Câu 1: Phân tích tính sáng tạo của luận điểm: “Cách mạng giải phóng dân tộc cần chủ động, sáng tạo, có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc” của Hồ Chí Minh.
- “Cách mạng giải phóng dân tộc cần được tiến hành chủ động, sáng tạo và có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc”.
Đây là một luận điểm mới và sáng tạo của Hồ Chí Minh.
- Trong phong trào cộng sản quốc tế lúc bấy giờ đã từng tồn tại quan điểm xem thắng lợi của cách mạng thuộc địa phụ thuộc trực tiếp vào thắng lợi của cách mạng vô sản chính quốc.
Do nhận thức được thuộc địa là một khâu yếu trong hệ thống của chủ nghĩa đế quốc, do đánh giá đúng đắn sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, ngay từ năm 1924, Người đã sớm cho rằng cách mạng thuộc địa không những không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc mà có thể giành thắng lợi trước.
Đây là một cống hiến rất quan trọng vào kho tàng lý luận Mác – Lênin, đã được thắng lợi của cách mạng Việt Nam chứng minh là hoàn toàn đúng đắn.
- Do chưa đánh giá hết tiềm lực và khả năng to lớn của cách mạng thuộc địa nên Quốc tế cộng sản có lúc xem nhẹ vai trò của cách mạng thuộc địa, coi cách mạng thuộc địa phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc.
Đại hội VI Quốc tế cộng sản năm 1928 đã thông qua Những luận cương về phong trào cách mạng trong các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, trong đó có đoạn viết rằng chỉ có thể thực hiện hoàn toàn công cuộc giải phóng các nước thuộc địa khi giai cấp vô sản giành được thắng lợi ở các nước tư bản tiên tiến.
Quan điểm này có tác động không tốt, làm giảm đi tính chủ động, sáng tạo của nhân dân các nước thuộc địa trong công cuộc đấu tranh chống thực dân, đế quốc, giành độc lập cho dân tộc
- Theo quan điểm của Mác - Ăng-ghen, các dân tộc thuộc địa không thể tự mình làm cách mạng thắng lợi.
Quan điểm này còn tồn tại trong Quốc tế Cộng sản đến tận Ðại hội VI, (1928).
Thể hiện trong Những luận cương về phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa: Chỉ có thể thực hiện hoàn toàn công cuộc giải phóng các thuộc địa khi giai cấp vô sản giành được thắng lợi ở các nước tư bản tiên tiến
- Sự sáng tạo của Hồ Chí Minh, qua nghiên cứu phong trào cách mạng thuộc địa, ngay từ năm 1921, Người đã nhận định: "trong khi thủ tiêu một trong những điều kiện tồn tại của chủ nghĩa tư bản là chủ nghĩa đế quốc, họ có thể giúp đỡ những người anh em mình ở phương Tây trong nhiệm vụ giải phóng hoàn toàn".
Năm 1924, Hồ Chí Minh khẳng định, cách mạng thuộc địa không những không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc, mà có thể giành thắng lợi trước.
Hơn nữa, yêu cầu bức thiết của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc không cho phép ỷ lại, ngồi chờ thắng lợi của cách mạng vô sản ở châu u để được trả lại nền độc lập cho các dân tộc thuộc địa.
Ðây là một quan điểm cách mạng sáng tạo của Hồ Chí Minh, có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn đối với phong trào cách mạng thế giới.
Ðặc biệt, đối với cách mạng Việt Nam, luận điểm cách mạng của Hồ Chí Minh đã được vận dụng một cách chủ động, sáng tạo trong tiến trình vận động cách mạng giải phóng dân tộc.
- Quán triệt tư tưởng của V.I.
Lênin về mối quan hệ chặt chẽ giữa cách mạng vô sản ở chính quốc với phong trào giải phóng dân tộc thuộc địa, từ rất sớm Hồ Chí Minh chỉ rõ mối quan hệ khắng khít, tác động qua lại lẫn nhau giữa cách mạng thuộc địa và cách mạng vô sản ở chính quốc - mối quan hệ bình đẳng, không lệ thuộc, phụ thuộc vào nhau.
