Cập nhật mới

Khác Vua Gia Vị

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
283124080-256-k93202.jpg

Vua Gia Vị
Tác giả: buileduy
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Dịch từ seri tiểu thuyết Hope and Glory của Elizabeth Camden, cuốn 1, The Spice King.

---



xà​
 
Vua Gia Vị
Một


Tháng 5, 1900

WASHINGTON, DC

Annabelle Larkin không có ý định chơi xỏ ông trùm gia vị thế giới bằng một yêu cầu táo bạo.

Vì lá thư hồi đáp của ông ghi rất rõ ràng, nhưng cô vẫn đọc đến lần thứ hai, nhằm tìm ra một tia hy vọng nào đó trong từng con chữ.

Thưa cô Larkin,

Tôi viết thư này phản hồi thư cô yêu cầu tôi tài trợ bộ sưu tập cây cỏ của tôi cho Viện Smithsonian.

Tôi đã bỏ ra hai thập kỉ lùng sục khắp thế giới mới thu thập được những loại cây hiếm có như vậy, đó là chưa kể tôi phải đổ mồ hôi, công sức và suýt nữa cả mạng sống mình.

Nên cô vui lòng cho phép tôi được chăm lo cho cây cỏ của mình tốt tươi, thay vì đống cây cỏ ẻo lả của Viện Smithsonian mà tôi có dịp được thấy, mà có vẻ đa phần chúng đều bị chết và bị lồng vào khung cho khách tham quan ngắm nghía.

Do vậy, tôi buộc phải từ chối yêu cầu của cô.

Gray Delacroix

Chủ sở hữu, Tập đoàn Gia vị Toàn cầu Delacroix

Cô thở dài, thả lá thư xuống bàn thí nghiệm.

Để được nhà Delacroix tài trợ là cả một vấn đề không hề nhỏ, nhưng thất vọng ấy lại nảy ra trong đầu cô vài hướng khác.

"Việc thế nào rồi?

" Bittles ngồi đối diện lên tiếng.

Ông Bittles là người hướng dẫn của cô nhưng rất xem thường cô, ngay từ ngày cô bước chân vào Viện Smithsonian cách đây hai tháng.

Mới chân ướt chân ráo từ Kansas sang, cô phải cần một cái bản đồ du lịch mới tìm được viện nghiên cứu nổi tiếng này, đến nỗi Annabelle không nhận ra nó có thuộc về Washington hay không, đúng chất một gái quê.

Trong khi ai làm ở Smithsonian thường tốt nghiệp ở những trường danh tiếng như Harvard hay Princeton thì tấm bằng của Annabelle là của Trường Nông nghiệp Kansas.

Cô không phải ngôi sao lấp lánh nhất trong nhóm các nhà khoa học tại Viện Smithsonian.

"Ngài Delacroix từ chối đề nghị của chúng ta, nhưng tôi vẫn còn hy vọng," cô nói, và cho rằng lời từ chối thẳng thừng của ông ta không nhằm bôi nhọ cô.

Cô chỉ là người chân ướt chân ráo bước vào dãy dài những nhà nghiên cứu thực vật học đang cố thử nhưng thất bại khi tiếp cận Gray Delacroix.

Phòng thí nghiệm nơi cô làm việc với Bittles rất nhỏ, nên cô cần phải đi vòng qua sau gã thì mới đến được chỗ máy đánh chữ.

Cô liền gõ vài dòng thư phúc đáp.

Thưa Ngài Delacroix,

Tôi không có ý gì xúc phạm Ngài trong lá thư trước.

Mọi người ở Smithsonian đều rất ấn tượng với bộ sưu tập đáng ngưỡng mộ của Ngài, nhất là những khó khăn, thách thức mà Ngài gặp phải khi vận chuyển những cây có độc đến Mỹ mà vẫn giữ cho chúng sống khoẻ.

Tính quý hiếm của những gì Ngài có được là lý do tại sao chúng tôi hy vọng Ngài sẽ chia sẻ cây cỏ của Ngài với các nhà khoa học đầu ngành, và biết đâu chừng sự thịnh vượng của quốc gia lại xây dựng trên nền móng từ thành công của Ngài.

Ngài có thể tài trợ bộ sưu tập cho chúng tôi, Viện Smithsonian sẵn sàng vinh danh tên của Ngài cho một khu bảo tàng.

Chân thành,

Annabelle Larkin

Chuyên gia thực vật học,

Viện Smithsonian

Lời hứa vinh danh cho một khu trong Viện là ý tưởng rất hay, vì giám đốc Viện Smithsonian đã cho phép làm điều này, và bất kỳ ai đều biết Tiến sĩ Norwood thà phớt lờ luôn mấy đứa cháu của mình chỉ để được chạm tay vào mấy cái cây của Gray Delacroix.

Điều mà Tiến sĩ Norwood quan tâm nhất chính là cây ăn quả, nhưng ông sẽ yêu cầu cô thăm dò toàn bộ bộ sưu tập.

Cô không hiểu được lòng khát khao của ông, nhưng cô toàn tâm toàn ý hoàn thành công việc này.

Nhiệm vụ này rất quan trọng, bởi vì công việc tại đây của cô chỉ tạm thời.

Cô được thuê thời hạn sáu tháng để bảo quản và lên danh mục bộ cây trồng lớn được chuyển về từ châu Phi và Úc, nhưng cô chỉ làm vài tháng, sau đó thì hết việc.

Tiến sĩ Norwood cũng nói mấp mé rằng ông sẽ tưởng thưởng cho vị trí tạm thời này nếu cô có thể thuyết phục một Gray Delacroix nổi tiếng khó gần để tài trợ bộ sưu tập cây cỏ của ông ta cho Viện.

Khi bỏ lá thư vào thùng thư xong, cô lặng lẽ cầu nguyện.

Thật là một vinh dự khi được làm việc cho Viện Smithsonian với các nhà khoa học luôn háo hức tìm kiếm và hiểu thế giới xung quanh mình, và cô rất khát khao được giữ công việc này.

Thậm chí nếu phải làm việc, cộng tác với những người như gã Bittles.

Người hướng dẫn của cô chỉ thích kẻ phụ giúp nào mang cho gã ta cà phê hay là áo quần giúp.

Nên gã chẳng thích thú gì khi Tiến sĩ Norwood chỉ định cô là trợ lý, nhưng Annabelle đơn giản là hạnh phúc khi có được công việc.

"Lại đây làm việc nào," Bittles ra lệnh, đặt một thùng giấy mới nhập từ Úc trước mặt cô.

Cái thùng đầy ắp những cỏ, rong, hạt giống, và công việc của cô là lên danh mục cho chúng để tra cứu về sau.

Mỗi loại cây sẽ được làm khô và bảo quản trên một miếng bìa, hạt giống của nó sẽ được bỏ vào một chiếc bao tương ứng, sau đó cất trữ trong ngăn kéo kim loại rất lớn.

Cô thích tưởng tưởng ra cảnh hàng trăm năm sau, các nhà khoa học sẽ dựa trên những chủng loại này, thích thú nhìn ngắm những báu vật thực vật học của người xưa lưu trữ.

"Tại sao Tiến sĩ Norwood lại bồn chồn phải có cho bằng được bộ sưu tập của gia đình Delacroix vậy nhỉ?" cô hỏi.

"Mọi thứ đều là do cái cây lan vani ấy," Bittles trả lời.

"Ông ta không màng gì đến mấy cây khác đâu, chỉ có cây lan vani thuần chủng mà thôi.

Ta nghĩ cái cây đó tuyệt chủng lâu rồi."

Annabelle đã từng nghe về việc Tiến sĩ Norwood yêu cầu săn tìm tổ tiên của cây lan vani hiện nay.

Người Tây Ban Nha có được nó khi họ xâm chiếm người Aztec hồi thế kỷ thứ mười sáu.

Họ đưa chúng vào trong các tu viện và ra nước ngoài, sang các hòn đảo gia vị ở phía đông, là nơi qua nhiều thế kỷ, chúng bị lai tạp với các chủng loài lan vani khác và đến nay chúng được cho là bị lai tạp quá nhiều.

Không còn ai thấy được mẫu lan vani nguyên gốc trong hơn một trăm năm qua rồi.

Mặc dù vậy, Annabelle vẫn mắt tròn mắt dẹt.

"Vậy anh nghĩ là Ngài Delacroix có một cây như thế à?"

"Tiến sĩ Norwood nghĩ vậy.

Gray Delacroix thu thập mọi loại lan vani, nhưng ông ta cất giữ chúng rất nghiêm ngặt, nên điều đó khêu gợi trí tò mò của Tiến sĩ Norwood.

Có lẽ cô nên từ bỏ ý định đó đi.

Ta cho là cái cây gốc đó đã tuyệt chủng từ lâu rồi.

Không còn mà ngắm nữa đâu.

Mở cái thùng đó ra đi."

Annabelle gật đầu và lấy một bó cỏ khác từ Úc ra.

Hầu hết các giống cỏ mà cô phân loại trông tương tự nhau và giống những giống cỏ ở Mỹ, nhưng vẫn có những khác biệt li ti khó thấy, nhưng những khác biệt ấy lại tác động đến mùi, vị hay độ cứng của thân.

Do đó, những khác biệt nhỏ này đã khiến nông trại lúa mì của gia đình cô lụn bại sau nhiều năm hạn hán.

Bố mẹ cô phải vay tiền mua vé tàu cho cô đến Washington, nên đó là lý do cô không muốn mất công việc này.

Đó cũng là lý do tại sao cô đau đáu trông chờ phản hồi của Ngài Delacroix cho lá thư thứ hai này.

Nó đến vào sáng hôm sau, và Bittles giật ngay lấy từ tay cậu bé đưa thư trước khi cô lấy được nó.

"Thư của tôi mà," cô sừng sộ, cố chụp lấy nó từ tay Bittles khi gã đung đưa nó trên đầu cô.

Đôi khi lùn cũng rất nghiệt.

Cô cố nhảy lên chụp, còn Bittles vẫn cười khục khặc khi cứ vẫy vẫy lá thư ngoài tầm với của cô.

"Nhưng địa chỉ người nhận là Phòng Thực vật, mà ta là trưởng phòng," gã nói, mở ra một trang trong thư.

Gã lắc đầu mỉa mai, rồi thầm thì "Tiếc thật."

"Trong đó nói gì?"

Gã nhoẻn cười rồi đọc lá thư to lên.

"'Cô Larkin thân mến.

Không có lý do gì tôi cho phép cô tiếp cận với bộ sưu tập của tôi.

Đừng hỏi nữa.

Chân thành, Gray Delacroix'" Gã không che dấu vẻ thèm muốn khi đưa lá thư cho cô.

Cô quay sang chỗ khác để đọc nó, cầu cho Bittles chỉ đùa thô lỗ mà thôi, nhưng nội dung thì ra lại chính xác như những gì gã đọc.

Cô cố nén vẻ thất vọng khi bỏ lá thư vào giỏ xách, vì cô chưa sẵn sàng bỏ cuộc.

"Tôi sẽ đi xuống lầu nói chuyện với Tiến sĩ Norwood về chuyện này," cô nói.

"Đã đến lúc thay đổi phương án."

"Chúc may mắn," Bittles nói với nụ cười mỉa mai.

Nụ cười ấy càng khiến cô quyết tâm hơn trong từng bước chân đi vào phòng giám đốc.

Tay Bittles thô lỗ, xấu tính ngay từ đầu, nhưng những tính cách ấy không khiến cô sợ sệt.

Cô lớn lên ở những cánh đồng Kansas, là nơi cô phải chiến đấu với bão tuyết, giông gió, hạn hán, các dịch châu chấu đen kịt bầu trời.

Có nhiều thứ không làm cô sợ, nhưng mất việc ở Smithsonian lại khác.

Văn phòng Tiến sĩ Norwood là bản sao của những gì ông ta có về các loài lan.

Những hàng hoa ngoại lai được kê dọc theo rèm cửa sổ, và mùi hương ngọt ngào, cay cay xông khắp gian phòng.

Những tấm bản đồ treo trên tường chỉ ra những cánh đồng trồng lan trên khắp thế giới, còn kệ sách trưng đầy hoa hóa thạch.

Khỏe khoắn, hói và đeo kính, Tiến sĩ Norwood đang chằm chằm vào giống lan Cephalanthera rực rỡ khi cô bước vào.

Ông ta thậm chí không ngước lên nhìn khi cô tóm tắt lá thư từ chối mới nhất của Ngài Delacroix, nhưng ông quay sang chú ý lúc cô đề nghị giải pháp mới.

"Em có cảm giác ông ta là doanh nhân thì đúng hơn, Ngài Delacroix sẽ cân nhắc nếu ta có cái gì đổi chác," cô nói.

"Có lẽ nếu chúng ta trực tiếp yêu cầu ông ấy chỉ cần một cây lan vani mà thôi, có thể ông ta dễ chấp nhận hơn."

Tiến sĩ Norwood lắc đầu.

"Vani là một trong những loài lan giá trị nhất thế giới, còn Delacroix chỉ muốn cái cây đó kiếm được tiền.

Cha ông ta thì khác.

Chúng ta còn có thể nói chuyện lý lẽ với ông cha, nhưng từ khi ông ấy chết, Gray Delacroix giữ chìa khóa đế chế ấy.

Ông ấy không ưa gì thành tựu khoa học, mọi thứ chỉ liên quan đến tiền."

Giữa hai điều ấy, Annabelle cũng đồng cảm với cái lợi là tiền hơn, nhưng có lẽ là vì những gì trải qua trên cánh đồng khiến cô có đồng cảm ấy.

Dù sao đi nữa, cô sẽ làm mọi thứ cần thiết để làm vui lòng Tiến sĩ Norwood.

"Thưa Ngài, tôi sắp hết thời gian làm việc tại đây.

Nếu Ngài muốn có được cây lan đó, tôi sẽ tự tìm cách kiếm được nó.

Mọi thứ tôi cần là Ngài cho phép tôi gặp trực tiếp Ngài Delacroix.

Mặt đối mặt.

Tôi nghĩ mình có thể thuyết phục ông ta."

Tiến sĩ Norwood bỏ cây kéo tỉa cành xuống và nhìn thẳng vào mắt cô.

"Khi giáo sư đại học của cô đề nghị cô vào vị trí này, ông ta nói rằng cô là một trong những người sáng nhất, lạc quan nhất mà ông ta từng gặp."

"Đúng vậy," cô đồng ý với một nụ cười.

"Đó là loại người mà Gray Delacroix sẽ phát điên," Tiến sĩ Norwood nói.

"Ông ta đều hướng mọi thứ đến chuyện kiếm tiền và không kiên nhẫn, không dây dưa, miễn nhiễm với mấy cái duyên của phụ nữ."

Đó là lý do tại sao Annabelle lên một kế hoạch khác.

Ngài Delacroix có lẽ thô lỗ, nhưng mọi thứ cô biết về ông ta chỉ ra rằng ông ta có một niềm đam mê bất tận về cây cỏ trên thế giới, và ở góc độ đó, họ có điểm chung.

Ông ấy đi khắp địa cầu, và bất kể đi đến đâu, ông đều thu thập hạt giống, cái hoa, cái cành hay cả bộ rễ về.

Cô hâm mộ một người như thế.

"Nếu ông cần cái cây lan ở đó, tôi sẽ đem về một nhánh," cô tự tin nói với Tiến sĩ Norwood.

"Và Ngài Delacroix sẽ vui vẻ đưa nó cho tôi."

Cô vạch ra một kế hoạch vô tiền khoáng hậu, và sẽ thảm bại hết sức đau thương nếu thất bại.

Tiến sĩ Norwood có vẻ bất ngờ.

"Tôi mong ông ta sẽ cười cô khi cô đi ra khỏi văn phòng ông ấy.

Có vẻ như có một thất bại toàn tập đang chờ cô đấy."

"Viện Smithsonian từ nhiều năm nay có thành công trong việc này bao giờ đâu," cô nói.

"Chẳng có gì tiến triển, nên tốt nhất là ông cứ cho tôi thử."

Tiến sĩ Norwood lấy cây kéo tỉa cành lên lại, cố nhịn cười.

"Có vẻ cô đang tự vẽ mặt hề lên mặt mình đấy, nhưng tôi vẫn chúc cô may mắn."
 
Vua Gia Vị
Hai


Hai ngày sau, Annabelle lên một toa tàu điện gần thị trấn Alexandria, là nơi nhà Delacroix từng sinh sống từ nhiều đời qua.

Thay vì đòi hỏi thứ gì đó thì Annabelle lại chuẩn bị quà cho Ngài Delacroix trước.

Cô mang theo một món quà độc đáo để bày tỏ sự ngưỡng mộ lòng say mê gia vị và cây cỏ của ông ta, và những loại mẫu cây mới để chứng tỏ cái cách mà Viện Smithsonian có thể hợp tác với ông.

Cái mớ lỉnh kỉnh vật dụng ấy khiến cô đi đứng khó khăn, chưa kể cô còn phải kẹp nách cái gói quà nữa.

Cô đã điểm ngay một tấm bản đồ kỳ lạ ở tiệm đồ cổ ngay sau khi đặt chân đến Washington.

Bản đồ được in trên một tấm da mềm, thoạt trông giống như tấm bản đồ thời Phục Hưng của người Tây Ban Nha đi chinh phục Tân thế giới thời trước hay mang theo bên mình.

Có những hình minh họa nhỏ nhỏ điểm xuyết cho tấm bản đồ toàn cảnh, như một rương kho báu ở bờ biển Malabarvẽ bằng những nét chấm, hay một tàu hàng Tây Ban Nha ở gần cảng Genoa chở gừng và nhục đậu khấu.

Một con rồng lượn trên vùng nước ở Mũi Hảo Vọng.

Tấm bản đồ vô bổ này chỉ như một thứ trang trí duyên dáng mà thôi, có thể giúp cô đặt được một chân đến trước cửa nhà của Delacroix.

Dù sao nó cũng tăng chút gia vị dành cho vị Vua Gia Vị!

Cái đống đồ lỉnh kỉnh rất vướng víu khi cô xuống xe điện ở Alexandria, là thị trấn cảng, có khung cảnh hoàn toàn khác so với một Washington lộng lẫy, cổ kính.

Alexandria có dáng vẻ cổ cổ là lạ, gạch vỉa hè sờn mặt và tiếng bước chân như vọng lại từ thời thuộc địa.

Tán cây đoan đổ bóng xuống những con đường hẹp, hai bên là nhà dân, quán cà phê và văn phòng luật sư, xa xa là dòng sông Potomac chảy qua.

Ngay lúc đến được con đường nhà Delacroix, cô nhận ra ngay sự hào nhoáng ở khu đường này.

Hàng quán và nhà cửa hoành tráng hơn, nhưng ấn tượng hơn cả là phụ nữ nơi đây tấp nập ra vào các cửa tiệm mua sắm hơn.

Liệu những phụ nữ này có diện những chiếc váy giống vậy vào chiều thứ Năm bình thường không nhỉ?

Họ ăn mặc rất trang nhã, toàn khoác áo choàng, khăn choàng vai hay khăn thắt lưng.

Annabelle chỉ mặc mỗi chiếc đầm bằng vải cotton đơn giản, họa tiết kẻ sọc màu hạt dẻ với dải nút trang trí phía trước.

Trong khi những phụ nữ khác búi tóc cao lên, kẹp tóc đính cườm hay đá quý thì dải tóc màu đen của Annabelle chỉ được cột túm lại đơn giản ra phía sau.

Một cơn mưa bất chợt buộc cô phải nhanh chân hơn một chút, khiến đống vật dụng va vào hông.

Con đường lát đá cuối cùng cũng dẫn cô đến một ngôi nhà phố ba gian của gia đình Delacroix.

Tay vịn lên bậc thềm màu đen dẫn cô lên dãy bậc thang trông như đã có cách nay hàng thế kỷ.

Có lẽ đúng như vậy đấy.

Khi mà cụ kị của ông Delacroix tạo dựng đế chế vận tải đường biển ở Virginia thì cụ kị của Annabelle còn mãi kéo khoai tây ra khỏi lớp sỏi đá cứng khô ở Ireland.

Cô vội đi lên hết dãy bậc thang, đến cửa trước nhà và gõ.

Một người da đen trạc tuổi cô nhưng cao hơn nhiều, ra mở cửa.

"Ngài Delacroix không tiếp khách," anh ta đáp khi cô yêu cầu được gặp.

"Liệu tôi có thể gặp ông ấy lúc khác trong ngày hôm nay được không?"

"Có vẻ là không."

Câu trả lời rất gọn nhưng không mấy thô lỗ, nên cho cô thêm chút quyết tâm.

"Ngài Delacroix và tôi có thư từ với nhau, nên tôi nghĩ sẽ tốt hơn nếu chúng tôi gặp riêng nhau thay vì cứ phải gửi thư."

Cơn mưa chợt to hơn một chút, hạt mưa hắt vào cả bên trong nhà.

Phía trước nhà không có mái hiên nên tấm bản đồ gia vị đang bị mưa làm ướt.

"Liệu tôi có thể trú mưa một chút không?

Tôi có đồ quý giá muốn cho ngài Delacroix xem."

Hay đúng hơn là một tấm bản đồ cũ rẻ tiền, nhưng có lẽ vì vậy mà cậu trai trẻ ấy liền ra hiệu cho cô bước vào.

Cô không ngờ một trùm về mạng lưới vận chuyển quốc tế lại sống một nơi như vậy.

Sảnh trước trống không, trần nhà thấp, đồ đạc đơn giản và tiện dụng.

Sảnh giữa chạy dọc ra hết phía sau nhà, ở đó có một cánh cửa đang mở, dẫn ra khu vườn nhỏ nằm phía sau nhà.

"Cô có thể chờ ở đây cho đến khi tạnh mưa, nhưng cô sẽ ở đây một mình thôi.

Ngài Delacroix không thể tiếp khách được."

Nếu ông ta bị bệnh, cô không thể cứ thế mà bỏ đi được.

Còn gã trai trẻ kia cũng dễ chịu ấy chứ.

Cô liền chìa tay ra.

"Xin chào.

Tôi là Annabelle Larkin.

Còn cậu là?"

Chắc hẳn cậu ta bất ngờ lắm, vì cậu trừng trừng nhìn vào tay cô đưa ra mất một lúc trước khi đưa tay ra bắt.

"Tôi là Otis.

Otis LaRue."

Cô bắt tay một cách mạnh mẽ, miệng nở nụ cười, bởi vì với cô, đây là chướng ngại đầu tiên khi phải tiếp cận với Ngài Delacroix.

"Rất hân hạnh, Otis.

Tôi có thể mượn chiếc khăn nào đó để lau món đồ này được không?

Nó rất hiếm đấy."

Otis gật đầu.

"Chị ra phòng khách ngồi đi, tôi sẽ đi kiếm cái khăn nào đó cho chị lau... thứ đồ cổ ấy," cậu ta nói, mắt tò mò nhìn cuộn bản đồ và mớ đồ đạc lỉnh kỉnh.

"Tôi rất biết ơn," cô đáp.

Rồi cô đi đến phòng khách, trong đó có treo mấy tấm bản đồ hàng hải và một chiếc bánh lái bằng đồng treo trên tường.

Sàn nhà lót gỗ kêu cót két khi cô bước vào trong.

Đồ nội thất kiểu thuộc địa, thiết kế đơn giản nhưng chất lượng, được kê gọn gàng phía trước lò sưởi bằng gạch.

Otis quay lại, trên tay cầm cái khăn.

"Đây nè chị."

Cô không quen việc người khác phải chờ mình, nhưng phải mất một khắc cô mới nhận ra cậu ta sẵn sàng giúp cô lau khô tấm bản đồ.

"Vâng, ở đây.

Cảm ơn."

Cô mở tấm bản đồ ở mặt sau ra, nhưng Otis lại lật nó ra mặt trước để xem.

"Tấm bản đồ này tuyệt thật," cậu ta vừa cười vừa nói.

"Tôi chưa từng thấy thứ gì như vậy."

"Tuyệt quá phải không?

Khi nhìn thấy nó, tôi lập tức nghĩ ngay đến Ngài Delacroix."

"Otis!" một giọng rống lên ở đâu đó trong nhà.

"Đến ngay đây, thưa ngài," chàng trai trẻ gọi lại hướng ra phòng trong, rồi đưa trả bản đồ lại cho cô.

"Chờ đây nhé.

Tôi sẽ trở lại ngay."

Cậu ta vụt chạy vào phòng trong rất mau lẹ.

Tại sao phụ nữ lại rắc rối với đủ thứ đầm, váy nhiều lớp như vậy?

Trên cánh đồng, cô thường mặc chiếc quần vải jean dày, cũ của cha khi trườn mình vào ụ rơm, hay chăn thả đàn dê, nhưng có lẽ mặc như vậy không phù hợp ở Washington.

Giọng nói nghe mù mù vẳng ra qua cánh cửa đóng kín ở cuối phòng, và chốc sau, Otis quay trở ra với đôi tay rộng mở.

"Ngài Delacroix thoáng nghe chúng ta nói chuyện.

Ngài ấy muốn xem tấm bản đồ."

Annabelle cầm chặt tấm bản đồ hơn.

Nếu Ngài Delacroix muốn xem bản đồ, ông ta có thể gặp cô một cách đường hoàng, lịch sự.

"Này cậu... tấm bản đồ này giá trị lắm.

Có lẽ tôi sẽ hẹn gặp ông ấy và sẽ trở lại cho ông ấy xem lúc nào đó tiện hơn."

Nhìn gương mặt hơi cau lại của Otis, thật khó để đưa cậu ta vào tình huống khó xử như vậy, nhưng cô cần gặp riêng Ngài Delacroix.

"Otis, đưa cô ta vào đây," giọng nói khô khốc vọng ra.

Hy vọng lại dấy lên trong cô, và rồi cô theo Otis bước vào.

Có nhiều đồ cổ treo trên tường hơn, nhất là có những tấm chân dung mấy đời của gia đình đội bộ tóc gi trắng nhìn trừng trừng xuống phía dưới.

Cô được dẫn qua một cánh cửa dẫn vào phòng đọc, bên tường là kệ sách.

Khi cô bắt gặp một người ngồi phía sau bàn sách, cô thật hoảng hồn.

Rõ ràng là gương mặt ấy bị sạm đen đi.

"Đừng lo, nó không lây đâu," người ấy nói.

Nhưng trông anh thật kinh!

Anh không ăn mặc đúng cách, chỉ mặc độc mỗi cái áo choàng lỏng lẻo, có cột thắt lưng mà thôi.

Đôi mắt đỏ ngầu và mái tóc đen bù xù, nhưng thứ ghê rợn nhất là làn da.

Màu da trắng bệch và ươn ướt, vệt mồ hôi nhễ nhại chảy trên gương mặt và cái áo choàng ẩm ướt.

Cái vẻ ngoài bê bối như vậy vẫn không ngăn anh cứ nhìn cô từ trên xuống dưới.

"Lùn nhỉ," anh nói.

Cô thẳng người lên.

Chiều cao của cô luôn là thứ đầu tiên đập vào mắt người khác, nhưng hiếm khi có ai nhận xét ngay và luôn như vậy.

"Còn anh thì trông như con bệnh nhỉ."

"Nhưng không lây," anh đáp gọn lỏn.

"Đưa xem cái bản đồ quý đi nào.

Nó đâu rồi?"

Có lẽ không lây thật, nhưng có gì đó rất không đúng ở anh ta.

Cô bước tới một bước và trải tấm bản đồ ra, sau đó lùi lại ngay lập tức khi anh giằng lấy nó.

Trong khi anh trải tấm bản đồ ra chiếc bàn, cô quan sát anh kỹ hơn vì anh cũng khá điển trai mặc dù đang bệnh.

Dáng anh cân đối tựa tượng đúc và có đôi mắt sâu.

Nhưng điểm lôi cuốn nhất ở anh đối với cô là cái hàm, trông đầy năng lượng khi nói và có vẻ như rất có trách nhiệm.

Cô thích cái cách mà anh xoa cằm khi anh dò xét tấm bản đồ, và ánh nhìn của anh chuyển từ trạng thái nghi ngờ sang tò mò.

Bỗng cô ngạc nhiên khi thấy anh mỉm cười.

Một nụ cười gằn, yếu, còn hơi thở ngắn, đứt quãng.

"Tôi thích nó," anh nói.

Anh đeo cặp kính vào và nhìn kỹ tấm bản đồ hơn xíu nữa.

"Ha!

Cái cây đinh hương ở Malabar là sai rồi.

Họ sấy khô rồi mới chuyển đến đây, không phải là cây xanh."

Anh dựa người ra ghế, gõ ngón tay lên bàn.

"À vậy ra cô là cô Larkin chán ngắt ở Viện Smithsonian."

"Tôi là Larkin đến từ Viện Smithsonian."

Rất khó để cười được, vì rõ anh đang thử cô, nhưng anh không biết mình đang phải gặp ai.

"Và cô mang quà đến đây à.

Hy vọng tôi sẽ mềm lòng à."

"Như vậy không được sao?"

"Chưa được, dù tôi cũng có chút tò mò.

Lá thư vừa rồi của tôi là lá cuối cùng, và cô không còn cơ hội nào khiến tôi thay đổi ý nghĩ.

Vậy tại sao cô tới đây?"

Anh nói, giọng điệu không một chút thù địch, chỉ đơn thuần là tò mò.

Nên cô vẫn cảm thấy mình có chút hy vọng.

"Anh sẽ không tôn trọng tôi nếu tôi bỏ cuộc quá dễ dàng như vậy."

"Cái gì khiến cô nghĩ tôi sẽ tôn trọng cô?"

Câu nói như thách thức cô toát lên trong ánh mắt sâu của anh, và đó rõ ràng là thứ rất phấn khích.

Làm sao mà một người đàn ông có thể vừa thô lỗ, vừa hấp dẫn như vậy được kia chứ?

Cô sẵn sàng buổi kiểm tra này.

"Là con người, mặc nhiên tôi đáng để được tôn trọng.

Và là một nhà thực vật học đối với một nhà thực vật học khác, tôi nghĩ anh và tôi có thể hợp tác."

"Tôi không phải nhà thực vật học.

Tôi là doanh nhân."

"Tôi không bàn cãi vấn đề này với anh, Ngài Delacroix.

Nhất là khi nếu anh không gắn tôi với Smithsonian để công kích tôi."

Anh bỏ cặp kính xuống, sau đó lấy chiếc khăn tay lau mặt trước khi nhìn cô bằng cặp mắt đỏ ngầu.

"Mấy gã Smithsonian nhiều năm nay cứ hăm he dòm ngó cây lan vani của tôi, nhưng đây là lần đầu tiên đám ấy cử một cô gái đến thử.

Thực ra là tôi canh giữ chúng rất kỹ, và tôi cũng rất bảo thủ đối với cây cối của mình, nên tôi e rằng cô đến đây chẳng thu được gì đâu."

Vậy ra anh ta biết được giá trị của thứ mà anh ta có.

"Hay là anh có thể cho tôi biết làm sao anh giữ nó sống được khi đem về đây không?"

"Không."

"Có lẽ anh cũng có thể cho tôi biết cách chăm sóc nó không?

Giống như cây nho nhiệt đới, Virginia buộc phải có môi trường phù hợp cho nó."

Anh nhún vai và im lặng.

"Nào, Ngài Delacroix," cô nói.

"Khoa học không nên trình diễn trong lồng chân không như vậy chứ.

Tại sao chúng ta không thể chia sẻ nguồn tài nguyên và tri thức cho nhau chứ?"

"Bởi vì tôi không tin vào chính phủ," anh lạnh lùng.

"Tôi biết chính xác các người sẽ làm gì nếu tối đưa một nhánh lan vani cho các người."

"Làm gì là làm gì?"

"Cô sẽ cắt chúng ra từng mảnh nhỏ rồi đưa chúng vào kính hiển vi.

Cô ép nó lại, dán nó lên tấm bìa rồi cất chúng lên gác.

Tôi nói đúng không?"

Thực ra, họ cất chúng theo danh mục chủng loài trong các ngăn tủ bằng kim loại, nhưng phần lớn những điều anh nói là đúng.

Nếu mẫu vật đủ lớn, họ có thể thử tái tạo chúng và chiết ra một nhánh khác.

Nhưng tại sao anh ta lại quá thù địch với toàn bộ quy trình nghiên cứu khoa học như vậy chứ?

"Viện Smithsonian tò mò mọi hình thái của cây cỏ.

Đúng vậy, dĩ nhiên chúng tôi cần thu thập và bảo tồn mẫu vật."

Anh gật gù khi thấy cây ghim cài áo hình hoa hướng dương trên cổ áo của cô.

Đó là món trang sức duy nhất cô mặc đến đây, để cô nhớ về Kansas.

"Đó là chuyên ngành của cô sao?

Hoa hướng dương?"

"Chuyên ngành của tôi là cây thân cỏ dòng ngũ cốc.

Gồm lúa mì, lúa mạch và tôi cũng biết chút ít về cây kê.

Tôi cài hoa hướng dương là vì anh không thể nào không mỉm cười khi nhìn thấy chúng."

Khoé miệng anh nhếch lên, cô bắt ngay lập tức.

"Thấy chưa?

Ngay cả khi anh không thể cười.

Chỉ cần nghĩ về cánh đồng hoa hướng dương là đã khiến cho ta mỉm cười.

Nào, chấp nhận sự thật ấy đi."

Đây là lần đầu tiên cô thấy một nụ cười thực sự trên gương mặt anh, cùng với cái cười lạt ấy ý chỉ sự đầu hàng.

Anh ra dấu cho cô ngồi ở cái ghế đối diện, và cô cảm thấy mình đã thành công được bước đầu.

Cô ngồi xuống, sau đó nâng đống đồ lỉnh kỉnh lên đặt trên đùi.

"Dù anh không cho tôi xem cây lan của anh nhưng tôi vẫn có thể cho anh xem vài mẫu lan vani mới mà tôi có được từ vùng bờ biển châu Phi.

Anh muốn không nào?"

Cần nói trước như vậy.

Anh ngồi thẳng lên, tập trung hoàn toàn vào những thứ lỉnh kỉnh trên đùi cô.

"Đó là mấy thứ trong giỏ của cô sao?"

"Đúng vậy.

Tám loại cây thuộc dòng lan vani mới."

Câu nói ấy như thể dòng điện chạy qua người anh.

Cái không khí lãnh đạm trước đây của anh bỗng biến mất, anh gạt thẳng tấm bản đồ rẻ tiền qua một bên, dọn bàn để cô bày ra.

Khi anh đứng dậy để xem mẫu vật, anh chồm như thể muốn nằm sấp trên bàn.

Da anh vẫn ngứa ngáy.

"Tôi lấy thứ gì cho anh nhé?

Uống nước không?

Hay gọi ai đó giúp?"

Anh lắc đầu nhưng hạ người trở về chiếc ghế, như thể một luồng năng lượng bỗng chốc biến mất.

"Tôi ổn.

Tôi nên cần biết là mình lên đứng dậy từ từ thôi.

Không nên chần chừ nữa.

Chúng ta cùng xem cô có gì nào."

Làn da của anh trông nhợt nhạt hơn trước.

Anh nói mình không lây nhiễm nhưng lại bị sốt cao, và cô không thể để mình bị lây được.

Cô để ý thấy một lọ thuốc ký ninh nằm ở góc bàn.

"Sốt rét à?" cô đoán.

Anh vội gật đầu.

"Tôi cam đoan với cô là bệnh này không lây."

Cô hiểu.

Có quá nhiều nhà khoa học tại Viện Smithsonian được gửi đến các vùng nhiệt đới, cuối cùng bị mắc sốt rét và căn bệnh này rất khó chịu, mệt mỏi và có thể ám người đó đến tận cuối đời với những cơn sốt định kỳ.

Thuốc ký ninh chỉ trị các triệu chứng bệnh mà thôi, không chữa dứt được sốt rét.

Thật khó tưởng tượng ra được một người bệnh hoạn thế này mà có thể muốn xem các mẫu cây, nhưng anh cứ lôi chiếc kính lúp từ trong ngăn bàn ra, chờ cô bày mọi thứ lên bàn.

Sau khi mở dây cài của cái túi sâu bên trong, cô nhấc vài mẫu vật đầu tiên ra.

Các mẫu cây được ép chặt, sau đó được cột lại bằng những dải dây buộc vào tấm bìa.

Anh sử dụng kính lúp để săm soi từng chiếc lá, rễ cây.

"Có gì trong bao kia vậy?" anh hỏi, ra dấu về phía cái bao dán ở cuối trang.

Cô mở nắp bao và đổ cánh hoa và cỡ chục hạt giống nhỏ ra, rải chúng ra tấm bìa trắng để dễ quan sát.

Anh từ chối nhận mình là nhà thực vật học, nhưng cái cách anh chăm chú nhìn chúng dường như đã đánh lừa cô.

Khi anh nói, đó cũng là điều cuối cùng cô mong mỏi.

"Cô không biết là tôi muốn nếm thử chúng đến thế nào đâu."

"Anh không làm vậy được!" cô thốt lên.

"Tại sao không?"

"Chúng là những mẫu vật khoa học rất có giá trị," cô đáp ngay.

"Xì!

Chúng vô dụng với loài người nếu ta không biết chúng có mùi vị thế nào.

Có hơn một trăm loài lan vani khác nhau.

Làm sao mà cô có thể biết liệu mấy thứ này có đáng cho ta gieo trồng mà chúng không có vị gì hay không?"

Cô hốt mấy hạt giống này vào lòng bàn tay và cẩn thận trút chúng vào lại bao đựng.

Cô mạnh dạn liếc lên nhìn anh và bắt gặp một cặp mắt ánh lên vẻ hài hước.

Cô vẫn đứng yên.

"Anh đùa à?"

"Cô đang cố đánh lận tấm bản đồ vẽ lại rẻ bèo này thành thứ có giá trị à?"

Cô ráng nở nụ cười gượng gạo.

"Tôi cần đặt chân được vô nhà anh."

"Và cô đã thành công.

Để xem cô còn thứ gì nữa nào.

Tôi hứa sẽ không làm tổn hại bất kỳ mẫu vật giá trị nào.

Hơn nữa, với vai trò là nhà thực vật học thì cô nên biết là các hạt giống vani không phải lúc nào cũng đặc biệt.

Hầu hết hương vị đều nằm ở lớp da cánh hoa, và khi hoa nở trọn thì mới mong có được hương vị vani đó."

Giờ tiếp theo, họ cùng nhau xem xét đến tám mẫu cây khác mà cô mang tới.

Thế giới lan luôn rất huyền bí đối với cô, và cô vô cùng thích thú khi lắng nghe anh giải thích về cách anh gieo trồng hàng nghìn giò lan ở ven rìa đồi dốc ở Madagascar.

Lan vani là loài cây khó trồng, cần thụ phấn bằng tay và chỉ nở hoa một ngày duy nhất trong năm.

Thu hoạch thành hay bại là ngày hôm đó quyết định tất cả.

Lan vani từng đứng bên bờ tuyệt chủng nhưng nhờ có nông dân và các thương nhân gia vị đã cứu lấy nó.

Cái cách mà anh nói chứa đầy đam mê về lan vani.

Có lẽ anh biết nhiều về cây trồng không thua kém bất kỳ nhà thực vật học nào, nhưng phần lớn nhà thực vật chỉ làm việc trong phòng thí nghiệm.

Cô tò mò nhìn khắp lượt thư viện của anh, kệ sách chứa đầy sách và nhiều gáy sách trông rất dày, mang vẻ rất khoa học.

"Anh học ở đâu vậy?" cô hỏi.

"Tôi chưa bao giờ đi đại học, nếu đó là điều cô muốn hỏi.

Tôi tự học ở khoang gầm tàu thủy, ở trong rừng và trong sa mạc.

Nói chuyện với mọi người.

Thử cái này cái nọ, sai cái nọ cái kia.

Tôi ghen tị với cô, cô Larkin à."

Cô thật không tưởng tượng nổi có người như anh lại ghen tị với bốn năm mài đũng quần ở Đại học Nông nghiệp Kansas của cô, nhưng rõ ràng anh ấy nói thật vì nét mặt của anh nói lên điều ấy.

Cô có thể ở đây suốt buổi chiều, lắng nghe anh nói về những cánh đồng nhiệt đới của anh, nhưng cô phải trở về thôi.

Elaine cần cô.

"Em phải về rồi," cô nói.

"Em phải đi sao?"

Ánh mắt cô dán vào anh.

Dù cho cái vẻ hốc hác và bệnh tật nhưng dường như anh thực lòng muốn cô ở lại.

Cô ước gì mình có thể, nhưng Elaine đang chờ.

"Em có việc," cô nói, đứng lên và dọn những trang mẫu vật trở vào thùng.

"Em hy vọng anh sẽ giữ tấm bản đồ."

"Anh cuộn nó lại và đẩy nó về phía cô.

"Là của em."

"Ồ, anh vui lòng giữ nó đi.

Em không thể tưởng tượng được có ai yêu thích thế giới gia vị nhiều như anh vậy.

Thậm chí nếu người vẽ bản đồ có vẽ sai đi nữa."

Lần này, anh đứng lên từ từ, cẩn thận, tay giữ lấy mép bàn.

"Anh không thích mắc nợ.

Anh thích em đến đây nhưng em phải hiểu là anh hoàn toàn phản đối việc chia sẻ bất kỳ thứ gì với Viện Smithsonian.

Điều này sẽ không bao giờ xảy ra, nên tốt hơn hết là em nên đem tấm bản đồ này về đi."

Cô nhoài người tới trước để lấy thùng đồ.

Cô với lâu hơn bình thường và cô không muốn lấy lại tấm bản đồ.

Nhờ nó mà cô đã thâm nhập được vào thế giới của anh, và cô muốn anh có cảm giác mang nợ mình, cho dù đó chỉ là một thứ vật hèn mọn.

"Nó là của anh," cô đơn giản đáp lời.

"Anh làm gì nó cũng được."

Cô cảm thấy ánh mắt anh dán vào lưng mình khi cô bước xuống hành lang và đi ra cửa.

Trái tim cô đập thình thịch, một phần là do chiến thắng nho nhỏ này, nhưng phần lớn hơn là thứ gì đó mà cô sợ phải gọi tên.

Annabelle thầm ước chiếc xe tàu điện chạy nhanh hơn nữa khi nó chạy xuống đường số Hai hướng về Tòa nhà Quốc hội, là nơi chị cô làm tình nguyện viên năm ngày mỗi tuần.

Đây là cơ hội cho Elaine có được công việc, cũng là điều đã khiến cả hai chị em cô phải rời khỏi mảnh đất Kansas để đến với thủ đô.

Chỉ mới hai tháng trước, không ai trong họ nghĩ là phải rời xa nông trại, nơi chôn nhau cắt rốn của mình cả.

Giờ đây, cả hai đã ở đầu bên kia đất nước, tìm được nhà trọ cho mình, học cách sử dụng hệ thống xe điện và đang tìm cách mới để sinh sống.

Annabelle cầu nguyện cho Elaine cũng sẽ có được câu trả lời cho cuộc sống.

Nếu điều này không xảy ra thì cô không chắc điều gì có thể vực dậy được người chị đáng mến của mình nữa.

Annabelle cắn chặt môi khi xe điện dừng thêm một lần nữa tại đường Đông Thủ Đô.

Có quá nhiều người lên và xuống xe!

Cô đón Elaine trễ đến bốn mươi phút và cô lặng lẽ thúc hai gã doanh nhân nhiều chuyện nhanh chân xuống xe.

Cuối cùng, xe điện cũng tiếp tục hành trình, và Annabelle cầm chặt tay nắm khi cô di chuyển lên trước để cô có thể xuống xe đầu tiên.

Chắc hẳn bây giờ Elaine lo sốt vó lên rồi.

Đến giờ chiếc xe vẫn chạy bình thường, vì Viện Smithsonian chỉ còn cách vài khối nhà so với Thư viện Quốc hội.

Annabelle dẫn đường cho Elaine đi làm mỗi buổi sáng và đón chị cô về lúc cuối ngày, nhưng chuyến đi đến Alexandria lại lâu hơn dự kiến.

Cô thở phào nhẹ nhõm khi thấy Elaine đang ngồi chờ an toàn trên ghế dài nằm ở góc đường số Hai và Đại lộ Độc Lập.

Xe điện mở cửa, Annabelle là người đầu tiên bước xuống.

"Em đây này, Elaine," cô gọi to ngay khi chân vừa chạm đất.

Elaine ngoảnh đầu lại, nhưng ánh mắt xanh vô hồn của chị lại không dừng lại trên gương mặt của Annabelle.

"Ơn trời, cảm ơn Chúa," chị nói với giọng run rẩy.

Bốn mươi phút có vẻ không nhiều đối với một người sáng mắt, nhưng thành phố này rất mới, rất khủng khiếp đối với Elaine.

Thay vì tiếng chim hót, tiếng gió thổi rù rì trên cánh đồng lúa mì thì nay lại là đường phố ồn ào với tiếng còi xe, tiếng xe điện xình xịch và tiếng rao của người bán hàng rong.

Nếu Elaine rời khỏi cái ghế dài này thì chị cô sẽ vấp phải ngay lối xe điện chạy hoặc đi ra khỏi lề đường.

Annabelle lại ngồi với chị trên ghế, nắm lấy tay chị.

"Chị ổn chứ?"

"Dĩ nhiên rồi," Elaine nói.

"Một chú bảo vệ nào đó đã dẫn chị tới ngồi ở chiếc ghế này lúc năm giờ.

Bây giờ là mấy giờ rồi?"

Annabelle nhìn chiếc đồng hồ bỏ túi.

"Sáu giờ kém mười lăm.

Alexandria nhìn trên bản đồ lại không xa như sự thực.

Em xin lỗi."

"Chà... không sao đâu," Elaine nói sau một chút ngập ngừng.

"Ít nhất chị cũng có được một buổi sáng làm việc hiệu quả."

"Kể em nghe đi," Annabelle dụ.

Họ vẫn còn vài phút trước khi xe điện đi tuyến Màu Xanh Lá đến, và cô hy vọng cuộc nói chuyện sẽ chuyển ý nghĩ của Elaine khỏi cơn sợ sệt bốn mươi phút trước khi chị ở một mình nơi góc đường như thế này.

"Thư viện Quốc hội mới có cái máy đánh chữ braille mới," chị nói.

"Chiếc máy đó giống như chiếc máy đánh chữ thông thường vậy thôi nhưng các phím thì khác.

Chị yêu cầu được học cách sử dụng để chị có thể tự mình liên lạc thay vì nhờ em viết mọi thứ."

Annabelle cười gượng.

Cô muốn đọc và viết cho Elaine.

Vì đó chỉ là điều nhỏ nhoi mà cô có thể làm để bù đắp phần nào cho tai họa mà chị cô phải gánh chịu.

"Em không hề phiền," cô đáp.

"Không, không được," Elaine một mực từ chối, có một chút ương bướng trỗi lên.

"Chị không chấp nhận bất kỳ phiền toái nào từ người khác nếu không cần thiết.

