Tiên Hiệp Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân

Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 20: Lại Phải Đạo Văn


“Tiên sinh.”

Bọn Mộc Thanh Hiên thấy Nguyễn Đông Thanh xuất hiện, lập tức tiến lên chào hỏi. Nhìn một đám tai to mặt lớn cung kính chào hỏi, gã cũng hơi hoảng, giật mình lui lại một bước. Sau đó dường như nhận ra bản thân thất thố, Nguyễn Đông Thanh ho khan một cái, hoàn lễ.

Phạm Thừa Phong xoa tay, thi thoảng lại nhìn Lý Thanh Vân. Kỳ thực kể từ lúc xem lưu ảnh trận đánh của cậu chàng và quỷ đói Lâm Sấu, lão đã thấy cực kỳ hứng thú với pho chưởng pháp Lý Thanh Vân sử dụng. Phải biết, Phạm Thừa Phong là các chủ Phong Thanh các, chuyên mua bán tình báo, tin tức linh thông. Có thể tu vi không cao như Vũ Tùng Lâm, nhưng ánh mắt ác độc chuẩn xác chỉ hơn chứ không kém. Phạm Thừa Phong liếc mắt một cái là nhận ngay ra thân phận của Lâm Sấu, cũng phát hiện trân bảo thực sự chính là bộ chưởng pháp Lý Thanh Vân dùng để đối địch.

Mọi người đều nghĩ cậu chàng không có tu vi, nhưng lão lại cho rằng nghĩ thế chưa chuẩn.

Theo Phạm Thừa Phong, không phải Lý Thanh Vân không có tu vi, mà là do cậu chàng có tu vi quá đặc thù, cơ hồ đã thoát khỏi cửu cảnh tu luyện của Huyền Hoàng giới, thế nên người khác mới không nhìn ra tu vi sâu cạn của cậu chàng.

Mà người sáng tạo của đường lối “tu luyện” này, rất có thể chính là Nguyễn Đông Thanh.

Đồ đệ nhìn như mất hết tu vi, lại có thể thắng được quỷ đói tu vi tam cảnh. Sư phụ thậm chí trên người không có một chút tu vi nào, thậm chí không bằng cả người phàm chưa đạp vào đệ nhất cảnh, thì còn lợi hại đến mức nào?

Lý Lợi Minh cũng nghĩ như vậy.

Thế nên, ngay sau khi được chủ quản võ đài Thiên Nguyên Đệ Nhất báo hiệu, lão lập tức chạy đến gặp Vũ Tùng Lâm. Lão tổng binh nghe Lý Lợi Minh nói xong, lập tức cười cười, ưng chuẩn lôi cả Lý Lợi Minh và Nhất Phẩm cư vào buổi phát chẩn.

Lý Lợi Minh biết Vũ Tùng Lâm muốn lợi dụng mình, nhiễu loạn toan tính của Mộc gia và Tế Thế đường.

Thế nhưng, dẫu biết thì lão cũng chấp nhận bị lợi dụng.

Không vì cái gì khác, chỉ bằng Bích Mặc tiên sinh có thể truyền dạy một bộ thần công giúp người phàm chống lại quỷ đói tam cảnh cũng đủ khiến lão mờ mắt, chấp nhận trả giá hết thảy.

Về phần Mộc Thanh Hiên...

Lão vẫn bình chân như vại, trên gương mặt không biểu lộ bất cứ một cảm xúc nào, lạnh nhạt đứng một bên, nhìn cứ như người hầu của hai người Lý, Phạm.

Nguyễn Đông Thanh nhìn lên đài cao, chặc lưỡi một cái, hơi có vẻ ngần ngại. Cái đài này cao đến hơn mười trượng, ngã xuống không chết cũng mất nửa cái mạng. Hắn lại là một con gà đất, sợ độ cao, cho dù là từ ban công tầng ba nhìn xuống là chóng mặt chân run. Đã vậy mấy người Mộc Thanh Hiên chẳng rõ vô tình hay cố ý mà không để thang, khiến gã loay hoay không biết phải làm thế nào mới phải.

Kỳ thực đối với người có tu vi như ba lão Mộc, Phạm, Lý thì cái đài này cũng chẳng khác một bậc cầu thang là bao nhiêu, nhún chân một cái là lên được, vốn dĩ không cần phải chuẩn bị thang làm gì. Trong mắt bọn họ, Bích Mặc tiên sinh tuyệt đối là có tu vi siêu quần bạt tụy, thành thử đài gỗ cũng án theo lối suy nghĩ đó mà xây.

May mắn, Tạ Thiên Hoa nhẹ nhàng thổi một cái, dùng thần thông gọi gió đưa Nguyễn Đông Thanh lên đài.

Gã đứng trên đài, thẳng sống lưng, căn bản không dám lại gần bước ra một bước nào cả. Bên dưới, đám tội dân đã bắt đầu nhìn về phía Nguyễn Đông Thanh bằng ánh mắt khó chịu. Bọn họ lần này đến đây là để nhận vật tư, nhưng ba vị Mộc Phạm Lý nhất định phải chờ cái tên Bích Mặc tiên sinh này đến, sau khi y phát biểu thì mới chịu phát chẩn. Thế mà tên này lại cứ lóng nga lóng ngóng, chần chờ mãi chưa nói tiếng nào, sắc mặt bọn họ dễ chịu được mới là lạ.

Tuy EQ của Nguyễn Đông Thanh không lấy gì làm cao cho cam, song không phải người ngu xuẩn. Gã vội vàng hắng giọng, lựa lời xoa dịu cơn giận của quần chúng:

“Các vị, tại hạ biết hôm nay các vị đến đây là muốn nhận vật tư, nhưng lại bị tại hạ làm trễ nải, thật xin lỗi. Không lãng phí thời gian của các vị nữa, tại hạ xin nói ngắn gọn hai câu:

Người nước Nam, hỏi tiếng tây chẳng biết tây, hỏi tiếng đông chẳng biết đông, chỉ một lẽ, minh tiên vương chi đạo dĩ đạo.

Nhà hướng bắc, chưa ai rét thì đã rét, chưa ai nực thì đã nực, mới gọi là: tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu.”

Sau đó nhẹ nhàng bước đến bên đài, đánh mắt ra hiệu cho đệ tử. Tạ Thiên Hoa lại gọi một cơn gió, đưa Nguyễn Đông Thanh nhẹ nhàng đáp xuống đất. Bấy giờ đã nói xong, quần chúng lại bắt đầu nháo nhào đòi được phát chẩn. Mộc Thanh Hiên cơ hồ bận tối mặt tối mày, hai người Phạm, Lý cũng phải hít thở không thông.

Nguyễn Đông Thanh phủi vạt áo, sau đó vái chào ba người Phạm, Lý, Mộc, thừa lúc tội dân đang dồn lên, không có ai rảnh rang chú ý đến gã, bèn dẫn hai đệ tử đi thẳng, lẩn còn nhanh hơn cả thỏ.

Hai câu này Nguyễn Đông Thanh đạo của cụ Nguyễn Khuyến, thay mỗi chữ “tàu” thành chữ “đông”. Gã thấy mình không lủi cho sớm, ngộ nhỡ ba lão Mộc Lý Phạm hỏi đến, lại lộ đuôi cáo, e là Vũ Tùng Lâm sẽ xiên sống gã.

oOo

Ba người Mộc, Phạm, Lý phát chẩn hơn nửa ngày mới xong,

Nạn dân đã tản hết, ba lão già hẹn nhau đến chỗ của Lý Lợi Minh uống rượu giải tỏa một phen. Món vừa lên, rượu mới rót, Phạm Thừa Phong đã lên tiếng hỏi:

“Hai vị... thấy câu nói của tiên sinh hôm nay thế nào?”

“Không giống tưởng tượng.”

Lý Lợi Minh dốc một chén, đáp, giọng hơi có vẻ bực bội. Lão cứ nghĩ với một cao nhân có thể sáng tạo ra môn võ công khắc chế quỷ tộc mà nói, đáng nhẽ phải có dị tượng đầy trời, khiến người nghe tiến vào không minh, tu vi đề thăng, củng cố cảnh giới, hoặc chí ít cũng có tác dụng gì đó. Thế nhưng...

Chẳng có chuyện gì xảy ra.

Không có đạo vận, không thấy quy tắc, lại càng chẳng có bất cứ một cơ duyên kì ngộ nào. Nguyễn Đông Thanh lên đài nói hai câu quả thực không khác chút nào đám người phàm “ăn tục nói phét”, câu chữ chẳng đáng một đồng.

Nói khó nghe một câu, mời long tộc đến đánh một phát rắm còn có giá trị hơn.

Nếu không phải mắt thấy tai nghe Lý Thanh Vân trước và sau khi đến Lão Thụ cổ viện có biến đổi nghiêng trời lệch đất, Lý Lợi Minh đã hoài nghi Nguyễn Đông Thanh thực chất là hạng lừa người lấy tiếng, thùng rỗng kêu to mà thôi.

Mộc Thanh Hiên thì không nói lời nào, chỉ lẳng lặng uống rượu.

Phản ứng hôm nay của Nguyễn Đông Thanh kỳ thực “đã trong dự liệu” của lão. Theo lão thấy, Bích Mặc tiên sinh cố ý đi bộ, không lộ tu vi, lên đài cũng chỉ nói suông vài câu kỳ thực là đang dằn mặt lão. Y cơ hồ đang muốn nói cho Mộc Thanh Hiên biết y đã sớm nhìn ra chuyện lão đang thăm dò y, chưa trở mặt chẳng qua là vì Mộc Thanh Hiên chưa để lộ ác ý đó thôi.

Lão chờ hai người còn lại bàn bạc chán chê, rồi mới lên tiếng:

“Hai vị chưa từng vào Lục Trúc Hải có lẽ không biết, thiếu nữ đi cùng Lý Thanh Vân hôm nay tên là Tạ Thiên Hoa. Nàng ta là thánh nữ của tộc Thanh Tước.”

“Một tháng trước, ba con Thanh Tước bay ra khỏi biển trúc, chấn động cả quan ải. Bây giờ Tạ Thiên Hoa chạy theo Bích Mặc tiên sinh học nghệ, hai vị còn cho rằng người này đơn giản?”

Hai người Phạm, Lý nghe đến chỗ này, không khỏi rùng mình.

Bọn họ vẫn biết Vũ Tùng Lâm rất khách khí với Nguyễn Đông Thanh, nhưng chỉ cho rằng lão tổng binh cũng có mục đích giống họ, hi vọng Bích Mặc tiên sinh truyền thụ thần công mà thôi. Nào ngờ nguyên nhân thực sự còn đáng sợ hơn, hoàn toàn vượt ra khỏi sức tưởng tượng của hai người.

Mộc Thanh Hiên chờ hai người bình tĩnh lại, mới lạnh lùng tưới thêm can dầu nữa vào ngọn lửa:

“Phạm lão, Phong Thanh các từng bán tình báo cho ai mới khiến thầy học của Lý Thanh Vân bị giam lỏng, có lẽ tại hạ không cần nói thêm. Lý lão, ngài nhận lệnh ai dùng tiền cố ý làm khó Lý Thanh Vân, có lẽ tự ngài cũng đã biết. Mộc mỗ chỉ muốn nói tuy hai vị hành xử rất kín kẽ không để lại dấu vết, tiểu tử họ Lý cũng chưa chắc biết ai là người ra tay hại mình, nhưng Bích Mặc tiên sinh đó thì chưa chắc. Hôm nay y lên đài không thể hiện tu vi, chẳng qua là muốn thị uy với chúng ta mà thôi.”

Mộc Thanh Hiên nói xong, uống cạn chén rượu, nói đoạn tự mình quay về Tế Thế đường.

Lão nói đến thế, cũng không cần phải nhiều lời. Hai người Phạm, Lý dù sao cũng là gia chủ thế gia vọng tộc, đứng đầu một phương thế lực, đương nhiên sẽ biết phải hành xử ra sao.

Từ đó cam tâm tình nguyện bị lão kéo xuống nước.

oOo

Lại nói sau khi ba thầy trò Nguyễn Đông Thanh rời khỏi nơi phát chẩn thì lập tức khăn gói quay về Lão Thụ cổ viện. Song, vừa mới đi được đâu đó hai dặm đường, Nguyễn Đông Thanh đã thấy đằng trước có một người đứng chờ.

Ấy là một thiếu nữ nhỏ thó, thấp hơn Tạ Thiên Hoa đến cả cái đầu, người gầy gò, tóc khô đét, mặt lem nhem toàn bùn đất.

“Tiên sinh!”

Vừa thấy ba người, cô bé này đã reo lên, nghe ngữ khí háo hức, dường như người mà cô ta chờ đúng là ba thầy trò Nguyễn Đông Thanh.

Bích Mặc tiên sinh của chúng ta lúc này ngoài mặt cố tỏ ra trấn tĩnh, kỳ thực vừa giật mình đánh thót một cái, chột dạ nghĩ bụng:

“Chẳng nhẽ... con bé biết mình đạo văn, nên định bóc mẽ? Không phải định tống tiền gì đấy chứ?”

“Tiên sinh. Khẩn cầu ngài thu con làm đệ tử!”

Trong lúc Nguyễn Đông Thanh còn đang phân vân không biết có nên dùng thượng sách trong tam thập lục kế hay không, thì thiếu nữ bẩn thỉu đã quỳ xuống, dập đầu với gã, nói bằng giọng khẩn khoản và van lơn.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 21: Thiên Sư Đạo


Nguyễn Đông Thanh thấy cô gái này dáng vẻ thành khẩn, lại rất đáng thương, không giống như là hạng lừa đảo. Gã chỉ thấy thắc mắc không hiểu mình có bản lĩnh gì hấp dẫn những người tu hành kia.

Tạ Thiên Hoa xem như là ngoại lệ.

Theo Đông Thanh thấy, nàng ta vốn là tiểu thư, được nuông chiều đã quen. Mà những người như vậy hầu hết đều có điểm chung là tùy hứng, chóng chán cả thèm. Việc Tạ Thiên Hoa bỏ bê tu luyện, vùi đầu nghiên cứu sinh học chẳng qua là hứng thú nhất thời, dùng để giết thời gian chờ chuyện ở gia tộc lắng xuống mà thôi.

Cô gái kia bối rối, sau đó cắn răng, chỉ vào Lý Thanh Vân mà nói:

“Tiên sinh... tiểu nữ cũng muốn học công phu giống với vị thiếu hiệp đây, mong tiên sinh cho phép!”

“Ra là vậy...”

Nguyễn Đông Thanh gật đầu, bụng bảo dạ:

“Xem ra cô nàng trước mặt tám chín phần cũng là một người phàm giống mình. Chắc là xem được trận đánh của thằng nhóc Thanh Vân, nên muốn theo học Giáng Long Thập Bát Chưởng đây mà.”

Nói thật, nếu được, Nguyễn Đông Thanh cũng muốn học một chiêu này. Dầu sao thế giới tu hành đối với một kẻ phàm nhân như hắn mà nói quá nguy hiểm. Không có chút bản lĩnh phòng thân thực sự khó mà yên tâm sống.

Đáng tiếc. Học không được.

“Cô nương mau đứng lên. Tại hạ tài sơ học thiển, không có bao nhiêu bản lĩnh đi dạy thiên hạ.”

Lý Thanh Vân và Tạ Thiên Hoa nghe câu này xong, mắt trợn tròn. Người sau bèn truyền âm cho kẻ trước, nói:

“Sư huynh. Chẳng nhẽ sư phụ không biết khiêm tốn thái quá còn có sức sát thương hơn là mắng chửi thẳng mặt hay sao?”

Nguyễn Đông Thanh đang muốn uyển chuyển từ chối, không muốn lấy tiểu thuyết đi dạy người ta đánh nhau, lại thấy thiếu nữ trước mặt lộ vẻ tuyệt vọng, đôi mắt rưng rưng sắp khóc.

Cuối cùng... hắn mềm lòng.

Chỉ thấy, Nguyễn Đông Thanh hắng giọng, nói:

“Tuy nhiên... nếu cô nương không chê, thì có thể đến tiểu viện. Thanh Vân, nếu... dám hỏi tên họ của cô nương?”

Gã nói được một nửa, mới sực nhớ là đến tên đối phương mình còn chưa biết, không khỏi có phần thất lễ.

Thiếu nữ ban nãy còn tuyệt vọng tưởng chừng rơi xuống đáy vực, lại không ngờ trong chớp mắt một bước lên mây, chênh lệch khiến cô nàng ngẩn ngơ hẳn ra cơ hồ sững cả người. Bấy giờ nghe Nguyễn Đông Thanh nói, cô nàng mới mừng rỡ ra mặt, nhoẻn miệng cười, đáp:

“Thưa tiên sinh, tiểu nữ họ Đỗ.”

“Được. Thanh Vân, sau này nếu Đỗ cô nương muốn mượn sách đọc thì cứ cho mượn.”

“Tiên sinh... chuyện này không được. Có câu ‘pháp bất khinh truyền’, tiểu nữ chưa bái nhập môn hạ, vẫn tính là người ngoài, sao dám tu tập thần công bản phái?”

Thiếu nữ họ Đỗ vội vàng xua tay, nói.

Nguyễn Đông Thanh nhún vai:

“Cũng không phải thứ gì cao thâm, cô nương yên tâm. Hà huống, sách này đặc thù, ngộ được thứ gì còn tùy thuộc vào bản thân, không thể nói là khinh truyền thuật pháp được.”

“Vậy... tiểu nữ xin cảm tạ tiên sinh. Sau này nếu tiên sinh cần, dầu sôi lửa bỏng tiểu nữ cũng dám nhảy vào báo đền ơn nghĩa!”

“Được được. Đừng có quỳ.”

oOo

Sau khi Nguyễn Đông Thanh quay về cổ viện trên núi, hai người Tạ, Lý mới quay sang hỏi chuyện cô gái họ Đỗ.

Nguyên nhân kỳ thực cũng rất đơn giản.

Tạ Thiên Hoa thân là Thanh Tước, tu vi lại cao hơn cô gái kia, nên cảm nhận được trên người đối phương một loại đạo tàng hư ảo. Ban nãy thiếu nữ bị bất ngờ vì mấy câu nói của Nguyễn Đông Thanh, để lộ một chút khí tức. Tạ Thiên Hoa phát hiện nguyên lực của cô gái họ Đỗ không ngừng luân chuyển giữa âm dương cương nhu, cực kì giống với công pháp của Thiên Sư đạo.

Đạo thuật của Đạo gia chuyên khắc chế ác ma, tà quỷ. Thiên Sư đạo mấy năm nay càng dương cao lá cờ “trừ ma vệ đạo”, thu được không ít tín đồ, nhận lấy vô số hương hỏa, được trăm họ thờ phụng.

Thế mà đường đường là truyền nhân của Thiên Sư đạo, cô gái họ Đỗ lại chạy đến đây, thiếu điều quỳ xuống cầu xin Bích Mặc tiên sinh học môn Giáng Long Thập Bát chưởng, nghe thôi cũng thấy là có chuyện đáng ngờ.

Cô gái biết hai người này là cao đồ của Nguyễn Đông Thanh thì cũng không giấu chuyện mình nữa, kể lại một lượt.

Thì ra, nàng ta tên là Đỗ Thải Hà.

Vốn nàng ta là một thôn nữ bình thường, sinh hoạt ở một thôn nhỏ nằm dưới chân núi Long Hổ cách nước Việt tám ngàn dặm, chính nằm ở phía bắc núi Hoàng Liên.

Mười năm trước, vào đúng đêm giao thừa, quỷ đói vào làng ăn thịt uống máu, đồ sát hơn trăm mạng người. Cuối cùng chỉ có Đỗ Thải Hà là may mắn sống sót.

Cô nàng ôm mối thù diệt môn, vượt chông gai sóng gió lên núi Long Hổ bái vào Thiên Sư đạo học nghệ, ý muốn trả thù quỷ đói. Thiên Sư đạo trước đây còn có tên là Ngũ Đấu Mễ đạo, muốn vào giáo trước phải nộp lên năm đấu “tiên mễ” giá trị liên thành. Đỗ Thải Hà phải cắn răng giao nộp miếng ngọc di vật của cha mẹ để lại mới được thu nhận. Cô nàng thiên phú rất cao, chỉ trong bảy năm đã tấn thăng thành đệ tử nội môn, được tiếp xúc với một số bí mật của Thiên Sư đạo.

Đây cũng là lúc Đỗ Thải Hà tuyệt vọng.

Trong phái có thiết luật, đệ tử nội môn không thể gây chuyện với người của Đế Mộ. Cho dù hành tẩu giang hồ thấy đối phương làm chuyện gì cũng phải mặc kệ. Nếu như không biết, một khi đối phương đã báo ra danh hiệu “Đế Mộ” thì phải lập tức thu tay, không được can thiệp vào chuyện đó nữa.

Đỗ Thải Hà có điều bất bình, mới hỏi nguyên do.

Bộ mặt thật của tông môn bấy giờ mới lộ ra ngoài sáng.

Cả núi Long Hổ, đạo quán hàng vạn người, ngày thường được phàm nhân cung phụng thờ cúng, chẳng qua cũng đều là hạng ích kỷ tự tư.

Cái gọi là “trừ ma vệ đạo”, chẳng qua là để lấy công đức chi lực, chứng đạo thiên địa.

Thể theo lời của các bậc “chân nhân” trong phái, phàm nhân như bầy kiến cỏ, chết đám này thì còn nhiều đám khác. Không nên vì một chút công đức chi lực cỏn con mà đắc tội Đế Mộ.

Hơn nữa...

Tên quỷ đói từng đồ sát cả làng Đỗ Thải Hà, không ngờ lại có cấu kết với Thiên Sư đạo. Có một ngày cô nàng đứng bưng đèn hầu các chân nhân tập pháp luyện phù, tên này có đến làm một cuộc “giao dịch”.

Trước hết, Long Hổ sơn tổ chức hội luận đạo, tụ hội đạo môn thiên hạ.

Sau đó, hắn sẽ thừa lúc thành Quảng An không ai phòng vệ, đi vào giết một nhóm phàm nhân, lấy hồn về cho một vị đại nhân ở Đế Mộ.

Cuối cùng, mười tám chân nhân “phẫn nộ hàng lâm”, đánh đuổi ác quỷ, cứu trăm họ trong nước lửa.

Đám chân nhân chẳng những không thấy gì làm ghê tởm, thậm chí còn dốc sức nịnh hót tên quỷ đói, giống như sợ hắn sẽ đưa mối “làm ăn ngon lành” này cho người khác vậy. Tên nào tên nấy đều hiến kế làm sao hành hạ phàm nhân độc ác dã man nhất, để tên quỷ đói cao hứng cười hô hố cả buổi.

Tận mắt thấy một đám “chân nhân” mất hết nhân tính, coi mạng người như cỏ rác, khiến Đỗ Thải Hà hoàn toàn thất vọng với một đám ngụy quân tử đội đạo quan này.

Cô nàng sau đó rời bỏ sư môn, thay tên đổi họ, lang bạt khắp nơi chỉ cốt sao học cho được đạo thuật cao minh đặng trả mối thù diệt môn.

Chỉ tiếc, trên đời chẳng có một ai dám vuốt râu hùm của Đế Mộ.

Đỗ Thải Hà đến nước Việt thì hay tin Thanh Tước rời khỏi biển trúc, nhưng ải Quan Lâm lại sừng sững không ngã. Cô nàng lấy làm tò mò, bèn bôn ba chạy đến điều tra hư thực, bởi nhẽ biết đâu cái người đã đuổi thanh tước lại có cách đối phó Đế Mộ.

Cô nàng ở trong thành hơn nửa tháng cũng không nghe ngóng được gì, cực kì thất vọng. Chính cái hôm vừa định rời đi, đã ra đến cổng thành rồi, thì lại hay tin “phàm nhân thượng đài muốn chiến với tu hành giả một trận”. Một là tò mò, hai là cũng nghĩ trận đấu giữa phàm nhân và người tu hành chắc chẳng kéo dài bao lâu, nên Đỗ Thải Hà bèn đến võ đài Thiên Nguyên Đệ Nhất quan chiến.

Một trận đánh này, khiến tam quan của cô nàng hoàn toàn bị lật ngược.

Lý Thanh Vân phấn chấn chiến đấu, chính diện giao thủ không rơi xuống hạ phong là một nhẽ. Nhưng đòn Kinh Thiên Trảm kia thì đến chết cô nàng cũng không thể nào quên được.

Tên quỷ đói năm xưa cũng dùng một đòn này san phẳng hơn nửa cái thôn, chôn vùi già trẻ lớn bé gần tám mươi mạng người.

Vùa nhìn thấy Lâm Sấu đánh một đòn này, Đỗ Thải Hà đã biết đối phương là người của Đế Mộ.

Có thể khiến một phàm nhân có lực đánh ngang ngửa với quỷ đói của Đế Mộ, thần công Lý Thanh Vân sử dụng há lại đơn giản? Thế là Đỗ Thải Hà thay đổi chủ ý, từ trong bóng tối quan sát sư đồ ba người Nguyễn Đông Thanh.

Sau khi thấy cái vị “Bích Mặc tiên sinh” này vẫn bình chân như vại, chẳng có vẻ gì là sợ hãi Đế Mộ, cô nàng mới vững tin rằng người này có thể chính là hi vọng của mình. Thế là chờ trong ải Quan Lâm đến hôm nay, mới chạy đến bái sư.

Lý Thanh Vân và Tạ Thiên Hoa bấy giờ mới hiểu tại sao hai tên kia lại bỗng nhiên xông đến gây chuyện.

Hôm đó, Nguyễn Đông Thanh dẫn bọn họ đến ăn thịt ếch.

Mấy tên này có thể nhẫn nhịn được mới là lạ.

Tạ Thiên Hoa hít sâu một hơi, tấm tắc:

“Sư phụ quả nhiên là cao thâm như biển. Chuyện hôm đó tất nhiên không thể nào là trùng hợp được.”

“Đúng vậy. Có lẽ người đã sớm phát hiện ra Đế Mộ muốn thăm dò mình, nên cố tình diễn một màn này cho hai tên kia xem, kích bọn hắn thượng đài, lại mượn tay ta dạy dỗ bọn chúng một vố.”

Lý Thanh Vân cũng gật gù, nói.

Đối với hai người bọn họ, Nguyễn Đông Thanh thân là cường giả “nắm giữ bí mật thượng cổ”, “hiểu rõ bản nguyên của đạo” thì há lại còn chuyện gì mà gã không biết?

Nếu Nguyễn Đông Thanh biết hai đứa học trò có suy nghĩ này, chắc chắn sẽ kháng nghị kêu oan.

Thực sự hôm đó chỉ là thèm ăn thịt ếch thôi!!!
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 22: Chữ Số


Lại qua ba ngày...

Đỗ Thải Hà cau mày, cuối cùng buông quyển sách trong tay xuống, thở dài.

*Xạ Điêu Anh Hùng truyện* cô nàng đã đọc từ đầu chí cuối đến vài lần, thế nhưng lại không cách nào học theo Lý Thanh Vân, từ trên trang sách lĩnh hội võ công. Mặc cho cô nàng cực kỳ khao khát học được Cửu Âm chân kinh, song chung quy cũng là hoài công, dã tràng se cát.

Thở dài một hơi, Đỗ Thải Hà gấp quyển sách lại, sau đó nhìn về phía Lý Thanh Vân, tự hỏi không hiểu cậu chàng làm cách nào mà có thể luyện thành võ công chỉ từ mấy câu giới thiệu ngắn gọn cực kỳ sơ sài kia nữa

Không thể ngộ ra võ công trên trang sách, Đỗ Thải Hà cực kỳ khẩn trương, cơ hồ suýt nữa phát khóc.

Cô nàng chỉ sợ Nguyễn Đông Thanh sẽ đuổi cổ mình, từ đó không còn hi vọng gì chuyện báo thù nữa.

Thế nhưng, đúng lúc cô nàng đang thấp thỏm lo âu, Nguyễn Đông Thanh bỗng nhiên xuống núi, tay còn cắp theo một chồng sách dày, trên mặt hiện rõ vẻ ghét bỏ.

“Chào tiên sinh.”

“Chào cô nương. Không biết cô nương mấy ngày nay đọc *Xạ Điêu Anh Hùng truyện* có thu được lợi ích gì chăng?”

Nguyễn Đông Thanh ngừng lại, vặn eo, cười hỏi thăm.

Đỗ Thải Hà cúi đầu, nói:

“Bẩm tiên sinh, tiểu nữ tư chất ngu muội, không ngộ được cái gì cả.”

Cô ngộ được mới là chuyện lạ!

Nguyễn Đông Thanh thở phào, vuốt ngực.

Vẫn tưởng do mình dốt, té ra thằng nhóc Lý Thanh Vân là một trường hợp ngoài ý muốn.

“Bẩm tiên sinh... đây là...”

“Một chút sổ sách mà thôi.”

Nguyễn Đông Thanh nâng mấy quyển sổ lên, lại giải thích hiện giờ Lão Thụ cổ viện đã không còn giống khi xưa, chẳng những dưới núi này có thêm ba miệng ăn, gã lại còn xây thêm ao cá, chuồng gà. Sắp tới do vườn rau trên tiểu viện đã không đủ đảm bảo sinh hoạt cho mọi người, hắn còn muốn xây thêm một cái nữa dưới núi. Bao nhiêu khoản thu chi như vậy, chuyện tiền nong không thể qua loa xoa xuýt như trước được, bằng không chỉ sợ là chẳng bao lâu cả bọn phải đến nước húp gió ăn sương mà sống.

Song, hắn mới làm một lúc đã thấy nhức đầu, lại nhớ đến ngày trước còn ở địa cầu thường hay mò ra quán cà phê làm việc, bèn cắp một mớ sổ sách xuống núi, đổi gió một phen xem sao.

Cuối cùng, đầu Nguyễn Đông Thanh nổi đầy gân xanh, tuyên bố bỏ cuộc.

Không vì nguyên do gì khác, chỉ vì thời gian gần đây thường hay có chuyện phải ra ngoài, nên con sâu lười trong bụng hắn lại ngọ nguậy. Thế là Đông Thanh bèn nhờ Hồng Vân ghi chép thay mình một số sổ sách thu chi.

Sau đó...

Gã hối hận muốn khóc.

Đỗ Thải Hà thấy vị tiên sinh này có vẻ rất ghét quản lý sổ sách, bèn đánh bạo xin Nguyễn Đông Thanh cho mình xem chồng sách kia. Cô nàng lật nhanh một phen, tự hỏi ba bốn quyển sổ sách cũng chẳng phải số lượng lớn gì, hơn nữa ghi chép tỉ mỉ cẩn thận, rất là dễ đọc, không rõ tại sao Nguyễn Đông Thanh lại tỏ ra ghét bỏ như vậy.

“Bẩm tiên sinh, những sách này có vấn đề gì sao?”

Đỗ Thải Hà không phát hiện được ra vấn đề, cuối cùng quyết định hỏi thẳng Nguyễn Đông Thanh cho xong.

Gã thở dài, khoát tay:

“Có nói cô nương cũng không hiểu.”

Thế rồi, gã tìm một phiến đá phẳng, trải giấy. Đỗ Thải Hà nhanh nhẹn chạy đến giúp Nguyễn Đông Thanh rửa bút, mài mực, lại hỏi:

“Tiên... tiên sinh. Không biết có thể để tiểu nữ đứng xem được không?"

Đỗ Thải Hà nuốt nước bọt, thấp giọng hỏi.

Lúc vừa mới đến ngọn núi vô danh, cô nàng đã bị một mèo một chó dọa cho kinh hồn táng đảm. Thần thức nặng như núi đè xuống, cơ hồ khiến Đỗ Thải Hà không thở nổi. Trong trí nhớ của cô nàng, cho dù đối mặt với lão tổ của núi Long Hổ cũng không gặp phải áp lực cỡ này.

Rất may, thần thức kia không có ác ý, nếu không e là Đỗ Thải Hà đã bị ép chết.

Về sau, Lý Thanh Vân mới giải thích cho cô nàng, hai cỗ thần thức kia là của một con chó đen, một con mèo trắng, đều là vật cưng của Nguyễn Đông Thanh, dặn cô nàng chớ có chọc giận bọn họ.

Nhất là Cải Thảo. Con mèo đó thù dai muốn sợ.

Đỗ Thải Hà lại nghĩ, nếu thú cưng nuôi trong nhà đã đáng sợ đến thế, thì thân là chủ nhân, Nguyễn Đông Thanh còn mạnh đến mức nào?

Từ đó mới dẫn đến chuyện cô nàng cứ thấp thỏm sợ sệt khi nói chuyện với gã.

Nguyễn Đông Thanh cười, nói:

“Tưởng chuyện gì? Mau ngồi...”

oOo

Đỗ Thải Hà chỉ thấy gã chấm mực, sau đó đôi mắt nhìn lướt qua chồng sổ sách đặt bên cạnh, kế nhanh chóng múa bút, viết một đống các ký tự cổ quái trên giấy.

Nguyễn Đông Thanh lật sách liền tay, mỗi trang hắn chỉ viết một đến hai dòng, chẳng mấy chốc đã ngốn xong cả một quyển. Bấy giờ, gã mới viết được kín bảy tám trang giấy.

“Tiên... tiên sinh... dám hỏi ngài viết thứ gì đây?”

Đỗ Thải Hà thấy cái mớ gã viết còn khó hiểu phức tạp hơn bùa chú trận pháp chân truyền của Long Hổ sơn, lại mơ hồ cảm thấy từng ký tự đều ẩn chứa một loại bản chất nào đó. Tụ hợp một chỗ, mỗi dòng lại giống như có hơi thở của đạo phả ra, khiến cô nàng chỉ thấy toàn thân phát run, đứng không vững.

So với cửu tự chân ngôn của Phật gia, hay đạo chú của đạo gia thì cao thâm hơn nhiều.

