Tiên Hiệp Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân

Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 100: Tiệc Cưới Bất Ổn


Vừa bước qua cổng thành, Nguyễn Đông Thanh đã có thể thấy sự khác biệt như trời với vực giữa quận Nhị và quận Tam.

Nếu quận Tam là lầu son gác tía, vậy thì quận nhị chính là lầu vàng gác ngọc.

Đường rộng thênh thang, trải những viên gạch bằng sứ men xanh to bản rộng cỡ một trượng vuông, nhìn khắp nơi cũng không thấy được một cọng rác một hạt bụi nào. Hoa cỏ hai bên đường cũng được trồng ngay hàng thẳng lối, đều tăm tắp trải dài đến ngút tầm mắt.

Dọc theo từng cung đường trải sứ, xe ngựa lại qua, kiệu đi không ngớt, lác đác chỉ có vài hạ nhân ra ngoài làm việc là đi bộ, tuyệt nhiên không có lấy một sạp hàng quang gánh bán rong nào cả. Khung cảnh trước mắt bất giác khiến Nguyễn Đông Thanh nhớ lại mấy khu đô thị cao cấp ở địa cầu.

Bốn người một mèo vừa quận Nhị, chưa đi được vài bước thì đã có một nhóm tám người phăm phăm bước tới gần. Chỉ thấy người nào người nấy to cao cường tráng, cơ nổi rõ từng múi, xiêm y mũ mạo trên người cũng may bằng loại lụa tốt vừa bóng vừa mịn, so với cái ảo bằng vải bố thô ráp của Bích Mặc tiên sinh thì tốt hơn nhiều. Tên hạ nhân đưa thiếp cúi mình, làm thủ thế mời:

“Mời tiên sinh lên võng.”

Chỉ thấy tám người đàn ông vạm vỡ kia cứ hai người một tổ, vác một cái “đòn gánh”. Cái đòn gánh này làm bằng gỗ gụ, trông chắc nịch, chẳng những rõ từng đường vân, hơn nữa màu gỗ lẫn có ánh tím, thoang thoảng mùi hương dễ chịu. Nguyễn Đông Thanh không hiểu mấy về gỗ cũng đoán được thứ gỗ được dùng để đẽo lên cái “đòn gánh” này chắc chắn là một thứ gỗ rất quý, dùng cái giá trên trời cũng chưa chắc đã có mà mua.

Hai đầu đòn gánh làm thành hình đầu ưng đang hé miệng, mỏ chính là chỗ để móc hai đầu võng.

Chỉ thấy tấm võng được dùng ánh lên sắc tử kim, các mắt võng đan san sát nhau chỉ nhỏ bằng con muỗi. Tuy Nguyễn Đông Thanh không rõ lúc nằm lên có thoáng mát thoải mái hay không, thế nhưng kỹ nghệ có thể nói là tinh xảo vô cùng.

oOo

Bốn người Nguyễn Đông Thanh được võng khiêng thẳng đến một tòa phủ đệ rộng lớn.

Bấy giờ, trời đã chuyển từ chiều về tối.

Cả tòa phủ đệ lộng lẫy giăng đèn kết hoa, ánh sáng từ cơ man không biết bao nhiêu cái đèn lồng thắp sáng cả một con đường rực rỡ không khác nào ban ngày.

Lại có hai ngọn đèn trời được thả bay rất cao, dùng để treo hai tấm hoành phi bằng lụa đỏ, một bên tả một bên hữu. Mỗi tấm lụa lại cho thêu bảy chữ bằng chỉ vàng, tổng cộng là mười bốn chữ:

“Oanh đề phượng ngữ nghinh xuân trướng.

Nhạn vũ loan phi phất cẩm bình.”

Bút pháp nét thượng thì uyển chuyển nhu hòa, nét hạ thì cứng cáp hữu lực, quả thực xứng với những lời tán dương hoa mỹ như “bút tẩu long xà”, “rồng bay phượng múa”.

Tấm mặt mo của Bích Mặc tiên sinh đỏ lựng.

Hai câu trên hoành phi quả nhiên là hai câu đối hắn “mượn” của cụ Tam Nguyên Yên Đổ, thế nhưng cái nét chữ cặn bã của hắn mà đem so với thư pháp trên hai bức hoành phi thì chỉ có một câu: “thảm sát nghiêng về một bên”.

Ai là dao thớt, ai là thịt cá không nói cũng hiểu.

Càng làm Nguyễn Đông Thanh xấu hổ hơn ấy là hắn dùng bút vẽ nên mười bốn chữ bác sĩ, còn người ta là dùng kim chỉ thêu lên một tấm lụa mà vẫn có những nét chữ đẹp đến thế.

Tên hạ nhân đưa thiếp nhanh nhẹn nhảy xuống, xướng to:

“Tiên sinh đến!”

Mấy người khiêng võng quá cao, Nguyễn Đông Thanh không thò được chân xuống đất. Chính vào cái lúc gã đang loay hoay tìm cách xuống võng sao cho không ngã dập cả mặt thì đã có bốn người từ trong phủ đi ra, cười sang sảng:

“Tiên sinh nể mặt mà đến, Trương mỗ thật là vinh hạnh.”

Bốn người này đương nhiên chính là ba vị gia chủ ba nhà Trương, Hồ, Đinh và đại trưởng lão của Lý gia. Trương gia gia chủ thấy Bích Mặc tiên sinh của chúng ta chính đang loay hoay vật lộn với cái võng, bèn đánh mắt ra hiệu cho hai tên khiêng kiệu. Hai người này bấy giờ mới hơi khom người, chân của Nguyễn Đông Thanh chạm được xuống đất.

Hắn vội vàng đứng lên, trả lễ:

“Trương... đại nhân khách khí.”

“Đại nhân gì chứ? Trương mỗ đã cáo quan hưu trí từ lâu, bây giờ không hỏi chuyện trong triều nữa. Tiên sinh, mời vào uống chén rượu nhạt.”

Gia chủ Trương gia – Trương Hạo – cười nói.

Một câu này của lão lập tức khiến cơ mặt ba người còn lại co giật một cái, trong đôi mắt thoáng hiện ra vẻ mất tự nhiên.

Trong lòng gia chủ Đinh gia, gia chủ Hồ gia, còn có Lý gia đại trưởng lão cơ hồ đồng thời mắng Trương Hạo là mặt dày vô liêm sỉ. Nhất là gia chủ Hồ gia – Hồ Nguyên Thương – càng hận không thể đấm ngực dậm chân, chửi toáng lên một câu.

Trương Hạo chính là thái sư đời trước.

Hiện tại, đương triều thái sư Trương Hạc cũng chính là con trai của lão.

Trương gia tứ thế tam công, môn nhân đông vô số kể, văn thần võ tướng trong triều chẳng phải môn sinh cũng có dây mơ rễ má với họ, thế lực quả thực kinh khủng. Hồ Nguyên Thương vì mối hôn sự này mà bỏ ra cái giá không nhỏ mới hỏi cưới được con gái họ Trương cho thằng con mình.

“Sao lúc đó lão không bảo mình đã từ quan đi?”

Kỳ thực, trong bốn nhà, Hồ gia hắn quật khởi nhanh nhất, nhưng căn cơ cũng nông cạn nhất.

Trương gia là sĩ tộc có tiếng lâu đời thì không nói, Lý gia bỗng nhiên “phọt” ra được một tên Võ Hoàng Lý Huyền Thiên cũng không chấp. Nhưng Đinh gia trước đây cũng là nhà làm nông, chính vì quyên tiền cho tiên hoàng Thánh Tông xây dựng Tế Kỳ thành, nên được cho một chức quan. Lại trải qua nhiều năm kinh thương, mới có được như ngày hôm nay. Nếu nói quan lớn trong triều cơ hồ đều có vây cánh của Trương gia, thì quan nhỏ các nơi hầu như đều có quan hệ lợi ích với Đinh gia.

Hồ gia trái lại giống như là bèo không rễ.

Sau Hồ Nguyên Thương, Đinh gia gia chủ Đinh Quyền cũng lên tự giới thiệu với Nguyễn Đông Thanh. Đại trưởng lão Lý gia Lý Huyền Cơ do có quan hệ dây mơ rễ má với Võ Hoàng, thành thử được mọi người khoán cho tiến lên sau cùng.

Giới thiệu chào hỏi xong đâu vào đấy, Trương Hạo mới dẫn Nguyễn Đông Thanh vào phủ nhập tiệc.

oOo

Bữa rượu mừng này, Bích Mặc tiên sinh của chúng ta ăn một cách cực kỳ gượng gạo.

Không vì nguyên do nào khác, chỉ là bởi các món ăn quá... độc lạ.

Món đầu tiên được dọn lên cho Nguyễn Đông Thanh gọi là “Nguyệt Hạ Hồ Tiên”. “Tiên Cáo Dưới Trăng”, cái tên vừa nghe đã thấy đầy thi vị và đậm nét truyền kỳ như thế, thực lòng mà nói hắn cũng mong chờ được nếm thử.

Thứ được bưng lên là một cái đĩa nhìn gần giống thịt đông.

Lúc lật lớp mỡ trắng lên, thứ đập vào mắt Bích Mặc tiên sinh của chúng ta chính là một cái “báu vật gia truyền” to oạch, kích cỡ không khác gì pín bò.

Hỏi ra mới biết, “tiên” ở đây là dùng lối trại âm, phải hiểu là “tiên” trong “hổ tiên”.

Trương Hạo quảng cáo ghê quá, rằng món này lấy pín của hồ ly chín đuôi hiếm có khó tìm trên đời, chuyên trị bổ thận tráng dương, tăng cường sinh lực phái mạnh. Nguyễn Đông Thanh bị nài quá, cũng cố ăn hai miếng, nhưng vị hăng khác thường khiến hắn chịu thua không sao động được đũa thứ ba.

Món thứ hai gọi là “Am Am Hương Thanh” (tiếng quê hương văng vẳng) thì lại càng kinh dị hơn. Món này được chế biến gần giống như món “cá nhảy Tây Bắc” ở địa cầu, thế nhưng thay vì sử dụng cá, người ở Huyền Hoàng giới lại sử dụng ốc. Mà thứ ốc Trương gia dùng để đãi khách lại là một loại ốc tinh, gọi là Hoàng Tuyền Loa.

Nghe Trương Hạo giải thích, loại ốc tinh này làm tổ ở các hốc đá, hố bùn dưới đáy sông đáy ao. Chúng thường xuyên giả tiếng người nói chuyện để dụ người ta bước xuống ao, thụt chân vào hố, cuối cùng bị sình lầy kéo chết chìm.

Có thể tưởng tượng lúc cái món “Am Am Hương Thanh” này được bưng lên, Nguyễn Đông Thanh đã gặp cảnh tượng ám ảnh ra sao.

Từng con ốc trên đĩa phát ra những tiếng kêu não nề ai oán khiến hắn chỉ thấy cái món “Nguyệt Hạ Hồ Tiên” cố ăn lúc nãy chực xổ ra ngoài qua đường cửa trước.

Đến món thứ ba may mắn là “bình thường” một chút, gọi là: “Hải Phúc Thái Dương.” (Mặt trời trong bụng biển)

Món này thực ra là ruột cá của một loại yêu ngư tên Xích Hỏa Kim Lý, cứ ngàn con cá chép tinh may ra thì được một, thành thử thắng ở độ quý hiếm. Ruột cá được cắt khúc, tẩm ướp rồi đảo trên chảo nóng, ăn cùng với rau thơm.

Ít nhất thì cách chế biến bình thường.

Thế nhưng, Nguyễn Đông Thanh vừa ăn một miếng, lập tức đã cảm thấy cả người nóng bừng, đầu lưỡi như có lửa đốt. Lúc này hắn rốt cuộc cũng hiểu vì sao món này lại có tên là “Hải Phúc Thái Dương”. Trương Mặc Sênh ngồi một bên, tủm tỉm cười khẩy, thầm chê:

“Hai lão già này quả thực là tay mơ, chỉ biết đem đồ quý lên mà không biết đang phục vụ ai. Tiên sinh không dùng đến chân khí thì làm sao chịu được cái nóng của ruột cá Xích Hỏa Kim Lý kia chứ?”

Trương Hạo, Hồ Nguyên Thương còn thết đãi thêm đủ các món cực kỳ quý giá nữa, chỉ tiếc là Nguyễn Đông Thanh không biết thưởng thức ra sao.

Cuối cùng, ăn xong được bữa cơm thôi mà Bích Mặc tiên sinh cơ hồ hư thoát, mồ hôi mồ kê đầm đìa. Phía nhà chủ cũng tỏ ra lúng túng, chỉ biết dâng rượu cười trừ. Phải biết, để chuẩn bị gấp những món của ngon vật hiếm này cho tối nay mà hai nhà Trương, Hồ phải tốn bao công sức tiền của, ấy thế mà vị khách quan trọng nhất lại chỉ động vài ba đũa.

Nguyễn Đông Thanh cũng biết mình thất lễ, nhưng quả thực những món ăn hôm nay hắn cố lắm cũng chẳng bắt bản thân ăn nổi. Cuối cùng, mặt mo đỏ lên, Bích Mặc tiên sinh mới hắng giọng, nói:

“Đa tạ hai nhà Trương, Hồ hôm nay đã khoản đãi tại hạ. Đông Thanh mượn câu đối của người xưa mà được các vị tiếp đãi thịnh tình như thế, về lý mà nói quả thực là có phần ‘vô công bất thụ lộc’. Chỉ tiếc là tài học thô thiển, không thể tự làm được một bài thơ chúc mừng ngày đại hỉ.”

Trương Hạo nói:

“Tiên sinh không thể nói vậy. Có câu ‘tuệ nhãn thức châu’, nếu không có tiên sinh thì hôm nay bọn ta nào có được cái duyên được nghe hai câu tuyệt cú? Nếu thơ của Nguyễn đại Nho là ngựa hay, thì tiên sinh cũng đáng xưng làm Bá Nhạc vậy.”

Nguyễn Đông Thanh nghe vậy không khỏi giật mình, không ngờ Huyền Hoàng giới thế mà cũng có điển cố “Bá Nhạc xem ngựa”. Hắn đảo mắt, nhìn lên chỗ tiểu đình giữa sân đang có mười mấy thiếu nữ mặc nghê thường nhẹ nhàng ca múa, hỏi:

“Dám hỏi các nàng kia đang múa điệu gì?”

“Là điệu Vạn Tử Thiên Hồng.”

Trương Hạo cười, nói, trong ngữ khí không giấu được vẻ tự hào.

14/3 này là Valentine trắng, xét thấy truyện dạo gần đây cũng khá được bà con ủng hộ nên nhóm tác quyết định đăng 5 chương (1+4) chính truyện cùng 3 chương ngoại truyện "cơm chó", thành tổng cộng 8 chương.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 101: Vạn Tử Thiên Hồng


Vốn “Vạn Tử Thiên Hồng” có tên là “Bách Hoa Tề Phóng”, có xuất xứ là một bài múa cung đình. Tương truyền khi xưa thái tổ hoàng đế vượt Lục Trúc Hải đến phương nam mở nước, thường hay cho người múa bài này trong những lúc mệt mỏi, khen rằng giống như trăm hoa đua nở.

Về sau, cung nữ dạy vũ đạo trong cung có tuổi, được cho về quê, Trương Hạo mới thuê về để dạy lại cho kẻ hầu người hạ. Do phải thay đổi đi tránh phạm húy, lão bèn dứt khoát đặt tên mới cho điệu này là “Vạn Tử Thiên Hồng”.

Nguyễn Đông Thanh hít sâu một hơi, nói:

“Tại hạ không có tài làm thơ, xin được lấy thơ của người xưa góp vui một phen, chủ đề cứ lấy là ‘vạn tử thiên hồng’. Không biết Trương lão nghĩ sao?"

"Cầu còn không được. Xin tiên sinh cho lời vàng ý ngọc.”

Chính lúc Trương Hạo đang vui mừng như mở cờ trong bụng, thì bỗng nhiên ngoài cửa có tiếng nói sang sảng quen thuộc, lại đầy vẻ ngông cuồng vọng vào:

“Hai nhà Trương, Hồ có hỉ sự, thế nhưng hôm nay Lý mỗ mới đến chúc mừng được, không thất lễ chứ?”

“Nào có? Võ Hoàng dẫu bận trăm công ngàn việc cũng đích thân quang lâm, lão phu mừng còn không kịp ấy chứ?”

Trương Hạo đứng lên, chắp tay hành lễ.

Lý Huyền Thiên đạp gió mà đến, trên tay còn cầm một cái bao vải. Người trong phủ, bao gồm cả Nguyễn Đông Thanh thấy cái bao lão cầm cộm lên tròn tròn, dưới đáy lại đỏ lòm giống như có máu vừa khô, không cần lão giở bao ra cũng đoán được rốt cuộc bên trong túi vải chứa thứ gì.

Bích Mặc tiên sinh thấy cảnh này mà há hốc mồm vì kinh ngạc.

Vốn tưởng đến đám cưới con nhà người ta hát “Vợ người ta” đã là phá đám, thế nhưng so với cái kiểu “ném đá hội nghị” này của Lý Huyền Thiên thì quả thực phải gọi cụ xưng con.

Lý Huyền Thiên đáp xuống, quăng cái bao ra giữa sân, dọa cho đám ca cơ hoảng hồn vội vàng lui ra tránh né. Y cười ha hả, nhìn về phía Trương Hạo, hỏi:

“Trương lão thái sư, món quà này của Lý mỗ không tệ chứ?”

Trương Hạo giở túi, nhìn thoáng qua một cái, sau đó giao cho hạ nhân, đoạn mới nhìn Lý Huyền Thiên, nói:

“Món quà của Võ Hoàng điện hạ quả thực khiến ông già này mở mang tầm mắt. Thế nhưng, so với món quà này, lá gan của điện hạ càng khiến cho Trương mỗ phải lau mắt thán phục hơn. Liễu thị lang có sai thì cũng là Lại Bộ thị lang, là mệnh quan triều đình, nay điện hạ lại tự ý giết hại như vậy có phải là có chút không thỏa đáng hay không?”

“Có sao? Lý mỗ chỉ thấy mình giết đúng người đúng tội, Liễu thị lang chẳng những ăn chặn của công, còn kéo bè kết phái, khiến triều đường chướng khí mịt mờ. Hiềm một nỗi chưa có đủ chứng cớ mà thôi. Chúng ta thân là thần tử, ăn lộc vua làm việc nước, cần phải cùng bệ hạ phân ưu. Lão thái sư thấy có đúng không?”

Lý Huyền Thiên bẻ lại.

Lời lẽ của lão sắc bén khác hẳn thường ngày, song lại nghe có hơi... cứng nhắc. Gần giống như là được ai đó truyền âm nhắc bài mách nước cho.

Trương Hạo đương nhiên là biết có người đang mượn mồm Võ Hoàng chỉ chó mắng mèo, song lão lăn lộn quan trường cả đời người, rất nhanh đã bình tĩnh lại. Trương Hạo thở ra một hơi, nói:

“Điện hạ dạy rất phải. Dám hỏi điện hạ lần này đến đây là để chung vui hay là để bắt người?”

Lý Huyền Thiên nói:

“Đương nhiên là đến để chung vui rồi. Chẳng nhẽ Trương lão cảm thấy triều đình thanh trừ được sâu mọt không phải việc vui lớn sao? Lần này Trương gia song hỉ lâm môn, Lý mỗ không chờ được mới chạy tới đây chúc mừng đấy chứ.”

Trương Hạo bình thản đáp:

“Điện hạ nói rất phải, thật là đáng chúc mừng một phen. Người đâu, còn không mau chuẩn bị ghế cho Võ Hoàng điện hạ an tọa?”

“Ha ha, vậy Lý mỗ xin đa tạ Trương lão thái sư đã khoản đãi.”

Lý Huyền Thiên cười, thản nhiên nhập tiệc giống như chưa hề có chuyện gì xảy ra.

Bấy giờ, Trương Hạo mới quay sang, hỏi:

“Tiên sinh, chuyện ban nãy ngài đã đáp ứng không biết có thể thực hiện hay không?”

“Chuyện này... nếu lão thái sư không ngại thì tại hạ cũng xin bêu xấu một phen vậy.”

Nguyễn Đông Thanh không ngờ sau khi bị Lý Huyền Thiên phá quán mà lão còn có tâm tình đòi thơ của hắn. Thế nhưng, khi bình tâm tĩnh khí nghĩ lại, gã lại nghĩ có lẽ Trương Hạo muốn mượn chuyện này để giải tỏa bầu không khí một chút. Không thể không nói, kể từ khi Lý Huyền Thiên xuất hiện, Nguyễn Đông Thanh có thể thấy rõ mồn một vẻ cam chịu và uất ức nén giận trên mặt khách khứa cả hai đàng trai, gái. Cái cảm giác phẫn nộ, uất ức mà bất lực không thể làm gì được, khi còn đi làm ở địa cầu hắn cũng đã nếm trải qua rồi.

Thế là, Nguyễn Đông Thanh hắng giọng, nói:

“Chư vị, thơ này tên là Hoa, nguyên tác giả tên Nguyễn Bảo, tự là Châu Khê, xin đừng lầm tưởng là thủ bút của tại hạ. Xin chư vị hứa cho là đừng hiểu nhầm, tại hạ mới dám đọc.”

“Trương mỗ thay mặt chư vị ở đây cam kết với ngài tuyệt sẽ không nói thơ này là sở tác của Bích Mặc tiên sinh. Lão già lẩm cẩm này tuy vô dụng, song vẫn còn chút uy tín, xin ngài cứ yên tâm.”

Trương Hạo đáp.

Nguyễn Đông Thanh nói:

“Có lời này của lão thái sư thì tại hạ yên tâm:

“Lâu thượng thuỳ thôi yết cổ thanh

Thiên hồng vạn tử hữu dư thanh

Ngọc hoàng la ỷ lung kim cốc

Thanh đế y thường bị cẩm thành

Tứ tự tiễn tài lao hóa thủ

Kỷ phiên thưởng thức phí thi tình

Tràng An nhật nhật đông phong diện

Điểm tập quần thi thí phẩm bình”

(Dịch thơ - bản dịch của Trần Bá Chi:

Trên lầu ai thúc trống chầu canh

Muôn tía nghìn hồng vẻ cực thanh

Gấm vóc Ngọc hoàng trùm cửa động

Áo xiêm Thanh đế rực bờ thành

Bốn mùa con tạo trau tria giỏi

Mấy độ tình thơ thưởng thức sành

Đón gió Tràng An đông diện tới

Rừng thơ xin thử điểm đôi nhành

Kim cốc: Hang vàng. Chỉ cảnh hoa đẹp ngày xuân

Thanh đế: Còn gọi là Đông hoàng, vị chúa của mùa xuân.

Cẩm thành: cũng như Kim cốc, chỉ sắc hoa xuân lộng lẫy.

Tràng An: chỉ kinh đô

Đông phong: ở đây là gió xuân.)

(Nguyễn Bảo là quan thời Lê Thánh Tông, niên hiệu Hồng Đức, tự của ông là Định Phủ. Thế nhưng Nguyễn Đông Thanh vốn cũng là người chột sử, chỉ nhớ được vài chi tiết, thành thử mới lầm tưởng Châu Khê trong tên tập thơ thành tên tự của ông.)

Trong phủ đệ, Trương Hạo vỗ tay một cái, khen:

“Thơ hay.”

Thấy lão thái sư đã mở miệng khen, tân khách ngoại trừ cái người chuyên trị đến phá quán là Lý Huyền Thiên đều nhao nhao hưởng ứng. Nhất thời, vô vàn lời khoa trương tán thưởng, hoa hòe hoa sói tới tấp được người ta ném vào mặt Nguyễn Đông Thanh.

“Bích Mặc tiên sinh quả thực có tài.”

“Đúng vậy. Mới nghe thì thấy ý cảnh không hợp với phủ đệ tân hôn, thế nhưng kim cốc cẩm thành chẳng phải tán dương tiệc mừng của Trương lão thái sư là chốn thiên cung tiên khuyết hay sao?”

“Huynh đài nói chính hợp ý ta. Thế nhưng tại hạ tâm đắc nhất vẫn là:

Tứ tự tiễn tài lao hóa thủ

Kỷ phiên thưởng thức phí thi tình

Chỉ tán dương cái vẻ hào nhoáng hoa lệ nơi đây há chẳng phải khiến lão thái sư trở nên dung tục, không khác gì cái đám giàu xổi ở quận Tam hay sao? Thưởng thi, tao nhã làm sao, văn khí làm sao, trong chốn lầu vàng gác ngọc lại vẫn có cái thú thanh nhã của bậc quân tử, chẳng quên sơ tâm, thực là phong phạm của Nho gia ta vậy.”

“Hơn nữa tiên sinh đọc thơ mừng cưới, chẳng phải chính ứng với hai câu này sao?"

Nguyễn Đông Thanh:

“...”

Các người đang dạy ngữ văn lớp phổ thông sao?

“Chư vị, thứ lỗi, thực sự ý cảnh không liên quan thật. Tại hạ đây là đi mượn văn, hợp ý hợp tình được mới là lạ.”

Nguyễn Đông Thanh mở miệng cải chính, thế nhưng Bích Mặc tiên sinh của chúng ta không thể nào ngờ được gã càng giải thích mấy người này lại càng cho là đang khiêm tốn, mực càng bôi càng loe loét.

Thế là...

Nguyễn Đông Thanh thì đứng đực như ngỗng ỉa, trong khi mấy tay quan văn Nho học cứ được thể mà phân tích từa lưa, bình phẩm đến cao hứng quên mình.

Lý Huyền Thiên nói:

“Tiên sinh, lần này Lý mỗ giúp ngài giải quyết một chuyện, có thể mặt dày xin ngài thêm một bài được không?”

“Không biết... Võ Hoàng điện hạ có yêu cầu gì? Chỉ cần không bắt tại hạ tự mình làm thơ, Đông Thanh sẽ tận lực.”

Nguyễn Đông Thanh chắp tay, đáp.

Kể từ lúc nghe thấy Trương Hạo nói cái đầu người mà Lý Huyền Thiên xách đến đây là của “Lại Bộ thị lang” là gã lập tức nhớ lại lúc vừa đến quận Tam, hình như chống lưng của tên quận thủ chính là vị Liễu thị lang này đây.

Lệnh bài của Võ Hoàng đã cứu hắn hai lần, hơn nữa còn giúp hắn một chuyện lớn, Nguyễn Đông Thanh đương nhiên không tài nào từ chối yêu cầu của Lý Huyền Thiên.

Đương nhiên, miễn là người ta không cho rằng thơ hắn phun ra là sáng tác của hắn là được.

Lý Huyền Thiên cười, nói:

“Vậy vẫn cứ lấy đề là ‘Vạn Tử Thiên Hồng’ đi. Thế nhưng Lý mỗ là con nhà binh, làm người thô lỗ, không hiểu phẩm thơ bình văn. Cũng hi vọng trong mặc bảo của tiên sinh có hơi hướm anh hùng, thiết mã kim câu một chút.”

Câu này của y lập tức khiến tất cả tân khách đều cảm thấy kinh ngạc khó tin. Không ít người thuộc bốn gia tộc lớn đều len lén xì xào, hỏi nhau xem lại tình báo.

“Võ Hoàng đột nhiên ra đề khó như vậy, chẳng phải là đang làm khó Bích Mặc tiên sinh ư? Hai người này rốt cuộc có phải hữu hảo hay không?”

“Tình báo có sai sót?”

“Có lẽ tiên sinh đến chúc mừng khiến Võ Hoàng không vui, nên mới làm khó bắt tiên sinh phải chọn đội?”

“Hẳn là vậy, hẳn là vậy. Vị Võ Hoàng điện hạ này xưa nay có tính cách thế nào các vị chẳng nhẽ không biết hay sao?”

Chính lúc mấy người này còn đang bận thì thào bàn tán, chín người mười ý, thì Nguyễn Đông Thanh đã nói:

“Vậy Đông Thanh xin mượn lời của Nguyễn Dữ tiên sinh tặng Võ Hoàng điện hạ một bài thơ vậy. Thơ tên “Đề Vệ Linh sơn”:

Vệ Linh xuân thụ bạch vân hàn,

Vạn tử thiên hồng diễm thế gian.

Thiết mã tại thiên danh tại sử,

Anh hùng lẫm lẫm mãn giang san.”

(Dịch nghĩa:

Mùa xuân cây cối ở núi Vệ Linh tươi tốt ngất tầng mây trắng mát lạnh

Muôn tía nghìn hồng đẹp mắt thế gian

Ngựa sắt đã lên trời mà danh còn ở sử sách

Tiếng anh hùng lừng lẫy khắp non sông)

(Vệ Linh sơn: Núi Vệ Linh còn có tên núi Sóc, núi Mã, núi Dền, thời Hậu Lê thuộc huyện Kim Hoa, Vĩnh Phúc, nay núi Vệ Linh thuộc xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Tương truyền, sau khi đánh đuổi giặc Ân xâm lược tới chân núi Vệ Linh cũng là lúc đuổi sạch bóng quân thù khỏi bờ cõi nước Nam, Thánh Gióng để lại áo giáp sắt ở lưng chừng núi rồi bay về trời.)

Nguyễn Đông Thanh đọc xong vẫn không hề nhận ra mình bị lẫn lộn hai bài thơ là “Đề Vệ Linh sơn” chép trong Lĩnh Nam chích quái của nữ sĩ Ngô Chi Lan và “nghĩ Kim Hoa nữ học sĩ đề Vệ Linh sơn” của Nguyễn Dữ.

Hai bài này có rất nhiều điểm tương tự, Bích Mặc tiên sinh lại không có trí nhớ siêu việt giống những người xuyên không khác, thành thử bắt đầu lầm lẫn lung tung.

Cũng may là ở Trương phủ không có người nào biết nguyên tác, thành thử cũng không ai bắt bẻ gã cả.

Nguyễn Đông Thanh vừa dứt lời, lập tức toàn bộ những tiếng bàn tán xì xào đều im bặt. Sự im lặng đến đáng ngờ này khiến gã rụt cổ lại, nhìn chung quanh một lượt, lòng nơm nớp lo không biết mình có nói câu nào phạm húy hay không.

Ngay sau đó...

Trương phủ nổ tung.

“Diệu! Quá diệu!”

“Người đâu! Văn phòng tứ bảo! Tìm giấy mực tốt nhất đến đây!”

“Tiên sinh! Không biết có thể cho bọn ta thảo lại thơ này không?”

“Tại hạ lòng có tâm đắc, hẳn là có thể vẽ một bức Vệ Linh sơn đồ. Không biết có huynh đài nào thạo thư pháp, giúp tại hạ điền thơ một phen được không?”

Nguyễn Đông Thanh:

“???”
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 102: Thú Triều


Lại kể chuyện ở Lão Thụ cổ viện.

Nguyễn Đông Thanh rời đi được một hôm thì Đá Nhỏ chạy xuống núi, gọi ba người Lý Thanh Vân lên, bảo Hồng Vân muốn gặp.

Vốn lúc ấy, ba sư huynh muội đều sinh hoạt trong sân, nhưng vì Đỗ Thải Hà phải chạy về phòng cất sách toán, thành ra để lại Tạ Thiên Hoa và Lý Thanh Vân một mình. Kể từ hôm tỏ tình thất bại (1) đến nay, Tạ Thiên Hoa luôn bị mất tự nhiên lúc ở cạnh ông đại sư huynh nhà mình khi không có Đỗ Thải Hà bên cạnh. Sau buổi hôm đó, cô nàng dường như luôn né tránh ánh mắt của Lý Thanh Vân, cứ một mình với cậu chàng là lại ngoảnh mặt đi vì ngượng.

[1: phụ chương Valentine 2023 (chương 79: -80) cho những ai quên]

Lý Thanh Vân thấy vậy, lại tưởng mình bị giận vì chuyện hôm đó. Mấy lần muốn xin lỗi nhưng lại thôi. Kỳ thực, không phải cậu ta không nhận ra tình cảm của sư muội hay không có ý đáp trả, mà là đang tự ti, thấy mình không xứng. Thế nên khi nghĩ mình bị giận, cậu chàng khi thì muốn xin lỗi, lúc thì lại thấy mình đáng bị như vậy. Hai người họ vì vậy mà không thể tự nhiên thân thiết với nhau như lúc trước, chỉ khi có cô tam sư muội ở cạnh mới có thể làm như không có chuyện gì xảy ra.

Cũng may, Đỗ Thải Hà rất nhanh quay trở lại, rồi ba người liền sóng vai lên núi.

Hồng Vân chờ ba người họ sẵn ở ngoài sân. Thấy họ lên thì bèn bảo:

“Ba đứa đã thành đồng môn một thời gian rồi, nhưng vẫn chưa hề tập luyện chiến đấu cùng nhau nhỉ?”

Bị hỏi vậy thì ba người nhìn nhau, rồi cùng gật đầu vâng dạ. Lý Thanh Vân trước nay toàn một thân một mình, đương nhiên chưa hề có kinh nghiệm kề vai sát cánh cùng ai. Tạ Thiên Hoa khi ở tộc Thanh Tước, tuy trước khi xảy ra chuyện Kiều Minh Long thì cũng quan hệ không đến nỗi tệ với đồng lứa, nhưng cũng không đặc biệt thân thiết với ai. Có mỗi Đỗ Thải Hà – từng học ở núi Long Hổ, nhìn thấy không ít trận pháp – là ý thức được tầm quan trọng của phối hợp với đồng môn trong chiến đấu, thế nhưng cũng chưa hề có kinh nghiệm thực tế.

Hồng Vân lại nói tiếp:

“Tu luyện giả tại Huyền Hoàng giới nhiều kẻ coi việc lừa mình dối người là hiển nhiên, nên cũng chẳng mấy kẻ toàn tâm toàn ý phối hợp nhau trong chiến đấu. Thế nhưng ta hy vọng ba đứa có thể đặt mạng vào tay nhau. Nếu làm được thì đối với tu luyện của cả ba sẽ có trợ lực không nhỏ đâu.”

Nói đến “đặt mạng vào tay nhau”, cô nàng liếc nhìn hai người Lý, Tạ đầy ý vị, nói xong lại đợi ba thiếu niên nam nữ ngấm câu nói của mình rồi mới tiếp tục:

“Được rồi. Bây giờ vào Quan Lâm một chuyến, đến phủ thành chủ đi. Sẽ có cơ hội cho ba đứa luyện tập đấy!”

Ba sư huynh muội Lý Thanh Vân nghe vậy thì chắp tay hành lễ rồi kéo nhau xuống núi.

Đợi ba người đi khuất, Tiểu Thạch nãy giờ ngồi gãi tai sồn sột mới lắc mình hóa thành người, nhìn theo hướng ba người, đoạn thở dài một hơi:

“Hai cái đứa này thật đúng là... đã nghiện mà còn ngại! Chủ nhân, người xem, chúng ta có nên giúp...”

Y nói đến đây thì bị Hồng Vân ngắt lời:

“Chúng nó là người trẻ, cần trải nghiệm cuộc đời, tình yêu! Chúng ta xen vào làm gì?”

“Chủ nhân, nếu tính tuổi, thì ta còn trẻ hơn ba đứa chúng nó đấy!”

Hồng Vân nghe vậy thì trợn mắt lườm thiếu niên áo đen một cái, đoạn nói:

“Ngươi không tính!”

oOo

Quan Lâm, phủ thành chủ.

Vũ Tùng Lâm cau mày nhìn đống chiến báo trước mặt. Theo như tình báo từ các thám yêu sư và lính do thám gửi lại, thú triều sắp đến, và dựa vào thanh thế mà đoán thì lần này xem chừng đặc biệt lớn.

Việc Nguyễn Đông Thanh vừa rời đi thì thú triều đến lão ta đương nhiên không nghĩ là trùng hợp. Nhưng còn về việc tại sao Bích Mặc tiên sinh lại chọn đúng lúc này để ra đi thì Vũ Tùng Lâm không đoán được.

“Chả lẽ tiên sinh đây là đang thử thách mình? Hay gần đây tiên sinh có gì phật ý?”

Lão thầm nhủ rồi lại gạt phắt đi. Qua tiếp xúc với Nguyễn Đông Thanh, lão không nghĩ y sẽ đem tính mạng dân trong toàn thành ra làm trò đùa.

“Tính toán của tiên sinh há dạng như mình có thể hiểu được? Vẫn là chớ nên lấy dạ tiểu nhân đo lòng quân tử thì hơn!”

