Cập nhật mới

Khác Tiểu thuyết Phong Thanh

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
258896677-256-k373768.jpg

Tiểu Thuyết Phong Thanh
Tác giả: kwon184
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Tiểu thuyết Phong Thanh



phongthanh​
 
Tiểu Thuyết Phong Thanh
phần 1 Gió Đông


LỜI TỰA

10năm đã sắp trôi qua, cuộc sống của tôi vẫn giới hạn trong một vòng tròn nhỏ hẹp, không đến cơ quan làm việc, người thân và bạn bè đa số đều ở xa, chỉ có vài người bạn ở gần nhưng thường cũng rất ít giao du.

Tôi khá thích cuộc sống cô độc này.

Thực ra thì cũng không phải là thích mà là đành phải chịu.

Một mình ở nhà cũng đã đủ khó chịu, nhưng ra ngoài phải chịu đựng những thói thường của người khác, hay để người khác nhường nhịn mình thì càng thấy khó chịu hơn.

Tôi không uống rượu, sợ cãi cọ, cũng không bài bạc, đúng hơn là không biết, mà hễ ngồi xuống là chỉ thích đàm đạo chuyện văn chương, muốn tìm một người cùng sở thích như vậy có lẽ còn khó hơn tìm đồng chí.

Đồng chí còn có thể gặp ở câu lạc bộ hay những nơi hoạt động cố định nào đó, ở Thành Đô, nghe nói chỗ bảng đọc báo ở trước cổng Tòa soạn Nhật báo Tứ Xuyên là nơi hoạt động của cánh đồng chí, cũng chỉ là có chút ước định mà thành.

Cảm giác như salon kiểu Anh trước đây.

Thành Đô là một thành phố hưởng lạc, đâu đâu cũng thấy quầy rượu, phòng trà, quán ăn từ hạng bét đến hạng sang đều có cả.

Lương thấp lương cao, công nhân, trí thức đều có nơi tụ tập của riêng mình.

Tôi đã từng sống ở bảy thành phố, vì vậy tôi có thể khẳng định rằng cuộc sống của người Thành Đô rất xa hoa, xa hoa giống như bông hoa anh túc, có phần phung phí, có phần lạ đời.

Vậy mà tôi vẫn thấy rất tẻ nhạt, cùng con trai đánh bài, bói bài (kiểu chơi do tôi tự nghĩ ra), đánh cờ vua, cờ tướng đã trở thành thú vui chính của tôi.

Thời gian của tôi ư?

Ngoài thời gian nghỉ ngơi bình thường và dành cho cái gọi là công việc như đọc sách hay viết lách một thứ gì đó ra thì tôi không biết làm gì nữa.

Nếu như nhất định phải nói thì đành chịu, có khi còn suy nghĩ lung tung.

Lắng nghe trong gió (Âm mưu đen tối) chính là do nghĩ ngợi lung tung mà thành.

Thực ra tiểu thuyết của tôi đa số là như vậy, chỉ dựa vào một chút sự thật rồi tưởng tượng thêm, không có tư liệu gì, cũng không có bất kỳ trải nghiệm thực tế nào.

Cứ ngỡ như vậy sẽ chẳng có ai bắt bẻ hay phạt vạ mình, cũng chẳng sợ bị lịch sử lên án.

Thế nhưng kỳ lạ là mấy bộ tiểu thuyết hơi có chút ảnh hưởng của tôi mấy năm gần đây, luôn có người bắt bẻ phạt vạ, họ tìm mọi cách để liên lạc với tôi, chỉ ra vô vàn những điều phi thực tế và sai lầm trong tác phẩm của tôi.

Có người còn kỳ lạ hơn, nói rằng cuốn Giải mã của tôi viết về vị cha đẻ của kỹ thuật tên lửa Trung Quốc, Tiền Học Sâm.

Sự kỳ lạ theo suốt hành trình và chắc chắn sẽ còn ở phía sau.

Cuốn Nốt ruồi (Hắc ký) viết về một cô gái, trên ngực cô ấy có một nốt ruồi thần bí, đầy gợi cảm.

Khi chạm vào nó còn khiến cô ấy bị kích thích hơn là sờ vào đầu nhũ hoa.

Đây hoàn toàn là những thứ tưởng tượng, vậy mà vẫn có người tìm đến bắt bẻ, còn tìm ra một vị bác sỹ giống thế ngoài đời, tố cáo ông ấy đã tiết lộ bí mật.

Thật là có lỗi với vị bác sĩ ấy, tôi là đàn ông hay đàn bà, ông ấy còn chả biết thì làm sao có thể tiết lộ bí mật cho tôi chứ?

Cuốn Lắng nghe trong gió thì càng không cần phải nói, do sự bùng nổ phim truyền hình, số người đến tìm tôi kiếm chuyện thị phi càng nhiều, đến nỗi trong một thời gian dài tôi phải trốn về quê.

Bởi vì người ta tìm tôi quá nhiều, đã làm ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của tôi.

Trong số những người đó có một vị tướng quân đội quyền cao chức trọng, cũng có những nhân vật kiểu A Bỉnh, Hoàng Y Y, Trần Nhị Hồ trong cơ quan 701[1] hoặc là những hậu bối của họ.

Trong số họ, có người đến với tư cách cá nhân, gia đình, có người đại diện cho cơ quan, đơn vị, có người đến cảm ơn tôi, có người đến lên án tôi.

Thôi thì cảm ơn cũng tốt, lên án cũng được, tôi đều tiếp cả, muốn gặp, muốn giải đáp tất cả thắc mắc.

Thực ra những điều tôi nói đều giống như nhau, chẳng thế mà một dạo tôi giống như chị Tường Lâm[2], không ít lần chỉ toàn là “chuyện cũ nói lại”.

[1] Các nhân vật trong cuốn Lắng nghe trong gió của cùng tác giả Mạch Gia (Chú thích trong cuốn sách là của người dịch).

[2] Một nhân vật vật trong truyện ngắn Chị Tường Lâm của Lỗ Tấn.

Trong số những người đến tìm tôi có một người tìm tôi với mục đích có chút mơ hồ, không hẳn là cảm ơn cũng không phải là lên án tôi.

Nói theo một ý nghĩa nào đó, ông ấy không phải đến nghe tôi nói mà là đến để nói với tôi.

Ông ấy đến từ Thượng Hải, họ Phan, tên Hướng Tân, là một giáo sư hóa học của một trường đại học, năm trước vừa nghỉ hưu, giờ thơ thẩn và nhàn rỗi ở nhà.

Ông ấy tự đến, nhưng lưu lại trong cuộc đời tôi một dấu ấn thật đậm.

Vào tuần đầu tháng Giêng năm ngoái, giáo sư Phan nhận lời mời đến giảng bài tại trường Đại học Sư phạm Tứ Xuyên, trong thời gian đó nhờ bạn bè của tôi liên lạc với tôi, và bạn tôi đã đứng ra mời chúng tôi cùng ra ngoại ô ăn một bữa cơm dã ngoại.

Trong bữa ăn, giáo sư đàm luận chuyện văn chương, lời hay ý đẹp nhiều vô kể, ông đã để lại cho tôi ấn tượng sâu đậm.

Thậm chí ông ấy còn tài tình và khéo léo gắn nghề viết tiểu thuyết của tôi với nghề hóa học của ông ấy, hai thứ khác nhau một trời một vực.

Ông nói rằng, tiểu thuyết hay cũng chính là hóa học, là xử lý cuộc sống theo hóa học.

Ngược lại, tiểu thuyết dở thì là vật lý, nghiêng về sự thật, rập khuôn cuộc sống vân vân.

Đúng sai không bàn tới, nhưng cách nói mới mẻ, khiến người nghe khó quên.

Trong bữa ăn, chúng tôi cũng nói về bộ phim truyền hình Lắng nghe trong gió, ông bảo rằng ông vừa xem Đài Truyền hình Thượng Hải chiếu xong, mỗi ngày ba tập, ông xem liền một mạch không bỏ tập nào, sau đó còn mua đĩa xem lại phần ba Người bắt gió, với học vấn và kiến thức của ông, một thứ mà đã xem đến hai lần thì thứ đó cơ bản đã thành của ông ấy, tình tiết lớn bé, cả chi tiết nội dung đều thông hiểu hết.

Ông không đưa ra bình luận tốt xấu, chỉ hỏi tôi câu truyện đó có xuất xứ không và khẩn cầu tôi nói thật.

Với người bình thường tôi không cần phải nói thật, nhưng với một người trí thức như ông ấy, tôi lo rằng nếu nói dối và lừa bịp sẽ bị ông ấy nhận ra ngay, thêm nữa lại vướng tình cảm bạn bè, tôi không tiện nói bừa, đành phải nói thật.

Thẳng thắn mà nói, câu chuyện trong phần đầu Kẻ nghe gió và phần hai Kẻ xem gió của cuốn Lắng nghe trong gió không có nguyên mẫu nhất định, ví dụ như gã mù A Bỉnh trong phần một, nguyên mẫu là một thằng ngốc ở quê tôi, tên gã là Lâm Hải, 40 tuổi vẫn chưa biết gọi bố mẹ, không thể tự lo liệu cuộc sống, nhưng thị lực của gã thì đáng kinh ngạc, mang tính bẩm sinh đặc biệt, đến cả vuông tròn cách xa mấy km, tính cách và gia cảnh của hàng chục nghìn người, gã đều có thể đoán được thông qua con mắt, đọc ra vanh vách.

Công việc mà tôi đã làm chẳng qua chỉ là chọc mù mắt đôi mắt kỳ diệu của gã, để cho đôi tai của gã trở nên vô cùng thần kỳ.

Còn về câu chuyện trong phần ba Người bắt gió, quả thực hoàn toàn là hư cấu, nếu như nhất định phải biết về xuất xứ, thì tôi miễn cưỡng đưa ra hai phương án: Một là từ bộ phim Thảm án trên sông Nile đọng lại trong ký ức tôi, hai là trò chơi giết người một thời thịnh hành tại Bắc Kinh.

Cả hai kỳ thực chỉ là một, đều là cuộc tìm kiếm hung thủ trong một môi trường khép kín, thậm chí tôi còn hoài nghi bản thân cái sau bắt nguồn từ cái trước.

Nói cho cùng là năm 2001, cơ quan tôi, đài Truyền hình Thành Đô muốn làm một phim mừng dịp 80 năm thành lập Đảng, phần tôi thì đảm nhiệm viết kịch bản, tôi đã lôi kéo anh bạn thân Hà Đại Thảo cùng viết hai tập phim ngắn mang tên Bầu trời dưới lòng đất, cần phải nói cảm hứng sáng tác chính là từ bộ phim Thảm án trên sông Nile, đó chính là lịch sử cách mạng hóa cốt truyện mà thôi.

Hai năm sau, tôi học tại Học viện Văn học Lỗ Tấn, trong đám sinh viên rộ lên trò chơi giết người, tôi thấy rất thú vị, nổi hứng viết lại cuốn Bầu trời dưới lòng đất.

Câu chuyện Người bắt gió thực ra là như vậy.

Là tôi mượn cốt truyện kinh điển, dựa vào sở trường tư duy lôgic và niềm đam mê với công việc điệp báo, mà viết nên câu chuyện này.

Giáo sư Phan nghe song, trầm ngâm khá lâu.

Tôi đoán im lặng như vậy không phải là ông ấy không có gì để nói mà ông ấy có điều quan trọng muốn nói.

Quả nhiên, sau một hồi trầm ngâm ông bắt đầu chầm chậm nói, bởi vì qua trầm ngâm ‐ trầm ngâm suy nghĩ, lời nói của ông quả nhiên đầy triết lý và có sức thuyết phục vô cùng, ông nói với tôi như thế này:

“Trên thế giới này không có hai chiếc lá giống nhau, càng không thể có hai câu chuyện giống nhau, nhưng…

Nói sao nhỉ, nếu anh hứng thú, tôi không ngại kể cho anh nghe một câu chuyện, thật một trăm phần trăm, có ghi chép lại trong lịch sử.

Tôi không dám khẳng định, câu chuyện tôi kể hay hơn của anh, nhưng tôi tin rằng anh nghe xong sẽ rất ngạc nhiên.

Có thể nói như thế này, trước khi anh viết nên câu chuyện ấy, Thượng đế đã thảo xong rồi.

Tôi từng cho rằng, anh dựa vào tài liệu lịch sử để rồi thay hình đổi dạng viết nên câu chuyện của anh, nhưng nghĩ kỹ lại thì không phải như vậy, bởi vì anh đã vứt bỏ hết những thứ tinh hoa nhất, xuất sắc nhất trong tư liệu lịch sử.

Xin lỗi anh, hãy thứ lỗi cho tôi nói một câu mạo phạm, cá nhân tôi cho rằng, tay nghề của anh còn kém Thượng đế rất nhiều.”

Sau đó, trong vòng nửa tiếng đồng hồ, giáo sư đã kể cho tôi nghe câu chuyện của ông, nghe xong quả thực tôi cứ ngây ra.

Đúng như vậy, câu chuyện ông kể hay hơn chuyện của tôi rất nhiều, hay gấp mười lần, gấp một trăm lần.

Ngay lúc ấy, tôi yêu cầu ông kể lại tường tận một lần nữa.

Ông bảo, người có tư cách nhất kể câu chuyện này nhất chính là đương sự của câu chuyện, rất nhiều người trong số họ hiện vẫn còn sống, trong đó có bố của ông.

Ông nói với tôi, nếu như tôi thực sự hứng thú thì hãy đi cùng ông một chuyến, chắc chắn sẽ không uổng công vô ích.

Hơn cả mong đợi, tôi đã thu hoạch được rất nhiều.

Tôi tìm được nguyên mẫu của câu chuyện Người bắt gió.

Cùng với niềm vui, tôi luôn miệng khen kỳ diệu: Một câu chuyện hư cấu hóa ra lại có nguyên mẫu!

Chẳng trách có người đem tiểu thuyết của tôi ra để bắt bẻ.

Trước đó, tôi luôn thấy kỳ quái, một người hầu như không bước chân ra khỏi nhà như tôi, chỉ trong lúc bột phát, nghĩ vẩn vơ viết ra câu chuyện mà lại có người tìm đến bắt bẻ?

Bây giờ thì tôi đã hiểu, đó là do cuộc sống mênh mông hơn hư cấu.

Tôi nghĩ quan hệ giữa hư cấu và cuộc sống giống như quan hệ giữa phép Cân đẩu vân của Tôn Ngộ Không với lòng bàn tay của Phật tổ Như Lai, anh cứ chạy đi, xem anh có thể chạy được đến đâu.

Sau vụ này, tôi có lý do để tin rằng giáo sư Phan không đến với tôi một cách ngẫu nhiên, mà là có chủ ý, và dùng cách của riêng mình để đạt được mục đích: để tôi tự dựng lại cốt truyện về hình tượng Người bắt gió.

Tôi phải thừa nhận, so với câu chuyện mà tôi đã hư cấu, câu chuyện này phức tạp hơn, ly kỳ hơn và cũng chân thực hơn.

Bố của giáo sư Phan, cụ Phan cùng năm người khác nữa như cụ, sau nửa thế kỷ, với thời gian và địa điểm khác nhau, nhưng đều cung cấp cho tôi những nội dung giống như nhau, giống nhau đến mức như là chỉ có một người kể vậy.

Trong trải nghiệm của tôi, đây là lần đầu tiên có chuyện ngoại lệ như vậy.

Cho nên tôi cũng ngoại lệ tin tưởng và thản nhiên với tính chân thực của nó.
 
Tiểu Thuyết Phong Thanh
CHƯƠNG MỘT


Trở lại câu chuyện chính.

Câu chuyện xảy ra vào lúc giao thời giữa mùa xuân và mùa hạ, thời kỳ giặc Nhật, bên Tây Hồ, Hàng Châu, nơi được mệnh danh là thiên đường chốn nhân gian.

Sóng nước mênh mông hòa cùng nắng

Sắc núi mơ màng họa cùng mưa Tây Hồ,

Tây Thi cùng sánh bước

Son phấn nhạt nhòa vẫn đẹp tựa mơ

Tây Thi quá đẹp, với vẻ đẹp chim sa cá lặn, hoa nhường nguyệt thẹn, ai dám sánh với nàng đây?

Tây Hồ!

Tô Đông Pha đã nói với chúng ta bằng thơ rằng, duy chỉ có Tây Hồ vẫn đẹp đến rung động lòng người giống như nàng Tây Thi vậy.

Liệu có quá lãng mạn không?

Không hề, đó là sự thực, có núi sông làm chứng.

Núi là núi xanh, lúc tươi vui, lúc mưa bụi phủ mờ, xuân về cảnh sắc như hoa lan, thu đi vẫn đẹp như tranh vẽ.

Nước là dòng nước mềm mại, gió nhẹ gợn sóng, chứa đầy ánh trăng mơ mộng và khi mặt trời le lói hiên lên dường như còn chưa tỉnh giấc.

Non non nước nước, gió nhẹ mơn man, cảnh sắc gợi tình đó đã là nguồn cảm hứng của bao áng thơ văn.

Kể sao cho xiết, sách chất đầy nhà, nhiều tới độ nếu chất thành đống sẽ giống như ngọn Cô Sơn với mùi mực thơm nồng và sắc màu rực rỡ.

Khi thưởng thức, ngâm nga những áng thơ luôn gợi đầy tương tư lưu luyến, cứ như là đã dùng hết mỹ từ, ôm trọn tình phong nguyệt.

Vào những năm 40 của thế kỷ trước, thành phố Hàng Châu chưa chắc rộng bằng một phần năm hiện nay, nhưng Tây Hồ, linh hồn của thành phố này vẫn như thế, không nhỏ tí nào, những thắng cảnh ven hồ và bên hồ cũng không ít đi so với trước là bao nhiêu, như đê Tô, đê Bạch, cầu Đoạn, cầu Tây Linh, cầu Cẩm Đới, cầu Ngọc Đới, cầu Tỏa Lan, Tam Đàn Ấn Nguyệt, Bình Hồ Thu Nguyệt, Nguyễn Công Đôn, đình Hồ Tâm, mộ Tô Tiểu Tiểu ở đầu cầu Tây Linh, liễu reo oanh hót bên cửa Thanh Pha, chùa Tiền Vương, cùng với các thắng cảnh trên Cô Sơn như Tây Linh Ấn xã, mộ Thu Cẩm, đình Phóng Hạc, Lầu Ngoại Lầu, Thiên Ngoại Thiên… hòa với Bạch Vân, đình Mẫu Đơn, chùa Tịnh Thông, chùa Báo Ân, động Quan Âm ở phía Nam, hay tháp Bảo Thích, đình Song Linh, miếu Nhạc, động Song Linh, động Thi Hà bên bờ Bắc.

Tóm lại, những cái chúng ta thường gọi như nhất sơn tam nguyệt, nhị đê tam tháp, tam trúc lục kiều, cửu khê thập bát động lúc đó đều có cả, bọn Nhật tới đây cũng không làm dân chúng sợ đến nỗi chạy mất dép.

Tại thành phố Hàng Châu, bọn Nhật đã thả không biết bao nhiêu bom đạn, nghe nói ở sông Tiền Đường vẫn thường vớt được những quả bom chưa phát nổ của quân Nhật ném xuống, ngay cả nhãn mác trên quả bom cũng vẫn còn.

Những quả bom giống như xác chết từ trên trời rơi xuống, chưa phát nổ mà đã làm cho dân chúng sợ hết hồn, huống hồ là khi chúng phát nổ.

Tiếng bom nổ vang động đất trời, sức công phá của nó long trời lở đất, số người và thú nuôi bị thương vong không sao kể xiết, làm cho người và vật ở thành Hàng Châu sợ hãi bỏ chạy.

Những thắng cảnh ở trong và ngoài Tây Hồ nếu như có thể chạy được thì chúng cũng đã bỏ chạy mất rồi.

Tiếc rằng chúng không biết chạy, đành phó mặc cho số phận mà thôi.

Số phận của Tây Hồ quả là rất may mắn, hàng trăm chiếc máy bay trút xuống không biết bao bom đạn xuống, những Tây Hồ giống như được thần linh phù hộ, vẫn bình yên vô sự, ai cũng thấy kỳ lạ.

Những danh lam di tích xung quanh cũng như được hưởng lộc của Tây Hồ, thoát khỏi đại nạn, duy chỉ có miếu Nhạc, có lẽ ở quá xa, ân phúc không tới được nên bị thiệt hại đôi chút.

Từ miếu Nhạc đi về phía tháp Bảo Thích, nay là đường Bắc Sơn, khi đó mọc lên rất nhiều tòa ngang dãy dọc, tất nhiên đều thuộc những gia đình giàu có và quyền thế.

Thông tin của những người giàu có và quyền thế thường nhanh nhạy hơn đám dân thường.

Trước khi bọn Nhật ném bom thành phố, họ đã kịp bỏ chạy.

Sau khi cơ quan của giặc Nhật được mở, thành phố bình yên trở lại, những người giàu có và quyền thế lại quay trở về.

Nếu chủ không trở về thì ít ra cũng có tôi tớ trở về, giúp chủ trông nom gia nghiệp, tránh cảnh người bỏ đi để nhà hoang phế, bị chính quyền giặc Nhật mới dựng lên chiếm đóng.

Trong đó có một Đại Viện Lạc, lưng dựa vào núi, mắt hướng ra hồ, chủ nhân là họ Cầu, từng là ông chủ chuyên kinh doanh dịch vụ lầu xanh cao cấp, bản thân ông ta không trở về mà cử người làm về nhưng muộn mất vài tuần liền bị Hội Duy Trì rất thanh thế của giặc Nhật lúc đó chiếm mất, không trả lại.

Sau này, trước khi chính quyền Uông ngụy của giặc Nhật được dựng lên, Tổng đội tiễu phỉ Hoa Đông của giặc Nhật mới được thành lập tiếp quản khu vực này.

Một số tòa nhà trong viện đều được sử dụng vào mục đích mới, như tòa nhà chính ba tầng làm nhà khách cho sĩ quan Bộ Tư lệnh kiêm nơi vui chơi giải trí, phục vụ cho những thú vui xác thịt.

Một dãy nhà trệt hình chữ U trong vườn trúc phía sau là khu “văn phòng” của nhà khách.

Còn hai ngôi nhà kiểu Tây xây đối nhau ở phía sau nữa, ngôi nhà phía Tây trở thành tư dinh của viên quan Tư lệnh ngụy đầu tiên, Tiền Hổ Dực (người dân gọi là Tiền đuôi chó) ngôi bên phía Đông là khu nhà ở của những thân tín và vệ sĩ của hắn.

Vào một đêm mùa hè năm 1940, tất cả những người ở trong hai ngôi nhà phía Đông và phía Tây đều bị ám sát (theo tin đồn thì do con cháu người nhà họ Cầu thực hiện, nhưng hung thủ cho đến nay vẫn chưa bị đưa về quy án, nên rất khó để khẳng định điều này), viên Tư lệnh quân ngụy mới lên thay là Trương Nhất Đỉnh đã dần dần đuổi hết thân tín và vệ sĩ của Tiền Hổ Dực đi.

Thế là cả hai ngôi nhà nhà lại không có người ở.

Cứ ngỡ, nhà đẹp thế sẽ rất nhanh đón được chủ nhân mới đến ở.

Thế nhưng mãi vẫn không có người đến ở hay sử dụng vào mục đích khác.

Nguyên nhân suy cho cùng là người được vào ở chê nơi này từng xảy ra thảm họa giết người, không dám ở; còn người dám ở thì lại không đến lượt.

