Ngôn Tình Vết Bớt Hoa Điền

Xin chào bạn!

Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm diễn đàn, vui lòng bạn đăng ký tài khoản để có thể sử dụng đầy đủ chức năng diễn đàn và tham gia thảo luận, trò chuyện cùng với cac thành viên khác.

Đăng ký!
Vết Bớt Hoa Điền
Chương 61: Chuếnh Choáng


Đã lâu không gặp Kim Tam, cho nên khi Ngọc Lâu Xuân giữ nàng lại dùng bữa tối, Tiểu Viện lập tức đồng ý.

Sắc mặt Hồ Điệp thoáng mất bình tĩnh, nói nhỏ với Tiểu Viện: “Vương phi, điện hạ đã dặn dò trước, hy vọng người nhanh chóng trở về phủ.”
Hôm nay tinh thần Tiểu Viện cực kỳ thoải mái, một phần nàng có thể dễ dàng đoàn tụ với gia đình, tìm được thân nhân, mặt khác có thể giãi bày cùng Tiền Thục Viện nhiều khúc mắc vẫn luôn giữ trong lòng, hơn nữa lại may mắn gặp lại Kim Tam, quá nhiều tin mừng vồ vập ập đến, cho nên nàng cũng không biết bản thân vui vẻ vì điều gì.

Vốn là kẻ lữ hành cô độc trôi dạt trên giang hồ, nay lại giống một con thuyền tìm được bến bờ neo đậu.

Ngọc Lệ xã đàn tuy nhỏ bé, nhưng lại đem cho nàng cảm giác về nhà, về nơi chốn bình yên.

Tiểu Viện nào nỡ rời đi.

“Trở về bẩm điện hạ một tiếng, hôm nay vương phi nhất định phải dùng cơm ở đây xong mới về.

Phủ ta mới mời về một vị đầu bếp, tay nghề nấu ăn rất khá, đặc biệt là các món có khẩu vị đế đô.

Mọi thứ đều có người hầu hạ, không cần lo lắng cho vương phi.”
Lúc nói lời này, Ngọc Lâu Xuân tự tay rót cho hai nữ nhi bình rượu lưu bà đích thân ủ.

Lựu là biểu tượng của sự đông con nhiều lộc, hiện tại bà đã tìm lại được hai cô con gái, cảm thấy không có loại rượu nào hợp cảnh hợp tình hơn bình rượu lựu này.

Canh cá của Kim Tam ngon đến mức khiến ai nếm thử cũng phải mê đắm, Tiểu Viện nói mình không thích cá chép bạc, đó chỉ là câu nói đùa.

Nàng đích thân cho vào nồi canh mấy miếng đậu hũ, mỹ vị càng thêm mấy phần hấp dẫn.

Sau đó lại dùng thìa gỗ khuấy canh, Tiền Thục Viện là đại tiểu thư ngậm thìa vàng lớn lên, chưa từng thấy qua những hành động này, cảm thấy vừa buồn cười, cũng cực kỳ thú vị.

Vì bốn người đã uống vào chén rượu, ai cũng chuếnh choáng men say, Tiểu Viện đi tới chỗ Kim Tam nói: “Tam ca, bữa tối hôm nay thật giống với những ngày chúng ta còn phiêu bạt trên thuyền, ăn thịt, uống rượu, tự do tự tại, khuây khỏa vô cùng.

Huynh không biết, ta một năm nay cười không dám lộ răng, ngồi không dám buông lỏng.”
Tiểu Viện nói xong lời này, Tiền Thục Viện và Ngọc Lâu Xuân đều đưa mắt nhìn nàng, cả hai đều cảm thấy Tiểu Viện hiện tại đang mượn rượu giải sầu.

Ngọc Lâu Xuân lo lắng muốn hỏi thăm con gái, lại bị Tiền Thục Viện ngăn lại.

Nàng lặng lẽ khoát khoát tay ra hiệu.

Tiểu Viện lại thân thiết mở lời hỏi han: “Tam ca thương thế trên người huynh đỡ chưa? Khi nào về lại Lăng Sơn đoàn tụ với Kim bà bà, huynh nhất định phải thay ta hỏi Kim bà bà một câu: Tại sao khi đó lại tàn nhẫn đem bán ta đi như vậy?”
Nét mặt Kim Tam không giấu được sự xấu hổ, Tiền Thục Viện thoáng kinh ngạc nhìn hai người, loáng thoáng hiểu được điều gì đó.

Người đã lừa bán nàng ấy cho Hậu Sơn Trà tự chính mà mẹ đẻ của Kim Tam.

Ban đầu Tiền Thục Viện đã hạ quyết tâm, hoặc bằng mọi giá ngăn Kim Tam rời đi, hoặc cầu xin mẫu thân cho người đến Thiên Lăng Sơn đón mẹ Kim Tam về đây đoàn tụ cùng họ.

Nhưng mà cả đường đồng hành Kim Tam đều giữ kín như bưng thông tin liên quan đến Kim bà bà.

Việc nàng đầu tiên nghe được về vị phụ nhân này lại là nhân vật đủ nhẫn tâm lừa bán một tiểu cô nương.

Thấy Kim Tam xấu hổ, Tiểu Viện ngơ ngác vài giây mới nhận ra mình lỡ miệng, nàng chủ động tự phạt ba chén.

Ngọc Lâu Xuân ôm lấy con gái, khuyên nhủ: “Nhìn con kìa, rõ ràng là một tiểu cô nương tính tình trầm ổn, bình tĩnh sao lại ham uống như thế.

Không được uống nữa!”
Tiền Thục Viện nhanh chân đi rót một chung trà lạnh giải rượu đem tới.

Thời khắc này, Tiểu Viện tựa như muốn đem toàn bộ những uất ức, tổn thương dồn nén hơn chục năm, mượn rượu mở lời, nàng nhìn Ngọc Lâu Xuân chậm rãi nói: “Mẫu thân, người có lẽ không biết, muội muội không so đo việc con đoạt vị trí vương phi của muội ấy.

Nhưng con lại luôn so bì, tị nạnh tại sao ông trời lại đối xử lạnh bạc với con đến thế.

Kim bà bà nhẫn tâm, máu lạnh, nhưng lại đối xử với Tam ca yêu thương, che chở hết mực, đến cùng người lo lắng cho ta đến quên đi bản thân chỉ có phụ mẫu.

Còn con lại chẳng có phước được người khác che chở, thương yêu."
Ngọc Lâu Xuân nhíu mày, vành mắt đỏ lên, không khí vui vẻ hoà thuận lúc đầu vì lời nói lúc say của Tiểu Viện cứ vậy sụp đổ.

Đến khuya, vị quý nhân của Trạm Vương phủ sốt ruột, dứt khoát cho hạ nhân đến Ngọc Lệ Đàn xã đón người.

Xe ngựa của Thẩm Vô Cữu vừa vặn dừng cách đó không xa, vốn định chờ đến đêm khi thân quyến của Ngọc Lâu Xuân ra về, mới tới chơi, không ngờ lại bắt gặp cảnh tượng, một cỗ xe ngựa hoạ tiết Kim Long khảm vàng bạc, đá quý, lộng lẫy, xa hoa dừng trước cửa Ngọc Lệ Đàn xã, chở một nữ tử mình khoác áo choàng bằng lông hồ ly rời đi.

Nhìn chiếc xe ngựa của vương phủ phía xa, lại loáng thoáng nghe được tì nữ từ trên xe ngựa chạy xuống đỡ vị nữ tử kia, gọi hai tiếng “vương phi”, hàng mày hắn khẽ nhíu lại.

“Công tử, chúng ta có chờ tiếp không?” Người hầu Thẩm gia cực kỳ nhạy bén lên tiếng.

Thẩm Vô Cữu nhìn sắc trời, không còn hào hứng bám lấy Ngọc Lâu Xuân nữa, nhìn cỗ xe ngựa lộng lẫy chậm rãi rời đi phía xa xa, lạnh nhạt lên tiếng: “Hồi phủ.”
Trên đường trở về phủ Thẩm Vô Cữu sắp xếp người đi nghe ngóng quan hệ giữa Trạm Vương phi và Ngọc Lâu Xuân, có thể cùng nhau uống rượu đến thời gian này nhất định không phải thứ giao tình bình thường.

Nhưng trong một giây thoáng qua hắn lại không muốn điều tra, ngược lại có chút hy vọng xa vời rằng Ngọc Lâu Xuân sẽ chủ động nói ra toàn bộ sự tình với mình.

Ý nghĩ này đột nhiên nảy ra, khiến ngay cả bản thân hắn cũng cảm thấy bàng hoàng.

Ngọc Lâu Xuân hơn hắn nhiều tuổi, là một nữ nhân phong trần đã trải qua không ít thương hải tang điền, là nhân tình của Tiền Trọng Mưu.

Những điều này hắn đều biết rõ.

Nhưng dù là như thế, thời điểm nhìn thấy Ngọc Lâu Xuân, vẻ đẹp diễm lệ của bà, đôi mắt trầm buồn hút hồn ấy, toàn bộ như xóa mờ tất thảy.

Thậm chí Thẩm Vô Cữu có thể nhớ rõ ràng hôm nay nàng đã nói với mình bao nhiêu câu.

Mỗi câu mỗi chữ, mỗi một cái nhấc tay, cau mày của nàng tất cả đều khắc sâu vào lòng hắn.

Bản thân Thẩm Vô Cữu cũng cảm thấy hoàn toàn bất lực trước sự si mê mù quáng của mình.

Là gia chủ trẻ tuổi nhất của một trong những đại tộc danh giá nhất Hàng Nam, hắn văn võ toàn tài, thậm chí đến cả lão cáo già Mạnh Khải Lễ đôi khi cũng phải nhường nhịn mấy phần.

Đừng nói đến mỹ nữ Hàng Nam, ngay cả hoàng thân quốc thích, công chúa, quận chúa, chỉ cần hắn động lòng, hiếm có người nào hắn không lấy được? Vậy mà bản thân hắn lại động lòng với một nữ tử phong trần, đúng là một thứ chuyện cười.

Nhưng hắn không thể không thừa nhận, trước Ngọc Lâu Xuân hắn luôn khó kiềm chế nổi cảm xúc.

Bởi vì trưởng thành và có năng lực vượt trội hơn hẳn so với các thiếu gia công tử cùng trang lứa, cho nên đối với các tiểu thư, nữ nhi thế gia trẻ người non dạ, ưa làm nũng, che giấu sự toan tính, nhỏ nhen sau lớp mặt nạ ôn hoà, hữu lệ, hắn đều cảm thấy vô cùng chướng mắt.

Những năm gần đầy các gia đình có ý liên hôn với Thẩm Gia không ít, nhưng hắn chẳng coi trong nhà nào.

Thẩm Vô Cữu không phải tên nít ranh miệng còn hơi sữa, chưa trải sự đời, dù hắn lần đầu rung động cũng quyết không phạm sai lầm ấu trĩ như đám lang quân trẻ tuổi.

Hắn cẩn thận nhớ lại dáng vẻ của Ngọc Lâu Xuân hôm nay, sau vẻ lịch sự, ôn hoà có chút lạnh lùng, xa lánh, nhưng toàn bộ những biểu cảm đó không thể che giấu được, cảm xúc rung động dù chỉ thoáng qua nơi nàng.

Nàng không nhìn hắn, nhưng lại nói “Hẹn gặp lại.”
Lần gặp lại tiếp theo là khi nào? Thẩm Vô Cữu đột nhiên cảm thấy đêm nay mình không nên tiếp tục đứng chờ ở cổng Ngọc Lệ Đàn xã nữa, mặc dù có thể vô tình bắt gặp xe ngựa của Trạm Vương phủ cũng coi như một thu hoạch không nhỏ.

Hắn biết với một nữ nhân như Ngọc Lâu Xuân, sự theo đuổi cuồng nhiệt, hay tặng những món quà đắt tiền không phải phương pháp hiệu quả.

Nói về quyền lực, hắn sao có thể vượt qua được Tiền Trọng Mưu, Tiền phủ nhiều năm bỏ trống hậu trạch, cũng không thuyết phục được Ngọc Lâu Xuân nhập phủ, vậy hắn dựa vào cái gì, có thể làm trái tim nàng rung động.

Nghĩ vậy, hắn lại càng thêm hiếu kỳ về vị nữ tử này, càng hiếu kỳ, lại càng không buông bỏ được sự xao xuyến dành cho nàng.

Thị nữ hầu hạ Tiểu Viện thay áo khoác ngoài, lại dìu nàng đến bên giường nghỉ ngơi, Hồ Điệp quỳ gối trước mặt chủ thượng, báo cáo lại tất thảy những việc đã chứng kiến hôm nay.

Xưa nay trên mặt Trịnh Lan không mảy may xuất hiện bất kỳ thứ cảm xúc gì, dù trong tình cảnh nguy khốn đến mức nào, vậy mà khi nghe thấy cái tên Kim Tam, lại nghe tới chuyện Tiểu Viện khi say lỡ miệng nói ra những cảm xúc buồn khổ, tổn thương nàng luôn chôn sâu trong lòng, nét mặt không giấu được hơi trầm xuống.

“Theo thuộc hạ quan sát thấy, gã Kim Tam kia và Tiền cô nương dường như đã nảy sinh tình cảm, cho nên vương phi vì vui vẻ đã uống thêm mấy chén.” Lời này của Hồ Điệp rõ ràng muốn tránh nặng tìm nhẹ, hi vọng sắc mặt chủ thượng nhà mình tốt lên một chút.

Trịnh Lan gật gật đầu, cho Hồ Điệp và thị nữ lui ra ngoài.

Thời tiết đã vào thu, gió đêm se lạnh, Trịnh Lan khẽ khàng đi đóng cửa sổ lại, dém lại chăn giúp Tiểu Viện.

Thắp cây đèn gần đầu giường lên, chàng lẳng lặng ngắm nhìn dung nhan dịu dàng của Tiểu Viện, bởi vì say rượu, hai má nàng ửng hồng, đóa Lăng Hoa giữa trán càng thêm diễm lệ, tươi tắn.

Lòng chàng xao động, muốn cúi xuống hôn nàng, cuối cùng vẫn nhịn được.

Chàng đột nhiên nhớ ra, từ lúc xuôi nam đến nay, hai người chưa từng trải qua chuyện chăn gối.

Chàng vội vàng muốn thu phục đám thế gia vọng tộc Hàng Nam, ngày ngày đều nhận được mật đàm của Hằng Xương đế, có quá nhiều việc cần chàng xử lý.

Chàng không chủ động tầm hoan, Tiểu Viện trước nay cũng chưa từng trách móc chàng hờ hững, lạnh lùng.

Đến cùng vấn đề là ở đâu.

Chàng nhìn hộp gấm tinh xảo đặt trên bàn, đây là thứ Tiểu Viện vẫn luôn siết chặt trong tay đến tận khi về đến phủ, là con dấu Ngọc Lâu Xuân tặng.

“Thanh Bội…” Trịnh Lan mở hộp gấm, bên trong là con dấu tên được điêu khắc tinh xảo, thì ra tiểu cô nương mồ côi chàng vô tình nhặt về cũng có tên, thậm chí còn thật sự giống Hồ Điệp nói, Tiểu Viện xuất thân trong sạch, cũng coi như là nữ tử danh môn.

Cho tới nay, chàng vẫn luôn là người đầu tiên, duy nhất cứu vớt nàng, bảo vệ nàng.

Đối với Tiểu Viện mà nói, tình cảm dành cho chàng phần nhiều là mang ơn.

Dù nàng có muốn được sống là chính mình, nhưng cuối cùng vẫn không thoát được khỏi lòng bàn tay Trịnh Lan, vì nàng cô độc, vì nàng không có gia đình, không có thân nhân.

Nhưng hiện tại nàng đã tìm được người nhà, thậm chí tìm lại được người vẫn luôn âm thầm yêu thương nàng tha thiết - Kim Tam.

Thế giới của nàng đã mở ra, nàng không chỉ còn mỗi chàng là chỗ dựa nữa.

Trịnh Lan nắm chặt con dấu tên trong tay, đột nhiên lòng sinh ra một thứ cảm xúc hoang đường chưa từng có.

Chàng không chịu thừa nhận… nhưng cảm giác này phải chăng chính là: Bối rối, hoang mang.

Đúng lúc này, Dơi bước vào.

Trịnh Lan chậm rãi thả con dấu tên lại vào hộp gấm, thấy Dơi cung kính hàng lễ, chàng lặng lẽ ra hiệu bề tôi đứng dậy.

“Chủ thượng… Tây Man… đã khởi binh.”
Trịnh Lan cau mày hỏi: “Tần Chí Thành đâu? Không ngăn cản được sao?”
Dơi lắc đầu, dâng lên tin tình báo vừa nhận được.

Trịnh Lan cầm bức mật thư trong tay, sắc mặt thoáng vẻ ngạc nhiên.

Tiền Trọng Mưu chạy trốn tới Tây Man trở thành quân sư cho đám mọi rợ phía Tây, đồng thời còn một người nữa, cũng đã hàng phục người Tây Man, muốn trả thù Đại Trịnh, Trịnh Lan khẽ thở dài, đến cùng quyết định ban đầu của chàng vẫn dẫn đến sai lầm…..
 
Vết Bớt Hoa Điền
Chương 62: Hoà Thân


Thảo nguyên bao la bát ngát trải dài vô tận đến tận cuối chân trời.

Mặc dù mới vào cuối thu, chớm đông, nhưng cả thảo nguyên rộng lớn đã chìm trong biển tuyết trắng.

Xiêm y tơ lụa sớm đã được cất đi, thay vào đó là mũ lông cùng áo choàng da dê.

Nhìn từ xa căn bản khó có thể nhận ra người thiếu nữ yểu điệu mong manh đất kinh kỳ ngày xưa.

Nha hoàn Phong Nhi cũng thay đổi cách ăn mặc như vậy, tiểu cô nương vén màn, chậm rãi lên tiếng gọi Lý Tú Dung: “Cô nương, mau vào đi, da cô nương bị tổn thương do nứt nẻ không chịu nổi gió tuyết khắc nghiệt đâu.” Mặc dù đã xuất giá nhưng ngôn ngữ của Đại Trịnh và Tây Man hoàn toàn khác nhau, do vậy Phong Nhi và Mai Nhi vẫn dùng xưng hô ‘cô nương’ với Lý Tú Dung.

Hai tiếng “cô nương” như thể hiện sự không cam lòng, không muốn thừa nhận sự thật bẽ bàng của ba thiếu nữ trẻ tuổi vô duyên vô cớ bị đẩy tới Tây Man hoà thân.

Lý Tú Dung tiến vào trong trướng.

Tại Tây Man, tất thảy những hoạt động sinh hoạt ngày thường đều diễn ra bên trong lều.

Điều khiến Lý Tú Dung ngạc nhiên khi lần đầu tới mảnh đất này chính là: dù bên ngoài cuồng phong gào thét, gió tuyết phủ kín thảo nguyên, thì bên trong màn tất thảy đều nóng hừng hực, mọi người quây quần quanh đống lửa lớn, khoác áo da dê ấm áp.