Vũ Tùng Lâm đưa ra quyết định không tiếp tục nghĩ chuyện tại sao giữa lúc nước sôi lửa bỏng Bích Mặc tiên sinh lại rời ải Quan Lâm nữa. Thay vào đó, lão nên tập trung giải quyết vấn nạn trước mắt thì hơn.

Suy nghĩ thông suốt, Vũ tổng binh đứng dậy, định đi một chuyến đến cổ viện hỏi thăm ba vị cao đồ của Nguyễn Đông Thanh. Thế nhưng, lão còn chưa kịp ra đến cửa thì đã có lính chạy vào báo ba người Lý Thanh Vân đến tìm gặp.

Lão nghe vậy thì mừng rỡ, tự mình ra tiếp đón, bụng thì bảo dạ, quả nhiên tiên sinh đã có tính toán!

Nhác thấy ba người từ xa, Vũ Tùng Lâm đã chắp tay, cười nói niềm nở:

“Ba vị thiếu hiệp đến đây hôm nay là để giúp Quan Lâm đối phó với thú triều chăng?”

Ba sư huynh muội Tạ Thiên Hoa theo lệnh Hồng Vân đến phủ thành chủ nhận lệnh, vốn cũng tò mò không biết chương trình luyện tập mình lần này được sắp xếp là gì. Nay nghe lão nói vậy thì Lý Thanh Vân cũng vội đáp lễ:

“Vũ tổng binh quá lời, ba sư huynh muội chúng tôi đúng là theo lệnh sư môn đến giúp phủ thành chủ một tay!”

Vũ Tùng Lâm dẫn ba người vào phòng khách, rồi cũng liền cho họ biết tình hình cụ thể.

Trong ba sư huynh muội, tính ra thì Lý Thanh Vân ở Quan Lâm lâu nhất. Thế nhưng, thời gian hắn ở trong quân ngũ, thú triều chưa từng xảy ra. Thành thử, ngoại trừ vài câu phong thanh từng nghe mấy người lính già bàn nhau, hắn cũng chả biết gì. Đỗ Thải Hà ở núi Long Hổ, từng nghe nói yêu tộc và nhân loại không chung sống hòa bình như vẻ bề ngoài, nhưng cũng không biết gì hơn. Cuối cùng, trong ba người, cũng chỉ có Tạ Thiên Hoa là biết chút ít về thú triều, nhưng chủ yếu là góc nhìn của yêu tộc, chứ cũng không có nhiều thông tin phía nhân loại như Vũ Tùng Lâm, vốn là quan trấn ải Quan Lâm, kinh qua không ít thú triều. Lão biết ba thiếu niên nam nữ này chưa có nhiều kinh nghiệm, nên cũng không ngại mà giải thích cặn kẽ cho ba người.

Quả thật, quan hệ giữa yêu tộc và nhân loại không tốt đẹp như vẻ bề ngoài. Đừng nhìn vào việc những mối tình như của Tạ Hàn Thiên và Lâm Phương Dung không phải là chuyện lạ ở Huyền Hoàng giới hay sự tồn tại của bán yêu mà nhầm tưởng yêu tinh và con người thân thiết. Kỳ thực, giữa hai tộc có rất nhiều ân oán.

Nói về chuyện ân ân oán oán này, Tạ Thiên Hoa biết một ít, liền bổ sung cho Vũ Tùng Lâm.

Theo như cô nàng biết, kể từ Phản Thiên chi chiến, khi con người được công nhận là Thiên đạo chi linh, thì mâu thuẫn của hai tộc liền cũng được đẩy cao lên. Lý do chính cũng do kể từ đó, bất kể là tộc loại gì, long tộc, phượng tộc,..v..v... đều phải hóa hình thành người mới có thể bước chân vào Vụ Hải. Tuy việc này là khởi điểm cho bao mối tình nhân – yêu, và sinh ra vô vàn giống loài bán yêu mới, thế nhưng không ít thành phần cực đoan của yêu tộc, đặc biệt là những kẻ coi trọng huyết mạch tinh thuần, coi đây là nỗi sỉ nhục, là sự bại hoại.

Thành thử, trong nội bộ các thế lực yêu tộc đều có phe chủ chiến và phe chủ hòa. Phe chủ hòa thì luôn cố gắng duy trì thế cân bằng mỏng manh giữa hai tộc, còn phe chủ chiến đương nhiên là muốn tiêu diệt nhân loại, để trở thành Thiên đạo chi linh mới. Tương tự, nhân tộc cũng không ít thành phần thù hằn sâu nặng với yêu quái, muốn diệt sát toàn bộ yêu tinh tại Huyền Hoàng giới.

Cao tầng các thế lực của hai tộc thấy chiến tranh bùng nổ thì hai bên đều bất lợi, thế nhưng cũng vô phương ngăn cản tất cả tộc loại của mình, nhất là các thành phần cực đoan. Thế nên, hiệp nghị chung là cường giả đã vào Vụ Hải của hai phe phải hạn chế tối đa việc tham chiến. Thành thử, cũng không phải tự nhiên Vũ Tùng Lâm, chỉ là Võ giả đệ ngũ cảnh, lại được phong làm tổng binh ải Quan Lâm.

Ngoài ra, Tạ Thiên Hoa còn có nghe đồn, có những thành phần cực đoan của phe chủ chiến, do căm hận tất cả những thứ liên quan đến con người, mà tinh luyện huyết mạch thần thông và thể phách đến mức xảy ra biến hóa. Dù chân khí các yêu quái này vẫn không hề tăng lên mức cường giả Vụ Hải, thế nhưng sức mạnh cơ thể và thần thông bản mệnh vẫn có thể đánh đối kháng, thậm chí diệt sát người đã vào Vụ Hải.

Những chuyện này nói ra, không chỉ hai người Lý, Đỗ há hốc mồm mà cả Vũ Tùng Lâm cũng phải nuốt nước bọt, lau mồ hôi.

Vũ tổng binh không biết chuyện nội bộ yêu tộc, nhưng những yêu quái chưa vào Vụ Hải mà có chiến lực kinh người, càn quét cả trăm tu luyện giả đệ ngũ cảnh thì lão cũng đã từng nghe kể. Nay biết được nội tình đằng sau những quái vật này, lão cũng chỉ biết lắc đầu lè lưỡi, cầu mong không có kẻ nào như vậy tấn công lần này.

Ấy là chưa kể, bản thân nội bộ yêu tộc và nhân tộc cũng không hoàn toàn đoàn kết mà đôi khi vẫn xảy ra nội chiến. Và đương nhiên khi một bên có nội chiến, thì bên kia “đục nước béo cò” cũng là điều khó tránh. Năm xưa Long Thanh Y nhân cơ hội Nghiêm Hàn càn quét các nước để giúp Long tộc mở mang bờ cõi là một ví dụ. Nếu khi đó không tòi ra một Võ Hoàng – Lý Huyền Thiên, thì hẳn Đại Việt đã sớm diệt vong không thể nghi ngờ!

Hai người Vũ, Tạ chia nhau nói một hồi, cũng hết được thông tin về ân oán cừu hận giữa hai tộc. Cuối cùng cũng nói tới vấn đề trước mắt mà họ phải đối mặt: thú triều.

Vũ Tùng Lâm hắng giọng, nói:

“Thú triều, về cơ bản là sự tấn công của yêu thú. Có thể xảy ra ở bất kỳ thành trấn nào tại vùng biên giới giữa hai tộc nhân – yêu. Phía biển Phong Bạo có Kiếm Trì tọa trấn cũng thường xuyên phải đấu với hải yêu, hải thú. Mà ải Quan Lâm này, ít lâu cũng một lần phải đối mặt với thú triều từ trong Lục Trúc Hải tràn ra.

“Các lần trước, yêu thú không quá mạnh, bản tướng vẫn tự xoay sở được. Thế nhưng, theo như tình báo nhận được, lần thú triều sắp tới sẽ không đơn giản như vậy. Thành thử, khi ba vị tới đây, ta vốn cũng đang định qua cổ viện nhờ cậy trợ giúp...”

Tạ Thiên Hoa nghe vậy thì cau mày, đoạn nói:

“Kỳ thực, tiểu nữ nghi ngờ, thú triều lần này đặc biệt mạnh hơn bình thường, có lẽ cũng do sư phụ chuyển vào cổ viện, lại thu đám tiểu nữ làm đồ đệ. Thế nên, tính ra sư huynh muội tiểu nữ phải chịu một phần trách nhiệm cũng là lẽ thường tình!”
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 103: Loạn


Sau đó, ba người Lý, Tạ, Đỗ trợ giúp Vũ Tùng Lâm chuẩn bị chống đỡ thú triều công thành.

Đỗ Thải Hà học được số học, thế là chạy theo thám yêu sư kiểm tra một lượt trận pháp hộ thành.

Tạ Thiên Hoa được coi là trí nang của tổ ba người cổ viện, thành thử ở lại phủ thành chủ bàn đối sách kháng địch.

Lý Thanh Vân kể từ sau chiến công lấy sức phàm nhân đánh bại quỷ đói tam cảnh thì ở Quan Lâm cũng có thể coi là có chút nhân khí. Thế là, cậu ta xung phong huy động tán tu trong thành trợ giúp. Kỳ thực cũng là cái cớ để Lý Thanh Vân không phải ở lại phủ thành chủ.

Không có tam sư muội làm tấm đệm, cậu chàng quả thực không tự nhiên chút nào khi ở cạnh Tạ Thiên Hoa.

Vũ Tùng Lâm nghe xong, bỗng nhiên nhớ lại chuyện của Đặng Không và Sở Tinh Hà lần trước. Lão hắng giọng, nói:

“Tán tu khó tránh khỏi chuyện thượng vàng hạ cám, rồng rắn lẫn lộn. Lý thiếu hiệp huy động được bao nhiêu người thì hay bấy nhiêu người, cũng đừng cưỡng cầu. Bản tướng chẳng thà có một trăm người có thể yên tâm giao phía sau cho họ, còn hơn có một vạn binh mà tên nào cũng có lòng riêng.”

“Tướng quân dạy phải.”

Lý Thanh Vân không giỏi cầm binh, chỉ nghĩ có thêm một người là có thêm một phần sức. Bây giờ được Vũ Tùng Lâm nhắc nhở, lập tức khiêm tốn thụ giáo.

Vũ tổng binh gật đầu, lại tiếp:

“Thiếu hiệp ra ngoài chuyến này, bản tướng cũng sẽ hạ một đạo quân lệnh, mong thiếu hiệp chú ý giúp cho một hai.”

“Chuyện nên làm. Không biết Vũ tổng binh muốn hạ đạt quân lệnh gì?”

“Lần này Quan Lâm không dư lương nuôi người nhàn rỗi. Trong ba canh giờ, nếu tu hành giả nào không muốn vì thành mà chiến thì phải lập tức rời khỏi đây. Nhược bằng ở lại, coi như là tạm thời xung quân, từ chối không chiến phạt như đào ngũ.”

Vũ Tùng Lâm nghiến răng, nói.

Trước đây lão vẫn cho rằng có thêm tu hành giả, đến lúc khẩn yếu còn có thể vì thủ thành ra chút sức. Thành thử mỗi lần thú triều, nhìn đám tu hành giả nhân loạn làm ác, khi nam bá nữ lão cũng chỉ đành mắt nhắm mắt mở.

Thế nhưng, có bài học Cái Đế Kiếm Tiên lần trước, hiện tại Vũ Tùng Lâm quyết không nhân nhượng nữa.

Từ phủ thành chủ, lính thủ thành tỏa đi các ngóc ngách, bắt đầu loan tin này khắp cả thành.

Một đạo quân lệnh truyền xuống, lập tức khiến trăm họ vui mừng, cũng khiến rất nhiều tán tu bất mãn. Những tên này ngày thường không dám thò mặt ra, lúc thú triều càn tới chính đang muốn nhân lúc hỗn loạn thỏa mãn bản tính một phen, không ngờ chưa c** q**n đã bị quăng ra khỏi kỹ viện. Đối với những kẻ xưa nay vẫn cho rằng “phàm nhân là vịt, tu hành giả là ưng, lấy vịt nuôi ưng vốn chuyện thiên kinh địa nghĩa” thì há lại có thể chịu cảnh bị đối xử “bất công” này được?

Thế là...

Trong thành bắt đầu hỗn loạn.

Một đám tu hành giả ăn trên ngồi chốc, vô trách nhiệm đã quen, bây giờ há lại chịu đi vào khuôn khổ? Có kẻ bá chiếm nhà dân, có tên thì cướp lương thực tiền của, thậm chí lại có cả vài tên muốn giở trò đồi bại.

Ải Quan Lâm nháy mắt hỗn loạn.

Lý Thanh Vân ra khỏi phủ thành chủ, đi chưa được bao xa thì đã thấy một đám võ tăng phá cửa một nhà quyền quý. Cậu chàng âm thầm đề khí, nhảy lên đầu tường bám theo. Động tác của Lý Thanh Vân nhẹ đến nỗi chỉ ngang tiếng lá cỏ rơi, lại không có ba động chân khí, thế nên cả đám võ tăng đều không nhận ra được.

Nhìn vào trong sân...

Một tên võ tăng trông có vẻ là người cầm đầu, mặc cái áo vải nâu bắt chéo ngang ngực để lộ một bên cánh tay cường tráng, lại xăm chằng chịt nào hổ sói quỷ ma. Nếu Nguyễn Đông Thanh ở chốn này, chắc chắn sẽ gọi hắn một câu:

“Hoa hòa thượng Lỗ Trí Thâm đó sao?”

Võ tăng hếch đầu, nói:

“Cho đến khi thú triều chấm dứt, nơi này tạm do bản tăng và các vị đồng môn tiếp quản. Nam mau cút đi, nữ ở lại, mau chóng giết gà làm cơm!”

“Các người sao có thể như vậy? Bình thường người phàm chúng ta cung phụng các người, bây giờ gặp chuyện trốn tránh thì cũng thôi, lại còn muốn đoạt đường sống của chúng ta?”

Lên tiếng là một bà già tuổi đã ngoài tám mươi.

Bà thấy mình sớm đã là người xa trời gần đất, có sống cũng chẳng được bao lâu. Thế là mới thu hết can đảm, cố gắng lý luận hòng giành lấy một con đường sống cho cháu cho con.

Tên hòa thượng cầm đầu bĩu môi:

“Phàm nhân sâu kiến há lại có tư cách trả treo với chúng ta? Bản tọa chịu trăm đắng ngàn cay mới có tu vi này, các ngươi bất tranh khí, sao có thể trách bản tăng được?”

“Muốn lên tiếng? Tu luyện đi! Xưa nay cường giả vi tôn, chính là thiên kinh địa nghĩa.”

“Mụ không nói ta cũng quên. Đàn bà trẻ tuổi thì ở lại, cái đám xấu xí già cả như các người thì cũng cút nốt đi, đừng có ở đây làm bẩn mắt các ông.”

Mấy tên võ tăng cười hô hố, nào có chút phong phạm từ bi hỉ sả nào?

Bà già cười thảm, nói:

“Các cháu, nhìn cho kỹ vào. Đây là bộ mặt của tu hành giả, đây là thứ phàm nhân chúng ta hướng tới đấy. Tu hành tu hành, tu mãi thành mặt người dạ thú.”

Mấy tên võ tăng bị chửi cho ngứa răng, quát:

“Phàm nhân sâu kiến cũng dám dĩ hạ phạm thượng?”

Hắn vừa đưa tay lên, thì Lý Thanh Vân đã nhảy vào trong sân, cười với bà cụ, nói:

“Thưa bà, nói mặt người dạ thú như thế, ngộ nhỡ đám súc sinh ngoài thành nghe được lại nổi giận thì sao?”

“Thiếu hiệp nói thế là có ý gì?”

“Súc sinh cũng có tiêu chuẩn, đâu có nhận bừa họ hàng được?”

Người trong nhà bấy giờ đã ôm tâm thái liều mạng, chẳng còn cố kỵ gì nữa. Nghe Lý Thanh Vân nói đùa, ai nấy đều cười phá lên một phen.

Đám võ tăng sa sầm sắc mặt, nói:

“Vị nhân huynh đây hẳn cũng có một thân bản lĩnh, cần gì phải vì một đám phàm nhân mà mích lòng đồng đạo với nhau? Trong thành có không ít hộ khá, nơi này nhường cho chúng ta, thế nào?”

“Ai đồng đạo với các ngươi?”

Lý Thanh Vân cười lạnh, rốt cuộc cậu chàng cũng “hiểu được phần nào” vì sao sư phụ lại nhất quyết sử dụng thân thể phàm nhân sinh hoạt, cương quyết không động tới tu vi.

Bản thân Thanh Vân là thiếu niên mười mấy tuổi, nghe một đám tu hành giả cứ một câu cỏ rác hai câu sâu kiến còn thấy khó chịu, nữa là “cường giả tồn tại từ thuở hồng thủy sơ khai” như Bích Mặc tiên sinh.

“Tiểu tử, cho dù ngươi tu vi cao cũng chưa chắc đã là đối thủ của bọn ta. Thôi thì mỗi bên nhường một bước, dĩ hòa vi quý vẫn hơn?”

Tên võ tăng cầm đầu nheo mắt, trong lời nói đã ẩn ẩn có vẻ đe dọa.

Những người trong nhà nghe thế, cũng theo bản năng nhìn về phía Lý Thanh Vân.

Tuy bọn họ không sợ, nhưng nếu hiện tại cậu chàng mà phản bội quay xe, thỏa hiệp với đám ác tăng thì bọn họ cũng sẽ buồn khổ thất vọng một phen.

Lý Thanh Vân thân là đại đệ tử của một người chuyên nói mình là phàm nhân, đương nhiên là sẽ không khiến bọn họ thất vọng.

Cậu chàng cười dài, nói:

“Ồ, dĩ hòa vi quý cũng được, nhưng không phải với ta, mà là với họ. Bây giờ các người mau chóng rời khỏi đây, cút xéo khỏi thành thì chuyện này coi như thôi. Bằng không...”

Lý Thanh Vân ngừng lại một chốc, bẻ cổ, bóp những ngón tay kêu lên răng rắc.

Mấy tên sư cọ này đã dám đe dọa, thì cậu chàng đương nhiên cũng phải trả lễ cho chúng một phen.

Đám ác tăng nghiến răng, quát:

“Rượu mời không uống lại uống rượu phạt, thế thì đừng trách bản tăng không nể mặt đồng đạo!”

Y vừa dứt lời, thì đám tăng nhân đã chia nhau ra làm ba đường, từ trái phải chính diện tấn công Lý Thanh Vân. Bấy giờ, tên nào tên nấy đều vận khởi chân khí, thi triển công phu bản môn, chiêu nào chiêu nấy đều là đòn sát thủ lấy mạng, hung hiểm ác độc vô cùng.

Lý Thanh Vân cười lạnh, nói:

“Thế thì để ta thay Nhất Đăng đại sư thanh lý môn hộ.”

Cậu chàng miệng nói, chân bước, nhẹ nhàng lách người sang một bên, bàn tay liên tiếp phóng ra mười mấy chỉ. Mỗi đòn mang theo chỉ lực Nhất Dương Chỉ, tuy chưa đạt đến mức tan vàng nát đá, đăng phong tạo cực, lô hỏa thuần thanh, siêu việt nhất phẩm như Đoàn Chí Hưng, song cũng không thể khinh thường được.

Đám ác tăng mỗi đứa bị Lý Thanh Vân chọc cho vài chỉ, trên người tức thì xuất hiện mấy cái lỗ. Máu tươi đỏ lòm chính đang tràn ra ào ạt, thấm đẫm vạt áo nâu, thậm chí chảy vấy cả ra đất. Đám ác tăng trúng chỉ ngã lăn ra, cả người tê bại không động đậy nổi, cả đám kêu khóc thê thảm chẳng khác nào lợn bị chọc tiết.

Lạ một nỗi...

Mấy tên võ tăng này đều là tán tu, xưa nay sống trên đầu đao mũi kiếm. Về lý mà nói, loại vết thương chỉ chảy máu, không động tới căn cốt tạng phủ này của Lý Thanh Vân không thể khiến chúng phản ứng dữ dội đến thế mới phải.

Thế nhưng hiện tại, một đám võ tăng lại kêu khóc như cha mẹ chết.

Nguyên nhân đương nhiên không phải vì vết thương trên da thịt.

“Tu... tu vi của ta!!!”

“Tiểu tử... ngươi... ngươi dùng tà thuật gì?”

Cả đám võ tăng vừa sợ, vừa giận, trợn mắt nhìn về phía Lý Thanh Vân.

Nếu nói tu vi của bọn chúng là một quả bóng da bơm hơi, thì mỗi một đòn Nhất Dương Chỉ của Lý Thanh Vân chẳng khác nào mũi dùi, đầu kim, mỗi chỉ đều chọc ra một lỗ thủng.

Chân khí của đám ác tăng không tài nào cất chứa trong đan điền nữa, mà theo vết thương chảy tràn ra ngoài. Tu vi cảnh giới của bọn chúng cũng theo đó mà liên tục ngã xuống.

Chẳng mấy chốc, cả đám ác tăng đã mất sạch tu vi, trở thành một đám người thường.

Bà cụ thấy Lý Thanh Vân vẫn còn chưa hoàn hồn, bèn gọi con cháu và hạ nhân lấy thừng chắc trói cả đám ác tăng lại. Xong xuôi đâu đấy, bà cụ mới hắng giọng một cái, nói:

“Lão thân thay mặt cả nhà cám ơn thiếu hiệp đã ra tay tương cứu, đại ơn đại đức không biết lấy gì báo đáp.”

Bấy giờ, Lý Thanh Vân còn vẫn đang nhìn chằm chằm vào ngón tay mình mà ngẩn người, giống như chính cậu chàng cũng không ngờ được bản thân còn có thể làm thế. Tiếng nói của bà cụ cất lên thình lình, khiến cậu chàng giật nảy mình một cái, lực chú ý mới quay về hiện thực. Lý Thanh Vân đỡ bà cụ đứng lên, đáp:

“Chuyện nên làm mà thôi. Bây giờ cụ cứ cho người đến phủ thành chủ báo cho Vũ tổng binh, ắt sẽ có người đến xử lý đám ác ôn này. Cháu còn có việc trên người, xin phép được đi trước.”

“Tự nhiên, tự nhiên.”

Bà cụ nói với theo bóng lưng đang khuất dần ngoài cửa của Lý Thanh Vân, kế cho người chạy đến phủ thành chủ.

Nếu ải Quan Lâm là một nồi canh, thì đương nhiên đám ác tăng ban nãy không phải là một “con sâu” duy nhất. Bấy giờ, trong thành phố trên xóm dưới đã bắt đầu loạn cào cào cả lên. Một đám tu hành giả, Nho có, Đạo có, Phật có, Vu có, Võ có, hết thảy đều bắt đầu buổi cuồng loạn hoang lạc của mình. Có kẻ thì bá chiếm nhà dân, tên thì cướp lương, giật thuốc, thậm chí có những kẻ còn nổi ý tà dâm.

Nếu Nguyễn Đông Thanh chứng kiến cảnh này, hẳn sẽ thấy rất ngạc nhiên.

Cảnh sắc của ải Quan Lâm lúc này đã hoàn toàn trái ngược với bầu không khí ở võ đài Thiên Nguyên Nhất Phẩm.

Khi đó, không thiếu người nổi lòng nghĩa khí, đứng về phía Lý Thanh Vân mà chửi mắng Lâm Sấu.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 104: Đình Chiến Trạch


Đương nhiên, cũng không phải không có những người tu hành nhìn không lọt mắt hành động quá đáng của đám người đang nổi loạn mà ra tay can thiệp. Lại thêm có quân thủ thành trợ giúp, chẳng mấy chốc tất cả đám người dám làm loạn kẻ thì bị bắt, tên thì bị giết tại chỗ.

Lúc này, bọn chúng mới hiểu lần này không giống khi xưa, Vũ Tùng Lâm đã chẳng còn nhân nhượng với chúng nữa.

Vốn dĩ, bọn chúng cho là Vũ Tùng Lâm sẽ như trước đây, vì bảo toàn lực lượng mà chịu nhân nhượng. Chỉ cần bọn chúng hùa vào với nhau, bày tỏ thái độ, thì không lo gì lão không nhún nhường một bước.

Thế nhưng, lần này, Vũ tổng binh làm rắn.

Cả đám tu hành giả tự cho là thông minh bấy giờ mới hiểu mình vừa đâm đầu vào tường. Thế là cả đám nhao nhao kêu gào xin tha, nhưng đã muộn. Theo lệnh của Vũ tổng binh, tất cả những tên dám cả gan nhân loạn phạm pháp đều bị quân thủ thành điệu lên đầu thành. Thoáng cái, trên đầu tường đã có gần hai trăm tu hành giả tu vi cao thấp không đều bị trói ngoặt hai tay ra sau, ấn đầu xuống sát đất.

Cả đám có ngu cách mấy cũng hiểu Vũ Tùng Lâm không chỉ tống giam bọn chúng vào ngục khơi khơi, mà thực sự muốn lấy máu cả đám ra tế cờ, chém đầu thị chúng,

Thế là...

Chỉ trong nháy mắt, người thì chửi mắng, kẻ thì kêu khóc, tiếng van xin thóa mạ vang vọng cả một đầu thành.

Lý Thanh Vân áp giải những tên tu hành giả phạm tội này lên đầu thành đâu vào đấy xong, vừa mới dõi mắt nhìn xuống, thì đã phát hiện bên dưới có không ít tội dân chính đang nhào tới, hai tay đấm vào cánh cổng thành sừng sững. Có những đứa trẻ chưa đầy mười tuổi, cứ húc đầu vào cổng thành đến tóe máu. Có những bà mẹ một tay ôm đứa con còn đỏ hỏn, tay kia đánh mạnh vào cánh cổng đến toác da rách thịt.

Thế nhưng...

Mặc cho những tội dân này tự hành xác thế nào đi chăng nữa, vết thương có chất chồng cách mấy thì cánh cổng thành sừng sững vẫn lù lù ở đó, chẳng hề lung lay suy suyển.

Lý Thanh Vân lúc này đã không còn giống lúc vừa mới bái sư, lục thức linh mẫn, tai nhanh mắt lẹ. Cậu chàng có thể nhìn rõ mồn một từng biểu cảm bất lực và tuyệt vọng trên gương mặt những tội dân bên dưới thành. Cảm thấy bất nhẫn, Lý Thanh Vân mới chạy đến chỗ Vũ Tùng Lâm đang đứng, hỏi:

“Bẩm tổng binh...”

Vũ Tùng Lâm nhìn cậu chàng, chưa cần Lý Thanh Vân nói hết, lão đã cười khổ, hỏi:

“Hỏi chuyện nạn dân phải không?”

“Đúng vậy. Vì...”

“Muốn biết vì sao ta nhân nhượng cho đám tán tu mà không mở cửa, mượn sức tội dân ngoài thành phải không?”

Lý Thanh Vân gật đầu lia lịa, không ngờ những gì cậu chàng định hỏi Vũ tổng binh cũng đã biết trước.

Vũ Tùng Lâm thở dài, nói:

“Vì được không bù nổi mất. Thiếu hiệp có biết Nguyên Tội là gì không? Nếu chưa thì ngồi xuống, từ từ lão phu kể cho mà nghe.”

Theo lời Vũ tổng binh giải thích, thì năm xưa lúc thành Quan Lâm mới được xây dựng chưa bao lâu, thì có một nhân vật lớn phạm phải một tội ác tày trời. Chính vì địa vị của y quá cao, sau lưng có chỗ dựa vững chắc nên không thể nào xử trảm y được. Cả thành không ai dám chung sống với người này, ai cũng nơm nớp lo sợ.

Cuối cùng, cả thành mới quyết định trục xuất người này ra khỏi Quan Lâm.

Vị đại nhân vật này từ đó trở thành tội dân đầu tiên, mà tội y gây ra cũng được gọi là Nguyên Tội. Dần dần, tội dân và Nguyên Tội trở thành một phần văn hóa nơi đây, dân chúng Quan Lâm cũng sợ những tội dân bên ngoài tường thành không khác gì sợ hủi, tránh như tránh ghẻ vậy.

Lý Thanh Vân nuốt nước bọt, hỏi:

“Dám hỏi Vũ tổng binh, Nguyên Tội rốt cuộc là tội ác tày đình gì mà người ta sợ hãi đến thế?”

“Ăn thịt người.”

Vũ Tùng Lâm đáp.

Lão nói đến đây thì nhìn ra bên ngoài, mắt đượm đượm buồn. Lý Thanh Vân vốn muốn nói gì đấy, song lại thôi. Cậu chàng cũng hiểu rằng không phải đời tổng binh nào trấn thủ Quan Lâm cũng tốt và quan tâm nạn dân như Vũ Tùng Lâm.

Chỉ nghĩ đến cái thời trước khi Vũ tổng binh nhậm chức giữ thành, trong những tuần, thậm chí những tháng hung thú vây thành, tội dân náu mình chui rúc trong những địa đạo chật hẹp chằng chịt đã phải ăn những thứ gì để có thể sống tiếp là Lý Thanh Vân rùng mình sởn gáy, không dám tưởng tượng tiếp nữa.

Thả tội dân vào thành, chắc chắn sẽ khiến dân chúng hoảng loạn. Dù sao Nguyên Tội, nạn dân ăn người sớm đã ăn vào tiềm thức của dân chúng, thâm căn cố đế, chẳng phải một hai câu mà có thể thay đổi.

Đây cũng là một phần lịch sử, một phần văn hóa, một phần con người... là một phần của Quan Lâm.

Vũ Tùng Lâm hít sâu một hơi, nhìn xuống dưới chân, quát:

“Chính ngọ vừa đến, trảm đầu tế cờ!!!”

Lão quát lên một tiếng, tức thì ánh đao phản chiếu nắng trưa loang loáng, sáng rỡ cả một đoạn tường thành.

Những tiếng cầu xin, kêu khóc, đe dọa, nguyền rủa đồng thời cất lên.

Đao hạ.

Tiếng người ngưng bặt.

Đây là lần đầu tiên kể từ khi Vũ Tùng Lâm cầm quyền, Quan Lâm lấy máu tế cờ, chuẩn bị khai chiến.

oOo

Trong lúc Lý Thanh Vân và Vũ tổng binh đang đàm luận lịch sử Quan Lâm, thì có một bóng người đang len lỏi giữa những cành trúc.

Người này tự nhiên là Tạ Thiên Hoa.

Lần thú triều này có gì đó quái lạ, khiến cô nàng không thể không vào Lục Trúc hải điều tra một phen xem là tộc nào kích động thú triều. Dù sao, tuy trong biển trúc tộc Thanh Tước được công nhận là mạnh nhất, cũng là người phát ngôn lớn nhất của Lục Trúc hải, song không có nghĩa là có thể độc chiếm rừng trúc.

Tạ Thiên Hoa cũng đã đoán được đại khái là tộc nào làm.

Dù sao, hiện giờ Thanh Tước tộc đang phải tiếp hai sứ đoán của Long tộc và Đại Việt, bận bù đầu bù cổ, không rảnh rang để mà chú ý đến Lục Trúc hải.

Nếu Tạ Thiên Hoa là người thuộc phe chủ chiến thì đương nhiên là không bỏ qua cơ hội trời ban này. Dù sao, chính cô nàng cũng đang tận dụng thời cơ này để vào biển trúc mà không lo bị người trong tộc bắt lại.

Đáng nhẽ, nếu chuyện lần này không trùng hợp xảy ra đúng cái lúc Nguyễn Đông Thanh mò đến Cổ Long thành thì Tạ Thiên Hoa đã chẳng chạy vào Lục Trúc hải.

Thế nhưng, thú triều lần này nếu đã có khả năng dính dáng đến Bích Mặc tiên sinh, thì thân là đệ tử, cô nàng thấy mình cần phải vào điều tra một phen.

Tạ Thiên Hoa thân là Thanh Tước, sinh ra lớn lên ở biển trúc.

Bấy giờ trở về, quả thực không khác gì cá về biển lớn, xe nhẹ đường quen.

Cô nàng lao đi vùn vụt, chẳng mấy chốc đã tìm đến một đầm lầy nước đen nằm lọt thỏm giữa rừng trúc xanh rì, từ trên cao nhìn xuống quả thực là có vài phần không hòa hợp.

Nơi này vốn có tên là Hắc Thủy Đầm, nhưng từ ba trăm năm trước được các tộc cùng gọi là Đình Chiến Trạch.

Sở dĩ có cái tên như thế, là bởi nơi đây có một thiết luật mà không một tộc nào ở Lục Trúc hải, bao gồm cả tộc Thanh Tước, dám phá.

Đình Chiến Trạch nghiêm cấm giao đấu đánh nhau.

Tạ Thiên Hoa bay vào đầm nước đen, len lỏi giữa một đám tre nước mọc như lau sậy trong đầm, được chừng nửa khắc thì tìm thấy một cái bè trúc đang đủng đỉnh trôi giữa dòng.

Trên bè có đệm cỏ, có bàn đọc sách, có bếp lửa.

Cạnh bàn kê một cái lò gương, trên đặt một đĩa cá nướng. Trước bàn, một phu nhân tuổi vào độ tứ tuần, ngũ tuần gì đó chính đang ngồi khoanh chân, một tay nhón lấy cá bỏ vào miệng, tay còn lại cầm một quyển sách đọc hết sức chăm chú. Tạ Thiên Hoa bay lại gần, đáp xuống trên bè trúc, nói:

“Bà bà, con về rồi đây.”

“Thiên Hoa đấy à? Nhìn mặt thế này có phải là bà nói đúng hay không?”

Người phụ nhân đặt quyển sách xuống, quay lại nhìn cô nàng, nở một nụ cười hòa ái.

Bà ta nhìn như cực kỳ vô hại bình thường, thế nhưng trong Lục Trúc hải này cơ hồ không có thế lực lớn nào không biết sở dĩ Hắc Thủy Đầm trở thành Đình Chiến Trạch chính là vì vị phu nhân này chọn ẩn cư ở đây. Các tộc không dám làm phiền đến, nên cùng ký cam kết đình chiến.

Người này được mệnh danh là Huyền Thanh nương nương, bản thể là hung thú thượng cổ Mặc Ngọc Ma Ngạc.

Năm xưa, sở dĩ Tạ Thiên Hoa được chọn làm thánh nữ tộc Thanh Tước, một phần không nhỏ là do Huyền Thanh nương nương từng có ý muốn thu nhận cô nàng làm đồ đệ. Chuyện này cơ hồ từng làm cả Lục Trúc hải phải lao đao chấn động một phen.

Thế nhưng, sau khi Tạ Thiên Hoa vào Đình Chiến Trạch ngủ một đêm thì quay về, nói nương nương đổi ý.

Tất cả mọi người cảm thấy giống như bị Huyền Thanh nương nương này chơi cho một vố, song không ai dám tìm bà ta tính sổ, chỉ có nước ngậm bồ hòn làm ngọt.

Tạ Thiên Hoa gật đầu, đáp:

“Bà bà nói không sai.”

Năm đó, quả thực Huyền Thanh nương nương thấy cô nàng có thiên tư kinh người, định nhận làm đệ tử truyền thụ y bát. Song, lúc hai người ở cùng nhau trên tấm bè trúc này, Tạ Thiên Hoa vừa hành lễ bái sư thì bà ta đã biến sắc mặt, vội vàng ngăn cô nàng lại.

Huyền Thanh nương nương sau đó tính hộ Tạ Thiên Hoa một quẻ.

Một quẻ này, khiến bà ta thổ huyết nửa ngày.

Mãi đến sáng, Huyền Thanh nương nương mới tỉnh lại, nói Tạ Thiên Hoa là người có đại nhân quả trên thân, bà ta không chịu nổi lễ sư đồ của cô nàng, hai người cũng không có cái duyên phận để mà làm thầy trò.

Bà lại dặn cô nàng không cần buồn, chỉ cần giữ kín chuyện này không nói lộ cho ai, sau này ắt sẽ được vào môn hạ của một vị đại nhân vật.

Lời của Huyền Thanh nương nương quả nhiên đã ứng nghiệm.

Tạ Thiên Hoa bái vào môn hạ Lão Thụ cổ viện.

“Lần này đến tìm bà là có gì cần giúp?”

Tuy không có duyên làm sư đồ, thế nhưng Huyền Thanh nương nương quả thực rất thích cô bé Tạ Thiên Hoa tinh quái hoạt bát, thông minh lanh lợi này. Thế là từ đó tiếp tục giữ quan hệ thân thiết với cô nàng.

