Cập nhật mới

Khác Trăng Nhàn.

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,495
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
279734697-256-k729835.jpg

Trăng Nhàn.
Tác giả: chichichioe
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

-

Tác giả: Chuyết Hiên.

-

Thể loại: viễn tưởng, có yếu tố lịch sử, lãng mạn, gia đình.

- Bối cảnh: trải dài từ cuối thời Thái Tông đến đầu thời Nhân Tông, trải dài qua ba cuộc chiến chống quân Nguyên Mông.

- Lưu ý: Truyện dựa vào trí tưởng tượng của tác giả, sử dụng bối cảnh, nhân vật và sự kiện lịch sử nhưng tuyệt đối không đánh đồng với chính sử.

- Tài liệu tham khảo:
Đại Việt Sử Kí Toàn Thư.

Việt Nam Sử Lược.

Đại Việt Sử Kí Tiền Biên.

Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục.

Tư tưởng Việt Nam thời Trần.

Thuyết Trần Sử Nhà Trần.
... và nhiều nguồn nhỏ lẻ khác.



vietnam​
 
Trăng Nhàn.
1. Sương


Tuổi thơ của cô năm, chỉ hai chữ, trớ trêu.

Nàng sinh ra khi thầy đã không còn là Hiển Hoàng, cũng chẳng còn là Phụng Càn Vương cao cao tại thượng.

Khi ấy thầy chỉ là một An Sinh Vương nhỏ nhoi bị quản thúc tại thái ấp, không quyền cũng chẳng thế.

Đúng như cái tên An Sinh, an ổn mà sống, thường thường lên núi chặt củi, xuống sông bắt cá, ra vườn trồng rau cho qua ngày.

Thầy an phận làm một thân vương nhàn hạ nhưng chỉ có người trong nhà mới biết, tâm của thầy không nhàn như cái vẻ bề ngoài ấy.

Sẽ có những đêm thầy trầm mình vào men say; cũng có những ngày thầy kêu mẹ chuẩn bị một mâm cơm lớn, bày cả tá chum rượu rồi thơ thẩn ngồi nói chuyện một mình.

Những lúc ấy nàng tò mò, hỏi mẹ vì sao thầy lại một mình ăn một mân cơm lớn như vậy, mẹ chỉ nói, thầy đang ôn chuyện cùng cố nhân.

Lúc đó nàng không hiểu cố nhân của thầy là ai, sau này mới biết, hoá ra, đó là những người đã vì lòng tự tôn cùng cái nông nổi của thầy mà máu nhuộm đỏ dòng sông Cái.

Anh chị em trong nhà cũng cũng được coi là đông đúc.

Vậy nên thầy luôn ở cạnh nhắc nhở, em thuận anh hoà là nhà có phúc, đã là người một nhà thì phải hoà thuận, có gì đóng cửa bảo nhau.

Nghe lời thầy dạy, mọi người đều hết mực thương yêu hoà hợp.

Nàng cứ nghĩ thầy chỉ đơn giản hy vọng mọi người chăm sóc lẫn nhau, lớn rồi em mới thực sự hiểu vì sao thầy lại nhắc đi nhắc lại, dạy đi dạy lại cái đạo lý anh em bát máu bẻ đôi ấy.

Vì thầy nhìn đủ rồi, trải cũng trải rồi, thầy cùng người em trai nọ đã từng thân thiết, hoà hợp lắm đấy.

Khi xưa chưa nến hương vị hoàng quyền thì đồng lòng đồng dạ, anh em liền tay liền chân; sau này rồi, vì ngai vàng, vì hai chữ quyền lực mà chẳng còn liên lạc.

Cũng bởi vậy nên thầy hy vọng anh em nhà Thiều đừng vì bất kì điều gì mà sứt mẻ.

.

Sương đêm vẫn lảng bảng trong góc sân nhỏ, bao phủ lên cảnh vật một màn dày mờ ảo.

Từng giọt sương trườn qua kẽ lá, rơi xuống tạo thành từng vết hằn trên nền đất lạnh.

Mặt trời vẫn chưa lên núi, quang cảnh như còn vấn vương màn đêm nên chưa chịu chuẩn bị cho một ngày mới sắp đến.

Tiết trời cuối thu đầu đông vô cùng nịnh lòng người, đã vãn đi cái oi ả của mùa hạ, vẫn chưa đến cái lạnh cắt da cắt thịt của mùa đông, chỉ thoang thoảng se se.

Cô năm khoan khoái khoác một tấm áo mỏng rồi hoà mình vào màn sương, theo thói quen, nàng lọ mọ đi đến chỗ cậu cả để nghe anh tụng kinh sớm.

Nàng đẩy cửa bước vào, khoanh chân ngồi cạnh, lặng im chờ đợi.

Không biết đã qua bao lâu, tiếng tụng kinh đều đều du dương đưa nàng dần chìm vào giấc ngủ, lúc choàng tỉnh giấc thì đã thấy anh đang yên tĩnh ngồi thiền, trên người nàng cũng được đắp thêm chiếc áo vải thô.

"Tỉnh rồi?

Trời lạnh thì cứ ngủ trong chăn, đến chỗ anh lại phá ngang giấc ngủ."

Nàng vươn vai ngáp lớn một cái, lấy tay dụi mắt rồi đặt tấm áo của anh sang một bên.

"Em thích nghe anh tụng kinh."

Cậu cả bật cười, tay vươn tới đóng cuốn kinh Phật.

Chàng hít một hơi sâu như để cảm nhận rõ thêm cái không khí sảng khoái của buổi sáng sớm.

Cũng như bao buổi sáng khác, thoáng trong không gian là tiếng đao kiếm chém vào tấm gỗ già cùng hương thơm nức của nồi cơm chín, xen lẫn cái mùi khen khét của bùi nhùi rơm khô.

Cậu cả vươn người, khoan khoái,

"Ăn cơm thôi, đói lắm rồi!"

Băng qua từng dãy nhà, tiện đường rẽ qua sân sau, cậu ngó đầu vào chiếc sân bé, liếc mắt nhìn người thiếu niên đang chú tâm đứng tấn, thở dài, rồi lại lặng lẽ rời đi.

Người thiếu niên ấy là cậu hai.

Ngay từ khi còn tấm bé, cậu đã được ông thầy tướng số phán là có tướng đại phú đại quý, sau này nhất định sẽ kinh bang tế thế, tung hoàng khắp thiên hạ.

Nghe được cái lời ấy, vương ông đặt rất nhiều kì vọng vào cậu, bao nhiêu người giỏi trong thiên hạ ông đều mời đến phủ để dạy bảo; kinh nghiệm rồi kiến thức của ông, ông đều truyền cho cậu cả.

Cậu hai biết thầy hết lòng mong cậu thành tài nên đều nghe theo, lúc nào cũng gồng mình gắng sức.

Những việc lặt vặt thường ngày mọi người trong nhà đều tranh lấy giúp đỡ để cậu chuyên tâm học tập đền đáp tâm huyết cùng mong mỏi của vương ông.

Vừa bước vào căn bếp, cậu cả đã lớn giọng: "Hôm nay cô cả thổi cơm thơm quá, chắc đêm qua ngủ được giấc nên hôm nay cả nhà mới có một nồi cơm ngon!"

Cô cả Huân xới nắm cơm vào tấm mo cau khô rồi đặt sang bên cạnh, chờ cho hơi nóng nhả hết.

Xong cô lại xới cho cậu cả và cô năm mỗi người một bát cơm, rắc lên trên chút hạt vừng rang trộn muối, cô lườm nguýt,

"Thế thường ngày cơm em thổi không ngon chắc?"

Cậu cả cười trừ, đón lấy bát cơm nóng hổi.

Nàng cũng bắt chước anh, tay với lấy bát cơm.

"Thiều ăn chậm thôi không nóng, cứ chờ đấy chút chị thổi cho..."

Cô cả bận rộn gói ghém lại mo cơm rồi lại cầm cái đũa cả đảo đảo nồi cơm trên bếp cho tơi.

Cô hướng mặt về phía anh cả, hỏi: "Hôm nay thầy lên núi đốn củi, anh có theo thầy không để em gói thêm mo cơm?"

"Tuấn theo thầy đấy, hôm nay anh xuống huyện mua bó hương, nhà hết hương rồi."

Cậu xắn một miếng cơm cho vào miệng, nhồm ngoàm nhai rồi mới tiếp: "Cô cũng gói cho anh một nắm đi, nhỡ anh không về kịp còn có thứ để ăn trên đường."

Cô cả nghe vậy lập tức lấy thêm mấy tấm mo cau, tay thoăn thoắt gói thêm vài gói.

"Thế anh phải đi từ sớm chứ sao còn ở đây?

Đến đấy chợ tan rồi thì mua bán với ai?"

"Anh hẹn với người ta rồi, cô cứ nghĩ một mình cô khôn đấy!"

Nhưng hôm ấy vương ông và cậu hai không lên núi đốn củi, cậu cả cũng chẳng xuống huyện mua hương.

Khi vương ông cùng cậu hai chuẩn bị xách đồ lên thì một người đàn bà ăn vận tươm tất lại phủ.

Cô năm nhỏ tuổi, ngày của nàng cũng chỉ quẩn quanh trong thái ấp An Sinh nên chưa được gặp nhiều người.

Đó là lần đầu tiên nàng được nhìn thấy người đàn bà quý phái đến vậy.

Người ấy tuy đứng tuổi, nhan sắc cũng đã nhuốm màu thời gian, dù thế nào thì sức trẻ của tuổi xuân cũng không thể sánh bằng phu nhân, nhưng cái ngạo khí của bà thì tuyệt đối không thể xem thường.

Cũng phải nói đến người đẹp vì lụa, tấm áo gấm người đàn bà mặc quả thực vô cùng lộng lẫy, chí ít, đó là loại gấm đẹp nhất mà nàng từng thấy.

Phu nhân thấy người đàn bà thì đơ người một lúc mới hoàn hồn để bắt đầu bưng trầu pha trà, nhưng cô năm nhận ra, hình như, thầy không hề hoan nghênh người này.

Vương ông kêu tất cả xuống gian sau, nhà trên chỉ còn mỗi thầy, phu nhân và cậu cả ở lại tiếp khách.

Sau một hồi không thấy động tĩnh, cô năm bỗng dâng lên cảm giác lo lắng khó lý giải.

Nàng nắm chặt lấy cái thường của cô cả như tìm kiếm sự an toàn.

"Không việc gì, có chị ở đây!"

Cô cả cố gắng trấn an em nhưng có lẽ thâm tâm nàng cũng dâng lên vài phần lo toan.

Nàng đánh mắt nhìn về phía đứa em trai, tuy cậu hai hiên ngang đứng đó, ánh mắt chàng cũng đã dao động.

Cô cả và cậu hai không còn là trẻ con, hai người đều đã đến tuổi hiểu chuyện, nỗi lo trong lòng họ không hề bâng quơ như cái sợ hãi của cô năm.

Hai người đều biết người đàn bà ấy là ai, họ cũng đủ thông minh để đoán được sự hiện diện của người ấy tại đây không hề đơn giản.

Được một lúc, cuối cùng cậu cả cũng đẩy cửa bước vào.

Cậu nặng nề lắc đầu rồi ngao ngán liếc qua chỗ cậu hai và cô năm.

Hôm ấy có hai đứa trẻ phải rời xa thầy mẹ, lên kinh sư làm "con tin" cho những kẻ cùng máu nhưng tanh lòng ngoài kia.

Trước khi cô năm bị bế lên xe ngựa, cô cả vội vã dúi vào tay nàng cái mo cơm buổi sáng.

Nàng nằm gọn trong lòng anh trai, cầm trên tay nắm cơm mà thút thít khóc.

Cậu hai nghe thấy từng tiếng nấc của đứa em cũng chẳng biết làm gì hơn, chỉ có thể lặng im vỗ về nàng.

Cô năm không nỡ xa thầy mẹ một phần, phần khác, nàng còn tiếc cái tiếng tụng kinh của anh Tung, hương khói thổi cơm thân thuộc của chị Huân, tiếng đàn tranh của chị Túc, hương hoa thơm phức của chị Tâm và những lúc trêu đùa cùng chị Ân.

...

Cô năm đứng sau tấm màn trướng, đôi mắt vô hồn nhìn vào phía khoảng không.

Giờ đang là giữa chiều nhưng căn phòng đóng kín cửa khiến ánh sáng không thể trót lọt.

Những gì nàng cảm nhận được chỉ là sự lạnh lẽo của từng toán khí toả lên từ mặt đất.

Bên ngoài kia có hai người phụ nữ một đứng tuổi, một xuân xanh đang tranh luận qua lại.

Nàng không muốn nghe những lời cãi vã ấy nhưng từng tiếng nói vẫn đập thẳng vào lỗ tai nàng.

"Dù sao Thiều cũng là cháu nội của tiên thượng hoàng, là cháu ruột của quan gia, ít nhất cũng nên phong cho con bé tước công chúa!"

"Không cần thiết, cứ để nó đến Quốc học viện là được."

"Lý đâu lại vậy?

Đứa con gái của cậu ba cũng được phong làm Phụng Dương công chúa, cớ sao Thiều lại không được sắc phong?

Phong cho con bé một cái tước hiệu khó khăn vậy sao?

Nó vào Quốc học viện cùng con em quý tộc thì cũng phải bằng bạn bằng bé chứ?"

"Ai cũng biết Thiều là cháu gái của quan gia, như vậy là đủ rồi.

Thánh ý của quan gia, cháu đừng cố đoán!"

"Ý của quan gia?

Ý của anh ấy hay là ý của một người nào đó?"

Thuỵ Bà đập mạnh tay xuống mặt bàn, lớn giọng.

Bà quốc mẫu giật mình, ngỡ ngàng nhìn đứa cháu gái đang tức giận đến tột độ.

Bà chưa kịp cất tiếng thì Thuỵ Bà đã lập tức nói chen vào "Cháu không cần biết các người tính toán mưu lợi chuyện gì, cháu chỉ biết Tuấn và Thiều là con của bác cả, là cháu ruột của Thuỵ Bà cháu.

Cháu cũng chẳng muốn hiểu vì sao các người lôi hai đứa nó lên đây nhưng cháu nói cho cô biết, cháu tuyệt đối không để hai đứa chịu thiệt thòi!"

Thuỵ Bà đứng phắt dậy, tiến gần đến tấm màn trướng kéo tay Thiều đi.

Nàng cũng lẽo đẽo sau lưng người cô ruột.

Trên xe ngựa, Thuỵ Bà ôm lấy nàng, rơi giọt nước mắt,

"Tước hiệu ư?

Từ khi có được cái tước "công chúa" đến giờ, ta chẳng lúc nào là vui vẻ.

Công chúa mà như chị Ngoạn Thiềm, một thân đi vào hang cọp rồi bỏ mạng trong loạn lạc.

Công chúa mà như ta, chồng mất giữa máu lửa của cuộc nội chiến, đến xác còn chẳng thể tìm lại mà an táng.

Hoàng tộc ư?

Hoàng tộc mà anh em ruột thịt thề nguyền cả đời không nhìn mặt nhau.

Mất mát như thế có đáng hay không?"

***

[2] Lục nghệ bao gồm lễ, nhạc, xạ , ngự, thư, số, là các môn nghệ thuật một người nam tử phải thông tuệ.

Những người đàn ông xuất sắc trong sáu nghệ thuật này được cho là đã đạt đến trạng thái hoàn hảo, gọi là một quân tử.

Lục nghệ đứng cạnh tứ kì của nữ nhân gồm cầm, kì, thi, hoạ.

[*] Kiến giải cách xưng hô, có thể hơi loạn.

Chi Thái Tổ Trần Thừa:

Anh cả: Khâm Minh Trần Liễu (An Sinh vương).

Anh hai: Thái Tông Trần Cảnh.

Anh ba: Khâm Thiên Trần Nhật Hiệu.

Chị cả: Ngoạm Thiềm.

Chị hai: Thuỵ Bà.

Chi Trần Liễu:

Anh cả: Hưng Ninh Trần Tung (Tuệ Trung thượng sĩ).

Chị cả: Trần Thị Huân, con gái cả, em của Tung, chị của Tuấn.

Anh hai: Hưng Đạo Trần Quốc Tuấn.

Anh ba: Vũ Thành Trần Doãn, con trai thứ ba, đích trưởng tử, con của công chúa Thuận Thiên.

Anh tư: Trần Tử Đức, con nuôi, con của tướng Trần Hiến, thuộc tướng của Trần Liễu bị chém đầu trong trận loạn sông Cái.

Chị hai: Trần Ý Ninh, con nuôi, em gái ruột của Trần Tử Đức.

Chị ba: Trần Thị Trúc, con gái thứ ba, mẹ thân sinh là thiếp thất.

Chị tư: Trần Thị Trân, con gái thứ tư, mẹ thân sinh là Thiện Đạo phu nhân.

Cô năm: Thiên Cảm Trần Thị Thiều, con gái thứ năm, mẹ thân sinh là Thiện Đạo phu nhân.

* Thiều là con gái thứ năm, trước nàng còn có 4 chị gái khác.

Chi Trần Cảnh:

Anh cả: Tĩnh Quốc Trần Quốc Khang (con Trần Liễu).

Anh hai: Thánh Tông Trần Hoảng.

Anh ba: Chiêu Minh Trần Quang Khải.

Chị cả: Thiên Thành công chúa.

Chị hai: Thiều Dương công chúa.

Chị ba: Thuỵ Bảo công chúa.
 
Trăng Nhàn.
2. Xuân


Cả một năm trời cậu Hai và cô Năm ở trên kinh sư, chỉ duy có Trung Thu và Tết thì được về lại Yên Sinh.

Tết năm nay hai cô cậu sớm đã khăn gói về nhà, âu cũng vì bệnh tình của vương ông có phần nghiêm trọng.

Tết đến xuân về đáng lẽ là dịp náo nhiệt nhất trong năm nhưng vương ông đổ bệnh, thái ấp Yên Sinh cũng tối giản mọi thứ.

Không chữ hỷ, câu đối đỏ, duy nhất chỉ có cành đào bích khiêm tốn cùng mâm ngũ quả chỉnh chu đặt trên bàn thờ gia tiên.

Quay đi quẩn lại đã qua mùng bốn.

Phu nhân đã sớm cho hoá vàng tống tết từ mùng ba để không phải lích kích làm cơm mỗi sáng.

Phu nhân nghe đồn có thầy bói Tử Vi ở chợ huyện phán rất chuẩn.

Bà học Phật, cũng thường xuyên tụng kinh cầu bình an cho ông, nhưng sức khoẻ vương ông ngày một yếu đi, bà lo ông không qua khỏi nên vừa tống tết đã kêu cô cả Huân đi nghe cùng.

Cô Năm nghe mẹ cùng chị xuống núi nên nằng nặc Năm đi theo.

Phu nhân thương nàng cả năm trên kinh sư, từ khi nàng về nhà việc gì cũng chiều nàng.

Nay nàng muốn đi theo, bà cũng phủi tay đồng ý.

Ông thầy ngồi trên sạp tre, trước mặt là lá số ông đã kỳ công kẻ hơn một tuần hương.

Mưa ngoài trời lâm râm, quyện thêm cả hương mùi già ngai ngái đặc trưng mấy ngày Tết.

Gian sạp của ông thầy không quá lớn, lọt thỏm phía sau chợ huyện tấp nập.

Sau một lúc trầm ngâm, ông chỉ lắc đầu ngao ngán:

"Năm nay vương ông có đại hạn về sức khỏe, rất xấu.

Hạn này nặng lắm, nếu xung hỷ thì có lẽ xua đi bệnh chướng chăng?"

Cô cả nghe vậy thì hướng mắt nhìn sang phu nhân, xung hỷ, người trong nhà cần thành thân nhất lúc này chỉ có mỗi cậu Hai Quốc Tuấn.

Vương ông luôn đau đáu chuyện thành gia lập thất cho cậu, nhiều lần bàn chuyện hôn sự nhưng đều bị cậu phủi tay từ chối.

Cô Năm nghe ông thầy phán vậy, lại nhìn đến ánh mắt của cô cả và phu nhân, đầu nàng lập tức nghĩ đến anh Hai.

Nàng và anh Hai ở trên kinh sư cùng nhau, bạn bè thân hữu của anh, nàng là người nắm rõ nhất.

Chuyện giữa anh và công chúa Thiên Thành, trong nhà chỉ mình nàng biết.

Nàng bấm bụng phải báo ngay với anh khi về nhà.

Xong rồi ông thầy nhìn về phía nàng, trầm ngâm hồi lâu.

Thấy ông thầy cứ như có điều muốn nói, phu nhân lập tức nói ngay,

"Ngũ nương nhà tôi sinh vào tiết lập đông, ngày Bính Dần, tháng Giáp Thân, năm Giáp Thìn, vào cuối giờ Hợi.

Thầy kẻ cho ngũ nương xem năm nào thì lấy chồng"

Ông thầy nghe vậy cũng hì hục kẻ kẻ viết viết, sau một hồi thì đọc ra một tràng.

Nàng không nhớ gì nhiều, chỉ nhớ tóm gọi đại ý như,

"Con gái bà có cách cục Nguyệt Lãng Thiên Môn, thông minh, khéo léo, lại có Xương Khúc Khoa Lộc, cả đời an nhàn, không thích tranh đua nên ít phải trải qua sóng gió.

Mệnh định là quý nữ nhưng có số phải lấy con trưởng, dù chồng không phải trưởng tử thì cũng như là trưởng tử trong nhà.

Lấy chồng, chắc cũng không lâu nữa đâu..."

.

Lơ đãng bước chân lên xe ngựa, nàng giật mình bởi tiếng nói của mẹ,

"Mùng tám con với Tuấn phải lên kinh sư rồi.

Mẹ đi mua cho Tuấn cái khăn, con muốn mua vải vóc hay đồ đạc gì không?"

Ngẫm nghĩ một hồi, nàng cũng muốn mua vài món đồ lặt vặt.

Thực chất nàng chỉ muốn lẽo đẽo theo mẹ và chị đi chợ xuân như thuở còn bé thơ.

Cái cảm giác được mẹ tận tay chọn lọc, được chị cẩn thận gói gắm luôn là cơn gió xuân ấm áp nhất trong lòng nàng.

Dù ham chơi là vậy nhưng cô Năm không quên nhiệm vụ phải về sớm báo tin cho cậu hai.

Đi một vòng chợ huyện, nàng giục phu nhân nhanh chóng về nhà.

Vừa về đến cửa phủ, nàng vội vã nhảy xuống xe ngựa, chân ướt chân ráo muốn chạy về phía gian phòng của anh Hai.

Chỉ vừa chạm một chân xuống, phu nhân gằn giọng, quở,

"Hãm đã!

Con gái con đứa sắp đến tuổi thiếu nữ rồi mà không biết ý tứ gì cả.

Thế này thì có mà lấy được chồng!"

Cô Năm vội đi tìm anh nên vừa chạy vừa lèo nhèo,

"Cùng lắm con tìm một người ở rể, cả đời ở cạnh mẹ là được rồi!"

.

Chỉ còn vài ngày nữa phải lên kinh sư, cô Năm lúi húi mang chăn gối qua gian của phu nhân để ngủ cùng mẹ.

Nàng sợ đi xa rồi sẽ nhớ hơi bà.

Nàng là con gái út trong nhà nên trước giờ vẫn được phu nhân chiều chuộng nhất.

Út ít mà phải đi xa nên bà lại càng thiên vị hơn.

Nàng phát hiện, anh cả, chị cả và anh Hai cũng đều đang ở trong gian buồng của mẹ.

Tò mò, nàng đứng ngoài nghe xem cả nhà đang luận bàn điều chi.

"Con đừng có bén mảng đến thưa với thầy!

Con còn không hiểu tính ông ấy?

Thiên Thành tuy nhỏ tuổi hơn con nhưng là bậc cô cậu, cùng hàng với thầy con!"

Cậu Hai vẫn một mực, "Mong mẹ lựa lời với thầy, thành toàn cho con!"

Cô cả vội rót cho phu nhân cốc nước ấm, nhẹ giọng, "Mẹ, cậu Hai là người có chí, suy đi tính lại cũng chỉ có thân phận của Thiên Thành là hợp lý nhất.

Vả lại, Thiên Thành cũng đâu phải do bà nội thân sinh, miễn cưỡng thầy vẫn có thể xuôi theo"

"Con thì nói hay hơn hát!

Cũng muốn a dua theo em nó?"

Cuộc trò chuyện đang đến hồi gay cấn, cô Năm ở ngoài nghe trộm cũng phải nín thở, chỉ cầu phu nhân đổi ý, thuận theo anh chị.

Đang rón rén thì vọng ra từ bên trong là tiếng của cậu cả,

"Con mèo to xác nào đang ăn trộm cá, còn không mau ra đây!"

Biết bản thân bị phát hiện, nàng lọ mọ đẩy cửa, xấu hổ chạy vào, rúc đầu vào lòng phu nhân.

"Mẹ, con không ngủ được, muốn ngủ với mẹ!"

Thấy cô con gái nũng nịu, cơn giận trong lòng phu nhân như dịu đi phần nào, "Chỉ mỗi con mèo nhỏ này của mẹ là ngoan nhất, chẳng bù cho thằng anh, con chị"

Cậu cả nghe vậy bật cười, cô cả bị mẹ trách bâng quơ thì không khỏi tự ái,

"Mẹ, mẹ quá thiên vị rồi!"

Cậu cả uống hết chén chè đã nguội lạnh, thảnh thơi đứng dậy, khoác vai cậu hai hướng đi ra bên ngoài, nói to,

"Muộn rồi, bọn con đi ngủ đây".

Sau lại thì thầm với cậu Hai, tuy âm thanh không to nhưng đủ để một người thính tai như cô Năm nghe thấy,

"Không xin được thì cướp về thôi."

.

Đầu năm quan gia đổi niên hiệu Nguyên Phong, thành Long Phượng vì thế cũng được trang hoàng lộng lẫy, không khí náo nhiệt hơn hẳn mọi năm.

Cành nêu thắt nút cát tường cùng muối và gạo được giăng lên trước cửa mỗi nhà, đỏ rực cả một dãy nhà phố.

Khi nêu được hạ xuống, để niềm vui được tiếp diễn, quan gia lệnh ban hôn Thiên Thành công chúa cho Trung Thành vương, mở hội lớn bảy ngày bảy đêm cho người trong triều và ngoài nội đến vui chơi.

Ngài kêu người bày tranh vẽ, đồ đưa dâu, và nhiều trò chơi dân gian khác, chờ rằm tháng giêng sẽ tổ chức lễ hợp cẩn.

Thái thượng hoàng và Thái thượng hoàng hậu đã thác, chuyện hôn phối của Thiên Thành công chúa là do quan gia, công chúa Ngoạn Thiềm và Thuỵ Bà chủ trương.

Tác thành hôn phối với nhà Nhân Đạo vương, chắc chắn chủ ý của công chúa Ngoạn Thiềm.

Mặc kệ ngoài kia vui vẻ, nhộn nhịp bao nhiêu, cô Năm lại lo lắng, sốt ruột bấy nhiêu.

Lúc đầu, chuyện riêng của cậu Hai và cô Thiên Thành chỉ có trời biết, đất biết, hai người họ biết, người còn lại biết duy mình nàng.

Giờ Thiên Thành hạ giá, chẳng lẽ anh trai phải lấy người khác?

Nàng không tin anh sẽ dễ dàng chấp nhận.

Đang thấp thỏm không thôi, nàng bỗng nghe có tiếng gõ cửa cùng giọng nói quen thuộc,

"Thiều, anh có chuyện muốn dặn!"

Nghe thấy giọng của anh trai, nàng vội vã mở cửa.

Chờ cậu Hai vào hẳn bên trong, nàng cẩn thận ngó ngàng hai bên rồi cài then thật chặt, sốt sắng,

"Anh!

Quan gia lệnh cho Thiên Thành vào phủ của Nhân Đạo vương rồi kìa.

Chuyện thành ra như vậy, anh tính thế nào?"

"Thì anh đến để dặn chuyện đây."

Cô Năm nóng ruột là thế nhưng cậu hai vẫn giữ phong thái vô cùng bình tĩnh, như thể cậu đã lường trước được mọi việc.

"Đầu canh hai đêm nay, em qua phòng của cô báo tin anh đang ở chỗ của Thiên Thành, lành ít dữ nhiều.

Em kêu cô đến xin quan gia cứu giúp.

Chỗ Nhân Đạo vương, gia nô của phủ công chúa không thể dễ dàng ra vào.

Chỉ có Quan gia mới chủ trì được.

Em phải hành động nhanh chóng, anh không muốn đụng đến chuyện binh đao, liên luỵ người vô tội!"

Vừa nghe được kế hoạch của người anh, cô năm hoa mắt, sững sờ không tin vào tai.

"Coi như em tin bản lĩnh của anh có thể lẻn vào nhà Nhân Đạo vương, bị phát hiện vẫn có thể tuỳ cơ ứng biến.

Nhưng sao anh biết chắc quan gia sẽ giúp mình?"

"Anh cược cho tình nghĩa giữa thầy và quan gia.

Quan gia vẫn luôn đau đáu chuyện xưa, lại có thêm cô ở cạnh cầu xin, chắc chắn ngài sẽ mền lòng."

Ngẫm nghĩ một hồi, nàng cũng gật gù.

Từ trước đến giờ, ấn tượng của nàng với quan gia rất tốt, nàng tin ông không phải người bạc tình bạc nghĩa.

"Nhưng sau đó rồi sao?

Giữa đêm anh lẻn vào chỗ con dâu hụt của người ta, anh định chờ người đến tận cửa nhà mình đòi mạng?"

"Anh đã chuẩn bị mười mâm vàng trong phòng củi, em qua chỗ cô thì kêu người khuân sang rồi tâu hết đầu đuôi, nói đây là lễ để hỏi cưới Thiên Thành."

"Mười mâm vàng?

Trước giờ trong kinh anh bị quản thúc gắt gao, lấy đâu ra mà nhiều hoàng kim vậy?"

"Anh vay từ chỗ của anh Tung, với cả..."

Thấy cậu Hai ngập ngừng, cô Năm bán tín bán nghi, "Anh Tung chẳng làm ăn gì, coi như cũng có được chút tiền từ vài chục mẫu ruộng dưới núi, đâu đến mức xoay được mười mâm vàng nhanh như vậy?"

"... mẹ cho anh vay của hồi môn của em Tư và em..."

Nghe vậy cô Năm lườm nguýt,

"Có đúng hai đứa em gái chưa xuất giá đều bị anh đem hồi môn đi cưới vợ rồi.

Trận này đánh không lại, anh không cưới được vợ, em cũng chẳng kén nổi chồng!"

.

Cô Năm làm đúng theo lời dặn của anh, còn kêu người chuẩn bị xe ngựa chờ sẵn bên ngoài phủ, khuân luôn mười mâm vàng đến trước cửa phòng của Thuỵ Bà từ sớm, đến đúng canh hai mới gõ cửa, báo tin.

Thuỵ Bà nghe xong mặt tái đi, tưởng chừng như sắp ngất.

Hình luật cho phép giết chết kẻ gian dâm ngay tại trận.

Nếu cậu Hai bị gia nô của Nhân Đạo vương bắt được, e rằng không giữ nổi mạng.

"Cô bình tĩnh, giờ phải vào nội xin quan gia cứu giúp, không anh con không qua khỏi đêm nay!"

Nghe vậy Thuỵ Bà lại càng lo sợ,

"Bay đâu!

Chuẩn bị xe ngựa cho bà!"

"Con đã chuẩn bị rồi, xe đang chờ bên ngoài phủ.", cô Năm nhanh chóng đón lời.

Nàng đỡ Thuỵ Bà, dặt dò gia nô rồi cùng đi vào thành Long Phượng, mọi việc diễn ra trong đúng nửa tuần hương.

Thuỵ Bà là em gái ruột của quan gia, lại goá bụa từ sớm, hay dành phần nuôi nấng cháu chắt trong nhà nên trước giờ vẫn được quan gia ưu ái hết mực.

Lần này bà tìm quan gia ngay trong đêm có chuyện hệ trọng nên không cấm quân nào dám cản đường.

Cô Năm ngồi cạnh Thuỵ Bà, kể hết tần tật đầu đuôi câu chuyện, bao gồm cả nguồn gốc của mười mân vàng sống.

Thuỵ Bà nuôi cậu Hai từ khi bé, thừa hiểu tính cách của cậu.

Nếu cậu đã quyết liều mình, bà thương yêu cũng thuận theo ý muốn của cậu.

Quan gia nghe xong chuyện cũng không khỏi ngỡ ngàng.

Ngài không ngờ cậu lại nghĩ được đến bước này.

"Trẫm đã ban hôn Thiên Thành cho Trung Thành vương, nay lại hoà hoãn, quân vô hí ngôn!"

"Xin bệ hạ niệm tình Quốc Tuấn trước giờ ngoan ngoãn học hành, cũng chỉ vì mến mộ Thiên Thành đã lâu nên mới làm chuyện điên cuồng càn rỡ.

Nay Nhân Đạo vương đã bắt giữ lại rồi, sợ lành ít dữ nhiều, chỉ có Quam gia mới cứu giúp được!"

"Chính công chúa Thiên Thành kể với con đã cùng anh con đính ước.

Ép dầu ép mỡ ai nỡ ép duyên, con xin bệ hạ thương cho nhà con neo người, cứu lấy anh con!"

Cô Năm nghe Thuỵ Bà tâu xong cũng quỳ rạp xuống, dập đầu.

Quan gia nghe lời khẩn cầu như vậy, cuối cùng cũng mềm lòng, kêu phía Sừ Cung [1] đi cứu người.

Cô Năm lo lắng cho an nguy của anh nên xin đi theo.

Nhân Đạo vương dù sao cũng là vương của một vùng, người duy nhất phải lễ đến vương phủ giữa canh năm, ngoài quan gia chỉ có mình Hoàng thái tử.

Khi đến nơi, phủ đệ của Nhân Đạo vương yên tĩnh vô cùng, như thể chưa từng xảy ra chuyện gì hệ trọng.

Thấy Hoàng thái tử cùng một đám cung nhân đến gõ cửa lúc rạng sáng, Nhân Đạo vương hốt hoảng, không hiểu chuyện gì.

Đến khi đến khu phòng của Thiên Thành ông mới biết chuyện.

Nhưng không kịp để ông nổi giận, Hoàng thái tử đã khéo léo gỡ gàng,

"Quan gia cũng chỉ vừa biết nên kêu ta đến bắt Quốc Tuấn về xử lý.

Xin Nhân Đạo vương chớ lo lắng, nhất định phụ hoàng sẽ cho ngài một lời giải thích thích đáng!"

Cô Năm thấy anh vẫn bình an thì như trút được gánh nặng ngàn cân trong lòng, thầm nghĩ, một phần hồi môn của nàng cho anh cũng đáng lắm, cùng lắm là nàng ở vậy với mẹ cũng không phải không hay.

Mang tiếng là bắt cậu Hai về xử lý nhưng Hoàng thái tử lại dẫn xe đi về phủ công chúa trả người.

Cô Năm biết anh trai vẫn bình an nên đã ngủ thiếp đi từ khi nào.

Nàng nằm cuộn mình, an giấc, miệng còn không kìm được mà cong lên một phần.

Có lẽ lần này nàng đắc thắng lắm.

Không biết ai đã đưa nàng vào bên trong phòng.

Lúc ngủ dậy chỉ thấy trên người có một chiếc áo được thêu bằng chỉ vàng và tin vui anh Hai nàng sắp lấy vợ.

[1] Sừ Cung: cung Thái tử.
 
Trăng Nhàn.
3. Hạ


Không li ti phảng phất như mưa phùn, không sụt sùi rả rích như mưa ngâu, cũng chẳng lạnh lẽo tê tái như mưa đông, mưa rào mùa hạ mang từng giọt gạo nặng nề của đất trời đổ xuống nhân gian, nặng trĩu lòng người.

Mây đen kéo đến che khuất đi nền trời, tiếng sấm ồn ã thi thoảng vang lên chen ngang tiếng kinh kệ, hoà trong màn mưa xối xả.

Cậu cả đội mũ rơm quấn bẹ chuối, mặc áo sô gai, tay chống gậy trúc, kiên định đứng cạnh linh toạ của vương ông.

Cô tư và cô năm chưa xuất giá nên đứng ngay đằng sau cậu hai, cúi gằm xuống, dùng khăn che mặt, lặng lẽ rơi nước mắt.

Cô năm dường như chết lặng, cũng chẳng để tâm đến sự hiện diện của một vị khách đặc biệt nào đó.

Đến khi cô cả kéo thẳng người nàng dậy, nàng mới ý thức được mọi chuyện đang diễn ra.

"Bệ hạ vạn tuế; Điện hạ vạn phúc"

Toàn bộ khách khứa đều quỳ gối trước vị khách đặc biệt.

"Bình thân cả đi"

Cậu cả thấy sự hiện diễn của người ấy thì chống gậy, nặng nề đi đến tiếp đón.

"Bệ hạ"

"Không cần câu lệ, trẫm đến viếng, cháu cứ tiếp tục đi."

Quan gia vỗ vào cánh tay cậu như thể muốn truyền cho cậu chút sức lực.

Cậu nghe vậy, cúi đầu, bắt đầu lễ viếng.

Chàng dùng một nắm đất ném xuống huyệt, lần lượt theo sau là các cô, các cậu.

Khách khứa, người ném đất, người ném hoa, ai ai cũng tiếc thương vô cùng.

Sau tang lễ, quan gia hạ chỉ truy phong Khâm Minh đại vương, cậu cả theo thế mà được gia phong Hưng Ninh vương, các cô đã xuất giá cũng đều có tước hiệu.

Trước kia, trong nhà chỉ có mỗi cậu ba Doãn được phong Vũ Thành vương do thân phận đặc biệt [1].

Phải đợi đến khi vương ông thác, các cô cậu mới có danh xưng chính thức.

.

Sau khi vương ông mất, cô năm tiếp tục lên kinh sư học tập.

Năm năm trôi qua vắng bóng người thầy, nàng dựa vào hai anh như bù đắp đi phần nào trống trải.

Cậu cả hay lui tới ấp Tịnh Bang để theo đuổi nghiệp thiền, cậu hai được ban thái ấp ở Vạn Kiếp cũng chỉ loanh quanh đất ấy.

Mỗi tuần trăng các cậu lên kinh sư một lần để thượng triều, mỗi lần đều ghé thăm cô năm ở phủ công chúa.

Cậu ba thì luôn trên kinh, nhưng nàng lại chẳng quen thân với cậu là bao.

Từ khi được Thuận Thiên thái hậu đón đi, cậu hiếm khi về lại nhà.

Rồi cậu thành gia lập thất, chỉ mấy dịp dỗ dạc mới về lại An Sinh, tết nhất cũng chưa chắc đã thấy mặt.

Cô năm vô thức không có khái niệm về người anh thứ ba này.

Cô năm ở trên kinh sư, bạn bè cũng không nhiều, duy chỉ có chị em Thiều Dương và Thuỵ Bảo là thân thiết, âu cũng do chỗ qua lại với Thuỵ Bà.

Cung phi Trương thị ngày trước là ca nương trong phủ công chúa Thuỵ Bà.

Quan gia có lần qua Gia Lâm ghé chơi thì yêu mến tài sắc lên nạp bà làm cung phi, hạ sinh được hai vị hoàng nữ.

Thiều Dương trạc tuổi lại là bạn học với cô năm nên hai nàng thân thiết vô cùng.

Ngày nào sau giờ học cũng cùng nhau chơi đùa bên bờ hồ Linh Giang ngay gần điện Giảng Võ.

Hồ nước xanh trong, long lanh lấp lánh như soi chiếu cả bầu trời được điểm xuyết bằng vài đoá sen nở rộ.

So với sen Dâm Đàm bao la bát ngát cả một cõi trời, sen trong hồ Linh Giang chỉ như hoa thêu trên gấm.

Hương sen thoang thoảng mê đắm quẩn quanh tà váy của hai nàng thiếu nữ đang ngồi tản mát ở bên trong chiếc chòi rơm được dựng tạm bợ để tránh nắng.

Thiều Dương hơn cô năm vài tuổi, đã đến tuổi kết tóc nên nàng vừa được quan gia ban hôn, chỉ chờ ngày lành tháng tốt sẽ hạ giá.

Phò mã là người trong lòng mà nàng thầm thương trộm nhớ đã lâu.

Cung phi Trương thị biết ý nàng nên đã sớm nhờ Thuỵ Bà công chúa đưa lời với Linh Từ quốc mẫu tác duyên.

Khi rảnh rỗi Thiều Dương đều tranh thủ tự tay thêu hỷ thường.

Những lúc ấy cô năm hay ở cạnh bồi nàng nói chuyện.

"

Sau này xuất giá chị cũng muốn được gả cho người trong lòng.

Chẳng cần điều gì cao sang, một mái nhà, có hoa, có trà, cùng nhau bước qua phong vân tuyết nguyệt là đủ", cô năm chống tay lên cằm, ánh mắt trong vắt của nàng nhìn về phía chân trời xa xăm, bâng quơ nói.

"Chị kém em hai tuổi mà cứ như bà lão tóc bạc trắng đầu.

Chắc chắn chị sẽ lấy được người trong lòng thôi".

Thiều Dương dừng lại mũi thêu đang dở, vỗ nhẹ cánh tay cô năm như an ủi nàng chớ lo lắng xa xôi.

Cô năm nghe chỉ cười, "Chị mà kiếm được một người chịu ở rể là tốt nhất.

Sau này xuất giá nhưng vẫn được ở cạnh mẹ."

"Đúng là không có tiền đồ.

Chị không ước chồng chị là một trang nam nhi oai phong lẫm liệt, bậc anh hùng kinh bang tế thế, nâng vó ngựa rong ruổi khắp thiên hạ?"

Cô năm nghe vậy thì ghé vào tai Thiều Dương, "Chị thích văn chương hơn."

Thiều Dương bật cười thành tiếng, cố ý nói to trêu nàng, "Ồ... chị thích người học văn"

Cô năm giật mình, mặt đỏ đến tận mang tai, kéo Thiều Dương xuống, ra hiệu cho nàng nhỏ tiếng.

