Khác Tư Tưởng Hồ Chí Minh

Tư Tưởng Hồ Chí Minh
Nêu những quan điểm của Hồ Chí Minh về Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam? (2)


1.

Xây dựng nhà nước thể hiện quyền làm chủ của nhân dân lao động

2.

Quan điểm về sự thống nhất giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân và tính dân tộc của nhà nước

3.

Xây dựng nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ

4.

Quan điểm về xây dựng nhà nước trong sạch, hoạt động có hiệu quả

*Phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ?

Nhà nước pháp quyền theo tư tưởng HCM trước hết phải là nhà nước hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật.

Ở đó quyền làm chủ của nhân dân phải được thể chế hóa thành Hiến pháp và Pháp luật.

a.

Xây dựng một nhà nước hợp pháp, hợp hiến.

- Nhà nước hợp pháp:

Sau khi giành được chính quyền trong cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt chính phủ lâm thời đọc bản tuyên ngôn độc lập, tuyên bố với quốc dân đồng bào với thế giới về sự khai sinh của Nhà nước Việt Nam mới, qua đó biểu dương lực lượng và ý chí của toàn thể dân tộc Việt Nam quyết tâm giữ vững quyền tự do, độc lập của mình.

Nhờ đó chính phủ cách mạng lâm thời của nhân dân lập nên có địa vị hợp pháp.

- Nhà nước hợp hiến:

Mặc dù khó khăn dồn dập do thù trong giặc ngoài gây ra, cuộc tổng tuyển cử trong cả nước đã tiến hành chỉ bốn tháng sau ngày độc lập.

Đây là cuộc bầu cử phổ thông đầu phiếu được tổ chức nhanh nhất, diễn ra sớm nhất, một kỷ lục chưa quốc gia nào đạt được kể từ sau khi lật đổ ách thống trị thực dân lên cầm quyền.

Đây là chính phủ hợp hiến đầu tiên do đại biểu của nhân dân bầu ra, có đầy đủ tư cách và hiệu lực trong việc giải quyết mọi vấn đề nội trị và ngoại giao của Nhà nước Việt Nam mới.

b.

Hoạt động quản lý nhà nước bằng Hiến pháp, pháp luật và chú trọng đưa pháp luật vào cuộc sống:

Nhà nước pháp quyền theo tư tưởng HCM phải là Nhà nước quản lý, điều hành xã hội bằng pháp luật và phải làm cho pháp luật có hiệu lực trong thực tế.

Trong một nhà nước dân chủ, giữa dân chủ và pháp luật phải luôn đi đôi với nhau, nương tựa vào nhau thì mới bảo đảm cho chính quyền được mạnh mẽ.

Không thể có dân chủ ngoài pháp luật, pháp luật là bà đỡ cho dân chủ.

Xây dựng nền pháp chế XHCN bảo đảm được việc thực hiện quyền lực của nhân dân là mối quan tâm suốt đời của chủ tịch HCM.

- HCM khẳng định Nhà nước Việt Nam DCCH không thể thiếu pháp luật.

Mọi quan hệ xã hội, mọi lĩnh vực của đời sống đều chịu sự chi phối của phát luật.

Pháp luật là cơ sở bảo đảm thực hiện các quyền tự do dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân.

Do vậy Hồ Chí Minh luôn đòi hỏi mọi người phải thực sự hiểu và tuân theo pháp luật, bất kể họ là ai.

Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Pháp luật của ta là pháp luật dân chủ; mọi công dân của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa đều bình đẳng trước pháp luật cả về quyền lợi và nghĩa vụ, ai vi phạm điều phải xử lý nghiêm khắc, cho dù người đó ở vị trí nào trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước.

Luật pháp là cần thiết, là quan trọng cho mọi quốc gia.

Khi không có luật pháp thì dễ đẩy xã hội đến chỗ hỗn loạn, vô chính phủ.

Khi luật được ban hành, Nhà nước phải tổ chức triển khai phổ biến cho toàn dân học tập để mọi người dân hiểu và thực hiện.

Đây là nhiệm vụ không kém phần khó khăn nhằm đưa luật vào cuộc sống.

- Hồ Chí Minh thường xuyên chăm lo đưa pháp luật vào đời sống:

+ Pháp luật phải đúng và đủ:

Đúng là phải bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân; Đủ là phải đồng bộ, bao quát được trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

+ Tạo ra chơ chế bảo đảm cho pháp luật được thi hành triệt để.

Người chú trọng việc tạo ra cơ chế kiểm tra, giám sát việc thi hành đó trong các cơ quan Nhà nước và trong nhân dân.

+ Bảo đảm sự công tâm, nghiêm minh trong quá trình thực thi pháp luật.

Trong quá trình thực thi pháp luật, Hồ Chí Minh yêu cầu đội ngũ cán bộ trong ngành tư pháp và hành pháp phải đảm bảo tính khách quan, công bằng bình đẳng.

Pháp luật phải bảo vệ quyền lợi của mọi công dân, đồng thời cho mọi người cùng phải có trách nhiệm thực hiện nghiêm luật pháp.

+ Phát huy vai trò của ND trong phê bình, giám sát công việc của Chính phủ.

Chủ tịch HCM luôn luôn nêu gương trong việc khuyến khích nhân dân phê bình, giám sát công việc của Chính phủ và yêu cầu các ngành các cấp và cán bộ gương mẫu trong việc tuân thủ pháp luật.

Người là tấm gương mẫu mực, luôn chấp hành nghiêm pháp luật, không cho phép bất cứ ai dù các nhân hay tổ chức Nhà nước đứng ngoài pháp luật.

Người rất coi trọng việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng ý thức làm chủ, phát triển văn hóa chính trị và tính tích cực công dân, khuyến khích nhân dân tham gia vào các công việc của Nhà nước, khắc phục mọi thứ dân chủ hình thức.
 
Tư Tưởng Hồ Chí Minh
Nêu những quan điểm của Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam (1)


1 Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định đưa cách mạng Việt Nam tới thắng lợi

2.

Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Lênin "làm cốt"

3.

Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước

4.

Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam

5.

Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc đảng kiểu mới của giai cấp vô sản(

6.

Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, phải thường xuyên chăm lo củng cố mối quan hệ máu thịt với nhân dân

7.

Đảng phải thường xuyên đổi mới và tự chỉnh đốn

Phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về quy luật ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam?

Nhắc lại quy luật ra đời của các ĐCS trên thế giới theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lenin: Đảng cộng sản là sản phẩm của sự kết hợp giữa Chủ nghĩa Mác - Lenin và phong trào công nhân.

- Nêu lên quy luật ra đời của Đảng cộng sản VN theo quan điểm của HCM:

ĐCSVN = Chủ nghĩa Mác - Lenin + Phong trào công nhân + Phong trào yêu nước VN

1.Chủ nghĩa Mác-Lênin :

- Những tư tưởng về cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa đã thức tỉnh những người Việt Nam hướng theo con đường cách mạng đúng đắn đó là con đường cách mạng vô sản;

- Đảng cộng sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng chủ nghĩa xã hội xác định đúng vấn đề động lực cách mạng liên minh giai cấp vị trí of cách mạng thuộc địa.

=> Đó là cơ sở lí luận cho cương lĩnh cách mạng của Đảng sau này.

Nhờ có chủ nghĩa Mác-Lênin mà phong trào công nhân đã chuyển từ "tự phát" sang "tự giác".

2.

Phong trào công nhân

- Từ đầu thế kỉ XX, cùng với sự phát triển của phong trào dân tộc trên lập trường tư sản, phong trào công nhân chống lại sự áp bức, bóc lột của tư sản, thực dân cũng diễn ra từ rất sớm.

- Trước Chiến tranh thế giới thứ nhất phong trào công nhân chưa trở thành lực lượng riêng biệt còn hoà lẫn với phong trào yêu nước.

Sự phát triển của phong trào công nhân trong nước đã khẳng định sự lớn lên trong nhận thức tư tưởng của GCCN về cách mạng giải phóng dân tộc VN.

Như vậy phong trào công nhân ngày 1 trưởng thành là 1 trong những điều kiện tất yếu dẫn tới sự ra đời của Đảng Cộng sản VN.

3.

Phong trào yêu nước

- Việt Nam là một quốc gia dân tộc được hình thành từ rất sớm, có nền văn hiến lâu đời, trong đó yêu nước là truyền thống quý báu và đặc sắc, là dòng chủ lưu xuyên suốt lịch sử dân tộc VN.

- Ngay từ khi TDP đặt chân lên đất nước ta (1858), ND cả nước đã vùng lên chống TDP xâm lược

- Các phong trào yêu nước từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là sự nối tiếp truyền thống yêu nước, bất khuất của dân tộc ta được hun đúc qua hàng ngàn năm lịch sử (Ví dụ một số phong trào)

* Phân tích yếu tố riêng biệt trong quy luật ra đời của ĐCSVN

- Phong trào yêu nước có vị trí, vai trò cực kỳ to lớn trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc:

+ Chủ nghĩa yêu nước là giá trị tinh thần trường tồn trong lịch sử dân tộc và là nhân tố chủ đạo quyết định sự nghiệp chống ngoại xâm của nước ta.

+ Phong trào yêu nước có trước phong trào công nhân

- Phong trào công nhân và phong trào yêu nước có mối liên hệ chặt chẽ.

Hầu hết công nhân đều xuất thân từ nông dân.

Có chung kẻ thù: Bọn thực dân Pháp và phong kiến tay sai

- Phong trào yêu nước có tác động đến việc truyền bá Chủ nghĩa Mac-lenin và sự phát triển của phong trào công nhân: Bản thân Nguyễn Ái Quốc cũng xuất phát từ tinh thần yêu nước đi tìm con đường cứu nước mới cho dân tộc, Người đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác-Lênin

Năm 1930 ở VN có 3 yếu tố : chủ nghĩa Mác-Lênin, phong trào công nhân, phong trào yêu nước đã được kết hợp chặt chẽ với nhau.