Kích động!

Đỗ Thải Hà thầm nghĩ, nếu có thể học được thứ “chân ngôn” này, ắt có thể báo được thù nhà.

Nguyễn Đông Thanh vươn vai, cười:

“Đây là chữ số...”

Vừa đáp, trong lòng hắn vừa chặc lưỡi. Thời cổ các nước Đông Á, trong đó có Việt Nam, chưa có khái niệm chữ số. Mỗi một quyển sổ sách cơ hồ đều giống như bài văn, tiểu thuyết gì đó, viết thì nhiều nhưng lưu trữ chẳng được bao nhiêu.

Kể từ sau khi chữ số Ả Rập du nhập vào, lại khái quát hóa được các phép tính toán, thì việc lưu giữ sổ sách mới dễ dàng hơn hẳn.

Huyền Hoàng giới xem ra cũng chưa có chữ số.

Gã chợt vỗ trán, nhìn sang chỗ Đỗ Thải Hà, cười:

“Cô nương muốn học không?”

“Tiên... tiên sinh chịu dạy cho tiểu nữ?”

Đỗ Thải Hà ước gì có thể lập tức học được thứ “chữ số”, thế nhưng lại tự thấy thuật này huyền ảo cao thâm quá đáng, tất nhiên phải là một môn thần thông chí cao vô thượng, sợ rằng đã chạm đến bí ẩn của trời đất.

Loại pháp môn cao thâm cỡ này, sao có thể dễ dàng truyền ra ngoài?

Thế nên, cô nàng mới không dám hỏi Nguyễn Đông Thanh, chỉ sợ sẽ khiến mình trông vô phép trước mặt vị tiên sinh này.

Không ngờ, gã lại mở miệng chủ động muốn dạy.

Đỗ Thải Hà không nén nổi kích động, gật đầu như gà con mổ thóc, nói:

“Muốn! Muốn học! Cầu tiểu nữ chỉ dạy cho... không... xin tiên sinh... cũng không đúng! Sư phụ xin nhận một lạy của đệ tử.”

Nguyễn Đông Thanh cười xòa:

“Đệ tử sư phụ gì đó thì miễn đi. Sau này tại hạ dạy cô nương thứ này, cũng xem như có chút duyên, gọi nhau thầy trò là được.”

Kỳ thực, biết cô nàng không thể lĩnh hội được võ công từ trong tiểu thuyết giống Lý Thanh Vân, Nguyễn Đông Thanh cũng có chút áy náy. Bây giờ may sao hắn có thứ khiến Đỗ Thải Hà hứng thú muốn học, đương nhiên sẽ không giấu diếm.

Thế là, Nguyễn Đông Thanh bắt đầu dành buổi chiều hôm đó dạy cho Đỗ Thải Hà ý nghĩa của các chữ số, các dấu phép tính, cũng lấy luôn quyển sổ thu chi làm đề bài, để cô nàng học tính toán.

Đỗ Thải Hà tức thì say mê, ngồi tính toán quên cả thời gian.

Được một lúc, thấy ráng chiều đã chuyển dần thành ánh hoàng hôn, Đỗ Thải Hà mới tiếc nuối ngưng bút. Cô nàng khẽ lau mồ hôi trán, lại hỏi Nguyễn Đông Thanh:

“Thưa... thưa thầy. Có thể ghép các chữ số cạnh nhau đến chừng nào?”

“Đến chừng nào cũng được.”

Nguyễn Đông Thanh cười khẽ, đáp.

Không thể không nói, Đỗ Thải Hà là một cô gái rất sáng dạ, hơn nữa hình như cũng không còn lạ lẫm gì với chuyện cộng trừ nhân chia này. Thế nhưng, gã không ngờ chỉ mới một buổi, Đỗ Thải Hà đã có thể mơ hồ hình dung ra khái niệm “vô cực” trong toán học.

Quả thực khiến hắn bất ngờ.

Đỗ Thải Hà há miệng, hỏi:

“Vậy... chẳng phải không có số nào lớn nhất?”

Cô nàng còn nhớ trong khi học tập tại đạo quán, trong Thiên Sư đạo cũng có dạy “vô cực sinh thái cực, thái cực sinh lưỡng nghi”.

Không ngờ, hôm nay theo Nguyễn Đông Thanh học “chữ số”, lại lần nữa bắt gặp khái niệm vô cực. Hơn nữa, còn được diễn giải đơn giản dễ hiểu hơn nhiều so với trong đạo kinh khô khan.

Nguyễn Đông Thanh cười:

“Không sai. Hơn nữa nhiêu đây cũng chỉ là cơ bản thôi, sau này còn nhiều thứ cao thâm hơn nữa.”

Vừa nói, gã vừa nhớ lại thời đi học toán cao cấp, ký ức đen tối nhịn ăn học lại môn khi ấy làm gã thiếu điều văng tục.

Thế rồi, gã đưa luôn quyển mình vừa chép cho Đỗ Thải Hà, ra vẻ thần bí nói:

“Được rồi. Sau này chuyện coi giữ sổ sách của Lão Thụ cổ viện sẽ do trò đảm nhận. Trò cầm quyển sổ này xem lại, kiểm tra thật kỹ. Trong đó có vài chỗ sai thầy cố tình để lại để kiểm tra, chớ có lười biếng.”

Không sai.

Sở dĩ Nguyễn Đông Thanh thấy đau đầu vì đống sổ sách hoàn toàn không phải do hắn dốt toán.

Mà là do mù chữ.

Dùng bảy tám dòng mới miêu tả được ba bốn phép toán gì đó, chưa kể còn có quy đổi giữa tiền xu và bạc vụn. Cho dù Hồng Vân cố tình dùng những chữ đơn giản hắn đã học, thì Nguyễn Đông Thanh cũng chỉ đọc hiểu được bảy tám phần mười. Có những chỗ hắn phải đoán bừa dựa trên văn cảnh, khó tránh khỏi sẽ có sai sót. Làm việc trong hoàn cảnh như vậy, có thể nói là áp lực như núi. Nguyễn Đông Thanh đến giờ còn chưa thần kinh rung rinh cười phe phé xem như là kỳ tích.

Bây giờ bỗng nhiên có Đỗ Thải Hà chẳng những hứng thú bừng bừng, còn nhiệt tình chịu khó, không quăng việc cho cô nàng làm họa có là kẻ ngớ ngẩn.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 23: Tạ Hàn Thiên Lại Đến


Lại qua mấy ngày, Tạ Hàn Thiên cưỡi mây đáp xuống ngọn núi vô danh.

Lần này, đi cùng với y còn có một cô gái tuổi chừng trên dưới ba mươi, áo trắng như tuyết, thắt lưng dắt một thanh trường kiếm, kiếm tuệ treo hai quả chuông vàng. Nàng ta hơi đảo mắt, phát hiện ba người Lý Thanh Vân quả thực sinh hoạt ở chốn này, không khỏi lấy làm kinh hãi. Mới đầu, lúc tình lang nói Lão Thụ cổ viện xuất hiện một vị cao nhân, nàng ta còn chưa tin.

Nhưng về sau trong tông môn có hậu bối và trưởng lão tận mắt chứng kiến, khiến nàng càng thêm hiếu kỳ, bèn quyết định tự mình đến bái phỏng một phen.

Tạ Hàn Thiên cười, nói:

“Dung nhi, nhìn, ca ca không lừa muội đúng chứ?”

“Còn phải xem đã.”

Cô gái thản nhiên đáp, sau đó rảo bước về phía ba thiếu niên nam nữ đang ngồi dưới chân núi.

Sau khi có thêm Đỗ Thải Hà, Nguyễn Đông Thanh bèn xắn tay xây dựng lên một cái xóm nhỏ dưới núi. Mấy căn nhà gỗ đơn sơ, thêm một cái bếp lửa lộ thiên chính giữa, hàng rào gỗ xinh xắn nằm nép bên dưới hai hàng trúc ven đường, đối diện bên kia con đường nhỏ là ao cá, chuồng gà, khung cảnh vừa thanh nhã thi vị, vừa mộc mạc đơn sơ.

“Con gà dù chết tiệt! Ngươi còn dám làm chết gà mái một lần nữa thì đừng trách bà đây cho lên vỉ nướng!”

Tạ Thiên Hoa miệng chửi, chân đuổi, mười đầu ngón tay phóng thanh sắc thần quang bắn về phía một con kê tinh, đuổi nó chạy thục mạng quanh sân.

“Tha mạng! Tha mạng!”

Con gà kêu thất thanh, nhưng không tài nào nhảy ra khỏi hàng rào được, đành phải hộc tốc chạy trốn.

Lý Thanh Vân đứng trong rừng trúc, song chưởng vung ra, trong không khí mơ hồ có tiếng rồng gầm, bắt đầu đánh về phía một cây trúc.

Bành!

Cái cây lắc lư nhè nhẹ, sau đó hoàn toàn không có động tĩnh gì.

Cuối cùng, Đỗ Thải Hà ngồi trước bàn đá, vừa cau mày, vừa lấy một cái que hí hoáy vạch trên mặt đất.

Tạ Hàn Thiên rảo bước đi tới, cười:

“Thiên Hoa!”

“Chú hai?”

Tạ Thiên Hoa hếch mũi, phủi bụi bám trên người, sau đó dí quả đấm về phía con gà tinh, hàm ý bảo nó chờ đấy. Cô nàng bấy giờ mới nhẹ nhàng tung mình chạy về phía Tạ Hàn Thiên.

“Ha ha. Con gà tinh nhỏ bé kia làm gì mà để cháu ngoan của chú tức tối thế?”

“Còn không phải do con dâm kê này không biết nặng nhẹ, cứ vài ngày lại làm chết gà mái hay sao? Sư muội tính ra, tháng này tiểu viện đã hao hụt gần trăm đồng tiền rồi. Không cho nó một bài học sao được?”

Tạ Thiên Hoa trừng mắt về phía con gà trống, nghiến răng.

Nếu không phải cô nàng còn đang cần nó để nghiên cứu cái khái niệm “chọn lọc nhân tạo” trong sách, thì Tạ Thiên Hoa sớm đã cho con gà kia biến thành một nồi thịt kho rồi.

“Tiên sinh thiếu tiền?”

Tạ Hàn Thiên trợn mắt, tự hỏi tại sao tồn tại tầm cỡ như Bích Mặc tiên sinh lại chi li từng đồng một.

Bấy giờ, lại có người lên tiếng xen vào:

“Sư phụ tự coi mình là phàm nhân, đương nhiên cũng muốn kiếm từng đồng từng đồng một bằng sức người phàm. Nếu không, chẳng phải tu nửa mùa hay sao?”

Người lên tiếng là Đỗ Thải Hà.

Tạ Hàn Thiên nghĩ kỹ lại, cảm thấy quả thực lúc đến tiểu viện, thứ nước trà Nguyễn Đông Thanh dùng để tiếp khách cũng bình thường đến cực điểm, bấy giờ mới chặc lưỡi khen phải.

Chưa đợi gã lên tiếng, cô gái mang kiếm đi cùng đã gật đầu:

“Hoàng đế có thể bỏ hết tiền tài về làm thứ dân, xem ra tâm cảnh của vị tiền bối này vượt xa tưởng tượng.”

Ở Huyền Hoàng giới cũng có lưu truyền truyền thuyết của một số cường giả quy ẩn, thể ngộ hồng trần, sau đó tùy tiện ban thưởng cơ duyên, bài bố đại cục. Động một tí là thưởng thánh dược, hở một cái là trà ngộ đạo.

Nói dễ nghe, là rộng lượng.

Nói khó nghe, là ra vẻ.

Quả thực không khác gì quan lớn về “vui thú điền viên”, sống như “dân thường”, nhưng trên người lại mang theo vài xe báu vật cả.

Đỗ Thải Hà nhìn về phía cô gái, hỏi:

“Xin hỏi tiền bối đây là?”

“Kiếm Trì – Lâm Phương Dung, hôm nay đến bái phỏng tiền bối.”

Cô gái áo trắng cung tay, cười, làm lễ ngang hàng, không hề coi bản thân là tiền bối.

Đỗ Thải Hà trợn mắt, miệng nhỏ hơi há ra, kinh ngạc không thôi. Thứ nhất, cô nàng không tài nào tin nổi có ngày lại gặp được cự đầu cỡ này. Thứ hai, Lôi Đình Kiếm Tổ - một trong ba cự đầu của Kiếm Trì – Lâm Phương Dung, mang tiếng là công kích mạnh nhất trong tam tổ, lại là một cô gái nhìn như nhu nhược dịu dàng.

Tạ Thiên Hoa sớm biết ông chú nhà mình có quan hệ mờ mịt với Lôi Đình Kiếm Tổ, nên không tỏ ra kinh ngạc, mà trả lời:

“Sư phụ vào thành dạy học, có lẽ trước giờ chiều sẽ không quay lại. Nếu kiếm tổ có chuyện khác cần làm, không bằng ngày khác trở lại?”

“Không vội. Không vội.”

Lâm Phương Dung cười, khoát tay.

Nàng ta vẫn biết hậu bối của Kiếm Trì và hai vị đệ tử của Bích Mặc tiên sinh – Lý Thanh Vân và Tạ Thiên Hoa không hợp nhau lắm.

Song, xưa nay chuyện của hậu bối, kỳ thực không liên quan đến thế hệ trước, càng không thể vì đó mà kéo cả một thế lực xuống nước. Thành thử, trừ bỏ một số tán tu, Huyền Hoàng giới cơ hồ rất ít xuất hiện trường hợp tiền bối không cần mặt mũi đến hỏi tội một hậu nhân. Trái lại, cũng rất ít khi có chuyện thiên tài quật khởi tìm đến trả thù cả một phương thế lực.

Thế nên, cho dù Lý Thanh Vân và Tạ Thiên Hoa có khúc mắc với Phùng Thanh La thì cũng chẳng can hệ gì tới Kiếm Trì tam tổ và Bích Mặc tiên sinh cả.

Lâm Phương Dung không phải kẻ ngốc.

Trước khi hẹn Tạ Hàn Thiên đến đây, nàng ta đã cho người cẩn thận để ý ải Quan Lâm. Lưu Ảnh thạch có trận đánh giữa Lý Thanh Vân và quỷ đói nàng ta cũng đã xem không dưới mười lần.

Lý Thanh Vân – thứ tử của Võ Hoàng, từ chối lời mời vào Kiếm Trì – Lâm Phương Dung tự nhiên là biết, cũng rõ cậu chàng đã phải trải qua những gì. Chính vì thế, nàng ta lại càng khâm phục tài của Bích Mặc tiên sinh thần bí kia hơn.

Có thể vực dậy Lý Thanh Vân đã bị tước đoạt Võ Thánh chi hồn, phế bỏ tu vi, quả thực là bản lĩnh se rơm thành vàng, mài đá ra ngọc, hóa mục nát thành thần kỳ.

Trong lúc chờ Nguyễn Đông Thanh quay lại, Tạ Hàn Thiên tranh thủ hỏi thăm cháu gái mình, trong khi đó Lâm Phương Dung thì trò chuyện cùng Đỗ Thải Hà.

Cái trước thì không nói, dù sao cũng đã không phải lần đầu tiên đến Lão Thụ cổ viện. Cái sau thậm chí còn bị “chữ số” khiến cho khâm phục sát đất. Bốn phép cộng trừ nhân chia trong mắt cường giả như nàng ta, thế mà lại khái quát hóa được bốn loại quy luật của tự nhiên, thậm chí theo như Đỗ Thải Hà nói, còn chạm đến được cảnh giới “vô cực”.

Không thể không nói, quả thực cao thâm mạt trắc.

Đến lúc nghe nhiêu đó mới chỉ là “da lông”, Lâm Phương Dung cơ hồ chỉ thấy thế giới đảo lộn, hận không thể từ kiếm đạo chuyển sang tu số học.

Nàng mơ hồ càm giác được, số học so với kiếm đạo càng đáng sợ. Tuy hiện tại nàng có thể dùng một kiếm chém rụng vô vàn sao trời, bổ đôi núi non sông biển, thậm chí chém vỡ dòng sông thời không. Nhưng Đỗ Thải Hà một khi tu đạo này đến cùng cảnh giới của nàng, có thể dùng một phép tính trừ tiêu biến kiếm khí, một phép tính chia cắt giảm tu vi của Lâm Phương Dung.

Hơn nữa, đó mới chỉ là “da lông” mà thôi.

Lâm Phương Dung chưa từng coi thường Bích Mặc tiên sinh, nhưng nàng cho rằng đối phương cùng lắm là một lão quái vật cùng cảnh giới với mình, cho dù hơn thì cũng vẫn chỉ gói gọn trong cửu cảnh mà thôi.

Thế nhưng, hiện tại nàng ta dám khẳng định...

Bích Mặc tiên sinh chỉ sợ đã sớm siêu thoát vô danh cửu cảnh, đặt chân vào cảnh giới thứ mười đã vỡ tan tành từ sau Phản Thiên Chi Chiến.

Lâm Phương Dung không chút do dự, lấy trong áo ra một tấm truyền tin phù, ban bố một mệnh lệnh cho Kiếm Trì.

Từ nay không thể đối địch với vị đại năng ở Lão Thụ cổ viện.

Về sau, mặc kệ là bản thân Bích Mặc tiên sinh, hay đồ đệ của y đến thăm, đều phải coi là thượng khách, đối đãi cẩn thận.

Lâm Phương Dung vừa làm xong chuyện này, thì bỗng nhiên nghe thấy từ phía ải Quan Lâm có tiếng bánh xe lọc cọc vang lên. Chỉ thấy trên con đường phủ đầy cát, một cái xe bò thủng thẳng đi về phía ngọn núi vô danh.

Ngồi đánh xe, là một người đàn ông cỡ ba mươi, mặc áo vải gai, tóc buộc củ hành. Gã ngậm trong miệng một nhành cỏ, tay cầm một cái giỏ đan bằng tre, miệng huýt gió mấy cái.

Lâm Phương Dung cau mày.

Sau đó đôi mắt nàng ta trợn to, cơ hồ không dám tin vào chuyện mình đang chứng kiến.

Trong đôi mắt nàng, Nguyễn Đông Thanh hoàn toàn không có một chút ba động của chân khí nào. Nếu sử dụng thần thức theo dõi, thậm chí không thể cảm nhận được gì, ngay cả khi gã đang đứng lù lù giữa trời đất này.

Lâm Phương Dung càng chắc chắn suy đoán của mình.

Chỉ có người đã siêu thoát vô danh cửu cảnh mới khiến cho thần thức của cường giả như nàng ta sinh ra ảo giác, rằng gã không hề tồn tại.

“Thanh Vân, Thiên Hoa, Thải Hà, có lộc ăn!”

Nguyễn Đông Thanh hào hứng hô lớn, sau đó mới phát hiện trước cửa vào núi có đứng hai người một nam một nữ. Người nam trước đây gã đã gặp một lần, là chú của Tạ Thiên Hoa. Riêng người nữ kia thì hoàn toàn xa lạ, hẳn là đến núi vô danh này lần đầu.

Lại nhìn Tạ Hàn Thiên, trộm nghĩ thằng cha này lần trước trông dáng vẻ sặc mùi “suy thận”, bây giờ còn dẫn một cô gái xinh đẹp như hoa đến, rõ ràng quan hệ của hai người chí ít cũng là tình nhân quyến lữ.

Nguyễn Đông Thanh nhảy xuống, chắp tay cười:

“Tại hạ Nguyễn Đông Thanh, xin chào hai vị. Dám hỏi...”

Tạ Hàn Thiên vội vàng đáp lễ, sau đó đưa tay hướng về phía Lôi Đình Kiếm Tổ, giới thiệu:

“Tiên sinh khách khí. Đây là vợ của tại hạ, Lâm Phương Dung.”

“Tiểu nữ bái kiến tiên sinh.”

“Không dám. Không dám. Mời ngồi.”

Nguyễn Đông Thanh cười, sau đó dẫn hai người đến một cái đình nghỉ mát.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 24: Cổ Vật Thần Bí


Cái đình này Nguyễn Đông Thanh mới dựng vài ngày trước, vừa để làm chỗ đổi gió, vừa làm nơi tiếp khách. Mấy ngày gần đây thường xuyên có người đến, Hồng Vân lại không thích tiếp xúc với người lạ, mà lại không thể để khách đứng vật vờ mãi được.

Thế là, gã đành chọn một chỗ đẹp ở sườn núi, làm một cái đình ngắm cảnh.

Nguyễn Đông Thanh mời hai vợ chồng Tạ Hàn Thiên đến ngồi, lại nói:

“Chỗ này đơn sơ ít người, chưa kịp lợp mái, hai vị đừng trách.”

“Không dám.”

Tạ Hàn Thiên xua tay, lại đánh mắt, truyền âm ra hiệu cho Lâm Phương Dung,

Cô ta lập tức phản ứng, từ nhẫn chứa đồ lấy ra một vật to bằng bàn tay, dâng lên cho Nguyễn Đông Thanh:

“Tiên sinh, khi trước tông ta thám hiểm một bí cảnh phát hiện vật này, nhưng mãi cũng không thể nhìn ra đặc thù. Nghe nói tiên sinh là bậc tài trí hơn người, nên hôm nay mang đến nhờ tiên sinh xem giúp.”

Nói đến thứ cổ vật này, Lâm Phương Dung cũng thấy đau đầu.

Hơn trăm năm trước, Kiếm Trì xông vào một chỗ bí cảnh, trung tâm đặt vật này. Thứ này nhìn lên nhìn xuống đều thấy là một cục sắt, toàn thân đen trũi, vuông vức như cục gạch. Mặt trước nhẵn bóng như gương, mặt sau có một chỗ gồ lên, cạnh ngắn lại có một cái khe nhỏ.

Mặc cho Kiếm Trì truyền chân khí, nhỏ máu nhận chủ, dùng hồn tế luyện, thậm chí mời cả luyện khí đại sư về xem cũng chẳng hiểu được rốt cuộc vật này có công dụng gì, cuối cùng chỉ đành vứt trong tàng bảo khố.

Sau khi xem Lưu Ảnh thạch, Lâm Phương Dung mới sực nhớ đến cổ vật kia, bèn mang đến chỗ Nguyễn Đông Thanh thử vận may.

“Cái này...”

Hai người Tạ Hàn Thiên chỉ thấy Bích Mặc tiên sinh run run ngón tay, chạm vào cổ vật, trong đôi mắt có vẻ kinh ngạc, lại có mấy phần nhớ mong và hướng về.

Lâm Phương Dung đảo mắt, sau đó im lặng chờ đợi.

Rốt cuộc, Nguyễn Đông Thanh thở dài, đáp:

“Thứ này đã không còn chút năng lượng nào, tất nhiên là không thể khởi động được.”

“Tiên sinh, thực không dám giấu, tông môn đã không ít lần truyền chân khí cho nó, nhưng cũng không hề có tác dụng. Liệu có phải hỏng hóc gì hay không?”

Lâm Phương Dung nói.

Nguyễn Đông Thanh lắc đầu, cười:

“Có tác dụng mới là lạ. Thứ này không dùng chân khí.”

“Dám hỏi tiên sinh... vật này nếu đã không dùng chân khí, thì hoạt động bằng gì?”

Lâm Phương Dung không khỏi thấp thỏm.

Nàng nhớ đến một vài loại pháp bảo đặc thù, mười phần tà ác. Có cái dùng linh hồn làm năng lượng, có cái cắn nuốt máu thịt mà hoạt động.

Những loại tà vật này quả thực không cần chân khí.

Nguyễn Đông Thanh cười, nói:

“Nó dùng điện năng. Tuy nhiên đã lâu như vậy, không biết bên trong có hỏng hóc gì không. Như vậy đi, phu nhân thử truyền một tia sét thật yếu, không đủ giết một con giun vào cái khe nhỏ kia, sau đó duy trì liên tục trong một phần tám khắc xem sao.”

“Cái này...”

Lâm Phương Dung há hốc miệng, không khỏi lấy làm xấu hổ.

Nàng xưng làm Lôi Đình Kiếm Tổ, đương nhiên ngoại trừ kiếm đạo, còn nổi danh là cường giả lôi đạo có tiếng tăm. Tuy vẫn chủ tu kiếm đạo, nhưng trong Huyền Hoàng giới số người tự tin dùng lôi điện thắng được Lâm Phương Dung cũng không được bao nhiêu, tuyệt không qua mười đầu ngón tay.

Thế nhưng...

Xưa nay lôi đạo là đạo có tính công phạt mãnh liệt nhất, uy lực kinh hồn, tốc độ khủng khiếp. Thế nên lôi tu mỗi một lần đột phá, đều dồn hết tâm sức vào đề thăng sức mạnh và tốc độ lên một tầng cao mới.

Riêng Nguyễn Đông Thanh lại trái ngược, yêu cầu Lâm Phương Dung phát công vừa yếu vừa chậm, mấu chốt phải bền bỉ.

“Không được sao?”

Lâm Phương Dung nghe gã hỏi, trong lòng bỗng nhiên như có đá tảng đè lên, vội vàng nói:

“Thưa tiên sinh, tạm thời tiểu nữ quả thực không có tự tin. Song chỉ cần chờ một khoảng thời gian ngắn, tiểu nữ đương nhiên sẽ cho tiên sinh một câu trả lời thỏa đáng.”

Nguyễn Đông Thanh cười xòa:

“Thứ này là của các hạ, có liên quan gì đến tại hạ đâu?”

“Tiên sinh đã nhận ra vật này chắc chắn có uyên nguyên với nó. Dù sao để ở tông ta cũng chẳng ai biết dùng, có để lại cũng là lãng phí. Không bằng tiên sinh cứ cầm đi, xem như chút lòng thành của tông ta.”

“Vậy... xin cảm ơn.”

Nguyễn Đông Thanh gật đầu, cũng không từ chối nữa.

Tạ Hàn Thiên cũng tranh thủ đổi sang chuyện khác:

“Đúng rồi tiên sinh. Sắp tới ở nước Tề có một cuộc thi tài, phần thưởng rất hậu. Ba vị cao đồ ở đây cũng không có nhiều chuyện để làm, không bằng cùng tại hạ ra ngoài xông xáo một phen, cũng được thêm kiến thức.”

“Cũng được. Người trẻ tuổi cũng nên ra ngoài một phen, đi một ngày đàng học một sàng khôn mà.”

Nguyễn Đông Thanh gật đầu, lại nói:

“Thằng nhóc Thanh Vân kia không có tâm kế, suy nghĩ đơn giản. Vẫn mong huynh đài để ý giúp cho.”

“Chuyện nên làm. Chuyện nên làm.”

oOo

Hai người Tạ Hàn Thiên, Lâm Phương Dung chào tạm biệt Nguyễn Đông Thanh, sau đó vội vàng xuống núi.

“Dung nhi, thấy tài trí của ca ca thế nào?”

Tạ Hàn Thiên cười khà khà, hai tay xoa vào nhau, nói.

“Xem như ngươi lợi hại.”

Lâm Phương Dung lắc đầu, tuy không cam lòng, song lại không thể không thừa nhận, cuối cùng Tạ Hàn Thiên vẫn hiểu Bích Mặc tiên sinh hơn nàng, thừa cơ cướp đi cơ hội lần này.

Tính ra, đúng là nàng đã thua một trận.

Tạ Hàn Thiên cười tít cả mắt.

Lần này, gã vốn chỉ muốn đến hỏi thăm xem Lão Thụ cổ viện thiếu thứ gì, sau đó mượn tay cháu gái đưa cho Bích Mặc tiên sinh.

Thế nhưng, từ lúc nghe Đỗ Thải Hà nói, lập tức Tạ Hàn Thiên nảy ra một ý.

Trong suy nghĩ của Tạ Hàn Thiên, Nguyễn Đông Thanh hóa thân làm phàm nhân, từng đồng từng đồng đều phải dựa vào thân phận người phàm để kiếm. Nhưng nếu là phần thưởng đồ đệ giành được, theo lý mà nói người làm sư phụ như Bích Mặc tiên sinh có thể ngang nhiên nhận lấy.

Hơn nữa, có lẽ sẽ còn thấy vui vẻ.

Dù sao đệ tử thành tài, dương danh lập vạn, không có người làm sư phụ tử tế nào mà không cao hứng.

Thế là, Tạ Hàn Thiên bèn thay đổi kế hoạch ban đầu.

Gã xuống núi, đến cái thôn nhỏ bên đường gọi Tạ Thiên Hoa.

“Thiên Hoa, phiền cháu gọi hai vị sư huynh sư muội ra đây có việc cần nói.”

oOo

Sau khi biết Tạ Hàn Thiên định đưa ba người đến nước Tề dự Võ Bảng hội, Lý Thanh Vân và Đỗ Thải Hà đều cực kỳ mừng rỡ. Hai người tuy gặp phải nhiều trắc trở trên đường đời, song chung quy vẫn còn là thiếu niên, lòng háo thắng ham vui vẫn mạnh. Càng huống hồ hai người họ tuy cũng có bối cảnh lớn, nhưng lại không được xem trọng, thành thử loại tụ hội như Võ Bảng hội xưa nay đều vô duyên với hai người.

Võ Bảng – là do Huyền Hoàng Bách Hiểu Sinh tạo ra.

Huyền Hoàng Bách Hiểu Sinh – các chủ Thiên Cơ các – nắm trong tay tổ chức tình báo lớn nhất cả Huyền Hoàng giới. Người này nghe đồn tu vi tuy không cao, nhưng thuật dịch dung xuất thần nhập hóa, không ai biết bộ mặt thật sự của y, cũng tuyệt nhiên không một kẻ nào biết hành tung của gã. Lại có truyền tụng rằng chừng nào người trong thiên hạ chưa bị giết sạch, chừng đó vẫn còn Huyền Hoàng Bách Hiểu Sinh.

Thiên Cơ các y sáng tạo nắm trong tay bí mật của các môn các phái, thành thử cho dù chiến lực không cao cũng không có thánh địa nào dám động thủ với nó.

Võ Bảng lại càng không giống mấy thứ bảng đơn rẻ tiền do các môn các phái tự phát sắp xếp.

Không có phân chia tu vi, không có phân biệt độ tuổi, càng không quan tâm đến chủng tộc. Bất luận một sinh linh nào kể từ ngày đặt chân lên con đường tu luyện vô danh cửu cảnh, thì cơ hồ đều đã có tên trên Võ Bảng.

Sau đó, Thiên Cơ các sẽ dựa vào chiến lực, thiên phú, tiềm lực, công pháp, tâm tính, cơ duyên, pháp bảo mà cho điểm.

Phát hành Võ Bảng theo kiểu như vậy, nếu không nắm trong tay một lượng tình báo khổng lồ, lại có một cơ quan sàng lọc phân loại kín không kẽ hở, e rằng có làm cũng là dã tràng se cát. Bởi lẽ, nếu không cẩn thận xếp hạng sai, khiến người trong thiên hạ mất đi tin tưởng, cái gọi là bảng xếp hạng cũng quá bằng ném cho chó gặm.

Nhưng...

Huyền Hoàng Bách Hiểu Sinh dám làm chuyện mà cả Huyền Hoàng giới không một tông một phái nào có gan đi làm.

Thực tế chứng minh, hắn làm được.

Suốt hơn năm mươi năm qua, Võ Bảng vẫn chễm chệ là bảng đơn đáng tin cậy nhất toàn bộ Huyền Hoàng giới, không một nhà nào lay chuyển được.

Thậm chí, các tông các phái phát hành bảng xếp hạng của riêng mình cũng tham khảo Võ Bảng.

Tạ Thiên Hoa không giống sư huynh và sư muội, trái lại quay sang nhìn Tạ Hàn Thiên một cái.

Lấy tính cách của ông chú nhà mình, cô nàng tuyệt đối không tin Tạ Hàn Thiên không có mục đích gì khác khi nhắc đến Võ Bảng hội trước mặt bọn họ.

Trong ấn tượng của cô nàng...

Chú hai là một lão lưu manh, bỉ ổi thành tính, thù dai hận lâu, háo sắc đào hoa. Hơn nữa, còn bẫy người khác nhiều thành nghiện.

Đúng. Thể theo đánh giá của mẹ nàng, chú hai là cái loại trừ thiên phú và cái mã ra thì chẳng có một điểm tốt nào cả.

Tạ Hàn Thiên cười tít cả mắt, nói:

“Cháu gái. Chẳng nhẽ cháu quên Thanh Tước tộc ta cũng có ba suất tham gia Võ Bảng hội hay sao?”

Thanh Tước tộc thống trị Lục Trúc Hải, ở Huyền Hoàng giới cũng là một cự đầu đỉnh cao, địa vị không thua kém gì các thánh địa như Kiếm Trì, Phần Thiên Cốc. Thiên Cơ các tổ chức Võ Bảng hội, mời các đại thánh địa tụ họp, đương nhiên không thể thiếu bọn họ.

Tạ Thiên Hoa nghe đến đây, hơi cắn răng.

Nếu không phải bỗng dưng Kiều Minh Long tìm đến, thì thân là thánh nữ trong tộc, suất đi Võ Bảng hội lần này chắc chắn là của cô nàng.

Chợt, giống như nhớ đến chuyện gì, Tạ Thiên Hoa nhìn sang ông chú mình.

Lúc này, Tạ Hàn Thiên đang cười, vẻ mặt cực kì bỉ ổi.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 25: Mới Đến Nước Sở


Sáng hôm sau...

Tạ Hàn Thiên hóa thành bản thể thanh tước, vỗ cánh chở bốn người một chó trên lưng, thẳng hướng về phía Hoàng Đô – kinh đô nước Tề, cũng là chỗ sẽ tổ chức Võ Bảng hội năm nay. Từ ải Quan Lâm bay về phía bắc, vượt qua Lục Trúc hải rộng hơn vạn dặm, lại bay vượt qua hơn sáu ngàn dặm cương thổ của nước Sở mới có thể đến được Đại Tề.