"Suỵt... suỵt...

đừng nói to..."

Thiều Dương không muốn trêu dai nên hạ tông giọng, "Đúng là mỗi người mỗi khác.

Em nghe mẹ đoán ý phụ hoàng muốn gả Phụng Dương cho anh hai làm Thái tử phi.

Mà mẹ em bảo, Phụng Dương có tướng vượng phu ích tử"

Cùng là chị em họ lại trạc tuổi nên thỉnh thoảng cô năm cũng hỏi thăm Phụng Dương con nhà chú Khâm Thiên.

Chỉ là tuổi thơ và tính cách hai người có phần khác biệt nên không có nhiều dịp cùng nhau hàm huyên.

Phụng Dương mang một phong thái đĩnh đạc, già dặn hơn tuổi, tưởng chừng như nàng là người phù hợp nhất để ngồi lên vị trí Hoàng hậu tương lai.

Quan gia sớm đã nhận nàng làm nghĩa nữ, giao cho Lệ Trinh Nguyên phi nuôi nấng, ai cũng đồn tai nhau bệ hạ muốn nuôi con dâu từ bé.

Những lời đồn đoán ấy cũng có căn cứ, ngay trong danh phong của nàng đã đủ nói lên tâm ý quan gia, Phụng Dương.

"Ừ, cũng phải."

Sau một hồi hàm huyên, cô năm lấy ra ống tre đựng đầy nước, đưa cho Thiều Dương uống giải khát giữa tiết trời oi bức.

Bỗng dưng ở đâu bay ra quả cầu, đập thẳng vào sau đầu cô năm khiến nàng ngã gục, nước trong ống vơi ra tung toé.

Nàng đau điếng người, đầu óc choáng váng, phải mất một lúc mới ý thức được chuyện gì đang diễn ra.

Thiều Dương tức giận, to tiếng quát, "Ai mà dám vô lễ như vậy?"

Quay ra là tứ hoàng tử Quang Xưởng và ngũ hoàng tử Ích Tắc.

Ngũ hoàng tử cợt nhả, "Cầu không có mắt, nhị nương và chị họ chớ so đo."

Thiều Dương vốn không ưa hai người em trai cùng cha khác mẹ này, kể ra cũng là vì vài xích mích nhỏ giữa mẹ thân sinh của hai vị hoàng tử, Thứ phi Nguyễn thị và mẹ nàng, Cung phi Trương thị.

Nguyễn Thứ phi sinh được hai vị hoàng tử nên tuy vào cung muộn hơn lại được tấn phong phẩm vị cao hơn Trương Cung phi, không ít lần cố tình chèn ép khiến Trương Cung phi chịu nhiều thiệt thòi.

Chuyện giữa hai vị lệnh bà này cô năm cũng được nghe mỗi lần Trương Cung phi đến phủ công chúa thăm hỏi.

"Cầu là do người đá.

Hai cậu đả thương chị họ, phải có lời xin lỗi với chị chứ."

"Ở sân cỏ như thế này, ai bảo hai người ngồi gần đây làm chi.

Quốc Học viện có hồ Bán Nguyệt không ngồi, sao phải ra hồ Linh Giang của Giảng Võ đường?"

Tứ hoàng tử không có ý muốn nói lời xin lỗi, muốn rời đi luôn không thèm để tâm đến Thiều Dương và cô năm.

"Thật không nói đạo lý.

Hồ Bán Nguyệt là nơi cho người nghỉ chân, hóng mát sao?

Rõ ràng làm sai mà không nhận.

Chị sẽ đến chỗ Lệ Trinh Nguyên phi hặc tội hai cậu!", Thấy Thiều Dương khăng khăng, cô năm vội kéo vạt áo nàng, lắc đầu tỏ ý không muốn làm lớn chuyện.

Nàng cũng mong nhận được chút thành ý, gặp người không có lễ nghĩa thì không nên cố chấp.

Nhưng nàng chẳng phải Bụt sống, không làm được gì người ta thì nói vài câu móc mỉa cho bõ tức,

"Hai vị hoàng tử không muốn xin lỗi cũng không sao, ta cũng không thể vì bị chó cắn mà đòi cắn lại chó được."

"Chị nói ai là chó?"

Tứ hoàng tử bị mắng thì thẹn quá hoá giận, định đi đến động tay, động chân.

Bỗng có một âm thanh dõng dạc chặn lại căng thẳng đôi bên, "Mấy đứa có tranh cãi gì ở đây?"

Hai vị thiếu niên khác đi đến; một người dáng hình thanh tú, gương mặt hoà nhã tựa diệu linh; người khác nom vẻ kém người kia một hai tuổi nhưng lại sắc sảo và cao ngạo hơn vài phần.

"Hoàng huynh, hai anh phải làm chủ cho em và chị họ!

Tứ lang và ngũ lang chơi đá cầu rồi đá luôn vào đầu chị họ mà không một lời xin lỗi, còn trịnh thượng nói hồ Linh Giang là của Giảng Võ đường, chúng em học ở Quốc Học viện thì không được đến đây."

"Quốc Xưởng, Ích Tắc, em đến xin lỗi chị họ đi."

Thái tử nghiêm giọng.

Ngũ hoàng tử cũng nghe theo, đến trước mặt cô năm cúi đầu nhận lỗi.

Còn Tứ hoàng tử thì vẫn không có thiện chí, mãi không chịu xuống nước.

"Cớ sao em phải nhận lỗi với con cháu phản tặc?

Đều là cá mè một lứa, cả nhà chị ta phải nhờ lòng thương hại của phụ hoàng mới giữ được mạng, không nhận không nổi cái cúi đầu của em!"

Trước đó cô năm còn muốn nhẫn nhịn cho qua chuyện, giờ thầy, rồi cả nhà bị mang ra sỉ nhục, nàng nhịn không nổi.

Tứ hoàng tử chưa dứt lời, nàng hất thẳng chút nước còn lại rồi ném cái ống tre vào mặt cậu ta.

"Hỗn xược.

Phụ vương ta không đến lượt ngươi nghị luận!"

Không biết nàng lấy sức lực đâu ra mà có thể đẩy cậu ngã sõng soài xuống dưới bãi cỏ.

Nàng vơ lấy cành cây khô bên cạnh, chỉ vào mặt cậu, quát,

"Mẹ ngươi không dạy ngươi trên dưới phải trái mà một hậu bối như ngươi dám nói lời hỗn hào!

Ta không nhận nổi cái cúi đầu của ngươi nhưng chắc phụ vương ta nhận nổi đấy.

Dập đầu ba cái tạ tội cho ta!"

Giọng nói nàng oanh thét, khí thế trùng trùng khiến Thiều Dương không tin vào mắt.

Trước giờ nàng cứ tưởng cô năm dịu hiền nết na, dĩ hoà vi quý.

Đến nay nàng mới hiểu được cái khí khái của em gái Quốc Tung và Quốc Tuấn.

Tứ hoàng tử vẫn không nhượng bộ, cô năm tức đến nghẹn ứ cổ, mức nước mắt có thể trào ra bất cứ lúc nào, nhưng nàng gắng gượng không lộ ra chút yếu đuối.

Nàng không tin một hoàng tử thứ xuất chưa được phong vương có thể dễ dàng hạ nhục thầy ngay trước mặt nàng như vậy.

Nàng không tin, cũng không phục.

Cánh tay cầm cành khô toan vung xuống quật vào người tứ hoàng tử bỗng dưng bị chặn lại,

"Là hoàng đệ đã mạo phạm Khâm Minh đại vương.

Người làm anh như ta lấy làm hổ thẹn, xin được dập đầu thay cho hoàng đệ."

Người cùng nhà thì bênh nhau, chỉ mỗi nàng là người ngoài, có muốn nói lý đi nữa cũng chẳng được gì.

Nàng uất ức, nói không thành lời, vất cành cây khô xuống lấy 'rộp' một cái rồi quay lưng rời đi.

Nước mắt đọng trên khoé mi trào xuống, ướt đẫm cả khuôn mặt.

.

Quan gia cho lập Giảng Võ đường từ mùa thu năm ngoái, đến nay sắp tròn ba năm.

Bệ hạ kêu cậu hai lên kinh vài hôm để luận bàn chuyện võ với các học trò trong Võ đường.

Cậu hai nghe tin cô năm đổ bệnh, ốm liệt giường nên cũng muốn tiện đường ghé qua xem nàng ốm đau thế nào.

Đến nơi thì thấy nàng vẫn khoẻ re, còn có sức quốc đất, trồng hoa, nhổ cỏ.

Gia nô thưa chuyện cậu mới biết đầu đuôi, tóm lại là vì nàng đánh nhau với Tứ hoàng tử bị thua nên không muốn đi học, cáo bệnh ở nhà.

Nghe vậy cậu bật cười thành tiếng, còn dặn gia nô ngày mai phải lôi nàng dậy đi học cho bằng được.

Dù không muốn đi học nhưng cô năm bị dựng dậy từ sớm.

Đã mất công dậy sớm, nàng đành chải tóc đến trường.

Cuối buổi bỗng dưng có một đám người đi đến, đi sau cùng là Tứ hoàng tử Quốc Xưởng.

Cậu mặt đỏ tía tai, vừa gặp đã quỳ gối trước cô năm, dập đầu ba cái, không nói năng gì rời đi luôn.

Hỏi ra là vì cậu hai chơi đá cầu với Tứ hoàng tử, cược rằng ai thua sẽ phải dập đầu trước người kia ba cái.

Hên thế nào cậu hai lại thắng được, lấy lý do bị quan gia triệu kiến gấp nên kêu Tứ hoàng tử đến trước mặt nàng dập đầu đại diện.

"Anh em tứ lang và ngũ lang nổi tiếng thông thạo bộ môn đá cầu, cả kinh sư không ai đấu lại.

Vậy mà anh Quốc Tuấn vẫn thắng được hai cậu ấy.

Quả thực người ta đồn không sai, anh họ chính là chiến thần bách chiến bách thắng" Thiều Dương ở cạnh không ngớt lời khen ngợi.

"Chắc cả đêm qua anh ấy luyện đá cầu đấy..."

Cô năm bật cười.

Anh hai nàng đã muốn làm gì sẽ làm cho bằng được.

Có lẽ hôm qua anh đã dự tính trước để dỗ nàng.

Làm gì có chuyện bỗng dưng thi đá cầu, cá cược đúng ba cái dập đầu nhưng sau lại bị quan gia triệu kiến xảy ra trùng hợp như vậy.

[1] Vũ Thành vương Trần Doãn là con riêng của Thuận Thiên công chúa với Trần Liễu.
 
Trăng Nhàn.
4. Biến


Đã vãn đi những cơn mưa rào, thay vào đó là từng đợt gió thu nhè nhẹ mang theo hương lúa mới từ cánh đồng trĩu bông sắp đến kì thu hoạch.

Trời thu êm dịu, ánh nắng vàng óng tựa mật ong dải khắp đất trời, reo lên cả những bông cúc vàng dưới chân núi.

Đẹp đẽ là vậy nhưng trong nhà lại có chuyện không vui.

Tháng bảy, Vũ Thành vương Doãn chạy sang Tống bị thổ quan phủ Tư Minh Hoàng Bính bắt đưa về trả cho triều đình.

Chuyện mới xảy ra ngày hôm qua, trong buổi triều sớm sắp tới các quan sẽ cùng thảo luận để đưa ra phán quyết dành cho cậu ba.

Phu nhân vừa nghe tin liền vội lên kinh trong đêm để gặp cậu cả và cậu hai bàn chuyện.

Đều là con cái trong nhà, bà không thể để mặc cậu.

Cô năm im lặng ngồi gọn một góc nghe mẹ cùng các anh chị bàn luận.

Cậu ba dời nhà từ sớm, tuổi thơ của nàng gần như không xuất hiện dáng hình của người anh thứ ba này, chỉ duy những lần dỗ cha là gặp được cậu.

Cậu cả và cậu hai lại khác, khi xưa các cô, các cậu lớn đều có một khoảng thời gian trưởng thành cùng cậu.

"Tuấn, con tính xem Doãn sẽ bị xử lý thế nào?"

Phu nhân sốt ruột, hỏi.

"Con nghĩ, nhẹ sẽ tịch thu tài sản, phế làm thứ dân, còn nặng thì..."

"Không được, không được phế làm thứ dân.

Phế làm thứ dân khác nào bắt Doãn bỏ họ.

Thầy con không thể yên lòng!"

"Doãn là cháu ngoại tiền triều, chắc chắn quan gia sẽ dâng cao đánh khẽ.

Mẹ đừng quá lo lắng."

Cậu cả ở cạnh trấn an bà.

"Quan lại tiền triều đã thay gần hết, họ Lý cũng không còn lại mấy người.

Chỉ sợ nhiều kẻ vốn không thuận mắt nhà ta sẽ nhân cơ hội này hặc tội cậu hai", Cô cả phán đoán.

Lời cô nói cũng không sai.

Người bênh cậu ba thì ít, người ghét vương ông thì nhiều.

Đến nước ấy, kết cục của cậu ba chẳng thể tốt đẹp.

"Tung và Tuấn không tiện ra mặt cầu xin, đếm ra cũng chẳng được mấy người sẽ bênh Doãn" Chững lại một hồi, phu nhân như tìm được chiếc bè cứu cánh, đôi mắt bà rực lên hy vọng, "Hay nhà ta đến chỗ Chiêu Thánh công chúa nhờ vả?

Công chúa là dì ruột của Doãn, chắc chắn sẽ không nỡ để thằng bé lâm vào cảnh éo le!"

Phu nhân vừa dứt lời, mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía cô Thiên Thành.

Ai ai đều biết ngày trước quan gia đưa cô Thiên Thành đến chỗ công chúa Chiêu Thánh nuôi nấng để làm dịu đi nỗi đau mất con của bà.

Khi Thiên Thành xuất giá, công chúa cũng cắt cho nàng hai chục mẫu ruộng bên lộ Hồng ngay sát đất thái ấp Vạn Kiếp của cậu hai làm của hồi môn.

Thiên Thành thấy ánh mắt của mọi người cũng hiểu được mong muốn của phu nhân.

"Con sẽ đến chỗ mẹ nuôi thưa chuyện."

Phu nhân nghe được lời của cô Thiên Thành thì như trút được tản đá nặng trĩu trong lòng.

Bà nắm chặt lấy bàn tay nàng, cảm động rơi nước mắt, "Chiêu Thánh công chúa đã sớm xuất gia, chuyện trong triều chắc chắn không đến được tai công chúa.

Lần này vạn sự đều trông nhờ con!"

.

Khi mọi người đều đã ra về, cậu cả nán lại một hồi, nghiêm giọng nhắc nhở cô năm, "Nam Tống sắp mất nước, tới đây sợ không tránh được chuyện binh đao.

Em từ nhỏ đã hay đau ốm, phải bồi dưỡng thể chất đi, sợ đến lúc giặc đến rồi lại đổ bệnh không có thuốc than."

Cô năm nghe vậy chẳng lo sợ.

Nàng ôm lấy cánh tay cậu cả, đung đưa nũng nịu, "Em biết rồi, mỗi ngày nhất định sẽ đứng tấn một tuần hương, chạy bộ một vòng quanh hồ Dâm Đàm!"

Cậu cả chiều chuộng búng đầu nàng, "Chỉ sợ chạy được nửa vòng em đã lăn đùng ra đấy.

Chạy ba vòng quanh hồ Bán Nguyệt là đủ rồi."

"Biết rồi... biết rồi mà..."

Nàng tiễn anh đi về, chờ ngựa của cậu cả khuất qua cuối ngõ mới vào trong nhà.

.

Có công chúa Chiêu Thánh đứng ra góp lời, quan gia chỉ phạt cậu Doãn về Tức Mặc trông mộ vương ông mười năm không được rời chân nửa bước.

Tài sản của cậu cũng bị tịch thu, tuy giữ được danh phong nhưng mười năm này sẽ không được nhận bổng lộc, phải tự mình cày ruộng đổi lấy cơm ăn.

Kết cục này cũng coi như đẹp đẽ với cậu.

Chủ trại Quy Hoá là Hà Khuất do thám được tin Mông Cổ đang ở Vân Nam chuẩn bị tiến binh đánh sang biên giới.

Quan gia hạ lệnh cho trong nước tu sửa khí giới, các tướng lĩnh chỉnh đốn hàng ngũ binh sĩ, sẵn sàng nghênh chiến.

Đích thân Thái sư đã đề cử cậu hai làm Tiết chế quân thuỷ bộ đóng quân tại Thuỵ Vĩ [1] ngăn giữu biên cương.

Dù vậy, với bản tính đa nghi, Thái sư đương nhiên phải tính đến trường hợp xấu nhất.

Ông sai một ngũ quân [2] trực thuộc quân Thánh Dực đến dinh cô năm, đứa em gái cùng mẹ chưa xuất giá của cậu hai, đưa đi "lánh nạn".

Dù công tác sơ tán đang được tức tốc đốc thúc nhưng cô năm là người đầu tiên được đặc cách đưa đi.

Cái ngữ lánh nạn thực chất là muốn biến nàng thành con tin bảo đảm sự trung thành tuyệt đối của cậu hai.

Không muốn em gái chịu uỷ khuất, cậu cả cũng điều vài ba gia nô đến bên cạnh hộ tống nàng.

Nàng bị đưa đến nơi sơ tán cuối nguồn Hoàng Giang [3], là vị quý nhân đầu tiên đến nơi đây.

Ở cạnh nàng có những đoàn nữ binh đang ngày đêm vận chuyển lương thực.

Cô năm cũng cùng góp chút sức lực.

Nàng kêu gia nô đi theo phụ giúp bê cột gỗ, dựng lều trại, bản thân yếu sức hơn thì kiểm kê cùng khuân vác các bao lương thực.

[1] Thuỵ Vĩ: thuộc Lào Cai

[2] Ngũ quân: đơn vị tổ chức quân đội thấp nhất, lấy cơ số 5 làm số lượng binh lính căn bản.

Lớn hơn là đô, lớn hơn nữa là quân.

[3] Hoàng Giang: khúc sông Hồng ở ngã ba tuần thuộc tỉnh Hà Nam.

Tướng tiên phong cùng đại quân chủ suý Mông Cổ chia làm hai quân cùng lúc đánh qua biên giới, khí thế hung hãn vô cùng.

Cậu hai thế yếu binh ít phải rút quân bảo toàn lực lượng về mạn Sơn Tây chờ nhập với quân triều đình.

Quan gia tự làm tướng, thân chinh đem quân đánh giặc, tướng Lê Tần kề cận hộ vệ.

Trong trận giao tranh tại Bình Lệ Nguyên, quân ta thua to phải lui về Sơn Tây, tổn thất nặng nề về cả tướng, binh, khí, tượng.

Được thế thượng phong, giặc đánh thẳng vào doanh trại Sơn Tây khiến triều đình trở tay không kịp.

Tình hình nguy cấp cực độ, tướng Lê Tần túc trực hộ tống hoàng đế tế ngựa chạy, giặc đằng sau truy đuổi rất sát sao.

Ngày mười lăm tháng chạp, toàn bộ quân đội, tôn thất, cung nhân cùng triều đình phải xuống thuyền rút về bãi Hoàng Giang trên sông Thiên Mạc.

Một vài hộ dân trong thành chưa kịp di tản thì giặc đã vào tới thành Thăng Long.

Thấy ba sứ giả bị trói trong ngục, lúc cởi trói thì một người đã chết, tướng giặc tức giận, cho quân đi cướp phá, giết hại già, trẻ, gái, trai trong thành.

.

Từ thu sang đông chỉ như thoáng chốc, nhắm mắt một cái, trời đã đổ gió đông, củi sưởi cũng bắt đầu được nhóm lên.

Như bao mùa đông khác, cái buốt giá của từng cơn gió đổ xuống từ phương Bắc, lạnh lẽo như bị ngàn lưỡi kiếm vô hình cắt vào từng tấc da thớ thịt.

Tuy không biết được nhiều tin tức nhưng cái không khí ngột ngạt cùng những tiếng hành quân liên tiếp khiến nàng ý thức được, tình hình tiền tuyến đang căng như dây đàn.

Sáng sớm vẫn có những tiếng binh khí leng keng va vào nhau vọng lại từ từng toán quân đang ngày đêm duyệt trận.

Khi sương đêm vẫn lảng bảng chưa chịu rời đi, cô năm đã thắp đèn bắt đầu tụng kinh sớm, cầu mong Bụt ở cạnh phù hộ cho tướng sĩ cùng các anh đang chinh chiến nơi sa trường.

Tụng được hai mươi mốt biến, nàng vái Bụt rồi vén thường đứng dậy đi hãm chút chè nóng để khi phu nhân thức dậy có chè súc miệng.

Nàng dùng bình nước sôi vừa đun tráng qua từng chén trà.

Khi đang thất thần đổ nước vào kháo, một cánh tay vội vã đỡ lấy bình nước sôi sắp tràn ra bên ngoài.

Nàng giật mình, theo phản xạ hất bình nước sang một bên.

"Thái tử?"

Nàng kinh ngạc khi thấy người thiếu niên trước mắt.

Dù họ hàng gần đấy nhưng trước giờ nàng chẳng bao giờ qua lại thân thiết với anh em Thái tử - Chiêu Minh, xưng hô cũng chỉ lạnh nhạt như vậy.

"Ta đi qua thấy thoang thoảng hương chè cúc.

Chị có phiền cho ta một chén?"

Thấy bàn tay người thiếu niên đỏ ứng lên vì chạm phải nước sôi, nàng bỏ lại ấm chè vội vã chạy ra ngoài múc một gáo nước lạnh.

Đôi tay búp măng nắm chặt lấy bàn tay thô ráp, chai sạn qua bao năm tháng cầm kiếm luyện đao, cùng dìm vào trong gáo nước.

"Xin lỗi, là do ta quá lơ đãng."

"Không sao, chỉ là chuyện nhỏ."

Sau một hồi, vết bỏng đã dần phục hồi, nàng mới yên tâm buông tay.

Cô năm rót chè đã hãm vào trong một chén nhỏ, đưa đến trước mặt Thái tử, "Đợt trước ta thong thả đến Hoàng Giang nên đem theo được vài túi chè cúc sót lại từ mùa thu.

Nếu Thái tử không chê có thể uống tạm."

Thái tử không nói gì, chỉ nhấc chén chè lên nhấp một ngụm.

Cô năm nhìn sâu vào gương mặt thanh tú của chàng.

Tuy đang ngồi nhâm nhi tách chè là vậy nhưng nhân chung chàng vẫn co lại, dưới mắt cuồng thâm, gương mặt mệt mỏi dường như đã nhiều đêm không ngủ.

Vô thức thế nào, nàng cất tiếng,

"Dù sao cũng nên ngủ một giấc, con người không phải sắt đá, không thể ngày ngày hành hạ cơ thể bản thân được"

Thái tử không đáp lời nàng, chỉ trầm ngâm một lúc rồi hỏi một câu không mấy liên quan,

"Cái lần ở bờ hồ Vọng Giang ấy, sao chị không nhận ba cái dập đầu của ta mà lại rời đi luôn?"

Cô năm ngẩn người, không hiểu sao chuyện đã qua lâu rồi mà Thái tử vẫn nhớ để nhắc lại.

Nàng chẳng ngần ngại, đáp lời, "Đó vốn không phải lỗi của ngài, ta nhận ngài ba cái dập đầu cũng nào có ý nghĩa gì.

Với lại, ta biết sức mình thân cô thế cô, không địch nổi bốn người các ngài nên biết tự lượng sức.

Quân tử mười năm trả thù chưa muộn, dù sao cũng có anh hai đòi lại công đạo cho ta."

"Ta hiểu rồi."

Thái tử chỉ bỏ lại một câu, uống cạn chén chè còn lại rồi rời đi luôn.

Cô năm cũng chẳng muốn suy nghĩ nhiều.

Nàng cây ngay không sợ chết đứng, dù người muốn hiểu nghiêng, hiểu vẹo cũng chẳng phải tội của nàng.

.

Thái tử vừa rời đi, cô cả Huân từ đằng sau lều đi vào, dường như cô đã đứng ở đấy được một lúc lâu.

"Chị dậy rồi à.

Em vừa hãm chè xúc miệng, đang định mang qua chỗ mẹ và chị đây."

Cô cả không để ý đến bình chè, nhanh chóng ngồi xuống chiếc ghế đẩu bên cạnh cô năm.

Gương mặt nàng đanh lại như chuẩn bị nói đến một chuyện rất nghiêm trọng,

"Thiều, em chính là hy vọng của nhà mình!"

Cô năm giật mình, ngơ người không hiểu được ý của người chị.

"Chị nhìn được, Thái tử có cảm tình với em.

Em phải giành được cái ghế Thái tử phi!"

Nghe được lời này cô năm bật cười, "Chị... sao có chuyện đó được.

Em chỉ cho anh ta uống nhờ chén chè, đâu đến mức..."

"Em có nhớ chiếc áo choàng thêu chỉ vàng treo trước cửa phòng em không?"

"Đương nhiên là nhớ, đó là áo của anh Tuấn.

Em giữ lại làm bằng chứng cái hôm anh ấy lấy của hồi môn của em đi cướp dâu nhà người ta, bao giờ xuất giá em còn có tang chứng vật chứng để đòi cả gốc lẫn lãi."

Cô năm vô tư nói, còn không khỏi nhớ lại cái hôm nàng thức đến sáng vì chuyện cưới hỏi của người anh trai.

"Chị luôn cùng mẹ may áo cho cậu hai, cái áo choàng đấy không phải của Tuấn.

Lúc trước chị còn bán tính bán nghi, chỉ coi anh ta là người tận tình, chu đáo, nhưng đến hôm nay, chị thấy rõ ánh mắt Thái tử nhìn em!"

Nàng ngỡ ngàng, vậy mà từ trước đến giờ nàng cứ tưởng đó là áo của anh trai.

Mấy năm trời cầm áo người ta, lại đặc biệt treo lên tường để mọi người ghé đến đều nhìn thấy.

Trong đầu nàng bỗng dưng vang vẳng câu hát của mấy đứa trẻ con,

"Hôm qua tát nước đầu đình,

Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen.

Em được thì cho anh xin,

Hay là em để làm tin trong nhà?"
 
Trăng Nhàn.
Ngoại truyện: Mùa Mận Chín.


Xa xa tiến đến cổng Phượng thành có một vị mệnh phụ nọ chân đi hài vải, áo tràng vạt [1] the đen, đầu đội khăn quấn, tóc búi xung quanh, tay cầm chiếc nón lá đã được cởi xuống khi đến gần quan quân canh gác.

Từ đầu đến cuối nom như một người đàn bà thường dân, chỉ duy có chiếc xuyến ngọc chạm khắc long phượng trên cổ tay là khác biệt.

Người ấy cúi nhẹ đầu theo phép lịch sự, chờ đứa hầu theo sau đưa ra một miếng mệnh phù bằng vàng ròng có khắc chi tiết hoa sen rất tinh tế, bên trên chỉ đề một chữ "Chiêu".

Thấy được miếng mệnh phù, người lính gác vội vã mở cửa thành, chắp tay, cúi đầu thành kính.

Trong tất cả các vị mệnh phụ, nội mệnh phụ, người có chữ "Chiêu" ấy chỉ có duy nhất một vị.

Nàng không kiệu xe, mũ áo trọng vọng, chỉ một thân bộ hành vào bên trong thành.

Đơn sơ, giản dị.

Nếu không nhờ vào miếng mệnh phù, sợ rằng chẳng ai biết người ấy là ai.

Đi qua tầng tầng lớp lớp nhà son gác tía, nàng đi đến khu nhà khách chờ tới lượt triệu vào diện thánh.

Chẳng để người chờ lâu, sau một tuần trà đã có vị nội quan đến rước người đến trước mặt hoàng đế.

Phương đình cột gỗ, ngói sen lợp kín, ngói ống diềm gắn chim uyên nhoã ở tứ phía, chính giữa nóc mái là mảnh lá đề chạm khắc rồng phượng đặc trưng của Phượng thành không nơi khác có.

Cơn gió thoáng qua đung đưa chiếc chuông gió bằng bạch ngọc, tạo ra thứ âm thanh lanh canh, trong trẻo.

Vài cánh cúc vàng lác đác rơi từ mấy khóm hoa bên cạnh lối đi được gió cuộn tròn, nhè nhẹ bay.

Đôi mắt không dấu được những âu yếm, chăm chú dõi theo dáng hình mảnh khảnh của người con gái đang từng bước tiến đến.

Qua lớp rèm mỏng, ngài thoáng thấy nàng, y phục giản dị, khác hoàn toàn những thứ lụa là, gấm vóc thượng hạng được nàng trưng diện khi xưa.

"Tham kiến bệ hạ."

Nàng hành lễ, trang trọng, mực thước, như thể những phép tắc nơi nội cung đã thấm nhuần bên trong dòng máu.

"Ở đây không có người ngoài, đâu cần câu nệ".

Ngài rót đầy ly trà nóng, nâng đến trước mặt nàng, "Lâu ngày không gặp mặt, cùng ngồi xuống uống chén chè đi"

Nàng cũng chẳng còn giữ kẽ, điềm đạm ngồi xuống chiếc ghế đẩu đối diện, đón lấy tách chè, chậm rãi nhấp từng ngụm.

Không khách sáo hỏi han, nàng vào thẳng ý định của chuyến thăm lần này,

"Là đứa trẻ tuổi thơ không trọn vẹn, mong quan gia khoan dung cho."

"Thiên Thành đến thưa chuyện với nàng phỏng?"

Dường như ngài đã đoán trước được điều nàng muốn nói.

Xưa giờ nàng bặt vô âm tín, luôn du ngoạn khắp nơi tu hành, không màng thế sự.

Đến nay nghe được chuyện, lại hẹn gặp ngài, thì duy nhất có chuyện kia, "Số lần nàng gặp mặt Vũ Thành chỉ đếm trên đầu ngón tay, thực ra đâu cần đến xin cho hắn."

"Hắn là cháu ruột hai ta, cả cha lẫn mẹ đều đã thác, bơ vơ, trơ trọi, còn đáng thương hơn chúng ta năm xưa trăm vạn lần.

Dân gian có câu sảy cha còn chú, sảy mẹ bú dì, thân là chú dì, cũng đã làm được gì cho hắn.

Chuyện người lớn tạo ra, trẻ nhỏ phải gánh chịu, bước đến đường này, nói cho cùng là do chúng ta mà ra."

Quan gia chững lại lúc lâu như để hiểu rõ hơn ý tứ của công chúa.

Trầm ngâm một hồi, ngài chỉ thở dài,

"Trẫm hiểu rồi."

Hai người không nói thêm gì về điều ấy, cũng chẳng hồ hởi kể về những chuyện gần xa, chỉ yên tĩnh ở cạnh đối phương, tựa như hai linh hồn đang cùng nhau ôn lại câu chuyện ngày cũ.

"Cây mận này nom vẫn xanh tốt như xưa, không biết mùa vừa qua có còn sai quả?"

Nàng ung dung đưa mắt nhìn về phía đằng xa, buông lời hỏi thăm đến cây mận già, tán lá dang rộng che khuất một mảnh trời.

Dường như cây mận đã ở đó từ rất lâu, lâu hơn cả tuổi đời của hai người bạn đã chững tuổi.

"Vẫn trĩu quả.

Nhớ khi xưa khanh thích ăn ô mai, mùa nào cũng hái xuống làm mận dẻo xào gừng, đến khi cuối thu vẫn còn vài hũ để nhâm nhi.

Trước giờ mận ở đấy chỉ để rụng xuống, mọi năm cũng chẳng biết tung tích khanh đâu mà mang cho vài rổ mận chín"

"Sai quả là tốt rồi.

Ta ăn uống thanh đạm, từ lâu đã không đụng đến những thứ quà ấy."

Chững lại, uống cạn chén chè, nàng tiếp lời, "Mấy năm nay chu du khắp đất trời, gặp nhiều cảnh đời, biết nhiều câu chuyện, ta sớm nhận ra, mọi thứ đều vô thường tựa cây mận kia vậy.

Xuân, hạ, thu, đông rồi lại xuân, hoa đơm, hoa nở, hoa lại tàn, đến thì sẽ rụng xuống, nhường cho nụ khác đâm chồi nảy lộc, âu cũng là vận mệnh nhân gian"

"Xem chừng mấy năm qua, Phật Kim có những trải nghiệm thú vị hơn trẫm nhiều"

Quan gia cười, cũng hướng về phía cậy mận kia.

Nhiều năm bận rộn triều chính, dường như ngài đã quên đi nhiều mảnh kí ức.

Những đau đớn, mất mát tưởng như đoạn trường ấy giờ đây thất lạc qua năm tháng, chuyện gì đi trước, chuyện gì đến sau đã không còn phân biệt được.

"Nhờ ân phúc của quan gia, ta mới được tự tại như vậy"

Ngài không đáp lời, đưa mắt nhìn người con gái đối diện, tưởng quen thân mà lạ lẫm như thể đã xa cách cả một đời.

Dáng vẻ bé gái tự phụ hất cả thau nước nào người ngài, người con gái tươi tắn kéo tay ngài chạy băng qua cánh đồng hoa cải, người thiếu nữ thâm trầm qua bao lần được mất, rồi giờ đây, nàng tự do, tĩnh tại, tựa làn nước trong veo, chẳng nắm được, cũng chẳng thể nào buông.

"Trước giờ trẫm vẫn luôn tìm người xứng với nàng để giao phó, nhưng bao năm nay vẫn chẳng ai đủ tin tưởng"

Nghe lời này, nàng thờ ơ, vờ như không nghe thấy, không phản đối cũng chẳng đồng tình.

Đây không phải lần đầu nàng nghe ngài nhắc chuyện.

Quốc mẫu, người chị đã đi xa, những người thân cận còn để tâm đến nàng vẫn luôn thuyết phục nàng cải giả.

Một người đã bầu bạn với Bụt được nhường ấy năm như nàng, đến nay chẳng còn cưỡng cầu điều chi, hội ngộ chưa chắc là khởi đầu, chia ly cũng chưa hẳn là kết thúc, vì thế, vạn sự tuỳ duyên.

.

Lần sau gặp lại, ngài đã ở một tâm thế khác.

Chiến trận căng thẳng, quan quân liên tục bại trận, dân trong thành Thăng Long bị thảm sát dã man, ngài phẫn nộ, nhưng lại bất lực chẳng thể lập tức hành động.

Biết được quân địch gấp rút xuất quân nên chỉ có kị binh và bộ binh, cũng không mang theo quan phu vận chuyển lương thực nên quan quân chủ yếu bày trận trên sông Thiên Mạc, cố gắng kéo dài thời gian giao chiến.

Dân chúng cũng được lệnh di tản bằng thuyền đến các bãi sông lớn.

Đêm ấy đã qua ngày rằm, trăng trên cao khuyết đi vài phần, ngài mệt mỏi quay về sau chuyến thuyền tới chỗ người em trai Thái uý và người chú Thái sư.

Bao năm nay, dù xảy ra nhiều xích mích, nhưng người duy nhất ngài có thể toàn tâm toàn ý tin tưởng chỉ có người mà ngài đã từng hận đến thấu tận tâm can.

Đi vào chiếc lều nhỏ dựng tạm, ngài nhận ra bên trong đã được đốt sẵn hương an thần.

Trầm hương kết hợp với hoa bưởi, đích thị là nàng đã ghé qua.

Chưa kịp chỉ dụ người dưới, nàng đã vén màn bước vào, trên tay còn cầm thêm cả một bát chè hạt sen lẫn vài tâm xanh vẫn chưa tách hết.

"Chỗ hạt sen này phơi khô từ mùa thu, nay chỉ còn lại một gói, trộm nghĩ đương lúc di tản, thứ này lại thành vật quý giá nên ta sai người nấu bát chè dưỡng thần cho ngài."

Ngài gượng cười, vẫy tay ý bảo nàng bê vào bên trong.

Ngài đỡ lấy bát chè từ nàng, cầm thìa, nhấc lên rồi lại hạ xuống.

Mấy ngày nay ngài không có khẩu vị ăn uống, sau lại cố ăn vài miếng không phụ công nàng đã chuẩn bị.

"Trẫm vừa qua chỗ Nhật Hiệu hỏi về quân Tinh Cương [2], hắn rệu rã, không đứng lên nổi, phải ngồi dựa vào mạn thuyển, vẽ nên hai chữ "Nhập Tống"", ngài bâng quơ kể lại câu chuyện, có lẽ ngài chỉ muốn thấy được phản ứng của nàng.

"Khi xưa Việt Quốc công [3] phá Tống bình Chiêm, đến nay ngài nương nhờ quân Tống, há xứng làm con rùa trên áo quan của Quốc công?

Coi như ta là tội nhân thiên cổ, giao nước cho kẻ nhu nhược!"

Nghe được lời này, ngài như nhìn lại được cái khí phách khi xưa nàng dẫn phản quân đến trước mặt ngài đe doạ.

"Phật Kim không đồng ý, vậy trẫm cũng chẳng dám làm theo" Ngài dốc bát chè uống cạn, đến khi thế nước cấp bách vẫn có thể nói được câu đùa nhạt nhẽo.

"Ông ấy nói gì?"

Nàng chẳng nói rõ ông ấy là ai, câu hỏi cất lên trong vô thức.

Thật ra nàng cũng đã biết trước câu trả lời, chỉ là bỗng dưng muốn nhắc đến người ấy.

"Chú ấy nói đầu chú chưa rơi xuống đất, ta không cần phải lo"

Quả nhiên, vẫn cái ngữ khí ấy, khiến nàng nửa thán phục, nửa căm ghét.

Thấy mặt nàng đanh lại, không nói lời nào, ngài cố tình chuyển hướng sang chuyện khác.

"Nước ta thái bình lâu ngày, đến nay gặp địch, quan quân đều nao núng.

Trẫm thân hành đốc thúc, lúc ngoảnh trông tả hữu, chỉ duy có Lê Tần một thân một ngựa hộ giá ta vào trận giặc, sắc mặt vẫn bình thản như không.

Hắn là người có dũng, có mưu, lại nghĩa khí.

Trận này không có hắn, có lẽ trẫm đã sớm tử trận.

Một người như thế, trẫm rất tín phục.

Trẫm tính chiến trận qua đi sẽ tác hôn khanh cho hắn."

Nàng chẳng đáp lời, gương mặt thơ ơ, chỉ với lấy cái bát trống không từ tay của ngài rồi quay đầu bỏ đi, để lại hai chữ:

"Bảo trọng!"

.

Trận chiến qua đi, trăm họ được lại êm ấm sau bao ngày chạy giặc.

Trong buổi yến tiệc đầu năm, ngài định công phong tước, phong Lê Tần làm Ngự sử Đại phu, ban quốc tính cùng tước Bảo Văn hầu, cũng gả công chúa cho.

Trong tất cả quan thần, Lê Tần là kẻ được thưởng hậu nhất.

Từ quan tước, phẩm trật, đến cả công chúa là vợ cũ của ngài, ngài cũng cho hắn cả.

Nhưng trong buổi tiệc ấy, công chúa không có mặt, chỉ duy có Lê Tần đến tạ chủ long ân.

Sau buổi yến, dù đã ngà ngà say nhưng ngài vẫn gọi Lê Tần vào bên trong điện dặn dò.

Đèn dầu lập loè cháy, ánh sáng ít ỏi hắt lên gương mặt đã đỏ ứng lên vì rượu.

Ngài ngồi trên ngai, tay day day hai vùng thái dương do vừa quá chén.

Lê Tần cầm thánh chỉ cùng áo mũ vừa được ban bước vào trong điện, cúi đầu,

"Được bệ hạ tin yêu là phước báu của thần.

Nhưng về phía công chúa, thần vô cùng hoảng hốt, chỉ lo công chúa không nguyện ý hạ giá lấy kẻ bề tôi như thần!"

Công chúa không đến dự tiệc, cũng chẳng tạ chủ, ai cũng thầm đoán nàng muốn kháng chỉ.

Nghe vậy ngài chẳng tức giận hay sốt sắng.

"Nàng ấy vốn ngang tàng như vậy, có bao giờ cho trẫm chút mặt mũi.

Chỉ là không muốn dự tiệc chứ thánh chỉ trẫm đưa thì đã nhận rồi" Chững lại một hồi, ngài dụ thêm, "Tuy vậy nhưng công chúa không phải kẻ ngông nghênh, tự cao tự đại.

Là do trẫm đối nàng không tốt nên nàng mới đối trẫm như vậy.

Nếu khanh chân thành đối đãi, nàng cũng sẽ y vậy thôi."

"Thần đã hiểu!

Cảm tạ quan gia nhắc nhở."

Vẫn chưa yên tâm, ngài lại tiếp lời, "Công chúa lận đận từ nhỏ, đã phải trải qua nhiều chuyện không vui.

Đến nay chỉ có mình khanh là trẫm tin yêu, giao phó.

Nếu có sự tình gì, khanh nhường nhịn nàng đôi chút, cố gắng để cùng được trọn vẹn về sau."

"Thần quyết không phụ thánh ân!"

Ngài để Lê Tần ra về, đôi mắt thanh thoả dõi theo bóng lưng chàng rời khỏi điện, như thể vừa trút được mối lo ở trong tâm ròng rã nhiều năm.

[1] Áo tràng vạt: Áo giao lĩnh.

[2] Quân Tinh Cương: Quân tuyển trong những người ở làng Tinh Cương do Trần Nhật Hiệu thống lĩnh.

[3] Việt Quốc công: Lý Thường Kiệt.
 
Trăng Nhàn.
5. Nắng


Sau trận chiến ấy, cậu Hai lập đại công được phong tước Hưng Đạo vương.

Thánh chỉ sắc phong được hạ xuống được nửa tuần trăng, phủ An Sinh lại được nhận thêm một đoạn thánh chỉ khác.

"Xét rằng:

Khâm Minh Đại vương ngũ nữ, Trần Thị Thiều, dung mạo đoan trang, tư chất thuần hậu, cử chỉ cung kính, lòng dạ hiếu nghĩa.

