Cập nhật mới

Khác Tướng Không Cờ

Tướng Không Cờ
Tái lập loạn dân


Sáng hôm sau, trời vừa hửng nắng, sương mù vẫn còn đọng trên những mái ngói, Ngân đã dậy từ sớm.

Không còn là cô gái lười biếng, hôm nay, chính cô là người kéo Hoa dậy

Ngân: "Dậy đi, đi tìm Dật.

Tao nghĩ... mình nên nói chuyện về vụ chia dân tị nạn."

Hoa chớp mắt, hơi ngạc nhiên nhưng cũng nhanh chóng hiểu ra: "Ờ...

ừ, đi!"

Cả hai nhanh chóng thay áo, buộc tóc gọn gàng rồi kéo theo Hàn Dạ, người làm việc chung với mình những ngày qua, hiểu rõ tình hình dân chạy loạn.

Ba người lặng lẽ băng qua sân gạch, tiếng bước chân dẫm lên lá khô nghe giòn như tiếng quyết tâm.

Dật đang ngồi bên hiên, đọc vài tấu chương.

Nhìn thấy cả ba, cậu ngạc nhiên:

"Sao hôm nay hai huynh đến sớm vậy?

Có chuyện gì sao?"

Ngân bước tới: " Dật à, ta có chuyện này, muốn nhờ ngươi giúp.

Ta tin là ngươi làm được"

"Nhờ ?"

Ánh mắt lóe lên sự cảnh giác quen thuộc: "Đệ có thể giúp gì"

Ngân: "Vậy ta nói thẳng nha" Ngân huých nhẹ tay Hoa: "Nói đi mày"

Hoa đang mơ màng cũng tỉnh ngủ, cô nhìn Ngân với ánh mắt thân thiện – chơi gì kì mạy:

" Thì là, ta đang tính chia dân tị nạn ra á"

Dật nhướng mày cao hơn: "Chia dân?"

Hàn Phong từ phòng bê khay trà ra, thấy thế, Ngân kéo tay Hàn Phong và Hàn Dạ cùng ngồi chung.

Hoa vội vàng nói tiếp: "Ý là... dân trong trại.

Bây giờ loạn lắm.

Ai cũng nằm chờ phát cháo.

Người bệnh nằm cạnh người khỏe.

Nếu cứ để vậy... sẽ thành dịch bệnh mất, giặc chưa đến thì cũng chết vì lộn xộn.

Ngân giải thích tiếp: "Tụi ta tính chia người thành nhóm.

Người khỏe có việc làm, người bệnh, người có nghề có thể giúp.

Ngươi thấy sao"

Dật thấy hứng thú: "Huynh nói cụ thể hơn đi"

Ngân trực tiếp nói: "Chưa có"

"......................."

"......................."

"Thì mới tìm mọi người cùng suy nghĩ nè" Ngân đá chân mày "Người xưa có câu "3 chàng thợ da bằng 1 Gia Cát Lượng", còn chúng ta có 5 người"

Hoa nói: "Tụi ta mới tới, còn mọi người thì hiểu nơi đây hơn, bàn với mọi người để đưa ra kế hoạch.

Cùng nhau suy nghĩ thì mới phát hiện cái sai của nhau để sửa.

Quan trọng là chuyện này, hai đứa ta ...chỉ nghĩ ra được nhiu đó, để làm được, thì phải có mọi người"

Kế hoạch được viết ra sơ sài, chẳng ai biết có làm được không.

Học khác hành mà.

Nhìn thì có vẻ gọn ghẽ, mấy dòng chia nhóm, vài ô vuông vẽ khu trại.

Nhưng thật ra, ngoài tờ giấy này... thì chẳng có gì cả.

Quan trọng là ở dân.

Lòng dân không loạn, ý dân không phiền.

Làm tới đâu hay tới đó vậy.

Người bệnh chia ra lều khác, đại phu đến khám chữa

Người khỏe phụ việc đồng áng, xây dựng, sữa chữa

Thanh niên có thể vào quân đội, bổ sung lực lượng, báo thù nhà

Phụ nữ, người già khéo tay, thì làm đồ thủ công, nấu ăn

Người biết y lý thì vào y phường bốc thuốc chữa bệnh, hoặc phụ giúp

Còn con nít ...

đi chơi đi, à không, con nít lớn hơn thì giữ con nít nhỏ hơn.

Ngọn nến hy vọng được thắp lên, nhưng không biết có thể cháy đến lúc nào.

~~~~~~~~~~~~~~~~

Dật rời phủ trong chiều hôm đó, gặp thúc thúc.

Khoác áo dài sẫm màu, rời phủ trong lặng lẽ, chỉ một con ngựa ô cao lớn

Phủ đệ của Đạo nằm ở khu Đông phường Thọ Xương, cổng lớn gỗ mun, tường gạch nung, cây si trước cổng vừa được cắt tỉa.

Gia nhân nhận ra Dật, không dám cản, kêu người dắt ngựa rồi vội vã chạy vào bẩm báo.

Một lát sau, Hưng Đạo đích thân ra đón, áo lụa thêu chỉ bạc, thần sắc ung dung như mọi ngày, nhưng mắt khẽ nheo lại khi thấy dáng Dật.

"Bệ hạ, sao không gửi chiếu truyền ta đến phủ đệ, mà đích thân đến tìm, là có chuyện gấp gì sao?"

Dật giơ tay ngăn, giọng nhẹ: "Thúc thúc đừng đa lễ.

Nay ta đến đây, là để hỏi kế."

Hưng Đạo mỉm cười: " Uhm, hỏi kế sao."

Dật không vào nhà trong, đứng ngay ở sân, nói thẳng: "Thúc thúc, ta muốn chiêu binh từ loạn dân.

Người thấy sao."

Hưng Đạo nhướn mày: "Chiêu binh từ loạn dân?" — Đạo nhắc lại.

Dật: "Đúng vậy, đất nước cần binh, người dân Chiêm chạy loạn từ biên giới tràn về các vùng, trong đó không thiếu tráng đinh dũng mãnh, Nếu biết trọng dụng, chẳng những có thêm binh lực, mà còn trao cho họ đất dụng võ, khơi dậy mối thù nhà, nợ nước – biến tị nạn thành chiến sĩ."

Hưng Đạo phân tích: "Nạp dân Chiêm làm lính, lợi thì rõ ràng: có thêm binh lực.

Họ mang sẵn mối hận mất nước, dễ kích động ý chí.

Nếu biết thu phục, cho họ cơ hội, thì sẽ biến thành vũ khí lợi hại.

Một mũi tên trúng hai đích: vừa giảm gánh nặng, vừa tăng lực lượng chiến đấu."

"Nhưng hại cũng không ít.

Họ là người ngoại tộc, phong tục khác biệt, lòng người dễ biến.

Nếu trong hàng ngũ xuất hiện kẻ phản, rất khó lường.

Lỡ khi thế trận nghiêng ngả, lòng thù hận chưa nguôi lại ngược thành lưỡi đao.

Lúc ấy không chỉ mất người còn rối cả lòng dân."

Dật: "Cho nên, dùng – thì phải dùng khéo.

Phân tán họ ra, kèm theo tướng giỏi, huấn luyện kỹ, không cho tụ thành một đơn vị riêng biệt.

Có thưởng phạt rõ ràng, có người Chiêm theo làm chỉ huy cấp thấp, thì mới giữ được lòng người."

Hưng Đạo vui vẻ: "Ý hay.

Được, ta sẽ giúp người ban lệnh chiêu binh xuống các vùng"

~~~~~~~~~~~~~~

CHIẾU DỤ AN DÂN

Dân là gốc nước, gốc yên nước vững.

