Cập nhật mới

Khác Triều Nguyễn Đổi thay

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
391900109-256-k44637.jpg

Triều Nguyễn Đổi Thay
Tác giả: leondt2k
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Viết về một chàng trai xuyên vào thân thể của vị vua thứ hai triều Nguyễn, Minh Mạng.

Tôi sẽ thay đổi vận mệnh đất nước



xuyên​
 
Triều Nguyễn Đổi Thay
Xuyên Không


Bên ngoài nhà ga, chính xác là vị trí đường ray ga tàu vang lên những hồi còi dài báo hiệu xe lửa bắt đầu chuyển động, khi còi dừng những âm thanh chói tai thì những bánh xe bằng thép bắt đầu chuyển động trên hai thanh kim loại dưới mặt đất được đặt song song với nhau gọi là đường ray.

Tại đầu máy xe lửa, các anh nhân viên lái tàu cho đầu xe lửa di chuyển kéo các toa xe hành khách phía sau tiến về phía trước, những loa thông báo được đặt trên khắp các toa xe được bật lên, âm thanh trong loa phát đi thông báo:

"Xe lửa đã lăng bánh, xin quý khách hãy ngồi yên tại chỗ và chuẩn bị vé tàu trên tay, sẽ có nhân viên kiểm soát vé đi kiểm vé lại của quý khách.

Mong quý khách có trải nghiệm vui vẻ trên chuyến xe lửa, xin cảm ơn".

Tại toa đầu tiên của xe lửa, một trong những toa xe lửa hạng sang, được thiết kế sang trọng và bắt mắt.

Có hai dãy bàn song song với mười bàn, bên trái đánh số từ 1A tới 5A còn bên phải là 1B tới 5B, tôi ngồi bàn số 3A nhìn ga tàu qua cửa sổ.

Tôi đã để vé tàu trên bàn sẵn cùng một cuốn sổ tay, tôi còn chuẩn bị kỹ ba lô đồ đạt cho chuyến đi, bản thân tôi thường đi tàu nên những điều cơ bản này tôi đã biết hết.

Số trên tấm vé chuyến Hà Nội đi Huế của tôi có mã vé 062313, mà hôm nay cũng là thứ sáu ngày mười ba và ngày âm là ngày hai mươi ba, tôi thở một tiếng dài vì sự trùng hợp này, tôi mong là không có gì xảy ra với tôi hết rồi tôi ngồi bắt tréo hai chân với nhau, lưng thì dựa vào một cái đệm ghế nhìn mã vẽ tàu.

Vì đây là toa hạng sang nên chất lượng dịch vụ, cơ sở vật chất sẽ tốt hơn, tôi cho gọi nhân viên:

"Em ơi lấy cho anh một ấm trà nóng và dĩa trái cây nhe".

Nhân viên toa tàu đi chuẩn bị và không lâu sau nhân viên đem cho tôi ấm trà, dĩa trai cây và tách trà: "Chúc quý khách ngon miệng".

Tôi gật đàu nhẹ rồi ngồi thẳng lưng lại dùng tay rót trà ra tách và nhâm nhi tách trà được chuẩn bị.

Dù tôi không nhìn ra cửa sổ nhưng những đường nét thoải mái trên khuôn mặt tôi được ánh nắng mặt trời xuyên qua cửa kính làm bừng sáng.

Sau đó tôi đặt tách trà lên bàn rồi lấy một cuốn sách lịch sử trong túi sách lên tay rồi mở sổ tay ghi chép những thông tin cần thiết vào cuốn sổ.

Tôi là mẫu người hướng nội và tôi có đam mê với hai môn địa lý, lịch sử nhưng bản thân lại thích lịch sử hơn.

Tôi là sinh viên năm cuối đang học tại khoa lịch sử của trường đại học Sư Phạm Hà Nội và tôi trên đường tới thành phố Huế để nhận công việc đầu tiên tại viên nghiên cứu khảo cổ di tích lịch sử cung đình Huế và khai quật một số di tích cần thiết để nghiên cứu.

Mà quên nữa tôi chưa giới thiệu cho mọi người biết tên, tên tôi là Thanh, năm nay tôi vừa tròn hai mươi tuổi đang sống tại Hà Nội cùng với gia đình.

Nhà tôi chỉ có ba người, cha tôi là cựu phóng viên chiến trường giờ đang làm trong tòa soạn nhà nước Báo Nhân Dân, còn mẹ tôi là nữ quân nhân trên còn đường huyền thoại đường mòn Hồ Chí Minh và giờ mẹ tôi làm nội trợ ở nhà để lo lắng cho gia đình.

Chính vì cha mẹ có liên quan tới cách mạng nên tôi lại không thích đi theo con đường mà cha mẹ tôi đã chọn.

Lúc tôi học lớp mười hai cha mẹ tôi hướng tới vào ngành báo chí nhưng tôi lại chọn học khoa lịch sử tại trường đại học sư phạm Hà Nội vì tôi rất mê lịch sử và nhớ rất rõ mọi chi tiết của tất cả các sách có liên quan tới lịch sử nhất là về sử Việt trong đó có cuốn Đại Việt sử ký toàn thư hay các bản đồ cổ.

Khoảng thời gian đó tôi và cha tôi chiến tranh lạnh với nhau, mẹ là người đứng giữa hai bên để khuyên và tâm sự.

Vì một lý do nào đó mà tôi không biết vào một buổi tối thứ bảy không lâu sau đó trong bữa cơm chiều cha tôi nói:

"ăn xong ra phòng khách cha có việc muốn nói".

"Dạ con biết rồi" nhưng tôi biết cha định nói chuyện gì rồi.

Khi ăn xong tôi ra phòng khách, cha tôi đã đợi sẵn ngoài đó.

Tôi ngồi xuống cằm ấm trà rót vào tách trà mời cha tôi: "cha muốn nói gì với con ạ?".

Cha tôi ôn tồn cất lời: "con nói con đam mê lịch sử?

Vậy nói cho cha biết nước Vạn Xuân do ai thành lập, tồn tại bao lâu và thuộc thời kỳ nào?".

Tôi biết cha đang thăm dò tôi, tôi nhất định phải chấn minh được cho cha thấy đam mê của bản thân:

"Nước Vạn Xuân do Lý Nam Đế sáng lập với huý là Lý Bí, nước Vạn Xuân tồn tại trong 58 năm truyền được ba đời vua và nước Vạn Xuân trong hai thời kỳ Bắc thuộc lần 2 và lần 3".

Ánh mắt cha tôi nhìn thẳng vào hai mắt tôi:

"Con có chắt những gì con nói là đúng không?".

Tôi không e sợ ánh mắt đó, kiên định với những gì mình nói:

"Cha muốn con nói thêm thông tin liên quan không?

Nhưng con chắc chắn những câu hỏi đó liên quan tới vấn đề chính".

Cha tôi cười đáp lời tôi:

"Tốt tốt, cha không còn gì để hỏi con nữa?

Cha sẽ cho con học khoa lịch sử, cho con theo đuổi đam me".

Tôi ngơ ngác một lúc rồi cũng hiểu được những gì cha tôi vừa nói.

Tôi vui mừng hò hét như một tên thần kinh:

"Vui quá, vui quá".

"Rồi rồi, có gì đâu mà con vui quá vậy?"

Tôi cười một lúc rồi tôi cũng bình tĩnh quay sang cha nhìn với đôi mắt đầy quyết đoán:

"Cha đã tin tưởng con thì con sẽ không phụ sự kỳ vọng của cha".

Quay lại tình hình trên tàu, vé của tôi đã được nhân viên kiểm tra xong vì tôi ngồi hàng ghế hạng sang nên mọi thứ đều được làm nhanh chóng.

Sau khi kiểm tra vé xong tôi đóng cuốn sách lại, đặt viết xuống và ngủ thiếp đi vì tối qua tôi mãi làm một đồ án tốt nghiệp với chuyên đề kinh thành Huế.

Đang liêm diêm và chìm sâu vào giấc mộng đột nhiên lao trên tàu thống báo:

"Kính thưa quý khách xe lửa mang biện số A-1400 đang tiếp nhiên liệu tại ga Thanh Hóa trong vòng một tiếng, quý khách có thể mua sắm hay giải tỏa mệt mỏi trong thời gian này mong quý khách thông cảm và tàu sẽ được khởi hàng sau một tiếng nữa, xin cảm ơn quý khách đã đồng hành trên chuyến tàu".

Lúc đó tôi từ từ mở mắt ra, tôi ngáp lên thành tiếng rồi cất quyển sách và sổ tay vào ba lô rồi đeo ba lô lên vai rồi từ từ đi xuống toà tàu và đi tới một tiệm sách cổ trong nhà ga chuyên bán các loại sách cổ thời Pháp và thời Nguyễn, tôi đi từng bước vào bên trong và đập vào mắt tôi là tấm bản đồ cổ thời Pháp vẽ về bán đảo Đông Dương và một vài phụ kiện thời Nguyễn.

Tôi rất thích và tôi đã dùng số tiền để dành mua tấm bản đồ đó và một vài món phụ kiện nhỏ, sau một hồi tranh cải với chủ tiệm để được giảm giá và tôi cũng đã sở hữu được tấm bản đồ đó vì tôi có sở thích sưu tầmđồ cổ nhưng đây là lần đầu tiên đi mua.

Lúc đó tôi còn mua thêm vài đồng xu cổ thời Trần để làm kỷ niệm và tôi còn ép chủ tiệm để có được những thứ với mức giá rẻ nhất rồi tôi quay về toa tàu, tôi chỉ cười và cầm các món đồ trên tay để xem tấm bản đồ thật kỹ càng.

Khi tôi trở về toa tàu ngồi tôi vẫn cứ tỏa ra vẽ vui sướng vì đã sở hữu món đồ quý nhưng không ngờ tấm bản đồ và vài đồng xu cổ sẽ giúp ít rất nhiều cho tôi khi tôi làm đồ án tốt nghiệp.

Loa trên tàu thông báo:

"Xin quý khách hãy chú ý tàu sẽ khởi hành sau vài phút nữa, quý khách chuyến Hà Nội đi Huế trên tàu A-1400 khẩn trương trở lại tàu.

Sẽ có người tới kiểm tra lại vé của quý khách".

Tôi cuốn lại bản đồ để vào ba lô rồi lấy mấy đồng xu cổ cùng tiền giấy ra xem, tôi nhìn kỹ và lật sách ra xem lại thì ra đây là xu cổ Gia Long thông Bảo.

Tôi cũng lục tìm các loại xu khác thì có xu thời Minh Mạng và Tự Đức, tự nhiên tôi thấy có đồng xu lạ không có trong lịch sử nhưng tôi lại không nghĩ nhiều rồi tôi cũng chìm vào giấc ngủ.

Trời đã tối và bản thân đang ngủ thì tôi cảm thấy toa tàu rung lắt vô cùng mạnh làm tôi tỉnh giấc, chưa kịp định hình rõ mọi thứ xung quanh thì tôi nghe tiếng một vụ nổ lớn và có lửa bốc lên từ toa tàu kéo.

Ai náy đều sợ hãi và kinh hoàng, mọi người la hét vì sợ và sau một vài phút toa tàu lật khỏi đường ray và lao xuống vực rồi bừng cháy dữ dội, đầu tôi va vào cửa kính trên toa tàu một cú rất mạnh làm tôi bất tỉnh ngay sau đó.

Trước khi bất tĩnh tôi thấy một bóng người đứng nhìn tôi: "cậu là nhân tố thay đổi lịch sử nước Việt".

Trong đầu tôi nghĩ thay đổi gì chứ, tôi sắp chết tới nơi mà cha mẹ tôi còn chưa báo hiếu được mà rồi ý thức mất dần và cơ thể cũng liệm dần đi rồi buông tay.

Trên tay tôi là đồng xu cổ lạ kỳ đó rớt xuống sàn tàu và lăng ngược về chỗ tôi bất tĩnh, đồng xu hòa cùng với máu của tôi phát sáng lên giữa đống đổ nát trên toa tàu.

Ngay ngày hôm sau trên đài truyền hình VTV thông báo:

"Đêm qua một đoàn tàu từ Hà Nội đến Huế mang ký hiệu A-1400 rơi xuống vách núi Mồng Gà, số người tử vong càng tăng cao và công an đã vào cuộc tìm ra nguyên do, mọi tình tiết liên quan sẽ được chúng tôi ghi nhận và thông báo vào số tin tức tiếp theo".
 
Triều Nguyễn Đổi Thay
Ming Mạng


Một cơn đau dữ dội xuyên thấu não bộ, kéo ta ra khỏi bóng tối vô tận.

Ý thức ta chao đảo, hỗn loạn.

Cảm giác đầu tiên là hơi lạnh của sàn đá dưới lưng, mùi hương trầm thoảng trong không khí, cùng tiếng khóc than văng vẳng đâu đây.

Cố gắng mở mắt, trước mặt ta là một mái trần cao, chạm trổ tinh xảo—một phong cách kiến trúc hoàn toàn xa lạ với thế giới ta từng sống.

"Điều quái gì đang xảy ra?"

Cơn đau đầu vẫn nhói lên từng hồi, nhưng trí óc ta bắt đầu tiếp nhận những luồng thông tin mới.

Ký ức không thuộc về ta lần lượt tràn vào, như một dòng chảy mãnh liệt cuốn phăng đi sự phản kháng.

Ta thấy những hình ảnh rời rạc—một người đàn ông trung niên với ánh mắt uy nghiêm nhưng đã yếu đi vì tuổi tác, một triều đình đông đảo quan lại cúi đầu lắng nghe, những trận chiến xa xôi nơi biên giới, và rồi... một chiếc giường lớn, nơi một thân xác yếu ớt dần dần lịm đi.

Gia Long.

Một cái tên bật lên trong trí óc ta, mang theo vô số ký ức lẫn lộn.

Ta hít một hơi sâu, cảm giác nghẹt thở bao trùm.

Không, ta không còn là chính ta nữa.

Ta đã trở thành...

Nguyễn Phúc Đảm—tức Minh Mạng, Hoàng đế tương lai của Đại Nam.

Ta chống tay ngồi dậy, cảm nhận được sức nặng của cơ thể mới.

Bàn tay này, đôi chân này... tất cả đều xa lạ nhưng đồng thời cũng quá chân thực.

Ta nhìn vào chiếc gương đồng được đặt gần đó—một gương mặt trẻ tuổi, nhưng đậm nét nghiêm nghị.

Đôi mắt sắc bén, vầng trán cao, đôi môi mím chặt đầy cương nghị.

Đây không phải là ta... nhưng giờ nó chính là ta.

Một cảm giác hoang mang trào lên.

Đây là một giấc mơ sao?

Hay ta đã thực sự xuyên không?

Nếu đây là mơ, sao mọi thứ lại rõ ràng đến vậy?

Nếu đây là thật, ta phải làm gì tiếp theo?

Ta đưa tay lên đầu, cố gắng trấn tĩnh.

Hít vào một hơi thật sâu, ta bắt đầu sắp xếp lại suy nghĩ.

Hoảng loạn không giúp được gì.

Ta cần một kế hoạch.

Ký ức của Minh Mạng bắt đầu hòa vào nhận thức của ta.

Ta nhớ về những năm tháng làm Thái tử, về cuộc tranh đấu giữa ta và anh trai mình, hoàng tử Cảnh, về sự giáo dục nghiêm khắc của Gia Long.

Ta hiểu được những khó khăn mà Minh Mạng từng trải, những hoài bão còn dang dở... và giờ đây, ta có cơ hội để thay đổi tất cả.

"Được thôi," ta tự nhủ.

"Nếu số phận đã an bài như vậy, ta sẽ không từ chối."

Ngày 3 tháng 2 năm 1820, triều đình chìm trong tang tóc.

Gia Long, người khai quốc triều Nguyễn, đã băng hà.

Không khí tại hoàng thành Huế u ám, những quan lại mặc tang phục quỳ thành hàng dài trước điện Thái Hòa, chờ đợi vị hoàng đế mới đăng cơ.

Ta khoác lên mình bộ đồ tang, tay cầm hương quỳ trước linh cữu Gia Long.

Ký ức của Minh Mạng trong ta khiến lòng dậy lên một nỗi đau khó tả—không phải của riêng ta, mà của một người con vừa mất cha, một thần tử vừa mất minh quân, và một người kế vị vừa nhận lãnh trọng trách nặng nề.

Nhưng ta không có thời gian để than khóc lâu.

Sau lễ tế, triều thần đồng loạt quỳ xuống, dập đầu hô lớn:

"Hoàng thượng vạn tuế!"

Tiếng tung hô vang dội như sấm rền, nhưng trong lòng ta hiểu rõ: quyền lực này chỉ là bề ngoài.

Nếu ta không chứng minh được bản lĩnh, đám quan lại kia sẽ chẳng xem ta ra gì.

Hơn nữa, đất nước này—Đại Nam—đang đứng trước quá nhiều vấn đề.

Quan lại tham nhũng, bộ máy hành chính cồng kềnh, quân đội lạc hậu, các thế lực phương Tây bắt đầu dòm ngó.

Nếu ta không nhanh chóng hành động, vương triều này có thể đi theo vết xe đổ của bao triều đại trước đó.

Ta nhắm mắt lại, rồi mở ra đầy quyết tâm.

Ta là Minh Mạng.

Và ta sẽ thay đổi lịch sử.

Ánh sáng ban mai len qua lớp rèm mỏng, rọi vào chính điện Điện Cần Chánh.

Hôm nay là ngày đầu tiên ta thượng triều với tư cách hoàng đế Đại Nam.

Nhìn xuống bên dưới, ta thấy các quan văn võ đã đứng thành hàng nghiêm chỉnh.

Những gương mặt già dặn, mang vẻ nghiêm nghị, dò xét, có cả hoài nghi lẫn kỳ vọng.

Trong số đó, có những người từng ủng hộ ta lên ngôi, cũng có những kẻ thuộc phe bảo thủ, hoài niệm về thời Gia Long.

Nhưng ta không quan tâm.

Hôm nay, ta sẽ đặt nền móng đầu tiên cho triều đại của mình.

Ta ngồi ngay ngắn trên ngai vàng, hít một hơi sâu, rồi cất giọng trầm ổn nhưng mạnh mẽ:

"Trẫm đăng cơ chưa lâu, quốc tang còn chưa mãn, nhưng thiên hạ trăm họ vẫn đang oằn mình trong cảnh sưu cao thuế nặng.

Gia Long hoàng đế suốt đời lo việc thiên hạ, nhưng nay trẫm thấy rằng quốc khố đã đầy, trong khi dân tình vẫn lao khổ".

Ta dừng lại, nhìn xuống bên dưới.

Một số đại thần bắt đầu xì xào, có người nhíu mày đầy lo lắng.

Ta tiếp tục, giọng nói cương quyết hơn:

"Vì vậy, trẫm quyết định ban chiếu chỉ giảm thuế một năm trên toàn quốc để bách tính có thể nghỉ ngơi, khôi phục sức lực sau những năm tháng lao dịch triền miên".

Lập tức, phía dưới nổ ra một làn sóng phản ứng.

Lê Văn Duyệt, một trong những trụ cột quan trọng, bước lên, chắp tay nghiêm trang:

"Bệ hạ, giảm thuế là điều tốt, nhưng triều đình cần bạc để vận hành quốc sự.

Nay hoàng thượng vừa lên ngôi, quốc tang vẫn còn, đây có phải là thời điểm thích hợp để giảm thuế không?".

Trương Đăng Quế, một đại thần trẻ tuổi và có tư tưởng tiến bộ hơn, lại đồng tình:

"Bệ hạ minh xét!

Bách tính đã khổ quá lâu.

Nếu được nghỉ ngơi, dân sẽ trung thành hơn với triều đình, đất nước mới có thể cường thịnh lâu dài".

Một số quan khác bắt đầu tranh luận, có kẻ phản đối, có kẻ ủng hộ.

Ta đưa tay lên, ra hiệu cho tất cả im lặng.

Không khí trong điện trở nên căng thẳng.

"Trẫm đã quyết.

Quan lại các địa phương lập tức thi hành, ai dám kháng chỉ, trẫm sẽ trị tội".

Một lời tuyên bố chém đinh chặt sắt, khiến mọi phản đối đều im bặt.

Ta nhìn xuống, thấy ánh mắt của nhiều quan lại lộ vẻ kinh ngạc, có kẻ không cam tâm, nhưng không ai dám lên tiếng nữa.

Lần đầu tiên, họ thấy Minh Mạng không phải là một vị vua có thể bị thao túng.

Tối hôm đó, ta đến gặp Thái hậu Thuận Thiên trong cung.

Bà đã già, nhưng ánh mắt vẫn sắc sảo.

Khi ta ngồi xuống, bà thở dài: "Con quyết định giảm thuế lúc này, e rằng không dễ dàng.

Các đại thần có phản đối không?".

Ta thành thật đáp: "Có người phản đối, nhưng trẫm đã quyết.

Dân cần được nghỉ ngơi, nếu không quốc gia chỉ là một cỗ xe kiệt quệ".

Thái hậu im lặng một lúc, rồi nhẹ giọng: "Con rất giống phụ hoàng con, nhưng cũng có phần khác biệt.

Nếu đã quyết, hãy làm cho trọn vẹn.

Nhưng nhớ rằng, triều đình này không chỉ có một mình con".

Lời nhắc nhở của bà khiến ta suy ngẫm.

Đúng vậy, ta không thể một mình đối đầu cả triều đình.

Nếu muốn thay đổi Đại Nam, ta phải có đồng minh, phải có một kế hoạch dài hơi.

Ta cúi đầu: "Mẫu hậu yên tâm, trẫm đã có dự tính".

Khi chiếu chỉ giảm thuế lan ra khắp Đại Nam, phản ứng từ khắp nơi bắt đầu đổ về.

Dân chúng thì vui mừng khôn xiết.

Họ gọi ta là "Hoàng đế nhân từ", là "vị vua thương dân".

Những người nông dân nghèo rớt mồng tơi nay có thể thở phào, không còn phải lo bán ruộng, bán con để đóng thuế.

Nhưng trong triều đình, phe bảo thủ thì không hài lòng.

Một số quan lại vốn quen với việc hưởng lợi từ thuế má, nay bị cắt đi nguồn lợi, bắt đầu ngấm ngầm bất mãn.

Trong khi đó, các tướng lĩnh quân đội thì lo lắng, sợ rằng việc giảm thuế có thể ảnh hưởng đến ngân khố và sức mạnh quân đội.

Ta hiểu rõ, chiếu chỉ này chỉ là bước đầu tiên.

Nếu muốn giữ vững quyền lực và cải cách triều Nguyễn, ta cần có thêm nhiều hành động mạnh mẽ hơn nữa.

Và ta đã sẵn sàng.
 
Triều Nguyễn Đổi Thay
Cải cách


Ngày 16 tháng 2 năm 1820 – Triều đình Đại Nam

Hai tuần quốc tang vua Gia Long đã kết thúc.

Bầu không khí tang thương vẫn còn bao trùm Hoàng thành, nhưng đối với ta, ngày này đánh dấu bước chuyển mình của triều đình Đại Nam.

Hôm nay, ta sẽ định hình lại bộ máy cai trị của vương triều, không chỉ kế thừa những gì Gia Long đã làm mà còn thay đổi triệt để để phù hợp với tầm nhìn của ta.

Trên triều, các quan văn võ đã tề tựu đông đủ.

Không khí có phần nghiêm trang, bởi sau hai tuần quốc tang, không ai biết tân hoàng đế sẽ ra quyết định gì.

Ta đứng dậy, giọng dứt khoát: "Hôm nay trẫm triệu tập bá quan để ban bố cải cách về chính quyền trung ương.

Triều đình cần một bộ máy mạnh mẽ, hiệu quả hơn để trị quốc".

Lập tức, những ánh mắt dò xét, lo lắng xuất hiện.

Ta có thể thấy nhiều đại thần không thoải mái khi nghe chữ "cải cách".

Ta nhìn xuống Nội Các – cơ quan đang giữ vai trò điều hành chính sự.

Đây là mô hình cũ từ thời Lê, nhưng ta biết nó đã lỗi thời.

"Thứ nhất, trẫm quyết định hợp nhất Thị Thư Viện, Thị Hàn Viện, Nội Hàn Viện và Thượng Bảo Ty thành một cơ quan duy nhất: Nội Các.