Chị càng học nhiều thì cả hai ta đều càng tốt hơn thôi.

Nhưng xin em..."

Chị nuốt giọng, và khi nói lại, giọng chị nghe như lời thì thầm.

"Xin em đừng để chị một mình trên chiếc ghế kinh khủng này thêm lần nào nữa.

Em không thể tưởng tượng nổi cái cảm giác tệ như thế nào đâu."

Đó là sự thật, và một cơn sóng cảm giác tội lỗi lại tràn qua Annabelle.

"Em xin lỗi," cô nói lại lần nữa.

Nếu cô sống được đến trăm tuổi, có lẽ cô cũng không bao giờ xin lỗi cho đủ, vì Elaine bị mù là do cô.

Elaine nắm chặt tay Annabelle.

"Đừng tự đổ lỗi cho mình như thế," chị nói.

"Ngay cả khi chị bị mù thì chị có thể cảm thấy sự hối hận tỏ rõ trên gương mặt em đấy.

Chị ổn mà," chị nói giọng chắc nịch.

"Chỉ là chị phải mất thời gian để làm quen với những âm thanh náo nhiệt đường phố thôi, rồi sẽ có ngày chị đi được xe điện mà không cần đến em giúp đấy."

Cô chị nhoẻn miệng cười.

"Chị có thể làm mọi thứ.

Mọi thứ, Annabelle."

Nhưng Elaine có vẻ như đang cố tự thuyết phục mình cũng giống như thuyết phục Annabelle.

1 Bờ biển phía Tây Nam Ấn Độ 2 Thành phố cảng của Ý 3 Thành phố cực Nam của Nam Phi 4 Hệ thống chữ dành cho người mù, có những chấm nhỏ nổi lên, giúp người khiếm thị dùng tay sờ được.
 
Vua Gia Vị
Ba


Leander Regatta là một trong những sự kiện xã hội cho giới thượng lưu trong mùa, nên Gray cảm thấy mình bị lạc lõng khi nắm tay em gái đi dọc theo lối đi lót ván dọc bờ biển.

Gia đình Delacroix nhiều thế hệ qua đã giúp tạo dựng nên câu lạc bộ đua thuyền, nhưng Gray luôn bận bịu tái thiết gia nghiệp nên không màng gì đến những cuộc đua thuyền vô bổ này.

Một lối đi lát gỗ dẫn ra dòng sông Potomac và dẫn lên nhà câu lạc bộ.

Hàng trăm người tụ tập để xem cuộc đua thuyền regatta1hàng năm dưới tiết trời trong vắt không một gợn mây.

Các lá cờ phất phới trong làn gió nhẹ, còn bầu không khí sống động, ngập tiếng cười và âm nhạc.

Những chàng trai trẻ trong các nhóm đua thuyền ăn vận rất sặc sỡ, đồng phục đầy dải màu sắc theo đội của mình, còn các khán giả nữ đội những chiếc nón thể thao rộng vành, trông cứ như tác phẩm nghệ thuật nào đó.

Hai đứa em trai và gái của Gray rất mê cuộc đua thuyền hàng năm này, và vì anh vừa dứt được căn bệnh sốt rét nên anh không có lý do gì để không đi xem đua thuyền cả.

Hơn nữa, anh rất cần tìm cơ hội để chỉ dẫn Caroline và Luke hướng đến lối sống có trách nhiệm hơn.

Cặp song sinh này là kết quả của cuộc hôn nhân thứ hai của cha, và vì cả hai bọn nó còn quá trẻ lúc Gray đi ra nước ngoài nên mỗi dịp anh trở về Mỹ, chúng lại cao thêm một chút nhưng lại liều lĩnh hơn vạn lần.

Mới đây, anh bắt gặp Caroline ngồi trên mái nhà hút thuốc với mấy đứa bạn của con bé, còn tuần trước, anh phải lôi cổ Luke ra tù vì tội say xỉn.

Điều khó nhất là khi lần đầu tiên anh ra nước ngoài mà để Caroline và Luke ở nhà trong suốt những năm đầu tiên của chúng, cứ như thể chúng tựa con ruột của anh vậy.

Lúc chúng vừa sinh, anh mười hai tuổi và chính anh dìu chúng tập tễnh bước đi, băng bó vết thương cho chúng, dạy chúng đọc.

Anh yêu chúng từ tận đáy lòng, nhưng khi chúng tự do lớn lên, anh lại không biết phải làm gì với chúng.

Ở tuổi hai mươi tám, có vẻ như điều duy nhất Luke thật sự yêu thích đó là đua thuyền, nên Gray đến cuộc đua thuyền để xem Luke thi thố chỉ như là bổn phận của một người anh trai mà thôi.

"Anh ơi, trông kìa, có cả Tổng trưởng Ngân khố và vợ ông ta nữa," Caroline nói khi cô ta gật đầu chào một đôi lớn tuổi đang đứng gần chỗ bán nước giải khát.

"Anh có muốn em giới thiệu họ với anh không?"

Gray nhìn chiếc đồng hồ bỏ túi.

"Chỉ còn năm phút nữa là Luke bắt đầu đua rồi."

"Chà!"

Caroline nói.

"Chẳng ai đến đây để xem đua thuyền cả.

Đây là cơ hội để mình ngắm và được ngắm."

Cô ta mỉm cười khi gặp mỗi cặp đôi bất kỳ nào khi họ đi trên con đường lát gỗ.

Trong giới quý tộc, Caroline có biệt danh là "Contessa"2, vì cô luôn tạo sự chú ý của công chúng mỗi khi xuất hiện ở đâu đó ngoài đường.

Cô là thứ điểm trang cho xã hội thượng lưu: xinh đẹp, quyến rũ và có sức mê hoặc kỳ bí nào đó.

Cô cũng hoàn toàn vô dụng.

Nếu ngoài đời cần một bữa tiệc trà, cô sẽ tỏa sáng như vị chủ nhà tuyệt vời trên bãi biển Eastern Seaboard.

Còn với những thứ còn lại thì cô chỉ biết cách gọi người hầu làm giúp mình.

Caroline lái ông anh sang nhóm những người ăn mặc rất hợp mốt đang đứng gần quầy giải khát, nhưng bỗng có một người quen cũ chen ngang.

"Ngài Delacroix, tôi vô cùng lấy làm tiếc khi biết tin cha ngài qua đời," người đàn ông trung lưu nói.

"Nicolas Delacroix thực sự là một trong những ngôi sao của chúng tôi."

"Rõ ràng là vậy," Gray nói.

"Cảm ơn lòng tốt của ông."

Cha anh qua đời chỉ mới sáu tháng, nhưng nỗi đau cứ như còn nguyên.

Lúc đó, Gray đang ở Ceylon3 khi biết tin cha anh mất.

Ngay lập tức, anh đón chuyến tàu hơi nước nhanh nhất để về nhà nhưng vẫn chậm một ngày khi Nicolas trút hơi thở cuối cùng.

Vào ngày đó, Gray mất đi một gia sư, một đối tác kinh doanh và người đàn ông vĩ đại nhất mà ông từng biết.

Ít người có thể hiểu được mối thâm tình này.

Mẹ của Gray qua đời khi anh còn là đứa trẻ nên anh chỉ có mỗi cha mình kề cạnh.

Hầu hết thời trẻ của Gray sinh sống ở nước ngoài, nhưng dù vậy, hai cha con anh vẫn cùng nhau tạo dựng đế chế gia vị toàn cầu và tái thiết điều kiện kinh tế gia đình sau khi bị cuộc nội chiến Mỹ làm cho trắng tay.

Ở cuối cuộc chiến, lúc ấy Gray mới chỉ là đứa trẻ nhưng ông nhớ rất rõ thế nào là bị bỏ đói, sợ sệt và nhà bị đốt.

Cha anh chưa bao giờ quá tự hào về chuyện xắn tay áo lên lao vào những công việc chân tay, còn Gray luôn phụ giúp ngay bên cạnh ông.

Phải mất nhiều năm nỗ lực miệt mài và khéo léo đầu tư, nhưng chỉ từ khi cha anh tái hôn, kinh tế gia đình mới một lần nữa sung túc lên được.

Luke và Caroline chưa bao giờ khao khát thứ gì nên cha anh cũng vui vì điều đó, nhưng riêng Gray lại không chắc.

Vẫn có đó sự vinh dự trong những ngày lao động cực nhọc.

Trong khi Nicolas nghĩ mặt trăng, mặt trời và các vì tinh tú mãi xoay vần quanh đứa con gái đáng yêu của mình thì Gray không xem trọng cái tính lông bông phù phiếm của Caroline.

Nhưng anh và cha hoàn toàn có suy nghĩ giống ý nhau về Luke, là người luôn gây thất vọng tràn trề cho họ.

Gray dẹp tan ý nghĩ mông lung ấy đi để trở về với thực tại.

Anh đang cố phớt lờ cái đau âm ỉ trong lồng ngực.

Anh cảm thấy cô đơn.

Anh nhớ đến cha và không bao giờ cảm thấy Alexandria là quê hương cả.

Ở đây, anh là người ngoài, và đàn đúm với đám người ở đây không hứng thú chút nào, nhưng anh cần phải làm vậy, vì em gái anh muốn thế.

Caroline dễ dàng hút lấy sự chú ý của một đô đốc hải quân xa nhà.

Với mái tóc óng vàng và cá tính sôi nổi, cô sáng hơn cả viên kim cương.

Cô đua chen vào xã hội thượng lưu mà không chút khó khăn nào kể từ khi mẹ kế của anh qua đời khi Caroline còn nhỏ.

Như thể ngay từ khi sinh ra, Caroline đã có sẵn gen tỏa sáng rạng ngời bất kỳ lúc nào mình muốn.

"Chúng ta cùng đến gần vạch xuất phát xem chứ?" vị đô đốc hỏi.

"Anh được biết anh trai em cũng có tham gia."

"Buộc phải vậy sao?"

Caroline hỏi.

"Em thích nói về bộ đồng phục trắng tinh của hải quân hơn.

Em ước gì anh cho các sĩ quan của anh mặc chúng thường xuyên hơn cơ.

Vì như vậy sẽ giúp các quý bà quý cô ở đây vui thích hơn."

Cuối cùng rồi Gray cũng đẩy Caroline đi được về phía khán đài có mái che.

Cuộc đua xuất phát cách đó một dặm ngược phía hạ lưu sông.

Một đội gồm hai vận động viên nam, sẽ chèo trên một chiếc thuyền thân hẹp thẳng đến vạch về đích là trước ngay khán đài có mái che này.

Luke chèo cùng một người bạn từ Học viện Hải quân.

Gray từng nghĩ Luke sẽ cảm thấy tủi thân khi duy trì tình bạn với Philip Ransom, là sinh viên tốt nghiệp đầu bảng, học chung lớp với Luke cách nay bảy năm.

Ngược lại, Luke bị Học viện Hải quân đuổi cổ khi chưa tốt nghiệp nên không có được tấm bằng nào cả.

Nhưng cả hai vẫn duy trì tình bạn và đều tham gia cuộc đua thuyền ở mỗi cuộc thi đua thuyền regatta hàng năm.

Gray chỉ có thể hy vọng Luke "gần đèn thì sáng" khi chơi với Philip mà thôi.

Cả hai sử dụng chiếc thuyền đua danh giá của Nicolas Delacroix, gợi nhớ về một thời đua thuyền huy hoàng của cha anh tại Harvard.

Sau chiến tranh, cha anh không đua thuyền nữa, nhưng ông ấy vẫn yêu thích chùi rửa và bảo trì chiếc thuyền cho những đứa con của mình để một ngày nào đó chúng sẽ dùng đến.

Gray chưa bao giờ thấy điểm gì hay ho trong các môn thể thao mang tính giải trí, nhưng có vẻ nhưng môn đua thuyền là thứ duy nhất mà Luke giỏi.

"Họ đây rồi!"

Caroline nói, nhón chân lên và chăm chú nhìn vào ống nhòm.

Luke và Philip hơn đối thủ gần nhất nửa thân thuyền.

Cả hai người đều dùng cả cơ thể khi họ kéo mái chèo theo nhịp điệu đồng bộ, rất đều, còn con thuyền cứ băng băng lướt đi trên mặt nước, đám đông thì hò reo.

Gương mặt Luke rất tập trung khi cậu chèo qua vạch đích đầu tiên.

Cả hai thả mái chèo xuống và bắt tay nhau mừng thắng lợi.

Gray cũng phải mỉm cười hài lòng.

Luke đã thất bại nhiều thứ khác, nhưng cậu đã phải cố gắng rất nhiều mới đạt được chiến thắng này.

"Chúng mình cùng đến mừng họ nào," Caroline giục, nắm lấy cánh tay Gray rất mạnh khiến anh đau điếng.

Họ đi băng qua khán đài có mái che và về phía bục trao giải, ở đó các thuyền đua cũng được kéo lên bờ và thông lệ trao giải hàng năm cũng diễn ra tại đây, không có gì khác biệt.

Vận động viên thua cuộc cởi áo của mình để dâng cho vận động viên thắng cuộc.

Luke và Philip cười vui vẻ khi họ nhận những chiếc áo đẫm mồ hôi và vắt tất cả chúng trên vai, tự hào mang những vật phẩm đầy mùi uế như vậy.

"Đừng đến gần em," Caroline nói móc, vẻ kinh tởm.

Luke dang rộng vòng tay, mỉm cười: "Em gái cưng nào, đến đây anh ôm một cái nào," cậu rống lên và đuổi bắt Caroline.

Cô không có nhiều cơ hội trốn thoát khi cậu kéo cô vào vòng tay đầy mồ hôi.

Cô thét lên vẻ ghê tởm nhưng sung sướng cho đến khi cô vặn vẹo thoát ra được.

Gray lại bắt tay theo cách rất đàn ông.

"Chúc mừng, Luke.

Và cả cậu nữa, Philip."

Cả hai gật đầu cảm ơn, nhưng tiếng la ó và pha trò rộn ràng kéo họ trở về ngay với cuộc vui, khi đội đua về chót cuối cùng cũng kéo được chiếc thuyền lên bờ sông.

Luke tỏ vẻ rất tàn nhẫn khi nhào tới họ để đòi họ cởi áo ra trao cho cậu.

Một trong những tay chèo lắc chai champagne xịt tung toé vào mọi người, sau đó chuyền chai rượu sang cho những tay chèo khác nốc trực tiếp.

"Lùi lại chút nào," Gray nói nhỏ với Caroline, nhưng các vận động viên vẫn rất hoạt náo.

Theo truyền thống, đội thắng cuộc sẽ được đưa đến phòng câu lạc bộ để tổ chức ăn mừng chính thức.

Luke và Philip sẽ được những tay chèo cởi trần, thua cuộc nâng lên qua đầu.

Những tay chèo ấy đã kiệt sức, nhưng vẫn phải vác Luke và Philip cao qua đầu họ, đi từ bờ sông đến phòng câu lạc bộ.

Luke còn tàn nhẫn hơn khi dùng mấy cái áo đầy mồ hôi quật vào họ, bắt họ đi nhanh hơn.

Một trong những tay chèo tức mình, vất Luke xuống đất, nhắm vào chiếc thuyền của cha cậu để lại.

Gray nhăn nhó, nhưng Luke cười cợt khi anh đứng lên.

"Không hại gì đâu!" anh cam đoan với đám người, nhưng Gray chau mày khi nhìn thấy chiếc thuyền bị hỏng.

Vài tay chèo tỏ ra hối tiếc, nhưng Luke xua xoa.

"Đừng lo, sửa được mà."

"Đó là chiếc thuyền ruột của cha đó," Gray nói, giọng trách móc.

Liệu Luke có tôn trọng bất cứ thứ gì hay bất kỳ ai không?

Cha của họ xem chiếc thuyền này như vật ghi nhớ về một thế giới mà họ đã bị mất đi trong chiến tranh, nhưng Luke đã được đưa đến phòng câu lạc bộ, bỏ lại chiếc thuyền bị sứt sẹo trên bờ sông.

Gray đi xuống xem thuyền bị hư hại thế nào.

Liệu nó có bị vô nước không?

Có thể một thợ thuyền giỏi sẽ sửa được, nhưng rất tốn tiền, và Gray định khấu trừ vào tiền trợ cấp của Luke.

Tiền không phải là thứ anh bận tâm, nhưng là nỗi đau khi thấy chiếc thuyền của cha mình bị đối xử tệ bạc như vậy.

Mọi người đã kéo hết vào phòng câu lạc bộ, để anh một mình lại đó.

Anh không muốn để chiếc thuyền hư lại trên bờ sông nên đã gọi vài người có mặt ở đó kéo chiếc thuyền vào nhà thuyền giúp.

Gray theo dõi họ khiêng chiếc thuyền và buộc dây treo nó lên giá để thuyền.

Cha đừng lo.

Con sẽ sửa nó.

Nhưng chính Luke mới là người mà cha muốn sửa đổi hơn, không phải chiếc thuyền.

Tối hôm đó, Luke bỏ bữa ăn tối gia đình, nên Gray nhắn với quản gia rằng khi nào cậu về, bảo cậu vào gặp anh.

Đã đến lúc yêu cầu đứa em trai có trách nhiệm hơn với việc làm ăn của gia đình rồi.

Đến sau chín giờ tối, ông Holder, người quản gia, mới gõ cửa phòng đọc.

"Cậu em trai đã về, thưa ngài."

Gray gật đầu.

"Phiền ông bảo cậu ta vào đây nhé."

Anh chuẩn bị cho cuộc gặp mặt khó khăn này, nhưng Luke mỉm cười khi cậu bước vào, trên tay cầm một vốc dâu.

Lọn tóc đen che một phần mắt và cậu tỏ ra như không có chuyện gì xảy ra.

Luke luôn dựa vào cái vẻ quyến rũ không biết sợ là gì trong cuộc đời cậu, nhưng Gray lại miễn nhiễm với cái vẻ ấy, nhất là khi Luke bắt đầu tung hứng mấy quả dâu.

"Em say à?"

Gray hỏi.

"Không ạ, chỉ vui thôi," Luke nói khi cậu tung mình ngồi vào chiếc ghế đối diện chiếc bàn giấy, bắt chéo chân và lấy tay ôm lấy.

"Anh nên thử một ít này."

"Tại sao anh nên vui theo em nhỉ?"

"Bởi vì thế kỷ này chỉ mới bắt đầu và chúng ta cũng vậy.

Bởi vì hôm nay bầu trời trong văn vắt, cùng những người bạn thân và môn thể thao khỏe khoắn.

Và quan trọng hơn hết là bởi vì em tìm được một mối có thể sửa được chiếc thuyền của cha.

Em cho thuê con ngựa của em vài tuần để lấy tiền trả cho phí sửa chữa."

Thật ngạc nhiên, và cũng hợp lý nữa.

"Anh không nghĩ em có thể sắp xếp nhanh như vậy đấy," Gray thừa nhận.

Luke nhún vai.

"Em có thể làm mọi thứ, anh biết vậy mà."

"Có phải em bỏ lỡ bữa tối vì bận công việc với thợ sửa thuyền không?"

"Philip và em đi ra ngoài ăn mừng với những đội khác.

Có một nhà ảo thuật trong thị trấn có thể xoay đầu ngược ra sau trước mặt đám đông.

Em không biết gã ấy làm sao làm được như vậy.

Chắc là dùng gương?

Em rất ấn tượng.

Nên em ở đó."

Gray không quan tâm đến thứ kiến thức đó.

"Luke này, đã đến lúc em cần có vai trò tích cực hơn trong chuyện làm ăn của gia đình rồi."

"Lại nữa à."

"Đúng, lại lần nữa.

Em đã quản lý nhà máy rất tốt kể từ khi cha qua đời, nhưng nay anh quay lại, anh sẽ đảm nhận việc quản lý nhà máy và nhà xưởng.

Anh cần ai đó đi nước ngoài để làm việc với bên cung ứng cho chúng ta."

Luke trông thất kinh.

"Để rồi em bị dính bệnh sốt rét và bệnh lị giống anh hả?"

"Nếu cần phải vậy.

Anh muốn em đến Cuba.

Anh đang mở rộng thị trường gia vị ra các nước vùng Caribe, và chúng ta cần nhiều hàng cung ứng hơn."

Luke ngồi thẳng lên.

"Này anh, em không thể giống anh được, Gray à.

Em không sinh ra để làm kinh doanh.

Tất cả chúng ta đều biết chuyện gì xảy ra khi lần đầu tiên cha cố đưa em vào kinh doanh rồi."

"Nó đã vào dĩ vãng rồi.

Em không thể để một trải nghiệm xấu như thế ám mãi cuộc đời được.

Đã đến lúc cần làm cái gì đó công bằng đối với em rồi.

Em kiếm được tiền nhiều hơn cả Otis, điều này không công bằng."

"Lại là Otis," Luke lầm bầm, mắt láo liên.

"Đúng, Otis," Gray chêm vào.

"Cha và anh luôn luôn trông cậy vào Otis, và cậu ấy chưa bao giờ làm chúng ta thất vọng."

Otis vào nhà của họ khi là cậu bé mồ côi, mười hai tuổi, cha cậu ta ở New Orleans, là con của một phụ nữ trước đây làm nô lệ, nấu ăn cho các thầy dòng Dominic.

Sau khi mẹ cậu ta mất, các thầy dòng vẫn giáo dục Otis rất chuẩn mực.

Cậu ấy thông thạo tiếng Tây Ban Nha và Pháp, nên cha của Gray mướn ngay.

Qua nhiều năm, Otis học thêm mã Morse để giao tiếp giữa Nicolas và Gray khi ông đi ra nước ngoài.

Otis được trả mức lương xứng đáng và nhất mực trung thành với tập đoàn Gia vị Toàn cầu Delacroix.

Với vai trò trợ lý cho họ, Otis nắm biết mọi thứ về kinh doanh và là một trong số ít người Gray thực sự tin tưởng.

"Em thừa hưởng một phần ba công ty, trong khi Otis lại chỉ được nhận lương hàng tháng," Gray nói.

"Điều này không công bằng, nhưng đây là công ty của cha nên cha đã quyết định vậy.

Nhưng nay anh tiếp quản, và em cần làm việc ít ra phải nỗ lực như Otis."

Đây là lần đầu tiên Luke cho thấy chút phấn khích.

"Em biết điều này.

Nhưng anh à, em đã có kế hoạch.

Em vừa viết vài bài báo cho tờ Thế Kỷ Mới.

Em nghĩ em có thể làm một nhà báo đấy."

Nhưng Luke chưa từng tốt nghiệp một trường đại học nào, và nhiều năm qua, cậu cứ nhún nhảy vào rồi lập tức ra ngay ở bất kỳ trường nào cậu vào học, vì mới chút cậu đã thấy chán.

Luke rất thông minh, nếu như cậu ta có những đức tính khác thay vì có thái độ nguy hiểm, rủi ro và luôn hướng tự huỷ hoại mình.

"Hãy đến Cuba và chốt vài cái hợp đồng về mấy cánh đồng trồng gia vị đi đã.

Anh biết em đã từng đến đó.

Caroline cho anh biết em từng nhập khẩu cigar lúc anh không có ở đây."

Một nụ cười cạnh khóe nở trên gương mặt Luke.

"Amoroso Rosa," cậu nói.

"Cigar ngon nhất là phải của Cuba, và em đã có được món lời kha khá từ mấy lần buôn đó.

Em cũng có ít người đang chờ hàng đấy."

"Tốt.

Vậy thì trở lại Cuba và chốt luôn vài hợp đồng gia vị đi, trong khi em tiện tay làm luôn món cigar của em."

"Không hợp đồng gì cả."

Luke lắc đầu.

"Nhìn này, em không thể nói chuyện hợp đồng được, nhưng em đang cảm giác có gì đó lớn lắm.

Một thứ gì đó quan trọng.

Và em chẳng có tí khiếu kinh doanh gì cả; anh biết em lần gần đây nhất rồi còn gì."

Thảm họa xảy đến cách nay bốn năm, đó không phải lỗi của Luke, nhưng chuyện này mãi ám ảnh cậu.

"Em cần gạt nó về quá khứ đi."

Gray dịu giọng.

"Đừng để chuyện đó cấu xé em mãi như thế.

Người Nhật có câu nói cho những ai vấp ngã: nếu bạn ngã lần thứ bảy, hãy đứng dậy lần thứ tám.

Đó là lý do tại sao anh muốn em đi."

Luke đứng dậy.

"Quên nó đi Gray.

Chúng ta đủ giàu rồi.

Chúng ta không cần xuất gia vị hay tiêu hay bất kỳ thứ gì anh có trong tay sang Caribe nữa.

Tại sao anh không đơn giản là sống cho hạnh phúc?

Tại sao anh cứ phải tự thúc mình tới trước, rồi làm cạn đi những nguồn vui khác trong cuộc sống vậy?"

Cậu tức tốc quay lưng bỏ đi, đóng sầm cánh cửa, mạnh đến nỗi tấm bản đồ gia vị treo trên tường rơi xuống.

Gray thở dài, đứng dậy và đi tới chiếc bản đồ.

Cả cơ thể của Luke còn thua cái ngón út của người phụ nữ ở Viện Smithsonian nếu nói về động lực bản thân.

Tên cô ấy là gì nhỉ?

Annabelle Larkin.

Đúng là cái tên nghiêm túc dành cho một người phụ nữ mà toàn bộ tính cách của cô ta toát ra vẻ quyết tâm tột độ.

Khi những lá thư mà anh gửi từ chối thẳng thừng lời đề nghị của cô thì cô tự mình xuất hiện trước anh để tiếp tục thuyết phục cho kỳ được.

Cô thật bạo dạn, và anh ngưỡng mộ cô vì lẽ đó.

Dù vậy, anh vẫn không lay chuyển.

Luke có quan điểm riêng.

Họ đủ giàu rồi, nhưng khi nói đến chuyện kinh doanh, không phải bản chất của Gray là làm mọi thứ nhưng ông luôn hướng đến phía trước bằng hết khả năng của mình.

Ông không bao giờ than thở.

Không bao giờ mềm yếu.

Anh hạ gục đối thủ cạnh tranh không thương tiếc ngay ở lần chạm trán đầu tiên, nhanh nhất, mạnh nhất và tốt nhất.

Anh treo bản đồ lại cái móc, mỉm cười khi nhìn vào những hình nhân đang thu hoạch đinh hương và nhục đậu khấu.

Những ngày anh khám phá thế giới để tìm nhiều cánh đồng gia vị hơn đã qua đi.

Bây giờ cha đã khuất, anh cần một ai đó ở Virginia để cáng đáng công việc kinh doanh.

Hơn nữa, anh mệt mỏi rồi.

Anh muốn có một mái ấm riêng.

Anh không thấy thoải mái khi ở Virginia so với ở châu Phi hay châu Á hay vùng Caribe, anh chỉ mới bước qua ngưỡng bốn chục và muốn yên phận.

Trí óc phân tích của anh bắt đầu vận hành.

Anh chưa bao giờ cân nhắc mối quan hệ nam nữ một cách nghiêm túc bởi vì cuộc đời anh ở nước ngoài quá nhiều, nhưng nếu Virginia là ngôi nhà tạm của anh thì nó cần phải thay đổi và anh ngay lập tức nghĩ đến Annabelle.

Anh bị cô hút hồn từ khoảnh khắc mà cô bước vào văn phòng anh với tấm bản đồ khôi hài, duyên dáng ấy.

Nụ cười của cô tỏa sáng và làm tươi mới căn phòng.

Trí tò mò của cô về cây vani cũng không thua gì sự quan tâm của anh về thế giới làm nông của cô tại Kansas.

Cô thông minh, khôi hài và tò mò.

Và tuy anh đẩy cô ra xa bởi vì anh rất kiên định, nhất là những việc liên quan đến công việc.

Đó đơn giản là cách mà anh đã sống trong suốt thời trai tráng của mình.

Nhưng giống như bất kỳ gã doanh nhân giỏi nào, anh có thể điều chỉnh bánh lái để đạt được những gì mình muốn.

Đầu tiên, anh phải đền bù cho việc đối xử bạc bẽo của mình với yêu cầu của cô.

Chuyện này dễ, vì anh biết chính xác thứ cô muốn: đó là thực nghiệm nhà kính của anh.

Nhà kính chỉ mất hai giờ đi tàu, nhưng bản năng anh biết rằng cô đồng ý đến đó, và ý nghĩ này khiến anh mỉm cười.

Ông không trao chìa khóa cho cô để vào vương quốc ấy; không phi lý như thế.

Nhưng anh có thể mở hé cánh cửa và xem chuyện gì sẽ xảy ra.

Nói toạc ra là anh muốn xem mọi thứ sẽ đi đâu về đâu.

[1] Cuộc đua thuyền dành cho giới quý tộc diễn ra hàng năm tại Ý.[2] nữ công tước, tiếng Ý.[3] Sri Lanska ngày nay.
 
Vua Gia Vị
Bốn


Thùng thùng đầy các mẫu tảo và địa y từ Úc vừa mới giao tới đang đợi Annabelle xử lý tại Viện Smithsonian, cùng với đó là bức thư đầy bất ngờ của Gray Delacroix.

Cô lấy lá thư ra, vô cùng ngạc nhiên với đề nghị của anh.

Không như vô số nhà thực vật học đi trước, anh đã mời cô đến chiêm ngưỡng bộ sưu tập của cây cỏ của mình.

Và ngược với lệ thường, anh có không những một mà đến bốn nhà kính ở bốn địa điểm cách xa nhau trong hạt Fairfax.

Một nhà kính chuyên trồng cây nhiệt đới, một nhà kính trồng thảo dược và gia vị, nhà kính thứ ba chuyên tái tạo môi trường sa mạc và nhà kính cuối cùng chỉ trồng mỗi lan.

Lan ư!

Đó là những nhà kính bí mật, có những mẫu thực vật sống mà Gray Delacroix thu thập suốt hai thập kỷ đi khắp thế giới, và anh đã mời cô cuối tuần này đến xem tất cả.

Trong thư, anh giải thích thêm rằng cuối tuần là thời gian anh rảnh rỗi, không vướng phải "những cuộc họp làm ăn kinh tởm", để cho cô xem nhà kính của mình.

Vì lý do phải di chuyển nhiều nên anh đề nghị cô nên đến nông trại cũng ở trên đất của anh, để cô có thể dành toàn bộ cuối tuần khám phá.

Cô vô cùng háo hức muốn xem bộ sưu tập hiếm ấy đến độ răng muốn buốt lên, nhưng làm sao có thể để Elaine ở nhà một mình được?

Chỉ cần một mình khoảng một giờ thôi là chị của cô đã hoảng loạn lên rồi, nay phải bỏ chị lại đến cả cuối tuần một mình.

Và Elaine sẽ không bao giờ đồng ý đi theo cô, cũng như lá thư giải thích rằng đi thăm nhà kính phải đi bằng đường sông, Elaine lại sợ nước.

Chị ấy không biết bơi nên chị luôn tránh xa những chỗ sông suối.

Cuối đông vừa rồi, chị suýt đuối nước khi đi lấy củi về nhóm lò sưởi.

Chỗ đánh dấu lấy củi bị tuyết vùi lấp nên chị đi lạc vào hồ bị đóng băng trên mặt, rồi ngã xuống hồ băng và suýt mất mạng.

Kể từ đó, chị rất sợ nước.

Điều này nghĩa là Annabelle buộc phải đi một mình, còn Elaine có thể sẽ phải tự ở nhà một mình suốt cuối tuần này.

Annabelle chuẩn bị sẵn lời lẽ để bàn với chị khi cô chuẩn bị bữa tối trong căn hộ hai phòng nhỏ của họ vào chiều hôm đó.

Cô nấu bò trong cái chảo rán, còn Elaine đang rửa dâu ở bồn rửa và đang kể về công việc tình nguyện của chị ở phòng đọc thư viện dành cho người khiếm thị.

Học viên đầu tiên của chị là một người lính trẻ, cũng bị mù trong cuộc chiến giữa Tây Ban Nha và Mỹ.

"Hôm nay Harry lại tới, nhưng là do vợ cậu ta lôi tới," Elaine nói.

"Cậu ta nhớ được các đốt chữ braille nhưng vợ cậu bảo là về nhà cậu không chịu tập.

Cứ đến chiều là cậu ta lôi bộ bài tây xào tới xào lui.

Martha nói cậu ta làm thế hàng giờ liền, còn tiếng xào bài lại khiến cô ấy điên lên.

Đến nỗi tiếng xào bài ám ảnh trong giấc mơ của cô ấy nữa."

Annabelle không nói gì khi cô đảo miếng thịt bò trên chảo, bỏ thêm ít cà rốt và hành tây.

Đây là cách thường dùng để giúp người vừa bị mù bớt đi buồn chán.

Elaine thuộc trường hợp này.

Cách nay ba năm, toàn gia đình của họ phải chứng kiến một cô gái xinh đẹp, tò mò và trẻ trung bỗng chán nản, thất vọng sau khi cô bị mù.

Annabelle nêm nếm thêm tiêu và muối, đổ thịt ra dĩa và cùng Elaine ngồi vào bàn ăn.

Trước khi cô đọc lời cầu nguyện, có một âm thanh đổ vỡ gì đó vọng từ ngoài đường vào, và Elaine giật thót mình, bịt chặt hai tai lại.

Annabelle nhào tới cửa sổ, bên dưới đường có một con ngựa chứng đang khục khặc và vài người đang la hét.

"Đừng lo," cô bảo.

"Có một cỗ xe ngựa bị lật trong con hẻm.

Khoai tây đổ khắp đường."

Có vẻ tiếng ồn ào còn lâu mới dứt nên Annabelle đóng cửa sổ lại.

Trong nhà, không khí ấm cúng, nhưng khỏi phải nói, những gì đang xảy ra bên ngoài khiến Elaine lo lắng.

Annabelle dựa trán vào chiếc ly và lựa lời cẩn thận.

"Em vừa có một cơ hội thú vị," cô bắt đầu.

"Viện Smithsonian từ lâu đã muốn tìm hiểu một bộ sưu tập cây cỏ độc đáo trong nhà kính.

Nhưng người chủ của bộ sưu tập này lại vô cùng kín kẽ và luôn luôn khước từ họ... nhưng mới đây, anh ta mời em đến xem vào cuối tuần này,"

Elaine bỏ chiếc nĩa xuống.

"Ở đâu vậy?"

"Cách đây khoảng bốn mươi lăm cây số.

Ở nông thôn, theo em biết là phải đi bằng đường sông.

Có lẽ em đi vào buổi sáng thứ Bảy và về vào tối Chủ Nhật."

Chiếc nĩa trong tay của Elaine run lên, cơ thể chị cứng lại vì căng thẳng.

"Chị không thể đi thuyền.

Em biết vậy mà."

"Chị có thể ở nhà.

En chỉ đi có hai ngày thôi."

"Chị không thể ở một mình lâu như vậy được.

Chị không thể."

"Chị không phải ở nhà một mình đâu.

Chị gặp ông bà Hillenbrand ở đối diện nhà mình rồi mà.

Họ sẽ ở đây nếu chị cần gì đó."

Elaine lắc đầu, lắc rất khẽ, liên tục như chú ong bị nhốt trong hũ.

"Chị biết chị đòi hỏi ở em rất nhiều, nhưng em không thể bỏ chị lại một mình được.

Em không thể làm thế."

"Bây giờ là mùa hè nên chị không cần đốt lò sưởi.

Em chuẩn bị thức ăn không cần hâm nóng cho chị.

Chị có thể đem sách braille từ thư viện về nhà đọc.

Chị sẽ ổn thôi mà."

Toàn bộ cơ thể chị cô bắt đầu rung lên, hơi thở ngắn đi, dồn dập khi cơn hoảng loạn từ từ tăng cao.

"Em không được đi."

"Em đi là vì chúng ta.

Nếu em cắt và đem về được một cành lan kia thì giám đốc sẽ đảm bảo vị trí công việc tạm thời này của em.

Về lâu về dài, điều này là tốt."

Elaine nhắm chặt mắt và bặm chặt môi lại, nhưng đâu đó vẫn có tiếng thét sâu thẳm thoát ra ngoài.

Annabelle đưa tay ra nắm lấy bàn tay Elaine, và những lần hoảng loạn như thế này đều khiến cả hai rất khổ sở, thổn thức, run rẩy và thất thần.

Và một khi rơi vào hoảng loạn, Elaine có thể khổ sở suốt nhiều giờ liền.

"Em không đi được," Elaine nài nỉ.

"Em không biết được cái tiếng cót két nền nhà kêu nó như thế nào đâu, rồi chuyện gì xảy ra sau đó nữa.

Đừng nói gì đến chuyện 'về lâu về dài', bởi vì sống qua được một ngày đã là chuyện khó lắm với chị rồi.

'Về lâu về dài' càng khiến chị sợ hơn vì chị sẽ già đi, tóc bạc đi nhưng mù thì vẫn là mù!"

Cô chị thổn thức, ngã người tới lui và vô tình làm đổ bình đựng nước.

Chiếc bình rơi xuống sàn và vỡ, càng khiến Elaine hoảng loạn hơn nữa.

Cô chị chần chừ, hai tay ôm lấy đầu lắc lia lịa khi cơn hoảng loạn được dịp bùng phát.

"Ổn thôi," Annabelle nói.

"Chỉ là chiếc bình đựng nước bị bể thôi mà, không sao đâu."

Nhưng không ổn chút nào, Elaine đang cố thở khi liên tục nức nở.

Sau đó, có tiếng gõ cửa.

"Cô Larkin ơi, chuyện gì trong đó vậy?"

Tay nắm cửa động đậy, nhưng cửa đã khóa.

Annabelle vội chạy ra cửa, mở hé ra và thấy ông Hillenbrand nhìn vẻ quan ngại.

"Không sao cả.

Chúng tôi ổn mà," cô nói dối trước khi đóng cửa và quay lại với Elaine, đi vòng qua những mảnh vỡ của chiếc bình đựng nước bể.

Elaine thở vật rất khó nhọc nhưng nhịp thở chậm dần lại.

Những đợt hoảng loạn như vậy lúc này đã vơi hơn, và khi đến Washington, Elaine nuôi hy vọng sẽ tìm thấy được lối ra có ý nghĩa cho cuộc sống của chị, nhưng chị vẫn gặp nhiều khó khăn.

Mỗi ngày qua đi vẫn như một cuộc chiến, và lời nguyền hoảng loạn ấy có thể đến bất kỳ lúc nào mà không hề cảnh báo trước.

"Đừng đi mà em," Elaine nói.

"Có những cơ hội nghề nghiệp khác sẽ xuất hiện thôi.

Không nhất thiết cứ phải làm cho Viện Smithsonian."

"Dĩ nhiên rồi."

Làm nhà thực vật học rất phù hợp với Annabelle, nhưng cô có thể tìm công việc khác nếu cần thiết.

Có thể cần phải hy sinh, và đôi lúc cuộc sống không có nhiều lựa chọn.

Hơn tất cả là Elaine không bao giờ chọn mình sẽ là người mù, nên họ phải tìm cách nào đó tốt nhất.

"Chị cứ ngồi im một chỗ để em dọn chỗ vỡ nhé," Annabelle nói.

Cô quét những mảnh vỡ lại thành một ụ trong khi Elaine ngồi mệt mỏi và chán nản.

"Chị thật chẳng có tích sự gì," chị thều thào.

"Chị không biết tại sao mình lại vẫn còn sống cơ đấy."

Annabelle thở mạnh.

"Chị vẫn còn sống là vì chị vẫn còn nhiều việc cần làm hơn so với anh lính không biết làm gì ngoài việc xào bài tối ngày.

Anh ấy cần chị đó.

Vợ anh ấy cũng cần chị.

Chị vẫn sống bởi vì Chúa có kế hoạch riêng dành cho chị, cho dù nếu chúng ta chưa hiểu đó là gì."

Không thể chỉ dựa vào niềm tin đơn thuần để hiểu thấu được những ơn huệ và bi kịch mà Chúa thêu dệt cho con cái của Ngài, nhưng luôn có một ý nghĩa nằm ở đâu đó, và đây là bổn phận mà cô cần giúp Elaine tìm ra.

"Chúa dẫn chúng ta đến đây," Annabelle thì thầm.

"Ngài gieo tia hy vọng vào trong trái tim của chị, tia hy vọng ấy đủ mạnh để đưa chúng ta xa nhà hàng nghìn cây số.

Có một lý do và chúng ta sẽ giữ tia hy vọng ấy cho đến khi chúng ta tìm thấy ý nghĩa trong đó.

Bây giờ, chúng ta không thể khước từ nó được."

Nghĩ đến chuyện tay Bittles mỉa mai về thất bại của cô, cô lại thấy nực cười.

Đêm ấy Annabelle trằn trọc không ngủ được khi nằm ngủ cùng một chiếc giường với Elaine.

Mắt cô dán vào trần nhà tối đen trong căn hộ.

Vào lúc này, thật khó mà nghĩ được đến những chuyện vui thời trẻ của cả hai đã từng trải qua.

Nếu cha của họ không muốn có con trai thì ông sẽ không dạy cho hai đứa con gái của ông những công việc đồng áng trên cánh đồng Kansas như thế này.

Đối với Annabelle, cảnh đẹp nhất trên trái đất là những cánh đồng lúa mì trổ vàng óng trải dài bất tận khi những tia sét đánh ngang dọc bầu trời, hiển lộ uy quyền của Chúa .

Nhưng không phải sau đó lúc nào cũng có mưa, và nhiều năm khô hạn đã đẩy gia đình họ rơi vào cảnh túng quẫn.

Roy Larkin hy sinh mọi thứ để đưa hai con gái của ông vào được đại học.

Elaine lớn hơn hai tuổi nhưng cả hai đều tốt nghiệp trường Đại học Nông nghiệp Kansas cùng một năm nên họ có thể chia sẻ chi phí ăn ở.

Cha họ phải thế chấp hàng trăm mẫu ruộng để trang trải chi phí cho hai con cho dù người mẹ tằn tiện nhất mực không chịu.

Sau khi tốt nghiệp, Elaine quay về nông trại còn Annabelle làm việc ở một phòng thí nghiệm về phát triển những giống lúa mì mới có thể chống chọi hạn hán tốt hơn.

Thậm chí cô có gửi về cho cha một ít giống để trông thử trên đất của họ, nhưng cuối cùng họ chẳng gặt hái được gì nhiều.

Sau đó, Annabelle bị nhiễm bệnh cúm rất nặng, đến độ bác sĩ sợ cô không qua khỏi.

Elaine là người trực tiếp săn sóc cô nhưng rủi thay Elaine cũng bị lây bệnh.

Không phải cô chị mắc bệnh cúm nhưng lại mắc một chứng bệnh hiểm nghèo hơn là viêm màng não.

Cả hai đều sống, nhưng thị lực của Elaine bắt đầu kém dần và chỉ trong một tháng, chị hoàn toàn mù lòa.

Bị lấy mất cặp mắt và khả năng làm việc đồng áng, Elaine rơi vào khủng hoảng tinh thần tột độ.

Ngày qua ngày, chị cố gắng học chữ braille để tâm trí vơi bớt sầu não, nhưng sách braille lại vô cùng đắt đỏ và khó tìm.

Chính yêu cầu cần phải tìm kiếm sách braille cho chị đọc của người cha đã giúp chị phát hiện ra Thư viện Quốc hội có một chương trình giáo dục dành cho người khiếm thị.

Thế là Elaine tập trung toàn bộ tinh thần vào cơ hội nào đó mới, thú vị và hy vọng sẽ xảy ra tại Washington.

Cơ hội làm tình nguyện viên tại thư viện lớn nhất thế giới là một lá bùa chói lọi trong thế giới u tối của Elaine, và Annabelle đồng ý đưa chị mình đến Washington.

Một trong những giáo sư mà cô theo học tại đại học biết Tiến sĩ Norwood, nên cô tìm được một vị trí tạm thời trong Viện Smithsonian.

Đối với một phụ nữ, đây là trường hợp hiếm gặp cho một ví trí khá chuyên, nên cô được xem là trường hợp đặc biệt khi được làm việc tại đó đến sáu tháng.

Nhưng trừ khi cô có được thu nhập, còn không thì họ không thể ở lại được.

Gia đình ở quê không giúp gì được.

Cô phải tự tìm cách nuôi sống bản thân.

Elaine lăn qua chiếc chiếu đến bên cạnh em mình.

"Chị nghĩ em có thể đi thăm các nhà kính được," chị nói giọng thì thầm.

Annabelle giật nẩy mình.

Thật không ngờ là cô không chắc mình có nghe nhầm hay không.

"Chị muốn em đi sao?"

Elaine thở dài.

"Chị không muốn em đi, nhưng em nên đi.

Và chị cần học cách tự xoay sở một mình."

Điều này hiển nhiên là đúng, nhưng điều đáng mừng hơn là Elaine đã tự đi đến quyết định ấy mà Annabelle không hề ép buộc.

"Chúng ta sẽ đưa cho nhà Hillenbrand chìa khóa dự phòng để nếu có chuyện gì khẩn cấp thì họ có thể vào được," Annabelle nói.

Elaine gật đầu, nhưng rõ ràng chị vẫn rất lo sợ.

Annabelle không thể hình dung được nỗi sợ hãi mà chị mình phải chịu đựng như thế nào, nhưng điều ấy khiến lòng quyết tâm của cô càng cao.
 
Vua Gia Vị
Năm


Annabelle đến điểm hẹn vào đúng giờ hẹn trước mặt dù cô phải khiêng theo một cái thùng to kềnh, một cái túi đựng đồ ở qua đêm cộng thêm một chiếc hộp đựng dụng cụ nặng.

Còn trong chiếc túi áo váy của cô là chiếc móng ngựa mà Elaine đưa như bùa phòng thân.

Từ khi rời Kansas đến đây, chiếc móng ngựa ấy đã giữ cho cả hai an toàn và Annabelle khẩn cầu cho nó vẫn còn tác dụng.

Lá thư của Ngài Delacroix hướng dẫn cô đến bến tàu số mười hai ở cảng sông Potomac, ở đó có một người tên Luke sẽ đón cô bằng thuyền đi đến vùng đất Delacroix ở nông thôn.

Gót giày cô kêu lộp cộp trên sàn gỗ, còn những vũng bùn trên sàn có mùi ẩm mốc và là lạ.

Có quá nhiều người!

Thủy thủ vác những gói hàng nặng, còn du khách xách vali nhỏ gọn hơn.

Vài cần trục to lớn đang hạ những thùng hàng xuống tàu.

Cô dừng lại xem và gần như nhảy dựng lên khi một con mòng biển sà xuống và cắp lấy cái túi xách tay của cô, rõ ràng là nó đánh hơi được chiếc bánh muffin âm ấm bên trong mà cô quá lo lắng nên chưa nuốt nổi cho bữa sáng.

Không thấy ai chờ cô ở điểm hẹn trên bến tàu.

Cô đặt cái hộp dụng cụ nặng xuống sàn đánh thịch, tự hỏi tiếp theo mình sẽ làm gì đây.

