Cập nhật mới

Khác Trăng suối nắng rừng

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
304089807-256-k776493.jpg

Trăng Suối Nắng Rừng
Tác giả: Der_Klee
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

"Hẹn một mai bình yên về trên đất mẹ..."

Bom đạn của chiến tranh đã hun đúc nên một thế hệ cứng rắn như sắt thép, bất khuất như núi cao nhưng cũng đầy tình thương như dòng sông trong vắt chảy ngang qua xóm làng.

Trăng suối nắng rừng là câu chuyện xoay quanh cuộc sống và chiến đấu của những thiếu niên thuộc đội Trinh sát, giữa cuộc kháng chiến chống Pháp đương bước vào giai đoạn khắc nghiệt nhất.

Chiến tranh loạn lạc, các em chiến đấu với cương vị người lính, trở thành những mảnh ghép không thể thiếu hoạ lên bức tranh Cách mạng hào hùng, về một đất nước không chịu khuất phục, về những con người không chịu cúi đầu.
_________________________________________________________________________________
Lưu ý: Truyện chỉ lấy bối cảnh thời chiến, không có giá trị như tư liệu lịch sử.

Mọi nhân vật được nhắc tới đều là sản phẩm của trí tưởng tượng.



việtbắc​
 
Trăng Suối Nắng Rừng
Những thiếu niên trinh sát


Trời chuyển dần về đêm.

Ánh trăng mờ đục len qua những cành cây khô còn vương mùi khói.

Doanh trại chìm vào bóng tối đen đặc.

Trong không khí vẫn còn tràn ngập cái mùi âm ẩm của đất, lẫn với mùi thuốc súng gay mũi.

Mấy vũng nước từ cơn mưa bất chợt ban chiều đọng lại trước sân loang loáng ánh sáng bạc như gương.

Gió khẽ lùa qua khe cửa, tràn vào gian phòng nhỏ.

Trên những tấm phản dài kê liền nhau, có đến ba chục cái đầu chen chúc, chia nhau hơi ấm qua từng tấm chăn mỏng.

Đó là đội Thiếu niên trinh sát của trung đoàn...

Cách mạng tháng Tám thành công, trung ương ra quyết định thành lập đội Thiếu niên trinh sát, vừa trải qua huấn luyện vừa tham gia chiến đấu.

Đội trinh sát năm ấy có ba chục đội viên, đứa nhỏ nhất mới khoảng 13, 14, đứa lớn nhất chưa qua cái tuổi 18.

Ấy vậy mà ở chúng có cái kỉ luật, cái nhiệt huyết, cái kiên định vượt xa tuổi.

Đội đến cuối năm 45 mới thành lập, nhưng quá nửa số đội viên đã tham gia chiến đấu từ những ngày đầu kháng chiến.

Có những đứa làm liên lạc, đã từng không quản ngày đêm chạy khắp các ngõ ngách, đạn bắn rát sau lưng cũng chẳng nề hà.

Có đứa là du kích, có đứa là dẫn đường.

Tuy tuổi nhỏ, nhưng ai cũng hăng hái góp một phần sức lực cho Cách mạng.

Lớn lên trong cảnh nước nhà bị giày xéo, chúng thấm thía cái giá của độc lập, của tự do và sẵn sàng hiến dâng tất cả để giành lại cái tự do ấy.

Hoàng Trần Tuấn Khải, khi ấy là thành viên nhỏ tuổi nhất của Ban Thông tin mặt trận, là một trong những thiếu niên đầu tiên được triệu tập về đội.

Nước da trắng sứ, môi đỏ, mắt to mơ màng, dáng dấp đặc học trò thành phố.

Tuy nhiên, trái ngược với vẻ ngoài thư sinh ấy, là cái gan mà đến nhiều anh lớn còn phải rùng mình.

Chẳng ai nghĩ chính em đã từng làm một việc can đảm nhất hạng, ấy là dám đột nhập vào nơi đóng quân của địch, ngay giữa ban ngày, để đoạt lại một khẩu súng thuộc quân đội ta.

Những người không hiểu, khi nghe tới hẳn sẽ lè lưỡi lắc đầu, việc gì mà phải liều mạng chỉ vì một khẩu súng như vậy.

Thế nhưng, với một thế hệ sinh ra vào thời điểm bom mìn cày xới đến từng tấc đất, thì dẫu chỉ là một đứa trẻ, cũng hiểu rõ rằng mọi loại vũ khí, kể cả lưỡi dao cùn, hòn đạn nhỏ cũng quý báu vô cùng.

Cùng tổ với Khải là Hoàng Đăng Nhật, mà cả đội vẫn gọi vui là cậu Lanh, vì tinh ranh và nhanh nhẹn nhất bọn.

Ở cái tuổi mười bảy, Nhật toát lên một vẻ gì đấy vừa tinh quái lại vừa điềm tĩnh khó nói hết bằng lời.

Trước khi về đội, Nhật công tác ở tiểu đoàn 368, được giao nhiệm vụ trực đài quan sát.

Ban Quân nhu mặt trận cấp phát cho tổ của Nhật một cặp ống nhòm cũ mà cậu chàng luôn đeo trước ngực.

Chẳng có mấy lúc là Nhật không đưa ống nhòm lên ngang tầm mắt, chăm chú quan sát phía xa.

Chính nhờ sự cảnh giác này mà cậu đã hai lần phát hiện ra toán lính Pháp âm mưu lợi dụng lúc trời nhá nhem tối ném bom vào nơi đóng quân của bộ đội ta.

Trong đội chỉ có mình Đoàn Kỉ Tuấn Ngọc là người gốc Nam.

Ngọc là con nhà nòi, ba nó là Trung đoàn trưởng, nghe đâu là bị tụi Tây xảo quyệt tập kích bắt sống mang về tra khảo.

Sau khi dùng đủ mọi đòn tra tấn dã man mà không thể khuất phục người chỉ huy kiên trung, bọn chúng bắn chết ông rồi quăng xác xuống biển.

Ngọc gầy nhom, lại toàn mặc những tấm áo rộng quá khổ người (chắc là của ba để lại) nên trông nó nhỏ bé hơn nhiều bạn cùng trang lứa.

