Tiên Hiệp Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân

Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 180: Thành Đông Thanh


Lại kể chuyện của Tạ Thiên Hoa...

Sau khi chia tay sư huynh đệ đồng môn, cô nàng dẫn theo con gà con lông đen đoạn vỗ cánh bay về phía thành Đông Thanh.

Trong ngọc giản cô nàng được cho biết lần này mục tiêu của mình là chi viện cho Đại Yến quốc, nằm ở cực bắc Huyền Hoàng giới. Hơn nữa đại đội đã lên đường trước, nên cô nàng cần phải trong thời gian ngắn nhất tới được nước Yến, hội ngộ với đại đội binh mã của Đại Việt. Song... ít nhất cấp trên cũng không đến nỗi “đem con bỏ chợ”, trong ngọc giản của cô nàng chẳng những có một số tình báo điển tịch về nước Yến mà còn viết sẵn lộ trình tối ưu để đến nơi này, cũng bớt được công nghiên cứu tìm tòi cho Tạ Thiên Hoa.

Theo những gì có trong ngọc giản thì nước Đại Yến nằm ở cực bắc Huyền Hoàng giới, phía bắc là Thiên Đảo và biển Tinh Hải, còn có tên là biển Bắc Băng. Phía tây giáp với nước Tề, phía đông gần với nước Thục, nam giáp đại Hoàng.

Trong sáu nước, Đại Yến là có diện tích lớn nhất, cơ hồ chiếm ba phần tổng số đất đai lãnh thổ của lục quốc cộng lại. Thế nhưng xưa nay phía bắc giá rét, lắm núi cao, khó trồng trọt, thành thử tuy bá chủ trung nguyên nhiều lần đổi ngôi, song cũng chẳng ai đi ghen tị với cái lãnh thổ gân gà bỏ thì thương mà vương thì tội của đại Yến cả.

Đại Việt ở cực nam, Đại Yến ở cực bắc, đường xá xa xôi, nếu bằng tốc độ của Tạ Hàn Thiên thì phải bay ít nhất nửa tháng không ngừng nghỉ mới tới được nơi.

Kể từ sau trận càn quét của Nghiêm Hàn khắp lục quốc, nước Đại Yến cơ hồ đã bế quan tỏa cảng, co mình không giao lưu mấy với các nước khác nữa. Lần này nếu không phải vì nạn Hải Thú thì có lẽ nước Đại Yến cũng không phá lệ đồng ý cho quân đội các nước khác vào biên ải chi viện.

Chính vì thu mình tách biệt, lại thêm lúc Nghiêm Hàn kéo quân đồ sát thiên hạ hoàng thất Đại Yến đã cho phá hủy hầu hết truyền tống môn nối vào lãnh thổ của họ, nên hiện giờ còn rất ít thành trì có thể truyền tống được đến Đại Yến. Khắp cả châu Ngọc Lân chỉ có duy nhất một tòa thành có thể truyền tống đến Bằng Sơn Quan của nước này – thành Thanh Tùng, nhân chuyện của Lâm Tế Tửu mà đã đổi tên thành Đông Thanh.

Tạ Thiên Hoa bay khoảng ba ngày nữa thì đã thấy dãy Hoàng Liên trập trùng nhấp nhô thấp thoáng nơi chân trời. Chỗ lưng chừng núi có một tòa sơn thành hùng tráng tọa lạc, bao quanh bởi những rừng tùng, bách xanh rợp cả mấy chục dặm.

Cô nàng đứng trên tầng mây, ngắm nhìn tòa thành hiện tại đã mang tên ông sư phụ nhà mình một lượt, kế mới lắc mình đáp xuống xếp hàng trả phí vào thành. Thực lòng mà nói, thì Tạ Thiên Hoa cũng rất chờ mong háo hức muốn xem xem thành trì mang tên Bích Mặc tiên sinh rốt cuộc nó ra làm sao, có xứng đáng với ông sư phụ ở Lão Thụ cổ viện hay không. Con gà đen thì đậu trên đỉnh đầu cô nàng, bấy giờ lim dim mắt ngáp dài một cái, gục đầu xuống ngủ.

Lính canh cổng cũng không vì Tạ Thiên Hoa là người từ nơi khác đến mà gây khó dễ hay tỏ thái độ gì. Có ngọc giản của triều đình, thành thử chuyện xác nhận thân phận cũng chẳng mất bao nhiêu thời gian. Sau khi thu phí, lính canh bảo Tạ Thiên Hoa vào thành tìm lấy chỗ nào đấy trọ lại hai hôm, đến sáng ngày thứ ba truyền tống môn đến Bằng Sơn Quan nước Yến mới mở. Cô nàng cảm ơn y một câu, sau đó nhảy chân sáo vào thành.

Thành Đông Thanh là thành trì lớn có tiếng, một nửa đặt trên lưng chừng núi Tùng Khê, nửa còn lại trải rộng dưới chân quả núi, rộng có đến năm mươi dặm vuông. Trong thành chẳng những có ruộng lúa, bãi cỏ, lại có hồ nước tự nhiên do sông suối trên núi Tòng Khê đổ vào, có thể nói là cái thế nhìn sông tựa núi, dễ thủ khó công. Trong thời chiến có thể tự cung tự cấp, có bị bao vây ba tháng nửa năm cũng chẳng thành vấn đề.

Trong thành phồn hoa đô hội, phố xá sầm uất, từ trang phục đến giá cả đều có thể thấy nơi đây giàu có hơn chốn biên ải như Quan Lâm không chỉ gấp đôi gấp ba. Tạ Thiên Hoa thấy chuyến này ra ngoài không nên phô trương quá, bèn tìm một cái khách đ**m thuộc hàng trung thượng, không quá xa hoa cũng chẳng đến nỗi xập xệ mà ở.

Nơi này vừa là quán trọ, vừa là quán cơm, lúc cô nàng đi vào thì vừa hay đang giờ cơm trưa, ở góc phía tây của quán có dọn ra một cái sân khấu gỗ rộng độ ba chét tay, cao nửa tấc. Trên có kê bàn ghế đàng hoàng, một lão già chính đang ngồi ngay trước án, vừa phe phẩy cái quạt giấy vừa kể chuyện thiên hạ, nước bọt văng năm thước. Thực khách tứ phương rõ ràng nghe hứng thú lắm, thỉnh thoảng đến đoạn hay lại vỗ tay đôm đốp.

Tạ Thiên Hoa thong dong gọi mấy món ăn, một ấm trà thơm, lúc này mới hướng sự chú ý lên khán đài.

Bấy giờ, ông lão kể chuyện vừa hay kể đến giai thoại “Bích Mặc tiên sinh khẩu chiến quần Nho”.

“Lúc ấy chỉ thấy phong vân biến chuyển, lục đại thư viện trên từ viện trưởng, dưới tới nho sinh mặt đều tái mét, ôm đầu kinh sợ, chẳng khác nào chó thấy hùm beo, chuột nghe tiếng sấm. Mỗi câu mỗi chữ tiên sinh cất lên, Nho đạo trên không theo đó mà rung chuyển ầm ầm, thánh hiền kêu khóc, lệ máu đổ ra thành sông. Loáng thoáng nghe được âm thanh thánh hiền trách cứ, đều nói rằng Nho đạo vô phúc. Cuối cùng, Bích Mặc tiên sinh bước lên một bước, đọc xong câu phú sau cùng. Trước con mắt hãi hùng của thiên hạ, Nho đạo sập mất một góc.”

Trong quán lập tức ngập tràn tiếng vỗ tay hân thưởng, không thiếu kẻ còn đứng lên bàn hò hét, đủ thấy danh tiếng của Nho môn ở đất này kém tới mức nào.

Tạ Thiên Hoa nhấc chén trà lên, cười.

Ngày thường vẫn nói Nho môn toàn một lũ nhìn đời bằng nửa con mắt, mũi hếch lên tận trời, thiên hạ chỉ người đọc sách thanh cao. Trong bụng đầy mưu mô, ngoài miệng thì lại bô bô rằng ta đây quân tử, dùng đạo nghĩa làm gông cùm, quả thực là khiến kẻ khác buồn nôn.

So với ông sư phụ nhà bọn họ thì quả thực là đáy vực so với thiên không, ngọn cỏ ven đường chẳng sánh được với mây ngàn hùng vĩ. Nếu nói có điểm yếu gì thì chắc hẳn là quá khiêm tốn, cùng một câu chuyện qua lời kể của Nguyễn Đông Thanh quả thực khác như trời với vực với lão thuyết thư. Một bên thì khắc họa Bích Mặc tiên sinh oai phong lẫm liệt, đầy vẻ oai hùng. Bên kia thì lại kể như kiểu hai bên có hiểu nhầm, nên mới buộc lòng phải dùng đến, cơ hồ chỉ coi bản thân là kẻ bình thường, cái chuyện đánh sập Nho đạo ai ai cũng làm được.

Tạ Thiên Hoa nghe đến đây, cảm thấy lão thuyết thư kể chuyện không tệ, bèn lấy ra mấy đồng bạc để vào đĩa. Tự có tiểu nhị chạy đến thu lấy, giao cho người kể chuyện.

Bấy giờ, trong góc phòng lại có tiếng hừ lạnh, sau đó một giọng chất vấn cất lên the thé:

“Đúng là cái đám ngu dân bất trí, khó phân phải trái đúng sai. Lại thêm cái đám thuyết thư các người dùng hoặc chúng yêu ngôn, thật đáng tội lắm. Học huynh, chẳng bằng chúng ta thỉnh học lệnh, bài trừ tà thuyết này?”

“Chuyện ấy không cần phải gấp. Tên kia bây giờ nhìn như phong quang, kỳ thực là tự mình hại mình, chuyện bịa càng lúc càng xa, khác nào con ếch trương lên sắp nổ? Hiện tại đã không thiếu cường giả các phương đến thăm dò thực hư của hắn, Nho môn ta cũng không phải ngoại lệ. Là vàng thật hay đồng thau chẳng mấy chốc sẽ bại lộ, đến lúc đó đám người này nâng hắn lên càng cao, té ngã lại càng đau.”

“Nói đúng lắm. Lời của học huynh trực chỉ bản chất, thực chẳng khác nào vén màn sương, học đệ thụ giáo.”

“Thế nhưng nghe những tà thuyết này vào quả thực là bẩn tai. Cũng chỉ có đám tiện dân tai trâu kia mới thích.”

Cả quán rượu ai nấy đều thể hiện vẻ khó chịu ra mặt, người chặc lưỡi kẻ nhổ nước bọt, nhưng nhiều nhất thì vẫn là thở dài thườn thượt. Dường như loại chuyện này xảy ra không chỉ một lần. Lão thuyết thư cũng lâm vào cái thế tiến thoái lưỡng nan, chẳng biết làm sao cho phải.

Tạ Thiên Hoa nghe thế, cười khẩy, nói:

“Còn tưởng ai, ra là một đám lưng dài tốn vải. Bích Mặc tiên sinh vẫn đang ở ải Quan Lâm, trong Lão Thụ cổ viện, cảm thấy không phục thì có thể đến đó mà chất vấn. Truyền tống trận thì sẵn đấy, ở đây tỏ vẻ ta đây với một người kể chuyện thì đáng mặt anh hùng không?”

Cô nàng dừng một chốc, lại cười:

“Hay là nói Nho môn các người vốn chính là loại lấn yếu sợ mạnh, luồn cúi trước cường quyền? Còn nói cái gì quân tử như mai như tùng, ta thấy giống cỏ lau cỏ sậy hơn. Gió nhỏ thì hiên ngang lắm, gió mạnh tới là ngả rạp, chờ lúc trời quang mây tạnh lại đứng lên, vẫn oai như cóc cụ. À... các ngươi chắc hẳn sẽ nói đấy là biết co biết duỗi, nắm được thì buông được phải không?”

Người trong quán nghe đám học trò vuốt đuôi tự khen nhau thì cũng ra chiều khó chịu, chỉ ngặt nỗi ở đây hầu hết là võ giả thô tháp, bảo văng tục chửi bậy thì nhanh lắm chứ đôi co miệng lưỡi thì chẳng phải thế mạnh của bọn họ. Bây giờ nghe Tạ Thiên Hoa nói lời sắc bén như vậy, ai nấy đều hò reo hưởng ứng.

Đám học trò ngồi trong xó mặt tái mét, song lại cảm nhận được tu vi của cô nàng đã vào tới ngũ cảnh, ở đây chẳng ai là đối thủ của Tạ Thiên Hoa, không khỏi nhũn như con chi chi. Vừa vặn lại ứng với cái câu lấn yếu sợ mạnh ban nãy, càng khiến dân tình được mẻ cười to.

Tên cầm đầu có vẻ là đầu óc nhanh nhạy nhất bọn, nhận ra cả đám do dự thế chẳng khác nào bị lỡm, mới lạnh giọng:

“Vị tiểu thư này xúc phạm Nho môn ta như vậy, chẳng nhẽ là muốn đối nghịch với Nho môn?”

“Sao? Đuối lý thì lấy bối cảnh ra đe dọa à? Đây là phong phạm của cái gọi là quân tử sao:?”

Tạ Thiên Hoa chẳng chịu kém, cười lạnh, quát.

Cô nàng xuất thân là Thanh Tước, nói về thực lực thì Ngũ Đại Thánh Tộc cũng chẳng ngán ngại gì Ngũ Lộ Triều Thiên của nhân tộc. Hà huống Tạ Thiên Hoa còn là đệ tử của Bích Mặc tiên sinh, người vừa mới đánh sập một góc của Nho đạo.

Thế nên, trong mắt cô nàng mà nói, Nho môn kỳ thực chẳng khác nào thủ hạ bại tướng của môn hộ nhà mình. Đối phương lần này đuối lí, gặp cô nàng không đi đường vòng thì thôi, Tạ Thiên Hoa thấy chẳng việc gì phải né tránh đối phương cả.

oOo

Nói chút đỉnh về Phật.

Nếu như anh em chưa biết, thì ở Việt Nam mình có hai dòng tu chính là Bắc Tông và Nam Truyền. Trong dòng Bắc Tông lại có Mật Tông, Thiền Tông và Tịnh Độ Tông. Ở đây tạm thời ta không bàn đến Phật giáo Nam Truyền và Phật giáo Mật Tông, mà chỉ nói đến hai dòng là Thiền Tông và Tịnh Độ Tông.

Thiền Tông quan niệm đề cao cái tâm, Phật tại tâm, tâm là Niết Bàn, chú trọng trí tuệ và giác ngộ. Những còm men bảo Phật không phải tôn giáo, không có phong Phật vị chính quả hầu hết là lấy cái tốt của Thiền tông ra để áp lên cả Phật giáo, không rõ là do thiếu hiểu biết hay có ý đồ gì khác.

Tịnh Độ tông thì trái lại, quan niệm chỉ cần thành kính niệm Phật, dựa vào tha lực của Thích Ca Mâu Ni là có thể thành chính quả, lấy ý từ "Một viên đá dù nhỏ đến mấy mà ném xuống nước thì nó cũng chìm, nhưng nếu một hòn đá dù to đến mấy mà đặt trên bè thì nó cũng nổi". Thế nên cái câu niệm "Nam Mô A Di Đà Phật" (Nguyệt quy y đức Phật A Di Đà) là của Tịnh Độ Tông. Tịnh Độ Tông hoạt động như một tôn giáo bình thường, kể ra cũng chả khác gì Thiên Chúa giáo hay Hồi giáo, cũng nói có cõi niết bàn cực lạc để nhảy ra khỏi luân hồi và đi đến. Nhiều chùa chiền ở Bắc Bộ (mình tạm thời chưa có thời gian vào Nam đi chùa để kiểm chứng) cũng hay có những bích họa liên quan đến thưởng phạt kiếp trước kiếp này với hàm ý có phần buôn thần bán thánh, hối lộ người ta bằng cái bánh vẽ. Kiểu như "kiếp này mày cứ thành tâm niệm Phật đi, kiếp sau sẽ được thế lọ thế chai".

Thêm một cái khá hay là Phật giáo Việt Nam so với Phật giáo Trung Quốc và Ấn Độ thì tính nhập thế cao hơn, thậm chí hoàn tục thực hiện nghĩa vụ với tổ quốc lúc có ngoại xâm là chuyện xảy ra như cơm bữa, không hoàn toàn là ngồi mát ăn bát vàng.

Phật môn trong truyện và Vô Trần được lấy cảm hứng chủ yếu từ Tịnh Độ Tông và đám sư hổ mang mà ra. Nhìn chung với tư cách là một thằng vô thần thì mình có hảo cảm với thiền tông hơn cả, nên cũng báo trước với anh em như thế, bởi dù có cố giữ trung lập cách mấy đi nữa thì khi viết kiểu gì mình cũng có cảm xúc cá nhân xen vào, do nghệ thuật nó là một cách biểu lộ cái tôi mà.

oOo

Nhân tiện cũng xin nói rõ luôn là nhóm tác chỉ phụ trách đăng 2 web chính, việc đăng thêm chương theo tổng views cũng chỉ dựa theo 1 trong 2 web này. Còn cụ thể là chỗ nào thì tin tưởng bà con có thể tìm ra dựa theo độ đầy đủ và thời điểm đăng của các chương.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 181: Oan Gia Ngõ Hẹp


Mấy tên kia biết còn ở lại chỉ tổ mang nhục, bèn hừ lạnh một tiếng, nói:

“Cứ chờ đấy. Đừng tưởng có chút tu vi mà đã có thể lên mặt. Nho môn ta không phải con mèo con chó nào cũng chọc được đâu.”

Sau khi để lại một câu đe dọa, mấy tên này nhanh chóng rời khỏi quán ăn, biết là so tu vi thì bọn chúng có đông gấp mười cũng không đánh lại một mình Tạ Thiên Hoa. Đám đông mới nãy còn reo hò khen hay thì hiện tại cũng đã mỗi người một hướng, chẳng khác nào bèo dạt mây trôi.

Lão thuyết thư thu dọn đồ đạc, đứng lên đi đến chỗ Tạ Thiên Hoa đang ngồi, nói:

“Chuyện hôm nay phải cảm ơn tiểu thư đã nói lời hay ý đẹp đỡ cho lão một phen. Dám hỏi tiểu thư có điều chi muốn phân phó lão?”

“Chuyện nên làm mà thôi. Vì sao tiên sinh lại dám chắc tiểu nữ có chuyện muốn trao đổi?”

Tạ Thiên Hoa gật đầu, nói.

Ông lão cười ha hả, đáp:

“Lão đây tuy chẳng học được mấy chữ, song cũng không thẹn là sống uổng sáu chục năm ở cõi trần. Sống lâu, nhìn nhiều, thấy cũng nhiều, ắt phải khôn ra mới sống được. Tiểu thư tâm tư kín kẽ, tuyệt không phải kẻ hời hợt chẳng rõ trước sau. Ngài hẳn là biết mình không nán lại nơi đây lâu, chỉ cần vừa rời đi đám Nho sinh ấy sẽ quay lại làm khó lão già, giận cá chém thớt. Thế nên tiểu thư ăn xong một lúc lâu mà không rời đi, chờ đến lúc này, há chẳng phải là có chuyện muốn sắp xếp cho lão hay sao?”

Tạ Thiên Hoa gật đầu:

“Ông lão nói đúng lắm. Không giấu gì ngài, ta là Tạ Thiên Hoa, nhị đồ đệ của Bích Mặc tiên sinh. Hiện tại có hai con đường cho lão, không biết ý cụ thế nào?”

“Kỳ thực bộ xương già của lão bây giờ cũng đã có tuổi, xập xệ rồi, không còn cái máu xông xáo giang hồ như thời còn trẻ nữa. Nếu được thì lão vẫn muốn ở lại nơi đây có bè có bạn, an cư lạc nghiệp hơn.”

Ông cụ thuyết thư đương nhiên biết một trong hai con đường mà Tạ Thiên Hoa đưa ra là bỏ đi xứ khác làm ăn, nên lập tức nói lên lựa chọn của mình.

Cô nàng gật đầu, nói:

“Ở đây tiểu nữ có một quyển sách, là sở tác của gia sư, chỉ có điều thầy ta tính ưa thích đạm bạc, không muốn nổi danh, nên lấy bút danh khác để nói với người đời mà thôi. Nếu như tiên sinh muốn được yên ổn thì bắt đầu từ ngày mai hãy kể chuyện này, tỏ thái độ với Nho môn là không nhắc lại cái chuyện chúng bị sập mất đại đạo nữa. Đám Nho sinh này ngày thường hay giả nghĩa giả nhân, lão làm thế thì chắc hẳn sẽ bớt được chúng chèn ép ngoài sáng.”

Lần này lên đường, mỗi người đệ tử đều được Hồng Vân giao cho nhiệm vụ tìm người kể chuyện, bắt đầu phát một số sách vở, tiểu thuyết mà Nguyễn Đông Thanh từng nhờ cô nàng sao lưu ghi chép, hiện giờ bản gốc vẫn đang nằm dưới gầm bàn phòng Bích Mặc tiên sinh của chúng ta làm cái kê chân. Nguyên do thì chẳng ai biết, thế nhưng cả bốn người đều lựa chọn tin tưởng sắp xếp của Hồng Vân.

Còn về những quyển sách của cô nàng, Đỗ Thải Hà và Trương Mặc Sênh, thì Hồng Vân tiên tử bảo cứ tiếp tục giữ bí mật vì thời cơ còn chưa đến.

Ông cụ đón quyển sách từ trong tay Tạ Thiên Hoa, vừa đọc qua một lần thì đã như mở cờ trong bụng, cúi đầu xá dài một cái, nói:

“Cảm tạ tiểu thư ban cho sách quý, Nghiêm mỗ xin dập đầu.”

Cô nàng bấy giờ mới hỏi:

“Lão trượng có quan hệ gì với Nghiêm Hàn chăng? Họ Nghiêm ở Huyền Hoàng giới dường như cũng không phổ biến lắm.”

Ông cụ thuyết thư đáp:

“Chuyện này cũng chẳng phải bí mật gì. Nghiêm Hàn sinh ra mệnh cách quái dị, có La Hầu chiếu mệnh, có thể nói là thu hút hết tài hoa vận số của cả một đời trong dòng họ. Song y có chủ cung mệnh là Thất Sát Trùng, cần phải giết hết người đồng lứa mới có thể thành tựu thiên thu bá nghiệp. Khi xưa cha mẹ mỗ biết chuyện này, mới bế ta lên núi Vọng Thiên nhờ Lã cung chủ di cung hoán số, che khuất thiên cơ, cứu cho một mạng.

“Người Tề vẫn thường nói Nghiêm Hàn khi xưa chết dưới tay Lý Huyền Thiên cũng vì có một con cá nhỏ trốn thoát là lão đây. Đương nhiên cũng lắm kẻ bảo đấy chẳng qua là người nước Tề không chấp nhận được Chiến Thần của họ chiến bại, nên lấy đó làm cớ đó thôi. Dù sao chuyện cũ giờ cũng đã như mây bay gió cuốn, coi như bỏ đi vậy.”

Tạ Thiên Hoa không ngờ trong quá khứ ông cụ còn có chuyện li kì như thế, không khỏi cảm thấy thế sự vô thường. Bấy giờ cô nàng lại hỏi:

“Nghiêm lão, vì cớ gì mà đám Nho sinh kia lại có vẻ khó chịu khi nghe lão nhắc đến sư phụ ta, song dường như không phải vì việc sư phụ ta đánh sập một góc Nho đạo? Chuyện này ta nghĩ mãi vẫn thấy hơi kì quái, mong lão có thể giải đáp cho.”

“Tiểu thư không biết? Lão còn tưởng tiểu thư sớm đã tỏ tường thân phận của chúng mới đứng ra chứ.”

Nghiêm lão cất tiếng, đôi mắt già mờ đục hiện tại choán đầy vẻ kinh ngạc và cảm kích. Vốn là lão tưởng Tạ Thiên Hoa đã sớm biết thân phận của đối phương, lên tiếng cũng là ân oán cá nhân của bọn họ, còn nói đỡ cho lão chẳng qua cũng là chuyện tiện tay thì làm mà thôi. Không ngờ cô nàng lại không hề biết đối phương là ai, hành động ban nãy cũng là vì thấy sự bất bình mới rút đao tương trợ.

Lão sống lâu, mắt nhìn người cũng lọc lõi, có thể nhận ra ngay lúc Tạ Thiên Hoa nói những lời này thần sắc chân thành, đôi mắt trong suốt, không có vẻ gì là giả vờ diễn kịch cả.

“Không dám giấu gì lão, chuyện này cũng không phải bí mật gì cả. Ta là Thanh Tước, xưa nay ít tiến vào sâu trong biên cảnh Đại Việt. Phân chia thế lực trong này ta cũng không rõ ràng lắm.”

“Khó trách. Khó trách. Không giấu gì tiểu thư, mấy tên Nho sinh ban nãy đều là người của thư viện Thanh Tùng đặt ở đỉnh núi Tòng Khê. Đây là thư viện có tiếng ở Đại Việt, dạy ra không thiếu đại quan quý nhân trong cung. Bọn họ vẫn nói nếu không phải thành Bạch Đế và thái tổ có chút uyên nguyên khi xưa thì danh xưng đệ nhất thành của Đại Việt hẳn là có một chỗ của nơi này.”

Lão ngừng một chốc, lại nói:

“Trong đó, học sinh đắc ý nhất trong trăm năm qua từng xuất thân từ Thanh Tùng thư viện chính là con trai của viện trưởng: cựu Tế Tửu Lâm Thanh Tùng. Bích Mặc tiên sinh thắng cược, Trư Đế cho người khắc khuôn mặt của Lâm Thanh Tùng lên hai phiến đá kê cửa cầu tiêu cả nước, Thanh Tùng thư viện có thể nói là nhục không để đâu cho hết.”

Tạ Thiên Hoa lắc đầu, nói:

“Lâm Thanh Tùng, thành Thanh Tùng. Ài... quả thực là thế sự vô thường, nghĩ mà trùng hợp.”

Nghiêm lão nói xong, thấy cô nàng không còn chuyện gì cần hỏi nữa bèn lên tiếng cáo từ, đoạn rời khỏi quán trọ. Tạ Thiên Hoa thấy thế cũng chẳng nói thêm câu nào, đến chỗ chủ quán lấy chìa khóa. Lão chủ quán với lấy xâu chìa khóa sau lưng, rồi ấp úng:

“Tiểu thư, có lời thật lòng này mong tiểu thư...”

“Ta biết đối phương thế lớn, lão sợ bị liên lụy, muốn khuyên ta rời khỏi đây cho sớm. Thế nhưng nếu bây giờ ta mà đi, bọn chúng đến tìm không thấy thì há chẳng phải trút giận lên đầu các người à? Chuyện này không hề gì. Nếu bọn chúng quay lại trả thù lão cứ dẫn đến phòng ta là được.”

Tạ Thiên Hoa vừa nói, vừa đưa tay ra hiệu cho chủ quán đưa chìa khóa cho mình.

Chủ quán nghe thế thấy cũng có lý, mồ hôi đổ ra đầy đầu, nói:

“Cũng may có tiểu thư nhắc nhở.”

Lão chủ quán lúc này chỉ sợ Tạ Thiên Hoa làm theo kế hoạch ban đầu của mình thật thì bỏ bố, nên vội vội vàng vàng giao chìa khóa cho cô nàng. Tạ Thiên Hoa đủng đỉnh theo chân lão đi về phía khu nhà trọ, trong lòng thầm tính toán xem nên xử lý chuyện của Thanh Tùng thư viện ra sao.

oOo

Đỉnh núi Tòng Khê...

Bấy giờ trong rừng tùng thấp thoáng bóng những dãy kiến trúc bề thế, lầu các cao vút nhập vào trong mây, lan can uyển chuyển ôm theo dáng núi. Lại nghe tiếng ngâm đọc ê a, chim hạc trắng vỗ cánh bay từ dãy nhà này sang đỉnh núi nọ, khung cảnh quả thực chẳng khác nào chốn bồng lai.

“Phu tử, phu tử...”

Đám Nho sinh ban nãy gây hấn với Tạ Thiên Hoa trong tửu quán bấy giờ chính đang hớt hải chạy lên núi, vừa đi miệng vừa kêu la bai bải. Khung cảnh chốn này cũng vì những âm thanh huyên náo của chúng mà mất đi vài phần tiên phong, có thêm mấy phần chợ búa.

Đường núi gọi là Cầu Học Lộ, khúc khuỷu khó đi, lại có đặt cấm chế phi hành khiến các Nho sinh không thể nào đạp không mà bay, hoặc ngâm tụng thơ cú để chạy. Thành thử, cái đám học trò ngày thường mặt búng ra mỡ, tay chân ốm yếu chưa từng lấm bùn chỉ chạy được vài bước đã thở hổn hà hổn hển như chó giữa trưa hè.

“Có chuyện gì?”

Ở cổng trường có một cái bảng lớn, khắc bốn chữ Thanh Tùng Thư Viện bằng đá trắng, lại thếp vàng bốn bên. Ngồi ngoài cổng là một lão già nhìn qua chắc độ năm sáu chục tuổi, râu tóc đã phai phai màu khói bếp, trên người bốc lên một cái mùi chua chua khó ngửi chẳng khác nào Thính Vũ Lâu.

Đám Nho sinh thấy người này, theo bản năng lấy hạo nhiên chính khí phong bế lỗ mũi, rồi mới nói:

“Bẩm... bẩm Lâm phu tử, học trò có chuyện này cần bẩm báo với viện trưởng, những mong phu tử chuyển lời.”

“Ồ? Có chuyện gì mà cần đích thân viện trưởng ra mặt?”

Người này gấp tập thơ trên tay lại, ngẩng đầu lên. Lúc này tuy y đã già nua lọm khọm, song vẫn có thể nhìn ra đây chẳng phải ai khác ngoài vị Tế Tửu xui xẻo Lâm Thanh Tùng.

Sau khi mất hết tu vi, ngoại hình y cũng nhanh chóng già đi, thành thử nếu không nhìn kỹ thì chắc chẳng ai nhận ra y là người được khắc lên hai phiến đá kê chân thường lót trước cửa cầu tiêu ở Đại Việt.

Ba tên Nho sinh nói:

“Chẳng là có kẻ khiêu khích oai nghiêm của Nho môn chúng ta, học trò nghe mà máu sôi sùng sục. Ngặt nỗi chúng con học nghệ chưa tinh, đối phương lại miệng lưỡi sắc bén, giỏi tài bao biện, thế nên vội vàng báo cho phu tử.”

“Ồ? Kẻ đến là ai?”

Lâm Thanh Tùng nhíu mày, lại tự hỏi gần đây chẳng nhẽ đám ngu dân bắt đầu học theo tên Bích Mặc tiên sinh, đứa nào đứa nấy thi nhau khiêu khích tôn nghiêm của Nho môn bọn họ?

oOo

Sáng hôm sau, Tạ Thiên Hoa vừa mới ngủ dậy, rửa mặt xong xuôi thì ngoài cửa đã thấy lão chủ quán đứng chờ, mặt mày lấm lét như trẻ con ăn vụng bị bắt quả tang. Cô nàng thấy biểu cảm của lão, biết chuyện gì xảy ra, bèn nói:

“Không ngờ chúng đến nhanh thế. Được rồi. Lão dẫn đường đi.”
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 182: Hoắc Minh Hạo


Các quán trọ ở Huyền Hoàng giới thường xây theo lối tứ hợp, gian chính diện làm hàng cơm, nhà trái là bếp, nhà phải là kho, cuối cùng nhà sau là chỗ trọ cho khách. Tạ Thiên Hoa và chủ quán băng qua sân, vừa bước qua cửa thì đã thấy trong quán cơm bấy giờ chỉ có một bàn có người ngồi, ngoài cửa thì lố nhố đứng cơ man không biết bao nhiêu người, tu hành giả có mà tán tu cũng có. Bấy giờ người nào người nấy chính đang hườm hườm nhìn vào trong quán bằng ánh mắt sắc lẻm như dao cạo, nhọn hoắt như mũi thương.

Đám người ngồi ở cái bàn chính giữa quán là một đám người mặc áo nhà Nho trắng phau như tuyết, ở diềm áo và vạt áo viền vải xanh, trước ngực thêu một cây tùng bằng chỉ vàng. Những người này có già, có trẻ, dẫn đầu là một người thoạt nhìn cỡ hai tám ba mươi, đầu cuốn khăn lụa, cắm ngang một cây trâm dài màu bạc.

Lão thuyết thư ngày hôm qua bấy giờ đang quỳ trước mặt những tên này. Đầu Nghiêm lão cúi thấp, tên dẫn đầu chính đang gác cả hai chân lên hậu tâm của lão, thỉnh thoảng lại sử dụng hạo nhiên chính khí hóa thành ngôn từ đao kiếm đâm vào bả vai, đầu gối của lão thuyết thư đến tứa máu. Ông cụ đã đau đến nỗi mặt mày trắng bệch, thở không ra hơi, thế nhưng vẫn không dám kêu một tiếng nào.

Đám Nho sinh đứng vây quanh thì luôn miệng buông lời chửi mắng lão là tiện dân, là hạ tiện, là không bằng heo chó, không tự lượng sức mình. Mà ở ngoài cửa, thành vệ quân thấy cảnh này cũng làm như mắt điếc tai ngơ, không vào quản.

Tạ Thiên Hoa trông thấy đám người này hành xử hống hách như thế, bèn cười nhạt:

“Quả nhiên là không sai, rặt một lũ ngụy quân tử. Xem ra chừng nào rảnh phải bảo sư phụ làm thêm một bài thơ, đính lên Nho đạo dằn mặt cái đám người đạo đức giả này mới được. Đánh sập rồi lại khôi phục chưa đủ tính răn đe.”

Cô nàng vừa đặt chân vào phòng, đối phương đã ra tay đánh Nghiêm lão, hẳn nhiên là đang muốn đánh phủ đầu, hạ mã uy. Tu vi của đối thủ mờ mịt hư vô, rõ ràng là đã vào Vụ Hải. Tạ Thiên Hoa tuy là tự tin, song không phải kẻ mù quáng, tự thấy đánh nhau chưa chắc đã chiếm phần hơn.

Thế là, đối phương ra oai, cô nàng cũng báo thân phận trả lại một đòn.

Vốn là thằng cha này đang kê chân lên đầu Nghiêm lão ra cái vẻ hống hách lắm, thế nhưng nghe Tạ Thiên Hoa lẩm bẩm tự nói thì giật bắn cả mình, vội vàng muốn co chân lại, thế nhưng nhớ đến những gì cô nàng chửi bọn họ hôm qua thì lại vào thế bí, muốn rút lại cũng dở mà để nguyên đó cũng không ổn. Lúc này, hắn chỉ hận không thể lôi đám Nho sinh hôm qua ra tát cho mấy cái vì cái tội chưa tìm hiểu gì về bối cảnh của đối phương đã về gọi người ra mặt.

Chẳng là hôm qua nghe mấy tên Nho sinh kể dưới núi có một con bé tu vi ngũ cảnh dám lên tiếng thách thức oai nghiêm của Nho môn, cao tầng thư viện Thanh Tùng đã dậy sóng một phen. Nhất là vị Tế Tửu rớt đài Lâm Thanh Tùng bây giờ đang vào cái thời điểm đồng bóng, nhạy cảm quá độ, cảm thấy đối phương dám ăn nói xấc xược như vậy đều do chuyện xấu hổ của y. Nếu không phải do gã, danh tiếng Nho môn còn sâm nghiêm, há lại có phải con mèo con chó nào cũng dám khinh nhờn cười trộm như bây giờ?