Từ thuở ấu thời đã thấm nhuần lễ giáo, nghiêm cẩn giữ mình, là bậc nữ nhi hiếm có trong dòng tộc.

Nay trẫm vì thiên hạ mà trọng đạo nội cung, tuyển chọn hiền đức để làm gương cho thiên hạ.

Xét thấy Trần thị công dung ngôn hạnh, xứng đáng đứng vào hàng nội phi, cùng trẫm chung lo việc nhà, giúp yên nội trị.

Đặc chuẩn nạp Trần thị nhập cung, phong làm Cung tần, ban ngọc phục, cấp lễ vật, theo nghi chế quốc triều.

Kính thay!

Khâm thử."

Cầm đoạn chiếu chỉ trên tay, cô năm sững người.

Lời của quan Hành khiển vẫn vang vẳng bên tai, khiến nàng nhất thời chưa thể hoàn hồn.

Phu nhân đỡ nàng đang quỳ gối đứng thẳng dậy, nhẹ nhàng vỗ về.

Bà biết nàng từ nhỏ đã chẳng thích thú với chốn cung đình, tính tình lại đơn thuần, giản dị, thánh chỉ này chắc sẽ làm nàng trăn trở vài hôm.

Cậu Cả tuy ngoài mặt vẫn giữ vẻ điềm tĩnh, nhưng ánh mắt thoáng động, không giấu được phần kinh ngạc.

Chàng sai đứa gia nô chạy vội qua chỗ của cô cả và cậu Hai gọi cô cậu về nhà có chuyện gấp.

Cô Cả vừa hay tin đã tức tốc thúc ngựa về nhà.

Cậu Hai ở xa hơn, phải đến chiều muộn mới kịp về đến cửa.

Cậu Hai vừa về, phu nhân kêu người dưới dọn cơm.

Mâm cơm vẫn giản dị như mọi ngày, có bát canh bí thanh ngọt, cà muối giòn tan, rau xào tươi mát, cùng nồi thịt kho đậm vị.

Cả nhà quây quần bên mâm cơm, song ai nấy đều dè dặt, chẳng ai buông đũa tự nhiên như mọi bận.

Nếu người được triệu là cô Ba hay cô Tư thì có lẽ mọi người đã chẳng lo lắng đến vậy, nhưng cô Năm lại khác.

Nàng không mạnh mẽ, dứt khoát như cô Ba, cũng chẳng sắc sảo, giỏi đối đáp như cô Tư.

Cô Năm hiền hoà, nhu mì, từ nhỏ đã sống theo lẽ, người không phạm ta, ta chẳng phạm người.

Nàng tựa cành hoa chi tử nép bên bờ giếng sau nhà, lặng thầm mà ai cũng thương, cũng muốn che chở.

Những năm tháng trên kinh sư, ngoài lúc phải đi học, nàng cũng chỉ quanh quẩn nơi vườn cau, cây cỏ, với những chiều thảnh thơi bên phương đình, lòng chẳng vướng bận điều gì lớn lao.

Phu nhân hiểu nàng, nên khi thấy dáng đứa con gái cúi gằm, trầm ngâm, lòng bà lại như thắt lại,

"Ăn đi con, để cơm nguội mất", Phu nhân gắp cho nàng miếng thịt, nhẹ giọng dỗ dành.

Cô Cả ngồi bên, nhìn em gái lặng thinh chẳng hé môi nửa lời thì lại càng thêm xót xa.

Nàng nói lời khuyên nhủ,

"Thiều à, chuyện này, không chỉ em mà cả nhà cũng rất bất ngờ, nhưng chiếu vua đã ban, nào ai dám làm trái?

Tiền triều và hậu cung gắn chặt như sợi tơ, nếu anh Tung hay cậu Tuấn được vinh hiển nơi triều chính, thì cũng cần có người bên trong nâng đỡ mới vững bền dài lâu.

Ơn trên đoái đến, há chẳng phải là phúc lớn cho nhà ta đó sao?"

Cậu Hai nãy giờ vẫn ngồi im, chàng thở ra một hơi dài rồi mới chậm rãi cất tiếng, "Nhưng nói không xót em thì là dối lòng.

Nếu em không nguyện ý, anh sẽ tìm cách dâng sớ xin khất"

Nghe đến đây, cô Năm vội vã, "Không... lòng em đã quyết.

Chỉ là em không nỡ xa mẹ, xa anh chị.

Vàng son nơi ấy, em cũng chưa từng nghĩ đến..."

Cả nhà như lặng đi sau lời nói của nàng.

Giọng nàng run nhẹ, nhưng từng chữ một lại chắc như đinh đóng cột, khiến người nghe không khỏi xao lòng.

Phu nhân đưa tay nắm lấy bàn tay con gái, vừa như dỗ dành, vừa như níu giữ, như thể chỉ cần siết chặt một chút nữa thôi, bà có thể giữ nàng ở mãi trong vòng tay.

Cô Cả đưa tay vuốt nhẹ sống lưng nàng, thì thầm,

"Con bé này... lớn thật rồi."

Cậu Cả cuối cùng cũng lên tiếng, giọng khàn khàn mà trầm tĩnh,

"

Sau này mọi chuyện nông sâu khó lường, thế nào cũng có anh chị đằng sau."

Phu nhân bỗng dưng đứng dậy, bước về phía bếp.

Bà không nói gì, chỉ dặn người dưới đun ấm nước nóng, lặng lẽ như thể muốn giấu đi ánh lệ vừa rơi.

Bên ngoài, gió xuân khẽ lùa qua tán cau, mang theo hương hoa đào dìu dịu.

Người con gái năm ấy xuất giá theo chồng, không vì vinh hoa, cũng chẳng vì phú quý, mà vì chữ hiếu, chữ nghĩa, và một chút tình riêng vẫn chưa kịp gọi thành tên.

.

Tiết trời đã chuyển xuân nhưng những cơn gió đông vẫn hiện hữu khiến đôi má người thiếu nữ ửng hồng, đôi tay bên ngoài cũng tê cứng.

Trên người nàng là ngọc phục giao lĩnh sắc tử yên, viền gấm đỏ thuê chỉ vàng mây núi.

Trán điểm mai hoa trang, tóc vấn cao, miện trùm kim tuyến, mũ châu khảm ngọc, theo từng bước đi mà khẽ lay động.

Chiến tranh vừa qua, giang sơn tuy yên ổn nhưng lòng người còn chưa kịp nguôi ngoai.

Lễ nạp phi của nàng cũng được tiết chế tối giản nhất.

Nàng được cung nhân dìu bước, đôi giày gấm chạm nền đá phong rêu, vạt áo dài quét qua thềm gạch.

Tiếng trống từ chính điện vang lên, mang theo lời xướng của quan Hành khiển,

"Tấn phong Trần thị làm Cung phi, nhập hậu cung tại viện Thanh Duyên"

Dưới ánh nắng sớm mờ, bóng hình nàng hòa cùng hương khói điện rồng, tựa cánh hoa đào rơi lạc vào thềm ngọc.

Nàng dập đầu ba cái, kính cẩn vái lạy, cử chỉ đoan trang, thần sắc điềm tĩnh,

"Ngũ nữ Khâm Minh Đại vương Trần thị, vâng mệnh thiên tử, xin dốc lòng trung thuận, giữ vẹn cung nghi."

Song nàng đứng thẳng dậy, chỉ một khắc, nàng thoáng thấy vị hoàng đế trẻ tuổi ngự nơi thượng điện.

Chàng khoác long bào, đai ngọc thắt ngang eo, một tay đặt hờ trên tay vịn rồng chạm khắc tinh tế.

Tuy chàng mới thượng vị không lâu nhưng đã sớm mang uy nghi của bậc đế vương.

Mọi chuyện xảy đến nhanh như một cơn gió, đến giờ phút này, thấy được dáng vẻ oai nghiêm của vị đế quân, nàng mới bàng hoàng nhận ra.

Từ khi bước qua cổng cung Quan Triều, bản thân đã không còn là Thị Thiều có thể tuỳ hứng hành sự, sau lại đinh ninh sẽ được các anh che chở.

Giờ đây, mỗi ánh mắt, mỗi bước chân đều mang theo danh dự của thầy, của mẹ, là tấm gương phản chiếu gia phong nghiêm cẩn.

Một câu nói thiếu chừng mực, một ánh nhìn không đúng lễ nghĩa, cũng có thể khiến cả nhà nàng phải cúi đầu chịu lỗi.

.

Dáng xuân mơn man làn da trắng hồng của người thiếu nữ.

Những hạt mưa phùn nối đuôi nhau rơi xuống, nối liền bầu trời với mặt đất.

Ngồi tại chiếc bàn thạch trong phương đình nhỏ, nàng hãm bình trà nóng rồi đắm mình ngắm nhìn những luống hoa tươi.

Vị hoàng đế trẻ tuổi ấy, dù chưa từng ngỏ lời âu yếm hay hứa hẹn, nhưng cũng chẳng hề lạnh nhạt với nàng.

Mỗi lần chàng ghé qua vẫn để lại đôi lời hỏi han, còn mang theo vài món quà nhỏ rất ngẫu nhiên, hộp mứt sen trái mùa, gói chè lam ngọt lịm hay bát chè trôi nóng hổi.

Không hiểu từ lúc nào, nàng lại thấy có chút mong chờ những thứ quà ấy mỗi khi chàng ghé tới.

Phượng thành những ngày đầu xuân như khoác lên mình tấm áo mới.

Cờ xí rợp trời, trống chiêng rộn ràng, kinh kỳ giờ đây đang tấp nập chuẩn bị cho một hôn lễ trọng đại, phần tôn quý có lẽ chỉ dưới lễ phong hậu của Quan gia.

Kể từ sau cuộc chiến khốc liệt với quân Hồ, đây là lễ rước dâu lớn nhất khiến cả Thăng Long chìm trong không khí hỷ sự.

Lễ cưới đó là lễ nạp phi của Chiêu Minh đại vương, cũng là lễ hạ giá của Phụng Dương công chúa, ái nữ nhà Phụ quốc Thái uý [1].

Mặc đi hai chữ "Nhập Tống" trên mạn thuyền, Thượng hoàng vẫn hết mực trọng dụng người em trai ruột.

Mất đi người anh cả, Thái uý có lẽ là người duy nhất ngài có thể bù đắp chút tình anh em đã đánh mất mấy mươi năm về trước.

Phụng Dương từng được quan gia đích thân nhận làm nghĩa nữ, lại là vị có phong hiệu Công chúa sớm hơn tất cả các hoàng nữ trạc tuổi.

Vinh hiển như vậy, hoàng ân như thế, hiếm có quý nữ nào sánh được.

Trước giờ nàng vẫn ngỡ ngôi vị Mẫu nghi đã được định sẵn cho nàng ấy, cuối cùng, người lấy Quan gia lại là nàng.

Hẳn đây là ý của Thái sư.

Trận chiến vừa qua, mặc cho bao lời đề cử, Thái sư vẫn dửng dưng trước cái tài của anh hai, một mực từ chối trao quyền chỉ huy.

Đến khi thời cuộc ép buộc cần toàn quyền sử dụng đến quân Ngũ Yên, ông mới giao cái danh "Tiết chế" như một lớp áo đẹp xoa dịu các tướng lĩnh dưới trướng, dù vậy nhưng không hề có chiếu thư, cũng chẳng có kiếm báu Tiết chế.

Danh có, quyền thì không, cái gọi là tín nhiệm ấy vốn dĩ chỉ để trang trí cho đẹp.

Khi khói lửa đã lắng xuống, Thái sư chọn nàng là đứa em gái ruột của anh để đưa vào hậu cung, một phần muốn ban ân huệ vỗ về cho hiềm khích năm xưa, vừa là ràng buộc cho lòng trung của vùng Ngũ Yên.

Trước ngày xuất giá, mẫu thân gọi nàng lại, kể hết mọi chuyện mà trước giờ chẳng ai kể với nàng, về mẹ đích là công chúa tiền triều, về phụ vương từng là Hiển hoàng, về người anh tư Tử Đức và chị hai Ý Ninh [2] thực chất là con nuôi, về cả những hiềm nghi cùng uất ức các anh trai nàng đã gánh chịu bao năm qua.

Nàng sinh ra đã là con vương, em tướng, dẫu không mưu cầu cũng khó tránh khỏi bị cuốn vào ván cờ thế sự.

Trước nay, mẫu thân vẫn nghĩ người gánh vác trọng trách kia sẽ là chị ba hay chị tư, nên bao năm vẫn để nàng sống thoải mái một chút, dẫu gì sau này cũng sẽ về bên bà.

Bây giờ mọi chuyện đã khác.

Việc trong cung nhiều rối ren, mẫu thân dặn nàng không cần tranh cao thấp, hơn thua, chỉ cần giữ lòng trong sạch, sống ngay thẳng, ấy đã là phúc cho cả nhà.

Nếu có duyên, ắt Quan gia sẽ đoái hoài.

Nếu không, thì cũng là sống thanh nhàn giữa chốn vàng son.

Nàng thẫn thờ suy nghĩ gần xa.

Tiếng gió đập từng đợt vào chiếc chuông bạc được treo bên góc chòi, tạo thành thứ âm thanh vang vọng.

Áp tay vào bình trà, nàng cảm nhận độ nóng lan dần bao bọc đôi bàn tay, một dòng suối ấm áp chảy xuyên khắp cơ thể.

"Trời đổ gió, nàng vào nhà cho ấm."

Một giọng nói trầm ấm cất lên phá tan mọi suy nghĩ hiển hiện trong tâm trí nàng.

Nàng thoáng chốc giật mình, không nói nên thành lời.

"Lệnh cô, cô hành lễ với Quan gia đi"

Cung nhân bên cạnh nhẹ giọng nhắc nhở nhưng lời này đã mau chóng bị chàng phủi tay cho qua.

Trên tay chàng cầm một chiếc bánh đa kê không biết từ đâu mà có, toan đưa cho nàng thì nàng đã vội vã đứng dậy,

"Quan gia vạn phúc.

Thiếp không biết bệ hạ ghé qua nên đã thất lễ, mong người lượng thứ"

Nàng còn chưa kịp cúi người, chàng nhẹ nâng nàng dậy, đưa cho nàng chiếc bánh,

"Thuý vừa mới về lại kinh sư, có thời gian nàng qua chỗ Thái phi chơi với em ấy"

Thiều Dương đã hạ giá từ giữa năm ngoái nên không còn ở trong Phượng thành.

Sắp tới là lễ nạp phi của Chiêu Minh đại vương, con cháu trong hoàng tộc đều được gọi về góp vui.

Nghe vậy nàng nhẹ giọng,

"Tạ ơn quan gia đã phát lộc" nàng tạ lễ rồi lập tức cắn một miếng bánh đa giòn rụm, "Chiều nay thiếp sẽ qua chỗ của Trương Thái phi"

Lúc ở nhà chị tư là người thích ăn bánh đa kê nhất, mỗi lúc đi chợ huyện, chị sẽ luôn là người kéo nàng tới sạp bán quà quê.

Kê nấu chín mềm, kết hợp với đậu xanh béo ngậy, thêm cả chút đường ngọt lịm lạo xạo cùng lớp bánh đa ngoài cùng giòn tan.

Nàng nhanh chóng ăn hết nửa chiếc, gương mặt không giấu được niềm vui.

"Ăn từ từ không nghẹn.

Bánh đa ngon đến vậy sao?"

Chàng chăm chú nhìn dáng vẻ của nàng.

Có lẽ nàng là người đầu tiên ăn bánh đa kê mà hạnh phúc như vậy.

"Ngon lắm, quan gia có ăn không?"

"Có, cho ta xin một miếng"

Nghe vậy nàng đưa chiếc bánh đa đã cắn dở cho chàng, trước đó còn không quên cắn thêm một miếng rõ to.

Nhìn bộ dạng vui vẻ của nàng, tâm trạng chàng cũng tốt lên đáng kể.

Bắt gặp ánh mắt chăm chú, nàng bỗng sững người.

Nàng vẫn quen thói ăn uống dân dã cùng các anh chị trong nhà, có cái gì cũng chia sẻ, chị một miếng, em một miếng, rồi cùng nhau tấm tắc khen ngon.

Thoáng chốc nàng quên mất người đối diện là quân vương, còn nàng thì đã xuất giá.

Nàng đơ người nhìn dáng vẻ chàng từ từ cắn chiếc bánh nàng ăn dở, như thể đây là lần đầu tiên chàng ăn lại đồ ăn của người khác.

"Ừ, ngon thật" Chàng khen, sau lại quay sang hỏi nàng, "Bình thường ở nhà nàng còn thích ăn gì nữa không?"

"Mấy thứ quà vặt vãnh này toàn là chị ba và chị tư bày cho thiếp.

Nhà thiếp đông anh chị em, mỗi người lại có một sở thích.

Nhưng có cái gì ngon cũng đem chia nhau, thành ra quanh năm lúc nào cũng có quà để ăn.

Ngày xuân thì có mứt Tết, lạc rang, bánh cuốn xuân thái [3].

Mùa hạ là tào phớ hoa nhài, bánh gai, bánh gio của tết Đoan Ngọ.

Thu đến thì có các thức quà từ cốm, cả bánh dẻo cho Trung Thu.

Đông sang thì bánh đúc nóng rồi chè mè đen.

Cứ hết món này lại tới món khác, không lúc nào nhàm chán..."

Giọng chàng dịu xuống, "Chẳng phải từ thuở nhỏ nàng đã cùng Quốc Tuấn lên kinh sư theo học tại Quốc Học viện?

Ta vẫn nhớ lần đầu trông thấy nàng.

Khi ấy Quốc Tuấn dắt tay nàng đi ngang sân viện, chỉ đứng tới thắt eo hắn mà mắt ngước nhìn người lạ chẳng chút e dè."

Nàng đã quên mất lần đầu gặp chàng thế nào, vậy mà chàng vẫn còn nhớ rõ.

"Phụ vương thiếp mất sớm, anh chị lớn đều tự lập, mỗi người một việc bận rộn phụ giúp mẫu thân, thường thường chỉ toàn ba chị em gái thiếp trạc tuổi nhau quanh quẩn chơi đùa.

Sau rồi thiếp đi học xa nhà, chị ba và chị tư thương thiếp ở xa không được chơi cùng nên cứ dăm bữa nửa tháng lại gửi quà lên cho thiếp, món nào không gửi được thì kêu gia nô lên tận kinh sư làm đồ cho thiếp ăn để giống với vị nhà.

Các chị ấy nghĩ ra đủ trò, nhiều đến mức mẹ nuôi hay trêu rằng thiếp có lộc ăn uống"

Nàng cười, sau lại phát hiện trên tay đang cầm chiếc bánh còn cắn dở, giờ chỉ còn một góc bé tí.

Chàng bật cười thành tiếng,

"Ta thấy cũng đúng"

Nàng cười theo, lòng nhẹ như mây vương đầu ngọn tre.

Không khí giữa hai người bỗng chốc thân mật đến lạ, chẳng còn khoảng cách quân thần, mà giống như hai người bạn kể nhau nghe chuyện thưở bé.

...

"Anh cả thiếp cả năm học thiền tụng kinh, đến mấy dịp lễ lạt thì lại say sưa rượu thịt cùng tướng lĩnh và gia nhân.

Có hôm uống đến mê man không biết trời đất, ba hôm sau trong nhà vẫn còn nồng nặc mùi rượu.

Mẫu thân giận đến độ đổ sạch mấy vò rượu, cấm cả nhà không được động đến thịt cá suốt một tháng, chỉ được ăn cơm rau với tương chay."

Chàng thích thú khi nghe nàng kể chuyện, "Hưng Ninh lại có quá khứ vậy sao?

Thiện Đạo phu nhân nghiêm khắc như thế, bảo sao bây giờ anh ấy điềm đạm, cứ như nước lặng đáy hồ.

Hẳn là đã bị rèn giũa qua không ít trận hàn lửa."

Nàng kể với giọng như thì thầm, tay khẽ vuốt nhẹ nếp váy, "Nhưng anh cả thương thiếp lắm, lúc nào cũng che chở cho thiếp."

Nàng ngừng lại một chút, đôi mắt sáng lên rồi lại tiếp, "Mà anh hai lại mưu lược hơn, thay vì gánh tội giúp thiếp, anh ấy sẽ nghĩ cách để thiếp trốn tội.

Ngày bé thiếp lỡ làm vỡ cái đèn dầu gốm sứ trong phòng phụ vương, thiếp thì hốt hoảng khóc lóc, anh hai lại rất bình tĩnh, tìm khắp nhà được một con chuột chết liền lén vứt vào phòng của người, đổ cho con chuột chạy làm vỡ đèn rồi bảo thiếp cầm chổi vờ như đã đánh chết nó."

"Cái tài của Hưng Đạo, ta cũng từng chứng kiến không ít phen," chàng bật cười, giọng vừa pha chút trêu chọc, vừa thấp thoáng ý khen ngợi.

Mưa phùn đã dứt tự lúc nào, những tia nắng xuyên qua tầng mây mỏng, rọi qua mái phương đình, hắt lên đường nét dịu dàng trên khuôn mặt nàng, khiến mọi bộn bề nhiễu nhương nơi triều cục bỗng như được gác lại, nhường chỗ cho cảm giác an yên len lỏi vào đáy lòng.

.

[1] Phụ Quốc Thái uý: Khâm Thiên Đại vương Trần Nhật Hiệu là em trai ruột của Trần Thái Tông, con thứ ba của Trần Thái Tổ.

[2] Trần Tử Đức và Trần Ý Ninh con của thuộc tướng Trần Hiến trung thành với Trần Liễu cầm đầu toán quân chủ lực đảo chính quân sự, nhằm đưa ngôi vua về cho Trần Liễu, bị Trần Thủ Độ chém đầu cùng với vợ là Lê Thị Đạt.

Trần Liễu cảm cái ơn ấy nên anh em Tử Đức và Ý Ninh về nuôi.

Ý Ninh sau được gả cho Vũ Uy vương, con trai thứ bảy của Trần Thái Tông sinh ra Trần Quốc Toản.

[3] Bánh xuân thái: một loại bánh cuốn, theo An Nam chí lược của Lê Tắc, "tiết Hàn Thực, đem bánh cuốn tặng nhau" .

Qua bài thơ "Tặng bánh xuân cho ngài thiên sứ Trương Hiển Khanh", làm năm 1291, viết: "Hôm nay đúng ngày mồng 3 tháng 3, trên chiếc mâm chạm hình mây đỏ bày bánh Xuân thái, đây là phong tục cũ của An Nam xưa nay.".

Bánh Xuân thái cũng chính là tên gọi khác của bánh cuốn.
 
Trăng Nhàn.
6. Nước chảy đá mòn


Tờ mờ sáng, khi sương còn đọng trên chậu thược dược ngoài hiên nhà, cô Năm đã thức giấc.

Nàng như thường ngày đến vái lạy các Thái phi rồi lại lặng lẽ qua thiện phòng chuẩn bị chút đồ điểm tâm cho Quan gia.

Từ giờ Thìn cho đến tận cuối giờ Tỵ, đôi tay nàng không ngơi nghỉ.

Nào là bánh khảo, cháo trắng, bỏng gạo, chè ngô.

Nàng biết chàng không thích mấy thứ quà ngọt gắt hay mùi vị nồng nàn, vì thế mà điểm tâm đều được chuẩn bị đều rất thanh đạm.

Hôm nay là ngày hiếm hoi Quan gia được thư thả.

Ngày thường nếu không thiết triều, chàng sẽ ra quân doanh duyệt binh, hoặc tuần sát đê điều, thăm hỏi ruộng đồng ở địa phương.

Cả một tuần trăng, chỉ có một ngày chàng ở lại Thư trai, chuyên tâm đọc sách, luyện chữ, vẽ tranh.

Mặt trời vừa qua khỏi đầu ngọn tre, nàng cũng xong xuôi mọi chuyện.

Mâm điểm tâm được nàng đích thân đưa đến trước cửa Thư trai, nhưng chưa kịp đi vào thì một nội quan đã chặn bước,

"Quan gia đang nghị sự với Chiêu Minh vương.

Xin cung phi chờ cho"

Nàng khẽ gật đầu, lùi một bước rồi đứng đợi bên hành lang.

Từng đợt gió nhẹ lùa qua mái ngói cong cong, khiến tà áo nàng khẽ lay tựa làn mây mỏng.

Mùi trầm nhẹ nhàng từ trong Thư trai phả ra theo khe cửa, quyện với hương trà lài nàng vừa pha.

Ánh mắt nàng dừng lại ở cánh cửa gỗ sơn son.

Phải đến hơn hai tuần hương, thấp thoáng có bóng áo bào màu sẫm bước ra khỏi thư phòng.

Thấy người ấy, nàng theo lễ nghĩa mà cúi đầu,

"Thần phụ xin thỉnh an Chiêu Minh vương"

Chiêu Minh liếc nhìn nàng, rồi lại nhìn qua cái mâm xếp đầy đồ ăn nhẹ với đủ món, ánh mắt chàng lạnh lùng không chút thiện cảm,

"Cung phi cũng thật rảnh rỗi"

Nàng ngẩng mặt, thần sắc điềm tĩnh, giọng đáp không cao, không thấp, "Thần phụ tài đức còn thiếu, không lo toan được như Chiêu Minh vương phi."

Nghe nàng nói, khóe môi Chiêu Minh khẽ giật.

Chàng không đáp, chỉ khẽ hừ một tiếng.

Đoạn sải bước đi ngang qua, ống tay áo rộng phất qua vạt áo nàng, để lại một luồng khí lạnh lẽo.

Con Hồng bị khí thế ấy doạ đến sợ sệt, vô thức lùi lại vài bước.

Nhìn bóng lưng Chiêu Minh rời đi, nàng quay sang hỏi Hồng,

"Em có sao không?"

"Em không việc gì, chỉ là đứng không vững thôi"

Nàng quay đầu bước vào trong Thư trai, chẳng để tâm chuyện vừa rồi.

Vừa đặt chân tới ngưỡng cửa, cô Năm đã thấp thoáng thấy bóng Quan gia dở tay với bức họa đằng sau bức mành tre.

"Quan gia vạn phúc"

"Miễn lễ đi"

Nàng sai thị nữ đi lấy nước ấm cho chàng rửa tay, bản thân thì sắp chén đĩa, bày từng món ăn nhỏ thành phần vừa miệng để chàng tiện dùng.

Một lúc sau, chàng bước ra.

Tay áo rộng khẽ vướng gió, ngón tay còn vương lại chút mực đen.

Vừa đến, cung nữ đã kịp dâng nước, chàng rửa tay qua loa rồi ngồi xuống chiếc trường kỷ.

Nàng nhanh tay rót cho chàng chén trà nóng, hương lài thoang thoảng, thanh mát lại ngọt ngào.

"Vừa nàng có gặp Chiêu Minh bên ngoài không?"

"Thiếp gặp vương công, chào hỏi vài câu rồi điện hạ rời đi rồi"

Chàng gật đầu, đưa tay đón chén trà nóng nàng vừa rót.

Một thoáng im lặng trôi qua, rồi tiếng chàng cất lên,

"Chiêu Minh ngày bé từng có một lần thập tử nhất sinh.

Khi ấy cả Thái y viện đều bó tay, tưởng đã không giữ nổi mạng, vậy mà cuối cùng vẫn bình an.

Phụ hoàng từ sau đợt đó càng thêm chiều chuộng, chú ấy muốn gì được nấy, không ai dám trái lời."

Chàng vừa nói, tay thuận tiện tráng chén như một thói quen vô thức, "Cũng vì được phụ hoàng thiên vị mà Chiêu Minh lòng dạ ngay thẳng.

Cứ thấy gì là nói, nghĩ gì là làm, chẳng để ý đến phép tắc hay nể mặt ai.

Nếu có điều gì thất thố, nàng cũng chớ để bụng."

Nàng khẽ cúi đầu, ánh mắt an tĩnh như mặt hồ thu,

"Vương công thân phận tôn quý, lại là người trong nhà.

Thiếp tất không để trong lòng."

Chàng nhìn nàng, sau một khắc, khẽ mỉm cười,

"Vậy thì trẫm yên tâm."

Thoáng chốc, chàng hỏi, "Sao hôm nay nàng lại kỳ công làm nhiều đồ ăn thế này?"

"Thiếp muốn cảm tạ quan gia đã nói đỡ cho thiếp trước mặt Nhân Đạo vương phi"

Hôm nọ, trước mặt các vị mệnh phụ nữ quyến, Nguyễn Thái phi và Nhân Đạo vương phi cố tình làm khó, nhắc lại Năm xưa anh hai nàng chen chân vào chuyện hôn sự của phủ Nhân Đạo vương.

Lời lẽ thì mềm mỏng, nhưng từng câu như kim châm, khiến kẻ ngoài cuộc cũng phải e dè.

Nàng biết rõ mối hôn sự ấy vẫn là vết rạn giữa hai nhà.

Không muốn tạo thêm hiềm khích, nàng chỉ cúi đầu im lặng lắng nghe lời chỉ giáo.

Thế nào, chàng vừa đi ngang qua hậu cung, nghe được đôi câu đã hiểu rõ sự tình, liền không chút do dự ra mặt nói đỡ cho nàng.

Đến hôm nay, mọi việc tạm yên, nàng mới có dịp làm mấy món nhỏ, xem như chút tâm ý muốn dâng chàng.

"Ngày thường nàng chẳng bao giờ để bản thân chịu thiệt, sao lần đó lại câm như hến không nói lời nào?"

"Nhà thiếp vốn nợ nhà Nhân Đạo vương," Nàng đáp, giọng mềm mại như làn sương sớm "Nói thế nào cũng là anh trai thiếp đã làm việc có lỗi.

Giờ Nhân Đạo vương phi muốn nhắc lại chuyện xưa, thiếp trăm miệng cũng không dám cãi.

Chỉ mong vương phi trách mắng thiếp nhiều hơn một chút, có lẽ phần hiềm khích với anh Hưng Đạo cũng theo đó mà vơi đi đôi phần."

Vừa dứt lời, không gian như lặng đi trong khoảnh khắc.

Quan gia khựng lại, ánh mắt chợt đổi, sắc lạnh thoáng lướt qua đáy đồng tử.

Chàng đặt chén trà xuống bàn, động tác có phần nặng tay, vang lên tiếng "cộc" khô khốc giữa tẩm điện vốn yên ắng.

"Đó đâu phải chuyện của nàng?"

Giọng chàng không lớn, nhưng mang theo khí thế khiến người đối diện phải e sợ.

"Giờ nàng đã gả đi rồi, chẳng lẽ cứ mãi lo chuyện bao đồng như thế?"

Nàng giật mình, ngước lên nhìn chàng.

Trong đôi mắt kia, lạnh như băng mà nóng như lửa, khiến tim nàng như thắt lại.

Nàng biết rõ Chiêu Minh chưa từng thuận mắt anh hai nàng.

Trong triều, hai người tuy vẫn giữ hòa khí ngoài mặt, nhưng mỗi lần cùng nghị sự, lời qua tiếng lại lộ rõ bất đồng.

Khi thì trái ý trong việc chẩn binh, lúc lại không bằng lòng chuyện lương thực.

Đến đây nàng cũng đoán được, có lẽ trước đó, Chiêu Minh vừa nhắc đến chuyện trong triều liên quan đến anh, tâm ý Quan gia vốn đã có chút thiên vị.

Thế nên khi nàng vô tình nhắc đến anh hai, chàng mới phản ứng dữ dội như vậy.

"Là chuyện của anh trai chị dâu thiếp, nào phải chuyện bao đồng?"

Nàng cất giọng, chậm rãi nhưng vững vàng, "Dẫu thiếp đã gả đi thì vẫn là con của phụ vương, của mẫu thân, vẫn là em của các anh, các chị trong nhà.

Điều đó đâu có thay đổi?"

Đôi mày chàng cau lại, ánh mắt dao động.

Nàng chưa bao giờ thẳng thắn với chàng như vậy.

Giọng nói tuy mềm mỏng, nhưng lập trường thì kiên định.

Nàng nhìn sâu vào ánh mắt chàng, trong phút chốc dường như thấy được chút dè chừng, kiêng kỵ.

Không phải với nàng, mà với những mối ràng buộc mà chàng không thể kiểm soát.

Nàng nắm chặt nắm tay như trấn an bản thân, "Thiếp đã gả cho Quan gia, sống là người của Quan gia, chết làm ma cho Quan gia, thiếp tuyệt đối không hai lòng.

Nhưng thiếp cũng giống như người, có phụ mẫu, có huynh đệ."

Nàng ngẩng lên, ánh mắt trong veo nhưng chất chứa từng lớp sóng ngầm, "Quan gia bảo thiếp không được quản chuyện nhà, bệ hạ nào khác Nhân Đạo vương phi, cũng lấy thiếp ra mà trút giận?"

Lời nàng nói ra mỗi chữ đều chắc nịch.

Trong sự điềm tĩnh ấy là nỗi uất ức khi bản thân trở thành cái bóng của những xích mích nơi tiền triều.

Ánh mắt Quan gia tối sầm lại, chàng gằn giọng,

"Nàng lui xuống đi, hôm khác trẫm đến thăm nàng"

Cô Năm nghe vậy cũng chẳng lấy làm buồn bã.

Nàng cúi đầu cáo lui, rồi một mạch quay về viện Thanh Duyên.

Con Hồng lẽo đẽo đi cạnh, nét mặt đầy lo lắng.

Từ lúc rời Thư trai, nó không dám mở miệng.

Đến khi về tới phòng ngủ, thấy nàng im lặng thay y phục, nó mới e dè cất tiếng,

"Cô... có chọc giận Quan gia không?

Em nghĩ cô nên hoà giải, lạt mềm buộc chặt.

Gay gắt quá, người chịu thiệt lại là mình."

Cô Năm nghe vậy, chẳng tỏ ra bất ngờ hay hoảng hốt.

Nàng mỉm cười, giọng điềm đạm,

"Ta đi lấy chồng, vốn mong người mình lấy là bậc quân tử, biết phân phải trái, rõ đúng sai.

Nếu Quan gia là người ôm lòng nghi kỵ, như Tào Mạnh Đức [1] đa nghi thành tật, rồi cũng vì sợ người tài hoa hơn mình mà vung gươm giết người vô tội, thì ta dẫu có nhu thuận thế nào, cũng không tránh khỏi kiếp bị hiềm nghi."

Nàng ngừng lại chốc lát, ngước nhìn khung cửa sổ đang khép hờ, "Nếu vậy, đời này ta chỉ giữ phận trong hậu cung, không dám vọng tưởng xa xôi, người đẩy thì ta đi, coi như không thẹn với lời mẫu thân dặn"

.

Tối hôm ấy, Quan gia đến chỗ nàng dùng bữa.

Suốt cả bữa ăn, hai người không nói với nhau lấy một câu.

Im lặng kéo dài đến mức tiếng đũa va vào thành bát cũng bỗng trở nên chói tai.

Thình lình, chàng gắp một miếng thịt bỏ vào bát nàng.

Nàng nhìn miếng thịt, đôi mắt không gợn sóng,

"Tạ ơn Quan gia phát lộc."

Chàng không đáp, vẫn tiếp tục ăn cơm.

Sau bữa ăn, nàng theo đúng khuôn phép mà hầu hạ, rót trà cho chàng súc miệng, đốt hương trầm, pha nước tắm, rồi giúp chàng thay áo ngoài.

Mọi thứ đều tương tất, chỉnh tề đến mức không thể trách vào đâu, nhưng lại khác với mọi khi, thiêu thiếu đi thứ gì đó.

Quan gia cố ý nghiêng người khi nàng giúp chàng thay áo, để tay chàng chạm nhẹ lên cổ tay nàng.

Thấy vậy, nàng liền thu tay lại, giả vờ như không để ý.

Xong chàng nhấc chén trà nàng vừa rót, nhấp một ngụm, rồi đặt xuống bàn, cất tiếng rành mạch,

"Trà hôm nay nhạt"

Nàng điềm nhiên đáp, "Vẫn cùng một loại trà, cách pha cũng không đổi.

Chắc là do khẩu vị của Quan gia hôm nay khác với mọi khi"

Chàng quay sang nhìn nàng, nhưng nàng chỉ cúi đầu như không nhận thấy, cố ý quay lưng đi làm việc khác.

Đêm xuống, nến tắt, màn buông.

Cô Năm lặng lẽ quay lưng về phía tường, giữ lấy một khoảng cách đủ để người kia hiểu rằng nàng không muốn gần gũi.

Nàng không giận, nhưng cũng chẳng đủ mềm lòng để chủ động hoà giải.

Một lúc sau, nàng chợt cảm thấy một hơi thở ấm phả đằng sau gáy, rồi cả thân mình bị kéo sát vào vòng tay quen thuộc.

Chàng ôm lấy nàng từ phía sau, siết chặt như thể sợ nàng biến mất.

Khuôn mặt chàng vùi vào làn tóc mềm mại, giọng trầm ấm vang lên bên tai,

"Ta đã nghĩ thông suốt.

Sáng nay lớn tiếng với nàng là ta không phải."

Nàng không đáp, cũng chẳng quay lại.

Người trong lòng chàng vẫn lặng im, hơi thở đều đều.

Trong bóng tối, vòng tay chàng dần siết chặt hơn, vòng qua eo nàng, khẽ xoa xoa,

"Ta sai rồi," chàng khẽ nói, "Nàng giận thì mắng ta một câu cũng được, đừng yên lặng như thế."

Lúc ấy, nàng mới chậm rãi quay mặt lại.

Trong ánh sáng mờ mờ của bấc đèn dầu, đôi mắt nàng trong vắt,

"Thiếp không dám giận.

Quan gia là trời của thiếp.

Trời nổi giông, thiếp tránh.

Nhưng nếu trời cứ bão bùng mỗi khi nghĩ đến anh em thiếp, vậy thì có lẽ thiếp nên che thân sớm hơn một chút, để tránh mang hoạ dài lâu"

Chàng nghe xong, cúi đầu vùi sâu vào hõm cổ nàng, thì thầm, "Là ta không tốt."

Bàn tay nàng rút ra khỏi chăn, chầm chậm phủ lên mu bàn tay chàng đang đặt nơi bụng mình.

"Thiếp chỉ không muốn Quan gia bắt thiếp quay lưng với nhà mẹ đẻ, phải im lặng trước mọi điều liên quan đến phụ mẫu, huynh đệ.

Thiếp đã gả cho Quan gia, nguyện một đời bên chàng, nhưng nếu mỗi khi thượng triều, các anh thiếp nói lời trái ý với người bên Quan gia, Quan gia lại quay về bắt nạt thiếp, vậy thì Quan gia cũng đâu có thương thiếp"

Tay chàng vẫn siết chặt eo nàng, nhưng lực đã chùng xuống,

"Triều chính là chuyện công, nàng là chuyện tư.

Ta không nên gộp chung hai chuyện mà trách lên nàng"

.

[1] Tào Mạnh Đức: Tào Tháo.
 
Trăng Nhàn.
7. Trăng nhạt


Cô Hai Ý Ninh được triệu lên kinh sư để nhận áo mũ phong tước Công chúa.

Trong trận chiến với quân người Hồ, toán quân của cậu Tư cùng cô Hai đã một phen dốc hết can trường, tả xung hữu đột hộ giá Thượng hoàng khi tình thế nguy nan.

Cậu Tư chẳng may tử trận nơi sa trường, còn cô Hai trọng thương, hôn mê suốt nửa tuần trăng.

Mãi đến nay mới có thể bình phục để lên kinh sư nhận lễ sắc phong.

Hay tin chị, cô Năm đã sai người chuẩn bị xe ngựa ra ngoài cửa thành đón đoàn rước cô Hai từ sớm.

Trong lòng nàng, cô Hai luôn là một bóng hình khác biệt, không gần gũi dịu dàng như các chị, nhưng lại là người khiến ai cũng kính nể.

Dù cô Hai và cậu Tư chỉ là con nuôi, nhưng bao năm nay Phu nhân vẫn thương yêu không khác nào ruột thịt.

Trong phủ, các chị em có gì, cô Hai đều có phần.

Nhưng ngay từ nhỏ cô Hai đã mang chí lớn, chuộng áo giáp hơn xiêm y, thích binh pháp hơn gia chánh.

Phần lớn thời gian cô chỉ quẩn quanh quân doanh, đôi ba dịp mới trở về phủ, rồi thoáng chốc lại rời đi.

Cha mẹ ruột của cậu Tư và cô Hai vốn là thuộc tướng tâm phúc của Vương ông.

Trong trận loạn sông Cái, hai người một lòng tận trung nên bị Thái sư hãm hại.

Khi ấy, cậu Tư sáu tuổi còn cô Hai mới lên hai.

Trong đêm gió lộng của tháng sáu, hai đứa trẻ mồ côi được Vương ông đón về phủ, từ đó thành con trong nhà.

Nghĩ món nợ ân tình với nhà cô Hai, lòng cô Năm như se lại.

Sau khi luận công ban thưởng cho trận chiến vừa rồi, cô Hai được phong tước Công chúa, mãn tang cậu Tư sẽ gả cho Vũ Uy Vương.

Nàng không hiểu nguyên do gì Thượng hoàng lại muốn gả cô Hai cho Vũ Uy.

Có lẽ bệ hạ xem trọng nghĩa khí cùng tài năng của cô nên muốn cô thành người một nhà; hoặc là muốn bù đắp chuyện năm xưa đã làm hại đến đấng thân sinh của cô.

Một tiếng hô vang từ xa vọng đến, đánh thức nàng khỏi dòng suy nghĩ.

Đoàn xe vừa vượt qua khúc ngoặt, cờ tiết phấp phới, hai hàng quân hộ tống chỉnh tề.

Nàng bước vội lên vài bước, mắt dõi theo chiếc xe được cắm lông vũ ở giữa đoàn.

Cô Hai cũng vừa lúc vén chiếc rèm mỏng, nhìn thấy cô Năm đang ngóng trông thì lập tức kêu người dừng ngựa.

Dưới ánh nắng nhạt xuyên qua lớp rèm xe ngựa, hai chị em ngồi đối diện không ngớt lời hỏi han.

