Quyển 1: Mười năm đèn sách
Chương 14
Ngày 18 tháng 8, ngày thi trường nhì, trời âm u.
Nhờ một thí sinh cùng trường gợi ý, sau khi rời khỏi trường nhất, Tùng gửi lều chõng của mình cho một hàng quán gần đó để tránh việc phải mang đồ lỉnh kỉnh đi qua đi lại nhiều.
Thủ tục gửi đồ rất đơn giản, Tùng để gọn lều chõng của mình ở một chỗ trong quán, đánh dấu bằng tên mình rồi gửi cho chủ quán chút phí là xong.
Ngày 18 lại là một ngày sống khổ hơn gà.
Tùng mở mắt ngay lúc bà chủ nhà trọ bắt đầu cất giọng hò vang dội, uể oải ngồi dậy dụi mắt.
Nó thầm nhủ chẳng thể để những ngày như này chỉ nó phải tội mà con gà còn được ngủ sướng o o, bữa khuya hôm nay của nó chắc chắn phải có món gà luộc chấm muối chanh mới vừa lòng!
Thực ra người xưa ngại để học sinh ăn thịt gà, nghe đâu vì sợ ăn gà nhiều quá sẽ bị bệnh quáng gà.
Tùng lại chẳng thèm tin vào quan niệm này.
Nó vốn thích nhất là thịt gà, từ đời trước đã thích, hễ xong chuyện gì hay đạt được thành tựu nào "đầu bếp" bố sẽ nấu cho nó một bữa gà thật ngon.
Nào là gà rang gừng, gà rang muối, chân gà rút xương, cánh gà tẩm bột rán, gà nướng mật ong, nhiều lắm.
Tùng nhớ lại mà thèm, tự dưng thấy bữa khuya hôm nay chắc hơi nhạt miệng.
Tùng rửa mặt cho tỉnh táo hơn chút.
Nó lọ mọ thắp nến, kiểm đếm lại đồ dùng sẽ mang vào trường thi.
Bút, giấy, nghiên mực là không thể thiếu rồi, ngoài ra còn cần phải mang thêm nến để ban tối còn có chút ánh sáng viết nốt bài, mang thêm cả đồ ăn vào để lót dạ.
Một ngày thi là thi từ sáng tới tối, bữa sáng ăn một ít, bữa trưa xử lý trong trường thi, đợi thi xong rồi đi ăn khuya là tốt nhất, như thế sẽ không để lỡ quá nhiều thời gian thi cử.
Bởi về cơ bản, không ai tạo điều kiện tạm ngừng thi để nghỉ ngơi ăn cơm, thời gian ăn cũng nằm trong thời gian thi luôn rồi.
Ngay đến quan đề điệu cũng phải giấu miếng bánh trong tay áo, đang giám sát quá trình thi cũng phải lấy ra ăn mấy miếng cho đỡ đói.
Tùng còn nghe nói khi chấm thi, các quan cũng phải vừa ăn vừa chấm nữa kìa.
Cũng đành chịu thôi, thời gian có tí đó, thí sinh lại đông như quân Nguyên, bài thi không phải ba tờ thì năm tờ, họ mà không canh thời gian đảm bảo làm xong nhanh mà vẫn đủ công bằng để kịp thời báo lên trên thì khéo phải ăn cơm tù mất.
Làm quan trông coi trường thi cũng thật không dễ dàng gì.
Hồi trước Tùng thấy giám thị oách lắm, việc trông thi cũng nhàn đấy, nhưng chắc đó là giám thị nào chứ giám thị thời Lê kiêm luôn chức giám khảo mà.
Mâm nào cũng có mặt, trường thi nào cũng trông, bài thi nào cũng chấm, còn "nhàn" thì chỉ là một từ chỉ niềm mong mỏi của khối người trong trường thi.
Lúc này Tùng đã ngồi trong trường thi, chuẩn bị mang giấy bút đến nhà bảng chép đề.
Nó theo thói quen ngẩng mặt lên nhìn chòi gác, bắt gặp quan đề điệu mập mạp phốp pháp hồng hào mấy hôm trước giờ đã xơ xác thiếu ngủ, mắt thâm quầng, tay ôm chén trà nóng bốc hơi nghi ngút, lơ đãng nhìn ra xa.