Năm 1924, tại Đại hội V của Quốc tế cộng sản, Người nói: “Vận mệnh của giai cấp vô sản thế giới và đặc biệt là vận mệnh của giai cấp vô sản ở các nước đi xâm lược thuộc địa gắn chặt với vận mệnh của giai cấp bị áp bức ở các thuộc địa”.
- Từ đó cho thấy là một người dân thuộc địa, là người cộng và là người nghiên cứu rất kỹ về chủ nghĩa đế quốc, Hồ Chí Minh nêu rằng, cách mạng thuộc địa không những không phụ thuộc vào cách mạng vô sản ở chính quốc mà có thể giành thắng lợi trước.
Luận điểm sáng tạo có tính cách mạng và khoa học trên của Hồ Chí Minh dựa trên các cơ sở sau:
+ Thuộc địa có một vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt đối với chủ nghĩa đế quốc, là nơi duy trì sự tồn tại, phát triển, là món mồi “béo bở” cho chủ nghĩa đế quốc nhưng lại là khâu yếu nhất trong hệ thống các nước đế quốc.
Cho nên, cách mạng ở thuộc địa sẽ có khả năng nổ ra và thắng lợi
+ Tinh thần đấu tranh cách mạng hết sức quyết liệt của các dân tộc thuộc địa, mà theo Người nó sẽ bùng lên mạnh mẽ, hình thành một “lực lượng khổng lồ” khi được tập hợp, hướng dẫn và giác ngộ cách mạng.
- Căn cứ vào luận điểm của C.Mác về khả năng tự giải phóng của giai cấp công nhân, trong Tuyên ngôn của Hội liên hiệp thuộc địa, khi kêu gọi các dân tộc thuộc địa đứng lên đấu tranh giành quyền độc lập dân tộc.
- Với thực tiễn thắng lợi năm 1945 ở Việt Nam cũng như phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới đã thành công vào những năm 60, trong khi cách mạng vô sản ở chính quốc chưa nổ ra và thắng lợi, càng chứng minh luận điểm trên của Hồ Chí Minh là độc đáo, sáng tạo, có giá trị lí luận và thực tiễn to lớn.
=> Những quan điểm của Hồ Chí Minh là thành quả của một tư duy sáng tạo, thể hiện tư tưởng cách mạng và khoa học, được kiểm chứng trong tiến trình đấu tranh cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng thế giới.
Tuyệt nhiên đó không phải là sự vay mượn, hay "nhập khẩu cách mạng".
Quan điểm của Người thấm đượm khát vọng của nhân dân Việt Nam về độc lập, tự do, công bằng, văn minh, ấm no, hạnh phúc hướng tới mục tiêu phục vụ cho quyền lợi và khát vọng của dân tộc, hòa quyện trong tình yêu giai cấp, yêu nhân loại, đượm tính nhân văn, không có ranh giới quốc gia ngăn cách.
Câu 2: Phân tích luận điểm: “cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường của cách mạng vô sản” là một luận điểm đúng đắn và sáng tạo của Hồ Chí Minh.
* Cơ sở lí luận:
- Theo Mác – Lê nin: “Chỉ trong tay giai cấp vô sản thì độc lập dân tộc mới giành được vĩnh viễn”
- Trong luận cương: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường các mạng vô sản”
* Cơ sở thực tiễn
+) Cách mạng Việt Nam
- Con đường của cụ Hoàng Hoa Thám tuy có phần thực tế hơn nhưng vẫn mang nặng cốt cách phong kiến
- Con đường của cụ Phan Châu Trinh chẳng khác nào xin giặc rủ long thương
- Con đường của cụ Phan Bội Châu chẳng khác nào đuổi hổ của trước, rước báo cửa sau.