Lấy tu vi của Tạ Hàn Thiên, nếu bay hết tốc lực có thể đến nơi trong vòng một ngày.

Thế nhưng, do Võ Bảng còn nửa tháng nữa mới tổ chức, lại thêm trên lưng ngồi lù lù một con đại yêu sâu không lường được. Có thêm Tiểu Thạch, trên lưng Tạ Hàn Thiên nặng như thêm cả ngàn quân, hắn có muốn cũng không tài nào bay quá nhanh. Thế là bèn lấy cớ cho đám trẻ con mở rộng tầm mắt, lại lên kế hoạch dừng lại nước Sở nghĩ ngơi một phen, lúc này mới yên tâm lên đường.

Bấy giờ...

Lý Thanh Vân không có chỗ luyện võ, thấy hơi nhàm chán, bèn huých tay vào bả vai Tạ Thiên Hoa một cái, hỏi:

“Sư muội. Theo muội tiền bối dặn thế là có ý gì?”

Trước khi đi, Tiểu Thạch có gọi cả ba người vào, truyền âm dặn kỹ ba người học trò của Nguyễn Đông Thanh tuyệt đối không được để lộ nửa chữ về Hồng Vân tiên tử. Lý Thanh Vân là người không có tâm cơ, nghĩ mãi cũng không rõ nguyên do.

Tạ Thiên Hoa cười, nói:

“Sư huynh thấy thắc mắc thì hỏi thẳng tiền bối, muội sao biết được?”

“Sư muội đừng trêu vi huynh nữa. Chẳng nhẽ muội không nhớ tiền bối đe dọa ra sao sao? Sư huynh còn sống chưa đủ lâu, khi không tự nhiên tìm đường chết làm gì?”

Lý Thanh Vân khoát tay, rùng mình nghĩ đến thanh âm đầy sát khí của Tiểu Thạch trước lúc lên đường.

Con chó nhỏ nói nếu nó biết ba người hớ miệng, thì cho dù có đắc tội Nguyễn Đông Thanh, nó cũng sẽ cho bọn họ chết không chỗ chôn.

Trong ba đệ tử, Lý Thanh Vân là thân với Tiểu Thạch nhất. Thế nên cậu chàng biết lúc nói những lời này, con chó nhỏ nghiêm túc đến mức nào.

Tạ Thiên Hoa nhún vai:

“Sợ thì đừng tò mò nữa. Biết càng ít càng khó nói hớ mồm.”

Sau đó, cô nàng cũng không ngồi tán phét với sư huynh nữa, chậm rãi lấy quyển sách sinh học Nguyễn Đông Thanh đưa cho ra ngồi nghiên cứu.

Lý Thanh Vân thấy nhị sư muội không lý gì đến mình, bèn quay sang chỗ Đỗ Thải Hà. Thế nhưng, cậu chàng chẳng mấy chốc đã phải thất vọng.

Kể từ tối qua, sau khi được sư phụ giảng cho về số thập phân, Đỗ Thải Hà cơ hồ đóng đinh ánh mắt vào trang giấy. Đến giờ, con ngươi cô nàng vẫn hơi ửng đỏ, dưới đôi mắt hãy còn hai cái bọng mắt to bự, thâm xì vì cả đêm không ngủ tí nào.

“Sư muội nhập ma đã sâu, vô vọng...”

Cuối cùng, Lý Thanh Vân bèn kéo Tiểu Thạch, nhờ con chó nhỏ kể lại những chuyện mà Nguyễn Đông Thanh đã từng kể cho một chó một mèo nghe.

Sau đó...

Chỉ thấy Tiểu Thạch vươn vai một cái, hóa thành một thiếu niên, nhìn thoáng qua ước chừng hai mươi, mặc một bộ áo đen, tay cầm một thanh binh khí cổ quái lưỡi thẳng, chuôi cong, không ra đao cũng chẳng ra kiếm.

“Chuyện này, phải bắt đầu từ một cuộc gặp gỡ...”

Anh hùng tương hội, một câu chuyện của giang hồ và đao kiếm theo đó mà mở ra.

oOo

Nước Sở...

So với nước Việt, nước Tề, nơi này quả thực chỉ có thể coi là một nước nhỏ.

Từ núi Long Hổ, một dòng sông dài uốn lượn ôm lấy biên cảnh nước Tề, sau đó đổ vào biển Phong Bạo. Dưới sông sống một loại yêu ngư toàn thân như dát bạc, đông đến hàng trăm vạn con, mỗi khi vào hè chúng đều di cư từ cửa biển vào lên thượng nguồn đẻ trứng đều khiến cả dòng sông óng ánh sắc bạc. Thành thử, khúc sông này còn có tên là Ngân Hà.

Tạ Hàn Thiên bay đến ngoại ô một tòa thành trì, sau đó đậu xuống, hóa lại thành hình người. Gã chỉ về phía tường thành xa xa, nói:

“Thấy tòa thành đó không? Nơi này tọa lạc trên ngã ba sông đại Ngân Hà, tiểu Ngân Hà, nên gọi là thành Ngự Long. Hôm nay chúng ta vào đó nghỉ lại một chuyến.”

Lý Thanh Vân chưa từng rời khỏi nước Việt, đối với đường xá coi như mù dở, nên không có ý kiến gì. Đỗ Thải Hà tuy là người nước Sở, nhưng lúc này còn đang mải mê ngồi giải toán, không chú ý gì tới thế giới bên ngoài, hiển nhiên là cũng mặc cho Tạ Hàn Thiên quyết định lộ trình.

Tạ Thiên Hoa thì nhìn sang chỗ ông chú, tủm tỉm cười:

“Chú hai. Bình thường chú đều đến thẳng kinh đô, sao hôm nay lại dừng ở đây?”

“Phụt.”

Lâm Phương Dung biết cô nàng đang hỏi đểu Tạ Hàn Thiên, không nén nổi phì cười một cái.

“Cái này...”

Tạ Hàn Thiên nói một nửa, sau đó nhìn về phía thiếu niên áo đen, tay cầm thanh kiếm quái dị.

Hắn tự nhận mình làm người có hai khuyết điểm lớn.

Một là đa tình.

Hai là sĩ diện.

Thực ra, Tạ Hàn Thiên cũng định một đường bay thẳng đến kinh đô nước Sở mới dừng lại. Thế nhưng, câu chuyện của Tiểu Thạch khiến gã thấy cực kì chấn động, lại thêm bản thân con chó nhỏ đã là đại yêu, lúc này khiến chân khí phập phù không yên, không thể không hạ xuống Ngự Long thành.

Thế nhưng, nói ra sự thật này, cái bản mặt già của gã biết giấu vào đâu?

Lâm Phương Dung lúc này mới hắng giọng, nói:

“Chắc Hàn Thiên sực nhớ ra sắp tới đây Ngự Long thành sẽ có một buổi đấu giá hội, nên mới dừng lại để mọi người mở mang tầm mắt đó mà.”

“Đúng. Đúng. Ha ha ha. Dung nhi thực là hồng nhan tri kỷ của ta.”

Tạ Hàn Thiên vội vàng gật đầu, sau đó quăng cho Lâm Phương Dung một ánh mắt cảm kích.

Lâm Phương Dung trừng mắt, cười nhạt:

“Hồng nhan tri kỷ của Tạ đại hiệp đây nhiều như ngư yêu dưới Ngân Hà, ta tự thấy mình phúc bạc, chả có cái phước đó. Thiên Hoa, đi. Dì dẫn đi tiệm Linh Sủng.”

“Được!”

Tạ Thiên Hoa reo lên, vội vàng nắm tay Lâm Phương Dung. Hai người một già một trẻ sóng vai đi về phía thành Ngự Long, mặc xác Tạ Hàn Thiên đang ngẩn tò te vì khi không lại ăn một đòn. Tiểu Thạch tiến lên, vỗ vai gã một cái, lắc đầu cười:

“Họa đào hoa, tự mà gánh lấy.”

“Không phải chỉ là khen một câu thôi sao?”

Tạ Hàn Thiên ủ dột cúi đầu.

oOo

Nhóm bốn người vào thành, chọn một nhà trọ sạch sẽ nghỉ lại qua đêm.

Trong phòng...

Tạ Hàn Thiên nhìn Lâm Phương Dung một cái, hỏi:

“Dung nhi, nàng thấy câu chuyện do tiền bối kể thế nào?”

“Cao thủ trong thế giới tiên sinh kể yếu hơn chúng ta nhiều, nhưng thiết nghĩ chúng ta thuần túy là thắng ở số lượng chân khí dùng được mà thôi. Nếu so về khống chế, về đạo lý, về vận dụng, chỉ e bọn họ hơn chúng ta đến mấy lần.”

Lâm Phương Dung nói đến đây thì dừng, dằn viễn cảnh đáng sợ trong tưởng tượng xuống.

Chớ nhìn nàng ta ở trước mặt mấy người Nguyễn Đông Thanh, Tiểu Thạch tỏ ra cực kì biết điều mà nhầm. Lâm Phương Dung thân là một trong ba vị kiếm tổ của Kiếm Trì, tự nhiên cũng là hạng người kinh tài tuyệt diễm, cũng có một lòng cao ngạo không chịu thua kém ai.

Thế nhưng...

Sau khi nghe Tiểu Thạch kể chuyện, nàng bèn tự hỏi nếu như đổi lại nàng tiến vào thế giới giang hồ đó, trong tay chỉ có một chút chân khí ít ỏi như vậy, thì có thể đạt được thành tựu gì?

Cùng lắm là cao thủ hạng hai.

Lâm Phương Dung nghĩ xuôi nghĩ dọc mãi, cuối cùng đau đớn đi đến kết luận này.

Tạ Hàn Thiên cũng tương tự.

Hắn bình thời cao ngạo vô cùng, có thể nói trước khi gặp Nguyễn Đông Thanh, cả Huyền Hoàng giới này không có bất cứ ai có thể khiến hắn kính nể. E dè chắc chắn là có, nhưng tuyệt nhiên sẽ không phục.

Thế nhưng...

Mấy người trong câu chuyện của Tiểu Thạch cơ hồ nghiền nát lòng cao ngạo nhiều năm nay của gã.

Tạ Hàn Thiên là người ngông nghênh, xưa nay không uốn gối trước kẻ mạnh, không thuần phục dưới cường quyền. Chính vì thế, sau khi nghe xong câu chuyện, chân khí của hắn mới có thể dao động dữ dội, thậm chí kém chút lui cảnh.

“Dung nhi. Đến. An ủi ca ca một chút. Ca thương tâm.”

Tạ Hàn Thiên mang vẻ mất mát trên mặt, vòng tay định ôm lấy mỹ nhân, chợt cửa phòng bị đá văng bật ra đằng sau.

Ngoài hành lang, một cái bóng đèn to chềnh ềnh lưng đeo quái kiếm chính đang trố mắt nhìn vào phòng, thậm chí chân còn chưa kịp thu lại.

Tiểu Thạch ho khùng khục, nói:

“Quấy rầy.”

Cửa khép lại.

oOo

Lý Thanh Vân gõ cửa phòng, chờ hai vị sư muội lên tiếng mới đẩy cửa đi vào.

“Sư huynh, có chuyện gì?”

Tạ Thiên Hoa cũng vừa nai nịt chải chuốt xong, chính đang chuẩn bị ra ngoài.

Lý Thanh Vân cười, rủ rê:

“Hai vị sư muội, chẳng mấy khi được ra ngoài một chuyến, đến phố chợ chơi không?”

Kỳ thực, trước khi bị người nhà tước đi Võ Thánh chi hồn, cậu chàng là một thiếu niên ham vui, hay cười. Chỉ là từ sau khi chứng kiến sự tàn nhẫn của “thân nhân”, Lý Thanh Vân bắt đầu thu mình lại.

Chỉ mãi đến khi vào môn hạ của Bích Mặc tiên sinh, cậu chàng mới lại mở lòng với sư huynh đệ đồng môn như lúc này.

Tạ Thiên Hoa nói:

“Được thôi. Sư muội cũng đang định ra tiệm Linh Sủng mua một ít yêu điểu, tiên tước về. Tam sư muội thì sao?”

“Không nghĩ nữa! Đi một chuyến hít thở cũng tốt...”

Đỗ Thải Hà quăng quyển sách toán vào trong nhẫn chứa đồ, thở hắt ra. Lúc này cô nàng chỉ thấy đầu mình đau nhức từng trận, hai bên thái dương nóng bừng, thậm chí hai tai hơi ù đi.

Phải biết, cô nàng tuy tu vi không bằng Tạ Thiên Hoa, nhưng cũng là một cường giả tứ cảnh, tố chất cơ thể hơn xa người thường. Bình thường ngộ đạo vài ngày nửa tháng cũng chỉ thấy tinh thần hơi uể oải, tuyệt đối sẽ không cảm thấy váng đầu nhức óc, mắt mỏi tai ù như lúc này.

Đỗ Thải Hà hơi sợ, nên quyết định tạm thời không giải toán nữa, bằng không chỉ e cố quá thành quá cố, tự biến mình thành kẻ ngớ ngẩn thì đúng là được không bù nổi mất.

Cô nàng vươn vai, hỏi:

“Sư huynh, không rủ cả tiền bối sang sao?”

“Tiểu Thạch tiền bối nói ở tiểu viện làm chó quá lâu, bây giờ đang thèm đi uống rượu, nên sang rủ hai vị tiền bối đi tửu lầu rồi.”

Lý Thanh Vân đáp gọn, đôi mắt thỉnh thoảng lại nhìn về phía cửa sổ, giống như không tài nào chờ được đến lúc ra ngoài du ngoạn.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 26: Mẫu Hà Đạo


Tạ Thiên Hoa và Đỗ Thải Hà có thể nhìn ra, sở dĩ Tiểu Thạch gọi hai người Tạ, Lâm đi uống rượu chẳng qua là để ba người bọn họ có không gian lịch luyện, va chạm xã hội.

Bằng không, ba cường giả đứng lù lù làm bảo mẫu, thì có khác gì đi du lịch?

Ba người xuống lầu một, trước tiên tìm chủ quán trọ hỏi đường đi lối lại trong thành Ngự Long, cũng như một vài chuyện kiêng kỵ trong thành.

Chủ tiệm là một trung niên mập mạp, dưới cằm có nốt ruồi to, hai hàng ria mép quăn tít và điệu cười díp cả mắt lại làm lão trông có hơi khả nghi. Sau khi nghe câu hỏi của ba người, lão bèn đáp:

“Ba vị chắc hẳn là từ nơi khác đến nên không biết. Thành Ngự Long là yếu địa quân sự, cơ hồ là yết hầu trấn giữ biên cảnh nước Sở ta. Trong thành có trọng binh, cũng lắm quy định lằng nhằng lắm.”

Nói rồi, lão chỉ đường cho ba người, lại dặn kỹ đừng có gây chuyện trong thành. Cuối cùng, chủ tiệm nói:

“Đúng rồi, bây giờ trong thành đang có nạn ma da, ba vị đừng ở bên ngoài ban đêm nếu không sợ là có chuyện gì không may thì vừa thiệt các vị, mà vừa phiền cho lão. Lão đây làm ăn nhỏ, không muốn dây dưa với quan binh, mong các vị thông cảm.”

“Chuyện ma da là sao? Vẫn mong ông chủ nói rõ.”

Đỗ Thải Hà cau mày, trong mắt hơi có lửa giận.

Chủ quán trọ làm cái nghề này lâu, giỏi nhất là nhìn người. Lão thấy thiếu nữ này bây giờ chẳng khác nào một quả núi lửa chỉ chực phun trào, rụt cổ lại, vội vàng làm theo yêu cầu của Đỗ Thải Hà,

Té ra...

Nước Sở sống dựa vào Ngân Hà, thế nên trong nước cũng có tục thờ thần sông, gọi là Mẫu Hà đạo, cơ hồ sớm đã trở thành quốc giáo.

Thần mẫu sông Ngân nguyên có một đám ma da, ma nước dưới trướng. Ngày mồng một mỗi tháng, thủy triều sẽ đánh một đóa sen trắng thấm đẫm máu người lên tận cổng một tòa thành trong biên giới nước Sở. Để rồi đến hôm rằm cùng tháng, ma da sẽ lên bờ bắt người ở chính cái tòa thành đó. Cứ mỗi một hạt sen thì tượng trưng cho một mạng người. Cái tục lệ này đã có từ vài trăm năm nay, đến nay người nước Sở hễ ai mà sống gần Mẫu Hà đều biết.

Tất nhiên, cũng có ngoại lệ...

Thí dụ như cái sơn thôn hẻo lánh nơi Đỗ Thải Hà từng sống.

“Khốn kiếp! Chẳng nhẽ mấy người không biết phản kháng, cứ mặc kệ cho con ác thần đó hoành hành hay sao?”

Chỉ nghe tiếng đập bàn đánh rầm một cái vừa đanh vừa trầm, kèm theo tiếng nói đầy phẫn nộ.

“Tam sư muội chớ nóng giận.”

Tạ Thiên Hoa vỗ vai cô nàng.

Lý Thanh Vân cũng nhăn mặt, trông hệt như đang ngậm bồ hòn, lại nhìn về phía Đỗ Thải Hà một cái. Cậu chàng cũng là hạng người hiệp nghĩa chính trực, nhất là từ sau khi vô tình nghe được Nguyễn Đông Thanh ngâm thơ, Lý Thanh Vân lại càng kiên trì thủ vững đạo nghĩa trong lòng hơn.

Thần sông mỗi tháng giết người một lần, coi mạng người như cỏ rác, cậu chàng nghe còn thấy khó mà nuốt giận, cực kỳ bất bình, nữa là Đỗ Thải Hà.

Chủ quán trọ vội vàng giải thích:

“Không. Tất nhiên là không. Hoàng gia há lại có chuyện trơ mắt nhìn dân đen con đỏ bị đồ sát như thế? Mỗi lần sen máu lên bờ, thiên tử đều phái cao thủ đến trấn giữ.”

“Phản kháng như thế không mích lòng thần sông hay sao?”

Tạ Thiên Hoa nghe chủ quán nói, hơi cau mày.

Mụ thần sông này đi một nước cờ này quả thực quá quái lạ, khiến cô nàng tạm thời cũng không tài nào hiểu nổi mụ rốt cuộc muốn gì.

Trong truyện cổ, ác thần yêu quái đòi tế sống đều dọa dâng nước làm lụt, gây thiên tai đại họa gì đó, cốt là để bá tính không dám phản kháng, ngoan ngoãn dâng người cho chúng.

Thần sông Ngân Hà lại.. để mặc cho nước Sở phản kháng.

Chủ quán nói:

“Không. Hà thần chỉ dâng nước gọi mưa, giáng đòn trừng phạt nếu có người dám xâm phạm đáy sông, công kích dộng phủ của mình thôi. Lúc sen máu lên bờ, người tu hành có giết ma da thì cũng là chân tài thực học, hà thần sẽ không trả thù.”

“Cũng có nghĩa... sen máu lên bờ chẳng qua là một trò chơi của mụ ta?”

Tạ Thiên Hoa nhíu mày.

Hành vi của thần sông Ngân Hà chẳng khác nào đang chơi một trò chơi với nước Sở. Mụ ta tấn công, nước Sở phòng thủ. Trước mỗi một ván cờ đều dùng sen máu thông báo địa điểm của chiến trường.

Tiền cược: mạng người.

Sau khi biết chuyện thần sông đòi mạng, ba người chỉ thấy tâm trạng nặng nề, phố chợ náo nhiệt cách mấy cũng không khiến bọn họ thấy háo hức được nữa.

Lúc này, cả một con phố, hàng quán hai bên nô nức kẻ ra người vào. Tiếng cười nói xôn xao rôm rả, thỉnh thoảng lại có tiếng tu hành giả hô to chiêu thức, tế ra pháp bảo đánh nhau. Không trung, phi kiếm bay lượn, quả thực náo nhiệt vô cùng.

Hôm nay, số người tu hành đi đến thành Ngự Long rất đông, có lẽ là chờ ma da lên bờ.

Ba người đi ngang qua góc chợ, thấy người qua đường ngừng lại phỉ nhổ vào tượng đá xoay lưng ra đường, mặt quay vào tường. Nhổ bọt chán, người ta quay sang chửi bậy, mắng nhiếc rất ác độc. Ba sư huynh muội không khỏi lấy làm tò mò, mới hỏi duyên cớ.

Người ta nói đây là tượng của Nghiêm Hàn, một tên sát thần tay đầy máu tươi. Những bức tượng Chiến Thần này là do Tề vương bắt đặt ở tất cả thành trấn khắp ngũ quốc. Người ta căm giận Nghiêm Hàn, thế nên mới phỉ nhổ như thế.

Tạ Thiên Hoa ghé vào tiệm Linh Sủng, mua một số trứng tiên cầm định bụng mang về Lão Thụ cổ viện nuôi thử xem có lai được ra giống gì hay không.

Lý Thanh Vân trái lại trở nên bận bịu.

Cậu chàng không những cần phải cân nhắc xem nên mua gì tặng sư phụ lấy thảo, vừa phải xem xem có cách nào giúp tam sư muội vui lên hay không. Đối với một người được Nguyễn Đông Thanh truyền cho y bát “EQ một chữ số” như Lý Thanh Vân mà nói, nhiệm vụ lần này quả thực so với lên núi đao xuống vạc dầu còn khó khăn bội phần.

Không rõ do trời xanh đãi kẻ khù khờ, hay thằng nhóc này trước giờ vẫn là cái loại mèo mù vớ cá rán, buồn ngủ gặp chiếu manh như thế. Song, trông thấy cái dáng vẻ cuống quít khẩn trương, vấp lên vấp xuống của Lý Thanh Vân, Đỗ Thải Hà phì cười.

Cô nàng cười lên, không khí giữa ba sư huynh muội đỡ nặng nề hơn hẳn.

Đỗ Thải Hà lắc đầu, nói:

“Sư huynh cứ đắn đo làm gì. Người ở tầng thứ của sư phụ há lại quan tâm đến những vật này? Quan trọng là tấm lòng hiếu thảo của người làm đệ tử là được rồi.”

Đoạn, cô nàng đưa tay, chọn một cái lò hương bằng đồng to bằng nắm tay, nói:

“Gần đây mưa nhiều, hay có ruồi muỗi. Không bằng tặng lò hương này cho sư phụ, sư huynh sư tỷ thấy sao?”

“Hay lắm!”

Lý Thanh Vân vỗ tay, reo lên.

Đúng lúc này, từ phía bên kia đường, có một bóng người hùng hổ sấn tới. Chỉ thấy người nọ là một thiếu niên cỡ mười bảy mười tám gì đó, mặc kiểu đạo đồng. Bên hông một bên đeo hồ lô, bên kia dắt cái phất trần, trông cũng ra trò ra vẻ lắm.

“Chủ quán, mặc kệ thứ này giá bao nhiêu, đạo gia trả gấp mười.”

Thiếu niên vừa nói, vừa đưa tay định bắt lấy lò hương Đỗ Thải Hà đang cầm.

Chủ tiệm thấy y vô lễ, đang định lên tiếng mắng, thì chợt phát hiện viền tay áo của đạo đồng thêu hai con rồng uốn lượn, chầu về phía một cái đầu hổ đang há ra. Miệng hổ nhe ra hai hàm răng đều tăm tắp, ngậm lấy thái cực đồ, đúng là tiêu chí của núi Long Hổ.

Núi Long Hổ thế lớn lực mạnh, không phải một tên chủ tiệm cỏn con dám đắc tội.

Thế là, gã nhún một bước, nhìn sang phía ba người Lý Thanh Vân, nói:

“Ba vị, hay... hay là nhường vật này lại cho vị đạo gia đây? Bản diếm sẽ tìm cách khác bồi thường cho ba vị.”

Vừa nói dứt lời, thì gã đã phát hiện...

Hình như không khí có gì đó không đúng.

Chỉ thấy, tên đạo đồng kia bấy giờ đã chẳng còn lòng dạ nào chú ý đến cái lò hương con con kia nữa. Y trố mắt, chết chân nhìn mặt người mình đang tóm cổ tay, cơ hồ không tài nào tin nổi:

“Là ngươi?”

“Buông tay ra!”

Đỗ Thải Hà lườm đối phương một cái, lạnh giọng xuống.

Kể từ sau khi biết núi Long Hổ cấu kết với Đế Mộ làm chuyện ác, cô nàng đã không còn chút hảo cảm gì với đệ tử ở đó nữa. Cho dù vẫn biết tên đạo đồng này cùng lắm là đệ tử ngoại môn, không thể nào chạm được đến bí mật của cao tầng...

Nhưng tiềm thức Đỗ Thải Hà vẫn thấy y hơi ngứa mắt.

Tên đạo đồng giật mình rụt tay lại, sau đó nghiến răng, chỉ tay vào mặt cô nàng, nói:

“Chờ đó. Ngươi cứ chờ đó, phản đồ. Bần đạo không thu phục được ngươi thì trong môn phái ắt có người khác ra tay. Cứ chờ đó.”

Đạo đồng tuy sùng bái núi Long Hổ, thế nhưng không phải kẻ ngốc. Đỗ Thải Hà trước khi tự ý rời khỏi sơn môn là đệ tử nội môn, thậm chí so kè kiến thức về phù đạo, trận đạo có thể còn nhỉnh hơn một vài đệ tử thân truyền.

Hắn đương nhiên không phải đối thủ của cô nàng.

Lý Thanh Vân đang định hỏi, nhưng Tạ Thiên Hoa đã đưa tay cản lại, sau đó truyền âm bảo cậu chàng trước cứ chờ xem sao. Kỳ thực, trong chuyện này núi Long Hổ quả thực không sai. Ở Huyền Hoàng giới, tông môn có thể trục xuất đệ tử, nhưng đệ tử không thể tự ý rời khỏi môn hộ.

Bằng không, tương đương với phản bội sư môn.

Huống hồ, Đỗ Thải Hà không chỉ rút khỏi Thiên Sư đạo, núi Long Hổ, mà còn bái Nguyễn Đông Thanh làm sư phụ. Bây giờ đối phương tìm đến tính sổ, âu cũng là chuyện thường tình ở Huyền Hoàng giới.

Đỗ Thải Hà đưa tiền cho ông chủ tiệm, mua lại cái lò hương, bình thản như chưa có chuyện gì xảy ra. Hai người Lý, Tạ thấy thế, chẳng những không yên tâm, mà còn thấy lo lắng hơn.

Nhưng muốn khuyên cũng không được.

Lý Thanh Vân ghé tai, nói thầm:

“Lát nữa chúng ta làm gì? Chẳng nhẽ mặc kệ tam sư muội?”

EQ của cậu chàng có thấp đến mấy đi chăng nữa thì cũng biết, giữa Đỗ Thải Hà và núi Long Hổ cần có một cái kết.

Hơn nữa, lần này đối phương tìm đến tính sổ là chuyện hợp tình hợp lý, về nguyên tắc thì hai người Lý Thanh Vân, Tạ Thiên Hoa không có lý do can thiệp.

“Há lại có chuyện thấy chết không cứu? Chẳng qua đối phương người đông thế mạnh, võ đấu chắc chắn không được. Phải tìm cách đấu văn mới xong.”

Tạ Thiên Hoa nhẹ nhàng truyền âm cho ông đại sư huynh.

Trong ba người, một cách rất tự nhiên, cô nàng trở thành đầu não hành động.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 27: Trận Đạo Trong Thiên Hạ Chia Ba Phần, Bần Đạo Chiếm Hết Hai


Phủ thành chủ...

Ngự Long thành là quân cơ trọng địa, thế nên phủ thành chủ cũng được xây dựng khác hẳn với các thành khác trong nước Sở. Nơi này chẳng những có bốn bức tường thành trang bị cơ quan hạng nặng bao bọc, lại được giới nghiêm cẩn thận. Cơ hồ trong phủ thành chủ trên từ thành chủ, dưới đến tạp dịch, không một ai là không có quân hàm.

Quân lệnh như núi, kỷ luật nghiêm minh, có thể nói là hệt như áo trời liền chỉ, tìm không thấy lỗ hổng có thể đột nhập.

Lúc này, trong sảnh đường, một thanh niên khoảng trên dưới ba mươi một chút ngồi ở chủ vị, tay nâng chén mời khách. Chỉ thấy dưới ánh đèn dầu hiện lên một gương mặt cực kỳ xinh đẹp, má như nhồi phấn, môi như bôi son, mày thanh, mũi thẳng, ngũ quan đoan chính thanh tú. Quả thực, nếu không biết thân phận của y, có nói người ngồi ở ghế chủ vị kia là một hoàng hoa khuê nữ có lẽ cũng có người tin.

Ngồi ở chủ vị phủ tướng quân, tất nhiên chính là thống lĩnh tam quân, thành chủ thành Ngự Long – Phó Kinh Hồng.

Hai bên trái, phải tướng quân họ Phó lúc này an vị trên dưới khoảng hai mươi người, có đủ cả bốn nhà Nho, Đạo, Phật, Vu. Đạo sĩ thì tiên phong đạo cốt, tăng nhân thì hiền huệ từ bi, cánh nhà Nho lại chính khí đạo mạo, đám thầy mo thần thần bí bí, mỗi nhà một vẻ.

Điểm chung duy nhất đó là bất kể là ai, lúc này cũng đều nghiêm cẩn ngồi an vị, thần sắc hết sức chăm chú.

Phó Kinh Hồng cạn chén, lại nói:

“Chư vị có đối sách gì chăng?”

Mới đầu, khi vừa nghe tin sen máu vào bờ, gã cũng không quá chú tâm đến. Dù sao, Ngự Long thành cũng không phải chưa kinh qua lần ma da hãm thành nào, thậm chí hai lần trước còn thu được đại thắng, sĩ tốt dưới quyền Phó Kinh Hồng được lợi không nhỏ.

Thế nhưng... lần này thần sông lại không theo luật cũ nữa.

Gương sen không có một hạt nào, trên lá sen lại viết vỏn vẹn hai chữ “một quận”. Là đòi số dân một quận, hay đòi địa giới một quận? Phó Kinh Hồng không biết.

Gã chỉ biết, hai yêu cầu này tuyệt đối không thể đáp ứng.

Thành thử, Ngự Long thành xưa nay chưa từng cầu viện các môn các phái Đại Sở lần này cuối cùng cũng phải hạ mình, mời tu hành giả đến bàn đối sách.

Lên tiếng đầu tiên chính là người của Nho Môn.

Một lão phu tử chậm rãi tiến lên một bước, nghiêm sắc mặt, nói:

“Tướng quân, kẻ sĩ ở đời chỉ có thẳng lưng, không có uốn gối. Lần này yêu vật quả thực là khinh người quá đáng. Không bằng chúng ta tiên hạ thủ vi cường, đem quân xuống đánh một trận rạng rỡ núi sông. Nho gia ta chỉ có ba tấc lưỡi, cùng một quả tim chính nghĩa, song cũng nguyện lấy sức mọn tiên phong giết địch.”

“Không nên. Không nên. Lâm phu tử nói vậy bần tăng thấy là hạ hạ sách.”

Bấy giờ, mấy ông sư tay chắp trước ngực, lắc đầu, trông hệt như người ta múa lân.

Mấy vị Nho sinh đến từ Bạch Lộ thư quán, tăng nhân thì xuất thân từ Linh Ẩn tự. Hai bên vốn là hàng xóm với nhau, sớm chiều va chạm, đương nhiên là có tranh chấp ngầm.

“Thiện tai. Xâm phạm động phủ của yêu tinh, ắt sẽ khiến nó nổi giận, dâng nước đánh các thành các trấn khác. Đến lúc đó sinh linh đồ thán, tội nghiệt thật là sâu dày.”

Người phía Nho Môn nghe thế, sa sầm sắc mặt.

Người trung niên họ Lâm nhướn mày, song vẫn đưa tay ra hiệu cho người bên mình đừng làm loạn. Y lại hắng giọng một cái, kế hỏi:

“Vậy theo ý đại sư chúng ta nên làm gì?”

“Theo ngu kiến của bần tăng, Ngự Long thành tường cao hào rộng. Chỉ cần ta giới nghiêm toàn thành, dựa vào trận pháp của Đạo gia và Phật môn, lại thêm các vị cường giả Nho môn đây trợ chiến, lo gì không thủ được thành?”

“Suy nghĩ hèn nhát như vậy mà đại sư đây cũng nói ra miệng được. Bội phục.”

“Vậy sao? Bần tăng lại cho rằng phương pháp của mình ổn trọng, thỏa đáng. Không như ai kia hấp tấp nông nổi, không biết nhịn cái nhỏ để lấy cái lớn, sau đó hại mình hại người.”

“Lão khọm trọc! Đọc kinh nhiều quá đầu óc thành con cá gỗ rồi sao?”

“Thiện tai, thiện tai. Các hạ quả thực là cái nghiệp báo mà phu tử của các hạ phải gánh.”

“...”

Hai nhà Nho, Phật một chủ công, một chủ thủ, không ai phục ai, cãi nhau ỏm tỏi.

“Được rồi. Hai vị đều có lý. Chi bằng chúng ta cứ nghe cao kiến của các tiền bối Vu đạo và Đạo gia rồi hẵng quyết?”

“Vậy được.”

“Bần tăng tán thành.”

Phó Kinh Hồng gõ bàn, hắng giọng, lúc này người của hai nhà mới chặc lưỡi, ngồi xuống lại như cũ. Gã tướng quân trẻ tuổi lại đưa ánh mắt về phía mấy thầy mo đang túm năm tụm ba, rì rầm nói chuyện gì đó với nhau, hỏi:

“Các vị thấy sao?”

“Bẩm tướng quân, bọn thầy mo chúng ta là đạo nhỏ, nói chuyện cầm quân đánh trận không hiểu chút nào. Không nói được lời hay chi bằng im lặng, bọn ta sẵn sàng nghe lệnh của tướng quân.”