Mới có một trường thi mà đã vậy, đợi qua hết tháng 8, không biết ông ấy sẽ giảm được mấy cân đây.
Số lượng sĩ tử trong trường nhì vắng hơn trường nhất một ít.
Tùng không thấy lạ mấy, dẫu gì trường nhất cũng là trường dễ nhất mà.
Thật lòng, ngay cả ở thời hiện đại cũng chỉ có đứa không học bài chứ chắc chắn không đứa nào không làm được bài phân tích và cảm thụ văn học cả.
Trống báo hiệu bắt đầu thời gian làm bài vang lên.
Tùng trầm ngâm đọc đề bài mình vừa chép về, tự hỏi đây thật sự là đề thi soạn thảo văn bản chứ không phải bài tập tình huống ư?
Sau mười hai năm dùi mài kinh sử, Tùng đã có thể đọc hiểu văn bản bằng cả chữ Hán lẫn chữ Nôm, đương nhiên đọc ra đề bài hôm nay là một tình huống thực tế.
Đề thi hôm nay chỉ có hai bài, dù sao thì viết hai bài văn mất thời gian hơn phân tích năm bài văn nhiều.
Bài đầu tiên dịch nôm na ra là có vùng nọ gặp phải thiên tai, chết mất từng này người, nhà cửa tiêu điều tan hoang.
Tra ra mới biết, quan viên địa phương tham ô tiền củng cố đê điều nên thành ra cớ sự.
Vua biết tin thì buồn lòng, tự trách mình trị nước chưa nghiêm, bị trời quở trách, để dân đen con đỏ phải chịu tội.
Sau khi cử người đi cứu trợ thiên tai, bắt những tên đầu sỏ nhận hình phạt thích đáng, vua muốn làm lễ tế tạ tội với trời đất, nhân tiện cầu cho trong năm không còn thiên tai, mưa thuận gió hòa, vụ mùa bội thu.
Tùng rơi vào trầm tư, đúng là phong kiến mê tín dị đoan, chưa gì đã thấy "trời quở trách giáng thiên tai".
Nó chấm mực ghi chú ý tưởng làm bài.
Được rồi, bài đầu tiên yêu cầu viết sớ, còn là loại sớ dùng trong tế lễ thần linh chứ không phải loại dâng lên quan trên và vua.
Cái này thì quen thuộc quá, đêm giao thừa năm nào mà nó chẳng nghe thầy từ trong đình làng đọc sớ kia chứ.
Nói rằng thuộc quy cách thì cũng chưa tới, nhưng những cái tinh hoa nhất trong bài sớ thì nó biết rồi.
Tùng hài lòng lia mắt sang bài sau.
Bài sau là phần tiếp theo của bài đầu, tuy nhiên lần này thí sinh đóng vai quan viên được lệnh đi cứu trợ.
Thấy hoàn cảnh tan hoang đổ nát, người dân chết như ngả rạ, người còn sống mất cả gia đình, mất nhà mất của, nói chung chẳng còn lại gì, quan viên cứu trợ rất đau lòng, quyết định long trọng đưa tang những người không may mất mạng để họ được yên nghỉ.
Tùng đọc xong trố mắt.
Cái này thì viết cái gì?
Văn tế à?
Tùng nín thinh.
Không phải nó chưa từng đọc văn tế bao giờ, sách giáo khoa thời hiện đại còn có nguyên một bài "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" nữa kìa.
Cơ mà nó không ngờ văn tế cũng nằm trong chương trình thi cử của thời phong kiến!
Nó cứ tưởng trường nhì thi soạn thảo văn bản hành chính, giờ đọc xong cả hai đề bài, đúng là có thấy văn bản rồi nhưng chưa thấy hành chính.
Mặc dù sớ cũng là một loại văn bản hành chính thật nhưng Tùng lại thấy rằng sớ dùng cho hoạt động tâm linh thì hành chính chỗ nào?
Thì ra nho sinh như nó còn có công dụng này.
Tùng tặc lưỡi thầm nhủ.
Nho sinh "thời đại mới" đa dụng ghê, trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, biết tính toán, biết cả bói toán nhờ đọc Kinh Dịch, còn biết giáo lý nhà Phật, biết quan niệm nhà Nho, biết chút ít kiến thức y học, biết cả đạo trị nước, hễ xuất khẩu là thành thơ, vung bút múa thành văn.