"U dạo này khoẻ không chị?

Mọi người ở nhà vẫn bình an cả chứ?", Cô Năm lên tiếng, giọng đầy mong mỏi.

"U vẫn ổn, nhưng mấy hôm nay nghe chuyện anh Hưng Đạo lời qua tiếng lại với Thái ấp Độc Lập, u xem chừng ăn uống kém hẳn đi"

Nghe đến đó, cô Năm giật mình, "Thái ấp Độc Lập?

Anh hai lại xảy ra chuyện gì với Chiêu Minh vương?"

Trong đầu nàng lướt nhanh qua những mẩu chuyện nghe ngóng được trong hậu cung, chuyện lương thảo, chuyện duyệt binh, nhưng tất cả đều là chuyện cũ.

Nàng ngỡ mọi việc đã qua, đâu ngờ lại có sự tình khác.

Cô Hai khẽ liếc qua, thấy em mình sửng sốt thì không kìm được tiếng thở dài.

Nàng nhẹ giọng,

"Em cũng biết quân Ngũ Yên là gia binh nhà ta, được phụ thân đích thân huấn luyện ròng rã mười năm trời.

Sau trận vừa rồi, Thượng hoàng cùng Quan gia đều nắm rõ nội bộ binh lực nhà mình, nhưng Chiêu Minh thì lại tỏ ý nghi ngờ, cho rằng nhà ta nắm giữ đội quân tinh nhuệ hơn cả quân triều đình là có ý riêng, khuyên Thượng hoàng hoặc giải tán cho binh lính xuất ngũ về quê, hoặc nhập vào quân Thánh Dực thành quân của triều đình..."

Cô Năm nghe mà chết lặng.

Môi nàng mấp máy, gần như không tin nổi, "Quân Ngũ Yên là một tay các anh chị nhà ta nhịn miếng ăn, bớt giấc ngủ mới dựng nên.

Chỉ vì chút nghi ngờ vu vơ, chẳng có chứng cớ gì rõ ràng, lại muốn ép gia binh nhà ta tan đàn xẻ nghé?"

Nghe đến đây nàng mới chợt hiểu nguyên do bỗng dưng Quan gia lớn tiếng với nàng, rồi cả ánh nhìn lạnh như cắt của Chiêu Minh hôm nọ.

Không khí trong xe ngựa phút chốc như trầm xuống.

Cô Hai đưa tay vuốt nhẹ bàn tay em gái,

"Thế sự là vậy, không phải cứ lý lẽ là phải.

Lòng người một khi đã sinh nghi, nói gì cũng chỉ là biện hộ"

Cô Năm cụp mắt.

Chuyện lớn như vậy mà nàng ở hậu cung không nghe được bất cứ đoạn tin nào, có lẽ là Quan gia cố tình xắp xếp giấu nàng.

Nàng ở cạnh Quan gia, dẫu chẳng rõ hết thâm tình ý nặng, nhưng nàng hiểu, nếu một ngày nào đó thế cờ nghiêng lệch, thì một nữ nhân như nàng, e là cũng chẳng thay đổi được điều gì.

Nàng ngẩng lên, nhẹ giọng nhưng không giấu nổi phẫn nộ, "Nhưng như vậy... quả thực tuyệt tình tuyệt nghĩa.

Khi nguy nan thì phong anh hai làm Tiết chế, dùng quân Ngũ Yên như quân tiên phong mở đường dốc sức đánh giặc.

Đến khi yên ổn rồi lại dồn ép, nào có đạo lý bất công như thế?"

Cô Hai bỗng lặng đi không nói thành lời.

Đến đây cô Năm mới sững lại.

Cũng vì cậu Tư là tướng chỉ huy đội quân tiên phong nên chàng mới bỏ mạng nơi sa trường.

Nàng nắm chặt lấy tay cô Hai, như muốn truyền đi một phần sức mạnh, xoa dịu những vết thương còn rỉ máu trong lòng nàng.

Chợt, cô Năm như nghĩ được điều gì đó,

"Chị, em có một cách."

.

Cô Hai được Thượng hoàng sắc phong tước vị Trang Duệ Công chúa, phẩm trật Tòng Nhất phẩm, áo mũ vinh hoa.

Vừa tiếp chiếu, nàng liền tâu Thượng hoàng xin được dẫn cờ trống quay về bờ sông Cái, cử hành lễ tế song thân đã khuất.

Thượng hoàng quý mến tấm lòng hiếu thảo, lại thông cảm cho nỗi bơ vơ của người con mồ côi, người em mất anh chị, bèn chuẩn cho nàng.

Hôm tế lễ, cờ xí rợp trời, trống chiêng dậy đất.

Dân chúng trong thành, người cảm nghĩa cậu Tư tuẫn quốc, kẻ xúc động cho phận một nhà bốn người, ba người hy sinh nơi sa trường.

Cảnh tượng ấy, động đến tâm can, khiến cả kinh sư không ai không rơi lệ.

Ngày hôm sau, danh tiếng của Trang Duệ Công chúa cùng quân Ngũ Yên do Hưng Đạo Vương làm thống soái như sấm dội non đoài.

Dân chúng trong kinh râm ran truyền tai nhau rằng:

"Giặc Hồ có sang cũng chẳng cần sợ hãi, đã có hộ quốc quân Ngũ Yên, một lòng vì nước."

Cũng vì lòng dân đã định, triều đình càng không thể giải tán quân Ngũ Yên.

.

Cô Năm xem thư cô Hai gửi thì không tỏ điều gì, chỉ lặng lẽ sai người mang thư đi đốt.

Nhưng lửa mới bén mép giấy, chưa kịp cháy hết thì một bàn tay đã vươn tới, dập tắt ngọn lửa trong chớp mắt.

Tàn tro bay lên chưa kịp tan, nửa tờ thư còn nguyên chữ vẫn rơi lặng trên mặt bàn.

Cô Năm khẽ giật mình quay lại.

Là Quan gia và Chiêu Minh.

Chiêu Minh sải bước tới trước, giọng sắc như lưỡi dao, "Anh nhìn đi!

Em đoán không sai.

Có kẻ cố tình giở trò kích động dân chúng.

Không sớm không muộn, đúng ngay lúc triều đình đang nghị luận chuyện Ngũ Yên, thì từ trà đình đầu phố tới chợ lớn cuối thành, đâu đâu cũng xôn xao nhắc đến công lao của Hưng Đạo rồi nhà Trang Duệ."

Cô Năm không đổi sắc, nhẹ nhàng tiến lên hành lễ, "Thần thiếp tham kiến Quan gia; Bái kiến Chiêu Minh vương"

Chiêu Minh liếc nàng, không buồn đáp lễ, quay sang nói với Quan gia, từng chữ dằn xuống như đóng đinh,

"Xin bệ hạ hãy phế truất ả yêu phi, đuổi khỏi hậu cung, đày về quê cũ.

Một ngày còn để ả ở trong hậu cung, thì ngày đó đại nội chẳng yên, triều đình chẳng vững!"

Lúc ấy, cô Năm mới ngẩng đầu.

Làn thu thủy trong đáy mắt đã chẳng còn, chỉ còn xót lại ngọt lửa giận dữ bị dồn nén.

Nàng cất giọng,

"Nếu Vương công không thẹn là bậc quân tử, thì cớ sao lại dùng hiềm khích cá nhân để lấn át triều chính quốc sự?"

Nàng lập tức tiếp lời, "Cái ngày giặc Hồ kéo sang, là ai cầm quân trấn giữ biên cương?

Khi Long Thành đẫm máu trong đêm tháng Chạp, là ai mạo hiểm quay về cứu trợ?

Khi thế địch mạnh như chẻ tre, ai tiên phong cường phá quân giặc?

Dân chúng có thể không hiểu những toan tính chốn triều đình, nhưng máu ai đổ, lòng ai trung, họ phân biệt được cả!"

Xong, nàng quay về phía Quan gia, giọng mềm lại, nhưng ánh nhìn vẫn vững như lúc đầu,

"Quân Ngũ Yên là tâm huyết cả đời của phụ vương thần thiếp, cũng là di nguyện của những anh em thuộc tướng của thầy, đào tạo một đội quân tinh nhuệ phụng sự thiên hạ.

Cả nhà thần thiếp, từ trên xuống dưới, chắt chiu, hà tiện, ròng rã bao năm vẫn một bát cơm đạm bạc cốt để nuôi quân.

Nếu Quan gia cho rằng thần thiếp là kẻ gây náo loạn triều cương, muốn phế truất thiếp, thiếp tuyệt không oán than, sẽ lập tức thu dọn tư tranh, rời thành ngay trong đêm nay"

"Khẩu khí cũng thật lớn," Chiêu Minh hừ lạnh, mắt không rời cô Năm.

"Ngay từ đầu đã biết chị không phải kẻ đơn giản, vậy mà phụ hoàng vẫn vời vào cung.

Cả cái nhà Yên Sinh ấy, chẳng có ai là dễ đối phó."

Cô Năm nghe vậy, chỉ khẽ nhếch môi.

Nàng không nín nhịn, đáp trả thẳng thừng,

"Vương công nói nhà thần phụ không đơn giản, vậy chẳng hay, Vương công tự thấy mình là người đơn giản chăng?"

Chiêu Minh vương biến sắc, ánh mắt xẹt lên tia giận dữ, "Hoàng huynh," Chiêu Minh quay sang Quan gia, thấp giọng "hạng nữ nhân thế này nên phế làm thứ dân, gửi về Yên Sinh để răn đe"

"Đủ rồi."

Giọng Quan gia vang lên không lớn, nhưng ôn hòa và rõ ràng.

Cả gian phòng lập tức lặng đi.

"Chuyện giữa trẫm và Trần thị, trẫm sẽ tự mình xử trí.

Về việc giải tán quân Ngũ Yên, phụ hoàng đã dụ không được bàn thêm.

Bây giờ cũng đã muộn, Chiêu Minh về phủ đi"

Chiêu Minh nghe dụ thì không phục, hất áo thẳng thừng rời đi.

Trong tẩm cung chỉ còn lại Quan gia và cô Năm, im lặng rơi xuống như tấm màn dày phủ kín cả căn phòng.

Một lúc sau, nàng là người phá tan im lặng ấy,

"Thiếp không thẹn mà thừa nhận, chính thiếp là người bày cho chị hai xin Thượng hoàng rước cờ xí, mượn kiệu hoa đi tế lễ phụ mẫu.

Cũng là thiếp sai người đem chuyện nhà chị rỉ tai dân chúng.

Một nhà bốn người, ba người vì đại nghĩa mà quên thân, chuyện ấy vốn nên được ca tụng!"

Nàng ngẩng đầu, giọng nói vẫn nhẹ nhàng những không giấu đi được vài phần cương quyết, "Những việc thiếp làm, thiếp không phủ nhận, cũng không dám biện bạch.

Nếu bệ hạ thấy thiếp có lỗi với triều đình, thì khẩn xin bệ hạ trách phạt"

"Phụ hoàng đã có khẩu dụ, thì tất cả việc này, trẫm tất không để ai đem ra bàn luận."

Chàng ngừng lại một thoáng, ánh mắt từ tốn hướng về phía nàng.

Giọng nói không cao, không thấp, nhưng từng chữ lại mang theo sức nặng,

"Trẫm sẽ có lời với Chiêu Minh.

Đều là người trong nhà, dẫu có bất đồng thì cũng nên đồng lòng vì đại cục."

Dừng một nhịp, giọng ngài dịu lại, như vừa nhắc nhở, vừa dỗ dành,

"Người nhà Yên Sinh là công thần, cũng là người trẫm kính phục.

Nhưng đồng thời, trẫm cũng không thể để lòng dân bị dẫn dắt.

Nếu nàng có điều chi trăn trở, chỉ cần tâu thẳng, trẫm sẽ xem xét.

Trẫm không trách nàng, nhưng người trong triều chưa hẳn ai cũng độ lượng.

Nhỡ có kẻ mượn cớ dèm pha, đến khi ấy, e rằng trẫm cũng khó lòng bảo toàn cho nàng"

Cô Năm lúc ấy mới như trút được mối lo canh cánh trong lòng.

Mọi bất an dồn nén suốt những ngày qua bỗng chốc tan biến.

Nàng lệ rướm đầu mi, cảm động đến không nói thành lời.

Nàng tiền gần đến chỗ Quan gia, tựa đầu vào vai chàng, ôm lấy cánh tay săn chắc giấu sau ống tay áo rộng thùng thình.

Quan gia sững người một nhịp.

Mới khi nãy, nàng còn lời lẽ đanh thép, đối đáp Chiêu Minh không hề nao núng, mà giờ đây đã mềm nhũn bên cạnh chàng, rơi giọt nước mắt như thể chịu hết oan khuất trong thiên hạ.

"Nếu có điều gì chưa vừa lòng, chỉ cần nói với trẫm, trẫm nhất định sẽ tìm cách."

Cô Năm nghe vậy, ngẩng đầu nhìn chàng, đôi mắt đỏ hoe, giọng nghèn nghẹn,

"Thiếp chẳng sợ bị phế.

Thiếp chỉ sợ Quan gia cho rằng thiếp là độc phụ, là tai họa làm chao đảo tiền triều.

Thiếp sợ mình sẽ trở thành cái gai trong mắt người."

Quan gia nhìn nàng thật lâu, ánh mắt sâu như hồ thu lặng.

Chàng đưa tay lau những giọt lệ còn đọng lại trên gò má nàng, dịu dàng,

"Trẫm là thiên tử, lòng phải rộng lớn như trời đất.

Trẫm tin nàng, cũng tin người nhà nàng; nhưng trẫm cũng muốn nàng phải tin trẫm.

Dù có sóng gió thế nào, chỉ cần nàng còn tin trẫm, thì trẫm nhất định không để nàng phải chịu uỷ khuất!"

Nàng vùi mặt vào lòng chàng, tận hưởng mùi hương quen thuộc chỉ riêng chàng mới có.

Một lúc lâu sau, nàng nhẹ nhàng ngẩng đầu, giọng vẫn không bớt phần sắc sảo,

"Tính khí Chiêu Minh như vậy, Phụng Dương phải từ bi, đức độ thế nào mới chịu đựng nổi"

Quan gia bật cười, ánh mắt dịu dàng mà kiên định, đáp lại,

"Vậy tính khí nàng thế này, cũng chỉ mình trẫm chịu được thôi."
 
Trăng Nhàn.
8. Nước non


Buổi triều ấy vừa tan, bá quan đã lui hết, sân rồng xuất hiện một bóng hình, ngược chiều dòng người, từng bước tiến vào đại điện.

Gió lùa qua vạt áo chàng, thổi tung làm rèm tía hai bên bay phấp phới.

Trong khoảng tĩnh lặng trang nghiêm, từng bước chân chàng dội vang nền đá, như hồi trống trận mang đầy quyền uy.

Ánh nắng xuyên qua cửa điện, dát lên bờ vai ấy lớp lớp cương nghị, càng làm nổi bật khí thế như trời trồng.

Chàng dừng lại giữa thềm ngọc, dáng đứng sừng sững, vững như non cao mà khí khái thì tựa sắt đá.

Mắt chàng nhìn thẳng về phía ghế rồng, trong đáy mắt đầy ý bất bình,

"Hoàng huynh, sao người có thể dễ dàng để Trần thị lấn lướt?

Rõ ràng chị ta cố ý thao túng lòng dân, ép buộc triều đình phải thuận theo ý mình, vậy mà bệ hạ không hề luận tội, dễ dàng bỏ qua như vậy!"

Quan gia không đáp ngay, chỉ khẽ đón lấy chén trà từ tay nội quan, nhấp một ngụm rồi mới điềm tĩnh đáp,

"Tin đó truyền ra, không chỉ tạo sức ép khiến triều đình phải giữ quân Ngũ Yên, nhưng cũng đồng thời là lời cam kết, nếu ngày nào có binh biến, Ngũ Yên tuyệt chẳng ngoảnh mặt với lê dân bá tánh.

Kẻ dám lấy uy tín gia tộc ra đánh cược với thiên hạ, nói lời sinh tử cùng giang sơn xã tắc, hoặc là ngu muội không biết trời cao đất dày, hoặc là lòng dạ son sắc không thể lay chuyển."

Chiêu Minh siết tay, giọng vẫn không nguôi ngoai,

"Hoàng huynh vẫn luôn như vậy, khi thì trang nghiêm như núi, khi thì mềm mỏng hơn nước.

Nhưng riêng với Trần thị, bệ hạ quá thiên vị rồi."

Quan gia ngoảnh lại, thần sắc vẫn điềm tĩnh,

"Ta có thể thiên vị một người, nhưng tuyệt nhiên không vì một người mà lơ là vận mệnh xã tắc.

Nếu Trần thị chỉ nghĩ đến cái lợi nhà Yên Sinh, dù chỉ một khắc, ta cũng không dung.

Nhưng nàng ấy nghĩ cho dân, cho nước.

Một người như vậy, nếu ta không giữ, thì biết giữ ai?"

Chiêu Minh mím môi, thoáng trầm mặc.

Một lúc sau, chàng mới cất lời, giọng đã dịu hơn,

"Vậy nếu có một ngày, Trần thị vì nghĩa quên thân, vì trung mà trái chỉ, hoàng huynh sẽ xử trí thế nào?"

Quan gia nhìn xa ra ngoài cửa điện, nơi cờ lụa hai chữ Đông A tung bay trong gió mới, từng câu cất lên như đinh đóng cột,

"Vậy ngày ấy, trẫm sẽ lấy thân làm vua, lấy tâm làm quân, xét nghĩa trước, hỏi lòng sau."

.

Sau hôm ấy, cô Năm dường như để tâm đến mọi điều xoay quanh Quan gia nhiều hơn.

Từ bữa ăn đến giấc ngủ, mỗi việc lớn nhỏ nàng đều để ý kỹ lưỡng, chẳng hề xem nhẹ.

Nàng chăm chút như thể muốn qua từng điều vụn vặt ấy, hiểu thêm về chàng một chút.

Nàng vốn chẳng bao giờ động vào kim chỉ, nhưng giờ lại kiên nhẫn tập tành thuê thùa may vá.

Hôm thì loay hoay may may cho Quan gia một chiếc áo mặc khi giao mùa, hay đôi hài chàng mang lúc sương giá.

Có khi kim đâm bầm cả đầu ngón, nhưng nàng cũng chẳng một lời than thở.

Con Hồng nhìn vậy ngạc nhiên lắm.

Nó theo cô Năm từ lúc nàng mới lên tám, biết tính nàng xưa giờ, không phải nàng vô tâm, nhưng những gì không để trong lòng thì dù có trước mặt, nàng cũng coi như gió thoảng.

Nàng vốn sống theo ý mình, cái gì không thiết, chẳng bao giờ phí sức bận tâm.

Vừa giúp nàng xỏ kim, con Hồng buột miệng nói,

"Việc này khó quá thì để em làm cho.

Xưa giờ, quốc đất, tát nước em còn tin cô biết, chứ đến thêu thùa may vá, em đã thấy cô chạm tay lần nào."

Cô Năm không ngẩng đầu, chỉ khẽ đáp,

"Vì chưa từng làm nên mới phải học.

Áo này phải chính tay ta may, mới có ý nghĩa.

Nếu đưa em làm, thì còn nghĩa gì?"

Con Hồng nhìn nàng, vừa thương vừa khó hiểu.

Nó do dự giây lát, rồi nhỏ giọng hỏi tiếp,

"Cô... sao tự dưng cô lại quan tâm đến Quan gia thế?

Lúc mới vào cung, nào có thấy người thế này..."

Cô Năm lúc ấy mới ngẩng mặt lên, đôi mắt thoáng ánh lên một tầng sương mỏng.

Nàng đáp chậm rãi, như thể đang nói với chính mình, "Lúc ấy chưa hiểu con người Quan gia, cứ nghĩa chàng giống như bọn Chiêu Minh, Chiêu Đạo, trong lòng mang đầy hiềm khích với phụ vương, lại còn ghen ghét anh trai tài năng hơn người, có được lòng dân.

Sau chuyện vừa rồi, ta phát hiện, thật ra Quan gia cũng rất đáng tin cậy.

Chàng chẳng chững không trách ta chuyện điều hướng dư luận để giữ quân Ngũ Yên, lại còn lên tiếng bênh vực ta trước mặt Chiêu Minh.

Chàng cảm thông cho ta, tức là lòng chàng rộng, có thể nhìn việc vượt khỏi thành kiến.

Một người có thể gác bỏ tư tình để giữ gìn đại cục, thực xứng làm bậc 'Quan gia'."

Con Hồng bật cười khúc khích, "Em hiểu rồi, vậy là cô duyệt Quan gia rồi?"

Cô Năm nghe thì thẹn thùng, lập tức đáp lại,

"Duyệt cái gì mà duyệt, không duyệt thì cũng phải chịu thôi.

Đã gả đi rồi, chẳng lẽ còn được chọn lại?"

"Nói thì nghe vậy, chứ người ta nào có ép cô tự mình may áo cho người ta đâu..."

Cô Năm đỏ mặt, quay mặt sang chỗ khác, khẽ mắng,

"Lắm lời!"

Nhưng rồi nàng cũng dừng tay, ngẩng nhìn bầu trời trong xanh lặng gió, khẽ buông một câu như gió thoảng,

"Ta gả vào cung là vì gia tộc, vì phụ vương, vì Ngũ Yên.

Nhưng sống với nhau một đời, thì đâu chỉ dựa vào hai chữ trách nhiệm.

Ta nghĩ... nếu có thể hiểu được lòng chàng, cũng để chàng hiểu lòng ta, thì ít nhất, một đời này không đến mức nhàm chán"

Lời vừa dứt, chính nàng cũng ngẩn người.

Có những điều trước đây nàng chưa từng nghĩ đến, mà hôm nay lại buột miệng thốt thành lời.

.

Quan gia cho nội quan đến các cung báo là sẽ dùng thiện ở cung Quan Triều, các cung không phải chờ cơm.

Cô Năm nghe vậy liền sai người làm cơm như mọi bận vắng chàng.

Bao lâu nay, khi không hầu bữa Quan gia, mâm cơm của nàng vẫn giản dị như thời còn ở nhà, một bát cơm trắng, ít muối vừng, chút canh rau mùng tơi và đôi miếng thịt rang.

Quen nếp cũ, nàng chưa từng thấy cần thay đổi.

Tưởng rằng sẽ qua bữa, ai ngờ đến lúc cung tỳ vừa dọn mâm lên, Quan gia lại đột ngột ghé đến.

"Quan gia vạn phúc!"

Cả cung giật mình vội vàng quỳ đón.

Chàng khoát tay, nhàn nhã: "Miễn cả đi."

Rồi ung dung ngồi xuống chiếc ghế đẩu bên cạnh chỗ nàng, thong dong như đã quen thân chốn này từ lâu.

Cô Năm không giấu nổi ngạc nhiên,

"Thiếp nghe nội quan báo, Quan gia bận quốc sự, không dùng thiện ở hậu cung?"

"Trẫm xong việc sớm.

Ngồi ăn một mình thấy trống vắng, nên đi qua đây."

Ánh mắt chàng đảo qua mâm cơm vừa dọn, chỉ vài món đơn sơ, chẳng chút cầu kỳ.

So với những sơn hào hải vị nơi ngự thiện, quả thực một trời một vực.

Cô Năm thấy rõ ánh nhìn ấy, vội giải thích,

"Thiếp không hay Quan gia ghé đến, thành ra chuẩn bị sơ sài.

Để thiếp kêu người dưới dọn mâm cơm khác."

"Ngày thường nàng cũng ăn như vậy sao?"

"Thiếp quen thói ăn uống ở nhà, sáng giờ luôn mồm luôn miệng ăn mấy thứ linh tinh, đến giờ lưng bụng cũng chỉ dùng mấy đồ đơn giản"

"Ngũ Yên đất đai màu mỡ, nhìn sông tựa núi, làm gì mà đến mức phải dè sẻn như thế?"

Nghe đến đây nàng bỗng ngạc nhiên quá đỗi.

Chàng quan tâm đến Ngũ Yên chăng.

"Phụ vương thần thiếp thuở sinh thời nghiêm khắc lắm.

Người không cho phép con cái tiêu xài phung phí, càng không dung túng thói quen hưởng lạc.

Với người, sống tiết độ là một cách giữ lòng kính dân."

Nàng dừng lại một nhịp, giọng chùng xuống,

"Có dịp, Quan gia về Ngũ Yên cùng thiếp thăm thú, sẽ hiểu tấm lòng chân chất của người nơi ấy.

Nhà thiếp nằm lưng chừng núi, trông xuống cánh đồng thẳng cánh cò bay cùng dòng sông quanh co uốn lượn.

Sông ôm lấy núi, núi tựa vào sông, gió sớm mây chiều, đều dịu dàng như lòng người vậy.

Dân quê thiếp sống yên lành, chẳng cần cao lương mỹ vị, cũng đã thấy đủ đầy.

Ấy chính là cái tình, cái nghĩa mà phụ vương thiếp đã cả đời nâng niu."

Nàng ngước lên nhìn chàng, đáy mắt ánh lên tia lấp lánh,

"Thiếp tin...

Quan gia nhất định sẽ thích Ngũ Yên."

"Chẳng trách mẫu hậu lại ngưỡng phục ông ấy như vậy" Quan gia khẽ thốt, tựa như lời buột miệng từ một tầng ký ức xưa cũ, vọng lên từ trong vô thức.

Cô Năm ánh mắt thoáng dao động, "Ý Quan gia là...

Thái hậu?"

Quan gia không đáp ngay, chàng đưa mắt nhìn xa xăm, rồi mới chậm rãi nói,

"Người chưa từng buông một lời trách cứ Yên Sinh vương.

Ngược lại, mỗi lần nhắc đến ông, giọng người lại dịu xuống, ánh mắt cũng sâu hơn.

Những lời ấy chẳng nhiều, nhưng mỗi câu đều mang theo tâm ý nể phục.

Ta còn nhớ có lần, người ngồi rất lâu nơi thềm ngọc, chỉ lặng lẽ dõi mắt về phương Đông.

Đến khi ánh tà dương gần tắt, mới khẽ thở dài, như mang theo cả nỗi niềm khắc khoải không nói thành lời."

Chàng ngừng lại một nhịp, ánh nhìn vẫn không rời phương trời ấy như thể đang tìm một dáng người trong cơn gió xưa.

Chuyện của tiền nhân đến nay đã thành dĩ vãng.

Những sóng gió ngày đổi triều cũng phôi phai.

Bao đau thương mất mát chỉ để đổi lấy ngai vàng vững chãi cho chàng hiện tại.

Giọng chàng trầm lại,

"Ngày người đi, cũng chỉ nhắc về chuyện năm ấy, về dì Chiêu Thánh và về Yên Sinh vương."

Nàng lặng thinh, lòng dâng lên một nỗi niềm khó diễn tả.

Giữa chốn điện vàng cung ngọc, nơi những toan tính chồng chất và nghi kỵ chực chờ, vẫn còn đó những mảnh nghĩa tình, vợ chồng, anh em, chị em, thầm lặng, đủ sâu để lưu dấu qua hai đời đế vương.

Chàng mang trong mình dòng máu nối liền hai triều đại, từ những năm tháng máu lửa nội chiến, gánh lấy khát vọng an bang mà thế nhân gửi gắm.

Trên vai chàng, không chỉ là ngôi vị chí tôn, mà còn là di nguyện chưa trọn của tiền nhân, là chiếc cầu mong manh nối liền những rạn nứt của thời cuộc, giữa muôn vàn uẩn khúc chưa từng được nói hết bằng lời.

Cô Năm bước gần đến, ôm lấy dáng hình chàng.

Chỉ một cái ôm thật chặt, như thể muốn san bớt gánh nặng đang đè trên vai người trước mặt,

"Chàng yêu trăm họ, lòng rộng như trời, cũng dung được thiếp.

Thiếp thương muôn dân, nghĩa tình trải khắp núi sông, nguyện cùng chàng giữ yên xã tắc, vẹn tròn nước non."
 
Trăng Nhàn.
9. Gió đưa cành trúc la đà


Cuối xuân năm ấy, cô Năm có tin vui.

Ngày nàng mới nhập cung, dù có chiếu chỉ rõ ràng, được ban áo mũ đủ nghi lễ phẩm Cung phi, nhưng vì chưa được phong mỹ tự, lại đúng khi triều đình bận rộn chuyện đi sứ rồi xây dựng lại thành trì bị tàn phá sau cuộc chiến nên sự hiện diện của nàng cũng chỉ như gió thoảng.

Chẳng ai thèm để tâm đến một người mới được thêm vào trong hậu cung.

Luận về xuất thân, việc ấy quả thực có phần lấn cấn, bởi dù gì nàng cũng là cháu nội của Thái Tổ hoàng đế [1], lại là em gái của ba vị vương hầu.

Vai vế ấy, trong hậu cung chẳng mấy ai sánh bằng.

Nhưng người bên trong đều ngầm hiểu, đây là chuyện đã có sự sắp xếp từ Thượng hoàng và Thượng phụ [2].

Thành thử, dù trong lòng có điều dị nghị, cũng không ai dám công khai bàn luận gì nhiều.

Người ngoài cung, còn chẳng ai hay biết cô Năm nhà Khâm Minh đại vương đã vào nội đình, càng không rõ nàng nhập cung từ bao giờ.

Mãi đến khi nàng hoài long thai, giấy không gói được lửa, lời đồn sớm muộn cũng lan xa.

Không muốn để thiên hạ nghĩ rằng Thượng hoàng còn vướng mối hờn với người anh đã khuất mà bạc đãi cháu gái, ngài bèn bàn định rồi ban chiếu sắc phong nàng tước Phu nhân, tặng mỹ tự 'Thiên Cảm'.

Lúc ấy, triều đình mới thực sự hay biết sự hiện diện của cô Năm trong hậu cung.

.

Một tuần trăng sau chiếu chỉ sắc phong, Thiện Đạo phu nhân lo cô con gái út hoài thai vất vả nên dâng sớ lên Lệ Trinh nguyên phi xin được vào cung chăm nom nàng ít bữa.

Nguyên phi đọc sớ, thấy lời lẽ thiết tha, cảm thông cho tấm lòng của người làm mẹ liền chuẩn cho Phu nhân được vào cung một thời gian.

Trong phủ Yên Sinh đồ đạc ngổn ngang, từng gói đồ được xếp ra rồi lại thu vào.

Thiện Đạo phu nhân tay không ngơi nghỉ, nâng lên rồi lại hạ xuống, đắn đo suy nghĩ nên mang đồ gì vào cung cho cô Năm.

Cô cả ở cạnh cũng phụ bà một tay.

Thấy Phu nhân lo lắng thấp thỏm, suy đi tính lại, cô cả cất lời,

"Mẹ đâu cần phải lo cho cái Thiều.

Nếu là cô Tư vào nội thì con còn lo, cô ấy cá tính có thừa, chứ mềm mỏng lại chẳng đủ.

Còn cô Năm tựa làn nước trong veo, vừa cương quyết mà lại dịu dàng nết na.

Nếu con là đàn ông, cũng chỉ muốn cưới con bé về làm vợ"

Thiện Đạo phu nhân khựng tay trong chốc lát, mắt không rời gói trầu đang gấp dở, rồi bà quay lại phía cô cả, than, "Cái tính hiền lành, ở nhà thì ai cũng quý, nhưng vào chốn ấy, người ta đâu chỉ nhìn vào nết.

Nó hiền như bột, u sợ có ngày nó bị người ta nắm trong tay mà nhào theo ý họ."

Phu nhân chững lại một thoáng, ánh mắt chùng xuống rồi mới tiếp, "Rồi cả cái danh phong cũng vậy, u nghe mà lòng chẳng yên.

'Thiên Cảm', chẳng có chút khí khái để người ta kính nể.

Con xem, con gái nhà quyền thế được phong danh gì?

Nào là Thái Đường, Phụng Dương, nghe đã thấy đường bệ, cao sang.

Còn cái tên Thiên Cảm?

Mềm yếu, bạc nhược!"

Bà dừng lại một chút, đôi mắt nhìn xa xăm như nhớ đến chuyện cũ, giọng trầm xuống, khẽ khàng, "Không phải thầy con cũng thế sao.

Ngày xưa còn phụng sự triều đình, làm quan lớn thì 'Phụng Càn' vương.

Rồi cũng sống chân thành, đối đãi người ta tử tế, lễ nghĩa chẳng thiếu điều chi.

Cuối cùng vẫn bị người ta bày mưu tính kế, chẳng còn đường lui, đến mức phải dậy binh mà mang tiếng phản thần, nhận về hai chữ 'Yên Sinh'.

Người ta ghét kẻ tham, nhưng lại càng không dung kẻ ngay.

Hiền không đúng chỗ, lại hóa tai họa."

Cô cả nghe vậy liền đón lời, "Mẹ nghĩ vậy bi quan quá, chứ con thấy 'Thiên Cảm' rất hợp với cô Năm nhà mình.

Không cần quyền thế cao sang, khí phái đài các, chính vì nội tâm chân thành mà tự khắc thông tỏ được sự lý [3], khiến người ta phải cảm mếm từ tâm, đến cao xanh cũng không nỡ lòng ngó lơ.

Chính bản tính ấy của cô Năm chạm đến tâm ý của Quan gia."

Rồi phu nhân quay sang nhìn cô cả, ánh mắt thấp thỏm, "Bé Năm từ nhỏ đã tự lập, chuyện gì cũng giấu trong lòng, không muốn nói ra để u lo lắng.

Nếu lỡ có ngày xảy ra chuyện gì, u cũng không biết sống sao nữa."

"Mẹ cứ yên tâm.

Con đã dặn người bên trong cẩn thận, có có điều gì bất trắc đều sẽ báo ngay cho con."

Phu nhân khẽ gật đầu, rồi chợt trầm ngâm.

Ánh mắt bà một thoáng rơi vào khoảng không, giọng nghèn nghẹn,

"Từ thuở bé, con đã là đứa được ông ấy thương yêu nhất.

Ngay cả thầy dạy học cũng là lựa chung với Tung, với Tuấn.

Việc trong việc ngoài, con đều lo đâu vào đó, chưa từng khiến ai bắt bẻ được điều gì.

Người ta bảo, 'ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng,' chẳng phải là có lý hay sao" Bà khẽ mím môi, đôi mắt bất giác đỏ hoe, "Nếu tình duyên được Bụt thương nữa, thì há chẳng là phúc trọn đôi đường?"

Cô cả khẽ cúi đầu, "Đời người kiêng kị nhất là quá tròn đầy.

Trăng tròn rồi sẽ khuyết, hoa nở rồi sẽ tàn.

Con chỉ mong mẫu thân yên lòng, nhà cửa an yên, dân Ngũ Yên mưa thuận gió hòa, ấy đã đủ rồi."

[1] Thái Tổ hoàng đế: Trần Thừa, miếu hiệu ban đầu là Trần Huy Tông, sau được đổi lại là Trần Thái Tổ.

[2] Thượng phụ: Trần Thủ Độ.

[3] Câu đầy đủ "Tự thành minh, vị chi tính.

Tự minh thành, vị chi giáo.

Thành, tắc minh hỹ.

Minh, tắc thành hỹ." nghĩa là "Do nội tâm chân thành mà sáng tỏ được sự lí, đó gọi là bản tính [tiên thiên].

Do sáng tỏ sự lí mà trở nên chân thành, đó gọi là giáo hoá [hậu thiên].

Chân thành thì nhất định sẽ sáng tỏ được sự lí, sáng tỏ sự lí cũng nhất định sẽ chân thành."

.

Cô Năm bụng bầu đã nhô ra chút đỉnh, đi lại cũng bắt đầu khó khăn hơn trước.

Nhưng vừa trông thấy bóng Phu nhân và cô Tư thấp thoáng ngoài sân, nàng đã vội đỡ lưng bước ra tận cửa viện, nét mặt mừng rỡ.

"Mẫu thân!

Chị Trân!"

Thiện Đạo phu nhân thấy người con gái lâu ngày chưa gặp, mừng đến rưng rưng nước mắt.

Ngày trước nàng học hành nơi kinh sư, bà còn thường lui tới thăm nom.

Còn bây giờ, đã vào trong nội cung, muốn thấy mặt con cũng chẳng còn dễ dàng.

"Gái út của u, bụng mang dạ chửa mà còn chạy ra tận đây làm gì?"

Bà bước tới, đỡ lấy tay nàng dìu vào gian trong, xót xa.

"Đầu năm nước mắt lưng tròng không muốn đi lấy chồng, mới có vài tháng mà cái Nếp nhà mình đã ra dáng lệnh bà nội cung rồi."

Cô Tư ở cạnh móc mỉa nàng vài câu.

Nghe vậy cô Năm lên giọng, gắt, "Chị!

Tên tục của em mà chị vẫn còn nhắc lại!"

Cô Tư cười trừ, đưa cho nàng một gói bánh rán nhào đường bọc kín trong lá chuối, làm vẻ kính cẩn,

"Con mời lệnh bà xơi ạ"

Ngày thường cô sẽ chẳng ngần ngại ném thẳng gói bánh để nàng tự bắt lấy, nay nàng hoài thai mà cô ân cần hơn rất nhiều.

Trách là vậy cô Năm nhanh chóng đổi vẻ thích thú mở gói bánh ra, cầm ngay một chiếc lên cắn miếng, mắt sáng bừng.

"Lâu lắm rồi em chưa được ăn vị này"

"Còn phải nói!

Chị phải đặt trước mấy hôm, hôm nay mới có mẻ bánh nóng hổi cho em đấy."

"Các chị vẫn hiểu em nhất."

Nàng nũng nịu, đưa tay khẽ đung đưa tay người chị, xong lại ghé gần chỗ phu nhân.

Giọng nàng thoáng buồn, nhìn mái tóc lưa thưa sợi bạc của người mẹ, "Con không gặp bu có vài tháng thôi mà sao tóc bu đã bạc đến nửa đầu rồi?"

"Một đứa con gái đã gả đi, đứa khác thì cũng sắp sửa xuất giá, còn có đứa không chịu lấy chồng.

Tôi đâu cần đến vài tháng, một đêm thôi cũng đủ bạc trắng đầu!"

Cô Tư nghe vậy bĩu môi, "Chưa gả thì u lo, gả rồi u cũng lo.

U lo kiểu đó thì đứa nào dám gả nữa!"

Cô Năm nhìn sang, nét mặt nghiêm lại, "Con trong cung chẳng thiếu thốn thứ gì.

Quan gia đối với con cũng rất tốt, hết mực nâng đỡ.

U đừng bận tâm lo nghĩ làm gì thêm nữa."

Con Hồng vừa đỡ tay nàng ngồi xuống trường kỷ, lanh lảnh góp chuyện, "Phu nhân không biết đấy thôi, Quan gia thương lệnh cô lắm.

Hễ có vật ngon của lạ là đích thân bệ hạ phát lộc.

Trước kia, Nguyễn Thái phi thì xét nét, Chiêu Minh Vương cũng chẳng dễ gì, nhưng có Quan gia ra mặt, chẳng ai làm khó cô được nữa."

Phu nhân nghe vậy thì tươi cười, "Được bệ hạ thương là tốt rồi..."

Nàng xua tay, vừa nhai bánh vừa lắc đầu, "Quan gia là người ấm áp.

Con thấy, với ai bệ hạ cũng chu đáo vậy cả."

Phu nhân thoáng liếc con Hồng.

Con Hồng hiểu ý, khẽ cúi đầu.

Không khí chững lại một nhịp.

Cô năm mới nghiêng đầu hỏi sang chuyện khác,

"Chị Ninh cũng sắp gả đi rồi, trong nhà chỉ còn lại mỗi chị Trân thôi"

Nghe đến đây cô Tư như bị chạm vào chỗ không vui, lên giọng kể, "Em không biết anh Tung bây giờ xấu tính thế nào đâu.

Anh ấy chê chị già, bảo của hồi môn mẹ chuẩn bị cho chị, mấy năm nay đã bị chị dùng hết sạch để mua mực bút, giờ muốn gả chồng cũng không có tiền để gả.

Xong anh ấy còn nói chị cứ suốt ngày vùi đầu vào sách vở, miệng lưỡi sắc như dao, chua ngoa không ai thèm để ý.

Chị thà đi với mẹ lên kinh còn vui hơn ở nhà nhìn mặt cái ngữ đấy"

Phu nhân nghe đến đây thì gằn giọng, "Con bé này, lời Tung cũng là lo cho con.

Con thông minh, lại giỏi giang, sách cổ nhân để lại đã học đến phân nửa, nhưng mình sống đâu chỉ ở trong sách vở.

Một đời dài rộng, có một người kề cạnh cũng rất cần thiết"

Cô Năm xen vào, "Thật ra thì con thấy chị Trân như vậy lại hay.

Sau này chị ấy làm bà tổ cô phù hộ độ trì cho con cháu trong nhà là hợp lý nhất!"

Cô Tư nghe thế thì hừ nhẹ một tiếng, trề môi, "Còn nói nữa thì lần sau khỏi có bánh rán mà ăn."

Cô Năm vội vàng xun xoe, níu lấy tay chị, "Thôi mà...

Chị Trân là đệ nhất tài nữ đất Ngũ Yên, chỉ cần chị gật đầu thì rể quý của u xếp hàng dài từ chân núi Yên Phụ đến tận cổng thành kinh sư cũng không hết!"

Cô Tư nghe tới hai chữ "tài nữ", khẽ nhếch môi cười, không rõ là tự giễu hay cảm thán, "Tài nữ thì cũng phải xem là tài để làm gì.

Phu quân đâu cần thê tử làm thơ, viết phú.

Nói nhiều một chút là thành sắc sảo, còn dám tranh biện lại thành chua ngoa.

Cái tài của chị, e là chẳng vừa mắt ai."

"Em thì lại thấy chị Trân là tuyệt vời nhất" Nàng quay sang nắm lấy tay cô Tư, giọng dịu như suối mát, "Có ai thương chị Huân gánh vác mà luôn đứng ra giúp chị lo toan gần xa?

Có ai lo chị Ninh sầu muộn mà mỗi ngày lui tới quân doanh chuyện trò để chị khuây khoả?