"Cô Larkin phải không?"

Cô giật mình, vì giọng nói ấy phát ra từ bên dưới sàn.

Cô nhoài người nhìn xuống mấy tấm gỗ lót sàn và phát hiện một gã điển trai bên trong một chiếc thuyền neo lại ở chân trụ bến tàu.

Vì bến tàu quá cao so với mặt nước nên cô không chú ý có người ở bên dưới.

"Anh là Luke phải không?"

Cậu ta đứng dậy, vẻ mảnh mai như con khỉ khi cậu leo lên chiếc thang dây để đi lên trên bến.

"Tôi là Luke đây," cậu xác nhận, mỉm cười.

"Nghe thiên hạ đồn là anh tôi mở cửa nhà kính mời chị đến xem.

Tôi không chắc lắm đâu, bởi vì Gray canh giữ chúng như giữ chén thánh vậy.

Thậm chí anh ta còn không cho tôi vào nữa đấy."

"Thật vậy à?"

"Thật chứ," cậu nói, giọng mỉa mai.

"Chỉ có anh ta và người giữ đất mới có chìa khóa.

Anh ta có vẻ như cho rằng cả thế giới đang rất háo hức dòm ngó cái nhà kính quý báu của anh ta vậy."

Cô nhướn mày nhìn anh.

"Tôi chuẩn bị cho một chuyến hành trình dài rồi đây này."

"Rồi thì chị và Gray có thể lạc luôn trong thiên đường cây cỏ ấy nhỉ," cậu cười nói.

"Nào, lên thuyền đi thôi nào."

"Có phải đi xuống đó theo lối mà cậu leo lên đây không?"

Luke ngạc nhiên ra mặt.

"Anh tôi bảo chị rất can đảm, bạo gan.

Không dễ gì run sợ trước một chiếc thang dây cao vài mét."

Cô cười và túm cái váy lại, quay ra sau, hạ người xuống chiếc thang và bước vào chiếc thuyền chòng chành phía dưới.

Cô tự bước lên thuyền mà không gì xấu hổ, ngay cả khi chuyển mấy chiếc túi và hộp dụng cụ cồng kềnh lên theo.

"Tôi sẽ phải làm gì đây?" cô hỏi khi đã an vị trên chiếc ghế gỗ bắc ngang thuyền, đối diện Luke.

Cậu nắm lấy sợi dây và bắt đầu kéo buồm lên.

Tấm vải buồm mở ra, thuyền bắt đầu chuyển động với tốc độ đáng kinh ngạc.

"Chị cứ ngồi đó như nữ hoàng Cleopatra để tôi đưa chúng ta đến Windover Landing nhé."

Khi bến tàu xa dần tầm mắt, Luke nói cho cô nghe tại sao Windover Landing từng là điền trang rộng lớn của gia đình Delacroix từ nhiều thế hệ.

"Chiến tranh đã thiêu rụi ngôi nhà nhưng chúng tôi vẫn sở hữu mảnh đất ấy, nên đó là nơi cha tôi xây các nhà kính và vực dậy chuyện kinh doanh."

Khi họ đi xa hơn, vào giữa dòng sông, con thuyền tăng tốc và nghiêng cả về một phía.

Annabelle giữ cái thùng mang theo vì nó chứa nhiều mẫu vật lan vani hiếm, do nhiều nhà thám hiểm trên khắp thế giới thu thập được.

"Cậu không định làm cho cả đám ngã hết xuống sông ấy chứ?"

Luke cười.

"Chị bắt chước Cleopatra không giống lắm.

Nếu tôi khiến chị lo lắng thì chị cần ra lệnh cho tôi hạ buồm bớt và đi chậm lại.

Sau đó nhìn thẳng vào tôi và gọi tôi là kẻ đần bằng một giọng the thé cơ."

Nếu có một kẻ đần trên chiếc thuyền này thì đó chính là cô.

Nhưng chẳng bao lâu sau, cô cảm thấy thoải mái, bởi vì ngay lập tức, Luke dong buồm chậm lại và có vẻ rất hợp với cô khi thuyền chỉ đi xuôi theo dòng.

Thành phố mau chóng khuất phía sau lưng họ, và chỉ khoảng một giờ, dòng sông đưa họ đến với khung cảnh miền quê, nhiều bụi rậm và có chút gì đó mằn mặn trong không khí.

"Mấy cây cỏ mọc bên bờ là cỏ gì vậy?" cô hỏi.

"Là cỏ cordgrass1," Luke đáp.

"Tùy mùa, con nước có thể lợ hơn một chút nên cỏ cordgrass có thể mọc trên nước được."

Ở Kansas thật khác nơi đây.

Bầy diệc xanh bay lượn trên mặt nước, còn có những chú chim chân dài mổ tìm thức ăn trong đám bụi cỏ.

Luke rất sành sỏi khi lái chiếc thuyền qua những eo nước hẹp.

Cậu giúp vui cho cô bằng những câu chuyện về cách mà người nông dân đưa nước từ sông vào cánh đồng suốt nhiều thế hệ qua.

"Cha tôi có cả một đội tàu để xuất khẩu vải bông và thuốc lá," cậu nói.

"Nhưng mọi thứ kết thúc khi chính phủ xung công quỹ mấy chiếc tàu ấy suốt chiến tranh."

Cô chạm đầu ngón tay lên bề mặt dòng nước, tận hưởng cảm giác lành lạnh khi cô nghe cậu kể.

Cô đã từng ấn tượng chuyện Gray Delacroix tự lái chiếc tàu hàng đi khắp thế giới.

"Nhưng sớm muộn gì cậu cũng lại có được chúng thôi." cô hỏi.

"Chỉ một, nhưng là chiếc rất lớn," Luke nói.

"Chiếc Con Bồ Nông là chiếc tàu hơi nước chở hàng, chuyên chở gia vị từ châu Phi và vùng Viễn Đông về, và chúng tôi còn có một nhà máy đóng gói ở Alexandria, là nơi chuyên đóng hộp sản phẩm và gia vị.

Gray sử dụng những nhà kính này để nghiên cứu giống cây trồng mà anh ấy tìm được ở nước ngoài, xem xem liệu một ngày nào đó anh ấy có thu lợi gì được từ những giống cây mới ấy hay không.

Nhìn đằng kia xem, Windover Landing đó."

Một cụm nhà nằm san sát dọc bờ sông.

Luke giải thích rằng khu nhà đồn điền này bị chiến tranh phá hủy hoàn toàn, nhưng cha cậu cuối cùng cũng xây lại được nông trại phía trước mặt cô.

Ở đó có một chuồng ngựa, một lán cất đồ và một trái nhà phía trước có cổng vòm, nhưng ánh mắt cô dán chặt vào bốn nhà kính lấp ló sau hàng cây ở phía xa.

"Chào mừng đến với Windover Landing," Luke nói khi cậu lái chiếc thuyền buồm vào bến tàu.

Tay cậu giật mạnh sợi dây và cánh buồm.

Có vẻ kỳ kỳ khi không giúp cậu nhưng cô hoàn toàn không còn tay chân đâu để giúp và có lẽ càng làm rối thêm nếu cô cố chen vào.

Mười phút sau, họ lên được bờ và đi về phía ngôi nhà.

Cánh cửa bên hông nhà chợt mở và Gray Delacroix xuất hiện, đi theo lối dẫn về phía họ.

Lần này trông anh thật khác so với lần cuối cô gặp lúc anh bị sốt cao.

Hôm nay, trông anh tươi tỉnh và khỏe khoắn trong chiếc quần tây đen và áo sơ mi trắng hở cổ.

Sải bước tự tin vẻ như anh rất háo hức được gặp cô, và điều này thật tuyệt.

"Chuyến đi suôn sẻ chứ?" anh hỏi lịch sự.

"Em lo cho chị ấy như thể cô ấy là nữ hoàng sông Nile vậy đó," Luke bảo.

"Chị ấy hoàn toàn thất bại nếu muốn ra lệnh như nữ hoàng, nhưng chị ấy lại rất thích mấy đám cỏ xấu xí y hệt anh."

Ánh mắt đen lay láy của Gray tỏ vẻ hài hước.

"Em thích mấy đám cỏ xấu xí ấy à?"

"Nếu có cây nào trong đám đó có ích thì em rất ấn tượng đấy," cô thừa nhận.

"Anh cũng vậy."

Ánh mắt anh nồng ấm, còn nụ cười của anh càng làm cho đường chẻ nơi cằm anh trông mạnh mẽ và lôi cuốn.

Một ngọn gió thổi tung làn tóc anh, và cô phải cố ngăn mình để không tự ý vuốt lại những lọn tóc vắt qua khuôn mặt anh, rồi cô mê đắm cái cách anh cười với cô.

Gray quay đi chỗ khác, ra hiệu cho Luke.

"Để anh xách mấy thứ này cho."

Luke chuyền chiếc hộp cho Gray, anh phải nhún người vì nặng.

"Có gì trong đó vậy?

Búa tạ hả?"

Anh hỏi khi anh nhấc chiếc hộp quá nặng lên.

"Gần như vậy," cô khôi hài.

"Đó là thiết bị vi mẫu."

Sự nồng ấm chợt biến mất trên khuôn mặt anh, và anh đặt chiếc hộp ấy xuống đất đánh thịch.

"Và em định làm gì với nó vậy?"

Rõ ràng trong giọng nói của anh có chút không hài lòng, vì thiết bị vi mẫu chỉ có một chức năng mà thôi.

Chiếc máy bằng đồng nặng trịch đó cắt mẫu vật ra thành từng tấm mỏng như tờ giấy để soi dưới kính hiển vi.

Đây là công cụ thiết yếu của bất kỳ nhà thực vật học nào nếu họ muốn hiểu cấu trúc tế bào của một loài thực vật nào đó.

"Đây là công cụ hữu ích để nghiên cứu thực vật học đó," cô đáp trả mà không cần nghĩ ngợi nhiều.

"Tôi mời em đến đây để xem cây cỏ của tôi, không phải để mổ xẻ chúng."

Trước khi cô kịp trả lời, Luke mỉm cười xen vào.

"Thoải mái như ở nhà đi chị Larkin.

Cái duyên của anh tôi không sao tốt lên được.

Liệu anh có thể để cho cô ấy yên ổn trong vài phút được không, chứ không thì mọi chuyện hỏng bét ra đấy?"

Gray phớt lờ thằng em và nhìn thẳng vào mắt cô.

"Anh muốn rõ ràng một chuyện là anh không đưa bất kỳ thứ gì cho Viện Smithsonian cả.

Không một chiếc lá nào, không cái rễ nào, không cắt xén thứ gì.

Rõ chứ?"

Rất dễ để lấy một mẫu cắt mà không hại gì đến cây, nhưng có vẻ anh rất bảo thủ đối với cây cối của mình.

Dù vậy, đây vẫn là đất, là nhà kính của anh kia mà.

"Em sẽ không làm gì cả trừ khi cá nhân anh cho phép," cô nói.

Gương mặt anh dãn ra.

"Tốt.

Luke có thể đem túi đựng đồ ngủ của em vào trong, còn anh sẽ dẫn em đi xem khu nhà kính đầu tiên.

Trừ khi bây giờ em muốn nghỉ ngơi một chút.

Anh sẽ nói người chuẩn bị bữa trưa hay thứ gì đó cho em uống nếu em muốn."

Cô lắc đầu.

"Em không muốn phí một giây phút nào nữa."

Anh gật nhẹ với cô và giang rộng cánh tay mời cô.

Kiểu cách cổ điển này tỏ ra nhiều tiềm năng hơn là cái duyên tán gái của cậu em.

Điều này khiến cô có cảm giác mình như một quý bà, và cảm giác ấy không tệ chút nào.

Gót giày kêu lộp cộp dưới nền đá của lối đi khi họ rẽ vào ngôi nhà kính.

Chim chóc ríu rít ở những tán cây kề bên và một chú sóc phóng xoẹt qua con đường.

Mùi cây cỏ dại vực dậy tinh thần cô.

Cô nhớ đến vùng quê mình da diết.

Có một cái nền đá phẳng, lớn nổi bật giữa khung cảnh thôn dã.

Khi Gray để ý thấy cô đang nhìn đến đó, khóe miệng anh bổng trầm xuống.

"Đó là tàn tích ngôi nhà khi anh sinh ra," anh nói.

"Ngôi nhà bị người Yankee thiêu rụi hoàn toàn hồi năm 1864.

Anh để lại cái nền đó để làm kỷ niệm thôi."

Ngôi nhà này hẳn là một tòa biệt thự, vì cái nền rất lớn.

Chắc chắn là nó sát bờ sông và có lẽ là một trong những điền trang lớn trong vùng khi cô nhớ lại những tấm ảnh trong các tạp chí nông thôn.

Gray tiếp tục giải thích là có gia đình Jenkin sống trong nông trại này.

Họ là cặp vợ chồng, giúp anh trông coi đất đai, còn Gray một tháng mới đến thăm vài ngày bởi vì anh thích tự mình trồng trọt.

"Vùi tay vào đất giống như câu thần chú vậy," anh nói, và cô hoàn toàn đồng ý.

Họ vòng qua một lối đi khác, và lần này cô đã thấy cận cảnh các cụm nhà kính.

Chúng rất lớn, một nhà kính cũng đã lớn hơn cái nhà vườn mà cô sống từ nhỏ đến lớn.

Chìa khóa kêu leng keng khi Gray mở cửa nhà kính đầu tiên, rồi cô bước vào.

Đây là vườn địa đàng.

Rong rêu và mùi hoa nhài tỏa khắp nơi, có cả một đài phun nước ở chính giữa nhà kính.

Có nhiều chậu cây thảo mộc đặt trên dãy bàn, còn có hoa hồng leo, cành nho tươi tốt.

Mấy cây cọ thân cao được trồng ở góc nhà kính, cùng với đó nào là chanh, chanh lá cam và sung.

Có một cây cho quả rất to ở ngay gần cô mà cô không biết là cây gì.

"Cây gì vậy?" cô hỏi, lấy hai tay chụp lấy trái màu xanh, mượt óng, lớn hơn trái banh bầu dục một chút.

"Xoài," anh nói.

"Gốc từ Ấn Độ."

"Còn trái này?"

Thật là cả gia tài, một bữa tiệc no mắt.

"Đu đủ.

Gốc từ Mexico."

"À, đúng, đúng.

Em từng nghe nói đến đu đủ.

Bộ Nông nghiệp đang tìm cách nhập khẩu nè.

Có cả một đội các nhà khoa học đang nghiên cứu xem có thể trồng đu đủ ở California hay không, nhưng em chưa bao giờ thấy nó."

Có vẻ cô nói hớ gì đó rồi, vì cô thấy anh khoanh tay lại, ánh mắt lại trông có vẻ nghi ngờ.

Nực cười thật chứ.

Họ là hai người có cùng chung niềm đam mê, vậy tại sao anh ấy cứ liên tục thay đổi thái độ như vậy?

Cô chấp nhận điều này bằng cảm giác khôi hài, ngây thơ, có tác dụng hơn nhiều thay vì nếu cô phản ứng bực dọc trở lại.

Cô vờ rùng mình.

"Cái ánh mắt này khiến cho nhiệt độ ở đây giảm đến mười độ đấy.

Nói cho em nghe xem em đã làm gì nào."

Anh cười vẻ âu lo và quay mặt đi.

Anh ấy đỏ mặt à?

Cô không thể đọc được ý nghĩ của anh khi anh chỉ vào dãy ghế gần đài nước.

"Đến đó ngồi nào," anh nói, giọng không mấy thiện cảm.

"Nói chuyện tí nào."

Cô đi theo, vẫn rất choáng ngợp với nhiều loại cây dương xỉ, tre và dứa.

Như thể đây là một thiên đường mặt đất vậy, nhưng cô lại quay sang chú ý đến người đàn ông quyến rũ nhưng kỳ bí trước mặt cô.

"Nhìn này," anh bắt đầu cách cộc lốc.

"Chỉ có một chỗ mà anh không tin tưởng hơn Viện Smithsonian đó là Bộ Nông nghiệp."

"Nhưng tại sao?" cô thốt lên.

"Có vẻ như anh muốn trút mọi tội lỗi lên họ vậy?"

"Họ tung thông tin của họ miễn phí," anh nói, như thể đó là một cái tội.

"Họ sử dụng tiền đóng thuế để gửi các nhà khoa học ra khắp thế giới, săn lùng cây cỏ và hạt giống, sau đó giúp nông dân thu lợi từ đó.

Làm sao mà anh có thể cạnh tranh được với chuyện đó?"

Thật khó để dựng được một câu nói sao cho trôi chảy khi cô quá bất ngờ với những gì anh nói.

"Anh không phải cạnh tranh.

Thông tin mà họ tổng hợp được chỉ có lợi cho mọi người mà thôi."

"Nhưng anh thì bỏ cả gia tài vào đó.

Mọi thứ anh cần là để anh yên một mình, cho anh trồng trọt, thu hoạch và kiếm tiền.

Nhưng chính phủ này đánh thuế mọi đầu, sử dụng tiền của anh để thu thập, nghiên cứu và vất cho người khác.

Em không phải là nhân viên chính phủ đầu tiên cố gắng đánh cắp những gì anh đã đạt được."

"Bọn em không đánh cắp gì cả.

Bọn em đang học hỏi lẫn nhau."

"Kiến thức là thứ giá trị nhất trên trái đất này, còn anh thì không để cho chính phủ lấy nó miễn phí."

"Chúng ta đều có lợi từ việc chia sẻ thông tin.

Đây không phải là lấy cắp."

Anh khịt mũi.

"Anh biết em muốn xem một cây lan vani cụ thể nào đó.

Thực ra, anh đánh cược chắc chắn là em đến đây chỉ vì mục đích đó mà thôi."

Thực sự là vậy, nhưng làm sao mà cô thừa nhận được?

Mọi điều mà cô và Viện Smithsonian muốn là câu trả lời cho một điều bí hiểm mang tính chất khoa học.

Họ không có ý định lấy cắp bất kỳ thứ gì của anh.

"Bọn em không có kế hoạch lợi dụng gì về cây lan của anh cả.

Tiến sĩ Norwood có lẽ muốn xây một cái đền để thờ nó và khoe khoang với tất cả bạn bè của ông ta, nhưng chúng em chỉ làm khoa học, không hề buôn bán kinh doanh gì."

Vẻ mặt của anh dịu lại.

"Larkin này, em quá ngây thơ đấy," anh mềm giọng.

"Em có một thứ phẩm chất chói ngời, không thể cưỡng lại được, vừa làm anh thích thú, vừa khiến anh khó chịu.

Anh không biết người dân Kansas ăn cái thứ gì nhưng mà em rất ngây thơ và dễ tin người tựa như một bông hoa hướng dương cô đơn trên cánh đồng vậy, rất dễ bị đổ gãy ngay khi gặp trận bão đầu tiên."

"Còn anh thì ngược lại hoàn toàn," cô nói.

"Có vẻ như anh lớn lên ở môi trường toàn là đa nghi và mất lòng tin lẫn nhau vậy."

Anh cười ngặt nghẽo.

"Có lẽ em nói đúng phần nào đấy."

Anh ngồi thẳng dậy và chỉ ra ngoài, hướng đến một ngôi nhà tách biệt cách đó vài cây số.

"Em thấy cái lán đó không?"

Cô gật đầu.

Cái lán bên ngoài sơn bong tróc và mái ngói trũng xuống, dường như chẳng ai ở và cũ kỹ so với những ngôi nhà khang trang có ở điền trang này.

"Cha và anh từng sống ở cái lán đó tận ba năm sau chiến tranh.

Chính phủ đốt cháy hết nhà của anh, vơ vét hết đồ đạc, cướp đội tàu và đánh thứ thuế trên trời lên gia đình anh.

Cho nên, đúng như em nói, anh được nuôi lớn trong môi trường mất niềm tin.

Nó diễn ra ngay tại cái lán đó đó."

Anh nói, không hề tỏ ra chua chát.

Anh có vẻ như cố thuyết phục cô nghĩ theo quan điểm của anh, là điều không thể xảy ra.

Cô là một người Mỹ yêu nước nồng nàn, tự hào vì mình làm việc cho chính phủ, và Gray lại đang lãng phí thời gian.

Mắt cô quay sang cây đu đủ cách đó vài mét.

"Cây đu đủ này có vị thế nào nhỉ?" cô hỏi, và trên khóe mắt anh nở nụ cười.

"Em đánh trống lảng hả?"

"Đúng vậy."

"Hợp lý thôi."

Anh cười khi đến ngắt trái đu đủ xuống, rồi anh dùng con dao nhíp gọt vỏ và lấy hột ra một cách rất chuyên nghiệp.

Lớp thịt màu đỏ cam rất bắt mắt khiến cô ứa nước bọt.

Cô cúi mình tới trước để ngửi cái mùi đu đủ ấy khi anh đưa cho cô một miếng.

Thứ trái cây này mềm mềm, vị dịu ngọt và là lạ.

Cô khừng khựng khi phải chọn một từ thích hợp để diễn tả, nhưng thực ra không cần.

Gray dường như đọc được ý nghĩ đó.

"Vị này không giống tí nào với cái màu của nó, phải vậy không?"

Anh cam đoan là cô sẽ thích vị của kiwi hơn, và đúng là như vậy.

Sau kiwi, anh cũng cho cô dùng thử xoài và bơ.

Cô từng nghe nói đến những thứ trái cây này nhưng chưa bao giờ thấy chúng trước đây và cô hoàn toàn bị chúng mê hoặc.

Cô sờ ngắm cánh hoa, hít hà nhụy hoa và thử chất lượng đất trồng.

Nhưng khi cô hỏi về cây lan vani, anh nhẹ nhà chuyển cuộc hội thoại của họ qua cây cam Mỹ gốc châu Phi và giải thích sự khác biệt của nó so với cây cam trồng ở Florida.

Anh lý giải nước nóng trong hệ thống tưới tiêu giúp cho nhà kính cây nhiệt đới ấm và đủ độ ẩm, và cũng là cách mà anh vận chuyển nhiều giống cây trồng khác nhau về Mỹ trên những chuyến đi dài qua đại dương.

Giống như thiên đường vậy, nhưng cô cần tìm cây cho Tiến sĩ Norwood.

"Chúng ta đi xem cây lan vani được không?"

Cô hỏi một lần nữa vào buổi chiều.

Anh liếc nhìn đồng hồ.

"Đến giờ dùng bữa tối rồi."

Cô bất lực nhìn xuống chiếc váy đỏ kẻ bông của mình.

"Đây là tất cả những gì em có."

"Rất hợp," anh cam đoan.

"Anh cũng không thay đồ.

Anh chỉ lưu ý em rằng vì cái thái độ ngông nghênh nên Luke ăn diện rất bảnh và thường mặc áo khoác đen, đeo cà vạt.

Cậu ấy thích những gì thuộc về giới thượng lưu."

Anh đứng lên và đưa tay ra.

"Chúng ta cùng về trang trại nào, ở đó em sẽ thấy khỏe khoắn hơn đấy.

Chúng ta có thể nói chuyện về cây lan trong khi ăn."

"Em mong đến lúc ấy," cô nói, quyết tâm không bị nản lòng vì thái độ đột nhiên u buồn của anh.

[1] loài cỏ thân dày, thường mọc ở các đầm lầy nước mặn gần bờ biển.

Chúng mọc nhanh, thân dài từ 0,3-2m.
 
Vua Gia Vị
Sáu


Gray chồm người đến trước gương khi anh kéo lưỡi dao cạo vòng qua cằm.

Cạo râu trước bữa ăn tối là điều hiếm khi anh làm, nhưng tối nay anh muốn mình trông ra dáng một chút.

Anh yêu cầu bà Jenkin tạm dừng nấu nướng lại để sử dụng nhiều loại gia vị mới mà anh đã đi khắp thế giới để thu thập được.

Thông thường, họ không ăn uống kiểu trang trọng như thế ở nông trại, nhưng anh muốn tối nay thật đặc biệt.

Tại sao anh lại quá hứng thú đối với Annabelle Larkin như vậy?

Loại người như vậy chưa từng là đối tượng mà anh từng muốn tìm kiếm, và anh không thể chỉ ra được làm sao mà cô lại hút hồn anh một cách dễ dàng đến như thế.

Có lẽ bởi cô hiểu rõ được công việc của anh chăng?

Gray khịt mũi, suýt nữa cạo lẹm cái cằm.

Cô không hiểu anh; họ ở hai thái cực đối diện nhau.

Anh xem cây cỏ như vật phẩm, và dựa trên đó anh xây dựng đế chế của mình và tái thiết gia đình.

Cô lại thích cây cỏ bởi vì...

à, đơn giản là vì cô tò mò về mọi thứ.

Tính tò mò của cô rất đáng ngạc nhiên.

Bằng chứng là cô giũ bỏ nông trại ở quê và đi ra đời với cặp mắt ngây thơ mở to đầy háo hức.

Anh không có ý định để cho cô lấy một cái lá cây từ vườn của anh ra bên ngoài.

Ít ra là chưa.

Tiếng gõ cửa làm anh quay lại với thực tại.

Anh chùi bọt cạo râu còn sót lại trên gương mặt và trả lời.

Luke bước vào, đã mặc sẵn trang phục lịch thiệp cho buổi tối, là chiếc áo choàng lịch lãm có cổ cao.

"Em muốn chuyển đến anh vài tin tức trong nhà nè," cậu ấy nói thân mật.

Gray căng thẳng.

Loại câu mở đầu như vậy thường báo hiệu có điều gì không mấy tốt đẹp.

"Chuyện gì vậy?" anh hỏi.

"Đứa em gái bé bỏng của anh tự nó kiếm được việc rồi," Luke nói.

Thật khó tin.

Nếu Caroline cặp kè với một nhà ngoại giao nước ngoài nào hay vất cả một gia tài để mua một thứ gì đó như viên kim cương Hope1 thì anh có thể tin được.

Nhưng đây lại là xin được một công việc ư?

"Loại công việc gì vậy?" anh hỏi, vẻ nghi ngờ.

"Anh yên tâm đi.

Em ấy sẽ làm cho Nhà Trắng, với vai trò là thư ký quan hệ công chúng cho vợ tổng thống."

"Thư ký quan hệ công chúng là cái quái gì vậy?"

Luke đi từ từ đến bên cửa sổ phòng ngủ, tựa vai vào vách tường.

"Rõ là đệ nhất phu nhân McKinley sống rất khép kín.

Bà ta không muốn lộ mặt trước công chúng và rất nhớ quê nhà của bà ta ở Ohio nên bà ta cần ai đó giúp thu xếp công việc ở thủ đô.

Caroline lại rất thích hợp ở vị trí đó."

Gray ném chiếc khăn xuống và với lấy chiếc áo, mặc vào.

"Anh không thích tổng thống McKinley," anh nói vẻ căng thẳng.

"Em ấy không nên làm mọi thứ cho ông ta hay chính quyền của ông ta."

"Đó là những gì hay ho nhất mà anh có thể nói được đấy à?

Suốt những năm qua anh luôn đòi hỏi bọn em cần sống có trách nhiệm, và bây giờ Caroline kiếm được việc hợp mốt thế, một trong những công việc xịn sò nhất trong thành phố đấy.

Thế mà anh không hiểu đầu cua tai nheo gì, cắm đầu cắm cổ chỉ trích em ấy là sao?"

"Em xem chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ là cắm đầu cắm cổ sao?

Hàng nghìn người Mỹ phải chết.

Chính phủ của ta lao đầu vào những nơi mà chúng ta không có dính dáng gì đến."

"À ra vậy, oai thật đấy," Luke nói vẻ mỉa mai.

"Anh chỉ trích tổng thống xâm lược Cuba, nhưng anh muốn em đi xuống đó để kiếm lợi từ chiến tranh."

Đây là lời buộc tội lố bịch, còn Gray thì không bao giờ chấp nhận điều này.

"Anh làm kinh doanh với các quốc gia trên khắp thế giới bằng cách thiết lập những mối quan hệ thương mại song phương, đôi bên cùng có lợi.

Anh không ký hợp đồng trong khi đang chĩa súng vào kẻ khác.

Mỹ không nên thâu tóm thuộc địa, và còn Tổng thống McKinley thì đi làm điều đó."

Luke láo liên ánh mắt.

"Anh em mình đều biết Caroline không có tư tưởng chính trị gì.

Em ấy đơn thuần là chỉ giúp một người phụ nữ sống nội tâm chủ trì vài bữa tiệc trà.

Cứ để em ấy làm đi.

Bảo em ấy là anh tự hào vì em ấy."

Liệu có đủ tự hào về đứa em làm việc cho một chính quyền tổng thống mà anh hoàn toàn không tin tưởng hay không?

Nhưng Luke nói đúng.

Anh luôn muốn Caroline đặt trọn tài năng của cô vào một điều gì đó cao hơn là những kiểu tóc mới nhất hay chiếc váy đầm thời trang nhất, nhưng điều này không có nghĩa là anh quá vui thú với công việc mới của cô em.

"Em ấy nay đã hai mươi tám tuổi rồi," anh thừa nhận.

"Em ấy tự chọn cho mình con đường, tuy là rất không ưng nhưng anh hy vọng em ấy làm tốt việc."

Caroline rất có tiếng trong giới thượng lưu và luôn biết chỗ nào nên chú trọng tới.

Luke đứng thẳng dậy khỏi vách tường, vẻ mặt không mấy hài lòng.

"Nhìn anh thấy là anh rõ ràng rất thất vọng với cái tin này đấy, nhưng lần sau khi gặp Caroline, anh cố tỏ ra lạc quan giúp em cái đi.

Em ấy đáng được anh nghĩ tốt hơn cơ mà."

Cánh cửa khép lại với một tiếng cách nhẹ nhàng.

Annabelle quyết định bữa tối nay sẽ buộc Gray nói về giống lan hiếm kia.

Chí ít là nếu cô xác nhận được Gray có giống lan đó thì thông tin này cũng làm thỏa lòng Tiến sĩ Norwood.

Nhưng ý định lập tức vù ngay ra ngoài cửa sổ ngay khi cô bước vào phòng ăn của nông trại.

"Mùi gì thế kia?" cô hỏi.

Cô bắt đầu chú ý đến những mùi vị thơm nức mũi trong khi đang nghỉ ngơi ở phòng khách trên lầu, nên khi bước xuống lầu, các mùi ấy càng đậm hơn.

Gray mỉm cười khi anh dẫn cô ngồi vào bàn.

Phòng ăn trông ấm cúng, đồ đạc đơn giản, có thêm các chân nến, đồ sành sứ và muỗng nĩa bày biện sẵn trên khăn trải bàn.

"Quản gia chuẩn bị món cừu nướng tẩm ớt bột Hungary, thêm ít rau mùi phơi khô, tí lá muối đất và thìa lìa Ai Cập, cộng thêm chút bột cà-ri."

Hầu hết gia vị này đều lạ lẫm đối với cô, nhưng chúng rất dậy mùi nên bữa tối nay thật khó có thể quên được.

"Trong thế giới của em, gia vị chỉ đơn giản là muối và tiêu," cô thừa nhận.

Gương mặt Gray ánh lên vẻ thích thú, nhưng khi anh vừa định trả lời, cậu em trai từ cầu thang đi xuống.

Như Gray đoán trước, Luke ăn mặc rất lịch sự với áo khoác ngoài, còn trong là áo sơ mi trắng thắt cà vạt.

Cái vẻ ngoài này càng làm cho tính bất cần đời của cậu thêm ghê gớm khi cậu nở nụ cười.

"Chào mừng đến với bữa tiệc tối nhà Delacroix," Luke nói khi cậu nắm lấy vai cô và hôn thoáng vào cằm.

"Gray rất hiếm khi mời khách trừ khi anh ấy định lôi hết gia vị trong nhà ra.

Đây là cách độc đáo để tiếp thị gia vị cho bất kỳ ai bước qua ngưỡng cửa nhà này."

"Em bị mê lắm rồi," cô nói.

"Có thật là em chỉ nêm nếm với muối và tiêu à?"

Gray hỏi khi anh kéo chiếc ghế lại cho cô.

Và anh gọi cô là ngây thơ!

Họ sống cùng một quốc gia, dù vậy anh không biết cái cách mà người dân vùng Đại Bình Nguyên Trung Mỹ sống như thế nào.

"Cửa hàng bách hóa tổng hợp gần nông trại em nhất cách đó một giờ đi ngựa đấy," cô nói khi cô trải tấm khăn ăn xuống đùi.

"Ở đó bán mọi thứ, từ cái lưỡi cày cho đến cái máng ăn cho ngựa và cả giẻ chùi chân.

Mấy thứ gia vị họ bán chỉ là muối và tiêu mà thôi.

Có vẻ như một người đàn ông đi khắp thế gian như anh thì anh không biết lắm về đời sống nước Mỹ nhỉ," cô châm chọc.

"Một nước Mỹ thực sự, không phải chỉ là một thành phố bờ Đông nhộn nhịp có sẵn đu đủ nhập từ Mexico hay vani từ Madagascar."

Bữa tối thật tuyệt vời, với khoai tây trộn rau củ, măng tây với gừng tươi và nhất là thịt cừu ướp gia vị.

Mỗi miếng đều đậm một hương vị rất đặc trưng.

Buổi tối kết thúc bằng món tráng miệng là bánh tart vị vani thần thánh mà cô chưa từng thử qua.

Mỗi món ăn đều sử dụng kết hợp những loại gia vị hòa quyện rất hài hòa cùng nhau, rất hợp để phục vụ cho một vị hoàng đế nào đó, và cô cũng nói cho anh biết như vậy.

Vậy nên sẽ rất ngu ngốc nếu từ chối giá trị những sản phẩm mà anh đang đóng hộp và bán ra thị trường.

Gray tỏ ra rất vinh dự theo kiểu của Luke.

"Này, Tập đoàn Gia vị Toàn cầu Delacroix từ lâu đã vươn đến Mỹ rồi.

Hơn một nửa dân số ở nước ta vẫn đang sống ở khu vực nông thôn, nên không có lý do gì mà chúng ta không thể cung cấp gia vị đến với họ được."

"Không phải là anh không cho phép em bàn chuyện làm ăn khi đang dùng bữa à?"

Luke nói.

"Đó là cách chúng ta tiếp những vị khách đáng yêu sao?"

Gray liếc cô với vẻ biết lỗi.

"Thật có lỗi.

Có vẻ như anh đã mất quá nhiều năm nhồi nhét trong đầu nào những hóa đơn và hợp đồng kinh doanh rồi."

"Chúng ta nói chuyện về lan đi," cô mở lời.

"Em vẫn rất háo hức muốn được xem nhà kính trồng lan của anh đấy."

Luke nhún vai.

"Ở đó ẩm ướt lắm, và cây nào cũng trông như cây nào."

"Nhưng một trong số đó là giống vô cùng đặc biệt đấy," Annabelle đáp.

"Anh xem qua nó chưa?

Cây lan vani gốc á?"

"Cái gì khiến nó đặc biệt vậy?"

Cô giải thích lịch sử đầy huyền bí của cây lan ấy, là suốt cả trăm năm qua, chưa ai thấy được nó.

"Các nhà thực vật học và những người săn lùng lan đã tìm kiếm nó nhiều thập kỉ qua.

Nhiều lời đồn đoán cho rằng anh của cậu có trồng một cây như vậy, nên đó là cây lan được biết là còn tồn tại duy nhất trên thế giới."

Luke chồm người tới trước, giọng phấn khích.

"Ý em là anh tôi có một giống cây hiếm nào đó trong nhà kính mà chưa kinh doanh nó đấy à?"

"Chuyện này không dính dáng gì đến tiền bạc cả," cô nói ngay để cam đoan với Gray, người mà nãy giờ vẫn ngồi im lặng, tỏ ý khó chịu.

"Đây là một khúc mắc thuần tính khoa học mà chúng em đang cố giải đáp.

Chúng em rất muốn tận mắt xem được loài lan vani nguyên bản trước khi nó bị lai tạp ra nước ngoài."

Gray không nói gì, và im lặng này như kéo dài thêm.

Chỉ có âm thanh của cái đồng hồ điểm giờ cổ đời ông nội của anh nằm đâu đó dưới nhà phá vỡ sự im lặng khi nó điểm giờ.

Cô như nín thở, vì nếu cô có thể tìm được loài cây đó thì công việc tạm thời của cô ở Viện Smithsonian sẽ được đảm bảo.

"Anh biết là em rất trung thành với Viện Smithsonian," cuối cùng Gray lên tiếng.

"Anh biết em xem họ là những nhà khoa học yêu hòa bình, vô hại.

Nhưng không phải vậy.

Họ có kế hoạch của riêng họ."

"Đúng!" cô nói đầy nhiệt huyết.

"Kế hoạch của họ là khám phá được những bí mật thế giới xung quanh chúng ta.

Không có động cơ lợi nhuận nào ở đây hết, chỉ có nhu cầu khám phá, phát hiện cái mới mẻ mà thôi.

Trí tò mò là thứ khiến chúng ta khác với loài vật.

Đây là yếu tố giúp chúng ta phát hiện những điều mới mẻ và cho ra đời những sản phẩm đáng ghi nhận như là gia vị và thảo dược trong nhà bếp này tối nay.

Nếu anh có loài lan đó trong nhà kính thì có lẽ đó là mảnh ghép lớn mà các nhà thực vật học trên toàn thế giới đang muốn cố gắng ghép lại với nhau."

Anh nhìn chằm chằm cô một hồi lâu khiến cô mất cả tự nhiên.

Ánh nến lập lòe, đổ bóng trên những nếp nhăn gương mặt anh và không thể đọc được ý anh muốn gì.

"Thôi được," cuối cùng anh cũng nói.

"Sáng mai anh sẽ cho em xem mọi thứ mà anh có."

Cô cảm thấy nhẹ nhõm hẳn.

Cuối bữa ăn, Annabelle muốn cảm ơn đầu bếp vì đã làm một bữa tiệc thật tuyệt vời.

Bếp ăn rất đơn sơ, chỉ có mấy cái nồi đồng và chảo treo trên vách, cùng với một dãy cây thảo mộc sấy khô.

Quản gia tiếp nhận lời cảm ơn của cô bằng cách bước tới dãy gia vị cất trong kệ phía trên.

"Có được bữa tiệc ấy là nhờ nêm nếm đúng gia vị thôi," bà đơn giản đáp lời.

Gray ra dấu cho Annabelle đến cái kệ có chứa vài chục cái lọ chứa gia vị trông giống hệt nhau, và tất cả đều có dán nhãn Delacroix.

Rồi anh lấy sáu cái chai đặt chúng lên kệ.

"Lấy mấy lọ này về nhà," anh nói.

"Trừ ớt cayenne thì mấy lọ còn lại đều dễ dùng hết, chúng không làm hỏng thức ăn đâu.

Cứ can đảm mà nêm thử nhé."

Những lọ này gồm nhục đậu khấu, thì là Ai Cập, bột cây sơn (sumac), ớt cựa gà paprika, bột nghệ và tiêu cayenne.

Cô nhặt lấy một lọ thủy tinh cầm vừa trong lòng bàn tay.

"Một lọ như vậy giá bao nhiêu tiền?"

"Năm mươi xu," anh đáp.

"Anh vẫn cần giảm giá nữa và cần tìm được hệ thống phân phối để chúng có thể xuất hiện trên khắp nước.

Sẽ sớm có mặt ở Kansas cho dù nơi này có thị hiếu nêm thức ăn hơi khác."

Cô thích cái khiếu hài hước hơi khô khan của anh, nhưng cô chưa kịp đáp trả thì anh đã mở một hộc tủ, lấy ra một chai khác hoàn toàn.

Nó nhỏ và sậm màu.

Anh mở nắp rồi đưa nó cho cô.

"Bộ sưu tập này sẽ không hoàn chỉnh nếu thiếu thứ này," anh nói.

"Ngửi thử xem."

Cô liền thử và cảm nhận một mùi vị dịu nhẹ ngọt ngào.

"Là vani hả?"

"Đúng vậy."

"Nhưng đây là chất lỏng mà!"

"Đúng," anh khẳng định lần nữa.

"Bọn anh đã vất vả với nó cả một thập kỉ đấy.

Trích xuất vani là quy trình rất cam go nhưng nó lại giữ được mùi vị lâu hơn so với dạng hạt."

Trời đã tối nhưng khi Gray đưa cô đến chân cầu thang, Annabelle không muốn buổi tối kết thúc tại đây.

Trời tối nên những chiếc đèn dầu hắt bóng chập chờn nơi hành lang.

Gray dừng lại, vẻ như chần chừ muốn nói gì đó.

"Lọ vani đó là chỉ dành riêng cho mình em thôi," anh nói.

"Đừng đưa nó cho Viện Smithsonian hay Bộ Nông nghiệp nhé."

Cô nghe biết là trích xuất vani rất đắt đỏ nhưng trong giọng của anh, không có vẻ gì ám chỉ đến giá trị đồng tiền của nó.

"Có gì đó độc nhất về cái lọ vani này à?"

"Đúng vậy," anh nói đơn giản.

"Đây là vani thật.

Anh đang chạy đua với các nhà hóa học, những người đang cố tạo ra chất tạo mùi giống như vani bằng cách chưng cất dầu creosote từ nhựa cây cùng với một ít dầu đinh hương và vài chất hóa học."

"Kinh thế," cô chợt thốt lên.

"Anh nghĩ chính xác là," anh nói tiếp.

"Nhiệm vụ phát triển quy trình trích xuất vani thực sự có thể xem như là Chén thánh của các nhà sản xuất gia vị.

Nhiều nhà hóa học có thể tạo ra phiên bản giả, rẻ hơn bất kỳ thứ gì anh sản xuất, nhưng vị vani của anh làm ra luôn hấp dẫn hơn."

Cô giơ lọ vani lên cao.

"Đây là thứ làm cho bánh tart tối nay thật ngon phải vậy không?"

Ánh mắt anh nồng ấm.

"Đúng đấy.

Cha anh và anh nhiều năm qua đã tìm cách trích xuất vani bằng cách ép lạnh.

Đây là thứ vani xịn nhất thế giới đấy."

Anh đưa tay ra để gập bàn tay của cô nắm lại lọ vani, khiến cô cảm thấy như có luồng điện chạy qua mình, và cảm giác bàn tay ấy thật dịu dàng và thân thiết.

"Chỉ dành cho riêng em thôi," anh lặp lại, giọng nói gần như thì thầm trong bóng đêm.

"Hãy làm những gì em thích với chất vani lỏng này nhưng đừng chia sẻ nó với ai cả."

"Tại sao anh lại đưa nó cho em?" cô hỏi, tay cô vẫn nằm trong tay anh.

Vì nơi đây với cảm giác rất riêng tư, nên anh hoàn toàn hào phóng với cô.

"Vì anh thích em," anh đơn giản đáp thế.

Chỉ có bốn chữ thôi nhưng cũng đủ khiến trái tim cô chợt lệch nhịp và bùng cháy lên.

Cả hai im lặng nhưng không khó chịu.

Chỉ có tiếng dế gáy vọng lại từ đằng xa và tiếng lục đục dọn dẹp khi trời về khuya.

Cô đứng đây, có thể nhìn thẳng vào gương mặt điển trai, sẫm màu của anh suốt đêm, như một thứ nam châm từ tính lạ lùng đang rung lên giữa họ.

"Sáng mai anh gặp lại em," cuối cùng Gray nói và bước lui vài bước.

Câu nói của anh vang vọng trong đầu cô khi cô bước lên lầu.

Thứ đầu tiên cô thấy trong phòng khách là cái móng ngựa của Elaine, đang ở trên giường trong thứ ánh sáng lờ mờ.

Cô phấn chấn tựa bong bóng xà phòng.

Công việc của Elaine tại thư viện có thể là tia hy vọng mới, nhưng trừ khi Annabelle có thể làm Tiến sĩ Norwood hài lòng với loại lan đó, còn không thì cả hai có lẽ đành đón xe lửa về lại Kansas.

Cô kết thúc một ngày dài bằng cách quỳ xuống, cảm ơn Chúa đã cho cô đến được đây, nhưng cô cũng cầu cho Ngài tiếp tục chỉ lối cho mình.

Gray đã hứa ngày mai sẽ cho cô xem vườn lan nhưng trong lời hứa ấy nghe rất cẩn trọng.

Hôm nay, anh ấy rất tập trung và quyến rũ, nhưng nếu anh ấy có cây lan đó thì chắc hẳn anh sẽ canh giữ nó.

[1] Là một trong số đá quý nổi tiếng nhất thế giới, xuất hiện từ thế kỷ thứ 4.

Kim cương Hope nổi tiếng vì sắc xanh dương đặc trưng (theo Wikipedia).
 
Vua Gia Vị
Bảy


Annabelle cố dằn hy vọng lại khi Gray dẫn cô đi đến nhà kính trồng lan vào sáng hôm sau.

Nó đây rồi.

Cô phải mất thêm một ngày để tìm thấy loài lan đó, và cô không để Gray làm xao nhãng với các loại gia vị khác hay với mấy trái đu đủ như hôm qua nữa.

Cô chăm chú nhìn tay Gray khi anh mở khóa cánh cửa.

Tại sao anh lại khóa nhà kính này nếu không có thứ gì giá trị bên trong chứ?

Sự trông mong của cô tăng cao hơn nữa khi cô bước chân vào ngôi nhà kính ẩm và nóng.

Đá cuội lạo xạo dưới chân khi khi anh dẫn cô đi xuống lối đi ở giữa dẫn xuống phía sau khu nhà kính.

"Lan vani nằm dọc ở bờ tường phía nam.

Anh nghĩ đây là thứ mà Tiến sĩ Norwood quan tâm," anh nói, chỉ vào một nhánh lan đang leo trên dàn thả trong góc tường.

Rễ cây tỏa ra theo hình zigzag, dính với nhau và tán lá xanh, dài trổ ra từ rễ.

Thật là một loại cây leo khác biệt, nó dài đến gần một mét nhưng ngay lập tức cô nhận ra những chiếc lá vàng, có sáp.

"Đây là giống lan vani pompona," cô nói, không thể che được giọng thất vọng.

"Cây này do một nhà sư ở Mexico cho anh.

Họ trồng chúng trong khuôn viên tu viện hàng nhiều thế kỉ qua," anh nhẹ nhàng nói.

"Nó hiếm, nhưng không phải quá hiếm, không phải thứ em tìm."

Sự cảm thông trong mắt anh càng khiến cô lo lắng hơn, nhưng cô chưa từ bỏ.

"Tại sao Tiến sĩ Norwood nghĩ là anh có nó?"

"Là bởi các nhà sư này chưa bao giờ để cho người ngoài bước chân vào vườn của họ, và ai cũng hỏi tại sao lại vậy.

Anh có được nó là do ông cậu anh từng là nhà sư tu tại đó, nên họ tin ông cậu.

Nên chắc là có ai đó thấy anh từ tu viện đi ra với cây lan, rồi kết luận như vậy."

Cô nhún vai.