Trên bếp lửa, đặt một chiếc nồi đồng, bốc hơi nghi ngút, mới vừa rồi một nữ tử Tây Man tiến tới bắc nồi lên, nói là chuẩn bị nướng thịt.

Dù đến Tây Man được một thời gian nhưng Lý Tú Dung vẫn không thể thích ứng được với ẩm thực nơi này, bữa ăn chỉ quanh quẩn không thịt khô thì là sữa.

Trà ở đây cũng không thể uống, những khối được nấu trong nồi đồng nhỏ, nước đen sì, chẳng có chút tinh tế, thanh nhã.

Trong mắt Lý Tú Dung thứ nước kia căn bản không thể gọi là trà.

Nàng vô cùng nhung nhớ quãng thời gian ở kinh thành, ngày ngày khoan thai chìm đắm trong mùi giấy mực cùng hương trà thanh mát thoang thoảng.

Nào chỉ có trà, nơi thảo nguyên hoang sơ lạnh lẽo này, đã hoàn toàn giết sạch toàn bộ sự kiên nhẫn và bình tĩnh của nàng, cũng thẳng tay bóp nát trái tim Lý Tú Dung.

Nàng là tài nữ đệ nhất kinh thành, lại là vị tiểu thư cao quý khó người bì kịp.

Trong khuê các được nuôi dạy cẩn thận, đồ dùng hàng ngày đều là những thứ tốt nhất, cơm áo, ăn mặc đều quý giá, tinh xảo không thua kém bất kỳ vị quận chúa, công chúa nào.

Lý Tú Dung chưa từng nghĩ tới một ngày, sẽ trở thành quân cờ hoà thân của Đại Trịnh.

Tuy có danh gả đến Tây Man làm dâu hoàng thất, lại là chính thê, nhưng đây nào phải cuộc sống vương giả, giàu sang mà người hoàng thất nên có, chỉ đơn giản được cấp chiếc lều lớn hơn mà thôi.

Mới hoà thân chưa đầy nửa tháng, Phong Nhi nhìn khuôn mặt tú lệ của chủ nhân đã hốc hác đi trông thấy, trên mặt hằn lên từng vết nứt nẻ mà khí hậu khắc nghiệt nơi đây mang lại.

Cả tinh thần cũng héo mòn, ủ dột.

Phong Nhi và Mai Nhi là hai nha hoàn hồi môn Lý Lương Bật đích thân chọn cho con gái.

Trong phủ thượng hai nàng cũng không phải người hầu nhất đẳng, thậm chí từ trước tới nay rất ít khi được hầu hạ tiểu thư, nhưng sức khoẻ lại đặc biệt tốt.

Tây Man cằn cỗi, hoang vu, quý nữ hoà thân từ trước tới nay đều yểu mệnh, tỳ nữ cho dù thế nào thân thể phải tốt mới có thể che chở, hầu hạ chủ nhân.

Phong Nhi cầm bình cao mỡ dê, cẩn thận bôi lên những vết nứt trên mặt tiểu thư, hy vọng mấy vết rách kia sẽ sớm lành lại, đồng thời cũng lo lắng có thể để lại sẹo.

Vì để trở thành người đại diện Đại Trịnh đi hoà thân nàng được phong làm huyện chủ, Đại Trịnh chuẩn bị hơn mười bốn xe của hồi môn cho Lý Tú Dung đến Siết Đan Bộ đều bị người Tây Man chiếm đoạt phân phát cho người trong tộc.

Như thể của hồi môn của nàng đều bị biến thành chiến lợi phẩm của đám man di, thậm chí không một kẻ nào từng hỏi qua ý kiến của nàng.

Cách hành xử của dân Tây Man vẫn chưa được khai hoá văn minh, luôn bị người Trung Nguyên khinh khi, coi thường.

Ngày trước gặp người Tây Man trên đường hoặc trong hoàng cung, ấn tượng của Lý Tú Dung với tộc người này chỉ dừng lại ở sự thô lỗ, cục mịch bình thường.

Nào biết dân tộc Tây Man lại nghèo nàn, lạc hậu đến vậy.

Nếu đã thành thân, thì cả đời nàng cũng không thể rời khỏi nơi này, dù có chết thân xác cũng bị chôn vùi giữa thảo nguyên quạnh hiu, vô tận.

“Cô nương vẫn nên trang điểm qua một chút, Siết Đan vương chuẩn bị ghé thăm.” Phong Nhi cực kỳ không tình nguyện khuyên nhủ, lấy một hộp gỗ nhỏ và gương đến.

Cả một cái trướng lớn nhường này mà chỉ có duy nhất một cái giường, một cái tủ nhỏ, còn lại đều là thảm da dê dày cộp.

Hộp trang điểm và gương đều được làm từ gỗ trắc quý hiếm, khảm trai tinh xảo, tay cầm sơn son thếp vàng, đặt trong căn trướng thô sơ, đơn giản này quả thực không hề thích hợp.

Chỉ một điều nhỏ nhặt này thôi cũng khơi gợi trong lòng Lý Tú Dung sự tưởng niệm, nhớ nhung đế đô tráng lệ, sa hoa.

Nghe nói Y Cáp Tang sắp tới, đáy mắt vốn ảm đạm của nàng lại phủ thêm một tầng ầu sầu, buồn bã.

Vị Cáp Y Tang kia nàng đã từng gặp một lần tại dạ yến trong hoàng cung Đại Trịnh.

Ngày ấy nàng chưa từng một lần nghĩ đến tương lai mình lại là người sẽ đi hoà thân nơi thảo nguyên xa xôi.

Đến Siết Đan Bộ đã mười mấy ngày, Lý Tú Dung đã hiểu được sự khác biệt một trời một vực giữa vùng Thảo nguyên cằn cỗi nơi Man di cư trú với Trung Nguyên giàu có phồn vinh.

Chưa nói đến điều khác, chỉ xét về luân thường đạo lý, những nề nếp căn bản, nơi đây đã hoàn toàn khác xa Đại Trịnh, như thế một thế giới hoàn toàn cách biệt.

Nếu huynh trưởng mất, mà con trai trưởng chưa trưởng thành thì tiểu thúc sẽ cưới trưởng tẩu, đây gọi là: thâu kế.

Nếu ở Đại Trịnh việc tiểu thúc lấy đại tẩu có thể coi là một tội danh ảnh hưởng nghiêm trọng đến đạo đức luân thường.

Đáng sợ hơn chính là tục tảo hôn tại đây, tiểu nữ tử mới mười một, mười hai tuổi đã phải thành thân, tuy nhiên sau khi lập gia đình nàng không được ở trong khuê phòng tĩnh dưỡng, chăm lo gia đình mà còn phải dậy sớm học cưỡi ngựa, bắn tên, cho dù đêm hôm khuya khoắt không một ánh sao trời cũng phải một mình tìm đồng cỏ chăn thả đàn gia súc.

Lý Tú Dung biết toàn bộ sở học cả thời nửa đời nàng, tại nơi cằn cỗi này chẳng có bất kỳ ý nghĩa nào.

Đã từng là quý nữ danh gia, nức tiếng kinh thành, nhưng giữa thoảng nguyên bao la này đây, nàng chẳng khác nào một đoá hoa thanh tú nhưng vô dụng không hơn không kém.

Thậm chí nếu muốn sống sót, một đoá hoa phải ép mình trở thành một ngọn cỏ dai dẳng, kiên cường.

Quên đi tất thảy chuyện trước kia? Há lại dễ dàng đến thế?
Phong Nhi thấy nét mặt sầu bi của tiểu thư, không thể không cầm theo bình nước nóng, và áo choàng da dê đi đến, choàng lên vai Lý Tú Dung, khẽ nói: “Trên dưới bộ lạc Siết Đan chỉ có mình cô nương là vương phi cao quý nhất.

Nếu sau này Tây Man thống nhất, có phải sẽ có một toà thành trì cố định, không cần lang bạt, nay đây mai đó giữa thảo nguyên nữa đúng không?”
Trong chuyến hành trình cùng gia quyến trở về Tây Man, đi được nửa đường Siết Đan vương đột ngột chết bất đắc kỳ tử, Y Cáp Tang đương nhiên trở thành Tân chủ Siết Đan Bộ.

Tây Man không chú trọng đến việc giữ đạo hiếu, ngày thứ hai sau khi đến nơi, cả bộ lạc đã quây quần bên đống lửa cầu nguyện, sau đó đến gò đất lớn quỳ lạy trời đất, tiếp theo các tộc nhân cùng nhau giết trâu, mổ dê, vắt ít sữa bò làm điểm tâm, coi như tổ chức lễ đón dâu.

Thậm chí Y Cáp Tang không chuyển đến ở cùng doanh trướng với Lý Tú Dung, hoàn thành lễ việc viên phòng, thay vào đó ngay hôm sau đã giục ngựa đi.

Hắn nói với người hầu, đi đến võ trường đổ chút mồ hôi, thuận tiện giải quyết đống quân vụ còn dang dở chưa xong.

Cho tới sáng sớm hôm nay, người hầu nhỏ nhẹ đến gõ cửa, thỏ thẻ dùng thứ tiếng Hán lủng củng diễn đạt với Phong Nhi rằng: Hôm nay Siết Đan vương sẽ trở về, buổi chiều muốn tới thăm vương phi.

Lý Tú Dung hiểu điều này nghĩa là gì.

Vốn dĩ, ngày hôm tại cung yến, hắn vốn nhìn trúng Tiểu Viện, cũng bởi vậy mà hắn từ chối tất cả những quý nữ mà Hằng Xương Đế muốn chỉ định hoà thân với Tây Man.

Nhưng mục đích của Đại Trịnh ngay từ đầu chính là: không đánh mà thắng, há dễ dàng buông tha cơ hội lôi kéo Siết Đan Bộ? Sau này Tần Chí Thành ổn đính lại cục diện biên cương, Siết Đan vương vì muốn dành chiến thắng trước Đại Khả Hãn đã chủ động viết thư yêu cầu hoà thân gửi Hằng Xương Đế, đồng thời đưa ra những điều kiện vô cùng hấp dẫn.

Trước kia theo tin tức Lý Tú Dung nghe được: Người được tuyển chọn là Ngô Phàm Vân, vì dù nàng ta xuất thân vọng tộc, nhưng chỉ là thứ nữ gia đình quan thương, không có chỗ dựa, thích hợp để gửi đi hoà thân.

Những nữ tử trước đây thay mặt hoàng thất đến đất khách quê người làm dâu phần lớn đều có xuất thân như vậy.

Lý Tú Dung đâu ngờ được rằng một lần ghé thăm Trạm Vương phủ, cùng lắm có vài vấn đề bất đồng ý kiến mà có chút giằng co với Trạm Vương phi, lập tức dẫn đến hệ quả hửng sáng hôm sau nhận được một bức thánh dụ hoà thân.

Đêm đó Lý Lương Bật đại nhân tức tốc thay quan phục cầm theo thẻ chầu vội vàng vào cung yết kiến Hằng Xương Đế nói lý lẽ.

Nhưng nào hay Trạm Vương điện hạ đã tới trước một bước, ngồi trong thiên điện cùng bệ hạ thương nghị chuyện quan trọng.

Cả đêm đó ông chờ ngoài cả cung, không được phê chuẩn vào gặp mặt hoảng đế.

Ngày kế tiếp Lý Lương Bật đại nhân lao lực quá độ mà ngã bệnh.

Phe cánh Tiền tướng sụp đổ, tướng quyền của hữu tướng Lý Lương Bật cũng không thể giữ lại.

Sự cân bằng quyền lực bị phá vỡ, điều cần làm nhất chính là tái cơ cấu bộ máy, tạo một thế lực cân bằng mới.

Đây chính là thủ đoạn sát phạt quyết đoán của kẻ làm đế vương.

Nửa cuộc đời Lý Lương Bật phụng sự Hằng Xương Đế, cũng chưa từng thấy cái vô tình, máu lạnh này từ vị quân vương ông quyết trung thành.

Xét cho cùng yếu tố tiên quyết hẳn là từ vị học trò thông minh trác tuyệt mà cả đời ông tâm đắc nhất kia.

Người xưa đã nói gần vua như gần cọp, quả chẳng sai.

Thoáng chốc Lý Lương Bật giật mình lo lắng, bẽ bàng nhận ra, kẻ mang dòng máu đế vương ngàn đời là vậy.

Mây mưa tráo trở bàn tay, những tuồng khinh bạc đời này biết bao.

Ông sống một đời thanh chính, liêm minh, đến dấu chấm hết của cuộc đời lại phải dùng chính con gái để để giữ gìn thanh danh thánh hiền, bảo toàn thành tựu… có chết cũng cảm thấy không thể chấp nhận.

(*) Thành ngữ “Phiên vân phúc vũ” (翻云、覆雨) là dạng rút gọn của “Phiên thủ vi vân, phúc thủ vi vũ” (翻手为云、覆手为雨).

Ý nghĩa của thành ngữ này là chỉ sự thay đổi như chong chóng, không biết đâu mà lần.

Nghĩa bóng chỉ những người hay thủ đoạn, phản phúc, lèo lái, đảo điên.

Nó có xuất xứ từ bài thơ “贫交行” [Bần giao hành] của 杜甫 (Đỗ Phủ).

Tại thời điểm diễn ra cung biến, ông chẳng mảy may cân đong đo đếm thiệt hơn, không tiếc thân mình tương trợ Trạm Vương điện hạ, vậy mà đổi lại kẻ học trò kia lại đứng sau giật dây Hằng Xương Đế giáng xuống gia đình ông chuyện tàn khốc đến nhường này.

Càng không thể chấp nhận được, là những năm tháng cuối đời đứa con gái duy nhất mà ông hết mực yêu thương lại bị đày tới nơi biên tái nghèo nàn, lạc hậu hoà thân.

Hoà thân - hai chữ nghe thật to tát biết bao, nhưng đó chỉ là trên danh nghĩa, ai chẳng biết danh môn quý nữ tới Tây Man, chỉ qua mấy năm đã bị mài mòn không còn hình người, tiêu điều, xơ xác.

Gần vua như gần cọp, Lý Lương Bật cả đời tự cho mình là môn tường (*) rộng rãi, công huân cao ngất, thậm chí tự nhận là kẻ có học thanh cao, nhưng cuối cùng kết cục cũng bẽ bàng chẳng kém đối thủ một mất một còn - Tiền Trọng Mưu là bao.

(*) “Môn tường” 门墙, cũng gọi là “cung tường” 宫墙, điển cố này xuất phát từ một đoạn nghị luận của Tử Cống 子贡 được chép ở thiên Tử Trương 子张 trong Luận ngữ 论语.

Hiểu nôm na thì Môn tường là cỏng nhà sư phụ, người dạy ta lý lẽ, học thức, hoặc chỉ sự bắt đầu của việc nhập môn học tập.

Vì để an ủi phụ thân, lo lắng ông lo nghĩ nhiều sinh bệnh, sợ bản thân đánh mất người ruột thịt duy nhất này, cuối cùng Lý Tú Dung lau khô nước mắt, chấp nhận thánh chỉ hoà thân.

Trên thực tế hành động này cũng chẳng thay đổi được kết quả đã định chỉ là giả vờ tỏ vẻ thanh cao chấp nhận với bị bắt ép phải đồng ý mà thôi.

An Thái thậm chí còn dẫn theo toàn bộ tú nương trong phủ công chúa tới tướng phủ gấp gáp cho may một bộ hỷ phục tinh xảo giúp nàng.

Nhưng thời gian xuất giá quá mức gấp gáp, hỷ phục may chưa đạt đến độ hoàn hảo như dự kiến, nàng đã phải xuất quan đến nơi đất khách quê người thành thân.

Hằng Xương Đế muốn thể hiện thành ý, thậm chí còn cùng hoàng hậu đích thân đưa dâu tới ngoại thành.

Đội ngũ đưa dâu trùng trùng điệp điệp thẳng một đường đi về hướng bắc xa xôi, càng đi cảnh trí hai bên đường càng hoang vu, hoang vắng, những toà thành sầm uất bị bỏ lại đằng sau càng lúc càng nhỏ bé, cho đến khi khuất bóng sau những rặng núi xa xăm.

Lúc ra khỏi thành khua chiêng gõ trống linh đình náo nhiệt, đến biên giới hai nước đoàn rước dâu kẻ nào kẻ nấy đều đã mệt mỏi, kiệt sức.

Tốt xấu gì Y Cáp Tang cũng am hiểu tiếng Hán hơn nữa có một thời gian dài sống và học tập tại kinh sư, vì thế có thể đích thân tới đón đoàn hoà thân.

Lần đầu tiên gặp hắn, trên gương mặt nam tử kia chẳng may may một chút bi thương của người con vừa mất cha.

Phía sau lưng hắn là thảo nguyên bao la bất tận, Lý Tú Dung phóng mắt nhìn về khoảng trời sâu hun hút sau lưng hắn, vẫn không thể chấp nhận được nửa đời sau của mình sẽ gắn liền với mảnh đất ấy, cùng những con người ấy.

Mọi thứ đều đền quá mức vội vàng, quá mức tàn nhẫn.

Nghĩ đến người cha đang bị bệnh tật quấn thân, Lý Tú Dung kìm không nổi lặng lẽ rơi lệ.

Kinh sư xa xôi, nàng giờ đã là nữ nhân của Siết Đan Bộ, đời này không biết có còn cơ hội quay trở lại đế đô phồn hoa tươi đẹp tựa giấc mộng.

Trong màn trướng da dê, bếp than vang lên tiếng nổ bôm bốp khe khẽ, dễ dàng cuốn người ta vào cơn buồn ngủ.

Nơi này không có nhiều thứ đồ chơi tinh xảo giết thời gian như trong khuê phòng của các tiểu thư Đại Trịnh.

Không có hương liệu để điều chế, cũng không có khung thêu, ngay cả đèn đuốc, dầu nến cũng phải chờ các đoàn thương lái ghé qua mới có thể mua được.

Sinh hoạt hằng ngày của Siết Đan vương, thậm chí còn nghèo nàn, thiếu thốn hơn cả nông dân Đại Trịnh.

Lý Tú Dung không muốn suy nghĩ tiếp nữa, chậm rãi bôi cao mỡ dê lên những vết nứt nẻ trên mặt, vết nứt nhìn chung đã khép miệng, không còn đau rát như ban đầu nữa.

Chẳng hiểu vì sao…có thể do nhàm chán… cũng có thể do trong trướng quá mức ấm áp, nàng nằm thiếp đi lúc nào không hay.

Thời điểm Lý Tú Dung tỉnh lại, cảm thấy có chút lạnh, ra trời đã sẩm tối, nàng ngủ một giấc không để ý đến thời gian.

Nơi này không có đồng hồ nước báo thời gian, nàng dụi dụi mắt, nhớ ra mình đã được đưa tới Tây Man hoà thân, đây không phải là một giấc mộng.

Cảm giác mất mát, thương tâm và trống rỗng đột ngột dâng lên.

Thương tâm thì thương tâm con người ta vẫn phải sống, hơn nữa thứ cảm xúc bi thương của hiện tại cũng giảm bớt nhiều so với ngày đầu tới đây, thậm chí lòng Lý Tú Dung cũng có vài phần chấp nhận số phận, sẵn sàng chung sống với nó.