Ông nào giỏi hơn nữa còn biết vẽ tranh đấy.
Bỗng dưng Tùng nể người đọc sách thời phong kiến quá đỗi.
Hèn gì người xưa ai mà thi đỗ Tiến sĩ là cả làng được thơm lây, cái đầu thì nhỏ mà hỏi gì cũng biết, chắc chỉ chặt gà là không.
Nhìn chung người đọc sách ông nào ông nấy gầy gò thiếu sức sống lắm, vì thời điểm hiện tại họ chỉ chăm chú đọc sách, không chịu tập thể dục, dáng người đúng chuẩn với câu nói "thư sinh tay trói gà không chặt".
Có lẽ khi đỗ đạt thì sẽ đỡ hơn, ít nhất sức khỏe phải đạt chuẩn mới đi làm chủ khảo và đồng khảo được.
Tùng lẳng lặng ngẩng lên nhìn chòi, quan viên trên đó chỉ có vài ba người, đa số xuống sân đi lại kiểm tra giám sát rồi, nhưng những người còn trên không ai ngồi không làm việc riêng cả.
Họ vẫn đứng trên cao, đứng từ sáng tới giờ, cẩn thận quan sát từng cái lều.
Sát sao đến mức Tùng bắt đầu thấy khổ thân giám thị.
Cũng dễ hiểu, khoa cử là phương tiện tuyển chọn nhân tài cho đất nước, đứa mất dạy bị lọc từ bước đăng ký, đứa ngu đã bị lọc từ bài ám tả rồi.
Giai đoạn sau chỉ có người đọc sách thật sự tham gia thi, cũng là lúc phải chọn lọc kỹ lưỡng nhất.
Giám thị thời phong kiến phải cẩn thận từng li từng tí, lỡ mà trong quá trình thi có xảy ra sai sót gì, diếm được thì tốt, còn nếu để vua biết được thì chỉ có nước mất chức, đi tù mọt gông thôi.
Tùng cúi đầu tập trung làm bài thi.
Bài sớ với nó còn dễ nói, dẫu gì cũng là thể loại quen thuộc.
Tùng cắn cán bút, cẩn thận viết hai chữ "phục dĩ" vào góc trên bên phải bài làm.
Sớ có yêu cầu về thể thức riêng, phần đầu phải có "phục dĩ", trước câu cuối cùng phải có "thiên vận".
Ngoài ra, người viết cũng cần phải tuân thủ các nguyên tắc "tiền lưu nhất chưởng, hậu yêu không đa", "thượng trừ bát phân, hạ thông nghĩ tẩu", "sơ hàng mật tự", "nhất tự bất khả nhất hàng" và "bất đắc phân chiết tính danh".
"Lưu không" chỉ phần giấy trắng đầu tờ sớ, phần này phải hẹp, thường chỉ nhỏ cỡ ngón tay.
Trong khi "nhất chưởng" lại chỉ phần giấy cuối tờ sớ, to bằng bốn ngón.
Vậy nên mới gọi là nguyên tắc "tiền lưu nhất chưởng, hậu yêu không đa".
Nguyên tắc thứ hai, "thượng trừ bát phân, hạ thông nghĩ tẩu" nghĩa là lưu không trên đầu sớ rộng hơn chân sớ, phần chân sớ chỉ cần đủ rộng cho một con kiến chạy là được.
Khác với thời hiện đại, người phong kiến viết chữ theo cột từ phải sang trái, từ trên xuống dưới, khi đọc cũng vậy.
Để có thể đọc dễ dàng hơn, cần phải viết tách các cột chữ thưa ra để nhìn cho rõ, tuy nhiên khoảng cách giữa những chữ trong một cột lại khá nhỏ.
Đặc biệt cần phải lưu ý rằng không được phép để một cột chỉ có một chữ.
Đây chính là "sơ hàng mật tự" và "nhất tự bất khả nhất hàng".
Tất nhiên, trong một bài sớ luôn có tên người.
Có thể là tên người viết, cũng có thể là tên người dâng sớ.