Nội Các sẽ trực tiếp phụ trách việc soạn thảo chiếu chỉ, xử lý văn thư và các công việc hành chính".

Lê Văn Duyệt nhíu mày nhưng không nói gì.

Nguyễn Văn Nhân, một đại thần có tư tưởng bảo thủ, bước lên: "Bệ hạ, hợp nhất quá nhiều cơ quan liệu có gây khó khăn trong việc điều hành triều chính?".

Ta đáp ngay: "Không hề.

Trẫm đã chia Nội Các thành bốn Tào: Thượng Bảo Tào – Quản lý ấn tín và quốc thư.

Biểu Bạ Tào – Soạn thảo chiếu chỉ, tấu chương.

Bí Thư Tào – Ghi chép, bảo quản văn kiện.

Ký Chú Tào – Theo dõi công văn, lưu trữ tài liệu".

Lý do ta cải cách mạnh tay như vậy là vì bộ máy cũ cồng kềnh, chồng chéo và không hiệu quả.

Nếu muốn triều đình vận hành trơn tru, ta phải tinh giản và chuyên nghiệp hóa nó ngay từ đầu sau đó tiếp tục: "Thứ hai, trẫm thành lập Cơ Mật Viện, chuyên tham vấn chính trị, ngoại giao, quân sự và cơ mật quốc gia".

Lần này, có nhiều tiếng xì xào.

Cơ Mật Viện sẽ khiến nhiều quan chức e dè, bởi đây là mô hình tập trung quyền lực mạnh mẽ hơn cả Nội Các.

"Cơ Mật Viện sẽ do bốn đại thần cấp Chánh Tam phẩm trở lên điều hành, chia thành Bắc Ty và Nam Ty, mỗi bên quản lý một lĩnh vực riêng".

Nguyễn Văn Thuyên, một vị quan lớn tuổi, lo lắng: "Tâu bệ hạ, việc lập Cơ Mật Viện có thể khiến quyền lực bị tập trung quá mức vào tay một nhóm nhỏ.

Ta gật đầu: "Trẫm hiểu, nhưng điều này cần thiết.

Nếu muốn quốc gia vững mạnh, cần có một cơ quan điều phối chính sự hiệu quả.

Tất cả các đại thần trong Cơ Mật Viện sẽ được kiểm soát chặt chẽ, không ai có thể lạm quyền.

Một số quan đại thần trẻ tuổi như Trương Đăng Quế gật gù đồng tình.

Nhưng những kẻ bảo thủ thì chưa thể chấp nhận ngay được.

Ta chưa dừng lại "Thứ ba, trẫm thành lập Tam Pháp Ty, bao gồm: Đô Sát Viện – Giám sát quan lại, chống tham nhũng.

Đại Lý Tự – Xét xử án kiện cấp trung ương.

Bộ Hình – Phụ trách pháp luật và tư pháp".

Việc này khiến nhiều quan lại giật mình, đặc biệt là những kẻ đã quen với việc dùng quyền lực để trục lợi.

Nhưng ta không quan tâm.

"Ngoài ra, trẫm thành lập thêm Quốc Sử Quán để ghi chép lịch sử, và Tôn Nhân Phủ để quản lý hoàng tộc".

Không khí trong điện Cần Chánh căng thẳng đến mức có thể cắt ra bằng dao.

Ta chậm rãi nói tiếp: "Những ai không đồng ý, có thể bước ra trình bày".

Một lúc lâu sau, Lê Văn Duyệt bước lên "Thần không phản đối cải cách, nhưng bệ hạ nên xem xét tiến hành từ từ, tránh gây xáo trộn".

Ta nhìn ông ta, rồi đáp dứt khoát: "Trẫm hiểu sự lo lắng của khanh, nhưng nếu không làm ngay bây giờ, triều đình này sẽ mục ruỗng".

Không ai dám phản bác nữa.

Hôm nay, ta đã đặt nền móng cho một triều đại mới.

Nhưng ta biết, đây mới chỉ là khởi đầu...

Sau khi buổi thượng triều kết thúc, triều đình chia thành ba phe rõ rệt.

Phe ủng hộ cải cách – Chủ yếu là những quan lại trẻ tuổi, có tư tưởng tiến bộ như Trương Đăng Quế, Hà Tông Quyền, Nguyễn Công Trứ.

Họ hiểu rằng nếu không cải tổ, đất nước sẽ trì trệ.

Tuy nhiên, họ cũng e ngại sự phản ứng của phe bảo thủ.

Phe trung lập – Gồm một số quan lớn tuổi như Nguyễn Văn Thuyên, Phan Huy Thực.

Họ không phản đối nhưng cũng không dám ủng hộ ngay, chờ xem diễn biến.

Phe bảo thủ – Do những người trung thành với hệ thống cũ, đứng đầu là Nguyễn Văn Nhân và một số đại thần có gốc Bắc Hà.

Họ cho rằng việc cải cách quá nhanh sẽ làm rối loạn triều chính.

Sau buổi thượng triều, nhóm này đã bí mật gặp nhau để bàn đối sách.

Lê Văn Duyệt, dù không hoàn toàn thuộc phe bảo thủ, nhưng cũng tỏ ra dè chừng.

Ông không phản đối, nhưng lo rằng nếu Minh Mạng nắm quá nhiều quyền lực, triều đình có thể bị khuynh đảo.

Trong hậu cung, phản ứng cũng rất khác nhau: Các phi tần, hoàng nữ: Họ không quan tâm lắm đến cải cách, nhưng lo lắng rằng sự thay đổi có thể ảnh hưởng đến địa vị của họ trong cung.

Các hoạn quan và thái giám: Lo sợ rằng việc thay đổi cơ quan hành chính sẽ giảm quyền lực của họ trong việc kiểm soát các công việc nội cung.

Các cựu quan lại trong Nội Vụ Phủ: Họ hoang mang khi biết rằng hệ thống cũ sẽ bị thay thế bằng một hệ thống mới tinh giản hơn.

Tuy nhiên, người phản ứng mạnh mẽ nhất chính là tôn thất và thái hậu Thuận Thiên.

Buổi tối hôm đó, nhiều thân vương và hoàng tử tập trung tại Tôn Nhân Phủ để thảo luận.

Hoàng thân Lê Chất lo ngại rằng việc Minh Mạng kiểm soát triều đình quá chặt sẽ khiến quyền lực của tôn thất bị suy giảm.

Hoàng thân Nguyễn Phúc Bính (em trai ta) tỏ ý đồng tình, nhưng không dám lên tiếng.

Một số tôn thất khác thì bất mãn vì Minh Mạng không tham khảo ý kiến họ trước khi cải cách.

Họ bàn bạc xem có nên kiến nghị hoàng đế rút lại một số quyết định hay không.

Khi ta trở về cung, thái hậu Thuận Thiên đã đợi sẵn.

Bà ngồi trên chiếc ghế cao trong Di Ninh Cung, ánh mắt nghiêm nghị.

"Hoàng nhi, con đi quá nhanh rồi".

Ta ngồi xuống, chậm rãi đáp: "Mẫu hậu lo lắng điều gì?".

Bà nhìn thẳng vào mắt ta: "Triều đình vốn đã ổn định, vì sao phải thay đổi ngay lúc này?".

Ta siết chặt tay: "Vì nếu không thay đổi, giang sơn này sẽ mục nát.

Con không muốn làm hoàng đế của một triều đình trì trệ".

Bà thở dài: "Nhưng con có nghĩ đến hậu quả không?

Phe bảo thủ sẽ không để yên.

Các hoàng thân cũng đang bất mãn".

Ta im lặng một lúc rồi đáp: "Con biết.

Nhưng nếu nhượng bộ bây giờ, thì còn gì là đế vương?".

Thái hậu nhìn ta một lúc lâu, rồi khẽ gật đầu: "Nếu con đã quyết, ta sẽ không ngăn cản.

Nhưng hãy cẩn thận, vì càng cải cách mạnh mẽ, càng có nhiều kẻ muốn chống lại con".
 
Triều Nguyễn Đổi Thay
Đế hệ phi và Phiên hệ phi


Buổi thượng triều – Ngày 16 tháng 2 năm 1820

Sau buổi thượng triều cải cách chính quyền trung ương, ta triệu tập bá quan một lần nữa để bàn về việc quan trọng khác: lập Đế hệ phi và Phiên hệ phi.

Khi ta vừa dứt lời, cả triều đình xôn xao.

Các quan đại thần ngước nhìn nhau, nhiều người tỏ ra bối rối.

Lê Văn Duyệt là người đầu tiên lên tiếng: "Tâu bệ hạ, trước nay tông phả nhà Nguyễn vẫn theo thứ tự cha truyền con nối, chưa từng có quy chế phân biệt dòng chính hay dòng phiên bằng hệ thống chữ lót".

Ta gật đầu, chậm rãi nói: "Trẫm biết, nhưng việc đặt Đế hệ phi và Phiên hệ phi không chỉ để phân biệt chính tông với ngoại chi, mà còn để thống nhất hệ thống đặt tên cho con cháu hoàng thất, tránh nhầm lẫn và tranh chấp sau này".

Trương Đăng Quế tiến lên, cung kính hỏi: "Vậy bệ hạ định quy định như thế nào?".

Ta đưa mắt nhìn bá quan, rồi tuyên bố rõ ràng: "Họ Nguyễn Phúc thuộc dòng chính của đế hệ, sẽ dùng "Miên – Hồng – Ưng – Bửu – Vĩnh – Bảo – Quý – Định" theo từng đời.

Họ Nguyễn Phúc thuộc dòng phiên hệ, sẽ dùng "Tường – Tráng – Thông – Thế – Quốc – Gia – Xương – Thịnh"".

Cả đại điện im lặng.

Một số quan vẫn chưa hiểu ý nghĩa sâu xa của việc này.

Nguyễn Văn Nhân, một vị quan lớn tuổi thuộc phe bảo thủ, trầm giọng hỏi: "Bệ hạ, vậy Đế hệ phi có quyền gì đặc biệt so với Phiên hệ phi?".

Ta điềm tĩnh đáp: "Đế hệ phi là dòng chính, con cháu hoàng đế, có quyền nối ngôi và giữ các trọng trách trong triều.

Phiên hệ phi là dòng phiên vương, có thể phong tước công hầu, nhưng không được phép tranh giành ngai vàng".

Lần này, các tôn thất có mặt trong triều đều biến sắc.

Hoàng thân Lê Chất đứng ra phản đối: "Bệ hạ, từ xưa đến nay, con cháu hoàng tộc đều có thể đảm đương đại sự.

Nếu quy định như vậy, phải chăng những người thuộc dòng phiên hệ sẽ bị gạt bỏ?".

Ta nhìn ông ta, giọng nghiêm nghị: "Không ai bị gạt bỏ cả.

Phiên hệ vẫn có thể làm quan, nắm quyền cai trị ở các địa phương.

Nhưng ngai vàng phải thuộc về dòng chính thống, không thể để họ ngoại, hoàng thân ngoại chi hay kẻ cơ hội nhúng tay vào ngai vị".

Phan Huy Thực, một quan văn lớn tuổi, chắp tay thưa: "Bệ hạ làm như vậy là để bảo vệ hoàng vị và tránh loạn ngôi sau này?".

Ta gật đầu: "Chính xác.

Chúng ta không thể để lịch sử lặp lại như thời Lê – Trịnh hay Tây Sơn".

Lần này, các đại thần dần hiểu ra.

Những người trung lập gật gù đồng tình, còn phe bảo thủ thì không còn lý lẽ để phản bác.

Duy chỉ có một số tôn thất là vẫn chưa hài lòng.

Nhưng ta không để họ có cơ hội phản đối thêm.

"Chiếu chỉ này sẽ được ban hành trong vòng một tháng.

Các ngươi có thể về suy nghĩ thêm, nhưng trẫm không thay đổi quyết định".

Cuộc họp kết thúc trong bầu không khí căng thẳng.

Ngay sau khi triều đình giải tán, tin tức về Đế hệ phi và Phiên hệ phi đã lan khắp Hoàng cung.

Nguyễn Phúc Đán (sau này là Thiệu Trị) – Con trai trưởng của ta, còn nhỏ nên chưa hiểu hết ý nghĩa.

Một số hoàng tử khác lo lắng vì nếu không thuộc dòng Đế hệ phi, họ sẽ không có cơ hội tranh đoạt ngôi vị.

Các phi tần có con thuộc Đế hệ phi thì vui mừng.

Những phi tần có con thuộc Phiên hệ phi thì bất mãn, sợ con mình mất địa vị.

Họ không dám nói ra, nhưng trong hậu cung đã có lời bàn tán rằng Minh Mạng đang muốn kiểm soát hoàng tộc một cách tuyệt đối.

Chiều hôm đó, ta lại được triệu vào Di Ninh Cung.

Thái hậu ngồi trên ghế cao, ánh mắt trầm tư hơn hôm trước.

"Con vừa mới cải cách triều đình, giờ lại đụng đến cả tông phả.

Con không sợ bị tôn thất phản đối sao?".

Ta quỳ xuống, giọng cứng rắn: "Mẫu hậu, nếu không làm ngay bây giờ, sau này hậu họa sẽ khôn lường".

Bà thở dài: "Nhưng con có chắc họ sẽ chấp nhận không?".

Ta cười nhẹ: "Ban đầu sẽ có phản đối, nhưng về lâu dài, đây sẽ là quy củ bất di bất dịch.

Một khi đã có hệ thống này, không ai có thể tranh ngôi vị bằng cách lôi kéo hoàng thân hay dùng lý do "con cháu hoàng tộc đều có quyền kế vị"".

Bà im lặng một lúc, rồi gật đầu: "Được rồi.

Nếu con đã quyết, ta sẽ không can thiệp.

Nhưng hãy cẩn thận".

Ta cúi đầu: "Con hiểu".

Sau hôm nay, trật tự của hoàng tộc sẽ được định hình lại mãi mãi.

Nhưng ta biết, đây chỉ mới là khởi đầu của những cuộc đối đầu phía trước...

Giải nghĩa các từ trong Đế hệ thi:

Miên: Trường cửu, phước duyên trên hết

Hường (Hồng): Oai hùng, đúc kết thế gia

Ưng: Nên danh, xây dựng sơn hà

Bửu (Bảo): Bối báu, lợi tha quần chúng

Vĩnh: Bền chí, hùng anh ca tụng

Bảo: Ôm lòng, khí dũng bình sanh

Quý: Cao sang, vinh hạnh công thành

Định: Tiền quyết, thi hành oanh liệt

Long: Vương tướng, rồng tiên nối nghiệp

Trường: Vĩnh cửu, nối tiếp giống nòi

Hiền: Tài đức, phúc ấm sáng soi

Năng: Gương nơi khuôn phép bờ cõi

Kham: Đảm đương, mọi cơ cấu giỏi

Kế: Hoạch sách, mây khói cân phân

Thuật: Biên chép, lời đúng ý dân

Thế: Mãi thọ, cận thân gia tộc

Thoại (Thụy): Ngọc quý, tha hồ phước lộc

Quốc: Dân phục, nằm gốc giang san

Gia: Muôn nhà, Nguyễn vẫn huy hoàng

Xương: Phồn thịnh, bình an thiên hạ

Các quan mở Ngự chế mạng danh thi ra thì được ghi chú cụ thể:

Miên + (宀; miên), Hường + (亻; nhân), Ưng + (礻; thị), Bửu + (山; sơn), Vĩnh + (玉; ngọc)

Bảo + (阜; phụ), Quý + (亻; nhân), Định + (言; ngôn), Long + (扌; thủ), Trường + (禾; hòa)

Hiền + (貝; bối), Năng + (力; lực), Kham + (扌; thủ), Kế + (言; ngôn), Thuật + (心; tâm)

bài Đế hệ thi được khắc vào kim sách (một cuốn sách bằng vàng), có tên chính thức là Thánh chế mạng danh kim sách.

Kim sách này gồm 13 tờ, gáy đóng bằng 4 khuyên tròn.

Kim sách được làm theo khổ chữ nhật đứng [kích thước (Dài x Rộng x Cao): 23,2 x 13,7 x 1,6 cm; trọng lượng 4.232 gam].

Bìa trước và bìa sau của kim sách này dập nổi hình rồng bay trong mây, viền ngoài dập nổi hình hoa chanh 4 cánh, 4 góc trang trí dây lá cách điệu rất chi tiết, tỷ mỷ.

11 tờ ruột khắc sách văn của bài Đế hệ thi và 10 bài Phiên hệ thi.

Bài sách văn bằng chữ Hán được khắc trên 11 tờ bằng vàng gập đôi, khắc từ trái qua phải theo cột dọc, mỗi trang gồm 5 cột trong ô viền hình chữ nhật kép.

Tại tờ thứ 7 có khắc mặt ấn "Minh Mạng thần hàn" (明命宸翰) trong khung chữ nhật kép (kích thước 3,9 x 4 cm).

Bên cạnh mặt ấn có khắc thêm 8 chữ Hán cho biết niên đại của cuốn kim sách: 明命壹年正月元旦 (Minh Mạng nhất niên chính Nguyệt Nguyên đán).

Còn 10 bài Phiên đệ thi ban cho các con của hoàng thân của ta, một số hoàng thân mất sớm không có con nên không được ban.

Chữ lót của mỗi đời dùng một chữ trong bài thơ, nhưng tên ở mỗi đời thì phải dùng một bộ trong ngũ hành theo thứ tự: thổ, kim, thủy, mộc, hỏa và trở lại".

1.

Anh Duệ Hoàng Thái Tử (con trai trưởng của vua Gia Long):

Mỹ Duệ Tăng Cường Tráng

Liên Huy Phát Bội Hương

Lịnh Nghi Hàm Tốn Thuận

Vĩ Vọng Biểu Khôn Quang

美 睿 増 彊 壯

聯 揮 發 佩 香

令 儀 咸 巽 順

偉 望 表 坤 光

2.

Kiến An Vương (con trai thứ năm của vua Gia Long)

Lương Kiến Ninh Hòa Thuật

Du Hành Suất Nghĩa Phương

Dưỡng Di Tương Thức Hảo

Cao Túc Thể Vi Tường

良 建 寧 和 術

攸 行 率 義 方

飬 怡 相 式 好

高 宿 彩 為 祥

3.

Định Viễn Quận Vương (con trai thứ sáu của vua Gia Long)

Tịnh Hoài Chiêm Viễn Ái

Cảnh Ngưỡng Mậu Thanh Kha

Nghiễm Khác Do Trung Đạt

Liên Trung Tập Cát Đa

靖 懷 瞻 遠 愛

景 仰 茂 淸 珂

儼 恪 由 衷 逹

連 忠 集 吉 多

4.

Diên Khánh Vương (con trai thứ bảy của vua Gia Long)

Diên Hội Phong Hanh Hiệp

Trùng Phùng Tuấn Lãng Nghi

Hậu Lưu Thành Tú Diệu

Diễn Khánh Thích Phương Huy

延 會 豐 亨 合

重 逢 雋 朗 宜

厚 留 成 秀 妙

衍 慶 適 芳 徽

5.

Điện Bàn Công (con trai thứ tám của vua Gia Long)

Tín Điện Tư Duy Chánh

Thành Tồn Lợi Thỏa Trinh

Túc Cung Thừa Hữu Nghị

Vinh Hiển Tập Khanh Danh

信 奠 思 维 正

誠 存 利 妥 貞

肅 恭 承 友 誼

榮 顯 襲 卿 名

6.

Thiệu Hóa Quận Vương (con trai thứ chín của vua Gia Long)

ThiệnThiệu Kỳ Tuần Lý

Văn Tri Tại Mẫn Du

Ngưng Lân Tài Chí Lạc

Địch Đạo Doãn Phu Hưu

善 绍 期 循 理

聞 知 在 敏 猷

凝 麟 才 至 樂

廸 道 允 孚 休

7.

Quảng Uy Công (con trai thứ mười của vua Gia Long)

Phụng Phủ Trưng Khải Quảng

Kim Ngọc Trác Tiêu Kỳ

Điển Học Kỳ Gia Chí

Đôn Di Khắc Tự Trì

鳳 符 徴 啓 廣

金 玉 卓 標 奇

典 學 期 加 志

敦 彝 克 自 持

8.

Thường Tín Quận Vương (con trai thứ mười một của vua Gia Long)

Thường Cát Tuân Gia Huấn

Lâm Trang Túy Thạnh Cung

Thận Tu Di Tấn Đức

Thọ Ích Mậu Tân Công

常 吉 遵 家 訓

臨 莊 粹 盛 躬

愼 修 彌 進 德

受 益 懋 新 功

9.

An Khánh Vương (con trai thứ mười hai của vua Gia Long)

Khâm Tùng Xưng Ý Phạm

Nhã Chánh Thủy Hoằng Quy

Khải Để Đằng Cần Dự

Quyến Ninh Cộng Trấp Hy

欽 從 稱 懿 範

雅 正 始 弘 規

愷 悌 騰 勤 譽

眷 寧 共 緝 熙

10.

Từ Sơn Công (con trai thứ mười ba của vua Gia Long)

Từ Thể Dương Quỳnh Cẩm

Phu Văn Ái Diệu Dương

Bách Chi Quân Phụ Dực

Vạn Diệp Hiệu Khuôn Tương

慈 采 揚 瓊 錦

敷 文 藹 耀 陽

百 支 均 輔 翼

萬 葉 效 匡 襄

Thế + (玉; ngọc), Thoại + (石; thạch), Quốc + (大; đại), Gia + (禾; hòa), Xương + (忄; tâm)
 
Triều Nguyễn Đổi Thay
Đại Nam tân pháp


Buổi thượng triều – Ngày 17 tháng 2 năm 1820

Sau khi đã cải cách chính quyền trung ương và đặt nền tảng vững chắc cho hoàng tộc, ta quyết định thực hiện một thay đổi quan trọng: cải tổ toàn bộ luật pháp.

Khi bá quan đã tề tựu đông đủ, ta chậm rãi tuyên bố: "Trẫm quyết định cải biên tất cả các bộ luật hiện tại, thay bằng một bộ luật mới chặt chẽ hơn, công bằng hơn và phù hợp với tình hình đất nước".

Lời tuyên bố này lập tức khiến cả triều đình chấn động.

Nguyễn Văn Nhân, vị quan lớn tuổi thuộc phe bảo thủ, là người đầu tiên đứng ra: "Tâu bệ hạ, từ thời Gia Long, bộ Hoàng Việt Luật Lệ (tức Quốc Triều Luật) đã được biên soạn dựa trên luật pháp nhà Thanh, chỉnh sửa phù hợp với Đại Nam.

Nay bệ hạ định thay đổi toàn bộ, vậy chẳng phải phủ nhận công lao của tiên đế sao?".

Một số quan khác gật đầu đồng tình, cho rằng ta đang đi quá nhanh.

Ta quan sát phản ứng của bá quan, rồi chậm rãi đáp: "Luật pháp không phải thứ bất biến.

Nó phải thay đổi để đáp ứng nhu cầu của thời đại.

Bộ Hoàng Việt Luật Lệ còn quá phụ thuộc vào luật pháp nhà Thanh, nhiều điều chưa thực sự công bằng".

Lê Văn Duyệt trầm giọng hỏi: "Bệ hạ định thay đổi những gì?

Ta nhìn khắp đại điện, giọng dứt khoát: "Thứ nhất, bỏ các điều luật quá khắt khe với dân chúng, giảm nhẹ hình phạt đối với tội danh nhỏ.

Thứ hai, chỉnh sửa hệ thống thuế khóa, đảm bảo sự công bằng giữa các tầng lớp.

Thứ ba, tách bạch luật hình sự, luật hành chính và luật dân sự, thay vì gộp chung như hiện nay.

Thứ tư, xóa bỏ một số điều luật thiên vị hoàng tộc, không để hoàng thân quốc thích lộng quyền.

Thứ năm, thiết lập tòa án độc lập, không để quan lại địa phương toàn quyền xét xử".

Lần này, cả triều đình rộ lên những tiếng xì xào.

Trương Đăng Quế lên tiếng: "Bệ hạ, nếu bệ hạ muốn thay đổi toàn bộ luật pháp, sẽ cần một cơ quan chuyên trách để soạn thảo và kiểm tra".

Ta gật đầu: "Chính vì vậy, trẫm sẽ thành lập Pháp Bộ, tách khỏi Bộ Lại, chuyên trách luật pháp và tư pháp".

