Cập nhật mới

Ngôn Tình Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục

Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 200: Ngươi có được ngày hôm nay là nhờ ai?


Trong hoa sảnh, bầu không khí ngưng trọng.

So với vẻ âu sầu, nóng lòng của Văn Thọ Bá phu nhân, thì Ngũ hoàng tử phi lại trấn tĩnh hơn nhiều.

Bánh điểm tâm trên bàn còn chưa dọn, Ứng Linh bốc lấy một miếng ngũ hồng cao, chẳng đoái hoài đến tiếng mẫu thân lải nhải, chậm rãi nhai nuốt.

Sau đó, nàng uống một ngụm trà để nhuận giọng, mới hờ hững đáp lời Văn Thọ Bá phu nhân:

“Nhị tỷ bảo nữ nhi ngu ngốc, nói rằng bị người gạt ư?

Tỷ ấy nói gì với mẫu thân?”

Văn Thọ Bá phu nhân nói: “Mấy ngày trước từ trang trại trở về, nó mang về cho con một giỏ cua.

Nhà chồng nó nuôi cua là ngon nhất, năm ngoái con từng khen một câu, nó ghi nhớ suốt cả năm, đợi đến đợt thu đầu tiên liền chọn những con to béo nhất để mang đến cho con.

Vậy mà con thì sao?

Ngay cả cửa cũng không cho vào, người ta còn chưa bước qua bậc cửa đã bị con mắng một trận tơi tả.

Nó là tỷ tỷ con, đâu phải chó mèo ngoài đường!”

Ứng Linh nghe vậy, đưa mắt hỏi ma ma bên cạnh.

Ma ma lắc đầu, tỏ ý: Cua gì chứ, một cái càng cũng không thấy, đến cả cái giỏ trống cũng chẳng có.

Ứng Linh đoán quả không sai, liền bĩu môi, lạnh nhạt hỏi lại Văn Thọ Bá phu nhân:

“Vậy thì, cua đâu?

Ta không nhận được, nàng mang đến dâng người hay phụ thân rồi sao?”

“Chúng ta là phụ mẫu, há lại tham chút hiếu kính ấy?”

Ánh mắt Văn Thọ Bá phu nhân dao động, rồi vội vàng tiếp lời:

“Nó bị con lạnh nhạt, lòng bất an mãi không thôi.

‘Răng còn cắn phải môi, huống gì tỷ muội trong nhà cãi nhau.

Ngũ muội đột nhiên ghét con như vậy, con còn tưởng mình làm sai điều gì mà không tự biết, nên mới hỏi dò một phen…’

Đây chính là lời nguyên văn của Nhị tỷ con!

Con tự nghe xem, rõ ràng là con có lỗi, mà nó còn sợ là do bản thân sơ suất.

Vừa tra hỏi xong liền biết, trước khi nó đến phủ Hoàng tử, mẫu tử Lục Niệm đã đến gặp con.

Ôi chao, trong cả kinh thành bao nhiêu là mệnh phụ quyền quý, con thân thiết với ai cũng được, sao lại dính dáng tới mẫu tử họ?

Con nói xem, có phải mẫu tử Lục Niệm đã nói gì khiến con tự nhiên giận dỗi với Nhị tỷ không?

Không cần nói đâu xa, nhìn ngay Chương Anh kìa!

Quốc công phủ An Quốc đang yên ổn, khi mở thủy lục đạo tràng còn có Chương Trấn Lễ chủ trì hội thư đạo, vậy mà chưa đến nửa tháng sau, cả phủ bị niêm phong!

Suy cho cùng, chẳng phải cũng do Chương Anh nghe mẫu tử Lục Niệm xúi bậy sao?

Nghĩ đến chuyện này, ta đêm đêm mất ngủ, chỉ mong có ngày tới khuyên răn con một phen.

Kết quả hôm nay mẫu tử ôn dịch ấy lại đến, ta vừa hay tin đã không ngồi yên nổi!

A Linh à, nếu ta không đến, con còn định giữ họ lại bao lâu?

Con…”

Ứng Linh nghe bà nói mãi không dứt, sắc mặt châm chọc rốt cuộc không nén nổi, bật thốt:

“Mẫu thân, vậy… cua đâu?

Nhị tỷ đến rồi đi, phủ ta không thấy nổi một cái càng cua.”

Văn Thọ Bá phu nhân trừng mắt, khó hiểu hỏi: “Ta nói với con bao nhiêu chuyện như vậy, mà con chỉ nhớ mỗi chuyện con cua ấy thôi sao?

Nhị tỷ con từ trước đến nay đối với con chẳng phải vẫn tốt?

Đồ ngon vật lạ nào chẳng nhớ đến con?

Cua, cua, cua!

Được rồi, ta bỏ tiền cho người ra chợ mua cua lớn cho con, được chưa?”

Ứng Linh bật cười khinh bỉ, nhìn bà từ đầu đến chân, nói:

“Ta nào dám ăn nữa?

Chẳng phải mẫu thân nhớ nhầm rồi sao?

Năm kia thái y bắt mạch cho ta, bảo phải kiêng kị, tuyệt đối không được dùng đồ hàn lạnh.

Từ đó đến nay, ta chưa hề đụng đến một miếng cua nào.”

Văn Thọ Bá phu nhân thoáng xấu hổ, giơ tay chỉnh lại mái tóc mai:

“Có chuyện này sao?

Hình như… đúng là vậy thật…

Người già rồi, trí nhớ không bằng trước.

Chuyện gần thì lờ mờ, còn chuyện xưa thì nhớ rõ rành rành.

Ta cứ nghĩ các con vẫn là đám tiểu hài tử, khẩu vị, tính tình vẫn như hồi đó, sao mà thời gian trôi nhanh thế không biết…”

Thuở trước, mỗi khi mẫu thân nói như thế, Ứng Linh nghĩ đến những khó nhọc cả đời sinh con dưỡng cái của bà, thì cũng chỉ nghe rồi bỏ qua.

Nhưng hôm nay lửa giận trong lòng bốc cao, nàng không chút kiêng dè mà trợn trắng mắt:

“Năm nữ ba nam,” Ứng Linh nói, “Tuy trong nhà không thiếu ăn mặc, lại có vú em ma ma chia sẻ nhọc nhằn, nhưng cả đời này mẫu thân cũng coi như đã chịu nhiều cực khổ.

Thế nên con khuyên mẫu thân, đã lớn tuổi, cái này không nhớ, cái kia không rõ, thì nên an dưỡng trong phủ, vui vầy cùng con cháu là được.

Đừng quản những chuyện không nên quản, đặc biệt là đừng lo chuyện mấy tỷ tỷ của con.

Các nàng sống một đời lộn xộn, lại ba ngày một lần, năm ngày một bận về nhà mẹ đẻ khóc lóc với mẫu thân.

Không thế thì sao lại có câu ‘đứa trẻ biết khóc mới có sữa bú’?

Khóc với mẫu thân có thể khóc ra thứ gì đó, nên mới từng người từng người gây sóng gió!”

Sắc mặt Văn Thọ Bá phu nhân lúc đỏ lúc trắng:

“Con nói cái gì về các tỷ tỷ thế?

Các nàng đều vì nghĩ cho gia đình, huynh đệ tỷ muội nâng đỡ lẫn nhau, nữ nhi gả ra ngoài mới có chỗ dựa, con không thể…”

“Ai nâng đỡ ai?” Ứng Linh chỉ vào mình, nói:

“Từ đầu đến cuối, là muội muội út này, người làm Hoàng tử phi, nâng đỡ hết thảy mọi người!”

Văn Thọ Bá phu nhân phản vấn:

“Chẳng lẽ không nên sao?

Khi xưa là huynh tỷ muội giúp đỡ con, nay đến lượt con giúp lại bọn họ, người một nhà cần gì phân biệt rạch ròi đến thế?”

Ứng Linh đang định phản bác, bên cạnh ma ma nhẹ nhàng chạm vào vai nàng.

“Giờ đã không còn sớm, lát nữa điện hạ hồi phủ…”

Ma ma ghé tai khuyên nhủ.

Ngũ hoàng tử vốn coi trọng lễ nghi, nếu thấy thê tử tranh cãi với nhạc mẫu, e là không hay.

Ứng Linh nghĩ đến đây, đành siết chặt lòng bàn tay, đem lửa giận đang cuộn trào trong ngực đè xuống, gằn giọng:

“Chẳng phải mẫu thân đến vì chuyện mẫu tử Lục Niệm sao?”

“Đúng, con đừng quan tâm tới mẫu tử họ,”

Văn Thọ Bá phu nhân thuận thế xuống nước, không quên giãi bày, “Ta cũng vậy, huynh tỷ muội các con cũng thế, đều là người một nhà, tuyệt đối sẽ không hại con.

Còn người ngoài thì ai biết trong bụng họ đang mưu tính điều gì?”

Ứng Linh nghiến răng:

“Giao hảo với họ là ý của điện hạ, chẳng lẽ ta phải trái lệnh phu quân, ngoài mặt cung kính trong lòng chống đối?”

Văn Thọ Bá phu nhân nghe vậy ngẩn người, ánh mắt đầy nghi hoặc nhìn con gái, rõ ràng không mấy tin tưởng.

Ứng Linh ghét nhất ánh mắt này, bật dậy như lửa bén rơm:

“Mẫu thân thật không biết, hay giả vờ không biết Quận vương thường xuyên đến khách xá của Quảng Khách Lai?

Vương gia ngoài mặt là biểu đệ, nhưng trong kinh ai chẳng rõ nội tình?

Nếu con gái Lục Niệm thật sự gả cho Vương gia, thì ta với nàng ta chẳng phải là chị em dâu sao?

Sau này ta gặp Lục Niệm còn phải gọi một tiếng trưởng bối!

Điện hạ muốn giao hảo với đệ đệ cùng người có khả năng là đệ muội, ta chẳng lẽ phải kéo chân ngài ấy?

Là các người điên rồi, hay là ta điên rồi?

Mẫu thân nhìn xem Cửu đệ muội kia kìa, người ta có muội muội ruột đi cùng, uống trà, dạo vườn, tiêu dao tự tại.

Còn ta thì sao?

Các tỷ tỷ của ta đừng nói giúp đỡ, ngay cả phá rối cũng không thiếu lần.

Đến tìm ta chỉ để khuyên cắt đứt với mẫu tử Lục Niệm, chuyện đó ta có thể tự chọn lựa được sao?

Đây là chuyện để mẫu thân và các tỷ tỷ can thiệp chỉ trỏ hay sao?!”

Lời chất vấn đột ngột ấy khiến Văn Thọ Bá phu nhân sững người.

Bà chưa từng thấy nữ nhi nhỏ tuổi nhất nói chuyện chẳng nể nang thế này.

Có lẽ trước đây từng có, nhưng từ khi Ứng Linh trưởng thành, đặc biệt là sau khi gả vào hoàng gia, hành xử luôn cẩn trọng, quy củ, chưa từng nói với bà những lời nặng nề như thế.

“Con là cánh cứng rồi phải không?”

Văn Thọ Bá phu nhân ôm ngực, giọng đầy không thể tin nổi:

“Ta một lòng vì con, con lại nói ta chỉ trỏ điều này điều nọ?

Cả nhà chúng ta cùng dốc sức mới nâng con lên làm Hoàng tử phi, vậy mà con còn chê bai khinh ghét chúng ta…”

“Dốc sức nâng đỡ?” Ứng Linh cười khổ đầy phẫn uất:

“Ý người là gì?

Là chỉ cái lúc ta mười hai mười ba tuổi, kiêu căng đến ngang ngược, tự cao thích khoe mẽ, không hợp quần thể mà cứ phải chui vào, để rồi mang đủ tiếng xấu?

Quả thật, các người cũng hao tâm tổn trí lắm, mới rửa sạch được những lời đồn đó.”

“Con biết thì tốt!”

Văn Thọ Bá phu nhân lau nước mắt:

“Hồi ấy khổ lắm, nữ nhi mà có tiếng xấu thì còn ai dám hỏi cưới?

Ta gặp ai cũng khen con, các tỷ tỷ con cũng ra sức tâng bốc, thế mới…”

“Tiếng xấu ấy từ đâu mà có?” Ứng Linh cắt ngang lời bà, hỏi lại.

Nàng vẫn luôn rõ ràng, chỉ là chưa từng tính toán mà thôi.

Nàng biết lời Lục Niệm không thể tin, nhưng lẽ nào lời của mẫu thân và tỷ tỷ thì đương nhiên phải nghe?

Nàng từ nhỏ ngoan ngoãn nghe lời, mà kết quả là như thế này đây.

“Nhị tỷ yêu mến công tử Thái sư, chướng mắt Phạm Du, nàng tỏ vẻ uất ức cầu ta tìm Phạm Du gây chuyện, năm ấy ta mới năm tuổi.”

“Ta vô tình làm đổ ly nước, vấy bẩn váy áo của tỷ tỷ nhà họ Dư – đó là món quà cuối cùng mẫu thân nàng may cho trước khi mất.

Nàng ấy khóc, ta liền xin lỗi, chỉ vì Tam tỷ nháy mắt ra hiệu mãi.

Người đẩy ta là Tam tỷ, người ghen tỵ với tỷ tỷ họ Dư cũng là Tam tỷ, còn người nhận lỗi lại là ta – vì ta mới sáu tuổi.

Sau này thế nào lại thành ta cố tình làm khó tỷ tỷ họ Dư?”

“Nhị ca say mê tiểu nữ của Trung cần bá, người ta chẳng để ý, nhị ca lại nói dối rằng nàng ấy nhận trâm của huynh.

Ta tin, trên yến tiệc còn tranh cãi với người ta, thành ra tiếng dữ đanh đá.”

“Hồi nhỏ, ai muốn ăn gì, đều đổ thành ‘muội muội thích ăn’.”

“Lớn lên rồi, ai muốn cái gì, chính là muội muội xung phong ra mặt.”

“Ta đã tin những lời ma mị của các người – người một nhà không cần so đo.

Ta nghĩ sau việc ấy coi như xóa bỏ, vậy mà bọn họ vẫn như xưa, thậm chí còn quá đáng hơn xưa!”

Chuyện cũ bị đào bới, có thân đến mấy cũng khó giữ yên.

Huống chi, vốn dĩ không thân.

Văn Thọ Bá phu nhân lập tức thay đổi sắc mặt, không còn dáng vẻ yếu mềm như ban nãy, trừng mắt nhìn nàng:

“Ngươi nói vậy là có ý gì?

Đừng quên, ngươi có ngày hôm nay là nhờ ai!”

“Nhờ ai?”

Giọng Ứng Linh cũng cao vút lên, “Người đầu óc minh mẫn như người, lẽ nào không biết hiện tại ta đang nhờ vào ai?

Nói ta không rõ ràng, ta thấy không rõ ràng là các người!

Bây giờ ai nấy đến nhờ vả ta, mà ngay cả ta ăn được gì, không ăn được gì cũng chẳng nhớ nổi!”

Ứng Linh quay lại bàn, chỉ vào điểm tâm trên bàn:

“Người ta là Lục Niệm, muốn tìm điểm yếu ở ta còn biết mang thức ăn bổ dưỡng cho thân thể ta!”

Văn Thọ Bá phu nhân lập tức bật dậy, lao đến giật lấy đĩa điểm tâm, giơ tay đập mạnh xuống đất.

“Choang ——”

Đĩa sứ vỡ tan tành.

“Chút điểm tâm đã mua chuộc được ngươi rồi sao?”

“Cái mắt đừng có nông cạn như vậy!”

“Ngươi…”

Ứng Linh nhìn đống hỗn độn dưới chân, lửa giận bốc đầy trong mắt: “Tiễn khách!”

Dứt lời, nàng xoay người rời khỏi hoa sảnh, bước nhanh về chính viện.

Văn Thọ Bá phu nhân khí huyết công tâm, trước mắt tối sầm, đành run rẩy ngồi phịch xuống ghế.

Phải một lúc sau, Văn Thọ Bá phu nhân mới điều hòa được hơi thở, rồi lặng lẽ rời phủ trước khi Ngũ hoàng tử hồi cung.



Đầu hẻm, Lục Niệm vừa dùng xong một bát hạnh nhân lộ.

Chính là quán lần trước Hứa Phú Đức và Cửu Nương từng ăn, Hứa Phú Đức khen ngon, Lục Niệm tiện đường cũng ghé qua nếm thử.

Đây là tuyến đường tất yếu khi từ phủ Ngũ hoàng tử đến Văn Thọ Bá phủ, Lục Niệm lần lượt thử mấy hương vị, vừa ăn vừa chờ Văn Thọ Bá phu nhân rời phủ.

Chỉ nhìn cỗ xe ngựa chạy vội, tất nhiên không đoán được tình hình bên trong, song nghĩ cũng biết, hẳn chẳng mấy vui vẻ.

Nghĩ đến đây, tâm tình nàng khoan khoái, liền bảo chủ quán gói thêm một phần mang về cho Tiểu Nan.

Hạnh nhân lộ được đưa tới Quảng Khách Lai, nhưng xe ngựa của hai mẹ con nàng lại chạy thẳng về Định Tây hầu phủ.

Lần này họ đến tìm Tang thị.

“Vì sao lại chọn ngũ cô nương Văn Thọ Bá – người từng mang danh tiếng chẳng mấy tốt thời niên thiếu – làm hoàng tử phi?”

Tang thị nghe hai mẹ con hỏi, nhất thời cũng chưa nghĩ ra đầu mối, “Để ta tính lại… hẳn là sau khi vào kinh không lâu…”

Lục Tuấn cũng có mặt, nghe vậy liền góp lời: “Ta biết chút chuyện xưa.”

Lục Niệm liếc hắn một cái, nhưng lần này không chán ghét đến mức ngăn hắn nói, khẽ hất cằm ra hiệu:

“Nói đi.”

“Liên quan đến Chu Nguyên.”

Lục Tuấn giải thích.

Chu Nguyên chính là người điều hành thiện đường.

Lục Tuấn và y quen biết nhiều năm, chuyện quanh thân bằng hữu này, hắn nắm rõ không ít.

“Mối hôn đầu của Chu Nguyên, sau khi định tiểu lễ ba tháng thì nữ tử kia lâm bệnh qua đời.

Người ta sinh lão bệnh tử vốn là lẽ thường, nhưng gặp phải cũng thật tiếc.

Sau đó, mẫu thân y muốn tiếp tục mai mối, và đối tượng chính là ngũ cô nương Văn Thọ Bá – khi ấy còn chưa đính hôn, danh tiếng thì không tốt.”

Lục Tuấn kể đến đây thì khựng lại, nhíu mày lẩm bẩm:

“Không biết nàng ta nghĩ thế nào nữa…”

“Có gì không nghĩ ra?”

Lục Niệm bật lưỡi, “Vị hôn thê vừa mới qua đời, ngoài mặt không ai nói Chu Nguyên khắc thê, nhưng có một số nhà đặc biệt kiêng kị.

Phu nhân Kính Văn bá muốn tiếp tục tìm dâu môn đăng hộ đối, không phải cũng phải nhường bước đôi chút sao?

Một người có tiếng xấu, một người bị nghi ngờ khắc mệnh, tạm bợ bù trừ, vậy là xong chuyện.”

Lục Tuấn: …

Hắn cạn lời, bởi vì hắn biết rất rõ, đại tỷ hắn lúc nào cũng có thể dùng đôi ba câu khiến người ta câm nín.

Nếu nàng cố tình, thì lại càng bén nhọn sắc sảo.

“Mai mối đến nơi, nhưng hôn sự lại không thành.”

Lục Tuấn đành nói tiếp.

Lục Niệm kinh ngạc: “Chuyện đó mà cũng có thể không thành sao?”

Cả hai đều là gia đình quyền quý, chuyện cầu thân vốn đã được bàn bạc riêng trước, sau đó mới mời người có thân phận thích hợp đứng ra làm mối.

Mối mai chẳng qua là hình thức.

Nếu có ai muốn nuốt lời, cùng lắm là sau khi đổi thiếp sinh thần, đổ cho không hợp bát tự.

Chứ để mai mối quay về tay không, chẳng phải là chuyện đáng cười sao?

“Lúc ấy thiên hạ đều nói là do Văn Thọ Bá phủ, ít người nhắc đến Chu gia,”

Lục Tuấn nói, “Chuyện sau đó thì đại tỷ cũng rõ cả rồi.

Chu Nguyêncầu thân lần hai, lần ba, đều là sau tiểu định thì đối phương bạc mệnh.

Thế là, tiếng ‘khắc thê’ gắn chặt lên người Chu Nguyên, y cũng không còn muốn thành thân, chỉ một lòng lo thiện đường.

Ngược lại là Văn Thọ Bá phủ – nói đúng ra là ngũ cô nương ấy – lại nhận được danh tiếng ‘mệnh tốt’.”

Lục Tuấn nói tới đây, Tang thị cũng nhớ lại:

“Hình như còn có cao tăng xem số, nói gì mà ‘nữ nhân có phúc’, ‘phú quý dài lâu’, ‘mệnh có thể hóa tai’, lúc đó lan truyền không ít.”

Lục Niệm thì không tin mấy thứ ấy, chỉ cười mỉa.

A Vi nghe cữu cữu, cữu mẫu nói chuyện, bèn hỏi:

“Vậy nên, những tiếng xấu ngày trước của nàng ta bị quét sạch, ngược lại còn có danh ‘mệnh tốt’, danh này khiến Lương tần nương nương động tâm, chọn nàng làm con dâu.

Thân phận lập tức khác biệt, các phủ cũng chẳng dám bàn tán chuyện hậu viện của Hoàng tử phi, thành ra tốt xấu đều im lặng không đề cập.

Là như vậy phải không?”

A Vi Đầu bếp: Thêm gia vị, thêm nữa, gia vị đủ thì món gì cũng thơm ngon!
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 201: Nhưng người thật sự không có chút nghi hoặc nào sao?


Hôm sau, A Vi theo chân Tang thị đến bái phỏng phủ Kính Văn Bá.

Phu nhân Kính Văn Bá nay đã gần lục tuần, tóc bạc điểm đầu, thân hình đầy đặn, khí sắc ôn hòa, dáng vẻ nhân từ hiền hậu.

Bà gọi A Vi lại gần, cười hiền từ nói:

“Lần trước A Nguyên mang cho ta ít điểm tâm con làm, ta nếm thử rất hợp khẩu vị.

Con đúng là đứa trẻ có tâm, còn chịu theo mẫu thân đến thiện đường nữa.”

A Vi đáp:

“Mẫu thân con rất thích đùa vui với đám tiểu hài tử, lại ưa náo nhiệt.

Trước đây người mang bệnh, nhưng được chơi đùa cùng bọn trẻ lại khiến tâm tình tốt hơn nhiều.”

Phu nhân Kính Văn Bá khẽ thở dài.

Tiểu nhi tử nhà bà và Lục Tuấn vốn là bạn từ thuở niên thiếu, bà sao có thể không rõ tình cảnh phủ Định Tây hầu?

Thuở trước, bà từng nghĩ vấn đề nằm ở Lục Niệm.

Nhưng sau bao biến cố về sau, suy nghĩ ấy dần thay đổi.

Đến nay, chân tướng xem như đã sáng tỏ.

“Các con mẫu tử đúng là chịu không ít khổ sở.” – phu nhân Kính Văn Bá nhẹ nhàng vỗ tay A Vi, tỏ ý an ủi.

Tang thị ngồi bên thưởng trà, bèn lấy cớ đi tìm hai vị tẩu tẩu nhà họ Chu để hàn huyên chuyện nhà.

Phu nhân Kính Văn Bá trong lòng hiểu rõ, liền dặn dò: “Vậy để A Vi ở lại cùng ta trò chuyện thêm đôi câu.”

Đợi Tang thị rời đi, bà lại ôn hòa nói: “Được rồi, nói cho ta nghe mục đích con đến hôm nay đi.”

A Vi vừa định mở miệng, phu nhân Kính Văn Bá đã đưa tay chỉ vào môi nàng, cười giễu cợt mà không thiếu dịu dàng:

“Nếu vì nghĩ cho mẫu thân mà dò xét chúng ta, thì cũng chẳng có gì không thể nói.”

Không bài xích, không thử lòng, thậm chí đến bà ma ma bên cạnh rót trà cũng bị lời ấy chọc cho bật cười.

“Ngài…” – Thái độ thẳng thắn như vậy ngược lại khiến A Vi có chút chột dạ, “Ngài biết chuyện ấy rồi ạ?

Hồi đó nhờ Tam công tử giới thiệu thiện đường, lại còn có chút tình huống, thực ra là…”

“Thực ra là chẳng thân thích gì, đúng không?” – phu nhân Kính Văn Bá cười ha hả, tiếng cười vang vang mà không hề khó nghe – “Con đừng căng thẳng, cũng chẳng phải chuyện to tát.

Ngược lại mà nói, ta còn có chút tư tâm.

Con nói đến chuyện ăn chay niệm Phật, chứ A Nguyên nhà ta thì chẳng hiểu gì.

Theo ta quỳ trước bồ đoàn, ngoài việc biết nhắm mắt đọc ‘A Di Đà Phật’, thì chẳng biết thêm được câu nào.

Vậy mà cứ như vậy, sống như một hòa thượng vậy đó.

Mấy năm qua, chẳng có lấy một lời đồn thổi.

Như thể quanh thân nó dựng bốn bức tường, bên ngoài dù thế sự ồn ào, nó cũng chẳng màng.

Mẫu thân con, là người phụ nữ đầu tiên sau bao nhiêu năm qua, có thể khiến tên nó xuất hiện song song cùng người khác.

Ta dĩ nhiên biết ‘chuyện ấy không thật’, nhưng được nhìn thấy một góc tường sụp đổ, ta cũng đã cảm thấy an ủi lắm rồi.

Làm cha mẹ, tuy đã chấp nhận việc A Nguyên không còn nghĩ đến chuyện thành thân nữa, nhưng vẫn hy vọng tuổi hắn càng lớn, có thể…”

Nói đến đây, phu nhân Kính Văn Bá không khỏi thở dài một hơi dài đầy ưu tư.

“Vì sao ta nói với con những lời này?” – bà tiếp lời – “Cả đời con người đều bị cái gọi là ‘danh tiếng’ trói buộc, mà cái danh tiếng ấy, có bao nhiêu là thật chứ?

Giống như mẫu thân con, bao năm qua bị vu cho đủ điều xấu xa nơi khuê phòng, vậy mà người vẫn có thể tự mình bước ra khỏi bóng tối, ta thật sự khâm phục.

Nếu có cơ hội thích hợp, mong con có thể nhờ mẫu thân chỉ bảo giúp A Nguyên, để nó hiểu rõ, danh tiếng chẳng qua chỉ là thứ bị thiên hạ áp lên đầu, chứ không phải số mệnh trời định.

Nó có thể chọn cả đời không lấy vợ, nhưng đừng cả đời cứ canh cánh trong lòng cái danh xấu ấy.”

A Vi nghe chăm chú từng lời.

Nói ra thì, nàng đã từng gặp rất nhiều kiểu nữ nhân tuổi già: nơi thôn quê chợ búa, hay cả hậu viện nhà quyền quý.

Nhưng đây là lần đầu tiên nàng gặp được một người như phu nhân Kính Văn Bá.

Ôn nhu, hòa ái, có chính kiến, lại sẵn lòng bày tỏ thiện ý chân thành.

Có lẽ… tổ mẫu nàng – phu nhân Kim Thái sư – cũng từng là người như vậy chăng?

Chỉ là, A Vi không còn nhớ nữa rồi.

“Con không tin những lời thiên hạ đồn đãi ấy,” – A Vi lên tiếng, “Người ta bảo con khắc thân nhân, nhưng con chỉ là vừa hay, người thân đều lần lượt rời đi thôi.”

“Phải đó, chỉ là trùng hợp gặp chuyện mà thôi.” – phu nhân Kính Văn Bá nhẹ nhàng điều chỉnh tâm tình – “Những gì ta muốn nói cũng đã nói xong, giờ đến lượt con rồi, đừng khách sáo với ta.”

“Con xưa giờ không phải người biết khách sáo gì cho cam,” – A Vi đáp lời – “Con nghe nói, vốn dĩ Tam công tử từng được định kết thân với ngũ hoàng tử phi, nhưng sau khi bà mai tới cửa thì lại…”

Phu nhân Kính Văn Bá thoáng lộ vẻ lúng túng, cười khẽ: “Chuyện xưa lắm rồi, sao con lại biết được chứ?

Thật là…”

A Vi lại tiếp lời: “Con còn nghe nói, hai vị tiểu thư được nói mai sau đó, sao cũng vừa khéo đều gặp chuyện…

Ngài không tin Tam công tử mệnh không tốt, con cũng không tin cái gọi là ‘số mệnh’.

Vì thế khó tránh khỏi lòng sinh nghi.

Con tin với trí tuệ và bản lĩnh của ngài, sau khi hai vị hôn thê chưa kịp bước vào cửa đã gặp chuyện, thì khi chọn người thứ ba, hẳn phải cẩn thận gấp bội, nhất định chọn một cô nương thể chất cực kỳ khỏe mạnh.

Mà chịu đồng ý kết thân với Tam công tử trong hoàn cảnh khi ấy, nhà gái chắc chắn cũng phải cực kỳ tin tưởng vào con gái mình.

Vậy một vị tiểu thư trước ngày đính thân còn khỏe mạnh, hoạt bát, trong vòng vài tháng sau đã bệnh nặng mà mất — chẳng lẽ không đáng để người ta hoài nghi?”

Phu nhân Kính Văn Bá mím môi, ánh mắt nặng nề, giọng nghiêm nghị mà vẫn giữ lễ: “A Vi à, con dò hỏi những chuyện này, hẳn không chỉ vì tò mò hay nghi vấn đâu nhỉ?

Con giống mẫu thân mình, tâm trí vững vàng, biết rõ điều mình muốn.

Ta không dám tùy tiện phỏng đoán mục đích thật sự của con, cũng không nói con đúng hay sai.

Nhưng A Vi, khi con cố gắng vì một việc gì đó, con có chắc rằng mình không làm liên lụy đến người vô can không?”

Lời tuy nghiêm, nhưng khẩu khí của phu nhân vẫn ôn tồn như trước.

Giống như dáng vẻ bà luôn thể hiện — dù có bị “mạo phạm”, bà vẫn là bậc mẫu nghi khuê môn, giữ gìn thể diện, biết tiến biết lùi.

Chỉ cần A Vi hiểu lý lẽ, thì đề tài không vui này sẽ được nhẹ nhàng bỏ qua, như thể chưa từng nhắc tới.

Thế nhưng, A Vi hôm nay rõ ràng là đã chuẩn bị kỹ càng, không phải kẻ dễ dàng buông bỏ.

Nàng đã tính đến hết thảy, thậm chí còn dày công chuẩn bị chỉ để thuyết phục phu nhân Kính Văn Bá.

“Ngài nói đúng,” – A Vi nhìn thẳng vào ánh mắt dò xét của phu nhân, từng chữ rõ ràng –“Lúc bản thân nỗ lực, không nên để người vô tội bị cuốn vào.

Năm đó, phủ Văn Thọ Bá vì muốn tẩy trắng thanh danh thời thơ ấu của Ngũ hoàng tử phi, đã giẫm lên phủ Kính Văn Bá và Tam công tử để leo lên.

Nay nàng ấy được vinh hoa hiển hách, còn Tam công tử thì phải mang tiếng ‘khắc thê’.

Nàng ấy có thể thật sự mệnh quý, nhưng điều đó không phải lý do để phủ nàng đột ngột lật kèo khi bà mối vừa tới cửa.

Cũng không thể là cái cớ khiến ba cô gái khác bị người đời gán cho cái danh ‘mệnh không đủ cứng, số không đủ cao’.

Con không phải muốn ngài ra mặt tranh hơn thua với ai, chỉ là muốn từ miệng ngài, nghe được nhiều chuyện cũ hơn một chút.

Bởi vì chỉ có ngài, mới có thể biết rõ chân tướng.

Con hiểu ngài nhân hậu, không muốn nói chuyện thị phi nhà người khác.

Nhưng ngài thật sự, không có một chút nghi hoặc nào sao?”

Phu nhân Kính Văn Bá khép mắt lại.

Bên cạnh, bà ma ma nhìn bà lo lắng, thi thoảng lại liếc mắt sang A Vi, định mở lời nhưng mấy lần đều thôi.

Thấy bà như vậy, A Vi nhẹ nhàng thu lại khí thế, mày giãn ra, thấp giọng nói:

“E là ngài cần thời gian suy nghĩ kỹ một chút.

Hôm nay con xin phép về trước.

Nếu ngài nghĩ thông suốt rồi, chỉ cần sai người đến gọi, con lập tức tới ngay.”

Phu nhân Kính Văn Bá không nói lời nào, chỉ lặng lẽ gật đầu.

A Vi lui ra khỏi sảnh, Tang thị – người đã lấy cớ rời đi từ trước – đã đứng chờ ở cửa nguyệt môn.

Thấy A Vi bước lại, Tang thị hạ giọng hỏi: “Thế nào rồi?”

“Cứ để phu nhân suy nghĩ thêm đã,” – A Vi đáp – “Bà ấy sẽ nghĩ kỹ thôi.

Bởi vì người cuối cùng ấy là…”

Là cháu gái ruột bên nhà mẹ đẻ của phu nhân Kính Văn Bá.

Đây cũng chính là lá bài chuẩn bị sẵn trong tay A Vi.

Tính cách và giáo dưỡng của phu nhân thể hiện rõ sự nghiêm cẩn từ trong gia phong.

Một người như vậy, nhất định coi trọng huyết mạch bên nhà mẹ đẻ, tình nghĩa giữa các đời trong tộc chắc chắn rất sâu đậm, gắn bó.

Cũng bởi vậy, bà càng không thể dễ dàng chấp nhận lời đồn rằng “con trai khắc chết cháu gái”, càng không thể chịu được việc vì chuyện đó mà giữa nhà chồng và nhà mẹ đẻ nảy sinh vết rạn.

Trong phòng, bà ma ma mấy lần định lên tiếng lại thôi.

Mãi đến lúc lâu sau, phu nhân Kính Văn Bá mới mở mắt ra, đưa tay áp ngực, tự giễu mà cười:

“Lục Niệm đúng là dạy được một đứa con giỏi thật, nói câu nào trúng câu đó.”

Thấy bà ma ma còn do dự, bà lại chậm rãi lên tiếng: “Ta biết… con bé đi lại thân thiết với Quận vương, mà Quận vương lại có liên hệ với Thái tử bị phế…

Nói là chuyện của Ngũ hoàng tử phi, nhưng đến cùng… là vì cái ghế kia.”

Cái “ghế” kia — là chỉ ngai vàng.

“Lớn quá rồi, chúng ta không thể tùy tiện xen vào.”

Lý là như thế, nhưng khi hoàng hôn buông xuống, cháu trai cháu gái tan học từ học đường về, ríu rít đến thỉnh an bà, phu nhân Kính Văn Bá chỉ cảm thấy cổ họng khô rát, nói chẳng thành tiếng.

Chu Nguyên có hai huynh trưởng, mỗi người đều đã có con cái.

Phủ Kính Văn Bá không cần đến Chu Nguyên để kế thừa hương hỏa, chi cành nhà họ Chu tuy không quá rậm rạp, nhưng cũng xem như phát triển tốt đẹp.

Thế nhưng… nếu năm đó không xảy ra những chuyện ngoài ý muốn kia, thì giờ đây, bên cạnh A Nguyên, chẳng phải đã nên có lũ trẻ gọi bà là “tổ mẫu” rồi sao?

Một khi ý nghĩ đó vừa nảy sinh, phu nhân Kính Văn Bá liền khó mà an lòng.

Đêm ấy, bà trằn trọc mãi không thể chợp mắt.

Kính Văn Bá đã sớm nhìn ra tâm trạng của thê tử, thấy bà suốt đêm trằn trọc, liền khuyên nhủ:

“Đừng nghĩ ngợi nữa, con cháu có phúc của con cháu.”

“Nhưng ta thật sự, thật sự muốn hỏi một câu ‘vì sao’.” – phu nhân Kính Văn Bá nghẹn ngào.

“Ngày thường nói năng êm đẹp, đến khi phu nhân Trung Cần Bá đến tận cửa cầu thân thì đột ngột lật lọng, ngay đến lý do đưa ra cũng nực cười đến buồn cười.”

“May mà phu nhân Trung Cần Bá tâm địa hiền hậu, cũng không so đo chuyện mất mặt ấy.”

“Nói A Vi sai cũng được, nhưng con bé nói có một điều chưa đúng: Ta ngay từ vị hôn thê thứ hai đã cực kỳ cẩn thận.

Những thứ khác còn có thể nhượng bộ, nhưng riêng chuyện sức khỏe thì ta tuyệt đối không dám qua loa.”

“Cô nương ấy vóc người không cao, nhưng từ nhỏ theo cha học võ, một quyền đấm lên thân cây, có thể làm rơi ba bốn trái; quanh năm suốt tháng chưa từng bệnh vặt.

Vậy mà cuối cùng lại…”

Kính Văn Bá từ trên giường ngồi dậy, làm phu thê bao năm, ông hiểu rõ nút thắt trong lòng vợ mình.

Ông nhẹ giọng: “Lẽ ra không nên để A Huyên đính thân.”

A Huyên — chính là cháu gái bên ngoại của phu nhân Kính Văn Bá.

“Lúc ấy, ta như người chết đuối túm lấy cọng rơm cuối cùng.” – phu nhân Kính Văn Bá nói, đôi mắt đỏ bừng trong bóng tối, chẳng khác nào rực cháy.

Liên tiếp hai hôn sự “khắc thê”, việc nói mai cho Chu Nguyên trở nên vô cùng khó khăn, thậm chí còn có người ám chỉ vòng vo, mong bà từ bỏ đứa con út này.

Khi ấy, bà vẫn còn “trẻ tuổi, khí nóng”, một lòng muốn gột sạch cái danh “khắc thê” cho con, liền trở về nhà mẹ đẻ bàn bạc, cuối cùng định ra hôn sự với cháu gái ruột.

Cháu gả cho con— thân tình thêm bền, hơn nữa là người trong nhà, lý lịch rõ ràng, phẩm hạnh không lo.

Chỉ tiếc rằng… A Huyên lại không giống cái tên dịu dàng ấy chút nào.

Từ nhỏ nghịch ngợm leo cây trèo tường, tính khí mạnh mẽ, gan dạ hơn người.

Vậy mà một cô nương “gan lớn” như thế, sau lễ tiểu định cũng ngã bệnh, rồi chẳng bao lâu sau…

Tỷ tỷ của bà — mẫu thân A Huyên — trong tang sự gần như khóc đến ngất lịm, lao đến trước mặt bà, vừa đánh vừa khóc:

“Ta đã nói không đồng ý mà!

Khi ấy ta đã không đồng ý rồi mà!”

Phụ mẫu, huynh đệ bên nhà mẹ đẻ tuy không hề làm khó bà, nhưng trong lòng bà vẫn không thể nào nguôi ngoai.

Dẫu có tin con trai mình không phải người “khắc thê”, nhưng đối mặt với nến trắng, phướn tang, bà cũng chẳng thể mở miệng nói nổi một câu.

Từ đó về sau, không chỉ Chu Nguyên lòng nguội lạnh, mà ngay cả chính bà cũng dần lạnh lòng.

Trong kinh, những lời đồn đại ngày một nhiều hơn, đặc biệt khi phủ Văn Thọ Bá và Ứng Linh – vị hoàng tử phi nọ – danh tiếng càng lúc càng “quang minh chính đại”, lại càng khiến người ta thấy phủ họ Chu trở nên vừa đáng thương vừa đáng cười.

“Liên tiếp khắc ba người, nói không chừng là báo ứng.”

“Cái thiện đường nhà họ chẳng phải có vấn đề sao?

Làm việc thất đức nhiều quá, mới phải mở thiện đường để chuộc lỗi.”

“Tội cho mấy cô gái tốt nhà người ta, đều bị hại cả rồi.”

“Ai, mệnh không đủ cứng, chịu không nổi sát khí.

Phủ Văn Thọ Bá quả nhiên lợi hại…”

“Khó trách lúc trước lật mặt, thì ra là vậy.

Con gái nhà ấy đúng là mệnh phú quý.”

“Nhìn là biết mệnh tốt, mệnh giàu rồi.”

“Hình như còn có cao tăng từng đoán mệnh cho nàng ta đúng không?”

Rõ ràng đã là chuyện của bao nhiêu năm về trước, vậy mà từng câu từng chữ ấy vẫn như rì rầm bên tai, khiến lòng phu nhân Kính Văn Bá một lần nữa rối bời như ngày hôm qua.

Giữa những lời thì thầm đầy ác ý, bỗng có một giọng nói trong trẻo, mạnh mẽ xen vào.

Là giọng của A Vi.

“Lúc bản thân nỗ lực, không nên để người vô tội bị cuốn vào.”

Phải rồi.

Phải lắm!

Khi phủ Văn Thọ Bá nỗ lực vươn lên, vì sao lại phải kéo theo A Nguyên, vì sao còn phải kéo theo cả A Huyên?

A Huyên… mệnh của nó, sao lại không đủ cứng?

Sao lại không xứng mệnh phú quý?

A Huyên — cái trán cao, đôi tai tròn đầy, rõ ràng đều là những nét tướng mà thầy tướng từng nói là “đại phú đại quý”!

Vị tiểu thư út của Bá phủ năm ấy được định thân đầu tiên, sau đó là con gái của một viên võ quan—có ai trong số họ không phải là cô nương vừa nhìn đã khiến người ta ưa thích, mệnh tượng phúc hậu?

“Ta thật sự… nghẹn trong lòng quá…” – phu nhân Kính Văn Bá nghẹn ngào, nén tiếng khóc – “Rõ ràng các cô nương ấy đều là đứa trẻ tốt, con ta – A Nguyên – cũng là đứa tốt.

A Huyên mất rồi, mà giữa ta với bên nhà mẹ đẻ cũng…”

Thời gian có thể xoa dịu nỗi đau, nhưng không thể xóa đi vết sẹo.

Chẳng ai còn nhắc miệng tới chuyện xưa, nhưng những cảm xúc như day dứt, đau lòng, ân hận… lặng lẽ chồng chất, cuối cùng biến thành khoảng cách khó lòng hàn gắn.

Không còn sự thân thiết như xưa, chỉ còn sự xa cách và ngượng ngùng.

Phu nhân Kính Văn Bá thậm chí không còn biết nên đối mặt với cha mẹ, huynh trưởng, tẩu tẩu thế nào nữa.

“Mẫu thân ta… lúc lâm chung…” – cuối cùng bà cũng không nhịn nổi, bật khóc thành tiếng – “Bà mơ mơ hồ hồ, gọi mãi tên A Huyên!”

Kính Văn Bá ngồi cạnh, lặng lẽ vỗ nhẹ lên tay bà: “Không thể trách ai cả… chỉ là…”

Sinh tử hữu mệnh.

Ông trầm giọng: “Người ta đã dẫm lên A Nguyên và A Huyên mà bước lên cao, nay đã là Ngũ hoàng tử phi rồi.

Còn con bé họ Lục kia—nói những lời đó là có mục đích gì, trong lòng bà cũng rõ ràng.

Những chuyện cũ kia với nó chưa chắc hữu dụng, nhưng với phủ Kính Văn Bá chúng ta, một bước đi sai, thì Súc Ninh Bá phủ, Trung Cần Bá phủ chính là gương sáng đấy.

Ta lại nói lui một bước, cho dù có ‘đánh cược’ đúng, bước chân lên chiếc thuyền đó, thì có thể chứng minh được gì?

Cùng lắm chỉ là Văn Thọ Bá phủ không quang minh, thủ đoạn thấp kém.

Nhưng chuyện A Huyên và những cô nương ấy qua đời, không thể cứ thế mà tính lên đầu Văn Thọ Bá phủ…”

Lời vừa dứt, không chỉ Kính Văn Bá ngừng lại, mà cả phu nhân cũng sững người, quên cả thở.

Bởi vì—đây là điều mà trước giờ bọn họ chưa từng nghĩ tới.

Một nhà làm ăn lương thiện, sống quy củ biết điều, không oán thù sâu nặng với ai, ai lại nghĩ tới việc như vậy?

Nhưng… trong một năm trở lại đây, những “hung án” khiến người ta sững sờ kia chẳng lẽ còn ít?

Tằng thị đầu độc phu nhân Định Tây Hầu, sát hại cả vị hôn phu ngày xưa.

Phùng Chính Bân giết thê tử đang mang thai.

Tằng Văn Tuyên ra tay với đồng môn của cháu trai mình…

Chuyện nào không phải từng được che đậy bằng vỏ bọc “tai nạn” hay “bệnh cố tật”?

Chuyện nào không khiến người người ghê sợ?

Vậy thì… những cái chết năm xưa mà họ luôn cho là “bệnh chết”—có thật là bệnh chết không?



Sáng hôm sau, A Vi nhận được tin do bà ma ma của Tang thị đưa đến.

“Thế tử phu nhân chiều nay muốn đến phủ Kính Văn Bá, mời Biểu cô nương cùng đi.”

A Vi nghe xong, trong lòng liền hiểu, liền gật đầu đáp ứng.
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 202: Dù có đâm vào tường nam, cũng chẳng quay đầu


A Vi lại một lần nữa đến gặp phu nhân Kính Văn Bá.

Mái tóc bạc trắng của bà vẫn được chải chuốt gọn gàng như cũ, thoạt nhìn, tinh thần cũng không khác gì hôm trước.

Thế nhưng, nếu quan sát kỹ thì vẫn có thể nhận ra chút mỏi mệt cùng nét u sầu ẩn hiện.

“Ngài đêm qua nghỉ không ngon.”

A Vi nói thẳng.

Phu nhân Kính Văn Bá khẽ cười một tiếng:

“Con bé này nói với ta bao nhiêu chuyện như thế, ta làm sao có thể một giấc ngủ tới sáng cơ chứ?”

Nghe ra sự trêu chọc trong lời bà, A Vi cúi đầu đáp: “Là lỗi của con.”

Vài lời đùa nhẹ khiến tâm tình phu nhân dễ chịu đôi phần, bà hít sâu một hơi, lại trở nên nghiêm túc.

“Thi thoảng một đêm mất ngủ cũng chẳng là gì,” bà nói, “nhưng nếu có những chuyện ta cứ hồ đồ mang xuống mồ, thì đến lúc nằm dưới ấy cũng khó lòng yên ổn mà ngủ cho yên.”

A Vi nhẹ giọng đáp một tiếng.

Phu nhân mời cữu mẫu đến phủ, lại cố ý dặn phải gọi cả nàng đi cùng, A Vi biết rõ — bà đã cân nhắc rất kỹ.

“Con nói đúng,” phu nhân chậm rãi lên tiếng, “lúc mời bà mối đến phủ Văn Thọ Bá, đúng là chúng ta và nhà họ Ứng đã có sự đồng thuận.”

“Vị hôn thê đầu tiên của A Nguyên qua đời, nó cũng đau lòng, nhưng vẫn theo đúng quy củ: nên nghênh thì nghênh, nên giữ thì giữ.

Bên ngoài tuy có lời đồn đãi về cái danh ‘khắc’ nọ kia, nhưng trên mặt thì không ai dám nhắc, trái lại còn khen phủ Kính Văn Bá xử sự có chừng mực.”

“Cho nên, khi ấy A Nguyên muốn tái luận hôn cũng không phải chuyện khó.

Trái lại, là cô nương phủ Văn Thọ Bá, tình thế mới thực sự bất lợi.”

Cô nương bàn chuyện hôn sự, điều đầu tiên cần xét đến chính là danh tiếng.

Mà nhà nào còn có thể chọn lựa, thì tuyệt không muốn cưới một người tính khí tệ, kiêu căng ương ngạnh về làm dâu.

“Phu nhân Văn Thọ Bá chủ động đến tìm ta, nói bóng gió rằng tiểu nữ nhà bà ta trước kia bị huynh tỷ chiều hư, nhưng hai năm nay đã hiểu chuyện hơn nhiều.”

“Bà ấy nói không ít lời hay, cũng tại ta mặt mỏng, qua lại mấy lần, việc ấy liền thành định cục.

Ai dè đến khi bà mối chính thức đến cửa, phủ Văn Thọ Bá lại…”

Chuyện biến đổi, phủ Văn Thọ Bá càng thêm mất mặt.

Phu nhân Kính Văn Bá xưa nay vốn đã không ưa nhà kia, nhưng cũng chẳng muốn hắt nước bẩn lên người họ, chỉ mong giữ yên chuyện nhà mình.

Không ngờ, sau đó lại liên tiếp không thuận.

Nói xong tình hình của hai vị hôn thê sau đó, phu nhân Kính Văn Bá chăm chú nhìn A Vi thật sâu.

“Con thẳng thắn, ta cũng thẳng thắn.”

“Nói thật lòng, trước đêm qua, ta chưa từng nghi ngờ điều gì.

Tối qua bắt đầu sinh nghi, nhưng cũng chỉ là nghi ngờ mà thôi.”

“Không có bằng chứng, thậm chí ngay cả đầu mối để phỏng đoán cũng chẳng tìm được một sợi.”

“Con có mục đích của con, cần đi qua phủ Văn Thọ Bá, qua Ngũ hoàng tử phi để đạt được từng bước.

Nếu nghi ngờ của ta là thật, có thể giúp con thêm vài viên gạch xây đường.

Nhưng nếu sai, chúng ta đoán nhầm, con chỉ uổng công vô ích.”

“Hơn nữa, thứ con có thể lấy được từ chỗ ta cũng chỉ là mấy chuyện cũ chưa chắc đã dùng được.

Những chuyện khác… thứ lỗi, phủ Kính Văn Bá thật sự lực bất tòng tâm.”

“Nói thẳng ra, A Vi nha đầu, nghe thì có vẻ khó nghe, nhưng chẳng khác nào chúng ta đang lợi dụng con, bảo con giúp chúng ta đi tìm chân tướng.”

Nghe xong, A Vi thở phào nhẹ nhõm.

“Con thích nói chuyện rõ ràng sòng phẳng,” nàng nhìn thẳng vào mắt phu nhân, từng lời từng chữ, nghiêm túc nói, “Ngài không cần thấy mình chiếm được gì.

Chúng ta là ‘mỗi bên đều có điều cần’.

Hơn nữa, ngài cũng đâu phải không làm gì cả.

Con đoán, hai hôm tới, ngài sẽ về thăm nhà mẹ đẻ, đúng không?”

“Không giấu được con.”

Phu nhân Kính Văn Bá bật cười.

Chuyện tưởng chừng nặng nề, sau lời chân thành thẳng thắn ấy, lại trở nên dễ chịu hơn rất nhiều.

“Chuyện của A Huyên trước và sau khi đổ bệnh, ta sẽ hỏi kỹ lại,” bà nói tiếp, “Nhiều năm trôi qua rồi, cũng không biết còn có ai nhớ rõ hay không.”

Năm đó, thật ra bà cũng muốn dò hỏi rõ ràng, nhưng đại tẩu quá đau lòng, bà càng hỏi lại càng như đổ tội — đổ rằng bệnh của A Huyên là do nhà mẹ đẻ không chăm sóc chu đáo.

Đối với người vừa mất con gái mà nói, đó chẳng khác nào một nhát dao xoáy sâu vào tim, khiến phụ mẫu huynh trưởng càng thêm khó xử.

Về sau, mâu thuẫn chẳng thể hóa giải, quan hệ giữa bà và nhà mẹ đẻ cũng…

Mà hiện tại, có lẽ chính là một cơ hội.

Một cơ hội để bóc sạch vết thương, ép hết máu độc ra khỏi thân thể.

Việc dò hỏi của phu nhân Kính Văn Bá cần thời gian, mà A Vi trong những ngày kế tiếp cũng không ngồi yên, nàng lại ghé thăm phủ Cửu hoàng tử.

Cửu hoàng tử phi tươi cười chuyện trò cùng nàng:

“Lần trước ta học theo ngươi làm món điểm tâm ấy, điện hạ ăn xong rất thích, ta liền làm thêm một mẻ, mang vào cung tặng mẫu phi.”

“Nói ra cũng vừa khéo, lúc ta ở trong cung lại tình cờ gặp được Ngũ tẩu.

Tẩu ấy đang đến thỉnh an Lương tần nương nương.”

“Chỉ là… hình như có chút chuyện xảy ra, sắc mặt Ngũ tẩu rất khó coi, ta còn chẳng dám nhiều lời.”



Lời này của Cửu hoàng tử phi quả thật không phải chuyện ngồi lê đôi mách.

Ngũ hoàng tử phi đúng là vừa bị Lương tần nương nương nói cho mấy câu, nén giận ra khỏi cung.

Nàng ta đang do dự giữa việc nhịn cơn giận hay trút giận, thì đúng lúc có người tự đâm đầu tới chọc vào lửa.

Mấy ngày trước vừa đập đĩa điểm tâm, mặt mày kéo dài bỏ đi – phu nhân Văn Thọ Bá – nay lại đột nhiên mò đến.

“Ta nghe nói rồi,” phu nhân Văn Thọ Bá mở miệng liền chất vấn, “Lục Niệm không tìm ngươi, nhưng Dư Như Vi lại tìm đến phủ Kính Văn Bá.

Rốt cuộc họ muốn làm gì?!”

Ứng Linh lạnh giọng đáp:

“Bọn họ đến tìm ta để xúi giục thì người không vừa lòng; giờ người ta không tìm ta, lại đến chỗ khác, người vẫn không vừa ý.

Người quản hơi nhiều rồi đấy?”

“Nàng ta đến phủ Kính Văn Bá là để xúi giục sao?” phu nhân Văn Thọ Bá truy hỏi lại.

“Ta biết sao được!” Ứng Linh cười lạnh, “Chẳng lẽ ta núp dưới bàn, hay ngồi cạnh nghe lén?

Sao ta biết bọn họ nói gì?”

“Con bé này, sao cứ như ăn phải pháo nổ thế hả?” phu nhân Văn Thọ Bá liên tiếp kêu lên, “Ta chẳng phải cũng là vì muốn tốt cho con thôi sao…”

Ứng Linh vốn đã chẳng muốn nghe những lời giả lả này, giờ lại càng không chịu nổi.