Tương tự như thời hiện đại có nhãn vở được thiết kế hai dòng để ghi họ tên, và mọi học sinh chọn ghi đầy đủ tên mình vào dòng thứ hai để đỡ khỏi phải xuống dòng, làm mất mỹ quan bìa vở, thì ở thời phong kiến cũng có "bất đắc phân chiết tính danh", yêu cầu tên họ phải được ghi trong một cột chứ không được tách ra làm hai cột.
Chắc bởi người xưa cũng thấy viết tên thành hai cột như thế bị mất thẩm mỹ cũng nên.
Tùng nghĩ bụng, châm chước mãi mới viết một câu văn biền ngẫu ngay dưới "phục dĩ" cho xong phần mở đầu.
Viết xong câu đầu tiên lược về nội dung chính của bài sớ, phần thứ hai là địa chỉ, sau đó mới là lý do dâng sớ.
Vì là lấy bối cảnh vua làm lễ tế thần linh, vậy nên địa chỉ chắc là ở đâu đó trong Đông Kinh, là cái chùa hay cái đền gì đó, hoặc là cái đàn cũng nên chứ nhỉ.
Thứ lỗi cho sự ngu dốt của Tùng, nó thật sự chưa từng nghĩ đến ngày mình phải đóng vai một ông quan viết sớ để vua đọc làm lễ, vả lại mười hai năm nó cố học thành người phong kiến hay chữ không có nghĩa là nó cũng biết rõ về văn hóa tâm linh của người xưa.
- Thôi vậy, cứ ghi đại "Đại Việt quốc, Phụng Thiên phủ [1]" cho nhanh.
- Tùng lẩm bẩm tự an ủi.
- Còn người dâng sớ...
[1] Phủ Phụng Thiên: trước năm 1469 được gọi là phủ Trung Đô, là tên gọi hành chính của Đông Kinh (Thăng Long).
Thời Lê Thánh Tông, đất nước được thành 12 đạo thừa tuyên và 1 phủ, phủ này chính là phủ Phụng Thiên.
Tùng dừng lại rất lâu.
Nó đắn đo không biết nên ghi tên mình hay ghi tên vua.
Nay nó đang làm bài thi, mà dù có làm bài gì, viết cái gì thì người ta cũng cấm tuyệt đối việc viết tên húy của vua vào.
Người xưa cho rằng hành vi này là phạm húy, là bất kính với vua, không cẩn thận thì sẽ bay đầu.
Tùng gãi đầu gãi tai, gãi đến mức sắp rụng cả nắm tóc rồi mới nghĩ ra được một trò mèo - không ghi tên ai cả, thẳng thắn để trống cả một mảng giấy.
- Rồi, chúc mừng bé mất một điểm.
Tùng thở dài não nề.
Cái trường thi soạn thảo văn bản này tưởng dễ ăn vậy mà cũng khó kinh khủng.
Sớm biết vậy mấy hôm trước nó đã ngồi đọc thêm mấy bài văn mẫu, tìm thêm mấy điển tích tâm linh rồi.
Nhưng đời mà, chỉ có "biết vậy" chứ làm gì còn sau đó đâu.
Viết xong được phần người dâng sớ cũng coi như là xong một nửa bài sớ.
Sau phần này chắc chỉ có phần thỉnh Phật Thánh là khó.
Tùng gật gù, ừ, phần thỉnh Phật Thánh phải ghi Hồng danh của các ngài, mà nó ngoài Văn Thù Bồ Tát thì chỉ nhớ rõ Karl Marx, V.I.
Lênin và Hồ Chí Minh thôi.
Cũng may Tùng còn thời gian lục tìm ký ức xem nên mời vị nào quản lý thời tiết.
Còn lại phần tán thán thì chép y nguyên đề bài, phần thỉnh cầu cũng chép y nguyên đề bài, phần ngày tháng thì ghi luôn hôm nay cũng được.
Tùng đờ người viết xong bài sớ trước giờ trưa.
Nó hối hận rồi, nó biết lỗi rồi, nó không nên quá tự tin vào bản thân như vậy.
Cứ tưởng bài sớ dễ thế nào, kết quả là khó không tưởng.
Tùng mặc niệm bản thân ba giây rồi ngó xuống đề bài thứ hai, nhẩm bụng văn tế đúng là một yếu tố khó lường.