Sự kết hợp chặt chẽ và nhuần nhuyễn đó đã đặt ra yêu cầu và tạo điều kiện thuận lợi để Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời.

Là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin, phong trào công nhân, phong trào yêu nước đã giúp Đảng ta ngay từ khi mới ra đời phát huy được truyền thống yêu nước, đoàn kết được các lực lượng cách mạng và nhờ đó giữ được quyền lãnh đạo cách mạng.
 
Tư Tưởng Hồ Chí Minh
Nêu những quan điểm của Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam (2)


1 Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định đưa cách mạng Việt Nam tới thắng lợi

2.

Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Lênin "làm cốt"

3.

Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước

4.

Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam

5.

Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc đảng kiểu mới của giai cấp vô sản(

6.

Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, phải thường xuyên chăm lo củng cố mối quan hệ máu thịt với nhân dân

7.

Đảng phải thường xuyên đổi mới và tự chỉnh đốn

*Phân tích quan điểm: Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin đều khẳng định: ĐCS là Đảng của GCVS, đấu tranh cho lợi ích của GCVS nước mình và GCVS thế giới; Đảng gồm những phần tử tiên tiến nhất trong GCVS, nó là đội tiền phong, bộ tham mưu của GCVS.

Như vậy, đảng bao giờ cũng là đảng của một giai cấp, mang bản chất của một giai cấp nhất định.

Vì vậy, xác định đúng bản chất giai cấp của đảng là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.

Vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện thực tiễn Việt Nam, để trả lời câu hỏi Đảng ta là đảng của ai?

Hồ Chí Minh cho rằng: Đảng CSVN là Đảng của GCCN, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, vì:

- Về bản chất: Đảng CSVN là Đảng của GCCN, mang bản chất GCCN.

Trong Sách lược vắn tắt, Người viết: "Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp", trong Chương trình vắn tắt, Người viết "Đảng là đội tiên phong của đạo quân vô sản", trong Điều lệ vắn tắt, Người viết "Đảng CSVN tổ chức ra để lãnh đạo quần chúng lao khổ làm giai cấp tranh đấu để tiêu trừ tư bản ĐQCN, làm cho thực hiện xã hội cộng sản".

Khi xem xét bản chất giai cấp của một chính đảng phải căn cứ vào nền tảng tư tưởng, tôn chỉ, mục đích, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của đảng đó, chứ không phải xem đảng đó mang tên gì? thành phần xuất thân của đảng viên từ đâu?

Yếu tố quyết định bản chất GCCN của Đảng không phải chỉ ở số lượng đảng viên xuất thân từ công nhân, mà cơ bản là ở nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin; ở mục tiêu, đường lối của Đảng thực sự vì độc lập dân tộc và CNXH, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người; ở vấn đề Đảng nghiêm túc tuân thủ những nguyên tắc của Đảng kiểu mới của GCCN.

Trước sau như một, dù là mang tên Đảng CSVN; Đảng Cộng sản Đông Dương; Đảng Lao động Việt Nam, thì theo Hồ Chí Minh, Đảng ta vẫn mang bản chất GCCN.

Bởi vì tôn chỉ, mục đích, nền tảng tư tưởng, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng ta mà Hồ Chí Minh chỉ ra đều luôn tuân thủ nghiêm túc các nguyên tắc về xây dựng đảng của chủ nghĩa Mác-Lênin.

- Về tính nhân dân và dân tộc của Đảng: Bên cạnh bản chất GCCN, Đảng ta còn mang tính nhân dân và dân tộc sâu sắc vì nó đại biểu cho cả lợi ích của nhân dân lao động và của dân tộc.

Đảng đó không chỉ đại biểu, đại diện, chiến đấu vì lợi ích của GCCN mà còn của nhân dân lao động và của cả dân tộc.

Đảng CSVN luôn đặt lợi ích của GCCN, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam lên trên hết.

Đảng CSVN ra đời không phải vì lợi ích của một nhóm người mà trước hết là để cứu lấy con Lạc, cháu Hồng và toàn thể quốc dân Việt Nam.

"Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài.

Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng".

Vì vậy, Đảng ta là đảng của dân tộc Việt Nam.

Việc khẳng định như vậy không hề xoá nhoà bản chất giai cấp của Đảng như một số người lầm tưởng mà trái lại chứng tỏ Hồ Chí Minh vừa quán triệt sâu sắc những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về bản chất giai cấp của Đảng, về vai trò sứ mệnh lịch sử của GCCN, đồng thời Người hiểu rất sâu sắc truyền thống dân tộc, thực tiễn CMVN.

Quán triệt sâu sắc quan điểm đúng đắn của Hồ Chí Minh về Đảng CSVN trong quá trình xây dựng và hoạt động đã gắn bó máu thịt với GCCN, nhân dân lao động và cả dân tộc Việt Nam trong mọi thời kỳ của CMVN.

Vì vậy, tuyệt đại đa số những người dân Việt Nam, dù là đảng viên hay không phải là đảng viên, dù thuộc giai tầng nào trong xã hội, mọi người đều cảm thấy Đảng CSVN là Đảng của Bác Hồ, Đảng của mình, Đảng của chúng ta, tự hào với những thắng lợi, thành công của cách mạng do Đảng lãnh đạo.

Đồng thời tự mỗi người cũng nhận thấy mình phải có trách nhiệm trong việc xây dựng và bảo vệ Đảng, băn khoăn, lo lắng, trăn trở trước những thiếu sót, khuyết điểm của Đảng.

=> Ý nghĩa đối với công tác xây dựng Đảng:

Do mang trong mình bản chất GCCN, nhưng Đảng lại đại biểu cho lợi ích của cả nhân dân lao động và dân tộc nên trong công tác xây dựng Đảng cần phải chỉ ra cho nhân dân thấy Đảng chính là người đại diện và bảo vệ quyền lợi chính trị cho họ, từ đó có trách nhiệm bảo vệ và xây dựng Đảng TSVM để đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng.

Bản chất GCCN của Đảng không thay đổi, song bên cạnh đó do mang tính nhân dân và dân tộc sâu sắc vì có sơ sở xã hội rất rộng lớn trong nhân dân (đảng viên của Đảng xuất thân từ nhiều giai cấp, tầng lớp khác nhau) nên trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định bản chất của giai cấp, tầng lớp cũ rất có thể sẽ trỗi dậy lấn át, thậm chí đánh mất bản chất GCCN của Đảng nhất là ở những thời điểm cách mạng gặp phải khó khăn trắc trở, hoặc giành được thắng lợi vĩ đại, hay cá nhân đạt được những thành tích, công trạng lớn...

Chính vì vậy trong công tác XDĐ cần phải chú trọng giáo dục, rèn luyện, thử thách đối với những quần chúng ưu tú xuất thân ngoài GCCN trước khi kết nạp vào Đảng để họ tự giác từ bỏ bản chất giai cấp cũ của mình, tuyệt đối tin và đi theo lý tưởng cách mạng của Đảng.

Đồng thời cũng phải thường xuyên giáo dục và rèn luyện đội ngũ đảng viên của Đảng để bản chất GCCN trong họ luôn được giữ vững, và ngày càng được củng cố, nâng cao.
 
Tư Tưởng Hồ Chí Minh
Nêu những quan điểm của Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam (3)


1 Đảng Cộng sản là nhân tố quyết định đưa cách mạng Việt Nam tới thắng lợi

2.

Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Lênin "làm cốt"

3.

Đảng Cộng sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước

4.

Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam

5.

Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức theo nguyên tắc đảng kiểu mới của giai cấp vô sản(

6.

Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, phải thường xuyên chăm lo củng cố mối quan hệ máu thịt với nhân dân

7.

Đảng phải thường xuyên đổi mới và tự chỉnh đốn

* Phân tích quan điểm: Đảng Cộng sản Việt Nam phải lấy chủ nghĩa Mác- Lênin "làm cốt"?

* Đây là luận điểm quan trọng nhất quyết định bản chất giai cấp công nhân; là nguyên lý cơ bản trong học thuyết Mác- Lênin về ĐCS.

Các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác đã chỉ rõ vai trò của lý luận được ví như kim chỉ nam, như ngọn đuốc soi đường cho bất kỳ một sự nghiệp cách mạng nào.

Sự nghiệp cách mạng mà không có vũ khí tư tưởng, lý luận định hướng, soi đường thì sẽ giống như con tàu lênh đênh trên đại dương mà không có la bàn, như người đi đêm, không đèn, không đuốc.

Ngay đối với phong trào công nhân châu Âu và công nhân Nga cũng phải trải qua thời kỳ "đồng côpếch đầm lầy"- tức là thời kỳ đấu tranh tự phát, thuần túy kinh tế, nó chỉ trở thành giai cấp "cho mình" khi tiếp thu được lý luận Mác- Lênin, đến với mục tiêu, lý tưởng của CNXH khoa học, xây dựng chính đảng của giai cấp vô sản theo đúng những nguyên tắc về chính trị, tư tưởng và tổ chức của Lênin để trở thành đảng kiểu mới.

Theo Lênin, tự bản thân GCCN không thể có ý thức xã hội dân chủ được, nhiều lắm chỉ có được ý thức công liên chủ nghĩa mà thôi.

Lúc đầu phong trào công nhân và ý thức XHCN tồn tại độc lập với nhau, GCCN là sản phẩm của chế độ kinh tế TBCN còn CNXH khoa học lại là sản phẩm của sự nghiên cứu và phát minh khoa học.

Chỉ khi hai yếu tố này xâm nhập vào nhau mới có thể tạo sự vững chắc cho cả hai.

* Hồ Chí Minh nhận thức đúng vai trò to lớn của lý luận cách mạng đối với đảng cách mạng nên Người khẳng định phải lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm "cốt".

Ngay ở trang đầu tiên của tác phẩm "Đường cách mệnh" (1927), Nguyễn Ái Quốc đã nhắc lại lời chỉ dẫn của Lênin rằng: "Không có lý luận cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động.