Cứ như vậy, hai ngôi nhà vẫn trống vắng, mãi gần một năm sau, lúc giao thời giữa mùa xuân và mùa hạ, vào một đêm khuya trăng sáng đàng khô, bỗng nhiên có hai quân binh đến ở trong hai ngôi nhà này.

* * *

Hai nhóm người đến ở, nhóm đến trước ở Đông lầu (ngôi nhà phía Đông), nhóm này khá đông, dễ đến đầy một xe tải.

Khi xuống xe họ đứng đầy trước sân nhà.

Đêm tối khó mà đếm chính xác có bao nhiêu người, ước chừng khoảng hơn mười.

Trong số họ đa số là binh sĩ trẻ, người mang súng, người khiêng lỉnh kỉnh thiết bị máy móc gì đó.

Dẫn đầu là một người lùn hơi mập, thắt lưng dắt súng ngắn và dao găm.

Hắn là Tham mưu Sở Đặc vụ thuộc Bộ Tư lệnh Tổng đội, họ Trương, còn tên không rõ.

Chắc chắn các binh sĩ trước khi đến đây đã được giao nhiệm vụ, xuống xe, đợi Tham mưu Trương mở, hắn vẫy tay, số khiêng vác đồ lỉnh kỉnh những thiết bị máy móc chen đến trước cửa, nối đuôi nhau vào trong nhà.

Số còn lại mang súng đứng yên tại chỗ, chờ đến khi Tham mưu Trương từ trong nhà đi ra mới theo hắn rời khỏi Đông lầu và biến vào đêm tối.

Khoảng một tiếng đồng hồ sau, những người đến Tây lầu cũng tới: Đó là nhóm thứ hai.

Nhóm có năm người, ba nam và hai nữ, đều là bộ hạ cũ của Tiền Hổ Dực, quan quân ngụy cả.

Trong đó tên quan cao nhất là Ngô Chí Quốc, từng là Đại đội trưởng Đại đội Tiễu phỉ số Một (đóng ở Thường Châu) thuộc Tổng đội quân ngụy, phụ trách tuần tra và tấn công lực lượng chống Nhật chống ngụy hoạt động mạnh mẽ ở xung quanh Thái Hồ.

Hồi đầu năm, ở Hồ Châu từng một lần ra quân đã quét gọn nhóm “Mãnh hổ” chống Nhật hoạt động rầm rộ ở đó, được viên Tư lệnh mới lên thay Tiền Hổ Dực là Trương Nhất Đỉnh trọng dụng, không lâu sau thăng liền hai cấp, đường đường làm Trưởng Ban tham mưu quân sự, cai quản công việc tác chiến và huấn luyện quân sự của toàn khu (vai trò của tham mưu).

Tiền đồ phía trước, quan chức mới như hắn đang hừng hực như lửa đuốc, hết sức vênh váo, đường công danh quả là khôn lường.

Sau đó là nhân vật thứ hai, Trưởng Ban cơ yếu quân sự, nắm cơ mật nòng cốt của toàn quân, Kim Sinh Hỏa, kế tiếp nữa là Lý Ninh Ngọc, nữ, Tổ trưởng tổ dịch điện Ban quân cơ.

Nhân vật thứ tư là Bạch Tiểu Niên, nhưng cũng có thể nói đó là nhân vật thứ nhất, hắn là quan tháp tùng của Tư lệnh Trương Nhất Đỉnh, thuộc dạng dưới một người, trên cả trăm người, chức quan không cao, chỉ là Phó tiểu đoàn trưởng, nhưng quyền hạn thì có thể vô biên.

Cố Tiểu Mộng, nữ, là nhân viên của Lý Ninh Ngọc, trẻ trung, xinh đẹp, dáng mảnh mai, sắc đẹp diễm lệ, dù có đi trong đêm thì vẫn khiến người ta phải ngước nhìn.

Cả năm người đi trên một chiếc xe địa hình hai cầu do Nhật sản xuất, được bóng đêm yểm trợ, giống như một âm mưu lặng lẽ tiến vào Cầu trang (trang viên nhà họ Cầu) tĩnh mịch, đi qua tiền viện đến hậu viện và cuối cùng biến mất vào trong Tây lầu vốn đã lâu không có bóng người, khiến cho ngôi nhà trống từng nhuốm trong bể máu càng trở nên hãi hùng đáng sợ hơn, giống như con dao giết người lại rơi vào tay kẻ từng giết người.

Âm mưu ấy cứ như là âm mưu trong âm mưu, ngay cả bản thân kẻ chủ mưu cũng không biết rõ hình dạng và nội dung của nó.

Trước khi đến đây họ đều đã lên giường đi ngủ, trước tiên là Thư ký Bạch bị cú điện thoại bất thường của Tư lệnh Trương đánh thức, sau đó Thư ký Bạch tuân lệnh kéo bốn người là Kim Sinh Hỏa, Lý Ninh Ngọc, Cố Tiểu Mộng và Ngô Chí Quốc ra khỏi giấc ngủ.

Sau khi cả năm được triệu tập khẩn cấp, vội vàng lên xe, sau đó tới đây như mộng du.

Còn đến đây để làm gì thì không ai biết, kể cả Thư ký Bạch.

Người đưa họ tới đây là Trưởng Sở đặc vụ, Vương Điền Hương, sau khi thu xếp ổn thỏa cho tất cả, trước lúc rời đi có tiết lộ đôi điều: Khổ luyện để làm việc lớn.

Vương Điền Hương nói: “Tư lệnh Trương bảo tôi chuyển lời, sẽ có một nhiệm vụ hết sức đặt biệt giao cho mọi người, mấy ngày tới có thể sẽ không được ngủ yên giấc.

Vì vậy buổi tối nay mọi người nhất định phải tranh thủ thời gian, ngủ một giấc thật ngon lành, sáng sớm ngày mai Tư lệnh sẽ tới thăm mọi người”.

Xem ra, đêm nay với Vương Điền Hương quả là một đêm phấn chấn nhưng cũng thật bận rộn.

Sắp xếp ổn thỏa mọi cho người ở đây chỉ là một phần rất nhỏ trong một đống công việc có liên quan, còn có biết bao công việc quan trọng khác cần hắn giải quyết.

Vì vậy, nói xong hắn vội vã đi ngay, dáng vẻ của hắn khiến mọi người vừa thấy hứng thú vừa khó hiểu.

Cố Tiểu Mộng nhìn dáng vẻ vừa thần bí vừa vội vàng của Vương Điền Hương, trong lòng không lấy gì làm lạ, liền nhếch cánh mũi xinh xinh, miệng lẩm bẩm:

“Hừm, cái lão khốn họ Vương này, tôi thấy hắn càng ngày càng không biết mình mang họ gì nữa đây.”

Tuy nói không to nhưng tính chất câu nói lại hết sức nghiêm trọng, khiến mọi người một phen sợ rụt cổ.

Vương Điền Hương nắm giữ vị trí quan trọng: Trưởng sở Đặc vụ, không ai dám ngạo mạn với hắn, khinh nhờn hắn để chuốc tội vào thân.

Thậm chí Tư lệnh Trương cũng đối xử với hắn một kiểu khác.

Sở Đặc vụ là một cơ quan đặc biệt, giống như một kiểu quái thai, có hai đầu tối sáng, thân tâm cách biệt, có phần giống như thân ở trại Tào mà tâm bên nhà Hán.

Thân là phần sáng, chịu sự quản lý của Tư lệnh Trương, nhưng trong bóng tối, Tư lệnh Trương lại chịu sự điều tra soi xét của cơ quan này.

Mỗi tháng, Vương Điền Hương đều phải nộp một bản báo cáo công việc lên cơ quan Đặc vụ cao hơn của Nhật Bản có trụ sở ở Thượng Hải, trình bày các hoạt động và ngôn luận của quan quân trọng yếu thuộc khu, trong đó có cả tư lệnh.

Trong bối cảnh này, hắn có vẻ dương dương tự đắc và có chút ngay cả họ tên mình cũng không biết, âu cũng là điều khó tránh khỏi.

Đối với loại người này, ai dám nói xằng nói bậy?

Trước mặt thì tuyệt đối không dám, nhưng sau lưng có to nhỏ gì thì cũng phải cẩn thận, đừng để cho người thứ ba biết, biết rồi tố cáo lên thì chỉ có nước trở thành người câm.

Cho nên, Cố Tiểu Mộng phát ngôn bừa bãi như vậy, những người nghe được không mấy hưởng ứng.

Mọi người đều làm như không nghe thấy và tản đi.

Tản đi rồi lại tụ tập.

Tất cả tụ tập tại phòng của Ngô Chí Quốc dò hỏi lẫn nhau: Tư lệnh kéo mọi người dậy giữa đêm hôm khuya khoắt, rốt cuộc là sao?

Tưởng rằng sẽ có người biết, nhưng hỏi hết một lượt chẳng ai biết gì.

Không biết thì chỉ còn đoán mò: Khả năng thế này, khả năng thế kia, khả năng là đông, khả năng là tây v.v… rất nhiều khả năng, thật phức tạp, cuối cùng chất thành đống, bình quân mỗi người cũng phải đưa ra trên hai khả năng.

Nhiều thực ra là ít, thậm chí là không.

Tóm lại, đoán già đoán non, lắm thầy nhiều ma, chẳng rút ra được kết quả gì.

Nhưng dường như họ không bỏ qua, mà vẫn tiếp tục suy đoán.

Duy chỉ có Ngô Chí Quốc, ban ngày đi thị sát quân lính cấp dưới, tối dự chiêu đãi, cơm no rượu say chỉ còn muốn đi ngủ sớm.

“Ngủ thôi, ngủ thôi.”

Anh đề nghị mọi người giải tán, “Có gì hay ho đâu.

Trừ khi các cậu là con giun trong bụng Tư lệnh, nếu không nói gì cũng uổng công vô ích thôi”.

Nói xong một hồi, lại quay sang hỏi mọi người một câu chẳng liên quan: “Các cậu có biết chỗ tôi đang ở là gì không?

Là phòng ngủ của Tiền Hổ Dực khi còn sống, hắn đã chết trên chiếc giường này đấy!”.

Cố Tiểu Mộng đang ngồi ở mép giường nghe thấy vậy thốt lên “Ôi chao” rồi đứng bật dậy.

Ngô Chí Quốc cười nói: “Cô sợ cái gì hở Tiểu Mộng, nếu cứ sợ như cô, đêm tôi làm sao ngủ được chứ?

Tôi vẫn ngủ như thường, ma sợ người chứ cô sợ gì mà sợ?

Nếu hắn còn sống thì mới sợ chứ, nghe nói hắn rất háo sắc đấy”.

Cố Tiểu Mộng nhếch mũi lên nói: “Trưởng ban, anh nói cái gì vậy?”.

Trưởng phòng Kim chêm vào: “Trưởng ban đang khen cô đấy, ý bảo cô xinh đẹp ấy mà”.

Ngô Chí Quốc thấy Tiểu Mộng định tiếp lời liền xua tay hỏi: “Cô có biết Tư lệnh Tiền bị ai giết không?

Chính là người của trang viên này đấy”.

Nói có vẻ rất thần bí, tất nhiên là muốn giải thích rồi, “Nơi này trước đây là kho vàng của một tên trùm thổ phỉ, khi hắn còn sống, của cải mà hắn cướp được nghe nói đều cất giấu trong phòng này, rộng hơn một chút thì là trong cả khu trang viên này.

Chính vì thế mà vẫn còn của cải vàng bạc chưa được đào lên hết, trang viên này đã thay mấy đời chủ rồi, người nào cũng muốn đến đây để tìm vàng bạc, trong đó có cả Tư lệnh Tiền.

Thế nhưng họ đều không tìm thấy.

Có biết không, đến nay vẫn chưa tìm thấy đấy”.

Chuyện này mọi người đều đã từng nghe nói.

Ngô Chí Quốc đứng dậy cười lớn: “Ngủ thôi, về đi ngủ đi, có gì hay ho đâu.

Nếu như mọi người đoán mò mà ra được kết quả gì, điều đó có nghĩa mọi người có thể tìm ra nơi cất giấu của cải của hắn đấy.

Khà khà, ngủ thôi, bây giờ là mấy giờ rồi, còn đoán gì mà đoán, ngày mai Tư lệnh đến sẽ biết hết”.

Mọi người ai về phòng nấy, lúc này đã hơn một giờ sáng.

* * *

Ngày hôm sau, khi mặt trời vừa lên, màn sương bao phủ trên mặt nước Tây Hồ vẫn chưa tan hết, chiếc xe con màu đen của Tư lệnh Trương đã đơn độc lăn bánh bên bờ Tây Hồ.

Quê của Tư lệnh Trương ở huyện Hấp, tỉnh An Huy, dưới chân Hoàng Sơn.

Từ nhỏ hắn đã thông minh hơn người, mười tám tuổi tham gia thi Hương, đỗ đứng đầu tỉnh.

Tuổi nhỏ mà có chí, trở thành tú tài.

Điều ấy khiến cho chí hướng của hắn trở nên to lớn cao xa hơn.

Nhưng cách mạng Tân Hợi bùng nổ đã làm xáo trộn bước đi mà hắn hằng mong ước, bao nhiêu năm rồi vẫn không toại nguyện, không như ý muốn.

Chí lớn trong lòng luôn bị trà trộn trong mớ tầm thường, khiến hắn đi qua bao nơi đều cảm thấy sự thê lương của nhân thế, sự rủi ro của số phận.

Mãi cho đến khi quân Nhật coi Uông Tinh Vệ như bảo bối đón vào thành Nam Kinh, khi ấy hắn đã đi được nửa đời người, đầu đã hai thứ tóc thì tiền đồ mới bắt đầu sáng sủa, trở thành cánh tay thứ hai của Tiền Hổ Dực: Phó Tư lệnh.

Thế nhưng gọi là tiền đồ gì chứ, một năm trước khi hắn về quê đưa tang mẹ, bị người ở quê hắt phân vào mặt trước bàn dân thiên hạ, trong cơn tức giận, hắn giật súng trong tay của tên lính công vụ, nhằm về phía người dân quê hắn nổ súng.

Người dân ấy không chết, chỉ bị một vết thương ngoài da ở đùi, nhưng con tim của chính hắn đã chết.

Hắn biết rằng, từ nay về sau sẽ không còn đường về quê nữa, từ đó hắn càng có quyết tâm đi tới cùng con đường đã định.

Cho nên, khi người tiền nhiệm Tiền Hổ Dực bị ám sát thảm khốc ngay trong nhà, những lời đồn đại khắp nơi đã làm khiếp đảm bao nhiêu đồng nghiệp của hắn, khiến họ không dám kế nhiệm.

Hắn ngang nhiên nhảy vào kế nhiệm, thể hiện rõ dũng khí và cam đảm hơn người.

Đã gần một năm trôi qua, hắn không hề hối hận vì sự lựa chọn của mình, vì hắn không còn sự lựa chọn nào khác.

Giờ nghĩ lại tất cả những gì xảy ra đêm hôm qua và tất cả những gì sắp xảy ra trong Cầu trang, hắn cũng có cảm giác không còn sự lựa chọn nào khác.

Chiếc xe con màu đen xuôi theo con đường men quanh bờ hồ.

Sau mấy tiếng còi xe, chiếc xe dừng lại bên ngoài cánh cổng tường cao cửa rộng của Cầu trang, có lính canh bồng súng đứng gác.

Lính canh mở cửa cho xe vào, lúc đó mới bảy giờ rưỡi sáng ‐ là thời điểm đầu tiên trong ngày.

Vào bên trong, trước mặt là một dãy kiến trúc cổ gạch xanh ngói thâm, cửa chính là cánh cửa sắt rất đẹp nhưng không thực dụng, không cao, mà cũng chẳng có chăng thép gai chống đột nhập, dường như ai cũng có thể nhảy qua bất kỳ lúc nào.

Đây từng là nơi người nhà họ Cầu mở lầu xanh.

Giờ thì treo tấm biển là nhà khách sĩ quan, thực tế thì cũng có đôi chút của kiểu “treo đầu dê bán thịt chó”.

Chiếc xe từ từ đi qua khoảng đất trống trước nhà khách sĩ quan, sau đó rẽ phải, đi thẳng về phía hậu viện.

Xuyên qua rừng trúc và con đường rừng âm u nhỏ hẹp là đến hậu viện.

Đi vào con đường rừng âm u, Tư lệnh Trương từ trên xe đã nhìn thấy hai ngôi nhà phía Đông và phía Tây, đợi xe đi vòng qua hòn non bộ cỏ dại um tùm và giàn đậu tía, hắn đã nhìn thấy Vương Điền Hương cung kính đứng chờ ở trước tòa nhà phía Tây.

Vừa xong, Vương Điền Hương nhận được thông báo của lính gác, liền cung kính đứng chờ sẵn ở đó.

Phía sau hắn là một tên lính gác bên hông treo khẩu Pạchoọc đứng trang nghiêm.

Phía sau tên lính canh là tấm biển gỗ rõ ràng là mới được dựng lên, trên đó viết: “Khu cấm quân sự, không phận sự miễn vào”.

Tất cả những thứ này đều do Vương Điền Hương sắp đặt lúc đêm.

Điều kỳ lạ là lái xe của Tư lệnh Trương cũng bị coi là người không phận sự, khi anh ta định đi vào trong nhà với Tư lệnh Trương, lính canh liền chặn lại nói:

“Xin lỗi, làm ơn đứng đợi ở ngoài vạch trắng.”

Lái xe sững người, nhìn xuống đất, rõ ràng là có một vạch trắng mới kẻ cong queo, bao quanh ngôi nhà, giống như bùa quẻ của những người mê tín dùng để xua đuổi tà ma tai họa.

Do lúc đêm ngủ muộn, thêm nữa cũng không ngờ Tư lệnh lại đến sớm như vậy, thành ra cả năm người đều dậy muộn.

Cố Tiểu Mộng thậm chí còn đang nằm trên giường khi Tư lệnh vào nhà.

Tư lệnh đến thăm mọi người sớm như vậy khiến tất cả đều có cảm giác được sủng ái đến lo sợ, vừa trang nghiêm vừa cấp bách báo hiệu một nhiệm vụ lớn sẽ từ trên trời giáng xuống.

Sau đó, khi bọn họ bước ra bên ngoài, nhìn thấy cảnh lính canh đứng nghiêm trang và vành đai trắng, cảm giác này càng tăng lên gấp bội.

Họ đi ra ngoài để ăn sáng, nhà ăn nằm trong nhà khách tiền viện.

Vương Điền Hương giống như chủ nhà, tận tình dẫn mọi người đi.

Tuy ban đêm không ngủ ngon giấc, nhưng tinh thần Vương Điền Hương vẫn rất tốt, trên mặt vẫn ánh lên thần sắc phấn khởi, giống như tiếp đãi những khách quý từ phương xa đến.

Điều này cũng làm tăng thêm cảm giác trang nghiêm và được sủng ái của mọi người, bởi vì bình thường Vương Điền Hương không làm như vậy.

Đợi mọi người tản đi, từ Đông lầu đối diện có hai người đi tới, mặc thường phục, tay xách hòm công cụ do Tham mưu Trương béo dẫn đầu, quan sát kỹ lưỡng hết lượt trong ngoài, trên dưới tòa nhà, hai người họ còn kiểm tra đường dây gì đó.

Tư lệnh Trương đã ăn sáng xong, lúc này chẳng có việc gì, liền cùng với họ quan sát một lượt trong ngoài ngôi nhà.

* * *

Đây là một ngôi nhà kiểu Tây điển hình, hai tầng rưỡi, nửa tầng trên là tum, đã bị bịt kín.

Tầng hai có bốn phòng, một phòng khóa chặt, còn ba phòng để ở.

Có thể nhận ra, phòng Kim Sinh Hỏa là phòng ở cuối hành lang.

Đó là một phòng nhỏ, chỉ rộng chừng bảy, tám mét vuông, nhưng lại kê một chiếc giường đôi, trông rất chật chội, đối diện là nhà tắm và nhà vệ sinh.

Bên cạnh là phòng của Cố Tiểu Mộng và Lý Ninh Ngọc, kê hai chiếc giường đơn, một đôi ghế mây và một chiếc bàn làm việc, quả là một gian phòng khách tiêu chuẩn.

Nghe nói chỗ này trước đây là văn phòng của Tiền Hổ Dực.

Giá phơi bút kê bên ngoài bệ cửa sổ đến nay vẫn còn, vẫn có thể phơi những đồ vật nhỏ.

Đối diện với phòng này cũng là một gian phòng khách, hiện đang khóa chặt.

Qua đó là cầu thang, đi chút nữa là một phòng lớn kéo từ Đông sang Tây, hiện Ngô Chí Quốc đang ở.

Phòng này rất sang trọng, phía trước có một sân thượng, phía sau là một sân phơi lớn với một dãy cột đá và một giàn nho (phía dưới là nhà để xe).

Mấy năm trước, khi Tiền Hổ Dực nhậm chức, Tư lệnh Trương từng đưa hắn đến đây để xem qua, khi ấy ngôi nhà này này rất bừa bãi, nền nhà bị cạy lên chất thành đống, đồ dùng trong nhà thứ lớn thì vứt lỏng chỏng, thứ nhỏ thì vương tứ tung, tường và trần nhà loang lổ, trông thật thảm hại.

Thế nhưng, hắn đã bị vẻ sang trọng hào hoa của ngôi nhà lôi cuốn, sàn nhà bằng gỗ pơmu đen, đồ dùng toàn bằng gỗ pơmu đỏ, giường đồng dát vàng, ghế sôfa kiểu tây, sập quý phi, đèn chùm pha lê, gạch nền tráng men v.v…

Tất cả đều là những thứ quý giá nghìn vàng cũng khó mua nổi.

Sau đó Tiền Hổ Dực cho sửa lại tất cả, hắn tới thăm lần nữa, quả là thật đẹp, còn hơn cả căn phòng của tướng quân trong khu nhà khách ở phía trước.

Chính căn phòng này từng một thời mê hoặc hắn, sau khi Tiền Hổ Dực chết, những người thân cận đều khuyên hắn tới đó ở, làm hắn cũng lung lay.

Nhưng đắn đo mãi, hắn vẫn không chịu đến ở.

Mấy tháng trước, sai nhân của hắn đã chuyển những đồ đạc quý có thể chuyển đi được của hai ngôi nhà này đến nhà khách phía trước, một số được giấu kín, một số được đưa vào kê trong phòng của tướng quân, các phòng đẩy sang cho nhà khách, cải tạo thành gian hàng, dùng để kinh doanh.

Tư lệnh Trương sở dĩ muốn cải tạo hai ngôi nhà này là vì, một là bỏ không cũng tiếc, hai là hắn không muốn nhìn thấy những thứ xấu xấu bẩn bẩn bên cạnh nhà khách.

Không giống như Tiền Hổ Dực, Tư lệnh Trương là người có học thức, không thể chấp nhận kiểu như thế này.

Hắn đắn đo chính là vì sợ “mọc” ra một người thứ hai như hắn, nhìn thấy khó chịu sẽ tấu lên cấp trên, cướp mất cái ghế của hắn.

San bằng tất cả thì lại sợ đắc tội với các nhân vật tai to mặt lớn “tham ăn” nào đó trong Hoàng quân[1], lên Nam Kinh kể tội hắn, như vậy chức vụ và cái mạng hắn cũng chẳng còn.

Đem ra so sánh thì chức Tư lệnh ngụy quân chỉ là bù nhìn như hắn mệt hơn nhiều so với thời Tiền Hổ Dực trước đây, nguyên do là thế lực của hắn còn mỏng.

