Cập nhật mới

Khác [Xuyên/CHLS] Nho Sinh

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
401064495-256-k365612.jpg

[Xuyên/Chls] Nho Sinh
Tác giả: motdongbonhao
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Một người là nắng chiều sắp tàn.

Một người là trăng đêm xa xăm.

Một người bị vây giữa núi đồi.

Một người bị giam bởi thời đại.

Nhưng liệu có bởi vậy mà họ chấp nhận số phận chăng?

***

Tùng xuyên không rồi, nó học theo anh họ nó mà xuyên từ khi mới đẻ.

Nó thừa nhận mình là một học sinh giỏi nhưng để làm nhân vật chính truyện xuyên không thì vẫn chưa đủ, quan trọng là nó còn chẳng chắc mình xuyên về lịch sử hay rơi thẳng vào một triều đại không có thật nữa.

Đời trước ngâm mình trong đèn sách bao năm, thành ra đời này Tùng chỉ có một nguyện vọng duy nhất là làm một vị tướng lẫy lừng sử sách, tay hướng phía nam đấm Chiêm Thành, chân sang phía tây đá Lan Xang.

Tiếc thay số trời run rủi, nó từ một học sinh đang quắn đít ngồi ôn thi đại học, nay lại tiếp tục ngồi học tập trong Quốc Tử Giám, đếm ngược chờ đến ngày thi Đình ba năm một lần.

Nhìn từng dòng từng dòng chữ Hán lại chữ Nôm bay múa trước mặt, Tùng ra quyết định táo bạo nhất hai cuộc đời của nó: Cúp học!

Làm trái quy định học tập tại Quốc Tử Giám!

Bằng mọi giá phải bị bắt đi xung quân!

Cơ mà ngày bị xung quân đâu thì không thấy, chỉ thấy ngày thi Đình càng ngày càng gần mà nó chưa đọc hết sách nữa!



xuyênkhông​
 
[Xuyên/Chls] Nho Sinh
Giới thiệu & Lưu ý


Tựa: Xuyên Không Về Triều Lê Làm Nho Sinh

Tên khác: Nho Sinh

Tác giả: Từ Đông

Giới thiệu:

Một người là nắng chiều sắp tàn.

Một người là trăng đêm xa xăm.

Một người bị vây giữa núi đồi.

Một người bị giam bởi thời đại.

Nhưng liệu có bởi vậy mà họ chấp nhận số phận chăng?

***

Tùng xuyên không rồi, nó học theo anh họ nó mà xuyên từ khi mới đẻ.

Nó thừa nhận mình là một học sinh giỏi nhưng để làm nhân vật chính truyện xuyên không thì vẫn chưa đủ, quan trọng là nó còn chẳng chắc mình xuyên về lịch sử hay rơi thẳng vào một triều đại không có thật nữa.

Đời trước ngâm mình trong đèn sách bao năm, thành ra đời này Tùng chỉ có một nguyện vọng duy nhất là làm một vị tướng lẫy lừng sử sách, tay hướng phía nam đấm Chiêm Thành, chân sang phía tây đá Lan Xang.

Tiếc thay số trời run rủi, nó từ một học sinh đang quắn đít ngồi ôn thi đại học, nay lại tiếp tục ngồi học tập trong Quốc Tử Giám, đếm ngược chờ đến ngày thi Đình ba năm một lần.

Nhìn từng dòng từng dòng chữ Hán lại chữ Nôm bay múa trước mặt, Tùng ra quyết định táo bạo nhất hai cuộc đời của nó: Cúp học!

Làm trái quy định học tập tại Quốc Tử Giám!

Bằng mọi giá phải bị bắt đi xung quân!

Cơ mà ngày bị xung quân đâu thì không thấy, chỉ thấy ngày thi Đình càng ngày càng gần mà nó chưa đọc hết sách nữa!

***

Lưu ý:

- Truyện tự sáng tác, không phải truyện dịch!

Hàng Việt Nam, không phải hàng nhập khẩu Trung Quốc!

Đừng bị cái bìa đánh lừa!!!

- Đây là truyện HƯ CẤU lấy cảm hứng từ lịch sử, bối cảnh về khoa cử và Quốc Tử Giám dưới thời Lê Thánh Tông.

- Các nhân vật trong truyện đa số KHÔNG có thật, ai có thật tác giả sẽ chú thích ở dưới.

- Tác giả chưa mảnh tình vắt vai, không giỏi ảo tưởng tình yêu màu hường nên truyện KHÔNG có tuyến tình cảm, chỉ có tình thân, tình bạn và tình đồng chí cách mạng.

- NONCP!!!

- Funfact: Nho Sinh là anh em với Thái Giám (tên gọi tắt của Xuyên Không Về Triều Lý Làm Thái Giám).

Đây là truyện thứ hai thuộc series Dịch Vụ Trải Nghiệm Xuyên Không với tôn chỉ "chỉ trải nghiệm, không can thiệp, xong thì về".

- Tác giả tham khảo tài liệu ở nhiều nơi, tuy nhiên vẫn không chắc đúng hết hoàn toàn.

Vậy nên: truyện không có giá trị tham khảo, xin cảm ơn!

- Truyện hề 🤡 (do tác giả tự đánh giá)

- Không có thời gian đăng cố định, tác giả check chính tả xong thì đăng.

- Sự ủng hộ của độc giả là động lực để tác giả hoàn thành truyện 🌹
 
[Xuyên/Chls] Nho Sinh
Q1 - Chương 1


Quyển 1: Mười năm đèn sách

Chương 1

Dạo gần đây Bảo đang rất phiền muộn.

Không phải vì bài vở trên lớp quá khó, càng chẳng phải vì cậu sắp thi đại học.

Tất cả là vì em họ của Bảo đột nhiên chuyển đến sống cùng gia đình cậu.

Vì sao em họ đến lại khiến Bảo thấy phiền ư?

Thực ra Bảo quý thằng em họ lắm, hai anh em khá thân thiết với nhau, nghĩa tình anh em gặp họa thì cứ đùn đẩy nhau vẫn còn đó.

Cơ mà người ta nói cấm có sai, xa thơm gần thối, lâu lâu gặp một lần thì vui, ngày nào cũng gặp lại thành phiền.

Em họ là con của dì ruột của Bảo, kém Bảo hai tuổi, là con nhà người ta chân chính nhất mà Bảo từng biết.

Chẳng như Bảo chỉ là học sinh bình thường trong một lớp bình thường tại một ngôi trường công lập bình thường, em họ của Bảo lại là học sinh trường Chu [*], học cực giỏi, Bảo thấy em họ gần như cái gì cũng biết.

[*] Trường Chu: cách gọi tắt của trường THPT Chu Văn An.

Em họ của Bảo giỏi tới mức thừa trình độ làm người giảng bài cho Bảo, chứ Bảo còn chẳng phân biệt được bài tập của em họ được viết bằng tiếng Việt hay tiếng Anh.

Mà em họ mới lớp 11 thôi đó!

Bảo sắp thi đại học rồi đấy!

Thỉnh thoảng gặp em họ cũng khiến Bảo thấy tự ti rồi, huống chi bố mẹ Bảo cũng thích so sánh con mình với con nhà họ hàng như bao phụ huynh châu Á khác.

Mặc dù em họ Bảo không vì thế mà vênh mặt, đè đầu cưỡi cổ Bảo, nhưng không đồng nghĩa em họ chưa từng xỉa xói trí thông minh của Bảo.

Tựa như bây giờ, Bảo đang bô lô ba la chia sẻ trải nghiệm xuyên không về triều Lý của mình, vẻ mặt rặt tự hào ghê gớm.

Có trời mới biết cậu chém gió bao nhiêu, nói thật được bao nhiêu.

Mà mặc kệ Bảo nói điêu hay nói thật, em họ của Bảo lại cóc tin dù chỉ một chữ.

Tùng nhìn thằng anh mình bằng ánh mắt thương hại:

- Ông anh mới luyện được kỹ năng mới hả?

Bảo vừa kể đến khô cả miệng, còn chưa kịp đi lấy nước đã nghe thấy em họ hỏi câu này.

Cậu đứng cạnh cửa, đơ người cầm cốc thủy tinh, ngơ ngác không hiểu Tùng có ý gì.

- Ngủ mớ không nhắm mắt.

- Thằng em họ khinh khỉnh nói với ra.

- Anh giai chất đấy.

Báo cáu điên.

Bảo bực mình.

Bảo giận tím mặt.

Bảo muốn ném cái cốc trong tay đi, xông lên gõ đầu Tùng để nhồi cho nó ký ức về cuộc sống thời phong kiến của cậu lắm mà khổ nỗi mẹ Bảo lại từ bếp bước ra, lườm Bảo cháy cả mắt.

Bảo thật muốn quỳ xuống lạy mẹ.

Cậu còn chưa kịp làm gì em họ, cậu muốn đánh nó thế thôi chứ cậu nào dám đâu.

Bảo lấm lét cười một cái rồi chạy vọt vào trong phòng, chốt cửa lại.

Em họ kệ thây Bảo thích làm gì thì làm, nghiêm túc ngồi làm bài tập.

Bảo thấy thế, thở dài thườn thượt:

- Mày không thấy mệt à?

Sáng học, trưa học, chiều học, tối vẫn học.

Thời gian biểu cả ngày của em họ chỉ gói gọn trong chữ "học".

Hồi bé, Bảo thường xuyên bị mẹ mắng chỉ vì không chăm chỉ bằng Tùng.

Nhưng dần dà mẹ Bảo lại không nhắc Bảo đi học bài nữa, nghe đâu bởi Tùng học nhiều quá, không có thời gian nghỉ ngơi hợp lý, không được tham gia các hoạt động giải trí nên lăn đùng ra ốm một trận rất nặng, suýt chết.

Không chỉ một lần Bảo thấy mẹ và ông bà ngoại mắng dì thối mặt vì chuyện ép con quá đà.

Thật lòng, cả gia đình nhà ngoại tự nhận nhà mình cũng không tới nỗi nào, tại sao lại sinh ra một đứa con gái như dì của Bảo vậy nhỉ?

Ông bà ngoại không biết, mẹ Bảo không biết, Bảo càng không thể nào biết.

Tùng lắc đầu, tay vẫn cặm cụi chép công thức, thản nhiên nói:

- Có gì đâu, đi ngủ là hết mệt.

Nói đoạn, nó nghiêng đầu, ghẹo:

- Không ấy anh giai dạy em cách ngủ không nhắm mắt đi?

Bảo cáu, chửi một tiếng "thằng chó" rồi ngoảnh mặt đi tìm bài vở.

Thấy Tùng học ngoan quá, Bảo cũng ngại ngồi không đọc tiểu thuyết, chơi điện tử.

Vốn cậu còn muốn thằng em họ được giải lao tí nên mới kể cái chuyện vớ vẩn như xuyên không về nhà Lý cho nó nghe, chẳng ngờ nó không thèm nghe nữa.

Cậu dám chắc, nếu cậu tiếp tục kể thì thằng Tùng không chỉ mỉa cậu thôi đâu, kiểu gì nó cũng phải nói thẳng một tiếng "ngu" mới được.

Bảo ngẩn người đọc đề bài mười lần.

Đọc đến lần thứ mười một, cậu vẫn không hiểu đề bài hỏi cái gì.

Sao đã có x, có a rồi lại thêm m nữa làm gì?

Mắt thấy thằng Tùng bên cạnh đã chuyển sang làm bài tiếng Anh rồi, Bảo sầu đời ghê gớm.

- Có thế cũng không biết làm.

- Tùng nói.

Rồi nó giật quyển vở của Bảo sang phía mình, tận tình chỉ bài cho Bảo hẳn nửa tiếng Bảo mới hiểu một nửa bài tập của mình.

Chắc thằng Tùng bất lực lắm rồi, vậy mà nó chỉ hít một hơi thật sâu để bình tĩnh lại, sau đó lại giảng cho Bảo thêm vài lần nữa.

Bảo như nhìn thấy ánh sáng của mười phương chư Phật trên đầu em họ mình.

Chỉ có ông Bụt mới kiên nhẫn với đứa ngu đến vậy.

Bảo cảm động đến mức rơi một giọt nước mắt ở trong lòng.

Qua thêm nửa tiếng nữa, Tùng ném cây bút bi của mình đi, đứng lên, hậm hực đá ghế một cái.

Trần đời có thể nó gặp rất nhiều người học dốt, mà học dốt cỡ anh họ nó chỉ có một không hai.

- Đây là kiến thức cơ bản mà?

- Tùng gầm lên.

- Anh xuyên không ba mấy năm thật à?

Kiến thức rơi rớt tới độ gốc rễ cũng không còn nữa luôn rồi!

Bảo lí nhí giải thích:

- Anh vừa kể với mày rồi còn gì...

Tùng thật lòng rơi một giọt nước mắt đầy chua xót:

- Anh im đi!

Thời gian chậm rãi trôi.

Mười một giờ rồi, cuối cùng Bảo cũng "chinh chiến" xong hết phần bài tập của mình.

Cậu mệt lử người tựa vào ghế ngồi nghỉ một lúc, rồi đi về giường trải chăn ga, lục tủ tìm thêm một cái gối nữa.

Hôm nay hai anh em ngủ chung một phòng.

Tuy rằng nhà Bảo có điều kiện thật, nhà cao cửa rộng nhưng Tùng đột ngột ghé tới mà không báo trước, thành ra cả nhà không kịp chuẩn bị phòng cho nó, nên hai anh em đành ngủ chung với nhau một đêm.

Nhân lúc Tùng còn chong đèn viết văn, Bảo lén sang phòng bố mẹ hỏi chuyện.

Mẹ Bảo đang skincare, có vẻ như bà cũng chuẩn bị đi ngủ rồi, còn bố cậu đã ngáy o o từ bao giờ.

Thấy Bảo thập thò ngoài cửa, bà vẫy tay gọi cậu vào.

Bảo nhỏ giọng hỏi:

- Dì Trang nhờ nhà mình chăm thằng Tùng hở mẹ?

Dì Trang là mẹ của Tùng.

Mới mấy hôm trước, Bảo còn nghe lỏm được mẹ nói chuyện điện thoại với dì.

Nội dung cụ thể thì cậu không rõ lắm, chỉ láng máng nghe được mấy từ khóa như "chuyển công tác", "ly hôn" với "nước ngoài".

Dù vậy, Bảo vẫn đủ khả năng ghép tất cả lại thành câu chuyện gia đình người dì của mình.

Dì Trang là con gái út của ông bà ngoại, từ nhỏ đã xinh xắn giỏi giang, hiện đang làm việc cho một công ty nước ngoài.

Cơ mà số dì hẩm hiu, dì lại đi trúng vào vết xe đổ của những cô gái ngoan hiền khác: yêu phải người đàn ông chẳng ra gì.

Chồng dì tên Nghĩa.

Chỉ vừa nghe tên cặp đôi thôi, Bảo biết ngay đời họ sẽ chẳng ra đâu vào đâu.

Đúng vậy thật.

Chú Nghĩa là một mama boy chính hiệu, cái gì cũng nghe theo mẹ chứ không bao giờ quan tâm dì Trang nghĩ gì.

Ngay đến việc đẻ con mà đôi mẹ con kia cũng đòi kiểm soát cho được.

Họ làm dì Trang sẩy mất hai con gái đầu, đến khi bác sĩ soi ra thằng Tùng là con trai mới thôi.

Ông bà ngoại và mẹ Bảo thương con, thương em, không ít lần khuyên dì Trang chia tay mà khốn nỗi dì vì yếu cứ đâm đầu.

Giờ thì hay rồi, ngoài thằng Tùng ra, Bảo không còn người em họ bên ngoại nào khác nữa.

Cũng bởi thằng Tùng là độc đinh, ông bà bên thông gia trông chờ đứa cháu này làm nên cơm cháo lắm.

Để lấy lòng nhà chồng, dì Trang ngày ngày tiêm vào đầu thằng Tùng nào là chuyện học quan trọng thế nào, thành tích quan trọng ra sao, điểm 10 đóng vai trò gì trong cuộc đời nó.

Ngày này qua ngày khác, gần như lúc nào Bảo cũng thấy Tùng đang sinh hoạt trên bàn học, những lúc đi chơi chủ yếu đều do cậu lén rủ đi thôi.

Mới đầu còn ổn, ai cũng khen thằng Tùng ngoan, hiểu chuyện còn hiếu học, học giỏi.

Sau này cái bất ổn mỗi lúc một lòi ra.

Sức khỏe thằng Tùng không tốt, người nó ốm nhom, gầy như nạn nhân của nạn đói năm 1945, dáng người còi dí còi dị.

Mặt nó luôn luôn tái nhợt như ma, bọng mắt thâm xì do thường xuyên thức khuya, đeo cặp kính Nobita dày cộp to quá nửa gương mặt, bộ quần áo nào cũng lem vết mực xanh.

Tuy không đến nỗi xấu, cơ mà cũng chẳng dễ nhìn là bao.

Bạn bè đều coi nó như thằng mọt sách lập dị, không ai muốn chơi với nó cả.

Bảo không biết Tùng có quan tâm không, chứ cậu thì có.

Cậu cứ lo em mình sắp bệnh tâm thần tới nơi rồi, may sao thằng Tùng còn bình thường chán.

Bình thường chỉ biết ngồi làm bài tập về nhà.

***

Tác giả tám nhảm: Tôi treo đầu dê bán thịt chó cmnr 🤡 giới thiệu thấy thằng Tùng một kiểu, chương 1 đẻ ra một thằng Tùng kiểu khác.

Truyện này tôi viết tùy tâm tùy tính nên độ dài một chương không thống nhất như những truyện khác mà có style những ngày đầu viết bậy viết bạ nhen.

Update 18/11/2025: vừa phát hiện bug, Tùng kém Bảo 2 tuổi mới đúng.

Bảo đúp 🤡 (thực ra là học lại để thi lại).

Đoán xem lý do tại sao nè.

Bối cảnh hiện đại là tầm năm 2019 - 2020 nên tôi dùng địa danh cũ, chương trình giáo dục cũ nhé.
 
[Xuyên/Chls] Nho Sinh
Q1 - Chương 2


Quyển 1: Mười năm đèn sách

Chương 2

Bảo ló người ra nhìn.

Phía phòng cậu, đèn bàn vẫn sáng, rọi lên một bóng lưng rõ là đã mệt nhoài nhưng vẫn cặm cụi viết bài.

Bảo đọc đề bài văn của Tùng rồi, phải phân tích hẳn một nửa tác phẩm.

Mà đây nào phải bài tập trên lớp của Tùng đâu, là bài tập ở lớp học thêm ấy chứ.

Bảo không biết Tùng tham gia bao nhiêu lớp học thêm nữa, chỉ biết lần nào đi ăn cỗ bên ngoại, mười lần thì chỉ có duy nhất một lần Tùng có mặt.

Nghĩ tới đó, Bảo vừa thấy thương Tùng, vừa trách dì Trang bắt ép con học quá nhiều.

Không riêng gì Bảo, mẹ Bảo cũng rất bực bội.

- Dì mày thì được cái gì!

Mẹ Bảo đột dưng nổi cáu làm Bảo hơi rén.

Chưa bao giờ Bảo thấy mẹ bực mình đến vậy, dù cậu có từng được điểm 5 hồi lớp 1 thì mẹ cũng không quá tức giận.

Ấy thế mà cậu chỉ vừa nhắc tới tên dì Trang thôi, mẹ cậu đã quẳng luôn lọ kem dưỡng trên tay lên mặt bàn trang điểm.

Một tiếng cộp vang lên, bố Bảo còn đang ngủ ngáy chợt giật nảy mình tỉnh dậy.

Ông mơ màng chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra, đôi mắt nhập nhèm loáng thoáng thấy được vẻ mặt giận dữ của vợ mình, thấy cả nét hoảng hốt của cậu quý tử.

Chẳng mấy chốc, bố Bảo sực hiểu mọi chuyện.

Ông bật người ngồi dậy, cười hềnh hệch đi tới ôm vai vợ, nhỏ giọng nói mấy câu sến súa dỗ dành.

Mẹ Bảo thở phì phò mấy hơi, lát sau mới bình tĩnh lại.

Bà cẩn thận cất lọ kem dưỡng ẩm trên giá, thở dài đầy phiền muộn:

- Bố thằng Tùng nhờ, chứ dì mày quan tâm gì con đâu.

Mẹ Bảo chậm rãi kể.

Dì Trang và chú Nghĩa vừa ly hôn xong, quyền nuôi con thuộc về chú Nghĩa.

Tuy rằng cả chú và dì đều có điều kiện nuôi con, nhưng thằng Tùng cũng đã đủ lớn để lựa chọn muốn theo ai.

Nó chọn theo bố.

Bảo khá bất ngờ, cậu những tưởng dì Trang sẽ nuôi thằng Tùng sau khi ly hôn, hoặc ít nhất cũng là dì đề nghị ly hôn.

Ban đầu cậu còn khá mừng khi dì tỉnh ngộ rồi.

Song cậu không thể ngờ rằng người đề nghị ly hôn là chú Nghĩa, người cật lực giành quyền nuôi con cũng là chú Nghĩa - người đàn ông mà Bảo cho rằng không ra gì.

Mẹ Bảo cũng tỏ vẻ rất khó hiểu:

- Thằng Tùng theo bố xong lại dọn đồ đạc chạy đến nhà mình ngay.

Bố nó mãi mới biết, gọi điện hỏi nó xong thì nhờ nhà mình chăm thằng Tùng đến khi nó thi đại học.

Nói cách khác, đến cả mẹ Bảo cũng không rõ gia đình dì Trang xảy ra chuyện gì.

Dì Trang ly hôn xong thì ra sân bay, chẳng biết bay được chưa nhưng điện thoại tắt đến giờ, chẳng đoái hoài hỏi thăm ai.

Chú Nghĩa bận bịu sắp xếp lại công việc, ngoảnh đi ngoảnh lại thấy cậu quý tử mất tăm mất tích luôn rồi.

Còn thằng Tùng chẳng nói chẳng rằng, vật vã xách cái vali, ôm thêm một thùng sách vở, vượt chốt chạy đến nhà bác xin ở.

Càng nghĩ càng thấy cái gia đình này bị làm sao ấy.

Bảo gãi đầu, dù rằng cậu xuyên không đến nhà Lý tận ba mươi sáu năm, cơ mà gần như cả đời trong cung cấm, nhiều chuyện cậu hiểu, cũng có những chuyện cậu có dùng cả đời cũng khó để hiểu được.

Ví như lòng người.

Cũng may Bảo đủ tuổi công dân, drama gia đình gì đó cả năm nay cậu nghe rất nhiều.

So với biến động cung đình năm đó thì không kém bao nhiêu.

Nghìn năm rồi, con người vẫn khó hiểu như thế.

- Biết thế thôi nhé.

- Mẹ Bảo dặn.

- Con làm anh, nhiều chuyện phải nhường em đấy biết chưa.

Bảo vâng vâng dạ dạ.

Cậu lại chẳng nhường thằng Tùng quá.

Nó ngứa mồm đến đâu cậu cũng chỉ dám mõm lại chứ đâu đánh đấm gì.

Nửa cái bàn học cũng nhường cho nó dùng.

Cái giường to đến thế cậu còn cho nó nằm, bản thân cậu tính nằm đất kia kìa.

Xời, cậu có khác!

***

Bảo đi hóng chuyện nhà người ta xong, về vẫn thấy Tùng ngồi viết văn.

Không biết đầu thằng Tùng lấy đâu chỗ chứa cho nhiều chữ đến thế, nó viết một lèo hết hai tờ giấy A4 rồi, giờ đang viết mặt sau của tờ thứ ba.

Bảo xem nó viết mà hoa cả mắt, thấy từ đầu tới đuôi đều là chữ, chưa thấy kết bài đâu.

Chuyên Văn của Chu Văn An có khác, Bảo tự thấy mấy ông quan thời nhà Lý còn chẳng múa bút lụa được như thằng Tùng.

Mà cứ như thế này thì bao giờ nó mới đi ngủ đây?

Không ngủ sớm là trọc đầu đấy!

- Không ấy đi ngủ đi.

Mười một giờ rồi, sáng mai dậy sớm làm tiếp.

- Bảo thành tâm đề nghị.

Tùng dành chút thời gian ngước lên nhìn Bảo, soi xét cậu từ đầu đến chân.

- Anh bị ma nhập à?

Nó hỏi một câu không đầu không đuôi.

Bao giờ cũng thế, nó toàn nói mấy cái gì đâu không, làm người nghe mất cả sáu trăm giây để hiểu nó có ý gì.

Bây giờ Bảo thấy chán, chẳng buồn động não nghĩ, mang vẻ mặt ngáo ngơ hỏi thẳng:

- Là sao?

- Con cú đêm ngày xưa đâu rồi?

Con ma phong kiến nào đây?

Nửa đêm canh ba phải đi ngủ rồi hả?

Lại chả à?

Ngủ giờ của người phong kiến đấy thì sao?

Healthy mà ok không?

Mả cha nhà nó!

Thằng Tùng vẫn chưa tha cho cậu vụ kể chuyện xuyên không.

Bảo không hiểu, chuyện đó có xàm mấy đâu mà mấy tiếng đồng hồ rồi, thằng Tùng vẫn chăm chỉ lấy ra xào nấu lại để khịa cậu.

Bảo chợt cảm thấy may mắn.

Cậu chỉ kể cậu xuyên không về nhà Lý chứ chưa kể mình bị bán làm thái giám, nếu không, khỏi cần nghĩ cũng biết thằng Tùng sẽ soạn hẳn một bài tế văn cho đời trai của cậu.

Bảo tự an ủi bản thân xong, nhìn lại, thấy Tùng gấp sách vở vào rồi.

Chắc nó khịa vậy thôi, nó cũng biết mệt mà.

Bảo thầm nhủ, khoảng thời gian tới cậu phải đích thân chấn chỉnh lại tác phong của thằng em họ mới được.

***

Sáng hôm sau, Bảo ngồi bật dậy, mở điện thoại, thành thạo vào lớp học trong Zoom rồi quẳng bên gối, xong xuôi lại nằm xuống, đặt tay trước bụng, thanh thản ngủ tiếp.

Đầu năm nay dịch Covid-19 bùng phát trên toàn thế giới, cả nước đóng cửa cách ly, trường học cho học sinh học online để theo kịp tiến độ.

Lớp Bảo khá thoáng, không bắt buộc phải mở cam nên cậu ngủ trong giờ đến quen luôn rồi.

Tùng thì khác.

Nó dậy từ rất sớm, bốn giờ sáng đã lật đật đi vệ sinh cá nhân, cắm đầu ngồi viết nốt bài văn, chụp bài gửi cho cô giáo dạy thêm.

Sau đó lại lấy sách vở ra đọc trước bài, chép công thức toán vào sổ tay nhỏ, nhẩm đọc từ vựng tiếng Anh, đến giờ thì vào học online.

Hình như hôm nay Tùng bị ốm.

Bảo tỉnh giấc vào một lúc nào đó, thấy cô giáo bên mình vẫn đang kiên nhẫn giảng bài, thằng Tùng bên kia thì đang phát biểu.

Giọng nó khàn đặc, nói được vài chữ lại ho khụ một tiếng, khác hoàn toàn với ngày hôm qua.

Bảo nheo mắt, bật đèn phòng lên, thấy rõ sắc đỏ bất thường trên mặt thằng em.

Bảo rón rén đến đằng sau lưng Tùng, nhân lúc cô giáo Tùng chuyển slide, cậu nhanh tay sờ lên trán nó một cái.

Rồi luôn!

Thôi xong luôn!

Nóng rẫy!

Bảo chưa kịp xỏ dép, chạy ra ngoài, gào lên thất thanh:

- Tùng nó sốt rồi mẹ ơi!

Mẹ Bảo sốt sắng chạy lên ngay lập tức.

Dưới ánh mắt ngơ ngác của Tùng, mẹ Bảo tháo găng tay cao su ướt sũng của mình ra, sờ trán Tùng một lát.

Sốt thật rồi.

Bà bắt đầu lo lắng, thời buổi này sốt thôi cũng là cả một vấn đề.

Ai mà không biết, người bị Covid chưa chắc đã sốt, nhưng người sốt lại dễ bị Covid.

Bà kéo Bảo ra khỏi phòng, lòng nhủ chắc Tùng bị lây của ai đó từ bên ngoài rồi.

Dễ là từ mẹ nó lắm đấy chứ.

- Để mẹ nhờ người ta lấy kit test.

Chết thật chứ lị.

- Bà nói.

Không lâu sau, nhân viên y tế mặc kín mít từ đầu đến chân, tay ôm theo một hộp đồ nghề gõ cửa nhà.

Người đó bảo Tùng ngửa đầu, thành thạo dùng que dài chọc vào mũi nó.

Nhìn que tăm dài ngoáy ngoáy trong mũi nó mấy phút liền, Bảo thấy thốn hộ thằng em.

Cậu chưa từng làm xét nghiệm Covid nhưng từng xem báo.

Nghe đồn ai chọc mũi người ta nặng tay quá còn làm người ta chảy máu nữa cơ.

Nhân viên y tế lấy dịch mũi ra, để vào kit test.

Người đó dặn chờ mấy phút là sẽ có kết quả, nếu là hai vạch thì xin chúc mừng, trong người có một mụn Covid-19, phải cách ly ngay lập tức.

Nói xong, người đó lại xách đồ chạy biến, có vẻ như đang khá bận rộn.

Bảo quay lại, thằng Tùng đang ôm mũi, nước mắt lưng tròng.

Bị chọc đau quá đây mà.

Bảo còn nghe thấy nó lèm bèm chửi thề nữa kìa.

Kit test cho ra kết quả rất nhanh.

Thật đáng buồn là hai vạch.

Thằng Tùng bần thần nhìn cái kit, sầu đời ba phút, cuối cùng vẫn lê tấm thân vào phòng Bảo, chốt cửa lại.

Từ đó Bảo chính thức mất phòng.

Cũng đành chịu, bệnh nhân ở trong đó đủ lâu để virus đủ khoẻ biến Bảo từ F1 thành F0 luôn rồi.

Bảo vỗ ngực, rút từ trong tủ dưới bàn trà ra một cái hộp điện thoại mới toanh, nguyên tem chưa bóc seal.

Thôi được rồi, cái gì cậu cũng có thể không kịp mang ra, nhưng điện thoại nhất định phải có một cái.

***

Tác giả tám nhảm: Có hơi lan man, cơ mà đành chịu.

Hết chương này là hết mở đầu ở thời hiện đại, chương sau sẽ bắt đầu xuyên.

Tuy nhiên thì tôi còn phải lục lại tài liệu nên chắc lúc viết khá mất thời gian, không rõ lịch đăng đâu nên đừng chờ tôi 😶‍🌫️

Tôi mới làm quả bìa thay cái meme, trông ổn không?
 
[Xuyên/Chls] Nho Sinh
Q1 - Chương 3


Quyển 1: Mười năm đèn sách

Chương 3

Tùng nhớ rõ nó vừa biết mình bị Covid xong, quyết định buông thả bản thân một ngày, chiếm giường anh họ ngủ một giấc thật đẫy.

Phải lâu cỡ mười năm có lẻ rồi nó mới được thoải mái nghỉ ngơi như thế.

Kết quả, nó nhắm mắt lại, giây sau mở mắt ra đã thấy mình bị biến thành em bé rồi.

Đúng thế, nó biến thành em bé rồi!

Một em bé mới sinh chưa được bao lâu, bị mẹ đẻ đặt đại dưới một gốc cây nào đó.

Người mẹ đó nhân lúc đêm khuya vắng lặng, mây trời che trăng, ôm theo một đứa bé còn đỏ hỏn chạy trong bóng tối.

Bà ta tìm đại một chốn đủ che mưa chắn gió - một cái cây xum xuê, bỏ mặc đứa trẻ nhỏ xíu ở đó rồi rời đi chẳng thèm ngoái lại nhìn.

Không ai thấy bà ta, chẳng ai hay trên đời lại có thêm một đứa trẻ bị bỏ rơi.

Nếu đứa trẻ đó không phải Tùng, liệu nó có còn mở mắt thấy ngày mai được chăng?

Tùng lại đang phân tích tình huống.

Não nó rất bình tĩnh, nói với nó rằng rất có thể đây chỉ là một giấc mơ vô nghĩa nào đó.

Chẳng phải người ta nói ban ngày nghĩ gì, ban đêm mơ nấy sao?

Chẳng phải hôm qua bố mẹ nó ly hôn, mẹ nó ngoảnh mặt bỏ đi mà không thèm nhìn nó lấy một cái đó sao?

Chẳng phải ông anh họ ngốc nghếch của nó khoe rằng bản thân từng xuyên không đấy à?

Kết hợp hai chuyện trên lại, nó mơ mình xuyên vào cơ thể một đứa bé bị mẹ bỏ rơi cũng không lạ.

Nó không tin mình không thoát khỏi giấc mơ này được.

Nó bình tĩnh chờ đợi, bình thản ngủ thiếp đi mất, lại thong dong tỉnh giấc thêm một lần nữa.

Tèn ten!

Nó trúng giải độc đắc rồi!

Nó vẫn thấy tán cây y hệt hồi đêm.

Tùng ngơ ra một giây, không khỏi nhớ lại câu chuyện của ông anh họ ngốc nhất quả đất.

Bảo nói cậu trúng ba viên gạch vào đầu, tưởng thế là hết, tỉnh lại thấy mình đã thành một đứa bé con của một người đàn bà ăn mày.

Bà sinh cậu xong thì mất, cậu lập tức thành đứa trẻ ăn mày mồ côi.

Tùng ngẫm lại bản thân mình, nó bị bệnh, nó chỉ đi ngủ thôi mà.

Sao có thể đột nhiên xuyên không được nhỉ?

Nó không chắc chắn lắm, bèn quyết định lặng lẽ quan sát thêm, tìm cách kiểm chứng xem đây là mơ hay là thực.

Nó không bị ngáo như ai kia, không có minh chứng xác đáng, nó sẽ không đưa ra kết luận chính thức.

Tùng cảm thấy phương pháp tự hại chắc là ổn, cơ mà cơ thể này của nó vừa mới đẻ, khả năng khống chế các chi chưa tốt lắm.

Nó chờ rồi lại chờ, chờ đến lim da lim dim thì chờ được một người thiếu nữ.

Thiếu nữ còn ở tuổi trăng, mái tóc đen dài búi gọn lên cao, để lộ gương mặt bầu bĩnh đáng yêu.

Nàng đang ôm một cái mẹt, Tùng dĩ nhiên chẳng thấy rõ trên mẹt có gì.

Nó bé tin hin, góc nhìn thấp tè, nhưng cũng đủ để nó quan sát được trang phục của thiếu nữ.

Tùng hoảng hốt.

Nó hoảng thật.

Nó học chuyên Văn, đương nhiên phải học nhiều kiến thức khoa học xã hội tương quan khác, chẳng hạn như lịch sử.

Có thể nó không phân biệt được đây là triều đại có thật hay chỉ là triều đại giả tưởng dựa trên bối cảnh lịch sử nào đó, song nó chắc chắn biết đâu là trang phục cổ đại, đâu là trang phục cận hiện đại và hiện đại.