Lửa giận trong lòng rốt cuộc không thể kìm nén, bùng phát dữ dội.

“Ta ăn pháo nổ?

Vì tốt cho ta?!”

Nàng gần như gào lên:

“Cái ‘tốt cho ta’ của các người là gì?

Là trực tiếp đi tìm điện hạ để vòi vĩnh lợi lộc?

Nhị tỷ phu nhà chúng ta làm quan chẳng ra hồn là vì sao?

Là vì hắn vô dụng!

Là vì hắn bị nhị tỷ xúi giục đến mức xa cách cả cha mẹ, cha chồng cũng chẳng xem hắn ra gì!

Một kẻ bất tài như vậy, còn mặt mũi để bảo ta ra mặt cầu xin?

Việc của điện hạ trong triều đình, là thứ ta có thể chỉ trỏ sao?

Ta không giúp, các người liền vòng qua ta mà tìm thẳng đến điện hạ, là định để điện hạ không thể từ chối, rồi giúp các người chen người vào Lại bộ?”

Phu nhân Văn Thọ Bá lúng túng cười gượng:

“Nói như vậy thì… người đi triều chính như điện hạ, bên cạnh cũng cần có vài thân thích đáng tin chứ.

Một người như thông gia, tin cậy mà…”

“Tin cậy đến mức mấy năm rồi điện hạ còn chưa từng nâng đỡ lấy một lần.

Là điện hạ không cần người của mình, hay là cái ‘thông gia’ ấy chỉ làm vướng chân?

Nếu thật là nhân tài, thì đề bạt là chuyện công tư phân minh, ai cũng chẳng thể nói gì.

Nhưng nếu rõ ràng là phế vật mà vẫn cứ đòi nâng lên, thì đấy là lạm dụng công quyền!

Các người ngang nhiên vòi vĩnh như vậy, điện hạ khó xử, người gánh chịu hậu quả chính là ta!

Mẫu phi mắng ta như đổ máu chó lên đầu!

Nếu các người còn có chút nghĩ cho ta, đã chẳng làm ra loại chuyện này!

À mà, là ta sai rồi!

Năm xưa các người dồn hết sức cho ta gả vào hoàng gia, chẳng phải cũng chỉ để mưu đồ quyền thế?

Lúc thì gửi đến quản sự điền trang, khi thì nhét vào vài người thân thích gì đó, đợi chỗ trống trong Lại bộ.

Chẳng lẽ phủ Văn Thọ Bá của chúng ta là cái cửa nhà mất mặt tới vậy sao?

Ra tay tranh lợi, còn chẳng bằng đám nhà quê!”

Phu nhân Văn Thọ Bá đỏ mặt rồi tái xanh, bị con gái l*t s*ch da mặt, không sót một lời, chỉ cảm thấy da đầu tê rần.

“Con cũng biết là vất vả cực khổ mà!”

Bà chỉ tay vào Ứng Linh, “Xem ra con cũng chưa quên ta đã phải vất vả thế nào, vậy mà giờ ta nói Dư Như Vi tìm đến phủ Kính Văn Bá, con còn làm ra bộ không biết gì!”

Ứng Linh trừng mắt nhìn bà ta chằm chằm.

Ánh mắt đó khiến phu nhân Văn Thọ Bá cũng nghẹn lời, không nói tiếp nổi.

Có một số chuyện… là không thể nói ra miệng.

Nhưng chỉ cần im lặng — là đã rơi xuống thế yếu.

Phu nhân Văn Thọ Bá không cam tâm, lại tiếp lời:

“Bảo sao Lục Niệm bị người ta nói là có bệnh trong đầu!

Nhà họ Tằng sụp rồi, Tằng thị chết rồi, chẳng phải mục đích của nàng ta đã đạt được rồi sao?

Còn không biết dừng lại, lại đi chõ mũi vào mấy chuyện khác, mà những chuyện đó có liên quan gì tới nàng ta chứ!

Việc nhà Thánh Thượng, là thứ một phụ nhân như nàng ta có thể tùy tiện nhúng tay sao?

Ngay cả chúng ta là hoàng thân quốc thích, còn phải cân nhắc!”

“Cho dù nàng ta sinh được một đứa con gái lợi hại thì sao, vương gia cũng không xứng để vào cục diện ấy!”

“Cuối cùng chẳng qua là làm áo cưới cho người khác, chẳng bằng cứ an phận làm nữ nhi Hầu phủ, ai làm không giống nhau?”

Ứng Linh bĩu môi, lật mắt đầy khinh thường:

“Vương gia cần vào cái cục diện gì chứ?

Chẳng lẽ chức Trấn phủ sứ không đủ uy phong, hay Trưởng công chúa và Phò mã không đủ sủng ái hắn?

Hiện tại thân phận, địa vị của hắn, sướng khoái còn hơn cả điện hạ ấy chứ.”

Ứng Linh dừng một chút, ánh mắt lạnh như băng: “Nhưng những chuyện đó, thì liên quan gì đến người?

Ít gây thêm chuyện cho điện hạ, cũng bớt gây chuyện cho ta đi.”

Phu nhân Văn Thọ Bá còn định phản bác: “Rõ ràng là Lục Niệm bọn họ…”

“Lòng dạ đen tối là các người, chẳng phải ta.” Ứng Linh dứt khoát ngắt lời.

Nàng nói thì cứng rắn, nhưng khi yên tĩnh trở lại, trái tim vẫn cứ đập dồn dập không ngừng.

Người khởi đầu không phải nàng, người ra mặt cũng không phải nàng, nhưng người được lợi cuối cùng… đích thực là nàng.

Nếu như, Lục Niệm và con gái nàng ta thật sự phát hiện ra chân tướng thì sao?

Không… không thể nào.

Bao nhiêu năm rồi, sớm đã hóa thành tro bụi từ lâu.

Nhưng mà… Kim phu nhân mất đã nhiều năm như vậy, chẳng phải cũng…

“Cái chết của Kim phu nhân là điều tra ra bằng cách nào?”

“Khám nghiệm sau khi khai quách, có thể tra được gì chứ?”

Ứng Linh thì thầm lẩm bẩm, mà ở một nơi khác – trong hoa sảnh của phủ Định Tây hầu – Chu Nguyên cũng đang hỏi chuyện Lục Niệm và A Vi.

Chu Nguyên là tự mình tìm đến.

Hắn và Lục Tuấn có giao tình, nên việc Tang thị đến phủ Kính Văn Bá vốn là chuyện rất bình thường.

Ban đầu, nghe nói A Vi theo Tang thị đến thỉnh an mẫu thân, Chu Nguyên cũng không cảm thấy gì kỳ quái.

Cho đến khi hắn phát hiện mẫu thân vì chuyện ấy mà hai lần trở về nhà mẹ đẻ, Chu Nguyên mới bừng tỉnh.

“Mẫu thân nói chuyện với cữu cữu, cữu mẫu không được thuận lợi.”

Chu Nguyên thẳng thắn nói.

Bởi vì cái chết của A Huyên, phu nhân Kính Văn Bá và đại tẩu bà sớm đã kết oán trong lòng, không thể nói rõ ai đúng ai sai, nhưng sự đau khổ thì là có thật ở cả hai phía.

Phu nhân Kính Văn Bá cố gắng mềm mỏng, đại tẩu bà mới chịu mở miệng kể lại chuyện năm xưa.

Từ đầu đến cuối… thật sự không có gì đáng nghi.

Cũng vì vậy, dù bà có lòng muốn giải quyết, thì vẫn không thể tìm được đầu mối nào.

Chu Nguyên nhìn ra được điều đó, nghĩ đi nghĩ lại, cuối cùng nhờ Lục Tuấn làm cầu nối, mời mẹ con Lục Niệm đến.

“Ta từng nghe chuyện khai quách của Kim phu nhân,”

Chu Nguyên hỏi, “Trường hợp của A Huyên, có thể khai quách không?”

A Vi liếc nhìn Lục Niệm, rồi mới trả lời Chu Nguyên:

“Nói thật thì, khai quách là một cách hiện tại có thể làm, nhưng không thể nói là cách ‘chắc chắn có hiệu quả’.

Kim phu nhân khi còn sống có ngoại thương, nên xương cốt lưu lại vết huyết ứ.

Nhưng A Huyên cô nương thì có biểu hiện là bệnh, trên di hài sẽ xuất hiện dấu hiệu gì, hiện tại khó lòng đoán trước.

Hơn nữa, tùy vào tình trạng đất đai và quan tài, độ bảo tồn của xương cốt cũng rất khác nhau.

Nếu tra ra được, thì tự nhiên chân tướng sáng tỏ.

Nhưng nếu không tra được, cũng không có nghĩa là cái chết của A Huyên hoàn toàn không có vấn đề…”

Chu Nguyên lắng nghe hết sức chăm chú.

Lục Tuấn ở một bên thì nghe mà trợn mắt há miệng: “Ngươi định làm thật đấy à?

Ngươi chẳng lẽ thật sự muốn khai quách?

Nhỡ đâu…”

“Nếu thực sự là bị hại mà chết thì sao?”

Chu Nguyên hỏi ngược lại.

Lục Tuấn ngẩn người.

Chu Nguyên ngồi thẳng người, hai tay siết chặt trên đầu gối.

Ba vị hôn thê của hắn, đều lần lượt mất ngay sau khi định thân chưa lâu.

Nếu nói đáng nghi, thì cả hai người sau đều đáng nghi.

Nhưng nhiều năm đã qua, hiện tại hắn chỉ còn có thể cố gắng vì người duy nhất có quan hệ huyết thống – A Huyên.

“Cái chết của A Huyên là nỗi đau trong lòng mẫu thân ta.

Những năm qua, tuy bà không nói, nhưng ta biết bà rất khổ tâm, cũng cảm thấy áy náy.”

“Nếu có thể tra ra chân tướng, đó là một sự an ủi – cho bà, cho gia đình cữu cữu, cho cả ngoại tổ phụ, tỗ mẫu đã khuất.”

“Nhưng nếu không tra được gì, mẫu thân ta– người khăng khăng đòi khai quách – sẽ càng thêm áy náy, càng không biết phải đối diện thế nào với người nhà mẹ đẻ.”

“Vậy thì, để ta làm người ‘mang tiếng’ này đi.

Chính ta sẽ đến cầu xin cữu cữu – cữu mẫu.

Ta là biểu ca của A Huyên, là hôn phu của nàng.

Ta đứng ra khai quách, đích thân táng lại, lập bài vị thờ cúng.”

Nghe hắn nói vậy, Lục Tuấn chỉ biết thở dài:

“Ta là lo ngươi xúc động quá mức… Nhưng lời khó nghe nói trước: khai quách chưa chắc giải quyết được gì.

Đến lúc đó…”

“Chuyện ta quyết, ta tự chịu, không trách ai hết.”

Chu Nguyên đáp.

“Nghe chưa,”

Lục Niệm chỉ vào Chu Nguyên, liếc xéo Lục Tuấn một cái, “Xem người ta kìa!

Ngươi tưởng ai cũng như ngươi, trốn sau lưng người khác, đợi người ta báo thù xong thì mới ra mặt nói mấy câu đạo nghĩa sao?

Đến cả cái ơn giả vờ còn không làm nổi!”

“Thôi bỏ đi,”

Lục Niệm hừ một tiếng, lạnh lùng nói tiếp:

“Ta cũng chẳng trông mong gì cái gọi là cảm kích từ ngươi, miễn lại sinh thêm nhân quả cho ta gánh.

Cả đời này vớ phải đứa đệ đệ vô dụng như ngươi đã đủ phiền lòng, kiếp sau xin đừng đầu thai làm em ta nữa!”

Lục Tuấn bị mắng bất ngờ, lại còn trước mặt người ngoài – dẫu người đó là bằng hữu thân thiết từ thuở nhỏ – cũng không khỏi xấu hổ đỏ bừng mặt.

Hắn chẳng cãi lại được Lục Niệm, lại biết rõ nếu mở miệng phản bác thì nàng ta thể nào cũng mắng gấp mười, nên chỉ đành ngoan ngoãn ngậm miệng.

Lục Niệm đuổi khéo Lục Tuấn đi rồi mới quay sang nói với Chu Nguyên:

“Nói cho cùng, chúng ta đều không phải người trong nghề.

Tam công tử nếu muốn hiểu sâu hơn, ta khuyên ngài nên tìm mấy vị ngỗ tác từng có kinh nghiệm mà hỏi, nghe xong rồi, nghĩ cho kỹ rồi hẵng quyết định.”

Chu Nguyên đứng dậy, hành lễ tỏ ý cảm tạ.

Vị ngỗ tác được mời lần này chính là Khâu ngỗ tác – người năm ngoái từng khai quách cho Kim Chỉ.

Chu Nguyên cẩn thận hỏi han tường tận, sau đó cáo từ rời đi.

A Vi tiễn hắn ra ngoài.

Đi đến nhị môn, Chu Nguyên bỗng dừng chân, quay đầu hỏi: “Ngọai tổ mẫu của nàng đã mất ba mươi năm, trong suốt ba mươi năm đó, mẫu thân nàng có từng do dự không?

Ý ta là… liệu bà ấy có từng nghĩ, có khi thật sự chỉ là bệnh mà chết, có khi tra cũng chẳng được gì…”

A Vi mím môi cười khẽ.

Trong gió thu, mùi hoa quế vàng đã thoang thoảng.

Nàng hít một hơi hương thơm, nhẹ nhàng đáp:

“Chắc mẫu thân chưa từng nghĩ tới những điều đó.

Người chỉ một mực cắm đầu mà tiến, dù có đâm vào tường nam cũng chẳng quay đầu lại.”

Lục Niệm chính là người như thế – thẳng thắn, bướng bỉnh, mà cũng quyết liệt.

Nàng sẽ đâm đầu vào bức tường đó hết lần này đến lần khác, đến khi tường thủng ra một lỗ.

Dù cho trên trán đã rớm máu.

Chu Nguyên nhẹ gật đầu, khẽ nói: “Nàng ấy rất dũng cảm… trách sao lại hay mắng A Tuấn.”

Khi sải bước rời đi, hắn lại quay đầu nói thêm: “Mắng là phải.”
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 203: Ngươi làm thế, ngũ ca chẳng còn mặt mũi gì


Hôm khai quan nghiệm thi, tiết trời thu mát mẻ, nắng nhẹ mà trong.

A Vi không rõ Chu Nguyên đã dùng cách gì để thuyết phục được cữu cữu và cữu mẫu, chỉ biết rằng trong vòng mười ngày ngắn ngủi, tam công tử nhà họ Chu tinh thần sa sút thấy rõ, lại còn thỉnh thoảng ho khan vài tiếng.

Trình tự khai quan được thực hiện theo quy định của Thuận Thiên phủ.

Không có nghi phạm cụ thể, thậm chí ngay cả có phải án mạng hay không cũng chưa rõ ràng, nhưng người nhà kiên quyết yêu cầu, Dương phủ doãn khuyên vài câu rồi cũng xuôi theo.

“Đều là người trong kinh, ta cũng không muốn làm mất mặt phủ Kính Văn Bá, nhưng lời xấu phải nói trước.”

“Nếu như không tra ra được điều gì bất thường, công tiền thuê nhân lực, bộ khoái, cùng các khoản chi phí mượn người, mượn sức khác, đều phải để phủ Kính Văn Bá các ngươi gánh.”

“Nếu không, nhà nào có nghi ngờ cũng làm rùm beng đòi khai quan, vậy nha môn còn làm ăn gì nữa?”

Những điều này, trước khi định ngày động thổ, Dương phủ doãn đã nói rõ một lượt với phủ Kính Văn Bá và nhà mẹ đẻ của bá phu nhân – nhà họ Vu.

Hôm nay, người ngựa tới trước mộ phần, ông ta lại cằn nhằn nói lại một lần nữa.

Chu Nguyên đều lần lượt gật đầu chấp thuận.

Bên này đang chuẩn bị khai quan, bên kia trên sườn núi, A Vi và Thẩm Lâm Dục đứng sóng vai.

Hai người không tới gần, chỉ chọn một chỗ không xa không gần có thể nhìn rõ tình hình, theo chiều gió truyền đến, là tiếng khóc ai oán xé lòng.

Mẫu thân của Vu Huyên nước mắt đầm đìa trước phần mộ con gái, bày lên đó những món ăn nàng yêu thích.

Trong tiếng khóc, Thẩm Lâm Dục phân biệt được bà đang gọi con gái, chợt nhớ đến chuyện năm ngoái khi khai quan, không khỏi quay đầu nhìn A Vi một cái.

“Vịt muối, đậu hũ bát bảo, gà chay, thịt gà hầm măng… còn món gì nữa nhỉ?”

Thẩm Lâm Dục hỏi.

A Vi nghe thế sững người một chút, rồi mới hiểu ra.

Hắn đang nói đến các món cúng trước mộ cô mẫu nàng.

“Vương gia thật nhớ kỹ.”

A Vi đáp.

Tay hắn buông thõng bên người, lúc có lúc không khẽ xoay tua kiếm bên hông.

Thẩm Lâm Dục nói tiếp: “Lúc đó ta chỉ cảm thấy kỳ lạ, nàng với Kim phu nhân nói đi nói lại cũng chỉ là mẫu thân nàng và Kim phu nhân từng là bạn thân khuê phòng, quan hệ thật ra cũng chẳng mấy gần gũi.

Khai quan để tìm chân tướng, đương nhiên như lời nàng nói, là để cho mẫu thân nàng một niềm hy vọng, một chút mong chờ.

Nhưng nhìn vào mâm cúng kia thì thấy quá mức chu đáo.”

A Vi khẽ cười: “Vương gia quả thật nhìn người, nhìn việc tinh tế.

Khi đó ta cũng từng cân nhắc, sợ cúng quá đầy đủ sẽ khiến vương gia sinh nghi, nhưng vẫn quyết định làm như vậy.”

“Bởi vì thân phận Dư Như Vi của nàng đủ an toàn, đủ hoàn mỹ?”

Thẩm Lâm Dục trầm ngâm gật đầu, “Cũng phải, người thường sẽ không nghĩ đến điểm đó, cho dù sau này ta tìm ra được vài dấu vết, thì vẫn không có chứng cứ xác thực.”

Cho tới tận hôm nay, mâm cúng kia vẫn chẳng thể “chứng minh” được điều gì.

Nhưng sau khi đã hiểu rõ nội tình, quay đầu nhìn lại, mới cảm thấy tỉnh ngộ.

Bởi vì, trong ngôi mộ đó chôn cất chính là cô mẫu của nàng.

Nếu không có cô mẫu quyết đoán, kịp thời phái ma ma tới Trung Châu, thì nàng đã chẳng còn đường thoát thân.

A Vi khẽ thở dài: “Đó đều là những món cô mẫu thích ăn, ít nhất là lúc mang thai rất thích, cũng tức là khẩu vị mà cả Người và đứa trẻ đều yêu thích.

Ta thật chẳng đành lòng chọn lựa bỏ món nào.”

Bên kia, đồ cúng được thu dọn lại.

Nhân công bắt đầu đào đất, rồi khai quật mộ.

Bá phu nhân không chịu nổi, được đỡ sang một bên nghỉ tạm.

Phu nhân nhà họ Vu thì ngất xỉu một lần, tỉnh lại rồi vẫn kiên quyết đứng xem, đến khi trông thấy thi hài nữ tử được Khâu bộ khoái ghép lại, liền khóc đến ngất lịm.

Kính Văn Bá và đại cữu ca phải dìu nhau, nhưng kết quả cuối cùng lại khiến mọi người càng thêm bất an.

Khâu bộ khoái không đưa ra được kết luận xác đáng.

“Giống như một loại độc từng gặp từ nhiều năm trước, rất hiếm thấy, ta nhớ không rõ nữa, cần về tra lại sách cũ.”

Lòng mọi người vẫn treo lơ lửng, đành phải thỉnh cầu Khâu bộ khoái mấy ngày này tốn thêm tâm lực, lật lại sách cũ cho rõ ràng.

Cách một đoạn, A Vi không biết cụ thể bên đó thế nào, chỉ cảm thấy không khí bên đó rất bất thường.

Đợi hỏi thăm kỹ càng, trong lòng lại nảy sinh một cảm giác lạ lùng khó tả.

Trở về Quảng Khách Lai, A Vi đem mọi việc thuật lại tường tận với Lục Niệm.

A Vi hạ giọng nói: “Cảm giác như đang có người tạo áp lực.”

“Ai gây áp lực cho ai?”

Lục Niệm vừa hỏi xong liền bừng tỉnh, “À, là vương gia gây áp lực cho Ngũ hoàng tử.”

A Vi thấy nàng hiểu ý, bèn hỏi: “Người cũng nghĩ thế sao?”

“Trực giác.”

Lục Niệm nhún vai, tay buông thõng nhẹ nhàng.

Không có đạo lý, cũng chẳng có bằng chứng, nhưng chính nhờ vào trực giác ấy, Lục Niệm mới từng bước đi đến ngày hôm nay.

Phần lớn thời gian, những điều nàng cảm thấy đều là đúng.

“Kim phu nhân là do trước khi chết có ngoại thương, nên dễ nghiệm ra.”

“Vu Huyên thì luôn được người nhà chú ý sát sao, nếu có bị thương hẳn đã sớm phát hiện, nếu gặp chuyện chẳng lành, khả năng lớn nhất chính là trúng độc, mà trúng độc thì lại khó nghiệm.”

“Nếu ta cho rằng nàng ấy chỉ là lâm bệnh mà mất, lúc Chu Nguyên đề nghị khai quan, ta đã từ chối ngay rồi.”

“Người chết nên an nghỉ, không cần khuấy động.”

“Nhưng ta trực giác cái chết ấy chắc chắn có ẩn tình, nên mở quan tài là điều tốt nhất, cho dù bộ khoái không tra ra gì, nhưng kẻ trong lòng có tật, ắt sẽ không yên.”

A Vi khẽ gật đầu: “Người có thể khiến Khâu bộ khoái cố tình úp mở, e rằng chính là vương gia.”

Có lẽ do câu chuyện năm ngoái về việc nghiệm thi Kim phu nhân vẫn còn âm vang, trong kinh thành, lần khai quan này cũng dần trở thành đề tài bàn tán.

Chuyện phi tử của Ngũ hoàng tử từ chối hôn sự ngày trước nay khó đem ra miệng bàn nữa, nhưng cái danh “khắc thê” của Chu Nguyên thì lại quá vang dội, khiến dân thường bắt gặp là lại lôi ra kể lể.

Buổi chiều.

Thẩm Lâm Dục được triệu vào ngự thư phòng.

Vừa bước qua cổng cung, hắn liền gặp Bát hoàng tử – Lý Vi.

Lý Vi vừa dùng bữa trưa với Thuận phi nương nương, trông thấy hắn liền xoay người, tiện đường đi cùng.

“Ngay cả mẫu phi ta cũng hỏi chuyện khai quan,”

Lý Vi đảo mắt nhìn quanh, hạ giọng nói, “Ta nghe nói lúc đầu Dương đại nhân không chịu, là đệ cho người nói với ông ta ‘cầm tiền làm việc’?

Đệ làm vậy, khiến ngũ ca mất mặt quá rồi đấy.”

Thẩm Lâm Dục đáp: “Tam công tử phủ Kính Văn Bá muốn hóa giải khúc mắc trong lòng mẫu thân, cũng muốn hàn gắn quan hệ với nhà ngoại.

Việc ấy liên quan gì đến Ngũ điện hạ?

Hơn nữa, để Thuận Thiên phủ điều người điều lực, há có thể không trả thù lao?”

Lý Vi nghe xong tặc lưỡi một tiếng: “Lâm Dục, đệ cứ đánh trống lảng thế thì chẳng thú vị gì.

Chuyện giữa Ngũ tẩu và phủ Kính Văn Bá, bên ngoài có thể không biết, nhưng trong chúng ta ai lại chẳng hay?”

Thẩm Lâm Dục liếc nhìn y, hỏi ngược: “Bát điện hạ cho rằng, cái chết của cô nương Vu Huyên, có liên quan đến ngũ điện hạ hoặc Ngũ hoàng tử phi?”

“Ta đâu có nói thế.”

Lý Vi vội đỡ lời.

Thẩm Lâm Dục khẽ cười, không chủ động truy hỏi thêm, chỉ chờ xem Lý Vi có gì muốn nói nữa.

Đi thêm một đoạn, quả nhiên Lý Vi mở lời: “Nói thật lòng, tỷ tỷ nhà họ Tống năm đó quả thực rất tốt.”

“Tống gia nào?”

Thẩm Lâm Dục hỏi.

“Lúc đó ngươi còn nhỏ, có lẽ không nhớ,”

Lý Vi nói thế, nhưng rõ ràng là đang chắc chắn Thẩm Lâm Dục đang giả ngốc, “Là người mà tổ mẫu năm xưa từng định cho ngũ ca.

Ta còn nhớ khi gặp nàng trong cung, là một nữ tử thật tốt.

Tiếc là nhà gặp biến cố, bằng không nàng với ngũ ca…Ngũ ca thật ra rất thích nàng ấy.”

Nói đến đây, Thẩm Lâm Dục – kẻ nãy giờ chẳng mấy hợp tác – cuối cùng cũng phối hợp một lần: “Ta hình như có nghe rằng, Lương tần nương nương không thích lắm?”

Lý Vi híp mắt cười: “Hình như đúng là có chuyện đó thật.”

Tới ngoài ngự thư phòng, Lý Vi không đi vào, chỉ nói: “Không vào để khỏi bị phụ hoàng trách.”

Tiễn Thẩm Lâm Dục vào, Lý Vi xoay người rời đi.

Ngoài cửa cung, xe ngựa lộng lẫy đã chờ sẵn.

Lý Vi bước lên xe, từ tay thị tòng nhận lấy một ống tre đựng nước uống, uống một hơi dài.

“Lưu Tiếu,”

Hắn lắc lắc ống tre đã vơi một nửa, nói, “Dạo gần đây tính tình Ngũ ca càng lúc càng chậm chạp, vừa muốn giữ đầu lại muốn lo đuôi, ta thấy rồi sẽ chẳng thể lo nổi cả hai.

Ngươi nói xem, có nên giục huynh ấy một chút không?”
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 204: Ngũ tẩu không sao chứ?


Những kẻ ôm tâm tư hóng chuyện đều vươn cổ trông đợi kết quả khai quan nghiệm thi.

Nào ngờ, trước khi thi thể được khám nghiệm, Thánh thượng Vĩnh Khánh đã hạ chỉ xử trí phủ An Quốc công.

Tước đoạt tước vị, xử trảm bêu đầu thị chúng.

Ngoại trừ hai kẻ “người ngoài” là Chương Anh và Tằng Miểu, không một ai trong phủ An Quốc công thoát tội.

“Lạ thường.”

Không chỉ hai bên Thiên Bộ Lang thì thầm bàn tán, mà ngay cả Lý Vi cũng ghé tai Lý Sùng thì thào.

“Từ sau vụ yểm bùa đến nay đã mười năm, lần này là lần đầu tiên phụ hoàng xử trí nặng tay đến vậy.”

Lý Sùng nhấp một ngụm rượu, ngoài miệng không tỏ thái độ, song trong lòng lại ngầm tán đồng lời của Lý Vi.

Phụ hoàng tuy chưa từng công khai bày tỏ sự “ngẫm lại” đối với hình phạt năm xưa, nhưng từ cách xử lý đám công thần quý tộc phạm tội những năm sau đó, có thể thấy được phần nào dụng ý: rất hiếm khi ngài ra tay nặng nề, ít khi nào thẳng tay chém sạch cả nhà.

Phần lớn vẫn lưu lại phụ nữ, trẻ nhỏ, lưu đày đến nơi khổ hàn.

Chết dọc đường là do số mệnh bạc bẽo, không thể xem như phụ hoàng hạ cực hình.

Lần này, phủ An Quốc công thực sự chịu một đòn chí tử.

Nghĩ ngợi một hồi, Lý Sùng cuối cùng vẫn chêm thêm một câu: “Người ta vẫn nói, yêu sâu nên trách nặng, đại khái giữa quân và thần cũng vậy, phụ hoàng luôn tin cậy, coi trọng An Quốc công, nên mới không thể dung tha.”

“Ngũ ca nói có lý,”

Lý Vi rót thêm rượu cho Lý Sùng, rồi nói tiếp, “Nghe bảo An Quốc công trong lao mỗi ngày đều gào lên đòi gặp phụ hoàng, mà phụ hoàng căn bản không thèm gặp.

Có lần dường như sai một thái giám đến Trấn Phủ Ty, ai biết có truyền được lời hay không.

Nếu không phải An Quốc công thực sự chọc giận phụ hoàng, thì dù trước khi định tội không được diện thánh, chí ít cũng nên gặp được Hải công công.

Hiện giờ thì sao, tội trạng nhà họ Chương thế nào, Lâm Dục báo lên ra sao, phụ hoàng cứ thế mà hạ chỉ định tội.”

Nghe vậy, Lý Sùng liếc Lý Vi một cái: “Ý đệ là, Lâm Dục cản An Quốc công diện thánh?

Trong tay An Quốc công có chuyện gì mà Lâm Dục không muốn để phụ hoàng biết?”

“Thì ai mà biết được,”

Lý Vi xoa vai, tặc lưỡi một tiếng, “Ngũ ca cũng biết mà, chúng ta mỗi lần diện thánh, từng lời nói ra đều phải dè dặt, chỉ sợ lỡ lời sẽ bị trách phạt.

Còn Lâm Dục thì khác, đừng nói lỡ lời, đến chuyện ‘tiên trảm hậu tấu’ cũng chỉ bị mắng đôi câu là cùng.

Nói trắng ra, phụ hoàng đã quen nuông chiều hắn.

Lần này phụ hoàng nghiêm trị phủ An Quốc công, mà việc Lâm Dục tiên hạ thủ lại thành công trạng.

Chỉ e lần sau hắn lại được nước lấn tới.”

Lý Sùng gõ gõ mặt bàn, ra hiệu Lý Vi hạ thấp giọng một chút: “Chính đệ cũng nói, là phụ hoàng dung túng.”

“Phụ hoàng đã biết Lâm Dục muốn lật lại vụ án vu cổ, vậy mà vẫn…”

Lý Vi đầy bất bình, “Đệ thật không hiểu nổi, chẳng phải đó là điều đại kỵ sao?

Ai nhắc đến cũng bị vạ lây!

Năm xưa Cao lão Thái sư mới chỉ bóng gió đôi lời, đã suýt chuốc họa vào thân, may mà lão lanh lợi, thấy tình hình bất ổn liền cáo lão hồi hương.

Giờ thì sao, Lâm Dục muốn tra là tra, muốn đến Thư Hoa cung là đến?

Chẳng lẽ thời thế đổi thay, phụ hoàng bỗng mềm lòng?”

Lý Sùng hỏi ngược lại: “Ngài xử phủ An Quốc công, giống người mềm lòng sao?”

Không giống.

Hai người đều hiểu rõ, hoàn toàn không giống.

Cũng bởi vậy mà càng khó đoán, phụ hoàng của họ rốt cuộc đang nghĩ gì.

“E là ngay cả Lâm Dục cũng chưa hiểu rõ.”

Lý Sùng khẽ cười.

Hắn vốn có dung mạo thư sinh, nho nhã ôn hòa, nụ cười thường khiến người cảm thấy thân thiết.

Thế nhưng giờ phút này, nụ cười ấy không hề mang theo gió xuân ấm áp, ngược lại như làn sương lạnh trái mùa chớm thoảng qua—dẫu lạnh lẽo thoáng qua, nhưng vẫn khiến người ta không dám hưởng trọn hơi ấm mùa xuân.

“Thế nên hắn mới khai quan, mới để mẫu tử nhà họ Lục tiếp cận A Linh.”

Đây là sự nhắm thẳng, không chút che giấu.

Càng hiểu rõ Thẩm Lâm Dục, càng thấy rõ ràng điều ấy.

Vài năm trước, Thành Chiêu Quận vương dẫu tính tình phóng túng, nhưng khi đối mặt với vài vị “biểu ca” cũng biết kiềm chế đôi phần.

Gần đây lại khác hẳn, sắc bén lộ rõ, gần như “cậy sủng mà kiêu”, ngang ngược không kiêng dè.

Có lẽ có người thực sự nghĩ rằng cứ càng lúc càng lấn tới thì sẽ không sao, như Tằng Văn Tuyên, nhờ từng có công cứu giá mà cứ thế chạm đến ranh giới cuối cùng của phụ hoàng.

Nhưng Lý Sùng biết rõ, Thẩm Lâm Dục không phải hạng người như vậy.

Mỗi bước “ngang” của hắn, đều là phép thử.

Hắn so với bất kỳ ai, càng rõ con đường mình đi nguy hiểm nhường nào.

Cho nên, nếu ai còn mơ tưởng ngồi chờ Thẩm Lâm Dục bị nuông chiều đến mức tự mãn, kiêu căng, mất hết chừng mực để rồi khiến phụ hoàng chán ghét vứt bỏ—thì gần như là chuyện không tưởng.

Trước khi đến bước đó, e là Thẩm Lâm Dục đã khiến bọn họ một phen sống không yên ổn.

Lý Vi hơi nghiêng người về phía trước, hạ giọng hỏi: “Hắn sao lại nhằm vào huynh?

Huynh cũng có làm gì nổi bật đâu, Tằng Thái bảo, An Quốc công và mấy kẻ khác rơi vào tay hắn, bọn họ căn bản chẳng biết nội tình năm xưa, không thể khai ra huynh được.”

“Hắn nhằm vào ta?”

Lý Sùng nhướng mày hỏi lại, “Ta thấy hắn là đang ‘bình đẳng’ mà giám sát tất cả, chỉ là trùng hợp có mối duyên cũ với A Linh thôi.

Nếu bọn họ có lý do đường hoàng để tiếp xúc với đệ muội, thì giờ e là mẫu tử nhà họ Lục đã ngồi uống trà trong phủ đệ rồi.”

Lý Vi cười gượng, rồi hạ giọng đầy quan tâm: “Ngũ tẩu không sao chứ?

Ý ta là, phủ Kính Văn bá khai quan, không đến mức thật sự kéo cả Ngũ tẩu vào đấy chứ?”

Lý Sùng mím môi, không nói.

Lý Vi lại nói: “Nói cho cùng, thật sự có chuyện thì cũng là phủ Văn Thọ Bá có tội, liên quan gì tới huynh?

Có phải huynh khiến phủ Văn Thọ Bá phát điên đâu.

Nếu phụ hoàng tra xét thật, cùng lắm cũng là truy trách phủ Văn Thọ Bá, Lâm Dục chưa biết chừng còn sẽ mở miệng nói giúp cho huynh đôi câu.

Nhưng mà, hắn đã đi đến bước này rồi, thì sớm muộn gì cũng sẽ——”

“Hắn không có chứng cứ.”

Lý Sùng cắt ngang lời Lý Vi, “Nếu trong tay hắn có dù chỉ một mẩu chứng cứ có thể danh chính ngôn thuận trình lên triều đình, thì đến cả ta, hắn cũng dám lục soát.”

Nghe đến đây, Lý Vi sốt ruột: “Thế huynh cứ để mặc hắn thế à?

Chờ tới khi đao thật chém xuống đầu?”

Lý Sùng khẽ lắc đầu với hắn: “Phụ hoàng không ngu.”

Thẩm Lâm Dục đang dò thăm ranh giới ấy, mà Lý Sùng cũng đâu phải không muốn biết giới hạn đó nằm ở đâu?

Mười năm trước hắn từng giành thắng lợi, nhưng mười năm sau, hắn không dám chắc bản thân còn có thể dùng lại chiêu cũ mà bình yên vượt qua.

Lý Vi lại rót đầy chén rượu.

Ngón tay hắn miết nhẹ theo vành chén, trong lòng thầm nghĩ: nhìn xem, Ngũ ca vẫn còn do dự.

Lý Sùng uống cạn chén rượu trong tay, không để rót thêm nữa, mà dứt khoát úp ngược chén lại.

“Người ta vẫn nói, không có trùng hợp thì không thành truyện,” hắn nâng mí mắt lên, cực kỳ bình tĩnh, cũng cực kỳ ôn hòa nhìn Lý Vi, nhẹ nhàng nói:

“Ta rất lấy làm thương cảm cho Chu Nguyên và phủ Kính Văn bá, nhưng sống chết là do số mệnh, ba vị hôn thê của hắn chưa chắc không phải vì bệnh mà mất.

Bát đệ, đệ đừng nói như thể các nàng thực sự bị hại vậy.”

Lý Vi nghe xong sững người, lại hỏi: “Nhưng quan khám nghiệm không nói là rất giống trúng độc sao?”

“Đã biết sau lưng là có Lâm Dục xúi giục, thì lời ‘trúng độc’ đó đáng tin được mấy phần?”

Lý Sùng hỏi lại, “Vừa rồi chúng ta đã nói nhiều như thế, những chuyện khác đệ đều nhìn rất rõ ràng, sao tới chỗ này lại bị che mắt?

Một là có thể do bệnh mà chết, hai là nếu thực sự trúng độc—thì cũng chưa chắc là do Ngũ tẩu đệ hại.

Đệ đừng tự mình luẩn quẩn, chưa điều tra đã định tội.

Nói năng cho cẩn thận, kẻo lại khiến Ngũ tẩu đệ bị vạ miệng.”

Lý Vi đặt chén rượu xuống, thu lại nét mặt, cúi đầu.

Tay buông dưới bàn không khỏi siết chặt rồi lại buông ra.

Hắn nghe ra rồi—Lý Sùng đang nhắc nhở hắn.

Lý Sùng đã biết hắn từng góp phần đẩy sóng thêm gió, mà Lý Sùng cũng không hoàn toàn tin tưởng hắn.

Vẫn có dè chừng, có tính toán, có mưu lược.

Mà ai lại không như thế?

Hoàng gia xưa nay vốn chẳng có thứ gọi là thân tình, dốc hết ruột gan ra với người khác, thì khi bị đâm sau lưng, lấy đâu ra bộ ruột gan thứ hai để mà giữ mạng?

Còn Lâm Dục?

Toàn tâm toàn ý vì Thái tử đã bị phế, một Thẩm Lâm Dục như thế, đúng là một kẻ dị thường!

Tất nhiên, vẫn còn một câu——“Thời thế thay đổi, lòng người đổi thay.”

Năm xưa hắn với Lý Sùng cũng từng “thân thiết không gì ngăn trở”, “cùng chung tiến thoái”.

Vậy thì Lâm Dục với Lý Nhung thì sao?

Cũng chưa biết chừng, một ngày nào đó——

Dù rằng, Lý Vi thầm nghĩ, hắn thực sự chẳng mong đến cái ngày đó.

Nghĩ tới đây, Lý Vi lại ngẩng đầu, cong môi cười với Lý Sùng: “Ngũ ca nói đúng, là đệ hồ đồ rồi, phạt đệ một chén!”
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 205: Chỉ có kẻ điên như chúng ta mới hiểu


Đêm thu, gió lạnh se sắt.

Trong nha môn của Trấn phủ ty sáng rực ánh đèn, bên trong một gian ngục nhỏ cũng được bày một chiếc bàn con.

Nguyên Kính lần lượt lấy từng món trong hộp đồ ăn ra bày lên bàn, lại rót hai chén rượu, sau đó mới lui về sau mấy bước, đứng hầu ở một bên.

Thẩm Lâm Dục thong thả ngồi xuống, hướng về phía đối diện ra hiệu tay:

“Quốc công gia, mời.”

Ánh mắt của An Quốc công âm trầm nhìn hắn.

Những ngày qua, lão càng lúc càng gầy guộc, cả khuôn mặt hóp lại đến biến dạng, da mặt trùng xuống, kéo theo từng nếp nhăn chồng chất, khóe mắt cũng sụp hẳn xuống khiến đôi mắt trông nhỏ lại không ít.

Thế nhưng chính đôi mắt nhỏ xíu hình tam giác ngược ấy, chỉ đủ nhét vào con ngươi đen kịt, lại khiến người ta sởn gai ốc khi nhìn đến.

Thẩm Lâm Dục vẫn giữ sắc mặt bình thản:

“Trước nay gọi quen rồi, ở đây không có người ngoài, cũng chẳng muốn sửa miệng. Ta vẫn gọi ngài là Quốc công gia.

Ngài đã xem thánh chỉ của Thánh thượng rồi, nói thật, ta không biết ngài có đoán trước được không, nhưng ta thì không ngờ Thánh thượng lại xử nặng đến thế.

Ngoài Chương phu nhân và Tằng Miểu bị ta giữ lại từ trước, Thánh thượng…”

Hắn khẽ nhún vai, thậm chí còn thở dài một tiếng:

“Chuyện đã đến nước này, trước khi lên đường, ăn một bữa cơm ngon đi. Những món này ta có hỏi qua Chương phu nhân rồi mới đặc biệt chuẩn bị, nàng ấy nói ngài thích ăn những thứ này.”

An Quốc công trầm ngâm giây lát, cuối cùng cũng ngồi vào bàn.

Lão gắp một miếng cá chình kho đỏ, chậm rãi thưởng thức, nói:

“Tiếc là nguội rồi.”

“Điều kiện có hạn, không thể so với tiện nghi trong phủ ngài khi xưa.” Thẩm Lâm Dục đáp.

An Quốc công lần lượt nếm qua mấy món, hỏi:

“Là từ hiệu nào làm ra?”

“Chọn một tiệm lâu đời bên ngoài cửa Chính Dương,” Thẩm Lâm Dục nhấp một ngụm rượu, nói, “không phải do Quảng Khách đưa tới.

Nói ra cũng lạ, ngài từng thiết kế hãm hại Kim Thái sư, với cô nương A Vi là huyết thù.

Lúc trước nàng ta chịu ra tay giúp đỡ, chỉ là vì che giấu mà thôi, còn nay thì, ngài đã chẳng đáng để nàng ấy đích thân xuống bếp nữa rồi.”

“Rốt cuộc cũng chỉ là một chữ ‘lợi dụng’,” An Quốc công nhìn thẳng Thẩm Lâm Dục, nói, “Ta không còn giá trị, vương gia cũng nên cẩn thận kẻo đi vào vết xe đổ này.”

“Ý ngài là giống như Chương đại nhân?” Thẩm Lâm Dục mỉm cười, chẳng chút ngại ngần, “Mượn sức mà dùng là lẽ thường tình, nàng ấy có thể lợi dụng bất cứ ai, đương nhiên cũng có thể lợi dụng ta.

Không phải ta tự khen, nhưng ta tự thấy mình vẫn còn khá hữu dụng.”

An Quốc công lạnh giọng:

“Vương gia đừng quên, tính kế Kim Bá Hán là ta, điều đó đúng, nhưng ra thánh chỉ giết cả nhà Kim Bá Hán… lại là Thánh thượng, là thân phụ ruột của ngươi.

Tiểu nha đầu Kim gia đó với ta là huyết thù, với vương gia lẽ nào không phải là huyết thù?”

Lời vừa dứt, An Quốc công gắt gao nhìn chằm chằm Thẩm Lâm Dục, tưởng như có thể nhìn ra một tia do dự nào đó trên người thanh niên kia.

Thế gian này, tình cảm nam nữ là thứ rẻ rúng nhất, không thể so được với lợi ích và thù hận.

Nhưng những kẻ dễ sa vào lưới nhất, lại chính là bọn trẻ tuổi.

Dốc lòng trao hết, chẳng màng hậu quả, nói những lời “chân tình” để rồi sau vài năm quay đầu nhìn lại, tất thảy đều là trò cười.

An Quốc công cứ nghĩ Thẩm Lâm Dục cũng sẽ không thoát khỏi vòng ấy.

Dám vì nàng ta mà ra mặt, tại hội thi thư pháp chỉ vài lời đã khiến Trấn Lễ mất mặt, vị quận vương này đối với tiểu nha đầu họ Kim, ít nhiều cũng có chút tình ý chứ?

Mà một khi thứ tình ý ấy lẫn vào huyết thù, An Quốc công không tin Thẩm Lâm Dục có thể thản nhiên như không.

Thế nhưng, Thẩm Lâm Dục lại không hề có lấy một chút dao động trong cảm xúc.

“Ồ?” An Quốc công hơi nghiêng người về phía trước, gương mặt đầy nếp nhăn vì khoảng cách gần mà trở nên càng thêm đáng sợ, “Vậy ra vương gia cũng chỉ đang lợi dụng nàng ta?”

Thẩm Lâm Dục khẽ nhún vai.

Chuyện giữa hắn và A Vi cô nương, cần gì phải tranh luận với An Quốc công?

Trong mắt A Vi cô nương, hắn Thẩm Lâm Dục cũng chỉ là một đồng minh hợp thời, dễ dùng, cùng chung lợi ích. Ở lâu ngày thì có thêm chút tin tưởng, nhưng xa mới đủ để nàng cân nhắc đến chuyện “huyết thù hay không huyết thù”.

Điều hắn cần làm, có thể làm—là trở thành một thanh đao sắc bén, hữu dụng.

Mà một thanh đao không vừa tay, thì không xứng được nghĩ nhiều đến vậy.

Thẩm Lâm Dục bất ngờ chuyển hướng câu chuyện — hoặc đúng hơn, đây mới là mục đích thật sự của hắn.

“Phủ Văn Thọ Bá, nhà mẹ đẻ của ngũ hoàng tử phi, họ Ứng, dạo gần đây cũng chẳng yên ổn.”

“Tam công tử của phủ Kính Văn Bá không tin mình mang mệnh khắc thê, cho người khai quan kiểm nghiệm hài cốt vị hôn thê. Theo lời ngỗ tác, quả thật có khả năng bị hạ độc mà chết.”

“Năm đó dựa vào cái mệnh ‘phú quý vinh hoa’, giẫm lên phủ Kính Văn Bá để đi lên là phủ Văn Thọ Bá. Ngài đoán xem, họ có tội hay không?”

“Nói ra, nếu phu nhân Quốc công không tự tiện làm chủ, thì đích nữ phủ An Quốc công đã có thể trở thành ngũ hoàng tử phi.”

“Với sự tín nhiệm của Thánh thượng dành cho ngài, Lương tần nương nương chắc chắn rất vui lòng tác thành chuyện tốt đẹp này.”

“Nhất đẳng quốc công, lại thêm một Chương Trấn Lễ vào triều thuận lợi, nhìn thế nào cũng mạnh hơn phủ Văn Thọ Bá giờ chỉ còn cái vỏ rỗng.”

“Nếu ngài thật sự trở thành nhạc phụ của ngũ hoàng tử, đừng nói hôm nay khỏi phải ăn bữa ‘cơm đoạn đầu’ này, mà ngũ hoàng tử cũng chẳng đến nỗi bị ta dồn ép từng bước vì mấy chuyện lạ lùng liên quan đến phủ Văn Thọ Bá.”

“Một cục diện vốn dĩ là song thắng cho phủ An Quốc công và ngũ hoàng tử, giờ lại thành song bại.”

Cho dù đã lâm vào cảnh đường cùng, không nên vì chút “tươi đẹp” mông lung kia mà khơi dậy sóng lòng, nhưng tim An Quốc công vẫn co thắt lại một chút.

— Tốt biết bao!

Thế nhưng ông ta không thể hiện ra, chỉ có thể giữ bộ mặt nghiêm khắc, nói với Thẩm Lâm Dục:

“Chuyện đã đến nước này, vương gia nói mấy lời vô ích đó để làm gì?”

“Phải đó, chuyện đã đến nước này, thế thì Quốc công gia khi trước cãi nhau với Quốc công phu nhân để làm gì?” Thẩm Lâm Dục hỏi lại.

An Quốc công bị chặn họng, hậm hực uống một ngụm rượu, lại nói:

“Vương gia, vẽ ra mấy chuyện đẹp đẽ này cho kẻ sắp chết như ta nghe, chẳng lẽ muốn ta khi lên đoạn đầu đài cũng chẳng yên lòng? Có lời thì cứ nói thẳng.”

“Vậy thì thẳng luôn,” Thẩm Lâm Dục xoay xoay chén rượu trống trong tay, giọng mang vài phần thắc mắc, “Ta làm những chuyện này, xem như đang nhằm vào ngũ điện hạ đúng không?

Thánh thượng thậm chí đã biết ta quyết tâm muốn lật lại án vu cổ năm xưa.

Vậy mà ngài ấy không ngăn ta, để mặc ta ra tay với ngũ điện hạ. Quốc công gia, ngài nói xem, là vì sao?”

Chân mày An Quốc công nhíu lại: “Vương gia muốn ta giải đáp ư?”

“Ta rất muốn biết, một ‘lương thần’ giỏi đoán thánh ý và trung thành tận tụy như ngài, nếu thật sự là nhạc phụ của ngũ điện hạ, mà bây giờ Thánh thượng chẳng hề can thiệp khi ta đối phó ngũ điện hạ…”

Thẩm Lâm Dục nói đến đây, còn cười híp mắt, thần sắc thoải mái như đang bàn chuyện vui vẻ:

“…Vậy thì ngài sẽ làm sao? Lấy Thánh thượng làm trọng, hướng mũi dùi vào ngũ điện hạ? Hay đặt tương lai của con rể lên trên, phản bội lòng trung của ngài với Thánh thượng, trực tiếp xử ta cho xong?”

An Quốc công giận đến run rẩy cả người, trong những nếp nhăn trên mặt nổi lên sắc đỏ bầm:

“Vương gia đã muốn giải hoặc, sao lại dùng giọng điệu mỉa mai như vậy? Ta trung thành với Thánh thượng hay không, tự ta rõ nhất, trời xanh soi xét!”

Thẩm Lâm Dục khẽ gật đầu.

Sự “trung thành” là lớp da ngoài của An Quốc công.

Y phục có thể cởi, nhưng da thì không. Lão đã khoác nó quá lâu, lâu đến mức hòa làm một thể với chính mình, tin tưởng không nghi ngờ.

Còn bên trong lớp da ấy là xương thịt dạng gì, An Quốc công không chịu đối diện, nhưng Thẩm Lâm Dục đã sớm nhìn thấu.

Lúc này, hắn không tiếp tục lột cái lớp da ấy ra nữa, thu lại ý cười đầy châm chọc, nghiêm túc hỏi:

“Vâng, ngài trung thành. Vậy thì, câu trả lời của ngài là gì?

Là đối phó ngũ điện hạ, hay là đối phó ta?

Hoặc, Quốc công gia, ngài ở bên Thánh thượng lâu hơn ta nhiều, kinh nghiệm và nhãn lực cũng hơn ta. Ngài cho rằng Thánh thượng rốt cuộc muốn gì?”

Chân mày An Quốc công nhíu chặt.

Thẩm Lâm Dục không thúc giục, tiếp tục lật qua lật lại chén rượu trống trong tay.

Thật lâu sau, hắn bắt gặp trong đáy mắt An Quốc công thoáng qua một tia đắc ý — ánh sáng đó lóe lên rồi biến mất, xem ra lão đã nghĩ ra điều gì.

Chỉ là, An Quốc công không muốn nói rõ.

“Dù gì ta cũng sắp chết, đoán thánh ý thì để làm gì nữa chứ?”

Thẩm Lâm Dục nói:

“Quân muốn thần chết, thần không thể không chết. Ngài đã trung thành, thì chi bằng đem thánh ý mà ngài đoán được nói cho ta biết, để ta tiếp tục hoàn thành kỳ vọng của Thánh thượng, ngài cũng có thể yên lòng lên đường.”

“Vương gia những lời này, chỉ lừa được hạng ngu như Hoàng Trấn mà thôi,” An Quốc công gắp một miếng thịt dê đông, chậm rãi thưởng thức, nói tiếp, “Hoàn thành kỳ vọng của Thánh thượng? Lật án vu cổ, để phế thái tử trở lại, chẳng lẽ là điều Thánh thượng mong đợi?

‘Thánh ý’ trong tay vương gia chẳng qua là ngọn cờ — gió thuận thì giương cao, gió nghịch thì thu lại.

Vương gia có bản lĩnh thì cứ từ từ suy đoán, ta chẳng dạy được gì cho ngươi cả.

Mà bữa cơm này cũng không tệ lắm.”

“Vậy sao?” Thẩm Lâm Dục hỏi.

An Quốc công cầm đũa, đang định gắp thêm món khác rồi thừa cơ châm chọc Thẩm Lâm Dục thêm mấy câu.

Chợt — “Đông!” — một tiếng vang lên, nơi hổ khẩu đau nhói, tê rần cả cánh tay, ngón tay buông lơi, đũa rơi “cạch” xuống bàn.

Trước mắt, Thẩm Lâm Dục đã đổi hẳn sắc mặt, ánh mắt mang theo vẻ chán chường và ghét bỏ, không còn ý cười như lúc trước.

Hắn vừa dùng chén rượu trống đập vào tay An Quốc công đang cầm đũa, rồi đột ngột đứng dậy, từ trên cao nhìn xuống người đang ngồi, lạnh lùng quát:

“Cơm ngon? Vậy thì đừng ăn nữa! Nguyên Kính.”

Nguyên Kính bước nhanh hai bước lên trước, trong khi An Quốc công vẫn chưa hoàn hồn, bàn tay còn lơ lửng giữa không trung, thì tất cả đồ ăn trên bàn đã bị thu dọn y như cách chúng được bày ra.

Đậy nắp hộp, bát đũa chén rượu bỏ vào giỏ, ngay cả nửa bình rượu cũng không để lại giọt nào.

Sau đó, hắn lập tức theo sát bước chân Thẩm Lâm Dục.

Cửa ngục khóa lại, kêu đinh linh choang choang.

An Quốc công lúc này mới giật mình tỉnh lại, nhìn bàn ăn trống trơn, tức đến nỗi giơ tay lên đập mạnh một cái xuống mặt bàn.

Bị giam vào Chiếu ngục, Trấn phủ ty tuy không cố tình làm khó dễ trong chuyện cơm nước, không mang đồ ôi thiu ra để làm nhục người ta, nhưng đương nhiên chẳng thể so được với bữa cơm tại phủ đệ của mình.

Đặc biệt là mấy ngày gần đây, đồ ăn càng lúc càng thanh đạm nhạt nhẽo, trong miệng chẳng còn lấy một chút vị gì.