Đây thực ra là cái đuôi của con đường hắn đang đi, đi tới đâu, cái đuôi kéo theo tới đó‐ một cái đuôi nặng nề giống như lịch sử, khiến hắn mệt mỏi.

Nhìn lại, công danh bổng lộc hiện nay, hắn lại không nỡ bỏ, không nỡ bỏ công danh bổng lộc thì phải chấp nhận mệt mỏi, phàm những thứ mà hắn không thể nhận được thì cũng nhắm mắt mà nhận, phàm là những gì ảnh hưởng đến hắn hiện nay, thì hắn sẽ cố gắng hết sức để hóa giải, lôi kéo và giải quyết ổn thỏa.

Hắn cải tạo hai ngôi nhà phía sau, ban đầu là muốn chuyển những thứ ô uế vô cùng từ phía trước về phía sau, muốn che tai mắt thiên hạ, đồng thời lại không phải phá dỡ, tránh tai tiếng và những lời xầm xì to nhỏ của thiên hạ, đúng là vẹn cả đôi đường.

[1] Hoàng quân: Chỉ quân đội Nhật Hoàng.

Có thể nói ý định là rất hay, nhưng lại không thực hiện được.

Phải biết rằng, các kỹ nữ ở phía trước (tiền viện) đều bị vụ giết người thảm khốc làm cho kinh sợ.

Sau khi vụ án xảy ra rất nhiều kỹ nữ đã tới hiện trường để xem.

Số ít những người mới tới, tuy nói không tận mắt nhìn thấy nhưng người này kể, người kia thuật lại cũng nghe không biết bao nhiêu lần rồi.

Người chứng kiến sợ hãi, người nghe càng thấy sợ hơn.

Nỗi sợ cứ lan truyền nhanh chóng, đến những người sau vẫn bàn tán.

Thì không nói nữa, nhưng cũng vẫn lưu giữ trong thâm tâm, lúc ẩn lúc hiện, đến nỗi ban ngày cũng không ai dám lai vãng đến gần khu hậu viện.

Sự việc xảy ra ngay bên cạnh họ, thời gian chưa lâu, tất cả vẫn như diễn ra trước mắt, âm hồn của người chết vẫn vật vờ trong rừng trúc, cứ cho rằng anh bảo họ đến đây làm việc, lúc có khách hay vắng khách thì cũng đều phải trải qua những đêm dài đằng đẵng với các linh hồn, việc này chẳng khác gì muốn họ phải chết.

Tấm thân của các kỹ nữ thật nhơ nhuốc, có thể để cho người ta vui đùa, danh dự có thể cũng không cần, nhưng mạng sống thì luôn cần, không thể đùa được.

Không đến!

Quyết không đến!

Thà bị đuổi cũng không đến!

Cứ như vậy, nhà đã cải tạo xong, nhưng người thì không thể cải tạo được, hơn nữa chỉ trong thời gian ngắn, xem ra không thể cải tạo được.

Trừ khi giải tán nhóm người này, thay người mới vào.

Việc này nói thì dễ, nhưng thực ra còn khó hơn cả chiêu binh mãi mã.

Binh mã không chiêu được có thể bắt, bắt rồi cũng không phạm pháp, đường đường chính chính.

Nhưng đám kỹ nữ có làm được như vậy không, không thể bắt được họ.

Bắt ép người lương thiện thành kỹ nữ, trong dân gian hay chính quyền thì đây cũng là một tội lớn chẳng chơi.

Thôi vậy, để mặc cho nhà trống.

Hay nói cách khác, thà đắc tội với tiền chứ không thể đắc tội với người.

Thế là hết, tính toán như ý, vẹn toàn cả đôi đường của Trương Tư lệnh trở nên tan nát, tốn một đống tiền oan, khiến hắn hận đến nỗi không thể nhổ cả móng hai ngôi nhà đó bỏ đi.

Tối qua, sau khi biết được sự việc trong lúc tìm nơi ở cho nhóm người này, hắn liền nghĩ ngay đến nơi đây, tự đắc ý vì cuối cùng đã sử dụng đến chúng.

Xem ra bây giờ hắn càng thấy việc sắp xếp của hắn quả là không tồi, thật đáng hả dạ.

Hai ngôi nhà, hai nhóm người, mỗi nhóm ở một bên, tự lập căn cứ, đôi bên lúc gần lúc xa, có thể nhốt có thể thả, tuyệt vời.

Chỉ điều nghĩ mãi chưa ra, Sở trưởng Vương tại sao lại sắp xếp để họ ở như vậy.

Hắn vốn nghĩ trên tầng có bốn phòng, có thể cho mỗi người ở một phòng, không biết tại sao lại khóa chặt một phòng, để Cố Tiểu Mộng và Lý Ninh Ngọc phải ở chung một phòng.

Thư ký Bạch ở tầng dưới.

Tầng dưới ngoài phòng khách, nhà bếp và nhà ăn ra, thực sự chỉ có ba phòng, một to hai nhỏ.

Hiện Thư ký Bạch và lính gác mỗi người ở một phòng nhỏ, phòng to được bố trí làm phòng họp.

Bước vào phòng này, nhìn cách bố trí của phòng họp, tư lệnh Trương mới nghĩ ra mình hôm nay đến đây là để họp với mọi người, tất nhiên là phải cần đến một phòng họp.

Nhưng phòng khách bên ngoài vốn cũng rất rộng, xếp một vòng ghế mây, còn có tràng kỷ nữa, hoàn toàn có thể dùng làm phòng họp, hà tất phải bố trí thế này?

Tư lệnh Trương không thể hiểu Vương Điền Hương đang nghĩ gì nữa.

Hắn đi một vòng quanh chiếc bàn hội nghị có phần hơi dài, bất ngờ phát hiện bàn hội nghị do hai chiếc bàn ăn ghép lại, rồi phủ khăn trải bàn lên, trông cũng giống như thật.

Từ sự chu đáo, tinh tế và tỉ mỉ, Tư lệnh Trương tin rằng Vương Điền Hương rất chú trọng tính hợp lý trong bài trí, bỗng dưng trong lòng trào dâng một ấn tượng tốt về Vương Điền Hương.

Đây cũng chính là thái độ thông thường của hắn đối với Vương Điền Hương, cố giữ tình cảm tốt với Vương Điền Hương, không để xảy ra bất đồng gì.

Cuối cùng, Tư lệnh Trương ngồi xuống trước bàn, rút từ bao công văn ra một số công văn để đọc, chuẩn bị những vấn đề sẽ đưa ra trong cuộc họp.

Nghĩ đến việc hắn sẽ đưa vấn đề gì ra cuộc họp với mọi người, mặt hắn lộ rõ nụ cười mỉa mai, trong sự mỉa mai lại như ẩn chứa sự nham hiểm đáng sợ.

* * *

Mấy người ăn xong đã về cả, cuộc họp bắt đầu.

Cuộc họp do Vương Điền Hương chủ trì, Tư lệnh Trương diễn giải, trước tiên Tư lệnh Trương thao thao giảng giải tuyên truyền một lượt về sự gian nguy, tính cấp bách của công việc tiễu phỉ trừ gian của toàn đội hiện nay.

Hắn nhấn giọng, hiện nay hoạt động bí mật chống Nhật phản ngụy xuất hiện xu hướng mới, đó là hoạt động du kích bí mật của Đảng Cộng sản diễn ra thường xuyên hơn so với hoạt động kháng chiến công khai của Quốc dân Đảng, đồng thời cũng sôi động hơn và khó đối phó hơn.

Lúc này là thời điểm cuối xuân đầu hạ năm 1941, xảy ra khi mà tiếng súng và mùi tanh của máu trong biến cố Hoản Nam hồi đầu năm còn chưa hoàn toàn tan biến.

Anh em đấu đá nhau, Nhật ‐ ngụy cười mừng trong nhà.

Biến cố Hoản Nam đã làm một đội quân chống Nhật hùng hậu với chín nghìn người, chỉ trong vòng mấy ngày đã trở thành mấy nghìn vong hồn và hơn hai nghìn binh lính tản mạn.

Chính những tướng sĩ may mắn thoát khỏi vòng vây ấy, để thoát khỏi sự truy kích bí mật của quân đội Quốc dân đảng và sự truy quét công khai của bọn Nhật, đã lần lượt xâm nhập vào Giang Tô và Chiết Giang, hai vùng do quân Nhật chiếm lĩnh, một số gia nhập tổ chức bí mật ở địa phương, có người tự lập trận địa riêng của mình, dùng phương thức du kích đánh lẻ, tích cực triển khai các hoạt động bí mật chống Nhật phản ngụy.

Cho nên, đúng như Tư lệnh Trương đã nói: Hiện giờ hoạt động du kích bí mật của Đảng Cộng sản gia tăng ở khắp mọi nơi.

Từ cách nói của Tư lệnh Trương, mọi người cảm nhận rất rõ tâm trạng hôm nay của Tư lệnh Trương khá hơn mọi khi, tuy không phải là chuyện gì vui vẻ (là chuyện đau đầu), nhưng trên mặt luôn lộ vẻ tươi cười, giọng nói sang sảng, đầy sức mạnh.

Lúc này, hắn nói với mọi người một cách đầy thân thiện:

“Mọi người đều biết đấy, chiều qua Nam Kinh gửi cho chúng ta một bức điện mật, bức điện nói gì?

Một thủ lĩnh Đảng Cộng sản mang mã số K đã xuất phát từ Tây An, hai ngày tới sẽ đến Hàng Châu của chúng ta.

Hắn đến làm gì?

Mọi người cũng đã biết, hắn đến để âm mưu xúi giục tạo phản.

Việc xúi giục tạo phản chúng ta cũng đã thấy nhiều rồi, cho nên cũng không lấy gì làm lạ.

Nhưng lần này thanh thế mạnh mẽ, bố trí kỹ càng, hậu họa nghiêm trọng, chúng ta phải hết sức chú ý.

Mật điện từ Nam Kinh khẳng định với chúng ta, tên K đích thị là đặc sứ của Chu Ân Lai, hắn sẽ đại diện cho Chu Ân Lai bí mật triệu tập hội nghị lãnh đạo các tổ chức Đảng ở Chiết Giang tại nhà khách Văn Hiên Các ở núi Phượng Hoàng vào lúc 11 giờ đêm ngày 29 tháng này, tức bốn ngày sau, để bố trí hành động liên hợp.

Mọi người thử nghĩ xem, một khi cuộc họp này diễn ra thành công, các hoạt động liên hợp hình thành, kết quả sẽ thế nào?

Không chừng chỉ trong một nhoáng trứng gà biến thành đạn sắt, các binh sĩ mắt mù tai điếc tản mạn khắp nơi bỗng chốc trở thành đội quân lớn có sự chỉ huy thống nhất, quấy rối quy mô nhỏ trở thành đối đầu quân sự.

Như vậy chắc chắn sẽ gây khó khăn chưa từng có cho công tác tiễu phỉ, cho nên chúng ta nên ăn mừng vì đã phát hiện ra sớm.”

Ngừng một lát, quan sát mọi người khắp một lượt, Tư lệnh Trưởng nói tiếp: “Tục ngữ có câu, điều tốt song hành, ngày hôm qua là ngày tốt lành của tôi, tất nhiên cũng là ngày tốt của các vị ngồi đây.

Buổi chiều nhận điện từ Nam Kinh, một chữ cũng đáng giá ngàn vàng.

Đến tối…”, hắn chỉ sang Vương Điền Hương, nói tiếp: “Sở trưởng Vương lại gửi đến cho tôi một món quà.

Quà gì nào?

Chính là đây”.

Nói rồi hắn lấy ra cuốn từ điển dày cộm, bẩn thỉu, cứ như là nhặt từ vũng bùn lầy ra, đưa cho mọi người xem, “Đây là cái gì?

Là một cuốn Đại từ điển Trung Hoa phiên bản mới, có thể trong nhà các vị cũng đã có.

Có thể mọi người sẽ nghĩ, quà gì cái thứ này?

Đúng thế, lúc ấy tôi cũng nghĩ như vậy.

Nhưng Sở trưởng Vương nói với tôi đây không phải là một cuốn từ điển bình thường, trong đó có chứa bí mật, vì thế một tên Cộng sản xui xẻo trước lúc bị bắt đã cố tình vứt nó ra ngoài cửa sổ, hòng hủy chứng cứ”.

Tư lệnh Trương quay lại hỏi Vương Điền Hương: “Sở trưởng Vương, có đúng vậy không?”.

Vương Điền Hương gật đầu nói đúng, rồi giải thích: “Tên Cộng sản đảng ở trong khu tập thể giáo viên trường Trung học Thanh Xuân, một phòng trên tầng hai, có cửa sổ phía sau, tôi sợ hắn nhảy qua cửa sổ bỏ chạy, trước khi lên tầng bắt hắn đã bố trí người đứng ngoài cửa sổ.

Kết quả là hắn không bỏ chạy, mà đúng hơn là không kịp chạy, chỉ vội vứt thứ này qua cửa sổ, thế là người của tôi nhặt được.

Có điều, tên Cộng sản này ngay cả mạng sống cũng không cần, nhưng lại muốn vứt thứ này đi, không để chúng ta có được nó, tôi nghĩ ở đây phải có nguyên do gì đó”.

Tư lệnh Trương tiếp lời: “Đúng thế, tôi cũng nghĩ như vậy, trong này nhất định có nguyên do nào đó, cái hắn muốn vứt đi không phải là cuốn tự điển, mà là thứ quái quỷ gì đó nằm trong cuốn tự điển này.

Cho nên, tôi đã lật xem tỉ mỉ.

Nhưng lật giở từ đầu tới cuối, tìm ong cả đầu mà không tìm thấy một điều gì, trong đó chẳng có chữ nào thừa cả, cũng không thấy có gì bất thường.

Sau đó, tôi ra ngoài đi dạo, trước đi khi đã tiện tay đặt cốc trà đang cầm trên tay xuống, chính tôi cũng không biết mình đã đặt chiếc cốc lên cuốn tự điển.

Khi tôi quay về giở cuốn tự điển ra xem, bất ngờ đã xuất hiện, tôi nhìn thấy trên trang bìa phía trong cuốn tự điển có xuất hiện vết chữ lờ mờ, đều là chữ số Arập, một đám tròn, giống như vết đóng con dấu lên trên.

Lấy tay sờ vào chỗ đó thấy nóng hổi.

Tôi hiểu ra rằng đó là do vừa nãy tôi đặt cốc trà lên trên, điều này có nghĩa là bí mật đã bị khám phá, tôi liền nghĩ nội dung mờ ám chính là ở trong trang bìa cuốn từ điển này, có lẽ chỉ cần hơ nóng thêm chút nữa, mọi thứ sẽ hiện ra rõ hơn.

Nghĩ vậy, tôi đã lấy túi nước nóng đặt lên đó, sau đó thì… các vị xem, nó thành ra như thế này đây”.

Tư lệnh Trương giơ cuốn tự điển lên.

Lật trang bìa cho mọi người xem.

Mọi người nhìn thấy trên trang bìa phía trong màu ố vàng đầy chữ số Arập, giống như bức điện báo, từng nhóm một, con số viết dầy đặc, nhưng vẫn đủ để nhận rõ từng nhóm:

120 3210 009 2117 477 1461……

741 8816 187 5661 273 4215……

Cứ như thế có tới mười mấy hàng

Tư lệnh Trương chỉ vào những nhóm con số, hỏi mọi người: “Đây là cái gì?”.

Sau đó lại tự trả lời: “Thực ra các vị cần phải biết hơn tôi, đây là một công văn mã hóa.

Hay nói cách khác đây là một bức điện mã hóa, tại sao lại phải mã hóa?

Bởi vì trong đó có thông tin quan trọng.

Cộng sản sợ nó lọt vào tay chúng ta, rất sợ, đến nỗi chết cũng không sợ, mà chỉ sợ chúng ta có được nó.

Điều này nói lên điều gì?

Chứng tỏ rằng thông tin trong đó phải vô cùng quan trọng đối với chúng ta, là thứ chúng ta đang tìm kiếm, các vị nói xem có đúng vậy không?”.

Tư lệnh Trương nhìn khắp mọi người, rồi lại tự trả lời: “Đúng vậy.

Vậy bây giờ chắc các vị đã hiểu ra, tại sao nửa đêm tôi lại kéo các vị dậy, tập trung đến đây, chính là muốn mọi người hãy giải mã bức điện mật này”.

Mọi người đều có chút ngỡ ngàng, Cố Tiểu Mộng còn lẩm bẩm câu gì đó.

Tư lệnh Trương như không nhìn thấy, không nghe thấy, tiếp tục chìm trong suy nghĩ của mình, hắn “à” lên một tiếng, nói: “Đúng là trời đã giúp ta”.

Hắn đứng dậy cất bước, vừa đi vừa nói: “Sau đây, tôi muốn mọi người giúp tôi, ông trời đã giúp tôi hiện hình bức điện, nhưng thế vẫn chưa được, chưa đủ, tôi còn muốn hiện thần, hiện ý, muốn tìm ra lời giải ẩn sâu trong đó.

Tôi cho rằng, nó nhất định có liên quan đến hoạt động của tên K.

Nếu đúng như vậy…”.

Nói đến đây, hắn ngừng lại đi về chỗ của mình, bất ngờ hăm dọa với khẩu khí hùng hổ: “Đây là việc hết sức quan trọng, chúng ta phải dịch được những mã khóa này!”.

Có thể là do trải qua quá nhiều lận đận, tính nết của Tư lệnh Trương cũng bất thường, hỉ nộ vô cớ thất thường, thêm nữa là nhiều năm lộng quyền, đạo đức và hành động cũng trở thành thói quen khó sửa, không thiếu phần cay độc.

Chính vì lẽ đó, hắn luôn có đủ uy phong trước mặt cấp dưới, khi hắn đổi giọng, ngay cả ánh mắt của mọi người cũng phải tĩnh lại.

Nhưng hôm nay tâm trạng của hắn khá hơn, không muốn thể hiện uy phong.

Hắn nhìn vẻ ngoan ngoãn yên lặng của cấp dưới, cười cười rồi ngồi xuống, nói một cách hết sức dịu dàng:

“Tục ngữ có câu, nuôi binh nghìn ngày, dùng binh một giờ, bây giờ là lúc tôi cần tới mọi người hơn lúc nào hết.

Tuy mọi người không phải là những người chuyên dịch điện mã của kẻ địch, lại thiếu hiểu biết về công việc dịch điện mật quân Cộng sản, nhưng tôi tin, mọi người sẽ không làm tôi thất vọng.

Tại sao?

Thứ nhất là tôi dự đoán bức điện mật này không quá khó, nếu khó thì Cộng sản không cần phải cố vứt bỏ nó, kiểu gì thì cũng không thể dịch được, vậy thì cần gì phải vứt đi.

Thứ hai là các vị mỗi người đều có sở trường riêng: Như Trưởng ban Ngô, nắm rõ tình hình địch như lòng bàn tay, có thể nói là bản đồ sống về tình hình địch; Trưởng phòng Kim và Trưởng phòng Lý đều chuyên về cơ yếu, giải mã biết bao bức điện; còn Tham mưu Cố, trẻ trung, đầu óc nhanh nhạy, nhiều mưu mẹo, dám nói dám nghĩ.

Tục ngữ có câu ba người thợ thuộc da bằng một Gia Cát Lượng, các vị bốn người hợp lại, tôi dám chắc vượt xa các chuyên gia giải mã điện mật.

Tóm lại, tôi hết sức tin tưởng vào mọi người.

Nói thật, Tướng quân Matsui rất coi trọng công việc giải mã bức điện mật này, tôi vừa báo cáo, ông ấy đã vội nói sẽ cử chuyên gia giúp tôi giải mã bức điện mật này.

Hiện giờ họ đã xuất phát, có thể chiều nay sẽ đến.

Tất nhiên rồi, tôi hy vọng người của tôi có thể tự giải mã được, chính là các vị đấy.

Đây chính là cơ hội tốt nhất để các vị tỏ rõ sự trung thành với tôi, cũng là cơ hội ngàn vàng để tôi tỏ rõ lòng trung thành với Tướng quân Matsui, hy vọng các vị ở đây vứt bỏ tất cả, tập trung toàn bộ sức lực, nhanh chóng giải mã xong bức điện mật này.

Thành bại luận anh hùng, tôi chân thành mong muốn các vị đều trở thành anh hùng, thể hiện uy phong của quân ta, cũng là mở đường cho tiền đồ tươi đẹp của mình”.

Những câu nói của Tư lệnh Trương làm mọi người như bị tung hỏa mù.

Trước tiên là lai lịch kỳ lạ của bức điện, sau đó là tụ hợp bốn người họ lại để giải mã bức điện báo cũng khiến mọi người cảm thấy thật kỳ quái.

Nếu như nói là khó thì họ đều không phải là những nhân viên chuyên giải mã điện mật của địch, bình thường thứ họ giải mã đều là điện báo của chính quân mình, chỉ là nhân viên dịch điện báo thôi, dựa vào gì mà tin tưởng họ?

Còn nếu nói là dễ, vậy thì dựa vào cái gì để bảo họ lập công lĩnh thưởng, hơn nữa lại huy động ồ ạt như vậy?

Ngoài ra, cách nói năng của Tư lệnh hôm nay cũng rất khác thường, vừa trang nghiêm vừa dịu dàng, vừa nhẹ nhàng vừa gay gắt, có thực có hư, thần bí khó lường.

Cứ như Tư lệnh Trương đã biến thành người khác, còn những thứ mà Tư lệnh đã nói, lại cứ như là không thực sự cần nói.

Ý tại ngôn ngoại, cứ như còn có ý tứ sâu xa nào đó ngoài lời nói.

Bọn họ cho rằng, Tư lệnh nhất định còn tiếp tục nói và ở phần sau này sẽ giải đáp những thắc mắc còn vướng trong họ.

Nhưng Tư lệnh đã không nói tiếp, hay chính xác hơn lời nói tiếp của hắn là từ biệt: Đi nhé.

Hắn dặn dò Thư ký Bạch và Sở trưởng Vương phải chăm lo sinh hoạt và an toàn của mọi người, liền sau đó chắp tay chào rồi bước lên xe đi, khiến cho cả bốn người Ngô, Kim, Lý, Cố có cảm giác lạc lõng, lạc lõng đến nỗi hoảng sợ một cách lạ lùng khó hiểu.

Nửa tiếng sau, khi họ đã dễ dàng giải mã xong bức điện mật, nỗi hoảng sợ khó hiểu ban nãy, lúc này giống như bị lột da thịt, cảm giác như máu chảy đầm đìa, bản chất man rợ, khiến họ sợ cứng người.

* * *

Đúng như Tư lệnh nói, bức điện mật không khó giải mã, thậm chí có thể nói là quá dễ, dễ đến nỗi không thể gọi là điện mật, chỉ cần biết chữ là đã có thể giải mã.

Thực ra đây chẳng qua chỉ là một trò chơi chữ của Tư lệnh Trương trong lúc cao hứng chờ cấp trên đến để đùa với mọi người mà thôi.

Cái gọi là giải mã, chẳng qua chỉ là căn cứ theo số trang, số hàng, số thứ tự theo chỉ dẫn để nhặt chữ trong tự điển ra mà thôi như: Trang thứ mấy, hàng thứ mấy, chữ thứ mấy.