Giữa thời chinh chiến, người lìa xa quê

Lòng không chốn dựa, muôn dân lầm than

Nay ban chiếu này xuống:

Các phủ, các trấn, phải gấp rút, hết lòng bình định an dân, dẹp loạn, khích lệ tinh thần, dựng lại cuộc sống.

Không dưỡng kẻ nhàn – Không bỏ rơi người có tâm.

Dân chạy loạn đến – có cơm cho ăn, có việc cho làm, phân việc theo khả năng, đúng người, đúng việc.

Người già và trẻ nhỏ được hưởng đãi ngộ đặc biệt.

Dân tị nạn từ xa đến, không kể xuất thân, đều là con dân Đại Việt, Không được đuổi xô, không được làm khó.

Khuyến khích tráng đinh có chí muốn theo quân giữ nước, vào doanh trại rèn luyện, có thể đến bất kì doanh trại nào đăng ký.

Người có lòng, tất có chỗ dùng.

Có chí – trao việc, có sức – giao binh.

Người người một lòng, trên dưới đồng tâm, đất khách hóa lành.

Nay chiếu đã ban, nghiêm lệnh thực thi.

Kẻ nào trái lệnh, xét tội không tha.

~~~~~~~~~~~~~~~~~

Chiếu An Dân đã ban, tin lan đi như lửa gặp gió.

Trên bãi đất rộng ngoài trạm tiếp nhận, dòng người nối dài, chen chúc mà vẫn giữ trật tự.

Từng tốp một tiến lên bàn đăng ký.

Người thì gùi theo đồ, người dắt theo cả nhà, người quấn chăn tạm làm áo khoác, tất cả đều gầy gò, mệt mỏi, nhưng ánh mắt ai cũng ánh lên chút hy vọng sau những ngày chạy loạn.

Giữa khốn khó, họ vẫn còn đủ sức để tin vào một ngày được sống, được làm, và được yên ổn.

Đương nhiên vẫn sẽ có kẻ làm loạn, nhưng giờ thì để quan phủ lo đi.

Năm người đứng lặng lẽ nhìn cảnh tượng trước mắt.

Hoa: "Lệnh vua ban lẹ vậy ta.

Có phải là nhờ ngươi góp ý không Dật"

Dật: "Quan trọng là có người chịu nghe, chịu hiểu"

Ngân: "Vua tốt có khác"

Hàn Dạ: "Đó là điều đương nhiên"

Hàn Phong: "Ít ra thì... có nơi để người dân bắt đầu lại."

Cả năm người đều gật đầu, không ai bảo ai

Ngân: "Uhm...Mọi người có đói không"

Mọiánh nhìn lập tức quay sang phía Ngân.

Gió thổi qua mang theo sự im lặng kỳ lạ.
 
Tướng Không Cờ
Quyết định


Buổi sáng hôm nay trong lành mát mẻ lạ thường, không khí yên bình.

Trời xanh ngắt, không một gợn mây, gió từ sông thổi vào nghe mùi cỏ lá.

Hoa đứng ngoài sân, mắt nheo nheo nhìn về phía cổng như chờ ai.

Ngân bưng chén nước đi ra, lẩm bẩm: "Sáng giờ hắn đi đâu rồi nhỉ.

Tên Dật này suốt ngày đi ra ngoài, không biết làm gì..."

Hai đứa tính bụng sáng nay sẽ tìm hắn, xin đi cùng đoàn viện trợ sang Chiêm.

Nhưng ngồi hết buổi, chờ hết bóng, cũng chẳng thấy mặt mũi hắn đâu.

Đến chiều, khi trời ngả bóng, Dật mới lững thững trở về.

Bước xuống xe ngựa, tay còn cầm cuộn giấy da.

Thấy hắn đi từ sáng tới giờ mới về, người đầy bụi đường, hai đứa cũng ngại làm phiền.

Hoa nói để cho hắn nghỉ một chút, rồi tính sau hãy mở miệng.

Ngân gật đầu, ngồi chờ tới chạng vạng.

Khoảng chừng một canh giờ sau, hai đứa rủ nhau đi tìm.

Đến trước phòng thì thấy cửa mở toang.

Ngân gọi: "Dật ơi?

Ngươi có trong đó không?"

Thấy bên trong sáng đèn, Ngân lại gọi, không ai trả lời.

Nghe loáng thoáng bên phòng trong có tiếng động, tiếng nói chuyện, tiếng nước khẽ động.

Biết là người còn ở trong, nhưng chẳng tiện xông vô, nên cả hai ngồi đợi ở phòng bên ngoài

Chừng một lúc sau, cửa mở, Dật vừa bước ra, cổ còn vương vài giọt nước, tay đang nắm vạt áo.

Hắn không ngờ có ai đợi, ngẩng mặt lên thấy Hoa với Ngân thì đứng khựng lại, thoáng giật mình.

Dật vội kéo áo, quay lưng lại, lúng túng gài dây áo

Hàn Phong phía sau thấy vậy, liền lấy áo khoác phủ lên vai, rồi nhanh tay giúp hắn chỉnh, mặc thêm áo, cài mấy nút còn sót.

Hắn làm như thể hai đứa là biến thái đi rình mò vậy.

Hoa ngó đi chỗ khác cho đỡ kỳ: "Lúc nãy có gọi ngươi, nhưng không thấy trả lời, nên hai ta ngồi đây đợi ngươi luôn"

Còn Ngân thì khoanh tay, mặt tỉnh như không, khẽ hừ một tiếng: "Thân trai thì ai chả giống nhau, quýnh quáng làm gì."

" Làm gì mà như bị bắt quả tang vậy.

Có ai thấy gì đâu."

Hắn hơi ngại, ho nhẹ một cái, ngồi vào bàn: "Hai huynh chờ ta nãy giờ có việc gì sao"

Hàn Phong châm cho hắn ly trà.

Hai đứa cũng tới ngồi vào bàn.

Ngân nói: "Khi nghe ngóng giùm ta, khi nào thì quân triều đình khởi hành, ta muốn đi theo đoàn sang Chiêm Thành"

Hắn đặt chén trà xuống, hơi nước bốc lên thơm nhè nhẹ mùi thảo mộc.

Nhìn Ngân một cái, rồi quay sang Hoa.

Cả hai đều trông nghiêm túc, không phải nói chơi.

"Hai huynh suy nghĩ kĩ chưa, thật lòng muốn đi à?".

Cả hai gật đầu.

Hắn thở ra khẽ, gật đầu: "Vậy thì để đệ nói trước vài chuyện"

Lời nói chậm rãi, giọng không căng, cũng không dạy đời: "Đi đường xa, không phải chỉ cần gan và sức.

Thuyền có ngày đi chục dặm, có ngày mưa to, gió bão."

"Người trong đoàn mỗi người một tính.

Có người hiền, có người gắt.

Không phải ai cũng chịu nhường nhịn.

Ăn uống, ngủ nghỉ, làm việc — tất cả đều chen nhau từng chút".

Hắn nhìn hai đứa, ánh mắt không dò xét, chỉ như nhắc nhở:

"Nếu chỉ là đường dài, ăn ngủ cực nhọc thì còn đỡ.

Nhưng cũng phải nói luôn, đường thủy bây giờ không còn yên nữa.

Có lúc phải đi vòng xa để tránh chốt chặn.

Có lúc phải lén mà qua ban đêm, cột vải vào mái chèo để khỏi khua nước."