Gã thầy mo dẫn đầu đứng lên, chắp tay về phía Phó Kinh Hồng.

Phủi sạch trách nhiệm.

Lại thuận tiện đá đểu cả hai nhà Nho, Phật là “dốt mà nói chữ”.

Lâm phu tử vỗ bàn, quát:

“Có gì cứ nói thẳng, hà tất phải dùng cái trò nói móc nói kháy như thế?”

“Không dám. Không dám. Chúng ta nói sao nghĩ vậy, không có ý gì sâu xa hơn. Người Nho môn các ngài chớ nghĩ ai trong lòng cũng mưu mô quyền biến, miệng nam mô bụng bồ dao găm như các ngài.”

Mấy vị tăng nhân Linh Ẩn tự trợn tròn mắt.

Cái công phu đá đểu này của Vu đạo quả thực là xuất quỷ nhập thần.

Bấy giờ, chỉ còn mỗi Long Hổ sơn là chưa lên tiếng.

Chỉ thấy, một lão đạo sĩ mặt dài như ngựa, thân hình béo tròn từ từ tiến đến. Y đẩy phất trần sang một bên, một bàn tay còn lại vuốt ba chòm râu dài, dáng vẻ cũng có mấy phần phong phạm cao nhân tiền bối.

Y chính là người dẫn đội của núi Long Hổ lần này, Thanh Hà Tử.

Ở đây, cũng chỉ có y là cùng một cấp bậc với Phó Kinh Hồng – tu vi đạt đến Ngũ Cảnh. Thành thử, cho dù ba nhà Nho, Phật, Vu không muốn chấp nhận, thì hôm nay tụ hội trừ phủ thành chủ là chủ nhà ra, tiếng nói của Đạo môn là có trọng lượng hơn cả.

Thanh Hà Tử chính đang chuẩn bị lên tiếng, thì bỗng nhiên có một lá bùa truyền âm từ ngoài cửa bay vào.

Chỉ thấy đôi mắt đang khép hờ của y trợn to lên, sau đó đưa tay bấm độn mấy cái, dường như để xác định lại chuyện gì đó. Lúc này, Thanh Hà Tử nhếch mép cười, đoạn chắp tay:

“Chư vị, thứ cho bần đạo thất lễ. Phản đồ của môn phái xuất hiện ở thành Ngự Long, bây giờ bần đạo phải đi thu phục một phen.”

“Chuyện này...”

“Thành chủ yên tâm. Phản đồ tu vi bình thường, bần đạo nhấc tay là có thể thu phục được. Nội trong một nén nhang, bần đạo tất quay lại cùng bàn đối sách với chư vị.”

Thanh Hà Tử vừa nói dứt câu, người đã lướt ra bên ngoài.

oOo

Miếu thủy thần...

Thanh Hà Tử chân đạp mây vàng, sau lưng tử khí cuồn cuộn, nhẹ nhàng rơi xuống sân miếu. Tên đạo đồng đã đứng chờ sẵn, vừa nhác thấy chỗ dựa xuất hiện là hớn hở chạy đến, thuật lại mọi chuyện cho Thanh Hà Tử, đương nhiên là phải thêm mắm dặm muối ít nhiều.

Thanh Hà Tử nhướn mày, nhìn về phía Đỗ Thải Hà, cười khẩy:

“Quả nhiên là tên phản đồ nhà ngươi. Nói đi. Đấu văn là đấu như thế nào?”

“Rất đơn giản.”

Đỗ Thải Hà không lên tiếng, mà người trả lời chính là Tạ Thiên Hoa. Cô nàng bước lên mấy bước, ngón tay gõ vào nhẫn chứa đồ một cái. Lập tức, một cái khay gỗ hiện ra, nằm an vị dưới đất.

Thanh Hà Tử cười vang, nói:

“Thứ đồ chơi trẻ con này cũng gọi là so đấu sao? Song cũng không tệ. Chỉ có như thế, phản đồ nhà ngươi mới có một thành cơ may làm khó dễ được bản tọa.”

“Ngươi chắc chắn mình sẽ thắng?”

Lần này, Đỗ Thải Hà đáp gọn lỏn một câu, ánh mắt mang đầy vẻ khiêu khích.

Tên đạo đồng bây giờ có chỗ dựa, lòng can đảm tăng nhiều, mới giơ quả đấm lên, nói:

“Vô tri! Chẳng nhẽ nhà ngươi không biết chân nhân được mệnh danh là ‘trận đạo trong thiên hạ có ba phần, mình chân nhân chiếm hết hai’? Loại Đấu Pháp Kì của trẻ con này há lại có thể lọt vào pháp nhãn của chân nhân được?”

“Được rồi. Tiểu Minh. Bần đạo đã dạy nhiều, làm người phải biết khiêm tốn. Bần đạo tài mọn, chỉ dám xưng là chiếm một phần rưỡi mà thôi.”

Thanh Hà Tử ưỡn ngược, cười hô hố.

Kỳ thực, tuy câu nói đó chỉ là một lời khoa trương, nhưng tạo nghệ trận pháp của Thanh Hà Tử tuyệt đối không yếu. Thậm chí, nếu xét tiềm lực, y tuyệt đối có thể xếp vào hàng đầu cả Huyền Hoàng giới, bởi Thanh Hà Tử trời sinh có một con Phá Chướng Đạo Đồng. Mắt này tên như ý nghĩa, có thể nhìn được rất nhiều biến hóa thần vận của trận đạo mà mắt trần ngươi thịt không tài nào phát hiện.

Dựa vào con mắt này, Thanh Hà Tử nắm bắt bản chất và mấu chốt của trận pháp, phù lục dễ hơn người thường không chỉ mười mấy hai mươi lần. Thiên phú như vậy, tu luyện Thiên Sư đạo quả thực là làm ít công to, nên từ lúc còn trẻ y đã được Long Hổ sơn chiêu mộ.

Hiện tại còn là chân nhân trẻ nhất toàn bộ môn phái, phong quang vô cùng.

Trái lại, Đỗ Thải Hà tuy là đệ tử nội môn, kiến thức rất rộng, nhưng đều là do nỗ lực khổ công dùi mài sách vở mà có. Luận về thiên phú, cô nàng chỉ là bình bình hạng trung, thậm chí yếu hơn một số đệ tử ngoại môn.

Trong mắt Thanh Hà Tử, ván này hắn thắng đã là chuyện chắc như đinh đóng cột.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 28: Bội Tín


Đấu Pháp Kỳ là một món đồ chơi của trẻ con nhà quý tộc, hoặc đệ tử tiên môn. Xưa nay vẫn được các tông môn thánh địa hoặc thế gia đại tộc sử dụng để cho đệ tử giải trí.

Món cờ này gồm một cái khay chia làm một trăm hai mươi tám ô, mỗi bên có mười sáu quân cờ, một xanh một đen. Sở dĩ gọi là cờ Đấu Pháp, là do môn này lấy cảm hứng từ câu chuyện sáng thế của Huyền Hoàng giới.

Tương truyền khi trước chưa có đất, chỉ có biển xanh mênh mông. Sau đó từ hư không xuất hiện hai vị cự thần – Cô Sơn Lẫm Lẫm, Thương Hải Mang Mang. Cô Sơn Lẫm Lẫm thấy biển nước mênh mang quá nhàm chán, bèn dậm chân tạo đất. Thương Hải Mang Mang cho rằng Cô Sơn Lẫm Lẫm phá hoại cảnh sắc tươi đẹp, dâng nước nhấn chìm tạo vật của Cô Sơn. Hai thần đấu pháp, một dâng đất một dâng nước, cứ thế đánh nhau mãi cho đến lúc kiệt sức thì có Huyền Hoàng giới bây giờ. Cô Sơn Lẫm Lẫm hóa thành Hoàng Liên sơn, Thương Hải Mang Mang biến thành Phong Bạo hải, tiếp tục đấu pháp đến lúc biển cạn đá mòn, thiên hoang địa vẫn mới thôi.

Truyền thuyết này là thật hay giả không ai biết cả, song Đấu Pháp kỳ chính là dựa vào câu chuyện này mà thành.

Hai bên chấp cờ, một phe gọi Thương Hải, một phe gọi là Cô Sơn, dùng mười sáu quân cờ tranh giành một trăm hai mươi tám ô. Đến lúc một bên không còn quân nào để đi, hoặc ai chiếm được nhiều ô hơn khi hết thời gian thì người đó thắng.

Thế nhưng, môn cờ này không đơn giản như thế.

Trên bàn cờ chia làm mười hai tháng, cũng tương ứng với thời gian chơi. Sau khi tháng mười hai kết thúc, ván cờ chấm dứt.

Mười sáu quân cờ lại bao gồm sáu lính, bốn kỵ, ba tướng, hai soái, một vua. Mỗi khi đặt quân xuống, đều sẽ ăn được một số “ô” nhất định trên bàn cờ. Lính ăn được ít nhất, vua ăn được nhiều nhất.

Bàn cờ lại do trận pháp biến hóa khống chế, tùy theo từng tháng mà mỗi ô lại có một ưu nhược khác nhau. Thành thử đặt quân cờ xuống ăn được bao nhiêu ô, quân nào có thể thắng quân nào, tất cả đều dựa vào biến hóa của trận pháp.

Lý Thanh Vân nghe Tạ Thiên Hoa nói một hồi, chỉ thấy đầu váng cả lên.

Cậu chàng nhớ khi xưa, lúc theo học thầy đồ ở am Bạch Hạc, cũng thỉnh thoảng được chơi cờ Đấu Pháp. Thế nhưng Lý Thanh Vân hồi ấy toàn đi bừa, lại thấy biến hóa của cờ này quá rối rắm, chẳng mấy đã chán không muốn học nữa.

Tạ Thiên Hoa lắc đầu, vỗ vai sư muội mình một cái, nói:

“Tiến lên tam sư muội, cho lão già đó một trận tơi bời hoa lá. Sư huynh sư tỷ ủng hộ muội.”

“Sư tỷ yên tâm. Nếu như sư muội thua trận này, sau này còn mặt mũi nào theo sư phụ học toán học nữa?”

Đỗ Thải Hà hít sâu, sau đó nhìn về phía Thanh Hà Tử.

Trước đây, cái vị chân nhân trẻ tuổi nhất Long Hổ sơn này từng là mục tiêu để cô nàng phấn đấu, là hình mẫu mà Đỗ Thải Hà theo đuổi.

Hiện tại, vật đổi sao dời, cô nàng đã có thể đường đường chính chính đứng trên cùng một vũ đài, so găng cao thấp với đối phương một phen. Chỉ mới nghĩ đến đây, Đỗ Thải Hà đã thấy cả người run lên, đáy mắt có một luồng chiến ý hừng hực thiêu đốt.

“Lão thất phu! Tới đây!”

“Được! Để lão phu cho tên phản đồ nhà ngươi biết, không phải học được một chút bàng môn tả đạo của hạng giá áo túi cơm bên ngoài là có thể nhảy tưng tưng trước mặt đạo gia.”

oOo

Đỗ Thải Hà được “chấp” cầm quân Cô Sơn.

Trong cờ Đấu Pháp, người cầm cờ Cô Sơn sẽ đi trước, cũng là để ám chỉ trong truyèn thuyết, cự thần Cô Sơn Lẫm Lẫm là người dâng đất lên khỏi biển vô tận trước.

Bấy giờ, hai người đã đấu hơn sáu mươi bảy nước.

Bàn cờ cũng đã chuyển sang tháng thứ bảy.

Lý Thanh Vân đứng ngoài nhìn, chỉ thấy hai bên lúc thì hạ cờ, khi thì đi quân. Trong mắt của cậu chàng, quân cờ hạ xuống khi thì ăn được sáu bảy ô, lúc thì làm mất ba bốn ô của kẻ thù. Các quân di chuyển cũng cơ hồ không có quy luật nào cả, chéo thẳng gấp khúc tùy hứng, cực kỳ hỗn loạn. Thế nhưng, có một chuyện mà người ngoài nghề như cậu chàng cũng có thể phát hiện: Thanh Hà Tử đã ăn được nhiều hơn ba quân cờ so với Đỗ Thải Hà. Số ô Thương Hải chiếm được cũng đã nhiều hơn Cô Sơn mười bảy ô.

Tam sư muội đang ở thế yếu.

Tạ Thiên Hoa thì trái lại, hết sức bình tĩnh.

Kể từ khi tam sư muội còn chưa bái Nguyễn Đông Thanh làm thầy, cô nàng đã từng chơi Đấu Pháp kỳ với Đỗ Thải Hà. Mới đầu, Tạ Thiên Hoa cao hơn một bậc.

Thế nhưng kể từ sau khi vị tam sư muội này được chân truyền “số học”, thì cơ hồ có thể hành hạ Tạ Thiên Hoa, cho dù Đỗ Thải Hà chấp bốn quân cô nàng cũng không thắng nổi.

Tạ Thiên Hoa có thể nhìn ra được tuy Thanh Hà Tử cũng không phải không có chân tài thực học, nhưng kỳ nghệ chỉ nhỉnh hơn cô nàng đôi chút mà thôi. So với Đỗ Thải Hà đã học được số học thì thua không chỉ một hai bậc. Hà huống, hắn lại còn khinh địch, nhường tiên cơ cho đối thủ.

Trong ván này, Tạ Thiên Hoa có thể nhìn ra ngay từ tháng thứ tư, Đỗ Thải Hà đã có bốn năm nước có thể kết liễu Thanh Hà Tử. Thế nhưng cô nàng lại thả cho y, để y dẫn mình một khoảng xa, kéo đến tận tháng thứ bảy.

Mà cái trước trong lòng đầy khinh thị, đương nhiên không nhận ra mình đã ba bốn bận mém thì đặt chân vào cửa tử.

Lúc này...

Thanh Hà Tử lại ăn được một quân. Lão cười phá lên, nói:

“Cũng không cần phải chơi nữa. Nhà ngươi phản bội sư môn là vì học được chút bản lĩnh này? Công phu mèo ba cẳng như vậy, xem ra cái kẻ dạy ngươi cũng chẳng qua là hạng con sâu cái kiến, phế thải vô dụng.”

“Đúng là không cần thiết chơi thêm.”

Đỗ Thải Hà cười lạnh, giơ ba ngón tay lên, nói:

“Lão còn ba nước.”

“Cái gì?”

Thanh Hà Tử trợn mắt, sau đó lại cười lạnh, chỉ cho rằng cô nàng đang cố làm ra vẻ. Trong mắt lão, lúc này Đỗ Thải Hà bại cục đã thành hình, giống như rắn bị khóa chỗ bảy tấc, có tài thánh cũng không lật được mình.

Nghĩ thế, lão bèn âm thầm vận khí, lấy đạo của bản thân hòa vào bàn cờ.

Thông thường, khi luận bàn kỳ nghệ, người tu hành sẽ chỉ chơi bình thường như người phàm, cùng lắm cũng chỉ dùng đến chân khí truyền vào con cờ, giúp chúng hóa hình cho thêm phần đặc sắc.

Hòa đạo vào bàn cờ, cũng có nghĩa là muốn lấy tính mạng của bản thân ra để đặt cược, dùng sát cuộc trên bàn cờ định sinh tử. Chấp kỳ giả không còn chơi vì phân cao thấp, luận tài nghệ, mà là dùng cuộc cờ để giết người. Một khi sát cuộc trên bàn cờ cụ hiện, chỉ cần một bên thất bại, linh hồn sẽ lập tức lọt vào công kích của cuộc cờ. Nhẹ thì linh hồn trọng thương, hóa thành kẻ điên dại. Nặng thì linh hồn hoàn toàn bị tiêu diệt, không vào được luân hồi, vĩnh viễn không siêu sinh.

Thủ đoạn tàn nhẫn cỡ này, cho dù là người chủ tu kỳ đạo, thì cũng không tùy tiện sử dụng. Chỉ khi đối phó với kẻ có mối thù giết cha cướp vợ, không đội trời chung gì đó, bọn họ mới hòa đạo vào cuộc cờ.

Việc làm này của Thanh Hà Tử chẳng những tàn nhẫn, mà còn bội ước...

Dù sao, chính hắn đồng ý với Tạ Thiên Hoa sẽ đấu văn, đến giữa chừng lại trở mặt, giở thủ đoạn hòa đạo muốn diệt sát linh hồn Đỗ Thải Hà.

Nếu không phải đã sớm nhìn ra tam sư muội mới là kẻ nắm đằng chuôi, có lẽ ngay lúc này Tạ Thiên Hoa đã ra tay cưỡng chế kết thúc ván cờ, sau đó mắng thẳng mặt Thanh Hà Tử là hạng người vô sỉ, bỉ ổi.

Bấy giờ, bàn cờ ngậm lấy đạo vận của Thanh Hà Tử, sát cục trên bàn cờ cũng nháy mắt hóa thành thực chất. Ba người xem cờ thoắt cái cảm thấy sát khí kinh khủng bốc lên từ bàn cờ, sau đó hiện hóa thành những cơn gió tanh nồng mùi máu, tát vào rát cả da mặt.

Gã đồng tử vội vàng hụp người, lại dùng thuật bế khí, lúc này mới thấy dễ chịu.

Lý Thanh Vân theo bản năng vung tay, lợi dụng chưởng kình thổi bạt gió tanh sang một bên. Hàng Long Thập Bát chưởng trong tay cậu chàng hoàn toàn không tuân theo lẽ thường. Sát khí từ bàn cờ giống như bị dọa sợ, không còn dám kéo đến chỗ Lý Thanh Vân nữa.

Đỗ Thải Hà cuối cùng hạ con vua xuống.

Bàn cờ dịch chuyển, ngay cả một ô lãnh địa cũng không ăn nổi.

Thanh Hà Tử thuận thế, tiến công thần tốc, ăn luôn cả quân vua của cô nàng.

Lúc này, trong tay Đỗ Thải Hà chỉ còn sót lại hai con “lính” yếu nhất.

“Xong!”

Chính lúc Thanh Hà Tử chắc mẩm sẽ thắng, chuẩn bị lấy thế cuộc tất sát trên bàn cờ oanh kích linh hồn đối thủ, để Đỗ Thải Hà hóa thành kẻ điên, thì con cờ áp chót của cô nàng rơi xuống.

Trên bàn cờ, lúc này là giữa tháng bảy.

Chỉ nghe “cạch” một cái, các quân cờ đã bị ăn mất của Đỗ Thải Hà nhao nhao bắn trở lại vào bàn cờ, chẳng những đánh văng hai tướng, hai kỵ của Thanh Hà Tử, san bằng khoảng cách về lãnh địa, còn tạo thế bao vây khóa chết cờ của lão.

Phụt!

Sát cuộc đảo ngược, Thanh Hà Tử đứng mũi chịu sào, bị chính sát khí do lão cụ hiện hóa ra đánh thẳng vào thức hải. Lão phun máu miệng, hai mắt có huyết lệ chảy xuôi. Lại nghe “rắc” một cái, dưới chân lão rơi lả tả xuống một đống ngọc thạch vỡ vụn.

Hiển nhiên, Thanh Hà Tử có đeo một loại ngọc khí bảo mệnh. Chính thứ này đã hứng thay lão một đòn phản phệ từ bàn cờ, lúc này mới khiến linh hồn lão không bị thương quá nặng.

“Yêu... yêu nữ...”

Thanh Hà Tử hoàn toàn không nhận thức chuyện hôm nay là chính mình gieo gió gặt bão. Hắn bây giờ tâm thần thụ thương, chẳng còn tâm trí đâu mà đánh cờ, bèn vung tay hất đổ cả bàn cờ xuống đất.

Sau đó, ngón tay quệt lấy lệ máu, cấp tốc vẽ lên một lá bùa trên không trung.

“Chấn!”

Thanh Hà Tử đánh quyết, đẩy lá bùa lao về phía Đỗ Thải Hà.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 29: Cụp Đuôi Mà Chạy


Xèo!

Thanh Hà Tử chỉ thấy bên cạnh có ánh sáng xanh lóe lên, Lôi Dẫn Phù viết bằng máu định dùng để đánh chết Đỗ Thải Hà nháy mắt hóa thành một trận khói xám, hoàn toàn bị thanh quang quái dị chôn vùi.

Thế nhưng, điều quái dị còn ở phía sau.

Ánh sáng xanh đang lao thẳng, đột nhiên bẻ ngoặt một cái, nháy mắt đổi hướng bắn thẳng đến mặt Thanh Hà Tử. Lão chỉ kịp kêu “ối” một cái, hụp đầu né vội.

Đầu thì giữ lại, nhưng đạo quan, phân nửa bộ tóc trán và một lớp da đầu mỏng đã bị thanh quang gọt mất.

“Thanh Sắc thần quang!?”

Thanh Hà Tử nuốt nước bọt, hoảng sợ nhìn về phía Tạ Thiên Hoa.

Hắn coi như là cao tầng ở Long Hổ sơn, tự nhiên là biết thần thông bản mệnh Thanh Sắc thần quang của tộc Thanh Tước đáng sợ đến bậc nào.

Tạ Thiên Hoa phủi áo, hừ lạnh:

“Nghệ không bằng người thì lập tức ra tay diệt khẩu, hèn gì núi Long Hổ dám tự xưng đạo thuật cao thâm. Bội phục. Bội phục.”

Thanh Hà Tử vội vàng lấy một cái mũ vải, chụp lên che cái mảng hói trơ hói trụi trên đầu. Lão nghiến răng nhìn về phía Tạ Thiên Hoa, một bụng căm tức không có nơi nào để trút, cuối cùng nghẹn thành một búng máu ở cổ.

Phụt.

Lão đạo sĩ lại phun một ngụm máu đỏ lòm ra, bấy giờ mới thấy lồng ngực dễ chịu một chút. Lão gằn từng chữ một, nói:

“Cô nương. Cô chửi lão phu thì được, chứ không được nhục mạ bản môn.”

“Buồn cười. Lão già nhà ngươi ra ngoài, chẳng nhẽ chưa từng vỗ ngực tự xưng là chân nhân của Long Hổ sơn? Bây giờ nhà ngươi trước là vô sỉ bội tín, kế là dám chơi không dám chịu, cuối cùng là lấy lớn h**p nhỏ, chẳng nhẽ không phải do Long Hổ sơn dạy dỗ bất lực?”

Tạ Thiên Hoa nói đến đây, ngừng một chốc, đoạn cười:

“Hay chân nhân đây muốn nói thực chất trên dưới Long Hổ sơn cũng rặt cá mè một lứa với nhau?”

Lý Thanh Vân và Đỗ Thải Hà nghe đến chỗ này, đồng thời phì cười. Hàm ý trong câu nói ban nãy thực ra rất đơn giản: nếu không phải Long Hổ sơn dạy dỗ Thanh Hà Tử có sơ hở, thì có nghĩa nhà dột từ nóc, bản thân hành vi của lão đạo sĩ ném vào trong núi Long Hổ cũng chẳng coi là chuyện gì to tát.

Thanh Hà Tử nghẹn giọng, tức giận “hừ” lạnh một cái, nói:

“Hôm nay bần đạo tài không bằng người, nhưng phản đồ kia ắt phải theo ta về núi Long Hổ chịu tội. Đây là chuyện nội bộ của Đạo môn, tộc Thanh Tước chẳng nhẽ cũng muốn xen vào hay sao?”

“Thiên Hoa tạm thời đã rời khỏi tộc, chuyện nó làm không đại biểu được cho Lục Trúc Hải. Thế nhưng... cho dù là như thế, thì tên mũi trâu nhà ngươi làm gì được nó?”

Tiếng nói lèm nhèm đầy hơi men được một tràng cười ha hả hộ tống truyền vào trong miếu.

Ba sư huynh muội Lý Thanh Vân vội vàng nghển cổ, nhìn về phía phát ra tiếng nói, thì đã thấy Tạ Hàn Thiên đứng chồm hỗm trên nóc chính điện từ bao giờ. Y tung mình, nhẹ nhàng đáp xuống trước mặt Thanh Hà Tử,

“Huống hồ... ai nói đây không phải chuyện của Thiên Hoa? Ba đứa nó cùng bái một một vị cao nhân tuyệt thế làm thầy, các người muốn giết sư muội của nó, làm sư tỷ há lại có chuyện đứng yên mà nhìn?”

“Các hạ cho rằng dựng lên một tên ‘cao nhân’ chẳng biết từ xó nào chui ra là có thể dọa được Long Hổ sơn ta?”

Thanh Hà tử không chịu phục, nhướn mày, đáp trả.

Hắn thấy sư phụ của Đỗ Thải Hà cùng lắm là có chút kiến giải độc đáo về trận pháp, thế nên mới có thể nhân lúc hắn khinh địch thừa cơ cướp một trận thắng, song cũng chỉ đến thế mà thôi.

Bằng không, ban nãy Tạ Thiên Hoa phá huyết phù của hắn sao lại không dùng công phu bản môn, mà phải dựa vào Thanh Sắc thần quang?

Tạ Hàn Thiên cười lạnh, nói:

“Tên mũi trâu, nhà ngươi cho rằng mình là cái thá gì mà Tạ Hàn Thiên này phải bịa chuyện?”

Sau đó, cũng không chờ Thanh Hà Tử chấn vấn, Tạ Hàn Thiên vung tay lên, lấy trong nhẫn chứa đồ ra một thanh kiếm gỗ đào. Kiếm này rõ ràng là một thứ pháp bảo đỉnh cấp, nhưng hiện giờ đạo vận đã cực kỳ mờ nhạt, cơ hồ lúc nào cũng có thể rơi xuống thành một thanh kiếm gỗ mục nát tầm thường bán đầy ngoài chợ. Bấy giờ, nhận ra Thanh Hà Tử có khí tức đạo môn, thân kiếm bèn truyền ra một loại cảm xúc uể oải và kiệt sức, giống như đang cầu cứu.

Thần kiếm có linh.

Thanh Hà Tử hít sâu một hoi, hoảng sợ lùi lại một bước. Hắn còn nhớ như in hơn mười năm trước, Thiên Sư trong phái Tiết Bình Thiên ra ngoài đại chiến với Tạ Hàn Thiên, cuối cùng thua trận bỏ chạy. Tiết Bình Thiên sau đó trọng thương mém chết chạy về sơn môn, ngay cả bội kiếm tùy thân Long Ảnh Đào Mộc kiếm cũng bị đoạt mất.

Sau trận đánh đó, Long Hổ sơn dựng hộ tông đại trận, phong sơn hơn ba tháng không một ai dám bén mảng nửa bước chân ra khỏi núi. Trên từ thiên sư, dưới đến đạo đồng, đều nơm nớp sợ hãi Tạ Hàn Thiên chủ động tìm đến gây sự.

Bây giờ, gã đàn ông tuấn lãng này lại có thể lấy ra một thanh kiếm gỗ đào đã khai linh trí.

Trên đời nào có lắm chuyện trùng hợp như vậy?

Tạ Hàn Thiên cười lạnh, nói:

“Bản tọa vẫn đang chờ thằng ranh họ Tiết đến đòi kiếm đây.”

Nói đoạn, y lại nhướn mày nhìn Thanh Hà Tử, nghiến răng:

“Còn chưa chịu cút?”

Thanh Hà Tử kinh ngạc, không ngờ người được mệnh danh là Tạ Phong Tử (kẻ điên) này lại thả cho mình đi. Lúc này, y nào còn dám ở lại một giây một phút? Chỉ thấy Thanh Hà Tử cuống cuồng bỏ chạy ra khỏi miếu thờ, thậm chí còn quên cả chuyện đạp mây mà đi.

oOo

Lại nói chuyện ở ải Quan Lâm...

“Được rồi. Mấy đứa về nhà đi.”

“Chào thầy!”

Mấy đứa nhỏ lễ phép cúi chào, sau đó hớn hở chạy khỏi lớp, đi lêu lổng quậy phá hay về nhà tu luyện thì chỉ có chúng nó biết với nhau. Nguyễn Đông Thanh vươn vai, uống nốt ấm nước trà pha đặc, lại chẹp miệng tiếc rẻ vì trà nguội ngắt. Nói đoạn, gã lững thững bước ra ngay ngoài cổng trường, quen thuộc kéo một cái ghế ngồi xuống. Chị gái chủ gánh ăn vặt thấy gã thì cười toe toét, lập tức múc lấy một bát bánh trôi nước cho anh chàng.

“Đây. Chị mời. Trời cũng trở lạnh rồi đấy.”

Nguyễn Đông Thanh biết tính chị chủ quán nhiệt tình, không tiện trừ chối, bèn cầm bát lên. Vừa húp một cái, nước đường ngọt thanh pha chút cay cay ấm ấm của gừng lập tức xua tan cái giá rét của ngày cuối thu.

“Bằng giờ này năm ngoái là có tuyết rồi.”

“Mà này, chú xem thế nào chú cách hai ngày dạy một buổi đi. Tháng phải mười lăm hai mươi buổi vào, lớp trẻ thành ta mới nên người được.”

Nghe chị ta nói, Nguyễn Đông Thanh chỉ biết cười trừ theo. Chị chủ quán từ khi được gã giới thiệu cho mô hình “quà vặt cổng trường” này, kiếm đầy bồn đầy bát, chỉ ước sao anh chàng dạy trẻ một tháng hẳn ba mươi ngày thì tốt.

“Cho chục cái bánh.”

Lúc hai người một còn đang nài tăng buổi, một con đang cố từ chối khéo, thì bỗng nhiên có một người thứ ba tiến đến, kéo ghế ngồi xuống bên cạnh Nguyễn Đông Thanh.

Nguyễn Đông Thanh nhìn sang, chỉ thấy người nọ là một thanh niên dáng dấp thư sinh, ăn vận sạch sẽ lịch sự, nếu không phải sĩ tử lên kinh thì cũng hẳn là con nhà cửa quyền phú quý.

“Huynh đài là phu tử ở đây?”

Người nọ cười, chỉ vào căn nhà gỗ chỉ được ba gian phòng be bé mà Nguyễn Đông Thanh được cấp làm trường dạy trẻ.

“Đúng vậy. Các hạ vì sao tự nhiên lại hỏi chuyện đó?”

“Không có gì. Tiểu sinh chỉ không ngờ ở nơi quan ải toàn là mãng phu này lại có thể gặp được người cùng trong chốn cao nhã, cảm thấy vui vẻ, nên muốn mời huynh đài uống một chén rượu cho ấm người mà thôi.”

Thiếu niên cười, sau đó đưa tay lấy ra một cái bình gốm màu trắng, chế tác cực kỳ tinh xảo. Y đưa bình rượu cho chị chủ quán nhờ hâm nóng lại giúp. Chẳng mấy chốc, miệng cái bình sứ đã truyền ra một mùi hương rượu nồng nàn. Thư sinh nọ đưa tay, trước tiên rót một chén mời Nguyễn Đông Thanh, kế lại tự rót một chung cho chính mình.

“Rượu ngon.”

Thư sinh nhấp môi, cười khẽ một cái, sau đó quay sang chỗ Nguyễn Đông Thanh mà hỏi:

“Huynh đài thấy sao?”

“Khó uống.”

Nguyễn Đông Thanh lắc đầu, lè lưỡi. Gã chẳng rõ tên thư sinh khẩu vị ra sao, nhưng thứ “rượu” kia vừa hôi vừa nhớt, lại có mùi tanh lợm giọng như bùn sình lưu cữu cả mấy năm trời. Nếu không phải thấy thư sinh kia rót rượu mời khách một cách kính cẩn như vậy, Nguyễn Đông Thanh chắc chắn không nhấp môi đến lần thứ hai.

Thư sinh trố mắt nhìn, sau đó vội vàng hắng giọng một cái, đầu cúi xuống che giấu ánh nhìn thất thố ban nãy. Y lại cố tình rót một chén khác, đặt bên cạnh Nguyễn Đông Thanh, kế hỏi:

“Tuy rượu này quả thực là tệ, nhưng cảnh này tình này, thiết nghĩ đáng ngâm thơ vịnh phú lắm thay. Không bằng huynh đài cũng ngâm xướng một bài, cũng coi như ghi dấu lần tương hội tình cờ này?”

Khóe miệng Nguyễn Đông Thanh giật một cái, trong lòng thầm chửi tên thư sinh kia.

Ngươi rảnh đến rửng mỡ thì ngủ một giấc đi, chạy đến đây làm cái gì?

Còn đòi thơ? Nguyễn Đông Thanh tự biết sức mình. Hắn mà tự làm được bài thơ nào ông trời không gọi một tiếng “cậu” (1), thì hắn sẽ vung đao tự cung.

(1: biên tập chú thích cho ai chưa hiểu, đây là nói thơ "con cóc" đó, "con cóc là cậu ông trời" mà)

Thế nhưng, tên thư sinh từ đầu đến giờ hành xử cũng khiêm cung lễ phép, lịch sự khiêm nhường. Có câu “tay hung không đánh mặt cười”, bây giờ Nguyễn Đông Thanh muốn chối từ cũng khó.

Cuối cùng, hắn thở dài:

“Tại hạ tài học thô thiển, làm thơ xin miễn cho. Nhưng có đôi câu danh thi của bậc tiền nhân ở đây, xin mượn lời người xưa một phen vậy. Thỉnh các hạ chớ chê cười.”

“Nào dám. Lời ngọc của huynh đài tiểu sinh cầu còn không kịp, sao lại chê cười?”

“Vậy xin mạn phép:

Quan tây biên hướng vạn thiên thiên,

Khiêu tận giang tân kỷ dạng thuyền.

Thương cổ tự tri du thủ lạc,

Lưỡng quân chiến sĩ ngoạ lam yên.”

(Dịch nghĩa:

Lương thực vận ra biên ải phía tây kể hàng ngàn vạn,

Bắt hết các hạng thuyền ở bên sông để chuyên chở.