Cứ như vậy, giải mã được chữ đầu tiên, tiếp đến chữ thứ hai, thứ ba… cuối cùng toàn văn như sau:

Mật điện này là giả

Ổ giặc Cộng là thật

Muốn không ai biết đến

Mình cũng phải làm ngơ

Nơi số một toàn quân

Há dễ chứa gian tế

Bốn người Ngô Kim Lý Cố

Các ngươi ai là phỉ

Điện mật mã này tôi cần dịch

Tố cáo thú tội đều hoan nghênh

Qua thôn trang này không nhà trọ

Bỏ lỡ thời cơ chớ tiếc than.

Có lẽ chỉ có một gã tú tài quá cỡ, trong lúc cao hứng mới có hứng thú như vậy: Dĩ thi thảo phạt.

Nhưng là một gã tú tài, văn thơ gì mà dở quá vậy.

Có thể là do nhiều năm chinh chiến đã làm lỡ mất khả năng lĩnh hội văn thơ của hắn, thích bộc bạch suy nghĩ trong lòng, mục đích rõ ràng, thuộc loại mạnh mẽ.

Xét từ góc độ này, đây rõ ràng là tác phẩm không thể chê trách gì, đừng nói là bốn người Ngô, Kim, Lý, Cố, ngay cả người ngoài cuộc như Thư ký Bạch cũng nhận thấy ý tứ sắc lạnh đến ghê người của “áng thơ”.
 
Tiểu Thuyết Phong Thanh
CHƯƠNG HAI


Đứng ngồi không yên.

Trông chờ mỏi mắt.

Đầu giờ chiều, chiếc xe con của Tư lệnh Trương cuối cùng thì cũng tiến vào nhà khách, sau mấy vòng cua, rẽ ngoặt nhưng không đi về phía Tây lầu, mà lại đi về phía Đông lầu đối diện.

Sau khi dừng xe, Tư lệnh Trương vội vàng xuống xe, mở cửa sau xe, cúi đầu khom lưng mời một người nữa trên xe đi xuống.

Người này mặc quần áo thư sinh thường thấy, áo thâm tay rộng, tà áo bay bay, có mang chút dáng dấp của thời cổ Ngụy Tấn, phong cách ăn mặc của thời Đường, Tống.

Có lẽ tuổi không quá bốn mươi, dáng nhỏ, da trắng, vẻ thân thiện, dáng đi điệu đà như con gái.

Nhìn Tư lệnh Trương có lẽ phải đáng tuổi cha hắn ta, nhưng Tư lệnh lại rất cung kính với hắn ta, cứ như hắn ta là cha còn Tư lệnh Trương là con vậy.

Mặc dù đã trút bỏ quân phục, nhưng đám râu ở nhân trung cũng không thể che giấu được thân phận thực sự của hắn ta: Giặc Nhật.

Quả thực hắn là một tay Nhật Bản, tên là Kawa Hihara.

Không giống với lũ giặc Nhật khác, Kawa Hihara từ nhỏ đã sống tại tô giới của Nhật ở Thượng Hải, lại có thời gian dài làm công tác đặc vụ, giao tiếp với người Trung Quốc không có trở ngại gì về ngôn ngữ.

Chẳng hề sợ tiếng thổ ngữ Chiết Giang ‐ Thượng Hải, hắn đều nghe hiểu hết.

Hắn từng làm phiên dịch cho Tổng Tư lệnh lực lượng phái khiển của Nhật đóng ở Thượng Hải, Tướng Iwane Matsui, một năm trước được bổ nhiệm giữ chức vụ Trưởng cơ quan đặc vụ, chuyên trách công việc chống đặc vụ tại Giang Tô, Chiết Giang, Thượng Hải và Giang Tây, là cánh tay trung thành của Tướng quân Iwane Matsui, đồng thời cũng là kẻ thao túng phía sau của bọn Vương Điền Hương.

Hắn vừa từ Thượng Hải tới mang theo mệnh lệnh bí mật của Tướng quân Iwane Matsui, đến đốc thúc triển khai kế hoạch quan trọng.

Vương Điền Hương ở trong nhà vừa nhìn thấy “ông chủ” của mình tới, vội vã lao ra đón, sau một hồi hàn huyên, Kawa Hihara liền hỏi Vương Điền Hương: “Tại sao lại ở chỗ này?

Vừa rồi tôi thấy những người ở đây ra ra vào vào rất thoải mái”.

Bộ dạng vui vẻ và giọng nói dịu dàng không hợp với ý đồ quở trách định sẵn của hắn, cũng không khớp với thân phận kẻ xâm lược của hắn.

Tư lệnh Trương vội nói: “Sở trưởng Vương nói như vậy mới có thể dụ rắn ra khỏi hang”.

Vương Điền Hương phụ họa theo: “Đúng vậy, thưa ông Kawa Hihara, tôi chọn chỗ này, mục đích là muốn dụ đồng bọn của bọn họ dẫn thân vào, nơi đây là cả một tấm lưới lớn”.

Vương Điền Hương khoát tay minh họa, bao trọn một nửa trang viên.

Kawa Hihara chỉ đưa mắt nhìn hắn, không nói.

Vương Điền Hương lại giải thích tiếp: “Tôi thấy theo dõi bọn chúng chặt quá, không kẻ nào tiếp cận được với bọn chúng, làm như vậy chúng ta cũng chẳng có cơ hội bắt thêm được tên Cộng sản nào khác.

Tôi cố để ngỏ một hướng, để bọn chúng thấy có cơ hội mà mạo hiểm bỏ trốn.

Thế nhưng, bất cứ lúc nào, chỉ cần có kẻ tới tìm cách bắt liên lạc, cho dù là công khai hay lén lút đều nằm trong tầm theo dõi của tôi.

Bên đó, mỗi phòng tôi đều lắp máy nghe trộm, bọn chúng ở trong phòng, còn chúng ta ở đây nghe trộm.

Bọn chúng có thể ra ngoài, đi ăn hoặc làm gì đó, còn người của tôi ở đây sẽ được huy động theo dõi bọn chúng.

Trong phòng ăn, tôi cũng gài sẵn người của mình.

Tóm lại, chỉ cần bọn chúng ra khỏi khu Đông lầu ấy, mỗi một tên sẽ có hai người của tôi theo sát, tuyệt đối sẽ không có vấn đề gì”.

Tư lệnh Trương nịnh nọt: “Ngài Kawa Hihara yên tâm, tướng giỏi không có quân tồi, cấp dưới của ngài đều là những người có năng lực”.

Kawa Hihara lên giọng hách dịch: “Này, Tư lệnh Trương, Vương Điền Hương là người của anh, sao lại thành cấp dưới của tôi được?”.

Vốn muốn nịnh hót, nhưng người ta phủ đầu, giở giọng hách dịch đáp lại, Tư lệnh Trương chỉ còn nước cười khẩy nói: “Tôi cũng là người của Quân đội Nhật Hoàng, lẽ nào Vương Điền Hương không phải”.

Vương Điền Hương tiến đến trước mặt Kawa Hihara, sốt sắng nói: “Đúng, đúng đấy.

Tư lệnh Trương đây đúng là người của Quân đội Nhật Hoàng”.

Nói vậy muốn là để giảng hòa giữa hai người, nhưng nghe thấy Vương Điền Hương nói vậy thì cả hai đều không vui.

Trong lúc nói chuyện, cả ba người đều đã đi vào trong nhà.

* * *

Thế đất của Đông lầu rõ ràng là cao hơn so với Tây lầu, bởi vì thế đất sườn núi bên này vốn đã cao, thêm nữa móng nhà lại nâng thêm lên ba bậc thềm.

Nhìn nghiêng thì hai ngôi nhà trông giống hệt nhau.

Giống nhau là cùng quay lưng ra hướng Bắc quay mặt về hướng Nam; giống nhau là đều có hai gian nhô ở hai đầu hồi Đông, Tây; giống nhau là đều có hai tầng rưỡi, nóc màu đỏ, tường màu trắng, đai ngăn tầng là gạch màu xám.

Điểm khác biệt duy nhất là tòa nhà bên này không có gara để xe.

Nhìn chính diện thì Đông lầu có vẻ nhỏ hơn, chủ yếu là chiều rộng, nhưng cũng không rõ rệt lắm, như thật mà không thật, rất khó khẳng định.

Chỉ khi vào trong phòng, mới nhận ra là nhỏ.

Trước tiên là phòng khách tầng dưới, không rộng như phòng khách Tây lầu, cầu thang cũng nhỏ hơn, nằm khuất sâu trong góc tường phía Bắc, thẳng không uốn lượn, rất bình dị, giống như những ngôi nhà bình thường khác.

Trên tầng hai càng đơn giản hơn, đơn giản đến nỗi giống như mọi khu ở dân thường khác, lên trên tầng, phía chính diện, bên phải đều là tường: chính diện là tường phía Tây, bên phải là tường phía Bắc.

Duy chỉ có bên trái nhô ra một dãy hành lang rất rộng.

Chẳng cần nói, bên phải của hành lang cũng là tường.

Hay nói nhìn từ đầu hồi bên ngoài, căn nhà bốn gian phía Tây thực ra là giả, chỉ là một hành lang mà thôi.

Mấy gian phòng rộng thì rất rộng, nhưng không mấy sang trọng, kết cấu rập khuôn, chức năng đơn giản.

Tóm lại, tuy hai ngôi Đông và Tây vẻ ngoài gần như nhau, nhưng bên trong lại khác một trời một vực, gợi cho người ta một cảm giác, hình như chủ của trang viên này khi xây dựng hai lầu Đông, Tây này gặp phải điều gì đó bất trắc, khiến cho tình hình tài chính xấu đi, không đủ sức để thể hoàn thiện cả hai ngôi nhà, đành phải được cái này mất cái kia, làm cho Đông lầu to mà hóa nhỏ, cầu kỳ thành đơn giản và bỏ qua nhiều thứ.

Sự thực lại không hoàn toàn như vậy.

Theo lời rất nhiều người từ lúc đầu tham gia việc xây dựng và quản lý Cầu trang, Đông lầu được khởi công khi Tây lầu đã gần hoàn thành, nguyên nhân bắt nguồn từ một câu nói chơi của một ông thầy phong thủy qua đường.

Thầy phong thủy đến từ phương Bắc, đi qua Hàng Châu, đến ngắm cảnh Tây Hồ, thong dong thả bộ, vô tình đi vào Cầu trang, khi ấy đang xây dựng.

Lúc đó Tây lầu đã cất nóc, đang hoàn tất trang trí bên trong và bên ngoài, đủ để nhìn ra hình dáng Long ‐ Phượng của nó.

Thầy phong thủy như bị cuốn hút bởi một thứ gì đó thần bí, đi vòng quanh tòa nhà ba vòng nhìn ngó kỹ càng, trước lúc đi ra còn buông một câu: “Là Rồng mà cũng là Phượng, là phúc mà cũng là họa, ẩn họa từ phía Đông tới”.

Trang chủ họ Cầu được tin, vội vàng huy động người đi khắp Hàng Châu tìm ông thầy phong thủy đã đưa ra lời phán huyền bí trên.

Ngỡ rằng như vậy chẳng khác gì mò kim đáy biển, khó mà tìm thấy, thế mà lại tìm được.

Có một chút gì đó tâm linh ứng nghiệm không lý giải được.

Trang chủ họ Cầu coi thầy phong thủy là khách quý, khoản đãi nhiệt tình, mở tiệc rượu ở nhà hàng Lầu Ngoại Lầu để xin chỉ giáo.

Vậy là thầy phong thủy liền đi xem lại một lượt khu trang viên, cuối cùng dừng lại đúng chỗ móng của ngôi nhà phía Đông hiện nay, ngồi cả đêm ở đó nhìn đêm nghe gió.

Xong rồi đề nghị trang chủ họ Cầu xây dựng thêm ngôi nhà phía Đông ngay tại chỗ đó để ngăn hiểm họa từ phía Đông tới.

Đã là để ngăn hiểm họa thì phải cao, vì thế Đông lầu hiện nay không chỉ ở vị trí cao mà móng nhà cũng được làm cao hơn, là để tạo cảm giác ngồi tít trên cao.

Đã là để ngăn họa, thì chiều sâu lòng nhà cũng phải sâu, vì thế nhìn mé bên, hai ngôi nhà Đông và Tây giống nhau nhiều mà khác nhau ít.

Hơn thế, nói là để ngăn hiểm họa, thì phân chia phòng to phòng nhỏ cũng không vấn đề gì, trang trí bên trong đơn giản, bình thường cũng không sao.

Vì vậy mới thành ra như bây giờ.

* * *

Vương Điền Hương đưa Kawa Hihara và Tư lệnh Trương lên tầng trên.

Tầng trên có ba phòng và một khu vệ sinh, được bố trí theo hình chữ L ngược.

Phòng đầu tiên hiện Vương Điền Hương đang ở, phòng thứ hai để lại cho Kawa Hihara ở tạm.

Tiếp đó là khu vệ sinh được chia làm hai ngăn, phía ngoài là chỗ tắm, phía trong là chỗ vệ sinh.

Tiếp đến, là một phòng to hơn hai phòng trước, bởi vì nằm cuối hành lang, nên chiếm luôn phần diện tích hành lang còn lại.

Ba phòng này trước đó đều là chỗ ở dành cho bọn tay chân của Tiền Hổ Dực, thiết kế thiên về kiểu phòng khách hơn, cho nên cải tạo lần này không quá tốn công, về cơ bản vẫn giữ nguyên.

Chỉ có phòng của Kawa Hihara, giữa phòng dựng lên một tấm bình phong cố định mang tính trang trí, ngăn đôi căn phòng một cách tượng trưng, bên trong kê giường làm chỗ ngủ, bên ngoài kê bàn ghế để tiếp khách.

Vương Điền Hương biết Kawa Hihara thích ban đêm nằm trên giường đọc sách, nên đã đặt sẵn một cây đèn chụp ở đầu giường, trông khá đẹp, cây đèn vốn mượn từ phòng của tướng quân ở nhà khách phía ngoài đưa vào.

Ngoài ra, lúc này cũng đã vào hè, thời tiết lúc nào cũng trở nên nóng nực, vì vậy trong phòng của Kawa Hihara, còn có một chiếc quạt điện.

Còn lại là hoa tươi và hoa quả các loại… cũng được bày biện ở phòng ngoài.

Một cành hoa mai trắng bị cái giá lạnh của núi rừng làm cho nở muộn và cành mai đỏ cũng sắp nở hoa, trắng đỏ đối xứng, cùng tỏa sáng như tôn thêm vẻ đẹp lộng lẫy của căn phòng, và cũng khiến căn phòng tràn đầy sức sống.

Kawa Hihara bước vào phòng, lập tức bị hút hồn bởi những bông hoa mai trắng đang nở rộ, tiến lại gần chỉ vào những bông hoa đang nở trên nhành cây trơ trụi, buột miệng ngợi khen:

“Nhìn kìa, đẹp tựa như một bài thơ, không có lá xanh tô điểm mà vẫn đẹp, hoa vẫn nở tài tình ý nhị tựa một áng thơ, đánh thức giác quan của con người”.

Tư lệnh Trương là người tài hoa, ý thơ luôn có sẵn trong đầu, bước lại gần chuẩn bị họa theo, nhưng chưa kịp mở miệng thì từ căn phòng lớn phía đầu hồi đột nhiên vọng tới một giọng nữ đầy giận dữ:

Tôi muốn gặp tư lệnh Trương!

Đó là tiếng Cố Tiểu Mộng Mặc dù đã lọc qua dây dẫn và micro, nhưng thanh âm vẫn rất giận dữ, sắc lạnh, ngang tàng, làm rung động cả không khí trong căn phòng.

Đúng như Vương Điền Hương đã nói, trong căn phòng phía bên kia đều gắn thiết bị nghe trộm công suất lớn, bên kia nói điều gì, bên ngày nghe rõ mồn một.

Kawa Hihara bỏ mặc hoa, bước về phía gian phòng lớn, lắng nghe âm thanh được máy nghe trộm truyền tới:

Thư ký Bạch: Cô định gặp Tư lệnh Trương làm gì?

Cố Tiểu Mộng: Làm gì à?

Câu này phải để tôi hỏi mới đúng, mọi người muốn làm gì nào?

Thư ký Bạch: Đâu cần phải tôi nói ra, sự việc đã rõ như ban ngày rồi.

Cố Tiểu Mộng: Tôi không phải là người của Đảng Cộng sản.

Thư ký Bạch: Điều này không phải do cô nói mà được, ai mà chả nói mình không phải.

Cố Tiểu Mộng: Nói bậy, Bạch Tiểu Niên, anh dám nghi ngờ tôi, rồi anh xem…

Kawa Hihara có vẻ hứng thú nghe tiếng bước chân vội vã của Cố Tiểu Mộng huỳnh huỵch xa dần, cho đến khi mất hút mới ngẩng đầu lên hỏi Tư lệnh Trương: “Người này là ai mà khẩu khí bạo dạn vậy?”.

Tư lệnh Trương hỏi lại: “Ông đã từng nghe về một người là Cố Dân Chương chưa?

Là một nhà buôn, chuyên buôn bán vũ khí”.

Kawa Hihara nghĩ ngợi một lát nói: “Có phải là hậu duệ của Cao Lệ Hoàng ấy không, là người năm ngoái đã tặng một chiếc máy bay cho Uông chủ tịch ở Vũ Hán đúng không?”.

“Đúng, chính là ông ấy.”

Tư lệnh Trương nói: “Cô này chính là con gái của ông ấy, dựa vào chút thế lực của bố, nên có vẻ không biết sợ trời đất là gì”.

Kawa Hihara hiểu ý gật đầu, bước đến trước án đài, xem xét thiết bị nghe trộm, tất cả được đặt trên một chiếc bàn hình chữ nhật được ghép bằng những tấm phản giường, chủ yếu là một đôi loa, một máy khuếch đại âm thanh, hai tai nghe, một ống nghe và một thiết bị kiểm soát, truyền tải âm thanh.

Ngoài ra, trên bức tường đối diện treo hai chiếc ống nhòm kiểu Đức.

Kawa Hihara lấy xuống một chiếc, bước đến bên sổ phía Tây, vừa bắc ống nhòm về phía Tây lầu, vừa hỏi: “Cô ta ở căn phòng chính giữa trên tầng à… trông cô ta trẻ trung, xinh đẹp… tên là gì nhỉ…

Cố Tiểu Mộng…

à, hình như cô ta còn đang tức giận…, tính khí chắc cũng không vừa…”.

Tư lệnh Trương lấy chiếc ống nhòm còn lại xuống, đứng bên cạnh Kawa Hihara bắc ống lên nhòm, lần lượt nhìn thấy: Cố Tiểu Mộng giận dữ ngồi trên giường, Lý Ninh Ngọc đang chải tóc, Kim Sinh Hỏa đi đi lại lại trong phòng có vẻ sốt ruột; Ngô Chí Quốc ngồi một mình trên sofa hút thuốc…

Tất cả đều trong tầm ngắm, nằm gọn trong ống kính ống nhòm, thậm chí nhìn rõ đến mức thấy cả nốt ruồi ở đuôi lông mày của Kim Sinh Hỏa và khói thuốc của Ngô Chí Quốc.

Lúc này Tư lệnh Trương mới chợt hiểu, vì sao mà Vương Điền Hương lại sắp xếp mọi người ở như vậy: Khóa một phòng lại để Lý Ninh Ngọc và Cố Tiểu Mộng ở chung một phòng, bởi vì chỉ có ba phòng nằm gọn trong tầm nhìn từ phía bên này.

Nếu không sắp xếp như vậy, để Lý Ninh Ngọc và Cố Tiểu Mộng ở riêng thì trong đó có một người không thể theo dõi được.

Hai người theo dõi một lúc, Kawa Hihara bỏ ống nhòm xuống trước, vỗ vai Tư lệnh Trương nói: “Đi nào, chúng ta sang đó xem, chẳng phải bọn họ đang muốn gặp ông sao”.

Thế là cả hai cùng đi.

* * *

Không khí trong ngôi nhà nồng nặc mùi hôi tanh của chết chóc, thối nát và sợ hãi, cứ như là thảm họa đẫm máu một năm trước vừa mới lại xảy ra.

Vương Điền Hương dẫn Tư lệnh Trương và Kawa Hihara lặng lẽ đi vào trong ngôi nhà, Thư ký Bạch vội lao từ trong phòng họp ra đón tiếp.

Có lẽ là do vừa cãi nhau với Cố Tiểu Mộng nên tâm trạng còn lúng túng, đón tiếp cứ loạn xạ, sau khi bắt tay với Kawa Hihara, quả nhiên lại đến bắt tay Tư lệnh Trương, cứ như người tâm thần vậy.

Tư lệnh Trương trừng mắt với Thư ký Bạch nói: “Ông làm sao đấy, hay là bị bọn người của Đảng Cộng sản làm lú lẫn rồi, còn bắt tay cả với tôi nữa”.

Thư ký Bạch rút tay lại, cười ngây ngô nói: “Không…

đâu có… tôi…”.

Tư lệnh Trương ngắt lời: “Đi gọi mọi người lại đây, họp”.

Cuộc họp diễn ra còn nặng nề, buồn tẻ hơn cả đám tang, ánh mắt của mọi người đều lờ đờ, không dám lóe sáng, cứ như là sợ lộ bí mật hay trong sạch.

“Bốn người Ngô, Kim, Lý, Cố, trong số các vị ai là phỉ?”.

Là Ngô Chí Quốc chức cao vọng trọng, hay là Kim Sinh Hỏa tuổi cao?

Là Cố Tiểu Mộng trẻ trung xinh đẹp, hay là Lý Ninh Ngọc cả tuổi và chức vụ đều ở bậc trung?

Ai, là một người, hai người hay là ba người?…

Là phỉ mới hay là gian cũ?

Là giặc Cộng chống Tưởng hay là giặc Cộng liên kết với Tưởng?…

Vì cớ gì mà làm giặc?

Là nghe trộm thông tin, hay là giết người cướp của?

Là bán thân cầu vinh hay là ham sống sợ chết?

Là lỡ vận sa chân, hay là ẩn tích đã lâu?…

Là đích xác hay chỉ là nghi ngờ?

Là tội lớn đáng chém đầu hay chỉ là tội ăn cắp vặt cách chức là xong… kẻ trộm liệu có tự thú, hay để người khác phát giác?…

Bốn vị Ngô, Kim, Lý, Cố này, các vị ai là phỉ?

Tôi X!

Đây đâu phải là một câu nói?

Đây là một quả bom!

Một đống phân!

Một hồn ma!

Một cái bẫy!

Một âm mưu!

Một cơn ác mộng!…

Giống như bị lột hết quần áo…

Giống như lên thuyền của bọn cướp…

Giống như gặp phải ma quỷ…

Giống như uống nhầm thuốc…

Giống như mọc đuôi…

Giống như bị mất linh hồn…

Giống như bị lên máy chém…

Tôi X!

Rõ ràng là nhầm bài, mọi người đều không biết phải làm gì, nói gì… nói gì cũng không phải!

Làm gì cũng không xong!

Chửi bới không được… không chửi bới cũng không xong… khóc cũng không được… cười cũng không xong…

đứng cũng không được… ngồi cũng không ổn…

đi không được…

ở chẳng xong… mở mắt cũng không được… nhắm mắt cũng không xong… không được… cái gì cũng không được… không cái gì cũng không xong… chẳng biết thế nào… cũng chẳng biết làm thế nào…

Tư lệnh Trương mời Kawa Hihara ngồi, Kawa Hihara khiêm nhường, ngồi xuống vị trí bên trái bàn trước, còn nhã nhặn mời mọi người cùng ngồi xuống.

Mọi người vừa ngồi xuống, Thư ký Bạch nhẹ nhàng đến sau lưng Tư lệnh Trương, nói thầm một câu gì đó, rồi đưa ra một tờ giấy.

