xuôi nam tìm di vật của Thế Tôn, từng có một trận đại chiến với hải thú tại đây. Theo như sử quan ghi chép, thái tổ cùng ba quân một đường dài giả thua, lừa địch đuổi theo, sau đó lợi dụng dòng nghịch lưu và địa thế nơi đây để thiết kế mai phục. Thây hải thú năm đó chất cao như núi, qua năm tháng đã tạo nên thêm không ít đảo nhỏ trong vùng vịnh đảo mà nay gọi là vịnh Hải Lưu.

Giải thích cho cái tên này, ban đầu có thuyết pháp của sử quan rằng, ấy là ám chỉ dòng nghịch lưu mà Lê Đồ Thành lợi dụng để đảo ngược tình thế. Song, về sau, có thi nhân thành Hải Nha nói, kỳ thực là Lê thái tổ vì nhìn thấy cảnh biển nơi đây thơ mộng nên mới lưu luyến, quyết định ở lại lập quốc an sinh. Thế nên, phải hiểu “Hải Lưu” là “biển đã giữ chân thái tổ lại”, thì sau mới có Đại Việt. Cách giải thích này vừa xuất hiện, đương nhiên là dân thành Hải Nha hưởng ứng nhiệt liệt, còn dân thành Bạch Đế phản đối kịch liệt. Dù gì, truyền thuyết thành Bạch Đế kể, thái tổ vì giao tình với Bạch Đàn Tinh của họ mới ở lại.

Thế nhưng, Lê thái tổ đánh hải thú trước, quyết ở lại sau thì là sự thật. Thành thử, suốt cả trăm năm nay, dân chúng hai thành Bạch Đế, Hải Nha hễ gặp là lại tranh cãi về lý do thật mà thái tổ Đồ Thành lưu lại lập quốc. Dân Hải Nha nói, thái tổ quyến luyến biển đảo Hải Lưu nên mới quyết ở lại, gặp Bạch Đàn Tinh chả qua là thuận tiện, trùng hợp mà thôi. Dân Bạch Đế thì nói, lúc ở Hải Nha thái tổ còn chưa có ý định ở lại, là nhờ Bạch Đàn Tinh thuyết phục nên sau mới vậy. Hai bên tranh cãi đã không biết bao nhiêu đời nay mà vẫn không ai chịu ai.

Bãi cát vàng rộng mênh mông nối liền thành Hải Nha với biển Phong Bạo mang tên Nghênh Khách. Sở dĩ có cái tên này là do năm đó, sau khi đại thắng hải thú, Lê Đồ Thành cho quân vớt xác những con thịt béo mỡ thơm lên bờ cát, mở tiệc khao quân bảy ngày bảy đêm.

Trong các đảo của vịnh Hải Lưu, có một hòn lớn, có núi cao, rừng xanh, trông vô cùng đẹp mắt. Trên núi có một vách đá chồi ra biển, có dựng một tấm bia được mài nhẵn, bên trên khắc ba chữ “Phi Lưu Bích”. Tên tuy nghe văn hoa mỹ lệ (dòng nước bay), nhưng sự kiện đằng sau cái tên này lại là... sau khi quân đội của thái tổ tiệc tùng được ba ngày ba đêm, say bí tỉ, cả vua cả tướng bèn kéo nhau lên vách núi này, rồi tiểu tiện xuống dưới để trêu chọc, khiêu khích hải yêu, hải thú.

Thậm chí bản thân thành Hải Nha cũng là được xây bằng hài cốt của đám hải thú chết trận năm ấy. Vốn thái tổ định đặt tên Hải Cốt, nhưng sau vì nghĩ cái tên này nghe hơi xấu, nên mới nói giảm nói tránh xuống còn như hiện tại.

Mà cũng vì đoạn lịch sử đẫm máu này, mà mỗi lần hải thú lên bờ, nơi đây cũng là nơi chúng hung hăng, dữ tợn nhất. Có người nói, đây là do chiến trường này là nỗi nhục lớn của bọn chúng năm xưa nên chúng quyết chí muốn phục thù. Có kẻ lại bảo, hải thú, hải yêu nào có hiểu được vinh nhục, báo cừu? Chả qua do oán hận, máu huyết của vô số hải thú từng vong mạng ở đây có hiệu quả k*ch th*ch dã tính và sự khát máu của bọn chúng mà thôi. Mặc kệ là vì lý do gì, thành Hải Nha luôn là một cứ điểm quan trọng cần phòng thủ mỗi lần chiến tranh nổ ra. Thành thử, Lý Thanh Vân được điều đến đây cũng không tính là chuyện gì lạ.

Nói về Lý Thanh Vân, cậu chàng nhìn ngắm xung quanh trong chốc lát, sau đó vươn vai một cái. Sau khi hít sâu một hơi cảm nhận không khí biển cùng cái mùi muối thoang thoảng trong gió, họ Lý lại bất giác nghĩ tới Tạ Thiên Hoa, tự hỏi không biết nếu cô nàng ở cạnh mình lúc này, sẽ nghĩ gì về cảnh quan trước mắt cũng như không khí nơi đây.

Kỳ thực, nếu bỏ qua đoạn lịch sử ác liệt và trọng trách trên thân, thì vịnh Hải Lưu đúng là một thắng cảnh đáng tới tham quan ở Huyền Hoàng giới. Ai đang yêu khi nhìn thấy cảnh đẹp cũng sẽ muốn chia sẻ với người trong lòng, Lý Thanh Vân cũng không phải ngoại lệ.

Chuyện hai người Lý, Tạ có ý với nhau đã rõ ràng đến mức người ngoài còn có thể nhận ra. Mà Lý Thanh Vân chưa thừa nhận cũng chẳng phải vì cậu ta chưa hiểu rõ lòng mình. Dù gì, nếu xét kỹ, họ Lý phải lòng sư muội mình trước: Từ lần gặp mặt dưới chân núi trước khi cái chuồng gà được cơi nới lại thì chàng ngố nào đó đã có những rung động đầu tiên đối với cô sư muội tương lai rồi. Y mãi không chịu nói ra, lại còn giả ngơ trốn tránh, lý do không nằm ngoài hai chữ “tự ti”.

Tạ Thiên Hoa thân là thánh nữ tộc Thanh Tước, tuy giờ sa cơ lỡ vận, bị “trục xuất” khỏi tộc, thế nhưng vẫn còn Tạ Hàn Thiên làm chỗ dựa. Sau này liệu cô nàng có trở mình, rồi nhận tổ quy tông hay không còn khó nói. Mà cậu chàng, dù sau này có vượt qua Lý Thanh Minh hay không, thì cũng tuyệt không có ý định hòa giải hay dính dáng gì thêm với nhà họ Lý. Thành ra, Lý Thanh Vân tự thấy mình không xứng.

Lùi một ngàn bước mà nói, kể cả không có vấn đề về môn đăng hộ đối, cậu chàng vẫn còn lý do khác để tự ti, chính là sự việc hôm xảy ra thú triều. Tận mắt chứng kiến sư muội rơi từ trên cao xuống, sống chết không rõ mà tim Lý Thanh Vân như ngừng đập. Y sợ hãi, lo lắng, nhưng nhiều hơn là tự trách. Cậu thấy mình còn quá yếu đuối, không thể bảo vệ được ý trung nhân.

Thành thử, sau chuyện hôm đó, họ Lý tự hứa với mình phải mạnh mẽ lên, phải cố gắng sao cho xứng đáng với nhị sư muội, rồi mới cho phép bản thân tỏ tình. Mà mục tiêu đầu tiên trên con đường phấn đấu của Lý Thanh Vân đương nhiên là người anh cùng cha khác mẹ của y.

Dọc một đường đến đây, chiến đấu với không biết bao nhiêu kẻ ám sát – thậm chí thành công chống đỡ hợp kích của đám sát thủ Lý gia phái tới – khiến cậu chàng tự tin hơn không ít. Thế nhưng, chật vật chống đỡ một chiêu kia của Tần Trảm cũng đủ khiến sự tự tin mới được xây dựng ấy bị rung động đến tận bây giờ. Vậy mà, trước khi rời đi, Tu La Đao còn không quên bỏ lại một câu:

“Tự xử lý cho tốt, một đao này của bản thiếu còn kém xa Lý Thanh Minh.”

Lời này như giội cho “Sát Kê đại hiệp” của chúng ta một gáo nước lạnh, kéo cậu chàng về với thực tế khốc liệt, nhắc cho cậu rõ hơn bao giờ hết khoảng cách giữa bản thân và trưởng tử của Lý gia.

