Cập nhật mới

Khác Tử Cấm Thành

Tử Cấm Thành
Trâm


“Trăm năm gương lược soi người ấy

chải xuống cho đời sợi tóc mây

rồi mai vắng bóng hình yêu dấu

còn đâu một thuở lược trâm cài...”

Nữ nhân nào trong thâm cung ấy đã từng cài lên tóc những chiếc trâm này?

Các bạn lên page Tử Cấm Thành - 故宫北京 để xem nhiều hình ảnh hơn nhé.
 
Tử Cấm Thành
.


#Tử_Cấm_Thành_nghìn_lẻ_một_đêm

#An_dịch_và_viết

ĐÊM THỨ MƯỜI LĂM

Ở phía Tây của Tử Cấm Thành có một "quần thể" các cung được mệnh danh là Tây Lục Cung, là nơi ở dành cho các phi tần hậu cung đời Thanh.

Tây Lục Cung gồm cung Trữ Tú, cung Dực Khôn, cung Vĩnh Thọ, cung Hàm Phúc, cung Trường Xuân và điện Thái Cực.

Hơn non nửa sinh hoạt thường ngày của thái hậu Từ Hy đều ở Tây Lục Cung.

Đó là những nơi có âm khí nặng nề nhất và không bao giờ thiếu những chuyện kỳ quái.

Diện tích chung của Tử Cấm Thành là hơn 720 nghìn mét vuông, song hiện nay mở cửa cho du khách tham quan chỉ tầm 400 nghìn mét vuông.

Bởi Tử Cấm Thành có quá nhiều bí ẩn nên biết bao lời đồn đại đã nổi lên, ví như 5 giờ chiều là khoảng thời gian Tử Cấm Thành đóng cửa không cho khách vào tham quan nữa.

Nghe nói đó là lúc âm khí nặng nhất, thậm chí ngay cả đi tuần người ta cũng phải dùng chó săn.

Nghe đồn oan hồn thường "ra" ngoài "dạo chơi" lúc nửa đêm, nơi thường gặp nhất là ở các con đường quanh Tây Lục Cung.

Có người kể lại rằng hồi mới giải phóng, những người vào Tử Cấm Thành lúc nửa đêm thường biến mất, lại có lời đồn rằng lúc trời mưa gió nổi sấm nổi chớp từng có người thấy trên tường xuất hiện một cái bóng, đó là bóng của một người phụ nữ, cô ta đang xoay người cầm lấy thứ gì đó.

Còn có chuyện tầm hai ba giờ sáng sẽ hay nghe thấy tiếng phụ nữ khóc, vân vân...

Song tất cả cũng chỉ dừng lại ở mức "lời đồn", tuy vậy, như một luật bất thành văn, mặt trời vừa lặn là Tử Cấm Thành đóng cửa.

Ở Tử Cấm Thành có một con đường tên là "đường âm dương".

Đó là những con hẻm dài hun hút với những bức tường cao màu đỏ.

Sở dĩ gọi là đường âm dương là vì vào đêm trăng sáng, trên mặt đất của những con hẻm ấy sẽ bị chia thành hai phần sáng tối, nghe nói ma sẽ đi trên những con đường này, song những con ma này cũng rất có "lề lối quy củ", nó sẽ tránh con người và sẽ không đi vào phần đường của con người.

Hoặc là bạn đi bên sáng, hoặc là bạn đi bên tối, chứ nếu bạn đi một bước sáng (dương) một bước tối (âm) hay đi giữa lằn ranh sáng tối thì ma sẽ không có chỗ đi, nó sẽ nổi giận.

Chuyện kể rằng vào một ngày đầu thập niên tám mươi, có một người ở trong khu vực nhà ở dành cho người lao động ngay tại trong cung, đó là một chàng trai khỏe mạnh hơn ba mươi tuổi, trong lúc tán gẫu cùng những người khác thì có đề cập đến con đường âm dương này, anh ta cực kỳ không tin về ma quỷ, tuy không cao ráo nhưng được cái rất tráng kiện, anh ta có nước da ngăm ngăm, nghe đâu một bữa cơm có thể ăn được tám cái bánh bao và một tô cơm cùng lúc.

Để chứng minh bản thân không tin vào ma quỷ, anh ta bèn vỗ ngực nói rằng tối đó sẽ đi tới đường âm dương, dù ai khuyên thế nào cũng không nghe.

Sớm hôm sau mọi người tò mò hỏi han xem thế nào.

Anh ta vốn là người thích hay nói đùa nhưng không ngờ hôm ấy lại nói rằng: "Mọi người đừng nhắc tới chuyện này nữa, đừng nói gì hết cả, tôi sau này ngay cả nhắc cũng không dám nhắc ấy!'.

Lúc thốt ra những lời này thì mặt mũi anh ta trắng bệch, cả người run rẩy.

Mọi người thoạt trông là biết ngay có chuyện chẳng lành liền vội hỏi đầu cua tai nheo.

Hóa ra lúc sẩm tối ngày hôm qua, khi anh ta đang nấu cơm thì nghe có tiếng ai đó thủ thỉ bên tai: "Nghe nói ngươi muốn đi đường âm dương?".

Anh ta xoay đầu.

Không có ai cả.

Tưởng bản thân nghe nhầm nên anh ta lại tiếp tục cúi người vo gạo, song tiếng nói kia lại vang lên lần nữa: "Có phải ngươi muốn đi đường âm dương không?".

Đến lúc này thì anh ta sợ tới mức kêu ré lên, ngay cả nồi gạo cũng hất đổ rồi chạy vội vào phòng.

Mẹ anh ta thấy thế bèn gào to gọi hàng xóm, không ai thấy tận mắt chuyện xảy ra, cũng chẳng biết thật hay giả nên chỉ đành cùng nhau chung tay dọn dẹp rồi mạnh ai về nhà nấy.

Mọi người nghe xong tưởng là anh ta sợ không dám đi nên cố ý tới hỏi những nhà hàng xóm chung quanh, kết quả ai nấy cũng đều kể rằng khi đó anh ta nằm trên giường, ngay cả nói cũng nói không ra lời.

Từ đó trở về sau, sức khỏe của anh ta càng ngày càng yếu, sức ăn cũng giảm, bệnh tật liên miên.