Ngọc là đứa trầm tính, ít nói, mà lại chăm chỉ, cần mẫn lắm.

Nó có thể ngồi hàng giờ lau từng khẩu súng, chùi từng bao đạn méo mó đến bóng loáng.

Thế nhưng, với bản chất của con nhà có truyền thống Cách mạng, Ngọc khôn khéo và sành sỏi không thua gì các anh lớn đã xông pha trận mạc nhiều năm.

Nó từng chuyển công văn giấy tờ cho Phòng chính trị, rồi chuyển sang làm liên lạc ở đại đội liên pháo xạ thủ.

Những năm tháng chạy liên lạc khắp mặt trận đã rèn cho nó khả năng đọc đường, nhớ đường hết sức tài tình.

Nó từng nhiều lần dẫn đường cho các đoàn bộ đội từ Đàng Trong ra nhận nhiệm vụ.

Mấy lần bị địch phục kích nhăm nhe bắt gọn, nhưng với sự nhanh trí của mình, Ngọc thành công dẫn cả đoàn thoát khỏi vòng vây, tới điểm tập kết an toàn.

Phải vào cái hoàn cảnh khốn cùng lúc bấy giờ mới thấy, bọn trẻ hiểu chuyện hơn nhiều người vẫn tưởng.

Chúng vui vẻ, hoạt bát mà khẳng khái, lại không sợ chết.

Cả đám con nít vùng nông thôn chân lấm tay bùn, vốn chỉ biết cầm cái cuốc cái xẻng, mót lúa bòn khoai, cả những đứa trẻ thành thị vốn chỉ biết cầm quyển vở cây bút, ngày nhẩm thơ ngày làm tính, khi giặc đến cũng biết cầm lấy con dao khẩu súng để mà đánh trả, để mà giành lại độc lập.

Đời lính cực nhọc đấy, gian khổ đấy, nhưng chẳng gì đau bằng hai tiếng mất nước.

Đội trưởng Nguyễn Thành rất quý chúng nó, thường hay xoa đầu từng đứa mà thực lòng ngợi khen.

Anh vẫn thường báo cáo với cấp chỉ huy: "Chúng nó bé thế thôi, nhưng can đảm lắm.

Còn hơn khối người ngoài kia, miệng thì lớn mà gan thì nhỏ, mới thoáng thấy bóng địch đã sợ nhũn cả người.

Chớ vội thấy chúng nó nhỏ mà chê vướng bận chân tay, thiếu chúng nó là không xong đâu!"
 
Trăng Suối Nắng Rừng
Niềm vui trẻ thơ


Chiều.

Bầu trời về chiều trong thiệt trong.

Vài cánh chim mải miết bay về tổ.

Một cột khói trắng nhờ nhờ bốc lên từ phía xa- khói bếp từ một nhà dân nào đó.

Thời chiến, những khoảng yên bình như lúc này quả thực không dễ có.

Đội trinh sát hôm nay có điều vui, nhìn mặt đứa nào cũng hớn hở.

Ấy là vì đội vừa được trung ương cấp phát cho một cái xe đạp.

Mới cứng, nước sơn xanh hãy còn bóng loáng, nghe đâu là các anh bên đại đội A75 cướp được của bọn Tàu hay Nhật gì đó.

Các anh bảo: "Gửi xuống cho tụi trinh sát, chúng nó còn bé mà cuốc bộ suốt.

Đến tội!".

Hồi đấy, có cái xe đạp mà đi đã là oách lắm, chưa nói tới xe mới mà lại của nước ngoài thế này.

Đội trưởng mới mang xe về dựng trước sân, cả đội đã ùa ra, vây quanh cái xe mà ngắm nghía, ồn ào bình phẩm.

Thằng Triết, cậy mình to lớn hơn cả, chen lên đầu.

Nó vừa nắn bóp cái bánh trước, vừa xoa cằm mà nhận xét, ra điều thành thạo lắm:

- Xe này chắc chắn của Nhật.

Các cậu xem, khung xe cứng cáp, lớp sơn đều, bánh lại căng.

Phải nói là xịn nhất hạng!

Tuấn "Cháy"- cả đội gọi thế vì nước da của hắn cứ phải gọi là đen hơn than, vịn vai thằng Thịnh cao kều ngó vào:

- Xe này chỉ của Tàu thôi.

Hàng Nhật đẹp hơn nhiều.

Có mấy đứa thấp bé hơn, không chen vào được phải đứng ngoài cũng cố rướn người, nghển cổ để nhìn cho rõ cái xe "vinh dự lắm vì do trung ương tặng", theo lời của thằng Long.

Trong lúc cả đội còn đang mải bàn tán về phần thưởng độc đáo này thì Khải về tới.

Hồi sáng, Khải nhận lệnh của đội trưởng đi xử lý công vụ với trung đội Tiếp Phòng Quân.

Những công việc giấy tờ ấy, từ ngày còn làm bên Thông tin, em đã thành thạo.

Tuy ít tuổi, nhưng được việc, lại giỏi tiếng Pháp nên em được các anh Tiếp Phòng Quân hết sức tin tưởng.

Ở đội, em được anh Thành chỉ định làm tiểu đội trưởng.

Giao phó đội cho Khải, anh yên tâm vô cùng.

Có Khải, nề nếp tác phong của đội được rèn giũa chỉn chu, đâu vào đây cả.

"Thằng Khải nhìn hiền thế mà kỷ luật thép lắm" là lời nhận xét của cả đội dành cho em.

Bỏ qua đám bạn vẫn đang bu đen bu đỏ quanh cái xe, Khải đi thẳng tới gian phòng làm việc của đội trưởng để báo cáo công tác.

Cửa để mở, nhưng em vẫn gõ nhẹ để báo hiệu cho anh biết.

Anh Thành lúc ấy đang chăm chú dò lại giấy tờ, nghe tiếng mới ngẩng lên.

Khải đứng nghiêm, làm động tác chào rất đẹp, dứt khoát và chuẩn chỉnh:

- Báo cáo đội trưởng!

Đội trưởng gật đầu tỏ ý hài lòng.

Anh khoát tay ra hiệu cho Khải tiến lại gần, đưa cho em một mảnh giấy được gấp làm tư.