Gạt suy nghĩ ngổn ngang trong lòng sang một bên, Lý Thanh Vân xốc lại của nả, rảo bước đi về phía cổng thành Hải Nha. Cậu chàng đang tận lực làm theo lời sư phụ dạy: “Đừng nên bận tâm những điều nằm ngoài tầm kiểm soát của bản thân. Người khác ra sao chúng ta không quản được, chúng ta chỉ có thể cố gắng hết mình trong phạm vi khả năng.” Tất nhiên, đây là lý giải của mấy người đồ đệ bọn họ về “thâm ý trong lời sư phụ”, chứ câu gốc mà Bích Mặc tiên sinh của chúng ta nói chỉ đơn giản là, “Nếu đằng nào cũng không thay đổi được thì nghĩ làm gì cho mệt óc? Cứ làm tốt chuyện của mình là được rồi!”

Từ truyền tống môn đến cổng thành, trên bãi cát chẳng có xây bất kỳ công trình kiến trúc nào. Không vọng gác, không chòi cốt, không gì cả. Ngoại trừ truyền tống môn được đặt trên một cái đài hơi cao hơn so với mặt đất ra thì bãi biển quả là có chút trống trơn. Lý Thanh Vân nhìn ngang ngó dọc, có chút không hiểu tại sao một thành trì mạng tính chiến lược như thế này lại có thể phòng ngự lỏng lẻo như thế. Ngộ nhỡ hải thú đột ngột tấn công, hay có kẻ gian trà trộn vào thành thì sao?

Còn đang nghĩ linh tinh, thì cậu chàng nghe thấy tiếng cãi vã ở gần đó:

“Anh làm thế này là sai rồi, để em!”

“Mày bớt mồm mép đi, anh sao nhầm được? Chuẩn bị sẵn thuốc nước chưa?”

“Rõ ràng là anh nhầm mà, không phải như thế!”

Lý Thanh Vân tiến lại gần xem, thì thấy hai người một nam một nữ, nom rất kỳ lạ.

Hai người này có vẻ là anh em họ hàng gì đó, do tướng mạo có vài phần tương tự nhau. Nhìn tuổi thì chắc họ cũng ngoài hai mươi rồi, nhưng ăn mặc với kiểu tóc thì lại như hài đồng.

Lúc này, người anh đang ngồi xổm trên bãi cát cách tường thành cỡ mười bước chân, còn cô em gái thì đứng chéo ở phía sau, hơi khuỵu gối xuống, hai tay tì trên đầu gối. Gần tới sát, họ Lý mới nhìn thấy phía dưới cát có một cái hố, còn người anh hiện đang thọc hai tay xuống cái hố này làm gì đó.

“Đây rồi!”

Người anh chợt nói. Thế rồi...

Lạch cạch!

Yên tĩnh trong chốc lát...

Rồi một loạt tiếng động nhỏ như tiếng sắt thép đập vào nhau vang vọng dưới lòng đất, lan dần sang hai hướng khác nhau.

Tiếp đó...

Trên bờ cát vàng, cát trôi xuống để lộ ra mười cái hốc, năm cái phía tường thành, năm cái phía bờ biển...

“Phập! Phập!” mấy tiếng vang lên.

Từ mỗi cái hốc, một mũi tên sắt phóng ra, lao vun vút về phía hai anh em nọ.

Lý Thanh Vân còn chưa kịp định thần thì cơ thể đã hành động theo bản năng. Chân cậu chàng đạp khinh công, hai tay tung đại mấy chiêu trong Giáng Long thập bát chưởng, quạt mười mũi tên khỏi quỹ đạo gốc.

Tên rơi xuống đất, họ Lý cũng vội xoay người về phía hai anh em, hỏi:

“Hai vị không sao chứ?”

Sự việc nói thì lâu chứ kỳ thực diễn ra quá nhanh, bất quá mới vài hơi hô hấp. Hai anh em kỳ lạ kia còn chưa kịp hiểu chuyện gì xảy ra thì mọi việc đã kết thúc rồi. Thế nên, họ cũng phải mất mấy giây hấp thụ thông tin trước mắt rồi mới kịp phản ứng. Người anh vội đứng thẳng dậy, chắp tay với Lý Thanh Vân:

“Thiếu hiệp, vừa rồi đa tạ cậu! Nếu không có cậu, ngày này năm sau chắc hẳn đã là ngày giỗ hai anh em tôi rồi!”

Thiếu nữ cũng vội vàng nói:

“Ân công! Ơn cứu mạng tiểu nữ xin mãi khắc ghi, đời này nguyện lấy thân báo đáp...”

Lý Thanh Vân nghe vậy thì đỏ mặt, vội vã nói:

“Không dám, các vị quá lời rồi! Tại hạ cũng chỉ là tiện tay làm việc nên làm. Hai vị không cần báo đáp!”

Nói đến đây, cậu chàng bất giác lại nhớ đến một câu nói đùa của sư phụ.

Số là, cái hôm bọn họ từ Kiếm Trì trở về có liên hoan một bữa, cũng coi như tiệc chính thức chào mừng tiểu sư đệ vào môn hộ cổ viện. Hôm ấy, sau khi Nguyễn Đông Thanh uống say, mới hỏi đùa hai cô đệ tử, nhỡ sau này ra ngoài mà có người cứu mạng, thì sẽ nói “lấy thân báo đáp” hay “làm trâu làm ngựa”? Sau gã lại cười, nói chắc chắn là Tạ Thiên Hoa sẽ chọn cái sau. Mấy người đồ đệ thắc mắc tại sao hắn cho là vậy thì Bích Mặc tiên sinh nói:

“Ở quê thầy, có một câu đùa vui. Chắc cũng chẳng đúng đâu, cơ mà người ta đùa rằng, khi anh hùng cứu mỹ nhân, nếu anh hùng mà đẹp trai thì mỹ nhân sẽ hứa ‘lấy thân báo đáp’, còn ngộ nhỡ xấu trai hoặc chăng mỹ nhân đã sớm có người trong lòng thì chắc chắn sẽ chỉ hứa ‘làm trâu làm ngựa’ thôi...”

Tạ Thiên Hoa lúc bấy giờ hiểu ra bị sư phụ trêu đầu tiên, mặt ráng hồng lại len lén nhìn về phía Lý Thanh Vân. Tuy cậu chàng giả vờ không nhận ra nhưng kỳ thực, giây phút sư muội lén nhìn sang, trái tim họ Lý nhảy nhanh một nhịp.

Hồi tưởng đến đây thì đại đệ tử của Bích Mặc tiên sinh bị kéo về thực tại bởi một câu nói vô cùng khó đỡ của cô gái trước mặt:

“Nếu kiếp này đã không cách nào trả ơn ân công, vậy kiếp sau nếu ân công làm trâu làm ngựa, tiểu nữ tuyệt đối sẽ đối xử tốt nhất chuồng, kiếm cỏ kiếm rơm ngon nhất cho ân công ăn!”
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 236: Cục Băng Gác Cổng


Sau một hồi trò chuyện, Lý Thanh Vân mới biết hai anh em này họ Hàn, nghe nói vốn là người của Hàn gia tại Đại Yến, nhưng đã sớm bỏ nhà ra đi. Người anh tên Hàn Anh Tuấn, cô em tên Hàn Thanh Tú, nguyên khi xưa là một đôi long phượng thai. Hai người này từ bé đã ham mê cơ quan thuật, nhưng do tổ huấn của Hàn gia nghiêm cấm nghiên cứu, chế tác tất cả các loại vũ khí, mà cơ quan thuật có không ít liên quan tới vũ khí, nên họ mới bỏ nhà đi bụi.

Cũng nhờ họ nói, cậu chàng mới biết, có cơ quan chôn dưới cả bãi cát Nghênh Khách dưới chân mình. Chỉ đi sai một bước, đừng nói là một hai kẻ mang ý đồ xấu muốn trà trộn vào thành, cho dù có là cả binh đoàn hải thú lên bờ cũng phải thiệt hại thảm trọng tại nơi đây. Chính vì thế nên mới không cần các biện pháp phòng vệ khác. Mà hôm nay Lý Thanh Vân có thể bình yên vô sự, một mình lang thang đến tận cổng thành mà không mảy may xây xước, quả thực là may mắn: may mà cơ quan đúng dịp xảy ra lỗi, cần sửa chữa.

Nói về cơ quan thuật, kỳ thực nó không phải đạo riêng, mà phải nương nhờ Ngũ Lộ Triều Thiên. Tại Huyền Hoàng giới, có không ít người từng bước trên con đường khai đạo, thế nhưng ngoại trừ Trù Tổ Trương Thất chẳng có ai khác nổi danh, mà khắp thiên hạ, cuối cùng vẫn chỉ có năm con đường tu luyện chính, tất thảy đều có nguyên do.

Nói một cách đơn giản, trước khi đạp vào thập cảnh cuối cùng, hợp đạo với thiên địa, thì cũng không cách nào có thể truyền lại đạo của mình cho hậu thế. Mà cường giả bước được bước cuối cùng ấy, dõi mắt suốt lịch sử mấy vạn năm của Huyền Hoàng giới, chỉ tồn tại có năm vị.