+) Người đã khảo sát, đánh giá các cuộc cách mạng trên thế giới
- Cách mạng tư sản Pháp và Mỹ (Cuộc cách mạng không triệt để): “…
Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kì thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”
- Cách mạng Tháng Mười Nga “… như ánh mặt trời rạng đông xua tan bóng tối cuộc cách mạng Tháng Mười Nga đã chiếu rọi ánh sáng mới vào lịch sử loài người ...”
* Nội dung
- Mục tiêu: Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản
- Lực lượng: toàn dân, nòng cốt là công nông trí
- Tổ chức lãnh đạo: giai cấp công nhân thông qua Đảng cộng sản
- Phương pháp: bạo lực cách mạng của quần chúng
- Đoàn kết quốc tế: cách mạng Việt Nam là một bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới, cho nên phải đoàn kết quốc tế.
* Ý nghĩa
- Giải quyết sự bế tắc đường lối cứu nước, mở ra phương hướng mới trong giải phóng dân tộc ở thuộc địa.
- Bổ sung, phát triển về giải phóng dân tộc trong thời đại cách mạng vô sản.
Câu 3: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc.
Anh/ chị hãy rút ra ý nghĩa đối với thực tiễn cách mạng Việt Nam hiện nay.
* Khái quát về tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc:
- Cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản.
- Cách mạng giải phóng dân tộc, trong điều kiện của Việt Nam, muốn thắng lợi phải do Đảng Cộng sản lãnh đạo.
- Phải dựa trên lực lượng đại đoàn kết toàn dân, lấy liên minh công – nông làm nền tảng.
- Cách mạng giải phóng dân tộc cần chủ động, sáng tạo, có khả năng giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc.
- Phải được tiến hành bằng phương pháp bạo lực cách mạng.
* Rút ra ý nghĩa đối với thực tiễn cách mạng Việt Nam hiện nay
- Trong công cuộc đổi mới hiện nay, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc, chúng ta cần thực hiện tốt những nội dung sau:
+ Một là, kiên định con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Trong bất kỳ điều kiện và hoàn cảnh nào cũng phải giữ vững được nền độc lập hoàn toàn, độc lập thực sự của đất nước.
+ Hai là, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ lịch sử mới.
Trước hết là mỗi đảng viên tự nâng cao trình độ nhận thức chính trị và chuyên môn, trau dồi, rèn luyện đạo đức để xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân.
+ Ba là, tăng cường, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân mà nòng cốt là liên minh công-nông-trí, trên cơ sở phát huy tinh thần tự lực, tự cường, “đem tài dân, sức dân để làm lợi cho dân”.
+ Bốn là, trong bối cảnh hiện nay phải đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết; kiên định độc lập tự chủ, đồng thời chủ động, sáng tạo và tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi; kết hợp phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
- Hiện nay tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến rất phức tạp, tác động trực tiếp đến nước ta, tạo ra cả thời cơ và thách thức.
Hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn.
Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, cách mạng khoa học- công nghệ, kinh tế tri thức tiếp tục được đẩy mạnh.
- Việc nghiên cứu, vận dụng tư tưởng HCM có ý nghĩa to lớn đối với toàn dân ta chúng ta về mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội nhằm tạo ra những nguồn lực mới, đưa sự nghiệp đổi mới vững bước tiến lên.
- Liên hệ thực tế: Ở trong nước, thế và lực, sức mạnh tổng hợp của đất nước tăng lên, uy tín quốc tế của đất nước ngày càng được nâng cao.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng ta đã khẳng định, 30 năm đổi mới là một giai đoạn lịch sử quan trọng trong sự nghiệp phát triển, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.
Nhìn tổng thể, qua 30 năm đổi mới, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hộivà bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa…Tuy nhiên vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức.
Bốn nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra vẫn còn tồn tại, nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới; nguy cơ “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch nhằm chống phá nước ta; tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; sự tồn tại và những diễn biến phức tạp của tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí…
- Vì thế, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chúng ta cần nghiên cứu, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, dân tộc và quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội nhằm tạo ra những nguồn lực mới, đưa sự nghiệp đổi mới vững bước tiến lên.