Nàng bắc nồi đồng lên bếp, định nấu chút nước nóng.

Đang ngồi ngay ngắn cạnh bếp lửa bỗng nhiên một cơn gió lạnh thổi vào màn trướng, theo đó một nam nhân cường tráng bước vào.

Hắn xoay người nhanh chóng khép lại cửa trướng, nhìn bộ dáng đông cứng kia có thể đoán được bên ngoài lạnh giá thế nào.

Thấy Y Cáp Tang xoay người, Lý Tú Dung theo phản xạ rụt người lại, đôi mắt phượng trong trẻo xuống không dám nhìn qua hắn.

(1) “Môn tường” 门墙, cũng gọi là “cung tường” 宫墙, điển cố này xuất phát từ một đoạn nghị luận của Tử Cống 子贡 được chép ở thiên Tử Trương 子张 trong Luận ngữ 论语.

Tử Cống người nước Vệ thời Xuân Thu, họ Đoan Mộc 端木, tên Tứ 赐, là một trong những học trò đắc ý của Khổng Tử.

Quan Đại phu nước Lỗ là Thúc Tôn Vũ Thúc 叔孙武叔 từng có lần tại triều nói với các quan Đại phu khác rằng:
- Xem ra Tử Cống hơn thầy của anh ta.

Lời này truyền đến tai Tử Cống, Tử Cống liền nói:
- Ví như đem tường vây chung quanh nhà mà nói: tường nhà tôi mới cao tới vai, từ bên ngoài nhìn vào bên trong, những gì tương đối tốt trong nhà, ai cũng có thể nhìn thấy toàn bộ một cách rõ ràng; còn tường của nhà thầy tôi lại cao đến mấy nhận (theo thước nhà Chu 1 nhận là 7 thước), nếu tìm không thấy cổng, không vào được bên trong, thì không có cách nào nhìn thấy vẻ đẹp hùng vĩ
của tổ miếu, vẻ phú lệ đường hoàng của các phòng ốc.

Những người may mắn từ cổng của nhà thầy mà vào e là rất ít.

Như vậy xem ra, lời của Thúc Tôn Vũ Thúc chẳng phải cũng là khó trách sao!
Những lời của Tử Cống ý nói học vấn phẩm đức của bản thân mình hãy còn nông cạn, hạn chế, làm sao có thể sánh với học thức uyên bác của thầy.

Về sau, người ta gọi cổng nhà thầy (sư môn 师门) là “môn tường”.

Hình dung sơ bộ học được một chút gì đó gọi là “nhập môn”..
 
Vết Bớt Hoa Điền
Chương 63: Tắm


Y Cáp Tang không để ý đến dáng vẻ hoảng hốt, sợ hãi của tiểu cô nương ngồi bên mép giường, cầm cây gắp than, đẩy gọn nồi đồng sang một bên, đặt lên đó một chiếc nồi khác.

Mùi thịt dê thơm nức mũi, béo ngậy quyện vào trong không khí, chẳng mấy chốc đã chiếm cứ tất thảy không gian trong lều.

“Nung đỏ đá, cho thịt dê, trà sữa và đậu vào nồi đun, sẽ có một hương vị thịt thơm ngon nguyên bản và thuần nhất.

Người thảo nguyên thích những thứ tự nhiên, thuần phát không thích sự màu mè, bóng bảy, kệch cỡm.” Tiếng Hán của Y Cáp Tang vô cùng nhuần nhuyễn, không nghe ra được chút khẩu âm của người dân tộc, thậm chí có thể nói chẳng khác gì tiếng phổ thông tiêu biểu của dân gốc kinh kỳ, điều này hoàn toàn trái ngược với dáng vẻ thô kệch cùng bộ Hồ phục kém phần thanh nhã trên người y.

Nói hết lời, Y Cáp Tang đưa một bát sứ vẫn còn bốc khói nghi ngút tới, thịt dê trong chén toả ra mùi hương ngào ngạt, quyến rũ.

Dê buổi trưa vừa giết, ở Tây Man không khí trong lành, sạch sẽ, bởi thế thịt dê không chút mùi tanh, thịt tươi ngon, mềm dai vừa phải, vô cùng cuốn hút.

Lý Tú Dung nhìn màu sắc món ăn, dù nàng không phải loại quý nữ kiêu căng, làm mình làm mẩy, nhưng chẳng hiểu sao bàn tay chậm chạp không duỗi ra nhận lấy.

Bát sứ kia quá thô kệch, sơ sài, lúc trước khi còn ở tướng phủ, dù bát cơm cho chó cho mèo cũng được làm từ sứ thượng hạng, thứ hàng thứ phẩm như chiếc bát sứ này đây, nàng thậm chí còn chưa từng thấy qua.

Nhìn Lý Tú Dung mãi chần chờ không chịu nhận lấy, Y Cáp Tang chỉ mỉm cười, cũng chẳng ngại ngần, hay bực dọc, hắn đứng lên, đi tới bên tủ nhỏ, lấy chút muối thả vào bát thịt dê, tiêu sái nói: “Muối là vua của mọi loại gia vị.

Có nó là đủ rồi.”
Lý Tú Dung khẽ nhíu mày, nét mặt thoáng vẻ bi thương, buồn bã đáp: “Không có đũa và thìa.” Nàng đúng là ngủ lâu đến mức đầu óc hồ đồ, trống rỗng, nhớ tới mình còn hai tỳ nữ hầu hạ, đột nhiên mở lớn mắt hỏi: “Phong Nhi và Mai Nhi đâu?”
Y Cáp Tang bật cười, ngồi xuống cạnh giường nói với nàng: “Tất nhiên là đã ra ngoài.”
À đúng rồi, hắn đường đường là Siết Đan vương, chúa tể của thảo nguyên, hắn muốn ở riêng với vương phi của mình, hai tỳ nữ nhỏ bé sao có thể không hiểu ý mà rời đi?
Thế nhưng bên ngoài trời lạnh lẽo biết nhường nào, khuôn mặt nứt nẻ này chính là minh chứng, nàng có chút lo lắng, giọng điệu như thể đang cầu xin Y Cáp Tang: “Cho các nàng ấy một trướng nhỏ ấm áp một chút, thời tiết nơi này…” Nàng định nói ‘chẳng khác nào địa ngục trần gian’ nhưng may mắn lời đến khóe miệng vẫn kịp thời nuốt lại được.

Dù gì nàng vẫn là một tiểu thư quý tộc có học thức, nàng biết thứ gì cần nói, nên nói, cũng biết bổn phận và vị trí của mình.

Hơn nữa nơi này không phải chỗ nàng có thể đòi hỏi.

Ánh mắt Y Cáp Tang thoáng chút bất đắc dĩ, nhìn khuôn mặt tú lệ bôi đầy cao mỡ dê, cùng những vết nứt nẻ ngang dọc, hắn vừa thấy buồn cười, vừa thương hại, bèn nói: “Các nàng ấy so với nàng khoẻ mạnh hơn nhiều.” Nói rồi, hắn chậm rãi rút ra một con dao nhỏ cắt nhỏ khối thịt dê, cứ vậy tay không bốc lên đưa tới bên miệng Lý Tú Dung.

“Nàng đói rồi.”
Nếu là ngày trước, Lý Tú Dung thà rằng chết đói cũng nhất quyết không ăn uống một cách thiếu quy củ, lễ nghi như vậy.

Nhưng nơi này là doanh trại Siết Đan Bộ, nàng chỉ là một quý nữ hoà thân, có địa vị gì để mà kiêu căng, tự đại.

Nàng nhìn chằm chằm Cáp Y Tang, chậm rãi rướn người ăn miếng thịt dê y đút.

Y Cáp Tang nhịn không được khẽ mỉm cười.

Trong trướng ánh sáng lờ mờ, nụ cười này vừa vặn khiến không gian tối tăm như bừng sáng, thậm chí còn rực rỡ hơn ánh lửa đỏ thắm trong bếp lò.

Người trên thảo nguyên dù thân phận có cao quý, hiển hách đến đâu, cũng bị gió rét cuồng phong thổi đến mức làn da khô ráp, sần sùi.

Y Cáp Tang lại chẳng phải kẻ câu nệ, hống hách, ngoại trừ thanh loan đao đính cẩm thạch bên hông, cùng dáng vẻ tuấn lãng, ưa nhìn, y dường như chẳng khác nào những nhi tử con nhà dân thường khác.

Vẻ ngoài đơn giản đến mức xuề xoà này là thứ mà một quý nữ danh gia như Lý Tú Dung chưa từng tiếp xúc qua.

Đã từng gặp không ít thiếu gia mặt hoa da phấn, cẩm y ngọc thực, nhưng đây là lần đầu tiên trong đời nàng hiểu thế nào là sự hào sảng tiêu sái, hay đúng hơn là khí khái hào hùng của một đấng nam nhi chân chính.

Trong nháy mắt nàng bị nụ cười rực rỡ hơn ánh lửa này mê hoặc.

“Chúng ta đã từng có duyên gặp mặt một lần, thực ra…” Y Cáp Tang hờ hững nói, y bỏ hai chữ “thực ra” ra sau khiến cho cách diễn đạt tiếng Hán có phần non nớt, trúc trắc.

“Cung yến ngày ấy, nàng từng đàn một khúc.” Nói xong Y Cáp Tang bỏ phần thịt dê trong nồi lên thớt gỗ, cứ thế dùng dao chậm rãi cắt ăn.

Bên cạnh thớt gỗ là tô cháo sữa (*), bên trên đã nổi một tầng váng sữa mùi hơi nồng.

Ban đầu Lý Tú Dung ăn không quen thứ đồ này, nhưng thời gian lâu dần cũng đã quen phần nào.

(*) Thành phần chính là gạo tẻ và sữa dê.

Dân du mục thảo nguyên không có chỗ ở cố định, cuộc sống nay đây mai đó, nước uống ở đây cùng lắm là tuyết đun lên hoặc nước sông.

Tính ra sữa dê vừa mát lại hợp vệ sinh hơn.

Đến nơi quê mùa, nghèo nàn, lạc hậu này, nàng cảm thấy càng ngày mình càng không thể cứu vãn được nữa.

“Lão Hoàng đế vậy mà thật sự quyết định gả nàng tới đây.

Ta vốn cho rằng ông ta sẽ qua loa tìm đại một tỳ nữ nào đó hoà thân cho xong việc.” Y Cáp Tang dường như đã ăn no.

Y đứng dậy, vóc dáng to lớn trong chướng nhỏ càng thêm nổi bật.

“Bệ hạ hi vọng hai nước hoà bình, không còn chiến tranh loạn lạc, dân chúng lầm than.” Lý Tú Dung từ nhỏ đã đọc qua nhiều sách thánh hiền, tuy bản thân hiện tại cũng đang trong tình cảnh bế tắc, đau khổ, nhưng nàng vượt nghìn trùng xa xôi đến tận Phương Bắc lạnh lẽo này, trên đường gặp không ít những bá tách sinh sống tại vùng sát biên giới, người người đều trong cảm giác lo lắng, đề phòng, sợ hãi một ngày chiến tranh nổi ra.

Càng đi gần về phía Bắc đời sống người dân càng khốn cùng, khổ sở.

Chiến tranh quả thực chẳng phải thứ gì tốt đẹp.

“Nếu sự xả thân của ta có thể đổi lại hoà bình hai nước, ngăn chặn chiến tranh nổi loạn, vậy thì cũng coi như một chuyện tốt ghi danh sử sách.”
“Xả thân…” Nét mặt Y Cáp Tang thoáng vẻ không vui, lúc này Lý Tú Dung mới nhận ra mình lỡ lời, muốn bổ cứu, nhưng lại cảm thấy giờ khắc này nói gì cũng vô ích ngược lại còn khiến đối phương cảm thấy nàng giả tạo, dối trá.

Dù sao Y Cáp Tang cũng không phải một người Tây Man bình thường, y đã từng tận mắt chứng kiến đế đô hoa lệ, giàu sang, thậm chí so với các công tử chốn kinh kỳ, y thậm chí còn yêu thích, tán thưởng nền văn minh Đại Trịnh hơn.

Số phận đã định cuộc đời sau này của hai người sẽ gắn liền với nhau.

Nàng đã là vợ y.

Nhìn cách y đút đồ ăn cho mình, lại nhớ đến nụ cười xán lạn ban nãy, Lý Tú Dung có thể khẳng định y không ghét mình.

Nàng dứt khoát không chịu nói ra mấy lời xảo trá, nếu bị đối phương nhìn ra sự khách sáo, dối lừa ngược lại càng khiến y cảm thấy bản thân không được tôn trọng.

“Phương Bắc nghèo nàn, so với nơi ta sinh ra và lớn lên vô cùng khác biệt.

Nếu ta đã tới đây hoà thân, ta thật sự hy vọng bản thân không làm nhục sứ mệnh.”
Nụ cười dần trở lại trên môi Y Cáp Tang, y tiến lại gần, cẩn thận quan sát Lý Tú Dung.

Hàng như sương khói xa xăm, mắt phượng to tròn, mặc dù trên mặt có vết thương nhưng đến cùng nàng vẫn là một quý nữ xuất thân thế gia vọng tộc, dù đang sống trong cảnh bần hàn nghèo túng nhưng vẫn chẳng thể làm mai một nét đẹp thiên tiên thoát tục, thanh nhã.

Y Cáp Tang từng rung động vì Tiểu Viện tại yến tiệc hoàng cung, mà người con gái này đây, cũng giống như nữ tử kia, đều sở hữu dung mạo kinh diễm đến chói mắt.

Giờ phút này nhìn giai nhân u sầu, tiều tuỵ trong lều, y mới hiểu được, cái gọi là vẻ đẹp mong manh, nâng trên tay sợ vỡ, ngậm trong miệng sợ tan trong thơ từ thi phú của đám văn nhân chua ngoa Đại Trịnh là thế nào.

Chính là bộ dáng u sầu làm kẻ khác phải điên đảo yêu thương.

Bản thân y cũng không hay biết trong lòng mình đã có vài phần rung động, thương tiếc.

“Nếu đã không muốn làm nhục sứ mệnh, có phải chúng ta nên làm việc hoà thân chân chính?”
Y hơi rướn người về phía trước, Lý Tú Dung lập tức lùi lại phía sau, hai tay nắm chặt vạt áo.

Trong đầu như thể có hai tiếng nói đồng loạt vang lên.

Một kẻ chính là lý trí, hết lời phân tích cho nàng: Hôn lễ này tuy không có tam thư lục sách, chỉ qua loa bằng hành động bái tế, ăn mừng trước đống lửa, vậy là hoàn thành lễ thành hôn.

Nhưng dù sao cũng coi như đã gả cho người ta.

Một phần khác mang theo sự cảm tính, dễ xúc động thì nhỏ giọng thì thào, có phần e ngại, xấu hổ rằng: nàng thậm chí còn chưa tắm rửa, cứ thế mà lặn lộn, ân ái với một nam nhân dị tộc ở trong màn trướng đơn sơ này.

Đây là việc đi ngược lại hoàn toàn với lễ giáo nghiêm ngặt của một tiểu thư khuê các.

Y Cáp Tang không phải quý công tử đất kinh kỳ trước khi vào động phòng còn phải cúi đầu chào thê tử.

Vốn dĩ ban đầu y chỉ muốn thách thức lòng can đảm của nàng, chút hứng thú bị khơi dậy vừa rồi trước hành động thủ tiết này đã hoàn toàn xẹp xuống.

Nữ tử chốn thảo nguyên trời cao đất rộng này đều là những con tuấn mã hừng hực nhiệt tình, cho dù thích hay không thích đều dám yêu hận hết mình, tuỳ ý tiêu sái.

Thậm chí tình lang của nàng tử trận, một mình nàng vẫn có thể gánh vác trên lưng gần chục đứa con chờ ngày Đông Sơn Quật Khởi, báo thù rửa hận.

Lý Tú Dung là một nữ tử gia giáo lớn lên giữa đất kinh kỳ phồn hoa bậc nhất Đại Trịnh, Y Cáp Tang thích sự vẻ đẹp tri thức nơi nàng, cũng thích những tiểu thư am hiểu lễ nghĩa, vẻ ngoài duyên dáng, tinh tế mong manh, nhưng đồng thời y cũng cảm thấy chán ghét thái độ màu mè, đạo đức giả của những quý nữ danh gia.

“Hừ!” Giọng điệu y có vài phần giễu cợt, ánh mắt đầy chế nhạo nhìn Lý Tú Dung đang gắt gao ôm ngực: “Người miền nam các người đều cảm thấy Tây Man bọn ta là thứ dân tộc thiểu số ăn lông ở lỗ, nghèo nàn, lạc hậu chưa được khai hoá văn minh, thế nhưng ở chỗ bọn ta không có Tần lâu Sở quán, cũng chẳng có những nữ nhân bởi sức nặng từ quyền thế mà phải hạ mình làm thiếp.

Tại Tây Man chúng ta, những thiếu nam thiếu nữ xuất phát từ tình yêu dành cho đối phương, từ sự đồng thuận của hai phía, vì muốn bên nhau mà cùng lập lời thề trước sự chứng yên của trời xanh.

Thề xong cả đời vĩnh viễn cũng nhất định không thay lòng.

Các người xem thường bọn ta.

Bọn ta cũng khinh thường các người.”
Y Cáp Tang sinh sống tại Đế đô nhiều năm, y thừa nhận mình say mê phong cảnh đẹp đẽ giàu có của Đại Trịnh, đặc biệt tán thưởng thi từ ca phú, tranh chữ, và những thứ đồ vật thủ công mỹ nghệ tinh tế, đẹp đẽ nơi đây, nhưng đồng thời cũng có những thứ khiến y ghét bỏ, coi thường.

Lòng người chốn Tây Man chân thành, hào phóng khoáng đạt tựa như thảo nguyên bao la, còn con người Đại Trịnh lại toan tính, nhỏ nhen, tham lam cơ hội chẳng khác nào lũ con buôn.

Y nhìn nữ nhân trước mặt, nàng đẹp đẽ, lung linh tựa một tác phẩm nghệ thuật trân quý, cần cất giữ, nâng niu.

Đẹp đẽ là vậy, nhưng mỗi khi nhìn thấy lại luôn đem lại cho y cảm giác khó chịu.

Giống như một món bảo bối, y vẫn luôn cho rằng mình hết mực yêu thích, nhưng đến khi có người bưng đến trước mặt lại cảm thấy không vừa lòng như bản thân vẫn nghĩ.

“Hiện tại Siết Đan Bộ là của ta, nhưng ta không bắt ép nàng làm bất kỳ chuyện gì cả.

Trên chiến trường cũng thế, mà lúc này cũng vậy, cả việc động phòng cũng thế.

Hoà thân là do lão Hoàng đế của nàng đề xuất, còn nếu nàng không thích, thì về đi.” Nghe Y Cáp Tang nói hết mực chân thành, đến mức Lý Tú Dung tái mặt.