Tùng chưa từng tập viết văn tế bao giờ, thầy yêu cầu nó học mà nó chống chế rằng chắc chỉ có ông ra đề bị thần kinh mới bảo thí sinh đi viết văn tế.
Nào ngờ lần đầu đi thi vấp trúng đề do một ông bị thần kinh ra thật.
Ăn xong bữa trưa khô cứng như đá, Tùng phủi tay, đọc lại đề bài thứ gắng nhớ lại nội dung những bài văn tế mình từng đọc, đặc biệt là "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc".
Nó lặng lẽ dùng chữ Quốc ngữ viết chú thích những điểm cần nhớ trong bài văn tế vào giấy nháp, gạch chân đánh dấu vào từ "cảm thán".
Văn tế vừa nghe là biết văn đọc cho người đã khuất, trong đám ma còn phải có tiếng khóc thì văn tế càng phải viết thật dạt dào cảm xúc, viết sao cho vừa đọc đã muốn khóc, người đọc thấy xót thương cho một phận đời đã đi.
Muốn viết được thật cảm xúc thì cá nhân nên đắm chìm trong cảm xúc đó.
Tùng gạt giấy bút sang một bên, bản thân thì ngồi khoanh chân, nhắm mắt lại.
Có quan đồng khảo đi ngang qua, tò mò không biết nó đang làm bài thi mà sao bỗng dưng lại ngồi thiền.
Toan bước đến bảo nó nhanh chóng làm bài thì bị một thí sinh ngồi trong lều đối diện ngăn lại.
Người này không cùng làng với Tùng nhưng lại là chỗ quen biết với thầy Đồ già trong làng của nó, có biết một ít chuyện.
- Quan cứ kệ nó đi ạ.
- Thí sinh nọ giải thích.
- Nó lớn lên trong chùa, ngồi thiền một lúc là thói quen của nó rồi ạ.
Tùng nghe mà ngại muốn xỉu.
Nó ngồi viết văn còn bị khó ở nữa là ngồi thiền.
Hiện tại nó chỉ đang cố tìm cảm giác để viết văn cho thật hay thôi mà!
Nó biết tỏng trường ba của nó sẽ là một thảm họa nên đang cố dùng cảm xúc viết văn để vớt vát trường nhì đây này.
Quan đồng khảo chỉ nghe thí sinh kia giải thích cho biết chuyện, xong xuôi vẫn lớn giọng quở Tùng:
- Phải biết chia thời gian làm bài cho hợp lý chứ.
Ngồi như thế một lát là đến giờ nộp quyển đấy, nộp không kịp thì trách ai.
Tùng không dám động đậy, đợi quan đồng khảo đi rồi mới dám mở mắt ra.
Má chứ thật, mấy ông quan này hôm nay quạu quọ kinh khủng, không rõ có phải bị đầu độc bởi sự đần độn của vài thí sinh ở trường nhất không hay chỉ đơn giản là sáng phải dậy sớm hơn gà và đến giờ không được ngồi yên để ăn cơm trưa.
- Viết quyển đi, sắp qua giờ Ngọ [2] rồi đấy.
[2] Giờ Ngọ: từ 11h trưa đến 1h chiều
Thí sinh ở lều đối diện liếc lính canh ở đằng xa, khẽ giọng nhắc nhở.
Tùng gật đầu, mấp máy môi nói lời cảm ơn.
Trong trường thi luôn tồn tại tình đồng chí thắm thiết.
Dù chỉ ngắn ngủi không đáng nhắc tới nhưng những sự giúp đỡ nhỏ nhặt đó đều là thật lòng.
Nó thấy mình chỉ nói lời cảm ơn suông thì qua loa quá, bèn thò đầu ra khỏi lều, chắc chắn rằng lính canh không để ý đến bên này liền chỉ tay vào tờ giấy thi của thí sinh nọ:
- Kìa, anh viết sai chữ rồi.
Thí sinh kia nhìn theo hướng chỉ của nó, vẫn chưa phát hiện mình sai ở đâu cả.
Tùng lại ngó lính canh thêm một lần, nhanh miệng nói thẳng:
- Chữ "thành" đó.
Viết sai rồi, viết tờ khác đi, húy vua đấy!
Vua Lê Thánh Tông còn có tên húy là Lê Tư Thành.