--------------------------------------

Hình bên dưới là một ví dụ về đường âm dương nhưng mà ảnh này được chụp vào ban ngày rồi, các bạn có thể tưởng tượng thành ban đêm khi trăng sáng con đường này sẽ được chia thành 2 mảng sáng tối á.

Nguồn: Qing An
 
Tử Cấm Thành
.


#Tử_Cấm_Thành_nghìn_lẻ_một_đêm

#An_dịch_và_viết

ĐÊM THỨ HAI MƯƠI: UYỂN DUNG

Trong lịch sử phong kiến kéo dài năm nghìn năm của đất nước Trung Hoa, vị hoàng hậu cuối cùng của chế độ này chính là Quách Bố La Uyển Dung.

Cuộc sống của bà là một chuỗi bi kịch được viết bằng máu và nước mắt.

Hôm nay, chúng ta cùng nhau xuyên qua dòng sông dài của lịch sử, tìm hiểu về cuộc đời bạc bẽo của người phụ nữ sắc nước hương trời này.

Quách Bố La Uyển Dung biểu tự Mộ Hồng, tự hiệu là Thực Liên, là người bộ tộc Tahua (Đoạt Oát Nhĩ) gốc Mông Cổ, xuất thân từ gia tộc Quách Bố La thị thuộc Mãn Châu Chính Bạch kỳ.

Cao tổ là Quách Bố La A Nhĩ Cảnh, là phó đô thống dưới thời Hàm Phong, cũng được phong lần lượt là Vũ Hiển tướng quân và Kiến Uy tướng quân.

Thân phụ của bà là một đại thần tên Quách Bố La Vinh Nguyên, còn mẹ bà là cháu gái của Định Quận vương Ái Tân Giác La Phổ Hú và là con gái thứ tư của Bối lặc Ái Tân Giác La Dục Trưởng.

Sau khi sinh Uyển Dung, mẹ Uyển Dung cũng qua đời do sốt sản hậu, từ đó Uyển Dung được nuôi dạy bởi mẹ kế - cũng là dì họ tên là Hằng Hương.

Bà cũng là cháu gái của Định quận vương Phổ Hú, là con gái thứ hai của Bối lặc Dục Lãng.

Uyển Dung có một anh trai cùng mẹ là Nhuận Lương, về sau cưới em gái lớn của Phổ Nghi là Uẩn Anh và một em trai khác mẹ là Nhuận Kỳ, về sau cưới em gái thứ ba của Phổ Nghi là Uẩn Dĩnh.

Thân phụ của Uyển Dung - Vinh Nguyên, là một quý tộc Mãn có tư tưởng khoáng đạt, quan điểm nam nữ bình đẳng, cho phép con gái được tiếp thu giáo dục như các con trai.

Thuở nhỏ, Uyển Dung sống cùng gia đình ở Thiên Tân, được mẹ kế Hằng Hương chú tâm dạy dỗ các quy tắc truyền thống.

Ở tuổi thiếu niên, bà được cho được học ở trường do Giáo hội Cơ đốc Mỹ thành lập, theo học tiếng Anh, đàn piano, đặc biệt bà rất hâm mộ nhạc jazz.

Ngoài ra, gia đình còn mời một số gia sư riêng cho bà, dạy cả kiến thức, âm nhạc, hội họa phương Tây.

Trong số đó có cả một gia sư người Mỹ sinh tại Trung Quốc là bà Isabel Ingram dạy tiếng Anh.

Chính vị gia sư này đã đặt tên tiếng Anh cho bà là Reasa. (Theo Wikipedia)

Hồi trẻ, Uyển Dung nổi tiếng là mỹ nhân, bà vào cung lúc mới mười sáu tuổi.

Song Uyển Dung được chọn không phải nhờ nhan sắc và sự đa tài mà dưới sự chở che của Cẩn Hoàng quý phi (tức Cẩn phi - chị gái của Trân phi thời vua Quang Tự), Phổ Nghi mới miễn cưỡng đồng ý.

Bởi khi đó, người Phổ Nghi chọn đầu tiên không phải Uyển Dung mà là Văn Tú, song Uyển Dung vừa cao quý vừa xinh đẹp, gia thế lại hiển hách nên cuối cùng được lên ngôi hoàng hậu còn Văn Tú thì trở thành phi tử.

Năm 1911, chế độ phong kiến kéo dài hàng ngàn năm của Trung Hoa đi đến hồi kết, quốc gia từ chế độ quân chủ chuyển sang cộng hòa.

Khi đó, chính phủ dân quốc dành cho tôn thất nhà Thanh một "ưu đãi", đó là "sau khi hoàng đế Đại Thanh từ vị, tôn hào vẫn còn và không bị phế, Trung Hoa dân quốc đối đãi bằng lễ dành cho quân chủ ngoại quốc", vì vậy, hôn lễ của tốn đế Phổ Nghi (tốn tức là khiêm nhường) vẫn giống hoàn toàn với lễ nghi đại hôn dành cho hoàng đế.

Sau đại hôn, Phổ Nghi rất ít khi ở lại cung Trữ Tú.

Bỗng chốc, việc hoàng đế ở lại đã trở thành việc hiếm lạ.

Trời chỉ vừa trở sáng là Phổ Nghi đã rời đi, song cũng không hề mở miệng quở trách bất kỳ việc gì liên quan đến chuyện "phòng the".

Còn tinh thần của Uyển Dung thì càng ngày càng suy sụp, lớp trang điểm trên gương mặt thường lưu lại vết nước mắt.

Giữa cuộc sống kỳ dị như thế này, mối quan hệ giữa Phổ Nghi và Uyển Dung cũng không cách nào bình thường nổi.

Nếu ví Uyển Dung là một ngọn lửa hừng hực cháy thì Phổ Nghi đích xác là một que củi không thể đốt, ông có sở thích khác, còn Uyển Dung chẳng qua chỉ là một bức bình phong dùng để ứng phó mà thôi.

Dần dà, Uyển Dung dần nhận ra nguyên nhân thật sự.

Bà rơi vào nỗi buồn chẳng thể giải thoát, vừa ngại nói với người ngoài vừa chẳng cách nào bình ổn được nội tâm, không còn cách nào khác, bà chỉ đành tìm kiếm những thú vui khác.