Nó thấy rất rõ, thiếu nữ mặc một cái áo yếm màu đất, bên ngoài khoác thêm một cái áo dài tay cổ đứng, váy đen dài quá gối, thắt lưng đeo một miếng vải dài màu xanh đen, buộc thả múi ở phía trước bụng.

Một trang phục đậm chất phong kiến Việt Nam.

Tùng bất giác "oe" một tiếng.

Nó khóc cho mình, chủ yếu bởi nó chắc tới sáu mươi phần trăm rằng mình xuyên không rồi.

Việt Nam những năm này toàn phim luân lý gia đình chứ không có phim cổ trang, dù có phim cổ trang thì trang phục chưa thể chân thật đến như thế được.

Nó thà rằng thấy cảnh mình là Cậu Vàng bị Lão Hạc bán, còn hơn thấy cảnh mình trở thành một em bé sống trong một thời đại nó còn không biết có thật không.

Tiếng "oe" đầy đau lòng của nó thu hút người thiếu nữ kia.

Nàng quay đầu nhìn về phía nơi âm thanh phát ra, phát hiện một cái bọc nhỏ xíu đang run rẩy.

Nàng vội bỏ cái mẹt trên tay xuống, bước tới nhìn thử.

- Ôi chao!

Ai lại bỏ em ở đây?

May mà nàng nói tiếng Việt, Tùng thầm thở phào.

Cũng tại ông anh họ ngu hết thuốc chữa, suýt nữa hại nó tưởng mình phải học ngôn ngữ lại từ đầu.

Thiếu nữ không ngại miếng vải bọc bên ngoài bám đầy bùn đất, ôm Tùng lên, vừa dỗ nó vừa quay đầu tìm xem có người nào ở gần đây không.

Động tác của nàng rất dịu dàng, từng cái vỗ trên lưng dần khiến Tùng bình tĩnh lại.

Nó ngơ ngác nhìn thiếu nữ, mơ màng đắm chìm.

Nó thích sự dịu dàng này.

Nó thích sự bình yên dù chỉ ở nơi vòng tay ấy.

Nó tự hỏi, đây phải chăng là cảm giác trong lòng mẹ?

Nó không nhớ rõ lần cuối mẹ nó ôm nó nữa, dù có khi bà chưa bao giờ ôm nó cả.

Tự dưng nó nhớ bố.

Nó chợt nghĩ nếu hôm đó, nó không bỏ nhà đến nhà bác thì liệu nó có được ở cùng bố lâu hơn chút không.

Cơ mà chuyện đã rồi, không biết bao giờ nó mới được trở về làm Tùng.

- Cái Uyên à?

Đứng đấy làm cái gì đấy?

Một giọng nói ồm ồm vang lên sau lưng thiếu nữ, dọa Tùng giật nảy mình.

Cơ thể trẻ con theo phản xạ khóc ré lên.

Thiếu nữ vội vàng đung đưa tay dỗ dành nó, tranh thủ xoay người lại trả lời người đàn ông vạm vỡ kia:

- Có người bỏ con ở đây ạ.

Qua đôi mắt nhòe nước, Tùng lờ mờ thấy vóc dáng cao to, cơ thể sạm nâu, cơ bắp cuồn cuộn của người đàn ông nọ.

Nó lập tức nín khóc, nấc cụt.

Người đàn ông đó để quả đầu trọc bóng loáng, giữa tiết trời se se này mà chỉ quấn độc một cái khố màu nâu.

Dường như người kia hay cau mày, giữa mày có vết nhăn rất sâu, làm cả gương mặt trông nghiêm nghị đến có phần hơi đáng sợ.

Người kia thấy Tùng trong vòng tay của thiếu nữ tên Uyên, hé miệng khạc nhổ một bãi nước bọt, mắng một tràng dài:

- Ôi thế à?

Ai ăn ở thất đức thế nhỉ?

Đẻ cho cố xong bỏ, còn bỏ ở cái nơi vắng toe hoe thế này, khác gì muốn giết chính con mình đâu.

Nói đoạn, ông bảo Uyên:

- Thôi, mày ôm nó lên chùa đi.

Để nó ở ngoài, bắt nó xin ăn để sống thì tội nó quá.

Ít ra trong chùa các thầy cho ăn cho học.

Uyên gật đầu dạ vâng, thủ thỉ an ủi Tùng.

Nó tự giác nghe tai này lọt tai kia, nhưng cũng thầm cảm ơn hai người này.

Anh họ nó không được may mắn lắm, xuyên không xong bước đầu tiên là đi làm một ăn mày ngay giữa đất kinh đô.

Còn nó ít ra được mang lên chùa, có nơi để ở, có cơm để ăn.

Tùng bất giác xác nhận mình đã xuyên không, cũng bất giác chấp nhận sự thật đó.

Nghe thì có vẻ đau lòng, nó tự nhận mình chưa từng có một ngôi nhà thật sự, vậy nên với nó, ở nơi nào cũng như nhau.

Khác biệt duy nhất có lẽ là thời đại.

***

Uyên bế nó lên chùa.

Ngôi chùa gần làng nhất nằm trên một ngọn núi nhỏ.

Từ dưới chân núi, cái mũi nhỏ của Tùng đã ngửi thấy mùi hoa thơm, có khi nào hương hoa phủ khắp núi không nhỉ.

Cảnh núi không quá hùng vĩ như Tùng từng thấy trên phim ảnh, nhưng đủ để nhìn một lần là nhớ suốt nhiều năm.

Núi không cao, chắc chỉ hơn quả đồi, đủ để vắt nơi lưng chừng một dải mây mềm.

Vách núi chẳng cheo leo, cây mọc um tùm, chim reo ríu rít.

Mấy con chim sẻ nhảy lon ton trên từng bậc thang sạch sẽ không mảnh lá rụng, có con mèo mướp ưỡn người trên một tảng đá, có tiếng nước chảy réo rắt xa xa.

Khung cảnh thiên nhiên bình yên đến lạ.

Ngôi chùa cổ dần hiện ra trước mắt.

Mảng rêu xanh kéo dài nơi góc tường, mái ngói đã hơi ngả màu, cánh cổng bằng gỗ đã vỡ vài miếng, mang trên mình màu của thời gian.

Trước cổng chùa, một nhà sư đang quét lá, thấy có người đi tới , thầy dừng tay lại, hơi nghiêng người chào:

- Cô Uyên đấy ư?

Sao đột nhiên lên chùa thế này?

Người làng đều quen biết các sư và ngược lại.

Dẫu sao lễ lạt gì họ cũng lên chùa, nhà có việc cũng phải mời các thầy về cúng kiếng.

Uyên lễ phép cúi người.

- Dạ, con chào thầy.

Con tìm thấy bé này bị bỏ rơi, nên con muốn gửi lên chùa để nhờ các thầy chăm sóc ạ.

Sư thầy chắp tay:

- Chao ôi...

Rồi vươn tay đón lấy Tùng.

Tùng nằm ngoan, không thấy khó chịu lắm, hẳn bình thường các sư thầy cũng hay chăm em bé.

Sư thầy thấy nó tròn mắt nhìn mình, thích lắm, dùng ngón tay chọc chọc má nó trêu.

Tùng thấy nhột, hé cái miệng không răng cười mấy tiếng cho người ta vui.

Uyên nghĩ chắc ổn rồi bèn chắp tay xin phép về.

Trước khi đi, nàng nói với sư thầy tình huống của Tùng, rằng nó được đặt ở dưới gốc cây lê trong góc làng, chắc bị bỏ từ đêm hôm qua, nhờ các thầy xem nó có bị bệnh gì không.

Sư thầy mang Tùng vào trong chùa.

Chùa làng nhỏ, chỉ có ba nhà sư, ngoài ra Tùng không phát hiện thấy có đứa trẻ nào khác.

Hay nó đoán nhầm?

Hoặc có khi ở nơi này, không có bao nhiêu nhà bỏ con cũng nên.

Cụ trụ trì là một ông lão râu bạc phếch bạc phơ, không rõ bao nhiêu tuổi nhưng còn dẻo dai lắm.

Một mình cụ gánh hai xô nước đầy, không thở mạnh lấy một hơi.

Để tiện làm việc nặng, cụ cởi hẳn áo ngoài, để lộ khuôn ngực nở nang và sáu múi bụng làm Tùng lóa cả mắt.

Không thể tin nổi cụ trụ trì với cái giao diện ông cụ mà hệ điều hành lại là gymer chuyên nghiệp.

- Thưa thầy.

Sư thầy bế Tùng gọi một tiếng.

Cụ trụ trì bỏ hai xô nước xuống, gật đầu coi như đáp lại.

Dòm được em bé trên tay sư thầy, cụ lập tức hiểu mọi chuyện.

Cả đời cụ đã mấy mươi năm, cụ đâu lạ gì chuyện người ta bỏ con nơi cổng chùa cổng làng.

Càng quan sát Tùng, mắt cụ càng sáng rỡ.

Cụ còn minh mẫn lắm, xem người chỉ có chuẩn thôi.

Cụ trỏ tay vào Tùng, hớn hở nói:

- Làng ta có Tiến sĩ [1] rồi!

[1] Tiến sĩ: ngày xưa, người đỗ đạt trong thi Đình được gọi là Tiến sĩ.

Để được danh hiệu Tiến sĩ, nho sinh phải thi đỗ thi Hội, được tham gia thi Đình.

Về bản chất, thi Đình là kỳ thi sắp xếp lại bảng xếp hạng của thi Hội (dù thường không thay đổi nhiều), nhằm chọn ra ba người Tiến sĩ nhất giáp (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa), sau đó chọn ra các Tiến sĩ xuất thân (nhị giáp) và đồng Tiến sĩ xuất thân (tam giáp).

Tùng khinh bỉ bĩu môi, nó còn chưa thi đại học, chưa học bằng cử nhân thì tiến sĩ [2] cái chó gì.

Ngay cả đại học học trường gì nó còn chưa nghĩ tới, huống chi là chuyên ngành nghiên cứu sau này.

[2] Cử nhân, tiến sĩ: ở đây chỉ học vị, trình độ chuyên môn ở hiện đại nên tôi sẽ không viết hoa chữ cái đầu để phân biệt.

Cụ trụ trì cứ mãi xuýt xoa, lẩm bẩm Tùng vừa mới sinh đã có mùi bút mực, nhìn mặt đã biết nhiều đời chỉ đọc sách, làm sư thầy đang bế Tùng cũng mừng như được mùa.

Thầy không nghi ngờ gì lời cụ trụ trì nói, bởi lẽ ai ở vùng này mà không biết cụ một lời thành sấm kia chứ.

Xứ Kinh Bắc [3] của họ cũng được xem là đất học, không thiếu người đỗ đạt, nhưng biết làng mình có người đỗ Tiến sĩ thì ai lại chẳng mừng.

[3] Xứ Kinh Bắc: nằm ở phía bắc Thăng Long, tên hành chính thực tế dưới thời Lê Thánh Tông là Đạo thừa tuyên Bắc Giang.

Nghe tên là biết, chính là khu vực hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang.

Nghề đọc sách ở thời buổi này là nghề cao quý nhất, triều đình đương thời cũng trọng người đọc sách nhất.

Khoa cử từ thời Thái Tông [4] đã có những chuyển biến rõ rệt.

Đến những năm Quang Thuận [5] hiện tại, khoa cử càng nắm giữ vai trò quan trọng trong việc tuyển chọn nhân tài.

Mỗi khoa thi chỉ chọn ra được khoảng trăm người hoặc ít hơn đỗ Tiến sĩ.

Mà khắp cả Đại Việt có tổng bao nhiêu người đây?

Đủ để thấy khoa cử khó khăn nhường nào, có người học đến bạc đầu cũng chỉ là Hương cống [6], thậm chí còn chẳng đỗ nổi thi Hương.

Nói rằng phải đọc cả vạn quyển sách để bước đến điện vua vào tháng tư [7] cũng không ngoa.

[4] Chỉ thời vua Lê Thái Tông.

Năm 1434, vua Lê Thái Tông định lệ thi Hương, thi Hội ba năm một lần.

[5] Quang Thuận: niên hiệu của vua Lê Thánh Tông, từ năm 1460 đến 1469.

[6] Hương cống: từ thời Lê đổ về trước, người thi đỗ thi Hương được gọi là Hương cống, sau này Hương cống được đổi thành Cử nhân.

Triều Nguyễn có cách gọi là ông cử để chỉ những người đỗ thi Hương.

Chỉ khi đỗ Cử nhân mới được tham gia thi Hội.

[7] Ở đây chỉ kỳ thi Đình.

Thi Đình còn được gọi là đình thí, điện thí, được tổ chức ngay tại sân điện, do đích thân vua ra đề và chấm thi.

Đặc biệt, thi Hội thường được tổ chức vào tháng ba, tháng tư cùng năm sẽ diễn ra thi Đình.

Tùng nào biết những suy nghĩ của họ.

Nó lại buồn ngủ rồi, cơ thể em bé của nó chỉ biết ăn rồi ngủ, không còn sức quan tâm đến nhiều chuyện hơn nữa.

Chắc tiềm thức nó cho rằng bản thân đã an toàn, có nơi ăn chốn về nên thả lỏng hẳn, dẫn dắt nó vào giấc mộng ngày đêm chỉ cần chơi điện tử ngọt lịm.

Nào hay biết tương lai xán lạn đang chờ.

***

Tác giả tám nhảm: Tôi cũng không ngờ mình gõ xong chương này nhanh đến vậy 😂 chắc dạo này rảnh quá, lại bùng nổ idea nữa.

Như vậy đã rõ, Tùng xuyên không vì bị Covid 🐧 ngày đi học của nó còn dài lắm, nó phải đỗ Tiến sĩ cơ 😌

Sắp tới chắc không chỉ có 7 chú thích như chương này đâu, nhưng mạch truyện thì vẫn chậm như rùa khà khà.

Fact: truyện được tôi lên plot từ năm 2021, nhiều tài liệu tôi đã lưu trữ, phân tích và nghiên cứu từ năm 2021 đến nay.

Nếu ai có hứng muốn xem tôi có những tài liệu gì thì tôi mạn phép để ở dưới nhé.

1.

Khâm Định Đại Nam Hội điển sự lệ

2.

Lịch triều hiến chương loại chí I và II

3.

Việt Nam phong tục

4.

Đại Việt sử ký toàn thư

5.

Từ điển chức quan Việt Nam

6.

Ngàn năm áo mũ

7.

Đại Việt thông sử

8.

An Nam Chí Lược

9.

Khâm Định Việt Sử thông giám cương mục

10.

Khoa cử thời Lê sơ và bài văn sách đình đối về Phật giáo

11.

Lịch sử cổ đại Việt Nam

12.

Trang phục Thăng Long

13.

Văn hiến Thăng Long

14.

Trung Quốc sử lược

15.

Từ điển tiếng Việt 🙂))

16.

Wikipedia (có chọn lọc và kiểm chứng thông tin)

17.

Trang web chính thức của Văn Miếu

18.

Tứ Thư Bình Giải

19.

Ngũ Kinh

20.

Bách Gia Chư Tử

21.

100 bài thơ Đường

22.

1000 bài thơ Đường

23.

Thơ Đường Tống tuyển dịch

24.

Thơ văn Lý - Trần

Từ số 18 đến số 24 chưa chắc tôi đã cho vào, vì thật sự quá dài và tôi không hiểu hết được.
 
[Xuyên/Chls] Nho Sinh
Q1 - Chương 4


Quyển 1: Mười năm đèn sách

Chương 4

Tùng sống trên đời mười bảy năm rồi, phải tới lúc xuyên không nó mới cảm nhận được tính từ "thảnh thơi" này.

Có lẽ thuở bé nó cũng từng được ăn no ngủ kỹ như bây giờ, chẳng qua khi đó nó nào có nhận thức gì về thế giới, cứ vô tri vô giác sống vui vẻ kiểu trẻ con vậy thôi.

Nó có ký ức khá sớm, ba tuổi nó đã bắt đầu nhớ được nhiều chuyện.

Ai cũng nói trộm vía thằng cu này thông minh từ nhỏ, sau này nhất định học hành tấn tới.

Bà nội Tùng khoái mấy lời khen đó lắm, có lần còn không nhịn được mà đi xem thầy, trong lòng ôm ấp ảo tưởng được thầy khen tiếp.

Ảo tưởng thành thật.

Thầy bói nào cũng bảo đường học hành của Tùng rất sáng sủa.

Nếu đặt vào thời xưa, dù chưa chắc đỗ đạt làm quan thì kiểu gì nó cũng là người hay chữ.

Thế là bà nội càng đặt nhiều kỳ vọng vào thằng Tùng.

Bà chưa tới mức bắt nó học nhiều như mẹ, nhưng lời bà nói ý trong ý ngoài như một cái dây dắt vô hình, dẫn tới phương pháp giáo dục của mẹ nó ngày càng theo hướng cực đoan.

Ba tuổi thuộc bảng chữ cái, bốn tuổi thuộc bảng cửu chương, năm tuổi đọc thơ vanh vách, sáu tuổi nói tiếng Anh như người bản xứ.

Ai nhìn vào mà chẳng nói nó là thần đồng, bà nội nó càng sung sướng, mẹ nó lại càng sắp xếp cho nó nhiều lớp học thêm hơn.

Mới cấp một mà lịch học của nó dày chẳng kém gì nam sinh cuối cấp ba chuẩn bị thi đại học cả.

Huống chi trước khi xuyên không, nó thực sự là một nam sinh cấp ba chuyên, nghe thôi cũng biết một ngày nó phải học nhiều như thế nào.

Anh họ bảo nó sinh hoạt trên bàn học cũng không ngoa.

Vậy bố nó đâu?

Ông cũng khó xử lắm chứ.

Cả mẹ và vợ đều có suy nghĩ như kia, mình ông muốn thay đổi quan niệm của hai người phụ nữ gần như là điều không thể.

Điều ông có thể làm là tranh thủ cuối tuần lén đưa Tùng đi công viên Thủ Lệ, dành tiền mua cho nó một cái laptop gaming, sinh nhật thì mua tặng nó game trên Steam.

Vậy nên Tùng mới sống ổn được đến giờ.

Chứ bao nhiêu người như nó đều nhảy lầu hết hơn nửa rồi, chưa tới nửa còn lại thì đang suy nghĩ phương pháp tự đăng xuất khác.

Tùng gạt phăng những ký ức đó đi.

Nó cũng là con người, nó có phải cái máy tính đâu mà không biết mệt là gì.

Không phải nó chưa từng nghĩ tới cái chết, tuy nhiên khi ngoảnh lại nhìn, nó phát hiện mình đã đi xa tới vậy, không thể dứt khoát vứt bỏ được thành quả nhiều năm như thế.

Và giờ nó lại bỏ được sau lưng những vất vả đó.

Tùng ngẩn ngơ ngồi trên một chạc cây, phóng mắt nhìn ra khung cảnh xa xa.

Cánh đồng trải dài thẳng cánh cò bay, màu xanh chạm tới dãy núi nơi cuối chân trời.

Trên nền xanh ngát là mấy chấm nâu to to nhỏ nhỏ.

Có thể là tấm lưng trần cõng nắng đội mưa của người nông dân, cũng có khi là con trâu đang cày ruộng.

Tiếng sáo du dương văng vẳng, chẳng biết là đứa bé nào đang chăn trâu, rảnh rỗi thổi vài bài dân ca.

Tùng xuyên không bốn năm rồi.

Thời gian như thoi đưa, hoặc thời gian cho sự rảnh rỗi chưa bao giờ quá nhiều.

Tùng từ sự bứt rứt ban đầu vì không có việc gì làm, cho tới bây giờ chỉ thích ngồi trơ ra tận hưởng cuộc sống.

Nó thật sự chỉ ngồi trơ ra đó, không làm gì cả, không nghĩ gì hết, như một bức tượng đá trưng bày ngoài trời.

Nó rất thảnh thơi.

Tùng thích sự thảnh thơi này, sướng phải biết.

Nó chẳng phải làm gì cả, chỉ việc sống, làm những sinh hoạt cần thiết cho việc kéo dài sự sống, vậy thôi.

Cuộc sống thời phong kiến tương đối đơn giản, ngoại trừ vệ sinh có hơi bất tiện thì Tùng khá hài lòng.

Chẳng như anh họ nó chán bớ đời mà muốn bị lừa bán sang Trung Quốc, Tùng thà rằng xuống tóc chính thức đi tu.

Nó thèm có một cơ thể như cụ trụ trì lắm luôn, mà chẳng hiểu sao các nhà sư cứ mãi cản nó.

Rõ ràng sư Tâm, nhà sư bế nó vào chùa, thương nó nhất, chiều nó đến độ nó muốn gì cũng được, vậy mà chỉ riêng học võ là không được.

Nó không tin ba nhà sư trong chùa không biết võ.

Đời này Tùng đâu có bị cận nặng đến thế, mắt nó 10/10 chứng kiến toàn cảnh một mình sư Tâm cân ba thằng đầu trọc bặm trợn thích “đánh thuế” người đời.

Dù nó có hơi bất ngờ vì băng đảng “đánh thuế” nơi nào cũng có, thời nào cũng thấy, nhưng càng bất ngờ hơn với ngón nghề một cước hạ gục địch của sư Tâm.

Nó lân la hỏi dò nhà sư còn lại trong chùa, sư Tình, thì được biết trước khi xuống tóc, cả cụ trụ trì và sư Tâm đều từng liên quan tới nghiệp nhà binh.

Nói trắng ra là từng đi nghĩa vụ quân sự đúng không nhỉ?

Tùng nhủ thầm.

Không biết ở đây nó có đi nghĩa vụ được không, chứ dám chắc lúc nào về lại thế giới cũ, nó sẽ đi nghĩa vụ thật.

Con trai mà, ai mà chẳng thích body mình ngon như thanh socola.

Tùng lại gầy như cây sậy nên hơn ai hết, nó muốn body mình phải như vận động viên Olympic.

Tiếc là đời chẳng như mơ, sư Tình tận tình chỉ ra một sự thật đáng buồn:

- Cả người chỉ có chữ đinh, nào thấy tráng đâu mà đòi làm lính. [1]

[1] Chữ “đinh”: 丁 (con trai)

Chữ “tráng”: 壯 (mạnh mẽ)

Tráng đinh chỉ người con trai khỏe mạnh.

Ngày xưa người ta cũng có tiêu chuẩn tuyển lính, trong đó có yêu cầu phải “tráng”, nên ngày xưa hay thấy từ “lính tráng” đó.

Anh lính trên huyện còn thẳng thừng hơn:

- Người như con gà luộc thế này thì ăn thua gì.

Tùng sầu lắm.

Nó rầu rĩ mấy ngày liền, mất ăn mất ngủ.

Cơ mà cụ trụ trì chẳng những không hề mủi lòng, còn đá nó đi chơi với lũ trẻ trong làng.

Có trời mới biết Tùng không biết cách giao tiếp với loài người như nào chứ đừng nói gì tới trẻ con.

Thế là nó cứ thẫn thờ ngồi trên chạc cây, chờ đến giờ cơm thì lết xác đi về.

Có thằng cu béo mải mê nghịch bùn dưới gốc cây.

Nhóc ngồi nghịch có một mình, tự nặn con trâu múp míp, con lợn méo mó và con chim gãy cánh.

Tùng chẳng biết nhóc béo tên gì, chỉ biết nhóc ta cũng hay lủi thủi một mình như nó.

Hai đứa một mình đi với nhau là thành hai mình.

Tùng lặng lẽ chấp nhận sự xuất hiện của nhóc béo, còn văn vẻ gọi tình bạn vô hình giữa hai đứa là loại tình bạn thân thiết dù cả hai không nhớ nổi mặt nhau.

- Ê thằng béo, qua đây kêu tiếng lợn đi!

Mấy thằng nhóc đầu gấu vừa đuổi nhau từ đầu làng tới cuối làng, mồ hôi nhễ nhại, mặt mũi đỏ bừng vì hứng chí.

Chắc lúc này chạy đến thấm mệt rồi, chúng nó muốn tìm trò mới dễ chơi đây mà.

Nhóc béo nghe cái yêu cầu vô lý của lũ trẻ mà chẳng hiểu mô tê gì.

Nó liếc mắt dòm đám trẻ một lượt, cực kỳ đanh đá chống nạnh:

- Không đấy!

Tùng chống cằm.

Ừ, nó không lo lắng lắm.

Nhóc béo trông béo tròn nên sức phòng thủ cũng như cái bị bông, đấm vào là bị bật ra liền.

Lũ trẻ không ngờ mình bị từ chối.

Thằng nhóc xấc xược cầm đầu mặt đỏ gay vì tức.

Bình thường nó trêu gà chọc chó quen rồi, nghịch như quỷ sứ, cha mẹ còn không làm gì được nó nên nó thích làm trời làm đất.

Lũ trẻ đều sợ nó, ai nấy đều nghe nó răm rắp, làm gì có ai dám từ chối yêu cầu của nó đâu.

Nhóc béo không phải trẻ con trong làng.

Nhóc mới theo gia đình tới đây sinh sống nên đâu có biết sự tích của thằng nhóc xấc xược.

Nhóc béo không sợ gì cả, hất cái mặt mum múp thịt lên, vẻ khiêu khích lắm.

- Tao bảo mày kêu tiếng lợn cơ mà!

- Thằng nhóc xấc xược giãy đành đạch, tí nữa thì lăn ra đất ăn vạ liền.

Lũ trẻ con đằng sau nó không dám hó hé gì, chỉ liếc ngang liếc dọc quan sát tình hình.

Tùng ngồi trên cây còn thong thả hơn, nó đổi tư thế chống cằm, nhìn chăm chăm xuống phía dưới.

Nhóc béo vẫn hiên ngang:

- Không đấy!

Không đấy!

Sao tao phải nghe mày kia chứ!

Tâm lý thằng nhóc xấc xược trông thế mà mỏng như tờ giấy, chọc cái đã thủng.

Nó tức phát khóc, bù lu bù loa làm cả làng nghe thấy:

- Hu hu hu.

Tao mách bà, mày chả chịu kêu tiếng lợn cho tao nghe.

Mày béo như lợn thế còn gì...

Hu hu hu...

Nhóc béo luống cuống.

Vừa mới đốp chát nhau rất bình thường thôi mà đột dưng thằng oắt này khóc ré lên, làm như nhóc ta là kẻ bắt nạt không bằng.

Nhóc ta mới là người đang yên đang lành lại bị yêu cầu vô lý kìa, nhóc ta còn chưa có khóc đâu.

Tùng nghe thằng nhóc xấc xược khóc mà ngứa cả tai.

Nó với tay bẻ lấy cành cây gần nhất, thẳng tay ném xuống đầu thằng nhóc xấc xược.

Bất chợt bị cái gì đó rơi trúng đầu, thằng nhóc xấc xược lập tức nín khóc, ngẩng đầu lên, thấy là một thằng bé nhỏ có mẩu đang trượt xuống cây.

Tùng "nhỏ có mẩu" dường như không quan tâm mình thấp bé hơn các bạn cùng lứa.

Nó đi đến đứng trước mặt nhóc béo, ưỡn ngực, dõng dạc bảo:

- Mặt đỏ như cái đít khỉ, tay dài như đười ươi thế kia, không ấy mày giả làm con khỉ nhảy nhót cho bọn tao xem đi.

Thằng nhóc xấc xược nhăn mặt không chịu:

- Mày nói là tao phải nghe à?

Tùng chỉ nhóc béo, dùng lý lẽ của thằng nhóc xấc xược đốp lại:

- Mày bảo nó là nó phải nghe à?

Thằng nhóc xấc xược chẳng thấy có gì sai cả:

- Chứ sao?

Bà tao bảo tao muốn gì chẳng được!

- Bà của mày chứ có phải của nó đâu?

- Tùng cười khì.

- Sao nó phải nghe?

Thằng nhóc xấc xược á khẩu.

Hình như cũng đúng.

Nó dám làm mưa làm gió ở nhà còn không phải vì bà nó bao bọc nó quá sao?

Đến nỗi cha mẹ mắng nó, bà sẽ mắng lại họ, khiến nó còn không thấy sợ cha mẹ mình bao nhiêu.

Còn nhóc béo này chẳng biết bà nó là ai, thế thì sao phải nghe nó nhỉ?

Thằng nhóc xấc xược bắt đầu đăm chiêu.

- Thằng nào dám bắt nạt cháu bà, bà xé xác nó ra!

Một mụ đàn bà chanh chua ục ịch xách theo một cái muôi to tướng xồng xộc lao tới, trông y chang chuẩn bị ra trận đánh giặc.

Mụ lôi thằng nhóc xấc xược ra sau lưng mình, đôi mắt ti hí lườm Tùng và nhóc béo.

Lũ nhóc vẫn câm như hến, nhóc béo thấy có người lớn tới thì cũng im thin thít cúi gằm mặt, thành ra chỉ có mỗi mình Tùng dám đối mặt với người đàn bà kia.

Tùng tặc lưỡi, quay đầu bảo nhóc béo:

- Mày về mách mẹ mày đi.

Ca này phải để người lớn chửi nhau mới đúng.

Nó mà ra mặt, kiểu gì cũng bị chửi là láo, không ai dạy, mất nết các kiểu.

Dù Tùng cũng khá quen với việc bị chửi như thế rồi, nhưng bị mẹ chửi và bị người lạ chửi là hai cảm giác hoàn toàn khác nhau.

- Giờ mới biết gọi mẹ à?

Hả!

Con cháu nhà nào hư đốn, không ai dạy thì tao dạy!

Nói đoạn, mụ chẳng cần biết đầu cua tai nheo gì, cứ vậy muốn phang thẳng cái muôi về phía Tùng và nhóc béo.

Nhóc béo nhanh tay kéo Tùng né sang một bên, bản thân nhóc thì bị ngã nhào xuống đất theo quán tính.

Tùng loạng choạng đứng thẳng dậy, vẫn cố giữ sự lễ phép mà chịu chút nhún nhường nào:

- Nếu nó có sai thì gia đình nó dạy lại, không đến phiên bà giơ tay đánh nó!

Bà không sợ nhà nó báo quan à?

Mụ đàn bà dĩ nhiên biết chuyện mình mà đánh con người ta, dù mình có lý thì vẫn sẽ bị lôi lên quan bình thường.

Mụ bắt đầu thấy hơi sợ.

Con trai mụ trượt thi Hương mấy lần rồi, đang ôn tập để năm sau thi lại.

Nghe đâu bây giờ triều đình siết chặt khoa cử, ai mang tiếng xấu thì bản thân và con cháu đều không được dự thi [2].

[2] Trong lệ thi Hương dưới thời Lê Thánh Tông có quy định sau: “...người nào thực có đức hạnh mới được khai vào sổ ứng thí.

Những người bất hiếu, bất mục, loạn luân, điêu toa, dẫu có học vấn văn chương, cũng không được vào thi. [...] Những nhà làm nghề hát xướng cũng là nghịch đảng ngụy quan và người có tiếng xấu, thì bản thân và con cháu đều không được đi thi.”

Mụ không dám làm gì nhóc béo ngoài chửi rủa, nhưng khi ngó lại Tùng, mụ lại sáng mắt lên.

Bao cơn giận dồn nén lập tức trút ra như lũ tháng bảy, tất thảy đều hướng về phía Tùng:

- Không đánh nó thì đánh mày!

Cái thằng không cha không mẹ, mồ côi mồ cút, ăn nhờ ở đậu nhà mày!

Tùng nhăn mày, trong lòng rất khó chịu song vẫn bình tĩnh biện giải:

- “Ngưỡng bất quý ư thiên, phủ bất tạc ư nhân” [3].

Tôi mồ côi nhưng tôi sống chẳng sai với đời, ai cho tôi ăn thì tôi nhớ, ai có ơn với tôi thì tôi sẽ đền đáp hết.

Còn bà...

- Tùng bạo dạn chỉ tay vào mặt mụ đàn bà.

- Sinh ra không cha mẹ là lỗi tôi à?

Tôi ăn cướp nhà bà à mà bà đòi đánh tôi?

Bà nhìn mà dạy lại cháu bà đi, tự nhiên bắt con nhà người ta kêu tiếng lợn thì thôi, người ta không chịu lại giãy nảy lên.

Nó nghĩ nó là ai mà có quyền sỉ nhục người ta như thế?

Hay cả nhà bà coi khinh nhà người ta?

[3] Mạnh Tử viết: “Quân tử hữu tam lạc, nhi vương thiên hạ bất dự tồn yên.

Phụ mẫu câu tồn, huynh đệ vô cố, nhất lạc dã.

Ngưỡng bất quý ư thiên, phủ bất tạc ư nhân, nhị lạc dã.

Đắc thiên hạ anh tài nhi giáo dục chi, tam lạc dã.

Quân tử hữu tam lạc, nhi vương thiên hạ bất dự tồn yên.”

Dịch: Mạnh Tử nói: “Người quân tử có ba niềm vui, nhưng làm bậc vương cả thiên hạ không ở trong những niềm vui đó.

Cha mẹ đều còn, anh em không xảy ra điều gì, đó là niềm vui thứ nhất.

Ngước lên không thẹn với Trời, cúi xuống không tủi hổ với người, đó là niềm vui thứ hai.

Được dạy dỗ những người tài giỏi trong thiên hạ, đó là niềm vui thứ ba.

Người quân tử có ba niềm vui, nhưng làm bậc vương cả thiên hạ không ở trong những niềm vui đó.” (bản dịch trong Tứ Thư Bình Giải của Lý Minh Tuấn)

Dừng một lúc, Tùng nói tiếp:

- Nhà bà dột từ nóc!

Thằng cháu hư là một chuyện, bà chẳng phân rõ phải trái đúng sai, chưa gì đã đòi đánh đòi giết người ta lại là một chuyện khác.

Người ta nói cháu hư tại bà quả không sai!

Sau này cháu bà có vào tù ra tội thì gốc rễ cũng từ bà mà ra đấy!

Mụ đàn bà còn muốn cãi lại thì bỗng từ đâu vang lên tiếng khen ngợi.

Một người đàn ông lịch lãm bước tới, bóng lưng thẳng tắp như tùng, bước đi mạnh mẽ khoan thai.

Đầu đội mũ Ô Sa, người mặc áo đoàn lĩnh trơn màu xanh dương đậm [4], từ dáng vẻ đã thấy không phải người bình thường.

Người dân vây xung quanh từ bao giờ thấy người đàn ông đó bèn vội tránh đường, cung kính chắp tay vái lạy.

[4] Trang phục ngày thường của quan viên triều Hậu Lê.

Khá giống hình dưới nhưng áo không có họa tiết gì.

Btw bên dưới là tranh vẽ Nguyễn Trãi nhé.

Người đàn ông gật đầu, tiến lại gần quan sát Tùng một lượt, chợt hỏi một câu:

- Cháu từng đọc Mạnh Tử [5]?

[5] Mạnh Tử: Mạnh Tử (chữ Hán: 孟子; bính âm: Mèng Zǐ; 372 TCN – 289 TCN) là triết gia Nho giáo Trung Quốc và là người tiếp nối Khổng Tử.

Ông được xem là ông tổ thứ hai của Nho giáo và được hậu thế tôn làm "Á thánh Mạnh Tử" (chỉ đứng sau Khổng Tử). (Wikipedia)

***

Tác giả tám nhảm: Tôi gõ xong chương này từ hồi thứ bảy 22 tháng 11 cơ, cơ mà phải đến hôm nay mới đăng sau khi check lại thông tin cũng như chính tả.