Chỉ thoáng nhìn Khải cũng biết ngay đây là giấy chuyển giao công tác, tức là đội hoặc sắp có thêm thành viên mới hoặc sắp có người được chuyển sang đơn vị khác.

Khải cầm mảnh giấy ra sân, chỗ cả đội vẫn đang lớn tiếng bàn luận xem xe này của Nhật hay Tàu.

Em gọi to, giọng trong mà vang:

- Các cậu ơi, có giấy chuyển giao công tác này.

Tức thì, gần ba chục đội viên bỏ cái xe đạp quý đấy, chạy lại vây xung quanh tiểu đội trưởng.

Thằng Dương nhanh chân nhất, đứng bên cạnh Khải, chăm chú đọc những dòng chữ ngay ngắn trên trang giấy mở rộng: "Tạ Nhật Minh, bí danh Tạ Hai..."

Thanh Sơn, mà anh em hay gọi là Sơn "Cao" để phân biệt với một thằng Sơn khác trong đội, huých nhẹ cùi chỏ vào mạn sườn thằng Minh đứng đằng trước, nói đùa:

- Vậy là từ giờ chú mày sẽ là Minh "lớn", còn thằng Minh sắp tới kia gọi là Minh "nhỏ" hen.

Minh giả bộ cau mày, đấm vào vai Sơn "cao":

- Anh Sơn cứ trêu em!

Cú ấy chắc chắn không đau, vì thằng Minh cũng chỉ đấm vờ thế thôi.

Nhưng thằng Sơn, với bản tính nghịch ngợm, thích đùa, vẫn nhăn nhó xuýt xoa như thể cánh tay nó sắp rơi ra tới nơi.

Hoàng Anh ngước lên khỏi tờ giấy, nhìn mặt nó có vẻ thích thú lắm:

- Tao biết thằng này, trước nó ở cùng đơn vị với tao và anh Duyệt.

Nó nghiêm túc đã gớm, mặt lúc nào cũng đanh lại, nhưng được cái làm việc nhanh nhẹn, hiệu quả.

"Anh Duyệt" nghe tên, cũng góp vào:

- Ừ, hắn kỉ luật thép không kém gì Khải "vàng anh" đội ta.

Và thế là, đội trinh sát của trung đoàn, chuyển từ tranh cãi xem chiếc xe được thưởng đến từ nước nào sang bàn tán về đội viên mới.

Kể ra thì cũng khá lâu rồi đội không đón thêm thành viên, kể từ cái đợt thằng Quang, thằng Công chuyển từ bên công binh qua.

Đội trưởng Nguyễn Thành đứng ở cửa phòng làm việc nhìn các em trò chuyện rôm rả, khoác vai bá cổ nhau cười đùa cũng phải bật cười theo.

Các đội viên của anh, dẫu gánh vác trên vai trách nhiệm của những người lính, thì cuối cùng vẫn chỉ là những đứa trẻ chưa lớn.

Ở các em vẫn còn nét hồn nhiên của cái tuổi mười bốn mười lăm, vẫn vui vẻ vì những điều giản đơn, vẫn háo hức chờ mong những thứ nhỏ nhặt.

Mặc cho ngoài kia bom rơi đạn nổ, nơi đây vẫn còn những niềm vui trẻ thơ.
 
Trăng Suối Nắng Rừng
"...Là anh em một nhà cả"


Đến tận chiều tối hôm sau, khi cả đội đã hoàn tất buổi tập và đang tụm năm tụm ba chơi lò cò, nhảy ngựa ở khoảng sân trước doanh trại thì Minh mới tới.

Nó đeo cặp kính dày cộp, mặc áo sơ mi cổ đứng màu cỏ úa, vai đeo túi dết.

Minh đứng ở ngưỡng cửa, nhìn ngang ngó dọc có vẻ bối rối lắm.

Mà điều ấy cũng bình thường thôi, đứa nào ngày đầu về đội cũng ngơ ngác như vậy cả.

Thằng Quang "bún" hôm gia nhập đội, không biết luống cuống thế nào mà vấp phải bậc cửa đến hai lần, ngã sõng soài.

Thằng Long thì đáng ra phải vào phòng làm việc của đội trưởng để báo cáo, lại đi nhầm vào một gian phòng trống.

Long cứ đứng đấy đợi mãi, mà ở bên ngoài anh Thành cũng đang ngóng nó.

Cuối cùng tiểu đội trưởng Khải phải đi tìm và dẫn thằng Long đến đúng căn phòng cần tới.

Hoạ chăng thì có Nhật, vốn thân với Khải và đã được nghe Khải nhắc nhiều về đội trinh sát qua những lá thư, thì đỡ bỡ ngỡ hơn.

Những câu chuyện dở khóc dở cười ấy, các em vẫn thường kể đi kể lại, cả những đứa biết rồi lẫn những đứa mới vào đều cười nghiêng ngả.

Thịnh "sếu", sở dĩ có cái tên này là vì chú ta đã cao lại còn gầy, hệt như con cò con sếu, là người để ý tới nó đầu tiên.

Chú huých vai Tuấn "cháy", lúc này đang mải canh bắt một con dế toàn thân đen bóng, đầu to, càng mập, rõ là một chú dế chọi tốt.

Thằng Tuấn bị bất ngờ, mất đà chúi người về phía trước.

Con dế nghe động, xoè cánh bay mất.

Tuấn "cháy" tức mình quay ngoắt lại, nhưng thằng Thịnh đã đánh mắt ra hiệu.

Thằng Tuấn nhìn ra cửa rồi với sang bấm khẽ vào bắp đùi thằng Triết đương chăm chú đọc thư, cũng khoát tay ra hiệu.

Và như thế, mười mấy hai chục thiếu niên ngấm ngầm ra hiệu cho nhau, đứa nào cũng hướng mắt về phía đội viên mới mà không ai dám ra đón.

Sơn "cao" vốn có tài ăn nói nhất đội, hôm nay chẳng hiểu sao lại đẩy cho thằng Công "mắt to".

Mà thằng Công thì bản tính ít nói, lại đùn qua cho thằng Dương.

Cứ thế mãi, vẫn chẳng có chiến sĩ nào chịu bước ra chào thành viên mới.