Viện trưởng xưa nay thường lấy làm tự hào về thằng con Tế Tửu này, bây giờ thấy y như thế thì lại càng cho rằng phải lấy lại danh tiếng, dằn mặt thiên hạ một phen.

Mà Hoắc Minh Hạo hắn vốn là phu tử mới, còn trẻ, cần thiết phải lập uy, bèn xung phong xuống núi xem xem rốt cuộc là thiên tài nhà nào mà dám vuốt râu hổ như thế.

Vốn là Hoắc phu tử cho là đối phương chỉ là một thiên kiêu ngũ cảnh của thế lực nào đấy, thấy hắn là cường giả Vụ Hải xuất hiện thì cũng phải biết co biết duỗi, lui một vạn bước thì thư viện Thanh Tùng cũng là một thư viện lớn, danh tiếng chỉ thua Lục Đại Thư Viện, thiết nghĩ thể nào cũng phải nể mặt ba phần.

Giờ thì tốt...

Đối phương là đệ tử của Bích Mặc tiên sinh, hôm nay đánh đến tận cửa. Người ta đối đầu với Văn Cung, với Lục Đại Thư Viện còn có gan đánh Nho đạo sập một góc, hà huống chỉ là một Thanh Tùng thư viện thân cô thế cô?

Gã đảo mắt một cái, đoạn cười:

“Ra là cao đồ của Bích Mặc tiên sinh. Dám hỏi tiểu thư là Tạ tiên tử hay Đỗ tiên tử?”

“Sao nào? Nếu ta là Đỗ sư muội có phải Thanh Tùng thư viện các người sẽ khinh khi hà h**p hay không? Tiếc quá... để các người thất vọng rồi.”

Tạ Thiên Hoa cười lạnh, chẳng hề cho Hoắc Minh Hạo chút mặt mũi nào cả. Mà đối phương khi biết cô nàng là Thanh Tước, phía sau còn có một tên điên Tạ Phong Tử – Tạ Hàn Thiên thì lá gan cơ hồ teo tóp lại bằng tốc độ không tưởng, sống lưng lạnh căm căm như bị chườm băng đá ngàn năm.

“Hiểu nhầm. Hiểu nhầm thôi. Có câu không biết không có tội, ngày khác thư viện sẽ đến tận nơi tạ tội.”

Tạ Thiên Hoa lắc đầu, nói:

“Thế thì cũng không cần. Hôm nay ta đúng lúc đang rảnh rang không có chuyện gì làm, đang muốn lên xem thử xem cái thư viện dạy ra toàn một lũ tiểu nhân lấn yếu sợ mạnh rốt cuộc trông nó ra làm sao. Dẫn đường!”

“Ngươi...”

Hoắc Minh Hạo không ngờ mình đã xuống nước mà đối phương còn không nể tình khách khí, nhất thời cũng ngớ người ra.

“Ngươi cái gì? Không phục thì đến Quan Lâm gác chân lên đầu sư phụ của ta trả thù cho cái tên Tế Tửu kia xem! Trút giận lên người phàm, ra oai với kẻ yếu thì đáng mặt quân tử lắm đấy! Được! Bản tiểu thư cho các ngươi một cơ hội. Hôm nay ta mang thi tập của gia sư lên phá quán... à nhầm, so tài.”

Tạ Thiên Hoa hừ lạnh một tiếng.

Câu nào câu nấy đều khiến cả đám người đang đứng trong quán như rơi vào hầm băng. Hoắc Minh Hạo quay phắt đầu, mắt long sòng sọc. Mấy tên Nho sinh hôm nay tưởng là sẽ được thấy cảnh Tạ Thiên Hoa bị trừng trị, ăn nói khép nép khúm núm thì lúc này đã khóc không ra nước mắt, chỉ hận không thể khiến mặt đất nứt ra một cái khe cho chúng chui vào.

Bên ngoài, dân chúng nghe được cô nàng là đệ tử của Bích Mặc tiên sinh vẫn nghe trong truyền kỳ thì hoan hô ầm ĩ, bộ dáng cuồng nhiệt có chút nào đấy giống với hiện đại người ta đu idol.

Hoắc Minh Hạo biết sự tình hiện giờ đã không thể nào cứu vãn, chỉ có thể đâm lao thì theo lao, binh tới thì tướng đỡ, nước đến thì đất ngăn. Gã hít sâu một hơi, nói:

“Vậy thì thư viện ta hoan nghênh tiểu thư đến giao lưu.”

Vừa đáp, gã vừa ra hiệu cho đám đệ tử nhanh chóng dùng ngọc giản truyền âm liên lạc với người trong thư viện để nghênh đón vị ôn thần chuẩn bị đến đập phá này.

Chờ bọn họ đi khuất, người bên ngoài đứng xem mới dám lại gần đỡ Nghiêm lão dậy. Kẻ thì phủi áo, người thì đấm vai. Những người này đều là khách quen của quán trọ, thường hay đến nghe ông cụ kể chuyện. Hôm nay trông thấy cảnh cụ bị Hoắc Minh Hạo đè đầu cưỡi cổ mà hạ nhục thì không ai mà không thấy bất bình.

Nghiêm lão phủi áo, đứng dậy, nói:

“Cảm ơn các vị quan hoài đoái thương. Từ nay về sau lão không kể chuyện của Bích Mặc tiên sinh được nữa, mong mọi người thông cảm.”

Quần chúng nghe xong, người thì thở dài tiếc rẻ, kẻ thì lắc đầu tỏ ý cảm thông. Lẫn trong số này, có một vài người của các quán trọ tửu lầu cạnh tranh thì lúc này mừng như mở cờ trong bụng. Chẳng thiếu kẻ âm thầm cười trên nỗi đau của kẻ khác, rằng ông cụ họ Nghiêm không biết thức thời, rằng chuyện ngày hôm nay chính là hậu quả của việc dám đối đầu với Thanh Tùng thư viện.

Mà Nghiêm lão lúc này âm thầm nhẩm lại những trang sách chứa đầy nét liêu trai vừa đọc hôm qua một lượt.

“Chư vị, hôm nay lão xin hầu mọi người một câu chuyện khác, cam đoan cũng không thua kém gì truyền kỳ về Bích Mặc tiên sinh.”

oOo

Thành Đông Thanh xây ở lưng chừng núi Tòng Khê rồi mở rộng xuống chân núi, đứng trong thành ngước lên cũng thấy được thấp thoáng bóng những dãy nhà, hành lang nơi rừng tùng, thành thử nếu muốn đến thư viện tỉ thí thì Tạ Thiên Hoa có thể tự mình bay đến, chẳng cần ai phải dẫn đường cho mệt. Thế nhưng cô nàng cứ đủng đỉnh không nhanh không chậm, để đám người Hoắc Minh Hạo dẫn đường, từng bước từng bước đạp lên Cầu Học Lộ lên núi. Kỳ thực, đây cũng là một loại tranh đấu, áp chế khí thế của đối thủ, gây dựng khí thế cho mình.

Hạc trắng trên núi cũng là một giống yêu quái, thế nhưng tính tình ôn hòa hơn yêu tộc bình thường trong Lục Trúc Hải, lại có thể hấp thu văn khí tài hoa của Nho đạo, thành thử tộc Bạch Hạc từ đó hình thành một loại quan hệ cộng sinh với Nho môn, với thư viện.

Thế nhưng ngày hôm nay Tạ Thiên Hoa vừa mới lên núi, áp chế đến từ sâu trong huyết mạch đã khiến đám hạc trắng ngày thường tiên phong đạo cốt, cao ngạo thanh tao nháo nhác cả lên, con nào con nấy lông xù tung, mắt hằn đỏ chẳng khác nào bị dù bị dại.

Đám Nho sinh thấy bầy hạc bay mòng mòng trên trời thành từng vòng tròn cứ như hóa điên, chẳng hiểu đầu cua tai nheo thế nào, cứ ngơ ngác nhìn nhau tấm tắc là sự lạ. Có đứa định hỏi Hoắc phu tử, thế nhưng vừa thấy sắc mặt y hằm hằm như sắp giết người thì vội vội vàng vàng nuốt lời định nói xuống bụng.

Hoắc Minh Hạo thân là cường giả Vụ Hải, đương nhiên không giống đám Nho sinh ngày thường chỉ ngâm thơ tụng phú, đọc sách viết chữ này. Y nhìn một cái là nhận ra ngay sở dĩ bầy hạc dáo dác cả lên là do Tạ Thiên Hoa đang giở trò. Bạch Hạc ôn hòa, song huyết mạch cũng chẳng phải cao quý gì cho cam. Nay một trong năm thánh tộc, Điểu Trung Đế Hoàng, lên núi, lại cố tình dùng huyết mạch áp chế, bọn chúng không nháo nhào lên mới là lạ.

Đấy còn là Bạch Hạc từ bé đến lớn đã được tài hoa, văn khí của đệ tử Nho môn nuôi dưỡng. Nếu là một loài yêu thú loại chim khác thì chỉ e hiện tại đã hộc máu mồm mà chết.

Song, gã chẳng dám nói câu nào, chỉ biết ngậm bồ hòn làm ngọt, tiếp tục dẫn đường cho cô nàng lên núi.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 183: Tính Toán Của Thư Viện


Bấy giờ, trong thư viện, động tĩnh của đám Bạch Hạc tự nhiên là đã lan tới tai cao tầng của Thanh Tùng thư viện. Viện trưởng Lâm Thanh Hồ nhíu mày, chẳng còn cách nào ngoài sử dụng tu vi đánh ngất bầy hạc, kế bảo học sinh đưa đến sau núi.

Làm xong xuôi đâu đấy, lão mới nhìn sang, nói:

“Các vị trưởng ban, con bé này vừa đến đã đánh đòn phủ đầu, chỉ e là không có ý nể mặt. Bây giờ thanh danh thư viện ta nguy trong sớm tối, chư vị có đối sách gì hay chăng, bản viện trưởng xin rửa tai lắng nghe?”

Ở Huyền Hoàng giới, ngoại trừ lục đại thư viện vì nguyên do truyền thừa mà chuyên chú một ngành trong Nho môn lục nghệ, các nơi khác đều nhận dạy cả sáu môn. Do đó, nội bộ thư viện cũng cần phải có sự phân chia rõ ràng, đặng dễ bề quản lý. Bình thường một thư viện ở Huyền Hoàng giới thường chia ra làm lục ban, lần lượt ứng với các môn lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số của lục nghệ. Học sinh sau khi đến tam cảnh, cần đến giáo hóa chi lực để phá cảnh thì có thể lựa chọn ở lại thư viện làm học huynh, học tỉ. Đến khi tu vi vào ngũ cảnh là có thể tốt nghiệp, thích đi thì có thể đi, muốn ở thì có thể trở thành phu tử mới.

Lại chọn trong số các phu tử ra một người đứng đầu, gọi là trưởng ban, không ai mà không phải là đại Nho thành danh đã tiến vào Vụ Hải, hơn nữa nghiên cứu rất sâu với môn mà ban mình phụ trách, đủ khiến các phu tử khác chịu phục.

Sáu vị trưởng ban của Thanh Tùng thư viện nghe lão nói thì đều không nói tiếng nào, chỉ dùng ánh mắt len lén nhìn về phía Lâm Thanh Tùng.

Ý vị bên trong đương nhiên không nói cũng biết.

Lâm Thanh Hồ nghiến răng, thừa biết mấy thằng cha già này rõ ràng là ái ngại thân phận của Tạ Thiên Hoa, không muốn chính diện đối đầu với Lão Thụ cổ viện và Bích Mặc tiên sinh.

Ngẫm lại ngày hôm qua đám lão già này còn nhao nhao lấy lòng, nghiến răng nghiến lợi, tựa hồ như phải ăn sống nuốt tươi cái kẻ không biết điều kia để thay Lâm Thanh Tùng xả giận mà lão chỉ biết cười lạnh, thầm than thế sự chìm nổi, lòng người bạc như vôi lạnh như tiền.

Khi thuận tiện thì người nào người nấy đều tỏ ra trang nghiêm đạo mạo, trách trời thương dân.

Lúc khó khăn thì ai nấy đều ngồi im như phỗng, tựa hồ chuyện của đạo hữu không liên quan đến tại hạ.

Tình đời ấm lạnh đã thế, có trách thì chỉ trách hiện tại cái chuyện này nó ứng lên đầu cha con lão mà thôi.

Lâm Thanh Hồ hít sâu một hơi, nói:

“Chư vị chẳng nhẽ cho rằng chỉ cần giao Thanh Tùng ra là đối thủ sẽ bỏ qua hay sao? Ngây thơ… Tên Bích Mặc tiên sinh này năm lần bảy lượt đối đầu với Nho môn ta, nay đệ tử của hắn lại lên núi thì há lại không có lòng khác? Chuyện của ngày hôm qua chẳng qua là một cái cớ mà thôi. Bằng không, đường đường là một cường giả ngũ cảnh, bối cảnh sau lưng vững như bàn thạch há lại có chuyện ra mặt cho một tên phàm nhân chẳng quen chẳng biết?”

Lão thấy đám trưởng ban đã dao động, ngừng lại một chốc, đoạn nói:

“Chuyện đã là như thế, bản toạ cũng không còn gì để nói. Lần này cho dù các người đều đóng cửa không ra, thì cha con lão phu dù chỉ còn một binh một tốt cũng thề phải đấu đến cùng, giữ lại thanh danh của Nho môn, bảo vệ tiếng tăm của thư viện.”

Khi nói câu này, Lâm Thanh Tùng sử dụng thần thông truyền âm đến tất cả học sinh trong thư viện. Phần lớn Nho sinh đều đang tuổi thiếu niên, trẻ thì mười, lớn thì mười bảy, chính là cái tuổi chiến ý mười phần phong duệ thời trẻ chưa bị năm tháng mài mòn. Thế là, nhoáng một cái cả sáu ban đều vang lên tiếng reo hò muốn chiến, khí thế chẳng khác nào sóng lớn sôi trào.

Trưởng ban Ngự ban cau mày một cái, nói:

“Một chiêu này của viện trưởng quả thực là cao minh, chẳng mất bao nhiêu công phu đã buộc được phần lớn Nho sinh vào cùng một con thuyền với phụ tử các ngài, lão phu hổ thẹn không bằng.”

“Võ trưởng ban khách khí, bản viện trưởng còn phải học hỏi lão dài dài.”

Lâm Thanh Hồ cười, thản nhiên đáp, cơ hồ ngó lơ luôn câu chất vấn đầy châm chọc của Ngự ban.

Trưởng ban Thư ban hắng giọng, nói:

“Bây giờ đại địch trước cửa, thư viện chúng ta vẫn là nên xem xem phải đối phó với bọn chúng thế nào thì hơn.”

“Đỗ trưởng ban có cao kiến gì chăng?”

Lâm Thanh Hồ nói, lại nhìn về phía ba lão già dung mạo có bảy tám phần tương tự nhau đang ngồi chung một phía trong sảnh.

Ba người này nói ra thì cũng có lai lịch lớn. Tổ tiên là đại thần dưới triều Thái Tổ, tục xưng là Tam Tuyệt Đại Nho Đỗ Ngọc Trai. Đỗ Đại Nho là đại thần khai quốc của nước Việt, tinh thông cả ba môn Thư, Lễ, Nhạc, là kỳ tài văn đàn trăm năm một thuở. Tiếc là về sau dính phải oan án mà bị chém bêu đầu, mãi đến cuối thời Thánh Tông mới được giải oan.

Người thiên hạ vẫn nói nếu không phải Đỗ Đại Nho hàm oan mà chết, cái chức vị thừa tướng vị tất đã rơi đến trên người họ Trương.

Ba anh em họ Đỗ được truyền thừa của tổ tông, tài áp thư viện, dễ dàng trở thành trưởng ban. Lại nói một giọt máu đào hơn ao nước lã, ba người ở Thanh Tùng thư viện cơ hồ là kết thành một phe, có quyền lên tiếng cực lớn. Ngay cả kẻ làm viện trưởng như Lâm Thanh Hồ cũng cảm thấy áp lực.

Trưởng ban Nhạc ban Đỗ Trạng Nguyên nói:

“Cách thì không phải không có, chỉ là tình báo không biết có tin được không.”

Trưởng ban Xạ ban Phùng Mặc hỏi:

“Ý Đỗ trưởng ban là chuyện ở quận cửu?”

“Đúng thế. Theo như tình báo thì Bích Mặc tiên sinh này tuy tài hoa ngút trời, song thư hoạ tàng tàng, cầm kỳ lại càng chẳng đáng nhắc tới. Nếu có thể để đối phương tỉ đấu môn chúng ta chọn thì lão phu có nắm chắc sáu bảy thành thắng ngược lại một kèo, vãn hồi mặt mũi Nho môn ta. Tất nhiên, đấy là nếu tin đồn là thật.

Tình báo lần này bảy giả ba thật, Bích Mặc tiên sinh lại thường làm cái chuyện giả dại giả ngây, chẳng biết đâu mà lần. Song nếu đến lúc đường cùng thì cũng không ngại thử một phen.”

Đỗ Trạng Nguyên vuốt chòm râu dài, nói.

Xưa giờ lão nhắm đến cái ghế viện trưởng đã lâu, cảm thấy họ Lâm của Lâm Thanh Hồ tuy hiển hách xong họ Đỗ nhà lão cũng chẳng kém cạnh gì, có thể nói là gia tộc Nho học lâu đời. Ngặt nỗi Lâm Thanh Tùng thân là Tế Tửu, anh em lão không tiện ra tay.

Bây giờ vừa hay có cơ hội trời cho, quả thực là thời cơ tốt để vặn ngã Lâm Thanh Hồ. Hai cha con họ Lâm khiến thư viện mất hết mặt mũi, nếu họ Đỗ có thể giúp Thanh Tùng thư viện lấy lại thanh danh thì hai cha con họ Lâm cũng chẳng ngồi lâu được ở cái vị trí viện trưởng.

Trưởng ban Thư ban – Đỗ Thám Hoa – nói:

“Tạ Thiên Hoa nổi tiếng là băng tuyết thông minh, hơn nữa còn là cựu thánh nữ của Thanh Tước tộc, ắt hẳn những môn cầm kỳ thư họa ả cũng chẳng lạ gì, không thể coi thường được.”

Lại nói ba người này cũng có cái tên rất khác người.

Anh cả tên Đỗ Trạng Nguyên, cậu hai tên Đỗ Bảng Nhãn, cuối cùng tên Đỗ Thám Hoa. Nghe nói sở dĩ có cái tên này là do cả ông nội và cha của ba người này đều lận đận đường thi cử, thế nên mới đặt tên ba đứa sinh ba như vậy, những mong một ngày chúng có thể bái tổ vinh quy, rạng danh gia tộc.

Trong ba người, lão út Đỗ Thám Hoa tuy nhỏ tuổi, song làm người cẩn trọng trầm ổn nhất. Trái lại, ông anh cả Đỗ Trạng Nguyên thì dã tâm lớn nhất, thường là kẻ dắt díu đám anh em thượng vị. Bấy giờ thấy ông anh cả đắc ý quên mình, lập tức lên tiếng nhắc nhở.

Trưởng ban Ngự ban họ Võ bỗng nói chen vào:

“Đỗ trưởng ban nói thế là sai rồi. Con nhãi họ Tạ này tuy là băng tuyết thông minh, song chung quy vẫn là cái loại lân trùng cầm thú, khó mà đến chốn tao nhã. Lão phu xin chúc ba vị trưởng ban mã đáo thành công, trọng chấn thanh danh thư viện ta.”

“Chuyện ấy thì đã hẳn. Chỉ là không biết các vị trưởng ban ai muốn lên trước?”

Đỗ Trạng Nguyên ban nãy còn lộ rõ dã tâm bừng bừng thì lúc này bỗng nhiên lùi một bước, nhường cơ hội lưu danh ra ngoài, tựa hồ như muốn nói ta đây chỉ suy nghĩ cho thư viện mà thôi, không có ý gì khác. Hành động trái tính trái nết này của lão đương nhiên là không qua mắt được bốn người Lâm Thanh Hồ. Ở đây chẳng ai mà không phải là cáo già lọc lõi, vừa nhìn là biết đây là một tràng dương mưu.

Giành lên trước cố nhiên có thể có được cơ hội trọng chấn thanh danh thư viện, từ đấy tiến một bước tranh đoạt chức viện trưởng, song chưa hẳn đã không trở thành đá dò đường cho đối phương.

Không làm, thì đương nhiên là chắp tay giao cơ hội cho anh em họ Đỗ. Sau này tranh đoạt chức vị viện trưởng cũng không tiện ý kiến ý cò gì. Mà cái lão già này có còn giấu thủ đoạn gì, có tự tin ăn chắc được Tạ Thiên Hoa hay không thì trong bốn người chẳng ai biết cả.

Nhất thời, cả bốn lão già lâm vào thế tiến thoái lưỡng nan, ai nấy đều âm thầm tính toán thiệt hơn được mất.

Mà Đỗ Trạng Nguyên thì không nói câu nào, cứ mặc cho bốn tên trưởng ban và viện trưởng nghĩ. Cái lão muốn là về sau khi tranh đoạt chức viện trưởng, cho dù ai có nói gì chuyện hôm nay thì lão cũng có thể phản bác rằng:

“Ồ, hôm ấy tôi đã nhường rồi đấy chứ, ai bảo các vị không ai chịu ra tay?”

“Ý kiến là do Đỗ trưởng ban đề ra, vẫn nên để chuyện này cho ngài ấy ra mặt thì hơn.”

“Lão phu không có ý kiến.”

...

Rốt cuộc, đứng trước một nhân tố không biết quá lớn là Đỗ Trạng Nguyên, các vị trưởng ban khác đều lựa chọn “ăn chắc mặc bền”. Không tham gia thì còn giữ được cái chức trưởng ban, trái lại nếu là thua trong tay Tạ Thiên Hoa thì chỉ e ngay cả cái ghế hiện tại cũng không giữ được, chớ nói chi đến chức viện trưởng.

Mà Đỗ Trạng Nguyên cơ hồ cũng chỉ chờ các lão nói thế, khóe miệng khẽ nhếch lên, vuốt chòm ria mép, đoạn lại nhìn sang phía Lâm Thanh Hồ:

“Còn viện trưởng thì sao?”

Lâm Thanh Hồ chưa trả lời, thì ở bên ngoài, Tạ Thiên Hoa đã tản bộ hết Cầu Học lộ.

Ngày mai sẽ đăng 6 chương chính truyện.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 184: Đại Náo Thanh Tùng Thư Viện


Bấy giờ, trước cổng thư viện, Lâm Thanh Tùng đã dẫn theo một toán mười mấy phu tử, sau lưng lố nhố năm mươi mấy Nho sinh đứng chờ sẵn. Vừa nhác thấy Tạ Thiên Hoa, lão đã phất tay ra hiệu, tức thì trước sơn môn Thanh Tùng thư viện văn khí nở rộ như bách hoa tranh thắm, tài hoa bột phát tựa vạn điểu tề minh. Đám Nho sinh ngâm thơ đến đâu, con đường dưới chân được trải hoa thơm đến đó. Đám phu tử hiển hóa thần thông khiến bốn bề văng vẳng tiếng thánh hiền giảng kinh, mùi mực lãng đãng tám hướng.

Đội hình “đón khách” lần này không thể không nói là không tinh nhuệ.

Tạ Thiên Hoa cười lạnh, nói:

“À. Chư vị có lòng rồi, tiếp đón long trọng quá. Ai không biết chắc còn tưởng các vị đến đây gồng cơ bắp đe dọa tiểu nữ, muốn ra oai phủ đầu đấy.”

“Nào dám. Thư viện vốn là nơi cầu học, là chốn nho nhã, há lại làm cái chuyện thô lỗ quê kệch của kẻ mãng phu như thế? Huống chi tiểu thư tuy lần này lên thách đấu, song chung quy vẫn là khách...”

Lâm Thanh Tùng vừa đáp, vừa thấy lòng đắng nghét như ngậm bồ hòn.

Vốn lão nghĩ có là thánh nữ tộc Thanh Tước thì cũng chưa hẳn đã thấy nhiều cường giả Vụ Hải như vậy đứng chung một chỗ, định dựa vào thanh thế chấn nhiếp đối phương một phen. Nào có ngờ đâu Tạ Thiên Hoa lại chẳng để vào mắt. Thế là cả đám người của thư viện chẳng khác nào một bầy khỉ xiếc, hơn nữa bị một câu nói móc làm cho tiến thoái lưỡng nan.

Tạ Thiên Hoa nhìn lão một cái, rồi cười:

“Lâm Tế Tửu nói chí phải, tiểu nữ thụ giáo. Sau này nhất định sẽ chú ý cẩn thận, tuyệt không đạp lên tôn dung của tiền bối.”

Cô nàng tuy hiện tại đã không còn liên can gì tới Thanh Tước tộc, song trước đây cũng từng là thánh nữ, gia giáo rất nghiêm. Nếu là lúc bình thường, chắc chắn Tạ Thiên Hoa sẽ không nói những lời không chừa đường lui chẳng để thang xuống cho người khác như vậy.

Thế nhưng Thanh Tùng thư viện lại có thái độ đối địch với Bích Mặc tiên sinh, thành thử cô nàng cũng ăn nói chẳng nể nang gì nữa cả.

“Vậy lão phu... xin đa tạ... trước.”

Lâm Thanh Tùng nghiến răng, đầu cúi thấp, tay đưa ra làm thủ thế mời. Lúc này, y cảm thấy cực kỳ uất ức, song chẳng còn cách nào khác ngoài nén lại, dằn cơn giận trong lòng xuống. Cái cảm giác bất lực và khó chịu hệt như cái lúc gã thua cuộc, rơi xuống khỏi thần đàn, trở thành thần giữ cửa cầu tiêu, trò cười của Đại Việt.

Tạ Thiên Hoa cũng không nhìn lão thêm lấy một cái, thản nhiên bước vào trong thư viện, cố tình tỏ ra hống hách ngông nghênh chẳng thèm để ai vào mắt.

Lâm Thanh Tùng không chịu làm con dê đầu đàn ra hiệu, mấy tên phu tử còn lại cũng không dám động thủ. Cái chuyện Vương Tiểu Thạch đi theo hộ đạo cho ba người đệ tử của Nguyễn Đông Thanh ở Võ Bảng Hội hãy còn mới nguyên đó, bọn hắn tuy đã vào Vụ Hải, song tuyệt nhiên không cho rằng mình có thể là đối thủ của Vương Tiểu Thạch.

Mà hiện giờ, Tạ Thiên Hoa có thể nói là bước chân vào chốn hang hổ đầm rồng, ấy thế mà vẫn bình tĩnh như không. Càng là như vậy, bọn hắn càng không dám tùy tiện động thủ.

Trái với đám phu tử, cái cánh Nho sinh thì lại dùng những ánh mắt đầy phức tạp nhìn về phía Tạ Thiên Hoa. Có mấy phần nổi giận, biệt khuất vì bị đối phương đè đầu cưỡi cổ, song lại cũng có chút quái dị. Đám thiếu niên choai choai thì kinh diễm trước dung mạo của người từng là thánh nữ của một trong năm thánh tộc yêu tộc Huyền Hoàng giới, thậm chí vài đứa đáy mắt còn không che giấu nổi d*c v*ng. Mà thiếu nữ thì không giấu được cái nhìn ghen tị. Luận tư sắc, khí chất, Tạ Thiên Hoa cơ hồ đè cho bọn họ không ngóc đầu lên nổi. Thậm chí không ít người còn nghĩ, ngay cả hoa khôi các ban đứng bên cạnh nàng ta e rằng cũng phải làm phận lá xanh mà thôi.

Lại đi vào vài bước, thì đã thấy một nhóm Nho sinh tuổi cỡ mười tám hai mươi, trên diềm áo viện phục thay vì những đường chỉ màu xanh như Nho sinh bình thường thì bọn họ là một màu đỏ rực, tu vi cũng sàn sàn Tạ Thiên Hoa.

Những người này cúi đầu, nói:

“Tạ tiểu thư hôm nay đến chỉ giáo, thực là khiến cho thư viện bồng tất sinh huy. Xin tiểu thư đi theo chúng ta, Đỗ trưởng ban cho mời.”

Tạ Thiên Hoa “à” lên một tiếng, nói:

“Còn tưởng là viện trưởng sẽ ra mặt, không ngờ lại là một tên trưởng ban. Thư viện các người quả thực là ngoài trời có trời, trên người có người, núi cao còn có núi cao hơn.”

Cô nàng cố tình thả chậm tốc độ lúc nói câu thứ hai, không cần lớn tiếng gằn giọng mà vẫn tạo nên công dụng nhấn mạnh, có ý chỉ trích Nhạc ban tiếm quyền. Giống như cảm nhận được ánh mắt khác thường của các Nho sinh khác, những tên được Đỗ Trạng Nguyên phái ra đón tiếp ai nấy sắc mặt thoắt cái trở nên khó coi, ánh mắt nhìn Tạ Thiên Hoa cũng trở nên bất thiện.

“Tiểu thư, mời...”

Thế nhưng, tên dẫn đầu nhanh chóng dằn lửa giận xuống, thầm nghĩ chỉ cần cô nàng dám đến Nhạc ban của chúng thì không sợ không thu phục được.

Đến lúc đó, hắn hiển nhiên là kẻ đầu tiên đứng ra giết người tru tâm, dùng ngôn từ trào phúng vẻ thất bại thảm hại của Tạ Thiên Hoa một phen.

Cô nàng từ ánh mắt của tên này thấy được cá tính đớn hèn và âm mưu hiểm độc của gã, bình thản đáp:

“À. Không phản bác được thì thừa nhận luôn. Cũng tính là người thẳng thắn, thực là một tên chân tiểu nhân. So với ngụy quân tử thực là hơn được nửa bậc.”

Tạ Thiên Hoa nói xong, cũng không tiếp tục chọc tổ ong nữa, theo đối phương đi về phía một hành lang gỗ.

Đoàn người cứ tản bộ dưới bóng tùng, chẳng mấy chốc đã đến một kiến trúc ba tầng, xây theo lối chữ Chi, biển đề rõ ràng hai chữ “Thư Ban”. Nét bút như rồng ẩn mây, phượng đùa gió, vừa uyển chuyển vừa dứt khoát, không nói cũng có thể đoán được là xuất từ tay của đại hành gia.

Tên Nho sinh dẫn đầu lập tức giới thiệu, trên gương mặt lộ rõ vẻ đắc ý:

“Hai chữ trên biển chính là thủ bút của Đỗ trưởng ban, một ngày kia cao hứng, tiện tay thảo ra, để Tạ tiểu thư chê cười.”

Thực chất để viết ra được tấm bảng này, Đỗ Thám Hoa phải tắm rửa trai giới gần một tháng, tâm cảnh không minh, tài hoa quán đỉnh, bấy giờ mới có thể vung bút viết nên hai chữ thần sầu hòng kỷ niệm hai mươi năm ngày lão trở thành trưởng ban Thư Ban, Bây giờ tên Nho sinh sử dụng chiêu giả vờ khiêm tốn hòng khoe khoang, cốt cũng là để đánh vào sĩ khí của Tạ Thiên Hoa.

Gã nói xong, lập tức cả đám Nho sinh Thư ban đều âm thầm nín thở, chờ xem ánh mắt kinh ngạc e dè của cô nàng.

Tạ Thiên Hoa đương nhiên sẽ không để đám người này được như ý.

Cô nàng nhìn lên tấm bảng lần nữa, lại cười:

“Vậy sao? Nếu đúng như những gì các hạ nói thì thật là đáng tiếc.”

“Tiểu thư nói lời này là có ý gì?”

Tên Nho sinh dẫn đầu nhíu mày. Không kinh ngạc cũng chẳng khinh thị coi thường, phản ứng của Tạ Thiên Hoa hoàn toàn nằm ngoài dự tính của hắn, thành thử tạm thời gã cũng chẳng tài nào đoán được tiếp theo cô nàng sẽ làm gì. Chính vì thế, nên lúc này gã lại càng cảm thấy bất an hơn.

Nhân chi thường tình, xưa nay thứ mà con người ta sợ nhất vẫn luôn là những gì chưa biết.

Tạ Thiên Hoa nói:

“Bức thư pháp này vô luận là ý cảnh hay kỹ thuật đều không thể chê vào đâu được, song tiểu nữ cảm thấy ý cảnh có chút cố quá sức, giống với chim yến thổ huyết xây tổ. Nếu như trưởng ban tiền bối dồn hết tâm huyết, ngay trong lúc tên hết đà nỏ đứt dây mà đột phá thêm một bước thì là chuyện đáng mừng. Nhưng nghe các vị kể lại thì hóa ra lão nhân gia là ăn may mới viết được hai chữ thần tác này, hoàn toàn là trùng hợp. Loại bút pháp này chỉ sợ từ nay biến mất khỏi cõi đời, thử hỏi có đáng tiếc hay không?”

“Cái này...”

Cả đám không ngờ Tạ Thiên Hoa lại có thiên phú cao đến thế, cơ hồ chỉ nhìn qua một lần đã đoán được tình cảnh khi đó của Đỗ Thám Hoa. Nhất thời, bao nhiêu nam thanh nữ tú của Thanh Tùng thư viện mặt mày đều tái mét như tàu lá chuối. Vốn lúc hay tin người lên núi là Tạ Thiên Hoa, cả đám đều cho rằng cô nàng xuất thân là loài cầm điểu dã thú, không thạo đạo thánh hiền. Lần này chắc hẳn là có thể dễ dàng thắng trận.

Thế nhưng, thiên phú và nhãn lực Tạ Thiên Hoa thể hiện ra hôm nay cơ hồ vả vào mặt bọn họ bôm bốp. Bọn hắn tuy là Nho sinh của Thư ban, thường ngày tiếp xúc với tấm biển này, thế nhưng khi tự hỏi lòng mình thì người nào người nấy đều chua chát thừa nhận ngộ tính của mình không tài nào sánh bằng Tạ Thiên Hoa.

Mà cái tên dẫn đầu bây giờ thì đúng là há miệng mắc quai, ấp úng ngắc ngứ, không thể ngờ nổi chỉ định khoác lác một phen lại bị bẻ thành tự lấy đá đập vào chân mình. Quan trọng là Tạ Thiên Hoa cơ hồ nói ra vanh vách tình cảnh Đỗ Thám Hoa viết hai chữ này, khiến hắn muốn lươn lẹo chối bỏ cũng chẳng được.

“Tạ tiểu thư quả thực mắt sáng như đuốc.”

Bấy giờ, trong lầu có một lão già mặc áo nhà Nho bước ra, xem kỹ thì chẳng phải ai khác ngoài Đỗ Thám Hoa. Lão lườm tên Nho sinh dẫn đầu một cái, mắng:

“Miệng nói lời giả dối, tự thổi phồng bản thân, chẳng nhẽ đây là thứ lão phu dạy các người sao?”

“Học sinh biết sai rồi, cam nguyện chịu phạt!”