Tạ Thiên Hoa nói:

“Bà bà, bà chắc cũng biết chuyện con bị người trong tộc truy đuổi rồi. Bà nói cho con nghe xem lần này thú triều rốt cuộc là kẻ nào đứng sau giật dây?”

Huyền Thanh nương nương trợn mắt, nói:

“Còn tưởng con thấy bà già này một mình sống ở đầm lầy cô quạnh tìm đến bầu bạn ta, không ngờ... ài, con gái lớn không giữ được.”

Tạ Thiên Hoa chớp mắt, nói:

“Bà bà, câu đấy không phải dùng như vậy. Hơn nữa con còn có chuyện gấp phải làm, xin người nói thẳng giúp cho.”

“Được rồi, lâu ngày không gặp nhau, bản cung nhiều lời mấy câu còn bị con chê là dông dài. Thật là đủ lông đủ cánh rồi không còn nhận bà già này nữa. Phải rồi, con bái vào môn hạ nhà nào?”

“Lão Thụ cổ viện.”

“Gì? Khó trách. Khó trách. Thì ra là vị đó.”

Tạ Thiên Hoa hắng giọng, nói:

“Bà bà, người vẫn chưa trả lời câu hỏi của con.”
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 105: “Thánh Tộc Thứ Sáu” Của Yêu Tộc


Huyền Thanh nương nương nói:

“Cái con bé này, đã đoán ra rồi mà còn hỏi để bà già này xác nhận hả? Ngoại trừ đám chuột tự nhận bản thân là ‘thánh tộc thứ sáu’ ấy ra thì còn ai vào đây nữa?”

Tạ Thiên Hoa nghe vậy thì liền gật gù:

“Quả nhiên là bọn chúng!”

Yêu tộc tại Huyền Hoàng giới có ngũ đại thánh tộc. Ngoại trừ Thanh Tước ở Lục Trúc hải phía Nam lục quốc ra, thì còn Long tộc ở biển Phong Bạo phía Đông, Phượng tộc vốn đã ẩn cư sau Long – Phượng chi chiến, tộc Chiến Hổ sống trên Thiên Đảo phía cực Bắc, và tộc Mộng Yểm Thụ Tinh tại Huyễn Ảnh lâm phía Tây.

Sau Long – Phượng chi chiến, một thời gian dài thế nhân đã tưởng Phượng tộc đã bị toàn diệt. Thế nhưng, dần dà rồi người ta mới nhận ra, Phượng tộc vẫn còn tồn tại, chả qua là trốn vào trong tối mà thôi. Mà lý do các tộc phát hiện được điều này là do Phượng tộc vẫn thỉnh thoảng công kích, giết hại kẻ thù, để lại dấu vết tại hiện trường. Thế nhưng Long tộc sau rất nhiều lần truy quét vẫn không tìm được nơi Phượng tộc trú ngụ.

Chiến Hổ tộc, lưng có cánh như ưng, thân có vảy như cá, vừa hiếu chiến lại vừa thiện chiến. Thiên Đảo là một hệ thống quần đảo tại cực Bắc Huyền Hoàng giới. Sở dĩ có tên như vậy là do quần đảo này trôi nổi, khi thì chạm biển, lúc thì lại bay lên tận trên mây. Thành thử, cũng để đi lại giữa các đảo, Chiến Hổ mới có cánh và vảy cá. Có điều, Chiến Hổ không đoàn kết một khối mà chia thành bốn bộ lạc lớn và nhiều bộ lạc nhỏ, mỗi bộ lạc đóng tại một đảo trong quần đảo, nội chiến với nhau triền miên. Thế nhưng, hễ có kẻ nào định thừa cơ “đục nước béo cò”, thì khi ấy các bộ lạc của Chiến Hổ sẽ tập trung xử lý kẻ đó trước, rồi mới quay lại đấu đá nhau.

Thành thử, tại Huyền Hoàng giới, có một luật bất thành văn, ấy là muốn sóng yên biển lặng thì tuyệt đối không nên cho tộc Chiến Hổ bất kỳ lý do nào để đoàn kết lại. Vì chỉ cần không có kẻ thù chung, thì đám điên tộc Chiến Hổ cũng sẽ chỉ quan tâm đến việc tự đánh lẫn nhau. Nhưng một khi đã rơi vào tầm ngắm của toàn tộc Chiến Hổ, thì không diệt tộc không ngừng.

Mộng Yểm Thụ Tinh tộc, cũng là thụ quái duy nhất trong trời đất có thể đứng ngang hàng với tứ đại thánh tộc còn lại. Huyễn Ảnh lâm là vùng rừng rậm phía cực Tây lục quốc, hễ lạc vào trong đó, thì bất kể là người hay muông thú, cường giả vào Vụ Hải hay chưa, đều sẽ gặp ảo giác. Nạn nhân bị vây khốn trong huyễn cảnh, không thoát ra nổi, đến cuối cùng kiệt sức, thì liền thành chất dinh dưỡng cho cây trong rừng, cũng chính là tộc nhân của Mộng Yểm Thụ Tinh tộc. Sau khi nạn nhân bị rút sạch hồn phách, thì sẽ trở thành con rối chịu sự điều khiển của Mộng Yểm Thụ Tinh. Chính vì vậy, tuy đám thụ quái này hiếm khi ra khỏi rừng, nhưng vẫn có tầm ảnh hưởng khắp bốn phương.

Mà “đám chuột tự xưng là thánh tộc thứ sáu” trong lời Huyền Thanh nương nương và Tạ Thiên Hoa, thì lại là Huyết Nhãn Trúc Thử tộc.

Tại trọng Lục Trúc hải, ngoại trừ Thanh Tước thành công phản sát Khổng Tước, trở thành bá chủ của các loài cầm điểu, thì còn một yêu tộc khác cũng có chiến tích không kém phần ly kỳ. Ấy là Huyết Nhãn Trúc Thử tộc, vốn chỉ là một đám dúi tinh, thế mà nhờ dùng số lượng áp đảo đã thành công diệt sát Hổ tộc trong Lục Trúc hải, trở thành bá chủ mới của các yêu thú tại đây.

Nói về thành công của Huyết Nhãn Trúc Thử tộc, ngoại trừ việc chúng sinh sản liên tục, tạo được thế đông lực mạnh trong thời gian ngắn, còn phải kể đến “kỳ ngộ” của ông tổ của tộc này nữa. Vốn lão tổ của Huyết Nhãn Trúc Thử tộc chỉ là một con dúi tinh thông thường, trong khi đi kiếm ăn bị một con ưng tinh bắt. Khi ấy, một lão tăng đi qua, thương tình, đã đuổi con ưng tinh đi, cứu con dúi ấy một mạng, sau lại dắt theo, truyền thụ phật pháp. Ai dè, đến khi lão tăng gặp họa, con dúi kia không những không giúp đỡ, lại còn lấy oán báo ân, giết rồi ăn xác lão ta, nuốt luôn cả xá lợi của lão. Cũng từ đó, con dúi ấy có thêm một thần thông bản mệnh, chính là Tam thân của Phật môn, truyền lại cho tất cả các đời con cháu, bắt đầu nên Huyết Nhãn Trúc Thử tộc.

Tam thân thần thông này, chính là giúp cho chủ nhân tạo được ba phân thân: quá khứ, hiện tại, vị lai. Chỉ cần một phân thân còn tồn tại, thì chân thân không thể chết. Huyết Nhãn Trúc Thử tộc, vì có thần thông này mà sống dai vô cùng, lại nhờ tốc độ sản sinh nhanh chóng mặt, cuối cùng áp đảo diệt sát Hổ tộc tại Lục Trúc hải, thành công tiếm quyền.

Vốn sau khi thành công diệt sát Hổ tộc trong Lục Trúc hải, Huyết Nhãn Trúc Thử tộc mắt để trên trán, còn định đòi một ghế của ngũ đại thánh tộc, đã đánh chủ ý lên Chiến Hổ tộc rồi. Mấy con dúi tinh này khi ấy nghĩ đơn giản, cùng là hổ với nhau, nếu đã diệt được hổ tộc tại trong Lục Trúc hải, hẳn là muốn diệt Chiến Hổ cũng không khó khăn gì.

Khi ấy, tộc Bệ Ngạn, vốn mang huyết mạch của Bạch Hổ thần và Long tộc, liền rêu rao rằng xét về tiềm năng huyết mạch, thì Bệ Ngạn hơn hẳn Chiến Hổ, đáng lý ra vị trí ngũ đại thánh tộc, phải là chúng chứ không phải Chiến Hổ.

Huyết Nhãn Trúc Thử tộc nghe được tin ấy, bèn đổi chủ ý sang Bệ Ngạn trước. Sau khi thu thập được không ít tình báo về tộc Bệ Ngạn, Huyết Nhãn Trúc Thử tộc đã lên hẳn một kế hoạch nhiều năm từ đột nhập đến quấy phá, nhằm diệt sát tộc Bệ Ngạn từ trong ra ngoài. Thế nhưng, kế hoạch còn chưa kịp bắt đầu, thì tộc Chiến Hổ đã nghe được những lời mà tộc Bệ Ngạn nói...

Thế là, sau một đêm, toàn quân xuất động, Bệ Ngạn nhất tộc không còn tồn tại trên cõi đời này nữa. Còn Chiến Hổ thì lại quay về Thiên Đảo, tiếp tục nội đấu.

Sau một màn này, Huyết Nhãn Trúc Thử tộc mới ý thức được sự cường đại của ngũ đại thánh tộc, nào còn dám có suy nghĩ tiếm quyền ai trong số năm tộc này nữa? Thế là chúng liền đổi chủ ý, đi rêu rao khắp nơi tộc mình là “thánh tộc thứ sáu” của yêu tộc Huyền Hoàng giới. Ngũ đại yêu tộc đương nhiên chẳng ai để chúng vào mắt hay coi chúng ngang hàng. Thế nhưng cũng chả rảnh đi quản việc chúng khua môi múa mép.

Mà đám dúi tinh này đương nhiên thuộc phe chủ chiến, muốn diệt nhân loại để lên thay thế, làm thiên đạo chi linh. Vốn khi trước, Tạ Thiên Hoa cũng chỉ cười khẩy, coi đây là kẻ si nói mộng. Nhưng kể từ khi theo Nguyễn Đông Thanh, tìm hiểu tiến hóa và chọn lọc tự nhiên, chọn lọc nhân tạo, cô nàng mới giật mình nhận ra, phương thức mà Huyết Nhãn Trúc Thử tộc sử dụng để tiếm quyền hổ tộc trong Lục Trúc hải thực ra cực kỳ giống với cách nhân loại phát triển, cũng lại rất hợp với thuyết tiến hóa. Thành thử, lúc này nàng ta cũng đã nghiêm túc đánh giá chúng.

Huyền Thanh nương nương thấy cô nàng dường như chuẩn bị bỏ đi, thì liền hỏi:

“Con bé này, con định làm gì?”

“Bà bà, con giờ đã bái vào Lão Thụ cổ viện. Việc của thành Quan Lâm, con không thể thấy chết không cứu, nhất định phải can thiệp!”

Dứt lời liền quay người toan rời khỏi. Huyền Thanh nương nương hiểu rõ, đám dúi tinh này nếu là bà ta thì chẳng cần phải lo, thế nhưng cô nhóc Tạ Thiên Hoa này mà bị chúng dùng chiến thuật lấy số lượng ra quần chiến thì e là vẫn lành ít dữ nhiều. Cuối cùng không nỡ lòng, đành nói:

“Khoan đã!”

Đoạn, bà ta lại gọi:

“Thiêm nhi!”

Tức thì, một cô gái mặc áo xanh xuất hiện bên cạnh, phúc thân, đoạn nói:

“Nương nương có gì sai bảo ạ?”

“Con ra nói với mấy con chuột chết tiệt đó, tháng này ta ăn chay, không muốn thấy cảnh giết chóc. Chúng nó muốn đánh nhau thì mở lôi đài. Nghiêm cấm giết người vô tội!”

Cô gái gọi “Thiêm nhi” này nghe vậy thì hành lễ, đoạn theo lệnh rời đi.

Huyền Thanh nương nương bản thể là cá sấu, không hiểu vì sao rất yêu thích các thiếu nữ thuộc các loại cầm – điểu yêu tộc. Tạ Thiên Hoa là một ví dụ, mà thị nữ theo hầu bà ta, Thiêm nhi kia cũng thế. Nếu Nguyễn Đông Thanh ở đây, hẳn là sẽ đem so sánh với việc cá sấu và chim tăm (còn gọi là chim choi choi) cộng sinh với nhau.

Tạ Thiên Hoa thấy Huyền Thanh nương nương nói vậy, mới nhoẻn miệng cười, đoạn sà xuống ôm lấy bà ta, vừa đấm bóp, vừa nói:

“Con biết bà bà thương con nhất!”

Huyền Thanh nương nương thấy vậy thì gõ vào trán cô nàng một cái, mắng yêu:

“Sư bố nhà cô! Lớn rồi quay sang tính kế cả bà già này!”

Tạ Thiên Hoa cười khanh khách, nhưng không phủ nhận.

Hai người ngồi hàn huyên trò chuyện một lúc, cô nàng mới như nhớ ra chuyện gì, vội thỏ thẻ:

“Bà bà, người có thể tạo kết giới để đảm bảo không ai nghe trộm chúng ta không? Con có việc muốn hỏi.”

“Làm gì có ai dám...”

Huyền Thanh nương nương nói đến đây, nhìn thấy sắc mặt nghiêm túc của cô nàng liền thở ra một hơi, phất tay lên một cái, lại nói:

“Rồi đấy. Muốn hỏi thiên địa đại bí gì mà sợ trước sợ sau như vậy?”

Tạ Thiên Hoa còn nhìn xung quanh một lúc rồi mới dám hỏi:

“Bà bà, có phải Phượng tộc và Long tộc của hiện tại có cùng một tổ tiên không?”

Huyền Thanh nương nương nghe câu hỏi này thì ngạc nhiên nhìn chằm chằm cô nàng một lúc lâu, rồi mới nói:

“Đến cả việc này mà vị ấy cũng nói cho con biết rồi sao?”

Đoạn, bà ta ngước mắt lên trời, vung tay gia cố lại kết giới một lần nữa, rồi mới thong thả kể cho Tạ Thiên Hoa về những chuyện thời thượng cổ.

Thì ra, khi trời đất còn sơ khai, Rồng không hề tồn tại ở Huyền Hoàng giới, Kỳ Lân là bá chủ muôn loài. Kỳ Lân sở hữu một loại thần thông bản mệnh, có thể kích phát tiềm năng, khiến vạn vật nảy sinh biến dị. Nhưng Kỳ Lân tộc vốn hiền lành, chỉ dùng thần thông này để đảm bảo sự sinh tồn của muôn loài mà thôi.

Đến một ngày, tại cực Bắc Huyền Hoàng giới, trời rách ra một mảng, Long tộc mới từ đó tiến vào. Thời gian đầu, Long tộc cùng Kỳ Lân tộc chúng sống hòa thuận, thậm chí còn sinh con đẻ cái. Tộc Mặc Ngọc Ma Ngạc của Huyền Thanh nương nương cũng là do lương duyên của Long tộc và Mặc Ngọc Kỳ Lân tộc mới tồn tại.

Thế nhưng cuối cùng, hai tộc đại chiến, Kỳ Lân thất thủ. Trước khi bị diệt tộc hoàn toàn, Kỳ Lân Vương huy động thần thông bản mệnh, lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng dùng nó trong chiến đấu, đánh một đòn toàn lực vào Long tộc. Một chiêu này, tuy không giết được bất kỳ người nào của Long tộc, nhưng lại kích phát biến dị nảy sinh. Cũng từ đó, mới sinh ra Phượng tộc.

Còn nơi cực Bắc chỗ Long tộc bước chân vào Huyền Hoàng giới, thiên địa quy tắc cũng vì đó mà thay đổi. Thiên Đảo có thể tồn tại, tộc Chiến Hổ sinh ra trên đời cũng là nhờ vậy.

Tạ Thiên Hoa nghe đến nhập tâm, há hốc mồm. Cô nàng lại càng thêm khẳng định trong lòng, sư phụ ít nhất phải bằng tuổi, nếu không phải là sống từ trước thời của Huyền Thanh nương nương, thì mới có thể biết những chuyện này!
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 106: Thiên Kiêu Thú Tộc


Huyền Thanh nương nương kể xong chuyện đại chiến Long – Lân ngày trước, mới nói:

“Chẳng mấy khi con quay về trúc hải thăm bà bà, không bằng hôm nay cứ ngủ lại bè trúc một đêm, hai ta nói chuyện tâm sự một phen.”

Tạ Thiên Hoa biết tuy Huyền Thanh nương nương bình thường ở ẩn mặc kệ các tộc tranh đấu, nhưng trong Lục Trúc hải tiếng nói của bà có trọng lượng hơn bất kỳ ai. Nay nương nương đã lên tiếng, tộc Huyết Nhãn Trúc Thử hẳn là không dám trái ý.

Thế nhưng, cô nàng cũng không thể đi mất dạng được, mới nói:

“Bà bà, có lẽ không được rồi. Thiên Hoa còn phải quay về ải Quan Lâm báo tin cho Vũ tổng binh nữa.”

“Con nói mà bà bà cứ tưởng là vị kia gọi, gì chứ một tổng binh nhân tộc mà thôi. Bà bà tự nhiên có cách thay con báo tin. Hay bây giờ con bái được cao nhân làm sư phụ, coi thường bản lĩnh của bà bà?”

Huyền Thanh nương nương đáp.

Tạ Thiên Hoa nghe thế, cười lên, nói:

“Con nào dám? Con sợ bà bà lười không muốn quan tâm đến Vũ tổng binh mà thôi.”

“Nói cũng đúng.”

Huyền Thanh nương nương vừa gật đầu, vừa bốc cá nướng ăn tờm tợp, hoàn toàn không thấy cái “tháng này ta ăn chay” ban nãy đâu cả. Tạ Thiên Hoa ngồi xuống bên cạnh, nói:

“Đúng rồi, nghe ban nãy bà bà nói thì dường như người quen biết sư phụ con?”

“Cũng có thể nói như vậy.”

Huyền Thanh nương nương đáp, đôi mắt hơi mang vẻ hoài niệm nhìn xa xa, về phía ngọn núi vô danh và Lão Thụ cổ viện.

Tạ Thiên Hoa không khỏi hiếu kỳ, mới hỏi:

“Bà bà, rốt cuộc sư phụ con từng là người ra sao, có thân phận thế nào, bà bà nói cho con nghe được không?”

“Đại nhân không nói cho con nghe sao?”

Huyền Thanh nương nương nhìn cô nàng, mắt mở to, không hề nhận ra mình vừa trả lời bằng một câu hỏi. Theo bà ta thấy, đến cả bí mật thượng cổ của Huyền Hoàng giới “vị ấy” cũng đã kể cho Tạ Thiên Hoa nghe, không có lý nào chuyện cỏn con như thân phận năm xưa cũng che giấu.

Thế nhưng... bà ta đã nhầm.

Tạ Thiên Hoa lắc đầu:

“Sư phụ giống như đang lâm vào một trạng thái kỳ lạ, không hỏi chuyện tu hành, càng không động đến tu vi, thoạt nhìn giống như người phàm, cẩn thận cảm nhận lại không khác gì sinh linh bí cảnh.”

“Không thể nào. Lẽ nào...”

Huyền Thanh nương nương càng nghe, vẻ đau lòng trên gương mặt càng hiển hiện rõ hơn. Tạ Thiên Hoa càng xem càng thấy tò mò, song cũng không muốn mạo muội hỏi.

Cuối cùng, Huyền Thanh nương nương thở ra một hơi, tay buông xuống, nói:

“Chuyện này chắc hẳn sư phụ của con đã có sắp xếp, khi nào đến thời điểm, đại nhân tự nhiên sẽ cho con biết. Bà bà không tiện chen chân vào, bằng không ngộ nhỡ phá hỏng tính toán của đại nhân thì thực là được không bù nổi mất.”

“Đáng tiếc. Đúng rồi... bà bà đã từng nghe đến ai tên Vương Tiểu Thạch, Bạch Sầu Phi, Quách Tĩnh Dương Quá hay chưa?”

“Là ai? Trên đời còn có cường giả nào tên họ như thế hay sao?”

“Chuyện là thế này...”

Tạ Thiên Hoa thấy Huyền Thanh nương nương cũng không biết đám Tiểu Thạch tồn tại, bèn bắt đầu thuật lại những câu chuyện giang hồ võ hiệp mà Nguyễn Đông Thanh thi thoảng vẫn kể, cộng với mấy quyển tiểu thuyết gối đầu giường của ông đại sư huynh Lý Thanh Vân...

Huyền Thanh nương nương nghe nhập tâm, song lại chặc lưỡi, lắc đầu:

“Theo những gì bà bà biết thì kể từ Long – Lân đại chiến đến nay Huyền Hoàng giới chưa từng xuất hiện mấy cái tên con nói. Trong số những thuộc hạ cũ của đại nhân cũng không có ai tên như vậy cả. Bây giờ bọn họ lại xuất hiện bên cạnh, bảo vệ cho đại nhân, không hiểu rốt cuộc chuyện gì đang xảy ra nữa.”

Hai “bà cháu” nói chuyện cao hứng, nháy mắt đã qua mấy canh giờ. Huyền Thanh nương nương lúc này hơi mỏi miệng khô cổ, mới vươn vai đứng dậy, đưa tay đấm lưng mình mấy cái, lại bảo Tạ Thiên Hoa tranh thủ pha ấm trà đặc hai người vừa uống vừa tâm sự. Thế nhưng cô nàng còn chưa kịp đặt ấm lên bếp lửa, thì phía ngách sông đằng trước đã có một chiếc lâu thuyền lách qua đám tre trên đầm, lừ lừ tiến về phía bè trúc.

Lại thấy một thiếu niên tay cầm quạt xếp, thân người đầu dúi, tròng mắt đỏ như máu, mình khoác một cái áo bằng lông hổ từ từ tiến lên mũi thuyền, hô:

“Thiếu chủ Huyết Nhãn Trúc Thử tộc Mộ Dung Từ cầu kiến Huyền Thanh nương nương, có chuyện cần hỏi.”

“Ta không có nhà!”

Huyền Thanh nương nương nói vọng lên, sau đó cũng mặc xác hắn chẳng buồn ngó ngàng gì đến nữa. Bàn tay Mộ Dung Từ bóp gãy cái quạt xếp đang cầm, ánh mắt nhìn về phía Tạ Thiên Hoa thoáng lóe ra một tia hung quang.

Tạ Thiên Hoa nhìn ngược lại, trợn mắt lên làm một cái mặt quỷ, muốn chọc tức tên này một phen.

Mộ Dung Từ hừ lạnh một tiếng, lại nói:

“Nhân tộc có hơn gì chúng ta mà được làm thiên đạo chi linh? Mộ Dung Từ đại biểu cho yêu tộc còn có cốt khí và kiêu ngạo của tổ tiên kỳ lân, quỳ xuống thỉnh cầu nương nương thu hồi mệnh lệnh, để chúng ta xuất binh đồ thành!”

“Ồ? Vậy thằng nhóc nhà ngươi đang chửi bà lão này không có cốt khí phải không?”

Huyền Thanh nương nương nhếch mép cười.

Ánh mắt bà ta lạnh xuống, không còn đạm nhiên chẳng thèm để tâm nữa mà mang đầy sát khí, đánh thẳng về phía Mộ Dung Từ. Tạ Thiên Hoa đứng bên cạnh cũng phải giật mình, tròn mắt nhìn về phía Huyền Thanh nương nương.

Trong ký ức của nàng ta, “bà bà” là một người rất lãnh đạm.

Cơ hồ ngoại trừ một vài việc từng xảy ra trong quá khứ thì cơ hồ bà ấy thờ ơ với hết thảy mọi chuyện, giống như trên đời chẳng có mấy thứ có thể khiến cho Huyền Thanh nương nương để tâm tới.

Cho dù người ta có mắng chửi thế nào bà ta cũng để ngoài tai, chẳng mấy khi động nộ.

Lần này, Mộ Dung Từ có thể khiến Huyền Thanh nương nương nổi giận, chứng tỏ “cốt khí” dường như chính là vảy ngược của bà ấy.

Tạ Thiên Hoa âm thầm ghi nhớ, đặng sau này nói chuyện không vô tình nói thứ không nên nói.

Có lẽ chính bản thân Mộ Dung Từ cũng không ngờ Huyền Thanh nương nương lần này thực sự nổi giận. Bấy giờ đầm nước đen sôi lên sùng sục, từng con sóng cao dâng lên đánh tới tấp vào mạn thuyền. Chiếc lâu thuyền của tộc Huyết Nhãn Trúc Thử tuy cũng có pháp trận phòng ngự, song chẳng tài nào chống lại những con sóng cuồng bạo. Chẳng mấy chốc mà cả thuyền đã xô nghiêng đổ ngả, hai bên mạn thuyền vụn gỗ bắn tung, cột buồm cờ xí nhao nhao đổ rạp.

Mộ Dung Từ cắn răng, nói:

“Hôm nay Mộ Dung Từ đến đây đã coi chết như về, lấy mạng can gián thì có sao? Chỉ mong nương nương có thể vì yêu tộc mà suy nghĩ, chớ nên vì chuyện riêng mà hỏng đại nghiệp!”

Huyền Thanh nương nương đang định đáp lời, thì Tạ Thiên Hoa đã nói:

“Lúc Huyết Nhãn Trúc Thử tộc các ngươi tiêu diệt Hổ tộc sao không thấy các người ‘vì yêu tộc’? Mộ Dung thiếu tộc chủ đừng nói với ta rằng Huyết Nhãn Trúc Thử các người không biết Hổ tộc là chiến lực trung kiên của Lục Trúc hải đấy nhé.”

Mộ Dung Từ nói:

“Mạnh được yếu thua mà thôi, hà huống chi chuyện đó là việc nội bộ yêu tộc, chuyện này là đối phó với người ngoài. Loại tự tư ích kỷ đầu quân cho nhân loại, khiến Lục Trúc Hải đắc tội với Phần Thiên Cốc như ngươi sao hiểu được chí hướng của ta?”

“Ồ. Vậy thì nương nương mạnh hơn các ngươi, lại cũng là yêu tộc. Theo ý của Mộ Dung thiếu chủ chắc hẳn người có diệt tộc các ngươi vì ‘không nghe lời’ cũng là chuyện bình thường, không khác gì Trúc Thử tộc diệt Hổ tộc, ta nói có đúng không hả Mộ Dung thiếu chủ? Hay đám dúi các ngươi dùng đạo đức nhân nghĩa làm xiềng xích tròng lên cổ người khác quen rồi, đến lượt mình không làm được chuyện khuất tất thì thấy khó chịu?”

Tạ Thiên Hoa cười, lại quay về phía Huyền Thanh nương nương, nói:

“Bà bà, mặc kệ hắn, hai ta lâu ngày không gặp, để con kể những chuyện trải qua gần đây cho bà bà nghe.”

“Được. Được lắm.”

Huyền Thanh nương nương gật đầu, đoạn lườm Mộ Dung Từ một cái, nói:

“Còn không cút? Chẳng nhẽ còn chờ bà lão này tiễn các ngươi hay sao?”

“Nương nương đã quyết ý, bọn ta cũng hết cách. Nếu yêu tộc Lục Trúc hải vì đó mà lạnh lòng thì cũng không thể trách Huyết Nhãn Trúc Thử tộc bọn ta được.”

“Lạnh lòng? Thằng nhãi ngươi cả nghĩ rồi, bà già này ẩn cư trong cái đầm lầy này mấy ngàn năm nay, đã bao giờ quan tâm kẻ khác nghĩ gì về ta đâu?”

Huyền Thanh nương nương nói.

Tạ Thiên Hoa thấp giọng, nhắc:

“Bà bà, ban nãy bà còn nổi giận vì hắn gọi bà không có cốt khí kia mà?”

“Thì tính sao? Tháng này ta cũng đâu có ăn chay?”

Mộ Dung Từ đã có tu vi ngũ cảnh, những lời hai người nói với nhau y nghe không sót một chữ. Thế nhưng, Huyền Thanh nương nương vốn là tồn tại chẳng tộc nào muốn đắc tội, Huyết Nhãn Trúc Thử tộc cũng không ngoại lệ. Không còn cách nào khác, hắn đành phải ôm một bụng lửa giận, hậm hực rời khỏi Đình Chiến trạch.

oOo

Sau đó, lục tục có thiên kiêu mấy tộc khác đến tìm, mục đích cơ hồ đều nhất quán: xin Huyền Thanh nương nương thu hồi pháp lệnh, để các tộc xuất chinh đánh thành.

Trong số này, có Ẩm Huyết Ngô Công tộc, Bát Tí Yêu Hầu tộc, Ngọc Cốt Ảnh Báo tộc, đều là các tộc lớn ở Lục Trúc hải, chiến lực cũng chỉ kém Huyết Nhãn Trúc Thử một chút mà thôi. Có bốn tộc này liên thủ dẫn đầu, lần thú triều này chỉ sợ là có thể huy động bốn thành yêu thú trong Lục Trúc Hải.

Các tộc không thuyết phục được Huyền Thanh nương nương, có kẻ tỏ ra tức tối, có người lại bưng cái vẻ sầu khổ tiếc rẻ, lủi thủi ra về.

Không một ai dám động thủ.

Tạ Thiên Hoa thấy vậy, không khỏi lấy làm tò mò, hỏi:

“Bà bà, vì sao bọn chúng không một ai dám động thủ? Dù sao... đối phương người đông thế mạnh. Liên hợp lại với nhau thế này, cho dù là tộc Thanh Tước dùng sức cả tộc đối địch chắc cũng phải thương vong thê thảm, hà huống bà bà chỉ một thân một mình.”

Huyền Thanh nương nương cười, nói:

“Còn có mấy người Thiêm nhi cơ mà, con bé con quên rồi hay sao?”

“Bà bà, đừng trêu con nữa mà. Con lo cho bà bà mới hỏi như vậy...”

Tạ Thiên Hoa kéo cánh tay Huyền Thanh nương nương, giở giọng làm nũng hệt như một đứa trẻ. Mấy người Thiêm nhi không có huyết mạch cao quý, tu vi cũng chẳng lấy gì làm cao, nhiều người còn chưa thể hóa hình hoàn chỉnh. Nếu quả thực bốn tộc khai chiến với Huyền Thanh nương nương, bọn họ không kéo chân bà là may, thậm chí đến tư cách làm khiên thịt cũng chẳng có.

Thái độ này của cô nàng khiến bà ta bật cười phá lên, đoạn nói:

“Rồi rồi, không trêu con nữa. Thanh Tước các con xuất thân từ Khổng Tước, mà Khổng Tước tộc và Đại Bàng tộc lại là hậu duệ trực tiếp của Phượng Hoàng. Long Phượng đồng nguyên, đều không phải sinh linh của Huyền Hoàng giới. Con ở cạnh ta mà không cảm thấy gì bất thường cũng là chuyện dễ hiểu.”

“Ý bà bà là... Mặc Ngọc kỳ lân?”

“Đúng vậy. Kỳ lân tộc là thủy tổ của thú tộc Huyền Hoàng giới, thế nên sâu trong huyết mạch, bọn họ đều bị kỳ lân áp chế. Mà Mặc Ngọc Ma Ngạc bọn ta lại là tộc trực hệ của kỳ lân, có thể nói là tồn tại gần với yêu tổ nhất còn sống sót. Con thử nói xem, cái đám choai choai kia dám ra tay với ta sao?”

Huyền Thanh nương nương cười.

Nghe bà bà nói vậy, Tạ Thiên Hoa mới yên tâm thở phào một hơi nhẹ nhõm.

Không còn người nào đến quấy rầy, hai người trò chuyện thâu đêm suốt sáng. Mãi đến tận lúc mặt trời ló ra khỏi đầu khóm tre, Huyền Thanh nương nương mới đích thân đưa Tạ Thiên Hoa về Quan Lâm. Một mặt là để bảo vệ cô nàng, không để tộc Thanh Tước thừa cơ ra tay. Mặt khác, vị bà bà này của Tạ Thiên Hoa ở lâu trong đầm nước đen cũng chán, bèn nhân cơ hội này ra ngoài một chuyến, tự làm giám khảo cho cuộc tỉ thí tự mình đề ra.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 107: Phụ Chương: Cuộc Phiêu Lưu Của Cải Thảo Và Tiểu Thực Thần 1


[Ngoại truyện này diễn ra trong khi nhóm của Nguyễn Đông Thanh còn ở thành Cổ Long, sau hôm tiệc cưới hai nhà Trương – Hồ, trước khi vào cung tham dự cuộc thi Mỹ Thực Tiến Vua. Thời gian cụ thể trong dòng thời gian của chính truyện là cuối chương 109. Số chương được giữ nguyên theo bản thảo. Chương này (126) và 2 chương tiếp theo (127-128) được đăng vào Valentine trắng, 14/3/2023.]

Trương Mặc Sênh lúc này đang ngồi trước một bàn rộng toàn các món lạ cậu ta chưa thấy bao giờ. Nước dãi Tiểu Thực Thần chảy đến tận cằm. Hắn toan động đũa, nếm thử mấy món “quê nhà tiên sinh” này thì bỗng thấy tức ngực khó thở, nhưng vẫn mặc kệ, bẻ một cái đùi gà, đưa lên miệng. Cái cẳng gà đến sát mặt Tiểu Thực Thần đột nhiên mọc lông ra, rồi tuột khỏi tay hắn, đập thẳng vào mặt Trương Mặc Sênh như một cái chổi lông.

Trương thiếu trang chủ hắt hơi một cái, giật mình tỉnh lại thì thấy mình đang nằm trên giường trong quán trọ ở quận Cửu thành Cổ Long. Trên ngực có một con mèo béo ị đang chổng mông vào mặt y, cái đuôi trắng đang ngoe nguẩy trước mắt hẳn là thứ vừa phá tan mộng đẹp của cậu chàng.

“Tỉnh rồi à?”

Đại Bạch hỏi một câu tỉnh bơ, cứ như việc Trương Mặc Sênh bị đánh thức không liên quan gì đến y vậy. Tiểu Thực Thần còn chưa kịp nói câu nào thì lại nghe y tiếp:

“Đi, bản thiếu dẫn tiểu tử ngươi vào thành ăn uống!”

Nghe được câu này, bao nhiêu bực dọc chưa kịp thành hình trong lồng ngực Trương thiếu trang chủ biến mất không còn tăm hơi. Cậu chàng cười nịnh:

“Tiền bối, chúng ta đi đâu?”

“Cứ đi rồi sẽ biết!”

Con mèo béo trả lời một cách thần bí.

oOo

Trương Mặc Sênh hôm nay phải gọi là được mở mang tầm mắt. Cứ tưởng Tạ Hàn Thiên đã là cao thủ, nhưng nếu đem so với vị Bạch Sầu Phi hộ vệ cho Bích Mặc tiên sinh này, thì chú hai của nhị sư tỷ còn non và xanh lắm...

Sau khi rời khỏi quán trọ, đi được chừng nửa khắc thì Cải Thảo hóa thành dạng người. Bạch Sầu Phi dắt cậu ta đi thẳng vào tận quận Tam, mỗi lần qua cổng đều là y trả tiền. Vào đến quận Tam, hai người đi thẳng một mạch đến một ngôi lầu lớn. Tới đây, Tiểu Thực Thần có chút dở khóc dở cười. Ở đây đúng là có đồ ăn ngon thật, nhưng... mấy ai đến chốn này để ăn?

Hắn còn chưa kịp lên tiếng thắc mắc thì từ bên trong Phụng Tiên Lầu, đã có tiếng phụ nữ đon đả:

“Ôi chao! Vị công tử này lâu nay không đến làm người ta nhớ đến chết đây!”

Đi kèm giọng nói là một mỹ phụ trạc ngoài ba mươi, trang điểm khá đậm. Nếu Nguyễn Đông Thanh mà ở đây lúc này, khẳng định sẽ trố mắt vì câu “văn mẫu” này.

Tú bà không đợi họ đáp, đã đỏng đảnh đi ra, toan bám lấy Bạch Sầu Phi mà kéo y vào trong. Lúc này, thiếu niên áo trắng đột nhiên quay lại, mỉm cười nhìn mụ.

Nụ cười của tú bà đông cứng trên khuôn mặt, bà ta đờ người ra nhìn thiếu niên trước mặt không chớp mắt một lúc lâu, sau lại nuốt nước dãi một cái. Bạch Sầu Phi có vẻ không lạ gì với loại phản ứng này. Chỉ thấy y tiến tới, ghé tai tú bà, thì thầm gì đó.