Trong cung, vì nhiều lần đau bụng không dứt nên bà bất đắc dĩ phải giảm đau bằng thuốc phiện, lâu dần thành nghiện và không tài nào thoát khỏi được, cuối cùng sa vào vũng bùn ma túy.

Từ góc độ nào đó nhìn nhận thì đây là sự tất yếu chắc chắn sẽ xảy ra trong cuộc sống đang dần mục nhát của cung đình nhà Mãn Thanh, song nếu nhìn ở một góc độ khác thì sẽ cảm thấy có phần kỳ lạ.

Về tâm trạng của Uyển Dung, ta không thể đoán bừa được, song theo như sự kể lại của Tôn Diệu Đình thì: "Uyển Dung cũng không phải kẻ ngốc, tất nhiên hoài nghi Phổ Nghi đương trẻ trung sao có thể bị bệnh gì được?

Nhưng cái khó là mở miệng với "hoàng thượng", lại chẳng cách nào đâm vỡ lớp giấy này nên chỉ có thể chịu đựng trong đau khổ..."

Thường thì khi buồn, Uyển Dung rất ít khi viết chữ, song lại cực kỳ thích đọc sách.

Nhưng việc đọc sách không thể nào xua tan được nỗi sầu, ngược lại còn tăng thêm phiền não.

Đôi khi bà sẽ ngẩn người, mãi vẫn chẳng nói câu nào.

Thái giám trong cung ai cũng biết từ bé bà chỉ ở trong khuê phòng, chưa từng ra cửa, lại hiếm khi về nhà thăm cha mẹ, không ai chia sẻ, lại "vớ" phải ông chồng như Phổ Nghi, những sầu bi này biết nói với ai cho đặng?

Trong một thời gian rất dài, Phổ Nghi rất lãnh đạm với Uyển Dung, song với một người cực sĩ diện như Uyển Dung, bà không thể nào chấp nhận bỏ qua cái danh hão hoàng hậu, vì vậy đã tư thông với hai phụ tá của Phổ Nghi là Lý Thể Ngọc và Kỳ Kế Trung, sau đó mang thai và sinh ra một bé gái.

Về việc hút thuốc phiện và tư thông này, Uyển Dung nhận được sự cổ vũ cực kỳ tích cực từ phái anh trai của mình, trên thực tế, anh trai bà từ lâu đã bán đứng bà đổi lấy lợi ích.

Năm 1935, đến tận khi Uyển Dung sắp sinh, Phổ Nghi mới biết được Uyển Dung tư thông với kẻ khác song vẫn để bà sinh con ra.

Sau khi Uyển Dung hạ sinh, Phổ Nghi ngoài mặt nói dối bà rằng đã mang con cho anh trai bà nuôi hộ, song thực chất đã ném con bà vào lò lửa.

Còn Uyển Dung thì không biết rằng con bà sớm đã vong mạng.

Phổ Nghi cho rằng đây là sai lầm không thể tha thứ nên đã biếm bà vào "lãnh cung", lại thêm điên loạn và nghiện ngập nên dần bị tâm thần, sau đó Phổ Nghi đã đuổi bà đến sống tại một bệnh viện hẻo lánh.

Trải qua biết bao lần đả kích, chỉ trong vòng năm năm, một người phụ nữ đẹp như hoa như ngọc đã trở thành một kẻ điên không cách nào điều khiển được bản thân, bà không còn biết đến việc điểm trang xinh đẹp là như thế nào nữa mà ngày ngày hỉ nộ vô thường.

Duy chỉ có một thói quen vẫn không đổi, chính là hút thuốc phiện.

Vì bị giam trong phòng và cách biệt với thế giới bên ngoài một thời gian dài, cộng thêm bệnh tình nghiêm trọng nên hai chân bị mất năng lực đứng và đi.

Đồng thời việc bị nhốt lâu khiến mắt Uyển Dung bị mất luôn cả nhãn lực, chỉ có thể nhìn bằng cách ghé mắt qua khe hở giữa các phiến quạt.

Song đôi lúc bà cũng tỉnh táo, và những lúc này bà sẽ vừa khóc vừa mắng chửi phụ thân của mình, mắng rằng ông ta vì cái danh quốc trượng mà hủy đi một đời của con gái mình.

Năm 1945, Liên Xô xâm lược Mãn Châu, Phổ Nghi hoảng sợ bỏ lại Mãn Châu, các bà vợ và hoàng thất để chạy trốn.

Khi đó, Uyển Dung tuy sức cùng lực kiệt nhưng vẫn cố gắng chạy trốn cùng với các thành viên hoàng gia khác đến Hàn Quốc, song giữa đường lại bị bắt và bị đưa đi khắp nhà tù này đến nhà tù khác, chịu đủ bao hành hạ và đói rét khổ sở.

Lúc đầu có kha khá quân lính nghe nói bà là "hoàng hậu" nên tò mò lén đến xem thử, nhưng sau khi nhìn thấy bà quần áo rách bươm, mặt mũi bẩn thỉu, khó thể nào liên hệ đến vị hoàng hậu xinh đẹp ngày nào nên dần không hứng thú nữa.

Trên đường tù đày bà bị giày vò bởi cơn nghiện thuốc, nước mũi nước bọt chảy đầy mặt, mệt đến mức chẳng thể cất bước phải nhờ người cõng hộ.

Khi đến Đôn Hóa thì Uyển Dung gần như đã không còn thần trí, cơ thể càng thêm dơ bẩn, người lúc nào cũng bay một mùi hôi thối.

Trong thời gian này, em dâu của bà tên là Hito Saga luôn cực khổ chăm sóc bà, sau khi Hito bị đày sang nơi khác thì Uyển Dung không còn ai chăm sóc nữa.

Ngày 20 tháng 6 năm 1946, Uyển Dung qua đời, hưởng dương 39 tuổi.

Lịch sử dần đi xa, chỉ để lại cho chúng ta một câu chuyện đầy bi kịch, trong câu chuyện đó có một người phụ nữ bất hạnh, sống ở khoảng thời gian mà chúng ta chẳng thể nào chạm tới, cả đời nếm trải biết bao chông gai và đau khổ.

Nguồn: Qing An

Đây là 1 series dài tập về TCT, các bạn lên page Qing An để tìm hiểu thêm nhé.
 
Tử Cấm Thành
.


Tử Cấm Thành ngày ấy.

Sự tiếc nuối của cả một vương triều...