Kỳ lạ là càng gõ càng thấy mình viết ra một Tùng nghiêm túc quá chừng, chẳng bù cho hồi viết thằng Bảo tẻn tẻn biết bao nhiêu.
 
[Xuyên/Chls] Nho Sinh
Q1 - Chương 5


Quyển 1: Mười năm đèn sách

Chương 5

Đọc toàn bộ Mạnh Tử thì chưa.

Kho tàng văn học Việt Nam nhiều như thế Tùng còn đọc không xuể, sao có thời gian đi đọc Tứ Thư làm gì.

Chỉ một lần ngẫu nhiên tranh thủ lướt mạng, đập vào mắt nó là ba niềm vui của người quân tử (quân tử tam lạc) do Mạnh Tử viết.

"Phụ mẫu câu tồn, huynh đệ vô cố, nhất lạc dã.

Ngưỡng bất quý ư thiên, phủ bất tạc ư nhân, nhị lạc dã.

Đắc thiên hạ anh tài nhi giáo dục chi, tam lạc dã."

Có thể hiểu rằng: "Cha mẹ đều còn, anh em không xảy ra điều gì, đó là niềm vui thứ nhất.

Ngước lên không thẹn với Trời, cúi xuống không tủi hổ với người, đó là niềm vui thứ hai.

Được dạy dỗ những người tài giỏi trong thiên hạ, đó là niềm vui thứ ba."

Tùng chưa đọc bình giải, chỉ đọc đi đọc lại bản dịch mấy mươi lần, tự đọc tự hiểu theo cách nghĩ của mình.

Nó có thể hiểu được ở bối cảnh phong kiến khi chữ "hiếu" và gia đình đặt trên đầu, cha mẹ còn và anh chị em hoà thuận là một niềm vui.

Ngay cả ở thời hiện đại, gia đình êm ấm hạnh phúc, mọi người đều khỏe mạnh chẳng phải là điều mà nhà nhà hướng tới đó ư?

Nhưng Tùng không cảm nhận được niềm vui này nhiều.

Chắc tâm nó ác, nó thà không có mẹ còn hơn.

Nó biết ơn mẹ nó sinh nó ra đời, càng giận mẹ nó sao lại cố gắng kiểm soát cuộc đời nó.

Nó mừng vì bố mẹ đã ly hôn, lại cố chạy trốn khỏi nhà nội đặt quá nhiều kỳ vọng vào nó.

Nó chạy tới nhà bác.

Nó nghĩ, nhà bác là gia đình êm ấm nhất nó từng thấy, nó muốn bước vào đó xem một lần, muốn thử cảm nhận rõ hơn niềm vui gia đình một lần.

Nó cũng muốn được như anh họ...

Có điều ông trời không cho nó cơ hội đó.

Nó chưa kịp cảm nhận gì, chưa kịp kiểm chứng mà đã đến thế giới này rồi.

Một thế giới mà nó thật sự không cha không mẹ, là một đứa trẻ mồ côi chân chính.

***

Nghe người đàn ông đó hỏi, Tùng thành thật lắc đầu:

- Cháu chưa đọc.

Cháu không biết chữ, chỉ từng nghe thoáng qua.

Tuy nó không chắc thời đại nó đang ở có thật hay không, nhưng mà nó dám chắc chữ cái ở nơi này không đồng nhất với thời đại nó sinh sống.

Rất có khả năng nơi này sử dụng chữ Hán, không thì cũng là chữ Nôm, khó mà dùng chữ Latin lắm.

Tưởng tượng đến cảnh một nhóm người mặc đồ cổ trang, tay cầm bút lông cho hợp cảnh, vui vẻ nói chuyện thi từ ca phú mà tờ giấy trên bàn lại viết chữ Latin, Tùng chỉ biết câm nín.

Cũng đâu phải thầy đồ thời đại mới, dù có là thầy đồ thời đại mới thì người ta không ai mặc đoàn lĩnh cả!

- Nghe thoáng qua mà nhớ được ư?

- Người đàn ông rất đỗi ngạc nhiên.

Tùng vẫn chỉ lắc đầu, không muốn giải thích thêm.

Nó đâu thể nói rằng mình đọc được nhưng mà bằng một bảng chữ cái khác.

Nói càng nhiều phải giải thích càng nhiều, thế nên Tùng lựa chọn im lặng cho người đời tự suy đoán cho xong chuyện.

Người đàn ông thoáng im lặng.

Ông đưa tay vuốt chòm râu dê, chắc đã có suy đoán nào đó hoặc chưa.

Thình lình, ông nhìn thẳng vào Tùng, hỏi:

- "Nghĩa, nhân lộ dã" [1] nên giải thích thế nào?

[1] Mạnh Tử viết: “Nhân, nhân tâm dã; nghĩa, nhân lộ dã.

Xả kỳ lộ nhi phất do, phóng kỳ tâm nhi bất tri cầu, ai tai!

Nhân hữu kê khuyển phóng, tắc tri cầu chi.

Hữu phóng tâm, nhi bất tri cầu!

Học vấn chi đạo vô tha: cầu kỳ phóng tâm nhi dĩ hỹ.”

Dịch: Mạnh Tử nói: “Đức nhân là tâm con người; đức nghĩa là đường con người.

Bỏ đường của mình mà chẳng noi theo, để tâm mình đi mất mà không biết tìm lại, đáng thương thay!

Người ta có con gà con chó chạy đi, thì biết tìm lại.

Có tâm mất đi mà không biết tìm lại!

Đường lối của sự học vấn không có gì khác: tìm cái tâm mình đã mất mà thôi.”

(bản dịch trong Tứ Thư Bình Giải của Lý Minh Tuấn)

Vế này trích từ một câu khác cũng khá nổi tiếng của Mạnh Tử.

Nếu không phải từng đọc Wikipedia, khéo Tùng cũng chẳng tài nào biết được.

Không rõ vì duyên cớ gì hay do số trời sắp đặt, Mạnh Tử có bao nhiêu câu hay mà người đàn ông kia lại hỏi trúng số ít Tùng biết.

Tùng chần chờ hồi lâu.

Nó không muốn trả lời lắm, nó có cảm giác nếu nó trả lời, đời này của nó sẽ không còn được thảnh thơi nữa.

Nó không muốn thế.

Đời trước nó sống mười bảy năm, ngồi mòn đít bên bàn học hết mười bốn năm rồi.

Đời này nó chỉ muốn ăn chơi nhảy múa, bù lại hết những tiếc nuối trước kia.

Nếu nhất định phải có việc làm, chẳng thà đi bộ đội luôn cho nhanh.

Không cần ngồi bàn học, không cần phải tỏ vẻ thông thái, không bị điểm số chi phối, nghĩ thôi cũng thấy tự do xiết bao.

Nhưng thấy vẻ mong chờ không giấu được của người đàn ông, Tùng lặng lẽ nắm chặt tay.

Chưa bao giờ, chưa từng có ai nhìn nó bằng ánh mắt ấy, ánh mắt vừa hân hoan lại tràn ngập sự bất ngờ, tò mò.

Trong môi trường chỉ toàn người tài giỏi, Tùng không quá nổi bật.

Nó không đẹp trai, không phải là người giỏi nhất, không phải là đứa năng nổ nhất, lại càng không có khiếu hài hước.

Ở lớp chuyên đó, nó chỉ đơn giản là một con mọt sách lập dị, thích lầm lũi một mình, không bạn không bè.

Ở một nơi chỉ tồn tại một đám học sinh giỏi, những gì Tùng biết, mọi người đều biết.

Có những thứ Tùng không biết mà mọi người vẫn biết.

Cũng tại nơi chỉ đề cao điểm 9 điểm 10, con 8 đỏ chói kia như cái gai chọc mù mắt Tùng, biến thành số lần đòn roi không hồi kết.

Không áp lực sao được?

Không nản sao được?

Nhưng, rõ ràng người đàn ông có cách hiểu riêng rồi, tất cả người đọc sách ở thế giới này đều biết đến Mạnh Tử, thuộc làu Tứ Thư hết rồi.

Nó chỉ là một đứa nhóc đến chữ còn chưa biết, tình cờ thuộc vẹt được vài ba câu, sao ông cứ trông chờ nhìn nó như thế?

- Bẩm quan, cái này con trai con biết, không bằng con gọi nó ra đây trả lời quan ạ?

Thấy Tùng mãi không trả lời, mụ đàn bà lại được dịp vênh váo.

Mụ thấy Tùng còi dí còi dị, mới có tí tuổi đầu, vắt mũi còn chưa sạch, sao biết được quan huyện hỏi cái gì kia chứ.

Chẳng bằng để con trai mụ lên tiếng thay, biết đâu trả lời đúng, còn được quan huyện khen một câu, năm sau thi cử lại được chiếu cố thì sao.

Mụ nghĩ thì hay lắm, đâu có thấy quan huyện thoáng nhíu mày không bằng lòng.

Câu này hỏi đại một nho sinh người ta cũng trả lời được vanh vách, ông lại chẳng cần câu trả lời từ những người đã được học đó, chỉ muốn hỏi đứa nhóc này thôi.

Tranh cãi đôi câu với hàng xóm mà cũng thuận miệng nhắc tới Mạnh Tử, ông thật lòng muốn biết thằng nhóc này hiểu được bao nhiêu.

Tùng hít sâu một hơi, vụng về học theo động tác vái lạy của người làng, lễ phép thưa:

- Bẩm quan, cháu xin trả lời ạ.

Quan huyện gật đầu ra hiệu.

Tùng nghiến răng, chậm rãi nói ra những gì mình còn nhớ:

- Đức nghĩa là đường đi của con người, là con đường chân chính, đúng đắn và bằng phẳng.

Nếu không đi đường "nghĩa", con người ta sẽ gặp rất nhiều khó khăn, có thể gây hại đến bản thân.

Nó vô cảm nói vẹt một lèo, quan huyện chăm chú lắng nghe, thỉnh thoảng lại vuốt râu một cái.

Ông chỉ trầm ngâm suy nghĩ, không ngắt ngang giữa chừng, không gật đầu mà cũng không lắc đầu.

Tùng nói xong, căng thẳng nắm chặt vạt áo, chờ đợi kết quả cuối cùng.

Trái với dự đoán của nó, quan huyện chỉ bâng quơ:

- Đúng là chỉ nghe thoáng qua thật.

Nói cách khác, chỉ hiểu bề nổi.

Tùng khe khẽ thở phào, may mà không bị coi thành thần đồng gì đó, bị xách lên trường học luôn.

Ngờ đâu, ngay giây sau quan huyện lại nói tiếp.

Giọng nói nghiêm nghị vang khắp không gian, truyền vào tai từng người:

- Nghĩa ở đây là Thập nghĩa.

Lễ ký có viết: “Phụ từ, tử hiếu, huynh lương, đệ đễ, phu nghĩa, phụ thính, trưởng huệ, ấu thuận, quân nhân, thần trung", đó là Thập nghĩa. [2]

[2] Thập nghĩa

Phụ từ: cha mẹ phải thương yêu con cái.

Tử hiếu: con cái phải yêu kính, hiếu thuận với cha mẹ.

Huynh lương: anh chị phải tốt lành với em.

Đệ đễ: em phải thương mến, kính trọng anh chị.

Phu nghĩa: chồng phải yêu quý, trọn tình với vợ.

Phụ thính: vợ phải nghe theo, chiều thuận ý chồng.

Trưởng huệ: người trên phải ban ơn cho người dưới.

Ấu thuận: người dưới phải vâng theo người trên.

Quân nhân: người cai trị phải có lòng nhân.

Thần trung: bề tôi phải trung thành.

Nói đoạn, ông tức khắc chỉ tay về phía mụ đàn bà và thằng nhóc xấc xược, đanh giọng răn dạy:

- Thương cho roi cho vọt, yêu nhưng cũng cần nghiêm khắc!

Người lớn thương trẻ con trong nhà, ấy là “phụ từ”.

Nhưng bà nhìn lại xem đứa trẻ này, đã bao giờ “tử hiếu” chưa?

Trêu cha đánh mẹ, quen thói ngang ngược, ỷ chiều sinh hư, tiếng xấu của nhà bà còn không phải từ nó mà ra?

Thằng nhóc xấc xược sợ rúm người, núp sau mụ đàn bà.

Mụ thấy mà lòng xót xa vô bờ, ôm cháu khóc ròng:

- Nó trẻ con mà, nó biết gì đâu.

Tùng cười mỉa một tiếng:

- Nó không biết thì bà cũng đui à?

Không biết thì học, bà biết thì bà phải dạy nó để nó biết.

Có thế cũng không nghĩ ra.

Dân làng xôn xao đồng tình.

Nghe hơi chói tai cơ mà lại hợp lý.

Trẻ con không biết thì người lớn dạy, chẳng lẽ mấy chuyện kiểu này người lớn cũng không biết ư?

Nói ra không sợ người ta cười vào mặt à?

Tùng trước kia thỉnh thoảng sẽ lướt báo mạng, thấy câu "nó là trẻ con mà" đến chai cả mắt, người đọc xem xong cũng chửi mỏi cả mồm.

Trong những câu chuyện như thế, người lớn thường khó mà nhận ra nguyên nhân sâu xa của cái sai xuất phát từ chính bản thân họ.

Nếu không phải họ dung túng, quá mức nuông chiều những đứa trẻ, khi xảy ra chuyện thì chỉ biết biện minh rằng đứa trẻ còn nhỏ, thì sao lại có nhiều đứa “phá gia chi tử” đến vậy?

Quan huyện không quan tâm mụ đàn bà khóc la giãy đành đạch dưới đất.

Đâu phải lúc nào ăn vạ cũng giải quyết được mọi chuyện đâu.

Ông hắng giọng, nhẹ nhàng nói:

- Nuôi con còn chưa nên người, sao đảm đương nổi việc nước?

Thôi, ta thấy anh nhà vẫn nên học thêm vài năm nữa rồi hẵng thi lại.

Mụ đàn bà đơ ra, ngã ngửa ra sau ngất xỉu ngay tại chỗ.

Dân làng xúm xít vây quanh, người đi gọi người nhà, người cõng mụ về, người đi gọi thầy lang.

Giữa đám đông đang hoảng loạn đó, gương mặt tèm lem nước mắt nước mũi của thằng nhóc xấc xược vẫn rất nổi bật.

Nó đứng đơ ra như tượng, hồi lâu sau mới ngã ngồi xuống đất, khóc ré lên.

Mới đầu Tùng không hiểu gì cả.

Tại sao tin vài năm nữa thi lại lại làm mụ đàn bà sợ đến ngất thế nhỉ?

Nhóc béo đứng kè kè cạnh Tùng nãy giờ, thủ thỉ kể cho nó nghe.

Thì ra triều đình ra quy định ai được đi thi, trong đó có yêu cầu người phải có đức hạnh.

Nếu bản thân mang tiếng xấu thì cả mình và con cháu đều không được dự thi.

Tuy rằng chẳng ai rõ thước đo đức hạnh dùng như nào, áp dụng ra sao, cũng có khả năng có người vờ vịt thoát được cửa ải này, song Tùng vẫn thấy quy định này khá thú vị.

Ban đầu nó rất sửng sốt, cái lề gì thốn?

Đi thi thôi mà còn xem nhân cách nữa à?

Uầy!

Nó nghĩ vòng nghĩ vèo, nghĩ đến tự mừng húm, nếu mẹ nó ở đây có thấy cảnh này chắc cũng phải khóc ngất như mụ đàn bà kia quá.

Thấy sao?

Đường học vấn của con trai yêu quý bị chính bản thân chặt đứt đó, vui không?

Tùng cười hí hí như thằng điên.

Mọi người xung quanh tưởng nó sướng vì người sai bị phạt đúng tội.

Nhóc béo rón rén lại gần, hai cái má bụ bẫm viết từ "ngượng ngùng".

Nhóc ta tự giới thiệu:

- Tôi...

Tôi tên Chung.

Tùng ngẩn ngơ nghĩ ngợi.

Chung hay Trung?

Trung trâu hay Chung chó?

Nó nên phát âm là "Trung" trờ nặng hay "Chung" chờ nhẹ?

Rồi nó chợt nghĩ, giờ nó xoắn xuýt cái này làm gì.

Là người Việt Nam chính hiệu, viết sai chính tả mới sợ, chứ âm "tr" và "ch" có gì khác nhau.

Kết bạn mới quan trọng này!

Tùng hớn hở lắm, nó chưa từng có một người bạn thực sự.

"Bạn" mà nó biết chỉ có bạn cùng lớp, bạn cùng nhóm, bạn cùng bàn, xa hơn có bạn cùng trường.

Tuy đều là "bạn" nhưng để gọi là bạn thân thiết thì lại không có ai.

Anh họ không tính!

Tùng vui vẻ toan giới thiệu mình thì bị quan huyện chen ngang.

Ông cười hiền, đưa ra một lời mời mà Tùng mãi về sau vẫn không quên.

- Cháu muốn làm con ta không?

Câu hỏi ấy khiến não Tùng lập tức chết máy.

Nó ngỡ ngàng ngước lên nhìn quan huyện.

Nói thật, nó bị sợ, sợ nhiều hơn vui mừng.

Thấy mặt nó tái mét, quan huyện hơi ngập ngừng.

Ông đoán hẳn nó sợ bị bỏ rơi lần nữa.

Cũng phải, đến người thân ruột thịt còn nỡ bỏ nó trong góc vắng nhất của ngôi làng, huống chi là người dưng nước lã.

Ông không vội lặp lại đề nghị trước đó, chỉ dịu giọng hỏi:

- Ta nhớ cháu tên Lê nhỉ?

Tùng gật đầu thưa vâng.

Phải vậy.

Ở nơi này, Tùng không phải tên Tùng.

Nó tên là Lê, bởi vì được nhặt ở dưới gốc cây lê nên được đặt tên vậy.

Và nó chỉ có cái tên đó thôi.

Nó không cha không mẹ, người ta cho nó tên để tiện gọi, chứ nó chẳng có họ.

Sư Tâm từng đề nghị để nó theo họ thầy nhưng bị nó từ chối.

Nó thấy mình không có họ cũng chẳng sao hết, như vậy chứng tỏ nó không có ràng buộc gì với thế giới này ngoài một cái tên lẻ loi.

- Vậy cháu có muốn đi học không?

Quan huyện lại hỏi.

Tùng quả quyết lắc đầu.

Nó học quá nhiều, học đến ám ảnh tâm lý rồi, nó không dám học nữa.

Nó thà làm một tên đần mù chữ mà lớn còn hơn tiêu hao cuộc đời mình bên sách vở.

Nó biết việc học quan trọng như thế nào với đời nó, nhưng giữa học đến đột tử và sống vui đến già, nó sẽ chọn sống vui đến già.

Còn học đến đột tử?

Để lúc nào về thế giới cũ rồi tính.

Tùng luôn biết rõ mình sẽ quay lại thế giới cũ, tình huống của nó tương đối giống với anh họ nó.

Nếu anh nó thực sự xuyên không về nhà Lý ba mươi sáu năm và vẫn trở về được thì nó cũng vậy.

Anh họ nó còn bị ba viên gạch vào đầu, nó chỉ bị Covid thôi.

Biết đâu khi nó khỏi bệnh, tỉnh lại sẽ thấy quê cũ nên nó không cần thiết tốn thời gian học tập kiến thức của nơi này làm gì, cũng không cần phải noi gương nhân vật chính truyện xuyên không.

Nó không giỏi đến mức có tất cả kiến thức về khoa học kỹ thuật của hiện đại trong đầu, nó không thể chép thơ người xưa làm màu trước thiên hạ, nó chỉ cần sống vui sống khoẻ là được rồi.

Nghĩ xa hơn nữa, nó ước gì mình sẽ trở thành một vị tướng lẫm liệt đầu đội trời chân đạp đất, làm một anh hùng bảo vệ hoà bình cho đất nước.

Nghe thôi cũng thấy ngầu rồi.

Mơ mộng đến viễn cảnh một mai làm một vị tướng hùng dũng, lưng hùm vai gấu, Tùng càng thêm dứt khoát từ chối việc học.

Nó chẳng chờ quan huyện nói thêm cái gì, chỉ kịp vứt lại tên mình cho Chung nghe thấy, rồi lập tức cong chân chạy biến.

***

Trong chùa nhỏ, cụ trụ trì gấp quyển kinh Phật lại, khe khẽ thở dài:

- Rõ là có một bụng thi thư, lại chỉ muốn nằm không chờ chết.

Sư Tình vừa đi quét sân về, nghe cụ đột nhiên nói vậy bèn hỏi:

- Là Lê hở thầy?

Từ lúc Lê đến chùa sinh sống, cụ trụ trì ngày ngày tấm tắc nó sinh ra đã có mùi bút mực.

Sư Tình không ngửi thấy mùi gì cả, cũng không như sư Tâm mà tin sái cổ lời tiên đoán của cụ trụ trì.

Với thầy, những cái mắt thấy tai nghe mới là thứ đáng tin nhất.

Thầy chỉ thấy một thằng Lê lười biếng hết ăn lại nằm, đâu có thấy "bụng thi thư" gì đâu.

Cụ trụ trì nhẹ nhàng lắc đầu, thở dài não nề:

- Trời sinh tính.

Trời sinh tính...

Sư Tình không hiểu lắm, đành đi cất chổi rồi đến giếng múc nước.

Sư Tình vừa đi, sư Tâm tiến vào, đến trước mặt cụ trụ trì nói nhỏ:

- Thưa thầy, quan huyện muốn nhận Lê làm con nuôi.

Cụ trụ trì hơi ngước mắt lên, suy tư hồi lâu.

- Một ngày làm thầy, cả đời làm cha.

- Cụ nói.

***

Tác giả tám nhảm: Thấy tôi chăm chưa?

Siêu cấp chăm luôn!

Một cuối tuần đẻ sòn sòn hai chương luôn đó!

Mấy bà khen tôi đi 🌹🌹🌹
 
[Xuyên/Chls] Nho Sinh
Q1 - Chương 6


Quyển 1: Mười năm đèn sách

Chương 6

Tùng bị lôi cổ đi học.

Nghĩ theo một cách nào đó, nó bị bắt đi học ở tuổi lên bốn, chỉ muộn hơn kiếp trước có một năm thôi.

Dĩ nhiên nó không tự nguyện lắm nhưng lại không có cách nào khác, ai bảo quan huyện tìm đúng vấn đề mà ra tay.

Từ sau lúc bị Tùng từ chối làm con nuôi, quan huyện lên chùa Xin lời khuyên của cụ trụ trì.

Không như cụ trụ trì chỉ bói ra, quan huyện tận mắt nhìn ra Tùng không đần như cách nó cố thể hiện.

Không ai chỉ Nghe thoáng qua Mạnh Tử lại hiểu luôn nghĩa ngoài mặt như nó cả.

Tùng không đần, song cũng không hẳn là thần đồng.

Nó là một đứa nhóc thông minh cứ thích đá sự thông minh của mình đi, hay nói đúng hơn là có sự bài xích với sự thông minh của mình.

Quan huyện vốn không rõ lý do, nếu không nhờ có một tên lính nói nhỏ cho ông hay, có lẽ ông còn không biết Tùng mơ mộng hão huyền muốn làm tướng.

Nhớ lại cơ thể còm cõi của Tùng, quan huyện chỉ biết lắc đầu, thở dài thườn thượt.

Bà huyện ngồi bên cạnh, thấy chồng phiền muộn cũng không khỏi lo lắng:

- Thầy nói sao?

Hai ông bà bên nhau từ thuở hàn vi, tình cảm thắm thiết.

Chẳng qua sự đời trớ trêu thay, bên nhau ba mươi năm rồi mà hai người vẫn chưa một mụn con.

Bà huyện biết tuổi này mình chẳng sinh nở được gì nữa, cũng từng tự ti mình là con gà mái không biết đẻ trứng.

Lần nào bà muộn phiền vì chuyện con cháu, quan huyện đều an ủi rằng không đẻ không sao, đỡ khỏi phải chịu nỗi đau vượt cạn, sau này chọn một đứa mang về nuôi cũng được.

Bà biết ông mong con không kém gì mình.

Nhiều lúc bà thấy đứa bé này đáng yêu, đứa bé kia lanh lẹ, ông lại cứ kén chọn, chê người ta chậm hiểu mãi thôi.

Thành ra đến bây giờ, ngay cả mụn con nuôi mà ông bà cũng không có.

Mãi mới gặp một bé Lê vừa lòng ông, thế mà bản thân bé Lê lại không muốn làm con nhà mình.

Đương nhiên quan huyện không cam lòng, dẫu sao ông cũng làm quan bao nhiêu năm rồi, đâu có ai dám thẳng thừng từ chối ông như vậy.

Quan huyện bèn lên cửa chùa hỏi chuyện.

Ông lặp lại lời của cụ trụ trì cho bà nhà nghe:

- Một ngày làm thầy, cả đời làm cha.

Bà huyện hiểu ngay:

- Ý không phải nói mình nên nhận bé Lê làm học trò à?

- Tôi biết.

- Quan huyện gật gù.

- Chỉ là...

Chỉ là gì thì ông ngập ngừng mãi không nói tiếp được.

Là tiếc nuối?

Hay vẫn chỉ là không cam lòng?

Nói gì đi nữa thì cũng đều do quan huyện không chỉ muốn đóng vai trò của một người thầy.

- Làm thầy cũng tốt mà.

- Bà huyện thỏ thẻ khuyên nhủ.

- Mình dạy nó, thương nó như con là được rồi.

Quan huyện không đáp lại.

Bà huyện đoán ông đang suy nghĩ lời bà, bèn đi ra ngoài đóng cửa lại để ông có không gian riêng.

Sáng hôm sau, khi trời hẵng còn tờ mờ, quan huyện đã áo quần thẳng thớm, tay cầm theo một gánh sách mới.

Gánh sách bằng gỗ trông như một cái tủ nhỏ, to bằng phần thân trên của người trưởng thành, bên trong chia làm hai tầng.

Sách được để bên trong cũng là sách mới, hãy còn thơm mùi giấy mực.

Quan huyện thật lòng muốn nhận Lê làm học trò nên không ngần ngại tự bỏ tiền túi mua cho nó từ sách, gánh sách tới bút giấy mực làm quà.

Thường chỉ thấy học trò mang quà tới lễ thầy, nào đã từng thấy cảnh thầy tự thân mang sách cho trò bao giờ.

Quan huyện lắc đầu cười khẽ, lấy tính thằng Lê thì có khướt nó mới chịu bái ai làm thầy.

Ông muốn nhận nó làm con, nó còn chẳng chịu chứ nói gì nhận làm trò.

Mà chính nó cũng từ chối việc học rồi đấy thôi.

Quan huyện vừa đi vừa nghĩ, không ngờ rằng khi vừa lên tới chùa, sư Tình đang quét sân lại nói với ông rằng giờ này Lê vẫn chưa tỉnh.

Quan huyện không biết nên bày vẻ mặt sao cho phải.

Trẻ con ăn nhiều ngủ nhiều cũng là chuyện bình thường, cơ mà nghĩ tới giờ này con nhà người ta đã dậy phụ giúp việc nhà mà nhà mình vẫn ưỡn bụng nằm phè phỡn ngủ, sư Tình lại muốn lấy chổi quất Lê một trận.

Đúng lúc này, cụ trụ trì xách thùng nước đi ngang.

Trông cụ không có vẻ gì là bất ngờ khi quan huyện đột ngột ghé thăm cả.

Nghe quan huyện ngỏ ý muốn nhận Lê làm học trò mà giờ này nó vẫn chưa tỉnh, cụ trụ trì chỉ nói:

- Vậy à?

Rồi quay lưng rời đi.

Chẳng lâu sau, cụ quay lại, đằng sau cụ mọc thêm một thằng cu Lê còn đang ngái ngủ, tóc dài đen nhánh rối bù như tổ quạ.

Bấy giờ quan huyện mới để ý, Lê để tóc dài tới hông, không cắt ngắn như nhiều cậu bé khác.

Thôi thì cũng chẳng ai cấm nó để tóc dài, đành để nó thích thế nào thì làm thế nầy.

Tùng bị cụ trụ trì nắm cổ áo lôi dậy, dù đã rửa mặt qua nhưng vẫn chưa tỉnh táo hẳn.

Nó lảo đảo đến trước mặt quan huyện, rõ là hai mí mắt còn díp lại với nhau mà vẫn cố gắng chắp tay vái lạy.

Thế giới này vốn như thế đó, dân sao cho được với quan.

Đứa trẻ nào mà chẳng được dạy rằng ở nhà chào người lớn mới phải phép, ra đường phải lạy quan trên mới đúng lễ nghĩa.

Tùng không ý kiến ý cò gì, ai bảo bây giờ nó đang ở thời phong kiến đâu.

Quan huyện không lằng nhằng nhiều lời.

Ông tuy là quan địa phương, song quan nào mà chẳng phải gánh một đống việc trên lưng.

Thời gian rảnh rỗi của ông không nhiều lắm, phải rất vất vả mới dành được chút thời gian lúc tờ mờ và chiều muộn để đi dạo khắp nơi trong huyện.

Ông nói thẳng:

- Ta biết cháu không muốn đi học, nhưng mà muốn làm tướng tài thì đâu thể nào không biết chữ đúng không?

Thực ra thì với xuất thân của Lê, nó chỉ có thể làm một người lính bình thường.

Mà muốn làm lính tráng bình thường thì không cần phải biết chữ.

Tùng lại đâu biết những thứ đó.

Nghe đến chỗ "tướng tài", nó lập tức tỉnh cả ngủ, phấn khích đến mức suýt nhảy cẫng lên.

Nó tin sái cổ lời của quan huyện.

Nghĩ đâu xa, Lý Thường Kiệt còn biết làm thơ, Trần Hưng Đạo soạn cả "Binh thư yếu lược".

Họ đều là tướng tài của nước Nam đấy thôi.

Dù thật sự có những vị tướng không hay chữ thật nhưng chữ nghĩa cần biết cũng đều có trong bụng họ cả.

Tùng gật gù.

Hợp lý!

Rất hợp lý!

Nó không cân nhắc nhiều thêm, ngay lập tức bày tỏ bản thân muốn đi học.

Quan huyện như mở cờ trong bụng, trẻ con đúng là dễ lừa thật.

Ông nhân cơ hội đưa ra đề nghị muốn nhận nó làm học trò, nhanh tay tặng nó gánh sách ông mang theo.

Tùng tí tởn ôm gánh sách, nhảy chân sáo về phòng mình.

Chính nó còn không ngờ có ngày bản thân lại ngóng chờ việc học đến vậy.

Dẫu sau này có lúc nó cảm thấy sai sai ở đâu đó, sao nó học mãi đến thuộc nằm lòng Tứ Thư Ngũ Kinh rồi mà vẫn phải mòn đít ngồi học tiếp, nhưng rồi vẫn nhún vai ném nghi hoặc qua sau đầu.

Biết sao được, nó còn phải thi mà.

Cụ trụ trì dõi theo bóng lưng nó chạy xa, cười hiền:

- Quan nói thế, nó lại tưởng thật.

Quan huyện bình thản đáp rằng:

- Tưởng thật mới là nên.

Họ đều biết Lê không thể làm tướng.

Nó không có tài làm tướng, không có tướng làm tướng, cũng không gặp thời để làm tướng.

Họ chỉ tạo ra một cái cớ để thúc nó đi học thôi.

Không hẳn bởi nó có tài văn chương, có số làm ông Nghè, tương lai đề danh bảng vàng.

Mà là bởi nó cần cho mọi người, đặc biệt là chính bản thân nó, biết nó là ai và làm gì trên cõi đời này.

Chỉ là một đứa nhóc mồ côi bị cha mẹ bỏ rơi dưới gốc cây lê thôi ư?

Cụ trụ trì không thấy thế.

Ngôi chùa nhỏ này không thể cưu mang nó mãi được, một ngày nào đó nó phải dang cánh bay tới phương trời của riêng nó.

Và việc của họ là trao cho nó một cơ hội.

Nên Lê cần biết chữ.

Việc biết chữ với người thường như là một nấc thang lên trời vậy.

Không phải ai cũng có điều kiện được biết chữ, càng không phải ai cũng có thể dựa vào con chữ để đổi đời.

Sự đời đâu có đơn giản như thế.

Mười năm đèn sách, một bụng thi thư, chỉ để đổi lấy một ngày đặt chân tới điện rồng?

Không!

Biết chữ đâu chỉ để thi cử, học tập không chỉ là đọc vẹt vài ba câu thơ.

Chuyện học trước giờ vẫn luôn là giữ vững sơ tâm và đi tìm bản tâm mình.

Lê đã biết câu ấy, thì nó cũng cần phải hiểu câu ấy nữa [1].

[1] Ở đây xin được nhắc lại câu của Mạnh Tử đã được đề cập ở chương trước.

Mạnh Tử viết: "Nhân, nhân tâm dã; nghĩa, nhân lộ dã.

Xả kỳ lộ nhi phất do, phóng kỳ tâm

nhi bất tri cầu, ai tai!

Nhân hữu kê khuyển phóng, tắc tri cầu chi.

Hữu phóng tâm, nhi bất tri cầu!

Học vấn chi

đạo vô tha: cầu kỳ phóng tâm nhi dĩ hỹ."

Dịch: Mạnh Tử nói: "Đức nhân là tâm con người; đức nghĩa là đường con người.

Bỏ đường của mình mà chẳng noi theo, để tâm mình đi mất mà không biết tìm lại, đáng thương thay!

Người ta có con gà con chó chạy đi, thì biết tìm lại.

Có tâm mất đi mà không biết tìm lại!

Đường lối của sự học vấn không có gì khác: tìm cái tâm mình đã mất mà thôi."

(bản dịch trong Tứ Thư Bình Giải của Lý Minh Tuấn)

Ý chính trong phần bình giải như sau: "Theo Mạnh Tử, mất tâm thì mất luôn cả nghĩa; bởi vì nghĩa là hệ quả của nhân, mà nhân chính là tâm.

Ông ngạc nhiên nhận thấy rằng người ta mất con gà, con chó thì lập tức đi tìm cho bằng được; thế mà tâm bị mất đi lại hân hoan, hoặc thờ ơ không tha thiết tìm.

Vì thế, đường lối của sự học vấn không có gì khác hơn là tìm lại cái tâm đã mất.

Người mất

tâm là người mất đi phần cao quý nhất trong con người, mất con người đích thực.

Đó là người bị vong thân hoặc tha hóa trong ngoại vật." (Lý Minh Tuấn, Tứ Thư Bình Giải, trang 962)

Quan huyện không chắc ước mơ làm vương làm tướng của Lê có thể kéo dài đến bao lâu.

Chí ít, khi nhìn vào đôi mắt nó, nghe nó đọc vanh vách Mạnh Tử, ông thường tự hỏi liệu sơ tâm của nó có bao giờ thực sự là một lòng hướng nghiệp binh gia chưa?

***

Tùng chợt thấy hối hận.

Nó nhìn từng dòng chữ Hán ngoằn ngoèo như bùa dán trước cửa nhà mình đời trước, ôm ngực tự hỏi chẳng lẽ mình không thể làm một vị tướng mù chữ được sao.