Chỉ có theo lý luận cách mệnh tiền phong, đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiền phong".

Người cũng chỉ rõ: "Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy", nếu Đảng không có chủ nghĩa sẽ như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam.

- Lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm "cốt", có nghĩa là lấy đó làm:

+ Cơ sở, nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng;

+ Cơ sở để Đảng định ra cương lĩnh, đường lối, chiến lược, sách lược và mục tiêu của cách mạng;

+ Cơ sở của sự đoàn kết thống nhất về tư tưởng và hành động trong Đảng.

- Vì sao phải lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm "cốt"?

Vì xuất phát từ tính đúng đắn, tính cách mạng và tính khoa học của lý luận Mác-Lênin luôn là điều kiện tiên quyết làm nên thắng lợi của cách mạng.

+ Hồ Chí Minh phủ định các học thuyết tư sản, cải lương: Vì là những học thuyết không chắc chắn, không đến nơi, không triệt để giải phóng người lao động "tiếng là cộng hòa dân chủ, kỳ thực trong thì chúng tước lục công nông, ngoài thì tăng cường áp bức thuộc địa...".

+ Hồ Chí Minh khẳng định lý luận của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin: "Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mạng nhất là chủ nghĩa Lênin" và "Phải theo chủ nghĩa Mã Khắc Tư và Lênin".

Nhờ lý luận ấy, Hồ Chí Minh đã tìm thấy con đường cứu nước, đã xây dựng Đảng CSVN và trang bị cho Đảng vũ khí tinh thần để Đảng làm tròn vai trò tiên phong, vai trò lãnh đạo cách mạng.

Người đã ví chủ nghĩa Mác-Lênin như "trí khôn" của Đảng, như bàn chỉ nam định hướng cho con thuyền cách mạng vượt qua mọi sóng gió, thác ghềnh.

Chủ nghĩa Mác-Lênin là "mặt trời soi sáng" cho con đường cách mạng Việt Nam, là "cẩm nang thần kỳ" để giải quyết thành công mọi công việc.

Viết về vai trò của chủ nghĩa Mác-Lênin đối với Đảng ta, Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Là lực lượng tư tưởng hùng mạnh chỉ đạo Đảng chúng tôi, làm cho Đảng chúng tôi có thể trở thành hình thức tổ chức cao nhất của quần chúng lao động, hiện thân của trí tuệ, danh dự và lương tâm của dân tộc chúng tôi".

- Yêu cầu khi học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin:

Lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm cốt không có nghĩa là vận dụng nó một cách máy móc, dập khuôn mà Người đặt ra yêu cầu là phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin để vận dụng vào thực tiễn, Người viết: "Chủ nghĩa Mác-Lênin là kim chỉ nam cho hành động, chứ không phải là kinh thánh", do vậy: "Học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập cái chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta.

Học để mà làm".

Việc tổ chức học tập nâng cao trình độ lý luận cho đảng viên phải phù hợp với hoàn cảnh, đối tượng cụ thể.

Học tập, tiếp thu những kinh nghiệm của các ĐCS khác trên thế giới, kế thừa phát triển các giá trị truyền thống của dân tộc, tinh hoa văn hoá nhân loại, đồng thời còn chú ý tổng kết thực tiễn cách mạng Việt Nam để bổ sung, làm phong phú thêm kho tàng lý luận Mác-Lênin.

Bên cạnh đó Người cũng phê phán, lên án những biểu hiện: "Học thuộc lòng, khi gặp thực tế thì máy móc, lúng túng.

Nói và làm không thống nhất...

Học để trang sức, chứ không phải để vận dụng vào thực tiễn".

Mác, Ăngghen, Lênin không để cho chúng ta lời giải đáp sẵn cho mọi vấn đề của chúng ta hôm nay, nhưng đã để lại cho chúng ta phép biện chứng duy vật, đặc biệt là quan điểm thực tiễn.

Vì vậy, không thể giải quyết những vấn đề nóng hổi của ngày hôm nay "bằng những kinh nghiệm của ngày hôm qua", phải không ngừng tổng kết thực tiễn, bổ sung và phát triển lý luận, để tăng cường sức sống cho chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện mới.

Tóm lại: Quá trình CMVN từ khi có Đảng, nhất là 20 năm đổi mới càng chứng tỏ vị trí, vai trò nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống chính trị, tinh thần của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta: không một đường lối chính sách nào của Đảng, Nhà nước, cách mạng nước ta lại không bắt nguồn từ sự phát sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ngay từ Đại hội Đảng VII, đã khẳng định: "chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng".

Điều đó tiếp tục được Đảng ta khẳng định trong Văn kiện Đại hội IX: "Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường XHCN trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh".

Đó là sự khẳng định nhân tố hàng đầu đảm bảo tính tiền phong, tính cách mạng và khoa học của Đảng CSVN.
 
Tư Tưởng Hồ Chí Minh
Phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò, vị trí của đạo đức cách mạng?


Khái quát chung về đạo đức:

- Khái niệm đạo đức:

Đạo đức, hiểu một cách tổng quát là toàn bộ những chuẩn mực, quy tắc, quan niệm về các giá trị thiện, ác, lương tâm, trách nhiệm, danh dự, hạnh phúc, công bằng...

được xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ giữa con người với nhau và giữa con người với xã hội.

- Đạo đức là yếu tố cơ bản của nhân cách tạo nên giá trị con người:

Xuất phát từ bản chất, con người luôn có khát vọng vươn tới chân, thiện, mỹ nhằm hoàn thiện bản thân.

Để vươn tới sự hoàn thiện đó, trước hết con người phải tự tu dưỡng hoàn thiện mình về đạo đức.

Do vậy đạo đức là yếu tố cơ bản của nhân cách tạo nên giá trị con người.

- Đạo đức vừa là mục tiêu, vừa là động lực của SNCM:

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, nó góp phần điều chỉnh hành vi của con người một cách tự giác thông qua các chuẩn mực nhất định.

Đạo đức là một trong những vấn đề được HCM quan tâm hàng đầu trong sự nghiệp CMVN, người coi nó vừa là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng, vừa là động lực đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi.

* Quan niệm của HCM về vị trí, vai trò của ĐĐCM.

- Đạo đức là gốc, là nền tảng của người cách mạng:

+ Đối với mỗi người cách mạng:

HCM luôn quan niệm rằng đạo đức là gốc, là nền tảng, là cội nguồn sức mạnh của người cách mạng.

Người ví đạo đức như gốc của cây, như ngọn nguồn của sông, của suối.

Người cách mạng phải có ĐĐCM làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Người viết: "Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn.

Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo.

Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân"

HCM coi đạo đức là nền tảng của người cách mạng, cũng giống như gốc của cây, ngọn nguồn của sông, của suối.

Như Người vẫn thường nói: Đối với con người, sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa; người cách mạng phải có ĐĐCM mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng.

Bởi lẽ, sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp rất to lớn, khó khăn và nặng nề; con đường đi đến độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là con đường dài, không phải là một đại lộ thẳng tắp.

Nó đòi hỏi sự phấn đấu không ngừng của mỗi người, mỗi thế hệ, hơn nữa còn của nhiều thế hệ nối tiếp nhau.

Chăm lo cái gốc, cái nguồn, cái nền tảng ấy phải là công việc thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, của mỗi gia đình và mỗi người trong xã hội ta.

Có phải như vậy là HCM theo thuyết CNXH đạo đức?

Hoàn toàn không phải như vậy.

Người không bao giờ đặt hy vọng vào "lòng tốt" của bọn thực dân phong kiến cũng như của các giai cấp bóc lột để kêu gọi lòng thương cảm và sự ban ơn.

Người cũng không bao giờ nghĩ rằng chỉ cần mọi người tu nhân tích đức là đất nước sẽ độc lập, dân tộc sẽ được tự do hạnh phúc.

Phải bằng cuộc đấu tranh kiên cường bất khuất của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, mới đi tới được mục tiêu đó.

Đạo đức là một vũ khí sắc bén phục vụ cho cuộc đấu tranh đó đúng như quan điểm của Lênin: "Chúng ta nói rằng: đạo đức đó là những gì góp phần phá huỷ xã hội cũ của bọn bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô sản đang sáng tạo ra xã hội mới của những người cộng sản".

Vậy vì sao Người xác định đạo đức là gốc của người cách mạng?

> Đạo đức có sức mạnh trong việc cải tạo xã hội, con người.

> Sự suy thoái đạo đức của một bộ phận cán bộ đảng viên là nguy cơ lớn của Đảng cầm quyền, liên quan trực tiếp đến vận mệnh của dân tộc.

> Đạo đức là nguồn nuôi dưỡng, là thước đo lòng cao thượng của con người, ai giữ được đạo đức các mạng đề là người cao thượng.

> Đạo đức góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn bóc lột, góp phần xây dựng xã hội mới tốt đẹp hơn.

+ Đối với sự nghiệp cách mạng

Đạo đức cách mạng là vũ khí sắc bén để phục vụ cuộc đấu tranh cách mạng, có vai trò hết sức quan trọng liên quan trực tiếp tới sự thành bại của cách mạng.

Điều này được HCM luận giải trong 3 mối quan hệ gốc rễ:

> Cái gốc của cách mạng là quần chúng nhân dân;

> Cái gốc của công việc là cán bộ;

> Cái gốc của cán bộ là đạo đức: "Mọi việc thành công hay thất bại, chủ yếu là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng hay không"

+ Đối với đảng:

Theo quan điểm của HCM, Đảng phải "là đạo đức, là văn minh" thì mới hoàn thành được sử mệnh lịch sử vẻ vang của mình.

Người cũng thường nhắc lại ý của Lênin: Đảng Cộng sản phải tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc mình và của thời đại.