Dường như trong mắt Y Cáp Tang, danh tiết chỉ là thứ dư thừa không đáng nhắc tới.

Huống chi hoà thân nào phải việc nhỏ, chớ nói tới việc y không ép buộc, dù y có ra tay cưỡng đoạt, với lẽ sống nam tôn nữ ti, Lý Tú Dung cũng chỉ có thể nhún nhường.

Y Cáp Tang quay người toan đi, Lý Tú Dung đột nhiên đứng dậy kéo ý lại.

“Vương gia, thiếp thân… vẫn chưa tắm, nên không quen…”
Đến Siết Đan Bộ đã mười ngày, nhưng chỉ có thể nhờ Phong nhi đun sôi nước tuyết để lau người cho nàng, búi tóc trong mũ đã bắt đầu có mùi.

Người Tây Man đã quen với lối sống thô sơ, nhưng Lý Tú Dung lại không chịu được.

Câu trả lời của nàng lại khiến Y Cáp Tang áy náy, y nhớ là người Đại Trịnh rất ưa sạch sẽ.

Lúc ở kinh thành, không chỉ dùng thùng tắm ở khách đ**m mà bản thân y còn hay ghé nhà tắm cạnh đó để ngâm nước nóng.

Trở lại thảo nguyên, y trở lại thói quen một cách rất tự nhiên, nhưng không phải là chưa từng nhớ cảm giác ngâm mình trong dòng nước ấm ở kinh thành.

Huống chi theo tập tục Đại Trịnh, phụ nữ trước khi được gả nhất định phải thủ tiết, điều này không giống với lối sống ở Tây Man.

Chắc hẩn Lý Tú Dung cũng thẹn thùng khi cả người bẩn thỉu trải qua đêm đầu tiên với phu quân.

“Nàng là vương phi, muốn gì, không muốn gì cứ thẳng thắn nói ra.

Hoà thân không có nghĩa là cuộc đời nàng đã chấm hết.

Đã tới Tây Man tốt nhất nàng hãy vứt bỏ toàn bộ thói quen che che giấu giấu, lấp lấp lửng lửng của người phương nam đi.

Ta không thích.” Y Cáp Tang vừa đi ra ngoài, vừa lẩm bẩm trong miệng.

Đợi hồi lâu vẫn không thấy y trở về, Lý Tú Dung cho rằng Y Cáp Tang sẽ không trở lại nữa.

Lúc nàng đang định đi ngủ, cửa nhỏ màn trướng lại lần nữa mở ra, Mai Nhi khẽ khàng tiến vào, nói: “Vị Siết Đan vương kia gọi nô tỳ tới hầu hạ cô nương.”
Sắc mặt nàng ấy có chút xấu hổ, vốn tưởng rằng hai người một nam một nữ ở trong trướng lâu như vậy, chắc hẳn đã xảy ra việc kia… Bước vào mới thấy, y phục trên người tiểu thư vẫn chỉnh tề như cũ, đã vậy dường như tiểu thư còn chuẩn bị đi nghỉ.

Mai Nhi không khỏi kinh ngạc hỏi: “Tên vương gia mọi rợ kia không chạm vào cô nương chứ?”.
 
Vết Bớt Hoa Điền
Chương 64: Rung Động


Lý Tú Dung nghe vậy, nhổm người dậy, dụi dụi mắt, nhìn Phong Nhi lắc đầu.

“Không ngờ y còn có chút tình người.” Phong Nhi bưng tới một bát cháo sữa, Lý Tú Dung cầm thìa múc vài muỗng chậm rãi ăn, cảm thấy cả người bỗng chốc ấm áp, thoải mái hơn hẳn.

Lúc này nàng mới để ý tới trên bếp lửa đặt một tảng thịt dê lớn, bên cạnh là một chiếc bát mới, phía trong để những miếng thịt dê được cắt thành từng khối nhỏ vừa ăn, bên cạnh còn đặt một đôi đũa bằng đồng.

Phong Nhi liếc nhìn bát thịt dê thơm ngon, lại nhìn ánh mắt không có nửa phần ghét bỏ của cô nương, lập tức đi tới, bưng bát đồ ăn dâng lên Lý Tú Dung.

“Gã vương gia mọi rợ kia cắt giúp cô nương ạ?” Phong Nhi hỏi nàng.

Lý Tú Dung hồi tưởng lại, vừa rồi lúc y cắt thịt dê đút cho nàng ăn, quả thực có cố ý cắt tảng thịt thành những miếng nhỏ vừa ăn cẩn thận bỏ vào chén giúp nàng.

Vì đang đói cồn cào, lại thêm thịt dê thảo nguyên thơm ngon, thơm phức, nàng nhận lấy bát, dùng đũa gắp một miếng bỏ vào miệng.

Quả nhiên mùi vị vừa vặn, thơm mềm, dai dai vừa đủ, quả là mỹ vị nhân gian.

“Cái nơi chó ăn đá gà ăn sỏi này, nghèo nàn lạc hậu chẳng có thứ gì, may mắn có món thịt dê không chê vào đâu được.

Ta vốn cho rằng đồ ăn dù ngon tới đâu, ăn nhiều cũng sẽ chán, nhưng món này dù đã ăn liên lục mười ngày, nhưng càng ăn lại càng thích.”
Phong Nhi vốn muốn uống một ngụm sữa cháo sưởi ấm cơ thể, nhưng thấy gương mặt tươi tỉnh của cô nương nhà mình lại vui vẻ lây, đâm ra ham chuyện nói dông dài thêm vào câu, đã gần chục ngày, cuối cùng tiểu thư cũng chịu dùng bữa đàng hoàng: “Em còn tưởng gã mọi rợ kia bắt nạt cô nương.”
Lý Tú Dung đặt bát thịt dê xuống, gương mặt tú lệ nghiêm túc nhìn Phong Nhi, nghiêm khắc nói: “Dù Tây Man hoang tàn, giá lạnh, nhưng Y Cáp Tang dù nói thế nào cũng là phu quân của ta.

Sau này không được gọi y là mọi rợ.

Nếu chúng ta đã gánh vác trọng trách tới vùng thảo nguyên này hoà thân, quyết không thể làm nhục sứ mệnh.”
Phong Nhi và Mai Nhi nghe vậy đều sửng sốt, sao cô nương ăn xong chén thịt dê kia không những tinh thần thoải mái, tươi tỉnh lên, mà còn chủ động bênh vực gã mọi rợ Tây Man.

Nhưng xét lại, điều cô nương nói hoàn toàn chính xác, thực tế hai người đã thành thân, gã vương gia kia trên danh nghĩa là phu quân của cô nương.

So với Phong Nhi đầu óc Mai Nhi nhanh nhẹn, tinh tế hơn nhiều, nhanh chóng hiểu ra, Lý Tú Dung sau một khoảng thời gian nói chuyện với Y Cáp Tang trong căn trướng nho nhỏ này đã dần dần nảy sinh tình cảm.

Nam nhân Tây Man kẻ nào kẻ đấy nhìn thô bỉ, cục súc, dù Y Cáp Tang thông hiểu tiếng Hán cũng như văn hoá Đại Trịnh chăng nữa.

Thế nhưng cô nương đẹp tựa thiên tiên, cưới được nữ tử thông minh, tú lệ nhường này về nhà, nào có nam nhân không hiểu lý lẽ đến mức đối xử tàn bạo, khắc nghiệt.

Mặc cho từ ngày đón cô nương tới Tây Man gã tuyệt nhiên không động đến cô nương dù chỉ là sợi tóc, hành động này vô cùng bất thường không những không thể hiện hắn lạnh nhạt với cô nương mà thậm chí còn thể hiện ý tứ hoàn toàn trái ngược.

Chính là vô cùng yêu thương.

Nam nhân một khi đã đem lòng thương một người, sẽ không nỡ ép buộc, cưỡng bách nàng ấy.

Còn cô nương thời khắc này đây, dù lấy cớ bảo ban hai nô tỳ hãy biết giữ gìn thứ bậc, lễ nghĩa, nhưng thực ra lại có mấy phần bênh vực, bảo vệ gã vương gia mọi rợ kia.

Mai Nhi thoáng hoang mang, khẽ ra hiệu cho Phong Nhi bằng ánh mắt, sau đó mới chậm rãi nói: “Cô nương dạy rất đúng, chúng nô tỳ sau này sẽ cẩn trọng lời nói, hành xử, thể hiện sự tôn trọng vương gia hơn.”
Phong Nhi nhất thời còn chưa hiểu đầu cua tai nheo ra sao, thậm chí tưởng rằng Mai Nhi bị đám mọi rợ này mua chuộc, nàng ta không muốn làm nô tài cho thứ hoang dã, cục mịch, muốn biện bạch vài câu, may mắn bị Mai Nhi cản lại kịp thời.

Ngày hôm sau, Phong Nhi mới nghĩ thông.

Bên ngoài cuồng phong gào thét, gió lạnh cắt da cắt thịt.

Lúc cùng Mai Nhi ra ngoài lấy nước tuyết đun nóng bưng lên cho cô nương rửa mặt, Phong Nhi mới hỏi thử Mai Nhi: “Ý cô ngày hôm qua, chẳng lẽ cô nương và tên mọi rợ kia… Ui chao ui chao cái miệng… và vương gia Tây Man, có gì đó …với nhau rồi?”
Mai Nhi dùng gáo nước gõ xuống đầu Phong Nhi, gió lạnh thấu xương khiến hai gò má thiếu nữ ửng hồng, nàng dùng sức đội chặt mũ da trên đầu, liếc nhìn bốn xung quanh, đảm bảo không có người lạ lảng vảng, mới thấp giọng nói: “Cô đúng là ngốc nghếch.

Cô nương của chúng ta và vương gia giờ đã là vợ chồng.

Chúng ta đang ở nơi đất khách quê người, xung quanh toàn kẻ xa lạ, cô còn mong quan hệ giữa quận chúa và vương gia không tốt hay sao? Nếu vương gia thích cô nương, tương lai của hai chúng ta còn có chút khởi sắc, nếu phu phụ họ không hoà hợp.

Trời cao, đường xa, ta và cô có chết tại đây cũng chẳng ai biết.

Cô lăn lộn ở tướng phủ nhiều năm như vậy, còn không rõ chân chính trung trinh với chủ nhân là thế nào à?”
Kỳ thực qua một đêm Phong Nhi cũng đã suy nghĩ kỹ càng, nhưng vẫn khó có thể tin được: “Ý của cô là… cô nương cũng thích gã vương gia kia?”
“Theo ta thấy gã vương gia kia mặc dù không được sáng sủa tuấn lãng như các quý công tử kinh thành, nhưng nhìn kỹ một chút mặt mày cũng tương đối dễ nhìn, đặc biệt đôi mắt trong sáng, thấu triệt.

Dù sao hắn cũng thông thuộc Hán học, là kẻ có kiến thức, gả cho người như thế vẫn hơn những tên mọi rợ vô tri khác.

Việc của chủ nhân, nô tỳ chúng ta tốt nhất đừng quá quan tâm, dù sao ở chỗ này, chỉ cần nghĩ xem làm sao để sống sót cũng đã đủ khó khăn rồi.”
Trong khi Phong Nhi vẫn con ngờ nghệch suy nghĩ, Mai Nhi đã xúc đầy một thùng tuyết, nàng ta ra hiệu cả hai cùng nhau trở về.

Trên đường quay lại trướng, từ đằng xa nơi đường chân trời, mặt trời từ từ ló rạng, những ánh hào quang rực rỡ, bừng lên, từ từ, từ tử, phủ kín thảo nguyên bất tận.

Đêm qua bao tuyết ập đến khiến thảo nguyên bị phủ lên một tầng tuyết mỏng, trắng ngần.

Mặt trời ló dạng, ánh nắng vàng phản chiếu xuống nền tuyết, phát ra thứ ánh sáng màu trắng trong trẻo, lung linh.

Thảo nguyên tuy hoang vu, lạnh lẽo nhưng đồng thời cũng mang trong mình thứ vẻ đẹp hùng vĩ, phóng khoáng mà không nơi đâu Đại Trịnh có được.

Hai tiểu nha đầu chưa từng ra khỏi kinh sư, mặc dù đã thấy nhiều lâu đài đình các tinh xảo, hoa lệ, nhưng vẻ đẹp tráng lệ vô ngần của thiên nhiên thì đây là lần đầu được thưởng lãm, một thứ cảm xúc rung động mãnh liệt khó tả thành lời mạnh mẽ trỗi dậy, khiến hai cô nương không khỏi bồi hồi.

Chính lúc này, từ phía xa một thân ảnh cường tráng thúc ngựa phi tới.

Ánh mắt trời rực rỡ phía sau như dát lên mình y thứ dáng vẻ tiêu sái, tựa một vị thần từ ánh hào quang bước xuống nhân gian.

Vẻ hoang dã, hùng dũng, khí thế ấy mạnh mẽ đập vào giác quan, làm lu mờ đi tất thảy dáng hình thư sinh, mong mảnh, thanh thoát của những công tử trâm hoa phù phấn nơi đế đô.

Một dáng vẻ hào hùng, bất khuất, đạp lên tất thảy dưới lòng bàn chân, tiến về phía trước.

Nháy mắt, Y Cáp Tang đã đến trước mặt hai tỳ nữ.

Y không xuống ngựa, cứ vậy uy nghiêm, từ trên cao nhìn xuống, lạnh nhạt hỏi: “Cô nương của các ngươi đã tỉnh dậy chưa?”
Tiếng Hán của y rất tốt, nếu không phải đang mặc trên mình bộ quần áo người Hồ, chỉ nghe giọng nói, căn bản không thể nhận ra y là người Tây Man.

Phong Nhi vốn sợ người Hồ, huống chi kẻ trước mặt đây còn là người đứng đầu bộ tộc Siết Đan, cho nên nàng ta càng lóng ngóng, hoảng hốt không nói ra lời.

Trái với nàng ta, Mai Nhi nhanh nhẹn, can đảm hơn, vội vàng mở miệng: “Bẩm vương gia, vương phi mới thức dậy, chúng nô tì đang chuẩn bị nước hầu hạ người rửa mặt.”
Nghe Mai Nhi gọi hai tiếng ‘vương phi’, khoé miệng Y Cáp Tang khẽ cong lên, có mấy phần đắc ý: “Nói với nàng, hôm nay ta muốn cưỡi ngựa đưa nàng đi ra ngoài.

Nàng ăn lót dạ gì đó trước bằng không trên đường đi sẽ đói.”
Sau đó y lấy từ trên yên ngựa một chiếc túi da, ném cho Phong Nhi.

Phong Nhi xém chút không đỡ được, cũng may chiếc túi không quá to, bằng không có lẽ nàng đã làm rớt mất.

Y Cáp Tang kéo dây cương, con ngựa cấp tốc xoay mình, bắt đầu phi nước đại, hai người nhìn thấy hắn đi về phía doanh trướng, động tác tung người tiêu sái, phóng khoáng, so với các nàng bước đi bình thường trên đất bằng thậm chí còn vững chãi hơn nhiều.

Trở lại trướng, Phong Nhi dâng túi da dê lên cho Lý Tú Dung, nói: “Đây là đồ vương gia gửi cô nương.”
Lý Tú Dung mở túi da ra, bên trong là một hộp sứ đựng xôi thập cẩm ngọt.

Trên thân hộp điêu khắc hoa văn hoa sen, nhìn qua vô cùng tinh mỹ, đẹp đẽ, dùng để đựng xôi cực kỳ phù hợp.

Nàng cầm thìa đồng, xúc thử một miếng lên, hương thơm từ hạt gạo và sữa tan chảy trong miệng, bùi bùi, dẻo dẻo.

“Cô nương còn chưa súc miệng đâu, sao đã ăn rồi.” Phong Nhi bưng nước súc miệng tới, Lý Tú Dung nhận lấy bỏ sang một bên, cầm thìa đồng đút cho Phong Nhi và Mai Nhi mỗi người một thìa xôi ngọt.

Hai nô tỳ từ nhỏ đã được bán vào phủ làm gia nô, quen với tôn ti nghiêm ngặt của tướng phủ, nhất thời chưa quen với hành động này, miệng ngậm miếng xôi mà lòng thầm sợ hãi, hoảng hốt nhìn Lý Tú Dung.

Lý Tú Dung chỉ khẽ cười, dịu dàng nói: “Ta thấy tập tục ở Tây Man quan hệ giữa chủ tớ không quá hà khắc, có thể cùng nhau ăn cơm, uống trà sữa thoải mái.

Tóm lại nhập gia tuỳ tục.

Các em liều mình tới làm thị tì cho ta, giao phó sống chết cả đời cho thảo nguyên bất tận, sau này ta sẽ đối đãi với các em như tỷ muội, hoạn nạn có nhau.

Không cần giống như khi còn ở kinh thành, bị những quy tắc lễ giáo mệt mỏi gò bó.”
Dù sao cũng không thể trở lại đế đô, hai nha đầu nghe đến đây lòng thoáng thắt lại.

Nếu có biện pháp khác, các nàng cũng chẳng muốn làm nha hoàn hồi môn đi đến nơi khỉ ho cò gáy, chó ăn đá gà ăn sỏi này.

Nhưng lời của tiểu thư vẫn phần nào khiến hai tiểu cô nương cảm động.

Lý Tú Dung lấy chồng xa, trên đường tới phương Bắc người ở bên cạnh, gần gũi nàng nhất, liều mạng chăm sóc nàng cũng chỉ có hai nha hoàn này.

“Không ngờ, xôi thập cẩm này lại ngon đến thế!” Lúc này Mai Nhi mới kịp phản ứng, vị ngọt ngào, thơm dẻo kí.ch thích vị giác của nàng ấy, hương sữa bùi bùi, quyện với đồ nếp mềm mại, khác xa so với sự tinh xảo của đồ ngọt Đại Trịnh nhưng lại mang trong mình sự hào sảng, khác biệt của đại mạc mênh mông.

Ngọt nhưng không ngấy, càng nhai càng bùi.

Lý Tú Dung vui vẻ thưởng thức từng muỗng từng muỗng cho đến khi ăn hết cả hộp.

Phong Nhi bên cạnh dâng khăn lên, cẩn thận lau mặt cho cô nương, cố gắng tránh những vết nứt nẻ.

Xét theo một khía cạnh nào đó, sống không cần tuân thủ quy củ, không cần để ý lời ăn tiếng nói, để ý thứ bậc, địa vị, không cần để ý đến những quy định hà khắc nghiêm ngặt của quý nữ thế gia, sống tự do tự tại, thoải mái như đám dê bò trên thảo nguyên, như chú chim ưng trên bầu trời phóng khoáng, cũng là một thứ lạc thú.

Huống chi nhìn thảo nguyên này đây, tuy cằn cỗi nghèo nàn, nhưng lại có thứ thịt dê thơm ngon nhất thiên hạ, có món xôi thập cẩm mê người.

Tóm lại làm phu nhân thủ lĩnh bộ lạc, nàng chẳng cần lo ăn lo mặc.

Lý Tú Dung đột nhiên phát hiện, mới hôm qua nàng còn chìm trong đau khổ buồn bã khi phải hoà thân nơi đất khách, khi phải kết hôn với một gã dân tộc hoang dã, cục mịch.