Nó càng hối hận hơn khi bài học đầu tiên chẳng phải là đọc sách gì, mà là học chữ, viết chữ.

Chữ Hán thì thôi đi, lại còn phải học cả chữ Nôm nữa.

Học chữ Nôm thì học chữ Nôm, ít ra chữ Nôm còn là tiếng Việt ngày xưa, chứ ai nói cho nó biết ngay cả ngữ pháp thường dùng trong văn bản chính thức cũng lung tung beng thế này.

Tùng muộn màng phát hiện ra, vì nơi này sử dụng hệ ngôn ngữ chữ Hán nhập khẩu nguyên chiếc từ Trung Quốc nên nó không những phải học chữ, nó phải học cả ngữ pháp của tiếng Trung.

Tùng dám chắc ngày mình quay về thế giới cũ, nó sẽ trở thành thủ khoa ngành Ngôn ngữ Trung Quốc của cả ULIS [2] và HANU [3] luôn.

[2] ULIS: tên viết tắt của Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội

[3] HANU: tên viết tắt của Trường Đại học Hà Nội

Cả hai đều là trường top đầu trong việc đào tạo và giảng dạy ngoại ngữ.

Tùng chưa kịp học gì đã thấy đầu váng mắt hoa, cảm giác sắp đắc đạo thành tiên đến nơi rồi.

Nó hối hận, thật lòng hối hận, cực kỳ cực kỳ hối hận.

Nó không nên chọn học hành, không nên mơ mộng làm tướng, nó vẫn nên đóng tròn vai của một thằng vô dụng chỉ biết hết ăn lại nằm thôi.

Nước mắt nơi đáy lòng nó chảy thành sông Hồng.

Tùng chắc chắn không ai xuyên không mà sống khổ như nó, dù ở đâu cũng phải mài đít ngồi bên sách vở.

Lắm lúc nó ngẩng lên nhìn trời, nhủ rằng rốt cuộc nó đã tạo nghiệp gì mà cả hai đời đều không thể thoát khỏi bể học vô biên.

May mà chuyện học ở thế giới này không quá căng thẳng.

Chắc bởi quan huyện chỉ có một học trò là nó, nó không cần phải đến trường làng học cùng đám trẻ khác, ngày thường không có sự ganh đua hay áp lực điểm số.

Nó chỉ việc học từ những thứ cơ bản nhất, sau đó từ từ đi lên.

Bài tập về nhà của nó bây giờ chỉ là đọc chữ, giải nghĩa và viết chữ, chưa đến những cái quá đao to búa lớn.

Tùng hối hận vì đồng ý đi học song cũng thấy thoải mái, không quá bài xích.

Có lẽ bởi đã có thói quen mười mấy năm học hành chăm chỉ, nó nhanh chóng lấy lại phong độ, ngày ngày ngồi bệt trên đất cầm cành cây viết chữ.

Hoặc đơn giản là nó chán quá nên cần việc để làm.

Quan huyện viết cho Tùng phóng, dặn nó mỗi ngày phải tập viết vài chữ, chữ nào không hiểu thì trước hết hỏi các sư thầy trong chùa, không thì đợi ông đến giảng.

Phóng là chữ mẫu để bọn học trò tập viết theo.

Việc học chữ trông vậy mà cũng công phu lắm.

Đầu tiên, các học trò được cầm bút tre nhúng nước tô theo khuôn chữ, sau đó sẽ nhìn theo chữ mẫu mà viết, rồi đến bước "buông" - tức tự tay viết không dựa vào yếu tố khách quan.

Giấy bút thời buổi này khá đắt đỏ, dù sao thì thời phong kiến cũng làm gì có công nghiệp hóa mà sản xuất hàng loạt được, tất cả đều được làm thủ công hết.

Công đoạn khá dài, nhân lực lại ít, giá cả không cao chút mới là lạ.

Tính ra, thời phong kiến không có mấy nhà có điều kiện cho con em đi học chứ đừng nói là dùng giấy bút tập viết.

Vậy nên học trò bình thường sẽ lấy đất làm giấy, lấy cành cây làm bút, ngồi dưới bầu trời viết một biển tri thức.

Tùng tự khen mình văn vẻ quá thể, không uổng công nó học Văn bấy lâu.

Chẳng qua trên tay vẫn cầm nắm đất nghịch một hồi rồi mới chịu vạch trên đất từng nét ngang dọc, vẽ một hình vuông chín ô.

Tùng hí hửng bắt tay vào chơi cờ ca rô.

Nó chọn tay trái là X, tay phải là O, cho hai tay tự đấu trí đấu dũng với nhau, kệ thây bài vở sang một bên.

Không ai quan tâm nó đang làm gì, cả ba sư thầy đều nghĩ nó đang ngồi học chữ nên cứ kệ nó vậy thôi.

Chơi được ba ván, tay trái thắng hai, Tùng sinh chán.

Nó quẳng cành cây đi, lén đi vặt mấy cái lá còn xanh lóng ngóng gấp thành mấy hình thù kỳ lạ chơi.

Nó cố nhớ lại cách bạn cùng lớp cấp một gấp lá nhưng làm cách nào cũng không thể bắt chước được, Tùng đành chấp nhận mình vốn không có hoa tay, không thạo ngón nghề này lắm.

Gấp mãi không ra gì thì nó lại ngồi tỉa cuống lá, thắt mấy cái cuống lại với nhau, rồi thì cầm cuống lá chăn kiến.

Cứ thơ thẩn thẩn thơ như thế, trống canh đánh vang mấy hồi rồi, mặt trời đã ngả về sau núi, chữ viết lại chưa được bao nhiêu.

Tùng thẳng thắn lãng phí một ngày trời mà chẳng thấy chột dạ hay tiếc nuối.

Ba sư thầy biết chuyện, sư Tình toan dùng chổi đánh nó một trận lại bị sư Tâm ngăn lại.

Cụ trụ trì chỉ nhìn Tùng hồi lâu, không nói gì.

Sự im lặng của ba người trái lại lại làm Tùng tự thấy xấu hổ thay.

Nó đã quá quen với những ngày bị ép đâm đầu vào việc học rồi, càng ép nó nó lại càng không nghĩ mình sai.

Mà giờ đây không ai trách mắng nó, làm nó không khỏi nghĩ rằng có phải bản thân hơi quá đáng rồi không.

Tùng trằn trọc, tự vấn lương tâm suốt một đêm.

Bên thì cho rằng mình đã sống khổ sống sở mười mấy năm ròng, nay thả lỏng một chút thì đã làm sao.

Bên lại phản bác không học không hành, vô công rỗi nghề thì sao nên người.

Nghĩ thế nào cũng có cái lý riêng.

Tùng muốn mặc kệ lắm mà cứ mãi nhớ tới ánh mắt của các nhà sư.

Người thì thất vọng, người thì bực bội, người lại như đang hỏi nó.

Ồ, hỏi gì nhỉ?

Tùng thắc mắc, tự suy đoán mấy lần.

Lẽ nào là hỏi tại sao?

Tại sao nó cứ thích nhởn nhơ?

Tại sao nó không muốn học hành?

Đại loại vậy.

Tùng nghĩ ngợi vẩn vơ, bất giác ngồi bật dậy.

Nó len lén ra ngoài, nhặt cành cây đã bị nó quẳng đi hồi chiều, quỳ ngồi trên đất, cặm cụi tập viết dưới ánh trăng.

Đêm nay trăng sáng, sao soi đỉnh đầu.

Tùng từ sự khó chịu vì không có một cái bàn học ra hồn, lòng thầm chửi người đọc sách khắp thiên hạ sắp thoát vị đĩa đệm cả đám đến nơi rồi, cho đến lúc này chỉ biết chấp nhận hoặc là quỳ rạp hoặc là ngồi bệt trên đất mà viết.

Tất nhiên nó biết mỏi là gì, cơ mà một mình nó sao dám làm dáng hơn nhiều người khác.

Gần như không một học trò nào có một cái bàn ra hồn, chắc chỉ có con nhà giàu mới biết cảm giác ngồi học trên một cái bàn là như thế nào.

Tùng viết khắp sân.

Nó lười thì thôi, chứ nó mà chăm lên là đặt yêu cầu cho bản thân cao lắm.

Xa xa văng vẳng tiếng trống canh dồn, từng tiếng lại từng tiếng làm Tùng cảm giác như mình đang sống trong thơ của Hồ Xuân Hương.

Đêm dài tĩnh lặng, thế giới lặng yên, trong không gian chỉ độc những tiếng trống báo canh.

Tùng tự dưng thấy hơi cô đơn, nhưng rồi nó vẫn mặc kệ.

Nó đứng chống nạnh xem lại một lượt thành quả cả đêm của mình, hài lòng gật đầu.

Không hổ là nó, chữ nào chữ nấy cũng đều đẹp hút hồn.

Giải Nhất "Vở sạch chữ đẹp" phải như vậy chứ!

Sớm hôm sau, cụ trụ trì thức dậy, thấy trên sân đất đầy những hàng chữ ngay ngắn nắn nót, trông không giống chữ của đứa nhóc mới tập viết chút nào.

Cụ cười tít mắt, lẩm bẩm trẻ con giờ này vẫn dễ dạy lắm.

***

Tác giả tám nhảm: Tôi sẽ luân phiên dùng cả hai tên Tùng và Lê của nhân vật chính nhé.

Vì khi xuyên không, nhân vật chính tên Lê, đứng dưới góc nhìn của những người xung quanh thì nó chỉ là Lê thôi.

Khi quay về góc nhìn của nhân vật chính, tôi vẫn để nguyên cái tên Tùng.

Nhớ nha: Tùng = Lê, Lê = Tùng.
 
[Xuyên/Chls] Nho Sinh
Q1 - Chương 7


Quyển 1: Mười năm đèn sách

Chương 7

Sư Tình thường xuyên nhận việc quét sân chùa cũng nhìn thấy hàng chữ trải đầy sân.

Thầy quá đỗi bất ngờ, không tin nổi mà hỏi cụ trụ trì:

- Lê biết buông rồi ư thưa thầy?

Buông, có nghĩa là khi đã viết quen tay, học trò không cần tô theo khuôn chữ, không nhìn chữ mẫu mà bắt chước, chỉ dựa vào trí nhớ mà hoàn thiện từng nét chữ.

Lê mới học chữ chưa được mấy ngày, mới chỉ khoảng một tháng là cùng, vậy mà đã biết viết buông hàng dài như vậy rồi.

Hơn nữa, cũng không phải là kiểu tập viết lặp đi lặp lại một chữ, mà là hẳn mấy câu.

Sư Tình lẩm nhẩm đọc, càng đọc càng thấy quen quen.

Lẽ nào thằng Lê còn chép lại thơ?

Nó mới biết được bao chữ mà đã biết chép thơ rồi?

"Phong đả tùng quan nguyệt chiếu đình

Tâm kỳ phong cảnh cộng thê thanh

Cá trung tư vị vô nhân thức

Phó dữ sơn tăng lạc đáo minh" [1]

[1] Bài thơ "Ký Thanh Phong am tăng Đức Sơn" (Tặng nhà sư Đức Sơn ở am Thanh Phong) của vua Trần Thái Tông

Chữ Hán:

寄清風庵僧德山

風打松關月照亭,

心期風景共凄清。

個中滋味無人識,

付與山僧樂到明。

Phiên âm

Hán Việt:

Ký Thanh Phong am tăng Đức Sơn

Phong đả tùng quan nguyệt chiếu đình,

Tâm kỳ phong cảnh cộng thê thanh.

Cá trung tư vị vô nhân thức,

Phó dữ sơn tăng lạc đáo minh.

Dịch nghĩa:

Tặng nhà sư Đức Sơn ở am Thanh Phong

Gió đập cổng thông, trăng sáng trước sân,

Lòng hẹn với phong cảnh cùng trong sạch lặng lẽ.

Bao nhiêu thú vị trong đó không ai hay,

Mặc cho nhà sư trong núi vui đến sáng.

Nguồn: Thơ văn Lý Trần (tập 2), NXB Khoa học Xã hội

Bản dịch lấy từ thivien

Sư Tình chắp tay niệm:

- A Di Đà Phật.

Hèn gì cụ trụ trì cứ bảo nó có một bụng thi thư.

Thực là có một bụng nhưng bản thân nó lại cứ thích giấu nhẹm đi thôi.

Sư Tình chắc chắn trong chùa không ai đọc thơ cho nó biết bởi các sư đều không phải người đọc sách thực sự, tuy rằng vài ba chữ nghĩa trong đầu cũng đủ để họ đọc kinh.

Các sư tụng niệm kinh kệ nhiều như thế, thằng Lê ở lì trong chùa bốn năm mà mãi chẳng nhớ nổi, ấy thế lại chép được nguyên một bài thơ sau một tháng học chữ.

Chẳng lẽ cụ trụ trì nói đúng, thằng Lê có số làm ông Nghè thật?

Sư Tình đọc đi đọc lại bài thơ, sực nhớ ra:

- Là thơ của vua Thái Tông thời Trần?

Không biết Lê biết từ đâu nữa.

Sư Tình đoán chắc hẳn thằng Lê chạy loanh quanh trong làng, tình cờ nghe đám trẻ con lanh lảnh đọc, nghe ông Đồ già giảng dạy cũng nên.

- Ký Thanh Phong am tăng Đức Sơn.

- Cụ trụ trì gật đầu đọc tên bài thơ, cũng có đôi chút không ngờ tới.

- Ta chỉ thấy sao Văn Khúc chiếu nó, không nghĩ rằng...

Không nghĩ rằng chỉ là lời bâng quơ mà lại thực sự ứng lên người thằng bé.

Trong ngôi chùa này, chỉ mình sư Tâm tin sái cổ lời của cụ trụ trì, đến ngay cả cụ cũng không dám thực sự đặt niềm tin vào nghiệp khoa cử của Lê làm gì.

Tiến sĩ thì khoa nào cũng có, nhưng mỗi khoa chỉ lấy có bốn mươi tới sáu mươi người, trong khi số người đọc sách trên khắp Đại Việt lại là bao nhiêu?

Mà trong số bốn mươi tới sáu mươi người ấy, có bao nhiêu người còn trẻ tuổi, lại có bao nhiêu người đã bạc đầu?

Bể học vô biên, con người học mãi học mãi cũng không hết được.

Khoa cử không phải điểm đến cuối cùng của người đọc sách, mà là một khởi đầu khác cho con đường dài hơn, nhiều chông gai hơn thôi.

- Ta lại thực chẳng mong Lê có thể thành ông Nghè.

Giờ xem ra không làm không được.

Cụ trụ trì thở dài, trong lòng chất chứa những sự vui buồn khác nhau.

Người tài bậc này, thể nào quan huyện cũng sẽ tìm cách cho nó vào trường thi Hương thôi.

Thi Hương rồi, dẫu Lê có muốn đi lính thì vẫn chỉ là mơ mộng chuyện viển vông.

Sư Tình không hài lòng lắm:

- Chẳng phải thầy cứ thích thúc nó đi học ư?

Cụ trụ trì thừa nhận:

- Ta chỉ mong nó lớn lên có kiến thức, có cái nghề để tự nuôi sống bản thân.

Chứ cái danh Tiến sĩ ấy à, với tính nết của nó, phải học ngày học đêm tới khi tóc điểm bạc mới đạt được đấy.

Mà quan trọng là nó có thích học đâu.

Nó có số làm chứ nào có lòng làm, nó đã không muốn thì sẽ không ai ép nó cả.

Cụ trụ trì không nói thêm, lòng thầm mong trời có thương thì chiếu cố nó, để dù Lê có chọn con đường nào đường nấy đều nở đầy hoa.

Hoa lê trắng ngần, tinh khôi và đẹp đẽ như cái tên của nó vậy.

***

Tùng rất giỏi Văn, tự nó biết.

Nếu nó không giỏi Văn, nó đã không vào được chuyên Văn của Chu Văn An, không lọt được vào đội tuyển học sinh giỏi, không đứng trong nhóm top đầu học sinh giỏi trong trường hai năm liên tiếp.

Không chỉ thế, Tùng còn biết mình có trí nhớ tuyệt đỉnh.

Tuy không đến nỗi vừa đọc đã nhớ, nhưng một khi đã nhớ thì nhớ tới hết đời.

Ban đầu nó không định hướng thi chuyên Văn, mẹ nó muốn nó học chuyên Toán.

Phụ huynh châu Á cả, ai mà không muốn con mình giỏi Toán nhất.

Với họ, giỏi Toán mới là bước đầu định hình được một đứa trẻ giỏi giang.

Tùng học Toán cũng được, không 8 thì 9, có thể tính nhẩm được những bài toán cơ bản, làm được đại khái vài bài Toán nâng cao.

Nhưng mẹ nó vẫn không hài lòng.

Điểm 9 thì còn được tính là khá, chứ điểm 8 là cái thá gì?

Bao lần nó hớn hở mang điểm 8 môn Toán về, mẹ nó toàn mặt nặng mày nhẹ.

Hôm nào dễ tính thì mắng nó vài câu đau thấu tim gan.

Hôm nào nóng tính vì trên cơ quan bị sếp chửi, mẹ nó không dùng đến đòn roi là không chịu được.

Tùng không ghét môn Toán, nó chỉ tạm dừng ở khoảng không ưa môn Toán thôi.

Vì không ưa, cũng vì phản ứng từ tâm lý nổi loạn tuổi dậy thì, nó tự ý đăng ký chuyên Văn mà không buồn hỏi ý kiến người lớn.

Nó đỗ chuyên Văn, mẹ nó ngất xỉu ngay tại trận.

Ở cái nhà đó, ngoài bố nó ra, không ai mừng vì nó đỗ chuyên cả.

Chuyên gì không chuyên, con trai ai lại đi chuyên Văn bao giờ?

Thà nó đổi chuyên Lý, chuyên Hóa hay chuyên Sinh, chuyên Tin nghe còn có tương lai, còn ra dáng học sinh giỏi, con nhà người ta hơn chuyên Văn nhiều.

Tùng mặc kệ lời xì xào bàn tán của họ hàng và gia đình.

Nó lại lao đầu vào học hành, học một mình để quên nỗi cô đơn, học nữa học mãi để thành tích của mình luôn tiến về phía trước.

Ngoài tác phẩm văn học trong sách giáo khoa, thi thoảng Tùng sẽ đi tìm kiếm những tác phẩm bên ngoài chương trình học.

Văn học là cả một nghệ thuật bằng ngôn từ, lúc ấy nó còn nghĩ tác phẩm trong sách giáo khoa không đủ cho nó cảm nhận nữa là.

Nó tìm tập thơ hiện đại, truyện ngắn, tiểu thuyết, tuyển tập của các tác giả nổi tiếng thế kỷ XX.

Văn học cách mạng trước 1945, sau 1945 và sau thống nhất có phong cách khác nhau, nghệ thuật ngôn từ cũng đa dạng không kém.

Nhưng Tùng vẫn chưa thỏa mãn.

Và rồi nó tìm đến văn học trung đại.

Văn học trung đại đa phần là thơ, ngoài ra có một vài thể loại đặc biệt khác như hịch, chiếu, biểu, cáo.

Những tác phẩm tiêu biểu nhất thì ai ai cũng biết rồi, nó còn thuộc nằm lòng để nếu cần còn trích dẫn.

Truyện Kiều có bao nhiêu câu thì từng ấy câu nó thuộc làu hết.

Nó muốn thứ gì đó mới mẻ hơn, ít người biết hơn mà vẫn có được điều nó muốn tìm.

Nó ngẫu nhiên tìm được tuyển tập thơ văn thời Lý - Trần.

Nó chỉ đọc bản phiên âm Hán Việt và phần dịch nghĩa, sau đó tự cảm nhận.

Tự cảm nhận văn học có cái thú riêng của nó, bởi mỗi người một suy nghĩ, một cảm nhận riêng.

Có đôi khi, Tùng chỉ đọc một bài thơ bất kỳ thôi mà như đắm mình vào thế giới con chữ ấy, thoát ly khỏi bể khổ nó đang phải chịu vậy.

Trời sáng bảnh mắt, Tùng trơ mắt đọc bài thơ mình chép trên đất.

Nó đã làm cái gì thế này!

Đêm hôm chắc não nó bị teo thành hạt nho, tập viết chữ còn chưa đủ đã lại đi chép thơ của Trần Thái Tông rồi!

Khoan nói nó có xuyên về lịch sử hay không, nếu đây không phải là triều đại lịch sử có thật thì hành động của nó khác nào bật tool hack làm quân ăn cắp, khác nào nữ chính truyện xuyên không mất não đời đầu đâu!

Tùng không muốn mất não, nó cần não để quay về nhà tiếp tục làm học sinh chuyên Văn.

Tùng lặng lẽ gào thét.

Tùng lăn lê bò toài trong ảo tưởng.

Nó đứng đờ ra như tượng, quyết định nếu có người hỏi nó ai viết bài này, nó sẽ bảo nó mơ thấy một vị vua kể cho nó nghe.

Còn vì sao nó biết được nhiều chữ như vậy, chịu thôi, ai bảo cái đầu nó thông minh lại còn dung lượng lớn cơ chứ.

Ngay từ ban đầu nó đã không chơi trò tô theo khuôn chữ mẫu như bọn trẻ con mà nhảy sang bước hai là bắt chước viết theo rồi.

Bắt chước được hai lần, nó bỏ chữ mẫu ra tự viết luôn cho dễ nhớ.

Thế là nhớ được cả đống thôi.

Không phải Tùng tự mãn hay gì, chuyện nó giỏi là thật mà lị.

Đương khi Tùng ưỡn ngực tự khen bản thân, quan huyện đã đi đến cạnh nó rồi.

Ông đọc bài thơ được viết trên đất, nén nỗi bất ngờ xuống, vẫn giữ vẻ bình tĩnh xen lẫn chút vui mừng mà hỏi nó:

- Bài "Ký Thanh Phong am tăng Đức Sơn" của Thái Tông thời Trần à?

Trò đọc được ở đâu vậy?

Tùng sốc đến điếng người, suy nghĩ trong đầu loạn thành một mớ bòng bong.

Nó đã nghĩ ra phương pháp đối phó với việc nếu đây là thế giới của triều đại không có thật mà tạm bỏ qua tình huống mình xuyên về quá khứ mấy trăm năm trước.

Nó đinh ninh mấy chuyện xuyên sử chắc gì đã rơi trúng đầu mình.

Cuối cùng, nó lại thật sự xuyên về lịch sử giống với anh họ nó!

Nó quyết định rủa anh nó đời đời không có bồ!

Đang yên đang lành kể cho nó chuyện xuyên không, giờ nó xuyên sử thật luôn rồi này!

Nước mắt của Tùng lại chảy thành sông Hồng, nó muốn về nhà, nó không muốn làm bé bươm bướm thay đổi toàn bộ lịch sử đâu...

Tùng nhanh chóng bình tĩnh lại, cẩn thận suy nghĩ.

Chuyện lỡ cũng lỡ rồi, trước mắt nó cần biết đây là triều đại nào, sau đó tùy cơ ứng biến rồi tiếp tục làm một thằng vô dụng hết ăn lại nằm.

Tốt hơn hết là nó không làm gì cả, nó mà lỡ làm cái gì thay đổi lịch sử chút xíu thôi thì nó thành tội đồ của Tổ quốc luôn mất.

Nếu đây là triều đại có thật trong lịch sử, lại nhắc tới vua Trần Thái Tông, vậy rất có thể đây là triều đại sau nhà Trần.

Là nhà Hồ ư?

Không, chắc chắn không.

Nhà Hồ cướp ngôi lên nắm quyền khi nhà Trần sụp đổ, người dân không ủng hộ nhà Hồ, dù có là làng quê yên bình nhất thì cũng phải khá nghèo, còn chưa kể luôn có quân Minh rình mò nữa.

Hậu Lê?

Tây Sơn?

Hay nhà Nguyễn?

Tùng nhìn quần áo của quan huyện, lặng lẽ gạch phương án nhà Nguyễn đi.

Dù sao cũng là triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam, thời trang của nhà Nguyễn được phổ biến rộng rãi hơn những triều đại khác gấp nhiều lần.

Tùng quá quen với cảnh quan huyện ngày xưa mặc áo ngũ thân tay chẽn, đầu đội khăn xếp, chứ không phải áo đoàn lĩnh có tay áo rộng thùng thình và cái mũ Ô Sa như kia.

Vậy thì chỉ có Hậu Lê và Tây Sơn thôi!

Tùng lặng lẽ nghiêng đầu nhìn xuống chân núi.

Làng này ruộng lúa xanh rì, thóc nằm đầy sân thế kia, khá tương ứng với câu thơ:

"Thời vua Thái Tổ Thái Tông

Thóc lúa đầy đồng, trâu chẳng buồn ăn."

Đây là câu thơ tả cảnh thanh bình yên vui của Đại Việt dưới sự cai trị của hai vị vua Lê Thái Tổ và Lê Thái Tông của nhà Hậu Lê.

Đầu Hậu Lê, đất nước hòa bình, người dân ấm no, hạnh phúc tới mức mà không thiếu cả cái ăn cái mặc, ruộng nào cũng trổ đầy bông, trâu ăn còn không xuể, được coi là một trong những thời điểm Đại Việt thịnh trị nhất trong lịch sử.

Không lẽ nó may mắn đến nhường này?

Tùng ra quyết định, lần này nó chúc anh họ cưới luôn tình đầu.

Được làm thằng vô dụng ở thời điểm đất nước yên bình thì còn gì bằng?

Nó háo hức hỏi quan huyện:

- Thưa thầy, trò có thể hỏi năm nay là năm bao nhiêu không ạ?

Tùng không trả lời câu hỏi của quan huyện, nói trắng ra là nó lơ luôn.

Hiện tại, nó chỉ muốn xác định suy đoán của mình thôi.

Dù rằng nó không chuyên Sử, không biết được niên hiệu của bao nhiêu vị vua.

Quan huyện thoáng khựng lại, như không hiểu sao đột nhiên nó lại hỏi như vậy.

Nhưng rồi ông vẫn trả lời:

- Tân Mão, niên hiệu Hồng Đức [2] năm thứ hai. [3]

[2] Hồng Đức: Niên hiệu của vua Lê Thánh Tông từ năm 1470 đến năm 1497

[3] Năm 1471

Tùng trố mắt đứng chết trân.

Niềm hạnh phúc đến quá bất ngờ, đập thẳng vào đầu nó làm nó mơ màng.

Hồng Đức?

Hồng Đức!

Là "Hồng Đức thịnh trị" như trên mạng nói đó ư?

Đây còn không phải là niên hiệu của Lê Thánh Tông triều Hậu Lê đó sao?

Idol Lê Tư Thành của thằng học lớp chuyên Sử bên cạnh!

Tùng rất muốn đại diện con cháu Việt Nam hiện đại hát vang câu "Từ nơi đồng xanh thơm hương lúa", lại còn phải là kiểu vừa hát vừa nhảy flashmob để thể hiện sự phấn khích của mình.
 
[Xuyên/Chls] Nho Sinh
Q1 - Chương 8


Quyển 1: Mười năm đèn sách

Chương 8

Nhà Hậu Lê kéo dài hơn ba trăm năm, bao gồm hai thời kỳ là Lê sơ và Lê Trung Hưng.

Trong đó, thời Lê sơ tồn tại chín mươi chín năm, từ đời vua Lê Thái Tổ cho tới đời vua Lê Cung Hoàng.

Sau đó, nhà Mạc lên ngôi, cai trị sáu mươi sáu năm rồi bị triều đình của vua Lê chúa Trịnh đuổi lên Cao Bằng, trả lại ngôi cho vua Lê.

Từ ấy cho tới năm 1789 là thời kỳ Lê Trung Hưng, hay thường gọi là vua Lê chúa Trịnh.

Nhắc đến Lê sơ, ngoại trừ việc nhớ tới Lê Thái Tổ Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn đánh tan quân Minh như thế nào, sự tích Hồ Hoàn Kiếm ở Hà Nội, còn phải nhắc tới vụ án oan Lệ Chi Viên nổi tiếng và tất nhiên, không thể không kể tới "Hồng Đức thịnh trị".

Cách gọi "Hồng Đức thịnh trị" không được đề cập đến trong nhiều tài liệu lịch sử, thật lòng Tùng chỉ nhớ từng thấy cách gọi này trên Wikipedia.

Mà Wikipedia lại là trang web mở, ai cũng có thể vào chỉnh sửa thông tin nên rất có thể là một giang cư mận vào viết như vậy.

Lê Thánh Tông, người đã tạo nên "Hồng Đức thịnh trị", một trong những vị vua kiệt xuất nhất lịch sử phong kiến Việt Nam.

Tương tự những vị vua kiệt xuất khác, những thành tựu ngài đạt được khi tại vị gần như choán hết cả trang sách giáo khoa Lịch Sử, thậm chí còn hơn thế nữa.

Đại Việt dưới sự cai trị của ngài đạt đến đỉnh cao của "thịnh thế".

Không chỉ người dân áo cơm không lo, mưa thuận gió hòa, hòa bình kéo dài mà ngay cả Nho học cũng phát triển, nhân tài xuất hiện lớp lớp, phát triển giao thương buôn bán với các nước phương Tây, vân vân.

Hơn thế nữa, bộ luật Hồng Đức (hay còn gọi là Quốc triều hình luật) được biên soạn ngay dưới thời Lê Thánh Tông.

Đây có thể coi là bộ luật mang tư tưởng tân tiến bậc nhất thời phong kiến dù vẫn còn đậm tư tưởng Nho giáo, đến nay còn được nhiều nhà luật học đánh giá cao.

Thử nghĩ mà xem, ở thời kỳ mà ai cũng ôm tư tưởng "trọng nam khinh nữ", bộ luật Hồng Đức đã có điều khoản chia quyền thừa kế cho con gái rồi, tuy rằng xét về mặt thứ tự thì con trai, cháu trai vẫn được ưu tiên hưởng trước [1].

Lại nói, bộ sách sử nổi tiếng "Đại Việt Sử Ký Toàn Thư" cũng được biên soạn vào những năm Hồng Đức này.

[1] Cụ thể được quy định tại phần Luật Hương hỏa, từ trang 152 đến trang 156.

Đừng hỏi tại sao Tùng biết nhiều như vậy dù nó học chuyên Văn.

Bạn cùng bàn của Tùng là một thiếu nữ xinh xắn, là crush của rất nhiều anh bạn chuyên Lý, và cũng của cả cậu bạn lớp chuyên Sử bên cạnh.

Bạn chuyên Sử không giỏi tán gái lắm, được cái đọc nhiều sách, thành ra phương thức tán gái của cậu bạn chỉ có một: khoe kiến thức.

Cậu bạn rất thích nhà Hậu Lê, tìm hiểu nhà Hậu Lê cũng nhiều nhất.

Idol của cậu ta không phải ca sĩ, diễn viên trong showbiz, mà là vua Lê Thánh Tông.

Tùng còn nhớ những ngày đi học ở đời trước, cứ giờ ra chơi là cậu bạn lại chạy sang lớp của Tùng, bô lô ba la về nhà Hậu Lê.

Từ trang phục, văn hóa, con người, cho tới cả vũ khí và cuộc chiến Nam Bắc triều, Đàng Trong Đàng Ngoài.

Nghe nhiều thành quen.

Tùng nghe đến tai cũng biết lì, không nhớ được mấy kiến thức đó mới là lạ.

Chỉ là nó không thể nào ngờ được có một ngày mình được làm nhân vật chính truyện xuyên không, lại còn xuyên về thời Lê Thánh Tông mà nó từng nghe kể rất nhiều.

Không giống anh họ nó được trải nghiệm xuyên về thời Lý mà không mang não theo, nó được sống sung sướng ở Đại Việt giàu đẹp của thời Lê sơ.

Không có so sánh không có đau thương, anh họ nó phải chịu đau, còn nó được trời thương.

Tùng chỉ mải ảo tưởng về những ngày tháng tươi đẹp sắp tới mà không để ý đến vẻ sa sầm của thầy mình.

Tiếp xúc lâu rồi mới biết, Lê thông minh thì thông minh thật, học chữ nào nhớ luôn chữ ấy, không phải đi tuần tự từng bước nhiều cho mất thời gian.

Cơ mà lắm tài thì nhiều tật, ngoại trừ cái đầu thông minh được trời phú ra, cả người Lê đều là tật xấu.

Nó ham ăn lười làm, cả ngày chỉ biết hết ăn lại nằm, há miệng chờ sung, ngay cả việc đơn giản nhất là ra ngoài vui chơi với đám trẻ trong làng nó cũng không chịu.

Cứ thế này thì đừng nói là làm tướng, cho dù nó muốn làm sư cũng bị chùa đóng cửa không cho vào thôi.

Quan huyện lặng lẽ lắc đầu.

Đường học với Lê hiện giờ phải gian truân lắm đây, khéo số phận chưa kịp thay đổi, nó đã lơ mơ sống hết một đời rồi.

Quan huyện đành tự nhủ thầm, thôi thì dạy nó được bao nhiêu thì dạy đến bấy nhiêu, sau này nó muốn như nào tùy nó, dẫu sao nó có một người thầy làm quan huyện kia mà.

Quan huyện hắng giọng, gặng hỏi lại:

- Bài thơ này trò nghe được ở đâu?

Tùng đơ người.

Nó đã cố quên rồi mà thầy cứ nhai lại làm gì không biết!

Nó láo liên nhìn xung quanh, trong đầu xoắn lại mớ suy nghĩ lung tung hòng tìm một lời nói dối vừa đủ logic để lấp liếm sự thật.

Bất chợt nó bắt gặp ánh nhìn mình chăm chú của quan huyện.

Tùng giật thót, vội vã cúi gằm mặt, ngón chân cuộn lại vì căng thẳng.

- Dạ...

Thưa...

Thưa thầy...

- Tùng ấp úng, cố gắng lấp liếm.

- Thầy Đồ trong làng có giảng một lần.

Trò...

Trò nghe được nên ghi nhớ, rồi... rồi ấy ấy thôi ạ.

Thầy Đồ trong làng tuy trượt thi Hội nhưng thi từ ca phú gì ông cũng thuộc làu.

Ông chẳng ôm giấc mộng làm quan, thi cho được cái danh hão rồi về quê mở lớp dạy học.

Nhưng mà dạy được mấy hôm, thầy Đồ thấy học trò của mình chỉ lắt nhắt có hai, ba đứa nên quyết định cứ cách nửa tháng sẽ bắc ghế ngồi ngoài sân, lớn giọng đọc một bài thơ rồi giảng từng câu.

Ai đi ngang mà nghe được đều dừng lại một lúc, đám trẻ con cũng tụm năm tụm ba lanh lảnh đọc theo.

Dù rằng người biết chữ không nhiều thêm, được cái người yêu thơ lại tăng khá nhiều.

Tùng từng lén giơ ngón cái mấy lần.

Thầy Đồ đúng chuẩn nhà giáo nhân dân của thời kỳ phong kiến, không phải ai cũng sẵn lòng san sẻ con chữ mình biết như ông.

Thời này coi trọng tôn sư trọng đạo, muốn đi học phải biếu xén đủ đường, không phải cứ muốn là được đi học luôn thôi đâu.

Mà học phí cũng cao, mua đồ dùng học tập phải dùng tiền, đi thi lại càng phải đóng phí, thành ra nhà nghèo đều không thể đi học.