Giá mà có đội trưởng Nguyễn Thành ở đây, nhưng khổ nỗi mới một lúc trước thôi, anh đã cùng Nhật đi họp với cấp chỉ huy, đoán chừng phải đến tối mới về.

Tuấn "cháy" lại bấm vai thằng Triết, thì thầm:

- Cậu vào gọi Khải "vàng anh" ra đón đội viên mới đi.

"Vàng anh" là biệt danh đội trinh sát đặt cho Khải.

Cả đội chỉ có mình em là biết đọc nhạc, lại chơi thạo mấy thứ đàn.

Giọng hát của Khải cũng hay, sáng và trong hệt như tiếng hót của chim vàng anh.

Thằng Triết gấp gọn lá thư bỏ vào túi áo trước ngực, đứng dậy chỉnh lại áo xống rồi chạy đi kiếm tiểu đội trưởng.

Mà tiểu đội trưởng, tức Khải "vàng anh" lúc này đang ở dưới bếp, hí húi nhóm lửa thổi cơm.

Hôm nay tới phiên tổ ba làm trực nhật.

Làm cơm đáng ra là phần của Nhật, nhưng cậu chàng lại bận đi họp với đội trưởng nên Khải xuống làm thay.

Ngày còn ở nhà, cơm em ăn ngày ba bữa đều có chị Hoà giúp việc lo tươm tất.

Em chưa bao giờ phải bước xuống bếp, chứ đừng nói đến việc nấu cả một nồi cơm.

Thế nhưng Khải tự nhủ: "Nếu đến việc cỏn con như nấu cơm mà mình còn không làm nổi, thì sao tính đến chuyện đánh giặc!".

Triết tìm khắp phòng họp, phòng ngủ không thấy Khải, lại chạy ra.

Ngang qua chỗ nhà bếp, thoáng nhìn thấy khói xám bốc lên, nó mới tiến lại gần.

Khải mải nhóm lửa không để ý, muội than bám đầy mặt, lem luốc đến hài.

Thằng Triết trông thế thì phá lên cười.

Nó đi ra chỗ bể nước, rút cái khăn mặt quay lại đưa cho Khải.

Nó nói, cố nén tiếng cười:

- Tên đội viên mới, Tạ Hai gì đấy tới rồi.

Anh Thành không có ở đội, Khải ra đón hắn nhen.

Khải lau mặt mũi cho sạch, vuốt lại vạt áo cho thẳng thớm rồi mới đi ra cửa, nơi thành viên mới của đội đang đứng đợi.

Dừng lại cách Minh khoảng ba bước chân, Khải giật mạnh cánh tay đưa lên ngang tầm chân mày chào:

- Chào mừng đồng chí đến với đội Thiếu niên trinh sát.

Sự nghiêm túc của Khải làm cho những thành viên khác vốn đang ngả ngớn hóng chuyện cũng vô thức đứng nghiêm, thẳng lưng ưỡn ngực còn đội viên mới thì ngập ngừng đưa tay lên chào theo.

Bây giờ đến lượt Khải bật cười, em hạ tay xuống, thân tình trao cho Minh một cái ôm chặt:

-

Sau này là anh em một nhà cả.

Câu nói này, rất nhiều năm về sau, khi mà đội trinh sát đứa lên chiến khu đứa bám trụ lại đồng bằng, đứa vào Nam đứa ở Bắc vẫn nhớ mãi.

Dù không còn mấy dịp được ngồi cùng nhau sẻ nửa bát cơm, chia đôi manh chiếu như ngày trước, các em vẫn nhắc tới những người bạn, người anh cùng đội với một trái tim hết sức chân thành và niềm tự hào không hề che giấu.

Dù có chuyển tới rất nhiều đơn vị, các em vẫn coi việc được làm "đội viên đội Thiếu niên trinh sát" là một điều hãnh diện lắm.

Tình đồng chí đồng đội giữa thời chiến mãi là một điều gì đấy hết sức thiêng liêng, hết sức trân quý mà bom đạn chiến tranh không cách nào phá huỷ được.

Những con người với những tính cách, những hoàn cảnh xuất thân cũng như lý do nhập ngũ khác nhau nhưng cùng chung lý tưởng giải phóng đất nước, giành lại độc lập đã họp lại với nhau.

Chiến tranh đã chia cắt nhiều mảnh đời, nhưng nó cũng góp phần kéo những thân phận tưởng chừng như khác biệt lại gần nhau, gắn bó sâu sắc như tri kỉ.
 
Trăng Suối Nắng Rừng
Chớ liều đi cầu I6


*Lưu ý: Mọi địa danh được nhắc tới trong chương này đều không có thật mà chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng.

___________________________________________________________

Cái xe đạp được cấp chỉ huy thưởng cho, đội trưởng quy định chỉ những em nào phụ trách khu vực C9, khu vực B7 mới được dùng.

Chạy xong về phải chùi rửa cho sạch, rồi dựng cạnh cây bàng trước cửa phòng họp.

Ai không làm đúng, để hư hỏng hay mất xe, anh sẽ phạt nặng.

Cả đội đứa nào đứa nấy nghe răm rắp.

Thằng Công không biết kiếm đâu được cái dây xích, khoá xe vào đúng vị trí quy định.

Chìa thì tiểu đội trưởng giữ, đứa nào đi công cán gì phải báo cáo để ghi vào sổ, rồi mới được mở khoá lấy xe mà chạy.

Khu B7 nằm cách xa doanh trại của đội trinh sát nhất.

Ở đấy có đến hai trạm cấp phát lương thực, một của bộ đội, một của nhân dân "góp thêm vào cho Cách mạng, cho chiến sĩ được no cái bụng".

Hôm nay hết gạo, hết muối, đội trưởng giao cho thằng Quang "bún" đi lĩnh đồ tiếp tế về.

Quang "bún" tên đầy đủ là Nguyễn Nam Quang.

Hồi trước kháng chiến, mẹ nó mở quán bún cá ngon nhất nhì chợ Hạ nên anh em gọi vui thế, lâu dần thành quen, cũng để tiện phân biệt với thằng Quang "đá".

Bố nó là bộ đội Nam tiến, cũng đã ba bốn năm nay không có tin gì về.

Cái mũ bê rê màu nâu sờn cũ Quang hay đội là kỉ vật duy nhất bố nó để lại.