Tiểu Thực Thần dỏng tai lên nghe lén có gì còn “học tập”, thế nhưng tuyệt nhiên không lọt tai được chữ nào. Mắt thấy tú bà mặt đỏ lựng, lại còn lấy khăn che miệng cười, hắn liền á khẩu, thầm kêu có dịp phải tìm cách hối lộ thằng cha trước mặt, để y chỉ dạy cho “vài đường cơ bản” mới được!

Tú bà dắt hai người vào một phòng, cho người mang đầy bàn rượu thịt, lại gọi bốn năm cô nương vào tiếp đón.

Tiểu Thực Thần đến đây thực chỉ để ăn nên mặc kệ xung quanh, cắm đầu vào thưởng thức các loại mỹ vị được bày ra trước mặt. Vừa ăn cậu chàng vừa nhủ trong lòng: “Ta là cây ngay không sợ chết đứng, lòng không tạp niệm, có vào lầu xanh cũng chỉ để ăn uống. Thanh La, nàng tuyệt đối không được hiểu lầm bản thiếu!”

Phía đối diện cậu chàng, Bạch Sầu Phi ngồi nhàn nhã ở giữa năm cô gái, người thì gắp thức ăn, người thì châm rượu, người lại cầm quạt phe phẩy cho gã.

Thi thoảng Trương Mặc Sênh cũng liếc mắt nhìn vị Bạch tiền bối này, chỉ thấy y cười với các cô gái, ăn thịt họ gắp, uống rượu họ rót, rất hưởng thụ. Thế nhưng, nói câu phũ phàng thì Tiểu Thực Thần thấy rõ ràng là năm cô nương này chìm đắm trong sắc đẹp của họ Bạch chứ không phải là ngược lại. Thậm chí, cậu chàng nghi ngờ nếu Bạch Sầu Phi tính phí, có khi năm cô gái này sẽ rút tiền túi ra đưa cho y thật cũng nên!

Đang ăn uống vui vẻ, chợt tấm ngọc bội đeo trước ngực của Trương thiếu trang chủ nóng lên, làm cậu chàng giật mình thon thót:

“Sẽ không phải Thanh La đến kinh thành, phát hiện mình đang ở trong kỹ viện chứ?”

Thì ra, tấm ngọc bội gắn ở dây chuyền này của Tiểu Thực Thần có tên Uyên Ương bội, vốn là bảo vật “gia truyền” của nhà cậu ta.

Ngọc bội này có đôi, lại là đồ vừa báu vừa hiếm, cả Huyền Hoàng giới tồn tại không quá ba cặp. Ngoại trừ tính năng như ngọc giản truyền tin thông thường, thì cặp Uyên Ương bội này còn có thể hoạt động dựa hoàn toàn vào tình cảm giữa hai người, không cần dùng đến chân khí. Lại thêm, có thể dựa vào chúng để tìm kiếm, truy tung lẫn nhau. Chỉ cần hai người yêu nhau mỗi người cầm một tấm trong cùng cặp, thì chỉ cần còn ở Huyền Hoàng giới, liền không bao giờ mất liên hệ hay lạc nhau.

Khi xưa, đây vốn là vật đính ước của nghĩa phụ cậu chàng với “Tiểu Tuệ”. Thế nhưng, khi tình nhân cũ của Trương Huyền bỏ đi lấy người khác, cũng đã trả lại cặp ngọc bội này cho lão. Từ đó, cứ lâu lâu lão ta lại lấy vật này ra, ngồi buồn một mình. Một lần Trương Mặc Sênh bắt gặp, hỏi rõ nguyên do, biết được tác dụng của hai tấm ngọc bội thì liền “tịch thu” để “giúp ông già quên dần người xưa đi”. Trương Huyền ngoài miệng cũng chửi thằng con nuôi “mất dạy”, nhưng trong lòng thì lại nghĩ, bảo vật này để chỗ lão cũng vô dụng, chi bằng cho cậu chàng cũng tốt, nên mặc kệ cho Tiểu Thực Thần lấy đi.

Về sau, khi định tình với Phùng Thanh La, cậu chàng liền tặng cô nàng một tấm, tấm còn lại xâu dây chuyền đeo trước ngực từ bấy tới nay.

Hiện tại, mặt dây chuyền này nóng lên giữa lúc Trương Mặc Sênh đang ngồi trong kỹ viện ăn uống, cậu ta sao có thể không chột dạ? Dù gì cái mặt hàng này cũng có tác dụng truy tung!

Thế nhưng sợ mấy thì sợ, Tiểu Thực Thần cũng không dám không “nhấc máy”. Thế là, hắn rút ngọc bội ra, nắm chặt trong lòng bàn tay.

Tức thì, giọng Phùng Thanh La vang lên bên tai, giọng đầy hoảng loạn:

“Mặc Sênh, nhờ chàng chuyển lời với Kiếm Trì, nếu thiếp có mệnh hệ gì, thì kẻ thù là Chân Võ giáo!”

Trương Mặc Sênh nghe vậy thì mặt lập tức biến sắc, truyền tin lại:

“Thanh La, có chuyện gì vậy? Nàng bị làm sao? Đang ở đâu? Ta đến cứu nàng ngay đây!”

Im lặng.

Sau đó, giọng Phùng Thanh La lại vang lên bên tai hắn, nhưng lần này đã bớt vài phần hoảng loạn, thêm một chút ngạc nhiên, hiếu kỳ:

“Thứ đồ chơi này thật sự không cần chân khí để hoạt động?”

“Đương nhiên! Nàng chả lẽ còn không tin vào tấm lòng ta? Thanh La, chờ ta, ta đến cứu nàng ngay đây!”

“Đừng, cậu đừng đến đây! Đối phương có cường giả đã vào Vụ Hải! Chỉ cần chuyển lời tới Kiếm Trì giúp tôi là được rồi!”

Giọng Phùng Thanh La lại có nét lo lắng sợ hãi, nhưng có vẻ không phải cho bản thân, mà là cho Trương Mặc Sênh. Trương thiếu trang chủ nghe vậy thì cảm động, bèn nói:

“Nàng nói gì vậy? Cứ yên tâm chờ ta!”

“Không! Chàng đừng đến đây! Trước khi chết biết được chàng thật lòng với ta là ta mãn nguyện rồi!”

“Yên tâm chờ ta!”

oOo

Thì ra, sau khi Kiếm Trì Tam Tổ bế quan nghiên cứu kiếm lý “của” Bích Mặc tiên sinh, thì đệ tử Kiếm Trì cũng nhận lệnh hạn chế ra ngoài, đi xa để đề phòng bất trắc.

Mấy hôm trước, Phùng Thanh La dẫn một nhóm đệ tử xuống núi để mua đồ cần thiết ở thị trấn gần đấy. Trên đường gặp chuyện bất bình, bèn ra tay can thiệp. Kỳ thực, một phần không nhỏ lý do Phùng thánh nữ khi xưa nghĩ Lý Thanh Vân khinh thường Kiếm Trì cũng vì lý do cậu chàng đưa ra cô nàng thấy không thuyết phục. Theo Phùng Thanh La thấy, gia nhập Kiếm Trì vẫn có thể hành hiệp trượng nghĩa, trừ gian diệt ác. Thậm chí, rõ ràng có thế lực chống lưng, đồng môn ủng hộ, lại càng dễ hành hiệp. Mà Lý Thanh Vân sau khi gia nhập môn hộ Bích Mặc tiên sinh cũng đã hiểu ra điều này, thế nên cuối cùng hai người họ mới kết thúc được đoạn ân oán này.

Mấy tên giang hồ thảo mãng sao có thể là đối thủ của đệ tử Kiếm Trì? Nên chả mấy nỗi mà bị bắt gọn. Thế nhưng có một tên xổng thoát. Phùng Thanh La chủ quan, cho rằng bắt một tên này không khó khăn gì nên tách nhóm ra đuổi theo một mình, ai ngờ giữa đường gặp mai phục. Đến khi chân khí bị đối phương phong ấn, cô nàng mới nhận ra tất cả chỉ là một cái bẫy nhằm vào mình.

Kiếm Trì là thánh địa, Phùng Thanh La lại là thánh nữ, nên nguyên ngọc bội thân phận của cô nàng cũng cho phép Kiếm Trì truy tung. Thế nhưng kẻ địch dường như biết điều này nên đã ném nó đi. Cô nàng bị phong ấn tu vi, không cách nào liên lạc với ai. Lại biết rõ bản thân thà chết cũng không phản bội tông môn, nên kỳ thực đã chuẩn bị sẵn tâm lý chờ chết.

Thế nhưng, cô nàng lúc này lại nghe được kẻ thù định bụng nếu bất trắc thì sẽ giết mình rồi đổ hết tội cho núi Long Hổ. Phùng Thanh La không cam lòng để đối phương lợi dụng chính mình vu hãm kẻ khác, nhưng lại không cách nào báo tin được cho bên ngoài. Trong sự sầu khổ hoảng loạn này, cô nàng nhớ đến Trương Mặc Sênh và tấm ngọc bội định tình giữa hai người.

Vốn nàng ta cũng chỉ cho đấy là lời ba hoa chích chòe của hắn thôi, nhưng vẫn không kìm lòng được mà để lại lời nhắn tuyệt mệnh. Do không nghĩ hắn sẽ nghe được, nên mới gọi “chàng” xưng “thiếp”.

Ai dè lời “quảng cáo” về tấm ngọc bội khi trước của Tiểu Thực Thần đều là thật, khiến Phùng thánh nữ vừa mừng vừa ngượng. Ngượng vì hắn ta nghe được cách xưng hô xấu hổ ấy của mình. Nhưng mừng nhiều hơn vì nàng ta ít nhất cũng sẽ không chết không rõ ràng, lại biết được tấm chân tình của người trong lòng trước khi nhắm mắt xuôi tay.

Thế rồi, Trương Mặc Sênh sống chết đòi đi cứu nàng làm Phùng Thanh La cuống hết cả lên, nên lại buột miệng gọi hắn là “chàng”. Phùng thánh nữ đương nhiên không hy vọng Trương Mặc Sênh tới liều mạng vì nàng ta. Thế nhưng sau khi hắn dặn nàng chờ mình thì cũng liền không liên lạc được nữa...
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 108: Phụ Chương: Cuộc Phiêu Lưu Của Cải Thảo Và Tiểu Thực Thần 2


Trương Mặc Sênh nhắn Phùng Thanh La chờ mình xong thì vội vã quỳ một gối xuống trước Bạch Sầu Phi, chắp tay nói:

“Tiền bối, mong ngài cùng tiểu tử đi cứu người!”

“Cứu ai?”

Tiểu Thực Thần đỏ mặt, nói:

“Là... là ý trung nhân của tại hạ!”

Thiếu niên áo trắng thấy vậy thì phất tay cho năm cô nương đang phục vụ ra ngoài, đoạn nheo mắt, hỏi:

“Con bé lần trước ngươi dẫn về, ở lại cổ viện một đêm ấy hả?”

“Dạ, chính là nàng ta!”

“Được, bản thiếu đi với ngươi một chuyến!”

Trương Mặc Sênh mừng rỡ nhìn lên, thấy ánh mắt của họ Bạch thì bỗng không tự chủ được rùng mình một cái. Thế nhưng hắn cũng không hiểu vấn đề ở đâu, lại thêm cứu người như cứu hỏa, nên cũng quẳng chuyện này ra sau đầu.

Hai người thẳng tiến ra ngoài, Bạch Sầu Phi lại xách cổ cậu chàng đằng vân đi theo hướng mà Uyên Ương bội chỉ. Tiểu Thực Thần từ khi nhờ được Bạch Sầu Phi giúp thì đã bình tĩnh lại không ít. Nay có Uyên Ương bội dẫn lối, lại không phải lo về địch mạnh, hắn mới nhớ ra hình như khi rời đi, con mèo béo không để lại tiền, liền tò mò.

“Tiền bối...”

“Chuyện gì?”

“Hình như ban nãy ngài không trả tiền...”

“Ta cả ngày làm mèo thì lấy đâu ra tiền?”

Tiểu Thực Thần gật gù. Rồi, lại như nhớ ra chuyện gì, hỏi:

“Vậy lúc qua cổng các quận...”

“Tiền đó là bản thiếu móc từ hòm thu phí của đám lính gác cổng, chỉ lấy vừa đủ cho hai người chúng ta. Cả ngày nhiều người ra vào thế, thêm bớt một hai người chúng không nhận ra đâu!”

Trương Mặc Sênh ngớ người, cuối cùng hiểu ra tại sao thằng cha này tán cả tú bà. Quả nhiên... người đủ đẹp mã thì không cần trả tiền.

oOo

Lại kể chuyện của Phùng Thanh La.

Kể từ sau khi không nhận được hồi âm từ Trương Mặc Sênh nữa, cô nàng vô cùng sốt ruột. Nếu không phải nàng ta tay chân bị trói, miệng bị nhét giẻ, tu vi bị phong ấn, mà cả người thì bị buộc trong bao tải, hẳn lúc này đã đứng ngồi không yên.

Đám đạo sĩ phái Chân Võ xách theo Phùng thánh nữ, đi một lúc lâu mới dừng lại. Bao bố mở ra, Phùng Thanh La nhìn xung quanh thì thấy mình đang ở một ngôi miếu cũ. Trong miếu còn có hai tên đạo đồng và một lão đạo sĩ, có vẻ là kẻ cầm đầu. Phía ngoài cửa, thấp thoáng thấy vài cái bóng. Xem chừng lần này Chân Võ phái cử ra không ít nhân mã chỉ để lấy thông tin từ cô nàng.

Lão đạo sĩ rút cái giẻ từ trong miệng cô nàng ra, hất cằm, hỏi:

“Nói, Kiếm Trì các ngươi rốt cuộc nhận được chỗ tốt gì từ Bích Mặc tiên sinh?”

Phùng Thanh La nhổ vào mặt lão:

“Lão mũi trâu, có giỏi thì giết ta đi! Kiếm Trì tuyệt đối sẽ không tha cho các ngươi!”

Lão đạo sĩ cười khẩy, đưa tay lên lau mặt, đoạn tát cô nàng một cái nổ đom đóm mắt:

“Phùng thánh nữ ‘rượu mời không uống lại thích uống rượu phạt’ đúng không? Vậy cũng đừng trách bần đạo độc ác!”

Dứt lời liền túm tóc cô nàng, kéo ra một góc phòng.

Đúng lúc này thì bên ngoài có tiếng đánh nhau, lại có giọng thiếu niên quen thuộc vọng vào:

“Thanh La, nàng ở đâu?”

Phùng Thanh La nghe vậy thì hoảng hốt gào lên:

“Mặc Sênh, mau chạy đi, đừng vào đây!”

Lão đạo sĩ liếc mắt nhìn cô nàng, cười khả ố:

“Ý trung nhân sao? Được, đợi đến khi ta bắt được hắn, còn sợ ngươi không mở miệng hay sao?”

Phùng Thanh La nghe vậy, cuống lên định liều mình, nhưng cô nàng còn chưa kịp làm gì thì lão đạo sĩ đã vung tay một cái. Thế rồi, nàng ta mất ý thức, ngất lịm đi...

oOo

Lúc Phùng thánh nữ tỉnh lại thì thấy mình đang nằm trên giường. Nàng liếc nhìn xung quanh thì kinh hãi phát hiện chân khí vẫn bị phong ấn mà bản thân lại đang nằm trong... kỹ viện.

Kỳ thực, nếu không phải trong một lần truy bắt trọng phạm, cô nàng đã từng vào chốn trăng hoa này, thì cũng chẳng thể nào liếc mắt đã nhận ra như vậy.

Ngồi ở bàn nước gần giường là một tên công tử áo trắng. Thấy Phùng Thanh La tỉnh lại, hắn liền quay ra nhìn cô nàng với ánh mắt bất thiện, đoạn cười dâm tà, nói:

“Tiểu mỹ nhân, tỉnh rồi sao?”

Thấy ánh mắt đầy vẻ hoảng hốt của nàng ta, gã lại bồi thêm một câu:

“Muốn biết chuyện gì xảy ra với ý trung nhân sao? Ài... Tên đó cứ sống chết đòi phải cứu nàng...”

Y nói đến đây thì để ngỏ, cố tình muốn Phùng Thanh La hiểu lầm.

Quả nhiên, Phùng thánh nữ trong tâm trạng hoảng loạn, nghe lời này, lại nhìn tình trạng của bản thân, liền hiểu thành Trương Mặc Sênh vì liều mình cứu nàng ta mà đã chết, còn đám đạo sĩ vì sợ rắc rối đã bán mình vào kỹ viện. Nước mắt bắt đầu lã chã tuôn rơi...

Kỳ thực, nếu là trong điều kiện bình thường, hẳn cô nàng cũng sẽ nhận ra có rất nhiều sơ hở trong hướng suy luận này của bản thân. Thế nhưng, hiện tại tâm trạng lo lắng hoảng loạn, nàng ta sao có thể bình tâm suy ngẫm sâu xa như vậy?

Tên công tử áo trắng lúc này tiến lại gần giường, nói:

“Tiểu mỹ nhân, đừng buồn! Chỉ cần nàng đi theo hầu hạ bản thiếu, sẽ không thiếu chỗ tốt cho nàng đâu!”

Phùng thánh nữ tâm trạng vốn đã bất ổn sẵn, giờ lại bị hành động của kẻ trước mặt dọa cho càng sợ hãi. Nàng ta co vào một góc giường, tru tréo lên:

“Không! Ngươi đừng lại đây! Tránh xa ta ra! Mặc Sênh, thiếp đi theo chàng đây!”

Đoạn toan cắn lưỡi tự vẫn thì người bỗng cứng đờ, không động đậy được. Cô nàng giật mình, nhận ra tu vi bản thân đã được giải khai lúc nào không hay, và tên công tử trước mắt thế mà là cường giả đã vào Vụ Hải. Hơn nữa, uy áp này tuyệt đối không kém sư phụ nàng ta.

Phùng Thanh La càng tuyệt vọng hơn. Lúc này nàng ta đã ở thế muốn sống không được, muốn chết không xong. Nếu kẻ trước mặt muốn giở trò sàm sỡ, thì cô nàng hoàn toàn không có khả năng chống cự. Đương lúc Phùng thánh nữ đang đau khổ tuyệt vọng, thì bỗng nghe tiếng gõ cửa cùng một giọng nói quen thuộc từ bên ngoài vọng vào:

“Tiền bối, Thanh La tỉnh chưa?”

Cô nàng mặt đực ra như ngỗng ỉa, ngơ ngác nhìn thiếu niên áo trắng, thì chỉ thấy y đang ôm bụng cười ngặt nghẽo.

Cười chán, y mới búng tay đánh “chóc” một cái, đoạn đáp lời Trương Mặc Sênh:

“Ngươi vào đi!”

Tiểu Thực Thần đẩy cửa bước vào, đương nhiên không nghe được những chuyện vừa mới xảy ra trong phòng do trận pháp cách âm của họ Bạch. Hắn thấy Phùng Thanh La đã tỉnh thì mừng rỡ, vội tiến đến. Lúc đi ngang qua, Bạch Sầu Phi còn bá vai bá cổ cậu chàng, vỗ vỗ lưng, nói:

“Mắt tiểu tử ngươi cũng không tệ. Cố lên!”

Thả cậu ta ra, gã lại nói:

“Được rồi, hai đứa vui vẻ với nhau đi, bản thiếu đi trước!”

Dứt lời thì quay mình bỏ đi. Đến cửa, họ Bạch như nhớ ra chuyện gì, bèn truyền âm cho Phùng thánh nữ:

“Vừa rồi là trừng trị ngươi hồi mấy tháng trước dám đến chân núi múa may. Chủ nhân độ lượng có thể không chấp con nhãi nhà ngươi, nhưng bản thiếu thì khác. Cũng may ngươi có cốt khí, bản thiếu thích, nên tạm tha lần này.”

Nghe lời này, lại dựa vào thái độ của Trương Mặc Sênh đối với thiếu niên áo trắng, Phùng Thanh La cuối cùng cũng nhận ra y là ai. Nếu không phải con mèo trắng Tạ Thiên Hoa bế xuống núi hôm đó thì còn ai vào đây nữa? Hiểu ra mọi chuyện, cô nàng liền khóc không ra nước mắt, thầm nghĩ:

“Tạ tỷ tỷ nói quả không sai! Con mèo này thù dai đến phát sợ!”

Thì ra, sau khi làm lành, trong đêm Phùng Thanh La ở lại cổ viện, hai người Tạ, Đỗ đã coi cô nàng là “người trong nhà”, bèn phổ cập một số “kỹ năng sinh tồn” ở cổ viện. Trong đó, ngay đầu danh sách là tuyệt đối không thể đắc tội con mèo trắng nếu muốn sống yên ổn. Lúc bấy giờ, cô nàng còn tưởng hai người họ làm quá lên, chả lẽ một tiền bối đã vào Vụ Hải còn đi chấp vặt đám tiểu bối như bọn họ? Thế nhưng bây giờ, sau khi có “trải nghiệm thực tế” thì Phùng thánh nữ mới thấm thía lời dặn ấy!

Trương Mặc Sênh thấy cô nàng có biểu hiện khác lạ, nhưng cũng chỉ đoán chừng là hoảng loạn sau khi bị bắt cóc, bèn tiến đến an ủi một phen. Phùng Thanh La không tiện “nói xấu nhà chồng”, lại nghĩ dù gì người ta cứu mạng mình cũng là thật, nên chỉ ậm ừ rồi chuyển chủ đề.

Hai người tình ý sâu đậm, hàn huyên một lúc, lại tán tỉnh nhau một hồi. Thế rồi, chả biết từ lúc nào, Phùng thánh nữ đã nằm gọn trong lòng Trương thiếu trang chủ.

Đang “tình chàng ý thiếp” như vậy thì cửa phòng bỗng bị đạp mở. Hai người liền đỏ mặt, vội vã tách nhau ra.

Người vừa đạp cửa là một lão già râu tóc bạc phơ, diện một bộ quần áo trắng, hông đeo kiếm. Lão liếc mắt nhìn hai người trong phòng, ngớ người trong chốc lát. Sau đó liền ho khan một tiếng, đoạn đóng cửa lại như cũ, nói vọng vào:

“Đừng để ý có ta ở đây. Hai đứa cứ tiếp tục đi!”

Sau đó, bên ngoài còn loáng thoáng nghe tiếng cãi nhau:

“Kiếm tổ, không cứu người sao?”

“Cứu cái gì mà cứu? Đồ nhi ta vốn đã được cứu rồi! Ngươi không biết đường tìm hiểu kỹ trước khi kéo bản tổ đến đây làm kỳ đà cản mũi hả?”

Nghe được mấy lời này, mặt Phùng Thanh La vốn đã đỏ nay không khác gì quả gấc chín. Mà Trương Mặc Sênh cũng ho khan, vừa gãi đầu gãi tai, vừa ngẩng đầu lên nghiên cứu những đường nét chạm trổ trên xà nhà.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 109: Phụ Chương: Cuộc Phiêu Lưu Của Cải Thảo Và Tiểu Thực Thần 3


Muốn biết tại sao Trần Thanh Lãng cùng đoàn người Kiếm Trì lại tìm được đến tận đây, thì phải kể từ khi Phùng Thanh La bị bắt. Từ lúc Trương Mặc Sênh nghe tin đến lúc cô nàng được cứu thời gian chưa đến một ngày. Thế nhưng từ lúc Phùng Thanh La bị túm đến lúc tuyệt vọng, nhắn tin cho cậu chàng thì cũng phải một hai ngày đã trôi qua.

Ngày đầu tiên, đệ tử Kiếm Trì sau một hồi không thấy thánh nữ trở về thì liền chia nhóm ra tìm kiếm, cũng có vài người tra khảo đám vô lại bị bắt trói. Không mất quá lâu thời gian để bọn họ phát hiện việc Phùng Thanh La đã bị bắt cóc.

Đây là đại sự, chúng đệ tử Kiếm Trì nào dám tự quyết? Thế là tất cả rút lên núi, bẩm báo lại việc này với trưởng lão quản sự. Trưởng lão quản sự thấy hiện giờ ba vị Kiếm tổ còn đang bế quan, nên trước hết dẫn theo vài người xuống núi tìm hiểu. Lão ta cũng thử truy tung ngọc bội thân phận của Phùng Thanh La, nhưng cuối cùng chỉ phát hiện miếng ngọc bị ném bên vệ đường. Biết chuyện này lớn, lão ta liền mở cuộc họp giữa các bậc trưởng lão, để quyết định xem có nên bẩm báo với ba vị Kiếm tổ hay không. Thế nhưng cuộc họp chưa ngã ngũ, thì Sóc Phong Kiếm tổ đã phá quan mà ra.

Số là, ba vị Kiếm tổ bế quan nghiên cứu kiếm lý theo “chỉ điểm” của Bích Mặc tiên sinh, lấy kiếm lý cả đời ra để học hỏi lẫn nhau. Tuy cả ba người bọn họ đều cảm nhận được mình đang đi đúng hướng, nhưng dù gì ở cảnh giới của họ, cũng chẳng dễ gì có đột phá.

Sau gần một tháng trao đổi học hỏi, Trần Thanh Lãng, kẻ nổi danh nhờ tốc độ tại Huyền Hoàng giới, không ngờ lại là người nhận ra “dục tốc bất đạt”, quyết định chậm rãi cảm ngộ, nên liền phá quan ra trước.

Lão vừa ra ngoài, thì lại phát hiện trưởng lão hội đang họp bàn đại sự, mới tò mò đến xem có chuyện gì. Sau khi biết tin đồ đệ bị bắt, Sóc Phong Kiếm tổ lập tức chọn ra một trưởng lão cùng vài đệ tử Kiếm Trì đi theo, tự mình dẫn đoàn truy tung Phùng Thanh La. Lúc đoàn nhân mã của Kiếm Trì xuất phát, thì cũng đã sang ngày thứ hai.

Trần Thanh Lãng dùng đủ các thủ đoạn tìm dấu vết, không tiếc cả phù chú, trận pháp, bói toán mới có manh mối về phương hướng của đồ đệ. Đoàn nhân mã Kiếm Trì cũng phải vừa đi vừa tìm người, hỏi đường nên nào có đi nhanh gì cho cam?

Truy đuổi mãi rồi người của Kiếm Trì mới nghe được thông tin của một đám đạo sĩ khả nghi. Thế nhưng bắt lại thì lại hóa ra nhầm người. Cũng may tại hiện trường lại có lão tiều phu báo cho bọn họ trong rừng phía tây thôn ấy có một ngôi miếu cũ, gần đây hình như có người của đạo gia ở lại.

Đoàn người của Kiếm Trì vội vàng chạy tới đó tìm kiếm, nhưng khi tới nơi thì chỉ phát hiện dấu vết một cuộc thảm sát. Trần Thanh Lãng phát hiện đồ đệ lão đúng là từng ở đây, nhưng có vẻ đã bị một bên thứ ba đưa đi khỏi.

Chưa rõ địch bạn, Sóc Phong Kiếm tổ lại càng khẩn trương hơn. Phải biết, thời gian truy tung gần đây, lão ta cũng đoán được đám đạo sĩ kia có một cường giả đã vào Vụ Hải, đoàn người Kiếm Trì lão dắt theo dù có bắt kịp đối phương, cũng khó tránh khỏi một cuộc chiến. Tuy lão tự tin có thể thắng, nhưng chắc cũng không đến mức quá áp đảo. Hiện tại, Phùng Thanh La ở trong tay kẻ có thể giết đám đạo sĩ kia dễ dàng như vậy, nếu phải đánh nhau thật, lão ta không biết phía mình nắm bao nhiêu phần thắng.

Nghĩ thì nghĩ vậy, nhưng lão vẫn không chùn bước, quyết định tiếp tục. Ngặt một nỗi, truy tung được đến một thành trấn cách đó không xa thì mất dấu. Trần Thanh Lãng đành cho đoàn nhân mã Kiếm Trì vào ở tạm một khách đ**m, vừa để hỏi thông tin, lại vừa cho các đệ tử nghỉ ngơi lấy sức. Ở đó được chưa lâu thì có đệ tử hớt hơ hớt hải chạy đến báo tin với lão, có người ném ám khí, trên có buộc một mẩu lời nhắn, ghi đúng mấy chữ ngắn gọn: “Phùng Thanh La đang ở Hồng Phương Lâu.”

Đọc đến đây thì Trần Thanh Lãng cũng biến sắc mặt. Hồng Phương Lâu là kỹ viện nổi tiếng ở thành này, Phùng Thanh La trong điều kiện bình thường chắc chắn không chủ động đến đó. Thành ra, lão cũng không kịp nghĩ nhiều, vội dẫn đệ tử Kiếm Trì đi cứu người.

Chuyện sau đó liền dễ hiểu...

Trần Thanh Lãng đạp cửa ra, chuẩn bị cứu đồ đệ thì nhận ra có vấn đề. Đồ nhi của lão không có vẻ là đang bị xâm hại. Ngược lại, lão hình như đến rất không đúng lúc, chen chân vào việc tốt của con bé! Việc Phùng Thanh La có tính ý với thiếu trang chủ của Mỹ Vị sơn trang người làm sư phụ như Sóc Phong Kiếm tổ đương nhiên biết. Để đề phòng vạn nhất, lão cũng đã cho người quan sát, tìm hiểu về cậu chàng. Thành thử, khi mở cửa phòng, chỉ liếc mắt một cái, lão ta liền nhận ra Trương Mặc Sênh, cũng lập tức hiểu chuyện gì đã xảy ra.

Xét về địa vị, Mỹ Vị sơn trang cũng tính là môn đăng hộ đối với Kiếm Trì. Xét về nhân phẩm, cách làm người của Trương Mặc Sênh cũng khiến Trần Thanh Lãng hài lòng. Tuy cậu chàng cũng có vài tật xấu lão không vừa mắt, nhưng “nhân vô thập toàn”, lão cũng không chấp. Lại nói, quan hệ giữa Trương thiếu trang chủ và Bích Mặc tiên sinh không tệ, việc cậu ta muốn bái tiên sinh làm sư phụ Sóc Phong Kiếm tổ cũng đã nghe qua. Nếu nói làm thông gia với Mỹ Vị sơn trang là “chấp nhận được”, thì làm thông gia với Bích Mặc tiên sinh đối với Kiếm Trì lúc này là “cầu còn không kịp”!

Thế nên, khi nhìn thấy Trương Mặc Sênh và đoán được người của Bích Mặc tiên sinh đã ra tay cứu Phùng Thanh La, lão ta mới dứt khoát đóng cửa lại cho đôi trẻ “muốn làm gì thì làm”. Tuy đồ nhi nhà mình da mặt mỏng, chắc không nên nổi cơ sự gì, nhưng biết đâu Trương thiếu trang chủ “có gan làm liều” thì sao?

Đương nhiên, điều kiện tiên quyết ở đây là Phùng Thanh La có ý với Trương Mặc Sênh. Bằng không, cho dù đằng sau cậu chàng là Mỹ Vị sơn trang hay Bích Mặc tiên sinh, Trần Thanh Lãng vẫn sẽ tìm cách che chở cho đồ đệ nếu cần thiết. Thế nhưng, cô nàng đã muốn thì lão cũng chả dại gì mà không “thuận nước đẩy thuyền”...

oOo

Trương Mặc Sênh và Phùng Thanh La sau một hồi ngượng ngùng thì liền bình tĩnh lại, thế nhưng cảm xúc cũng đã qua. Lại thêm, đã biết sư phụ của Phùng Thanh La ở ngay bên ngoài, nếu đôi trẻ họ thật sự “tiếp tục một cách tự nhiên” được mới là chuyện lạ. Hai người bèn chỉnh trang lại quần áo, rồi mở cửa đi ra ngoài.

Tiểu Thực Thần tiến lên chào hỏi đoàn người của Kiếm Trì – bấy giờ đang tụ tập ở một quán nhỏ bên kia đường – vài câu. Song, do xấu hổ chuyện bị “nhà vợ” bắt gặp ban nãy, hắn bèn lấy cớ có việc lủi đi trước. Trần Thanh Lãng chưa vội rời đi ngay mà còn hỏi chuyện Phùng Thanh La một lúc.

Phùng thánh nữ không dám giấu giếm, kể lại mọi chuyện cho sư phụ nghe. Đương nhiên, cô nàng lược bỏ đoạn Bạch Sầu Phi dọa mình khóc thét trong phòng ban nãy, chỉ bịa đại ra một cái lý do “trốn trong kỹ viện sẽ không ai nghi ngờ mà vào tìm” để giải thích tại sao ba người họ lại vào đó. Nhớ lại đoạn ký ức này cùng những lời ong bướm với Trương Mặc Sênh sau đó mà hai má Phùng Thanh La bất giác ửng hồng.

Thấy đệ tử như vậy, Sóc Phong Kiếm tổ cũng ho khan mấy tiếng, rồi phát lệnh cho toàn quân chuẩn bị đi về. Đúng lúc này, Trương thiếu trang chủ vốn đã lỉnh đi ban nãy lại hớt hải chạy về, thở hào hển, nói:

“Tiền bối, không biết có thể cho tiểu tử quá giang về Cổ Long thành hay chăng?”

Thì ra, Trương Mặc Sênh chạy ra ngoài, định đi về mới phát hiện không biết Đại Bạch đã bỏ đi đâu. Một đường tới đây, con mèo béo xách cậu ta đằng vân, nên bây giờ cậu chàng có muốn cũng không biết về Cổ Long thành ra làm sao. Sau khi tìm một hồi không có kết quả, hắn đành quay lại muối mặt nhờ “nhà vợ” giúp.

Kỳ thực, cũng không phải Tiểu Thực Thần không biết đường tìm truyền tống trận để tự về thành Cổ Long. Thế nhưng, thứ nhất là cách này mất thời gian, công sức để thu xếp hơn; thứ hai là hôm nay hắn không nghĩ sẽ ra khỏi thành, nên không hề mang giấy thông hành theo người. Mà thân phận thiếu trang chủ của Mỹ Vị sơn trang thì chưa đủ đặc thù hay nổi tiếng để có thể truyền tống ra vào kinh đô Đại Việt một cách tự do.

Trần Thanh Lãng nghe cậu ta nhờ vậy thì cũng nghĩ nên đến nói một câu cảm tạ với Bích Mặc tiên sinh. Dù gì người ta vừa chỉ điểm tu luyện, lại vừa cho người đi cứu đồ đệ mình. Thế là, lão ta liền đồng ý.

Sóc Phong Kiếm tổ nhờ trưởng lão đi cùng đưa đám đệ tử về Kiếm Trì trước, còn phần mình thì ngự kiếm, mang theo Trương Mặc Sênh thẳng tiến hướng thành Cổ Long.

oOo

Lúc hai người đáp xuống, thì Bạch Sầu Phi đã đứng chờ sẵn.

Thiếu niên áo trắng gật đầu chào Trần Thanh Lãng, đoạn nói:

“Nếu muốn tạ ơn chủ nhân, thì chỉ cần tạo cơ hội cho đám Thanh Vân đi lịch luyện là được. Chủ nhân ta đang dùng thân phận phàm nhân làm việc, đừng đến quấy rầy lúc này!”

Dứt lời thì liền bá cổ Tiểu Thực Thần, lôi đi. Đợi Sóc Phong Kiếm tổ rời đi, gã mới ghé tai Trương Mặc Sênh, hỏi nhỏ:

“Này, hai đứa các ngươi đã kịp làm gì chưa?”

Trương thiếu trang chủ đỏ mặt:

“Tiền bối, tiểu tử với Thanh La mới chỉ đang nói chuyện tâm sự thì người của Kiếm Trì đã đến rồi. Làm gì là làm gì chứ?”

Bạch Sầu Phi trố mắt nhìn cậu chàng, rồi đưa tay lên vuốt mặt:

“Ôi cái thằng ngu này! Nói chuyện thì nói lúc nào mà chẳng được?! Bản thiếu còn cứ tưởng ngươi khôn hơn thằng nhóc Thanh Vân cơ! Ta đã tạo điều kiện cho hai đứa như vậy, lại còn chờ rõ lâu mới đánh tiếng cho đám người Kiếm Trì kia, vậy mà các ngươi cũng chỉ kịp nói chuyện hàn huyên???”