Hắn ngừng lại, uống một hớp trà nguội rồi nói tiếp:

"Nếu chẳng may gặp giặc chặn thuyền, thì có ba cách.

Một là quay đầu, nhưng thường không kịp.

Hai là cập bờ, bỏ thuyền mà chạy, khi đó thì phải bỏ lại tất cả.

Còn ba... là đánh.

Nhưng đánh không giống trong sách, hai huynh tuy có học võ phòng thân, nhưng đao kiếm thì vô tình.

Trên thuyền chật hẹp, người chen người, tên bay loạn.

Có người chưa kịp rút đao đã ngã.

Thi thể có thể nằm nơi lạnh lẽo xứ người.

Chiến tranh, còn nhiều thứ khốc liệt hơn các huynh tưởng tượng"

Hắn không kể để dọa, mà kể như sự thật, không giấu, cũng không thêm bớt.

"Đó là nếu chẳng may.

Còn nếu đi trót lọt, thì vẫn phải đề phòng.

Cờ hiệu không được treo lộ, hàng hóa phải xếp theo kiểu ngụy trang, để kẻ ngoài nhìn vô tưởng chỉ là thuyền buôn.

Thuyền chưa chắc đã cập bến an toàn.

Cập bến rồi thì chặng đường tiếp theo cũng chưa hết nguy hiểm"

Hắn nhìn cả hai lần nữa, lần này ánh mắt có chút ấm hơn:

"Không phải không đi được.

Nhưng không nên đi nếu nghĩ mọi chuyện sẽ xuôi chèo mát mái, nằm trong dự tính.

Bất kể việc gì cũng có thể xảy ra.

Lúc chuyện xảy ra, không ai kịp cứu vãn."

Nghe xong, hai đứa lặng người.

Không khí trong phòng bỗng chùng xuống.

Hoa nhìn Ngân, Ngân nhìn lại Hoa — trong mắt cả hai đều có một chút do dự, một chút hoang mang.

Hắn không nói thêm gì.

Hắn chỉ ngồi im, chờ.

Hoa nói khẽ, giọng đã chậm lại: "Chiêm mà mất, thì Nguyên sẽ tràn xuống.

Đại Việt sẽ bị kẹp hai đầu.

Đại Việt mà mất thì..."

Ngân tiếp lời: "Mà nếu Đại Việt mất... thì về sau, làm gì quê nhà tụi ta nữa."

Hoa gật: "Vậy nên dù có sợ, có không biết làm gì... cũng phải đi.

Cũng vì Đại Việt của ngươi"

Có lẽ hắn nghĩ, hai đứa thật sự có thể giúp được Chiêm.

Hoặc ít nhất, có thể kéo dài thời gian cho Đại Việt kịp chuẩn bị.

Cũng có thể, hắn bị sự chân thành và quyết tâm của cả hai thuyết phục.

Hắn khẽ gật đầu, rồi nói:

"Được thôi.

Nếu các huynh thật sự muốn đi, đệ sẽ viết thư cho Phong ca.

Nhờ huynh ấy sắp xếp tiếp ứng đoàn chi viện, và báo trước với mọi người."

Hắn ngừng lại một chút, ánh mắt nghiêm lại:

"Kế hoạch chi viện lần này, là cá cược mạng sống của hai ngàn binh sĩ.

Là an nguy của Đại Việt.

Là sự đánh đổi mà triều đình phải giấu, phải giữ thật kín cho tới phút cuối."

Hắn nhìn thẳng vào hai người, giọng không cao nhưng rõ ràng từng chữ: "Đệ mong rằng, các huynh sẽ không nói ra.

Dù chỉ một câu, dù chỉ là vô tình."

Cả Hoa và Ngân đều gật đầu gần như cùng lúc: "Bọn ta sẽ không nói"

Hắn nói tiếp: "Triều đình điều hai ngàn binh sĩ, từ 3 doanh trại, mỗi đội 10 thuyền, đi cách nhau 3 ngày, giả làm dân buôn, âm thầm sang hỗ trợ.

Mỗi thuyền đều sẽ chở lương thực, thảo dược, và vũ khí, kèm theo là ít cá khô ngụy trang"

"Chúng ta sẽ khởi hành sau 10 ngày nữa."

Hoa im một chút rồi lên tiếng: "Nếu đi cách ba ngày, thì người đi sau dễ gặp nguy hơn.

Nếu bên kia có phục, thì chỉ cần để lọt một thuyền đầu, là sẽ nghi ngờ.

Còn nếu lỡ một thuyền bị bắt, thì thông tin của cả đoàn sau sẽ lộ."

Dật gật đầu, không phản bác: "Cho nên mới phải đi theo lộ trình vòng, không theo tuyến buôn quen.

Lợi dụng đêm tối để chuyển hàng.

Ba đoàn sẽ cập bến ba nơi khác nhau.

Nhưng đúng là... một khi bị phát hiện, đoàn sau sẽ nguy hơn."

Hoa suy nghĩ thêm một lát rồi nói: "Nếu được, mỗi đoàn nên có một dấu hiệu riêng, để không lộ thân phận, và cho 2 thuyền mồi đi trước một khoảng, dò đường và đánh lạc hướng.

Lỡ bị chặn, họ có thể bỏ thuyền, và vật tư lại."

Ngân liếc qua, chêm vào: "Nếu là thuyền mồi vậy thì..." giọng Ngân gian gian: "Chúng ta... tẩm độc vào vật tư đi.

Nếu như bị chặn, chúng ta giả thua bỏ thuyền, địch sẽ nghĩ rằng, chúng cướp được lương thực.

Nếu an toàn, chúng ta sẽ bỏ lại vật tư dụ cho chúng phát hiện"

Hắn không phản ứng ngay, nhưng ánh mắt đã nhíu lại.

Trong một thoáng, Hoa như vừa mở cửa thả con quỷ trong đầu: "Đúng vậy, tẩm độc vào cá khô, gạo!

Loại độc nhẹ, không mùi, phát tác chậm.

Lúc đầu ăn vào không sao, sau vài canh giờ mới đau bụng, tiêu chảy, mất sức...

Nếu kẻ địch ăn, thì chưa đánh đã loạng choạng!

Cho chúng thêm một thùng trà khô có độc, có thấy hàng thượng hạng, chúng sẽ dâng cho các tướng lĩnh, thế là từ trên xuống dưới đều đính độc "

Ngân thêm dầu vào lửa, háo hức nói: "Chở thêm mấy bao thảo dược tẩm độc.

Chúng đau bụng sẽ tìm thuốc uống.

Bệnh càng thêm bệnh"

Cô dừng một nhịp, mắt sáng rực: "Vừa khiến chúng nghi ngờ nguồn lương, vừa khiến chúng e dè hàng cướp được.

Tự nhiên phải xét lại những thứ trong tay, có khi còn vứt đi.

Một nhát đánh vào lòng tin, mà không cần đụng đao."

Hoa nhìn Ngân cười nói: "Giờ tao mới biết mày thâm vậy luôn á"

Ngân trả lời: "Còn mày thì không ha"

Dật nhìn cả hai, không nói gì trong một lúc.

Tay hắn xoay nhẹ chén trà: "Đó giờ đệ tưởng các huynh là người lương thiện.

Xem ra, đệ nhìn lầm rồi"

~~~~~~~~~~~~~~

Ngân thở dài: "Có khi mình nên viết di chúc trước đi"

"Ừ" Hoa tiếp: "Giống các chiến sĩ khi xưa, khắc tên mình lên gỗ, để mốt còn biết mình là ai"

Hành lang dài, tiếng côn trùng kêu.