- Phải khơi dậy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, tạo điều kiện và phát huymọinguồn lực để xây dựng và bảo vệ đất nước, trước hết phải xác định rõ các nguồn lực vàphát huy tối đa các nguồn nội lực.
Nội lực, hiểu một cách toàn diện, bao gồm con người, trí tuệ, truyền thống dân tộc, truyền thống cách mạng, đất đai, tài nguyên, vốn liếng… nhưng tựu trung lại, yếu tố quan trọng nhất, quyết định nhất vẫn là nguồn lực con người với tất cả sức mạnh thể chất và tinh thần của nó.
Chủ nghĩa yêu nước là nguồn lực mạnh mẽ nhất, trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh thần yêu nước ấy đã được phát huy cao độ, biến thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng vô song, đưa đến mọi thắng lợi của dân tộc ta.
=> Như vậy, đối với thực tiễn cách mạng Việt Nam hiện nay, cách mạng giải phóng dân tộc của Hồ Chí Minh vô cùng quan trọng, là kim chỉ nam cho cách mạng ta học tập trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Câu 4: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về luận điểm: “Cách mạng giải phóng dân tộc phải dựa trên lực lượng đại đoàn kết toàn dân, lấy liên minh công - nông là nền tảng”.
Hãy rút ra ý nghĩa đối với thực tiễn cách mạng Việt Nam hiện nay
- Cơ sở:
+ Hồ Chí Minh đã kế thừa, tiếp thu quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lenin: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân
+ Thất bại của các phong trào yêu nước do chưa có đường lối đúng đắn để tập hợp lực lượng
- Nội dung:
+ Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng bị áp bức
+ Lực lượng cách mạng giải phóng dân tộc là lực lượng toàn dân
+ Đảng phải có đường lối đúng đắn tập hợp mọi giai tầng trong cách mạng giải phóng dân tộc.
Đối tượng: đế quốc xâm lược và phong kiến tay sai.
Mục tiêu: giành độc lập dân tộc và dân chủ cho nhân dân
Chủ trương: tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân
Nguyên tắc: đứng trên lập trưởng giai cấp công nhân để thực hiện nhiệm vụ cách mạng
- Ý nghĩa:
+ Vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lenin về tập hợp lực lượng trong Cách mạng giải phóng dân tộc.
+ Trở thành kim chỉ nam của Đảng trong việc xây dựng khỏi đại đoàn kết toàn dân
- Các nhà lý luận kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin khẳng định rằng, cách mạng là sự nghiệp của quan chúng nhân dân, quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo ra lịch. sử.
VILênin viết: "Không có sự đồng tình ủng hộ của đại đa số nhân dân lao động đối với đội tiền phong của mình tức là đối với giai cấp vô sản, thi cách mạng và sản không thể thực hiện được".
- Kế thừa tư tưởng các nhà lí luận nói trên.
Hồ Chí Minh quan niệm: có dân là có tất cả, trên đời này không gì quí bằng dân, được lòng dân thì được tất cả, mất lòng dân thì mất tất cả.
Người khẳng định: “cách mệnh là việc chung cư dân chủng chứ không phải việc một hai người.
Vậy nên phải tập hợp và đoàn kết toàn dân thì cách mạng mới thành công.
- Năm 1930, trong Sách lược vắn tắt của Đảng, Hồ Chí Minh xác định lực lượng cách mạng bao gồm toàn dân.
Đảng phải thu phục đại bộ phận giai cấp công nhân.
- Khi thực dân Pháp tiến hành xâm lược Việt Nam lần thứ hai, Hồ Chí Minh thiết thả kêu gọi mọi người không phân biệt giai, tầng, dân tộc, tôn giáo, đảng phái đoàn kết đấu tranh chống kẻ thủ chung của dân tộc.
Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (12-1946), Người viết: "Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phải, dân tộc.
Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cửu Tổ quốc".