Tiểu Thực Thần vốn tưởng bản thân đã là loại mồm lưỡi trơn tru, tán gái giỏi. Thế nhưng xem chừng, nếu đem so với Tạ Hàn Thiên và thằng cha trước mặt này thì cậu ta vẫn còn ngây thơ trong sáng lắm!
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 110: Nho Môn Lại Đến Cửa Gây Chuyện


Các trang khác bưng truyện của bọn mình về không ghi nguồn tử tế thì thôi không chấp nhưng cũng nên bưng đủ các chương từ 107-125 chứ? Bưng ba chương ngoại truyện 126-128 xong quên luôn các chương ở giữa rồi kìa.

Lúc Nguyễn Đông Thanh mò được về đến Quan Lâm thì mới nghe được tin gần đây lại có yêu thú xâm lấn từ chỗ mấy người lão Hùng, khiến hắn cơ hồ lo sốt vó. Thế nhưng, sau đó lại nghe đám đồ đệ của hắn trong lúc hiểm nguy đứng ra ngăn cơn sóng dữ, cứu hơn vạn hộ dân trong thành khỏi cơn nước lửa, Bích Mặc tiên sinh mới yên tâm.

Hơn nữa, còn hơi có chút tự hào.

Ba thiếu niên mà hắn nửa vô tình, nửa bị ép thu nhận làm học trò bây giờ cũng đã trở thành anh hùng một thành, có thể ưỡn ngực với đời.

Mà Trương Mặc Sênh sau khi nghe được chuyện này, cũng âm thầm hạ quyết tâm không để cho ông thầy nhà mình mất mặt.

Sở dĩ sau khi Nguyễn Đông Thanh đến phủ thành chủ báo lại kết quả cho Vũ Tùng Lâm không lập tức quay về cổ viện, mà vào chợ gặp đám lão Hùng, ấy là do hắn cảm thấy lần này vào kinh vạn sự như ý, trở về muốn ăn mừng một phen.

Bây giờ nghe được đám học trò nhà mình có được thành tựu như vậy, lại càng có lý do ăn mừng.

Thế nhưng...

Lúc Bích Mặc tiên sinh mang cả đống thịt thà cá mú về muốn làm lẩu, thì chỗ xóm nhỏ dưới chân núi hắn dựng cho ba đồ đệ hiện tại vắng vẻ đìu hiu, người đi nhà trống.

Không một bóng người.

Nguyễn Đông Thanh trông thấy thế, mới bảo Trương Mặc Sênh tự chuẩn bị chỗ ở, còn bản thân hắn thì chạy lên cổ viện.

Hắn đoán cho dù cả cái cổ viện này đều đi chơi, thì chắc chắn sẽ vẫn còn một con sâu rượu ở căn nhà phía tây.

Nguyễn Đông Thanh nhanh nhẹn lên núi, đẩy cửa tiến vào cổ viện.

Bên trong, bài trí vẫn mộc mạc bình dị như một năm trước, cơ hồ chưa từng thay đổi.

Cây cổ thụ cạnh giếng đá, ba gian nhà, phía sau còn có một mảnh vườn rau. Nguyễn Đông Thanh vẫn nhớ trước khi Lý Thanh Vân và Tạ Thiên Hoa xuất hiện, hắn chẳng hiểu thế nào lại được cái danh “Bích Mặc tiên sinh”, một mảnh vườn rau này cơ hồ là kế sinh nhai nuôi sống hắn, Hồng Vân, bò già, Cải Thảo và Đá Nhỏ. Chẳng rõ từ lúc nào, nhưng trở về Lão Thụ cổ viện khiến Nguyễn Đông Thanh cảm thấy khoan khoái lạ thường.

Giống như về nhà...

Gã gõ cửa căn phòng phía tây, hỏi:

“Bớ cô hàng xóm!”

“Bản cung đang bận! Có gì mau hỏi đi.”

Nguyễn Đông Thanh nghe cô nàng lại tự xưng là “bản cung”, không khỏi cười khổ lắc đầu. Cũng may Hồng Vân chẳng qua là nghiện tiểu thuyết cung đấu, trừ bỗng nhiên đổi cách xưng hô ra thì lối hành xử vẫn như thường, không đỏng đảnh tự cho mình là hoàng thân quốc thích thật.

Ít ra là chưa ngáo truyện như mấy trường hợp hắn từng nghe ở địa cầu.

“Mấy đứa Thanh Vân đâu rồi?”

“Ra ngoài rồi. Đi cũng xa lắm. Nhanh phải cả tháng nữa mới về.”

Thấy kế hoạch ăn mừng của mình đổ sông đổ bể, Nguyễn Đông Thanh lập tức xìu như quả bóng xẹp hơi.

oOo

Chính lúc Nguyễn Đông Thanh đang cảm thấy chán chẳng buồn động tay, định nằm ườn trên võng ngủ một giấc, thì bỗng bên ngoài cổng viện có tiếng gọi cửa.

“Thưa thầy, dưới núi có người đến tìm!”

Người gọi là Trương Mặc Sênh.

Nguyễn Đông Thanh không khỏi nhíu mày.

Hắn không ngờ vừa từ Cổ Long thành về còn chưa kịp ngồi ấm mông đã có người đến tìm.

Vũ Tùng Lâm hôm nay gã đã gặp, thành thử khả năng ông ta đến là không cao. Hà huống, Trương Mặc Sênh nói là “có người”, chứng tỏ kẻ đến không phải người quen mặt.

Nguyễn Đông Thanh thở dài, đứng dậy đẩy cửa.

Xem chừng lại phải xuống núi một chuyến.

Dưới núi, lúc này đã có một lão già mình mặc nho sam đứng chờ sẵn. Vì chuyện của Lâm Thanh Tùng, nên hiện giờ Nguyễn Đông Thanh vừa nhìn thấy nhà Nho đã thấy hơi... phản cảm.

Có thể sau một thời gian phản ứng này sẽ mất đi, hắn cũng tự nhận thức được còn chưa quen biết gì người ta đã có phản ứng hơi hướm “chụp mũ”, “kỳ thị” như vậy thực không phải...

Thế nhưng, tiềm thức không phải thứ hắn có thể khống chế được.

Nguyễn Đông Thanh thở ra một hơi dài, chắp tay thi lễ:

“Dám hỏi lão tiên sinh này là ai, đến tìm tại hạ là có mục đích gì?”

Chỉ thấy lão nhà Nho kia hắng giọng một tiếng, hất hàm hỏi:

“Bích Mặc tiên sinh phải không?”

Nguyễn Đông Thanh thấy thần sắc của hắn kiêu căng xấc xược, bao nhiêu sự cố gắng bảo trì tâm thái khách quan nháy mắt sụp đổ. Hắn nhíu mày một cái, lạnh giọng đáp:

“Chính là tại hạ!”

“Tiên sinh? Không phải ngươi nói thì tính. Ngươi đi theo ta một chuyến.”

Lão nhà Nho cũng chẳng buồn nói nhiều, lớn tiếng lên giọng. Cái ngữ khí giống như ra lệnh, nhìn kẻ khác bằng nửa con mắt của lão ta khiến Nguyễn Đông Thanh càng chẳng còn chút hảo cảm nào với lão cả. Nếu là lúc bình thường, Bích Mặc tiên sinh có thể coi là tiếng chó sủa thoảng qua, chẳng buồn chấp nhặt. Thế nhưng...

Lần này vừa từ Cổ Long về, đi đường mệt mỏi, đám học trò lại chạy đi đâu mất làm tâm tình của hắn vốn đã không tốt. Lại thêm cái ngữ khí “không phải ngươi nói là tính” đầy vẻ rẻ rúng kia, khiến Nguyễn Đông Thanh càng lúc càng ngờ rằng Huyền Hoàng giới lúc này đã vào cái thời suy tàn của Nho giáo, chân quân tử thì ít mà Hủ nho tiểu nhân thì nhiều.

Nguyễn Đông Thanh phẩy tay, nói:

“Ồ, cũng vừa lúc lắm. Tại hạ thấy cũng chẳng cần quan tâm đến nhận xét của các vị. Còn về việc cái danh của tại hạ có xứng hay chăng thì mời tiên sinh đi mà biện luận với Vũ tướng quân. Mặc Sênh, tiễn khách!”

“Một tên phu tử dân gian mà thôi, cũng dám không để ý đến lời nói của văn cung?”

“Ồ, vậy theo lão tiên sinh nếu tại hạ không nghe, văn cung lập tức sẽ lấy nắm đấm uy h**p? Đây là nho đạo thánh hiền của các người sao? Quân tử động khẩu bất động thủ, dám hỏi chư vị văn cung các người là tiểu nhân vô lại, hay súc sinh cầm thú?”

Nguyễn Đông Thanh nhún vai.

Lão Nho sinh bị hắn chửi cho ráo máu đầu, hừ lạnh:

“Lời nói của Văn Cung có trọng lượng đương nhiên không phải dựa vào nắm tay, mà là do được nho sinh khắp thiên hạ cộng tôn, địa vị siêu nhiên, há lại để người như ngươi khinh thường.”

Nguyễn Đông Thanh nghe lão ta nói cũng không cảm thấy lạ.

Nho giáo quả thực có dạy người ta làm người, có ngũ đức, biết trung hiếu tín nghĩa.

Song chính Nho giáo cũng dạy người trong thiên hạ an phận thủ thường, phân chia trăm họ làm đủ mọi loại người, tầng thứ tôn ti. Nào là “nhất nam viết hữu thập nữ viết vô”, nào là “xướng ca vô loài”, “nào là quân sử thần tử, thần bất tử bất trung, phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu”. Hết thảy đều là một loại áp bức.

Thế nên...

Nguyễn Đông Thanh cũng không lạ nếu cái gọi là Văn Cung kia chẳng coi một tên “tiên sinh dân dã” chỉ được một cái ải Quan Lâm này công nhận vào đâu.

Thế là, hắn cười dài một tiếng, nói:

“Vậy cũng xin mượn ý của lão tiên sinh, văn cung đã có nhiều nho sinh sĩ tử tán đồng như thế, thêm một Đông Thanh thì có sao, bớt một Đông Thanh lại thế nào? Sao có thể nói là ta làm nhục văn cung? Được rồi, tiên sinh nếu đã không còn gì để nói thì mời đi cho.”

“Đi hay ở còn không đến lượt ngươi nói!”

Lão Nho sinh vừa nói dứt lời, đã lấy ra một cây bút. Lông bút cuốn ra thế như trảo chớp, chộp lấy Nguyễn Đông Thanh. Kế đó, hắn bèn phóng mình lên, đằng vân giá vụ bay thẳng về phía ải Quan Lâm.

Bích Mặc tiên sinh bị người ta nhấc bổng lên.

Hắn không ngờ đối phương lại dứt khoát ra tay như thế. Vừa mới mó vào lồng ngực, nắm lấy tấm lệnh bài của Võ Hoàng.

Thế nhưng... không có phản ứng.

Nguyễn Đông Thanh đầu đầy mồ hôi, thầm hô:

“Bỏ mẹ! Chẳng nhẽ cái đồ chơi này chỉ có lúc người ta để lộ sát ý với ta mới chủ động tự vệ?”

Kỳ thực, lệnh bài của Võ Hoàng cũng giống mặt dây chuyền xương voi của Hùng Đại Phong dùng mấy ngày trước, có thể chủ động công kích. Miễn là... truyền chân khí vào là được.

Đến đây lại sinh ra vấn đề.

Bích Mặc tiên sinh của chúng ta làm quái gì có chút chân khí nào mà sử dụng?

Thành thử, từ lúc nhận được tấm lệnh bài từ tay Lý Huyền Thiên đến giờ, Nguyễn Đông Thanh đều dựa vào cơ chế tự động hộ chủ của bảo vật.

Lần này lão Nho sinh tuy hành xử bá đạo, nhưng không có ý tổn hại đến hắn, thành thử tấm lệnh bài cũng bó chiếu không ra.

Trương Mặc Sênh đứng ở đầu đường núi, vẫy tay:

“Sư phụ đi mạnh giỏi, đệ tử chờ người về ăn cơm!!!”

Cậu chàng vốn là cũng định chạy lên, có không ngăn được thì cũng thể hiện thái độ cho ông thầy xem. Thế nhưng, đi chưa được nửa bước, bên tai Trương Mặc Sênh đã có tiếng con bò già cất lên:

“Cứ để chủ nhân đến chơi với bọn chúng một chút cũng không hề gì.”

Thế là, Tiểu Thực Thần cực kỳ tự giác, đứng nguyên tại chỗ.

Dù sao, ông thầy ở cổ viện, còn con bò già thì tối ngày gặp gỡ. Trời cao hoàng đế xa, lại có câu “bán anh em xa mua láng giếng gần”.

Trương Mặc Sênh đương nhiên sẽ không để lại ấn tượng xấu cho Lý tiền bối.

Thằng c* thấy ông thầy đã bị người ta “bắt cóc” thành công, cười khì khì chạy sang chỗ chuồng bò, hỏi:

“Lý tiền bối, có yêu cầu gì hay không? Hôm nay tiểu tử ắt sẽ cắt cỏ non nhất cho tiền bối.”

“Cút!”

Lúc này, con Dâm Kê từ trong chuồng bò ra. Chỉ thấy lúc này mắt nó đỏ quạch, lông tóc rũ lên như gà dù, vừa nhìn là đã thấy “tiêu hao quá độ”. Dâm Kê đưa cánh chới với về phía Trương Mặc Sênh, mấp máy mỏ:

“Có... có món gì... bổ thận hay không?”

Nhưng nói chưa được hết câu, lông đuôi của nó đã bị một bàn chân gà từ trong chuồng thò ra tóm lấy. Dâm Kê cả người bủn rủn, nhũn ra như con chi chi, miệng la thê thảm, song chẳng có ích gì, cả người vẫn bị lôi xềnh xệch vào chuồng.

“Cứu mạng!!!”

Trương Mặc Sênh lắc đầu:

“Thân trai mười hai bến nước, tiểu tử thay Dâm Kê tiền bối mặc niệm.”

oOo

Phần giao lưu: Do không ai hỏi gì nên mình - Nghịch Tử, cũng là chủ bút của truyện - xin được chia sẻ đôi lời. Trước tiên thì xin cảm ơn anh em bà con cô bác đã ủng hộ truyện trong suốt thời gian qua. Sở dĩ mình viết bộ này là do những truyện cùng thể loại của cả tác giả Việt lẫn tác giả Trung đều có chung một vấn đề: mang tiếng là thu học trò, làm thầy người ta nhưng lại không tập trung vào mấy người đồ đệ cho lắm. Hầu hết thời gian đều là nvc làm trung tâm chạy đi chùi đít cho bọn học trò, rồi trang bức cho học trò tung hô. Mình chưa tìm được một bộ nào thực sự tập trung vào những học trò này, nên tự viết một bộ luôn. Thứ hai nữa, là mình xây dựng Nguyễn Đông Thanh khá là trầm, gã không thích và cũng không có động lực cố tỏ ra nổi bật. Thành thử, vô hình trung, những cái tình tiết mà có thể anh em bà con cô bác rất thích đọc như kiểu đánh mặt thiên hạ hay đè đầu cưỡi cổ quần hùng ít khi xuất hiện, mà có thì mình cũng sắp xếp sao cho nó vô tình nhất có thể. Mà ông Thanh với cá tính của mình thì cũng thường là cho người ta cái thang để xuống chứ không hạ nhục đến cùng, thành thử có thể nếu anh em vào đọc sảng văn thì sẽ chưa thỏa mãn / hài lòng lắm. Cuối cùng, chưa bị vào mắng, nhưng thực sự mình không thích cái kiểu sát phạt quả đoán của truyện mạng. Những truyện có nhân vật như vậy cũng nhan nhản rồi, nên chắc anh em mà có nhớ cái món này thì sang nhà khác, bao giờ thèm của lạ lại về đây vậy. Vậy thôi. Không tính phần giao lưu này thì chương cũng đủ số chữ rồi nên anh em yên tâm là tác không ăn bớt ăn thiết của anh em chữ nào đâu nhé. Xin chân thành cảm ơn anh em đã ủng hộ lần nữa và hi vọng có thể tiếp tục đồng hành cùng anh em đến cuối cuộc hành trình này.

Lời biên tập: Quen nhau với tên kia tính ra là sáu năm, coi nhau là bạn bè thì đc năm năm, gọi nhau tri kỷ thì cũng ngót nghét bốn năm, mà mình bắt đầu làm biên tập kiêm dịch giả cho tên Nghịch Tử cũng đc 2-3 năm trở lại đây rồi. Trong sáu năm ấy thì hai năm đầu là hai thằng lăn lộn trong môi trường các tác giả trẻ vt truyện lấy bối cảnh Á Đông, phỏng theo truyện Tàu. Hai năm giữa thì lăn lộn qua môi trường của các tác giả trẻ vt tr lấy bối cảnh Âu Mỹ. Hai năm cuối thì lập page Facebook, và bỏ đi xuất bản thử truyện ở trời Tây, lăn lộn thử với tác giả trẻ Á Kiều. Xong xuôi, đúc kết kinh nghiệm lại, hai thằng nhận một cái dự án kịch bản game bối cảnh dị giới, nhưng lấy cảm hứng từ ba lần kháng Nguyên - Mông của nhà Trần, lúc rảnh tay thì mới viết bộ này. Hiện tại kịch bản game thì đã sơ bộ hoàn thành, thế nhưng các sếp còn chưa nhích tiếp cho, nên bà con mới có chương đều đều, chứ nếu dự án tiếp tục mà bọn mình bận, thì lịch đăng chương sẽ phải có sự điều chỉnh ngay. Bộ này, cũng như đa số các bộ khác bọn mình đã, đang, và sẽ viết, đều là thử sức xem có thể đẩy một cái truyện ra mà đọc thôi cũng thấy được cái hơi thở, cái hồn của dân tộc Việt Nam. Cơ mà thành công hay thất bại, và được bao nhiêu phần thì chắc chỉ có thời gian và độc giả mới có câu trả lời. Thôi thì không thành công cũng thành nhân, cứ mong bà con cô bác anh chị em tiếp tục đồng hành cùng truyện!
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 111: Tiên Sinh Chẳng Nhẽ Không Nhận Ra Mình Là Cường Giả Tuyệt Thế?


Chương này là chương 130, ba chương phụ chương là 126-128. Bà con ai đọc ở trang nào mang về thiếu chương hay đánh số sai thì chịu khó tìm kiếm bản nào đăng đủ nhá.

Nguyễn Đông Thanh bị lão nhà Nho tóm cổ, bay thẳng đến ải Quan Lâm. Hai người vượt qua tường thành, bỏ qua phủ thành chủ, đoạn nhắm thẳng đến một ngôi lầu bốn tầng. Bích Mặc tiên sinh của chúng ta sống ở Quan Lâm đã lâu, thành thử chỉ nhìn một cái là hắn nhận ra ngay ngôi lầu bốn tầng mình đang bị lôi đến là Hồng Hoa Lầu.

Hồng Hoa Lầu này vốn là sản nghiệp đẻ ra tiền, xa hoa bậc nhất của Nhất Phẩm Cư. Nghe đồn nơi này có một tầng là sòng bạc, một tầng là thương hội, một tầng là kỹ viện, lại có một tầng lầu cao nhất không rõ là dùng làm gì. Hồng Hoa Lầu thường ngày không tiếp khách phổ thông, bình thường người bước được qua cửa nếu không phải là kẻ đại phú đại quý thì cũng là nhân vật tai to mặt lớn một phương.

Một tên phàm nhân bán rau, gần đây mới đi dạy học như Nguyễn Đông Thanh đương nhiên là chưa bao giờ đặt chân đến nơi xa xỉ thế này.

Hơn nữa, Hồng Hoa Lầu lúc này không có một khách khứa nào khác. Thương hội đóng cửa im ỉm, sòng bạc cũng vắng bóng con bạc ra vào. Duy chỉ có tầng ba vốn là chốn ngõ liễu tường hoa là còn căng lụa tiếp khách.

Lão nhà Nho dẫn Nguyễn Đông Thanh lên thẳng tầng cao nhất của Hồng Hoa Lầu.

Có một quãng thời gian bay từ Lão Thụ cổ viện đến Quan Lâm, Nguyễn Đông Thanh cũng làm nguội được cái đầu của mình.

Hiện giờ, gã thấy có gặp đám người “Văn Cung” này thì cũng chẳng mất gì, cũng tiện xem xem Đại Nho ở Huyền Hoàng giới rốt cuộc là người ra sao.

Nếu người ta là bậc thánh hiền như cụ đồ Chiểu, thầy đồ An thì Nguyễn Đông Thanh cũng không ngại thôi cái việc làm gõ đầu trẻ ở thành Quan Lâm nếu được yêu cầu.

Trái lại, nếu là cái đám hủ Nho bảo thủ, thì gã có liều một phen cũng không giao đám trẻ Quan Lâm cho chúng dạy dỗ.

Nguyễn Đông Thanh đương nhiên là sợ chết.

Gã cũng không cho rằng bản thân mình vĩ đại đến mức sẵn sàng giao phó tính mạng mình để gân cổ lên cãi với Văn Cung.

Thế nhưng, nếu có biến hãy còn có lệnh bài của Lý Huyền Thiên chống lưng, không lo nguy hiểm đến tính mạng, thành thử gã cũng yên tâm buông tay làm việc.

Nguyễn Đông Thanh chắp tay sau lưng, theo chân tên nhà Nho kia đi một lúc thì đến trước một cái cổng gỗ chạm khắc tinh tế, cao đến gần một trượng.

Không có bất cứ một tiếng động nhỏ nào truyền ra, khiến gã cảm thấy căn phòng trước mặt bỗng nhiên có mấy phần... âm trầm.

Lão nhà Nho hắng giọng, nói:

“Bẩm các vị viện trưởng, học trò đã mời được Bích Mặc tiên sinh đến gặp.”

Nguyễn Đông Thanh bĩu môi, song cũng không lên tiếng tranh hơn thua miệng lưỡi với lão ta.

Đây gọi là mời?

Trong phòng, chợt có tiếng hắng giọng ho khan, kế đến, một giọng nói khàn khàn ấm áp nhẹ nhàng cất lên bên tai Nguyễn Đông Thanh:

“Nếu đã đến rồi thì vào đi.”

Dứt lời... cửa mở.

Hương phấn son hòa lẫn mùi mực tàu phả vào mặt, ánh đèn hồng đỏ hắt ra ngoài, đầy vẻ hương diễm. Lão nhà Nho “hứ” một cái, nhìn về phía Nguyễn Đông Thanh bằng một ánh mắt thị uy, kế mới dẫn hắn vào phòng.

Chỉ thấy...

Phía sau cánh cửa gỗ, là một sảnh đường rộng rãi, trang trí cực kỳ xa hoa.

Nếu là một năm trước, có lẽ Bích Mặc tiên sinh đã bị giật mình đến á khẩu điếng người vì độ xa hoa của nơi này. Thế nhưng, Nguyễn Đông Thanh đã từng đi phân các Thiên Cơ Các, cũng đã từng vào hoàng cung Đại Việt. Hồng Hoa Lầu tuy cũng là chỗ bài trí xa xỉ, song cũng không khiến hắn chấn động được nữa.

Ở chủ vị giữa sảnh đường kê sáu cái ghế.

Hai bên tả hữu, mỗi bên cũng có sáu chiếc, tổng cộng là mười tám cái.

Trên mỗi chiếc ghế đều có một lão già an vị, trẻ thì cũng ngoài ngũ tuần, mà già thì trông có vẻ đã đầu bảy gần đầu tám đến nơi. Thế nhưng người nào người nấy đều da dẻ hồng hào sung mãn, đôi mắt sáng ngời có thần, hoàn toàn không có vẻ lọm khọm già nua tuổi xế chiều cả.

Phía sau mỗi lão già lại có mấy cô gái đứng hầu.

Nguyễn Đông Thanh thấy mấy người này trang điểm rất đậm, hoàn toàn không giống thiếu nữ bình thường. Lại thêm lối ăn mặc lả lướt, trang sức lòe loẹt, có người xiêm áo còn không chỉnh tề, hai má ửng hồng, đủ biết là trước khi gã đến đây trong này đã có hoạt động thể dục gì.

Có lẽ ánh mắt đầy trào phúng của gã đã bị mấy lão già kia phát hiện. Chỉ thấy lão già ngồi chính giữa tằng hắng một tiếng, nói:

“Lão phu Bao Thành Tổ, viện trưởng Thanh Hà thư viện ở Đại Tề. Mấy vị này là viện trưởng Bạch Lộ thư viện của Đại Sở, Tuyết Trai thư viện của Đại Hoàng, Kiêu Vân thư viện của đại Yến, Cổ Xuyên thư viện của đại Thục, còn có quán chủ Lam Ba thư quán của đại Hàn. Hai bên tả hữu là chư vị phó viện trưởng.”

Lão vừa giới thiệu, mấy người khác kẻ thì vuốt râu, người thì nâng chén trà, đều thi lễ một phen.

Nguyễn Đông Thanh cười nhạt, hỏi:

“Không biết các vị đại nhân vật Văn Cung đây áp giải một tên phu tử dân gian như tại hạ đến đây là có chuyện gì cần dạy bảo?”

“Cũng không có chuyện gì to tát. Văn Cung thấy ải Quan Lâm là chốn chưa được giáo hóa, là đất dã man, nên mấy người lão phu bàn nhau đến đây tổ chức một buổi văn hội, cổ vũ phong trào hiếu học đọc sách thánh hiền. Lại biết tiên sinh là phu tử ở đây dạy trẻ đọc chữ, thiết nghĩ cũng là người trong Nho đạo, nên mới mời đến gặp một phen, sẵn tiện nói chuyện văn hội. Không biết ý tiên sinh thế nào?”

Nguyễn Đông Thanh nhún vai:

“Viện trưởng, Đông Thanh là một kẻ sơn dã, Văn Cung nếu muốn tổ chức văn hội thì cứ việc, hỏi ý kiến tại hạ làm gì?”

“Lời không thể nói như vậy. Dù sao phép vua thua lệ làng. Hà huống, chẳng nhẽ tiên sinh không biết mình thực ra là một cao nhân tuyệt thế hay sao?”

Bao Thành Tổ nheo mắt, hỏi.

oOo

Sau khi viện trưởng Thanh Hà thư viện lên tiếng, không khí trong sảnh đường nháy mắt trở nên căng thẳng và nặng nề khác lạ. Mười mấy lão già cơ hồ nín thở, thấp thỏm quan sát Nguyễn Đông Thanh, chỉ sợ để lọt mất bất cứ một phản ứng nào của gã dù chỉ là nhỏ nhất.

Lần này, các đại thư viện không tiếc hưng sư động chúng đến ải Quan Lâm, thậm chí thí cả con cờ Tế Tửu Lâm Thanh Tùng, âu cũng là tuân lệnh Đế Mộ đến thăm dò Nguyễn Đông Thanh. Mà một trong những giả thiết các thế lực lớn ở Huyền Hoàng giới đưa ra chính là: Bích Mặc tiên sinh kỳ thực là chí cường giả hóa phàm, tâm cảnh không thể bị điểm phá. Mà đại đa số cao tầng Văn Cung cũng ngả về giả thuyết này hơn.

Thành thử...

Bao Thành Tổ mới dung túng một tên học trò dùng vũ lực bắt Bích Mặc tiên sinh tới Hồng Hoa Lầu, lại cố tình dùng một câu hỏi điểm phá “thân phận cường giả” của người này.

Thế nhưng, Nguyễn Đông Thanh nghe lão nói xong, mặt chỉ nghệt ra như ngỗng ỉa.

Sau đó lắc đầu, cười khẩy:

“Viện trưởng hoặc là nhầm tại hạ với ai khác, hoặc là trông gà hóa cuốc rồi. Đông Thanh chỉ là một tên người trần mắt thịt mà thôi, nào có phải cường giả tuyệt thế gì cho cam?”

“Ngài... chẳng nhẽ không biết nơi mình ở là cấm địa đệ nhất ở Huyền Hoàng giới?”

Bao Thành Tổ thấy người trước mặt bị mình “điểm phá tâm cảnh” mà mặt mũi tỉnh rụi như sáo, chả có vẻ gì khác lạ, không khỏi cảm thấy... quái lạ.

Nguyễn Đông Thanh nhíu mày, nói:

“Lão tiên sinh, ngài đọc tiểu thuyết truyền kỳ quá nhiều rồi. Nơi tại hạ ở chỉ là cái viện cũ, mấy gian nhà tranh, có con chuột con gián cũng chẳng làm gì nổi, nữa là người tu hành. Còn cấm địa?”

Mấy tên viện trưởng, phó viện trưởng khác nghe thấy gã nói như vậy, thì không khỏi truyền âm bàn tán xôn xao:

“Chẳng nhẽ hắn là người phàm thật?”

“Không thể nào. Có lẽ là sinh linh trong bí cảnh.”

“Không không. Lão phu cho là tâm cảnh của kẻ này sớm đã trở nên vững như thái sơn, khó mà dùng một lời điểm phá được.”

...

Mấy người bàn tán quên cả trời đất, cũng quên béng luôn Nguyễn Đông Thanh đang đứng trong phòng.

Trong mắt Bích Mặc tiên sinh, mấy lão già này nghe hắn giải thích xong thì bỗng nhiên ngồi thừ ra, ngoại trừ ánh mắt thì chẳng hề có phản ứng. Nếu không phải biết những người này là tu hành giả, có lẽ Nguyễn Đông Thanh đã cho rằng mấy vị viện trưởng này bỗng nhiên lại phát tác triệu chứng của bệnh trì độn tuổi già.

Nghe Bích Mặc tiên sinh ho khan một tiếng nhắc nhở, Bao Thành Tổ rốt cuộc cũng lấy lại tinh thần. Bỗng nhiên, mắt lão quắc lên, sắc mặt lạnh đi, nói:

“Nếu ngươi đã là kẻ phàm phu tục tử thì lão phu cũng không khách khí nữa. Lần văn hội này, lão phu và chư vị viện trưởng phải kiểm tra xem nhà ngươi có tài đức gì, xứng đáng được là, phu tử ở ải Quan Lâm hay không. Nếu không thông qua được, đừng trách lão phu nghiêm trị nhà ngươi.”

“Nghiêm trị? Ta trước là nhận lệnh Vũ tướng quân mới làm phu tử, chẳng liên can gì tới Văn Cung. Sau lại không phải học trò của ngài. Không biết viện trưởng ngài định phán ta tội gì?”

Nguyễn Đông Thanh thấy thái độ của đối phương nháy mắt đã xoay chuyển một trăm tám chục độ, cười khẩy.

“Vô học bất thuật, hủy hoại hình ảnh Nho đạo, chẳng nhẽ không phải tội?”

Bao Thành Tổ sẵng giọng.

Nguyễn Đông Thanh lắc đầu:

“Các vị viện trưởng viện phó từ xa tới đã đảo khách thành chủ, xa xỉ hoang dâm, cũng đúng đạo thánh hiền lắm. Thôi cũng được. Nếu các ngài đã nhất quyết muốn gây sự, vậy Đông Thanh phụng bồi đến cùng. Thế nhưng người thách đấu là các vị, vậy đề mục sẽ do tại hạ chọn, không vấn đề gì chứ?”

“Đương nhiên...”

“Vậy thì ba ngày sau, ở Quan Lân này, tại hạ không ngại đến biện luận với chư vị một phen. Hiện tại cáo từ.”

Nguyễn Đông Thanh cười nhạt, phủi áo quay lưng.

Mấy người Bao Thành Tổ cũng không ngăn bước chân gã, mặc cho y rời khỏi Hồng Hoa Lầu.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 112: Hàng Xóm: Huyền Thanh Phu Nhân


Nguyễn Đông Thanh đi khỏi Hồng Hoa Lầu, sau đó lập tức rời khỏi Quan Lâm.

Tuy hắn cảm thấy Văn Cung quả thực chẳng phải người tốt lành gì, nhưng cũng không vì thế mà coi thường đối phương. Dù sao, thế lực được toàn bộ Nho sinh phu tử ở Huyền Hoàng giới tôn sùng kính nể há lại có thể đơn giản?

EQ của Nguyễn Đông Thanh có thể thấp, nhưng ít nhất IQ của hắn thì đủ dùng. Không dám gọi là thông minh, song cũng không phải cái hạng mắt cao hơn đầu, tự cho là khôn hơn thiên hạ.

Mà Nho sinh giỏi nhất là gì? Chẳng phải là công phu uốn lưỡi há miệng hay sao?

Lần biện luận này ắt hẳn sẽ là một trận khổ chiến.

Thế nên, Nguyễn Đông Thanh không dám lãng phí thời gian, phăm phăm đi về Lão Thụ cổ viện. Hắn dự tính ba ngày tới đây sẽ nhờ Hồng Vân lấy cho một ít sách vở, tuyển tập thơ các loại, ôn tập cẩn thận một phen.

Cùng lắm thì hôm đó mang phao.

Lúc này, Nguyễn Đông Thanh quả thực ao ước mình có thể có được trí nhớ từ điển của mấy người xuyên không khác. Thế nhưng... đáng tiếc, hắn chỉ là một người thường thích thơ cổ mà thôi.

Vài ba chục bài thì còn nhớ, nhiều hơn hắn chỉ thuộc mang máng câu nhớ câu quên, thậm chí có những bài hắn chỉ nhớ được một hai câu.

Tỉ như bài Cảm Hoài của Đặng Dung, Nguyễn Đông Thanh dù rất thích song cũng chỉ còn nhớ mỗi hai câu khiến hắn ấn tượng mãi:

“Trí chúa hữu hoài phù địa trục.

Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.”

(Dịch nghĩa:

Muốn giúp chúa công, ôm hoài bão xoay chuyển trục đất.

Mong rửa sạch binh giáp, lại chẳng có lối mà kéo thiên hà xuống.

Thiên hà ở đây là mượn ý thơ Đỗ Phủ, nguyên văn rằng:

Điển tích từ hai câu thơ của Đỗ Phủ trong bài Tẩy binh mã: “An đắc tráng sĩ vãn thiên hà, Tịnh tẩy giáp binh trường bất dụng”. Nghĩa là: “Ước gì có được người tráng sĩ kéo sông Ngân Hà, Rửa sạch giáp binh để mãi mãi không dùng đến nữa,”)

Lần này không có người giúp hắn cưỡi mây, lại không có xe bò, nên Nguyễn Đông Thanh chỉ có nước lội bộ. Đã lâu rồi không phải tự cuốc bộ, thế nên Bích Mặc tiên sinh của chúng ta cũng cảm thấy có phần khó khăn, bước chậm hơn bình thường.

Đi cỡ một khắc, bỗng Nguyễn Đông Thanh dừng lại, nghi hoặc nhìn bên vệ đường.

Chỗ này theo hắn nhớ thì từng là một quãng đồng bỏ hoang.

Thế nhưng hiện tại, nơi đã đã trở thành đầm nước rộng miên man, giữa hồ có một cái gò, chim đậu đầy trên các tán cây, dường như bên mép nước còn có một gian nhà gỗ xây theo lối thủy tạ, bên cầu ao neo một chiếc bè trúc con con.

“Chỗ này có cái hồ từ bao giờ?”

Nguyễn Đông Thanh dừng chân bên vệ đường, vê cằm tự hỏi.

Bấy giờ, chợt có hai người từ trên cầu ao bước xuống, chống sào đẩy bè trúc về phía gã. Nguyễn Đông Thanh thấy hai người nọ đều là đàn bà con gái, người trẻ thì cầm sào, người lớn tuổi hơn bưng một cái tráp.

Bè trúc cập bến, mới thấy rõ là một vị phu nhân trông cũng chạc tuổi gã, có lẽ hơn một vài tuổi, đằng sau là một cô gái không lớn hơn đám Thanh Vân bao nhiêu. Phu nhân mặc áo lông, thiếu nữ thì dắt một sợi lông chim trên tóc, phục sức khác lạ, không có vẻ gì là người ở Quan Lâm.

“Chào tiên sinh, dám hỏi ngài sống ở tòa trang viện trên núi kia có phải không?”

Trong lúc Nguyễn Đông Thanh còn đang tự hỏi không biết mình đang gặp ma hay gặp người, thì vị phu nhân bưng tráp đã lên tiếng.

Gã gật đầu, lại đáp:

“Đúng vậy. Không biết phu nhân là?”

“Phu nhân thì không dám. Dân nữ tên là Huyền Thanh, con bé này là thị nữ theo hầu Thiêm nhi. Hai ta đến đây thấy cảnh sắc yên tĩnh, lại là chốn bỏ hoang, bèn dời hồ đến ẩn cư. Sau này là hàng xóm láng giềng với nhau, mong được tiên sinh chiếu cố.”