Những người khai đạo khác, nếu muốn truyền đạo của mình cho hậu thế mà không tiến nổi một bước kia, kỳ thực còn một lựa chọn. Ấy chính là hòa đạo của mình vào một trong Ngũ Lộ Triều Thiên, trở thành một nhánh mới của đại đạo có sẵn. Chuyện này kỳ thực xảy ra rất thường xuyên tại Huyền Hoàng giới. Trận Pháp đạo, Luyện Đan đạo đầu nhập Đạo môn, Luyện Khí đạo dung vào Võ Đạo, hay thậm chí sử gia, binh gia nương nhờ vào Nho môn đều là các ví dụ điển hình. Cơ quan thuật cũng chính là một trường hợp như vậy.

Đương nhiên, cũng không phải cứ muốn dung đạo là dung được. Mà vẫn cần sự tương thích nhất định giữa hai con đường tu luyện. Tỷ như binh đạo nương nhờ Nho môn, tuy khác biệt ở chỗ không yêu cầu quá cao về Nho Tâm hay thiên phú cá nhân, nhưng lại nhiều điểm tương đồng. Chả thế mà Lâm Bính có thể chuyển tu thuận lợi như vậy khi được Nghiêm Hàn truyền đạo.

Lại nói, Ngũ Lộ Triều Thiên mỗi đạo đều có thế mạnh điểm yếu riêng, vì vậy mới có thể kìm hãm lẫn nhau, giữ thế cân bằng được như hiện tại.

Nho môn có lục nghệ, lại có binh gia, sử gia hai đường, trở thành đạo của kẻ cầm quyền. Đạo môn có trận pháp, đan đạo, lại có thuật người giấy, quả thực chính là công thủ toàn diện. Phật môn có tam thân thần thông, thấu hiểu nhân quả luân hồi, biết siêu độ vong linh, cùng với Đạo môn giữ vững niềm tin của trăm họ.

Võ đạo dễ nhập môn, yêu cầu thấp, không đặt nặng thiên phú, chỉ cần tố chất cơ thể và sức khỏe không quá tệ hại. Thành thử, thắng ở số lượng môn nhân đông đảo. Lại nói, ở các cấp bậc tu luyện thấp, Võ giả có lợi thế hơn trong đối kháng.

Còn Vu đạo là thần bí nhất trong Ngũ Lộ Triều Thiên, thắng ở... khả năng cho phép đạo khác dung nhập vào. Vu Tổ năm xưa là bậc thiên tài nhưng bởi vậy mà tính tình có chút cả thèm chóng chán: Ông ta cái gì cũng giỏi, cái gì cũng có nghiên cứu, một khi giỏi rồi lại đổi sang tìm hiểu cái khác. Thành thử, gần như tất cả các loại đạo không thể dung nhập vào bốn lộ còn lại, đều có thể tìm được điểm chung với một trong các sở học khi sinh tiền của Vu Tổ, nhờ đó mà có thể hòa vào Vu đạo. Thuật bói toán của Lã gia cùng thuật cơ quan đều có thể tính là trực thuộc Vu đạo.

Mà nói về cơ quan ở trước thành Hải Nha thì cả bờ cát này là một cơ quan khổng lồ tự vận động theo hệ thống cảm ứng. Thành thử, đi sai một bước có thể mất mạng như chơi. Thế nên bình thường, ai mới đến thành Hải Nha lần đầu đều có bố trí kẻ đưa người đón, tránh để tai nạn không hay xảy ra. Còn tại sao Lý Thanh Vân hôm nay đến không gặp ai, chắc hẳn là có người của Lý gia động tay động chân.

Mà hai anh em họ Hàn kỳ thực đang làm nhiệm vụ sửa chữa lỗi và bảo dưỡng định kỳ cơ quan thủ thành. Cũng không rõ là tại làm sao, bắt đầu từ đêm qua, hệ thống cảm ứng của cơ quan có bắt đầu trục trặc, lúc linh lúc không. Thành thử, sáng nay hai người họ mới bị điều ra đây kiểm tra. Ai bảo họ là những người duy nhất trong quân có thể hiểu và sửa chữa cơ quan cơ chứ?

Ngoại trừ nguyên nhân ấy ra thì còn một lý do khác. Ấy là tính của hai người này cổ quái, nên kỳ thực cũng không quá được hưởng ứng trong quân: đồng bạn xa lánh, mà cấp trên cũng nhìn không vừa mắt. Nếu không phải vì có thực tài thì xem chừng họ cũng không còn tồn tại được ở chốn này.

Lý Thanh Vân lạ nước lạ cái, lại thấy hai người này tuy có chút kỳ quái nhưng bản tâm không xấu, bèn ở lại trợ giúp một phen. Hai anh em họ Hàn thì thấy cậu chàng tính tình hào sảng, lại không nhìn họ bằng nửa con mắt như những kẻ khác nên cũng quý lắm. Ba người vừa làm việc vừa nói chuyện, chả mấy chốc mà đã khá thân thiết.

Xong việc sửa chữa, hai anh em họ Hàn bèn dẫn Lý Thanh Vân đi báo danh.

Thành Hải Nha tường cao mười sáu trượng, là thành có tường vây cao nhất toàn bộ Đại Việt. Vật liệu để xây lên tường thành Hải Nha được chọn là đá Hắc Tinh đen đặc như mực, khảm bên ngoài là vỏ của một loài Hải Thú họ hà, thành thử tường thành tua tủa vươn ra những vỏ hà nhọn hoắt như mũi đinh. Nếu như cố chấp leo tường thành, chưa cần lính thủ thành động đao thương thì người đã máu me be bét.

Vì những điểm này, nên tường thành Hải Nha và tường thành Bạch Đế cơ hồ trái ngược hẳn với nhau, không rõ là do vô tình hay cố ý.

Hai bên cửa thành có tạc hai bức tượng lớn, cao chừng hai trượng. Bên trái là một người đàn ông tay cầm đao, mình mặc giáp, hai cầu vai là đầu hai con nhai xải đang nhe răng. Tóc y dài ngang lưng, trên cằm có một bộ râu lởm chởm, thế nhưng đường nét khuôn mặt thì lại vô cùng tuấn lãng. Mé hữu lại đặt tượng của một người phụ nữ tuổi chừng hai bảy hai tám, tóc búi đuôi gà, trên tóc cắm một sợi lông chim dài. Y thị xinh đẹp tuyệt trần, chỉ là váy áo xẻ sâu, thành thử khiến hai nắm xôi cứ như ẩn như hiện.

Lý Thanh Vân là “gà công nghiệp” chính hiệu, đương nhiên là không nhận ra hai bức tượng trước cửa thành là tạc ai, mới chỉ tay hỏi anh em họ Hàn:

“Hai vị, đây là tượng ai vậy?”

Hai anh em Hàn Anh Tuấn lập tức dùng ánh mắt đầy vẻ đánh giá nhìn cậu chàng.

Người anh em đang đùa phải không?

Rốt cuộc trong ba người chúng ta ai mới là người Đại Việt, ai mới là người ngoại quốc?

Hàn Thanh Tú hắng giọng, nói:

“Đây là tượng của quốc tổ và quốc mẫu Đại Việt. Bên trái là Thái Tổ Lê Đồ Thành, bên phải là quốc mẫu Âu Dương Thiến.”

Lý Thanh Vân “à” một tiếng.

Bấy giờ, ba người đã lại gần tường thành hơn, cậu chàng cũng có thể nhìn rõ gương mặt của hai bức tượng. Tượng của thái tổ Lê Đồ Thành biểu cảm có gì đó rất khó đỡ, một loại cảm giác mà cậu chàng chẳng biết phải miêu tả bằng lời thế nào...

Có là lẽ... vừa hài vừa bỉ?

Vừa dời ánh mắt từ quốc tổ sang quốc mẫu, Lý Thanh Vân đã sững người, bước chân cũng thoáng chậm một nhịp.

Bởi lẽ, gương mặt của bức tượng khắc họa Âu Dương Thiến thế mà lại có nét hao hao cô sư muội mà cậu chàng thầm thương trộm nhớ bấy lâu nay – Tạ Thiên Hoa.

Không đợi Lý Thanh Vân nghĩ ngợi vẩn vơ, phía trước đã nghe tiếng hai anh em họ Hàn vọng tới:

“Lý thiếu hiệp, cậu có định vào thành hay không?”

Cậu chàng giật mình, nhìn gương mặt bức tượng quốc mẫu một lần nữa, đoạn hít sâu một hơi, chạy theo chân hai anh em Anh Tuấn, Thanh Tú đến trước cửa thành. Bấy giờ, trước cửa thành Hải Nha đã có một dòng người rồng rắn xếp hàng chờ đến lượt vào thành, dễ phải dài đến nửa dặm.