- Trong khi xác định lực lượng cách mạng là toàn dân, Hồ Chí Minh lưu ý rằng, không được quên công nông là chủ cách mệnh... là gốc cách mệnh".
Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Người giải thích: giai cấp công nhân và nông dân là hai giai cấp đông đảo và cách mạng nhất, bị bóc lột nặng nề nhất, vì thế “lòng cách mệnh càng bền, chí cách mệnh càng quyết… công nông là tay không chân rồi, nếu thua thì chỉ có một cái kiếp khổ, nếu được thì được cả thế giới, cho nên họ gan góc”
- Kế thừa và nâng tầm tư duy chính trị truyền thống của cha ông: “Nước lấy dân làm gốc”; đồng thời thấm nhuần nguyên lý mác, Hồ Chí Minh đã tìm sức mạnh và cái cẩm nang thần kì của công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước ở lực lượng vô địch của nhân dân.
Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân.
- Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Người là đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân, các giai cấp, các chính đảng, đoàn thể, các dân tộc, tôn giáo.
Đoàn kết trong tư tưởng của Người là đoàn kết rộng rãi, mở rộng và tranh thủ tất cả những lực lượng và bộ phận có thể tranh thủ.
* Rút ra ý nghĩa đối với thực tiễn cách mạng Việt Nam hiện nay
- Từ quan điểm trên của Hồ Chí Minh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta:
+ Thứ nhất, tiếp tục xây dựng và tăng cường củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, bảo đảm sự thống nhất cao về tư tưởng và hành động, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
+ Thứ hai, tiếp tục thể chế hóa phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” thành những chính sách, quy chế, quy định cụ thể để nhân dân phát huy quyền làm chủ và thực hiện tốt trách nhiệm và nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội
+ Ngoài ra, thực hiện tốt các chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc, miền núi và vùng đồng bào có đạo
- Quán triệt sâu sắc, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc,
- Trong khối đại đoàn kết đó, giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức là lực lượng nòng cốt, đông đảo nhất, đồng thời là cơ sở vững chắc của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thông qua khối liên minh này, Đảng, Nhà nước có thể tập hợp, vận động các tầng lớp nhân dân lao động khác tham gia quản lý nhà nước, làm chủ xã hội, làm cho lợi ích giai cấp gắn chặt với lợi ích dân tộc, tạo đồng thuận cao trong xã hội.
- Hiện nay, trước yêu cầu của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới, Đảng ta tiếp tục khẳng định đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề chiến lược của cách mạng.
- Liên hệ quan điểm trên của Hồ Chí Minh của ta trong tình hình chống covid -19 hiện nay được thể hiện trong:
+ Chủ trương của Đảng, Chính phủ huy động sức mạnh toàn dân tộc tham gia phòng, chống dịch
+ Toả sáng truyền thống đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam trong công tác phòng, chống dịch.
Câu 5: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đặc trưng của chủ nghĩa xã hội.
Hãy rút ra ý nghĩa quan điểm đó đối với việc xây dựng mô hình Nhà nước ta hiện nay.
*Khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về đặc trưng của chủ nghĩa xã hội:
- Theo Hồ Chí Minh chính là: ''Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giầu, nước mạnh”, “mục đích của chủ nghĩa xã hội là không ngừng nâng cao mức sống của nhân dân”, “chủ nghĩa xã hội là mọi người cùng ra sức lao động sản xuất để được ăn no, mặc ấm và có nhà ở sạch sẽ”.
Người khẳng định xã hội XHCN là “một thế giới không có người bóc lột người, mọi người sung sướng, vẻ vang, tự do, bình đẳng, xứng đáng là thế giới của loài người”.
Có thể nói, chủ nghĩa xã hội theo Hồ Chí Minh là làm cho dân giàu, nước mạnh, mọi người ai cũng có công ăn, việc làm, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, được phát triển toàn diện.
-Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, xã hội xã hội chủ nghĩa luôn là sự thống nhất biện chứng của các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
Người nói: “xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội''.