Bọn lái buôn được cái thú “ngồi rồi”,

Còn chiến sĩ hai quân thì lăn lóc nơi lam chướng mù mịt.)
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 30: Sát Thần Nghiêm Hàn


Nguyễn Đông Thanh vừa ngâm thơ xong, tên thư sinh đã biến hẳn sắc mặt.

Gã húng hắng ho, cố tình cúi đầu để che giấu ánh mắt sợ hãi đến kinh người. Bả vai hắn run lẩy bẩy, người khác nhìn vào chỉ nghĩ do hắn ho dữ dội quá, nào có biết trong lòng thư sinh bây giờ đã như có sóng biển rít gào, núi non đổ sụp?

Nguyễn Đông Thanh bị phản ứng này của hắn làm giật mình, quay sang hỏi thăm một câu:

“Các hạ không sao chứ?”

“Không. Không sao. Tiểu sinh bị ý thơ của huynh đài chấn động, không cẩn thận sặc mà thôi.”

Thư sinh hít sâu một hơi, lại cung kính cung tay, nói:

“Ban nãy thất thố, huynh đài chớ trách. Dám hỏi thơ này là sở tác của vị đại Nho nào? Tên thơ là gì?”

Nguyễn Đông Thanh cười.

“Thơ này vốn là do Cao Bá Quát tiên sinh sở tác. Lão nhân gia tính cách thanh đạm, không muốn nổi danh, nên các hạ chưa từng nghe thấy là phải. Bài này cũng là Cao lão tiên sinh tiện tay viết, thậm chí lười cả đặt tên, chỉ gọi là Tạp Thi Kỳ Tam. (bài thơ vặt số 3)”

Vừa giới thiệu, gã cũng thuận tiện bịa ra một cái cớ để giải thích nguyên do Cao Bá Quát tuyệt tích trong văn sử của Huyền Hoàng giới.

“Ra là thủ bút của Cao lão tiên sinh. Đáng tiếc lão nhân gia không muốn nổi danh, bằng không ắt sẽ thành một đời đại Nho.”

Thư sinh chép miệng, ra chiều tiếc rẻ.

Nguyễn Đông Thanh cười khẽ, lắc đầu.

“Thánh Quát” quả thực là “không muốn nổi danh”, chỉ hòm hòm lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa chống triều đình, sau đó bị bắt, bị giết, thơ văn bị đốt hầu hết. Đến nay sử học vẫn chưa ai rõ rốt cuộc ông là người ra sao, thơ văn bài nào là lời tỏ lòng của ông, lời nào là kẻ hậu sinh nhét vào miệng ông.

“Sắc trời cũng không còn sớm. Các hạ cứ tự nhiên. Tại hạ còn chuyện phải về trước.”

Nguyễn Đông Thanh chào thư sinh, đưa tay lấy một ít bánh trái đã dặn chị chủ quán làm sẵn, sau đó thủng thẳng đi về phía cửa thành.

Chị chủ quán nhìn theo bóng lưng gã, sau đó quay lại thì giật mình vì tên thư sinh đã biến đi đâu mất. Trên bàn, chỉ còn lại đĩa bánh rán cái nào cái nấy đều đã mốc meo thiu thối không chịu nổi.

“Chả có nhẽ là ma?”

Chị chủ quán rùng mình, vội vàng thu gánh, bọc lấy mấy cái bánh bằng vải đó đem lên chùa “trấn yểm”.

oOo

Tổng bộ Nhất Phẩm cư.

Thư sinh ban nãy ngồi trên ghế chủ vị, bàn tay run rẩy đưa lên dốc ngược chén trà nóng vào miệng.

Lý Lợi Minh đứng hầu một bên, lúc này không dám chậm trễ chút nào, vội vàng tiến tới tự mình rót trà cho gã thư sinh trông có vẻ trói gà không chặt kia.

Thỉnh thoảng, lão lại lau hai bàn tay vào vạt áo, răng cắn vào môi dưới.

Đã theo hầu vị đại nhân kia nhiều năm, lão rõ hơn ai hết thói quen của y. Thư sinh càng lo lắng sợ hãi trong lòng thì lại càng thích uống trà, dùng vị đắng của trà để làm bản thân bình tĩnh. Lý Lợi Minh vẫn nhớ lần cuối cùng thư sinh tỏ ra hãi hùng khiếp vía đến mức này là mười bảy năm trước, lúc thập đại Đế Tôn của Đế Mộ nội chiến.

Thư sinh lúc này cuối cùng cũng bình tĩnh lại.

Y gõ ngón tay lên bàn, lập tức trong phòng xuất hiện từng trận gió âm vừa tanh vừa lạnh. Sau đó, hai tên quỷ đói thân người, đầu ếch lù lù đội đất mà lên. Hai tên một béo một gầy, mình mặc áo giáp, vội vàng quỳ gối trước mặt thư sinh chờ nghe lệnh.

“Bái... bái kiến Nghiêm đại nhân.”

Hai quỷ đói này chính là hai tên ngày trước gây sự với Lý Thanh Vân.

“Hai người các ngươi tiếp tục nằm vùng ở Quan Lâm, theo dõi nhất cử nhất động của Bích Mặc tiên sinh cho ta. Nhớ, tuyệt đối không thể đắc tội người này, cũng chớ có tiếp xúc quá gần với y kẻo lại như lần trước. Nếu có thất trách, phá hỏng đại nghiệp của các vị Đế Tôn, bản tọa chỉ có thể chúc các ngươi sớm ngày được chết.”

Nghiêm đại nhân phất tay, lại nhìn sang Lý Lợi Minh một cái. Lão lập tức hiểu ý, cười tủm tỉm nói với hai con quỷ đói:

“Hai vị, mời ra hậu viện chờ cho một chốc. Tại hạ nghe lệnh của Nghiêm soái xong sẽ nhanh chóng chuẩn bị nhục thể cho các vị.”

Chờ hai con quỷ đi khỏi, Lý Lợi Minh mới rụt rè đến gần, hỏi:

“Nghiêm soái. Không rõ rốt cuộc vị Bích Mặc tiên sinh này lợi hại đến mức nào?”

“Ngươi nghi ngờ ánh mắt của bản soái?”

“Không dám. Chỉ là tiểu nhân dù sao quanh năm cũng sống ở ải Quan Lâm, biết thêm một chút chuyện mới dễ bề ứng xử với Bích Mặc tiên sinh, tránh bứt dây động rừng bại lộ chuyện của Đế Mộ.”

Lý Lợi Minh vội vàng cúi đầu xuống, lại giải thích rõ nguyên do.

Hơn ai hết, lão biết vị Nghiêm soái này lúc sinh tiền đã là kẻ cực kỳ tàn nhẫn máu lạnh, đừng nói là hiện giờ đã được Đế Mộ trọng dụng.

Dù sao, kể từ khi Võ Hoàng Lý Huyền Thiên quật khởi, cũng chỉ có vị Nghiêm soái này là có thể xứng làm đối thủ.

Đại Tề Sát Thần – Nghiêm Hàn.

Cầm ba vạn quân, đồ sát sáu mươi vạn quân dân ba nước, những nơi Nghiêm Hàn kéo quân đi qua không còn thành trấn, không còn làng mạc, không còn cỏ cây động vật, chỉ có đồng thây trải dài vạn dặm. Một trận chiến này, Nghiêm Hàn dùng máu viết tên mình vào sử sách, khiến ba nước Sở, Hàn, Yến thần phục đại Tề, hàng năm triều cống.

Cuối cùng, trong chiến tranh Tề - Việt bại dưới tay Lý Huyền Thiên, quy kiếm tự vẫn, lại được một vị Đế Tôn nhìn trúng, dùng bí pháp giúp y cải tử hoàn sinh, hiện đang là một trong bốn nguyên soái của Đế Mộ.

Thế nhưng, vị sát thần này lại tỏ ra dè chừng trước Bích Mặc tiên sinh, quả thực là chuyện khiến lão thấy cực kỳ khó hiểu.

Nghiêm Hàn cười lạnh, nói:

“Hôm nay bản soái tự mình gặp y một lần. Người này không bàn gì đến chuyện chém giết, cũng không thể hiện tu vi, chỉ đọc cho bản soái bốn câu thơ, dùng để dằn mặt:

Quan tây biên hướng vạn thiên thiên,

Khiêu tận giang tân kỷ dạng thuyền.

Thương cổ tự tri du thủ lạc,

Lưỡng quân chiến sĩ ngoạ lam yên.”

Lý Lợi Minh nghe xong, tá hỏa, mồ hôi lạnh tứa ra đầy đầu. Lão hít sâu một hơi khí lạnh, rụt cổ, è è hỏi:

“Nghiêm... Nghiêm soái... chẳng nhẽ... chuyện giao dịch giữa tiểu nhân và Đế Mộ đã...”

“Biết là tốt. Tạm thời để thế lực của ngươi từ sáng chuyển vào tối, đừng thách thức y. Người này quá cổ quái, bản soái cần phải hỏi các vị Đế Tôn xem rôt cuộc nên đối phó với y ra sao.”

Nghiêm Hàn vừa nói, vừa lấy giấy bút ra viết lại bài Tạp Thi Kỳ Tam. Chợt, dường như nghĩ đến chuyện gì đó, gã lại quay sang dặn Lý Lợi Minh:

“Nhà ngươi cho người tìm xem có ai tên ‘Cao Bá Quát’ hay không? Người này là đại Nho, thể theo lời Bích Mặc tiên sinh thì bài thơ vừa rồi do y sáng tác.”

“Nghiêm... Nghiêm soái... chẳng nhẽ sau lưng Bích Mặc tiên sinh còn có cả một thế lực chống lưng?”

“Bản soái cũng không rõ, thế nên mới cần ngươi điều tra. Ngoài ra, ta sẽ vận động thêm các đại thư viện lớn nhỏ trên Huyền Hoàng giới cùng tra khảo cổ tịch.”

Nghiêm Hàn lắc đầu, nói.

Đến tận lúc này, hắn cũng không biết liệu Bích Mặc tiên sinh và Cao Bá Quát là cùng một người, hay là hai người khác nhau thì cái trường hợp nào đáng sợ hơn.

“Cái tên Bích Mặc tiên sinh này giống như từ trên trời rơi xuống Huyền Hoàng giới, rốt cuộc là muốn làm gì? Là địch hay bạn?”

Nghiêm Hàn lắc đầu.

oOo

Đại Sở, Ngự Long thành.

Phó Kinh Hồng đẩy cửa bước vào đền, cười:

“Bốn vị tự tiện đuổi khách của Phó mỗ như vậy liệu có hơi bá đạo quá hay không?”

“Tiểu tử, không cần vòng vo, muốn nói gì thì cứ nói.”

Tạ Hàn Thiên nhún vai.

Sau khi phát hiện mình có thể xem thấu cảnh giới của Phó Kinh Hồng, hắn cũng không quá xem trọng đối phương nữa.

Chưa tiến vào Vụ Hải, ba động tu vi chưa trở nên hư vô mờ mịt không rõ cảnh giới, trên con đường tu hành đều chỉ có thể tính là trẻ con hậu bối mà thôi.

Phó Kinh Hồng cúi đầu thi lễ, lại nói:

“Vậy tại hạ cũng không khách sáo nữa. Tại hạ thành chủ thành Ngự Long Phó Kinh Hồng, thay bách tính toàn thành cúi đầu cầu khẩn chư vị thế chân của Long Hổ sơn, giúp Ngự Long thành kháng được một kiếp này.”

“Phó thành chủ đa lễ. Dám hỏi kiếp nạn mà ngài nhắc đến phải chăng là sen máu lên bờ?”

Lý Thanh Vân trước tiên tiến đến, đỡ hai khuỷu tay của đối phương nâng dậy.

Phó Kinh Hồng giật mình.

Người thanh niên trước mắt rõ ràng không giống như Tạ Hàn Thiên đã đột phá ngũ cảnh, mà chỉ là một người bình thường thậm chí không đạt đến nhất cảnh. Ấy vậy mà y có thể đùng sức mình nâng hai tay của Phó Kinh Hồng lên.

Tuy Phó Kinh Hồng không sử dụng chân khí, nhưng dù sao tu vi quá cao, cơ thể trải qua chân khí gột rửa tuyệt đối không phải một người thường như Lý Thanh Vân có thể so sánh được.

Đương nhiên, đây cũng là nói theo lẽ thường mà thôi.

Ban đầu, Phó Kinh Hồng lên tiếng mời bọn họ chẳng qua là nhắm chú cháu Tạ Thiên Hoa. Cả hai là Thanh Tước, chiến lực không phải người cùng cảnh giới có thể so sánh, Tạ Hàn Thiên lại là cường giả vượt qua ngũ cảnh, đã tiến vào Vụ Hải, cả đại Sở tìm không ra người có thể cùng y sóng vai.

Thế nhưng, hiện giờ, gã mới phát hiện mình đánh giá hơi thấp hai thiếu niên, thiếu nữ còn lại.

Phó Kinh Hồng hít sâu một hơi, bình ổn tâm tình, sau đó mời bọn họ đến phủ thành chủ nói chuyện chống lại ma da tập thành.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 31: Thiên Tài Tuyệt Thế: Lâm Lão Phu Tử


Ba sư huynh muội Lý Thanh Vân háo hức vào phủ thành chủ.

Sắc mặt Phó Kinh Hồng lúc này nhăn hí, khó nhìn như khỉ ăn ớt. Tâm tình của hắn bây giờ cũng chẳng tốt vào đâu được.

Ban nãy, Tạ Hàn Thiên đã truyền âm nói nhiệm vụ của lão chỉ là hộ đạo cho ba thiếu niên nam nữ này, nên lão sẽ không nhúng tay vào trận đánh của thành Ngự Long và thần sông Ngân Hà. Thành thử, toàn bộ tính toán của Phó Kinh Hồng đổ nhào xuống sông.

Vốn, gã nghĩ lần này có thể ôm được đùi của một cường giả đã nhập Vụ Hải, chuyện sen máu lên bờ này đã mười phần chắc chín. Ba người Lý Thanh Vân lại đồng ý đến phủ thành chủ với y, khiến y càng mừng rơn.

Cuối cùng, con vịt đã chín còn có thể vuột mất khỏi tay, Tạ Hàn Thiên quăng lại một câu rồi chạy biến.

Mà Phó Kinh Hồng tu vi không bằng, chỉ biết ngậm bồ hòn làm ngọt.

Ba nhà Vu, Phật, Nho thấy Thanh Hà tử của núi Long Hổ không quay lại, Phó Kinh Hồng lại dẫn về ba thiếu niên nam nữ thoạt nhìn chỉ mười sáu mười bảy tuổi, không khỏi lấy làm ngờ vực.

Cuối cùng, tăng nhân Linh Ẩn tự mới lên tiếng phá vỡ sự im lặng:

“Phó thành chủ, đạo huynh núi Long Hổ đâu?”

Phó Kinh Hồng thở dài, nói:

“Thanh Hà tử đạo trưởng sẽ không quay lại đâu, không cần chờ y nữa.”

Nghe Long Hổ sơn đã rời đi, ba nhà Nho, Phật, Vu ngoài mặt tuy đều kêu “đáng tiếc”, nhưng trong bụng người nào người nấy đều mừng thầm. Chuyện này đương nhiên không qua được khỏi mắt của Phó Kinh Hồng, song y không nói gì.

Dù sao lưới nhiều cá ít, nếu không phải lần sen máu lên bờ này quá sức dị thường, Ngự Long thành cũng tuyệt sẽ không để tu hành giả khác tiến vào chia một chén canh.

Ma da vào thành, đối với người phàm mà nói là đại họa lâm đầu.

Song, đối với người tu hành mà nói, thì đây là một lần đại cơ duyên.

Trong cơ thể ma da có một loại kết tinh, tu hành giả của Đại Sở gọi là hồn đan. Sau khi luyện hóa có thể cường kiện thần hồn, giúp tiến vào Vụ Hải dễ dàng hơn. Thành thử, mỗi lần sen máu vào thành, tu hành giả trên dưới Sở quốc lại như cá diếc sang sông tìm đến, chỉ chăm chăm diệt sát Ma Da cướp lấy hồn đan đột phá tu vi.

Cũng chính vì có hồn đan, nên đám tu hành giả ngày thường người lừa ta gạt, tranh đoạt cơ duyên không từ thủ đoạn mới hào hứng chạy đến đánh ma da như vậy.

Tu hành giới từ xưa mạnh được yếu thua, khôn sống mống chết. Nếu như không có lợi, ai mà thèm quan tâm đến đám phàm nhân sâu kiến mạng rẻ như cỏ rác?

Mà chính Phó Kinh Hồng trước đây mỗi lần sen máu lên bờ cũng nhất mực từ chối tu hành giả nơi khác tiến đến trợ giúp là vì thế. Phù sa không chảy ruộng người ngoài, chỉ cần chiếm được toàn bộ hồn đan, quân đoàn trong tay y sẽ càng lúc càng mạnh.

Về phần tại sao muốn mời Tạ Hàn Thiên, ấy là do hồn đan cũng có giới hạn của nó. Đối với người đã tiến vào Vụ Hải, thì đan này không còn tác dụng nữa. Thế nên, cho dù Tạ Hàn Thiên có nhúng tay vào chiếm phần lớn cho ba người Lý Thanh Vân, thì chỉ cần đuổi ba nhà Nho, Phật, Vu đi, quân sĩ Ngự Long thành vẫn sẽ chiếm được nhiều hồn đan hơn hiện giờ.

Bấy giờ, một tên thầy mo lại lên tiếng:

“Chuyện đạo huynh Long Hổ sơn rời đi giữa chừng quả thực đáng tiếc, thế nhưng ba người này đến đây làm gì?”

“Bần tăng cũng thấy chuyện này chưa thỏa đáng.”

“Hừ. Phó thành chủ, không phải lão phu cậy già lên mặt, nhưng sắp tới đây là chuyện sinh tử tồn vong. Giao sau lưng cho một đám nhóc con hỉ mũi vô danh tiểu tốt, lão phu không thể nào yên tâm được.”

Lâm phu tử hừ lạnh.

Lão tăng ở Linh Ẩn tự bấy giờ lên tiếng:

“Không bằng các vị thiếu hiệp đây nói rõ môn hộ, mấy lão già chúng ta mới dễ bề phối hợp.”

“Lừa trọc, cần gì phải lắm lời? Mấy đứa nhóc. Lão phu nói thẳng. Các người nếu có chân tài thực học thì không nói, nếu không thì mau xéo đi. Lão phu không muốn lúc đối địch còn phải phân tâm bảo vệ các ngươi.”

Lâm phu tử nói.

Phó Kinh Hồng cười lạnh.

Ba nhà này kẻ tung người hứng, chẳng qua là muốn thăm dò thực hư của ba người Lý Thanh Vân. Chỉ cần ba người không có bối cảnh cứng rắn chống lưng, thì ba nhà này sẽ lập tức liên hợp đuổi ba người đi, tránh khỏi phải phân chia hồn đan.

Nhất là Lâm phu tử và lão sư già. Cả hai nhìn như đối đầu gay gắt, thậm chí giữa chừng cãi nhau, thực ra một người đóng vai ác, kẻ kia đóng vai hiền, âu cũng là đánh bài tâm lý để cạy miệng ba người Lý Thanh Vân mà thôi.

Tạ Thiên Hoa thả tu vi ngũ cảnh ra, lập tức khiến cả hai đồng thời cứng họng.

Trước đây, Thanh Hà tử có địa vị cao nhất hội cũng chỉ có tu vi ngang ngửa cô bé này mà thôi.

Lại thấy, Tạ Thiên Hoa lùi một bước, nói:

“Mấy lão già các người còn chưa đáng để bản cô nương ra tay. Đại sư huynh, lên đấu với mấy lão già này một phen đi.”

Ba nhà Vu, Phật, Nho mới đầu là kinh hãi trước tu vi của Tạ Thiên Hoa, sau đó lại ngơ ngác vì lời nói của cô nàng. Cái thằng nhãi phàm nhân tu vi còn chưa vào nhất cảnh kia lại là sư huynh của cường giả ngũ cảnh? Phải biết, Huyền Hoàng giới cũng là nơi cường giả làm tôn, bình thường nhập môn trước hay sao không quá quan trọng, cứ tu vi cao nhất thì ắt làm lớn. Thậm chí, đệ tử chỉ cần tu vi đủ cao, vượt quyền sư phụ cũng được.

Thế nhưng, dường như cái môn phái của ba người kia hoàn toàn không theo lẽ thường này.

Rốt cuộc, sau lưng ba người này là cái thế lực kỳ hoa quái đản nào?

Không chỉ ba nhà Nho Phật Vu, ngay cả Phó Kinh Hồng cũng tự hỏi câu này.

Sau đó, cả đám đều trợn mắt.

Ngươi xác định cái người này là sư huynh của ngươi? Thật sự không phải kẻ thù?

Lâm phu tử là người dẫn đội của thư viện Bạch Lộ, tu vi tuy không bằng Thanh Hà tử, nhưng dầu sao cũng là cường giả tứ cảnh.

Một phàm nhân đấu với tu hành giả tứ cảnh không phải chịu chết hay sao?

Lâm phu tử cũng nghĩ vậy.

Thế rồi, linh quang chợt hiện, lão mới vỗ trán một cái, đưa tay nhẹ nhàng vuốt chòm râu một cái. Lâm phu tử nhìn về phía Tạ Thiên Hoa, ánh mắt đầy thâm ý.

Hai nhà Vu, Phật trông thấy thế, cũng chợt “tỉnh ngộ”, thầm giơ ngón tay tán thưởng.

“Không hổ là phu tử Nho môn, khả năng lĩnh hội ẩn ý phi thường.”

“Lâm huynh túc trí, bần tăng bội phục.”

Linh Ẩn tự và người cầm đầu đám thầy mo đều nhất tề truyền âm cho Lâm phu tử, tỏ ý khen ngợi.

“Cô nương yên tâm, lão phu tất nhiên sẽ đòi cho cô nương một cái công đạo!”

Lâm phu tử vẻ ngoài nghiêm túc, trong lòng lại đã cười đến nở hoa. Lão cũng tự thấy tuy tu vi của mình còn chưa phải đệ nhất thiên hạ, nhưng công phu hiểu thấu lòng người tuyệt đối dám xưng là nhất lưu.

Lần này, ắt hẳn có thể hoàn thành “nhiệm vụ” mà Tạ Thiên Hoa giao cho, khiến cô nàng hài lòng, sau đó thuận lợi dựa vào vị cường giả ngũ cảnh trẻ tuổi này.

Từng đó tuổi đầu đã có tu vi ngũ cảnh, không phải thiên tài tuyệt thế, ắt sau lưng cũng có bối cảnh kinh người.

Lâm lão phu tử tự nhiên là thấy mình sắp đổi đời, cơ hồ bị miếng bánh từ trên trời rơi xuống đập cho váng vất.

Lão nhìn về phía Lý Thanh Vân, cười lạnh:

“Tiểu tử, đừng trách lão phu. Có những vị trí không phải loại sâu kiến như ngươi đáng được ngồi.”

Hiển nhiên...

Theo ý hiểu của Lâm phu tử, Tạ Thiên Hoa rõ ràng là bất mãn với Lý Thanh Vân. Cô nàng đường đường là cường giả ngũ cảnh, lại phải xưng là sư muội, gọi một tên phàm nhân làm sư huynh. Đổi lại là lão, có lẽ đã sớm yêu cầu sư phụ trục xuất mình khỏi sư môn, tuyệt không chịu nỗi nhục này.

Song...

Sư phụ của ba người chắc chắn là một lão quái vật cao thâm khôn lường, bằng không với thiên phú của Tạ Thiên Hoa, muốn gia nhập thánh địa chẳng phải chuyện một câu nói?

Thế nhưng, vị sư phụ này khẳng định là một kẻ cổ hủ, vậy nên mới phân chia thứ bậc của học trò theo thời gian bái sư chứ không phải thực lực.

Người cổ hủ như thế, tự nhiên là muốn học trò của mình tuân thủ đạo nghĩa luân thường, kính trên nhường dưới.

Chính vì trở ngại sư phụ, Tạ Thiên Hoa mới không tiện ra tay với Lý Thanh Vân.

Mà bây giờ, vừa vặn có bọn họ chất vấn, cô nàng bèn mượn nước đẩy thuyền kích đểu vị sư huynh phàm nhân kia lên giao đấu với Lâm phu tử, hòng mượn tay lão g**t ch*t vị sư huynh này, thuận lý thành chương trở thành sư tỷ. Mà Lâm phu tử thấy mình sớm đã nhìn thấu ý đồ của cô nàng, lại chủ động phối hợp như vậy, Tạ Thiên Hoa ắt sẽ thấy lão được việc.

Lúc đó, còn không thu nhận lão thì chờ đến khi nào?

Vậy nên... trong mắt Lâm phu tử, Lý Thanh Vân thoắt cái đã trở thành miếng đá kê chân để lão bước lên đài cao.

Chỉ cần giết được cậu chàng, lão ắt sẽ đổi đời.

Hai nhà Vu, Phật không nhận ra kịp, Tạ Thiên Hoa lại chỉ đích danh Lâm phu tử, nên ngoại trừ vội vàng tán thưởng, lại tỏ ý hữu hảo thì cũng chỉ biết ngấm ngầm ghen tị.

Dù sao, theo bọn họ thấy, Lâm phu tử được cường giả ngũ cảnh trẻ tuổi như vậy nhìn trúng, ắt hẳn sẽ một bước lên trời. Bọn họ bây giờ lấy lòng lão tuy muộn một chút, nhưng dù sao có vẫn còn hơn không.

Trái lại...

Tạ Thiên Hoa bị một lão già nhìn bằng ánh mắt đầy ẩn ý, chỉ thấy nổi hết cả da gà da vịt lên. Cô nàng tuy là Thanh Tước, tuổi đếm bằng số năm có thể làm mẹ Lâm phu tử, nhưng chủng tộc khác biệt, tốc độ lớn lên cũng khác nhau. Lúc này theo tuổi của Thanh Tước, cô nàng vẫn là thiếu nữ mới lớn.

Bị một lão già nhìn bằng ánh mắt quái lạ, cô nàng không thấy ớn người mới là lạ.

Tạ Thiên Hoa sầm mặt, len lén truyền âm cho Lý Thanh Vân.

“Sư huynh, mau cho lão già chết tiệt này biết Toái Đản cuồng ma ải Quan Lâm đáng sợ đến thế nào! Tiến lên!”
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 32: Vỡ Nát Nho Tâm


Lý Thanh Vân không nói gì, khẽ gật đầu.

Sau đó, bước ra một bước, ra dấu “mời”.

Lâm phu tử cười lạnh, trong mắt sát ý càng thêm nồng nặc. Lão nhếch mép, hé miệng, thở ra một câu:

“Huyết nhiễm tam thiên lý, thi điền bách trượng hà.”

(Máu vấy ba ngàn dặm, thây chèn mất dòng sông trăm trượng)

Lập tức, ngôn xuất pháp tùy, từng câu từng chữ giống như hóa thành đao kiếm vô hình, thiên quân vạn mã, ầm ầm lao tới muốn lấy mạng Lý Thanh Vân. Chỉ thấy Lý Thanh Vân vung chưởng trái phải, hai tay cùng phát lực, nhất thời quanh mình chưởng phong ào ạt, hai luồng chưởng lực trái phải đan vào nhau tạo thành một cái lồng sắt, che kín không lọt một giọt nước. Câu chữ đao kiếm của Lâm phu tử đánh vào chưởng phong, không khác gì chém vào tường đồng vách sắt.

Lý Thanh Vân lại dồn người, song chưởng đẩy tới, lập tức tường khí dồn lại, ép Lâm phu tử phải lui bước.

“Cái gì?”

Toàn trường trừ hai vị sư muội của cậu chàng, tất cả đều kinh hãi thốt lên.

Lâm phu tử bị tường khí thổi bay vạt áo, râu tóc múa loạn sau đầu. Lão nghiến răng, vung tay áo lên hòng hóa giải chưởng phong. Nào ngờ cho dù lấy tu vi tứ cảnh của lão, cũng không tài nào đánh dạt được chưởng của Lý Thanh Vân, cùng lắm chỉ đấu ngang tay.

Lâm phu tử tức mình, vừa thẹn vừa cáu, nhảy lại một bước, sau đó lại bất ngờ lấy từ trong nhẫn chứa đồ ra một cây bút lông, thảo nhanh mấy chữ:

“Trấn áp đông tây vạn trượng sơn.

Kim phong, cổ vũ bất năng nguy.”

(Núi cao vạn trượng trấn áp đông tây. Mưa xưa, gió nay đều không lay chuyển được.)

Chỉ thấy, văn tự huyền phù giữa bán không bắt đầu xoay tròn, tỏa ra hào quang chói mắt. Mười bốn chữ từ từ tan vào nhau, hóa thành một tòa núi mực nguy nga đè xuống, muốn trấn áp Lý Thanh Vân. Lần này, chưởng phong của cậu chàng không cách nào lay động được nó, dù đánh tới tấp cũng không cản được thế đè xuống của ngọn núi.

“Lão già, mau dừng tay!”

Tạ Thiên Hoa hét lên, đang định sử dụng Thanh Sắc thần quang hóa tán mặc sơn của Lâm phu tử, thì đã nghe tiếng quát của Lý Thanh Vân:

“Sư muội đừng xen vào, ta đỡ được!”

Nói đoạn, Lý Thanh Vân thu hồi chưởng phong, rùn mình xuống súc thế. Lâm phu tử thấy phản ứng của Tạ Thiên Hoa, lại thấy Lý Thanh Vân có chiến lực hoàn toàn không phù hợp với cảnh giới, biết mình suy bụng ta ra bụng người. Nhưng lúc này thần thông đã phóng ra, lão cũng không cách nào thu về.

Mắt thấy quả núi mực từ từ giáng xuống ép sát đỉnh đầu Lý Thanh Vân, cờ hồ sắp đè cậu thiếu niên thành tấm bánh tráng. Lúc này, song chưởng của Lý Thanh Vân đột ngột đẩy ra, giáng thẳng lên ngọn núi mực.

Chứng kiến hành động của cậu ta, trong đầu tất cả mọi người đang quan chiến đều hiện lên bốn chữ “châu chấu đá xe”.

Quả nhiên...

Lý Thanh Vân khẽ kêu một tiếng, hai tay buông thõng vô lực, rõ ràng xương đã gãy. Cậu chàng ngã bệt ra đất, thở hổn hển không ra hơi.

“Cứu người!”

Tạ Thiên Hoa, Phó Kinh Hồng đang định phóng mình ra, thì bỗng nghe Đỗ Thải Hà kêu lên:

“Nhìn kìa!”

Chỉ thấy quả núi mực bỗng nhiên xuất hiện những vết rạn, càng lúc càng lan ra rộng hơn. Từ các khe hở, ánh sáng chiếu xạ bốn phía. Thế rơi của quả núi cũng giảm xuống, chậm hơn hẳn ban nãy. Đối diện, Lâm phu tử lúc này đã đổ mồ hôi như tắm, trợn mắt kinh hoàng nhìn về phía quả núi mực. Lão dốc hết sức, cố gắng giữ quả núi hoàn chỉnh, nhưng càng lúc càng bất lực.

Rốt cuộc...

Chỉ nghe “bành” một cái, núi mực nổ tan tành, Lâm phu tử cũng bị phản chấn cho phun máu phè phè. Lão trợn mắt, run rẩy chỉ tay về phía Lý Thanh Vân:

“Ngươi... ngươi...”

Sau đó, mắt lão trợn lên trắng dã, ngã vật ra đất.

“Phu tử!!!”

“Nho tâm... Nho tâm của Lâm phu tử bị đánh nát rồi.”

“Là do thiếu niên kia?”

“Chuyện này sao có thể?”

“Cáp mô công lợi hại thật!”

Câu cuối đương nhiên là của Đỗ Thải Hà, người duy nhất có mặt tại hiện trường đã đọc hết *Xạ Điêu Anh Hùng truyện* giống như Lý Thanh Vân.

Mấy người ở Bạch Lộ thư viện nhao nhao chạy đến, cố gắng cữu chữa cho Lâm phu tử. Thế nhưng, sau khi chẩn đoán ra thương thế của lão, bọn họ càng hãi hùng hơn.

Nho tâm vỡ nát.

Một chưởng đánh vào quả núi mực của Lý Thanh Vân chẳng những phá vỡ quả núi, lại còn có thể dùng núi mực làm vật dẫn, đánh vỡ Nho tâm của Lâm phu tử.

Thần thông bị phá, đương nhiên phải chịu phản chấn.

Thế nhưng, có thể suy nhược, có thể thụ thương, thậm chí có thể khiến thần hồn suy yếu. Nhưng tuyệt đối sẽ không xảy ra chuyện vỡ nát Nho tâm.

Cho dù là cường giả Phật môn tu vi đã tiến vào Vụ Hải, nắm giữ nhân quả chi lực trong tay thì cũng không thể chỉ dựa vào việc phá giải thần thông mà phế bỏ tu vi của đối thủ. Ở Huyền Hoàng giới, chưa từng xuất hiện một thủ đoạn nào quái dị như vậy.

Thế nhưng, cái chuyện không tưởng này hôm nay lại xảy ra ngay trước mặt bọn họ.

Bây giờ...

Cả đám không ai còn dám coi thường Lý Thanh Vân, cho dù cậu chàng chỉ là một người phàm.

Thần thông ban nãy cậu chàng thi triển, ắt cũng là vô thượng đạo thuật. Đối với báu vật cỡ này, bảo bọn họ không nổi lòng tham quả thực là chuyện không tưởng.

Thế nhưng, cũng chỉ là một ý tưởng thoáng qua mà thôi. Đám người này dù sao cũng là Nho sinh, không ai là thằng ngu cả. Tạ Thiên Hoa vẫn còn đứng đó, trừ khi là ngại mạng mình quá dài, bằng không ai dám ngấp nghé Lý Thanh Vân?

“Khốn kiếp! Chỉ biết làm người khác lo lắng!”