Vậy mà đêm nay, có rượu có món, tay nghề đầu bếp quán ven đường tuy có hạn, nhưng dầu mỡ đậm đà, mùi vị rõ ràng, mà toàn là món ông ta yêu thích.

Kết quả, mới ăn được mấy đũa đã bị thu dọn sạch sẽ?!

Nếu từ đầu không được ăn thì thôi, nhạt cũng đã nhạt quen, đói cũng đã đói quen — nhưng đằng này lại vừa được hé miệng, rồi đột ngột không còn gì nữa…

Miệng thì thèm, mà trong lòng lại bốc hỏa.

An Quốc công giận đến mức suýt chút nữa lật cả cái bàn trống lên, trong lòng không ngớt rủa xả Thẩm Lâm Dục.

Triều đình gọi Thành Chiêu Quận vương là gì nhỉ?

— Hành sự tùy hứng, gan lớn vô cùng.

Nếu để ông ta nói, còn phải thêm một câu: Không có võ đức!

Ăn cơm đoạn đầu mà, từ bao giờ cơm đoạn đầu lại chỉ cho ăn được vài miếng thôi hả?!

Biết thế ban nãy mặc kệ Thẩm Lâm Dục nói gì, ông ta nên ăn no uống đủ trước đã!

Giờ thì hối không kịp, tức đến phát đau tim.

An Quốc công ôm ngực, hít sâu một hơi.

Thằng ranh vô sỉ kia vì nhìn không thấu thánh ý nên đem tức giận trút lên đầu ông ta.

Phải rồi, đến nước này rồi, khắp thiên hạ e rằng chẳng còn ai có thể suy đoán được ý định của Thánh thượng như ông ta nữa.

Ông ta sẽ đem bí mật đó mang xuống mồ, ngồi xem trò hay!

Để xem, Thành Chiêu Quận vương được Thánh thượng sủng ái đến đâu, sẽ bị chính thánh ý kia đẩy đến mức nào!



Một bên khác, Nguyên Kính xử lý xong mọi việc, trở lại hậu nha thì thấy Thẩm Lâm Dục đang đứng dưới hành lang.

Thân tựa vào tường, tay mân mê thanh trường kiếm, Thẩm Lâm Dục có vẻ đang xuất thần, nhưng phản ứng với âm thanh quanh mình lại rất nhạy, liền nghiêng đầu nhìn sang.

“Ngươi thấy thế nào?” Thẩm Lâm Dục hỏi.

Nguyên Kính đáp: “An Quốc công có lẽ là người hiểu rõ Thánh thượng nhất, nhưng ông ta không nói.”

“Ông ta không nói,” Thẩm Lâm Dục khẽ gõ lên thân kiếm, ánh sáng bạc loáng lên, “nhưng ông ta… cũng đã nói.”

Nguyên Kính nhất thời không hiểu.

“Ông ta, đến chết cũng muốn xem trò vui.” Thẩm Lâm Dục chậm rãi nói. “Ông ta không thích đại ca ta, cũng chắc chắn hận ta.

Nếu ta lật được vụ án, giúp đại ca rửa sạch tội danh vu cổ, rời khỏi Thư Hoa cung, thì ông ta, dù ở dưới đất cũng sẽ tức đến giậm chân.

Cho nên, trong suy đoán của ông ta, ta nhất định phải thất bại. Chỉ có thất bại, mới là trò vui đáng xem.”

Nguyên Kính chợt hiểu ra, nhưng chưa hiểu trọn vẹn:

“Vậy vì sao ngài sẽ thất bại? Là vì đến phút cuối Thánh thượng sẽ ngăn cản ngài động vào ngũ điện hạ? Hay là ngũ điện hạ sẽ ra tay trước? Hay là…”

“Ta không biết.” Thẩm Lâm Dục thản nhiên đáp.

Hắn muốn biết rõ, cho nên mới thử đi đường vòng qua An Quốc công.

Chỉ tiếc đối phương chẳng biết điều.

“Không biết điều, lại còn đòi ăn no rồi mới lên đường?” Thẩm Lâm Dục rút kiếm, soạt một tiếng, thu vào vỏ, “Mơ đi!”

Nguyên Kính nghĩ đến mâm rượu thịt bị “phí phạm”, cười nói:

“Nói ra thì, ngài cũng chưa ăn được mấy miếng. Giờ quán Quảng Khách vẫn chưa đóng cửa, hay là đi ăn bữa nóng hổi? Tuy rằng giờ này Dư cô nương chắc là không còn ở quán nữa…”

Nhưng tối nay, A Vi vẫn còn ở đó.

Hai hôm nay, sáng tối chênh lệch nhiệt độ lớn, Tiểu Nan hơi sốt nhẹ.

Dù là đứa trẻ ngoan ngoãn thế nào, khi bệnh rồi đều trở nên dính người. Tiểu Nan không dính Ông nương tử, mà cứ ôm lấy Lục Niệm không chịu buông.

Lục Niệm xót nàng, nên đến khuya mới rời đi.

Thấy Thẩm Lâm Dục đến, A Vi chỉ hỏi một câu, rồi tự mình vào bếp xào cho hắn một đĩa mì, cắt thêm ít đồ ăn kèm.

Thẩm Lâm Dục ăn rất thỏa mãn — dù sao thì, làm vài trò tâm lý với An Quốc công cũng chẳng ngon miệng bằng một bữa đơn giản thế này.

Nghe nói Thẩm Lâm Dục dọn sạch mâm cơm, không để An Quốc công ăn được mấy miếng, A Vi vừa buồn cười vừa lắc đầu.

Cười một hồi, A Vi bình luận: “Đáng đời!”

“Lão hồ ly ấy, đến lúc chết rồi mà vẫn không chịu hé miệng.” Thẩm Lâm Dục nói.

Đối với Hoàng Trấn, Tằng Văn Tuyên hay những kẻ khác, người ta còn có thể dùng con cháu hậu thế để trao đổi — ngay cả phu nhân An Quốc công, vì Chương Anh mà có thể bỏ ra tất cả.

Nhưng An Quốc công thì không.

Cho dù Thẩm Lâm Dục có nói rõ: “Ngài có thể cứu mạng đứa cháu trai quý như vàng kia trước mặt Thánh thượng,” thì An Quốc công cũng chẳng thèm nhấc mí mắt.

Con trai, con gái, cháu chắt — tất cả mọi thứ, đều là vì quyền lực, vì tương lai của phủ An Quốc công.

Nhưng giờ, tất cả đã mất, thì còn cần gì con cháu?

“Thế nhưng ông ta lại nhìn thấu tâm ý của Thánh thượng.” Thẩm Lâm Dục mím môi, “Ông ta làm bạn với vua quá lâu rồi.”

Từ khi Vĩnh Khánh đế còn là hoàng tử, An Quốc công đã sớm bước chân vào triều đình, thời gian lâu, tín nhiệm cũng sâu.

Thẩm Lâm Dục nói: “Ta vẫn chưa nhìn thấu. Đại ca ta cũng vậy.”

“Ngài biết vì sao không?” Lục Niệm nhấp một ngụm trà, ánh mắt sáng rực, “Bởi vì các ngài không phải kẻ điên. Mấy hôm nay ta ngẫm ra một đạo lý — suy nghĩ của kẻ điên, chỉ có kẻ điên mới hiểu.”
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 206: Phụ thân ấy vốn dĩ chưa từng giống một phụ thân


Tiểu Nan đã an giấc.

A Vi liền mời Lục Niệm đến, cùng nghe một chút.

Thêm một người, thêm một hướng suy nghĩ.

Huống hồ, Lục Niệm xưa nay “đi đường lạ”, nàng dựa vào trực giác mà nhìn người, thường hay đoán trúng trong lúc vô tình.

Giờ phút này, vừa nghe Lục Niệm mở lời, A Vi và Thẩm Lâm Dục đồng loạt nhìn sang.

“Điên ư?” A Vi cân nhắc rồi hỏi, “Trong mắt người, Thánh thượng hành sự thật sự giống người điên?”

Lục Niệm không đáp thẳng câu hỏi của A Vi, ngược lại lại hỏi Thẩm Lâm Dục: “Quận vương gia, năm đó Thánh thượng vì sao nhất quyết nhận định Thái tử liên quan đến án vu cổ?”

Thẩm Lâm Dục trầm mặc hồi lâu.

Ở Thiên Bộ Lang, chuyện vu cổ vốn đã là điều tối kỵ, nói sai một lời, có thể rước lấy tai họa.

Dù hôm nay Thẩm Lâm Dục cùng Định Tây hầu bàn luận chuyện này, cả hai đều đã thừa nhận án vu cổ là một vụ án oan, nhưng những lời nói ra vẫn chỉ là kiểu “đối phương chuẩn bị chứng cứ, lời khai rất đầy đủ”, “Kim Thái sư bị vu oan khiến cục diện thay đổi đột ngột”, “người sau lưng lợi dụng cơn giận của Thánh thượng” vv…

Song tất cả đó, chỉ là lời tô vẽ che đậy của những kẻ làm quan trong triều mà thôi.

Hiện giờ, là lúc cần cùng nhau tìm cách, bất kỳ lời tô điểm nào cũng chẳng khác gì ném đá dưới chân mình, đi một bước là trẹo, là lật.

Thẩm Lâm Dục ngồi thẳng lưng, nghiêm nghị nói:

“Thu quyền. Người không thể chấp nhận huynh trưởng phân quyền, cho dù huynh ấy đã cố sức thu liễm.”

“Huynh ấy là đích trưởng tử, lại có danh tiếng hiền đức, từ sớm đã được lập làm Thái tử. Không chỉ cận thần Đông Cung, mà các đại thần trong triều cũng đều vô cùng kính trọng, hài lòng với vị Hoàng thái tử này.”

“Giờ đây nhìn lại mới thấy đúng là có không ít người mang dã tâm, nhưng vào thời điểm đó, không ai cho rằng nhân phẩm và năng lực của huynh ấy không gánh vác nổi trọng trách Trữ quân. An Quốc công ra tay khi huynh ấy lâm nạn, xét đến cùng cũng không phải vì năng lực huynh ấy quá mạnh.”

“Một Trữ quân xuất sắc như vậy, lại được lòng người, với một Thánh thượng đang độ tráng niên khi ấy, đã trở thành mối đe dọa.”

“Làm con dù có tốt đến đâu, hiếu thuận đến đâu, trong mắt Thánh thượng vẫn là ‘chưa đủ’.”

Nói đến đây, Thẩm Lâm Dục nghiêng đầu liếc nhìn A Vi một cái, mới tiếp tục: “Vu cổ khởi lên, càng là Tam điện hạ bọn họ bảo vệ huynh ấy càng vững chắc, Thái sư bọn họ điều tra càng ráo riết, thì từng bước, từng bước, lại càng giống những đạo bùa đòi mạng.”

“Bất kể vu cổ là thật hay giả, nhưng tất cả những kẻ giữa quân vương và Trữ quân mà chọn đứng về phía Trữ quân… đều đáng chết.”

A Vi nín thở.

Bất ngờ sao?

Thật ra, không bất ngờ.

Chỉ là… càng thêm đau lòng.

Tổ phụ hành tẩu triều chính mấy chục năm, chẳng lẽ không nhìn thấu lòng dạ đã lệch lạc của Vĩnh Khánh Đế sao?

Ông nhìn rõ. Nhưng ông vẫn lựa chọn con đường vì Thái tử mà dốc sức.

Một là vì đạo nghĩa và trách nhiệm trong lòng, hai là… ông sớm đã biết nhà họ Kim đã đi đến đoạn cuối.

Quyền cao, chức trọng, danh vọng đầy mình.

Trong tình thế ấy, muốn lui về ẩn dật theo dòng nước… cũng chỉ là người thuận nước trôi.

Chọn con rể, chọn kẻ xuất thân địa phương, mới bước vào quan trường như Phùng Chính Bân; chọn con dâu, chọn nhà mẹ đẻ trọng văn thư mà nhẹ quan lộ như Phạm Du, không môn đăng hộ đối, chỉ có gả thấp, cưới thấp.

Giống như Thái tử bị phế kia, đã cố gắng hết mức để tránh sai lầm, nhưng cái hố trước mặt quá sâu, sâu đến mức không còn đường mà bước tiếp.

Dù cho tổ phụ khi ấy chọn cách đóng cửa giữ mình trong vụ án vu cổ, cũng sẽ vẫn có người chờ đợi lần tiêu diệt tiếp theo đối với nhà họ Kim.

Đang mải suy nghĩ, một bàn tay nhẹ đặt lên vai nàng.

Là Lục Niệm.

Lục Niệm hướng nàng nhướng cằm, ra hiệu muốn uống trà.

A Vi hồi thần, liền cầm ấm rót thêm cho nàng một chén.

Thấy A Vi không còn đắm chìm trong dòng suy nghĩ, Lục Niệm mới tiếp tục hỏi Thẩm Lâm Dục: “Vậy hiện nay thì sao? Hiện tại Thánh thượng có thể chấp nhận việc phân quyền không?”

Thẩm Lâm Dục vẫn đáp rất chậm rãi.

Hắn hồi tưởng lại những năm gần đây cùng Vĩnh Khánh Đế tiếp xúc, thái độ và phản ứng của Thánh thượng trong các việc lớn nhỏ triều chính.

Cuối cùng, hắn mới thận trọng đưa ra kết luận: “Ta cho rằng, Thánh thượng vẫn không thể chấp nhận.”

Lục Niệm buông hai tay, thở dài: “Đó, đáp án rõ ràng rồi đấy thôi.”

Thẩm Lâm Dục khựng lại, theo phản xạ liền nhìn sang A Vi.

Trên gương mặt A Vi cũng hiện lên một tia nghi hoặc, hai người trao đổi ánh mắt, chờ Lục Niệm giải thích.

Lục Niệm mỉm cười: “Thánh thượng năm đó mượn vụ án vu cổ, đè ép một Thái tử đang dần tỏa sáng.”

“Sau vụ án ấy, bao nhiêu công hầu, trọng thần trong kinh thành hoặc là chết, hoặc là tàn, kẻ còn sống thì kẻ thật lòng quy thuận, kẻ thì co đầu rút cổ làm rùa rụt cổ.”

“Người khác thì không nói, riêng cha ta, chính là một con rùa như thế.”

“Mười năm rồi, mạnh yếu phân rõ. Những hoàng tử ngày trước núp sau lưng người khác bày mưu tính kế, giờ đã không cam lòng làm kẻ ẩn mình nữa.”

“Trong mắt Thánh thượng, ngũ hoàng tử có lẽ chính là một Lý Nhung thứ hai, ngoài Thái tử bị phế ra, hắn là người đứng đầu các hoàng tử.”

“Dạo gần đây còn che che giấu giấu, chứ vài năm nữa là lộ nanh vuốt thôi.”

“Ngay lúc này, Vương gia đứng ra chỉ đích danh ngũ hoàng tử, Thánh thượng giữ lại làm gì?”

“Dùng ngài để đè ngũ hoàng tử xuống. Thái tử bị phế còn đang ở Thư Hoa cung, Vương gia lo trước lo sau, không dám bước quá xa, vậy Thánh thượng có thể kê gối cao ngủ thêm vài năm.”

“Dù ngài thực sự bước xa, muốn cách chức ngài cũng chẳng phải chuyện gì khó.”

Điểm này, Thẩm Lâm Dục không thể phản bác.

Cách làm của hắn luôn thiên lệch, mũi dao sắc bén, chỉ tùy thuộc vào việc Vĩnh Khánh Đế có muốn thu lại thanh đao này hay không.

Chỉ là…

Thẩm Lâm Dục trầm ngâm nói: “Hoàng quyền sớm muộn cũng sẽ thay thế. Tuy Thánh thượng hiện vẫn còn khỏe mạnh, nhưng tuổi tác đã chẳng còn như mười năm trước.”

“Thì sao chứ?” Lục Niệm hỏi ngược lại, “Ngài nói người không sinh thêm con được nữa, hay là không thể lên triều sớm được nữa?”

“Ngài nói ông ta hiện còn biết tô vẽ cái vẻ ‘không thiết quyền lực’, vậy chờ đến lúc bảy mươi, tám mươi thì sao?”

Lục Niệm nói đoạn, bỗng bật cười khẽ.

Nàng đã thấy quá nhiều những kẻ “già mà chẳng kính”, những “lão bất tử”.

Có người tuổi già, lòng cũng rộng mở, đến cuối đời thì buông bỏ, cái gì cũng coi nhẹ.

Nhưng cũng có những kẻ, tính toán từng li từng tí suốt mấy chục năm trời.

Thà để đồ trong tay mục nát trong kho, cũng không chịu “bố thí” cho lớp con cháu.

Họ từng khổ, từng chịu thiệt. Giờ mà không bắt con cháu nếm chịu gấp bội, thì trong lòng họ sẽ chẳng thấy thỏa mãn.

“Ngài nói Đông, ông ta liền nghĩ Tây.”

“Ngài nói Thánh thượng già rồi, nên để Thái tử giám quốc, ông ta liền gọi Thái tử đến, mắng cho từ đầu đến chân.”

“Vương gia nghe thấy có thấy không thể tưởng tượng không? Cảm thấy cho dù già rồi, ông ta cũng chẳng thể hồ đồ tới vậy?”

“Nhưng một kẻ xem quyền lực như mạng sống, thì không gì là không thể.”

“Chưa tới lúc chết, ông ta sẽ không buông quyền.”

Thẩm Lâm Dục nghe vậy, lòng dậy lên muôn phần phức tạp.

Không phải hắn không tin lời Lục phu nhân, mà là… thiên hạ, hoàng quyền, không giống như việc trong một nhà, một phòng…

“Ý phu nhân là,” Thẩm Lâm Dục hỏi, “năm xưa mượn vu cổ làm dao, nay mượn ta làm dao, sau này còn có những con dao khác… dùng xong một cái thì vứt, cho đến khi Thánh thượng không còn sức cầm dao nữa?”

“Đúng vậy. Dù sao thì sao nữa, ông ta vẫn còn ‘con nối già’ cơ mà.” Lục Niệm nhún vai, “Không sinh thêm được nữa, chẳng phải vẫn còn Thái tử bị phế và con của Thái tử đó sao?”

Ngay giây khắc đó, một ý niệm lướt qua đầu Thẩm Lâm Dục, khiến hắn thót tim đến nghẹn thở.

Hắn không muốn tin vào suy đoán kia của mình, nên lập tức nói nhanh, như muốn dập tắt cái suy nghĩ “loạn bậy” ấy:

“Không nói đến Khắc nhi chưa từng tiếp xúc triều chính, tới lúc đó, đại ca cũng đã rời xa triều đình nhiều năm, làm sao có thể đứng vững trong cuộc thay ngôi? Làm sao khiến thiên hạ ổn định? Giang sơn này…”

“Liên quan gì đến ông ta?” Lục Niệm cắt lời Thẩm Lâm Dục, sắc mặt bình thản, nhưng lời nói lại lạnh lùng vô cùng. Nàng chính là con dao ấy, xé toạc lớp ngọc ngà bên ngoài, để lộ lớp mục nát bên trong.

“Ông ta yêu là quyền lực, không phải thiên hạ. Ông ta yêu bản thân, không phải con cái, càng không phải bách tính.

Vương gia, ngài còn nhìn ra được An Quốc công là loại người ‘phủ mất rồi thì chẳng thèm quan tâm sống chết của con cháu’, sao lại không thể nghĩ Thánh thượng cũng là một kẻ điên như thế?

An Quốc công nhìn thấu, bởi vì ông ta và Thánh thượng là cùng một loại người, suy nghĩ giống hệt nhau.”

“Còn ta nhìn ra được… là vì ta điên. Ta quá hiểu trong đầu những kẻ điên chứa toàn những thứ kỳ quặc gì.”

Kẻ điên chỉ theo đuổi điều mình muốn, bất kể cái giá phải trả.

Hậu quả ra sao?

Ai quan tâm?

Giống như Lục Niệm, nàng muốn báo thù cho con gái, nên chưa bao giờ để tâm tới chuyện sống chết của mình.

Nàng trở về để báo thù cho mẫu thân, cũng chẳng bận lòng người đời sẽ nhìn nàng ra sao, nhìn người cha đã già còn đón “ngoại thất” và “con riêng” vào phủ ra sao, lại càng không bận tâm nếu chuyện xảy ra không ổn, thì chẳng những Tằng thị xong đời, mà ngay cả phủ Định Tây hầu cũng sẽ lụi bại.

Kẻ điên có nguyên tắc riêng của mình, chỉ nhìn hiện tại, không nhìn hậu quả.

Biết tính toán được – mất, cân nhắc lợi hại, thì chưa đủ điên.

Cổ họng Thẩm Lâm Dục khẽ động.

Trong lòng có một giọng nói đang không ngừng nhắc nhở: Lục phu nhân nói đúng.

Chỉ như vậy mới có thể lý giải vì sao hắn nhằm thẳng vào Ngũ hoàng tử mà Vĩnh Khánh Đế chỉ mắng vài câu rồi thôi, hoàn toàn không ngăn cản.

Rõ ràng là vụ vu cổ—thứ đại kỵ nhất—mà hắn dám đụng vào, cũng chẳng bị gì.

“Ta sẽ suy nghĩ kỹ về những lời phu nhân nói.” Hồi lâu sau, Thẩm Lâm Dục mới lên tiếng.

Lục Niệm cong môi cười, nụ cười lười nhác mà tùy ý.

A Vi tiễn Thẩm Lâm Dục ra ngoài.

Trời bên ngoài đã tối mịt, đứng ở sân có thể nghe thấy âm thanh trong tiền đường đang dọn dẹp đóng cửa.

A Vi mở cánh cửa sau, ánh sáng mờ vàng của lồng đèn treo trên cửa hắt lên mặt Thẩm Lâm Dục, trong sự đan xen của sáng và tối, ngũ quan tuấn tú của hắn càng thêm rõ nét, lại thoáng lộ ra chút u uất.

“Vương gia,” A Vi khẽ hỏi, “ngài sẽ không thực sự cho rằng Thánh thượng vô cùng yêu thương ngài đấy chứ?”

“Sao có thể?” Thẩm Lâm Dục nhướn mày, rồi bỗng nhiên bật cười, “A Vi cô nương, ta đã qua cái tuổi vì phụ mẫu không yêu mình mà đau lòng rồi. Huống hồ, ta cũng không ngu ngốc đến mức coi ông ta là phụ thân.”

Việc xuất tự đã giải quyết khốn cảnh của hắn, nhưng bản thân chuyện đó, vốn dĩ chẳng phải vì “thương yêu”.

Phụ mẫu trong lòng Thẩm Lâm Dục, chỉ có Trưởng công chúa và phò mã.

Trong mắt Vĩnh Khánh Đế, Thẩm Lâm Dục chẳng qua là một công cụ để an trí phần “phụ ái” thừa mứa, là sự tự thỏa mãn của bản thân.

Từ khi còn nhỏ, Thẩm Lâm Dục đã nhìn thấu, nghĩ thông suốt rồi, nên giờ nghe Lục Niệm một đao xé toạc lớp vỏ ngoài đầy hoa lệ kia, cũng không khiến tâm trạng hắn dao động gì.

“Ta chỉ là…” Thẩm Lâm Dục lựa lời, “trước nay ta vẫn cho rằng, với kẻ yêu quyền lực như ông ta, đối với giang sơn xã tắc chí ít cũng phải có đôi chút truy cầu.

Điều này, e là ta đã nhìn sai ông ta rồi.

Ông ta quả thật ‘ái dân như tử’, đối xử với con trai thế nào, thì đối với bách tính và giang sơn cũng y như vậy.”

Lời vừa dứt, gió đêm lạnh lẽo ùa tới.

Gió lùa qua hành lang thổi phần phật, tóc mai trước trán A Vi cũng bị thổi tung, bay loạn thành từng sợi.

Thẩm Lâm Dục thu vào đáy mắt cảnh ấy, nói: “Gió lớn, A Vi cô nương đừng tiễn nữa, đừng để nhiễm lạnh giống Tiểu Nan.”

A Vi khẽ gật đầu.

Cánh cửa sau khép lại, A Vi khẽ thở dài, rồi xoay người đi tìm Lục Niệm.

Lục Niệm đang ngáp, thân thể mỏi mệt nhưng đầu óc lại vô cùng tỉnh táo: “Vương gia nói gì thế?”

A Vi kể lại.

Lục Niệm gật đầu tỏ vẻ đã hiểu: “Một bên là đại ca mà ngài ấy quý trọng, một bên là phụ thân thân sinh.”

“Nhưng ta nhìn ngài ấy, không giống cái tên A Tuấn ngu ngốc, không phân biệt được nặng nhẹ đâu.”

“Dù sao thì cái ‘phụ thân’ kia, xưa nay cũng chưa từng giống một phụ thân.”

Dành cho Thẩm Lâm Dục là vậy, mà đối với các hoàng tử khác cũng chẳng khác gì.

A Vi nghe thế, cười cũng không được, không cười cũng không xong.

Lục Niệm lại nói: “Ta nói vậy là muốn tốt cho ngài ấy thôi. Chẳng lẽ lật lại án vu cổ, rồi còn trông mong Thánh thượng với Thái tử bị phế cha con ôm nhau khóc, nguyền rủa đám tiểu nhân hãm hại họ sao?”

Nghe vậy, A Vi nhớ lại thái độ và ngữ khí của Vương gia lúc trước khi nhắc tới Vĩnh Khánh Đế và Thái tử bị phế, khẽ đáp: “Vương gia không ngây thơ đến thế.”

Nhưng trong kinh thành này, luôn có người vừa ngây thơ lại vừa ôm hy vọng may mắn.

Phu nhân Văn Thọ Bá chính là một trong số đó.

Bà ta lúc đầu, cũng hơi lo lắng chuyện Khai quan nghiệm thi ở phủ Kính Văn Bá, thấy bộ khoái và pháp y không đưa ra kết luận gì ngay tại chỗ, liền thả lỏng.

Cho đến hôm nay, đột nhiên nghe nói phủ Kính Văn Bá “không cam lòng” đang rầm rộ tìm người nhà của vị hôn thê thứ hai, chuẩn bị khai quan lần nữa, tìm thêm chứng cứ phụ.

Một cục nghẹn chặn trong ngực phu nhân Văn Thọ Bá, không nhịn được nữa, lại chạy tới phủ Ngũ hoàng tử.

“Người rốt cuộc sợ cái gì?” Ứng Linh hỏi bà ta, “Cho dù chứng minh được cái chết kia có điểm bất thường, chẳng lẽ có thể đổ lên đầu phủ Văn Thọ Bá sao?”

Phu nhân Văn Thọ Bá nóng nảy: “Không thì họ nghi ai chứ?”

“Chỉ nghi ngờ thôi mà có hiệu lực, thì chẳng phải Thuận Thiên phủ muốn bắt ai là bắt à?” Ứng Linh phản bác, “Ta thấy là người đang tự loạn trận tuyến.”

Phu nhân Văn Thọ Bá ôm ngực: “Thuận Thiên phủ thì không dám, nhưng Trấn Phủ Ty thì dám! Tìm một cái cớ vớ vẩn, nói muốn tịch thu gia sản là làm liền!”

“Vậy ta khuyên người, thay vì lo lắng về mấy chuyện năm xưa, chi bằng xem phủ Văn Thọ Bá bây giờ rốt cuộc có bao nhiêu cái cớ vớ vẩn ấy.” Ứng Linh giọng lạnh tanh.

“Ngươi con nhóc này sao mà không biết mềm mỏng nhún nhường gì hết vậy!” Phu nhân Văn Thọ Bá xoay vòng mấy câu, phát hiện nữ nhi nói chuyện chẳng cùng ngôn ngữ với mình, vội sốt ruột tuôn ra một tràng: “Chúng ta dù sao cũng là nhạc phụ của Ngũ điện hạ! Trấn Phủ Ty mà động tới chúng ta, chẳng khác nào xé mặt với Ngũ điện hạ!

Chưa nói tới việc Thái tử bị phế trong Thư Hoa cung có nhân cơ hội trở lại hay không, nhưng bên ngoài có nhiều hoàng tử như vậy, vốn dĩ Ngũ hoàng tử chiếm ưu thế là con trưởng, giờ lại để mất đi sự hậu thuẫn của chúng ta!

Mấy vị công hầu còn đang do dự chưa rõ lập trường, nhìn thấy Ngũ điện hạ bị Quận vương ép đến không ngóc đầu lên được, thì ai còn dám đặt cược vào chỗ này?

Cứ thế tiếp tục, đối với Ngũ điện hạ chẳng có chút lợi nào!

Ngươi khuyên Ngũ điện hạ một câu, có lúc cần cứng rắn thì phải cứng rắn lên! Sao lại để thằng đệ đã xuất tự kia kêu gào lấn lướt như vậy được chứ?”

Ứng Linh đảo mắt trắng dã: “Điện hạ vốn muốn lôi kéo quan hệ…”

Phu nhân Văn Thọ Bá liền cao giọng cắt ngang: “Điện hạ thì có lòng, Quận vương kia lại chẳng thèm nể tình!”

“Vậy phải làm sao?” Lửa giận trong lòng Ứng Linh bốc lên ngùn ngụt, “Nên Điện hạ nhà chúng ta liền chủ động xé rách mặt? Đánh chó cũng phải ngó chủ, giờ người đang chống lưng cho Quận vương là Thánh thượng đấy!

Bây giờ được sủng, được chiều, muốn trấn ai thì trấn, muốn tịch ai thì tịch. Mấy năm nữa… mấy năm nữa ta còn không dám tưởng tượng!”
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 207: Ngươi so với ta tưởng còn hư nhược sợ hãi hơn


Phu nhân Văn Thọ Bá nghe đến mức da đầu cũng tê dại.

Bà lẩm bẩm hỏi:

“Cái gì gọi là vài năm sau cũng không dám nghĩ kỹ? Rốt cuộc ngươi nghĩ đến đâu rồi? Ngươi đừng quên, Vương gia họ Thẩm, không phải họ Lý!”

“Chính vì hắn mang họ Thẩm nên mới chiếm được lợi thế đó!” Ứng Linh giận dữ nói, “Người ở trong Thư Hoa cung kia, từ lúc sinh ra đến giờ, Thánh Thượng chưa từng liếc mắt một cái.

Các hoàng tử tuy có hoàng tôn, nhưng Thánh Thượng cũng chẳng đặc biệt yêu thích đứa nào, từng đứa ở phủ thì như tiểu bá vương, đến trước mặt hoàng gia gia thì đều như chim cút rụt cổ.

Người cứ chờ xem!

Ngày nào Quận vương thành thân, bất kể là Dư Như Vi hiện giờ trông có vẻ đắc thế nhất, hay cô nương nào khác bất ngờ xuất hiện, chỉ cần sinh được con, chắc chắn sẽ trở thành ‘bánh bao nóng’ trong mắt Thánh Thượng.

Đến lúc đó, đứa cháu họ Thẩm này muốn cái gì, chắc chắn là có cái đó!”

Phu nhân Văn Thọ Bá mím môi, đôi mắt liên tục đảo qua đảo lại.

Lòng người vốn thiên lệch.

Chính bà sinh tám đứa, một bát nước không thể san bằng, tám bát nước đổ vung vãi cả.

Nhưng đó là lỗi của bà sao? Bà cũng là người, đâu phải bàn tính, tất nhiên sẽ có thiên vị!

Thánh Thượng cũng như vậy.

Còn công chúa thì không nói làm gì, các hoàng tử có hơn chục người, nhưng trong mắt phu nhân Văn Thọ Bá, người Thánh Thượng hiện giờ thiên vị nhất chính là Thành Chiêu Quận vương.

Cho nên, lời con gái nói cũng không phải là hoàn toàn vô lý.

“Nhưng thì sao?” Phu nhân Văn Thọ Bá hít sâu một hơi, an ủi Ứng Linh, “Con trai xuất tự thì không thể nhận lại tổ, cháu lại càng không thể xoay chuyển đại cục.

Phụ thân con dạo gần đây còn nói với ta, dù Thánh Thượng có sủng ái Quận vương đến đâu, thì Quận vương cũng không vào được cuộc.

Điều chúng ta cần đề phòng bây giờ, là Quận vương khuấy nước đục, làm hại đến Ngũ điện hạ.”

Nghe đến đây, Ứng Linh bỗng cười phá lên.

Nụ cười lạnh lẽo, đầy mỉa mai.

“Làm hại đến Ngũ điện hạ?” Ứng Linh vừa nói vừa giơ tay chỉ vào chính mình, rồi lại chỉ vào phu nhân Văn Thọ Bá:

“Người có thể hại Ngũ điện hạ nhất, chẳng phải là ta và phủ Văn Thọ Bá chúng ta sao? Nếu không có ta là hoàng tử phi, Vương gia muốn tìm phiền toái với điện hạ, chỉ sợ còn phải tốn thêm bao nhiêu công sức. Làm gì giống bây giờ, mới khai quật một cỗ quan tài đã dọa người sợ đến mức đến đây lải nhải không ngớt!”

Sắc mặt phu nhân Văn Thọ Bá lập tức đỏ bừng.

Không phải vì xấu hổ, mà là tức giận. Tức đến mức vung tay đánh phắt tay Ứng Linh đang chỉ vào bà.

“Ngươi đang quay sang trách ta sao?” Phu nhân Văn Thọ Bá nghiến răng, “Để ngươi làm chính phi của hoàng tử, là lỗi của chúng ta sao? Ngươi đừng vì mấy năm ăn no mặc ấm rồi mà quên mất cảnh đói khổ, lại còn kén chọn chua cay mặn nhạt.

Nói đi cũng phải nói lại, lúc đó tình cảnh của ngươi như vậy, chúng ta đã hao tâm tổn trí mới tìm được cách giải cục diện.

Ta biết, chúng ta làm không được quang minh chính đại, mặt mũi thể diện gì cũng chẳng đẹp đẽ gì, nhưng đều đã dốc hết sức.

Nói cho cùng, lúc đó chỉ muốn tìm cho ngươi một cái danh tốt, một mối hôn sự tốt, thật ra cũng chẳng nghĩ đến cuối cùng lại có thể gả vào hoàng thất, chuyện hôn nhân này là do Lương tần nương nương chủ động đề xuất…”

Ánh mắt Ứng Linh tối sầm lại, nhìn bà đầy u ám.

Lại là những lời biện hộ đó.

Danh tiếng không tốt, chẳng phải chỉ là lỗi của nàng, rõ ràng là từ nhỏ đã bị huynh tỷ trong nhà hãm hại.

Vì chuyện đó, nàng đã cãi nhau với mẫu thân không biết bao nhiêu lần, nhưng vô dụng, lần sau mẫu thân lại nhắc tới, vẫn là “danh tiếng ngươi không tốt”.

Vì muốn có hôn sự tốt, thực chất là vì “hôn sự tốt” trong mắt người nhà họ Ứng.

Nếu để nàng tự chọn, thì Tam công tử của phủ Kính Văn Bá, Chu Nguyên, là một đối tượng hôn nhân rất tốt.

Môn đăng hộ đối, tính tình Chu Nguyên không tệ, bá mẫu có tiếng hiền hậu, hai nàng dâu phía trước đều là những người có năng lực, đức hạnh, danh tiếng không thể chê vào đâu được. Gả vào làm con dâu út trong nhà như vậy, không cần tâm kế, cũng chẳng phải lo toan việc nhà, chỉ cần ăn uống thong dong, miệng thì luôn nói “mẫu thân nói phải”, “tẩu tẩu vất vả rồi” là đủ, sống một kiếp như phế vật.

Mà đó lại chính là điều thích hợp nhất với Ứng Linh.

Nàng quá hiểu bản thân mình—nàng chỉ muốn làm một “phế vật”.

Thế nhưng, ban đầu đã ngầm đồng ý để nàng gả vào phủ Kính Văn Bá sống đời nhàn nhã, cuối cùng lại vì cha và huynh tỷ khuyên bảo mà mẫu thân thay đổi chủ ý.

Không chỉ từ hôn, mà còn dùng cách rất khó coi để từ hôn.

Phủ Kính Văn Bá bị mất thể diện, nhưng nàng thì sao? Mất mặt càng thê thảm hơn!

Khiến cho danh tiếng vốn đã chẳng tốt của nàng lại càng không thể nói đến chuyện hôn nhân.

Có một thời gian, mỗi đêm nàng đều gặp ác mộng, trong mơ toàn là cảnh bị gả đi xa khỏi kinh thành như Lục Niệm của phủ Định Tây Hầu, kẻ có tiếng xấu vang dội kia.

Nàng không muốn bị gả đi xa, không muốn đến nơi đất khách quê người.

Cho nên, nàng đã ngầm đồng ý với kế hoạch sau đó của người nhà.

Dùng hai cái mạng người, đổi lấy “mệnh phú quý” cho Ứng Linh.

Ứng Linh không rõ người nhà rốt cuộc đã làm thế nào, nàng chỉ cần kết quả, còn quá trình chẳng liên quan đến nàng, nàng không hỏi, mà cũng chẳng ai túm tai nàng kể ra.

Khi mẫu thân nhắc đến thì chỉ nói mấy câu như: “rất vất vả”, “liều mạng rồi”, “đều là vì con”, “con không thể để chúng ta uổng công.”

Theo như Ứng Linh thấy, rõ ràng là người trong nhà mấy năm qua mắc nợ nàng!

Đã là bồi thường thì bỏ sức ra vì nàng chẳng phải chuyện đương nhiên sao?

Cuối cùng được Lương tần nương nương chọn trúng, quả thật là một cái “hỉ” ngoài ý muốn.

Nhưng sau cái “hỉ” ấy, là sự gian nan của thân phận con dâu hoàng gia, là sự soi xét và nghiêm khắc của Lương tần, là sự lạnh nhạt khách sáo của Ngũ điện hạ, và là sự đòi hỏi không dứt từ nhà mẹ đẻ.

Chỉ cần nghĩ đến đó, lửa giận trong bụng Ứng Linh liền bốc thẳng lên đầu.

Nhưng nàng quá hiểu tính cách “nước đổ đầu vịt” của mẫu thân, tranh cãi chẳng khác nào tự tìm mệt, hoàn toàn vô ích.

Vì vậy, danh tiếng nàng không nhắc nữa, cực nhọc cũng không nói đến nữa, lời đáp của nàng chỉ còn một câu:

“Những lời này, hay là người đi nói với Lương tần nương nương đi? Nói với bà ấy, tất cả đều do bà ấy khi xưa chọn con…”

“Ngươi cố ý chọc tức ta đúng không?!” Phu nhân Văn Thọ Bá gắt lên, cắt ngang lời Ứng Linh, “Việc đã đến nước này, có biết cái gì gọi là ‘việc đã đến nước này’ không!

Không nghĩ cách giải quyết vấn đề, chỉ biết đuổi theo cái sai ban đầu để mà kêu than!

Bây giờ là lúc để truy cứu sao?

Không phân biệt nổi nặng nhẹ gấp rút, ngươi thật sự làm ta tức chết mà!”

Ứng Linh cười lạnh.

Lời này nghe thì có lý, nhưng từ miệng mẫu thân nàng nói ra, thì chẳng phải là “lý” gì hết.

Vì mẫu thân chưa bao giờ thực sự phản tỉnh.

Chưa từng có.

“Vậy con phải giải quyết vấn đề gì cho người?” Ứng Linh chống cằm hỏi, “Ý người là muốn con trực tiếp nói với điện hạ rằng hai nữ tử kia là bị hại, nên mười phần có đến tám, chín phần không giấu được pháp y.

Một khi chuyện Văn Thọ Bá phủ sát hại nữ tử quan gia bị phơi bày, sẽ ảnh hưởng đến con, ảnh hưởng đến điện hạ.

Cho nên điện hạ tốt nhất nên ra tay trước, hoặc là dùng tiền bịt miệng pháp y, hoặc là kéo Thành Chiêu Quận vương đang bày cục phía sau xuống.

Có phải thế không?”

Phu nhân Văn Thọ Bá theo phản xạ mà gật đầu.

Thấy vậy, Ứng Linh bật cười khinh miệt:

“Pháp y chẳng thèm để mắt đến tiền của điện hạ đâu, dù sao điện hạ cho được bao nhiêu, Quận vương cũng cho được bấy nhiêu. Pháp y người ta càng tiếc thanh danh mấy chục năm của mình.

Còn chuyện kéo Quận vương xuống? Con vẫn câu đó—đánh chó phải nhìn chủ. Thánh Thượng che chở Quận vương, điện hạ có thể làm gì?

Bắt chước người nhà mình, mưu hại Vương gia sao?

Vương gia mà xảy ra chuyện, thì điện hạ cũng xong đời.

Dù sao, Thánh Thượng còn bao nhiêu hoàng tử, những người đó còn ước gì có trò hay để xem.

Mà Văn Thọ Bá phủ, chỉ có duy nhất một vị hoàng tử phò mã này.”

Nói đến đây, Ứng Linh nhún vai: “Nói sai rồi, nếu việc này bị vạch trần, thì phò mã này cũng không giữ được đâu.”

Phu nhân Văn Thọ Bá ôm ngực thở d.ốc:

“Ngươi… ngươi… ngươi nói ra những lời lạnh lùng như dao cắt để dìm ta xuống nước làm gì? Chúng ta chung một thuyền mà, dù không nghĩ cho chúng ta, thì cũng phải nghĩ cho chính mình chứ, chẳng lẽ ngươi cứ thế mà khoanh tay đứng nhìn?”

“Lời lạnh lùng?” Ứng Linh ra hiệu cho ma ma tiễn khách, rồi nói với mẫu thân mình câu cuối cùng:

“Nói đến lời lạnh nhạt thì, đến lúc này rồi, người về nhà đi khuyên nhủ nhị tỷ một câu, đừng tiếp tục lén lút toan tính chuyện thăng quan cho nhị tỷ phu nữa.

Là bùn dính tường không dính nổi, đến lúc này rồi còn không mau tránh xa, thì chỉ đợi tường sụp đè chết đi thôi!

Còn khiến con bị Lương tần nương nương mắng thêm một lần, thì đừng nói thăng quan, nhị tỷ phu còn chẳng giữ nổi chức quan ấy đâu!”

Nói xong, Ứng Linh liền quay người trở về nội thất.

Phu nhân Văn Thọ Bá tức đến mức mồm miệng run rẩy, nhưng lại chẳng thể làm gì, lòng lo như lửa đốt mà quay về.

Trong phòng trở lại yên tĩnh.

Chỉ là, bất kể đối mặt với mẫu thân đã nói bao nhiêu lời mạnh miệng, thì bản thân Ứng Linh cũng đang thấy chột dạ.

Nàng thật sự không thể khoanh tay đứng nhìn sự việc tiếp tục diễn biến.

Nhưng muốn chen tay vào, thì nàng lại không nghĩ ra được biện pháp nào thực tế khả thi.

Tựa như ngoài việc đợi Thành Chiêu Quận vương ra chiêu, rồi Ngũ điện hạ ứng đối, thì nàng – một quân cờ trên bàn cờ này – chỉ có thể đứng yên tại chỗ, chờ đợi phán quyết cuối cùng.



Bên này Hoàng tử phi còn đang do dự tiến thoái, bên kia Lục Niệm và A Vi thì nhanh như chớp, lại một lần nữa đưa thiếp mời đến.

Ứng Linh cầm lấy bái thiếp, do dự thật lâu, cuối cùng vẫn cho người mở cửa đón tiếp.

Lục Niệm đường hoàng bước vào phủ, nhưng tinh thần lại có phần kém hơn lần gặp trước.

Ứng Linh chăm chú nhìn, liền nhận ra dưới mắt Lục Niệm được dặm một lớp phấn dày.

Điều này khiến tâm tình nàng lập tức dễ chịu hơn chút.

“Trước kia tỷ còn khuyên ta phải thoáng ra, đừng tự giằng co với chính mình, sao mà…” Ứng Linh chỉ chỉ lớp trang điểm của nàng ta, “sao hôm nay nhìn da dẻ lại kém thế này.”

“Lý là như vậy, nhưng gặp chuyện rồi, muội cũng biết đấy, ta là người nóng tính, nếu có thể mùng Một giải quyết thì tuyệt đối không đợi đến mười lăm, nên đã mấy đêm rồi thức trắng dưới đèn.” Lục Niệm chẳng hề ngại ngùng gì, nói ra một cách thản nhiên.

Ứng Linh không khỏi hỏi: “Lục gia tỷ tỷ sốt ruột chuyện gì?”

“Chuyện khai quan chứ còn gì.” Lục Niệm đáp.

Tiếng vừa dứt, sắc mặt Ứng Linh liền tái nhợt.

Lục Niệm thu hết phản ứng của Ứng Linh vào mắt, nhưng lại giả vờ như không thấy, vẫn tiếp tục nói:

“Pháp y nói khả năng là trúng độc mà chết, nhưng rốt cuộc là loại độc gì,người ta chưa thể kết luận.”

“Ta đoán, một là vì thời gian quá lâu, hai là e rằng thứ độc ấy không phải loại thường thấy ở kinh thành.”

“Ngươi cũng biết ta từng ở đất Thục hơn mười năm, nơi đó dân tộc thiểu số đông, cách dùng thuốc, dùng độc cũng khác với kinh thành. Mà độc thì… phải nói là có không ít thứ kỳ quái, chưa từng nghe, chưa từng thấy—nào là cây này cỏ nọ, cả côn trùng nữa, ôi!”

“Nhà họ Dư ta cắm rễ ở đất Thục đã nhiều năm, dưới trướng có y quán, hiệu thuốc. Còn ta, vì A Vi từ nhỏ thể nhược, con gái bệnh lâu, làm mẹ cũng thành thầy thuốc, ta theo đại phu học không ít, y thư đọc cũng nhiều.”

“Nếu là độc dược của đất Thục, chưa chắc pháp y đã biết nhiều hơn ta.”

“Cho nên mấy ngày nay, ta đem hết thảy phương thuốc, triệu chứng mà ta nhớ được ghi ra, chuyển cho pháp y.”

“Tất nhiên, A Huyên cô nương kia chưa chắc là trúng độc từ đất Thục, nhưng dù có là, ta cũng chỉ nhận biết được độc vật và biểu hiện, chứ không biết cốt hài sau nhiều năm sẽ phản ứng ra sao.”

“Nhưng đó là chuyên môn của pháp y, người ta có thể dựa vào kinh nghiệm của mình mà loại trừ dần, lần theo manh mối.”

“Thiên hạ có bao nhiêu độc dược đi nữa, cũng chỉ là tổn hại tâm phế, gân cốt hay não tủy, rốt cuộc vạn biến quy về một mối, nhất định sẽ tìm ra được hướng đi, ngươi nói có phải không?”

Ứng Linh: …

Nàng không muốn đáp một chữ nào.

Huống hồ, nàng thật sự không biết năm xưa đã dùng cách gì.

Chỉ là Lục Niệm nói quá rành mạch, khiến nàng vô thức cảm thấy—có lẽ, mọi việc thật sự sẽ như vậy.

Ứng Linh nhấp một ngụm trà, trấn định lại tâm thần: “Lục gia tỷ tỷ thật là người nhiệt tình.”

“Mẫu thân ta từng bị hãm hại bằng thủ đoạn ngấm ngầm, cho nên ta ghét nhất là loại âm mưu kín đáo này.” Lục Niệm nhìn nàng, nói từng chữ rõ ràng, “Đã dám hại người, thì phải chuẩn bị sẵn tinh thần bị người lôi ra ánh sáng.”

Phong nhãn sắc bén, hàn ý lạnh thấu xương.

Ứng Linh bị nàng nhìn đến lạnh cả sống lưng, bật thốt: “Ngươi nói với ta những lời này là có ý gì?”

“Ngươi cần gì phải giả ngây giả dại?” Lục Niệm lúc này đã không còn vẻ thân thiết nói chuyện thường ngày nữa, giọng nói lạnh lùng mỉa mai từng câu từng chữ, “Hạ độc, ắt có hung thủ. Ngươi nói xem, hung thủ có khả năng nhất là ai?”

“Dù là ai, cũng không phải ta!” Ứng Linh hít sâu một hơi, lại nói, “Cũng không liên quan gì đến nhà mẹ đẻ ta! Đừng lấy lý do chúng ta từng từ hôn phủ Kính Văn Bá mà đổ tội lên đầu chúng ta!”

“Thật vậy sao?” Lục Niệm nheo mắt, “Ta từng nhắc ngươi rồi—đừng già đầu mà còn ngu xuẩn. Bản thân bị liên lụy lâu như thế, lại còn muốn lôi mấy tỷ tỷ kia theo cùng, thật đúng là một ‘muội muội tốt’.”

Ba chữ này rơi vào tai Ứng Linh, châm chọc đến mức nàng suýt nữa ném luôn cả chén trà đi.

“Lục Niệm!” Ứng Linh giận dữ quát, “Ta không phải Chương Anh! Ngươi đừng hòng dùng ta như ngươi từng lợi dụng Chương Anh!”

Lục Niệm nhìn nàng, bình tĩnh nói: “Ngươi đúng là không phải Chương Anh. Chương Anh thì ngây thơ thật, ta có thể cười nàng là ‘ngu’, nhưng nàng chưa từng làm điều ác.

Ngươi thì khác, ngươi vừa ngu vừa độc.”

Chén trà nặng nề đặt xuống bàn, Ứng Linh toàn thân run rẩy:

“Hoàng tử phủ không phải là phủ Định Tây Hầu! Ngươi chạy đến đây ăn nói bừa bãi, là nghĩ…”

Lục Niệm vẫn mặt không đổi sắc, dĩ nhiên, A Vi cũng chẳng có biểu cảm gì.

Càng điềm nhiên, càng thể hiện rõ trên mặt họ rằng: “ta không xem ngươi ra gì.”

Ứng Linh quát: “Tiễn khách!”

Lục Niệm lại hỏi: “Ngươi định nói, ngươi không biết chuyện bên trong?”

Ứng Linh hơi khựng lại.

Dù nàng chưa nói thành lời, nhưng vẻ mặt đã đủ để Lục Niệm đọc được câu trả lời.

Lục Niệm chậm rãi đứng dậy, bước lên hai bước, đôi mắt phượng như đâm thẳng vào mắt Ứng Linh, hỏi:

“Vậy thì sao?”

“Mượn tay người khác làm dao, thì bản thân không dơ bẩn sao?”

“Ngươi còn nhớ hồi nhỏ, mấy tỷ tỷ của ngươi cũng mượn ngươi làm dao, phá hoại danh tiếng của ngươi, ngươi thử hỏi chính mình—bọn họ có bẩn không?”

“Đều là bẩn.”

“Dao đã dơ, người dùng dao cũng dơ.”

“Còn nữa—ngươi so với ta tưởng, càng chột dạ sợ hãi hơn.”

Khoảng cách được rút ngắn, cũng phóng đại lên từng đường nét kiều diễm trên gương mặt Lục Niệm trong mắt Ứng Linh.

Bóng ngược sáng, gương mặt kia lại như lưỡi dao, ánh thép lạnh lẽo khiến nàng vô thức mà hoảng loạn.

Rõ ràng dưới mắt đã phủ một lớp phấn dày, nhưng ánh mắt kia không hề mất thần, như một ngọn lửa—nhảy múa, cháy rực.

Lục Niệm nói xong, không đợi người tiễn, cứ thế oai phong bước đi, thế nào vào thì thế ấy ra, cùng với A Vi thong dong rời khỏi phủ.

Ứng Linh căng người ngồi trên ghế, hồi lâu mới hoàn hồn, nghẹn đến mức ném mạnh chén trà xuống đất.

Dẫu phủ Ngũ hoàng tử không lớn, nhưng Lục Niệm và A Vi cũng không nghe thấy tiếng chén sứ vỡ tan kia.

Họ đã ra khỏi đại môn rồi.

Trên xe ngựa, A Vi lấy nước làm ẩm khăn, nhẹ nhàng lau vùng mắt dưới cho Lục Niệm:

“Trang điểm dày quá, hại đến mỹ mạo của người.”

Lục Niệm nghe xong, cười phá lên ha hả.
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 208: Chó ở đâu sủa loạn!


Trước khi pháp y đưa ra kết luận rõ ràng, những phe phái liên quan chỉ có thể giằng co trong sự chịu đựng của chính mình.

A Vi vốn tưởng người đầu tiên thần hồn nát thần tính sẽ là phu nhân Văn Thọ Bá, không ngờ chuyện lại đột ngột phát sinh biến cố.

Nhị tỷ của Hoàng tử phi—Ứng Duệ, mất tích.

Khi nghe ma ma báo lại, tay Lục Niệm đang bóc quýt bỗng khựng lại.

A Vi kinh ngạc: “Xác nhận rồi sao?”

“Phủ Văn Thọ Bá hôm nay người ra vào rối loạn, bên phủ chồng của Ứng Duệ cũng nháo nhào cả lên,” Văn ma ma đáp, “Bên ngoài thì còn che giấu, nhưng tám chín phần là thật.”

“Giấu cũng là lẽ thường,” Lục Niệm đưa một múi quýt cho A Vi, chính mình cũng bỏ vào miệng cắn thử, lập tức nhíu mày, vội giật lại múi kia trong tay A Vi, “Đừng ăn, chua lè.”

Súc miệng xong, Lục Niệm nói tiếp:

“Nữ nhân mất tích, bất kể là mười mấy hay mấy chục tuổi, nếu có thể che giấu, tất nhiên sẽ giấu, nhưng Ứng Duệ rõ ràng đang yên lành mà…”

…Hình như cũng không thể nói là “đang yên lành”.

Lục Niệm ghé gần A Vi, thấp giọng hỏi: “Có khi nào là phu nhân Kính Văn Bá…”

“Không giống.” A Vi lắc đầu dứt khoát, “Phu nhân Kính Văn Bá không giống người sẽ làm ra việc như vậy.”

Lục Niệm nghe xong, gật đầu ra chiều suy tư: “Vậy thì, chỉ có thể đoán sang người của phủ họ Dư.”

Thế gian này, những “người mẹ” vì cái chết của con mà mất lý trí, làm liều không kể hậu quả—quả thật là rất nhiều.

Lục Niệm đoán đúng.

Ứng Duệ chính là rơi vào tay Phu nhân Vu gia.