Nếu xét đến cùng thì văn minh tức là trí tuệ, trong đó chủ yếu là sự hiểu biết đúng đắn về chủ nghĩa Mác-Lênin, những tri thức hiện đại của nhân loại, thực tiễn Việt Nam và thế giới, những quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, những hiểu biết để đưa sự nghiệp cách mạng đến thắng lợi.

Còn đạo đức chính là những phẩm chất đòi hỏi con người cần phải có để tham gia vào cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, để cống hiến được nhiều nhất cho cuộc đấu tranh đó.

Đạo đức là gốc, là nguồn, là nền tảng, bởi vì muốn làm cách mạng thì trước hết con người phải có cái tâm trong sáng, cái đức cao đẹp đối với giai cấp công nhân, nhân dân lao động, với cả dân tộc mình.

Cái tâm, cái đức ấy lại phải thể hiện trong các mối quan hệ xã hội hàng ngày với dân, với nước, với đồng chí, đồng nghiệp, với mọi người chung quanh mình.

Phải có tâm, có đức mới giữ vững được chủ nghĩa Mác-Lênin và đưa được chủ nghĩa Mác-Lênin vào cuộc sống.

Con đường HCM đi đến chủ nghĩa Mác-Lênin, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin là một minh chứng rất rõ về điều đó.

Mỗi cán bộ đảng viên phải thấm nhuần đạo đức cách mạng, xứng đáng là người lãnh đạo và là người đầy tớ trung thành của nhân dân.

Quần chúng nhìn vào Đảng, tin theo Đảng, đi theo Đảng trước hết là ở đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng.

Người nhắc nhở: "Trước mặt quần chúng không phải ta cứ viết lên trán hai chữ Cộng Sản mà được họ yêu mến.

Quần chúng chỉ quý những người có tư cách đạo đức".

- Đạo đức là cội nguồn sức mạnh của người cách mạng:

Người quan niệm đạo đức tạo ra sức mạnh, nhân tố quyết định thắng lợi của mọi việc: "Công việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hay kém".

+ Đạo đức tạo điều kiện cho mỗi người trưởng thành và phát triển.

Cùng với việc giáo dục nâng cao trình độ hiểu biết của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, HCM đã thường xuyên quan tâm đến việc giáo dục đạo đức cho mọi người.

Tuỳ theo từng thời kỳ cách mạng, Người đề ra những yêu cầu đạo đức sát hợp để mọi người phấn đấu rèn luyện nhằm hoàn thành nhiệm vụ ngày càng nặng nề, khó khăn, phức tạp hơn, từ đó mà giành thắng lợi càng to

Phải chăng HCM đã nêu lên một quan điểm lớn: phải có cái đức để đi đến cái trí.

Vì khi đã có cái trí, thì cái đức chính là cái đảm bảo cho người cách mạng giữ vững được chủ nghĩa mà mình đã giác ngộ, đã chấp nhận, đã đi theo.

+ Đạo đức có mối quan hệ chặt chẽ với tài năng.

Quan điểm lấy "đức" làm gốc của HCM không có nghĩa là tuyệt đối hoá mặt "đức", coi nhẹ mặt "tài".

Đức là gốc, nhưng đức và tài, hồng và chuyên phải kết hợp, phẩm chất và năng lực phải đi đôi, không thể có mặt này, thiếu mặt kia.

Như Người đã phân tích, người nào có đức mà không có tài thì cũng chẳng khác gì ông bụt ngồi trong chùa, không làm hại ai, nhưng cũng chẳng có ích gì.

Ngược lại nếu có tài mà không có đức, thì cũng chẳng khác gì một anh làm kinh doanh giỏi, đem lại nhiều lãi, nhưng lãng phí, tham ô, ăn cắp của công, thì như vậy chỉ có hại cho dân cho nước, còn sự nghiệp của bản thân thì sớm muộn cũng đổ vỡ.

Người thực sự có đức thì bao giờ cũng cố gắng học tập, nâng cao trình độ, nâng cao năng lực tài năng để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.

Khi đã thấy sức không vươn lên được thì đối với ai có tài hơn mình, mình sẵn sàng học tập, ủng hộ và nhường bước để họ vượt lên trước.

Ý nghĩa "đức là gốc" chính là ở chỗ đó.

Như vậy, có phải chỉ cần có ĐĐCM là có thể đưa SNCM đến thắng lợi?

Theo Hồ Chí Minh, đức và tài phải đi liền với nhau, trong đó đøc lµ gèc cña tµi, hång lµ gèc cña chuyªn, phÈm chÊt lµ gèc cña n¨ng lùc: "Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, có tài mà không có đức thì là người vô dụng, thậm chí có hại".

Người cho rằng người cách mạng phải có cả đạo đức và tài năng, tài càng cao thì đức phải càng lớn, tài cao mà đức mỏng thì dễ dẫn tới tham ô, bòn rút công, quỹ... hậu quả khó có thể lường trước.

"Ở ngôi cao mà đức mỏng thì chỉ làm hại cho dân cho nước mà thôi"

- Đạo đức là nhân tố tạo nên sức hấp dẫn của CNXH:

Theo HCM sức hấp dẫn của CNXH chưa phải ở lý tưởng cao xa, ở mức sống vật chất dồi dào, ở tư tưởng được tự do giải phóng, mà trước hết là ở những giá trị đạo đức cao đẹp, ở phẩm chất của những người cộng sản ưu tú, bằng tấm gương sống và hành động của mình, chiến đấu cho lý tưởng đó trở thành hiện thực.

Người cho rằng, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trở thành lực lượng quyết định vận mệnh của loài người không chỉ do chiến lược và sách lược thiên tài của CMVS, mà còn do những phẩm chất đạo đức cao quý làm cho CNCS trở thành một sức mạnh vô địch.

Tấm gương đạo đức trong sáng của một nhân cách vĩ đại, song cũng rất đời thường của HCM chẳng những có sức hấp dẫn lớn lao, mạnh mẽ với nhân dân Việt Nam, mà còn cả với nhân dân thế giới.

Tấm gương đó từ lâu đã trở thành nguồn cổ vũ, động viên tinh thần quan trọng đối với nhân dân ta và nhân loại tiến bộ đoàn kết đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH.
 
Tư Tưởng Hồ Chí Minh
Nêu các phẩm chất đạo đức cách mạng theo quan điểm Hồ Chí Minh (1)


Trong di sản HCM, chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều những ý kiến đánh giá về người, về việc, về tập thể cũng như về cá nhân.

Đó là những lời khen ngợi biểu dương hay phê bình nhắc nhở.

Đó là những lời phân tích phải trái, đúng sai, hay dở, hay đó là những lời khuyên nên tránh hay nên làm, cần xây hay cần chống.

Bao giờ Người cũng phân biệt mặt tốt với mặt xấu, mặt thiện với mặt ác trong động cơ cũng như trong hành vi của con người, trong mối quan hệ xã hội vô cùng đa dạng, để làm rõ những phẩm chất đạo đức cần phải xây dựng Người làm công việc ấy rất thường xuyên, gần như một người làm vườn cần mẫn hàng ngày bắt sâu nhặt cỏ, tỉa lá cắt cành, vun xới cho những mầm cây.

Phải chăng bất cứ người Việt Nam nào cũng có thể tìm thấy những vấn đề đạo đức mà HCM đặt ra rất gần gũi với mình, những phẩm chất cần tu dưỡng, những định hướng để vươn tới cái chân, cái thiện, cái mỹ của cuộc sống con người.

Đó là những vấn đề đạo đức Người rút ra từ cuộc đời thực của con người và xã hội Việt Nam, khái quát thành tư tưởng, lý luận đạo đức, từ đó trở lại cải tạo con người, làm biến đổi hiện thực xã hội.

Trong TTĐĐ HCM, những phẩm chất đạo đức được nêu ra là phù hợp với từng đối tượng, hơn nữa Người nhấn mạnh phẩm chất này hay phẩm chất khác là nhằm đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ nhất định.

Từ đó Người đã khái quát thành những phẩm chất chung cơ bản nhất của con người Việt Nam trong thời đại mới.

Nói cách khác, đó là những chuẩn mực chung nhất của nền đạo đức mới ĐĐCM Việt Nam.

Dưới đây là bốn phẩm chất chung, cơ bản nhất:Trung với nước, hiếu với dân; Yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình; Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; Tinh thần quốc tế trong sáng, thuỷ chung

Phân tích phẩm chất: Trung với nước, hiếu với dân

+ Về quan hệ đạo đức thì mối quan hệ của mỗi người với đất nước mình, với nhân dân dân tộc mình là mối quan hệ lớn nhất.

+ Về phẩm chất đạo đức thì trung với nước, hiếu với dân là phẩm chất quan trọng nhất, bao trùm nhất.

+ HCM sử dụng luận điểm Trung-Hiếu của Nho giáo nhưng đã đưa vào những nd mới CM, tiến bộ, phù hợp hơn.

Trung, hiếu là những khái niệm đã có trong TTĐĐ truyền thống Việt Nam và phương Đông đã được HCM sử dụng và đưa vào nội dung mới.

Trước kia là trung quân, là trung thành với vua; trung thành với vua cũng có nghĩa là trung thành với nước, vì vua với nước là một, vua là nước, nước là nước của vua.

Còn hiếu thì chỉ thu hẹp trong phạm vi gia đình là con cái phải hiếu thảo với cha mẹ.

Tư tưởng trung với nước, hiếu với dân của HCM không những kế thừa giá trị của chủ nghĩa yêu nước truyền thống của dân tộc, mà còn vượt qua những hạn chế của truyền thống đó.

Trung với nước là trung thành với sự nghiệp giữ nước và dựng nước.

Nước ở đây là nước của dân, còn dân lại là chủ nhân của đất nước.

Khi HCM đặt vấn đề "bao nhiêu quyền hạn đều của dân", "bao nhiêu lợi ích đều vì dân", "bao nhiêu quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân", Đảng và Chính phủ là "đày tớ nhân dân" chứ không phải "quan nhân dân để đè đầu, cưỡi cổ nhân dân", thì quan niệm về nước và dân đã hoàn toàn đảo lộn so với trước.