“Á? Sao lại là cô ta?”

Hàn Thanh Tú đưa bàn tay che ngang chân mày, kêu lên một tiếng, mũi nàng ta chun lên, mặt nhăn lại, hiển nhiên là quan hệ với “cô ta” không được tốt cho lắm.

Lý Thanh Vân cũng nhìn theo ánh mắt của Hàn Thanh Tú, thì phát hiện kê bàn ngồi gác trước cửa thành là một thiếu nữ. Gương mặt nàng ta không tính là trang tuyệt thế giai nhân, nhưng khí chất như hạc giữa bầy gà lại khiến người khác phải chú ý.

Mái tóc trắng như cước thả xuôi, phản chiếu trên lớp áo giáp bạc, vô hình trung lại càng khiến thiếu nữ nọ trở nên nổi bật hơn nữa. Sau lưng nàng ta dựng một thanh binh khí quái lạ. Lưỡi thì giống như long đao, nhưng lại uốn lượn như lưỡi rắn. Hai bên đầu rồng lại chỉa ra hai lưỡi nguyệt nha bén nhọn, trông hệt như là răng nanh.

“Thôi xin cô, có thời gian đi nghiên cứu lối suy nghĩ của cục băng mọc chân kia thì dành thời gian ấy ra vẽ pháp trận còn hay hơn.”

Hàn Anh Tuấn can em gái xong, lại quay sang Lý Thanh Vân, bảo:

“Lý thiếu hiệp này, chỗ anh em thân lắm tôi mới nhắc đấy, muốn yên thân trong quân thì tránh xa cái cô nàng ấy ra. Người này tính cách quái đản, hành sự theo cái kiểu chả giống ai, hơn nữa làm việc cứng nhắc lạnh lùng, không biết thông cảm là gì đâu.”

“Khục. Dám hỏi hai vị, rốt cuộc thì nàng ta là ai?”

“Cậu mới nứt ra từ tảng đá hôm qua đấy à? Nàng ta là Quan Hạ Băng, trong quân có biệt hiệu là Ngân Lang, cũng là tướng quân tọa trấn Hải Nha thành bây giờ.”
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 237: Kinh Biến Ở Cổng Thành


Dòng người chầm chậm nhích về phía cửa thành.

Chờ đợi nhàm chán, thành thử vừa bước đi, Lý Thanh Vân vừa hỏi hai anh em đang dẫn đường cho mình một chút chuyện liên quan đến vị nữ tướng sắp trở thành cấp trên của cậu chàng – Quan Hạ Băng này.

Hàn Anh Tuấn nói:

“Lý thiếu hiệp, quả thực cậu đúng là từ dưới tảng đá chui lên mà. Nghe họ Quan mà cậu không nghĩ đến ai hay sao?”

“Vạn Nhân Đồ – Quan Vân Phi?”

Lý Thanh Vân tuy gà công nghiệp một chút, song cũng đã từng theo học phu tử mấy năm, cũng biết qua kinh thư sử lược của Huyền Hoàng giới. Mà đối với một thiếu niên xưa nay ôm mộng cầm kiếm giang hồ, hành hiệp trượng nghĩa, muốn làm anh hùng cái thế như Lý Thanh Vân, thì người lập vô vàn công lao hãn mã, chiến tích huy hoàng như Quan Vân Phi có khác nào tấm gương để hướng tới?

Tuy hiện giờ do ảnh hưởng của sư phụ Nguyễn Đông Thanh, cậu chàng không quá đồng tình với hành động đồ thành của lão lúc càn quét Đại Tề như hồi nhỏ nữa. Thế nhưng Quan Vân Phi vì đối kháng Nghiêm Hàn mà tuổi già lên lại lưng ngựa xung phong, cuối cùng chỉ kém một chút mà chết. Quả thực là lòng dạ ấy khiến người ta hâm mộ, số phận này khiến người khác tiếc nuối.

Mà kết cục của họ Quan ở Đại Thục quả thực là khiến người ta cảm thấy thảm không nói nổi.

Nghiêm Hàn đánh đến dưới thành, ép hoàng thất nước Thục phải giao hậu nhân của Vạn Nhân Đồ ra. Chậm một ngày, hắn đồ sát một thành, lấy đầu người ném vào kinh đô. Cuối cùng, tuy không rõ năm xưa chuyện gì đã xảy ra, nhưng sau ba ngày, hàng vạn thủ cấp được ném vào kinh đô, hoàng thất Đại Thục thỏa hiệp.

Toàn bộ con cháu của Quan Vân Phi bị phong bế chân khí, ném ra khỏi kinh thành, chịu sự tra tấn dày vò của Huyền Giáp Vệ suốt bảy ngày bảy đêm.

Từ đó, Quan gia cũng tuyên bố cáo chung, không còn xuất hiện trên chính trường Đại Thục nữa. Không thiếu tướng lĩnh binh sĩ vì hành động này của hoàng thất mà lòng nguội ý lạnh, kẻ phản thì chết dưới tay Nghiêm Hàn, kẻ chán nản thì cáo lão về quê rồi cũng bị những đối thủ cũ trên chính trường âm thầm sát hại. Đại Thục nguyên khí đại thương, trở thành nước phụ thuộc của Tề, xưng thần triều cống.

Ít nhất, sử sách viết như vậy.

Thành thử...

Lý Thanh Vân mới cảm thấy ngạc nhiên khi Hàn Anh Tuấn ám chỉ rằng Quan Hạ Băng chính là con cháu còn sót lại của Vạn Nhân Đồ năm nào.

Hàn Anh Tuấn nói:

“Chẳng thế thì sao. Cậu không nhìn thấy Long Nha Ngân Lân Kích đằng sau lưng cô ta à? Trên đời ngoại trừ Quan Vân Phi ra còn có ai sử dụng thứ binh khí kì quái như thế nữa?”

Kỳ thực, vũ khí của Quan Vân Phi chẳng ai rõ nên gọi là gì.

Lưỡi như lưỡi đao, lại uốn lượn như thiệt xà thương, nên bảo đao cũng chẳng phải mà thương cũng không đúng. Hai bên long đầu lại có hai nguyệt nha nhô ra, trông hao hao phương thiên họa kích. Thành thử, tuy miêu tả Quan Vân Phi trong sử sách là “ngân thương, bạch mã, ô bào”, vũ khí của lão lại được chép là Long Nha Ngân Lân Kích.

Hàn Thanh Tú nhíu mày, nói:

“Có gì ghê gớm đâu? Chẳng qua là một mình chống cự tám trăm tinh anh của Long tộc, nhổ bật gốc rễ Sát Thần Điện, ta cũng làm được. Mỹ mạo thì càng không cần phải nói, bản cô nương hơn nàng ta đâu chỉ một hai chục lần?”

Lý Thanh Vân:

“...”

Đây là tiếng người sao? Cô nương, cô mà thực sự có công phu như thế thì ban nãy cần gì tại hạ ra tay?

Hàn Anh Tuấn:

“...”

Ta không quen cô ta. Đúng. Cho dù có là anh em thì tuyệt cũng không phải ruột thịt. Chắc chắn là cha mẹ nhận nuôi.

Giống như cảm giác được ánh mắt kỳ quái của hai thằng đực rựa, Hàn Thanh Tú đỏ hồng mặt, biết mình chém gió quá lố. Thế nhưng cô nàng vẫn dậm chân phụng phịu, kiêu ngạo “hừ” một tiêng:

“Đàn ông các người đúng là một đám mắt chó không biết thưởng thức châu ngọc.”

“Cô nương, nói như vậy chẳng nhẽ gia phụ cũng...”

“Không có gia giáo. Có giỏi thì cứ nhắm vào bản cô nương, lôi cha ta vào làm gì?”

Lý Thanh Vân trợn mắt nhìn Hàn Thanh Tú, dáng vẻ như đang nhìn một đứa ngớ ngẩn. Không thể không nói, bị một kẻ EQ cơ hồ chạm đáy như cậu chàng dùng ánh mắt này để nhìn, tính vũ nhục quả thực rất lớn.

Hàn Anh Tuấn nói:

“Thôi đi Lý thiếu hiệp, đôi co với đàn bà con gái làm gì?”

Lý Thanh Vân nhìn Hàn Thanh Tú chẳng những không thấy xấu hổ vì câu nói mang đầy tính khinh thường rẻ rúng này, trái lại còn dương dương tự đắc, thầm lắc đầu. Quả nhiên... không phải ai cũng giống người ở cổ viện.

Cậu chàng hơn một năm nay sinh hoạt ở cổ viện, có lần nào “nói lý”, “đôi co” với Đỗ Thải Hà, Tạ Thiên Hoa mà không bị vặn cho đuối lý á khẩu? Càng đừng nói đến sư phụ và sư mẫu. Hai người này bình thường thì hòa thuận, đóng vai hàng xóm láng giếng tối lửa tắt đèn với nhau, thế nhưng mỗi lần “tranh luận” là cơ hồ đối chọi gay gắt, vô luận là thân phận hay gì đều vứt sang một bên, mãi đến khi không tìm được tiếng nói chung, hoặc một trong hai người nhận sai mới thôi.