Có ai nhớ em xa nhà chẳng được ăn ngon mà gói ghém từng chút, để em ở kinh vẫn như đang ở nhà?"

Cô Tư vốn đã mang tâm sự, nghe tới đây thì không kìm được xúc động.

Trong nhà, có lẽ cô Năm là người ngọt ngào nhất.

Lời nàng nói, như rót mật vào tai, khiến ai nghe cũng mềm lòng, cũng yêu thương.

"Bé Năm nói đúng đấy."

Phu nhân cầm lấy tay cả hai cô con gái, nhẹ siết, "Một nhà mà anh chị em yêu thương nhau như vậy, u còn mong gì hơn nữa?"

.

Mỗi khi ở cạnh mẫu thân, nàng lại như trở về thuở thơ bé, là cô công chúa nhỏ được che chở.

Phu nhân biết nàng thích gì, ghét gì, đến cả từng thói quen nhỏ cũng nắm rõ.

Chẳng để nàng động tay, động chân, bà đích thân hâm bát sữa dê, ngồi chờ đến khi nàng uống cạn mới yên lòng.

Sau rồi lại tỉ mỉ bóc chiếc bánh gai, đặt vào tay con gái.

Một lát, nàng ngập ngừng cất lời,

"Mấy tháng trước chị Ninh lên kinh, con thấy chị vẫn tiều tuỵ lắm.

Chị hai dạo này thế nào rồi mẹ?"

Nghe nhắc đến tên người chị Hai, cô Tư đang nhẩn nha têm trầu, bỗng dưng lặng người.

Phu nhân thì thở dài không nói gì thêm.

Một hồi cô Tư mới đáp,

"Chị Ninh vẫn vậy.

Cả ngày chỉ quanh quẩn trong quân khu, luyện binh, tập trận.

Mấy lần chị mang cơm đến cho chị ấy, thấy chị luyện cung đến bầm tím cả tay.

Chị dặn rồi mà cũng chị ấy cũng chỉ ậm ừ cho qua, chẳng để lời chị nói vào tai"

Phu nhân lúc này mới lên tiếng, "Ý Ninh từ bé đã kiên cường, nhưng cũng là đứa chịu nhiều thiệt thòi.

Thầy u ruột của con bé, một lòng trung liệt với phụ vương các con mà mất mạng.

Trận với Thát vừa rồi, Tử Đức lại hy sinh nơi sa trường.

U thương con bé lắm mà không biết đến bao giờ mới bù đắp được cho Ý Ninh" Chững lại một hồi, Phu nhân lại tiếp, "Tháng ba năm sau mãn tang Tử Đức, Ý Ninh sẽ gả cho Vũ Uy vương.

Sau này rồi chuyện gì hai chị em con cũng phải đỡ đần nhau.

Tuy Ý Ninh vẻ ngoài mạnh mẽ là vậy nhưng thâm tâm lại là đứa mềm yếu nhất.

Mẹ chỉ lo Vũ Uy chê con bé đã quá thì, vậy thì Ý Ninh của chúng ta phải chịu thiệt thòi rồi"

"Mẹ yên tâm, chỗ của Vũ Uy vương, con sẽ có lời, nhất định không để chị Ninh chịu thiệt thòi"

.

Phu nhân chỉ ở lại đến chiều, sắp xếp xong xuôi bữa tối của nàng mới yên tâm rời cung.

Tối ấy quan gia không qua hậu cung dùng bữa mà ở lại cung Quan Triều duyệt tấu sớ.

Đến tận đêm khuya canh hai mới thấy ánh lồng đèn thấp thoáng đằng xa tiến gần đến viện Thanh Duyên.

Cô Năm đang ngồi trên sập gụ chăm chú đọc sách, nghe thấy có tiếng hô vang vẳng bên ngoài thì vội bỏ lại cuốn sách, ra ngoài đón thánh giá.

Nàng chỉ khoác một tấm áo mỏng, cơn gió lướt qua khiến vạt áo nàng bay loạn.

Quan gia thấy nàng bụng bầu mà vẫn đứng bên ngoài đợi thì bước chân thêm phần vội vã.

Chàng cởi áo bào bên ngoài, khoác lên vai nàng, khẽ trách,

"Dạo này trời đổi gió, nàng hoài thai mà không sớm nghỉ ngơi, lại ra ngoài đứng thế này?"

Nàng khẽ nghiêng đầu, giọng có phần tự đắc, "Thiếp mang thai, đâu phải hóa thành tờ giấy mà gió thổi là bay mất.

Mẫu thân lo, Quan gia cũng lo, ai nấy đều coi thiếp như bình sứ mỏng, chỉ chạm một chút là sứt mẻ."

Nàng dừng lại, ánh mắt sáng lên,"Thiếp từng chiêm bao thấy con mình đồng da sắt, khí chất mạnh mẽ vô cùng, há bạc nhược mềm yếu, đến cơn gió cũng phải sợ?

Vả lại...

Quan gia trăm công nghìn việc, thiếp nằm mà lòng chẳng yên.

Phải chờ đến khi biết người đã nghỉ ngơi, thiếp mới yên lòng."

Chàng không đáp, chỉ lặng lẽ nhìn nàng một hồi, trong ánh mắt hiện lên ba phần bất lực, bảy phần nuông chiều.

Rồi chàng cúi người, nhẹ nhàng đỡ nàng bước vào trong, từng cử động đều cẩn trọng như thể sợ mạnh tay một chút thôi sẽ khiến nàng tổn thương.

Vừa dìu nàng, chàng vừa hỏi,

"Tối nay mẹ con nàng dùng gì?

Kể trẫm nghe xem."

Giọng nàng luyến láy như đang kể một chuyện ly kỳ lắm, "Mẫu thân mang cho thiếp một bình sữa dê, bắt thiếp uống bằng hết.

Rồi lại đem đến một con cá chép tươi rói, thả ở trong chum gốm, khi mở ra vẫn còn bơi lội nghoe ngẩy.

Mẫu thân đích thân nấu cháo cá, nhìn thiếp ăn hết hai bát tô mới yên tâm ra về.

Mới đầu thiếp không ăn nổi, sau đành nhắm mắt nhắm mũi ăn cho mẫu thân vui.

Nhưng rồi thiếp phải uống mấy ly chè gừng mới át được mùi tanh.

Quan gia xem, bây giờ thiếp không còn mùi cá nữa rồi."

Nàng vừa nói vừa nghiêng người ghé sát vào chàng, ánh mắt lấp lánh đợi chàng xác nhận.

Nhìn vẻ tươi tắn ấy, chàng không kìm được nụ cười nơi đầu môi,

"Ừm...

đúng là không còn mùi cá thật."

Nàng làm mặt nghiêm, tay khẽ vén lọn tóc vương trước trán, ra vẻ than thở,

"Thiếp ghét nhất là ăn mấy con vật bơi dưới nước.

Vậy mà nay mẫu thân không chỉ nấu cháo cá, còn định làm thêm mấy hũ ruốc cá để thiếp tẩm bổ.

Hay...

Quan gia đến dùng bữa cùng thiếp nhiều nhiều một chút?

Như vậy thiếp sẽ không cần phải ăn cá nữa, để phần người cả!"

Ánh mắt nàng lấp lánh tinh nghịch, như con mèo nhỏ ranh mãnh đang tìm cách làm nũng.

Chàng bật cười, vươn tay xoa nhẹ lưng nàng,

"Hóa ra bữa cơm của trẫm lại trở thành cái cớ để nàng trốn ăn phỏng?"

Nàng bật cười khẽ khàng, đôi mắt cong cong như trăng non đầu tháng, "Nhưng mẫu thân thiếp nấu ăn rất khéo.

Hôm nào chính sự thưa thớt, Quan gia ghé cung thiếp một bữa, thiếp sẽ dọn riêng mâm, mời bệ hạ thưởng thức tài nghệ của người."

"Được rồi.

Trẫm nhất định sẽ đến thưởng thức tài nghệ của Phu nhân."

Chàng ngừng một thoáng, rồi lại hỏi, "Hôm nay Phu nhân vào cung, nói với nàng những chuyện gì?"

Nàng nhìn chàng giây lát, từ tốn đáp, "Chỉ là chút chuyện nhà, nhắc về hôn sự của hai chị gái nhà thiếp."

Chần chừ một hồi, nàng mím môi, giọng thỏ thẻ, "Chị hai nhà thiếp sắp gả cho chú Vũ Uy.

Mẫu thân thiếp lo chị ấy từ nhỏ đã ở trong quân doanh, tính tình bộc trực, lấy chồng rồi sẽ chịu nhiều thiệt thòi..."

Nàng e dè như đang đoán thánh ý, chẳng dám nhìn sâu vào ánh mắt chàng.

Dẫu biết chàng không trách chuyện cũ lần nàng tự làm theo ý mình, nhưng nàng cũng không dám xin xỏ chàng nhiều điều.

Lúc này chàng mới cất giọng, trầm ấm mà dứt khoát,

"Vũ Uy là người trọng tình nghĩa, cũng biết nặng nhẹ.

Trẫm sẽ có lời với chú ấy.

Ý Ninh có công với triều đình, lại là người nhà của nàng, trẫm sẽ không để cô ấy chịu thiệt."

Nàng khẽ cúi đầu, giọng nhỏ, "Thiếp tạ ơn Quan gia.

Bệ hạ trăm công nghìn việc, vậy mà vẫn thương đến thiếp..."

"Trẫm thấy nàng cũng gian xảo lắm...

Lúc nhờ vả trẫm thì như rót mật vào tai, xin xỏ không ai sánh bằng."

Nàng hơi nghiêng mặt, thẹn thùng, "Thiếp đâu có.

Chỉ là may mắn hơn người, nên mới được Quan gia nhớ đến thôi"

Ánh đèn lay nhẹ trong gió, như gợn theo nụ cười vừa trên môi chàng.

Chàng không nói thêm lời nào, nhưng cái nhìn lại đằm xuống, đầy dịu dàng.
 
Trăng Nhàn.
10. Nghiệp đế vương


Trung thu năm ấy cô Năm được sách phong Thiên Cảm hoàng hậu, không lâu sau khi nàng được phong tước Phu nhân.

Lần này chiếu chỉ được soạn bởi quan Hành khiển của cung Quan Triều, không phải từ cung Thánh Từ như dạo trước.

Dẫu chiếu chỉ từ đâu ban ra, theo lệ đều phải thông qua cả hai cung, nhưng người trong nội đình đều ngầm hiểu, đây có lẽ là ý của Quan gia.

Nếu không có sự hậu thuẫn từ ngài, nàng há dễ gì được phong hậu nhanh đến vậy?

Việc Thiên Cảm phu nhân được lập làm hoàng hậu tuy diễn ra sớm hơn dự liệu, nhưng kỳ thực chẳng ai lấy làm lạ.

Khi ấy, hậu cung thưa thớt phi tần, dù đều là khuê nữ thế gia, nhưng luận về xuất thân thì không ai có thể sánh bằng Thiên Cảm.

Nàng là đích nữ của Khâm Minh đại vương, con nhà vương thất chính tông, lại học hành nơi kinh sư, được dạy dỗ lễ nghi khuôn phép từ thuở nhỏ.

Chưa nói đến mẫu thân nàng, Thiện Đạo Phu nhân, cũng khiến người trong nội tộc phải kính nể.

Thiện Đạo phu nhân là con gái trưởng của Kiến Quốc đại vương [1], danh tiếng lừng lẫy một thời.

Thuở trước, dù trong phủ Phụng Càn vương có mặt Thuận Thiên thái hậu, khi ấy còn là thê tử của ngài, Thiện Đạo phu nhân vẫn không bị giáng xuống làm thiếp thất mà giữ danh phận "bình thê" [*].

Đến tận bây giờ, mỗi lần Thượng hoàng hữu sự hỏi chuyện Phu nhân, ngài vẫn một mực giữ lễ, chưa từng xưng hô suồng sã.

Khi chiếu chỉ được ban xuống, Thiên Cảm đã bước sang tháng thứ sáu của thai kỳ.

Vì lo cho sức khoẻ của nàng, lễ nghi sắc phong được giản lược tối đa nhất.

Tà áo Địch y rộng rãi, vừa khéo che đi chiếc bụng đã chớm vượt mặt.

Trên nền lụa thâm thanh, những đường thêu chim trĩ ánh vàng rải rác nơi vạt áo tạo nên vẻ mềm mại.

Mái tóc nàng búi cao, cài phượng quan nạm ngọc, ở giữa điểm thêm chiếc lược khảm đồi mồi hình bán nguyệt.

Hai dải lụa mỏng vắt qua thái dương buông thõng xuống ngang vai, khẽ đung đưa theo từng bước chân uyển chuyển.

Nàng bước lên chính điện trong tiếng nhạc Thái thường [2] vang vọng, dáng đi khoan thai, từng cử chỉ giữ nguyên khuôn phép.

Nắng nhạt giữa thu hắt lên dung nhan thanh tú, khiến khuôn mặt nàng như phủ một lớp sương dịu dàng, nghiêng nghiêng điểm nét đoan trang.

Khi quan Hành khiển dâng chiếu, nàng quỳ xuống, đón kim sách, nhận ngọc ấn, động tác nhẹ nhàng mà dứt khoát.

Quan gia khẽ nghiêng người, hai tay nâng lấy cánh tay nàng, dìu nàng đứng dậy.

Chàng nắm lấy tay nàng, lòng bàn tay ấm áp chạm vào nhau, từng ngón tay siết chặt.

Trong một khoảnh khắc, tiếng trống lễ dừng lại, cả điện đường lặng như tờ.

Đế hậu cùng nhìn xuống bách quan, tầng tầng lớp lớp triều phục rập rờn như sóng biển, phủ kín một khoảng sân rồng.

Ánh nắng buổi sớm lọt qua mái hiên điện Thiên An, chiếu lên bậc ngọc, hắt bóng đế hậu đổ dài trên nền gạch đỏ.

Bóng ấy giao nhau, rồi nhập làm một.

Tiếng hô vang giữa không gian tĩnh lặng, vọng từ ngoài vào trong, lan khắp chính điện,

"Hoàng đế vạn tuế!

Vạn vạn tuế!"

"Hoàng hậu thiên tuế!

Thiên thiên tuế!"

.

Sau lễ sách phong, triều đình tổ chức dâng hương tế Tiên Đế tại Tông miếu, mời các bậc trưởng tộc cùng tông thất đến chứng lễ.

Thiện Đạo phu nhân, thân mẫu của hoàng hậu, cũng được ban tước hiệu Quốc mẫu, quy chế nghi trượng, áo mũ ngang hàng với hoàng hậu.

Sau Linh Từ quốc mẫu năm xưa, bà là người thứ hai trong hoàng tộc được phong danh vị này.

Thế nhưng, khi lễ dâng hương tại Tông miếu diễn ra, Quốc mẫu lại từ chối bước chân vào chính điện.

Bà chỉ lặng lẽ đứng bên ngoài bái vọng.

Cờ xí rợp trời, dáng hình nghiêm cẩn một mình đơn độc.

Người hiểu chuyện thì chỉ lắc đầu lặng im, kẻ không hay biết thì không khỏi bàn tán.

[1] Kiến Quốc Đại vương: Trần Tự Khánh.

Chi tiết Thiện Đạo Quốc mẫu là trưởng nữ của Kiến Quốc Đại vương là hư cấu.

[2] Thái thường tự là cơ quan chuyên trách nhạc vũ cung đình, nhạc Thái thường chuyên được dùng trong các lễ nghi quan trọng của triều đình.

Trần Hưng Đạo trong Dụ chư tỳ tướng hịch văn từng đau xót: "Nghe nhạc Thái thường để đãi yến sứ giả mà không biết căm"

[*] Bình thê: hai người cùng vai trò vợ cả, xuất hiện trong trường hợp người đàn ông đã có thê cưới thêm vợ nhưng thân phận vợ mới cao, không thể làm thiếp nên lúc này có hiện tượng hai thê, gọi là bình thê.

Trong truyện, Thiện Đạo là vợ cả của Khâm Minh trước khi ông cưới Thuận Thiên.

.

.

Hồng tất bật suốt cả ngày, chạy lui chạy tới lo liệu chuyện sắc phong cho chủ nhân.

Đến tối, mọi việc đâu vào đấy, nó mới được ngả lưng xuống chiếu.

Toàn thân mỏi mệt rã rời, vừa nằm kềnh ra chưa ấm lưng, mắt nó đã lim dim.

Thình lình, một tiếng gõ cửa khe khẽ vang lên từ bên ngoài, rồi theo sau là giọng nói quen thuộc, gọi nhỏ,

"Hồng... cái Hồng..."

"Cô Tuyết?"

Hồng ngạc nhiên kêu lên một tiếng, giật mình nhỏm dậy, rồi hấp tấp chạy ra mở cửa.

Tuyết là cô ruột nó, cũng là người hầu tâm phúc bên cạnh Quốc mẫu từ thuở bà còn là trưởng nữ của Kiến Quốc đại vương.

Đến khi Quốc mẫu lấy chồng, có con, bà vẫn theo hầu Quốc mẫu, làm vú nuôi bồng bế cậu cả và cô cả lớn lên.

"Mày làm gì bên trong mà lâu la thế?

Tao phải gọi gần một khắc mày mới ló mặt ra," Cô Tuyết lườm, gắt.

"Con dậy từ canh nhất để hầu cô Năm...

à không, hầu Hậu..."

Hồng lúng túng sửa lại cách xưng hô mà nó đã quen miệng mười mấy năm trời, "...Giờ mệt quá, tính nằm nghỉ mà cô lại gọi con."

"Cái con này..."

Tuyết xuýt xoa, trách yêu, "Mãi mới có dịp vào thăm mày.

Trong nội biệt tăm, ở ngoài thì thầy mày cứ gửi gắm tao suốt, bảo lúc lên kinh sư nhớ vào xem con Hồng sống thế nào.

Vừa đến cửa còn chưa được chén nước lã, mày đã trách tao phá giấc ngủ mày rồi?"

Hồng cười xòa, nhanh nhảu kéo cô Tuyết vào trong, vừa đi vừa lảm nhảm, "Thì cô cũng biết, cả ngày nay trong ngoài hậu cung bận rộn còn hơn mở hội, người ra kẻ ra vào, lễ vật dâng lên, trầu cau tráp vàng xếp ngổn ngang như lúa mới gặt.

Con chạy tới chạy lui, gãy cả chân đây này!"

Hồng rót cho cô Tuyết một chén nước mưa, động tác khẽ khàng, dè chừng như sợ làm khuấy động đêm đen yên tĩnh.

Trời đã khuya, nó không dám pha trà, e cô mất giấc.

Nước mưa hứng bởi chum đất, trong mát như hơi thở của đất trời mùa hạ.

Tuyết đón lấy chén sành, uống một ngụm rồi mới lên tiếng,

"Thế mới biết, hầu người cao quý cũng đâu phải chuyện nhàn thân.

Nhưng nhìn mày thế này, tao cũng yên bụng.

Trước chỉ lo mày tính ngay bụng thẳng, ở chốn lầu son e khó giữ miệng.

Nay thấy mày biết thận trọng hơn xưa, tao cũng lấy làm mừng."

Hồng phụng phịu, "Con có còn là trẻ con nữa đâu, cô cứ nhắc hoài.

Mà... cô vào được đây không bị ai cản sao?"

Tuyết mím môi, "Thì tao cũng phải lựa lúc hãm người mới dám mon men đến.

Với tao bẩm lên đức bà, đức bà có lời, đút cho đám nội quan đánh canh vài đồng bạc mới vào được đến đây.

Tao đến xem mặt mũi mày thế nào, với mang chút đồ thầy mày gửi, bảo là để dành cho mày, sợ mày trong cung nhớ đồ quê."

Bà vừa nói, vừa mở gói vải.

Mùi nếp thơm và cá nướng thoang thoảng dìu dịu.

Hồng tròn mắt, reo lên, "Cá khô u con nướng!

Ôi trời, con thèm món này chết đi được.

Trong cung cái gì cũng có, mà chẳng thứ nào được như ở quê..."

Nó ngồi bệt xuống chiếu, hí hửng như đứa trẻ được phần quà Tết.

Tuyết nhìn đứa cháu, ánh mắt dịu lại, khẽ vuốt tóc Hồng,

"Lầu son gác tía, nhưng lòng người nơi ấy thì lạnh lắm con ơi.

Hầu hạ ai thì hầu, cũng phải giữ lấy cái tâm cho ngay, cái miệng cho kín.

Ở lâu rồi mới hiểu, ấm lạnh ở đời không nằm ở chén ngọc mâm vàng, cũng chẳng ở chiếu gấm rèm thêu đâu..."

Nghe đến đó, như có điều gì vụt loé lên trong đầu, Hồng khẽ cúi, giọng trầm xuống chỉ vừa đủ lọt tai, dè chừng như sợ cách vách có người nghe được,

"Cô... cô hầu đức bà bao năm, cô có biết sao đức bà lại không vào Tông miếu không?

Chiều nay trong ngoài nội điện, mấy đứa hầu cứ rỉ tai nhau, lời ra tiếng vào không dứt.

Con ngẫm mãi, trộm nghĩ... e là đến cả Hậu chẳng rõ ngọn ngành."

"Chuyện này..."

Hồng ngóng trông người cô, đôi mắt thao láo muốn nghe đầu đuôi câu chuyện.

...

Nghe xong chuyện, Hồng siết chặt tay áo, cảm giác như cả một mảng trời sụp xuống trước mắt.

Trong khoảnh khắc, trời đất nghiêng ngả, cả thế gian mịt mù như mây phủ ngàn thu.

Hóa ra năm xưa, mọi việc không đơn thuần như những gì người ta thường nghĩ.

Mối quan hệ giữa bậc đế vương, công hầu, lại chồng chéo, dây mơ rễ má đến vậy.

Thuở lập quốc, tuy Thái Tổ hoàng đế là anh cả trong nhà, song mọi công lao dẹp loạn, bình định thiên hạ lại thuộc về Kiến Quốc đại vương, người em trai kém ngài hai tuổi.

Từ việc đánh tan thế lực sứ quân, dẹp hùng bá cát cứ, tất cả đều do một tay Kiến Quốc lo liệu.

Thái Tổ học rộng, tinh thông kinh sử, nhưng không mấy am tường binh pháp.

Một người giỏi văn trị, một người tinh võ lược, là cao xanh khéo an bài để mở nghiệp đế vương cho họ Trần.

Thế nhưng, càng gần đến hồi cơ nghiệp định hình, hiềm nghi lại càng sâu đậm.

Đến cuối đời Huệ Tông hoàng đế, khi thế lực họ Trần dần dâng cao như triều cuộn, giữa Thái Tổ và Kiến Quốc cũng không còn giữ được tình nghĩa ruột thịt thuở ban đầu.

Nhân lúc loạn lạc vừa yên, thiên hạ chưa kịp ổn định, thì dã tâm cũng dần lộ rõ.

Để kết nối rạn nứt ngấm ngầm trong gia tộc, Linh Từ đích thân chủ trì hôn lễ giữa trưởng tử của Thái Tổ và trưởng nữ của Kiến Quốc.

Tưởng rằng mối duyên ấy có thể hoá giải mối nghi kỵ chất chồng, nào ngờ chẳng bao lâu sau, Kiến Quốc đột ngột thác tại phủ riêng.

Người đứng sau, không ai khác, chính là Thái Tổ hoàng đế Trần Thừa.

Người đời chỉ thấy việc đổi ngôi từ họ Lý sang họ Trần là lẽ thuận thời, nhưng ít ai biết đằng sau cái vỏ bọc yên ổn ấy đã nhuốm bao màu tang tóc.

Ngai vàng lúc ấy đã định sẽ nhường lại cho Hiển Đạo vương Trần Hải, trưởng tử của Kiến Quốc, cũng là anh trai ruột của Thiện Đạo.

Người trong tộc ngầm hiểu, Kiến Quốc có công dẹp loạn, lui về làm Thượng hoàng là phải lẽ.

Thế nhưng Thái Tổ xưa nay vốn không phải người chịu ngồi yên để kẻ khác thao túng.

Cái câu 'tẩm ngẩm tầm ngầm mà đấm chết voi' chính là để nói về mưu sâu kế kín của Thái Tổ.

Ông gây sức ép, buộc Kiến Quốc giao ra binh quyền để dễ bề khống chế triều chính.

Mưu sự không thành, lời lẽ chẳng thuận, rốt cuộc máu mủ cũng đoạn.

Chính tay Thái Tổ kết thúc sinh mệnh của người em trai, triệt hạ dòng dõi Kiến Quốc.

Quyền binh quy về một mối, mở đường cho con cháu mình nắm giữ giang sơn.

Mượn tay em trai đánh đông dẹp bắc, mở đường dựng nghiệp, rồi lại đẩy hết điều tiếng về phía Điện tiền [3], để bản thân ung dung bước lên ngai vàng, hưởng trọn vinh quang.

Kiến Quốc mất hơn mười năm dốc sức vun đắp cơ đồ, cũng không bằng một năm Thái Tổ ra tay sát phạt.

Thiện Đạo, thuở ấy vẫn chỉ là một thiếu nữ tuổi mới trăng tròn, đã trở thành nốt trầm điểm xuyết cho ván cờ thiên hạ.

Nàng chung chồng với người từng được định là vợ của anh trai, lại quy phụ một nhà với kẻ nhúng tay vào cái chết của chính thân phụ.

Giữa muôn trùng ân oán, một chữ "hiếu", một chữ "tòng", đều trở nên chòng chành, chênh vênh.

Nếu năm ấy, ngài Khâm Minh không liều mình cứu Hiển Đạo khỏi vòng truy sát của Thái Tổ, thì có lẽ, trong mắt Thiện Đạo, ngài cũng chỉ là huyết mạch kế thừa tội nghiệt, không đáng để bà giữ lấy nghĩa vợ chồng.

Đến nay, dẫu Thiện Đạo đã bước qua nửa đời người, lòng lặng như nước, thấu suốt lẽ đời.

Bà không bận tâm chuyện cung quyền, cũng chẳng thiết tha gì với danh xưng hay lễ vị.

Nhưng nỗi đau mất cha bởi chính tay người trong cùng một họ, Thiện Đạo vẫn chẳng thể nào dửng dưng.

Vậy nên, dù được sắc phong tôn hiệu cao quý, nghi lễ Tông miếu long trọng, bà vẫn không thể bước vào cửa chính điện nửa bước.

Cô Tuyết khẽ thở dài, ánh mắt dừng lại trên gương mặt đứa cháu gái đang thất thần, giọng chậm rãi,

"Chuyện này... trong phủ cũng chỉ có cô cả với cậu cả biết.

Đức bà xưa nay không kể lại cho các cô cậu khác, là vì không muốn khơi dậy chuyện cũ.

Nay cô Năm đã được sắc phong làm Hậu, tao mới nói ra đôi điều cho mày, để mày còn rỉ tai lệnh bà, phòng khi người muốn tường tận hết gốc rễ trong tộc, tránh hành sự sơ sót.

Nhưng nhớ kỹ, đức bà không nhắc lại chuyện xưa, là vì người không muốn để con cháu trong nhà vướng vào ân oán của bậc tiền nhân, dây dưa đến đời con, đời cháu..."

"Đức bà...

đức bà cũng không dễ dàng"

.

[3] Điện tiền: Trần Thủ Độ.

Năm 1223 khi Trần Tự Khánh chết, anh trai là Trần Thừa được phong làm Phụ quốc thái úy, vào chầu không xưng tên.

Trần Thủ Độ được uỷ nghiệm làm Chỉ huy sứ quản lĩnh các quân Điện tiền hộ vệ cấm đình.
 
Trăng Nhàn.
11. Bóng phù vân


Dưới thời Quan gia, hậu cung không đông đúc như thời Thượng hoàng.

Ngày trước, các vị Thái phi lần lượt tiến cử con em trong họ vào hầu Đông Cung, nhưng Quan gia, bấy giờ còn là Hoàng thái tử, đều khéo léo thoái thác, viện đủ cớ sự để từ chối.

Trong số ấy, chỉ duy nhất một người lọt vào mắt xanh của chàng, là cháu gái ruột của Thái phi Vũ thị, Cung phi Ngọc Lan.

Nhưng cũng vì thế mà Quan gia không ít lần bị Lệ Trinh Nguyên phi nhắc nhở chuyện con nối dõi.

Trong khi các vương tử cùng lứa đều đã có con đầu lòng, hậu cung của Quan gia vẫn vắng tiếng trẻ thơ.

Rồi người đầu tiên báo tin vui là Cung phi Ngọc Lan.

Hơn hai tuần trăng sau, Thiên Cảm phu nhân, nay đã là Hoàng hậu, cũng được chuẩn cấn thai.

Hai niềm vui nối tiếp nhau khiến cung đình rộn ràng.

Song bởi cả hai đều sắp đến ngày sinh nở, mọi việc trong hậu cung Thúy Hoa vẫn tạm thời do Vũ Thái phi chấp chưởng, chưa kịp chuyển giao về tay hậu.

Tuy Thiên Cảm có được địa vị cao nhất hậu cung nhưng trong nội ai cũng rỉ tai nhau về tình cảm Quan gia dành cho Ngọc Lan.

Ngọc Lan vào hầu Đông Cung từ thưở Quan gia chưa đầy nhị bát [1], là vị phi tần đầu tiên của ngài, cũng là người sắp tới sẽ sinh cho ngài đứa con đầu lòng.

Từ sau khi Thiên Cảm sách phong hoàng hậu, cục diện trong hậu cung đã phân định rõ ràng, nhưng Quan gia lại càng lui tới viện Đoan Trường của cung phi Ngọc Lan thường xuyên hơn, thành ra chẳng ai dám xem nhẹ địa vị của Ngọc Lan.

Chiều thu, Thiên Cảm thong dong ngồi nơi phương đình.

Tay vẫn cầm chiếc quạt mo còn sót lại từ cuối hạ, theo thói quen phe phẩy.

Trời đã chuyển thu, gió heo may nhè nhẹ thổi khiến mành tre khẽ đung đưa theo từng nhịp gió.

Áng mây lững lờ trôi giữa nền trời trong vắt, phản chiếu trong ánh mắt nàng như chứa đựng cả sắc thu.

Nàng thả hồn vào nắng, rồi lại đưa mắt dõi về khóm hoàng cúc đích thân trồng từ đầu xuân, nay đã thi nhau nở rộ, vàng ươm cả một góc hiên.

Từ khi chuyển về Song Hương đường, nàng cũng cho người dời luống hoa theo.

Ngày trước hôm nào cũng tự tay vun xới, nay bụng đã lớn, đành thác cho mấy tỳ nữ chăm nom.

Nhưng như một thói quen, nàng vẫn dặn người dưới gom nước vo gạo để tưới cây cho mát rễ.

Ngoài bồi bổ thân thể, đọc sách, viết chữ, ngắm hoa thì ngày của nàng cũng chẳng có gì quá đặc biệt.

Cứ tưởng như vậy qua hết buổi chiều, bỗng đâu cái Trúc, đứa hầu mới theo nàng từ khi nàng vào hậu cung, hớt hả chạy đến.

Nét mặt nó méo sọ, ánh mắt lo lắng, tưởng như gặp chuyện gì đáng sợ lắm.

"Hậu... hậu..."

Nó vừa thở dốc vừa lắp bắp.

Tay đập lồng ngực cho xuôi, mặt ửng đỏ, mồ hôi nhễ nhại.

Phải là việc gì khiến nó vội vã đến thở cũng quên như vậy.

Hồng đứng bên cạnh, cau mày gắt,

"Mày hấp ta hấp tấp cái gì, muốn phiền Hậu nghỉ ngơi phỏng?"

Trúc mất hơi, không nói được thành lời.

Thiên Cảm thấy vậy hẩy tay ý bảo con Hồng đừng trách mắng nó, rồi sai nó rót cho cái Trúc cốc nước lã để nó uống cho xuôi.

Hồng nhanh chóng làm theo.

Trúc uống cạn chén, nuốt nước bọt lấy "ực" một miếng rồi mới tâu,

"Bẩm hậu... bà Ngọc Lan... bà Ngọc Lan sinh non rồi ạ..."

Một câu như trời giáng.

Thiên Cảm sững người.

Bàn tay đặt trên bụng khẽ siết lại.

Một cơn co nhẹ thoáng lướt qua bụng dưới như thể đứa trẻ bên trong cũng cảm nhận được cơn biến động.

Nàng không kìm lại được nét sửng sốt, lập tức ngồi thẳng người, nét mặt nghiêm lại thấy rõ,

"Sao lại sinh non?

Không phải trước giờ Ngọc Lan luôn tĩnh dưỡng rất kỹ càng sao?"

Nếu nàng bụng bầu sáu tháng vẫn còn nhông nhông đi lại khắp nơi thì Ngọc Lan từ đầu chí cuối chỉ ngồi yên một chỗ.

Mọi ngày cẩn thận là vậy, bỗng dưng lại xảy ra sự việc này.

Trúc đảo mắt nhìn quanh, rồi nó khom lưng đỡ nàng vào trong phòng ngủ, đóng chặt cửa, kéo kín rèm.

Nó kiểm tra một lượt, chắc cứ không ai có thể nghe lỏm, nó mới ghé tai nàng, nhỏ giọng,

"Em đến chỗ Vũ Thái phi theo lệnh hậu, hỏi thăm chuyện sắp xếp nhũ mẫu sắp tới diễn ra thế nào.

Đang tâu dở chuyện với Thái phi thì chị Điệp bên viện Đoan Trường chạy đến.

Thái phi thấy chị liền lập tức lệnh cho em lui, nhưng em cố tình đi chậm lại để nghe ngóng, thì loáng thoáng biết được...

Quan gia nổi giận hẫng tay, rồi bà Ngọc Lan xẩy chân ngã uống trường kỉ, bà đau bụng dữ dội, giờ đang chuyển dạ rồi..."

"Quan gia?

Quan gia vốn thận trọng, sao bỗng dưng lại..."

Trúc cúi đầu, thì thào, "Em cũng không dám chắc... nhưng em nghe chị Điệp nhắc đến tên cậu Thế Bảo, em trai bà Ngọc Lan..."

Thiên Cảm khựng người lại, ánh mắt dần trầm xuống,

"Thế Bảo...?"

Ngọc Lan tính đến bay mới hoài thai được tám tháng hơn, còn một tháng nữa mới tới thời gian sinh nở.

Trẻ con mới sinh đã khó nuôi, trẻ sinh non thì lại khó nuôi hơn vạn lần.

Lần này chỉ còn thoái thác cho trời Phật, cầu cho mẹ con Ngọc Lan mẹ tròn con vuông.

Hậu đưa cho con Trúc một thỏi vàng rồi kêu nó đi nghe ngóng sự việc.

Hơn một canh giờ nó đã chạy về, tâu hết đầu đuôi chí cuối.

Quan gia tức giận quả thực liên quan đến em trai cùng mẹ của Ngọc Lan, Thế Bảo.

Thế Bảo ngày trước được Ngọc Lan xin cho chức Thủ quỹ kho lương thực ở chợ Tây, chuyên việc quản lý cung cấp lương thực cứu trợ mà triều đình phát cho dân chúng gặp nạn ở vùng sông nước bão lũ.

Chức này lớn cũng không lớn nhưng dễ được thăng quan tiến chức nếu được lòng dân.

Thế nhưng gần đây Ngự sử Trung tướng liên tiếp dâng lên ba tờ sớ hặc tội cậu Thế Bảo, mỗi tờ dài tới cả trang, lời lẽ sắc bén, dẫn chứng rành mạch, không để chừa người đường rút lui.

Tờ sớ đầu tiên cáo Thế Bảo hống hách ngoài phố chợ, ỷ thế ức hiếp dân lành, thậm chí còn đánh một người nông dân đến gãy chân.

Người đó vì thương tích mà không thể ra đồng, gia cảnh khốn khó, một nhà năm miệng ăn không còn chỗ trông cậy.

Tờ sớ thứ hai hặc Thế Bảo có ý định cưỡng đoạt con gái nhà lành.

Người con gái ấy đệ đơn kiện lên nha môn, khiến quan phủ náo loạn, danh dự hoàng tộc bị đem ra bêu rếu.

Nhưng tờ sớ thứ ba mới thực sự khiến Quan gia nổi giận lôi đình, tội tham ô lương thực quốc khố.

Thế Bảo trộn cám với gạo trước khi phát chẩn cho dân vùng lũ, còn phần gạo thật thì đem bán ngầm ở chợ Đông, khiến thị trường gạo hỗn loạn, giá cả tụt dốc, có thời điểm gạo chỉ còn chưa đến năm tiền [2] một thăng.

Thành ra cái cảnh chỗ cần thì thiếu, chỗ lại dư thừa đến phá giá, đảo lộn hết cả tài nguyên quốc gia.

Sau loạt tội trạng, Quan gia định đích thân đến viện Đoan Trường để báo trước, lần này, tội của Thế Bảo không thể dung tha, phải xử phạt nghiêm minh.

Không ngờ, lời qua tiếng lại một hồi mới vỡ lẽ, Ngọc Lan đã biết mọi chuyện từ trước, nhưng nàng vẫn âm thầm bao che cho em trai.

Từ thuở bé, hai chị em Ngọc Lan mồ côi mẹ.

Vũ Thượng thư [3] lấy quốc sự làm trọng, chuyện gia thất đều giao cho người dưới quán xuyến.

Sau khi ông tục huyền, kế mẫu của hai người tính tình nghiêm khắc, mình mẩy nóng nẩy, làm gì cũng khó khăn.

Ngọc Lan thân là trưởng nữ, thương em mất mẹ từ thưở lọt lòng, nên bao nhiêu thương yêu nàng đều gom nhặt đặt hết vào người em trai.

Nàng muốn cầu cạnh cho em cũng là điều dễ hiểu.

Đến chiều tối, một tỳ nữ từ viện Đoan Trường được triệu vào chính điện cung Thúy Hoa để hậu hỏi chuyện.

Thường ngày, Thiên Cảm vẫn đích thân sang thăm hỏi, nhưng đến giờ thân thể nặng nề, lại thêm đêm xuống sương lạnh, nàng chỉ sai người mang chút lễ mọn sang thăm.

Tỳ nữ cúi đầu thưa,

"Bẩm lệnh bà, bà nhà con đã thuận lợi sinh hạ một hoàng nữ.

Thân thể bà con còn yếu, nên Thái y viện phân ca túc trực ngày đêm rồi ạ"

Nghe đến đây, lòng Thiên Cảm thoáng nhẹ nhõm, nhưng ánh mắt nàng lại lặng đi một nhịp.

Một đứa trẻ chào đời vào lúc còn nhiều rối ren, phúc phần chưa biết nhiều hay ít, nhưng cũng là giọt máu đầu tiên của Quan gia.

Nàng ngồi khẽ tựa lưng lên sập gụ, tay nhè nhẹ đặt lên bụng.

Giọng nàng vẫn êm như gió chiều nhưng cũng không giấu nổi chút trầm ngâm,

"Vậy còn Quan gia thế nào rồi?"

"Buổi chiều Quan gia ở viện Đoan Trường, đợi bà nhà con mẹ tròn con vuông rồi người ghé Tông miếu, lệnh cho Tông Nhân phủ sắm lễ, thắp hương trước bài vị tiên đế, cầu phù hộ độ trì cho hoàng nữ..."

"Được rồi, thưởng bạc, lui đi."

Nàng phất tay, ý bảo cung nữ lui ra.

Bên cạnh, con Hồng đã kịp bưng tới chén sữa ấm, dè dặt dâng lên.

Thiên Cảm đón lấy, đôi tay thon dài khẽ nâng nhưng ánh mắt thì lặng trôi nơi nào xa xăm, chẳng nhìn vào vật đang cầm.

Thấy gương mặt nàng trầm lặng, ánh mắt mờ xa như phủ một tầng sương.

Hồng không khỏi lo lắng.

Nó cúi đầu, giọng thấp đi,

"Hậu... dù trong cung có chuyện gì, người cũng nên giữ cho tinh thần phấn chấn.

Người mà thế này... em nhìn cũng chẳng yên."

"Ta không sao, chỉ là lo cho Quan gia.

Ngày thường, người yêu quý Ngọc Lan như vậy, giờ chuyện xảy ra bất ngờ thế này, hoàng nữ lại là đứa con đầu lòng của bệ hạ...

Ta chỉ lo Quan gia không tránh khỏi suy nghĩ"

Nàng dừng một lát, hít vào hơi thật nhẹ như muốn xua đi ưu tư trong lồng ngực.

Con Hồng lưỡng lự hồi lâu, rồi mới rụt rè thưa,

"Hay Hậu sang viện Đoan Trường hỏi thăm?

Hậu cứ ngồi đây lo lắng, chẳng bằng gặp Quan gia một lời an ủi, vừa giải tỏa lòng mình, vừa để bệ hạ nhẹ bớt lo nghĩ"

Thiên Cảm khẽ lắc đầu, giọng trầm lại, "Ngọc Lan mẹ tròn con vuông là ta yên tâm rồi, còn lại là chuyện giữa Quan gia và nàng ấy, chỉ người trong cuộc mới giải quyết được, ta sang bên ấy sợ chỉ đổ thêm dầu vào lửa, cũng chẳng phải hay"

.

Cuối năm, Thiên Cảm thuận lợi sinh hạ một hoàng tử, vừa lọt lòng thể chất đã cứng cỏi hơn người, khí sắc rạng rỡ.

Dung mạo hoàng tử đạo mạo, tư chất lại xuất chúng, trên vai trái có một nốt ruồi đen, thượng hoàng nhìn qua liền cho là tướng mệnh khác thường, sau này ắt gánh vác được việc lớn.

Bệ hạ đích thân ngự bút ban cho hoàng tử tên "Khâm", lại còn sai người dâng tấu lệnh khắp các quận huyện, ban chiếu đại xá, giảm nhẹ thuế má cho dân.

Vì thế mà ai ai cũng gọi hoàng tử là "Kim Tiên đồng tử", ngụ ý kim ngọc chi thân, tiên tướng giáng trần.