Cô đi xuống dãy trồng lan, mọi cây đều có chút khác nhau ở cành lá, rễ và hoa.

Cô thất vọng như muốn bỏ cuộc, vì loài lan nào ở đây cô cũng đều nhận diện được.

Cô đi thẳng xuống chiếc ghế dài, ngồi xuống, nhìn vô hồn vào mấy cái bàn để lan trước mắt.

Tất cả chúng đều đẹp, nhưng không có cây nào là độc nhất vô nhị cả.

"Liệu anh có biết cây lan vani gốc còn tồn tại hay không?" cô hỏi, nín thở.

"Nếu có, anh chưa từng biết đến, và anh cũng săn lùng nó."

Giọng anh từ tốn, gương mặt dịu dàng đầy cảm thông.

Một cảm giác thất bại, lạ lùng đang dần chiếm lấy hồn cô.

Ý nghĩ cùng Elaine phải lên xe lửa trở về Kansas không thể chịu nổi.

Cô không cam tâm thất bại.

Chúa không chỉ dẫn nửa chừng để cô và Elaine đi xuyên nửa quốc gia để dễ dàng từ bỏ như vậy.

Nên cô nghĩ cần có thứ gì đó khác để làm hài lòng Tiến sĩ Norwood.

Bộ sưu tập của Gray Delacroix đáng giá hơn bất kỳ thứ gì ở Mỹ và cô là người ngoài đầu tiên được cho phép bước vào khu nhà kính này.

Cô thẳng vai lên.

"Anh hãy cho em xem những cây còn lại đi."

Suốt vài giờ tiếp theo, họ đi ngắm phần còn lại của các nhà kính.

Cô thích thú cái cách mà anh tự tin nói về những loài cây cỏ quý hiếm mà anh thu thập trên khắp thế giới.

Với bàn tay thuần thục, anh ngắt những mẫu nhỏ và cho cô thấy thứ mùi hương đặc trưng, vân lá đặc biệt và các kỹ thuật trồng trọt.

Anh cũng có cỡ chục giống nghệ tây.

Anh cũng cho cô thấy công việc thu hoạch nhị hoa tinh tế như thế nào.

Anh kể cả chuyện mình phải thương lượng đến tận bốn tháng căng thẳng với các thương lái Ả Rập tại Morocco để mua lại giống nghệ tây của họ.

"Anh không sợ họ à?" cô hỏi.

Cô đang đợi câu trả lời khẳng định nhưng lại không phải vậy.

Anh đặt một nhánh nghệ tây xuống và cân nhắc câu hỏi này.

"Với anh, những năm qua giống như một chuyến hành trình vậy," cuối cùng anh cất lời.

"Nó thật gian khổ nhưng nỗi sợ lớn nhất của anh là để cho cha anh phải thất vọng.

Bọn anh đánh cược mọi thứ cho những chuyển hải trình dài dằng dặc ấy để tái thiết cơ ngơi gia đình, và bố anh dựa vào những gì anh có thể mang về.

Khi căn bệnh sốt rét ngấm vào người, anh đã dùng thuốc kí ninh, tắm bằng nước đá để có thể tiếp tục làm việc.

Đó là những năm gian khó nhưng không phải là tệ."

Khi cô càng hiểu Gray, cô càng thầm thán phục anh.

Cô sợ mình khiến cha mẹ và Elaine phải thất vọng.

Cô cần thứ gì đó để cân bằng cảm giác này.

"Ai cũng có gì đó để mà sợ.

Nào, tự thú đi nào.

Em sợ gì?"

Anh cười, lộ vẻ bối rối tự nhiên.

"Anh rất sợ gấu trúc Bắc Mỹ."

"Gấu trúc à?" cô hỏi, rất ngạc nhiên.

"Anh không chịu nổi chúng," anh thừa nhận.

"Sau khi nhà anh bị đốt, cha và anh phải sống trong căn chòi đó."

Anh chỉ đến cái lán xiêu vẹo với mảng sơn bong tróc đằng xa.

"Mấy con gấu trúc rất thích cái lán ấy," anh nói tiếp.

"Chúng thả mình từ trên mấy nhánh cây cao xuống.

Đêm đầu tiên cha con anh ngủ ở đó, anh thức giấc nửa đêm khi mà toàn bộ cái chòi cứ rung lên bần bật.

Tiếng thùm thụp và tiếng cào cứ kêu liên tục.

Lúc ấy anh mới năm tuổi và rất hoảng hốt.

Anh nghĩ là người Yankee trở lại và đập vào mái nhà để đuổi cha con anh đi chỗ khác."

Anh đặt cây nghệ tây lên lại giàn, là nơi chúng được hứng trọn ánh nắng.

"Nhà trên phố ở Alexandria của anh từng bị người Yankee chiếm lấy suốt ba năm chiến tranh, nên căn chòi này là cái mái nhà duy nhất của cha con anh.

Hầu như đêm nào cũng vậy, gấu trúc cứ đến quấy rối, làm ồn ào.

Kể từ đó anh rất ghét chúng và anh ghét cả cái chòi.

Sàn thì dơ và bên trong thì nhớp nháp, nhưng anh vẫn giữ lại nó làm kỉ niệm.

Những bài học mà anh học được từ khi là đứa trẻ sẽ không bao giờ quên."

Annabelle nhìn chăm chú hơn vào căn chòi xiêu vẹo và cái nền nhà cũ của ngôi điền trang bị cháy.

Gray sai rồi.

Có thứ gì đó nên quên đi, còn không những vết sẹo cuối cùng cũng ám lấy người ta.

Điều này đã xảy ra cho Gray sao?

Cô không có kinh nghiệm gì về những đắng cay sâu thẳm trong anh.

Anh là người thông minh, thành công ở bất kỳ đâu anh chạm vào, nhưng một phần may mắn của cô nơi anh có lẽ được trời ban tặng, còn những vết hằn ẩn chứa bên dưới thành công của anh là thứ gay gắt, nguy hiểm có thể thiêu trụi anh.

Sau bữa trưa, họ quay lại nhà trồng lan, là nơi Annabelle hy vọng cô có thể tìm ra một thứ gì đó để khiến Tiến sĩ Norwood không thể chối từ cô được.

Cô mải miết trong đó suốt buổi chiều, nghe Gray nói khi anh hồi tưởng từng câu chuyện liên quan đến từng loài lan anh thu thập được.

Và có một cây lan đập vô mắt cô.

Cây này nhỏ hơn các cây còn lại, lá cây có màu kết tụ các dải màu xanh lá và tím.

Nó trông rất lòe loẹt và nằm khuất trong góc phía sau những cây lan khác.

Cô chưa bao giờ thấy thứ này trong bộ sưu tập của Tiến sĩ Norwood, còn màu sắc của nó rất lạ nên cô quyết định cắt một mẫu mang về, nhưng Gray chắc chẳng dễ dàng gì.

Anh thoải mái khoe cô khắp vườn lan, trừ cây lan đó.

Gần đến giờ cô phải trở về, và người quản gia mang ra một bình nước chanh lớn đặt trên bàn ở giữa vườn.

Annabelle đến đó cùng với Gray, nghe tiếng nước vỗ ở đài nước và hít thở trong bầu không khí toàn hương hoa.

"Hôm qua em có hứa là không lấy bất kỳ thứ gì ra khỏi nhà kính của anh trừ khi chính anh cho phép."

Gương mặt anh bỗng trở nên cảnh giác.

"Em muốn gì sao?"

"Một nhánh cây."

"Cây nào?"

Cô đứng dậy và đi trực tiếp đến cây lan màu xanh-tím vừa rồi, nhấc nó lên khỏi kệ.

Cành lá mỏng manh của nó đung đưa khi cô mang nó đặt lên bàn.

Cô ngồi đối diện Gray và chờ.

Anh khoanh tay lại và nhìn cô với ánh mắt thách thức.

"Em thật có gu đấy.

Ở Mỹ chỉ có mỗi một cây đó thôi."

"Màu của nó chắc hẳn đã nhạt đi bớt khi anh mang nó đến đây."

Đó là lời đoán mò điên rồ, nhưng cô chắc hẳn đoán đúng, vì trông anh tỏ ra rất ngạc nhiên và ấn tượng.

Cô đặt tay lên thùng đồ.

"Nếu anh cho phép em cắt một mẫu, chúng em có thể nghiên cứu nó.

Chúng em có thể chỉ ra chính xác là nó cần thứ gì để có thể giữ lại được màu gốc."

Gray chồm tới trước cho đến khi chỉ cách cô khoảng bằng gang tay.

Cô hoàn toàn bị hút hồn bởi cái ánh mắt tăm tối, thú vị và cô muốn nín thở lại, háo hức nghe lời tiếp theo anh nói là gì.

"Cô Larkin," anh thì thầm, "Tôi biết chính xác nó cần thứ gì."

"Anh biết sao?"

"Một ít hỗn hợp sắt và phốt-pho, thêm hai giờ ngoài nắng gắt hơn một chút chứ không phải nắng ở Virginia này.

Anh không cho phép em cắt."

Anh ngồi thẳng lên và đẩy cái cây qua mặt bàn, tới chỗ cô.

"Cứ lấy cả cây về."

Cô chợt cảm thấy khó thở.

"Anh đưa nó cho em à?"

"Anh đưa nó cho em để em có thể đưa nó cho giám đốc Viện Smithsonian.

Anh biết gã là kẻ điên khùng khi nói đến lan.

Có lẽ cây này sẽ khuây khỏa được lòng gã khi không có cây lan vani."

Trái tim cô đầy hoan hỉ.

Vì biết rằng anh rất bảo thủ đối với vườn lan của mình nên món quà này có ý nghĩa đặc biệt như thế nào.

Cô nắm lấy tay anh rồi nói.

"Cảm ơn anh."

Cử chỉ này khiến anh bối rối, nhưng anh không rút tay lại.

"Anh xin lỗi vì chuyến đi này của em không đạt được những gì em muốn," anh chần chừ nói tiếp.

"Nhưng có lẽ lại được những thứ khác hay ho hơn.

Anh muốn gặp em lần nữa nếu em sẵn lòng."

Cái cách lịch lãm kiểu cổ điển ấy lập tức đánh động cô.

Cô cố không cười quá lố khi đáp lời.

"Rất sẵn lòng."

Tối hôm ấy, Gray đưa cô về thành phố bằng chiếc tàu của gia đình.

Thậm chí anh còn đưa cô đến trạm xe điện và giúp cô khuân mấy chiếc giỏ và thùng cồng kềnh trong lúc cô mang theo chậu cây lan, sau đó cùng cô về đến nhà trọ.

Họ đứng dưới ngọn đèn đường và nói lời tạm biệt tại đó.

"Liệu em có thể quay lại Windover Landing vào dịp nào khác không?" cô mạnh dạn hỏi.

"Anh hy vọng thế."

Niềm đam mê bùng cháy trong ánh mắt anh vẫn còn lưu lại trong cô rất lâu sau khi cô lên giường vào tối muộn hôm ấy.

Chuyến đi này của cô có thể xem là thất bại, nhưng cô vẫn cảm thấy phấn chấn.

Annabelle không hiểu được trọng lượng của món quà mà Gray đưa cho tới khi cô thấy Tiến sĩ Norwood phản ứng với cây lan ấy.

Ông ta nắm lấy ngực mình mà thổn thức, hầu như giống như kẻ bị bệnh tim vậy.

"Một cây Paphiopedilum callosum," ông ta cố để không khạc ra.

"Ta chỉ thấy nó trong tranh vẽ mà thôi.

Chờ đây đã nào, chờ mấy người ở Hiệp hội Trồng Lan đến ngắm nào."

Ông lùa cô ra khỏi văn phòng.

"Đi, đi.

Ta phải loan báo cái vẻ đẹp này ngay lập tức thôi.

Và nói hộ thư kí của ta hủy các buổi họp hôm nay luôn nhé."

Ông ta chồm mình lên cái cây, tay cầm chiếc kính lúp, run rẩy vì kích động.

Liệu đây có đủ cho ông ta giữ lại vị trí công việc tạm thời của cô hay không?

Cô định mở miệng hỏi, nhưng trước khi kịp nói thì Tiến sĩ Norwood lại khiến cô ngạc nhiên.

Ông nhìn lên với vẻ toan tính trên gương mặt.

"Khoan đi đã," ông nói khi cố đứng thẳng dậy.

"Vâng?"

Ông bỏ chiếc kính lúp xuống.

"Cô làm rất tốt, cô Larkin," ông nói.

"Có lẽ chúng ta chưa dùng hết khả năng của cô.

Tôi sẽ sớm nói chuyện với cô sau."

"Cảm ơn Ngài."

Liệu cái nhận xét lạ lẫm ấy có thay đổi được gì?

Có vẻ như... chà, điềm gở sao?

Không đúng.

Lên kế hoạch sao?

Toan tính gì sao?

Sao thì sao, cô nghi ngờ có một điều gì đó ngoài chuyện cây lan này, và điều ấy khiến cô lo lắng.
 
Vua Gia Vị
Tám


Gray nhìn đống giấy tờ nằm trên bàn trước mặt anh.

Hợp đồng bán chiếc tàu Con Bồ Nông chỉ vỏn vẹn ba trang giấy nhưng ký vào đó cũng có nghĩa là sẽ thay đổi cuộc đời anh mãi mãi.

Sở hữu một chiếc tàu hơi nước luôn là giấc mơ của cha, chưa bao giờ là của Gray.

Ngay khi thương vụ này hoàn tất, đây sẽ là mốc chấm dứt những chuyến hải hành của anh và mở ra một cuộc sống mới tại vùng đất Virginia này.

Anh liếc nhìn đồng hồ.

Ngân hàng muốn hoàn thành xong mớ giấy tờ trong hôm nay, nhưng anh cần xem lại nó lần nữa trước khi đặt bút ký, và Annabelle Larkin sẽ đến nhà trong vòng một giờ đồng hồ nữa.

Đã hai tuần trôi qua kể từ khi họ bắt đầu hẹn hò, và cô chưa bao giờ rời khỏi tâm trí anh được.

Cứ năm ngày một tuần, anh đều đưa cô đi ăn trưa tại quán cà phê nhỏ ở tầng hầm của Viện Smithsonian.

Dù cho với đám đông du khách, tiếng ồn ào, tiếng ăn uống nhộn nhịp thì giờ phút ấy luôn luôn là điểm sáng trong ngày của anh.

Mỗi ngày qua đi, anh cảm thấy mình mê mệt Annabelle hơn.

Anh biết đến người chị mù lòa của cô và cách Annabelle phải bỏ công việc đáng trọng tại đại học ở Kansas để đưa Elaine đến đây.

Đối với cô, gia đình là tất cả, cũng giống như Gray vậy.

Đợt thử lửa về lòng trung thành thực sự là ở những thời điểm khó khăn và sự hy sinh ở cô, và khi đến Washington, Annabelle đã chứng minh mình là một phụ nữ kiên định.

Hôm nay là thứ Bảy, nên Annabelle đến thăm anh tại nhà trên phố, tại đây anh mời cô dùng ly coctail trái cây có vị cay cay mà anh rất thích hồi sống ở Ceylon.

Anh tìm cơ hội tỏ tình với cô ở một chỗ yên ắng một chút, nhưng có vẻ kiếm không gian như vậy rất khó khi ở Viện Smithsonian.

Anh quên ướp lạnh ly coctail.

Thầm rủa mình, anh lật đật chạy ra khỏi phòng đọc và chạy ngay đến phòng lạnh ở phía sau nhà.

"Otis ơi, đến đây giúp tôi lấy ít đá nào!" anh nhoài mình ra khỏi cánh cửa đang mở, gọi lớn.

Sao giống như cuộc chạy nước rút để làm lạnh ly coctail trước khi Annabelle đến vậy, nhưng anh muốn mọi thứ phải hoàn hảo.

Có ai đó như Luke có thể chiêu dụ bầy chim ra khỏi lùm cây, nhưng với Gray, điều đó thật khó.

Nói thẳng ra, anh không biết cách tán tỉnh phụ nữ.

Anh chỉ biết làm ăn buôn bán, thương thảo giao kèo và chốt hợp đồng.

Còn đây là lần đầu tiên trong đời, anh ganh tị với cái vẻ ngoài duyên dáng như có như không của Luke.

"Có ai đang gõ cửa," Otis nói khi cậu ta vừa mới đến được phòng lạnh.

Annabelle đến sớm hơn giờ hẹn, nhưng Gray tin tưởng Otis có thể chuẩn bị tốt mọi thứ.

"Tôi lo cho," anh nói khi anh đưa đồ nhặt đá cho cậu ta.

Anh lấy tay vuốt lại mái tóc và bẻ lại cổ áo cho thẳng thớm khi đi xuống lối đi giữa nhà để ra mở cửa.

Anh suýt nữa làm bung tay nắm cửa vì quá hồi hộp.

"Ai vậy?" anh bối rối hỏi.

Có một người nam trung niên và nữ cũng trạc tuổi đó đứng trước thềm cửa, bên dưới chân họ là một chiếc rương.

"Tôi là Chastain," người đàn ông nói giọng rặt âm Pháp.

"Vợ tôi và tôi đến đây để giao rương đồ mới cho cô Delacroix.

Thật là tuyệt," ông ta thốt.

"Em của ông quả là nghệ sĩ thực thụ.

Khiếu thẩm mĩ của cô ấy quả không đâu bằng.

Cô sẽ chiếu sáng khắp giới thượng lưu ở Washington này mất."

Người đàn ông Pháp ấy cứ tiếp tục thêu hoa dệt gấm nơi cửa miệng, nhưng mắt Gray mở to khi anh thấy thêm cả chồng rương và thùng dựng sẵn trước cửa.

Thậm chí còn thêm một ít ở ngoài xe ngựa đang dừng ngoài đường.

"Đừng nói với tôi là mấy cái thùng còn trong xe ngựa cũng là của em tôi nhé."

"Dĩ nhiên là vậy rồi!"

ông Chastain nói.

"Cô Caroline một mực là cần một chiếc tủ quần áo mới hoàn toàn để chuẩn bị đi làm tại Nhà Trắng.

Thật là một vinh dự!

Vợ tôi và tôi đã may ngày may đêm suốt hai tuần qua đấy."

"Và cái tủ quần áo mới này của cô Caroline tốn hết bao nhiêu tiền của tôi vậy?"

Người đàn ông Pháp lấy trong túi áo trong ngực ra một bao thư và đưa nó cho anh.

"Cô ấy đã trả một phần rồi nhưng cô ấy cam đoan rằng ông sẽ thanh toán nốt phần còn lại khi giao tới đây."

Gray không vui chút nào, nhưng nếu Caroline đã ký hợp đồng thì cần tôn trọng nó một chút.

Em ấy không có ở đây để hỏi được, còn hóa đơn thì dài đến năm trang giấy.

Tận năm trang!

Nào là váy đầm mặc buổi sáng, váy đầm mặc buổi tối, đồ đi bộ, trang phục cưỡi ngựa và còn thứ gì nữa chứ, đầm xẻ tà là cái quái gì?

Cái con số tổng nằm ở cuối trang gần như khiến anh ngưng thở.

Anh chạy về nhà bếp là nơi Otis đang đập đá cục vào xô.

"Cậu có biết Caroline đang khiến chúng ta rơi vào cảnh phá sản với cái tủ quần áo cho Marie Antoinette không vậy?"

"Chị ấy nói đến chuyện này từ khi ông chủ bán đi chiếc Con Bồ Nông đó, rằng chị ấy có thể mua một hay hai chiếc váy gì đó."

"Hay là năm mươi," Gray thốt ra khi anh đi trở lại phòng khách.

Đúng là bản chất Caroline, tiêu tiền trước khi nhìn đến tài khoản ngân hàng.

Tiền bán chiếc tàu hơi nước có thể mất vài tháng mới hoàn tất và hiện thời là vẫn chưa nhận được tiền bán.

Anh dự định làm rõ mọi thứ áo quần trong lần giao hàng này trước khi trả tiền.

Phòng khách rất rộng, nhưng nó bỗng dưng cảm giác chật chội khi mấy chiếc rương và thùng đồ được đưa vào đấy.

Ông Chastain mở chiếc rương đầu tiên và lột tờ giấy phủ ra khỏi chiếc đầm vàng chanh có viền ren.

"Đây là cái gì vậy?"

Gray hỏi.

"Đầm đi dạo bằng tơ dệt chéo," gã người Pháp nói, chỉ vào một dòng ở trang cuối tờ hóa đơn.

Gray đánh một dấu nhỏ bên cạnh món đó.

"Tiếp đi," anh ra lệnh.

Anh ngồi trên ghế sofa và giám sát mọi món khi chúng được tháo ra khỏi bọc.

Những món hàng này đều được xếp cẩn thận trên sofa, trên ghế và trên cây treo áo quần cho đến khi phòng khách ngập đầm váy đủ kiểu, đủ màu.

Tệ nhất là cái thùng đựng vô số đồ lót bằng lụa.

Tại sao Caroline cần thứ đồ lót mới cho công việc mới chứ?

Anh có thể đồng ý rằng em ấy cần có vẻ ngoài đứng đắn cho một cuộc sống trong Nhà Trắng, nhưng rõ ràng mớ đồ lót hiện thời của em ấy còn tốt chán.

"Đem mớ đồ lót ấy về," anh ra lệnh.

"Tôi không thanh toán cho đống ấy đâu."

"Nhưng cô Caroline yêu cầu đấy," gã người Pháp nói từ tốn.

"Chúng được may theo đúng số đo của cô ấy."

"Thì cô ấy tự mà trả tiền lấy.

Tôi không trả, nên làm ơn đem về.

Cái thùng tiếp theo là gì?"

Ông chồng mang thùng đồ lót ra lại xe ngựa trong khi bà vợ tiếp tục mở thêm mấy chiếc thùng khác.

Họ chưa mở được hết một nửa nhưng phòng khách đã đầy những lụa, satin và ren.

Một đống vòng váy khiến Gray hoàn toàn bị ngợp, cho đến lúc bà Chastain giải thích đó là cái khung lót áo và đầm.

"Cô ấy đã có cái thứ ấy rồi, nên đem đống đó về luôn."

Bà Chastain cố giải thích khung lót áo quần năm nay khác với mùa thời trang năm ngoái như thế nào, đột nhiên lúc ấy chuông cửa reo.

Người chồng đã ra bên ngoài, nên Gray đành ra mở cửa, trên tay vẫn cầm chiếc khung lót, chuẩn bị bảo ông ta đem luôn cái đó về.

Sự bực dọc lập tức tiêu tan khi anh nhận ra Annabelle.

Cô liếc nhìn cái khung, rõ ràng là rất thắc mắc.

"Không phải của anh," anh nói.

Cô như cười ẩn ý.

"May là vậy."

Anh cười lại.

Người phụ nữ này là thế nào mà sao chỉ một nụ cười của cô có thể xua tan cái thái độ hậm hực nãy giờ của anh?

"Vào đi," anh nói.

"Em đừng có để ý đến đống quần áo bày bừa trong nhà anh nhé.

Đứa em gái của anh tiêu tốn rất nhiều tiền vào mớ ấy."

Annabelle bước vào, kinh ngạc khi thấy đống quần áo.

"Em chưa bao giờ thấy thứ gì đáng yêu như vậy," cô nói như thở không ra hơi.

"Em chưa từng nghĩ trên đời lại có những thứ quần áo đẹp đến thế này từng tồn tại đấy.

Cái này dùng loại vải gì thế?" cô hỏi, vuốt một ngón tay dọc theo chiếc đầm màu hoa cà.

"Lụa sa-tanh charmeuse," bà Chastain nói vẻ rất tự hào.

"Lụa này mềm mượt như nước và có vân giống bơ nên tạo ra được vẻ đẹp như thế đấy."

"Đúng là nó có cảm giác như bơ vậy!"

Annabelle cười.

"Gray, đến thử xem này."

"Anh không sờ vào sợi như bơ."

Bà vợ lấy một ít mẫu sợi màu hoa cà.

"Đây này," bà nói, dịu dàng vuốt nó lên cằm của Annabelle.

"Đây là cách duy nhất để thực sự cảm nhận được lụa charmeuse quyến rũ thế nào.

Chúng tôi có thể may cho cô một chiếc.

Hẳn nó sẽ trông đẹp hơn nhiều so với cái..."

Bà vợ Pháp chợt lặng đi khi biết mình nói hớ.

Chiếc đầm vân chéo màu be của Annabelle trông như cái bao đựng khoai tây khi sánh kề bên là một loạt những chiếc đầm lộng lẫy khác.

Một phần Gray muốn nhảy vào bảo vệ cô, nhưng có vẻ như Annabelle đã tự bảo vệ được mình rồi.

Đó là cách cô lật lại vẻ ngập ngừng của bà vợ Pháp.

"Đây là thử thách thực sự cho việc giao thiệp của chị đấy ạ," Annabelle đùa, anh mắt đen láy của cô ánh lên vẻ hài hước.

Bà Chastain bối rối.

"Tôi không có ý định ám chỉ..." bà ta lắp bắp.

"Váy của cô rất ổn.

Nó được may kỹ càng."

"Nó đơn giản thôi," Annabelle nói, sau đó ôm lấy bà Chastain cách thân mật.

"Có gì tệ đâu nào.

Không phải ai trên đời cũng mặc lụa charmeuse.

Em chọn mặc chiếc đầm này để dễ đi lại trong thị trấn, thậm chí dễ đi xuyên qua khu rừng nào đó được.

Nhưng chị thì nên tự hào với những chiếc đầm xinh đẹp này chứ.

Chị là một nghệ nhân thực thụ đấy!"

Gray nhìn hai người một cách thích thú.

Không hề có chút tị nạnh nào đó trên gương mặt Annabelle.

Từng lời nói của cô đều có sức nặng, và anh ngưỡng mộ cô vì điều ấy.

Đây là phụ nữ có cái đầu và trái tim, đồng thời cũng có cả khiếu hài hước.

Anh muốn tán cô, không còn muốn dây dưa với thợ may của Caroline nữa.

"Bà có thể mang mấy cái thùng khác vào," anh nói cộc cằn.

"Tôi sẽ trả."

Anh không muốn nói từ đồ lót trước mặt Annabelle.

Thật là khó nói về cô em khi em ấy cứ vất cả gia tài vào mớ đồ linh tinh, và không tế nhị gì khi đề cập chúng trước mặt Annabelle.

Anh nhờ Otis viết tờ ngân phiếu cho toàn bộ hóa đơn.

Viết sao cũng được miễn làm vừa lòng cặp thợ may ấy.

Ông Chastain tỏ ra dạt dào tình cảm, tỏ rõ thái độ biết ơn khi nhận tờ ngân phiếu.

"Thật là vinh dự cho chúng tôi được may trang phục cho quý cô ở Nhà Trắng.

Liệu cô Caroline có cần thêm..."

"Không cần gì nữa đâu," Gray nói khi anh giục cặp đôi ấy ra ngoài cửa.

"Đây vẫn là vinh dự vì trang phục của chúng tôi có thể trang hoàng cho dinh thự tổng thống.

Vui lòng chuyển lời biết ơn này."

Cánh cửa đóng lại trước mặt cặp thợ may, giờ đây chỉ còn lại mình anh và Annabelle.

"Em của anh đến thăm Nhà Trắng à?" cô hỏi, mắt mở tô như không tin được như thể Caroline lên cung trăng ấy.

"Em ấy làm việc cho đệ nhất phu nhân.

Em ấy sẽ làm vị trí đại loại như 'thư kí xã hội'."

"Nghe hoành quá nhỉ."

"Anh thấy chị của em còn hoành hơn nữa ấy chứ," anh nói chân thành.

"Chị em có lý do rất chính đáng, và chị ấy phải đi băng qua đất nước để tình nguyện dành trọn thời gian cho một công việc có ý nghĩa.

Anh sợ là Caroline chẳng thiết đến gì ngoài mấy bữa tiệc tùng và quần áo lòe loẹt.

Anh đã kể cho nó nghe về em và Elaine."

"Anh đã kể à?"

Làm sao mà anh không kể được chứ?

Tâm trí anh luôn nghĩ về Annabelle ngay từ khi cô bước vào nhà anh với tấm bản đồ gia vị nhố nhăng nhưng anh không muốn nói lên điều đó với Caroline xinh đẹp nhưng lông bông.

"Nào, đi vào bếp nào.

Anh có thứ này cho em."

Anh căng thẳng hơn.

Thật không hay tí nào khi cố tạo ấn tượng với cô bằng một ly coctail trái cây vị cay thay vì tùy chọn an toàn hơn, đơn giản hơn, chẳng hạn là một tách trà.

"Nơi này thơm thật," Annabelle nói khi cô cùng anh đi vào bếp.

Gian bếp nhỏ, có lò sưởi và bên kia là dãy kệ, có một cái bàn nhỏ gần đó.

Cái bình đựng coctail chanh có vị cay đặt trong xô đá.

Anh rót cho cô một ly cao, có đá, và chăm chú theo dõi cô nếm.

Mắt cô mở to, chân mày nhíu lên.

Cô nhấp thêm một ngụm nữa như thể muốn bay bổng lên trời vậy.

"Trời đất ơi.

Công ty anh cũng bán món này nữa hả?"

"Không.

Anh chưa bao giờ nghĩ đến chuyện đó."

Bán những lọ gia vị nho nhỏ luôn dễ dàng hơn bán thứ gì đó phải ủ men và đóng chai, nhưng điều khiến anh dễ chịu là cô có khuynh hướng kinh doanh ẩn sau suy nghĩ rằng không phải thứ gì cũng cho không.

"Dù sao thì ý này cũng hay đấy.

Anh đang tìm cách đóng chai trích xuất vani.

Có lẽ thức uống trái cây vị cay cũng có tiềm năng đấy.

Nếu có đủ lợi nhuận thì anh sẽ xem lại."

"Em nghĩ sẽ thật tuyệt nếu em của anh làm việc trong Nhà Trắng," Annabelle nói khi cô ngồi xuống.

"Làm việc ở Nhà Trắng sao?" anh hỏi nghi ngờ.

"Đúng, làm việc!"

Gương mặt cô sáng lên.

"Khi em còn nhỏ, em có một cuốn sách ảnh về Washington và các biểu tượng tòa nhà ở đó, như là Điện Capitol và Nhà Trắng.

Cuốn sách kể về những người sáng lập và những năm đầy rủi ro để tạo dựng quốc gia.

Nó đánh động điều gì đó trong em.

Em nhớ là mình muốn lớn lên và làm gì đó thực sự vĩ đại.

Em sống ở Kansas nên lúc đó em nghĩ mình sẽ trồng được những vụ lúa mì để chất đầy bồ."

Cô vừa kể vừa cười, nhưng anh lại thích xem cách cách đầy lạc quan nơi cô.

"Còn bây giờ?" anh hỏi.

"Bây giờ em thực sự ở đây và hầu như thấy mấy tòa nhà này mỗi ngày.

Chúng thậm chí còn hoành tráng hơn khi nhìn ở ngoài so với nhìn trong sách.

Điều ấy càng khiến em tự hào hơn vì mình là người Mỹ."

Cô rất ngây thơ và ngờ nghệch một cách đáng yêu, nhưng đó là cái duyên của cô.

"Em có cơ hội xem tất cả các nơi có trong sách của em chưa?"

"Tất cả rồi, trừ đỉnh Vernon."

Anh có thể hồi tưởng lại.

"Không xa đâu.

Đỉnh Vernon hàng năm có tổ chức lễ kỉ niệm quốc khánh ngày Bốn tháng Bảy ở đó," anh nói.

"Buổi tối sẽ có đội kèn đồng và pháo hoa.

Anh sẽ rất vui nếu được dẫn em và chị em tới đó."

"Anh chiều bọn em chuyện này luôn à?"

Thậm chí anh còn mò kim dưới đáy biển lên cho cô được nữa nếu cô muốn.

"Anh rất vinh dự dành cả một ngày cho chị em nhà Larkin."

Cô ở gian bếp hàng giờ để thưởng thức đến giọt cuối cùng của món coctail trái cây cay, và đó là buổi chiều vui thú trong trí nhớ của anh.

Tán tỉnh một cô gái không dễ chút nào, phải vậy không?

Anh cố nén cái hồi chuông cảnh báo rung lên trong đầu, vì chắc chắn Annabelle đúng thực là Annabelle ngay lúc này.

Ít nhất thì anh cũng biết được rằng trong nhà mình có thứ gì thật tuyệt đang diễn ra.
 
Vua Gia Vị
Chín


Annabelle rất ngạc nhiên khi mới sáng thứ Hai đầu tuần, Tiến sĩ Norwood đã vời cô vào ngay văn phòng ông.

Cô vẫn chưa nói chuyện với ông ta kể từ ngày đưa cho ông ta cây lan hiếm của Windover Landing.

Không lấy được cây lan vani gốc, có vẻ như cô không chắc chắn được vị trí của mình tại đây, nhưng có vẻ Tiến sĩ Norwood đang tìm cho cô một cơ hội khác.

Thư kí của Tiến sĩ Norwood ngước lên khi Annabelle bước vào phòng chờ bên ngoài văn phòng giám đốc.

"Em tới rồi, tốt thật," Abernathy nói.

"Không cần ngồi đâu.

Có hai ông sĩ quan ở đây, họ muốn gặp em ngay và luôn đó."

Sĩ quan sao?

Trước khi Annabelle kịp tiêu hóa câu nói đó, cô thư ký đã nắm cánh cửa đóng kín của văn phòng Tiến sĩ Norwood rồi mở ra.

"Cô Larkin đây thưa ngài."

Annabelle được ra dấu đi vào, rất bất ngờ khi thấy hai người đàn ông mặc đồng phục quân đội đứng lên khi cô bước vào.

Tiến sĩ Norwood trông lo lắng khi ông ta giới thiệu cô với Tướng Molinaro đứng ở một góc phòng, gương mặt dữ tợn, gật đầu với cô.

Người còn lại là Tướng Cornell, có dáng dấp như vị cha già với nụ cười tốt bụng, rất dễ lầm với cái tước hiệu của ông ta.

Cả hai đều có vẻ không hợp tí nào khi đặt chân đến đây.

Cái dáng vẻ chỉn chu, nghiêm cẩn của quân đội không hợp với cái chốn đầy cây cối, hóa thạch và sách vở.

"Vui lòng đóng cửa lại," Tiến sĩ Norwood nói với cô thư kí, vì cô ta rất tò mò khi chỉ khép cửa rất chậm, vẫn để hé một khe hẹp.

Vị tướng đứng ở góc nói dịu dàng.

"Cô thư kí ấy thích nghe lén lắm à?"

Tiến sĩ Norwood trông có vẻ như bị xúc phạm.

"Cô Abernathy làm cho viện này đã ba mươi lăm năm rồi."

"Cô ta cũng thật biết trỏ mũi vào chuyện người khác đấy, nhưng đây là cuộc nói chuyện riêng tư mà," Tướng Molinaro nói khi ông bước ra khỏi chỗ đứng và tới căn phòng để đẩy cánh cửa mạnh ra.

"Cô Abernathy này, vui lòng đi ăn cơm trưa đi, ngay bây giờ."

"Nhưng giờ mới chín rưỡi sáng à," cô thư kí bỡ ngỡ.

"Vậy thì cứ đi dùng trà đi.

Dù sao thì cô cứ rời khỏi văn phòng này là được."

Annabelle cảm thấy khó chịu hơn khi thấy Abernathy với lấy túi xách, liếc nhìn vị tướng ấy một cái thật băng giá, rồi đóng sầm cửa lại khi đi ra khỏi khu vực tiếp tân.

Tướng Molinaro tiến ra và khóa cửa khu tiếp tân lại trước khi trở lại cái góc tường trong phòng Tiến sĩ Norwood.

"Hãy cứ ngồi xuống đi đã," tướng Cornell dịu dàng nói.

Cô không tin tưởng ông ta.

Cô không hiểu tại sao lại bị triệu vào đây, và cô nhìn Tiến sĩ Norwood để cố tìm nguyên do nào đó.

Vì ông tướng già dường như không hề chú ý đến mấy cây lan và chỉ nhìn vào cô chăm chú.

"Cảm ơn cô đến đây," Tiến sĩ Norwood nói sau khi cô ngồi vào một trong những chiếc ghế da cũ đối diện với bàn ông.

"Tôi không thể lờ đi được chuyện cô có quan hệ mật thiết với Gray Delacroix, cho dù anh ta không hề có cây lan vani quý mà chúng ta kỳ vọng."

Đó là tội sao?

"Đúng," cô thừa nhận.

"Chúng tôi là bạn."

"Bạn thế nào?"

ông tướng đứng trong góc hỏi.

"Tôi không nghĩ chuyện này liên quan đến kinh doanh đâu."

Có thể câu nói ấy nghe thật quê mùa nhưng những gã này không có quyền xen vô cuộc sống cá nhân của cô.

Tướng Cornell đưa bàn tay lên để xoa dịu cô.

"Thứ lỗi cho sự vô phép của chúng tôi," ông nói.

"Đây là chuyện quốc gia đại sự nên chúng tôi mới vậy.

Trước khi bắt đầu đề cập đến, tôi cần cô đảm bảo là cuộc nói chuyện sẽ không lọt ra khỏi bức tường này."

"Tôi không thể hứa với ông bất kỳ chuyện gì," cô nói.

"Tôi không hiểu ông đang yêu cầu tôi làm gì."

Tướng Cornell quen tay đốt một điếu tẩu, mùi khói thuốc ngọt ngào lan tỏa khắp phòng.

"Để tôi giải thích.

Chúng tôi để ý thấy rằng Gray Delacroix đang có vai trò quan trọng đối với chính phủ Mỹ."

Điều này không thể hiểu được.

"Anh ấy không hứng thú gì với Bộ Nông nghiệp cả, chắc chắn điều đó."

Tướng Cornell rít một hơi thuốc, mắt ánh lên vẻ khôi hài.

"Mấy gã nông dân và kẻ suốt ngày ngồi lựa đậu ở Bộ Nông nghiệp làm gì để khiến anh ta nổi giận được nào?"

"Anh ấy cho là chính phủ đang đẩy thông tin ra ngoài công chúng miễn phí nên phản đối.

Anh ấy rất bực chuyện đó, nhưng nó chẳng ảnh hưởng gì đến ai."

Vị tướng đứng trong góc nhà chồm tới trước.

"Sao cô lại nghĩ điều đó là vô hại chứ?

Hàng nghìn người Mỹ có thể ở trong tình trạng nguy hiểm chỉ bởi vì quan điểm đó của anh Delacroix."

"Bởi vì anh ấy không thích Bộ Nông nghiệp sao?" cô cảm thấy thật ngốc khi nói như vậy.

Tướng Cornell bỏ tẩu thuốc xuống và không mỉm cười nữa.

"Cô Larkin này, tôi cần yêu cầu cô giữ bí mật hoàn toàn.

Điều chúng tôi sắp nói có thể sẽ không được lọt ra khỏi phòng này và cô phải chịu trách nhiệm nếu tin này bị rò rỉ.

Nhất là nếu anh Delacroix biết được."

Cô gật đầu.

"Vậy có lẽ tôi nên ra khỏi phòng thôi."

Tiến sĩ Norwood tiến lại để chặn cái cửa.

"Đừng nóng vội thế," ông ta nói.

"Chúng tôi cần cô giúp.

Nếu cô hợp tác với chính phủ, tôi cam đoan vị trí công việc của cô ở đây sẽ được đảm bảo, tại Washington này.

Tướng Molinaro nói đúng.

Tôi rất sợ vấn đề này ảnh hưởng đến hàng ngàn người Mỹ và chúng tôi cần cô giúp."

Cô ngồi lại.

Liệu họ đang đùa với cô sao?

Một chuyên gia về cây cỏ như cô sao lại có thể cứu được người khác cơ chứ?

Ánh nhìn chằm chằm của tướng Cornell vào cô khiến cô không thoải mái và đột nhiên nơi đây thật lạnh lẽo.

"Bên cạnh việc anh ta chống đối Bộ Nông nghiệp thì cô có nghe anh Delacroix nói gì về chống đối chính phủ Mỹ không?" tướng Cornell hỏi.

"Thỉnh thoảng," cô thừa nhận.

Thực ra, anh nói rất nhiều, nói suốt từ thời thơ ấu khi mà đội quân Liên Hợp phá hủy ngôi nhà tổ tiên của anh.

Hai vị tướng liếc nhau một thoáng.

"Nói thêm đi."

"Không, khi nào các ông nói trước chuyện gì đang xảy ra," cô đáp.

"Cuộc nói chuyện này rất đáng ngờ."

"Công bằng thôi," tướng Cornell nói.

"Chúng tôi có lý do để tin rằng anh Delacroix đang dính líu đến một nhóm nổi loạn chống lại các vùng đất chiếm đóng của Mỹ ở Cuba.

Tháng trước, một tên cầm đầu đám nổi dậy bị bắt ở Havana và người ta đã khám xét nhà hắn.

Trong đống giấy tờ tìm thấy có địa chỉ nhà của anh Delacroix ở Alexandria, cũng như địa chỉ ở hạt Fairfax.

Tên cầm đầu đó nhận tiền từ tài khoản ngân hàng anh Delacroix ở Alexandria.

Mọi chứng cứ này khiến chúng tôi cho rằng hắn đang tài trợ tiền, thông tin và hỗ trợ cho đám nổi dậy Cuba."

Cô quá bất ngờ.

Không thể thế được.

"Tôi không tin," cô lắp bắp, nhưng khi cô nói, giọng nói có vẻ không chắc chắn là mấy.

Gray đã từng đề cập anh ấy cật lực phản đối chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ và anh ấy ghét tổng thống.

Liệu có thật anh ấy muốn gây hấn kẻ thù không?

"Delacroix từng nhiều năm sinh sống ở nước ngoài," tướng Cornell tiếp tục.

"Hắn không còn trung thành với Mỹ nữa.

Em hắn vừa mới vào Nhà Trắng làm việc và có thể cô ta cũng nằm trong kế hoạch ấy.

Chúng tôi đang giám sát điện tín gửi đến nhà phố ở Alexandria của hắn và rõ ràng là hắn có liên lạc với các thành viên của nhóm nổi loạn tại Cuba.

Gray Delacroix sống vô cùng ẩn dật nhưng hắn lại cho phép cô vào nhà mình vô điều kiện.

Chúng tôi cần cô tìm tên của những người liên lạc tại Cuba của hắn."

Trong khi cô ngồi choáng váng, không tin nổi vào tai mình thì tướng Cornell lặp lại họ đã theo dõi Gray và cô như thế nào, và chú ý đến mối quan hệ mới này ra sao.

Nên quân đội đã tiếp cận Tiến sĩ Norwood nhờ ông ấy giúp để đưa Annabelle điều tra việc này.

"Nếu cô giúp chúng tôi, cô sẽ được tưởng thưởng," Tiến sĩ Norwood nói.

"Thậm chí nếu cô không thành công, chúng tôi vẫn cần cô tìm trong thư viện, trong bàn giấy của hắn những cái tên nổi loạn.

Quân đội đã tài trợ cho công việc hiện thời của cô tại Viện Smithsonian rồi."

"Các ông nghĩ là tôi sẽ làm gián điệp để đổi lấy một công việc sao?"

Cô thét lên.

"Tại sao các ông đưa tôi ba mươi đồng bạc của Judas1 vậy?"

Tướng Molinaro bước ra khỏi chỗ đứng.

"Chúng tôi mong cô giúp bởi vì cô là người Mỹ trung thành.

Chúng tôi có hàng nghìn đội quân đóng ở Cuba, và thậm chí còn nhiều hơn nữa ở Philippines.

Điều quan trọng là cần thu thập những cái tên nổi loạn tại Cuba, là đối tượng kích động cho quân đội Mỹ phải rút quân.

Những yếu nhân gây tổn hại như Delacroix tựa như châm dầu vào lửa vậy."

Cô ngồi dính chặt vào ghế, chỉ có thể nghĩ, hay đúng hơn là chỉ thở được mà thôi.

Tay cô lạnh cứng, cô bấu chặt chúng với nhau để khỏi run.

"Tôi là nhà thực vật học," cô lập bập.

"Chuyên môn của tôi là lúa mạch và lúa mì.

Nếu thêm chút nữa thì tôi biết ít về cây kê.

Tôi không phải gián điệp."

"Tất cả những gì chúng tôi cần cô là vào trong phòng đọc của hắn và tìm trong danh bạ ở đó những cái tên Cuba mà thôi," tướng Molinaro nói.

"Và chuyện gì xảy ra nếu tôi không tìm thấy cái gì cả?"

Cả hai vị tướng cùng liếc nhìn nhau, sau đó vị tướng già hơn gửi đến cô một nụ cười cam đoan.

"Trong trường hợp đó, cô giúp xóa được một cái tên vô tội rồi.

Và cô cũng được đảm bảo một vị trí làm việc ở Viện Smithsonian miễn là cô thực hiện nhiệm vụ này thật tốt."

Tiến sĩ Norwood trông hốc hác khi ông chồm tới trước.

"Cháu tôi đã ở Cuba," ông nói.

"Nó giúp người dân xây lại hệ thống dẫn nước và tưới tiêu đã bị chiến tranh phá hủy trước đó.

Không ai muốn nổi loạn cả.

Có hàng nghìn mạng sống, cả người Mỹ lẫn người Cuba, đang treo đầu sợi tóc."

Cô quay đi chỗ khác để tránh cặp mắt chực trào nước mắt của ông ta.

Cô không phải người thích hợp để làm điều này.

Trái tim cô không đủ gian xảo để làm loại công việc như thế.

Ánh mắt cô chợt bắt gặp khung ảnh chụp Tiến sĩ Norwood và một chàng trai trẻ đang mặc đồng phục kỹ sư quân đội Mỹ.

Thật đau lòng khi nhìn đến gương mặt trẻ, điển trai ấy đang mỉm cười.

Gray rõ ràng là người sống rất riêng tư, nhưng anh đã mở lòng ra với cô.

Có vẻ như chính phủ muốn tìm người nào đó giống như vậy thôi chăng.

Có lẽ cần một lời giải thích vô tội nào đó cho tất cả chuyện này.

Gray có thể rất hung hăng trong thư từ kinh doanh với những chủ đồn điền Cuba mà những người ấy có thể dính dáng sao đó đến chuyện nổi loạn.

Điều này không có nghĩa là Gray liên quan đến các cuộc nổi loạn này; thậm chí cô có thể miễn tội cho anh.

Cô có lẽ miễn tội được cho anh, vì chắc chắn đây là một hiểu lầm kinh khủng.

Nhưng nếu Gray có tội thì sao, cần ngăn anh ấy lại.

Toàn bộ cơ thể cô như trĩu nặng khi cô quay lại đối diện với hai vị tướng.

"Nói tôi nên làm gì nào."

[1] là số tiền Judas, môn đệ Chúa Jesus, nhận để giao nộp Chúa.
 
Vua Gia Vị
Mười


Từ khi bố trí xong việc gửi Luke sang Cuba thì Gray luôn có cảm giác nghi ngờ.

Thật là điều lố bịch.