Tư lệnh Trương xem qua một lượt, cười cười rồi chuyển cho Kawa Hihara nói: “Ngài Kawa Hihara, ngài xem, đây là một bức điện mật tôi làm cho bọn họ”.

Kawaz Hihara liếc qua, chậm rãi đọc từng câu:

Mật điện này là giả

Ổ giặc Cộng là thật

Muốn không ai biết đến

Mình cũng phải làm ngơ

Nơi số một toàn quân

Há dễ chứa gian tế

Ngô Kim Lý Cố kia

Các ngươi ai là phỉ

Điện mật tôi cần dịch

Tố cáo thú tội đều hoan nghênh

Qua thôn trang này không nhà trọ

Bỏ lỡ thời cơ chớ tiếc than.

Kawa Hihara đọc xong, Tư lệnh Trương vỗ tay nói với bốn người Ngô, Kim, Lý, Cố rằng: “Không hổ danh là những chuyên gia dịch điện mật, nguyên như bản gốc của tôi.

Thế nhưng chỉ dịch điện mật không thôi là chưa được, đó không phải là điện mật thật sự.

Đây chẳng qua là một bài thơ tôi làm trong lúc đợi ngài Kawa Hihara đến, chỉ nhằm ổn định lòng quân, điện mật thực sự …”.

Kawa Hihara tiếp lời: “Là ở chỗ này, Ngô Kim Lý Cố kia, các ngươi ai là phỉ, có đúng vậy không Tư lệnh Trương?”.

Tư lệnh Trương cười nói: “Đúng, đấy mới là điện mật thực sự mà tôi muốn các vị dịch.

Nếu như các vị sẵn sàng dịch là tốt nhất, không muốn dịch cũng không sao, ngài Kawa Hihara của chúng ta đây là một cao thủ về lĩnh vực này.

Sáng nay tôi đã nói rồi, Tướng quân Iwane Matsui rất coi trọng việc giải mã điện mật này của chúng ta, nên đã cử ngài Kawa Hihara đến, chính là để phá bí mật này”.

“Không dám nhận mình là cao thủ, nhưng rất thích giải mã.”

Kawa Hihara và Tư lệnh Trương cùng “hát bè” cho nhau, “chính vì thích, cho nên Tư lệnh Trương buổi sáng bảo tôi chiều nay đến, gọi là tới liền”.

Tư lệnh Trương mở bao công văn, rút ra mấy tờ giấy, nói tiếp: “Muốn giải được mật mã này, mọi người có thể cần đến một số tài liệu, tôi giới thiệu một chút.

Trong này có một bức điện báo, nào Trưởng phòng Kim, anh đọc lên xem”.

Kim Sinh Hỏa nhận bức điện báo, đọc một cách vô hồn: “Điện từ Nam Kinh.

Theo tin tức tình báo đáng tin cậy, Chu Ân Lai đã cử một đặc sứ có biệt danh là K đến Hàng Châu, đồng thời định 11 giờ đêm ngày 29 tháng này, tại nhà trọ Văn Hiên Các ở núi Phượng Hoàng, cùng với những người đứng đầu tổ chức bài Nhật, chống Nhật bí mật bàn mưu tính kế liên kết kháng Nhật chống Uông.

Việc này…”.

Tư lệnh Trương cắt ngang: “Được rồi, Trưởng phòng Kim, đây không phải là lần đầu tiên anh đọc chứ?”.

Kim Sinh Hỏa gật đầu thừa nhận.

* * *

Lần đầu tiên Kim Sinh Hỏa đọc bức điện này là lúc hơn ba giờ chiều hôm qua.

Bức điện báo nhận được lúc hai giờ ba mươi, trực ban trong phòng giải mã điện lúc đó là Cố Tiểu Mộng, cô thấy cấp độ của bức điện rất cao: Đặc cấp, liền tiến hành giải mã.

Nhưng lại không dịch ra được.

Dịch mãi nhưng đều là những ký tự lung tung.

Cô thấy rất kỳ lạ, cũng rất nôn nóng, liền đi hỏi Lý Ninh Ngọc.

Lý Ninh Ngọc là nhân viên giải mã điện lâu năm, có nhiều kinh nghiệm, những nhân viên cấp dưới gặp những bức điện không giải mã nổi đều tới nhờ cô.

Cô đọc bức điện báo, sau đó nhìn những ký tự lung tung mà Cố Tiểu Mộng đã dịch ra, phán đoán đây là một bức điện mật trong bí mật lại chứa bí mật.

Rõ ràng là, bức điện mật đã được gia cố bí mật hơn, như 1234 hoặc abcd, trong một bức điện mật thông thường thì cái nó đại diện chính là 1234 hoặc abcd, sau đó căn cứ theo tiêu chuẩn giải mã thông dụng quốc tế là có thể dịch được các chữ tương ứng.

Trong bức điện mật này, cái mà nó đại diện lại không phải là 1234 hay abcd, mà là tồn tại các khả năng, các khả năng ít thì hàng nghìn, nhiều thì chục nghìn đến trăm nghìn, triệu, chục triệu… khó có thể tính được.

Vậy rốt cuộc là gì đây?

Đáp án chỉ có trong cuốn mật mã.

Nếu như bên cạnh không có cuốn mật mã thì cho dù anh nhận được điện báo cũng chẳng tác dụng gì.

Điện mật giống như sách Trời, chẳng ai hiểu được.

Nhưng chỉ cần có cuốn mật mã, tất cả những người làm nghề cơ yếu giải mã điện đều có thể dịch được, có thể đọc được.

Rất đơn giản, chỉ cần đối chiếu với cuốn mật mã như tra từ điển là xong.

Nhưng, thỉnh thoảng cũng gặp phải một số bức điện mật quan trọng, một số nhân viên cơ yếu lão luyện sẽ tức thời thêm vào một số mật mã, phòng khi cuốn mật mã rơi vào tay địch, cũng có thể có tác dụng đánh lừa đối phương.

Chính do tức thời thêm mật mã vào, nên mật độ này thường rất thưa, giả dụ như mười chữ số từ 0 ‐ 9, hay hai mươi sáu chữ cái tiếng Anh, sau mỗi ký tự di chuyển một vị trí hoặc hai vị trí.

Ví dụ như mặc định 0 đại diện cho 1, thì 1 lại là 2, cứ thế mà suy đoán; giả định 0 là 3, thì 1 là 4, còn lại cứ căn cứ vào đó mà đoán ra.

Thứ này nói ra rất đơn giản, nhưng tác dụng khá lớn, như Cố Tiểu Mộng đây đang rất bí.

Có thể tưởng tượng, nếu như bức điện này bị kẻ thứ ba thu được, hơn nữa trong tay họ cũng đang có cuốn mật mã (dịch mã hoặc ăn cắp được), đồng thời lại gặp phải một người mới như Cố Tiểu Mộng, thì sẽ không thể dịch nổi bức điện mật đơn giản này, một bí mật giản đơn đã trở thành việc lớn, thậm chí sẽ gây ra hiểu lầm cho đối phương, khiến họ cho rằng bức điện sử dụng mật mã mới.

Cần nói rằng, sự hiểu lầm này rất dễ xảy ra đối với bên thứ ba.

Bởi vì, họ dù gì cũng là kẻ thứ ba, gặp phải vấn đề như thế này rất dễ nghĩ thành vấn đề phức tạp.

Nhưng với Lý Ninh Ngọc, trước tiên cô biết rằng cuốn mật mã liên lạc của họ chưa thay đổi, sẽ không nghĩ chệnh hướng.

Thứ nữa là cô có kinh nghiệm xử lý những vấn đề tương tự, xem bệnh bốc thuốc, rất nhanh loại bỏ mã giả, dịch được điện mật.

Sau khi điện mật dịch xong, theo trình tự thông thường, Cố Tiểu Mộng báo cho Trưởng phòng Kim, Trưởng phòng Kim trình lên Tư lệnh Trương.

Cũng chính là nói, trước khi điện mật đến tay Tư lệnh Trương, nó đã qua tay ba người: Kim Sinh Hỏa, Lý Ninh Ngọc và Cố Tiểu Mộng.

Điểm này, tại cuộc họp cả ba người đều thẳng thắng thừa nhận.

Vấn đề tiếp theo là Tư lệnh Trương hỏi ba người Kim, Lý, Cố từ sau khi dịch điện xong và trước khi xảy ra sự việc tối qua, có ai nói nội dung bức điện với người thứ tư nào không.

Vấn đề này thực ra tối qua ngay sau khi xảy ra sự việc Tư lệnh Trương đã lập tức căn vặn hỏi cả ba người qua điện thoại.

Lúc này lại đưa vấn đề ra đương nhiên không thể là căn vặn, giọng điệu khá quyết liệt, muốn là để mọi người nói thực, không che giấu, lừa dối.

Trưởng phòng Kim thề là không nói với ai.

Cố Tiểu Mộng cũng quả quyết là chưa nói với người nào.

Duy chỉ có Lý Ninh Ngọc là nhìn Trưởng ban Ngô, ngập ngừng nói: “Xin lỗi, Trưởng Ban Ngô, tôi chỉ nói sự thật”.

Có ý gì đây?

Lý Ninh Ngọc nói, cô từng tiết lộ với Trưởng ban Ngô.

Điều đó cũng có nghĩa là câu trả lời của mọi người không khớp với những gì đã nói tối hôm qua, chỉ có điều giọng điệu trở nên kiên quyết hơn mà thôi.

Không ngờ lời nói của Lý Ninh Ngọc còn chưa dứt, Ngô Chí Quốc bật đứng dậy như ngồi trên lò xo, chửi ngay Lý Ninh Ngọc: “Chết tiệt, cô nói với tôi chuyện này lúc nào?”.

Thế là Tư lệnh Trương yêu cầu Lý Ninh Ngọc trước mặt mọi người nói rõ sự việc cô đã tiết lộ nội dung bức điện cho Trưởng ban Ngô như thế nào, lúc nào, nơi nào, vì sao và có ai làm chứng?

Lý Ninh Ngọc nói rằng chiều hôm qua khi họ vừa dịch xong bức điện, Cố Tiểu Mộng đang định chép lại để gửi lên trên thì Ngô Chí Quốc đột ngột đến kiểm tra sắp xếp một văn kiện nào đó.

Bởi vì đây mà một điện mật đặc cấp, không tiện để lộ ra ngoài, Cố Tiểu Mộng thấy Trưởng ban Ngô vào, sợ Ngô Chí Quốc nhìn thấy, liền lấy tờ báo che lên bức điện.

Lý Ninh Ngọc nói: “Điều này có thể đã khiến Trưởng ban Ngô tò mò, hỏi Cố Tiểu Mộng đang chép điện báo gì mà có vẻ thần bí thế.

Cố Tiểu Mộng nửa đùa nửa thật nói: Anh đi đi, tôi đang chép một điện mật hết sức quan trọng.

Trưởng ban Ngô cũng nửa đùa đáp lại: Tôi không đi, mà muốn xem, thì đã sao nào?

Cố Tiểu Mộng nói: Chỉ Tư lệnh mới có quyền xem, anh muốn xem, đợi đến khi được làm đến tư lệnh rồi hãy mơ nhé.

Hai người cứ đấu khẩu với nhau như vậy một hồi, không có gì, chỉ là đùa thôi.

Sau đó, Trưởng ban Ngô xem xong công văn, trước khi đi còn nói rằng muốn nói với tôi một chuyện, tôi liền đưa anh ta vào phòng làm việc của tôi…”.

Ngô Chí Quốc lại nhảy dựng lên chửi: “Cô bịa chuyện, tôi vào phòng làm việc của cô lúc nào!”.

Tư lệnh Trương ra lệnh Ngô Chí Quốc ngồi xuống nói: “Anh để cô ấy nói, khi nào tới lượt anh thì anh nói”.

Lý Ninh Ngọc tiếp tục nói, giọng điệu bình tĩnh, rõ ràng: “Vào phòng làm việc rồi, anh ấy hỏi tôi có thật là nhận được một bức điện quan trọng của cấp trên gửi xuống không.

Tôi trả lời là đúng vậy.

Anh ấy hỏi tôi nội dung gì.

Tôi nói không thể nói được.

Anh ấy hỏi liệu có phải là về bổ nhiệm hay bãi miễn nhân sự không.

Tôi nói không phải.

Anh ấy lại hỏi tôi thế là gì, hỏi đi hỏi lại.

Tuy tôi biết theo quy định thì không được nói, nhưng lại nghĩ Trưởng ban Ngô chỉ huy công việc tiêu diệt và bắt bớ bọn phỉ, nội dung bức điện trước sau gì anh ấy cũng biết, thế nên tôi đã nói cho anh ấy biết”.

Trưởng ban Ngô lại nhấp nhổm, nhưng Tư lệnh Trương lừ mắt ngăn lại.

Tư lệnh Trương hỏi Cố Tiểu Mộng, Lý Ninh Ngọc nói có đúng sự thật không.

Cố Tiểu Mộng nói rằng những lời Lý Ninh Ngọc vừa nói là hoàn toàn đúng.

Quả thực là lúc đó Trưởng ban Ngô đi qua phòng làm việc của cô và đúng là có hỏi cô về nội dung bức điện, đúng là cô nửa đùa nửa thật từ chối.

Sau đó quả đúng là Lý Ninh Ngọc và Trưởng ban Ngô cùng đi ra.

Còn sau đó Trưởng ban Ngô có đi vào phòng làm việc của Lý Ninh Ngọc hay không, cô ta lắc đầu nói:

“Tôi không rõ, mắt của tôi cũng không thể nhìn ra sau được, làm sao biết họ đi đâu.

Vả lại, lúc đó tôi còn tâm trí đâu mà quan tâm, chép điện báo còn chẳng kịp nữa là.

Đương nhiên, nếu biết trước xảy ra cơ sự như hôm nay, đứng dậy nhìn một chút cũng hay hơn…”

Tư lệnh Trương thấy Cố Tiểu Mộng nói liên hồi, dường như chưa có ý dừng lại, liền cắt ngang nói: “Được rồi, tôi rõ rồi”.

Sau đó quay lại hỏi Lý Ninh Ngọc: “Cô nói cô cùng với Trưởng ban Ngô đi vào phòng làm việc, vậy lúc đó có ai nhìn thấy không?”.

“Điều này thì tôi không biết”, Lý Ninh Ngọc nói, “Lúc đó trong phòng làm việc của tôi không có ai, ngoài hành lang có người hay không tôi cũng không để ý”.

“Bây giờ anh nói xem nào”, Tư lệnh Trương hỏi Ngô Chí Quốc, “Anh nói anh không đi vào phòng làm việc của Lý Ninh Ngọc, vậy có ai làm chứng?”.

“Việc này…”, Ngô Chí Quốc không thể trả lời được.

Không có nhân chứng, Trưởng ban Ngô chỉ biết luôn mồm thề thốt, thề trời thề đất, nhấn mạnh rằng lúc đó anh ta không vào phòng làm việc của Lý Ninh Ngọc.

Tư lệnh Trương có vẻ mất kiên nhẫn, gõ xuống bàn bảo anh ta dừng lại.

“Cô ấy nói anh vào, anh bảo không vào, tôi biết tin ai?

Nói mà không có bằng chứng, thì thà đừng nói nữa”.

Ngừng một lát, Tư lệnh Trương bồi thêm một câu: “Mà cũng chẳng cần phải nói, trên thực tế nếu vào phòng rồi thì đã sao nào, biết được nội dung bức điện thì đã sao nào, vấn đề không phải là ở đó.

Đúng vậy không, ngài Kawa Hihara, sự việc ngài đã nắm được rồi chứ?”.

Kawa Hihara mỉm cười gật gật đầu.

“Vấn đề là ở đây.”

Tư lệnh Trương nói rồi rút từ bao công văn ra một gói thuốc lá hiệu Tây Hồ đưa cho Kawa Hihara nói: “Ngài xem, vật này được Trưởng phòng Vương thu được từ tay một tên Cộng sản, trong đó có nội dung đấy”.

Trong gói thuốc lá còn hơn chục điếu.

Kawa Hihara đổ hết những điếu thuốc ra, cuối cùng rơi ra một điếu dúm dó.

Kawa Hihara nhặt điếu thuốc lá dúm dó, chỉ nhìn qua mà giống như là đã biết rõ được bí mật ẩn trong đó, hắn ta dùng móng tay khẽ gẩy gẩy, quả nhiên gẩy ra một mảnh giấy được cuộn chặt rơi ra.

Thì ra điếu thuốc lá này đã bị người ta rút hết sợi thuốc rồi cuộn mảnh giấy nhét vào trong.

Kawa Hihara cố tình “à” lên một tiếng kinh ngạc, nói: “Quả nhiên là có vấn đề”.

Hắn gỡ mảnh giấy ra, đọc to: “Báo gấp Lão Hổ, hành tung đặc sứ 201 đã bại lộ, hủy hội quần anh!

Lão Quỷ.

Trong ngày”.

Đọc xong, ngẩng đầu lên nhìn Tư lệnh Trương: “Đây lại là một bức điện mật sao?”.

Tư lệnh Trương đắc ý nói: “Bức điện mật này tôi có thể giải mã được.

Người gọi là Lão Hổ chính là Tống Giang của Đảng Cộng sản ở nội thành Hàng Châu, đây chính là tên cầm đầu bọn phỉ.

Hai tháng nay, chúng tôi lùng bắt, nhưng hắn rất khôn ngoan, mấy lần đều chạy thoát”.

“Không thoát sao được!”, Kawa Hihara nói:

“Có Lão Quỷ ở bên cạnh, thằng ngốc cũng có thể chạy thoát”.

“Đúng vậy”, Tư lệnh Trương thành khẩn gật gật đầu, nói tiếp: “Còn 201 chính là chỉ Chu Ân Lai.

Đây là mật mã của Diên An, nhân vật đầu não của Đảng Cộng sản đều được gắn mã số.

Còn Quần anh hội, chính là hội nghị trên núi Phượng Hoàng ấy.

Thật nực cười, mấy tên cướp nhãi nhép gặp nhau mà tự xưng là Quần anh hội, thật chẳng biết trời cao đất dày là gì”.

Kawa Hihara cười cười, nói: “Thật khá cho Lão Quỷ”.

Ngẩng đầu lên, Kawa Hihara giả lộ vẻ mặt nhân từ hỏi bốn người Ngô, Kim, Lý, Cố: “Các vị ai là Lão Quỷ đây?

Ngô, Kim, Lý, Cố kia, các vị ai là phỉ?”.

Giọng nói mềm mại, khàn khàn nhưng nói mà đầy đờm trong họng.

* * *

Vở kịch nửa thật nửa đùa diễn tới đây, mọi người mới như bừng tỉnh khỏi giấc mơ.

Đây là cơn ác mộng, ở với ma quỷ mà không biết ai là ma quỷ, không khéo chính mình sẽ trở thành vật thế mạng cho ma quỷ.

Vì thận trọng nên mới đầu không ai mở miệng nói gì, mọi người trầm ngâm, anh nhìn tôi, tôi nhìn anh, chỉ có điều không thể nhận ra được gì từ sắc mặt đối phương.

Tư lệnh Trương trầm ngâm vẻ không vui, hắn muốn mọi người mở miệng nói: Hoặc là tự thú hoặc là tố giác.

Lúc hắn dụ dỗ, lúc hắn đe dọa, nói hay nói dở một hồi, nhưng không thấy ai thú tội, cũng không ai tố giác.

Thực ra là có người muốn tố giác, ví như Ngô Chí Quốc, sau sự việc, anh ta một mực khẳng định Lý Ninh Ngọc là Lão Quỷ.

Nhưng trong tình huống lúc đó, vừa bừng tỉnh khỏi cơn ác mộng, đáp án khiến người ta kinh sợ như vậy, người còn sợ đần ra, nhất thời sao có thể lấy lại được tinh thần để nói, vậy là không thể nói ra.

Đành đợi vậy, cũng phải để cho người ta có thời gian bình tĩnh lại đã chứ.

Kết quả là có người đến không đúng lúc, bước chân vội vã đến mỗi lúc một gần, nghe bước chân cũng biết là có việc gấp cần bẩm báo.

Người đến là Tham mưu Trương (béo), nói thầm gì đó vào tai Tư lệnh Trương.

Tư lệnh Trương đã không thể ngồi yên, đập mạnh tay xuống bàn quát: “Không chịu nói phải không, các vị được lắm!

Lúc nào muốn nói hãy đến tìm ngài Kawa Hihara, tôi không có thời gian đợi các vị”.

Nói rồi đứng dậy, vừa đi ra ngoài vừa nói: “Có điều tôi muốn nói với các vị, tôi tin Lão Quỷ là ở trong số mấy người các vị.

Trước khi các vị khai ra Lão Quỷ, các vị đừng hòng bước khỏi ngôi nhà này.

Muốn đi, trước tiên hãy nói cho tôi biết ai là Lão Quỷ!”.

Kawa Hihara cũng đứng dậy, nhưng không bước đi mà nói một cách rất nhã nhặn, tươi cười: “Tôi tin điều Tư lệnh Trương nói.

Ngoài ra tôi còn tin một điều là không phải tất cả các vị đều là Lão Quỷ.

Trong số các vị người có tội người vô tội, mà đa số là vô tội.

Ai vô tội, ai có tội, nào ai biết?

Chúng tôi không biết, chỉ có chính các vị biết.

Cho nên, ầy da!

Ai làm người ấy chịu.

Hiện giờ chúng tôi chỉ còn cách làm vậy, tập trung mọi người lại, trông coi, quản lý, các vị thấy oan uổng cũng được, bị làm nhục cũng xong, tạm thời đành chấp nhận thôi, không còn cách nào khác.

Tôi nghĩ các vị cũng biết, trong lúc này đây chúng tôi chấp nhận cả việc trách nhầm các vị, chẳng còn cách nào để đồng cảm với các vị.

Vì sao?

Vì nếu đồng cảm nhầm, thì sẽ tạo ra sai lầm lớn hơn, tôi không đảm đương nổi.

Đương nhiên, nếu các vị muốn đi cũng rất dễ, chỉ cần nói ra Lão Quỷ, tố giác cũng được, tự thú cũng được, nói ra là xong hết”.

Tư lệnh Trương nãy giờ vẫn đứng ngoài cửa nghe Kawa Hihara nói, lúc này đã lại quay vào, bước tới trước bàn, gõ xuống bàn cảnh cáo mọi người: “Mọi người nhớ cho, trước ngày 29, sẽ là cơ hội, sau thời hạn này thì tất cả các vị đừng ai hối hận”.

Kawa Hihara nói: “Đúng, nhất định phải nhớ kỹ là trước ngày 29, sau đó thì các vị có nói gì chăng nữa cũng không thể thay đổi được số phận của mình đâu.

Số phận của các vị ở đâu?”.

Hắn lấy ra một phong bì dán kín, vỗ vỗ.

“Ở trong này, cái này là tướng quân Iwane Matsui đưa trước khi tôi đến đây, trong đó nói gì, thú thật tôi cũng không biết.”

Hắn cười cười rồi lại nói: “Các vị, đây cũng là một bức mật điện, nó cũng có thể bị tôi đốt bỏ, nội dung trong đó sẽ là bí mật mãi mãi, nhưng cũng có thể được tôi đọc to lên, nội dung trong này chính là số phận của các vị.

Đốt hay đọc, quyền quyết định nằm trong tay chính các vị đấy.

Nhưng một khi các vị đã trao cho tôi quyền đọc, các vị sẽ không có quyền thay đổi số phận của mình đâu, ngay cả Tư lệnh Trương và Kawa Hihara tôi đây cũng không có quyền thay đổi.