Trong vòng một năm, Quan gia vừa có nếp, vừa có tẻ, triều đình trên dưới đều xem đó là đại cát, thiên hạ chung vui, hoàng thất càng thêm phần long trọng.

Trong cung ngoài nội, từ các điện đường đến hậu viên, khắp nơi đều treo đèn kết hoa, náo nhiệt vô cùng.

.

Rồi cùng lúc ấy chuyện xấu khi xưa của Thế Bảo, em trai của Ngọc Lan cũng được làm rõ.

Hoá ra có kẻ gian thương trong phường buôn gạo vốn ôm hận bị Thế Bảo ngăn đường kiếm chác.

Hắn toan nhân lúc bão lũ tích trữ gạo, chờ dân đói khổ mà nâng giá trục lợi.

Nào ngờ bị Thế Bảo phát giác, nghiêm khắc chấn chỉnh, khiến hắn tổn thất hàng trăm quan tiền, long đong trên bờ phá gia bại sản.

Nuốt không trôi mối thù ấy, gã lập kế trả thù, sai con gái nuôi tiếp cận, rồi giăng bẫy vu vạ, tung tin thất thiệt khắp chợ Đông chợ Tây.

Gã lợi dụng chút quan hệ lúc còn buôn may bán đắt để trộm cám vào lô gạo cứu trợ, hàm oan cho Thế Bảo, mục đích duy nhất là khiến triều đình cắt chức, đuổi Thế Bảo ra khỏi kho lương, bản thân cũng có thể thảnh thơi trở lại đường cũ.

Khi tường tận mọi sự, Quan gia trong lòng không khỏi vướng bận.

Chính vì những lời vạch tội chưa rõ thực hư ấy mà Ngọc Lan sinh non, khiến hoàng nữ lọt lòng yếu ớt, hai mẹ con mỏng manh như cành mai đầu gió.

Vừa mãn tháng ở cữ, Ngọc Lan đã ngày ngày lui tới chùa Chân Giáo, thành tâm tụng kinh niệm Phật, chỉ mong dâng lên Tam bảo chút lòng thành cầu cho con thơ được vững mệnh, yên phần.

Nghe bọn tỳ nữ trong cung truyền tai nhau, Ngọc Lan còn ôm con quỳ trước mặt Quan gia, cầu xin người phế truất danh phận của mình để đổi lại phúc duyên cho con gái.

Thấy tình cảnh ấy, Quan gia chạnh lòng.

Một bên là ái phi chịu tiếng bao che em trai, một bên là đứa con đầu lòng vừa sinh ra đã chịu thiệt thòi.

Để an ủi nàng, cũng như mong mỏi những điều tốt lành sẽ đến với đứa trẻ, Quan gia phong hàm Công chúa ngay khi hoàng nữ mới tròn ba tháng tuổi.

Theo ý định của Thượng hoàng từ trước, các hoàng nữ của Quan gia sẽ đều mang chữ "Châu" trong phong hiệu.

Thế nhưng, riêng với Đại hoàng nữ, Quan gia lại đặc cách tặng cho hai chữ "Thiên Thuỵ", ý là điềm lành trời ban, như một lời nguyện cầu cao xanh sẽ thương cho đứa trẻ, phú cho nàng mệnh số an yên, phúc phận một đời.

[1] Nhị bát: tuổi 16.

[2] Tiền: Thời Trần Thái Tông, 1 quan bằng 10 tiền, 1 tiền bằng 70 đồng.

Đại Việt Sử kí Toàn thư, Canh Dần, [Trùng Hưng] năm thứ 6 [1290].

Đói to, 3 thăng gạo giá 1 quan tiền, dân nhiều người bán ruộng đất, và bán con trai con gái làmnô tỳ cho người, mỗi người giá 1 quan tiền.

[3] Thượng thư: Người đứng đầu một bộ phận quan lại.

Đầu thời nhà Trần, thượng thư được chia làm hai loại: Thượng thư Hành khiển và Thượng thư Hữu bật.

Phải đến khoảng niên hiệu Đại Khánh (1314-1324) đời vua Trần Minh Tông mới chia ra làm Thượng thư giữ các bộ của triều đình.

Quan văn, quan võ sau được xếp theo 6 bộ là Lại bộ, Lễ bộ, Hộ bộ, Binh bộ, Hình bộ và Công bộ.

Trong truyện, cha của Ngọc Lan là Thượng thư Hữu bật Vũ Khắc Nguyên (nhân vật hư cấu)
 
Trăng Nhàn.
12. Tơ sen chẳng chạm đáy hồ


Mấy tháng cô Năm ở cữ, Thiện Đạo phu nhân từ Yên Sinh lên kinh sư chăm con.

Nhưng đúng dịp này thì Cô Cả bất ngờ ngã bệnh, cô Hai vừa mới xuất giá, cô Tư thì theo chân cô Hai vào phủ Vũ Uy vương làm khách mấy hôm, trong nhà chỉ còn mỗi cô Ba là rảnh rang.

Cô Ba lấy chồng đã ngót ba năm, vậy mà cái tính ham chơi xưa nay vẫn chẳng đổi.

Trong năm chị em, cô là người duy nhất nên duyên với giới thương hồ.

Chồng cô, cậu Tòng, là chủ nhân của Vân Cẩm Trai, thương hiệu buôn vải có tiếng khắp cõi Đại Việt.

Vải vóc ở Vân Cẩm Trai thì đủ cả, từ áo thẫm cho thường dân, đến lụa là gấm vóc dành riêng cho giới quyền quý.

Dịp này cậu Tòng sang Tàu lo chuyện làm ăn, cô Ba ở nhà chán cảnh đơn chiếc, bèn nằng nặc đòi theo Phu nhân vào kinh thăm cô Năm cho khuây khoả.

Bước chân đến Song Hương đường, vừa trông thấy cô con gái đang ngồi tựa vào thành giường, nét mặt nhợt nhạt, phu nhân không kìm được nghẹn ngào xúc động.

Dù cô Năm là con út trong nhà, nhưng lại là người đầu tiên sinh cho bà đứa cháu ngoại.

Cô Cả lận đận chuyện tình duyên đã đành, cô Hai chậm muộn thành gia lập thất, cô Ba ham vui chẳng chịu yên gia, còn cô Tư thì khỏi nói, đến ý định lấy chồng còn chẳng có.

Trong tay Phu nhân, cháu nội nếp tẻ đều có cả, chỉ cháu ngoại là vẫn còn hiu hắt chưa có mống nào.

Nay thấy được đứa cháu ngoại bà hằng mong mỏi, lòng bà như se lại, bao nỗi lo lắng chất chồng bấy lâu cũng vơi đi bội phần.

"Ôi con gái u...

Gươm hay còn bởi đá mài,

Đầu lòng sanh đặng con trai phải mừng!"

"Để dì xem cháu trai của dì nào" Cô Ba cũng bước vội sau lưng phu nhân.

"Mẹ, chị... hai người đã vào đến đây rồi" Cô Năm mừng rỡ, giọng lộ rõ niềm vui.

Cô Ba định sà vào bồng Hoàng tử thì bị Phu nhân giữ chặt lấy vạt áo, mắng,

"Hãm đã... mới đường xa đi vào còn vướng gió, nặng vía, mẹ con mình đi thay y phục đã."

Phu nhân vội sửa soạn, rửa sạch tay bằng nước gừng xả, hơ quần áo qua ánh lửa rồi nhanh chóng qua chỗ cô Năm.

Nàng nghiêng người, đỡ nhẹ đầu con, để Phu nhân đón lấy Hoàng tử.

Phu nhân ôm lấy cháu, tay nâng dịu dàng dường như đã rất thành thục.

Bà cúi xuống nhìn Hoàng tử, ánh nhìn tràn ngập yêu thương, vừa cưng nựng vừa thủ thỉ,

"Trộm vía cháu ngoại u...

Đôi mắt, cái mũi này đích thị là của Quan gia rồi, còn cái miệng chúm chím này, chẳng khác gì con gái u hồi nhỏ..."

"Cái trán cao thế này, sau ắt là người học nhiều, hiểu rộng..."

Cô Ba ngồi kế bên suýt xoa, mắt không rời khỏi đứa cháu, xong nàng bỗng kêu lên, "Chết rồi Thiều ơi, nhìn Khâm thế này chị lại mắc đẻ rồi..."

Cô Năm bật cười, quay sang chọc ghẹo, "Anh chị Ba cứ thong dong thế, cả nhà có ai được nhàn hạ như anh chị?

Dăm bữa nửa tháng là lại thu xếp tư trang, lên đường ngao du khắp thiên hạ"

Cô Ba lườm nhẹ cô Năm rồi quay sang phu nhân, làm bộ thở dài, "Mẹ coi, cô út nhà mình đúng là giỏi làm người ta sốt ruột!

Con mới nhìn cháu chưa được mấy khắc mà ruột gan đã nôn nao hết cả.

Chắc phen này phải xếp gọn gánh giang hồ, chịu khó ở nhà tẩm bổ thôi!"

Phu nhân nén cười, "Chừng nào con chịu ngồi yên một chỗ thì u mới tin lời đó là thật."

Nói rồi, phu nhân đưa tay cho cô Ba đón lấy Hoàng tử.

Cô Ba vốn quen tay bế mấy đứa cháu trong nhà nên chẳng chút bỡ ngỡ.

Nàng nhẹ nhàng để bé tựa vào lòng, một tay ôm ngang, tay kia nhè nhẹ đung đưa, khẽ vỗ lưng ru bé ngủ.

Vừa bế, cô vừa tủm tỉm cười,

"Bồng cháu ngoại kiểu này... chắc con chịu ở yên thật đó u ơi!"

Phu nhân liếc mắt, nửa đùa nửa thật, "Chuyến này về mà cô cậu lo được một thằng cu ra đời thì đừng quên vào tạ lễ cho cô út nghe chưa.

Nhờ vía Khâm cả đấy!"

"Xin được vía cô Năm, chị phải biếu cô gấm phù quang luôn chứ chẳng đùa"

Cô Năm nghe vậy bật cười, "Vậy em đành cầu trời cho anh chị sớm sinh quý tử để được ngắm gấm phù quang trong truyền thuyết rồi"

.

Cô Ba xuống bếp, đích thân nấu bát canh rau ngót cho cô Năm.

Ngày trước ở nhà, chỉ mình cô là hay lui tới gian bếp phụ giúp cô Cả, thành ra món nào món nấy cũng quen tay, nêm nếm đậm đà đâu ra đó.

Cũng chỉ có cô Ba là người nấu ra được đúng cái vị tuổi thơ mà cô Năm vẫn luôn nhung nhớ.

Hồi xưa mỗi lần từ kinh sư về, thể nào nàng cũng mè nheo đòi cô Ba nấu đủ món cho thỏa nỗi thèm thuồng.

Nấu xong bát canh bốc khói nghi ngút, cô Ba cho người bưng vào trong phòng, bản thân thì thong thả đi phía trước.

Vừa bước tới cửa đã nghe giọng Hồng đang líu lo kể chuyện trong cung, gay cấn nhất là đoạn phía cung Đoan Trường.

Cô Ba đi vào, ngồi phắt xuống mép giường, chăm chú nghe hết câu chuyện từ đầu chí cuối.

Vừa nghe xong cô đã nhếch môi, buông một câu chẳng hề kiêng nể,

"Khiếp thật, cái cô Ngọc Lan này đúng là hiếm có khó tìm.

Mặt mũi còn chưa biết thế nào mà cái tài khóc lóc kể khổ thì nghe kể thôi đã rúng động thâm tâm!

Khóc một lần con gái được tước Công chúa, khóc hai lần em trai được chức Phát vận sứ [1], không khéo khóc thêm dăm ba bận nữa lại lên được ngôi Trung cung cũng nên."

Cô Năm khẽ nhíu mày, nhỏ giọng xen vào, "Chị nói vậy e không phải.

Dù gì cũng là chuyện ngoài ý mong muốn, Ngọc Lan chịu không ít thiệt thòi."

Cô Ba quay sang liếc em gái, "Thiệt thòi hay không thì còn phải xem cái tâm người ta thế nào.

Em ruột để ngoài da, ai nói sao cũng tin vậy hết?"

Nghe hai nàng bất đồng, Phu nhân bên cạnh nhẹ giọng nhắc, "Cung cấm không giống nhà mình.

Có người dựa vào tài cán, có người dựa vào đức hạnh, mà cũng có người lại trông cậy sự thương hại của người khác.

Con vốn đơn thuần, cứ giữ quan hệ hoà hoãn là đủ, còn nếu không có chuyện gì thì cũng chẳng cần thân thiết quá làm chi."

Nghe phu nhân và cô Ba nói, cô Năm không khỏi suy tư.

.

Thiên Cảm mãn cữ trăm ngày, thân thể đã hoàn toàn bình phục.

Cô Ba thì đã bị cậu Tòng rước về nhà từ lâu, Phu nhân cũng đã về lại Yên Sinh ngay sau đó.

Nhân dịp đại hoàng tử vừa tròn ba tháng tuổi, Thiên Cảm chính thức tiếp quản hậu cung, Quan gia hạ lệnh bày tiệc tại lan đình bên cạnh cung Quan Triều, thiết đãi chư vị vương hầu cùng tôn thất.

Bữa này chỉ là tiệc thân mật nên không phiền các vị khác đang ở xa, ai đang thuận tiện ở trên kinh thì được mời tới chung vui.

Từ sáng, các mệnh phụ, nữ quyến đã được vời vào hậu cung, người cắm hoa điểm trác, người thưởng trà nếm bánh, rộn ràng tiếng nói cười.

Vây quanh Thiên Cảm, ai nấy đều tranh bồng ẵm Hoàng tử đôi khắc để "lấy vía", lời tán dương râm ran không dứt.

"Chà chà...

Đại hoàng tử trộm vía, quả xứng với bốn chữ 'Kim Tiên đồng tử' mà thiên hạ truyền tai!", Diễm Túc phu nhân, chính thất của Tĩnh Quốc vương, vừa ôm Hoàng tử trong tay, vừa khen không ngớt miệng.

"Diễm Túc thì cần gì lấy vía nữa, cả nếp lẫn tẻ đều có rồi, cháu nhường Hoàng tử cho Phụng Dương đi thôi" Thái Anh phu nhân, chính thê của Nhân Thành hầu [2] nói vui.

Phụng Dương từ đầu chí cuối vẫn ngồi thu mình một góc, thỉnh thoảng góp vài câu vui vẻ, tuyệt nhiên không có ý bước tới gần Hoàng tử.

Không khí phương đình bỗng chùng xuống, mọi ánh mắt đổ dồn về nàng.

Phụng Dương thoáng khựng lại, chỉ biết gượng cười,

"Cháu chưa quen bế trẻ nhỏ, đứng từ xa nhìn thôi mà đã nhặt được cả rổ vía rồi.

Thím và các chị cứ tự nhiên."

Thấy nàng lúng túng, Thiên Cảm liền đứng ra gỡ thế, "Khâm phát vía từ sáng đến giờ, cháu xin phép đi nạp lại nội lực để chiều còn đủ sức phát tiếp ạ.

Khâm cáo lui chốc lát các bà, các cô nhé."

Câu nói vừa dứt, tiếng cười vang lên rôm rả.

Thiên Cảm rời về Song Hương đường cùng vú nuôi, để Hồng ở lại hầu khách quý.

Sau khi Hoàng tử ăn no ngủ yên, nàng quay lại đình.

Bước chân qua hành lang điện vũ, từ xa nàng đã nghe thấy đoạn đối thoại,

"Phụng Dương về thái ấp Độc Lập đã hơn năm, mà sao chưa thấy tin vui gì?

Có gì cứ nói với chị một tiếng, chị còn liệu mà giúp cho."

Diễm Túc hạ giọng, lộ vẻ quan tâm.

Thái Anh tiếp lời, "Thím biết một ông thầy lang hay lắm, chuyên bốc thuốc bổ huyết.

Cần thì để thím sai người sắc mấy thang cho."

Chưa kịp để Phụng Dương mở miệng, một giọng nói vọng đến từ phía xa, "Thím và chị dâu khỏi phải nhọc lòng.

Ai thực sự quan tâm thì đi mà bảo anh Chiêu Minh sửa tính, sửa nết đi đã"

Là giọng của Thái Đường, đích nữ do Thuận Thiên Thái hậu thân sinh, em gái ruột của Quan gia và Chiêu Minh vương.

Thái Đường được ưu ái từ nhỏ, muốn gì được nấy, lời nàng nói chẳng ai dám cãi.

Chỉ cần nghe thấy giọng nàng, phương đình lập tức lặng như tờ.

Rồi bỗng có Thái Anh phu nhân giọng đều đều cất lên, chẳng giấu nổi hàm ý châm biếm.

"Thái Đường đấy à?

Đêm qua có chuyện gì hao tâm tổn thức lắm hay sao mà giờ mới thấy mặt?"

Thái Đường cũng chẳng vừa, "Vài hôm trước cháu về Đình Bảng thăm mẫu hậu, chẳng may trúng gió, người còn chưa khoẻ hẳn.

Chuyện đến muộn đã bẩm trước với hậu rồi.

Thím muốn thì cứ gọi hậu ra mà đối chứng."

"Đối chứng gì chứ, thím chỉ là lo cho cháu gái mà thôi."

"Thím bận lòng thế làm chi?

Thím cứ lo dạy bảo đứa con trai 'quý hóa' của mình trước đã."

Không khí trong đình thoáng chốc như đóng băng.

Năm nọ, Nhân Thành hầu dâng sớ xin ban hôn Thái Đường cho trưởng tử Trần Khánh Phương, tức Nhân Vũ hầu [3].

Còn chưa kịp bàn tới chuyện đính ước, trước mặt toàn thể tông thất, Thái Đường đã thẳng thừng từ chối, chê Nhân Vũ là "tham lam thô bỉ", "không xứng làm Phò ký lang".

Nhân Vũ tức giận, mắng công chúa là "ngạo mạn ngông cuồng", "chẳng ra thể thống thuyền quyên quốc bang".

Từ đó đôi bên không còn qua lại.

Chuyện xưa tưởng đã lắng, nay chỉ qua vài câu, mùi đao kiếm lại nổi khắp phương đình.

Cảm nhận như không khí đặc lại, Thiên Cảm bước vội cho nhanh, vào vừa đúng lúc đã nhẹ giọng,

"Thái Đường đến rồi sao?

Hôm trước cô nhắc tới món xôi ngũ sắc, hôm nay có nhớ mang cho chị không đấy?"

Thái Đường nghe vậy liền dịu lại, cái nhếch môi chốc lát hoá dịu dàng, "Tất nhiên là nhớ rồi, em phải tìm cho bằng được hoa bó phón của châu Quảng Nguyên [4] để ướp thành xôi vàng, đặc biệt chỉ dành riêng cho chị Thiên Cảm nếm thử đấy"

Thiên Cảm mỉm cười, tay khẽ vỗ lên mu bàn tay Thái Đường rồi quay sang các mệnh phụ,

"Cô Thái Đường mỗi lần ngao du cứ như là đi săn bảo vật.

Khi thì mang rượu táo mèo, khi thì bánh tro gói lá trâm, hôm nay lại có món xôi ngũ sắc...

Mọi người đừng trách cô ấy tới trễ, thực ra mỗi lần đến là có quà cho cả cung đấy."

Các mệnh phụ lập tức rộ lên tiếng cười, người chen người phụ hoạ.

Diễm Túc phu nhân nói to,

"Hậu nói phải đấy.

Năm ngoái công chúa có dịp ghé Diễm Châu, tặng cho ân chúa bình rượu ngô.

Nội trong nửa tuần trăng ân chúa đã uống hết sạch, xong rồi cứ tiếc hùi hịu vì không để dành được cho đến Tết!"

Thái Anh hạ giọng cười nhạt, "Công chúa chu đáo thế này, sau này không biết nhà có phúc được công chúa hạ giá vào."

Nghe thế, ánh mắt Thái Đường thoáng tối đi nhưng rất nhanh, nàng khẽ cong môi, "Người ta có phúc hay không thì không dám nói.

Chứ kẻ cầu phúc mà lại không có được thì cũng thật đáng tiếc."

Lời vừa thốt ra, trong đình lại lặng đi một khắc.

Thiên Cảm lập tức chen vào, vẫn là giọng thản nhiên như không, tay với lấy tay áo Thái Đường mà vuốt cho phẳng, cười dịu,

"Thôi, mấy chuyện đã qua không đáng nhắc đến.

Hôm nay là ngày đầy tháng Khâm, không ai được phép chau mày đâu đấy.

Ai trái lệnh sẽ bị phạt ăn chè kê nguyên tháng."

Lời nói nhẹ tênh, nhưng cũng đủ khiến bầu không khí lại nhộn nhịp như cũ.

.

[1] Phát vận sứ: có vai trò quản lý và điều hành việc vận chuyển hàng hoá, lương thực, và các nguồn tài nguyên khác.

Thường có trách nhiệm đảm bảo việc cung ứng đầy đủ cho triều đình và quân đội, cũng như phân phối hàng hóa đến các địa phương.

[2] Nhân Thành hầu: Thượng tướng Trần Phó Duyệt, cha của Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư.

[3] Nhân Vũ hầu Trần Khánh Phương.

Nhân vật hư cấu.

Con trai trưởng của Nhân Thành hầu Trần Phó Duyệt, anh trai của Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư.

[4] Châu Quảng Nguyên: thuộc Cao Bằng.
 
Trăng Nhàn.
13. Ngọn trúc trăng tà


Đêm mùa hạ phủ xuống như tấm lụa đen, trùm lên vạn vật một vẻ yên lặng miên man.

Tiếng ếch nhái râm ran nơi vườn ngoài như dệt thêm vào bóng tối thứ âm thanh nửa thực nửa mộng.

Đom đóm lập lòe bay qua mái hiên, những chấm sáng nhỏ như ánh lửa trời rơi xuống khoảng trống im lìm, lấp lánh giữa làn sương mỏng.

Gió đêm hây hẩy, mang theo mùi hoa mộc nở muộn, dìu dịu len qua rèm mỏng, thấm đẫm không gian một mùi hương vừa thanh mát vừa ngọt ngào.

Trong Song Hương đường, ánh nến hắt lên dải màn buông lửng, vẽ trên tường những vệt sáng lay động.

Tiếng khóc của trẻ nhỏ bỗng thé lên, khản đặc mà réo rắt, xé toạc sự yên tĩnh của đêm tối, rơi thẳng vào trong đáy lòng người mẹ.

Thiên Cảm vội vén màn đứng dậy, động tác nhẹ nhàng như sợ đánh thức người đang trở mình bên trong.

Nàng ôm đứa trẻ vào lòng rồi nhanh bước sang gian bên, vừa vỗ về, vừa cưng nựng,

"Bé ngoan của mẹ, mẹ thương, mẹ thương..."

Tiếng khóc non nớt vang lên như sợi chỉ mảnh xuyên qua lớp đêm dày đặc.

Ôm tấm thân mềm trong vòng tay khiến tim nàng như thắt lại.

Dẫu toàn thân rã rời, nàng vẫn ôm chặt con, như sợ chỉ cần nới lỏng một chút thôi, đứa bé sẽ bị bóng tối nuốt chửng mất.

Ánh nến lập loè chỉ đủ chiếu sáng tấm lưng của người mẹ, hắt bóng lên cánh cửa gỗ.

Từ ngoài, giọng cô Tuyết vọng vào,

"Hậu...

Hậu để lão bế hoàng tử cho.

Người nghỉ thêm mới có sức mà nuôi con lâu dài..."

"Ta dỗ một lát là được, chắc Khâm trở mình không thấy mẹ nên khóc thôi.

Cô cứ đi nghỉ đi!"

Thiên Cảm khẽ khàng, vùi mặt vào vai đứa trẻ.

Nàng muốn để hơi ấm truyền đến, để con cảm nhận được sự hiện diện của nàng ở đây.

Rồi bất chợt, một vòng tay ôm lấy hai mẹ con từ đằng sau.

Bàn tay quen thuộc nâng lấy cánh tay đang dần mỏi của nàng, đủ để nàng cảm thấy mình không hề đơn độc.

Mùi trầm hương quen thuộc thoảng qua, hơi thở ấm áp mà chậm rãi phía sau khiến bờ vai đang gồng lên của nàng cũng dần buông lỏng.

Nàng nhắm mắt lại, nghiêng nhẹ về phía ấy, nơi có chàng.

Rồi nàng khe khẽ quay đầu lại, giọng thì thầm,

"Quan gia đi nghỉ tiếp đi, đừng để chút việc này làm ảnh hưởng đến chàng."

Chàng không đáp, chỉ xiết vòng tay chặt thêm một chút.

Một lát sau, giọng trầm trầm khẽ cất sau lưng,

"Hai mẹ con thế này, trẫm sao ngủ cho yên?"

"Chuyện này vốn dĩ không nên để quan gia phải bận lòng."

"Con cũng là con của trẫm.

Nàng nỡ không cho cha con ta được gần nhau một lát hay sao?"

Thiên Cảm khẽ xoay người thoát khỏi vòng tay chàng, lưng quay lại, giọng gằn xuống, "Quan gia!"

Chàng khẽ cười, "Khâm đã ngủ yên lại rồi.

Vợ chồng ta cũng về giường thôi."

Nàng bế con đặt lại vào cũi, kéo chăn, rồi cẩn thận lấy hai chiếc gối đỗ chặn hai bên, phòng khi bé trở mình vẫn cảm nhận được lực mà không giật mình tỉnh giấc.

Quan gia đứng phía sau, im lặng đỡ lấy tay nàng, kiên nhẫn chờ đến khi nàng sắp xếp đâu vào đó rồi cùng nàng quay lại giường.

Vừa đi, nàng vừa nói, giọng bùi ngùi,

"Thiếp ngoài việc chăm con, ngày qua ngày cũng chỉ quanh quẩn trong hậu cung, nhìn sương lên rồi lại thấy sương xuống.

Có lúc muốn san sẻ với bệ hạ, cũng chẳng biết bắt đầu từ đâu.

Thiếp vốn không có tài cán gì lớn, chỉ mong được ở phía sau, thay quan gia lo những việc vụn vặt, giữ cho nhà yên, cửa vững.

Dù là việc nhỏ nhặt chẳng đáng kể, nhưng nếu có thể khiến quan gia yên lòng thêm một chút thì thiếp cũng thấy vui rồi."

"Không có nàng, trẫm sao an tâm mà lo việc nước?

Nàng đã vì trẫm và con mà hao tâm khổ tứ, cũng phải giữ sức cho mình.

Việc có thể nhờ, cứ giao cho vú nuôi, đừng cái gì cũng tự mình gánh lấy."

Nói hồi chàng khẽ nghiêng người, đỡ nàng nằm gọn vào bên trong, còn mình thì nằm ở mép giường, như một bức thành vững chãi bảo vệ cho nàng.

Nàng chậm rãi gối đầu lên cánh tay chàng, cảm nhận từng nhịp đập trầm ổn.

Hơi thở của chàng ấm áp, vương mùi đặc trưng mà chỉ chàng mới có.

Bàn tay thô ráp khép lại quanh tay nàng.

Thiên Cảm khẽ nhắm mắt, để mặc cho mọi ưu tư tan đi.

"Có trẫm ở đây, nàng đừng lo lắng gì cả," chàng thì thầm, giọng khẽ đến mức chỉ mình nàng nghe được.

.

Thiệu Long năm thứ ba, hoàng tử Khâm được ba tuổi, Hậu hạ sinh Nhị hoàng nữ.

Cung Thuý Hoa mới dùng xong cơm trưa, bầu trời kinh sư đang trong xanh bỗng tối sầm lại.

Ánh nắng vụt tắt, người trên phố thị ngẩng đầu nhìn lên trời.

Nhật thực [1].

Người ta tin rằng mặt trời tượng trưng cho đế vương, là dương khí cốt lõi của thiên hạ.

Mặt trăng che khuất mặt trời, nghĩa là âm thịnh dương suy.

Điều này lại trùng hợp đúng vào dịp nhị hoàng nữ ra đời không lâu, khiến những kẻ tin vào điềm báo không khỏi buông lời dị nghị.

Ngay ngày hôm sau, Khâm thiên lệnh dâng một đạo tấu sớ khẩn, đệ thẳng về cung Thánh Từ nơi Thượng hoàng đang ngự.

Sớ được chuyển lên, Thượng hoàng trầm mặc không phê chuẩn, chỉ lệnh chuyển sang cung Quan Triều.

Trong đại điện, Quan gia vừa xem xong tờ tấu sớ, mặt đã đỏ ửng.

Không nói một lời, chàng đứng phắt dậy, nắm tờ sớ trong tay đập "rầm" một cái xuống ngự án.

"Con gái của trẫm mới sinh ra thì có thể làm gì hại đến quốc gia xã tắc, sao khanh phải khắt khe với một đứa trẻ như vậy?"

"Hoàng nữ là đích nữ do hoàng hậu thân sinh, thân thể long phượng.

Nay mệnh của công chúa không hợp thiên địa, khiến âm thịnh dương suy, mặt trăng che mất mặt trời là điềm không hay.

Mệnh của Nhị hoàng nữ không nên để trong cung, cần đưa ra ngoài dân gian nuôi nấng sẽ lợi cho thiên hạ.

Khẩn mong bệ hạ soi xét!"

"Hỗn hào, những lời lẽ như vậy mà khanh cũng dám nói trước mặt trẫm?"

"Những gì thần nói đều là vì bệ hạ mà suy xét.

Xin bệ hạ nguôi giận!"

.

Tối ấy Quan gia đến thăm Nhị hoàng nữ.

Ôm lấy đứa trẻ, nhìn gương mặt non nớt đang say giấc trong vòng tay càng khiến chàng rơi vào trầm tư.

Thấy được điểm khác lạ của chàng, Thiên Cảm như đoán được điều gì.

"Ngày thường, dùng bữa xong bệ hạ sẽ uống hết một bình trà, rồi ăn một miếng bánh đậu xanh.

Hôm nay bệ hạ chỉ uống có một chén trà, bánh đậu cũng chẳng đoái hoài đến, chắc hẳn là nhạt mồng nhạt miệng.

Bệ hạ có tâm sự gì chăng?"

Quan gia không đáp, chỉ ra hiệu cho nội quan đưa tờ tấu sớ.

Nàng đón lấy, chăm chú đọc từ đầu chí cuối, không sót lấy một chữ.

Vẻ mặt nàng từ hoài nghi, sang lo lắng, rồi từ lo lắng trở lại bình tĩnh.

Đặt tờ sớ xuống, nàng cất lời,

"Hoàng nữ mới chào đời, lại gặp dị tượng, thiếp chẳng dám đoán chắc điều chi.

Nhưng Khâm thiên lệnh đã cả gan dâng sớ, ắt không phải lời vu vơ.

Con là con của thiên tử, đời này định sẵn hưởng lộc thiên hạ.

Nếu được gửi nơi dân gian, thấu hiểu nỗi vui buồn của lê dân bá tánh, mai sau trưởng thành, đem lòng thương dân mà đền đáp, ấy chẳng phải là phúc cho trăm họ sao?"

Quan gia quay đầu, bắt gặp ánh mắt kiên định mà vẫn ẩn nét không đành lòng của nàng.

Trong lòng chàng thoáng nỗi xót xa.

Một khoảng lặng trôi qua, chỉ còn tiếng thở dài.

"Nàng... thật sự nghĩ vậy?"

"Nếu có thể khiến bệ hạ bớt ưu tư đôi phần, thì dẫu mẹ con thiếp phải xa cách, cũng chẳng đáng là gì.

Vả lại, gửi con về dân gian nuôi nấng đâu phải chuyện xấu.

Thiếp cũng từng từ ruộng cả, ao sâu mà khôn lớn, bên ngoài còn có nhiều điều hay con có thể học hỏi.

Dăm ba bữa thiếp đến thăm con, hoặc con vào trong nội, thế là thiếp đã mãn nguyện lắm rồi."

Sau cùng, hoàng nữ được gửi về Yên Sinh để ngài Hưng Ninh nuôi nấng.

Yên Sinh là phía nhà ngoại của hậu, lại có Thiện Đạo quốc mẫu nên ai nấy đều yên lòng.

Chẳng bao lâu sau khi Nhị hoàng nữ về đến Yên Sinh, vào đúng ngày hai mươi lăm, mặt trời có hai quầng sáng bao quanh, vòng trong ánh vàng rực rỡ.

Người trong triều đình và dân chúng đều xôn xao bàn tán, truyền tai nhau rằng đây là điềm lành.

.

Sau ba năm yên bình không phải lo lắng việc tiếp sứ nhà Nguyên mà có thể tập trung sửa sang nội trị, đến mùa hạ năm Thiệu Long thứ tư, sứ bộ nhà Nguyên gồm Lễ bộ lang trung Mạnh Giáp và Viên ngoại lang Lý Văn Tuấn mang thư sang dụ.

Lưỡng cung tổ chức yến tiệc tiếp đãi sứ thần tại cung Thán Tử hết sức long trọng.

Đây là dịp vui vẻ.

Vua Nguyên dường như muốn lôi kéo để ta không tiếp quân cho Nam Tống.

Nhà Nguyên vừa mới thống nhất thiên hạ, hiện đang bận rộn dẹp tàn dư nhà Tống, củng cố quyền lực trong triều, đương nhiêu không có tâm trạng gây hấn với Đại Việt.

Vua Nguyên đồng ý mọi việc về mũ áo, lễ nhạc, phong tục của Đại Việt đều sẽ được giữ nguyên theo lệ cũ, không phải thay đổi.

Đồng thời, nhà Nguyên cũng nghiêm cấm các biên tướng ở Vân Nam tự ý đem quân lấn chiếm biên giới hay quấy nhiễu dân chúng.

Quan liêu sĩ thứ An Nam được yên ổn làm ăn, duy trì trật tự như trước.

Trước đây Nguyên và Tống tranh chấp, nước ta luôn giữ thái độ trung lập, chỉ cần không phạm đến lãnh thổ Đại Việt, mọi chuyện đều có thể thuận hòa.

Nay nhà Nguyên tạo nhiều điều kiện thuận lợi như vậy, lưỡng cung tất nhiên vui vẻ tiếp nhận.

Cũng trong dịp này, Quan gia chính thức được phong An Nam Quốc vương, đồng thời nhận ba tấm gấm Tây và sáu tấm gấm kim thục từ nhà Nguyên.

Trung thu năm ấy, Quan gia đồng thời phong Chiêu Minh làm Thái uý.

Việc triều đình bỏ Tĩnh Quốc mà cân nhắc Chiêu Minh, ít nhiều khiến Tĩnh Quốc phật ý.

Thực ra chuyện trong triều, nhìn bề ngoài thì tưởng Thượng hoàng hay Quan gia nắm quyền lực tối thượng, nhưng thực chất lại chẳng phải vậy.

Thượng hoàng còn đó, Quan gia không thể chuyên quyền.

Thái sư còn đó, Thượng hoàng chẳng thể tự quyết.

Thái uý còn đó, Thái sư cũng phải kiêng dè.

Triều chính rối rắm, thế lực đan xen, lưỡng cung chỉ có thể lắng nghe muôn ý kiến rồi dung hoà mọi điều.

Dù có nâng người này, hạ người kia, rốt cuộc vẫn phải tìm cách bù đắp.

Quyết định bỏ Tĩnh Quốc mà chọn Chiêu Minh vốn từ ý Thái sư, song e rằng Quan gia cũng đã ngầm chấp thuận.

Dẫu sao, theo danh nghĩa, Tĩnh Quốc vẫn là đích trưởng tử của Thượng hoàng; ngôi vua nay về tay Quan gia, thiên hạ khó tránh nhắc lại chuyện cũ năm Thiên Ứng Chính Bình thứ tư [3].

Bởi thế, dù Tĩnh Quốc có tài hơn người, nếu chẳng phải là cái tài đủ sức kinh bang tế thế thì cũng sẽ bị coi như "không có tài cán gì", giống như cái cách Hưng Ninh, Hưng Đạo hay Vũ Thành bị đối xử suốt bao năm qua.

Nhưng dù sao cũng là anh em chung một mẹ, cùng nhau lớn lên, Quan gia muốn an ủi nên ban cho phủ Diễm Châu hai tấm gấm kim thục vừa được sứ nhà Nguyên đem sang đợt tiếp sứ vừa rồi.

Gấm kim thục vốn là loại gấm xa hoa bậc nhất thiên hạ, khởi nguồn từ đất Thục, dệt bằng tơ lụa thượng hạng xen cả sợi vàng ròng.

Dưới ánh sáng, hoa văn nổi lên rực rỡ, tựa như dát nắng giữa muôn sắc mây.

Tĩnh Quốc hết mực trân trọng, viết thư tạ lễ, lời lẽ chân thành cảm động.

.

Trung thu, kinh sư mở hội linh đình.

Kinh thành như khoác lên mình tấm áo lộng lẫy.

Tất cả tông thất đều được ban yến.

Đèn lồng đủ màu sắc treo khắp ngõ ngách của kinh sư, rực sáng như những vì sao.

Dưới ánh trăng tròn vằng vặc, yến tiệc phá cỗ được tổ chức tưng bừng, náo nhiệt.

Tiếng cười nói rộn rã vang vọng khắp gian đình.

Các bậc vương hầu ngày thường uy nghiêm là thế, giờ đây gương mặt ai nấy đều ẩn hiện nụ cười rạng rỡ.

Tay nâng chén rượu ngọc, hô hào, chúc tụng, cùng nhau thưởng nguyệt chung vui.

Mâm cỗ Trung thu trải rộng trên một tấm lụa mềm, từng món ăn được bày biện khéo léo, hài hòa như một bức tranh sống động.

Bánh dẻo trắng muốt, áo một lớp bột mỏng, bên trong là nhân hạt sen thơm ngát, dịu dàng tựa trời thu.

Xung quanh là các loại mứt trái cây đủ màu sắc, mứt bí đỏ thắm, mứt gừng vàng ươm, mứt khoai lang tím, điểm xuyết thêm vài lát hồng khô thơm ngọt.

Hoa quả tươi ngon được chọn lựa kỹ càng, từng miếng đào hồng phơn phớt, lê trắng nõn nà, cùng những hạt lựu đỏ chín mọng được tỉ mỉ tạc thành hình hoa sen thanh nhã.

Nữ quyến khoác trên mình những bộ y phục thêu hoa tinh xảo, sắc màu rực rỡ, lấp lánh dưới ánh đèn lồng lung linh.

Trong muôn vàn sắc ấy, nổi bật nhất chính là công chúa Thiên Thụy.

Nàng khoác bộ y phục mới tinh, tấm váy gấm cẩm óng a óng ánh, đai lụa thêu chỉ vàng mềm mại quấn ngang eo, phất phơ theo từng cơn gió thu nhè nhẹ.

Năm nay Thiên Thuỵ vừa tròn năm tuổi.

Đêm nay cô công chúa nhỏ sẽ biểu diễn độc huyền cầm trước chư vị tông thất.

Từ thuở lọt lòng, Thiên Thụy đã thông minh lanh lợi.

Cung phi Vũ thị coi con như trân bảo, chẳng quản vất vả, mời về những bậc danh sư tài hoa khắp chốn nhân gian để dạy dỗ.

Thiên Thuỵ bốn tuổi đã thuộc làu từng thiên trong Kinh Thi; năm tuổi đã tinh tường nhạc lý, ngón tay non mềm có thể gảy nên những khúc nhạc ngân nga.

Thiên Thụy bước lên điện ngọc, vóc dáng bé nhỏ tựa cánh sen non mới hé.

Trước mặt nàng, độc huyền cầm đặt ngay ngắn trên giá, dây đàn mảnh như sợi tơ, hắt ánh sáng bạc của trăng rằm tháng Tám.

Bên dưới, tiếng xì xào vang lên đầy thích thú,

"Nhất chú hai rồi nhé, có cô con gái rượu thế này!"

"Ôi, công chúa mới ngần ấy tuổi mà đã tài năng hơn người!"

"Công chúa mới năm tuổi thôi đã thông thạo cầm kỳ thi họa rồi!"

Đôi bàn tay non mịn đặt lên dây đàn.

Một thoáng lặng im, cả gian đình như nín thở.

Ngón tay nhỏ nhắn khẽ búng, âm thanh ngân vang, trong vắt như giọt sương rơi trên phiến ngọc.

Tiếng đàn khi nhẹ như gió thu len qua kẽ lá, khi dồn dập như sóng vỗ bờ, cuốn người nghe trôi theo từng cung bậc.

Bỗng, từ xa vọng lại tiếng trống cơm "tùng... tùng..."

đệm vào trong khúc đàn.

Âm trống dân dã, hòa cùng tiếng đàn trong trẻo, tạo nên một bản hòa âm vừa mộc mạc vừa lạ lùng.

Giây phút ấy, dường như trăng cũng sáng hơn, gió cũng dịu hơn.

Tiếng trống mỗi lúc một gần, khiến mọi người đảo mắt tìm nơi phát ra âm thanh ấy.

.

[1] Nhật thực: Canh Thân,[Thiệu Long] năm thứ 3 [1260], (Tống Cảnh Định năm thứ 1.

Nguyên Thế Tổ HốtTất Liệt 2 Trung Thống năm thứ 1).

Mùa xuân, tháng 3, ngày mồng 1 Mậu Thìn, nhật thực.

Ngày 25, mặt trời có hai quầng, quầng bên trong có sắc vàng.

[2] Khâm thiên lệnh: chức quan đứng đầu Khâm thiên giám.

Khâm thiên giám là cơ quan quan sát và chiêm nghiệm âm dương bói toán, các hiện tượng thiên văn, thời tiết, làm lịch, coi ngày, báo giờ để định mùa vụ cho dân, giữ đồng hồ báo canh, và giữ trọng trách tư vấn triều đình về các vấn đề địa lý và phong thủy.

[3] Thiên Ứng Chính Bình thứ 4: năm xảy ra sự kiện loạn sông Cái.
 
Trăng Nhàn.
14. Khúc nguyệt, vần phong


Mọi ánh nhìn dồn cả về phía tiếng trống nhịp nhàng vang vọng.