Cứ như thể anh gửi Luke vào những khu rừng nguyên sinh ở châu Á hay Bắc Cực băng giá vậy.

Anh gửi Luke sang Cuba để gặp vài chủ đồn điền và cuối cùng là cần Luke đóng góp nhiều công sức hơn cho gia đình.

Caroline không giấu vẻ bực dọc khi cô cùng Gray đến cảng tàu để tiễn Luke.

Không khí sáng sớm còn ẩm ướt khi họ cuốc bộ đến cảng, nhưng giọng Caroline hầu như không có dấu hiệu của mới ngủ dậy.

"Luke từng làm nhà báo rất tốt đấy," cô em nói.

"Nếu anh có thể ngẩng đầu lên mớ sổ sách tài chính để đọc những gì anh Luke viết thì chắc anh sẽ ấn tượng đấy."

"Và rồi cậu ta có được trả tiền nhuận bút không?"

"Không phải vì tiền.

Anh ấy viết vì đam mê mà."

Gray không nói.

Caroline mặc một trong những chiếc đầm mới, một chiếc đầm màu xanh hoàng gia mà trông qua khi mặc vào chắc hẳn rất khó thở.

Thu nhập trong một năm mà cô kiếm được khi làm thư ký xã hội cho phu nhân McKinley còn không trả nổi một nửa giá trị của bộ sưu tập đầm mà cô mua, nên Caroline không có tư cách nào giảng dạy anh về tiền.

"Anh không muốn cãi cọ về Luke," anh nói.

"Đây là lần cuối mà ba chúng ta ở với nhau.

Chúng ta có thể cùng nhau uống một tách trà mà không châm chọc nhau được không?"

Caroline nhướn mày.

"Hoàn toàn tùy vào anh cả thôi.

Luke và em không bao giờ châm chọc."

Câu nói ấy quả đáng lo, bởi có lẽ là đúng.

Luke và Caroline tự nhiên là hai con người rất sôi nổi, vui vẻ; còn anh lại thường mặt mày bí xị.

Sáng ấy trời gió, sóng nước vỗ vào bờ tung bọt trắng và mấy con mòng biển bay lượn trên bầu trời.

Anh lấy tay che mắt, nhìn về phía cầu tàu hòng tìm Luke.

Vài thủy thủ đang buộc các gói hàng, công nhân bốc vác đang điều khiển cần trục để chuyển các thùng hàng lên tàu và hành khách đang chen chúc dưới bến để chờ lên tàu.

Không thấy Luke đâu cả.

Gray chuẩn bị bốc hỏa.

Cách một giờ trước, anh lôi Luke ra khỏi giường trước khi mặt trời mọc và bảo cậu ta đi trước để đăng ký xuất khẩu một kiện hàng gia vị, nhưng có khoảng nửa tá quán rượu dọc theo cảng biển, có lẽ Luke đang ở một trong những quán rượu đó chăng...

"À, anh ấy kia rồi," Caroline cường và chạy bổ đến cầu tàu.

Rõ rành rành Luke đang ngồi trên cuộn dây thừng, đang chơi đánh bài với một đám nhóc.

Gray rất ngạc nhiên khi thấy Philip Ransom, người bạn cùng phòng ở Học viện Hải quân của Luke, cũng đứng gần đó xem chơi bài.

Luke thấy Gray và Caroline tiến đến nhưng cậu lờ như không thấy họ khi cậu tung xúc xắc lên và vờ lóng ngóng nặn bài, mặt xị xuống vì bài xấu.

Cả hai cậu bé nhảy cẫng lên vui sướng còn Luke móc trong túi ra vài tờ bạc.

"Các cậu móc sạch túi anh rồi," Luke nói với nụ cười nhăn nhó trước khi cậu và Philip bắt đầu quay sang chào hai kẻ mới tới.

"Chào buổi sáng Gray," Luke nói.

"Anh cho em vài bạc lẻ đi?

Em mới thua sạch năm đô la cho Eddie và Dan rồi."

"Chưa đến tám giờ sáng mà cậu đã mất tiêu năm đô la rồi à?"

Gray không thể che giấu được sự bực tức trong giọng nói của mình.

"Nhìn chúng đi, Gray," Luke nói, giọng mất bình tĩnh.

Gray không cần nhìn; anh thấy chúng đi chân đất và quần áo bẩn thỉu.

Hai đứa trẻ này lẽ ra nên đi học hay giúp cha mẹ chúng, không phải lang thang nơi bến tàu thế này.

"Em có cái này nè," Caroline nói khi cô mở cái túi xách của cô.

Luke cười khi cậu nhoài người tới xem trong túi xách có gì.

"Em có nhiều tiền lắm.

Em chỉ muốn xem Ngài Mặt Trời sẽ nói thế nào."

Gray bớt giận.

Luke luôn biết cách làm thế nào để làm nguôi anh, nhất là khi đánh thua bài với hai đứa trẻ lang thang thì không phải là điều gì đó tệ hại.

Anh gật đầu tế nhị chào trung úy Ransom, sau đó kéo Luke ra một bên.

"Chúng ta dạo bộ chút nào," anh nói thân mật.

Anh cần nói cho Luke vài thông tin quan trọng và không muốn Caroline hay bạn cũ của Luke xen vào.

Bước chân họ kêu lộp cộp khi họ cùng nhau đi bộ tới khu nhà hải quan.

"Luke này, anh muốn em quên đi chuyện của bốn năm về trước.

Đó là tai nạn không may mắn mà thôi, đừng để nó bám lấy em suốt đời chứ."

"Anh nói thì dễ lắm."

"Có lẽ vậy, nhưng đó là sự thật.

Cả cha và anh không trách em về chuyện xảy ra với đám nhà Magruder."

Luke nhai cây tăm xỉa răng khi cậu nhìn ra xa xăm.

"Em thực rất ghét Clyde Magruder," cậu nói.

"Em nghe biết hắn làm cho cô vú em có bầu, rồi tố cáo cổ ăn cắp để cổ phải bỏ trốn trước khi vợ hắn phát hiện ra.

Hắn thật kinh tởm."

Điều đó không cần nói.

Nhà Magruder là đối thủ lớn nhất và giàu có nhất trong ngành công nghiệp thực phẩm.

Clyde có thể bỏ tiền ra cho cô vú em nghỉ được, nhưng một cô hầu có bầu có thể là vấn đề đối với chiến dịch đi vào Quốc hội của hắn vào tháng Mười Một này.

Mọi thành viên nhà Magruder đều bủn xỉn, toàn làm ăn kiểu hối lộ nhưng Clyde được xem là nghệ sĩ với cái duyên lươn lẹo bản năng nhất trong nhà ấy.

"Đừng lo về Clyde Magruder," Gray nói.

"Chỉ việc đến Cuba và chốt các hợp đồng kia là được."

"Em luôn lo ngại về nhà Magruder," Luke cắn răng nói, gương mặt cậu thoáng lộ vẻ ưu sầu.

Cậu nhỏ giọng hơn.

"Xem này, em nghĩ em có thể tìm cách phủ đầu được bọn họ đấy."

"Còn về mấy hợp đồng ở Cuba thì sao?

Có thể đó là điểm khởi đầu đấy."

Luke vất cây tăm xỉa ra đi và đứng thẳng lên.

"Vâng, em có thể làm được, nhưng em vẫn có kế hoạch riêng dành cho nhà Magruder.

Em sẽ nói cho anh nghe khi em trở về."

Cậu liếc nhìn Caroline và Philip Ransom ở phía sau, cả hai đang rải thức ăn cho bầy vịt.

"Có thể anh đúng khi anh cho là em là thằng vụng về nhưng anh hoàn toàn sai khi nói về Caroline đó.

Anh có biết em ấy phải đối chọi những gì bên trong Nhà Trắng không, bởi vì anh có bao giờ hỏi em ấy về công việc đâu, anh chỉ mãi bới móc chuyện tổng thống mà thôi."

Gray gật đầu nhẹ khi nghe vậy trong lúc họ đi đến một trong những quán rượu để ăn sáng tiễn Luke lên đường.

Cả Caroline và Luke đều chọc ghẹo Philip về công việc chán ngắt là lên danh mục bản đồ khi anh ta làm trong tầng hầm của Phòng Tham chiến.

"Lúc anh đang lọ mọ với mớ bản đồ ấy thì chúng em đang đi cứu người đấy," Caroline cam đoan với Philip.

"Anh bắt đầu trông nhợt nhạt rồi kìa, phải vậy không Luke?

Chúng ta phải tìm cách gì giải phóng anh ấy ra khỏi cái động đó thôi."

Philip không sao đấu khẩu được với Caroline, chỉ biết ngồi thừ, đỏ mặt lên khi bị cô chọc ghẹo.

"Đó là phòng vẽ bản đồ đó.

Nhiệm vụ của anh là ở dưới cái lỗ dưới ấy."

"Trong khi đó tớ thì đang ở Cuba thưởng thức rượu rum, xì gà và mặt trời nhiệt đới," Luke hùa theo.

"Tớ nghĩ công việc của tớ đã hơn."

Họ tiễn Luke đến bến tàu và nói lời tạm biệt cuối cùng.

Chiếc đầm bó sát người Caroline không ngăn được cô nhảy lên ôm Luke vào lòng.

Cậu nâng cô em lên khỏi mặt đất rồi xoay một vòng, sau đó ôm chầm lấy người bạn cũ cùng phòng thật chặt.

Gray chỉ mỉm cười và đưa tay ra bắt, nhưng Luke gạt cánh tay ấy ra và cũng ôm chầm lấy anh.

Gray cũng ôm chào lại.

Philip cần trở về công việc tẻ nhạt của cậu ta ở văn phòng địa đồ, còn Gray và Caroline vẫn ở đó vẫy tay chào Luke khi chiếc tàu rời bến.

Cho dù chiếc tàu hơi nước có hai cánh buồm lớn, kéo hồi còi dài để xuất bến nhưng anh và Caroline vẫn ở đó cho đến khi chiếc tàu rời xa tận chân trời mới thôi.

Những lời chia tay của Luke cứ bám lấy tâm trí Gray.

Đúng thực là công việc mới của Caroline khiến anh nghĩ ngợi nhiều về chính quyền McKinley hơn chính công việc thực sự của cô em, và anh cần làm việc tốt hơn nữa.

Một khi chiếc tàu đã ra ngoài khơi, anh cùng đi với cô em gái trở lại xe và đi đưa cô về Nhà Trắng.

"Hôm nay lịch của em là gì?" anh hỏi khi họ rẽ sang đường K.

"Có một nhóm phụ nữ từ bang Indiana đến thăm và yêu cầu phu nhân phê chuẩn cho một trường trẻ mồ côi.

Sau đó em sẽ chủ trì tiệc trà cho họ, vì bà McKinley không quen làm những bổn phận như thế.

Sau tiệc trà, em sẽ mở và lọc thư từ của bà.

Tổng thống rất che chở cho vợ ông ấy và nhờ em kiểm tra mọi thư từ của vợ, đừng để bà đọc lá thư nào gây buồn phiền.

Sau đó bà ấy và em sẽ thăm Bệnh viện Hải quân ở Đường số Chín để bà ta có thể chào đón quân nhân mới trở về từ Philippines."

Thông thường, nói tới đây là Gray sẽ cắt ngang vì chuyện người Mỹ xâm lược Philippines nhưng anh vẫn im lặng, vì viếng thăm bệnh viện là chuyện làm đáng ngưỡng mộ.

"Hôm nay cũng cần phải chốt vị trí chỗ ngồi cho tiệc của Tòa án Tối cao," cô nói tiếp.

"Chúng em cũng cần chốt kế hoạch đi Baltimore để phu nhân có thể thăm nhà máy sản xuất dây viền ren.

Vì sức khỏe không mấy tốt của phu nhân nên chuyến đi nào như vậy cũng cần lên kế hoạch thật chu đáo."

Khi Caroline tiếp tục nói kế hoạch trong ngày của mình, Gray như xác định được rằng Luke đúng, còn anh thì sai.

Anh dừng chiếc xe ngựa phía trước Nhà Trắng và Caroline bước xuống theo phong cách rất nhiều năng lượng.

Anh tung sợi cương ngựa quanh cột buộc dây để xuống nói chuyện thêm với cô trước khi cô đi quá xa.

Anh mở miệng nói nhưng đột nhiên bị khựng lại.

Anh không giỏi bép xép và khi nói đến Caroline, anh càng bị đơ lưỡi.

Anh nắm lấy tay cô em và nhìn vào mắt cô.

"Cha sẽ rất tự hào về em đấy," anh cố để không bị nói lắp.

"Anh cũng vậy."

Ánh mắt xanh biếc của cô mở to, và trông cô rõ là đang rất cảm động.

"Cảm ơn anh vì điều này," cô nói.

"Em biết anh ghét chính trị, và em biết đây không phải là công việc mà anh muốn em làm..."

"Suỵt," anh nói.

"Em đang làm tốt.

Và em tự mình nuôi được bản thân.

Đó là điều mà anh yêu cầu."

Cô hôn cằm anh, sau đó quay lưng đi bộ về cửa bắc tòa nhà.

Khi đi trở lại chiếc xe ngựa, anh thấy bầu trời trên đầu mình có màu xanh thăm thẳm.

"Cảm ơn," anh thì thầm.

Anh chưa bao giờ là người mộ đạo, nhưng Chúa đã ban cho anh được sinh ra trong một gia đình mạnh mẽ.

Luke và Caroline đang trên bước đường trở thành con người thành công, đáng ngưỡng mộ, và đây là lần đầu tiên trong cả thập kỉ, Gray thực sự tin rằng mọi thứ đang đi đúng hướng.
 
Vua Gia Vị
Mười một


Annabelle đánh vật để nghĩ cách làm thế nào vào được nhà Gray, và cuối cùng cô đơn giản là sử dụng cách thương thuyết như cách lần đầu họ gặp: bằng cách viết thư.

Gray thân mến,

Công việc của em ở Viện Smithsonian trong tuần tới khá nhàn vì phải đợi chuyến hàng rêu tảo từ Úc.

Nên trong khi chờ hít thở mùi rong rêu thì em hy vọng có thể tận dụng thời gian rảnh bất ngờ này để khám phá thêm thư viện thảo mộc và gia vị của anh.

Em có thể ghé không?

Annabelle

Cô đang ngồi trong phòng làm việc, cẩn thận trút hết hạt giống và cánh hoa của mẫu cây khuynh diệp Úc nào đó, bỗng người đưa thư đem vào cho cô lá thư hồi đáp của Gray.

Annabelle mến,

Hãy đến nhà máy đóng hộp.

Anh muốn cho em thấy anh đang làm gì.

Đến nhanh đi, không muộn được đâu.

Gray

P/S: ngoài lề chuyện khám phá của em, anh cần thú nhận mong ước đơn giản nhưng đáng xấu hổ khác của anh là muốn gặp lại em.

Anh nhớ nụ cười của em.

Bức thư hồi đáp ngọt ngào này đánh động cô.

Mọi thứ về những động cơ dối trá của cô có gì đó sai sai, cô cần dừng ngay ý nghĩ về chuyện gián điệp này.

Nhiệm vụ của cô là giải thoát cho Gray.

Cô không tin được anh là kẻ phản bội nhưng chính quyền lại tin như vậy.

Địa chỉ nhà máy đóng hộp của anh nằm ở cuối thư.

Hai sĩ quan đã bảo cô rằng nơi để tìm chứng cứ có lẽ tốt nhất là ở trong nhà phố của Gray, nhưng làm sao mà cô có thể từ chối lời mời này được.

Anh ấy rất háo hức muốn chia sẻ công việc của anh với cô kia mà.

Bụng quặn đau, cô co mình trên ghế.

Cô hít thở một hơi dài và cầu xin Chúa soi sáng.

Một con người mẫu mực có một nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc và hàng nghìn con người.

Làm sao cô dám để cho niềm đam mê cá nhân đang trỗi dậy trong lòng xen vào được?

Điều này khiến cô mệt mỏi nhưng biết phải làm gì đây.

"Ngài Delacroix muốn biết liệu chị có thể đến được không," cậu bé đưa thư nói.

"Nếu chị không đến được thì em có thêm một lá thư khác chuyển cho chị nè."

"Cô không đi được," Bittles đứng ở phía kia gian phòng nói.

"Tôi cần cô phân loại mấy cái lá giống này trong ngày hôm nay.

Tôi dị ứng với dầu khuynh diệp nên không đụng được chúng."

Nhưng mọi thứ Annabelle có thể thấy là rìa lá thư thứ hai lộ ra trong túi áo của cậu bé, và cô không cưỡng lại được trí tò mò.

"Để chị xem nốt lá thư kia nào," cô nói và cậu bé đưa lá thư kia ra.

Annabelle mến,

Bỏ việc thật là chuyện là không đúng nhưng Viện Smithsonian cũng sẽ ở đó nếu em cứ bỏ đi một buổi chiều làm việc thôi mà.

Còn thứ mà anh muốn cho em xem thì không như vậy.

Gray

Bây giờ thì cô phải chết vì tò mò thôi, còn Tiến sĩ Norwood đã cấp phép cho cô toàn thời gian khi có việc liên quan đến Gray Delacroix.

Cô đứng dậy và hốt những hạt giống còn ở ngoài vào bao, sau đó đặt chúng trở lại chiếc hộp đựng những mẫu khuynh diệp.

"Tôi đi công việc cho Tiến sĩ Norwood đây," cô nói với Bittles.

"Tôi không biết mình sẽ về khi nào nữa."

Tâm trí cô rất căng thẳng trên đường đến nhà máy.

Mọi thứ dường như sai rồi.

Cô không muốn là một phụ nữ dũng cảm hay anh hùng chiến tranh gì cả, mà điều cô muốn là luôn cố hướng cuộc sống của mình theo cách vinh danh Chúa Jesus qua những hành động tốt, nhỏ mỗi ngày.

Qua từng khoảnh khắc, từng viên gạch, những chọn lựa nhỏ nhoi ấy từ từ xây nên một cuộc sống trọn vẹn.

Làm sao mà cô có thể đạt đến được viễn cảnh ấy nếu phản bội lại niềm tin tưởng của Gray cơ chứ?

Và cuối cuộc đời, cô muốn biết mình đã làm gì khác biệt cho một cuộc sống tốt đẹp hơn, và điều này nghĩa là cô không thể ngoảnh mặt lại với chuyện phản bội hay phá hoại đang gieo mầm ngay trong trí óc mình.

Cô không thể nhìn lại được bởi vì cô đang mê mệt một người đàn ông.

Mọi thứ cô có thể làm bây giờ là cần có chọn lựa tốt nhất và cầu nguyện.

Càng sớm bắt tay vào thứ công việc kinh tởm này thì cô càng có thể giải phóng Gray và tiến tới cuộc sống mình mong ước.

Gray ngồi ở bàn làm việc tại nhà máy, tay ôm trán, xoa xoa cho bớt nhức đầu.

Anh nên biết mình đang bị bệnh ngay khi thức dậy sáng hôm nay, nhưng lúc ấy anh nghĩ đó chỉ là nhức đầu đơn giản mà thôi khi anh đánh ngựa đi khoảng mười phút để đến nhà máy gia vị.

Đây không phải là cơn nhức đầu thông thường, mà là sốt rét tái phát, cũng may mắn là đến giờ cơn nhức đầu không quá ghê gớm.

Anh đã dùng một liều kí ninh và một vốc iodine nên anh nghĩ có thể cầm cự được đến hết ngày.

Anh ngồi thẳng dậy và nhìn ra cửa sổ phòng làm việc, hướng về khu nhà máy.

Anh muốn nhiều hơn là "cầm cự đến hết ngày."

Anh muốn cho Annabelle xem cơ sở sản xuất hoành tráng, có lẽ chỉ có người phụ nữ này mới yêu thích cùng lúc nhiều thứ gồm khoa học, thực vật học và ẩm thực.

Anh muốn cho cô thấy kỹ thuật trích xuất vani, thậm chí anh biết cô có thể đem thông tin này thẳng đến Viện Smithsonian.

Anh không quan tâm.

Anh chỉ muốn được gần bên cô và cảm nhận những gì cô mang tới.

Anh lội bộ đến chỗ sản xuất, bước từng bước cẩn thận để không đánh thức cơn đau đầu.

Mùi vị thảo mộc khắp không gian nhà máy.

Công nhân ở mấy cái bàn gần đó đang dán nhãn chai cho lọ nguyệt quế hồng và húng tây, trong khi mấy cái lò sấy ở góc xa nhà máy đang chuẩn bị cho mẻ hạt thì là Ai Cập.

"Jacob, cậu quét cái sàn ở đây được không?" anh bảo một trong những nhân viên.

Jacob bỏ khay chứa mấy lọ húng tây xuống.

"Chỉ là bụi thảo mộc thôi, không có dơ đâu."

"Trông nhớp nháp thế nào ấy.

Chúng ta sắp tiếp khách rồi nên cậu dọn lại một chút đi."

Jacob gật đầu và đi tìm cây chổi.

Thông thường, phải đến cuối ngày họ mới quét dọn, nhưng Annabelle cần thấy nhà máy ở tình trạng tốt nhất.

Nhà máy hoàn toàn sạch sẽ, với hàng chục cái bàn có phủ tấm kim loại mỏng để đảm bảo tình trạng gần như vô trùng.

Nền xi măng có quét sơn được quét dọn và xịt khử trùng mỗi ngày.

Các cửa sổ lớn mở ra đón nhiều ánh sáng trời, là điều rất tốt bởi vì nền nhà máy rộng cả mẫu nên nó sẽ rất u tối nếu không tận dụng ánh sáng trời.

Jacob vừa quét dọn xong thì có một chiếc xe ngựa trờ tới bên ngoài.

Gray cười và vội chạy ra cửa.

Cơn đau đầu như sống dậy nên buộc anh phải đi chậm lại, nhưng anh vẫn mỉm cười như thằng hề khi giúp Annabelle xuống xe ngựa.

"Trông em thật đẹp," anh nói.

Một lọn tóc rối của cô bay vắt qua gương mặt, nhưng chính nụ cười của cô - cái nụ cười ấy - đã hút lấy hồn anh.

Nó làm sáng bừng gương mặt cô và anh chỉ thể đứng đó mà chiêm ngưỡng, mà ngắm suốt cả ngày cũng được.

"Em không thể chờ để xem nhà máy của anh được," cô nói.

"Đây là nơi mọi gia vị nổi tiếng của nhà Delacroix được đóng hộp sao?"

"Ngay đây đấy," anh nói, rồi nắm tay cô dẫn cô đi vào nhà máy.

Anh yêu thích cái cách mà cô trầm trồ mấy cái máy nghiền gia vị bằng thép không gỉ, vì chúng cao hơn ba mét rưỡi, có trục nghiền tự động sau khi đưa nguyên liệu vào từ cái phễu bên trên.

Anh dừng lại ở từng cái máy, cho người vận hành giải thích những tính năng độc nhất của từng loại máy.

Vài cái máy được tùy chỉnh để nghiền các loại cây cỏ thô cứng, còn số khác được chỉnh riêng cho nghiền hạt.

Có máy nghiền dùng búa xoay để tán các gia vị khô như quế, rau mùi, đinh hương và tiêu Jamaica.

Những cỗ máy này cho ra kích thước hạt chính xác theo từng loại gia vị, rất đều và đẹp, còn những hạt có độ dầu cao như nhục đậu khấu lại cần xử lý bằng máy cán.

Annabelle luôn biết cách hỏi đúng câu hỏi, nhưng tiếng ồn từ máy nghiền bằng búa khiến cơn đau đầu của Gray lên đến đỉnh điểm.

Lưng anh bắt đầu lấm tấm mồ hôi và anh không chắc mồ hôi đó là do mấy cái máy sấy hay là do anh bị sốt mà ra.

Lẽ ra sáng nay anh nên tăng liều iodine gấp đôi.

"Để anh cho em xem làm vani," anh nói, ám chỉ đến tiếng động ầm ầm phía bên kia.

"Anh làm vani ở một tòa nhà riêng, đằng sau này."

Không gian toàn tiếng ồn và nóng.

"Anh dành trọn một tòa nhà để làm vani sao?" cô hỏi.

Anh gật đầu.

"Vani rất tinh tế.

Nó không thể tiếp xúc nhiệt một khi bắt đầu tiến hành xử lí.

Sáng nay, bọn anh chỉ thêm vào cánh hoa thôi, nên em có thể xem được một chút giai đoạn đầu trích xuất vani."

Anh thở phào khi họ đi khỏi nhà máy chính và tiến tới nhà gạch phía sau.

Cơ sở này là dự án cuối cùng của anh và cha mình cùng nhau thực hiện.

Đây là công trình tốt nhất, cả về mặt khoa học lẫn thương mại.

Nhìn bên ngoài, nó trông như một tòa nhà toàn làm bằng gạch trơn, nhưng khi bước vào, một cặp thùng to kềnh bằng kim loại bóng loáng, dung tích gần hai nghìn lít mỗi thùng đập ngay vào mắt.

Bên trong không có ai, vì một khi tiến hành quy trình trích xuất thì việc chưng cất vani không cần con người can thiệp.

Anh liếc nhìn Annabelle để xem cô phản ứng thế nào, nhưng mắt cô nhắm chặt mắt lại và nhìn như đang phê thuốc.

Tay cô giữ lấy lồng ngực và mũi thì hít thở thật sâu.

"Em nghĩ ngay bây giờ em có thể chết trong hạnh phúc," cô nói.

Anh đã quen với mùi hương này nhưng lại thích xem cái cách mà Annabelle biểu lộ cảm xúc lần đầu tiên khi tận hưởng hương vị vani.

Mùi vị rất ngọt ngào, lôi cuốn, vừa có vị thoảng của hương hoa, vị ngòn ngọt và cả mùi sữa thoang thoảng.

Đây có lẽ là mùi hương quyến rũ nhất thế giới lúc này.

"Bọn anh đã phát triển được quy trình trích xuất lạnh," anh giải thích.

"Hầu hết trích xuất vani từ trước nay đều làm bằng cách đun nóng cánh hoa, nghĩa là chỉ mất khoảng bốn đến năm ngày.

Nhưng vani là tập mùi hương phức tạp, nên nhiệt sẽ khiến mất đi phần lớn mùi hương ấy, chỉ còn lại một mùi đơn lẻ mà thôi.

Nên tiến trình trích xuất lạnh có thể mất cả tháng nhưng em có thể ngửi và nếm được sự khác biệt."

Trên bàn gần đó là một thùng nhỏ đựng mụn vani.

Chúng được nhập từ Madagascar ở dạng khô, trông có màu nâu, nhăn nheo và có chút dầu.

Anh dùng lưỡi dao gọt một mụn tới lõi, sau đó dùng con dao trét bơ để lấy hạt bên trong ra.

"Đưa tay đây nào," anh nói, sau đó trét một ít hạt nhỏ lên đầu ngón tay cô.

Cô rất hứng khởi khi chạm, ngửi và dây dây lấy ít hạt dầu đó.

"Em nếm được không?"

"Thử xem nào," anh nói vẻ rất tự hào.

"Những hạt này chỉ là một chút hương vị thôi.

Anh sẽ cho em thấy bọn anh chuẩn bị cả mẻ như thế nào."

Anh cắt bỏ phần vỏ của cánh vani thành những miếng nho nhỏ, sau đó đặt chúng lên chỗ trét hạt.

"Bọn anh chuẩn bị vài kí cánh vani giống vậy.

Sau đó lấy hạt ra, nạo vỏ cánh hoa rồi bỏ chúng lên màng lưới.

Bọn anh dẫn nước lạnh và cồn để rưới lên hỗn hợp đó.

Bước này nằm ở mấy cái bồn phía sau em kìa.

Có một cái máy bơm đẩy chất lỏng xuyên qua hỗn hợp ấy, dần dần nó sẽ hấp thụ được mùi hương."

"Nghe sao giống cái máy pha cà phê quá vậy."

Anh mỉm cười.

"Chính xác thì đó là cái máy pha cà phê đấy, nhưng thay vì nước nóng thì là nước lạnh.

Nó sẽ nhanh ra hơn nếu đun nước lên, nhưng nóng quá sẽ khiến trích xuất không còn đậm vị nữa."

"Em cá là anh bỏ cả tâm huyết vào nó."

"Nó là thứ tốt nhất rồi.

Dĩ nhiên anh bỏ cả tâm huyết vào nó đấy."

"Anh có viết quy trình này ra giấy không?"

Cơn đau đầu của anh bắt đầu bổ xuống.

"Không.

Và nếu có, anh sẽ không đưa nó cho em xem đâu."

"Anh không cần phải quá cộc như vậy chứ," cô nói.

"Em chỉ tò mò thôi mà."

Nhiều người thích làm vội, làm tắt.

Đun nóng cánh hoa lan vani là một trong những cách để giảm chi phí, và dĩ nhiên nhà Magruder tránh làm mấy thứ nhỏ nhặt nhưng mất thời gian liên quan đến cánh vani bằng cách sử dụng hóa chất.

Nghĩ về cách mà nhà Magruder sản xuất khiến đầu anh thêm nhức, và anh loại bỏ ngay ý nghĩ ấy trong đầu.

"Em có thể xem phần còn lại của nhà máy không?"

Annabelle hỏi.

Thật là câu hỏi lạ lùng.

Chưng cất vani là vận hành duy nhất mà anh có.

Anh muốn cho cô xem quy trình này vì anh muốn chứng tỏ dấu hiệu tin tưởng của anh nơi cô, nhưng cô có vẻ không hoàn toàn hứng thú.

Thay vào đó, cô muốn nhìn ra ngoài cửa sổ để xem nhà máy chính và các lán cất đồ đạc.

"Em đã xem quy trình đóng chai gia vị rồi, không còn gì nhiều để xem nữa đâu."

"Nhưng còn những phòng ở gần cổng nhà máy.

Và còn mấy cái lán nữa.

Ở đó có gì vậy?"

"Theo anh."

Anh thúc cô ra ngoài, hướng đến cái lán đầu tiên, đẩy cánh cửa trượt mở ra.

"Xe đẩy," anh nói ngắn gọn.

Anh kéo cánh cửa đóng lại và đi tiếp, mở tiếp cách cửa kép để cô có thể hài lòng hơn, bởi vì trích xuất vani lạnh rõ ràng không làm cô hứng thú.

"Đồ đạc, đồ lau chùi và một chiếc máy nghiền đang chờ sửa chữa.

Nào, chúng ta cùng xem hết khu nhà máy chính nào."

"Em xin lỗi.

Em không có ý thô lỗ với anh như vậy."

Anh không dừng bước.

"Cứ đi đi nào.

Em muốn xem mọi thứ, nên anh sẽ cho em xem."

Anh lau trán bằng chiếc khăn tay.

Hôm nay trời nóng, nhưng chiếc khăn tay lau mồ hôi này không liên quan gì đến thời tiết cả.

Mọi triệu chứng của cơn sốt rét bắt đầu trỗi lên - nào đau cơ, nhức đầu như búa bổ, và bây giờ lỗ tai lùng bùng khiến anh khó nghe được gì.

Anh đi nhanh, sải bước lên trước Annabelle để anh có thể đến ngay văn phòng mình.

Cô lật đật đi theo anh nhưng vẫn không theo kịp.

Lần thứ hai trong ngày anh vào văn phòng của mình, và lần này anh với ngay lấy lọ iodine và nhanh chóng tợp một vốc, nhăn một chút vị cái vị kim loại khi anh cố nuốt chúng xuống cổ họng.

Cơn đau như chớm quay lại nhưng Gray muốn dằn nó xuống, giữ hơi thở cho đến khi cơn nôn ọe qua đi.

Lọ thuốc vẫn nằm trong tay anh, khi đó Annabelle bước vào.

Anh luồn ngay lọ thuốc vào ngăn bàn và đóng lại, nhăn nhó với tiếng động ấy.

Cô nói gì đó nhưng anh không hiểu.

Anh cố đứng thẳng dậy.

Không phải lỗi tại cô mà anh bị bệnh hay vì cô không ấn tượng với quy trình trích xuất vani lạnh của anh.

Anh buộc mình cần bình tĩnh lại để đối mặt lại với cô.

"Anh không nghe em nói gì.

Em lặp lại được không?"

"Là sốt rét à?" cô hỏi.

Anh chỉ có thể nghe loáng thoáng lời cô vì tai anh vẫn ong ong.

Anh gật đầu.

"Anh xin lỗi, nó bị lại nhanh quá."

Anh ngồi vào ghế, tự hỏi liệu ngày hôm nay te tua chóng vánh thế sao, nhưng rõ ràng tất cả lỗi là do anh cả.

Anh ra hiệu chiếc ghế trước mặt mình.

"Em ngồi đi."

Cô chần chừ, là điều hơi lạ đối với một Annabelle không biết sợ hãi là gì.

Anh cố mỉm cười và nói giọng ngọt ngào.

"Anh hứa sẽ không nhai đầu em đâu."

Cô ngồi xuống nhưng mặt cô vẫn rất quan tâm và cẩn trọng.

"Anh bị nhiễm sốt rét hồi ở Ceylon.

Anh luôn biết rằng mình sẽ phải sống cuộc đời còn lại chung với nó, nhưng anh không thể biết được khi nào nó tái phát.

Anh cố tìm cách chữa nhưng ít nhất là có thứ gì đó có thể giúp anh chịu đựng được những triệu chứng này."

Anh mở ngắn kéo bàn và lấy ra lọ iodine, đặt lên bàn trước mặt cô.

Sau đó là lọ kí ninh.

Tiếp đến nữa là các lọ thuốc cinchonidine, cỏ thơm feverfew và rễ nữ lang.

Anh đã thử qua hết nhưng chỉ giảm đau được chút ít.

"Anh tìm thuốc chữa suốt mấy năm qua nhưng từ khi anh gặp em, công việc tìm kiếm này còn quan trọng hơn nữa.

Cơn đau là có thực và nó rất tệ, nhất là nó cứ chực trở lại hoài, nên anh đành phải xin lỗi em trước vì điều đó."

Anh mất hết năng lượng, nhưng anh ngước mắt nhìn cô và nói thẳng đáy lòng.

"Annabelle, anh xin lỗi."

Ánh mắt cô buồn bã khi cầm lọ iodine lên.

"Có thiệt là anh uống thứ này à?" cô hỏi, giọng hoảng hốt.

"Anh không muốn chút nào," anh nói khô khốc.

"Vị nó rất tởm, khiến anh muốn nôn ra ấy, còn cái tiếng ong ong trong tai lại quá lớn nên anh không thể nghe được em nói gì.

Nhưng Annabelle này... anh cần phải khỏe lại.

Anh biết có một thuyền trưởng nào đó uống iodine và ông ta cam đoan rằng uống thứ ấy sẽ có ích."

"Anh có nghe bác sĩ nào nói vậy chưa?"

Anh không thể không cười, mà cười cũng làm đầu anh đau.

"Chưa," anh thừa nhận.

"Bác sĩ của anh còn dặn không được uống nữa."

"Nhưng anh vẫn uống."

Anh thở dài.

Annabelle rất khỏe khoắn và sống động; cô có lẽ không tưởng tượng được cơn đau có thể khiến một người có thể làm bất kỳ thứ gì.

Đầu anh nhức tệ đến nỗi mắt mờ đi, còn hai tai cứ ong ong không thể ngủ được về đêm.

"Anh không nghĩ nó giúp được gì nhiều nhưng cũng phải thử.

Annabelle... anh không muốn mất em vì mấy thứ này."

Có lý do gì đó khiến cô âu sầu.

"Đừng tự tử vì em.

Em không đáng như vậy đâu."

"Anh không đồng ý."

Mối quan hệ của họ nhanh chóng được vun bồi, nhưng có lẽ anh cần để cho cô thấy cơn nổi giận này, là điều rất khó đối với anh, bởi anh muốn mình hoàn toàn cởi mở và chân thành với cô.

Đây là điều không mấy thực sự tự nhiên đối với anh, nhưng anh có thể học từ từ.

Anh muốn cô rất nhiều nên không thể mất cô.

"Có lẽ anh nên về nhà và nghỉ ngơi đi, cô nói dịu dàng.

"Nhà máy vẫn chạy dù không có anh ở đây.

Anh nên nằm nghỉ thôi."

"Anh không thể ra khỏi giường trong hai tuần đầu tiên mắc phải sốt rét, nhưng kể từ đó, cho dù có tái phát thì anh vẫn làm việc được."

"Tại sao?"

Câu trả lời của anh là vấn đề.

"Bởi vì đó là điều mà một thằng đàn ông làm.

Anh có một doanh nghiệp phải điều hành.

Anh có bốn mươi nhân viên và một gia đình phải nuôi đấy."

Ánh mắt cô trông thật đau khổ với niềm cảm thông khi cô lắc đầu.

"Anh có một công ty thành công vẻ vang rồi.

Công ty ấy vẫn chạy đều đều dù anh có vắng mặt vài ngày.

Và nếu ở nhà nghỉ ngơi, có lẽ anh sẽ không cảm thấy quá phụ thuộc vô mớ thuốc thần dược nguy hiểm của ông thuyền trưởng nào đó nữa.

Cứ nằm yên trên giường vài ngày đi.

Nghỉ ngơi, rồi đọc một cuốn sách hay nào đó."

Anh khịt mũi.

"Thứ sách duy nhất mà anh đọc là cẩm nang buôn bán và báo cáo khoa học."

"Không đọc tiểu thuyết à?"

"Anh không có thời gian cho những câu truyện thần tiên hay sách bồi bổ lối sống đâu."

"Ôi, Gray ơi."

Anh yêu cái cách mà cô gọi tên anh, như kết hợp giữa bực tức và yêu mến vậy.

"Em nghĩ đây là lúc anh nên lạc vào thế giới của Charles Dickens rồi.

Hay Jane Austen cũng được.

Em mang cho anh một cuốn."

"Anh không đọc sách con gái đâu."

Anh nói câu trêu chọc, chỉ để xem cô phản ứng thế nào.

Cô đã mắc bẫy nên thốt ra rất hùng hồn.

"Jane Austen là chuyên gia châm biếm đấy," cô nói.

"Tiểu thuyết của bà là kim chỉ nam chống lại những nhân cách kiểu thùng rỗng kêu to trong thời bà."

"Và em nghĩ anh có lợi gì khi đọc thứ kim chỉ nam ấy?"

Một loạt cảm xúc hứng khởi chợt lướt qua gương mặt của cô.

Cô mở miệng, rồi khép miệng khoảng vài lần trước khi nhìn anh lần nữa.

Bỗng cằm cô đỏ lựng lên.

"Em ghét phải thừa nhận," cô nói, "nhưng em nghĩ Jane Austen có thể xem anh như một anh hùng trong một trong những tiểu thuyết của bà ta, giống như một Ngài Darcy hay một Tướng Brandon vậy.

Jane Austen yêu thích những nhân vật nam nghiêm túc, chín chắn."

Anh cố để không biểu lộ cảm xúc.

"Nghe có vẻ bà ta rất thông thái và em đã dành cả tuổi trẻ để đọc tác phẩm của bà nhỉ.

Có lẽ em nên tiếp thị chúng với hai đứa em của anh."

Cô cười, giọng cười như dòng thác tinh khiết, trong văn vắt.

Trước kia, cô từng tưởng tượng một nhân vật rất giỏi chịu đựng như Tướng Colonel, mà có lẽ đối với Gray thì nhân vật này sẽ hơi chán, nhưng anh lại không quan tâm.

Anh đơn giản là chỉ thích lắng nghe cô nói.

Anh dựa mình vào ghế để nhìn cô bằng đôi mắt nhắm hờ và nuốt từng lời dịu ngọt của cô.

Cô tốt hơn hết thảy những thứ thuốc anh dùng.

Còn cái gì trong cô nữa để giúp anh bừng tỉnh nào?

Cách đây vài phút, anh như ở địa ngục nỗi đau thể xác.

Còn nay, anh lại hoàn toàn bất động, hoàn toàn chìm đắm trong những lời cô nói về Jane Austen.

Cơn đau vẫn còn đó, nhưng dường như anh không chú ý mấy đến nó nữa.

Anh chỉ nghĩ rằng mình chưa quá hiểu được cô.

Cô gần như bên bờ sụp đổ nếu không đảm bảo được vị trí công việc ở Viện Smithsonian, và anh rất muốn được giúp cô.

"Công việc của em hiện thời ở Viện Smithsonian thế nào rồi?" anh dịu dàng hỏi và hơi tiếc khi thấy cô xìu mặt xuống một chút.

"Không quá tốt.

Em vẫn tìm một thứ gì đó để giúp em không thể rời Viện được."

Anh đặt tay lên tay vịn ghế, cân nhắc lời nói.

Anh không muốn cô quay về Kansas.

Anh muốn tiếp tục tán tỉnh cô.

Nếu mọi thứ như kế hoạch, anh có thể dễ dàng chu cấp cho cô và Elaine, nhưng đó không phải là bản tính bốc đồng phút chốc của anh.

Dù vậy anh vẫn có thể giúp cô được.

"Hãy đến nhà anh ở phố Alexandria," anh nói.

"Em nói là cần đến thư viện.

Cha anh có một bộ sưu tập cây cỏ rất hoành tráng mà ông ấy thu thập hơn bốn mươi năm qua.

Em có thể tự do ở đó dù anh cần khuyến cáo em là nó rất bừa bộn.

Cha nhồi nhét giấy tờ của ông ấy vô mấy cái thùng chứa.

Ông cũng sưu tầm tùm lum thứ linh tinh khác nữa."

Mắt cô mở to vì ngạc nhiên, và còn vì thứ gì khác nữa.

Bối rối ư?

Anh mỉm cười.

Phòng nghiên cứu của anh không quá khủng khiếp như vậy.

"Anh thực sự cho em vào phòng nghiên cứu của anh sao?" cô hỏi, và anh có cảm giác lạ lùng nhất là cô hy vọng anh sẽ nói không.

"Dĩ nhiên rồi.

Toàn gian phòng học đó để cho em đấy.

Anh sẽ không cần đến nó vì anh có kế hoạch sẽ nghe theo lời khuyên của em.

Thực ra là lời khuyên của bác sĩ.

Bác sĩ nào anh gặp cũng đều nói với anh như vậy."

"Như vậy nghĩa là sao?"

"Nằm nghỉ trên giường.

Và dùng một ít kí ninh nếu cảm thấy không chịu nổi."

Anh cố đứng dậy.

"Anh sẽ yêu cầu quản đốc gọi giúp một chiếc xe ngựa.

Em có thể đi cùng anh đến nhà phố ngay hôm nay nếu em muốn, hoặc đến bất kỳ lúc nào trong tuần này.

Anh cũng đã đón đủ đòn tấn công của bệnh tật rồi nên sẽ nằm nhà cỡ năm ngày.

Em có thể vô tư chạy nhảy trong nhà anh."

Cô đi vòng qua bàn và đưa tay vòng qua eo anh.

Anh có thể đi mà không cần dìu nhưng anh thích cái cách cô giúp đỡ mình như vậy.

"Em sẽ đi cùng anh," cô nói.

"Em muốn ngay hôm nay."

Anh có một cảm giác rất lạ lùng là cô chắc hẳn sắp khóc đến nơi.
 
Vua Gia Vị
Mười hai


Cuối cùng, Annabelle không thể làm được.

Ngay khi chiếc xe vừa đến nhà phố của Gray, chỉ còn lại một giờ trước khi cô phải đi đón Elaine, nên cô buộc hoãn lại việc thăm dò tại đây.

Điều này cũng có nghĩa là cô đến thẳng Thư viện Quốc hội khi vẫn còn nhiều thời gian rảnh, nên cô đi thẳng lên lầu để đến phòng đọc cho người khiếm thị, nơi đó đang có hai diễn viên đang diễn xuất một cảnh đọc sách dựa theo một vở kịch của Shakespeare.

Cô tìm thấy Elaine đang hướng mặt ra cửa trong khi nghe các nghệ sĩ biểu diễn câu nói đùa kinh điển giữa Benedick và Beatrice trong vở Có gì đâu mà rộn1.

Có gần một trăm người, cả người sáng mắt lẫn khiếm thị, tụ tập nhau lại để nghe hội thoại.

Từ cuối phòng, Annabelle trông thấy Elaine rất rõ.

Đã nhiều năm qua rồi, đến nay cô mới thấy chị mình vui vẻ như vậy.

Khi các diễn viên đọc gần xong, đám đông vỗ tay nồng nhiệt, còn Annabelle tìm lối đi về phía Elaine, giật mình khi nghe giọng của em mình.

"Annabelle!

Chị không ngờ em lại đến đây đấy."

"Hôm nay em xong việc sớm."

Elaine trông rất xôn xao khi chị chỉnh lại gấu áo nơi cổ tay.

"Ồ.

Chà!

Chị muốn giới thiệu với em vài người.

Đây là Harry Talbot, người lính mà chị kể nhiều cho em nghe đó.

Và đây là..."

Chị dò dẫm và một người đàn ông lớn tuổi nắm lấy tay chị.

"Đây là Walter, cha của cậu ấy.

Và Margaret và Sally, chị em của cậu ấy.

Nhà Talbot luôn luôn đến đây vào thứ Ba hàng tuần để nghe đọc truyện.

Các diễn viên đến từ Nhà hát Quốc gia nên đây thực sự là buổi thú vị ra trò đấy."

"Em có thể thấy điều này.

Và thật vui khi gặp được mọi người ở đây," Annabelle nói, gật đầu với người cha.

Rõ ràng là nhà Talbot rất đông, vì có thêm cả cháu gái của cậu lính, ông Talbot giới thiệu bé với một loạt đứa nhỏ họ hàng cô cậu khác cũng đến đây xem diễn.

"Ở đây nhiều người vậy à?"

Annabelle hỏi khi cô và Elaine đã vào ghế ngồi trên xe điện để về nhà.

"Ở đó, bọn chị giống như một gia đình vậy đó," Elaine nói.

"Chị cảm ơn Chúa đã cho chị tìm thấy được một công việc có ý nghĩa.

Họ nhờ chị chăm lo cho một học viên khác nhưng chị vẫn sẽ chăm cho Harry thôi, bởi vì nó tiến bộ rất nhanh và chị không thể bỏ ngang vậy được.

Thậm chí nếu chị không mù thì chị vẫn muốn làm việc ở đây."

Sự hài lòng trong giọng nói của chị càng xác nhận rõ thêm nhu cầu của Annabelle là cần có một công việc ổn định ở Washington này, vì trở về mảnh đất trống không ở nông trại không còn là chọn lựa khả dĩ đối với Elaine nữa.

Ý định mới chớm của Annabelle lung lay ngay khi cô bước chân đến nhà phố của Gray vào sáng hôm sau, e ngại những gì cô sẽ phải làm.

Phản quốc là cái tội đáng treo cổ.

Nếu cô tìm thấy bằng chứng thì liệu cô có đẩy anh vào đường cùng không?

Tay cầm cuốn truyện Lý trí và Tình cảm khi cô đứng ở ngưỡng cửa nhà anh, chờ được mở cửa.