Người đàn bà tuổi quá nửa trăm, gò má hóp sâu, đôi mắt lồi lên đầy tia máu, gương mặt chẳng khác gì một kẻ đã quyết cùng chết, hiện rõ sát ý.

Nếu để A Vi nhìn, Phu nhân Vu gia giờ đây so với hôm khai quan nàng nhìn thấy từ xa, hệt như già thêm mười tuổi.

Chắc hẳn là vì pháp y mãi chưa đưa ra kết luận, khiến bà ta chịu đựng giày vò tột cùng.

Phu nhân Vu gia ngồi ngay ngắn trên ghế, mắt trừng trừng nhìn Ứng Duệ.

Ứng Duệ tay chân bị trói, miệng bị nhét khăn, lúc đầu còn chưa nhận ra “người chủ mưu”, chỉ vì tình cảnh mình mà hoảng sợ, đến khi nhận ra là Phu nhân Vu gia, trái tim nàng ngược lại lại trầm xuống đôi chút.

Không phải chuyện ma quỷ hay người lạ là tốt rồi.

Ít nhất, giờ nàng biết vì sao mình bị bắt.

Phu nhân Vu gia cất tiếng, giọng khàn đặc: “Có phải các ngươi hại chết con gái ta không?”

Ứng Duệ vội lắc đầu.

Phu nhân Vu gia lại nói:

“Ta biết ngươi sẽ không nhận. Nhưng ta cũng biết, chuyện này nhất định có liên quan đến phủ Văn Thọ Bá các ngươi.”

Ứng Duệ trừng mắt nhìn bà ta, vẻ vô tội hiện rõ.

“Ta không phải mẫu thân ngươi, nên không cần đau lòng thay ngươi, khỏi phải diễn cái bộ dạng đáng thương ấy.” Phu nhân Vu gia lạnh giọng, “Ta nói thẳng—con gái ta mất một mạng, thì nhà họ Ứng các ngươi trả một mạng.

Trừ phi ngươi nói cho ta biết kẻ hạ thủ là ai, không thì chính ngươi phải đền.

Năm tỷ muội các ngươi, chỉ có ngươi là người mang theo ít người nhất.

Ta chọn quả hồng mềm mà bóp, trách thì trách ngươi vì sao không giống những tỷ muội khác có thế lực.”

“Mạng đổi mạng—ta thấy công bằng.”

Ứng Duệ trợn tròn mắt, trái tim vừa tạm ổn định lại lập tức nhảy dựng lên.

Tay chân nàng bị trói, chỉ có thể ú ớ mà kêu gào.

“Muốn nói gì sao?”

Ứng Duệ gật đầu như gà mổ thóc.

Phu nhân Vu gia liếc mắt ra hiệu, một ma ma thân hình lực lưỡng bước đến, rút chiếc khăn trong miệng nàng ra.

Không kịp để ý đến vết rách nơi khóe miệng, cũng không màng nước dãi dây ra nơi khóe môi, Ứng Duệ thở d.ốc liên hồi, giọng run rẩy nói:

“Công bằng? Công bằng chỗ nào? Cái chết của con gái bà không liên quan gì đến ta! Muốn đòi mạng cũng không nên tìm đến ta!”

“Vậy ta phải tìm ai?” Phu nhân Vu gia hỏi.

“Tìm…” Ứng Duệ theo phản xạ muốn buột miệng nói gì đó, nhưng vừa đến miệng lại nuốt trở vào, nước mắt lập tức tuôn ra lã chã.

Một nửa là vì sợ, nửa còn lại là—đã khóc thì khóc cho tận cùng.

“Mọi người đều nói con gái bà chết vì bệnh, chuyện khác ta thực sự không biết.”

“Cho dù nàng ấy là bị hại, cũng nên oan có đầu, nợ có chủ, bà muốn đòi nợ, không thể tìm ta, càng không thể tìm đến phủ Văn Thọ Bá.”

“Bà phải tìm kẻ thật sự gây tội. Bắt ta thì được gì chứ?”

Phu nhân Vu gia mặt không biểu cảm nhìn Ứng Duệ khóc.

Ứng Duệ nước mắt như mưa, mà trong đầu Phu nhân Vu gia toàn là những chữ như: “phế vật”, “không có khí cốt”, “xấu xí”.

Con gái ấy à, vẫn nên giống như A Huyên của bà mới phải.

A Huyên từ nhỏ đã là một đứa con gái gan dạ.

Vấp ngã trên đường, tự mình đứng dậy; dù té nặng đến ch** n**c mắt, nàng cũng không chỉ biết khóc mà không vùng dậy.

Leo mái nhà, trèo cây hái quả, tinh thần A Huyên chưa bao giờ thua kém mấy đứa con trai.

Bà quá yêu A Huyên rồi.

Yêu cái dáng vẻ rực rỡ như ánh dương mới mọc ấy.

Thế mà… đang độ thanh xuân tươi đẹp nhất, ánh mặt trời lại rơi xuống đất, vĩnh viễn chìm vào bóng tối.

Phu nhân Vu gia vì chuyện đó đã hận đứa em chồng và Chu Nguyên suốt hơn mười năm, cũng oán luôn cả cha mẹ chồng và phu quân đã bất chấp phản đối của bà để gật đầu đồng ý mối hôn nhân ấy.

Bà biết rõ thực ra chẳng thể trách họ, nhưng bà cần một đối tượng để trút giận. Dựa vào mối hận ấy, bà mới có thể gắng gượng qua những năm tháng mất con.

Hiện tại, bà lại có một mục tiêu mới.

Phu nhân Vu gia hỏi:

“Không phải phủ Văn Thọ Bá, vậy là ai?”

Ứng Duệ khổ sở nói:

“Ta không biết…”

“Sinh mệnh và danh tiếng—” Phu nhân Vu gia nhấn từng chữ, “Ngươi nói các ngươi không hại chết A Huyên, nhưng các ngươi giẫm nát danh tiếng của nó!”

“Nó và A Nguyên đính hôn, nó chết bất đắc kỳ tử, ai cũng bảo là nó mệnh không tốt.”

“Các ngươi thì từ chối hôn sự, muội muội ngươi thì được gả vào hoàng thất, vinh hoa phú quý.”

“Phủ Văn Thọ Bá các ngươi muốn trèo cao là chuyện của các ngươi, nhưng sao lại phải giẫm lên mạng của A Huyên để đi lên?”

“Cho nên—vẫn là mạng đổi mạng!”

Ứng Duệ không còn khóc nổi nữa. Nàng biết—với Phu nhân Vu gia, lý lẽ là thứ không thể thông suốt.

Làm sao có thể lấy một mạng đền một mạng như vậy?

Hơn nữa… hơn nữa…

“Là muội muội ta, Ngũ muội, mới là người ‘giẫm lên’ con gái bà để trèo lên cao! Không phải ta!” Ứng Duệ hoảng hốt kêu lên, “Nếu bà muốn tính sổ—thì tìm nó mà tính!”

Phu nhân Vu gia thở dài:

“Nàng ta là hoàng tử phi, ta có lòng cũng không có sức. Các ngươi là ruột thịt tỷ muội, như nhau cả thôi.”

“Điên rồi!” Ứng Duệ run rẩy trước ánh mắt đầy sát ý kia, “Ta nói bà điên rồi!”

“Phải.” Phu nhân Vu gia gật đầu, bình thản đáp, “Chỉ tiếc là… ta điên quá muộn mà thôi.”

Miệng Ứng Duệ lại bị nhét khăn.

Phu nhân Vu gia vịn tay ma ma bước ra ngoài.

Nơi này là một căn nhà cũ đứng tên bà, giữ Ứng Duệ lại đây, có người canh chừng cẩn thận, không ai biết, không ma nào hay.



Phủ Văn Thọ Bá đã tìm Ứng Duệ suốt hai ngày.

Phu nhân Văn Thọ Bá vì quá lo lắng mà phát bệnh, trong cơn yếu ớt phải gắng sức đến tìm Ứng Linh cầu cứu.

Ứng Linh hỏi: “Sao không báo quan?”

Phu nhân Văn Thọ Bá sửng sốt: “Báo quan? Danh tiếng của tỷ tỷ con chẳng phải sẽ nát hết sao?”

“Phủ bên chồng, cả trượng phu của tỷ ấy cũng biết chuyện, mà người còn giữ lấy danh tiếng này là để lừa ai chứ?” Ứng Linh cười lạnh.

“Nàng ta mất tích, suy cho cùng cũng vì chuyện của con! Không thì nàng ta trêu ai, chọc ai chứ?” Phu nhân Văn Thọ Bá vừa khóc vừa nói, “Bên kia bắt nàng ta là để ép cung, không phải mưu hại gì cả.

Chúng ta là người nhà, biết rõ nguyên do, nhưng một khi báo quan, lời đồn bên ngoài sẽ không thể ngăn cản được, đủ loại phỏng đoán quái đản đều sẽ lan ra.

Cho nên…”

“Cho nên muốn mượn người của con?” Ứng Linh cắt ngang lời bà, giọng đầy bất mãn, “Người muốn con đến nói với điện hạ rằng: nhị tỷ có lẽ rơi vào tay Lục Niệm, có lẽ bị Vương gia bắt, cũng có thể là phủ Kính Văn Bá, hoặc nhà họ Vu, nhờ ngài ấy ra mặt điều đình, cho người đi tìm?

Người tự nghe lại xem—nói như thế có hợp lý không? Có đáng tin không?”

“Chẳng lẽ báo quan thì đáng tin chắc?” Phu nhân Văn Thọ Bá phản bác, “Vương gia liệu có cho nha môn tích cực tìm người không?”

Ứng Linh mặt lạnh, nghiêm giọng:

“Thế thì con có thể làm gì? Gì mà ‘vì con’? Lúc các người làm chuyện hại người chẳng thèm nói với con một tiếng, giờ gây họa đầy người—lại muốn kéo con xuống nước cùng chịu?”

Phu nhân Văn Thọ Bá vừa định mở miệng tranh luận.

“Đừng nói nữa!” – Ứng Linh dù đầy tức giận, lý trí vẫn còn sót lại đôi phần, “Người vừa bảo, kẻ bắt Nhị tỷ là để ép cung, vậy chỉ cần Nhị tỷ giữ mồm giữ miệng, đừng nói bậy nói bạ, đối phương cũng không làm gì được nàng, biết đâu vài ngày nữa sẽ thả người về, cứ chờ thêm xem sao.”

“Dám đợi à?!” – Phu nhân Văn Thọ Bá gần như hét lên, “Lục Niệm dám giết người! Ngươi tin nổi kế mẫu nàng ta là bệnh mà chết ư? Chắc chắn là bị Lục Niệm giết!”

“Bà kế mẫu kia từng hạ độc sát hại mẫu thân ruột của nàng ta, Lục Niệm báo thù cho mẹ,” Ứng Linh chất vấn, “Nhị tỷ có mối thù sâu nặng gì với nàng ta, để nàng ta phải giết người? Nói đến cùng, người cũng từng giết người, vậy người sẽ vô cớ giết người sao?”

Sắc mặt phu nhân Văn Thọ Bá tái nhợt như tờ giấy: “Con nói năng bừa bãi cái gì… Ta làm tất cả, cũng là vì con, vì con mà thôi…”

Ứng Linh phẩy tay, ra hiệu tiễn khách.

Sau đó, nàng ngã người lên tháp, cảm thấy toàn thân rã rời như kiệt sức.

Cũng là con gái, nhưng vị trí của Nhị tỷ trong lòng mẫu thân… đúng là quá quan trọng rồi.



Mà bên kia, phu nhân Văn Thọ Bá vừa bị con gái mắng mỏ xong, trong cơn tức giận lại được gợi mở ra một điều.

Nếu Ứng Duệ rơi vào tay người khác, thì có thể tạm yên tâm tính mạng, nhưng nếu rơi vào tay người nhà họ Vu—vậy thì đúng là mối thù sinh tử!

Nghĩ đến đó, bà ta lập tức vội vàng leo lên xe ngựa, đến phủ họ Vu.

Vừa đến cổng đã bị người nhà họ Vu chặn lại.

Rất nhanh, Phu nhân Vu gia đích thân bước ra, vừa la lớn “Không hoan nghênh”, vừa lôi kéo phu nhân Văn Thọ Bá từ cổng chính đẩy đi ra tận ngõ nhỏ bên hông.

Bọn bà tử nhà họ Vu náo loạn vây quanh, người của Văn Thọ Bá phủ thì đơn bạc, chỉ biết mắt trân trối nhìn đám người “đuổi” phu nhân nhà mình ra tận phố Tây.

Phố Tây vốn dĩ đã náo nhiệt.

Mà giờ—một màn “mẫu thân quý tộc tranh cãi, xô xát” như thế này càng khiến dân chúng đổ xô lại xem như nước lũ.

Phu nhân Văn Thọ Bá cả đời chưa từng mất mặt như vậy, hận không thể lấy khăn tay che kín mặt:

“Ngươi làm gì thế? Có chuyện gì không thể vào phủ mà nói? Ta đi! Ta đi là được chưa?!”

Phu nhân Vu gia nắm chặt lấy tay bà ta, căn bản không buông:

“Ngươi tự tới gây chuyện, giờ muốn đi là đi được chắc? Nhà họ Vu ta không bằng phủ Văn Thọ Bá các ngươi, nhưng cũng không phải nơi muốn đến là đến, muốn đi là đi!”

Mặt phu nhân Văn Thọ Bá đỏ bừng, giậm chân:

“Ta chỉ muốn hỏi một chuyện…”

“Hỏi gì?” Phu nhân Vu gia hừ lạnh, “Hỏi đứa con gái thứ hai của ngươi đang ở đâu đúng không?”

Mắt phu nhân Văn Thọ Bá đột nhiên trợn to: “Quả nhiên là ngươi! Không thì sao ngươi biết—”

“Sao ta không biết được?” Phu nhân Vu gia cười khẩy, “Ta theo dõi các ngươi lâu rồi! Chẳng lẽ ngươi nghĩ phủ các ngươi mấy ngày nay động tĩnh nhỏ à?”

Phu nhân Văn Thọ Bá rõ ràng không tin.

Ban đầu bà lo Ứng Duệ bị hại, nhưng giờ bị Phu nhân Vu gia khơi mào giữa chốn đông người, người vây quanh lập tức xôn xao như sôi trào, bà cũng không còn nghĩ đến việc giấu giếm, ngược lại quay người kéo tay đối phương:

“Con gái ta đâu? Con gái ta đâu?! Nhất định là ngươi bắt nó rồi! Ngươi là lão thái bà lòng dạ ác độc! Chúng ta có thù oán gì đâu…”

“Không oán không thù, ta bắt nàng ta làm gì?” Phu nhân Vu gia phản vấn.

Phu nhân Văn Thọ Bá nghẹn lời, rồi lập tức hét:

“Con gái ngươi chết thì đáng thương thật, nhưng không thể vì thế mà hại chết con ta!”

“Ai mà chẳng biết năm đó các ngươi ăn bánh bao nhân máu con gái ta!” Phu nhân Vu gia hét vang.

Phu nhân Văn Thọ Bá nghiến răng:

“Vậy là ngươi nghi ngờ chúng ta? Trong mắt ngươi, chỉ cần có khả nghi là các ngươi làm ư?!”

“Phải đấy! Ta trả ngươi đúng câu ấy!” Phu nhân Vu gia không hề lùi bước, “Ngươi thấy ta đáng nghi liền tới tận cửa! Ta thì thấy ngươi mới là tội phạm trong lòng run sợ!

Ngươi nói đi—nói đi—năm đó các ngươi hại chết A Huyên kiểu gì?!”

“Đồ điên!” Phu nhân Văn Thọ Bá bị ép đến mức liên tiếp lùi bước, trong cơn hoảng hốt buột miệng lặp lại câu mà Ứng Duệ từng nói:

“Ta nói ngươi đúng là điên rồi! Con gái ngươi chết bao nhiêu năm rồi, còn đào xác lên khám nghiệm làm gì?! Ngươi nói xem ngươi có bệnh không?!

Ta biết! Ta biết đứng sau là mẫu tử Lục Niệm kích động! Hai mẫu tử đó tâm địa rắn rết, ngươi bị lừa rồi!

Aaa—!”

Một vật từ trên trời rơi xuống, phịch! một tiếng nện thẳng vào trán phu nhân Văn Thọ Bá, lập tức sưng vù một cục.

Bà ngẩng đầu nhìn lên, mới phát hiện trong lúc xô đẩy qua lại, hai người đã tới trước tiệm Quảng Khách Lai, mà từ khung cửa sổ mở toang tầng hai, chính là Lục Niệm đang tựa người bên song.

“Chó ở đâu sủa loạn thế?!” – Lục Niệm nhổ một câu, giọng lanh lảnh, “Tới trước cửa tiệm ta mắng chửi là sao? Ngươi là con chó nào đấy?!”

Tiếng cười rộ khắp phố.

Sắc mặt phu nhân Văn Thọ Bá đỏ như máu, đỏ đến mức tưởng chừng kế tiếp sẽ ngất xỉu tại chỗ.

Phu nhân Vu gia, trong lòng lại âm thầm hối hận.

Lửa giận bốc lên mà không kiềm chế được, chẳng biết từ khi nào đã đi đến cửa tiệm Quảng Khách Lai. Ban đầu… lẽ ra phải tránh nơi này.

Bà vốn không muốn gây thêm điều tiếng gì cho mẫu tử phủ Định Tây Hầu.

Trước khi bắt cóc Ứng Duệ, Phu nhân Vu gia đã nghĩ rất rõ ràng.

Cho dù pháp y có ghi rõ rành rành trong văn thư rằng A Huyên chết vì trúng độc, thì mối huyết hận này cũng rất khó đặt lên đầu phủ Văn Thọ Bá.

Muốn báo thù—chỉ có thể liều mạng, làm bẩn tay chính mình.

Cũng giống như cách Lục Niệm báo thù cho mẫu thân nàng.

Phu nhân Vu gia thật lòng khâm phục Lục Niệm—từ năm tuổi đến ba mươi lăm tuổi, từ một đứa trẻ đến quả phụ, Lục Niệm đã dùng cả đời mình để vì mẫu thân mà chiến đấu.

Dù thủ đoạn không quang minh, dáng vẻ không đẹp đẽ—nhưng đó là con đường duy nhất có thể đi.

Báo thù, thì ai còn màng đến lễ nghi?

Vì thế, Phu nhân Vu gia cũng có thể “bắt chước vẽ theo”, nhưng tuyệt đối không tìm đến Lục Niệm “hỏi bài”, càng tránh né tiếp xúc với mẫu tử nhà họ Lục.

A Nguyên thì có thể đến hỏi Lục Niệm về chuyện khai quan tra án, vì đó là con đường đi từ nha môn, con đường “thấy được ánh sáng”.

Còn bà thì bắt người, ép cung, hỏi được thì tốt, hỏi không được thì mạng đổi mạng—đó là con đường ngấm ngầm, phạm pháp.

Cho dù có phạm tội, bà cũng chỉ muốn tự mình gánh chịu, không kéo người khác xuống nước.

Bà không cần ai khuyên mình phải nghĩ lại, càng không cần ai đẩy lưng cho mình một cái, để sau này lấy đó làm cớ thoái thác.

Bà biết mẫu tử nhà họ Lục có góp sức sau màn vụ khai quan, nên lại càng thận trọng, không thể liên lụy người ta.

Nhưng cuối cùng… bà vẫn “thất sách”.

Báo thù, thật sự quá khó.

Từng bước đều phải cẩn trọng—chỉ cần một sơ suất, là vỡ cục.

Nhưng dù khó đến đâu—cũng không thể bỏ cuộc!



“Đừng đánh trống lảng nữa!” – Phu nhân Vu gia gằn từng tiếng, ngực phập phồng vì tức, “Ta tìm được đạo sĩ năm xưa từng đoán mệnh cho Hoàng tử phi rồi! Hắn khai—chính là nhận bạc của phủ Văn Thọ Bá các ngươi, ngụy tạo mệnh lý, bịa ra ‘đại phú đại quý’!

Các ngươi giẫm lên máu thịt của con gái ta để trèo cao, còn hủy hoại cả A Nguyên!

Giờ thì nói đi—ngươi hại chết con gái ta, hay con gái thứ hai của ngươi, người giờ đang mất tích?”

Phu nhân Văn Thọ Bá bị bà ta níu chặt cổ áo, lắc đến hoa mắt chóng mặt, miệng chỉ biết thì thào: “Điên rồi… điên thật rồi…”



Và người điên nhất, chính là kẻ đang đứng trên cao, nhìn xuống cảnh náo nhiệt bên dưới mà thản nhiên lên tiếng chỉ điểm.

Lục Niệm.

“Nếu ngươi chịu nhận tội—con gái ngươi là vô tội.”

“Nếu ngươi không nhận—luôn phải có người chịu tội.”

“Phu nhân Văn Thọ Bá, tam tư cho kỹ.”

Một câu, ép bà ta đứng trước lựa chọn giữa bảo toàn bản thân và cứu lấy con gái.

Ứng Duệ rơi vào tay ai, không phải cứ đứng đây gào to “ta bị oan” là có thể cứu được.

Phu nhân Văn Thọ Bá không còn nghĩ nổi nữa. Mí mắt run rẩy một cái—ngất lịm tại chỗ.
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 209: Không có đao, làm sao giết gà?


Phu nhân Văn Thọ Bá ngất xỉu rất đột ngột, cả người đổ ập xuống đất.

Phu nhân Vu gia đang nắm chặt cổ áo bà ta, cũng bị kéo ngã theo.

Đám ma ma đang xô đẩy lúc trước thấy tình hình như vậy, cũng chẳng còn tâm trí lo chuyện khác, lập tức ùa lên, mỗi người đỡ lấy chủ nhà mình.

Phu nhân Vu gia lồm cồm bò dậy, xoa xoa cánh tay đau nhức, lông mày nhíu chặt.

Bà còn chưa kịp ép hỏi ra được điều mình muốn, người kia đã ngất xỉu, thế thì làm sao đây?

Thật tình mà nói, dù tệ nhất, bà vẫn có thể khiến Ứng Duệ đền mạng, nhưng nếu đã quyết tâm vạch mặt, không màng thể diện, bà càng hy vọng chân tướng được phơi bày.

Không chỉ để bà biết rõ sự thật.

Mà là để cả kinh thành này đều nhìn thấu — A Huyên là bị phủ Văn Thọ Bá hại chết!

Bằng không, bà cần gì phải phiền toái đến thế?

Chỉ có điều, phu nhân Vu gia thật chẳng ngờ, phu nhân Văn Thọ Bá lại kém cỏi đến mức này!

Thật là, con gái vô dụng, mẹ cũng vô dụng!

Trong khi phu nhân Vu gia còn đang vắt óc nghĩ cách đối phó với biến cố này, đám ma ma bên phủ Văn Thọ Bá đã bắt đầu la lối om sòm.

“Phu nhân nhà chúng tôi vốn đã có bệnh trong người, nay chỉ e là bệnh lại càng thêm nặng, phu nhân Vu gia, người làm quá lắm rồi!”

“Người từng trải qua nỗi đau mất con gái, sao lại không thể đồng cảm, hiểu được nỗi lo của phu nhân chúng tôi dành cho con gái mình chứ?”

“Người cứ mồm năm miệng mười nói rằng phủ Vu gia không sánh được với phủ Văn Thọ Bá, phu nhân chúng tôi nói thêm một câu cũng bị người ta bóp méo thành ỷ thế h**p người. Nhưng chuyện này không thể vì người yếu mà người có lý!”

“Nếu phu nhân nhà chúng tôi xảy ra chuyện gì, cho dù có bị thiên hạ mắng là ỷ thế h**p người, cũng phải đòi lại công đạo!”

Hai ma ma, một trái một phải, cực khổ đỡ lấy phu nhân Văn Thọ Bá, miệng không ngừng phát biểu.

Phu nhân Vu gia đang định phản bác, lại không ngờ người nhà bên mình đã kéo đến.

Phủ Vu gia vốn ở gần Tây Nhai, vừa nghe tin liền vội vàng chạy đến, con trai con dâu của bà, cả phủ Kính Văn Bá cũng không ở xa, Chu Nguyên nghe tin cũng đến xem, phu nhân Kính Văn Bá cũng không ngồi yên, cùng đi theo.

Phu nhân Văn Thọ Bá vốn đã yếu thế, giờ lại thêm vài nha hoàn và ma ma, càng thêm nhỏ bé vô lực dưới ánh nhìn của nhà họ Vu và Chu.

Đến mức, lời muốn mắng ra của phu nhân Vu gia cũng bị nghẹn trong cổ họng.

Trên lầu, Lục Niệm nhìn thấy cảnh tượng ấy, không khỏi khẽ lắc đầu.

Nàng từng cầm dao trắng đâm dao đỏ, cũng từng đấu khẩu trước bao ánh mắt soi mói.

Thuở nhỏ hay thua, sau này thắng nhiều hơn.

Không chỉ bởi miệng lưỡi nàng sắc sảo hơn, mà bởi vì — nàng yếu thế nhưng can đảm, và nàng chiếm được lý lẽ.

Giống như năm ngoái trong linh đường, chỉ cần nắm được “thiếu món bánh quế hoa mẫu thân thích nhất”, nàng và A Vi liền có thể bắt đầu nổi loạn.

Yếu thế là về người, chứ không phải về lý lẽ.

Nhưng rõ ràng, hiện tại hai ma ma phủ Văn Thọ Bá đang níu lấy “phu nhân bệnh tật”, người ít lại đáng thương.

Như thế xem ra, phu nhân Vu gia quả là hơi đen đủi.

Chỉ có điều…

“Bệnh tật sao?” Giọng Lục Niệm vang lên sáng rõ, hướng về đám đông bên dưới mà nói, “Người có bệnh thì nên nằm ở nhà dưỡng sức, chạy đến phủ người khác làm gì? Muốn người ta mời đại phu cho à?

Ta nói cho rõ ràng, không phải cứ ngất xỉu là có lý đâu, món nợ mắng người trước cửa hiệu ta vẫn chưa tính xong!

Ai cũng đừng mở miệng nói ai ỷ thế h**p người nữa, hôm nay đều đừng đi, cứ ở đây chờ cho rõ ràng!

Ta sẽ đi y quán mời đại phu, sẽ đến phủ Văn Thọ Bá gọi người, mọi người xếp hàng đứng yên cho ta!

Để ta xem xem, nhà ai thế lớn, nhà ai thế nhỏ!

Các vị tới xem náo nhiệt, khỏi phải đưa tiền ủng hộ, sảnh chính của Quảng Khách Lai có sẵn ghế, trà nóng điểm tâm đủ cả, đến ủng hộ tinh thần là được.”

Lời vừa dứt, đừng nói mấy “nhân vật chính” phản ứng ra sao, đám vây xem thì ai nấy mặt mày hớn hở, ba bước thành hai bước chen nhau vào đại sảnh, sợ mất ghế.

Hai ma ma phủ Văn Thọ Bá tròn mắt nhìn nhau.

Xe ngựa đã được đẩy tới bên ngoài phủ Vu gia.

Vốn dĩ các bà định khóc lóc kể khổ, thừa dịp đám đông chỉ trích phu nhân Vu gia, đưa phu nhân nhà mình lên xe chuồn trước.

Mà giờ thế này…

Các bà lại quay sang nhìn phu nhân Vu gia.

Phu nhân Vu gia lúc này đang khí thế hừng hực, giải thích với người nhà: “Con gái bà ta mất tích, lại dám nghi ngờ là ta bắt cóc!”

“Không vu oan thì là gì?!”

“Mất mặt à? Bà ta còn không sợ mất mặt, chúng ta sợ gì!”

“Chúng ta chỉ mất thể diện, còn A Huyên là mất mạng đó!”

Vu gia và Chu gia cùng tụ lại một chỗ lau nước mắt, cảnh ấy khiến đám ma ma bên phủ Văn Thọ Bá nhìn mà hộc máu trong lòng.

Giỏi thật đấy, diễn cũng giỏi quá rồi! Rõ ràng là phu nhân Vu gia bắt người!

Mà người đến nhanh hơn cả đại phu, chính là người của phủ Văn Thọ Bá.

Không cần Lục Niệm đi truyền lời, bên này vừa ầm ĩ, bên kia đã có người báo tin.

Nhà họ Ứng đang tụ lại thương nghị cách tìm kiếm Ứng Duệ, nghe tin liền ùn ùn kéo tới.

Lục Niệm cúi đầu nhìn đám đông xếp hàng dưới lầu, trong lòng thầm vỗ tay.

Phu nhân Văn Thọ Bá đúng là lợi hại, sinh nhiều, nuôi nhiều.

Ngoại trừ vị ngũ hoàng tử phi chắc chắn sẽ không đến để “mất mặt”, ba người con gái còn lại, ba người con trai, đều đến đông đủ.

Phu nhân Vu gia hít sâu một hơi, người thì có kẻ ngất xỉu, nhưng chẳng phải vẫn còn kẻ chưa ngất đó sao?

“Hay quá ha, hung thủ đến đủ cả rồi chứ gì?”

“Năm đó là ai hại chết con gái ta? Hay là ai trong các người cũng có phần?”

“Muốn thì các người cứ đẩy ra một người gánh hết tội, bằng không thì ai phạm tội nấy nhận!”

“Các người không phải nói mẹ các người tin là ta bắt cóc Ứng Duệ sao? Thế thì nghĩ kỹ đi, ai sẽ là người cứu Ứng Duệ?”

Thế tử phủ Văn Thọ Bá đứng ra chặn các em mình lại.

“Nhị muội mất tích, mẫu thân nhất thời lo lắng mà nói lời không phải, làm việc không đúng. Ta thay người cúi đầu nhận lỗi với quý phủ,” thế tử nói, vừa hành lễ vừa tiếp lời, “Mẫu thân hiện tại thân thể suy nhược, cần có đại phu chữa trị, đợi bà hồi phục rồi, sau đó…”

Tình thế bức bách, trong lòng hắn tự cho rằng cách ứng phó như vậy là hợp tình hợp lý, không ngờ lại bị phu nhân Vu gia khẽ bĩu môi, rồi ngay sau đó cười toét miệng, nụ cười rét buốt khiến hắn lạnh cả sống lưng.

“Ngươi là phu quân của Ứng Duệ, phải không?” Phu nhân Vu gia quay sang người đàn ông đang nóng lòng bên cạnh, nói: “Người mà còn ở trong tay ta, danh tiết có khi còn giữ được. Nếu bị kẻ khác bắt đi, dù có một ngày quay về, ngươi không để tâm, nhưng nhà ngươi có để tâm không?

Điều ta muốn biết từ đầu tới cuối, vẫn là chân tướng cái chết của con gái ta.

Hai người các ngươi tình cảm không tệ chứ?

Vậy cái chết của con gái ta, là do phủ Văn Thọ Bá gây ra, hay là Ứng Duệ cũng có phần?

Nếu ngươi thật sự tin tưởng Ứng Duệ, thì khuyên nhủ đám người bên nhà vợ đi, có người nhận tội thì Ứng Duệ chẳng phải cũng được minh oan rồi sao…?”

Tam tiểu thư nhà họ Ứng quát lớn: “Ít giở trò chia rẽ đi! Cái miệng độc ác thật! Vậy là bà tự thừa nhận đang giữ nhị tỷ trong tay rồi? Chờ đấy mà gặp quan đi!”

Phu nhân Vu gia chẳng thèm đoái hoài đến nàng ta, đôi mắt trũng sâu chỉ chăm chăm nhìn phu quân của Ứng Duệ.

Trên khuôn mặt hắn lộ rõ vẻ hoảng loạn, sợ hãi cùng nôn nóng, nhưng lại né tránh ánh nhìn của bà.

“Ta hiểu rồi,” phu nhân Vu gia gật đầu, “Ngươi và Ứng Duệ tình cảm thắm thiết, thậm chí vì nàng mà xung đột với phụ mẫu mình.

Nhưng ngươi lại không dám vì nàng mà cầu xin người nhà nàng.

Bởi vì ngươi biết — Ứng Duệ cũng là một trong những hung thủ, nên dù có cầu xin cũng vô ích, đúng không?

Cảm ơn ngươi, chí ít hiện giờ ta đã xác định được một kẻ có tội.”

Sắc mặt phu quân của Ứng Duệ tái nhợt, vội vàng lên tiếng: “Xin đừng suy đoán bừa bãi.”

Thế tử Văn Thọ Bá vội vàng chuyển sang nói với phu nhân Kính Văn Bá: “Phu nhân, phu nhân Vu gia cần bình tĩnh lại, mẫu thân ta thì cần khám chữa bệnh. Nếu hai nhà có nghi vấn gì, chúng ta hẹn lại, từ từ ngồi xuống đàm đạo. Việc gì phải làm rùm beng trước mặt bao người thế này…”

Phu nhân Kính Văn Bá hít sâu một hơi.

Bà đến đây là để tránh cho đại tẩu bị thiệt, chứ không phải đến để phá ngang cục diện của đại tẩu!

Chính vì là người thân quen, bà mới hiểu đại tẩu đã hạ quyết tâm lớn cỡ nào.

Đại tẩu nói rất đúng.

Mấy mảnh thể diện này, sao có thể sánh với tính mạng của A Huyên?

Nếu mất mặt có thể đổi lại mạng sống cho A Huyên, bà cam lòng bị người ta mắng là “ác phụ”, “điên rồ”, “không biết xấu hổ” suốt mấy chục năm!

Phía này còn đang giằng co, phía bên kia, ngoài cửa hông của Quảng Khách Lai.

A Vi khoanh tay trước ngực, nhíu mày nhìn cục diện đấu khẩu gay gắt.

Hứa Phú Đức đứng bên cạnh nàng, khẽ giọng nói: “Biểu cô nương, cứ thế này e là chẳng tranh ra kết quả gì.”

“Chuyện cũ bao năm, không có chứng cứ xác thực, ai lại chịu nhận?” A Vi lẩm bẩm, ánh mắt dừng trên phu nhân Văn Thọ Bá, người vẫn đang dựa trên vai mấy ma ma, chần chừ hỏi,

“Dì phu, người nói xem bà ta thật ngất hay giả vờ?”

Hứa Phú Đức tuy không hiểu y thuật, nhưng lại đầy kinh nghiệm đường phố.

Hắn tỉ mỉ quan sát người đang nằm bất động kia, rồi đáp: “Giả ngất. Có lẽ lúc đầu thật sự ngất đi, nhưng không rõ lúc nào đã tỉnh lại. Dù sao thì bây giờ chắc chắn bà ta vẫn tỉnh táo.”

A Vi tò mò hỏi: “Làm sao nhìn ra?”

Hứa Phú Đức chỉ nàng: “Thật sự ngất thì tứ chi sẽ thả lỏng tự nhiên, người sẽ đổ xuống. Biểu cô nương nhìn kỹ xem, chân bà ta còn đang gồng, là sợ mấy ma ma đỡ không nổi lại ngã thêm lần nữa đó.”

A Vi cảm ơn hắn, rồi ghé sát thấp giọng dặn dò vài câu, sau đó từ cửa hông quay vào trong cửa tiệm.

Hứa Phú Đức được lệnh, canh đúng thời cơ, mở ba chiếc lồng gà trên xe gỗ cạnh bên.

Gà là của Quảng Khách Lai.

Mới được đưa từ trang trại đến, vốn định đem vào bếp làm thịt, nhưng phía trước náo nhiệt quá mức, khiến mấy gã đưa gà và đầu bếp kiểm gà mà hồn vía bay đâu mất.

A Vi vừa tới đã phất tay, cho cả hai đi ra ngoài “xem náo nhiệt”.

Hiện tại, hai người kia đang xem đến quên trời đất, thì bỗng thấy gà lồng bị mở, hơn mười con gà nhào ra khỏi lồng, tung cánh hỗn loạn.

“Chuyện gì vậy?”

“Sao lại có gà?”

Trường diện lập tức loạn như ong vỡ tổ.

Hứa Phú Đức “ôi dào ôi dào” gọi lớn: “Lồng hỏng rồi lồng hỏng rồi! Mọi người giúp tay một cái, đừng để gà bị thương!”

Nhóm đầu bếp và tiểu nhị được A Vi căn dặn, từ trong đại sảnh ùa ra, miệng hô “bắt gà”, nhưng thực chất là lùa gà vào giữa đám đông.

Người thì tránh, kẻ lại đuổi, đám gà nháo nhào lao vào trung tâm đám người, giữa hai phe đang đối đầu.

Hai lần suýt bị gà đâm trúng, mặt mũi thế tử Văn Thọ Bá xanh như tàu lá chuối.

Mà bên cạnh hắn, phu nhân Văn Thọ Bá, người vẫn “hôn mê bất tỉnh” nãy giờ, trán đầy mồ hôi lạnh.

Trên lầu, Lục Niệm mở to mắt nhìn tình hình đột biến, rồi bỗng nhiên vỗ tay cười lớn.

Phải rồi!

Văn ma ma từng dò xét tình hình trong phủ Văn Thọ Bá, nghe được một tin tức thú vị: Phu nhân Văn Thọ Bá sợ lông vũ.

Bất kể là gà, vịt, ngỗng hay chim, chỉ cần có lông vũ là bà ta sợ.

Trong phủ, những nơi bà ta hay lui tới nhiều năm rồi không dám dùng chổi lông gà.

Mỗi khi mời bà ta dạo chơi, các lồng chim trong vườn đều phải thu dọn sạch.

A Vi đúng là có đầu óc. Lục Niệm âm thầm khen ngợi.

Mà A Vi, người có đầu óc kia, cũng từ trong đại sảnh bước ra, thậm chí còn cầm theo một con dao bếp.

Nàng sải bước tiến vào đám đông hỗn loạn, mắt lẹ tay nhanh tóm lấy một con gà vừa bay ngang qua người.

Con gà ấy lao thẳng về phía phu nhân Văn Thọ Bá, A Vi thuận thế tiến lên, ngay khi gà gần như sà vào người phu nhân, nàng vặn cánh gà, túm chặt.

“A a a——”

Phu nhân Văn Thọ Bá, người đang giả vờ ngất, không thể nhịn được nữa.

Ngay khi cảm giác lông gà phất qua mặt mình, bà hét thất thanh: “Tránh ra, tránh ra!”

A Vi giữ chặt con gà, lắc lắc đầu gà trước mặt bà ta: “Bà sợ gà à? Vậy thì thật ngại quá, làm bà hoảng sợ rồi.”

Phu nhân lập tức lùi ra sau, trốn sau mấy ma ma: “Đồ điên! Mấy người đều là đồ điên!”

“Bắt gà mà là điên sao?” A Vi nhếch môi cười lạnh.

Thế tử Văn Thọ Bá lúc này mới nhớ ra mẹ mình sợ gà, vội tới chắn trước: “Dao cũng cất đi!”

“Không có dao, ta giết gà kiểu gì?” A Vi hỏi ngược, rồi lập tức vặn đầu gà ra, lộ ra cái cổ trơn láng, vung dao một nhát.

Phụt——

Máu gà phụt ra thành vòi.

A Vi nhìn thẳng vào hai mẹ con trước mặt, hỏi tiếp: “Không giết gà, làm sao răn khỉ dám đến trước cửa Quảng Khách Lai mắng mẫu thân ta?”

Phu nhân Văn Thọ Bá sợ đến mặt trắng bệch, không thốt nổi lời.

Thế tử hất tay áo: “Tiểu cô nương, ta không thèm tranh với cô.”

A Vi ném con gà đã nằm im cho Hứa Phú Đức, vượt qua thế tử, chỉ nhìn phu nhân Văn Thọ Bá nói:

“Thế gian này, có nữ nhi dám cầm đao vì mẫu thân, cũng có mẫu thân dám liều mạng vì con. Chỉ là, không biết nhà các người sẽ thuộc loại nào?”

“Nãy trước khi bà ngất, mẫu thân ta từng nói, phải có người đền mạng cho A Huyên cô nương. Là bà, hay là nhị tiểu thư của bà, luôn phải có một người. Bà nguyện ý không? Con gái bà, nguyện ý không?”

Phu nhân Văn Thọ Bá vẫn chưa hoàn hồn, thở d.ốc, trừng mắt nhìn A Vi.

A Vi nhếch môi cười nhạt: “Phải rồi, bà có năm người con gái. Vứt một, vẫn còn bốn. Chỉ là không biết người bị vứt bỏ ấy, sẽ nghĩ sao về bà, về các tỷ muội của mình?”

Dứt lời, A Vi đưa tay ra.

Ngón tay dính đầy lông gà vụn và vệt máu tươi chưa khô.

Nàng ra tay quá bất ngờ, chẳng ai phản ứng kịp.

Nhất là phu nhân Văn Thọ Bá, như một pho tượng gỗ, mặc kệ A Vi giúp bà chỉnh lại vạt áo bị kéo lệch, còn nhẹ nhàng vỗ vỗ mấy cái.

Đến lúc phản ứng được, phu nhân thét lên “a” một tiếng kinh hoàng.

Bà không chịu nổi dính lông hay máu gà lên người, mà cũng không dám tự tay xé bỏ y phục. Quần áo sao có thể tùy tiện xé rách?

Trong một thoáng, phẫn nộ, sợ hãi, bất an — đủ loại cảm xúc xô dồn, phu nhân Văn Thọ Bá trợn mắt một cái, ngất lần nữa.

Đám gà lạc đã bị bắt hết.

“Trò hề” hỗn loạn này cũng chính thức hạ màn.

Phu nhân Vu gia mệt mỏi vô cùng, chỉ ngẩng đầu gật nhẹ với Lục Niệm, rồi nói với A Vi: “Làm phiền hai người rồi, hôm nào có dịp, chúng ta ngồi lại từ từ nói chuyện.”

“Người giữ sức,” A Vi dịu dàng nói, lại ghé tai bà nhắc nhỏ, “Ứng gia chắc chắn có người theo dõi người, khi ra vào nhớ đề phòng.”

“Ta hiểu,” phu nhân Vu gia đáp, “Cung đã giương, không thể thu dây. Ta sẽ không để mọi chuyện đổ xuống sông xuống biển.”
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 210: Không phải ly gián, mà là đôi bên cùng có lợi


Ngũ hoàng tử Lý Sùng rời khỏi ngự thư phòng, men theo hành lang dài uốn khúc, mới khẽ dừng bước, đứng dưới bức tường son thẫm trong cung, điều chỉnh tâm tình một chút.

Thẩm Lâm Dục đang trên đường vào gặp Thánh thượng, hai người liền tình cờ chạm mặt tại nơi này.

Hắn bước lại gần, cung kính hành lễ.

Lý Sùng khẽ đưa tay làm quyền che trước miệng, ho khan hai tiếng.

Thẩm Lâm Dục thuận thế nói:

“Tiết thu gần đây ngày càng đậm, mong điện hạ bảo trọng long thể.”

Lý Sùng đáp:

“Thân thể không ngại gì, chỉ là mặt mũi không được tốt lắm.”

Hôm qua phủ Văn Thọ Bá, phủ Kính Văn Bá, cùng thân thích là nhà họ Vu gây gổ một trận ầm ĩ ngay trên Tây Nhai, chỉ vì hơn chục con gà ở tửu lâu thuộc danh nghĩa phủ Định Tây Hầu, cuối cùng cũng chỉ có thể “đầu voi đuôi chuột” mà chấm dứt.

Hôm nay, tất nhiên bên nào cũng không chiếm được lẽ phải. Ngự sử dâng bản tấu, ngay trên Kim Loan điện gọi thẳng tên mà chỉ trích, mắng không kiêng dè rằng: “Không biết lễ nghi”, “Thật chẳng ra thể thống gì.”

Ba nhà kia xem như vẫn còn biết điều, bị mắng cũng không dám cãi lại.

Chỉ có Định Tây Hầu, khác hẳn tính tình “người tốt” thường ngày, lần này chẳng đôi co với ngự sử mà lại trực tiếp khóc lóc với Vĩnh Khánh Đế:

“Thánh thượng, người cũng biết tiểu nữ nhi của thần bị chứng u uất, thái y đều từng xem qua, vẫn chưa hoàn toàn chữa khỏi.”

“Bệnh là không phải lỗi của nó. Thái y lúc tái khám cũng nói bệnh tình chuyển biến tốt, còn khuyên nên thường ra ngoài kết giao, thư giãn tinh thần, cho nên thần mới để nó trông coi tửu quán ở Tây Nhai.”

“Hôm qua là mấy nhà kia gây chuyện ngay trước cửa tiệm. Phu nhân Văn Thọ Bá vừa thấy mặt tiểu nữ liền mắng là đồ điên!”

“Người ta thường nói đánh người chớ đánh mặt, vậy mà bọn họ lại dùng bệnh tình của người khác làm vũ khí công kích, bị gà xông vào cũng là đáng đời!”

“Bọn họ có mâu thuẫn thì tự mà giải quyết, phủ Định Tây Hầu chúng ta chẳng can dự vào, đúng là tai bay vạ gió.”

“Bảo là bị con gái ngoại thần dọa bằng dao bếp?”

“Ngay trước mặt con bé mà mắng mẫu thân nó, con bé hiếu thuận, vậy cũng sai sao?”

Định Tây Hầu vốn xuất thân võ tướng, giọng nói oang oang. Mà người giọng to, khi khóc lên thì lại càng chẳng dễ nghe, thậm chí chói tai đến mức khiến người ta nhức đầu.

Tiếng khóc của ông ta vang vọng trong Kim Loan điện, khiến Vĩnh Khánh Đế đau đầu không thôi, chẳng còn tâm trí mà tính toán thêm gì, hạ triều xong liền gọi Lý Sùng đến ngự thư phòng.

Lý Sùng lúc này thanh giọng, cười bất đắc dĩ nói với Thẩm Lâm Dục:

“Phụ hoàng rất không vui, muốn ta kiềm chế bên nhà vợ. Ta hiểu rõ sự nóng lòng của nhạc mẫu khi tìm người, nhưng gây chuyện với nhà họ Vu thì quả là không đúng.”

Thẩm Lâm Dục liền nói:

“Họ hàng bà con bên ngoại nhiều thì khó tránh khỏi những chuyện như thế.”

Lý Sùng nghe vậy, liền cười, vỗ vai hắn:

“Ngươi cứ nói mát đi. Đợi khi ngươi thành thân rồi sẽ biết, bất kể là hoàng thân quốc thích hay dân thường, quan hệ họ hàng mới là đau đầu nhất.”

“Dẫu sao cũng là nhạc mẫu ta, nói nhẹ thì chẳng có tác dụng, mà nói nặng thì lại chẳng thích hợp.”

Thẩm Lâm Dục ân cần đề nghị:

“Vậy sao không để hoàng tử phi ra mặt? Dù sao cũng là mẫu thân nàng, nàng mở miệng sẽ dễ hơn.”

Sắc mặt Lý Sùng khẽ biến, thoáng lộ vẻ âm u trong chớp mắt.

Hắn không thể xác định được là do Thẩm Lâm Dục còn trẻ, chưa hiểu được những rắc rối xoay quanh mối quan hệ giữa vợ chồng và nhà vợ, hay là trong lòng hắn sớm đã rõ ràng, chỉ là cố tình đề xuất như thế.

Nghĩ đến chuyện mẫu tử Lục Niệm vài lần ra vào phủ Ngũ hoàng tử, lần nào cũng khiến Ứng Linh giận tím mặt, Lý Sùng nghĩ, Thẩm Lâm Dục tám phần là cố ý.

Cũng phải.

Người cầm giữ Trấn phủ ty, có thể nắm được tâm tư của lũ hồ ly già kia, sao lại là kẻ không hiểu nhân tình thế thái?

Nơi hành lang vắng lặng, cũng chẳng phải là nơi thích hợp để gay gắt đối đầu.

Huống chi, bản thân Lý Sùng vẫn chưa nghĩ thông được, rốt cuộc nên đối phó với Thẩm Lâm Dục như thế nào mới phải chừng mực.

“Thôi, không nói chuyện ấy nữa.”

Lý Sùng chủ động rút lui, tự dựng một nấc thang, nét mặt vẫn ôn hòa,

“Vài hôm nữa cùng ta uống chén rượu, đừng có kiếm cớ thoái thác.”

Thẩm Lâm Dục chắp tay nhận lời.

Hai bên cáo biệt.

Thẩm Lâm Dục tiếp tục đi về phía ngự thư phòng, Lý Sùng đứng đưa lưng, mắt nhìn bóng hắn dần xa, trong lòng ý niệm cuồn cuộn.

Đêm đó, một trận mưa thu rơi xuống.

Kèm theo cơn gió đêm ào ào, trời đất Kinh thành càng thêm giá lạnh.

Ứng Duệ co ro ngồi trên giường.

Từ sau khi bị phu nhân nhà họ Vu bắt được, nàng vẫn luôn bị giam cầm tại nơi này.

Hai mắt bị bịt kín, miệng nhét khăn, tứ chi bị trói chặt trên giường có khung gỗ. Ban đầu nàng còn chút sức giãy giụa, nhưng sau vài bữa không có gì ăn, rốt cuộc cũng trở nên “ngoan ngoãn”.

Không còn cách nào khác, vừa không giãy được, lại chẳng thể kêu cứu.

Người ma ma trông coi nàng mỗi ngày chỉ cho một chút lương thực, một tấm chăn mỏng, vừa đủ để nàng không chết đói, cũng không đủ sức trốn thoát.

Ứng Duệ kiệt quệ cả thể xác lẫn tinh thần, lại bị cơn mưa lất phất không ngớt và tiếng gió rít như ma quỷ gào thét làm cho hồn phi phách tán, lòng càng thêm bấn loạn, gần như sắp sụp đổ.

Khi phu nhân Vu gia lại một lần nữa đặt chân vào gian phòng này, cảnh tượng đập vào mắt bà chính là dáng vẻ thê thảm tột cùng của Ứng Duệ.

Ma ma cởi khăn bịt miệng nàng ra, lại tháo luôn mảnh vải che mắt.

Ánh sáng đột ngột chiếu vào khiến đôi mắt Ứng Duệ cay xè, nước mắt lã chã rơi xuống. Nàng bất giác nhắm chặt mắt lại để giảm bớt sự đau rát.

“Ở chốn này mấy ngày rồi, ngươi đã nghĩ thông suốt chưa?” Phu nhân Vu gia cất giọng hỏi.

Ứng Duệ không đáp.

Phu nhân Vu gia lại nói: “Vài hôm trước ta gặp mẫu thân ngươi. Bà ta xông tới Vu gia, ta không cho vào cửa, hai bên to tiếng một trận lớn ngay giữa phố Tây.”

Ứng Duệ ngẩn ra một thoáng.

Phu nhân Vu gia không giấu giếm điều gì, gần như kể lại đầu đuôi sự việc một cách tường tận.

“Giữa tính mạng của ngươi và của chính bà ta, vậy mà bà ta còn chần chừ.”

“E rằng, đó chính là cái tâm thế của người đông con nhiều cháu. Nếu là ta, nếu có cơ hội lấy mạng mình để đổi lấy mạng của A Huyên, ta tuyệt không do dự lấy một khắc.”

“Dĩ nhiên, cũng có thể bà ta biết, dù có đứng ra nhận tội thay, ngươi cũng chẳng rửa sạch nổi.”

“Phản ứng của phu quân ngươi nói rõ, ngươi cũng có dính líu.”

Ứng Duệ quay đầu sang bên, bày ra dáng vẻ không nghe không nhìn.

Phu nhân Vu gia ung dung thong thả, chẳng hề vội vã.

Bà đã chuẩn bị rất nhiều lời lẽ, tuyệt chẳng tin không khuất phục nổi Ứng Duệ.

“Ngươi không mở miệng? Vì sao vậy?”

“Người thân đều buông tay ngươi cả rồi, giờ ngươi ra nông nỗi này, chẳng phải cũng vì chính ngươi đã buông bỏ bản thân sao?”

“Dùng mạng mình để gánh vác tội lỗi do cả gia đình gây ra?”

“Chân tướng năm xưa, ta đã hao tâm tổn trí tìm kiếm, thật sự quá đỗi gian nan. Ngươi câm miệng, người nhà ngươi có lẽ sẽ yên thân an ổn.”

“Hẳn sẽ có người cảm kích ngươi chứ?”

“Ví như phu quân ngươi, nhờ vậy mà có thể hòa giải với song thân, không còn bị giằng co giữa hai bên, không còn phải khổ sở chọn lựa. Mất đi ngươi, phụ mẫu hắn ắt sẽ dễ dàng tiếp nhận đứa con quay đầu sửa lỗi.”

“Ví như muội muội ngươi, vẫn là Vương phi của Ngũ hoàng tử, thậm chí còn có cơ hội tiến thêm một bước.”

“Phụ mẫu ngươi ư? Huynh đệ tỷ muội còn đó, tự khắc sẽ thay ngươi báo hiếu…”

Ứng Duệ không muốn nghe, song đôi tai nàng không thể bịt lại.

Những lời kia như kinh kệ rì rầm, văng vẳng không dứt bên tai, khiến lòng nàng loạn như tơ vò.

“Ngươi đừng ly gián!” Ứng Duệ gào lên.

Giọng nàng khản đặc, đến chính nàng cũng cảm thấy xa lạ.

Phu nhân Vu gia thần sắc không đổi: “Không phải ly gián, mà là đôi bên cùng có lợi.”

“Hạ sách của ta là lấy mạng ngươi để tế mạng con gái. Dù ta chết, cũng coi như cho con một lời giao phó, làm mẹ đã tận sức rồi.”

“Con trai con dâu ta hiếu thuận, cháu trai cũng ngoan, lão gia nhà ta sau này có người phụng dưỡng, ta không còn mong gì hơn. Dù phải cùng ngươi đồng quy vu tận, ta cũng không có điều gì lưu luyến.”

“Nhưng hạ sách của ngươi là gì?”

“Ngươi câm miệng không nhắc đến chuyện năm xưa, kết cục duy nhất của ngươi chính là bị ta giết để hả giận.”

“Ngươi chết rồi, nhưng con cái còn nhỏ, phu quân ngươi nhất định sẽ tái giá, có kế mẫu thì tất có kế phụ, ngươi cam lòng sao?”

“Người năm xưa hại chết A Huyên, có phải là ngươi không?”