Người đi thi không được phép ghi tên vua vào, cả vua hiện tại và các vua trước đó, nếu không sẽ bị tính lỗi phạm húy, bài thi có khả năng bị đánh trượt ngay tắp lự.
Thí sinh kia bấy giờ mới thấy cái lỗi to đùng này, bất giác thảng thốt:
- Ôi thôi chết!
Tùng nghe âm thanh là biết lính canh sắp hùng hổ xông tới rồi.
Nó vội vàng rụt đầu lại như con rùa, ngoan ngoãn viết linh tinh vào nháp hòng diễn qua mặt lính canh.
Quả nhiên, mấy giây sau có hai lính canh chạy tới, lớn giọng quát:
- Chỗ này ồn ào cái gì!
Thích làm phiền người khác làm bài lắm à!
Thí sinh kia chắp tay xin lỗi:
- Em có lỡ miệng, các anh tha cho.
Bài em viết sai nên sợ quá thôi.
Không biết hai anh lính có tin không, chỉ thấy hai người đi qua đi lại chỗ này vài vòng, xác định các thí sinh khác không lén nhắc bài nhau mới yên tâm.
Một anh lính quắc mắt nhìn thí sinh kia, gằn giọng nhắc nhở:
- Viết sai thì viết tờ khác!
Để chúng tôi bắt được các anh nhắc bài nhau thì liệu hồn!
Thí sinh nọ liên tục dạ vâng, đảm bảo không gây ồn nữa mới được tha.
Nếu để mấy ông lính này tiếp tục đứng đây, không bao lâu nữa có quan đồng khảo đến hỏi chuyện thì khó xử hơn nữa mất.
Quan đồng khảo không phải lính canh, ai nấy đều có tiếng hay chữ rồi, biết được thí sinh kia viết phạm húy thì không khéo bị đuổi khỏi trường thi luôn quá.
Lính canh không nán lại lâu.
Trước khi đi, một người quay sang Tùng, hất mặt hỏi:
- Anh kia!
Không thiền nữa à?
Tùng đang giả vờ thì giật mình chỉ vào mình.
Họ hỏi nó à?
Thấy mắt hai lính canh cứ dán chặt vào mình như thể trả lời rằng không hỏi nó thì hỏi ai, Tùng bặm môi, rụt rè lắc đầu.
Giờ có muốn tìm cảm giác thì nó vẫn nên trông trời trông đất trông mây, tâm hồn treo ngược cành cây, chứ để bị nhìn rồi lại bị tưởng ngồi thiền thì ngại chết đi được.
Hai lính canh đi xa rồi, Tùng mới dám thả lỏng người.
Nó sợ phát khiếp.
Không chỉ nó, những thí sinh khác ở gần đấy cũng sợ run người, tay cầm bút còn không vững làm một vệt mực nhỏ xuống giấy, loang ra thành mảng.
Thông thường quan đồng khảo có đến giám sát cũng không hùng hổ như hai anh lính canh kia, mà kể cả chủ khảo có đến thì cũng không đến tới này.
Tùng láng máng nghe được một thí sinh bức xúc than:
- Mấy tên võ biền này...
Thật là!
Chắc anh bạn này muốn chửi bậy lắm, khổ nỗi vốn chữ văng tục không nhiều bằng bà bác bán hàng đầu chợ.
Chẳng thể trách được mấy nho sinh này, tối ngày họ chỉ biết đọc sách thánh hiền, luôn treo trên miệng "chi, hồ, giả, dã", đâu được tiếp xúc nhiều với tinh hoa ngôn ngữ dân gian đâu.
Tùng lắc lắc đầu.
Nó cầm bút lên, chấm mực, lại đặt bút xuống.
Cứ lặp lại ba động tác như vậy vài lần, nó vẫn chưa biết nên viết mở đầu bài văn tế thế nào.
Mở đầu cũng là "hỡi ôi" à?
Nó không dám, lại nghĩ hiện tại khoa cử không cho phép thi bằng chữ Nôm, còn chữ Hán thì chưa chạm đến tầng cảm xúc mà nó mong muốn.
Tùng thở dài, khó rồi đây.
Hiện giờ đầu nó rỗng tuếch như con tim trống vắng người thương cả mấy chục năm, một nét chữ cũng chẳng mường tượng ra được nữa là ý tưởng viết.