Hoa liếc sang Ngân, mỉa mai: "Tưởng ai đó nói "giúp chi, không muốn về nhà hả?"

"

Ngân chắp tay sau đít: "Thì tại có đứa dở người đòi đi.

Tao không đi thì ai lụm xác mày về"

Hoa hừ một tiếng: "Miệng cũng cứng nhỉ"

Tiếng cười khẽ vang dọc hành lang.

Hai bóng người trẻ tuổi, dù miệng cãi nhau không ngớt, vẫn bước đều về phía trước – nơi sắp mở ra những ngày không còn êm đềm.

~~~~~~~~~~~~~~

Dật ngồi lặng một lúc, ngẫm lại những gì họ vừa nói.

Có vài điều khiến hắn phải suy nghĩ lại.

Kế hoạch, có lẽ... cần điều chỉnh một chút.

Hắn đứng dậy, bước đến cửa sổ, nhìn ra ngoài sân, nơi bóng của hai người kia đang khuất dần.

Giọng Dật trầm lại, mắt vẫn không rời khung cửa, nói với Hàn Phong:

"Hàn Phong, lần sau nhớ đóng cửa cẩn thận" .

"Khóa lại" ......

"Cả hai cửa."

Hàn Phong hơi sững, rồi đáp nhỏ: "Vâng, thưa công tử."

Dật không nói thêm, xoay người vào trong.

Một lát sau, hắn thay y phục, khoác áo choàng mỏng, cùng Hàn Phong lặng lẽ lên xe ngựa rời khỏi phủ.

~~~~~~~~~~~~~
 
Tướng Không Cờ
Chuẩn bị khởi hành


Gió biển ràn rạt thổi vào bến, mùi muối mằn mặn quện lẫn mùi vôi, dầu rái và mồ hôi người.

Bến tàu phía Bắc gần doanh trại nay bỗng rộn ràng như ngày hội âm thầm.

Người khuân vác đi lại hối hả, tay bê rương gỗ, bọc vải, giỏ đay, bên trong là gạo sấy khô, lương khô, muối hầm, cá phơi, thuốc bột, thảo dược, binh khí, cung tên ngụy trang, vải vóc thịt tảng khô...

Ở một góc nào đó, vài người trùm khăn đen đang nhẹ tay đổ thứ bột vào nước — chất độc từ rễ cây rừng, không đủ giết người lập tức nhưng khiến kẻ ăn phải lả dần, mê sảng, nổi mẩn hoặc tiêu chảy liền ba ngày.

Mấy tay thạo nghề dùng đũa tre khuấy đều, ngâm gạo, phơi khô gạo rồi khâu bao lại như chưa từng động chạm.

Trà khô được trộn một phần nhỏ lá non đã tẩm dịch chiết từ hạt mã tiền, chất cực đắng khi sống, nhưng qua sao khô kỹ, chỉ còn lại dư vị hơi ngái lạ nơi cổ họng.

Người uống lần đầu chỉ nghĩ là loại trà vùng khác.

Dăm hôm sau thì chân tay tê bì, ngực nóng ran, nội tạng rối loạn.

Chết chậm, không rõ nguyên nhân.

Cá khô được phơi lại bằng khói của vỏ cây độc đốt âm ỉ.

Bên ngoài da cá có lớp bụi xám nhạt, tưởng là muối bám, nhưng thật ra là hợp chất trộn từ tro và phấn hoa độc.

Khi nướng, thứ ấy tan chảy, thấm vào thịt cá.

Thảo dược thì khó hơn, bởi thuốc ai cũng cẩn trọng.

Những tay già nghề chọn vài bó, trong đó lén trộn vài đoạn rễ non của cây độc thân mảnh, màu sắc gần giống hoài sơn hay sâm đất.

Phơi khô kỹ, rồi bọc chung trong gói thuốc.

Khi đun sắc, nếu không để ý kỹ, người ta sẽ nghĩ bệnh nhân nặng lên do mệnh trời.

Trên mỗi bao gạo, mỗi gói trà, mỗi túi cá độc đều có một ký hiệu nhỏ bằng mực than để phân biệt, chỉ những người trong nhóm mới nhận ra.

Những dấu hiệu đó, là ranh giới giữa sống và chết.

Thuyền mồi được đặc biệt chuẩn bị thêm thuyền nhỏ, nếu lỡ phải bỏ thuyền thì ít nhất họ có thể hạ thuyền nhỏ, chèo vào bờ, giảm bớt số lượng binh sĩ tử vong.

Tất cả được xếp riêng lên thuyền.

Từ xa nhìn vào chẳng khác gì thuyền viện trợ thật, chỉ khác ở ánh mắt của những người chất hàng: lạnh lùng, kín kẽ, quả cảm, không ai nói quá một câu.

Còn ở phía bên kia, đội thuyền thật, người đang buộc chặt bao tải da, người cột ghè nước, kiểm tra mũi thuyền, trét lại vết nứt nhỏ.

Người lặn dưới thuyền cột vũ khí xuống phao da.

Mặt biển xanh ngắt, nhưng lòng người chưa yên.

~~~~~~~~~~~~~~~~

Hàn Dạ tới, thấy hai đứa đang tranh cãi để gì trong balo.

Lần này là hắn chủ động xin đi cùng.

Hắn đứng phía sau một lúc, không ai để ý.

Chỉ khi đặt bịch vải xuống, cả hai mới giật mình quay lại.

"Gì đây?" – Ngân hỏi, mắt nheo lại nghi ngờ.

Dạ không đáp, ngồi xuống, mở bịch ra.

Hai con dao găm được đặt ngay ngắn trên lớp vải cũ.

Thứ vũ khí không cần lời giải thích: "Lấy mà thủ."

Dạ lôi ra thêm vài món nhỏ: cuộn dây mảnh, túi muối khô, bánh, một lọ nước cốt gừng đặc, vải mỏng lọc nước và một hũ nhỏ đựng thuốc đen nhánh như than.

"Hai ngươi bỏ túi đi.

Đi viện trợ mà chết vì tiêu chảy thì nhục lắm."

Hoa hỏi Dạ: "Lần ngày... ngươi đi chung với bọn ta sao"

Hàn Dạ nói: "Đi viện trợ là việc nguy hiểm, từ lúc bước chân ra khỏi cửa.

Cả ta cũng không dám chắc có thể bình an, nhưng ta cũng không muốn để hai người chưa biết gì đi đối mặt như vậy ."

"còn nhiều thứ nữa, mai ta đem cho 2 người."

Hoa nhìn Hàn Dạ: "Có ngươi đi chung, ta yên tâm hơn rồi"

~~~~~~~~~~~~~~

Ngày hẹn khởi hành đã tới.

Trời còn chưa sáng họ đã phải thức dậy chuẩn bị.