Phan Huy Thực, một đại thần khác, chắp tay thưa: "Việc này quả thực rất lớn.

Nếu thành công, Đại Nam sẽ có một hệ thống luật pháp tiên tiến hơn bất kỳ triều đại nào trước đây.

Nhưng... bệ hạ có lo lắng về sự phản đối từ những kẻ hưởng lợi từ luật cũ không?".

Ta nhìn thẳng vào bá quan, giọng lạnh lùng: "Nếu ai dám chống lại, trẫm sẽ xử theo đúng pháp luật mới".

Lời tuyên bố của ta đầy uy lực, khiến cả triều đình phải im lặng.

Ta tiếp tục: "Từ hôm nay, Cơ Mật Viện, Đô Sát Viện và Pháp Bộ sẽ cùng tham gia biên soạn bộ luật mới.

Trong vòng hai năm, trẫm muốn một hệ thống luật pháp hoàn chỉnh".

Sau khi nghe những cải cách trên, triều đình lập tức bùng nổ tranh luận.

Nguyễn Văn Nhân người giàu kinh nghiệm nhưng bảo thủ lớn tiếng: "Bệ hạ, những điều này quá phá vỡ trật tự cũ, dân chúng chưa chắc đã chấp nhận".

Trần Văn Năng thân tín của thái hậu tiếp lời: "Nếu hoàng thân cũng bị xét xử như dân thường, vậy chẳng phải hạ thấp vương quyền hay sao?"

Một số quan lại khác lo sợ bị mất đặc quyền, cúi đầu thì thầm bàn tán.

Lê Văn Duyệt gật đầu, nói thẳng: "Bệ hạ làm đúng!

Nhiều năm nay, quan lại tham ô bóc lột dân đen, nếu không siết chặt luật pháp, thiên hạ sao có thể yên bình?".

Trương Đăng Quế vốn trung lập cũng đứng ra: "Nếu bộ luật mới được thi hành tốt, Đại Nam sẽ có trật tự và pháp lý rõ ràng hơn".

Nhìn phe bảo thủ còn muốn phản đối, ta đập mạnh tay lên long án: "Ai còn muốn cản trở cải cách, có thể cởi áo quan về quê dưỡng lão".

Lời này lập tức làm câm lặng toàn bộ phe bảo thủ.

Dù vẫn còn nhiều lo lắng, nhưng không ai dám phản đối thêm.

Buổi thượng triều kết thúc với một bầu không khí căng thẳng nhưng đầy quyết liệt.

Sau khi tuyên bố cải biên toàn bộ luật pháp, ta chỉ định các cơ quan đảm nhiệm việc soạn thảo bộ luật mới:

• Pháp Bộ (新法部) – Cơ quan chuyên trách mới, phụ trách luật hình sự, luật dân sự, luật hành chính.

• Đô Sát Viện (都察院) – Đảm bảo thực thi công bằng, giám sát quan lại.

• Cơ Mật Viện (機密院) – Giữ vai trò cố vấn, đán giá tính thực tiễn của luật mới.

Ta đặt tên cho bộ luật mới là "Đại Nam Tân Pháp" (大南新法).

Những thay đổi chính trong bộ luật mới

a) Cải cách hình luật (刑律改革)

• Bỏ hình phạt tàn khốc như tùng xẻo (lăng trì), tru di tam tộc.

• Áp dụng hình phạt kinh tế như phạt tiền, lao dịch thay vì chỉ có xử chém hoặc lưu đày.

• Giảm nhẹ tội danh cho dân nghèo, nhưng siết chặt hình phạt với quan lại tham nhũng.

b) Cải cách dân luật (民律改革)

• Quy định rõ quyền sở hữu tài sản của phụ nữ, giúp họ có thể thừa kế và kinh doanh.

• Bảo vệ quyền lợi của nông dân, cấm quan lại và địa chủ ép tá điền đóng sưu thuế ngoài quy định.

• Xóa bỏ các hủ tục về hôn nhân, không cho phép cưỡng ép tảo hôn.

c) Cải cách hành chính luật (行政律改革)

• Thiết lập hệ thống tòa án độc lập, phân biệt giữa tòa án địa phương, tòa án trung ương và Pháp Bộ.

• Bỏ quyền miễn tội của hoàng thân quốc thích, mọi người đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

• Thiết lập hệ thống khiếu nại, cho phép dân chúng tố cáo quan lại.

d) Cải cách luật thuế và tài chính (稅律改革)

• Giảm thuế cho nông dân và thương nhân nhỏ, nhưng tăng thuế đối với địa chủ lớn.

• Cấm quan lại đặt thêm thuế riêng, kiểm soát chặt chẽ thu nhập của các tổng trấn.

Khi ta vào cung thỉnh an, thái hậu đã ngồi chờ sẵn, khuôn mặt nghiêm nghị.

"Con làm vậy là muốn chống lại di huấn của tiên đế sao?".

Ta bình tĩnh đáp: "Tiên đế muốn Đại Nam hùng mạnh, chứ không phải duy trì một hệ thống lỗi thời".

Thái hậu trầm ngâm, cuối cùng chỉ thở dài: "Nếu con đã quyết, ta không ngăn cản.

Nhưng hãy cẩn thận kẻo địch trong tối ra tay".

Một số phi tần cũ lo lắng vì luật mới có thể tước bỏ đặc quyền của họ.

Các cung nữ và nữ quan trẻ tuổi lại vui mừng, vì họ sẽ có quyền lợi rõ ràng hơn.

Nhiều hoàng thân giận dữ, vì họ mất đi quyền miễn tội.

Một số hoàng tử trẻ tuổi lại tò mò và hứng thú, vì họ nhận ra luật mới có thể giúp đất nước phát triển.

Sau ngày hôm nay, ta biết rằng mình đã động vào lợi ích của quá nhiều người.

Nhưng muốn Đại Nam cường thịnh, không thể chùn bước.
 
Triều Nguyễn Đổi Thay
Hậu cung


Buổi tối ngày 17/2/1820, trong hậu cung, các cung nữ, thị nữ, thái giám lâu năm và phi tần đang thì thầm to nhỏ về những thay đổi gần đây.

Tại cung Trường Sanh, nơi ở của các phi tần cũ của Gia Long, Hoàng quý phi Tống Thị Lan đang trầm ngâm, vẻ mặt lo lắng.

"Hoàng thượng thay đổi quá nhiều...

Lệnh cấm quan lại, hoàng thân hưởng đặc quyền, còn cả chuyện pháp luật mới nữa...".

Nguyễn Thị Định, một cung nữ lâu năm, thấp giọng: "Nếu luật mới thực sự được ban hành, hậu cung cũng không còn được tự do như trước.

Những năm trước, người trong cung nếu có lỗi còn được nương tay...

Nhưng giờ thì sao?".

Thị giám trưởng Lý Đức nhìn quanh rồi thì thầm: "Không chỉ vậy, các lệnh cấm xa xỉ trong cung, bớt chi tiêu, bớt yến tiệc, bớt quà cáp từ các quan thần...

Hoàng thượng muốn gì đây?".

Ở cung Diên Thọ, Hiền phi Trần Thị Đang lên tiếng: "Trước đây, hoàng thân, đại thần thường xuyên mang quà cáp vào cung, các chị em trong cung cũng được hưởng lộc...

Nay đều bị hạn chế".

Một phi tần khác thì thở dài: "Nếu hoàng thượng muốn làm vua anh minh, cũng phải nghĩ đến cảm xúc của hậu cung...

Không thể thay đổi tất cả trong một ngày như vậy".

Những lời bàn tán mỗi lúc một nhiều, không ai dám công khai chống đối nhưng rõ ràng trong lòng họ đã bắt đầu dấy lên bất an.

Tối cùng ngày, tại phủ Tôn Nhân, một cuộc họp bí mật diễn ra.

Những người tham dự gồm: Nguyễn Văn Nhân – Đại thần bảo thủ, Trần Văn Năng – Quan thân tín của thái hậu, Hoàng tử Nguyễn Phúc Đán – Em trai Minh Mạng.

Một số hoàng thân lớn tuổi.

Nguyễn Văn Nhân mở lời trước: "Hoàng thượng quá cấp tiến, những cải cách này sẽ phá bỏ nền tảng truyền thống của Đại Nam".

Hoàng tử Nguyễn Phúc Đán gật đầu: "Nếu cứ thế này, hoàng thân chúng ta không còn quyền hành gì nữa".

Một hoàng thân khác lo lắng: "Giảm thuế cho dân, hạn chế chi tiêu của cung đình, cải tổ cả luật pháp...

Không lẽ bệ hạ muốn trở thành một bạo chúa?".

Trần Văn Năng thì thầm: "Thái hậu cũng không hoàn toàn đồng tình...

Nhưng hoàng thượng không nghe".

Không khí trong phòng trở nên nặng nề.

Một vài người thậm chí đề xuất tìm cách gây sức ép lên Minh Mạng.

Vào đêm khuya, khi ta đang đọc tấu sớ trong thư phòng, một thái giám lặng lẽ đưa mật thư.

Nội dung thư ngắn gọn nhưng sắc bén: "Hậu cung loạn động, hoàng thân bất an, đại thần dậy sóng.

Bệ hạ nếu không cẩn thận, e rằng sẽ bị cô lập.

Mong bệ hạ suy xét".

Ta siết chặt lá thư, ánh mắt lạnh lẽo.

Rõ ràng, những kẻ phản đối đã bắt đầu hành động.

Ta cười lạnh: "Chỉ có vậy mà đã hoảng sợ?".

Lập tức, ta ra lệnh: Triệu tập Lê Văn Duyệt – Người trung thành tuyệt đối.

Điều tra những kẻ họp bí mật – Xem ai dám chống đối.

Ta biết, đây chỉ là khởi đầu của cuộc chiến quyền lực.

Khi ta đến cung của Thái hậu Thuận Thiên, bà đã chờ sẵn, ánh mắt đầy suy tư.

"Ta đoán con sẽ đến".

Bà đưa tay nhận mật thư, đọc lướt qua, rồi chậm rãi đặt xuống bàn.

"Ta đã cảnh báo con rồi...

Những kẻ đó sẽ không để yên".

Ta bình thản: "Con không ngại đối đầu.

Nhưng mẫu hậu có đứng về phía con không?".

Thái hậu im lặng hồi lâu, sau đó chậm rãi nói: "Ta không ngăn con, nhưng hãy nhớ...

Đừng để mình quá cô độc".

Ta hiểu, bà chưa hoàn toàn ủng hộ, nhưng cũng không phản đối.

Đêm nay, ta biết rằng cuộc chiến thật sự đã bắt đầu.

Hậu cung, hoàng thân, đại thần bảo thủ – tất cả đều đang dao động.

Nhưng ta không lùi bước.

Nếu đã dám thay đổi, ta sẽ đi đến cùng.

Sau khi rời khỏi cung thái hậu, ta quay về thư phòng.

Lê Văn Duyệt và một số cận vệ thân tín đã chờ sẵn.

Ta chậm rãi nói: "Những kẻ phản đối không dám lộ diện công khai, nhưng lại tụ tập họp bàn chống đối.

Ta muốn biết hết mọi lời chúng nói, từng người một".

Lê Văn Duyệt cúi đầu đáp: "Thần sẽ cho người trà trộn vào phủ của bọn họ".

Ta nhìn quanh, rồi dặn dò: "Hãy chọn người có thể tin tưởng, tránh bị phát hiện.

Mọi lời nói, hành động của bọn họ phải được báo lại ngay lập tức".

Lê Văn Duyệt nhận lệnh, lập tức rời đi.

Sau đó, ta tự tay viết bốn bức mật thư, gửi đến: Nguyễn Văn Nhân – Đại thần bảo thủ.

Trần Văn Năng – Quan thân tín của thái hậu.

Hoàng tử Nguyễn Phúc Đán – Em trai ta Một hoàng thân lớn tuổi trong phe phản đối

Nội dung mỗi bức thư đều giống nhau, chỉ có một câu ngắn gọn nhưng đầy uy lực: "Mọi lời nói và hành động đều có người chứng kiến.

Cẩn trọng lời nói, kẻo có ngày mang họa."

Những lá thư này không có ký tên, không có dấu ấn – chỉ là một lời cảnh báo ẩn danh.

Sau khi hoàn tất, ta giao cho bí mật cận vệ mang đi, đảm bảo từng người nhận được trong đêm.

Sáng hôm sau, những kẻ nhận thư đều tái mặt.

Nguyễn Văn Nhân không dám hé răng với ai, nhưng thái độ có phần kiêng dè hơn.

Trần Văn Năng thì hoảng hốt, ngay lập tức đến gặp thái hậu.

Hoàng tử Nguyễn Phúc Đán cau mày, rõ ràng không dám tiếp tục họp bàn công khai.

Lê Văn Duyệt báo lại: "Từ sau khi nhận thư, bọn họ tránh bàn luận chính trị ngay trong phủ của mình".

Ta gật đầu, khẽ cười lạnh: "Như vậy là đủ.

Khiến bọn chúng lo sợ, chúng sẽ tự kiềm chế".
 
Triều Nguyễn Đổi Thay
Xát nhập


Sáng ngày 18 tháng 2 năm Canh Thìn (1820), triều đình Đại Nam lại một lần nữa bước vào một cuộc thảo luận quan trọng.

Ta ngồi trên ngai vàng, ánh mắt quét qua các quan văn võ, rồi chậm rãi cất lời: "Hôm nay, trẫm muốn bàn về việc chính thức sáp nhập xứ Nam Bàn và Thuận Thành Trấn vào lãnh thổ Đại Nam".

Cả đại điện lặng đi trong giây lát.

Đây là một vấn đề quá lớn, liên quan đến chủ quyền, dân bản địa, và cả thế lực ngoại bang.

Lê Văn Duyệt, tổng trấn Gia Định, là người đầu tiên lên tiếng:

"Thần tán thành việc sáp nhập.

Hiện tại, vùng này vốn đã nằm trong ảnh hưởng của Đại Nam, nhưng chưa được quản lý chặt chẽ.

Nếu không nhanh chóng kiểm soát, các thế lực Xiêm La, Lào và Cao Miên sẽ lợi dụng".

Một số đại thần khác, đặc biệt là những người ủng hộ cải cách, cũng đồng tình.

Tuy nhiên, Nguyễn Văn Nhân, một đại thần bảo thủ, lại tỏ vẻ do dự: "Bệ hạ, dân bản địa ở đó khác biệt với người Việt, liệu họ có dễ dàng chấp nhận không?".

Ta gật đầu, biết đây chính là vấn đề cốt lõi rồi lên tiếng: "Trẫm không muốn đồng hóa họ một cách cưỡng ép.

Chúng ta sẽ dùng chính sách linh hoạt để ổn định khu vực này".

Ta nhìn các đại thần, chậm rãi trình bày kế hoạch:

1.

Nam Bàn (Tây Nguyên, Lào, Campuchia vùng Đông Bắc): Khu vực này sẽ được đổi tên thành "Cao Nguyên Trấn", đặt quan tổng trấn người Việt nhưng có các tù trưởng bản địa làm phó trấn.

Duy trì phong tục, tín ngưỡng, không ép buộc dân bản địa theo chế độ làng xã Việt Nam.

Hàng năm, các tù trưởng phải cử sứ giả đến Huế triều cống, khẳng định thần phục.

2.Thuận Thành Trấn (Bình Thuận, Ninh Thuận – đất của người Chăm): Cải tổ thành "Thuận Thành Đạo", trực thuộc Đại Nam.

Vẫn giữ tước hiệu "Pô" (vua) của người Chăm, nhưng chỉ có quyền hành về văn hóa, không can thiệp quân sự.

Hỗ trợ phục hồi các tháp Chăm, tôn giáo Bà La Môn và Hồi giáo của họ.

3.

Quân sự và kinh tế: Dựng đồn binh Việt tại các vùng trọng yếu để đảm bảo an ninh.

Khuyến khích giao thương với các thương nhân bản địa.

Phe cải cách (Lê Văn Duyệt, Trương Đăng Quế, Nguyễn Công Trứ, Phan Bá Đạt, Võ Xuân Cẩn...): Hoàn toàn ủng hộ, cho rằng đây là bước đi quan trọng để mở rộng lãnh thổ và tăng cường ảnh hưởng của Đại Nam.

Phe bảo thủ (Nguyễn Văn Nhân, Trần Văn Năng, một số quan cao tuổi...): Lo lắng về phản ứng của dân bản địa, sợ rằng việc sáp nhập có thể gây nổi loạn.

Thái hậu không phản đối trực tiếp, nhưng cho rằng cần thận trọng khi xử lý người Chăm, tránh làm mất ổn định vùng phía Nam.

Sau khi nghe hết các ý kiến, ta mạnh mẽ tuyên bố: "Trẫm đã quyết.

Nam Bàn và Thuận Thành Trấn sẽ thuộc về Đại Nam, nhưng phải cai trị khéo léo".

Không ai dám phản đối thêm.

Người Tây Nguyên (Nam Bàn): Một số tù trưởng chấp nhận vì từ lâu đã có quan hệ với Đại Nam.

Một số bộ lạc khác tỏ ra nghi ngờ, không muốn bị mất quyền tự chủ.

Nhưng khi thấy Đại Nam không can thiệp vào phong tục của họ, phần lớn tỏ thái độ trung lập.

Người Chăm ở Thuận Thành Trấn: Vua Pô Klanhalay của người Chăm miễn cưỡng chấp nhận, nhưng lo lắng sẽ bị kiểm soát quá chặt.

Tầng lớp quý tộc Chăm phản đối mạnh, sợ bị mất quyền lực.

Dân thường thì chia rẽ, một số muốn giữ bản sắc, nhưng một số lại sẵn sàng hợp tác vì họ cũng đã quen với thương mại cùng người Việt.

Xiêm La (Thái Lan): Vua Rama II của Xiêm La không hài lòng, vì Xiêm cũng có ý định chi phối Tây Nguyên và Campuchia.

Nhưng Xiêm đang phải đối phó với nội chiến và áp lực từ Anh quốc, nên chỉ dám phản đối ngoại giao, không động binh.

Cao Miên (Campuchia): Vua Ang Chan của Cao Miên lo sợ vì vùng Đông Bắc Campuchia vốn là khu vực Cao Miên tranh chấp với Việt Nam.

Tuy nhiên, vì Cao Miên đã thần phục Đại Nam từ thời Gia Long, Ang Chan đành phải chấp nhận.

Lào (Vương quốc Champasak và Vientiane): Vua Anouvong của Lào rất bất bình, vì vùng Tây Nguyên từng là đất thuộc Lào.

Nhưng vì sợ quân Đại Nam mạnh hơn, Anouvong chỉ gửi thư phản đối, không dám can thiệp quân sự.

Ngay sau buổi thượng triều, ta ra chỉ dụ sáp nhập chính thức, đồng thời gửi sứ thần đến các tù trưởng, vua Chăm và các thế lực ngoại bang để làm rõ chính sách.

Lê Văn Duyệt được giao nhiệm vụ tổ chức lại quân đội tại các vùng mới sáp nhập.

Một bản đồ hành chính mới được vẽ lại, chính thức đưa Nam Bàn và Thuận Thành Đạo vào Đại Nam.

Đêm xuống, ta ngồi một mình trong thư phòng, nhìn tấm bản đồ Đại Nam nay đã mở rộng.

Một bước đi lớn đã hoàn thành.

Nhưng ta biết rõ, việc này sẽ không dừng lại ở đây.

Phe bảo thủ trong triều chưa từ bỏ, dân bản địa vẫn có thể nổi loạn, và các nước láng giềng cũng chưa hoàn toàn chịu chấp nhận.

Ta cầm bút, viết xuống một câu trong nhật ký: "Kẻ trị quốc không thể do dự.

Muốn mở mang bờ cõi, phải mạnh tay mà vẫn khéo léo.

Ta đã đặt viên gạch đầu tiên, giờ là lúc củng cố nó."
 
Triều Nguyễn Đổi Thay
Hiệp định ngoại giao Việt-Anh


Sáng ngày 20/2/1820, tại điện Cần Chính, một phái đoàn ngoại giao của Anh do Sir John Crawfurd, đại diện của Công ty Đông Ấn Anh, dẫn đầu tiến vào hoàng cung Đại Nam.

Trước đó, họ đã gửi quốc thư bày tỏ mong muốn thiết lập quan hệ thương mại và ngoại giao với triều đình.

Tôi ngồi trên ngai, nhìn xuống phái đoàn Anh với ánh mắt trầm tĩnh nhưng đầy quyền uy.

Các quan đại thần đứng hai bên, phần lớn giữ vẻ mặt nghiêm nghị, có người còn thấp giọng bàn tán.

Việc đàm phán với một cường quốc châu Âu là chuyện lớn, không phải ai cũng sẵn sàng chấp nhận.

Sau khi hành lễ, Crawfurd dâng quốc thư của vua Anh George IV lên cho tôi.

Tôi nhận lấy, ra hiệu cho quan Lễ bộ Thượng thư đọc to trước triều đình.

Nội dung thư thể hiện mong muốn thiết lập quan hệ hữu nghị, tự do thương mại và hợp tác quân sự với Đại Nam.

Tôi gật đầu, chậm rãi đáp: "Đại Nam luôn coi trọng bang giao với các nước, miễn là đôi bên đều có lợi.

Hôm nay các ngươi đến đây, hẳn cũng đã chuẩn bị những điều kiện cụ thể?".

Crawfurd mỉm cười, lập tức trình bày các đề xuất của Anh Quốc.

Phía Anh muốn mở rộng quyền buôn bán tại các cảng lớn như Hải Phòng, Hội An và Sài Gòn, được phép thành lập thương điếm và có đại diện thương mại tại kinh đô Huế.

Đổi lại, họ sẽ cung cấp vũ khí hiện đại, huấn luyện quân sự và hỗ trợ đóng tàu cho Đại Nam.

Tôi im lặng một lúc, rồi chậm rãi nói: "Đại Nam sẵn sàng mở cửa giao thương, nhưng cũng phải có quyền lợi tương xứng tại thị trường Anh.

Nếu người Anh muốn tự do buôn bán tại nước ta, thì thương nhân Đại Nam cũng phải được tự do giao thương trên đất Anh, không chịu hạn chế nào".

Crawfurd suy nghĩ một chút, rồi gật đầu: "Điều đó hợp lý.

Chúng tôi có thể cam kết rằng thương nhân Đại Nam được miễn thuế nhập khẩu trong một số mặt hàng nhất định, được bảo hộ khi kinh doanh tại các cảng của Anh như London, Liverpool và Calcutta.

Ngoài ra, thuyền buôn Đại Nam khi cập cảng Anh sẽ được đối xử bình đẳng như các tàu buôn châu Âu".

Tôi mỉm cười hài lòng.

Đây là điều chưa từng có trong lịch sử – một quốc gia phương Đông có quyền lợi tương đương tại một cường quốc châu Âu.

Tôi gõ nhẹ lên tay ngai, suy xét rồi nói: "Thương nhân Anh có thể buôn bán tự do tại các thương cảng lớn, nhưng không được chiếm dụng đất đai hoặc lập khu vực riêng biệt.

Mọi hoạt động đều phải tuân theo luật pháp Đại Nam, không được tự ý lập chính quyền hay lực lượng vũ trang riêng.

Ngoài ra, mỗi năm Đại Nam sẽ quy định một số mặt hàng thiết yếu mà Anh Quốc không được xuất khẩu quá mức để tránh gây mất cân đối kinh tế".

Crawfurd có vẻ bất ngờ, nhưng ông ta nhanh chóng gật đầu chấp nhận.

Một vấn đề nhạy cảm khác là truyền đạo Thiên Chúa.

Tôi biết người Anh sẽ đề cập đến điều này, nên chủ động nói trước: "Đại Nam tôn trọng tôn giáo, nhưng việc truyền đạo phải tuân thủ luật pháp Đại Nam.

Những kẻ lợi dụng đạo giáo để gây rối loạn sẽ bị trừng trị.

Các giáo sĩ Anh có thể giảng đạo trong phạm vi cho phép, nhưng không được cưỡng ép dân chúng theo đạo".

Crawfurd suy nghĩ một lúc rồi gật đầu đồng ý.

Ông ta hiểu rằng, so với sự đàn áp khắc nghiệt của triều đình Thanh ở Trung Quốc, chính sách này vẫn là một bước tiến lớn.

Tôi tiếp tục đề xuất một điều kiện quan trọng: "Thương nhân Đại Nam khi đến Anh phải được bảo hộ.