Đây là tuyệt tác văn học về đời sống gia đình, và Gray cũng đã nhắc nhớ cô về Tướng Brandon, là một nhân vật mà cô say đắm từ lần đầu đọc tiểu thuyết cách nay đã lâu.

Tướng Brandon có thể không bao giờ vấp phải tội phản quốc và sâu thẳm trong tim, cô tin Gray cũng vậy.

"Ngài Delacroix hôm nay thế nào rồi?" cô hỏi khi ông Holder mở cửa và ra hiệu cho cô bước vào.

"Không tiến triển gì nhiều, nhưng hôm nay ngài ấy chịu nằm trên giường.

Ngài ấy bảo tôi là cô được phép vào thư viện.

Để tôi tìm Otis dẫn cô vào."

"Ông không có chìa khóa sao?" cô hỏi.

Ông Holder hắng giọng như thể có điều gì xấu hổ.

"Ngài Delacroix rất cẩn trọng với những ai được phép vào thư viện.

Chỉ có ngài ấy và Otis là có chìa khóa thôi."

Đối với một người quá hoang tưởng về an ninh trong văn phòng của mình thì đây không phải là điều gì hay ho cả.

Cô bắt đầu cảm thấy nhức đầu và chỉ muốn ngày này chóng qua.

Cô cố tỏ ra thoải mái, đưa cuốn sách cho ông Holder.

"Ông làm ơn đưa cái này cho Ngài Delacroix giúp được không?

Tôi chắc là sẽ khó cho một người như ngài ấy cứ nằm lì trên giường mãi.

Có lẽ cái này sẽ giúp ích."

"Dĩ nhiên, thưa cô."

Người quản gia đem cuốn tiểu thuyết lên lầu, còn cô phải hãm cái ước muốn đi theo ông ta lên gặp Gray để nói rõ cho anh biết rằng sự nghi ngờ của chính phủ đối với anh chỉ là mấy trò ngốc nghếch, vớ vẩn.

Dù vậy, cô cần phải tìm trong mớ giấy tờ của anh để kiếm thông tin có thể treo cổ anh.

Hai phút sau, Otis xuất hiện, trên tay là chùm chìa khóa, mặt cậu ta trông rất tò mò khi dẫn cô đến thư viện.

Cậu châm chọc, "Chị nói cho tôi nghe thử xem làm cách nào mà chị thuyết phục được cậu chủ cho vào được cái nơi thần thánh đó vậy."

"Là chúng tôi có chung niềm đam mê với dòng lan Tahiti," cô nói, giọng tự nhiên.

Chùm chìa khóa kêu leng keng khi Otis mở cửa và để cô bước vào thư viện với dãy sách xếp dọc kệ sách, ánh sáng dịu nhẹ trong phòng.

Ở giữa phòng là chiếc bàn làm việc khổng lồ, ba bước tường của gian phòng toàn kệ sách và các tủ kính đầy đồ đạc.

Bức tường còn lại treo toàn bản đồ, có một quả địa cầu ở góc phòng.

""Ba kệ sách này là tài liệu về châu Phi," Otis nói.

"Toàn bộ bức tường này là về Viễn Đông và Các hòn đảo Gia vị.

Còn ở đó là sách về Trung và Nam Mỹ.

Những ngăn tủ này là mọi thư từ với các công ty phân phối ở Mỹ nên tôi nghĩ là chị sẽ thích thú với mớ đó đấy.

Cái rương cổ kia là giấy tờ và thư từ hồi xưa của gia đình.

Có lẽ tốt hơn là chị đừng xem chúng."

"Còn đây là cái gì?" cô hỏi, ra dấu chỉ một cái hộp lớn cỡ bằng hộp giày để trên một cái bàn riêng ở bên dưới cái cửa sổ duy nhất trong phòng.

"Đó là chiếc máy đánh điện tín," Otis nói.

"Nhà Delacroix luôn kín kẽ về những vấn đề kinh doanh, nên tôi phải tự mình gửi mọi tin nhắn của họ thay vì sử dụng phương tiện công cộng như bưu điện."

"Cậu biết mã Morse hả?" cô hỏi.

"Học mã Morse là yêu cầu đầu tiên của Ngài Delacroix đối với tôi.

Tôi nghĩ đây là lý do mà anh ấy thuê tôi ngay từ đầu," Otis nói.

"Tôi sẽ để chị lại đây nhé, nếu cần gì thì chị cứ gọi quản gia là được."

Cậu ta nhẹ nhàng khép cửa lại.

Lúc này Annabelle mới chú ý thấy tấm bản đồ gia vị của cô treo trên tường gần cửa ra vào.

Ở giữa những tấm bản đồ rất thực tế và các hải trình, rõ ràng là có thêm một khoảng không dành cho tấm bản đồ gia vị nực cười của cô trên tường.

Cô phớt lờ cái nhói đau trong lồng ngực và buộc mình đi đến chiếc tủ giấy tờ đầu tiên.

Tay nắm kim loại lạnh lẽo như kích hoạt cơn buồn nôn khi cô kéo cánh cửa tủ mở ra.

Mọi thứ đều sai.

Cô không muốn lén lút.

Cô không phải là gián điệp.

Nhưng cô là gián điệp.

Không mất nhiều thời gian để hình dung được hệ thống phân phối sản phẩm mà Gray sử dụng, và điều ấy khiến cô cười thầm.

Anh tổ chức công việc theo phân loại cây trồng; nên những hồ sơ này gần giống với những gì mà một nhà thực vật học sắp xếp.

Hầu hết thông tin là về thảo dược, nhưng anh cũng có hồ sơ về lan, xương rồng và hoa hồng.

Tại sao lại có hoa hồng?

Tại sao một người đàn ông lạnh lùng như Gray Delacroix lại thích hoa hồng thay vì thứ gì đó gai góc hơn chứ?

Cô rất muốn biết.

Cứ mỗi khi cô biết thêm được gì mới về Gray thì nó lại làm sống dậy ham muốn của cô đối với anh.

Trừ khi anh là kẻ phản bội.

Hy vọng cô có thể phá giải sự buộc tội ấy cho anh.

Cô đóng hồ sơ về hoa hồng Mexico lại để tiếp tục tìm thông tin về những cuộc cách mạng Cuba.

Cô càng lật tài liệu nhanh bao nhiêu, càng khó để cô cầu nguyện rằng mình sẽ không tìm được gì bấy nhiêu.

Và có vẻ lời khấn cầu của cô được đáp lời.

Sau ba ngày, cô không tìm thấy bất kỳ chứng cứ nào cho hành động phản bội của anh.

Không có gì!

Cô thậm chí còn kiểm tra chéo những bản ghi xuất hàng, các tài khoản thanh toán trong sổ cái và cả các báo cáo khoa học.

Thậm chí cô đọc cả những lá thư mà Gray gửi về nhà cho cha mình.

Đầu tiên là cô dò xem có những đơn hàng nào nghi ngờ không, nhưng không thể tìm những chứng cứ như vậy nếu không đọc tin nhắn cá nhân được.

Và khi làm như vậy, cô lại cảm thấy có thêm chút cảm tình với anh.

Những lá thư ấy như tỏ hiện vẻ đẹp và sự gắn kết giữa anh và cha mình.

Hầu hết đều là chuyện kinh doanh, nhưng mỗi lá thư đều có một chút gì cảm tính cá nhân nữa.

Nhiều thư từ của Gray có cả những hình phác thảo các cảng biển mà anh có dịp ghé qua, những phác họa bằng than chì về vài chiếc lá thú vị, thậm chí có vài phác họa về những người mà anh gặp gỡ, và rõ ràng anh cũng là một họa sĩ giỏi.

Mọi thứ về công việc này đều có vấn đề, nhưng khi cô gần xem xong hết hồ sơ, một mầm hy vọng nảy lên.

Cô sắp có thể giải phóng Gray khỏi mọi nghi ngờ và cô có thể quay trở lại với công việc khoa học đơn thuần, thường nhật của mình.

Vẫn còn ít thư từ trong chiếc rương gia đình, nhưng dường như những thư từ đó sẽ không có chứa nội dung gì bất chính.

Đến giờ cô vẫn chưa thấy gì, và mỗi đêm cô cầu nguyện và lời thỉnh cầu ấy dường như hiển linh.

Nhoáng chốc, Gray đã đọc xong cuốn Lý trí và tình cảm ngay khi Annabelle gửi sách cho anh.

Nhiều năm nay, anh chưa bao giờ đọc sách mà cảm thấy có hứng thú đến vậy, và cái lối văn châm biếm của Jane Austen thì thật vô đối.

Bà Fanny Dashwood luôn muốn leo lên những địa vị xã hội cao hơn, với lòng tham đầy như núi, làm cho anh tưởng tượng đến nhà Magruder.

Mặc dù anh đang bị đau nhức cơ, dù cho cơn sốt khiến anh kiệt sức nhưng anh vẫn cố thắp đèn phòng ngủ và thức để ngấu nghiến từng trang sách khi đêm dần chìm sâu.

Vì Annabelle cho rằng anh làm cô nhớ đến nhân vật Tướng Brandon trong truyện, có vẻ như đây là lời khen ngợi.

Nhân vật này có vẻ hơi đứng đắn, bảo thủ nhưng là người đàn ông trọng danh dự, là người mà toàn thể gia đình có thể trông cậy.

Nhưng Gray lo lắng cho Annabelle.

Vì suốt hai ngày qua, anh nhìn từ phòng ngủ của mình, thấy cô đến và ra về.

Vai thõng xuống, có vẻ cô không mấy vui tươi.

Có cái gì đó không ổn ở đây.

Vì thường cô rất rạng ngời, có lẽ cô căng thẳng do tình trạng của chị mình.

Mọi thứ trong anh đều mến mộ Annabelle và anh muốn che chở cô.

Anh muốn nhào xuống dưới lầu và đào bới thư viện với cô để tìm được thứ gì đó làm hài lòng mấy kẻ nhiêu khê trong chính phủ.

Thậm chí anh cân nhắc có nên gửi Otis đến Mexico để tìm cho ra cây lan mơ hồ ấy mà viện Smithsonian có vẻ rất háo hức khám phá.

Thật lố bịch.

Cây lan ấy tuyệt chủng từ lâu rồi, còn anh lại dựa nhiều vào Otis để vận hành chuyện làm ăn hằng ngày cơ mà.

Nhưng cái ham muốn cháy bỏng để giúp đỡ cho Annabelle lại không làm anh dịu cơn đau tí nào.

Anh lợi dụng cuốn sách mà cô cho mượn để lấy cái cớ nói chuyện với cô.

Mặc chiếc quần tây vào cũng khiến cho đầu óc choáng váng, anh phải ngồi nghỉ một lúc để giữ được tỉnh táo.

Anh cài cổ áo, chải tóc, rửa mặt, sau đó vơ lấy cuốn sách và cẩn thận bước xuống từng bậc thang.

Anh đi rất chậm, khẽ bước để tránh để đầu không bị choáng.

Cửa thư viện đang đóng, nhưng anh biết cô đang ở bên trong bởi vì anh thấy cô bước vào cách đây khoảng một tiếng.

Anh mở cửa và thấy cô ngồi trên sàn, giấy tờ từng chồng vây lấy xung quanh.

Không có nghĩa gì.

Cô đang làm gì với mớ giấy tờ cũ kỹ ấy vậy?

Khi cô ngước lên, gương mặt trắng bệch kiểu tội lỗi.

Chiếc rương cổ đựng hầu hết thư từ cá nhân quan trọng của anh đang mở.

Anh nhìn mớ giấy tờ trước mặt cô, không thể tin được vào mắt mình.

Anh tiến đến gần hơn, không nghi ngờ gì nữa.

Cô đang lục lạo mớ thư từ gia đình anh.

"Em làm gì với đống thư từ ấy vậy?"

Ngay lập tức, cô đóng cái rương lại và nhìn anh, rõ là không nói lên được lời nào.

Cha anh đã lưu giữ những thư từ ấy, có hàng trăm lá thư gửi từ miền Viễn Đông, châu Phi và Trung Mỹ.

Đọc những lá thư này giống như đi guốc trong bụng anh vậy, và cô đang ngấu nghiến chúng.

Anh phải rất dằn lòng để không nhào đến giật chúng lại từ tay cô.

Cơn choáng váng khiến anh phải tìm cho mình một chiếc ghế ngồi xuống trước khi phải quỵ xuống sàn.

Anh dựa lưng vào ghế, cố nén cơn giận đang cuồn cuộn bên trong.

"Anh sống rất rất riêng tư," anh gằn từng lời.

"Cha anh cũng vậy."

"Em xin lỗi," cô lắp bắp.

Lá thư nằm trên cùng chồng thư là bức thư của anh gửi về từ Patagonia.

Gray viết về nỗi sợ hãi mà anh phải đối mặt khi chiếc tàu phải đi vòng qua Mũi Hảo Vọng kinh khiếp, được biết đến như là mồ chôn thủy thủ.

Lá thư ấy viết rất nguệch ngoạc, vì bàn tay anh gần như bị đông cứng lại khi con tàu phải chống chọi với những đợt sóng dữ và những trận cuồng phong nguy hiểm.

Qua năm tháng, anh chia sẻ mọi chuyện với cha mình, những chuyện vinh quang lẫn nhục nhã.

Anh viết về nỗi thất vọng vì không thể mối lái được với người Hà Lan và anh cũng thú nhận đã dành thời gian vô bổ đầu tư vào một đồn điền trồng nhục đậu khấu.

Anh viết về vẻ đẹp của phụ nữ Polynesia khi họ khiêu vũ.

Anh viết về trải nghiệm uống sữa bò yak và học về nghệ thuật thụ phấn bằng tay cho các loài lan hiếm.

Gray nhắm mắt lại và góp nhặt ý nghĩ.

Có lẽ có một lời giải thích ngây ngô nào đó.

Sau rốt, anh rất hứng thú với những thứ nhỏ nhặt trong cuộc sống của Annabelle, nhưng ngay cả khi trước mặt anh là cả chồng nhật ký của cô đi chăng nữa thì anh cũng sẽ không bao giờ liếc mắt đến một chữ trong ấy.

Anh đánh giá sự riêng tư rất cao nên hành vi đó rõ ràng là sự xâm phạm.

"Tại sao em đọc những lá thư ấy?" cuối cùng anh cũng mở lời hỏi.

"Em xin lỗi," cô nói, giọng run rẩy.

"Em chỉ có thể nói vậy mà thôi.

Em biết làm vậy là sai nhưng em tò mò, và em xin lỗi anh."

Có lẽ thật vậy.

Trong khi có chút gì đó trong anh như muốn trút cơn giận ra ngoài miệng thì anh lại không hình thành được câu chữ nào, vì thái độ hối hận và xấu hổ của cô đã đánh tan những câu chữ ấy.

Tội lỗi đã gây ra, không có gì xóa được.

Anh không muốn nhai đi nhai lại tội lỗi ấy của cô.

Anh không bảo trước rằng cô không thể mở cái rương ấy ra, nên anh cần phải bỏ qua chuyện này.

Anh lắc đầu mệt mỏi khi hạ mình ngồi vào trong ghế, giải phóng cho đôi chân rã rời.

"Em nghĩ thế nào về chúng?

Mấy lá thư đó đó?"

Ánh mắt cô mở to rất ngạc nhiên, và thoáng chốc, cơn xấu hổ biến mất trên gương mặt cô khi cô suy nghĩ về câu hỏi của anh.

"Em ghen tị với anh," cuối cùng cô nói.

"Anh và cha anh có một tình cha con tuyệt vời.

Điều này thể hiện rất rõ qua từng lá thư."

Cơn đau nhói lên trong ngực khi anh nhìn đến mấy lá thư, chỉ có những ký ức mong manh nối liền giữa anh với Nicolas Delacroix.

Có lẽ bởi vì cả hai cha con anh đều sống sót qua được cuộc chiến khốc liệt và sau nhiều năm cùng nhau cố gắng tạo dựng cơ ngơi ổn định, nên họ gần gũi với nhau hơn so với một tình cha con đơn thuần thường thấy.

Anh tự hào hai cha con anh cùng nhau tạo dựng, và những lá thư này như là văn bản hóa mọi rủi ro, mọi kế hoạch, thành công lẫn thất bại của họ.

"Cha con anh rất may mắn."

"Thế giới anh vẽ trong những lá thư ấy rất tuyệt," cô nói.

"Em có thể không bao giờ có đủ bản lĩnh để lái tàu đến Java hay Madagascar, nhưng em yêu thích việc đó của anh...

Em có thể thấy chuyện đó khó như thế nào.

Quãng đường, cái nóng, bệnh tật.

Nhưng cũng có người dân, gia vị và chuyến phiêu lưu.

Phần nào đó trong tim em luôn luôn ao ước làm điều gì đó thật lớn lao.

Thật to tát.

Em thích anh có đủ dũng cảm để làm hết những chuyện ấy."

Anh chăm chú nhìn cô, hồi tưởng lại.

Cô hiểu.

Có thể họ không có nền tảng học hành và thái độ giống nhau nhưng cô hiểu được điều gì khiến anh lao ra thế giới và cái thôi thúc anh lao vào làm việc.

Cảm giác hòa hợp giữa anh và cô càng mạnh hơn lên.

Anh chưa bao giờ gặp ai giống cô, và một lần nữa sự cuốn hút nơi anh đối với cô cuồn cuộn, dường như vượt khỏi khả năng kiềm chế.

Điều này thật nguy hiểm.

Tại sao một cô gái trẻ và ngây thơ lại muốn một gã đàn ông nghiêm túc, nhạt thếch như anh?

Anh đang để cho cảm xúc của mình chạy tứ tung, khi mà lý do để cô xuất hiện nơi đây chỉ là tìm một thứ gì đó tạo ấn tượng cho mấy vị sếp của cô ở Viện Smithsonian mà thôi.

Ngay khi họ gặp nhau, họ đã hoàn toàn chân thật với nhau, và anh không muốn làm khác đi.

Cho dù có chuyện gì tày đình đi chăng nữa thì anh cần thẳng thắn với cô.

Anh muốn mối quan hệ của họ là thứ gì đó ý nghĩa hơn là sự sợ sệt mà cô trải qua lúc nãy.

Sau nhiều thập kỷ sống độc thân, anh cần một bến đỗ dừng chân, nhưng nếu đó chỉ là một cuộc hôn nhân thuần túy thì đâu có gì để nói.

Anh cần hơn một cuộc hôn nhân.

"Annabelle, anh thấy mình bắt đầu rất quan tâm đến em đấy," anh cất lời, căng thẳng khiến anh khó nói cho rành rọt được.

"Anh cố giúp em bằng cách mở rộng cửa nhà, nhà kính và thư viện của anh mời em vào, nhưng có lẽ đó là sai lầm.

Anh muốn tán tỉnh em theo cách đúng đắn cơ, nhưng nếu cảm giác của anh không được như mong muốn thì anh không thấy chúng ta có thể tiếp tục mối quan hệ này nữa."

Mặt cô trắng bệch, mắt mở to khi cô ngồi lùi lại một chút.

Mọi thứ anh vừa nói đơn giản là xúc phạm đến cô.

Anh nhìn đi chỗ khác, không thể nhìn gương mặt u buồn của cô.

"Anh xin lỗi..."

"Đừng xin lỗi," cô ngắt lời.

"Anh đừng xin lỗi."

"Nhưng anh còn nợ em lời xin lỗi.

Anh xin lỗi vì quá thô lỗ, nhưng đây là chuyện hoàn toàn mới và anh chưa từng tán tỉnh ai.

Anh xin lỗi vì anh hiểu lầm..."

"Anh không hiểu lầm gì cả."

Mắt anh lại nhìn về cô.

Vẫn ngồi trên sàn nhà, nhìn lên anh, cô trông bất an và thơ dại.

"Em muốn ở nơi này.

Anh đừng đuổi em đi."

Lời nói nặng nề ấy trong giọng cô nghe rất lạ.

Đó là giọng của một phụ nữ lo âu về vị trí của mình ở Viện Smithsonian, không phải là một phụ nữ tràn trề hy vọng như trước.

"Annabelle, anh vẫn có thể giúp em.

Nếu em cần một công việc ổn định, anh có thể mời em vào làm."

"Anh đang đuổi em đấy à?"

Giọng lo âu biến mất, giọng thách thức quay lại.

"Không!

Ý anh là, đầu óc u mê bệnh tật hết hy vọng của anh nói là anh quan tâm đến em.

Anh không thể giữ em ở đây mỗi ngày nếu mối quan tâm duy nhất của em chỉ là mấy gia vị hiếm hay cây lan vani được.

Nếu là vậy thì để anh được sống sót... anh phải chấm dứt điều này."

Nếu anh sống được nghìn tuổi thì có lẽ sẽ không có cuộc nói chuyện tệ hại đến thế này.

Anh nhìn ra cửa sổ và ước gì ngày hôm nay chóng qua.

"Chính là anh, Gray.

Em rất cảm tình với anh."

Có một chút sức lực nào đó trong cơ thể anh bỗng cạn đi, và anh ngồi dựa lại vào lưng ghế.

Cô đặt một tay lên đùi gối anh, và anh đặt tay mình lên ấy.

Anh quá mệt không cười nổi, nhưng bên trong, có hàng trăm mặt trời đang mọc.

Anh chưa bao giờ nghĩ mình là một con người lãng mạn, nhưng đột nhiên mọi thứ đều trở nên đúng.

Có lẽ Chúa đã dẫn đưa Annabelle từ cánh đồng lúa mì ở Kansas đến trước cửa nhà anh hay sao?

Anh cảm thấy như vậy.

"Anh rất vui vì em ở đây," anh nói, ước gì anh nói lưu loát hơn.

"Anh xin lỗi vì những tình huống dở khóc dở cười vì chị em bị mù, nhưng có lẽ anh có thể giúp được gì đó.

Bất kể thứ gì em cần, Annabelle, em chỉ cần hỏi anh."

Liệu anh có nói quá hay không?

Cô có chút nao núng, nhưng sau đó gương mặt cô dãn ra.

"Cảm ơn anh vì điều ấy," cô nói.

Anh cúi xuống và hôn cô, chẳng có gì đúng hơn thế nữa.

[1] Much Ado About Nothing.
 
Vua Gia Vị
Mười ba


Gray ngồi trong phòng làm việc tại nhà phố của anh, xem xét các giấy tờ mà luật sư vừa gửi đến về chiếc Con Bồ Nông.

Giá bán hai triệu đô la cho một chiếc tàu thủy thường khá phức tạp và cần vài vòng đàm phán, nhưng có một người mua đã đồng ý với mức giá ấy.

Còn giờ thì Gray chỉ cần ký xác nhận bán, và anh muốn bán nó đi càng nhanh càng tốt.

Con Bồ Nông đã là dĩ vãng rồi, bây giờ điều anh lo lắng là làm sao đặt cả hai chân vào cuộc sống mới tại đây, tại Washington này.

Hy vọng là với Annabelle.

Đã một tuần trôi qua kể từ buổi sáng hôm ấy ở thư phòng, và cứ mỗi ngày trôi qua, anh càng cảm thấy tự tin hơn rằng cô là người phụ nữ rất hợp với mình.

Cô muốn anh trở thành người đàn ông tốt hơn.

Một người đàn ông vị tha hơn, lạc quan hơn, hướng đến một cuộc sống xán lạn phía trước thay vì gắn chặt với những thứ xấu xa.

Anh nhanh chóng đặt bút ký, trao quyền cho bên đối tác bắt đầu loạt kiểm tra cần thiết.

Chợt có tiếng bước chân chạy vội xuống lầu khiến anh chú ý, và rồi cửa phòng bật tung.

"Gray!"

Caroline vừa nói, vừa lao vào phòng.

"Em cần anh giúp.

Thật tai hại."

"Chuyện gì?"

Anh đứng lên, vì mớ tóc vàng mật của cô em rối tung trong khăn trùm đầu và mồ hôi lấm tấm trên da.

"Đệ nhất phu nhân đang bị đau không ra khỏi giường được.

Còn khoảng ba giờ đồng hồ nữa thì bà ấy phải đỡ đầu cho chiếc du thuyền mới của hoàng đế Đức nhưng bà ấy không thể đi được."

"Tại sao hoàng đế Đức lại làm phép thánh một chiếc du thuyền ở thủ đô Washington này chứ?"

Một câu hỏi hợp lý, nhưng có vẻ câu trả lời nằm sẵn trong đầu của Caroline rồi.

"Vì Kaiser Wilhelm đang được sủng ái," cô nói, giọng hổn hển.

"Vì hải quân nước Anh ngày càng mạnh hơn, còn nước Đức thì đang muốn bắt tay vơi Mỹ để tìm đồng minh.

Một xưởng đóng tàu Mỹ luôn có tiền hoa hồng cao hơn nên vua Đức mới mua một chiếc thuyền mới, rồi cả hai bên đều vui với hợp đồng này và đệ nhất phu nhân sẽ ra trước công chúng, cùng khui chai champagne trên boong tàu mới."

Anh chau mày.

Caroline có máu chính trị chảy trong người sao?

Cô bé vừa mới nói chuyện về ngoại giao quốc tế đấy thôi, rất rõ ràng, rành mạch.

"Vấn đề là gì đây?"

"Tổng thống đi công du ở Philadelphia rồi và không dẫn phu nhân theo.

Bà ấy lo lắng khi chồng mình vắng nhà nên bà ta ỏng ẹo không chịu hợp tác chuyện này.

Vua Đức gửi đứa cháu là Hoàng tử Gustav làm đại diện, và nếu đệ nhất phu nhân không đến đỡ đầu cho du thuyền thì thật là nhục nhã.

Em cần thứ gì đó có thể chuyển hướng sự chú ý công chúng vì bà ta vắng mặt."

"Anh chẳng có ý gì có thể giúp được em cả."

"Anh không từng nói với em là anh biết một người phụ nữ bị mù sao, cái cô làm ở Thư viện Quốc hội ấy."

Anh chau mày, ý nghĩ ấy có liên quan gì đến chiếc du thuyền của vua Đức.

"Elaine Larkin," anh xác nhận.

"Cá nhân anh không biết cô ta.

Anh chỉ biết em của cô ta."

"Tốt rồi," Caroline nói.

"Hoàng tử Gustav có một người em bị mù.

Cô ấy ở đây, và chiếc du thuyền được đặt tên nhân danh cô ấy.

Nữ bá tước Frederica sẽ đỡ đầu cho chiếc du thuyền thay cho đệ nhất phu nhân, nhưng như vậy vẫn chưa hay lắm.

Em có thể vinh danh cô ta bằng cách sắp xếp một tour đặc biệt cho hội người mù đọc sách ở Thư viện Quốc hội.

Có âm nhạc và tiệc nhẹ, đây còn là cơ hội cho người khiếm thị có thể đọc được những bộ sưu tập đặc biệt về bản đồ và địa cầu.

Anh có thể dẫn cô Larkin đến tham gia không?

Em sẽ tìm cách vận động chính phủ hỗ trợ cho người mù để nịnh hót hoàng tử và gia đình của ông ta.

Lễ đỡ đầu sẽ bắt đầu lúc hai giờ tại Cảng Hải quân Washington."

Anh cảm thấy hơi hụt hơi một chút.

"Anh không biết Elaine Larkin.

Anh không thể hứa trước với em điều gì cả."

"Làm ơn đi mà anh?

Anh luôn là người anh hùng của em," Caroline nói, giọng vừa chân thành, vừa nịnh nọt, và anh ghét cái cách anh bị khuất phục trước cái giọng điệu ấy.

Cô hôn cằm anh và rồi rút lui bằng cách đánh nửa vòng cái váy satin màu xanh dương óng ả cộng với mùi hương đắt tiền còn phảng phất.

Thật bực bội khi em gái mình cứ cho rằng anh phải vất mọi thứ khác để làm cho bằng được yêu cầu của cô em, nhưng nếu để được gặp lại Annabelle thì anh chẳng màng.

Annabelle rất mực yêu đất nước và có lẽ sẽ bất ngờ vì chuyện này.

Không mất nhiều thời gian để anh bắt một chiếc xe điện tới Viện Smithsonian.

Anh tức tốc chạy vào cửa tòa nhà xây như lâu đài, rồi chạy nhanh lên hai tầng lầu, tới dãy hành lang phòng làm việc, nơi Annabelle ngồi phía sau một cái bàn để đầy mẫu cây.

Cô trông vui vẻ khi gặp anh, còn anh cười với cô như kẻ si tình.

Anh có thể đứng đó và cười suốt ngày cũng được, nhưng cái mùi ẩm mốc của cây cỏ trước mặt cô lại quá nồng khiến anh không thể không phàn nàn.

"Cỏ tím à?" anh hỏi khi anh tiến tới gần cô.

"Pennisetum setaceum," cô nói khẳng khái.

"Mới tới từ Đông Phi.

Anh nên thấy nó lúc nó mới đến đây.

Đầu hạt của nó màu đỏ tươi.

Em e là bây giờ nó đã nhạt bớt rồi."

"Không có cách nào để giữ màu ấy sao?" anh hỏi.

"Không, nhưng bọn em có một nghệ sĩ chế tạo màu nước khi nó mới tới.

Anh thấy không?

Em sẽ gắn nó lên trang giấy mẫu vật cùng với một cái hộp đựng hạt giống."

Có lẽ sẽ rất tuyệt nếu dành cả buổi chiều để thơ thẩn ở đây với đám cây cỏ dại, nhưng anh đang làm nhiệm vụ.

"Anh đến để mời em và chị em," anh nói.

"Cả hai em được mời đến dự lễ đỡ đầu cho chiếc du thuyền đua mới của Vua Wilhelm vào chiều nay."

Sau khi anh giải thích mối lo âu của Caroline, Annabelle rất bất ngờ.

"Có thể điều này sẽ tốt cho Elaine," cô nói.

"Chị ấy rất sợ nước, nhưng nếu đã đặt chân lên tàu rồi thì chắc chị ấy không còn sợ nữa đâu mà sẽ thích ngay thôi, nhất là nếu chị được gặp nữ bá tước."

Ngay sau đó, Gray cùng Annabelle tay trong tay, chạy vội đến Thư viện Quốc hội.

"Tốt hơn là anh để em hỏi chị ấy," cô nói, khi họ gần đến thư viện.

"Elaine vẫn cảm thấy lo lắng bất cứ khi nào chị ấy ra ngoài phạm vi quen thuộc của mình, nên có thể cần thuyết phục chị ấy một chút.

Tốt nhất là không nên có ai gần đó."

"Anh hiểu."

Cô biến mất sau những cánh cửa nặng nề, và một lần nữa, anh cảm ơn Chúa vì đã cho anh tìm thấy Annabelle và anh không còn ngại chuyện cô khiếp sợ trước cái thái độ lạnh lùng, khó gần ban đầu của anh nữa.

Trong khi đứng chờ, anh tiến lại lan can để xem du khách đi thơ thẩn trên nền gạch tươm tất, nhất là những cặp đôi trẻ cùng dắt tay con cái họ.

Có lẽ một ngày nào đó sớm thôi, anh sẽ có một gia đình cho riêng mình và hộ tống vợ con đi khắp thành phố.

Anh liếc nhìn đồng hồ.

Ngay cả khi nếu họ đi bây giờ thì chắc chỉ đến Cảng Quân đội kịp lúc mà thôi.

Có lẽ anh không nên nhờ Annabelle hay chị của cô, vì họ không buộc phải giúp Caroline gì cả.

Như thể suy nghĩ của anh triệu hồi được cô vậy, Annabelle đẩy cánh cửa đồng nặng nề ra, một nụ cười rạng rỡ hiện trên gương mặt cô.

Một người đàn ông giữ cho cửa mở trong khi Annabelle rời khỏi tòa nhà, và ngay sau cô là một người phụ nữ thướt tha, tay đặt trên vai của Annabelle với ánh mắt không ánh sáng nhưng hướng về phía trước.

Elaine thật đẹp.

Cô chị trông hơi giống Annabelle nhưng tóc màu hạt dẻ thay vì đen...

Anh tròn mắt ngạc nhiên, vì phía sau Elaine là một người đàn ông khác, tay lại vịn vào vai của Elaine.

Phía sau người đàn ông ấy là một cậu bé khác nữa, chưa đủ tuổi có râu, cũng lấy tay đặt lên vai người phía trước.

Và một người nữa.

Một người nữa.

Một hàng dài khoảng chục người mù đi ra khỏi tòa nhà khi họ đi theo Annabelle thẳng đến chỗ anh.

"Tất cả họ đều muốn đi," Annabelle nói, giọng rất hứng thú.

"Họ đi được chứ?"

"Vui lòng nói có đi," Elaine nói.

"Đây sẽ là điều tuyệt vời nhất trong nhiều năm đấy."

Làm sao mà anh có thể dẫn khoảng chục người mù đi băng qua thành phố chỉ trong ba mươi phút được?

Quá xa để đi bộ, và họ không thể ngồi vừa một khoang ngựa kéo.

Không thành vấn đề.

Anh sẽ tìm cách.

Anh đưa tay ra cho Elaine.

"Tôi là Gray Delacroix," anh nói giọng nghiêm túc.

"Chào, ngài Delacroix," Elaine đáp lời, không giơ tay ra để bắt tay với anh.

Annabelle cầm tay của Elaine và đặt vào tay anh, và rồi anh cảm thấy mình thật ngu ngốc.

Làm sao mà có thể dẫn cả chục người mù băng qua thành phố nếu anh thậm chí không thể cư xử đơn giản như vậy được cơ chứ?

"Gray, đây là chị em, Elaine," Annabelle nói.

"Elaine là người mà thuyết phục em đi tìm hướng đi mới ở một thế giới rộng lớn hơn thay vì dính chặt vào nông trại đấy."

"Vậy thì anh sẽ không bao giờ quên ơn này của chị," anh nói, lấy hai tay mình cầm lấy tay Elaine.

"Anh cảm thấy thế giới này gai góc hơn rất nhiều nếu không có chị em Larkin."

Anh lên chiếc xe điện tiếp theo, nhờ tài xế giúp đỡ, xe vẫn đủ chỗ cho hết người mù.

Phải mất một lúc mới ổn định được chỗ ngồi, còn đồng hồ cứ tích tắc bất kể thế nào.

Cuối cùng, hai mươi phút sau, chiếc xe điện đã đến được Cảng Hải quân.

Một chiếc du thuyền hoành tráng đang được neo ở cảng, và trên đó có nhiều quan chức hải quân của cả hai bên Mỹ và Đức.

Đội kèn đồng đang chơi những giai điệu "nhạc đỏ", và cờ phướn đầy màu sắc nối từ dưới đất lên đến khu vực làm lễ.

Xung quanh toàn quân nhân mặc đồng phục và trang phục nghiêm chỉnh, nhưng rất dễ nhận ra hoàng tử, là người khoác chiếc khăn quàng vai màu đỏ tươi và đính cả bộ sưu tập huân chương trước ngực.

Elaine cảm giác được mình đang tới cổng khi nghe tiếng nhạc và cảm thấy được sự sống động trong bầu không khí.

Thậm chí khi không nhìn thấy gì nhưng chị có thể cảm nhận được vẻ lộng lẫy ấy, vì gương mặt chị bừng sáng lên.

Gray chồm đến và nói với chị.

"Tôi muốn chị biết là cho dù buổi chiều nay thế nào đi nữa thì chị thật là một vị anh hùng."

Elaine cười đáp trả, rồi anh dẫn cô đi đến Caroline, còn Caroline lại tỏ ra rất duyên dáng, lịch thiệp khi tiếp những quan chức hai bên.

Nhưng anh có thể hiểu cô em mình từ tận xương tủy rằng hẳn em ấy đang rất khổ sở.

Khi Caroline thấy anh, cô đang chạy ngay qua lễ đài, dang rộng hai tay đón anh.

"Cảm ơn anh đã đến!"

Caroline hổn hển.

"Đây là chị Elaine phải không?"

"Đúng vậy."

"Hoàng tử Gustav đã ở đất nước này được một tháng rồi, và ông ấy nói rằng ông rất ấn tượng những gì mà Thư viện Quốc hội làm cho người khiếm thị.

Sự có mặt của chị ở đây sẽ tô điểm thêm cho đất nước ta đấy.

Em đã sắp xếp một chuyến tham quan thư viện ngay sau lễ."

Rồi thì Caroline chú ý đến hàng người nối theo sau Elaine.

"Quỷ thần ơi... nhiều quá vậy!"

Elaine trông hơi luống cuống.

"Mọi người ở đây muốn đến.

Em có phiền không?"

"Không hề," Caroline khẳng khái.

"Em sẽ thông báo cho hoàng tử là có một đoàn người khiếm thị từ Thư viện Quốc hội đến đây để ủng hộ cho em của ông ấy.

Nữ bá tước chỉ mới mười hai tuổi nhưng sẽ rất tuyệt cho cô bé nếu gặp được hết mọi người ở đây.

Em đi thu xếp đây."

Caroline biến vào đám đông trong khi Annabelle nhoài người tới Elaine để mô tả cho chị nghe quang cảnh.

"Nữ bá tước ăn diện như một con búp bê sặc sỡ á.

Áo nịt ngực bó chặt, tóc quăn búi cao, còn cái cổ áo xù lên những cổ chó lông xù.

Chị cứ tưởng tượng một cái cổ xù lông hồi tháng Sáu.

Và một cái vương miện!"

"Chúng mình ăn mặc có ổn không?"

Elaine hỏi.

"Ổn mà!"

Annabelle cam đoan.

Chỉ riêng họ là không có đính đá quý hay mề đai lên trang phục thôi, nhưng Annabelle biết chính xác mình cần nói điều gì.

"Chị đang mang những gương mặt rạng rỡ và thú vị hơn hết thảy đến đây nếu so với đám sĩ quan mặt ngầu đằng kia."

"Năm phút nữa chúng ta sẽ bắt đầu," Caroline nói khi cô quay lại hợp với nhóm.

"Hoàng tử và nữ bá tước rất phấn chấn vị chị xuất hiện ở đây, và đoán xem nào?

Hoàng tử Gustav vừa lệnh mời tất cả người khiếm thị đi du thuyền ngay sau buổi lễ.

Tất cả mọi người!

Tuyệt không chứ?"

Vài người khiếm thị trong nhóm bắt đầu cười và vỗ tay, nhưng Annabelle và Elaine đều trông như bị say sóng.

Annabelle vui khi được đứng gần Elaine vì chị cô sợ phải đi du thuyền.

Annabelle muốn ổn định tinh thần chị.

"Chị không phải đi," cô thì thầm.

"Không, chị đi chứ."

Mắt Annabelle mở to ngạc nhiên.

Gương mặt Elaine trắng bệch ra, nhưng giọng nói lại rắn rỏi.

"Chị muốn là một phần của lễ này," chị tiếp tục.

"Nếu một bé gái mười hai tuổi có thể làm được, chị cũng vậy.

Chị mệt mỏi nỗi sợ rồi.

Chị sẽ hối tiếc cả đời nếu cứ nhút nhát như vậy."

Annabelle như muốn hụt hơi.

Chưa bao giờ cô cảm thấy tự hào Elaine đến vậy.

Gương mặt của chị cô giống như chiếc mặt nạ bối rối khi một sĩ quan người Đức đeo đầy huân chương dẫn chị lên lễ đài để gặp nữ bá tước trẻ.

Em gái Gray mở lời giới thiệu, và những khách mời khiếm thị khác cũng được đưa lên lễ đài.

Quá sang trọng, quá nhiều quân phục, cờ phướn bay rợp trời và tiếng cười rộn khắp nơi.

Ban nhạc chơi quốc ca của cả hai nước khi các quân nhân mang quốc kỳ vào vị trí, nhưng Annabelle cứ vặn vẹo mấy ngón tay mình đến cả đau.

"Chị của em sẽ ổn thôi," Gray thì thầm, và cái giọng tự tin ấm áp ấy lập tức xoa dịu cô.

Anh là người tốt.

Mỗi ngày, cô càng trở nên tự tin hơn, vì cô đã tìm trong nhà anh và biết anh không có tội phản quốc.

Ngày mai, cô sẽ báo cáo lại cho hai tướng, rồi có có thể phủi tay toàn bộ chuyện này và tiếp tục chuyện yêu đương với trái tim rộng mở.

Nhạc kết thúc, hoàng tử Đức bước lên bục phát biểu.

Ông ta trông giống người Anh hơn người Đức, không như cô nghĩ.

Cô cần nhớ lại mỗi khoảnh khắc ngày hôm nay để kể cho cha mẹ mình.

Cô đứng chỉ cách một hoàng tử bằng xương bằng thịt tầm hai chục mét!

Elaine thậm chí đứng gần hơn nữa.

Cha mẹ cô không bao giờ tin được điều này.

Thế chỗ cho đệ nhất phu nhân, nữ bá tước trẻ bước lên phía trước, chính thức làm phép cho chiếc thuyền.

Cô bé có vẻ quá trẻ để nhận vinh dự này, nhưng hoàn tử đã hướng dẫn cô bé vào vị trí và cười rạng rỡ khi cô bé cầm lấy chai champagne với cách đầy tự tin.

"Nhân danh vua Wilhelm, ta đặt tên cho ngươi là Nữ bá tước Frederica," cô bé nói lớn, sau đó đập vỡ chai rượu vào thân thuyền.

Tiếng hò và vỗ tay vang khắp nơi.

Nữ bá tước trẻ vui sướng khi nhiều sĩ quan Đức tiến đến để hôn tay cô bé.

Cầu tàu hạ xuống, các vị chức sắc lên du thuyền.

Chiếc thuyền bắt đầu lắc lư theo những đợt sóng nhẹ, cả cầu tàu cũng vậy.

Elaine chưa bao giờ đối diện với điều này.

"Em phải đến cứu chị ấy thôi," Annabelle nói với Gray.

"Chị ấy không cần cứu đâu."

"Anh không thấy là cái cầu tàu cứ lắc lư như thế sao?"

Giọng cô thoáng vẻ hoảng hốt, và từ đây, cô thấy gương mặt Elaine vẫn bình thường.

Một sĩ quan Đức đưa cánh tay dìu Elaine, dẫn chị lên thuyền.

Elaine đứng chôn chân, thậm chí khi viên sĩ quan cố đẩy chị tới trước.

"Em sẽ đến chị ấy," Annabelle nói.

Cô tiến lên trước, nhưng Gray chộp lấy cánh tay cô và kéo về sau.

"Để cho Elaine xử lý," anh nói.

"Nhưng chị ấy cần giúp..."

"Nhìn kìa, chị ấy đi theo tay sĩ quan kìa.

Chị ấy muốn đi.

Để chị ấy vượt qua nỗi sợ của mình chứ."

Elaine bíu chặt lấy cánh tay của viên sĩ quan Đức giống như bấu lấy phao cứu hộ khi họ đặt chân lên chiếc cầu tàu lắc lư.

Chị hoảng sợ kêu lên, cả cảng có thể nghe thấy.

Viên sĩ quan thì thầm khích lệ khi gã dìu chị tiến tới trước.

"Thật quá khó," Annabelle rên rỉ.

Nữ bá tước Frederica trông rạng rỡ khi cô bé giương gương mặt đón làn gió trực diện, và không phải người khiếm thị nào cũng không sợ hãi.

Không phải người khiếm thị nào cũng bị ngộp vô vọng trong nước trước khi được cứu.

"Chị ấy ổn thôi mà," Gray cam đoan.

"Nhìn kìa, họ đã cho chị ấy chỗ ngồi cạnh nữ bá tước kìa.

Xung quanh họ cả cả chục sĩ quan.

Elaine có được khoảng thời gian mà chị ấy sẽ nhớ suốt đời."

Thật vậy.

Nỗi sợ hãi đã biến mất trên gương mặt Elaine, thay vào đó là một gương mặt ánh lên vẻ thú vị.

Nữ bá tước trẻ nói thì thầm với chị, còn những người mù khác đang được xếp chỗ.

Đây có lẽ là khoảnh khắc hạnh phúc nhất và khó khăn nhất trong đời Annabelle.

"Cảm ơn," cô thì thầm với Gray.

"Cả ngàn lần, cảm ơn anh đã mang bọn em đến đây và giữ cho bọn em biết chừng mực."

Anh nắm tay cô đáp trả.

Một chốc sau, chiếc du thuyền nhổ neo và rẽ sóng.

Nó nghiêng khi rẽ ra khỏi cảng và hướng ra vùng nước mở, khi làn gió phủ no cánh diều.

Ban nhạc nổi lên giai điệu yêu nước, nhưng Annabelle có thể không còn gặp Elaine nữa.

"Chị ấy sẽ ổn thôi," Gray thì thầm.

"Em cũng sẽ ổn thôi."

Cô nắm tay anh.

Đây là lần đầu tiên trong suốt ba năm qua, cô tin điều này.
 
Vua Gia Vị
Mười bốn


Tướng Molinaro ngồi bệ vệ nơi bàn giấy, mắt như ghim chặt vào cô khi cô báo cáo cuộc tìm kiếm của mình về văn phòng của Gray.

Cô không tìm thấy được lá thư nào nghi ngờ, không có danh sách địa chỉ liên hệ nào từ Cuba và hoàn toàn không có thứ gì liên quan.

Quan trọng hơn hết là máy truyền phát điện tín trong văn phòng không khớp với mã mà gián điệp mà hai sĩ quan cung cấp.

Điện tín mà hai tướng chặn được không đến từ nhà phố của Gray.

"Còn miếng đất của hắn ở Windover Landing thì sao?" tướng Molinaro hỏi.

Annabelle giải thích rằng cô đã dành gần hết hai ngày khám phá nhà kính của anh và đã ở trong trang trại để dùng bữa và ngủ lại đó.

Ở đó có người quản gia và vợ ông ta sống, và chắc chắn không có ai lại đi có ý nghĩ cất giữ tài liệu nhạy cảm trong một ngôi nhà mà anh hiếm khi ghé đến và có người khác đang sống như vậy cả.

"Lúc cô ở Windover Landing, tôi nghĩ là Gray Delacroix lúc nào cũng cách cô vài bước chân nhỉ."

"Đúng, anh ấy luôn ở đó," cô thừa nhận.

"Tôi cần cô quay lại đó," tướng Molinaro nói.

"Một mình.

Lên trên gác của trang trại đó.

Mấy cái lán cất đồ.

Bất kì nơi nào Delacroix chưa đưa cô đến xem."

Rõ ràng là cô chưa thể giải phóng hoàn toàn cho Gray được trừ khi cô làm thêm nhiệm vụ này, nhưng cô cần Gray cho phép.

Cô rủ anh lần tới ghé viện Smithsonian để cùng ăn trưa.

"Em đã thấy mấy cây lan hiếm của anh rồi còn gì.

Anh không muốn em lại phải thất vọng nữa," anh nói dịu dàng.

"Ồ, nhưng còn những cây thảo mộc và mấy cây khác nữa mà viện Smithsonian không có trong bộ sưu tập.

Ngài Norwood chắc hẳn sẽ rất vui với bất kỳ thứ gì em tìm được để đảm bảo cho em một chỗ làm.