Không có báo thức, không có tiếng gõ trống canh, không tiếng gà gáy báo hiệu, chỉ có cái lạnh ngấm qua vải áo khiến da nổi gai.

Hàn Dạ đã dậy từ trước canh tư, và cũng là người duy nhất còn tỉnh táo để đi gọi hai kẻ vẫn còn đang say giấc.

Trong cơn say ngủ, cả Hoa lẫn Ngân đều phản ứng như nhau — lăn qua một bên, kéo chăn trùm đầu, cùng phát ra tiếng "ừm..." kéo dài như thể đang ở nhà.

Hắn thở dài: "Còn ngủ nữa là chúng ta sẽ không đuổi kịp mọi người đâu."

"............."

"Còn không dậy là ta kêu người vào thay đồ giùm hai người đó nha"

Hoa ấm ức lật mền: "Được rồi, ta dậy rồi"

Mọi người mang theo ít hành trang lên xe ngựa, ra cảng gần đó để đi thuyền ra trại nơi mọi người đang tập trung.

~~~~~~~~~~~~~

Trời chưa kịp sáng hẳn thì Dật đã có mặt ở bến, áo choàng xanh sẫm, tay cầm ba túi nhỏ buộc bằng dây vải đỏ.

Hắn đứng sau một cột thuyền, im lặng quan sát suốt lúc cả ba người dỡ đồ, lên thuyền, dặn nhau kiểm tra dây buộc và khoang hàng.

Mãi đến khi thuyền chuẩn bị rời bến, Dật mới bước ra, cất giọng: "Đi mà không từ biệt, các ngươi thật vô tình."

Cả ba giật mình, Ngân quay phắt lại: "Ơ, ngươi— đi theo dõi tụi ta đấy à?"

Dật mỉm cười "Đệ ở đây bữa giờ giúp mọi người chuẩn bị".

Dật bước đến, đưa 3 túi nhỏ cho họ:

"Trong đó cũng có một túi hương, có thể xua côn trùng, hoặc...

đánh dấu đường đi khi rút lui."

"Còn thẻ bài này, các ngươi giữ lấy, tự ta khắc đó.

Một số thứ khác như thuốc, ống hỏa chiết, ta nghĩ các ngươi sẽ cần đến chúng"

Hoa đón lấy, nhìn vào mắt Dật, định nói gì đó, nhưng lại im.

Một lúc sau, Hoa rút từ trong balo một phong thư: "Đây là di thư của ta.

Ta tính mang theo luôn, nhưng giờ ta giao cho ngươi.

Nếu ta không bình an trở về thì ngươi lưu lại, để nhớ rằng ta từng đến thế giới này"

Ngân cũng lấy phong thư của mình đưa cho Dật giữ, giọng Ngân chậm rãi:

"Nếu bọn ta chết, ngươi có khóc không?"

Dật ngẩng lên, mắt không cười nữa:

"Ta không khóc.

Nhưng ta sẽ giúp báo thù.

Đốt nát cả cái doanh trại nào khiến bọn ngươi chết."

Một nhịp im lặng.

Rồi bất ngờ, từ trên bờ đối diện có tiếng huýt gió ngắn và sắc, theo sau là bóng một người chạy khuất sau đám cỏ cao.

Dạ lập tức rút dao găm, mắt đảo nhanh.

Dật quát khẽ: "Có đuôi."

Vài người rút đao đuổi theo bóng người đó.

Dật đưa cho Dạ một gói nhỏ buộc lạt nâu: "Thuốc đánh lạc mùi.

Thả xuống nước sau khi rời bến."

Hoa ra hiệu: "Lên thuyền đi, không kịp nữa."

Dật lùi lại, lắc đầu: "Không.

Ta đi ngược về, đánh dấu giả hướng.

Các ngươi đi đi."

Ngân chồm ra khỏi mạn, gọi với theo: "Này!

Nếu ngươi chết thì ai đốt doanh trại hộ bọn ta hả?"

Dật cười lớn, quay lưng chạy dọc bờ sông: "Còn sống thì nhớ mang quà về!"

Tiếng cười dần xa.

Con thuyền rẽ nước, bắt đầu trôi nhanh dần theo dòng.

Cả ba đứng lặng ở đầu thuyền, nhìn theo hướng Dật biến mất, cũng nhìn lại đất liền, tâm trạng khó tả.

Chặng đường dài gian nan đang chờ phía trước.

Hoa nói nhỏ, như là hỏi, nhưng cũng như tự nói với mình: "Hắn sẽ giúp chúng ta báo thù sao"

Ngân trả lời: " Mọi người không lãng quên chúng ta là vui lắm rồi."

Dạ đáp khẽ, mắt không rời bóng bờ: "Không.

Ta tin công tử đủ điên để giữ lời."

Thuyền khuất vào màn sương.

Trên bờ, có tiếng chó sủa vọng lại từ xa, và một cột khói mỏng bắt đầu bốc lên từ hướng Dật vừa chạy đi.

Có lẽ, kẻ bám đuôi sẽ không tìm được ai... chỉ thấy một bãi bờ cháy dở, và mùi hương đốt lẫn với khói thuốc trôi theo gió.

~~~~~~~~~~~~~~~
 
Tướng Không Cờ
Người không lời


Đoàn thuyền viện trợ rời bến đã ba ngày.

Mặt nước mênh mông, trời mù sương, từng cánh chim nước bay là là phía trước như dẫn đường.

Trên mỗi thuyền đều có binh sĩ mang giọng lơ lớ vùng phía Nam.

Họ là người Chiêm, hoặc từng sống ở đất Chiêm, được Đại Việt chiêu binh thu nhận và đào tạo.

Trong chiến dịch lần này, họ không chỉ là lính hộ vệ mà còn là người dẫn lối, giúp đoàn vượt qua những nhánh sông lạ.

Lần trước chạy vì sợ, lần này là mang theo mối thù quay về chiến đấu cho quê nhà

Đội quân nhu – nấu bếp, mang vài ấm nước gừng mới nấu xong còn bốc khói, chia mỗi người một bát.

Một vài binh sĩ chưa quen đang nôn vì say sóng.

Một bác lớn tuổi đưa cho họ chén nước gừng.

Ngân nói: "Trời ơi, mấy bữa nay ta uống nước gừng đến ngán rồi"

Hoa xéo xắt: "Giờ mày muốn uống hay là muốn ói?"

Hoa nhớ ngày đầu, thuyền đi được một lúc thì đầu cô như quay mòng.

Rồi sau đó cô bám lên thành tàu ói.

Ngân thấy vậy thì đứng đó cười.

Cười người hôm trước, hôm sau người cười mà.

Một lát sau, Ngân nó cũng ói vật vả.

Hình như biết trước sẽ thấy cảnh này, đội bếp bê lên một vài ấm trà gừng chia cho mọi người cùng uống.

Ngân nói: "Uống, uống, tao uống mà"

Bác Mộc, người lúc nãy đưa nước gừng cho họ, một ông lão gầy, tóc bạc phơ, luôn lặng thinh như thể mất tiếng từ lâu.

Nhưng bác ấy lại rất cẩn thận, chăm chút cho mọi người.

Ai cũng thương bác.

Bác không nói, nhưng mọi việc luôn đúng giờ, đúng cách.

Người ta quen dần với cái dáng gù gù ấy.

Tối hôm đó, sông gió mạnh, đoàn thuyền phải ghé vào một vùng trũng để nghỉ ngơi.