Có thể nói rất ít lãnh tụ cách mạng đã nói về dân như vậy.

+ Trung-Hiếu vừa là lời kêu gọi hành động, vừa là định hướng chính trị - đạo đức cho mỗi người VN

Trung với nước, hiếu với dân, suốt đời phấn đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Câu nói đó của Người vừa là lời kêu gọi hành động, vừa là định hướng chính trị - đạo đức cho mỗi người Việt Nam không phải chỉ trong cuộc đấu tranh cách mạng trước mắt, mà còn lâu dài về sau.

Đối với cán bộ, đảng viên, như HCM đã nói, "điều chủ chốt nhất" của ĐĐCM là "quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng", là "tuyệt đối trung thành với Đảng, với nhân dân", là "trung với nước, hiếu với dân", hơn nữa phải là "tận trung, tận hiếu" thế mới xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là đày tớ thật trung thành của nhân dân.

Tư tưởng hiếu với dân không còn dừng lại ở chỗ thương dân với tính chất là đối tượng cần phải dạy dỗ, ban ơn, mà là đối tượng phải phục vụ hết lòng.

Vì vậy phải gần dân, gắn bó với dân, kính trọng và học tập dân, dựa hẳn vào dân, lấy dân làm gốc.

Theo HCM, lãnh đạo phải nắm vững dân tình, hiểu rõ dân tâm, lại phải thường xuyên quan tâm đến việc cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, để nhân dân hiểu được quyền và trách nhiệm của người chủ đất nước quyền thì hưởng còn trách nhiệm thì phải làm tròn.

Có được cái đức ấy thì người cách mạng, người lãnh đạo sẽ được dân tin yêu, quý mến kính trọng, nhất định sẽ tạo ra được sức mạnh to lớn cho cách mạng.
 
Tư Tưởng Hồ Chí Minh
Nêu các phẩm chất đạo đức cách mạng theo quan điểm Hồ Chí Minh (2)


Trong di sản HCM, chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều những ý kiến đánh giá về người, về việc, về tập thể cũng như về cá nhân.

Đó là những lời khen ngợi biểu dương hay phê bình nhắc nhở.

Đó là những lời phân tích phải trái, đúng sai, hay dở, hay đó là những lời khuyên nên tránh hay nên làm, cần xây hay cần chống.

Bao giờ Người cũng phân biệt mặt tốt với mặt xấu, mặt thiện với mặt ác trong động cơ cũng như trong hành vi của con người, trong mối quan hệ xã hội vô cùng đa dạng, để làm rõ những phẩm chất đạo đức cần phải xây dựng Người làm công việc ấy rất thường xuyên, gần như một người làm vườn cần mẫn hàng ngày bắt sâu nhặt cỏ, tỉa lá cắt cành, vun xới cho những mầm cây.

Phải chăng bất cứ người Việt Nam nào cũng có thể tìm thấy những vấn đề đạo đức mà HCM đặt ra rất gần gũi với mình, những phẩm chất cần tu dưỡng, những định hướng để vươn tới cái chân, cái thiện, cái mỹ của cuộc sống con người.

Đó là những vấn đề đạo đức Người rút ra từ cuộc đời thực của con người và xã hội Việt Nam, khái quát thành tư tưởng, lý luận đạo đức, từ đó trở lại cải tạo con người, làm biến đổi hiện thực xã hội.

Trong TTĐĐ HCM, những phẩm chất đạo đức được nêu ra là phù hợp với từng đối tượng, hơn nữa Người nhấn mạnh phẩm chất này hay phẩm chất khác là nhằm đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ nhất định.

Từ đó Người đã khái quát thành những phẩm chất chung cơ bản nhất của con người Việt Nam trong thời đại mới.

Nói cách khác, đó là những chuẩn mực chung nhất của nền đạo đức mới ĐĐCM Việt Nam.

Dưới đây là bốn phẩm chất chung, cơ bản nhất:Trung với nước, hiếu với dân; Yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình; Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; Tinh thần quốc tế trong sáng, thuỷ chung

Phân tích Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.

Đây là phẩm chất đạo đức gắn liền với hoạt động hàng ngày của mọi người.

Vì vậy HCM đã đề cập chuẩn mực này nhiều nhất, thường xuyên nhất, từ Đường Kách mệnh cho đến bản Di chúc cuối cùng.

Đối với mọi người, phẩm chất này có hay không, có nhiều hay ít đều được thể hiện qua hoạt động thực tiễn, trong đời công cũng như đời tư, trong sinh hoạt cũng như trong công việc người đó làm, những cương vị người đó đảm nhiệm.

Trong cuộc sống nếu sự dối trá vẫn còn tìm được nhiều chỗ ẩn náu thì những thói lười biếng, xa phí, bất liêm, bất chính, hủ bại, sa đọa, thu vén lợi ích riêng tư làm hại lợi ích chung... thì khó che giấu được con mắt của những người bình thường.

- Nội dung của chuẩn mực:

HCM đã sử dụng những khái niệm cần kiệm liêm chính, chí công vô tư của đạo đức phương Đông và đạo đức truyền thống Việt Nam.

Người đã giữ lại những gì tốt đẹp của quá khứ, lọc bỏ những gì không còn phù hợp và đưa vào những nội dung mới, do sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội đặt ra.

Mỗi chữ cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư đã được HCM giải thích rất rõ, rất cụ thể, rất dễ hiểu đối với mọi người.

Nếu phẩm chất này đã cần thiết đối với con người Việt Nam khi đất nước còn phải đương đầu với cuộc chiến tranh xâm lược rất tàn bạo do chủ nghĩa thực dân đế quốc gây ra, thì lại càng cần thiết khi đất nước phát triển trong xây dựng hoà bình.

Đây không phải chỉ là yêu cầu về đạo đức mà còn là yêu cầu của chính sự phát triển kinh tế.

Theo HCM thì:

+ Cần: tức là lao động cần cù, siêng năng; lao động có kế hoạch, sáng tạo. có năng suất cao; lao động với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm.

Phải thấy rõ "lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta".

+ Kiệm: tức là tiết kiệm sức lao động, tiết kiệm thì giờ, tiết kiệm tiền của của dân, của nước, của bản thân mình; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, nhiều cái nhỏ cộng lại thành cái to; "không xa xỉ không hoang phí, không bừa bãi", không phô trương hình thức, không liên hoan, chè chén lu bù.

+ Liêm: tức là "luôn luôn tôn trọng giữ gìn của công và của dân"; "không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc của Nhà nước, của nhân dân".

Phải "trong sạch, không tham lam".

"Không tham địa vị.

Không tham tiền tài.

Không tham sung sướng.

Không ham người tâng bốc mình.

Vì vậy mà quang minh chính đại, không bao giờ hủ hoá.

Chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ".

Người đã chỉ ra những hành vi trái với chữ liêm, như:

"...cậy quyền thế mà đục khoét dân, ăn của đút, hoặc trộm của công làm của tư...".

"Dìm người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mình là đạo vị (đạo là trộm).

Gặp việc phải, mà sợ khó nhọc nguy hiểm, không dám làm, là tham vật uý lạo.

Gặp giặc mà rút ra, không dám đánh là tham sinh uý tử".

Người đã nhắc lại một số ý hay của Khổng, Mạnh:

"Cụ Khổng Tử nói: "Người mà không Liêm, không bằng súc vật".

Cụ Mạnh Tử nói: "Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy".

+ Chính: "nghĩa là không tà, thẳng thắn, đúng đắn".

Đối với mình - không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân mình.

Đối với người - không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới; luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà; không dối trá, lừa lọc.

Đối với việc - để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà.

Đã phụ trách việc gì thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó khăn, nguy hiểm; việc thiện thì dù nhỏ mấy cũng làm, việc ác thì dù nhỏ mấy cũng tránh.

Mỗi ngày cố làm một việc lợi cho nước, cho dân.

+ Chí công vô tư: Người nói: "Đem lòng chí công vô tư mà đối với người, với việc" "Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình nên đi sau"; "phải lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ" (tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc).

Đối lập với "chí công vô tư" là "dĩ công vi tư"; đó là điều mà đạo đức mới đòi hỏi phải chống lại.

Chí công vô tư, về thực chất là nối tiếp Cần, Kiệm, Liêm, Chính.

Người giải thích: "Trước nhất là cán bộ các cơ quan, các đoàn thể, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ.

Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm là có dịp đục khoét, có dịp ăn của đút, có dịp "dĩ công vi tư".

Như vậy, Chí công vô tư phản ánh 3 vấn đề cơ bản đó là:

> Chí công vô tư đối lập với chủ nghĩa cá nhân;

> Chí công vô tư đề cao chủ nghĩa tập thể;

> Chí công vô tư là sự thống nhất giữa lợi ích chung với lợi ích riêng.

- Mối quan hệ giữa các yếu tố:

Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư có quan hệ mật thiết với nhau.

Có khi HCM coi cần kiệm như hai chân của con người phải đi đôi với nhau.

Cần mà không kiệm thì chẳng khác nào "gió vào nhà trống", "nước đổ vào chiếc thùng không đáy", "làm chừng nào xào chừng ấy", rất cuộc "không lại hoàn không".

Còn kiệm mà không cần thì sản xuất được ít, không đủ dùng, không có tăng thêm, không có phát triển.

Có khi Người coi cần, kiệm, liêm, chính là bốn đức của con người.

"Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông

Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc

Người có bốn đức: Cần, kiệm, liêm, chính.

Thiếu một mùa thì không thành trời.

Thiếu một phương thì không thành đất.

Thiếu một đức thì không thành người".

Cần, kiệm, liêm, chính sẽ dẫn đến chí công vô tư; ngược lại đã chí công vô tư, một lòng vì nước, vì dân, vì Đảng, thì nhất định sẽ thực hiện được cần, kiệm, liêm, chính, và có được nhiều tính tốt khác.