Người phu nhân tự xưng là Huyền Thanh vừa nói, vừa cúi đầu, lại bưng tráp dâng lên cho gã.

Nguyễn Đông Thanh nghe cái câu “dời hồ” mà nhớ đến câu chuyện về anh thầy đồ họ Long, không nhận lễ, chỉ cười:

“Không dám, tại hạ còn có chút việc xin phép về trước. Hôm nào gặp dịp, tự nhiên sẽ ghé thăm quý phủ.”

Tuy trong bụng nghĩ là có lệnh bài của Võ Hoàng bảo vệ, không sợ nguy hiểm tính mạng, song Nguyễn Đông Thanh cũng sẽ không vì thế mà cả ngày ngông nghênh ngoài đường. Tự bảo vệ bản thân thì được, chủ động gây chuyện tìm phiền phức cho Lý Huyền Thiên thì hắn không làm được. Cho dù Võ Hoàng có là phụ huynh học sinh đi nữa, thì Nguyễn Đông Thanh cũng không muốn lợi dụng lòng tốt của y.

Thành thử, nếu tránh được chuyện, Bích Mặc tiên sinh vẫn sẽ làm.

Gã hứa một câu, sau đó không dám ở lại lâu bên hồ nước nữa, ba chân bốn cẳng phi về Lão Thụ cổ viện.

Nữ hầu Thiêm nhi nhìn cái dáng vẻ chân thấp chân cao, hớt hơ hớt hải của Nguyễn Đông Thanh thì phì cười một tiếng, nói:

“Nương nương, ngài khẳng định cái vị nửa ngố nửa tỉnh này chính là người mà ngài đang chờ?”

“Không dám chắc, thế nhưng cũng không phải không có khả năng. Chỉ biết, người này rất thú vị.”

Huyền Thanh nương nương lắc đầu, đoạn phất tay ra hiệu cho Thiêm nhi dẹp đường hồi phủ.

oOo

Nguyễn Đông Thanh về đến cổ viện, tạt sang căn phòng phía tây một lát, sau đó bắt đầu cắm đầu trong phòng đọc sách, trừ lúc vệ sinh cá nhân và tắm rửa giặt giũ ra thì chẳng hề ra khỏi phòng nửa bước. Nếu không phải ở Lão Thụ cổ viện còn có Trương Mặc Sênh lo chuyện áo cơm giúp cho, thì chắc mấy ngày sau Bích Mặc tiên sinh của chúng ta sẽ ứng chiến bằng cái dáng vẻ người không ra người, ngợm chẳng ra ngợm.

Gã còn nhớ mang máng thế kỷ trước rộ lên phong trào Duy Tân, Tây Hóa, bài Nho rất gay gắt. Thế nhưng trước là Huyền Hoàng giới chưa biết có “phương tây” tồn tại hay không, sau lại cũng chưa hẳn đã đến cái thời thực dân đế quốc, thành thử phần nhiều những bài viết luận văn đều không mấy phù hợp.

Lôi ra dùng, hoặc là bị phán là nói lời vô căn cứ.

Hoặc là bị người ta thẹn quá hóa giận, đánh chết tại chỗ.

Dù sao, mấy ông tri thức thời pháp thuộc nửa phong kiến đánh pháo mồm cũng có thua ai đâu?

Câu nào câu nấy đều có độc, đả kích sâu cay chẳng thua gì đao kiếm thật.

Thành thử, Nguyễn Đông Thanh phải tốn không biết bao nhiêu công sức tra cứu sàng lọc, mới chọn được tư liệu để mà mang ra đối phó với Văn Cung.

Thời gian như thoi đưa, rốt cuộc ngày ứng chiến cũng đã đến.

Bích Mặc tiên sinh đẩy cửa phòng, lúc này tóc tai hắn bù xù rối tung, mắt cũng thâm quầng vì thiếu ngủ. Thế nhưng, Nguyễn Đông Thanh bước đi đĩnh đạc tự tin, khóe miệng còn có nụ cười bình thản, giống như đã nắm chắc sáu bảy thành chiến thắng.

Lần này xuất trận, có thể nói là đầy đủ đạn dược.

Không dám nói chắc thắng, song có lẽ có thể bất bại.

Nguyễn Đông Thanh hít sâu một hơi, lại gọi cả Hồng Đô đi cùng, lúc này mới đến chuồng cởi dây cho con bò già, đánh xe thẳng tiến về ải Quan Lâm.

Lúc này...

Khung cảnh trước cổng thành Quan Lâm chỉ có thể nói là “cờ giong trống mở”. Một đám đông đếm sơ sơ cũng hơn trăm đầu người chẳng biết từ lúc nào đã tụ tập ngay trước cổng, người nào người nấy tay cầm cờ hiệu, đầu chít khăn, bên trên ghi rõ một một bốn chữ “Đông Thanh quyết thắng”.

Phần lớn những người này đều là người phàm mắt thịt, chẳng có bao nhiêu người là kẻ tu hành. Thế nhưng, mặc dù bọn họ huyên náo tụ tập như thế thì thành vệ quân cũng chẳng thèm quản, thậm chí có vài ba người còn gia nhập vào đám đông, một hai nói là muốn thay cho anh em trong quân theo trợ uy cho tiên sinh.

Lão Hùng cười vang, vỗ vai Nguyễn Đông Thanh, nói:

“Đông Thanh! Bác đây nghe rồi. Mày phải thắng đấy. Ở cái thành này ngoài mày ra lão già đây chả yên tâm giao con cháu cho ai khác dạy đâu.”

“Đúng thế. Đúng thế. Chú Thanh mà không thắng, thì chị đây liều mạng với mấy tên thầy đồ mới đến này đấy.”

Người vừa lên tiếng là chị hàng quà vặt.

Rồi lại lục tục có chị hàng gà, cô hàng thịt, bà hàng nước, Trần Dũng, Nguyên Phương lên chúc Nguyễn Đông Thanh đại thắng trở về. Thậm chí, người đã rất lâu không trườn mặt ra như hai cha con Mộc Thanh Hiên, các chủ Phong Thanh các Phạm Thừa Phong cũng xuất hiện.

Kể từ sau buổi phát chẩn, cả Tế Thế Đường, Phong Thanh Các và Nhất Phẩm Cư đều thu liễm nhiều, lần hộ thành lần trước ba nhà Mộc, Lý, Phạm cũng quyên góp một số tiền không nhỏ, lại phái hơn trăm nam đinh gia nhập quân thủ thành, có thể nói là thái độ khác hẳn trước đây.

Không khỏi khiến người ta cảm thấy là lạ.

Mộc Thanh Hiên – đường chủ Tế Thế đường – bước lên cung tay, nói:

“Lão hủ ít chữ, không hiểu cái chuyện tranh biện của Nho gia này. Thế nhưng cũng xin được chúc tiên sinh trận này mã đáo thành công.”

“Phải. Phải. Lão hủ cũng hi vọng tiên sinh đi chuyến này vạn sự như ý, công thành danh toại.”

Phạm Thừa Phong thấy lão đối thủ của mình mượn thời cơ chúc mừng, nịnh nọt, thì cũng vội vàng lên tiếng hưởng ứng một phen. Trước đó, lúc Nguyễn Đông Thanh đứng lên đọc thơ đôi câu đối trước đám nạn dân mà chẳng thấy xi nhê gì, lão cũng cảm thấy nghi ngờ trước thực lực của vị “tiên sinh” này liệu có bị thổi phồng quá đáng.

Sau đó...

Đại nhân ở Thiên Cơ phân các truyền tin xuống, nói lão phải hết sức đề phòng vị ở cổ viện, tuyệt không thể làm y phật ý. Hơn nữa, một khi có tin tức gì về Nguyễn Đông Thanh thì đều phải dùng ngọc giản truyền về tổng bộ càng sớm càng tốt, ưu tiên giáp đẳng – cao nhất của Thiên Cơ các.

Thành thử, Phạm Thừa Phong cũng tò mò, dùng Võ Bảng ngọc tìm thử tên của Nguyễn Đông Thanh.

Về sau đương nhiên là bị dọa cho mém thì ướt quần.

Nghe các chủ đời trước nói, Thiên Cơ các truyền thừa đến nay đã có vạn năm, Võ Bảng cũng đã tồn tại ở Huyền Hoàng giới này sáu bảy ngàn năm gì đó. Thế nhưng, chưa bao giờ Thiên Cơ các lại cho một người chưa đủ thông tin đánh giá lên bảng cả.

Nguyễn Đông Thanh là người duy nhất khiến Thiên Cơ các phải phá lệ.

Đủ thấy vị Bích Mặc tiên sinh này tuyệt nhiên không hề đơn giản.

Lại thêm những chuyện nghe được từ phân các kinh thành, nhất là kết cục của Tế Tửu Lâm Thanh Tùng lại càng khiến lão sợ hãi hơn. Thế nên, vừa biết được hôm nay Nguyễn Đông Thanh sẽ vào thành biện luận với Văn Cung, khẩu chiến quần Nho, lão vội vội vàng vàng đến đây trợ uy, hi vọng Bích Mặc tiên sinh có thể có ấn tượng tốt tốt một chút về lão.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 113: Bích Mặc Tiên Sinh Khẩu Chiến Quần Nho


[Cảnh báo: Chương này thoại rất dài.]

Xin các trang bưng truyện về đấy, đừng cầm đèn chạy trước ô tô! Thanh nó là người phàm 100%, văn án ghi rõ ràng rồi, ôm truyện về thì cũng đừng chém gió ra cái văn án chả lan quyên gì với nội dung truyện được không? Chương đã mang về thiếu rồi, giờ văn án còn sai nữa thì thà từ đầu không mang về còn hơn, chứ ai làm ăn thế?

Chào tạm biệt đội cổ vũ ở cổng thành, Nguyễn Đông Thanh được thành vệ quân dẫn đến địa điểm thi đấu: Nhã Văn tiểu uyển. Đây là một khu vườn nhỏ nằm cạnh một quả đồi, cách phủ thành chủ đâu đó nửa dặm đường. Tuy nằm trong ải Quan Lâm nhưng chỗ này nhìn hồ, tựa núi, hai bên rừng cây um tùm, thanh nhã mười phần.

Gã từng đến nhà lão Hùng cùng lão bắt ếch ở hồ sen, nghe lão kể rằng khu vườn nhỏ kia vốn là chỗ do vua Nhân Tông xây dựng, thành thử chẳng ai được vào ở, xưa giờ vẫn để trống. Cứ dăm bữa nửa tháng phủ thành chủ lại cử một người đến lau dọn chăm sóc, ngót nghét đâu đã hai trăm năm.

Lần biện luận này đương nhiên cũng không tổ chức ở vườn nhỏ, mà là ở một ngôi đình xây giữa hồ sen, trên một cái gò đất độ ba trượng. Lúc Nguyễn Đông Thanh đến nơi thì trên gò đã lố nhố đầy người, kẻ nào kẻ nấy đều ăn mặc theo lối thầy đồ học sinh.

Gã bèn nhờ một người làm nghề vớt bèo gần đó dùng thuyền thúng chở ra giữa hồ một chuyến.

Vừa đặt chân lên gò đất, Nguyễn Đông Thanh đã trở thành đích nhắm của hàng chục ánh mắt bất thiện, khiến gã cảm thấy giống như lọt vào ổ mai phục của quân địch, lúc này chĩa vào người gã chẳng phải ánh mắt con người mà là vô vàn họng súng chỉ chực chờ nhả đạn.

“Đến rồi sao?”

Bao Thành Tổ lên tiếng, đoạn phất tay, để đám học trò hai bên nhường ra một con đường cho Nguyễn Đông Thanh. Gã chậm rãi bước đến, ngẩng lên nhìn, thì thấy đình đề ba chữ Tao Đàn Đình. Hai bên cột chính có đề câu đối, thế nhưng những chữ này viết theo lối cổ văn rất rối rắm, kẻ chưa thạo chữ như Nguyễn Đông Thanh chẳng đọc được tí gì.

Gã bình thản ngồi xuống ghế đá, hít thở thật sâu, để bản thân thật bình tĩnh lại.

Hiện thời, Bích Mặc tiên sinh của chúng ta bất giác nhớ lại cái thời bảo vệ luận án, với thi đại học. Cái cảm giác căng thẳng thấp thỏm lo âu lúc này quả thực cũng y hệt hồi ấy. Hiển nhiên, hắn cướp lấy thế chủ động tự mình ngồi xuống trước đã bị cả đám Nho sinh bên ngoài kêu gào chửi mắng một phen là phi lễ, không biết tôn ti thứ bậc. Đối với những lời này, Nguyễn Đông Thanh bỏ ngoài tai, coi như là tiếng ruồi muỗi.

Bao Thành Tổ và năm tên viện trưởng khác cũng vào trong đình. Lão kéo ghế ngồi xuống trước, không vội bắt đầu tranh biện mà hỏi:

“Không biết nhà ngươi có biết tại sao Văn Cung lại chọn chỗ này hay chăng?”

“Ồ? Nói như vậy thì các người chọn chiến địa còn có nguyên do sâu xa?”

“Đó là đương nhiên. Nho gia chúng ta vốn là chốn cao nhã, hành xử sao có thể thô lỗ thiển cận như cái bọn võ giả mãng phu kia được? Chốn này gọi là Tao Đàn Đình, cùng với Lệ Chi Tiểu Uyển phía xa chính là xây vào thời Nhân Tông.”

Lão ngừng một chốc, giống như đang thưởng thức, lại giống như hoài niệm.

Nguyễn Đông Thanh cũng không chen ngang, cẩn thận lắng nghe. Hắn biết lấy cá tính hay dùng ngôn ngữ bẫy người khác của Nho gia, kể từ khi mấy tên viện trưởng bước chân vào Tao Đàn đình thì buổi biện luận cũng đã bắt đầu rồi. Hiện tại, Bao Thành Tổ nhìn như đang kể chuyện xưa, nói không chừng chính đang giao đề bài, chỉ chờ hắn mất cảnh giác một cái là hỏi khó.

Bao Thành Tổ lại tiếp:

“Đại Việt trước đây phân làm ba thời kỳ: Thái Tổ đồ long, Thánh Tông an quốc, Nhân Tông bình thiên hạ. Thái Tổ Lê Đồ Thành giết tộc Bạo Long, chiếm lấy vùng đất phía nam Trúc Hải. Về sau Thánh Tông Lê Hạo Thanh bình định sơn man, lập ra Đồ Ma Vệ tiễu trừ ma quỷ. Thế nhưng hai thời này Đại Việt đều là đất man di chưa được khai hóa, văn hiến chưa thông, quả thực chỉ được cái dũng của kẻ thất phu, cũng chỉ có đám dân đen mông muội là thích.”

Nguyễn Đông Thanh càng nghe lão ta nói càng thấy ngứa lỗ tai.

Hắn đến từ địa cầu hiện đại, đã sớm qua cái thời Nho giáo độc tôn, cái quan điểm ngông cuồng “vạn ban giai hạ phẩm, duy hữu độc thư cao” đã sớm không còn đúng nữa.

Nhất là cái thái độ chỉ Nho sinh cao sang, ăn nói đều cho rằng mình hơn người ta nửa cái đầu của thằng cha viện trưởng này lại càng làm Bích Mặc tiên sinh thấy ngứa mắt.

Bấy giờ, Bao Thành Tổ nhìn Nguyễn Đông Thanh một cái, hỏi:

“Tiên sinh thấy thế nào?”

Bích Mặc tiên sinh của chúng ta hít sâu một hơi, kìm nén lửa giận không cho bộc phát. Hắn rất muốn chửi xối máu đầu kẻ đứng trước, thế nhưng lần này đến đây biện luận, nói trắng ra là một hồi chiến tranh bằng miệng lưỡi ngôn từ.

Nếu như hắn nói lời nóng giận, mắng chửi kẻ khác, e là trúng kế của đối phương.

Thế là, Nguyễn Đông Thanh cười lạnh, hỏi:

“Lão tiên sinh, ta nể mặt lão chui ra khỏi cái lỗ nẻ sớm hơn ta, gọi tạm lão một tiếng lão tiên sinh. Thực muốn nghe lời ta nói?”

“Cứ việc. Lão phu cũng muốn xem xem một tên phu tử sơn dã nhà ngươi lại có tài cán gì.”

Bao Thành Tổ nói, mặt lạnh như tiền.

Nguyễn Đông Thanh hít sâu một hơi, nói:

“Được thôi. Tại hạ cho rằng xưa và nay đổi khác, mỗi đời một vẻ, ưu khuyết khác nhau. Thời Thái Tổ chuộng tính trung thực, thời Thánh Tông ưa sự chất phác, mà đến thời Nhân Tông phong tục đã mở, văn hóa rực rỡ, nên chuộng văn vẻ. Cái hỏng của sự trung thực là mắc tính quê kệch, chất phác thì hay mắc tính ngu xuẩn. Cái hỏng của cái văn vẻ là hay mắc tính xảo trá, điều ưa chuộng khác nhau đều không tránh được cái hỏng.”

Hắn ngừng lại một chốc, thầm xin lỗi vì đã đạo “Đình thì đối sách” của cụ Phan Đình Phùng một trăm tám chục lần, rồi mới nói tiếp:

“Thế nên lão tiên sinh ngài chỉ thấy một mà không biết hai, chỉ biết cho rằng Nho giáo hoàn mỹ vô khuyết mà chẳng hay đạo trời vốn vô thập toàn, chỉ có thể gọi là ‘thầy bói xem voi’, thế mà vẫn dám dạy người phải trái? Nếu không nói ngài là ngu xuẩn thì thực trái lương tâm, mà nói lời giả gian cho hợp tai ngài thì lỗi đạo thánh hiền. Dám hỏi tiên sinh ngài chọn lời ngay thẳng hay việc bùi tai, để tại hạ biết mà lo liệu?”

“Hừ! Nho gia ta giáo hóa vạn dân, giúp kẻ mông muội hiểu đạo thánh hiền, biết lẽ quân tử mà hành sự, sao lại không tốt?”

Người vừa lên tiếng thay Bao Thành Tổ bấy giờ hãy còn điếng cả người là viện trưởng Bạch Lộ thư viện.

Nguyễn Đông Thanh cười:

“Có sao? Vậy tiên sinh thử kể cho tại hạ nghe xem bao nhiêu Nho sinh thì được một kẻ thành đạt công danh. Bao nhiêu kẻ có mũ ô sa trên đầu lại không thành ô lại?

“Tại hạ kiến thức thiển cận, chỉ thấy Nho gia các ngài dạy ra cả một hạng người ăn trên ngồi chốc, ăn bám thiên hạ, thế nhưng lại cứ cho rằng ta đây kẻ cả hơn người, rằng ‘vạn ban giai hạ phẩm, duy hữu độc thư cao’, nào biết đâu ‘ai ơi chớ lấy học trò, dài lưng tốn vải ăn no lại nằm’? Thế nhưng vì sao người thiên hạ lại ngậm đắng nuốt cay chịu đeo gông trên cổ như thế?”

“Đó còn không phải vì trăm họ biết Nho gia là lời của thánh hiền, lấy việc học tập theo tiên hiền vãng thánh làm vinh?”

Lần này người lên tiếng là viện trưởng Tuyết Trai thư viện.

Nguyễn Đông Thanh lắc đầu:

“Dát vàng lên mặt. Bọn họ chịu đeo gông trên cổ, chẳng phải do chính Nho giáo các người đem người ta phân ra làm năm bảy loại, cao thượng ti tiện khác biệt hay sao? Lại khiến kẻ khác không cách tiến thân, chỉ có đọc sách khoa cử, hoặc theo nghiệp kiếm cung mới có thể tiến thân lập nghiệp? Hành động hạ độc rồi bán thuốc vô sỉ đến thế, tại hạ tự hổ thẹn da mặt quá mỏng, lại quá xem trọng tự tôn, không buôn bán môn này cùng các vị nổi.”

Lần này đến phiên tay viện trưởng Tuyết Trai thư viện cũng im bề lặng tiếng.

Nguyễn Đông Thanh càng nói càng sướng miệng, bấy giờ đang bon mồm, bèn bồi thêm một nhát:

“Lại nói đến việc trị quốc, ngoại trừ mấy câu đạo lí sáo rỗng, Nho đạo các người còn dạy cái gì? Nào thi từ, nào ca phú, dùng câu từ bút mực vào nội chính phỏng có ích chi? Đạo dùng người, trị người, kinh thương lưu chuyển nếu không phải thiên phú tự tinh thông, thì cũng phải tự mà chiêm nghiệm.

“Ấy vậy mà đến lúc có một năng thần xuất hiện, các ngài lại vỗ ngực xưng tên, bảo rằng Nho giáo ta đấy, ta dạy ra đấy. Há không phải vô liêm sỉ lắm ư? Chẳng phải mua danh chuộc tiếng đấy ư? Tại hạ là một phu tử thôn quê, không hiểu lẽ uốn lưỡi trăm đường, biện minh muôn trạng, xin các vị rảnh tay mà thị phạm cho biết.”

“Chuyện này...”

Đến lúc này, bên ngoài đình Tao Đàn, cánh Nho sinh cũng không còn một ai la ó nữa.

Bấy giờ, quán chủ Lam Ba thư quán lại lên tiếng:

“Nho đạo ta vạch ra luân thường đạo đức, để vạn dân lấy đó mà noi theo, sao có thể như ngươi nói là vô sỉ bỉ ổi, dát vàng lên mặt. Nếu ngươi còn yêu ngôn hoặc chúng thì đừng trách bản quán chủ ra tay trừ ma vệ đạo!”

Nguyễn Đông Thanh cười lạnh, nói:

“Không nói lại thì lấy nắm đấm đe dọa phải không? Sao không nói sớm. Vậy đi. Chỉ cần Văn Cung chiếu cáo thiên hạ rằng tôn chỉ của các người là nắm tay ai to thì người đó đúng, tại hạ sẽ dập đầu chịu thua. Sao, dám không?”

Lam Ba quán chủ vốn định vặc lại, nhưng Bao Thành Tổ đã quắc mắt lườm hắn một cái, lại truyền âm:

“Đồ ngu! Mau im mồm! Nhà ngươi muốn chết hay sao?”

Bao Thành Tổ nhìn tên quán chủ một cái, chỉ hận vẽ hổ không thành, vẽ ra con chó.

Tuy rằng xưa nay Huyền Hoàng giới vẫn là thế giới cường giả vi tôn, nói chuyện bằng thực lực. Thế nhưng mặt nổi vẫn phải giữ một vỏ bọc công bằng công chính...

Hay như lời Đế Tôn nói:

“Có kẻ vô ác bất tác, có người tắm máu đến đòi công đạo.”

Nếu Văn Cung dám cả gan xuyên phá vỏ bọc mỹ lệ này, Đế Mộ tất nhiên sẽ không bỏ qua.

Mà đối đầu với Đế Mộ...

Bao Thành Tổ không dám tưởng tượng.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 114: Tỉnh Quốc Dân Phú


Bao Thành Tổ nào dám để Nguyễn Đông Thanh nói tiếp.

Không phải bọn hắn không muốn phản bác, vì Nho đạo chứng danh, mà là bởi vì vị “Bích Mặc tiên sinh” này nói cơ hồ không sai một chữ.

Song, nếu chỉ là nhiêu đó thì còn không khiến lão và mấy vị viện trưởng khác ngậm miệng. Dù sao, bọn họ đều là Nho đạo cường giả, bình thường lấy miệng lưỡi giết người không thiếu.

Một kẻ vô tội bọn họ còn nói cho thành kẻ vô ác bất tác, tà ma ngoại đạo muôn người phỉ nhổ cũng còn là phạt nhẹ được, đổi trắng thay đen một chút thì có là gì?

Sở dĩ im lặng, là vì không ai mà không cảm thấy... áp lực.

Đương nhiên, Lam Ba thư quán quán chủ xem như một ngoại lệ.

Cái kiểu nói chuyện của Bích Mặc tiên sinh quả thực giống như tận mắt thấy Nho đạo sinh ra, phân hóa đến thời bách hoa tề phóng, bách gia tranh minh, dần dần đạt tới cực thịnh, lại chậm rãi suy tàn. Đại đạo thịnh suy, nhất là một đạo lớn như Nho đạo, vốn là chuyện không phải mấy vạn mấy chục vạn năm thì tuyệt đối không thể nào làm được.

Hơn nữa, cho dù có nhìn thấu, thì cũng phải thủ khẩu như bình, không thể tiết lộ nửa điểm thiên cơ. Bằng không ắt phải chịu phản phệ, cho dù là Đạo Tổ đệ thập cảnh cũng phải hình thần câu diệt.

Thế mà Bích Mặc tiên sinh có thể nói thản nhiên như không.

Bao Thành Tổ tự hỏi không hiểu rốt cuộc mình đụng phải cái loại quái vật gì đây. Hắn bỗng dưng từ trên trời rơi xuống, từ dưới đất chui lên xuất hiện ở Huyền Hoàng giới này là có mục đích gì.

Lão không biết.

Lại càng không dám hỏi nhiều.

Thế là, Bao Thành Tổ vội vàng hắng giọng một tiếng, nói sang chuyện khác:

“Biện luận hôm nay chỉ đến đây thôi, về lời của tiên sinh bọn ta sẽ suy ngẫm. Thế nhưng xưa nay Nho đạo tranh tài, ngoại trừ lý lẽ miệng lưỡi thì không thể không có so đấu tài hoa. Thế nên hôm nay lục đại thư viện chúng ta cũng muốn tỉ thí một phen với tiên sinh.”

Lúc nói chuyện lão đã đổi xưng hô từ “ngươi” sang thành “tiên sinh”, lại lấy danh nghĩa “lục đại thư viện” chứ không còn là “Văn Cung” nữa.

Loại chiêu trò đổi câu thay chữ này đương nhiên không qua được mắt Nguyễn Đông Thanh. Hắn không hiểu tại sao Bao Thành Tổ lại phải làm thế, nhưng cũng không buồn thắc mắc gì nhiều.

Lúc này, gã chỉ muốn đuổi đám người Nho môn này đi khỏi đây là được.

Quán chủ Lam Ba thư quán xoa hai bàn tay vào nhau, cười hềnh hệch:

“Hay lắm hay lắm, để bản quán chủ xem xem nhà ngươi rốt cuộc tài hoa đến đâu mà chê bôi Nho đạo chúng ta là không biết dạy dỗ kẻ khác.”

Nguyễn Đông Thanh hắng giọng, nhíu mày:

“Thi như thế nào?”

Bao Thành Tổ nói:

“Cũng giống như khoa cử vậy. Dưới Nho đạo chứng giám, tiên thánh cộng quan, hai phe chúng ta nội trong bảy bước chân thi làm thơ viết phú. Lấy dị tượng của đại đạo mà luận thắng bại.”

Nguyễn Đông Thanh cười khẩy:

“Chẳng nhẽ mấy lão già các ngươi không biết ta chỉ là kẻ người phàm mắt thịt? Năm trước phát chẩn ở ngoài thành, đứng trước bàn dân đọc đôi câu đối, nhưng chim cũng không thèm đánh một phát rắm, nữa là Nho môn đại đạo. Cho dù tài hoa ta có cao cách mấy thì chẳng phải cũng sớm đã thua rồi sao?”

“Đương nhiên không phải. Vãng thánh nghe văn, cho dù không có chân khí bàng thân, cũng ắt sẽ có phản hồi của đại đạo. Xưa nay ở Huyền Hoàng giới đâu thiếu gì trường hợp văn nhân mười năm mài một kiếm, vừa cất tiếng hót là rung động thiên hạ. Tiên sinh chẳng nhẽ không biết?”

Bao Thành Tổ thấy Bích Mặc tiên sinh thậm chí không biết cả những điều thường thức cơ bản này ở Huyền Hoàng giới, thì càng thận trọng đề phòng hơn.

Có người nói Nguyễn Đông Thanh là kẻ từ thiên ngoại mà đến, xuyên qua Tinh Hải, vượt qua Thiên Đảo mà vào Huyền Hoàng giới. Khi trước nghe thấy lời này, Bao Thành Tổ và mấy tên viện trưởng cũng không tin tưởng lắm, thế nhưng hiện giờ...

Không phải không có lý.

Nguyễn Đông Thanh gật đầu, nói:

“Các người là kẻ thách đấu, vậy tại hạ động khẩu trước, không có vấn đề chứ?”

“Chuyện đương nhiên, chuyện đương nhiên.”

Bao Thành Tổ hơi nhíu mày, song cũng không dám nói “không”. Dù sao đến kiếm chuyện là bọn họ, bây giờ còn đòi chiếm lấy tiên cơ thì quả thực quá là không phải.

Nếu đối thủ thực sự là một tên phàm nhân thì cũng thôi, Văn Cung đương nhiên có thể chèn ép đối phương.

Thế nhưng, nói Bích Mặc tiên sinh đang đứng kia là phàm nhân, ai chịu tin?

Đương nhiên, cái tên Lam Ba quán chủ kia không tính. Mặt hàng này chính là một tên thắng giải đầu thai mở rộng, sinh vào nhà tốt, vô học bất thuật, tốt mã dẻ cùi mà thôi.

Bao Thành Tổ phất tay ra hiệu cho Nho sinh bên ngoài:

“Chuẩn bị văn phòng tứ bảo.”

Đám học sinh bèn động thủ. Không ai bảo ai, người nào người nấy đều lấy từng cuộn giấy trải ra trên thảm cỏ, mực mài ra đầy nghiên, lại vỗ nhẫn chứa đồ, bưng ra một bộ bốn cái bút to nhỏ khác nhau đặt ở trước mặt. Mấy tên viện trưởng, quán chủ đều nghiêm sắc mặt, cao giọng hô:

“Thỉnh tiên hiền vãng tháng!”

Lời vừa dứt, tức thì bút lông nhảy ra khỏi giá treo, chấm dẫm mực nước, tự họa lên giấy một bức tranh. Có lão già ăn mặc kham khổ, chân đi trần, tay cầm sách. Có thư đồng lưng cõng gùi sách, vẻ mặt tươi cười. Có kỳ tiên ngồi trước bàn cờ, vỗ đùi khoái chí.

Lại có cầm, có tiêu, có thư có họa.

Hàng trăm hàng ngàn bức tranh đón gió bay lên không trung, nối đuôi nhau tạo thành một dòng sông dài với hai màu đen trắng. Nhất thời tiếng ngâm đọc vang lên xa gần, mùi mực thoang thoảng đầy cả không trung, từng bức vẽ trên trang giấy giống như là sống lại, sinh hoạt như người thật.

Lại thấy trời đất tối sầm, ánh trời trăng đều lui tránh, chỉ thấy một con đường bảy sắc vắt ngang qua bầu không, lừ lừ xuất hiện. Trên con đường này, Nguyễn Đông Thanh thấy được hư ảnh vô số người đang dùi mài kinh sử. Nửa sau con đường đã gãy đoạn, uốn cong, bảy sắc cũng quện thành một màu xám xịt sương mù. Giữa vùng biển hư vô mờ mịt kia, Nguyễn Đông Thanh loáng thoáng thấy được cả những người được vẽ trên những bức tranh đứng lố nhố.

“Mẹ nó! Cái thứ phản khoa học gì thế này?”

Vốn Bích Mặc tiên sinh của chúng ta còn tưởng cái câu “Nho đạo chứng giám, vãng thánh cộng quan” của Bao Thành Tổ là nói một cách hình tượng mà thôi.

Nhưng không!

Hắn đánh giá quá thấp độ phản khoa học của Huyền Hoàng giới.

Người ta nói theo nghĩa đen, bê nguyên cái Nho đạo đến đây làm giám khảo, những người được vẽ ra kia ắt hẳn chính là những “tiên hiền vãng thánh” được nhắc đến ban nãy.

Nguyễn Đông Thanh thấy lúc này dị tượng đầy trời, Nho đạo hiển hiện vắt ngang trường không, cũng không khỏi thấy rén. Dù sao lần này tuy là Văn Cung đến gây sự trước, nhưng cái cách phản kích của hắn cũng tương đương với đập quán.

Nho đạo có bất chấp mặt mũi đánh chết hắn hay không thì chưa nói trước được.

Vốn là, Bích Mặc tiên sinh định mượn một đoạn trong bài “Tự Tân ca” được cho là của Phan Bội Châu để ứng phó:

“Mấy nghìn năm thói quen tục hủ,

Giày tan tành mà mủ lại thối hoẵng.

Nào học thuật, nào văn chương,

Nào tư tưởng tinh thần đều cũ rích.

Áo vá mãi còn gì mà chẳng rách,

Nhà dột lâu tường vách có còn đâu?

Nếu ta giữ lấy bo bo,

Hình bùn, tượng gỗ có đâu thánh thần.”

Thế nhưng, Văn Cung đến cả đại đạo và thánh nhân nhà mình cũng lôi ra rồi. Trong mắt Nguyễn Đông Thanh, hành động này khác nào cường quốc tập trận hòng gồng cơ bắp, đe dọa thiên hạ? Thành thử, nếu như hắn không “đáp trả” cho xứng đáng, chỉ e là không bõ công sáu đại thư viện triệu hồi Nho đạo ra.

Thế là, hắn hắng giọng, chọn một bài khác để đọc:

“Liếc xem phong thổ;

Nghe tiếng quốc âm.

Ở ống thì dài, ở bầu thì tròn, đã biết ngạn ngôn vẫn có;

Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng, cho hay cổ huấn đã nhằm.

Sống nhiều tuổi biết nhiều điều, cổ nhân đã dạy;

Hơn một ngày hay một chước, tiền định chẳng lầm.

Khôn làm chị, khó làm em, người danh giá chia nên thượng hạ;

Giàu vì làng, sang vì nước, khách tài hoa nối gót quan trâm.

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây, người cư xử có thủy chung tiền hậu;

Có tiền mua tiên cũng được, nó tiền tài kể ức vạn nghìn trăm.

Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau, lời ngạn ngữ mấy câu huấn độc;

Khéo ăn thời no, khéo co thời ấm, lúc hàn vi bao kẻ phù trầm.

Vốn xưa:

Mấy dòng chính thống,

Một cõi An Nam.

Vũ trụ thu về trong tám cõi;

Cơ đồ gây dựng mấy muôn năm.

Ai ngờ tin bợm mất bò, âm âm khắp cõi bắc nam, thấy trắng toát thuyền bè xe ngựa;

Chẳng biết nuôi ong tay áo, giăng giăng khắp đường kẻ chợ, mải đen sì thuỷ bộ sơn lâm.

Nuôi cọp cọp hại mình, tiền bạc nó đều thu tận;

Chơi cò cò mổ mắt, thành trì quét sạch lăng xâm.

Rước voi về giày mả, nào tiểu chiến, nào đại công, liếc mắt thấy cờ trương tỏ rõ;

Xắn tay đốt nhà làng, nào thành cao, nào hào rộng, vẳng tai nghe súng phát vang ầm.

Mình một gói, người trót bàn, nó xe ngựa tung hoành trong đất nước;

Bè của tôi, gỗ của chú, nó bạc tiền thu tận mấy non sông.

Không thầy đố mầy làm nên, xe Cát Lợi, điện Hồng Mao, đều học được tha bang trí xảo;

Gần tre phải chẻ một phía, thuyền Pha Nho, súng Phổ Lỗ, đã chắc rằng viện quốc hồng phong.

Bây giờ:

Bụt già ma trẻ;

Nước đục bùn trong.

Cũng có người nhờ gió bẻ măng, chẳng nhớ xưa lộc nước ơn vua, cơm áo nặng dày ơn cố chúa;

Cũng có kẻ qua cầu cất nhịp, chỉ biết những đồng tiền lượng bạc, cương thường nhẹ bổng chữ trinh trung.

Cũng có thằng theo đuốc ăn tàn, quyết một bài uốn lưỡi cắt răng, ngậm miệng nín hơi đua những thói;

Cũng có kẻ nương đèn ẩn bóng, quen những thói bắt tay nhớ mặt, xui nguyên giục bị nhởn nhơ lòng.

Ăn một miếng tiếng cả đời, chỉ căm hết thịt dơ xương, gặp hội no ra rồi cũng có.

Gió bề nào che bề ấy, đã chắc ít thầy đầy bị, tới phen này há lẽ ngồi không.

Quan cả vạ to, giàu kim ốc thấy đâu Đình Trưởng;

Của đời người thế, tiền đông sơn đâu thấy Đặng Thông.

Hội này:

Nhà nước loạn ly;

Sơn lâm biến đổi.