- Thực thế ư?

Quan huyện ngờ ngợ nhưng vẫn không tin lắm.

Nhất là khi thấy điệu bộ giấu đầu lòi đuôi của thằng Lê, ông càng không tin mấy lời lý do lý trấu nó.

- Dạ...

- Tùng ngượng chín mặt.

Để hoàn thiện một lời nói dối cần vô vàn những lời nói dối khác chắp vào vá lại thành một sự thật méo mó, mà nó ngay cả nói dối cũng không thạo nữa là tìm một đống lời nói dối khác bù vào.

Nó co quắp đứng như trời trồng.

Nó nào đã phải đứng trong hoàn cảnh này bao giờ.

Đời trước, nó chỉ cần tập trung vào việc học hành, chuyện trong chuyện ngoài sẽ có người khác lo cho nó.

Ai cũng bảo nó phải chăm học, học cho ấm thân nó, nhưng nó lại nghĩ học cho mình là một, học cho danh dự của gia đình mới là mười.

Còn lần này không ai giúp nó cả.

Một mình nó ở nơi này phải che giấu sự thật rằng nó là người từ tương lai xuyên không đến đây, âu cũng chỉ để lịch sử đi đúng quỹ đạo.

Tùng ỉu xìu, liên tục khẳng định rằng mình nghe thầy Đồ giảng nên mới biết, cho tới khi quan huyện nói đúng trọng tâm:

- Ta đã dạy trò những chữ này đâu.

Tùng sững sờ hồi lâu, mắt nhìn đăm đăm những chữ mình viết.

Đều là chữ Hán phức tạp, nhiều nét, phải học rất lâu rồi mới có thể viết được.

Tùng nắm chặt vạt áo, tim đập thình thịch như trống trận.

Xong rồi!

Hỏng hết mẹ rồi!

Tùng nghiến răng ken két, vin vào lý do trước đó:

- Thầy Đồ dạy ạ.

Nói thế cũng không sai.

Tùng thật sự từng đi tìm thầy Đồ xin giảng cho vài chữ, trong đó có những chữ từ bài thơ này.

Nó của ban ngày không ngu, dại gì mà đọc nguyên câu thơ của người ta ra.

Nó cố tình tách chữ, hỏi chữ này đọc như này thì nghĩa là gì, viết như nào rồi cứ thế ráp lại ra bài thơ đúng chính tả.

Các bước chép thơ bằng chữ Hán của nó dài loằng ngoằng, nếu không vì tình yêu thơ vượt thời gian, nó đã chẳng tốn công tốn sức đến vậy.

Nó thật ngu dốt, biết vậy đã chép bằng chữ Quốc ngữ...

À thôi, biết vậy đã chẳng chép gì thì hơn.

Tùng lắc đầu, chép bằng chữ nào cũng củ khoai như nhau thôi.

Tùng nuốt nước mắt mặn chát như nước Biển Đông vào tận đáy lòng, không ngừng tự hỏi vì sao mình lại làm vậy.

Chẳng lẽ thấy đêm ấy sân chùa sáng trăng, trống canh từng đợt, sương khuya lượn lờ, một mình mình đón gió đêm dưới biển sao mênh mông nên đột ngột thức tỉnh bản năng thi sĩ?

Tùng lại lắc đầu nguầy nguậy.

Quan huyện thấy nó cứ lúc lắc cái đầu như con bò lần đầu đeo chuông, chau mày.

Thằng Lê càng lúc càng kỳ lạ, hoặc do tiếp xúc lâu rồi nên ông nhìn ra được một chút con người thật của Lê, một chút gì đó không giống với người nơi này.

- Chăm học là tốt, có công mài sắt có ngày nên kim.

Chẳng qua cái gì cũng nên từ từ thôi, trẻ con ở độ tuổi của trò chưa thể hiểu thấu ý thi nhân.

- Quan huyện nói, không đào sâu chuyện Tùng chép được nguyên bài thơ bằng chữ Hán như thế nào nữa.

Tùng ngoảnh mặt bĩu môi, ngoài mặt nó là một đứa trẻ bốn tuổi, thực chất nó là một nam sinh chuyên Văn mười bảy tuổi lận...

Hay hai mốt nhỉ?

Tùng không chắc nên cộng tuổi thật và số năm xuyên không không, cơ mà điều đó không quan trọng, quan trọng là tuổi tâm lý của nó già gấp mấy lần tuổi của cơ thể này đó!

Tùng chỉ dám chê bai trong lòng, miệng vẫn ngoan ngoãn vâng dạ.

Nó bấm bụng sắp tới sẽ giấu giỏi ít nhiều, đợi biết được nhiều chữ hơn, nó thích chép thơ nào thì chép, coi như luyện tập cũng được.

Buổi sáng, quan huyện giảng cho nó mấy chữ mới, giao bài tập rồi rời đi trong vội vàng.

Ông làm quan đứng đầu một huyện, chuyện lớn chuyện nhỏ trong huyện ông đều phải xem rồi xử lý.

Làm không tốt thì bị quan trên hỏi, lỡ mà gặp trúng mấy ông không ưa mình, đã không giữ nổi cái chức thì thôi, mất mạng càng là dễ như chơi.

Đừng nghĩ làm quan nhàn lắm, sáng dậy sớm hơn gà, tối ngủ muộn hơn chó, làm quần quật cả tuần, độ khổ không kém gì nô lệ tư bản của hiện đại.

Tùng cúi đầu nhìn xấp phóng mới, tính ra nó học chữ xong làm một thằng vô dụng tiếp cũng không tệ.

Chưa gì nó đã thấy tương lai làm tướng cũng không dễ dàng gì cho cam, khéo còn ăn khổ nhiều hơn quan địa phương.

Tùng chán rồi.

Tùng chỉ muốn lười thôi.

Bao giờ nó có phúc xuyên về thời chiến, bảo nó gác bút cầm súng nó chịu liền.

Chứ ở cái thời bình như này thì đánh nhau làm chó gì, ăn sung mặc sướng chờ chết già mới là cuộc đời đáng sống.

Thình lình, Tùng hơi ngơ ra, hình như nó quên cái gì đó.

Thời Lê Thánh Tông có chiến tranh không nhỉ?

Nó gãi tai gãi má, nghĩ mãi mà chẳng nhớ nổi, chỉ đành nhún vai bỏ sau đầu.

Tùng lật đật đi xóa chữ trên sân, xong xuôi lại cầm cành cây ngồi ngẩn người trên đất.

***

Hôm nay Chung béo lại lon ton chạy đến tìm Lê chơi.

Nhóc béo này quý Lê lắm, nhất là từ hồi hai đứa đứng chung chiến tuyến đấu võ mồm với mụ đàn bà chanh chua và thằng cháu xấc xược của mụ.

Với nhóc Chung béo, Lê là người bạn thân thiết nhất của nhóc từ thời cha sinh mẹ đẻ đến giờ luôn!

Thế là cứ hễ Lê xuất hiện ở đâu, nhóc sẽ bám theo tới đó như cái đuôi mũm mĩm.

Lê làm gì, nhóc sẽ ngồi bên cạnh nhìn hoặc ngược lại.

Chẳng hạn như bây giờ, Lê ngồi tập viết chữ, Chung béo ngồi cạnh nghịch đất, không làm phiền nó học.

Tùng vốn muốn ườn ra nằm lười, nhưng ngoảnh lại thấy một thằng nhóc cứ ngồi canh mình, nó chỉ biết nắm chặt cành cây, tiếp tục tập viết.

Tùng không có thói quen lười biếng trước mặt người khác.

Nó không làm thì không nói làm gì, nó đã làm rồi mà bên cạnh còn có người nhìn thì nó không cách nào dừng được.

Tùng thở ngắn than dài, tình huống hiện tại làm nó có cảm giác mẹ và bà nội đang ngồi bên cạnh xem nó làm bài tập, khiến nó muốn cựa quậy thôi cũng khó.

- Muốn học không?

- Tùng không nhịn nổi nữa, quay phắt sang hỏi Chung.

- Học đi, tao dạy cho.

Tùng nghĩ rất đơn giản, nó không thể để một mình mình chịu nỗi khổ bị chữ Hán hành hạ được, nhất định phải có một đứa bạn có khổ cùng chịu, có hoạn nạn cùng chia.

Vừa hay nhóc Chung béo là đứa duy nhất phù hợp yêu cầu của nó bởi vì hai đứa đủ thân để xưng "mày - tao" rồi.

Vả lại, chẳng phải có câu học thầy không tày học bạn đó sao.

Tùng mơ đẹp lắm, nào ngờ đáp lại nó là những cú lắc đầu muốn bay não của Chung.

Nhóc béo sợ tái mặt, biểu cảm hãi hùng hệt như nhân vật chính phim kinh dị khi lần đầu gặp phản diện.

- Tao hả?

Không cần đâu, tao nhìn thôi.

Tùng thấy lạ, nhỏ giọng gặng hỏi lại:

- Sao không?

Thể nào chả phải học.

Trong suy nghĩ cố hữu của nó, đứa trẻ nào mà chẳng được đi học.

Không học lúc này thì học lúc khác, kiểu gì cũng phải ngồi vào bàn học, suy cho cùng cả thế giới này chỉ có nó mới không thèm học thôi.

- Không được đâu, mẹ tao là cô đào.

"Cô đào" là cách gọi ca nương.

Vốn ca nương còn được gọi là "ả đào" nhưng chữ "ả" nghe nó hư hỏng, giống gái mại dâm quá nên mới đọc chệch đi là "cô".

Cô đào giống như nghề ca sĩ của thời hiện đại vậy, chẳng qua chỉ hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc dân gian, cụ thể ra là ca trù.

Thời phong kiến, ca trù được xem là hạng mục giải trí phổ biến nhất, từ quý tộc, quan lại cho tới dân thường đều thích xem.

Tuy nhiên, ở dân gian, ca trù thường chỉ được biểu diễn vào các dịp lễ hội tại sân đình làng chứ không phải cứ thích lúc nào là được xem lúc ấy.

Tùng xuyên tới đây bốn năm rồi mà chỉ có hội đình làng năm nay mới được nghe và biết ca trù là gì.

Tiếc rằng lúc đó nó không biết mình xuyên về quá khứ mấy trăm năm trước.

Nếu biết, có lẽ nó sẽ nán lại lâu hơn, cảm nhận nhiều hơn bầu không khí văn hóa nghệ thuật dân gian mà tương lai nó ít hoặc gần như không tiếp xúc tới.

Tùng không hiểu.

Cứ cho rằng cô đào là ca sĩ thời phong kiến đi, vậy thì tại sao con của ca sĩ lại không thể đi học được nhỉ?

Nó ngoẹo đầu, thành thật nhả ra một chữ:

- Thì?

Nhóc Chung béo trả lời rất đương nhiên:

- Thì tao không được đi học thôi.

Thấy Lê sững người, dường như vẫn không hiểu lời nhóc, Chung quẹt bụi đất trên tay lên chiếc áo mỏng rách từa lưa, nghiêm túc đối mặt với bạn mình.

- Đúng ra tao còn không xứng làm bạn mày ấy chứ.

- Nhóc béo buồn thiu.

- Mày là người đọc sách, còn tao chỉ là con hát thôi.

***

Tác giả tám nhảm: Cứ đà viết này không biết đến Tết được bao nhiêu chương he XD
 
[Xuyên/Chls] Nho Sinh
Q1 - Chương 9


Quyển 1: Mười năm đèn sách

Chương 9

Tùng không ngủ được.

Nó mất ngủ mấy đêm rồi, cứ khuya khoắt lại trằn trọc, rạng sáng mới nhắm mắt được vài ba phút rồi lại tỉnh.

Đầu nó vẫn văng vẳng lời nói của Chung, trong thâm tâm không tài nào chấp nhận sự thật nghiệt ngã rằng thế giới này tồn tại loại người không được đi học.

Sự thật ấy chẳng khác nào một cái mặt nạ hề dính chặt lên gương mặt Tùng, biến nó thành vai chính trên một sân khấu hài kịch nơi mà người người đua nhau cười nhạo nó.

Cười xong rồi, mấy người đó lại la ó nó diễn thậm tệ, người tài giả ngu đâu còn là trend nữa đâu, chưa kể nó giả ngu còn không đến nơi đến chốn.

Lại có người ném rác lên người nó, than rằng trên đời có người không thể đi học, nó được tạo điều kiện đến thế còn làm dáng cái gì?

Sự khó chịu này khác hoàn toàn với lúc bị so sánh với "học sinh nghèo vượt khó" trên tivi hồi trước.

Học sinh nghèo dẫu sao cũng là học sinh nghèo, còn Chung lại không được đi cùng danh từ "học sinh" ấy.

Sự thật đó không ngừng khiến nó rơi vào tự hỏi, hiện tại nó đang làm cái trò gì vậy?

Khi người khác không có cơ hội, cơ hội nằm trong tay nó mà nó lại không biết giữ, có thấy lãng phí không?

Có thấy thỏa lòng mình chưa?

Nó không nhắc đến sự mong mỏi của quan huyện và ba sư thầy.

Các thầy muốn nó học vì cái gì, nó biết hết ráo.

Còn chẳng phải vì tương lai của nó à.

Biết là thế nhưng các thầy không bắt ép nó học nhiều, chẳng qua lúc cần nghiêm khắc thì vẫn nghiêm khắc thôi.

Ở nơi này, nó thật sự chỉ học để ấm thân mình.

Có thế thôi mà nó cũng không nghiêm túc làm được.

Tùng chợt thấy day dứt khôn nguôi, lăn qua rồi lộn lại, trằn trọc chờ bình minh lên.

Sáng hôm ấy, nó trưng một khuôn mặt mệt nhoài nghe quan huyện giảng chữ.

Quan huyện phát hiện nó vừa mệt mỏi lại mất tập trung, bèn cất sách đi hỏi chuyện.

Tùng lưỡng lự một hồi, rốt cuộc vẫn không nhịn được mà hỏi:

- Thưa thầy, tại sao Chung lại không thể đi học ạ?

Quan huyện đáp:

- Không hẳn là không thể, chỉ là không nên.

Lại còn thế nữa!

Tùng suýt chút thì nằm lăn ra đất giãy đành đạch.

Nó còn chưa hiểu vì sao lại "không thể" mà giờ đã có thêm "không nên" rồi.

- Vì sao vậy ạ?

Tùng hỏi tiếp.

- Đó là quy định.

- Quan huyện trầm ngâm.

- Con cái nhà hát xướng không được phép thi khoa cử.

Nếu đã không được thi, vậy còn học làm gì.

Tùng sững sờ.

Nó không biết đến quy định đó thật dù giờ nó cũng được tính là người học chữ.

- Vì sao ạ?

- Nó lí nhí hỏi lại, bàn tay nắm chặt vạt áo, lòng căng thẳng không thôi.

Quan huyện đoán ra nó không đành lòng, chỉ thở dài thốt lên quan niệm của người xưa:

- Hát xướng là nghề thấp kém, bán tiếng hát tiếng cười mua vui cho người đời, sao xứng đặt chung với nghề đọc sách.

Bảo sao có những người bình thường nghe hát thì hăng lắm, nghe xong lại khinh người hát cho bằng được.

Thì ra, trong mắt những kẻ tự cho rằng mình có thể thưởng nhạc ấy, người hát chẳng là gì ngoài mấy cô ả chỉ biết bán tiếng cười.

Tùng rùng mình, cái so sánh này khác gì ví von ca sĩ trung đại thành gái đứng đường đâu chứ, tuy nó biết nghề nào cũng có góc khuất nhưng ví con gái nhà người ta như thế này thì còn ra thể thống gì?

Đã vậy còn bày đặt ảnh hưởng lên đầu con cháu của họ nữa chứ?

Đừng bảo Tùng cái gì mà quy định như vậy là để con cháu được theo nghiệp gia đình, tiếp nối truyền bá văn hóa dân tộc các kiểu.

Thôi đi, người phong kiến không nghĩ được nhiều như vậy đâu.

Huống chi ở thời điểm văn hóa dân tộc cực thịnh như thế này, họ tự động cho rằng sẽ có người tiếp nối và gìn giữ đến muôn đời chứ không phải như cả nước Việt Nam hiện đại chỉ còn biết nhờ một, hai cá thể độc lập được đưa lên báo đâu.

Hơn nữa, sở thích sở ghét của mỗi người mỗi khác.

Nhỡ đâu có người không muốn theo nghiệp của gia đình thì sao?

Cái xã hội này chẳng chịu nhường cơ hội thứ hai cho họ, vây chặt họ vào một lối đi duy nhất, như vậy thật không công bằng chút nào, càng không hợp với những tư tưởng Tùng được tiếp xúc và giáo dục nhiều năm.

Không biết lấy đâu ra can đảm, Tùng gân cổ lên cãi bằng được:

- Nhưng họ làm ăn đàng hoàng mà.

Quan huyện không nói gì hồi lâu, ánh mắt giấu giếm bao nỗi trăn trở, cuối cùng chỉ nói được một câu:

- Lê à, ta không cản trò làm bạn với Chung không có nghĩa là ta không muốn làm vậy.

Tùng khựng lại, lòng can đảm của nó tựa thủy triều lên rồi lại xuống, và rồi chẳng còn lại chút gì.

Nó không biết nên nói rằng mình đã quen với cảm giác bị phủ định như này, hay nên cảm thán cuộc đời này vẫn chưa chịu tha nó.

Cả cuộc đời này, hai đời liền, có lẽ nó thật sự tự hào vì có một cái đầu thông minh.

Nhưng chỉ thông minh, chỉ biết cắm đầu vào học thì được ích gì, nó liên tục bị cuộc đời xoay như chong chóng, chẳng làm được nước non nào đấy thôi.

Những tưởng thoát được bà mẹ độc đoán, nó lại gặp nguyên một cái xã hội độc đoán.

Ngay đến việc kết bạn với ai còn so đo xứng hay không, vậy nó còn trông chờ gì nữa ở mình đây?

Tùng bặm môi, đột dưng nó muốn khóc mà không được, nghẹn ngào thốt ra lời:

- Thầy ơi, nghề nào chẳng là nghề, có phạm pháp đâu mà phải phân biệt họ với nhau.

Quan huyện nghiêm giọng nhắc nhở:

- Nhưng đó là quy định rồi.

Ta không sửa được, trò càng không sửa được.

Quan huyện quay lưng rời khỏi, bỏ lại một mình Tùng bơ vơ nơi sân chùa hắt hiu.

Đêm xuống, nó vẫn cứ thẩn thơ như vậy, một mình nằm co ro trong tấm chăn mỏng.

Nó tưởng nó đã có một mái nhà che mưa chắn gió, thì ra từ đầu đến cuối vẫn chỉ có một mình nó đội trời mà thôi.

Thùng...

Thùng...

Thùng...

Lại là trống đánh canh.

Tùng giật mình thảng thốt, phải rồi!

Đúng rồi!

Dù nơi này có là Đại Việt phồn hoa, dù người cai trị có là vua Lê Thánh Tông lẫy lừng sử sách, thì vẫn không che giấu được sự thật rằng nơi nó đang sinh sống là một xã hội phong kiến, một cái xã hội đề cao giai cấp và phân biệt giai cấp nặng nề.

Người dân ở tầng thấp lắm rồi, mà dưới dân còn có tầng lớp thấp hơn nữa.

Nghề hát xướng còn không bằng một người dân bình thường sao?

Họ chẳng xứng động vào sách vở ư?

Nhưng rõ ràng họ là người gìn giữ và phát triển văn hóa kia mà!

Hiện đại làm gì có ai đọc Tứ Thư Ngũ Kinh, lại chẳng mấy ai thông làu kinh sử.

Thế mà người hiện đại vẫn biết đến ca trù, biết đến văn hóa và nghệ thuật dân gian, còn không phải nhờ người trước sẵn sàng giữ gìn và truyền lại à?

Và rồi những người làm nghề ấy nhận lại được gì?

Một sự mỉa mai không đáng có.

Thật bất công!

Ở đâu cũng thật bất công!

"Thiên tử trọng anh hào,

Văn chương giáo nhĩ tào.

Vạn ban giai hạ phẩm,

Duy hữu độc thư cao." [1]

[1] Bài "Thiên tử trọng anh hào" (Vua trọng bậc anh hào) của Uông Thù thời Bắc Tống (Trung Quốc).

Chữ Hán:

天子重英豪,

文章教爾曹。

萬般皆下品,

惟有讀書高。

Phiên âm:

Thiên tử trọng anh hào,

Văn chương giáo nhĩ tào.

Vạn ban giai hạ phẩm,

Duy hữu độc thư cao.

Dịch:

Vua trọng bậc anh hào,

Văn chương học tốt vào!

Chi chi đều thấp kém,

Chỉ đọc sách là cao.

(Bản dịch trên thivien.net)

Tùng lẩm bẩm đọc, đọc một lần rồi hai lần, rồi nghiến răng nghiến lợi mà đọc.

Một giọt nước mắt chậm rãi lăn xuống gối.

Nó bắt đầu thấy sợ, thấy vô lực, bởi cả nơi này chỉ nó mang tư tưởng hiện đại, lại còn là loại tư tưởng bị người phong kiến xem là dị biệt nữa chứ.

Nó muốn thay đổi nhưng trớ trêu thay, giờ nó chỉ là một đứa bé sinh sống tại xã hội phong kiến đầy biến động ấy thôi.

Nó nhỏ bé, ngay cả một hạt cát cũng không bằng, đâu có thể khuấy động đến cả một thời đại.

- Có cái con mẹ mới "duy hữu độc thư cao"!

Tùng bực bội quệt mặt mình, không nhịn được mà nói tục một câu.

Sau giây phút u sầu, đầu nó lóe lên một ý nghĩ không tưởng.

Nếu đã "duy hữu độc thư cao", vậy chẳng bằng nó chủ động theo nghiệp khoa cử, đi thi đi.

Dẫu nó không thể đỗ cao, song ít nhiều gì cũng góp chút sức mình để thay đổi hiện thực này.

Nó làm quan văn hay võ đều được, nhưng ít nhất, cái tối thiểu nhất, nó muốn tạo điều kiện cho cái gọi là bình đẳng giai cấp xuất hiện, giúp đỡ được một phần nhỏ người của xã hội này là tốt rồi.

Giống như thầy Đồ già vậy, biết là không mấy ai được học chữ nên bắc ghế ngồi giữa sân giảng thơ cho người qua đường.

Tùng ngồi dậy, đẩy tay hé mở cửa sổ.

Lại một đêm không ngủ, nắng mai dịu dàng rọi qua khe cửa khép hờ, Tùng chăm chú nhìn khoảnh sân đầy chữ.
 
[Xuyên/Chls] Nho Sinh
Q1 - Chương 10


Quyển 1: Mười năm đèn sách

Chương 10

Tùng ngồi xổm trên bờ ao, hai tay kéo khóe miệng, nhe răng soi mặt nước.

Hàm răng đen sì đều tăm tắp, bóng loáng, nếu nhìn kỹ hơn thì Tùng còn thấy mặt mình phản chiếu từ nước lên răng được luôn cơ.

Tùng xấu hổ bụm miệng lại.

Nó mới nhuộm răng không lâu, nhìn kiểu nào cũng không quen nổi.

Thẩm mỹ mỗi thời mỗi khác, đời trước răng nó trắng sáng như quảng cáo P/S và Colgate, ngay cả nha sĩ cũng khen răng nó đẹp, đáp ứng đủ tiêu chuẩn của hàm răng đẹp thế kỷ XXI.

Thế mà vì phong tục mà đời này nó phải nhuộm răng đen sì như ngậm than để đánh răng nửa năm liền.

Màu đen càng làm nổi bật làn da trắng nhợt vì ít ra sáng của nó.

Mỗi lần nhe răng ra nhìn, Tùng cứ tưởng tượng như thể nó chuẩn bị đóng vai phản diện phim kinh dị đình đám nào đó vậy.

Nó thở dài thườn thượt, tiện tay vốc nước rửa mặt.

Nước ao tóe lên làm ướt chiếc giao lĩnh rộng thùng thình.

Bây giờ Tùng mới sực nhớ mình đang mặc cái gì, chỉ đành ngậm ngùi đứng thẳng dậy, tay trái vắt ống tay áo phải và ngược lại.

Mặc mấy năm rồi mà vẫn chưa quen nữa.

Tùng vụng về rũ áo, đứng đơ như tượng chờ gió thổi hong khô.

Người làng đi ngang còn tưởng nó đang thưởng cảnh ngâm thơ, dáng đứng rất có phong độ của người hay chữ.

Chỉ mình Tùng biết trong đầu nó toàn cảnh mình dang hai cánh tay ra, ống tay áo phất phơ bay bay như cánh bướm, và rồi nó nhảy lên vút bay theo gió, về với thời đại nó sinh ra.

Mười sáu năm rồi, nó xa nhà cả mười sáu năm.

Tuy rằng nhà của nó vắng người nhưng so với việc sống một mình ở một thời đại xa lạ, thà rằng nó sống một mình trong gia đình ruột thịt thiếu tình thân.

Chí ít ở thời đại ấy, tư tưởng của nó không bị toàn xã hội cô lập.

Suốt mười hai năm học hành, không chỉ một lần Tùng dụ Chung học chữ cùng mình.

Nhóc Chung béo vậy mà khôn đáo để, vừa nghe mấy lời ngon ngọt là nhóc ta biết thừa Tùng gài mình, quyết không học dù chỉ một chữ.

Tức mình, Tùng thẳng thừng hỏi Chung rằng phải làm như nào nhóc béo mới chịu học chữ.

Nhóc béo thấy không thuyết phục bạn mình bằng lời lẽ bình thường được, đành thề thốt:

- Mày mà đỗ Tiến sĩ, tao đọc thuộc Tam Tự Kinh cho mày nghe.

Lời thề của nó càng làm Tùng quyết tâm học hành để đi thi khoa cử.

Nhiều đêm, dưới ánh nến cam cam, Tùng rời mắt khỏi trang sách cũ mèm, tự hỏi sao mình lại bị đày đọa làm học sinh chịu cảnh thi cử thế này.

Nghĩ rồi lại nghĩ, Tùng chợt thấy buồn bực khi nhận ra rằng nó gần như không có cửa làm tướng nữa rồi.

Không nói đến chuyện vóc dáng nó không thích hợp, mà căn bản từ ngày nó biết đọc chữ, muốn giúp người khác đọc chữ, cuộc đời đã định sẵn nó phải lều chõng đi thi.

Nhưng biết sao được giờ, vì nó có mục đích khác nên chính nó phải chịu thôi chứ sao.

Vậy là thời gian dần trôi, Tùng khoác trên mình áo giao lĩnh màu xanh, ngày ngày cầm một quyển sách, làm ra vẻ mà đứng trên núi ngâm thơ bình văn, chưa gì đã có bóng dáng của một nho sinh văn hay chữ tốt của thời phong kiến.

- Ô kìa, cậu Lê đang làm gì đấy?

Tùng giật mình quay người lại, vội chắp tay sau lưng hòng che đi ống tay áo còn ướt nước.

Là Uyên, người thiếu nữ năm xưa bế nó lên chùa gửi gắm các sư thầy.

Nàng Uyên ngày đó giờ đã qua đầu ba, nét xuân phơi phới dần phai, chỉ còn lại sự trưởng thành dãi dầu qua năm tháng.

Trên lưng nàng địu đứa con còn đỏ hỏn, tay ôm một thúng rau nhà trồng, sau lưng dẫn theo một lũ oắt lít nhít.

Uyên lấy chồng từ sớm, cứ cách năm lại đẻ một đứa, giờ đã có tổng bảy người con rồi.

Tính tuổi của Uyên, Tùng còn phải gọi nàng là cô là bác, xưng bản thân là cháu.

Vậy mà Uyên lại lễ phép gọi nó là "cậu".

Tuy nó chỉ là một nho sinh bình thường nhưng thầy của nó lại là quan huyện nay đã được thăng lên làm tri phủ, đâm ra dân làng kính nó một phép.

Ai gặp cũng gọi nó một tiếng "cậu", hai tiếng lại "thưa bẩm", làm Tùng cứ thấy bứt rứt khó chịu sao sao.

Cơ mà nó học khôn rồi, có thấy khó chịu thì cố mà nhịn vào trong, để lộ ra ngoài rồi lại bị người ta quở cho.

Tùng chỉ biết gượng cười, gật đầu với Uyên và lũ trẻ xem như chào hỏi, từ tốn trả lời câu hỏi của nàng:

- Ở trong phòng lâu quá, muốn ra đây ngắm cảnh đổi gió thôi.

Tùng cũng thật nể mình biết làm màu.

Sự thật rõ ràng vì nó muốn tìm chỗ nào đó để soi hàm răng mới toanh này, khóc thương cho hàm răng trắng bóng nó gìn giữ bấy lâu, cảm thán mình phải hy sinh quá nhiều để hòa nhập cộng đồng.

May thay Uyên chưa thấy động tác trợn mắt ngoạc mồm ra soi răng của nó, không kịp chứng kiến cảnh ống tay áo của nó tong tỏng nước.

Nàng khẽ cười, hỏi thăm đôi câu rồi dắt đám trẻ rời đi.

Tùng dõi theo bóng lưng nàng.

Nàng Uyên của mười sáu năm trước trong mắt Tùng rất cao lớn, rất vĩ đại, mà giờ khi quan sát kỹ, một đứa nhóc năm tuổi đã cao gần đến vai nàng rồi.

Tùng không ngờ dáng nàng nhỏ đến vậy, ước chừng còn chưa tới mét rưỡi nữa.

Phải chăng do vóc người của dân mình thuở trước vốn nhỏ?

Tùng không thắc mắc lâu lắm, nhìn ráng chiều dần buông nơi xa xa, nó vừa ngâm nga vừa thong thả tản bộ về chùa.

Trên chùa, thầy của Tùng đã ngồi đợi trong phòng nó từ lâu.

Khoảng vài năm trước, nhờ thành tích xuất sắc mà ông được đề bạt từ tri huyện lên tri phủ.

Chức quan lớn hơn, nơi ở xa hơn, công việc cũng nhiều hơn, do đó mà trong một khoảng thời gian dài ông không thể dạy Tùng điều gì.

May sao trong làng còn có thầy Đồ, Tùng đến nhà thầy Đồ hoặc ngồi tự học đều được, chí ít lúc ông đến kiểm tra thì bài vở của nó đều không thiếu cái nào.

Tùng bước tới, chắp tay vái:

- Bẩm thầy...

Tri phủ vuốt râu, gật đầu, ra chiều hài lòng lắm.

Ông vẫy tay gọi Tùng lại gần, đưa cho nó một chén chè xanh, vờ như không thấy vệt nước trên tay áo mà nó cố giấu, nghiêm giọng hỏi:

- Nghe bảo trò muốn thi Hương năm nay?

Tùng lễ phép vâng dạ.

Nó cảm thấy trình độ của mình hiện giờ là vừa đủ đáp ứng tiêu chuẩn cho sĩ tử đi thi rồi, thậm chí hơn hẳn nhiều người là đằng khác.

Cha ruột của thằng nhóc xấc xược năm xưa thi mãi còn chưa đỗ Hương cống, trong khi Tùng thuở bốn tuổi nửa chữ Hán bẻ đôi cũng không biết mà đã đọc vanh vách Mạnh Tử rồi.

Ai hơn ai kém, chẳng cần phải lấy tuổi tác ra so làm gì, chỉ cần nhìn thôi cũng biết.

Tùng tự mãn lại đắc chí nghĩ ngợi linh tinh, hoàn toàn bỏ qua một sự thật rằng bản chất nó là một người xuyên không, những gì nó đọc được và biết được trước đó đều nhờ nguồn internet phong phú của thời hiện đại.

Tri phủ cũng không phản đối mong muốn của nó, ông vui mừng vì nó chủ động chọn theo nghiệp khoa cử là đằng khác.

- Theo lệ thì mồng 8 tháng 8 bắt đầu vào trường nhất.

- Ông hắng giọng, nghiêm túc dặn dò.

- Tuy nhiên trước đó trò cần phải làm một bài ám tả.

Tùng đứng thẳng lưng, cứ ngỡ tai mình nghe lầm.

Nó không chắc chắn lắm mà hỏi lại:

- Ám gì cơ ạ?

Ám...

Ám tả?

Tri phủ giải thích ngắn gọn:

- Bài thi để loại bớt người kém.

Tùng hiểu rồi.

Nói cách khác, "ám tả" là một bài kiểm tra đầu vào để lọc bớt mấy người học dốt.

Tùng chậm rì rì uống một ngụm nước chè, đăng đắng, không hợp khẩu vị thường ngày của nó lắm nhưng vừa đủ để nó tỉnh táo mà suy nghĩ sâu xa thêm.

Khoa cử thời phong kiến thế mà cũng chặt chẽ ghê gớm, người xấu không được thi, người ở tầng lớp thấp không được thi, giờ ngay cả người ngu cũng không được thi nốt.

Tri phủ bảo hai hôm nữa sĩ tử sẽ làm bài ám tả.

Nội dung của bài ám tả khá đơn giản, nói chung chỉ cần có chữ trong đầu là làm được.

Tùng ban đầu còn khá ngơ ngác không biết ám tả là gì, khái niệm này quá xa lạ với nó.

Giờ nghe thầy miêu tả kỹ lưỡng, nó bừng tỉnh ngộ.

Hóa ra ám tả là chép thuộc lòng chính tả!

Tất cả sĩ tử trong địa phương đều phải tham gia làm bài ám tả, đề bài thường ra là chép thuộc lòng cổ văn trong Tứ Thư hoặc Ngũ Kinh.

Không quá khó, bước đầu thuộc nằm lòng Tứ Thư và Ngũ Kinh (bằng chữ Hán) là kiểu gì cũng qua bài ám tả, được vào thi Hương rồi.

Đỗ bài thi này không được học vị gì cao siêu hết, được cái người đỗ cao nhất sẽ nhận danh hiệu "đầu xứ", được mọi người công nhận là một nhà nho hay chữ, cũng oách lắm.

Tùng chăm chú lắng nghe, thỉnh thoảng lại hỏi kỹ hơn một vài chi tiết để chuẩn bị cho bài thi.

Tuy việc học rồi thi cử với nó đã như cơm bữa, song bối cảnh của hai đời hoàn toàn khác nhau, hệ thống giáo dục cũng một trời một vực.

Nó từ hệ chữ cái Latin phải lặn lội học hệ chữ tượng hình lại từ đầu, học lại cả ngữ pháp, rồi cả tập viết thơ với văn cổ, trong đầu phải thuộc lòng cả tỷ tác phẩm trung đại của Trung Quốc và Việt Nam mình.

Tùng thề, nếu trần đời này có giải học sinh hiện đại vượt khó nhất, nó mà không được giải thì không ai xứng được giải hết!

- Đây là giấy thông thân cước sắc của trò, giữ cho kỹ nhé.

Sau khi dặn dò xong những điều cần lưu ý trước khi vào trường thi, tri phủ lấy từ trong người ra một tờ giấy mỏng, đưa cho Tùng.

Nó cẩn thận nhận lấy bằng cả hai tay, kiểm tra kỹ thông tin bên trên.

Giấy thông thân cước sắc giống như căn cước công dân của thời hiện đại vậy, nội dung gồm lý lịch cơ bản như tên họ, ngày tháng năm sinh, quê quán.