Ấy vậy mà sang hôm sau lại bình thường, hòa thuận, giống như chẳng có gì xảy ra.

oOo

Ba người vừa đi đến cổng thành, chưa nói tiếng nào thì Quan Hạ Băng đã ngẩng đầu, dùng đôi mắt màu xanh lục nhìn chòng chọc vào mặt Lý Thanh Vân, đoạn lên tiếng hỏi.

“Có phải Lý Thanh Vân không?”

Trái với khí chất như khối băng mọc chân, giọng của Quan Hạ Băng dễ nghe và êm ái như lớp tuyết đầu mùa vậy. Tuy cũng không thân thiết ấm áp gì, song lại mang theo một chút khí chất ôn nhu nữ tính, không khỏi làm người ta cảm thấy nàng ta tự đại, mắt cao hơn đầu, không để người khác vào mắt.

Lý Thanh Vân không rõ vì sao mình lại bị một người đường đường đã làm đến chức tường quân hỏi đích danh, song lại nghĩ sắp tới đây thể nào cũng phải làm cấp dưới của nàng ta, bèn chắp tay thi lễ, nói:

“Tại hạ chính là Lý Thanh Vân. Không biết...”

“Tốt! Tiếp chiêu!”

Chẳng ngờ, Quan Hạ Băng vừa biết thân phận của cậu chàng xong là chẳng thèm hỏi đầu đuôi tròn méo gì, đứng phắt dậy. Năm ngón tay nàng ta cong lại thành trảo, chân khí lạnh lẽo lượn lờ giữa các kẽ ngón tay, kế vồ về phía đỉnh đầu Lý Thanh Vân.

Bị đánh bất ngờ, quả thực cậu chàng cũng hơi điếng người. Thế nhưng hơn một năm nay trải qua nhiều trận đánh, đấu với cường giả Võ, Nho, Đạo, đánh tay đôi cũng có mà một đấu nhiều cũng đã từng, Lý Thanh Vân sớm đã không còn là một thiếu niên mất hết tu vi, được mấy người lính già giấu trong thùng xe của Nguyễn Đông Thanh nữa.

Cậu chàng bình tĩnh vung tay, trầm mình, không hề nao núng đánh ra một chưởng. Không rõ vì sao, cho dù hiện giờ Lý Thanh Vân có thể nói là võ công đầy người, nhấc tay đưa chân cũng có thể đánh ra được tuyệt kỹ, nhưng mỗi lần có chuyện, cậu chàng đều theo bản năng đánh ra Giáng Long Thập Bát Chưởng.

Chưởng trảo giao phong...

Lý Thanh Vân bị đánh dạt về phía sau gần sáu trượng, hai chân liên tiếp đạp nứt mặt đất, lưu lại hai hàng dấu chân sâu đến nửa đốt tay. Lúc này chưởng tâm của cậu chàng đã phủ lên một tầng sương lạnh, tỏa ra toàn thân, khiến Lý Thanh Vân bất giác rùng mình một cái.

Chân khí này... quá lạnh.

Quách Hạ Băng không nói lời nào, hai mắt sáng lên. Nàng ta vỗ bàn, tung mình nhảy về phía Lý Thanh Vân, cũng chẳng rõ từ lúc nào, thanh Long Nha Ngân Lân Kích ban nãy còn cắm dưới đất bây giờ đã nằm gọn trong bàn tay nàng ta.

Kình phong gào thét, lưỡi đao uốn lượn được quán đầy chân khí bổ xuống.

Phong duệ đánh tới, làm toàn bộ lông tơ sau gáy Lý Thanh Vân dựng đứng lên, cảm giác nguy hiểm ập đến. Chân khí lạnh căm căm phả vào mặt tựa như một cơn bão tuyết chẳng những không khiến cậu chàng cảm thấy sợ hãi núng thế, mà càng tỉnh táo hơn ngày thường ba bốn phần.

Lý Thanh Vân ngả người, giống như một bóng ma lướt ngang sang một bước. Tay trái cậu chàng xòe ra, đánh một luồng chưởng lực nhu hòa tới cuốn lấy đầu kích. Quan Hạ Băng lần đầu tiên gặp phải loại “thần thông” này, chỉ cảm giác như ngọn kích đâm vào dòng hải lưu, vừa hơi thất thần thì đầu kích đã bị kéo lệch, ép cô nàng không thể không vặn người theo, nếu không muốn phải buông khí giới.

Mà Lý Thanh Vân cũng nhân cơ hội này, ngón trỏ tay phải cong lại, một đòn Đàn Chỉ Thần Thông nhắm ngay vào huyệt đạo ở eo bên trái Quan Hạ Băng. Nháy mắt, thế cờ đảo ngược, Lý Thanh Vân từ người bị động bị đánh bất ngờ đã chiếm lấy hết lợi thế. Hiện tại, đối thủ của cậu chàng bị ép vào thế buộc phải buông kích, bằng không chắc chắn chỉ kình của Đạn Chỉ Thần Thông sẽ đánh trúng.

“Ngây thơ!”

Quan Hạ Băng bỗng nhiên tung mình nhảy lên, hai chân rời đất, hai tay nắm chặt thân kích, không chống lại nữa mà thuận theo luồng nhu kình của Lý Thanh Vân. Thế là, cậu chàng từ dùng nhu kình kéo ngọn kích, thì bây giờ lại thành cho đối phương mượn lực bay một vòng ra sau lưng Lý Thanh Vân, chỉ kình của Đạn Chỉ Thần Thông cũng mất đi mục tiêu.

Lúc này, Lý Thanh Vân vội vàng buông tay, nhưng quán tính vẫn còn, lại thêm bản thân Quan Hạ Băng cũng đạp chân mượn lực, đâm ngọn kích về phía cậu chàng. Thế đánh như chớp giật sét đánh, cơ hồ chỉ cần một sát na thôi, cái đầu của cậu chàng sẽ bị lưỡi đao uốn lượn đâm toạc, hai nguyệt nha xoắn nát đôi tai.

Khẩn yếu quan đầu, Lý Thanh Vân bèn đề khí, gầm lên một tiếng, định bụng sử dụng Sư Tử Hống đánh lén bất ngờ, chế trụ Quan Hạ Băng trước rồi tính.

Đáng tiếc, cậu chàng vẫn đánh giá quá thấp Ngân Lang của quân dội Đại Việt.

Lý Thanh Vân vừa gầm lên, trên ngọn kích của Quan Hạ Băng cũng phát ra tiếng rít gào chói tai, dễ dàng đối kháng lại Sư Tử Hống. Dư âm chấn tới còn ngấm vào phủ tạng, khiến trong thoáng chốc ruột gan phèo phổi của Lý Thanh Vân như lộn nhào, một ngụm máu theo đó mà trào ra ngoài miệng.

Ngọn kích đã đâm tới, cậu chàng chợt cắn răng, liều mình ngả ngươi ra, để nguyệt nha của Long Nha Ngân Lân Kích c*m v** bả vai. Tay còn lại thì đấm ra một đòn, cầu một kết quả lưỡng bại câu thương.

Quan Hạ Băng vặn kích, chân khí lạnh cóng bốc cao ngùn ngụt, quán vào thân kích, chạy dọc tay cầm rồi đổ vào nguyệt nha. Trong một khoảnh khắc này, Lý Thanh Vân chỉ cảm thấy máu trong người giống như cũng đóng băng lại, băng đá bắt đầu hiện lên tầng tầng lớp lớp, từ chỗ vết thương trào ra.

Không quá ba cái hô hấp, Lý Thanh Vân đã bị đông thành tượng đá.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 238: Lý Thanh Vân Làm Xuy Sự Binh (*)


Chú thích một chút: “xuy sự binh” là binh sĩ làm nhiệm vụ nấu nướng trong quân, tương đương với chiến sĩ nuôi quân hay anh nuôi bây giờ. Do chưa tìm được tài liệu nào nói về chức vị tương đương trong quân đội Đại Việt, nên tạm thời sử dụng tên chức vị của bên Tàu.

Bao giờ tìm thấy thì sẽ sửa lại sau.

oOo

Lúc Lý Thanh Vân lấy lại ý thức thì đã là ngày hôm sau.

Cậu chàng muốn ngồi dậy, chỉ là toàn thân lạnh cóng, các khớp cũng run lên từng hồi, không còn chút sức mạnh nào. Vừa chống tay xuống ván giường bằng gỗ muốn nhổm dậy, Lý Thanh Vân đã ngã dập lưng xuống lớp đệm cỏ.