Mới mười bốn mười năm tuổi đầu, thằng Quang đã nối nghiệp bố, làm liên lạc cho du kích, rồi sau được trung ương gọi về đội.

Sau khi báo cáo với Khải "vàng anh" để lấy chìa khoá, thằng Quang dắt xe ra cổng, mải miết đạp.

Lên B7 có hai đường đi.

Lối qua làng Chiểu rồi vòng sang B2 an toàn hơn, vì đấy là nơi bộ đội ta đóng, địch cũng phải dè chừng ít nhiều, nhưng khá xa.

Ngày trước tụi trinh sát mà theo đường này cũng phải mất gần nửa buổi mới mang được lương thực về.

Lối còn lại, gần hơn, chỉ cần băng qua cầu I6, rẽ trái đi thẳng thêm độ dăm cây nữa là tới.

Tuy nhiên, cái cầu đấy nằm trong tầm ngắm của hoả lực Pháp.

Đứng ở đầu cầu bằng mắt thường cũng có thể thấy được nòng súng đen ngòm lấp ló sau những ụ cát.

Qua lại trên cầu I6 như đánh cuộc may rủi với Thần Chết, phải hết sức cảnh giác vì tụi Tây có thể bất thình lình nổ súng bắn qua bất cứ lúc nào.

Lúc đi, thằng Quang làm y lời tiểu đội trưởng Khải dặn: "Em nhớ chạy lối làng Chiểu, giờ có xe đạp rồi không mất nhiều thời gian như trước nữa đâu.

Đừng vì tiếc mấy phút mà liều phóng lên cầu!".

- Cưỡi con "chiến mã" xịn đi lãnh gạo muối.

- Quang "bún" vừa đạp vừa thích chí cười lớn.

- Đúng là oai như cóc!

Hôm ấy đẹp trời, gió nhè nhẹ thổi, mang theo hương thơm của gạo mới xay, lẫn với cái ngai ngái của những đụn rơm dọc hai bên đường.

Mùi hương ấy gợi Quang nhớ về quê hương của nó.

Nó cũng là đứa trẻ sinh ra từ làng, lớn lên cùng những hình ảnh quen thuộc của ruộng lúa chín vàng thẳng cánh cò bay, cái giếng đắp bằng gạch nung ở trước sân đình hay con sông hiền hoà chảy ngang qua xóm nhỏ.

Nó nhớ cả những trò con trẻ mà đám con nít vẫn í ới gọi nhau ra chơi mỗi buổi chiều.

Quang vẫn nhớ buổi họp đầu tiên của đội trinh sát.

Đội trưởng Nguyễn Thành đã hỏi cả đội: "Đi lính, bỏ dở việc học hành, bỏ lại cả gia đình, các em có tiếc không?".

Lúc ấy, anh Nhật đã đứng dậy dõng dạc trả lời: "Những cái ấy thì ai cũng tiếc.

Nhưng không được góp sức mình để giành lại độc lập, thì chúng em càng tiếc hơn ạ!".

Đến trạm lương thực, Quang "bún" trình giấy tờ, lãnh được bao gạo với túi muối mè, lại được chị cấp phát dúi thêm cho củ khoai mật hãy còn nóng hôi hổi.

Nó mừng lắm, cảm ơn chị rối rít rồi mới quay xe ra về.

Lúc này, trời cũng đã sâm sẩm tối.

Kể cả khi đi bằng xe đạp, thì đường từ trạm về doanh trại qua B2 vẫn tốn kha khá thời gian.

- Không về kịp thì anh em đói mất.

- Thằng Quang vừa ra sức đạp vừa lẩm bẩm.

Thế rồi chỉ trong thoáng chốc, nó đi đến một quyết định táo bạo, vòng lên lối qua cầu I6.

Rất nhanh, đầu cầu đã hiện ra trong tầm mắt.

Quang nhủ thầm: "Mong giờ này tụi hắn đang mải ăn cơm...".

Nó guồng chân, cố gắng đạp nhanh nhất có thể.

Cầu I6 cũng chẳng phải quá dài, nhưng hôm nay không hiểu sao thằng Quang có cảm giác mình cứ đạp mãi, đạp mãi mà vẫn chưa đi hết.

Thế rồi ầm một tiếng chói tai, địch bất ngờ khai hỏa, nhắm thẳng về phía cầu I6.

Có đến chục quả bom bi, rơi xuống sông rồi mới phát nổ, làm nước hai bên cầu bắn vọt lên, văng tung toé.

Thằng Quang cúi rạp người xuống, chân vẫn không ngừng đạp.

Một tay nó ghì lấy ghi đông, một tay ôm chặt bao gạo.

Nước tạt ướt cả áo quần tóc tai nó cũng mặc.

Ở phía bên kia, tụi giặc vẫn bắn rát.

Một viên đạn rời khỏi nòng súng, xé gió lao vun vút hướng thẳng về phía Quang...

Mặt trời khuất dần sau rặng cây.

Trời chuyển tối.

Đã quá giờ thổi cơm mà cả đội vẫn không thấy thằng Quang về.

Đội trưởng đứng ở ngưỡng cửa, chốc chốc lại nhìn ra đường, nhưng mãi không thấy bóng dáng đội viên được cử đi lĩnh lương thực đâu.

Hồi chưa có xe, các em đi lấy gạo cũng không quay lại muộn tới mức ấy, đằng này đã có xe mà chạy, cớ sao mãi chẳng thấy về.

Nhớ lại ban nãy anh mới nhận được điện từ Ban Tham mưu, báo rằng địch lại vừa bắn phá cầu I6.

Anh tái mặt, chẳng có lẽ...
 
Trăng Suối Nắng Rừng
Bút, súng và Tổ Quốc


Lưu ý: Những sự kiện được nhắc tới trong chương này không sát 100% với sự thật lịch sử.

____________________________________________________________

Thằng Thịnh, thằng Triết nhận lệnh của đội trưởng đi tìm Quang "bún".

Cũng đoán biết được đại khái tình hình, chúng chạy thẳng theo lối lên cầu I6.

Khi hai đứa tới nới, thằng Quang đương nằm mê man ở giữa cầu, máu chảy thấm cả sang cái áo may ô mới tinh, khô lại đặc quánh.