Nhưng đến hôm nay tất cả những cảm xúc tiêu cực ấy dường như đã hoàn toàn tiêu tán, thậm chí nàng bắt đầu muốn thưởng thức, tận hưởng nơi này.

Nàng không muốn thừa nhận, những thay đổi này là vì cách hành xử đã bớt phần khách sáo, xa cách của Y Cáp Tang.

Tới đây mười ngày hắn không có bất kỳ hành động kiếm nhã, coi thường nào với nàng, thậm chí con người hắn còn có sự tinh tế, thấu hiểu, tôn trọng, hiểu lễ giáo mà không phải quý công tử kinh thành nào cũng biết.

“Mới vừa rồi nghe vương gia nói muốn đưa cô nương ra ngoài cưỡi ngựa.” Phong Nhi thấy tâm tình tiểu thư không tệ, liền nhắc đến chuyện kia.

“Ra ngoài?” Lý Tú Dung rất hiếu kỳ: “Nơi này mấy trăm dặm đều là thảo nguyên bất tận, mênh mông? Ra ngoài có thể đi đâu ngắm cảnh được?”
Lời còn chưa dứt, Y Cáp Tang đã đẩy cửa tiến vào, có vẻ câu cuối cùng kia đã bị y nghe được: “Diện tích thảo nguyên quả thực lớn vô cùng, nhưng bảo mã của ta cũng nhanh chẳng kém.”.
 
Vết Bớt Hoa Điền
Chương 65: Suối Nước Nóng


Lý Tú Dung cảm thấy khá tò mò không biết ngựa của Y Cáp Tang nhanh đến thế nào, nhưng ngoài trời thời tiết giá lạnh, những vết nẻ trên mặt nàng vẫn còn ân ẩn đau.

Y Cáp Tang nhận ra nàng sợ lạnh, bèn choàng một lớp áo da dê lên người nàng, còn cẩn thận đội mũ lông chồn nhung giúp Lý Tú Dung, biến nàng thành một chiếc bánh chưng lớn, xong xuôi mới nắm tay nàng cùng nhau đi ra ngoài.

Lý Tú Dung lúc này mới để ý trước cửa trướng có bảy tám dũng sĩ dũng mãnh, mỗi người đều dắt theo một con tuấn mã.

Gió sắc lạnh như đao, trên người họ lại ăn mặc tương đối đơn bạc.

Trong số đó có một người thân hình tuy cao lớn nhưng lại khá gầy, trong màn tuyết lất phất, Lý Tú Dung nhận ra nàng ấy là nữ tử, nhìn gương mặt có vẻ không lớn hơn Phong Nhi là bao, chỉ có điều nữ tử thảo nguyên thân hình đều tráng kiện, khoẻ khoắn, nếu là ở kinh sư có lẽ rất hiếm tìm được người con gái nào có vóc dáng cao lớn đến vậy.

“Những người này đều là tuỳ tùng thân cận của ta, kẻ nào kẻ ấy đều dũng mãnh thiện chiến.”
Mấy người thấy Lý Tú Dung ra, đều kính cần quỳ trên mặt đất, dùng tiếng Hán hô to: “Vương phi.”
Nữ tử kia sau khi hành lễ, thì đi đến trước mặt Lý Tú Dung, dùng thứ tiếng Hán không mấy lưu loát nói: “Vương Phi! Ta tên Trác Lan.

Sau này ta sẽ đi theo hầu hạ ngươi.”
Hiển nhiên nàng ấy còn không phân biệt được ‘ngươi’ và ‘người’.

Tiếng Tây Man không giống tiếng Hán, không có quá nhiều kính ngữ, cũng như cách xưng hô phân biệt đẳng cấp, vai vế, địa vị.

Có thể thấy xã hội Tây Man phát triển theo hướng bình đẳng về giai cấp, giữa chủ và tớ không có quá nhiều khoảng cách, phân cấp rõ rệt như Đại Trịnh.

Lý Tú Dung thoáng sững sờ, nhìn ánh mắt lấp lánh, phục tùng của nhóm người trước mặt.

Lúc này nàng mới thực sự hiểu, giữa thảo nguyên mênh mông bao la này, nhân vật mà nàng gả cho là người quyền lực đến nhường nào.

Y Cáp Tang mỉm cười, tuỳ tùng dắt đến một con Hồng Tông Liệt Mã, trên trán lấm tấm lông trắng, Y Cáp Tang nói: “Đây là ngựa của ta, nó còn chưa có tên tiếng Hán, nàng xem thử nên đặt cho nó cái tên nào thì thích hợp.”

Lý Tú Dung còn chưa đồng ý, đã bị Y Cáp Tang bế lên tuấn mã.

sau đó y cũng thoải mái xoay người nhảy lên ngựa, ngồi ngay sau lưng nàng, vòng tay nhốt chặt nàng trong lòng, sau đó nắm chặt dây cương.

“Thời tiết hơi lạnh, nhưng rất nhanh sẽ tới nơi.”
Nói xong, Y Cáp Tang kéo mũ chồn nhung trên đầu nàng thấp xuống, che kín tai Lý Tú Dung, ôm chặt nàng trong lồng ng.ực, cẩn thận bao bọc nàng nơi vòng tay.

Đây là lần đầu tiên Lý Tú Dung cưỡi ngựa.

Mặc dù văn hoá Đại Trịnh tương đối cởi mở, không cấm quý nữ cưỡi ngựa, thậm chí còn khuyến khích các tiểu thư thế gia quý tộc tham gia chơi cầu ngựa nâng cao sức khoẻ, thêm một thú vui.

Tuy nhiên, phụ thân Lý Tú Dung xuất thân nho sĩ, là nữ tử thuộc dòng dõi nho gia chân chính, cho nên nàng từ nhỏ đã được nuôi dưỡng cẩn thận trong khuê phòng làm bạn với bút nghiên, không giống các nữ tử chợ búa, hoặc những nữ nhi con nhà tướng gia có cơ hội cưỡi ngựa, đánh cầu.

Không thể không công nhận, ngựa của Y Cáp Tang tốc độ chạy rất nhanh.

Mà lồng n.gực của y cũng vô cùng ấm áp.

Áo khoác da dê ngăn chở hoàn toàn gió rét, chẳng mấy chốc quanh cảnh hiu quanh của thảo nguyên nhường chỗ cho phong cảnh tuyệt mỹ độc nhất vô nhị.

Nói là tuyệt mỹ, bởi vì cảnh tượng hùng vĩ, mê đắm này từ khi sinh ra đến hiện tại, đây là lần đầu tiên Lý Tú Dung được chiêm ngưỡng.

Phong cảnh trước mặt đẹp tựa giấc mộng, dù nàng không quá ngạc nhiên, nhưng núi non, sông suối quả là tuyệt tác của tạo hoá, khiến người ta không khỏi thán phục.

Hơi nước từ lòng suối bốc lên nghi ngút, bọt khí chậm rãi sủi lên.

Bên cạnh còn có năm sáu cái hồ nhỏ, có vẻ đã được con người tác động, chung quanh đều được lát đá xanh, mặc dù nhìn tương đối thô xơ.

Đã nhìn quen những bể nước nóng xây dựng tinh xảo, được dẫn trực tiếp từ suối trên núi xuống trong tư gia của các gia đình quý tộc giàu có, nhưng khoảnh khắc hiện tại Lý Tú Dung lại cảm thấy suối nước nóng tự nhiên, mộc mạc, được xây cất vụng về này lại đẹp đến khó tả.

Nàng đột nhiên hiểu ra, sau đó là cảm giác kinh ngạc tột độ, ánh mắt ngỡ ngàng quay sang nhìn Y Cáp Tang.

Y Cáp Tang đã xuống ngựa, cẩn thận bế nàng xuống.

Lý Tú Dung quay đầu, bảy vị tuỳ tùng đã biết ý giục ngựa rời đi, lấy bể nước nóng làm trung tâm, lao vun vút ra bốn phương tám hương, vì hai vị chủ nhân mà nghiêm cẩn thủ vệ.

Diện tích lãnh thổ thảo nguyên bao la, bát ngát, muốn bảo vệ ai đó, rất cần sự nhạy bén, tinh tường, nhanh nhẹn hơn người.

Chỉ có Trác Lan ở lại.

Nàng ta xuống ngựa, gỡ một cái túi da dê ra, bên trong có sẵn quần áo sạch.

Lý Tú Dung nhận ra đó chính là y phục của mình, nàng cũng chẳng rõ Phong Nhi chuẩn bị hay Trác Lan chuẩn bị.

Nàng thoáng ngạc nhiên, Y Cáp Tang nhìn thô lỗ, vụng về nhưng thật ra lại là một nam tử tinh tế, cẩn thận.

“Đi ngâm mình đi.

Nếu nàng thích, bất cứ lúc nào ta cũng có thể đưa nàng tới đây.” Y Cáp Tang nắm tay nàng, đỡ Lý Tú Dung xuống suối.

Y còn cẩn thận chạm tay xuống mặt nước thử trước nhiệt độ.

“Ban đầu có thể nàng sẽ cảm thấy hơi nóng, nhưng ngâm một lúc là quen.” Y Cáp Tang nói, đứng một bên, bàn tay ấm áp dịu dàng nắm bàn tay Lý Tú Dung, mí mắt y khẽ buông, hàng mi dài che đi con ngươi kiên định, giọng thoáng áy náy: “Thảo nguyên nghèo nàn, nhưng ta vẫn hy vọng nàng có thể thích nơi này hơn.”

Đột nhiên trong nháy mắt, cảm xúc ấm áp tựa như dòng nước đang bốc hơi nghi ngút dưới chân, nhẹ nhàng chảy qua tim nàng, khiến nàng dù đang đứng trong gió lạnh, giữa thảo nguyên bất tận, hoang vu, vẫn cảm thấy không lạnh giá.

Trác Lan đi tới, cúi người, mở chiếc túi da mang theo, bên trong đựng tinh dầu bồ kết, hoa khô, tất cả đã được chuẩn bị kỹ càng.

Trác Lan quỳ bên bãi cỏ khô, để tất cả vật dụng cần để tắm rửa lên phiến đá cạnh suối, động tác trôi chảy, cẩn thận, tương đối khiến Lý Tú Dung hài lòng.

Thực ra trong lòng Lý Tú Dung không thể không thừa nhận, mặc dù ngày đầu tới đây người trong Siết Đan Bộ cư xử theo tập tục, cướp hết đồ cưới mà không hỏi xin ý kiến nàng, cách ứng xử vô lễ, tuỳ tiện ấy khiến Lý Tú Dung bực bội, khó chịu.

Nhưng hơn mười ngày ở đây, thi thoảng tiếp xúc với người dân Tây Man, nàng cảm thấy người thảo nguyên mặc dù không có nhiều lễ giáo, quy củ, nghiêm khắc, chuẩn mực như Đại Trịnh nhưng lại đem tới cho nàng cảm giác yên tâm, thoải mái.

Ngay cả những nhà chăn thả dê, cừu ở đây cũng thế chân chất đến khiến người ta yêu mến, có khi ngay cả bầy cừu, bầy dê nhà mình có bao nhiêu con bản thân họ cũng chẳng biết, không quan tâm, cũng không quan sát.

Khi còn ở Đại Trịnh, nàng luôn nghe người Tây Man ăn lông ở lỗ, là đám dân tộc mọi rợ, hoang dã, đến nơi này mới biết họ cũng chỉ là những bách tính bình thường, chỉ có điều cách sống, cách sinh hoạt khác người Đại Trịnh mà thôi.

Người Tây Man chân thành, hào phóng, chất phác, giống như thảo nguyên bát ngát, khoáng đạt họ thoải mái, không so đo, để ý, xét nét, ý chí, tâm hồn luôn rộng mở tựa bầu trời bao la.

Y Cáp Tang nhìn người con gái trước mặt, da nứt nẻ, gò má đỏ ứng bị rét, nhưng trên môi lại nở nụ cười ngọt ngào tan chảy mùa đông.

Y đột nhiên cất tiếng hát, một bài đồng dao của dân tộc Siết Đan, thanh âm du dương, trầm bổng, tình tứ.

Sau đó y bước chân nhẹ nhàng múa, tay chân phối hợp đưa lên hạ xuống theo giai điệu, đồng thời đi lùi về phía sau, thẳng cho đến lúc nhảy lên lưng ngựa bài hát vẫn tiếp tục được ca ngân.

Con ngựa chậm rãi đưa y rời đi.

Tiếng ca dần dần chìm vào trong gió, bóng người khuất xa trong làn mưa tuyết lất phất.

Trong suốt gần hai mươi năm cuộc đời đây là lần đầu tiên nàng cảm nhận được thứ xúc cảm rung động, đẹp đẽ đến vậy.

Đó là sự cởi mở về tâm hồn, về suy nghĩ và cách nhận thức.

Tiếp đó Trác Lan hầu hạ nàng cởi y phục, từng kiện từng kiện quần áo được cẩn thận tháo xuống, cho đến khi cả châu trâm trên tóc cũng được tháo xuống.

Màn trời chiếu đất, Lý Tú Dụng chậm rãi giơ bàn chân trắng noãn chậm rãi trầm mình xuống suối nước.

Nếu như ngày trước, có kẻ nói với nàng, rằng trong tương lai nàng sẽ trút hết xiêm y, tắm rửa giữa mênh mông đất trời, nàng chắc chắn sẽ cảm thấy kẻ kia điên dại, cuồng ngôn.

Là đích nữ của thừa tướng phủ, bất kỳ hành vi nào vi phạm luân lý, giáo hóa, nàng đều sẽ coi thường, khinh bỉ đến liếc mắt cũng không thèm, nói chi đến việc tự làm.

Nhưng ở nơi này, dưới bầu trời tự do hoang dã, nàng không cảm thấy mình đang ngâm mình dưới suối tắm rửa, mà giống như người mẹ thiên nhiên hiền từ, bao dung đang chậm rãi ôm nàng vào lòng.

Thời điểm cả người ngâm trong dòng nước ấm, Lý Tú Dung ngẩng đầu nhìn bầu trời cao rộng, hoa tuyết lất phất rơi, những đám mây mỏng vờn trên mặt đất, quấn quýt bên người nàng.

Cảm giác thoải mái, dễ chịu, tự do tự tại khiến nàng thoáng rơi vào mơ hồ, đến tột cùng nàng đang ở trên mặt đất hay đang nằm trên biển mây.

Tay Trác Lan có một lớp chai dày, đối với các nữ tử thảo nguyên đây là chuyện hết sức bình thường.

Tuy bàn tay thô ráp, nhưng cũng vô cùng ấm áp, vì thế lúc Trác Lan giúp nàng gội đầu, Lý Tú Dung cảm thấy cực kỳ dễ chịu.

Cứ như thế không biết ngâm bao lâu, nàng cảm thấy có chút chếnh choáng.

Trác Lan tinh tế nhận ra, nhanh chóng đỡ nàng đứng dậy, hầu hạ nàng mặc xiêm y chỉnh tề.

Xong xuôi nàng ấy móc ra một cái còi, thổi một hơi dài, chẳng mấy chốc Y Cáp Tang từ trong màn tuyết giục ngựa phi tới.

“Thế nào? Dễ chịu hơn chưa?” Ánh mắt y trong veo, lấp lánh, từ trên ngựa nhìn xuống, nơi ấy chan chứa nét dịu dàng.

Lý Tú Dung ngoan ngoãn cúi đầu, né cái nhìn xao xuyến kia, khẽ gật đầu.

Lập tức nàng bị y kéo lên lưng ngựa, trở về doanh trướng.

Nàng lần nữa thu mình trong vòng tay vững chãi của y, trái tim không ngăn được rung động..
 
Vết Bớt Hoa Điền
Chương 66: Cạp Váy


Đêm hôm đó, có lẽ bởi vì sau khi tắm suối nước nóng xong cả tinh thần và thể xác Lý Tú Dung đều được thoải mái, thả lỏng, cho nên thời điểm Y Cáp Tang định tạm biệt vương Phi rời khỏi doanh trướng, nàng đã chủ động kéo tay chàng lại.

Giương mắt nhìn dung nhan e lệ, cùng đôi mắt đẹp đẽ, nhu mì đối diện, chàng lập tức hiểu ra ý nàng.

Trác Lan và Phong Nhi sau khi bê nước ấm vào trướng lập tức hiểu ý lặng lẽ lui ra.

Sau những giờ khắc mặn nồng, quấn quýt, Y Cáp Tang ôm ôn hương nhuyễn ngọc trong lồng ng.ực, xuất thần nhìn đỉnh trướng bằng gỗ khắc hình rồng,
Tình yêu và sự uỷ thác trao thân của nam nữ thảo nguyên rất thoải mái, nói là thoải mái bởi vì chỉ cần hai người có tình cảm với nhau lập tức có thể cùng chung sống bên nhau.

Chàng biết mình thích Lý Tú Dung.

Trước đây rất lâu, lúc chàng còn ở Đại Trịnh học tập, trau dồi Hán học.

Đã biết rõ bản thân bị nền văn hoá này ảnh hưởng lớn thế nào.

So với nữ tử thảo nguyên nhiệt tình, bất kham, chàng lại dễ bị rung động bởi vẻ đẹp học thức, uyển ước, dịu dàng của nữ tử Đại Trịnh hơn.

Chẳng ai có thể phủ nhận, né tránh tác động của môi trường, của trải nghiệm cuộc sống với bản thân.

Chàng tuy là hùng ưng nơi thảo nguyên nhưng cũng là một người ham học hỏi, đã đi qua không biết bao nhiêu vùng đất, quốc gia, gặp gỡ những dân tộc, nền văn hoá khác nhau.

Nhất là năm ngoái khi theo phụ thân tới vương cung Đại Trịnh, dã tâm của chàng cũng vì thế mà lớn lên, tâm trí chàng hoàn toàn đặt ở nơi vùng đất giàu có, trù phú ấy.

Chàng thích mỹ nhân Đại Trịnh, nhưng chỉ cần chàng vẫn đau đáu dã tâm nuốt trọn quốc thổ Đại Trịnh, đương nhiên cũng sẽ không vì mỹ nữ trong ngực mà quên đi mưu đồ giang sơn.

Nhưng mà bộ lạc Khiết Đan dù sao cũng chỉ là một bộ lạc tương đối lớn trong vô số bộ lạc tại Tây Man.

Khả Hãn chân chính của Tây Man là họ hàng xa của chàng - Ôn Nhĩ Đô.

Từ ngày Tần Hưởng và Tần Chí Thành cùng nhau hợp lực trấn giữ biên quan Đại Trịnh, quả thực đã gây ra cho Ôn Nhĩ Đô vô số phiền phức.

Ban đầu Tây Man vốn định từ từ xuôi nam, từng bước từng bước thôn tính Đại Trịnh, giống như cắt lạp xưởng, nhưng chỉ vì hai phụ tử Tần gia mà gặp không ít khó khăn.

Thân binh của Ôn Nhĩ Đô tổn thất nặng nề, hắn nhiều lần phái đặc sứ tới cầu khẩn Siết Đan trợ giúp.