Cho nên, các vị chớ có đùa với nó, đùa với nó chính là đùa với số phận của các vị đấy”.

Khi nói những lời này, Kawa Hihara đã kiểm soát tốt tâm trạng của mình, giọng nói ôn hòa, ngữ điệu từ tốn, vừa tỏ ra thân thiện ân cần, lại có chút tình sâu nghĩa nặng.

Sau đó hắn thậm chí còn đi vòng đằng sau mỗi người một lượt, nói vài câu vu vơ rồi mới đi.

Nhưng cho dù hắn bỏ đi với vẻ mặt tươi cười, ôn hòa nhã nhặn, thì cả bốn người Ngô, Kim, Lý, Cố vẫn cảm nhận rõ ràng một sự chấn động, kinh hoàng, mắt tối sầm, chân run lẩy bẩy, đầu óc trống rỗng, trong lòng thì ngổn ngang, như có một nỗi sợ hãi vô hình…
 
Tiểu Thuyết Phong Thanh
CHƯƠNG BA


Ai là Lão Quỷ?

Đ. mẹ nó chứ, đứa nào là Lão Quỷ!

Chiều hôm ấy, trời trong xanh, hoa ngát hương, trong nhà khách phía trước, các cô gái xinh đẹp vẫn ngồi trước gương như thường lệ và chờ đợi màn đêm buông xuống.

Hay nói cách khác, chiều nay thời gian vẫn cứ trôi đi như thường lệ, tích tắc, tích tắc, vẫn trôi về phía trước, chìm vào màn đêm.

Vậy mà ở Tây lầu, thời gian như trở về nửa năm trước, trở về cái đêm đẫm máu ấy, cái đêm mà tất cả mọi người trong nhà đều bị một kẻ vô danh bí ẩn, một kẻ đột nhập, một tên ác quỷ thao túng, khống chế, bóp nghẹt yết hầu, bóp chặt huyết quản.

Tư lệnh Trương có việc phải trở về đơn vị, Kawa Hihara và Vương Điền Hương tiễn hắn lên xe.

Xe đi rồi, Vương Điền Hương đang định quay lại nhà, Kawa Hihara xua tay: “Mặc kệ họ, đi thôi, tôi có việc cần hỏi anh”.

Câu hỏi là: Mảnh giấy trong bao thuốc lá là từ đâu ra?

Trả lời là: Một liên lạc viên của Đảng Cộng sản mang bí danh Ba Ba chuyển đi.

* * *

Ba Ba là một ông già nghèo, chừng sáu mươi tuổi, người gày gò, chân cẳng dài nghêu, khi đi thân trên thẳng đứng, thân dưới bồng bà bồng bềnh, trông cứ y như là con bọ ngựa vậy.

Từ mùa đông năm ngoái, Ba Ba về làm nhân viên quét dọn trong doanh trại Tổng đội quân ngụy, ban ngày quét dọn vệ sinh trong doanh trại, xẩm tối đi thu dọn rác từng nhà trong khu gia binh.

Tuần trước, họ bắt được một đặc vụ Quốc dân Đảng nằm vùng từ Trùng Khánh phái đến, đầu hàng rồi.

Hai hôm trước là buổi đi làm đầu tiên, khi ăn trưa tại nhà ăn đã tình cờ nhìn thấy Ba Ba khi ấy đang lấy nước gạo, nhận ra Ba Ba trước đây chính là một phần tử Đảng Cộng sản, không rõ tình hình hiện giờ ra sao, nhưng chung quy là rất đáng nghi ngờ.

Nghi ngờ quá đi chứ!

Thế là, Vương Điền Hương cho người theo dõi nghiêm ngặt nhất cử nhất động của Ba Ba.

Hai ngày liền họ không thấy Ba Ba gặp gỡ, tiếp xúc với ai, cũng không thấy có gì bất thường, chỉ là quét dọn vệ sinh trong doanh trại, tối đến lại đến từng nhà trong khu gia binh để thu gom rác.

Khoảng hơn bảy giờ tối qua, sau khi thu gom rác, Ba Ba đạp xe ba gác ra khỏi doanh trại đi đổ rác, trên đường đi cũng không thấy gặp gỡ tiếp xúc với ai.

Cho đến tận khi anh ta từ bãi đi ra, người theo dõi mới phát hiện có một số bất thường: Ba Ba đi đến Công viên Cầm Đài với vẻ đáng ngờ.

Đây là một ngã ba, tối đến thường có một số người buôn bán nhỏ dọn hàng bán vài thứ đồ ăn và tạp hóa linh tinh.

Ba Ba đỗ xe bên cạnh sạp hàng của một cô gái bán hoa tươi, sau đó đeo một chiếc hộp trước ngực để bán thuốc lá dạo.

Tình cờ thế nào mà ngay sau đó có một người đàn bà ngồi trên xe kéo gọi anh ta lại mua.

Người đàn bà ấy còn khá trẻ, ăn mặc cũng rất thời trang, miệng ngậm một điếu thuốc lá, trông rất giống một cô gái ăn chơi.

Một cô gái phong trần mua thuốc hút cũng chẳng có gì làm lạ, nhưng lạ là ở chỗ tiền cô ta đưa rõ ràng còn thừa, nhưng cô ta lại chỉ cầm thuốc rồi bỏ đi luôn mà không thèm lấy tiền thừa.

Còn Ba Ba, vớ được món hời mà chẳng có vẻ gì vui sướng, cứ như đó là chuyện đương nhiên.

Vương Điền Hương nói: “Làm gì có cái lý đương nhiên ấy?

Nếu nói là đương nhiên, một cô gái phong trần sẽ không thể rẻ rúng tiền bạc như thế, còn một người bán hàng rong có chút hời lẽ đương nhiên phải hớn hở ra mặt mới đúng”.

Kawa Hihara cũng gật gù tán thưởng, nhưng chân vẫn không dừng bước, ánh mắt đau đáu nhìn phía trước, dáng vẻ vội vã.

Vừa nãy, hai người đưa Tư lệnh Trương lên xe xong, không trở về Tây lầu, cũng không đến Đông lầu mà theo xe ra ngoài, vừa đi vừa nói chuyện.

Lúc này, hai người đã bước ra khỏi trang viên, đến Tây Hồ và bắt đầu đi men theo đê Tô.

Được gọi là mười dặm hoa đào, đê Tô trông thật rực rỡ, hoa lá điểm tô cho nó thêm lộng lẫy và ngát hương thơm.

Nếu là thời hòa bình, mùa này ắt sẽ có nhiều khách du lịch lắm, thế mà bây giờ ở đây vẫn tẻ vắng, rất tiện cho hai người vừa đi vừa trò chuyện, cho dù đó có là chuyện quân cơ.

Vương Điền Hương kể tiếp, rõ ràng là sự khác thường chỉ hiện lên giây lát giữa Ba Ba và đồng đảng đã thu hút sự chú ý của người được cử đi theo dõi.

Thế là, một trong số họ đuổi theo bắt cô gái phong trần kia.

Sau khi kiểm tra anh ta phát hiện trong hộp thuốc lá có mảnh giấy lạ.

“Bắt người như vậy à?”

Kawa Hihara như vừa hụt chân, đột ngột dừng lại, “Sao lại có thể bắt cô ta vội thế?

Lẽ ra nên bí mật cho người bám theo, chưa biết chừng cô ta sẽ đưa các anh đến chỗ tên cầm đầu Lão Hổ đấy”.

“Đúng thế!”, Vương Điền Hương có vẻ còn đau khổ hơn cả Kawa Hihara, gật đầu lia lịa.

“Tôi cũng nghĩ vậy, quả là cơ hội có một không hai.

Nhưng… chó thật, chỉ trách tôi không thân chinh có mặt ở đó.”

May mà chưa bắt Ba Ba, vẫn để “nuôi” đấy, nếu không thì có lẽ Vương Điền Hương sẽ gật đầu đến gãy cổ mất.

Bởi vì vẫn để “nuôi” Ba Ba, nên Kawa Hihara cũng không trách cứ Vương Điền Hương quá nhiều.

Kawa Hihara cho rằng, nếu cả Ba Ba cũng bị bắt nữa thì đường dây ba người (kể cả Lão Quỷ) sẽ cùng lúc mất tích, điều này biết đi đâu thì chắc chắn sẽ khiến cho các phần tử Cộng sản khác nghi ngờ họ đã xảy ra chuyện.

“Có nghi ngờ tất sẽ sợ”, Kawa Hihara nói, “sợ rồi sẽ sinh cẩn trọng, gió lay ngọn cỏ cũng sẽ khiến họ lo sợ.

Một khi những tên Cộng sản bên ngoài nghi ngờ Lão Quỷ, bị giam ở trong này thẩm vấn, hoặc ngay cả khi không có thông tin gì họ cũng sẽ nghi ngờ hành động của chúng ta, như vậy thì cuối cùng e rằng ngay cả xương cá anh cũng không câu nổi đâu”.

Cho nên, Kawa Hihara nghiêm khắc nhắc nhở Vương Điền Hương: Việc bắt người phải giữ bí mật, Ba Ba cũng phải “nuôi” cho kỹ.

Còn nữa, con bé vừa bắt kia cũng phải nghĩ cách, để không bị lộ, không thể để đồng bọn của nó nghi ngờ nó đã bị bắt.

Tối qua Ba Ba mới gặp con bé ấy, hơn thế còn chuyển tin tức tình báo, nếu không che đậy được sơ hở này, ngộ nhỡ Ba Ba báo cáo việc này với tổ chức, chẳng phải là sẽ bị lộ tẩy hết sao?

Kawa Hihara nói: “Chúng ta cần mê hoặc kẻ địch, trước tiên là phải xem sơ hở ở đâu để mà che đậy và bưng bít thông tin, không thể để cho biết ta đang làm gì trong này.

Anh cho rằng chúng ta đang làm gì đây?

Bắt Lão Quỷ ư?

Không.

Lão Quỷ đã bắt được rồi, Lão Quỷ” đã nằm gọn trong lưới, chẳng lẽ lại có thể thoát được sao?

Cá nằm trong chậu, chạy đâu cho thoát.

Anh cũng không cần phải lo Lão Quỷ không hiện hình, nếu không phải là hôm nay thì sẽ là ngày mai hoặc ngày kia thôi, thời gian sẽ khiến cho Lão Quỷ phải lòi đuôi, chỉ là sớm hay muộn mà thôi.

Sớm hay muộn cũng chẳng hề gì, làm sao con cá trong lưới còn có thể làm mưa làm gió, chuyển tin ra ngoài được?

Không thể có chuyện đó.

Hiện nay, điều quan trọng nhất là phải bưng bít mọi thông tin, không để cho bọn Cộng sản bên ngoài biết người của chúng đang làm gì trong này, một chút nghi ngờ cũng không được.

Cần nhớ rằng, Lão Quỷ ở đây không phải đang bị thẩm vấn, mà là đang…

đang làm gì nhỉ?

Kawa Hihara ra chiều suy nghĩ, nhất thời không tìm ra được cách nói phù hợp, đành nói bừa: “Cứ nói rằng bọn chúng đang thực thi nhiệm vụ vậy, gọi bọn chúng đến, tập hợp, là để hoàn thành một nhiệm vụ quan trọng.

Sau này chúng ta phải thống nhất một cách nói, mà nhất thiết phải nghĩ cách làm sao để lọt vào tai Ba Ba càng nhanh càng tốt mới được.

Cố gắng cho bọn bên ngoài biết tin, càng nhiều người biết càng tốt, người nhà chúng, cấp trên, đồng nghiệp… tất tần tật, kể cả đám lính gác của anh nữa, cũng phải cho họ biết.

Lừa được bọn chúng, cũng có nghĩa là qua mắt được Cộng sản, chỉ có như vậy, chúng ta mới có thể bắt được con cá lớn là Lão K, sau đó thì kéo một mẻ lưới bắt sạch cả tôm lẫn tép.

Hiện nay tình hình đã có chút sơ hở, anh đã bắt một đứa, may mà chưa động Ba Ba, nếu không màn kịch này chẳng còn gì mà diễn nữa”.

Với tình hình hiện nay, xem ra vở kịch này vẫn còn khối thứ để diễn, vì vẫn còn “nuôi” Ba Ba.

Còn Ba Ba thì vẫn có thể xoay chuyển được tình thế, nguy hiểm còn có thể được giải hóa, việc nan giải cũng có thể mơ thành hiện thực.

Kawa Hihara nói với vẻ như đã suy tính kỹ lưỡng: “Anh cần phải biết, Ba Ba bây giờ là công cụ quan trọng nhất, là con mồi lớn nhất của chúng ta, chúng ta cần phải khai thác triệt để con mồi này, dùng nó để nhử cá lớn”.

Cách thức rất đơn giản, chỉ cần tung tin giả là Lão Quỷ đang thực thi nhiệm vụ ở bên ngoài cho Ba Ba, đương nhiên hắn sẽ thay cậu báo cáo với cấp trên của hắn: Lão Quỷ đang bình yên vô sự.

Việc cần làm gấp bây giờ là tạo một tin tức giả cho Ba Ba, để hắn và đồng bọn của hắn biết Lão Quỷ đang làm gì ‐ đang làm nhiệm vụ, không phải đang bị thẩm vấn, bị giam lỏng làm mồi nhử.

“Không thành vấn đề”, Vương Điền Hương vỗ ngực nói, “tôi đi làm ngay”.

“Đi làm nhanh đi”, Kawa Hihara nói,

“nhanh vào, càng nhanh càng tốt”.

“Được, tôi đi ngay đây.”

Vậy là đi.

* * *

Kawa Hihara nhìn Vương Điền Hương bước đi, một mái hiên tường hồng ngói đỏ đập vào mắt hắn, đó là Lầu Ngoại Lầu nổi tiếng trên Cô Sơn, cũng là nhà hàng hắn ưng ý nhất.

Hắn nghĩ thầm, tối sẽ đến đó dùng bữa.

Đã lâu lắm không đến đó, không biết sư phụ Cửu Long có còn ở đó hay không.

Trước đây Kawa Hihara thường xuyên đến Hàng Châu, mỗi lần đều đến Lầu Ngoại Lầu ăn những món ăn do sư phụ Cửu Long nấu.

Nghĩ đến sư phụ Cửu Long mập mạp, hắn càng hạ quyết tâm tối sẽ đến đó ăn cơm.

Nhưng đi với ai?

Hắn chợt nghĩ tới một nhóm khách đặc biệt, bỗng cất tiếng gọi Vương Điền Hương đã đi khá xa dừng lại, bảo Vương Điền Hương quay về thông báo cho Tư lệnh Trương, tối nay hắn đặt tiệc tại Lầu Ngoại Lầu, mời Tư lệnh đi cùng.

Vương Điền Hương hỏi: “Khách là ai ạ?”.

Kawa Hihara cười nói: “Người nhà của họ”.

Vương Điền Hương không có phản ứng gì.

Kawa Hihara hỏi: “Anh đưa những người này đến đây, người nhà họ có biết không?”.

Vương Điền Hương nói không biết, Kawa Hihara nói: “Như thế sao được, nhốt người ta ở đây, không được ra khỏi cửa, điện thoại không được gọi, chẳng phải là công khai bảo họ có vấn đề hay sao?

Nay chúng ta nói là họ đang thực thi nhiệm vụ, mời người nhà đến ăn cơm, thể hiện sự quan tâm chăm sóc, điều này chẳng phải nên làm sao?”, hắn cười rồi lại nói tiếp, “Bảo cả vợ ông đi, để bà ấy làm một người vợ hiền chỉ cần nhận sự quan tâm, vinh dự một chút là sẽ thấu hiểu và ủng hộ chúng ta”.

Vương Điền Hương là một người thông minh, hắn ta nghĩ ngay đến mục đích của Kawa Hihara, cái gọi là quan tâm ấy chỉ là giả tạo, đánh động mới là thật.

Người thường nói, chuột có từng ổ, thổ phỉ cũng vậy, từng ổ từng ổ.

Hắn nghĩ, Kawa Hihara nhất định nghi ngờ người nhà của Lão Quỷ chính là Cộng sản, cho nên mời họ đến ăn cơm, bề ngoài thì là chiêu đãi họ, nhưng thực tế là để tạo ra thông tin giả với họ.

Kawa Hihara than thở nói: “Đúng, nếu người nhà Lão Quỷ cũng là Cộng sản, nhất định sẽ cùng Ba Ba cung cấp thông tin tình báo giả là Lão Quỷ đang thực thi công vụ bên ngoài cho tổ chức của họ.

Nếu đúng như thế có nghĩa là sẽ được bảo đảm gấp đôi, Lão K, Lão Hổ dù có đa nghi cũng sẽ tin tưởng”.

Cao kiến!

Cao kiến!

Vương Điền Hương miệng nói vậy, trong lòng nghĩ vậy.

Sau đó, Kawa Hihara cao hứng điều chỉnh kế hoạch một chút, dường như cố tỏ ra cao siêu hơn.

Dự tiệc xong, Kawa Hihara đưa đám người nhà của họ từ nhà hàng Lầu Ngoại Lầu đến thẳng nhà khách, dạo xe một vòng.

Sau khi vòng qua sân sau, xe dừng lại trước sảnh Đông lầu, đám người nhà của họ đều nhìn thấy người thân của mình ở ngay trước mặt, trong ngôi nhà đối diện, trong phòng họp sáng trưng, từng người đang lặng lẽ ngồi trước bàn họp, dáng vẻ như sốt ruột chờ một cuộc họp khẩn cấp và quan trọng.

Mắt nhìn thấy là thực, còn có gì để không tin nào?

Tất nhiên, bọn họ đều, hơn thế còn cảm thấy niềm tự hào trào dâng, người nhà của mình đang được lính canh bảo vệ như là báu vật, ở một nơi an toàn tuyệt đối, dự một cuộc họp quan trọng và bí mật.

Gần ngay trước mắt mà xa tận chân trời, không thể đến gần, chỉ có thể nhìn.

Nhìn mà thấy dễ chịu, thấy tự hào.

Chỉ có một chút gợn là Cố Tiểu Mộng chưa lấy chồng, vì thế không có người nhà, còn ông bố đại phú đại quý có vẻ không đếm xỉa đến bữa tiệc mời của Tư lệnh Trương, không đích thân đến mà chỉ cử một bà quản gia trông chừng ngạo mạn đến dự.

Nói đúng ra thì Cố Tiểu Mộng cũng là do một tay bà quản gia nuôi nấng khôn lớn, nhưng dù gì vẫn có khoảng cách, nếu như để bà ấy len vào giữa đám người nhà, sẽ phá vỡ sự nghiêm túc của buổi tiệc.

Cho nên dù bà có đến, vẫn không để bà dự tiệc, chỉ tiếp riêng, nói với bà về tình hình, tặng chút quà rồi tống khứ bà đi luôn.

Sau này Kawa Hihara nghĩ, như vậy cũng không có gì đáng tiếc, thiết nghĩ bà quản gia về sẽ báo lại cho ông chủ biết và sẽ nói chuyện với đám người làm.

Kawa Hihara chỉ cần có vậy, càng nhiều người biết càng tốt, khiến cho những người xung quanh Cố Tiểu Mộng không thể biết được sự thật, để cho phần tử Cộng sản giả tưởng nào đó mắc lừa và rơi vào bẫy.

Nghĩ vậy, có vẻ như Cố Tiểu Mộng chính là Lão Quỷ, vậy trong số người thân của cô ta chắc chắn có đồng bọn.

Thực ra với những thông tin có được hiện nay, giả sử trong số mấy người kia nếu phải gạt ra một người thì Kawa Hihara chắc chắn sẽ gạt Cố Tiểu Mộng, lý do là người nhà của cô đến quá kỳ lạ, chẳng hiểu thế nào, quan hệ chẳng ra sao.

Từ việc cha Cố Tiểu Mộng để bà quản gia đến dự tiệc, Kawa Hihara đã ít nhiều thấy được sự ngạo mạn và trong sạch của người nhà Cố Tiểu Mộng.

Không nghi ngờ gì nữa, nếu Cố Tiểu Mộng là Lão Quỷ và trong số người thân của cô ta có đồng bọn, chắc sẽ không cử một bà già quản gia đến.

Tất nhiên, không có đồng bọn thì cũng không thể quả quyết Cố Tiểu Mộng không phải là Lão Quỷ.

Ai là Lão Quỷ, bây giờ cũng không cần đoán mò nữa.

Vẫn còn sớm quá, Kawa Hihara nghĩ, bây giờ mới là lúc dựng sân khấu, vở kịch vẫn còn chưa mở màn kia mà, đợi khi kịch bắt đầu thì ai mặt đỏ, ai mặt trắng tự nhiên sẽ rõ.

Sân khấu buổi tối nay, nói chung là được dàn dựng thật tuyệt, biểu hiện của Tư lệnh Trương trên sân khấu cũng rất đáng khen, anh ta như có linh cảm, gọi hết mọi người lại, để họ được tận mắt chứng kiến.

Thêm vào đó, Vương

Điền Hương nói chiều nay đã rất khéo léo chuyển thông tin cho Ba Ba, hơn thế còn tiện thể bịt luôn kẽ hở bên chỗ cô gái kia, trong lòng Kawa Hihara trào dâng niềm hân hoan khó tả, cứ y như là người đã được hóa trang xong, chờ lên sân khấu biểu diễn.

* * *

Vương Điền Hương cũng có cảm giác như vậy, mặc dù vai diễn tối nay không dễ xuất đầu lộ diện.

Nhiệm vụ của Vương Điền Hương chiều nay là trở lại doanh trại để chuyển “tin tình báo” cho Ba Ba, vài việc vặt, nhiệm vụ hoàn thành khá thuận lợi, chẳng qua chỉ là cần giả vờ lỡ lời khi ở gần Ba Ba thôi mà, dễ ợt.

Cái khó là ở chỗ vá víu sơ hở bên chỗ cô gái kia thôi, nhất thiết phải hỏi cung cô ta, để biết nhà cô ta ở đâu, sống với những ai, sau đó mới tìm cách thông qua người nhà cô ta để che đậy sơ hở.

Như đã kể trên, cô gái bị bắt từ tối qua, lẽ ra Vương Điền Hương phải sớm thẩm vấn cô ta.

Nhưng mẩu giấy trên người cô ta như sét đánh giữa trời nắng, chẳng cần nghĩ ngợi đã đẩy Vương Điền Hương đến với Lão Quỷ, bận tối mắt tối mũi, từ sáng đến tối không ra khỏi

Cầu trang, chẳng về được doanh trại, thế nên không có thời gian rảnh để thẩm vấn cô ta.

Buổi chiều hôm thẩm vấn cô ta, vừa gặp, Vương Điền Hương đã ngỡ như phát hiện ra lục địa mới vậy.

Mặc dù đã thay đổi rất nhiều, một mệnh phụ phu nhân quyền quý sang trọng ngày nào cải trang thành cô gái bán hoa lẳng lơ, nhưng Vương Điền Hương vẫn nhận ra ngay, người đứng trước mình là vợ bé của Tiền Hổ Dực: Bà Hai.

Cái thế giới này đôi khi thật là nhỏ bé, cũng thật kỳ diệu.

Sự xuất hiện của bà Hai khiến cho Vương Điền Hương trộm nghĩ, không biết thảm họa của Tiền Hổ Dực năm xưa là do ai gây ra, chắc chắn là bà Hai khó hiểu này rồi.

Vương Điền Hương biết, trước đây Tiền Hổ Dực rất yêu chiều bà Hai, đâu có nghĩ bà Hai lại là người của Đảng Cộng sản.