Viên đạn ban nãy của giặc Pháp may mắn không bắn trúng Quang, nhưng nó cũng bị sức công phá của làn đạn dồn dập hất văng khỏi yên, trán đập vào thành cầu.

Gom chút sức lực còn lại, Quang cố lết về phía chiếc xe.

Nó có vẻ lo cho con "chiến mã" cùng mớ lương thực lĩnh được hơn là chính nó lúc này.

Sau khi chắc chắn rằng cả xe cả gạo vẫn còn nguyên, nó mới nằm gục xuống, rồi ngất lịm đi.

Thịnh "sếu" xốc nách Quang dậy, để nó ngồi ngay ngắn lên xe rồi đạp nhanh về doanh trại.

Thằng Triết vai vác bao gạo, tay cầm túi muối chạy đuổi đằng sau.

Trời tối, chỉ có ánh sáng nhờ nhờ của trăng với vài ánh đèn leo lét hắt ra từ phía những ngôi lầu của tụi Tây.

Quân ta không dám lắp đèn quanh khu vực này vì sợ đánh động, tạo điều kiện cho giặc Pháp bắn phá.

Bất chấp khả năng địch có thể đột ngột nổ súng thêm lần hai, lần ba, thằng Thịnh, thằng Triết vẫn băng đi.

Nếu hỏi chúng có run sợ trước bom đạn không, thì câu trả lời là có.

Nhưng có một điều khiến chúng hãi hùng hơn cả, ấy là viễn cảnh người em, người đồng đội thân thiết chỉ vì một phút chùn chân của chúng mà ra đi mãi mãi.

Ý nghĩ ấy đã thôi thúc chúng tiếp tục chạy về phía trước.

Dù cho có phải hy sinh máu thịt thì chúng vẫn sẽ gắng hết sức mình để hoàn thành nhiệm vụ.

Đội trưởng Nguyễn Thành đón cả ba ở cửa doanh trại, cùng với anh Đức y sĩ.

Tổ quân y đóng cách doanh trại của tụi trinh sát độ hai cây.

Anh Đức nhận được điện của anh Thành lập tức cầm hòm thuốc chạy sang, vừa kịp lúc hai đứa đưa được Quang "bún" về.

Thằng Quang máu chảy lênh láng, nửa tỉnh nửa mê vẫn ú ớ nhắc tới bao gạo túi muối mà nó lĩnh được.

Tới mức đội trưởng phải nắm chặt tay nó trấn an: "Gạo muối vẫn còn nguyên.

Em làm tốt lắm!" thì nó mới chịu nằm yên.

Thằng Thịnh phụ anh Thành đỡ Quang vào buồng nằm, thằng Triết đi sau ôm lương thực, dắt theo cả cái xe đạp.

Nó dựng xe vào đúng chỗ gốc bàng rồi mới mang gạo xuống bếp.

Trong lúc anh Đức kiểm tra vết thương cho thằng Quang, cả đội chia nhau mỗi đứa một tay một chân phụ làm cơm.

Đứa chẻ củi, đứa nhóm lửa, đứa vo gạo, đứa đãi lạc..., phối hợp nhanh nhẹn nhịp nhàng.

Chẳng mấy chốc, một nồi cơm trắng nóng hổi đầy kênh vung đã được bê lên, thêm đĩa muối vừng, đĩa trứng kho với bát canh rau nhạt.

Thời chiến, có một mâm cơm như thế đã là quý lắm.

Phần ăn tối của đội đã chuẩn bị xong xuôi, nhưng Ngọc vẫn nấu thêm một nồi cháo loãng, đập vào đấy ít trứng, ít hành, phòng khi Quang "bún" đau nặng không ăn cơm được thì còn có chút cháo nóng bỏ bụng.

Trong buồng, anh Đức tỉ mỉ giúp Quang xử lý vết thương, rửa qua bằng cồn rồi băng lại để tránh nhiễm trùng.

Chấn thương của thằng Quang rất may không quá nghiêm trọng.

Nhưng nó mất máu nhiều, cộng thêm bị nhiễm lạnh nên vẫn mê man chưa tỉnh.

Đội trưởng ngồi lại canh nó, còn anh Đức thì được Khải với Nhật tiễn ra tới cửa.

Cả hai không quên gửi anh một phần trứng kho: "Trứng của dân tiếp tế, ngon lắm.

Anh cầm về cho tổ quân y một ít.".

Anh Đức đã định từ chối, nhưng hai em nài quá anh đành nhận lấy rồi tất tả ra về.

Bữa cơm hôm ấy của đội trinh sát diễn ra trong không khí trầm lắng.

Không còn tiếng cười đùa, nói chuyện rôm rả như những buổi trước.

Đứa nào cũng cúi đầu, chăm chú và cơm như thể đói lắm.

Anh Thành bước vào phòng đúng lúc nhìn thấy cảnh ấy.

Anh hiểu tận mắt chứng kiến đồng đội mình bị thương là một việc đau buồn tới nhường nào, đặc biệt là khi các em vẫn còn là những đứa trẻ.

Là một người đội trưởng, anh biết nhiệm vụ của mình là nhanh chóng xốc lại tinh thần của những chiến sĩ nhỏ tuổi này.

Anh gọi các em vào phòng làm việc, lấy từ trong ngăn kéo ra một mảnh lựu đạn chỉ to bằng hai đốt ngón tay:

- Có những người, tuổi xuân của họ gắn liền với mùa xuân của đất nước...

Dưới ánh sáng tù mù của ngọn đèn bão, anh thấp giọng kể lại một câu chuyện mà chính bản thân đã trải qua.

Đội trưởng Nguyễn Thành năm đó mới chỉ là cậu học sinh trường Bưởi.

Cả Bắc Kỳ khi ấy chỉ có trường Bưởi là Lycée dành cho học sinh An Nam.

Nơi đây được gọi là cái nôi của lớp trí thức trẻ người Việt, đậu vào trường vào thời điểm này được coi như một niềm vinh dự lớn lao.

Tên chính gốc do Toàn quyền Đông Dương đặt là Collège du Protectorat- Trường Thành chung Bảo hộ, sau nâng cấp thành Lycée du Protectorat tức Trường Trung học Bảo hộ.