Từ xa, một cậu bé chừng tuổi thiếu niên bước ra, gương mặt sáng sủa, đôi mắt lanh lợi, vừa đi vừa gõ trống cơm.

Nhìn kỹ thần thái cùng dung mạo ấy, chẳng ai còn ngờ vực, chính là Khánh Dư, con trai út của Thượng tướng Phó Duyệt [1] và phu nhân Thái Anh.

"Trời ơi, hoàng huynh xem kìa!

Một bên là ngọc nữ gảy đàn, một bên là thiên đồng gõ trống, chẳng khác gì cảnh tiên trên trời!"

Vũ Uy vương đã uống không ít rượu mận, nức nở khen ngợi.

Quan gia nghe vậy, miệng cười ha hả, tay cầm chén rượu khẽ nghiêng, đôi mắt sáng lên niềm thích thú.

Chàng lại nhấp một ngụm, vẻ phấn khởi càng dâng trào,

"Há chẳng phải Khánh Dư ngày trước theo Thượng tướng đánh úp bọn Thát đó sao?"

Phó Duyệt khóe mắt ánh lên niềm kiêu hãnh, "Chỉ e con trai thần còn vụng dại, khiến thượng hoàng và quan gia chê cười..."

Quan gia bật cười, đưa mắt nhìn Khánh Dư, "Tuổi tuy còn trẻ nhưng đã lộ rõ khí phách anh hùng.

Trí lược và dũng khí đều có, chẳng phụ công ông cha rèn giũa.

Năm xưa cùng cha ngươi xông pha chinh chiến, trẫm vẫn chưa kịp ban thưởng...

Hôm nay nhìn lại, quả thật lòng trẫm hân hoan."

Nói đoạn, Quan gia cầm lấy hũ rượu, bước đến chiếc bàn thạch nơi bày sẵn bút mực.

Tay chàng nâng bút, mực đậm thấm giấy, từng nét khoan thai mà mạnh mẽ, viết nên bốn chữ: "Thiên Tử Nghĩa Nam."

Chàng giơ cao đoạn vải, cao giọng công bố, "Hôm nay ngày lành, trẫm nhận Khánh Dư làm nghĩa tử, giao cho hoàng hậu đích thân nuôi dạy."

Lời vừa dứt, trong chốc lát tất cả như bùng lên niềm vui.

Người reo hò, kẻ cười rạng rỡ, tiếng chúc tụng vang lên rộn rã, tựa khúc nhạc chan hòa.

Chỉ riêng Thiên Cảm, sau nụ cười khách sáo lại phảng phất nét đăm chiêu, khiến từng cử chỉ của nàng đều trở nên dè dặt.

.

Tiệc tàn, rượu cũng nhạt.

Dưới vầng trăng rằm tháng tám, cây cối quanh sân phủ một lớp bạc huyền ảo, bóng hai người in dài trên nền gạch, tựa bức tranh thủy mặc, một dáng vững chãi như tùng bách, một dáng uyển chuyển tựa trúc mai.

Người giận dỗi tiến về phía trước, kẻ vội vã đuổi phía sau.

Nhưng chỉ ba bước chân, với khác biệt chiều cao, chàng đã kịp nắm lấy tay nàng, kéo nàng chầm chậm về phía mình,

"Hậu làm gì mà mặt nặng mày nhẹ vậy?"

"Thần thiếp không dám."

"Trẫm thì thấy nàng dám lắm!"

"Quan gia là thiên tử, làm gì đến lượt thần thiếp mở miệng có ý kiến chi."

"Rõ ràng là trong lòng có điều chẳng thuận ý."

"Thần thiếp đâu dám!"

"Miệng thì bảo không dám, nhưng lại lộ vẻ bất bình.

Vậy rốt cuộc là dám hay không dám?

Nói!

Trẫm nghe."

Thiên Cảm nhíu mày, quay mặt đi không muốn nhìn chàng.

Sau một lúc thấy thái độ chàng kiên quyết, nàng liền một mạch nói ra điều chưa vừa ý,

"Quan gia nhận con nuôi, nhưng lại chẳng nói trước với thiếp một tiếng.

Quan gia có biết chuyện chị cả Bảo Huân của thiếp là vợ cũ của Phó Duyệt chăng?"

Nghe đến đây Quan gia sững người, chàng hình dung lại mấy người chị gái của nàng.

Lúc bàn chuyện hôn nhân với nhà Yên Sinh, chàng từng nghe một bô lão nhắc đến mấy người con gái nhà này.

Người con gái cả hơn chàng chục tuổi, từng gả chồng nhưng không hoà hợp nên bị trả về, người con gái thứ hai là con nuôi, con gái thứ ba thì không phải dòng đích, con gái thứ tư thì tình tình kì quái, cuối cùng mới chọn lấy nàng, kém chàng vài tuổi, phù hợp nhất từ tuổi tác đến tính nết.

"Ngày trước chị cả thiếp từng gả cho Phó Duyệt.

Lúc chị mười tuổi đã khăn gói qua Chí Linh.

Năm ấy trong triều phụ vương và Thái sư không hoà hợp, thường xuyên có nhiều điều trái ý.

Phụ vương có ý hoà giải nên chủ động gả chị cả thiếp cho Phó Duyệt để tỏ lòng hoà hoãn.

Nhưng cuối cùng chuyện không xuôi, chị bị trả về Yên Sinh sau một năm.

Chị gái thiếp từ đó không tái giá, năm nay đã ngoài tam thập nhị rồi mà vẫn chỉ ở vậy thờ phụ mẫu thiếp."

Lúc này Quan gia mới sực nhớ lại mấy chuyện khúc mắc trong triều.

Ban đầu chàng vẫn ngỡ Hưng Ninh và Hưng Đạo bất hòa với Phó Duyệt là vì mối hiềm khích từ đời ông cha, nào ngờ lại còn dính dáng đến chuyện trong nhà như thế.

Thực ra, chuyện cũ năm ấy nhờ Linh Từ quốc mẫu khéo léo hoà giải mà mối hờn giữa phụ hoàng chàng cùng Khâm Minh đại vương đã phần nào nguôi ngoai.

Chỉ còn khúc mắc giữa Thái sư và Yên Sinh thì vẫn còn rất sâu đậm.

Năm xưa Thái sư ra tay sát hại thuộc tướng và gia binh của Khâm Minh, đến lúc nhắm mắt xuôi tay, Khâm Minh vẫn ôm mối hận trong lòng.

Máu năm ấy nhuộm đỏ cả dòng sông Cái, cuộn theo từng con sóng mà loang xa đến tận chân trời.

Cảnh tượng ấy, nghĩ lại thôi cũng khiến lòng người quặn thắt.

Dẫu Khâm Minh có nhân từ cũng khó lòng rũ bỏ ám ảnh đã in hằn như vết dao khắc đá.

Về phần Thiên Cảm, nàng vốn thân thiết với các chị em, giờ bảo nàng nhận con trai của chồng cũ chị gái làm con nuôi trong tẩm cung, quả thực có phần lấn cấn.

Dẫu Bảo Huân không để tâm, Thiên Cảm cũng chẳng khỏi suy nghĩ.

"Quân vô hí ngôn"

"Vậy bệ hạ tự mình nuôi đứa con này đi.

Thần thiếp vốn là người nhỏ nhen, bận quản chuyện hậu cung, Khâm cũng đã đến tuổi sát sao học tập, dưới còn có Lâm Uyên ở xa nhà, sợ không lo toan chu đáo được cho con nuôi của bệ hạ"

"Nàng..."

Nàng quay lưng về phía khác không muốn để ý đến chàng.

Chàng đang có men say trong người, thấy thái độ nàng vậy thì nổi giận, nhưng chẳng thèm trách mắng, chỉ phất tay, quay lưng rời đi.

Thiên Cảm thấy vậy không khỏi hụt hẫng.

Nàng vội rướn người dõi theo bóng lưng lướt qua rồi biến mất sau hành lang điện vũ.

Nàng tức đến giậm chân tại chỗ, muốn lên giọng cãi cọ thêm cho bõ tức, nhưng mặt rồng đã chẳng còn thấy đâu nữa.

Rồi bỗng chốc, nghe được âm thanh "hừ" nhẹ phát ra từ nơi nào, nàng giật mình quay lưng lại.

Không biết từ khi nào, Tĩnh Quốc đang đứng tựa lưng vào cột gỗ ở trong một góc khuất, tay vẫn cầm hũ rượu gạo, ngà ngà say.

Dường như Tĩnh Quốc vẫn luôn ở đó từ đầu chí cuối, lắng nghe cuộc cãi cọ của hai người.

Thiên Cảm giật mình, gương mặt nhanh chóng lạnh ngắt như không còn giọt máu.

"Anh Khang..."

Nàng buông lời như xuất phát từ tiềm thức, sau mới nhận ra xưng hô của bản thân không phải lẽ.

Nàng đã gả chồng, phải gọi anh trai của chồng là "bác cả", huống chi Tĩnh Quốc lại là anh trai cùng cha khác mẹ với nàng.

"Cô năm không cần lo lắng, coi như đây là bí mật giữa anh và cô đi"

Tĩnh Quốc chệnh choạng quay đầu rời đi.

Thiên Cảm ở lại, lấy tay đập lồng ngực để bình tĩnh lại.

Dáng vẻ phạm thượng của nàng lại bị người trong hoàng tộc nhìn thấy.

May sao đó là Tĩnh Quốc, nếu đổi lại là Chiêu Minh, hoặc là Giám quan, thì có lẽ cái ghế Hoàng hậu này nàng cũng không cần phải ngồi nữa rồi.

[1] Trần Phó Duyệt: theo vài nguồn Trần Phó Duyệt là con của Trần Thủ Độ.

Trong truyện Trần Phó Duyệt chỉ thuộc dòng dõi của Trần Thủ Độ, không phải con trai.

.

Sáng hôm sau, Quan gia cho một loạt Thái y đến Song Hương đường bắt mạch.

Nói là bắt mạch, nhưng mấy vị ngự y kia chỉ đứng đó cho có lệ, rồi sau một tuần hương, còn chẳng động lấy một cái kim châm đã kết luận nàng bị phong tà [2] do thời kỳ ở cữ lo nghĩ cho nhị hoàng nữ khiến cơ thể suy kiệt.

Còn chưa kịp hiểu rõ sự tình, tin tức nàng lâm bệnh đã truyền khắp hậu cung.

Cùng lúc đó, Quan gia hạ lệnh, do sức khoẻ của Hoàng hậu yếu kém, khó lòng chăm nom nghĩa nam tận tình nên Khánh Dư sẽ do viện Đoan Trường nuôi nấng.

Thiên Cảm cầm tờ chuẩn bệnh của ngự y trong tay, cổ họng nghẹn bứ chẳng thốt nên thành lời.

Hôm qua Quan gia còn nổi giận với nàng, hôm nay lại bày cách giúp nàng đưa Khánh Dư đi.

Nàng vốn định không thèm để ý đến chàng, chàng lại giúp nàng việc vậy.

Chiều hôm ấy nàng cặm cụi trong vườn, tỉ mẩn hái mấy nhành cây cỏ để ướp hương cho chiếc gối chàng thường kê đầu, cũng tiện làm vườn chăm chút cây cỏ.

Nàng lựa ít lá trầu bà, vài lá bưởi, một chút nhất mạt hương rồi điểm thêm đôi đoá dành dành.

Cây dành dành ấy vốn do cậu Tung trồng tặng từ thuở nàng mới xa nhà.

Biết nàng say mê vườn tược, cậu không quản xa xôi, mang đủ giống hoa cỏ từ quê lên kinh sư cho nàng bớt cô quạnh.

Thuở nhỏ, nàng sống nơi phố thị, dù có cậu Tuấn ở cạnh thì cậu cũng miệt mài học hành, khi thì ở võ trường, khi thì dùi mài văn sách, rảnh hơn chút thì cũng ngồi nghiền ngẫm binh thư.

Nàng chẳng mấy thiết tha với thêu thùa, may vá, đàn ca; có để tâm tới sách vở cũng chỉ đọc dăm ba quyển kinh thi, nhưng chưa bao giờ thành đam mê.

Thứ nàng nhớ nhất vẫn là bóng núi, lưng đồi nơi quê nhà, những ngày được tung tăng trong nắng gió.

Ở chốn kinh kỳ, khuê nữ nào được phép làm những việc ấy, thế là nàng tự bày trò vun xới để khỏa lấp tháng ngày quạnh quẽ.

Việc ấy đã thành thói quen lúc rảnh rang, đến giờ nàng vẫn không bỏ được cái thú vườn tược.

Dù có bận rộn chuyện hậu cung, con cái, rảnh được một lúc là nàng đều tranh thủ ra ngoài vườn tưới tắm, tỉa tót.

Đang mải mê vùi đất, tóc mai rủ xuống, chiếc xẻng nhỏ đều đặn xới vào gốc cây, bất chợt có miếng bánh cốm đưa ngang ngay sát môi nàng.

Cúi đầu lắc nhẹ, nàng lấy khuỷu tay hất ra,

"Ta không ăn, em để sang một bên đi."

Lạ thay, con Hồng chẳng đáp lời như mọi khi, cũng không mè nheo cho đến khi nàng chịu cắn một miếng cho xong chuyện.

Lòng chợt nghi, nàng quay lại thì giật mình chạm phải dáng hình cao lớn, một thân bạch y nổi bật giữa vườn cây xanh ngát, thản nhiên cầm chiếc bánh đứng đó từ khi nào.

Ánh nắng xiên chếch, chiếu ngược làm bóng chàng kéo dài trên thảm cỏ.

Đôi mắt nàng hơi nheo lại, chỉ thấy gương mặt ấy lẩn khuất, khi ẩn khi hiện sau từng tia sáng chói chang, bỗng chốc khiến tim nàng như thắt lại.

Nàng hoảng hốt, vội lấy vạt áo che ngang trước mặt,

"Thần thiếp mình mẩy cáo bẩn, quan gia đừng nhìn!"

"Bỏ vạt áo xuống để trẫm xem nào."

"Cớ sao hôm nay Quan gia lại ngự giá nơi này?"

"Trẫm đợi trong tẩm cung mà chẳng thấy nàng đâu nên mới vào xem nàng bày trò gì mà lâu la thế.

Cái rổ kia...

định hái về chữa phong tà chăng?"

Giọng chàng vừa như bông đùa, vừa có ý châm biếm, chẳng rõ là trêu ghẹo hay ngầm nhắc khéo công lao.

Nàng bỏ vạt áo xuống, để lộ gương mặt lấm tấm mồ hôi.

Đôi tay vẫn cầm xẻng dính đầy bùn đất, chẳng giống bàn tay ngọc ngà của bậc mẫu nghi quốc triều.

"Thần thiếp biết mình có tội bất kính.

May nhờ quan gia rộng lượng, chẳng những không trách phạt mà còn chuẩn cho ý nguyện của thần thiếp.

Bởi vậy, thiếp muốn tự tay ướp hương dâng lên quan gia, mong người dễ bề an giấc.

Nào ngờ việc còn chưa kịp xong, bệ hạ đã ngự giá tận vườn mà bắt gặp thế này"

"Biết sai, làm việc chuộc lỗi vậy là phải lắm.

Cứ làm tiếp đi, trẫm qua bên phương đình kia ngồi chơi xơi nước cho mát mẻ."

Thấy người kia ung dung nho nhã, còn mình thì lấm len bùn đất, nàng lại nảy ý xấu xa.

Thiên Cảm bất ngờ giậm mạnh một cái lên chân chàng, rồi giả bộ hốt hoảng, hai tay vừa đập vừa phủi loạn xạ như muốn xua đuổi thứ gì đó.

"Ôi...

Quan gia giẫm phải ổ kiến lửa rồi, thần thiếp hộ giá!"

Chàng giật mình, cứ tưởng thật, lập tức nhấc chân né sang một bên, dáng vẻ hốt hoảng.

Nàng nhân cơ hội ấy áp sát, đôi tay lấm lem đất cát vội vàng phủi phủi, đến khi cả bùn đất đều dính đầy trên vạt áo của chàng thì mới chịu dừng.

Nàng cười khẽ, nghiêng đầu nói,

"À... không phải kiến lửa, thiếp hoa mắt nhìn nhầm.

Hoá ra chỉ có vài con kiến đen thôi.

Quan gia cứ thong thả ngồi đây mà xơi nước, thần thiếp cáo lui về tẩm cung, kịp sấy lá làm túi thơm dâng bệ hạ."

Đến khi chàng kịp nhận ra, nàng đã xách rổ đi khuất về phía lối ra, muốn gọi lại cũng không còn kịp nữa.

[2] Phong tà: không phải là một bệnh cụ thể mà là thật ngữ trong y học cổ truyền để chỉ các chứng bệnh gây bởi tà khí khác như hàn (lạnh), thử (nóng), thấp (ẩm thấp).

.

Tối hôm ấy, Quan gia gọi Thiên Cảm hầu ngự trì, xem như chuộc lỗi đã làm bẩn bạch bào lúc ban chiều.

Nàng không một lời biện bạch, vui vẻ nghe lệnh.

Còn tự tay đun thêm nồi nước lá để chàng tắm rửa cho thơm tho.

Trong làn hơi nước bảng lảng, mùi cỏ cây thoang thoảng, bóng hai người in xuống mặt nước, ấm áp lạ thường.

Nàng cầm sơ mướp, khẽ kì cọ đằng sau lưng chàng, lực tay nhẹ nhàng, nhưng vừa đủ để chàng cảm thấy, dễ chịu.

"Trẫm nhận con nuôi, lại trực tiếp chỉ định nàng nuôi nấng, đáng lẽ nên nói một câu với nàng.

Chuyện vừa rồi là trẫm chưa chu đáo," chàng bỗng dưng cất lời phá tan im lặng giữa cả hai.

Nàng đáp, "Thiếp là hoàng hậu không thể vì chuyện riêng mà thoái thác.

Thần thiếp cũng chưa phải."

Chàng khẽ nghiêng người về phía nàng, hơi thở ấm áp lướt qua vai, "Hậu cũng biết nghĩ cho trẫm rồi đó."

Nàng mỉm cười, khẽ đáp, "Thiếp lúc nào mà chẳng lo lắng cho quan gia."

Nghe vậy, chàng thoáng vẻ suy tư, nghĩ ngợi chuyện xảy ra mấy năm qua.

Ba năm nay, nếu nàng không vướng chuyện bầu bí, thì hết thảy tâm sức đều dồn cho việc nhà gần xa.

Ngay cả ngoại thích họ Lý, lễ lạt lớn nhỏ cũng do nàng sắp đặt chu toàn.

Chuyện ăn uống, ngủ nghỉ của chàng, nàng chưa từng để chàng phải bận lòng.

Từ thư đồng hầu hạ, ngự trù nấu nướng, đến cả người chải tóc mỗi sáng... không việc gì mà nàng không để tâm, đặt sức.

Chàng khẽ gật đầu, thở ra một tiếng, "Ừ... cũng phải."

Rồi nàng vòng tay qua người chàng, đặt nhẹ tay lên lồng ngực rộng, tựa đầu vào lưng chàng, thủ thỉ, "Nhưng thiếp trộm nghĩ, để Khánh Dư cho Ngọc Lan nuôi phải lắm.

Ngọc Lan chỉ có mỗi Quỳnh Trâm, nay Khánh Dư sang bên viện Đoan Trường cũng khiến nàng ấy vui vẻ hơn phần nào."

Chàng bật cười, "Hậu còn lo lắng cho phi tần hậu cung, hay là trẫm nạp thêm vài người để nàng bận rộn hơn chút, khỏi phải ra vườn đuổi kiến nữa?"

"Lời quan gia nói vừa khéo đúng ý thiếp.

Thiếp cũng định nạp cho bệ hạ vài cung phi cho vui nhà vui cửa.

Vừa hay, quan gia thích đàn bà thế nào để thiếp tìm cho người?"

Nghe đến đây, chàng quay hẳn lại, bắt lấy tay nàng nắm thật chặt, kéo nàng sát vào người.

Ánh mắt trầm ấm, hơi thở gần như chạm vào tai nàng, "Hậu nỡ sao?"

"Thần thiếp chẳng muốn mang tiếng độc hậu đâu."

Nàng thẳng thắn, "Thiếp không tính thì mấy ông quan sảnh hầu cung Quan Triều đã lục đục nhòm ngó rồi.

Chuyện nhà của Quan gia cũng là chuyện của thiên hạ, chủ động tìm cho bệ hạ vài vị vừa ý, thiếp còn có thể dăm hôm ghé tới chuyện trò.

Như vậy cũng tốt hơn là để mấy ông quan đem con gái dâng lên.

Mấy vị kiều nữ thế gia, thần thiếp hầu không nổi."

Ánh mắt chàng dịu đi, "Hậu nói vậy cũng hợp lý lắm.

Vậy tìm cho trẫm mấy vị đi, hợp ý nàng là được.

Ý nàng cũng là ý trẫm."

"Thần thiếp tuân mệnh"

Đoạn, bẫng đi một hồi, nàng như có chuyện cần bày tỏ,

"Thiếp định sau đợt này sẽ đưa Khâm về Yên Sinh nửa tuần trăng.

Khâm đã gần năm tuổi, thế mà vẫn chưa một lần về quê thắp nén hương cho ông ngoại.

Với lại hôm nọ anh Tung đưa Lâm Uyên lên kinh, thiếp còn chưa kịp ôm ấp cho ấm tay thì con bé đã phải rời đi.

Thiếp nhung nhớ con bé mãi.

Quan gia liệu có chuẩn cho thiếp không?"

Quan gia nghĩ ngợi một hồi rồi cất tiếng, "Trẫm cũng muốn thăm thú Yên Sinh.

Mọi ngày đều là đạo huynh [3] và thiền sư Tiêu Dao vào nội, trẫm chưa có cơ hội cùng hai người đàm đạo bên ngoài cửa thành.

Nay mẹ con nàng đã muốn về Yên Sinh, sao thiếu được trẫm"

Thiên Cảm khựng lại, trong thoáng chốc sững người.

Bao năm chung sống, nàng đã hiểu chàng nhiều điều, hiểu được lòng chàng hiếu thảo, cũng hết mực nhân nghĩa.

Nhưng nàng chưa từng nghĩ tới chuyện Quan gia sẽ muốn về quê nàng.

Nàng khẽ dè dặt thưa, "Thiếp e rằng... bách quan trong triều sẽ có ý kiến chăng?"

"Ngự sử đại phu Phụ Trần còn muốn khuyên trẫm sớm ngày về Yên Sinh, thì lẽ nào lại có kẻ ngăn cản."

Nghe vậy, lòng Thiên Cảm phần nào lắng xuống, nhưng mối lo vẫn nặng trĩu.

Xa giá của Quan gia về Yên Sinh há phải việc nhỏ.

Nàng chỉ e những kẻ vốn chẳng thuận mắt nhà nàng, thấy thánh ân rủ xuống lại sinh đố kỵ, bày mưu tính kế, gieo điều xấu xa.

Như cảm nhận được nỗi lo âu của nàng, chàng khẽ nắm tay nàng, "Trẫm nào phải người không phân biệt được đạo lý.

Cây còn nhớ cội, nước còn tìm nguồn, con cháu lại há quên tổ tông.

Đạo Nho dạy chữ hiếu là gốc, thiên hạ có yên ổn từ đó mà sinh.

Trẫm về Yên Sinh, chẳng phải chỉ để làm đẹp lòng nhà nàng, mà là nối dài mạch ân nghĩa, để muôn dân soi thấy đạo làm người."

Ngoài vườn, cơn gió đêm khẽ lay cành lá, đưa hương mộc dìu dịu tràn vào gian phòng tĩnh lặng.

Thiên Cảm ngồi kề bên, nghe lời chàng mà lòng dâng lên niềm ấm áp, tựa suối ngọt thấm vào tâm can.

[3] Đạo huynh: Tuệ Trung thượng sĩ Trần Tung.
 
Trăng Nhàn.
15. Gió nghiêng vạt nắng


Con thuyền chòng chành rời bến Triều Đông [1], xuôi theo dòng Nhị Hà [2], hướng về phía lộ Hồng.

Thuyền ngang một cù lao lớn, nơi làn khói bếp chiều lãng đãng bay lên, mang theo hương thơm của cơm chiều mới thổi khiến không gian bỗng chốc trở nên gần gũi.

Quan gia đứng nơi đầu mạn thuyền, mắt dõi về bãi đất xa xa.

Khói chiều lảng bảng khiến sống mũi cay cay, tâm trạng cũng vì thế mà chùng xuống.

Như nhận ra điều gì khác lạ, Thiên Cảm kêu đứa hầu đi mời phu lái thuyền vào trong hỏi chuyện.

"Phu uống chén nước cho đỡ mệt.

Ta chỉ muốn hỏi thuyền đã đi đến đâu rồi?"

Phu lái thuyền nâng chén nước của Thiên Cảm ban, uống cạn rồi trả lời,

"Tạ ơn đức bà ban nước.

Bẩm đức bà, thuyền đã vào địa phận lộ Khoái.

Chừng một canh giờ nữa là sang tới lộ Hồng rồi."

"Lộ Khoái..."

Nàng khẽ lặp lại, ánh mắt lắng xuống, cố lục lại trong ký ức xem vùng này có điều gì khiến Quan gia trầm ngâm đến thế.

Rồi như sực nhớ ra điều gì, nàng ngẩng đầu nhìn ra xa,

"Kia... phải chăng là bãi Cửu Liên?"

"Dạ phải."

Nghe đến đây, ánh mắt nàng như xa xăm trở về một thuở nào.

Nàng quay sang Đại hoàng tử, thấy chàng vẫn còn ngơ ngác chưa hiểu chuyện gì, bèn nhỏ giọng kể lại:

"Bãi Cửu Liên là nơi ngày xưa cụ bà hạ sinh bà nội con.

Bà nội con mất sớm, phụ hoàng con vì thương kính mà luôn tưởng nhớ, lại càng quý trọng ngoại thích họ Lý.

Trong người con, vừa chảy dòng máu họ Trần, vừa có huyết thống họ Lý, là dậu duệ được sinh ra ở thời yên bình sau cơn loạn lạc.

Các cụ nhà ta đã gây dựng cơ nghiệp từ những năm tháng gian nan, phải biết quý trọng, làm sao cho xứng với cơ nghiệp tổ tiên.

Nghe chưa?"

Nói rồi nàng lấy một tấm áo choàng mỏng, chậm rãi bước lên đầu mạn thuyền.

Gió thổi nhẹ, cuốn theo mùi khói bếp cùng hơi nước từ mặt sông, ngai ngái mà lại thân quen.

Nàng lặng lẽ khoác cho chàng tấm áo,

"Quan gia giữ gìn long thể.

Trời đã chuyển dần đông, gió Bắc cũng buốt giá hơn rồi."

Chàng không đáp, chỉ khẽ "Ừ" một tiếng, rất khẽ.

Đôi tay siết lấy cổ áo, giữ lại chút hơi ấm từ tấm áo nàng mang tới.

"Trẫm... như vừa nghe thấy tiếng người gọi...", giọng chàng chậm rãi như đang bước qua một cánh cửa ký ức mờ nhòe, "Nhưng kỳ lạ thay, đến cả gương mặt của người, trẫm cũng chẳng còn nhớ được nữa rồi."

Một khoảng lặng trôi qua, chỉ còn tiếng sóng lăn tăn vỗ vào mạn thuyền, cùng tiếng gió hun hút vi vút ngang qua.

Nàng khẽ cất giọng, thanh âm mỏng như làn khói thoảng,

"Thiếp dù lớn lên nơi phố thị nhưng có những đoạn kí ức vẫn luôn quanh quẩn trong tâm trí thiếp.

Thiếp vẫn nhớ rõ một buổi sớm nào đó, mùi trầm từ hương nhang còn vương trong không khí, bên tai là tiếng anh Tung đọc kinh đều đều.

Xa hơn chút là tiếng cây kiếm gỗ của anh Tuấn chém vào rơm dạ vang lên từng nhịp.

Và trong làn sương sớm bảng lảng, có dáng chị Huân lom khom thổi cơm sáng.

Tất cả... như một khung cảnh yên bình nhất mà thiếp từng có, nhưng bức tranh ấy thực sự trông ra sao, hình ảnh thế nào, thiếp chẳng thể nhớ nổi nữa.

Những gì còn sót lại, chỉ là âm thanh cùng những tầng ký ức mờ nhoè, như những sợi tơ mong manh níu giữ ký ức đang dần phai nhạt."

Chàng trầm ngâm, ánh mắt lặng lẽ hướng ra khoảng không phía trước, nơi mặt nước trôi mênh mang dưới ánh chiều lặng lẽ.

Như thể chàng đang âm thầm hoà mình vào bức tranh nàng vừa vẽ, mong trộm lấy chút hơi ấm từ mảnh ký ức không phải của bản thân.

"Những chuyện khi còn nhỏ...", giọng chàng khẽ khàng, "Trẫm đã quên cả rồi."

Nàng nghiêng người, vẫn dõi mắt theo dòng nước đang trôi, ánh hoàng hôn lấp lánh phản chiếu trong đáy mắt long lanh.

Một làn gió chợt lùa qua, làm tấm áo nàng lay nhẹ.

"Thiếp nghĩ, có lẽ ta không thật sự quên đi, chỉ là có những điều đã bị cất đi quá sâu, quá kĩ."

Chàng chững lại một hồi, rồi như có một tia sét chạy qua cơ thể, khiến chàng nhớ về một ráng chiều nào đó,

"Trẫm nhớ, người chưa từng thực sự có một nụ cười trọn vẹn.

Khi ta thuộc bài thơ đầu tiên, người cười, nhưng nụ cười ấy nhạt nhòa như tia nắng yếu ớt ở dưới trạng vạng chân trời kia.

Mẫu hậu dường như đã đánh mất nửa phần tâm hồn, sống tiếp trên đời chỉ vì bổn phận, vì ta, vì Khải, vì Thư, đè nén người mười mấy năm trời cho đến khi người nhắm mắt..."

Nàng lặng im.

Nàng hiểu những khoảng trống trong tuổi thơ của chàng, nhưng cũng biết mình không phải người từng nếm trải những trống vắng ấy.

So với chàng, nàng may mắn hơn rất nhiều.

Nàng sinh ra khi phụ mẫu đã rời khỏi vòng xoáy vương quyền, cả nhà yên phận trên núi An Phụ.

Khi đặt chân vào kinh sư, nàng có cô, có anh che chở, có mẹ và chị thương nhớ.

Phụ mẫu chưa từng đặt quá nhiều kỳ vọng lên nàng, chẳng bắt nàng đảm đang nữ công gia chánh, cũng không ép nàng tinh thông cầm kỳ thi họa; chỉ cần nàng hiểu đạo làm người, sống sao cho trọn nghĩa vẹn tình là đủ.

Còn chàng, từ thuở ấu thời đã mang trên vai trọng trách của hai họ Lý – Trần, là huyết mạch được gửi gắm niềm kỳ vọng về một giang sơn toàn vẹn.

Không có chàng, ngai vàng của họ Trần vướng tiếng phản nghịch, cơ nghiệp họ Lý thành yếu điểm bị quyền thần tiếm đoạt.

Vì thế, chàng không được phép là một hoàng tử tầm thường, chàng buộc phải là minh quân, phải có trí lược để giữ yên hai họ, có chí lớn để dựng xây cơ đồ xã tắc.

Nàng ôm chặt lấy bờ vai chàng, để chàng không cảm thấy cô quạnh.

"Quá khứ của chàng là điều thiếp không thể chạm tới.

Nhưng tương lai, dù dặm trường phong sương, thiếp nguyện sẽ cùng chàng đi hết quãng đường"

.

Trời sầm tối, con thuyền mới cập bến Yên Bang.

Cậu Cả, cậu Hai, Thiên Thành cùng các vị vương tử, vương nữ đã chờ từ lúc nào, cung kính đón thánh giá.

Trong vòng tay Thiên Thành, hoàng nữ Lâm Uyên ngủ say, chiếc đầu nhỏ tựa vào vai bà đầy an tĩnh.

"Thần tham kiến Quan gia, Hoàng hậu, Trưởng công chúa, Đại hoàng tử."

"Lần này về Ngũ Yên thăm thú, lại phải làm phiền Đạo huynh và Quốc Tuấn rồi."

"Lâm Uyên ngủ say từ bao giờ thế?

Để em xem con bé có tăng thêm cân nào không?"

Thiên Cảm vừa nói vừa bước nhanh về phía Thiên Thành.

Con phà khẽ chòng chành khiến nàng loạng choạng, may nhờ Quan gia kịp đỡ lấy cánh tay, giúp nàng đứng vững.

Bỏ qua mọi nghi lễ rườm rà, nàng đã vội ôm lấy con từ tay cô Thiên Thành.

Khoảnh khắc ấy, mọi lớp áo nặng nề của Phượng thành như được trút xuống, nàng chỉ còn là người mẹ xa con lâu ngày mới được gặp lại, là người con gái lấy chồng xa trở về quê cũ.

"Uyên bế đằm tay hơn rồi..."

"Trộm vía Nhị hoàng nữ ăn uống tốt lắm, ba bữa đều đặn."

Thiên Thành mỉm cười, ánh mắt trìu mến nhìn gương mặt bầu bĩnh đang ngủ trong vòng tay hoàng hậu.

"Thần đã chuẩn bị sẵn cơm canh và phòng nghỉ.

Kính mời bệ hạ, lệnh bà cùng hai vị hoàng tử, hoàng nữ về dinh nghỉ ngơi."

Hưng Ninh nói, cung kính dang tay dẫn đường cho thánh giá.

Từ sau khi Thiên Cảm hạ sinh Nhị hoàng nữ, Quốc mẫu Thiện Đạo cũng đoạn phát xuất gia.

Mọi việc lớn nhỏ trong phủ đều giao cho trưởng tử là Hưng Ninh thu xếp.

Hưng Đạo ở Vạn Kiếp cách Yên Sinh không xa, có dịp đều lui tới hỗ trợ.

Lần này đón thánh giá, Hưng Đạo cùng cả gia đình cũng sớm có mặt thu xếp ổn thỏa.

.

Sáng hôm sau, đoàn thánh giá rời Yên Bang để tiến về Yên Phụ.

Đến đầu giờ chiều, khi tới chân núi Yên Phụ, Quan gia hạ lệnh dừng chân nghỉ cạnh bờ suối.

Mấy vị vương tôn cũng được thả lỏng, tùy ý dạo chơi.

Đêm qua vừa mưa, con đường dọc bờ suối lầy lội, đất mềm như sắp nhấn chìm gót chân.

Nhị hoàng nữ, vốn quen chạy nhảy, vừa đặt chân xuống đất đã hớn hở kéo Quốc Nghiễm, người được giao nhiệm vụ trông nom các vương tôn, đòi đi xem suối cá.

Quốc Nghiễm dù giữ chặt tay cũng không cản nổi nàng.

Chỉ một khắc, Nhị hoàng nữ hất thẳng đôi hài thêu sang một bên, để chân trần nhún xuống đất bùn, tiếng "tõng" vui tai khiến nàng cười khanh khách.

Áo bông trễ xuống một bên vai, hai má đỏ bừng vì phấn khích.

Thiên Thuỵ trông thấy cảnh ấy từ phía sau, sắc mặt lập tức sầm lại.

Nàng bước vội tới, không kịp kìm nén sự khó chịu:

"Khoan đã, nhị hoàng muội!"

Thiên Thuỵ hốt hoảng kéo tay em, giọng nghiêm lại.

"Đường kia toàn bùn đất, em đi như vậy chẳng ra thể thống gì!"

Nhị hoàng nữ ngẩng lên, đôi mắt đen láy mở to, ngây thơ đến tội, "Nhưng hôm nào chỗ này chẳng vậy đâu?

Ở Yên Bang ai cũng đi chân đất đoạn này mà!"

Câu nói vô tư ấy khiến Thiên Thuỵ khựng lại.

Nàng nhìn xuống đôi hài khảm ngọc tinh xảo của mình, chỉ cần lún một bước thôi là bùn sẽ ngấm lên mặt ngọc.

Nàng lại nhìn sang người em gái, đầu tóc rối bù, vạt áo bông lấm lem, chân nhỏ đã nhuốm màu bùn.

Trông chẳng khác nào một đứa trẻ nhà quê đùa ven suối.

Thiên Thuỵ cố ghìm giọng, "Em là hoàng nữ.

Sao có thể để người ta thấy bộ dạng như vậy?

Lại chạy nhảy giống dân thường... hoàn toàn không hợp lễ nghi."

Không khí lập tức chùng xuống.

Nhị hoàng nữ rụt chân lại, đôi mắt tròn khẽ dao động như bị trách oan.

Đám trẻ cũng ngập ngừng nhìn nhau, chẳng ai dám nhúc nhích.

Một lát sau, con bé lí nhí, "Em chỉ muốn dẫn chị đi xem đàn cá thôi...

Ở đây không ai để ý chuyện đất cát cả..."

Giọng càng về sau càng nhỏ, cuối cùng chỉ còn lại cái cúi đầu buồn bã.

Thiên Thuỵ chợt thấy trong lòng nhói lên, nàng không muốn nặng lời, chỉ sợ em gái thất lễ trước người ngoài.

Thấy Nhị hoàng nữ im bặt, nàng vội đưa tay định dỗ dành.

Nhưng Nhị hoàng nữ đã giật tay khỏi tay chị, nước mắt lưng tròng vì tủi thân, rồi quay người chạy thẳng xuống mép suối mát lành.

Quốc Nghiễm giật mình đuổi theo.

Thiên Thuỵ cũng vội vàng bước tới giữ lại, nhưng chân nàng trượt xuống nền đất ướt, suýt ngã.

Đôi hài ngọc rơi khỏi bậc đá, bị bùn bám lên từng đường chạm trổ tinh xảo.

Nàng đứng khựng lại.

Gió núi Yên Phụ thổi qua khe suối, mát lạnh.

Còn nàng thì bất động, lặng nhìn đôi hài giờ đã nhuốm đầy đất cát.

Như thể vừa bị kéo từ nơi cao xuống mặt bùn trần trụi, nàng đỏ mặt xấu hổ.

Đường đường là Trưởng công chúa, nàng chưa bao giờ ở trong bộ dạng mất mặt như thế này.

Thấy bóng nàng quay lưng bỏ đi, Quốc Nghiễm vẫn một tay giữ chặt Nhị hoàng nữ, nhưng ánh mắt thì dõi theo Trưởng công chúa không rời.

Quốc Tảng và Bảo Trinh liếc nhìn nhau, trong lòng dâng lên một nỗi bất an khó tả.

[1] Bến Triều Đông: bến sông Hồng ở phía đông Thăng Long

[2] Nhị Hà: sông Hồng.

[3] Cửu Liên châu: có lẽ là bãi tả ngạn sông Hồng, gần Cửu Cao, trong đất huyện Văn Giang cũ, nay thuộc huyện Mỹ Văn, tỉnh Hải Hưng.
 
Trăng Nhàn.
16. Bóng tịch dương


Quan gia từng hai lần ghé qua Yên Sinh, nhưng những lần ấy chỉ thoáng đến đến rồi lại thoáng đi, chẳng đủ lưu lại trong lòng chàng chút ấn tượng nào về vùng đất thang mộc của một vị vương hầu vốn có hiềm khích với phụ hoàng chàng.

Thế nhưng, chuyến vi hành lần này lại khiến chàng không khỏi bất ngờ.

Quan gia thăm thú ruộng đồng, hỏi han làng xã.

Chàng nhìn cảnh xóm thôn thanh bình mà không khỏi cảm thán, cuộc sống nơi đây hoá ra tươi vui và trù phú đến vậy.

Đất đai màu mỡ, sắc vàng ấm no phủ khắp lúa đồng.

Dân làng thấy thánh giá đi qua, lại nhận ra ngựa dẫn đầu là hai vị Hưng Ninh - Hưng Đạo, thì dù đang bận việc trong nhà cũng vội vã chạy ùa ra đón giá, lòng thành kính rạng rỡ trên từng gương mặt.

Rồi thánh giá dừng chân bên một quán nước ven đường, Quan gia lệnh cho đoàn ngồi nghỉ ngơi trà nước, xong lại quay sang hỏi chuyện lão già làm nông đang nghỉ ngơi cạnh cây đã được miễn lễ từ trước đó:

"Nhà ngươi sống ở đất Yên Sinh này được bao lâu rồi?"

Người nông dân già vội quỳ xuống, đáp,

"Thánh thượng thứ lỗi cho bần nông thất lễ.

Từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến nay cũng đã trải hơn bảy phần đời người, cả nhà bần nông chưa ai là ra khỏi đất Yên Sinh.

Bần nông là kẻ quê mùa, nếu có điều chi bất kính, cúi xin Thánh thượng lượng thứ."

"Trẫm ngự ngôi thiên tử cũng phải giữ lễ kính lão đắc thọ.

Chỉ muốn hỏi han đôi điều về chuyện đồng áng, ngươi không cần phải hành đại lễ."

Thiên Cảm ngồi bên, khẽ nén nụ cười.

Chàng bày ra vẻ đường bệ oai nghiêm, nhưng lại tò mò hỏi chuyện ruộng nương, chẳng khác nào một thư sinh tỏ vẻ am hiểu.

Lão nông dân cúi đầu kính cẩn, "Thánh thượng muốn hỏi lão nông việc chi?"

"Yên Sinh đất đai tốt tươi, nhưng ngươi và gia quyến có bao giờ nghĩ đến chuyện đi đây đi đó cho mở mang tầm mắt?"

Lão nông lập tức lắc đầu, giọng chân chất, "Đất này lành, đã đủ sung túc thì lão còn đi đâu nữa cho tốn sức?

Các vị vương cô, vương cậu thương dân như con.

Mùa màng gặp lụt lội thất bát, dân vẫn được phát gạo, phát áo.

Lễ tết lớn nhỏ lại được chia phần lộc, phần oản của bậc trên; thi thoảng còn có tăng lữ về giảng kinh, mở hội đình đám vui tươi náo nhiệt.

Đủ đầy vậy rồi, cớ chi phải rời nơi này?