Nếu gặp tranh chấp thương mại, họ có quyền kiện lên tòa án Anh và được xét xử công bằng".

Crawfurd suy xét một lát, rồi đồng ý.

Điều này đồng nghĩa với việc Đại Nam không chỉ là một nước phụ thuộc mà đang thiết lập một mối quan hệ bình đẳng với Anh Quốc.

Sau nhiều ngày đàm phán căng thẳng, vào ngày 23/2/1820, tôi cùng Sir John Crawfurd, đại diện của Công ty Đông Ấn Anh, chính thức ký kết "Hiệp ước Hữu nghị, Thương mại và Quân sự giữa Đại Nam và Anh Quốc" tại điện Cần Chính.

Bản hiệp ước gồm 12 điều khoản chính, đảm bảo quyền lợi cân bằng cho cả hai bên:

Mục I: Quan hệ ngoại giao

1.

Đại Nam và Anh Quốc công nhận chủ quyền lẫn nhau, thiết lập quan hệ bang giao bình đẳng.

2.

Anh Quốc cử một sứ thần thường trú tại kinh đô Huế, có thể thay mặt Anh đàm phán thương mại và ngoại giao.

Đại Nam có thể cử sứ thần đến London.

Mục II: Thương mại và giao thương

3.

Anh Quốc được phép tự do buôn bán tại các cảng Hải Phòng, Hội An, Đà Nẵng và Sài Gòn nhưng phải đóng thuế theo quy định của Đại Nam.

4.

Công ty Đông Ấn Anh có thể thành lập thương điếm tại Huế, Hội An và Sài Gòn, nhưng không được xây dựng khu tự trị hoặc quân sự hóa khu vực này.

5.

Thương nhân Đại Nam được miễn thuế nhập khẩu trong 5 năm đầu tại các cảng của Anh như London, Liverpool, Calcutta, được quyền sở hữu kho hàng và thuê đất mở cửa hàng tại Anh.

6.

Thuyền buôn Đại Nam khi cập cảng Anh sẽ được đối xử ngang hàng với thuyền buôn châu Âu, không chịu thuế nặng hay bị phân biệt đối xử.

Mục III: Hợp tác quân sự

7.

Anh Quốc cam kết cung cấp vũ khí hiện đại cho Đại Nam, bao gồm súng trường, đại bác, tàu chiến hơi nước với giá ưu đãi.

8.

Anh Quốc sẽ huấn luyện quân sự cho quân đội Đại Nam trong 5 năm, giúp nâng cao năng lực thủy quân và pháo binh.

9.

Hai bên cam kết hỗ trợ quân sự nếu bị một cường quốc phương Tây khác xâm lược, nhưng Anh không được can thiệp vào nội chính Đại Nam.

Mục IV: Quy định về tôn giáo và bảo hộ thương nhân

10.

Các giáo sĩ Thiên Chúa giáo Anh được phép truyền đạo nhưng không được cưỡng ép dân chúng theo đạo, không được kích động chống đối triều đình.

11.

Anh Quốc cam kết bảo hộ thương nhân Đại Nam tại Anh và thuộc địa của Anh, cho phép họ sử dụng hệ thống tư pháp Anh nếu xảy ra tranh chấp.

12.

Bản hiệp ước này có hiệu lực trong 20 năm, sau đó hai bên có thể thương lượng để gia hạn hoặc sửa đổi.

Khi tôi đặt bút ký vào bản hiệp ước, tôi biết rằng đây là một bước ngoặt quan trọng của Đại Nam.

Tuy nhiên, tôi không hề ngây thơ tin rằng người Anh sẽ mãi giữ cam kết.

Sau buổi lễ, các đại thần tụ họp lại bàn luận sôi nổi.

Phe bảo thủ như Nguyễn Văn Khiêm và Trương Đăng Quế phản đối mạnh mẽ: "Thần lo ngại rằng cho người Anh quyền tự do buôn bán sẽ khiến họ dần thao túng nền kinh tế nước ta.

Bệ hạ, nếu chúng ta mở cửa quá sớm, chẳng khác nào rước sói vào nhà".

Phe ủng hộ như Nguyễn Công Trứ và Phan Bá Đạt thì cho rằng: "Đây là bước đi tất yếu nếu muốn cường quốc phương Tây tôn trọng Đại Nam.

Nếu ta không mở cửa, người Anh sẽ tìm đến Xiêm hoặc Trung Quốc, lúc đó chúng ta sẽ bất lợi".

Trong cung, thái hậu và các hoàng thân cũng có phản ứng khác nhau.

Thái hậu Thuận Thiên giữ thái độ trung lập nhưng cảnh báo: "Con đã tính kỹ, ta không phản đối.

Nhưng hãy nhớ, người Tây không đáng tin, đừng để họ lợi dụng sự mềm mỏng của chúng ta".

Một số hoàng tử như Miên Tông (sau này là Thiệu Trị) thì lo ngại rằng điều này sẽ làm mất đi bản sắc truyền thống.

Phản ứng của nước ngoài: Pháp quan sát chặt chẽ và bắt đầu lo ngại ảnh hưởng của Anh tại Đại Nam, Hà Lan đánh giá đây là một mối đe dọa cho hoạt động thương mại của họ tại Đông Nam Á, Nhà Thanh coi đây là một bước nguy hiểm, có thể khiến Đại Nam trở nên độc lập hơn khỏi ảnh hưởng Trung Hoa.

Dù có nhiều tranh cãi, hiệp ước này đặt nền tảng cho một Đại Nam cường thịnh hơn, không bị lệ thuộc vào một nước nào mà vẫn có thể tận dụng sức mạnh của phương Tây để phát triển.

Tôi biết rằng, từ đây, con đường hiện đại hóa đất nước sẽ bắt đầu, và tôi phải đối mặt với nhiều sóng gió phía trước.

Ngay sau khi hiệp ước được ký kết, Sir John Crawfurd đã gửi thư về London báo cáo.

Phía Anh đánh giá hiệp ước này là một chiến thắng ngoại giao, vì họ đã mở được cánh cửa vào thị trường Đông Dương mà không cần chiến tranh.

Tuy nhiên, một số quan chức Anh cũng lo ngại về những điều khoản ràng buộc, đặc biệt là việc không được chiếm dụng đất đai hay lập khu tự trị.

Một số người trong chính phủ Anh cho rằng Đại Nam có thể sẽ tìm cách hạn chế ảnh hưởng của Anh trong tương lai.

Crawfurd, với tư cách là một nhà ngoại giao lão luyện, nhận ra rằng tôi không phải một ông vua dễ kiểm soát, và rằng Đại Nam có tiềm năng trở thành một thế lực mạnh nếu cải cách thành công.

Khi về cung, tôi ngồi một mình trước bàn, nhìn tờ hiệp ước vừa ký.

Mọi chuyện chỉ mới bắt đầu.

Tôi biết, dù hiệp ước này mang lại lợi ích, nhưng người Anh sẽ không dừng lại.

Lịch sử đã cho thấy họ sẵn sàng dùng vũ lực khi cần thiết.

Tôi quyết định lên một kế hoạch đối phó lâu dài:

1.

Tăng cường kiểm soát thương nhân Anh: Cử mật thám trà trộn vào thương điếm Anh để giám sát hoạt động kinh doanh.

Lập hội đồng thương mại để theo dõi việc xuất nhập khẩu, tránh tình trạng người Anh lũng đoạn kinh tế.

2.

Phát triển quân đội: Dùng thời gian Anh huấn luyện để học hỏi kỹ thuật quân sự, sau đó dần giảm dần sự phụ thuộc vào họ.

Tập trung đóng tàu chiến hơi nước để tự lực về thủy quân.

3.

Dùng chính sách "chia để trị": Tạo mâu thuẫn giữa Anh và Pháp để hai bên kìm hãm nhau tại Đông Nam Á.

Hợp tác với Hà Lan và Tây Ban Nha để tránh Anh độc quyền thương mại.

4.

Giới hạn sự truyền bá Thiên Chúa giáo: Cho phép nhưng kiểm soát chặt chẽ, ngăn chặn việc các giáo sĩ lợi dụng tín ngưỡng để thao túng chính trị.

Dù có nhiều tranh cãi, tôi tin rằng hiệp ước này sẽ giúp Đại Nam phát triển, nhưng điều quan trọng là không được lệ thuộc.

Tôi sẽ lợi dụng phương Tây để hiện đại hóa đất nước, nhưng đến một lúc nào đó, chính Đại Nam mới phải là kẻ làm chủ cuộc chơi.

Lịch sử của Đông Nam Á sẽ không thể lặp lại như trước kia, và tôi – một kẻ xuyên không – sẽ là người viết lại nó.
 
Triều Nguyễn Đổi Thay
Hiệp ước ngoại giao Việt-Tây Ban Nha


Sau khi ký kết thành công hiệp ước với Anh, ta hiểu rằng việc mở rộng quan hệ ngoại giao với các cường quốc châu Âu là điều tất yếu để tăng cường vị thế của Đại Nam.

Tây Ban Nha, với hạm đội hải quân mạnh mẽ và thuộc địa rộng lớn ở Đông Nam Á, là một đối tác quan trọng mà ta phải tính toán kỹ lưỡng.

Buổi yết kiến với phái đoàn Tây Ban Nha vào ngày 25 tháng 2 năm 1820, ta triệu tập buổi yết kiến phái đoàn Tây Ban Nha do Toàn quyền Manila, đại diện vương quyền Tây Ban Nha ở Đông Ấn, dẫn đầu.

Tại điện Thái Hòa, khi phái đoàn Tây Ban Nha tiến vào, ta quan sát họ kỹ lưỡng.

Toàn quyền Manila là một người châu Âu trung niên, dáng vẻ nghiêm nghị nhưng trong ánh mắt vẫn ánh lên sự thăm dò.

Cùng đi với ông ta là một số sĩ quan hải quân và thương nhân.

Toàn quyền Manila cúi chào: "Bệ hạ, Tây Ban Nha rất hân hạnh được diện kiến Ngài và bàn luận về tương lai quan hệ giữa hai nước.

Vương quốc Tây Ban Nha từ lâu đã mong muốn mở rộng giao thương với Đại Nam, một quốc gia có vị trí chiến lược quan trọng ở Đông Nam Á."

Ta gật đầu, đi thẳng vào vấn đề: "Đại Nam cũng mong muốn có thêm bằng hữu để cùng phát triển.

Tuy nhiên, ta cần biết Tây Ban Nha có thể mang lại lợi ích gì cho đất nước ta?"

Toàn quyền Manila mỉm cười, có lẽ vì ấn tượng trước sự thẳng thắn của ta.

"Thưa bệ hạ, Tây Ban Nha có một lực lượng hải quân hùng mạnh và những thương nhân giàu kinh nghiệm.

Chúng tôi có thể hỗ trợ Đại Nam về kỹ thuật đóng tàu, huấn luyện hải quân và cung cấp các loại vũ khí hiện đại để bảo vệ bờ biển."

Ta gật đầu chậm rãi: "Đó là điều ta quan tâm.

Nhưng về mặt thương mại, Tây Ban Nha muốn gì?"

"Chúng tôi mong muốn có quyền buôn bán tại các cảng lớn của Đại Nam, ưu đãi thuế quan đối với thương nhân Tây Ban Nha và đảm bảo an toàn cho các đoàn truyền giáo của chúng tôi."

Câu cuối cùng của hắn làm ta hơi nhíu mày.

Truyền giáo là một vấn đề nhạy cảm, và ta không thể để Tây Ban Nha lợi dụng nó để can thiệp vào nội bộ Đại Nam.

Bản hiệp ước "Hữu nghị, Thương mại – Ngoại giao và Hỗ trợ Hải quân" giữa Đại Nam và Tây Ban Nha được soạn thảo với 14 điều khoản chính:

1.

Công nhận chủ quyền và thiết lập quan hệ ngoại giao: Đại Nam và Tây Ban Nha công nhận chủ quyền lẫn nhau, thiết lập quan hệ đối xử bình đẳng và trao đổi đại sứ thường trú.

Phía Tây Ban Nha cử một đại sứ thường trú tại Huế, còn Đại Nam được phép cử phái đoàn đến Madrid định kỳ.

2.

Thương mại song phương: Tây Ban Nha được tự do giao thương tại các cảng trọng yếu của Đại Nam như Gia Định, Hội An, Đà Nẵng và Sài Gòn với mức thuế ưu đãi không vượt quá 5%.

Công ty thương mại Tây Ban Nha được phép thành lập thương điếm ở các cảng này, tuy nhiên không được phép lập khu tự trị hay sử dụng quân đội địa phương.

3.

Bảo hộ và hỗ trợ thương nhân: Thương nhân Đại Nam được bảo hộ khi hoạt động trên lãnh thổ Tây Ban Nha; họ được miễn thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng chủ lực trong 5 năm đầu và có quyền sở hữu, thuê mướn kho bãi tại các cảng lớn như London, Liverpool và Calcutta.

Nếu xảy ra tranh chấp thương mại, cả hai bên cam kết sử dụng tòa án của Tây Ban Nha để giải quyết, với sự can thiệp của các quan chức trung gian đã được chỉ định.

4.Hợp tác quân sự – Đào tạo Hải quân: Tây Ban Nha cam kết cử chuyên gia hàng hải, kỹ sư đóng tàu và huấn luyện viên hải quân sang Đại Nam để truyền dạy kỹ thuật hiện đại.

Trong vòng 5 năm, Tây Ban Nha sẽ hỗ trợ việc xây dựng và hoàn thiện đội tàu chiến của Đại Nam, bao gồm việc chuyển giao công nghệ đóng tàu hơi nước và hệ thống pháo binh hiện đại.

Các chuyên gia Tây Ban Nha sẽ trực tiếp giám sát quá trình huấn luyện và chuyển giao công nghệ, đồng thời hỗ trợ nâng cao năng lực chỉ huy của các sĩ quan Đại Nam.

5.

Truyền đạo và tôn giáo: Các giáo sĩ Thiên Chúa giáo Tây Ban Nha được phép hoạt động tại Đại Nam nhưng phải tuân theo luật pháp của triều đình; mọi hành vi kích động hoặc cố tình làm rối loạn trật tự xã hội sẽ bị xử lý nghiêm khắc.

Đại Nam cam kết bảo vệ quyền tự do tôn giáo cho người dân, nhưng cũng đề cao việc bảo tồn văn hóa và truyền thống dân tộc.

6.

Hiệu lực và điều chỉnh: Bản hiệp ước có hiệu lực trong 20 năm, sau đó hai bên sẽ cùng nhau đánh giá lại và thương lượng sửa đổi nếu cần thiết.

Mọi điều khoản của hiệp ước đều được xem là ràng buộc pháp lý giữa Đại Nam và Tây Ban Nha, không một bên nào được đơn phương thay đổi.

Ngay sau khi hiệp ước được công bố, triều đình rúng động.

Lê Văn Duyệt, người luôn quan tâm đến quân sự, tỏ ra hài lòng: "Bệ hạ sáng suốt!

Nếu có hải quân mạnh, Đại Nam có thể kiểm soát biển Đông và không còn sợ hải tặc hay sự uy hiếp từ các nước khác."

Nguyễn Văn Nhân, một đại thần bảo thủ, thì lo ngại: "Thần e rằng để Tây Ban Nha truyền giáo sẽ tạo ra những vấn đề về sau.

Nhiều kẻ lợi dụng tôn giáo để chống lại triều đình!"

Ta nhìn ông ta, giọng điềm tĩnh: "Đó là lý do ta quy định họ phải tuân theo luật pháp Đại Nam.

Nếu có kẻ nào lợi dụng, ta sẽ diệt trừ tận gốc."

Toàn quyền Manila, người đứng đầu phái đoàn, đã thể hiện sự hài lòng và tự tin: "Chúng tôi đánh giá cao sự mở cửa và khôn ngoan của Đại Nam.

Việc hợp tác không chỉ giúp chúng tôi mở rộng thương mại tại Đông Nam Á mà còn góp phần củng cố sức mạnh hàng hải của vương quốc chúng tôi."

Các sĩ quan hàng hải và thương nhân Tây Ban Nha sau buổi yết kiến đều thể hiện thái độ phấn khích, cho rằng hiệp ước này hứa hẹn sẽ tạo ra một thị trường mới năng động, đồng thời chuyển giao công nghệ và kinh nghiệm quý báu về hải quân.

Sau buổi ký kết hiệp ước, tôi trở lại phòng làm việc trong không gian yên tĩnh của điện Thái Hòa.

Trong lòng tôi dâng lên biết bao cảm xúc lẫn lộn: Niềm tự hào vì đã mở ra một kỷ nguyên giao lưu hiện đại, chuyển giao công nghệ hải quân, và mở rộng thị trường thương mại.

Sự cảnh giác vì tôi hiểu rõ người Tây Ban Nha vốn luôn có mưu lược của riêng họ.

Hiệp ước này, dù mang lại nhiều lợi ích, cũng có thể trở thành mũi khoan để họ can thiệp sâu vào nội bộ Đại Nam nếu không được kiểm soát chặt chẽ.

Tôi ngồi mơ mộng ra kế hoạch đối phó lâu dài: Bảo vệ quyền tự chủ: Tôi ra lệnh cho các cận vệ và quan lại theo dõi sát sao hoạt động của thương nhân và giáo sĩ Tây Ban Nha.

Từng nhóm chuyên gia sẽ được cử đến các cảng trọng yếu để giám sát và báo cáo.

Phát triển hải quân nội địa: Mặc dù nhận được sự huấn luyện từ Tây Ban Nha, tôi chỉ coi đó là bước đệm.

Tôi ra lệnh cho Lê Văn Duyệt và các quan liên quan tập trung xây dựng đội tàu chiến của Đại Nam theo phong cách hiện đại, đồng thời chuyển giao công nghệ sang hệ thống do trong nước tự sản xuất.

Kiểm soát truyền đạo: Tôi bổ sung các điều khoản giám sát chặt chẽ với ban hành nội quy riêng về hoạt động truyền đạo, đảm bảo rằng mọi hoạt động đều phù hợp với luật pháp và văn hóa Đại Nam.

Tôi tự nhủ: "Hãy tận dụng những lợi ích hiện tại để phát triển đất nước, nhưng đừng bao giờ quên rằng, kẻ làm chủ cuộc chơi chính là Đại Nam.

Chúng ta sẽ học hỏi, nhưng không bao giờ để mất đi bản sắc và chủ quyền của mình."

Thái hậu nghe tin về hiệp ước liền triệu ta vào cung.

Bà nhìn ta đầy nghi hoặc: "Con thật sự muốn dựa vào người Tây dương sao?"

Ta bình tĩnh trả lời: "Mẫu hậu, con không dựa vào họ, mà đang lợi dụng họ.

Khi hải quân ta đủ mạnh, chúng ta sẽ không cần ai nữa."

Bà gật đầu chậm rãi, có vẻ hiểu ra ẩn ý của ta.

Trong hậu cung, các phi tần cũng xôn xao bàn tán, lo lắng rằng việc giao thương với Tây dương có thể khiến văn hóa Đại Nam bị ảnh hưởng.

Nhưng ta biết, chỉ cần kiểm soát tốt, thì Đại Nam sẽ chỉ lấy những gì có lợi mà không đánh mất bản sắc của mình.

Hiệp ước với Tây Ban Nha đánh dấu một bước ngoặt trong quá trình hiện đại hóa và mở cửa giao thương của Đại Nam.

Qua đó, ta không chỉ mở rộng thương mại mà còn trang bị cho nước ta những công nghệ quân sự tiên tiến, đặc biệt là trong lĩnh vực hải quân.

Tuy nhiên, tôi nhận thức rõ ràng rằng, trong mọi giao lưu với phương Tây, sự cảnh giác và kiểm soát nội bộ là vô cùng cần thiết.

Cùng với các cải cách khác, bước tiến này hứa hẹn sẽ đưa Đại Nam vào một kỷ nguyên mới – một thời đại mà truyền thống và hiện đại hòa quyện, và nước ta trở thành một thế lực độc lập trên biển Đông.
 
Triều Nguyễn Đổi Thay
Nông nghiệp


Sau những cải cách về chính quyền, luật pháp và ngoại giao, ta nhận thấy rằng muốn củng cố nền tảng lâu dài cho Đại Nam, ta phải giải quyết tận gốc vấn đề ruộng đất, nông nghiệp và thủy lợi.

Đất nước có thể mạnh về quân sự, có thể giàu lên nhờ thương mại, nhưng nền tảng thực sự của quốc gia vẫn là nông dân và đất đai.

Hôm nay, ta triệu tập buổi thượng triều tại điện Thái Hòa, ban bố các chính sách cải cách toàn diện nhằm thay đổi cơ cấu ruộng đất, cải thiện sản xuất nông nghiệp, kiểm soát lũ lụt và phát triển hệ thống kênh đào trên khắp Đại Nam.

Nội dung cải cách

1.

Cải cách ruộng đất

Nhìn nhận thực tế, ruộng đất trong nước đang rơi vào tay địa chủ, quan lại và một số thế lực hoàng thân, trong khi phần lớn dân chúng lại không có đất để canh tác.

Điều này dẫn đến tình trạng tá điền nghèo khổ, sản xuất đình trệ, đất đai bị bỏ hoang và mâu thuẫn xã hội ngày càng gay gắt.

Ta quyết định thực hiện một cuộc cải cách ruộng đất toàn diện với các chính sách sau:

• Hạn điền pháp (限田法): Quy định giới hạn sở hữu ruộng đất đối với mỗi cá nhân và gia đình, nhằm ngăn chặn tình trạng tập trung đất đai vào tay một nhóm nhỏ.

• Quan lại, hoàng thân chỉ được sở hữu tối đa 50 mẫu ruộng.

• Địa chủ giàu có chỉ được sở hữu tối đa 30 mẫu.

• Dân thường có quyền khai hoang, sở hữu từ 5 - 15 mẫu tùy theo khu vực.

• Chia lại đất hoang và ruộng công:

• Nhà nước tiến hành đo đạc lại toàn bộ đất đai trên cả nước.

• Đất hoang hóa sẽ được giao cho dân nghèo khai khẩn, có quyền sở hữu sau 5 năm canh tác liên tục.

• Ruộng công làng xã sẽ được chia lại theo đầu người, đảm bảo công bằng hơn.

• Bảo vệ quyền lợi tá điền: Người cày ruộng thuê phải được ký hợp đồng rõ ràng với chủ đất.

Thuế tô (thuê đất) không được vượt quá 30% sản lượng mùa vụ.

• Nhà nước lập "Điền chính viện" để giám sát việc thu thuế và đảm bảo không có địa chủ nào lạm quyền bóc lột nông dân.

2.

Cải cách nông nghiệp

Để thúc đẩy sản xuất, ta ban bố các chính sách hỗ trợ người nông dân:

• Miễn giảm thuế trong vòng 3 năm đối với nông dân nhận ruộng mới.

• Cung cấp giống cây trồng, gia súc và nông cụ cho các hộ nghèo để họ có điều kiện canh tác.

• Khuyến khích sử dụng kỹ thuật canh tác mới, học hỏi từ phương Tây và Trung Hoa như luân canh, xen canh, dùng phân bón hữu cơ.

• Xây dựng kho lương thực quốc gia để dự trữ thóc gạo, đề phòng mất mùa và ổn định giá cả trên thị trường.

3.

Trị thủy và đào kênh

Nạn lũ lụt và hạn hán đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp.

Ta ra lệnh triển khai một loạt công trình trị thủy lớn trên cả nước:

• Kè đê sông Hồng, sông Mã, sông Cửu Long để chống lũ vào mùa mưa.

• Đào thêm kênh tưới tiêu tại vùng Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ để chống hạn vào mùa khô.

• Nạo vét hệ thống kênh cũ và khơi thông dòng chảy tại những vùng đất trũng.

Ngoài ra, ta ban lệnh mở hai đại công trình kênh đào lớn:

1.

Kênh Vĩnh Tế (Gia Định – Hà Tiên – Châu Đốc): Mở rộng tuyến kênh cũ, giúp lưu thông hàng hóa nhanh hơn.

Tăng cường phòng thủ biên giới phía Tây Nam.

2.

Kênh Nhà Lê (Thanh Hóa – Nghệ An – Hà Tĩnh): Nạo vét lại kênh cũ, giúp tưới tiêu và vận chuyển lúa gạo thuận lợi.