Nào Gray, làm ơn đi mà."

Và như có phép màu, anh gật đầu.

Anh bao biện khi giải thích rằng do phải nghỉ bệnh nên công việc tồn ứ khiến anh buộc phải ở lại thị trấn, và đó cũng chính là điều mà cô mong đợi cho cuối tuần này.

Ông Jenkin sẽ đón cô tại cầu cảng và chở cô về lại nhà.

Điều cần làm lúc này là tìm kiếm ở Windover Landing, rồi cô sẽ thoải mái dẹp bỏ cái thứ vô vị này lại phía sau.

Gray chờ cho đến khi bà quản gia ra khỏi nhà để đi mua sắm theo thói quen hàng tuần, rồi anh gọi Otis vào thư phòng.

Chỉ còn mỗi mình họ nơi nhà phố nhưng anh cũng cẩn thận khóa cửa lại.

Bản tính anh là luôn cẩn thận, ngay cả trong thời buổi những chuyện bí mật không có vẻ gì là quan trọng.

Nhưng hôm nay lại khác, khi Otis phải làm gián điệp thay cho anh một lần nữa.

Chàng trai trẻ ấy ngồi đối diện với Gray nơi bàn làm việc và nhoài người tới trước khi báo cáo lại những gì cậu ta phát hiện được.

"Nhà Magruder sử dụng công thức do một nhà hóa học người Đức tạo ra," cậu nói, giọng trầm nhỏ, đưa tay vào túi lấy ra một mẩu giấy.

"Họ sử dụng dầu creosote và nhựa thông để trích xuất.

Họ còn hợp tác với một xưởng giấy ở North Carolina để lấy mạt gỗ nữa."

Gray nghiên cứu tờ giấy ghi công thức, cười vẻ hài lòng vì trong tay anh là bằng chứng nhà Magruder sử dụng một phụ phẩm từ gỗ để bắt chước trích xuất vani.

Sản phẩm của họ trông giống và có mùi tựa vani thật, nhưng vị lại vẫn chưa đạt tới.

Clyde Magruder nuôi cả một đội nhà hóa học để hiện thực hóa giải pháp này, còn Gray thì có kế hoạch chặn cái giải pháp ấy.

"Buổi họp mặt của Hiệp hội Thực phẩm và Gia vị sẽ diễn ra vào tuần tới," anh nói.

"Ta sẽ ở đó để cảnh báo mọi người.

Ngành công nghiệp thực phẩm cần có người giám sát, còn không thì chính phủ sẽ làm điều này."

Hiệp hội Thực phẩm và Gia vị là nhóm công nghiệp có thể gây áp lực lớn đến nhà Magruder, buộc họ phải dẹp bỏ cái giải pháp ấy.

Cứ mỗi năm một lần, hiệp hội tập hợp các công ty cạnh tranh lại với nhau để chia sẻ thông tin và đưa ra những giải pháp nhằm thúc đẩy ngành công nghiệp của họ.

Gray có một vị thế vững chắc tại diễn đàn này khi thảo luận các vấn đề liên quan đến hương liệu nhân tạo.

Đến nay, ngành công nghiệp của họ đã tránh được sự can thiệp của chính phủ, nhưng việc công nhận mạt gỗ là một loại thực phẩm sẽ gây rắc rối.

Và Gray đã sẵn sàng cho điều này.

Anh săm soi tấm bản đồ gia vị treo trên tường và khóe miệng nhếch cười.

Lúc này Annabelle đang ở đâu nhỉ?

Thực tình anh mong cô sẽ tìm thấy thứ gì đó tuyệt diệu trong nhà kính của anh tại Windover Landing.

Sẽ tuyệt không lời nào kể xiết nếu một trong hàng trăm mẫu vật mà anh nhập về trong suốt nhiều năm qua chứng minh được giá trị của nó đối với cô.

Anh mong cô không quá lệ thuộc vào chuyện phải làm vừa lòng Viện Smithsonian.

Cô không cần phải vậy.

Nếu cô bằng lòng lấy anh thì anh có thể đảm bảo cho cô và Elaine sống sung túc suốt đời.

Anh luôn là người quyết đoán, và sau khi chính thức là bạn trai của cô, anh hoàn toàn có ý định cưới cô.

Lời cầu hôn trong lúc này có vẻ còn hơi sớm nhưng không có nghĩa là anh chưa có kế hoạch cho điều ấy.

Vẫn còn một giờ nữa ngân hàng mới đóng cửa, nên anh muốn lấy chiếc nhẫn đính hôn của mẹ ra khỏi két.

Sau nhiều thập kỷ cất trong két sắt nhà băng, đã đến lúc chiếc nhẫn ấy tỏa sáng trên tay người phụ nữ thêm một lần nữa rồi.

Anh lấy chiếc chìa khóa nhỏ trong chiếc hộp an toàn gửi nhà băng và đưa nó cho Otis.

"Khi nào cậu đem hợp đồng chiếc Con Bồ Nông đến cho ngân hàng thì tiện thể lấy luôn chiếc nhẫn đính hôn của mẹ ta ra khỏi két giúp luôn nhé."

Đã đến lúc lên kế hoạch rồi.
 
Vua Gia Vị
Mười lăm


Annabelle nhờ quản gia dẫn đi một vòng quanh Windover Landing.

"Đợt vừa rồi, tôi không có nhiều thời gian đi dạo tại đây," cô giải thích khi vừa đến.

Lester và Tabitha Jenkin sống quanh năm suốt tháng tại nông trại này.

Lester cao ráo, mảnh khảnh, khóe miệng có nhiều nếp nhăn.

Ông ta kiệm lời nhưng vợ ông thì trái hẳn.

Bà đậm người và huyên thuyên liên tục khi Annabelle vừa đặt chân đến.

"Nơi này quá rộng vì chỉ có tôi và ông nhà Lester sống quanh năm ở đây," Tabitha nói khi bà dẫn Annabelle đi qua khu đất.

"Ông cụ Delacroix từng ở đây và ông ấy rất yêu cây cỏ.

Bọn tôi không mấy gặp ngài Delacroix con, nhưng ông ấy cũng xuất hiện đều đặn một hai lần trong một tháng, đa phần chắc là vì tôi nấu ăn ngon hơn đầu bếp nấu cho ông ấy ở thị trấn."

Tabitha tiếp tục huyên thuyên, nhưng Annabelle liên tục để ý đến đồ đạc trong nhà.

Ván lát tường màu trắng trơn lợp khắp bốn mặt nhà, tôn lên độ cao của trần nhà và đồ đạc trong phòng.

Chỉ duy nhất thư viện với bốn bức tường đều là sách và bản đồ che lấp.

Không có chiếc bàn nào, không có tủ, không có kệ khóa.

Annabelle mỉm cười khi cô bước vào trong phòng.

"Tôi nghĩ là bà có rất nhiều thời gian đọc sách ở đây trong suốt mấy mùa đông nhỉ."

"Cả Lester và tôi đều không thích đọc sách là mấy," Tabitha thừa nhận.

"Tôi có thể liếc qua mấy công thức trong sách nấu ăn, chứ ông nhà Lester thì không đụng đến một trang sách nào."

Vậy ông ta không biết đọc hay sao?

Không phải là chuyện của Annabelle lúc này, hoặc có lẽ một người không biết đọc sẽ phù hợp làm đầy tớ hơn để không phải biết những lá thư buộc tội ấy.

Người phụ nữ lớn tuổi giục Annabelle ra khỏi thư viện để đi vào bếp.

Trong bếp treo một hàng dài những chiếc nồi và chảo bằng đồng sáng bóng, còn có hai dãy kệ chất đầy các chai lọ gia vị Delacroix.

"Cô có muốn ăn thứ gì đặc biệt không nào?"

Tabitha hỏi.

"Tôi đoán cô sẽ rất thích món gà nướng đấy.

Nghe có thèm không?

Ai cũng thích gà nướng, nhất là khi ăn kèm với khoai tây nghiền.

Dĩ nhiên là tôi sẽ nướng thêm một cái bánh gừng nữa.

Ngài Gray rất thích bánh gừng tôi làm đây, nên tôi sẽ gửi một cái nữa nhờ cô mang về.

Nhớ thăm dò ánh mắt của ngài ấy khi nhìn cái bánh gừng nhé."

Annabelle không thể nói xen vào được một chữ, nhưng cô cần bắt đầu thăm dò tầng áp mái và xem kỹ thêm lần nữa thư viện.

Lester gật đầu thông cảm với cô khi ông mang lên lầu chiếc túi ngủ cho cô.

Cuối cùng, cô cũng tự mình thoát ra được luồng thao thao bất tận của Tabitha và đến được thư viện.

Có vài cuốn sách về cuộc nội chiến Mỹ, sách tham khảo về thảo dược và rau củ, nhiều tờ tạp chí Farmer's Almanac cũ nhưng không có gì liên quan đến vùng Caribe hay Cuba cả.

Ở đây cũng không có điện thoại bàn hay máy đánh điện tín nào, vì không có sợi dây điện nào nối với khu nhà nằm tách biệt như thế này.

Windover Landing đơn giản là không có bất kỳ dấu hiệu nào là một đầu não cho một cuộc cải cách hay lật đổ, phản gián nào cả.

Tầng áp mái rất nóng nực.

Bụi phủ khắp đồ đạc và rõ ràng chẳng ai mò lên tầng này, nhưng vẫn cần phải tìm rốt ráo để cô hoàn toàn giải phóng cho Gray.

Mấy cái thùng trên đó đựng toàn mùng mền cho mùa đông và một ít đồ nghề cũ kỹ, không hề có giấy tờ gì trông có vẻ nghi ngờ.

Sau rốt, cô cũng khịt mũi đi xuống vì bụi nhưng trong cô lại nhen nhóm cảm giác hy vọng.

Đêm ấy, cô nằm ngửa trên chiếu, nhìn lên trần nhà, mệt mỏi.

Lại một ngày nữa.

Rồi thì cô có thể trở về nhà và xóa sạch thứ ký ức chán đời này ra khỏi óc.

Có lẽ ngày nào đó cô thậm chí còn thú thật tất cả điều này với Gray.

Lúc đầu có thể anh sẽ tức giận nhưng có lẽ ngày nào đó, họ cùng ngồi lại và cười thẳng mặt thứ chuyện vô bổ này.

Sáng hôm sau, cô vào khám nhanh những gian phòng ngủ khác trên tầng hai.

Chỉ có vài bộ đồ treo trong tủ áo và các ngăn kéo tủ dường như trống trơn.

Chẳng có gì dưới gầm giường hay dưới chiếu nằm cả.

Trong phòng Gray có một tấm ảnh cũ lộng khung đặt trên bàn cạnh giường.

Nhìn vào là nhận ra Gray ngay nhưng Luke và Caroline lại khác, lúc ấy họ mới chỉ năm hay sáu tuổi.

Người đàn ông lớn tuổi chắc hẳn là cha họ vì Gray giống ông ấy ở cái cằm bạnh rất tự tin.

Cô mang tấm ảnh ra cửa sổ để xem rõ hơn.

Cha họ là người duy nhất ngồi, còn các con đứng phía trước Gray, và Gray khoác tay qua vai chúng.

Ông Delacroix nhìn thẳng vào máy ảnh nhưng Gray nhìn Caroline và gương mặt anh toát lên vẻ tự hào.

Anh từng nói Annabelle rằng anh giống như một người cha hơn là người anh đối với Caroline và Luke, điều này thể hiện rất rõ trong tấm ảnh.

Cô nhìn ra ngoài cửa sổ và mơ mộng một viễn cảnh tươi sáng.

Gray có thể sẽ trở thành người cha tốt.

Cô có thể thấy ánh mắt anh nhìn hai đứa em của mình, ngay cả khi nhiều lúc chúng làm anh cáu bẳn.

Chắc chắn anh cũng sẽ là người chồng tốt nữa.

Chỉ việc nghĩ về anh không thôi cũng đã khiến cô xôn xao, bồn chồn trong dạ.

Từ đây, bãi cỏ trông rất khỏe mạnh và được chăm cắt cẩn thận... ngoại trừ có một căn lán ọp ẹp ở đằng xa mà Gray từng ở với cha mình khi ngôi nhà chính bị cháy.

Nó hầu như bị cây cỏ che lấp, và cô hầu như quên mất nó tồn tại ở đó.

Và đó cũng là nơi còn lại cuối cùng cô chưa tìm kiếm.

Chắc cũng chẳng có gì, nhưng cô đặt tấm ảnh xuống và đi ra ngoài để xem rõ hơn.

Tới gần, căn lán trông còn bệ rạc hơn khi nhìn từ xa.

Cô phải bạt mấy bụi cây ra để dòm vào cánh cửa sổ ọp ẹp, nhưng cánh cửa ấy có khóa trong.

Trên cửa chính có khóa nên cô không thể vào được.

Miệng cô khô đắng.

Nếu đây chỉ là căn lán cũ kỹ giống như Gray nói thì tại sao lại cần phải khóa ổ khóa chứ?

Cô cảm thấy nhức đầu.

Chắc chẳng có gì giá trị bên trong đâu, vì căn lán này thực sự trông như căn nhà nhỏ sắp sập, nhưng cảm giác lo âu lại xâm chiếm lấy cô.

Chỉ cần liếc qua một chút để an tâm hơn đi nào.

Cô tìm gặp Lester đang sửa hàng rào ở phía sau nhà và hỏi ông ta mở căn lán.

Ông đứng thẳng dậy và vuốt mồ hôi.

"Tôi không có chìa khóa ở đó."

"Có gì trong đó vậy?"

"Đừng bao giờ hỏi."

Miệng cô khô đi, nhịp tim tăng nhanh.

"Vậy ai có chìa khóa?"

"Không thể nói cô biết được," ông nhún vai nói, rồi quay lại với công việc dang dở.

Thật điên rồi, nhưng Lester cho thấy ông ấy không có hứng thú gì hay tò mò gì với căn lán lạ kỳ ấy.

Ông ta hoàn toàn chú tâm vào việc làm cho cái hàng rào ông đang sửa phải thẳng tắp.

Điều này có nghĩa là cô có thể lén leo vào căn lán mà không để cho ông ta biết.

Cô túm váy lại và đi nhanh về phía căn lán, mắt dõi theo cái mái nhà và bố trí các cửa sổ.

Từ lúc Annabelle đủ lớn để tập đi thì cô đã từng leo trèo lên những ụ rơm và leo cả lên mái nhà để giúp cha sửa sang mọi thứ.

Vậy nên cô cũng tự mình xoay xở lọt được vào căn lán này.

Ổ khóa vẫn chắc chắn, còn cửa sổ vẫn cứng im ỉm.

Còn một cánh cửa sổ con nằm phía trên cửa chính.

Trời nóng nực, nên cái cửa sổ ấy có lẽ là để cho khí nóng bên trong thoát được ra ngoài.

Annabelle tìm trong khu chuồng ngựa một cái thang và cái xà beng.

Năm phút sau, cô dựng chiếc thang bên dưới cửa sổ con ấy, leo lên và bắt đầu nạy cho cửa sổ mở ra.

Không lâu sau, cửa sổ con bật mở dễ dàng.

Cô tìm thấy chỗ đặt chân ngay trên tay cầm cửa, cô vén váy lên, sau đỏ đặt cả hai chân vào cửa sổ mở.

Còn đang giữ thế thăng bằng ở trên cao, cô dừng lại thầm cầu nguyện vài câu nhanh chóng.

Làm ơn, cô thì thầm.

Mong cho trong này chẳng có gì.

Cô nhoài hết người vào trong, khung cửa sổ, và rồi thả người nhảy xuống đất.

Phải mất một lúc để mắt cô quen dần với bóng tối bên trong... nhưng đây không phải là căn lán bình thường.

Nền nhà lót gỗ, sáng bóng ánh véc-ni và một kệ sách trĩu nặng với nhiều sách và các bìa đựng giấy tờ nằm một khu.

Đây từng là phòng đọc thường xuyên dùng tới, với nhiều giấy tờ và thiết kế ấm cúng, có cả một chiếc bàn giấy, một máy đánh chữ và nhiều kệ chất đầy sách.

Thật khó thở.

Có lẽ điều này cũng chẳng nghĩa lý gì.

Có lẽ có một vài lý do nào đó mà chiếc lán này được gia công hoàn hảo và rõ ràng được sử dụng nhiều.

Có lẽ Lester hay Tabitha xây cất nó làm phòng đọc riêng.

Có lẽ nó không thuộc về Gray.

Anh ấy vẫn trong sạch.

Cô đi dọc kệ sách, xem xét các tựa sách.

Cuba.

Hải quân.

Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ.

Thật khó đọc tiếp được khi cơn run ập tới.

Đây vẫn có thể hoàn toàn trong sạch.

Gray là người được đào tạo bài bản, có những chính kiến về chính trị riêng và anh ấy có thể đọc bất kỳ thứ gì anh ấy thích, ngay cả những thứ ấy rất quan trọng về mặt chính trị.

Thật khó để đứng vững được, nên cô kéo chiếc ghế ở bàn làm việc lại, ngồi phịch xuống.

Chiếc bàn ở ngay trước mặt, đó là chiếc bàn đẹp, có các núm bằng đồng và được đóng gỗ mộng.

Tìm những ngăn kéo bàn, cảm giác của cô kinh khủng như đang mở chiếc hộp Pandora vậy, rất khó thực hiện điều này.

Không mất bao lâu, những thứ cô tìm sờ sờ trước mặt, ngay ở ngăn kéo đầu tiên.

Một tấm bản đồ treo tường của Cuba được gấp lại, trên đó có những ghi chú bằng chữ viết tay, đánh dấu các địa điểm cắm quân của quân đội Mỹ.

Bên dưới bản đồ là cuốn sách nhỏ, bằng da mà giới học thức thường bỏ trong túi áo trong ngực.

Trang đầu tiên liệt kê những người ủng hộ Cuba, mà hầu hết những cái tên trong đó tướng Molinaro yêu cầu cô tìm kiếm.

Trang tiếp theo liệt kê những mã để trao đổi thư tín.

Các ngăn kéo khác chứa nhiều giấy tờ và tài liệu.

Chúng viết bằng tiếng Tây Ban Nha nên cô không thể đọc hiểu được, nhưng cô có thể lấy chúng.

Có thể ai đó trong chính phủ cần đến chúng.

Ở đây thật khó thở.

Các bức tường bao kín và cô phải ra ngoài ngay thôi, tránh xa khỏi chiếc bàn khủng khiếp ấy.

Cô kéo chiếc ghế đến cửa sổ con và ném giấy tờ ra ngoài cửa sổ.

Sau đó cô nhún mình lên theo cách từng vào, ánh mặt trời dường như quá chói chang.

Cô cảm giác như mình già đi năm mươi tuổi ở trong một không gian chừng năm phút.

Cô ngồi bệt xuống bậc thềm căn lán, thế giới dường như quay mòng mòng xung quanh.

Không.

Không.

Gray Delacroix không phải là thế giới của cô, và điều này không thể phá hoại đời cô được.

Cô đã mê đắm người đàn ông có một lỗi lầm quá lớn mà cô không thể xem thường được.

Cô gom giấy tờ và tấm bản đồ lại, rồi đi về phía ngôi nhà.

Ngay cả chuyện cầm trên tay mớ giấy tờ này thôi cũng đã bị buộc tội là nổi loạn rồi, và chúng cần được trao tới cho chính phủ.

Chúng chứa quá nhiều thông tin mà có thể cứu sống nhiều người, cho cả hai phe.

Cô đi thẳng lên phòng ngủ của mình để cất giấu tài liệu vào giỏ.

Khi cô đi xuống cầu thang, Tabitha gật đầu ra dấu đến chiếc bánh gừng đã làm nguội.

"Cô đem chiếc bánh gừng này về cho ngài Gray nhé?"

Mùi vị âm ấm của các loại gia vị khiến Annabelle muốn chảy nước mắt, rồi cô không thể chịu được khi ở gần chúng nữa.

Cô mỉm cười, buồn bã nói.

"Không, bà hãy giữ lại.

Chắc còn lâu tôi mới gặp lại ngài Gray."

Annabelle trở lại Washington khi trời đã xế chiều.

Vừa vào nhà, cô bỏ ngay đồ đạc xuống và thở phào nhẹ nhõm khi Elaine chưa về.

Thật không thể giả vờ được là không có chuyện gì xảy ra.

Hai mươi phút sau, cô đến tòa nhà đồ sộ của Bộ Chiến tranh1, nằm ở ngay mé Tây của Nhà Trắng.

Chiếc túi vải khá nặng khi cô phải vác nó đi lên nhiều bậc thang mới tới được cánh cửa chính.

Trọng lượng của chiếc túi đã khiến cho cả cánh tay và vai cô đau nhức, ngay cả khi chiếc túi chỉ chứa mỗi một chiếc bản đồ, một cuốn sổ mỏng và vài lá thư.

Nhưng đủ để treo cổ một người.

Và đủ để cứu vô số người ở cả hai bên chiến tuyến.

Tiếp tục cố bước lên từng bậc thang, cái nóng khiến cô khó thở.

Mỗi bước chân rút bớt một chút năng lượng trong cô.

"Annabelle!

Annabelle Larkin, khỏe không nào?"

Giọng nói sáng sủa cắt ngang nỗi thống khổ đang dày vò.

Cô nhìn lên và thấy Caroline Delacroix đang đi xuống bậc thang tòa nhà Bộ Chiến tranh, hai tay dang rộng chào đón cô một cách thân mật.

Annabelle bước ngược xuống một bậc thang.

Ngoài Gray, em gái anh có thể là người cuối cùng trên trái đất này mà cô muốn gặp.

"Tôi khỏe," cô nói, nhưng không thể nhìn thẳng vào mắt của Caroline.

Cô muốn bỏ trốn, nhưng Caroline vẫn một mực chắn đường.

"Chúng mình nên đi uống trà thôi," Caroline vui vẻ nói.

"Em có rủ Gray nhưng anh ấy quá bận chuẩn bị cho buổi thuyết trình ở Hiệp hội Thực phẩm và Gia vị.

Thấy đó!

Có vẻ em thật ngớ ngẩn, nhưng Gray cứ giống như bị nghiện công việc thế nào ấy.

Chắc phải đợi cho xong cuộc họp đó thì anh ấy mới chui ra khỏi cái kén công việc của mình."

Thật là sự tra tấn.

Annabelle luôn luôn ngưỡng mộ cái lối châm chọc nhẹ nhàng giữa anh em nhà Delacroix nhưng nội dung có trong chiếc túi cô đeo có thể thổi bay mối thâm tình này.

"Tôi có vài chuyện cần làm," cô nói, cố né khỏi tầm chắn của Caroline để tiếp tục bước lên bậc thang, nhưng một lần nữa, Caroline chặn cô lại khi cầm ngay lấy tay cô.

"Em thấy nữ công tước Frederica ở đại sứ quán hồi tuần rồi, nên nhớ lại buổi rửa tội cho chiếc thuyền buồm ấy, thật là tuyệt phải không chị?

Nếu em sống đến được một trăm tuổi thì em vẫn còn nợ chị của chị đấy.

Nhờ chị nói hộ lời cảm ơn của em đến chị Elaine nhé."

"Được rồi," Annabelle nói, tiếp tục bước lên bậc thang.

Vài phút sau, cô được hộ tống đến phòng riêng của tướng Molinaro ám đầy khói xì gà khiến cô như muốn bệnh.

Vị tướng gật đầu lịch sự và chỉ vào chiếc ghế mời cô ngồi.

Cô không muốn ngồi, mà chỉ muốn làm cho xong chuyện này.

"Tôi tìm thấy vài thứ có lẽ ông quan tâm."

Cô chìa ra chiếc túi vải.

Cô kinh tởm không thể đụng đến cuốn sổ tay và những lá thư trong đó.

Khi tướng Molinaro trút hết mọi thứ trong chiếc túi ra, cô trừng mắt nhìn ra cửa sổ.

Từ đây thấy Nhà Trắng rất rõ, nó nằm ẩn khuất giữa những tán lá xanh thẳm mùa hè.

Cô đang làm điều đúng đắn, chỉ mỗi tội là cô ghét cái nội dung trong đó mà thôi.

Tướng Molinaro huýt sáo nho nhỏ, vẻ trầm trồ.

"Làm rất tốt."

"Chuyện gì sẽ xảy đến với anh ta?"

Giọng cô nghe the thẻ, có phần kinh khiếp trong căn phòng lộng lẫy này.

"Chuyện này chỉ có tòa án mới biết được thôi," ông nói.

Cô lưỡng lự, nhưng ngay lập tức ông dịu giọng với cô.

"Cô Larkin này, đây là chuyện mưu phản.

Không có gì phải khoan nhượng ở đây cả.

Đôi khi cuộc sống buộc chúng ta phải đưa ra những lựa chọn rất khó khăn, không thể chịu nổi, nhưng nó không thể ngăn chúng ta làm điều đúng đắn.

Những gì cô làm rất đáng tự hào."

"Tôi không tự hào."

Cô đứng lên và ra khỏi văn phòng mà không nói thêm lời nào.

[1] Bộ Chiến tranh Hoa Kỳ (United States Department of War), cũng còn gọi là Phòng Chiến tranh (War Office), từng là một bộ cấp của .

Thoạt đầu bộ chịu trách nhiệm đối với sự hoạt động và duy trì .

Bộ cũng từng chịu trách nhiệm đối với các vấn đề của hải quân cho đến khi được thành lập vào năm 1798, và chịu trách nhiệm đối với không lực có căn cứ trên bộ cho đến khi được thành lập vào năm 1947.

Bộ Chiến tranh tồn tại từ năm 1789 cho đến ngày năm 1947 khi nó được đổi tên thành , và trở thành một bộ phận của Tổ chức Quân sự Quốc gia (National Military Establishment) liên hợp, mới thành lập.

Chẳng bao lâu sau đó vào năm 1949, Tổ chức Quân sự Quốc gia được đổi tên lại thành trong đó Bộ Lục quân là một bộ phận cho đến ngày nay.

Theo Wikipedia.
 
Vua Gia Vị
Mười sáu


Buổi gặp gỡ hàng năm của Hiệp hội Thực phẩm và Gia vị luôn luôn diễn ra tại Washington, trong một câu lạc bộ xịn xò nhất nước Mỹ.

Có đến gần một trăm doanh nhân khắp cả nước tề tựu lại trong một khoảng sân tươm tất ngay khi Gray đặt chân đến.

Thông thường, những người đến đây thường là những đối thủ cạnh tranh quyết liệt với nhau, nhưng trong suốt ba ngày hội họp này, họ đều tra gươm vào vỏ và cùng nhau giải quyết những vấn đề chung của mình.

Và một trong những vấn đề này đi thẳng đến Gray.

Dickie Shuster là tay phóng viên của tờ The Washington Post, với vỏ bọc là viết về mảng kinh doanh và chính trị, nhưng thực chất hắn là tay buôn chuyện nổi tiếng.

Trong khi giả vờ tham dự những sự kiện như thế này thì hắn luôn luôn dõi tìm những ai uống hơi quá chén một chút, hoặc những ai khoái dòm ngó vợ người khác.

Trong chiếc áo jacket kẻ sọc và chiếc nơ đeo cổ áo, Dickie trông như người đam mê nghệ thuật, nhưng đó chỉ là ảo ảnh mà thôi.

Cách nay vài năm, hắn vồ được một tay ngoại giao người Nga mê đua ngựa hơi lố.

Trong khi điều tra số tiền cá cược của tay này, Dickie đã lần theo được sợi dây dẫn ngược về những vụ mua bán vũ khí nổi tiếng từ một công ty Đức cho Nga hoàng, kết quả là tay ấy phải ra tòa vì tội biển thủ và thông đồng với kẻ thù.

Kể từ đó, Gray chưa bao giờ xem nhẹ Dickie Shuster.

"Gray!"

Dickie gọi như thể họ quen nhau từ kiếp trước.

Nhưng không.

Trên tay hắn cầm chiếc ly thủy tinh cao, toác miệng cười.

"Tớ lấy cho cậu một ly rượu bạc hà nhé?

Chẳng gì tuyệt hơn làm một hớp rượu ngô Kentucky trong tiết trời chiều hè ấm áp như thế này."

Gray từ chối.

Anh hiếm khi nhậu nhẹt trong các cuộc hội họp, và không bao giờ uống khi có sự xuất hiện của báo chí.

"Chuyện làm báo thế nào rồi?" anh hỏi cho có lệ.

"Luôn ăm ắp như lâu nay thôi," Dickie hạ giọng và quay lại đối mặt với anh.

"Có phải tớ nghe loáng thoáng chuyện em trai cậu có thù hằn gì với nhà Magruder phải không?

Có vẻ như chuyện này nóng lên thêm lần nữa vậy."

Cứ cho là ba thế hệ nhà Magruder cứ muốn kiện tụng nhà Delacroix nhưng Gray không muốn trả lời xíu nào.

Clyde Magruder, người thừa hưởng gia nghiệp, rất dễ nhận ra với cây gây chống mới bằng vàng và vẫn cái nụ cười ngọt xớt ấy.

"Tôi không bao giờ bàn đến chuyện của em mình."

"Nhưng cậu phải thừa nhận là Luke có thể là lá bài may rủi chứ," Dickie nhấn mạnh.

"Cậu có đồng ý với tớ là sẽ tốt hơn nếu tin tức tớ lấy trực tiếp từ gia đình thay vì từ những lời đồn thổi bên ngoài không?

Cậu biết là ngoài đường người ta có thể nói nhăng nói cuội đủ thứ."

"Hoặc có lẽ là chẳng có câu chuyện nào cả."

Dickie cười nhạt và nhún vai.

"Nếu tớ không thể lấy tin gì được về Luke thì em gái của cậu thế nào rồi?

Ngày nọ, tớ có thấy cô ấy ở Nhà Trắng và cô ấy trông thật kiều diễm.

Nói không quá chứ muốn chảy nước miếng ấy."

Gray cứng người.

Chẳng người đàn ông nào muốn nghe về em gái mình bị bàn tán với cái giọng điệu ấy, nhất là chúng được thốt ra từ miệng lưỡi của một tay phóng viên.

Nên Caroline càng tránh xa đám phóng viên thì càng tốt cho em ấy.

"Tôi không có ý định bàn về em gái mình," anh nói, nhìn xung quanh xem có đám người tụ tập nào mà mình có thể tham gia cùng hay không.

"Thôi nào!"

Dickie cứ thúc.

"Tớ có nghe là đến phân nửa Washington này nằm dưới chân cô ấy, còn nửa kia thì đang cá cước xem khi nào đệ nhất phu nhân sẽ sa thải cô ấy."

Một giọng nói cộc lốc vang lên phía sau hắn.

"Chẳng công bằng chút nào khi nhắm vào đối tượng không tham chiến nhé Dickie.

Cậu biết vậy mà."

Đó là lão Jedidiah Magruder già, đứng đầu nhà Magruder hiện thời.

Gương mặt lão trông cứ như bị những chiếc rìu chiến trận khắc lên vậy, nhưng bộ cánh lão mặc lại không một tì vết.

Dickie cảm thấy bị vuột con mồi moi tin, nhưng khi thấy hai người họ đi dọc theo đài phun nước, Dickie lại cảm thấy đây có thể là nguồn tin hứa hẹn nào đó, rồi để cho Gray đứng cạnh đối thủ truyền kiếp của gia đình anh.

"Tôi không có dịp để bày tỏ lòng thương tiếc đối với cha cậu," Jedediah nói.

"Nicolas Delacroix là người đàn ông giỏi và ngành công nghiệp này thực sự mất đi một nhân tài."

"Cảm ơn," Gray đáp.

"Tôi rất mừng vì cậu quay về nước nên tôi mới có cơ hội xin lỗi về mấy thứ vớ vẩn trong mấy năm qua."

Ba người chết, đó là những gì Jedidiah Magruder xem là "vớ vẩn".

Gray vẫn giữ gương mặt không biểu lộ cảm xúc.

"Vâng.

Còn gì nữa nào."

"Chuyện không bình thường chút nào," lão nói.

"Thật xấu hổ vì những gì chúng ta cùng cố hợp tác với nhau lại tan thành mây khói, nhưng tai nạn xảy ra, chúng ta lại không còn cơ hội nào để hợp tác nữa."

Clyde Magruder nhập hội cùng với cha hắn, còn Gray chú ý đến chiếc nhẫn sapphire ửng hồng mới được đính trên cây gậy vàng của hắn.

Ở tuổi năm mươi, Clyde lên nắm quyền lãnh đạo tập đoàn Thực phẩm Magruder cách nay vài năm.

Trong khi lão Jedidiah Magruder từng là đối thủ cạnh tranh cứng cựa thì người con lão vừa cứng hơn, vừa lọc lõi hơn.

"Chào mừng trở lại thế giới văn minh," Clyde nói.

"Anh ở đâu thế?

Ấn Độ à, tôi có nghe thế?"

"Ceylon," Gray đáp, phớt lờ cái vẻ mỉa mai lịch lãm của Clyde.

"Họ có cách trộn mù tạt bằng nhiệt độ tự nhiên rất hay nên tôi hứng thú với chuyện trồng trọt ở đó."

"Tìm đúng nhà hóa học đi mày," lão Magruder khuyên.

"Mày không thể dùng quá nhiều hay quá ít nhiệt theo sở thích của mày được."

Clyde nở nụ cười hòa nhã.

"Cha à, cha biết là nhà Delacroix không tin vào khoa học mà.

Con rất ngạc nhiên khi biết nhà xưởng của họ còn không có điện.

Nói với cha hoài, bằng tốt nghiệp hóa học của con là từ đại học Princeton đấy, nên con chưa bao giờ sợ khoa học cả.

À, anh học ở đâu nhỉ, Gray?"

"Tôi không đi học đại học, Clyde."

"À, đúng rồi," Clyde nói móc mẻ, ra vẻ rất ngạc nhiên.

Dường như hắn muốn mang chuyện Gray không có bằng đại học lên mọi buổi hội họp thế này.

"Khoa học là con sóng của tương lai.

Anh có thể thích ý tưởng nấu theo cùng một cách mà Martha Washington đã làm cách nay trăm năm, nhưng vui lòng đứng tránh đường cho chúng tôi, hmm?

Cha anh rất cổ hủ khi đối mặt với khoa học, còn tôi thì mong anh tiến bộ hơn một chút đấy."

Gray có thể chịu đựng bao nhiêu cũng được, nhưng không thể chịu đựng nổi khi ai đó đụng chạm đến cha mình.

Anh mỉm cười khi đổi chủ đề bàn luận.

"Tôi hiểu những lời chúc mừng cần đi theo thứ tự chứ nhỉ.

Một đứa con nữa à?"

Clyde cứng người khi nghĩ tới cô vú em đang mang thai đứa con với hắn, rồi tố cáo cô ta tội trộm cắp.

Jedidiah ngạc nhiên nhìn con mình, rồi Clyde cười nhăn nhó với Gray.

"Có lẽ anh nghe nhầm rồi."

Gray gật đầu nhượng bộ.

"Chắc vậy rồi.

Dù sao cũng chúc mừng."

Anh quét nhìn đám đông, nhìn đám người gần đó đang chờ được có cơ hội trò chuyện với lão già vĩ đại của ngành đóng gói thực phẩm này.

Anh chú ý đến gương mặt của họ, cố nhớ hết những người háo hức muốn đi theo lối của nhà Magruder.

Sản phẩm đi ra từ nhà kho của nhà Magruder bán vượt xa hết tất thảy những người ở đây gộp lại, nhưng đó là nhờ giá bán rẻ, sản phẩm giả nhãn mác và dùng hương vị nhân tạo.

Ngành công nghiệp thực phẩm đang đứng ở chóp nên ai cũng dự đoán xem ngành này sẽ đi đâu về đâu trong thập kỉ tiếp theo.

Đi tắt như nhà Magruder đang tiên phong liệu có thành xu thế chính, hoặc nhà Delacroix có thể vạch ra một lối đi cạnh tranh riêng với những sản phẩm thật và nguyên chất.

Anh không thể dự đoán được tương lai, nhưng bằng may mắn, anh có thể sử dụng hội nghị cuối tuần để chuyển đợt sóng này thành lợi thế cho mình.

Annabelle thường đọc báo cho Elaine từ khi chị cô bị mù.

Trước đây, công việc này thường thú vị nhưng bây giờ lại là chuyện khó khăn mỗi ngày vì cô phải lướt qua mọi mục trong tờ báo, tìm kiếm tin tức về Gray.

Họ có bắt Gray chưa?

Liệu tình huống như vậy có lên mặt báo không?

Chính phủ có thể xử lý âm thầm vụ này, cô chưa từng gặp tình huống như vậy bao giờ.

Elaine đang đọc một trong những cuốn sách braille của chị khi Annabelle về nhà, trên tay cầm tờ báo chiều.

"Chị cứ đọc đi trong lúc em tìm coi có tin tức gì hay ho không," cô nói, hy vọng nỗi lo lắng trong cô không lộ ra ngoài giọng nói.

Cô chưa bao giờ nói với Elaine về chuyện mình làm gián điệp cho chính phủ.

Cô xấu hổ về Gray và cả về bản thân mình nữa.

Sâu tận đáy lòng, cô ước chi mình chưa bao giờ bị ép vào chân tường để buộc làm gián điệp.

Ngón tay cô run rẩy khi lật tờ báo, khẩn cầu sao cho cô có thể biết được gì đó nhưng lại chẳng tìm thấy gì.

Không có gì.

Cô thở phào.

Lại một ngày hoãn lại nữa.

Cô lật trang trước tờ báo và để mắt đến một câu truyện thú vị khác.

"Có rồi nè.

Em tìm thấy một bài viết thú vị đây," cô nói, và Elaine đặt sách của chị sang một bên.

"Báo viết là David Fairchild vừa từ nước ngoài trở về, mang theo hàng trăm mẫu trái cây mới, có cả giống lúa mạch cho Bộ Nông nghiệp nữa."

Cô từng nghe đến Ngài Fairchild rồi, vì ông ta là nhà thực vật học, vạch ra chương trình khai phá thực vật cho Bộ Nông nghiệp.

Annabelle tiếp tục đọc bài báo, nhưng có vẻ Elaine không hứng thú, vì ngón tay chị lại tiếp tục sờ đến cuốn sách braille.

"Tin này chán hả chị?"

Annabelle hỏi.

Elaine liền nhấc tay ra khỏi sách như thể chị bị bỏng lửa.

"Không hề.

Chị xin lỗi.

Em tiếp tục đi."

Annabelle cầm lại tờ báo.

"Ngài Fairchild rất tự hào về nỗi lực nhận diện nhiều giống cây hoa bia cho năng suất cao khi ông đến Bavaria,"cô đọc.

Câu truyện khá thú vị.

Với cái kết là nhà thực vật học trẻ tuổi ấy có thể chọn vài giống cây hoa bia Bavaria về trồng trên đất châu Mỹ.

Một số nông dân tỏ ra khá bảo thủ, họ thuê người canh giữ cánh đồng của mình để khỏi bị trộm.

Ngón tay của Elaine lại lần nữa tiếp tục sờ đến sách của chị.

Chị thậm chí không chú ý một chút nào!

"Chị đang đọc gì vậy?"

Annabelle hỏi.

Nếu Elaine có thứ gì đó thú vị thì có lẽ chị có thể đọc to lên rồi.

"Chị không nghĩ em sẽ thích đâu," Elaine nói nhanh.

"Chị thử xem nào."

Elaine tỏ chút bối rối nhưng cuối cùng đóng cuốn sách lại để Annabelle có thể thấy bìa sách.

Bìa được viết bằng chữ braille cũng như chữ thường.

Lịch sự nấu nướng các món ngon từ thịt.

"Chị lấy cuốn sách này ở đâu vậy?"

Annabelle hỏi, tỏ ra rất tò mò.

Elaine nhún vai.

"Chị không biết.

Chỉ là nó làm chị thích thôi."

Rồi họ quyết định mỗi người tự đọc lấy, cho dù chẳng có nội dung gì khiến Annabelle thực sự quan tâm cả.

Lo lắng của cô về Gray Delacroix tiếp tục lớn dần lên, cô tự hỏi bây giờ anh đang làm gì.

Nếu anh vẫn chưa bị bắt, anh liệu có tận hưởng những giờ phút cuối cùng được tự do hay không.

Thật không thể tận hưởng được chút hương vị chiều hè đơn giản như này được khi biết thế giới của Gray sắp bị thiêu rụi.
 
Vua Gia Vị
Mười bảy


Gray có lịch diễn thuyết lúc giờ trưa của ngày cuối cùng hội nghị.

Hai ngày qua, nhiều diễn giả khách mời nói nhiều về những sáng tạo, phát minh về lò sấy thương mại hóa, các hệ thống đóng gói tự động và các kỹ thuật đóng chai mới.

Phần lớn thời gian ngày hôm qua mọi người bàn về cách làm thế nào để đương đầu với chuyện thuế quan đang cản trở giao thương quốc tế.

Tối qua, Jedidiah Magruder chia sẻ suy nghĩ của lão về tiềm năng của hương liệu hóa học và lão thu hút được gần hai trăm người nghe trong ngành thực phẩm và gia vị.

Nhưng đó là cục vàng giả mà thôi, chính công việc của Gray mới thực sự đánh bật đối thủ truyền kiếp của gia đình anh.

Buổi trưa gần xong, hầu hết người tham dự hội nghị ở buổi tiệc bỏ muỗng nĩa xuống, quay ghế hướng lên diễn đàn để chuẩn bị nghe thuyết trình.

Gray cẩn thận nhìn thăm dò mọi người.

Anh là người mới nên hơi có phần bất lợi.

Trong khi mọi người đều thích thú với những kỹ thuật sáng tạo mới mà nhà Magruder đề xướng thì vẫn còn nhiều quan ngại, và Gray cần biết được ai sẽ là đồng minh với anh.

Gray khởi đầu bài diễn thuyết của mình bằng câu chuyện hồi tưởng bữa ăn mới vừa xong của họ từ nhà bếp.

" Tôi có xem bếp trưởng chuẩn bị nước sốt mù tạt cho món gà om mà chúng ta vừa thưởng thức," anh nói.

"Mỗi nguyên liệu anh ấy dùng đều là nguyên liệu tự nhiên.

Hạt mù tạt đất, tỏi thái nhỏ và kem tươi.

Anh ấy xắt nhỏ thì là và húng quế được hái trong vườn sáng nay.

Anh ấy hoàn tất món ăn này với nước sốt rưới lên trên, thêm ít rượu trắng nữa."

Và sau khi bài trí trên dĩa, có vẻ như ai cũng thích dùng món này.

Dickie Shuster của tờ Washington Post đặc biệt thích món gà om, đến nỗi hắn phải ăn tới dĩa thứ hai.

Gray tiếp tục, vẫn giọng nói rõ ràng, đầy tự tin.

"Các bạn sẽ rất vui khi biết là đầu bếp của chúng ta không hề thêm bất kỳ gia vị nhựa gỗ nào vào trong công thức chế biến.

Không có dầu để làm đậm đặc món sốt.

Không dùng màu lưu huỳnh để bắt chước màu sắc và nhiệt độ của mù tạt tự nhiên."

Trong lúc anh vẫn chưa nhận ra được ai là đồng minh của mình trong đám đông thì anh lại bắt gặp những kẻ phản đối.

Vài người cục cựa trên ghế ngồi hay tránh nhìn lên diễn đàn.

Anh tiếp tục, lòng không hề nao núng.

"Khoa học tiến bộ giúp chúng ta tìm ra được những nguyên liệu thay thế rẻ hơn, dễ dàng hơn, nên chúng ta phải bắt đầu tự giám sát chính mình.

Nếu chúng ta không làm vậy thì sớm muộn gì chính phủ sẽ nhảy vào làm thay chúng ta.

Các bạn có muốn người của nhà nước nhảy vào dòm ngó nhà máy của các bạn, lục lọi hồ sơ, giấy tờ mua bán, giám sát sản phẩm của các bạn hay không?

Đúng, rất khó để giữ cho nông sản luôn tươi mới trong khi chúng còn phải được xuất đi khắp thế giới.

Đây là nơi mà chúng ta nên đầu tư nghiên cứu khoa học: là làm thế nào để bảo quản trái cây, rau củ và thảo dược thay vì làm chúng mau chín nhờ hóa chất."

Đến lúc này anh mới nhận ra được ai là đồng minh.

Họ gật gù và mỉm cười.

Vài người còn chồm người tới trước để thì thầm với người khác.

Bỗng có rục rịch ở cuối phòng.

Một người phụ nữ bước vào.

Gray mở to mắt ngạc nhiên vì đó là Caroline.

Một người khác từ cửa bên bước ra định giúp đỡ nhưng cô phớt lờ, đi lẫn qua mớ bàn ghế để tiến ngay đến bục phát biểu.

Có gì đó sai sai.

Mặt cô trắng bệch.

Gray thả tờ giấy ghi chú xuống và rời khỏi bục khi cô tiến lại gần.

"Chuyện gì vậy?"

Cô nắm ngay cánh tay anh.

Cô đang run.

"Luke vừa bị bắt.

Anh cần đi ngay."

"Cái gì?

Nhưng cậu ta đang ở Cuba mà."

Chuyện này không có nghĩa gì cả.

Luke lúc nào cũng qua mặt chính quyền.

Rõ là có chuyện gì đó không suôn sẻ đang diễn ra.

Mọi người quay ghế lại, tò mò xem vở kịch gia đình đang diễn ra ngay tại bữa trưa bế mạc hội nghị.

Dickie Shuster mở cuốn sổ tay ra, mắt hắn dán chặt vào họ.

Caroline thấp giọng, nên anh chỉ có thể nghe được cô thì thầm, giọng run run.

"Họ tố cáo cậu ấy làm phản.

Họ nói cậu ấy có thể bị treo cổ."

Giống như bị đá vào bụng.

Gray có để mắt đến chính trị nhưng Luke thì không quan tâm chút nào.

Có thể có nhầm lẫn gì ở đây.

Anh nắm tay Caroline lôi cô ra cửa.

"Chúng ta đi nào," anh nói chắc nịch.

Hai trăm người nhìn anh rời khỏi phòng, nhưng anh không mảy may quay lại nhìn họ.

Caroline quay lại Gray ngay khi họ ngồi vào khoang xe ngựa hướng về trung tâm thị trấn.

"Em có nhận được một lá thư của Philip Ransom," cô nói.

"Anh ta nói là Luke vừa bị bắt sáng nay, với tội là ủng hộ cho phe nổi dậy ở Cuba."

"Luke không quan tâm đến chính trị."

Caroline trông như thể hết hy vọng.

"Em biết!

Đó cho nên tại sao chuyện này không ăn nhập gì cả.

Lúc này chắc Philip biết thêm tin tức gì đó."

Họ vội vã chạy lên bậc thang của tòa nhà Bộ Chiến Tranh, sau đó chạy thẳng xuống tầng hầm, nơi Philip đang làm việc tại Phòng Bản đồ Hải dương.