Tạ Thiên Hoa lườm ông sư huynh đang nằm trơ trọi giữa sảnh đường một cái, sau đó cúi xuống, từ nhẫn chứa đồ lấy ra một đống băng gạc thuốc thang, bắt đầu băng bó hai cánh tay cho Lý Thanh Vân.

Tên ngố này không hề hiểu ý, cười lên, nói:

“May mắn không làm nhục mệnh.”

Tạ Thiên Hoa đang lo sốt vó, bây giờ bị câu nói này của gã làm cho cơ hồ tức đến nổ phổi, vừa thương lại vừa giận. Cuối cùng, cô nàng hừ lạnh, hơi thít đầu băng gạc, khiến Lý Thanh Vân kêu ầm ĩ.

“A! Sư muội. Nhẹ tay. Nhẹ tay thôi.”

Đỗ Thải Hà đứng một bên quan sát, che miệng cười khẽ.

oOo

Ải Quan Lâm...

Nguyễn Đông Thanh vừa định đóng cửa lớp, thì đã thấy Vũ Tùng Lâm lục tục bước đến.

“Chào tướng quân. Mời vào trong ngồi.”

“Cảm ơn tiên sinh.”

“Tướng quân là tiền bối, lại là thượng cấp của tại hạ, theo lý há lại có chuyện lẽo đeo theo sau như thế?”

“Nào có, nào có. Đến đây tại hạ là phận khách, tiên sinh là chủ nhà, theo lý không nên lấn quyền.”

Vũ Tùng Lâm đổ mồ hôi ròng ròng, lão nào dám chen chân đi trước Nguyễn Đông Thanh?

Vào trong nhà, lão lại dáo dác nhìn quanh phòng một lượt. Sau khi xác định Cải Thảo và Đá Nhỏ không cùng đi theo Nguyễn Đông Thanh vào ải Quan Lâm, lão mới sâu kín thở phào một hơi, ngực nhẹ tênh, hành động cũng thoải mái hơn trước.

Hai đại yêu cho lão một bóng ma tâm lý quá lớn, không phải muốn là có thể vượt qua được.

Vũ Tùng Lâm ngồi xuống, vỗ nhẫn chứa đồ, lấy ra một cái hộp gỗ có ba ngăn, kèm theo một bình rượu. Lão cẩn thận mở từng ngăn hộp một, lấy ra tổng cộng hai đĩa thức ăn và một bát canh đặt lên bàn. Chỉ thấy, một con cá sốt chua, một chiếc bánh chưng xanh xanh, cộng với một bát canh mọc. Cả ba đều đang bốc khói hôi hổi.

“Tướng quân sao lại biết tại hạ thích mấy thứ này?”

Nguyễn Đông Thanh hơi cau mày lại, dò hỏi.

Vũ Tùng Lâm giật mình, trong đầu lại văng vẳng lời dặn dò của Cải Thảo ngày hôm đó. Lão thấy, đại yêu mèo đã đặc biệt căn dặn lão nhất định phải đối xử với Nguyễn Đông Thanh như một người phàm, ắt hẳn là có lý do cao thâm khó lường nào đó. Thành thử, nếu dám lộ ra là con mèo nhà gã nói mấy món này cho lão biết, Vũ Tùng Lâm dám chắc ngày này sang năm thân nhân chuẩn bị làm giỗ đầu cho mình là vừa.

Lão đảo mắt một cái, nói:

“Có người nói cho lão phu biết.”

Vừa dứt lời, Vũ Tùng Lâm lại thấp thỏm lo âu, chỉ mong sau Nguyễn Đông Thanh đừng có tiếp tục hỏi chuyện này.

“À. Ra là thằng Thanh Vân. Cái thằng... không biết giữ ý gì cả. Để tướng quân chê cười.”

Nguyễn Đông Thanh chắp tay, xem như tạ lỗi.

Vũ Tùng Lâm vội vàng hoàn lễ, trong lòng thở phào nhẹ nhõm. Chính lão cũng không ngờ Nguyễn Đông Thanh không chỉ không tiếp tục tra hỏi, lại còn tự nghĩ ra một cái lí do giúp lão nữa.

Tiên sinh quả nhiên là người tốt...

Vũ Tùng Lâm hắng giọng, nói:

“Vô sự hiến ân cần, kỳ thực hôm nay lão phu đến đây là có chuyện muốn nhờ, mong tiên sinh chớ nên từ chối.”

“Tướng quân cứ nói...”

“Một tháng sau là đại thọ của hoàng thượng, tất cả các thành trấn đều phải tiến cống một món ăn. Ngặt nỗi lão phu cả đời chỉ biết có sa trường, nói về yêu ma hung thú thì còn biết chút đỉnh, chứ sơn trân hải vị thì quả thực là không hiểu tí nào cả. Thế nên... hi vọng tiên sinh có thể chỉ cho một đường sáng.”

Vũ Tùng Lâm nói rồi, lại cất công giải thích cho Nguyễn Đông Thanh nghe chuyện liên quan đến vị “hoàng thượng” này.

Hoàng đế bệ hạ hiện giờ của nước Việt tên húy là Dực, niên hiệu Vĩnh Cật.

Làm vua cũng không tính là hôn quân, chẳng qua cũng không phải là minh quân. Thỉnh thoảng có ban bố cứu trợ, giảm thuế. Đôi khi cũng bắt đinh, xây lầu dựng cung. Duy chỉ có một tật xấu lớn nhất là cực kỳ ham ăn. Mỗi năm đến thọ thần của mình, hoàng đế Dực đều bắt các thành các trấn khắp cả nước phải dâng lên sơn hào hải vị, tiên thực thần nhưỡng mừng thọ.

Đến niên hiệu cũng đặt là “ăn mãi”, thành thử dân gian không ít người có phê bình đương triều thánh thượng, sâu kín gọi y là Trư Đế.

Nguyễn Đông Thanh nghe lão kể xong, trợn tròn mắt lên.

Đôi đũa trên tay cũng rơi cái bịch xuống tràng kỷ.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 33: Trư Đế - Dực


Nguyễn Đông Thanh hít sâu một hơi, nhặt đôi đũa lên, cười:

“Thứ lỗi. Ban nãy nghe tướng quân nói về đương triều thánh thượng, bỗng nhiên nhớ đến một người quen thôi.”

Vừa nói, gã vừa chửi bậy.

Đã tên Húy là Dực, lại còn bị người trong thiên hạ gọi là vua lợn, chẳng có nhẽ một trong hai vị hôn quân nổi tiếng Hậu Lê – vua lợn Lê Tương Dực Lê Oanh xuyên không đến đây, hồn nhập vào vị thánh thượng bây giờ?

“Không sao. Không sao. Tiên sinh nếu như có chuyện cần đến xin cứ đến phủ thành chủ báo một tiếng. Bản tướng tuy cũng chỉ là một tổng binh giữ ải, song vẫn có một chút quan hệ, của cải nhân mã trong tay cũng đủ dùng.”

Vũ Tùng Lâm xoa tay vào nhau, nói.

Nguyễn Đông Thanh đưa đũa gắp một ít đồ ăn, lại hỏi:

“Đúng rồi, còn chưa hỏi tướng quân, chẳng nhẽ không tham gia không được hay sao? Hoặc giả, cứ như bình thường, chọn một món ngon tiến cống là được?”

Gã hơi có điều không hiểu.

Hơn một năm qua sống ở núi vô danh, lại thêm bây giờ có công ăn việc làm phải thường xuyên vào ải, gã cũng đại khái biết Vũ Tùng Lâm là người thế nào. Công chính, vô tư, tuy hơi cứng nhắc, nhưng quả thực yêu dân như con, cho dù là ở địa cầu cũng là bậc quan phụ mẫu gương mẫu hiếm có, càng huống chi ở thế giới tu hành tàn khốc như Huyền Hoàng giới.

Người như Vũ Tùng Lâm, ắt hẳn sẽ thấy chuyện này cực kỳ vô bổ, cho dù có loay hoay tìm sơn trân hải vị để tiến cống thì cũng làm một cách cực kỳ khiên cưỡng, gượng ép mới phải. Thế nhưng lão lại hồ hởi tham gia như thế, sự tình ắt hẳn còn phải có uẩn khúc gì đây.

Vũ Tùng Lâm cười khổ, nói:

“Không dám giấu tiên sinh. Đương triều thánh thượng sử dụng thọ thần của mình để ban phát vật tư, quân dụng. Nơi đâu được lòng thánh thượng thì được cho một khoản lớn, còn chốn nào làm không tốt, bị thánh thượng ghét bỏ, thì chỉ có thể v*t m*ng ăn cặn. Ải Quan Lâm là nơi nghèo, mấy năm nay liên tục đứng hạng bét, quả thực là sơn cùng thủy tận, giật gấu vá vai.”

Nguyễn Đông Thanh trợn mắt, cũng không biết phải nói thế nào về cái vị Trư Đế tên Dực này nữa.

Cũng may tổng binh trấn thủ là Vũ Tùng Lâm, nếu như đổi lại một ai khác, chịu phải đãi ngộ thế này, e là đã soạn sẵn chiếu cáo quan về quê rồi.

Nguyễn Đông Thanh trao đổi với Vũ Tùng Lâm suốt một buổi chiều, cuối cùng gã quyết định học theo Lang Liêu, lấy cái “mới lạ” để thắng cái “quý giá”. Đầu tiên nghĩ ra một món ăn Huyền Hoàng giới chưa từng có, sau đó dựa vào kỹ thuật điêu luyện để bù đắp thiếu sót về nguyên vật liệu.

Có điều... chọn món gì để tham dự thì gã vẫn chưa nghĩ ra.

Vũ Tùng Lâm thấy trời đã chuyển muộn, cuối cùng không ở lại làm phiền Đông Thanh nữa, vội vàng đi về phủ thành chủ. Nguyễn Đông Thanh ra khỏi thành, đánh xe bò lọc cọc quay về Lão Thụ cổ viện.

Dọc đường, gã vẫn mải mê suy nghĩ xem làm món ăn gì thì phù hợp, chẳng chú ý gì đến xung quanh.

Bấy giờ, mặt trời đã sớm lặn hẳn xuống chân trời, đám tội dân sống ngoài thành cũng lục tục chui vào những hầm đất, lều đất tìm chỗ náu mình qua đêm, co cụm cùng nhau tránh khỏi đám yêu thú trong rừng trúc. Cả con đường độc đạo, duy chỉ có độc một cỗ xe bò kéo cứ thủng thẳng tiến lên trong ánh trăng bàng bạc và tiếng gió hiu hiu thổi ngày cuối thu.

Chợt, Nguyễn Đông Thanh giật mình tỉnh lại khỏi dòng suy nghĩ, ngờ vực nhìn về phía trước.

Trước mặt hắn, đã không còn thấy ngọn núi vô danh với rừng trúc xanh biếc đâu nữa. Vầng trăng giờ đây nhuộm đỏ như máu, treo lủng lẳng giữa biển mây trên trời. Chờ đợi Nguyễn Đông Thanh nơi cuối con đường là một dòng sông nhỏ, hai bên bờ cỏ lau mọc um tùm. Một cái cầu đá bắc ngang qua dòng nước chính đang bốc lên từng hơi khí lạnh, thỉnh thoảng trong tiếng gió lại xen lẫn vài âm thanh rên xiết não nề.

Đứng giữa cầu, trên tay cầm đèn lồng, quay lưng về phía Nguyễn Đông Thanh là một bóng áo đỏ thướt tha, mái tóc đen tuyền phủ xuống tận thắt lưng ong trông ma mị và bí hiểm.

Gặp ma!

Nguyễn Đông Thanh chỉ thấy sống lưng ớn lạnh.

Hơn một năm qua sống ở Huyền Hoàng giới, đây không phải lần đầu tiên gã bị ma trêu. Thế nhưng, những lần trước chủ yếu là dứt tóc bứt râu, hoặc lấy đồ vật của gã đưa lên đặt xuống mà thôi. Hầu hết là những trò đùa trêu vô hại, mỗi lần gã tỏ ra khó chịu, là những hồn ma này lại thôi.

Lần này xem chừng không giống.

Ma nữ này vừa hiện lên, đã có thể khiến sắc trời biến đổi, quang cảnh di dời, quả thực không phải những con tiểu yêu tiểu quái gã từng gặp có thể so sánh.

Ả ta đứng trên cầu, gió thổi phần phật, nước dưới chân cầu chồm lên sủi bọt đục ngầu như mùa lũ, thế nhưng y áo tóc tai ả vẫn im lìm bất động. Ánh sáng từ ngọn đèn lồng soi xuống mặt nước, làm lộ ra từng đoạn xương trắng hếu gai người nơi đáy sông.

Nguyễn Đông Thanh đánh bạo, ra roi giục bò tiến tới.

Lúc thấy con bò vàng già ì oạch cất bước, hắn mới yên tâm phần nào.

Con bò già này tuy chỉ kéo được xe, không đủ khỏe để kéo cày nữa, nhưng dường như có trực giác rất mạnh, có thể đánh hơi được trước nguy hiểm. Cứ mỗi lần sắp có chuyện, thì mặc cho Nguyễn Đông Thanh có đẩy có thúc thế nào nó cũng nhất quyết không di chuyển một bước. Lần nào cũng nhờ nó mà tránh được kiếp nạn, nên Đông Thanh rất tin tưởng nó. Đây cũng là nguyên do dù cho có tiền, hắn cũng không thèm mua ngựa cưỡi, nhất quyết cứ dùng xe bò túc tắc đi đi về về giữa Lão Thụ cổ viện và ải Quan Lâm.

Giờ đây, còn bò thế mà chịu đi về phía ma nữ, hắn mới yên tâm phần nào.

Ma nữ ngoái đầu, nhìn về phía Nguyễn Đông Thanh. Một nửa bên mặt dưới của cô ta hoàn toàn chỉ là xương xẩu trắng nhởn, nửa trên thì đỡ hơn, vẫn còn có thịt dính vào, nhưng chẳng khiến cô ta trông bớt đáng sợ đi tí nào.

Nguyễn Đông Thanh đến trước chân cầu, chắp tay:

“Dám hỏi vị nương tử phía trước vì sao còn chưa đi đầu thai, đêm hôm sao lại hiện lên? Tại hạ tự nhận mình và nương tử trước không có oán dương, sau không có thù âm, hà cớ gì phải dọa nhau như thế?”

Hắn chờ một lúc, ma nữ mới đáp bằng cái giọng đều đều:

“Tiểu nữ l* m*ng, dọa đến tiên sinh, xin chớ trách tội. Tiểu nữ nằm dưới nấm mồ hoang ngót đã bảy mươi mùa hoa rụng, ngày trước nghe được có người ngâm thơ, rằng:

‘Vị đình cố hựu tảo lâm hành,

Thử xứ tiền niên lịch chiến tranh.

Bách tuế di hài tiềm thổ lý,

Thiên thu bích thảo chấn oan thanh.

Hữu linh cung vọng âm phù sự,

Dị kiến bình an dương báo thành.

Hải khẩu phi dao tu vật khứ,

Đồ vương ác thậm cổ nan canh.’

Không biết có phải ý ngọc lời vàng của tiên sinh hay chăng?”

Nguyễn Đông Thanh há hốc miệng, mặt đỏ tái, lắc đầu:

“Nương tử hiểu nhầm. Thơ này tuyệt nhiên không phải sở tác của tại hạ, chỉ là mượn của tiền nhân tặng cho mảnh chiến trường đây mà thôi.”

“Tiểu nữ phận bạc, không dám cầu gì xa xôi, chỉ xin tiên sinh ban cho mấy lời thơ, những để quang vinh đi tiếp một bước, xuống cửu tuyền có mặt mũi gặp tổ tiên. Nếu có kiếp sau, nguyện xin kết cỏ ngậm vành, làm thân trâu ngựa báo đáp.”

Nguyễn Đông Thanh cười:

“Chuyện làm thân trâu ngựa xin miễn cho, vì nương tử thiếu nợ ông Ức Trai chứ chẳng phải tại hạ.”

Vừa nói, hắn vừa nghĩ bụng, chẳng có nhẽ mình xấu trai đến thế?

Khi trước ở địa cầu, người ta vẫn đùa nhau rằng trên phim khi anh hùng cứu mỹ nhân, nếu anh hùng điển trai thì mỹ nhân ắt nói “lấy thân báo đáp”, nhược bằng anh hùng trông như đấm vào mắt thiên hạ thì cô gái ắt sẽ uyển chuyển nói rằng: “làm thân trâu ngựa”.

Nói đoạn, Nguyễn Đông Thanh hít sâu một hơi, đọc:

“Mãn giang hà xứ hưởng đông đinh,

Dạ nguyệt thiên kinh cửu khách tình.

Nhất chủng Tiêu quan chinh phụ oán,

Tổng tương ly hận nhập thu thanh.”

(Nghĩa là:

Từ đâu vẳng đến khắp sông tiếng nện thình thình?

Trong đêm qua làm kinh động lòng khách trú lâu ngày ở đây

(Như) một nỗi ta thán của người chinh phụ có chồng đang ở chốn Tiêu quan (1)

Cả một niềm ly hận như thấm vào tiếng thu.

Tiêu quan:

Tên một cửa ải xa xôi hiểm trở tại Quan Trung phía bắc Trung Quốc. Các đời Đường, Tống xây đồn luỹ ở đây để chống người Thổ Phồn.)

Đọc xong, gã lại khịt mũi, thầm nghĩ:

“Lần này trước khi đọc thơ, mình có nói cả tên tác giả đầy đủ ra rồi, chắc người ta sẽ không nhầm lẫn nữa.”

Nguyễn Đông Thanh không hề để ý, rằng ngay lúc hắn đọc thơ, con bò đang kéo xe bỗng dưng ngoắt đuôi, hai tai vãy vãy theo một nhịp điệu quái lạ nào đó.

oOo

Bạch Vũ Ngưng ngây ngốc nhìn thân thể hư ảo của mình.

Thơ vừa đọc xong, hồn phách tưởng chừng sắp tan thành tro bụi của nàng thế mà nháy mắt đã hồi phục, thậm chí còn có dấu hiệu hồn phách lột xác, trở thành bất diệt.

Ma quỷ muốn vào Vụ Hải, ắt phải có linh hồn bất diệt mới được.

Lần trước, nàng ta bị phong dưới mộ, thần trí mơ hồ, chính bài thơ Linh Giang Tảo Độ Nguyễn Đông Thanh đọc trợ giúp nàng ta tỉnh lại, cuối cùng phá được phong ấn. Thế nhưng ba hồn bảy vía khi đó cực kỳ suy yếu, không dám vào luân hồi, nếu không chắc chắn hồn bay phách tán.

Lần này, vốn dĩ Bạch Vũ Ngưng chỉ hi vọng Nguyễn Đông Thanh ban cho một bài thơ, củng cố hồn phách, tiện vào luân hồi. Nào ngờ được một bài thơ, ban cho cơ duyên sâu dày, thậm chí có cơ hội đạp vào Vụ Hải, lấy lại tu vi lúc sinh tiền.

Nàng ta sở dĩ có thể tạo ra ảo cảnh, thuần túy là vì tu vi khi còn sống cao thâm. Có câu “lạc đà gầy còn hơn ngựa béo”, người như Bạch Vũ Ngưng, cho dù linh hồn trọng thương thì cũng không phải cô hồn dã quỷ bình thường có thể so sánh được.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 34: Đêm Muộn


Mùng 3 Tết thầy, tặng bà con thêm một chương do dù gì truyện này cũng có nhân vật chính làm thầy, nhận đồ đệ!

Bạch Vũ Ngưng lúc này đã có thể buông cái đèn lồng trên tay xuống.

Đèn vừa chạm nước sông, tức thì hóa thành một tấm da người không trọn vẹn, theo dòng nước chảy mãi về phương xa. Ngọn lửa bấc đèn phiêu phù bay về phía Bạch Vũ Ngưng, cuối cùng đậu vào lồng ngực nàng ta. Bộ áo đỏ chót màu máu cũng từ từ chuyển thành một màu đen tuyền. Da thịt trên mặt nàng ta từ từ hồi phục, bây giờ trừ thiếu mấy phần sinh khí nhìn đã không khác gì người sống.

Lúc này, Bạch Vũ Ngưng vái chào Nguyễn Đông Thanh, đạp gió cưỡi mây bay vút vào khoảng không. Được ban cho cơ duyên lần này, không sợ linh hồn tiêu tan nữa, ý định của nàng ta cũng thay đổi.

Nếu lúc trước, Bạch Vũ Ngưng chỉ có thể bất đắc dĩ tìm cách tiến vào luân hồi, ngậm hờn mà đầu thai.

Thì lúc này, nàng muốn kẻ thủ ác năm xưa phải trả giá.

Bạch Vũ Ngưng bay đi một đoạn, bỗng nhiên cảm thấy cả người căng cứng, toàn thân như người thường hãm vào trong vũng bùn dày hàng trượng, nặng nề khó thở. Nàng ta gắng gượng ngoái lại, phát hiện từ hướng tây, một thiếu niên áo trắng nhẹ nhàng đạp lên không khí mà bước tới.

Chỉ thấy người này thanh tú điển trai, mặt ngọc, mày xếch, môi khẽ nhếch lên một nụ cười nửa miệng.

Nếu phải miêu tả khí chất của gã trong một chữ, thì đó hẳn là “ngạo”.

“Tiền... tiền bối...”

Bạch Vũ Ngưng không nhìn ra người thanh niên trước mặt rốt cuộc có tu vi thế nào, nhưng chắc chắn đã vào Vụ Hải, hơn nữa đi được rất xa. Cho dù nàng có được tu vi của đời trước thì so với gã cũng giống như đom đóm và vầng trăng.

Không cùng đẳng cấp.

Trong lúc Bạch Vũ Ngưng còn đang cảm thấy trớ trêu vì vừa lên voi đã xuống chó, vừa có hi vọng báo thù đã phải tuyệt vọng ra đi, thì thiếu niên đã cất tiếng:

“Chủ nhân nhà ta cho mời.”

“Lời của tiền bối, Vũ Ngưng không dám không tuân.”

Nàng vội vàng nói, hi vọng có thể nhắc thiếu niên áo trắng trước mặt rằng nàng tuyệt nhiên không phải đối thủ của y, mong y thu hồi uy áp.

Thiếu niên nhếch mép, cười, không đáp, cũng không thu hồi uy áp. Chỉ thấy hắn nâng tay, búng tay “chóc” một cái, cả hai người đã biến mất trong hư không.

oOo

Dưới ánh trăng đêm đó, còn có đại chiến ở thành Ngự Long.

Nước sông Ngân càng dâng càng cao, nháy mắt bên ngoài thành đã hóa thành một bãi đầm sâu đến khoeo chân người lớn. Loáng thoáng, có thể thấy hàng vạn bóng người từ dưới sông trồi lên, lững thững tiến về phía thành Ngự Long.

Lập tức, tiếng kêu “ê a” đầy oán thán cất lên.

Âm thanh không hề lớn, nhưng cơ hồ vang lên ngay sát bên tai, khiến người ta thấy vô cùng ngụy dị. Tạ Thiên Hoa đứng trên đầu thành, nheo mắt nhìn.

Những con ma nước với cái bụng phễnh to, da dẻ tái bợt, mủn rữa nhiều chỗ. Mớ tóc trên đầu lòa xòa lượt thượt như rong rêu, bết dính cả vào nhau. Trên người chúng, bám đầy các loài thủy sinh như cá, ốc, lươn, trạch, hãy còn sống nhăn, ngoe nguẩy mãi không ngớt.

Phó Kinh Hồng mình mặc giáp nặng, tay cầm một thanh đao đầu rồng. Gã nâng đao, quát lớn một tiếng. Lập tức, tăng nhân Linh Ẩn tự bố trí khắp bốn bức tường thành bắt đầu khoanh chân, ngồi tụng ấn quyết. Trong miệng họ, ký tự màu vàng kim nối đuôi nhau thành một dải tràn ra ngoài, quện vào nhau, cuối cùng hóa thành một chữ “Vạn” khổng lồ, bao trùm cả thành Ngự Long. Chữ Vạn lại buông xuống ánh vàng nhu hòa, hóa thành một cái lồng ánh sáng ngăn đại đa số ma da bên ngoài.

Lồng phật quang cũng không chặn lại toàn bộ ma da, mà có một số lọt lướt. Bọn này lập tức gào thét, chạy hùng hục về phía tường thành, miệng vẫn kêu những tiếng “ê a” tối nghĩa.

Ma da vọt tới, thế nhưng đối với Phó Kinh Hồng mà nói cũng chẳng phải lần đầu tiên gặp phải cảnh này. Chỉ thấy gã lần nữa nâng đao, quát một tiếng, mũi đao lóe lên một điểm sáng đỏ. Tức thì, cung thủ đóng trên tường thành nhất tề giương cung, cài tên.

Một trận mưa tên dội xuống, từng mũi tên đều mang theo chân khí, có lực xuyên phá rất mạnh. Chỉ cần bị bắn trung, lập tức da thịt xương cốt đều sẽ bị xỏ xuyên, không chết cũng bị thương thảm trọng.

Tạ Thiên Hoa nhìn sang chỗ Phó Kinh Hồng, nói:

“Không ngờ tướng quân lại xa xỉ đến thế.”

Cô nàng xuất thân từ danh gia vọng tộc, chỉ nhìn thoáng qua cũng nhận ra cung thủ dưới trướng Phó Kinh Hồng đều sử dụng một loại cung tên gọi là Xuyên Vân. Cung làm từ gỗ Huyền Đàn ngâm trong lãnh tuyền ngàn năm, bền bỉ dẻo dai, cường giả tứ cảnh có cầm hai đầu cung gập hết sức cung cũng không gãy. Dây cung làm từ gân hung thú, đầu các mũi tên cũng làm từ xương và sừng yêu vật, tu vi đều phải đạt từ tam cảnh trở lên.

Một bộ cung Xuyên Vân và mười mũi tên chuyên dụng là có thể để Lão Thụ cổ viện sinh hoạt xa xỉ hơn một năm. Không ngờ Phó Kinh Hồng lại trang bị thứ này cho hơn ngàn binh sĩ, cứ bắn một vòng mưa tên là ném một đống tiền qua cửa sổ.

Phó Kinh Hồng cười, nói:

“Cô nương quá khen.”

Lúc ma da lọt vào đã lác đác không còn mấy, Phó Kinh Hồng lại ra lệnh cho mấy ông sư ở Linh Ẩn tự mở một mặt lưới, thả một số ma da vào.

Tạ Thiên Hoa thấy hắn quyết định dùng chiêu “đóng cửa đánh chó” này, thì cũng không nói gì. Tuy rằng mưu kế đơn giản, nhưng đối phó với một đám ma da đã hầu như không còn trí lực mà nói, lại cực kỳ hiệu quả.

Chẳng mấy chốc, quân ma da đã chết không ít, xác nằm la liệt dưới thành, nổi lềnh phềnh trên mặt nước. Số ma da còn lại ngoài lồng phật quang bỗng nhiên ngửa đầu, sau đó giống như bị một sức mạnh quái dị nào đó lôi giật lại, cả tứ chi duỗi thẳng về phía trước, người cong lại như con tôm, văng ngược ra sau, rơi tùm xuống sông.

Tạ Thiên Hoa cau mày, nói:

“Không phải sen máu đòi mạng một quận hay sao? Tại sao lại có thể vượt qua dễ dàng như thế?”

Phó Kinh Hồng gật đầu, cũng đồng tình trong chuyện này ắt hẳn có trá.

Hắn lại đảo mắt một cái, sau đó gọi mấy tên bộ tướng tâm phúc đến, nói:

“Mấy người các ngươi cho mở cửa thành xem sao, để đại binh ở lại trong thành trấn thủ. Không có lệnh của bản tướng quân, cấm không được bước một bước ra ngoài.”

“Thế nhưng... tướng quân...”

Mấy tên bộ tướng ngập ngừng, rõ ràng là chậm chân thì hồn đan sẽ bị tán tu trong thành, hoặc tu hành giả của các môn phái nhỏ nẫng tay trên.

Phó Kinh Hồng sầm mặt, nói:

“Đây là quân lệnh!”

Lại kín đáo truyền âm cho bọn họ:

“Bảo binh sĩ chuẩn bị sẵn sàng, nếu nghe có tiếng hét thì lập tức đóng cửa thành!”

oOo

Dưới thành...

Quả nhiên, cửa thành vừa mở, một đám người tu hành đã chớp thời cơ này lao ra ngoài. Mấy ngày nay, chuyện sen máu lên bờ cũng không phải cơ mật gì. Trên từ các thế lực môn phái, dưới đến nơi chợ búa lầu xanh đều hay tin. Thành thử, từ mấy ngày trước, đã có một đám người tu hành tìm đến những quán trọ gần cổng thành. Thậm chí, một số thế lực tu hành còn mua lại nhà dân, chuẩn bị thừa cơ đục nước béo cò.

Bây giờ...

Cả đám đều thi triển thần thông, lao ra ngoài thành như một đám ruồi thấy mỡ. Dọc đường, lại thỉnh thoảng có chân khí lóe lên, pháp khí bảo cụ tới tấp được tế ra, nhằm vào kẻ chạy bên cạnh mà đập tới.

Tạ Thiên Hoa đứng trên tường thành, trông thấy cảnh này, không khỏi cau mày lại, mắng:

“Mấy tên này không chịu xung quân hộ thành thì thôi, bây giờ chẳng những lao ra ngoài vơ vét cơ duyên, còn xuống tay với đồng tộc. Thật là một đám bại hoại.”

Phó Kinh Hồng cười lạnh, gật đầu:

“Đúng thế.”

“Còn ngươi, có phải đã sớm biết chuyện này, từ đầu đã có ý định dùng bọn họ làm đá dò đường?”

“Cô nương nghĩ sao cũng được, nhưng tại hạ chẳng hề ép buộc gì bọn họ cả. Ở Huyền Hoàng giới này, phú quý hiểm trung cầu, đã lên đường tìm kiếm cơ duyên thì phải chấp nhận nguy hiểm gian truân, không phải sao?”

Lúc hai người đang nói chuyện, thì những người tu hành đã chạy đến xác đám ma da. Đám người dẫn đầu tay đã lăm lăm đao kiếm, chỉ chực mổ phanh lồng ngực những con ma nước này ra, đoạt lấy hồn đan.

Trong số những người đi đầu, có một người tu hành tên Hạ Hầu Duyệt, ngoại hiệu Trường Mệnh Trùng.

Tên này vốn là tán tu, không môn không phái, song lại may mắn nhận được truyền thừa, từ đó tu thành một thủ đoạn bảo mệnh rất quái lạ là ngải Linh Cơ. Thứ này ký sinh trong cơ thể hắn, bình thường rút lấy tu vi huyết nhục của Hạ Hầu Duyệt. Song mỗi khi có nguy cơ, để bảo vệ bản thân, nó đều cảnh báo cho y.

Từ đó, Hạ Hầu Duyệt sống dai hệt như một con gián. Ngoại hiệu Trường Mệnh Trùng cũng theo đó mà có.

Lần này, lúc còn cách mấy con ma da cỡ mười lăm bước chân, bỗng nhiên trái tim hắn nhảy lên một cái. Hạ Hầu Duyệt biết đấy là ngải Linh Cơ cảnh báo mình, không kịp nghĩ nhiều, vội vàng rùn người xuống lăn ngược về phía thành Ngự Long.

Chỉ thấy...

Ma da đang nằm im lìm dưới đất bỗng nhiên nhảy dựng lên, tay vung về phía đám người tu hành tham lam đang tiếp cận, chưởng tâm hiện lên ánh sáng u ám.

Bành!

Trong ánh mắt sợ hãi của Hạ Hầu Duyệt, mấy tên dẫn đầu không kịp đề phòng, bị nắm tay của ma da đấm xuyên thủng cả ngực, chết tại chỗ không kịp kêu tiếng nào.

Hạ Hầu Duyệt cơ hồ bị dọa cho hồn vía lên mây hết. Hắn không tài nào ngờ được ma da lần này chẳng những biết giả chết, lại còn biết điều động cả chân khí, sử dụng thần thông. Hắn vắt giò lên cổ, cắm đầu chạy về phía tường thành.

Lúc này, từng tiếng kêu la thảm thiết bắt đầu vang lên.

Dưới thành, một đám tán tu và tu hành giả của thế lực nhỏ bị một đám ma nước tàn sát.

Thợ săn và con mồi nháy mắt hoán đổi thân phận cho nhau.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 35: Xuống Nước


Binh sĩ thủ thành theo đúng lệnh của Phó Kinh Hồng, không dám chậm trễ vội đóng cổng thành lại, các loại trận pháp phòng thủ, công kích lại lập tức được khởi động. Không khí trên tường thành Ngự Long căng thẳng hơn bao giờ hết.

Đứng trên tường thành, Tạ Thiên Hoa ngoảnh mặt đi, thầm kêu may mắn đã quyết định nhốt Lý Thanh Vân trong phòng không cho ra ngoài. Nếu không, với tính cách của vị đại sư huynh này, không chừng bây giờ đã liều mạng xông ra ngoài thành cứu người.

Kỳ thực cũng không phải cô nàng máu lạnh, không quan tâm sống chết của những tu luyện giả kia. Nếu là trước đây, chứng kiến cảnh tượng trước mắt, nàng ta có thể tự giải thích rằng thế giới tu chân vốn phải vậy, mạnh được yếu thua, khôn sống mống chết. Thế nhưng từ khi đi theo Nguyễn Đông Thanh, lại lâu ngày ở gần Lý Thanh Vân, cô cũng bị ảnh hưởng không ít. Thành thử, lúc này, cô nàng cũng thương cảm đám người xấu số kia.