Giảm nguy cơ hạn hán và tăng sản lượng nông nghiệp miền Trung.

Điện Thái Hòa sáng nay vẫn uy nghiêm như mọi khi, nhưng ta biết hôm nay sẽ không phải là một buổi thượng triều bình thường.

Những cải cách ta sắp tuyên bố sẽ đụng chạm đến quyền lợi của nhiều người, đặc biệt là tầng lớp địa chủ và một số hoàng thân, nhưng ta không thể do dự.

Ta ngồi trên ngai vàng, ánh mắt quét qua toàn bộ triều thần.

Dưới sân rồng, các đại thần, hoàng thân quốc thích và các quan lại đã tề tựu đầy đủ.

Không khí trong điện có chút nặng nề, một số người dường như đã đoán được nội dung của buổi thiết triều hôm nay.

Ta cất giọng trầm ổn nhưng đầy uy nghiêm: "Chúng khanh, trẫm triệu tập buổi thượng triều hôm nay để bàn về một đại sự liên quan đến quốc kế dân sinh, đến vận mệnh của Đại Nam ta.

Xưa nay, một quốc gia hưng thịnh không chỉ nhờ vào võ công hay thương mại, mà trước hết phải có một nền nông nghiệp vững mạnh.

Nông dân no đủ thì xã tắc mới yên, đất nước mới thịnh."

Ta tạm dừng một chút, rồi tiếp tục: "Nhưng nay, ruộng đất lại tập trung vào tay một số ít địa chủ, hoàng thân, quan lại, trong khi dân đinh thì đói khát, bần cùng, không có đất để canh tác.

Nếu cứ tiếp tục như vậy, chẳng phải Đại Nam sẽ dần suy yếu hay sao?"

"Vậy nên, trẫm quyết định ban hành Hạn Điền Pháp, chia lại ruộng đất công và khuyến khích khai hoang.

Đồng thời, các chính sách cải cách nông nghiệp, trị thủy, và đào kênh cũng sẽ được thực thi ngay lập tức"

Vừa dứt lời, cả điện Thái Hòa xôn xao.

Một số quan cải cách gật đầu tán thành, nhưng nhiều quan bảo thủ, đặc biệt là những người thuộc tầng lớp địa chủ và hoàng thân, lập tức tỏ thái độ bất mãn.

Lê Văn Duyệt bước ra khỏi hàng, cúi người tâu: "Bệ hạ thánh minh!

Thần cho rằng chính sách này là cần thiết để đảm bảo quốc gia cường thịnh.

Nếu dân nghèo có đất canh tác, thì quốc khố sẽ đầy, quân đội sẽ mạnh, thiên hạ sẽ vững bền.

Đây là bước đi sáng suốt của bệ hạ."

Nguyễn Công Trứ cũng chắp tay nói: "Bệ hạ anh minh!

Ruộng đất là gốc rễ của sinh kế muôn dân.

Nếu cứ để địa chủ thao túng, quan lại chiếm hữu, mà không chia đất cho người thực sự làm ra thóc lúa, thì chẳng mấy chốc nước mất, dân cùng.

Thần xin nguyện đi đầu trong việc tổ chức khai hoang và triển khai cải cách này!"

Ta khẽ gật đầu, lòng thầm hài lòng.

Nhưng ta biết, trận chiến thực sự mới chỉ bắt đầu.

Lúc này, một nhóm hoàng thân và quan lại địa chủ tỏ rõ thái độ không hài lòng.

Nguyễn Văn Nhân, một trong các hoàng thân có nhiều điền sản, bước ra khỏi hàng, giọng bất mãn: "Bệ hạ, từ xưa đến nay, đất đai là tài sản của những người có công khai phá và quản lý.

Việc giới hạn sở hữu, chia lại ruộng đất chẳng khác nào tước đoạt tài sản của các bậc trung thần, gia tộc có công với triều đình!

Như vậy có công bằng không?"

Một số quan khác cũng đồng loạt tỏ thái độ đồng tình.

Trương Đăng Quế, một đại thần bảo thủ, cũng lên tiếng: "Bệ hạ, cải cách là điều cần thiết, nhưng phải cẩn trọng.

Nếu làm quá gấp gáp, e rằng sẽ khiến những kẻ bất mãn nổi loạn.

Bệ hạ có chắc rằng dân chúng sẽ hài lòng, hay lại có kẻ lợi dụng tình thế để gây rối?"

Ta đập mạnh tay xuống long án, giọng dõng dạc: "Trẫm đã quyết, không ai được bàn lùi!

Đất nước là của muôn dân, không thể để một nhóm nhỏ thao túng!

Nếu ai còn cố tình cản trở, trẫm sẽ xem xét tội bất trung"

Không khí trong điện trở nên căng thẳng, không ai dám nói thêm.

Thấy không còn ai dám phản đối công khai, ta phất tay, cho thái giám truyền chỉ dụ: "Chiếu chỉ thiên hạ.

Kể từ hôm nay, tất cả quan lại, địa chủ, hoàng thân sẽ bị giới hạn số lượng ruộng đất sở hữu.

Những ai có quá số ruộng quy định sẽ phải nộp lại cho triều đình để chia cho dân.

Ruộng đất hoang hóa phải được khai khẩn trong vòng ba năm, nếu không sẽ bị tịch thu.

Người khai hoang được miễn thuế ba năm và được sở hữu ruộng sau năm năm canh tác liên tục.

Thành lập Điền Chính Viện để giám sát việc thi hành luật pháp này.

Triều đình sẽ huy động nhân lực để thực hiện các công trình trị thủy, đào kênh lớn trên toàn quốc.

Ai dám chống lại, coi như kháng chỉ, xử theo quốc pháp"

Sau khi chiếu chỉ được tuyên đọc, các quan đồng loạt quỳ xuống hô lớn: "Hoàng thượng thánh minh!

Vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế!"

Phản ứng của dân chúng và nông dân: Hân hoan, vui mừng vì lần đầu tiên có cơ hội sở hữu ruộng đất.

Một số nông dân còn quỳ trước cửa cung, dâng biểu tạ ơn.

Phản ứng của địa chủ và quan lại giàu có: Âm thầm bất mãn, tìm cách trốn tránh cải cách, lách luật hoặc chống đối ngầm.

Một số người bắt đầu vận động hoàng thân và quan lại bảo thủ để gây sức ép lên triều đình.

Sau khi buổi triều kết thúc, phản ứng trong triều và ngoài cung vô cùng mạnh mẽ.

Các đại thần cải cách mừng rỡ, vì đây là bước tiến quan trọng để ổn định xã hội.

Quan lại có tư tưởng tiến bộ bắt đầu chuẩn bị kế hoạch triển khai.

Hoàng thân, địa chủ ngầm bất mãn, nhiều kẻ tụ tập bàn cách đối phó.

Một số kẻ bắt đầu ngầm liên kết với nhau, tìm cách gây áp lực lên triều đình.

Buổi tối, ta được triệu vào cung Thái hậu Thuận Thiên.

Bà nhìn ta chằm chằm, giọng chậm rãi:

"Con làm vậy, có biết là đã đụng chạm đến rất nhiều người không?

Có chắc là sẽ kiểm soát được tình hình?"

Ta quỳ xuống, giọng chắc nịch: "Mẫu hậu yên tâm.

Chỉ cần người dân ủng hộ, trẫm không sợ ai cả".

Bà nhìn ta thật lâu, rồi thở dài: "Nếu con đã quyết, ta không ngăn.

Nhưng phải cẩn thận, giang sơn này không đơn giản như con nghĩ đâu."

Sau buổi thượng triều, ta trở về thư phòng, cầm trên tay tấu sớ từ các tỉnh gửi về.

Ta biết, những cải cách này sẽ không dễ thực hiện.

Phe bảo thủ chắc chắn sẽ phản kháng.

Một số địa chủ và hoàng thân sẽ tìm cách lách luật hoặc thao túng nông dân.

Trị thủy và đào kênh là công trình lớn, cần nhiều nhân lực và tài chính.

Nhưng ta không thể dừng lại.

Ta triệu tập Mật thám ty, ra lệnh giám sát chặt chẽ các thế lực chống đối.

Những ai âm mưu phá hoại, kích động dân chúng sẽ bị trừng trị nghiêm khắc.

Ngoài ra, ta cũng ra chỉ dụ khuyến khích dân khai hoang, cho phép người nghèo vào các vùng đất mới để sinh sống và lập nghiệp, đảm bảo rằng cải cách này thực sự đến tay người dân.

Ta nhắm mắt lại, trong lòng tràn đầy quyết tâm: "Một đất nước mạnh là một đất nước mà dân không lo đói.

Một vương triều vững là một vương triều mà nông dân không bị bóc lột.

Dù có khó khăn, ta nhất định sẽ đi đến cùng".
 
Triều Nguyễn Đổi Thay
Tỉnh


Buổi thượng triều ngày 1/3/1820.

Buổi thiết triều hôm nay, ta quyết định công bố một trong những cải cách quan trọng bậc nhất: cải tổ toàn bộ hệ thống chính quyền địa phương, thay đổi cách phân chia đơn vị hành chính của Đại Nam theo hướng chặt chẽ và hiệu quả hơn.

Trước đây, đất nước ta vẫn duy trì hệ thống các trấn, dinh, đạo, khiến bộ máy hành chính địa phương trở nên cồng kềnh, chồng chéo quyền lực.

Ta muốn thiết lập một hệ thống tỉnh tương tự như cách mà Đại Thanh đang làm, nhưng phù hợp hơn với tình hình Đại Nam.

Và ta không chờ đến năm 1831 như lịch sử, mà bắt đầu ngay từ bây giờ!

Sau khi triều thần đã tề tựu đông đủ, ta nghiêm giọng: "Trẫm triệu tập buổi thượng triều hôm nay để bàn về một cải cách lớn, ảnh hưởng đến mọi mặt của đất nước.

Từ trước đến nay, hệ thống hành chính của ta phân chia chưa hợp lý, nhiều vùng đất quản lý chồng chéo, quan lại cát cứ, thuế má không minh bạch, trị an bất ổn.

Nếu không cải tổ, làm sao có thể cai trị hiệu quả?"

Ta nhìn xuống, thấy nhiều vị đại thần lộ vẻ suy tư.

Một số người gật gù đồng tình, số khác lại có vẻ e dè.

"Vì thế, trẫm quyết định xóa bỏ các trấn, đạo, dinh, chính thức thiết lập hệ thống 31 tỉnh trên toàn quốc.

Mỗi tỉnh sẽ có một Tổng đốc cai quản, bên dưới là Tuần phủ, Bố chánh sứ, Án sát sứ, chịu trách nhiệm hành chính, thuế khóa và tư pháp."

Ngay khi ta dứt lời, Lê Văn Duyệt bước ra, cúi mình: "Bệ hạ thánh minh!

Từ lâu hệ thống hành chính cũ đã tỏ ra kém hiệu quả, việc cải cách là vô cùng cần thiết.

Nếu có một cơ cấu rõ ràng, chính quyền địa phương sẽ hoạt động minh bạch, đất nước sẽ vững mạnh hơn."

Nguyễn Công Trứ cũng tán đồng: "Thần thấy việc lập tỉnh là cần thiết.

Nhưng xin bệ hạ cho rõ hơn về cách bổ nhiệm quan lại và tổ chức hành chính trong mỗi tỉnh."

Ta gật đầu: "Mỗi tỉnh sẽ có Tổng đốc đứng đầu, nếu tỉnh lớn thì sẽ có thêm Tuần phủ phụ tá.

Dưới đó là Bố chánh sứ lo việc thuế khóa, Án sát sứ lo về tư pháp và trị an.

Các quan huyện, châu vẫn giữ nguyên chức trách, nhưng sẽ trực thuộc cấp tỉnh.Ngoài ra, các tỉnh ở biên giới sẽ có thêm Đồn điền sứ để quản lý dân khai hoang và trấn thủ vùng biên.

Các tỉnh Nam bộ và Tây Nguyên sẽ có Hải phòng sứ và Sơn phòng sứ, nhằm bảo vệ biên giới và kiểm soát di dân."

Ngay lúc đó, Trương Đăng Quế, một trong các đại thần bảo thủ, bước ra, giọng đầy lo ngại: "Bệ hạ, hệ thống trấn đã tồn tại hàng trăm năm, nếu đột ngột thay đổi e rằng sẽ gây chấn động lớn, nhiều quan lại địa phương có thể phản kháng.

Hơn nữa, việc phân chia lại đất đai có thể làm mất lòng một số thế lực hoàng thân, quý tộc."

Nguyễn Văn Nhân, một hoàng thân có thế lực lớn, cũng lên tiếng: "Bệ hạ, nếu thay đổi thì việc bổ nhiệm quan lại mới ở các tỉnh sẽ ra sao?

Ai sẽ đảm bảo rằng họ không lợi dụng cải cách để thao túng quyền lực?"

Ta đập mạnh tay lên long án, giọng đanh thép: "Trẫm không thay đổi thì đất nước này mãi trì trệ!

Các khanh lo sợ phản ứng của quan lại địa phương, nhưng nếu chính quyền không hiệu quả, để dân đói khổ, thì quốc gia còn tồn tại được bao lâu?"

"Còn việc bổ nhiệm quan lại, trẫm sẽ đích thân phê chuẩn danh sách Tổng đốc, Tuần phủ.

Ai có năng lực, dù xuất thân thấp hèn cũng có thể được bổ nhiệm.

Ai bất tài, dù là hoàng thân hay cựu thần cũng bị loại bỏ!"

Không ai dám nói thêm.

Sau khi tranh luận kết thúc, ta ra lệnh thái giám tuyên đọc chiếu chỉ:

Phân chia 31 tỉnh thay thế hệ thống trấn.Ta đọc chậm rãi từng phần, để triều thần tiếp thu rõ ràng.

Bắc Bộ (13 tỉnh)

1.

Sơn Nam (Điện Biên, Sơn La)

2.

Sơn Bắc (Lai Châu, Yên Bái, Lào Cai, một phần Vân Nam)

3.

Tuyên Quang (Hà Giang, Tuyên Quang, một phần Vân Nam)

4.

Thái Nguyên (Thái Nguyên, Bắc Kạn)

5.

Cao Bằng

6.

Lạng Sơn

7.

Sơn Tây (Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hòa Bình)

8.

Hà Nội

9.

Hà Bắc (Bắc Giang, Bắc Ninh)

10.

Hưng Thái (Hưng Yên, Thái Bình)

11.

Hải Dương (Hải Phòng, Hải Dương)

12.

Hà Nam Ninh (Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình)

13.

Quảng Yên (Quảng Ninh, một phần Quảng Tây)

Bắc Trung Bộ (4 tỉnh, 1 phủ)

1.

Thanh Hóa (Thanh Hóa, Huaphanh)

2.

Nghệ An (Nghệ An, Xiengkhuang, Borikhamxay, Bắc Khammuane - Lào)

3.

Hà Tĩnh (Hà Tĩnh, trung nam Khammuane)

4.

Bình Trị (Quảng Bình, Quảng Trị, một phần Savannakhet)

5.

Phủ Thừa Thiên (Huế)

Nam Trung Bộ (5 tỉnh)

1.

Quảng Nam (Quảng Nam, Đà Nẵng)

2.

Quảng Ngãi

3.

Định Yên (Bình Định, Phú Yên)

4.

Ninh Khánh (Khánh Hòa, Ninh Thuận)

5.

Bình Thuận (Bình Thuận, Lâm Đồng)

Tây Nguyên (2 tỉnh)

1.

Gia Lai (Gia Lai, Kon Tum)

2.

Đắk Lắk (Đắk Lắk, Đắk Nông)

Nam Bộ (6 tỉnh)

1.

Gia Định (Bình Dương, Sài Gòn, Tây Ninh)

2.

Biên Hòa (Đồng Nai, Bình Phước, Bà Rịa - Vũng Tàu)

3.

Định Tường (Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang, Svay Rieng - Campuchia)

4.

Vĩnh Long (Vĩnh Long, Sóc Trăng, Bến Tre)

5.

An Giang (An Giang, Hậu Giang, Trà Vinh, Takéo - Campuchia)

6.

Hà Tiên (Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Preah Sihanouk, Kep, Kampot - Campuchia)

Sau khi ta tuyên bố cải cách hành chính, chia Đại Nam thành 31 tỉnh, phản ứng trong triều lẫn hoàng thất vô cùng phức tạp.

Lê Văn Duyệt, một trong những đại thần có thế lực lớn nhất Nam Bộ, là người ủng hộ mạnh mẽ nhất.

Khi rời điện Cần Chính, ông lập tức triệu tập nhóm quan lại thân cận để bàn cách triển khai cải cách nhanh chóng.

"Hoàng thượng quyết đoán, không chờ đến năm 1831 mà làm ngay lúc này.

Đây là cơ hội để chấn chỉnh lại chính quyền địa phương.

Chúng ta phải hỗ trợ Người."

Ông lập tức cho người chuẩn bị các bản tấu trình, đề xuất nhân sự mới cho các tỉnh phía Nam, đặc biệt là Gia Định, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.

Nguyễn Công Trứ cũng vô cùng hăng hái, chủ động xin gặp ta để bàn về việc tổ chức quan lại mới.

"Bệ hạ, thần xin đề nghị lập ngay danh sách những quan lại thanh liêm, có năng lực để bổ nhiệm.

Nếu để chậm trễ, các quan trấn cũ có thể sẽ chống đối."

Ta gật đầu, biết rằng những người này là trụ cột giúp ta thực hiện cải cách.

Trái ngược với phe cải cách, nhóm đại thần bảo thủ cực kỳ lo lắng.

Ngay sau buổi triều, Trương Đăng Quế và một số quan lớn như Nguyễn Văn Nhân, Tôn Thất Bật lặng lẽ tụ họp trong thư phòng để bàn bạc.

Trương Đăng Quế cau mày, giọng trầm xuống: "Hoàng thượng muốn cải cách quá nhanh.

Việc chia tỉnh có thể khiến quan lại địa phương phản ứng mạnh, thậm chí có thể dẫn đến nổi loạn."

Nguyễn Văn Nhân, vốn là người có nhiều đất đai ở các trấn cũ, lo lắng: "Quan lại trấn cũ đều có lực lượng riêng, nếu họ bị thay thế, e rằng không chịu ngồi yên."

Một số quan trong nhóm đề nghị gửi tấu chương xin hoãn cải cách.

Nhưng Trương Đăng Quế hiểu rõ tính cách ta.

"Nếu dâng tấu can gián, Hoàng thượng sẽ xem đó là chống đối.

Tốt nhất là giữ im lặng, chờ thời."

Dù không dám phản đối công khai, nhưng rõ ràng nhóm này sẽ ngấm ngầm tìm cách trì hoãn việc triển khai cải cách.

Phần lớn các hoàng thân như Tôn Thất Hiệp, Tôn Thất Thuyết không có phản ứng ngay lập tức.

Họ hiểu rằng quyền lực của hoàng tộc vẫn rất lớn, nên tạm thời chờ xem việc cải cách có thực sự ảnh hưởng đến mình hay không.

Tôn Thất Hiệp chỉ nói ngắn gọn khi có người hỏi: "Nếu Hoàng thượng làm tốt, đất nước mạnh hơn, hoàng tộc vẫn có vị thế.

Nếu Người làm sai, tự nhiên sẽ có cách sửa lại."

Nhóm này không ủng hộ cũng không phản đối, chỉ quan sát tình hình.

Một số hoàng thân từng giữ chức Trấn thủ, Lưu thủ ở các trấn lớn thì rất bất mãn.

Họ mất đi quyền lực, mất nguồn lợi từ thuế khóa địa phương, nên lập tức bàn bạc cách đối phó.

Tôn Thất Bật, người từng có ảnh hưởng lớn ở Thanh Hóa, nổi giận nói với những người thân cận: "Hoàng thượng đang lấy đi quyền lực của hoàng tộc!

Nếu các hoàng thân không còn được cai trị các trấn, chúng ta chẳng khác gì những quan lại bình thường!"

Một số hoàng thân lặng lẽ gửi thư ra các địa phương, tìm cách liên kết với quan lại cũ để duy trì ảnh hưởng.

Thái hậu Nhân Tuyên (mẹ ta) là người hiểu rõ tình hình chính trị hơn ai hết.

Sau buổi triều, bà triệu ta vào cung để nói chuyện riêng.

Trong tẩm cung yên tĩnh, bà nhìn ta chằm chằm, giọng nghiêm nghị nhưng cũng đầy lo lắng: "Hoàng nhi, con đi quá nhanh.

Quyền lực hoàng gia chưa đủ vững mà đã đụng đến quyền lợi của quá nhiều người."

Ta chậm rãi đáp: "Mẫu hậu, nếu không làm ngay bây giờ, sau này càng khó hơn."

Bà thở dài, rồi dịu giọng: "Ta không phản đối cải cách, nhưng con phải nhớ: Quan lại có thể thay, nhưng lòng người khó đổi.

Nếu không có người thực sự trung thành để cai quản các tỉnh mới, thì cải cách sẽ thất bại."

Ta cúi đầu suy nghĩ.

Mẫu hậu nói không sai.

"Mẫu hậu yên tâm.

Con đã có kế hoạch.

Nhưng con cũng cần người ủng hộ.

Mẫu hậu có thể giúp con khuyên giải một số hoàng thân không?"

Thái hậu trầm ngâm một lúc, rồi khẽ gật đầu.

"Ta sẽ nói chuyện với họ.

Nhưng con cũng phải cẩn trọng, vì những người khác không dễ thuyết phục."

Ta quỳ xuống cảm tạ, biết rằng mẫu hậu là người có ảnh hưởng lớn trong hoàng thất, nếu bà đứng về phía ta, thì cải cách sẽ dễ dàng hơn nhiều.

Sau khi rời cung Thái hậu, ta trở về thư phòng, lập tức triệu tập Lê Văn Duyệt, Nguyễn Công Trứ và một số đại thần trung thành để bàn bạc.

1.

Kiểm soát chặt việc bổ nhiệm quan lại: Đích thân ta duyệt từng danh sách quan Tổng đốc, Tuần phủ.

Những ai có liên hệ với phe bảo thủ sẽ bị loại bỏ ngay lập tức.

2.

Giám sát các hoàng thân: Những hoàng thân có dấu hiệu chống đối sẽ bị điều về kinh thành để "giữ chức vụ danh nghĩa", tránh để họ thao túng các tỉnh.

3.

Tăng cường Cơ Mật Viện: Sử dụng hệ thống gián điệp để theo dõi phản ứng của quan lại địa phương.

Nếu có ai chống đối, sẽ trấn áp ngay lập tức.

4.

Trấn an các thế lực hoàng tộc: Nhờ Thái hậu đứng ra khuyên giải, đồng thời ban thưởng cho những hoàng thân hợp tác, tránh tạo quá nhiều kẻ thù cùng lúc.

Ta biết sẽ có phản kháng, nhưng ta không lùi bước.

Buổi thượng triều ngày 1/3/1820 đã tạo ra một cơn chấn động trong triều đình.

Phe cải cách hào hứng, sẵn sàng triển khai, phe bảo thủ lo lắng, tìm cách trì hoãn, hoàng thân chia rẽ, một số ủng hộ, một số âm thầm chống đối, thái hậu lo lắng, nhưng vẫn đứng về phía ta.

Trận chiến này mới chỉ bắt đầu.

Nhưng ta sẽ không lùi bước!
 
Triều Nguyễn Đổi Thay
Bổ nhiệm


Ngày 2 tháng 3 năm 1820, sau khi quyết định cải cách hành chính, ta tiến hành bổ nhiệm các quan chức đứng đầu 31 tỉnh trên toàn quốc.

Việc này nhằm củng cố bộ máy quản lý, đảm bảo sự thống nhất và hiệu quả trong việc cai trị.

I.

Tiêu Chí Bổ Nhiệm

Trước khi công bố danh sách bổ nhiệm, ta đã cùng các đại thần thân cận như Lê Văn Duyệt, Nguyễn Công Trứ và Trương Đăng Quế thảo luận và thống nhất các tiêu chí sau:

1.

Trung thành với triều đình: Quan lại phải tuyệt đối trung thành, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết.

2.

Năng lực quản lý: Có kinh nghiệm và khả năng điều hành, quản lý hành chính và quân sự.

3.

Thanh liêm, chính trực: Không tham nhũng, luôn đặt lợi ích của dân lên hàng đầu.