Cửa văn phòng đang mở, cậu ta vội đứng lên ngay khi vừa thấy họ vào.

Văn phòng nhỏ, không cửa sổ, trên tường dán đầy bản đồ càng làm cho gian phòng trông ngột ngạt.

"Mời vào," Philip nói, giọng ảm đạm, sau đó đóng cửa lại sau lưng họ.

"Chuyện quái gì đang xảy ra vậy?"

Gray giọng kẻ cả, vang dội khắp bốn bức tường.

"Vài giờ trước em có nói rồi đó," Philip nói.

"Có ai đó tìm thấy mấy lá thư giữa Luke và đám nổi dậy Cuba đang muốn đuổi cổ người Mỹ ra khỏi đất của họ.

Chuyện này có vẻ tệ rồi đấy."

"Không thể tin được.

Tôi đưa cậu ấy đến Cuba để thương lượng hợp đồng về tiêu đen cayenne mà.

Luke thích theo đuổi mấy ả đàn bà hơn là can dự vào mấy chuyện chiến sự quốc gia."

Philip trông nghi hoặc.

" Anh có đọc qua mấy bài viết của cậu ta chưa?"

"Nghe này, tôi biết cậu ta đang bị đám báo chí lôi kéo..."

"Không chỉ là chuyện lôi kéo không đâu," Philip cắt ngang.

"Anh có đọc bài báo nào trên tờ The Modern Century chưa?"

Gray chần chừ về cái tên tạp chí nghe lạ lẫm ấy.

"Tôi không tốn thời gian vô mấy thứ vô bổ ấy."

"Thường thì em cũng thế, nhưng em luôn đọc những gì mà Luke viết.

Rất mạnh mẽ.

Đầy nhiệt huyết.

Nên em sợ những gì em đọc trong bài viết ấy có thể khiến Luke dây đến chính trị hơn là em tưởng.

Khi cậu ấy bị bắt, họ phát hiện trong cặp của cậu ấy có vị trí hiện thời của các tàu chiến Mỹ."

Gray thả phịch người xuống một chiếc ghế gần đó, tay ôm lấy đầu và mắt trừng trừng nhìn xuống sàn nhà.

Đây là lỗi của anh.

Anh luôn quá khắt khe với Luke.

Không thể tha thứ được.

Luke biết về chuyện Gray không ưa người Mỹ chiếm đóng Cuba, và có lẽ cậu ấy bắt đầu ủng hộ cuộc nổi dậy theo cách ngu ngốc, không ai hướng dẫn và muốn thành anh hùng.

Gray không thể ngẩng đầu dậy.

Anh chỉ có thể nhìn vào khe nứt bên dưới chân mình.

"Làm sao để cậu ấy được thả đây?"

"Chúng ta không thể," Philip trả lời.

"Chúng ta chỉ có thể hy vọng cậu ấy không bị tra tấn trong tù thôi."

Gray không tin được, chuyện này không thể.

Không phải Luke, cậu ta không thể ở tù suốt đời được.

Caroline ngấn lệ, nói.

"Philip, làm ơn đi mà... anh phải giúp bọn em."

"Em sẽ hết lòng giúp sức nếu em có thể, nhưng em không có chút ảnh hưởng nào ở đó cả.

Em xin lỗi, Gray.

Em thực tình xin lỗi."

Caroline thổn thức khi họ rời khỏi văn phòng của Philip, còn Gray thì như vỡ vụn.

Thậm chí cô em còn vất vả mới lết lên được khỏi thang bộ ra khỏi tầng hầm.

Anh ôm chầm cô em mình.

"Cứ khóc cho hết đi," anh thì thầm vỗ về.

Có lẽ cô xấu hổ chết mất nếu có ai đó bắt gặp mình trong cảnh này, nhưng không có ai ở dưới này chứng kiến cái cảnh suy sụp của cô cả.

Anh vực cô dậy trên tay mình, âm thanh của giọt nước mắt khiến anh cảm thấy bất lực hơn bao giờ hết.

Nhưng không phải anh không còn gì.

Anh có tiền và mối quan hệ với tầng lớp chủ đồn điền Cuba mà nhờ vả.

Anh có thể đi Cuba ngay bây giờ để dàn xếp việc này.

Điều này cũng có nghĩa là anh không thể đưa Annabelle đến đỉnh Vernon chơi được vào ngày bốn tháng Bảy tới như dự định.

Anh viết tờ giấy gửi cho cô, dời vào một ngày khác, nhưng lại chần chừ chuyện nói cho cô sự tình về kế hoạch ghê tởm này vì danh dự gia đình.

Có lẽ đơn giản hơn là nói anh sẽ đi xa vì công việc, nhưng anh sẽ không làm vậy.

Anh nợ cô một sự thật.

Anh và Annabelle luôn chân thành với nhau, và trong giờ khắc tăm tối này, anh không thể chịu được một mối quan hệ có sự dối trá trong ấy.
 
Vua Gia Vị
Mười tám


Annabelle yêu dấu,

Anh phải đến Cuba một thời gian vì công việc của gia đình.

Em trai anh vừa bị dính líu đến một kế hoạch chính trị, bị buộc tội mưu phản.

Anh không biết tại sao Luke lại đi vào con ấy nhưng sẽ giải thích cho em nghe vào một ngày nào đó.

Lần buộc tội này rất nghiêm trọng, và anh sẽ làm mọi khả năng để tránh cho cậu ấy thoát được chuyện này.

Điều này cũng có nghĩa là anh không thể dẫn em và Elaine đến đỉnh Vernon được.

Thật không phải khi nói là anh không muốn ở bên em, nhưng anh thật lòng là buộc phải xa em.

Lòng anh dành cho em rất sâu đậm và anh sợ rằng sự cố này nhắm vào danh dự gia đình anh, có thể khiến em sẽ phải suy nghĩ lại mối quan hệ của chúng ta.

Trong khi em có thể hiểu và thông cảm cho anh thì anh cần xin em một cơ hội để anh chứng tỏ bản thân mình đối với em.

Anh là người đàn ông trung thành, cả với gia đình và đất nước mình.

Anh khẩn cầu em kiên nhẫn trong khi anh giải quyết chuyện khủng hoảng gia đình và anh sẽ cho em biết ngay lúc trở về lại Washington.

Chân thành,

Gray

Annabelle nhét lá thư vào ngực, có phần nhẹ nhõm.

Không phải Gray.

Đó không phải là Gray!

Elaine ngồi trên ghế dài bên cạnh cô, nếu không thì Annabelle đã nhảy cẫng và reo lên vui sướng.

Mọi điều cô có thể làm lúc này là nhìn vô định ra ngoài khung cửa sổ căn hộ, choáng ngợp với việc toàn bộ cuộc sống của cô vừa xoay chuyển chỉ trong sáu mươi giây đọc hết lá thư này.

"Lá thư viết gì vậy?"

Elaine hỏi, chị đang móc len, tiếng móc cứ nhịp nhàng, nhịp nhàng đều đều.

Annabelle không thể nói với chị được.

Thông thường thì cô sẽ kể cho Elaine chính xác những thông tin mà bưu điện gửi đến, nhưng khi cô xác định được địa chỉ người gửi là của Gray trên bao thư thì cô đơn giản nói rằng đây chỉ là một lát thư mà không thêm bớt chi tiết gì khác.

"Gray nói là anh ấy đi Cuba công tác," cô nói, giọng vẫn run run.

"Chỉ vậy thôi à?"

Elaine hỏi.

"Em có vẻ hơi phấn khởi khi nghe tin cậu ấy đi công việc đấy.

Em thở quá nhanh nè, giống như vừa chạy bộ năm tầng lầu vậy."

Annabelle cầm lá thư để quạt.

Cô không thể nói cho Elaine về sự phấn khích của cô được khi biết tin Gray không phải là kẻ phản bội và không phải bị treo cổ.

Nhưng có lẽ em anh ấy sẽ bị.

Có vẻ như là Gray và Luke ở chung một mái nhà nên có sự nhầm lẫn gì đó.

Giữa hai người đàn ông, rất dễ nhầm là Gray với những lời lẽ chống đối chính phủ.

Còn Luke lại có tính tình bất cần đời, hoàn toàn phớt lờ những chuyện xung đột quốc tế.

Có lẽ điều ấy có chủ ý.

Những gián điệp giỏi nhất thường khiến không ai nghi ngờ mình.

"Tốt hơn là em đi chuẩn bị ăn tối đây," Annabelle nói.

Kể từ lúc cô bị bắt phải theo dõi Gray, những lọ gia vị mà anh đưa cho cô đã bám bụi.

Cô quá buồn khổ, không thể lấy chúng ra nêm nếm, nhưng đêm nay, cô sẽ thử chúng.

Lát thịt cừu giá rẻ cô mua được chắc hẳn sẽ thơm ngon hơn nếu rắc thêm chút ớt cựa gà.

Cô nhấc lò nướng, rồi đổ chút ớt mùi lên trên một cái dĩa cùng với ít bột, muối và tiêu.

Không mất nhiều thời gian, những khoái cảm từ lá thư của Gray nhạt dần, nhường chỗ cho một thứ khác xâm chiếm trí óc cô.

Gray phải không được biết vai trò của cô khi để lộ em trai anh.

Anh ấy nói là mình thất thần trước những gì Luke đã làm, và cô tin anh, nhưng điều đó không có nghĩa là anh sẽ tha thứ cho cô nếu anh biết được cô chính là người chịu trách nhiệm khi để Luke bị bắt.

Chính Luke mới là người gây tội, không phải cô.

Có lẽ cô không cần kể với Gray chuyện gì cả.

Tay cô run rẩy khi lật ướp những lát thịt cừu qua lớp bột và ớt cựa gà.

Cô cần phải bình tĩnh.

Đây không phải lỗi của cô, cô đã làm những gì một người Mỹ trung thành cần làm nhưng vẫn run rẩy khi đặt thịt vào chảo rán.

Phải mang một bí mật như thế thật khó lắm thay.

Nhưng cô có thể làm được.

Cô sẽ chôn lấp ký ức về cái ngày khủng khiếp này và tiếp tục hướng đến cuộc sống mai sau.

Quá khứ sẽ đi vào quên lãng.

Chén bát kêu lanh canh khi Elaine dọn bàn.

"Cái mùi thật khó cưỡng," chị nói.

Đúng là khó cưỡng.

Mọi thứ về thế giới của Annabelle nay trở nên sống động hơn và phức tạp hơn sau khi Gray bước vào đời cô.

Có thật chỉ cần một muỗng ớt gia vị có thể biến đổi toàn bộ bữa ăn, làm cho bữa ăn thêm đậm đà và hấp dẫn hơn không?

Cũng giống như một lá thư chỉ có hai đoạn ngắn thôi mà đã khiến cho tinh thần cô cực kỳ phấn chấn.

Cuộc sống sẽ tốt thôi.

Thế giới rất rộng lớn, đầy những chọn lựa và cái gì cũng có thể xảy ra.

Cô đã tìm thấy được người đàn ông của đời mình, và anh ấy đang lái tàu đến những vùng nước sẫm, nhưng cô sẽ cùng sánh vai với anh để giúp anh sống sót qua cơn bĩ cực này.

Dường như thần may mắn cứ liên tục mỉm cười với Annabelle.

Sáng thứ Hai hôm sau, cô đến Viện Smithsonian, tiến sĩ Norwood đến căn phòng làm việc khiêm tốn của cô mang theo tin tốt lành.

"Có một vị trí chừa sẵn cho cô tại Bộ Nông nghiệp đấy," ông nói.

"Một vị trí tạm thời thôi, nhưng tiền lương ở đấy nhiều hơn nhiều so với lương mà tôi trả được cho cô.

Ngay hôm nay nhé, cô sẽ làm việc với Ngài Greenfield ở bộ phận lúa mạch.

Cô có đồng ý không?"

Cô há hốc miệng, quá bất ngờ khiến đến nỗi không thốt nên lời, chỉ còn biết lắp bắp đáp trả.

"Vâng, em rất vui khi được làm ở Bộ Nông nghiệp."

Mười phút sau, cô đi đến dãy nhà sáu khối nhà của Bộ Nông nghiệp để nhận việc mới.

Tinh thần cô phấn chấn lên khi đi qua những khu vườn thí nghiệm hoành tráng bên ngoài tòa nhà, vì chúng có thể là những giống cây tốt nhất, tuyệt hảo nhất trên toàn quốc.

Có lời đồn rằng ngày nào đó người ta sẽ dọn sạch những khu vườn này để trồng một trảng cỏ xanh thật lớn, một nơi có nhiều bóng mát để mọi người có thể chiêm ngắm quanh cảnh trực tiếp từ Nhà Trắng đến Tượng đài Washington.

Còn bây giờ, mảnh đất này đang trưng diện những khu vườn được cắt tỉa hoàn hảo, những cây giống trồng thí nghiệm và một vườn cây lấy gỗ chuyên cho nghiên cứu.

Bộ Nông nghiệp là tòa nhà lớn, có hai cánh hai bên và một cầu thang khổng lồ bằng đá hoa cương dẫn lên cửa chính.

Ngay tại sảnh trước, cô gặp một nhà thực vật học trung niên, mảnh khảnh, sẽ là đồng nghiệp của cô ở phòng thí nghiệm lúa mạch.

"Tôi là Horace Greenfield, nhà thực vật học chính về cỏ lúa mạch," anh ta ngỏ lời.

"Em nhận ra chứ?

Greenfield?

Tôi sinh ra là đã được đặt cho cái tên ấy rồi, mẹ tôi luôn nói là số của tôi gắn liền với nông nghiệp ngay từ mới lọt lòng.

Chúng ta cùng làm chung một phòng thí nghiệm, nhưng trước hết, cứ đi xem một vòng cái đã nào!"

Anh ta mở cửa cho cô vào.

Trong khi phía bên ngoài Bộ Nông nghiệp là kiến trúc hoành tráng thì bên trong lại khiến cô như muốn nín thở.

Lối đi được trang trí bằng những tranh vẽ tay hình những cành nho xanh tươi bám lấy nhau, trải dài lên tận trần nhà.

Các tấm vách ngăn được trang trí sống động bằng những bức tranh phong cảnh Mỹ tả về bốn mùa.

Còn hành lang được khắc họa những cây bạch dương, cây óc chó và tần bì, đặc trưng cho các khoảng rừng lấy gỗ ở Mỹ, và Annabelle cảm thấy rất tự hào khi biết là mình bây giờ thuộc về nơi này.

Sảnh chính dành để trưng bày, còn tầng hai mới là nơi dành cho các phòng thí nghiệm chính, nơi làm việc của các nhà hóa học và người làm vườn.

Các tầng khác là thư viện nông nghiệp, một viện bảo tàng và một văn phòng cho các chuyên gia về số liệu.

Ngạc nhiên lớn nhất là ở tầng hầm, nơi có sáu mươi nhân viên làm việc trên một chiếc bàn dài, chuẩn bị những gói hạt giống miễn phí để phân phối cho các nông trại và vườn cây giống tại Mỹ.

"Chúng ta gửi đi hơn một triệu gói hạt giống ra khắp đất nước," Horace tự hào nói.

"Nào là các giống hành, dây leo, rau củ...

Nếu chúng ta có thể gói chúng trong túi rêu khô sphagnum hay bỏ vào bao bì thì có thể vận chuyển chúng dễ dàng."

Sau khi đi tham quan một vòng tầng hầm, Horace dẫn cô đến chiếc thang cuốn để đi lên tầng trên cùng, là nơi đặt phòng thí nghiệm của họ.

"Bây giờ," anh nhã nhặn nói, "cho tôi biết làm sao mà em có được vị trí này nào.

Mới chỉ sáng nay tôi mới nghe thông tin là cần phải dọn dẹp một chỗ dành cho em đấy."

Cô há hốc miệng, nhưng làm sao mà cô có thể nói rằng đây là sự đánh đổi cho việc phản bội bạn bè được chứ?

Mọi thứ cô có thể làm là tráo đổi thông tin chỗ này chỗ kia một chút.

"Em làm công việc bảo tồn các mẫu thực vật ở Viện Smithsonian, nhưng tiến sĩ Norwood nghĩ là em sẽ có ích khi làm ở đây hơn."

Horace tỏ ra bối rối nhưng chỉ thoáng chốc, anh ta vào nhịp ngay một câu chuyện tán gẫu mới.

"Công bằng đó!

Mẹ tôi luôn nói là ở đâu đó trên thế giới luôn có một nơi dành cho mỗi người.

Dù cho bà ấy chưa bao giờ gặp tiến sĩ Norwood cả!

Anh có nghe ông ta bả ra hàng nghìn đô la để nhập một mẫu cây lan xanh dương hiếm từ Bombay.

Em có thể tin được chuyện đó không chứ?"

Anh ta dẫn cô vào bên trong phòng thí nghiệm, là nơi cô sẽ làm việc.

"Tốt.

Ông hướng dẫn của chúng ta không có ở đây."

Anh ta ngả người tới nói thầm.

"Bryant là lão già rất khó tính.

Nhìn cái vết trên cái bàn kia kìa."

Anh ta chỉ trỏ một vết bẩn dính ở giữa một cái bàn thí nghiệm màu đen bóng nhưng bề mặt của nó đã bị trầy xước rất nhiều.

"Cách đây hai năm, tôi làm đổ một ít chất tẩy lên trên bề mặt.

Tôi lau nó ngay lập tức nhưng lại không thể xóa sạch được vết ố ấy.

Điều này chẳng tổn hại đến thứ gì cả nhưng lão Bryant đấy cứ cướp mọi cơ hội nhỏ nhặt có được."

Anh ta tươi tắn hẳn lên.

"Nhưng đừng lo!

Nói nghe nào, tôi có nghe đồn là tiền tài trợ để xây khu nhà mới ở Viện Smithsonian đang bị hoãn lại vì một nghị sĩ Quốc hội nào đó nghi ngờ một trong những người thành lập Viện Smithsonian có hục hặc với vợ của hắn, có phải vậy không?"

Annabelle bất ngờ với tin đồn thất thiệt ấy.

"Em không biết gì chuyện này hết."

"Nhưng rõ là tiền tài trợ đang bị hoãn lại mà?

Do vậy mà tôi nghĩ chuyện này là thật."

Cô thoát ra khỏi câu chuyện tán dóc này nhờ sự xuất hiện của một người đàn ông mặc áo trắng có bộ râu quặp xuống.

Lão hói đầu, vẻ mặt điềm đạm và có giọng nói vẻ châm chọc khi lão ta giới thiệu mình là Milton Bryant, người giám sát phòng thí nghiệm các giống lúa mạch.

Lão nhìn chòng chọc Horace.

"Cô Larkin không ở đây suốt ngày để tán dóc đâu.

Cô ấy sẽ thử nghiệm các chất lên men với các giống lúa mạch nhập khẩu mới."

Lão quay sang nhìn cô.

"Greenfield hướng dẫn cô chưa?"

Cô lắc đầu.

"Vậy thì mau hướng dẫn cô ấy đi, Greenfield.

Và đừng cố vấy đổ bất kỳ thứ gì nữa đấy."

Lão Bryant nhặt một tập hồ sơ lên và rời khỏi phòng thí nghiệm.

"Tôi đã bảo với em rồi là lão ta liếc mắt ghê sợ đến thế nào chưa nhỉ?"

Horace hỏi.

Tốt nhất là không nên trả lời.

"Chúng ta đang thí nghiệm loại lúa mì nào vậy?"

Horace cuối cùng cũng cho cô thấy các loại thí nghiệm khác nhau mà họ đang tiến hành, phần lớn là lúa mì vỏ cứng.

Ngay khi cô vừa ngồi vào bàn thí nghiệm thì trên bàn có hẳn các hạt lúa mì.

Chúng đang được nghiên cứu về độ cứng, khả năng thích ứng với các loại máy xay, khả năng chịu hạn và chịu lạnh.

Đây chính xác là điều mà cô từng hy vọng.

Đây chính là điều mà cha cô cần biết liệu ông ấy có thể làm gì đó cứu được vụ mùa của ông hay không.

Cứ như thể Chúa đã dẫn lối đưa cô đến phòng thí nghiệm này vậy.

Có một thứ gì đó xóc nảy trong bụng.

Cô không tự hào về cái cách mà mình đứng được chỗ này.

Đây là một phòng thí nghiệm tuyệt vời, có vô vàn trang thiết bị mới và một cửa sổ trời tuyệt diệu nhìn ra các khu vườn trồng thí điểm.

Nhưng rốt cuộc, những gì cô thấy được lúc này chỉ là vết ố trên chiếc bàn trước mặt mình.

Vết ố ấy cứ như những gì cô làm với Luke Delacroix, sẽ bám riết theo cô đến suốt cuộc đời.

Cô cúi đầu.

Liệu mình có làm gì sai?

Có vẻ như ông Trời đang phù hộ cho mình.

Mức lương cao hơn mà cô được lãnh có nghĩa là cô có thể gửi tiền về nhà cho cha mẹ.

Cô sẽ học được những nghiên cứu mới nhất về các giống lúa mì nào thích hợp nhất để trồng trọt ở Mỹ.

Nhưng điều quan trọng nhất là Elaine có thể ở lại Washington mãi mãi.

Annabelle lẽ ra nên vui mừng, nhưng khảnh khắc Horace bước ra ngoài phòng thí nghiệm để đi lấy một chiếc kính hiển vi khác thì cô chắp hai tay lại cầu nguyện cho Luke.

Đôi khi những lời cầu nguyện không được đáp lời, và cô cũng nghi ngờ lời cầu khấn của mình chưa chắc gì cứu được Luke.

Có lẽ cách tốt nhất có thể hy vọng là Gray sẽ không bao giờ phát hiện ra vai trò của cô trong vụ của em trai mình.
 
Vua Gia Vị
Mười chín


Ngay khi Gray đặt chân đến Cuba, anh lập tức tìm sĩ quan chỉ huy trại quân đội Mỹ, cũng là nơi anh hỏi biết được thông tin Luke đang bị bắt giữ ở một trại giam của Cuba gần mũi Tây Bắc của vùng đảo này.

"Cậu ta là dân thường," vị chỉ huy nói.

"Có vẻ sẽ không hay ho gì khi giữ một người dân thường trong nhà tù quân đội cả, nên chúng tôi trao cậu ta cho người Cuba để giam giữ cho đến khi ra tòa."

Đây là tin xấu.

Nhà tù Cuba có lẽ sẽ tệ hơn nhà tù của Mỹ, và nỗi sợ của Gray càng có lý hơn khi anh gặp một chủ đồn điền trước đây từng làm ăn qua lại.

Họ ngồi trước hiên nhà của đồn điền Marco Salazar, trên đầu là cây quạt trần đang quay chầm chậm, còn Gray được mời điếu xì gà xén đầu.

Anh không hút thuốc nhiều nhưng biết làm cách nào để hòa hợp với văn hóa bản địa, và những lề thói này rất quan trọng.

Còn có những hóa đơn cần phải trả, những cuộc gọi cần thực hiện, và những giao kèo nguy hiểm phải tiến hành cho đến khi nào anh lôi được Luke ra khỏi tù.

"Nhiều người Cuba trở lại làm việc nơi các đồn điền của Mỹ," Marco nói.

"Sau khi đánh bại người Tây Ban Nha, chúng tôi nghĩ là cuối cùng dân tộc mình cũng đã giành được độc lập, nhưng khi cờ Tây Ban Nha hạ xuống thì cờ Mỹ lại được kéo lên thay thế.

Chuyện này thực là vấn đề đấy, bạn tôi ạ."

Gray biết rất rõ chuyện này, nhưng Marco không ngừng huyên thuyên.

"Vài người Cuba không nhận ra khác biệt giữa thực dân Tây Ban Nha và thực dân Mỹ, nhưng tớ thì rõ lắm cậu ạ.

Hòn đảo này vẫn còn hoang tàn.

Cảng biển, đường xá, cầu đường bị đánh bom ra bã, người Mỹ hứa hẹn sẽ xây dựng lại.

Tớ thì muốn những cảng biển được xây dựng và hoạt động trở lại lắm chứ.

Tớ muốn hòn đảo này phồn thịnh trở lại, nhưng mấy đám quân nổi dậy cứ tiếp tục hoành hành thì người Mỹ sẽ rời bỏ mảnh đất này thôi, và chúng tớ thì chẳng được người Mỹ xây dựng cho thứ gì để hồi phục cả."

Gray từng thấy bằng chứng là người Mỹ tái thiết cơ sở hạ tầng ở nhiều nơi ở đây.

Cảng biển từng đông nghẹt tàu thuyền cất dỡ hàng hóa.

Đường xá từng được sửa sang, tu bổ và cầu cống từng được xây dựng, nhưng Gray vẫn nghi ngờ.

Chính phủ Mỹ không phí tiền vào nơi không thu lợi cho họ, và anh cũng nghi ngờ ý định của tổng thống Mỹ là sẽ êm thắm rút quân về nước sau khi tái thiết hòn đảo này.

"Và khi cầu cống, đường xá sửa chữa xong thì thế nào?" anh hỏi.

"Chuyện gì tiếp theo?"

Ánh mắt Marco toát lên vẻ khôi hài.

"Sau đó thì chúng tớ sẽ tống cổ người Mỹ đi.

Nhưng không tống cổ sớm được đâu."

Mọi vẻ hài hước bỗng chốc tan biến khi anh ta dụi điếu xì gà và chồm người tới trước, thấp giọng.

"Đó là lý do tại sao em của cậu đang là nút thắt đấy.

Nếu quân nổi dậy cứng cựa thì người Mỹ sẽ đổ thêm tiền để xây dựng tuyến phòng thủ hơn là xây cơ sở hạ tầng mà chúng tớ cần.

Em trai cậu đang phải đối diện với sự trả đũa ở đây vì cậu ấy gây ra rắc rối.

Nhưng chúng tớ mệt mỏi với chiến sự rồi.

Chúng tớ muốn sống và làm việc trên hòn đảo xinh đẹp này, nhưng mấy cái đầu nóng của bọn nổi dậy lại làm cho tình hình xấu đi.

Hầu hết chúng tớ đều muốn hợp tác với người Mỹ, ít nhất là cho tới nay.

Hãy cho chúng tớ nước sạch và đường xá đi lại thông thoáng là ổn rồi.

Rồi thì chúng tớ có thể hướng tới nền độc lập.

Em cậu sẽ gặp được vài người bạn ở trong tù của người Cuba đấy."

Đó là những gì Gray e sợ.

Nhà tù là dãy nhà gạch dài, có lớp vữa trát xù xì bên ngoài.

Cửa sổ rất hẹp, không rộng hơn bàn tay của Gray.

Mấy con gà đang thẩn thơ ở lớp sỏi cứng phía trước, và hai bồn nước nằm bên cạnh cửa chính.

Bốn tên lính gác ngồi ở cái bàn phía ngoài nhà tù, súng trường lủng lẳng phía sau lưng, chúng đang đánh bài.

Hai đứa đứng dậy khi thấy Gray đi tới.

Anh hy vọng ít nhất một trong hai đứa có thể nói tiếng Anh.

"Tôi muốn gặp Luke Delacroix."

Đứa cao hơn gật đầu.

"Nó đang ở đây," nó đáp, tiếng Anh trôi chảy.

"Tôi muốn được gặp nó."

Tên lính không tỏ ý gì.

"Nó không phải loại bình thường đâu.

Anh có bao nhiêu tiền mà muốn gặp nó?"

Gray đã chuẩn bị để chơi ván bài này rồi.

Sau khi đưa cho hai tên lính mỗi đứa năm đô la, tên cao ra hiệu cho Gray giơ tay lên.

Gray cho chúng khám người rồi theo tên lính đó đi qua một cánh cửa đang mở.

Không lạ gì khi họ luôn để cửa mở ở đây.

Vì bên trong nóng nực hơn và rất ít gió.

Tên lính nói thứ gì đó bằng tiếng Tây Ban Nha cho tay tổng đốc.

Tên của Luke có trong danh sách, và sau ít phút, mắt của tay quản ngục sáng lên, hắn đứng dậy và nở nụ cười.

Gray không hiểu và nhìn tên lính chờ hắn dịch lại.

"Ngài tổng đốc cũng muốn biết anh trả bao nhiêu để gặp Luke Delacroix."

Sau khi Gray đút tiền cho tay quản đốc, tên lính lấy chùm chìa khóa và dẫn anh xuống một hành lang dài, hai bên là dãy cửa gỗ có khóa.

Gray lấy khăn tay bịt mũi lại vì mùi xú uế nơi đây.

Tên lính dừng lại ở một trong những cánh cửa và nhìn vào trong thông qua một cái lỗ nhỏ ở bên trên.

Hắn đập cửa.

"Có khách," hắn nói, và chìa khóa kêu lanh canh khi hắn tra chìa vào ổ khóa sắt.

Gray bỏ khăn tay xuống.

Anh không muốn Luke thấy mình ghê tởm thế nào ở cái chốn này.

Phải mất một lúc thì mắt anh mới quen dần với bóng âm u trong buồng giam.

Người đàn ông nằm trên cái giường nhỏ quay sang anh, một tay che mắt vì ánh sáng từ hành lang hắt vào.

"Chào Luke," Gray nói.

Luke ngồi dậy.

"Gray?"

Một thế giới hy vọng nở hoa chỉ trong một từ.

"Anh đây."

Gray quay sang tên lính, hắn nói anh chỉ có hai mươi phút thăm hỏi, sau đó hắn đóng và khóa cánh cửa lại sau lưng anh.

Gray chưa bao giờ sợ bị giam giữ nhưng cái cảm giác bị nhốt thì rất khó chịu.

Cứ như thể bốn bức tường dần dần khép chặt lại quanh mình, còn buồng giam này lại rất chật hẹp.

Buồng chỉ có một chiếc giường cũi nhỏ và một cái thùng gỗ úp ngược cạnh giường để làm bàn, có thêm mỗi cửa sổ rất hẹp ở phía trên, cũng là nguồn sáng và thông gió duy nhất.

"Chắc anh không nên lại gần đây đâu," Luke nói.

"Em bốc mùi lên tận mây xanh rồi."

Gray phớt lờ câu nói ấy và kéo cậu em lại, ôm chầm lấy.

"Đừng nói là anh lặn lội đến Cuba này vì em đấy nhé."

"Anh đến đây là vì em," Gray nói, Luke thở hắt ra.

"Ngồi đi anh," Luke nói.

"Anh có thể ngồi ở đầu gần cửa hay đầu gần cửa sổ trên chiếc giường ọp ẹp này."

Gray ngồi, và rồi đồng tử mắt anh dần dần quen với bóng tối và nhìn kỹ hơn buồng giam.

Có vài cuốn sách ở trên bàn và có một cây nến tắt đã cháy gần hết.

Một cái bô trong góc không thể làm căn buồng này thoáng khí hơn tí nào.

"Nói cho anh nghe chuyện gì xảy ra nào," anh đơn giản mở lời.

Luke cố rặn một nụ cười.

"Em bị buộc tội đồng lõa với toán nổi dậy."

"Em có không?"

Gray như nín thở, vẫn giữ hy vọng mong manh rằng đây chỉ là hiểu lầm và có thể giải quyết được chuyện này ngay tại đây.

"Có."

Gray nhắm mắt lại để nuốt trôi nỗi sợ lớn nhất trong lòng mình.

Phải thật chịu đựng lắm thì anh mới không phải đứng bật dậy lao đến để hét vào mặt thằng em mình vì cái trò ngốc nghếch, trẻ con ấy nhưng Luke đã chịu đựng đủ rồi.

Anh phải tỏ ra thông minh hơn.

"Ai bên phía nổi dậy có thể giúp được em?"

Điều này khiến Luke ngạc nhiên, và cậu ta như đứng hình khi anh mình hỏi thế.

"Chẳng có ai cả."

"Em liều mạng vì những người này, và bây giờ là lúc họ phải bù đắp lại cho em," Gray nói.

"Họ phải có thủ phủ đảo chính và anh cũng có thứ họ muốn.

Chúng ta sẽ dựa vào đó để đưa em ra."

Luke lắc đầu.

"Điều này...

điều này nghe hợp lý đó nhưng không còn hy vọng gì đâu anh.

Em mang tội.

Hầu hết những người em hoạt động chung đều bị bắt giữ rồi."

"Tất cả mọi người à?"

"Rất nhiều người.

Chính quyền tìm thấy cuốn sổ mật mã và bắt hết mọi người có tên trong cuốn sổ ấy.

Bây giờ em giống như kẻ đầu têu vậy."

Luke cố cười nhưng không thể nhếch nổi mép.

Cậu kể ra vài chi tiết vụn vặt tại sao cậu bị phát hiện.

Rõ là chính quyền đã dò la được căn lán nơi cậu cất giữ các thư tín quan trọng nhất.

"Em điều hành hoạt động này từ cái căn lán cũ nát ấy à?"

Luke nhún vai.

"Em đã sửa sang lại nó khá tươm tất, còn anh thì chưa bao giờ đặt chân lại vào đó nên biết gì đâu."

"Suốt thời gian em nói mình đến Cuba để buôn bán xì gà và rượu rum..."

"Đó chỉ là vỏ bọc."

Gray không quan tâm những hành động nông nỗi của Luke từng làm, anh chỉ muốn đưa được Luke ra khỏi tù.

"Có thể anh sẽ chuyển em được sang nhà tù của Mỹ, chứ nhà tù ở đây không thể chấp nhận được."

"Ở đây không quá tệ," Luke nói, dù cho có một giọt mồ hôi nhỏ xuống mặt cậu.

"Buổi tối trời mát hơn."

Đúng là rất tệ.

Thời tiết ở đây không thể chịu đựng nổi và rõ là Luke xuống cân, nhưng thứ tệ nhất là nỗi tuyệt vọng trên gương mặt của em trai mình.

Cái cảm giác bất lực cứ đâm nhói trong tim, còn Gray lại không chắc mình có thể giúp được đến đâu.

Anh từng đi khắp thế giới để thương lượng chuyện làm ăn và biết cách làm thế nào để đút lót, nhưng đây là lĩnh vực hoàn toàn mới.

Anh lúng túng và ghét cay ghét đắng chuyện này.

"Nói anh nghe giờ anh phải làm gì," anh cất lời.

"Chắc chắn là ai đó có thể giúp được.

Philip Ransom?

Hay một chính trị gia Cuba nào đó?

Nói anh biết nào!"

Luke cười buồn.

"Anh Gray... anh chẳng làm được gì đâu.

Anh hãy về nhà và dập cho nhà Magruder một trận ra trò là được.

Bán gia vị của anh và tạo dựng đế chế gia vị hoành tráng vào, và đừng quay lưng lại làm gì.

Quên em đi."

"Không thể được.

Nói cho anh nghe anh cần làm gì nào."

Luke trông có vẻ chuẩn bị né tránh lần nữa, nhưng rồi cậu ta dừng lại.

Một tia hy vọng nhỏ nhoi lấp lánh trên khóe mắt của cậu, rồi cậu nhoài người tới trước.

"Thực ra... có lẽ anh có thể làm được điều gì đó.

Trước khi em ra đi, em có một kế hoạch dìm nhà Magruder đấy."

"Kế hoạch gì?"

Gương mặt Luke sáng lên vẻ thông thái khi cậu ta nói kế hoạch ấy cho Gray.

Giọng cậu phấn chấn khi kể chi tiết, nhưng Gray lại tỏ ra cảnh giác hơn.

Đây đúng thật là Luke.

Táo bạo, ngông cuồng và có cả khéo léo, ranh mãnh.

"Mọi thứ đã hầu như đâu vào đấy cả rồi," Luke nói.

"Mọi thứ em cần là một người nào đó 'triển' nó thôi."

"Hoàn toàn không."

Luke lùi lại.

"Tại sao không?

Kế hoạch này tuyệt quá còn gì."

"Đây đơn giản chỉ là một cú lừa lọc trẻ con thôi."

Luke lắc đầu.

"Kết hoạch này sẽ lột trần tất cả và cho mọi người biết thực sự nhà Magruder là ai.

Kế hoạch này cũng ném trái trứng thối vào mặt thằng Clyde Magruder trước khi nó đặt chân vào Quốc hội.

Và quên mất còn chuyện nữa, nó giúp vui cho anh em mình nữa chứ."

Gray khoanh tay lại trước ngực.

Anh cũng ghét nhà Magruder không thua gì Luke, nhưng điều quan trọng là phải chơi theo luật.

Trừ khi...

Luke chưa thực sự dính vào chuyện làm ăn với nhà Magruder, mãi cho đến bốn năm trước, khi mà nhà Delacroix có làm ăn với nhà Magruder để tiến về thị trường phía nam.

Tai nạn đó đã khiến Luke đi vào con đường hủy diệt này.

Có ai đó đập cửa.

"Còn năm phút nữa," tên lính quát qua cái lỗ hẹp trên cửa.

Gray đứng lên, Luke đứng theo.

"Em vẫn chưa nói cho anh biết làm sao để đưa em ra khỏi đây.

Phải có một cách nào đó."

"Không có đâu," Luke nói, cố mỉm cười nhưng hầu như là thổn thức.

"Đừng lo cho em.

Nói Caroline như vậy luôn nha.

Em muốn con bé ấy luôn lộng lẫy và làm những điều tuyệt vời.

Em biết từ đầu rồi đây là công việc nguy hiểm và em biết cái giá phải trả.

Đơn giản là em đã tung xí ngầu và đã thua."

Thời điểm đầu tiên trong cuộc đời, anh cảm thấy mọi thứ Luke nói đều đúng, cũng chính là điều tệ hại nhất mà anh nghe được.

Nên cũng không dễ dàng gì khi Gray nói lời tạm biệt em trai mình, vì đây cũng có thể là lời vĩnh biệt.

Caroline không thể nuốt trôi được chuyện này.

Buổi sáng sau khi chiếc tàu của anh cập cảng Alexandria, Gray đi thẳng ngay đến Nhà Trắng để gặp em gái mình.

Cô em chỉ vừa dùng bữa lỡ với một nhóm các bà vợ của mấy tay nghị sĩ và vẫn còn mặc một chiếc váy vải tơ có sọc hồng-đen thanh lịch.

Lạ một điều là cô lại muốn gặp anh bên ngoài tòa nhà.

Khách khứa chật khắp cả mấy khu vườn xung quanh Nhà Trắng, nên cô dẫn anh đến một chỗ lẩn khuất gần lối vào dịch vụ, có hàng rào gỗ hoàng dương chắn một bên.

Ở đây ít người trông thấy và cũng là chỗ cho thấy sự già cỗi và đổ nát của tòa nhà.

Mấy viên đá góc tường bị bật tróc, còn khu vực chở đồ thì lại quá nhỏ nên xe cộ không thể tấp vào được.

"Nhà Trắng mới thay đội bảo an mới," Caroline nói.

"Em thật khổ sở với tay đội trưởng đội an ninh cứng nhắc ấy, nên tốt nhất là anh em mình gặp nói chuyện ở đây."

Gray và Caroline ngồi trên gờ thấp của bức tường bên cạnh cánh cửa bộ phận dịch vụ đang để mở, là nơi có một chiếc xe ngựa thồ càng thùng cam vừa chở đến.

Đám công nhân không chú ý gì đến anh em họ khi phải khuân vác mấy thùng cam vào trong.

Gray hạ giọng khi anh nói cho Caroline mọi chi tiết về chuyến thăm Luke vừa rồi, nhưng dù vậy, cô em vẫn liên tục lắc đầu không tin.

"Không giống anh Luke chút nào," cô một mực.

"Chúng ta đều biết anh ấy luôn là người đầu tiên gây ra rắc rối nên rất có thể anh ấy không làm điều tốt, nhưng em không tin anh ấy lại bỏ cuộc.

Có gì không đúng ở đây."

Gray hiểu, vì anh không muốn tin vào tội trạng của em trai mình chút nào cho đến khi anh phải tận mắt chứng kiến gương mặt vô vọng của Luke.

Một người vô tội sẽ không như vậy.

"Cậu ấy thừa nhận tội trạng của mình.

Chúng ta cần chấp nhận điều ấy."

Cô em vẫn không nuốt được.

"Nhưng làm sao họ phát hiện được anh ấy chứ?"

"Họ tìm thấy một cuốn sổ mật mã của cậu ấy, trong đó có một danh sách địa chỉ liên lạc ở Cuba.

Cậu ấy nói cậu cất cuốn sổ đó ở căn lán phía ngoài Windover Landing."

Gương mặt Caroline đanh lại khi cô nhìn mấy công nhân giao hàng đóng chiếc xe thồ chở hàng để chuẩn bị rời đi.

Khóe miệng cô trễ xuống và ánh mắt tối sầm lại.

"Vậy làm sao họ biết được căn lán ấy?"

Anh cũng từng tự hỏi mình câu ấy hàng chục lần nhưng không thể trả lời được.

"Anh không biết."

Cô em trông nhợt nhạt khi cô quay sang nói với anh.

"Otis."

Khả năng này tựa như cái tát vào mặt anh vậy.

Otis hiếm khi đến Windover Landing, nhưng khi Gray ra nước ngoài, anh không hề biết gì chuyện Otis có làm gì hay không.

Otis biết mã Morse.

Otis nói tiếng Tây Ban Nha và có địa chỉ liên lạc khắp mọi nơi.

Và là người da đen, Otis có nhiều lý do để cung cấp thông tin cho chính phủ Mỹ.

"Có thể Otis và Luke bắt tay nhau không?" anh hỏi Caroline.

"Nếu Luke bao che cho gã thì có thể giải thích được tại sao cậu ấy không hết lòng đấu tranh."

Caroline lắc đầu.

"Em nghĩ Otis trở mặt.

Nó là người duy nhất có đầy đủ phương tiện và động cơ.

Và nó cũng có lẽ sẽ được trả tiền rất hậu để cung cấp loại thông tin như vậy."

Gray cúi người lại, tay ôm lấy đầu.

Vậy trên đời chẳng còn ai để anh có thể tin cẩn nữa hay sao?

Cha anh đã cho Otis một công việc đàng hoàng và trả lương xứng đáng, nhưng Gray ở nước ngoài suốt gần hai mươi năm vừa qua.

Anh thực sự không hiểu lắm về Otis.

"Anh sẽ làm rõ chuyện này," anh nói chắc nịch.

"Nếu Otis đâm sau lưng chúng ta thì anh sẽ bắt nó tại trận."

"Còn em thì không từ bỏ Luke đâu," Caroline nói, nhưng đây là cuộc chiến mà cô không nên phí hơi sức vào đó.

Luke hoàn toàn tự hiến thân mình để những thành viên còn lại trong gia đình không phải vật vã vì cậu.

"Luke muốn điều tốt nhất cho em," Gray nhẹ nhàng nói.

"Cậu ấy nhấn mạnh là cậu ấy muốn em tỏa sáng."

Cô ngẩng cao đầu nhưng mắt chớp liên tục để ngăn không cho nước mắt rơi xuống.

"Em sẽ không bao giờ, không bao giờ từ bỏ anh ấy."

Gray giơ tay ra kéo cô em lại.

Vụ việc điên khùng này lại khiến anh gắn kết với Caroline hơn bao giờ hết so với trước đây.

Cô bé không còn tuân theo tăm tắp những lề lối của anh nữa, và anh không thể xoa dịu được cơn thổn thức của một người phụ nữ như cô được nữa.

Cả hai đều có cùng vấn đề lớn cần đối diện, và vết nhơ danh dự gia đình họ đang bị bôi bẩn.

Gray có thể chịu được cú đấm thẳng vào danh dự của mình, nhưng Caroline thì không thể.

"Khi mà tin tức về vụ việc này lan ra thì có thể em không còn giữ được công việc ở đây nữa đó."

Anh chưa bao giờ chấp thuận cho Caroline dính líu gì đến chính quyền của tổng thống McKinley cả, nhưng cô yêu thích công việc của mình và có vẻ như chuyện của Luke sẽ ảnh hưởng rất xấu đến cô.

"Em đã nói cho phu nhân McKinley và tổng thống hết rồi," cô nói.

"Rồi họ phản ứng thế nào?" anh hỏi, rất bất ngờ nếu Caroline có thể tiếp tục được làm việc nếu tin tức này đến tai Nhà Trắng.

"Không tốt lắm.

Phu nhân rất bất ngờ và lùi ngay lại khi em nói ra chuyện đó.

Thậm chí em chưa nói xong thì bà ta đã chạy thẳng ngay đến văn phòng tổng thống để tuôn ra hết.

Nhưng anh Gray này...

Tổng thống McKinley rất tử tế.

Ông ấy thực sự muốn xoa dịu em thay vì đuổi em ra như em tưởng tượng."

"Thật vậy sao?"

Cô em gật đầu.

"Em nghĩ là vậy.

Phu nhân McKinley cũng hợp theo chồng mình và vì ông ấy chấp nhận em nên bà ấy cũng cứ bám chặt lấy ông ấy."

"Đúng là một cặp đôi mà."

Giọng nói của anh ra vẻ châm chọc, đầy mỉa mai Caroline, vì cô cảm thấy ổn hơn một chút nên giọng điệu tỏ ra chân thành hơn.

"Anh không hiểu họ," cô nói.

"Phu nhân McKinley là người phụ nữ mong manh, khó chịu nhưng chồng bà ấy mê vợ như điếu đổ.

Ông ta luôn hướng đến vợ mình.

Anh nên thấy cái cảnh ông ấy lo lắng cho vợ thế nào thì biết ngay."

Anh khịt mũi.

"Em lại thế nữa."

"Sự khác biệt là em được trả lương, còn ông ấy phải chiều lòng vợ mình vì ông không phải trả tiền công gì cho vợ."

Anh cười khùng khục và không hề muốn giấu cảm giác ấy.

Caroline cũng cười, rồi anh lại ôm lấy cô em thêm lần nữa.

Họ cần làm vậy.

Bất kể những ngày khó khăn này trôi qua thế nào, và chân trời có tối đen hơn ra sao thì điều quan trọng là cần có những tia hạnh phúc và hy vọng nhỏ nhoi như vậy.

Annabelle có thể là một phần hạnh phúc lớn hơn mà anh muốn có trong cuộc đời.

Anh nhớ cô.

Đã một tuần trôi qua từ khi anh đi Cuba, và anh thực sự muốn tiếp tục ở nơi mà mình còn đang bỏ lửng với cô.

Có lẽ cuối tuần này họ có thể làm một chuyến đến đỉnh Vernon, là nơi cô sẽ có cơ hội bày tỏ lòng kính trọng đối với người mà cô luôn ngưỡng mộ.

Niềm vui thích trọn vẹn, không hề bối rối nơi cô là một trong nhiều điều khiến anh mê mẩn.

Nhìn thế giới qua đôi mắt của cô đã dạy cho anh biết thưởng thức những gì tốt đẹp quanh anh, và lúc này hơn bao giờ hết, anh cần cô xuất hiện trong đời mình.

Luke thì tan nát còn Otis có thể đã phản bội, nhưng Gray vẫn còn dựa được vào Annabelle để thắp sáng những ngày tăm tối này.
 
Back
Top Bottom