Vì không muốn thừa nhận mục đích đào tạo thể hiện ngay trong cái danh ấy, một cậu học trò đã gọi trường là trường Bưởi.

Về sau bè bạn, rồi nhân dân làm theo, cứ gọi mãi rồi cũng thành quen, cũng để một phần thể hiện tinh thần phản kháng lại người Pháp.

"...Trong lòng ta hằng cháy bỏng một ước mơ

Bàn tay cầm bút vẫn giương cao cây súng

Để bảo vệ hoà bình Tổ Quốc ta

Nguyện hiến dâng máu thịt oai hùng

Trái tim còn đập, máu còn chảy là còn chiến đấu..."

Ấy là bài hát mà biết bao thế hệ học trò trường Bưởi đều thuộc.

Khoảng thời gian cuối năm 1931, cách mạng nước ta bước vào thời kì vô cùng khó khăn, rất nhiều học sinh tình nguyện "xếp bút nghiên", trở thành chiến sĩ cộng sản.

Cậu học trò Đinh Hoàng cũng không phải ngoại lệ.

Hoàng, không ai khác chính là người đã tiên phong gọi trường bằng cái tên Bưởi, cũng là người sáng tác bài hát "Bút, súng và Tổ Quốc".

Nguyễn Thành là bạn cùng lớp với Đinh Hoàng, cả hai đã hẹn nhau sẽ cùng lên đường bảo vệ đất nước, giành lại độc lập.

Tuy nhiên, tụi Tây cũng là những tên cáo già.

Chúng rất nhanh đã đánh hơi được âm mưu của đám học trò An Nam nên thẳng tay đàn áp bằng những hình thức cực kỳ tàn bạo.

Chúng nghiêm cấm việc lưu hành bài hát của Đinh Hoàng, ai dám làm trái sẽ xử bắn tại chỗ.

Không chịu khuất phục, Hoàng và Thành cùng nhiều người bạn khác vẫn ngầm thực hiện những buổi tuyên truyền, cũng như tổ chức học tập rèn luyện tư tưởng chính trị cho học sinh trong và ngoài trường.

Những hoạt động như thế, diễn ra đều đặn trong mấy tháng trời.

Toàn phải bí mật mà làm, địa điểm và mật hiệu thay đổi liên tục để giặc khó mà lần theo.

Đáng tiếc thay cuối cùng chúng cũng phát hiện ra.

Một toán lính Pháp ập vào giữa lúc Hoàng đang diễn thuyết về tầm quan trọng của Đảng và Bác Hồ.

Hơn năm chục học sinh có mặt khi ấy đều bị bọn chúng trói lại giải đi.

Riêng Đinh Hoàng, chúng chĩa súng vào thái dương, ý đồ bắn chết ngay tại đó.

Thế nhưng cậu học trò trường Bưởi không hề run sợ, nhanh tay rút chốt an toàn quả lựu đạn đã thủ sẵn.

Lựu đạn nổ, Đinh Hoàng hy sinh, kéo theo những tên lính Pháp còn lại.

Nguyễn Thành, may mắn tránh khỏi cuộc vây bắt của địch vì đi giải quyết công vụ với thầy giáo, khi chạy tới tìm bạn thì tất cả những gì còn sót lại chỉ là máu tươi, thịt vụn và vài mảnh lựu đạn.

- Hoàng đã ra đi một cách đầy anh dũng.

- Đội trưởng đưa mắt nhìn toàn đội đầy âu yếm, chậm rãi kết thúc câu chuyện.

- "Hiến dâng máu thịt oai hùng" đúng như bài hát anh đã viết.

Khải "vàng anh" không biết từ bao giờ đã ôm cây guitar, dạo những nốt nhạc đầu tiên.

Nhật cất giọng hát trước, trầm ấm và hào hùng.

Rồi một người lại thêm một người, cuối cùng cả đội trưởng Nguyễn Thành cũng hát theo.

Bài hát "Bút, súng và Tổ Quốc" của một người học trò, một người lính kiên trung bất khuất.

"...Bàn tay cầm bút vẫn giương cao lá cờ

Để ghi dấu độc lập toàn dân tộc

Nguyện hy sinh một đời tuổi trẻ

Đôi chân chưa mỏi, sức chưa tàn là còn đấu tranh..."
 
Trăng Suối Nắng Rừng
Ngoài lề


Đinh Hoàng, không ai khác chính là người đã tiên phong gọi trường bằng cái tên Bưởi, cũng là người sáng tác bài hát "Bút, súng và Tổ Quốc".
 
Trăng Suối Nắng Rừng
Thương


Chuyện thằng Dương thương cái Hải Anh ở đội Thiếu nữ Tiền phong ba chục anh em bên trinh sát biết cả.

Dương với Hải Anh đều là người Nghệ An, đất học đấy.

Hai đứa trạc tuổi nhau, chơi với nhau từ tấm bé.

Làng chúng nó bị lũ quỷ Tây đốt rụi nên thằng Dương quyết tâm theo kháng chiến để phục thù.

Cái Hải Anh cũng nhất quyết xin theo, khổ nỗi là con gái nên mẹ nó ngăn dữ lắm.

Nhưng được độ mấy tháng, nó trốn nhà, nhảy lên chuyến tàu chở bộ đội bổ sung từ trong Nam ra.

Nó trốn cũng tài, tàu chạy đến tận Thái Bình các anh mới phát hiện.

Đơn vị đã định cử người đưa nó về nhà, nhưng nó cứ níu vạt áo các anh mà nức nở xin được đi đánh giặc.

Tàu tạm dừng, các anh cũng biết là không dẫn Hải Anh theo được, nên sắp xếp cho nó vào đội dân quân tự vệ vừa thành lập ở một xã gần nhà ga.

Về sau nó gia nhập đội Tiền phong, theo đội lên đóng ở khu C5.

Hai đứa gặp lại nhau ở đấy.

Khi đó Dương vẫn là liên lạc của tiểu đoàn 127 đóng ngay rìa khu C4.

Chiều thứ bảy, thằng Dương như thường lệ chuyển công văn giấy tờ sang C5 cho Uỷ ban.

Lúc về lại gặp đội Tiền phong đang tổ chức văn nghệ.