4.

Hiểu biết địa phương: Ưu tiên những người am hiểu về tình hình kinh tế, xã hội và văn hóa của địa phương được bổ nhiệm.

II.

Danh Sách Bổ Nhiệm

Dựa trên các tiêu chí trên, ta quyết định bổ nhiệm các quan chức cho 31 tỉnh như sau:

Bắc Bộ (13 tỉnh):

1.

Sơn Nam (Điện Biên, Sơn La): Bổ nhiệm Nguyễn Văn Hòa làm Tổng đốc.

2.

Sơn Bắc (Lai Châu, Yên Bái, Lào Cai và một phần Vân Nam): Bổ nhiệm Trần Đình Túc làm Tổng đốc.

3.

Tuyên Quang (Hà Giang, Tuyên Quang và một phần Vân Nam): Bổ nhiệm Phạm Quang Ánh làm Tổng đốc.

4.

Thái Nguyên (Thái Nguyên và Bắc Kạn): Bổ nhiệm Lý Văn Phức làm Tổng đốc.

5.

Cao Bằng: Bổ nhiệm Hoàng Văn Quyền làm Tổng đốc.

6.

Lạng Sơn: Bổ nhiệm Ngô Văn Sở làm Tổng đốc.

7.

Sơn Tây (Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình): Bổ nhiệm Đặng Văn Thiêm làm Tổng đốc.

8.

Hà Nội: Bổ nhiệm Nguyễn Văn Hiệu làm Tổng đốc.

9.

Hà Bắc (Bắc Giang và Bắc Ninh): Bổ nhiệm Trịnh Văn Bảo làm Tổng đốc.

10.

Hưng Thái (Hưng Yên và Thái Bình): Bổ nhiệm Lê Quang Định làm Tổng đốc.

11.

Hải Dương (Hải Phòng và Hải Dương): Bổ nhiệm Vũ Văn Dũng làm Tổng đốc.

12.

Hà Nam Ninh (Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình): Bổ nhiệm Đỗ Hữu Phương làm Tổng đốc.

13.

Quảng Yên (Quảng Ninh và một phần Quảng Tây): Bổ nhiệm Hoàng Đình Bảo làm Tổng đốc.

Bắc Trung Bộ (4 tỉnh và 1 phủ):

1.

Thanh Hóa (Thanh Hóa và Huaphanh): Bổ nhiệm Nguyễn Văn Nhân làm Tổng đốc.

2.

Nghệ An (Nghệ An và các tỉnh Xiengkhuang, Borikhamxay, Bắc Khammuane - Lào): Bổ nhiệm Phan Bá Vành làm Tổng đốc.

3.

Hà Tĩnh (Hà Tĩnh và trung, nam Khammuane): Bổ nhiệm Trần Văn Lương làm Tổng đốc.

4.

Bình Trị (Quảng Bình, Quảng Trị và một phần Savannakhet): Bổ nhiệm Lê Văn Khôi làm Tổng đốc.

5.

Phủ Thừa Thiên (Thừa Thiên Huế): Bổ nhiệm Nguyễn Đình Chiểu làm Phủ doãn. 

Nam Trung Bộ (5 tỉnh):

1.

Quảng Nam (Quảng Nam và Đà Nẵng): Bổ nhiệm Nguyễn Văn Tường làm Tổng đốc.

2.

Quảng Ngãi: Bổ nhiệm Trương Đăng Quế làm Tổng đốc.

3.

Định Yên (Bình Định và Phú Yên): Bổ nhiệm Đặng Đức Tuấn làm Tổng đốc.

4.

Ninh Khánh (Khánh Hòa và Ninh Thuận): Bổ nhiệm Lê Đại Cương làm Tổng đốc.

5.

Bình Thuận (Bình Thuận và Lâm Đồng): Bổ nhiệm Nguyễn Thông làm Tổng đốc.

Tây Nguyên (2 tỉnh):

1.

Gia Lai (Gia Lai và Kon Tum): Bổ nhiệm A Ma Thủy làm Tổng đốc.

2.

Đắk Lắk (Đắk Lắk và Đắk Nông): Bổ nhiệm Y Blok Êban làm Tổng đốc.

Nam Bộ (6 tỉnh):

1.

Gia Định (Bình Dương, TP.

Hồ Chí Minh và Tây Ninh): Bổ nhiệm Nguyễn Văn Thành làm Tổng đốc.

2.

Biên Hòa (Đồng Nai, Bình Phước và Bà Rịa-Vũng Tàu): Bổ nhiệm Lê Văn Duyệt làm Tổng đốc.

3.

Định Tường (Long An, Đồng Tháp, Tiền Giang và Svay Rieng - Campuchia): Bổ nhiệm Trương Minh Giảng làm Tổng đốc.

4.

Vĩnh Long (Vĩnh Long, Sóc Trăng và Bến Tre): Bổ nhiệm Nguyễn Tri Phương làm Tổng đốc.

5.

An Giang (An Giang, Cần Giờ, Hậu Giang, Trà Vinh và Takéo - Campuchia): Bổ nhiệm Huỳnh Công Tấn làm Tổng đốc.

6.

Hà Tiên (Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, Preah Sihanouk, Kep và Kampot - Campuchia): Bổ nhiệm Mạc Thiên Tứ làm Tổng đốc.

III.

Quy Định và Chỉ Thị

Để đảm bảo hiệu quả trong quản lý và tránh tình trạng cục bộ địa phương, ta ban hành các quy định sau:

• Hồi tỵ: Các quan chức đứng đầu như Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, Án sát, Lãnh binh, Đốc học không được bổ nhiệm tại quê hương của mình nhằm tránh thiên vị và đảm bảo công bằng trong quản lý. 

• Giám sát và Thanh tra: Triều đình sẽ thường xuyên cử các đoàn thanh tra đến các tỉnh để kiểm tra hoạt động của quan lại địa phương, đảm bảo việc thực thi chính sách đúng đắn và hiệu quả.

• Báo cáo Định kỳ: Các Tổng đốc và Tuần phủ phải gửi báo cáo hàng tháng về tình hình kinh tế, xã hội, an ninh và các vấn đề quan trọng khác tại địa phương về triều đình để kịp thời nắm bắt và chỉ đạo.

IV.

Kỳ Vọng và Kết Luận

Việc bổ nhiệm này đánh dấu bước quan trọng trong công cuộc cải cách hành chính, nhằm xây dựng một bộ máy quản lý hiệu quả, phục vụ lợi ích của quốc gia và nhân dân.

Ta kỳ vọng rằng, với sự lãnh đạo của các quan chức được bổ nhiệm, các tỉnh sẽ phát triển thịnh vượng, đời sống nhân dân được cải thiện, và đất nước ngày càng hùng mạnh.

Ban chiếu chỉ này, các quan chức được bổ nhiệm hãy nghiêm túc thực hiện nhiệm vụ, tận tâm phục vụ đất nước và nhân dân.
 
Triều Nguyễn Đổi Thay
Bộ luật mới


Việc sửa đổi và bổ sung hệ thống pháp luật của Đại Nam là một trong những cải cách quan trọng nhất, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của quốc gia.

Ngày 5/3/1820, ta triệu tập buổi thượng triều để chính thức công bố các điều khoản sửa đổi và bổ sung, dựa trên các hệ thống luật hiện đại, kết hợp với bối cảnh và điều kiện của Đại Nam.

I.

Những nguyên tắc cơ bản của bộ luật mới

1.

Nhà nước pháp quyền: Mọi người, từ vua cho đến dân thường, đều phải tuân theo luật pháp.

Không ai có đặc quyền đứng trên luật pháp.

2.

Bảo vệ quyền lợi của nhân dân: Đặt trọng tâm vào quyền con người, đảm bảo công bằng, minh bạch và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mọi tầng lớp trong xã hội.

3.

Thích ứng với thời đại: Luật pháp không chỉ dựa vào truyền thống mà còn tiếp thu tinh hoa pháp luật hiện đại để phù hợp với thực tiễn đất nước.

4.

Pháp trị kết hợp nhân trị: Nhà nước cứng rắn với những hành vi phạm pháp nhưng cũng có những chính sách khoan hồng phù hợp với từng trường hợp cụ thể.



II.

Nội dung cải cách luật pháp

Bộ luật mới của Đại Nam sẽ bao gồm các điều khoản quan trọng, chia thành các nhóm luật chính như sau:

1.

Luật Hiến pháp

• Xác lập nguyên tắc tam quyền phân lập (hành pháp, lập pháp, tư pháp) nhưng vẫn đảm bảo quyền lực trung ương của Hoàng đế.

• Quy định quyền và nghĩa vụ của công dân, bao gồm quyền tự do ngôn luận, quyền sở hữu tài sản, quyền được xét xử công bằng, quyền được giáo dục.

• Xây dựng chính quyền địa phương: Các Tổng đốc, Tuần phủ chịu trách nhiệm trước triều đình, nhưng có quyền tự quyết nhất định trong phạm vi hành chính của mình.

2.

Luật Dân sự

• Quyền sở hữu tài sản: Bảo vệ quyền sở hữu đất đai, nhà cửa, tài sản cá nhân của mọi công dân, kể cả phụ nữ.

• Quyền thừa kế: Mọi công dân đều có quyền lập di chúc để phân chia tài sản của mình.

• Hợp đồng và giao dịch: Xây dựng cơ chế pháp lý rõ ràng về hợp đồng, đảm bảo giao dịch kinh tế minh bạch.

3.

Luật Hình sự

• Xóa bỏ những hình phạt dã man như lăng trì, tru di tam tộc, thay bằng các hình phạt hiện đại như phạt tù, lao động công ích, phạt tiền.

• Tăng cường xử lý tham nhũng: Quan lại tham nhũng bị xử phạt nghiêm khắc, có thể bị tịch thu toàn bộ tài sản và phạt tù.

• Bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em: Hình phạt nặng đối với những kẻ có hành vi bạo hành, xâm phạm phụ nữ và trẻ em.

4.

Luật Thương mại

• Thương nhân trong và ngoài nước được tự do kinh doanh, miễn là tuân thủ quy định về thuế và chất lượng hàng hóa.

• Thành lập các công ty và ngân hàng, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển.

• Kiểm soát độc quyền, tránh để một nhóm thương gia lũng đoạn thị trường.

5.

Luật Đất đai

• Thực hiện cải cách ruộng đất, tái phân phối đất canh tác hợp lý, đảm bảo quyền lợi của nông dân.

• Tăng cường bảo vệ rừng và tài nguyên thiên nhiên: Cấm khai thác bừa bãi, yêu cầu trồng rừng thay thế.

6.

Luật Giáo dục

• Phổ cập giáo dục bắt buộc cho trẻ em từ 6 tuổi trở lên.

• Tăng cường đào tạo nghề, giúp dân chúng có nhiều cơ hội việc làm hơn.

• Cải cách nội dung giáo dục: Không chỉ dạy Tứ thư, Ngũ kinh mà còn có toán học, khoa học, kỹ thuật.

7.

Luật Hành chính - Công vụ

• Quan lại phải qua thi tuyển minh bạch, không dựa vào xuất thân.

• Có chế độ lương bổng rõ ràng, giảm tình trạng tham nhũng.

Ngay khi công bố bộ luật mới, triều đình dậy sóng.

Các đại thần bảo thủ phản đối quyết liệt, cho rằng việc thay đổi luật pháp sẽ phá vỡ trật tự truyền thống.

Một số đại thần như Trịnh Hoài Đức, Lê Bá Đạt cho rằng: "Pháp luật Đại Nam đã có từ thời Lê, nay bệ hạ thay đổi quá nhiều, e rằng dân không theo kịp."

Các đại thần cấp tiến như Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt, Trương Minh Giảng ủng hộ, cho rằng đây là điều tất yếu để đất nước phát triển.

Nguyễn Văn Thành nói: "Thời thế thay đổi, luật pháp cũng phải thay đổi.

Đại Nam muốn giàu mạnh, nhất định phải có pháp luật nghiêm minh và công bằng."

Thái hậu tỏ ra lo lắng, cho rằng việc xóa bỏ những hình phạt nghiêm khắc sẽ làm suy yếu quyền lực hoàng gia: "Hoàng nhi cải cách là điều tốt, nhưng nếu quá nhanh, e rằng sẽ mất lòng trung quân của thiên hạ."

Hoàng thân có người ủng hộ, có người phản đối.

Một số hoàng thân lo sợ việc áp dụng luật mới sẽ khiến quyền lực của họ bị thu hẹp.

Nhân dân hoan nghênh: Nhiều người vui mừng vì luật pháp bảo vệ quyền lợi của họ tốt hơn.

Một thương nhân ở Gia Định nói: "Nếu luật mới giúp buôn bán dễ dàng hơn, chúng tôi sẽ càng có động lực làm ăn."

Nông dân hưởng ứng: Việc cải cách ruộng đất giúp họ có đất canh tác ổn định hơn, không còn lo bị địa chủ áp bức.

Giới sĩ phu có ý kiến trái chiều: Một số người cho rằng việc mở rộng giáo dục là tốt, nhưng số khác phản đối vì sợ truyền thống Nho giáo bị lu mờ.

Sau khi ban hành bộ luật này, ta biết rằng sẽ có nhiều phản ứng trái chiều.

Ta không bất ngờ trước sự phản đối của phe bảo thủ, nhưng cũng không thể để họ ngăn cản tiến trình cải cách.

Do đó, ta ra lệnh cho Cơ Mật Viện theo dõi sát những người có hành động chống đối.

Ta cũng chuẩn bị sẵn biện pháp để kiểm soát phản ứng trong dân, giao cho Tổng đốc các tỉnh tổ chức tuyên truyền về lợi ích của luật mới.

Ta dự định sẽ có các sắc lệnh bổ sung, từng bước điều chỉnh để dân chúng và quan lại dần thích nghi.

Bộ luật mới không chỉ là nền tảng pháp lý cho Đại Nam, mà còn là tuyên ngôn của một triều đại cải cách, hướng tới một đất nước mạnh mẽ và thịnh vượng.
 
Triều Nguyễn Đổi Thay
Sóng gió trong triều


Sau hàng loạt cải cách triệt để của ta từ khi lên ngôi, những nhóm bảo thủ trong triều đình ngày càng bất mãn.

Từ cải cách chính quyền trung ương, địa phương, ruộng đất, thương mại đến việc ban hành bộ luật mới, mỗi quyết sách của ta đều làm lung lay lợi ích của nhiều người.

Giờ đây, sau khi ta công bố bộ luật hiện đại hóa toàn bộ hệ thống pháp luật Đại Nam, sự phản đối trong triều đạt đến đỉnh điểm.

Ngay sau buổi thượng triều ngày 5/3/1820, một nhóm các đại thần, hoàng thân và sĩ phu Nho học tụ tập bí mật tại phủ Thái phó Trịnh Hoài Đức.

Trịnh Hoài Đức là một trong những người đứng đầu phe bảo thủ, có uy tín lớn trong giới quan lại và sĩ phu.

Tham gia cuộc họp còn có:

• Hoàng thân Lê Chất – quyền lực lớn trong quân đội, không muốn quyền lực triều đình bị thu hẹp.

• Thượng thư Bộ Lễ Lê Bá Đạt – luôn trung thành với Nho giáo truyền thống, lo sợ sự suy tàn của trật tự cũ.

• Một số quan trong Cơ Mật Viện – lo ngại quyền lực bị hạn chế dưới bộ luật mới.

• Các sĩ phu nổi tiếng từ Bắc Bộ đến Nam Bộ, những người trung thành với tư tưởng Khổng Mạnh.

Trịnh Hoài Đức mở đầu: "Bệ hạ thay đổi mọi thứ quá nhanh!

Từ chính quyền, đất đai, đến luật pháp, tất cả đều đi ngược lại với trật tự truyền thống mà tổ tiên đã xây dựng.

Nếu chúng ta không hành động ngay bây giờ, e rằng Đại Nam sẽ không còn là Đại Nam nữa!"

Lê Bá Đạt tiếp lời: "Cải cách của bệ hạ có thể giúp đất nước giàu mạnh hơn, nhưng với cái giá quá lớn!

Quan lại trung thành bị gạt bỏ, luật pháp quá khoan dung, địa vị của Nho sĩ bị hạ thấp, quyền lực hoàng gia bị phân tán!

Chúng ta không thể để điều này tiếp diễn!"

Lê Chất, người có ảnh hưởng lớn trong quân đội, tỏ vẻ suy tư: "Quân đội vẫn trung thành với bệ hạ, nhưng nếu tình hình tiếp tục thế này, ta e rằng họ cũng dao động.

Cải cách là tốt, nhưng không thể phá bỏ mọi thứ chỉ trong vài tháng!"

Một sĩ phu từ Bắc Hà lên tiếng: "Người dân chưa hiểu gì về những luật lệ mới!

Họ vẫn kính trọng đạo Nho, vẫn tin vào quân quyền.

Chúng ta phải làm gì đó để thức tỉnh họ!"

Sau nhiều tranh luận, họ đi đến một kế hoạch:

1.

Dùng áp lực từ hoàng thất: Thái hậu, các hoàng thân và những quan lớn sẽ đồng loạt tấu chương phản đối cải cách, buộc ta phải nhượng bộ.

2.

Kích động sĩ phu và dân chúng: Dùng các bài hịch, thư ngỏ để khơi dậy tâm lý chống cải cách trong giới sĩ phu và nhân dân.

3.

Dùng quân đội gây áp lực: Lê Chất sẽ ngầm liên lạc với các tướng lĩnh để đo lường phản ứng của quân đội, nếu cần có thể dùng vũ lực để gây sức ép.

4.

Gây chia rẽ trong triều: Lôi kéo các quan trong Cơ Mật Viện và Nội Các để cô lập ta về mặt chính trị.

5.

Kéo dài thời gian, trì hoãn cải cách: Nếu không thể đảo ngược các chính sách, họ sẽ tìm cách làm chậm tiến trình.

Trịnh Hoài Đức kết luận: "Không thể để Đại Nam biến thành một đất nước xa lạ chỉ trong một đời vua!

Nếu bệ hạ không chịu thay đổi, chúng ta sẽ phải ép Người."

Ba ngày sau cuộc họp bí mật, hàng loạt tấu chương từ các hoàng thân và quan lớn đệ lên triều đình.

Nội dung chủ yếu là phản đối cải cách, đặc biệt là bộ luật mới.

Thái hậu cũng triệu ta vào hậu cung để khuyên nhủ.

Thái hậu nghiêm giọng: "Hoàng nhi, con đã đi quá xa rồi!

Các cải cách của con không sai, nhưng con đã làm quá nhanh, quá mạnh.

Các quan đều phản đối, ngay cả trong cung cũng bất mãn.

Nếu con không lắng nghe, hậu quả sẽ khôn lường!"

Ta giữ bình tĩnh, đáp: "Mẫu hậu, thời đại đã thay đổi.

Nếu chúng ta không đi trước, chúng ta sẽ bị bỏ lại phía sau.

Con không thể dừng lại!"

Thái hậu lắc đầu, giọng bà tràn đầy lo âu: "Nhưng con có nghĩ đến hậu quả không?

Quan lại chống đối, quân đội bất mãn, sĩ phu kêu ca, nếu con không cẩn thận, triều đình này sẽ sụp đổ từ bên trong!"

Tại thượng triều ngày 8/3/1820, một loạt đại thần đứng lên phản đối cải cách.

Lê Bá Đạt quỳ xuống, lớn tiếng tấu: "Bệ hạ, luật pháp là nền tảng của quốc gia, không thể thay đổi quá nhanh như vậy!

Việc xóa bỏ hình phạt cũ, thay đổi tổ chức hành chính, cho phép thương nhân tự do buôn bán sẽ làm mất đi trật tự xã hội!"

Trịnh Hoài Đức tiếp lời: "Các nước Tây dương có luật pháp của họ, Đại Nam có luật pháp của mình!

Chúng ta không thể mù quáng chạy theo họ!"

Một loạt đại thần đồng loạt quỳ xuống: "Xin bệ hạ xem xét lại!"

Không khí triều đình trở nên căng thẳng tột độ.

Một số quan cấp tiến như Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt cũng lo lắng, vì họ nhận ra sự phản đối ngày càng mạnh mẽ.

Trước áp lực khổng lồ từ hoàng thân, đại thần và sĩ phu, ta biết rằng ta không thể lùi bước.

Nhưng nếu đối đầu trực diện, ta có thể mất đi sự ủng hộ quan trọng trong triều.

Ta cần một kế hoạch đối phó khéo léo:

1.

Dùng thời gian để làm dịu căng thẳng: Ta sẽ giả vờ nhượng bộ một số điều khoản, nhưng vẫn giữ nguyên bản chất của cải cách.

2.

Củng cố quyền lực quân đội: Triệu tập các tướng lĩnh thân cận như Lê Văn Duyệt, Nguyễn Huỳnh Đức để đảm bảo quân đội vẫn trung thành với ta.

3.

Lôi kéo sĩ phu cấp tiến: Tổ chức các buổi thảo luận trong Văn Miếu để thuyết phục giới sĩ phu ủng hộ cải cách.

4.

Đối phó với phe bảo thủ: Từng bước cô lập những kẻ chống đối quyết liệt nhất, sử dụng Cơ Mật Viện để kiểm soát hoạt động của họ.

5.

Tuyên truyền trong dân: Ra chiếu chỉ giải thích lợi ích của cải cách, tạo sự ủng hộ từ dân chúng để gây áp lực ngược lại lên phe bảo thủ.

Ta siết chặt tay trên long ỷ.

Trận chiến này mới chỉ bắt đầu.

Ta sẽ không để Đại Nam bị trói buộc bởi quá khứ.

Nếu cần, ta sẽ dọn sạch những kẻ cản đường.
 
Triều Nguyễn Đổi Thay
Cuộc đấu trí trường kỳ 1


Sau hàng loạt cải cách mạnh mẽ, đặc biệt là việc sửa đổi toàn bộ hệ thống luật pháp vào ngày 5/3/1820, sự phản đối trong triều đình đã đạt đến đỉnh điểm.

Nhiều đại thần, hoàng thân và sĩ phu bảo thủ không còn che giấu sự bất mãn mà bắt đầu liên kết với nhau để gây sức ép lên ta.

Từ đây, cuộc chiến giữa ta—một vị quân vương quyết tâm cải cách—và phe bảo thủ trở nên căng thẳng hơn bao giờ hết.

Buổi thượng triều đầy sóng gió (9/3/1820)

Hôm đó, trời vừa tờ mờ sáng, ta đã có mặt trong điện Cần Chính để chuẩn bị cho buổi thiết triều.

Tin tức từ Cơ Mật Viện báo về: hơn ba mươi đại thần đứng đầu là Lê Bá Đạt, Trịnh Hoài Đức và Nguyễn Hữu Thận đã liên kết với nhau, chuẩn bị dâng tấu phản đối cải cách.

Ta không hề ngạc nhiên.

Ngược lại, ta đã chuẩn bị sẵn đối sách để đối phó với bọn họ.

Bắt đầu buổi triều.

Tiếng trống báo hiệu khai triều vang lên.

Các quan lần lượt tiến vào, cúi đầu hành lễ.

"Bái quân vạn tuế!"

Ta khẽ gật đầu, cất giọng: "Hôm nay, các khanh có việc gì cần tấu trình?"

Ngay lập tức, Lê Bá Đạt đứng ra giữa điện, quỳ xuống dâng tấu.

Phía sau hắn, hơn ba mươi đại thần cũng đồng loạt quỳ theo.

"Thần Lê Bá Đạt cùng các đại thần có lời thỉnh cầu lên bệ hạ!"

Ta nheo mắt nhìn xuống, giọng lạnh lùng: "Nói đi."

Lê Bá Đạt trịnh trọng mở tấu chương, đọc lớn: "Bệ hạ, bộ luật mới vừa ban hành là sự thay đổi quá lớn, làm đảo lộn trật tự vốn có.

Lệ cũ từ thời Lê, Trần vẫn được duy trì, nay lại thay đổi hoàn toàn theo lối Tây Dương, e rằng lòng dân sẽ loạn, xã hội sẽ bất an!"

Trịnh Hoài Đức tiếp lời, giọng đầy bức xúc: "Từ xưa, quân quyền dựa trên lễ nghĩa Nho gia, đặt luân lý làm gốc.

Nay bệ hạ thay đổi hoàn toàn luật pháp, hủy bỏ nhiều quy tắc xưa cũ, e rằng sẽ làm suy yếu đạo lý trị quốc!"