Nguồn: Tử Cấm Thành- 故宫北京
 
Tử Cấm Thành
.


🤴Hoàng đế cũng phải ngủ một mình

Nhiều người nghĩ rằng các hoàng đế Trung Quốc thường lấy nhiều vợ, nên khả năng họ phải "ngủ chay" là không có.

Trên thực tế, sau khi phi tần được sủng hạnh, họ sẽ phải trở về cung của mình.

Không phi tần nào được phép ở lại qua đêm với hoàng đế.

Tất nhiên, sau mỗi cuộc vui, hoàng đế phải ngủ một mình đến sáng.

🤴Làm vua không hề sung sướng, việc động phòng thôi cũng có thái giám kè kè bên ngoài 5p' 1 lần gọi xem Hoàng thượng còn sống không?

Và 3 lần không lên tiếng thì cẩm y vệ xông vào liền.
 
Tử Cấm Thành
Có thể bạn chưa biết...


Có thể bạn chưa biết...

Những miếng ngọc như ý này, ngoài để trưng cho đẹp, tác dụng chính là để gãi lưng?

🤔 Hoàng gia gãi lưng cũng chanh xả ghê 🤣

Nguồn: Tử Cấm Thành - 故宫北京
 
Tử Cấm Thành
Hoàn Châu Cách Cách trong lịch sử có thật hay không?


[Hoàn Châu Cách Cách trong lịch sử có thật hay không?

Là vị cách cách nào?

Triều Thanh thật sự có Cách Cách xuất thân Hán tộc?]

Như rất nhiều người trong chúng ta đã biết, năm 1997 nữ văn sĩ Quỳnh Dao trong một chuyến du lịch Bắc Kinh khi đi qua địa danh có tên "Mộ công chúa phía tây" đã cảm thấy rất hứng thú, và có hỏi qua người đi cùng đoàn, xem nàng công chúa được chôn ở đó là ai?

Và có một người trong đoàn trả lời rằng đó là ngôi mộ của một nữ tử dân gian, được Càn Long nhận làm nghĩa nữ, và phong làm công chúa.

Từ một lời kể vô thưởng vô phạt của nhân viên cùng đoàn, Quỳnh Dao đã sáng tác nên tiểu tuyết Hoàn Châu Cách Cách và bộ phim được chuyển thể từ đó cũng nổi danh khắp Châu Á.

Vì sao mình lại gọi đó là lời nói "Vô thưởng vô phạt" vì đó là chém gió đó các bạn...

Vị nhân viên đi cùng trí tưởng tượng cũng phong phú quá...

Thực chất, theo các nhà sử học đã khai quật, ngôi mộ trong lời kể đó, là nơi chôn chất 2 vị công chúa của hoàng đế Gia Khánh.

Phần chính của ngôi mộ, là nơi chôn cất Trang Kính Hòa Thạc công chúa, con gái thứ 3 của hoàng đế Gia Khánh.

Sinh năm 1781 và đã kết hôn với một hoàng tử Mông Cổ.

Phần phía tây, chôn cất công chúa thứ tư của Gia Khánh, Trang Kính Cố Luân Công Chúa, cũng kết hôn với một vị hoàng Tử Mông Cổ.

Bởi hai nàng công chúa này mất cùng 1 năm (1811) nên đã được mai táng cùng một nơi.

Theo luật lệ của nhà Thanh, sau khi kết hôn, các công chúa sau khi mất sẽ không được chôn cất trong nghĩa trang hoàng gia, mà sẽ được xây dựng một ngôi mộ riêng.

Vì thế, xung quanh Bắc Kinh có rất nhiêu nơi gọi là "công chúa phần - gongzhufen"

Vậy đó, vậy mà hồi nhỏ, đọc báo thấy kiểu một ngôi mộ nơi hoang vắng, xong rồi nghĩa nữ được nhận vào cung nhưng chết yểu....mình thương ơi là thương.. ai ngờ...

À mà khoan đã, nếu mình nói cho các bạn biết, trong triều đình nhà Thanh thật sự có một nàng công chúa người Hán, và cuộc đời của nàng còn oanh liệt và thú vị hơn nhiều tiểu thuyết Quỳnh Dao thì sao?

Nàng là Hòa Thạc Công chúa, người con gái hán đầu tiên và duy nhất được phong danh hiệu này - Khổng Tứ Trân

Nàng cũng là 1 trong 5 vị công chúa triều thanh nổi tiếng nhất (bài này nói về nàng đã nhé, 4 người sau nếu rảnh mình tổng hợp 1 thể)

Hiếu Trang Thái Hoàng Thái hậu thương cảm, nàng là huyết mạch cuối cùng của nhà họ Khổng, nên mới trắc phong Khổng Tứ Trân làm công chúa.

Khổng Tứ Trinh (1635-1713) con gái của Định Nam Vương Khổng Hữu Đức. hổng Hữu Đức vốn thuộc Hán Quân Chính Hồng Kỳ, đối với triều Thanh nam chính Bắc chiến, có nhiều công lao

Năm 1652 Ông bị đánh bại bởi một tướng nhà Minh - Lý Định Quốc, cả nhà hơn 200 người thiệt mạng, con trai duy nhất cũng bị giết.

Chỉ còn con gái Khổng Tứ Trinh còn sống, và chạy thoát.

Năm 1654 2 năm sau cuộc chạy trốn, Khổng Tứ Trân liều mình quay trở lại Bắc Kinh, cầu xin Thuận Trị Hoàng đế cho cha là Khổng Hữu Đức được chôn cất tại Bắc Kinh.

Thuận Trị hoàng đế vì những công lao của ông với triều đình liền đồng ý, truy phong Khổng Hữu Đức là Định Nam Vương, lập đền thờ tại Bắc Kinh.

Tấm lòng hiểu thảo của Khổng Tứ Trinh, Hiếu Trang Thái Hoàng Thái Hậu nhận nàng làm con gái nuôi, phong hiệu Hòa Thạc Cách Cách và giữ lại trong cung nuôi dưỡng.

Sau đó không lâu, Không Tứ Trinh được gả cho Tôn Diên Linh.

Khổng Hữu Đức đã chết, không còn con trai nối dõi, nên khi cưới Khổng Tứ Trinh, triều đình đã phong Tôn Diên Linh làm tướng quân chỉ huy trấn giữ tại Quế Lâm.