Y Cáp Tang lần nào cũng khuyên phụ thân không nên vội vã tham chiến, hiện tại chàng đã là Siết Đan vương, nhưng lập trường vẫn không thay đổi: tọa sơn quan hổ đấu, kiên nhẫn quan sát phân tích tình hình.

“Nàng muốn trở về, đúng không?” Y Cáp Tang đột nhiên hỏi Lý Tú Dung.

Giai nhân trong ngực có chút mơ màng, lần đầu phá trinh thường rất đau đớn, khi cơn đau qua đi, cả người mệt mỏi, ê ẩm, rã rời chỉ muốn chìm vào giấc ngủ để lảng tránh sự ngượng ngùng và đau nhức.

“Trở về?” Nàng ngẩng đầu có hơi khó hiểu nhìn người nam nhân mình đã quyết phó thác nửa đời.

Nam tử Tây Man mặt mày thâm thuý, mũi cao, mắt sâu, ẩn sau hàng mi vừa dày vừa dài là đôi con ngươi đẹp đến hút hồn.

Giờ phút này đây đôi mắt đẹp ấy đáng buông xuống chăm chú nhìn nàng.

“Ừ.

Trở về quê hương nàng.”
Lý Tú Dung không hiểu, nhớ tới vừa rồi hai người mới trải qua thân mật, lại nhớ tới cả người đang lõa lồ không một mảnh vải che thân, vì thế nàng tiếp tục áp sát người trên trong lồng ng.ực Y Cáp Tang, nhỏ giọng hỏi: “Chàng muốn đuổi ta đi sao? Đã thế này mà chàng…”
Giọng nói có đôi phần nũng nịu, tủi thân.

Y Cáp Tang dịu dàng vuốt vuốt sống mũi nàng, khẽ cười: “Dĩ nhiên không phải.

Mà là chúng ta cùng trở về.”
Lý Tú Dung thật sự rất buồn ngủ, đầu óc mơ màng không hiểu được ý tứ của chàng, chỉ đáp lại trong vô thức: “Dựa theo phong tục Đại Trịnh, nữ tử sau khi gả đi sẽ về lại nhà mẹ đẻ làm lễ Lại Mặt.

Thế nhưng núi cao đường xa.

Bản thân ta sớm đã không ôm ấp hy vọng có thể…”

Y Cáp Tang như thể đang nói chuyện một mình, khẽ lẩm bẩm: “Có thể.

Nhất định có thể… sẽ có một ngày…”
—--------------
Từ ngày đi bái phỏng Ngọc Lâu Xuân trở về, mười mấy ngày sau vẫn không thấy Thẩm Vô Cữu xuất hiện, bởi vì hắn còn bận làm nhiệm vụ do Mạnh Khải Lễ giao phó, nghiêm khắc chỉnh đốn, huấn luyện tư quân của nhóm thế gia Hàng Nam.

Lần này Mạnh Khải Lễ đã quyết tâm ôm cây không sợ chết, bằng mọi giá phải bảo toàn vinh quang và đặc quyền mấy trăm năm của danh gia vọng tộc Hàng Nam.

Thế nhưng vừa bắt đầu bước vào huấn luyện đặc biệt, vô số những sự việc li kì cứ không ngừng diễn ra.

Quân lính liên tiếp sinh bệnh, bệnh sốt rét như một bàn tay ma quái vô hình, không ngừng tiêu trừ sức mạnh tư quân.

Công xưởng dùng để chế tạo binh khí, sau cơn lũ lớn vừa hay gây ảnh hưởng tới việc di chuyển nguyên liệu rèn binh khí, kéo theo hàng loạt các công việc khác bị đình trệ.

Thuộc hạ phụ trách vũ khí của Mạnh Khải Lễ ngày ngày thấp thỏm, lo sợ, sợ rằng mấy thuyền binh khí bọn hắn ngụy trang che giấu ngoài cảng bị người ta phát hiện.

Tội tàng trữ tư thiết quân đội nhẹ cũng bị tru di cửu tộc.

Ngày trước thế gia vọng tộc Hàng Nam đến cả Hoàng đế cũng phải nhún nhường mấy phần, vì thế đám thuộc hạ chó cậy chủ huênh hoang chẳng sợ vương pháp, nhưng hiện tại vị thế đã khác.

Người nào chẳng rõ bệ hạ phái Trạm Vương điện hạ tới đây là để thu hồi quyền lực của thế gia, chặt đứt đôi cánh của các đại tộc Hàng Nam.

Đám lâu la như bọn hắn xét cho cùng cũng chỉ vì muốn kiếm miếng ăn để sống, đối với hành vi coi lệnh vua bằng vung của chủ tử sao có thể không sợ hãi.

Đại quan nhất phẩm lâm trận còn phải bỏ chạy kia kìa, kẻ buôn bán nhỏ như chúng nào có lòng dạ son sắt đến thế?
Phủ thượng của Mạnh Khải Lễ có vẻ sóng yên bể lặng.

Sư phụ Trạm Vương phái đến dạy các công tử việc đồng áng cày bừa được nhà họ Mạnh cung phụng như phật tổ, còn mang toàn bộ diện tích hoa viện ra phục vụ cho việc khai khẩn, trồng trọt.

Trời đã vào đông.

Đây không phải thời điểm gieo hạt thích hợp, nhưng được lệnh của Trạm Vương điện hạ, mấy vị lưu dân vẫn ngày ngày đốc thúc đám thiếu gia mặt hoa da phấn, cẩm y ngọc thực xắn quần cầm quốc cần mẫn cày cuốc, không chút thương tiếc, thậm chí cường độ còn hơn cả khi sử dụng gia súc hỗ trợ.

Mạnh Khải Lễ đứng tại vườn hoa trước cửa bán nguyệt, nhìn cảnh tượng hoang đường phía xa, ông ta chắp tay phía sau, trầm mặc không nói, ánh mắt đầy sự phẫn nộ, hung ác, lạnh lẽo.

Mạnh Phu Nhân rón rén đứng cạnh ông ta, không dám nói câu nửa câu.

“Ngọc thị kia có thường xuyên ở Ngọc Kệ Đàn xã không?” Mạnh đại nhân đột nhiên trầm giọng hỏi.

Mạnh Phu Nhân vội vàng trả lời: “Vâng, gần như ngày nào cũng đi.”
Mạnh Khải Lễ nhăn mày, giọng phàn nàn: “Thuở nhỏ Tiền Thục Viện lớn lên tại Hàng Nam, tại sao gả cho người ta xong tính cách lại hoàn toàn khác với thuở bé, đối xử xa lạ với chúng ta đến thế? Cứ tiếp tục như thế không ổn.

Phải có kẻ ở bên gối Trạm Vương nói vài lời chúng ta muốn.”
Mạnh Khải Lễ sao có thể không biết Trạm Vương là kẻ lạnh lùng, quyết tuyệt ra sao.

Vì thế sử dụng bạo lực với kẻ này là hạ sách.

Nếu như có thể bắt tay giảng hoà, tha cho thế gia vọng tộc Hàng Nam một con đường sống mới là kết quả tốt nhất.

Mọi người cùng biến chiến tranh thành tơ lụa vàng bạc, đó chính là thượng sách.

Mạnh Phu Nhân lại nói: “Dẫu gì Ngọc Lâu Xuân cũng đã gặp được con gái, đáng ra nên cảm tạ chúng ta đã khổ tâm sắp xếp mới đúng.

Ai ngờ được mẹ con ả ta hội ngộ xong, lập tức vứt chúng ta ra sau đầu.”
Dù sao cũng là việc bất đắc dĩ.

Bỗng nhiên Mạnh phu nhân như nghĩ tới điều gì, thì thầm với Mạnh đại nhân: “Nói đến, thiếp có việc muốn bẩm báo gia chủ.

Tiền Thục Viện tuy là do Ngọc thị sinh ra, nhưng lại vô cùng thân cận với Ngô gia.

Đặc biệt nàng ta có một vị biểu ca, ngày trước năm nào cũng gửi quà tặng đến.

Tên là Ngô Phàm Khâm thì phải.

Hai người hình như cũng có chút giao tình.”
Mạnh Khải Lễ nói: “Ngô gia trước kia là một trong số các sĩ tộc gốc Hàng Nam.

Có điều bây giờ cả nhà đã chuyển lên kinh sư, còn trông cậy được gì nữa?”
Mạnh Phu Nhân cười đáp: “Gia chủ chắc không biết.

Mặc dù Ngô gia hiện tại ở kinh sư, nhưng vẫn còn vô số điền sản, ruộng đất, cửa hàng cửa tiệm tại Hàng Nam.

Hôm qua quản gia của chúng ta đi thu tô, nghe nói mùa thu năm nay Ngô Phàm Khâm ở kinh thành bị người ta hành hung.

Hiện tại thương thế đã tốt hơn, có vẻ hắn ta đắc tội với nhân vật rất có quyền thế, cho nên Ngô gia chỉ đành đưa hắn ta về Hàng Nam tĩnh dưỡng, tiện thể sinh sống, định cư tại quê nhà.”
Đôi mắt Mạnh Khải Lễ sáng lên: “Ta biết Ngô Phàm Khâm.

Mặc dù chẳng có công danh gì, nhưng cũng là một tiểu tử nhanh nhẹn, tháo vát.”
Mạnh Khải Lễ nhớ trước đây hay gặp Ngô Phàm Khâm ở mấy chốn Tần lâu Sở quán, tuy nhiên chẳng phải buổi gặp mặt đàng hoàng nào, mà chỉ là cùng ngồi xuống uống rượu hoa.

Tần lâu Sở quán vốn là chốn trăng hoa, không đứng đắn, đương nhiên ông ta sẽ không đề cập chuyện này với phu nhân của mình.

Mạnh Phu nhân chỉ cho là phu quân mình giao thiệp rộng rãi, nghe vậy, lập tức gật đầu phụ hoạ: “Tính thời gian, có lẽ Ngô công tử cũng đã tới Hàng Nam.

Trạm Vương không thích gặp mặt riêng tư, thế thì chúng ta cứ dứt khoát tổ chức một buổi gia yến, mời Vương Phi tới, như thế vừa là cơ hội gặp mặt người thân quen, vừa kéo gần khoảng cách.”
Phu phụ Mạnh gia trên quan trường trước nay đều vô cùng ăn ý, đã nhiều năm hai người đều dùng chiêu gia đình trị này để thu phục lòng người, kết giao những kẻ có thế lực nhằm củng cố địa vị, quyền hành.

Cho nên ra tay từ Trạm Vương phi, từng là một tiểu thư danh gia đất Hàng Nam vừa có thể giúp giải trừ mối nguy hại mang tên Trạm Vương, vừa có thể bành trướng quan hệ, thế lực.

Cơ hội béo bở như vậy họ đương nhiên không dễ dàng từ bỏ.

Quả nhiên không lâu sau, Trạm Vương phủ nhanh chóng nhận được thiệp mời.

Mời phu phụ Trạm Vương đến Mạnh phủ tham gia gia yến.

Mạnh Khải Lễ còn đặc biệt tự mình đến Nhị Phân viện, đích thân tới khảo sát đám kết quả học tập việc đồng áng của đám con cháu Mạnh Gia.

Trịnh Lan chằm chằm nhìn gã quan viên địa phương e dè, cẩn thận phía dưới, có mấy phần buồn cười, chậm rãi gật đầu, lạnh nhạt nói một tiếng “Được.”.
 
Vết Bớt Hoa Điền
Chương 67: Nữ Nhi


Một tháng nay, gần như ngày nào Tiểu Viện cũng đến Ngọc Lệ Đàn xã, thăm Tiền Thục Viện và Ngọc Lâu Xuân.

Sức mạnh của huyết thống quả thực đáng sợ, có thể khiến cho những người trước nay chưa từng tiếp xúc, chưa hề gặp gỡ nhanh chóng trở nên quen thuộc, gần gũi.

Một kẻ nửa đời phiêu bạt như Tiểu Viện, trước thứ tình thân ấm áp này, có chút tham luyến.

Mỗi lần gặp mặt mẫu thân và muội muội nàng đều phân phó Hồ Điệp chuẩn bị trước hoặc rượu thịt ngon, hoặc rau quả tươi, hệt như cô con gái mới gả đi háo hức mỗi dịp về lại nhà mẹ đẻ.

Đối với vấn đề này, Trịnh Lan luôn chọn cách đứng từ xa, âm thầm quan sát sự hạnh phúc, vui vẻ của phu nhân chứ không hề can thiệp.

Ban đầu chàng cũng cảm thấy cao hứng vì vương phi thu hoạch được một niềm hạnh phúc mới trong cuộc sống, cảm động vì nàng tìm được người thân, có được sự ấm áp trong vòng tay gia đình, nhưng chỉ nửa tháng sau, cảm giác đó dần thay đổi, hơn nữa còn không mấy dễ chịu.

Ngày nào cũng vậy, nàng vừa chải đầu, rửa mặt xong đã lập tức đi ra ngoài.

Trịnh Lan từ cửa bán nguyệt đi tới, ngăn cản nàng.

“Ái phi đi đâu đó?”
Tiểu Viện sững sờ, khó hiểu nhìn chàng.

Đi đâu? Còn có thể đi đâu nữa?
Nàng biết Trịnh Lan không phải người tuỳ ý, chàng nói gì cũng đều có ý tứ cả.

Lập tức cảm thấy có điều không ổn, bèn nhỏ giọng hỏi: “Điện hạ có gì cần phân phó?”
Trịnh Lan cười thầm, nàng vẫn cứ vậy, nhạy bén và cực kỳ thông minh, bèn giả vờ cảm thán: “Ái phi đúng là thích đảo khách thành chủ.”
Đã lâu không được nếm lại giọng điệu, âm dương quái khí, nửa đùa nửa thật của chàng.

Từ ngày hai người xuôi nam đến nay, chàng luôn đối xử với nàng dịu dàng, tỉ mỉ.

“Hôm nay Tam ca muốn về Thiên Lăng Sơn…”
Tiểu Viện lẩm bẩm đáp, ngày thường nếu không tới đàn xã cũng chẳng sao, nhưng hôm nay nàng muốn đến sớm tiễn Kim Tam một đoạn đường.

Huống chi nàng muốn làm tròn trách nhiệm của một tỷ tỷ, xác nhận lại với Kim Tam chuyện hôn sự của Thục Viện.

Để Kim Tam chính miệng hứa với nàng.

Nàng biết kiểu người có tính cách như Kim Tam, một khi đã hứa sẽ coi lời ấy nặng ngàn cân quyết không nuốt lời.

“Tam ca? Chính mẫu thân hắn đã bán nàng đi.

Nàng quên rồi sao?” Giọng điệu chàng không nén được tức giận, chàng không hiểu, nếu Tiểu Viện đã thích mình, sao còn suốt ngày chạy ra ngoài, dành cả ngày với người khác.

Tiểu Viện biết tất cả những lời chàng nói đều có lý.

Kim bà bà đối xử với nàng có thể nhẫn tâm, ác độc, lạnh lẽo, vô tình, nhưng Tam ca lại khác.

“Tam ca là người tốt.” Tiểu Viện nhìn Trịnh Lan vẫn đang giơ tay cản mình, lòng thoáng sốt ruột, sợ trễ giờ không kịp gặp Kim Tam.

“Vậy nên, ái phi thích người tốt nhỉ? Mà ta trong mắt nàng chắc là kẻ chắc tốt lành gì.” Lời nói có vài phần hờn dỗi, chính bản thân chàng cũng ngạc nhiên vì hành động của mình, có lẽ vì mọi chuyện liên quan đến Tiểu Viện, đều dễ dàng khiến lòng chàng xao động không yên.

Lúc đầu chỉ muốn nàng nói chuyện với mình nhiều hơn, sau đó sẽ thả nàng đi, chẳng biết tại sao hai người lại đề cập tới Kim Tam, rồi kéo câu chuyện đi xa thế này.

Tính tình Tiểu Viện trước nay vốn trầm ổn, nghe vậy chỉ thở dài một tiếng, thầm nghĩ cứ tranh chấp tiếp cũng không có lợi ích gì tốt, đẹp, dứt khoát cúi đầu trầm mặc.

“Ngay cả nói thêm một lời với bổn vương nàng cũng không muốn sao?” Sự trầm mặc của nàng dường như càng chọc giận Trịnh Lan hơn.

Tiểu Viện đưa đôi mắt sáng trong nhìn Trịnh Lan, nàng cũng bắt đầu nóng giận, không kìm được bực bội nói: “Hôm nay điện hạ nhất định không chịu cho ta ra ngoài?”
Thật ra Trịnh Lan cũng không còn giận dỗi nữa, nhưng chẳng hiểu sao lại cố tình kéo dài thời gian, chậm chạp không chịu buông tay nàng.

Kỳ thực chàng đang chờ, chờ Tiểu Viện cho chàng một cái nhìn ôn nhu, một động tác dịu dàng, chỉ cần vậy tất cả sự lạnh lẽo, cứng đầu trong chàng đều sẽ tan biến.

Nhưng mà Tiểu Viện nhất định bướng bỉnh đến cùng.

Nàng hiểu sự xung đột hôm nay là điều không thể tránh được, nếu để tình cảm lấn át lý trí, không bình tĩnh xử lý cuối cùng nàng vừa không thể đến tiễn Kim Tam, vừa chọc giận người đối diện.

Thế là nàng quay người, trở về tẩm điện.

Bình tĩnh cởi áo choàng, tiện tay vắt xuống ghế hoa hồng bên cạnh.

Sau đó trở lại trước án, rót một ly trà nóng.

Trịnh Lan đi theo vào, nhìn nàng bình tĩnh ngồi đó, thâm tâm không khỏi có chút xấu hổ.

Chàng thừa nhận trước nữ tử này chàng khó giữ được sự tỉnh táo, lạnh lùng ngày thường, nàng luôn dễ dàng đẩy chàng vào thứ cảm xúc lo được lo mất.

“Nếu như hôm nay nàng thực sự muốn đi, bản vương sẽ đưa nàng đi.” Vừa nói ra chàng đã hối hận, hành động này chẳng khác nào những phu quân đa nghi, ghen tuông, không tin tưởng người se duyên kết tóc, sợ nàng làm ra những hành vi đồi bại với nam nhân khác.

Sắc mặt chàng trầm xuống, thầm tự xỉ vả chính mình.

Tiểu Viện ngẩng đầu nhìn chàng, thấy sắc mặt nửa đen nửa trắng, thoáng chút bối rối của Trịnh Lan, nàng không nhịn được bật cười thành tiếng.

Thấy thế, Trịnh Lan cảm thấy hơi hổ thẹn, nhưng cảm xúc bí bách, khó chịu rất nhỏ tồn tại trong tim cũng vì thế thay đổi, biến mất.

Tiểu Viện đến bên cạnh dỗ dành, hỏi: “Sao lại để điện hạ đích thân tiễn được? Dù sao huynh ấy cũng chỉ là một kẻ phiêu bạt giang hồ.”
Thấy nàng cười, khối đá trong lòng chàng mới nhẹ nhàng rơi xuống, cuối cùng vẫn hậm hực nói ra: “Ta đã thất thố rồi.”
“Xe ngựa đợi đã lâu, mong không trì hoãn quá nhiều thời gian.” Trịnh Lan cảm thấy tiếp tục thế này sẽ chỉ càng khiến chàng xấu hổ, lập tức muốn xoay người đi ra ngoài.