“Tội có phân nặng nhẹ, ở nha môn xử án cũng còn chủ phạm, tòng phạm. Chỉ cần ngươi không phải chủ mưu, ta có thể tha cho ngươi.”

“Người ta mà ta truy cứu là phủ Văn Thọ Bá, chứ chẳng nhất thiết phải làm khó một nữ nhân xuất giá như ngươi.”

“Nói đến cùng, có lẽ ta cũng chưa chắc có thể động đến phủ Văn Thọ Bá. Dù sao, nhà họ Ứng cũng có một vị hoàng tử làm phò mã, hắn mà ra mặt bảo vệ, ta thực sự có thể làm gì được?”

“Xét cho cùng, chi bằng giết ngươi cho thống khoái!”

Nói đến đây, phu nhân Vu gia lấy ra từ trong tay áo một con dao găm.

Lưỡi dao lạnh lóe lên ánh bạc, khiến tim Ứng Duệ như nhảy lên tận cổ họng.

“Xin người đừng như vậy!” Nàng khóc lóc van xin, “Con gái người, nàng nhất định cũng không muốn thấy người vì nàng mà giết người đâu!

Người muốn cùng ta đồng quy vu tận, nhưng người cũng đã nói rồi, muội phu ta là hoàng tử, giết người thì dễ, nhưng phi tang xác chết thì sao? Người bị bắt, cả Vu gia, nào là con trai hiếu thuận, dâu ngoan, cháu tốt… tất cả đều sẽ bị liên lụy đó!”

“Vậy cũng là cả nhà chúng ta nợ A Huyên!” Phu nhân Vu gia kích động đáp, “Là chúng ta không bảo vệ được con bé!”

Con dao lạnh như băng gần như đã chạm đến da thịt, Ứng Duệ không còn đường lui, vừa khóc vừa hét lên: “Người giết ta cũng chẳng ích gì!”

“Đúng vậy,” phu nhân Vu gia khẽ gật đầu, “Ta vừa mới nghĩ thông. Không giết ngươi càng vô dụng hơn. Ta đấu không lại phủ Văn Thọ Bá, không lại được Ngũ hoàng tử!

Dù có phanh phui chuyện năm xưa ra thiên hạ, các ngươi cũng không phải lo đến chuyện mất mạng.

Cùng lắm, chỉ bị người đời mắng chửi đôi ba câu là cùng.

Ngoài người chịu tang thương như ta, ai lại ngày ngày đi mắng mỏ hoàng thân quốc thích?

Vạn nhất, tương lai ngũ điện hạ đăng cơ…

Ai dám mắng hoàng hậu? Ai dám mắng quốc trượng?

Cho nên, ta vẫn nên giết ngươi thì hơn, giết ngươi cho hả giận!”

Ứng Duệ gào thét xé lòng: “Ta nói! Ta nói!”

Phải.

Phu nhân Vu gia nói không sai chút nào.

Phủ Văn Thọ Bá là hoàng thân quốc thích, cho dù chuyện cũ năm xưa bị lật lại, họ cũng tuyệt không lâm vào hiểm cảnh mất đầu.

Thế thì cớ gì… nàng phải cô đơn chịu chết chứ?

Nàng chết rồi, mẫu thân hẳn sẽ khóc một trận. Nhưng sau trận khóc ấy thì sao?

Chẳng lẽ còn mong đợi mẫu thân vì nàng mà phục thù như phu nhân Vu gia đã vì A Huyên mà điên cuồng khổ chiến?

Nàng đã chết rồi, còn thiết tha điều gì?

Nàng không cam lòng chết!

Con của nàng… vẫn còn thơ dại!

Huống chi, việc nàng tự cứu chẳng hề lấy tính mạng kẻ khác làm cái giá!

Phu nhân Vu gia kề lưỡi dao sát ngực Ứng Duệ, nhìn rõ thần sắc biến hóa nơi gương mặt nàng, liền biết bản thân đã thắng canh bạc này.

Trước lằn ranh sinh tử, chẳng ai còn giữ được sự tỉnh táo và lý trí, huống chi là một người đã kinh hồn táng đảm, thân tâm mỏi mòn như Ứng Duệ.

Nàng đã tin—tin rằng nếu nói ra, người nhà cũng không vì thế mà mất mạng.

Hoặc giả—nàng buộc phải tin như vậy, mới có thể danh chính ngôn thuận chọn con đường phản bội.

“Ngươi nói đi, ta nghe đây,” phu nhân Vu gia trầm giọng, “càng tường tận càng tốt.”

Ứng Duệ lệ tuôn như suối, lời nói vấp váp nhưng cuối cùng vẫn kể rõ rành rẽ.

“Năm đó từ hôn là vì đột nhiên có hôn sự tốt hơn tìm tới, nên mẫu thân mới đổi ý. Nào ngờ bên kia không thành, còn liên lụy đến danh tiếng của Ngũ muội.”

“Chuyện gièm pha Chu Nguyên khắc thê là do Tam muội nghĩ ra, thật sự không phải ta! Ta cũng chẳng rõ sao nàng lại nghĩ ra mánh ấy nữa.”

“Còn chuyện mẫu thân và mọi người đã làm gì với cô nương kia, ta hoàn toàn không biết. Dù sao nàng ta cũng đã chết.”

“Mãi đến khi nàng chết rồi, ta mới biết mọi việc.”

“Con gái của phu nhân, hình như là do mẫu thân ra tay. Dùng một loại độc hiếm gặp, trộn vào trong điểm tâm, năm ấy ở yến tiệc mùa xuân, là Tứ muội mang cho A Huyên ăn.”

“Ta… ta nhiều nhất chỉ là đồng lõa bao che, việc ấy không liên quan tới ta!”

Phu nhân Vu gia siết chặt chuôi dao, gắng gượng đè nén đôi tay đang run rẩy.

Bà nhớ rõ—trước khi xảy chuyện, A Huyên từng tham dự một buổi yến tiệc ngắm hoa mùa xuân.

Một đám quý nữ đang vui vẻ xem hoa, bất ngờ trời đổ mưa.

A Huyên dầm mưa, hôm ấy đã có chút khó chịu, sau đó thì…

Phu nhân Vu gia xưa nay vẫn tưởng nàng vì cảm lạnh. Nhưng A Huyên thân thể xưa nay cường kiện, một trận mưa đâu đáng kể? Bà vì thế mà càng thêm oán hận mối hôn sự kia đã đem vận đen tới.

Thì ra—chân tướng lại nằm trong chiếc bánh kia.

“Là loại điểm tâm nào?” Phu nhân Vu gia gằn giọng hỏi, “Sao chỉ có A Huyên ăn?”

“Là thanh đoàn! Mùa ấy đúng lúc đang thịnh hành!” Ứng Duệ đáp, “Trong yến tiệc có sẵn, nhưng Tứ muội mang theo riêng một phần có độc, trộn trong nhân mè đen, hình như còn có đánh dấu, nên không sợ nhầm lẫn.”



Ứng Duệ lại bị bịt mắt, bị nhét vải vào miệng.

Nàng dù bực bội, nhưng còn giữ được mạng là nàng thấy nhẹ nhõm.

Thậm chí, trong lòng còn không ngớt oán trách:

Mẫu thân họ biết rõ là phu nhân Vu gia bắt nàng, thế mà sao còn chưa tới cứu?

Theo dõi một người, chẳng lẽ cũng không theo nổi?

Nếu họ bám sát, vừa rồi xông vào cứu người, nàng đâu đến nỗi bị ép đến bước này!

Vậy thì… sao có thể trách nàng?

Còn phu nhân Vu gia, cất dao găm trở vào tay áo, vịn tay ma ma chậm rãi đi ra sân viện.

Trời vừa mưa xong, mây tan trời tạnh, ánh trời xanh biếc, bà lặng lẽ ngẩng đầu nhìn trời một lúc lâu, rồi nhẹ giọng nói:

“Ứng Duệ xem ra thật sự không biết rõ là dùng độc gì. Ta tuy trước đó có nói dối, nhưng nói thật lòng… chỉ dựa vào những lời kia, muốn đối phó phủ Văn Thọ Bá, ta cũng không chắc phần thắng.

Ta thực lòng muốn báo thù cho A Huyên, nhưng ta càng muốn chân tướng sáng tỏ…”

Ma ma mắt đỏ hoe, nghẹn ngào: “Nô tỳ biết người không muốn gây phiền phức cho mẫu tử Lục phu nhân, nhưng sự việc đã tới nước này, chi bằng người thử hỏi xem họ nghĩ sao?”

Phu nhân Vu gia không trả lời.

Bà cẩn thận rời khỏi nơi ấy, xe ngựa vòng vèo qua nhiều nẻo, cuối cùng lại quay về phố Tây.

Nhìn thoáng qua Quảng Khách Lai đang đông khách tấp nập, bà liền giục xa phu trở về phủ.

Phu nhân Vu gia không đến tìm Lục Niệm.

Chẳng ngờ, tới chạng vạng, A Vi lại chủ động đến cửa.

“Ta tin phu nhân hẳn đã có thu hoạch,” A Vi mỉm cười rạng rỡ, “cứ coi như kể cho ta một chuyện đi.”

Phu nhân Vu gia do dự hồi lâu, cuối cùng vẫn đem lời khai của Ứng Duệ kể lại.

A Vi ghi tạc trong lòng.



Hôm sau.

Phu nhân Văn Thọ Bá đang băn khoăn không hiểu “Lục Niệm phái con gái đến Vu gia làm gì”, thì người gác cổng bẩm báo: ma ma bên cạnh Lục Niệm dâng lên thiếp bái kiến.

Phu nhân Văn Thọ Bá không muốn gặp, nhưng lại không thể thật sự không gặp. Còn đang lưỡng lự, thì nghe người báo—ma ma kia căn bản không định vào cửa!

Văn ma ma đứng ngay ngoài cổng phủ, cao giọng vang dội:

“Bữa trước quý phủ gây chuyện trước cửa tiểu đ**m, làm tổn thất ba lồng gà sống, hôm nay ta tới đòi tiền gà!”
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 211: Đây chính là cái giá cho việc các ngươi liều mình trèo cao vào hoàng gia!


Quản sự coi cổng của phủ Văn Thọ Bá nghe xong thì trợn trừng hai mắt.

Đòi… đòi tiền gà?

Phủ Bá gia sao có thể thiếu tiền của người khác? Huống hồ chỉ là mấy con gà?

Nếu nói gây chuyện, hắn thấy bà ma ma kia mới giống người đến gây chuyện thì có!

Xét dáng người, ma ma kia cao lớn, thân hình vạm vỡ; nhìn dung mạo, ngũ quan nghiêm nghị, không giận tự uy.

Đứng chình ình trước cổng phủ, nhìn còn oai phong hơn cả đôi sư tử đá kia.

“Ma ma chớ nói năng hàm hồ,” quản sự hít sâu một hơi, “là do lồng gà của các ngươi ở Quảng Khách Lai không chắc chắn, nên gà mới xổng chuồng chạy loạn khắp phố.

Còn dọa sợ phu nhân nhà ta nữa! Bọn ta chưa hỏi tội các ngươi, vậy mà các ngươi còn tới đòi tiền ư?!”

Văn ma ma khẽ cười lạnh: “Nếu phủ quý không tranh cãi ngay trước tửu đ**m nhà ta, sao gà lại bị hoảng loạn?

Gà không bị kinh động, sao có thể phá lồng?

Lồng không vỡ, gà sao có thể bay loạn khắp phố, rồi dọa đến quý phu nhân các ngươi?”

Quản sự tức đến run người: “Cuối cùng chẳng phải đều bắt lại rồi sao? Một con cũng chẳng chạy mất, nói gì đến tổn thất!”

“Ngươi từng vào bếp chưa?” Văn ma ma hỏi lại, “Có biết gia cầm, súc vật khi bị giết mà không chịu đau đớn thì ăn vào sẽ khác hẳn với thịt bị hành hạ đến chết không?”

Quản sự ngẩn ra: “A?”

Hắn quả thật không biết.

Văn ma ma dõng dạc: “Ta là người cầm dao, ngươi là thịt cá dưới dao. Giết ngươi khi đang say ngủ, âm thầm một đao, với đánh cho ngươi tơi bời hoa lá, chém tay, chặt chân, rồi mới giết—ngươi thấy, thịt ấy liệu có giống nhau, có mềm mại, ngon miệng như nhau không?”

Quản sự: ……

Sao lại nói tới giết người rồi?!

Hắn quả thực chưa từng vào bếp, bị Văn ma ma xoay mấy câu đã choáng váng, lại thêm khí thế khiến người rợn gáy, nhất thời không biết đáp lại thế nào, vô thức né tránh ánh mắt đối phương.

Đảo mắt nhìn quanh, liền thấy mấy phủ quan lại thế gia gần đó, người giữ cửa đều thò đầu hóng chuyện, háo hức như muốn xem kịch.

Phải rồi, có ai lại không thích xem náo nhiệt?

Nếu xem được việc hay ho, còn có thể về kể với chủ tử, nhận được thưởng.

Có điều, người bị đem ra làm trò cười lần này… chính là phủ Văn Thọ Bá bọn họ!

Mặt quản sự đỏ bừng.

Hắn biết rõ bà ma ma này là có chuẩn bị mà đến, đành nghĩ ngợi một hồi rồi nói: “Việc này ta làm không chủ, ma ma chi bằng vào trong, thương lượng với đại quản sự. Ta chẳng qua chỉ là người giữ cửa…”

Văn ma ma nhướn mày cười lạnh: “Chỉ là mấy con gà chạy bộ trong trang, không đáng bao nhiêu ngân lượng, việc gì phải vào trong chậm rãi thương nghị?”

Quản sự nóng ruột, nhưng Văn ma ma thì vẫn thong dong.

Người trong phủ Văn Thọ Bá nghe tin liền vội vã chạy ra trước cửa, nhưng không ai chịu lộ diện, chỉ trốn phía sau cánh cửa, đứng nép hai bên nghe trộm.

Nghe Văn ma ma nói năng như vậy, tam tiểu thư của phu nhân Văn Thọ Bá tức giận nói: “Đóng cửa lại! Mặc kệ bà ta!”

Thế tử phủ Văn Thọ Bá khoát tay ngăn nàng: “Bà ta còn mong chúng ta đóng cửa kìa.”

Lục Niệm là người thế nào?

Năm ngoái trong linh đường mẫu thân ruột mình, nàng và A Vi một người xướng một người họa, tới nỗi làm sập luôn cả linh đường.

Tuy nhà họ Ứng không tới điếu tang, nhưng sau đó cũng được nghe chuyện từ người quen thân thích.

Thật là… cực kỳ biết gây chuyện.

Chỉ một chút sơ hở cũng có thể khiến nàng làm to chuyện như núi lở đất rung.

Ma ma bên cạnh Lục Niệm, có thể là loại người dễ đối phó sao?

Hắn dám chắc, nếu họ vừa đóng cửa, thì bà ma ma ấy sẽ lập tức gây loạn khiến hàng xóm bốn bên mở toang cửa nhà, đứng xem kịch như xem rồng múa.

Rơi vào thế giằng co, người bị kẹt ở giữa chẳng ai khác ngoài phủ Văn Thọ Bá bọn họ.

“Cứ hỏi xem bà ta muốn bao nhiêu bạc!” Thế tử nói.

“Đại ca định thật sự đưa tiền cho bà ta sao?”

“Chục con gà thì bao nhiêu chứ? Có đắt hơn mặt mũi của phủ Văn Thọ Bá chúng ta không?”

Mấy tiểu thư liếc nhìn nhau, không ai lên tiếng nữa.

Nhưng phu nhân Văn Thọ Bá thì không nuốt nổi cục tức này.

Nỗi sợ lông vũ của bà là bẩm sinh, in sâu tận xương tủy.

Cảnh tượng mấy chục con gà vỗ cánh bay loạn, bà chỉ cần nhớ lại là da đầu tê dại. Cả đời này, bà chưa từng thấy thứ gì dọa người đến thế!

Vì thế mà mấy đêm gần đây, Văn Thọ Bá phu nhân liên tục gặp ác mộng, trong mộng toàn là tiếng “cục ta cục tác” vang vọng nhức óc.

“Vì sao chỉ đòi bạc chúng ta?” Phu nhân nghiến răng, “Chẳng lẽ Vu gia không có phần sao?”

Thể diện, từ lúc ầm ĩ trước cửa Quảng Khách Lai đã mất sạch không còn!

Bà không thiếu mấy lượng bạc ấy, nhưng nuốt không trôi nỗi nhục này!

Thấy bà kiên quyết như vậy, Văn Thọ Bá thế tử cũng không tranh cãi, chỉ dặn dò mấy câu với lão quản sự.

Lão quản sự vâng lời, đi ra đối diện với Văn ma ma: “Xin hỏi, tổng cộng là bao nhiêu bạc?”

Văn ma ma hắng giọng một cái.

Giá gà sống bao nhiêu, vì gà bay nhảy mà lỡ mất bao nhiêu vụ làm ăn, phải bồi thường thế nào… từng khoản, từng khoản được bà tính rõ ràng, rành mạch như kê đơn bốc thuốc.

Lão quản sự lại hỏi: “Không biết khoản này, bên Vu gia và Quảng Khách Lai đã thu rồi chứ?”

“Thu rồi,” Văn ma ma đáp bằng vẻ mặt nghiêm trang, âm thanh ôn hòa mà tự tin, “Chúng ta làm ăn quang minh chính đại, công bằng như cân tiểu ly. Khoản này, quý phủ và Vu gia chia đôi.

Vu gia ở gần tửu đ**m, tiểu thư nhà ta đích thân tới thu, hôm qua đã lấy được bạc rồi.

Hôm nay cô nương nhà ta bận, nên sai ta đến đây một chuyến.

Thật là bận không rời thân được, trông có vẻ như coi nhẹ bên này một chút.

Nhưng cô nương nhà ta là người trọng thể diện, làm việc chu đáo, để tỏ lòng xin lỗi vì không thể đích thân tới, đã sai ta mang theo một hộp điểm tâm.”

Nói tới đây, xa phu đợi sẵn bên cạnh mở thùng xe, lấy ra một hộp đựng thức ăn, trao tận tay cho Văn ma ma.

Văn ma ma mỉm cười: “Là cô nương nhà ta đích thân làm đó.”

Lão quản sự mặt mày cứng đờ, đưa ngân phiếu ra, gượng gạo cười nói: “Vậy thì không cần phiền thế đâu.”

Văn ma ma coi như không nghe thấy.

Khoản tiền gà này, có cũng được, không có cũng chẳng sao—nhưng hộp điểm tâm kia mới là “mục đích chính” cho chuyến đi này của bà.

Bà mở hộp, để lộ bên trong là mấy cái thanh đoàn tròn tròn mềm dẻo.

“Dù không phải món theo mùa, nhưng nghe nói phu nhân nhà quý phủ rất yêu thích,” Văn ma ma giọng vang rền rẽ, đảm bảo hàng xóm xung quanh đều nghe thấy từng chữ, “Là thanh đoàn nhân mè đen. Phu nhân nhất định phải nếm thử đấy.

Chúng ta làm nghề tửu đ**m, điểm tâm đưa ra đều có đảm bảo. Quyết không dùng thủ đoạn bẩn thỉu như bỏ độc, hạ dược gì cả.

Phu nhân cứ yên tâm dùng. Nhưng sau khi ăn rồi mà còn vu cho chúng ta bỏ thứ gì đó vào, thì chúng ta không nhận đâu đấy.”

Nói xong, bà “cạch” một tiếng đóng nắp hộp lại.

Trong lúc bà nói chuyện, xa phu đã từ trên xe mang xuống bảy tám hộp thức ăn giống hệt.

Văn ma ma chỉ tay: “Tất cả đều là thanh đoàn như nhau, lão quản sự cứ tùy ý chọn một hộp. Số còn lại, ta mặt dày đem tặng cho các nhà hàng xóm gần đây một chút.

Ngươi chọn trước, ta mới đưa đi sau. Nếu người nhà khác ăn đều không sao, thì quý phủ các ngươi chắc cũng không ăn ra chuyện gì, phải chăng?”

Lão quản sự nhìn hàng dài hộp bánh được bày ra, lấy cũng dở, không lấy cũng dở.

Mà phía sau cánh cửa lớn nơi hắn không trông thấy, mặt Văn Thọ Bá phu nhân đã trắng bệch không còn giọt máu.

Tứ tiểu thư nhà họ Ứng còn suýt chân mềm nhũn, ngã ngồi ra đất: “Bà ta nói gì? Thanh đoàn? Sao bà ta lại biết…”

“Hử? Thanh đoàn thì sao?”

Hai người con trai út của phu nhân liếc nhìn nhau, vẻ mặt mơ hồ.

Chỉ có thế tử l Văn Thọ Bá à kịp phản ứng, nghiến răng hỏi qua kẽ răng: “Là ăn thanh đoàn mới xảy ra chuyện…?”

Không ai trả lời, nhưng từ sắc mặt của mẫu thân và Tứ muội, hắn đã có được đáp án.

“Chuyện đã lâu như thế… người của Lục Niệm làm sao lại biết?!”

Vai Văn Thọ Bá phu nhân run lên dữ dội: “Ta đã nói rồi là bọn họ bắt A Duệ đi! Vu gia chỉ là mặt ngoài, phía sau đều là Lục Niệm và con nàng ta đang giật dây!

Chúng nhất định đã tra khảo A Duệ! Không thì sao A Duệ lại khai ra chứ?

Không được! Ta phải hỏi cho rõ, rốt cuộc đã giam A Duệ ở đâu?!”

Nói xong, phu nhân xông thẳng ra ngoài, bị mấy người con trai gắt gao kéo lại.

Bàn về sức lực, bà sao địch nổi họ? Trong lúc giằng co, không kìm được cơn tức, bà gào lớn:

“Các con buông ta ra! Ta phải cứu A Duệ! Đó là ruột thịt của các con, sao các con có thể trơ mắt nhìn nó bị người ta hại đến như vậy…”

Một phen rối loạn bất ngờ, đến mức lúc có người chạy tới bịt miệng bà lại thì đã muộn—tiếng hét đã vang ra ngoài.

Văn ma ma nghe rõ rành rành.

Mục đích đã đạt, bà không lưu lại lâu.

Cưỡng ép lão quản sự phải lựa một hộp thanh đoàn, số còn lại thì đàng hoàng đem phân phát cho hàng xóm láng giềng, rồi bà lên xe ngựa, tiêu sái rời đi.

Chỉ để lại một phủ Văn Thọ Bá rối loạn gà bay chó sủa phía sau cánh cửa.



Văn Thọ Bá phu nhân rốt cuộc cũng ngã bệnh thật.

Vốn đã mang bệnh, hôm ấy lại mất mặt ngoài phố, liên tiếp mấy đêm ác mộng, nay lại bị Văn ma ma dọa thêm một trận, bà lập tức được người hầu dìu về phòng nghỉ.

“Ta muốn gặp A Linh, chuyện này chỉ có thể nói với A Linh thôi.”

Người đã ngã bệnh, mà đầu óc vẫn không chịu yên.

Mấy người con cái tụ họp bàn bạc hồi lâu, cuối cùng là Tứ tiểu thư nhà họ Ứng tự mình tới phủ Ngũ hoàng tử cầu kiến.

Ứng Linh sau khi nghe rõ lý do, chẳng nói chẳng rằng, cầm luôn chén trà đập thẳng xuống đất.

“Đừng đập đồ nữa, đập rồi cũng chẳng ích gì đâu,” Tứ tiểu thư họ Ứng nghẹn ngào, “Chuyện tới nước này, cũng chỉ có ngũ muội muội mới có thể giúp bọn ta.”

“Giúp các ngươi cái gì?” Ứng Linh giận dữ, “Giữa phố cãi nhau ầm ĩ, bị ngự sử chỉ mặt mắng mỏ, các ngươi mất mặt thì thôi, có từng nghĩ tới thể diện của ta chưa?”

Ngũ hoàng tử bị Thánh Thượng trách phạt tại ngự thư phòng, Ứng Linh cũng chẳng được yên.

Gần đây, Lương tần – người vẫn luôn chướng mắt với nàng – đã gọi nàng tới, cho nàng nếm đủ mùi “quy củ” châm chọc bóng gió.

Lúc mới bước chân vào hoàng gia, nàng còn chưa từng khổ sở như vậy.

“Nhưng… chẳng phải cũng là vì ngươi sao?” Tứ tiểu thư nghẹn ngào, “Nếu không vì ngươi, mẫu thân đâu đến nỗi…”

“Là ta bảo bà ta giết người sao? Ta bảo ngươi giết người sao?” Ứng Linh lạnh lùng ngắt lời.

“Là ngươi ngồi nhìn mà không ngăn lại.” Tứ tiểu thư họ Ứng bỗng bật cười, “Tay ta bẩn rồi, nhưng ngươi cũng chẳng sạch sẽ gì đâu, ngũ muội, ngươi chắc chắn muốn cùng ta truy đến cùng?”

“Thế ngươi muốn ta làm gì?” Ứng Linh sắc mặt tái xanh, giọng the thé, “Giờ chẳng phải ai cũng chẳng làm gì được ai sao?

Vu gia biết rõ A Huyên chết dưới tay ai, chết thế nào—nhưng chẳng động được Văn Thọ Bá phủ.

Chúng ta biết nhị tỷ đang bị giam trong tay Vu gia—nhưng cũng không có cách nào cứu được!

Chẳng lẽ ngươi muốn đi báo quan?

“Ngươi định nói thế nào?”

“Nói Lục Niệm cùng con gái nàng ta mang thanh đoàn đến tặng, chỉ có Nhị tỷ biết A Huyên đã ăn thanh đoàn có độc, nên nhất định là Vu gia tra khảo Nhị tỷ rồi mới nói cho họ biết?”

“Ngươi cảm thấy lời ấy nói ra có ai tin? Muốn cùng chết ư?”

Tứ tiểu thư họ Ứng cúi đầu không đáp, cũng chẳng nghĩ ra cách nào hay hơn, chỉ thì thào:

“Vậy ngươi nói phải làm sao?”

Ứng Linh buông vai, khẽ cười khổ:

“Còn có thể làm sao? Người ta nhắm vào là điện hạ, chúng ta… chỉ là vật hi sinh kèm theo, ngươi hiểu không?”

“Đây chính là cái giá mà các ngươi đã phải trả cho việc năm xưa liều mạng bám víu hoàng gia!

Thật tưởng làm hoàng thân quốc thích là chuyện dễ dàng sao?

Nhìn xem, bây giờ phải trả giá bằng cả mạng sống rồi đó!”

Tứ tiểu thư họ Ứng như người mất hồn, thất thểu trở về.

Ứng Linh gục người xuống tháp, ngực như bị đè nén nghẹt thở.

Trời dần về chiều, ánh sáng càng lúc càng mờ mịt.

Ma ma bước vào bẩm báo:

“Điện hạ sai người truyền lời, nói sẽ sang phủ Bát điện hạ dự tiệc, dặn nương nương và mấy vị tiểu điện hạ không cần chờ cơm.”

Ứng Linh vô hồn gật đầu.



Tại phủ Bát hoàng tử, Lý Vi đang rót rượu cho Lý Sùng.

Lý Sùng lặng lẽ uống cạn.

Lý Vi hạ giọng nói:

“Cứ tiếp tục như vậy thì không ổn. Lâm Dục quả thật… bị ép một chút liền có thể lôi ra được chuyện.

Xem tình hình hiện tại, e rằng phủ Văn Thọ Bá đúng là có vấn đề.”

Lý Sùng liếc nhìn hắn.

“Chuyện náo loạn trước cửa phủ Văn Thọ Bá, ngũ ca nghe rồi chứ?” Lý Vi nói tiếp, “Nghĩ lại mới thấy, tuyệt đối không thể xem thường mẫu tử Lục phu nhân.

Tằng Thái Bảo, An Quốc Công… ta thấy bọn họ cũng là vì khinh thường mà bại dưới tay hai người đó.

Nói đến việc khơi gợi ly gián, hai người ấy… thật sự là—”

Nói đến đây, Lý Vi giơ ngón cái, rồi khẽ hạ giọng:

“Lâm Dục phối hợp với họ, quả thật chiếm hết lợi thế.”

Lý Sùng nhẹ nhàng đặt ly rượu xuống:

“Hôm ấy ở ngự thư phòng, nghe giọng điệu của phụ hoàng… người sẽ không quản Lâm Dục làm gì.”

Lý Vi sửng sốt:

“Dù Lâm Dục nhắm thẳng vào huynh?”

“Lúc chúng ta ra tay với Đại ca, phụ hoàng đã làm gì?” Lý Sùng hỏi lại.

Lý Vi hít sâu một hơi:

“Chẳng lẽ… chỉ biết ngồi chờ chết?”

Lý Sùng lắc đầu.

“Ta đã suy nghĩ rất kỹ rồi. Lâm Dục không phải Đại ca. Nếu dùng cách cũ đối phó, chỉ khiến phụ hoàng thêm nghi kỵ,”

“Chúng ta chỉ có thể khiến hắn bị vướng chân…”

Nhưng—thời gian còn lại với hắn, đã chẳng còn nhiều.

Câu này, Lý Sùng không nói ra.

Lý Vi dường như không nhận ra lời ẩn ý ấy, chỉ hỏi:

“Làm sao vướng chân được?”

Lý Sùng khẽ cười, tự tay rót thêm rượu, nâng lên uống cạn:

“Lâm Dục… không còn trẻ.”

Lý Vi không hiểu.

“Vài hôm nữa mượn đệ căn nhà ở Thái Hưng phường một chuyến,” Lý Sùng nói,

“Ta muốn mời Lâm Dục một chầu rượu.”

“Mượn nhà chỉ là chuyện nhỏ,” Lý Vi nghiêng người tới, hạ giọng hỏi:

“Hai người uống rượu riêng? Có cần ta bồi tiệc không?”

“Không cần.” Lý Sùng từ chối.

Lý Vi cũng không ép, chỉ nâng chén rượu, ngửa đầu uống cạn.

Giây lát nhắm mắt lại, ánh mắt lạnh lùng lóe sáng liền bị che giấu dưới hàng mi.



Hôm sau.

Gió thu se sắt, lá vàng xào xạc.

A Vi dậy sớm làm món quế hoa tô.

Hôm nay là ngày giỗ của Bạch thị. Năm ngoái tròn ba mươi năm, nên cúng lễ lớn; năm nay thì giản dị hơn nhiều, chỉ người trong nhà làm lễ tưởng niệm.

Lục Niệm cùng A Vi trở về phủ Định Tây Hầu, dâng hương trước linh vị Bạch thị.

“Đã một năm rồi.”

Lục Niệm bước ra khỏi từ đường, nhẹ giọng than.

Bảo là chậm, thật ra cũng chẳng chậm—nhưng nàng đợi những kết quả này quá lâu rồi.

Lâu đến nỗi, khi bản thân đạt được tâm nguyện, lại chỉ mong A Vi cũng sớm được nếm mùi chiến thắng.

A Vi hiểu ý nàng, mỉm cười nhẹ giọng an ủi:

“Mới một năm đã có kết quả như vậy, cho thấy chúng ta có bản lĩnh.”

Lục Niệm khẽ mỉm cười, rồi hỏi:

“Con đoán xem phủ Văn Thọ Bá còn cầm cự được bao lâu?”

A Vi đưa một bàn tay ra lắc lắc:

“Người đông mà lòng không đồng, gặp chuyện là rối loạn—nhiều nhất vài ngày.”

Hiển nhiên, A Vi đã đánh giá họ quá cao.

Ngày hôm sau, Văn ma ma đã nhận được tin—

Phu nhân Văn Thọ Bá… phát điên rồi.
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 212: Lần sau, chẳng lẽ bọn họ muốn ngươi thật sự phát điên sao?


Phủ Văn Thọ Bá nói rằng, vì nhị tiểu thư mất tích không rõ tung tích, sống chết chưa hay, phu nhân Văn Thọ Bá chịu không nổi đả kích, mới phát điên như vậy.

Người ta đã ra nông nỗi ấy rồi, nếu cứ còn chộp lấy chuyện ầm ĩ “không hợp lễ nghi” trên Tây Nhai trước đó để làm lớn, há chẳng phải quá mức cay nghiệt sao?

Dù sao thì, phần lớn các vị Ngự sử cũng không muốn làm kẻ cay nghiệt như thế.

Huống chi, lần trước “liên lụy” đến Lục Niệm, Định Tây hầu đã đau khổ đấm ngực mà rằng: “Nữ nhi ta có bệnh, các ngươi rốt cuộc muốn thế nào nữa đây?!”

Phải rồi, người khỏe mạnh bình thường, ai lại cố ý gây khó dễ với kẻ mang bệnh chứ?

Các Ngự sử liền im hơi lặng tiếng, khiến Văn Thọ Bá cũng thở phào nhẹ nhõm.

Không nhắc nữa thì tốt.

Nếu tiếp tục đào sâu, e là hai vụ án mạng năm xưa cũng bị lật lại, trong phủ ai nấy đều sẽ gặp họa lớn.

Còn nhị tiểu thư Ứng Duệ…

Ai, cũng chỉ trách nàng số khổ mà thôi.

Ngược lại, trong phủ Kính Văn Bá, không khí lại càng thêm nặng nề.

Dù có vứt bỏ hết thể diện, thậm chí liều mạng khai quan nghiệm thi, phu nhân Vu gia thậm chí còn không tiếc bắt cóc cả Ứng Duệ để truy cầu chân tướng, giờ đây, khi đã nắm được chút manh mối, lại buộc phải buông tay…

Nỗi uất ấy, há có thể nuốt trôi?

“Bà ta điên rồi?” Phu nhân Vu gia sau khi nghe tin, kinh hãi vô cùng: “Ta không tin! Sao có thể phát điên được chứ?”

Thế nhưng trong kinh thành, người tin thì vẫn nhiều hơn.

Dù sao, con gái mất tích, người làm mẹ phát điên, chuyện này nghe cũng hợp lẽ.

“Đáng thương thay.”

“Cả đời vì con cái mà lo toan, tuổi già lại gặp cảnh này…”

“Nghe đâu mất tích đã mấy ngày, e rằng lành ít dữ nhiều.”

“Chẳng khác nào người tóc bạc tiễn kẻ đầu xanh.”

“Không giống đâu, một bên là rõ ràng đau thương, một bên là hy vọng chẳng thành, bỏ thì không đành, càng kéo dài càng giày vò.”

“Phải đó, người không rõ tung tích, lập bài vị thì không phải, mà không lập thì cũng chẳng xong.”

“Hôm đó Tây Nhai ầm ĩ đến thế, nghe nói từ xưa đã có mâu thuẫn, một người đang yên lành mà phát điên, ta nói, có khi nào là báo ứng?”

“Lời này chớ nên nói vậy, chẳng phải nữ nhi Định Tây hầu cũng mắc bệnh điên đó sao? Lẽ nào cũng là báo ứng?”

“Phải, không thể vơ đũa cả nắm.”

“Phủ Văn Thọ Bá thực ra cũng rất oan uổng, chắc vẫn là vì nhị tiểu thư mất tích mà thôi…”

Trong trà lâu, tiếng người ồn ào, náo nhiệt phi thường.

Khách trong đại sảnh người nói kẻ bàn, mỗi người một ý.

Vì sao lại khiến mọi người bàn luận sôi nổi như thế?

Đương nhiên là vì cảnh tượng “gà bay loạn cánh” hôm đó quá mức chói mắt, rất nhiều người tận mắt chứng kiến, sau đó truyền miệng khắp nơi.

Trong một nhã gian của trà lâu, Lục Tuấn đang nắm chén trà trong tay, sắc mặt đen sì.

“Lục Thế tử giận dỗi gì chứ? Có kẻ ăn nói hồ đồ, nhưng cũng có rất nhiều người biết, bệnh điên đâu có liên quan gì đến báo ứng.”

“Người ta nói phủ Văn Thọ Bá, ngươi tự dưng nhảy ra, chẳng phải rước vạ vào thân sao?”

“Định Tây hầu ở Kim Loan điện cũng không hề tránh né, bệnh của tỷ tỷ ngươi đâu phải chuyện không thể nói.”

Lục Tuấn nặng nề đặt chén trà xuống bàn, giận dữ nói: “Tỷ tỷ ta mắc bệnh đâu phải do báo ứng!”

Hắn vẫn luôn ghi nhớ, đêm Trung Thu năm ấy, Chương Anh từng miệng đầy “báo ứng”, gây cho đại tỷ thương tổn lớn đến nhường nào — đến mức A Vi cũng phải rút đao.

Lục Tuấn sao có thể chấp nhận để hai chữ “báo ứng” ấy lại một lần nữa gắn vào tên Lục Niệm?

Bằng hữu bị cơn giận bất thình lình của hắn làm cho ngơ ngác:

“Gào gì với tụi ta? Có phải tụi ta nói đâu.”

Lục Tuấn đứng dậy, sải bước đi ra ngoài.

Một bên là đại tỷ của hắn, cùng bằng hữu thân thiết Chu Nguyên; một bên là Văn Thọ Bá phủ.

Lục Tuấn tin tưởng, sự thật nằm trong tay hắn.

Văn Thọ Bá phủ, chẳng phải thứ tốt lành gì cả!

“Chư vị muốn bàn luận phủ Văn Thọ Bá, xin cứ tự nhiên,” Lục Tuấn ba bước thành hai, đi xuống lầu, đứng giữa đại đường, hướng các thực khách trong trà lâu chắp tay, trịnh trọng nói:

“Thân thể trưởng tỷ của ta, không phiền các vị lo lắng. Tỷ ấy đúng là mang bệnh, nhưng không đáng phải nhận cái gọi là báo ứng.”

Người bị thân nhân của đối tượng bàn tán bắt gặp ngay tại trận, dù da mặt có dày đến đâu cũng thấy ngượng ngùng.

May thay người đông thế mạnh, cùng ngượng thì cũng chẳng ai đỏ mặt riêng rẽ.

Ngược lại là Lục Tuấn, trong lòng một cục tức bốc lên, lúc xoay người rời đi lại không chú ý đường, đầu va thẳng vào cánh cửa, đau đến mức hắn nghiến răng nhăn mặt.

“Thế tử thật là không cẩn thận chút nào!” Bằng hữu vội vàng đỡ lấy hắn.

Một khắc sau.

Lục Tuấn nghe thấy câu đầu tiên là—

“Trước không lo sau, nói ngươi đó, ngu đến mức ta chẳng buồn nhìn.”

Lục Niệm không thèm liếc nhìn hắn, đưa mặt ra để Văn ma ma giúp Lục Tuấn chườm vết u trên trán.

Lục Tuấn ngồi trên ghế, mặt đầy ấm ức: “Ta là vì tỷ mà nói chuyện…”

“Vì ta mà ngu à?” Lục Niệm liền hỏi lại, “Ta là kẻ điên, Bá phu nhân cũng là kẻ điên, ta không bị báo ứng, vậy nên Bá phu nhân cũng không thể vì báo ứng mà bị điên.

Hiện giờ Văn Thọ Bá phủ chỉ mong bám chặt lấy chúng ta, biến Bá phu nhân thành một người mẹ quá đau lòng vì con gái mất tích.

Ngươi không tránh xa họ, còn chủ động đưa lời cho người ta.

Ngươi tưởng ta ba đầu sáu tay sao?

Trước đây cõng một mình ngươi đã đủ khổ, giờ còn cõng cả cái Văn Thọ Bá phủ đó nữa?”

Huống chi, cõng cái rắm!

Lục Niệm hận không thể đem cả phủ Văn Thọ Bá ném mạnh xuống đất cho sập luôn!

Lục Tuấn há miệng định giải thích, liền đau đến hít mạnh một hơi, phải bình ổn lại mới nói được:

“Ta trái tai vào, phải tai ra, chẳng lẽ như vậy bọn họ không bám theo nữa? Rõ ràng là Văn Thọ Bá phủ hại người, cuối cùng lại tự hại mình…”

“Hại mình?” Lục Niệm cười khẩy, quay đầu hỏi A Vi:

“Văn Thọ Bá phu nhân có hại mình không?”

A Vi đáp: “Tám chín phần là không.”

Lục Tuấn ngơ ngác hiểu ra, kinh ngạc hỏi: “A Vi con nói là… Bá phu nhân không bị điên? Bà ta giả vờ sao? Vậy bà ta được gì chứ?”

“Chỉ có giả điên mới còn tâm trí mà bày ra lắm trò thế này, nếu điên thật thì chỉ biết ngồi yên thôi,” A Vi chậm rãi nói, “Bà ta làm vậy là muốn ép phủ Kính Văn Bá và Vu gia phải dừng truy xét cái chết của A Hyên cô nương.”

Lục Tuấn ngẩn người.

“Không tin à?” Lục Niệm dựa vào trường kỷ, điều chỉnh tư thế, sau đó đột nhiên thay đổi vẻ mặt, loại bỏ hoàn toàn vẻ chán ghét thường ngày, chỉ còn lo lắng và thống khổ:

“Các ngươi đã ép mẫu thân ta phát điên, còn muốn thế nào nữa?!”

“Bà ấy có bệnh! Người bệnh thì làm sao nói rõ sự thật cho các ngươi nghe? Hay là các ngươi chỉ muốn cái gọi là ‘sự thật’ theo ý mình?!”

“Bắt nạt một người bệnh, chẳng lẽ các ngươi muốn ép chết bà ấy?!”

Lục Tuấn: …

Lục Niệm lại bình tĩnh trở lại, quay sang Lục Tuấn:

“Thế nào, diễn cũng không tệ lắm phải không?”

Lục Tuấn gật đầu cũng không được, không gật cũng chẳng xong.

Lục Niệm không thèm để ý hắn phản ứng thế nào, chỉ nâng mặt lên nhìn A Vi.

A Vi rất biết chiều lòng: “Người còn đạo nghĩa chính khí hơn cả đám con của Văn Thọ Bá phu nhân.”

Lục Niệm bật cười: “Đương nhiên. Điên thì phải hiểu kẻ điên. Ta sao lại không biết, quanh một kẻ điên có thể làm ra bao nhiêu chuyện? Nói đi cũng phải nói lại, Bá phu nhân mà không điên, người đau đầu nhất chính là chồng và con cái bà ta.”

A Vi bước đến, dịu dàng giúp Lục Niệm xoa trán:

“Có bệnh hay không, là do đại phu định đoạt. Nhà bọn họ tự miệng nói có bệnh, lại kéo cả chúng ta vào. Dựa vào cái gì chứ?”

Phải đó.

Dựa vào cái gì?

Buổi trưa, A Vi vẫn sai người mang một thùng trà hoa quả đến Thiên Bộ Lang.

Vẫn là công thức cũ từ mùa thu năm ngoái, đúng mùa, dưỡng phổi nhuận họng.

Định Tây hầu cảm động vô cùng, đỏ mặt phấn khởi định chia sẻ với các đồng liêu, vừa nghe thấy mục đích chuyến đi của A Vi, sắc mặt lập tức biến đổi.

“A Tuấn đụng đầu à?”

“Những lời đồn đó thật là từ Văn Thọ Bá phủ truyền ra?”

“A Vi, đợi đó, ta lập tức đi tìm Văn Thọ Bá!”

Định Tây hầu nổi giận đùng đùng mà đi, tiếng lớn, khí lực đầy mình, lặp đi lặp lại cũng chỉ một ý:

“Có bệnh thì đi khám! Có bệnh thì phải chữa!”

“Chẳng lẽ sau này ai phạm tội, ôm đầu gào ‘ta điên rồi’ là xong chuyện sao?!”

“Bệnh của nữ nhi ta là khổ sở thực sự, không phải để các ngươi bắt chước làm lá chắn!”

“Chưa từng mời thái y, ngươi điên cái gì?!”

Luận cãi vã, Văn Thọ Bá vốn khí nhược hơi yếu, sao đấu nổi với giọng như chuông đồng của Định Tây hầu.

Luận động thủ? Càng không thể so bì.

Bên cạnh có người khuyên can, có kẻ giảng hòa, rốt cuộc lại kinh động đến Cửu hoàng tử vừa xuất cung đi ngang Thiên Bộ Lang.

Cửu hoàng tử một lời định đoạt: Thỉnh Thái y phải đích thân đến chẩn trị cho Văn Thọ Bá phu nhân.



Văn Thọ Bá phủ, khi hay tin có Thái y tới phủ, ai nấy đều như sét đánh ngang tai, nhất thời không kịp phản ứng.

“Phụ thân người sao lại gọi Thái y tới?” Bá phu nhân nghi hoặc hỏi.

Thế tử cũng mang vẻ mặt khó hiểu không kém.

Gã quản sự vội vội vàng vàng vào nội viện báo tin, nói rõ đầu đuôi ngọn ngành, rồi lại nói tiếp:

“Không chỉ hai vị viện phán của Thái y viện, ngay cả Quận vương gia cũng đã đến.”

“Cái gì?!”

“Định Tây hầu vốn định đến làm chứng, nhưng bị Quận vương gia khuyên quay về. Nói là người sẽ tự thân đến.”

“Chúng phối hợp diễn trò!” Bá phu nhân tức đến nghẹt thở. “Bọn chúng vốn cùng một giuộc!”

Thế tử vội nói: “Người đừng để tâm. Quận vương là nam khách, người đang nằm bệnh, hắn tất nhiên không thể vào hậu viện.”

“Vậy còn Thái y thì sao?” Bá phu nhân khẩn trương. “Ta không biết giả điên giả dại đâu!”

Cả đời bà đoan trang nghiêm chỉnh, cử chỉ hợp lễ, bảo bà giả điên? Làm sao được?

Thế tử cũng bị chặn đứng, nhất thời không biết phải làm sao.

Giữa lúc ấy, Tam tiểu thư và Tứ tiểu thư họ Ứng liếc nhìn nhau, trao đổi bằng ánh mắt.

Rồi, Tam tiểu thư nói:

“Mẫu thân, người cố chịu một chút.”

Dứt lời, hai tỷ muội đồng loạt ra tay, tháo hết trâm cài và trang sức trên đầu Bá phu nhân, làm tóc bà rối tung lên, đau đến mức nước mắt lã chã.

Lại cởi áo ngoài, tháo giày, đẩy bà lên giường ngồi.

“Dây thừng!” Tứ tiểu thư chìa tay về phía Thế tử.

“Các ngươi điên rồi sao?!” Thế tử trừng lớn mắt.

“Chúng ta chưa điên, nhưng mẫu thân phải điên!” Tứ tiểu thư thúc giục. “Không còn thời gian đâu, ca mau đi lấy!”

Thế tử nghiến răng, đành sai người tức tốc mang đến.

Không bao lâu, dây thừng được đưa tới, hai tỷ muội luống cuống trói chặt Bá phu nhân, nhét khăn vào miệng bà.

“Người ráng chịu một chút,” Tam tiểu thư nói, “Thái y đi rồi, chúng ta lập tức cởi ra.”

“Người nghĩ đến Nhị tỷ đi, nàng bị người ta bắt, nhất định cũng bị trói như vậy.”

Tứ tiểu thư tiếp lời: “Ta vừa nghĩ rồi, Lục Niệm tuy là người điên, nhưng hình như đối với kẻ đầu hàng lại không tệ. Tằng Lăng, Chương Anh chẳng phải đều được thoát thân sao? Nhị tỷ đã nói ra chuyện thanh đoàn, vậy là đã quy thuận Lục Niệm, chắc cũng không đến nỗi.”

“Đúng đó đúng đó,” Tam tiểu thư phụ họa, “Người ráng lên, Nhị tỷ bình an, nhất định sẽ về thăm người.”

“Người điên cũng không phải mười hai canh giờ đều phát bệnh,” Tứ tiểu thư căn dặn, “Người chỉ cần giả bộ ngớ ngẩn, không cần làm lớn.”

Sự đã đến nước này, Bá phu nhân chỉ có thể cắn răng gật đầu.



Chẳng ai trong phủ ngờ rằng, ngoại trừ Thái y và Thẩm Lâm Dục, còn có một cỗ xe ngựa khác đỗ ngay ngoài cửa.

Một cỗ xe… có chút quen mắt.

Bục xe hạ xuống, màn xe vén lên, người đầu tiên bước xuống là Văn ma ma, kế đến là Lục Niệm và A Vi.

Gã gác cổng lập tức đau đầu:

“Phu nhân đang mang bệnh, không thể tiếp khách quý.”

“Khách quý gì chứ?” Lục Niệm ngẩng đầu, thần sắc sáng sủa, “Ta là bạn bệnh.”

A Vi tiếp lời:

“Ta là người nhà của bệnh nhân, có kinh nghiệm chăm sóc người phát bệnh. Hôm nay đến là muốn chia sẻ đôi điều với người hầu hạ bên cạnh phu nhân.”

Quản sự nghẹn lời, nhất thời không biết nên làm thế nào. Theo phản xạ định ngăn cản, nhưng lại bị Văn ma ma thân hình vạm vỡ chắn ngang.

A Vi đỡ Lục Niệm, hai người thản nhiên mà đi thẳng vào trong.

Tuy là lần đầu đến Văn Thọ Bá phủ, nhưng may là bố cục các phủ đệ đều có quy củ tương tự, tìm đến đại sảnh cũng không khó.

Hai người chào hỏi các vị có mặt trong sảnh.

Văn Thọ Bá nhìn Thẩm Lâm Dục với vẻ không dám tin:

“Vương gia đây là có ý gì?”

Thẩm Lâm Dục thong dong nhấp trà:

“Cớ gì hỏi ta? Ta đâu có mời mẫu tử Lục phu nhân.”

Dẫu nói thế, nhưng khi Thái y lên tiếng chuẩn bị chẩn mạch cho Bá phu nhân, hắn lại chỉ nhẹ nhàng nói:

“Đã đến thì để họ vào đi.”

Đoàn người tiến về nội viện.

Thẩm Lâm Dục không vào nhà, chỉ ung dung đứng ngoài sân.

Huynh muội nhà họ Ứng thấy hai kẻ không mời mà đến thì cảnh giác, không để Lục Niệm và A Vi đến gần, mà vây quanh Thái y kể lể tình trạng bệnh của mẫu thân:

“Phát bệnh bất ngờ, suýt nữa làm người khác bị thương.”

“Phải trói lại, kẻo hại mình hại người.”

“Lúc tỉnh lúc mê, luôn miệng gọi tên Nhị tỷ.”

“Có cho uống thuốc an thần, không biết có hiệu quả không.”

“Chẩn mạch? Không dám tháo dây, sợ bà ấy lại phát điên bất ngờ…”

Trong lúc Thái y giải thích những triệu chứng và nguyên do phát bệnh, Lục Niệm và A Vi đứng một bên, hai đôi mắt lặng lẽ đánh giá Bá phu nhân từ trên xuống dưới.

Không lâu sau, A Vi bất chợt lên tiếng, cắt ngang màn nước mắt lưng tròng của hai tỷ muội nhà họ Ứng.

“Nhị vị phu nhân quả là lần đầu chăm sóc người bệnh,” A Vi khẽ lắc đầu, “Phu nhân thân thể quý giá, sao có thể dùng dây thừng trói? Trong nhà chẳng lẽ không có vải mềm sao?”

Câu nói vừa rơi, cả gian phòng lặng như tờ.

Tam tiểu thư vội phản ứng:

“Dư cô nương nói đúng, là chúng ta lúc đó gấp quá, chưa kịp nghĩ kỹ.”

A Vi thở dài:

“Vậy thì cởi ra trước, để Thái y bắt mạch, rồi đổi thành vải mềm mà buộc.”

Lý do rất hợp lẽ, nhà họ Ứng không cách nào cản, đành làm theo.

Hai vị Thái y lần lượt chẩn mạch, sau đó liếc nhau một cái.

Người thực sự phát điên, khi vùng vẫy giãy giụa, cho dù là trói bằng vải mềm cũng sẽ để lại vết bầm hoặc vết đỏ.

Nhưng cổ tay của Bá phu nhân—

Không hề có dấu tích nào.

Dù là… bị trói bằng dây thừng!

Cái nhà này ấy mà, chẳng hiểu gì gọi là “ám ảnh loạn tưởng”, cũng chẳng biết bệnh “cuồng loạn”, vẽ hổ không được lại hóa ra vẽ chó.

Khó trách Định Tây hầu ở Thiên Bộ Lang nổi giận đến thế.

Tất nhiên, lúc này cũng chưa thể vạch trần ngay trước mặt mà mắng phủ Văn Thọ Bá dối trá, các vị Thái y chỉ đành kiếm cớ “cần thương lượng thêm”, rồi lần lượt lui ra khỏi phòng.

Lục Niệm phản ứng cực nhanh, vừa hay người hầu mang mớ vải buộc mới tới, nàng đã nhanh tay giành lấy trước.

Sải bước tới bên giường, nàng cúi người sát vào Văn Thọ Bá phu nhân:

“Bệnh lâu thành thầy, ta biết cách buộc, vừa trói được người, lại không gây thương tổn. Để ta làm.”

Văn Thọ Bá cùng hai vị Thái y đã ra khỏi phòng.

Hai tiểu thư họ Ứng định tiến lên theo, nhưng lại bị A Vi và Văn ma ma chắn lại một bước, nên hoàn toàn không thấy rõ Lục Niệm đã làm gì.

Lục Niệm động tác không ngừng, miệng cũng chẳng rảnh rỗi.

Nàng nghiêng người, sát vào tai Văn Thọ Bá phu nhân, từng chữ từng câu nhẹ giọng rót vào:

“Bị người chế ngự, mùi vị dễ chịu không?”

“Hôm nay bà chịu phối hợp, nhưng vẫn chẳng qua nổi mắt Thái y, vậy lần sau thì sao?”

“Con cái vì tự bảo mà ép bà giả điên, trói bà lại—lần sau, bọn chúng có khiến bà thật sự phát điên không?”

“A, đúng rồi, bà vốn đã điên rồi mà. Cả kinh thành đều biết, bà điên rồi. Vậy nên dù có bị người ta bức điên, thì cũng chỉ vì quá thương nhớ Ứng Duệ, chẳng liên quan gì đến đám con còn lại.”

“Khi bị trói chân trói tay, bà có sức phản kháng không? Bà có tin bọn chúng không?”