Khổng Tứ Trinh vốn xuất thân danh môn, con gái tướng quân, tính tình cương kiệt, sau khi gả cho Tôn Diên Linh vốn về chức vị, cấp bậc đều thua kém nàng, Khổng Tứ Trấn không hề để Tôn Diên Linh trong mắt, trước mặt chồng luôn lạnh lùng, kiêu hãnh.

Tôn Diên Linh vì biết Khổng Tứ Trinh đối với triều đình dù là nữ nhân nhưng cũng có tiếng nói, lại là một Công Chúa, nên nhường kính chu đáo, hết mực sủng ái.

Một vài năm sau, nghe lời Khổng Tứ Trinh Tôn Diên Linh xin Khang Hy hoàng đế cho về Quảng Tây để sinh sống.

Khang Hy phê chuẩn, phong Tôn Diên Linh thành "thượng trụ quốc" và Khổng Tứ Trinh thành nhất phẩm phu nhân.

Năm Khang Hy Thứ 12, 1673, Loạn Tam Phiên nổ ra, Ngô Tam Quế dẫn quân phản Thanh, Tôn Diên Linh tuy đang trấn giữ Quảng Tây, nhưng năng lực không đủ, các binh sĩ cũ của Khổng Hữu Đức không hề nghe theo lệnh ông.

Tôn Diên Linh tiến thoái lương nan, không biết làm sao.

Binh biến xảy ra, Khổng Tứ Trinh giúp chồng dẹp loạn, lập công ngang những đáng nam nhi khác.

Tuy nhiên, phận nữ nhân trong binh biến, năm 1675, Quế Lâm Thất thủ, chồng và con trai Khổng Tứ Trân bị bắt và giết hại.

Bà bị bắt và giam lỏng ở Côn Minh trong 8 năm.

Đến tận năm 1682, khi Vua Khang Hy dẹp yên "Loan Tam phiên" Quân Thanh chiếm được Côn Minh, Khổng Tú Trinh mới được cứu và đón quay trở về Bắc Kinh, nơi bà vẫn có được lòng trung thành tuyệt đối của các tướng sĩ dưới trướng cha bà.

Năm 1713, sau gần 30 năm cô độc, bà qua đời.

Triều Đình nhà Thanh đã tổ chức Tang Lễ rất lớn, cho vị cách cách người Hán bạc mệnh này.

Sở dĩ, mình hứng thú với cuộc đời bà, vì mộ của bà hiện giờ vẫn chưa được tìm thấy, nhiều truyền thuyết cũng cho rằng, bà chính là nàng Cách cách người Hán oanh oanh liệt liệt một thời và được chôn ở "Mộ Công Chúa Phía Tây" Bắc Kinh.

Cuối cùng, dù nàng Hoàn Châu cách cách trong tiểu thuyết Quỳnh Dao hoàn toàn là hư cấu, nhưng Khổng Tứ Trinh cũng cho chúng ta thấy, triều thành thật sự đã có một nàng cách cách anh dũng, kiêu hãnh và rất "Tiểu yến tử" đúng không?

--------------------

Bài này hơi dài, cám ơn các bạn đã đọc hết...!

*Loạn Tam phiên (1673-1681) là cuộc chiến giữa 3 phiên vương phía nam lãnh thổ Trung Quốc do Ngô Tam Quế cầm đầu chống lại vương triều nhà Thanh cuối thế kỷ 17.

Chiếc chông tại núi Fubo Quảng tây có khắc tên Khổng Tứ Trinh, như minh chứng cho nàng cách cách oanh liệt một thời.

Nguồn: Tử Cấm Thành - 故宫北京
 
Tử Cấm Thành
.


Mấy ngày qua hết coi Diên Hy Công Lược, bị cuốn theo lịch sử Trung Hoa và xem con người đối xử với nhau tạo ra thế thái nhân tình.

Hết Diên Hy Công Lược, bị cuốn vào tiếp bộ phim Chân Hoàn Truyện mới thấy lịch sử Trung Quốc vừa kinh khủng tàn ác, cho tới đầy ngưỡng mộ.

Hoàng Thượng - Càn Long (Hoằng Lịch) của Nguỵ Anh Lạc trong Diên Hy Công Lược, chính là con trai của Chân Hoàn trong Chân Hoàn Truyện.

Chân Hoàn chính là Thái Hậu trùm cuối của Diên Hy Công Lược, ra tay giết chồng là Ung Chính ở Chân Hoàn Truyện để đưa con mình lên làm vua.

Một Tử Cấm Thành đầy oán khí và sát khí, tích tụ qua ngàn năm cho đến đời Càn Long của Diên Hy Công Lược là bắt đầu suy tàn, kết thúc cả một thể chế Quân Chủ Chuyên Chế kéo dài mấy ngàn năm ở Trung Hoa.

Từ đời Càn Long trở đi dòng con cái không còn người tài giỏi và chết non rất nhiều, đó cũng là do nhân quả, ác báo của nhiều đời nhiều kiếp của dòng tộc hoàng gia tạo nên.

Càn Long thọ nhất 88 tuổi, từ sau đó các đời vua không ai qua được ông.

Nhà Thanh thịnh trị nhất trong hai đời vua Ung Chính và Càn Long.

Xem Chân Hoàn Truyện trước để hiểu đời vua Ung Chính, xem Diên Hy Công Lược để có cái nhìn tổng thể về Càn Long, nhưng xem Như Ý Truyện mới có thể hiểu sâu sắc về Càn Long.

Tiếp sau Chân Hoàn Truyện, chính là phim Như Ý Truyện là phần đời sau của nhà Thanh.

Xem phim để coi nhân quả hiện diện trong mỗi nhân vật và vận vào cả một dân tộc, một đất nước ra sao.

Nguồn: Phạm Đinh Phương Đông/fb
 
Tử Cấm Thành
Từ Hi thái hậu


Từ Hi Thái hậu thường được sử sách miêu tả như một bạo chúa, góp phần lớn trong việc gây ra sự sụp đổ của nhà Thanh.

Là một trong số ít những người phụ nữ nắm quyền lực cao nhất trong lịch sử Trung Hoa, xung quanh vị Thái hậu này vẫn còn nhiều điều bí ẩn mà hậu thế vẫn chưa được biết.
 