Thế nhưng Tạ Thiên Hoa cũng không phải là Lý Thanh Vân, để bản thân bị cảm xúc chi phối. Cô nàng hiểu, lúc này xông ra ngoài thành chưa chắc đã cứu được ai, lại còn đặt bản thân vào nguy hiểm. Nếu cái nguy trước mắt còn chưa chắc đã giải quyết được, thì nói chi cái họa lâu dài?

Hiện tại, theo như Tạ Thiên Hoa thấy, thì mấu chốt vượt qua nạn sen máu lần này, là tìm hiểu xem tại sao đám ma da trước giờ vốn chỉ là một đám quái vật không có linh trí, hiện giờ tự dưng không những có chân khí, có thể dùng chiêu thức, mà lại còn biết giả chết để bẫy ngược con người. Nếu là trước đây, có khi cô nàng cũng chả bỏ thời gian đi nghĩ việc này, thế nhưng những trải nghiệm dạo thời gian gần đây khiên Tạ Thiên Hoa nghĩ đến một loại khả năng.

“Chả lẽ… chúng cũng có thể tiến hóa?”

Nhưng rồi cô nàng lắc đầu, mấu chốt của tiến hóa theo như sư phụ giải thích cần nhiều hơn rất nhiều thế hệ và khả năng tự sản sinh. Đây có lẽ chỉ là một loại biến dị mà thôi. Thế nhưng, bằng cách nào mà biến dị này có thể xảy ra thì vẫn còn là một ẩn số. Hơn nữa, việc biến dị này lại có thể xảy ra trên toàn bộ đám ma da công thành lúc này thì khiến cô nàng vừa lo lắng sợ hãi, nhưng cũng lại vừa hứng thú tò mò.

Lo lắng sợ hãi là do đám quái vật này nếu có thể mạnh lên nhanh như vậy, nếu không thể giải quyết tận gốc, hậu quả thật không dám nghĩ. Thế nhưng, cô nàng cũng cảm giác, không chừng lúc giải mã được bí mật này thì hiểu biết về môn Sinh học của mình cũng tiến thêm được một bước, thành thử, sao có thể không hứng thú cho được?

Phó Kinh Hồng thì không lắm cảm xúc lẫn lộn như vậy. Hắn ta không biết Tạ Thiên Hoa nghĩ gì, cũng chẳng rảnh đi quan tâm. Sự biến hóa của đám ma da lần này chỉ mang đến cho gã cơn đau đầu. Thành ra khi Tạ Thiên Hoa nói lời cáo lui, hắn ta cũng chẳng nghĩ gì nhiều, chỉ ậm ừ cho qua chuyện, đoán chừng cô nàng còn trẻ, chưa trải nhiều sự đời nên cũng chán ghét không muốn nhìn cảnh máu me mà thôi.

Cuộc chiến giữa quân thủ thành Ngự Long và đám quái vật diễn ra thẳng đến khi mặt trời mọc, đám ma da lui xuống nước mới tạm ngưng. Tuy thành Ngự Long vẫn đứng vững, nhưng lượng người chết và bị thương lần này tăng so với các năm trước một lượng không nhỏ. Ngược lại, lượng ma da giết được thấp đến thảm hại. Cứ chiếu theo tình hình hiện tại, thì Phó Kinh Hồng cũng không dám chắc có thể trụ được mấy ngày.

Sau khi hạ lệnh đưa những người bị thương đi chữa trị, Phó Kinh Hồng lập tức triệu tập cuộc họp.

oOo

Tại trong sảnh chính phủ thành chủ, tất cả những người có mặt lúc này mặt đều đen như đít nồi.

Do hai nhà đạo, nho đều đã bỏ đi, trong cuộc họp lần này chỉ còn Phó Kinh Hồng cùng đại diện của phật môn và vu đạo. Tuy Phó Kinh Hồng cũng sai người đi mời ba người Lý Thanh Vân lấy lệ, nhưng kỳ thực, sau khi nhìn phản ứng của Tạ Thiên Hoa trên tường thành đêm qua thì hắn cũng chẳng còn phó thác chút hy vọng nào ở tại ba người họ. Hai người Tạ Thiên Hoa, Đỗ Thải Hà theo đánh giá của hắn đều chỉ là thiếu nữ, tu vi có cao mà kinh nghiệm thực chiến chẳng có bao nhiêu lại chẳng thích cảnh máu me thì cũng bằng vô dụng. Lý Thanh Vân tuy một thân công phu kỳ dị, nhưng sau trận đánh với Lâm phu tử thì cũng gãy cả hai tay, chẳng còn tích sự gì nữa.

Đã thế, việc Lâm phu tử gặp nạn còn khiến đám nho môn rút hết quân khỏi thành Ngự Long. Kỳ thực Phó Kinh Hồng cũng chẳng lạ động thái này của nho môn, đằng nào thì đã mất đi kẻ dẫn đầu, miếng bánh nho môn có thể giành chẳng đáng cho họ liều mạng. Nói thật, sau khi chứng kiến cuộc tàn sát đêm qua, nếu hắn ta có thể vứt quách cái thành này mà không lo đầu lìa khỏi cổ thì hắn cũng làm rồi. Ngặt một nỗi, rút đi trái lệnh vua, Hoàng thượng tức giận giáng phạt xuống, thì không những đầu gã rời vị trí, mà chỉ sợ binh lính dưới quyền gã cùng họ hàng gia quyến của họ cũng khó thoát khỏi liên đới. Thành thử, Phó Kinh Hồng cũng chỉ đành ở lại, cố được đến đâu hay đến đó.

Một tên lính chạy vào báo cáo cắt đứt suy nghĩ của Phó Kinh Hồng. Theo như tên lính rỉ tai, Tạ Thiên Hoa không đến, chỉ chuyển lời lại cho hắn là hai chị em họ sẽ xuống nước thăm dò tình hình của yêu quái, nhờ hắn để ý hộ Lý Thanh Vân.

Phó Kinh Hồng có ngạc nhiên thoáng chút, nhưng rất nhanh liền lắc đầu cười khổ. Tuy hành động của Tạ Thiên Hoa nằm ngoài suy đoán của hắn về cô nàng, thế nhưng lúc này hắn cũng chả rảnh để quản. An nguy của cô nàng đã có vị tiền bối kia lo, cũng chả đến phiên hắn phải bận tâm. Còn việc cô nàng có thật sự đi thăm dò yêu quái hay chỉ lấy cớ ra ngoài chơi thì cũng chả phải việc của hắn. Dù gì hắn cũng chẳng hy vọng tình báo Tạ Thiên Hoa có thể mang về lật ngược được thế cuộc để mà đặt niềm tin hay hy vọng vào cô nàng. Việc duy nhất hắn cần quản là bảo đảm Lý Thanh Vân không có chuyện gì, miễn cho vị tiền bối kia quay lại trách móc.

Thế là, Phó Kinh Hồng chỉ gật đầu dặn dò tên lính mấy câu, bảo y cho người đến chiếu cố Lý Thanh Vân rồi cho y lui xuống.

Đoạn, gã nhìn khắp phòng một lượt, hắng giọng nói:

“Không biết các vị có cao kiến gì chăng?”

oOo

Mà cùng lúc cuộc họp đang diễn ra tại phủ thành chủ, thì ở ven dòng sông, có hai thiếu nữ đang đứng.

Tạ Thiên Hoa kiểm tra kỹ lại một lượt hành trang, quần áo, đoạn quay sang nói với Đỗ Thải Hà:

“Sư muội, sẵn sàng chưa?”

Đỗ Thải Hà rút từ trong người ra hai lá bùa, lầm rầm niệm chú mấy câu, chữ viết trên lá bùa liền sáng lên. Nàng đưa cho sư tỷ mình một lá, đoạn cất lá còn lại vào trong người, nói:

“Bùa tỵ thủy của em tác dụng chừng hai canh giờ, em lại đã chuẩn bị hẳn bốn cái dự phòng, hẳn là đủ thời gian cho chị em mình thám thính dưới đáy sông thẳng đến chiều nay.”

Nói rồi, hai thiếu nữ rẽ nước mà bước xuống sông.

Thì ra, đêm qua, sau khi ở tường thành trở về, Tạ Thiên Hoa cùng bàn lại với Lý Thanh Vân và Đỗ Thải Hà, quyết định hôm nay hai người họ xuông nước tìm động phủ của yêu quái, tìm hiểu rõ thực hư. Còn Lý Thanh Vân bị thương nên bị ép ở lại phòng.

Cậu chàng sợ hai sư muội nguy hiểm, nhất quyết đòi đi theo, thế là bị hai sư muội trói gô lại như một con lợn, lại nhét giẻ vào mồm không cho y kêu gào, tránh làm mất trật tự quấy rầy giấc ngủ của mọi người. Mãi đến trước khi hai người rời đi mới rút cái giẻ ra khỏi mồm Lý Thanh Vân. Về phần tính mạng của sư huynh, hai cô nàng thực ra lại không quá lo lắng. Chỉ cần y không tự ra ngoài kiếm chuyện, hẳn là ba vị tiền bối đi cùng cũng không để ai lấy nổi mạng y.

Lý Thanh Vân thấy sự quan tâm của mình bị hai sư muội đối xử như vậy thì khóc không ra nước mắt. Nhưng chân tay y bị trói chặt, mồm lại chả ú ớ được gì, nên đêm hôm đó cũng chỉ đành ấm ức ngủ thiếp đi. Đến sáng hôm sau y tỉnh dậy thì hai vị sư muội đã đi mất rồi.

Đương lúc Lý Thanh Vân còn đang băn khoăn không biết làm gì giết thời gian thì bên ngoài truyền vào tiếng gõ cửa:

“Lý công tử, ngài có cần gì không?”

Lý Thanh Vân mừng húm, vội nói:

“Phiền vị đại ca này vào cởi trói cho tôi!”

oOo

Sau khi thoát khốn, Lý Thanh Vân duỗi chân lắc mình một chút rồi hỏi:

“Đại ca, không biết nhà bếp trong phủ hôm nay nấu món gì?”

Kỳ thực, Lý Thanh Vân vẫn lo cho an nguy của hai vị sư muội, thế nhưng hắn cũng không phải người không hiểu chuyện. Hắn biết hai sư muội muốn tốt cho hắn nên mới không cho đi cùng, lại thêm việc hắn không có bùa tỵ thủy của Đỗ Thải Hà, có chạy theo ra sông cũng chẳng cách nào theo chân được hai vị sư muội. Nên bực mình thì bực thật nhưng nếu đã chẳng làm được gì, thôi thì cứ lo lấp đầy cái bụng đã rồi tính gì thì tính. Biết đâu đi lại trong cái phủ thành chủ này hắn lại nghĩ được ý hay gì thì sao?

Tên lính định bảo Lý Thanh Vân cứ chờ trong phòng để y đi lấy đồ ăn, thế nhưng Lý Thanh Vân nằng nặc đòi đi theo, bảo là muốn đi lại cho giãn gân giãn cốt. Tên lính biết công tử họ Lý này là khách trong phủ, lại thêm sự kiện y đánh bại phu tử đệ tứ cảnh của Nho môn cũng đang là chủ đề nóng của lính lác phủ thành chủ, thành ra cũng không tiện từ chối, đành dẫn y theo.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 36: Đáy Sông Ngân Hà


Hai cô gái cậy có bùa tránh nước, nhanh chóng lướt đi trong lòng sông lạnh căm căm. Ánh nắng xuyên qua làn nước, loang ra thành từng dải mờ mờ tỏ tỏ, khiến những tảng đá ngầm dưới sông càng mang thêm vẻ ma mị huyền bí. Chung quanh, đàn yêu ngư ánh bạc bơi ào ạt, từng đàn nối đuôi đến hàng trăm vạn con.

Đỗ Thải Hà nhìn đám ngư yêu hung hãn với hai hàm răng há ra lởm chởm như dao cạo, đoạn len lén ngó Tạ Thiên Hoa, thở phào. Những con ngư yêu này tuy không mạnh bao nhiêu, nhưng thắng ở số lượng đông như kiến cỏ. Hơn nữa, hàm răng của chúng có công hiệu phá khí, cho dù là cao thủ ngũ cảnh rơi vào lòng sông, trong nháy mắt tường khí hộ thân cũng sẽ bị cắn thành mảnh vụn, rồi bị chúng xâu xé đến cả cặn cũng không còn.

Thành thử...

Trên Ngân Hà chỉ có thuyền lớn thuyền nhỏ, cường giả qua sông cũng chọn ngự không phi hành, tuyệt nhiên không có ai dám bơi ngang hay lội qua sông.

Sở dĩ hai người có thể bình an hành tẩu dưới sông, tám chín phần mười là nhờ Tạ Thiên Hoa mang huyết mạch Thanh Tước, khiến các loài yêu thú bình thường không dám trêu chọc.

Đám cá yêu vảy bạc cũng không phải một ngoại lệ, thành thử hai sư tỷ muội lặn thẳng một đường xuống đáy sông mà không gặp trở ngại gì.

Chỉ thấy...

Đáy sông phủ lên một lớp cát trắng, giống như một sa mạc trải dài đến hàng trăm dặm. Hai người đi được mấy bước, chân đã đá phải một đoạn chuôi kiếm gãy.

Tạ Thiên Hoa nhặt lên, quan sát. Cô nàng phát hiện tuy vật này đã nằm dưới đáy sông không biết bao nhiêu năm tháng, thế nhưng đạo vận vẫn còn, có thể thấy khi còn nguyên vẹn, thứ này chắc chắn là pháp bảo của một cường giả chí ít đã tiến vào Vụ Hải.

Thế nhưng... cuối cùng vẫn phải chịu cảnh chôn vùi đáy sông.

Hai người tiếp tục đồng hành, tiến về phía trước. Dọc đường, Tạ Thiên Hoa và Đỗ Thải Hà lại bắt gặp không ít thương gãy, đao rỉ, toàn bộ đều hàm chứa đạo vận, độ chân quý khi còn nguyên vẹn chỉ có trên chứ tuyệt không thua gì thanh kiếm gãy trước kia. Hai người nhìn mãi thành quen, cũng không cất công đi tìm hiểu nữa.

Đỗ Thải Hà vốn là muốn chia nhau ra hành động, nhưng Tạ Thiên Hoa đã gạt đi ngay. Tách nhau ra tuy có thể mở rộng gấp đôi phạm vi điều tra, song cũng nguy hiểm gấp bội. Nơi đây là lãnh thổ của ma da, Tạ Thiên Hoa không muốn mạo hiểm trước khi hiểu rõ tại sao đám ma nước này lại đột nhiên có thay đổi như trong trận chiến đêm qua.

Hai người đi thêm nửa canh giờ, thì Đỗ Thải Hà chỉ tay về phía trước, nói:

“Sư tỷ, đằng trước có thứ gì đó kìa!”

Tạ Thiên Hoa nheo mắt nhìn theo hướng ngón tay của sư muội, thì phát hiện xa xa phía trước có một táng đá ngầm hình thù quái lạ. Thứ này cao đến năm sáu trượng, ba mặt vuông vức hoàn hảo, không giống như vật do tự nhiên tạo thành.

Hai người nhanh chóng đến gần, thì phát hiện được cả một bãi đá toàn những tảng đá quái lạ hệt như vậy. Đỗ Thải Hà nói:

“Sư tỷ, em bơi lên trên một đoạn xem tình hình thế nào.”

“Cũng được. Chú ý cẩn thận.”

Tạ Thiên Hoa đáp gọn, sau đó chợt nghe tiếng vang giòn tan giống như ngọc vỡ dưới chân. Cô nàng lui lại một bước, đưa tay phủi lớp cát dưới đáy sông đi, thì phát hiện một số mảnh vỡ trong suốt, nhìn giống như thủy tinh, nhưng chỉ dày cỡ cái móng tay. Tạ Thiên Hoa nhặt lên, ngắm nghía một lúc, mới giật mình, nghĩ bụng:

“Thứ này đúng là thủy tinh, nhưng bên trên không hề có một chút chân khí nào. Thế nhưng... rốt cuộc là cao nhân phương nào lại có thể làm ra thứ thủy tinh vừa mỏng, vừa trong đến nhường này?”

Ở Huyền Hoàng giới, cũng có nghề thổi thủy tinh.

Thế nhưng, dựa vào kỹ thuật của Huyền Hoàng giới thì tuyệt đối không thể nào tạo ra được thứ thủy tinh tinh xảo đến nhường này được.

Cô nàng còn chưa hết ngờ vực, thì bỗng nhiên từ bên trong một tảng đá, một con ma da bổ nhào ra ngoài, vung tay đánh về phía Tạ Thiên Hoa.

Đỗ Thải Hà từ trên bơi xuống, hai tay bắt quyết, đánh ra một đạo chú ấn. Chỉ thấy một chữ “trấn” bay ra, nhập vào trán con ma da. Lúc này đôi mắt đang trợn trừng của nó mới nhắm lại, đứng im bất động, hai tay vẫn đang thò ra muốn đánh Tạ Thiên Hoa.

“Sư tỷ... không sao chứ?”

“Không sao. Chỉ có hơi bất ngờ.”

Tạ Thiên Hoa chỉ mải chăm chú đến mặt đất dưới chân, không đi quan sát kỹ càng những tảng đá kỳ lạ, thế mới không ngờ trong đá lại giấu ma da. Cô nàng cũng tự trách bản thân bình thường quá dựa dẫm vào thần thức, lúc này vì không đánh rắn động cỏ, không dám dùng đến, thành thử mới xém chút là bị đánh lén.

Đỗ Thải Hà hít sâu một hơi, nói:

“Sư tỷ, nói lời này sợ chị không tin... nhưng những tảng đá kia dường như là nhà cửa bỏ hoang.”

“Sao? Để chị tự đi xem.”

Tạ Thiên Hoa giật mình, sau đó đạp chân bơi lên một đoạn, muốn nhìn tường tận toàn cảnh bãi đá này.

Chỉ thấy, phía tây, khuất hẳn sau tầm nhìn của hai người là một “tảng đá”. Lúc này, một bên mặt của nó đã hoàn toàn sập xuống, để lộ ra quang cảnh bên trong.

“Quả nhiên những tảng đá này trống rỗng. Bên kia là... người?”

Chỉ thấy, dưới bức tường đổ nát, hiện lên một cái bàn gỗ, chung quanh có kê ba cái ghế gỗ. Trên ghế, có ba bộ xương nằm trơ trọi, từ những gì còn sót lại, thì có thể thấy là thi hài của hai người lớn và một trẻ nhỏ.

Hệt như một gia đình.

Tạ Thiên Hoa quay lại đáy sông, truyền âm cho Đỗ Thải Hà:

“Nếu những tảng đá này đều là nhà cửa, thì rất có thể bọn ma đang náu mình trong đó. Thải Hà, em có cách nào tìm được bọn chúng hay không?”

Đỗ Thải Hà nhoẻn cười, đáp:

“Việc ấy không khó. Sư tỷ, thu liễm khí tức lại đi, chúng ta chuẩn bị đi vào hang cọp đây.”

Cô nàng vừa nói, vừa bắt quyết, tế ra một lá bùa màu đen, bên trên chằng chịt chữ bằng chu sa.

Tạ Thiên Hoa kinh ngạc nhìn cô sư muội, khen:

“Không ngờ sư muội biết cả đạo thuật của mạch Mục Thi, bội phục.”

Đạo môn truyền thừa lâu đời, phân hóa làm nhiều mạch, lấy màu sắc của giấy bùa để phân biệt. Thiên Sư đạo dùng bùa vàng, mà một mạch khác là Mục Thi đạo thì sử dụng thứ bùa đen sì này.

Hơn nữa, tuy cùng là thủ đoạn của đạo môn, song do các mạch đã phân hóa quá lâu, theo lẽ thường mà nói người của mạch này không thể nào tế ra bùa của mạch khác.

Đỗ Thải Hà bèn giải thích:

“Cũng là do công pháp Lưỡng Nghi Thái Huyền Kinh của Long Hổ sơn thần kỳ, có thể thi triển đạo thuật của các mạch khác mà không chịu bất kỳ hạn chế nào.”

Tạ Thiên Hoa nghe thế, lắc đầu:

“Không thể không nói, núi Long Hổ tuy có phần đớn hèn ngụy quân tử, song cũng có chân tài thực học.”

Đỗ Thải Hà không đáp, lại tế một lá bùa khác ra dán lên người. Tức thì, khí tức của nàng ta lập tức trở nên cực kì bình thường, phảng phất đã hòa lẫn cùng với cảnh vật. Nếu như không dùng mắt thường để nhìn thì khó bề cảm ứng được Đỗ Thải Hà đang đứng ở chỗ đó.

Cô nàng chờ Tạ Thiên Hoa liễm tức, rồi mới ném tấm bùa màu đen ra. Lá bùa rời tay, tự động gấp lại thành một con cá giấy, ngoe nguẩy đuôi bơi đi.

Hai người bám theo con cá giấy đi một lúc lâu thì đến ngôi nhà hoang nằm sâu trong trung tâm “bãi đá”. Từ dưới khe cửa, có một ánh sáng xanh lành lạnh hắt ra. Nguồn sáng rất yếu, nếu không đứng gần sát ngôi nhà thì tuyệt nhiên sẽ không phát hiện được. Trước cửa, có hai con ma da co mình ngồi thù lù, mắt nhắm nhiền giống như đang ngủ. Đỗ Thải Hà rút lại lá bùa, sau đó truyền âm:

“Xác của mấy người tu hành bị đám ma da kéo đến đây, chắc hẳn bên trong là sào huyệt của chúng.”

Tạ Thiên Hoa gật đầu, bảo sư muội đứng sau chuẩn bị tiếp ứng, còn chính cô nàng thì tiến lên, thò đầu vào trong xem rốt cuộc trong ngôi nhà dưới đáy sông này cất giấu bí mật gì.

Dưới ánh sáng xanh lành lạnh...

Trần nhà treo đầy những cái kén trong suốt, bên trong chứa đầy một thứ dịch lỏng quái dị. Từng cái xác người chết được hai tên mặc áo bào den đặt vào trong kén, sau đó khép miệng kén lại, đặt thành từng hàng ngay ngắn.

Cả hai tên này lưng áo đều thêu đồ án một cái đỉnh, hai bên có cặp rồng uốn lượn, chính là quốc huy của hoàng thất Đại Sở.

Hai tên này chất xác của một tán tu xong, nhìn lại đống thây người còn chất cao đến nửa trượng, thì thở dài. Một tên nói:

“Nghỉ tay một chút thôi.”

“Tiện dân. Chết rồi còn làm khổ ông đây.”

Tên còn lại làu bàu chửi, lại tung chân đá vào đống xác một cái. Gã trước cười hềnh hệch, vội vàng vỗ vai tên này, nói:

“Đại ca bớt giận. Nói gì thì nói chứ lần này thu hoạch cũng đâu có tệ? Một đám tu hành giả thế này... hồn đan kết ra ắt hẳn phải là hàng cao cấp lắm. Chỉ cần chờ đến lúc thánh thượng cống lên thánh địa, lo gì anh em mình không được thăng quan tiến tước.”

“Nói có lý. Vì thăng quan. Ông đây nhịn.”

Hai tên sau đó xoa xao tay, nhìn đống xác người giống như quan sát một chồng bảo bối.

Tạ Thiên Hoa nghe hai tên này nói chuyện, chỉ thấy sống lưng phát lạnh.

Cô nàng không phải không biết xưa nay giới tu hành vô tình lãnh khốc, mạng người rẻ như cỏ rác, chúng sinh giống như chó rơm. Thế nhưng, Tạ Thiên Hoa cũng không thể ngờ rằng hoàng thất Đại Sở có thể vì sản xuất hồn đan mà sẵn sàng thí mạng thường dân như vậy.

Bấy giờ, cô nàng lại chợt nghĩ đến phản ứng của đám ma da lúc mới lên bờ. Những tiếng “ê a” ai oán, hành động chạy về phía tòa thành...

Giống như. Không. Có lẽ chính là chấp niệm muốn về nhà của họ.

Tạ Thiên Hoa chỉ thấy cổ họng cồn cao muốn nôn, kém chút lợm mửa.

Đúng lúc này,..

Nước biển xung quanh đột nhiên ập tới, khiến cô nàng không kịp trở tay, tiết ra một tia khí tức.

Bùa tránh nước của Đỗ Thải Hà hết công dụng trước thời hạn!

Hai tên mặc áo bào đen nháy mắt đã cảm nhận được khí tức người lạ. Bọn chúng trợn mắt, quát lên:

“Ai???”

Tu vi bộc phát, cảnh giới cả hai đều đã áp đảo ngũ cảnh!

Hai tên này... đều đã tiến vào Vụ Hải.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 37: Chạy Trối Chết


Tạm khoan kể chuyện Tạ Thiên Hoa và Đỗ Thải Hà đang ở thế ngàn cân treo sợi tóc dưới đáy sông Ngân, trước nói chuyện tại Lão thụ cổ viện.

Nguyễn Đông Thanh nằm bắt chân chữ ngũ trên giường, nghĩ xem nên làm món gì mừng sinh thần cho Trư đế.

Trong đầu hắn điểm qua một loạt món ăn, tự cổ chí kim, từ đông sang tây, cả các món truyền thống Việt Nam lẫn các món ăn của Châu Âu, Châu Mỹ.

Món đầu tiên hắn nghĩ tới là bún đậu mắm tôm. Thế nhưng rồi ý này bị Nguyễn Đông Thanh gạt sang một bên, để ủ được mắm tôm ngon, cần cỡ ba tháng trời, không làm kịp!

Nhân nghĩ đến các món truyền thống Việt Nam, Nguyễn Đông Thanh lại nhớ đến hồi sinh viên. Chả là hồi ấy hắn chơi thân với một thằng bạn, khá là sành ăn, thường xuyên được tên này lôi đi ăn khắp ngõ này ngách nọ, ăn đủ thứ của ngon vật lạ. Người ta bảo, biết ăn ngon thì mới biết nấu ngon, thế nên tay nghề làm món Việt của hắn tuy không dám tự nhận là xuất sắc, nhưng cũng không đến nỗi nào.

Ngặt một nỗi thời còn cắp sách tới trường, Nguyễn Đông Thanh tuy không dốt sử, nhưng cũng không đặc biệt giỏi sử. Thành thử, tuy hắn nhớ được đại khái các thời kỳ lịch sử Việt Nam, cũng nắm qua qua về các danh nhân từng thời, đặc biệt là thi từ của họ, nhưng muốn tìm hiểu gì sâu xa thì hắn vẫn cần tra cứu lại. Hà huống lịch sử thế giới này cũng chả biết giống với lịch sử mà hắn biết được bao nhiêu phần, nên cũng chả rõ tại nước Việt bản tu chân giới này món nào đã là đặc sản, món nào còn chưa ra đời. Nguyễn Đông Thanh tự nhận nấu ăn không đến nỗi tệ, nhưng hắn cũng không có ý định múa rìu qua mắt thợ để rước nhục vào thân.

Thế là, hắn chuyển sang tập trung nghĩ món Tây. Dù gì, tại cái thế giới này chả biết có nơi nào có văn hoá giống phương Tây ở địa cầu hay không. Mà dù có, ở thời đại này, chắc hẳn dẫu cho món tây có thể du nhập được sang, thì chúng vẫn cứ là của lạ. Nếu lại cải biên một chút, kết hợp với thay thế món ăn kèm thành phở hay xôi gì đó, hẳn là thành món vừa độc, vừa lạ, làm hài lòng lão hoàng đế.

Kỳ thực, món Tây đầu tiên Nguyễn Đông Thanh nghĩ tới là bánh ga-tô. Nói đùa, từ thuở toàn cầu hóa, thậm chí sớm hơn, sinh nhật có bánh ga-tô đã là một lẽ hiển nhiên. Thế rồi, hắn lại gạt phắt ý nghĩ này đi. Khoan nói việc vận chuyển bánh ga-tô tới tận kinh đô từ biên ải xa xôi này liệu có thể xảy ra sai sót hay trục trặc gì hay không, hay việc kỳ thực hắn thậm chí còn chưa có lò nướng hay dụng cụ làm bánh, nguyên việc tìm nguyên liệu thôi đã quá ư là khó khăn rồi.

Vắt óc nghĩ một hồi, chợt hắn nghe tiếng bò rống vọng vào từ bên ngoài, thế là nghĩ đến một món: Bò sốt vang.

Nguyễn Đông Thanh ngồi nhỏm dậy, nhìn về hướng chuồng bò, rồi lắc đầu. Khoan nói việc hắn vẫn cần con bò này kéo xe mỗi lần ra vào ải Quan Lâm, thịt bò già ăn cũng không ngon, chẳng thể dùng để tiến vua được. Lại thêm con bò này cảm nhận được nguy hiểm, Nguyễn Đông Thanh đâu có ngại mạng mình quá dài mà lại đi giết thịt một “thần thú” như thế chỉ để lấy lòng một lão hoàng đế hắn còn chưa chắc sẽ gặp. Cái được thật không bù nổi cái mất.

Thế nhưng bò sốt vang thì thực sự không phải là một ý tệ. Nguyên liệu dễ kiếm, gia vị dễ tìm, lại có thể ăn cùng phở thay vì khoai tây, thành một món ăn khô thì tựa như phở trộn, ăn nước thì lại vừa giống với phở bò lại cũng rất khác phở bò, ngon thì đừng hỏi! Mà ấy là chưa kể, dù có không ăn với phở thì ăn với khoai lang hay bánh mì cũng được.

Nói đến phở và bánh mì, đây có lẽ cũng là hai món Nguyễn Đông Thanh ngạc nhiên nhất khi bắt gặp tại trong thành. Phải biết, trong lịch sử Việt Nam thì phải đến cuối thế kỷ XIX, bánh mì mới du nhập sang, và cũng phải đầu thế kỷ XX thì bánh phở mới ra đời. Bánh mì ở địa cầu quê hương hắn vốn là món ăn của người phương Tây, nên phải đến thời kỳ Pháp thuộc, Việt Nam mới có. Phở còn xuất hiện muộn hơn, tương truyền người miền Bắc nước ta thấy ăn bún với xáo bò không hợp nên mới thái bánh cuốn thành sợi, lại chan thêm nước dùng, từ bấy mới có món phở bò.

Cái khó nhất, cũng là tinh túy của món bò sốt vang này, có lẽ là rượu vang. Thế nhưng việc này Đông Thanh lại không quá lo lắng, cùng lắm hắn sang xin Hồng Vân một vò là được chứ gì? Cái con sâu rượu đó, cái gì có thể thiếu chứ hẳn là xin chút chút rượu nấu ăn không thành vấn đề!

oOo

Lại nói chuyện xảy ra ở đáy sông Ngân.

Tạ Thiên Hoa thấy tình hình không ổn, không dám chậm trễ một giây, một mặt truyền âm cho Đỗ Thải Hà, báo việc bùa tránh nước hết linh, mặt khác chiếu Thanh sắc thần quang vào mấy cái kén trong phòng.

Đỗ Thải Hà nghe được lời sư tỷ, lại cảm giác được khí thế của kẻ địch, con tim thiếu điều nhảy ra khỏi người từ đường cổ họng, vội vàng rút một là bùa tránh nước mới ra, vừa niệm chú kích hoạt, vừa phi đến sát cạnh sư tỷ. Lá bùa mới vừa phát huy tác dụng thì Tạ Thiên Hoa cũng lắc mình, hiện ra bản thể Thanh Tước, rồi cõng sư muội lên mình, nhắm hướng mặt nước mà chạy trối chết. Phía sau còn nghe thấy mấy tiếng nổ nhỏ cùng lời chửi bới của hai tên áo đen.

Cũng may Tạ Thiên Hoa nhanh trí, đã tạo được chút hỗn loạn để cầm chân hai cường giả kia. Thế nhưng, bản thân nàng cũng biết, việc này chẳng tranh thủ được cho hai người họ bao nhiêu thời gian. Quả nhiên, còn chưa đến một khắc thời gian, Tạ Thiên Hoa đã cảm nhận được uy áp từ phía sau.

Cô nàng lại càng tăng thêm tốc độ, bay vọt lên phía trước. Cũng may bùa tỵ thủy đã giảm hết lực cản cũng như áp suất của nước, chứ không chỉ với tốc độ bay của Tạ Thiên Hoa nãy giờ, thì sợ là cô sư muội trên lưng nàng ta cũng đã bị ép thành đống thịt nhũn.

Thế nhưng uy áp phía sau không hề giảm chút nào, lại nghe một tiếng quát:

“Chạy đâu cho thoát?”

Thế rồi, cánh bên phải của Tạ Thiên Hoa bỗng nhói đau.

Cô nàng loạng choạng, tuy vết thương không có vẻ quá nặng, nhưng cũng làm cô bị mất thăng bằng, bay lệch vể một phía. Đỗ Thải Hà ngồi trên lưng nàng ta cũng suýt vì biến cố này mà ngã lộn xuống.

Đỗ Thải Hà vừa sợ vừa tức, lôi bừa một nắm bùa ở trong nhẫn chứa đồ ra, ném về phía sau. Chỉ nghe thấy vài tiếng nổ cùng thêm vài lời chửi bới nữa từ hai kẻ đang truy sát bọn họ.

Thế nhưng hai thiếu nữ cũng chả còn tâm trí quan tâm mấy chuyện đó, vì mặt nước cuối cùng cũng hiện ra trước mắt họ.

oOo

Tạ Thiên Hoa bay được lên khỏi mặt nước thì cũng kiệt sức, ngã lộn nhào xuống ven sông, hóa lại thành hình người. Đỗ Thải Hà cũng bị văng xuống gần đó.

Hai chị em còn đang đau điếng, chưa kịp cả bò dậy thì hai tên áo bào đen cũng vọt ra khỏi sông Ngân, lăng không mà đứng.

Hai tên này đầu bù tóc rối, quần áo xộc xệch, ánh mắt có tia lửa giận, hẳn là do trong lúc vội vã truy đuổi hai cô nàng không kịp phòng hờ nên mới bị đống bùa phép của Đỗ Thải Hà làm cho mất mặt đến như vậy.