Chớ thấy người sang bắt quàng làm họ, phận đỉnh chung sẽ bấm chỉ đợi chờ;

Chớ thấy sóng cả mà vỗ tay chèo, tài châu liếp phải ra tay gắng gỏi.

Cũng đừng ăn no tức bụng, theo những phường mắt cáo râu dê;

Cũng đừng bổ bạc mất hồ, mang những thói quỷ tha ma trói.

Thua cuộc này bày cuộc khác, ruổi phong trần quét sạch hồ di;

Đông có mây tây có sao, tính sấm vững đã nhằm nguyên hội.

Phải ra ngoài mà lần, văn tu võ luyện học cho tinh;

Dốt thời truốt cho xa, đáy bể ngọn nguồn tới đến cõi.

Có hỏi thời nói, có gọi thời thưa, thơ thẩn kẻ hiền nhân quân tử;

Ra đường hỏi già, về nhà hỏi trẻ, xem hội này thiên hạ nhà ai.

Phi đường ấy tắc đường kia, sao Mộc Tư sơn hà đã định;

Đèn nhà ai sáng nhà nấy, hẳn Phá Điền đường đế trùng khai.

Xem mặt đặt tên, số hai mươi cho ra mới biết cày chưa gặp nước;

Nhiều cây dày trái, hạn bảy mươi đã định biết rằng chợ họp lấy người.

Cũng có người nhiều mối tối nằm không, có tình vì nước, vì dân, bảo một đường quàng một nẻo;

Cũng có kẻ cầu danh tranh mối lợi, có ý giả vương, giả bá, khéo lồng mốt dốt lòng hai.

Thôi thôi!

Thế thời mặc thế;

Ta biết việc ta.

Câu xuất khảm chưa từng đã rõ;

Hội trăm năm gần đó chẳng xa.

Hay áo giạc sừng, đến lúc cháy nhà ra mặt chuột;

Ma bắt có mặt, mấy đời đứa ở đánh chúa nhà.

Rút dây động rừng, nào là ba bể chín châu, thu hào kiệt đem về la võng;

Phất cờ theo gió, đâu đấy ba mang bảy bị, so quần một hội can qua.

Rồi ra giậu đổ bình leo, đấng chân chúa thừa cơ gặp hội;

Mới thấy cây cao bóng mát, khách anh hùng khai quốc thừa gia.

Ba vuông sánh với bảy tròn, hội quân thần ra tay trí trạch;

Nước đồng chảy thông nước biên, đời thái bình mở hội âu ca.

Ta ở:

Hoan Châu đất cũ;

Hồng Lĩnh quê nhà.

Đất thảo dã đã quen nghề thao lược;

Tiếng anh hùng nổi từ lúc năm ba.

Ăn vóc học hay, đủ thời vụ tính xem thế vận;

Chỉ đâu đánh đấy, khách Nam Đình ghi để bút hoa.”

Bài “Tỉnh quốc dân phú” này của Phan Bội Châu quả thực là dài đến phát sợ, thế mà Nguyễn Đông Thanh đọc từ đầu đến cuối không sót lấy một chữ, khiến chính hắn cũng phải kinh ngạc một phen. Có điều, trong các bản chép lại của bài phú này, có rất nhiều câu là thành ngữ tục ngữ, vậy mà các bản lại vẫn có khác biệt. Nguyễn Đông Thanh cũng không rõ là lỗi khi đời sau sao chép hay lỗi từ bản gốc của chính cụ Phan Bội Châu. Thành ra, những đoạn là thành ngữ tục ngữ, thì hắn liền đọc theo câu thông dụng trong dân gian.

Lời vừa dứt, chỉ thấy con đường vắt qua bầu trời rung chuyển một cái, trong biển xám vô vàn nhân ảnh bật khóc nức nở, nỉ non rên xiết dậy cả thành Quan Lâm. Hàng trăm hàng ngàn bức tranh bỗng dưng bắt lửa, dòng lửa sáng rực rọi sáng cả Tao Đàn Đình.

Bấy giờ, vô luận là trẻ con hay người già, lính thủ thành hay bán hàng rong đều ngước đầu, nhìn lên không trung.

Chỉ thấy Nho Đạo vắt ngang bầu trời bỗng nhiên sập mất một góc.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 115: Sóng Dậy Bốn Phương


Nguyễn Đông Thanh cau mày.

Không phải nói mấy vị đến đây là để chấm điểm hay sao, tại sao lại đấm ngực dậm chân khóc rấm rứt như gái về nhà chồng như vậy?

Lẽ nào bài thơ ban nãy bọn họ còn chưa để vào mắt?

Nguyễn Đông Thanh hắng giọng, ho khan một tiếng, nói:

“Các vị, không bằng tại hạ lại đọc thêm một bài nữa? Thơ rằng...”

“Đủ! Đủ rồi! Chúng ta chịu thua!!!”

Bao Thành Tổ quỳ thụp xuống đất, nước mắt nước mũi lã chã rơi như mưa. Nếu không phải hiện giờ hai bên còn đang đối địch, có lẽ lão đã vái Nguyễn Đông Thanh như vái sao.

Mẹ của ta!

Lại tới thêm một bài?! Ác như vậy?!

Bích Mặc tiên sinh ngài chẳng nhẽ muốn Nho đạo đoạn tuyệt mới vừa lòng hay sao?

Cái gì gọi là chó cắn áo rách?

Đây chính là chó cắn áo rách!

Bao Thành Tổ thầm nghĩ, lần này về Văn Cung lão mà không lôi thằng cha dám nói Bích Mặc tiên sinh mở kim khẩu không có chút dị tượng nào ra thiêu sống, từ nay lão sẽ đổi tên thành Tổ Thành Bao.

Cái gọi là không có dị tượng của các ngươi là làm Nho đạo sập mất một góc?

Bao Thành Tổ thiếu điều khóc ra tiếng yêu thú.

Năm nhà Nho, Đạo, Phật, Vu, Võ sở dĩ có thể trở thành đại đạo bao trùm thiên hạ, mà các đạo nhỏ hơn như Trù Đạo do Trương Thất khai sáng không thể sánh ngang, ấy là vì đạo tổ khai đạo của bọn họ là cường giả thập cảnh chân chính, tu vi cao hơn Trương Thất nửa bước.

Chính vì đại đạo hoàn thiện, thành thử sau Phản Thiên Chi Chiến, tuy vạn đạo cùng tổn thương, nhưng năm đạo lớn căn cơ còn đó, lại thêm chuyện nhân tộc trở thành thiên đạo chi linh, từ đó mà năm nhà Nho Đạo Phật Vu Võ còn được gọi là Ngũ Lộ Triều Thiên.

Thành thử...

Giữa các nhà Nho Đạo Phật Vu Võ cũng có sự tranh đấu ngấm ngầm, không ai chịu ai.

Mà hôm nay vì một bài phú của Bích Mặc tiên sinh, Nho đạo chịu tổn thương đến độ vãng thánh rơi lệ, tiên hiền khóc than, đại đạo sập thêm một góc vào Vụ Hải.

Nếu không có chuyển cơ, sau này Nho đạo ắt sẽ thua bốn nhà còn lại nửa bậc.

Bấy giờ, suy nghĩ trong đầu mấy lão viện trưởng chạy nhanh như điện.

Có câu nước có thể dâng thuyền, cũng có thể nhấn chìm thuyền. Mà đối với Nho môn hiện giờ, không nghi ngờ gì nữa, Nguyễn Đông Thanh chính là “nguồn nước” mà họ cần.

Viện trưởng Kiêu Vân thư viện bỗng nhiên lên tiếng:

“Đúng rồi, tiên sinh, chuyện lần này thực ra là như thế này... Độ hơn tháng trước, có một học sinh đến Văn Cung đề một bài thơ, nói là nguyên tác của một vị Đại Nho tên là Cao Bá Quát. Mấy lão già chúng ta hỏi mãi mới biết học sinh nọ nghe được danh thi ở Quan Lâm. Thế nên... bọn ta mới muốn đến đây để tìm hiểu thực hư.”

“Đúng vậy. Đúng vậy. Cao tiền bối quả thực là tài cao bắc đẩu. Tuy lão nhân gia không muốn nổi danh, nhưng thân là hậu bối, thiết nghĩ Cao đại Nho phải được thờ phụng, để kẻ hậu sinh ngày ngày khói hương cúng vái mới phải đạo. Văn Cung là Nho môn thánh địa, há lại có thể để tiên hiền vãng thánh chịu cảnh vô danh, tuyệt tác ở đời phải mai một?”

Viện trưởng Bạch Lộ thư viện lập tức hiểu ý, bắt đầu tung hứng.

Viện trưởng Cổ Xuyên thư viện cũng chớp lấy ngay thời cơ:

“Mấy lão già chúng ta cũng là sợ bậc đại Nho như Cao Bá Quát tiên sinh không người kế tục, tài học rơi vào tay kẻ vô học bất thuật, thành thử hành xử cũng có mấy phần l* m*ng. Chúng ta vốn nghĩ là nếu truyền nhân của Cao Đại Nho thực có chân tài thực học thì sớm đã bước chân lên Nho đạo, tiến nhập Vụ Hải cùng tiên hiền sánh vai. Ai ngờ tiên sinh đây lại... ài. Cũng do mấy lão già chúng ta thiển cận.”

Nguyễn Đông Thanh không ngờ bọn họ lại nhún nhường, bao nhiêu đòn thế chuẩn bị tung ra cơ hồ đều đánh vào bịch bông, không chỗ phát lực.

Thế nhưng, nghe mấy lão viện trưởng giải thích, gã cũng không khỏi nhớ đến cái người thư sinh mình tình cờ gặp phải ngay trước cổng nhà học. Khi đó bị y nài nỉ đòi thơ quá, Nguyễn Đông Thanh hắn quả thực có đánh bạo đọc bừa một bài Tạp Thi Kỳ 3 của cụ Cao Bá Quát, lại bốc phét rằng thánh Quát là bậc đại Nho nào đó.

Bây giờ tốt...

Nho môn tìm đến cửa điều tra.

Bích Mặc tiên sinh hắng giọng, nói:

“Ra vậy. Xem ra chuyện này cũng là một hiểu nhầm.”

Bao Thành Tổ lúc này cũng cười hì hì, tiến lên một bước, nói bằng giọng lấy lòng:

“Chuyện hôm nay sáu đại thư viện chúng ta ắt sẽ cho tiên sinh một câu trả lời thích đáng. Không biết tiên sinh có thể nể tình mấy lão già chúng ta có lòng hiếu học, ban cho mấy lời của Cao Đại Nho được chăng?”

Nguyễn Đông Thanh nghĩ bụng nếu đã là một “hiểu nhầm” thì những lời lẽ hôm nay của gã đối với Nho môn quả thực có chút cay độc thật. Thế là Bích Mặc tiên sinh của chúng ta hắng giọng một cái, hỏi:

“Chuyện này cũng được thôi.”

Mấy tay viện trưởng lúc này nhìn nhau một cái, lại hỏi:

“Tiên sinh... không biết, có thể tặng một bài thơ dùng tân thoại giống như bài phú khi nãy hay không?”

“Tân thoại?”

Nguyễn Đông Thanh không khỏi lấy làm hồ nghi.

Kể từ khi đến Huyền Hoàng giới, hắn cơ hồ chỉ đọc sách dạy chữ của trẻ con, đối với thơ văn ở đây cơ hồ chẳng biết chút nào. Quan Lâm lại không quá trọng văn, nên cũng chẳng để tâm lắm.

Hiện tại, ngẫm kỹ lại, Nguyễn Đông Thanh mới cảm thấy là lạ.

Tiếng Việt hiện đại có một lượng lớn từ Hán – Việt, mà thơ cổ thì cũng chia ra làm thơ Hán – thơ Nôm. Thế nhưng ở Huyền Hoàng giới, ai cũng dùng tiếng Việt để nói chuyện giống hắn, vậy thì từ Hán – Việt là ở đâu ra?

Ở đây hẳn là không có ngàn năm Bắc thuộc.

Thế rồi, Nguyễn Đông Thanh chợt nghĩ đến một khả năng.

“Chẳng nhẽ từ trước đến giờ ở Huyền Hoàng giới chỉ có thơ chữ Hán, chưa có thơ chữ Nôm, hay thơ bằng tân thoại. Thế nên ban nãy mình mượn tạm bài phú Nôm của cụ Phan Bội Châu mấy người này mới kinh ngạc đến thế?”

Những lần trước đọc thơ, hắn đều đọc thơ chữ Hán, thành thử những người xung quanh cũng không có phản ứng gì thái quá.

Nguyễn Đông Thanh nghĩ thông chuyện này, gật đầu một cái, nói:

“Vậy tại hạ xin mạn phép đọc, thơ tên ‘Hơn nhau một chữ thì’:

Chẳng lưu lạc dễ trải mùi trần thế,

Còn trần ai khôn tỏ mặt công hầu.

Ngất ngưởng thay con Tạo khéo cơ cầu,

Muốn đại nhiệm hãy dìm cho lúng túng.

Thân hệ bang gia chung hữu dụng,

Thiên sinh hào kiệt bất ưng hưu.

Hãy bền lòng, chớ chút oán vưu,

Thời chí hĩ, ngư long biến hoá.

Thôi đã biết cùng thông là mệnh cả,

Cũng đừng đem hình dịch lại cầu chi.

Hơn nhau cũng một chữ thì.”

Mấy tên Bao Thành Tổ nghe mà mừng húm, vội vàng tự lấy giấy mực, thi triển thần thông chép lại bài thơ mà gã vừa đọc. Kế đến lại cho người nổi nhạc trải đường, tiễn Nguyễn Đông Thanh về tận ngọn núi vô danh có Lão Thụ cổ viện.

oOo

Dãy Hoàng Liên tung hoành tám vạn dặm, từ phía đông nam vắt qua Lục Trúc Hải, vươn tới tận biên giới giữa lục quốc. Mà ngọn núi cực đông của Hoàng Liên sơn mạch có tên là Thư Sơn.

Tương truyền, ba vạn năm trước, trên nhà học tại đỉnh núi đạo tổ Nho đạo: Văn Thánh Gia Cát Thủ Ngã đẩy thiên đạo huyền môn, tấu nhập đệ thập cảnh thành tựu đạo tổ, khai sinh Nho môn lục nghệ: Lễ, Nhạc, Xạ, Ngự, Thư, Số. Từ đó mà môn nhân trải khắp thiên hạ, Nho đạo vững vàng trở thành một trong Ngũ Lộ Triều Thiên.

Gia Cát Thủ Ngã nhận cả thảy sáu vị đệ tử, mỗi người được chân truyền cho một nghề. Sáu người này về sau chính là thủy tổ khai sơn của sáu thư viện lớn ở Huyền Hoàng giới.

Sau khi Văn Thánh tọa hóa, sáu đệ tử xây lại nhà học của sư phụ thành một tòa miếu đường nguy nga, dùng để đặt văn bia phụng thờ chư thánh, tọa trấn khí vận cho Nho môn.

Từ đó mà có Văn Cung.

Dần dần, thuận lý thành chương, Thư Sơn trở thành thánh địa trong mắt Nho sinh thiên hạ.

Lúc này, từ phương xa, có sáu bóng người ngự văn bảo xé gió mà tới, nhắm thẳng về phía Văn Cung, người nào người nấy đều mang vẻ mặt hớt hải gấp gáp, cơ hồ dùng đến cả sức lực bú sữa mẹ để ngự khí.

Ngoại trừ sáu lão viện trưởng thì còn ai khác vào đây nữa?

Sáu người lao vào Văn Cung, không dám chần chờ một khắc nào, vội vàng lấy bài thơ Nôm xin được của Nguyễn Đông Thanh ra treo một cách trang trọng lên chính đường.

Thơ vừa vào Văn Cung, tức thì Nho đạo cũng theo đó mà chấn động một cái. Một góc đại đạo vừa nãy sập xuống vì bài “Tỉnh quốc nhân phú” hiện tại cũng được khôi phục như ban đầu, không khác gì trước đây.

Sáu lão già cảm nhận được biến hóa của Nho đạo, bấy giờ mới đặt được tảng đá đè nặng trong lòng xuống, thở ra một hơi dài.

“Lần này đúng là tự lấy đá đập vào chân mà.”

Viện trưởng Kiêu Vân thư viện nói.

Bao Thành Tổ cũng lắc đầu, cười thảm.

Một bài “tân thoại phú” sinh ra, về lý mà nói không khác gì năm xưa thánh hiền mở ra binh đạo, sử đạo, vốn là có thể củng cố cho Nho đạo thêm phần vững chắc.

Thế nhưng, trước là bài “Tỉnh quốc dân phú” của Nguyễn Đông Thanh mang hàm ý công kích Nho đạo.

Sau là, bọn họ tự mình hiển hóa đại đạo ra trước mặt đối phương, không khác gì nghển cổ ra đón nhát chém của đao phủ.

Như vậy mới tạo thành kết quả Nho đạo chịu tổn thương, bị đánh sập mất một góc.

Viện trưởng Bạch Lộ thư viện nói:

“Cũng may mà Bích Mặc tiên sinh dường như không muốn phá vỡ cân bằng của Ngũ Lộ Triều Thiên, nếu không cũng đã không ban thưởng văn bảo cho chúng ta.”

Cả đám, bao gồm cả quán chủ Lam Ba thư quán, đều gật đầu.

Viện trưởng Cổ Xuyên thư viện bèn nói:

“Chư vị, thứ cho bản viện trưởng nói thẳng. Chuyện hôm nay chư vị định bàn giao thế nào với bên Đế Mộ?”

Bao Thành Tổ nói:

“Cái vị đại Nho Cao Bá Quát kia bảy tám phần là có thật. Chư vị chẳng nhẽ không nhận ra hồi nãy lúc Bích Mặc tiên sinh đọc bài thơ này, Nho đạo không hề có phản ứng gì? Phải đến lúc chúng ta đưa văn bảo về treo mới có tác dụng sao? Nếu y thực sự là nguyên tác, vậy lúc đọc thơ dưới Nho đạo, trước vãng thánh tiên hiền, hẳn là Nho đạo ta đã phải hồi phục rồi.”

Mấy người còn lại nghe cũng có lý, bèn gật gù.

Viện trưởng Thanh Hà thư viện nghe thế, lại nói tiếp:

“Bản lĩnh của người này chỉ sợ còn trên cả Đế Tôn, thậm chí có thể phân cao thấp với Vị Đó cũng chưa biết chừng. Thế nhưng y lại mặc kệ thế cuộc hiện giờ, xem ra cũng không phải đồng bọn của ma đầu Thế Tôn. Chúng ta cứ nhất quyết báo lại cho Nghiêm soái như vậy đi.”

“Được.”

“Ài. Lần này Nho môn chúng ta mất mặt đến thế, chắc hẳn là bốn phương phải dậy sóng một phen đây.”

Lúc này, quán chủ Lam Ba thư quán bỗng lên tiếng:

“Các vị, xin nghe tại...”

“Ngươi im miệng!”

Mấy tên viện trưởng còn lại cơ hồ đồng thanh gào lên. Tên quán chủ này vốn lên theo đường thừa kế, xưa nay có chịu ai nặng lời uy h**p bao giờ? Thế là hắn tức giận hừ lạnh một cái, nghĩ bụng:

“Được. Các ngươi bảo ta im thì đừng có trách. Đọc bài phú ban nãy, Bích Mặc tiên sinh giống như biết chuyện năm xưa Thế Tôn bị phản bội, lẽ nào hắn chính là...”
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 116: Thiên Kiêu Của Kiếm Trì


Kỳ thực, nếu Nguyễn Đông Thanh mà về cổ viện sớm độ một hai ngày thì đã kịp ăn với đám đồ đệ một bữa trước khi người của Kiếm Trì tới.

Dẫn đoàn lần này là Chấp Kiếm trưởng lão của Kiếm Trì. Lão họ Phạm, tên độc một chữ Kim. Đi cùng có bốn thiếu niên, hai nam hai nữ. Ngoại trừ Phùng Thanh La ra thì ba người còn lại đám Lý Thanh Vân đều chưa gặp bao giờ.

Từ sau khi Phùng Thanh La bị bắt cóc (1), đến hôm nay cô nàng mới được ra ngoài, mà toàn bộ đệ tử Kiếm Trì cũng nhận nghiêm lệnh không được tự ý tách nhóm đi riêng. Chuyến đi lần này cả đoàn gồm bốn thiên kiêu nổi trội nhất Kiếm Trì, ba trong bốn người này khả năng rất cao sẽ thành Tam Tổ đời kế tiếp, mà người hộ tống bốn người – Phạm Kim – cũng có tiếng ở Huyền Hoàng giới.

[1: chi tiết cụ thể đọc trong phụ chương Valentine trắng (chương 126: -128).]

Phạm Kim khi xưa từng tìm cách thuyết phục Lý Thanh Vân làm thánh tử Kiếm Trì, về sau tuy thất bại, nhưng giao tình giữa hai người cũng không tệ. Nhìn thấy ba sư huynh muội từ xa, lão đã lớn tiếng chào hỏi:

“Lý thiếu hiệp vẫn khỏe chứ? Phạm mỗ có lời chào ba vị cao đồ của Lão Thụ cổ viện!”

Trong ba sư huynh muội, kỳ thực có mỗi Đỗ Thải Hà là chưa từng gặp Phạm Kim, thế nhưng thấy Phùng Thanh La, lại nhìn thái độ của sư huynh sư tỷ, cô nàng cũng đoán được đối phương là trưởng lão của Kiếm Trì.

Sau khi chào hỏi, Phạm Kim bèn giới thiệu mấy người đi cùng. Thiếu niên mặt mày thanh tú, cao xấp xỉ Lý Thanh Vân là thánh tử của Kiếm Trì, Chân Lợi Kiếm, đệ tử chân truyền của Lâm Phương Dung. Hai thiếu niên nam nữ còn lại là Trịnh Lan Anh và Ngô Quốc Văn, hai ứng viên đang được xem xét kế thừa Vân Hà Kiếm Tổ.

Kiếm Trì truyền thừa, thánh tử thánh nữ là đệ tử chân truyền của hai vị kiếm tổ đứng đầu Khoái Kiếm phái và Cường Kiếm phái. Còn kiếm tổ đứng đầu Hoan Kiếm phái không chọn đồ đệ chân truyền từ đầu, mà chọn một trong các đệ tử có tư chất nổi trội trong đối nhân xử thế, lại có đầu óc chính trị để truyền y bát. Cách thức truyền thừa này xuất phát từ lịch sử của Kiếm Trì.

Tương truyền, Phạt Hải Kiếm Thánh có thu hai đồ đệ và một kiếm đồng. Ba người này được đời sau của Kiếm Trì suy tôn làm ba vị Kiếm tổ đầu tiên của bản phái. Hai đồ đệ của Kiếm Thánh sáng lập ra Cường Kiếm phái và Khoái Kiếm phái, nhưng đều là những kẻ kiếm si, không giỏi việc chính trị. Lão kiếm đồng khi ấy xử lý đa số các sự vụ trong tông môn. Về sau tuổi già sức yếu, gần đất xa trời, lão mới huấn luyện một đệ tử của Kiếm Trì có tiềm năng lên thay thế vị trí của mình.

Vài đời đầu, Hoan phái kiếm tổ lực chiến không cao, chủ yếu chỉ lo các sự vụ đối nội đối ngoại của môn phái. Thế nhưng về sau, cùng với sự phát triển của Kiếm Trì thì kiếm tổ đứng đầu Hoan phái cũng dần dần sánh vai được với hai vị kiếm tổ còn lại, tạo thành thế kiềng ba chân.

Cũng vì cách thức truyền thừa này, mà thánh tử thánh nữ của Kiếm Trì – ngoại trừ trường hợp không may bỏ mạng hoặc phạm trọng tội bị phế truất – thường chắc chắn sẽ trở thành kiếm tổ đời sau, địa vị trong tông môn rất cao. Ngược lại, truyền nhân của Hoan kiếm phái có sự cạnh tranh rất gay gắt trước khi được kiếm tổ phe này lựa chọn làm người kế thừa.

Có Phạm Kim giới thiệu, bảy thiếu niên nam nữ hai phe liền tiến lên chào hỏi lẫn nhau. Ba sư huynh muội giữ đạo chủ nhà, liền mời đoàn người của Kiếm Trì vào đình tiếp khách nói chuyện. Chấp kiếm trưởng lão kế đó mới nói mục đích bọn họ đến đây lần này.

Thì ra, sau khi Phùng Thanh La được cứu trở về, ít lâu sau thì Trần Thanh Lãng cũng từ Cổ Long thành quay lại. Ba vị kiếm tổ liền họp bàn về yêu cầu của Bạch Sầu Phi. Liễu Ân nhớ ra bí cảnh của Kiếm Trì – Kiếm Vực – lại sắp đến kỳ mở ra. Từ khi Lâm Phương Dung trở về, báo tin Bích Mặc tiên sinh nhận ra “cổ vật thần bí” mà Kiếm Trì lâu nay vẫn để bám bụi trong kho, tam tổ đã nhận định nếu tiên sinh không phải xuất thân từ bí cảnh, thì cũng có uyên nguyên sâu xa với chúng. Thành ra, Vân Hà Kiếm tổ bèn đề xuất mỗi phái của Kiếm Trì trích xuất ra một suất tham dự, mời ba cao đồ của Bích Mặc tiên sinh đến tham gia, vừa coi như tạ ơn tiên sinh, lại vừa có lợi cho Kiếm Trì.

Ba sư huynh muội Lý Thanh Vân còn chưa biết đáp sao, thì Tiểu Thạch đã chạy xuống núi, bảo chuyến này nên đi.

Phạm Kim bèn nhắc ba người tất cả các khâu chuẩn bị, tiến vào Kiếm Vực phải mất thời gian cỡ một tháng trở lên. Đám Lý Thanh Vân nghe vậy thì liếc nhìn nhau; thế rồi, hai người Tạ, Đỗ xin phép đi sắp xếp hành trang trước, để ông đại sư huynh ngồi lại tiếp chuyện đoàn người của Kiếm Trì. Phùng Thanh La hôm trước đã ở lại một đêm, bèn lấy cớ giúp hai người một tay để đi theo.

Phạm Kim và Lý Thanh Vân khi trước quan hệ không tệ, lúc này gặp lại, lão bèn hỏi Lý Thanh Vân đủ thứ chuyện. Tình báo của Kiếm Trì khá tốt, trận đánh thú triều hôm trước cũng đã được phát tán khắp các thế lực lớn của Huyền Hoàng giới. Thành thử, Chấp Kiếm trưởng lão cũng khá quan tâm bộ kiếm pháp sử dụng song kiếm mà cậu chàng dùng ngày đó. Hai người mải nói chuyện, cũng không để ý đến ánh mắt khang khác của Chân Lợi Kiếm.

Kỳ thực, chỉ nguyên việc Lý Thanh Vân từ chối vị trí thánh tử Kiếm Trì thì Chân Lợi Kiếm mới có ngày hôm nay thôi đã đủ để gã không thể cư xử hoàn toàn tự nhiên với cậu chàng. Thế nhưng, khúc mắc giữa hai người còn sâu xa hơn vậy nhiều.

Tính ra Phạm Kim là bác của Chân Lợi Kiếm, em gái của lão là mẹ cậu ta. Cái tên của hắn cũng do lão đặt; lại nói, cha mẹ hắn mất sớm, Chấp Kiếm trưởng lão nuôi họ Chân từ tấm bé. Thành thử, Chân Lợi Kiếm luôn coi lão như cha đẻ. Nên khi Phạm Kim tìm mọi cách mời gọi Lý Thanh Vân làm thánh tử Kiếm Trì mà không lí gì tới hắn – vốn khi đó cũng được coi là một kỳ tài kiếm thuật trong đồng lứa, hắn cũng chịu đả kích không nhỏ.

Về sau, khi Chân Lợi Kiếm được chọn làm thánh tử Kiếm Trì, chứng minh được thực lực, còn Lý Thanh Vân thì bị phế tu vi, đày ra biên ải, hắn những tưởng đã vượt qua được sự ám ảnh của bản thân. Nhưng cuộc đời trớ trêu, Lý Thanh Vân một lần nữa quật khởi. Tuy vị trí thánh tử của họ Chân không hề mảy may bị đe dọa, thế nhưng bóng ma tâm lý khi xưa lại một lần nữa trỗi dậy trong lòng hắn.

oOo

Trong lúc Lý Thanh Vân tiếp đoàn người của Kiếm Trì, thì ở trong phòng ngủ của Tạ Thiên Hoa, ba nữ đang vừa xếp đồ, vừa tán dóc.

Phùng Thanh La đã kể đại khái chuyện mình bị bắt cóc ra sao, được Trương Mặc Sênh và Bạch Sầu Phi cứu thế nào cho hai người Tạ, Đỗ nghe. Phùng thánh nữ nghĩ lại mà vẫn rùng mình vì sự thù dai của con mèo béo. Mà hai người Đỗ Thải Hà nghe cô nàng kể lại chuyện bị y dọa cho khóc thét thì cũng vô cùng đồng cảm.

Tạ Thiên Hoa nghe xong chuyện thì cau mày ngẫm nghĩ một hồi, đoạn hỏi:

“Thanh La, muội liệu có biết Uyên Ương bội kia có thể kiếm thêm ở đâu không?”

Đỗ Thải Hà nghe vậy thì chạy đến ôm eo sư tỷ, đoạn cười nói:

“Sư tỷ chả lẽ không tin em? Mà cũng đâu cần gì phải kiếm cặp khác? Chẳng phải chỉ cần chờ thằng nhóc Mặc Sênh về rồi mượn cặp của nó với Thanh La là thử được lòng của đại sư huynh rồi còn gì?”

Tạ Thiên Hoa bị nói trúng tim đen, mặt đỏ lên, tay vòng ra sau lưng định đánh Đỗ Thải Hà nhưng cô sư muội vừa ôm chặt lấy chị, vừa tránh né, lại còn cười lên khanh khách. Phùng Thanh La nghe vậy thì cũng tò mò chuyện của hai người Lý – Tạ, bèn hỏi thăm. Đỗ Thải Hà lập tức “bán đứng sư tỷ”, kể lại toàn bộ chuyện đánh lôi đài mấy hôm trước ra. Nàng ta lại còn thêm mắm dặm muối, tường thuật một màn Lý Thanh Vân kích động sau khi Tạ Thiên Hoa bị đánh, nổi sát tâm với Hùng Đại Phong, khiến mây trời biến sắc, toàn trường sợ hãi. Thậm chí, đến cả Song Kiếm Xẻo Trứng mất hình tượng như thế mà bằng một cách thần kỳ nào đó, cô nàng cũng kể lại thành lãng mạn cho được. Tuy cuộc chiến này đã có người dùng Lưu Ảnh Thạch quay lại, phát tán ra ngoài, thế nhưng rất nhiều nội tình thì chỉ có người trong cuộc mới biết với nhau.

Đỗ Thải Hà đã đọc Thần Điêu Hiệp Lữ, đương nhiên hiểu rõ điều kiện sử dụng của Song Kiếm Hợp Bích. Nàng ta lại xâu chuỗi chuyện này với các sự kiện xung quanh đó, liền đoán ra người trong lòng của Lý Thanh Vân là ai. Thành ra, sau khi Tạ Thiên Hoa tỉnh dậy, định đánh liều đi thổ lộ lần nữa, cô nàng đã ngăn lại, đoạn nói nhưng suy luận của mình cho sư tỷ nghe. Theo như Đỗ Thải Hà thấy, Lý Thanh Vân hẳn là có khúc mắc ở trong lòng nên mới chưa sẵn sàng đón nhận tình cảm của Tạ Thiên Hoa. Vậy nên, nàng ta bèn khuyên sư tỷ kiên nhẫn chờ đợi thêm chút thời gian nữa.

Tạ Thiên Hoa tuy bán tín bán nghi, nhưng cũng nhờ cuộc nói chuyện với sư muội này mà sự gượng gạo mất tự nhiên khi ở cạnh Lý Thanh Vân đã giảm đi không ít. Tuy vẫn không tự nhiên được như trước hôm tặng sô-cô-la, nhưng ít nhất có thể ở cạnh, nói chuyện với nhau vài câu chứ không đến nỗi không dám nhìn nhau như mấy bữa trước.

Thành thử, cũng dễ hiểu tại sao Uyên Ương bội lại khiến cô nàng chú tâm đến thế. Lý Thanh Vân hoàn toàn không có chân khí; thành ra, nếu Uyên Ương bội hoạt động, thì cũng chính là khẳng định cho Tạ Thiên Hoa rõ tình cảm của y với cô nàng.

Sắp xếp hành lý xong xuôi, ba người liền đi ra ngoài, đổi ca cho Lý Thanh Vân đi chuẩn bị hành trang. Phạm Kim lúc này bèn đi làm quen, nói chuyện với Tiểu Thạch, để các thiếu niên nam nữ có không gian tự nhiên hơn.

Trịnh Lan Anh tiến lên nói chuyện với Tạ Thiên Hoa, hỏi về chuyện thú triều vừa qua. Cô nàng dù gì cũng là ứng viên kế nhiệm Vân Hà Kiếm tổ, đã tìm hiểu khá kỹ tình hình chính trị Lục Trúc hải, nên có thể bắt kịp được suy nghĩ của Tạ Thiên Hoa. Ngược lại, hai người Chân Lợi Kiếm và Ngô Quốc Văn có vẻ đặc biệt quan tâm đến Đỗ Thải Hà.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 117: Cơm Thêm


Từ Lục Trúc Hải tiến lên phương bắc, đi về phía tây thì là Đại Sở, mà nếu đi phía đông, vượt qua một dải cát mặn rộng cỡ ba dặm thì sẽ vào lãnh thổ Đại Hàn.

Ngọn núi nơi Kiếm Trì tọa lạc là tên là Vọng Hương sơn, vốn là thuộc đất Đại Hàn.

Tương truyền khi xưa lúc Phạt Hải kiếm thánh xuất hành vào biển, đế hậu nước Hàn – Hàn Thanh Ca – vì sợ kiếm thánh lạc lối trong bão tố của biển cả, nên đã dùng đại thần thông nhổ núi ở Hoàng Liên sơn mạch đến đóng ở bờ biển, làm mỏ neo, làm ngọn hải đăng cho y.

Từ đó, núi có tên Vọng Hương.

Hơn hai trăm năm trước, Đại Hàn bị Quan Vân Phi công phá, hải thú biển Phong Bạo thừa cơ tràn vào. Cuối cùng, hoàng thất Đại Hàn bị ép phải ký hòa ước nhược lại lãnh thổ vạn dặm cho chúng.

Kiếm Trì Tam Tổ lúc này xuất quan thì cũng đã chậm, không thể vãn hồi lại được tình thế. Song để mặc cho biển Phong Bạo có đất một quận làm bàn đạp thì cũng thực không ổn, chẳng khác nào ném miếng thịt đuổi chó. Công là vì thiên hạ, tư là nhớ đến giao tình năm xưa của Hàn Thanh Ca và Phạt Hải Kiếm Thánh, Tam Tổ khi đó đã bày cho hoàng thất đại Hàn một kế.

Hoàng thất Đại Hàn quả thực cắt đất vạn dặm cho biển Phong Bạo.

Một dải đất hẹp rộng chỉ ba dặm, nhưng trải dài từ biên giới Hàn – Hoàng phía bắc mãi đến tận Lục Trúc Hải ở phía nam.

Từ đó, Đại Hàn và biển Phong Bạo kết thù, thường xuyên có “tội phạm” chạy vào dải cát ngập mặn ở biên giới phía đông, nam Đại Hàn đánh nhau với hải thú “hoang dã”.

Dải cát từ đó có tên Táng Thi Đinh.

Mà Kiếm Trì cũng nhận trách nhiệm tọa trấn vùng cát mặn này, không để cho biển Phong Bạo vượt giới.

Bình thường, muốn từ Quan Lâm về Kiếm Trì có hai lối.

Một là bay xuyên qua biển trúc, vào đại Sở, rồi từ biên giới phía tây bay xuyên qua đến tận núi Vọng Hương ở cực đông đại Hàn.

Hai là chạy đến thành Bạch Đế nằm cách Quan Lâm độ gần một ngàn dặm, sau đó truyền tống đến thành Hải Giác được thành lập để yểm hộ cho Kiếm Trì.

Phạm Kim mãnh liệt đề cử mọi người chọn con đường thứ hai.

Đối với đề nghị của lão, ba người Lý, Tạ, Đỗ cũng không có dị nghị gì cả, gật đầu đồng tình luôn.