Tử Cấm Thành
tóm tắt


Bà nhập cung được phong Lan quý nhân sau bà sinh Đồng Trị đế- con trai duy nhất của Hàm Phong thì liền được tấn phong thành Ý Phi rồi Ý Quý phi.

Hàm Phong lúc qua đời đã để lại một chỉ dụ bí mật cho bà Từ An( Hoàng hậu của ông) nếu Ý Quý phi làm loạn hay gì thì lấy đó mà phế đi.

Từ Hy biết được điều này nên sau khi Đồng Trị còn nhỏ kế vị, đã liên kết với Từ An để cùng trị vì.

Sau Từ An vì cảm động mà đã cho Từ Hy xem chỉ dụ đó rồi còn ra lệnh huỷ đi.

Sau rồi Từ An thái hậu qua đời ( nghi bị Từ Hy hại chết), bà nắm quyền tối cao nhất cho đến tận khi qua đời năm 1908.

Dù mang danh thái hậu nhưng ai cũng ngầm hiểu bà như một vị hoàng đế.

Bà sống rất xa hoa, xa hoa nhất nhì Thanh triều.

Ngoài ra để dòng họ của mình liên kết với Hòang gia, bà gợi ý Hàm Phong ban hôn em gái mình là Uyển Trinh cho em trai chồng là Dịch Hoàn( phụ thân Quang Tự đế ) Bà cũng là người đã giết hại ái phi của Quang Tự là Trân Phi.

Cũng vì bà mà người con trai Đồng Trị qua đời.

Từ Hy thái hậu và Hiếu Trang Văn hoàng hậu được xem là 2 người phụ nữ quyền lực nhất trong lịch sử Thanh triều.
 
Tử Cấm Thành
.


Từ Hy thái hậu là... báo chí trong nc quốc tế đã có nhiều ý kiến trái chiều về vị thái hậu này, công và tội của bà, cái nào to cái nào nặng hơn.

Nhưng những thú vui xa xỉ của ng đàn bà quyền lực nhất trung hoa một thời ấy cx là điều đáng đc chú ý.

Trong lịch sử gần 300 năm của vương triều đại Thanh thì có đến 1/6 thời gian quyền lực chính trị bị Từ Hy thâu tóm.

Bà được an táng tại Thanh Đông Lăng ở Tuân Hóa thuộc tỉnh Hà Bắc, cách Bắc Kinh khoảng 125 km về phía đông bắc, cùng 5 vị hoàng đế của nhà Thanh gồm Thuận Trị, Khang Hi, Càn Long, Hàm Phong và Đồng Trị.

Dục vọng mãnh mẽ

Từ Hy thái hậu có thói quen nghe kể truyện sex hoặc nghe truyện cười trước khi đi ngủ.

Sau này tuổi càng cao, cuối đời bà ta đặc biệt thích nghe những câu chuyện sex dân gian, sau này còn phải xem kịch sex mới có thể ngủ được.

Cuối đời, khi đã đến cái tuổi “thấp thập cổ lai hi”, Từ Hy thái hậu đã có mối tình say đắm với trai trẻ người Anh Edmund Backhouse kém mình hơn 50 tuổi.

Trong hồi ký của Edmund Backhouse ghi rằng: “Năm 1899, ông ta đến Trung Quốc khi đó mới 26 tuổi.

Ông là người phong độ, đẹp trai, có học thức và đặc biệt thông thạo rất nhiều ngôn ngữ trong đó có tiếng Mãn Châu, tiếng Mông Cổ và tiếng Hán.

Năm 1902, ông ta vào cung nhà Thanh và sau đó có mối quan hệ tình cảm với Từ Hy thái hậu".

Nhưng thực ra, người Edmund Backhouse yêu nhất trong đại nội không phải là Từ Hy mà chính mà mối tính đồng tính với đại thái giám Lý Liên Anh.

Ông ta cũng không hề có ý định giấu diếm Từ Hy mối quan hệ này.

Theo “Trung Quốc thời báo”, Edmund Backhouse đã từng có quan hệ đồng tính hàng nghìn lần với thái giám trong cung nhà Thanh, và chỉ có hơn hai trăm lần là có quan hệ với Từ Hy thái hậu.

Khi Từ Hy biết ông ta quan hệ đồng tính với đám thái giám thì “dục vọng” cũng trỗi dậy, bà ta đã chỉ thị Lý Liên Anh sắp xếp “cuộc chơi tình dục tập thể” cho bà ta cùng tham gia.

Từ Hy cũng yêu cầu vô độ, bà ta còn đòi dùng cả đồ chơi tình dục và thuốc kích thích để tăng cảm giác mạnh khi yêu.

Những lúc rảnh rỗi Từ Hy cũng thường ngồi với Edmund Backhouse đàm đạo về nữ hoàng Victoria nước Anh.

Cũng có người cho rằng, Từ Hy thực ra cũng không yêu Backhouse mà chỉ dùng anh ta để phục vụ cho những trò vui tình dục, thỏa mãn ham muốn của bản thân mà thôi.

Bữa tiệc đặc biệt

Trong số những bữa tiệc xa hoa nhất lịch sử Trung Quốc, quốc tiệc năm 1874 thết đãi phái đoàn từ phương Tây được cho là tốn kém hơn cả.

Từ Hy Thái hậu tiêu 400 lượng vàng để đãi những thực khách từ phương Tây với hơn 400 thành viên.

Thực đơn hôm đó gồm 140 món, 1.750 người phục vụ, đầu bếp tuyển chọn khắp cả nước và kéo dài trong 1 tuần.

Trong số những món sơn hào hải vị, có thể kể tới sâm thử, não hầu, nem công, chả phượng…

Sâm thử là món chuột nuôi bằng sâm, trải qua 3 đời nuôi như vậy sẽ ra một món “quốc hồn quốc túy”.

Điều đặc biệt để ăn chuột sâm là thực khách phải ăn sống con chuột sơ sinh chứ không được sơ chế.

Não hầu là óc khỉ, trong đó những con khỉ ở vùng núi Thiên Sơn được nuôi bằng thức ăn bổ dưỡng, tắm gội mỗi ngày.

Sau khi nuôi dưỡng tới tuổi trưởng thành, khỉ sẽ bị khoét lỗ trên đầu và dội nước sâm nóng.