Chẳng lẽ cứ dừng ở đây sao?
Tùng không cam lòng, có điều dù nó có nghĩ ngợi nhiều đến thế nào thì cũng không rặn ra nổi một chữ.
Những thí sinh khác đều đang cặm cụi viết bài, lại chỉ còn mình nó ngồi ngẩn ngơ.
Trong không gian tĩnh lặng của trường thi, ngoài những tiếng kẽo kẹt của chõng tre thì chỉ có tiếng bước chân nhẹ nhàng của quan viên coi thi và lính canh.
Từ một căn lều nào đó vọng ra tiếng ho khan, hình như có một thí sinh dẫu bệnh vẫn phải vác thân đến trường thi bằng được.
Tùng ngồi ngẩn ngơ, tay hết mân mê vạt áo dài lại nghịch ngợm sợi tóc mình.
Tóc nó dài ngang lưng như con gái, cả năm chỉ dài đến thế do thỉnh thoảng vẫn đi cắt đều đặn.
Nó thích mái tóc này, thích dùng vỏ bưởi và bồ kết chăm sóc tóc, thích buộc lỏng để trông có chút bù xù mà vẫn gọn gàng một tí.
Nếu mẹ nó có biết chắc lại chửi nó không ra gì mất thôi.
Tùng bật cười khanh khách, rồi nhanh chóng bụm miệng lại.
May mà chưa có ai để ý tới.
Nó chải phần đuôi tóc mình, hài lòng đếm từng sợi tóc đen nhánh chắc khỏe, không sợi nào bị chẻ ngọn.
Đời trước nó phải thức khuya học bài nhiều, đường chân tóc của nó lùi vào sâu lắm, nhiều lúc trông như sắp hói đến nơi.
Nó đề nghị muốn ra tiệm tạo kiểu, để tóc dài ra chút, dày hơn chút cho đẹp hơn mà mẹ nó lại bắt đầu mở máy hát.
Bà cho rằng thẩm mỹ nó chẳng ra làm sao cả, rằng con trai mà để tóc dài thì chỉ có bê đê, ái nam ái nữ, chẳng ra thể thống gì.
Tùng phản bác lại, nó chỉ cần tóc dài hơn chút, dày hơn chút để che khuyết điểm thì có gì sai.
Và rồi mẹ nó không nhiều lời tát nó một cái, mắng nó hư đốn, không nghe lời bố mẹ, sống lôi thôi lếch thếch, ra đời chắc chắn là thằng thất bại.
Có lẽ vì khi xuyên không nó chỉ là một cậu nhóc mười sáu mười bảy tuổi, là cái tuổi dậy thì nổi loạn, nên nó chẳng nghĩ nhiều mà muốn để tóc dài.
Con trai thời phong kiến cũng có người để tóc dài, cơ mà tương đối ít, dù gì Việt Nam mình cũng không đặt nặng quan niệm "da thịt lông tóc đều do cha mẹ ban cho" như Trung Quốc.
Tuy Tùng có mái tóc hơi đặc biệt xíu nhưng lại không quá nổi bật ở xã hội phong kiến.
Còn liệu nó có vô dụng như lời của mẹ hay không, Tùng rất tự tin rằng không.
Bị mắng nhiều nên nó chai rồi, tự mở khóa được kỹ năng nghe tai này lọt tai kia, cosplay con vịt trong câu "nước đổ đầu vịt" một cách thuần thục đến không thể thuần thục hơn.
Nhưng đau lòng thì vẫn có đó.
Làm gì có đứa con nào không đau lòng vì bị mẹ mình buông những lời lẽ cay nghiệt như vậy.
Tùng chán nản, rồi đầu nó chợt nảy ra một ý tưởng táo bạo đến không ngờ.
Chẳng bằng nó biến sự chán nản, sự không cam lòng này thành ý tưởng viết vào bài.
Có khi nào văn tế không chỉ là một bài văn an ủi những người đã khuất, chia buồn với những người còn ở lại, mà còn có chút buồn thương trước thảm cảnh, sự chán nản và vô lực trước thiên tai khắc nghiệt, sự không cam lòng vì con người quá đỗi nhỏ bé yếu đuối, rồi tô điểm thêm chút hy vọng vào tương lai tốt đẹp hơn thì sao.