Trước hết, Phạm Kim là trưởng lão của Kiếm Trì, tính ra là thổ địa. Nói về thông thạo đường đi lối về chắc chắn là ăn đứt ba người bọn họ. Lão lại là người đáng tin, quan hệ với Lý Thanh Vân cũng rất tốt. Thành thử, ba người Tạ Thiên Hoa cũng chẳng dại gì làm cái chuyện múa rìu qua mắt thợ, trứng đòi khôn hơn vịt mà ông thầy của bọn họ gọi là “cãi đài” cả.

Ba người vừa gật đầu, tức thì Chân Lợi Kiếm và Ngô Quốc Văn lập tức lên tiếng:

“Đỗ cô nương hẳn là chưa thạo thuật đằng vân ngự kiếm, nếu như không chê thì để Chân mỗ (Ngô mỗ) được tháp tùng cô nương.”

Hai người đồng thanh lên tiếng, ngay cả câu nói được dùng cũng như đúc từ một khuôn văn mẫu mà ra. Thế là Chân Lợi Kiếm và Ngô Quốc Văn lập tức quay đầu, gườm ghè nhìn nhau một cái. Qua ánh mắt, hai người lập tức phát hiện đối thủ cũng đang tính toán hệt như mình.

Dung mạo của Đỗ Thải Hà cũng chỉ tính là dễ nhìn, lại không có bối cảnh gì cả, thành thử cả lúc còn ở núi Long Hổ cho đến khi bái vào môn hạ Lão Thụ cổ viện thì cô nàng cũng chưa từng có ai theo đuổi như vậy. Bây giờ bỗng nhiên có hai người tấn công, tuy biết là bọn họ cũng có toan tính cá nhân, song cô nàng vẫn lúng túng ấp a ấp úng một phen.

Phùng Thanh La biết hai người này nhắm vào Đỗ Thải Hà chủ yếu là vì cô nàng là môn hạ của Bích Mặc tiên sinh, song lại nghĩ nếu thực sự bọn họ thành công tán được cô chị em này thì Lão Thụ cổ viện và Kiếm Trì hẳn là sẽ thân càng thêm thân, có lợi cho tông môn, nên không nói xen vào nữa. Chỉ là, cô nàng âm thầm để ý hai người này, nếu như bọn họ định ăn xong chùi mép với Đỗ Thải Hà...

Thì không chỉ Lý Thanh Vân biết trảm kê kiếm pháp.

Tạ Thiên Hoa chen lên một bước, che cho cô sư muội, cười:

“Chuyện này xin cảm ơn ý tốt của hai vị thiếu hiệp. Nhưng mà cái Hà nó là gái nhà lành, nam nữ thụ thụ bất thân, đi cùng hai vị e là không ổn lắm.”

Lần này Phạm Kim đến để mời bọn họ đến Kiếm Trì, tiến vào bí cảnh lịch luyện một phen. Thế nhưng lão lại không tiếc công đèo bòng mang theo một đám thiếu niên nam nữ tu vi chưa vào Vụ Hải đến Lão Thụ cổ viện rồi lại lộn về...

Hành xử cồng kềnh thế này đương nhiên là có mục đích khác.

Mà kể từ lúc Tạ Thiên Hoa thấy một ông thánh tử đệ tử của Lôi Đình kiếm tổ, một ông truyền nhân của Vân Hà kiếm tổ đều tìm cách tiếp cận cô sư muội nhà mình thì lập tức hiểu ý định của Kiếm Trì.

Đỗ Thải Hà được giải vây, vội vàng gật đầu:

“Sư tỷ nói phải. Hai vị thiếu hiệp mong bỏ quá cho.”

“Nào dám. Nào dám. Cô nương không cảm thấy thoải mái thì tại hạ nào dám cưỡng cầu?”

Hai người Chân Lợi Kiếm, Ngô Quốc Văn tuy tiếp cận Đỗ Thải Hà không phải thuần túy là vì tình cảm, song cũng vẫn có phong độ của danh môn thế gia. Nghe cô nàng nói thế thì cả hai cũng không cưỡng cầu nữa, nghiêm chỉnh đứng lui lại một bước.

Phùng Thanh La bật cười, hỏi:

“Chị Hà, em thấy hai vị này cũng đâu đến nỗi. Tình cảm có thể từ từ bồi dưỡng, chi bằng cho bọn họ một cơ hội?”

Hai thiếu niên vừa bị từ chối lúc này chính đang dỏng tai lên nghe, khi phát hiện thánh nữ nhà mình bỗng nhiên yểm hộ một phát đi vào lòng người như thế, không khỏi thấy mừng rỡ.

Đáng tiếc, Đỗ Thải Hà nghe thế bèn lắc đầu, nói:

“Chị có nguyên do của mình, tạm thời không muốn nghĩ đến chuyện tư tình nhi nữ.”

Hai thiếu niên thì thất vọng, thánh nữ của Kiếm Trì cũng không hỏi đến nữa. Bấy giờ, chỉ thấy Tạ Thiên Hoa lắc mình một cái, hóa thành một con công lớn toàn thân xanh biếc, trên đầu có một cái mào dài. Tuy kích cỡ không to lớn bằng bản thể của Tạ Hàn Thiên, thế nhưng sải cánh cũng đến hơn một trượng, có thể dễ dàng quắp một con trâu bay đi mà không suy suyển gì.

Đỗ Thải Hà ôm Tiểu Thạch, ngồi lên lưng Thanh Tước, Tạ Thiên Hoa lại lấy chân quắp vai ông sư huynh nhấc bổng lên, Xong xuôi đâu đấy, cô nàng mới nhìn về phía mấy người ở Kiếm Trì, nói:

“Xong rồi. Bao giờ thì lên đường?”

Phía Kiếm Trì nhìn đội hình ra quân của Lão Thụ cổ viện mà cơ hồ á khẩu, không biết phải nói gì mới phải. Nhất là Phạm Kim nhìn con chó nhỏ gầy giơ xương nằm gọn trong vòng tay của Đỗ Thải Hà mà cổ bất giác lành lạnh, giống như là có kim loại gác ngay yết hầu vậy.

oOo

Đại Việt chia làm ba châu lớn, bao gồm Ngọc Lân châu ở phương bắc, Hỉ Phượng châu ở phía tây, Kim Quy châu ở phía đông. Cổ Long thành vừa là một châu riêng, vừa là kinh đô.

Quan Lâm ải, Tế Kỳ thành đều thuộc vào châu Ngọc Lân.

Mà thành Bạch Đế là châu thủ châu Ngọc Lân.

Tường thành cao mười trượng, làm hoàn toàn từ đá Bạch Cương khai thác trên Hoàng Liên sơn mạch. Chẳng những cứng cáp không thua gì kim cang huyền thiết, hơn nữa còn có tác dụng tỏa không.

Tạ Thiên Hoa vừa bay lại gần thành Bạch Đế, tức thì thấy cánh nặng trĩu xuống. Cô nàng không còn cách nào khác, đành đậu xuống trước cổng thành, đoạn hóa lại thành hình người.

Đỗ Thải Hà chân chạm đất còn chưa vững, đã hí hửng chạy đến chỗ Lý Thanh Vân, nói nhỏ:

“Đại sư huynh, cảm giác được nhị sư tỷ ôm cả ngàn dặm thấy thế nào?”

Nghe sư muội nhà mình nói thế, cậu chàng bỗng dưng thả trí tưởng tượng bay quá xa, đỏ mặt lên, lúng ta lúng túng như khỉ ăn ớt. Đỗ Thải Hà cười khanh khách, quay sang nhìn Tạ Thiên Hoa với vẻ mặt đắc ý, giống như muốn nói “đã thấy chưa?”

Lúc này, Phạm Kim cũng đã lo xong chuyện thông hành, từ phía cổng thành thành Bạch Đế bay ngược về phía ba người, một chó của Lão Thụ cổ viện.

Mặt lão mới đầu còn ra vẻ hào hứng, thế nhưng khi phát hiện thiên kiêu nhà mình vẫn chẳng thấy bóng dáng đâu thì mặt sạm cả lại, không khỏi xấu hổ ho khan một tiếng.

Lão là người bay trước dẫn đường.

Tạ Thiên Hoa chở người theo sau.

Cuối cùng mới là bốn thiên kiêu đời này của Kiếm Trì.

Phạm Kim cũng không cho rằng thánh tử, thánh nữ nhà mình có thể đuổi kịp được tốc độ bay của Thanh Tước. Dù sao, chẳng những tu vi thua kém, tốc độ của loài yêu cầm xưa nay vốn là hơn thuật ngự kiếm đằng vân của nhân loại.

Thế nhưng...

Lão chạy đến thành Bạch Đế, lo liệu đâu vào đấy chuyện vào thành của tám người một chó, lại thuận tiện nhờ vả thu xếp cả suất truyền tống xong xuôi, thậm chí còn rảnh rang mua một xâu thịt nướng nhá tạm.

Lúc quay về thiên kiêu nhà mình vẫn chả thấy tăm hơi đâu.

Phạm Kim cảm thấy mấy cái đứa thiếu niên thiếu nữ này đã làm mất hết cả thể diện của Kiếm Trì.

Tạ Thiên Hoa trông sắc mặt lão lúc xám lúc hồng, cũng đoán được đại khái nguyên nhân vì sao, bấy giờ mới lên tiếng:

“Phạm trưởng lão xin đừng nổi nóng quá. Lần này quả thực không trách được mấy người Thanh La. Sự thật là...”

Té ra...

Sau trận đánh thú triều, nhất là xem lại thân pháp quỷ mị của Lý Thanh Vân, Tạ Thiên Hoa cảm thấy tốc độ của bản thân vẫn còn chưa tốt lắm. Nếu khi đó cô nàng nhanh hơn thì chưa chắc đã trọng thương mém chết.

Dù sao... tuy đúng là một đòn của cường giả Vụ Hải, song lại không có ý thức.

Thế là, sau khi lành lại, Tạ Thiên Hoa bèn thử luyện thân pháp theo lối Thiên La Địa Võng Thức trong tiểu thuyết của ông sư huynh. Sau khi cẩn thận suy nghĩ, cô nàng cho rằng tuy người khác không thể học được võ công hàng xịn từ trên trang giấy như Lý Thanh Vân, song cách thức luyện tập được miêu tả trong tiểu thuyết hẳn cũng phải có tác dụng gì đó.

Dù sao thử cũng không mất gì...

Thế là, tranh thủ Huyền Thanh nương nương chuyển nhà, cô nàng bèn xin được luyện tập cùng đám điểu tinh dưới trướng bà.

Không làm thì thôi, làm thử mới thấy hiệu quả.

Tạ Thiên Hoa nói:

“Lần này tiểu nữ ham vui, không khống chế tốc độ, bay nhanh hơn thường ngày chắc khoảng hai ba thành, thật ngại quá...”

Phạm Kim nghe cô nàng giải thích mà chòm ria mép giật một cái.

Lão cũng không sợ mấy người Chân Lợi Kiếm đi lạc. Dù sao, mỗi lần từ Kiếm Trì vào Đại Việt bọn họ đều truyền tống đến thành Bạch Đế, không sợ lạc lối. Nhất là Phùng Thanh La.

Cái khiến lão kinh ngạc là cách mà Tạ Thiên Hoa luyện tập.

Có thể khiến Thanh Tước như cô nàng bay nhanh hơn hai thành.

Lão không dám tưởng tượng nếu phương pháp này truyền vào Lục Trúc Hải, Phong Bạo Hải, để yêu tộc các nơi học thì sẽ tạo thành tai ương khủng khiếp tới mức nào.

Ắy thế nhưng, nghe lời Tạ Thiên Hoa giải thích thì lão có thể luận ra được...

Đây chẳng qua cũng chỉ là “cơm thêm” mà thôi.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 118: Bạch Đế Thành


Phạm Kim thán phục, sợ hãi vị “Bích Mặc tiên sinh” kia chừng nửa khắc thì mấy người Trịnh Lan Anh mới mò đến nơi. Phùng Thanh La thấy sắc mặt Chấp Kiếm trưởng lão không được tốt đẹp cho lắm, bèn thức thời chạy tót đến chỗ “chị em tốt” là hai người Tạ – Đỗ tán dóc.

Nhờ thế mà thoát được một kiếp.

Mấy người Trịnh Lan Anh, Chân Lợi Kiếm, Ngô Quốc Văn thì không được may mắn đến thế.

Phạm Kim tuy là biết lần này nguyên do chủ yếu là đến từ Tạ Thiên Hoa, song cũng không bỏ qua cơ hội dạy dỗ mấy thiên kiêu nhà mình. Lão thấy chỉ có gõ đầu đám Chân Lợi Kiếm một phen mới có thể khiến bọn họ không kiêu ngạo, tiếp tục cố gắng đề thăng tu vi, sớm ngày đuổi kịp bước chân của đám thiên kiêu đứng đầu thiên hạ.

Ba người Chân, Ngô, Trịnh lần này bị Tạ Thiên Hoa cho hít khói, cũng giống như bị tạt cho một gáo nước lạnh vào mặt.

Hiện giờ, bọn họ nhận thức rõ hơn bao giờ hết khoảng cách giữa mình và Lý Thanh Minh, Kiều Minh Long lớn đến mức nào.

Tám người, cộng thêm một con chó, vào thành Bạch Đế không gặp vấn đề gì. Lính thủ thành đã xác nhận thân phận của Phạm Kim, bây giờ thấy lão dắt theo đúng số người đã báo trước thì lập tức nhường đường để đoàn người vào thành.

Chưa đi được bao xa, thì đã có một trung niên mặt choắt, mõm chuột, hớt hải chạy đến.

“Phạm trưởng lão, thật ngại quá, tại hạ không thuyết phục được lính canh trận chờ cho giây lát. Hiện tại chỗ truyền tống đã đóng cửa không nhận người rồi, muốn đi chỉ có cách ngày mai lại đến.”

Phạm Kim thân là Chấp Kiếm trưởng lão của Kiếm Trì, làm người cũng không phải là kẻ bá đạo ngu xuẩn. Lão nghe thế thì gật đầu một cái, nói:

“Không trách được các hạ, quy định của thành vệ quân không phải thứ các hạ có thể thách thức được. Hơn nữa lần này lỗi cũng ở chúng ta đến không đúng giờ. Thù lao các hạ cứ giữ lấy, đây là một phần tiền nữa, ngày mai lại xin được làm phiền.”

“Không dám. Không dám. Trưởng lão khách khí quá.”

Trung niên cười tít mắt.

Người này không phải ai khác, chính là tán tu định đục nước béo cò ở Ngự Long thành – Trường Mệnh Trùng Hạ Hầu Duyệt.

Quả thực phải nói là tên này sống dai hệt như con đỉa.

Lúc Ma Da nổi điên, hắn may mắn tìm được một cái hầm ngày xưa người dân ủ phân, bấy giờ đã bỏ hoang, bèn trốn vào đó. Thế là may mắn thoát được một kiếp.

Sau chuyện này, hắn lại theo làm thuê lão chủ nhà trọ chỗ ba người Lý, Tạ, Đỗ từng ở, định bụng rửa tay gác kiếm. Cũng chính vì thế mà Hạ Hầu Duyệt may mắn thế nào lại nương nhờ được lão chủ quán trọ, chạy khỏi Ngự Long lúc Phó Kinh Hồng làm phản.

Chủ quán trọ rời khỏi nước Sở, tìm nơi khác làm ăn.

Hạ Hầu Duyệt thì qua biến cố thành Ngự Long cảm thấy thế cuộc quá tàn khốc, nhược giả mạng như sâu kiến, của cải cơ nghiệp không có tu vi chống đỡ thì cũng có thể tan thành mây khói trong nháy mắt. Thế là hắn từ biệt chủ nhà trọ, chạy đến Đại Việt.

Đến thành Bạch Đế này thì Trường Mệnh Trùng hết lộ phí, bèn dừng lại đây làm việc vặt vãnh kiếm tài nguyên tu hành.

Thấy không truyền tống ngay được, mọi người bèn quyết định tìm nhà trọ nghỉ ngơi một đêm trước rồi tính.

oOo

Tối đến, phố xá lên đèn, những chốn ăn chơi như quán rượu, sòng bạc, lầu xanh mở toang cổng lớn, chuẩn bị chào đón lượng khách lớn nhất trong ngày đổ về giải khuây.

Bấy giờ, Vương Tiểu Thạch sớm đã tót đi tìm chỗ uống rượu. Đương nhiên, Phạm Kim cũng bị y kéo theo, nói là để làm bạn nhậu.

Bốn người Phùng Thanh La hôm nay đuổi theo Tạ Thiên Hoa đến bã cả người, sớm đã vào phòng tĩnh tâm dưỡng khí, nghỉ ngơi điều chỉnh một phen.

Duy chỉ có ba đồ đệ của Nguyễn Đông Thanh là không ngồi yên.

Lý Thanh Vân khoác áo lên, đẩy cửa phòng, đoạn biến mất trong dòng người ngược xuôi. Cậu chàng dựa vào trí nhớ năm xưa lúc trên đường bị sung đến Quan Lâm làm lính, lách qua từng con phố con hẻm, cuối cùng tìm thấy một nhà tắm vắng teo.

Cậu chàng hít sâu một hơi, trong đầu không khỏi nhớ lại cảnh tượng hồi trước.

Lúc lần đầu đến Bạch Đế thành, còn chưa sung quân ở Quan Lâm, chưa bái được Nguyễn Đông Thanh làm sư phụ.

Lý Thanh Vẫn nhấc tấm liếp.

Trong nhà tắm, chỉ có duy nhất một ngọn đèn dầu nhờ nhờ. Ngồi ở chỗ quầy tiếp khách là một người đàn ông đô con, mặt vuông chữ quốc, mày rậm mắt to. Thế nhưng người nọ lại mặc váy tết tóc, đánh phấn bôi son không khác gì phụ nữ, quả thực là cực kỳ quái lạ, không hợp thói thường.

Người nọ thấy Lý Thanh Vân bước vào, đầu không ngẩng lên khỏi mặt bàn, nói:

“Xin lỗi quý khách, chúng tôi...”

Lời vừa nói đến đây, thì huyệt đạo của y đã bị cậu chàng điểm trúng, toàn thân bất động, không ú ớ được tiếng nào. Lý Thanh Vân gõ ngón tay lên bàn, nói:

“Lý Thanh Vân, hôm nay đến đòi nợ cũ.”

Cậu chàng vừa nói dứt lời, tay đã tung chưởng vỗ một cái đánh thủng bể tắm gỗ, để lộ ra một chiếc cầu thang dẫn xuống lòng đất.

Lý Thanh Vân hít sâu một hơi, dấn bước vào bóng tối.

Cậu chàng còn nhớ, bên dưới nhà tắm này có một võ đài ngầm. Đám tội phạm tử tù, hoặc kẻ cùng đường mạt rệp đều xuống đây dùng mạng đổi tiền tài, mua vui cho đám nhà giàu quan lại.

Lần đầu đến Bạch Đế thành, Lý Thanh Vân không đề phòng, bị người ta bắt đem xuống võ đài ngầm, chịu đủ mọi khi nhục hành hạ. Thế nhưng, trước khi cậu chàng bị đánh chết, đã có một người náo loạn võ đài ngầm này, giúp Lý Thanh Vân thừa cơ trốn thoát được.

Khi đó, cậu chàng đã thề nếu có ngày đứng lên lại được, thì sẽ trở lại đây phá tung cái chốn tội ác tuyệt vọng này.

Lý Thanh Vân đi hết bậc thang thì đến trước một cái cửa sắt, bên ngoài có hai võ phu đô con đứng canh chừng. Cậu chàng không cảm nhận được tu vi của đối phương, trong mắt bọn chúng cậu chàng cũng chỉ là một kẻ phàm nhân mắt thịt.

Hai bên không nhìn thấu được thực lực của nhau.

Khác biệt ở chỗ, Lý Thanh Vân thì cẩn thận đề phòng, có chuẩn bị mà đến.

Hai tên canh cổng thì lại ôm dạ khinh khi, cho rằng cậu chàng chẳng qua là một thằng khố rách áo ôm, cùng đường mạt lộ đến thử vận may. Mà một tên người phàm, tu vi còn chưa đến nhất cảnh, trước mặt chúng có thể gây ra sóng gió gì?

Sau đó...

Hai tên này mỗi tên trúng một chưởng, bất tỉnh tại chỗ.

Lý Thanh Vân đạp cửa sắt, bước vào bên trong.

Lúc này, trong võ đài ngầm, dường như đang có một trận đấu diễn ra dở dang, mới đánh được một nửa. Mấy vị đại quan quý nhân, phú thương quyền quý tung từng nắm tiền xu lên võ đài, khiến hai đấu thủ càng hăng máu hơn, ra tay càng tàn nhẫn độc ác hơn. Tiếng tung đòn, cảnh máu phun, tiếng cười hô hố, rồi tiếng tiền xu va chạm lẻng xẻng trên võ đài. Cứ thế lặp đi lặp lại trong một không khí đầy kh*** c*m thú tính, man rợ, và bản năng nguyên thủy của hai con người trên võ đài.

Lý Thanh Vân bỗng nhiên tung mình nhảy lên, hai chỉ điểm ra, chớp mắt khiến cả hai đối thủ đang sống mái vì tiền thành hai bức tượng cứng đờ.

Cậu chàng lại vung chưởng, dùng nhu kình ném cả hai người xuống khỏi võ đài, rồi mới dùng ánh mắt thách thức nhìn về phía những kẻ quan chiến.

Đám quan to, đám thương lái đang ngồi trên những hàng ghế cao, cách xa khỏi võ đài, có trận pháp phòng hộ, dùng đồng tiền thao túng sinh mạng của kẻ khác bấy giờ đều ngừng tay.

Ánh mắt bọn chúng nhìn lên võ đài lúc này có kinh ngạc, có nổi nóng, lại có trào phúng, cũng có cả háo hức trông chờ Lý Thanh Vân gặp tai họa vì dám xen chân vào cuộc vui của các ông lớn, các đại nhân ở thành Bạch Đế này.

“Thằng ranh con chưa ráo máu đầu ở đâu đến? Dám phá đám ở võ đài này, không muốn sống nữa hay sao?”

Từ trên đài cao, một trung niên bỗng nhiên tung mình, nhảy xuống võ đài, quát lớn.

“Ta sống được hay không còn không đến lượt các hạ quyết định.”

Lý Thanh Vân cười khẩy.

“Càn rỡ!”

Dứt lời thì tống một chưởng về phía cậu thiếu niên. Lý Thanh Vân vũng tay, đối cứng lại bằng một chiêu Kháng Long Hữu Hối.

Trung niên bị đẩy lùi cả chục bước, đến tận mép võ đài mới dừng lại được, mà cậu chàng thì đứng vững như bàn thạch.

Trung niên lúc này cảnh giác nhìn thiếu niên trước mặt. Ban nãy gã cho rằng cậu chàng dùng tiểu xảo, lại đánh úp nên mới lấy sức người phàm may mắn đẩy lui được tu luyện giả, nhưng bây giờ thì không còn nghĩ vậy nữa rồi. Tuy nói lần này gã không dùng toàn lực, nhưng một chưởng ấy cũng không phải lực lượng mà phàm nhân có thể đối cứng được. Trung niên này bèn nói:

“Nói, rốt cuộc là ngươi muốn gì?”

“Ta chỉ muốn đánh cược một lần. Mặc kệ là các người lên lần lượt, hay lên cùng một lúc, chỉ cần đánh được ta đo sàn thôi coi như các người thắng. Nếu ta thua, thì mạng này tùy các ngươi xử lý. Nhược bằng nếu không ai ở đây đánh được tại hạ, thì võ đài ngầm này phải đóng cửa!”

oOo

Ờm, chào anh em bà con cô bác. Chủ bút - Nghịch Tử - đây. Tình hình là sau khi đi khám lần một thì xương bả vai mình bắt đầu liền lại rồi, sẽ phải kẹp tay thêm hai tuần nữa, nhưng khả năng chỗ xương vai bị lệch và biến dạng là thấp. Tóm cái váy lại là vết thương không bị nặng hơn, nên anh em có thể yên tâm chắc chậm nhất là cuối tháng này sẽ bắt đầu viết lại được. Cũng nhớ viết lách lắm rồi. Nhân đây cũng xin đích thân dùng một tay gõ mấy dòng cảm ơn hai bác Tr. Hoàng Anh và cucaiconcon đã có lời hỏi thăm động viên mình.

Vậy thôi. Hi vọng mọi người nếu đọc truyện của nhóm tác mà thấy hay thì hãy giới thiệu cho người khác cùng vào, có thể qua mạng xã hội hay diễn đàn gì đó. Một lần nữa, mình xin chân thành cảm ơn.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 119: Làm Ơn Mắc Oán


Nghe thấy yêu cầu của cậu chàng mà toàn hiện trường dậy sóng. Hàng loạt tiếng gào thét vang lên:

“Ai đánh được thằng nhóc này kêu cha gọi mẹ, ông đây sẽ thưởng trăm lượng!”

“Ta cũng góp năm chục lượng!”

“Bà đây thưởng hẳn năm trăm lượng cho ai có thể khiến tên này quỳ xuống l**m chân ta xin tha mạng!”

Mà các võ giả xem chừng còn phản đối hơn cánh nhà giàu bỏ tiền ra xem đánh nhau:

“Thằng nhãi, đừng khinh người quá đáng!”

“Chuyện của võ đài này không đến lượt ngươi xen vào!”

“Vậy còn phải xem ngươi có bản lĩnh ấy không đã!”

Trung niên ban nãy đối chưởng với cậu chàng chỉ cau mày rồi tạm lui xuống quan chiến. Sau màn qua chiêu vừa rồi, gã muốn biết rõ hơn về Lý Thanh Vân trước khi có động thái nào khác. Nháo nhào một hồi, một võ giả tung mình lên đài, quát:

“Để tao thay bố mẹ mày dạy mày thế nào là kính lão đắc thọ...”

Lời vừa dứt thì đã bị trúng một chưởng, văng ngược xuống đài. Hiển nhiên, sai lầm lớn nhất của y là đã vô tình lôi hình ảnh Võ Hoàng ra trước mặt thằng con trai đang ghi thù với lão.

Sau kẻ dẫn đầu này, hết người này đến người khác thay nhau lên đài. Thậm chí, có lúc năm, sáu người vây công Lý Thanh Vân cùng một lúc. Nhưng rốt cuộc cũng chẳng có ai mảy may thương tổn được hắn.

Nếu nơi đây có kẻ nào đã vào Vụ Hải, thì may ra còn có thể thay đổi được tình hình. Thế nhưng, cường giả đã vào Vụ Hải thì cũng chả ai cùng đường mạt lộ đến nỗi phải đến chốn này bán mạng. Còn Lý Thanh Vân thì giờ đây mạnh hơn hồi ở Võ Bảng hội không ít, đã gần có thể đánh có qua có lại với cường giả sơ nhập Vụ Hải.

Mà võ công hắn ngộ được từ Xạ Điêu Anh Hùng truyện – sau khi đọc xong Thần Điêu Hiệp Lữ – gần như đều đã có sự biến đổi về chất. Một phần do chính cậu chàng cảm ngộ sâu hơn qua thời gian chăm chỉ luyện tập, phần khác do các nhân vật trong truyện cũng đạt đến tầm cao mới trong các công phu sở trường. Ví như Quách Tĩnh trong Xạ Điêu Anh Hùng truyện dùng Giáng Long Thập Bát Chưởng mới chỉ có sự cương mãnh, nhưng đến Thần Điêu Hiệp Lữ thì đã luyện bộ chưởng pháp này đến độ chí cương sinh chí nhu. Chả thế mà họ Quách có thể đèo bòng theo một Dương Quá – lúc đó còn đang tìm thời cơ hãm hại y – an toàn rút khỏi trận doanh Mông Cổ.

Cũng phải nói, Lý Thanh Vân đến đây mục đích là phá ổ tệ nạn này chứ không thực sự nhằm vào các võ giả nơi đây. Thành thử, hắn ra tay rất có chừng mực. Không có ý lấy mạng, cũng không nhằm vào chỗ ấy của người ta. Những kẻ bị y đánh bại đa số chỉ bị điểm huyệt hoặc khiến cho tạm thời không còn khả năng đánh tiếp chứ không nguy hại đến tính mạng.

Đánh một hồi, đã không còn võ giả nào có mặt tại hiện trường còn hoàn toàn lành lặn hay còn lực mà đấu tiếp. Trung niên ban nãy đấu qua với cậu chàng lúc này mới tiến lên, cau mày nói:

“Xem ra võ đài này không ai thắng được thiếu hiệp. Nhưng chúng ta không thù không oán, cậu tự dưng đòi võ đài này đóng cửa, có phải quá bá đạo hay không?”

Đám võ giả đã bại dưới tay cậu thiếu niên cũng chỉ biết đứng sau, hằm hè nhìn với ánh mắt bất thiện.

Lý Thanh Vân nghe vậy thì cười khẩy:

“Không thù không oán? Một năm trước khi ta bị bắt vào đây, suýt nữa bị bỏ mạng ở chốn này là có thù có oán với ai ở đây sao? Đến nay bản thiếu quay lại đòi nợ cũ, thêm lãi mới các người không định trả sao?”

Nghe cậu chàng nói vậy, phía đằng sau mới có một giọng nói già nua cất lên:

“Lão phu nhớ ra rồi, tên này chính là Lý Thanh Vân, là con hoang của Võ Hoàng. Năm ngoái khi y bị bắt vào đây, đã từng có người treo thưởng một ngàn lượng cho ai lấy được mạng y. Người ta còn đặc biệt yêu cầu ra tay càng tàn nhẫn, bắt mắt, thưởng thêm càng lớn. Nhưng rồi hôm ấy có kẻ quấy phá, tạo cơ hội cho y chạy trốn!”

Người khác nghe lời này thì cũng chợt hiểu ra. Lại có kẻ nói:

“Lý Thanh Vân sao? Sẽ không phải kẻ nổi danh gần đây là ‘lấy sức người phàm đánh bại quỷ đói tam cảnh, phu tử tứ cảnh’ chứ?”

“Dám lắm, nếu không chẳng lẽ còn có tên phàm nhân thứ hai có thể đánh bại toàn bộ võ giả chúng ta sao?”

Khắp võ đài bắt đầu xì xào bàn tán. Lý Thanh Vân nghe người ta nói về mình thì cũng chẳng lên tiếng thừa nhận hay phản bác. Trung niên đối diện lúc này nhăn mặt, nói:

“Lý thiếu hiệp. Chuyện khi xưa coi như chúng ta sai. Thế nhưng tất cả cũng chỉ là theo lệnh làm việc, cậu cũng đến đây đánh tất cả võ giả ra bã rồi. Hai bên chúng ta cùng lùi một bước, chuyện hôm nay chấm dứt ở đây đi. Thế nào? Dù gì nơi này có ngừng hoạt động hay không cũng không phải cậu muốn là được!”

Đám quý tộc, nhà giàu cũng nhìn Lý Thanh Vân với ánh mắt khinh khỉnh. Theo chúng thấy, cậu thiếu niên kia có nháo lên thế hay nữa thì sớm muộn gì cũng phải bỏ đi, nơi này có tiếp tục mở cửa hay không hẳn không đến phiên cậu chàng quản.

“Vậy sao?”

Lý Thanh Vân cười lớn, rồi tống bốn chưởng về phía bốn cái cột nhà. Trước kình phong hung mãnh, tiếng răng rắc vang lên không ngớt, cả võ đài bắt đầu rung chuyển.

“Tên này điên rồi!”

“Mau chạy khỏi đây, nơi này sắp sụp xuống rồi!”

Tất cả mọi người không ngờ Lý Thanh Vân lại quyết liệt không nói đạo lý đến thế, hoàn toàn không kịp trở tay. Đến khi định thần lại thì cả kiến trúc đã không còn đứng vững, chỉ chờ sập xuống bất cứ lúc nào. Thế là tất cả hò nhau chạy trốn ra phía ngoài.

Lý Thanh Vân liếc mắt nhìn một lượt xung quanh, thở ra một hơi mãn nguyện. Rồi hắn khua tay, vác theo toàn bộ những người bị điểm huyệt còn chưa được ai dìu ra, dùng khinh công chạy ra bên ngoài.

oOo

Ở bên ngoài, cạnh đống đổ nát của cái nhà tắm cũ, cậu thiếu niên đang giải huyệt cho tất cả Võ giả. Cánh nhà giàu chạy thoát đã bỏ đi hết, ai về nhà nấy cả. Dù gì đối với bọn họ, tiếc thì tiếc nhưng không tiêu tiền vào cái này thì sẽ còn cái khác. Lý Thanh Vân xong việc, nhìn đám võ giả đang hằn học nhìn mình một lượt, rồi cau mày, nói:

“Được rồi. Các người về nhà đi. Nơi này đã không còn, giờ các người có thể tự do sống đời lương thiện!”

Một trong hai võ giả đánh nhau trên đài ban nãy đấm mạnh xuống đất, lao về phía cậu chàng, thét:

“Mẹ kiếp! Tao liều mạng với mày!”

Thế nhưng y chưa đi được bao xa thì một võ giả có tuổi đã tiến lên, khoá trái hai tay y ra phía sau, nhỏ giọng khuyên can:

“Đại Hùng, bình tĩnh lại! Cậu mà chết ở đây thì Tiểu Huệ biết làm sao?”

Võ giả trẻ tuổi tên Đại Hùng nghe vậy thì người ỉu xìu xuống như thoát lực. Lão già kia lúc này mới giao anh ta cho vài người khác, nhỏ giọng dặn vài câu, rồi quay qua nhìn Lý Thanh Vân, thở dài một hơi. Đoạn, lão mới nói:

“Lý thiếu hiệp, cậu có thù với chốn này, bọn ta có thể hiểu. Thế nhưng cậu đã từng nghĩ, tại sao tất cả đám võ giả bọn ta phải đến chốn này bán mạng hay chưa?”

Chẳng chờ cậu chàng đáp, lão đã lại tiếp:

“Cậu còn trẻ, tuy năm ngoái tuyệt vọng, nhưng giờ chẳng phải đã có chuyển cơ rồi hay sao? Cuối cùng, cậu vẫn tính là may mắn, tiền đồ sáng lạng. Sao hiểu nổi nỗi khổ của đám cùng đường mạt lộ bọn ta?

“Cậu chỉ thấy một mà không biết mười. Cậu thấy nơi đây là ổ tệ nạn, là chốn tuyệt vọng của bản thân, mà không biết, nó là tia hy vọng cuối cùng của không biết bao nhiêu người số khổ hơn cậu.”

Nói đến đây, lão chỉ vào võ giả tên Đại Hùng, nói:

“Đại Hùng kia vợ mất sớm, một mình gà trống nuôi con. Võ đài này là nơi duy nhất cậu ta có thể kiếm tiền trang trải cho cuộc sống hai cha con.”

Lại trỏ vào đối thủ của Đại Hùng trên đài ban nãy:

“Còn cậu ta thì nhà có mẹ già bệnh nặng, tiền thuốc thang mấy tháng nay đều là từ đám nhà giàu ở cái võ đài này thưởng mới có.

“Tất cả đám võ giả bọn ta ở đây, cậu nghĩ không ai muốn ‘sống đời lương thiện’, muốn sống có ‘đạo nghĩa’ như cậu sao? Thế nhưng ai cho bọn ta lương thiện? ‘Đạo nghĩa’ của cậu có bẻ ra để lo cơm áo gạo tiền cho gia đình bọn ta được không?

“Ở đời, ai mà không muốn đỉnh thiên lập địa, lại có người nào thích thú cái chuyện ngửa tay cầu xin lòng thương xót của thiên hạ? Thế nhưng câu ‘sống đời lương thiện’ của cậu, cũng tước đi tôn nghiêm cuối cùng của bọn ta. Giờ cậu vui rồi chứ, đại anh hùng, đại hào kiệt?”

Nói xong, lão võ giả bèn phất tay một cái, ra hiệu cho mọi người giải tán, ai về nhà nấy. Có mấy người bị thương lão cũng phân công người khác giúp đỡ dìu đi.

Tất cả võ giả của võ đài ngầm lục tục rời đi, để lại Lý Thanh Vân đứng như trời trồng ở cạnh đống đổ nát. Mặt cậu thiếu niên bần thần lúc trắng lúc đỏ, cũng không rõ là đang nghĩ gì.

Thế rồi, cậu chàng lặng lẽ quay lại quán trọ, cả đoạn đường cứ nghiêng nghiêng ngả ngả, tỉnh tỉnh mê mê giống như người mất hồn vậy.
 
Back
Top Dưới