Đưa mắt nhìn quanh, cậu chàng phát hiện mình đang ở trong một căn phòng dài, chính giữa là lối đi, hai bên là một cái giường đất được độn cao, dài đến mấy trượng, chia làm nhiều ô. Mỗi ô lại trải một tấm vấn gỗ, đặt đệm rơm, bức tường trên đầu khoét một cái lỗ làm cửa sổ.

Bên ngoài thỉnh thoảng lại nghe tiếng dậm chân, tiếng ngựa hí khi xa khi gần. Một cái mùi hôi khăm khẳm theo ô cửa sổ tràn vào phòng rồi ứ đọng ở đấy, cứ lởn vởn chẳng chịu tiêu tán, mém chút thì làm Lý Thanh Vân muốn mửa. Cũng đã hơn một năm rồi cậu chàng mới lại phải sống chung với cái mùi chất thải ngựa này, thành thử chưa làm quen ngay được. Bấy giờ trong phòng, có tiếng ruồi muỗi bay vo ve, nhao nhao chẳng khác nào cánh “tao nhân mặc khách” mở thi hội.

“Tỉnh rồi à? Tỉnh rồi à?”

Lại nghe ngoài cửa có tiếng giày quét đất loẹt xoẹt, kế đó một thiếu niên cũng chạc mười sáu mười bảy tuổi bước vào trong tầm nhìn của Lý Thanh Vân.

Thiếu niên này mặt hơi ngắn, tóc thưa, miệng vẩu, mặt trái từ mắt đổ xuống đến sát cằm có một vết bớt, má bên phải lại có một nốt ruồi phá tướng rất to. Chỉ là người thiếu niên nọ từ lúc bước vào phòng đến giờ vẫn đang nở nụ cười toe toét, trên người không có chút ác ý nào, thành thử Lý Thanh Vân cũng bình tĩnh lại ít nhiều. Dù sao, mới rồi ngoài cửa thành, Quan Hạ Băng không nói không rằng đã đánh cậu chàng một chặp.

“Lý lão đệ, sau này cứ theo ta ra ngoài lăn lộn. Chỉ cần lão đệ nghe lời, ta đây đảm bảo lão đệ sẽ toàn mạng rời khỏi quân, về quê cưới vợ.”

Thiếu niên vừa cười hề hề, vừa đỡ Lý Thanh Vân dậy. Lúc này cậu chàng mới phát hiện ở cuối giường chẳng rõ từ lúc nào đã để một cái khay, trên có một bát nước.

“Đây là đâu? Dám hỏi tôn tính đại danh của huynh đệ là...”

“Tôn tính đại danh gì? Học ai không học lại đi học cái lối nói chuyện của đám học trò dài lưng, đến là ghét. Ta tên Tô, không có cha mẹ nên cũng không có họ. Từ bé đến lớn người ta vẫn gọi là Tô răng vẩu. Sau này lão đệ không chê thì gọi một tiếng Tô đại ca. Thế nào?”

Tô “răng vẩu” vẫn cười, kể cả khi nhắc đến chuyện y là cô nhi, giống như đã quá quen rồi vậy.

Lý Thanh Vân gật đầu, nói:

“Tô đại ca, mà đây là đâu?”

“Đây ấy hả? Chỗ này là Trường Phòng, là chỗ cho đám Xuy Sự binh chúng ta nghỉ ngơi. Phía sau là chuồng ngựa, đi bên trái độ chục bước là nhà bếp. Đúng rồi, ở đây có bát nước sâm gừng, uống đi cho ấm người.”

“Sâm gừng? Đãi ngộ của Xuy Sự binh tốt thế sao?”

Lý Thanh Vân trừng mắt, không thể tin nổi những gì vừa nghe. Cậu chàng cũng từng ở trong quân, cũng từng nói chuyện với một Xuy Sự binh trong quân đội Quan Lâm là Nguyên Phương, thành thử cũng biết ít nhiều.

Tô răng vẩu bĩu môi, bảo:

“Mơ đấy à? Bát nước sâm gừng này là Quan tướng quân đặc biệt bảo chuẩn bị cho lão đệ. Mà này... Lý lão đệ. Chú chọc gì vào Quan tướng quân để đến nỗi bị đóng thành tượng băng vác về doanh trại đấy?”

“Chẳng dám giấu gì Tô lão ca, ta cũng muốn biết lắm chứ.”

Lý Thanh Vân cười khổ, lắc đầu.

Cậu chàng quả thực không tài nào hiểu nổi vì sao đang yên đang lành, Quan Hạ Băng lại vác kích đâm lén, cuối cùng còn sử dụng một chiêu Vạn Lý Băng Hà, biến Lý Thanh Vân thành tượng băng.

Cũng may là...

Nàng ta không có ý lấy mạng, bằng không hiện tại chỉ sợ Lý Thanh Vân sớm đã ra người thiên cổ rồi.

Cậu chàng uống nước sâm do Tô răng vẩu đưa cho, lại nhìn ra bên ngoài.

“Hình như có tiếng kèn xa gần đâu đây, Tô lão ca, chẳng nhẽ trong quân có chuyện gì à?”

“Lão đệ không nhắc khéo ta cũng quên. Hôm qua Quan tướng quân vừa mới quay về đã xông vào phủ của Đốc Quân Sứ, lôi ra pháp trường chém bêu đầu. Hôm nay người nhà Đốc Quân Sứ đến làm đám ma, rước thi thể về, thuận tiện cho anh em binh sĩ hưởng chút lộc lá. Nói ra thì chú cũng có lộc ăn đấy, vừa nhập ngũ đã được ăn tươi.”

“Lão ca, hai ta bèo nước gặp nhau, lão ca vẫn nên tránh xa tại hạ ra thì hơn. Dù sao, người đánh tiểu đệ không xuống nổi giường được chính là Quan tướng quân. Lão ca kết thân với tiểu đệ trong lòng Thanh Vân rất cảm kích. Thế nhưng, nếu vì tại hạ mà khiến Tô lão ca bị liên lụy thì tại hạ không làm được.”

Lý Thanh Vân cười, lắc đầu.

“Lý lão đệ, nếu đệ đã gọi Tô răng vẩu này một tiếng ‘lão ca’, thì sau này chúng ta chính là anh em tốt. Có phúc cùng hưởng, có nạn cùng chịu.”

Tô răng vẩu cười hề hề, vỗ vai cậu chàng một cái, bảo:

“Huống hồ, thằng nhóc cậu đánh nhau giỏi như thế, sau này trong đám xuy sự binh còn có tên mắt mù nào dám trêu chọc chúng ta? Thế nên cho dù là tư tâm hay nghĩa khí thì Tô răng vẩu này chắc chắn cũng sẽ kết giao với cậu. Thằng nhóc nhà cậu đừng hòng chạy.”

“Tô lão ca, tại hạ đã có người trong lòng.”

“Cút! Mẹ nó! Lão ca lấy ruột lấy gan ra nói chuyện, thằng nhóc nhà ngươi lại tưởng ta muốn v* v*n?”

...

oOo

Sau khi thương thế hồi phục lại khoảng sáu bảy phần gì đó, Lý Thanh Vân xuống được giường, bắt đầu thực hiện nhiệm vụ của một xuy sự binh.

Mỗi ngày vào lúc mặt trời chưa mọc, Lý Thanh Vân cần phải ra chuồng ngựa cho ngựa ăn no, kế dọn dẹp một phen. Làm xong mọi việc thì cần phải ra bếp giã gạo thành bột, mãi đến lúc quá giờ cơm trưa, binh sĩ đã ăn hết mới có thể nghỉ.

Sau giờ cơm trưa, nhiệm vụ của cậu chàng chuyển sang gọt vỏ khoai, vo gạo.

Đối với Lý Thanh Vân mà nói, chút chuyện này cũng chẳng tính là gì, duy chỉ có lặp lại và nhàm chán một chút. Nếu đổi lại là người đầu óc nhanh nhạy nhảy thoát như Tạ Thiên Hoa, hay cô nàng trong đầu toàn là ý nghĩ xấu như Đỗ Thải Hà dám chắc là chịu không nổi.

Có Tô răng vẩu hướng dẫn tận tình, Lý Thanh Vân hoàn thành nhiệm vụ ngày đầu tiên của một xuy sự binh.

Chỉ là, vừa đến giờ cơm tối, phiền phức đã tự mò đến cửa...

Lý Thanh Vân chính đang cùng Tô răng vẩu ăn khẩu phần buổi tối của xuy sự binh – bánh hấp và khoai luộc – thì bỗng nhiên từ đầu bên kia của căn phòng, một đám người hùng hùng hổ hổ đi tới.

Tên cầm đầu tung chân, đá một cước vào cạnh bàn nghe rầm một cái, bát đĩa trên bàn đổ nghiêng đổ ngả. Gã hếch đầu, nhếch mép cười về phía Tô răng vẩu:

“Hô, thằng vẩu hôm nay kiếm được người chống lưng đấy à?”