Bần nông còn nghe mấy người hàng xóm đi buôn kể lại, dân vùng ngoài còn phải mang oản, mang bỏng đến cúng cho các vị vương thất, chứ đâu được ban hương, ban hoa như dân ở vùng này."

"Ồ..."

Quan gia gật gù, rồi liếc nhìn Thiên Cảm đang têm trầu cánh phượng bên cạnh, nét cười tủm tỉm trên đôi môi hồng chúm chím.

Bà lão bán nước thấy lá trầu, không khỏi cảm thán,

"Quả là các vị đức bà đều khéo léo vậy.

Vương cô Quyên Dao từng đến cúng dường ở ngôi chùa ở làng bên cũng têm những lá trầu đẹp ý như vị đức bà này."

Thiên Cảm cười hiền, giọng trong trẻo, hết sức gần gũi, "Không giấu gì lão, Quyên Dao là chị cả của con.

Chính chị ấy dạy con têm trầu, nên lão thấy giống là đúng rồi đấy."

Bà lão bán nước thấy vậy gật gù, "Lão mạn phép, xin đức bà ban cho lá trầu này để về dạy bảo con gái trong nhà tập luyện."

Thiên Cảm nhấc tay gắp lá trầu, dịu dàng nói, "Có lá trầu thôi, lão làm gì phải lấn cấn.

Con têm cho lão một đĩa, chúc lão buôn may bán tốt."

Nàng nói, tay thoăn thoắt têm hết một đĩa, đến khi gần têm xong thì xe ngựa cũng đã được chuẩn bị xong xuôi, chuẩn bị xuất hành.

Lá trầu cuối, nàng không đặt vào đĩa mà để vào trong lòng bàn tay chàng, bâng quơ đọc vài câu ca mà chàng chưa nghe bao giờ,

"Trầu xanh, cau trắng, chay hồng

Đẹp duyên phải phận, tơ hồng trời xe"

Chàng ngơ ngác, đưa cảm miếng vào nhai rồm rộp.

.

Sau một buổi thăm ruộng, Quan gia trở về núi Yên Phụ nghỉ ngơi, chờ lúc dùng dạ thiện.

Xa giá vừa dừng trước cửa phủ, chàng đỡ tay Thiên Cảm từ xe ngựa xuống.

Ngay từ ngoài đã nghe vọng ra những tiếng trẻ con hò hét om sòm.

Thiên Cảm nhíu mày, cau mặt, người lớn chỉ vắng mặt một buổi, mà đám trẻ con đã gây ra chuyện gì láo nháo rồi.

Nàng quay sang hỏi gia nô bên cạnh, "Sao lại ồn ào vậy?"

"Bẩm đức bà, bốn vị vương cô... bốn vị vương cô... có chút xích mích ạ."

"Xích mích?"

Thiên Cảm hỏi, giọng vừa ngạc nhiên vừa nặng chút trách móc.

Nàng khẽ ghé tai Quan gia, chàng cũng gật nhẹ, rồi rảo bước đi về hướng khác.

Một mình Thiên Cảm bước vào gian trong, chuẩn bị xem xét chuyện gì.

Mấy chuyện nữ quyến này trước giờ vẫn do nàng giải quyết; Quan gia cần nghỉ ngơi, tránh phải dính vào nhiều chuyện đau đầu.

Thiên Cảm vừa đẩy mạnh cánh cửa sang một bên đã gằn giọng mắng,

"Hỗn hào!

Ồn ào đến nỗi cả Quan gia đứng ngoài phủ cũng nghe thấy tiếng cãi cọ, kinh động đến thánh giá.

Tội này các con định gánh sao đây?"

Khi ý thức được khung cảnh bên trong, nàng giật mình khi thấy Thiên Thuỵ và Ngọc Tĩnh, thứ nữ của Hưng Đạo, đang nhìn nhau đầy thù địch.

Bên cạnh, Bảo Trinh chân tay luống cuống, Lâm Uyên thì đầu tóc bù xù, nước mắt lưng tròng.

"Quỳnh Nga, Bảo Trinh, chuyện là sao đây?"

"Bẩm mẫu hậu, Lâm Uyên và Ngọc Tĩnh bắt nạt con ạ!"

Thiên Thuỵ nghe đến tên mình thì lập tức thưa chuyện.

Thiên Thuỵ vừa dứt lời, Ngọc Tĩnh đã gân cổ lên, không kìm nổi vẻ khó chịu.

"Nói láo!

Ai thèm bắt nạt cô chứ?"

"Ngọc Tĩnh!

Em ít lời lại, trước mặt Hoàng hậu mà dám buông lời hàm hồ!"

Bảo Trinh vội giữ lấy vạt áo Ngọc Tĩnh, gằn giọng.

Thiên Cảm nhìn cảnh ấy, lòng không khỏi thoáng chút hoài niệm.

Ngày xưa, nàng cũng hay hạnh hoẹ với chị ba và chị tư, rồi cũng bị mẫu thân xử trí y như vậy.

"Được rồi.

Đóng cửa lại, ở đây không còn hoàng hậu, công chúa gì nữa.

Ngọc Tĩnh, cháu có lời nào muốn nói thì chờ bên kia, cô sẽ hỏi đến từng đứa một."

Hỏi xong Bảo Trinh và Thiên Thuỵ, Thiên Cảm quay sang Ngọc Tĩnh.

Ngọc Tĩnh là con gái thứ hai của Hưng Đạo, là do Thiên Thành thân sinh.

Dù Ngọc Tĩnh chỉ hơn Nhị hoàng nữ có một tuổi, nàng đã sớm lộ vẻ thông minh, khoáng đạt, già dặn hơn bạn cùng trang lứa.

Hỏi đến đâu, Ngọc Tĩnh trả lời mạch lạc đến đó, ý nào ý nấy đều rõ ràng, chẳng cố tình hạ bệ đối phương, cũng không tâng bốc ai lời nào; mọi lời nói đều trung lập, như đang tường thuật lại toàn bộ sự việc.

Sau một vòng hỏi han, Thiên Cảm đã nắm được nguyên nhân vụ việc.

Bốn đứa trẻ chơi trò cướp cờ với một đám gia nô.

Bảo Trinh và Lâm Uyên là một đội, Thiên Thuỵ và Ngọc Tĩnh là một đội.

Không hiểu sao, khi đang giành nhau lá cờ, Lâm Uyên lại vô tình đẩy Thiên Thuỵ ngã, rồi Thiên Thuỵ hét lên, ý bảo Lâm Uyên luôn cố tình tìm cách hạ thấp mình, làm mất mặt Thiên Thuỵ.

Bảo Trinh thấy vậy liền chạy vào dỗ dành Thiên Thuỵ, nhưng vô tình lại đổ cho Lâm Uyên tội bắt nạt, khiến Lâm Uyên ấm ức, bật khóc nức nở.

Ngọc Tĩnh thấy vậy liền đứng ra bênh Lâm Uyên, nhấn mạnh rằng trò chơi vốn phải giành cờ, Lâm Uyên cũng chẳng phải cố ý.

Thiên Thuỵ nghe vậy liền mắng Ngọc Tĩnh: "Cô chẳng qua chỉ là con thứ [1], sau này mãi mãi chỉ là Quận chúa, làm gì đến lượt chõ mũi vào chuyện của các Công chúa [2]!"

Ngọc Tĩnh nghe vậy lại càng bực tức, nhíu mày, nạt lại: "Cái đồ đỏng đảnh làm vẻ cao sang!

Cô mới là thứ nữ [3]"

Xong rồi hai bên cãi cọ qua lại như vậy.

Thiên Cảm nghe xong chuyện cũng nhức đầu, tay day day trán.

"Bảo Trinh, đưa Lâm Uyên đi rửa mặt đi.

Khóc lóc lấm lem cả mặt mũi như vậy, ta cũng thấy ngán ngẩm.

Còn Thiên Thuỵ và Ngọc Tĩnh ở lại.

Chuyện này, tội hai đứa nặng nhất."

Bảo Trinh vội vàng đưa Lâm Uyên ra ngoài giếng nước, còn lại bên trong chỉ hai vị Thiên Thuỵ và Ngọc Tĩnh đang quỳ dưới tấm gối, khuôn mặt nghiêm trang lại chẳng giấu được chút sợ hãi.

"Không ra thể thống gì cả!

Từ bao giờ người trong tông thất lại công khai mắng chửi, hạ thấp lẫn nhau như vậy?

Quỳnh Nga, con là công chúa, lòng phải từ bi, không nên chấp nhặt chuyện nhỏ nhặt.

Bản thân là bậc để muôn dân trông vào, vậy mà con lại buông lời phân biệt danh tước với chị họ?"

"Bẩm mẫu hậu, con biết tội."

"Ta phạt con chép mười lần Kinh chú đại bi, tự mình xoi chiếu lại bản thân."

"Con xin vâng", Thiên Thuỵ thở phào, mười lần kinh chú cũng không phải quá khó khăn.

"Còn Ngọc Tĩnh, Thiên Thuỵ tuy là em họ, nhưng cũng là công chúa, phẩm vị cao hơn con.

Theo Quốc triều Hình luật, ta phán con tội bất kính.

Con có phục không?"

"Bẩm cô, con nhận tội."

"Đúng với luật pháp, con sẽ bị nhận hình phạt đánh roi, nhưng vì nể tình con khai báo thật thà, cũng là muốn bảo vệ người trong nhà nên ta xá tội cho, chỉ phải làm việc khổ sai, đi nhổ cỏ ngoài đồng, nhổ hết ba sào ruộng [4] mới được xá tội."

"Con xin tuân mệnh"

Nghe vậy, Thiên Thuỵ không khỏi nảy sinh chút đắc ý.

Nàng chép kinh, chỉ cần ngồi yên trong phòng, thong thả từng nét bút; còn Ngọc Tĩnh thì phải ra đồng làm cỏ, dầm nắng dãi mưa, mặc cho đất trời đổ cả lên đầu.

Ba sào ruộng, người lớn khỏe mạnh cũng phải mất đến ba ngày công mới xong, huống chi Ngọc Tĩnh chỉ là một đứa trẻ con, hẳn chẳng dễ chịu gì.

Dẫu sao nàng là công chúa, mà công chúa thì rốt cuộc vẫn cao quý người thường.

[1] Con thứ: cách gọi người con sinh ra sau con trưởng, không phân biệt là con của vợ cả hay vợ lẽ.

Đây là khái niệm chung, mang tính thứ tự sinh, không phải thuật ngữ lễ chế chặt chẽ như đích – thứ.

[2] Chỉ con trưởng của vương hầu mới được thừa tự, con trai trưởng của thân vương thì được tước Thượng vị hầu, con gái trưởng được phong Công chúa, các con sau không phải trưởng thì tước vị thấp hơn.

Chuyện này xảy ra tương tự với Chiêu Thánh công chúa sau khi bà tái giá.

Con trai bà là Lê Lông mang tước Thượng vị hầu, con gái là Lê Ngọc Khuê mang tước Ứng Thuỵ công chúa.

[3] Thứ nữ: là cách gọi để chỉ con gái sinh ra không phải dòng chính.

Có thể là con gái của vợ lẽ/thiếp, không phải do chính thất sinh ra.

Dù tuổi tác có thể lớn hơn, thứ nữ vẫn đứng sau đích nữ về thứ bậc.

[4] Một mẫu bằng 10 công, 1 công = 1 sào, 1 sào = 360 m^2

.

Ráng chiều đổ xuống mênh mang, đứng từ lưng chừng núi nhìn xuống từng dãy nhà dân dưới chân, Quan gia như tìm thấy chút bình yên trong lòng.

Thiên Cảm sau vụ việc nọ cũng đi tìm chàng, cuối cùng phát hiện Quan gia đang đứng thẫn thờ trong vườn An Lạc, ngắm cảnh chiều tà.

"Hậu, xong chuyện rồi chứ?

Mấy đứa trẻ này cũng đến tuổi nhiều chuyện rồi."

Nàng chầm chậm bước tới.

Khi đã đến trước mặt Quan gia, vừa định nhấc chân trèo lên mảnh đá để đứng cạnh chàng, Quan gia đã nhanh tay bế bổng nàng lên, nhẹ nhàng mà dứt khoát.

Chàng vòng tay ôm nàng, ghì sát vào cạnh chàng rồi cả hai cùng hướng mắt về phía ngôi làng xa xa, nơi làn khói cơm chiều vẫn lững lờ vương trong ánh nắng hoàng hôn.

"Cũng chỉ là mấy chuyện cỏn con," nàng thở dài, "thiếp nghe mà nhức hết cả đầu."

Quan gia mỉm cười, giọng trầm ấm, "Anh chị em trong nhà lúc nào cũng có lúc như vậy.

Khi xưa, trẫm và Khải cũng đôi lần giáng vài cú trời đánh, xong rồi cũng đâu vào đấy."

Nàng bật cười, đôi mắt long lanh, "Quan gia phong nhã thế này mà cũng từng cho chú ba vài cú rồi sao?

Thiếp tò mò cái dáng vẻ ấy của bệ hạ lắm."

"Tốt nhất là nàng đừng thấy."

Quan gia đáp, khóe môi cong lên.

Ngừng một thoáng, chàng lại nói tiếp, "Trẫm nhớ khi xưa nàng cũng hùng hổ lắm.

Đến cả Quang Xưởng với Ích Tắc còn suýt ăn một gậy của nàng kia mà."

"Chuyện thời non dại ấy mà Quan gia vẫn còn nhắc lại?"

Nàng cười khẽ, rồi nửa đùa nửa trách, "Vậy thì cũng phải nhắc tới chuyện Quan gia bênh người nhà mà chèn ép người ngoài..."

Nói đến đó, nàng bỗng chững lại.

Người nhà - người ngoài... bây giờ nghe sao mà lạ lẫm.

Quan gia siết nhẹ vòng tay, giọng dịu hẳn, "Thì bây giờ nàng đã là người nhà của trẫm rồi."

Thiên Cảm bỗng chốc nhớ lại thuở ấy.

Khi còn trẻ, hễ nhìn thấy bóng hai anh em Thái tử - Chiêu Minh là nàng lại lặng lẽ lẩn tránh.

Chẳng phải vì ghét bỏ, chỉ là sợ vạ lây, tránh cho mình khỏi những xích mích.

Khi đó, nàng chưa từng dám nghĩ sẽ có một ngày bản thân đứng cạnh chàng, ngày ngày nâng khăn sửa túi.

Với cô Năm năm ấy, Trần Hoảng tựa vầng thái dương cao vời vợi, vừa kính nể, lại vừa mang theo chút thầm thương trộm nhớ.

Còn bây giờ, chàng đã là phu quân của nàng, là bầu trời mà mỗi khi nghĩ tới, lòng nàng lại dâng lên niềm hãnh diện.

Không phải vì chàng là bậc quân vương ngồi trên ngôi cửu trùng, mà bởi chàng là một đấng quân tử đúng nghĩa.

Thấy nàng trầm ngâm, ánh mắt đờ đẫn như còn vương trong miền ký ức, Quan gia nghiêng người lại gần, giọng mang theo chút ý cười:

"Nàng không cần yêu thích trẫm quá đâu.

Tình cảm của nàng trẫm đã biết rồi."

Nghe câu ấy, Thiên Cảm như bị kéo phắt trở về sau một hồi mộng tưởng.

Nàng chợt nhớ ra, người đang đứng cạnh mình đây cũng là một kẻ vô cùng tự tin, sự tự tin của người biết rõ bản thân mình là ai, trong tay có gì, và xứng đáng với điều gì.

Cái tự tin ấy của chàng giống hệt như Chiêu Minh, chẳng trách là anh em cùng mẹ.

Nàng còn chưa kịp buông ra một câu đáp trả thì phía sau đã vọng tới tiếng trẻ con trong veo:

"Cha, mẹ, hai người đang ngắm gì vậy?", giọng nói thánh thót của Nhị hoàng nữ vang lên.

Quan gia và Thiên Cảm cùng quay lại, bắt gặp Đại hoàng tử đang giữ tay Nhị hoàng nữ cùng nhau tiến về phía mỏm đá.

Thiên Cảm giơ tay, đón lấy Nhị hoàng nữ đang chạy ào đến bên mình.

Tiếng cười đùa trong trẻo của trẻ thơ như gió mát thổi tan mọi ưu tư của bậc phụ mẫu.

Giữa chiều hoàng hôn lảng bảng, một nhà bốn người đứng cạnh nhau, cùng nhau ngắm nhìn mỹ cảnh nhân gian.
 
Trăng Nhàn.
17. Mệnh phù Liên Hoa.


Mấy ngày lưu lại Yên Sinh, Đại hoàng tử theo ngài Hưng Ninh học thiền, lại cùng ngài Hưng Đạo và các anh em họ ngày ngày luyện võ.

Gần đến ngày hồi kinh, việc học hành vẫn còn dang dở, Đại hoàng tử bèn xin Quan gia và Hoàng hậu cho ở lại thêm nửa tuần trăng, chờ đến kỳ đại triều mới trở về thành Long Phượng.

Lúc đầu Quan gia còn có chút chần chừ, sau được Thiên Cảm góp lời mới thuận theo.

Dẫu sao cũng là chuyện trau dồi thân tâm, chẳng phải điều gì không hay.

Nhân dịp ấy, Nhị hoàng nữ cũng được đón hồi cung.

Xa nhà đã hơn bốn năm, nàng cũng đến lúc phải quay về học lại lễ nghi, quy củ.

Xe ngựa chầm chậm lăn bánh.

Nhị hoàng nữ ngồi trong lòng Thiên Cảm, gương mặt vẫn còn phụng phịu, chưa chịu nguôi.

"Mẹ ơi, con còn được chơi với chị Trinh, với Tĩnh, với Tảng nữa không?

Trên kinh không có anh Nghiễn, ai sẽ bảo vệ con?"

"Đến những dịp lễ lạt, chúng nó đều sẽ lên kinh thăm con.

Mỗi tuần trăng vẫn sẽ gửi bánh trái, quà cáp cho con.

Có phụ hoàng, mẫu hậu ở đây, ai dám bắt nạt con chứ?"

Nhị hoàng nữ ngập ngừng, đưa mắt nhìn về phía thánh giá phía trước, rồi lại lén quay đầu về phía xe ngựa phía sau, giọng nhỏ hẳn đi:

"Chị Thiên Thuỵ lúc nào cũng cau có... hình như chị ấy không thích con.

Con sợ chị sẽ mắng con."

Thiên Cảm khẽ vuốt mái tóc mềm của con gái, giọng chậm rãi:

"Thiên Thuỵ từ nhỏ đã sống trong khuôn phép, nên nhiều lúc cứng nhắc.

Nhưng con bé cũng là lo cho con thôi.

Con về cung sẽ ở Song Hương đường cùng mẹ, còn Thiên Thuỵ ở viện Đoan Trường với Đệ nhị phi.

Nếu con không muốn gặp gỡ nhiều, mẹ cũng sẽ không ép."

Thiên Cảm nhẹ giọng dỗ dành, nhưng Nhị hoàng nữ vẫn chưa vơi buồn, chỉ lặng lẽ tựa đầu vào ngực nàng, ánh mắt rầu rĩ.

Nhị hoàng nữ được Hưng Ninh nuôi nấng từ thuở lọt lòng, sớm quen nếp sống phóng khoáng nơi dân gian, lại lớn lên cùng đám trẻ con nhà Hưng Đạo, ngày ngày lên rừng xuống ruộng, bày đủ trò chơi đùa.

Lần này trở lại chốn cung cấm, e rằng những ngày đầu khó tránh khỏi bỡ ngỡ, chẳng dễ mà quen ngay được.

.

Mùa xuân năm Thiệu Long thứ bảy, Thái sư Thủ Độ thác.

Thiên Cảm theo hầu thánh giá về Quắc Hương viếng đám.

Thủ Độ tuy có hiềm khích với Yên Sinh nhưng dù sao cũng là một bậc trung dũng, lại là người trong họ nên Hưng Ninh, Hưng Đạo và Quyên Dao cũng đến viếng thăm.

Thượng hoàng cho truyền hạ chiếu chỉ đã được soạn sẵn từ trước.

Sau khi hành khiển đọc xong văn khấn, liền tiếp tục xướng đọc chiếu thư ban xuống.

Thái sư được gia tặng tước Thượng phụ Thái sư, lại truy phong Trung Vũ Đại Vương, ân điển lan đến đời con cháu, tước vị cả nhà đều được thăng lên một bậc.

Con trai vốn giữ chức Thượng vị hầu nay được phong Vương, con gái trước là Quận chúa cũng được tấn phong Công chúa.

Lễ tế vừa dứt, giữa làn khói hương còn vương vấn, bỗng thấp thoáng một bóng phu nhân tuổi đã vào trung niên từ phía xa chậm rãi bước tới.

Người đội nón quai thao, vành nón rộng che kín dung nhan.

Bước tiếp ngay sau là Ngự sử đại phu Lê Phụ Trần.

Trong đám đông đã có kẻ ngờ ngợ đoán ra thân phận vị mệnh phụ, song mãi đến khi người ấy dừng chân, thong thả tháo nón, mọi người mới thực sự tin chắc, là Chiêu Thánh công chúa.

Không ai ngờ vị ấy lại hiện diện ở nơi đây.

Giữa làn khói hương bảng lảng, bóng người đứng lặng khiến cả khoảng sân lễ chợt lắng xuống.

Dáng vẻ điềm tĩnh và khí độ trầm ổn ấy cũng đủ khiến những người tinh ý trong đám đông bất giác nín thở.

Ngài Ngự sử và Chiêu Thánh công chúa bước lên phía trên hành lễ.

Phụ Trần chắp tay, giọng khiêm nhường,

"Thượng hoàng, Quan gia, Hoàng hậu vạn an.

Các vị vương tông mạnh khoẻ"

"Phụ Trần và Chiêu Thánh miễn lễ đi"

Quan gia bước lên phía trước, theo phép lịch sự của bậc vãn bối chào hỏi.

"Đại phu, Dì"

"Xin bệ hạ cùng các vị thứ cho phu thê thần đến trễ lễ viếng.

Ở Vĩnh Bảo [1] mưa lớn, đường sá lụt lội, chúng thần không kịp đến đúng giờ cử hành lễ tế."

Thượng hoàng khẽ khoát tay, "Đến được là mừng rồi"

Lễ viếng lại tiếp tục.

Chuông khánh ngân vang, khói trầm cuộn lên, người đến kẻ đi đều giữ vẻ nghiêm cẩn.

Chỉ đến khi nghi thức hoàn tất, khách khứa dần thưa, không khí mới chậm rãi lắng xuống.

Lúc mọi sự đã thư thả, Quan gia tiến đến chỗ Chiêu Thánh công chúa,

"Hôm nay thấy dì ở đây, con không khỏi bất ngờ."

Chiêu Thánh nhìn chàng, ánh mắt lặng lẽ, khóe môi chỉ thoảng một nụ cười nhạt, "Ngài Ngự sử muốn đến viếng," bà chậm rãi nói, "ta thân làm phu nhân, nếu không theo cùng thì lại thành ra thất lễ."

Quan gia khẽ gật đầu, giọng hạ thấp đi đôi phần thân tình:

"Dạo này dì có khỏe không?"

Chiêu Thánh khẽ thở ra, "Quan gia trăm công nghìn việc mà vẫn nhớ tới ta, thế là ta vui lắm rồi.

Con mạnh khỏe thì dì cũng coi như đã khỏe cả."

Quan gia đứng lại trò chuyện cùng công chúa, hỏi han đủ chuyện gần xa.

Chiêu Thánh công chúa vẫn luôn là bậc tiền bối mà chàng kính trọng nhất.

Có lẽ bởi chàng vẫn luôn nhìn thấy thấp thoáng bóng dáng của người mẫu thân đã khuất.

"Hình như Tông với Khuê cũng đã đến tuổi đi học rồi," Quan gia chợt hỏi.

"Dì có định đưa hai em vào kinh theo học Quốc học viện chăng?"

"Tông thì ở nhà đã có Phụ Trần tự tay dạy dỗ, dì cũng không lấy làm lo," Chiêu Thánh đáp.

"Chỉ có con bé Khuê... chắc cũng phải gửi lên kinh học lễ nghi một thời gian."

Nghe vậy, Quan gia quay sang phía Thiên Cảm đang đứng cạnh, lặng lẽ lắng nghe chuyện từ nãy đến giờ.

"Hình như em Khuê bằng tuổi Lâm Uyên nhà mình thì phải?"

"Quả đúng vậy," Thiên Cảm nhẹ giọng đáp.

Quan gia suy nghĩ một chút rồi nói tiếp,

"Khuê ở kinh thành cũng không có nhiều họ hàng thân thích.

Hay là để con bé vào cung, cùng con gái thứ hai của con học tập.

Con bé Lâm Uyên lớn lên ở Yên Sinh, hồi cung đã được một thời gian mà vẫn còn nghịch ngợm lắm.

Có thêm người bạn đồng trang lứa ở cạnh, vừa học vừa chơi, cũng là điều hay."

Chiêu Thánh nghe vậy thì đưa mắt nhìn sang Thiên Cảm, ánh nhìn thoáng do dự.

"Chuyện này e làm phiền đến Hoàng hậu," bà nói khẽ.

"Con bé Khuê, tính nết cũng bướng bỉnh, chỉ sợ khiến Hoàng hậu thêm nhọc lòng."

Thiên Cảm mỉm cười, giọng ôn hòa, "Vậy thì lại càng hợp với Uyên nhà con.

Hai đứa trẻ có người bầu bạn học hành, cũng đỡ cô quạnh hơn."

Quan gia gật đầu, coi như đã định, "Vậy cứ để em Khuê vào cung học tập cùng Uyên.

Có thêm tiếng trẻ con, hậu cung cũng đỡ phần quạnh quẽ"

Chiêu Thánh nhìn hai người trước mặt, nụ cười nhạt trên môi dường như được đậm lên đôi chút.

.

Theo sự sắp xếp của Thiên Cảm, Ngọc Khuê được đưa vào Song Hương đường, cùng Nhị hoàng nữ học lễ nghi.

Có thêm bạn đồng niên, Nhị hoàng nữ phấn chấn hẳn lên, thậm chí còn tự tay làm một chiếc chong chóng lá dừa to tướng để tặng bạn mới.

Lâm Uyên và Ngọc Khuê vốn đều hiếu động, chỉ qua một buổi đã thân thiết như chị em.

Cả hai từng có thời gian sống trong dân gian, những trò chơi trẻ con như bắt chắt đánh chuyền, ô ăn quan hay tập tầm vông đều quen thuộc, nói đến là có thể chơi ngay.

Thấy con gái vui vẻ trở lại, Thiên Cảm cũng nhẹ lòng.

Trước kia, mỗi lần Nhị hoàng nữ lên lớp, gương mặt lúc nào cũng uể oải, bữa cơm chỉ ăn được lưng bát.

Nay có bạn đồng hành, hai đứa trẻ chơi đùa đến mệt nhoài, ăn uống cũng ngon miệng hơn hẳn.

Sáng hôm ấy, trời vừa đổ một cơn mưa rào rồi lại hửng nắng trong trẻo.

Sau hai canh giờ học Nữ giới dài lê thê, hai đứa rủ nhau ra vườn Thượng Uyển bắt dế.

Gương mặt bừng sáng, ánh mắt long lanh, khác hẳn vẻ ngoan ngoãn, trầm lặng lúc còn trong lớp.

Ngọc Khuê cầm vợt đi trước, Lâm Uyên xách chiếc xô nhỏ theo sau.

Vừa bước ra khỏi cửa, cả hai đã gặp Đại hoàng tử trên đường vào thỉnh an hoàng hậu.

"Đi thì tránh xa ao hồ, đừng mải chơi rồi ngã xuống nước," Đại hoàng tử nhắc nhở.

Nhị hoàng nữ ngẩng cao đầu, giọng đầy tự tin: "Ai rơi thì rơi, chứ bọn em thì không đâu."

"Cảm ơn Khâm, cô và Lâm Uyên sẽ chú ý," Ngọc Khuê lễ phép đáp, vẻ mặt lộ rõ sự cảm kích.

Nói xong, cả hai vắt chân chạy đi.

Thảm cỏ xanh mướt trải dài, lấp lánh những giọt nước li ti còn đọng lại sau cơn mưa hạ.

Gió sau mưa thổi qua, mang theo mùi cỏ non và đất ẩm.

Hai đứa trẻ chạy một mạch đến góc vườn khuất sau rặng tre cảnh, nơi cỏ mọc rậm và ít người qua lại.

Tiếng dế gáy rả rích vang lên từng hồi, lúc gần lúc xa, nghe như đang trêu ngươi.

Ngọc Khuê dừng chân trước, khom người, áp tai xuống bãi cỏ ướt.

"Ở kia," nàng thì thầm, ánh mắt sáng lên, tay chỉ về phía gốc đá phủ rêu.

Lâm Uyên vội đặt chiếc xô xuống, khẽ nhấc gấu váy, rón rén bước theo.

Cả hai nín thở, chỉ còn nghe tiếng tim đập thình thịch.

Ngọc Khuê nhẹ tay vạch cỏ, đưa chiếc vợt tre chụp nhanh một cái.

Dế bị úp dưới vợt, giãy lên lách tách.

Lâm Uyên khẽ reo lên, vội úp xô lại, hai đứa hợp sức lùa con dế vào trong.

Chiếc xô nhỏ vang lên tiếng sột soạt, nghe mà khoái tai.

"Được rồi!"

Nhị hoàng nữ mừng rỡ, hai má ửng hồng vì chạy nhảy.

Cả hai tiếp tục men theo lối mòn, lội qua bãi cỏ còn đẫm nước.

Có lúc Nhị hoàng nữ trượt chân, suýt ngã, Ngọc Khuê vội nắm tay kéo lại, cả hai cùng bật cười khúc khích.

Nghịch ngợm một hồi, chiếc xô nhỏ đã đầy dế, tiếng cào cào lách tách vang lên không dứt.

Ngọc Khuê lau mồ hôi trên trán, thở ra một hơi dài, "Cô khát nước quá.

Cô cháu mình qua phương đình kia ngồi một lúc đi."

Lâm Uyên gật đầu tán thành.

Hai đứa tiện tay nhặt mấy cọng cỏ lau ven lối, vừa quẫy nghịch vừa xách theo chiếc xô dế, hướng về phương đình ẩn hiện dưới tán cây xa xa.

Từ xa nhìn lại, phương đình yên tĩnh, mái ngói cong cong in bóng xuống mặt hồ phẳng lặng.

Hai đứa trẻ đi ra từ sau hòn non bộ uốn lượn, đá tai mèo chồng lớp, rêu phủ xanh mướt.

Khi đến gần, cả hai mới nhận ra trong đình đã có người.

Một nhóm thiếu nữ vận y phục nhã nhặn đang ngồi quây quần quanh án trà, chén sứ bốc khói nhè nhẹ, bánh trái bày biện tinh xảo.

Ngọc Khuê chậm lại nửa bước, khẽ kéo tay Nhị hoàng nữ, hạ giọng thì thầm, "Hình như là mấy người trong cung nào đó..."

Nhị hoàng nữ nheo mắt nhìn kỹ hơn, nghiêng đầu một chút rồi khẽ nói, "Là chị Thiên Thuỵ.

Còn có cả Quỳnh Huy nhà chú Chiêu Minh, với Gia Huệ nhà ông Phó Duyệt nữa... với mấy người khác."

Ngọc Khuê vừa nghe đã toan lùi lại, khẽ xoay người định đi lối khác thì Nhị hoàng nữ đã nhanh tay kéo nàng lại.

"Cô trẻ đi đâu thế?

Mấy người kia cháu không quen, chứ chị Thiên Thuỵ với Quỳnh Huy thì cháu quen thân lắm.

Các chị ấy có bánh trái, cháu xin cho cô vài cái."

Ngọc Khuê vốn tinh nghịch nhưng lại rất sợ người không quen thân, vội lắc đầu nguầy nguậy, "Thôi đi.

Nhìn các bạn ấy ăn mặc quý phái thế kia, còn cô cháu mình thì lấm lem bùn đất, tới đó không phải đâu."

Nhị hoàng nữ cười, giọng nũng nịu, "Quỳnh Huy cũng thích dế lắm.

Hồi trước chính em ấy còn chỉ cháu cách bắt dế mà.

Lâu rồi cháu mặt chưa gặp, cũng muốn qua chào hỏi một tiếng."

Ngọc Khuê do dự một lát, rồi khẽ thở dài, nhượng bộ,

"Ừ... thế thì mình qua chào hỏi một lát rồi đi thôi nhé."

Nhị hoàng nữ kéo tay Ngọc Khuê bước vào phương đình.

"Chị Thiên Thuỵ, Quỳnh Huy, các chị đang ăn bánh gì thế?"

Không khí trong đình vốn yên ắng, hai đứa vừa xuất hiện liền rộn ràng hẳn.

Quỳnh Huy ngẩng đầu lên, đôi mắt sáng bừng, reo vui: "Lâm Uyên!

Em tưởng chị đang phải học cung quy nên không dám qua rủ."

Nàng vừa nói vừa liếc xuống chiếc xô Nhị hoàng nữ đang cầm, nét mặt lập tức phấn khích hơn hẳn: "Chị đi bắt dế à?

Sao em không biết để đi cùng!"

Nhị hoàng nữ cười đắc ý: "Chị bắt được nhiều lắm.

Em qua xem này."

Quỳnh Huy còn đang cầm dở chiếc bánh liền đặt vội xuống án trà, chạy một mạch tới.

Nàng cúi người, tay nôn nóng nhấc chiếc vung đậy lên.

Ngay khoảnh khắc ấy, cả đàn dế như được dịp thoát thân, bật phắt lên, nhảy loạn xạ khắp phương đình.

Tiếng dế kêu lách tách vang lên rộn ràng.

Một con nhảy vọt lên án trà, làm đổ nghiêng chén nước, nước trà sóng sánh tràn ra mặt bàn.

Vài con khác phóng xuống nền đình, chui tọt vào dưới gầm ghế.

"A!"

"Dế!

Dế kìa!"

Mấy thiếu nữ đồng loạt đứng bật dậy, có người giật mình thét khẽ, có người cuống quýt nhấc váy tránh sang một bên.

Gia Huệ hoảng hốt lùi lại, suýt vấp chân bàn trà, cung nữ vội vàng đỡ lấy.

Nhị hoàng nữ đứng sững, mắt mở to, đến lúc định úp lại cái xô thì đã chậm mất nửa nhịp.

Ngọc Khuê hốt hoảng, vội cúi xuống chụp dế, vừa luống cuống vừa xin lỗi không ngớt.

"Xin lỗi... sơ ý quá..."

Quỳnh Huy thoáng giật mình, rồi không nhịn được bật cười khanh khách.

Tiếng cười lan ra, xua bớt phần nào sự náo loạn trong phương đình.

Chỉ riêng Thiên Thuỵ vẫn ngồi yên, ánh mắt lặng lẽ dõi theo đám dế còn nhảy loạn dưới nền đá, nét mặt thoáng qua một tia khó dò.

"Lâm Uyên, em có thôi ngay đi không?"

Giọng Thiên Thuỵ cất lên, lạnh và sắc, khiến không gian vừa dịu xuống lại như chùng hẳn.

Nhị hoàng nữ giật mình, sững sờ, nhất thời không hiểu mình đã làm sai điều gì.

Thiên Thuỵ đứng dậy, phủi nhẹ tà áo, giọng nói không hề che giấu sự khó chịu: "Cứ hễ có em xuất hiện là mọi thứ lại lộn xộn, chẳng ra đâu vào đâu.

Đã hồi cung rồi thì bớt mấy trò thấp kém này lại đi, em phải chuyên tâm học hành, rèn rũa lễ nghi mới phải."

Nàng dừng lại một nhịp, ánh mắt liếc qua chiếc xô dế rồi trở về gương mặt Nhị hoàng nữ, lời nói càng thêm nặng nề: "Em nhìn lại mình xem, có chỗ nào ra dáng một hoàng nữ không?

Học hành bao lâu rồi mà vẫn cái dáng quê mùa ấy.

Thật không hiểu em đã học được gì."

Tiếng dế kêu thưa dần.

Quỳnh Huy thoáng há miệng định nói gì đó, rồi lại thôi, chỉ khẽ liếc nhìn Nhị hoàng nữ với vẻ áy náy.

Ngọc Khuê đứng sau lưng Nhị hoàng nữ, nhìn bóng nàng tay nắm chặt vạt áo, tim đập thình thịch.

Ngọc Khuê cảm nhận rõ bàn tay Lâm Uyên khẽ run lên, vừa bối rối vừa tủi thân, không biết nên đáp lại thế nào.

"Đây có phải lỗi của Lâm Uyên, sao Thiên Thuỵ phải nặng lời như vậy?"

Ngọc Khuê không kìm được, bước lên trước, giọng vừa dứt khoát.

Quỳnh Huy nghe vậy cũng vội thêm lời, giọng dịu dàng hơn, "Là lỗi của em.

Chị Thiên Thuỵ đừng mắng Lâm Uyên."

Thiên Thuỵ chau mày, càng thêm phần bực bội, "Nếu nó không bày mấy trò bẩn thỉu thế này thì làm gì có chuyện đó xảy ra!"

Đến đây Ngọc Khuê tức giận đỏ mặt, không nhịn được, đáp thẳng: "Cháu bảo trò gì là trò bẩn thỉu?

Thật đúng là kẻ kệch cỡm!"

Mọi ánh mắt trong phương đình bỗng dõi theo, không khí căng như dây đàn.

Ngọc Khuê cảm thấy cả người nóng ran, vừa tức vừa giận.

Nhưng đứng trước Nhị hoàng nữ, nàng không thể im lặng được.

"Cô là cái ngữ nào mà dám vô lễ với ta?

Bay đâu, vả miệng cho bổn công chúa!"

Thiên Thuỵ vừa ra lệnh, lập tức một đám cung hầu vội vàng xông tới, khí thế hăm dọa.

Nhị hoàng nữ thấy vậy liền xông lên, giọng vang dội khắp phương đình:

"Ai dám động vào Ngọc Khuê thì biết tay ta!"

"Các ngươi định trái mệnh sao?"

Thiên Thuỵ quát lớn, mắt sáng lên lửa giận, khiến cung hầu chần chừ, không dám tiến thêm bước nào.

Ngọc Khuê trong lúc hỗn loạn liền lập tức rút mệnh phù Liên Hoa ra, ánh vàng của án phù lấp lánh dưới nắng.

"Thấy vật như thấy chủ.

Đây là mệnh phù Liên Hoa do đích thân Thượng hoàng phong tặng.

Các ngươi dám thất lễ?"

Cung hầu lập tức đứng sững, ánh mắt nhìn nhau chần chừ, cả phương đình lặng như tờ.

Không khí giữa hai bên như bị ngưng tụ, căng đến mức ai cũng nín thở.

"Lũ bay không dám thì để ta"

Thiên Thuỵ vừa nói xong đã bước lên trước, một cái tát mạnh giáng thẳng xuống.

Năm ngón tay in hằn trên khuôn mặt trái xoan, làn da trắng ngần chợt đỏ ửng.

Chiếc mệnh phù rơi xuống đất, tiếng kim loại va vào nền đất chói tai, vang lên trong không gian tĩnh lặng của phương đình.

Ngọc Khuê choáng váng, hoang mang tột độ.

Đây là lần đầu tiên trong đời nàng bị đánh, và còn là một cú tát trời giáng như vậy.

Nước mắt không kìm được, trào ra.

Nhị hoàng nữ chứng kiến từ đầu chí cuối, tức giận sôi sục, "Quỳnh Nga, chị thật quá quắt!

Chị cứ cậy được phụ hoàng phong tước sớm hơn mọi người mà ai cũng phải răm rắp nghe theo sao?

Chị xin lỗi cô Ngọc Khuê ngay đi!"

Thiên Thuỵ hừ lạnh, giọng đầy khinh miệt, "Cô ta họ Lê chứ còn chẳng phải họ Trần.

Đã không phải quốc tính thì đều là thứ dân.

Con gái của một quan tam phẩm [2] mà dám lên mặt mắng ta sao?"

Ngọc Khuê ấm ức, cơn giận xé lòng, không còn e dè hay sợ hãi nữa.

Nàng bước thẳng tới, một cái tát đáp trả lại Thiên Thuỵ, dứt khoát:

"Ta là thứ dân thì đã sao chứ?

Ít ra ta được mẫu thân dạy dỗ lễ phép để không cư xử như cô!"

.

[*] Về xưng hô cô - cháu đối với Ngọc Khuê: Tính theo thứ tự thì Trần Khâm, Thiên Thuỵ, Nhị hoàng nữ gọi Trần Lý là kị; Lê Tông, Ngọc Khuê gọi Trần Lý là cụ, Ngọc Khuê tuy sinh muộn nhưng vẫn là bậc trên.

Trần Lý => Thái Tổ => Thái Tông/ Khâm Minh => Thánh Tông/ Chiêu Minh => Nhân Tông/ Thiên Thuỵ/ Bảo Kính (Nhị hoàng nữ sau này)

Trần Lý => Linh Từ => Thuận Thiên/ Chiêu Thánh => Bảo Nghĩa/ Ứng Thuỵ.

[1] Vĩnh Bảo: địa điểm hư cấu, quê nhà Lê Phụ Trần.

[2] Quan tam phẩm: Lê Phụ Trần lúc này giữ chức Ngự sử Đại phu, thuộc văn gia, Chánh tam phẩm.

Sau này ông được thăng làm Thủy quân đại tướng quân cùng Thiếu sư kiêm Trừ cung giáo thụ, đều thuộc Chánh nhị phẩm.

Các chức quan lớn đầu triều (Tòng nhất phẩm): đều sẽ được giao cho vương thất trong họ Trần.

Những chức quan quan trọng như: Thái sư, Thái uý, Thái phó, Thái bảo, gần như không bao giờ giao cho người ngoài.

Điều này để đảm bảo quyền lực tối cao tập trung trong hoàng tộc, còn người ngoài, dù có tài năng hay công cao cỡ như Lê Phụ Trần cũng chỉ giữ các chức nhị, tam phẩm, không thể trực tiếp nắm các chức quan đầu triều.
 
Back
Top Bottom