Thực khách lúc này sẽ dùng thìa ăn trực tiếp món óc khỉ tại bàn.
 
Tử Cấm Thành
Từ Hi thái hậu


Thâm cung bí sử: Vị Thái Y sống sót sau khi nhà Thanh diệt vong tiết lộ bí mật về vụ bê bối của Từ Hi Thái hậu

Từ Hi thái hậu trở thành người phụ nữ quyền lực nhất trong những năm tháng cuối cùng của triều đại phong kiến Trung Quốc

Có thể nói, nghề làm Thái Y trong cung cấm chính là một trong những công việc nguy hiểm nhất thời phong kiến.

Khi khám bệnh cho các tầng lớp quý tộc, vua chúa, chỉ cần sơ sẩy một chút là có thể bị chém đầu.

Sau khi triều đại phong kiến cuối cùng của Trung Quốc chấm dứt, một vị Thái Y từng may mắn sống sót khỏi lưỡi đao của Từ Hi Thái hậu đã kể lại một bí mật động trời chốn thâm cung mà hoàng gia vẫn luôn giấu kín.

Từ Hi - vị Thái hậu chuyên quyền, độc đoán

Trong thời kỳ nhà Thanh, có 2 gia tộc có thế lực lớn nhất chính là Ái Tân Giác La và Diệp Hách Na Lạp.

Phần lớn những người hâm mộ phim truyền hình cổ trang Trung Quốc có lẽ đều đã rất quen thuộc với cái tên Ái Tân Giác La, bởi vì đây là dòng dõi hoàng thất.

Diệp Hách Na Lạp mặc dù không phải hoàng tộc nhưng cũng có nhiều gương mặt nổi danh trong lịch sử, đặc biệt là các mỹ nhân.

Hai dòng họ này không ngừng đấu đá với nhau, nhưng cũng thường kết giao với nhau bằng hình thức hôn phối.

Hàm Phong Đế - vị vua thứ 9 của Thanh triều đã từng chọn một thiếu nữ 15 tuổi dòng họ Diệp Hách Na Lạp làm vợ trong kì tuyển tú năm xưa.

Người này về sau được phong thành Lan Quý Nhân và cũng chính là Từ Hi Thái hậu.

Bốn năm sau, Lan Quý Nhân sinh hạ cho vua Hàm Phong một vị hoàng tử, vua rất vui mừng nên phong cho nàng lên làm Ý Quý Phi.

Nhiều năm về sau, vua Hàm Phong dần chìm đắm trong nữ sắc và thuốc phiện, sức khỏe ngày càng yếu đi và băng hà khi chỉ mới 31 tuổi.

Lúc này, triều đình đành phải để vua Đồng Trị, con trai duy nhất của tiên đế và Ý Quý Phi lên ngôi khi vừa tròn 6 tuổi; với sự trợ giúp của 8 vị cố mệnh đại thần cùng Hoàng hậu và Ý Quý Phi nhiếp chính.

Đây là thời điểm Đại Thanh lâm vào tình trạng vô cùng hỗn loạn.

Hoàng hậu trở thành Từ An Hoàng thái hậu (Đông thái hậu), Ý Quý Phi trở thành Từ Hi thái hậu (Tây thái hậu), cùng nhau bồi dưỡng cho vị vua nhỏ tuổi.

Thế nhưng quyền bính thực sự đều nằm hết trong tay Từ Hi, sau khi bà này đã mưu hại hết 8 vị cố mệnh đại thần (3 vị bị xử chết, 5 vị bị giam hoặc bị xung quân)và lấn lướt Từ An - Mẫu hậu Hoàng thái hậu, vốn là người rất nhân từ.

Tuy nhiên, vua Đồng Trị yểu mệnh, đến năm 18 tuổi thì băng hà.

Thái hậu Từ Hi cùng với Thái hậu Từ An liền giáng chỉ đưa Tải Điềm (4 tuổi) vào cung, cho làm con nối nghiệp rồi đưa lệnh kế vị ngay năm ấy, lấy niên hiệu là Quang Tự.

Đương nhiên, Quang Tự làm Hoàng đế chỉ là hư vị, vì mọi quyền hành đều ở trong tay Thái hậu Từ Hi.

Thái hậu "thất tiết" - vụ bê bối chấn động lịch sử được che giấu trong Tử Cấm Thành

Từ Hi thái hậu trở thành một "quả phụ" khi mới 26 tuổi, độ tuổi xuân sắc nhất, nàng sống cô độc trong thời gian nhiều năm, lại nắm trong tay quyền hành to lớn vì vậy khó trách những lúc cảm thấy trống vắng, quạnh quẽ.

Theo "Văn Trần Ngẫu ký" ghi chép lại, thái giám thân cận của Từ Hi thái hậu - Lý Liên Anh luôn hiểu rõ chủ tử của mong muốn điều gì.

Vì vậy, đã giới thiệu cho bà quen biết một thương nhân họ Bạch, người này có vẻ ngoài hào hoa, phong nhã nên rất được Từ Hi yêu thích.

Cho đến một ngày, thái hậu bỗng nhiên thấy thân thể khó chịu, còn thường nôn mửa, tinh thần uể oải.

Lý Liên Anh ngay lập tức đi mời Thái Y đến khám bệnh, sau khi bắt mạch xong, phát hiện Từ Hi thái hậu đã mang thai.

Vị Thái Y này là người thông minh, biết đây là chuyện hệ trọng, nói ra có thể mang họa diệt thân.

Vì vậy, ông chỉ nói với Từ Hi thái hậu triệu chứng này chỉ là do việc triều chính bộn bề dẫn đến cơ thể bị mệt mỏi quá độ, không có gì quá đáng ngại, chỉ cần nghỉ ngơi tốt là được.Tuy nhiên, nhiều ngày trôi qua, Từ Hi thái hậu vẫn cảm thấy khó chịu như ban đầu.

Lúc này liền tiếp tục truyền bị Thái Y thứ 2 đến.

Người này nói thật với Từ Hi rằng ông bắt được hỉ mạch, đồng nghĩa với việc thái hậu đã mang thai.

Từ Hi nghe xong mặt liền biến sắc, nổi cơn thịnh nộ: "Bản cung thủ tiết nhiều năm, làm sao có thể có tin vui được.

Người đâu, mau đưa tên lang băm này ra chém đầu".