"Mình đã chí công vô tư thì khuyết điểm sẽ càng ngày càng ít, mà những tính tốt như sau, ngày càng thêm.

Nói tóm tắt, tính tốt ấy gồm có năm điều: nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm".

Bồi dưỡng phẩm chất cần kiệm liêm chính, chí công vô tư sẽ làm cho con người vững vàng trước mọi thử thách: "Giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục", và có thể "Trợn mắt coi khinh nghìn lực sĩ, cúi đầu làm ngựa đám nhi đồng".

Nhưng đây lại là vấn đề rất phức tạp, nói dễ làm khó, và trong cuộc sống vẫn thường hay vi phạm.

Bởi vì nó đụng chạm đến nhiều mặt lợi ích cá nhân, tập trung nhất là chức, quyền, danh, lợi, mà nếu không vượt qua được chủ nghĩa cá nhân thì bất cứ ai cũng có thể sa vào những hành vi vô đạo đức.
 
Tư Tưởng Hồ Chí Minh
Nêu các phẩm chất đạo đức cách mạng theo quan điểm Hồ Chí Minh (3)


Trong di sản HCM, chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều những ý kiến đánh giá về người, về việc, về tập thể cũng như về cá nhân.

Đó là những lời khen ngợi biểu dương hay phê bình nhắc nhở.

Đó là những lời phân tích phải trái, đúng sai, hay dở, hay đó là những lời khuyên nên tránh hay nên làm, cần xây hay cần chống.

Bao giờ Người cũng phân biệt mặt tốt với mặt xấu, mặt thiện với mặt ác trong động cơ cũng như trong hành vi của con người, trong mối quan hệ xã hội vô cùng đa dạng, để làm rõ những phẩm chất đạo đức cần phải xây dựng Người làm công việc ấy rất thường xuyên, gần như một người làm vườn cần mẫn hàng ngày bắt sâu nhặt cỏ, tỉa lá cắt cành, vun xới cho những mầm cây.

Phải chăng bất cứ người Việt Nam nào cũng có thể tìm thấy những vấn đề đạo đức mà HCM đặt ra rất gần gũi với mình, những phẩm chất cần tu dưỡng, những định hướng để vươn tới cái chân, cái thiện, cái mỹ của cuộc sống con người.

Đó là những vấn đề đạo đức Người rút ra từ cuộc đời thực của con người và xã hội Việt Nam, khái quát thành tư tưởng, lý luận đạo đức, từ đó trở lại cải tạo con người, làm biến đổi hiện thực xã hội.

Trong TTĐĐ HCM, những phẩm chất đạo đức được nêu ra là phù hợp với từng đối tượng, hơn nữa Người nhấn mạnh phẩm chất này hay phẩm chất khác là nhằm đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ nhất định.

Từ đó Người đã khái quát thành những phẩm chất chung cơ bản nhất của con người Việt Nam trong thời đại mới.

Nói cách khác, đó là những chuẩn mực chung nhất của nền đạo đức mới ĐĐCM Việt Nam.

Dưới đây là bốn phẩm chất chung, cơ bản nhất:Trung với nước, hiếu với dân; Yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình; Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; Tinh thần quốc tế trong sáng, thuỷ chung

Phân tích Yêu thương con người, sống có tình có nghĩa.

Kế thừa truyền thống nhân nghĩa của dân tộc, kết hợp với chủ nghĩa nhân đạo cộng sản, tiếp thu tinh thần nhân văn của nhân loại qua nhiều thế kỷ, cùng với việc thể nghiệm của chính bản thân mình qua hoạt động cách mạng thực tiễn HCM đã xác định: tình yêu thương con người là một trong những phẩm chất đạo đức cao đẹp nhất, nó vừa thể hiện mục đích, vừa là động lực của SNCM mà HCM theo đuổi.

Người đã đưa ra định nghĩa về con người: "Chữ người, nghĩa hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn, nghĩa rộng là đồng bào cả nước, rộng ra nữa là cả loài người".

Nhận thức được giá trị tốt đẹp của truyền thống dân tộc đó là lòng nhân ái cao cả "Thương người như thể thương thân" nên suốt cuộc đời hoạt động CM của mình, HCM luôn hoà mình vào cuộc sống của nhân dân lao động, của những người bị áp bức.

Qua khảo sát thực tế, Người đi đến kết luận: "Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: Người bóc lột (người ác) và người bị bóc lột (người thiện)"

- Đối tượng của chuẩn mực: vừa bao la, rộng lớn, vừa gần gũi, thân thương.

Tình yêu thương đó là tình cảm rộng lớn, trước hết dành cho những người cùng khổ, những người lao động bị áp bức bóc lột.

Tình yêu thương đó đã được thể hiện ở HCM bằng "Ham muốn tột bậc là làm cho nước được độc lập, dân được tự do, mọi người ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành".

Nếu không có tình yêu thương con người như vậy thì không thể nói đến cách mạng, càng không thể nói đến chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

- Nội dung của chuẩn mực:

Quan điểm về yêu thương con người của HCM rất rộng, không bó hẹp trong quốc gia, dân tộc mà cả nhân loại.

Cụ thể:

+ Trước hết, tình yêu thương đó dành cho những người dân lao động, những người nghèo khổ, bị áp bức, bóc lột không phân biệt màu da, dân tộc.

Lòng yêu thương con người của Hồ Chí Minh rất cụ thể, từ cụ già đến em thơ, bộ đội, dân công, nông dân, công nhân đến chị em phụ nữ...

Yêu thương con người của HCM không chỉ dành cho nhân dân, đồng bào mình, mà còn giành cho GCVS và toàn thể nhân loại tiến bộ trên thế giới.

+ Thứ hai, tình yêu thương con người là phải sống với nhau có tình, có nghĩa.

HCM khuyên: Người thày thuốc, thày cô giáo phải như mẹ hiền...

Người nói: "Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa.

Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống với nhau không có tình, có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được"

+ Thứ ba, tình yêu thương con người gắn với niềm tin mãnh liệt vào những khả năng, phẩm giá tốt đẹp của con người và tạo mọi điều kiện cho con người vươn lên để tự hoàn thiện mình.

Người nói: "Mỗi con người đều có cái thiện và cái ác ở trong lòng.

Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa màu xuân và phần xấu mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng"

+ Thứ tư, tình yêu thương con người là sự quan tâm và có biện pháp cụ thể để nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và sự tiến bộ của mỗi con người.

Đối với những người lầm đường, lạc lối đã tỏ ra ăn năn, hối cải đã được Người đối xử với thái độ nhân ái, khoan dung, độ lượng.

Đặc biệt, Người rất coi trọng và đề cao sự giáo dục thuyết phục, cảm hoá đối với con người.

Người khuyên: "Năm ngón tay cũng có ngón vắn, ngón dài.

Nhưng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay.

Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta.

Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ...

Đối với đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hoá họ".

- Yêu cầu: Để yêu thương con người thì cần phải làm gì?

+ Phải nghiêm khắc với mình, độ lượng với người, biết tôn trọng con người trong các mối quan hệ xã hội hàng ngày.

Tình yêu thương con người còn được thể hiện trong mối quan hệ bạn bè, đồng chí, với mọi người bình thường trong quan hệ hàng ngày.

Nó đòi hỏi mọi người phải luôn luôn chặt chẽ nghiêm khắc với mình, rộng rãi, độ lượng với người khác.

Nó đòi hỏi thái độ tôn trọng con người, phải biết cách nâng con người lên, chứ không phải hạ thấp, càng không phải vùi dập con người.

Điều này đặc biệt quan trọng đối với những người ở cương vị lãnh đạo, bất cứ ở cấp nào.

+ Phải có tinh thần khoan dung, độ lượng.

Tình yêu thương con người, theo HCM, còn được thể hiện đối với những người có sai lầm khuyết điểm, nhưng đã nhận rõ khuyết điểm sai lầm và cố gắng sửa chữa; kể cả đối với những người lầm đường lạc lối đã hối cải, kể cả đối với những kẻ thù đã bị thương, bị bắt hoặc đã chịu quy hàng.

Chính tình yêu thương đó đã đánh thức những gì tốt đẹp mà HCM tin rằng trong mỗi người đều có, tuy nhiều ít có khác nhau.

+ Phải tích cực đấu tranh TPB&PB một cách chân thành, nghiêm túc.

Trong Di chúc, Người căn dặn Đảng phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.

Đây chính là điều nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải luôn luôn chú ý đến phẩm chất yêu thương con người.

Đây là tình thương yêu trên nguyên tắc tự phê bình và phê bình một cách chân thành, nghiêm túc giữa những người cùng lý tưởng, cùng phấn đấu cho một sự nghiệp chung.

Nó hoàn toàn xa lạ với thái độ dĩ hoà vi quý bao che sai lầm khuyết điểm cho nhau, càng xa lạ với thái độ yêu nên tốt, ghét nên xấu, bè cánh có thể đưa đến những tổn thất lớn cho Đảng, cho cách mạng.
 
Tư Tưởng Hồ Chí Minh
Nêu các quan điểm Hồ Chí Minh về các vấn đề chung của văn hóa (1)


* Vị trí, vai trò của văn hoá

- Văn hoá là đời sống tinh thần, thuộc về kiến trúc thượng tầng của xã hội.

Văn hoá, chính trị, kinh tế, xã hội, tạo thành bốn vấn đề chủ yếu của đời sống xã hội.

- Văn hoá không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị.

Văn hoá phải phục tùng nhiệm vụ chính trị, thúc đẩy xây dựng phát triển kinh tế.

* Tính chất của nền văn hoá mới

- Tính dân tộc: đặc tính dân tộc, cốt cách dân tộc, nhằm nhấn mạnh tới chiều sâu bản chất đặc trưng của văn hoá dân tộc, giúp phân biệt văn hoá các dân tộc khác.