“Ta không sợ phát bệnh, vì ta có A Vi bảo vệ.”

“Còn bà thì sao? Bà có sợ không?”

“Không phải giả điên, mà là thật điên. Đến khi điên thật, sống còn chẳng bằng chết.”

“Bà tự mình, nghĩ cho kỹ đi.”
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 213: Sau này, cứ chờ mà hưởng phúc đi!


Trong phòng, người ngoài đều đã rút lui.

Trên giường, phu nhân Văn Thọ Bá hồi lâu vẫn chưa hề cử động.

Thế nhưng, không phải bà hoàn toàn bất động, thân thể bà đang run rẩy dữ dội.

Từng lời từng chữ của Lục Niệm tựa lưỡi dao sắc bén, xé toang làn da của bà, để lộ ngũ tạng còn tươi sống, rồi chỉ vào từng cái một mà bảo bà rằng — sự sống ấy, đã chẳng còn thuộc về bà nữa.

Sao lại không khiến người ta sợ hãi cho được?

Tam tiểu thư nhà họ Ứng núp sau bình phong, lén lút nhìn ra ngoài, thỉnh thoảng làm vài thủ hiệu với tứ tiểu thư.

Tứ tiểu thư hiểu ý, ngồi cạnh mép giường, giọng nói dịu dàng khuyên giải:

“Mẫu thân, người cố chịu thêm một chút nữa.”

“Quận vương đang ở trong viện, đại ca và phụ thân thì đang nói chuyện với Thái y ở bên ngoài.”

“Mẫu tử Lục Niệm giảo hoạt vô cùng, e là còn chưa hết chuyện đâu, sợ là sẽ quay lại đánh đòn bất ngờ, bây giờ chưa thể cởi trói cho người được.”

“Đợi thêm một lát, đợi khi mọi người đều đi rồi…”

Phu nhân Văn Thọ Bá miệng còn bị nhét khăn, muốn nghiến răng mà không sao cắn được.

Chỉ có thể trừng mắt nhìn đôi nữ nhi của mình, ra sức xua đi hình ảnh đáng sợ mà Lục Niệm đã khắc sâu trong đầu bà.

Nhưng càng xua lại càng hiện rõ.

Chẳng phải người ta thường nói “gần đất xa trời” mới biết sợ là gì sao?

Chỉ khi nào đã nếm trải cảnh sinh tử bị người khác nắm giữ, mới thật sự hiểu cái gì gọi là thân bất do kỷ đáng sợ đến mức nào.

Nửa khắc sau, thế tử phủ Văn Thọ Bá bước vào, nói: “Đi cả rồi, đi cả rồi, còn không mau cởi trói cho mẫu thân.”

Tứ tiểu thư nhà họ Ứng lập tức lên tiếng, chạy đến tháo dây trói trên người mẫu thân.

“Lục Niệm trói kiểu gì thế này? Cứ như là buộc chết vậy,” nàng lầm bầm, “Tam tỷ, lại đây giúp một tay.”

Tam tiểu thư bước lên, tỉ mỉ xem xét rồi nói:

“Không phải buộc chết đâu, chỉ là quá phức tạp, tháo ra mất công. Đúng là lòng dạ hiểm độc, trói chặt thế làm gì? Sợ mẫu thân đánh lại nàng sao?”

Phu nhân Văn Thọ Bá phát ra tiếng rê.n rỉ.

Tam tiểu thư lúc này mới sực nhớ:

“Quên mất, quên mất, để con gỡ khăn cho người trước.”

Cuối cùng, phu nhân Văn Thọ Bá cũng có thể nói được.

Trong nỗi sợ hãi và bức bối, bà theo bản năng muốn trách móc con cái vài câu, nhưng liếc mắt đã thấy ánh bạc lấp loáng.

Bà lập tức nhìn rõ — đó là một cây kéo.

Tứ tiểu thư cầm kéo tiến lại gần:

“Cởi gì mà cởi, cắt luôn cho nhanh.”

Hô hấp của phu nhân lập tức nghẹn lại.

Tuy Lục Niệm trói rất chặt, nhưng có lẽ do dùng vải mềm, phu nhân cảm thấy vẫn dễ chịu hơn sợi thừng thô mà trước kia từng trải.

Song bất kể là loại nào, khi tay chân bị khống chế không thể nhúc nhích, mà lại thấy lưỡi kéo sắc lẹm kề sát người, nỗi sợ vẫn là lấn át tất cả.

“Người có khả năng phản kháng sao?”

“Người tin tưởng được bọn họ sao?”

Hai câu hỏi của Lục Niệm như dội vang trong đầu bà, và đến lúc cây kéo chạm vào da thịt, đáp án đã rõ ràng không chút nghi ngờ.

Bà có thể phản kháng được bao nhiêu chứ?

Bà hoàn toàn không thể tin tưởng vào bọn họ!

Đặc biệt là đứa con gái thứ tư này — so với Ứng Linh chỉ biết mạnh miệng, nàng ta mới là kẻ dám ra tay giết người thật sự!

Không, nàng ta đã từng giết người!

Khi đưa bánh thanh đoàn đến tay Vu Huyên, nàng ta rõ ràng biết trong đó có độc!

Vậy mà vẫn đưa, cười tươi như hoa, dịu dàng như người tỷ thân thiết nhất.

Vu Huyên chưa từng nghi ngờ — chiếc bánh nàng ta nhận được khác hoàn toàn với những người khác, bởi trong đó có “gia vị đặc biệt”…

Phu nhân Văn Thọ Bá nhìn con gái mình, hơi thở bỗng trở nên dồn dập.

Đúng lúc cây kéo chạm vào cánh tay, bà theo phản xạ rụt tay lại.

“Á ——”

“A!”

Một người đang cắt dây, một người lại bất ngờ rút tay, không ai kịp đề phòng, kéo sắc cắt trúng da thịt, máu lập tức trào ra, rơi lộp bộp xuống chăn gấm.

Tứ tiểu thư khựng lại, nhìn cây kéo thấm máu đỏ tươi, bần thần không nói nổi một lời.

Thế tử phủ Văn Thọ Bá thấy vậy liền đẩy muội mình sang một bên:

“Sao lại bất cẩn như thế?”

“Muội không biết,” tứ tiểu thư nhà họ Ứng lẩm bẩm, “mẫu thân đột nhiên cử động…”

Phu nhân Văn Thọ Bá thở hổn hển, đáy mắt phản chiếu sắc đỏ của máu, tâm thần hỗn loạn, không còn khống chế nổi bản thân.

“Cút hết! Các ngươi đều cút hết!” Bà hét lên, “Không cần các ngươi hầu hạ! Các ngươi đừng đến hại ta!”

Tam tiểu thư vội nói:

“Mẫu thân, chúng con sao có thể hại người được? Vết thương người quan trọng hơn, con giúp người cầm máu trước đã.”

Phu nhân Văn Thọ Bá trừng mắt nhìn bọn họ:

“Ra ngoài hết cho ta!”

Sắc mặt tứ tiểu thư vô cùng khó coi.

Tam tiểu thư biết khuyên cũng vô ích, đành nhỏ giọng an ủi muội mình:

“Chắc là cái mụ điên Lục Niệm kia đã nói gì với mẫu thân. Nàng ta thật giỏi ly gián, ngay trước mắt chúng ta mà chỉ mấy câu đã…”

“Muội đừng vội, cứ để mẫu thân bình tĩnh lại đã.”

“Muội không cố ý khiến mẫu thân bị thương, ta biết mà.”

“Mẫu thân cũng chỉ là lúc ấy nhất thời xúc động, đợi người dịu lại, chúng ta sẽ từ từ giải thích.”

Tứ tiểu thư mặt vô biểu cảm gật đầu, đang định đặt kéo xuống đi ra thì bị đại ca ngăn lại.

“Thái y tuy không nói rõ, nhưng rõ ràng là không tin bệnh tình của mẫu thân,” thế tử chỉ vào cánh tay bê bết máu của phu nhân, “ta sẽ gọi Thái y quay lại, băng bó cho mẫu thân, như vậy mới khiến ông ta tin được.”

Ba huynh muội lòng đã hiểu nhau, tức khắc biết phải diễn thế nào.

Thế tử sải bước ra ngoài, không buồn để ý đến tiếng gào sau lưng của phu nhân Văn Thọ Bá:

“Không được! Không được!”

Nhưng tiếng hét ấy rất nhanh liền bị chặn lại.

Tam tiểu thư lại nhét khăn trở lại miệng phu nhân:

“Làm cho có lệ trước mặt Thái y thôi, người nhịn chút, nhịn một lát thôi.”

Lúc này đây, phu nhân Văn Thọ Bá mới thật sự hiểu thế nào là thân bị người chế ngự.

Bà giãy dụa trong tuyệt vọng, nhưng không thể phản kháng được hai đứa con gái của mình.

Các nàng vẫn nói những lời dịu dàng, mềm mỏng nhất, nhưng lại khiến thân thể và trái tim bà chảy máu không ngừng.

Không chỉ là nơi cánh tay, mà là cả trong lòng cũng đang rỉ máu.

Bà trơ mắt nhìn con trai mời Thái y quay lại, nhìn các con gái rưng rưng kể lể trước mặt Thái y:

“Là Lục phu nhân trói mẫu thân lại, trói quá chặt, chúng ta xót lòng muốn nới lỏng một chút thôi.”

“Không ngờ mẫu thân đột nhiên vùng vẫy, còn giành kéo, trong lúc giằng co mới khiến bị thương.”

“Mẫu thân bệnh lúc tỉnh lúc mê, thật là khó đoán.”

“Lúc nãy xem bệnh còn yên như tượng gỗ, ai ngờ đột nhiên lại nổi điên…”

Hai tỷ muội ôm lấy nhau, nước mắt lưng tròng.

Phu nhân Văn Thọ Bá ú ớ muốn lên tiếng giải thích với Thái y, nhưng khăn bịt miệng khiến bà chẳng thể nói được câu nào.

Vết thương được lau sạch, bôi thuốc và cẩn thận băng bó.

Nhưng lòng bà đã như tro tàn.

Bà đã bị đóng dấu là “kẻ điên”.

Từ nay về sau, mỗi khi gặp người ngoài, bà có phải đều sẽ bị trói tay, bịt miệng như thế này?

Bà còn có thể nói chuyện với người ngoài nữa không?

Còn có ai, nguyện ý tin lời bà nói nữa không?

Hay từ nay về sau, người ngoài chỉ nghe theo lời con trai, con gái, phu quân bà, họ nói gì thì bà chính là như vậy?

Thật nực cười! Thật quá hoang đường!

Rõ ràng bà vẫn là một người hoàn toàn minh mẫn, nhưng lại bị chính con cái của mình biến thành bù nhìn sống.

Mà những đứa con ấy… là chính bà mười tháng cưu mang sinh ra!

Cả đời này, bà có tám đứa con, ai chẳng tấm tắc khen bà “đa tử đa phúc”!

“Sau này chỉ cần chờ mà hưởng phúc thôi!”

Đó từng là câu nói mà phu nhân Văn Thọ Bá thích nghe nhất, cũng là điều bà một lòng tin tưởng.

Vì điều ấy, bà từng quên mất việc sinh dưỡng con cái khổ sở đến dường nào!

Đúng là trong phủ không thiếu bạc, cũng không thiếu người, nhưng bạc và người không thể thay bà mang thai, không thể thay bà đi qua quỷ môn quan, không thể chịu đựng những thay đổi và đau đớn sau sinh.

Bà đã từng bỏ qua, đã từng quên lãng… nhưng giờ đây, những khổ ải ấy lại ùa về, như sóng triều cuốn lấy tâm can bà.

Lục Niệm nói đúng.

Phu nhân Văn Thọ Bá hiểu rõ — Lục Niệm đúng là gieo rắc ly gián, nghe theo nàng, cả nhà sẽ xong đời!

Nhưng sự thật rành rành trước mắt, bảo bà làm sao “không nghe” cho được?

Cứ như vậy nữa… bà sẽ thật sự phát điên mất!

Lúc đó, sống cũng chẳng bằng chết! Thật sự sống không bằng chết!

Nước mắt lặng lẽ trào ra từ đôi mắt đã khô héo của bà, đôi mắt đẫm lệ nhìn về những đứa con trước mặt, chỉ cảm thấy bọn họ xa lạ đến rợn người…

Tựa như yêu ma quỷ quái mang gương mặt người.

Bà thế mà… lại sinh ra những thứ như thế này!

Thái y lại một lần nữa rời đi.

Tỷ muội nhà họ Ứng tiến đến tháo khăn, cởi trói cho bà. Lần này, phu nhân Văn Thọ Bá không còn giãy giụa nữa.

“Người vất vả rồi.”

“Nhất định đau lắm phải không?”

“Sao lúc đó người lại giật tay một cái chứ? Muội vốn chỉ định cắt dây thôi, sẽ không làm đau người đâu.”

“May mà vết thương không sâu, mấy ngày tới nghỉ ngơi cẩn thận, đừng để nước dính vào nhé…”

Phu nhân Văn Thọ Bá im lặng hồi lâu, sau khi cơn khô rát nơi cổ họng do bị nhét khăn lâu ngày dịu lại, bà mới cất tiếng, giọng lạnh lùng:

“Vì chuyện của Nhị tỷ các con, các con mấy hôm nay cứ ở mãi nhà mẹ đẻ, như thế không ổn.”

“Nên về thì cứ về, nhà còn có trượng phu, có hài tử, cả ngày vùi đầu ở nhà mẹ đẻ, sẽ bị người ta chỉ trỏ bàn tán.”

“Ta không sao, trong phủ còn có đại tẩu các con, lại nhiều ma ma, nha hoàn…”

Lời là nói thế, nhưng trong lòng phu nhân Văn Thọ Bá đã lạnh đến tận xương.

Ngay cả con ruột còn chẳng thể tin, bà sao có thể tin được con dâu?

Rốt cuộc, con dâu chẳng phải cũng nghe lời con trai bà thôi sao?

Tam tiểu thư nghe vậy liền đáp:

“Mẫu thân đừng lo những chuyện ấy, nhà mẹ đẻ gặp chuyện, họ đều hiểu mà. Hơn nữa, người vừa mới bị bệnh điên, mà chúng con liền quay về, thiên hạ sẽ nói thế nào?”

“Đúng vậy,” tứ tiểu thư cũng chen lời, chỉ tay vào vết thương trên tay phu nhân, “Họ không nói chúng con bất hiếu thì sẽ nói người căn bản chẳng có bệnh — chẳng phải máu này chảy uổng rồi sao?”

Phu nhân Văn Thọ Bá ôm ngực thở d.ốc.

Bị trói lâu khiến tay chân tê rần, không còn linh hoạt, cảm giác khó chịu ấy khiến bà càng thêm bất an và kinh hãi, chẳng muốn ở lại với hai nữ nhi thêm chút nào.

“Các con…” Bà khó nhọc nuốt nước bọt, run rẩy cất lời, “Ta muốn gặp A Linh. Ta bệnh rồi, sao A Linh không về thăm ta? Các con đi gọi A Linh đến đây.”

Đúng vậy.

Hiếu là đầu mọi điều thiện.

A Linh tuy là dâu hoàng gia, nhưng cũng không phải ở trong hoàng thành xa xôi, phủ Ngũ hoàng tử lại ngay tại Thái Hưng phường, trở về một chuyến chẳng phải chuyện đương nhiên hay sao?

Nghĩ đến đây, bà càng sốt ruột, thúc giục liên tục.

Và thế là, tại một trà lâu náo nhiệt ngoài ngõ, A Vi và Lục Niệm đang thưởng trà ăn điểm tâm, liền được tin Thái y bị mời quay lại, tiếp đó là xe ngựa từ phủ Văn Thọ Bá chạy thẳng về phía Thái Hưng phường.

Lục Niệm khẽ thổi hơi nước bốc lên từ chén trà, nói:

“Thấy chưa, vấp ngã mới biết rút kinh nghiệm, kinh nghiệm đều là lăn lộn mới có được.”

Chưa từng gặp người điên, cũng chưa từng giả điên, vừa bắt đầu diễn, đã để lộ đủ thứ sơ hở trước mắt Thái y, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân.

Họ vừa rời khỏi, phủ Văn Thọ Bá đã vội vã sửa sai.

“Bọn họ dám gọi Thái y quay lại, chắc chắn là lại giở chiêu mới,” A Vi chớp mắt, “Ta đoán nhé, giả điên đối với Bá phu nhân mà nói quá khó, Thái y lại không thể tận mắt chứng kiến cơn phát bệnh, vậy thì chỉ còn cách chứng minh hậu quả sau phát bệnh.”

Mà cái gọi là hậu quả, thì A Vi hiểu rất rõ.

Khi Lục Niệm phát bệnh, không nhận người thân, thương người thương mình là chuyện thường.

Nàng từng suýt cầm dao tự sát, cũng từng đập phá loạn xạ, đánh người, cắn người là chuyện thường nhật.

Lần trước ở Xuân Huy viên, để lại cả vệt dấu máu trên sàn, trông đáng sợ vô cùng, nhưng thật ra còn nhẹ hơn so với múa kiếm loạn đâm.

“Đập bao nhiêu đồ thì cũng là người nhà tự dọn, chẳng cần mời Thái y, trừ phi có người bị thương,” A Vi mím môi, hỏi:

“Người bị thương, liệu là ai?”

Lục Niệm khẽ cười:

“Nếu lần này không phải Bá phu nhân, thì lần sau nhất định là bà ta.”

“Nếu bà ta không biết rút ra bài học gì, thì hậu quả chính là của bà ta thôi.”

“Nhưng nhìn cái cách xe ngựa chạy vội về Thái Hưng phường,” Lục Niệm hơi nhướng mày, “xem ra, bà ta đã bị thương rồi.”

A Vi gật đầu tán đồng.

“Nhà mẹ đẻ gây chuyện thế này, mặt mũi Ngũ hoàng tử chắc cũng không dễ coi,” Lục Niệm đặt chén trà xuống, hỏi, “Vương gia có nói gì không?”

Lúc trước ngoài phủ Văn Thọ Bá, A Vi và Thẩm Lâm Dục cũng chỉ trao đổi sơ lược vài câu.

Nghe hỏi, nàng đáp:

“Vương gia nói, Ngũ hoàng tử muốn mời ngài uống rượu, mượn tạm phủ của Bát hoàng tử.”

“Chén rượu này uống mất cả khẩu vị,” Lục Niệm nhướng mày, “nhưng dẫu sao vẫn chỉ là khó uống thôi, Ngũ hoàng tử chưa đến mức bị dồn vào chân tường, chưa đủ để kéo Vương gia cùng chết.”

A Vi cũng nghĩ như vậy.

Hoàng đế Vĩnh Khánh tuy ít con trai trưởng thành, nhưng cũng không phải ít đến mức tuyệt vọng.

Lục Niệm từng đánh giá: Hoàng đế trông chờ vào Thẩm Lâm Dục làm dao, chém xuống đôi cánh đang vươn dài của Lý Sùng.

Nếu Lý Sùng lúc này làm chuyện không sáng suốt, chưa nói đến Thẩm Lâm Dục sẽ làm gì, những vị hoàng tử khác sẽ nhân cơ hội mà ra tay, khiến hắn mãi mãi không thể trở mình.

Mục tiêu đạt được rồi, cây dao kia có cùn, có gãy, hoàng đế liệu có quan tâm?

Hoặc giả, không cần đụng đến vụ án vu cổ, mà vẫn có thể cắt được cánh của Lý Sùng — đó mới là điều càng hợp lòng đế vương.

Cho nên, A Vi cũng tin, Lý Sùng sẽ không dại dột đến mức đó.

“Nhưng chắc chắn hắn sẽ càng mệt mỏi hơn,” A Vi nói, “Ngũ hoàng tử phi bị gọi về nhà mẹ đẻ, lại xảy ra chuyện như thế với mẫu thân, cuối cùng thì cũng vẫn là Ngũ hoàng tử phải gánh.”

“Xem hắn gánh sao đây,” Lục Niệm úp chén trà rỗng xuống bàn, “gánh không nổi, thì cả bàn toàn nợ nần khó giải.”

Nửa canh giờ sau, Ứng Linh quay lại phủ Văn Thọ Bá.

“Đang yên đang lành, sao lại phát điên?” Nàng vừa bước nhanh vào trong vừa hỏi tứ muội ra đón:

“Lúc sáng không phải còn có người nói với ta là mẫu thân chỉ đang giả điên sao?”

Tứ tiểu thư nói:

“Là giả mà. Nhưng mẫu tử Lục Niệm cùng Thái y đến, chẳng rõ họ nói gì với mẫu thân, mẫu thân hình như bị k.ích thí.ch mạnh…”

Trong phòng ngủ, phu nhân Văn Thọ Bá thấy hai người cùng bước vào, sắc mặt lập tức tái nhợt.

“A Linh! Ta không điên! Ta vẫn tỉnh táo!” Bà gấp gáp gọi, “Đừng nghe tứ muội con nói nhảm!”

Ứng Linh đứng bên bàn, không bước đến gần, lạnh nhạt nói:

“Người mới lạ đấy!”

“Lần trước người bảo Lục Niệm ăn nói bừa bãi, bảo ta đừng tin.”

“Hôm nay lại bảo tứ muội ăn nói bậy bạ, cũng không cho ta tin.”

“Thế người muốn ta tin ai?”

“Tin người ư?”

“Vậy người nói xem, sao người lại nghe lời Lục Niệm?”

“Người không sợ gương xưa còn đó? Không sợ cả nhà đều tiêu tan sao?”

Phu nhân Văn Thọ Bá trợn trừng đôi mắt, kinh hãi không nói nên lời. Bà giận đến nỗi giơ gối tựa ném thẳng ra ngoài:

“Con đòi nợ! Ta gọi con về là để nói mấy lời chua chát này sao?!”
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 214: Một ngày kia, người cũng sẽ trả lại công bằng cho nàng


Sau khi phu nhân Văn Thọ Bá ném gối tựa về phía Ứng Linh, nàng không nói một lời, xoay người bỏ đi ngay.

Tam tiểu thư nhà họ Ứng vội đuổi theo, không rõ hai tỷ muội đã nói những gì, cuối cùng cũng chỉ thấy mình nàng quay lại, còn Ứng Linh thì chẳng thấy đâu.

“Con biết mẫu thân trong lòng có giận, nhưng người đừng giận lây sang Ngũ muội.”

“Ngũ muội hiện là Hoàng tử phi, ngày thường phải giữ lễ nghi phép tắc, ấy là thể diện hoàng gia, nàng có muốn thoải mái cũng không thể.”

“Thời gian dài bị đặt vào vị trí như vậy, nàng sao chịu nổi người ném đồ vào người nàng chứ?”

“Huống chi, vì chuyện của Nhị tỷ, Ngũ hoàng tử hình như cũng bị Thánh thượng khiển trách, Lương tần nương nương lại còn kiếm chuyện với Ngũ muội, lòng nàng cũng đang phiền muộn.”

“Muội thấy Ngũ muội vẫn là hiếu thuận với mẫu thân, mẫu thân sai người gọi là nàng lập tức đến ngay.”

“Lùi thêm một bước mà nói, chúng ta đều biết Nhị tỷ bị nhà họ Vu bắt đi, biết rõ là Lục Niệm giở trò phía sau, nhưng chúng ta có thể làm gì đây?”

“Phủ Văn Thọ Bá bây giờ đã chẳng thể so với phủ Kính Văn Bá, lại càng kém xa phủ Định Tây hầu, chưa kể còn có cả Quận vương gia…”

“Người có thể giúp được Nhị tỷ, chỉ có Ngũ muội và Ngũ hoàng tử thôi, mẫu thân vì Nhị tỷ, cũng không nên trở mặt với Ngũ muội…”

Tam tiểu thư nói rất nhiều, tứ tiểu thư cũng đứng bên cạnh phụ họa.

Nghe đến cuối cùng, lòng phu nhân Văn Thọ Bá như giá băng.

Sự việc đã đến nước này, phủ Văn Thọ Bá đã bị ép đến bước đường cùng, thế mà hai nữ nhi của bà vẫn còn đang toan tính.

Bà phát giận với Ứng Linh, thực sự là vì không thể kìm nén được, lửa giận bốc đến đâu thì thiêu đến đó.

Khi bị lửa giận xô đẩy, còn nói gì đến lý trí?

Nhưng thử xem, hai đứa con gái này, lý trí biết bao.

Miệng thì nói lời khuyên, nhưng lời nào lời nấy đều như lưỡi dao ngầm chia rẽ.

Tâm can lạnh giá, phu nhân Văn Thọ Bá không giữ ai lại, hai nữ nhi bị bà “đuổi” trở về nhà chồng, đại tiểu thư đến trễ một bước cũng bị bà “mời” đi.

Ngoài trừ bà ma ma và nha hoàn thân cận, bà không muốn gặp bất kỳ ai.

Nhưng bà đã được yên tĩnh, còn phủ Văn Thọ Bá thì không.

Dù bà là phu nhân chưởng quản trong phủ, nhưng trong nhà này, không phải mọi chuyện đều do bà định đoạt.

Bà có ba người con trai, tất sẽ có ba người con dâu, và cả nhà mẹ đẻ đứng phía sau họ.

“Giả điên giả ngốc là thoát tội được sao?”

“Đó là Lục Niệm! Nàng ta nổi tiếng bị bệnh điên! Mẫu thân mà giả điên trước mặt nàng ta, chẳng khác nào múa rìu qua mắt thợ!”

“Thật sự cho rằng Thái y là kẻ ngốc ư?”

“Thái y do Cửu điện hạ mời đến, Quận vương gia cũng đích thân tới, mai vào tấu trước ngự tiền, chuyện này nếu nói lớn ra là ‘khi quân’!”

“Nhị cô cô mất tích, các người năm đó không làm điều ác, nay liệu Nhị cô cô có gặp nạn không?”

“Nếu ta sớm biết phủ Văn Thọ Bá các người giết người hại mạng, phụ mẫu ta sao lại gả ta vào đây?”

“Mấy người muội muội chàng, người nào cũng khiến người ta không yên lòng! Ta luôn nghĩ nhà hòa vạn sự hưng, nhịn thì nhịn, nhưng bảo ta nhịn tội danh giết người thì làm sao đây?”

“Lục Niệm xen vào nhà ai, nhà đó đều bị tịch thu toàn bộ! Không chừa một ai! Phủ Văn Thọ Bá liệu có tránh được sao? Mẫu thân chàng, muội muội chàng, thật sự từng giết người! Người ta không oan uổng các người đâu!”

“Ta mặc kệ, mai ta bế con về nhà mẹ đẻ! Khi họ Tằng sụp đổ còn không lôi theo mẫu tử Chương Anh, nhà mẹ đẻ ta lại càng chưa từng làm chuyện thất đức! Chàng đừng cản ta! Nếu ta chôn vùi ở đây cùng chàng, ngay cả mạng con trai chàng cũng phải chôn theo! Nó là con ruột chàng đấy!”

“Trông chờ vào Ngũ điện hạ? Ngũ điện hạ mà biết các người từng hại người, cũng phải chửi một câu ‘xúi quẩy!’”

“Ta và Vu Huyên từng quen biết thuở nhỏ, nàng là người tốt đến vậy, kết quả lại bị các người…”

Ba viện, ba đôi phu phụ, có người lật bàn to tiếng, có người khóc sướt mướt giằng co không dứt, nhưng không ai dám mơ tưởng xa vời rằng phủ Văn Thọ Bá có thể yên ổn vượt qua cơn sóng này.

Phủ Bá gia chiếm đất rộng, ngày thường không đến mức quấy nhiễu lẫn nhau, nhưng một khi cãi vã thì động tĩnh rất lớn, đêm khuya yên tĩnh càng thêm chói tai.

Đồ sứ vỡ vụn, trẻ con gào khóc.

Truyền vào tai phu nhân Văn Thọ Bá, chỉ cảm thấy từng đường gân trong đầu giật thình thịch, đau nhói không ngớt.

“Đóng lại! Đóng hết lại cho ta!” Bà thúc giục.

Ma ma vội vàng đóng cửa sổ, Văn Thọ Bá gia thì giận dữ quát lớn: “Lúc bà lao đến nhà họ Vu sao không nghĩ tới hậu quả khôn lường?!”

“Ngay cả ông cũng trách ta?” Phu nhân giọng sắc bén, “Năm xưa chê phủ Kính Văn Bá không xứng, chẳng phải là ông sao? Ghét Chu Nguyên là con thứ, khó giành được gia sản, chẳng phải cũng là ông?”

“Khi từ chối hôn sự, chẳng phải chính ông gật đầu? A Linh gả vào hoàng gia, ông không được thơm lây? Làm thông gia với Thánh thượng, ông chẳng được lợi ích?”

“Phải rồi, ông không bắt ta giết người, không bảo ta đến Vu gia, nhưng bản lĩnh hưởng lợi mấy năm nay thì ông có thừa đấy!”

“Ngày đầu tiên ông không biết ta từng giết người sao? Khi đề nghị ta giả điên, ông có phản đối sao?”

“Chuyện xấu là ta làm, còn lợi lộc thì người hưởng, đến khi gặp họa lại nhảy ra bày tỏ chính nghĩa. Mặt mũi người thật đúng là dày đến phát khiếp!”

Gương mặt già nua của Văn Thọ Bá đỏ bừng như mông khỉ.

Không phải vì xấu hổ, mà là vì giận.

“Ta đứng giữa Kim Loan điện, bị Ngự sử mắng cho chẳng khác nào chó ghẻ, chỉ hận không có lỗ để chui xuống!” Văn Thọ Bá gào lên, “Trong Thiên Bộ Lang bị người chỉ trỏ, lại còn bị cái lão Lục Ích kia túm cổ áo, phun cả mặt nước bọt!”

“Thái y đến phủ, ta phải nơm nớp lo sợ, ngày mai tấu trình trước ngự tiền, ta còn chẳng biết mở miệng ra sao.”

“Vậy mà vào miệng bà, mọi thứ tốt đẹp đều do ta chiếm hết?”

“Chức tước thế tập của nhà họ Ứng, sắp bị bà – một mụ đàn bà ngu dốt – hủy sạch rồi!”

“Thà để bà thật sự điên đi còn hơn!”

Phu nhân Văn Thọ Bá há miệng định phản bác, nhưng nghẹn một hơi ở cổ, không thốt nên lời. Bà đấm mạnh hai cái vào ngực, ho sặc sụa mấy tiếng.

Khó khăn lắm mới lấy lại được giọng nói, vừa định mắng lại thì đã thấy Văn Thọ Bá hất tay áo, quay lưng bỏ đi.

Đối phương đã đi, những lời tức giận của bà như nghẹn lại nơi cổ, không có nơi phát tiết, khiến đầu óc choáng váng, hoa mắt chóng mặt.

Mãi lâu sau, bà mới hơi bình tĩnh lại, ôm lấy ma ma mà khóc thảm thiết:

“Đều là lỗi của ta, đều tại ta!”

“Ta một lòng vì cái nhà này, vì tiền đồ của gia tộc, mà đến chuyện giết người cũng dám làm.”

“Ta sai, nhưng chẳng lẽ họ đều đúng? Đều vô tội à?”

“Mọi tội lỗi đều đổ lên đầu ta, là họ rửa tay sạch sẽ sao?”

“Ta điên rồi, thì bọn họ chưa từng giết người sao?”

“Mấy chục năm làm vợ chồng, mà hắn lại nói ta như thế; tám đứa con, chẳng có lấy một đứa hiểu lòng ta!”

“Sinh bọn chúng, chi bằng sinh cái chày giã gạo còn hơn!”

“Không bằng cái nhà Định Tây hầu kia, thằng con vô dụng, nhưng đứa con gái giỏi giang! Lục Niệm một mình còn hơn tám đứa của ta cộng lại!”

“Đời ta… thật là khổ quá rồi!”

Bà vừa khóc vừa rên, đến lúc thiếp đi trong cơn mệt mỏi. Nửa đêm trở mình đè lên cánh tay bị thương, vết thương bật máu, bà đau đến tỉnh giấc.

Ma ma vội vã thắp đèn, băng bó lại, đợi bà ngủ lại lần nữa thì trời cũng gần sáng.

Mà đến khi trời sáng hẳn, phủ Văn Thọ Bá lại loạn lên một trận mới.

Tam thiếu phụ thu dọn đồ đạc, nhất quyết đòi rời phủ.

Vốn dĩ không định đi, nhưng Nhị thiếu phụ đột nhiên “ngộ ra chân lý”, bắt chước theo, cũng vội vàng thu dọn hành lý.

Ba tỷ muội nhà họ Ứng, hôm qua bị đuổi về nhà chồng, nay lại quay lại thăm mẫu thân đang bệnh. Hai bên chạm mặt ngay trước sân, lập tức náo loạn cả phủ.



Tại một nhã gian yên tĩnh ngoài thành, Hứa Phú Đức ngồi cùng Lục Niệm và A Vi:

“Không cho đi đấy, nhưng động tĩnh to lắm, đi ngang phủ mà còn nghe được rõ mồn một.”

Lục Niệm thoáng suy nghĩ, nhớ lại bố cục phủ Bá gia, gật gù:

“Hẳn là cãi nhau ở tiền thính, cách cổng chính gần, chỉ cần giọng lớn một chút là ngoài phủ nghe rõ.”

A Vi vừa gật đầu, vừa rót một ly trà hoa quả cho Hứa Phú Đức.

Tiết trời mùa thu trong lành mát mẻ, Hứa Phú Đức chạy đường xa mà mồ hôi đầm đìa, bưng trà lên uống cạn một hơi, sảng khoái vô cùng.

Tay nghề và bài thuốc của Biểu cô nương, đúng là đệ nhất vô nhị.

Lục Niệm đưa cho hắn một nắm hạt dưa, hỏi:

“Sau đó thì sao?”

Hứa Phú Đức bóc ra một hạt, cười ranh mãnh:

“Sau đó, ta đã sai người báo tin về nhà mẹ đẻ của ba thiếu phụ ấy rồi.”

Lục Niệm nghe xong sững người, sau đó phá lên cười.

A Vi cũng cong môi, tán thưởng:

“Dì phu ra chiêu này thật cao tay, đủ để phủ Bá gia náo loạn vài ngày rồi.”



Ngoài phủ Văn Thọ Bá, ba chiếc xe ngựa lần lượt dừng lại.

Huynh đệ, cô cô cữu cữu, ai có thể đến đều đã đến.

Nhà mẹ đẻ của Nhị thiếu phụ tính tình hòa nhã:

“Lão thái thái nhớ con gái, cháu ngoại, cho về ở dăm bữa nửa tháng thì sao nào? Sao lại không cho con dâu về thăm nhà?”

Còn nhà mẹ đẻ của Tam thiếu phụ thì cực kỳ nóng nảy:

“Cái gia đình sống không cần sĩ diện này! Nhà ta không trèo nổi cành cao như vậy! Ly hôn đi, chúng ta muốn hòa ly!”

Nhà mẹ đẻ của Thế tử phi bị lôi vào mà chẳng hiểu mô tê gì, thấy hai nhà kia ầm ĩ như vậy, thì lén hỏi nhau:

“Nhà mình có về không? Có ly hôn không?”



Cảnh tượng càng lúc càng loạn, phu nhân Văn Thọ Bá sao có thể không ra mặt?

Bà vội vàng chạy đến tiền viện, dịu giọng dỗ dành:

“Đây là làm sao vậy? Có chuyện gì thì ngồi xuống từ từ nói…”

Đại tẩu bên nhà mẹ đẻ của Tam thiếu phụ quay đầu lại, cười nhạt mà cay độc:

“Nghe nói ngài bị điên? Vậy ngài thật sự điên rồi sao?”

Phu nhân Văn Thọ Bá cứng họng.

Giờ phút này, nhận mình điên thì bà không cam lòng.

Mà nói mình không điên thì lại không dám.

Chỉ có thể ngậm miệng, bị đám người ầm ĩ kia đẩy dạt ra ngoài, càng lúc càng lùi về phía sau, hoàn toàn bị gạt khỏi vòng xoáy.



Bà – Đường đường là đương gia phu nhân phủ Bá – rốt cuộc đã bị biến thành một “người ngoài”.

Mấy chục năm qua, luôn là nhân vật trọng yếu trong Văn Thọ Bá phủ, được con cháu vây quanh, nay Bá phu nhân hoàn toàn đánh mất quyền uy chỉ điểm.

Khi nhị tức, tam tức dẫn theo hài tử bị người nhà mẹ đẻ rước đi, đại tức thì đang bận rối như tơ vò, ba người con trai nhìn nàng với ánh mắt đầy bất thiện.

Oán trách, bất mãn, trách cứ…

Văn Thọ Bá phu nhân chỉ có thể từ ánh mắt các con mà nhìn ra những điều ấy.

Mấy người con gái thì còn đang vừa khóc vừa khuyên giải, trông thì như xúc động, kỳ thực lại tỉnh táo mưu tính lợi ích cho mình.

Văn Thọ Bá phu nhân không khỏi lùi về sau hai bước.

Không để ý tới bậc thềm sau lưng, bà vấp chân, ngã ngồi phịch xuống đất.

Hai tay theo bản năng chống xuống, cánh tay bị thương lập tức đau đến mức mồ hôi lạnh túa ra đầm đìa.

Các ma ma hoảng hốt chạy đến đỡ, Văn Thọ Bá phu nhân run rẩy gượng dậy, bà thấy sự “quan tâm” nơi con cháu, nhưng lần này, điều bà nghĩ là:

Chúng thực sự quan tâm ta sao?

Đứa con gái có thể không nói một lời liền trói mẫu thân mình lại.

Đứa con trai có thể lợi dụng vết thương của mẫu thân chỉ trong chớp mắt.

Chúng… thực lòng quan tâm sao?

Ha!

Trong đầu bà, như có một sợi dây vào đúng lúc ấy… đứt đoạn.

Không… không nên như vậy!

Tám đứa con, chẳng lẽ lại toàn bộ đều bại hoại sao?

Bà vẫn còn A Duệ, A Duệ bị bắt đi rồi, nếu A Duệ còn, ắt sẽ quan tâm đến bà…

Văn Thọ Bá phu nhân vội vàng bước ra ngoài.

Các ma ma theo sau ngăn lại: “Phu nhân, người không thể…”

“Ta là phát điên, chứ không phải chết rồi!” Văn Thọ Bá phu nhân giận dữ quát, “Chẳng lẽ đến cửa cũng không được ra?!”

Tự nhiên là không được.

Các ma ma vội vàng chặn lại, nhưng chân trước vừa tiễn người nhà tam phu nhân ra, chân sau lại bị họ quay đầu trở lại.

Hòa ly thì hòa ly, của hồi môn cũng phải dọn đi!

Dọn theo sổ sách năm ấy!

Bá phủ lập tức lại náo loạn, giữa lúc người người ứng phó, chẳng ai để tâm Văn Thọ Bá phu nhân rốt cuộc đã rời đi từ khi nào.

Đến khi tỉnh ra mới sai người đi tìm, đặc biệt tìm quanh khu Tây Nhai nơi Vu gia cư trú, mới có người hấp tấp chạy đến báo:

“Bá phu nhân đang ở Tây Nhai, gặp ai cũng hỏi có thấy nhị cô nương không!”

Thế tử Văn Thọ Bá nghe xong, suýt chút nữa thì hai mắt tối sầm.



Quảng Khách Lai.

Cửa sổ sát đường mở rộng, bên dưới có động tĩnh gì, người trên lầu đều nhìn thấy rõ ràng.

Nghe thấy tiếng ồn ào khác thường, A Vi liền bước đến cửa sổ, thò đầu quan sát tình hình.

Nàng gần như lập tức đã trông thấy Văn Thọ Bá phu nhân.

Hôm qua, Bá phu nhân ngồi trên giường bất động, trông như kẻ hóa điên đờ đẫn, nhưng trong mắt A Vi, đó là giả vờ, căn bản chưa từng điên.

Hôm nay, Bá phu nhân vừa đi vừa nói chuyện với người, dáng vẻ trông thì bình thường, nhưng A Vi biết—bà ta như vậy, đã cách điên chẳng xa nữa.

“Là điên thật rồi,” Lục Niệm đứng cạnh A Vi, cúi mắt nhìn Bá phu nhân đang ngó đông ngó tây phía dưới, than một tiếng, “Mới chưa tới một ngày.”

A Vi quay đầu nhìn Lục Niệm, nhẹ giọng nói: “Là người nhà ép bà ấy điên rồi.”

“Ta biết,” Lục Niệm nghe ra trong lời A Vi có sự xót xa, “Người có thể khiến lòng người chết lặng, vĩnh viễn chỉ có người thân.”

Chứ không phải Lục Niệm—kẻ ngoài cuộc—mấy câu kích động ly gián kia.

A Vi hỏi: “Bà ta điên rồi, chuyện cô nương Vu gia thì sao…?”

Lục Niệm trầm ngâm giây lát, đáp: “Người điên chỉ là điên, đâu phải thật sự quên, phái người đi mời phu nhân Vu gia.”



Nghe tin, phu nhân Vu gia được con trai con dâu hộ tống, vội vàng tới Tây Nhai, đứng trước mặt Văn Thọ Bá phu nhân.

“Thật là điên rồi sao?” Bà ta lẩm bẩm.

Văn Thọ Bá phu nhân hỏi đông hỏi tây, cuối cùng hỏi đến trước mặt phu nhân Vu gia: “Ngươi có thấy A Duệ nhà ta không?”

“A Duệ nhà ngươi?” Phu nhân Vu gia nghiến răng, “Vậy A Huyên nhà ta đâu? Ngươi cùng con gái mình hại chết con gái ta, ngươi…”

“Ta cũng không muốn mà!” Văn Thọ Bá phu nhân ôm đầu gào lên.

“Ta cũng không muốn hại người, nhưng nếu không làm vậy, A Linh phải làm sao?”

“Ta phải cứu vãn thanh danh cho A Linh, phải để A Linh lấy được mối hôn tốt, để cô gia, cữu gia, liên chi của bọn họ có thể nâng đỡ lẫn nhau.”

“Cả đời này ta đều vì Văn Thọ Bá phủ, vì mấy đứa con này!”

“Ai bảo ngươi hứa gả con gái cho Chu Nguyên? Nếu con gái ngươi không đính hôn với Chu Nguyên, ta đâu cần hại nó?”

“Ta chỉ có thể hạ độc! Nó chết rồi, A Linh nhà ta mới là kẻ tai qua nạn khỏi, mệnh phú quý!”

“Ta cũng khổ cực lắm chứ!”

“Tám đứa con, phải sắp xếp cho chúng ổn thỏa, ta chỉ còn cách dốc toàn lực mà thôi!”

“Ngươi cũng làm mẹ, ngươi hiểu cho ta chứ?”

“Đều là vì con cái cả!”



Phu nhân Vu gia nước mắt đầm đìa.

Bà ta chân tay mềm nhũn, chỉ dựa vào con trai con dâu đỡ mới không ngã sụp.

Bà ta không muốn nghe những lời xảo trá của Văn Thọ Bá phu nhân, cũng không còn sức tranh biện phải trái đúng sai.

Chỉ biết rằng, cái chết của A Huyên—đến giờ khắc này, rốt cuộc cũng có một lời giải rõ ràng.

Bà ta chỉ tay vào Văn Thọ Bá phu nhân, hỏi đám người xung quanh, giọng run lẩy bẩy:

“Nghe thấy rồi chứ? Bà ta nhận rồi, bà ta thừa nhận rồi! Nhưng bà ta là điên rồi! Lời của kẻ điên, nha môn có công nhận không? Có thể đòi lại công đạo cho con gái ta không?!”



Trong nhã gian.

Lục Niệm đứng ngay bên cửa sổ, thẳng lưng không động, cúi đầu chăm chú nhìn.

Một đôi tay nhẹ nhàng nắm lấy tay nàng, trong lòng bàn tay truyền đến hơi ấm quen thuộc.

Thân thể Lục Niệm khẽ cứng lại, theo cánh tay ấy mà ngẩng đầu, cuối cùng bắt gặp ánh mắt A Vi.

A Vi nhìn Lục Niệm thật sâu, từng chữ từng lời: “Người đã báo thù cho A Vi tỷ rồi.”

Lục Niệm chớp nhẹ mắt, dưới ánh nhìn của A Vi, nàng hít sâu một hơi, lại chậm rãi thở ra: “Ta biết, ta biết mà.”

A Vi lại nặng nề gật đầu: “Hãy chờ thêm một chút, sẽ có một ngày, người cũng sẽ lấy lại công đạo cho nàng ấy.”

Khi nàng không còn giữ lấy cái tên “Dư Như Vi” nữa, điều nàng chờ được chính là công đạo cho Kim Thù Vi, cũng là cho Dư Như Vi.

“Sắp rồi, sắp tới rồi.”

Lệ trong mắt long lanh, Lục Niệm mỉm cười, gật đầu: “Phải, sắp rồi.”
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 215: Nàng không phải thứ gì, các ngươi cũng chẳng hơn


Phu nhân Bá phủ ở trên Tây Nhai, giữa thanh thiên bạch nhật, trước bao cặp mắt dõi theo, những điều nên nói hay không nên nói, bà ta đều tuôn ra một lượt không sót điều gì.

Năm xưa vì sao lại hãm hại mạng sống của Vu Huyên, lại là hãm hại như thế nào, vị hôn thê thứ hai của Chu Nguyên chết ra sao…

Huynh muội nhà họ Ứng trong đó đóng vai trò gì…

Nói cho rõ, thì chẳng có ai vô tội cả.

Cho dù những nàng dâu hôm nay đang làm ầm đòi hòa ly quay về nhà mẹ đẻ, thì năm ấy cũng đã gả vào Bá phủ rồi.

Theo lời phu nhân Bá phủ, chẳng lẽ các người thật sự không biết gì?

Hay là khi tai ương ập tới thì mạnh ai nấy chạy?

Chuỗi lời lải nhải này của phu nhân Bá phủ bị thế tử đuổi đến Tây Nhai lập tức bịt miệng lại.

“Người đã bệnh thì nên an tâm dưỡng bệnh, sao lại chạy lung tung thế này?”

Phủ Văn Thọ Bá định đưa phu nhân về, nhưng bị người nhà Vu gia và người của phủ Kính Văn Bá vây chặt quanh.

A Vi nhìn tình hình như vậy, không nói một lời, liền thay họ báo quan Thuận Thiên phủ.

Việc có liên quan đến hai Bá phủ, Dương phủ doãn đích thân mang theo người đến, mồ hôi đầm đìa, ý tứ trong lời lẽ là, chuyện đã lớn thì cũng đành, nhưng dù sao cũng nên về nha môn để bàn chuyện cho rõ ràng.

Đợi khi thật sự vào tới nha môn, bên khổ chủ kiên quyết đòi một lời công đạo, thỉnh Khâu pháp y căn cứ lời khai của phu nhân Bá phủ cùng kết quả khai quan nghiệm thi để đối chiếu, quyết phải làm rõ sự việc.

Phía phủ Văn Thọ Bá thì liên tục lặp đi lặp lại: “Lời của kẻ điên không đáng tin”, “Bà ấy bệnh rồi nên ăn nói bừa bãi”.

Cuối cùng, đại tiểu thư nhà họ Ứng bật khóc, ngược lại đổ tội:

“Là Vu gia các người ép mẫu thân ta phát điên!”

“Chuyện đã qua lâu như vậy, đột nhiên khai quan nghiệm thi, chẳng phải là cố tình muốn gây phiền phức cho phủ Văn Thọ Bá chúng ta sao?”

“Không điều tra ra được kết quả các người mong muốn, các người liền dứt khoát bắt cóc nhị muội ta!”

“Làm ầm ĩ với mẫu thân ta, rồi lại đến chỗ ngũ muội ta, lời nói bóng gió đều nhằm vào việc năm đó là do chúng ta hại chết Vu Huyên. Đúng, ta nói chính là hai mẫu tử Lục Niệm đó!”

“Mẫu thân ta vốn đã lo lắng cho tình trạng của nhị muội, lại liên tiếp chịu k.ích th.ích, đầu óc mới mơ hồ như vậy.”

“Chẳng phải Lục Niệm cũng là kẻ điên sao? Không phải nàng ta luôn miệng nói mình hiểu rõ nhất về người điên à?”

“Ta nghe nói bệnh của nàng ta gọi là chứng cuồng loạn, chính là không phân biệt nổi thật giả, mọi thứ đều lẫn lộn.”

“Đây chẳng phải chính là triệu chứng hiện giờ của mẫu thân ta sao?”

“Nàng ta đúng là ‘cửu bệnh thành lương y’, dựa vào kinh nghiệm bị chứng cuồng loạn của mình, khiến mẫu thân ta cũng tưởng rằng cái chết của Vu Huyên là do bản thân gây ra!”

“Rõ ràng tất cả đều là chuyện không có thật, đều do đầu óc loạn trí mà ra!”

Mấy huynh muội nhà họ Ứng nhìn nhau, trong mắt đều lóe sáng.

Phải rồi!

Chính là như vậy!

Vẫn là đại tỷ nhanh trí, nói một câu liền có thể gỡ hết rối ren.

“Hôm qua Lục Niệm có đến nhà chúng ta, chẳng biết đã nói gì với mẫu thân, sau đó tình trạng của bà ấy liền không ổn.”

“Chính là nàng ta đã truyền vào đầu mẫu thân ký ức sai lệch.”

“Phu nhân Vu gia, ta biết người quan tâm đến cái chết của lệnh ái, nhưng người thử nghĩ lại xem, sao người lại đột nhiên nghĩ đến việc khai quan?”

“Tam công tử họ Chu và thế tử Định Tây hầu là chỗ bằng hữu, chẳng phải cũng quen biết Lục Niệm sao?”

“Nói cho cùng, từ việc khai quan đến giờ, đều là Lục Niệm ở phía sau chỉ tay điều khiển.”

“Phu nhân Vu gia, chính là nàng ta lợi dụng tình mẫu tử của người, biến người thành con dao!”

“Nàng ta…”

Giữa đám đông đang ríu rít khuyên nhủ ấy, bỗng vang lên một giọng trong trẻo rõ ràng:

“Ta làm sao?” – Lục Niệm ngẩng cao cằm, ngạo nghễ mà đứng, “Ta khiến phu nhân Bá phủ phát điên ư? Ta mưu cầu điều gì?”

Vừa dứt lời, mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía nàng, sắc mặt ai nấy đều khó coi theo cách riêng.

Lục Niệm bước đến trước mặt đại tiểu thư nhà họ Ứng, lại hỏi một lần nữa: “Ta vừa nghe ngươi nói ta ‘cửu bệnh thành lương y’? Vậy ngươi nói xem, ta mưu cầu cái gì?”

Đại tiểu thư nhà họ Ứng mím chặt môi, không tự chủ được mà liếc nhìn người nhà.

Tam muội và tứ muội nhà họ Ứng cũng trao đổi ánh mắt, sau đó lặng lẽ lắc đầu.

Các nàng không phải không có câu trả lời.

Giờ lôi Lục Niệm ra đối đầu chỉ là bất đắc dĩ, nhưng nếu dám vạch trần vị Thành Chiêu Quận vương đứng sau lưng nàng, vậy thì chỉ có tự hại mình.

Nói chi đến việc mâu thuẫn giữa hoàng thân quốc thích, huynh đệ tương tàn…

Phủ Thuận Thiên sẽ lập tức rũ tay không quản, rồi từng tầng từng tầng trình lên trên, phủ Văn Thọ Bá còn có thể đòi được điều gì nữa?

Nói cho cùng, sai sót lớn nhất… chính là việc Lục Niệm không biết trời cao đất dày lại xuất hiện đúng lúc như thể đã tính trước.

Lục Niệm chờ mãi cũng chẳng thấy ai lên tiếng, liền khẽ bật cười khinh miệt.

“Các ngươi không nói, vậy để ta nói.”

“Ta đến quý phủ, trò chuyện với phu nhân Bá phủ xong thì bà ấy phát bệnh? Các ngươi chẳng lẽ đã quên, trước đó bà ấy đã phát điên rồi sao?”

“Sao nào? Khi ấy bà ta chưa điên à? Phủ Văn Thọ Bá các ngươi muốn lừa cả triều đình?”

Thế tử phủ Văn Thọ Bá sắc mặt biến đổi: “Bà ấy quả thật đã phát điên…”

“Không!” – Lục Niệm thẳng thừng ngắt lời, rõ ràng rành rẽ – “Khi đó bà ấy hoàn toàn tỉnh táo, ta thấy rõ, mà ta nghĩ thái y cũng hiểu rất rõ.”

“Lúc bà ấy chưa điên, các ngươi ép bà ấy phải giả điên, trói tay trói chân, bịt miệng bà ấy lại.”

“Giờ bà ấy thật sự điên rồi, các ngươi lại bảo lời của kẻ điên không đáng tin…”

“Lời kẻ điên thì không thể tin!” – Thế tử phủ Văn Thọ Bá quát lớn – “Bà ấy mắc chứng chứng cuồng loạn, là bị ngươi nhồi nhét vào đầu những điều sai lệch. Chúng ta không phản bác, chẳng lẽ để mặc bà ấy nói bừa, khiến cả nhà mang tiếng sát nhân?”

Lục Niệm liếc thế tử một cái, rồi xoay người đi đến chỗ phu nhân Bá phủ đang ngồi ngẩn ngơ.

“Bà đang tìm nhị tiểu thư của bà sao?” – Nàng ngồi xổm xuống, để có thể nhìn thẳng vào mắt bà ta.

“Ngươi biết A Duệ ở đâu không?” – Phu nhân ngược lại hỏi.

“Một mình đi tìm thật không dễ,” – Lục Niệm chỉ về phía đám người kia – “Người nhà đông vậy, sao không nhờ họ giúp?”

“Lũ sói mắt trắng!” – Phu nhân đột ngột kích động – “Chúng nó không muốn ta sống yên! Chúng đều hại ta! Ta chỉ còn A Duệ thôi… A Duệ đi đâu mất rồi…”

Lục Niệm liền quay lại nhìn phủ doãn Dương, nhún vai nói: “Ta nào có bản lĩnh gì, vài câu nói đã khiến bảy đứa con hiếu thuận trở nên bất hiếu?”