“Đi. Đi. Đi mau cho khuất mắt lão phu!”

Tạ Thiên Hoa nhìn hai thầy trò tên này kẻ tung người hứng, diễn một vở kịch lố bịch mười phần để hóa giải thế khó xử ban nãy thì trong lòng phì cười.

Đương nhiên, nếu hôm nay đã xác định đến đập quán thì cô nàng sẽ không để hai người này như nguyện.

Tạ Thiên Hoa canh chuẩn thời cơ, bổ luôn một đao:

“Vốn là muốn đến đây sử dụng tác phẩm của gia sư so tài một phen với quý viện, nhưng xét thấy đệ tử đắc ý của Đỗ trưởng ban có ngôn hành cử chỉ như thế, thiết nghĩ nơi đây vị tất đã có người xứng đấu thơ với gia sư. Thôi thôi. Đã đến tuy không thấy kẻ nào xứng cùng gia sư tranh phong, song cũng không thể tay không mà không có lễ, nay xin lấy hai câu của sư phụ tặng cho chư vị.”

Vừa nói, cô nàng vừa sử dụng Thanh Sắc thần quang phát Vô Tướng Chỉ Kiếm, khắc hai câu đối vào hai bên cánh cửa, ngay dưới cái biển đề chữ Thư Ban, rằng:

“Nhất Mạch Quán Thông, Vãng Giả Quá. Lai Giả Tục.

Tam Thần Cúng Bái. Ấu Tại Hậu. Trưởng Tại Tiền.” (1)

Đường nét lưu loát tựa nước chảy mây trôi, uyển chuyển có thần, so với hai chữ trên bảng cũng chẳng kém bao nhiêu.

(1: câu đối này vốn của Nguyễn Khuyến. Chỗ tinh túy của nó về sau sẽ có phân tích ngắn gọn.)

Số chương còn lại hôm nay: 5 chương chính truyện.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 185: Người Từ Hạ Giới


Chờ Tạ Thiên Hoa đi khuất, đám Nho sinh mới bắt đầu động thân, chúi mũi vào đọc đôi câu đối cô nàng vừa đề lên cửa. Mới nãy vì cô nàng ngông cuồng mà không ai chú ý đến, thế nhưng lúc này khi đọc hai câu đối lên, đều cảm thấy là lạ. Đôi câu đối chẳng những không trào phúng châm chích gì, trái lại dường như có ý khen ngợi bọn họ có truyền thống lâu đời, phụ từ tử hiếu?

Hành vi trước và sau biến đổi luân chuyển, cực kỳ khó hiểu.

Đỗ Thám Hoa sa sầm sắc mặt.

Vốn là kế hoạch của ba anh em lão là lấy điểm mạnh của mình đi đấu điểm yếu của đối phương. Tuy có hơi không đúng đạo nghĩa giang hồ, song để thành chuyện lớn thì ba anh em nhà lão chẳng quan tâm lắm.

Phải biết Huyền Hoàng giới, những lần đánh sơn môn kiểu này cũng có luật bất thành văn của nó. Trái với thách đấu thông thường như lần Văn Cung đòi văn đấu với Nguyễn Đông Thanh, một khi có người lên thách đấu sơn môn thì kẻ thách đấu mới là người được ra đề mục. Sở dĩ có cái quy định này trước là để tránh kẻ thách đấu bị xa luân chiến, sau cũng để đảm bảo lần luận đạo này có công dụng, tránh lãng phí thời của đôi bên. Bằng không kẻ khác đến sơn môn luận kiếm, nhà ngươi cho người ta đấu đao thương quyền chưởng thì chẳng khác nào bằng không.

Thành thử, hành động của ba anh em họ Đỗ ở Huyền Hoàng giới mà nói có đôi phần vô liêm sỉ.

Vốn ba lão già tính là chỉ cần không chịu đấu thư, nhất quyết so tài thư pháp, Tạ Thiên Hoa tuy có thể đè đầu cưỡi cổ đại đa số phu tử ở đây, song so với mấy lão trưởng ban thì còn kém chút hỏa hầu.

Nào ngờ, cô nàng lại xuất thủ chẳng theo lẽ thường, không cho lão kịp trở tay. Đến lúc này muốn ngăn cản thì đã chậm, Tạ Thiên Hoa lưu loát để lại một đôi câu đối rồi nhanh chóng bỏ đi. Lão hiện tại tính là trưởng bối, có muốn dùng lời lẽ lươn lẹo để kéo thấp bối phận xuống nói chuyện ngang hàng với Tạ Thiên Hoa cũng cần phải có một cơ hội mới được. Đáng tiếc, cô nàng không cho lão bất cứ một thời cơ nào đã nói chen vào một câu.

Đến giờ ngay cả lão cũng cảm thấy quái lạ.

Đỗ Thám Hoa đọc đi đọc lại đôi câu đối, thế nhưng cũng như các Nho sinh phu tử khác, ngay cả lão cũng không phát hiện được điểm gì khác thường. Cặp câu đối được khắc vào cửa hoàn toàn giống như một cặp câu đối ngợi khen bình thường người ta phải tốn tiền thuê bọn hắn đến viết trong từ đường, chính sảnh.

Thế nhưng, lấy tính cách của Tạ Thiên Hoa mà nói, hành động này chẳng phải có chút sấm to mưa nhỏ hay sao?

Chẳng biết là ai bắt đầu, trong đám Nho sinh dần dần có tiếng rì rầm, nói Tạ Thiên Hoa đến đây chứng kiến tấm biển do Đỗ Thám Hoa đề, tự thẹn không bằng nên mới chịu lui một bước, tặng đôi câu đối lấy lòng bọn chúng cầu xin thư viện giơ cao đánh khẽ.

Đám phu tử khác nghe thế, cũng gật gù cho là phải.

Những chuyện này Đỗ Thám Hoa đều nhìn thấy hết. Lão lắc đầu, thầm nghĩ mấy năm này đám Nho sinh phu tử này ngồi chỗ cao được người ta bợ đỡ đã quen, tưởng rằng mình nắm đầu thiên hạ đến nơi, càng lúc càng ngông cuồng ngu xuẩn.

Đôi câu đối đúng là thua lão nửa bậc, song hai chữ trên biển hiệu cũng đâu phải lão muốn là viết ra được, hoàn toàn là tác phẩm phải súc thế từ lâu, hơn nữa giữa chừng có linh cảm, xuất thần mới viết ra được. Nếu như hai bên so đấu thư pháp thì kết quả khả dĩ nhất là ngang tay.

Hơn nữa, sư phụ của đối phương đến Văn Cung cũng dám đánh, đệ tử há lại cần phải lấy lòng một cái Thanh Tùng thư viện?

Đỗ Thám Hoa lắc đầu, nói:

“Một lát nữa các người gọi viện trưởng và các vị trưởng ban ra đây, chúng ta cùng luận một hai.”

oOo

Tạ Thiên Hoa rời khởi Thư Ban, theo đường cũ định đến một ban khác trong thư viện chơi một chuyến thì đã thấy trong đình ngắm cảnh ven đường đã có mấy người Nho sinh ngồi, xem ra đã chờ cô nàng ở đây từ lâu. Trên bàn để sẵn các loại nhạc khí như cổ cầm, sáo ngọc, ..v..v... hẳn nhiên đối phương có chuẩn bị mà đến.

Ngồi chính giữa đám đông, tựa như hạc giữa bầy gà là một thiếu nữ có mái tóc màu lam lạnh, vận một thân váy trắng phau như tuyết, đôi tròng mắt ánh kim sáng lên tựa như hai hòn bi đúc bằng vàng ròng.

“Tạ tiểu thư, đi sớm thế? Nhạc ban chúng ta còn chờ thọ giáo tiểu thư đây.”

Tạ Thiên Hoa nheo mày, phát hiện thiếu nữ tóc lam khí tức nhộn nhạo, căn cơ lại thâm hậu dị thường. Cảm giác giống như năng lượng tích chứa trong đan điền của nàng ta mới có chưa đến một nửa chuyển hóa thành hạo nhiên chính khí của Nho môn.

Ấy thế nhưng, ngay cả như thế, thì tu vi của thiếu nữ này đã đạp vào ngũ cảnh.

Loại hiện tượng này tuy không xuất hiện ở yêu tộc bao giờ, nhưng thân là thánh nữ Thanh Tước tộc, Tạ Thiên Hoa được tiếp xúc với những thông tin phần lớn người cùng trang lứa có nằm mơ cũng không ngờ tới. Cô nàng từng được đọc trong sách cổ một đoạn ngắn ghi chép về tác dụng của việc con người trở thành thiên đạo chi linh lên Ngũ Lộ Triều Thiên.

Trong đó, có đề cập đến chuyện sở dĩ gọi năm đạo Nho, Đạo, Phật, Vu, Võ là Ngũ Lộ Triều Thiên là bởi sau Phản Thiên Chi Chiến, năm nhà này có quyền tạo ra hạ giới phụ thuộc vào đại đạo của mình.

“Thiên tài từ hạ giới phi thăng?”

“A? Không ngờ tiểu thư cũng biết đến đám người phi thăng thấp kém chúng ta, hạnh ngộ, hạnh ngộ.”

Thiếu nữ tóc lam cười ngọt ngào, thế nhưng ngoài miệng thì khách khí, đôi mắt nàng ta lại không hề che giấu vẻ ngông nghênh.

Nàng ta đưa bàn tay như ngó sen khảy lên dây đàn một cái, đoạn nói;

“Nếu tiểu thư không chê tiểu nữ xuất thân thấp kém, không biết thiên tài thượng giới như ngài có thể chỉ điểm một hai hay không?”

Tạ Thiên Hoa cười, nói:

“Không biết tôn tính đại danh của cô nương? Tiểu nữ thấy phàm là kẻ có thể độ kiếp phi thăng có ai mà không phải kinh tài tuyệt diễm? Trời sinh có tài ắt có đất dụng võ, hoa quý để đâu cũng có thể ngát hương. Cô nương hà tất tự hạ thấp bản thân như thế?”

“Hoa quý trồng đất cằn có thể sống đã là tốt, nói gì đến tỏa hương? Tiểu thư sinh ở nơi màu mơ phì nhiêu, sao hiểu được cảm nhận của kẻ lớn lên ở chốn sỏi đá cát bùn?”

“Thụ giáo. Là ta tự cho là đúng.”

Tạ Thiên Hoa ngồi xuống, đối diện với thiếu nữ tóc lam, đoạn lại hỏi:

“Tiểu thư còn chưa cho biết danh tính.”

“Tiểu nữ họ Phùng.”

Cô gái mắt vàng gật đầu một cái. Tạ Thiên Hoa thấy nàng có cùng họ với Phùng Thanh La, hơn nữa cũng không ôm bao nhiêu địch ý với mình, thành thử hảo cảm với nàng ta cũng tăng, lời lẽ cũng bớt bảy phần bén nhọn, khác hẳn với thái độ khi đối đãi với Nho sinh phu tử khác của thư viện Thanh Tùng.

Đám Nho sinh đứng chung quanh trợ trận lúc này thấy hai người Phùng, Tạ ngồi nói chuyện chẳng khác nào bạn bè thân thiết thì không khỏi nóng mắt, bèn quát:

“Phùng Chỉ Hiên, nhà ngươi đừng có mà ăn cây táo rào cây sung! Mau chóng ra tay!”

“Lần này Chỉ Hiên có việc tại thân, không thể tiếp tục hàn huyên với tiểu thư, thật là chuyện đáng tiếc ở đời.”

“Không sao.”

Tạ Thiên Hoa nheo mắt lườm đám Nho sinh đang đứng sau lưng nàng ta một cái, đoạn nói:

“Không biết Phùng cô nương định so đấu thế nào?”

“Nhạc đạo, lấy âm làm đao, thanh làm kiếm, vần làm thuẫn bài, điệu làm chiến giáp, công thủ tiến lui đều trong một niệm. Nếu đã là so tài, chẳng bằng lấy âm công ra đấu. Tạ tiểu thư nếu cảm thấy đây không phải thế mạnh của mình thì có thể từ chối, dù sao nhân vô thập toàn. Hơn nữa lần này tiểu thư lên công sơn, về lý mà nói thì đáng nhẽ đề mục phải do tiểu thư đến chọn mới phải.”

Phùng Chỉ Hiên nói.

Đằng sau, đám Nho sinh lập tức quát to:

“Không được! Phùng sư muội lần này là thách đấu cá nhân, không liên quan đến công sơn! Thế nên lần này so đấu âm công là không vấn đề gì cả! Chỉ Hiên, các vị sư huynh sư tỷ biết sư muội rụt rè thương người, xong chuyện này can hệ đến thanh danh của thư viện, phải biết lấy đại cục làm trọng.”

Tạ Thiên Hoa cười lạnh:

“Cưỡng từ đoạt lý, cả vú lấp miệng em, ta thấy cả thư viện này cũng chỉ có mình Chỉ Hiên ra dáng người đọc sách thánh hiền. Thế nhưng các người đã một năm một mười muốn ép ta phải đấu, vậy thì ta sợ gì mà không phụng bồi đến cùng?”

Đám Nho sinh bị chửi cho một phen, không phản bác gì được, chỉ có thể hừ lạnh một tiếng, xem như mắt điếc tai ngơ.

Phùng Chỉ Hiên nói:

“Tạ tiểu thư quả thực là người cân quắc anh thư, hào sảng hơn cả đấng mày râu. Chỉ Hiên tự thẹn không bằng. Cầm này tên Ẩn Kiếm, làm từ gỗ đóng giường, đã theo tiểu nữ tung hoành cả đời, một đường từ hạ giới lên tận đây. Hôm nay xin được dùng nó để lãnh giáo thiên âm tuyệt kỹ của Tạ tiểu thư.”

“Không dám nhận là thiên âm tuyệt kỹ, thế nhưng có mấy phần đặc biệt, có thể tự thành một phái.”

Tạ Thiên Hoa nói.

Đối phương đã thông cáo mình sử dụng cầm gì, cũng tương đương với báo môn phái, cô nàng quý trọng cách làm người của Phùng Chỉ Hiên, thế là cũng chủ động tiết lộ một hai.

Nào ngờ, một câu này của Tạ Thiên Hoa lập tức dấy lên sự chê cười châm chọc của đám Nho sinh:

“Cười chết ta. Nho môn vạn năm nay không ngừng có tiền bối tiên hiền xuất thế, Nhạc đạo phồn vinh, thế mà giờ lại có người dám tự xưng tự thành một phái?”

“Sẽ không phải kỹ thuật quá nát, các gia các phái không ai thèm nhận nên mới tự thành một phái đấy chứ?”

“Kể cũng tốt. Lọt sàng xuống nia, bùn tích chỗ trũng.”

...

Phùng Chỉ Hiên thấy đám Nho sinh này ngu xuẩn vô tri đến thế thì không khỏi lắc đầu.

Cái những tên này thiếu chẳng gì ngoài ngón đòn của xã hội.

Tạ Thiên Hoa nghe thế, cười nhạt:

“Yên tâm. Lát nữa sẽ không để các người thất vọng.”

Số chương còn lại hôm nay: 4 chương chính truyện.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 186: Nhạc Ban Khủng Hoảng


Nói xong câu này, Tạ Thiên Hoa cũng không khỏi thầm than ông sư phụ nhà mình xắp đặt mọi thứ quả thực quá chu toàn.

Chẳng là sau khi nhận lời Long Thanh Y, Nguyễn Đông Thanh bèn kéo Tạ Thiên Hoa đến, nói cái gì mà thử nghiệm sự khác biệt về âm vực giữa các loài khác nhau.

Sau đó, y sử dụng cái bảo vật Lâm Phương Dung tặng, dùng “đại thần thông” cho cô nàng xem một bài hát, để cô nàng thử xem có thể học được không. Hôm đó, Tạ Thiên Hoa ngỡ ngàng chết lặng, kinh động giống như thấy người trời, không thể tưởng tượng nổi con người có thể tạo nên thứ âm thanh như thế, càng chẳng nói chi là phàm nhân.

Vốn dĩ, Tạ Thiên Hoa còn lấy làm lạ không hiểu vì sao sư phụ lại dở hơi dạy cho cô nàng hát.

Hôm nay đến đại náo Thanh Tùng thư viện mới “thình lình hiểu ra”, chỉ biết tấm tắc ông sư phụ nhà mình “sắp xếp không một kẽ hở”.

Phùng Chỉ Hiên nhẹ nhàng đưa tay lên dây đàn, cũng không nhiều lời nữa. Ngón tay thon thả nhẹ nhàng lướt đến đâu, cung thương réo rắt, tiếng đàn thánh thót cất lên đến đó. Cầm âm uốn lượn, theo hạo nhiên chính khí sục sôi mà vút cao, hóa thành một cây mận trơ trọi không lá không hoa, thân cành đọng đầy những tuyết. Theo đó, không khí chung quanh cũng bắt đầu lạnh xuống, từng âm từng tiếng chẳng khác nào một trận tuyết rơi từ chín tầng trời, hàn khí hư hư thực thực như chực chờ nhập vào cốt tủy, khiến người ta khó bề phòng bị.

Tạ Thiên Hoa cười, nói:

“Một khúc Đông Phong Tuyết này không tệ.”

“Xem ra tiên tử đã nhìn ra được điểm mấu chốt của khúc này?”

Phùng Chỉ Hiên không ngẩng đầu lên, hai tay cũng không rời dây đàn, chỉ nhẹ nhàng hầu chuyện Tạ Thiên Hoa. Giọng nàng ta nói không lớn, tuyệt không đè ép vào tiếng đàn, trái lại hai bên phối hợp với nhau lại càng khiến cầm âm càng cao thâm thêm một bậc.

Tạ Thiên Hoa đáp:

“Đông Phong Tuyết, Lão Lý Phùng Xuân. Người đời chỉ biết khúc này Tuyệt Tình Cầm Ma tả gió đông gào thét, tuyết trắng đầy trời, lại không biết đấy chỉ là bề nổi. Cái chỗ tinh diệu của khúc nhạc này là trong chỗ tuyệt địa tưởng chừng hữu tử vô sinh lại giấu một đường sinh cơ, chỉ cần chờ đến ngày xuân hoa nở, cây mận ắt sẽ lần nữa trổ hoa. Phùng tiểu thư, ta nói không sai chứ?”

“Tạ tiểu thư nhãn lực hơn người, đọc nhiều hiểu rộng, bái phục.”

“Như nhau. Nếu như Phùng tiểu thư không ngộ được tinh túy của khúc Đông Phong Tuyết này, há lại có một đường sinh cơ để tiểu nữ mượn?”

Tạ Thiên Hoa cười.

Người viết khúc Đông Phong Tuyết có tên là Vũ Thiên Hà, người đời gọi là Tuyệt Tình Cầm Ma. Tương truyền nàng ta vốn có một người trúc mã thanh mai, vốn nên là một cặp kim đồng ngọc nữ. Đáng tiếc kẻ kia lòng lang dạ sói, gây nên thảm án diệt môn cho họ Vũ. Vũ Thiên Hà trong một đêm tóc trắng đầy đầu, hạo nhiên chính khí nhuốm máu, một khúc Đông Phong Tuyết giảo sát gia tộc kẻ bội bạc, là chuyện diệt môn cực kỳ hiếm khi xảy ra ở Huyền Hoàng giới.

Sau đó Tuyệt Tình Cầm Ma đến Tuyết Trai thư viện tự giam mình mười năm, khúc Đông Phong Tuyết theo đó truyền khắp Nho đạo, trở thành một khúc đàn chủ sát phạt rất không dễ gặp được của Nhạc đạo. Chính vì uy lực mạnh, cơ hồ phàm là Nho sinh học Nhạc đều sẽ luyện qua phòng thân.

“Chỉ tiếc là người thiên hạ đến vì sát phạt, lại bỏ quên phần dịu dàng chân ái cuối cùng của Cầm Ma giấu trong nhạc khúc. Nếu Vũ Thiên Hà thực sự là ma đầu tuyệt tình tuyệt nghĩa, cớ gì lại tự giam mình mười năm? Chân tình nói đứt là đứt, nói buông là buông, nếu dễ dàng như vậy thì trên đời đã toàn là sư cọ.”

Tạ Thiên Hoa nói đến đây, thì cây mận sau lưng đối thủ cũng đã bắt đầu đâm chồi, dị tượng gió tuyết đầy trời cũng không mảy may đả thương được cô nàng nữa.

Phùng Chỉ Hiên vỗ đàn, tán đi dị tượng, lại tới một khúc nhạc khác.

Lần này tiếng đàn réo rắt dồn dập, sau lưng cô nàng hiển hiện một cái trống trận, hai lá cờ gãy vắt chéo nhau. Cầm âm chập chùng, tiếng đàn giống như hóa thành vạn cây cung chĩa về phía Tạ Thiên Hoa, ngàn mũi thương sắc lẻm hầm hập sấn tới.

“Hay! Hay cho một khúc Quân Hành!”

Tạ Thiên Hoa vỗ tay, nói:

“Khúc này chắc hẳn là Quân Hành do Ngọc Trai tiên sinh sở tác, lấy hai âm Cung, Thương làm chủ, tiếng đàn giống như tiếng của vạn mũi tên bay, ngàn ngọn giáo giao chiến ngoài sa trường. Đáng tiếc là còn thiếu một chút thần vận mới có thể đến mức tuyệt tác.”

“Xin tiểu thư chỉ giáo.”

Phùng Chỉ Hiên cũng không ngờ Tạ Thiên Hoa lại có kiến thức quảng bác như thế. Lúc này lập tức làm lễ hậu bối, xin được chỉ giáo. Có thể thấy lòng cầu học của nàng ta rất thuần khiết, so với những kẻ khác trong thư viện thực là khác biệt như trời với vực.

Tạ Thiên Hoa cười, nói:

“Khúc này là chiến ca Ngọc Trai tiên sinh làm cho thái tổ Lê Đồ Thành lên đường ra trận, tru sát khủng long, thế nhưng vì sao lại có một chút oán hận?”

“Lẽ nào...”

“Không sai. Ngọc Trai tiên sinh cả đời vì nước, hai lần ẩn cư ba lần công danh, cuối cùng lại hàm oan mà chết. Nếu nói không có chút oán hận nào thì đã chẳng phải người, mà là thánh nhân. Thế nhưng loại oán hận này là về sau mới xuất hiện, không thuộc về khúc Quân Hành ban đầu, thế nên nếu không trừ bỏ nó, ắt có tì vết.”

Phùng Chỉ Hiên bắt đầu làm theo lời Tạ Thiên Hoa, cẩn thận phẩm vị tiếng đàn, quả nhiên có một nỗi ai oán rất mảnh phảng phất trong từng cung bậc. Chỉ thấy hạo nhiên chính khí quanh người nàng ta chấn động một cái, không ngừng gột rửa khúc cầm, chẳng mấy chốc đã thấy tiếng đàn thăng hoa thêm một bậc, cung thương giấu bên trong cầm âm càng thêm sắc bén.

Tạ Thiên Hoa nhìn đám Nho sinh đứng lố nhố chung quanh, biết bọn hắn chuẩn bị nói gì, mới lên tiếng:

“Tiểu nữ kính Phùng tiểu thư là người chính trực, nay đã nhường hai khúc, nay xin được góp giọng một phen, bằng không lại có kẻ đàm tiếu ta đây thùng rỗng kêu to!”

“M... mời tiểu thư.”

Phùng Chỉ Hiên cũng biết đám đồng học của mình làm người ra sao, thành thử trước sự chỉ trích của Tạ Thiên Hoa, cô nàng cũng không biết nói sao cả. Thế nhưng lúc âm thầm tự nhủ, thì cảm thấy quả thực với cái tính nết của những tên này ắt hẳn sẽ nói những câu cưỡng từ đoạt lý thật.

Nàng ta sau khi phi thăng, bái nhập Thanh Tùng thư viện cầu học, đối với những hành vi lấn yếu sợ mạnh của đồng môn đều nhìn rõ mồn một trong mắt.

Tạ Thiên Hoa gật đầu, sau đó cất tiếng hát.

Âm thanh mới đầu dìu dắt, nhẹ nhàng, mang theo một nỗi buồn man mác, thế nhưng kỹ thuật cũng chỉ bình bình, không quá đặc sắc. Tạ Thiên Hoa vừa ra quân, khí thế đã yếu hơn Đông Phong Tuyết và Khúc Quân Hành của Phùng Chỉ Hiên không chỉ một bậc, nhất thời khiến đám Nho sinh như chó ăn xuân dược, thằng nào thằng nấy đều tí tởn cười toét cả miệng.

Thế nhưng, chưa đợi bọn chúng lên tiếng giễu cợt, cô nàng đã cất giọng bắt đầu ngân lên. Tiếng ngân dài, khỏe, ổn định, trầm bổng. Không cần lời, cung chẳng cần đạo cụ, một tiếng hát này của Tạ Thiên Hoa giống như thắng qua hết thảy đàn cầm sáo trống.

Trên đời quả thực chưa từng có từ, khúc nào như thế, nói là tự thành một phái cũng không quá.

Tiếng hát vừa cất lên, dị tượng sau lưng Phùng Chỉ Hiên đã chao đảo, đám Nho sinh bên cạnh cũng nhao nhao ôm đầu. Bọn hắn vốn chủ tu Nhạc đạo, đối với ý cảnh của khúc hát cực kỳ mẫn cảm, so với người thường càng dễ nhập hồn vào lời ca tiếng đàn. Bây giờ bị ý cảnh của khúc hát ảnh hưởng, cả đám chỉ thấy một cô đơn khủng khiếp tràn vào thức hải, gió thu rít gào, bão tố cuồn cuộn, còn bọn chúng nhỏ bé trơ trọi trong một nỗi buồn đau chồng chất từ hết năm này qua tháng khác.

Lệ đổ, tiếng khóc rống lên của đám Nho sinh vang vọng cả quả núi.

Phùng Chỉ Hiên cũng bị ảnh hưởng, thế nhưng cô nàng là người từ hạ giới phi thăng, tâm cảnh vững chắc hơn những Nho sinh chưa trải việc đời này, song cũng cảm thấy trái tim thắt lại như bị bóp nghẹt.

Bấy giờ, trong lầu các của Nhạc Ban, không thiếu phu tử cũng đã nghe được tiếng hát. Cả đám chỉ thấy Nhạc đạo mình khổ tu nhiều năm hơi nhảy lên một cái, ruột như đứt ra từng khúc một, co quắp trên mặt đất, nhưng nỗi đớn đau của thân thể lại không cách nào so sánh được với sự tra tấn tới từ thần hồn, cảm xúc.

Đỗ Trạng Nguyên chính đang nghĩ xem nên phát biểu gì khi nhậm chức viện trưởng, lúc này cũng phun ra một búng máu. Lão vội vàng sử dụng thần thông phong bế thức hải, ngăn cách ý cảnh lạ lùng xâm lấn. Lão bay vút lên không, đảo mắt, quát:

“Không biết là vị bằng hữu nào? Nhạc ban ta có gì đắc tội, hà cớ ra tay độc ác như vậy?”

Ánh mắt lão quét nhanh bốn phía, chẳng khác nào một cặp mắt ưng. Chẳng mấy chốc, Đỗ Trạng Nguyên đã phát hiện được người cất giọng hát khúc “ma âm” lúc nãy:

Đình nghỉ mát gần chỗ Thư Ban.

“Lẽ nào... đây cũng là thủ bút của tên Bích Mặc tiên sinh kia?”

Lão còn nhớ mình phái một nhóm Nho sinh, dẫn đầu chính là con bé Phùng Chỉ Hiên vừa mới phi thăng lên Huyền Hoàng giới cách đây vài tháng, trong lòng không khỏi giật mình một cái, thầm kêu không ổn.

Phùng Chỉ Hiên vội vàng lấy hết sức bình sinh, nói:

“Tiểu... tiểu thư... xin dừng lại. Chỉ Hiên chịu thua.”

Tạ Thiên Hoa cũng không ngờ được bài hát ông sư phụ bắt tập lại có uy lực khủng khiếp với tu sĩ Nhạc đạo như thế. Cô nàng bèn chặc lưỡi một cái, không hát nữa, lúc này cả đám Nho sinh đang nằm quằn quại dưới đất mới có thể th* d*c.

“Quả nhiên là sư phụ. Làm người khiêm tốn, nhưng lúc ra tay thì tàn nhẫn có thua ai đâu?”

Cô nàng lắc đầu, song cũng chẳng có bao nhiêu thông cảm với đám Nho sinh này cả.

Cái đám người này khi nam bá nữ nhiều, cũng nên bị dạy dỗ nhớ đời một phen, sau này chúng thu liễm lại chút nào thì dân thành Đông Thanh được nhờ chút ấy.

Số chương còn lại hôm nay: 3 chương chính truyện.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 187: Vi Tát Đại Sư


Tạ Thiên Hoa cười, nói:

“Đã nhường.”

“Dám hỏi... khúc hát ban nãy của tiểu thư là sở tác của ai? Tên gọi là gì? Tiểu nữ nghe mà như thấy chân trời khác, không ngờ lại có cao nhân nghĩ ra cách hát như vậy, quả thực tiếng ngân như tiếng trời, so với tiếng sáo tiếng đàn thậm chí cũng có một phong vị khác. Chuyện này... cái này...”

Phùng Chỉ Hiên nói liến thoắng, vẻ mặt càng lúc càng kích động, đến cuối cùng giống như cảm xúc dồn ứ quá, không còn biết dùng lời để diễn tả ra sao nữa mới bắt đầu ngập ngừng ngắc ngứ.

Tạ Thiên Hoa cười.

Điều cô nàng thưởng thức nhất ở Phùng Chỉ Hiên cũng chính là tấm lòng cầu học thuần túy này.

“Bài hát này có cái tên khá là lạ tai: Ô-pê-ra hai. Người hát là Vi Tát đại sư.”

Ngừng một chốc, cô nàng mới nói tiếp:

“Kỳ thực lần này tiểu nữ cũng chiếm lợi mới hát được khúc ca này. Tinh túy của nó là ở chỗ người phàm không có chút hạo nhiên chính khí nào cũng có thể biểu diễn, mà Vi Tát đại sư cũng chính là một phàm nhân thực sự. Gia sư nói người thường muốn hát được như Vi Tát đại sư cần phải khổ luyện từ bé, có năng khiếu thì may ra mới được.”

Tạ Thiên Hoa vốn có bản thể là Thanh Tước hóa hình, bình thường giọng chim hót thường có âm vực rộng hơn người. Hai yếu tố này kết hợp, thành thử cô nàng mới có thể nhanh chóng nắm được kỹ thuật hát Ô-pê-ra mà nhiều người phải dành cả đời ra để học tập.

Đơn cử như Bích Mặc tiên sinh của chúng ta. Nếu bảo hắn hát được như cái anh Vi Tát đại sư kia thì không biết phải đến năm nào tháng nào, khiến bao nhiêu sinh linh lầm than khốn khổ sống không bằng chết mới có thể làm được.

“Vi Tát đại sư? Ô-pê-ra hai? Quả thực là những cái tên kỳ quái. Nhưng đạt giả vi tôn, tiểu nữ ghi nhớ rồi.”

Phùng Chỉ Hiên gật đầu.

Tạ Thiên Hoa nhìn đám Nho sinh bấy giờ vẫn chưa hoàn toàn hồi phục, hỏi:

“Thế nào? Thế đã xứng tự thành một phái chưa? Tâm phục khẩu phục chưa?”

Cô nàng khách khí với Phùng Chỉ Hiên, thế nhưng không có nghĩa là sẽ cho đám Nho sinh này chút mặt mũi nào cả.

Mấy tên Nho sinh bị nói móc, song nhớ lại cái ý cảnh khủng khiếp ban nãy phải nếm trải thì mặt tên nào tên nấy đều tái mét như vừa từ hầm băng chui ra, cả người theo bản năng run lên một cái, nào còn dám có nửa lời nói thừa?

“Ha ha. Xem ra quả thực là nhân ngoại hữu nhân, thiên ngoại hữu thiên. Lần này Nhạc Ban thua tâm phục khẩu phục.”

Nghe tiếng nói này, Phùng Chỉ Hiên lập tức đứng lên, thi lễ:

“Trưởng ban. Lần này Chỉ Hiên đã tận lực.”

“Không trách ngươi.”

Đỗ Trạng Nguyên phất tay, nói.

Tạ Thiên Hoa thấy cử chỉ ngôn hành của lão nhìn như yêu tài hết mực, nhưng cách xưng hô ta – ngươi rõ ràng lạnh nhạt hơn Kiếm Trì rất nhiều. Lâm Phương Dung một câu con, hai câu ta, ngay cả đối với đệ tử vừa nhập môn, tuy là Kiếm Tổ nhưng hoàn toàn không có vẻ gì hách dịch.

Trái lại, cách Đỗ Trạng Nguyên xưng hô nào giống như thầy dạy? Cái cách hất hàm ra lệnh kia thực chẳng khác nào bề trên ra lệnh cho cấp dưới cả.

Tạ Thiên Hoa cười khẩy, nói:

“Không biết trưởng ban lần này tự mình xuất hiện là muốn làm gì? Chẳng nhẽ ngài định bất chấp thân phận ra tay với một hậu bối hay sao?”

“Tạ cô nương quá lời. Không biết có tiện cùng lão phu uống chén trà hay không?”

“Trà thì miễn đi. Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu, thoại bất đầu cơ bán cú đa. Chắc hẳn trưởng ban cũng hiểu đạo lý này.”

Tạ Thiên Hoa nhìn thấy vẻ tham lam hấp háy nơi đáy mắt của lão, tuy là che giấu rất kỹ, song đứng trước dụ hoặc quá lớn của Ô-pê-ra hai thì vẫn lộ sơ hở.

Không nói cũng biết, cuộc trà này Đỗ Trạng Nguyên mời cô nàng là có mục đích gì.

Quả nhiên, Đỗ trưởng ban không được như ý thì lập tức sa sầm sắc mặt, nói:

“Tạ cô nương chẳng nhẽ không có ý định nghĩ lại sao?”

“Ồ. Chẳng nhẽ Đỗ trưởng ban cảm thấy vừa mắt nhạc khúc nên muốn ép tiểu nữ ở lại để làm cái hành động khuất mày khuất mặt của đám thổ phỉ?”

Tạ Thiên Hoa cười lạnh, cao giọng chất vấn.

Đỗ Trạng Nguyên thấy cô nàng không nể mặt, ánh mắt thoáng lộ vẻ bất thiện.

“Không dám. Chẳng qua lão phu thấy tiểu thư chẳng mấy chốc sẽ rời khỏi đây, mà lão phu thì xem như là dân bản địa. Có một số người lão phu nhất định chiếu cố quan tâm thật tốt, có thế mới xứng với ân huệ lần này của Tạ tiểu thư.”

Tạ Thiên Hoa không ngờ thằng cha này lại vô liêm sỉ đến thế, trực tiếp lấy tính mạng của Nghiêm lão ra để uy h**p mình. Cô nàng nheo mắt, nói:

“Đỗ trưởng ban làm việc lưu loát, ắt hẳn ngày thường cũng hay làm cái chuyện này lắm.”

“Quá khen, quá khen. Lão phu người nhiều tật xấu, nhưng được cái có ơn thì báo ơn, rất hay làm việc thiện, nhất là quan tâm đến người quen của ân nhân.”