“Tô răng vẩu, nghe thấy đại ca nói gì chưa?”

“Còn không bò ra đây? Để bọn ông tự mình đến mời mày đấy à?”

...

Đám gây sự vừa nói, vừa cười phá lên, dáng vẻ hống hách. Gã cầm đầu lại càng càn rỡ hơn, ánh mắt nhìn về phía Lý Thanh Vân, mồm hất hàm giở giọng thách thức:

“Ma mới! Tô răng vẩu là chó của tao, chưa có tao cho phép mà mày đã dám vuốt râu hùm à, gan cũng to lắm. Nếu không thì... mày cũng làm chó cho tao đi. Nếu như ngoan ngoãn nghe lời, biết điều một chút, lúc vui có thể còn cho cục xương.”

Lý Thanh Vân vẫn đang bưng bát cơm, mắt hơi liếc sang phía Tô răng vẩu, vừa vặn thấy cậu thiếu niên dáng vẻ xấu xí chính đang run lên bần bật, hai bàn tay nắm chặt, môi bặm vào nhau, không biết vì sợ hãi hay vì nén giận.

Cậu chàng thở dài, phẩy tay về phía tên đến gây sự:

“Xéo đi. Thích làm chó thì tự đi mà làm.”

Có lẽ do sợ Tiểu Thạch, nên Lý Thanh Vân từ lúc vào cổ viện đến giờ cũng dần dần mất thói quen chửi người ta là chó, bị kẻ khác công khai gọi là chó trước mặt cũng chẳng thấy tức giận gì, tâm cảnh vẫn bình lặng như nước.

Nói đùa...

Người như bò già mắng Đá Nhỏ là chó còn được, cậu chàng thử lên tiếng nói câu tương tự xem hôm đấy có bị đánh cho không ngồi không nằm ngửa được hay không?

“A? Xem ra là mày chán sống rồi.”

Tên bặm trợn không nói thêm lời nào, vung tay chụp mạnh xuống đỉnh đầu Lý Thanh Vân. Chỉ nghe chưởng phong sàn sạt, chân khí ngưng tụ ào ào ở chưởng tâm thằng cha đến gây sự, tu vi ước chừng cũng phải đến tam cảnh. Trong số đám binh sĩ chính quy, tam cảnh cũng có thể coi là một cao thủ tu vi hiếm gặp, chứ đừng nói gì là xuy sự binh.

Bành!

Lý Thanh Vân kệ xác một chưởng của hắn chụp xuống, bình thản lên tiếng hỏi:

“Ngươi muốn giết người? Không sợ quân pháp hay sao?”

“Quân pháp là cái thá gì? Ở đây tao chính là quân pháp! Tao giết mày thì đã làm sao? Bây giờ một ngày có bao nhiêu người từ nơi khác đến, thiếu mất một tên xuy sự binh có là gì? Tiểu tử, có phải cảm thấy xương cốt toàn thân mềm oặt ra như nước không?”

Tên kia thấy một chưởng toàn lực vỗ thẳng lên Thiên Linh mà chẳng khiến đối phương suy suyển gì, không khỏi rùng mình chột dạ. Thế nhưng, vừa nghĩ đến ngón độc chưởng gia truyền, hắn lại nhanh chóng lấy lại sự tự tin. Chắc chắn thằng ma mới này chỉ cậy da dày thịt chắc nên gượng chống được thôi. Đợt một lát nữa độc tính hoàn toàn bạo phát, há chẳng phải là đi đời nhà ma?

Thành thử, hắn mới cố tình đáp lời Lý Thanh Vân bằng một câu thật dài, định bụng kéo dài thời gian chờ đến khi chất độc trong chưởng phong của hắn ngấm sâu vào thể nội cậu chàng.

Lý Thanh Vân ngước lên, nói:

“Ra thế. Vậy thì cũng chả cần phải nương tay nữa.”
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 239: Khi Người Eq Thấp Động Não


Lý Thanh Vân vừa nói dứt lời, bàn tay đã xòe ra, tống trả một chưởng về phía tên mặt mày hung ác. Gã bặm trợn thấy cậu chàng không hề huy động chân khí, nghênh nghênh khinh thường, cũng chẳng thèm chống đỡ.

Chẳng ngờ bàn tay của Lý Thanh Vân vừa đánh trúng, một cỗ chưởng phong âm tà cực độ đã xuyên thấu vào cơ thể, sau đó chia làm bảy tầng mà bạo phát, nháy mắt đã đưa chất độc ngấm vào khắp lục phủ ngũ tạng.

Tên đến gây sự đưa tay ôm cổ, trong mắt lộ vẻ khó tin và hối hận nhìn về phía Lý Thanh Vân. Khóe miệng hắn sùi ra từng đợt bọt trắng, da dẻ nháy mắt đen tím lại, cuối cùng ngã vật ra đất.

Đám tay chân theo cùng thấy thằng đại ca bỗng dưng đổ gục như cái cây bị người ta đẵn ngang gốc thì hoảng hồn. Có thằng nhìn xuống, vừa vặn thấy biểu cảm vặn vẹo vì đau đớn, tay chân thỉnh thoảng lại co giật hai cái của tên bặm trợn thì hồn vía văng thẳng lên chín tầng mây. Gã hú lên một tiếng, định bụng sẽ ba chân bốn cẳng muốn chạy ra khỏi nhà ăn này càng nhanh càng tốt.

Thế nhưng...

Còn không đợi hắn đi bước đầu tiên, tiếng của Lý Thanh Vân đã cất lên bên tai:

“Thử chạy một bước xem.”

Một cơn rét lạnh chạy dọc sống lưng, khiến y không thể không dừng cước bộ. Sau đó, tên này cũng chẳng thèm để tâm đến trái phải đầu đuôi thế nào, dập đầu bang bang xuống đất, kêu to:

“Nô tài Trần Kim Thành có mắt không thấy thái sơn, chọc giận thiếu hiệp, tội đáng muôn chết. Nếu thiếu hiệp có lòng hải hà tha cho nô tài một mạng, nô tài nguyện làm trâu làm ngựa cho thiếu hiệp.”

“Ngươi? Đồ gió chiều nào che chiều nấy, không có cốt khí!”

Trong đám, một tên có vẻ như ngày thường được gã bặm trợn trọng dụng chiếu cố nhất, so với người khác nhận được không thiếu chỗ tốt. Thành thử, hắn cũng là kẻ duy nhất không có ý “thân ai nấy lo, nhà ai nấy sáng” như đám đồng bạn, mà chính đang dùng ánh mắt đầy căm hờn nhìn Lý Thanh Vân.

Hiển nhiên, chỉ từ ánh mắt cũng có thể đoán được.

Chỉ cần cho hắn một cơ hội, đương nhiên là hắn sẽ không ngần ngại hãm hại Lý Thanh Vân trả thù cho tên bặm trợn.

Trần Kim Thành thì bĩu môi, nói:

“Ha. Ta mới có bệnh đậu mùa, kiêng ra gió.”

Vô sỉ như vậy?

Lý Thanh Vân trợn mắt nhìn tên Trần Kim Thành đang đập đầu dưới đất, không khỏi cảm thấy tên này quả thực là một tên quái đản. Loại chuyện xấu hổ như vậy mà hắn vẫn có thể dùng giọng nghiêm túc hiển nhiên để nói, mặt không đỏ, cũng không th* d*c.

Tên kia tức sùi cả bọt mép, nhìn qua không biết còn tưởng hắn cũng bị Lý Thanh Vân tống cho một chưởng, bấy giờ chất độc Ngũ Độc Thần Chưởng đang được Thất Thương quyền kình dẫn bạo liên tục trong lục phủ ngũ tạng.

Có vẻ cũng bất lực trước độ mặt dày của Trần Kim Thành, gã quay sang lườm Lý Thanh Vân, đe dọa:

“Đừng tưởng chuyện này đến đây là kết thúc. Ngươi biết ngươi vừa giết ai không?”

“Không...”

Lý Thanh Vân nhún vai, dáng vẻ chẳng thèm quan tâm của cậu chàng giống như đổ dầu vào lửa, khiến đối phương phẫn nộ đến mức tuôn liên thanh một tràng chẳng khác nào đang đi thi Rap Việt:

“Dỏng tai lên mà nghe cho rõ, người ngươi vừa giết chính là cháu trai của châu chủ đại nhân châu Kim Quy – Đồng Tiến Minh. Ngươi... ngươi chuẩn bị chờ lửa giận của châu chủ đại nhân giáng xuống đầu đi.”

Lý Thanh Vân nhún vai.

Cậu chàng đi từ Quan Lâm đến Hải Nha, bị người ta ám sát còn ít sao? Thậm chí Lý Thanh Minh và phe cánh của y cũng đã điều động người chặn giết rồi, thêm hay bớt một châu chủ có khác biệt gì?