Đối với người đọc sách còn có một mục là kinh chuyên trị.

Kinh ở đây chỉ Ngũ Kinh, chuyên trị hiểu nôm na như chuyên ngành, chuyên môn nghiên cứu vậy.

Hơi khác với đại đa số nho sinh thời này chuyên trị Kinh Thi hoặc Kinh Thư, Tùng lại chuyên trị Kinh Lễ.

Nó vẫn nhớ như in bài học đầu đời từ đời trước, không gì khác ngoài câu bất hủ "tiên học lễ, hậu học văn".

Trong suy nghĩ của nó, dù ở nơi nào thì điều quan trọng nhất vẫn cần phải hiểu lễ nghĩa, lấy lễ đối đãi với người mới là phải phép.

Chỉ khi nào động miệng không được, nó sẽ tìm cách động tay.

Tùng nắm chặt bàn tay như chân gà luộc của mình, trăm phần trăm tin tưởng mình dẫu gầy cũng là một đấng anh hào chân chính.

Ảo tưởng xong, nó lại đọc thông tin trên giấy thông thân cước sắc thêm vài lần nữa để chắc chắn không có vấn đề gì.

Để được tham gia khoa cử, Tùng buộc phải có một cái họ đàng hoàng, thế nên nó đã chấp thuận theo họ của tri phủ.

Nó đọc cái tên trên giấy, lặng lẽ thở dài một hơi.

Trịnh Văn Lê...

Tùng nhẩm đọc, đột dưng thấy hơi ngượng miệng.

Nó, Phan Thanh Tùng, cuối cùng cũng đã sống đến ngày nối nghiệp ông cha, có đệm là một chữ "Văn" rồi.

Thôi thì thôi thế, Tùng cất giấy thông thân cước sắc đi, lòng nhủ rằng đời này ông trời cho nó được tiếp nối tinh hoa dân tộc nhiều lắm đây.

- Đã chuẩn bị lều chõng chưa?

- Tri phủ ngẫu hứng hỏi.

Tùng đáp:

- Dạ rồi ạ.

Ba sư thầy đã chuẩn bị sẵn cho nó từ đầu năm rồi, nghe đâu cả lều và chõng đều do sư Tâm cặm cụi mấy đêm tự tay làm cho nó.

Nhớ đến đây, Tùng lại thấy ấm lòng.

Lỡ mà nó không thi được gì lại phụ công các thầy quá.

Tri phủ vuốt râu, gật đầu.

Cái gọi là lều chõng đi thi có nghĩa là mỗi học sinh phải chuẩn bị lều và chõng, cõng thêm một hòm sách đựng văn phòng phẩm lên đường đi lấy công danh.

Đường đi tìm con chữ chưa bao giờ là dễ dàng, đường để viết tên mình lên bảng vàng càng là gian truân gấp bội.

Chẳng những vì những bài thi khó nhằn, mà còn vì con đường đến trường thi nữa.

Tùng cúi đầu nhìn đôi bàn chân trần lấm đất của mình.

Ừ thì, trước khi bắt đầu lên đường, nó nên mua một đôi dép cái đã.

Trường thi được định tại một bãi đất trống gần đê sông, toàn bộ sĩ tử xứ Kinh Bắc sẽ tập trung ở đó.

Mà từ ngôi làng nhỏ nơi Tùng sinh sống cách bãi đất trống đó cả mấy huyện lận, chuyển sang khoảng cách đo hiện tại cũng phải cỡ mấy chục kilomet.

Mà quan trọng là, nó phải đi bộ cả quãng đường đó!

***

Tác giả tám nhảm: Thực ra đến khi viết chương này tôi mới biết ám tả là cái quễ gì, chứ lúc tra tài liệu thì ngơ ra luôn á

Trung bình main của Từ Đông khi xuyên về cổ đại: nhuộm răng đen
 
[Xuyên/Chls] Nho Sinh
Q1 - Chương 11


Quyển 1: Mười năm đèn sách

Chương 11

Sáng hôm ấy, trời nắng ráo sau ba ngày mưa dầm.

Lá cây xanh mướt đọng nước, nhiều đến mức hễ ai nổi hứng đi rung cây thì sẽ rung ra được một trận mưa nhỏ đủ để dội ướt sũng cả người.

Ruộng lúa ngập nước, đường đất lầy lội, trong không khí còn vương mùi ẩm ướt và cỏ dại mọc sau mưa.

Tùng xắn quần lên tận trên đùi, chân lõm bõm lội trên con đường vắng quanh co.

Đường quê thời cổ đại làm gì có đường lát đá, ngày nắng thì không nói làm gì, cứ đến ngày mưa là khổ.

Thời điểm này lại rơi vào khoảng tháng 7 tháng 8 âm lịch, là mùa mưa bão ngoài Bắc Bộ nên mưa nhiều lắm, mưa dầm mưa dề nhiều ngày là chuyện thường tình.

Những ngày kiểu này người thường còn ngại ra ngoài, mà năm nay chỉ tội cho những sĩ tử nhà bình thường hoặc nghèo phải bì bõm lội mưa đến trường thi.

Tùng đi bộ liên tục năm ngày, cả người đã nhức mỏi đến đau điếng rồi.

Trên lưng nó cõng lều chõng, trước ngực ôm hòm sách nặng trịch văn phòng phẩm, đầu đội một cái nón đủ để che nắng che mưa, dưới chân vẫn đi chân trần.

Đúng vậy, nó lại đi chân trần.

Không phải là nó chưa mua dép mà ngược lại, nó mua dép rồi, lúc rời làng có đi dép đàng hoàng.

Chẳng là trời mưa mấy ngày, Tùng tiếc cái dép mới, thà để bản thân đi đất còn hơn để dép mới bị bẩn.

Thành ra nó đi bộ năm ngày, đi đất hết bốn ngày liên tiếp, trở thành dẫn chứng trực tiếp của câu "có cũng như không".

Tùng biết rõ mình ở thời đại này không giàu sang gì, tiền các sư thầy đưa nó để trang trải vài ngày cũng là tiền nhà chùa tích góp nhiều năm nên nó tiếc tiền lắm, tiết kiệm được bao nhiêu thì cố tiết kiệm nhiều hơn thế.

Những ngày này nó chẳng làm gì khác ngoài đi lang thang trên đường, đi hỏi đường và mặt dày mày dạn xin cơm ăn, xin ngủ nhờ ở nhà người ta.

May mà dân mình thời nào cũng hiền lành chất phác, thấy nó là sĩ tử nghèo thì niềm nở lắm, cho nó ăn nhờ ngủ nhờ thoải mái, còn hỏi han nó có khó chịu ở đâu không nữa.

Tùng muốn gửi mấy đồng để cảm tạ mà họ không chịu nhận lấy, chỉ dặn nó thi thật tốt, mai này có làm ông này ông nọ thì mấy nhà từng giúp nó cũng được thơm lây rồi.

Tùng yêu đất nước này quá đi mất.

Tùng đi bộ nhiều ngày đến mệt bở hơi tai, nhiều lần suýt ngất xỉu giữa đường, cuối cùng đến khi mặt trời rọi thẳng đỉnh đầu mới lết xác đến được trường thi.

Hôm nay vẫn chưa phải ngày làm bài thi nên khoảng sân trống hoe trống hoác, chỉ có một bên góc sân dựng mấy cái chòi cao, chắc để giám thị ngồi quan sát toàn cảnh trường thi đây mà.

Ngoài sân là mấy anh lính canh đi qua đi lại, mặt hằm hằm cau có như thể hôm nay vốn là ngày nghỉ mà giờ phải đứng đây giữa trưa trầy trưa trật để xua mấy ông mọt sách có tính tò mò muốn vào trong tham quan.

Tùng thở hồng hộc ghé quán nước gần trường thi, hỏi thăm chủ quán xem nhà nào cho thuê phòng trọ mà giá cả phải chăng.

Chắc bởi nơi này năm nào cũng được chọn tổ chức thi Hương nên quán nước, quán ăn hay quán trọ đều có đủ cả.

Mà hình như mấy người mở quán nước đều thích nhiều chuyện, ông chủ quán nước không những chỉ cho Tùng từ đầu đường đến cuối ngõ có những nhà nào cho thuê trọ, mà còn thổi cho nó nghe mấy lời đồn nhà nào làm ăn bát nháo, nhà nào chuyên lừa tiền mấy cậu ấm nữa cơ.

Huyên thuyên một hồi, ông chủ lúc này mới quan sát Tùng từ trên xuống dưới một lượt.

Thấy mặt nó trắng nhợt, mồ hôi ướt nhẹp lưng áo, ông chủ thương tình cho nó mấy cái bánh ăn lót dạ, ngoài miệng lại chê nó học cho lắm rồi vác cái thân gầy còm này vào trường thi nhất xong ngày hôm sau ngất thẳng cẳng ra đó, lính tráng tưởng nó chết rồi lại gọi xác ném ra ngoài nghĩa trang cho đấy.

Tùng ngượng ngùng cười cười.

Mười hai năm này cuộc đời nó chỉ có đèn với sách, ngoài mấy trò chọc chó trèo cây ra thì nó không có hoạt động nào khác để vận động tay chân cả.

Chỉ riêng việc vác đồ lỉnh kỉnh đi bộ năm ngày trời đến trường thi đã là hoạt động ngốn sức nhất nó từng làm cả hai đời rồi.

Hơn nữa, mười mấy năm sống trên chùa nó chỉ ăn chay, người nó không gầy như que củi mới là lạ.

Nghĩ thôi lại thấy chán, Tùng ngán ngẩm thở hắt ra, các thầy mãi chẳng chịu dạy nó mấy miếng võ phòng thân gì cả.

Đến trường thi Hương đã tốn năm ngày trời rồi, sau này còn phải lên Đông Kinh [1] thi Hội nữa, giữa đường nó bị cướp tiền thì biết bảo vệ bản thân như nào đây?

[1] Tên gọi của kinh thành Thăng Long thời Hậu Lê, nay là thủ đô Hà Nội.

Đương lúc ấy có khách khác ghé quán nước.

Người này vóc dáng cao to hùng dũng, thân trên để trần, thân dưới đóng khố, để lộ tấm lưng và hai cánh tay xăm kín hình thuồng luồng.

Mặt mày đen sạm, râu ria mọc xồm xoàm trên cằm, mày rậm mắt sáng, đôi mày hơi cau lại nên trông tương đối dữ dằn.

Ai không biết còn tưởng giang hồ vào quán siết nợ cũng nên.

Khác với tưởng tượng của Tùng, không có vụ siết nợ nào ở đây cả, chỉ có một người đàn ông hướng ngoại vừa bước vào quán đã oang oang nói lớn:

- Ông chủ cho chén nước cái nhở.

- Đây đây!

- Ông chủ hớn hở đáp.

Vị khách lạ ung dung ngồi chung bàn với Tùng.

Nó co rúm người theo bản năng, im thin thít vờ như mình biết phép tàng hình.

Tiếc rằng đối diện nó là một ông anh xăm trổ hướng ngoại, nhác thấy cái hòm sách và lều chõng bên chân nó liền biết nó là ai rồi.

- Ô?

Sĩ tử à?

Trẻ thế, cậu giỏi đấy.

Ông anh xăm trổ cười sang sảng.

Nhưng điệu cười của ông anh không làm cho Tùng cảm thấy khá hơn, chẳng những thế còn suýt dọa nó ngã ngồi xuống đất.

Tùng cúi gằm mặt, run run đáp:

- Cũng thường thôi ạ.

Nó khiêm tốn vậy thôi, thế mà ông anh kia cũng hùa theo thật:

- Ờ, thường thật.

- Chẳng đợi Tùng kịp sượng người, ông anh nói tiếp.

- Văn hay chữ tốt cách mấy cũng trượt thẳng cẳng cả.

Tùng quên luôn cả nỗi sợ.

Dù chính nó cũng biết đến câu "học tài thi phận", song là một học sinh đã lì mặt với các bài kiểm tra, nó hiểu rõ chữ "tài" vẫn chiếm nhiều tỷ lệ trong điểm số cuối cùng hơn là chữ "phận".

Nếu có lỡ học lệch tủ thì chỉ cần trong đầu còn kiến thức tương quan, không lo không tìm được cơ hội lấy điểm.

Nó ngẩng mặt lên, toan đôi co vài câu thì đập vào mắt lại là cái bắp tay đồ sộ của ông anh xăm trổ.

Tùng lại rúm người như cũ.

Ông anh chẳng mảy may để ý đến cảm xúc của nó, thấy nó không đáp lời nên tưởng nó đồng tình với mình.

Ông anh sướng rơn, lần đầu tiên có một nho sinh chịu nghe mình nói mà không phản bác lời nào.

- Ôi tôi nói chứ, ám tả với thi Hương cách nhau cả dãy núi, chứ thi Hương với thi Hội cách nhau cả cái lạch trời lận đấy.

Cả đời tôi sống gần cái trường thi Hương này, thấy không thiếu mấy ông thi đến đầu tóc bạc phơ rồi mà vẫn trượt đâu.

Ông anh xăm trổ chia sẻ thật lòng.

Ông chủ quán nước cũng bổ sung mấy chuyện vui buồn những ngày thi cử thế này.

Thi đỗ, cả làng cả tổng hò nhau ăn mừng.

Thi trượt, rồi thi lại, thi lại mà đỗ thì mừng, còn nếu trượt tiếp thì thật chẳng biết đâu mà lần.

Trước đó Tùng đinh ninh chuyện khoa cử cũng sẽ chẳng ăn nhằm gì với nó.

Nó có thể không giỏi ở cái này cái kia, chứ tự nó đã luyện ra cái nết thấy đề không sờn rồi.

Thi cử thôi mà, có gì khó đâu chứ?

Giờ được tận tai nghe mấy lời này, nó không khỏi suy nghĩ cẩn thận hơn chút.

Nếu nó trượt thi Hương rồi sao?

Đỗ thi Hương nhưng trượt thi Hội thì phải làm thế nào?

Thực lòng Tùng còn chưa từng nghĩ tới chữ "trượt" nữa cơ.

Tùng vỗ đầu.

Thôi không nghĩ nữa, còn chưa thi mà cứ nhắc đến trượt mãi, nghe thôi đã thấy không may mắn rồi.

Nó ngồi thêm một lúc, trả tiền nước rồi hì hục mang đồ rời đi.

Bỗng nhiên, ông anh xăm trổ xồng xộc chạy lên chặn trước mặt nó, chân thành đề nghị:

- Nếu mai này cu em đỗ đạt, muốn lên kinh thi Hội thì gọi tôi nhé!

Đông Kinh đường xá xa xôi, nho sinh yếu bóng vía như cu em dễ bị cướp tiền lắm đó.

Tùng biết thân mình trai tơ gầy yếu, cơ mà "yếu bóng vía" lại là sao nữa?

Nó sống dưới hào quang của Phật mười sáu năm rồi, làm gì có ma cỏ nào dám động vào nó đâu chứ!

Ấy nhầm, nó vẫn nên kiên định với chủ nghĩa xã hội, kiên quyết bài trừ phong kiến mê tín dị đoan thì hơn.

Tùng gật đầu cho có, thầm nhủ chuyện tương lai có lên Đông Kinh hay không thì để sau đi, sau đó nhanh chóng lủi đi mất.

Nghỉ ngơi một ngày, hôm sau là ngày làm bài ám tả.

Từ sáng sớm Tùng đã xách theo lều chõng và hòm sách đến trường thi, chờ được đọc đến tên thì để lính canh kiểm tra rà soát một lượt rồi tiến vào.

Bài ám tả chưa phải bài thi chính thức, chỉ là một bài thi lọc bớt mấy người chưa biết chữ thôi.

Dẫu vậy cũng ít người dám gian dối lắm, người ở đây hầu như ai nấy đều đã nằm lòng Tứ Thư Ngũ Kinh rồi.

Khi này người ta còn chưa phân chia ai ở chỗ nào, mấy thí sinh chơi thân với nhau còn dựng lều tụm lại một chỗ kia kìa.

Tùng mạnh dạn đến trước chòi quan sát đặt chõng xuống, để hòm sách trên chõng, nhanh chóng dựng lều rồi chui vào, cẩn thận trải giấy, bút, hộp mực trên hòm sách.

Hòm sách ngoài việc là một món đồ đựng văn phòng phẩm, nhu yếu phẩm của sĩ tử, những ngày thi như này nó còn là một chiếc bàn tạm thời nữa.

- Kìa, cậu còn ngồi đó làm gì?

Qua nhà bảng xem đề đi thôi.

Một thí sinh để ý thấy Tùng ngoan ngoãn chờ trong lều của mình bèn lên tiếng nhắc nhở.

Nhà bảng là nơi dán đề thi, thí sinh phải tự qua đó chép đề mang về chỗ để làm chứ không ai in sẵn đề cho cả.

Tùng gãi đầu, nó biết rằng không có chuyện chờ nhận đề phát xuống, nhưng mà hình như phải chờ đến khi được ra hiệu rồi mới đi xem đề được chứ nhỉ.

Cùng lúc ấy vang lên một tiếng trống hiệu.

Các thí sinh lũ lượt kéo nhau đến nhà bảng xem đề.

Tùng nhỏ người chen lấn trong đám đông, bị xô từ góc này qua góc kia, thiếu chút nữa quên mất đường về.

Nơi này tụ tập toàn bộ sĩ tử của cả Kinh Bắc, người đông nghìn nghịt, xô đẩy nhau đứng trước nhà bảng, cố ngóc đầu nhìn giấy dán trên bảng.

Tưởng bài chép chính tả thì đề không dài, thực chất lại có tận bốn, năm câu liền.

Miệng Tùng ngậm hộp mực, mắt chăm chú đọc đề, tay chép lia lịa.

Nó viết ẩu viết tả, bấm bụng tính đọc được chữ nào thì hay chữ nấy vậy.

Chép xong, nó lon ton tìm đường về lều mình, tranh thủ "giải nghĩa" chính con chữ mình vừa chép.

Lại một hồi trống.

Bắt đầu tính giờ làm bài.

Tùng vuốt cằm xem đề.

Câu đầu tiên, may quá, chỉ có năm chữ "tri sinh ư ưu hoạn".

Tùng chau mày, Mạnh Tử à?

Mở đầu đã trúng tủ thế này thì kỳ này nó đỗ chắc.

Nó hí hửng bắt đầu mài mực, cầm bút chấm mực, ngẫm nghĩ một hồi mới bắt đầu viết.

"Mạnh Tử viết: 'Thuấn phát ư quyến mẫu chi trung; Phó Duyệt cử ư bản trúc chi gian; Giao Cách cử ư ngư diêm chi trung; Quản Di Ngô cử ư sĩ; Tôn Thúc Ngao cử ư hải; Bách Lý Hề cử ư thị.

Cố thiên tương giáng đại nhiệm ư thị nhân dã, tất tiên khổ kỳ tâm chí, lao kỳ cân cốt, ngã kỳ thể phu, không phạp kỳ thân, hành phật loạn kỳ sở vi, sở dĩ động tâm nhẫn tính, tăng ích kỳ sở bất năng.

Nhân hằng quá, nhiên hậu năng cải; khốn ư tâm, hành ư lự, nhi hậu tác; trưng ư sắc, phát ư thanh, nhi hậu dụ.

Nhập, tắc vô pháp gia, bật sĩ; xuất, tắc vô địch quốc, ngoại hoạn giả; quốc hằng vong.

Nhiên hậu, tri sinh ư ưu hoạn, nhi tử ư an lạc dã.'"[2]

[2] Dịch:

Mạnh Tử nói: "Ông Thuấn phát khởi ở trong ruộng rẫy; ông Phó Duyệt nổi lên ở gian nhà đất ván; ông Giao Cách nổi lên ở trong chốn cá muối; ông Quản Di Ngô nổi lên ở kẻ học trò; ông Tôn Thúc Ngao nổi lên ở mé biển; ông Bách Lý Hề nổi lên ở chợ búa.

Cho nên, Trời sắp trao trách nhiệm lớn cho các nhân vật ấy, ắt trước hết làm khổ tâm chí của họ, làm mệt nhọc gân cốt của họ, khiến da thịt họ phải đói lả, khiến thân xác họ phải nghèo túng, gây ra những ngang trái rối loạn trong các hành vi của họ, cốt để phát động cái tâm, nhẫn nhục cái tính, cho tăng thêm những gì họ chưa có khả năng.

Người ta thường lầm lỗi rồi sau đó mới có thể cải hóa; có khốn khổ trong lòng, có cân nhắc trong toan tính về sau mới làm nên việc; có phô ra ở vẻ mặt, có phát ra ở tiếng nói, về sau mới trình bày được rõ ràng.

Vào một nước mà không có những nhà biết giữ phép tắc, không có những kẻ sĩ biết phò tá; hướng ra, không có những nước thù địch, không có những mối lo lắng ở bên ngoài; nước ấy thường phải suy vong.

Vậy sau đó mới biết sinh tồn do ở ưu hoạn, tử vong do ở an lạc."

(bản dịch trong Tứ Thư Bình Giải, Lý Minh Tuấn)

Cổ văn không sử dụng dấu câu, thời này chẳng ai biết dấu chấm dấu phẩy như nào dẫn tới việc học thuộc lòng thường không dễ dàng lắm.

Tuy Tùng rất quý Mạnh Tử, xem Mạnh Tử như tủ của mình thì khi tiếp xúc với việc học thuộc văn bản bằng chữ Hán, lại còn là văn bản không dấu, khỏi phải nói nó đã vật vã đấu tranh đến như nào.

Tùng viết xong câu đầu tiên, hài lòng nhìn chữ viết của mình.

Không hổ là người đạt giải "Vở sạch, chữ đẹp" năm đó, ngay cả viết chữ Hán cũng nắn nót đến vậy.

Kỳ này nó không vào thi Hương thì thật sự có lỗi với chính chữ của mình luôn đấy.

Tùng đương vui mừng đọc lại câu đầu, ngay sau đó lia mắt xuống đề câu hai.

Khoảnh khắc ấy, nụ cười trên mặt nó lập tức sượng ngắt.

Đề câu hai là "Cơ giả dị vi thực, khát giả dị vi ẩm" [3].

Có thể hiểu nôm na rằng "Người đói thì dễ dãi với thức ăn, kẻ khát thì dễ dãi với đồ uống".

Nếu chỉ chép mỗi câu này thì chẳng đáng nói, chẳng qua câu này lại là đề bài cho một bài ám tả.

Mà bài ám tả lại là chép chính tả cổ văn.

Vậy suy ra, bây giờ nó phải chép nguyên si bối cảnh câu này được nói ra!

Tùng trố mắt muốn lòi tròng, ngỡ ngàng đến thiếu chút nữa trở thành thí sinh đầu tiên ngất ngay trong trường thi bài ám tả.

[3] Lý do main muốn ngất: phải chép hết đống này (không tính phần dịch) BẰNG CHỮ HÁN PHỒN THỂ và KHÔNG CÓ DẤU

Công Tôn Sửu vấn viết: "Phu tử đương lộ ư Tề, Quản Trọng, Yến Tử chi công, khả phục hứa hồ?"

Mạnh Tử viết: "Tử thành Tề nhân dã, tri Quản Trọng, Yến Tử nhi dĩ hỹ.

Hoặc vấn hồ Tăng Tây viết: 'Ngô tử dữ Tử Lộ, thục hiền?'

Tăng Tây xúc nhiên viết: 'Ngô tiên tử chi sở úy dã.'

Viết: 'Nhiên, tắc ngô tử dữ Quản Trọng thục hiền?'

Tăng Tây phật nhiên bất duyệt, viết: 'Nhĩ hà tằng tỷ dư ư Quản Trọng?

Quản Trọng đắc quân, như bỉ kỳ chuyên dã; hành hồ quốc chính như bỉ kỳ cửu dã; công liệt, như bỉ kỳ ty dã.

Nhĩ hà tằng tỷ dư ư thị?'

Viết: "Quản Trọng, Tăng Tây chi sở bất vi dã, nhi tử vi ngã nguyện chi hồ?"

Viết: "Quản Trọng dĩ kỳ quân Bá; Yến Tử dĩ kỳ quân hiển.

Quản Trọng, Yến Tử do bất túc vi dư?"

Viết: "Dĩ Tề vượng, do phản thủ dã."

Viết: "Nhược thị, tắc đệ tử chi hoặc tư thậm: thả dĩ Văn Vương chi đức, bách niên nhi hậu băng, do vị hiệp ư thiên hạ.

Vũ Vương, Chu Công kế chi, nhiên hậu đại hành.

Kim ngôn vượng nhược dị nhiên, tắc Văn Vương bất túc pháp dư?"

Viết: "Văn Vương hà khả đương dã?

Do Thang chí ư Võ Đinh, hiền thánh chi quân lục thất tác.

Thiên hạ qui Ân cửu hỹ; cửu, tắc nan biến dã.

Võ Đinh triều chư hầu, hữu thiên hạ, do vận chi chưởng dã.

Trụ chi khứ Võ Đinh vị cửu dã.

Kỳ cố gia, di tục, lưu phong, thiện chính, do hữu tồn giả.

Hựu hữu Vi tử, Vi Trọng, Vương tử Tỷ Can, Cơ Tử, Giao Cách giai hiền nhân dã, tương dữ phụ tướng chi.

Cố cửu nhi hậu thất chi dã.

Xích địa mạc phi kỳ hữu dã; nhất dân mạc phi kỳ thần dã.

Nhiên nhi Văn Vương do phương bách lý khởi, thị dĩ nan dã."

Tề nhân hữu ngôn viết: "Tuy hữu trí huệ, bất như thừa thế; tuy hữu tư cơ, bất như đãi thời."

Kim thời, tắc dị nhiên dã.

"Hạ hậu, Ân, Chu chi thịnh, địa vị hữu quá thiên lý giả dã.

Nhi Tề hữu kỳ địa hỹ.

Kê minh, cẩu phệ tương văn, nhi đạt hồ tứ cảnh.

Nhi Tề hữu kỳ dân hỹ.

Địa bất cải, tịch hỹ; dân bất cải, tụ hỹ.

Hành nhân chính, nhi vượng, mạc chi năng ngữ dã.

"Thả vương giả chi bất tác, vị hữu sơ ư thử thời giả dã.

Dân chi tiều tuỵ ư ngược chính, vị hữu thậm ư thử thời giả dã.

Cơ giả dị vi thực, khát giả dị vi ẩm.

"Khổng Tử viết: 'Đức chi lưu hành tốc ư trí bưu nhi truyền mệnh.' Đương kim chi thời, vạn thặng chi quốc hành nhân chính, dân chi duyệt chi, do giải đảo huyền dã.

Cố sự bán cổ chi nhân, công tất bội chi.

Duy thử thời vi nhiên."

Dịch:

Công Tôn Sửu hỏi rằng: "Thầy được chức vị ở nước Tề, công nghiệp của Quản Trọng, Yến Tử có thể hứa hẹn được lặp lại chăng?"

Mạnh Tử nói: "Ngươi thật là người nước Tề, nên chỉ biết Quản Trọng, Yến Tử mà thôi.

Có người đã hỏi Tăng Tây: 'Nhà thầy với Tử Lộ, ai hơn?' Tăng Tây bối rối trả lời: 'Tiên tổ của ta (Tăng Sâm) còn phải nể sợ ông ấy.'

"Người ấy nói: 'Phải, thế nhà thầy với Quản Trọng, ai hơn?' Tăng Tây bực mình không vui, nói: 'Ngươi sao lại so sánh ta với Quản Trọng?

Quản Trọng được vua dùng, dường như đó là khả năng riêng của ông ấy; thi hành việc nước dường như đó là việc đã quen lâu rồi; công lao rỡ ràng dường như đó là cách thức thấp hèn.

Ngươi sao lại so sánh ta với ông ấy?'"

Mạnh Tử nói: "Đối với Quản Trọng, Tăng Tây chẳng làm theo ông ấy, mà ngươi sao bảo ta mong muốn theo ông ấy?"

Công Tôn Sửu nói: "Quản Trọng đem vua lên bậc Bá chủ, Yến Tử làm cho vua được vẻ vang.

Quản Trọng, Yến Tử còn chẳng đủ để làm theo ư?"

Mạnh Tử nói: "Làm cho nước Tề thịnh vượng, giống như trở tay thôi."

Công Tôn Sửu nói: "Như thế thì đệ tử ngờ vực nhiều lắm.

Vả lại, Văn Vương đức hạnh là thế, trăm năm sau mới mất, mà còn chưa kết hợp được thiên hạ.

Vũ Vương, Chu Công tiếp nối, về sau mới nên việc lớn được.

Lời nói ngày nay của thầy làm cho thịnh vượng ví bằng dễ dàng như thế, thì Văn Vương chẳng đủ để bắt chước ư?"

Mạnh Tử nói: "Làm sao có thể sánh kịp Văn Vương được?

Từ vua Thang đến vua Võ Đinh, các vua hiền thánh xuất hiện sáu, bảy vị.

Thiên hạ theo về nhà Ân đã lâu rồi; lâu thì khó mà thay đổi.

Vua Võ Đinh mời chư hầu vào triều, có thiên hạ giống như điều động bàn tay.

Vua Trụ cách xa vua Võ Đinh chưa lâu.

Những gia tộc cố cựu, những thói tục còn sót, những phong hoá còn truyền, những việc chính trị tốt vẫn còn tồn tại.

Lại có Vi Tử, Vi Trọng, Vương tử Tỷ Can, Cơ Tử, Giao Cách đều là những bậc hiền, cùng nhau hỗ trợ.

Cho nên lâu về sau mới mất.

Một thước đất nào chẳng phải của vua Trụ; một người dân nào chẳng phải bề tôi ông ấy?

Vậy nên Văn Vương do mảnh đất trăm dặm khởi lên, chiếm lấy thì khó khăn.

"Người nước Tề có câu nói: 'Tuy có trí sáng suốt, chẳng bằng thừa thế; tuy có nông cụ, chẳng bằng đợi thời.' Thời nay thật dễ dàng vậy.

"Lúc thịnh trị của các vua nhà Hạ, nhà Ân, nhà Chu, đất đai chưa quá ngàn dặm.

Thế mà nước Tề có được đất đai thế này.

Gà gáy, chó sủa đều được nghe thấy khắp cả bốn phương.

Nước Tề lại có dân chúng.

Đất đai không cần thay đổi, đã mở mang rồi; dân chúng không cần tăng thêm, đã đông đúc rồi.

Thi hành chính trị nhân đạo mà nên nghiệp vương, chẳng có gì ngăn cản nổi.

"Vả lại, bậc minh quân không xuất hiện, chưa có thời nào từ xa xưa đến giờ như vậy.

Dân khô héo vì cai trị tàn bạo, chưa từng có thời nào thậm tệ như vậy.

Người đói thì dễ dãi với thức ăn, kẻ khát thì dễ dãi với đồ uống.

Khổng Tử nói: 'Sự lưu hành của đức hạnh còn nhanh hơn mệnh lệnh truyền rao do cách thông tin bằng người chạy, ngựa ruổi.' Trong thời buổi nay, nước có vạn xe trận mà thi hành chính trị nhân đạo, dân sẽ vui mừng, giống như được cởi khỏi nạn treo ngược.

Cho nên, công việc chỉ bằng nửa của người xưa, thành công ắt gấp nhiều hơn.

Duy có thời buổi này được như vậy thôi."

(bản dịch trong Tứ Thư Bình Giải, Lý Minh Tuấn)

***

Tác giả tám nhảm: nhân đây xin nhấn mạnh

TRUYỆN HƯ CẤU, KHÔNG CÓ GIÁ TRỊ THAM KHẢO!

TÁC GIẢ ĐÃ TÌM HIỂU VỀ BỐI CẢNH KHOA CỬ PHONG KIẾN, SẼ CỐ GẮNG BÁM SÁT SỰ THẬT NHƯNG KHÔNG THỂ ĐẢM BẢO ĐÚNG 100%!

TRUYỆN LẤY BỐI CẢNH KHOA CỬ THỜI LÊ SƠ, KHÔNG PHẢI THỜI NGUYỄN!

Nếu tác giả có sai sót ở đâu thì xin hãy nhẹ nhàng chỉ dẫn, đừng vội vàng chỉ trích nhé ❤️🌹😍
 
[Xuyên/Chls] Nho Sinh
Q1 - Chương 12


Quyển 1: Mười năm đèn sách

Chương 12

Tùng tự nhận mình làm bài ám tả không đến nỗi.

Dù đề bài mấy câu sau cũng oái oăm không kém gì câu thứ hai nhưng chí ít nó đều nhớ hết, viết được hết, xong trước giờ nộp bài.

Tùng tự thấy mình đúng thật là một anh học sinh thông minh, vượt qua khoảng cách thời đại mà vẫn học thuộc được toàn bộ Tứ Thư, Ngũ Kinh.

Chắc chắn chẳng ai từng xuyên không mà tài được như nó, giỏi đến mức đủ để trở thành một nho sinh văn hay chữ tốt.

Kết quả của bài ám tả có sau khoảng ba ngày.

Dù sao cũng phải kiểm tra chính tả của cả mấy chục gần trăm người, không mất thời gian mới là lạ.

Ngày dán bảng.

đám đông sĩ tử đã chờ sẵn từ khi trời còn chưa sáng.

Tùng cũng không ngoại lệ.

Nó chờ đến ngày dán bảng từ lúc rời khỏi trường thi rồi, tối hôm qua háo hức đến mức mất ngủ, vừa qua canh tư gà gáy thì tỉnh giấc.

Nó ngáp ngắn ngáp dài, hai tay cầm hai cái bánh, mỗi khi miệng há ra ngáp liền nhét bánh vào cắn một miếng.

Nó lờ đà lờ đờ nghiêng ngả lảo đảo đi đến trước nơi dán bảng.

Nơi đó đã tụ tập rất đông các sĩ tử, ai nấy đều phấn khởi bàn chuyện với nhau.

Chuyện mà đám nho sinh hay nói đơn giản lắm, chẳng có gì ngoài bài vở văn thơ, anh nào có chí lớn thì hay nói chuyện nước nhà.

Tùng đứng chờ đến chán chê mê mỏi, thỉnh thoảng dỏng tai lên nghe mấy người xung quanh.

Những nho sinh này phần nhiều đọc sách cả đời, hễ nhắc đến vấn đề chính trị là lại khá máy móc, không tách khỏi lý thuyết sách vở được bao nhiêu.

Cũng phải thôi, hiện tại họ chỉ đơn thuần là những người đọc sách, những nho sinh đang bận rộn lều chõng đi thi.

Khởi điểm của các chính trị gia thời phong kiến chính là lều chõng, còn những nho sinh này đã rời lều chõng đâu mà bàn được chuyện nước nhà một cách thiết thực nhất được.

Hiện tại, họ chỉ có thể sử dụng những lý lẽ được dạy trong sách vở để chỉ ra vấn đề của các nhà cầm quyền, chưa thể thực sự đưa ra một giải pháp chính xác.

Tùng nghĩ một hồi rồi tự phản bác chính mình.

Nói thế cũng không hẳn.

Người đọc sách nào mà chẳng biết thi Hương và thi Hội đều có bốn trường, trường cuối cùng là trường thi văn sách.

Văn sách giống như dạng đề văn nghị luận xã hội của học sinh thời hiện đại nhưng lại bao quát nhiều nội dung hơn.