Nguyễn Hữu Thận cũng quỳ gối, giọng tha thiết: "Thần xin bệ hạ suy xét!

Nếu bộ luật này làm lòng dân bất an, khiến kẻ sĩ hoang mang, thì e rằng hậu quả khó lường!"

Ngay lập tức, hơn ba mươi đại thần đồng loạt cúi đầu chạm đất: "Xin bệ hạ thu hồi bộ luật mới!"

Không khí trong điện Cần Chính trở nên căng thẳng.

Một số đại thần khác im lặng, không dám lên tiếng, nhưng ánh mắt họ đầy lo âu.

Ta im lặng quan sát họ trong giây lát, rồi chậm rãi đứng dậy.

Ánh mắt ta quét qua cả triều đình, giọng nói vang lên đầy uy quyền: "Các khanh nói luật mới làm thiên hạ loạn, nhưng hãy nhìn xem!

Các khanh có dám phủ nhận rằng triều đình xưa nay quá quan liêu?

Có dám phủ nhận rằng pháp luật cũ quá lỗi thời, bất công, dung túng kẻ tham ô, bỏ mặc dân chúng hay không?"

Không ai trả lời.

Ta tiếp tục, giọng càng thêm sắc lạnh: "Các khanh nói ta làm trái đạo Nho gia.

Vậy ta hỏi các khanh: có vị thánh nhân nào dạy rằng vua phải bảo vệ kẻ tham nhũng, phải bỏ mặc lê dân, phải để bọn cường hào thâu tóm đất đai sao?"

Lần này, không chỉ các quan bảo thủ, mà ngay cả những quan trung lập cũng bắt đầu dao động.

"Nếu thiên hạ loạn, thì không phải vì bộ luật này, mà vì những kẻ tham quyền cố vị không chịu thay đổi!

Nếu có kẻ nào thật sự vì nước vì dân, thì nên giúp ta thực thi cải cách, chứ không phải cố chấp ôm lấy cái cũ mục nát!"

Ta dừng lại, nhìn xuống phía dưới: "Các khanh có còn lời gì để nói không?"

Không ai lên tiếng.

Một số đại thần cúi đầu, một số siết chặt tay áo, sắc mặt tái mét.

Ta hạ giọng, nhưng vẫn đầy uy quyền: "Ta đã quyết, không ai có thể lay chuyển.

Nếu ai còn cố tình ngăn cản, hãy tự xem lại lòng trung thành của mình!"

Bầu không khí trong điện Cần Chính trở nên nặng nề hơn bao giờ hết.

Một số quan viên như Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt tuy không lên tiếng nhưng ánh mắt họ ánh lên vẻ tán thành.

Lê Bá Đạt và Trịnh Hoài Đức mặt mày trắng bệch, nhưng không dám phản bác thêm.

Họ hiểu rằng, dù có quỳ tấu bao nhiêu lần nữa, ta cũng không thay đổi quyết định.

Buổi triều kết thúc trong im lặng nặng nề.

Nhưng ta biết, sóng gió chưa dừng lại ở đây.

Sau buổi triều đình ngày 9/3/1820, các đại thần bảo thủ nhận ra rằng đối đầu trực diện với ta là vô ích.

Họ bắt đầu thay đổi chiến thuật:

1.

Trì hoãn thi hành chiếu chỉ: Nhiều quan lại địa phương cố tình trì hoãn thực thi bộ luật mới, viện đủ lý do: "Dân chưa quen với luật mới, cần thêm thời gian.

Địa phương chưa đủ nhân lực để áp dụng cải cách ngay lập tức.

Cần điều chỉnh một số điểm để phù hợp với tình hình thực tế."

Ta lập tức ra lệnh kiểm tra và phái thanh tra đến các tỉnh để giám sát thực thi luật pháp.

2.

Kích động sĩ phu và dân chúng phản đối: Các sĩ phu bảo thủ lan truyền tin đồn, nói rằng ta muốn bỏ Nho giáo, biến Đại Nam thành "xứ Tây".

Một số quan lại bí mật kích động dân chúng, bảo họ rằng luật mới sẽ làm mất đi trật tự xã hội.

Những lời đồn này bắt đầu gây xáo trộn ở một số vùng nông thôn.

3.

Tác động vào hoàng cung: Thái hậu và các hoàng thân gây áp lực, liên tục yêu cầu ta xét lại cải cách.

Một số phi tần thân cận với phe bảo thủ cũng tìm cách gây ảnh hưởng.

Nhưng ta đã lường trước điều này.

Phe bảo thủ đã nhận ra rằng họ không thể lật đổ cải cách ngay lập tức.

Họ chuyển sang ngấm ngầm phá hoại, dùng nhiều thủ đoạn tinh vi hơn.

Cuộc chiến đã chuyển từ đối đầu công khai sang đấu trí ngầm.

Ta biết, để thắng trong cuộc chiến này, ta phải có những bước đi mạnh mẽ hơn.
 
Triều Nguyễn Đổi Thay
Cuộc đấu trí trường kỳ 2


Sau khi phe bảo thủ chuyển sang đấu tranh ngầm, ta nhận ra rằng nếu không phản công quyết liệt, bọn chúng sẽ tiếp tục phá hoại cải cách từ trong bóng tối.

Từ tháng 6/1820, ta bắt đầu tiến hành những bước đi cứng rắn nhằm triệt tiêu tận gốc mọi âm mưu chống đối, đồng thời củng cố vững chắc nền móng cải cách.

Sau khi nhận được báo cáo từ Cơ Mật Viện về tình trạng trì hoãn thi hành cải cách ở các địa phương, ta quyết định hành động.

Ngày 18/6/1820, một cuộc thanh tra quy mô lớn được triển khai trên toàn quốc.

Những quan lại cố tình trì hoãn thi hành luật mới bị điều tra và xử lý nghiêm khắc.

Nhiều huyện lệnh, tri phủ bị cách chức, giáng chức, thậm chí có kẻ bị truy tố ra pháp đình.

Tổng đốc, tuần phủ các tỉnh phải trực tiếp chịu trách nhiệm trước triều đình.

Điển hình là tri phủ Nam Định Nguyễn Văn Thực bị bắt giữ vì cố tình bịa lý do "dân chưa quen luật mới", nhưng thực chất là nhận hối lộ từ cường hào địa phương để bảo vệ đặc quyền của chúng.

Tri huyện Hải Dương Trần Hữu Lâm bị cách chức vì liên kết với sĩ phu bảo thủ, bí mật kích động dân chúng chống lại cải cách.

Thậm chí, hai tuần phủ là Hoàng Văn Trực (Thanh Hóa) và Phạm Văn Nghĩa (Nghệ An) cũng bị giáng chức vì không kiểm soát tốt cấp dưới.

Sau khi ta mạnh tay xử lý, các quan lại khắp nơi bắt đầu e sợ, không dám lơ là cải cách nữa.

Sau khi triều đình mạnh tay xử lý quan lại, phe bảo thủ chuyển sang kích động dân chúng và sĩ phu.

Họ tung tin đồn rằng: "Bộ luật mới là sao chép của Tây Dương, không phù hợp với đạo lý Nho gia.

Vua Minh Mạng muốn xóa bỏ lễ giáo, phá hoại trật tự xã hội.

Luật mới cho phép dân kiện quan, sẽ làm thiên hạ đại loạn."

Những tin đồn này lan truyền nhanh chóng, đặc biệt là ở vùng Bắc Bộ và Thanh Nghệ, nơi tầng lớp sĩ phu bảo thủ còn rất mạnh.

Đối sách của ta:

1.

Lệnh bắt giữ và xử lý nghiêm những kẻ tung tin đồn sai lệch.

• Ngày 10/7/1820, triều đình ban chiếu chỉ:

"Kẻ nào tung tin thất thiệt, xuyên tạc cải cách của triều đình sẽ bị xét xử theo luật pháp."

• Hàng trăm kẻ kích động bị bắt giữ, nhiều sĩ phu bảo thủ bị giám sát chặt chẽ.

2.

Sử dụng truyền thông để giải thích cải cách cho dân chúng.

• Triều đình tổ chức những buổi diễn giảng về luật mới tại các địa phương.

• Các nho sĩ cấp tiến, quan lại trung thành với cải cách được cử xuống dân gian để tuyên truyền.

• Nhiều bài hịch, chiếu chỉ được ban bố rộng rãi để đập tan tin đồn sai lệch.

Sau những nỗ lực này, tình hình dần ổn định, lòng dân không còn dao động nhiều như trước.

Thấy các nỗ lực chống phá ở bên ngoài bị trấn áp, phe bảo thủ bắt đầu tác động vào hoàng cung, tìm cách gây áp lực từ bên trong.

Tháng 8/1820, Thái hậu Nhân Tuyên triệu ta vào cung và thẳng thắn nói: "Bệ hạ, cải cách là điều cần thiết, nhưng nếu làm quá nhanh, sẽ gây phản ứng mạnh.

Các quan trong triều đã không phục, dân gian cũng xôn xao, há chẳng phải nên suy xét lại sao?"

Ta giữ bình tĩnh, đáp: "Mẫu hậu, nếu không làm ngay, e rằng sẽ chẳng bao giờ có cơ hội để làm."

Thái hậu nhíu mày: "Nhưng con có biết rằng rất nhiều hoàng thân đang bất mãn không?

Nếu họ liên kết với đại thần, thì ngai vàng này cũng khó giữ vững."

Ta cười lạnh: "Nếu có kẻ nào mưu phản, trẫm sẽ không nương tay."

Thấy ta cứng rắn, Thái hậu chỉ thở dài mà không nói thêm.

Tới tháng 10/1820, phe bảo thủ nhận ra rằng mọi biện pháp của họ đều thất bại.

Không thể lay chuyển ta bằng chính trị, họ bắt đầu tính đến biện pháp mạnh: đảo chính.

Sau khi thất bại trong việc cản trở cải cách bằng đấu tranh chính trị và kích động dân chúng, phe bảo thủ quyết định đảo chính bằng vũ lực.

Phe bảo thủ trong triều đình nhận thấy rằng nếu chỉ phản đối bằng lời lẽ, bọn chúng sẽ không thể ngăn cản ta.

Vì vậy, chúng bắt đầu bí mật tổ chức một âm mưu lật đổ, quy tụ những thành phần bất mãn từ hoàng thân, đại thần bảo thủ đến các cựu tướng lĩnh từng trung thành với triều Lê.

Người cầm đầu:

• Hoàng thân Lê Duy Hoán – cháu xa đời của nhà Lê, kẻ có dã tâm lớn nhưng giả vờ trung thành bấy lâu nay.

• Nguyễn Hữu Thọ – cựu quan đại thần thân tín của Gia Long, cực kỳ bảo thủ, từng phản đối cải cách ngay từ đầu.

• Trịnh Hoài Đức – một trong những đại thần lâu năm của triều Nguyễn, nhưng không chấp nhận những thay đổi của ta.

• Một số tướng lĩnh cũ trung thành với trật tự cũ, lo sợ rằng cải cách của ta sẽ làm mất đi đặc quyền của họ.

Kế hoạch:

• Tạo phản ở Bắc Thành (Hà Nội): Đây là trung tâm chính trị và quân sự quan trọng nhất ở miền Bắc, nếu kiểm soát được Bắc Thành, chúng có thể dùng danh nghĩa "phò tá hoàng tộc" để gây sức ép lên triều đình.

• Lôi kéo các tuần phủ và tổng đốc Bắc Bộ: Bằng cách thuyết phục, hối lộ hoặc ép buộc.

• Dùng lực lượng quân sự ở Bắc Thành đánh chiếm các phủ huyện lân cận, rồi tiến quân về kinh thành Huế.

• Dự định sau khi chiếm được Huế, bọn chúng sẽ buộc ta phải thoái vị, lập một hoàng thân bảo thủ hơn lên ngôi.

Nhờ mạng lưới tình báo của Cơ Mật Viện, ta đã sớm biết về âm mưu này ngay từ tháng 10/1820.

Sau khi bàn bạc cùng Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Thành và Trương Đăng Quế, ta đưa ra một kế hoạch phản công trước khi chúng kịp ra tay.

1.

Bố trí quân đội sẵn sàng ứng phó: Ta ra lệnh bí mật điều động quân từ các tỉnh lân cận về Bắc Thành, tăng cường phòng thủ mà không gây nghi ngờ.

Dưới danh nghĩa "tập trận và thay quân", ta đưa quân thiện chiến vào các vị trí trọng yếu.

2.

Triệt hạ nội ứng: Một số tuần phủ và tổng đốc Bắc Bộ đã bị phe phản loạn thuyết phục, nhưng ta bí mật điều tra, thu thập bằng chứng và lệnh bắt giữ trước khi họ kịp hành động.

Ngày 15/11/1820, ta ban lệnh cách chức và bắt giữ Tổng đốc Sơn Bắc và Tuần phủ Hà Bắc vì có dấu hiệu cấu kết với phản loạn.

Điều này khiến phe phản loạn mất đi sự hỗ trợ quan trọng, buộc chúng phải hành động gấp gáp hơn, rơi vào thế bị động.

3.

Dụ kẻ cầm đầu ra mặt: Ta giả vờ không hay biết gì, thậm chí còn ban chiếu xá tội cho một số đại thần bảo thủ, tạo cảm giác rằng triều đình đang dần "mềm mỏng".

Điều này khiến Lê Duy Hoán và đồng bọn chủ quan, tin rằng ta đã mất cảnh giác.

Đêm 2/12/1820 – Cuộc binh biến thất bại ngay khi bắt đầu: Lê Duy Hoán cùng hơn 1.000 quân phản loạn tập trung tại Bắc Thành, chuẩn bị nổi dậy.

Nhưng khi bọn chúng vừa ra lệnh tấn công kho lương và vũ khí, quân đội triều đình đã bất ngờ bao vây toàn bộ.

Ta đích thân chỉ huy cuộc trấn áp, ra lệnh đánh nhanh, tiêu diệt tận gốc phản loạn.

Lê Duy Hoán bị bắt tại chỗ, sau đó bị xử trảm để răn đe.

Nguyễn Hữu Thọ và Trịnh Hoài Đức bị bắt sống, sau đó bị lưu đày vĩnh viễn.

Hơn 500 quân phản loạn bị tiêu diệt, số còn lại đầu hàng.

Hơn 30 quan lại bị cách chức hoặc bị xử phạt.

Sau vụ này, ta tổ chức một buổi thiết triều đặc biệt, tuyên bố rằng: "Bất kỳ kẻ nào dám phản loạn, dù là hoàng thân hay đại thần, đều sẽ bị tiêu diệt không khoan nhượng."

Cả triều đình kinh sợ trước sự cứng rắn của ta, không còn ai dám công khai chống đối nữa.

Sau khi tin tức về vụ binh biến bị trấn áp lan truyền khắp kinh thành, Thái hậu Nhân Tuyên lập tức triệu ta vào cung.

Khi ta bước vào, bà ngồi nghiêm nghị trên ngai, giọng lạnh lùng: "Con làm thế này, có phải là quá tàn nhẫn không?"

Ta bình tĩnh đáp: "Nếu trẫm không làm vậy, thì đã có kẻ khác ngồi trên ngai vàng này rồi."

Bà nhìn ta chằm chằm một lúc lâu rồi thở dài: "Nhưng dù sao bọn họ cũng là hoàng thân quốc thích, là đại thần từng phò tá tiên đế."

Ta cười nhạt: "Vậy mẫu hậu có muốn thấy ngai vàng này bị cướp đi không?

Có muốn thấy bọn chúng xé nát giang sơn mà tiên đế dày công gầy dựng không?"

Thái hậu im lặng một lúc lâu rồi nói: "Ta chỉ mong con đừng trở thành một bạo chúa."

Ta cúi đầu: "Trẫm chỉ làm những gì cần làm."

Sau hôm đó, Thái hậu không còn can thiệp vào chuyện triều chính nữa, có lẽ bà hiểu rằng ta sẽ không dừng lại chỉ vì tình thân hay đạo lý cũ kỹ.

Sau khi cuộc phản loạn bị dập tắt, cục diện triều đình thay đổi hoàn toàn: Phe bảo thủ suy yếu nghiêm trọng, mất đi những nhân vật chủ chốt.

Những quan lại còn sót lại không dám công khai chống đối nữa, chỉ lo giữ ghế của mình.

Cải cách của ta tiếp tục được triển khai mạnh mẽ mà không còn lực cản đáng kể.

Đến cuối năm 1820, cuộc chiến giữa ta và phe bảo thủ coi như đã ngã ngũ.

Từ đây, phe bảo thủ hoàn toàn bị đẩy lùi.

Tất cả các âm mưu phá hoại cải cách đã bị đập tan.

Những kẻ chống đối trong triều đình bị thanh trừng, phe bảo thủ mất đi thế lực.

Cải cách tiếp tục được triển khai mạnh mẽ mà không còn ai dám ngăn cản.

Đến cuối năm 1820, cuộc chiến giữa ta và phe bảo thủ coi như đã ngã ngũ.
 
Triều Nguyễn Đổi Thay
Cuộc đấu trí trường kỳ 3


Sau gần một năm đấu tranh gay gắt, phe bảo thủ vẫn không chịu lùi bước.

Mặc dù nhiều kẻ đã bị thanh trừng hoặc suy yếu, nhưng ta biết rõ: một con rắn không thể bị tiêu diệt chỉ bằng cách chặt đứt vài chiếc vảy.

Bước sang năm 1821, ta quyết định thay đổi chiến thuật—tập trung vào ba mục tiêu chính:

1.

Đẩy mạnh tuyên truyền, tạo áp lực từ dân chúng.

2.

Sử dụng quan lại cấp tiến để cô lập phe bảo thủ.

3.

Tăng cường kiểm soát quân đội để loại bỏ mọi khả năng phản loạn.

Ta hiểu rằng, nếu muốn giành thắng lợi, ta không thể chỉ dựa vào quyền lực trong triều đình.

Sự ủng hộ của dân chúng mới là vũ khí lợi hại nhất.

Ban hành hàng loạt chỉ dụ giải thích cải cách

Ngay trong tháng 1/1821, ta hạ lệnh cho Nội Các và Hàn Lâm Viện soạn ra các bài chiếu thư, hịch văn, công bố khắp cả nước.

Nội dung tập trung vào:

Giải thích rõ ràng các cải cách mới: "Từ trước đến nay, luật pháp chỉ bảo vệ kẻ giàu, kẻ có quyền thế.

Nay, trẫm lập ra bộ luật mới để bảo vệ người dân lương thiện, diệt trừ tham quan, trả lại công bằng cho xã hội."

Chỉ ra sự bất công của hệ thống cũ: "Hàng trăm năm qua, dân nghèo bị địa chủ cướp đoạt ruộng đất, bị quan lại bóc lột thuế khóa.

Triều đình không thể để tình trạng này tiếp diễn."

Kêu gọi dân chúng hỗ trợ thực thi cải cách: "Người dân hãy ghi nhớ, luật pháp mới là để bảo vệ các người.

Hãy tố cáo những kẻ lợi dụng quyền hành để gây hại cho bách tính."

Ta cho sao chép hàng vạn bản hịch văn, giao cho các quan lại cấp tiến và các thầy đồ trong làng xã giảng giải cho dân.

Phản ứng của dân chúng: Tại Bắc Thành và Nghệ An, nơi trước nay chịu nhiều áp bức, dân chúng hoan hô cải cách.

Tại Gia Định, thương nhân ủng hộ vì các cải cách giúp giảm thuế và mở rộng giao thương.

Tại Thăng Long và các vùng trung châu, trí thức vẫn còn hoài nghi, nhưng nông dân nghèo thì bắt đầu tin tưởng vào triều đình.

Ta biết rằng, khi dân chúng đứng về phía ta, phe bảo thủ sẽ không còn chỗ dựa.

Dù ta đã thanh trừng một số kẻ cản trở cải cách, nhưng phe bảo thủ vẫn còn rải rác trong bộ máy hành chính.

Vì thế, ta quyết định sử dụng quan lại cấp tiến để bao vây họ từ bên trong.

Cải tổ nhân sự cấp trung và địa phương: Tháng 2/1821, ta hạ chiếu thuyên chuyển và đề bạt hàng loạt quan lại trẻ tuổi, có tư tưởng cải cách.

Hàng loạt tri phủ, tri huyện bảo thủ bị thay thế bởi những người ủng hộ chính sách mới.

Ở các tỉnh quan trọng như Bắc Thành, Thanh Hóa, Gia Định, ta cử những quan văn võ có năng lực để nắm giữ các chức Tổng đốc, Tuần phủ.

Phe bảo thủ dần mất đi chỗ đứng tại các địa phương, không còn kiểm soát được hệ thống hành chính.

Các chính sách cải cách được thực thi nhanh hơn, ít bị cản trở hơn.

Phe bảo thủ dần suy yếu trong triều, nhưng ta biết chúng sẽ không dễ dàng bỏ cuộc.

Nếu không thể dùng chính trị để ngăn ta, chúng có thể dùng vũ lực.

Vì vậy, ta phải đảm bảo quân đội hoàn toàn trung thành với ta.

Ta bí mật triệu tập các tướng lĩnh chủ chốt về kinh thành, trực tiếp phong chức cho những người trung thành.

Quy định lại hệ thống chỉ huy, giảm bớt quyền lực của các võ quan có quan hệ mật thiết với phe bảo thủ.

Triệt tiêu ảnh hưởng của các hoàng thân trong quân đội, đảm bảo mọi mệnh lệnh đều xuất phát từ vua.

Quân đội ổn định, không còn nguy cơ bị lôi kéo vào đảo chính.

Phe bảo thủ mất đi lực lượng quân sự, không thể dùng vũ lực chống lại ta.

Sau sáu tháng, ta đã thành công lật ngược tình thế: Dân chúng dần ủng hộ cải cách, tạo áp lực lên phe bảo thủ.

Quan lại cấp tiến được bổ nhiệm, bao vây và cô lập phe bảo thủ trong bộ máy hành chính.

Quân đội hoàn toàn trung thành, loại bỏ nguy cơ phản loạn.

Phe bảo thủ bị dồn vào đường cùng.

Chúng chỉ còn một lựa chọn duy nhất: hoặc quy phục, hoặc liều lĩnh làm phản.

Sau nửa năm áp đảo phe bảo thủ bằng tuyên truyền, cải tổ quan lại và củng cố quân đội, ta đã dồn chúng vào bước đường cùng.

Nhưng ta biết rõ, một con thú bị dồn ép sẽ liều chết phản kháng.

Quả nhiên, vào tháng 7/1821, một nhóm sĩ phu và quan lại bảo thủ quyết định hành động, tổ chức các cuộc biểu tình, dùng áp lực chính trị, thậm chí bí mật kích động một cuộc nổi loạn nhỏ ở Bắc Thành.

Đây chính là cơ hội để ta quét sạch bọn chúng.

Bị dồn đến đường cùng, các thế lực bảo thủ còn sót lại chia làm hai nhóm hành động.

Nhóm sĩ phu bảo thủ: Lợi dụng danh nghĩa "cứu nước", kích động dư luận, viết sớ phản đối cải cách.

Nhóm quan lại cao cấp: Bí mật họp bàn tại Bắc Thành, mưu tính một cuộc khởi nghĩa nhằm lật đổ ta.

Vào tháng 7/1821, các nhóm sĩ phu bảo thủ tại Thăng Long, Nghệ An, Thanh Hóa đồng loạt gửi sớ phản đối cải cách.

Đả kích luật pháp mới, cho rằng quá tân tiến, làm rối loạn xã hội.

Phản đối hệ thống tỉnh mới, nói rằng nó phá vỡ trật tự cũ.

Chỉ trích ta quá chuyên quyền, không tôn trọng ý kiến của triều đình.

Một số kẻ còn lợi dụng lòng dân, kích động biểu tình ở một số địa phương.

Nhưng ta đã đoán trước điều này.

Ngay lập tức, ta ra lệnh cho các quan lại cấp tiến đối thoại với dân, giải thích cải cách.

Bắt giữ những kẻ cầm đầu kích động, nhưng khoan dung với dân thường bị lừa gạt.

Ban hành chiếu thư khẳng định lập trường cải cách, trấn an dân chúng.

Những cuộc biểu tình nhanh chóng bị dập tắt.

Dân chúng dần nhận ra sự thật và quay lưng lại với phe bảo thủ.