Tứ tiểu thư nhà họ Ứng sắc mặt khó coi, muốn bước lên kéo Lục Niệm.

Chưa kịp chạm tay, A Vi đã chắn trước mặt.

“Vì tư lợi cá nhân mà mưu hại hai mạng người, nếu tra rõ được, phủ Văn Thọ Bá bị tước tước vị cũng là chuyện hợp tình hợp lý.”

“Lúc đối mặt với cái chết, ai mà chẳng giãy giụa tìm đường sống, cho dù tư thái có nhếch nhác, khó coi, cũng chẳng có gì lạ.”

“Nhưng lấy chính mẫu thân ruột ra làm bàn đạp để trèo lên, lại có thể trèo đến mức thản nhiên không thấy thẹn, vậy thì đúng là không còn biết liêm sỉ là gì nữa rồi!”

“Hay là các ngươi cho rằng, người đã mang thai sinh nở, nuôi nấng các ngươi khôn lớn, vì các ngươi mà hy sinh tất thảy, thậm chí gây nên tội ác sát nhân — vẫn có thể bị các ngươi giẫm lên mà bước tiếp, là điều đương nhiên?”

“Năm ấy mưu sát, các ngươi đều góp mặt; năm ấy nhận lợi, các ngươi cũng đều có phần. Vậy giờ đừng đổ hết lên đầu một mình phu nhân Bá phủ.”

“Bà ấy không ra gì, thì các ngươi cũng chẳng tốt đẹp gì hơn.”

“Miệng lưỡi lúc nào cũng nhắc đến chứng cuồng loạn, các ngươi có biết bệnh nhân mắc chứng cuồng loạn thật sự là như thế nào không?”

“Cho dù tư duy có tổn hại, trí nhớ có hỗn loạn, nhưng những lời bà ấy nói ra đều là những gì bà tin là thật! Không có câu nào là bịa đặt!”

“Không giống các ngươi – trông thì lành lặn sáng sủa, mà lại toàn miệng đầy dối trá.”

“Ồ, lại còn nói một cách đầy lý lẽ, thật là không biết xấu hổ!”

“Hơn nữa, bệnh điên cũng có nhiều loại, phu nhân Bá phủ không mắc chứng cuồng loạn. Nếu các ngươi còn không chịu dừng tay, thì tiếp tục mời thái y đến chẩn trị đi.”

Sắc mặt thế tử Văn Thọ Bá đen kịt như đáy nồi.

Không chỉ hắn, người nhà họ Ứng cũng vậy. Mấy lần muốn chen vào cắt lời, nhưng A Vi cứ câu sau dồn câu trước, khiến ai cũng không tìm nổi một kẽ hở để lên tiếng.

Trước tình thế ấy, tam tiểu thư nhà họ Ứng chỉ còn cách lại gần phu nhân Vu gia để “khuyên nhủ”.

“Các nàng vốn chẳng có ý tốt…”

“Thì sao?” – Phu nhân Vu gia ngắt lời, chất vấn lại – “Thì sao nào?!

Cho dù mượn tay người khác, cho dù làm dao cho kẻ khác dùng, thì ta – cũng đã thay A Huyên tìm ra được sự thật.

Chỉ cần có thể rửa sạch nỗi oan của A Huyên, chuyện gì ta cũng dám làm!”

“Các ngươi mỗi kẻ đều đầy bụng tâm cơ, mẫu thân không ra mẫu thân, con không ra con — thì hiểu gì được tình mẫu tử như chúng ta?

Các ngươi với mẫu tử nhà họ Lục có khúc mắc gì, chẳng liên quan đến ta!

Ta chỉ cần một cái công đạo, con gái ta là bị các ngươi hại chết, thế là đủ rồi!”

Mà cán cân công lý kia, lại nằm trong tay phủ doãn Dương, nóng bỏng đến mức khó nắm vững.

Cuối cùng, cũng chỉ có thể để mỗi nhà khuyên bảo một câu, cố gắng giữ cho cục diện ổn định.

Khâu pháp y muốn thúc đẩy kết quả nghiệm thi, lời khai của phu nhân phát bệnh làm sao lấy được tín nhiệm, cần bàn bạc thêm. Ngoài Vu Huyên ra, còn có một nữ tử khác cũng là nạn nhân, vậy cần thu thập chứng cứ…

Tóm lại, việc này không thể xử lý qua loa.

Phu nhân Vu gia cũng bị người của Vu gia và Chu gia khuyên bảo, trước tiên hồi phủ chờ tin.

Văn Thọ Bá sắc mặt âm trầm, đích thân đến đón người. Vừa nhìn thấy phu nhân đang phát điên, bao nhiêu lửa giận trong lòng không biết trút vào đâu, định quay sang Lục Niệm và A Vi mắng cho vài câu, thì đã thấy Định Tây hầu vội vàng chạy tới.

Trước mặt lão hồ ly ấy, muốn mắng con gái và ngoại tôn nữ của người ta, Văn Thọ Bá chẳng có gan ấy, cũng chẳng có bản lĩnh ấy.

Cơn giận vẫn không nuốt trôi, ông ta đành trút lên đầu con cái mình.

“Một đám suốt ngày chỉ biết gây họa, mặt mũi ta bị các ngươi làm cho mất hết!”

“Biết rõ mẫu thân các ngươi bị điên, mà đông người như vậy không trông nổi một người? Còn dám tự xưng là hiếu thuận?”

“Còn không mau cút về phủ!”

Văn Thọ Bá không dám gây chuyện với Lục Niệm, nhưng Lục Niệm lại chẳng có ý định buông tha bọn họ dễ dàng như vậy.

“Bệnh điên mà thôi,” – nàng lạnh nhạt nói – “cho dù không có con cháu hiền lương canh giữ từng giờ từng khắc, còn có bao nhiêu ma ma, nha hoàn, nuôi dưỡng thì có sao, chẳng chết người đâu.”

“Cho nên, mấy hôm nữa khi quan nha đến hỏi, đừng có lại bịa ra chuyện gì mà trượt chân ngã nước, hay là đập đầu vào đâu đó, nghe giả quá thể!”

“Các ngươi không cảm thấy ngượng, ta còn thấy buồn cười thay cho đấy!”

“Nói thật lòng, vụ án này mà xử xong, đúng là sẽ ‘mất mạng’ đấy!”

Lời chưa dứt, Văn Thọ Bá đã bị nàng chọc đến mức ngực phập phồng liên tục, mắt hoa lên vì tức giận, may mà có con trai đỡ kịp mới không ngã lăn ra đó.

Định Tây hầu bên cạnh cũng giật giật mạch máu trên trán.

Cái miệng của A Niệm, đúng là còn sắc bén hơn cả dao.

Nhưng hôm nay lời ấy không nhắm vào hắn, Định Tây hầu ho khẽ một tiếng, trong lòng thì nói: sảng khoái thật.

Trước khi rời đi, Định Tây hầu còn vỗ vai Dương phủ doãn mà nói: “Vụ án này, đành làm phiền đại nhân phải để tâm thêm rồi. Hai vị cô nương vừa mới đính hôn, đều là ngọc trên tay của gia đình, ai…”

Dương phủ doãn cười khổ, kéo Định Tây hầu sang một bên: “Hầu gia, chúng ta đều là người rõ ràng, không vòng vo. Hầu gia thân với Quận vương, vậy xin hỏi Quận vương rốt cuộc muốn gì?”

“Dù sao Văn Thọ Bá phủ cũng là nhà thông gia của ngũ điện hạ, nếu thần xử lý nhà họ Ứng theo tội giết người, vậy bên ngũ điện hạ…”

“Thần chỉ là một phủ doãn Thuận Thiên, đâu dám nghịch lại ý chỉ của hoàng tử?”

Định Tây hầu vuốt râu, cười hỏi lại: “Vậy đại nhân có dám trái ý Quận vương không?”

“Đương nhiên… càng không dám!” – Phủ doãn Dương rất biết điều – “Cho nên, Quận vương rốt cuộc muốn gì? Hay là giống lần trước vụ Phùng Chính Bân, ta cứ đem toàn bộ hồ sơ chuyển đến Trấn Phủ Ty?”

“Thế thì…” – Định Tây hầu hỏi tiếp – “Quận vương có dám trái ý ngũ điện hạ không?”

Dương phủ doãn bị hắn vòng vo như thế, tức đến bật cười.

Quận vương dạo gần đây, chẳng phải ngày nào cũng trái ý ngũ điện hạ sao?

Phủ Văn Thọ Bá đi đến bước này, rõ ràng là Quận vương…

Ánh mắt Dương phủ doãn lóe lên chút tỉnh ngộ, rồi dè dặt hỏi thêm: “Thần tiên đánh nhau, hầu gia, tiểu nhân như ta là tiểu thần tiên, hay chỉ là phàm nhân?”

“Là thần tiên hay phàm nhân,” – Định Tây hầu vỗ vai ông, cười đáp – “chẳng phải còn phải xem án này ngài xử thế nào sao?”

Dương phủ doãn trầm ngâm gật đầu.

Định Tây hầu vẻ mặt “ngươi có thể dạy được đấy”, lại vỗ thêm một cái, Dương phủ doãn đau đến nhe răng trợn mắt, nhưng cũng cố nhớ kỹ từng câu từng chữ.

Việc phu nhân Văn Thọ Bá giữa phố phát điên, miệng không ngừng gọi tìm con gái, chẳng mấy chốc truyền khắp kinh thành.

Ngự sử liên tiếp dâng tấu mấy ngày trời, từ việc “mất hết thể thống” chửi tới việc “chân giả khó phân”.

Thuận Thiên phủ trình lên bản thẩm tra của Khâu pháp y:

“Trong hài cốt của Vu Huyên xác thực có dấu hiệu trúng độc, hơn nữa độc tính trùng khớp với lời khai của phu nhân Văn Thọ Bá.”

“Thi thể một nữ tử khác đã được khai quan vào hôm qua, cũng có thể chứng minh lời khai của phu nhân không phải bịa đặt.”

“Tối hôm qua, một phong thư được gửi đến Thuận Thiên phủ, kèm theo ngọc bội tùy thân của Ứng Duệ – người mất tích nhiều ngày nay.

Thư đã qua xác nhận, chính tay Ứng Duệ viết.”

“Trong thư có liệt kê rõ ràng các hành vi phạm pháp của người nhà phủ Văn Thọ Bá, bao gồm việc ‘mưu hại hai nữ tử’.”



Văn Thọ Bá run rẩy quỳ giữa Kim Loan điện, không dám ngẩng đầu.

Hoàng đế Vĩnh Khánh nắm chặt tay vịn long ỷ, lạnh giọng mắng: “Hoang đường đến cực điểm!”

Hạ triều xong, ngũ hoàng tử Lý Sùng liền đến ngự thư phòng, bị Thánh thượng mắng một trận tơi bời.

Lương tần trong cung thì khóc như mưa, miệng không ngừng rủa phủ Văn Thọ Bá.

“Ta đã nói, mệnh phú quý mấy năm nay của họ là giả mà!”

“Nếu không phải do bọn họ lừa gạt, sao ta lại đồng ý để A Sùng cưới nữ nhi nhà đó?”

“Không những không giúp được A Sùng, mà còn liên lụy không dứt. Mấy năm nay A Sùng vì phủ Văn Thọ Bá mà thu dọn bao nhiêu rối rắm!”

“Phủ Văn Thọ Bá tỉ mỉ bày mưu tính kế, ta và A Sùng bị lừa cả, nếu vì thế mà Thánh thượng giáng tội A Sùng, thì…”

Lý Sùng từ trong điện lui ra, trước an ủi mẫu phi, lúc ra khỏi cung lại chạm mặt bát hoàng tử Lý Vi.

Lý Vi vỗ vỗ vai huynh trưởng: “Ngũ ca vất vả rồi, quả thật trước đây không nghĩ tới lại thành ra thế này.”

Lý Sùng thở dài.

“Vốn tưởng, cho dù phủ Văn Thọ Bá có vấy bẩn thật, cũng là chuyện hơn mười năm trước, chẳng ai còn giữ chứng cứ,” – Lý Vi hạ thấp giọng – “ai ngờ hai mẫu tử kia lại ép phu nhân Văn Thọ Bá phát điên… thế là Lâm Dục tóm được cơ hội rồi.”

Lý Sùng cười khổ: “Lâm Dục cũng đã lớn rồi.”

Không còn là thiếu niên năm xưa, giờ đã nắm Kỵ binh cấm vệ, thực lực không thể xem thường.

“Lần trước nói mượn biệt viện,” – Lý Sùng bảo – “tối nay đi luôn. Ta mời Lâm Dục đến uống rượu. Cứ thế này mãi cũng không ổn, ta cần nói chuyện đàng hoàng với hắn.”

Lý Vi gật đầu đáp, ánh mắt có phần thâm trầm nhìn Lý Sùng.

Mà Lý Sùng dường như không phát giác, vừa đi vừa nói: “Biệt viện gần Trấn Phủ Ty, ta đích thân đi mời hắn, khỏi để hắn lại kiếm cớ từ chối…”
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 216: Điện hạ và Bát điện hạ quả thật thân thiết


Quảng Khách Lai.

Trong hậu viện, Tiểu Nan đang ngồi xổm dưới gốc cây, khẽ khàng chơi đùa với một chú chó nhỏ.

Trước đây nàng bị bệnh, ỉu xìu, lại quấn người. Đôi mắt dõi theo con chó nhà hàng xóm đến độ không rời nổi.

Lục Niệm mềm lòng, liền bảo người đi tìm một con chó con mang về nuôi.

Đúng lúc đó, Lục Tuấn đang tranh luận với người khác, bị đụng đầu, được người ta đưa đến tửu đ**m nghỉ ngơi. Nghe được chuyện này, vốn định giành phần đưa chó đến.

“Có nhà quen nuôi chó, giống tốt lắm, vừa sinh một lứa, bảo họ chọn một con mang đến là được.”

Nói đoạn, Lục Tuấn lại lắm lời thêm một câu:

“Bình thường tỉ mắng người như chó thì thôi, giờ có chó con thật, đại tỉ đừng giận lên mà trút vào nó đấy.”

Lục Niệm không nói nhiều, lập tức đuổi hắn ra ngoài.

A Vi tiễn người xong, quay đầu nói với Lục Niệm: “Ý cữu cữu chắc là — mắng ngài ấy thì được, đừng mắng chó.”

Lục Niệm tỏ vẻ chán ghét: “Mắng hắn cũng mệt, nuôi chó còn đỡ phiền hơn nuôi hắn.”

Dĩ nhiên, cuối cùng chó con cũng không phải do Lục Tuấn mang tới.

Sáng hôm đó tiễn hắn đi xong, buổi chiều mẹ con hai người liền đến phủ Văn Thọ Bá “thăm bệnh”.

A Vi tiện thể nhắc một câu với Thẩm Lâm Dục, đến tối thì Nguyên Kính đã sai người đưa một chú chó con tới.

“Là giống chó được nuôi trong Trấn Phủ Ty, lúc điều tra án có khi cần dùng đến.”

“Cha mẹ nó đều là chó săn nổi tiếng trong nha môn, đầu năm nay sinh một đàn, huấn luyện rất tốt.”

“Con này mũi thính, nhưng tính hơi khờ, trong bầy thì tranh không lại mấy anh chị em, nhưng nuôi trong nhà để canh giữ hay chơi đùa thì lại rất hợp.”

“Vương gia vốn định tìm một nhà tốt cho nó, so với để trong nha môn bị bắt nạt thì vẫn hơn. Cô nương nhà ta lại vừa hay muốn nuôi, nên để tiểu nhân mang tới.”

A Vi thấy con chó con mắt sáng rực, trông rất ngoan, bèn hỏi ý Tiểu Nan, sau đó giữ lại.

Tiểu Nan thích vô cùng, dắt nó chạy tới chạy lui trong sân.

Lục Tuấn vừa mới hẹn người “đợi chó con cai sữa xong sẽ mang về”, muốn qua báo cho Lục Niệm một tiếng, ai ngờ vừa vào cửa đã nghe thấy tiếng chó sủa lanh lảnh.

Nhìn thấy Tiểu Nan đang vui vẻ chơi cùng chó con, Lục Tuấn sờ mũi.

Xem ra, hắn đến trễ rồi.

“Hay là, đến lúc đó ta mang con kia về, hai con chó làm bạn với nhau?”

Lục Niệm bĩu môi: “Có lanh lợi không đấy? Con chó nhà ta thông minh lắm, đừng để nó bị kéo xuống bởi con nào ngốc nghếch.”

Lục Tuấn: ……

Hắn nói rồi mà, chỉ cần lướt qua thôi là cũng bị mắng vài câu.

Đừng tưởng hắn không nghe ra — đại tỉ đang mắng hắn!

Lục Niệm chẳng buồn đoái hoài đến suy nghĩ của hắn, dù sao nuôi một con chó thông minh, cũng khiến người ta cảm thấy thú vị hơn nhiều.

Chó con mới hơn nửa tuổi, đúng thời kỳ hiếu động, học nhanh, trong Trấn Phủ Ty đã được dạy dỗ một lượt, giờ cho miếng thịt là biết biểu diễn ngay.

Ngồi xuống, giơ chân, xoay vòng, đủ trò không thiếu.

Lục Niệm và Tiểu Nan vây quanh chó con mà chơi đùa, còn A Vi thì bận rộn trong bếp chuẩn bị cơm chiều.

Lục Tuấn nhìn trái nhìn phải, chẳng còn ai để nói chuyện, đành lủi thủi quay về phủ.

Đến chiều tối.

Ở đại đường phía trước, khách khứa đến sớm đã bắt đầu ngồi uống rượu.

Phía sau bếp cũng nóng như lửa, ai nấy đều bận rộn.

A Vi vừa chuẩn bị xong phần cơm tối cho mình và Lục Niệm, đã thấy Ông nương tử dẫn một người đến.

Nhìn y phục, dễ đoán là hạ nhân của nhà quyền quý.

Ông nương tử nói: “Hắn bảo là người của Trưởng công chúa phủ, muốn đến Quảng Khách Lai mua vài món đặc biệt.”

A Vi nhìn kỹ người đó.

Người kia cung kính hành lễ: “Dư cô nương, vương gia mời ngũ điện hạ dùng rượu, Nguyên Kính bọn họ không rảnh, liền bảo tiểu nhân đến lấy ít món.”

A Vi mỉm cười: “Có dặn món nào cụ thể không?”

“Không có ạ,” người nọ đáp, “ý của vương gia là làm theo như mọi lần.”

Nghe vậy, A Vi suy nghĩ một chút rồi nói:

“Đã là tiệc chiêu đãi, thì không thể qua loa như thường ngày được.”

“Thời tiết này, món nóng đem về liền nguội, mất ngon.”

“Phủ bếp bên kia chắc chắn cũng đã chuẩn bị rồi, ta sẽ làm vài món nguội cắt sẵn, kèm một nồi canh, mang về nhà bếp hâm nóng là dùng được.”

Người nọ đáp: “Cô nương nói rất đúng.”

A Vi liền quay trở vào bếp.

Trong nồi đất, các món ăn kèm đã được sắp xếp ngay ngắn, món chay món mặn đều có đủ, sau cùng múc thêm một lượt canh hầm đã nấu suốt ban ngày vào.

Bốn đĩa nguội được chuẩn bị sẵn, gồm có giò heo đông, thịt dê luộc, bánh mì nướng tứ hỷ và cá nấu rượu.

Văn ma ma vừa bước vào liền trông thấy, ngạc nhiên nói: “Vương gia chẳng phải là…”

Lời còn chưa dứt, đã thấy A Vi liếc mắt ra hiệu, bà lập tức hiểu ý, vội ngưng bặt phần sau.

Sau đó, Văn ma ma ghé sát tai A Vi, hạ giọng nói: “Vương gia không ăn cá nấu rượu.”

“Ta biết,” A Vi đảo mắt, “để xem ngài ấy có biết không.”

Người kia hiển nhiên là không biết, nhìn qua các món ăn xong, vui vẻ tiếp nhận.

A Vi chẳng lấy làm ngạc nhiên.

Cũng là trùng hợp, nàng từng gặp người này tại phủ Ngũ hoàng tử.

Tuy chỉ là thoáng nhìn từ xa, nhưng trí nhớ nàng rất tốt, vừa nhìn đã nhận ra.

Huống chi, hôm ấy trước phủ Văn Thọ Bá, Thẩm Lâm Dục từng nhắc đến việc Ngũ hoàng tử mời hắn uống rượu, mà mượn lại chính là phủ của Bát hoàng tử.

Quả thật bữa rượu này sớm đã định là “khó nuốt”, nhưng nếu Vương gia đã muốn tiến thêm một bước, tất nhiên không thể bỏ qua cơ hội ngang nhiên bước vào địa bàn của Bát hoàng tử. Lẽ nào lại tự mình làm chủ, đổi sang phủ Trưởng công chúa vốn quen thuộc.

Có thể có người hành sự thận trọng, từng bước tính toán, nhưng trong mắt A Vi, Thẩm Lâm Dục rõ ràng không thuộc dạng người đó khi gặp chính sự.

Cách hành xử của Quận Vương gia, lúc cần ra tay, đều vô cùng quả quyết.

A Vi không rõ toàn cục, cũng không tiện tùy tiện phá rối bố cục bên phía Thẩm Lâm Dục, nhưng nàng vẫn có thể âm thầm nhắc nhở một hai.

Ví như, món cá nấu rượu mà hắn không ăn.

Ví như, chiếc túi hương có chứa lang cao ấy.

“Ăn uống no say, hứng chí nổi lên thì rất dễ đầy bụng,” A Vi trao túi hương cho người kia, “bên trong có gói ít dược liệu giúp tiêu thực kiện vị, mùi hơi nồng, nên ta gói thêm mấy lớp giấy.

Ngươi thay ta giao cho Vương gia, nếu sau bữa cơm cảm thấy khó chịu trong bụng, cứ mở ra ngửi một chút.”

Người kia tất nhiên gật đầu đáp ứng, cũng mang lời A Vi nói truyền lại cho Thẩm Lâm Dục y nguyên không thiếu một chữ.

Thẩm Lâm Dục nhận lấy, cầm trong tay lắc nhẹ, sau đó cất kỹ vào người.

“Vương gia chờ một chút, điện hạ vừa đến, lát nữa sẽ qua ngay,” người kia cười nói, “bốn món nguội đã bày ra, còn một nồi đang đưa đến phòng bếp để làm nóng.”

Thẩm Lâm Dục liếc nhìn bốn món nguội đã bày trên bàn, đầu mày khẽ nhướn.

A Vi cô nương từng nói một câu.

Dùng bữa, là lúc dễ dàng lộ rõ thói quen sinh hoạt của một người nhất.

Mà A Vi cô nương lại là người đặc biệt tinh tế, thói quen khẩu vị của hắn, nàng đều rõ như lòng bàn tay.

Thông thường, nàng tuyệt đối sẽ không sắp món cá nấu rượu mà hắn không ăn.

Trước đây, hắn từng nhắc đến bữa tiệc với Ngũ hoàng tử, nên giờ càng thêm hiếu kỳ, không biết người kia đã nói gì với A Vi, mới khiến nàng cẩn trọng đến vậy.

Xem ra, chiếc túi hương này cũng không đơn thuần chỉ là thuốc tiêu thực.

Nghĩ đến đây, Thẩm Lâm Dục lại lấy túi hương ra, dùng tay áo che lại rồi đưa lên ngửi thử.

Sau đó, không kìm được mà nhíu mày.

Mùi gì kỳ quặc vậy? Có thể giúp tiêu thực sao? Thứ này e là khiến người ta buồn nôn đến mức không muốn ăn cơm nữa thì có!

Thực ra, tuy mùi kỳ quái thật, nhưng cũng không nồng đến mức khó chịu.

Bên ngoài được bọc từng lớp giấy, lại dùng túi hương bằng gấm dày bọc kỹ, hầu như đã cách ly hết mùi. Nếu không phải Thẩm Lâm Dục vốn nhạy mùi, lại còn đưa tận lên mũi ngửi, thì bình thường đeo bên người cũng chẳng cảm thấy gì.

Mang theo vài phần khó hiểu, Thẩm Lâm Dục lại cất kỹ túi hương, tiếp tục suy đoán dụng ý của A Vi.

Chẳng lẽ để giúp tỉnh táo tinh thần?

Bất luận người kia đã nói gì với A Vi, trong bàn tiệc hôm nay chỉ có hắn và Ngũ hoàng tử, lại thêm việc Ngũ hoàng tử đích thân đến Trấn phủ ty mời người, nhân chứng không thiếu.

Ngũ hoàng tử không đến mức vừa độc ác vừa hồ đồ, dám hạ độc hay mưu sát hắn ngay tại đây.

Vậy thì mưu kế có thể dùng, e là dạng thuốc mê?

Cho nên, A Vi mới dùng loại hương cực kỳ nồng và khó ngửi này, giúp hắn lập tức tỉnh táo lại?

Thế thì chẳng bằng dùng viên “hàm hương hoàn”.

Năm ngoái khi khai quật quan tài của phu nhân họ Kim, A Vi từng dùng qua, nàng chắc chắn vẫn còn trong tay.

Bên ngoài viện, Lý Sùng khoanh tay đứng chờ, nghe người hầu bẩm báo.

“Trừ món ăn, còn có một túi hương?” hắn hỏi, “đã mở ra xem chưa?”

Người nọ bóp mũi đáp: “Đã mở xem, không thấy có chữ gì giấu bên trong, chỉ có thứ mùi vừa tanh vừa nồng, tiểu nhân không nhận ra là dược liệu gì, nhưng vẫn theo lời cô nương Dư gia giao lại cho Quận Vương gia rồi.”

“Không sao,” Lý Sùng khẽ nói, “ngươi lui xuống đi.”

Khi Lý Sùng bước vào hoa sảnh, liền thấy Thẩm Lâm Dục ngồi nơi bàn tiệc với dáng vẻ nhàn nhã tùy ý, rượu đã rót sẵn.

Lý Sùng nói: “Ta đến muộn, lát nữa tự phạt ba chén.”

“Rượu này mùi không tệ,” Thẩm Lâm Dục nâng chén nhấp một ngụm, “uống cũng khá lắm.”

“Bát đệ vốn định cùng đến, nhưng ta sợ hắn ồn ào, đau đầu chịu không nổi, nên từ chối,” Lý Sùng chỉ vào bình rượu, “hắn đành phải mang rượu trong hầm ra hiến rồi lui.”

Thẩm Lâm Dục bật cười: “Điện hạ với Bát điện hạ tình nghĩa thật không cạn.”

Lý Sùng không đáp thẳng lời ấy, chỉ ngồi xuống rồi hỏi: “Ngươi đến sớm, có dạo qua trong vườn không?”

“Có đi một vòng. Nơi này trước kia từng được điện hạ tiến cử, chẳng thể không thưởng ngoạn một phen.” Thẩm Lâm Dục đáp.

Kỳ thực, lần trước hắn từng thừa lúc đêm khuya, từ trên cao ngó xuống nơi này một lần. Hôm nay đích thân vào trong, tuy chỉ là vội vàng lướt qua, song lại có cảm giác hơi… không tự nhiên.

Mãi đến khi Lý Sùng ngồi trước mặt cùng nâng chén với mình, Thẩm Lâm Dục mới chợt hiểu ra chỗ “không đúng”.

Bố trí nơi đây quả thật quá mức nhã nhặn tinh tế.

Tính khí của Lý Vi – người cởi mở phóng khoáng – lại hoàn toàn không phù hợp với cảnh sắc chốn này, ngược lại, phong thái thư nhã của Lý Sùng lại rất hợp vai chủ nhân.

Thế nhưng, đây đích thực là phủ nhà mẹ đẻ của Thuận phi, được xây dựng theo quy chế hoa viên vùng Giang Nam.

Thẩm Lâm Dục từng tra xét, lần đại tu gần nhất của phủ này là vào khoảng bốn mươi năm trước, thời tiên đế, người chủ trì sửa sang chính là phụ thân của Thuận phi.

Tổ phụ tổ mẫu của Thuận phi đều là người Giang Nam, theo quan chức tiến kinh, tích góp mới có được phủ đệ này.

Khi còn trẻ chưa cảm thấy gì, đến tuổi xế chiều lại càng khắc khoải nỗi nhớ cố hương. Tuy chẳng tính về quê, nhưng phụ thân Thuận phi hiếu thuận, thay hai cụ tôn tân trang lại toàn phủ.

Sau đó năm tháng trôi qua, trưởng bối lần lượt qua đời, cha mẹ Thuận phi cũng dọn đi, phủ đệ từ đó bỏ trống.

Mãi cho đến mấy năm gần đây, Lý Vi mới tiếp nhận, nhưng chỉ sửa sang đôi chút, không thay đổi bố cục bên trong.

Việc sửa chữa có để lại giấy tờ, ý tưởng cũng từng được Lý Vi nói rõ khi uống rượu, tất thảy đều hợp tình hợp lý. Nhưng điều khiến Thẩm Lâm Dục lấy làm lạ là – ngoại trừ hoàng tử phủ, Lý Vi lại thường xuyên đến nơi này.

Không phải nói người thô kệch thì không thể yêu thích cái đẹp, mà là kiểu người như Lý Vi, vốn không phải kẻ ưa hoa nhã.

Hắn ba lần bảy lượt tới đây, là vì tự biết thiếu sót nên muốn tu dưỡng tâm tính?

Nghĩ đến đó, Thẩm Lâm Dục liền nói: “Phủ đệ thanh nhã thế này, ít nhiều cũng phản ánh khí chất của ngoại tổ phụ và ngoại tổ mẫu Bát điện hạ năm xưa.”

Lý Sùng nghe vậy cười không ngớt, tay run suýt nữa làm đổ cả chén rượu.

“Ngươi đó,” hắn nói, “lúc ở trước điện còn mạnh miệng, chẳng kiêng dè ai, nay lại ngồi trong cảnh sắc êm đềm mà cũng đổi tính ư? Đừng nói là Bát đệ không có mặt, dẫu có ở đây, ngươi cười hắn là kẻ thô lậu mà còn giả vờ tao nhã, hắn cũng chẳng đánh ngươi đâu.

Nói gì thì nói, câu này ta cũng từng nói với hắn rồi.

Hoa bốn mùa trong vườn đầy dẫy, thế mà tên gọi biết được không quá năm ngón tay, thế mà vẫn thích lảng vảng quanh đây.

Có lẽ người ngoại đạo mới thích xem náo nhiệt, hoặc phủ đệ buồn chán, hắn thường đến Thái Hưng phường tìm ta với Lục đệ uống rượu, uống xong khuya rồi thì ở lại đây nghỉ một đêm.”

Thẩm Lâm Dục cùng hắn rót lại chén, nói: “Nếu điện hạ đã nói thế, vậy vi thần cũng không giấu lòng nữa. Vốn tưởng hôm nay là đến uống rượu nhạt.”

Lý Sùng hơi sững lại, ngẩng đầu nhìn hắn, đợi đến khi hiểu được ý, liền gật đầu nói: “Có lẽ vì ta cũng đoán được phủ Văn Thọ Bá vốn chẳng trong sạch, nên không đến nỗi bị đánh úp bất ngờ.

Ngươi biết tại sao hôm nay ta nhất định phải uống rượu không? Thật ra chỉ vì không muốn về phủ, sợ ngũ tẩu ngươi khóc lóc ầm ĩ một trận.

Trước đây nàng ấy với nhà mẹ đẻ cãi nhau đỏ mặt, nhưng nhà mẹ đẻ thật sự xảy chuyện, làm sao nàng có thể khoanh tay đứng nhìn?

Nàng ấy thấy bất bình, chỉ còn biết tìm ta. Nhưng thử hỏi, ta giúp được gì cho nàng?

Phủ Văn Thọ Bá phạm tội sát nhân, từ trên xuống dưới chẳng ai trong sạch.

Hôm nay trong ngự thư phòng, phụ hoàng cũng không nói gì quá tuyệt tình, nhưng ta đoán nếu thật sự ra tay, ta e ngay cả ngũ tẩu cũng chẳng giữ được, lại nói gì đến chuyện che chở nhà mẹ đẻ nàng?

Thay vì về phủ cãi cọ ầm ĩ, chi bằng cùng ngươi uống một bữa rượu.

Sự đã rồi, có buồn bực hay không cũng vậy thôi.”

Nói đến đây, các món ăn còn chưa gắp được mấy đũa, đồ nóng trong bếp đã nấu xong, được gia nhân lần lượt mang ra.

Thẩm Lâm Dục đưa mắt nhìn, không thấy người ban nãy, lúc này bày bàn đều là người trong phủ.

Lý Sùng nói: “Bếp nhà này nấu cũng không tệ, sợ ngươi không quen, nên ta lại sai người đến Quảng Khách Lai mua thêm mấy món.”

Thẩm Lâm Dục cười: “Vi thần chẳng qua là ham ăn, chứ không phải kén chọn.”

Lý Sùng đúng là có chút kén ăn, từng món từng món nếm thử, bình phẩm rồi lại uống thêm mấy chén, cuối cùng thở dài một hơi.

“Ta cũng muốn cứ thế say túy lúy cho xong,” hắn nói, “đôi lúc nghĩ, dù sao cũng là phu thê hơn mười năm, nàng ấy gặp chuyện khó khăn, ta dù không giúp được, cũng không nên hoàn toàn làm ngơ.

Nhưng nghĩ lại, ngay từ đầu nhà nàng ấy đã có âm mưu, đã phạm tội. Cuộc hôn nhân này vốn đã chôn sẵn tai họa, đến hôm nay bùng phát, khiến ta tiến thoái lưỡng nan. Phủ Văn Thọ Bá đã cho ta một ván cờ khó xử nhất.

Suy nghĩ nhiều, rốt cuộc cũng chỉ là một câu:

Tình cảm… chưa từng sâu đến mức đó.”

Thẩm Lâm Dục không lập tức lên tiếng.

Chuyện của phủ Văn Thọ Bá, A Vi cô nương cùng phu nhân Lục gia chính là công thần lớn nhất, nhưng Ngũ hoàng tử nào không rõ, bản thân hắn cũng chẳng đứng ngoài.

Thường thì, khoản nợ này sẽ trực tiếp tính lên đầu hắn.

Giống như phủ An Quốc công, cho rằng hắn chính là người đứng sau chỉ huy A Vi cô nương và phu nhân Lục gia xông pha tiền tuyến.

Thế nhưng, hôm nay rượu đã vào đến mức này, Lý Sùng lại chẳng nhắc gì đến.

Không chỉ không muốn xé rách da mặt, ngược lại còn ra sức “gần gũi thân thiện”, khiến hắn hơi bất ngờ.

Điều khiến hắn càng kinh ngạc hơn, là lời tiếp theo của Lý Sùng: “Cho nên ấy, bất kể là hoàng thân quốc thích, hay dân thường áo vải, lấy vợ vẫn nên cưới người mình thực lòng yêu thích.”

Miếng thịt dê luộc mà Thẩm Lâm Dục vừa gắp tới miệng cũng chưa kịp đưa vào, sững sờ nhìn Lý Sùng một cái.

Nước cờ của Ngũ điện hạ… quả thật chẳng giống ai.
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 217: Tình đơn phương ư?


Thấy Thẩm Lâm Dục sững người, Lý Sùng lại bật cười.

“Sao vậy? Ta không giống kiểu ca ca thích quản chuyện bao đồng à?” Lý Sùng trêu ghẹo, “Phải rồi, hình như lần trước Cửu đệ bọn họ cũng giục ngươi thì phải?”

Thẩm Lâm Dục đáp: “Ta cứ tưởng chỉ có người có tuổi như mẫu thân mới thích giục chuyện đó.”

Lý Sùng cười đến không dừng được.

Thấy Thẩm Lâm Dục không bài xích chủ đề này, hắn liền tiếp tục, chỉ là giọng điệu dần trở nên nghiêm túc hơn.

“Đều là giục cưới, nhưng lý do thì mỗi người một khác.”

“Cô mẫu giục, là vì nghĩ ngươi tuổi cũng đã lớn, hy vọng bên cạnh có người sớm hôm chăm sóc, người và cô phụ tình cảm hòa thuận, cũng mong ngươi có được một mối lương duyên vợ chồng hòa hợp.”

“Phụ hoàng cũng từng giục ngươi đúng không? Nói riêng thì, phụ hoàng xưa nay luôn ôm đồm mọi việc, con cái của người, cứ như bình nào cũng phải có nắp, nắp đậy kín khít mới là tận tâm làm phụ thân.”

Thẩm Lâm Dục nhấp một ngụm rượu, nói: “Điện hạ nói vậy, e là tổn thương lòng thánh thượng rồi.”

Hắn không hùa theo để trách cứ Vĩnh Khánh Đế, mà Lý Sùng cũng không để tâm.

Hoặc có thể nói, Lý Sùng lúc này giống một người con trai trong lòng chất chứa uất ức, tìm huynh đệ tâm sự một phen, bất kể đối phương phụ họa, phớt lờ hay sau đó đi méc phụ hoàng, hắn đều chẳng để bụng.

“Phụ hoàng con cái quá nhiều,” Lý Sùng cười khổ, “huống hồ người còn phải lo việc thiên hạ, làm sao có thời gian mà quan tâm con mình thích ai, vừa ý ai?”

“Nói cho cùng, vẫn là bản thân phải nghĩ cho thông, mới tiện bẩm rõ với phụ hoàng.”

“Ta chưa từng mở miệng xin điều gì.”

“Hôn sự của ta, xưa kia cũng chẳng phải cứ thích ai là được cưới người đó, mẫu phi ta có chủ ý của bà.”

“Ngươi ngũ tẩu khi ấy, chính là người phù hợp nhất với kỳ vọng của mẫu phi ta về một nàng dâu.”

“Xuất thân từ phủ Văn Thọ Bá đời đời nối nghiệp, lại mệnh tốt phú quý, trong số các tiểu thư quyền quý đến tuổi, thì chính là nàng ấy.”

“Nói riêng về việc này, Lâm Dục à, ta thật chẳng bằng ngươi.”

“Ta không có cái tự do được theo đuổi người mình thích. Còn ngươi, chẳng cần bận tâm những thứ bên ngoài, chỉ cần nghĩ kỹ xem trong lòng mình thật sự thích ai là đủ.”

“Chỉ cần là người ngươi vui lòng, cô mẫu cũng sẽ hài lòng.”

Thẩm Lâm Dục đưa mắt nhìn Lý Sùng thật sâu.

Dẫu nước cờ có kỳ quái đến đâu, cũng không ngoài phạm vi bàn cờ.

Ngũ điện hạ nói một tràng dài, không phải vì rượu ngà ngà mà cảm xúc bốc lên nói năng tùy tiện, hắn nhất định có mục đích, có điều hắn muốn dẫn dắt.

Nhưng Thẩm Lâm Dục nghe ra được, bất luận trong lời hắn có ẩn ý gì, những lời thốt ra cũng không phải giả dối để dẫn dụ, mà là lời thật lòng.

Dĩ nhiên, nói thật để khuấy động lòng người, phần lớn còn hiệu quả hơn cả lời giả dối.

Chỉ có điều, Thẩm Lâm Dục hiển nhiên không phải người nghe ai nói gì cũng tin.

Hắn là người dám rút đao.

“Nghe điện hạ nói vậy,” hắn khẽ thở dài, “ta lại càng hiểu hơn vì sao An Quốc công uất ức, bất bình như thế. Ở nha môn Trấn phủ ty, ông ta nếu không im lặng, thì vừa mở miệng là mắng phu nhân mình.

Nếu phu nhân Quốc công không gây ra chuyện lấy thứ thay đích, thì chương tiểu thư – vốn là đích nữ Quốc công phủ – hẳn sẽ càng hợp ý Lương tần nương nương hơn.”

“Như vậy, hôm nay không dính líu đến phủ Văn Thọ Bá, điện hạ cũng không đến mức phải tiến thoái lưỡng nan.”

Nghe đến đây, Lý Sùng chẳng những không tức giận, ngược lại còn lộ vẻ bất lực: “Ngươi nói thế, lẽ nào An Quốc công phủ không có phiền phức của riêng họ?”

“Nếu không có chuyện trong nhà tự sinh nội họa, dựa vào thánh ân năm xưa của An Quốc công, lại là nhạc phụ điện hạ,” Thẩm Lâm Dục thẳng thắn, “e rằng thần chưa chắc đã áp chế nổi ông ta, ít nhất cũng không dễ dàng như bây giờ.”

Nói đến đây, Thẩm Lâm Dục hơi ngả người ra sau, dáng vẻ ung dung, nhưng lời lẽ lại chân thành.

“Huống chi, Đại ca xảy chuyện đã mười năm, Thánh thượng vẫn chưa lập Thái tử. Mấy vị điện hạ nhìn qua cũng chẳng mấy ai sốt sắng.”

“Chỉ là cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng, Lương tần nương nương nhiệt tình, An Quốc công cũng nhiệt tình, điện hạ nếu cưới chương tiểu thư, dẫu không muốn bước lên, cũng sẽ bị người đẩy tới.”

“Đường nếu đã trải rộng, thì đã chẳng đến lượt thần giờ còn chỉ trỏ, tra phủ này dẹp phủ nọ.”

Lý Sùng: “……”

Quả nhiên, Thẩm Lâm Dục vẫn là Thẩm Lâm Dục.

Khi không nói lời khách sáo, lại thành thật đến mức khiến người ta rùng mình.

Thế mà bản thân hắn lại hoàn toàn không để tâm lời mình sẽ gây ra sóng gió gì, dáng vẻ cứ như lẽ đương nhiên.

Thậm chí, Thẩm Lâm Dục còn phản vấn một câu: “Chẳng lẽ điện hạ không nghĩ vậy sao?”

Lý Sùng nghe thế, muốn đáp cũng khó, không đáp cũng khó.

Thẩm Lâm Dục thấy vậy, tự mình cúi đầu gắp món ăn.

Đã liên lụy đến vụ án vu cổ, thì dĩ nhiên là dã tâm không nhỏ, chuyện “thờ ơ với ngôi vị hoàng đế” chỉ là làm ra vẻ ngoài, chứ tuyệt chẳng phải thật lòng buông tay.

Những năm qua, Lý Sùng không thể tiến thêm một bước, nếu xét kỹ thì nguyên nhân chẳng ít.

Phủ Văn Thọ Bá bên nhà vợ thế lực yếu, có khi còn là gánh nặng, đúng là một trong số đó, nhưng tuyệt đối không phải mấu chốt then chốt.

Dù có đổi sang phủ An Quốc công, tình hình cũng chưa chắc đã tốt hơn bao nhiêu.

Song con người mà, luôn ôm kỳ vọng vào “sự thay đổi”.

Nhất là khi tai họa từ phủ Văn Thọ Bá đã hiện ra rõ rệt, còn phủ An Quốc công thì ai biết chừng, va vào nhau lại chẳng mở được con đường sinh cơ…

Thẩm Lâm Dục chính là đang đâm vào nỗi đau của Lý Sùng.

Luận điệu ấy chưa chắc là lời thật lòng, nhưng nghe vào lại rất thuận tai.

“Ta chỉ than thở mối hôn nhân mười mấy năm của mình,” Lý Sùng có vẻ đã điều chỉnh lại tâm trạng, lắc đầu cười khổ, “ngươi thì một lần theo đuổi, lại đuổi thẳng về ba chục năm trước, đến lúc An Quốc công phu nhân sinh con rồi.”

“Nói chứ, ai nói ta cam tâm bị đẩy đi đâu? Bước lớn quá, nhắm thẳng thiên thượng, chưa chắc đã là chuyện tốt.”

Thẩm Lâm Dục hơi nhướng mày, cảm thấy khẩu khí Lý Sùng có gì đó lạ thường.

Bằng trực giác, Thẩm Lâm Dục mơ hồ đoán được, có khi nào Lý Sùng cũng phần nào đã ngộ ra cái tâm tư vòng vo khó lường của Vĩnh Khánh Đế? Biết rằng, trong mắt phụ hoàng, những hoàng tử có thế lực vững mạnh, cánh chim đầy đủ… chính là vật cản, là đối tượng phải ra tay áp chế?

Chỉ là, chuyện này hiện tại Thẩm Lâm Dục không tiện “thẳng thắn thành khẩn” đem ra xác minh cùng hắn.

“Phải rồi,” hắn nói, “vừa rồi điện hạ bảo, cưới vợ phải cưới người mình tâm ý. Chương tiểu thư có thể là người Lương tần nương nương vừa mắt, nhưng lại không phải người điện hạ thật lòng.”

Nói đến đây, giọng Thẩm Lâm Dục bỗng chuyển: “Không giấu gì điện hạ, lần trước Bát điện hạ từng nhắc với vi thần một câu về vị tiểu thư nhà họ Tống.”

“Lúc nàng ấy còn sống, ta hãy còn nhỏ, giờ cũng chẳng còn nhớ rõ nàng thế nào.”

“Nghe nói là do Thái hoàng thái hậu đích thân chọn, chẳng hay điện hạ…”

Lý Sùng lắc đầu, dở dở cười cười: “Bát đệ cái miệng to ấy, cái gì cũng đi kể!”

“Nàng ấy học thức cực tốt, không thế thì đã chẳng được hoàng tổ mẫu yêu thích. Nàng với Tứ muội thân thiết lắm, nhưng ta đối với nàng…”

“Nói cho dễ hiểu, ta nhìn nàng ấy thế nào, thì cũng giống như ta nhìn Tứ muội, đều coi như muội muội mà thôi.”

“Ngươi cứ coi là ta rượu vào lời nhiều, phiền ngươi nghe ta than thở vài câu.”

“Ba mươi tuổi đầu, định thân hai lần, cưới vợ mười mấy năm, có con trai con gái đủ cả, nhưng chưa từng nếm trải cái cảm giác vì một người mình yêu mà hân hoan, mà đau lòng.”

“Ta là hoàng gia tử tôn, thấy nhiều chuyện phu thê đồng sàng dị mộng, thậm chí là gượng ép đến cả khuôn mặt cũng không thuận mắt. Nhưng ta cũng từng chứng kiến phu thê tình thâm nghĩa trọng, nhìn mãi nhìn hoài, cuối cùng cũng lĩnh ngộ một điều.”

“Có gặp được người mình vừa ý hay không, mà người ấy lại vừa vặn cũng có ý với mình — là chuyện nhờ vào trời định.”

“Một kẻ từng trải như ta, thất bại một lượt, giờ mượn rượu giải sầu. Nhìn ngươi vận hội đang mở, muốn không giục cũng khó.”

“Cô mẫu chọn con dâu, không giống mẫu phi ta cứ chăm chăm nhìn vào gia thế và mệnh số.”

“Phụ hoàng bên kia, chỉ cần là tiểu thư chính thất của danh môn tử tế, ngươi mở lời, ông ấy không lý gì không gật đầu. Ta đoán ông ấy còn mừng vì ngươi có chủ kiến, khỏi phải bận tâm tự mình ghép uyên ương.”

“Quan trọng nhất là, người ngươi thích, chưa lấy chồng, ngươi cũng chưa thành thân — thật vừa đẹp.”

Nghe vậy, Thẩm Lâm Dục giả vờ kinh ngạc: “Thì ra bữa rượu tối nay của điện hạ, là để giục cưới thật sao? Vòng vo một hồi, lại quay về chuyện này.”

“Không thì sao?” Lý Sùng lại rót đầy chén rượu, tự mình cụng nhẹ với chén của Thẩm Lâm Dục, “Ta sống chẳng vui vẻ gì, còn không cho ta ngắm chuyện người ta hạnh phúc để mở mang lòng dạ chút à?

Huống chi không phải người dưng, là đệ đệ ta.

Ai… nói ra thì ta đúng là không hiểu nổi đám trẻ các ngươi nữa.

Hôm đó ở phủ Cửu đệ, ta thấy ngươi và cô nương Dư gia nói chuyện cũng rất hòa hợp.

Tuy phụ tộc nàng đã suy bại, nhưng ngoại tổ phụ là Định Tây hầu, lấy làm thê tử của ngươi, nào có gì là không xứng?

Cô mẫu bảo ngươi mời cô nương Dư gia làm điểm tâm, mà ngươi chỉ để nàng làm bánh hoa quế?

Theo lẽ thường, chẳng phải nên là bà mối đến cửa, đem việc hôn sự định đoạt cho xong sao? Đính hôn rồi cũng không ảnh hưởng nàng quản tửu lâu.

Sao hai người các ngươi, nàng thì không vội, ngươi cũng không vội, lại khiến mấy huynh trưởng như bọn ta sốt ruột thay?

Ta cũng mới ba mươi, đâu phải lớn hơn ngươi ba mươi tuổi, đừng khiến ta thành một lão già chẳng hiểu nổi giới trẻ bây giờ như thế.”

Thẩm Lâm Dục nâng chén rượu kia lên, cầm trong tay hồi lâu vẫn chưa uống.

Cuối cùng, hắn mới mở miệng: “Khi nãy điện hạ cũng nói rồi, còn phải xem… ý trời.”

Lý Sùng thoáng chưa hiểu, đến khi hồi tưởng lại lời mình vừa nói, liền sửng sốt:

“Ý ngươi là… đơn phương tình nguyện ư?”

Thẩm Lâm Dục khẽ cười, trong nụ cười có vài phần tiếc nuối, vài phần lúng túng, lại xen lẫn vài phần xót xa:

“Chuyện tình cảm… không thể cưỡng cầu, chỉ có thể dốc lòng.”

Tám chữ ấy lại khiến Lý Sùng nghẹn họng, không biết nói gì cho phải.

Lúc này dường như nói gì cũng không hợp, hắn dứt khoát cầm bình rượu lên:

“Nào nào nào, ngũ ca cùng ngươi uống tiếp, chuyện này thật là…”

Thêm một bình rượu lại cạn.

Thẩm Lâm Dục chẳng cảm thấy mình đã say, nhưng lời nói của Lý Sùng lại càng thêm nhiều.

Nói chuyện Thánh thượng Vĩnh Khánh, nói đến Lương tần nương nương, nói đến Ứng Linh và phủ Văn Thọ Bá, lại nói đến một đôi nhi nữ và hàng huynh đệ trong nhà.

Thẩm Lâm Dục lắng nghe chăm chú, trong lòng cũng hiểu rõ, Lý Sùng không phải mượn rượu mà nói thật lòng, mà là mượn men say để tung lời, chỉ xem Thẩm Lâm Dục có “bắt” được điều gì hay không.

Hoặc nên nói… Lý Sùng đêm nay thật sự muốn để cho Thẩm Lâm Dục bắt được điều gì đó.

Chẳng lẽ thực sự giống như Vĩnh Khánh đế, một bên là tình phụ tử không chỗ gửi gắm, một bên là huynh đệ chi giao cần biểu hiện, nên dứt khoát tìm đến hắn – người được xem là “an toàn” nhất?

Huống chi, hiện nay Thẩm Lâm Dục đối với Lý Sùng, căn bản đâu có thể gọi là an toàn.

Ấy vậy mà Lý Sùng từ đầu tới cuối, lại tuyệt không nhắc đến mâu thuẫn giữa hai người.

Không cầu xin cho phủ Văn Thọ Bá, cũng chẳng đả động đến vụ án vu cổ năm xưa, vẫn giống hệt như mấy năm trước, gắng sức duy trì mối giao tình này.

Cuối cùng, rượu không thêm nữa, món ăn cũng không động nữa, chỉ có miệng lưỡi vẫn không chịu nghỉ.

“Đơn phương thì đã sao!”

“Gặp được cô nương mình vừa ý, chúng ta là nam tử hán, chủ động một chút là lẽ đương nhiên.”

“Huống hồ nàng cũng chẳng phải ghét bỏ ngươi, ta nhớ hai người còn từng cùng nhau đi nghe hát?”

“Tính tình nữ tử mỗi người mỗi khác, ngũ ca không hiểu rõ nàng, cũng không tiện chỉ vẽ linh tinh, chỉ có một điều thôi.”

“Đừng suốt ngày vùi đầu vào công vụ. Trấn phủ ty còn có Mục Trình Khanh trông coi, ngươi nên nghỉ thì nghỉ. Ngươi coi nha môn là nhà, chẳng lẽ muốn sau này cô nương người ta cũng phải lấy nha môn làm nhà sao?”

“Cứ nói chuyện nhiều với nàng, rồi cũng thành thôi.”

“Khắp kinh thành này, trong đám công tử vừa tuổi vừa thân phận thích hợp, ta nghĩ tới nghĩ lui cũng chẳng có ai hơn được ngươi.”

Thẩm Lâm Dục bất ngờ bật cười.

Trong ánh mắt nghi hoặc của Lý Sùng, hắn thản nhiên nói:

“Câu cuối cùng đó, lần trước ta cũng đã từng nói với nàng rồi.”

Lý Sùng bị sặc đến ho khan, ôm ngực ho rũ rượi.

Đến khi thở lại được, rượu cũng ngấm lên đầu, hắn phất tay:

“Không xong rồi, nhìn cái gì cũng ra hai bóng cả.”

Thẩm Lâm Dục thuận thế nói theo:

“Giờ cũng đã muộn, uống thêm nữa e là lỡ giờ triều sớm ngày mai.”

“Ngươi ở xa, hay là nghỉ lại đây đi?” Lý Sùng gợi ý.

Thẩm Lâm Dục vừa định từ chối, Lý Sùng đã tự mình phủ quyết:

“Ta thì muốn để ngươi khỏi phải chạy, nhưng đêm nay phải làm phiền ngươi giúp Ngũ ca một lần.”

Lý Sùng chống tay vào bàn đứng lên, “Không muốn về nhà gây chuyện với ngũ tẩu ngươi, chi bằng để ngươi đưa ta hồi phủ, ta giả say, để người khiêng thẳng vào thư phòng. Nàng giận ta, có mặt ngươi bên cạnh, cũng không đến mức xông vào tiền viện mà ầm ĩ.”

Thẩm Lâm Dục lúc này mới gật đầu.

Xe ngựa là do phủ đệ sắp xếp.

Thẩm Lâm Dục đỡ Lý Sùng lên xe, vừa vào đã nhíu mày:

“Trong xe này đập bể mấy vò rượu à? Mùi nồng nặc như vậy?”