Đỗ Trạng Nguyên cười ha hả, giống như không hề nghe ra câu châm chọc của Tạ Thiên Hoa.

Cô nàng gật đầu, nói:

“Thế thì tiểu nữ cũng nên cảm ơn trưởng ban một câu. Ta thấy ngài già cả rồi, hiếm khi thanh nhàn, chi bằng tiểu nữ giúp ngài một phen hủy luôn cái Nhạc ban này đi, để ngài về hưởng phước? Hoặc giả ngài nhớ thân bằng cố hữu dưới chín suối muốn sớm đi gặp người ta thì tiểu nữ cũng có thể tiễn một đoạn.”

“Ngươi...”

“Trưởng ban không cần khách khí, tiểu nữ và ngài cũng là một loại người thôi, rất thích giúp người khác. Ân đền oán trả, tiểu nữ không ngại đến tổ từ họ Đỗ các ngài cảm ơn một phen. Thậm chí lần sau có thể dẫn gia sư, gia thúc đến cùng cũng chưa biết chừng.”

Tạ Thiên Hoa cười lạnh.

Cô nàng đương nhiên không sợ cái gọi là uy h**p của Đỗ Trạng Nguyên, thậm chí còn đe dọa ngược lại một phen.

Chuyện Bích Mặc tiên sinh thường tự xưng là phàm nhân hiện giờ các thế lực lớn trên Huyền Hoàng giới cơ hồ không nhà nào không biết. Hơn nữa, khác với Nho môn phu tử muôn ngàn vạn, Đại Nho bốc bừa cũng có thể được một nắm, Bích Mặc tiên sinh tính đến giờ chỉ có bốn người đệ tử.

Nho môn sẽ không vì một tên Đại Nho nửa mùa như lão chọc vào Bích Mặc tiên sinh.

Thế nhưng, Nguyễn Đông Thanh lại chưa chắc đã không dám đến hỏi tội Thanh Tùng thư viện vì nhị đệ tử của hắn,

Đỗ Trạng Nguyên nghiến răng...

Tạ Thiên Hoa có thể không sợ đe dọa của hắn, nhưng hắn lại hãi. Đến cái tuổi của lão, tranh đấu nửa đời người mới có địa vị hôm nay, thứ sợ nhất đương nhiên là mất đi tất cả. Thường nói kẻ sống càng lâu càng sợ chết âu cũng có cái lý của nó.

Cô nàng thấy thế, bĩu môi một cái, nói:

“Nếu trưởng ban đã không muốn làm người tốt nữa thì còn không nhường đường cho bản cô nương xuống núi? Đứng đây làm cây cho chó nó đái à?”

Tạ Thiên Hoa khinh thường lão già dạy ra một đám học sinh sao y bản chính lấn yếu sợ mạnh này, nên hiện giờ đến cả ngôn ngữ chợ búa cũng đã dùng ra rồi.

Trong cặp mắt Đỗ Trạng Nguyên là vẻ đấu tranh nồng đậm, song cuối cùng cũng chẳng thể làm cách nào khác ngoài đứng sang một bên.

Tạ Thiên Hoa bình thản theo đường núi đi xuống, hai bên đường Nho sinh phu tử đều đứng nép sang một bên, không ai dám ngăn cản. Cô nàng đi đến cổng thư viện thì bỗng ngừng lại, ngoái đầu lên, hỏi to:

“Hôm nay đã đến Thư, Nhạc hai ban rồi? Nếu ngày mai ai muốn đến chỉ giáo thì tiểu nữ vẫn ở quán trọ cũ đó, không phải tìm đâu xa mà cũng chẳng cần phải hà h**p ép uổng gì ai cho mệt! Tiểu nữ lúc nào cũng sẵn sàng phụng bồi!”

Nói xong thì cười ha hả, ngâm nga đọc:

“Thuyền vĩ đăng lung tứ xích can,

Thuyền đầu hoạ hổ hắc ban ban.

Bố kỳ thượng tả ‘Tuần hà’ tự,

Chỉ cật hoa thuyền bất cật gian.”

(Đuôi thuyền có đèn lồng cán dài bốn thước,

Mũi thuyền có hình vẽ hổ vằn lông đen.

Cờ trưng cao đề hai chữ “Tuần hà”

Tuần viên chỉ chặn hỏi thuyền hoa, còn thuyền gian thì mặc kệ.)

Người khác thì không hiểu vì sao cô nàng lại ngâm thơ này, song mấy tên hôm nay xuống thành Đông Thanh bắt chẹt ông lão kể chuyện thì hiểu ngay Tạ Thiên Hoa đang chửi bọn hắn là kẻ gian, mà cũng mắng quan quân trong thành nhu nhược mặc kệ cho chúng lộng hành, tên nào tên nấy đều đỏ mặt tía tai.

Không phải vì xấu hổ hay tự thẹn, mà là vì bị chửi mà không nói lại được.

oOo

Đỗ Trạng Nguyên hãy còn căm tức đứng như trời trồng mất một lúc, bấy giờ mới được một đứa Nho sinh nói Đỗ Thám Hoa cho mời, đang chờ ở Thư ban, viện trưởng và các trưởng ban khác đều đã có mặt. Đỗ Trạng Nguyên ngẩng đầu nhìn hai hàng chữ khắc trên cánh cửa, phía trên còn phảng phất một chút dư âm của Thanh Sắc thần quang:

“Nhất Mạch Quán Thông, Vãng Giả Quá. Lai Giả Tục.

Tam Thần Cúng Bái. Ấu Tại Hậu. Trưởng Tại Tiền.”

Đỗ Trạng Nguyên đọc xong, trầm giọng:

“Đôi câu đối này thực sự là do con ranh đó viết?”

Võ trưởng ban cười:

“Ngoại trừ nàng ta ra, thì còn có Thanh Tước nào đến thư viện chúng ta trong thời gian này đâu? Sao thế? Đỗ trưởng ban hình như có thành kiến với Tạ tiểu thư thì phải.”

“Không. Lão phu chỉ là lấy làm lạ. Với cái tính ngông cuồng hống hách, lấn người quá đáng của con nhóc này thì chẳng có lý gì lại bỗng dưng đổi ý, quay ra lấy lòng thư viện. Nếu không cẩn thận ứng đối, chỉ e là sẽ thành cho cười cho thiên hạ.”

Đỗ Trạng Nguyên đáp, song vẻ hằn học trong đáy mắt đương nhiên là không giấu được mấy lão hồ li còn lại. Họ Võ cười lạnh, nói:

“Ra thế. Võ mỗ còn tưởng trưởng ban vì không chiếm được nhạc khúc của người ta nên sinh lòng ganh ghét. Xem là là lão phu lấy dạ tiểu nhân đo lòng quân tử rồi.”

“Nào phải, nào phải.”

Đỗ Trạng Nguyên ngoài mặt thì khiêm tốn nói mát vài câu, song trong dạ thì xót như bị người xoa muối ớt.

Số chương còn lại hôm nay: 2 chương chính truyện.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 188: Kiều Minh Long Xuất Hiện


Đỗ Thám Hoa hắng giọng một cái, nói:

“Chư vị, chúng ta vẫn nên tinh nghiên đôi câu đối này là hơn.”

“Không cần luận nữa. Bản thánh tử đã đoán được rồi.”

Tiếng nói xa lạ lạnh như gió hoàng tuyền âm u lạnh lẽo thình lình cất, khiến đám người Lâm Thanh Hồ cùng giật bắn mình một cái. Ban nãy trước khi Đỗ Trạng Nguyên đến, bọn họ đã cho Nho sinh phu tử khác xuống núi trước, phong tỏa Thư Ban đảm bảo nội bất xuất ngoại bất nhập, lại sử dụng thần thức bao phủ cả quả núi rồi mới nói chuyện. Thế mà người nọ thần không biết quỷ chẳng hay xuất hiện sau lưng, thử hỏi mấy lão già tham sống sợ chết này sao có thể không lạnh gáy?

Không ai bảo ai, cả bảy người cùng ngoái đầu lại, thì phát hiện kẻ vừa lên tiếng là một thanh niên độ ngoài hai mươi, hình thể cường tráng, da dẻ đen nhẻm, hơi thở khò khè như thụt ống bễ. Sau lưng y vắt chéo một thanh trường kiếm đỏ rực như lửa, mũi kiếm chia ba, ngoài Hỏa Ảnh Kiếm ra thì còn thứ gì vào đây nữa?

“Ra là Kiều thánh tử. Lão phu không nghênh đón từ xa, thật là thất lễ.”

Lâm Thanh Hồ thấy người lên núi chính là vị thiên kiêu nổi danh số một số hai của Huyền Hoàng giới, hơn nữa lại có khúc mắc với Tạ Thiên Hoa xuất hiện thì lập tức giở giọng lấy lòng. Lão đang muốn tính toán điều gì với Kiều Minh Long, với Phần Thiên Cốc, người ở đây ai cũng đoán được.

Không ngoài bốn chữ “cáo mượn oai hổ”.

Kiều Minh Long cười nhạt, nói:

“Hai câu đối này các vị thử ngẫm xem tiết tấu có giống thợ xẻ đang cưa gỗ không? Thư viện các vị lấy tên là Thanh Tùng, bây giờ lại có đôi câu đối thế này, có lẽ cũng không cần bản thánh tử phải nói thêm.”

Bảy người Lâm Thanh Hồ ngẫm thử, quả nhiên đúng như những gì Kiều Minh Long nhắc, không khỏi giật mình. Đỗ Thám Hoa nghiến răng, nói:

“Bình thường Nho môn ta ý tại ngôn ngoại, nghĩa đơn nghĩa kép cũng chẳng ít. Không ngờ tên Bích Mặc tiên sinh này lại sử dụng tiết tấu câu văn để giấu ý, quả thực là suy nghĩ tinh kỳ không theo lẽ thường. Kẻ này... đáng sợ.”

“Quan trọng nhất là phải mau chóng gỡ hai câu đối này xuống, bằng không bất lợi với khí vận của thư viện.”

Võ trưởng ban lúc này cũng lên tiếng.

Tuy bình thường lão và ba anh em họ Đỗ có va chạm, song lúc chuyện liên quan đến khí vận của cả thư viện thì lão vẫn biết phân biệt phải trái nặng nhẹ.

Lâm Thanh Hồ thì không động thân, chỉ một mực nhìn về phía Kiều Minh Long. Gã thánh tử bấy giờ cười tủm tỉm, chắp tay sau lưng, cũng không vội lên tiếng.

Hai bên giằng co, hiện tại cả hai đều đã đạp vào Vụ Hải, một người thắng ở kinh nghiệm lâu năm kẻ kia hơn ở thiên phú kinh người. Nhất thời không lấy tu vi uy áp, chỉ luận khí thế thì Lâm Thanh Hồ và Kiều Minh Long không ai rơi xuống hạ phong.

Cuối cùng, nhất cổ tác khí, tái nhi suy, tam nhi kiệt. Lâm Thanh Hồ dần dần khí thế yếu bớt, cuối cùng chỉ đành chặc lưỡi một cái, lên tiếng hỏi:

“Lần này không biết thánh tử xuất hiện ở thư viện là có chuyện gì phân phó?”

Kiều Minh Long bấy giờ mới gật đầu, giống như đã đạt được mục đích của hắn, đoạn lên tiếng:

“Bản thánh tử đương nhiên không rảnh đến mức đến đây để chống lưng cho các người, mà là có chuyện quan trọng cần chuyển giao. Thế nhưng chốn này không phải nơi bàn việc cơ mật, tai vách mạch rừng, viện trưởng hẳn là hiểu ý ta chứ?”

“Đương nhiên, đương nhiên. Mời thánh tử theo Lâm mỗ.”

Lâm Thanh Hồ vừa nói, vừa làm thủ thế mời, trong lòng lại âm thầm cảnh giác.

Vị Kiều thánh tử này xuất thân từ Phần Thiên Cốc, công pháp chủ tu hẳn là thiên về hỏa hệ, bởi vậy hơi thở mới khò khè như thụt ống bễ. Thế nhưng ban nãy khi y lên tiếng, cảm giác âm u lạnh lẽo vọt vào tận xương tủy cơ hồ khiến lão rùng mình sởn gáy, cảm giác như đang đứng trước diện Diêm La chờ bị quỷ ma thẩm phán.

Lão thượng vị đã lâu, đương nhiên sẽ không cho rằng mình cảm nhận sai, hoặc là bị ảo giác. Chung quy chỉ có thể nói là tên Kiều Minh Long này không đơn giản như vẻ bề ngoài. Song, Lâm Thanh Hồ ngồi trên ghế viện trưởng vững như bàn thạch bao lâu nay, đương nhiên là có thủ đoạn của mình.

Không ngoài bốn chữ: “Giữ mồm giữ miệng.”

Có những chuyện có thể nói, có những chuyện có biết cũng phải dằn xuống đáy lòng, ấy là châm ngôn sống của lão.

oOo

Sau đó, bảy người Lâm Thanh Hồ dẫn Kiều Minh Long vào một mật thất bí mất náu dưới thư phòng của viện trưởng. Gã thánh tử liếc mắt một cái, gật đầu:

“Pháp trận ở đây rất tốt, chẳng những ngăn chặn thần thức, còn có thể che giấu thiên cơ. Cho dù là lâu chủ Vọng Thiên Lâu (1) cũng vị tất đã đoán được.”

(1: nếu ai để ý thì mấy chương trước Nghiêm lão nhắc đến môn phái này gọi nó là Vọng Thiên cung, thủ lĩnh cũng là cung chủ. Đây thì lại là lâu chủ Vọng Thiên lâu. Lý do cụ thể về sau sẽ có giải thích, bây giờ báo trước với anh em là cố ý chứ không phải nhầm lẫn thôi.)

“Quá khen.”

Lâm Thanh Hồ cười, đoạn phất tay một cái, lập tức ấm trà trên bàn tự động bay lên, uốn mình rót ra chén. Trà đụng vào cốc, lập tức đã được pháp trận dưới đáy cốc đun nóng, hương thoảng ra nghi ngút.

Kiều Minh Long nhấp một ngụm, đoạn nói:

“Hôm nay bản thiếu đến đây là để chuyển lời thay cho Đế Mộ.”

Lâm Thanh Hồ còn có thể giả vờ bình tĩnh, sáu tên trưởng ban vừa nghe đến Đế Mộ thì đã nhao nhao giật mình, chấn kinh, miệng há hốc ra cơ hồ khó mà ngậm lại được, trong đôi mắt mấy lão già này tên nào tên nấy vừa có lo âu mà lại vừa có háo hức mong chờ. Mất một lúc, Võ trưởng ban mới è è cất tiếng hỏi:

“Không... không biết là vị nguyên soái nào cần thư viện chúng ta ra sức, mong Kiều thánh tử cho biết.”

Kiều Minh Long cười, nói:

“Nguyên soái? Võ trưởng ban đây xem ra là đánh giá hơi thấp mệnh lệnh lần này của Đế Mộ rồi.”

“Chẳng nhẽ là các vị Đế Quân tự mình ra lệnh?”

Lần này, đến cả Lâm Thanh Hồ cũng không thể giữ nổi tấm mặt nạ bình tĩnh được nửa. Lão cơ hồ ngồi nhổm dậy, mắt trợn lên tròn xoe như mắt báo.

Kiều Minh Long gật đầu:

“Không sai. Cái chuyện Bích Mặc tiên sinh dùng một bài văn tế khiến ngàn ngàn vạn vạn cô hồn dã quỷ ở thôn Đoài siêu sinh đã kinh động đến các vị Đế Quân. Các ngươi cũng hiểu Đế Mộ là thế lực ra sao mà. Thế nên...”

“Kiều... Kiều thánh tử. Thanh Tùng thư viện chúng ta nhà tranh vách đất, chẳng là cái đinh gì so với Lục Đại Thư Viện và Văn Cung. Đến cả Văn Cung còn bị Bích Mặc tiên sinh đánh cho thất điên bát đảo, chúng ta nào dám chọc vào y? Không biết thánh tử có thể nói giúp mấy câu với các vị Đế Quân?”

Lâm Thanh Hồ lúc này rùng mình, vừa nghĩ đến cảnh thư viện tâm huyết nhiều đời, truyền thừa gần ngàn năm mà bây giờ phải làm viên đá dò đường mà y thấy sống lưng mình lạnh căm căm toàn là mồ hôi.

Y không dám nói không với Đế Quân, cũng không dám đối đầu với Bích Mặc tiên sinh.

Kiều Minh Long cười, nói:

“Lâm viện trưởng nói đùa. Đế Quân đương nhiên sẽ không bắt các ngài đi đối đầu với Bích Mặc tiên sinh. Tên kia tự sẽ có người khác xử lý.”

“Kiều thánh tử nói, Đế Quân muốn chúng ta ra tay với đệ tử của y?”

“Thông minh.”

Kiều Minh Long cười, đoạn bảo:

“Chuyện này làm cho kín kẽ vào. Nhớ, có thể ra tay trong tối, tuyệt nhiên đừng có gióng trống khua chiêng. Bằng không một khi Đế Quân phật ý, chắc bản thánh tử không cần nhiều lời?”

Đoạn y ngừng một chốc, kế bèn bảo:

“Đúng. Có thể phế tu vi, cũng có thể sưu hồn, Đế Mộ và bản thánh tử cũng không tham lam gì mấy thứ thần thông của Bích Mặc tiên sinh. Nhưng nhớ, người phải sống hoàn hảo không mất một cọng tóc đưa đến Phần Thiên Cốc cho ta. Làm xong việc, bản thánh tử tuyệt sẽ không bạc đãi các ngươi.”

“Thánh tử yên tâm.”

Đỗ Trạng Nguyên cười gằn, hung quang trong mắt càng lúc càng lộ rõ.

Lâm Thanh Hồ ngoài mặt thì tươi cười, mồm năm miệng mười hứa sẽ làm đúng những gì Đế Mộ yêu cầu, song trong mắt thì lại âm thầm tính toán.

oOo

Vừa tiễn Kiều Minh Long, Lâm Thanh Hồ đã quay sang truyền âm hỏi các vị trưởng ban:

“Chuyện này các vị thấy nên xử lý thế nào?”

“Còn thế nào nữa? Có Đế Mộ đảm bảo vị tất đã phải ái ngại tên Bích Mặc tiên sinh? Lão phu thấy thay vì cứ sợ đầu sợ đuôi, chi bằng một nhát dao chém đay rối, chớ có để cơ duyên lần này rơi vào tay nhà khác.”

Đỗ Trạng Nguyên nói, đôi mắt cơ hồ bốc hỏa, dường như đã không chờ được muốn ra tay với Tạ Thiên Hoa.

Võ trưởng ban nói:

“Chỉ sợ sau khi làm xong, Đế Mộ cũng lấy chúng ta ra làm con dê thế mạng. Đừng quên sở dĩ Đế Quân muốn nhắm vào đệ tử của Bích Mặc tiên sinh là vì e ngại y siêu độ cho ngàn vạn vong hồn. Đỗ trưởng ban, chẳng may ngài mà thất bại, khi ấy đừng kéo cả thư viện xuống nước.”

Lâm Thanh Hồ gật đầu, đoạn nói:

“Đỗ trưởng ban hẳn là đã biết nên làm gì, bản viện trưởng cũng không nói gì thêm nữa. Thế nhưng lần hành động này chỉ có thể để một mình ngài ra tay thôi, không thể để bất kỳ ai khác đi theo hỗ trợ, bằng không một khi bị kẻ dụng tâm hiểm ác nói là cố tình đối đầu với Bích Mặc tiên sinh thì chỉ e thư viện ta vạn kiếp bất phục. Có một vị trưởng ban xuất thủ, chắc hẳn là Đế Mộ sẽ không trách chúng ta tội thất trách.”

Đỗ Trạng Nguyên nói:

“Chuyện ấy đã hẳn. Chẳng nhẽ viện trưởng cảm thấy lão phu đối phó với một tên tiểu bối còn chưa vào Vụ Hải mà cần người khác hỗ trợ hay sao? Chư vị cứ ở lại thư viện chuẩn bị sẵn tiệc mừng công chờ lão phu trở về là được.”

Lão biết, sở dĩ Lâm Thanh Hồ để lão đi chặn giết Tạ Thiên Hoa là vì ban nãy lão và cô nàng có hiềm khích. Một khi thất bại, đối ngoại thư viện có thể chối phăng đi đây là tư thù cá nhân giữa lão và cô nàng, thư viện không hay không biết.

Mà lão, vì muốn nuốt một mình kì ngộ biết đi này, cho dù biết là dương mưu thì cũng sẽ cam tâm tình nguyện nhảy vào.

Lại nói, đây chỉ là mưu nếu lão thất bại mà thôi.

Đỗ Trạng Nguyên không cho rằng đấu với một con ranh chưa vào Vụ Hải mình sẽ lật thuyền trong mương.

Số chương còn lại hôm nay: 1 chương chính truyện.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 189: Nhất Phẩm Thị


Sáng hôm sau...

Tạ Thiên Hoa vốn cho rằng sau chuyện hôm qua, ngày hôm nay cô nàng sẽ được an ổn nghỉ ngơi một ngày, chờ đến hôm thứ ba sẽ truyền tống thẳng đến Bằng Sơn quan của nước Hàn.

Chẳng ngờ, vừa mới bảnh mắt, chủ quán trọ đã đến đập cửa phòng hô to:

“Khách quan! Khách quan! Cứu mạng!!!”

“Có chuyện gì vậy ông chủ?”

Tạ Thiên Hoa mở cửa phòng, thấy lão chủ quán mồ hôi mồ kê đầy đầu, mặt mày hốt hoảng như vừa gặp ma thì không khỏi nhíu mày một cái. Nhìn thần sắc ngập ngừng muốn nói lại thôi của lão chủ quán trọ thì xem ra phiền phức lần này không nhỏ.

Cuối cùng, trước ánh mắt động viên của cô nàng, lão chủ quán mới nói:

“Nghiêm lão mất tích rồi. Hôm nay có người đến đưa cho tôi mảnh giấy này, bảo phải đích thân giao cho tiểu thư, bằng không...”

Đến đây thì lão chủ quán trọ cũng yên lặng, vẻ áy náy trên gương mặt càng đậm.

Tạ Thiên Hoa giấy ra đọc mới biết đối phương quả nhiên đã nhắm vào Nghiêm lão, hẹn cô nàng tối nay ra khỏi thành Thanh Tùng đến hồ Thiên Lệ trên núi, bằng không thì ngay ngày mai xác của Nghiêm lão sẽ nổi trên mặt nước.

Cô nàng vò mảnh giấy, ném xuống đất, cười:

“Đánh giá thấp độ mặt dày của chúng.”

“Tiểu thư, lão thấy đối phương có chuẩn bị, chỉ e đến nơi có bẫy. Tiểu thư bản lãnh thông thiên, kẻ phàm nhân như ta không tiện nhiều lời, nhưng cẩn tắc vô ưu. Lão đây còn chờ tiểu thư về trả tiền phòng.”

Lão chủ quán nói, cuối câu lại cố tình chêm một câu nói đùa vào thay lời chúc bình an. So với mấy câu bình an vô sự, mã đáo thành công bình thường, phương pháp này của lão trái lại nghe càng thành khẩn. Tạ Thiên Hoa cũng cười, gật đầu.

Ra khỏi quán trọ, cô nàng không vội đến hồ Thiên Lệ mà thản nhiên đến khu sầm uất phồn hoa nhất trong thành tản bộ, không có vẻ gì là gấp gáp muốn cứu người cả.

Đi một lúc, Tạ Thiên Hoa thấy trước mặt có một tòa Nhất Phẩm Các, ắt hẳn là sản nghiệp của Hữu Tiền Liên Minh, bèn đổi hướng đi vào. Cô nàng vừa đến ngoài cổng thì đã có một trung niên râu kẽm ăn mặc sang quý chạy đến, cười:

“Hóa ra là Tạ tiểu thư quang lâm, hèn chi lão đầu ta hôm nay cứ thấy mắt trái giật giật, hóa ra là có khách quý. Không nghênh đón được từ xa, những mong tiểu thư thông cảm.”

Tạ Thiên Hoa nhìn y, cố tình lộ vẻ ngờ vực dường như là không nhận ra đối phương là ai. Trung niên không đổi sắc mặt, vẫn giữ nụ cười thân thiện, nói:

“Tại hạ Tô A Cẩu, là chủ quản ở đây. Không biết tiểu thư đến đây là muốn mua sắm vật gì, hoặc là có yêu cầu gì chăng? Xin cứ nói ra, lão sẽ giúp hết mình.”

“À! Vậy phiền Tô lão tìm hiểu giúp ta xem rốt cuộc là ai chống lưng cho thư viện Thanh Tùng mà bọn chúng lại muốn đối đầu với sư phụ ta.”

Tạ Thiên Hoa cười, dường như trong lúc lơ đãng vô tình buông một câu.

Tô A Cẩu giật mình một cái, đoạn cười:

“Chắc hẳn là có hiểu nhầm gì rồi. Bây giờ Bích Mặc tiên sinh chẳng những thanh danh oanh chấn Huyền Hoàng giới, hơn nữa lại là tri giao với Võ Hoàng điện hạ, ở cái đất Đại Việt này ai dám làm phật ý tiên sinh? Tiểu thư yên tâm, Tô mỗ nhất định hỏi rõ đầu đuôi chuyện này, cho tiểu thư một câu trả lời thích đáng.”

Cô nàng cười xòa, nói:

“Thôi. Tô lão bận trăm công ngàn việc, ba cái chuyện tin đồn thất thiệt lông gà vỏ tỏi này không nhọc đến ngài. Ban nãy lỡ lời, mong Tô lão bỏ quá.”

“Nào dám. Nào dám.”

“Đúng rồi, hôm nay ở Nhất Phẩm Thị có gì náo nhiệt?”

Nhất Phẩm Thị mà Tạ Thiên Hoa nhắc đến là một khu giao dịch do thế lực Nhất Phẩm đứng ra bảo trợ, mặc cho người trong thiên hạ đến trao đổi bán mua. Ở đây chẳng những có giám bảo sư tốt nhất kiểm tra cẩn thận từng món hàng, đảm bảo món nào món nấy đều là hàng thật giá thật, mà còn có Chấp Pháp Đội nhìn chằm chằm, tuyệt không để chuyện ỷ thế h**p người, hành hung cướp bóc diễn ra.

Đương nhiên cũng không phải là không công.

Muốn vào mua bán ở Nhất Phẩm Thị, trước tiên phải đóng lệ phí hàng năm. Sau lại phải đặt hết đồ vật muốn bán vào trong một túi chứa đồ riêng, đưa đến cho giám bảo sư của thế lực Nhất Phẩm kiểm tra, làm dấu nhận biết. Vật phẩm chưa được kiểm định tuyệt không được phép xuất hiện trong Nhất Phẩm thị. Mà với mỗi một giao dịch được thực hiện, thế lực Nhất Phẩm khống chế Nhất Phẩm Thị đều thu hai phần mười. Nếu là dùng vật đổi vật thì cũng có giám bảo sư quy đổi ra tiền mặt, sau đó bắt người bán giao nộp đủ lệ phí.

Đương nhiên, không ai dám thách thức con quái vật khổng lồ như Hữu Tiền Liên Minh.

Từng có một thánh tử của thế lực lớn đến Nhất Phẩm Thị làm chuyện ép mua ép bán, sau đó ỷ vào tu vi hơn xa Chấp Pháp Đội của Nhất Phẩm Thị mà ngông nghênh rời đi.

Ngày hôm sau, Hữu Tiền Liên Minh giáng lâm, làm một cọc... buôn bán.

Ai đánh tên thánh tử một chưởng, bọn họ sẽ giảm một thành tiêu phí ở thế lực Nhất Phẩm.

Cuối cùng, thánh tử bị chính tông môn mình dùng làm chỗ dựa đánh cho tan xương nát thịt. Trái lại, thương nhân bị ép mua ép bán thì được Hữu Tiền Liên Minh chăm sóc một năm, tu vi từ nhị cảnh vọt tới tam cảnh đỉnh phong, khi rời đi còn được tặng cho một khoản tiền lớn, đủ để an ổn sinh hoạt nửa đời.

Thành thử, tuy thủ tục rườm rà, nhưng an toàn đảm bảo, thành thử cả tán tu lẫn thế lực lớn đều hết mực ủng hộ Nhất Phẩm Thị.

Tô A Cẩu cười, nói:

“Hôm nay có đổ ngọc, không biết tiểu thư có hứng thú chơi vài ván hay không?”

Tạ Thiên Hoa nói:

“Nghe cũng hay đấy. Vậy thì để bản tiểu thư thử xem thời vận của mình ra sao.”

oOo

Đổ ngọc ở Huyền Hoàng giới cũng gần tương tự như trò tìm ngọc phỉ thúy ở trái đất, song có vài điểm khác biệt.

Thứ được sử dụng là ngọc trai của Biển Phong Bạo, đãi từ những con trai tinh tuổi trên trăm năm. Trước là khó lòng nuôi dưỡng, sau là địa vị của con trai trong truyền thuyết của Huyền Hoàng giới rất cao, thành thử Đổ Ngọc cũng trở thành một trò chơi xa xỉ của giới thượng lưu.

Giống trai tinh sử dụng trong Đổ Ngọc đương nhiên sẽ không tạo ra quái vật như Hải Thú và Đảo Quỷ, mà là một giống ngọc đặc biệt hình thành do việc hấp thu chân khí trời đất của chúng. Luyện hóa ngọc này ngoại trừ tăng tiến tu vi ra thì còn khiến kinh mạch tạm thời được láng một lớp vỏ trơn như ngọc, lúc chân khí chuyển động sẽ nhanh hơn, đạt tới cảnh giới tùy tâm sở dục.

“Ngọc hơn kém ra sao thì dựa vào trạng thái bên trong để phân biệt. Nếu như bổ ngọc ra mà trống rỗng, chân khí hóa mây bốc lên, thì gọi là Không Ngọc. Loại này kém nhất. Nếu như trong ngọc có một chất dịch như thạch nhũ chảy ra thì gọi là Sương Tuyết Linh Tuyền. Dịch của ngọc càng lạnh, càng đặc thì càng tốt. Cuối cùng quý nhất là ngọc hoàn toàn đặc ruột, đây ta gọi là Mãn Nguyệt.”

Tô A Cẩu vừa dẫn đường, vừa giải thích quy luật xét điểm của Đổ Ngọc cho Tạ Thiên Hoa nghe. Đi được chừng nửa khắc thì đến một ngôi nhà lớn, vách tường xây bằng huyền băng ngàn năm đang không ngừng tỏa ra khí lạnh. Trước cửa có hai tên lính gác thịt bắp vai u, tu vi đều là ngũ cảnh đỉnh phong.

Tô A Cẩu vừa đến, cả hai đã quay sang mở cửa, không hề hỏi han thắc mắc gì đến Tạ Thiên Hoa cả. Lão chủ quản thì lại quay sang cô nàng cười lấy lòng, nói:

“Một lát nữa vào tiểu thư phải cẩn thận một chút. Trong bể nuôi trai có sử dụng trận pháp mô phỏng áp lực nước dưới đáy biển Phong Bạo, có chút khí tức tràn ra đến tận ngoài lối đi.”

“Cảm ơn Tô lão nhắc nhở.”

Tạ Thiên Hoa gật đầu, theo sau lão bước vào tòa nhà bằng băng.

Chỉ thấy chốn này thiết kế cực kỳ đơn giản, từ cửa đén chỗ mở ngọc thẳng tắp một đường, dưới chân trải thảm quý. Hai bên lối đi chính là bể chứa trai tinh xây bằng đá, gồ ghề xấu xí mười phần, có chút không thích hợp với cảnh sắc trong ngôi nhà băng tinh xảo. Thế nhưng nếu cẩn thận cảm giác thì sẽ phát hiện thứ đá gồ ghề này có mùi gió biển nồng nàn, gõ lên còn tạo ra tiếng sấm ì ùng rất nhỏ. Đem so với bức tường thành của thành Hải Giác nước Hàn thì giống đến mấy phần.

Tạ Thiên Hoa lên tiếng:

“Bể nuôi được làm từ đá ngầm ở biển Phong Bạo?”

“Tiểu thư nói đúng. Nhưng không so được với những đại thành trấn giữ duyên hải đâu. Không cấm không được, tiểu thư yên tâm.”

Tô A Cẩu đáp.

Ba canh giờ sau đó, Tạ Thiên Hoa sử dụng tiền túi được Lâm Phương Dung cho hồi đến Kiếm Trì tiêu pha một phen, mở vài ba con trai, có thắng có thua. Chơi chán, cô nàng mới bảo Tô A Cẩu dẫn mình đến tửu lầu của Nhất Phẩm Các ăn uống thả cửa một phen.

Mấy con trai tinh dùng trong Đổ Ngọc ban nãy được Tô A Cẩu bảo trù phòng chế biến thành mười mấy món tinh xảo, luận thủ pháp còn có đôi ba phần giống Trương Mặc Sênh, hiển nhiên là Nhất Phẩm Các thuê hẳn người của Mỹ Vị Sơn Trang về nấu nướng. Rượu dùng để uống cũng không tầm thường, là loại rượu Túy Tiên Hầu nổi tiếng chỉ có ở nước Yến. Tạ Thiên Hoa nghe Tô A Cẩu bảo ở núi băng nước Yến có một đám khỉ gọi là Túy Hầu, tu vi chiến lực cực kì kinh khủng.

Bọn này có thói quen ngủ đông. Vào xuân bọn này thường chất một đống linh quả trong động để ăn dần. Quả dồn một chỗ lên men, thành thử đám này ngủ đông vừa vì rét mà cũng vì chúng say quắc cần câu trong động của chính mình. Mà muốn lấy rượu Túy Tiên Hầu thì phải chui vào hang động của chúng mà múc, Chẳng may kẻ trộm rượu đánh động khiến Túy Hầu thức giấc, đương nhiên là không có mạng mà về. Thành thử, rượu Túy Tiên Hầu cũng có cái giá vô cùng đắt.

Tạ Thiên Hoa vừa ăn uống vừa gật gù, còn thực hư mọi chuyện có đúng như những gì Tô A Cẩu kể không thì cô nàng chẳng quan tâm lắm.

Ăn bữa cơm đến lúc trời xế chiều, cổng thành sắp đóng, cô nàng mới đứng dậy bái biệt, rồi nhanh chóng rời khỏi thành Đông Thanh.

Hết chương ngày hôm nay. Mai có chương như bình thường. Ngày kia lại bạo chương.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 190: Núi Hoang Trăng Lạnh


Trăng lên, sương đêm lãng đãng buông xuống rừng tùng. Cánh tiều phu đã xuống núi về thành từ sớm, phường thợ săn hãy còn dựng lều chờ đám hổ beo đi săn mồi trở dậy. Thành thử hiện giờ bốn bề vắng vẻ như tờ, nhìn khắp núi rừng mênh mang cũng chỉ có một mình Tạ Thiên Hoa.

Nếu là lúc bình thường, có lẽ còn có thể nghe tiếng xào xạc của đám chuột rừng, chồn cáo ăn đêm hoặc tiếng kêu quang quác của bầy chim rừng. Thế nhưng Tạ Thiên Hoa thân là Thanh Tước, ngay cả khi không cố tình bộc phát khí tức từ huyết mạch thì đám cầm điểu dã thú bình thường cũng không dám ló đầu ra ngoài.