Cụ thể hơn, Bác cho rằng chủ nghĩa xã hội phải “có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và khoa học tiên tiến”.
Còn về chính trị, xã hội xã hội chủ nghĩa là do nhân dân làm chủ, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân, quyền hành và lực lượng đều ở mọi người dân, mọi cán bộ, công chức nhà nước đều là công bộc của dân.
- Từ định nghĩa về CNXH, Hồ Chí Minh đã khái quát CNXH có những đặc trưng sau:
+ Thứ nhất, về chính trị: Xã hội XHCN là xã hội có chế độ dân chủ.
+ Thứ hai, về kinh tế: xã hội XHCN là xã hội có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu
+ Thứ ba, về văn hóa, đạo đức và các quan hệ xã hội: Xã hội XHCN có trình độ phát triển cao về văn hóa và đạo đức, bảo đảm sự công bằng hợp lý trong các quan hệ xã hội.
+ Thứ tư, về chủ thể xây dựng chủ nghĩa xã hội: Chủ nghĩa xã hội là công trình tập thể của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
* Rút ra ý nghĩa quan điểm đó đối với việc xây dựng mô hình Nhà nước ta hiện nay.
- Từ những đặc trưng của chủ nghĩa trong tư tưởng Hồ Chí Minh cho thấy vai trò to lớn của quan điểm này đối với nước ta, là nền tảng cho ta xây dựng mô hình Nhà nước ta hiện nay:
Công cuộc đổi mới đất nước đã và đang thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.
Mô hình Nhà nước hiện nay mà nhân dân ta đang xây dựng đã dựa vào thành quả của công cuộc đổi mới, trước hết là thành quả của đổi mới nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội, trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác -Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong điều kiện hiện nay được thể hiện ở:
- Thứ nhất: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
+ Thể hiện mục tiêu của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, cụ thể thiết thực, trên cơ sở kế thừa quan điểm Mac-Lenin về mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, đồng thời vận dụng sáng tạo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu, nước mạnh…là công bằng, hợp lý, mọi người đều được hưởng quyền tự do, dân chủ, được sống cuộc đời hạnh phúc…
+ Mô hình Nhà nước mà nhân dân ta đang xây dựng phải hướng tới việc hiện thực hóa đầy đủ, đồng bộ hệ mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng văn minh.
Tư tưởng xuyên suốt của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Đối với dân tộc Việt Nam, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh thật sự.
Đây là khát vọng tha thiết của toàn thể nhân dân Việt Nam sau khi đất nước giành được độc lập và thống nhất Tổ quốc.
- Thứ hai: do nhân dân làm chủ
+ Kế thừa những giá trị trong tư tưởng truyền thống của dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: dân chủ tức là dân là chủ, dân làm chủ.
+ Thể hiện trong nhận thức của Đảng ta về việc từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn liền với việc bảo đảm tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân (nhân dân là chủ thể của mọi quyền lực).
- Thứ ba: có nền kinh tế phát triển
+ Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu.
+ Đảng ta tiếp tục khẳng định quan điểm: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và phát triển.
Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
+ Chúng ta đang xây dựng là xác lập dần từng bước chế độ công hữu.
Phải dựa trên chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu là một trong những yếu tố đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế.
- Thứ tư: có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc
+ Nhân dân ta đang xây dựng thể hiện khái quát, nhân văn của văn hóa nhân loại; ở việc giữ gìn bản sắc dân tộc (những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam: chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, truyền thống đoàn kết và nhân ái, ý thức về độc lập, tự do, tự cường dân tộc...).
+ Xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, mang đậm bản sắc dân tộc đòi hỏi vừa phải tiếp thu những giá trị của tinh hoa văn hóa nhân loại, vừa phải kế thừa, phát triển bản sắc văn hóa của các tộc người Việt Nam, xây dựng một nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng.
- Thứ năm: con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.