Sau khi xử trảm người này, Từ Hi thái hậu cũng sai người trừ khử luôn vị Thái Y đầu tiên.

Hoàng đế Quang Tự sau khi nghe được việc này, liền cho rằng hai vị Thái Y kia không trị khỏi bệnh cho Thái hậu nên mới chịu tội.

Vua liền mời một vị Thái Y tên là Tiết Phúc Thần, đã xin cáo lão về quê vào cung xem bệnh tình cho Từ Hi.

Vị Thái Y này đã có kinh nghiệm khám bệnh nhiều năm, sau khi chẩn đoán biết ngay sự thật; liền nói với Thái hậu đây chỉ là do quá căng thẳng khiến cho khí huyết cản trở, tích ở dạ dày, chỉ cần uống thuốc một thời gian sẽ khỏi.

Sau đó, vị Thái Y này kê cho Từ Hi Thái hậu một phương thuốc có tác dụng phá thai.

Sau khi về nhà, Thái Y Tiết Phúc Thần biết Từ Hi Thái hậu chắc chắn sẽ tìm cách trừ khử mình để diệt khẩu, ông bèn bảo người nhà lập bài vị của mình, truyền tin ra bên ngoài rằng mình đã chết.

Quả nhiên, chỉ vài ngày sau, Từ Hi Thái hậu đã phái người đi giết Tiết Phúc Thần.

Nhưng khi tìm đến nhà, nhìn thấy linh cữu và bài vị được người nhà cúng viếng mới cho qua chuyện này.

Câu chuyện được ghi lại trong cuốn "Văn Trần Ngẫu ký" (những câu chuyện được nghe kể ở trần gian) và lưu truyền đến hiện tại.

Nguồn: Kênh 14
 
Tử Cấm Thành
.


Diện tích của cung điện cổ này khoảng 720.000 m²

Gồm 800 cung, 9999 phòng.

Hãy thử tưởng tượng xem nếu mỗi ngày bạn ngủ 1 gian phòng, thì bạn sẽ mất tới khoảng 27 năm để ở hết tất cả các gian phòng.

Tuy nhiên theo các nhân viên của bảo tàng Cố cung, TCT chỉ có hơn 8600 gian phòng
 
Tử Cấm Thành
Có thể bạn chưa biết=))


Có thể bạn chưa biết.

Có một Cố Cung khác - không toạ lạc tại Bắc Kinh!!

Cố cung Thẩm Dương nằm ở miền đông bắc Trung Quốc được xây dựng năm 1625, với tổng diện tích 4,6 vạn m², có 70 kiến trúc và hơn 300 gian nhà, quy mô và tình hình bảo tồn chỉ sau Cố cung Bắc Kinh trong quần thể kiến trúc hoàng gia hiện tồn tại ở TQ thuộc tỉnh Liêu Ninh.

Cố cung này do dân tộc Mãn xây dựng, lịch sử độc đáo và màu sắc dân tộc Mãn.

Dân tộc Mãn du mục ở miền Đông Bắc Trung Quốc vào thế kỷ 17 cho xây dựng chính quyền Hậu Kim, lúc này hoàng đế Hậu Kim Nỗ Nhĩ Cáp Xích lấy Thẩm Dương làm đô thành, xây dựng hoàng cung, sau khi Hoàng Thái Cực con trai Nỗ Nhĩ Cáp Xích nối ngôi, đổi quốc hiệu Hậu Kim thành "Thanh", và xây dựng xong cung điện, tức là cố cung Thẩm Dương.

Hoàng đế triều Thanh là Hoàng Thái Cực và Phúc Lâm đều lên ngôi hoàng đế ở Cố cung Thẩm Dương.

Sau đó, nhà Thanh chính thức lật đổ triều Minh và chính thức chọn Bắc Kinh làm kinh đô thứ hai, Thẩm Dương chính thức trở thành cố cung.

Chủ thể của cố cung Thẩm Dương xây dựng vào năm 1625, 10 năm sau hoàn thành.

Sau đó, hoàng đế Khang Hy, Ung Chính, Càn Long tiến hành tu sửa.

Cùng với Cố Cung Bắc Kinh – Cố cung Thẩm Dương nằm trong di sản văn hóa thế giới với quy mô và rất bề thế.

Trải hơn 150 năm lịch sử của mình, cho nên cố cung Thẩm Dương đã hấp thụ tinh hoa văn hoá của dân tộc Hán, Mãn, Mông Cổ, Hồi và Tạng là kết tinh văn hoá Trung Hoa, là mốc son quan trọng của Trung Quốc với tư cách là một nước thống nhất và nhiều dân tộc và hiện nay là điểm tham quan hấp dẫn cho du khách.

Nguồn: Tử Cấm Thành
 
Tử Cấm Thành
dấu hiệu??


Triều đại nhà Thanh những năm cuối cùng, vận mệnh quốc gia suy vong.

Trong TCT cũng xảy 1 hiện tượng kỳ quái.

3 vị hoàng đế cuối cùng của nhà Thanh là Đồng Trị Quang Tự Phổ Nghi có đến 3 ngàn cung tần mỹ nữ nhưng đều ko thể sinh con.

Hậu cung ở trong cố cung gồm 3 cung lớn, đó là cung Càn Thanh tượng trưng cho thiên, Giao Thái điện và Khôn Ninh cung tượng trưng cho địa, giao thái điện ở giữa 2 cung tượng trưng cho sự giao hòa âm dương, ngụ ý thiên địa giao cảm sẽ sinh con nối dõi.

Điện này được xây dựng vào triều Minh, phong thủy rất tốt, cho đến năm Gia Khánh thứ 2 của triều thanh 1 trận hỏa hoạn đã thiêu rụi điện Giao Thái về sau mới được xây dựng lại.

Kỳ lạ chính là từ năm gia khánh trở về sau, ng nối dõi của Hoàng đế Mãn Thanh càng ngày càng ít đi.

Cháu trai của Gia Khánh là Hàm Phong chỉ có 2 con 1trai 1 gái.

Cho đến 3 đời hoàng đế cuối cùng là đồng trị quang tự và phổ nghi thì đã tuyệt hậu hoàn toàn.

Có lẽ đây cũng là dấu hiệu cho sự sụp đổ của triều đại phong kiến kéo dài hơn sáu trăm năm này.
 
Back
Top Bottom