Có thể là chính trị, lịch sử, văn hóa, tôn giáo, thậm chí có cả y học và toán học.

Tuy nhiên, muốn được vào trường bốn thì phải đỗ cả ba trường còn lại trước hẵng.

Mà nếu đã đỗ được ba trường thì chắc chắn là người hay chữ rồi, những người như thế thường linh hoạt trong cách trình bày những kiến giải của bản thân về vấn đề quốc gia hơn là kiểu người chỉ mải nghiên cứu Tứ Thư, Ngũ Kinh rồi trượt luôn trường ba.

Tùng là một ví dụ cho nguy cơ trượt trường ba.

Trường ba là trường thi làm thơ từ ca phú, kiểm tra khả năng làm thơ của thí sinh bằng cách cho một chủ đề bất kỳ.

Tùng biết thơ phong kiến yêu cầu viết theo luật, cụ thể là Đường luật, và một người yêu thơ như nó sao lại không nhớ quy tắc viết thơ Đường luật cho được.

Nhưng yêu thơ không đồng nghĩa với việc giỏi làm thơ, nó học cái gì cũng tốt chứ tự sáng tác thơ thì không.

Viết thơ bằng chữ Quốc ngữ đã khó, nói gì thơ bằng chữ Nôm rồi chữ Hán đây.

Ngoài mặt Tùng rất hay tự tin nói với người khác rằng đỗ Hương cống có gì khó, nó chắc chắn sẽ làm được rồi quay ngoắt sang bảo Chung béo học thuộc lòng Tam Tự Kinh từ bây giờ đi là vừa.

Thực ra, sâu bên trong nó vẫn biết khả năng này thực xa vời.

Suy cho cùng thì nó không phải là một nhà thơ tài ba gì, nó chỉ là một học sinh chuyên Văn được trải nghiệm xuyên không làm nho sinh thời phong kiến thôi.

Tùng sầu đời ghê gớm.

Không đỗ Hương cống thì không thể thi Hội, đã không có nước thi Hội thì đỗ Tiến sĩ bằng niềm tin và hy vọng là cái chắc.

Đến cả tri phủ cũng biết nó kém khoản làm thơ nhưng vẫn tự tin rằng nó sẽ đỗ Hương cống.

Nguyên do rất đơn giản, giám khảo chấm bài thi Hương ở Kinh Bắc khá dễ tính, cũng có người chuộng dạng thí sinh văn hay như Tùng.

Nhắc đến chủ khảo thi Hương, thầy của Tùng có nói rồi, chưa phải là những ông Nghè cốt cán của triều đình, mà là những ông quan hàn lâm [1], ngoài ra thì quan đảm nhiệm chức đồng khảo có thể là các quan đoán sự [2], lang trung [4], viên ngoại [5], tri phủ, giáo thụ [6], học chính [7], tri huyện, tri châu, huấn đạo [9], tuy nhiên phải là người đã đỗ ba trường thi Hội, có tài học thực sự mới được làm.

[1] Hàn lâm: ý chỉ quan viên trong Hàn Lâm viện, một cơ quan trong hệ thống quan chế thời phong kiến

[2] Đoán sự: thời Hồng Đức trật chính lục phẩm, là một chức quan giữ việc hình án pháp luật

[3] Lang trung: tương đương với chức vụ trưởng của Bộ hiện nay

[4] Viên ngoại: theo tác giả tìm hiểu thì nôm na là những quan viên khác ngoài chính quan, chức nhỏ, được trả ít lương

[5] Giáo thụ: là một chức danh học quan, có thể hiểu giống như cán bộ trong Phòng Giáo dục, Sở Giáo dục và Bộ Giáo dục hiện nay.

Trong Quốc tử giám cũng có chức giáo thụ, vai trò tương đương với giáo viên

[6] Học chính: một chức quan trong Quốc tử giám, cũng là giáo viên trong trường

[7] Huấn đạo: hiệu quan ở phủ, huyện, châu.

Đảm nhiệm chuyện khảo hạch, rèn học sinh

Vốn dĩ thầy của Tùng, tri phủ một vùng, cũng có tên trong danh sách làm quan đồng khảo.

Thế nhưng vì có một cậu học trò muốn tham gia thi Hương vào năm nay, ông chủ động xin rút lui để nhường chỗ cho những vị khác chấm, nhằm đảm bảo công bằng cho kỳ thi.

Lý do xin kiếu này nghe thì đường hoàng, mà chẳng hiểu sao Tùng lại nghe ra chút vui mừng vì bỗng dưng có mấy ngày nghỉ thế nhỉ.

Trôi theo dòng suy nghĩ miên man xong, Tùng khẽ thở dài.

Học tài thi phận cả thôi.

Phen này Tùng bắt đầu đồng tình với quan điểm của ông anh xăm thuồng luồng mình gặp vào ngày trước khi làm bài ám tả.

Ngày đó mình chưa tính tới trường hợp ấy nên không biết, giờ nghĩ vẩn vơ lại nghĩ tới trường thi thứ ba nên bắt đầu phát sầu.

- Trịnh Văn Lê!

Thằng nào là Trịnh Văn Lê?

Tùng đắm chìm trong suy nghĩ đủ lâu để chờ tới lúc người ta dán bảng xong xuôi.

Khi này, các sĩ tử xung quanh ngẩng cổ lên, đọc lớn những cái tên có thứ hạng cao nhất.

- Có ạ!

- Tùng theo bản năng giơ tay lên như vừa được đọc tên điểm danh, lăng xăng chen lên phía trước xem kết quả của mình.

Người vừa đọc tên nó nhìn thấy nó rồi, tỏ vẻ ngạc nhiên quá đỗi, chẳng ngờ nó còn trẻ đến vậy, song vẫn tươi cười chúc mừng:

- Hạng nhất đấy!

Cậu xứ Lê quả không hổ là tuổi trẻ tài cao.

Hạng nhất bài ám tả được gọi là đầu xứ.

Đây không phải kiểu danh hiệu cao quý như Giải Nguyên của hạng nhất thi Hương, Hội Nguyên của hạng nhất thi Hội hay thậm chí là Trạng Nguyên chỉ người đứng đầu trong thi Đình, nó chỉ là một cách gọi tôn trọng dành cho người hay chữ mà thôi.

Cơ mà chỉ như thế thì đã sao.

Ở thời đại mà con chữ còn hiếm hơn vàng này, tỷ lệ mù chữ phải lên tới 90% dân số, người có thể vượt lên tất cả những người cùng khóa trên toàn xứ Kinh Bắc để đạt được danh hiệu "đầu xứ" thì khỏi phải nói lượng chữ mà người đó biết phải nhiều đến thế nào.

Nói rằng hay chữ khéo còn chưa đủ ấy chứ.

Hơn nữa, xứ Kinh Bắc đó giờ vẫn luôn được coi là đất học đấy!

Người xung quanh nghe vậy cũng nhốn nháo chúc mừng Tùng.

Tuổi nó còn quá trẻ, mặt non choẹt, chẳng ai nỡ thốt ra từ "ông xứ" mà toàn biến tấu đi, gọi nó là "cậu xứ" để phù hợp với tuổi.

Chính Tùng cũng không nghĩ rằng mình có thể đạt được kết quả cao tới mức ấy.

Nó chỉ dám chắc mình đỗ bài ám tả chứ nào nghĩ giật luôn hạng nhất đâu.

Chắc do chữ nó đẹp, trình bày gọn gàng sạch sẽ, trông rất thích mắt nên được giám khảo cộng thêm điểm trình bày cũng nên.

Tùng càng đoán càng không thấy sai ở đâu cho được, năm đó nó chau chuốt từng dòng bài làm để ăn được 0.5 điểm trình bày bài toán, mang về con 9 tròn cho mẹ nó khỏi phải mắng nó te tua nữa đấy.

Khi ấy đã như thế, chắc gì lúc này đã khác.

Dù được hạng nhất bằng cách nào đi nữa, Tùng vẫn rất vui mừng và tự hào về chính bản thân mình.

Cứ đà này, chừng nào về hiện đại khéo nó còn là nhân tố quan trọng của Viện Nghiên cứu Hán Nôm chứ chẳng riêng gì khoa Ngôn ngữ Trung Quốc đâu.

Sự phấn khởi của nó kéo dài đến ngày thi chính thức.

Quý Mão, niên hiệu Hồng Đức năm thứ 14 [8], ngày mùng 8 tháng 8, ngày thi trường nhất.

[8] năm 1483

Hôm nay, khi gà chưa gáy Tùng đã choàng tỉnh giấc nhờ chất giọng vang dội như voi rú của bà chủ quán trọ.

Không biết sao bà ấy có thể dậy sớm để gọi đám sĩ tử thức đúng giờ như thế này.

Một ngày này đã được định sẵn rằng mỗi thí sinh phải dậy sớm hơn gà, ngủ muộn hơn chó rồi.

Tùng nương theo ánh nến, kiểm đếm lại dụng cụ cần mang đi vào trường thi, sắp xếp sao cho chừa ra một góc trong hòm sách để đựng đồ ăn.

Nó phải ở trong trường thi cả ngày, không có gì nhét vào bụng thì thể nào cũng ngất vì hạ đường huyết hoặc cảm nắng mất.

Xong xuôi, nó ôm theo hòm sách, lưng đeo lều chõng, khẽ khàng đẩy cửa phòng trọ đi ra ngoài.

Người thuê trọ đợt này cũng toàn là thí sinh thi Hương, gần như người nào cũng đi ra cùng thời điểm với nó.

Có người nhận ra Tùng là hạng nhất bài ám tả, lại gần chào hỏi đôi câu rồi chỉ cho nó chỗ nào làm đồ ăn sáng mà mở cửa rồi.

Tùng lễ phép cảm ơn, nhanh nhảu chạy đi ăn sáng trước.

Ăn no bụng, Tùng mua thêm mấy cái bánh đủ để ăn cả trưa và tối, cất vào trong hòm sách.

Tính tính thì chắc cũng đến giờ gọi tên vào trường thi rồi, nó vội vàng xách theo đồ chạy trối chết đến trường thi.

Và rồi nó hối hận.

Vừa ăn no xong lại chạy, không nghi ngờ gì nó đã bị xóc bụng, ăn một phen đau điếng.

Lính canh đọc to tên nó, nó chỉ biết nhịn đau rồi hớt hải đi lên trước để mấy anh lính soát đồ.

Có anh thấy nó đau đến tái mặt, quan tâm dặn nó nhắm mà thi được thì cố, không thì về nghỉ đi rồi ba năm sau thi lại.

Dĩ nhiên Tùng đâu chịu, cái vụ xóc bụng này cũng không kéo dài quá lâu, chẳng qua nó được đọc tên sớm quá thôi!

Sau khi kiểm tra đồ, Tùng được dẫn đi đến chỗ xã trưởng, phường trưởng để nhận diện.

Thời phong kiến không có công nghệ chụp ảnh thẻ làm căn cước công dân, không thể từ ảnh căn cước mà soi mặt thí sinh dự thi được nên chỉ còn nước để người đứng đầu địa phương như xã trưởng, phường trưởng đến nhận diện khuôn mặt.

Ông xã trưởng soi nó lâu lắm, chốc chốc lại "chậc" một tiếng, thỉnh thoảng lại lắc đầu hai cái như thể không chắc chắn nó có phải thằng Lê sống trong khu vực ông quản lý không.

Tùng biết tỏng ông cụ này lại muốn trêu ngươi nó, chỉ vì nó chọc con chó cưng nhà ông cụ thành con chó điên, và vì nó trộm hái quả nhà ông hơi nhiều.

Cũng may ông cụ không trêu quá trớn, nhìn nó vừa đủ lâu để không bị lính canh nghi ngờ.

Tùng lại phải cảm ơn quá, chắc cả cái chỗ này chỉ nó để ý anh lính kia cứ nhìn nó chăm chăm bằng ánh mắt rất chi là kỳ quặc.

Nó không biết anh ấy nghi nó giả làm chính mình hay vẫn đang lo cho cái sức khỏe mong manh như thiếu nữ liễu yếu đào tơ của nó nữa.

Đáp lại ánh mắt ấy, Tùng chỉ biết nhe hàm răng đen cười gượng, rồi vội vã ngậm miệng lại.

Đến tận lúc này Tùng vẫn nghĩ điệu cười nhe hàm răng đen bóng của mình hẳn đạt tiêu chuẩn để casting vai phản diện kinh điển của phim kinh dị nổi tiếng Hollywood.

Thật lòng tạ tội với tổ tiên, nó không tài nào thẩm nổi gu thẩm mỹ truyền thống này.

Trường thi Hương được chia làm bốn khu, ai được phân ngồi ở khu nào thì phải ngồi yên ở khu ấy.

Khi đến chỗ của mình, bụng của Tùng đã thoải mái hơn rồi.

Anh lính thấy mặt nó không còn tái như trước thì cũng yên tâm hơn.

Nhưng anh vẫn quan tâm dặn:

- Nếu khó chịu thì cứ về nhé.

Nhóc còn trẻ, ba năm nữa cũng chưa đến hai mươi, thi lại cũng không mất gì đâu.

Có mất mà.

Mất thời gian á anh giai ơi.

Tùng lèm bèm trong lòng.

Nó sợ những ngày không có đồng hồ báo thức mà phải dậy sớm hơn gà thế này lắm.

Chờ qua hết ba ngày kiểu này, nó mà thi Hội được thì ông trời đừng hòng để nó thi lại!

Sĩ tử vào trường thi nhất rất đông, Tùng thấy có khi số lượng không kém gì so với ngày làm bài ám tả.

Cũng chẳng lạ lắm, bài ám tả chỉ là bài kiểm tra chính tả thôi, ngoài người mù chữ ra thì làm gì có ai không qua được bài kiểm tra chính tả chứ.

Đợi đến khi toàn bộ thí sinh vào chỗ thì trời đã sáng bảnh mắt rồi.

Tùng đếm đếm thời gian, có vẻ như hôm nay nó thức từ hai giờ sáng, vào trường thi lúc ba giờ sáng, chờ tất cả thí sinh vào trường thi đến bảy giờ sáng.

Thật là mệt mỏi, Tùng chán nản chống cằm, nó khá chắc là tất cả thể lực của các sĩ tử bị tiêu hao vào thời gian chờ đợi thay vì làm bài thi, bởi vì căng thẳng thôi cũng mệt lòng lắm chứ chưa cần đến mệt não.

Tùng ngẩng đầu nhìn lên chòi gác.

Các quan giám thí [9] và đề điệu [10] đã đứng sẵn trên đó.

Lính canh vốn đã nghiêm ngặt, giờ thêm một đống quan viên thay phiên nhau đi lại nhìn chằm chằm từng lều của thí sinh, khỏi phải nói mấy sĩ tử nhát gan hoặc lén mang theo phao thi sợ đến thế nào.

Chỉ mình Tùng nghĩ ngợi lung tung.

Hình như những người này phải thức sớm hơn cả đám thí sinh như nó.

Thí sinh chỉ việc đi thi, nhưng mấy người triều đình phải thực hiện kha khá công đoạn từ ghi danh người đi thi, tổ chức thi, giám sát quá trình thi, rọc phách, chấm bài, sắp xếp thứ tự, thông báo danh sách thí sinh đỗ, rồi lại viết danh sách thí sinh đỗ Hương cống để dâng lên trên, chuẩn bị cho kỳ thi Hội vào xuân năm sau.

[9] Giám thí: nôm na là giám thị, cách gọi khác của phó chủ khảo

[10] Đề điệu: cách gọi khác của quan chủ khảo

Tùng bỗng dưng thấy giấc ngủ không bằng con gà của mình cũng không tới nỗi nào.

Ít nhất nó còn được ăn sáng đàng hoàng, chứ nó vừa thấy quan đề điệu lén móc một cái bánh nhỏ từ trong tay áo rộng thùng thình ra nhét vào miệng, lúng búng giấu diếm cấp dưới kia kìa.

Đến giờ rồi.

Quan đề điệu nuốt vội miếng bánh, ra hiệu cho người lính phụ trách đánh trống.

Theo đó, một tiếng trống vang lên, báo hiệu cho khoảng trăm sĩ tử khắp xứ Kinh Bắc rằng đã đến lúc xem đề.

Tùng xỏ dép, cầm theo giấy bút, đi theo các thí sinh đến nhà bảng.

Trường nhất thi Tứ Thư và kinh nghĩa.

Vậy nên đề bài đều là Tứ Thư, Ngũ Kinh giống như bài ám tả.

Tuy nhiên nếu ám tả là bài chép chính tả, thì trường nhất lại kiểm tra mức độ hiểu biết của thí sinh về Tứ Thư và Ngũ Kinh.

Tùng hiểu nôm na như thế này: trường thi thứ nhất chính là bài kiểm tra về phân tích và cảm thụ văn học phiên bản phong kiến.

Gì chứ phân tích văn học còn chẳng phải chuyên môn của một cậu học sinh chuyên Văn như nó ư?

Tùng phấn khởi nghĩ, nhưng rồi lại nhớ đến trường ba, nó lập tức ỉu xìu.

Thôi thì đành thế, cứ thi đã rồi tính tiếp.

***

Tác giả tám nhảm: Chắc không ai trong mấy bà không biết đến mấy chức tri châu, tri phủ và tri huyện đâu nhỉ?
 
[Xuyên/Chls] Nho Sinh
Q1 - Chương 13


Quyển 1: Mười năm đèn sách

Chương 13

Trường nhất gồm năm bài.

Mỗi đề bài cho một câu trong Tứ Thư hoặc Ngũ Kinh, yêu cầu thí sinh dựa vào trí nhớ và hiểu biết của mình để lý giải và phân tích hàm ý chính trong đề.

Thời Lê sơ đã bắt đầu thống nhất kiến thức giảng dạy, cả nước có chung một kiểu phân tích bài văn, nhìn chung không khác gì câu nói đùa "nêu cảm thụ của em nhưng chấm theo ý giáo viên" của hiện đại cho lắm.

Chẳng qua nếu muốn được điểm cao, các nho sinh vẫn phải có một ít quan điểm cá nhân vào bài viết, kiểu gì thì chí ít cũng phải biết cách vận dụng những kiến thức được dạy để củng cố cho luận điểm mình đưa ra và muốn đi sâu vào phân tích, đồng thời vẫn phải viết sao cho vừa ý giám khảo, cũng như phải mang tính thiết thực với thời đại.

Đúng thế, ở thời nào cũng vẫn phải vừa ý giám khảo và thiết thực với thời đại!

Ở điểm này Tùng chỉ biết tặc lưỡi, đáng lý trên đời này phải có câu châm ngôn "người tính, trời tính nhưng không bằng người chấm thi tính" mới phải.

Trộm vía thời Hồng Đức đã ra lệ tuyển giám khảo phải là những người ngoài vùng, tối thiểu đỗ thi Hội tam trường để đảm bảo tính công bằng.

Theo Tùng nhận xét thì yêu cầu này hợp tình hợp lý.

Dẫu vậy thì vế đầu hình như hơi thừa, vì quan viên trong vùng đều là người ngoài vùng cả...

Tùng vỗ đầu mình một cái.

Trống hiệu báo giờ làm bài đã vang lên rồi, nó chỉ có thời gian một ngày làm bài nên phải nhanh chóng viết thôi, kẻo nộp quyển muộn thì hỏng.

Thông thường không ai được phép rời lều trong thời gian làm bài trừ phi xin đi vệ sinh, mà thật sự chẳng ai dám đi vệ sinh vào giữa giờ làm bài vì sợ bị lính canh nhìn chằm chằm soi mói từng cử chỉ.

Tiêu tốn cả một ngày trời trong cái lều bé xíu, trên một cái chõng tre chỉ dài cỡ nửa người mình để viết vài ba tờ giấy trông thế cũng bứt rứt khó chịu lắm.

Tùng ngồi viết nháp từ sáng tới quá trưa, giữa chừng phải đổi tư thế ngồi mấy lần vì đau mông và tê chân.

Khổ nỗi mỗi lần nó động đậy thì lính canh gần đó sẽ ló mắt vào nhìn, làm nó khi không phải trải nghiệm cảm giác bị giám thị đứng cạnh bàn quan sát liên tục.

Sau khi xác định trong nháp không còn lỗi chính tả, lỗi phạm húy hay những lỗi thường thấy trong bài thi khác, nó nghỉ ngơi vài phút để ăn trưa.

Từ khi có hiệu lệnh bắt đầu làm bài, nó hí hoáy viết, không dám ngơi nghỉ dù chỉ một chút.

Đây là thói quen từ đời trước của nó.

Một khi đã bắt đầu viết văn, để tránh trường hợp nghỉ giữa chừng làm gián đoạn ý tưởng, nó thường im lặng ngồi viết toàn bộ ý tưởng trong đầu ra trước.

Cũng chính vì những lúc như vậy nên nó thường học đến quên ăn quên ngủ, ai nói dừng lại cũng không nghe, tất nhiên trừ anh họ Bảo của nó ra.

Tùng biết chắc, nếu anh họ bảo dừng mà nó không nghe theo, đón chờ nó sẽ là mấy trò đùa quái đản quấy nhiễu sự tập trung của nó.

Như vậy càng chết dở hơn nữa ấy chứ.

Tùng thà rằng nhẩm trong bụng mấy ý chính quan trọng hoặc gạch đầu dòng ra nháp còn hơn phải vừa viết vừa tránh những cú chọc lét bất ngờ đó.

Tùng chỉ ăn đến khi cái bụng thấy đủ, không réo inh ỏi vì đói.

Có lẽ bởi nó nhớ về những ngày còn ở hiện đại mà miếng bánh nguội ngắt trong miệng nó càng nhạt vị, dai nhách.

Ăn có cái bánh để từ sáng thôi mà nó cũng có cảm giác muốn méo cả miệng.

Thật lòng mà nói, cảm xúc hiện tại của nó khá tương đồng với bữa trưa ngày hôm nay: nhạt nhẽo, vô vị lại dai dẳng.

Trong một thoáng đó, đầu nó bật lên một câu hỏi tự vấn rằng rốt cuộc nó đang làm cái khỉ gì vậy?

Nó tốt tính tới mức độ vì không cam lòng với sự phân chia giai cấp của phong kiến mà cắp sách đi học, lều chõng đi thi nữa cơ đấy?

Lại còn ngồi trong trường thi Hương rồi đây này!

Dường như Tùng đã quên mất những cảm xúc vui mừng, tự hào và háo hức ở khoảnh khắc nó được hạng nhất bài ám tả, được vào trường thi Hương và lời hứa với nhóc Chung béo.

Ngay lúc này, nó đã không còn đặt tầm mắt mình vào trang giấy phảng phất hương mùi mực tàu, không để ý chiếc bút lông gác bên tay nhỏ xuống nghiên từng giọt mực nhỏ.

Nó phóng mắt ra xa, xa hơn cả cái chòi cao ngất, và có khi xa hơn cả trời thu xanh ngời kia.

Có một lúc nào ấy, Tùng cảm giác tim mình đập mạnh như những nhịp trống trận, cả người lâng lâng hệt lúc ngồi trên máy bay sắp cất cánh, rồi trước mắt nó hiện ra một Hà Nội hiện đại đang trong giờ cao điểm.

Ùn tắc, nghẹn ứ tựa nỗi nhớ nơi sâu thẳm bị nó ém nhẹm mười mấy năm.

Hoặc nó thật sự đang bị nghẹn đúng nghĩa đen!

- Khụ... khụ... khụ...

Tùng ho sặc sụa.

Nó ngồi thẳng người dậy, tay liên tục đấm vào ngực mình.

Nó ngẩn người mấy phút liền, miếng bánh chưa nhai kỹ trong miệng trôi tuột xuống, mắc kẹt trong họng nó làm nó muốn nhổ ra cũng khó mà nuốt vào cũng khó chịu không kém.

Tiếng động từ phía nó thu hút lính canh bên ngoài.

Một anh lính tự giác đi tới kiểm tra tình hình, còn tốt bụng tìm cho nó một chén nước giếng.

Tùng vội vàng nhận lấy uống sạch rồi lại vuốt ngực mình, thở hắt ra.

Mặt nó đỏ bừng, không biết do xấu hổ hay do vừa bị nghẹn nữa.

Dù sao cũng tăng thêm chút sức sống cho cái thân người mong manh yếu đuối của nó.

Tùng trả lại chén bằng cả hai tay, thật lòng nói lời cảm ơn với người lính đã đưa nước cho nó.

Khi ngẩng lên, Tùng nhận ra anh lính kia lại chính là anh lính soát đồ kiêm dẫn nó vào trường thi.

Anh lính cũng còn nhớ nó, toét miệng cười như thể anh đã biết trước ngày thi này của nó chẳng ra đâu vào đâu rồi.

- Nhóc còn thi được không đấy?

- Anh lính quan tâm hỏi.

Tùng ngượng ngùng gật đầu.

Đợi anh lính đi khỏi, Tùng nín họng nhìn tờ nháp tèm lem mực đen và nước miếng của nó.

Thật may rằng nó mới chỉ viết nháp, chưa có viết sang bài thi chính thức, nếu không nó phải viết lại tờ đó từ đầu.

Tùng lắc đầu nguầy nguậy hòng xua đuổi những suy nghĩ vớ vẩn trong đầu ra ngoài.

Tác hại của việc rảnh rỗi sinh nông nỗi cả đấy, thiếu chút nữa thì ba năm sau nó lại khổ hơn con gà.

Tùng không muốn ngủ ít hơn gà.

Tùng muốn thi đỗ xong về nhà!

Tự tiếp động lực cho bản thân như thế xong, Tùng thẳng lưng lên, nghiêm túc mài mực.

Bút lông chấm mực tàu, dựa trên những ý đã viết sẵn trên nháp, Tùng cặm cụi viết đáp án vào giấy quyển.

Mặt trời dần buông nơi chân trời, ánh nến leo lắt ẩn hiện trong lều nhỏ, người nho sinh viết nên một đường công danh.

Mực đen quệt trên giấy trắng, ba tờ giấy xếp gọn ngay ngắn bên hòm sách.

Khi nét bút cuối cùng hạ xuống, Tùng thở phào một hơi.

Xong rồi, nó đã hoàn thành ngày thi thứ nhất.

Ngoại trừ buổi sáng bị xóc bụng, buổi trưa bị nghẹn bánh thì hầu như nó không gặp phải vấn đề nào khác.

Đột dưng Tùng hơi khó hiểu, đề thi không có vấn đề gì mà sao thí sinh lắm chuyện quá.

Nó nghĩ một thôi một hồi, đoán mò chắc mệnh mình không hợp với quán ăn sáng kia cho lắm, lần sau nên chọn quán khác thì hơn.

Tùng ngẩng đầu lên, phát hiện người rời trường thi không ít.

Có lẽ nó là một trong những thí sinh hoàn thiện bài chậm nhất trường thi hôm nay rồi.

Nó thổi tắt nến, cất gọn đồ dùng, thổi khô mực trên giấy rồi cho vào ống quyển.

Thình lình, một hồi trống dồn dập vang lên, dọa những thí sinh còn trong lều giật mình nhảy dựng, bao gồm cả Tùng.

Nó chưa kịp cất hộp và nghiên mực vào hòm, tiếng trống đột ngột khiến nó hơi hốt hoảng, suýt chút ném quyển trong tay vào nghiên mực.

Quan đề điệu lớn giọng hô:

- Đã hết ba hồi trống thu quyển!

Các sĩ tử mau chóng nộp quyển!

Sau đó là âm thanh nhắc lại của lính tráng xung quanh, tiếng hô vang vọng toàn bộ khu vực trường thi, đảm bảo mỗi thí sinh đều có thể nghe thấy.

Thế kỷ XV chưa phát minh ra loa, người ta chỉ còn cách để một người hô, nhiều người truyền lại lời ngay sau.

Vậy mà đã hết cả ba hồi!

Tùng hú vía một phen, nó không ngờ mình tập trung viết bài đến mức suýt quá giờ.

May mà nó đã cuộn quyển lại rồi, giờ chỉ cần qua nhà Thập đạo để nộp là xong.

Tùng nhanh nhảu quyết định bỏ mặc đồ và lều chõng, chạy như bay đi nộp quyển.

Chưa bao giờ nó chạy nhanh như thế, đến cả lúc cuối kỳ môn thể dục kiểm tra chạy nước rút cũng không thấy nó hăng hái như vậy.

Nói là chạy bán mạng cũng không ngoa.

Tùng thật sự sợ hậu quả của việc nộp bài muộn.

Nó không biết thời phong kiến có gắt quá không, chỉ biết thời đại nó sinh sống có vài giám thị nóng tĩnh sẵn sàng đánh dấu bài học sinh nếu học sinh nộp muộn.

Nó chỉ sợ mình nộp muộn quá, bị gạch tên khỏi danh sách thì ba năm sau thi lại là cái chắc.

Khoảnh khắc nộp xong quyển, mang đồ rời khỏi trường thi, Tùng bắt đầu uể oải cả người.

Cơn mệt mỏi đến rất muộn, kéo theo là cơn đói bụng cồn cào không ngớt.

Người ta bảo từ nơi lều chõng đi ra toàn rường cột nước nhà, rường cột đâu thì Tùng không thấy, chỉ thấy thân mình héo hon như thanh củi khô lay động trong cái rét của gió đông.

Trường thi đầu đã thế này rồi.

Chưa gì Tùng đã thấy được tương lai của nó mờ mịt như bụi đất bám trên móng chân gà.

Tùng quyết định chơi lớn.

Nó nhanh chân chạy về trọ, lấy số tiền tri phủ đưa nó ra đếm.

Nó không dám dùng tiền các sư thầy đưa, nhà chùa có tích được mấy bao nhiêu đâu, nó mặt dày mày dạn nhận lấy rồi cất đi, chỉ dám tiêu vào mấy chỗ lắt nhắt lặt vặt.

Còn đâu chi phí thường ngày nó chỉ tiêu vào tiền mà tri phủ cho.

Bây giờ cũng vậy, nó muốn tối nay ăn gà nguyên con, tự khao mình một bữa thịnh soạn trước khi mấy ngày tới chỉ nằm ườn để lấy lại sức, chuẩn bị tinh thần chờ kết quả của trường nhất.

***

Trường nhất không làm khó Tùng quá nhiều, dầu gì cũng là dạng bài cảm thụ văn học mà nó quen thuộc nhất nên kết quả phần nào nằm trong dự đoán của nó.

Thứ hạng lần này tuy không cao bằng lần làm bài ám tả, thế nhưng cũng phải cỡ top 10 đến 15, một thứ hạng khá cao trên tổng số cả trăm sĩ tử toàn xứ Kinh Bắc.

Tùng mừng thầm, nó không quan tâm ai đứng nhất, chỉ cần biết rằng nó được vào trường nhì rồi!

Lại bước thêm được một bước trên đường làm Hương cống!

Vừa biết kết quả xong, Tùng không nán lại lâu mà lập tức quay về trọ để ôn bài.

Trường nhất chỉ là khởi đầu, đằng sau còn rất nhiều thử thách đang chờ nó, đặc biệt là trường ba.

Theo lệ, trường nhì sau trường nhất mười ngày, trường ba chỉ cách trường nhì một tuần, còn trường tư đến sau trường ba có bốn ngày thôi.

Thời gian thi giữa các trường thi rút ngắn dần như thế là do các sĩ tử lần lượt bị loại ở các trường, từ cỡ khoảng một trăm người ở trường nhất, đến được trường tư còn chưa tới ba mươi người, thậm chí chỉ còn hai mươi người.

Có thể thấy tỉ lệ trượt hàng năm cao đến mức nào.

Ấy là còn chưa kể đến thi Hội.

Thi Hội là cuộc thi tụ họp tất cả Hương cống trên đất Đại Việt, cấu trúc trường thi và đề thi không khác so với thi Hương nhưng lại có độ khó cao hơn gấp nhiều lần.

Như ông anh xăm mình đã nói rồi đấy, khoảng cách giữa thi Hương và thi Hội là cả một cái lạch trời.

Người đỗ thi Hương chưa chắc sẽ đỗ thi Hội.

Mỗi khoa thi chỉ chọn ra được khoảng năm mươi tới sáu mươi người, năm nào ít cũng chỉ tới bốn mươi người là cùng.

Còn thi Đình ấy hả?

Tùng cảm thấy kết quả thi Đình có ra sao cũng không quan trọng.

Về cơ bản, đỗ bốn trường thi Hội thì không lo không được làm Tiến sĩ.

Thi Đình nghe thì cao siêu, bản chất chỉ là một kỳ thi văn sách nhằm sắp xếp lại bảng xếp hạng thi Hội mà thôi.

Nó tự nhận mình tài giỏi thông minh là thật, chẳng qua cỡ nó thì sao mà bằng những nho sinh ngày đêm đọc sách viết chữ chân chính của thời phong kiến.

Tùng lập chí thi Tiến sĩ, tức đỗ cả bốn trường thi Hội, chứ không phải đi lấy tam nguyên [1] hay đỗ nhất giáp [2] làm gì cho mệt người.

Nó còn cho rằng mình mà đỗ được tam giáp [3] khéo phải nhờ ông bà tổ tiên gánh còng lưng.

[1] Tam nguyên: Bao gồm Giải Nguyên, Hội Nguyên và Trạng Nguyên.

Từ này để dùng cho người liên tục đỗ đầu cả ba kỳ thi Hương, Hội và Đình.

[2] Nhất giáp: cách gọi tắt của "đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ", gồm ba người Trạng Nguyên, Bảng Nhãn và Thám Hoa.

[3] Tam giáp: cách gọi tắt của "đệ tam giáp Tiến sĩ đồng xuất thân"

À phải rồi, đời này nó chỉ là một đứa trẻ mồ côi, lấy đâu ra tổ tiên.

Không biết tổ tiên nhà họ Phan thời hiện đại có phù hộ nó xuyên không gian, xuyên thời gian được không nhỉ?

Không thì chắc nó vẫn nên về chùa nhỏ bái Văn Thù Bồ Tát còn đáng tin hơn.

Tùng quay lại trọ, lục tìm sách thơ trong chồng sách của mình.

Những ngày rảnh rỗi trước khi vào trường nhì này nó chỉ mải ôn thơ để chuẩn bị cho trường ba.

Tùng biết điểm yếu của mình chủ yếu ở khoản này, nó tự tin mình sẽ không gặp vấn đề gì quá khó nhằn ở trường nhì.

Nếu trường nhất là bài kiểm tra phân tích và cảm thụ văn học thì trường nhì là bài kiểm tra soạn thảo văn bản hành chính.

Đúng thế, là soạn thảo văn bản hành chính.

Dĩ nhiên không phải những kiểu văn bản như thông tư của Bộ, quyết định của Chính phủ gì gì đó của thời hiện đại, mà là dạng văn bản cổ như chiếu, biểu và sớ.

Người đi thi đa phần đều làm quan, có những chức quan hiểu nôm na ra là nhân viên hành chính của triều đình nên kỹ năng soạn thảo văn bản hành chính có thể xem là kỹ năng bắt buộc mà mỗi nho sinh phải có.

Do đó đương nhiên soạn thảo văn bản phải trở thành một phần trong bài thi rồi, giống như hiện đại có môn tin học phải kiểm tra soạn thảo Word 2003 vậy.