Phát hiện mới đầy bất ngờ này khiến cho Vương Điền Hương trong suốt buổi chiều cứ ngất ngây trong tâm trạng vui mừng mù quáng và miên man.

Đây quả đúng là một niềm vui sướng tột cùng, giống như niềm vui của một thủy thủ trên con tàu lạc hướng trên biển nhìn thấy đất liền vậy.

Không phải là cả gia đình Tiền Hổ Dực đều chết hết rồi sao, sao bà Hai vẫn còn sống nhỉ?

Là thế này, vì bà Hai không danh chính ngôn thuận nên không về sống tại Cầu trang.

Dẫu sao thì đường đường là một Tư lệnh, cai quản cả một vùng, vấn đề thể diện rất quan trọng, nên khi Tiền Hổ Dực chuyển đến sống ở Cầu trang đã không đưa bà Hai đi cùng.

Vương Điền Hương nghĩ, chắc bà Hai vì thế mà ôm hận đối với Tư lệnh Tiền, sau đó cùng đồng bọn đưa tiễn già trẻ lớn bé cả nhà họ Tiền xuống suối vàng.

Vì không sống ở Cầu trang nên sau khi xảy ra vụ án cũng không ai nghi ngờ bà Hai, mặc dù người nhà họ Tiền đều chết hết, duy chỉ còn bà Hai may mắn sống sót.

Bây giờ mọi việc đã rõ như ban ngày, bà Hai chính là người sắp đặt mọi chuyện.

Đúng là lòng dạ đàn bà nham hiểm thật.

Vương Điền Hương không thể tưởng tượng nổi, bà Hai với bề ngoài có vẻ hiền dịu lại có thể mang trong mình trái tim của loài bọ cạp như vậy.

Bởi vì đó là bà Hai nên rất nhiều việc không cần phải hỏi thêm nữa, ví dụ bà ở đâu, sống với những ai, tất cả những điều này Vương Điền Hương đều biết.

Nhưng tất cả những cái đó đều không quan trọng, điều quan trọng là bà Hai là người đàn bà của Tiển Hổ Dực, nên công việc bưng bít sơ hở đúng là điều kiện có một không hai!

Mặc dù không có chứng cứ xác đáng bà Hai tham gia hành động mưu sát, nhưng nếu nói bà tham gia mưu sát thì cũng có sao đâu?

Thế là, Vương Điền Hương mang theo hai cảnh sát đi thẳng đến nơi ở của bà Hai, lục soát mọi thứ khiến cho bà già giúp việc sợ chết khiếp.

Mà đám nhà báo đúng là nhạy thông tin thật, cũng là do Vương Điền Hương tung tin, loáng một cái đã thấy chúng lũ lượt kéo đến, Vương Điền Hương không ngại ngần trả lời phỏng vấn, không biết mệt.

Chập tối hôm đó, hai tờ báo địa phương đăng ngay mấy tấm ảnh của bà Hai, chạy hàng tít giật gân to đùng, để cho người toàn thành phố biết vụ án mạng cả gia đình nhà viên Tư lệnh Ngụy Tiền Hổ Dực cuối cùng đã được điều tra làm rõ, kẻ gây án bị còng tay tống vào ngục…

Vào ngục rồi thì đương nhiên không thể liên hệ với tổ chức cấp trên.

Vương Điền Hương đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vá víu sơ hở của mình như vậy, rất kín kẽ, đến mức Kawa Hihara không ngớt lời khen ngợi.

Đúng là người ta có chuyện vui thì tinh thần thoải mái.

Sau khi công việc đã đâu vào đấy, Vương Điền Hương lại đắc ý toan tính: Nếu dùng mẹo nhỏ đó mà có thể dọa cho Lão Quỷ lộ diện thì đó chẳng phải là công lao của mình sao?

Nghĩ vậy, nhân lúc Kawa Hihara đi ăn cơm tại Lầu Ngoại Lầu, Vương Điền Hương tự ý bí mật đưa bà Hai về Cầu trang, để bà Hai gặp mặt mấy người ở phòng họp.

Làm gì?

Đề nhận mặt chứ làm gì.

Nhận mặt Lão Quỷ.

Vương Điền Hương dụ dỗ và hứa hẹn với bà Hai đủ thứ, chỉ cần bà Hai nói ra là anh ta hay là cô ta mà thôi!

Không biết bà Hai giả ngốc hay là ngốc thật nữa, chỉ một mực nói không biết để đáp lại những lời dụ dỗ và hứa hẹn của Vương Điền Hương, có chút gì đó như là kiểu dùng bất biến ứng vạn biến.

Lặng lẽ làm thinh.

Không có gì để nói.

Toan tính của Vương Điền Hương thế là đi tong.

Hỏng bét.

Thế là công toi.

Bà Hai là người thế nào mà dám làm bậy trên đầu Thái Tuế, đâu có thể tùy tiện như thế mà xong được.

Việc Vương Điền Hương tự dựng công đường, muốn đánh nhanh thắng nhanh, quả thực có phần lạc quan thái quá.

Vui quá hóa buồn.

Biết Kawa Hihara sắp đưa đám người nhà của bọn họ từ Lầu Ngoại Lầu đến để tận mắt chứng kiến, Vương Điền Hương vội vàng thu dọn chiến trường, sai người đưa bà Hai trở về thành phố, mời Ngô Chí Quốc vào ghế chủ tịch, còn mình thì lui ra rìa.

Nói tóm lại, mưu kế của Vương Điền Hương thất bại, đành phụ giúp Kawa Hihara tính kế lớn.

Trong mưu kế của Kawa Hihara, trên bàn hội nghị Vương Điền Hương chỉ là nhân vật tuyến hai phụ trách về an ninh, đương nhiên không được ngồi vào ghế chủ tịch.

Ghế chủ tịch hiển nhiên là dành cho Ngô Chí Quốc, người ta vốn đứng đầu của một ban, quyền cao chức trọng đường đường.

Lúc này, Vương Điền Hương từ cửa sổ nhìn thấy Tư lệnh Trương đưa đám người nhà trong đó có cả vợ mình lên xe đi ra ngoài, hắn vội vàng đi ra, tìm Kawa Hihara.

Kawa Hihara vừa tiễn mọi người xong, quay vào trong nhà lấy chút đồ đạc rồi gọi một tên lính cùng đi.

Vương Điền Hương thấy Kawa Hihara đi ra, cho rằng nhất định hắn sẽ sang bên này họp, bèn chạy ra nghênh đón.

Nhưng Kawa Hihara không đi sang bên này, mà đi thẳng ra sân, làm Vương Điền Hương bồn chồn, không biết hắn đi đâu, làm gì.

Vương Điền Hương đuổi theo, báo cáo với hắn, mọi người đang chờ trong phòng họp.

Kawa Hihara bảo: “Họp hành gì, tôi đang bận, để mai đi”.

Vương Điền Hương hỏi việc gì, Kawa Hihara không trả lời, chỉ nói: “Anh cùng đi với tôi luôn”.

Vương Điền Hương thấy Kawa Hihara xách trên tay túi đồ gì đó, hỏi hắn đi đâu.

Kawa Hihara vẫn không trả lời, chỉ đáp: “Đi thôi”.

Hai người cùng đi ra ngoài, đi tới ven Tây Hồ.

Trời bắt đầu tối, trăng vẫn chưa lên, ánh đèn trên đường Nam Sơn và đường ven hồ phía đối diện càng khiến cho Tây Hồ thêm tối hơn.

Tối đen, chẳng giống mặt hồ, mà giống như một tấm màn trời đen kịt, rộng lớn mênh mông, tĩnh mịch.

Trong bóng tối, Vương Điền Hương răm rắp đi theo sau Kawa Hihara.

Kawa Hihara bước đi thật nhanh, cứ như ma vậy, tối om om mà vẫn bước nhanh thoăn thoắt.

Đi được khoảng hơn một dặm, Kawa Hihara mới dừng lại, đúng tại một ngôi mộ.

Nằm ở ven hồ.

Theo sóng nước, ngôi mộ dường như lắc lư, khiến cho người ta thoáng sợ hãi.

Kawa Hihara cứ như được trở về nhà, ân cần đi vòng quanh ngôi mộ, phủi bụi bên này, dọn dẹp cỏ dại bên kia.

Sau đó, hắn lấy đồ mang theo trong túi, mấy thếp tiền vàng, nến và chân nến, nhìn đúng là đi viếng mộ.

Vương Điền Hương không nén được liền hỏi: “Anh đi viếng mộ à?”.

Kawa Hihara ậm ừ trả lời: “Ừ!”.

“Đây là mộ ai ạ?”

“Một thiếu phụ trẻ tên là Phương Tử.”

“Anh quen cô ấy à?”

Kawa Hihara trầm ngâm một hồi, lạnh lùng nói: “Anh hỏi nhiều quá đấy”.

Sau khi viếng mộ xong, tâm trạng của Kawa Hihara có vẻ nặng trĩu, trên đường về không nói một lời, đi ngang qua nhà khách, còn chủ động đòi tạt vào uống rượu.

Uống hàng mấy tiếng đồng hồ, khi trở về thì đêm đã khuya, say mèm, ánh trăng mờ tĩnh lặng bao phủ bốn bề, lành lạnh, có vẻ như sương đang xuống.

Kawa Hihara say đến nỗi lẫn lộn hết cả, chẳng biết rốt cục là sương mờ hay là ánh trăng nữa.

Nhưng, trong trạng thái say bí tỉ, Kawa Hihara tự nhủ thầm, sương cũng được, ánh trăng cũng được, đều là dấu hiệu báo trước một ngày mai đẹp trời.

* * *

Ngày hôm sau đúng là trời đẹp thật, sáng sớm mặt trời đã treo lơ lửng trên sông Tiền Đường, ánh sáng xanh như một vầng trăng tỏ.

Mặt trời buổi sớm không nóng, nhưng đầy sức sống.

Những tia nắng sớm tựa như gió, như không khí luồn qua kẽ hở cửa sổ, xiên vào giường ngủ của Kawa Hihara, làm tan đi giấc mộng.

Cho nên, tuy buổi đêm ngủ muộn, nhưng hắn vẫn dậy rất sớm.

Sau khi tỉnh dậy, chỉ thấy toàn thân tê dại, không muốn nhúc nhích, chắc chắn là do tối qua uống nhiều rượu quá.

Hắn không nhớ rõ hôm qua trong lúc say bí tỉ có chơi gái không, chỉ nhớ rất nhiều chuyện đã xảy ra tại đây mấy năm về trước.

Thực ra Kawa Hihara rất thông thuộc Cầu trang, những năm trước…

Nhưng đây là bí mật của hắn, hắn không nói với ai, kể cả Vương Điền Hương.

Vương Điền Hương còn dậy sớm hơn, sau khi dậy ở lỳ trong phòng nghe trộm bên cạnh để nghe ngóng động tĩnh của Kawa Hihara, vừa đợi hắn tỉnh dậy, Vương Điền Hương vừa xem lại những ghi chép băng ghi âm của tối qua.

Ghi chép chưa đầy một trang.

Như vậy là, mấy người bọn họ hầu như không nói gì.

Nhưng cũng xuất hiện hai vấn đề:

Một là, sau khi họp xong, cuộc họp do Vương Điền Hương dàn xếp cho đám người nhà của bọn họ xem, Ngô Chí Quốc gọi riêng Cố Tiểu Mộng vào trong phòng, đề nghị cô thử nhớ kỹ lại.

Ngầm ý muốn động viên Cố Tiểu Mộng chứng minh giúp mình quả thực không hề vào phòng làm việc của Lý Ninh Ngọc, nhưng đã không đạt được mục đích.

Xem phần ghi chép, Cố Tiểu Mộng chỉ nói một câu: Hãy tin tôi, Trưởng ban Ngô, tôi sẽ báo cáo sự thực với tổ chức.

Lời lẽ đơn giản nhưng chứa đựng đầy ý nghĩa và cũng rất nghiêm túc.

Hai là, một lát sau, theo ghi chép cỡ khoảng 1 phút 41 giây sau, Cố Tiểu Mộng trở về phòng mình, kể lại ngay với Lý Ninh Ngọc việc Ngô Chí Quốc vừa nhờ cô nói hộ như thế nào.

Vương Điền Hương rất muốn biết được phản ứng của Lý Ninh Ngọc, nhưng ghi chép không có đoạn nào của Lý Ninh Ngọc, chỉ có một câu khái quát: Lý Ninh Ngọc không nói gì.

Người trực ban giải thích, lúc đó thực sự là Lý Ninh Ngọc không nói gì, chỉ ừ ừ à à mấy tiếng, liền gạt chuyện này đi và bảo Cố Tiểu Mộng đi đánh răng rửa mặt, thậm chí một lời cảm ơn cũng không nói.

Tình hình có lẽ là ở chỗ này đây: Thứ nhất Cố Tiểu Mộng vì sao lại tốt với Lý Ninh Ngọc như vậy, sẵn sàng vì cô ấy mà bán đứng Trưởng ban Ngô; thứ hai Lý Ninh Ngọc biết rõ Cố Tiểu Mộng tốt với mình như thế, lại không hề có một lời cảm ơn, cảm giác như giữa hai người này rõ ràng có mối quan hệ riêng thế nào đó, có một số điều không cần nói ra, nhưng vẫn hiểu, như là thần giao cách cảm vậy.

Nghĩ đến Lý Ninh Ngọc với dáng vẻ đứng đắn, lạnh lùng và ngạo mạn, Vương Điền Hương lại nghĩ vẫn còn quá sớm để phán đoán như vậy.

Làm việc trong cùng một tòa nhà, bình thường ra vào gặp nhau, Vương Điền Hương cũng hiểu được ít nhiều về tính cách của mỗi người.

Nhất là với Lý Ninh Ngọc, hai người đã từng có một xích mích nhỏ, khiến cho hắn cảm nhận rất rõ cái gọi là đức tính không nịnh bợ, lạnh lùng và ngạo mạn của Lý Ninh Ngọc.

Đó là việc xảy ra năm ngoái, nói ra thì thật là buồn cười, có một hôm hắn và Lý Ninh Ngọc cùng chung xe ra ngoài làm việc, Lý Ninh Ngọc mua rất nhiều đồ văn phòng phẩm cho cơ quan, hắn giúp Lý Ninh Ngọc chuyển đồ lên xe, tiện tay lấy luôn một quyển sổ, như kiểu là thợ vẽ ăn hồ vậy.

Chuyện cỏn con, hai người cùng ra ngoài làm việc công, người ta có này nọ một chút thì mình cũng cứ cho qua đi, có gì là to tát đâu.

Ấy vậy mà Lý Ninh Ngọc làm to chuyện lên kiên quyết không cho, khiến cho Vương Điền Hương rất khó xử.

Đối với một người như vậy, dựa vào những gì hiện có, Vương Điền Hương cảm thấy chẳng thể phán đoán được gì, cũng giống hắn chẳng thể vì một xích mích nhỏ giữa hai người để phán đoán trước đây họ thù hằn nhau ghê gớm lắm.

Thực ra, trước đây giữa hai người chưa bao giờ có thù hận gì, không yêu cũng chẳng ghét, không thân cũng chẳng sơ, chỉ là quan hệ đồng nghiệp thông thường.

Khách quan mà nói, trước khi xảy ra va chạm, Vương Điền Hương cũng khá có thiện cảm với Lý Ninh Ngọc, hay ít nhất là không đến nỗi ghét.

Sau đó thì Vương Điền Hương mới bắt đầu thấy ghét cô, còn vụng trộm nói xấu cô là nghiêm túc rởm.

Nói thì nói vậy, nhưng nếu dùng cái đó để đưa ra phán đoán thì cũng không dám.

Hiện giờ chỉ có thể nói rằng: Cố Tiểu Mộng có vẻ có cảm tình và hơi thiên vị Lý Ninh Ngọc mà thôi.

Vương Điền Hương quyết định báo cáo tình hình này với Kawa Hihara, để hắn phân tích và quyết định.

Kawa Hihara nghe chưa xong vài câu đã xua tay, dừng lại.

Kawa Hihara không hứng thú lắm.

Hắn nói: “Anh cứ nghe lời tôi đi, làm theo tôi nói”.

Hắn nói ba điều: Thứ nhất bảo Vương Điền Hương qua ngay bên kia, đưa bọn họ đi ăn sáng; thứ hai bảo với bọn họ, Kawa Hihara tối qua vào thành phố rồi, đến giờ vẫn chưa về mà cũng không biết lúc nào về; thứ ba thông báo với Thư ký Bạch bảo anh ta ăn sáng xong thu xếp để mọi người nói chuyện tại phòng họp tầng dưới.

Hắn nói từng việc một.

Nói chuyện gì đây?

Đương nhiên là Lão Quỷ rồi ‐ Nhưng ai là Lão Quỷ?

Kawa Hihara nói: “Tự thú cũng được, tố giác cũng được, mỗi người đều phải nói ra một Lão Quỷ.

Đây là yêu cầu, nguyên tắc là cứ nói thoải mái, không được né tránh, có thể nói thoải mái, nói sai cũng không bị truy cứu, không ghi vào hồ sơ.

Không được phép đưa chuyện, càng không được trả đũa nhau.

Nhưng cũng không thể viện cớ này nọ, hoặc dùng cách này cách khác để đùn đẩy không nói”.

Nói cho cùng, điều quan trọng không phải là nói gì, mà là phải nói, phải tỏ rõ thái độ, ai cũng phải nói, ai cũng phải lên tiếng.

Hiển nhiên là Kawa Hihara đẩy Thư ký Bạch lên sàn diễn để hò hét kêu gọi, còn mình thì nấp ở sau cánh gà lạnh lùng bàng quan, nhưng ngấm ngầm quan sát.
 
Tiểu Thuyết Phong Thanh
CHƯƠNG BỐN


Lão Quỷ tối qua suốt đêm không ngủ, thật là một ngày sợ hãi kinh khủng, lo sợ xua tan cơn buồn ngủ của mình.

Lão Quỷ nghe tiếng gió thổi suốt đêm.

Ánh mắt của Lão Hán như một ngọn đèn treo trước mặt, không biết bao nhiêu lần khiến Lão Quỷ hoa mắt chóng mặt, khiếp vía kinh hồn, dường như người mình đã tan ra thành muôn tia sáng, tan theo mây gió.

Lão Hán chính là bà Hai, khi Vương Điền Hương đưa cô đến phòng họp, Lão Quỷ bất chợt hiểu ra nguồn cơn cơ sự.

Lão Quỷ không sợ Lão Hán nhận ra mình, bởi vì Lão Quỷ biết rất rõ cô ấy không biết mình.

Kể cả có biết chăng nữa, Lão Quỷ cũng tin tưởng Lão Hán sẽ không bán đứng mình.

Lão cũng nhiều lần nghe các đồng chí khen ngợi Lão Hán, vì cách mạng, vì kháng Nhật cứu nước, Lão Hán coi vinh hoa phú quý của bản thân như cỏ rác, thậm chí gạt danh dự là thứ phụ nữ coi trọng nhất sang một bên.

Tóm lại, đây là một đồng chí tốt, đặt lợi ích cách mạng lên trên hết.

Vấn đề không nằm ở chỗ lão tin tưởng Lão Hán như thế nào!

Vấn đề là làm sao mình có thể thoát ra được?

Để đưa thông tin ra bên ngoài!

Vấn đề này cũng giống như ánh mắt của Lão Hán vậy, cứ treo lơ lửng trước mắt, khiến lão không thể thoát ra được.

Nó vẫn hiển hiện rõ nét ngay cả khi nhắm mắt lại!

Lão cứ như vậy vượt qua một đêm dài dằng dặc, khi ánh bình minh buổi sớm chiếu vào cánh cửa sổ bằng kính, lão buồn bã nghĩ, có lẽ mình sẽ lại phải đón một ngày mới dài vô tận.

* * *

Ngô Chí Quốc là người đầu tiên được Thư ký Bạch mời riêng vào phòng họp để nói chuyện, anh ta không biết phía đối diện có đặt máy nghe trộm, Thư ký Bạch cũng không hay biết.

Đầu tiên anh ta chửi ầm lên, chửi từ trên xuống dưới, điểm mặt chỉ tên mà chửi.

Trước tiên là Lý Ninh Ngọc, chửi cô hai mặt, mặt trước là Cộng sản, còn mặt sau là Tư lệnh Trương.

Sự cả tin của Tư lệnh Trương cũng khiến cho anh ta vô cùng tức giận, khi tức giận thì khó tránh được những lời nói thậm tệ khiến đối phương bị tổn thương.

Ai mà biết được đấy chỉ là ngụy trang hay là như thế nào?

May mà Tư lệnh Trương không có ở đó nên không nghe được.

Kawa Hihara và Vương Điền Hương nghe rất rõ.

Thời tiết đẹp, trời nắng, không mưa, cũng không có gió, đường dây cũng không hề bị nhiễu, mỗi âm thanh đều được truyền tới rõ ràng và thông suốt, đầy đủ, không bị ngắt quãng, khiến cho hai con người đầy mưu ma chước quỷ, một chủ một tớ, một Nhật một ngụy, mặc dù ở xa trăm mét mà ngỡ gần trong gang tấc, như là đang có mặt tại hiện trường, đang gặp gỡ những người trong cuộc.

Dưới sự chỉ dẫn và khuyên bảo của Thư ký Bạch, cuối cùng thì Ngô Chí Quốc cũng bình tĩnh lại, bắt đầu kể lại ngọn ngành việc chiều hôm kia đã cùng với Lý Ninh Ngọc rời khỏi phòng làm việc của Cố Tiểu Mộng thế nào, sau đó ở ngoài hành lang nói với Lý Ninh Ngọc chuyện gì, toàn mấy chuyện nhỏ vặt vãnh, xong rồi hai người chia tay, anh ta không hề vào phòng làm việc của Lý Ninh Ngọc v.v…

Cuối cùng, anh ta khẩn khoản nói với Thư ký Bạch:

“Anh cứ nghĩ mà xem, ngay cả phòng làm việc của cô ta tôi cũng không vào, làm gì có chuyện cô ta nói với tôi về bức điện mật.

Đây hoàn toàn là bịa đặt, vu khống!

Tôi không cần phải có chứng cứ gì khác, chỉ dựa vào việc cô ta vu khống cho tôi đủ để khẳng định cô ta chính là Cộng sản.

Vì sao cô ta phải vu cáo cho tôi?

Rõ ràng là muốn tung hỏa mù để thoát thân thôi.”

Đúng là, đối mặt với vấn đề ai là Lão Quỷ, vấn đề then chốt, vấn đề nhạy cảm, Ngô Chí Quốc không hề do dự và lẩn tránh, nhất nhất khẳng định là Lý Ninh Ngọc, lý do là bởi cô ta vu cáo anh ta!

Trong phòng nghe trộm, sau khi nghe những gì Ngô Chí Quốc nói, Kawa Hihara quay qua Vương Điền Hương bên cạnh ra chiều suy tư nói: “Anh ta nói có lý.

Nếu anh ta có thể tìm được người làm chứng cho việc anh ta thực sự không vào phòng làm việc của Lý Ninh Ngọc, vậy thì chúng ta có thể khẳng định Lý Ninh Ngọc chính là Lão Quỷ”.

“Nhưng anh ta đến giờ vẫn chưa tìm được người làm chứng mà.”

Vương Điền Hương nói một cách hết sức nghiêm túc, cứ như là sợ nếu không nói ra thì ông chủ của mình quên mất sự thật này.

“Đúng vậy”, Kawa Hihara nói, “cho nên tất cả những gì anh ta nói chẳng có nghĩa lý gì cả”.