Tạ Thiên Hoa theo chỉ dẫn của Tô A Cẩu, sau khi rời khỏi thành thì men theo lối mòn trong rừng đi chừng ba dặm, chừng nào nhìn thấy một cây thông có bộ rễ ôm lấy một tảng bạch ngọc thì bắt đầu lên núi, leo chừng bảy tám dặm gì sẽ thấy hồ Thiên Lệ.

Tương truyền...

Năm xưa có một Đại Vu tên Hùng luyện được Cửu Mệnh Ngải, ngậm lấy đi khắp trăm núi nghìn rừng để tìm thuốc tiên bất tử. Đáng tiếc ngải tan mà tiên dược đâu chẳng thấy, cuối cùng kiệt sức trượt chân ở núi Thanh Tùng này. Có người nói thân xác của Hùng hóa thành cây thông lạ, nhưng vì sao rễ cây lại ôm lấy tảng ngọc thì chẳng ai biết. Có người cho rằng ngọc lớn do tín vật định tình của y hóa thành, có người nói ấy là một khỏa đạo tâm của y, cũng có người bảo đấy là xá lợi của Hùng biến ra khi giác ngộ Phật pháp. Nói chung trăm người thì mười ý, tam giáo cửu lưu đều biến tấu câu chuyện sao cho có lợi cho nhà mình, chẳng ai rõ ràng thực hư ra làm sao.

Duy chỉ có một điều có thể được các vị bô lão đức cao vọng trọng, đi rừng lâu năm khẳng định, ấy là trước khi có cái cây thông mọc lên ở đây thì không có hồ Thiên Lệ trên núi.

Hồ Thiên Lệ một đầu thuôn thuôn, một đầu bầu bầu, nhìn từ trên cao như hình vệt nước mắt quệt lên mặt tuyết. Chốn này quanh năm khói tỏa, mùa đông không đóng băng, là một hồ nước nóng tự nhiên.

Lạ một nỗi mặc dầu triều đình đã nhiều lần cử đại thần đến khảo sát, tìm hiểu, song tuyệt nhiên không tìm ra mạch nước ngầm nào quanh đó, cũng chẳng dò được rốt cuộc nước trong hồ là từ đâu mà chảy tới, trở thành một trong những kỳ cảnh lạ lùng bậc nhất ở Đại Việt. Ngày thường cũng có không ít tao nhân mặc khách, tu hành giả các phương ngự không đến đây du ngoạn.

Vốn là nếu không vướng cái chuyện của thư viện Thanh Tùng, Tạ Thiên Hoa cũng định bụng tranh thủ mấy ngày ở thành Đông Thanh đến hồ Thiên Lệ ngắm cảnh một phen cho mở mang tầm mắt.

Không ngờ bây giờ lại bị người ta ép phải đến chốn này.

Chỗ cái cây thông lạ cũng là nơi đường mòn lên núi chấm dứt. Cầu Học Lộ thông hướng đến núi đông, bình thường cánh thợ săn, nhà tiều cũng chỉ đi đến đây thôi, không vào sâu trong núi, thành thử cũng chẳng có đường mòn nào cả.

Tạ Thiên Hoa đi dưới tán cây thêm một đoạn thì xa xa trông thấy một bà già còng lưng, mũi khoằm, mái tóc bạc phơ xơ xác như rễ tre đứng bên vệ đường. Trước mặt mụ kê một cái nồi to, bên trong cháo đang lục bục sôi. Mụ già cầm một khúc xương lớn, nhìn như là xương cẳng chân người trưởng thành thọc vào nồi mà khuấy.

Tạ Thiên Hoa chau mày, hiển nhiên là nhận ra thân phận của mụ già quái gở.

Bấy giờ, mụ bỗng nhiên ngẩng đầu, đôi mắt lấp lánh ánh sáng xanh nhìn về phía Tạ Thiên Hoa bằng một vẻ thèm thuồng. Mụ mở miệng, giọng mụ nghe the thé, có chút gì đó không thật, cứ như thể vọng về từ một cõi xa xăm nào đó:

“Này nhớ. Lát nữa... vào nồi nhớ.”

Mụ cười the thé, đưa cái xương chân ngoắng một cái, vớt lên nguyên một cái sọ người dưới đáy nồi cháo.

Tạ Thiên Hoa hừ lạnh, nói:

“Một con Sơn Ẩu con con cũng dám hiện hình trước mắt bản cô nương làm cái chuyện khuất mày khuất mặt?”

Nói đoạn, cô nàng phóng Thanh Sắc thần quang đến thì mụ già ma quái đã biến thành một làn khói trắng chui xuống mặt đất trốn biệt.

Sơn Ẩu là một loại tinh quái, chẳng biết chân thân là giống gì, chỉ biết là thường lởn vởn trong rừng núi Hoàng Liên Sơn Mạch, càng vào sâu thì càng dễ bắt gặp chúng. Bọn này thường lấy hình dáng của một mụ già quái đản ngồi nấu cháo trong rừng để xuất hiện trước mắt khách đi núi, hoặc là cất tiếng gọi ma quái giữa rừng khuya. Phàm là kẻ nào tu vi không đủ mạnh, tâm trí không đủ cứng mà đáp lời mụ gọi thì sẽ bị mê hoặc ngay.

Sau đó, Sơn Ẩu dụ người ta ăn nồi cháo của mình. Mùi cháo thơm điếc mũi, người bình thường tỉnh táo chưa chắc đã cưỡng lại nổi, hà huống gì những nạn nhân đã bị mụ dùng yêu pháp mê hoặc. Chỉ cần nhấp một miếng thôi thì lập tức sẽ mê man đi chẳng còn biết gì nữa. Khi đó, con Sơn Ẩu mới hóa thành một quái vật, nhào tới ăn thịt nạn nhân.

Thời Nhân Tông có một vị thầy đồ tên Long giả vờ trúng kế con Sơn Ẩu, lúc này mới biết những thủ đoạn của nó về truyền lại cho dân mà tránh.

Sơn Ẩu thắng ở tính xuất kỳ bất ý, tu vi cũng không cao, thành thử vừa thấy Tạ Thiên Hoa là đối thủ khó nhằn là nó chạy ngay lập tức. Song... ngay cả như thế thì cô nàng cũng chẳng thấy nhẹ lòng đi chút nào cả.

Trên đời có lời đồn, Sơn Ẩu có quan hệ gì đó với hoàng tuyền, thứ cháo mê hoặc chúng nấu ra dụ người ăn có nguyên mẫu là cháo lú của Mạnh Bà dưới địa phủ. Chính vì mối liên kết với cõi âm này mà Sơn Ẩu có thể đại khái cảm nhận được khí vận và số mệnh của kẻ khác. Khi một người nào đó sắp gặp kiếp nạn thập tử nhất sinh thì ngay cả khi tu vi ngập trời thì cũng có thể nhìn thấy Sơn Ẩu xuất hiện kiếm ăn, trong khi bình thường đám tinh quái này thường sẽ né tu hành giả tu vi thâm hậu.

Cô nàng giữa đường gặp một con Sơn Ẩu, có lẽ là chuyến này dữ nhiều lành ít.

Tạ Thiên Hoa hít sâu một hơi, thầm nghĩ hiện giờ cả nghĩ thì cũng chẳng ích gì, bèn bỏ những suy nghĩ linh tinh này ra khỏi đầu, sau đó dấn bước tiến sâu vào bóng tối của khu rừng tùng. Càng gần hồ Thiên Lệ thì chốn này càng hoang sơ vắng vẻ, ít người lại qua, thành thử khoảng cách giữa các cây tùng cũng bắt đầu thu hẹp lại. Lúc ra khỏi thành con đường dưới bóng cây thoáng đãng bao nhiêu thì hiện giờ lại chật hẹp, bí bách bấy nhiêu.

Tạ Thiên Hoa cẩn thận bước qua từng đoạn rễ cây gồ lên khỏi mặt đất, Cây mọc san sát, cành lá rập rạp che khuất chút ánh trăng ít ỏi, khiến cả khu rừng như chìm vào bóng tối đặc quánh. Cô nàng căng hai tai, để thần thức trải rộng, dò xét cẩn thận từng ngõ ngách một.

Cứ thế lần mò trong bóng tối chừng nửa canh giờ, khi ánh trăng nhẹ nhàng lách mình ra khỏi đám mây hững hờ thì Tạ Thiên Hoa cũng đến được bên hồ Thiên Lệ. Không còn tán cây chắn lối, khung cảnh thoáng chốc trở nên thoáng đãng dị thường. Ngọn gió khuya nơi núi cao thổi luồn qua những thân cây, khiến mặt hồ lấp lánh ánh trăng khẽ dao động. Trên mặt hồ linh khí hóa thành sương khói cứ thế lượn lờ, thoạt nhìn tưởng như tiên cảnh.

Chính giữa hồ Thiên Lệ bấy giờ có một con thuyền con, cột buồm có một ông cụ gầy gò bị người ta lấy dây Quỷ Đằng trói nghiến lại, treo lên cao. Thứ dây leo dại này ở Huyền Hoàng giới cũng không hiếm gặp, thân đầy gai nhọn, tiết ra một thứ nhựa gây ngứa ngáy như có kiến bò. Bấy giờ dưới ánh trăng, thân ảnh đơn bạc của Nghiêm lão hiện lên với bộ áo tả tơi loang lổ những vệt nâu nâu đỏ đỏ. Những vết thương trên người ông cụ còn chưa ráo máu, bây giờ bị dây Quỷ Đằng trói nghiến lại càng ngứa ngáy khó chịu như bị tra tấn. Ấy thế nhưng ông cụ chẳng kêu tiếng nào, hơi thở mảnh như sợi tơ, xem ra chỉ cách cái chết một cái móng chân mà thôi.

Trên bờ, tiếng cười của Đỗ Trạng Nguyên cất lên nghe thật là chói tai:

“Tạ tiểu thư cuối cùng cũng đến rồi. Thế mà lão phu cứ tưởng là cô nương sẽ mặc xác lão già này kia chứ.”

“Chà... Đỗ trưởng ban xem ra đã coi lời tiểu nữ từng nói hôm qua là gió thoảng bên tai mất rồi. Hoặc giả... ngài cho rằng tiểu nữ không dám đối phó với Thanh Tùng thư viện của các ngài nên mới làm ra cái chuyện đáng khinh đến vậy?”

Tạ Thiên Hoa lườm lão một cái, nói.

Ở Huyền Hoàng giới, có một luật bất thành văn ấy là hai bên dù có mối thù không đội trời chung không liên lụy đến thân bằng cố hữu của kẻ khác, trừ khi là có thù diệt môn.

Dù sao, đã là người thì cần phải ra ngoài, thiên kiêu càng cần phải rời nhà lịch luyện. Nếu lúc nào cũng phải đề phòng có kẻ nhắm vào mình để trả thù thân nhân, thì có lẽ cả Huyền Hoàng giới đều thành trạch nam trạch nữ nhốt mình cả đời trong gia tộc mất.

Thế nhưng, hành động của Đỗ Trạng Nguyên hôm nay không khác gì là phá giới. Nếu như để truyền ra ngoài thì ắt sẽ khiến thiên hạ phẫn nộ, cho dù là nhiều môn phái thánh địa liên hợp lại trừng phạt Thanh Tùng thư viện, thẩm phán Đỗ Trạng Nguyên cũng không phải là chuyện không thể xảy ra.

Đương nhiên...

Chuyện này một cô gái trẻ người non dạ như Tạ Thiên Hoa có thể nhìn ra được thì không lý nào kẻ nhiều năm ngồi trên ghế trưởng ban như Đỗ Trạng Nguyên lại không biết.

Thế nhưng lão vẫn làm...

Nếu như ngay chiều hôm qua Đỗ Trạng Nguyên đã ra tay thì còn có thể nói là lão bị lòng tham làm mờ mắt. Song, Tạ Thiên Hoa có thể thấy rõ vẻ e ngại dè chừng và cam chịu của y khi cô nàng rời khỏi Thanh Tùng thư viện ngày hôm qua.

Sự thay đổi thái độ đột ngột, thậm chí dám dùng cả cách bị cả thiên hạ phỉ nhổ để đạt thành mục đích khiến cô nàng thoáng rùng mình trước thế lực đang đứng sau giật dây.

Ngày mai sẽ đăng 4 chương ngoại truyện với số thứ tự trong bản thảo từ 213-216, 3 chương còn lại kể về Tạ Thiên Hoa (210-212) sẽ đăng nốt trong tuần này. Tuần sau (từ chương 217: ) sẽ chuyển qua kể chuyện về Đỗ Thải Hà. Nếu bà con đọc ở web khác, ko đồ nhóm tác phụ trách đăng mà thấy số chương sai hay ba chương 210: -212 trong tuần ko hiện nốt thì tự hiểu nhá.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 191: Phụ Chương: Anh Thầy Bói Họ Lã (1)


[Ngoại truyện này gồm 4 phần, diễn ra trước khi Sở Tinh Hà gặp nạn vong mạng vài ngày. Cụ thể là quãng nào trong dòng thời gian của chính truyện thì phần 4 sẽ có giải đáp.

Đồng thời, cũng xin nhắc lại một chút với quý độc giả, là chính truyện kể tuần tự theo trình tự thời gian các sự kiện, còn ngoại truyện và phụ chương thường là dựa theo dịp đăng hoặc nhảy về phía trước hoặc phía sau trong dòng thời gian để cung cấp thêm cho bà con các thông tin quan trọng, cần biết nhưng khó nhét vào dòng thời gian của chính truyện vì bất kỳ lý do gì (ví dụ như giữ bí mật một số tình tiết, tránh spoil quá sớm hay đào một số các phục bút đã chôn lên). Vì vậy, tuy gọi là ngoại truyện, phụ chương nhưng tuyệt đối không nên bỏ qua!]

Gần trung tâm thành Bạch Đế có một cây Bạch Đàn khổng lồ.

Tương truyền năm xưa, khi nước Việt còn chưa tồn tại, lục quốc còn phân tranh, Lê Thái Tổ vượt biển trúc qua nơi đây tìm di vật của Thế Tôn, từng luận đạo với một Bạch Đàn Tình vạn tuổi, sau đó liền quyết định ở lại nơi đây lập quốc, đón nạn dân. Cũng nhờ Bạch Đàn Tinh năm ấy che chở, bảo vệ cho quân của Thái Tổ, mới có Đại Việt của sau này. Về sau, không rõ vì lý do gì, Bạch Đàn Tinh lâm vào ngủ say, được đào lên đưa đi nơi khác. Chỗ thụ yêu khi trước tọa lạc, đích thân Thái Tổ trồng một cây Bạch Đàn mới xuống.

Từ đó đến nay đã gần hai trăm năm, cây Bạch Đàn trồng xuống năm nào đã trở thành cổ thụ, mà thôn nhỏ khi ấy nay cũng đã là thành lớn. Dân chúng vì tưởng nhớ quan hệ bằng hữu của Thái Tổ với Bạch Đàn Tinh, cũng như công ơn bảo vệ năm nào, mà đặt tên thành là Bạch Đế. Cũng vì đoạn lịch sử này, mà thành Bạch Đế cách Quan Lâm chẳng bao xa (1) lại có địa vị khác biệt lớn đến như vậy.

(1: chẳng bao xa là trên bản đồ Đại Việt thôi, chứ khoảng cách địa lý cũng gần ngàn dặm như đã nói trong chương 136: )

Dưới gốc cây Bạch Đàn, có một quán nước nhỏ, bà chủ quán họ Chu, là một thiếu phụ mới gần ba mươi, xuất giá chưa lâu. Dân ở thành Bạch Đế lâu năm đều biết, nếu muốn biết thông tin hay cần trợ giúp chuyện gì, thì đều nên đến quán nước này một chuyến.

Lúc này, trong quán của bà chủ Chu chỉ tiếp một vị khách trẻ tuổi. Người này có dáng dấp của thư sinh, ngũ quan thanh tú, da trắng như bôi phấn, mày liễu mắt phượng, quả là một mỹ nam không quen nắng gió. Y nói:

“Bà chủ, không biết việc tại hạ nhờ cậy...”

Y nói đến đây thì Chu thị đã đon đả ngắt lời:

“Gì mà ‘bà chủ’ xa cách vậy chứ? Chú cứ gọi một tiếng ‘chị’ là được rồi. Chuyện chị hứa, chú cứ yên tâm, đợi chút nữa đại ca qua đây chị sẽ giới thiệu cho chú một chút!”

Vừa nói lại vừa đưa tay ra vỗ nhẹ vào cánh tay thiếu niên tuấn mỹ. Thiếu niên kia hiển nhiên là không có vẻ quen thuộc với nữ sắc, bị cử chỉ “thân mật” này của bà chủ Chu dọa cho mặt đỏ đến tận mang tai, không được tự nhiên mà ấp úng mãi mới rặn ra được một tiếng “chị”.

Thiếu phụ thấy phản ứng này của chàng trai trước mắt thì thích chí cười khanh khách. Đúng lúc này thì nghe thấy tiếng nói rằng:

“Em dâu, mới sáng sớm đã ghẹo trai rồi, không sợ Hoàng lão đệ đau lòng sao?”

Chỉ thấy người đi tới là một trung niên mặt chuột, ngoại trừ Hạ Hầu Duyệt ra thì còn ai vào đây nữa? Nhìn rõ người mới đến, Chu thị cười nói:

“Đại ca, chồng em cũng không nhỏ nhen như thế!”

Đoạn đứng lên vẫy vẫy tay:

“Đại ca, mau vào đây, em giới thiệu khách quý với anh!”

Hạ Hầu Duyệt vốn cũng chỉ là đùa vui không hề có ác ý, nghe vậy thì cười lên một tiếng sảng khoái rồi tiến tới, ngồi xuống một cái ghế khác trong quán. Bà chủ Chu lúc này mới nói:

“Đại ca, vị này là Lã công tử, muốn bàn với huynh thu xếp lấy một chỗ lập quầy xem bói.”

Đoạn, vừa nháy mắt, vừa tiếp tục “quảng cáo”:

“Lã công tử tuổi trẻ tài cao, chỉ là ở nơi đây lạ nước lạ cái nên mới cần chúng ta giúp một tay!”

Hạ Hầu Duyệt nhận được ám hiệu của bà chủ quán mới quay sang đánh giá thiếu niên một lượt. Thấy rõ dung mạo của vị trước mắt thì ho khan một trận, rồi cuối cùng mới nói:

“Lã công tử, việc công tử cần làm, tại hạ giúp được. Chỉ là, cũng cần chút chi phí...”

Nghe gã nói vậy, thiếu niên họ Lã cũng không lấy làm lạ. Chỉ thấy y vỗ nhẫn chứa vật, lấy ra một túi tiền nhỏ, ném cho Hạ Hầu Duyệt. Họ Hạ Hầu nhận lấy túi tiền, lắc lắc hai cái rồi đưa lại cho thiếu niên. Đoạn đứng lên, làm thủ thế mời, nói:

“Vậy mời Lã công tử vào phòng nói chuyện!”

Thiếu niên đứng lên, theo gót Hạ Hầu Duyệt vào một căn phòng nhỏ ở ngay gần sát quán nước. Trong phòng nhỏ bày trí đơn sơ nhưng thực dụng, có một cái bàn tiếp khách nhỏ với vài cái ghế xung quanh, một bàn làm việc, cùng một cái tủ nhỏ. Họ Hạ Hầu mời Lã công tử ngồi xuống; sau đó, gã mới mở tủ, lấy ra một cái bọc được gói ghém cẩn thận, bóc đi lớp vỏ bằng lá để trưng lên mời khách.

Thiếu niên họ Lã nhìn đĩa nem chua trước mặt, gật đầu một cái nhưng cũng không có hành động gì khác. Đúng lúc này, Chu thị mới từ ngoài bưng một cái khay vào; sau khi đặt hai cái chén cùng một bầu rượu xuống, liền chào hai người trong phòng rồi lui ra. Khi ấy, mới thấy thiếu niên họ Lã rất thành thục mà tự phục vụ. Hạ Hầu Duyệt nhìn Lã công tử mà chặc lưỡi, thầm khen cô “em dâu” có mắt nhìn người.

Quả thật, việc Hạ Hầu Duyệt mới đến thành Bạch Đế có mấy tháng mà đã không khác gì “thổ địa” nơi đây – có địa vị cùng quan hệ rộng rãi như hiện tại – không thể thiếu công lao của bà chủ Chu và chồng của y thị, ông chủ Hoàng. Mà quan hệ của gã với hai người này, phải bắt đầu kể từ chuyện của hai mươi năm về trước.

Hồi đó, Nghiêm Hàn còn đang càn quét lục quốc, thế như chẻ tre. Hạ Hầu Duyệt và một thiếu niên họ Hoàng cùng bị hoàng thất nước Sở ép đầu quân cho một đơn vị. Nhờ hợp tính, nên hai người cũng khá thân thiết nhau. Năm ấy, trong lúc tình hình vô cùng nguy hiểm, chính là Trường Mệnh Trùng đã tạo cơ hội cho thiếu niên kia đào ngũ, lại ở lại ngụy tạo chứng cứ, giúp y chót lọt thoát ly quân đội. Thiếu niên nọ bỏ đi biệt xứ, lưu lạc đến tận Đại Việt.

Tự biết bản thân không có thiên phú tu luyện, họ Hoàng chuyển sang làm ăn buôn bán. Ngoài sáng, y mở một tiệm kinh doanh trang sức. Trong tối, y làm cò mồi, móc nối đủ loại quan hệ giữa các phe phái cả hắc đạo lẫn bạch đạo, cùng bán các loại thông tin, tình báo cho Thiên Cơ các. Cũng do đặc thù công việc mà y thường xuyên lui tới quán nước của Chu thị, rồi lâu ngày hai người bén duyên, nên vợ nên chồng.

Thế nhưng cái nghề này, lợi nhuận tuy nhiều nhưng nguy hiểm cũng không ít. Ông chủ Hoàng sau ngần ấy năm vẫn chỉ dậm chân tại đệ Nhất cảnh, khi trước một thân một mình thì không nói, nhưng giờ đã lập gia đình, hai vợ chồng cũng bắt đầu lo lắng cho tương lai.

Đúng lúc ấy thì Trường Mệnh Trùng đặt chân đến thành Bạch Đế. Huynh đệ lâu ngày không gặp mặt, tay bắt mặt mừng. Sau khi kể cho nhau nghe chuyện mấy năm nay, thì hai người đàn ông quyết định kết nghĩa anh em. Thế rồi, ông chủ Hoàng cũng dứt khoát chuyển nhượng hết các mối làm ăn trong tối của mình cho đại ca. Còn bản thân gã và vợ thì lui về cánh gà, làm cố vấn và hỗ trợ cho Hạ Hầu Duyệt tiếp quản cơ ngơi cũ của họ thôi.

Trường Mệnh Trùng lăn lộn giang hồ bao năm nay, thủ đoạn giữ mạng cùng tính cẩn thận đã được rèn giũa, lại thêm tài ăn nói cùng sự trợ giúp của hai vợ chồng Chu – Hoàng, thành thử cũng không mất quá nhiều thời gian để các mối quan hệ làm ăn cũ của ông chủ Hoàng tiếp nhận “tổng quản” mới. Thậm chí, chả biết là ai bắt đầu, nhưng gần đây, mọi người trong thành Bạch Đế còn bắt đầu gọi Hạ Hầu Duyệt là “Hạ Hầu Tổng”.

Quay lại kể chuyện trong phòng nhỏ hiện tại. Họ Lã ăn vài miếng, thấy nem chua Hạ Hầu Duyệt lấy ra được bảo quản rất tốt, vẫn còn mát thì cũng có chút ngạc nhiên.

Phải biết, tuy Nguyễn Đông Thanh bày món dân dã này cho ải Quan Lâm làm món bình dân, cũng không hề dặn bọn họ che giấu công thức, nhưng dù gì Huyền Hoàng giới cũng chẳng phải Địa Cầu, các loại vi sinh gây hại thì nguy hiểm hơn mà trình độ công nghệ lại kém xa. Chỉ nguyên mấy loại kỹ thuật như cấp đông, giữ mát cũng đã cần cường giả Vụ Hải nhúng tay rồi. Thành thử, ở Quan Lâm thì món này đúng là đầy đường, nhà nào cũng có, nhưng tại các nơi khác, thì nem chua chẳng khác nào món ăn của quý tộc. Nếu không có quan hệ rộng rãi, quen biết trù sư cấp cao, hoặc có tiền để mua lại từ đám thương lái, thì muốn ăn món này cũng chỉ có cách chạy đến ải Quan Lâm.

Việc Hạ Hầu Duyệt nhờ mạng lưới quan hệ mà mua được giá rẻ từ đám lái buôn thì thiếu niên họ Lã có thể đoán được một hai, thế nhưng việc gã bảo quản bằng cách nào... thì y cũng vô cùng tò mò. Hỏi ra thì họ Hạ Hầu chỉ cái tủ nhỏ trong phòng, nói:

“Chả giấu công tử, xá muội vốn thích làm mộc, mấy bữa trước từng nghe một vị bằng hữu nói vui mấy câu, tiện tay chế ra cái ‘tủ lạnh’ này. Tại hạ lại nhờ quan hệ với một vị đại nhân trong phủ thành chủ, xin được y dùng thần thông tạo cho một khối băng tan chậm lót vào trong.

“Từ đó cái tủ này có thể làm lạnh đồ ăn, bảo quản được lâu hơn chút. Mỗi tội, cứ mấy tháng tại hạ lại phải dùng thần thông gia cố lại tấm băng. Tuy hiệu quả không được như đại nhân, nhưng vẫn may đủ dùng.”

Thiếu niên họ Lã nghe vậy thì cũng không hỏi thêm. Cái “tủ lạnh” này, nghe qua thì hay đấy, nhưng chả mấy thực dụng. Bản thân cái tủ thì chỉ cần kiếm một thợ thủ công lành nghề thì ai cũng có được, cái duy nhất đặc sắc là khối băng kia. Thế nhưng... quá tốn kém. Thế lực đủ lớn để có thể được một vị cường giả đã vào Vụ Hải giúp cho một việc cỏn con như thế thì cũng thừa sức mua nem chua bất cứ lúc nào. Còn người có thể cần đến cái tủ này thì đâu phải ai cũng có quan hệ rộng như Hạ Hầu Duyệt để mà nhờ?

Lại nói, tuy họ Hạ Hầu không nói hẳn ra, thế nhưng với tu vi tứ cảnh của gã, dù có thể dùng thần thông gia cố lại tấm băng, nhưng cũng chỉ được vài năm là sẽ hết tác dụng, lại phải nhờ cường giả Vụ Hải giúp lần nữa. Thế nhưng, có lẽ cũng vì lý do này mà Hạ Hầu Tổng không hề có ý giấu giếm mà cứ yên tâm nói tường tận về lai lịch của cái tủ này. Biết càng rõ thì lại càng chẳng có ai thèm mang tâm tư đi trộm cướp nó...

Lã công tử lắc đầu, chuyển chủ đề nói về chính sự. Sau một hồi bàn bạc cùng Hạ Hầu Duyệt, giao dịch đạt đến thành công. Thiếu niên họ Lã giao tiền cọc rồi đứng lên chuẩn bị rời đi, thì chợt nhớ ra chuyện gì, bèn nói:

“Hạ Hầu Tổng, đa tạ chuyện hôm nay. Trước khi tạm biệt, để tại hạ xem cho ngài một quẻ lấy may.”

Đoạn, cũng không chờ Hạ Hầu Duyệt kịp mở miệng đáp ứng hay từ chối đã nói tiếp:

“Số mạng ngài cũng thật thú vị. Tuy long đong lận đận nhưng lại hữu kinh vô hiểm. Ngài phúc tuy nhỏ nhưng mạng lại lớn, tuy thường xuyên gặp nạn nhưng cũng thường xuyên gặp hung hóa cát.”

Ngưng một chút, Lã công tử nhíu mày, đoạn tiếp:

“Trong dạo thời gian trước mắt, nạn của ngài có liên quan đến binh đao. Ngoài ra, còn có liên quan đến...”

Nói đến đây thì chân mày của họ Lã nhíu càng chặt, mồ hôi chảy thành từng hột trên trán:

“Một chữ... Thủy.”

Chữ cuối này như rút hết sức lực của Lã công tử. Cậu chàng vội lau mồ hôi, nói lời cáo từ, rồi đi thẳng. Ra ngoài, đi xa khỏi quán nước một quãng, thiếu niên vịn vào một gốc cây, nôn ra một búng máu, sắc mặt tái mét, không nhịn được mà rủa một câu:

“Mẹ kiếp, thằng cha họ Hạ Hầu này chuẩn bị đắc tội vị đại nhân vật nào mà bản thiếu chỉ muốn tra cái tên thôi cũng chật vật như vậy?”

Tái bút: cái dự đoán khiến Lã công tử hộc máu đúng là vì bói đến anh Thanh nhà chúng ta đấy. Tạm thời hiểu là “Đông” trong “mùa đông”, “Thanh” trong “thanh tao, trong sạch”, nên tên hắn có cả bộ “băng” và bộ “thủy”.

Số chương còn lại hôm nay: 3 chương ngoại truyện.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 192: Phụ Chương: Cô Thợ Thủ Công Họ Hàn (2)


Hạ Hầu Duyệt nhìn bóng lưng của Lã công tử vội vã rời đi mà chặc lưỡi một cái. Gã đẩy cửa ra, ngồi xuống ghế ở quán nước đoạn nói với Chu thị:

“Em dâu, cũng may là em nhắc anh. Nếu không anh suýt thì định giới thiệu thằng nhóc đó đi làm nam sủng cho mấy vị quý nhân trong thành rồi!”

Bà chủ quán nước cười khanh khách:

“Đại ca, chính vì người ta là một con cừu béo nên em mới không muốn anh đắc tội đó. Nhìn thôi là đã biết là công tử quyền quý được bao bọc lâu năm lần đầu chạy ra trải nghiệm cuộc đời rồi! Với cái mặt ấy thì cậu ta cần gì biết coi bói, mở hàng ra thôi thì các cô nương đã xếp hàng dài từ đầu thành đến cuối thành chỉ để ngắm rồi!”

Hạ Hầu Duyệt cũng cười, nói:

“Ấy thế nhưng ta xem chừng cậu ta cũng có mấy phần bản sự đấy. Có lẽ nên cho người tra một chút.”

“Ồ, vậy sao? Cậu ta nói gì mà lại để đại ca chú ý như vậy? Tò mò nha! Để muội cho người đi hỏi thăm.”

“Chỉ là trực giác thôi.”

Hạ Hầu Tổng đáp, đoạn thuật lại ba câu nói trước lúc rời đi của thiếu niên nọ. Kỳ thực, gã có cảm nhận như vậy về vị Lã công tử không phài vì lời cậu ta nói mà vì biểu hiện, sắc mặt cậu chàng khi nói những lời ấy không giống diễn kịch. Chứ nội dung mấy câu ban nãy cũng không quá đặc biệt.

Việc Hạ Hầu Duyệt hắn phúc nhỏ mạng lớn chỉ cần hỏi thăm một chút là biết. Việc hắn có đầu quân cho phủ thành chủ cũng không phải là bí mật gì, nên có đoán bừa ra một cái “nạn binh đao” thì khả năng trúng cũng không thấp. Còn câu cuối cùng thì quá chung chung. Thế nhưng, sắc mặt biến đổi cùng phản ứng kỳ lạ của cậu thiếu niên thì rất khó làm giả. Hạ Hầu Duyệt lăn lộn bao năm nay, gặp đủ loại người, nếu chút bản sự này cũng không có thì hắn cũng không tồn tại được đến tận bây giờ. Gã lại cẩn thận đã thành thói quen, nên cũng không ngại kiểm tra kỹ một chút về thân thế họ Lã.

Hạ Hầu Tổng của chúng ta còn đang suy nghĩ thì một bóng nhỏ đã vụt đến, cùng với một tiếng thét lanh lảnh:

“Đại ca, cứu mạng!!!”

Giọng nói này kéo Hạ Hầu Duyệt về hiện tại, lại khiến sống lưng hắn không rét mà run. Gã dằn giọng:

“Tiểu nha đầu muội lần này lại đem cái họa gì về cho ta gánh rồi?”

Hạ Hầu Duyệt không thân không thích. Trên đời chỉ có ba người gọi hắn là “đại ca”, hai vợ chồng Hoàng – Chu do giao tình từ hai mươi năm về trước, và cô thiếu nữ trước mặt này. Nàng ta tên Hàn Thu Thủy, đến thành Bạch Đế trước gã không lâu. Từ khi quen biết cô gái này đến giờ, nói một câu khó nghe thì cô nàng chỉ toàn mang đến cho hắn các loại vấn đề nan giải cùng những cơn đau đầu. Thế nhưng, có lẽ vì tính cách cũng như ngoại hình cô bé có vài phần tương tự người em gái ruột xấu số của hắn, đã mất gần 30 năm trước, mà họ Hạ Hầu hết sức cưng chiều, che chở nàng ta.

Hàn Thu Thủy cười nịnh:

“Đại ca, lần này muội chỉ là nhỡ tay thôi!”

“Có lần nào mà muội không phải là lỡ tay? Nói, lần này là chọc vào ai?”

“Là... là khách của nhị ca.”

Nhị ca trong miệng Hàn thị đương nhiên là ông chủ Hoàng.

Kỳ thực, cô nàng xuất thân từ Hàn gia của Đại Yến, là một gia tộc có truyền thừa lâu đời về thuật luyện kim, rèn đúc, cùng chế tác. Từ rất lâu rồi, tại Huyền Hoàng giới có câu nói, không có gì trên đời mà Hàn gia không thể chế tạo, vấn đề chỉ là liệu người ta có chịu làm hay không thôi. Thậm chí, người ta còn đồn đại, thuật luyện khí có thể có thành tựu ngày hôm nay, công lao lớn nhất chính là của Hàn gia.

Thế nhưng, cũng không rõ vì lý do gì, từ hơn ba ngàn năm trước, gia chủ Hàn gia ban bố một cấm lệnh, ghi hẳn vào tổ huấn, nghiêm cấm con cháu Hàn gia cũng như các đời gia chủ kế nhiệm tham gia chế tác bất kỳ loại vật nào có thể dùng làm vũ khí. Kể từ đấy, Hàn gia gần như thu mình lại, chủ yếu chỉ chế tạo các loại trang sức, đồ gia dụng. Thế nhân vì thế cũng dần quên đi một cự đầu luyện khí, chỉ còn biết đến một gia tộc thợ thủ công.

Mà Hàn Thu Thủy – với tay nghề, đầu óc, cùng danh phận tại Hàn gia – vốn có thể là ứng viên sáng giá nhất cho chức gia chủ đời kế tiếp. Chả nói đâu xa, cái “tủ lạnh” trong phòng tiếp khách của họ Hạ Hầu chính là tác phẩm của cô nàng. Vậy nên, việc nàng ta lưu lạc đến tận Đại Việt xa xôi, lại phải nhờ vả tới Hạ Hầu Duyệt hẳn là có ẩn tình sâu xa.