Mọi người cùng xuống khoang thuyền nghỉ ngơi tránh gió.

Hàn Dạ cùng vài người nữa thì ngồi ỡ cửa mui thuyền quan sát.

Hoa và Ngân ngồi mép mui, tay cầm nắm bánh khô nhai lặng, lẽ bầu trời sao

Phía xa, đốm lửa rải rác từ các mui thuyền khác le lói như sao rơi dưới mặt đất.

Lúc đó, bác Mộc xuất hiện.

Ông xách theo ấm nước gừng, rót mời từng người uống cho ấm bụng.

Cử chỉ quen thuộc, chẳng ai để ý nhiều.

Sau khi đi vòng một lượt, bác rút vào sau mui thuyền, nơi có đặt một đèn dầu nhỏ.

Ngọn đèn lẽ ra phải để yên, nhưng ông bỗng nhấc nó lên, che nửa ánh sáng bằng tay, rồi lắc nhẹ vài lần theo nhịp, hướng về phía bờ đối diện.

Động tác này nếu không để ý thì trông như tay người già run run vì lạnh, hay vô tình kiểm tra gió.

Nhưng Hoa lúc ấy vừa nghiêng đầu sang thì bắt gặp ánh sáng chớp ba lần, ngưng, rồi lại chớp hai lần ngắn, rồi tắt hẳn :"...Ông ấy làm gì vậy?"

Hoa hỏi, giọng thấp.

Ngân lơ đãng nhìn: "Chắc thổi lửa.

Gió thổi ngược nên ông che đèn, không thì tắt."

Hoa nghiêng người về thì bắt gặp...

ánh mắt của hắn cũng đang nhìn về phía bác Mộc.

Thân ảnh phó lái Trương lúi húi phía sau, che mất tầm nhìn của bọn họ.

Qua vài ngày bình yên...mà cũng chả biết mấy ngày, vì ngày dài đằng đẳng, nhàm chán vô cùng.

Trải nghiệm rồi thì mới biết dân đi biển cực thế nào.

Tối thì lạnh run người, phải đốt lửa sưởi ấm.

Trưa thì nắng gắt, nóng chảy mỡ.

Giữa trưa, thuyền tạm ghé vào một gò cát giữa sông để nghỉ.

Người tản ra nghỉ ngơi, ăn uống.Ngồi trong mui thuyền, vừa húp bát canh vừa nhìn ra ngoài, thấy một con bồ câu bay qua.

Ngân nói: "Có con chim bay lạc đàn kìa, trưa nắng có mình nó, tội nghiệp"

Vừa dứt câu, từ phía sau, Hàn Dạ đột ngột lao tới, như phản xạ tay rút nỏ, chân đạp nhẹ lên sạp gỗ, không một động tác thừa.

Vụt!

Tiếng cung bật ra như roi quất .

Mũi tên xé gió lao vút lên, nhưng trượt rồi.

Con chim giật mình, chao cánh, rồi vội biến vào khoảng không chói chang, để lại một vệt rung mờ trong nắng.

Ngân và Hoa đều ngẩn ra: "Gì vậy?"

Hoa bật miệng.

Ngân chau mày: "Sao tự nhiên bắn nó"

Hàn Dạ không đáp.

Hắn từ từ hạ tay xuống, mắt vẫn nhìn theo hướng con chim biến mất.

Trán hơi cau lại, không rõ vì tức hay vì lo.

Một lúc sau, hắn mới khẽ nói, gần như lẩm bẩm:

"...Chim rừng không bay kiểu đó.

Đặc biệt là giữa trưa.

Nó là bồ câu đưa thư"

Không cần giải thích thêm, hai đứa hiểu, bồ câu đưa thư có nghĩa là gì.

Nhưng mà, ai thả mới được.

~~~~~~~~~~~~

Chiều hôm đó, trời dịu lạ thường.

Gió sông thổi mát, nắng tắt sớm, không còn oi bức như mấy hôm trước.

Đoàn thuyền phất cờ ra hiệu, tranh thủ tấp vào một vùng đất trũng ven bờ, nơi nước trong, dòng chảy lặng, rừng thưa, thích hợp nghỉ ngơi.

Có lệnh cho phép mọi người xuống bờ giặt giũ, tắm rửa, hong áo.

Cảnh hiếm hoi giữa hành trình kéo dài toàn mùi ẩm, muối và mồ hôi.

Tiếng nước bắn, tiếng cười rải rác khắp bãi.

Ngân và Hoa tìm chỗ lùm cây xa hơn chút, không tranh thủ tắm thì có mà người như hủ mắm, Hàn Dạ tắm nhanh thay gác, hắn đứng gần bụi cây, thỉnh thoảng liếc về hướng mặt trời sắp lặn.

Vài người lớn tranh thủ đun nước sôi, rửa nồi, hong dây thừng.

Một buổi chiều tưởng như yên bình.

Cho đến khi... sương bắt đầu bò ra từ mặt nước.

Ban đầu chỉ là những vệt mỏng trắng ở mép sông.

Nhưng trong nháy mắt, chúng loang ra nhanh như mực rơi vào nước, bò lên bờ, len vào gốc cây.

Hàn Dạ lập tức quay người ra hiệu hét khẽ: "Tập hợp!

Mọi người nhanh chóng thuyền ngay!"

Tiếng đùa nghịch cười nói lập tức im bặt.

Mọi người lục tục về phía thuyền, lội nước leo lên, cuống cuồng nhét lại đồ đạc.

Làn sương trở nên dày hơn, lạnh, ẩm, bắt đầu che khuất tầm nhìn cả khoang lái.

Sương dày lan nhanh, như bột, mù mịt từ mặt sông lên tận ngang đầu cột buồm không thấy thuyền khác đâu.

Không ánh đèn dầu.

Không tiếng chèo.

Không gì cả, ngoài màn sương đặc sánh.

Giống như có tấm vải trắng đặc sệt che lên cả khúc sông vậy.

Cột buồm được hạ xuống, tránh đi lệch, gây va chạm.

Ngân hoảng: "Không phải mới nãy còn thấy đèn bên kia sao...?"

Hàn Dạ mắt lia quanh, giọng trầm: "Không gọi to.

Sương dày kiểu này, dễ bị đánh úp.

Phải giữ vị trí."

Đúng lúc ấy, bác Mộc lặng lẽ bước ra từ phía sau vào mui thuyền, tay cầm theo một cái nồi nhỏ và chiếc muỗng gỗ.

Ông không nói lời nào, chỉ giơ chúng lên ngang tầm ngực, rồi gõ nhẹ một tiếng "cạch", rồi quay sang Hàn Dạ ra hiệu bằng tay, chỉ vào nồi, rồi chỉ về phía sương.

Dạ gật đầu hiểu ý.

Không cần hỏi.

Bác ra cửa mui gõ "Cạch!...cạch cạch...cạch"

Âm thanh đục, tiếng không vang xa, nhưng vẫn nghe được.

Ông gõ lại "Cạch!...cạch cạch...cạch"

Rồi từ phía xa, đâu đó bên phải "Cạch cạch".

May quá, chắc các thuyền khác hiểu ý họ.

Một chiếc khác đáp lại.

Thêm một hướng khác "Cạch cạch."

Có lẽ là chiếc của lái trưởng họ Vũ.

Âm thanh vọng lại: "Cạch!...cạch cạch...cạch" Không ai để ý, âm thanh này có vẻ trong trẻo hơn

Không khí trên thuyền bớt căng thẳng một chút.

Dù bên ngoài chẳng thấy gì, thì ít ra còn biết có người vẫn đang ở gần.

Bên trong mui thuyền đang đốt lò lửa, sương lượn lờ mỏng quanh chân.

Bác Mộc ngồi gần mui thuyền, chăm chú nghiêng tai lắng nghe, tay vẫn cầm muỗng và nồi.

Chờ đúng nhịp, ông lại gõ, ngắn, nhịp đều "Cạch!...cạch cạch...cạch"

Âm thanh vọng lại: "Cạch!...cạch cạch...cạch"

Phía xa, cũng vọng lại âm thanh: "Cạch cạch".

Âm thanh nối đuôi nhau

Hàn Dạ đứng phía sau, tay siết đuôi kiếm.

Hắn nhìn hướng bác Mộc thật lâu.

Không phải ai cũng nghĩ ra cách gõ như thế.

Có thể do bác có kinh nghiệm sông nước.

Nhưng trực giác của hắn thì không nghĩ vậy.

Hắn bước đến gần.

Tay đặt nhẹ lên cổ tay bác Mộc, vừa đủ để ngăn tiếng gõ tiếp theo: "Dừng lại.

Bác đừng gõ nữa"

Ngân và Hoa quay lại, ngạc nhiên.

Bác Mộc nhìn hắn, không nói gì.

Chỉ nghiêng đầu như không hiểu.

Vẫn là vẻ mặt im lặng ấy, nhưng ánh mắt lại động, rất khẽ.

"Tình hình này không gõ thì... chúng ta lạc nhau thì sao?"

Ngân nhỏ giọng, khó hiểu.

Hàn Dạ không trả lời ngay.

Hắn nhìn ra nơi xa, nơi âm thanh vừa vọng lại và gõ thêm một tiếng, lần này do hắn tự là: "Cạch cạch" .

Âm thanh các thuyền khác dần vọng lại: "Cạch cạch".

Đúng vậy, là hai nhịp, không phải bốn nhịp như lúc nãy.

Hắn không nghe lầm.

Dạ quay lại, gật đầu với bác Mộc: "Bác cứ nghỉ ngơi.

Để ta gõ."

Bác Mộc vui vẻ, như thuận ý, đưa muỗng và nồi cho Hàn Dạ.

Ngón tay ông thu lại trong vạt áo.

Dạ đưa cho Ngân, nói nhỏ: "Cứ 10 nhịp chèo, gõ một lần 2 nhịp.

Cứ thế mà giữ đội hình."

Ngân thì thầm bên tai Hoa: "...Tao thấy bất an sao đó mày ơi."

Hoa đáp: "Ừ, tao cũng thấy vậy, cảm giác âm u như có cái gì đó đáng sợ"

Mọi hành động của bọn họ đều được quan sát từ đầu đến giờ.