Cùng thời điểm đó, tại Bắc Thành, một số quan lại bảo thủ cấu kết với võ quan cũ, bí mật lên kế hoạch khởi nghĩa.

Tập hợp quân lính cũ tại Bắc Thành, lợi dụng địa hình dễ phòng thủ để nổi dậy.

Chiếm giữ thành, ép ta thoái vị.

Liên kết với các thế lực bảo thủ khác để khôi phục trật tự cũ.

Nhưng ta đã cài gián điệp theo dõi chúng từ lâu.

Ngay khi chúng chuẩn bị hành động, ta hạ lệnh điều động quân Cấm vệ từ kinh thành, kết hợp với quân đội tại Sơn Tây, bao vây Bắc Thành.

Đồng thời, ta ra chiếu thư triệu tập các quan trong triều, ép chúng lộ mặt.

Cuộc nổi loạn bị dập tắt ngay khi còn chưa kịp bắt đầu.

Hơn 30 quan lại và võ tướng bảo thủ bị bắt, số còn lại bỏ trốn nhưng không thoát khỏi truy lùng.

Một số hoàng thân có liên quan cũng bị phát hiện và trừng trị thích đáng.

Phe bảo thủ chính thức sụp đổ.

Sau cuộc phản kháng thất bại, ta không thể để lại bất kỳ mối họa nào trong tương lai.

Những kẻ cầm đầu cuộc nổi loạn tại Bắc Thành bị xử trảm ngay tại chỗ, thị chúng.

Các quan lại bảo thủ có dính líu bị cách chức, đày đi biên cương hoặc lưu đày xa.

Những sĩ phu bảo thủ quá khích bị tước bỏ danh hiệu, cấm thi cử trọn đời.

Tiếp tục đề bạt quan lại cấp tiến lên nắm giữ các vị trí quan trọng.

Cải tổ Hàn Lâm Viện, Nội Các, bổ sung những trí thức ủng hộ cải cách.

Thiết lập hệ thống giám sát chặt chẽ, tránh để phe bảo thủ tái sinh.

Sau khi thanh trừng xong, ta ngay lập tức củng cố quyền lực và tiếp tục cải cách.

Tháng 10/1821, ta ra chiếu chỉ chính thức tuyên bố: "Từ nay, Đại Nam sẽ không còn bị ràng buộc bởi những tư tưởng cũ kỹ.

Ai còn mưu phản, chống lại cải cách, tức là chống lại quốc gia và dân tộc."

Dân chúng hoan hô, lòng tin vào triều đình càng vững chắc.

Hoàn thiện hệ thống luật pháp mới.

Đẩy mạnh phát triển kinh tế, thương mại.

Mở rộng giáo dục, đào tạo nhân tài mới.

Tăng cường kiểm soát quân đội, đảm bảo sự ổn định lâu dài.

Phe bảo thủ bị tiêu diệt hoàn toàn.

Bộ máy quan lại được cải tổ, không còn ai dám chống đối.

Dân chúng tin tưởng vào triều đình và ủng hộ cải cách.

Triều đại của ta bước vào giai đoạn ổn định và phát triển mạnh mẽ.

Sau hai năm đấu tranh căng thẳng, ta đã hoàn toàn thống nhất quyền lực, xóa sạch phe bảo thủ, đưa Đại Nam vào kỷ nguyên mới.

Sau khi ta dập tắt hoàn toàn phe bảo thủ vào cuối năm 1821, triều đình và hoàng cung rúng động.

Không ai ngờ ta có thể triệt hạ bọn chúng một cách nhanh gọn và quyết liệt đến vậy.

Những đại thần cấp tiến, những người đã ủng hộ ta từ đầu, phản ứng theo nhiều cách khác nhau.

Những người như Nguyễn Công Trứ, Lê Văn Duyệt, Trương Đăng Quế, Phan Thanh Giản đều không giấu được sự kinh ngạc.

Nguyễn Công Trứ lên tiếng: "Bệ hạ hành động quả quyết như sấm vang chớp giật!

Cả một thế lực bảo thủ tồn tại bao năm qua mà nay bị quét sạch chỉ trong hai năm!

Thiên hạ từ nay đã có thể yên ổn mà phát triển."

Còn Lê Văn Duyệt: "Đây chính là thời khắc quan trọng nhất của Đại Nam!

Bệ hạ đã mở đường cho một thời đại mới, không còn ai có thể ngăn cản cải cách nữa!"

Những quan lại này nhận ra rằng, ta không chỉ có tham vọng, mà còn có quyết tâm sắt đá và chiến lược sắc bén.

Một số quan lại vốn còn do dự, lo sợ phe bảo thủ có thể lật ngược thế cờ, nay hoàn toàn tin tưởng vào ta.

Trương Đăng Quế quỳ xuống tâu: "Thần nguyện tận trung với bệ hạ!

Giờ đây, không còn ai có thể ngăn cản Đại Nam tiến lên nữa!"

Phan Thanh Giản, một người từng lo ngại sự phản kháng của sĩ phu bảo thủ, nay cũng thở phào nhẹ nhõm: "Từ nay, triều đình sẽ không còn bị kìm hãm bởi những kẻ lạc hậu.

Việc học hành, tuyển dụng nhân tài sẽ thực sự dựa trên năng lực".

Những quan lại này càng trung thành với ta hơn, bởi họ biết rằng theo ta là con đường duy nhất để tiến lên.

Thái hậu ban đầu kinh ngạc, thậm chí có phần lo lắng, bởi bà không ngờ ta lại ra tay mạnh mẽ như vậy.

Khi nghe tin ta xử trảm hàng chục quan lại bảo thủ, thái hậu đã triệu ta vào cung ngay trong đêm.

Bên trong cung, ta thấy ánh mắt của thái hậu vừa có sự ngờ vực, vừa có chút lo âu.

Thái hậu chậm rãi nói: "Hoàng nhi, con làm quá quyết liệt.

Bọn chúng dù bảo thủ, nhưng cũng là rường cột của triều đình.

Giờ đây, triều đình liệu có còn đủ vững vàng?"

Ta bình tĩnh đáp: "Mẫu hậu, những kẻ này không còn là rường cột, mà là gông cùm kìm hãm Đại Nam.

Nếu không trừ bỏ chúng, thiên hạ mãi mãi không thể tiến lên."

Thái hậu thở dài, ánh mắt phức tạp: "Con giống cha con khi xưa, nhưng lại còn cứng rắn hơn.

Được rồi, mẫu hậu không phản đối con nữa.

Nhưng con phải đảm bảo rằng từ nay triều đình vẫn ổn định."

Bà không hoàn toàn tán thành, nhưng cũng không thể phủ nhận thành công của ta.

Trong triều đình các đại thần trung lập nay nghiêng hẳn về phía ta, vì họ hiểu rằng không còn phe đối lập nào nữa.

Bọn quan lại từng do dự, giờ cúi đầu phục tùng.

Không còn ai dám công khai phản đối cải cách nữa.

Trong xã hội, giới trí thức cấp tiến vui mừng, vì họ không còn bị kìm hãm.

Một số sĩ phu bảo thủ im lặng, số khác bỏ về quê ở ẩn.

Dân chúng đa phần thờ ơ với chính trị, nhưng khi thấy triều đình ổn định và kinh tế phát triển, họ dần ủng hộ ta hơn.

Sau sự kiện này, ta đã hoàn toàn kiểm soát Đại Nam.

Không còn phe đối lập mạnh nào.

Quan lại trung thành tuyệt đối với ta.

Thái hậu tuy có lo lắng, nhưng cũng phải chấp nhận.

Dân chúng dần ủng hộ.

Đây là bước ngoặt lớn nhất, đánh dấu việc Đại Nam chính thức bước vào thời đại mới dưới sự cai trị của ta.
 
Triều Nguyễn Đổi Thay
Người hoa


Ngày 2 tháng 1 năm 1822.

Buổi thượng triều hôm nay đặc biệt quan trọng.

Sau khi ta đã quét sạch phe bảo thủ và củng cố quyền lực tuyệt đối, giờ là lúc ổn định xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế.

Một trong những vấn đề lớn nhất cần giải quyết chính là người Hoa – nhóm dân cư có ảnh hưởng kinh tế mạnh mẽ nhưng cũng tiềm ẩn nhiều bất ổn chính trị.

Ta ngồi trên ngai vàng, nhìn xuống bá quan văn võ.

Không khí trong triều hôm nay có phần bớt căng thẳng hơn trước, nhưng vẫn còn những ánh mắt dò xét.

Một số quan lại từng e dè trong những buổi cải cách trước, nay đã phải chấp nhận thực tế: ta chính là người định đoạt vận mệnh Đại Nam.

Ta chậm rãi cất giọng:

"Trẫm đã suy xét nhiều về tình hình trong nước.

Các khanh đều rõ, người Hoa từ lâu đã sinh sống tại Đại Nam, có kẻ trung thành với triều đình, có kẻ chỉ lo lợi ích riêng.

Lại có cả thương nhân người Hoa từ nước ngoài, đóng vai trò quan trọng trong việc giao thương với Đại Nam.

Nhưng những năm qua, việc quản lý chưa chặt chẽ, dẫn đến nhiều bất ổn.

Nay, trẫm quyết định ban hành chính sách ổn định và quản lý chặt chẽ người Hoa trong nước, đồng thời tạo điều kiện để thu hút thêm thương nhân người Hoa có lợi cho Đại Nam."

Cả triều đình lắng nghe.

Một số quan văn gật đầu, một số quan võ tỏ vẻ lo lắng.

Lê Văn Duyệt, một trong những võ quan có nhiều kinh nghiệm quản lý Nam Bộ, nơi tập trung đông người Hoa bước ra tâu: "Bệ hạ nói chí phải!

Thần thấy ở Gia Định và Hà Tiên, người Hoa làm ăn rất phát đạt, nhưng vẫn có một số bang hội tự lập thế lực, không thuần phục triều đình.

Nếu để lâu, sẽ là mối lo lớn."

"Bệ hạ cũng nên cẩn thận với thương nhân người Hoa từ nước ngoài.

Nếu kiểm soát không tốt, họ có thể thao túng thị trường trong nước."

Nguyễn Công Trứ nói thêm.

Ta gật đầu.

Những điều này ta đã suy xét kỹ từ lâu.

Nay chính là lúc ban hành chính sách cụ thể.

Ta ra lệnh Nội các soạn chiếu chỉ về người Hoa, gồm các nội dung quan trọng quản lý người Hoa

1.

Người Hoa sinh sống lâu năm ở Đại Nam sẽ được phân loại thành bốn nhóm:

Nhóm 1: Trung thành với triều đình – Những người này sẽ được khuyến khích nhập quốc tịch Đại Nam, được đối xử như người bản địa và có quyền sở hữu đất đai.

Nhóm 2: Trung lập, chỉ làm ăn kinh doanh – Triều đình sẽ giám sát kỹ lưỡng, nhưng vẫn tạo điều kiện để họ phát triển kinh tế.

Nhóm 3: Có tư tưởng chống đối hoặc hoạt động bí mật – Những kẻ này sẽ bị kiểm soát chặt chẽ, nếu có hành vi phản loạn sẽ bị trấn áp ngay lập tức.

Nhóm 4: Các bang hội, tổ chức tự trị – Cấm tuyệt đối các bang hội tự lập thế lực, buộc phải giải tán.

Nếu chống đối, sẽ bị trấn áp.

2.

Cấm người Hoa lập các khu tự trị – Tất cả người Hoa phải tuân theo pháp luật Đại Nam, không được lập làng riêng có chính quyền riêng.

3.

Bắt buộc người Hoa phải đăng ký hộ khẩu – Triều đình sẽ tổ chức kiểm kê dân số, bắt buộc tất cả người Hoa phải khai báo thân phận, ngành nghề, nơi cư trú.

Chính sách dành cho thương nhân người Hoa từ nước ngoài

1.

Khuyến khích thương nhân Hoa Kiều đầu tư vào Đại Nam: Miễn thuế nhập khẩu trong 3 năm cho thương nhân người Hoa đầu tư vào Đại Nam.

Cấp đất xây thương điếm tại các cảng lớn như Gia Định, Hội An, Hải Phòng.

Cho phép lập hội thương gia để kết nối giữa thương nhân người Hoa với triều đình Đại Nam.

2.

Hạn chế sự thao túng của người Hoa trong kinh tế nội địa: Cấm độc quyền – Không để thương nhân người Hoa độc quyền các mặt hàng quan trọng như muối, lúa gạo, vải vóc.

Người Hoa chỉ được làm thương mại, không được sở hữu đất đai canh tác – Điều này để tránh tình trạng họ thao túng nông nghiệp.

3.

Tăng cường giám sát và thu thuế: Triều đình sẽ lập một Cục Quản lý Thương mại Hoa Kiều, chuyên giám sát hoạt động của thương nhân người Hoa.

Mỗi thương điếm lớn của người Hoa sẽ có quan Đại Nam giám sát.

Sau khi ta tuyên bố chiếu chỉ, triều đình có nhiều phản ứng khác nhau.

Lê Văn Duyệt tỏ ra đồng tình: "Bệ hạ quả là cao minh!

Nếu kiểm soát chặt chẽ, người Hoa có thể giúp Đại Nam phát triển mà không gây bất ổn."

Nguyễn Công Trứ gật đầu: "Từ nay, thương nhân người Hoa sẽ không còn mặc sức thao túng nữa.

Đây chính là điều chúng ta cần!"

Tuy nhiên, một số quan lại lo lắng về phản ứng của người Hoa.

Phan Thanh Giản trầm ngâm nói: "Bệ hạ, liệu thương nhân người Hoa từ nước ngoài có phản đối không?

Nếu họ tẩy chay Đại Nam thì sao?"

Ta bình thản đáp: "Trẫm đã tính trước.

Nếu họ không vào Đại Nam, thì chúng ta sẽ mở cửa cho thương nhân Anh, Tây Ban Nha, Hà Lan.

Người Hoa không phải lựa chọn duy nhất."

Câu trả lời này khiến bá quan gật gù, vì họ nhận ra ta đã có tính toán kỹ lưỡng.

Thái hậu ban đầu có chút lo lắng, nhưng sau khi nghe ta giải thích, bà cũng dần chấp nhận.

"Miễn là con không tạo ra thêm xung đột, thì mẫu hậu sẽ không phản đối.

Nhưng hãy cẩn thận, người Hoa chưa bao giờ dễ kiểm soát."

Ta hiểu bà muốn nhắc đến những cuộc nổi loạn của người Hoa trong quá khứ.

Nhưng lần này, ta đã có kế hoạch đàn áp ngay từ đầu nếu có biến loạn.

Buổi thượng triều kết thúc, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc kiểm soát người Hoa và thương nhân Hoa Kiều.

Người Hoa trong nước sẽ được phân loại và quản lý chặt chẽ.

Thương nhân người Hoa từ nước ngoài được khuyến khích nhưng không để họ thao túng thị trường.

Triều đình dần ổn định, không còn quan lại phản đối quá mạnh.

Đây là một bước tiến quan trọng trong việc ổn định Đại Nam và phát triển kinh tế.

Từ đây, không ai có thể thao túng đất nước này nữa – kể cả người Hoa hay các thế lực ngoại bang.
 
Triều Nguyễn Đổi Thay
Tước vị


Ngày 10 tháng 1 năm 1822.

Buổi thượng triều hôm nay sẽ đặt nền tảng cho một hệ thống tước phong rõ ràng trong hoàng tộc.

Trước đây, việc phong tước cho hoàng thân chưa có quy định chặt chẽ, dẫn đến tình trạng nhiều chi nhánh hoàng gia không rõ vai vế, một số người tự ý nhận tước vị cao hơn thực tế.

Điều này không chỉ gây hỗn loạn mà còn làm suy yếu quyền lực triều đình.

Hôm nay, ta sẽ chính thức thiết lập hệ thống tước vị và hoàn thiện khái niệm "Tôn Thất", đảm bảo mọi hậu duệ hoàng tộc đều có vị trí rõ ràng và không ai có thể lạm quyền.

Ta nhìn xuống bá quan văn võ, chậm rãi nói: "Từ khi các đời Chúa Nguyễn lập quốc, tước vị của hoàng tộc chưa được phân định rõ ràng.

Từ nay, trẫm sẽ quy định chặt chẽ hệ thống tước vị trong hoàng thất, xác lập địa vị từng nhánh tông tộc, đồng thời soạn ra Hoàng Triều Tôn Phổ (皇朝尊譜) để lưu lại vai vế của từng người.

Các khanh hãy nghe và góp ý."

Bá quan lặng đi một lúc, rồi Trương Đăng Quế bước ra: "Bệ hạ anh minh!

Từ lâu, thần đã thấy hoàng tộc có nhiều chi nhánh nhưng chưa có quy định rõ ràng.

Nếu có một hệ thống phân phong chặt chẽ, chắc chắn hoàng triều sẽ vững mạnh hơn!"

Nguyễn Công Trứ cũng gật đầu đồng ý: "Một hoàng tộc có tôn ti trật tự rõ ràng mới có thể giúp quốc gia ổn định lâu dài.

Thần xin bệ hạ ban bố chi tiết quy chế này"

Ta gật đầu, ra lệnh cho Nội các đọc bản quy định tước vị hoàng thất mà ta đã soạn thảo.

Ta quyết định hoàn thiện và chính thức hóa khái niệm "Tôn Thất".

Trước đây, các nhánh hoàng tộc đôi khi được gọi chung chung là "Hoàng thân" hoặc "Hoàng thất", nhưng không có sự phân biệt rõ ràng.

"Tôn Thất" (宗室) là danh xưng chỉ tất cả hậu duệ của 9 hệ xa xưa của các Chúa Nguyễn, nhưng không bao gồm nhánh chính đang kế thừa ngai vị.

Từ nay, hệ thống Tôn Thất sẽ được tổ chức lại:

1.

Tôn Thất Chính Hệ – Hậu duệ trực tiếp của các Chúa Nguyễn, thuộc về các nhánh chính.

Danh sách các 9 hệ gồm:

1/Hậu duệ của Triệu Tổ Tĩnh Hoàng đế Nguyễn Kim, là Đệ nhất hệ (第一系);

2/Hậu duệ của Thái Tổ Gia Dụ Hoàng đế Nguyễn Hoàng, là Đệ nhị hệ (第二系);

3/Hậu duệ của Hi Tông Hiếu Văn Hoàng đế Nguyễn Phúc Nguyên, là Đệ tam hệ (第三系);

4/Hậu duệ của Thần Tông Hiếu Chiêu Hoàng đế Nguyễn Phúc Lan, là Đệ tứ hệ (第四系) không có kế tự (tức không lập được Phòng);

5/Hậu duệ của Thái Tông Hiếu Triết Hoàng đế Nguyễn Phúc Tần, là Đệ ngũ hệ (第五系);

6/Hậu duệ của Anh Tông Hiếu Nghĩa Hoàng đế Nguyễn Phúc Thái, là Đệ lục hệ (第六系) không có kế tự (tức không lập được Phòng);

7/Hậu duệ của Hiện Tông Hiếu Minh Hoàng đế Nguyễn Phúc Chu, là Đệ thất hệ (第七系);

8/Hậu duệ của Túc Tông Hiếu Ninh Hoàng đế Nguyễn Phúc Chú, là Đệ bát hệ (第八系);

9/Hậu duệ của Thế Tông Hiếu Vũ Hoàng đế Nguyễn Phúc Khoát, là Đệ cửu hệ (第九系);

2.

Tôn Thất Ngoại Chi – Các chi nhánh xa hơn nhưng vẫn có huyết thống hoàng gia.

3.

Tôn Nhân Phủ (宗人府) – Cơ quan chuyên quản lý tộc phả hoàng gia, duy trì Hoàng Triều Tôn Phổ, giám sát việc phong tước.

Ta hạ lệnh soạn "Hoàng Triều Tôn Phổ", ghi chép đầy đủ phả hệ của hoàng tộc Nguyễn, từ đời Chúa Tiên Nguyễn Hoàng đến nay.

Hoàng Triều Tôn Phổ sẽ ghi chép tên, vai vế, chi nhánh, tước phong, vị trí trong hoàng tộc của từng người.

Tôn Nhân Phủ sẽ chịu trách nhiệm cập nhật liên tục, tránh tình trạng sai lệch hoặc tranh chấp vai vế.

Bất kỳ ai không có trong Hoàng Triều Tôn Phổ thì không được phép tự nhận là hoàng tộc.

Sau khi công bố, các đại thần đều tán thành.

Lê Văn Duyệt bước ra tâu: "Bệ hạ làm vậy là vô cùng hợp lý!

Những năm qua, có kẻ giả mạo hoàng thân, lợi dụng danh nghĩa để trục lợi.

Nếu có Hoàng Triều Tôn Phổ, từ nay sẽ không còn chuyện này nữa."

Ta gật đầu hài lòng.

Đây là một bước đi quan trọng để kiểm soát hoàng tộc, tránh tình trạng các nhánh xa lạm quyền hoặc tranh chấp ngai vị trong tương lai.

Ta ra lệnh thiết lập một hệ thống tước vị cụ thể cho hoàng tộc, gồm 5 bậc chính:

Bậc Tước: 1

Danh Xưng: Hoàng Thái Tử (皇太子)

Đối Tượng Được Phong: Con trai trưởng của Hoàng đế

Lệ Kế Thừa: Chỉ có một người, nối ngôi vua

Bậc Tước: 2

Danh Xưng: Thân Vương (親王)

Đối Tượng Được Phong: Các con trai khác của Hoàng đế

Lệ Kế Thừa: Tước hiệu cha truyền con nối, nhưng sẽ bị giáng xuống một bậc sau hai đời

Bậc Tước: 3

Danh Xưng: Quận Vương (郡王)

Đối Tượng Được Phong: Cháu nội hoàng đế, con của Thân Vương

Lệ Kế Thừa: Giữ tước hai đời, đời sau nữa sẽ giáng thành Công

Bậc Tước: 4

Danh Xưng: Công (公)

Đối Tượng Được Phong: Hậu duệ xa hơn, hoặc hoàng thân có công trạng

Lệ Kế Thừa: Không được kế thừa, chỉ phong theo công trạng

Bậc Tước: 5

Danh Xưng: Hầu (侯)

Đối Tượng Được Phong: Hoàng tộc xa, hoặc hậu duệ của Quận Vương

Lệ Kế Thừa: Không được kế thừa, chỉ phong khi có công

Ngoài ra, các công nữ (nữ giới trong hoàng tộc) cũng có các tước hiệu tương đương, như Công Chúa, Quận Chúa, Huyện Quận Chúa.

Để tránh tình trạng tước vị bị loạn hoặc hoàng tộc tự ý nhận tước, ta quy định rõ lệ kế thừa:

1.

Thân Vương và Quận Vương được kế thừa hai đời, sau đó bị giáng cấp xuống một bậc.

2.

Các Công và Hầu không được kế thừa, chỉ phong khi có công lao.

3.

Nếu hậu duệ làm phản hoặc không đủ tư cách, tước vị sẽ bị xóa bỏ.

Sau khi công bố, triều đình có nhiều phản ứng: Các đại thần ủng hộ vì hệ thống này giúp kiểm soát hoàng tộc chặt chẽ.

Một số hoàng thân e ngại vì từ nay không thể tự nhận tước vị cao hơn thực tế.

Thái hậu đồng tình nhưng nhắc nhở ta phải đối xử công bằng với hoàng tộc, tránh làm mất lòng họ.

Ta đáp: "Trẫm không hề bạc đãi hoàng tộc, nhưng cũng không để ai lạm quyền.

Ai có công, sẽ được phong.

Ai lười biếng, sẽ không được hưởng vinh quang từ tổ tiên."

Buổi thượng triều hôm nay đánh dấu một cải cách quan trọng trong hệ thống hoàng thất.

Khái niệm "Tôn Thất" chính thức hoàn thiện.

Hoàng Triều Tôn Phổ được soạn, quản lý hoàng tộc chặt chẽ.

Tước vị và lệ kế thừa được quy định rõ ràng, chặt chẽ.

Từ nay, hoàng tộc Nguyễn sẽ có tôn ti trật tự rõ ràng, không ai có thể lạm quyền hoặc tranh chấp ngai vị.

Đây là một bước đi quan trọng để củng cố trật tự hoàng gia và sự vững mạnh của triều đình Đại Nam
 
Back
Top Bottom