Tiểu Viện từ phía sau ôm chặt lấy chàng, giọng như làm nũng: “Nhưng ta lại thích chàng thất thố như thế.”
Một tư vị ngọt ngào lan tràn trong lòng chàng, toàn bộ khó chịu, ghen tuông, chậm rãi chìm vào hư vô.

Trịnh Lan quay người, nâng khuôn mặt Tiểu Viện trong bàn tay như thể đang ôm ấp thứ bảo bối quý giá nhất.

“Đi.

Chúng ta cưỡi ngựa.”

Trước cổng xã đàn, Kim Tam đã tạm biệt mọi người, nhưng mãi không thấy Tiểu Viện tới.

Lòng hắn không khỏi thấp thỏm, hoang mang, nhưng cũng không kịp tới Trạm Vương phủ tìm người.

Đúng lúc này một bạch mã khoan thai đi tới.

Bên trên là hai người một nam một nữ.

Nữ tử ngồi trước đầu đội mịch ly, thân khoác áo choàng lông hồ ly, tà váy trắng phiêu dật trong gió, tựa tiên tử giáng trần.

Trạm Vương bế Tiểu Viện nhẹ nhàng nhảy xuống ngựa.

Nàng chậm rãi đi tới hành lễ với Kim Tam.

Ánh mắt của toàn bộ những người có mặt đều rơi vào vị nam tử chi lan ngọc thụ (*), khí chất thanh tịnh, lạnh lùng đứng phía xa xa.

(*) Chỉ những người ưu tú, tài giỏi.

Tiền Thục Viện cầm tay Ngọc Lâu Xuân lặng lẽ trao đổi ánh mắt, dù đã đoán được thân phận người kia, nhưng lại không dám tiến lên.

Tiểu Viện tư thái tự nhiên, hào phóng.

Sau khi nói mấy câu với Kim Tam, thì quay lại tìm Trịnh Lan.

Đôi con ngươi thanh tịnh, đẹp đẽ khẽ trừng chàng một cái, trong cứng cỏi có đôi phần nũng nịu, cuối cùng nàng cũng bỏ mạng che mặt xuống, mở miệng: “Đi nào.

Con rể xấu cũng phải đến ra mắt mẹ vợ chứ.”
Kỳ thực trước đó Trịnh Lan cũng đã cân nhắc đến việc có nên tới Ngọc Lệ Đàn Xã bái kiến nhạc mẫu hay không.

Nhưng do thân phận đặc thù, hơn nữa chàng lại đang có mối quan hệ tương đối phức tạp với sĩ tộc Hàng Nam, vì thế vẫn chậm chạp không đề cập với Tiểu Viện chuyện này.

Huống chi thời gian gần đây ngoài buổi tối lúc đi ngủ, cả ngày chàng đều không gặp được nàng.

Trịnh Lan tung người xuống ngựa, khẽ thì thầm bên tai nàng.

“Nàng không được bắt chước cách nói chuyện của ta.” Lại thấp giọng nói thêm: “Đêm nay cầm đèn soi cẩn thận xem ai xấu?”
Hai gò má Tiểu Viện đỏ lên, thẹn thùng cầm tay Trịnh Lan dắt chàng đến trước mặt Ngọc Lâu Xuân: “Đây là điện hạ.”

Ngoại trừ Kim Tam, cả Tiền Thục Viện và Ngọc Lâu Xuân đều kính cẩn hành lễ.

Kim Tam vốn không thích Trịnh Lan và Tiểu Viện thân thiết, hắn từng cho rằng nếu thấy hai người tình cảm bên nhau, có lẽ trong lòng sẽ hậm hực không chịu được, nhưng nào ngờ, giờ khắc này đây cảm xúc lại bình lặng đến lạ lùng.

Tiền Thục Viện tiến đến gần Kim Tam nói: “Chúc Tam ca lên đường thuận buồm xuôi gió.” Đôi mắt nàng long lanh ngấn lệ, Tiểu Viện cũng đi tới, kéo tay Tiền Thục Viện, lại giữ chặt tay Kim Tam hỏi: “Tam ca định bao giờ trở về?”
Kim Tam thoáng sững sờ, ánh mắt thoáng chút xấu hổ, nói với Tiền Thục Viện, cũng như đang muốn nói với toàn bộ nhóm người có mặt tại đây: “Không đến ba tháng nữa ta sẽ trở về, mang theo cả sính lễ đến hỏi cưới.”
Tiền Thục Viện không ngờ người cương trực như Kim Tam, nói đến chuyện này lại có thể thẳng thắn đến vậy, nhất thời hai má đỏ hồng, ngượng ngùng cúi đầu xuống.

Tiểu Viện có được đáp án mình mong muốn, lòng không khỏi vui mừng, nhìn Trịnh Lan sắc mặt xám xanh đang chằm chằm nhìn vào bàn tay nàng nắm lấy tay Kim Tam.

Đúng là một bình dấm chua loét.

Ngọc Lâu Xuân nhìn ra được tình hình, không khỏi buồn cười.

Bà tiến lên thi lễ với Trịnh Lan: “Nô Ngọc Lâu Xuân.

Lần đầu yết kiến điện hạ.”
Trịnh Lan lễ độ đáp: “Không cần đa lễ.

Người dù gì cũng là trưởng bối của ta.”
Ngọc Lâu Xuân thoáng mừng rỡ, cũng có chút bối rối.

Mặc dù bà hiểu biết rộng rãi, cũng gặp qua không ít kẻ quyền cao chức trọng, đồng thời cũng được vô số kẻ địa vị cao thưởng thức, ái mộ.

Nhưng chưa từng có một người thân phận tôn quý, vương gia đến nhường này, xưng hô đầy tôn trọng vậy với bà.

Trưởng bối.

Tiễn Kim Tam xong, Ngọc Lâu Xuân gọi ba người con đến.

Trịnh Lan hành xử cẩn trọng chu đáo, bà càng tiếp xúc càng thấy hài lòng.

Không ngờ một kẻ hai tháng trước còn cô độc như bà, hiện tại có thể sum vầy cùng con gái, con rể, cả một nhà ấm áp, hoà hợp.

Huống chi mẫu thân ruột của Trịnh Lan, cũng coi như có chút quan hệ với bà..
 
Vết Bớt Hoa Điền
Chương 68: Thăm Dò


Ngọc Lâu Xuân mời Trịnh Lan ngồi xuống, Tiền Thục Viện nhanh nhẹn chuẩn bị trà nước, Tiểu Viện cũng tới hỗ trợ muội muội.

Trịnh Lan đương nhiên biết rõ về thân thế của Ngọc Lâu Xuân, toàn bộ thông tin về phụ nhân này Dơi đã ghi chép tường tận trong mật báo dâng lên chàng.

“Ngài là con trai của Hồng Hà.” Ngọc Lâu Xuân chậm rãi nói.

Sắc mặt Trịnh Lan bình thản, nhưng trong lòng lại tựa như có sóng lăn tăn.

“Người có quen biết mẫu thân ta?” Trịnh Lan hỏi.

Ngọc Lâu Xuân gật gật đầu, đáp: “Chẳng lẽ điện hạ chưa từng điều tra quá khứ của ta sao?”
Đối đáp vô cùng sắc sảo.

Trịnh Lan khẽ cười, sự khéo léo và sắc bén này khiến chàng lần nữa chắc chắn, vị đại mỹ nhân đã rửa sạch duyên hoa đang ngồi đây, đích thực là mẹ ruột của Tiểu Viện.

Tiền Thục Viện và Tiểu Viện bưng trà tiến vào.

Ngọc Lệ Đàn xã không có nhiều người hầu hạ, bởi thế mấy ngày nay họ đã hình thành thói quen tự thân vận động.

Một thời gian dài chạy trốn, Tiền Thục Viện cũng dần thuần thục các công việc chân tay bình thường.

“Đúng vậy.

Người chính là trưởng bối của ta.”
Trịnh Lan nhẹ nhàng đáp, Ngọc Lâu Xuân càng tiếp xúc càng yêu thích người con rể này.

Đột nhiên tỳ nữ vào bẩm báo có khách nhân ghé đến, Ngọc Lâu Xuân đang định đến sảnh trước ứng phó, người kia đã tiến vào trong, vừa vặn nghe được hai chữ “trưởng bối”.

Trịnh Lan nhìn thấy rõ trên mặt vị công tử trẻ tuổi, kiên định sự kinh ngạc tột độ.

“Thẩm công tử…” Ngọc Lâu Xuân thoáng hoảng hốt, không biết nên ứng phó ra sao.

Thẩm Vô Cữu nhìn bầu không khí trong phòng, lại nhìn cách những người có mặt đang nói chuyện, vô thức xoay người lui ra ngoài.

Đến cửa lớn Ngọc Lệ Đàn xã, lại nghe được tiếng bước chân sau lưng.

Hắn quay đầu, trông thấy một nam tử trường thân ngọc lập (*) đáng bình thản nhìn thẳng vào mắt mình.

(*) trường thân ngọc lập, đại ý muốn miêu tả một dáng người cao lớn.

Thẩm Vô Cữu vào kinh phò tá hoàng tộc, đương nhiên đã gặp qua Trịnh Lan, huống chi trên cổ áo bào màu trắng của y thêu rồng bạc, chỉ cần tinh tế một chút có thể dễ dàng nhận ra người này thân phận cao quý đến nhường nào.

Huống chi toàn bộ giới cầm quyền Hàng Nam đều biết vùng đất này mới đổi chủ, trở thành đất phong của Trạm Vương điện hạ - người con được thánh thượng sủng ái nhất.

“Thần Tuần Kiểm Ti Hàng Nam - Thẩm Vô Cữu bái kiến Trạm Vương điện hạ.” Thẩm Vô Cữu hơi nâng lên, đáy mắt đầy sát khí nhìn Trịnh Lan.

Đối mặt với vị thân vương khét tiếng trong lời đồn thổi, dù y chỉ mặc thường phục đơn giản, thậm chí còn không mang theo thân vệ hầu hạ, nhưng vẫn khiến Thẩm Vô Cữu cảm thấy như có một áp lực vô hình đè nặng lên vai.

Hồi lâu sau, Trịnh Lan mới thong thở mở miệng: “Thẩm đại nhân nhanh nhẹn, khéo léo.

Có thể gặp được ở đây thật tốt.”
Trịnh Lan nhìn hắn, đang nghĩ xem nên xử lý ra sao thì Ngọc Lâu Xuân đã từ phía sau tiến đến, bình tĩnh giới thiệu: “Thẩm công tử, quên giới thiệu với ngài.

Điện hạ là phu quân của tiểu nữ nhà ta.”
Trịnh Lan nhanh chóng nhận ra ánh mắt Ngọc Lâu Xuân không hề có chút phòng bị, thậm chí còn toát ra sự thân thiết, quan tâm giữa bạn bè với nhau.

Chàng cảm thấy tình huống này mình không tiện lưu lại, vì thế xoay người trở lại trong viện.

Chàng cảm nhận rõ ràng sau lưng, ánh mắt nghiêm nghị đầy sát khí của Thẩm Vô Cữu đang chằm chằm nhìn mình.

—------------
Qua mùa Đông, Tiểu Viện bất ngờ nhận được thư của Lý Tú Dung, Trịnh Lan cũng đồng thời nhận được một bức thư, bởi vì Lý Tú Dung và Y Cáp Tang cầm sắt hài hoà (*), vì thế Siết Đan Bộ đã ngỏ ý quy thuận triều đình Đại Trịnh.

(*) Ý nghĩa của từ Cầm sắt hoà minh: Cầm sắt theo Tự điển Phật học có nghĩa là🙁琴瑟): tên hai loại nhạc khí là cây đàn cầm, đàn dài 3 thước, 6 tấc, căng 7 dây; và cây đàn sắt, loại đàn có 25 dây.

Khi hai loại này cùng đàn tấu lên, âm sắc của chúng mười phần hòa điệu với nhau.

Như trong Thượng Thư (尚書), phần Ích Tắc (益稷) có câu: “Ca kích minh cầu, bác phụ cầm sắt chi vịnh, tổ khảo lai cách (嘎擊鳴球、搏拊琴瑟以詠、祖考來格, đánh cầu kêu lắc cắc, gãy đàn cầm sắt vịnh theo, ông nội đến thán phục).” Từ đó, cầm sắt được dùng để tỷ dụ cho sự hòa hợp tốt đẹp của vợ chồng với nhau, hay tình cảm dung hòa giữa bằng hữu, anh em; như trong Thi Kinh (詩經), phần Quan Thư (關雎) có câu: “Yểu điệu thục nữ, cầm sắt hữu chi (窈窕淑女,琴瑟友之, yểu điệu thục nữ, cầm sắt bạn đôi).” Hay như trong Nghĩ Liên Châu (擬連珠) của Dữu Tín (庾信, 513-581) thời Bắc Chu lại có câu: “Trung tín vi cầm sắt, nhân nghĩa vi bào trù (忠信為琴瑟,仁義為庖廚, trung tín là cầm sắt, nhân nghĩa là bồi bếp).” Trong dân gian vẫn thường dùng một số câu đối từ để chúc mừng tân hôn, vợ chồng song toàn, v.v., như “cầm sắt hữu chi (琴瑟友之, cầm sắt bạn đôi)”, “cầm sắt canh hòa (琴瑟賡和, cầm sắt hòa theo)”, “bách niên cầm sắt (百年琴瑟, trăm năm cầm sắt)”, “như cổ cầm sắt (如鼓琴瑟, như trống hòa âm)”, “cầm sắt hòa minh (琴瑟和鳴, cầm sắt hòa vang)”, “cầm sắt trùng điệu (琴瑟重調, cầm sắt trùng điệu)”, “cầm sắt bách niên (琴瑟百年, cầm sắt trăm năm)”, v.v.

Lá thư viết cho Tiểu Viện lời lẽ tình cảm, thân thiết, bức thư viết cho Trịnh Lan lời lẽ nghiêm cẩn, giọng điệu hùng hồn, thể hiện rõ quyền lực của người đứng dưới một người, trên vạn người.

Trịnh Lan mặt không đổi sắc, xem hết bức thư mới cất vào trong ngăn bàn.

Tiểu Viện cũng đang ở trong thư phòng uống trà.

Có lẽ khí hậu mát mẻ của Hàng Nam thích hợp cho sự phát triển của các giống trà, thời tiết lại ấm áp, thoải mái, cho nên từ khi chuyển về đây, Tiểu Viện đặc biệt thích uống trà.

Thấy sắc mặt bình tĩnh của phu quân, nàng tinh ý đoán ra có lẽ nội dung trong thư liên quan tới việc trọng đại trong triều.

Trịnh Lan không ngẩng đầu, nhưng vẫn cảm nhận được sự hiếu kỳ của phu nhân, bèn mở miệng: “Siết Đan đầu hàng.”
Thì ra, quân đội của Tần Chí Thành đã chiến thắng áp đảo kỵ binh Ôn Nhĩ Đô.

Siết Đan từ đầu đến cuối một mực giữ vị thế toạ sơn quan hổ đấu.

Lặng lẽ xem xét tình hình, thấy thế công Đại Trịnh như chẻ tre, đã không còn cách nào có thể ngăn cản, vì thế nắm chắc thời cơ viết thư xin hàng.

Y Cáp Tang còn đích thân đuổi treo tàn binh của Ôn Nhĩ Đô, cắt thủ cấp của hắn làm lễ vật, dâng lên Hằng Xương Đế.

Hằng Xương Đế không để ý đến hiềm khích lúc trước, phong Y Cáp Tang làm Trấn Bắc Vương, cho hắn làm tân quốc quân các bộ lạc phía Tây, bành trướng địa giới, trên danh nghĩa mở rộng lãnh thổ Đại Trịnh.

Y Cáp Tang và Lý Tú Dung đều được phong tước vị, đến Sóc Châu mở phủ xây nhà, trở thành vương gia, vương phi chân chính, không cần phơi gió phơi sương nơi thảo nguyên nghèo nàn, hẻo lánh nữa.

Khi nhắc tới vấn đề này, lời lẽ của Lý Tú Dung cơ hồ như cảm thấy được cứu rỗi.

“Có mỹ nhân trong ngực, đúng là cái gì cũng có thể làm được.” Giọng điệu Trịnh Lan đầy vẻ châm chọc.

Thế nhưng theo cảm nhận cá nhân của Tiểu Viện, kết quả này đối với Tú Dung, với Siết Đan hay với Đại Trịnh đều là cái kết tốt nhất.

Quốc thái dân an, nếu Đế vương không có ý đưa Trịnh Lan lên ngôi báu, vậy thì hai người có thể ở mãi tại Hàng Nam sống yên ổn đến đầu bạc răng long.

Không lâu sau, Ngọc Lâu Xuân gửi thiệp mời đến Thẩm phủ, mời Thẩm Vô Cữu đến gặp mình tại Tuyền Lâu.

Tuyền Lâu là quán rượu nổi tiếng nhất Hàng Nam.

Ngọc Lâu xuân ngồi trong nhã gian.

Lúc Thẩm Vỗ Cữu bước vào thấy bà một thân hoạ phục, dung nhan tuyệt sắc, tinh xảo, trang nhã như mỹ nhân trong tranh bước ra.

Ánh nắng vàng phủ lên người bà, khiến cho dung nhan diễm lệ trời ban trong nét thành thục, quyến rũ, thêm vài phần trang nhã, đài các.

Nháy mặt, tim hắn như bị ai bóp chặt.

“Thẩm công tử, mời ngồi.” Ngọc Lâu Xuân nở nụ cười xinh đẹp, ngỡ giữa mùa đông tuyết giá, trăm hoa rực rỡ bung nở.

Thẩm Vô Cữu đặt bội kiếm xuống.

Mỗi lần gặp Ngọc Lâu Xuân, hắn đều cảm thấy thanh kiếm đã từng chém hàng trăm kẻ địch này có vẻ xuất hiện không đúng chỗ.

“Ngọc sư tìm ta rốt cuộc có việc gì?” Mặc dù hắn có chút tâm tư lưu luyến vị nữ tử này, nhưng cũng chẳng phải kẻ ưa quanh co, lòng vòng.

Hắn cảm thấy nhất định nàng ta có điều muốn nói.

“Đúng, ta có vài việc nhất định phải nói với công tử.” Ngọc Lâu Xuân nhìn Thẩm Vô Cữu, đôi mắt long lanh trong suốt tựa nước hồ thu, nhìn hắn đầy truy vấn: “Thẩm công tử gần đây nhất định bận rộn rất nhiều việc.”
Thẩm Vô Cữu thoáng ngạc nhiên, hắn không ngờ Ngọc Lâu Xuân lại quan tâm đến công vụ của mình, liền thuận miệng đáp: “Học sinh cả ngày ở nơi làm việc, đương nhiên bận rộn không ngơi nghỉ.”
Hắn là Thiên hộ Hình Vệ, bên cạnh đó còn kế thừa tước vị tổ tiên, mặc dù không phải quan viên nhưng dù sao cũng công gia phụ trách hưởng lương bổng từ triều đình, nói ngày đêm bận rộn chuyện công vụ cũng không phải giả.