Châu chủ châu Kim Quy có thể có lực ảnh hưởng lớn bằng kẻ được coi là người kế thừa của Võ Hoàng, vương gia trẻ tuổi nhất Đại Việt hiện nay hay sao?

Tô răng vẩu bấy giờ chợt chỉ tay về phía cửa, nói:

“Lý lão đệ, mau nhìn, Quan tướng quân đến rồi. Ách... chú mày không ngạc nhiên sao?”

“Án mạng là chuyện lớn, đã thế người chết lại còn là cháu của châu chủ. Nếu tướng quân không xuất hiện thì mới là chuyện lạ.”

Lý Thanh Vân nhún vai.

Kể từ sau khi mỗi người một ngả với hai cô sư muội, cái đầu óc không mấy khi được dùng đến của cậu chàng bắt đầu hoạt động trở lại. Cậu chàng có thể ngố, EQ cũng quả thực là thấp, song không phải không có đầu óc. Dù sao, Lý Thanh Vân cũng từng trải qua chuyện bị “người nhà” ép lên võ đài, bị tước đi Võ Thánh chi hồn, một đường bắc thượng đến Quan Lâm mấy lần liền bị ám sát. Tuy trong tối có người của Võ Hoàng âm thầm bảo vệ, song nếu thực sự là kẻ ngu ngốc, thì sớm đã toi mạng.

Chẳng qua ngày thường Lý thiếu hiệp tự biết đầu óc không nhanh nhạy, suy nghĩ không cẩn thận tỉ mỉ như nhị sư muội nên tắt luôn não đi cho tiết kiệm năng lượng mà thôi.

Ban nãy giết Đồng Tiến Minh, Lý Thanh Vân hoàn toàn có thể sử dụng Sư Tử Hống đe dọa toàn bộ những người đang ngồi trong nhà ăn, đảm bảo không ai dám chạy ra ngoài nửa bước. Thế nhưng, cậu chàng không làm thế, mà chỉ nói vừa đủ cho đám tay chân của họ Đồng nghe.

Những người khác chạy ra ngoài, chắc chắn sẽ biết việc xảy ra án mạng quá lớn, giấy không gói được lửa. Bọn họ tám chín phần mười sẽ chạy đi tố cáo Lý Thanh Vân với thượng cấp.

Một tên ma mới, một người cháu của châu chủ...

Chỉ cần trong lòng có một chút ý nghĩ tư lợi, thì chắc chắn sẽ biết nên đứng về phía ai,

Thành thử...

Có thể nói, chuyện Quan Hạ Băng tìm đến đây cũng là có bàn tay của Lý Thanh Vân thúc đẩy.

“Quan... Quan tướng quân... ta muốn tố cáo!!!”

Tên khi nãy vừa mới đe dọa Lý Thanh Vân bây giờ nhác thấy bóng Quan Hạ Băng chẳng khác nào gặp được cứu tinh. Y ba chân bốn cẳng chạy về phía Ngân Lang, nước mắt nước mũi chảy tùm lum, mếu máo nói.

Một tên thanh niên sức dài vai rộng, tuổi ngoài đôi mươi, ấy vậy mà lúc này khóc lóc sướt mướt, câu trước díu vào câu sau, chữ sau vấp lên chữ trước, quả thực là vô cùng mất mặt. Binh sĩ đứng trong nhà ăn bấy giờ cũng có nhiều người quên đi cú sốc ban đầu vì chuyện Lý Thanh Vân hạ thủ giết người ban nãy, che mặt lắc đầu, trên trán cơ hồ đều viết: “ta không quen thằng cha này”.

Quan Hạ Băng bấy giờ không xách theo Long Nha Ngân Lân kích, bên hông đeo một thanh liễu diệp đao. Nàng ta nhíu mày, dùng đôi mắt lam nhìn Lý Thanh Vân, kế quay về phía những người khác:

“Các người, viết trên giấy những gì xảy ra trong này, một khắc sau phải nộp lại cho bản tướng quân. Nhớ, nghiêm cấm cái chuyện chép của nhau. Kẻ vi phạm xử theo quân pháp. Ai không biết chữ thì nội trong một khắc đi tới sân thí luyện, xếp thành hai hàng.”

“Dạ!”

Binh sĩ trong nhà ăn, bao gồm của Tô răng vẩu, đồng loạt đứng nghiêm, tiếng “dạ” rền vang như sấm nổ.

Quan Hạ Băng gật đầu, nhìn Lý Thanh Vân và kẻ vừa tố cáo, nói:

“Hai người đi theo bản tướng quân một chuyến.”

“Tướng quân quả thực là công chính nghiêm minh, chí công vô tư, gương sáng cho tướng lĩnh tam quân.”

Kẻ nọ cười toe toét, bắt đầu giở hết công phu bợ đỡ, xun xoe nịnh nọt ra. Một đường này y tán dương từ cách làm người cho đến mỹ mạo, từ chiến lực cho đến thiên phú, từ tài cầm binh cho đến chuyện gia chánh nữ công, cơ hồ bất cứ thứ gì liên quan đến Quan Hạ Băng y đều lôi ra khen sáu bảy lần. Xem ra, chuyện hắn được Đồng Tiến Minh trọng dụng cũng không phải là không có lí do.

Lý Thanh Vân thì chẳng nói lời nào, chỉ vừa đi vừa âm thầm quan sát thiếu nữ được mệnh danh là Ngân Lang của Đại Việt. Rốt cuộc cô ta muốn gì, đứng về phe ai, cậu chàng chẳng thể nào đoán được. Thế nhưng, nếu có điều gì Lý Thanh Vân học được trên đường từ Quan Lâm đến Tế Kỳ thành thì đó là những lúc thế này, nếu như không muốn chết, thì phải tìm cách đảo khách thành chủ, nắm thế chủ động vào trong tay.

Ba người cứ thế từ doanh trại dọc theo con đường mòn lên núi, chẳng mấy chốc đã đến chỗ một cánh rừng thưa.

Tên nịnh hót giống như đã đánh hơi thấy điều gì đó không ổn, cười gượng gạo mà rằng:

“Thưa... thưa tướng quân. Có lời khai của các binh sĩ là được rồi, tên này chắc hẳn cũng chẳng dám chối tội quanh co trước mặt tướng quân ngài đâu. Nếu... nếu không có chuyện gì... tại... tại hạ xin lui trước.”

Quan Hạ Băng cười, nói:

“Vị huynh đài đây xin dừng bước đã. Chẳng phải nãy giờ huynh đài khen tiểu nữ hết lời hay sao, cớ gì lại bỏ chạy sớm như thế? Ta đáng sợ như vậy sao? Hay là nói... những gì huynh đài nói từ nãy đến giờ đều là dối trá?”

“Tại... tại hạ... không phải như thế... chuyện này”

“Huynh đài khen tiểu nữ nhiều như thế, không có gì đáp lại thì thật là áy náy. Vậy được! Bản tướng quân tặng cho nhà ngươi một câu. Kiếp sau nếu được đầu thai làm người thì phải biết dù có làm chó cho kẻ khác thì cũng có chuyện làm được, có chuyện không nên làm. Chủ của ngươi bảo ngươi cắn con gấu, ngươi làm theo thật, thế thì phải trả giá đắt đấy.”

Miệng nói, ngữ khí vẫn như tuyết đầu mùa, thế nhưng liễu diệp đao bên eo chẳng rõ từ khi nào đã rời vỏ. Lưỡi đao sắc lẻm lóe lên một cái, nháy mắt đã đâm xuyên qua lồng ngực của tên nọ. Hắn chẳng kịp kêu tiếng nào, mắt đã trợn lên trắng dã, ngã vật ra đất.

Quan Hạ Băng rút đao, vẩy một cái cho máu bắn đi nơi khác, kế nhìn về phía Lý Thanh Vân, thở dài:

“Xem ra bản tướng quân tính sai.”

“Đúng là tính sai. Nếu không cũng không đến nỗi nội thương như vậy.”

Lý Thanh Vân nhún vai một cái, đáp. Ban nãy cậu chàng có để ý lúc cô nàng bước đi, cước bộ hơi lệch, hơi thở cũng lúc nhanh lúc chậm, hoàn toàn không giống dáng vẻ bình thường của một cao thủ. Thế nhưng, khi đó Lý Thanh Vân còn chưa thể kết luận liệu Quan Hạ Băng có bị thương hay không được.

Kiều Minh Long cũng có cái kiểu thở khò khè như ống bễ, song nào có ai dám bảo hắn trọng thương?

Thế nhưng mới nãy Quan Hạ Băng động thủ, Lý Thanh Vân đã có thể khẳng định.

Trong trận đánh ở cửa thành, cậu chàng cũng không bại triệt để đến thế.
 
Back
Top Dưới