~~~~~~~~~~~
 
Tướng Không Cờ
Hải Tặc


Qua một đêm sương lạnh giá.

Mặt trời dần lên, ánh nắng xuyên qua làm sương tan dần.

Chỉ có tiếng mái chèo rẽ nước đều đặn, và vài giọng ngái ngủ vọng lại từ các khoang thuyền.

Mặt sông không động, trời không gió.

Vẫn chén nước gừng nóng hổi.

Một buổi sáng yên bình.

Hàn Dạ đứng ở đầu mũi thuyền, mắt chưa chớp đã lia khắp bốn phía.

Hoa thì dựa cột buồm, học cách quan sát mà Hàn Dạ hướng dẫn.

Ngân đang nhai bánh khô bên cạnh đống gừng sấy.

Không ai nói gì.

Nhưng rồi, như lưỡi dao trồi lên từ mặt nước, ba chiếc thuyền lạ tầm trung lao tới từ bãi lau sậy cao gần bờ, không cờ, không đuốc.

Chúng nhắm thẳng vào thuyền lương.

Khí thế xông tới

"Có thuyền lạ tấn công!"

Các thuyền đồng loạt phất cờ hiệu và la lớn thông báo cho nhau

"Tất cả vào vị trí chiến đấu!"

" Không được hoảng loạn.

Mọi người vào đội hình!

Chuẩn bị đánh trả!"

"Đội cung tên sẵn sàng!"...

"BẮN"

Tên địch găm vào cột buồm.

Một cánh buồm cháy bùng lên.

Tiếng binh sĩ, tiếng xô đẩy, tiếng lửa táp vào ván gỗ.

Một nhóm lính phản ứng nhanh chặn được mũi thuyền thứ nhất, nhưng thuyền thứ hai đã ghim móc vào thuyền.

Lạ thay, ba thuyền địch đó lại tấn công nhằm vào thuyền của bọn họ.

Sao không phải thuyền khác.

Đoàn họ tới 10 thuyền lận mà.

Những ai không có khả năng thì lui xuống khoang thuyền, cầm vũ khí thủ, bảo vệ hàng.

Hàn Dạ tay cầm kiếm, một địch mười.

Binh lính cũng không uổng công được rèn luyện trong doanh trại, né được đòn hiểm, bảo toàn mạng.

Hoa với Ngân thì canh giữ lối xuống khoang thuyền, thấy ai bị ngã thì giúp đỡ, thấy địch ngã thì cả hai lao tới tước vũ khí và hạ gục họ bằng gậy.

Được vài tên thì thấy mệt.

Các thuyền lân cận phái binh xuống thuyền nhỏ chèo sang hỗ trợ.

Binh sĩ nhanh đuối sức.

Trận hỗn loạn, không ai chết, nhưng binh sĩ bị thương nhiều, tổn thất chưa rõ.

Nhiều tên thấy bất lợi thì nhảy sông trở về thuyền rút lui.

Bắt sống được rất nhiều tên địch và thu được một thuyền bị bỏ lại.

Người bị thương được chăm sóc, băng bó và nghỉ ngơi dưới khoang thuyền.

Bọn chúng thì bị trói thành 3 nhóm, mỗi nhóm 4-5 tên, lưng tựa vào nhau, ngồi bệt giữa thuyền.

Rất nhiều tên bị thương.

"Bọn tao chỉ nhận lệnh chặn đường cướp lương thôi.

Dù gì không có lương thực cũng chết."

Một tên, mặt đầy vết dao cắt cũ, nhổ máu xuống sàn: "Muốn giết thì giết đi, bớt nói nhảm."

Một tên khác cười khẩy: "Bọn Nguyên?

Tụi nó cũng cướp hết của bọn tao.

Ai trả cho tụi tao.

Tụi bây dân buôn, giàu thế, cướp một ít thì có sao"

"Với tụi bây là bớt một ít tiền, nhưng với tụi tao thì khác, còn rất nhiều người không có cháo để ăn.

"Chúng tôi cũng là bị ép vào đường cùng thôi.

Nếu được chọn thì ai muốn đi cướp chứ".

Phó lái Trương thay lái.

Hoa, Ngân, Hàn Dạ, và bác trưởng lái đang thảo luận trong mui thuyền.

Hoa lên tiếng: "Theo như lời họ nói, thì họ cũng chỉ là thổ phỉ, do bị cướp hết lương thực nên cướp lại thuyền buôn" .