Chỉ là Ngọc Lâu Xuân đã gặp qua vô số nam nhân đủ các tầng lớp, hình thức đối đáp này, cơ hồ khiến bà cười thành tiếng, nhưng bà vẫn đoan trang mỉm cười, bình tĩnh nói: “Đúng là bận rộn sớm khuya, nhưng chưa hẳn đã vì việc công.”
Thẩm Vô Cữu khẽ nhíu mày, cảnh giác, nghiêm nghị đáp: “Ngọc sư, thường ngày đều cùng các vị nữ quyến hàng nam ở trong nội viện, vậy mà có thể ngồi đây kiến giải công và tư ư?”
Thẩm Vô Cữu biết Ngọc Lâu Xuân khác với những nữ tử tối ngày ru rú trong khuê phòng, không bước nửa chân ra khỏi cửa.

Nói nàng ta là nữ trung hào kiệt cũng không quá lời.

Nhưng hắn vẫn muốn biết rốt cuộc nàng ta muốn nói chuyện gì.

Ngọc Lâu Xuân cũng chẳng vòng vo che giấu, thẳng thắn vào vấn đề: “Thẩm công tử có lẽ cũng nhìn ra.

Vương phi trên danh nghĩa là con cháu Ngô gia.

Nhưng thực ra lại là con gái ta.

Chuyện này trong giới quý tộc Hàng Nam, chẳng phải chuyện bí mật.

Ta đương nhiên không thể không cân nhắc tới tương lai của con gái.”
Hắn sớm biết nàng là người sảng khoái, thẳng thắn, nhưng không ngờ lại có thể vào thẳng vấn đề không chút che giấu như vậy.

Hắn ngoài kính nể không khỏi có chút hoảng hốt.

“Thẩm công tử đang nuôi tư binh.” Ngọc Lâu Xuân khẽ thấp giọng như nhắc nhở, lại có chút cảnh cáo: “Ta khuyên công tử đừng vì theo Mạnh đại nhân bí quá hoá liều.”
Mặc dù biết rõ nuôi tư binh là tội trọng tội, bị xếp ngang với tạo phản, cho dù Ngọc Lâu Xuân đã nói thẳng, nhưng hắn vẫn như cũ cứng miệng kiếm cớ: “Chỉ là huấn luyện vài gia đinh, thân vệ.

Đất Hàng Nam này thật là, chuyện nhỏ bằng hạt đậu cũng có thể xé ra to, thêm mắm dặm muối thành như vậy.

Nuôi tư quân là phạm phải trọng tội chu di, học sinh luôn hết mực kính ngưỡng Ngọc sư, sao người lại hắt nước bẩn, gán cho ta tội trạng kinh thiên động địa vậy.”
Giọng điệu hùng hồn phủ nhận, nhưng ánh mắt lại khó khăn nhìn thẳng khuôn mặt tuyệt diễm của Ngọc Lâu Xuân, như thể đang nói: “Ta làm đó, thì sao?”
Ngọc Lâu Xuân mỉm cười, khẽ lắc đầu, thở dài: “Thẩm công tử nhất định có chỗ khó xử của mình.” Nói xong câu đó, ánh mắt cũng lập tức trở lại vẻ dịu dàng, mềm mỏng.

Thẩm Vô Cữu không chịu được ánh mắt ẩn tình này, thoáng ngượng ngùng.

Ngọc Lâu Xuân chẳng phải hoàng hoa đại khuê nữ yêu ngượng ngùng, giấu diếm.

Trong tình trường bà luôn là người chơi tỉnh táo, bà biết bản thân có gì, ở đâu.

Một nam nhân yêu bà, ha.m muốn bà, tôn trọng bà hay muốn chiếm hữu bà, chỉ cần ánh mắt cũng đủ khiến bà hiểu rõ ràng.

Lần thứ nhất Thẩm Vô Cữu tới thăm Ngọc Lệ Xã đàn, bà đã biết người trẻ tuổi này đã rơi vào lưới tình, đó là rung động thuần tuý chứ không phải thứ h.am muốn thể xác tầm thường.

Cũng chính vì lẽ đó, khi nghe được tin tức trong giới nữ quyến Hàng Nam, Thẩm Vô Cữu bí quá hoá liều, bà nhịn không được muốn giúp hắn một tay.

Ngọc Lâu Xuân đứng dậy, đi đến sau lưng Thẩm Vô Cữu, đôi bàn tay thon dài mềm mại, móng tay sơn màu đỏ đậm đặt lên vai hắn.

Bả vai tráng kiện rắn chắn.

Đúng là dáng vẻ của một thanh niên sức sống.

Cảm thấy hương thơm nhè nhẹ từ phía sau thoảng qua, tim Thẩm Vô Cữu tưởng chừng loạn nhịp.

“Thẩm công tử, đừng tin vào những lời ma quỷ của Mạnh đại nhân mà đánh mất tiền đồ.” Ngôn từ sắc bén, nhưng ngữ khí lại mềm mại, đáng yêu.

Yết hầu Thẩm Vô Cữu thoáng chuyển động, chỉ hy vọng khoảnh khắc này mau chóng qua đi.

Thế nhưng Ngọc Lâu Xuân không có ý dừng lại tại đây, bà cúi người, tóc mai đen nhánh phất qua gò má hắn, sau đó một nụ hôn nhẹ nhàng rơi xuống thái dương Thẩm Vô Cữu.

“Ngọc sư người là người đã có con gái.” Chẳng biết tại sao, giờ phút này hắn lại cảm thấy khiếp đảm, chỉ muốn lập tức làm gì đó, để Ngọc Lâu Xuân dừng lại.

“Vì thế ta cũng không còn là khuê trung ngọc nữ.

Trên đường Thẩm công tử đến đây có chắc chắn không có suy nghĩ gì không?” Ngọc Lâu Xuân khẽ thì thầm vào tai hắn.

Bà có thể cảm nhận rõ ràng con dã thú dưới thân chàng thanh niên trẻ đang không ngừng nhúc nhích, như trực chờ bứt ra khỏi sự áp chế mỏng manh của lễ giáo.

Bà đứng dậy, trở về chỗ ngồi, nhìn Thẩm Vô Cữu như không có chuyện gì xảy ra
Người đối diện chóp mũi đã dính một tầng mồ hôi mỏng.

“Thẩm công tử độ.ng tình với nô?” Ngọc Lâu Xuân nhàn nhã mở lời, ánh mắt lướt qua cửa sổ, nhìn về phía mặt trời chói chang cùng cảnh vật phố hội phồn hoa bên ngoài.

Thẩm Vô Cữu không đáp, một lát sau lẩm bẩm như đang hỏi chính mình: “Không được sao?”
Mặc dù nàng lớn tuổi hơn hắn, nhưng vẫn là người chưa có gia đình, mặc dù quá khứ chìm nổi nơi chống phong nguyệt, nói một cách hà khắc thì kẻ nào cũng có thể làm chồng, cùng chung chăn gối.

Nhưng kỹ nữ hoàn lương, lại còn mặn mà, kiều diễm như Ngọc Lâu Xuân vẫn được nam tử thèm muốn, săn đón, sẵn sàng chết dưới mẫu đơn.

Câu nói này có chút khiêu khích, như thể đang kháng nghị Ngọc Lâu Xuân coi tình cảm của hắn như trò đùa..
 
Vết Bớt Hoa Điền
Chương 69: Kết Cục


Ngọc Lâu Xuân hiểu ý cười cười, bà ngừng động tác trở về chỗ ngồi, khuôn mặt bình tĩnh đến cực điểm, như thể những sự việc vượt quá khuôn phép vừa rồi chưa từng xảy ra.

Thẩm Vô Cữu nhìn bà hàng mày nhíu lại, nữ nhân này không chỉ có mỹ mạo khó ai sánh được, lại còn là cao thủ tình trường.

Chìm nổi trong chốn phong trần giúp nàng nhìn thấu tâm tư của mọi nam nhân, nhưng cũng chính vì cuộc đời nhiều thăng trầm ấy lại khiến nàng không thể thật sự rung động trước người nào nữa.

Hắn là một kẻ tự cao tự đại, luôn trong tư thế của kẻ thao túng, vậy mà bất kỳ khi nào đối diện với nữ nhân này, hắn đều dễ dàng lúng túng, thất thố.

“Nô khuyên Thẩm công tử một câu: Hãy dừng cương trước bờ vực, đừng làm ra việc khiến bản thân phải hối hận.

Có đôi khi dục niệm khiến con người ta mờ mắt mà không nhìn thấy con đường đúng đắn phía trước.” Đến điểm là dừng, bà không nên nói thêm nhiều nữa.

Nhưng không biết vì sao.

Có lẽ vì trải qua nhiều chuyện, gặp nhiều người, bà dễ dàng nhìn rõ trong đáy mắt thiếu niên trước mặt lúc nào cũng đong đầy sự chân thành, ngưỡng mộ mình, cho nên không khỏi vì nghĩa khí mà nói nhiều thêm hai câu.

“Thẩm công tử, người nên nhớ dân không cùng quan nói đạo lý.

Thế gia vọng tộc Hàng Nam thịnh vượng hơn trăm năm, nhưng đến cùng cũng không phải quan gia, Lẫn lộn tôn ti, đi quá giới hạn, ảo tưởng rằng có trong tay tư binh là có thể áp chế hoàng tộc.

Ngài đã từng nghĩ tất cả đều là cạm bẫy của quan trên, chờ các người nhảy xuống không?” Nói đến đây, vẻ mặt bà đầy tiếc hận: “Thẩm công tử là người trẻ tuổi tuấn tú, lịch sự, thông minh, nên hiểu đạo lý này.”
Đối phương đã chẳng vòng vo, Thẩm Vô Cữu cũng không muốn tiếp tục giả ngốc, hít một hơi dài, than thở: “Không phải tại hạ muốn đối nghịch triều đình, thật sự lần này sự xuất hiện của Trạm Vương điện hạ như đinh thép đâm thẳng về phía thế gia Hàng Nam, khiến chúng ta không thể không đề phòng.”
Theo đạo lý, Trịnh Lan là con rể Ngọc Lâu Xuân, hắn không nên nói lời này.

Thế nhưng không biết vì cái gì, hắn cảm thấy tất cả lời lẽ Ngọc Lâu Xuân nói hôm nay đều như đang đứng tại góc độ của hắn mà suy nghĩ, bởi thể hắn có thể thẳng thắn bày tỏ nỗi lòng.

“Thánh thượng muốn làm phân tán bớt quyền lực của thế gia Hàng Nam chứ không phải muốn triệt tiêu, ngài dù gì vẫn là tầng lớp quý tộc đứng trên người khác, chỉ là từ đám mây hạ xuống đỉnh lầu mà thôi.

Thế nhưng bù lại toàn gia có thể bình an sống sót.

Nhưng nếu quyết chí chống chọi đến cùng với triều đình, kết quả lại khác, ngài sẽ bị đẩy vào vị thế, chính mình cũng không nắm chắc tất cả, thậm chí đối mặt với kết quả thảm khốc: Cửu tộc diệt vong.

Ngài là người thông minh cớ sao phải làm chuyện ki cóp cho cọp ăn? Thánh thượng cũng chỉ muốn nằm lên gối cao mà ngủ, không lo lắng điều gì (**), chỉ cần thế gia không gây ảnh hưởng đến toàn cục người cũng chẳng đuổi cùng giết tận.”
(*) [huǒzhōngqǔlì] lấy hạt dẻ trong lò lửa; ki cóp cho cọp ăn; mình làm người hưởng: ví với việc bất chấp nguy hiểm làm việc cho người khác, mà bản thân mình bị mắc lừa không được gì.

(**) Nằm lên gối cao mà ngủ, không lo lắng điều gì.

Ví với bình yên vô sự, không cần lo lắng.

Lúc còn ở tại Giáo Phường ty, Ngọc Lâu Xuân đã từng gặp qua Hằng Xương Đế, vì bà là bạn tốt của mẫu thân Trịnh Lan - Hồng Hà, cho nên hiểu rõ Hằng Xương Đế là vị quân chủ nhân đức, bao dung.

Nếu không phải những năm gần đây thế gia Hàng Nam dã tâm bừng bừng, lòng tham không đáy, được voi đòi tiên, người nhất định cũng không đến nỗi hạ sát tâm.

Đáng tiếc thế nhân là vậy, mưu cầu danh lợi đến mức bí quá hoá liều, vượt qua ranh giới, bất biết chừng mực.

“Ngọc sư đã nói như vậy, ta sẽ suy nghĩ thật kỹ.” Thẩm Vô Cữu thoáng nhìn qua Ngọc Lâu Xuân, đáy mắt đầy sự mâu thuẫn, đấu tranh, nhưng đồng thời cũng ẩn chứa kính trọng và biết ơn.

Nếu không phải nhìn ra sự say mê cuồng dại nơi ánh mắt ấy, Ngọc Lâu Xuân cũng sẽ không đánh liều, chủ động nói ra lời trong lòng.

Bà tiếc cho một thiếu niên đầy triển vọng, theo sai người, đem toàn bộ tài sản, tính mệnh của bản thân dòng tộc giao phó cho cấp trên mù quáng bởi quyền lực.

Hơn nữa một phần cũng xuất phát từ tâm tư, không muốn Trịnh Lan thêm vất vả.

Phàm những việc có thể dùng một ly rượu giải quyết mọi thứ trong hoà bình, thì không nên động binh động kiếm.

—------
Không lâu sau, quả nhiên Thẩm Vô Cữu quy hàng Trịnh Lan.

Thế gia vọng tộc Hàng Nam vì nội ứng quá mức cường ngạnh này mà sụp đổ.

Mạnh Khải Lễ là kẻ cầm đầu bị Hằng Xương Đế ra thánh chỉ tước chức quan, thu hồi của cải xung công.

Một số quan lại thuộc bè cánh của lão cũng bị lưu cách chức lưu đầy.

Trong phút chốc, một nửa thế lực quý tộc Hàng Nam sụp đổ.

Mùa xuân năm tiếp theo Tiểu Viện rốt cuộc cũng mang thai, còn Tiền Thục Viện vẫn luôn bầu bạn bên cạnh nàng suốt thời gian ấy, cuối cùng đã nhận được sính lễ từ Kim Tam.

Hai người họ không vội trở về Thiên Lăng Sơn chăm sóc Kim bà bà, mà lựa chọn ở lại Hàng Nam một thời gian, phụng dưỡng Ngọc Lâu Xuân.

Đứa bé sinh đúng vào dịp giao thừa.

Hằng Xương Đế nhận tin mặt mày vui vẻ, rạng rỡ, vội vàng cải trang từ kinh sư lặn lội tới Hàng Nam thăm trưởng tử của đứa con trai mình yêu thương nhất.

Ông mừng rỡ như điên, ban thưởng không biết bao nhiêu tơ lụa, vàng bạc, đá quý, thậm chí còn muốn xây phủ đệ tại kinh sư cho đứa nhóc còn chưa đầy tháng trong lòng.

Việc này quá mức hoang đường, lập tức bị Trịnh Lan bác bỏ.

Chàng không hy vọng cho Hằng Xương Đế bất kỳ cái cớ nào để triệu chàng về kinh.

Bởi vì Tiểu Viện đã quyết định muốn sống tại Hàng Nam đến già.

Hai người quyết định đặt tên tự cho con là Vi Bội, vì để kỷ niệm sự ra đi của Tiết Chiêu tướng quân.

Tiểu Viện cũng dùng tên Thanh Bội để đặt cho con trai.

Hằng Xương Đế âm thầm phái người thay đổi tông miếu, gia phả, do vậy Tiền Thục Viện cũng được cấp lương tịch, Tiểu Viện cũng có tên, có thân phận, có gia đình.

Trịnh Lan muốn cảm ơn Ngọc Lâu Xuân đã thuyết phục Thẩm Vô Cữu quy hàng, khẩn cầu Hằng Xương Đế phong cho bà làm Quắc Quốc phu nhân, hưởng vinh quang của tước vị cáo mệnh.

Dù Trịnh Lan và Tiểu Viện đã quyết định không trở lại kinh sư, nhưng năm năm sau, thân thể Hằng Xương Đế ốm bệnh, bọn họ không thể không quay về.

Vừa tiến vào trong, gia đình ba người đều kinh ngạc, bàng hoàng.

Hằng Xương Đế nằm trên long sàng, đang thoi thóp những hơi thở cuối cùng, ông kéo tay Trịnh Lan, yêu cầu chàng đón nhận lấy trọng trách gìn giữ giang sơn xã tắc.

Ánh mắt chàng thoáng sự cự tuyệt nhưng không dám thẳng thắn từ chối.

Hắn nhìn hài tử và thê tử bên cạnh, tim khẽ dấy lên chút không đành lòng.

Tiểu Viện khẽ kéo ống tay áo chàng.

Trịnh Lan băn khoăn thoáng chốc, nhẹ gật đầu.

Không lâu sau đó, Hằng Xương Đế qua đời.

Trịnh Lan trở thành vị hoàng đế thứ sáu của vương triều Đại Trịnh.

Chuyện đầu tiên chàng lên ngôi chính là cự tuyệt tấu chương xin tổ chức tuyển tú làm phong phú hậu cung của Lý Lương Bật và quần thần.

Lý do không khác gì ngoài: Mình đã có được người con gái tốt đẹp nhất trần đời, cũng đã có trưởng tử.

Mẫu thân chàng, bởi vì xuất thân từ Giáo Phường ty, không thể cùng phụ thân đường đường chính chính bên nhau, chàng không muốn cô phụ người bên cạnh.

Trong cung, ngân hạnh vàng rực rỡ, đang giữa tiết trời thu, lá ngân hạnh vàng óng lả tả rơi xuống, Trịnh Lan nhìn về phía tiểu viện, chàng cảm thấy áy náy vì đã nhốt nàng cả đời trong chiếc lồng son mang tên cung điện này.

Còn Tiểu Viện.

Nàng dịu dàng nắm tay Trịnh Lan, nói với chàng mình không còn giống như quá khứ, muốn trốn đi, Hàng Nam không còn là nơi nàng nhất định phải trở về, bởi vì chàng chính là gia đình, bên chàng chính là nhà của nàng.

Hai người nắm tay nhau, phía sau là tường gạch đỏ rực, là hàng ngân hạnh vàng óng ả.

Đôi bích nhân an yên nắm tay nhau chầm chậm tiến về phía trước như cái cách họ cùng nhau đi qua giông bão, đi qua hạnh phúc, vui vẻ, khó khăn.

Trước vẫn vậy, sau vẫn thế, mãi mãi là như thế.

Hải Thăng và Bách Linh đi theo sau chủ nhân, nhìn bóng lưng hai người, khoảnh khắc đó đôi gia nô bỗng hiểu được cái gì gọi là một đời một kiếp..
 
Back
Top Bottom