“Ngày mai phải tìm Bát đệ mà hỏi tội,” Lý Sùng chống trán lắc đầu, “hắn không có ở đây, lại bảo người khác chuẩn bị xe cũng phiền. Nhịn chút đi, đến phủ ta rồi, ta đổi xe khác cho ngươi.

À mà, người của ngươi đâu?

Ta gần đây nên đuổi đi cho yên tĩnh, nhưng bên ngươi cũng chẳng thấy ai?”

“Ra ngoài tìm chỗ ăn cơm,” Thẩm Lâm Dục đáp, “lát nữa bọn họ sẽ đuổi theo.”

Lý Sùng không hỏi thêm, tựa người vào thành xe, nhắm mắt nghỉ ngơi.

Xe ngựa đưa đến phủ Ngũ hoàng tử, Lý Sùng loạng choạng bước xuống, đi đường cũng không vững.

Quản sự trong phủ ra tiếp đón, hướng Thẩm Lâm Dục hành lễ, nói lời cảm tạ.

Thẩm Lâm Dục khẽ vén rèm xe, ánh mắt dõi theo Lý Sùng.

Y trông như người ngái ngủ, dáng vẻ lười biếng mệt mỏi, dường như đã quên mất chuyện đổi xe, được quản sự dìu vào phủ.

Cổng lớn khép lại.

Ánh mờ mịt trong mắt Lý Sùng chợt tan biến đi ít nhiều, thấp giọng hỏi:

“Lâm Dục có nhắc gì đến việc đổi xe không?”

“Hắn chẳng nói gì cả.” Người đáp chính là kẻ vừa đi Quảng Khách Lai lấy món ăn khi nãy.

Lý Sùng khẽ gật đầu: “Lâm Dục là người thông minh, không phải không nghĩ ra, chỉ là cố ý lấy thân nhập cục.”

Mà hắn – Lý Sùng – cũng chính là cần Thẩm Lâm Dục bước vào cục này.

“Đêm nay trông kỹ một chút,” Lý Sùng dặn dò, “đừng để Lâm Dục thật sự xảy ra chuyện.”

Mọi việc phải có mức độ, nếu vượt khỏi tầm kiểm soát, thì ai trong ván cờ này cũng phải chịu tai vạ, hắn cũng không ngoại lệ.

Nói xong, hắn liền xoay người bước về phía thư phòng.

Gió đêm lùa tới, lạnh buốt thấm vào xương, thổi cho trán đau buốt.

Lý Sùng bất giác đưa tay ấn huyệt thái dương, bước chân cũng bắt đầu loạng choạng, nếu không có người bên cạnh nhanh tay đỡ lấy, suýt chút nữa đã ngã nhào.

Trong cơn mơ hồ, hắn bỗng phản ứng lại.

Chính là mùi trong chiếc xe kia!

“Người dùng thứ gì vậy!” Lý Sùng thấp giọng rủa.

Cái tên Bát đệ kia, quả thật chưa từng khiến người ta thất vọng.

Nhưng Lâm Dục từng nói, Nguyên Thận và Nguyên Kính đang ở gần đó, chắc hẳn sẽ không đến nỗi xảy ra chuyện lớn…

Ai là cá, ai là người câu cá, ai đạp đổ người câu cá, ai nhặt lấy cần câu, ai hiện đang rơi xuống nước…
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 218: Thối đến mức chó cũng chịu không nổi


Đêm tối nặng nề.

Trên trời không trăng, tinh tú cũng mờ nhạt.

Bát hoàng tử Lý Vi vận thường phục đơn giản, bước vào trong phủ, hỏi:

“Bọn họ đi rồi?”

Lưu Tiếu ngoan ngoãn theo sau, đáp:

“Đi được một khắc rồi ạ, đều làm theo phân phó của điện hạ.”

Lý Vi lại hỏi:

“Trên bàn tiệc, họ có nói gì không?”

“Không cho người hầu hạ,” Lưu Tiếu đáp, “người canh ở ngoài chỉ nghe được lác đác đôi câu, ngũ điện hạ hình như đang thúc giục vương gia sớm thành thân.”

Lý Vi chau mày, khẽ “A?” một tiếng, rồi lẩm bẩm:

“Hắn đầu óc có vấn đề à?”

Thẩm Lâm Dục lợi dụng mẫu nữ nhà họ Lục, ép phủ Văn Thọ Bá đến mức ấy.

Tuy phủ Văn Thọ Bá chẳng phải thế gia quyền quý gì, nhưng rốt cuộc vẫn là nhà vợ của Lý Sùng, nói đi cũng là một cánh tay của hắn.

Trơ mắt nhìn cánh tay này bị Thẩm Lâm Dục chém phăng, còn để lại hậu họa khôn lường…

“Ta vốn nghĩ, cho dù ngũ ca không chịu thương lượng điều kiện với Thẩm Lâm Dục, nhường nhịn nhau một chút, thì chí ít cũng nên làm cho Thẩm Lâm Dục vướng chân. Không thì cũng giả vờ khổ sở, khóc lóc kể lể, để Thẩm Lâm Dục động lòng mà tha cho một lần.”

Tất nhiên, đã vướng đến vụ án vu cổ, thì cái bài tình nghĩa huynh đệ này tuyệt đối vô dụng.

Trong mắt Thẩm Lâm Dục, chỉ có Lý Nhung mới xứng gọi là “huynh đệ”.

Nhưng thúc cưới là đạo lý gì chứ?

Lý Vi nghĩ mãi không thông, dứt khoát cũng chẳng buồn nghĩ tiếp.

“Chỉ cần ngũ ca đứng phía trước làm cái khiên là đủ rồi,” Lý Vi nói, “hắn với Thẩm Lâm Dục tự cho là thông minh, chứ chẳng phải cũng đã nhập cục rồi sao? Nói đến mới nhớ, cái xe ngựa nồng mùi đến thế, mà hai người đó không thấy khó chịu à?”

Lưu Tiếu đáp:

“Quản sự nói, vương gia có phàn nàn, ngũ điện hạ thấy phiền phức nên bảo nhịn chút, chờ về đến phủ ngũ hoàng tử rồi đổi xe.”

Lý Vi nghe xong liền bật cười:

“Ngươi nói xem, họ về đến nơi rồi có đổi không?”

Lưu Tiếu cười cười, lắc đầu.

“Người ta ai mà chẳng lười, huống hồ lại uống nhiều rượu, càng lười hơn,” Lý Vi ngáp một cái, “huống hồ phu xe là người của ta.”

Lý Vi hiểu rõ Lý Sùng.

Trong xe ngựa rưới đầy rượu mạnh mà hắn đã cất giữ bao năm nay.

Bữa tối đã uống không ít, với tửu lượng của Lý Sùng, lại ngửi rượu nồng nặc cả quãng đường, e rằng vừa đến cổng phủ ngũ hoàng tử đã đầu óc quay cuồng, chưa kể bên dưới mùi rượu ấy còn có thứ mùi khác…

Một Lý Sùng mơ mơ màng màng, chỉ sợ là đã chẳng nhớ nổi chuyện đổi xe gì nữa.

Cho dù Thẩm Lâm Dục tửu lượng cao, còn giữ được chút tỉnh táo, nhưng phu xe là người của Lý Vi, lập tức đánh xe đi ngay, nào cho đổi được?

“Hắn mời Thẩm Lâm Dục uống rượu, lại còn uống đến say mèm, chuyện xúi quẩy này, dù không muốn gánh cũng phải gánh!” Lý Vi đắc ý nói.

Lưu Tiếu tiếp lời:

“Điện hạ yên tâm, cũng đã phái người cản Nguyên Kính, Nguyên Thận từ trước, giờ bên cạnh vương gia, trừ phu xe ra, hẳn không còn ai khác.”

“Không đúng,” Lý Vi khoát tay, “còn có đao nữa.”

Đao, là đao của Lý Vi.

Bốn người kia võ nghệ tuy không phải hạng nhất, nhưng thắng ở lòng trung thành.

Bình thường gặp Thẩm Lâm Dục thì không thể thắng, nhưng đêm nay thì khác, hơn nữa Nguyên Kính bọn họ cũng không đi theo.

Vừa bước về phía hậu viện, Lý Vi vừa nói với Lưu Tiếu:

“Ta hiểu phụ hoàng nghĩ gì rồi.”

“Ngài giao Trấn phủ ty cho Thẩm Lâm Dục, chính là lấy hắn làm thử đao thạch, để thử thách mấy huynh đệ chúng ta.”

“Người nào không đọ nổi Thẩm Lâm Dục, thì đừng hòng lọt vào mắt phụ hoàng. Người nào cầm được thanh đao Thẩm Lâm Dục, thì có thể chém ngã hết thảy những kẻ khác.”

“Nhưng phụ hoàng vẫn hồ đồ, Thẩm Lâm Dục là đao đã nhận chủ, trừ đại ca ra, ai cũng không cầm nổi hắn.”

“Phụ hoàng cứ để mặc hắn làm càn, cuối cùng thì chẳng còn ai sót lại.”

“Ngũ ca còn đang trông mong cầm được đao, còn ta thì khác.”

Từ khi vụ án vu cổ không khiến Thẩm Lâm Dục thất sủng trước mặt phụ hoàng, Lý Vi đã hiểu, chỉ có một con đường duy nhất — phế bỏ Thẩm Lâm Dục.

Nếu không ngăn cản, Thẩm Lâm Dục sớm muộn gì cũng sẽ đón Lý Nhung từ Thư Hoa cung trở ra.

Thế nhưng Lý Vi lại không thể “vô duyên vô cớ” trở mặt với Thẩm Lâm Dục, càng không thể ra tay độc ác, nếu không chỉ tổ làm kẻ khác được lợi.

Vì vậy, hắn quyết định để Lý Sùng làm thế thân.

Chuyện xảy ra rồi, hắn Lý Vi cũng chẳng cần đích thân ra mặt giẫm thêm một cú, ắt sẽ có kẻ sốt sắng lao đến mà giẫm.

Ai bảo phụ hoàng có nhiều nhi tử như vậy?

Thành niên có, chưa thành niên cũng có. Lúc có lợi, thì kể cả những kẻ trước nay thanh cao khoáng đạt, không tranh không giành, cũng sẽ hóng được mùi là lao tới.

Mây dày che phủ bầu trời vốn đã hiếm sao, gió mạnh hơn, trong hơi thở phảng phất hương kim quế trong vườn.

Lý Vi dặn dò Lưu Tiếu:

“Ta đi nghỉ đây, không có chuyện gì thì đừng gọi.”

Lưu Tiếu lĩnh mệnh.



Đêm khuya trong Thái Hưng phường yên ắng vô cùng.

Xe ngựa lăn bánh, tiếng bánh xe lộc cộc vang vọng rõ ràng.

Thẩm Lâm Dục vén rèm bên hông, luồng không khí lạnh mát quét qua ngón tay, mang theo sự ẩm lạnh đặc trưng của đêm thu.

Khiến mũi hắn dễ chịu đôi chút.

Mùi rượu trong xe thực sự quá nồng, dù Thẩm Lâm Dục có khứu giác nhạy bén đến đâu cũng khó mà phân biệt được mùi gì ẩn dưới lớp rượu ấy.

Chỉ là khó nhận ra, chứ không phải không ngửi thấy.

Thực tâm mà định thần, dồn tâm trí phân biệt thì vẫn có thể nhận ra đó là thứ gì, nhưng Thẩm Lâm Dục cũng chẳng “rảnh” đến mức đó.

Theo lẽ thường, hẳn là mê dược hoặc thứ gì dơ bẩn.

Huống hồ, bên người hắn còn có một thứ càng khiến khứu giác rối loạn hơn.

Túi hương mà A Vi cô nương đưa cho — mùi tanh thối ấy thực sự nồng đến mức lấn át cả rượu, chỉ cần đưa đến gần mũi là đã khiến người ta tỉnh táo ngay lập tức.

“Đến đâu rồi? Ra khỏi Thái Hưng phường chưa?”

Phu xe chỉ nghe thấy giọng nói chứa đầy men say, líu ríu không rõ, hoàn toàn không thấy đôi mắt sáng trong như nước kia, nên tưởng mọi việc vẫn đúng kế hoạch.

“Gần ra khỏi Thái Hưng phường rồi ạ, nhưng đến phủ Trưởng công chúa vẫn còn xa, vương gia nhắm mắt nghỉ chút đi, tới nơi tiểu nhân sẽ gọi.”

Thẩm Lâm Dục mơ màng đáp một tiếng, coi như không biết lộ trình này vòng vèo khó hiểu, càng đi càng lệch.



Nửa khắc sau, Thẩm Lâm Dục lại gọi phu xe:

“Khó chịu quá… muốn nôn…”

Phu xe vội nói:

“Vậy tiểu nhân cho xe dừng bên đường, mời vương gia xuống nghỉ một chút.”

Xe ngựa chầm chậm giảm tốc.

Đến khi dừng hẳn, Thẩm Lâm Dục lảo đảo bước xuống, lại loạng choạng đi sang bên, vịn vào tường như thể dạ dày đang cuộn lên từng đợt, rất khó chịu.

Ánh mắt hắn nhanh chóng đảo quanh bốn phía — bóng đêm mịt mùng, chỉ thấy đây là một con hẻm yên tĩnh.

Thế nhưng, trong cái yên tĩnh ấy, ẩn chứa một luồng sát khí sắc bén.

Thẩm Lâm Dục khẽ “chậc” một tiếng thật thấp.

Quả là…

Ngũ hoàng tử tuyệt đối không phải người sẽ bỏ công bố cục mà chẳng được lợi gì, lại càng không ngốc đến nỗi bày sát cục lộ liễu tại Quảng Khách Lai, để A Vi cô nương có cơ hội cảnh báo hắn.

Ngũ hoàng tử là đang dẫn rắn ra khỏi hang.

Còn rắn sẽ do kẻ khác giết, hắn ta chẳng cần bận tâm. Tối nay biểu hiện thân thiện hết mức, đúng là quyết sách sáng suốt.

Chỉ có điều, ngũ hoàng tử có biết không…

con rắn dụ tới là rắn cỏ hay là độc xà năm bước đã mất mạng?

Hẳn là cũng biết.

Cho nên mới cố tình để lộ sơ hở ở Quảng Khách Lai.

Thế nhưng, điều mà ngũ hoàng tử không ngờ là: Thẩm Lâm Dục bắt rắn, thì kể cả rắn cỏ cũng phải nhét hai cái nanh độc, biến thành độc xà, cuối cùng nấu một nồi canh rắn tặng tận miệng.



Vậy nên, khi trong bóng tối xuất hiện một bóng người phóng đến, Thẩm Lâm Dục giả vờ không phát hiện, chỉ hơi nghiêng người loạng choạng cúi xuống.

Kẻ ám sát đánh hụt một chiêu, lập tức phản tay chém ra một kiếm, các hướng khác cũng đồng loạt có người phát động.

Chỉ tiếc, bọn họ tính sai rồi.

Ngoài chiêu đầu tiên ra, Thẩm Lâm Dục động tác cực kỳ linh hoạt.

Chẳng phải hắn uống nhiều rượu sao?

Chẳng phải hắn đã ngửi mùi mê dược trong xe cả buổi sao?

Vì sao hắn không những không hôn mê, mà còn chẳng say chút nào?

Vậy thì — mấy người này còn có cơ hội ra tay thành công nữa không?

Thẩm Lâm Dục hôm nay bề ngoài có vẻ không mang kiếm, nhưng thật ra bên hông lại giấu một thanh đoản kiếm mềm, lúc giao đấu ra tay nhanh gọn dứt khoát, hoàn toàn không để cho mấy kẻ kia có bất kỳ cơ hội nào, mỗi chiêu đều lấy mạng.

Tử sĩ không cần giữ lại — dù bắt sống cũng chẳng moi được lời nào.

Về phần phu xe, vốn không phải người luyện võ, ngay từ đầu đã bị Thẩm Lâm Dục đánh ngất.

Không lâu sau, con hẻm ấy lại trở về vẻ tĩnh lặng ban đầu.

Thẩm Lâm Dục nhìn mấy kẻ ngã xuống, thân thể không còn động tĩnh, rồi đưa tay xoa nhẹ trán, cố xua đi cơn choáng, sau đó lại đưa túi hương lên mũi, kíc.h th.ích thần trí.

Phải nói rằng — hiệu quả cực kỳ rõ rệt.

Tiếp đó, hắn cúi người nhặt lấy một thanh trường kiếm rơi bên cạnh xác hắc y nhân.

Đêm tối dày đặc, ánh sáng không chiếu đến được thân kiếm, nên cũng không soi thấy ánh mắt của hắn lúc này.

Đôi con ngươi ấy, trầm tĩnh và lãnh đạm, như một mặt hồ không gợn sóng.

Không mang theo dao động do dự, cũng chẳng cần thể hiện vẻ cương nghị kiên quyết — bởi lẽ, những gì hắn sắp làm, đối với hắn mà nói, chỉ là chuyện thường ngày.

Xa xa, vang lên một tiếng chó sủa khẽ.

Thẩm Lâm Dục hơi sững lại, ánh mắt chợt lóe lên, liền đưa túi hương lên mũi ngửi kỹ một lần nữa.

Hắn đã biết đó là gì rồi.

Chính là lang cao.

Quả thực là một món dụng cụ vô cùng lợi hại.

Trường kiếm xoay ngược trong tay, một nhát chém — máu tươi phun trào.



Phía bên kia.

Lý Sùng tựa lưng vào gối, đã thiếp đi.

Ban đầu hắn vốn định đợi tin tức thêm một lát, nhưng mí mắt nặng trĩu, trước khi mất đi ý thức, điều cuối cùng hắn nghĩ được là:

“Lý Vi hẳn là đã hạ mê dược.”

Thế nhưng, giấc ngủ này không kéo dài bao lâu.

Trước cổng phủ bỗng vang lên tiếng đập cửa rầm rầm, quản sự vội vã chạy đến, lay gọi hắn tỉnh dậy từ cơn mê.

“Điện hạ! Nguyên Kính đến đập cửa, nói không tìm thấy vương gia!”

Lý Sùng còn đang lơ mơ chưa tỉnh, trong mắt vẫn là vẻ mông lung rối loạn.

Quản sự thấy vậy, biết điều liền quay người lấy hương cao thanh thần tỉnh óc, bôi vào hai huyệt thái dương cho hắn.

Lý Sùng đón lấy hương cao, hít sâu vài lần, lúc này mới dần dần lấy lại tinh thần.

“Không tìm thấy?” hắn hỏi, “Trước đó Thẩm Lâm Dục chẳng phải nói là Nguyên Kính, Nguyên Thận đều theo hắn sao?”

Lời vừa ra khỏi miệng, Lý Sùng lập tức bừng tỉnh —

Hắn nhận ra rồi.

Đã biết Lý Vi muốn sinh sự, thì sao có thể để hai thân vệ giỏi võ như Nguyên Kính, Nguyên Thận phá hỏng kế hoạch?

Hắn tất nhiên đã nghĩ cách cản trở bọn họ.

Nhưng nếu nói Thẩm Lâm Dục cơ trí như vậy mà lại bỏ sót điểm này, thì Lý Sùng cũng không tin cho lắm.

Hắn vội vã bước ra ngoài.

Trong lòng còn đang phân vân — liệu Lâm Dục thật sự gặp chuyện lớn, hay là dùng thân làm mồi nhử?

Nhưng dẫu là thế nào đi nữa, Nguyên Kính tìm tới cửa, hắn cũng không thể không ứng phó.



Vừa gặp được Nguyên Kính, Lý Sùng liền hỏi ngay:

“Lúc ra khỏi phủ bát đệ, các ngươi không bám theo sao?”

Nguyên Kính vẻ mặt lo lắng và căng thẳng:

“Là lỗi của bọn tiểu nhân, giữa đường bị người cản lại, nên trễ mất một bước.

Tới phủ ngài thì được biết vương gia đã lên xe rời đi, bọn tiểu nhân liền vội đuổi theo hướng hồi phủ.

Vội vã trở về phủ Trưởng công chúa, mới biết vương gia không hề trở về, nên lại gấp rút quay về đây tìm.

Nguyên Thận vẫn còn đang tìm, người bọn tiểu nhân mang theo lại không quen đường xá Thái Hưng phường, tiểu nhân mới đến xin ngài cho mượn ít người.”

Lý Sùng dĩ nhiên đồng ý, liền gọi quản sự điểm người chia ra tìm kiếm.

Sau đó hắn quay sang bảo Nguyên Kính:

“Thái Hưng phường nói lớn cũng không lớn, không lý nào tìm không thấy. Xe ngựa của bát đệ chẳng lẽ còn không biết đường…”

Lời vừa nói ra, Lý Sùng tự hắn cũng không tin.

Hắn biết Lý Vi muốn mượn tay hắn, mà hành động lần này chỉ là lấy gậy ông đập lưng ông.

Hắn từng suy đoán Lý Vi sẽ ra chiêu gì, nhưng ít nhất sẽ không động thủ ngay trong phủ, bằng không Lý Vi khó thoát can hệ, không thể đổ hết trách nhiệm lên đầu hắn.

Vì thế lúc hắn gợi ý bảo Thẩm Lâm Dục nghỉ lại trong phủ, rồi lại lập tức phủ nhận — cũng là phòng sẵn.

Quả nhiên, Lý Vi ra tay giữa đường.

Còn Nguyên Kính bọn họ lại “theo không kịp”.

Lý Sùng quan sát Nguyên Kính, không rõ là do bản thân còn choáng váng, hay do Nguyên Kính diễn quá khéo, hắn nhất thời không phân rõ là thật sự lo lắng, hay là đang cùng nhau diễn trọn vở tuồng.

Nhưng dù thế nào — Lý Sùng cũng phải nhập cuộc đóng vở kịch này.

Hắn không chỉ điều người đi tìm, mà còn đích thân lên xe, cùng Nguyên Kính ra ngoài tìm kiếm.



Gió khuya canh ba thổi vù vù, dù cách một tầng xe mui, cũng khiến đầu Lý Sùng đau như muốn nổ tung.

Xe ngựa vòng quanh Thái Hưng phường đã một khắc đồng hồ, trái tim Lý Sùng dần trĩu nặng.

Lẽ nào thật sự xảy ra chuyện lớn?

Lâm Dục trẻ tuổi, khí thế dâng cao, mà những kẻ dám xông pha thường cũng dễ lật thuyền.

Chẳng lẽ Lý Vi thật sự đánh một ván lớn — mà lại trúng rồi?

Nghĩ tới đây, Lý Sùng vén rèm xe, nói với Nguyên Kính đang ngồi phía trước:

“Đến phủ Lục hoàng tử, gọi người nhà Lục đệ dậy, cùng tìm kiếm.

Rồi cho người báo với sở đồn trú và Thuận Thiên phủ, thời gian lâu như vậy, Lâm Dục chưa chắc còn ở trong Thái Hưng phường…

Các nơi khác cũng phải lục soát một lượt…”



Gâu… Gâu gâu!

Tiếng chó sủa đột ngột vang lên từ xa, cắt ngang lời hắn.

Chẳng biết có chuyện gì xảy ra ở phía đó, tiếng chó tru râm ran không ngớt, chẳng mấy chốc cả một vùng đều bị náo động, chó trong khu vực đua nhau sủa rộ lên.

Nguyên Kính vội hỏi:

“Điện hạ vừa nói gì? Hay là chúng ta thử đến chỗ con chó đầu tiên sủa lên kia xem?”

Lý Sùng ôm lấy đầu đau nhức vì tiếng chó sủa, mơ hồ đáp một tiếng.

Xe ngựa chuyển hướng, chạy thẳng về phía âm thanh phát ra.



Thái Hưng phường vốn đã bị tiếng chó đánh thức, dần dần mới trở lại yên tĩnh.

Chỉ còn khu vực nơi ban đầu có động tĩnh, tiếng chó vẫn ngắt quãng vang lên.

Càng đến gần, chó càng sủa to, tỏ vẻ kích động không yên.



Giữa đường, bọn họ gặp được Nguyên Thận.

Nguyên Thận đang dắt theo một con chó lớn dữ tợn, bộ dáng vừa hổn hển vừa gấp gáp.

Tại trấn phủ ty có một vị Ty kỵ cư ngụ gần đó, trong nhà nuôi một con khuyển đã lui khỏi nha môn. Con chó này tuy hai chân sau từng bị thương, chạy không nhanh, nhưng chiếc mũi vẫn vô cùng thính nhạy.

“Tiểu nhân vừa nghe tiếng chó sủa liền nhớ tới nó,” Nguyên Thận nói với Lý Sùng, “lập tức đi mượn về, để nó đánh hơi quanh đây một lượt.”

Quả nhiên không phụ kỳ vọng, con khuyển nọ dẫn bọn họ đến một con hẻm.

Nguyên Kính mắt tinh, liền trông thấy cuối con hẻm có một cỗ xe ngựa đang dừng lại, trên mặt đất thì nằm rải rác mấy người, xiêu vẹo ngả nghiêng.

“Vương gia!” Hắn thất thanh kêu lên, nhảy phắt xuống xe, lao như bay tới.

Thẩm Lâm Dục không ngã xuống, hắn tựa lưng vào vách tường, dáng vẻ suy yếu như sắp ngã, ánh mắt vẫn hướng về phía người tìm đến.

“Ngài không sao chứ?” Nguyên Kính vội hỏi.

Thẩm Lâm Dục nháy mắt một cái với hắn.

Nguyên Kính giơ đèn soi xét, lông mày nhíu chặt.

Sự tình đã đến nước này, hắn cũng chỉ có thể thuận theo ý định của Vương gia.

Chỉ là, Nguyên Kính quả thật không giỏi diễn kịch hoảng loạn kinh tâm động phách, đành phải làm bộ làm tịch bằng lời nói: “Ngài bị thương rồi? Máu chảy nhiều thế này…”

Lý Sùng vừa xuống xe, suýt bị câu nói kia dọa đến trượt chân ngã: “Bị thương ở đâu? Có nghiêm trọng không?”

Hắn chẳng buồn nhìn mấy kẻ nằm trên đất, bước thẳng đến bên Thẩm Lâm Dục.

Vừa định mở miệng hỏi han, lại bị một luồng mùi hôi xộc vào mũi khiến hắn vô thức lùi lại: “Sao mà thối thế này?”

Thẩm Lâm Dục lại khẽ cong môi, nở nụ cười.

A Vi cô nương quả thực là…

Thứ kia, thối đến mức chó cũng không chịu nổi, vừa mở ra đã khiến chó từ bốn phương tám hướng đang ngủ cũng phải bò dậy mà sủa vang.

“Bị một kiếm vào cánh tay trái, không trúng chỗ hiểm.” Thẩm Lâm Dục nói.

Nguyên Kính soi đèn vào cánh tay trái của Thẩm Lâm Dục, chính mình cũng nghiêng đầu đi, sắc mặt giấu trong bóng tối, gắng gượng mà diễn từng chữ: “Là ngài tránh được chỗ hiểm! Rõ ràng là đâm thẳng vào tim! Nếu không tránh được thì sao?”

Thẩm Lâm Dục “gắng gượng” nói: “Ngươi đi gọi Mục Trình Khanh đến…”

Mục Trình Khanh đến rất nhanh.

Hắn vốn đoán đêm nay chắc khó mà được ngủ ngon, dứt khoát chẳng ngủ.

Nhưng thật sự khi trông thấy tình cảnh trước mắt, hắn chỉ biết dở khóc dở cười.

“Vương gia đâu rồi?” Hắn hỏi Nguyên Thận.

Nguyên Thận đáp: “Đã đưa đến phủ Ngũ hoàng tử, bên đó đã cho mời thái y.”

Mục Trình Khanh đưa mắt nhìn quanh, hạ thấp giọng hỏi: “Ngươi thành thật nói cho ta biết, là bị mấy phế vật này đả thương, hay là hắn tự…”

Nguyên Thận gãi gãi sống mũi: “Ngài đã gọi là phế vật rồi…”

Mục Trình Khanh: …

Hắn đúng là hỏi thừa!

Bực mình, Mục Trình Khanh bước tới bên xe ngựa, giơ chân đá một cái vào bánh xe.

Con ngựa hít phì phì đáp lại.

Nguyên Thận bước tới nói: “Tạm thời ngài đừng chọc giận nó, vừa nãy nó bị thứ mùi quái dị kia kí.ch th.ích, phát cuồng không ít. May là buộc chặt, tiểu nhân phải dỗ mãi mới chịu yên ổn lại.”

Mùi lang cao trong không khí đã bị gió cuốn tản đi.

Mục Trình Khanh không ngửi thấy, nhưng nghe Nguyên Thận kể sơ qua tình hình, cũng theo phản xạ mà đưa tay bịt mũi.

“Hắn còn mang theo thứ đồ như vậy?” Mục Trình Khanh lẩm bẩm, sau đó quay sang mấy Ty kỵ vừa đến, ra lệnh: “Bốn kẻ chết trên đất, còn một người bất tỉnh, cùng cỗ xe ngựa này, tất cả mang về trấn phủ ty.”

Về việc thẩm vấn thế nào, tra ở đâu, còn phải thương nghị thêm với Thẩm Lâm Dục.

Cùng lúc ấy, tại phủ Ngũ hoàng tử, đèn đuốc sáng rực.

Nhìn thấy vết thương nơi cánh tay trái của Thẩm Lâm Dục, Lý Sùng lập tức tỉnh táo, bao nhiêu men rượu và mê dược đều bị dọa bay sạch.

Lúc thái y đang xử lý băng bó, Lý Sùng đứng khoanh tay một bên trầm tư, trong lòng cũng lặp lại câu hỏi như của Mục Trình Khanh.

Vết thương này, rốt cuộc là do ai gây ra?

Thân thủ Thẩm Lâm Dục không tệ, nhưng dù sao cũng uống rượu, lại ở trong xe có tẩm mê hương suốt một lúc lâu. Nhưng Thẩm Lâm Dục đã lấy thân nhập cục, hẳn phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, sao có thể dại dột nhảy thẳng vào bẫy…

Chỉ là, tất cả những điều trên—chung quy cũng chỉ là kế hoạch. Mưu sự tại bàn giấy, tất khó tránh khỏi sơ suất.

Lý Sùng không dám quả quyết, rốt cuộc là sơ suất phát sinh từ đâu.

Điều duy nhất hắn dám khẳng định, chính là Thẩm Lâm Dục – người không hề trúng thương chỗ hiểm – tuyệt đối sẽ không bỏ lỡ cơ hội này để phóng tay thi triển.

Tự cho mình là hoàng tước rình mồi, Lý Vi, e rằng sẽ bị Thẩm Lâm Dục hung hăng cắn cho một phát.

Đó vốn dĩ là điều Lý Sùng mong mỏi.

Hãy để Thẩm Lâm Dục xoay người đối phó với Lý Vi, sau đó lại mượn cớ thân thể hắn suy nhược, ép hắn từ chức Chỉ huy sứ trấn phủ ty, nên thành thân thì thành thân, tay đã rời quyền thì sau này mới dễ thương lượng…

Chỉ là, “phiền toái” mà Thẩm Lâm Dục gặp phải, lại lớn hơn Lý Sùng tưởng ban đầu.

Lý Sùng hít sâu một hơi.

Bốn tên thích khách—Bát đệ thật sự là liều lĩnh. Hắn đây là muốn diệt sạch cả hắn lẫn Lâm Dục cho xong.

Chỉ có điều, bốn tên kia thất thủ.

Giờ phải đảm bảo rằng, dù Bát đệ có lỗ mã.ng đến đâu, hắn cũng không bị Thẩm Lâm Dục đánh cho một đòn hai đích.



Cùng lúc ấy, tại một tòa phủ đệ phong cảnh thanh tú, khung cảnh an nhàn như tranh vẽ.

Lý Vi bị tiếng chó sủa đánh thức, lòng phiền muộn không thôi. Đến khi nghe Lưu Tiếu nói bên ngoài đang loạn, hình như có người đang bị tìm kiếm, hắn mới giãn mày thở ra một hơi.

Tìm người ư? Tốt quá. Tìm người chứng tỏ kế hoạch của hắn đã thành công.

Nghĩ thế, sau khi tiếng chó sủa dần lặng đi, Lý Vi lại an tâm mà tiếp tục say giấc.
 
Túy Kim Trản - Cửu Thập Lục
Chương 219: Không thể so với Trấn phủ ty, tinh thông đạo chém người


Trời phía đông vừa hửng sáng, mây mờ như bụng cá trắng xóa.

Tại ngõ Quan Hoa, Nguyên Kính đứng lặng lẽ trước cửa viện, lặng lẽ chờ đợi.

Chờ đến khi bên trong có động tĩnh, lại dằn lòng chờ thêm một khắc đồng hồ, hắn mới nhẹ tay gõ cửa.

Thanh Âm chạy ra mở cửa.

Nguyên Kính không liếc vào trong, chỉ thấp giọng hỏi:

“Dư cô nương đã thức dậy chưa?”

Thanh Âm chỉ tay về phía nhà bếp.

Nguyên Kính bước vào cửa, thuận miệng hỏi:

“Phu nhân với cô nương đêm qua nghỉ ngơi ổn cả chứ?”

“Ngủ ngon lắm.” – Thanh Âm đáp.

Nguyên Kính sững lại đôi chút.

Vốn chỉ là câu xã giao thông thường khi gặp nhau buổi sớm, hắn hỏi cũng không mang nhiều ý, nhưng sau khi nghe câu trả lời của Thanh Âm, trong lòng lại bỗng dâng lên một tia chua xót.

Dư cô nương đã đưa cho Vương gia một túi hương, hiển nhiên là đã đoán được sẽ có biến.

Nhưng cũng chỉ đến thế mà thôi, coi như đã tận nghĩa tận tình rồi.

Vương gia còn sợ Dư cô nương nghe được lời đồn mà sinh lo, nên mới sai hắn đến trước để báo tin.

Ai da…

Vương gia thật là, gánh vác trọng trách nặng nề!

Trong bếp, A Vi nghe động tĩnh, liền liếc nhìn ra cửa sổ.

Thấy là Nguyên Kính, nàng ra hiệu về chậu bột đang trộn trong tay:

“Vào rồi hẵng nói.”

Chờ Nguyên Kính đứng vững hành lễ, A Vi liếc hắn từ trên xuống dưới một lượt, mở miệng:

“Trên người đầy hơi sương, lại đứng đợi ngoài cửa lâu rồi?”

“Trời hôm nay trong lành, tỉnh cả người,” Nguyên Kính đáp xong lại tiếp lời, “Tối qua ngũ điện hạ mời Vương gia đến phủ bát điện hạ ở Thái Hưng phường uống rượu, túi hương cô nương đưa đã phát huy tác dụng.”

A Vi vẫn không ngừng tay, miệng thong thả nói:

“Thế thì tốt. Ta từng thấy người đến phủ ngũ hoàng tử lấy món ăn, hắn lại mượn danh phủ Trưởng công chúa. Ta cũng biết Vương gia không ăn cá ướp cặn rượu, nên chuẩn bị túi hương cho chắc.”

Nguyên Kính nghe xong, lập tức hiểu được đầu đuôi, đáp:

“Tiểu nhân sẽ chuyển lời lại với Vương gia.”

“Vương gia đâu? Lên triều rồi à?” – A Vi vừa hỏi, vừa nhìn sắc mặt Nguyên Kính có chút khác thường, liền đoán được – “Bị thương rồi?”

Nguyên Kính chỉ đành gật đầu:

“Thương thế không nặng, nhưng cần mượn chuyện để khuếch trương.”

Rồi hắn kể sơ qua mọi chuyện.

A Vi trộn đều bột xong, đặt đũa xuống, nói:

“Giả vờ trúng kế, bày ra trò mất tích, thuận thế bố trí vở diễn, dùng lang cao ta đưa, để các ngươi lần theo mùi mà tìm thấy ngài ấy. Có đúng vậy không?”

Nguyên Kính suy nghĩ giây lát, rồi gật đầu:

“Đúng.”

“Vậy tức là đám người phục kích ngài ấy không thành, còn vết thương là do ngài ấy tự gây ra?” – A Vi hỏi tiếp.

Nguyên Kính lại gật:

“Đúng vậy.”

“Đã muốn mượn chuyện để làm lớn, thì vết thương đó làm sao có thể nhẹ?” – A Vi nhìn Nguyên Kính với ánh mắt không chút biểu cảm – “Vết thương nhẹ thì làm được gì? Người ta dựng xong sân khấu, ngài ấy lên đó hát vài câu rồi đi luôn, có phải là phí phạm của trời không?”

Nguyên Kính lập tức thấy da đầu tê rần.

“Phải” thì không dám nói, “không phải” thì lại càng khó đáp.

Hắn đứng trong gian bếp vốn không rộng, lúc này lại cảm thấy chật chội vô cùng.

Gió sáng ngoài kia trong lành đến mấy cũng không lùa vào được, chỉ có củi lửa trong bếp nổ lách tách, như thiêu đốt chính hắn.

Thật là…

Còn khó hơn cả vở kịch đêm qua!

Nguyên Kính ấp a ấp úng:

“Vương gia đã tránh chỗ hiểm…”

“Đã tự ra tay mà còn hướng vào chỗ hiểm, thì ta thật sự bái phục ngài ấy,” – A Vi cắt lời không chút khách khí – “Chẳng sợ sập luôn cái sân khấu ấy à.”

Nguyên Kính vắt hết óc suy nghĩ, muốn tìm lời để gỡ gạc đôi chút, nhưng ánh nhìn của Dư cô nương rơi trên người hắn, khiến hắn có cảm giác… không sao mà gỡ nổi.

Rõ ràng đã thay bộ y phục sạch sẽ, nhưng trong mắt Dư cô nương, hắn như vẫn khoác bộ đồ đẫm máu tối qua khi dìu Vương gia, sống động khắc họa một màn “trọng thương bi thảm”.

Cuối cùng, Nguyên Kính cắn răng, nhắm mắt nói bừa:

“Vết thương nặng nhất là ở cánh tay trái.”

A Vi nhìn về phía tay hắn chỉ, hiểu ra:

“Muốn làm ra vẻ bị địch đánh thẳng vào tim, nhưng bản thân né được trong gang tấc.”

Nguyên Kính lại tiếp lời:

“Đêm qua trời tối, lúc đầu tiểu nhân cũng tưởng chỉ bị thương ở một chỗ đó, sau này thái y xem mới phát hiện trên người còn bảy tám vết nữa. Nhưng đều là thương ngoài da, tuy máu ra nhiều nhìn có vẻ kinh khủng, thực chất không thương gân cốt.”

A Vi nhìn hắn vung tay mô tả, trong đầu đã có thể tưởng tượng ra phần nào cảnh tượng đêm qua.

“Muốn tạo giả cảnh bị phục kích, tất nhiên không thể chỉ bị một nhát kiếm.”

“Kiếm nào cũng phải mang ra rạch hai đường trên thân, còn phải tính toán phương vị và bước chân.”

“Xác định vị trí rồi mới ra tay, vết máu phải rơi cho hợp lý.”

“Nói như vậy, Vương gia bận rộn thật.”

Nguyên Kính: …

Đây tính là khen ư?

Trong giọng chẳng nghe được chút tán thưởng nào.

Nếu bảo là châm chọc, thì giọng của Dư cô nương lại không có chút lên xuống, yên lặng như mặt nước tĩnh lặng, chẳng gợn một chút sóng.

Nguyên Kính đành cười gượng:

“Người am hiểu…”

“Gà vịt chém nhiều thì biết cách xuống dao, biết xương nên chặt ở đâu, thịt nên cắt thuận hay nghịch thớ,” A Vi vẫn thản nhiên, “So ra thì không bằng Trấn phủ ty, người ta tinh thông đạo chém người.”

Nguyên Kính lập tức ngậm miệng, sắc mặt không khác gì vừa ăn phải trái khổ qua sống.

A Vi cũng chẳng thật sự làm khó, chủ động đổi đề tài:

“Hiện tại Vương gia thế nào rồi?”

“Sau khi băng bó xong ở phủ ngũ hoàng tử, Trưởng công chúa cùng phò mã đã đến, đưa Vương gia hồi phủ,” – Nguyên Kính vội đáp – “Hôm nay Vương gia không thượng triều, nhưng triều đình nhất định sẽ lấy việc bị tập kích mà bàn cãi.

Trong kinh ban ngày chắc chắn lời đồn sẽ đầy rẫy, so với để người khác đưa chuyện đến tai cô nương, không bằng để tiểu nhân qua trước bẩm báo.

Thương thế của Vương gia tuyệt đối không nặng như lời đồn, cô nương không cần lo lắng.”

A Vi hỏi:

“Ngài ấy không đến, vậy ai ra mặt trên triều?”

Phò mã trong triều hiện thời vốn không giữ chức quan thực quyền.

Thẩm phò mã đã nhiều năm không lộ diện chốn triều đình, nhưng vì nhi tử mà xuất hiện một lần, cũng là điều hợp tình hợp lý.

Chỉ là, một vở đại hí vẫn cần phải có bạn diễn, ít người thì không đủ “náo nhiệt”.

Cũng như nàng với Lục Niệm vậy.

Nguyên Kính nói:

“Phò mã, cùng Mục đại nhân, ngũ hoàng tử cũng phải góp sức.”

A Vi gật đầu hiểu rõ:

“Ngươi chờ ta một lát.”

Nguyên Kính tự nhiên đáp ứng.

A Vi bưng chậu bột đã trộn, bước đến bên bếp. Lò đã nóng, nàng quét một lớp dầu mỏng lên chảo, múc một vá bột đổ vào dàn đều.

Bánh mỏng chín rất nhanh, đập thêm quả trứng, phết một lớp tương, rắc hành hoa.

A Vi dùng giấy dầu gói một cái, đưa cho Nguyên Kính:

“Sáng sớm đã qua đây, lót dạ chút đi.”

Nguyên Kính cảm tạ, nhận lấy nhưng không dám ăn ngay, mãi đến khi A Vi gói thêm hai cái nữa đưa cho hắn, hắn mới âm thầm thở phào nhẹ nhõm.

Vậy cũng tốt.

Còn có thể mang được thức ăn về cho gia, đủ thấy Dư cô nương tuy ngoài miệng trách móc, lòng vẫn mềm.

“Lòng mềm” kia lại mở tủ, lấy ra một hộp bánh hoành thánh sống:

“Tối qua mới gói, mang về bảo nhà bếp nấu, kẻo ăn mỗi bánh mỏng thì nghẹn.”

Nguyên Kính vội vàng liên tục đáp lời, lại nói:

“Vương gia nói, đợi đến khi người có thể ra ngoài, sẽ đến Quảng Khách Lai.”

Vừa ra khỏi bếp, Nguyên Kính liền trông thấy Lục Niệm đang ở trong sân, hành lễ qua rồi mới cáo lui.

Lục Niệm từ từ lượn vào bếp, người tựa hờ vào khung cửa, hỏi:

“Nguyên Kính sao sắc mặt khó coi thế?”

“Có lẽ bị con doạ,” A Vi vừa thả bánh hoành thánh vào nồi nước, vừa đơn giản kể lại tình hình cho Lục Niệm nghe.

Lục Niệm lấy làm kinh ngạc:

“Ngươi tức giận rồi à?”

“Không có tức giận,” A Vi lắc đầu, “Việc trong lẽ thường, tức giận làm gì?”

Lục Niệm bĩu môi, chớp mắt nhìn nàng chằm chằm:

“Ừ ha, là việc trong lẽ thường.”

A Vi bị nàng nhìn đến mức dở khóc dở cười, cuối cùng vẫn bật cười khẽ, thở dài một tiếng:

“Thật sự không có tức giận.”

“Nhưng không thoải mái?” – Lục Niệm hỏi.

A Vi không đáp ngay, suy nghĩ hồi lâu mới chậm rãi nói:

“Cũng có chút.”

Lục Niệm vỗ tay cười lớn:

“Ai khiến con không thoải mái, thì mắng hắn một trận là xong, chuyện đơn giản vậy thôi.”

A Vi lại phì cười lần nữa.

Tất nhiên rồi, miễn là chuyện “đơn giản” này đừng bị Lục Niệm chỉ đạo thêm câu “ta muốn uống canh gan heo”…



Cùng lúc ấy, trong phòng bếp của phủ Thái Bình Trưởng công chúa, các món hầm bổ huyết đã sớm được nấu trên bếp.

Thẩm Lâm Dục vừa tỉnh dậy đã bị mang tới một bát canh viên huyết nóng hổi.

“Sáng sớm thế này mà…” – Thẩm Lâm Dục xoa trán.

Trưởng công chúa sải bước tiến vào, sắc mặt đen như mực:

“Chướng mắt à? Vậy ta sai người đến Quảng Khách Lai, nhờ Dư cô nương chuẩn bị một bàn cho ngươi? Ngươi nhìn cái mặt ngươi trắng như tờ giấy kìa!”

Thẩm Lâm Dục ngẩng mắt nhìn mẫu thân.

Nửa đêm phụ mẫu tới đón hắn, đầy một mặt lo lắng, quan tâm và giận dữ.

Trời sáng rồi thì sắc mặt đổi khác, Thẩm Lâm Dục lập tức hiểu ra:

“Mẫu thân nhìn ra rồi?”

“Phải chứ,” – Trưởng công chúa trợn mắt với hắn – “Ta với phụ thân ngươi suýt nữa bị ngươi doạ chết, đón ngươi về rồi cả đêm không ngủ được, càng nghĩ càng thấy lạ.

Tửu lượng của ngươi, cái mũi của ngươi, thân thủ của ngươi – người khác không rõ, ta chẳng lẽ còn không rõ?

Thẩm Lâm Dục, ngươi làm ơn đi!

Lần sau nếu định giở trò gì, có thể báo trước một tiếng được không?

Ta cái tuổi này rồi, con dâu còn chưa rước vào cửa, đã bị con trai doạ chết trước, có đáng không?

Giờ thì sao, ta biết rõ nội tình rồi, không giả bộ làm người mẹ thương tâm thấu gan ruột được nữa đúng không?”

Thẩm Lâm Dục cạn lời, chỉ có thể ngoan ngoãn nhận sai, cúi đầu ăn hết bát canh viên.

Sắc mặt trưởng công chúa lúc này mới dịu xuống, ngồi xuống bên cạnh, trầm giọng nói:

“Biết là con có chủ kiến, cũng hiểu có việc cần dùng đến thủ đoạn khác thường, ta với phụ thân con sẽ không cản trở con, cũng chẳng kéo chân sau.

Giờ con cứ nằm yên nghỉ, phụ thân con chưa về đâu, sáng nay triều đình thể nào cũng một phen tranh cãi.

Nếu ta đoán không lầm, sáng nay Hoàng huynh còn phải đích thân đến xem con.”

Nói tới đây, ánh mắt trưởng công chúa liếc tới cái bát trống bên cạnh.

Bà hít sâu một hơi, rồi phì một tiếng:

“Sớm biết thì đừng để con ăn, cứ để con trắng bệch cái mặt ra, máu chảy vậy mới không uổng!”

Dĩ nhiên, đó chỉ là lời bực dọc thôi.



Còn tại ngự thư phòng, Vĩnh Khánh Đế thì thật sự nổi trận lôi đình.

Buổi sớm triều hôm nay, ba phe tranh luận kịch liệt.

Lý Sùng chủ động nhận lỗi:

“Không nên uống đến mất kiểm soát, hai người đều say túy lúy, càng không nên để Thẩm Lâm Dục trong tình trạng say trở về phủ một mình.”

Lý Vi thì ngơ ngác:

“Sao lại xảy ra chuyện chỉ vì mượn tạm cái phủ? Lâm Dục khách khí quá, ở luôn lại phủ đệ của ta nghỉ ngơi chẳng phải xong, còn về chi cho khuya khoắt.”

Tuần phủ Thuận Thiên phủ cùng Nha môn phòng thủ thì mồ hôi túa đầy trán:

“Đã cho lệnh rà soát toàn thành trong đêm, tạm thời chưa phát hiện ra manh mối rõ ràng.”

Mục Trình Khanh nói thẳng không quanh co:

“Cỗ xe là xe của phủ Bát điện hạ, trong đó ngoài mùi rượu nồng nặc, còn có dư hương của mê hương tán chưa tan hết.”

Đám hắc y nhân đều đã chết, chỉ còn người đánh xe còn sống, hắn vì sao lại đánh xe vào con ngõ kia — chỉ cần thẩm tra là rõ.

Nói trắng ra, chính là nhằm vào Vương gia. Còn về việc là ai…

Mục Trình Khanh vẻ mặt mơ hồ, như có chứng cứ nhưng không nói thẳng, chỉ dừng lại ở mức ám chỉ.

Thẩm Chi Tề thì lại không như thế, khí thế bừng bừng nói:

“Lâm Dục họ Thẩm, không phải họ Lý!”

Lời trong lời ngoài đều ám chỉ, huynh đệ nhà họ Lý muốn giành thiên hạ thì đừng đổ việc lên đầu huynh đệ không mang họ Lý.

Vĩnh Khánh Đế phất tay áo kết thúc buổi triều, chỉ giữ lại Thẩm Chi Tề, nói muốn cùng đến phủ Trưởng công chúa thăm Thẩm Lâm Dục.

Lý Vi lập tức đuổi theo:

“Nhi thần xin đi cùng Phụ hoàng.”

Vĩnh Khánh Đế quay đầu liếc hắn một cái, không nói gì thêm, nhưng ánh mắt kia khiến Lý Vi lạnh sống lưng.

Lý Vi cúi đầu, tiễn Vĩnh Khánh Đế rời đi, nắm tay bên người siết chặt đến trắng bệch.

Hắn… đêm qua ngủ rất ngon.

Dù giữa đêm bị chó sủa đánh thức, ngủ lại vẫn là một giấc mộng đẹp.

Trong mộng, Thẩm Lâm Dục bị giết, mà hắn, Lý Vi, ứng biến nhanh nhạy, trở thành người vô tội chỉ vì “cho mượn nhà”, “để người khác mượn tay”, cuối cùng toàn thân trở ra.

Lúc tỉnh dậy, Lý Vi còn tiếc nuối không thôi.

Nhưng rất nhanh, tin do Lưu Tiếu báo đến khiến tim hắn đập loạn.

Thẩm Lâm Dục tuy bị thương, nhưng không nguy hiểm tính mạng.

Ngược lại, bọn sát thủ hắn phái đi đều bị mất, xe ngựa và xa phu bị giữ nguyên tại hiện trường, đều bị Trấn phủ ty bắt đi.

“Rượu tối qua không đủ mạnh à? Thẩm Lâm Dục uống nhiều thế, lại còn trúng mê hương, dựa vào đâu mà không gục?”

“Xa phu bị sao? Giao thủ xong, sao hắn không lái xe đi, lại còn để xe lại cho Thẩm Lâm Dục?”

“Bốn người kia, thế mà không xử nổi một kẻ say rượu lại trúng thuốc?!”

Lý Vi tức giận đến cực độ, lại thêm không thể tin nổi, thậm chí không kịp nghĩ kỹ, đã vội vàng vào triều.

Cho đến khi đứng trong Kim Loan điện, hắn mới hiểu được đầu đuôi.

Trên người Thẩm Lâm Dục mang theo “lang cao”, dẫn đến chó trong khu ấy sủa ầm ĩ, mới khiến người xung quanh kéo tới.

Mà lang cao đó, là lúc Lý Sùng cho người đến Quảng Khách Lai lấy món, Dư Như Vi thuận tay đưa cho Thẩm Lâm Dục.

Lý Vi tức đến bật cười.

Lý Sùng đang nghĩ gì vậy?

Phủ đệ không có đầu bếp sao, còn cần đi mua món bên ngoài?

Đã mời Thẩm Lâm Dục uống rượu, ắt có mục đích, vậy mà còn để Quảng Khách Lai chen tay vào, khiến kế hoạch hỏng bét!

Lại còn lấy món của Dư Như Vi, lại còn giục cưới… Lý Sùng thực sự đang lấy lòng Thẩm Lâm Dục sao?

Không—!

Lý Sùng không hề ngu!

Ngay khoảnh khắc ấy, Lý Vi bỗng bừng tỉnh.

Từ đầu đến cuối, Lý Sùng muốn một mũi tên trúng hai đích!

Kẻ mà Lý Sùng muốn bẫy từ đầu đến cuối — chính là Lý Vi hắn!

Vì vậy, Lý Sùng mới sớm đề cập chuyện mượn phủ tổ chức yến tiệc, để hắn có thời gian sắp xếp người.

Vì vậy, hôm qua hắn lại một lần nữa nhắc đến, còn ngang nhiên đến Trấn phủ ty mời người.

Vì vậy, mới để Quảng Khách Lai chen một tay vào.

Vì vậy, mới “cắn răng” chịu đựng mùi trên xe ngựa, đến phủ ngũ hoàng tử cũng không đổi xe.

Nếu tối qua đám người kia thành công, thì lúc hắn đối mặt với Lý Sùng, Lý Sùng đã chuẩn bị đầy đủ, khiến hắn trở thành kẻ chủ mưu duy nhất.

Hay lắm!

Hắn không nhìn ra!

Hảo ngũ ca của hắn, lại từ lâu đã âm thầm tính kế hắn rồi!

Càng nghĩ càng giận, Lý Vi tiễn đế xong liền đi tìm Lý Sùng.

Lý Sùng đang tản bộ trên quảng trường, thấy Lý Vi hấp tấp đuổi tới, đưa tay che miệng, ho khẽ vài tiếng:

“Bát đệ sao gấp gáp vậy?

Nãy ta nghe Cửu đệ bảo, chiều nay bọn họ định đến thăm Lâm Dục, đệ có muốn đi cùng không?

Ta thì không đi đâu, thương thế hắn thế nào ta biết rồi.

Vả lại, ta tối qua dính gió lạnh, bị cảm mất rồi, khụ khụ… tránh lây bệnh cho hắn thì hơn.”

Lý Vi nghiến răng ken két:

“Ngũ ca đúng là vất vả rồi.”



[Chú thích thêm về “lang cao”]:

Lang cao là một vị thuốc Đông y, chiết từ mỡ sói, có thể dùng nội hoặc ngoại, mùi nồng.

Với mũi chó, đó chắc chắn là mùi cực kỳ khó chịu, khiến chúng không thể yên lặng được.
 
Back
Top Bottom