"Chúng không có ý giết người, chỉ muốn cướp"

Bác trưởng thuyền: "Có nhiều người dân sau khi mất nhà thì gia nhập luôn trại thổ phỉ.

Ta không lạ gì chuyện đó.

Thời loạn, người mất nhà thành giặc là thường.

Nhưng sao lại là thuyền của chúng ta, mà không phải thuyền khác chứ."

Ngân: "Có khi là sự trùng hợp.

Vì thuyền nào cũng như nhau thôi, chọn đại một thuyền"

Hàn Dạ trầm ngâm: "Tại sao chúng không chọn thuyền cuối, thường thì thuyền cuối dễ cắt đuôi.

Chọn thuyền giữa như chúng ta, trước sau bất tiện, không phải quá liều lĩnh rồi sao."

Bác trưởng thuyền lắc đầu, mắt nheo lại nhìn theo bóng tù binh bị áp giải.

Tiếng người lính trẻ bước trên khoang thuyền, mồ hôi nhễ nhại.

"Mệt... quá... sáng giờ cứ như say sóng cả buổi..."

Hoa nhìn sang Ngân: "Hồi nãy, mày cũng nói đầu hơi choáng, đúng không?"

Ngân nhíu mày: "Ờ... tao tưởng do nắng.

Nhưng mà mấy hôm trước nắng hơn cũng không sao."

Bác trưởng thuyền ngộ ra gì đó: "Chắc có ai đó đã động chân động tay gì trên thuyền".

Mọi người nhìn nhau thắc mắc.

Bác trưởng thuyền, Hàn Dạ, lại không ảnh hưởng gì.

Bác trưởng thuyền: "Lục soát lại toàn bộ khoang.

Thức ăn, thùng hàng, xem có gì khả nghi không"

Bóng đen ngoài cửa lặng lẽ rời đi.

Mọi người bàn nhau nên kiểm tra thùng cháo ăn lúc sáng trước, còn chưa kịp rời khỏi khoang thì

"Cháy, cháy, mau dập lửa, cháy rồi" tiếng tri hô vang lớn làm cả khoang thuyền chấn động.

Ban đầu ai cũng nghĩ là cháy bếp.

Nhưng chỉ vài giây sau, mùi khét lẹt cùng khói bốc lên từ một chỗ khác, khoang nghỉ của bác Mộc vẫn thường ở.

Bác trưởng thuyền hoảng hốt: "Mọi người mau dập lửa!

Đừng để bén sang thùng hàng!"

Mọi người cùng nhau xách nước truyền tay nhau xuống khoang để dập lửa

Mấy thùng nước đầu chỉ khiến khói bốc lên nhiều hơn, kèm theo tiếng xèo xèo như than bén mỡ.

Ngân vớ lấy chăn mền nhúng nước trùm lên người, bò xuống hô lớn: "Cẩn thận, mọi người tránh ra"

Hai đứa lấy thêm miếng vải ướt đập vào đám cháy liên tục, càng đập càng vào trong.

Mọi người tạt nước để làm mát cho họ.

Lửa dần được khống chế.

Hoa hất thùng nước cuối cùng xuống sàn cháy, rồi đứng thở dốc, khắp người ướt nhẹp.

Một tiếng gọi vọng lại: "Có người ngã!

Có người bị trượt chân dưới khoang!"

Mọi người giật mình chạy sang, thì thấy hai người đang dìu bác Mộc.

Mọi người dần tản ra, người đi kiểm tra lại mọi thứ, xem có hư hỏng gì không, người thì dọn dẹp.

Bác trưởng thuyền nhìn bác Mộc, giọng nghi hoặc: "Nãy giờ bác đi đâu?"

Bác Mộc ra hiệu chỉ chỉ.

Một người lính lên tiếng: " Bác định lấy nước sạch... rửa ấm và sắc thuốc cho binh sĩ.

Hồi nãy tôi thấy bác cúi lấy nước sau lá chắn.

Vừa quay lên thì thấy khói."

Hàn Dạ nhìn, ánh mắt không rời mặt bác Mộc.

Hắn không nói gì, chỉ cúi nhìn đống tro tàn vừa tắt lửa.

Là trùng hợp sao?.

Bác trưởng thuyền sắp xếp việc và quay lại khoang lái.

Chỉ có bọn họ ở lại.

Tro tàn vẫn còn âm ỉ khói mỏng.

Nơi bác nghỉ ngơi giờ chỉ còn là đống hỗn độn tro than và gỗ cháy đen.

Nệm rơm lụi xuống như tro bếp.

Mảnh bao vải vương vãi quanh chân.

Hai đứa không nở nhìn cảnh đó.

Hoa đi tìm cho bác bao vải để đựng đồ, và xin những người khác bộ đồ cho bác, Ngân đem luôn cho bác cái mền của mình.

Bác từng bước vào trong xem xét, quỳ xuống, tay run run bới nhẹ, nhặt đồ còn sót lại.

Chậm rãi.

Cẩn thận.

Từng món nhỏ được nhặt ra.

Hàn Dạ cũng phụ bác.

Bác nhặt túi vải bị cháy một nửa gần góc vách.

Mảnh vải sột soạt trong tay, phần viền đã rã thành sợi cháy đen, dính tro bụi.

Bác lật nhẹ, dùng hai ngón tay gỡ mảnh còn lại.

Vải rách, vải cháy rơi xuống sàn.

"Cộp."

Một vật nhỏ rơi ra, nảy lên mặt ván ẩm ướt.

Bác Mộc khựng lại.

Một miếng gỗ, hình chữ nhật mảnh, mặt trước khắc một dòng chữ 元bằng chữ Hán đậm nét.

Không nhầm được, đó là lệnh bài của quân Nguyên.

Bác ấy khựng lại.

Ánh lửa lấp lóa phản chiếu lên mặt gỗ cháy sém.

Bác không nhặt ngay.

Chỉ nhìn.

Ánh mắt bác không có sợ hãi.

Chỉ có một thoáng mệt mỏi, như đã biết ngày này sẽ đến.

Hàn Dạ đứng cách đó vài bước.

Bác cúi xuống.

Rất chậm rãi.

Nhặt lên nhét vào một túi con, giấu sâu trong áo.

Áo bác rung nhẹ nơi ngực.

Có lẽ vì thở ra, hay vì tim đập.

Bác không nói gì.

~~~~~~~~~~~~~~

Đêm tối, sương giăng nhẹ.

Ánh đèn dầu được che kỹ bằng lồng vải, chỉ vừa đủ soi sáng những nét mặt căng thẳng, lo âu.

Trên chiếc thuyền mồi, các trưởng thuyền lặng lẽ ghé sang theo hiệu lệnh đã hẹn trước.

Do bị tập kích bất ngờ sáng nay, các trưởng thuyền đang bàn luận về việc có nên đổi hướng đi để an toàn hơn không

Cả hai đi chung với Hàn Dạ cùng lên thuyền, chẳng ai dị nghị khi hai đứa cũng tham gia kế hoạch, chỉ giới thiệu, chào hỏi nhau.

Sau này tiện việc hành động, giúp đỡ nhau.

Tiếng bàn cãi nhỏ dần thành tranh luận.

Cân nhắc thiệt hơn.

Một canh giờ sau, từng người lần lượt rời thuyền mồi như thể chẳng có chuyện gì xảy ra.

Đêm nay, mỗi người một tâm trạng.

~~~~~~~~~~~~~~~
 
Back
Top Bottom