Chỉ vừa nghĩ như thế, Tùng buộc tóc lên cao hơn, nhanh tay cầm bút chấm mực viết ra nháp.
Càng viết, ý tưởng càng tuôn ra như suối, không thể ngừng tay lại được.
Khi tờ giấy nháp kín đầy chữ viết, thời gian đã qua giờ Thân [3].
[3] Giờ Thân: 3h chiều đến 5h chiều
Mới hơn năm giờ chiều.
Tùng thở phào, còn kịp để viết nắn nót vào bài thi.
Việc tiếp theo chỉ là chép lại bài làm từ nháp vào, viết thật đẹp và không mắc lỗi chính tả.
Nó tranh thủ vặn cổ tay cho đỡ mỏi, sau đó nhanh chóng lấy giấy mới ra viết.
Giây phút những tờ giấy khô mực, Tùng cho bài thi vào ống quyển cũng là lúc trống báo hiệu nộp quyển vang lên.
Xong trường nhì rồi, đà này nó có bốn mươi phần trăm cơ hội vào được trường ba.
Tùng đành chịu thôi, nó tuyệt vọng với bài sớ kia luôn rồi.
Có đỗ được trường nhì không thì hên xui lắm.
Tùng mang ống quyển đến nhà Thập đạo để nộp, thầm nghĩ mấy ngày tiếp theo nó nên đi đình, chùa, đền, miếu gì đó cúng bái nhiều hơn.
Tầm này rồi, phong kiến mê tín dị đoan gì đó để sau.
Nói kiểu gì thì nó qua được trường nhì chắc chắn là do nó tài giỏi, còn nếu nó trượt thì do mê tín quá nhiều, học không tới thôi!
Tùng vỗ ngực an ủi mình, quay lại xách theo đồ đạc rời đi.
- Cảm ơn cậu nhé!
May mà có cậu nhắc, không thì cả nghiệp khoa cử của tôi đi tong luôn quá.
Ra khỏi trường thi, Tùng tiếp tục gửi lều chõng của mình ở quán nọ.
Bất chợt có người chạy tới vỗ bốp vào lưng nó, dọa nó giật mình ngã chúi xuống đất.
Người kia áy náy quá, vội đỡ nó đứng dậy.
Tùng quay lại nhìn, phát hiện đó là thí sinh ở lều đối diện.
Nó lập tức nuốt cục tức xuống bụng để tự tiêu hóa, liên miệng nói rằng anh khách sáo quá rồi.
- Này có là gì.
- Thí sinh kia phẩy tay.
- Không có cậu, cả đời tôi cũng chẳng làm nổi Hương cống mất thôi.
Tôi thi lần này đã là lần thứ năm rồi đấy.
***
Tác giả tám nhảm: Lại đổi tên truyện :> xin trân trọng tuyên bố tên chính thức là "Nho Sinh" nha, đại ý là câu chuyện của một nhóc học sinh xuyên không làm nho sinh và có thể là câu chuyện của nhiều nho sinh khác nữa.
Vốn ý tưởng ban đầu là tuổi học sinh, câu chuyện học đường trong Quốc Tử Giám đồ mà giờ thằng nhỏ còn chưa thi Hương xong nữa haha.
Trường nhất tôi không kể nhiều vì cũng không có nhiều cái để kể lắm, trường nhì tôi cũng chẳng tính viết nhiều đâu mà không ngờ lại dài gấp đôi bình thường thế này.
Tôi thật sự chưa bao giờ nghĩ rằng sau khi đọc Tứ Thư, bản thân sẽ ngồi đọc một tờ sớ và cách viết sớ để mần ra cái chương này 🤡
Nội dung chương này tôi viết dựa trên trí tưởng tượng chứ tài liệu chỉ ghi rằng trường nhì "thi chiếu chế biểu, dùng tứ lục cổ thể" thôi.
Nên là NỘI DUNG KHÔNG CÓ TÍNH THAM KHẢO XIN CẢM ƠN!!!
Spoil nhẹ mà chắc ai cũng đoán được: chương sau viết về trường ba, trường thi thơ phú nè.
Nhắc trước là tôi không viết nổi một bài thơ Đường luật đâu 🙁(