- Tính khoa học: hiện đại, tiên tiến, thuận với trào lưu tiên hoá của thời đại.

- Tính đại chúng: phục vụ nhân dân và do nhân dân xây dựng.

* Chức năng của văn hóa.

- Bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp cho nhân dân.

- Mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ dân trí.

- Bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, những phong cách lành mạnh, luôn hướng con người vươn tới cái chân, cái thiện, cái mỹ để không ngừng hoàn thiện bản thân mình.

Phân tích quan điểm về vị trí, vai trò của văn hóa trong đời sống xã hội?

- Văn hoá là đời sống tinh thần của xã hội, thuộc về kiến trúc thượng tầng.

Văn hoá được đặt ngang hàng với chính trị, kinh tế, xã hội tạo thành 4 vấn đề chủ yếu của đời sống.

Bốn vấn đề đó có quan hệ mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau:

+ Trong quan hệ với chính trị, xã hội:

Chính trị, xã hội có được giải phóng thì văn hoá mới được giải phóng.

Chính trị giải phóng mở đường cho văn hoá phát triển.

Người nói: "Xã hội thế nào, văn nghệ thế ấy...

Dưới chế độ thực dân và phong kiến, nhân dân ta bị nô lệ, thì văn nghệ cũng bị nô lệ, bị tồi tàn, không thể phát triển được".

+ Trong quan hệ với kinh tế:

Xây dựng kinh tế để tạo điều kiện cho việc xây dựng và phát triển văn hoá.

Hồ Chí Minh chỉ rõ kinh tế là thuộc về hạ tầng cơ sở, là nền tảng của việc xây dựng văn hóa.

Như vậy, kinh tế phải đi trước một bước: "Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải phát triển kinh tế và văn hóa.

Vì sao không nói phát triển văn hóa và kinh tế.

Tục ngữ ta có câu: có thực mới vực được đạo, vì thế kinh tế phải đi trước".

- Văn hoá không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị, phải phục vụ nhiệm vụ chính trị, thúc đẩy sự phát triển của kinh tế.

+ Văn hoá có tính tích cực, chủ động, đóng vai trò như một động lực lớn thúc đẩy sự phát triển kinh tế và chính trị.

Người nói: "Trình độ văn hóa của nhân dân nâng cao sẽ giúp cho chúng ta đẩy mạnh công cuộc khôi phục kinh tế, phát triển dân chủ.

Nâng cao trình độ văn hóa của nhân dân cũng là một việc cần thiết để xây dựng nước ta thành một nước hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh".

+ Văn hoá phải ở trong kinh tế và chính trị, có nghĩa là văn hoá phải tham gia thực hiện những nhiệm vụ chính trị, thúc đẩy xây dựng và phát triển kinh tế.

Quan điểm này không chỉ định hướng cho việc xây dựng một nền văn hoá mới ở Việt Nam mà còn định hướng cho mọi hoạt động văn hoá.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, quan điểm "Văn hóa cũng là một mặt trận", "Kháng chiến hóa văn hóa, văn hóa hóa kháng chiến"... mà Người đưa ra đã tạo nên một phong trào văn hóa văn nghệ sôi động chưa từng thấy.

Văn hóa không đứng ngoài mà ở trong cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc.

Và cuộc kháng chiến trở thành một cuộc kháng chiến có tính văn hóa.

+ Văn hoá phải ở trong kinh tế và chính trị, điều đó cũng có nghĩa là kinh tế và chính trị cũng phải có tính văn hoá, điều mà chủ nghĩa xã hội và thời đại đang đòi hỏi.

Ngày nay, trong công cuộc xây dựng CNXH dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta chủ trương gắn văn hóa với phát triển, chủ trương đưa các giá trị văn hóa thấm sâu vào kinh tế và chính trị, làm cho văn hóa thực sự vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
 
Tư Tưởng Hồ Chí Minh
Nêu các quan điểm Hồ Chí Minh về các vấn đề chung của văn hóa (2)


* Vị trí, vai trò của văn hoá

- Văn hoá là đời sống tinh thần, thuộc về kiến trúc thượng tầng của xã hội.

Văn hoá, chính trị, kinh tế, xã hội, tạo thành bốn vấn đề chủ yếu của đời sống xã hội.

- Văn hoá không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị.

Văn hoá phải phục tùng nhiệm vụ chính trị, thúc đẩy xây dựng phát triển kinh tế.

* Tính chất của nền văn hoá mới

- Tính dân tộc: đặc tính dân tộc, cốt cách dân tộc, nhằm nhấn mạnh tới chiều sâu bản chất đặc trưng của văn hoá dân tộc, giúp phân biệt văn hoá các dân tộc khác.

- Tính khoa học: hiện đại, tiên tiến, thuận với trào lưu tiên hoá của thời đại.

- Tính đại chúng: phục vụ nhân dân và do nhân dân xây dựng.

* Chức năng của văn hóa.

Phân tích quan điểm về chức năng của văn hóa?

Theo Hồ Chí Minh văn hoá có ba chức năng chủ yếu sau:

* Một là bồi dưỡng tư tưởng đúng đắn và tình cảm cao đẹp cho nhân dân.

- Tư tưởng đúng là lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Lý tưởng đó là gốc, là điểm hội tụ những tư tưởng lớn của dân tộc, nếu ai xa rời nó đều có thể dẫn tới sai lầm.

Chính vì vậy, Hồ Chí Minh đã chỉ ra chức năng hàng đầu của văn hóa là phải làm thế nào cho ai cũng có lí tưởng tự chủ, độc lập, tự do; phải làm thế nào cho ai cũng "có tinh thần vì nước quên mình, vì lợi ích chung và quên lợi ích riêng".

- Tình cảm cao đẹp là:

+ Phải bồi dưỡng cho nhân dân lòng yêu nước, tình thương yêu con người, yêu sự chân thành, thuỷ chung.

+ Căm ghét, lên án, phê phán những cái xấu, cái ác, cái lạc hậu, những xa đoạ biến chất trong đời sống tinh thần của xã hội.

* Hai là mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ dân trí.

Hồ Chí Minh nói: "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu" và "Dốt thì dại, dại thì hèn".

Như vậy, theo Người nói tới văn hoá là phải nói đến dân trí.

- Dân trí không hạn hẹp ở biết đọc, biết viết (biết chữ) mà đó là trình độ hiểu biết, trình độ kiến thức của nhân dân.

- Trình độ dân trí là trình độ từ biết chữ đến hiểu biết, tiếp thu kiến thức cần thiết trên các lĩnh vực hoạt động của con người như: Chính trị, kinh tế, văn hoá...

- Dân trí nâng lên chỉ có thể thực hiện được sau khi chính trị đã được giải phóng, toàn bộ chính quyền đã về tay nhân dân.

Nâng cao dân trí là để nhân dân có thể tham gia sáng tạo và hưởng thụ văn hóa, góp phần cùng Đảng "biến một nước dốt nát, cực khổ thành một nước văn hóa cao và đời sống tươi vui hạnh phúc".

Đó cũng là mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" mà Đảng ta đã vạch ra trong công cuộc đổi mới.

* Ba là bồi dưỡng những phẩm chất tốt đẹp, phong cách và lối sống tốt đẹp, lành mạnh; hướng con người vươn tới chân, thiện, mỹ để hoàn thiện bản thân.

Những phẩm chất tốt đẹp và phong cách lành mạnh, theo Hồ Chí Minh là: phẩm chất đạo đức, phẩm chất chính trị; phong cách trong lao động, sinh hoạt và trong mọi QHXH.

- Phẩm chất và phong cách được hình thành trong nếp sống, lối sống của con người và xã hội, trong thói quen tốt đẹp của cá nhân, trong phong tục tập quán tốt đẹp của cả cộng đồng dân tộc.

- Do đó văn hoá phải đi sâu vào tâm lý quốc dân, nghĩa là văn hoá phải bồi dưỡng được phẩm chất tốt đẹp, phong cách lành mạnh để hướng con người tới chân, thiện, mỹ và văn hoá phải sửa được thói tham nhũng, lời biếng, phù hoa, xa xỉ...
 
Tư Tưởng Hồ Chí Minh
Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của con người và chiến lược "trồng người"?


a) Quan điểm của Hồ Chí Minh về vai trò của con người

- Con người là vốn quý nhất, nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng.

Theo Hồ Chí Minh, "trong bầu trời không quý bằng nhân dân. trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân".

Vì vậy, 'Vô luận việc gì, đều do người làm ra, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả".

Người cho rằng "việc dễ mấy không có nhân dân cũng chịu, việc khó mẩy có dân liệu cũng xong".

Nhân dân là người sáng tạo ra mọi giá trị vật chất và tinh thần.

Hồ Chí Minh tổng kết ngắn gọn: dân ta tổt lắm.

Người phân tích phẩm chất tốt đẹp của dân từ lòng trung thành và tin tưởng vào cách mạng, vào Đảng, không sợ gian khố, tù đày, hy sinh đến việc dân nhường cơm sẻ áo, chở che, đùm bọc, bảo vệ, nuôi nấng bộ đội và cán bộ cách mạng.

Dân ta là tài năng, trí tuệ và sáng tạo, họ biết "giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra"'.

Đặc biệt là lòng sốt sắng, hăng hái của dân để thực hiện con đường cách mạng.

Hồ Chí Minh có niềm tin vững chắc rằng với tinh thần quật cường và lực lượng vô tận của dân tộc ta, với lòng yêu nước và chí kiên quyết của nhân dân và quân đội ta, chẳng những chúng ta có thể thắng lợi, mà chúng ta nhất định thắng lợi.

Nhân dân là yếu tố quyết định thành công của cách mạng.

"Lòng yêu nước và sự đoàn kết của nhân dân là một lực lượng vô cùng to lớn, không ai thắng nổi".

- Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng: phải coi trọng, chăm sóc, phát huy nhân tố con người

Vì sống gần dân, với dân, giữa lòng dân, hiểu rõ dân tình, dân tâm, dân ý, Hồ Chí Minh thấy rõ yêu cầu giải phóng dân tộc, giải phóng con người, giải phóng lao động xã hội.

Nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng.

Năm 1911, giữa lúc đất nước đang bị xâm lược, nhân dân phải chịu cảnh lầm than.

Người ra đi với ý chí "quyết giải phóng gông ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được cùm nô lệ cho đồng bào".

Người xác định rõ trách nhiệm của Người cũng là của Đảng và Chính phủ là "làm sao cho nước học hành".

Ở Hồ Chí Minh, có sự cảm nhận, thông cảm sâu sắc với thân phận những người cùng khổ và nô lệ lầm than.

Nhưng không phải là sự cảm thông kiểu tôn giáo; ngược lại, người có niềm tin vững chắc và trí tuệ, bản lĩnh của con người, ở khả năng tự giải phóng của chính bản thân con người.

Người làm hết sức để xây dựng, rèn luyện con người và quyết tâm đấu tranh để đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho con người.

Người xác định con người là mục tiêu trong điều kiện cụ thể của từng giai đoạn cách mạng.

Khi đất nước còn nô lệ, lầm than thì mục tiêu trước hết trên hết là giải phóng dân tộc. giành độc lập dân tộc.

Sau khi chính quyền đã về tay nhân dân, thì mục tiêu ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh lại được ưu tiên hơn, bởi vì, "nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì".

Vì vậy chúng ta phải thực hiện ngay: Làm cho dân có ăn.

Làm cho dân có mặc.

Làm cho dân có chỗ ở.

Làm cho dân có học hành.

Đến Di chúc, Người viết: "Đầu tiên là công việc đối với con người".

Con người là mục tiêu của cách mạng nên mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Chính phủ đều vì lợi ích chính đáng của con người.

Có thể là lợi ích lâu dài, lợi ích trước mắt: lợi ích cả dân tộc và lợi ích của bộ phận, giai cấp, tầng lớp và cá nhân.

Với hoạt động thực tiễn thì việc gì lợi cho dân, dù nhỏ mấy - ta phải hết sức làm.

Việc gì hại cho dân, dù nhỏ mấy - ta phải hết sức tránh.

Hồ Chí Minh có niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh vĩ đại và năng lực sáng tạo của quần chúng.

Trong sự nghiệp xây dựng đất nước, Hồ Chí Minh đã nhận rõ: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa", "có dân thì có tất cả"...

Niềm tin vào sức mạnh của dân còn được nhận thức từ mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Chính phủ.

Hồ Chí Minh chỉ rõ: Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng: nếu không có Chính phủ thì nhân dân không có ai dẫn đường.

Đảng lãnh đạo nhưng nhân dân là chủ.

Dân như nước, bộ đội như cá.

Lực lượng bao nhiêu là nhờ ở dân hết.

Tin dân, học dân, tôn trọng dân, dựa vào dân theo đúng đường lối quần chúng sẽ tạo nên sức mạnh vô địch.

Bởi vì, sự nghiệp cách mạng giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ có thể thực hiện được với sự giác ngộ đầy đủ và lao động sáng tạo của hàng chục triệu quần chúng nhân dân.

Hồ Chí Minh tin ở dân còn xuất phát từ niềm tin vào tình người.

Đã là nguời cộng sản thì phải tin nhân dân và niềm tin quần chúng sẽ tạo nên sức mạnh cho người cộng sản.

Người nói: dân tộc ta là một dân tộc anh hùng.

Trong khi giữ vững niềm tin vào dân thì phải chống các bệnh: xa nhân dân, khinh nhân dân, sợ nhân dân; không tin cậy nhân dân: không hiểu biết nhân dân; không yêu thương nhân dân.

Không yêu thương và tin tưởng nhân dân là nguyên nhân của căn bệnh nguy hiểm - bệnh quan liêu, mệnh lệnh.

Bệnh này sẽ dẫn đến kết quả là "hỏng việc".

Con người là động lực của cách mạng được nhìn nhận trên phạm vi cả nước, toàn thể đồng bào, song trước hết là ở giai cấp công nhân và nông dân.

Điều này có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Nhà nước mới theo tư tưởng của Hồ Chí Minh lấy công - nông - trí làm nền tảng.

Từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười phải nhìn nhận và đánh giá đúng giai cấp đứng ở trung tâm của thời đại mới,đó là giai cấp công nhân.

Chỉ có giai cấp công nhân với những đặc điểm chung và riêng mới lãnh đạo được dân tộc đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản.

Muốn vậy giai cấp công nhân chỉ có liên minh với giai cấp nông dân và gắn bó với dân tộc mới trở thành lực lượng hùng mạnh.

Không phải mọi con người đều trở thành động lực mà phải là những. con người được giác ngộ và tổ chức.

Họ phải có trí tuệ và bản lĩnh, văn hóa, đạo đức, được nuôi dưỡng trên nền truyền thống lịch sử và văn hóa hàne ngàn năm của dân tộc Việt Nam...

Chính trị, văn hóa, tinh thần là động lực cơ bản trong động lực con người.

Con người là động lực chỉ có thể thực hiện được khi hoạt động có tổ chức, có lãnh đạo.

Vì vậy, cần có sự lãnh đạo của Đảng cộng sản.

Giữa con người - mục tiêu và con người - động lực có mối quan hệ biện chứng với nhau.

Càng chăm lo cho con người - mục tiêu tốt bao nhiêu thì sẽ tạo thành con người -động lực tốt bấy nhiêu.

Ngược lại, tăng cường được sức mạnh của con người - động lực thì sẽ nhanh chóng đạt được mục tiêu cách mạng.

Phải kiên quyết khắc phục kịp thời các phản động lực trong con người và tổ chức.

Đó là chủ nghĩa cá nhân.

Thứ vi trùng rất độc này đẻ ra hàng trăm thứ bệnh: thói quen truyền thống lạc hậu, tàn tích xã hội cũ để lại, bảo thủ, rụt rè không dám nói. không dám làm, không dám đề ra ý kiến, tóm lại không dám đổi mới và sáng tạo.

b) Quan điểm của Hồ Chí Minh về chiến lược"trồng người'

- "Trồng người" là yêu cầu khách quan, vừa cấp bách, vừa lâu dài của cách mạng.

Trên cơ sở khẳng định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng.

Hồ Chí Minh rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, đào tạo, rèn luyện con người.

Người nói đến "lợi ích trăm năm" và mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội là những quan điểm mang tầm vóc chiến lược, cơ bản, lâu dài, nhưng cũng rất cấp bách.

Nó liên quan đến nhiệm vụ "trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa" và "trồng người".

Tất cả những điều này phản ánh tư tưởng lớn về tầm quan trọng có tính quyết định của nhân tố con người: tất cả vì con nguời, do con người.

Như vậy con người phải được đặt vào vị trí trung tâm của sự phát triển.

Nó vừa nằm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước với nghĩa rộng, vừa nằm trong chiến lược giáo dục và đào tạo theo nghĩa hẹp.

"Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa

+ Con người xã hội chủ nghĩa đương nhiên phải do chủ nghĩa xã hội tạo ra.

Nhưng ở đây trên con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội thì "trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa".

Điều này cần đươc hiểu là ngay từ đầu phải đặt ra nhiệm vụ xây dựng con người có những phẩmchất cơ bản, tiêu biểu cho con người mới xã hội chủ nghĩa, làm gương, lôi cuốn xã hội.

Công việc này là một quá trình lâu dài, không ngừng hoàn thiện, nâng cao và thuộc về trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, gia đình, cá nhân mỗi người.

+ Mỗi bước xây dựng những con người như vậy là một nấc thang xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Đây là mối quan hệ biện chứng giữa "xây dựng chủ nghĩa xã hội" và "con người xã hội chủ nghĩa".

+ Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người mới xã hội chủ nghĩa có hai mặt gắn bó chặt chẽ với nhau.

Một là kế thừa những giá trị tốt đẹp của con người truyền thống (Việt Nam và phương Đông).

Hai là, hình thành những phẩm chất mới như: có tư tưởng xã hội chủ nghĩa: có đạo đức xã hội chủ nghĩa; có trí tuệ và bản lĩnh để làm chủ (bản thân, gia đình, xã hội, thiên nhiên...); có tác phong xã hội chủ nghĩa; có lòng nhân ái, vị tha, độ lượng.

- Chiến lược "trồng người" là một trọng tâm, một bộ phận hợp thành của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

Để thực hiện chiến lược "trồng người", cần có nhiều biện pháp, nhưng giáo dục và đào tạo là biện pháp quan trọng bậc nhất.

Bởi vì giáo dục tốt sẽ tạo ra tính thiện, đem lại tương lai tươi sáng cho thanh niên.

Ngược lại, giáo dục tồi sẽ ảnh hưởng xấu đến thanh niên.

Nội dung và phương pháp giáo dục phải toàn diện về cả đức, trí, thể, mỹ, phải đặt đạo đức, lý tưởng và tình cảm cách mạng, lối sống xã hội chủ nghĩa lên hàng đầu.

Hai mặt đức, tài thống nhất với nhau, không tách rời nhau, trong đó đức là gốc, là nền tảng cho tài năng phát triển.

Phải kết hợp giữa nhận thức và hành động, lời nói với việc làm... có như vậy mới có thể "học để làm người".

"Trong người" là công việc "trăm năm", không thể nóng vội "một sớm một chiều", không phải làm một lúc là xong cũng không phải tùy tiện, đến đâu hay đến đó.

Nhận thức và giải quyết vấn đề này có ý nghĩa thường trực, bền bỉ trong suốt cuộc đời mỗi con người, trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Hồ Chí Minh cho rằng: "Việc học không bao giờ cùng, còn sống còn phải học".
 
Back
Top Dưới