Thế nhưng, chứng kiến cảnh hai cô gái như cá nằm trên thớt thì khóe miệng hai tên này lại nhếch lên. Tên đi trước liền nói:

“Chạy nữa đi! Các ngươi chạy nữa đi! Chạy đâu cho thoát ông đây?” Ngưng một chút hắn ta lại nói, “Hừ, dám làm ông đây ra nông nỗi này, tao phài hành hạ chúng mày trước khi giết mới xả được cơn tức này!”

Hắn vừa nói vừa tiến về phía hai người.

Bỗng…

Chỉ nghe thấy mấy tiếng “tách” như có vật gì đập nhẹ lên mặt nước, rồi tên áo đen đang lăng không tiến về phía hai chị em Hoa, Hà bị vật gì đó cứng đập vào mặt, đau đến nổ đom đóm mắt, lộn nhào trên không, chỉ thiếu điều lộn cổ xuống sông.

Hai tên áo bào đen giật mình, ngoảnh đầu lại nhìn thì chỉ thấy một thiếu niên áo đen đã đứng đó tự bao giờ. Mặt y một vẻ biếng nhác, trong tay cầm một mảnh đá dẹt, hai mắt có thần đang khóa chặt hai kẻ bọn họ.

Hai tên này nhìn nhau, đều thấy sự sợ hãi trong mắt đối phương. Nguyên việc thiếu niên áo đen kia có thể đến mà chúng chẳng hề hay biết đã thể hiện y nguy hiểm đến thế nào, việc y chỉ ném thia lia một hòn sỏi lại có uy lực mạnh như vậy lại càng khẳng định hai người bọn chúng có liên thủ cũng không phải đối thủ của y. Chỉ là… tại sao y còn chưa làm gì khác?

Trái với hai tên áo bào đen, hai người Tạ Thiên Hoa vốn còn đang cố bò dậy nãy giờ khi thấy người này thì lập tức thở phào một hơi, rồi nằm thẳng cẳng xuống đất thở phì phò như đã thoát lực.

Hành động của hai người lập tức giải hoặc cho hai tên áo bào đen, chúng vội vã làm kẻ “thức thời”, cắm đầu xuống sông chạy trối chết.

Tiểu Thạch liếc mắt nhìn theo hai tên áo bào đen, cũng chả thèm truy đuổi. Y chỉ chạm nhẹ vào chuôi kiếm một cái, rồi vừa ngáp dài, vừa chậm rãi đi qua chỗ hai người Tạ Thiên Hoa đang nằm ở ven sông, đoạn hỏi:

“Định nằm ở đấy đến bao giờ? Chả lẽ muốn ta phải cõng các ngươi về sao?”

Hai cô gái giật bắn mình, cười ngượng rồi dìu nhau đứng dậy.

Mà ở sâu dưới sông lúc này, có hai kẻ quần áo rách bươm, tóc rụng gần sạch, trên đầu còn vài chỗ thiếu mấy mảnh da đang run như cầy sấy nhìn nhau.

Hai tên “cường giả” mới ban nãy truy đuổi hai người Tạ Thiên Hoa hống hách là thế hiện giờ đang rất hoảng loạn. Bọn chúng đoán được thiếu niên áo đen ban nãy không đơn giản, nhưng có chết cũng không thể ngờ y mạnh đến thế. Đã chạy xa đến như vậy, lại còn trốn dưới nước, vậy mà y vẫn có thể hành bọn chúng ra nông nỗi này. Còn về phần tại sao chúng biết là do y ra tay? Trước khi xoay người rời đi, Tiểu Thạch có truyền âm, nói đúng hai câu:

“Có áo thay chưa? Cần thì lên đây tao ném cho một bộ?”

oOo

Khi hai chị em Tạ Thiên Hoa về đến phủ thành chủ, thì thấy Lý Thanh Vân đang ngồi ghế cao giữa sân như thư sinh kể chuyện, xung quanh y ngồi xổm, ngồi bệt nào là lính lác của phủ thành chủ, nào là tiểu hòa thượng, đạo đồng, ..v.v…

Thì ra, các thế lực giang hồ đều tập chung ở phủ thành chủ để bàn kế hoạch đấu với ma da, thế nhưng chỉ những người đại diện các phe phái lớn được có mặt trong cuộc họp mà thôi. Đám hậu bối tu vi thấp không được vào họp thì đại đa số lại đều là thanh thiếu niên mới lớn, còn ham vui, cũng không nhiều úy kỵ, tính toán như các bậc trưởng bối.

Thế là, cũng chả biết là ai bắt chuyện trước, nhưng một hồi sau, Lý Thanh Vân bỗng dưng thành “thuyết thư tiên sinh”, ngồi ghế cao kể lại *Xạ điêu anh hùng truyện* cho một đám đồng lứa với cậu chàng từ đủ các phe thế lực.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 38: Lựa Chọn Của Bạch Vũ Ngưng


Lão Thụ cổ viện...

Lùi về thời gian đêm hôm trước.

Bạch Vũ Ngưng hoảng sợ nhìn về phía thiếu niên áo trắng, gương mặt ma lúc này càng thêm nhợt nhạt, khóa mắt ầng ậng nước giống như sắp khóc. Nếu như còn sống, có lẽ lúc này nàng ta đã đứng không nổi mà ngã ngồi xuống.

Bạch Vũ Ngưng biết thiếu niên này đáng sợ...

Chủ nhân đứng sau y đương nhiên càng là cường giả tuyệt đỉnh.

Thế nhưng, cô nàng không ngờ thiếu niên áo trắng lại đưa mình đến đây.

Lão Thụ cổ viện.

Người trong thiên hạ gọi nó là cấm địa đáng sợ nhất Huyền Hoàng giới, tuyệt nhiên không phải là gọi chơi cho vui.

Lão Thụ cổ viện – hung địa đáng sợ nhất Huyền Hoàng giới.

Cho dù là lúc Bạch Vũ Ngưng còn sống, có một thân tu vi đã tiến vào Vụ Hải, sau lưng có đại gia tộc chống lưng thì cũng tuyệt đối không dám bén mảng đến đây.

Thế mà, thiếu niên áo trắng lại lôi cổ nàng đến chỗ này.

Chơi đùa với nàng ta sao?

Bạch Vũ Ngưng lúc này ngẩng đầu, đôi mắt to đầy vẻ đáng thương nhìn về phía thiếu niên áo trắng, cầu khẩn:

“Tiền bối... ngài tu vi cao như vậy, muốn giết tiểu nữ chẳng qua chỉ cần một câu nói là xong. Hà tất phải đưa tiểu nữ đén đây?”

Thiếu niên ngoái đầu, tủm tỉm cười, hỏi:

“Sợ?”

“Đương nhiên. Tới. Tiền bối. Cầu xin ngài, cho tiểu nữ lên đường một cách nhanh gọn đi. Làm ơn.”

Bạch Vũ Ngưng nghển cổ, nhắm mắt, rất có giác ngộ “ngài là dao thớt ta là thịt cá”.

Chỉ nghe thiếu niên áo trắng nói:

“À. Tiếc thật. Xưa nay bản tọa không thích cho người ta lên đường thống khoái. Đứng xem kẻ khác quằn quại, muốn sống không được, muốn chết không xong, ấy mới là biết thưởng thức. Nàng nói có phải không?”

“Tiền bối. Tiền bối. Tiểu nữ giờ đã là hồn ma bóng quế, chẳng phải đúng là sống không được chết không xong ngài nói đó sao? Xin ngài đừng chấp trẻ con, tha cho tiểu nữ một lần đi. Tiểu nữ xin thề với trời về sau nhất định sẽ kết cỏ ngậm vành, đội ơn tiền bối đời đời kiếp kiếp.”

Bạch Vũ Ngưng vội vàng mở mắt, khẩn cầu.

Thiếu niên trố mắt, tay chỉ về phía nàng ta, miệng lắp bắp:

“Ngươi... ngươi...”

Cô nàng thẳng lưng, đầu ngẩng cao, nói:

“Tiền bối là bậc cao nhân, lời vàng ý ngọc, không cho rút lại!”

Sau đó, Bạch Vũ Ngưng lại hạ giọng, nịnh:

“Tiền bối xin nghe tiểu nữ một lần, hà tất phải hành hạ tiểu nữ? Tiểu nữ tuy tu vi non kém, nhưng chịu khó, được việc. Chỉ cần tiền bối nói một tiếng, dù xuống núi đao lên chảo dầu tiểu nữ cũng không từ chối. Thế chẳng hơn một oan hồn nằm một chỗ quằn quại chả được tích sự gì à?”

Cô nàng tuôn một tràng, lại thấy sắc mặt thiếu niên áo trắng chưa có vẻ gì là xuôi xuôi, bèn cắn răng:

“Cùng lắm... tiền bối đã thích người khác quằn quại rên xiết thì tiểu nữ cũng xin làm cho tiền bối nghe.”

Bạch Vũ Ngưng vừa dứt lời, thì bỗng có tiếng cười khanh khách cất lên.

“Thú vị. Thú vị lắm.”

Nàng ngẩng đầu, nhìn về phía tiếng nói. Chỉ thấy từ dưới giếng, một nữ nhân áo đỏ chậm rãi bước lên, dùng ánh mắt mang đầy vẻ trêu tức nhìn về phía thiếu niên áo trắng.

Y nghe xong, lầu bầu đáp:

“Chủ nhân, hình như người dùng sai từ rồi. Phải là quái dị mới đúng.”

Nữ nhân mặc váy đỏ không đáp, mà nhìn sang chỗ Bạch Vũ Ngưng, cười:

“Để cô nương sợ hãi rồi.”

“Không... không dám ạ. Tiền... tiền bối... ngài chẳng nhẽ...”

Tuy nữ nhân nọ tỏ vẻ dễ gần hài hòa, nhưng Bạch Vũ Ngưng lại chẳng dám thả lỏng chút nào. Cô nàng nhớ lại, nơi đây là Lão Thụ cổ viện.

Truyền thuyết kể rằng...

Một vạn năm trước, Huyền Hoàng giới khi đó vẫn còn có hệ thống tu luyện bao gồm mười cảnh giới, Vụ Hải chưa tồn tại, cũng có không ít người đột phá được đệ cửu cảnh, bước chân vào cảnh giới cuối cùng, hợp đạo thiên địa.

Bỗng nhiên vào một ngày, một đại ma đầu xuất hiện, kiếm chỉ trời xanh, khiêu chiến thiên đạo.

Kẻ này thực lực thông thiên, cường giả thập cảnh không tài nào chống nổi một chiêu nửa thức. Cuối cùng, vạn tộc trên khắp Huyền Hoàng giới chung tay bảo vệ thiên đạo, đánh lại đại ma đầu. Trận đánh này, sử sách gọi là Hộ Thiên chi chiến, hoặc Phản Thiên chi chiến. Tên trước ám chỉ việc chư tộc bảo vệ thiên đạo, mà cái tên sau thì nói đến việc đại ma đầu phản bội thiên đạo.

Một trận chiến này...

Nhật nguyệt vô quang, sơn hà sụp đổ, quy tắc phá toái, vạn đạo băng diệt. Con đường tu luyện bị đại ma đầu đánh tan tành, thiên đạo trọng thương tưởng chừng tiêu tán. Cuối cùng, chín chí cường giả đệ cửu cảnh của nhân tộc dùng cái giá thiêu đốt linh hồn mới đánh thương được đại ma đầu.

Huyền Hoàng giới trả cái giá thảm khốc như vậy, cuối cùng mới có thể trấn áp được đại ma đầu. Thiên đạo trước khi bất tỉnh đã lấy đại thần thông, trấn áp đại ma đầu vào một cái giếng cổ, sau đó xây một viện tử làm trận pháp bao quanh. Các tộc từ đó coi tiểu viện nơi phong ấn ma đầu làm cấm địa, xưng là Lão Thụ cổ viện.

Bây giờ...

Một cường giả thâm sâu khó dò lừ lừ từ dưới giếng bước lên, đã vậy còn là trong Lão Thụ cổ viện, hỏi cô nàng không kinh sợ sao được?

Chỉ nghe nữ nhân áo đỏ nhoẻn miệng, cười:

“Cô nương đừng sợ. Ta tên là Hồng Vân, sau này gọi là chị Vân cũng được. Chuyện của cô nương ta cũng có biết một hai, thật sự rất thông cảm. Thế nên, hôm nay mời cô nương đến đây là muốn trao đổi một số chuyện. Cô nương có thể hiểu là một cuộc giao dịch cũng được, hiểu là một cơ duyên cũng được. Về phần hành vi ban nãy của Đại Bạch...”

Người tự xưng Hồng Vân ngừng một chốc, đoạn cười:

“Ấy là do ban nãy cô nương có dọa một tên ngốc, thành thử tên nhóc thù dai này mới dọa cô nương một phen đó thôi.”

Bạch Vũ Ngưng nuốt nước bọt.

Cho dù người phía trước mặt có phải đại ma đầu trong truyền thuyết hay không, thì chỉ nội việc có thể thuần phục được thiếu niên áo trắng kia cũng đủ chứng tỏ người này thực lực siêu quần. Cho dù muốn ép cô nàng giao ra ấn ký linh hồn cũng chẳng phải chuyện gì khó.

Thế nhưng...

Hồng Vân tiên tử lại hành xử rất hài hòa, không hề ép buộc cô nàng phải nghe lời, trái lại muốn bàn chuyện trao đổi.

Có vẻ... không giống với đại ma đầu trong truyền thuyết kia cho lắm.

Bạch Vũ Ngưng nghĩ đến kẻ thù thân phận cao quý, thế lực hùng hậu, cô nàng thân cô thế cô, cô hồn dã quỷ, trả thù quả thực là chuyện xa vời vạn dặm. Cuối cùng, giống như hạ quyết tâm, cô nàng cắn răng, nói:

“Dám hỏi... Hồng Vân tiên tử muốn giao dịch thế nào?”

oOo

Sau khi quyết định được món ăn, Nguyễn Đông Thanh đẩy cửa tiểu viện, cởi gù trên lưng, phấn chấn chạy về phía gian nhà phía tây.

“Cô hàng xóm. Bớ cô hàng xóm. Xin nhờ chút việc!”

“Có chuyện gì mau nói? Bổn cung đang bận.”

Hồng Vân mở cửa, thò đầu ra.

Trên mặt nàng ta lúc này đắp một cái gì trắng phớ, nhìn na ná mặt nạ dưỡng da. Đầu cuốn một cái khăn mềm, giống như vừa mới gội đầu xong. Nguyễn Đông Thanh nhìn quyển tiểu thuyết Hoàn Châu cách cách còn chưa thèm gấp lại trên tay Hồng Vân, khóe môi giật một cái.

Cuối cùng, cô hàng xóm cũng không thoát được, lọt hố ngôn tình.

Gã hắng giọng, hỏi:

“Có rượu nho đấy không? Cho vay một ít.”

“Ô? Ngài thanh cao ngày thường không thích tôi say xỉn lắm cơ mà, hôm nay lại đổi tính à?”

Hồng Vân gấp quyển sách lại, biểu tình nháy mắt trở nên giống hệt mấy chị mấy mẹ lúc ngồi lê đôi mách, buôn dưa lê bán dưa bở.

Kể từ khi ở địa cầu, Nguyễn Đông Thanh đã không phải người hay rượu bia, do bố gã là người nghiện rượu nặng. Thế nên, gã có uống cũng chỉ vừa phải, chưa bao giờ có chuyện say rượu.

Trái lại, Hồng Vân lúc nào uống cũng say bê bết mới dừng lại. Theo nàng ta nói thì say cũng là cái thú của uống rượu, trà tỉnh rượu quên, không cần phải tránh né làm gì.

Nguyễn Đông Thanh cười lắc đầu:

“Có chút chuyện dùng đến thôi.”

“Cầm. Cầm đi.”

Hồng Vân nhún vai, thoắt cái lấy trong gầm bàn ra một cái vò bịt kín, quăng cho Đông Thanh. Gã khệ nệ đón lấy, nhẩm tính có lẽ cũng phải đến gần năm cân ta.

Nguyễn Đông Thanh đã có rượu trong tay, hí hửng định đi thử nghiệm công thức luôn, thì bỗng nghe Hồng Vân gọi:

“Mém quên. Có cái này tặng cho anh.”

Gã vừa quay đầu, thì đã thấy một “người” chậm rãi từ phía sau Hồng Vân bước ra.

“Vãi chưởng!!!”

Nguyễn Đông Thanh rốt cuộc không nhịn được nữa, văng tục.

Cái “người” kia cao chỉ khoảng một mét ba, tức là bằng một đứa trẻ tiểu học bình thường. Đầu to tròn, chân ngắn, trên mặt có hai hàng ria mép, sau lưng có một cái đuôi nhìn như cái ăng ten, nước da màu đỏ hồng và đôi bàn tay tròn vo trắng hếu.

Trừ màu sắc ra, không phải nhân vật trong truyện tranh tuổi thơ của hắn bước ra thì còn ai vào đây nữa?

Nguyễn Đông Thanh nhìn Hồng Vân, chết trân:

“Cô... cô làm ra?”

“Đương nhiên. Thế anh tưởng bản cung cả ngày chỉ ru rú trong nhà ăn với nằm thôi à? Sao? Thấy lợi hại không?”

Hồng Vân chống nạnh, hất cằm lên, tỏ vẻ đắc ý.

Nguyễn Đông Thanh giơ ngón cái, chặc lưỡi:

“Lợi hại. Bái phục. Bái phục.”

Nhìn thành quả của Hồng Vân, gã bất giác lại thấy phiền lòng. Rốt cuộc hắn là người xuyên không hay cô hàng xóm này là người xuyên không?

Một bên thì lấy công thức nấu ăn.

Một bên thì chế tạo hẳn ra nguyên con mèo máy tương lai.

Nguyễn Đông Thanh nuốt nước mắt, thầm nhủ: không so sánh lòng không đau.

Hồng Vân giống như đoán được suy nghĩ của hắn, cười càng giòn hơn, lại bảo:

“Sau này anh ra ngoài, có nó đi theo cũng an toàn hơn. Đúng rồi. Mau đặt tên cho nó đi anh hàng xóm. Tôi mà lấy cái tên đô đô gì đó, anh lại nhãy cẫng lên nói ‘bản quyền’ với ‘đạo văn’ cho mà xem. Nó là con gái đấy nhé, nên lấy cái tên nào dễ thương một chút.”

“Vậy... thì gọi là Hồng Đô đi.”

Nguyễn Đông Thanh gật đầu, nói.

Lúc này, Hồng Đô nhẹ nhàng tiến lên mấy bước, nói:

“Cảm ơn tiên sinh đã đặt tên. Sau này Hồng Đô còn phải nhờ cậy tiên sinh nhiều.”

“Khách khí rồi. Nhưng... giọng nói của cô sao nghe quen quen?”

“Chắc tiên sinh nhớ nhầm thôi!!!”

Hồng Đô đáp, tốc độ nhanh không khác gì đang đọc rap.
 
Xuyên Qua Làm Nhân Vật Quần Chúng, Vô Tình Dạy Một Đám Đồ Đệ Thành Thánh Nhân
Chương 39: Rời Khỏi Đại Sở


Lại kể chuyện ở Ngự Long Thành.

Về tới phủ thành chủ, lo chữa trị thương thế xong xuôi, Tạ Thiên Hoa liền gọi Lý Thanh Vân cùng Đỗ Thải Hà vào phòng bàn bạc.

Sau khi nghe cô nàng kể lại những gì mình nghe được ở đáy sông Ngân, cả hai người họ gần như là cùng đập bàn:

“Khốn nạn!”

“Cẩu hoàng đế!”

Lý Thanh Vân tức vì bản tính hắn ngay thẳng, mà Đỗ Thải Hà giận, ngoài giống ông sư huynh, thì còn vì hành động này của hoàng đế nước Sở thật chẳng khác gì đám mũi trâu núi Long Hổ. Mặt ngoài thì rêu rao vì dân vì chúng, sau lưng lại lôi chính tính mạng dân chúng ra như tiền tệ để giao dịch.

Đoạn, Đỗ Thải Hà đứng phắt dậy, định phi ra ngoài, liền bị Tạ Thiên Hoa giữ lại:

“Sư muội, em định đi đâu?”

“Đi bóc mẽ tên cẩu hoàng đế đó, chả lẽ cứ để lão bá tánh tiếp tục chết oan như vậy?”

Tạ Thiên Hoa lắc đầu:

“Chị hiểu tại sao em tức giận, nhưng chuyện này nói ra, liệu có ai chịu tin chúng ta? Nếu không phải chị tận tai nghe thấy, thì chắc giờ cũng chẳng tin nổi, nữa là bá tánh bình dân trước giờ vẫn luôn tin theo hoàng đế của họ?”

Ngưng một chốc, cô lại nói tiếp:

“Hà huống, chúng ta nói việc này ra, chắc chắn sẽ bị khép tội chết, bị truy nã khắp nước Sở này.”

“Thì đã làm sao? Chả lẽ cứ mặc kệ?” Lý Thanh Vân cũng đứng dậy, đoạn lại nói, “Theo ta thấy, hay là cứ nói ra, người ta tin chúng ta cũng được, mà không tin cũng được. Ít nhất vẫn cho thế nhân biết bộ mặt thật của hoàng đế nước Sở!”

“Đại sư huynh, tiểu sư muội, em hiểu cảm giác của hai người, thế nhưng đây là chuyện nội bộ của nước Sở, chúng ta không thể tùy ý nhúng tay vào, cũng không có khả năng nhúng tay vào. Đây cũng không phải chuyện có thể giải quyết bằng nắm đấm, chúng ta có thể cứu một thành, hai thành, nhưng cũng chẳng có bản lĩnh thông thiên để cứu cả nước Sở.

“Còn việc báo tin này ra cho mọi người biết, có một vấn đế chính. Muốn xuống đáy sông Ngân, cần phải vượt qua vô vàn thủy quái, nếu không phải cường giả đã đặt chân vào Vụ Hải, hoặc có huyết mạch đặc thù thì cũng chẳng cách nào xuống để chứng thực được. Hà huống, chúng ta đã sớm đánh rắn động cỏ, sợ rằng có xuống được cũng vô dụng.”

Ngưng một chút, cô lại nói, “Lại thêm, nếu chúng ta sơ xuất, có thể sẽ ảnh hưởng cả đến thanh tu của sư phụ.”

Nghe nhắc đến Nguyễn Đông Thanh, hai người Lý Thanh Vân mới ngồi lại xuống ghế. Tuy ba người họ không hiểu tại sao sư phụ mình nhất quyết đóng vai phàm nhân, thế nhưng hẳn là có tính toán riêng, nếu chỉ vì họ gây chuyện bên ngoài mà làm ảnh hưởng đến kế hoạch lâu dài của sư phụ thì họ có chết mấy lần cũng không đền nổi tội.

Thế nhưng hiểu vậy là một chuyện, mà chấp nhận không làm gì lại là chuyện khác. Chỉ thấy Lý Thanh Vân cắn môi một cái, nói:

“Thế chả lẽ chúng ta nhắm mắt làm ngơ sao?”

Thấy hai người họ đã dịu dịu xuống, Tạ Thiên Hoa thở dài một hơi, nhắm mắt lại, đáp:

“Tuy chúng ta không thể cứu dân chúng cả nước Sở, cũng chả có quyền hành gì mà đi can thiệp vào nội bộ hoàng thất, nhưng đã ở đây rồi thì cũng nên giúp dân cư thành này, coi như làm cho tròn trách nhiệm. Còn nếu hai người nhất quyết muốn lan tin về âm mưu của hoàng đế Sở ra, thì em nghĩ nên nhờ chú hai làm chuyện này. Chú ấy đi lại nhiều, trải nghiệm cũng như quan hệ rộng hơn chúng ta.”

Lý Thanh Vân cùng Đỗ Thải Hà nghe vậy thì cũng cụp mắt, cúi đầu.

“Em xin nghe sư tỷ.”

“Cứ quyết như vậy đi.”

oOo

Đêm hôm đó, Phó Kinh Hồng đai nịt gọn ghẽ, dẫn toàn quân các thế lực tề tựu ở thành Ngự Long ra tường thành, chuẩn bị cho một trận thảm chiến.

Sau trận chiến đêm qua, gần như toàn bộ các phe phái đều đã nếm quả đắng, nhẹ thì bị thương, nặng thì mất mạng. Thành thử, không một ai trong số họ còn dám khinh địch như lúc trước nữa. Thậm chí, nhiều thế lực nhỏ đã biết sợ, tự lượng sức mình mà rời đi từ trước.

Trăng lên…

Một khắc, hai khắc, rồi ba khắc…

Thế nhưng cảnh tượng kinh khủng mà toàn thành chờ đợi không đến.

Nước không dâng, quái không lên. Mặt sông Ngân vẫn im lặng như tờ.

Phó Kinh Hồng kinh ngạc, dụi dụi mắt, lại nhìn xung quanh.

Ngoài gã ta, gần như tất cả mọi người có mặt đều chung một biểu tình.

Trận thảm sát đêm qua vẫn còn là một ký ức mới mẻ trong lòng những người có mặt tại đây lúc này. Thế nên họ lại càng không thể hiểu được chuyện gì đang diễn ra…

Thế nhưng, bài học của đêm hôm qua vẫn còn đó, nên toàn thành vẫn không một ai dám lơ là cảnh giác.

Họ sợ… Sợ ngay khi họ buông lơi cảnh giác, đám ma nước sẽ vọt lên từ lòng sông đồ thành, y như cái cách chúng đã giả chết để phục kích đêm qua.

Căng thẳng chờ biến, có cả Đỗ Thải Hà. Do Tạ Thiên Hoa mới bị thương nhẹ hồi trưa nên lúc này đang ở lại phòng chăm sóc Lý Thanh Vân, hay nói đúng hơn là làm bảo mẫu không cho y vác tay gãy chạy ra tường thành.

Thế nhưng, trái với suy đoán của mọi người, cục diện căng thẳng ấy kéo dài thẳng đến sáng, mặt trời mọc mà cả dòng sông vẫn không có động tĩnh gì.

oOo

Sau khi cho ra lệnh cho mọi người lui về nghỉ, Phó Kinh Hồng cho mời Tạ Thiên Hoa đến gặp.

Tuy gã không nghĩ đám Tạ Thiên Hoa có thể một tay đẩy lui đám ma da, nhưng dù gì cô nàng cũng đã xuống sông thám thính hôm qua, chắc cũng có ít nhiều thông tin. Nhưng cô nàng lại chỉ ậm ờ bảo hôm trước không tìm được sào huyệt của bọn quái, nên cũng chẳng biết được gì.

Gã thấy phản ứng của cô nàng lạ, liền cố gặng hỏi. Tạ Thiên Hoa cắn răng suy nghĩ một hồi, cuối cùng nói:

“Tướng quân, điều ta sắp nói, ngài tin cũng được, không tin cũng không ảnh hưởng đến ta, nhưng mong ngài nhớ rõ, ta không cần nói dối lừa gạt ngài. Nên mong khi ngài nghe xong, thì cũng đừng làm điều dại dột mà gây khó dễ cho bọn ta.”

Đoạn, cô nàng liền kể lại một lượt những điều nghe được dưới đáy sông Ngân. Xong xuôi, cũng chả buồn nhìn phản ứng của Phó Kinh Hồng hay chờ hắn đáp, liền quay người rời đi.

oOo

Hẳn bốn năm đêm tiếp đó trôi qua y hệt như đêm hôm trước.

Trăng lên, trăng lặn, thẳng đến khi mặt trời lên, lòng sông vẫn không một gợn sóng.

Toàn thành chuyển dần từ căng thẳng sang buồn chán vẫn chẳng có chuyện gì mới xảy ra.

Cứ như thể cuộc thảm sát đêm hôm trước chỉ là một giấc mơ vậy.

Cả Tạ Thiên Hoa lẫn Lý Thanh Vân thương thế đều đã khỏi hẳn, sinh long hoạt hổ như thường. Trong mấy đêm về sau, cả ba sư huynh muội đều đứng chờ ở tường thành.

Thế nhưng mãi vẫn chẳng có chuyện gì xảy ra. Tạ Thiên Hoa bắt đầu nghĩ, phải chăng hai tên áo bào đen kia vì quá sợ Tiểu Thạch nên đã rút toàn bộ quân đi từ ngay hôm ấy? Càng nghĩ, cô nàng lại càng cảm thấy như vậy có lý, bèn nói suy nghĩ này với hai người Lý Thanh Vân.

Cả một cái thành toàn tu luyện giả khổ chiến không thắng nổi đội quân ma nước đêm đó. Vậy mà Tiểu Thạch chỉ mới thò mặt ra chốc lát thôi thì toàn quân ma da đã rút không còn một mống. Không thể không nói đây là đả kích cực mạnh đối với ba người họ.

“Khó trách Tiểu Thạch tiền bối kéo chú hai với Lâm tiền bối đi uống rượu, tạo cơ hội cho chúng ta đi trải sự đời. Nếu y thò mặt ra từ đầu thì chỉ sợ đến cả cơ hội quan sát đám ma da công thành đêm hôm đó chúng ta cũng không có mất.”

Tạ Thiên Hoa tổng kết.

Hai người kia cùng gật gù nói phải.

“Vẫn biết tiền bối rất mạnh, nhưng vẫn không ngờ là mạnh đến như vậy.”

Đỗ Thải Hà nói thêm.

Đồng thời, trong đầu họ còn chung một suy nghĩ khác:

“Nếu con chó mà sư phụ nuôi đã như vậy, thì bản thân người phải mạnh đến mức nào?”

oOo

Xét thấy thời gian ngày càng gần Võ Bảng hội, đám ma da chắc cũng chả quay lại nữa, ba người Tạ Thiên Hoa bèn quyết định cáo từ Phó Kinh Hồng, rồi đi tìm ba vị tiền bối để tiếp tục lên đường. Tất nhiên việc trước làm xong thì việc sau cũng chả cần làm, do ba người kia vẫn luôn ở trong tối quan sát họ.

Cả đoàn lại trèo lên lưng Tạ Hàn Thiên, tiếp tục bay về hướng nước Tề.

oOo

Ải Quan Lâm.

Nguyễn Đông Thanh dắt theo Hồng Đô, ngồi xe bò lóc cóc vào thành. Rồi, hắn lại nhờ lính thủ thành dẫn mình đi gặp Vũ Tùng Lâm.

Bước chân vào phủ thành chủ, hắn lại một lần hoài niệm. Lần trước vào, còn đang là dân “nhập cư trái phép” bị bắt đến, mà lần này là hắn chủ động đến. Tâm thái khác hắn nhau, thành thử hắn cũng có tâm trạng nhìn đông ngó tây hơn.

Tên lính dẫn Nguyễn Đông Thanh vào phòng khách, nơi Vũ tướng quân đã chờ sẵn, rồi xin cáo lui. Về phần Vũ Tùng Lâm, kỳ thực lão ta muốn ra tận cửa phủ đón Nguyễn Đông Thanh, nhưng nhớ tới lời dặn phải đối xử với y như thứ dân, tự biết không thể quá nhiệt tình, mà kịp thời ngăn bản thân lại.

Hai người vào phòng, chủ khách an vị, rồi lão mới hỏi:

“Không biết tiên sinh hôm nay đến đây có gì sai bảo?”

“Sai bảo thì tiểu nhân không dám. Chỉ là, việc tướng quân nhờ hôm trước, tại hạ đã nghĩ ra một món ăn có thể làm. Thế nhưng Đông Thanh tài học thô thiển, thiết nghĩ muốn tìm một vị đầu bếp làm chính, tại hạ xin làm phụ bếp thôi thì hơn.”

“Tiên sinh khiêm tốn rồi, không biết mỹ vị ngài nghĩ ra là món gì, cần tuyển đầu bếp ra sao?”

“Bẩm tướng quân, món này mang tên Bò sốt vang… à, ý là sốt rượu. Cách làm kỳ thực cũng không khó khăn gì, chỉ cần thái nhỏ thịt bò, sau đó hầm trong một loại sốt làm từ cà chua, cà rốt, gia vị, và rượu nho. Để lửa vừa đủ trong chừng hai canh giờ là có thể lấy ra ăn kèm bánh mì hoặc phở.”

Vũ Tùng Lâm nghe lời này thì giật mình. Món ăn này lạ thì lạ thật, “đơn giản” thì cũng đơn giản thật. Nhưng từ mấy trăm năm về trước đến nay, hoàng đế nước Việt đã sớm ban bố lệnh cấm giết thịt trâu bò. Làm món này chỉ sợ…

Lão đang định mở miệng can ngăn Nguyễn Đông Thanh thì linh cơ chợt động, vội nuốt lời định nói trở lại.

“Nói đùa, Bích Mặc tiên sinh là ai cơ chứ? Sao có thể không biết về lệnh cấm của vua. Tiên sinh đã chọn món này, hẳn là đã có tính toán của riêng mình. Việc mà ta cần làm chỉ là hết sức giúp cho tiên sinh là được rồi. Cũng may mình nhanh trí, không thì đã lỡ mồm mà rước họa sát thân rồi!”

Càng nghĩ Vũ Tùng Lâm lại càng cảm thấy may mắn, liền thở phào một hơi.

Nguyễn Đông Thanh thấy hành động này của lão, lại tưởng lão trút được nỗi lo trong lòng về việc tiến cống vua, thầm khen vị Vũ tướng quân này quả là thương dân như con, xem chừng vì việc khó này mà đã lao tâm khổ tứ không ít. Hắn lại tự hứa với bản thân, phải cố hết sức cho món sốt vang này thật là nổi bật, giúp Vũ tướng quân phân ưu!

“Tiên sinh, nếu nói về làm thịt bò, có lẽ phải đi một chuyến đến Mỹ Vị Sơn Trang.”
 
Back
Top Dưới