Ẩn tình này là gì, Hàn thị không kể, mà Trường Mệnh Trùng cũng không hỏi. Chỉ biết, lần đầu gặp gỡ, Hàn Thu Thủy vốn đang làm thuê cho ông chủ Hoàng. Tay nghề của cô bé khó tìm được cái để chê, thế nhưng tính cách lại có chút tùy tiện. Lần đó chính là Hạ Hầu Tổng của chúng ta ra mặt cầu tình hộ cô bé trước cơn thịnh nộ của người em kết nghĩa. Nếu nàng ta không may mắn được cả Hạ Hầu Duyệt lẫn Chu thị yêu thích, thì chắc đã bị ông chủ Hoàng đuổi đi lâu rồi.

Hàn Thu Thủy thông minh nhanh trí, biết có người thưởng thức mình thì cũng nhanh chóng ôm chặt hai bắp đùi ấy, cứ một câu “đại ca”, hai câu “nhị tẩu”, khiến cho ông chủ Hoàng dù không muốn cũng chỉ đành “ngậm bồ hòn làm ngọt”. Biết làm sao được, ai bảo cả vợ lẫn đại ca gã đều bảo vệ cho người ta?

Hạ Hầu Duyệt nghe cô bé trước mặt nói là khách của họ Hoàng thì “xí” một tiếng, nheo mắt nhìn khinh bỉ:

“Muội lại ‘chữa lợn lành thành lợn què’ rồi chứ gì?”

Quả thực lý do chính khiến ông chủ Hoàng muốn đem con nhỏ này đuổi quách đi cho rảnh nợ chính là vì nàng ta tay nghề quá cao, không thích mấy cái đơn đặt hàng “thiếu tính thử thách”. Thành thử, nhiều khi khách hàng chỉ mang đồ đến sửa thôi, nếu Hàn Thu Thủy cứ y việc mà làm, thì chẳng những nhanh mà còn tốt đến mỹ mãn, quả thực là việc nhẹ lương cao. Thế nhưng, cô nàng lần nào cũng nổi hứng “cải tiến” với “nâng cấp” sản phẩm. Và kết quả dù là thành công hay thất bại theo định nghĩa của nàng ta... đều sẽ khiến cho khách hàng đè họ Hoàng ra “đòi đền bù”.

Thấy vẻ mặt đau khổ của Hạ Hầu Duyệt, bà chủ Chu cười lên khanh khách:

“Đại ca, anh nói xem, cái đại nạn lâm đầu anh thời gian tới trong miệng Lã công tử không phải là nói Thu Thủy nhà ta đấy chứ?”

“Dám lắm!”

Họ Hạ Hầu cũng cười như mếu đáp.

Hàn Thu Thủy tự dưng bị anh chị nói xấu, đảo mắt một cái, phồng má lên, nói:

“Lã công tử là ai? Sao tự dưng hắn lại nói xấu muội?”

Đoạn, xoay người, xem chừng định chạy đi tìm người tính sổ. Nhưng chưa kịp chạy thì đã bị Hạ Hầu Duyệt túm cổ lại từ phía sau.

“Chạy đi đâu? Tưởng ta không biết muội định lấy cớ bỏ đi lánh nạn hử?”

Chu thị thấy thế thì cười cười, bổ thêm một đao:

“Hơn nữa, Lã công tử là khách quý của nhà ta, để em đuổi kịp, với cái tính háo sắc của em, nhỡ không nhịn được mà cướp sắc thì chị với đại ca cô biết kiếm ai bắt đền bây giờ?”

Hàn Thu Thủy ban nãy chỉ là kiếm cớ bỏ trốn ông chủ Hoàng, nhưng giờ nghe vậy thì bắt đầu có vài phần hứng thú, bèn hỏi:

“Đẹp trai lắm sao?”

Bà chủ quán nước chỉ mỉm cười, không đáp. Hàn thị thấy vậy thì bắt đầu giãy giụa muốn thoát khỏi tay họ Hạ Hầu:

“Đại ca, thả muội ra đi mà, muội hứa chỉ chạy đi ngắm Lã công tử rồi về liền, tuyệt đối không làm gì quá phận!”

“Bớt nói nhảm! Còn không mau ngoan ngoãn cùng ta đi gặp nhị ca của muội?”

“Đừng! Đại ca, anh thế này là hại chết em đấy!”

Hạ Hầu Duyệt thả cổ áo cô bé ra, nhưng lại túm tay dẫn đi trong tiếng cười và giọng nói với theo của Chu thị:

“Đi sớm về sớm, trưa xong việc ba anh em nhớ về nhà ăn cơm!”

oOo

Hai người đi được một đoạn, Hàn Thu Thủy như nhớ ra chuyện gì, liền quay qua hỏi Hạ Hầu Duyệt:

“Đại ca, gia gia của muội đã có tin tức gì chưa?”

Họ Hạ Hầu liếc mắt nhìn cô nàng, rồi từ tốn đáp:

“Lão Kiếm Tiên cả đời độc lai độc vãng, không vợ không con, cũng chưa từng có tình lữ, từ bao giờ lại tòi ra một cô cháu gái như muội rồi?”

“Như vậy là huynh tìm được gia gia muội rồi?”

Thấy họ Hạ Hầu nhìn mình chằm chằm với ánh mắt chất vấn, cô nàng cũng có chút xấu hổ, ho khan một tiếng, nói:

“Được rồi, nói cho huynh cũng không sao. Ông ấy không có quan hệ huyết thống với muội, nhưng gần bốn mươi năm trước, ông ấy từng cứu mạng gia phụ. Người ta bảo cứu mạng là ơn tái tạo, muội gọi ông ấy một tiếng ‘gia gia’ cũng nào có gì sai?”

Hạ Hầu Duyệt nghe đáp vậy thì cũng chỉ biết bó tay với lối nghĩ của cô nàng. Y bèn nói:

“Sở lão đầu hiện tại ở một thôn nhỏ tên Đoài gần ải Quan Lâm, cách thành Bạch Đế chừng tám, chín trăm dặm gì đó về hướng Bắc.”

“Đa tạ đại ca! À đúng rồi, mấy ngày tới có thể muội phải đi có việc. Có một loại kim loại khá khó kiếm mà muội đang cần.”

“Ta là đại ca của muội, không cần đa tạ. Mà cần cái gì? Để làm gì? Cần anh hỏi giúp không? Nhận đơn đặt hàng nào mới à?”

“Không, muội tự tìm được. Cũng không phải là đồ gì đắt tiền, chỉ là có chút đặc thù, không dễ tìm mua thôi. Chả là em định làm một món đồ còn đem làm quà ra mắt gia gia. Lần đầu gặp ân nhân của phụ thân muội, cũng đâu thể qua loa được?”

Hạ Hầu Duyệt gật gù:

“Con nha đầu muội mà cũng có lúc suy nghĩ chu đáo có trước có sau nhỉ?”

“Muội lúc nào chả chu đáo?”

Hàn Thu Thủy bắt đầu nói, nhưng khi thấy ánh mắt khinh bỉ của đại ca mình thì chột dạ, vội nhìn đi hướng khác. Cũng may họ Hạ Hầu không hỏi thêm về chuyện này mà đổi chủ đề:

“À đúng rồi, có đơn đặt hàng cho ‘Hộ Vân Thần Giáp’. Đối phương cần mười cái. Trước khi đi thì làm cho đủ hàng, anh còn tiện bàn giao với khách.”

“Muội đã bảo mà, ‘Kim cang xà lỏn’ của muội nhất định sẽ bán đắt hàng!”

Hạ Hầu Duyệt ho khan:

“Cái gì mà ‘kim cang xà lỏn’, anh đã nói bao nhiêu lần rồi? Tên thị trường của nó là ‘Hộ Vân Thần Giáp’!”

Hàn Thu Thủy “xí” một tiếng, phàn nàn:

“Tên quá chung chung, chả có cá tính gì cả, chả có gì đặc biệt! Đến cái tên thử nghiệm ban đầu ‘tiên thủ bộ hạ vì cường’ của em còn nghe hay hơn!”

Số chương còn lại hôm nay: 2 chương ngoại truyện.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 193: Phụ Chương: Bùi Thiếu Muốn Đầu Tư (3)


Trưa hôm đó, bốn người Hạ Hầu, Hoàng, Chu, Hàn quây quần quanh một mâm cơm. Đồ ăn không tính là sơn hào hải vị, nhưng cũng không đến nỗi đạm bạc, vẫn được ba món thịt, hai món rau, cùng một món canh.

Ông chủ Hoàng sau sự ra mặt điều đình của cả anh trai và vợ thì cũng đành đầy bất lực chấp nhận bỏ qua cho Hàn Thu Thủy. Cũng may, Chu thị hiểu ý lại yêu chiều chồng, nấu cho y mấy món khoái khẩu, nên sự tức giận cùng khó chịu của gã cũng vơi đi không ít.

Đang ăn, thì bà chủ Chu quay sang Hạ Hầu Duyệt, nói:

“Đúng rồi, đại ca, em đã dặn người của ta chú ý Lã công tử rồi. Lúc nói chuyện với bọn họ, em còn nghe được một chuyện khá thú vị.”

“Chuyện gì vậy, nhị tẩu? Kể đi, kể đi, kể đi!”

Họ Hạ Hầu còn chưa kịp hỏi thì Hàn thị đã không kiềm chế được sự tò mò rồi.

Chu thị cười khẽ, đáp:

“Sợ nói ra em sẽ mất hứng đó. Chỉ là, dạo một tháng nay, có một nhóm người thần bí thu mua một số lượng lớn vài loại dược liệu. Khắp các nhà thuốc lớn nhỏ trong thành đều có dấu hiệu hết hàng, mà gần như cứ nhập hàng lại là đám người kia lại cho thu mua.”

Y như dự đoán, Hàn Thu Thủy nghe thấy chỉ là chuyện này thì xị mặt xuống, nói:

“Chán như vậy thì có gì thú vị chứ? Nhị tẩu, chị lừa em!”

Hạ Hầu Duyệt lắc đầu cười khổ, không buồn lí tới cô bé, mà hỏi em dâu:

“Giá cả như thế nào?”

“Bọn họ mua gấp năm lần giá thị trường, người của chúng ta cũng đã kiếm được không ít.”

Họ Hạ Hầu nghe vậy thì gãi cằm suy nghĩ hồi lâu, rồi mới nói:

“Đúng là kỳ lạ. Nếu chuyện này đã xảy ra lâu như vậy, không có lý nào phủ thành chủ còn chưa biết. Nhưng đến bây giờ, anh vẫn chưa nghe thấy thành chủ có động thái gì.”

Ngưng một chốc, y lại tiếp:

“Em dâu, dặn người của chúng ta, mỗi lần thu mua thì chín phần giao cho khách, nhưng sang tay cho chúng ta một phần, cất vào kho của ta. Cần thì chúng ta bớt tiền ra bồi thường lại khoản thiếu kia.”

Ông chủ Hoàng nghe vậy thì chợt hỏi:

“Đại ca, anh cảm thấy mối làm ăn này có vấn đề sao?”

“Anh cũng chưa dám chắc, thế nhưng cứ cẩn thận vẫn hơn.”

Hai vợ chồng Chu, Hoàng nghe vậy thì đều gật gù, duy chỉ có Hàn thị vẫn chưa hiểu, hỏi:

“Đại ca, sao phải phức tạp như thế? Nếu đối phương có vấn đề, chả phải chỉ cần cự tuyệt là xong sao?”

Nghe cô nàng hỏi vậy, mặt Hạ Hầu Tổng của chúng ta giật giật. Ông chủ Hoàng cũng nhìn cô bé với ánh mắt như nhìn kẻ ngu. Bà chủ quán nước nhịn cười, giải thích:

“Tiểu thư của tôi ơi, nào có đơn giản như vậy? Chúng ta mới chỉ là nghi ngờ, chả có chứng cớ gì, lại đi từ chối một mối làm ăn tốt như vậy, đến người mình còn chả phục nổi nói chi người ngoài?

“Mà với cái giá họ trả, chúng ta không tham gia vào, người ta cũng sẽ vẫn đạt mục đích thôi, khác biệt duy nhất là chúng ta không xơ múi được gì. Ngược lại, nếu người ta thật sự không có vấn đề gì, chỉ là chúng ta ‘lo bò trắng răng’, thì chả phải bỏ qua một món lợi kếch xù cho kẻ khác hưởng sao?”

Hạ Hầu Duyệt lúc này cũng tiếp lời:

“Chưa kể, hành động thu mua này có dấu hiệu đầu cơ tích trữ như vậy mà phủ thành chủ không có động tĩnh gì. Thế nên anh mới nghi ngờ đối phương là kẻ chúng ta không thể chọc vào được. Việc chúng ta tích trữ một lượng nhỏ chỉ là phòng thân, dù có lộ ra thì cũng có thể thu xếp nói chuyện. Nhưng nếu thẳng thừng từ chối, thì sẽ trực tiếp đắc tội họ.”

Hàn Thu Thủy nghe đến đây mới hiểu ra, giơ ngón cái lên, nói:

“Đại ca thật lợi hại!”

Ông chủ Hoàng thấy vẻ xun xoe của cô bé thì “hứ” lên một tiếng, đoạn khinh bỉ:

“Chỉ giỏi nịnh nọt!”

“Nhị tẩu, nhị ca bắt nạt em! Chị mau quản chồng chị đi!”

Hàn thị không chịu yếu thế, chạy ra núp sau lưng Chu thị, mách lẻo.

“Anh ấy nói oan cho em chắc? Chuyên tâm để ý một chút đi. Ngần này tuổi đầu rồi mà cứ như người trời ấy!”

Hàn Thu Thủy khi không lại bị chị dâu đâm cho một nhát bất ngờ, ủy khuất quay qua phía Hạ Hầu Duyệt:

“Đại ca, vợ chồng nhị ca hợp sức lại bắt nạt em!”

“Bớt làm trò đi! Tập trung ăn cho xong chiều còn đi làm việc. Muội lo mà làm công trả nợ cho nhị ca muội đi.”

“Ăn thì ăn. Làm thì làm. Làm gì căng? Với tài năng của muội mà còn sợ không kiếm được tiền chắc? Đợi sau này muội có tiền có quyền rồi, xem mọi người còn khinh thường muội được nữa hay không?”

Thấy cả nhà không ai đứng ở phía mình, Hàn thị “đau khổ” lầu bầu.

“Được rồi, được rồi, em là giỏi nhất!”

Bà chủ Chu cười nói.

“Cứ làm tốt việc trước mắt đi rồi nói.”

Câu này là của Hạ Hầu Duyệt.

“Cẩn thận nói trước bước không qua.”

Ông chủ Hoàng cũng cười, góp một câu.

Bữa trưa của một gia đình bốn người không chung huyết thống cứ thế mà vui vẻ trôi qua.

oOo

Buổi chiều, Hạ Hầu Duyệt ghé qua quảng trường chính gần phủ thành chủ xem qua một lượt bảng dán cáo thị xem có mối làm ăn nào đáng chú ý không, lại tạt qua khu của binh lính, nghĩa sĩ nói chuyện với người quen vài câu. Sau đó mới về phòng làm việc ở gần quán nước dưới gốc cây Bạch Đàn.

Khi hắn về tới nơi thì đã có không ít võ giả ngồi chờ ở hàng nước.

Chả là, từ sau khi võ đài ngầm ở trong thành bị Lý Thanh Vân phá bỏ, thì đám võ sĩ này đã cùng đường lại càng mạt lộ hơn. Không ít kẻ vì đồng tiền bát gạo mà chuyển sang cướp bóc đánh người, khiến tỉ lệ phạm tội tại Bạch Đế thành đột nhiên tăng vọt. Về sau phủ thành chủ cho binh lính bắt đám này nhốt vào đại lao thì tình hình mới lắng bớt xuống.

Những võ giả chưa bị nhốt vào lao tù thì thường xuyên chạy đến chỗ họ Hạ Hầu hỏi xem có việc gì bọn họ có thể làm kiếm miếng cơm hay không, khiến hắn cũng khá đau đầu. Từ chối đám người này thì không ổn, nhưng muốn kiếm việc bọn họ có thể làm cũng không phải là dễ dàng.

Cũng may, dạo gần đây, phía bên người tổ chức võ đài ngầm cũng đã có liên lạc với Hạ Hầu Tổng của chúng ta, đánh tiếng về việc cần tìm kiếm thêm nguồn tiền để xây dựng lại. Chỉ có điều, tiền vốn bọn họ có hiện tại thực ra chính là tiền ban đầu định thưởng cho đám võ sĩ. Thế nên, từ một góc độ nào đó, vấn đề khiến hắn mệt mỏi bấy lâu nay cũng từ họ mà ra cả.

Biết thì biết vậy nhưng Hạ Hầu Duyệt cũng chả thừa hơi đi oán trách ai. Tất cả bọn họ đều thân bất do kỷ, đang tìm cách sống trong hoàn cảnh mà cuộc đời ép họ vào mà thôi.

Sau khi tiêu tốn một hồi nước bọt, Hạ Hầu Tổng cũng tiễn được đám võ giả trước cửa đi, hứa hẹn nếu thấy mối làm ăn nào phù hợp sẽ cho người đến gọi bọn họ. Gã mới ngồi xuống còn chưa ấm chỗ thì đã có người đến tìm.

Kẻ tới là một thanh niên ngoài hai mươi ăn mặc theo lối đạo gia. Đây không phải ai khác mà chính là một trong hai người em kết nghĩa của Phó Kinh Hồng – Bùi Xuân Luận.

Họ Bùi hôm nay tới đây, đương nhiên là vì nhiệm vụ của hệ thống.

Dạo thời gian gần đây, hệ thống giao cho đám người Trang Bức thần giáo một lượng lớn “nhiệm vụ danh tiếng” ở châu Ngọc Lân. Nhiệm vụ cụ thể của Bùi Xuân Luận lần này là quyên tiền đầu tư giúp cho võ đài ngầm xây dựng lại.

Thế nhưng, võ đài ngầm muốn hoạt động thì cần bảo trì bí mật, không phải ai muốn đầu tư cũng được, mà cần có người giới thiệu. Lại thêm Trang Bức thần giáo tại Huyền Hoàng giới cũng không phải một tổ chức có tiếng tăm tốt đẹp gì. Tuy có không ít thế lực âm thầm qua lại với bọn chúng nhưng ngoài mặt thì vẫn phải tỏ vẻ tẩy chay.

Thành thử, Bùi Xuân Luận hôm nay đến tìm Hạ Hầu Duyệt cũng là vì chỉ có Hạ Hầu Tổng của chúng ta mới có thể giúp được hắn. Họ Bùi lúc này nói:

“Hạ Hầu Tổng, hạnh ngộ! Bần đạo là người của Ngọc Hư cung, đồ đệ của Trần Phan Nam đạo trưởng. Sư phụ có gửi lời chào hỏi tới các hạ!”

Nói đoạn thì lấy trong nhẫn chứa vật ra một phong thư, đặt lên bàn làm việc của Hạ Hầu Duyệt. Họ Hạ Hầu nghe thấy đối phương là người của Ngọc Hư cung thì cũng không dám chậm trễ, bèn mời hắn ngồi, rót hai chén trà, sau đó mới rời sự chú ý lên bức thư trên bàn.

Nội dung thư không có gì đặc biệt, chỉ là xác nhận lại đơn hàng Hộ Vân Thần Giáp, cùng đặt hàng thêm một số loại vật tư cần gấp. Dù thư này có lộ ra ngoài thì cũng chả ai phát hiện được gì khác biệt, chỉ có kẻ trong giới như Hạ Hầu Duyệt, biết mật mã được sử dụng, thì mới hiểu được nội dung thật ở bên trong. Trần đạo trưởng lấy cớ vật tư cần gấp, nên trả giá cao, lại khen Hộ Vân Thần Giáp là thần khí, đội giá thu mua lên. Thực chất, số tiền dôi ra này muốn nhờ họ Hạ Hầu ra mặt thay Ngọc Hư cung đầu tư xây dựng lại võ đài ngầm, lấy cho lão ta một thẻ bài thân phận nhà đầu tư.

Còn về phần tại sao Trần đạo trưởng cần phải thông qua hắn thì Hạ Hầu Tổng của chúng ta cũng chẳng hề có chút thắc mắc nào. Gã hiểu rõ Ngọc Hư cung tại Huyền Hoàng giới có tiếng là “danh môn chính phái”, đương nhiên không thể công khai ủng hộ việc xây dựng một cái “ổ tệ nạn” được. Thế nhưng, con dê béo này, ai mà chả muốn có phần?

Đương nhiên, Hạ Hầu Duyệt không mảy may biết đến chuyện đạo sĩ trẻ tuổi tên Bùi Xuân Luận trước mắt, hay kể cả vị trưởng lão Trần Phan Nam của Ngọc Hư cung kia, lại là người của Trang Bức thần giáo... mặc dù, cái biệt danh “Hạ Hầu Tổng” cũng như cái “tủ lạnh” trong phòng của hắn đều là ý tưởng của vị Trần đạo trưởng kia.

Số chương còn lại hôm nay: 1 chương ngoại truyện.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 194: Phụ Chương: Nhiệm Vụ Mới Của Bùi Thiếu (4)


Trang Bức thần giáo tuy bề ngoài là bị cả Huyền Hoàng giới phỉ nhổ, đuổi giết, thế nhưng, chỉ dựa vào việc giáo này tồn tại được đến hôm nay thôi cũng đã đủ để đoán bọn chúng thật ra nhận được không ít ủng hộ, bảo vệ từ trọng tối rồi. Kỳ thực, tuy đa số giáo chúng chỉ là một đám ô hợp, du thủ du thực, nhưng cũng có không ít những kẻ lọc lõi, cơ hội, giỏi lừa gạt đã trèo lên được các vị trí “đức cao vọng trọng” ở khắp Huyền Hoàng giới. Trần Phan Nam là một trong những kẻ này.

Họ Trần đã lăn lộn ở Huyền Hoàng giới gần ba mươi năm nay. Gã có tu vi so với vô hình trung của giáo chúng Trang Bức thần giáo tính ra cũng không thấp, là một trong số ít lên được đến tứ cảnh. Đương nhiên là nếu thực chiến thì Trần đạo trưởng chưa chắc đã đánh được tu luyện giả tam cảnh thông thường.

Thế nhưng Trần Phan Nam cũng được cái khôn lỏi, sáng tạo. Gã vận dụng khả năng xem bói mà hệ thống cho mình, giúp Ngọc Hư cung phát hiện nội gián, lập được đại công, nhờ thế mà được cao tầng môn phái thưởng thức, trở thành tâm phúc của Chấp Pháp trưởng lão. Gã lại dựa vào công phu phóng thích uy áp của hệ thống để lừa đệ tử của Ngọc Hư cung về tu vi thật của bản thân, lấy được ghế trong Trưởng lão hội.

Tuy về sau, cao tầng của môn phái cũng truy ra việc hắn là người của Trang Bức thần giáo, nhưng phần vì không muốn “vạch áo cho người xem lưng”, phần vì thấy khả năng của họ Trần hữu dụng, họ vẫn mắt nhắm mắt mở bỏ qua, thậm chí còn giúp gã che giấu thân phận trước mặt đệ tử bản môn. Đương nhiên, cũng vì vậy mà đồ đệ của Trần Phan Nam tại Ngọc Hư cung nếu không phải chỉ là đệ tử ký danh, hữu danh vô thực, thì cũng toàn là người của Trang Bức thần giáo, ví như họ Bùi chẳng hạn.

Lúc này, Bùi Xuân Luận thấy Hạ Hầu Duyệt đã đọc xong bức thư thì nhấp một ngụm trà, đoạn nói:

“Hạ Hầu Tổng, không biết ngài có thắc mắc gì về chủ kiến của gia sư hay không?”

“Không dám, phân phó của Trần đạo trưởng, tại hạ sẽ cố hết sức. Chỉ không biết lần này các ngài định mua bao nhiêu hàng?”

Họ Bùi nghe vậy thì hiểu ý, bèn lấy trong nhẫn chứa vật ra một túi tiền, đặt lên bàn. Họ Hạ Hầu nhận lấy, kiểm tra kỹ càng một lượt rồi nói:

“Nếu đã vậy, tại hạ liền đi thu xếp, ba ngày nữa sẽ giao toàn bộ hàng cho ngài!”

“Vậy thì xin đa tạ Hạ Hầu Tổng!”

oOo

Cùng lúc, tại một địa điểm bí mật nào đó.

Trong một căn phòng lớn, có mười mấy người quan sát đủ loại hình ảnh phát ra từ các “pháp bảo” lớn bé đặt khắp trong phòng. Ở chính giữa phòng là một cái ảo ảnh khổng lồ – chính là bản đồ toàn bộ Huyền Hoàng giới với đủ loại ký hiệu nhiều màu sáng lấp lánh. Nếu Nguyễn Đông Thanh mà ở đây thì chắc chắn sẽ cảm thán về công nghệ màn hình máy tính ảo tiên tiến như của Tony Stark trong mấy phần phim Người Sắt và Biệt Đội Báo Thù.

Lúc này, một người đang chăm chú nhìn “màn hình” bỗng giật mình, lùi lại một bước. Rồi, như vẫn không thể tin tưởng, hắn đưa tay lên dụi mắt, lại gõ nhẹ vào pháp bảo chiếu hình mấy cái. Sau hồi lâu, xác định bản thân không nhìn nhầm, gã mới chạy đến cánh cửa nhỏ ở góc phòng, gõ ba tiếng. Chờ một lúc, không thấy động tĩnh gì, gã lại gõ thêm ba tiếng nữa. Mấy hô hấp sau, bên trong mới có một giọng già nua, lại xen chút khó chịu truyền ra:

“Chuyện gì?”

“Bẩm đại nhân, người chúng ta phái tới thăm dò ở ải Quan Lâm mất tín hiệu.”

Người trong phòng trầm mặc một hồi rồi mới nói:

“Chết rồi sao? Cũng khó trách, dù gì cũng là đi thăm dò vị ở cổ viện...”

Tên chạy đến báo cáo vội nói:

“Dạ không! Là hệ thống của chúng ta mất tín hiệu, còn sinh cơ của hắn vẫn bình thường.”

Yên tĩnh.

Một giây, hai giây, rồi ba giây...

Sau đó cửa phòng bật mở. Một lão già đầu bù tóc rối như vừa mới ngủ dậy đứng ở phía bên kia cánh cửa. Lão túm lấy cổ áo tên vừa báo cáo, hỏi:

“Ngươi nhắc lại một lần nữa!”

“Đại nhân, ngài tự ra ngoài xem đi...”

Tên trẻ tuổi làm thủ thế mời.

Hai người già trẻ ra ngoài, kiểm tra hai cái màn hình theo dõi sinh cơ và tín hiệu hệ thống, lại kiểm tra màn hình lớn ở giữa phòng, xác định không có sai sót gì. Động tĩnh của hai người họ cũng khiến cả phòng chú ý. Chả mấy chốc, mười mấy người trong phòng đều trợn mắt há mồm nhìn từ màn hình này sang màn hình khác, kinh sợ không thôi. Mà lão già có vẻ là lãnh đạo cao nhất ở đây cũng đang một mặt kinh hãi, nói:

“Rốt cuộc là Bích Mặc tiên sinh kia có thủ đoạn thông thiên gì mà có thể không hại đến mạng người của chúng ta mà lại khiến hệ thống mất tín hiệu?”

Phải biết, lão ta đã theo dõi mấy cái ảo ảnh này mấy chục năm nay rồi, xưa giờ chỉ có sinh cơ mất tín hiệu, chứ chưa bao giờ gặp tình huống hệ thống xảy ra sự cố. Cho dù người có chết, tín hiệu hệ thống cũng sẽ vẫn còn đó, chờ chuyển giao cho tân binh. Vậy mà giờ đây, người còn sống sờ sờ đấy, thế mà hệ thống mất tín hiệu hoàn toàn. Quả thực nghĩ mà sợ. Lão ta cố ép bản thân bình tĩnh lại, ra lệnh cho cả phòng:

“Tất cả về vị trí tiếp tục nhiệm vụ! Nếu vì chuyện này mà xảy ra sai sót, đại nhân giáng tội xuống, các ngươi gánh nổi không?”

Đám người trong phòng nghe vậy thì cũng biết sợ, ai về chỗ nấy. Nhưng hiển nhiên là chẳng ai trong số họ nén nổi tò mò cùng lo lắng, thành thử, cứ chốc chốc lại có kẻ len lén liếc mắt nhìn về phía lão già lãnh đạo. Mà lúc này, lão ta đang quay qua tên trẻ tuổi ban nãy vừa báo cáo tình hình, hỏi:

“Người của ta ai ở gần đó nhất?”

Tên trẻ tuổi nhìn màn hình một lúc rồi đáp:

“Kẻ gần nhất hiện ở thành Bạch Đế ạ!”

“Mau để hắn chạy đến Quan Lâm điều tra tình hình!”

Yên lặng một chút, lão ta lại dặn thêm:

“Dặn hắn cẩn thận một chút, đừng đánh động Bích Mặc tiên sinh!”

Tên trẻ tuổi nghe vậy thì vội thi lễ, đoạn truyền thần thức vào một pháp bảo khác trong phòng. Trên màn hình của hắn hiện lên vài dòng ký tự chữ viết của Huyền Hoàng giới. Ngay sau đó, mấy dòng này biến đổi thành một đống ký tự lạ mà mấy người trong phòng không hiểu được, nhấp nháy hai cái, rồi biến mất.

Nếu Nguyễn Đông Thanh mà nhìn thấy mấy ký tự vừa biến mất kia, hẳn là sẽ há mồm trợn mắt kinh hô:

“Chữ Quốc ngữ?!”

oOo

Thu xếp xong xuôi vụ võ đài ngầm, Bùi Xuân Luận nói vài câu khách khí rồi từ biệt Hạ Hầu Duyệt. Hắn mới đi khỏi phòng làm việc của họ Hạ Hầu không lâu thì nhận được tin nhắn báo nhiệm vụ mới từ hệ thống:

[Đồng đội của bạn gặp trục trặc khi thi hành nhiệm vụ ở ải Quan Lâm. Cần người đến điều tra tình hình. Nhận nhiệm vụ?]

[Lưu ý: nhiệm vụ yêu cầu bí mật, không nên bứt dây động rừng!]

[Chấp nhận][Từ chối]

Họ Bùi nhận được thông tin nhiệm vụ mà giật thót mình. Trước khi chia tay Giả Cát Tường mấy hôm trước để chạy đến thành Bạch Đế, hắn nhớ đối phương chính là nhận nhiệm vụ đi ải Quan Lâm một chuyến. Gã bèn mở cửa sổ chat, tiếc đứt ruột mà rót một lượng chân khí khổ công thu thập vào, gửi đi một cái tin nhắn riêng.

Không có hồi âm. Thậm chí không có cả thông báo “đã đọc” từ hệ thống.

Lúc này, gã đã chắc đến tám chín phần kẻ gặp nạn trong nhiệm vụ của mình chính là họ Giả. Thế là, cũng không nghĩ ngợi nhiều, Bùi Xuân Luận bèn chấp nhận nhiệm vụ, rồi cấp tốc tìm cách đi tới Quan Lâm.

oOo

Chạng vạng tối cùng ngày, ở sâu trong khu rừng gần thôn Đoài nơi Sở Tinh Hà cư ngụ, có một kẻ đang lụi hụi đào đất.

Kẻ này không ai khác, chính là Cái Đế đã bị phế hết tu vi, Đặng Không.

Sau khi Sở Tinh Hà đuổi hai tên Quỷ Đói đi, họ Đặng đã bí mật chạy theo sau, nói chuyện với chúng lần nữa. Lão tự thấy mình không phải loại “không có tiền đồ” như họ Sở, nên đã chấp nhận sự giúp đỡ của hai tên Lâm Sấu, Lý Bàn, được chúng dạy cho một môn tà công luyện bằng thi thể người chết. Trước khi rời đi, hai con quỷ còn bày cho lão cách tìm mộ huyệt của đám đạo sĩ phái Chân Võ vốn được chôn ở trong rừng này.

Đặng Không chính đang quật mộ đám đạo sĩ lên để thực hành. Sở dĩ lão ta phải làm việc này vào lúc chạng vạng, mà không thể làm sớm hơn hay chờ đến tối muộn, vì ban ngày sẽ bị người dân trong thôn nhìn thấy, còn đêm khuya lại dễ đụng mặt đàn quỷ rừng. Nếu lão không muốn bị bắt gặp, thì cũng chỉ còn lúc này có thể hành sự.

Sau gần hai canh giờ đào bới, lão ăn mày mới đào được hết mười mấy cái xác đã được quỷ rừng an táng lên.

Lão ta vung tay, chụp l*n đ*nh đầu một cái xác, thử vận khí theo cách hai con quỷ đói bày. Tức thì, có một loại khí kỳ lạ bắt đầu rót vào đan điền trống rỗng không cách nào hấp thu chân khí của lão. Thế nhưng, đúng như lũ quỷ nói, cách này... quá chậm!

Đặng Không cắn răng, đưa ra quyết định thay đổi quãng đời còn lại của mình. Lão rút trong người ra một con dao nhỏ, cắt phăng ngón tay của một cái xác, rồi bỏ vào mồm nhai, nuốt. Loại khí kỳ lạ bạn nãy, chính là toàn bộ Sinh Mệnh Khí – khí của sự sống – ít ỏi còn sót lại trong ngón tay lập tức chảy vào đan điền lão ăn mày.

Lão già mừng húm, bắt đầu điên cuồng xẻ thịt lột da những cái xác, rồi bỏ từng miếng vào miệng nhai rau ráu.

Sự việc rùng rợn kinh tởm này diễn ra suốt gần một canh giờ kế tiếp mới dừng lại...

Đặng Không đứng lên ở giữa những mảnh xác còn sót lại. Lần nữa vận công cảm nhận thì thấy bản thân đã ở tam cảnh, thậm chí mấp mé tới tứ cảnh không sai biệt lắm. Lão bèn vung tay, dùng công phu lũ quỷ đói dạy, hút nốt Sinh Mệnh chi Khí từ những mảnh xác xung quanh. Khác với lúc trước khi lão còn là phàm nhân, phải đặt tay vào tận da thịt, lần này từ giữa lòng bàn tay của lão ăn mày có một sức hút vô hình, tựa như một cơn gió lốc cuốn lấy những mảnh x*c th*t quanh lão, dùng tốc độ mắt thường có thể nhìn thấy được rút sạch Sinh Mệnh Khí còn lại trong chúng ra.

Nếu Bích Mặc tiên sinh của chúng ta mà chứng kiến cảnh trước mắt, hẳn sẽ chửi thề một tiếng, rồi chốt một câu không đầu không đuôi như:

“Hấp tinh đại pháp bản hắc hóa?!”

Sau đó, một loại khí khác, hắc ám hơn Sinh Mệnh Khí, cũng được rút khỏi x*c th*t còn sót lại của đám đạo sĩ phái Chân Võ... Tử Vong Khí.

Sau khi toàn bộ cả Sinh Mệnh Khí và Tử Vong Khí đều bị hút cạn, những mảnh xác tan thành cát bụi, bị gió thổi đi... Còn tu vi của lão ăn mày Đặng Không, thì cũng đã vững vàng dừng lại ở tứ cảnh.