Các bạn nữ nhất định kéo bạn trai chiến sĩ lên kể chuyện đánh giặc.

Tụi con gái trong đội thấy có bạn nam mặt mũi sáng sủa bước vào thì vui mừng ra mặt.

Cả bọn kéo nhau ra vây quanh Dương, cứ vừa nói đùa vừa cười rúc rích.

Thế mà có đứa đứng nép sau cánh cửa, tách biệt hẳn khỏi chúng bạn, lúc thì mân mê cái cúc áo lúc lại vuốt vuốt bím tóc.

Con bé ấy không ai khác, chính là cái Hải Anh.

Chị Ngân đội phó để ý nó cứ bẽn lẽn khác hẳn ngày thường thì trêu:

- Bữa ni nàng Kiều của tui răng lại nhẹ nhàng thục nữ rứa!

- Chị vừa nói vừa kéo tay nó lại đứng ngay trước mặt thằng Dương.

- Anh bộ đội mà mi vẫn hay nhắc đây ni.

Cái Hải Anh lúc ấy đã lớn lắm, ra dáng thiếu nữ lắm rồi.

Nhưng thằng Dương chỉ cần nhìn thoáng qua cái là nhận ra ngay.

Dương kéo Hải Anh vào một cái ôm thật chặt, làm mặt con bé đỏ bừng còn chị em thì ồ lên.

Có đứa con gái, vốn tính bạo dạn, kéo kéo tay áo Dương mà nháy mắt:

- Anh bộ đội ôm chị Hải Anh xong thì ôm em với.

Tức thì, cả chục cái miệng nhao nhao:

- Xong đến em nha anh!

- Em nữa anh hen!

Bây giờ đến phiên thằng Dương phát ngại.

Vàng tai cậu chàng đỏ bừng lên còn hai tay thì luống cuống không biết làm sao cho phải.

Cũng phải loay hoay mãi Dương mới tìm cách chuồn đi được.

Sau đấy độ một tuần thì Dương chuyển sang đội trinh sát.

Hai đứa vẫn thư từ qua lại thường xuyên.

Cậu chàng sợ đồng đội biết, toàn canh đến nửa đêm mới lén chạy ra sau doanh trại viết thư.

Thế nhưng hành động ấy làm sao qua mắt được lũ trai trinh sát.

Anh em rình bắt quả tang ngay lúc cậu đang mải mê "viết thơ tặng nàng".

Nội dung bài thơ ấy, cả đội lâu lâu vẫn lấy ra trêu thằng Dương, làm cậu chàng vừa tức vừa ngượng mà chẳng làm gì được.

Chẳng làm gì được bởi lẽ dù ngoài miệng thì trêu chọc là thế, nhưng anh em, bằng cách này hay cách khác, vẫn nhiệt tình ủng hộ và giúp đỡ cậu.

Tiểu đội trưởng Khải "vàng anh" ngồi cặm cụi mấy đêm liền, sáng tác hẳn một bài nhạc để Dương tặng Hải Anh.

Thằng Thịnh đi làm nhiệm vụ cầm về một cái lược gỗ có khắc bông hoa dúi vào tay Dương: "Cho mày đem tặng bạn gái!".

Rồi thằng Tuấn, thằng Long thi nhau viết văn, viết thơ.

Chúng nó đùa nhau rằng cứ làm lấy vài bài dự phòng để nhỡ thằng Dương có bận công bận việc quá thì vẫn có cái gửi cho nàng.

Cái tình, cái nghĩa giữa những người đồng chí đồng đội là đấy chứ đâu.

Thế nhưng, chuyện cái Hải Anh thương thằng Dương bên trinh sát, thì không phải thành viên nào của đội Tiền phong cũng biết.

Cũng như cái lần trốn nhà, trốn các anh bộ đội trên tàu, Hải Anh có cách che giấu tài tình bí mật nào đấy, nên phải mãi về sau chị em cùng đội mới phát hiện ra.

Người đầu tiên biết chuyện là chị Khả Ngân đội phó.

Chị Ngân là o gái đất Huế, dịu dàng đằm thắm.

Tối tối cái Hải Anh vẫn thường nằm ngủ cạnh chị.

Nó thích vùi đầu vào mái tóc đen nhánh xõa dài của chị Ngân, hít hà mùi bồ kết lẫn với mùi hoa gì thơm lắm mà nó hỏi chị chẳng chịu nói.

Chị Ngân biết vì chị vốn tinh tế, hay để ý chăm lo cho các em từ những điều nhỏ nhặt nhất.

Chị từ lâu đã hiểu Hải Anh có một mối quan tâm đặc biệt dành cho các chiến sĩ trong màu áo quân phục.

"Tại làng em hồi nớ cũng có anh bộ đội ni anh dũng lắm", ấy là nó bảo với chị như vậy.

Chị cũng tinh ý nhận ra những cử chỉ ngượng nghịu trái hẳn với bản tính vốn có của nó hôm Dương xuất hiện ở đội.

Lúc ấy, chị đã hiểu ngay "anh bộ đội làng em" không phải ai xa lạ ngoài thằng Dương.

Chị chẳng ngăn cấm, chị chỉ thương chúng nó.

Thời chiến mà, nay đây mai đó, chẳng thể nào biết trước được điều gì.

Có thể hôm nay vẫn còn tràn đầy ý chí mà hăm hở lên đường, hôm sau đã nằm lại với đất mẹ, thậm chí còn chẳng có nổi một nấm mồ tử tế.

Mà người ở lại, dẫu đau xé ruột xé gan đấy, vẫn buộc phải đứng lên mà đi tiếp, nào có được dừng lại.

Súng đạn không có mắt, nó chẳng nương tay với tình yêu đâu.

Mà, nó có bao giờ nương tay với bất cứ kẻ nào đâu.

Nó cứ thế, giết sạch, phá sạch, hả hê!

______________________________________________________________________

Thực ra chương này mình đã đăng lên, nhưng rồi lại xoá đi để giữ sự liên kết cho mạch truyện.

Mình cũng đã viết tiếp đoạn sau cho đầy đủ hơn.

Rất cảm ơn sự ủng hộ của mọi người với "Trăng suối nắng rừng" :3
 
Back
Top Bottom