Trường thi này không khó, cái khó duy nhất là phải học thuộc format của chiếu, biểu và sớ để viết.

Cũng bởi chỉ phải học format, Tùng chỉ dành chút thời gian xem mấy bài để đúc rút kinh nghiệm viết từng thể loại rồi để đó, quay sang "gặm" thơ.

Nó ôm trong mình một niềm tin sắt son rằng chỉ cần đọc thơ đủ nhiều, tình yêu dành cho thơ của nó đủ lớn để đả động được cảm xúc của giám khảo, thành tích của nó sẽ vừa đủ vào trường tư.

***

Tác giả tám nhảm: Không biết có bà nào đọc văn về khoa cử của tác giả Trung Quốc chưa, tôi thì rồi nên trước khi nghiên cứu về khoa cử Việt Nam, tôi hay lẫn là khoa cử Việt Nam không khác gì khoa cử Trung Quốc.

Thực tế thì không phải vậy nha.

Ở đây so sánh về lệ thi Hương trước.

Thi Hương bên Trung Quốc là người ta chuẩn bị sẵn khu vực trường thi rồi, xây hẳn mấy cái nhà nhỏ nhỏ cho các sĩ tử ngồi bên trong đó mấy ngày liên tiếp bất kể nắng mưa chứ không phải để sĩ tử tự cung tự cấp chỗ ngồi làm bài thi như nước mình.

Bên đó cũng có 4 trường thi, nhưng sẽ thi liên tục chứ không đứt quãng như nước mình.

Nước mình theo hướng lọc thí sinh dần.

Bước đầu làm bài ám tả để xác định người nào biết chữ người nào không, sau đó thi trường nhất để kiểm tra kiến thức kinh thư, đỗ trường nhất rồi mới vào trường nhì làm bài văn soạn chiếu biểu, đỗ xong thì vào trường ba làm thơ.

Cuối cùng sẽ vào trường tư thi văn sách (nghị luận xã hội ấy).

Mỗi trường chỉ thi trong một ngày, nộp quyển xong thì ra về đợi kết quả xem có được vào trường thi sau không.

Dẫn chứng cụ thể là theo Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí của Phan Huy Chú, thời gian thi ở các nơi như Thanh Hóa, Nghệ An, Sơn Tây, Sơn Nam, Kinh Bắc, Hải Dương là ngày 8 tháng 8 thi trường nhất; ngày 18 thi trường nhì; ngày 24 thi trường ba; ngày 28 thi trường tư.
 
[Xuyên/Chls] Nho Sinh
Q1 - Chương 14


Quyển 1: Mười năm đèn sách

Chương 14

Ngày 18 tháng 8, ngày thi trường nhì, trời âm u.

Nhờ một thí sinh cùng trường gợi ý, sau khi rời khỏi trường nhất, Tùng gửi lều chõng của mình cho một hàng quán gần đó để tránh việc phải mang đồ lỉnh kỉnh đi qua đi lại nhiều.

Thủ tục gửi đồ rất đơn giản, Tùng để gọn lều chõng của mình ở một chỗ trong quán, đánh dấu bằng tên mình rồi gửi cho chủ quán chút phí là xong.

Ngày 18 lại là một ngày sống khổ hơn gà.

Tùng mở mắt ngay lúc bà chủ nhà trọ bắt đầu cất giọng hò vang dội, uể oải ngồi dậy dụi mắt.

Nó thầm nhủ chẳng thể để những ngày như này chỉ nó phải tội mà con gà còn được ngủ sướng o o, bữa khuya hôm nay của nó chắc chắn phải có món gà luộc chấm muối chanh mới vừa lòng!

Thực ra người xưa ngại để học sinh ăn thịt gà, nghe đâu vì sợ ăn gà nhiều quá sẽ bị bệnh quáng gà.

Tùng lại chẳng thèm tin vào quan niệm này.

Nó vốn thích nhất là thịt gà, từ đời trước đã thích, hễ xong chuyện gì hay đạt được thành tựu nào "đầu bếp" bố sẽ nấu cho nó một bữa gà thật ngon.

Nào là gà rang gừng, gà rang muối, chân gà rút xương, cánh gà tẩm bột rán, gà nướng mật ong, nhiều lắm.

Tùng nhớ lại mà thèm, tự dưng thấy bữa khuya hôm nay chắc hơi nhạt miệng.

Tùng rửa mặt cho tỉnh táo hơn chút.

Nó lọ mọ thắp nến, kiểm đếm lại đồ dùng sẽ mang vào trường thi.

Bút, giấy, nghiên mực là không thể thiếu rồi, ngoài ra còn cần phải mang thêm nến để ban tối còn có chút ánh sáng viết nốt bài, mang thêm cả đồ ăn vào để lót dạ.

Một ngày thi là thi từ sáng tới tối, bữa sáng ăn một ít, bữa trưa xử lý trong trường thi, đợi thi xong rồi đi ăn khuya là tốt nhất, như thế sẽ không để lỡ quá nhiều thời gian thi cử.

Bởi về cơ bản, không ai tạo điều kiện tạm ngừng thi để nghỉ ngơi ăn cơm, thời gian ăn cũng nằm trong thời gian thi luôn rồi.

Ngay đến quan đề điệu cũng phải giấu miếng bánh trong tay áo, đang giám sát quá trình thi cũng phải lấy ra ăn mấy miếng cho đỡ đói.

Tùng còn nghe nói khi chấm thi, các quan cũng phải vừa ăn vừa chấm nữa kìa.

Cũng đành chịu thôi, thời gian có tí đó, thí sinh lại đông như quân Nguyên, bài thi không phải ba tờ thì năm tờ, họ mà không canh thời gian đảm bảo làm xong nhanh mà vẫn đủ công bằng để kịp thời báo lên trên thì khéo phải ăn cơm tù mất.

Làm quan trông coi trường thi cũng thật không dễ dàng gì.

Hồi trước Tùng thấy giám thị oách lắm, việc trông thi cũng nhàn đấy, nhưng chắc đó là giám thị nào chứ giám thị thời Lê kiêm luôn chức giám khảo mà.

Mâm nào cũng có mặt, trường thi nào cũng trông, bài thi nào cũng chấm, còn "nhàn" thì chỉ là một từ chỉ niềm mong mỏi của khối người trong trường thi.

Lúc này Tùng đã ngồi trong trường thi, chuẩn bị mang giấy bút đến nhà bảng chép đề.

Nó theo thói quen ngẩng mặt lên nhìn chòi gác, bắt gặp quan đề điệu mập mạp phốp pháp hồng hào mấy hôm trước giờ đã xơ xác thiếu ngủ, mắt thâm quầng, tay ôm chén trà nóng bốc hơi nghi ngút, lơ đãng nhìn ra xa.

Mới có một trường thi mà đã vậy, đợi qua hết tháng 8, không biết ông ấy sẽ giảm được mấy cân đây.

Số lượng sĩ tử trong trường nhì vắng hơn trường nhất một ít.

Tùng không thấy lạ mấy, dẫu gì trường nhất cũng là trường dễ nhất mà.

Thật lòng, ngay cả ở thời hiện đại cũng chỉ có đứa không học bài chứ chắc chắn không đứa nào không làm được bài phân tích và cảm thụ văn học cả.

Trống báo hiệu bắt đầu thời gian làm bài vang lên.

Tùng trầm ngâm đọc đề bài mình vừa chép về, tự hỏi đây thật sự là đề thi soạn thảo văn bản chứ không phải bài tập tình huống ư?

Sau mười hai năm dùi mài kinh sử, Tùng đã có thể đọc hiểu văn bản bằng cả chữ Hán lẫn chữ Nôm, đương nhiên đọc ra đề bài hôm nay là một tình huống thực tế.

Đề thi hôm nay chỉ có hai bài, dù sao thì viết hai bài văn mất thời gian hơn phân tích năm bài văn nhiều.

Bài đầu tiên dịch nôm na ra là có vùng nọ gặp phải thiên tai, chết mất từng này người, nhà cửa tiêu điều tan hoang.

Tra ra mới biết, quan viên địa phương tham ô tiền củng cố đê điều nên thành ra cớ sự.

Vua biết tin thì buồn lòng, tự trách mình trị nước chưa nghiêm, bị trời quở trách, để dân đen con đỏ phải chịu tội.

Sau khi cử người đi cứu trợ thiên tai, bắt những tên đầu sỏ nhận hình phạt thích đáng, vua muốn làm lễ tế tạ tội với trời đất, nhân tiện cầu cho trong năm không còn thiên tai, mưa thuận gió hòa, vụ mùa bội thu.

Tùng rơi vào trầm tư, đúng là phong kiến mê tín dị đoan, chưa gì đã thấy "trời quở trách giáng thiên tai".

Nó chấm mực ghi chú ý tưởng làm bài.

Được rồi, bài đầu tiên yêu cầu viết sớ, còn là loại sớ dùng trong tế lễ thần linh chứ không phải loại dâng lên quan trên và vua.

Cái này thì quen thuộc quá, đêm giao thừa năm nào mà nó chẳng nghe thầy từ trong đình làng đọc sớ kia chứ.

Nói rằng thuộc quy cách thì cũng chưa tới, nhưng những cái tinh hoa nhất trong bài sớ thì nó biết rồi.

Tùng hài lòng lia mắt sang bài sau.

Bài sau là phần tiếp theo của bài đầu, tuy nhiên lần này thí sinh đóng vai quan viên được lệnh đi cứu trợ.

Thấy hoàn cảnh tan hoang đổ nát, người dân chết như ngả rạ, người còn sống mất cả gia đình, mất nhà mất của, nói chung chẳng còn lại gì, quan viên cứu trợ rất đau lòng, quyết định long trọng đưa tang những người không may mất mạng để họ được yên nghỉ.

Tùng đọc xong trố mắt.

Cái này thì viết cái gì?

Văn tế à?

Tùng nín thinh.

Không phải nó chưa từng đọc văn tế bao giờ, sách giáo khoa thời hiện đại còn có nguyên một bài "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" nữa kìa.

Cơ mà nó không ngờ văn tế cũng nằm trong chương trình thi cử của thời phong kiến!

Nó cứ tưởng trường nhì thi soạn thảo văn bản hành chính, giờ đọc xong cả hai đề bài, đúng là có thấy văn bản rồi nhưng chưa thấy hành chính.

Mặc dù sớ cũng là một loại văn bản hành chính thật nhưng Tùng lại thấy rằng sớ dùng cho hoạt động tâm linh thì hành chính chỗ nào?

Thì ra nho sinh như nó còn có công dụng này.

Tùng tặc lưỡi thầm nhủ.

Nho sinh "thời đại mới" đa dụng ghê, trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, biết tính toán, biết cả bói toán nhờ đọc Kinh Dịch, còn biết giáo lý nhà Phật, biết quan niệm nhà Nho, biết chút ít kiến thức y học, biết cả đạo trị nước, hễ xuất khẩu là thành thơ, vung bút múa thành văn.

Ông nào giỏi hơn nữa còn biết vẽ tranh đấy.

Bỗng dưng Tùng nể người đọc sách thời phong kiến quá đỗi.

Hèn gì người xưa ai mà thi đỗ Tiến sĩ là cả làng được thơm lây, cái đầu thì nhỏ mà hỏi gì cũng biết, chắc chỉ chặt gà là không.

Nhìn chung người đọc sách ông nào ông nấy gầy gò thiếu sức sống lắm, vì thời điểm hiện tại họ chỉ chăm chú đọc sách, không chịu tập thể dục, dáng người đúng chuẩn với câu nói "thư sinh tay trói gà không chặt".

Có lẽ khi đỗ đạt thì sẽ đỡ hơn, ít nhất sức khỏe phải đạt chuẩn mới đi làm chủ khảo và đồng khảo được.

Tùng lẳng lặng ngẩng lên nhìn chòi, quan viên trên đó chỉ có vài ba người, đa số xuống sân đi lại kiểm tra giám sát rồi, nhưng những người còn trên không ai ngồi không làm việc riêng cả.

Họ vẫn đứng trên cao, đứng từ sáng tới giờ, cẩn thận quan sát từng cái lều.

Sát sao đến mức Tùng bắt đầu thấy khổ thân giám thị.

Cũng dễ hiểu, khoa cử là phương tiện tuyển chọn nhân tài cho đất nước, đứa mất dạy bị lọc từ bước đăng ký, đứa ngu đã bị lọc từ bài ám tả rồi.

Giai đoạn sau chỉ có người đọc sách thật sự tham gia thi, cũng là lúc phải chọn lọc kỹ lưỡng nhất.

Giám thị thời phong kiến phải cẩn thận từng li từng tí, lỡ mà trong quá trình thi có xảy ra sai sót gì, diếm được thì tốt, còn nếu để vua biết được thì chỉ có nước mất chức, đi tù mọt gông thôi.

Tùng cúi đầu tập trung làm bài thi.

Bài sớ với nó còn dễ nói, dẫu gì cũng là thể loại quen thuộc.

Tùng cắn cán bút, cẩn thận viết hai chữ "phục dĩ" vào góc trên bên phải bài làm.

Sớ có yêu cầu về thể thức riêng, phần đầu phải có "phục dĩ", trước câu cuối cùng phải có "thiên vận".

Ngoài ra, người viết cũng cần phải tuân thủ các nguyên tắc "tiền lưu nhất chưởng, hậu yêu không đa", "thượng trừ bát phân, hạ thông nghĩ tẩu", "sơ hàng mật tự", "nhất tự bất khả nhất hàng" và "bất đắc phân chiết tính danh".

"Lưu không" chỉ phần giấy trắng đầu tờ sớ, phần này phải hẹp, thường chỉ nhỏ cỡ ngón tay.

Trong khi "nhất chưởng" lại chỉ phần giấy cuối tờ sớ, to bằng bốn ngón.

Vậy nên mới gọi là nguyên tắc "tiền lưu nhất chưởng, hậu yêu không đa".

Nguyên tắc thứ hai, "thượng trừ bát phân, hạ thông nghĩ tẩu" nghĩa là lưu không trên đầu sớ rộng hơn chân sớ, phần chân sớ chỉ cần đủ rộng cho một con kiến chạy là được.

Khác với thời hiện đại, người phong kiến viết chữ theo cột từ phải sang trái, từ trên xuống dưới, khi đọc cũng vậy.

Để có thể đọc dễ dàng hơn, cần phải viết tách các cột chữ thưa ra để nhìn cho rõ, tuy nhiên khoảng cách giữa những chữ trong một cột lại khá nhỏ.

Đặc biệt cần phải lưu ý rằng không được phép để một cột chỉ có một chữ.

Đây chính là "sơ hàng mật tự" và "nhất tự bất khả nhất hàng".

Tất nhiên, trong một bài sớ luôn có tên người.

Có thể là tên người viết, cũng có thể là tên người dâng sớ.

Tương tự như thời hiện đại có nhãn vở được thiết kế hai dòng để ghi họ tên, và mọi học sinh chọn ghi đầy đủ tên mình vào dòng thứ hai để đỡ khỏi phải xuống dòng, làm mất mỹ quan bìa vở, thì ở thời phong kiến cũng có "bất đắc phân chiết tính danh", yêu cầu tên họ phải được ghi trong một cột chứ không được tách ra làm hai cột.

Chắc bởi người xưa cũng thấy viết tên thành hai cột như thế bị mất thẩm mỹ cũng nên.

Tùng nghĩ bụng, châm chước mãi mới viết một câu văn biền ngẫu ngay dưới "phục dĩ" cho xong phần mở đầu.

Viết xong câu đầu tiên lược về nội dung chính của bài sớ, phần thứ hai là địa chỉ, sau đó mới là lý do dâng sớ.

Vì là lấy bối cảnh vua làm lễ tế thần linh, vậy nên địa chỉ chắc là ở đâu đó trong Đông Kinh, là cái chùa hay cái đền gì đó, hoặc là cái đàn cũng nên chứ nhỉ.

Thứ lỗi cho sự ngu dốt của Tùng, nó thật sự chưa từng nghĩ đến ngày mình phải đóng vai một ông quan viết sớ để vua đọc làm lễ, vả lại mười hai năm nó cố học thành người phong kiến hay chữ không có nghĩa là nó cũng biết rõ về văn hóa tâm linh của người xưa.

- Thôi vậy, cứ ghi đại "Đại Việt quốc, Phụng Thiên phủ [1]" cho nhanh.

- Tùng lẩm bẩm tự an ủi.

- Còn người dâng sớ...

[1] Phủ Phụng Thiên: trước năm 1469 được gọi là phủ Trung Đô, là tên gọi hành chính của Đông Kinh (Thăng Long).

Thời Lê Thánh Tông, đất nước được thành 12 đạo thừa tuyên và 1 phủ, phủ này chính là phủ Phụng Thiên.

Tùng dừng lại rất lâu.

Nó đắn đo không biết nên ghi tên mình hay ghi tên vua.

Nay nó đang làm bài thi, mà dù có làm bài gì, viết cái gì thì người ta cũng cấm tuyệt đối việc viết tên húy của vua vào.

Người xưa cho rằng hành vi này là phạm húy, là bất kính với vua, không cẩn thận thì sẽ bay đầu.

Tùng gãi đầu gãi tai, gãi đến mức sắp rụng cả nắm tóc rồi mới nghĩ ra được một trò mèo - không ghi tên ai cả, thẳng thắn để trống cả một mảng giấy.

- Rồi, chúc mừng bé mất một điểm.

Tùng thở dài não nề.

Cái trường thi soạn thảo văn bản này tưởng dễ ăn vậy mà cũng khó kinh khủng.

Sớm biết vậy mấy hôm trước nó đã ngồi đọc thêm mấy bài văn mẫu, tìm thêm mấy điển tích tâm linh rồi.

Nhưng đời mà, chỉ có "biết vậy" chứ làm gì còn sau đó đâu.

Viết xong được phần người dâng sớ cũng coi như là xong một nửa bài sớ.

Sau phần này chắc chỉ có phần thỉnh Phật Thánh là khó.

Tùng gật gù, ừ, phần thỉnh Phật Thánh phải ghi Hồng danh của các ngài, mà nó ngoài Văn Thù Bồ Tát thì chỉ nhớ rõ Karl Marx, V.I.

Lênin và Hồ Chí Minh thôi.

Cũng may Tùng còn thời gian lục tìm ký ức xem nên mời vị nào quản lý thời tiết.

Còn lại phần tán thán thì chép y nguyên đề bài, phần thỉnh cầu cũng chép y nguyên đề bài, phần ngày tháng thì ghi luôn hôm nay cũng được.

Tùng đờ người viết xong bài sớ trước giờ trưa.

Nó hối hận rồi, nó biết lỗi rồi, nó không nên quá tự tin vào bản thân như vậy.

Cứ tưởng bài sớ dễ thế nào, kết quả là khó không tưởng.

Tùng mặc niệm bản thân ba giây rồi ngó xuống đề bài thứ hai, nhẩm bụng văn tế đúng là một yếu tố khó lường.

Tùng chưa từng tập viết văn tế bao giờ, thầy yêu cầu nó học mà nó chống chế rằng chắc chỉ có ông ra đề bị thần kinh mới bảo thí sinh đi viết văn tế.

Nào ngờ lần đầu đi thi vấp trúng đề do một ông bị thần kinh ra thật.

Ăn xong bữa trưa khô cứng như đá, Tùng phủi tay, đọc lại đề bài thứ gắng nhớ lại nội dung những bài văn tế mình từng đọc, đặc biệt là "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc".

Nó lặng lẽ dùng chữ Quốc ngữ viết chú thích những điểm cần nhớ trong bài văn tế vào giấy nháp, gạch chân đánh dấu vào từ "cảm thán".

Văn tế vừa nghe là biết văn đọc cho người đã khuất, trong đám ma còn phải có tiếng khóc thì văn tế càng phải viết thật dạt dào cảm xúc, viết sao cho vừa đọc đã muốn khóc, người đọc thấy xót thương cho một phận đời đã đi.

Muốn viết được thật cảm xúc thì cá nhân nên đắm chìm trong cảm xúc đó.

Tùng gạt giấy bút sang một bên, bản thân thì ngồi khoanh chân, nhắm mắt lại.

Có quan đồng khảo đi ngang qua, tò mò không biết nó đang làm bài thi mà sao bỗng dưng lại ngồi thiền.

Toan bước đến bảo nó nhanh chóng làm bài thì bị một thí sinh ngồi trong lều đối diện ngăn lại.

Người này không cùng làng với Tùng nhưng lại là chỗ quen biết với thầy Đồ già trong làng của nó, có biết một ít chuyện.

- Quan cứ kệ nó đi ạ.

- Thí sinh nọ giải thích.

- Nó lớn lên trong chùa, ngồi thiền một lúc là thói quen của nó rồi ạ.

Tùng nghe mà ngại muốn xỉu.

Nó ngồi viết văn còn bị khó ở nữa là ngồi thiền.

Hiện tại nó chỉ đang cố tìm cảm giác để viết văn cho thật hay thôi mà!

Nó biết tỏng trường ba của nó sẽ là một thảm họa nên đang cố dùng cảm xúc viết văn để vớt vát trường nhì đây này.

Quan đồng khảo chỉ nghe thí sinh kia giải thích cho biết chuyện, xong xuôi vẫn lớn giọng quở Tùng:

- Phải biết chia thời gian làm bài cho hợp lý chứ.

Ngồi như thế một lát là đến giờ nộp quyển đấy, nộp không kịp thì trách ai.

Tùng không dám động đậy, đợi quan đồng khảo đi rồi mới dám mở mắt ra.

Má chứ thật, mấy ông quan này hôm nay quạu quọ kinh khủng, không rõ có phải bị đầu độc bởi sự đần độn của vài thí sinh ở trường nhất không hay chỉ đơn giản là sáng phải dậy sớm hơn gà và đến giờ không được ngồi yên để ăn cơm trưa.

- Viết quyển đi, sắp qua giờ Ngọ [2] rồi đấy.

[2] Giờ Ngọ: từ 11h trưa đến 1h chiều

Thí sinh ở lều đối diện liếc lính canh ở đằng xa, khẽ giọng nhắc nhở.

Tùng gật đầu, mấp máy môi nói lời cảm ơn.

Trong trường thi luôn tồn tại tình đồng chí thắm thiết.

Dù chỉ ngắn ngủi không đáng nhắc tới nhưng những sự giúp đỡ nhỏ nhặt đó đều là thật lòng.

Nó thấy mình chỉ nói lời cảm ơn suông thì qua loa quá, bèn thò đầu ra khỏi lều, chắc chắn rằng lính canh không để ý đến bên này liền chỉ tay vào tờ giấy thi của thí sinh nọ:

- Kìa, anh viết sai chữ rồi.

Thí sinh kia nhìn theo hướng chỉ của nó, vẫn chưa phát hiện mình sai ở đâu cả.

Tùng lại ngó lính canh thêm một lần, nhanh miệng nói thẳng:

- Chữ "thành" đó.

Viết sai rồi, viết tờ khác đi, húy vua đấy!

Vua Lê Thánh Tông còn có tên húy là Lê Tư Thành.

Người đi thi không được phép ghi tên vua vào, cả vua hiện tại và các vua trước đó, nếu không sẽ bị tính lỗi phạm húy, bài thi có khả năng bị đánh trượt ngay tắp lự.

Thí sinh kia bấy giờ mới thấy cái lỗi to đùng này, bất giác thảng thốt:

- Ôi thôi chết!

Tùng nghe âm thanh là biết lính canh sắp hùng hổ xông tới rồi.

Nó vội vàng rụt đầu lại như con rùa, ngoan ngoãn viết linh tinh vào nháp hòng diễn qua mặt lính canh.

Quả nhiên, mấy giây sau có hai lính canh chạy tới, lớn giọng quát:

- Chỗ này ồn ào cái gì!

Thích làm phiền người khác làm bài lắm à!

Thí sinh kia chắp tay xin lỗi:

- Em có lỡ miệng, các anh tha cho.

Bài em viết sai nên sợ quá thôi.

Không biết hai anh lính có tin không, chỉ thấy hai người đi qua đi lại chỗ này vài vòng, xác định các thí sinh khác không lén nhắc bài nhau mới yên tâm.

Một anh lính quắc mắt nhìn thí sinh kia, gằn giọng nhắc nhở:

- Viết sai thì viết tờ khác!

Để chúng tôi bắt được các anh nhắc bài nhau thì liệu hồn!

Thí sinh nọ liên tục dạ vâng, đảm bảo không gây ồn nữa mới được tha.

Nếu để mấy ông lính này tiếp tục đứng đây, không bao lâu nữa có quan đồng khảo đến hỏi chuyện thì khó xử hơn nữa mất.

Quan đồng khảo không phải lính canh, ai nấy đều có tiếng hay chữ rồi, biết được thí sinh kia viết phạm húy thì không khéo bị đuổi khỏi trường thi luôn quá.

Lính canh không nán lại lâu.

Trước khi đi, một người quay sang Tùng, hất mặt hỏi:

- Anh kia!

Không thiền nữa à?

Tùng đang giả vờ thì giật mình chỉ vào mình.

Họ hỏi nó à?

Thấy mắt hai lính canh cứ dán chặt vào mình như thể trả lời rằng không hỏi nó thì hỏi ai, Tùng bặm môi, rụt rè lắc đầu.

Giờ có muốn tìm cảm giác thì nó vẫn nên trông trời trông đất trông mây, tâm hồn treo ngược cành cây, chứ để bị nhìn rồi lại bị tưởng ngồi thiền thì ngại chết đi được.

Hai lính canh đi xa rồi, Tùng mới dám thả lỏng người.

Nó sợ phát khiếp.

Không chỉ nó, những thí sinh khác ở gần đấy cũng sợ run người, tay cầm bút còn không vững làm một vệt mực nhỏ xuống giấy, loang ra thành mảng.

Thông thường quan đồng khảo có đến giám sát cũng không hùng hổ như hai anh lính canh kia, mà kể cả chủ khảo có đến thì cũng không đến tới này.

Tùng láng máng nghe được một thí sinh bức xúc than:

- Mấy tên võ biền này...

Thật là!

Chắc anh bạn này muốn chửi bậy lắm, khổ nỗi vốn chữ văng tục không nhiều bằng bà bác bán hàng đầu chợ.

Chẳng thể trách được mấy nho sinh này, tối ngày họ chỉ biết đọc sách thánh hiền, luôn treo trên miệng "chi, hồ, giả, dã", đâu được tiếp xúc nhiều với tinh hoa ngôn ngữ dân gian đâu.

Tùng lắc lắc đầu.

Nó cầm bút lên, chấm mực, lại đặt bút xuống.

Cứ lặp lại ba động tác như vậy vài lần, nó vẫn chưa biết nên viết mở đầu bài văn tế thế nào.

Mở đầu cũng là "hỡi ôi" à?

Nó không dám, lại nghĩ hiện tại khoa cử không cho phép thi bằng chữ Nôm, còn chữ Hán thì chưa chạm đến tầng cảm xúc mà nó mong muốn.

Tùng thở dài, khó rồi đây.

Hiện giờ đầu nó rỗng tuếch như con tim trống vắng người thương cả mấy chục năm, một nét chữ cũng chẳng mường tượng ra được nữa là ý tưởng viết.

Chẳng lẽ cứ dừng ở đây sao?

Tùng không cam lòng, có điều dù nó có nghĩ ngợi nhiều đến thế nào thì cũng không rặn ra nổi một chữ.

Những thí sinh khác đều đang cặm cụi viết bài, lại chỉ còn mình nó ngồi ngẩn ngơ.

Trong không gian tĩnh lặng của trường thi, ngoài những tiếng kẽo kẹt của chõng tre thì chỉ có tiếng bước chân nhẹ nhàng của quan viên coi thi và lính canh.

Từ một căn lều nào đó vọng ra tiếng ho khan, hình như có một thí sinh dẫu bệnh vẫn phải vác thân đến trường thi bằng được.

Tùng ngồi ngẩn ngơ, tay hết mân mê vạt áo dài lại nghịch ngợm sợi tóc mình.

Tóc nó dài ngang lưng như con gái, cả năm chỉ dài đến thế do thỉnh thoảng vẫn đi cắt đều đặn.

Nó thích mái tóc này, thích dùng vỏ bưởi và bồ kết chăm sóc tóc, thích buộc lỏng để trông có chút bù xù mà vẫn gọn gàng một tí.

Nếu mẹ nó có biết chắc lại chửi nó không ra gì mất thôi.

Tùng bật cười khanh khách, rồi nhanh chóng bụm miệng lại.

May mà chưa có ai để ý tới.

Nó chải phần đuôi tóc mình, hài lòng đếm từng sợi tóc đen nhánh chắc khỏe, không sợi nào bị chẻ ngọn.

Đời trước nó phải thức khuya học bài nhiều, đường chân tóc của nó lùi vào sâu lắm, nhiều lúc trông như sắp hói đến nơi.

Nó đề nghị muốn ra tiệm tạo kiểu, để tóc dài ra chút, dày hơn chút cho đẹp hơn mà mẹ nó lại bắt đầu mở máy hát.

Bà cho rằng thẩm mỹ nó chẳng ra làm sao cả, rằng con trai mà để tóc dài thì chỉ có bê đê, ái nam ái nữ, chẳng ra thể thống gì.

Tùng phản bác lại, nó chỉ cần tóc dài hơn chút, dày hơn chút để che khuyết điểm thì có gì sai.

Và rồi mẹ nó không nhiều lời tát nó một cái, mắng nó hư đốn, không nghe lời bố mẹ, sống lôi thôi lếch thếch, ra đời chắc chắn là thằng thất bại.

Có lẽ vì khi xuyên không nó chỉ là một cậu nhóc mười sáu mười bảy tuổi, là cái tuổi dậy thì nổi loạn, nên nó chẳng nghĩ nhiều mà muốn để tóc dài.

Con trai thời phong kiến cũng có người để tóc dài, cơ mà tương đối ít, dù gì Việt Nam mình cũng không đặt nặng quan niệm "da thịt lông tóc đều do cha mẹ ban cho" như Trung Quốc.

Tuy Tùng có mái tóc hơi đặc biệt xíu nhưng lại không quá nổi bật ở xã hội phong kiến.

Còn liệu nó có vô dụng như lời của mẹ hay không, Tùng rất tự tin rằng không.

Bị mắng nhiều nên nó chai rồi, tự mở khóa được kỹ năng nghe tai này lọt tai kia, cosplay con vịt trong câu "nước đổ đầu vịt" một cách thuần thục đến không thể thuần thục hơn.

Nhưng đau lòng thì vẫn có đó.

Làm gì có đứa con nào không đau lòng vì bị mẹ mình buông những lời lẽ cay nghiệt như vậy.

Tùng chán nản, rồi đầu nó chợt nảy ra một ý tưởng táo bạo đến không ngờ.

Chẳng bằng nó biến sự chán nản, sự không cam lòng này thành ý tưởng viết vào bài.

Có khi nào văn tế không chỉ là một bài văn an ủi những người đã khuất, chia buồn với những người còn ở lại, mà còn có chút buồn thương trước thảm cảnh, sự chán nản và vô lực trước thiên tai khắc nghiệt, sự không cam lòng vì con người quá đỗi nhỏ bé yếu đuối, rồi tô điểm thêm chút hy vọng vào tương lai tốt đẹp hơn thì sao.

Chỉ vừa nghĩ như thế, Tùng buộc tóc lên cao hơn, nhanh tay cầm bút chấm mực viết ra nháp.

Càng viết, ý tưởng càng tuôn ra như suối, không thể ngừng tay lại được.

Khi tờ giấy nháp kín đầy chữ viết, thời gian đã qua giờ Thân [3].

[3] Giờ Thân: 3h chiều đến 5h chiều

Mới hơn năm giờ chiều.

Tùng thở phào, còn kịp để viết nắn nót vào bài thi.

Việc tiếp theo chỉ là chép lại bài làm từ nháp vào, viết thật đẹp và không mắc lỗi chính tả.

Nó tranh thủ vặn cổ tay cho đỡ mỏi, sau đó nhanh chóng lấy giấy mới ra viết.

Giây phút những tờ giấy khô mực, Tùng cho bài thi vào ống quyển cũng là lúc trống báo hiệu nộp quyển vang lên.

Xong trường nhì rồi, đà này nó có bốn mươi phần trăm cơ hội vào được trường ba.

Tùng đành chịu thôi, nó tuyệt vọng với bài sớ kia luôn rồi.

Có đỗ được trường nhì không thì hên xui lắm.

Tùng mang ống quyển đến nhà Thập đạo để nộp, thầm nghĩ mấy ngày tiếp theo nó nên đi đình, chùa, đền, miếu gì đó cúng bái nhiều hơn.

Tầm này rồi, phong kiến mê tín dị đoan gì đó để sau.

Nói kiểu gì thì nó qua được trường nhì chắc chắn là do nó tài giỏi, còn nếu nó trượt thì do mê tín quá nhiều, học không tới thôi!

Tùng vỗ ngực an ủi mình, quay lại xách theo đồ đạc rời đi.

- Cảm ơn cậu nhé!

May mà có cậu nhắc, không thì cả nghiệp khoa cử của tôi đi tong luôn quá.

Ra khỏi trường thi, Tùng tiếp tục gửi lều chõng của mình ở quán nọ.

Bất chợt có người chạy tới vỗ bốp vào lưng nó, dọa nó giật mình ngã chúi xuống đất.

Người kia áy náy quá, vội đỡ nó đứng dậy.

Tùng quay lại nhìn, phát hiện đó là thí sinh ở lều đối diện.

Nó lập tức nuốt cục tức xuống bụng để tự tiêu hóa, liên miệng nói rằng anh khách sáo quá rồi.

- Này có là gì.

- Thí sinh kia phẩy tay.

- Không có cậu, cả đời tôi cũng chẳng làm nổi Hương cống mất thôi.

Tôi thi lần này đã là lần thứ năm rồi đấy.

***

Tác giả tám nhảm: Lại đổi tên truyện :> xin trân trọng tuyên bố tên chính thức là "Nho Sinh" nha, đại ý là câu chuyện của một nhóc học sinh xuyên không làm nho sinh và có thể là câu chuyện của nhiều nho sinh khác nữa.

Vốn ý tưởng ban đầu là tuổi học sinh, câu chuyện học đường trong Quốc Tử Giám đồ mà giờ thằng nhỏ còn chưa thi Hương xong nữa haha.

Trường nhất tôi không kể nhiều vì cũng không có nhiều cái để kể lắm, trường nhì tôi cũng chẳng tính viết nhiều đâu mà không ngờ lại dài gấp đôi bình thường thế này.

Tôi thật sự chưa bao giờ nghĩ rằng sau khi đọc Tứ Thư, bản thân sẽ ngồi đọc một tờ sớ và cách viết sớ để mần ra cái chương này 🤡

Nội dung chương này tôi viết dựa trên trí tưởng tượng chứ tài liệu chỉ ghi rằng trường nhì "thi chiếu chế biểu, dùng tứ lục cổ thể" thôi.

Nên là NỘI DUNG KHÔNG CÓ TÍNH THAM KHẢO XIN CẢM ƠN!!!

Spoil nhẹ mà chắc ai cũng đoán được: chương sau viết về trường ba, trường thi thơ phú nè.

Nhắc trước là tôi không viết nổi một bài thơ Đường luật đâu 🙁(
 
Back
Top Bottom