Lão già thỏa mãn ngửa mặt lên trời cười một tiếng nghe mà rợn gáy, thì chợt nghe thấy tiếng cành cây gãy ở gần đó. Thì ra, có một tiều phu trong thôn, không hiểu trời xui quỷ khiến thế nào muộn thế này (1) rồi lại đi qua hướng này.

(1: chạng vạng tối là cỡ 5h-6h gì đó, một canh giờ là 2h, nên cỡ 2-3 canh giờ trôi qua thì lúc này cũng quãng 10-12h đêm rồi)

Tuy không rõ thôn dân kia có chứng kiến cảnh mình luyện tà công hay không, thế nhưng trong đầu Đặng Không vẫn vang lên lời của con quỷ đói Lý Bàn:

“Kỳ thực, nếu nói về vật liệu luyện công thì xác của người vừa chết tốt hơn là xác đã chôn lâu ngày. Nhất là nếu có thể sử dụng xác của kẻ đã tử vong lâu hơn một canh giờ nhưng chưa đến hai canh giờ, thì phải gọi là điều kiện luyện công hoàn hảo nhất...”

Có lẽ không cần nói cũng biết người tiều phu xấu số kia gặp tai kiếp gì tiếp theo, cũng như tại sao mấy ngày sau mà Đặng Không đã đạt tu vi ngũ cảnh...

Tái bút: nếu còn có ai chưa nhận ra thì Bùi Xuân Luận nhận nhiệm vụ chạy đến Quan Lâm là vì hệ thống của Giả Cát Tường phải shutdown để chữa bug. Tức là toàn bộ 4 phần của ngoại truyện này diễn ra vào đúng cái hôm Thanh bị chặn đường coi bói (chương 150: -151) ấy.

Hết chương hôm nay, mai quay lại lịch đăng bình thường, tức là ba ngày tới đều có chương, đăng nốt 210-212, kể nốt chuyện Tạ Thiên Hoa đấu với Đỗ Trạng Nguyên. Nếu ba ngày tới mà bà con không thấy chương lên, vui lòng tìm đúng các trang truyện do nhóm tác đăng chính chủ.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 195: Phụ Chương: Tóm Tắt Các Thế Lực Đã Được Giới Thiệu


Đáng lẽ tuần này bắt đầu kể về Hà, cơ mà xét thấy truyện cũng đi được khá xa rồi, mai lại cũng có đăng chương, không muốn gián đoạn mạch kể, nên để bà con tiện theo dõi thì nhóm tác quyết định sẽ thêm một chương tóm tắt các thế lực ở Huyền Hoàng giới, và sẽ có update liên tục theo tình hình thực tế của truyện. Tất nhiên sẽ update là nói 3 web chính chủ đăng, còn các web bưng tr về có update hay ko thì nhóm tác không chịu trách nhiệm.

I. Đại Việt: quốc gia lập quốc muộn nhất ở Huyền Hoàng giới, tương truyền là do Lê Đồ Thành nhận lệnh vào lãnh địa của Bạo Long nằm phía nam Lục Trúc Hải để tìm di vật của Thế Tôn, sau đó dừng chân lập quốc, không về chốn phân tranh như lục quốc nữa.

- Ải Quan Lâm: một cửa quan được xây dựng để trấn giữ cực bắc của Đại Việt hòng ngăn cản thú triều từ biển trúc tràn ra. Nằm ngay sát Lục Trúc Hải và ngọn núi Vô Danh có Lão Thụ cổ viện, nhưng không có truyền tống trận.

- Thành Tế Kỳ: là một thành cách Quan Lâm không xa, với cước lực của Lý Thanh Vân và đi đường thủy thì khoảng một ngày một đêm là có thể tới nơi. Là nơi khi xưa Thánh Tông Lê Hạo Thanh đến đánh chặn Sơn Man từ đường núi nhỏ lẻn xuống, đã kéo chiến thuyền lên bờ thành một cái thành tạm bợ để đóng quân. Về sau dân chài lưới kéo đến định cư, lấy xác thuyền của Thánh Tông làm trung tâm xây làng dựng xóm dọc theo bờ sông, từ đó mà có thành danh là Thủy Thượng Quan và chợ nổi. Hiện tại xác thuyền vẫn được sử dụng làm phủ thành chủ.

- Thành Bạch Đế: thiên hạ đệ nhất thành, là nơi khi xưa lúc thái tổ Lê Đồ Thành vượt biển trúc vào nam đã dừng chân lại, luận đạo cùng một cây Bạch Đàn Tinh, từ đó mới lập quốc, có nước Đại Việt tách biệt với lục quốc, cũng là châu phủ của châu Ngọc Lân.

- Thành Đông Thanh: trước đây có tên là thành Thanh Tùng, xây dựng ở lưng chừng núi Tòng Khê rồi mở rộng xuống đồng bằng. Trên núi có Thanh Tùng thư viện là thư viện nổi tiếng nhất Đại Việt, cũng là nơi xuất thân của cựu Tế Tửu Quốc Tử Giám Lâm Thanh Tùng. Về sau vì xích mích của Lâm Thanh Tùng với Nguyễn Đông Thanh mà nơi này đổi tên thành thành Đông Thanh, do không muốn trùng tên với một vị thần giữ cửa nhà vệ sinh.

- Thành Cổ Long: là đế đô nước Việt, gồm có chín vòng thành uốn lượn phân nơi này ra làm chín quận, tương truyền là do Lê Đồ Thành lấy xác Bạo Long mà xây nên. Khác biệt về mức sống của các quận rất lớn, dẫn đến thái độ của người dân đối với người quận khác cũng trở nên rất khác biệt.

Thành Cổ Long có bốn thế gia lớn nắm quyền, lần lượt là:

+ Trương gia, gia tộc quan văn lâu đời, nhiều đời cha truyền con nối chức thái sư đương triều và có vây cánh, quan hệ với hơn nửa các chức quan lớn trong triều.

+ Lý gia, gia tộc của Võ Hoàng Lý Huyền Thiên, đứng sau, nắm giữ phần lớn quân đội Đại Việt.

+ Đinh gia, gia tộc vốn xuất thân nông nghiệp, nhờ ủng hộ, cứu chẩn, và móc nối quan hệ với quan chức địa phương khắp cả nước mà trở thành một trong tứ đại thế gia.

+ Hồ gia, gia tộc làm ăn buôn bán duy nhất trong tứ đại thế gia.

II. Nước Sở: là một nước nằm ở thượng nguồn – trung du Ngân Hà, còn được xưng là Mẫu Hà, dân chúng dựa vào con sông mẹ để làm ăn sinh sống, đến nỗi có cả một đạo gọi là Mẫu Hà Đạo. Hàng năm thỉnh thoảng sẽ có hiện tượng sen máu vào thành, ma da lên bờ bắt người ăn thịt. Nước Sở bề ngang rộng, bề dọc ngắn, thành thử cương thổ về chiều ngang có thể đến hàng chục vạn dặm, nhưng theo chiều nam – bắc chỉ có sáu ngàn dặm mà thôi.

- Ngự Long thành: trọng địa trấn giữ ngã ba sông Đại Ngân Hà – Tiểu Ngân Hà, vốn là do Phó Kinh Hồng đảm nhiệm chức vị thành chủ. Về sau do nhiều nguyên nhân, họ Phó phản loạn bỏ chạy.

- Bạch Lộ thư viện: một trong lục đại thư viện ở Huyền Hoàng giới, do một trong sáu đệ tử của Văn Thánh sơ đại Gia Cát Thủ Ngã gây dựng lên.

III. Đại Tề: là cố quốc của Sát Thần Nghiêm Hàn, từng dẫn Huyền Giáp Vệ tung hoành sáu nước, khiến lục quốc phải phủ phục xưng thần với Đại Tề, khuếch trương lãnh thổ nước Tề lên nhiều lần. Về sau Nghiêm Hàn vượt biển trúc đánh Đại Việt, bại dưới tay Lý Huyền Thiên, quy kiếm tự vẫn.

- Tây An – Đông An: hai tòa thành được coi là lá chắn của Hoàng Đô nước Tề.

IV. Đại Hàn: quốc gia sát biển, lấy nghề chài lưới mưu sinh. Vương thất lập quốc là một nhóm người kỳ lạ dạt từ ngoài biển vào, sau đó truyền cho dân chúng thuật Văn Thân để vào biển Phong Bạo đánh cá.

- Thành Hải Giác / núi Vọng Hương: thành Hải Giác là một đại thành được hoàng thất xây dựng để bảo vệ một Kiếm Trì non trẻ. Về sau, khi Kiếm Trì vững gót chân, thành Hải Giác mới lui về làm hậu phương, phối hợp với các Kiếm Tổ đánh lùi Hải Thú Phong Bạo Hải.

Vọng Hương sơn là một quả núi, vốn nằm ở Hoàng Liên sơn mạch. Trong Phạt Hải Chi Chiến, Phạt Hải Kiếm Thánh gác kiếm xông vào biển Phong Bạo, nữ đế Hàn Thanh Ca bèn lấy đại thần thong bốc quả núi này về làm ngọn hải đăng để y không lạc lối trong sóng to bão lớn ngoài biển.

V. Yêu tộc:

- Thanh Tước: bá chủ Lục Trúc Hải, được xưng là cầm điểu chi vương. Phượng Hoàng sinh ra Khổng Tước, có ngũ sắc thần quang hắc bạch thanh hồng hoàng. Khổng Tước lại sinh ra năm chi tộc, mỗi tộc dùng được một loại thần quang. Trong đó, Thanh Tước được cho là yếu nhất vì Thanh Sắc thần quang chỉ có tác dụng tịnh hóa, là thần thông bản mệnh có lực công phạt yếu nhất trong năm sắc. Thế nhưng, tộc Thanh Tước lại sinh ra một kỳ tài luyện Thanh Sắc thần quang đến tột cùng, biến lực tịnh hóa thành hóa tán, từ đấy đảo khách thành chủ, Thanh Tước diệt Khổng Tước, Phượng Hoàng lại không rõ tung tích, trở thành bá điểu chi vương, bá chủ Lục Trúc Hải.

- Long tộc: chủ của Phong Bạo Hải, tương truyền là tộc quần đến từ Thiên Ngoại chứ không phải sinh linh nguyên bản của Huyền Hoàng giới. Trong lịch sử, Long tộc từng có hai trận đại chiến lớn, một với Mặc Ngọc Kỳ Lân, một với Phượng Hoàng tộc. Cả hai trận chiến cuối cùng Long tộc đều chiến thắng. Nội bộ Long tộc phân hóa làm phe Phản Tổ và phe Cấp Tiến, một bên coi trọng thuần huyết, bên khác chủ trương cởi mở. Bên dưới có các tộc Thuồng Luồng, Xi Vẫn. Về sau xảy ra nội chiến, Xi Vẫn thua trận bỏ chạy.

- Phượng tộc: đản sinh sau khi Kỳ Lân Vương sử dụng thần thông k*ch th*ch Long tộc tiến hóa, cuối cùng tạo ra Phượng tộc. Long Phượng về sau đại chiến một trận, từ đấy Phượng tộc cũng thất tung, nhưng thỉnh thoảng vẫn có dấu vết Phượng tộc ra tay diệt trừ kẻ đối địch trong bóng tối, chứng tỏ tộc này vẫn còn tồn tại chứ chưa hề tuyệt chủng. Thành thử, trong năm thánh tộc cũng để lại một vị trí cho Phượng tộc.

- Chiến Hổ tộc: lấy Thiên Đảo làm nhà, thân hổ có vây, trên lưng có cánh, không có một tộc đàn lớn mà chia làm nhiều bộ lạc nhỏ đánh lẫn nhau triền miên, ít khi xen vào chuyện của Huyền Hoàng giới. Thế nhưng, nếu như có kẻ muốn thách thức, toàn bộ Chiến Hổ sẽ nhất chí đánh giặc ngoài trước rồi mới nội chiến tiếp. Bệ Ngạn tộc bị diệt chủng trong vòng một đêm chỉ vì dám thách thức Chiến Hổ tộc.

- Mộng Yểm thụ tinh tộc: là thụ quái duy nhất trong trời đất có thể đứng ngang hàng với tứ đại thánh tộc còn lại. Huyễn Ảnh lâm là vùng rừng rậm phía cực Tây lục quốc, hễ lạc vào trong đó, thì bất kể là người hay muông thú, cường giả vào Vụ Hải hay chưa, đều sẽ gặp ảo giác. Nạn nhân bị vây khốn trong huyễn cảnh, không thoát ra nổi, đến cuối cùng kiệt sức, thì liền thành chất dinh dưỡng cho cây trong rừng, cũng chính là tộc nhân của Mộng Yểm Thụ Tinh tộc. Sau khi nạn nhân bị rút sạch hồn phách, thì sẽ trở thành con rối chịu sự điều khiển của Mộng Yểm Thụ Tinh. Chính vì vậy, tuy đám thụ quái này hiếm khi ra khỏi rừng, nhưng vẫn có tầm ảnh hưởng khắp bốn phương.

- Huyết Nhãn Trúc Thử tộc: Nói về thành công của Huyết Nhãn Trúc Thử tộc, ngoại trừ việc chúng sinh sản liên tục, tạo được thế đông lực mạnh trong thời gian ngắn, còn phải kể đến “kỳ ngộ” của ông tổ của tộc này nữa. Vốn lão tổ của Huyết Nhãn Trúc Thử tộc chỉ là một con dúi tinh thông thường, trong khi đi kiếm ăn bị một con ưng tinh bắt. Khi ấy, một lão tăng đi qua, thương tình, đã đuổi con ưng tinh đi, cứu con dúi ấy một mạng, sau lại dắt theo, truyền thụ phật pháp. Ai dè, đến khi lão tăng gặp họa, con dúi kia không những không giúp đỡ, lại còn lấy oán báo ân, giết rồi ăn xác lão ta, nuốt luôn cả xá lợi của lão. Cũng từ đó, con dúi ấy có thêm một thần thông bản mệnh, chính là Tam thân của Phật môn, truyền lại cho tất cả các đời con cháu, bắt đầu nên Huyết Nhãn Trúc Thử tộc.

Tam thân thần thông này, chính là giúp cho chủ nhân tạo được ba phân thân: quá khứ, hiện tại, vị lai. Chỉ cần một phân thân còn tồn tại, thì chân thân không thể chết. Huyết Nhãn Trúc Thử tộc, vì có thần thông này mà sống dai vô cùng, lại nhờ tốc độ sản sinh nhanh chóng mặt, cuối cùng áp đảo diệt sát Hổ tộc tại Lục Trúc hải, thành công tiếm quyền.

Từng có ý định đánh Chiến Hổ dành ghế thánh tộc, nhưng sau khi Bệ Ngạn bị làm thịt thì bọn này rén, nên bắt đầu đổi hướng tuyên truyền “thánh tộc thứ sáu”.

- Ngoài ra còn có Địa Chấn Man Tượng, Ẩm Huyết Ngô Công, Bát Tí Yêu Hầu và Ngọc Cốt Ảnh Báo cũng là tộc lớn trong Lục Trúc Hải.

VI. Thánh Địa

- Kiếm Trì: còn có tên là Tẩy Kiếm Trì, tương truyền là ao nước Phạt Hải Kiếm Thánh đến rửa kiếm khi trở về từ biển Phong Bạo, máu Hải Thú rỉ ra nhuộm đỏ cả một hồ nước. Là thế lực do Phạt Hải Kiếm Thánh khai sáng, Hai đồ đệ và một kiếm đồng của kiếm thánh trở thành Tam Tổ đời đầu, truyền xuống kiếm pháp của bản thân, từ đó nội bộ Kiếm Trì có ba phái là Cường Kiếm Phái, Hoan Kiếm Phái, Khoái Kiếm Phái.

- Mỹ Vị sơn trang: là nơi bảo tồn được Trù đạo cuối cùng ở Huyền Hoàng giới, đặt ở Ngũ Vị sơn. Năm xưa khi Trương Thất lấy Địa Hỏa chi sơ, hỏa chủng phá tung đất ra ngoài khiến ngọn núi tõe làm năm đỉnh như hiện tại. Mỹ Vị sơn trang siêu nhiên tại ngoại, không chịu quản lý của bất cứ một quốc gia nào.. Trong trang có một bảo vật trấn trang là Thiên Địa Thần Úng.

- Phần Thiên Cốc: Thế lực bồi dưỡng ra Kiều Minh Long, là thánh địa tu hỏa đạo của Huyền Hoàng giới. Đi lại rất gần với Đao Sơn.

- Núi Long Hổ: là một trong các thánh địa của nước Sở, chủ tu đạo phù và trận pháp. Lại có công pháp Lưỡng Nghi Thái Huyền Kinh giúp sử dụng được cả các đạo thuật của nhánh khác trong Đạo Môn, thực lực không tầm thường. Đáng tiếc Thiên Sư Tiết Bình Thiên của núi Long Hổ năm xưa bại trận dưới tay Tạ Hàn Thiên, bị đánh gần chết, Long Ảnh Đào Mộc Kiếm cũng mất. Trước đây có đi lại với Hoan Kiếm Phái của Kiếm Trì, về sau vì Nguyễn Đông Thanh mà hai bên ít lui tới hơn.

- Đao Sơn: đao đạo thánh địa, được khai sáng bởi Đao Tổ Nhậm Ngã Cuồng. Sau khi lão thách đấu Phạt Hải Kiếm Thánh và chết ở Kiếm Trì, Trùng Đồng và Ma Đao Di Hận được truyền thừa lại ở Đao Sơn. Ngấp nghé bí cảnh Thương Lan Kiếm Vực của Kiếm Trì đã lâu.

- Văn Cung: xây dựng trên điểm cực đông của núi Hoàng Liên – Thư Sơn nằm giữa giao giới của Lục Quốc. Nơi đây là chỗ đặt nhà học của Văn Thánh đầu tiên Gia Cát Thủ Ngã. Về sau khi y đặt chân thập cảnh, hợp đạo thiên địa, khai sáng Nho môn Lục Nghệ Lễ Nhạc Xạ Ngự Thư Số, sáu học trò của y mới lập ra lục đại thư viện, truyền đạo sáu nước. Về sau, sáu viện trưởng này xây dựng Văn Cung làm chỗ thờ tự các đời văn thánh, trấn áp khí vận Nho đạo.

VII. Cấm Địa

- Phong Bạo Hải: là một vùng biển quanh năm bão tố sóng cồn ở phía đông Huyền Hoàng giới, là nơi sinh ra Hải Thú và Đảo Quỷ, cũng là chốn định cư của Long tộc.

- Đế Mộ: Thế lực thần bí có sức ảnh hưởng toàn Huyền Hoàng giới, có thể nói ngoại trừ Lão Thụ cổ viện, Đế Mộ chính là cấm địa không ai muốn đối đầu. Dưới trướng mười chín đế tôn là bốn đại Nguyên Soái, hai trong số đó là Nghiêm Hàn và Quan Vân Phi, lại thống lĩnh vô số quỷ đói.

VIII. Các thế lực khác:

- Thiên Cơ các: tổ chức tình báo hàng đầu Huyền Hoàng giới, đứng sau sắp xếp Võ Bảng và tổ chức Võ Bảng hội: tổng kết được lực chiến của tất cả các tu luyện giả đã từng giao thủ qua. Thiên Cơ các làm giàu bằng mua bán tín tức, có thể nói là tổ chức nhiều tiền tài nhất nhì cả Huyền Hoàng giới. Tổ chức này có phân bộ ở khắp nơi.

- Hữu Tiền Liên Minh: tổ chức đứng sau tất cả các thế lực “Nhất Phẩm”, nơi chỉ dùng tiền để nói chuyện. Chỉ cần giá tiền tương ứng với nhiệm vụ, Hữu Tiền Liên Minh liền có thể thu xếp. Từng có không ít kẻ cậy mạnh, ra tay với người của Hữu Tiền Liên Minh, nhưng về sau, hết thảy đều ăn quả đắng. Thế nên, nhìn chung, kể cả khi người của Hữu Tiền Liên Minh có tu vi cặn bã, cũng không mấy người tình nguyện chọc vào, tránh rước họa vào thân.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 196: Nhân Trung Chiến Hổ


[Nếu ai chưa đọc phần phụ chương đăng thứ năm tuần trước (chương 213: -216) thì nên quay lại đọc nó trước khi đọc chương này, vì tuy nó chỉ là phụ chương nhưng ngoại trừ kết nối các sự kiện diễn ra từ trước và giải thích thêm về bối cảnh của Huyền Hoàng giới, thì còn giới thiệu hai nhân vật sẽ trở thành lục đồ đệ học rèn và thất đồ đệ học khí tượng thủy văn của Nguyễn Đông Thanh (mà các chương tiếp theo sẽ sử dụng luôn không giới thiệu lại). Ngoài ra, phần phụ chương cũng giới thiệu thế lực đứng sau Trang Bức thần giáo, cũng chính là một trong hai thế lực phản diện chính của cả bộ truyện này.]

Hiện tại kể đến chuyện của Đỗ Thải Hà.

Địa điểm mà cô nàng được phân phó là nơi Trương Mặc Sênh mong muốn nhất: Đại Hàn.

Thấy thông tin chỉ dẫn lộ trình không khác biệt lắm với lần đi Kiếm Trì lúc trước, Đỗ Thải Hà cũng yên tâm không ít. Cô nàng cũng không tốn thời gian mà cưỡi hạc giấy bay thẳng về phía thành Bạch Đế.

Vốn trước khi đi đã có thảo luận với sư huynh đệ từ trước, đoán chừng lần này ra ngoài có thể đụng mặt kẻ thù cũ, cô nàng tính lại cẩn thận, nên cũng sớm chuẩn bị không ít bùa cùng các thủ đoạn hộ thân, có thể nói là trang bị đến tận răng. Thế nhưng cuối cùng, chả bù cho ông đại sư huynh đi đường có bảy, tám chục dặm mà đánh tận mấy chục trận lớn nhỏ, Đỗ tiểu thư bay một mạch gần ngàn dặm từ cổ viện đến Bạch Đế thành nhưng đến một con thú dữ cũng chả gặp chứ đừng nói là mai phục.

Mãi đến khi gần tới thành Bạch Đế, cô nàng mới gặp người quen. Thế nhưng, cũng chả phải thù, mà có thể coi là bạn.

Dẫn đoàn Kiếm Trì lần này là một mỹ phụ áo xanh, dung mạo nom có vài phần giống Song Vô Song, đoán chừng chính là mẹ của y – Ngự Kiếm trưởng lão của Kiếm Trì. Đi cùng bà ta, ngoại trừ thánh tử Chân Lợi Kiếm thì cũng chỉ còn “hai” người Song Vô Song.

Thấy Đỗ Thải Hà từ xa, Chân Lợi Kiếm đã báo cho mỹ phụ bên cạnh. Thành ra, cô nàng vừa đáp xuống thì mấy người của Kiếm Trì đã tiến lên chào hỏi:

“Đỗ cô nương, đã lâu không gặp!”

Chân Lợi Kiếm và Song Vô Song nói.

“Nghe danh Đỗ tiểu thư đã lâu, Ngọc Sương xin có lời chào!”

Ngự Kiếm trưởng lão cũng lên tiếng. Bà ta tên Hàn Ngọc Sương, tính ra còn là dòng dõi của Phạt Hải Kiếm Thánh và đế hậu Hàn Thanh Ca.

Nếu đặt ở nước khác trong lục quốc, thì bà ta hẳn được tính là vương thân quốc thích. Nhưng Đại Hàn có chỗ đặc biệt, mỗi khi Đế Hậu mới lên ngôi, thì toàn bộ anh chị em cùng thế hệ đều bị cách xuống làm thứ dân. Tuy luật lệ này nghe có phần hà khắc, thế nhưng nó xuất hiện cũng bởi quá khứ đẫm máu của hoàng thất Đại Hàn.

Lịch sử của Huyền Hoàng giới trước Phản Thiên Chi Chiến vốn chính là quy tắc thiên địa, ghi chép rất đầy đủ. Thế nhưng, cũng có thể là do một trận đánh khiến Thiên Đạo sụp đổ năm đó, mà ghi chép lịch sử bắt đầu bị thất truyền. Các sự kiện sau Phản Thiên Chi Chiến thì còn có thể bảo là do Sử gia nhập vào Nho đạo, Nho môn lại không thể so được quy tắc trời đất, nên mới xảy ra sự cố. Nhưng vậy còn những ghi chép trước Phản Thiên Chi Chiến thì sao? Tại sao một bộ phận thông tin Sử quan cũng không cách nào tra ra? Có thuyết pháp cho rằng do thiên đạo tổn thương nên một số ghi chép cứ thế mà biến mất. Do cũng không có giả thuyết nào hợp lý hơn nên thế nhân liền chấp nhận đó là sự thật.

Mà một trong những “ghi chép bị biến mất” này là gốc gác của hoàng thất Đại Hàn. Ghi chép sớm nhất tồn tại về dòng họ này chính là chuyện họ trôi dạt vào bờ, thành lập ra nước Hàn và phong tục xăm mình.

Ban đầu, hoàng thất Đại Hàn cũng không khác biệt gì với các nước khác trong lục quốc, trưởng nam lên ngôi, phong vương phong tước cho anh chị em cùng thế hệ. Mấy đời đầu là vậy, trôi qua không quá êm đẹp, nhưng cũng không đến nỗi. Thế nhưng, qua một đoạn thời gian, thì nội đấu tranh giành vương vị tại Đại Hàn khốc liệt đến độ từng có người ví dòng họ này là “Nhân Trung Chiến Hổ”.

Cao trào của tranh đấu, một vị hoàng tử của Đại Hàn giết hại toàn bộ mười hai anh chị em ruột cùng ba mươi anh chị em họ để lên ngôi. Cuối cùng, y lại bại ở dưới tay vị hoàng muội tưởng chừng là ngây thơ, yếu đuối nhất của bản thân, bị trục xuất khỏi Đại Hàn. Vị hoàng tử bị đuổi đi kia dẫn theo gia quyến đến tận Đại Yến, thành lập ra Hàn gia, xưng hùng trong giới luyện khí năm đó. Còn công chúa duy nhất còn sống sót của Đại Hàn khi ấy liền trở thành Đế Hậu đầu tiên của nước này.

Cũng từ đó, vương vị Đại Hàn chỉ truyền cho nữ đế, mà cũng bãi bỏ chế độ hoàng thân quốc thích, tránh việc lặp lại lịch sử đẫm máu kia. Anh chị em của Đế Hậu đương thời tuy không được ở lại trong cung hay làm các hoạt động liên quan đến chính trị, quân sự, nhưng cũng vẫn được sống trong nhung lụa, không phải lo quãng đời còn lại, cũng chẳng bị bắt cải họ. Những người này có thể chọn sống như phú hào hay lấy tiền được trợ cấp để đầu tư, làm ăn buôn bán.

Mà vì họ Hàn tính ra là quốc tính, trân quý hơn thường, nên cũng từ đó, tại nước Hàn xuất hiện một luật bất thành văn giữa dân chúng: phàm là cha mẹ có người mang họ Hàn, thì con trai theo họ bố, còn con gái theo họ Hàn. Hoàng thất Đại Hàn cũng không hề cấm kỵ điều này. Dù gì, các đời Đế Hậu cũng có biện pháp đặc biệt để nắm chắc vương vị trong tay. Thành thử, tuy không có hoàng thân quốc thích, thế nhưng họ Hàn lại trở thành biểu trưng cho địa vị thượng lưu tại nước Hàn.

Trải qua nhiều đời, Hàn gia của Đại Yến vẫn không quên thù cũ, ủ mưu cướp lại vương vị Đại Hàn, cuối cùng một lần nữa bại dưới tay Đế Hậu đương thời. Đế Hậu Đại Hàn niệm tình máu mủ, không muốn đuổi cùng giết tuyệt, mới chấp nhận cách thức giải quyết của Hàn gia đề xuất khi đó: Hàn gia mỗi một đời đều sẽ đưa trưởng tử sang Đại Hàn làm con tin, đến khi gia chủ đời kế tiếp có trưởng tử, sang thay thế, con tin cũ mới được quyền trở về cố hương.

Mà Phạt Hải Kiếm Thánh đại danh đỉnh đỉnh, người đã sáng lập ra Kiếm Trì, nguyên bản chính là con tin đầu tiên Hàn gia đưa cho hoàng thất Đại Hàn...

Ông ta cũng là con tin đầu tiên nằm trong số ít các con tin mãn hạn mà không trở về Đại Yến. Nhưng dù sao cũng không thể trách Kiếm Thánh. Ngay từ đầu, ông ta đã không đồng tình với cách xử lý của gia tộc. Trong thời gian ở Đại Hàn, ông lại nảy sinh quan hệ với tiểu công chúa Hàn Thanh Ca – chính là Đế Hậu đời kế tiếp. Sau khi thành lập ra Kiếm Trì, Phạt Hải Kiếm Thánh cũng cưới Hàn Thanh Ca. Hai người có với nhau mấy đứa con. Một trong số đó trở thành Đế Hậu đời tiếp theo, một trong số còn lại chính là tổ tiên của Hàn Ngọc Sương.

Về phần Hàn gia tại Đại Yến, sau quyết định của Kiếm Thánh năm đó, gia chủ đương thời, Hàn Xuân Phong – cũng chính là em song sinh của Phạt Hải Kiếm Thánh, có lẽ do thần giao cách cảm, tâm ý tương thông – đã viết hẳn vào tổ huấn, từ đó nghiêm cấm Hàn gia tham gia bất cứ hoạt động nào liên quan đến chế tác vũ khí.

Toàn bộ đoạn lịch sử ân cừu tình thù này, xảy ra từ mấy ngàn năm về trước, cho đến nay chắc cũng chỉ còn vài người biết rõ.

Tiếp tục kể chuyện Đỗ Thải Hà, cô nàng thấy người của Kiếm Trì chào hỏi thì cũng liền đáp lễ. Đoạn, Hàn Ngọc Sương nói vắn tắt mục đích Kiếm Trì ở đây lúc này.

Chuyện là, chuyện đầu quân chống hải thú, Kiếm Trì đương nhiên cũng có tham gia, lần này chính là phái Chân Lợi Kiếm, Trịnh Lan Anh cùng mười mấy đệ tử lứa trẻ đi. Thế nhưng, đến lúc chuẩn bị xuất phát thì hay tin đám người của cổ viện cũng sẽ đến. Thế là Kiếm Trì đưa ra một quyết định tức thì, để Phạm Kim dẫn Trịnh Lan Anh và các đệ tử kia đến chỗ hội quân trước, còn Hàn Ngọc Sương thì dẫn Song Vô Song cùng Chân Lợi Kiếm đến thành Bạch Đế đón cao đồ của Bích Mặc tiên sinh, thuận tiện bảo vệ, chiếu ứng luôn.

Kỳ thực, cho dù Kiếm Trì có không có cử động này thì xét tới chuyện xảy ra ở thôn Đoài không lâu trước cùng việc Bích Mặc tiên sinh vừa nhậm chức làm cấp dưới của Hồ Ma Huyền Nguyệt, hẳn là cũng chẳng có kẻ nào dám hay có thể giở trò với Đỗ Thải Hà tại thành Bạch Đế. Tất nhiên, quãng đường từ sau khi rời khỏi thành Bạch Đế, có thêm đoàn người của Kiếm Trì, cũng khiến nàng ta được bảo vệ an toàn hơn nhiều.

Thành thử, xét trên lý thuyết mà nói, thì cô nàng không những may mắn hơn Lý Thanh Vân, mà thậm chí còn may mắn hơn Tạ Thiên Hoa, thẳng một đường từ cổ viện đến chỗ hội quân có vẻ như sẽ không gặp bất cứ trở ngại gì.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 197: Chúng Đệ Tử Kiếm Trì: Đỗ Tiểu Thư Rất Đáng Sợ!


Mấy người liền vào thành. Dọc đường, Chân Lợi Kiếm hướng Đỗ Thải Hà nói một chút tình hình gần đây. Theo như lời y, Đao Sơn mới dạo trước bị một lão già tìm tới cửa gây sự, khiến Đao Vương phải tự thân xuất mã đánh một trận. Tuy tin tức thắng bại không truyền được ra ngoài, thế nhưng có vẻ Đao Vương không bại thì cũng bị thương, do dạo thời gian này, Đao Sơn cực kỳ thu liễm, không có động tĩnh gì lớn. Về phần kẻ đến phá phách là ai, không chỉ Đỗ Thải Hà, mà người của Kiếm Trì cũng vô cùng tò mò, thế nhưng không nghe ngóng được chút thông tin nào cả.

Song Vô Song đi bên cạnh, vừa nghe hai người Chân, Đỗ nói chuyện, vừa âm thầm đánh giá lại vị Đỗ tiểu thư trước mắt này.

Kỳ thực, danh tiếng của bốn vị cao đồ của Bích Mặc tiên sinh ở Kiếm Trì trong thời điểm hiện tại, nổi bật nhất không phải Toái Đản Cuồng Ma Lý Thanh Vân, không phải Thanh Tước Thánh Nữ Tạ Thiên Hoa, cũng chẳng phải Tiểu Thực Thần Trương Mặc Sênh, mà lại chính là cô bé họ Đỗ nom nhỏ nhắn, bình thường, không có chút gì nổi bật này. Thế nhưng, cái danh tiếng này cũng… không tốt cho lắm.

Sau cơ hội tiếp xúc luận bàn lần trước, lại thêm những thông tin từ chính miệng năm người đám Phùng Thanh La từ bí cảnh đi ra, dạo gần đây, đám đệ tử trẻ tuổi ở Kiếm Trì truyền tai nhau một cái thuyết pháp, rằng:

“Lý Thanh Vân kỳ thực ngoại trừ trong trường hợp sinh tử đấu nhất định sẽ hỏi thăm hai hòn trứng của ngươi ra, thì thực ra là một kẻ khù khờ, dễ nói chuyện. Tạ thánh nữ mặc dù thông minh tuyệt đỉnh, ra tay cũng có lúc tàn nhẫn, nhưng chung quy thù oán vẫn sẽ quang minh chính đại mà tính toán với ngươi. Trương thiếu trang chủ lại càng không đáng sợ, người ta thậm chí tính ra còn là thông gia với Kiếm Trì, lưỡng tình tương duyệt với Phùng thánh nữ nhà mình.

“Thế nhưng vị tam đồ đệ Đỗ Thải Hà thì lại khác! Nàng ta đến sư huynh sư tỷ đồng môn cũng có thể hố, lại còn xuất kì bất ý, vô cùng khó đề phòng. Tuy nàng ta sẽ không hại chết ngươi, thế nhưng sống không bằng chết, thân bại danh liệt, khóc không ra nước mắt thì lại đều là sự tình nằm trong khả năng.”

Có câu, “minh thương dễ tránh, ám tiễn khó phòng”, lại cũng có câu “sĩ khả sát, bất khả nhục”. Thành thử, sau khi nghe cái thuyết pháp kia, đám đệ tử trẻ tuổi của Kiếm Trì đều đồng lòng nhất trí: trong bốn vị đệ tử của Bích Mặc tiên sinh, ai cũng có thể đắc tội, tuyệt không thể đắc tội Đỗ Thải Hà!