Không chỉ được thể hiện trong đặc trưng tổng quát dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mà còn được thể hiện qua đặc trưng về con người trong xã hội xã hội chủ nghĩa.
Về phương diện con người, chủ nghĩa xã hội đồng nghĩa với chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo: tất cả vì con người, cho con người và phát triển con người toàn diện.
- Đặc trưng thứ sáu: các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển.
+ Chính sách dân tộc, giải quyết đúng các quan hệ dân tộc (theo nghĩa hẹp là quan hệ giữa các tộc người) trong quốc gia đa dân tộc Việt Nam.
+ Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, chứng minh tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội trong giải quyết các quan hệ dân tộc ở Việt Nam.
- Đặc trưng thứ bảy: có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo.
+ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
+ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang hướng tới xây dựng.
- Đặc trưng thứ tám: có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
+ Không chỉ xây dựng mô hình Nhà nước trong các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội mà còn thể hiện trong quan hệ đối ngoại, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.
+ Việt Nam luôn luôn khẳng định quan hệ hữu nghị và hợp tác giữ nhân dân ta và nhân dân các nước trên thế giới.
Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế...
+ Việc chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, tham gia tích cực vào các tổ chức, diễn đàn quốc tế và khu vực đã chứng minh một cách sinh động tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng, thể hiện trong đặc trưng về quan hệ đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta…
Câu 6: Trình bày quan điểm của Hồ Chí Minh về đặc điểm, nhiệm vụ của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
* Đặc điểm của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
- Đặc điểm của thời kỳ quả đó Đặc điểm lớn nhất của thời kỳ quả độ ở Việt Nam là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thắng lên chủ nghĩa xã hội, không trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.
+ Bước vào thời kì quá độ, Việt Nam cũng có những đặc điểm giống như đặc điểm của các nước khác khi bước vào thời này như sự tổn tại đan xen giữa các yêu tố của xã hội cũ bên cạnh những yêu tố của xã hội mới trên tất cả các linh vực của đời sống, là giai đoạn đầu, khi các yếu tố của xa hội cũ còn cụm lại thành một thê lực thì có khi nó cón chiến thắng những yếu tổ của xã hội mới vừa xuất hiện, …
+ Song, từ thực tế của xã hội Việt Nam, Hồ Chí Minh nhận thấy "đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai doạn phát triển tư bản chủ nghĩa" Cùng với những đặc điểm khác và mục tiểu của chủ nghĩa xã hội, đặc điểm này quy định nhiệm vụ của dân tộc ta trong thời kỳ quá độ.
* Nhiệm vụ của thời kỳ quá độ.
- Đấu tranh cải tạo, xóa bỏ tàn tích của chế độ xã hội củ, xây dựng các yếu tổ mới phủ hợp với quy luật tiến lên chủ nghĩa xã hội trên tất cá các lĩnh vực của đời sống, trong đó.
+ Về chính trị, phải xây dụng được chế độ dân chủ vì đây là bản chất của chủ nghĩa xã hội Muốn xây dựng được chế độ này, theo Hồ Chí Minh, phải chống tất cả các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, trước hết ở trong Đảng, trong bộ máy chính quyền từ cấp cơ sở đến Trung ương đồng thời phải bồi dưỡng, giáo dục để nhân dân có tri thức, có năng lực làm chù chế độ xã hội.
+ Về kinh tế, trong bối cảnh nền kinh tế nước ta còn nghèo nàn, kỹ thuật lạc hậu, Hồ Chí Minh xác dịnh nhiệm vụ quan trọng nhất của thời kỳ quả độ là phải cải tạo nền kinh tế cũ, xây dựng nền kinh tế mới có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại.
Đây là quá trình xây dựng nền tàng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.
Giữa cải tạo và xây dựng thì xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài và phải luôn gần với việc thực hiện đầy đủ quyển làm chủ của nhân dân.
+ Về văn hóa, phải triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của văn hóa đế quốc; đồng thời, phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc và hấp thụ những cải mới của văn hóa tiến bộ trên thế giới để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng.
+ Về các quan hệ xã hội, phải thay đổi triệt để những quan hệ cũ đã trở thành thói quen trong lối sống, nếp sống của con người, xây dựng được một xã hội dân chú, công bằng, văn minh, tôn trọng con người, chú ý xem xét những lợi ích cá nhân đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn để mỗi người có điều kiện cải thiện đời sống riêng của mình trong sự hài hòa với đời sống chung, với lợi ích chung của tập thể.
Câu 7.
Trình bày nội dung luận điểm “Cách mạng giải phóng dân tộc dựa trên lực lượng đại đoàn kết toàn dân, lấy liên minh công – nông làm nền tảng” trong tư tưởng HCM về cách mạng giải phóng dân tộc.
• Cách mạng giải phóng dân tộc phải dựa trên lực lượng đại đoàn kết toàn dân, lấy liên minh công nông làm nền tảng.
* Nội dung
- Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng bị áp bức.
- Lực lượng CMGPDT là lực lượng cách mạng toàn dân
+ “Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại”
+ “Không dùng toàn lực của nhân dân về đủ mọi mặt để ứng phó, không thể nào thắng được”
+ “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc.
Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp cứu Tổ quốc.”
+ “Công nông là người chủ cách mệnh... công nông là gốc cách mệnh”
- Đảng phải có đường lối đúng đắn tập hợp mọi giai tầng trong xã hội trong CMGPDT.
+ Đối tượng: đế quốc xâm lược và phong kiến tay sai.
+ Mục tiêu: giành độc lập dân tộc và dân chủ cho nhân dân
+ Chủ trương: tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân
+ Nguyên tắc: đứng trên lập trường giai cấp công nhân để thực hiện nhiệm vụ cách mạng
- Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo ra lịch sử, lênin viết “không có sự đồng tình ủng hộ của đại đa số nhân dân lao động đối với đội tiền phong của mình tức là đối với giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được”
+ Một là: kế thừa tư tưởng các nhà lí luận, HCM quan niệm rằng: có dân là có tất cả, trên đời không có gì quý bằng dân, được lòng dân thì được tất cả, mất lòng dân thì mất tất cả.
Người khẳng định “cách mệnh là việc của cả dân chúng chứ không phải việc của 2 người”.
Người lý giải rằng dân tộc cách mệnh thì chưa phân chia giai cấp, nghĩa là sĩ, nông, công, thương đều nhất trí chống lại cường quyền.
Vậy nên phải tập hợp lại thì mới thành công.
+ Hai là, HCM xác định lực lượng cách mạng là toàn dân: đảng phải thu phục đại bộ phận giai cấp công nhân, tập hợp đại bộ phận dân cày nghèo khổ làm thổ địa cách mạng.
Liên lạc với tiểu tư sản, trung nông, trí thức, ...
để lôi kéo về phía vô sản giai cấp, ...
+ Ba là, khi thực dân xâm lược, HCM thiết tha kêu gọi mọi người không phân biệt giai cấp, tầng, dân tộc, tôn giáo, đảng phái, đoàn kết đấu tranh chống kẻ thù chung của dân tộc.
Trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (12-1946) HCM viết “bất kì đàn ông, đàn bà, bất kì người già, người trẻ, không phân chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, hễ là người việt nam thì phải đứng lên đánh thực dân pháp cứu tổ quốc.
+ Bốn là, HCM xác định lực lượng cách mạng là toàn dân, người lưu ý rằng: không được quên công nông là chủ cách mệnh... là gốc cách mệnh.
Người giải thích: giai cấp công nhân và công nông là hai giai câos đông đảo nhất và mạnh nhất, bị bóc lột nhiều nhất, vì thế mà họ có” lòng cách mệnh càng bền, chí cách mệnh càng quyết, ...công nông là tay không chân rồi, nếu thua thì chỉ mất một cái kiếp khổ, nếu được thì được cả thế giới, cho nên họ gan góc, ...