Đắc tội với ba vị kia, chỉ cần không phải là loại thù hận không chết không thôi, cùng lắm là quỳ xuống xin lỗi, dựa vào giao tình hiện tại giữa cổ viện và Kiếm Trì, hẳn là vẫn có thể êm đẹp giải quyết. Thậm chí, tội không thể tha may ra vẫn còn có thể chết một cách thống khoái. Thế nhưng, đắc tội với Đỗ tiểu thư, chính là không biết lúc nào mặt mũi, thanh danh gây dựng cả đời có thể bị vứt hết!

Nhất là từ sau khi mấy vị khuê mật của Phùng thánh nữ lỡ lời lộ ra một tin tức rằng:

“Dưới trướng Bích Mặc tiên sinh, có một vị Đại Yêu vô cùng nhỏ mọn, xấu tính, không thèm nói lý lẽ. Đắc tội với y, y sẽ không làm việc mất mặt mũi như lấy tu vi ra giết hại ngươi, thế nhưng thủ đoạn hành hạ cho ngươi sống không bằng chết, khóc không ra nước mắt thì dư thừa. Phùng thánh nữ cũng chỉ vì lần đầu đến cổ viện có chút l* m*ng, mà bị hắn nhân lúc khó khăn liền kéo vào kỹ viện, hù dọa một phen, đến bây giờ thỉnh thoảng nằm mơ còn gặp ác mộng…”

Người xưa từng nói, “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Với bản tính sẵn có của Đỗ Thải Hà, lại ngày đêm ở gần thằng cha kia, đích thị chính là “tiền đồ vô lượng”! Thành thử, không cách nào biết nàng ta còn có thể “tiến bộ” đến cái trình độ gì nữa đây?!

Kỳ thực, mấy hôm trước, khi nghe tin cao đồ của cổ viện lần này có đến Đại Hàn, chúng đệ tử Kiếm Trì nguyên bản còn nhao nhao tranh phần đi cùng Hàn Ngọc Sương. Vậy mà khi biết người đến chính là vị Đỗ tiểu thư nổi danh xấu tính kia, thì toàn bộ đám đệ tử liền dứt khoát đổi chiến tuyến, cùng Phạm trưởng lão tới nơi hội quân chờ trước. Tuy nói kết giao với Lão Thụ cổ viện là chuyện tốt, nên tranh thủ, thế nhưng nhỡ khéo quá hóa vụng, không bắt được gà lại mất nắm thóc, đã không tăng được hảo cảm lại trót mà đắc tội vị tiểu thư này, thì sợ là chỉ còn nước khóc ra tiếng hải thú!

Thế là cuối cùng, cũng chỉ còn hai người Chân Lợi Kiếm và Song Vô Song là dám cùng đi với Hàn Ngọc Sương đến đón Đỗ Thải Hà.

Song Vô Song còn đang suy nghĩ miên man thì trong lòng chợt nhảy một cái. Y liếc về phía mẹ mình thì quả nhiên Hàn Ngọc Sương cũng đã nhận được “huyết mạch cảm ứng”, thậm chí xem chừng là còn trước cả hắn. Lúc này liền nghe Hàn Ngọc Sương nói:

“Ba đứa cứ tiếp tục dạo phố, ta có chút chuyện cần giải quyết trước!”

Nói đoạn, liền quay người, hướng về phía dòng máu Hàn gia kia mà bước. Chân Lợi Kiếm thoáng nhíu mày rồi cũng chỉ nhún nhún vai, tạo thủ thế mời, tiếp tục quan tâm việc dẫn Đỗ Thải Hà đi dạo phố. Đỗ thị kỳ thực cũng tò mò tại sao Hàn trưởng lão rời đi, thế nhưng thấy không tiện hỏi nên cũng chỉ tiếp tục đi theo họ Chân. Song Vô Song đứng nhìn về phía mẹ hắn vừa mất hút một lúc, rồi mới lắc đầu, quyết định đuổi theo hai người Chân Lợi Kiếm.

oOo

Ban nãy mải nghe chuyện có người đến Đao Sơn kiếm chuyện nên Đỗ Thải Hà cũng không quá để ý, nhưng hiện tại, nhìn xung quanh thì giật mình nhận thấy thành Bạch Đế có chút khác với lần trước nàng đến đây.

Ở ngoài đường, có quá nhiều... đàn bà phụ nữ. Từ thiếu nữ mười mấy đến bà cụ tám mươi, từ tiểu thư khuê các đến phụ nữ đã có chồng con, từ phù hào con quan đến bần nông thương lái, có thể nói là già trẻ xấu đẹp nghề nghiệp gì cũng đủ cả. Mà tất cả những chị em cô bác này dường như xếp thành một hàng dài, phía xa xa còn xúm lại như đang vây quanh cái gì.

Tiến lại gần hơn xem xét, họ mới biết, hóa ra, phụ nữ toàn thành Bạch Đế thế mà vây quanh một vị... thầy bói trẻ tuổi.

Thấy mấy người Song Vô Song đi về phía quầy bói, nhiều vị tiểu thư trên đường còn nhìn họ bằng ánh mắt bất thiện, có người thậm chí còn mở miệng nói:

“Không được chen hàng, mau xuống cuối xếp đi!”

Những lời này đương nhiên đám Chân Lợi Kiếm bỏ ngoài tai, họ cũng không phải đến đây để xem bói.

Lúc đi ngang qua quầy bói, Đỗ Thải Hà có chút tò mò nhìn sang, cũng muốn biết thầy bói này có tài gì mà đông khách đến như vậy. Kết quả là, thấy người xong, liền ngây ngẩn mất mấy giây.

Cô nàng không quá quan tâm chú trọng chuyện nữ nhi yêu đương, lại cũng không phải là chưa nhìn qua trai xinh gái đẹp, công tử tiểu thư đài các. Lần đi Võ Bảng hội còn gặp không ít vương công quý tộc, hoàng tử công chúa. Thậm chí, chả nói đâu xa, nếu luận về tướng mạo cùng khí chất, cả đại sư huynh lẫn nhị sư tỷ của nàng đều không tầm thường. Thế nhưng, vị trước mắt này quả thật cũng chỉ có thể dùng hai chữ “kinh diễm” để hình dung!

“Khó trách các chị em lại chạy tới đông đến vậy!”

Đỗ Thải Hà thầm nhủ.

Nàng ta đơn thuần chỉ là ngạc nhiên trước nhan sắc của thầy bói nọ nên mới thất thố trong chốc lát, chứ trong lòng thực chẳng hề có tâm tư gì khác. Thế nhưng, vào mắt Chân Lợi Kiếm lại bị y hiểu khác đi.

Trong lòng họ Chân dâng lên một cảm giác khó chịu khó diễn tả thành lời, ánh mắt nhìn thầy bói nọ lạnh đi vài phần. Y khịt mũi khinh thường, nói:

“Điêu trùng tiểu kỹ mà cũng dám ở đây diễu võ dương oai, lừa dân gạt chúng!”

Giọng y cố tình không nhỏ lại nên hiển nhiên đều lọt vào tai thầy bói trẻ tuổi.

Lã công tử Lã Vọng Thiên ngẩng đầu lên nhìn thiếu niên trước mắt, hơi cau mày, nói:

“Vị huynh đài này là đang vũ nhục khả năng bói toán của tại hạ sao?”

“Mấy tên thầy bói đường phố các ngươi chả phải toàn là phường lừa đảo sao? Nếu có thực tài thì cũng chẳng ở đây kiếm mấy đồng bạc lẻ!”

Nữ nhân bầu quanh quầy bói rất đông, hiển nhiên khi nghe Chân Lợi Kiếm buông lời nhục mạ Lã công tử thì mặt đều biến sắc. Có người liền lên tiếng:

“Mắc mớ gì tới cậu hả vị công tử này? Lã Vọng công tử ở đây xem bói cho chúng ta hay không, lừa đảo hay thực tài, cũng chả ảnh hưởng đến bát cơm của nhà cậu!”

“A, họ Lã? Thế chẳng phải càng rõ là phường lừa đảo sao? Chả lẽ ngươi thực sự cho mình thành con hoang của Vọng Thiên Cung Lã cung chủ ở dân gian?”

Chân Lợi Kiếm cười lạnh.

Lã Vọng Thiên nghe vậy thì nhíu mày. Hắn đích xác là con của lâu chủ Vọng Thiên lâu, nhưng chính là thiếu chủ hàng thật giá thật chứ nào phải con hoang gì? Lần này hắn chạy tới đây là để điều tra hành tung của cái đám Trang Bức thần giáo suốt ngày giả danh thầy bói kia, thuận tiện trải nghiệm cảm giác làm người bình thường luôn.

Lã gia ở Đại Thục là thế gia lâu đời có truyền thống về bói toán, bắt đầu từ thời ông tổ Lã Ông khi Lục Quốc còn sơ khai. Truyền thừa tới nay đã mấy chục đời, Lã Vọng Thiên lại là độc tôn đời này, được chú bác cả họ thương yêu chăm sóc, từ bé đến lớn gần như là hoàng tử trong cấm cung. Tuy hắn về lý thuyết cái gì cũng biết, rất có gia giáo, lại cũng nổi tiếng khắp Huyền Hoàng giới, thế nhưng đây cũng là lần đầu tiên được tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Thành thử, người ngoài biết danh hắn nhưng không ai biết mặt. Mà bản thân Lã Vọng Thiên, do có công vụ trên người, không muốn lộ danh tính, nên khi báo danh liền bỏ chữ “Thiên” đi, chỉ xưng “Lã Vọng”.

Cũng vì nguyên do từ bé tới lớn Lã thiếu lâu chủ được nuôi như cây trong nhà kính, nên hoàn toàn không rõ khái niệm về xấu đẹp tại Huyền Hoàng giới. Thế nên mới có chuyện hắn chỉ giấu tên chứ không hề cải trang qua dung mạo, mang một cái bộ mặt có thể đồ sát toàn bộ nữ nhân thành Bạch Đế này ra giữa đường lớn mở quầy.

Lại nói, Lã Vọng Thiên kỳ thực cũng là thiên kiêu đương thời, tu vi tuy không tính là quá cao nhưng thiên phú trong bói toán thì tuyệt đối là ngàn năm có một. Chả thế mà tuổi hắn còn chưa hai mươi đã có cái biệt hiệu Tiểu Thần Toán. Trước nay chưa có một ai, bao gồm cả cha chú trong nhà, dám nghi ngờ khả năng của hắn. Hiện giờ, họ Lã bị Chân Lợi Kiếm nhục mạ chính là lần đầu tiên, hiển nhiên tâm tình vì vậy mà xấu đến cực điểm.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 198: Lã Gia Cố Sự


Lã gia là thế gia, nhưng khác với các thế gia khác tại Huyền Hoàng giới. Đa số các đại tộc đều tránh không nổi có tồn tại ít nhiều nội đấu trong tối. Dù bề ngoài có hòa thuận nhưng vì vị trí tộc trưởng, chắc chắn các đời đều sẽ xảy ra tranh chấp ngầm. Thế nhưng, tại nhà họ Lã, lại chưa bao giờ tồn tại thứ gọi là tranh chấp ấy.

Ròng rã mấy ngàn, mấy vạn năm truyền thừa, Lã gia tới nay chỉ tồn tại duy nhất một vấn đề đã tranh cãi suốt không biết bao nhiêu thế hệ: Rốt cuộc, tổ chức của nhà họ Lã bọn họ... tên gọi là Vọng Thiên lâu hay Vọng Thiên cung?

Mà nguyên lai chuyện này phải kể đến từ gần vạn năm về trước. Khi ấy, đích xác Lã gia chủ là Cung chủ Vọng Thiên cung, tu vi đỉnh cấp, mà tài bói toán cũng có thể nói là độc bộ thiên hạ. Lã cung chủ năm ấy chỉ vì đánh cược thua người của một thế lực lớn khác, tức giận đến hộc máu mà qua đời. Tương truyền, trước khi lâm chung, lão cung chủ còn trăng trối:

“Lão phu có thể thấy rõ thiên cơ... vậy mà không nhìn thấu nổi lòng người hiểm ác!”

Hiển nhiên, việc lão cung chủ thua cược là do có người gian lận. Cũng vì việc này, mà tổ huấn của Lã gia nghiêm cấm con cháu dùng khả năng bói toán trong các hoạt động đánh bạc.

Lão cung chủ mất đi xong, tuân theo định ước lúc đánh cược, Vọng Thiên cung phải giải thể, nhiều vị cao tầng của môn phái bỏ đi tứ xứ. Phải đến mấy trăm năm sau, Lã gia mới lại lần nữa lập môn phái, gọi Vọng Thiên lâu.

Vọng Thiên lâu thành lập một thời gian, mấy vị cao tầng của Vọng Thiên cung khi trước bỏ đi tứ xứ hay tin, liền trở về. Từ đó, bắt đầu nổ ra tranh cãi về tên gọi của tông môn...

Vốn chuyện này đối với người bình thường mà nói, chính là một chuyện nhỏ nhặt, không đáng quan tâm, chọn đại một cái tên là xong. Nhưng khổ một nỗi, người nhà họ Lã... đều có chút không bình thường. Nói một cách dễ nghe, Lã gia có lối suy nghĩ của thần tiên, phàm phu tục tử sao có thể hiểu nổi? Nói khó nghe, chính là nhà họ Lã ai ai cũng là những kẻ dùng IQ và khả năng bói toán quỷ khốc thần sầu để bù đắp cho EQ âm vô cực và tính cách có chút điên khùng của bản thân.

Mà có vẻ, đây lại còn là cái gien trội, nếu không, thì tức là giáo trình dạy con của Lã gia không kẽ hở. Vì ngoại trừ khả năng bói toán, tựa như bộ óc và EQ của người nhà họ Lã từ thời ổng tổ Lã Ông đến nay luôn như từ một khuôn mà ra. Tất nhiên, cũng tồn tại một cái thuyết pháp khác, chính là những kẻ muốn cưới vào Lã gia để phá từ bên trong hay cưu chiếm thước sào, đều vô phương vượt qua khảo thí của nhà họ Lã. Nói một cách hiện đại, chính là “bị loại từ vòng gửi xe”.

Thành thử, suốt từ khi ông tổ Lã Ông khai tông lập phái tới nay, chỉ có Lã Vọng Thiên đối nhân xử thế có chút bình thường, mà hắn cũng là kẻ có EQ cao nhất cả họ. Tất nhiên, nguyên do của việc này đều là nhờ mẫu thân của hắn.

Nguyên lai, mẹ của Lã Vọng Thiên thiếu nợ người ta, ban đầu cũng chỉ vì nhắm đến gia tài của Lã gia mà trăm phương ngàn kế tiếp cận phụ thân hắn. Những kẻ mang tâm địa xấu như vậy, thường đều không bước chân được vào cửa nhà họ Lã. Thế nhưng, cũng không rõ có phải là do bị chân tình của cha Lã Vọng Thiên cảm động hay không mà về sau thị thật sự phải lòng người ta, thế nên mới trót lọt vượt qua khảo nghiệm. Cũng nhờ vậy, sau này mới có Lã Vọng Thiên.

Lã Vọng Thiên sinh ra, được cha chú yêu chiều, chăm bẵm như bảo bối, ngoại trừ việc không được ra ngoài ra thì được chân truyền toàn bộ kỹ thuật bói toán, lại từ nhỏ sống giữa toàn các vị trưởng bối lấy giúp người làm đam mê. Thành thử, hắn chính là một người tốt tính tốt bụng. Mà mẫu thân của hắn không nỡ nhìn con trai biến thành một bản sao của cha chú hắn – ngố ngố ngơ ngơ, điên điên khùng khùng – nên cũng tốn không ít công phu dạy dỗ hắn mười mấy năm nay. Nhờ vậy, mới khiến hắn trở thành một người tạm coi là bình thường.

Thế nhưng, cũng vì Lã Vọng Thiên tương đối bình thường, cho nên mới bị mấy câu nói của Chân Lợi Kiếm chọc giận. Nếu là cha chú của hắn mà nói, thì có lẽ sẽ không nghe ra vẻ châm biếm hay thái độ gây sự của y, hoặc nếu có dùng trí thông minh mà nhận ra, thì cũng lười không buồn quản. Lã thiếu lâu chủ thì lại khác, hắn nào có thể nhịn được, bèn nói:

“Vị công tử này nếu là chê cười tại hạ những cái khác thì không nói. Thế nhưng khinh thị tài bói toán của ta thì không được!”

Đoạn, Lã công tử bắt đầu nhìn chằm chằm họ Chân, chuẩn bị bói một quẻ, xem thử xem tên trước mặt sẽ gặp những tai ương gì còn cà khịa một lượt.

Ai dè, đã không nhìn tới thì thôi, nhìn rồi lại khiến sắc mặt Lã Vọng Thiên đại biến!

oOo

Khoan kể Lã thiếu lâu chủ là thấy chuyện gì mà kinh ngạc đến như vậy, trước hết kể một chút việc của Hàn Ngọc Sương.

Tuy huyết mạch truyền thừa của Hàn gia không có đặc sắc và nổi tiếng như Lý gia, thế nhưng cũng không hề tầm thường. Có thể nói trong các dòng họ của nhân tộc, tầm quan trọng của huyết mạch tinh thuần đối với Hàn gia là đệ nhất. Chả thế mà hoàng thất Đại Hàn thậm chí không cấm anh em họ cưới nhau. Phạt Hải Kiếm Thánh và Hàn Thanh Ca tính ra chính là một ví dụ. Tất nhiên, nếu so với yêu tộc thì bấy nhiêu cũng không tính là gì.

Mà một trong các điểm đặc biệt của người nhà họ Hàn là họ có thể nhận ra nhau qua cảm ứng huyết mạch. Quan hệ càng gần gũi, huyết mạch càng tinh thuần thì cảm ứng lại càng mạnh. Quan hệ nếu chỉ là họ hàng xa, thì chí ít khoảng cách đủ gần cũng vẫn có cảm ứng.

Nếu quan hệ gần gũi dạng như anh em sinh đôi, thậm chí có thể sinh ra tâm ý tương thông, thần giao cách cảm, dù ở xa vạn dặm cũng có thể cảm nhận rõ ràng tâm tình của đối phương. Gia chủ Hàn gia năm xưa và Phạt Hải Kiếm Thánh chính là ví dụ rõ ràng nhất. Tương truyền, năm xưa khi Hàn Xuân Phong qua đời tại Đại Yến, Kiếm Thánh lúc bấy giờ đã già yếu ở tận Đại Hàn cảm nhận được, vì đau thương mà chả bao lâu sau cũng cưỡi hạc về trời.

Tuy quan hệ giữa Hàn Ngọc Sương và Hàn Thu Thủy không tính là gần, thế nhưng Hàn Thu Thủy lại có huyết mạch cực tinh thuần, nếu không cũng không trở thành ứng viên sáng giá nhất cho chức tộc trưởng khi trước. Thành thử, Hàn Ngọc Sương từ lúc đặt chân đến thành Bạch Đế đã sớm có cảm ứng. Chả qua, khi ấy xét thấy thời cơ chưa thích hợp nên đợi tới vừa rồi Hàn Thu Thủy ở gần, bà ta mới đi tìm gặp.

Hàn Thu Thủy lúc bấy giờ đang trông tiệm hộ ông chủ Hoàng. Hạ Hầu Duyệt bị Hồ Ma Huyền Nguyệt bất ngờ cho xung quân, gần như là hôm trước nhận lệnh, hôm sau bị lôi đi. Thế là, bao nhiêu mối làm ăn, bao nhiêu đơn đặt hàng, bao nhiêu chuyện tình còn đang thương lượng dở dang, tất cả đổ bằng sạch lên đầu ông chủ Hoàng, khiến y bận đến tối tăm mặt mũi, chẳng còn cả hơi sức đi chọc ngoáy Hàn thị.

Từ khi chuyển giao công việc cho đại ca, ông chủ Hoàng đã lùi về hậu phương, Hạ Hầu Tổng của chúng ta lại có hiệu suất làm việc khá cao, nên nhận thêm không ít đơn hàng so với hồi nhị đệ của y còn nắm quyền. Nay vì Hạ Hầu Duyệt bị xung quân, ông chủ Hoàng lại lần nữa phải “tái xuất giang hồ”. Cũng may mấy việc này y cũng đã làm suốt mấy mươi năm nay, nên tuy hiệu quả không bằng họ Hạ Hầu, nhưng cũng không đến nỗi không làm nổi.

Thế nhưng vì bận mấy việc kia nên tiệm trang sức đành giao lại cho Hàn Thu Thủy trông nom. Tuy ngày thường hai người Hoàng – Hàn khắc khẩu nhau, hễ nói chuyện là cãi vã, thế nhưng xưng hô nhị ca – tam muội cũng không phải chỉ là gọi cho vui mồm mà là thật lòng quan tâm lẫn nhau. Thành thử, thấy ông chủ Hoàng bận rộn, cô nàng cũng nghiêm túc để tâm vào làm việc hơn. Mấy hôm nay, Hàn Thu Thủy đã cố hết sức dằn lòng không “sáng tạo” thêm vào đơn đặt hàng hay sửa chữa nào.

Hàn Ngọc Sương bước chân vào tiệm trang sức, Hàn Thu Thủy vội chào hỏi một tiếng. Huyết mạch của Song phu nhân không tính là quá tinh thuần, thành thử Hàn Thu Thủy chỉ thấy có hảo cảm, muốn thân cận với thiếu phụ trước mắt chứ cũng không nhận ra bà ta có chung dòng máu Hàn tộc với mình.

Về phần Hàn Ngọc Sương, bà ta cũng không muốn lộ thân phận ngay lúc này, nên liền đóng vai khách mua hàng, hỏi thăm tình hình cô bé trước mặt một lúc. Hàn Thu Thủy tính tình sởi lởi, ruột để ngoài da, lại thêm hảo cảm đến từ huyết mạch. Thế là, sau khi trò chuyện độ một tuần hương, Song phu nhân đã đoán được tình hình chung chung của cô “cháu họ” này.

Đại khái là Hàn Ngọc Sương khá thưởng thức tính tình của Hàn Thu Thủy, nên lấy cớ sửa lại một miếng ngọc bội mà làm khách hàng. Hàn Thu Thủy không chút nghi ngờ mà nhận đơn hàng này. Bà ta trước nói có chút việc cần đi xa mấy hôm, hẹn độ dăm bữa nửa tháng sau mới quay lại lấy đồ, sau lại lấy cớ mình là Văn Thân Sư, không mang đủ tiền trên người, muốn trả ơn cô bé bằng cách xăm cho cô một hình xăm bảo mệnh: trong trường hợp nguy hiểm tính mạng, văn hình có thể cứu Hàn Thu Thủy một mạng. Cô nhóc ban đầu cũng tính từ chối, nhưng lời không hiểu sao không nói ra nổi, cuối cùng cứ thế mà đáp ứng hết các đề nghị của bà ta. Có lẽ là vì vị phu nhân trước mặt quá nhiệt tình, nàng ta lại sẵn có hảo cảm với người ta chăng?

Xử lý xong việc, Song phu nhân vừa bước chân ra khỏi cửa tiệm thì đã thấy con trai mình cùng Chân Lợi Kiếm hớt hơ hớt hải chạy tới…
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 199: Người Hai Mệnh Số


Trước kể đến Lã Vọng Thiên định coi một chút vận rủi của Chân Lợi Kiếm còn độc mồm độc miệng hắn một trận, ai dè nửa đường xảy ra biến cố.

Chân Lợi Kiếm có hai số kiếp khác nhau như trời với vực. Nếu tưởng tượng cuộc đời một người là một dòng sông, thì hai số mệnh này như hai dòng thủy lưu, một đỏ một xanh, một nóng một lạnh, không ngừng va chạm, đè ép lẫn nhau, khiến dòng sông đổi màu liên tục. Một bên, hắn đứng trên đỉnh vinh quang, trở thành người chấn hưng, dẫn dắt Kiếm Trì đi đến tầm cao mới, rồi chết già một cách viên mãn trong tiếc nuỗi của bao người. Bên kia, hắn thân bại danh liệt, cô độc mà bỏ mạng nơi đầu đường xó chơ… Tình huống này, quả thực là lần đầu tiên Lã Vọng Thiên gặp phải!

Tuy nói “lòng người khó dò”, Lã cung chủ cũng chỉ vì năm ấy nhìn không thấu lòng người mà Vọng Thiên cung phải đón nhận phong ba, Lã gia từ đó cấm con cháu tham gia đánh bạc, thế nhưng cũng đã rất nhiều năm trôi qua, các trưởng lão sau khi bôn ba khắp Huyền Hoàng giới, khi trở về cũng đã học được không ít thứ mới, trình độ bói toán đã sớm xưa không bằng nay. Thành thử, tuy vẫn không cách nào biết rõ lòng người sâu cạn thế nào, nhưng cũng đại khái đoán được ít nhiều.

Nói một cách dễ hiểu thì tuy có thể nói mọi quyết định của con người, dù đúng hay sai, đều sẽ có hậu quả tương ứng và ảnh hưởng trực tiếp đến số mạng họ, nhưng tính cách, bản tâm con người ngoại trừ sau những biến cố cực lớn thì nhìn chung rất ít khi thay đổi. Thành thử, trong các tình huống tương tự, một người sẽ có cách xử lý và phản ứng giống nhau. Chung quy, cuộc đời không phải là một trò chơi nhập vai hay tiểu thuyết hình ảnh, không thể lưu hay tải lại một mốc để đưa ra quyết định khác, cũng không thể thử nghiệm tất cả các lựa chọn của bản thân để xem sẽ dẫn đến các kết cục khác nhau thế nào khi trò chơi kết thúc. Thế nên, một người trong điều kiện bình thường, hoàn toàn có thể tham chiếu theo thói quen, tính cách, và hành vi trong quá khứ để dự đoán cách hành xử trong tương lai. Mà đây cũng chính là cách Lã gia sử dụng để giảm thiểu quấy nhiễu của “lòng người khó dò” khi bói mệnh số.

Mà bởi vậy, nên mệnh số của Chân Lợi Kiếm quá bất bình thường! Cứ như thể hắn có hai tính cách, bản tâm trái ngược nhau hoàn toàn vậy.

“Rốt cuộc là chuyện gì?”

Lã Vọng Thiên một mặt kinh hãi mà lẩm bẩm. Hắn hoàn toàn không hiểu được kết quả mình bói ra. Thế nhưng làm mấy lần kết quả đều giống nhau. Từ mệnh số đến tai kiếp, tên công tử trước mặt đều có hai cái song song, đối lập lẫn nhau. Mỗi lần Lã công tử muốn nhìn kỹ, truy tung lý do thì đều có một màn sương mù màu đen pha lẫn đỏ nổi lên, khiến tất cả mờ mịt.

Màn sương này vừa quen vừa lạ. Nó không phải màn sương màu trắng quen thuộc mà thiên đạo vẫn dùng để che giấu thiên cơ, nhưng lại vẫn có vài phần tương tự. Nếu đúng là bạch vụ bình thường vẫn che thiên cơ, cõ lẽ họ Lã cũng không bối rối như hiện tại. Dù gì, truyền thừa của Lã gia cũng sinh ra để khắc chế Thiên Cơ Bạch Vụ của thiên đạo. Thiên kiêu của Vọng Thiên cung được đánh giá có thiên phú, thành tựu bói toán cao hay thấp chính là chỉ khả năng định hướng, nhìn thấu Thiên Cơ Bạch Vụ. Thế nhưng Hắc Huyết Vụ trước mắt thì bất đồng, các phương thức thông thường trong truyền thừa của Lã gia đều vô dụng hoặc tác dụng không đáng nói…

Lã Vọng Thiên thử đi thử lại đều một kết quả, trán đã rịn mồ hôi. Hắn từ sớm không còn làm việc này chỉ để cà khịa Chân Lợi Kiếm một trận, mà trước là vì tò mò sự mới lạ, sau thì thật sư lo ngại cho số phận của kẻ trước mắt. Thế nhưng, mặc cho Lã Vọng Thiên trổ hết tài hoa, màn sương kỳ lạ kia vẫn chặn mọi đường công, khiến hắn thất bại liên tục.

Cuối cùng, cứ như màn sương đen kia có nhân tính, khó chịu Lã Vọng Thiên không ngừng dò xét mà bắt đầu công kích vào thần hồn hắn. Lã công tử vốn đã thấm mệt nay bất ngờ bị công kích, không kịp đề phòng mà trực tiếp bị đánh cho thoát khỏi trạng thái, phun ra một ngụm máu, sắc mặt tái mét.

Các cô nương cùng đại thẩm vây quanh tức thì tá hỏa, người lo lắng xông tới hỏi thăm Lã công tử, kẻ lại quăng ánh mắt bất thiện về phía mấy người Chân Lợi Kiếm.

Họ Chân thấy thầy bói trẻ tuổi mặt lúc xanh lúc đỏ, sau lại thổ huyết thì cũng thoáng ngạc nhiên, thế nhưng gặp ánh mắt của mấy thiếu nữ thì lại chợt như hiểu ra cái gì. Y liền cười lạnh, nói:

“Ồ, bản lãnh của vị công tử đây quả thực là lớn nha!”

Giọng nói của Chân Lợi Kiếm không hề che giấu mỉa mai, hiển nhiên là nói móc Lã Vọng Thiên trốn sau váy đàn bà. Lã công tử cười khổ, hắn thật sự tình ngay lý gian, không thể phản bác. Hắn còn biết nói thế nào đây? “Số mệnh công tử thập phần quỷ dị, họa phúc khó đoán”? “Công tử nếu không vinh quy bái tổ thì sẽ thân bại danh liệt”? Lập lờ nước đôi như thế, chẳng bằng không nói. Cả đời Chân Lợi Kiếm ghét nhất nói lời nước đôi không rõ ràng, cũng khinh thường nhất loại thầy bói rởm vì đồng tiền mà nói lời nước đôi gạt người. Thành thử, những lời kia dù có là sự thật hắn cũng không mở miệng ra nói được. Nên cũng chỉ có thể ngậm cục tức cùng nỗi khổ tâm không ai thấu này xuống.

Chân thánh tử thấy thầy bói trẻ tuổi kia không phản bác được, lại bồi thêm một câu:

“Nếu chỉ có bấy nhiêu điêu trùng tiểu kỹ, thì bản thiếu khuyên ngươi cũng đừng nên mau mau mà cút đi nơi khác, đừng ở lại châu Ngọc Lân này mà tự rước lấy nhục nhã. Chả lẽ ngươi còn chưa nghe tin Bích Mặc tiên sinh đã nhậm chức dưới quyền Bạch Đế thành chủ hay sao? Chuyện tiên sinh có thể nhìn thấu nhân quả trường hà cũng không phải là giả đâu. Mà… ta nghe nói, cũng mới tháng trước tiên sinh vừa ra mặt vạch trần một tên thầy bói lừa đảo khác ở ải Quan Lâm đó!”

Đỗ Thải Hà nghe thấy Chân Lợi Kiếm khi không bô bô cái miệng ra vậy thì cau mày. Trong ấn tượng của nàng ta, thánh tử của Kiếm Trì tuy có phần nóng nảy nhưng là người gia giáo, biết ứng xử. Việc sư phụ muốn “điệu thấp” tin tưởng Kiếm Trì đều nắm rõ, sao có thể tự nhiên đem khoe khoang một cách trẻ con như thế này? Cô nàng bèn hắng giọng:

“Chân công tử, cẩn trọng lời nói!”

Chân Lợi Kiếm giật mình, vội quay qua xin lỗi:

“Đỗ tiểu thư, là tại hạ l* m*ng, không nên tùy tiện nói ra chuyện của sư phụ cô nương…”

Đỗ Thải Hà nghe vậy thì cuống quít cả lên, thiếu điều đưa tay lên bịt miệng hắn. Tưởng tên này đem sư phụ nàng ta ra khoe khoang lung tung đã là gây họa, giờ thì tốt rồi, đem nốt cả nàng ta kéo xuống nước một lượt.

Dân chúng Bạch Đế từ khi nghe đến đại danh của Bích Mặc tiên sinh đã bắt đầu bàn tán, nay nghe được cô bé trước mắt chính là đồ đệ của tiên sinh thì tiếng nghị luần ngày càng to. Dù gì, sự kiện Nguyễn Đông Thanh siêu độ oan hồn trên diện rộng mới trải qua gần đây, những phụ nữ đứng tại xung quanh quầy bói lúc này lại không ít người là vợ, con, thân quyến của những người có mặt tại hiện trường hôm đó. Qua lời đám quân lính kể lại, lại tận mắt thấy mấy cái xe châu báu đem đi lấy lòng Bích Mặc tiên sinh hồi hôm, thành Bạch Đế sớm đã coi tiên sinh như một vị thần, vừa kính vừa sợ.

Khác biệt với ải Quan Lâm, nơi Bích Mặc tiên sinh được người người nhà nhà yêu quý thật lòng, cũng khác biệt với thành Đông Thanh, nơi Bích Mặc tiên sinh nổi tiếng là một anh hùng dân gian vì dân vì chúng, tại thành Bạch Đế, Bích Mặc tiên sinh là một cái hung danh khiến người ta sợ hãi. Thành thử, khi biết cao đồ của tiên sinh đang tại đó, nhiều người bắt đầu đứng ngồi không yên. Có kẻ sợ hãi, có kẻ tò mò, cũng có người thấp thỏm lo âu. Dù gì bọn họ đa phần đều chỉ là vì nhan sắc của Lã công tử mà ra đây coi bói, thế nhưng nếu chỉ bởi thế mà tự dưng chọc vào Bích Mặc tiên sinh thì quả thực nằm im cũng trúng đạn!

Trái ngược với dân chúng xôn xao, Lã Vọng Thiên lại đang chết lặng. Hắn không chết lặng bởi sợ hãi hay lo ngại gì lời đe dọa của Chân Lợi Kiếm, cũng chẳng phải giật mình hay lo lắng như dân chúng xung quanh. Ngược lại, khiến hắn chú ý lại là thông tin “Bích Mặc tiên sinh nhìn thấu nhân quả trường hà”.

Kể ra cũng buồn cười, thông tin này tính đến nay cũng chả còn là bí mật gì, các thế lực lớn đều đã biết, mà Vọng Thiên cung hiển nhiên cũng không phải ngoại lệ. Thậm chí phụ thân Lã Vọng Thiên – Lã cung chủ cùng các vị trưởng lão trong môn phái cũng đã tính các phương án tiếp cận thăm dò, chả qua là chưa kịp bắt tay vào hành động mà thôi.

Thế nhưng, vì Lã Vọng Thiên được nuôi như hoàng tử trong cung cấm, công chúa chốn tháp cao, nên hắn xưa nay không hề quan tâm đến mấy cái tình báo bên ngoài. Mà mẹ hắn vì không muốn con mình bị cha chú dạy cho hỏng hẳn EQ nên đã giành quyền nuôi dưỡng cùng quyền đưa ra các quyết định quan trọng đối với Lã thiếu chủ. Lần này Lã Vọng Thiên nhận nhiệm vụ ra ngoài cũng là quyết định của bà ta. Thành thử, thông tin Vọng Thiên lâu sớm có, mà Lã Vọng Thiên thân là thiếu chủ, lại chẳng mảy may hay biết.

Thế nên, đây cũng là lần đầu tiên Lã công tử nghe được tin này, quả thực khiến hắn kích động không thôi!
 
Back
Top Dưới