Thì ra là Kawa Hihara đang cười nhạo Ngô Chí Quốc.

Vương Điền Hương cũng cười theo nói: “Kể cả việc anh ta chửi Tư lệnh Trương”.

Kawa Hihara cười thích thú: “Đúng vậy, chúng ta đã có quy định trước là không được đưa chuyện mà lại”.

* * *

So với bầu không khí nói cười vui vẻ ở ngôi nhà đối diện, thì bên này không khí quả thực là nặng nề.

Ngô Chí Quốc tức tối bước ra, Kim Sinh Hỏa lặng lẽ bước vào.

Kim Sinh Hỏa tướng mạo giống hệt như lợn, trán ngắn, miệng rộng, mắt ti hí, mũi củ tỏi, bụng phệ.

Con người mà tướng đích thị là một con lợn.

Nhưng tục ngữ có câu, mặt có tướng xấu, tâm trí trong sáng, biết ai hơn ai?

Trong tất cả bọn họ, anh ta là người nhiều tuổi nhất, đã qua tuổi trung niên và cũng là người từng trải nhất.

Trong cơ quan, anh ta nổi tiếng với biệt danh người ba phải, ít thị phi, thường hay nhún nhường.

Vì vậy, có khi bợ đỡ dung tục cũng có thể tha thứ được.

Bởi vì, biểu hiện của anh ta luôn khiến cho người khác giữ được thể diện và cảm thấy hư vinh.

Hình như anh ta cũng đã quen với việc làm thân con lợn, vừa mới vào, Kawa Hihara đã nghe thấy tiếng anh ta không ngớt tố khổ với Thư ký Bạch.

Kim Sinh Hỏa: Ầy, đúng là đen đủi hết chỗ nói, đụng ngay phải vụ này.

Xem ra cái chức trưởng phòng của tôi cũng tận số rồi.

Thư ký Bạch: Đâu đến nỗi ấy.

Nếu anh lôi ra được Lão Quỷ, chẳng phải đã lập công lớn sao.

Có công tất có thưởng, chưa biết chừng còn được thăng quan ấy chứ.

Kim Sinh Hỏa: Thư ký Bạch, anh nói đi, rốt cục ai là giặc Cộng sản…

Các anh hiện giờ đã có manh mối gì chưa?

Thư ký Bạch: Điều này phải hỏi anh chứ.

Kim Sinh Hỏa: Ầy a, tôi…

đâu có đứng cao, nhìn xa được như anh.

Thư ký Bạch: Anh Kim, anh nhầm rồi, đây không phải là nhìn xa, mà là nhìn rõ.

Tất cả có bốn người, một là bản thân anh, hai người kia là cấp dưới của anh, anh bảo ai đứng gần hơn, nhìn rõ hơn.

Kim Sinh Hỏa: Ấy, Thư ký Bạch, lẽ nào ngay cả tôi anh cũng không tin?

Thư ký Bạch: Anh Kim, không phải tôi không tin anh.

Đây là thực tế, anh thấy tình hình như vậy đấy, thế nào cũng phải có một hồi kết chứ.

Kim Sinh Hỏa: Cái khó là ở chỗ không có hồi kết.

Thư ký Bạch, nói thực, nếu tôi biết, nhất định tôi sẽ mách anh, cái khó là ở chỗ…

Kawa Hihara thậm chí còn nghe thấy tiếng lắc đầu rõ mạnh của Kim Sinh Hỏa.

Gật đầu là hết cách, vô tội, đau khổ, không biết nói sao…

Đối diện với vấn đề xưa như trái đất của Thư ký Bạch: Ai là Lão Quỷ, anh ta lại càng chẳng biết nói sao, hết nhăn mặt rồi thì chỉ biết ừ ừ à à, không nói, cũng không tỏ thái độ.

Không tỏ thái độ hình như cũng không phải là biết mà không báo, mà là không biết gì để mà báo.

Anh ta thậm chí không nén nổi nghẹn ngào, chứng tỏ trong thâm tâm anh ta không biết và cũng hết cách, hy vọng Thư ký Bạch sẽ thông cảm cho anh ta, giúp anh ta vượt qua được khó khăn này.

Nói thực, bất kể là Thư ký Bạch, hay người ở đầu dây bên kia là Vương Điền Hương nhìn thấy nghe thấy cái dáng vẻ khóc dở mếu dở của anh ta, trong lòng đều hy vọng anh ta không phải là Lão Quỷ, cũng hy vọng anh ta qua được vụ này.

Nhưng để qua được vụ này, anh ta không thừa nhận mình là Lão Quỷ thì cũng phải chỉ ra một trong số ba người còn lại ai là Lão Quỷ, cho dù là nói bừa đi chăng nữa.

Đây là nguyên tắc do Kawa Hihara đặt ra, nên Thư ký Bạch đã nói với anh ta:

“Như thế này nhé, anh Kim, ba người chọn một, anh hãy chọn một người đi.”

Đủ thấy là Thư ký Bạch đã cảm thông với anh ta như thế nào.

Trong tình hình như vậy, không có lựa chọn nào khác, cũng không có đường lui.

Kim Sinh Hỏa cuối cùng chọn Cố Tiểu Mộng, lý do là cô ấy thường hay có những phát ngôn thân Cộng sản, lại hay đi ra ngoài hơn người khác.

Thư ký Bạch yêu cầu anh ta trình bày chi tiết, thời gian, địa điểm, nội dung…

Kim Sinh Hỏa vò đầu bứt tai, khổ sở rồi ấp a ấp úng nói…

“Quy định là người độc thân không được đi ra khỏi doanh trại, vậy mà cô ấy thường xuyên tự ý bỏ ra ngoài.

Đôi khi những lời cô ấy nói, tôi cũng không dám nghe, nghe mà phát hoảng…

Cô ấy còn chửi Hoàng Quân ngay tại phòng làm việc, gọi Hoàng Quân là bọn Nhật, thậm chí những lời nói tục tĩu cô ấy cũng dám nói…

Cô ấy không làm việc chăm chỉ, năm ngoái cô ấy còn giữ một bức điện mật, liên quan đến việc tiễu phỉ trừ gian, suýt nữa làm hỏng cả việc lớn…

Nếu cô ấy là Cộng sản thì quả thực đáng sợ quá, cô ấy thường xuyên đi Nam Kinh cùng bố, gặp gỡ các quan chức lớn, nghe nói đến cả nhà của Chủ tịch Uông (quân ngụy) cô ấy cũng đã từng đến…”

Kawa Hihara cảm thấy nghe Kim Sinh Hỏa nói mệt đứt cả hơi, đã lắp ba lắp bắp còn lộn xà lộn xộn, như là một đứa trẻ bị phạt, nói câu trước mâu thuẫn với câu sau, đưa ra kết luận thì không có chứng cứ, nếu không thì là có chứng cứ mà không kết luận.

Tóm lại, nghe xong Kawa Hihara vẫn không hiểu được anh ta định nói cái gì, chỉ cười xòa.

* * *

Tiếp sau đó là Lý Ninh Ngọc.

Cũng có thể do Ngô Chí Quốc đã tố cáo từ trước, Kawa Hihara cảm nhận được Thư ký Bạch nói với Lý Ninh Ngọc rất tự tin, nét mặt lộ rõ vẻ đắc ý.

Thư ký Bạch: Trưởng phòng Lý là người thông minh, chắc chắn biết tôi gọi cô đến làm gì.

Lý Ninh Ngọc: …

Thư ký Bạch: Trưởng phòng Lý là chuyên gia dịch điện lão luyện, giải mật các điện mật là sở trường của cô, mật mã tự điển hôm qua giải nhanh như vậy, có lẽ là công của cô, hy vọng là mật mã của hôm nay, mật mã Lão Quỷ, cô cũng có thể đánh nhanh thắng nhanh.

Lý Ninh Ngọc: …

Thư ký Bạch: Sao vậy, không muốn nói, hay là chưa nghĩ xong, Trưởng phòng Lý?

Lý Ninh Ngọc: …

Thư ký Bạch: Tôi biết Trưởng phòng Lý vốn kiệm lời, có người nói cô thực sự là một nhân viên cơ yếu, mồm miệng kín như bưng.

Nhưng hôm nay, bây giờ, ngay lúc này, cô không phải là nhân viên cơ yếu, mà là đối tượng nghi vấn Lão Quỷ, cô không được im lặng như vậy với tôi, không nói không được với tôi đâu.

Lý Ninh Ngọc: …

Thư ký Bạch: Ấy à, thế này là thế nào, Lý Ninh Ngọc, cô nói đi, tố giác cũng được, tự thú cũng được, cô phải nói gì đi chứ…

Ngoài những chất vấn của Thư ký Bạch, trong loa từ đầu chí cuối không nghe thấy tiếng gì khác, chỉ nghe thấy tiếng rin rít đều đặn, cứ y như là Thư ký Bạch đang nói chuyện với chiếc đồng hồ treo tường vậy.

“Âm thanh gì vậy?”

Kawa Hihara hỏi.

“Không rõ.”

Vương Điền Hương đáp.

Là tiếng chải đầu.

Đúng là cô ấy không trả lời câu hỏi, chỉ cặm cụi chải đầu, đâu có lý ấy!

Thư ký Bạch đã nhẫn nhịn hết mức, lạnh lùng quát: “Lý Ninh Ngọc!

Tôi nói cho cô biết, có người đã tố giác cô chính là Lão Quỷ, cô không nói có nghĩa cô tự nhận mình là Lão Quỷ?”.

Cuối cùng, Lý Ninh Ngọc cũng ngẩng đầu lên, nhìn Thư ký Bạch rồi bình tĩnh nói: “Thư ký Bạch, tôi cũng nói cho anh biết, mười lăm năm trước đây bố tôi bị lưỡi lê của bọn Cộng sản giết chết, sáu năm trước anh hai của tôi cũng bị bọn Tưởng giết chết”.

Thư ký Bạch: Cô muốn nói gì với tôi?

Lý Ninh Ngọc: Tôi không phải Cộng sản, cũng không phải người của quân Tưởng.

Thư ký Bạch: Không phải là Cộng sản, cũng không phải quân Tưởng, vậy thì tại sao cô vu cáo Trưởng ban Ngô Chí Quốc?

Lý Ninh Ngọc: Nếu tôi vu cáo anh ấy, thì tôi phải là người biết trước tiên.

Thư ký Bạch: Cô muốn nói gì?

Thật không hiểu nổi…

Kawa Hihara cũng cảm thấy Lý Ninh Ngọc nói có phần khó hiểu.

Nhưng sau khi nghe cô giải thích, Thư ký Bạch đối diện và Kawa Hihara cùng Vương Điền Hương đều thấy cô nói có lý.

Trước tiên cô hỏi ngược Thư ký Bạch, tối hôm kia có biết bọn họ đến đây làm gì không.

Đương nhiên là không biết.

Không ai biết cả.

Lý Ninh Ngọc nói: “Anh không biết, tôi cũng không biết, vậy anh nghĩ thử xem, tôi không hề biết đến đây để làm gì thì làm sao có thể đến chỗ Tư lệnh Trương để vu cáo anh ta được?”.

Quả đúng, tối hôm đó trong cả dãy nhà không ai biết Tư lệnh Trương yêu cầu họ đến đây làm gì, mà đã là không biết thì Lý Ninh Ngọc vu cáo ai cũng có nghĩa lý gì, trừ phi Tư lệnh Trương cho cô ta biết trước.

Mà điều này ‐ làm sao có thể?

Không thể…

Nghĩ vậy, Thư ký Bạch bắt đầu tin chuyện vu cáo là không có khả năng xảy ra, sau đó từ đầu dây bên này nghe thấy khẩu khí của Thư ký Bạch mềm mại hơn nhiều.

Thư ký Bạch: Nói như cô thì thành ra anh ấy nói dối à?

Lý Ninh Ngọc: Chắc chắn là anh ấy bịa chuyện.

Thư ký Bạch: Thế có nghĩ anh ấy là Lão Quỷ không?

Lý Ninh Ngọc: Ai cơ?

Thư ký Bạch: Trưởng ban Ngô.

Lý Ninh Ngọc: Tôi không biết.

Thư ký Bạch: Tại sao cô lại không biết, rõ ràng cô bảo anh ấy đang bịa chuyện mà.

Lý Ninh Ngọc: Anh ấy nói dối, nhưng anh không thể vì thế mà khẳng định anh ấy là Lão Quỷ.

Thư ký Bạch: Tại sao?

Lý Ninh Ngọc: Vì anh ấy dò hỏi tôi nội dung điện mật đã là trái với quy định, hơn thế lại quan tâm đến vấn đề bổ nhiệm và bãi nhiệm nhân sự, như vậy anh bảo để anh ấy thừa nhận trước mặt Tư lệnh Trương thì rõ là mất mặt quá, nên đành bịa chuyện không thừa nhận.

Khả năng này hoàn toàn có thể xảy ra.

Thư ký Bạch: Vậy thì cô bảo ai là Lão Quỷ?

Lý Ninh Ngọc: Hiện giờ rất khó nói.

Thư ký Bạch: Khó nói cũng phải nói.

Lý Ninh Ngọc khăng khăng không nói.

Im lặng.

Im lặng một hồi lâu.

Im lặng như một bức tượng.

Mặc cho Thư ký Bạch khuyên bảo, giảng giải, thúc giục, trước sau như một, khẳng định không biết, khiến Thư ký Bạch vừa tức giận vừa sốt ruột, lại bắt đầu quát ầm lên: “Cô câm à?

Lý Ninh Ngọc, cô nói gì đi chứ!”.

Nói chưa dứt lời, Lý Ninh Ngọc vụt đứng dậy nói to: “Tôi câm chứng tỏ là tôi không biết!

Anh cho rằng điều này có thể nói tùy tiện sao, hoang đường!”.

Nói xong liền đứng dậy, tay cầm lược, bước đi, khiến cho Thư ký Bạch ngạc nhiên không thốt ra lời.

Vương Điền Hương nghe xong cười: “Bạch Tiểu Niên à, anh gặp đúng đối thủ rồi”.

Nói rồi quay sang phía Kawa Hihara giải thích: “Đây đúng là con người Lý Ninh Ngọc, tính khí rất kỳ quặc, bình thường thì cô ấy chẳng qua lại chơi bời với ai, chỉ một thân một mình, rất vô vị.

Nhưng hễ động đến cô ấy, lập tức nổi trận lôi đình, nói trở mặt là trở mặt ngay, không có nể nang gì hết”.

Vương Điền Hương còn nói thêm, trước đây cô ấy đã từng làm bên quân y, vài năm về trước, khi vây bắt quân Cộng sản ở Giang Tây, có lần Tư lệnh Trương lên núi bị rắn độc cắn, bên cạnh không có bác sĩ và thuốc men gì, tính mạng ngàn cân treo sợi tóc, chính là cô ấy đã dùng miệng hút độc chất ra giúp Tư lệnh Trương, mới có thể chuyển nguy thành yên.

Cô ấy đã từng cứu mạng Tư lệnh Trương, có thể thấy quan hệ giữa hai người nhất định là rất tốt rồi.

Vương Điền Hương cho rằng, việc cô ấy dám cả gan coi thường Thư ký Bạch (cả việc không coi anh ta ra gì), chính là cậy có quan hệ tốt với Tư lệnh Trương.

Kawa Hihara nghe xong không đưa ra ý kiến gì.

* * *

Cuối cùng đến lượt Cố Tiểu Mộng.

Cố Tiểu Mộng vừa vào trong phòng đã ra đòn phủ đầu, nói với Thư ký Bạch: “Anh đừng nghĩ là tôi đến để cho anh thẩm vấn, tôi đến là để nói với anh, tôi không biết gì hết, dù sao tôi không phải là Lão Quỷ.

Còn họ có phải hay không, tôi không biết, anh đi mà hỏi họ”.

Mặc dù không nhìn thấy người, nhưng Kawa Hihara và Vương Điền Hương có thể hình dung được vẻ ngạo mạn và ngang ngược từ thái độ khinh thường và giọng nói của Cố Tiểu Mộng.

Nghe cuộc đối thoại giữa hai người, Kawa Hihara thấy rất thú vị.

Thư ký Bạch: Tôi phải hỏi tất cả mọi người, họ nói ý kiến của họ, cô nói ý kiến của cô.

Bây giờ tôi đang hỏi cô.

Cố Tiểu Mộng: Vừa nãy chẳng phải tôi đã nói rồi sao, tôi không biết họ có phải là Cộng sản không, tôi chỉ biết là tôi không phải.

Thư ký Bạch: Cô lấy gì để chứng tỏ cô không phải?

Cố Tiểu Mộng: Còn anh, dựa vào cái gì để nói là tôi là Lão Quỷ?

Thư ký Bạch: Tối thiểu cô có một phần tư khả năng!

Cố Tiểu Mộng: Thế thì anh cứ giết một phần tư của tôi đi, phần đầu hay phần chân, tùy anh.

Thư ký Bạch: Cố Tiểu Mộng, cô đang chống lại Tư lệnh Trương và Kawa Hihara đấy, chắc cô sẽ không có kết cục tốt đẹp đâu.

Cố Tiểu Mộng: Bạch Tiểu Niên, anh nói vậy thì thà giết chết tôi ngay tại đây, nếu không đợi tôi ra khỏi đây, tôi sẽ đập chết anh đấy!

Thư ký Bạch: Cố Tiểu Mộng, tôi biết bố cô… (xuống giọng), nhưng đây là công việc của tôi, hy vọng cô phối hợp với tôi.

Cố Tiểu Mộng: Tôi thực sự không biết họ có phải là Lão Quỷ không, tôi không thể nói bừa được.

Thư ký Bạch: Thế này nhé, Cố Tiểu Mộng, anh Kim và cô Lý đều là cấp trên của cô, chắc cô hiểu họ, nếu như buộc phải chọn một trong hai người, thì cô sẽ chọn ai?

Cố Tiểu Mộng: Tôi không thể chọn.

Thư ký Bạch: Nhưng bắt buộc cô phải chọn một người.

Cố Tiểu Mộng: Thế thì tôi tự nhận là tôi vậy, được chứ…

Kawa Hihara nghe tiếng bước chân thình thịch của Cố Tiểu Mộng xa dần, trong lòng trào dâng một cảm giác khó tả.

Hắn không nghĩ tới kết quả lại như thế này.

Mỗi người một kiểu, ai cũng có lý riêng.

Hắn vốn tưởng bọn họ sẽ sợ vỡ mật, chỉ cần ngồi đó mà sợ bóng sợ vía, nhất định cắn xé lẫn nhau như chó hoang, cắn đến đổ máu, cắn cho lòi ruột, để hắn thấy rõ chân tướng của mỗi người.

Thậm chí hắn còn nghĩ, chỉ cần thẩm vấn qua, thì đã lộ rõ chân tướng Lão Quỷ.

Trong kinh nghiệm bao năm của hắn, Cộng sản cũng thế mà quân Tưởng cũng vậy, rặt một lũ yếu bóng vía, hễ nhìn thấy dao, nghe thấy tiếng súng là quỳ sụp xuống, thật buồn cười.

Hắn từng nói với mọi người vì sao giờ đây hắn lúc nào cũng cười, chính là vì hắn nhìn thấy ở người Trung Quốc quá nhiều thứ buồn cười, nên cười liên tục, khiến cho dây thần kinh cười phát triển hơn bình thường, đến nỗi muốn không cười cũng không được.

Nhưng trong sự việc vừa xong, hắn không nhìn thấy cái đáng cười như hắn nghĩ lúc đầu, nên không tránh khỏi có chút thất vọng.

Thế nhưng, nhất định phải tìm ra Lão Quỷ, niềm tin của Kawa Hihara không hề sứt mẻ, trong tay hắn có binh khí lợi hại nhất.

Quân bài quyết định chiến thắng.

Kawa Hihara tin rằng, nếu cần, hắn chỉ cần đánh một nước bài bất kỳ, có thể khiến Lão Quỷ lộ nguyên hình.

Thế nên, việc tìm ra Lão Quỷ, hắn có đầy niềm tin.

Không giống Vương Điền Hương, sau trận ra quân thất bại, trên mặt lộ rõ vẻ hoang mang sốt ruột, lầu bầu không ngớt, suy đoán loạn xạ cả lên.

Kawa Hihara đứng dậy, vừa đi ra ngoài vừa an ủi: “Đừng sốt ruột, cũng không cần đoán mò.

Anh hãy tin rằng, Lão Quỷ đã như miếng thịt nằm trên chảo, có chạy đằng trời, chỉ cần nhẫn nại chờ đợi, mọi việc sẽ rõ trắng đen”.

Vương Điền Hương bước theo sau Kawa Hihara, ra sức tâng bốc: “Vâng, chạy đằng trời, có Kawa Hihara ở đây, Lão Quỷ có xảo quyệt bằng mấy cũng đừng hòng thoát thân”.

Kawa Hihara đi về phòng của mình, ngồi xuống, vừa uống trà, vừa chậm rãi nói với Vương Điền Hương: “Anh bảo Lão Quỷ gian manh, không sao, gian manh xảo quyệt mới hay chứ.

Anh nghĩ xem, nếu hôm nay bọn họ đã khai ra hết, vậy còn gì là hứng thú nữa, anh sẽ không có được cảm giác chiến thắng.

Hồi kết vẫn đang ở phía trước, niềm vui là trong cả quá trình chiến thắng, chứ không phải ở kết quả chiến thắng.

Cho nên, bây giờ bọn họ không khai, trái lại khiến tôi có hứng thú, niềm vui chính là ở trong đó”.

Loại trà mà Kawa Hihara uống đúng là trà Long Tỉnh thứ thiệt, cánh như lưỡi gươm, màu xanh lục, hương thơm mê hoặc.

Thoáng chốc, hương thơm đã lan tỏa khắp phòng, hương thơm man mác, cứ như là trong phòng có cây trà vậy.
 
Tiểu Thuyết Phong Thanh
CHƯƠNG NĂM


Thế nào là khắc khoải chờ đợi?

Lão Quỷ bây giờ đang ở trong tình trạng khắc khoải từng giờ.

Thời gian đang trôi đi từng giây từng phút, sự an toàn của Lão K và các đồng chí đang dần mất đi từng phút từng giây, vậy mà lão lại chẳng có cách nào khác ngoài việc chịu đựng thời gian trôi đi.

Bên ngoài cửa sổ vẫn là bầu trời kia, vẫn là những tên lính gác thoắt ẩn thoắt hiện, trong lòng vẫn rối bời, tuyệt vọng.

Lão tưởng tượng các đồng chí của mình đang cẩn trọng bày binh bố trận đón Lão K, không nén được suy nghĩ muốn hét lên thật to: Hủy ngay Quần anh hội!

Hủy ngay đi!…

Thế nhưng người nghe lại chính là bản thân lão.

Lão cảm thấy đây chính là sự trừng phạt độc ác nhất đối mình.

Lão nghĩ đến câu nói của một người đồng chí trước đây: Làm công việc này, điều đau khổ nhất là có lúc phải mở mắt nhìn đồng chí của mình bị địch sát hại.

Lão luôn lo sợ điều này xảy ra, vậy mà bây giờ có vẻ như điều này là không thể tránh.

Lão cảm thấy thực sự đau khổ, nỗi đau lớn hơn rất nhiều so với tưởng tượng của lão.

Lão liên tiếp tự hỏi chính bản thân mình: Mình phải làm thế nào mới chuyển được tin tức ra bên ngoài?

Hỏi hết lần này đến lần khác, hỏi rồi lại hỏi, cứ như hỏi liên tục như vậy sẽ vơi bớt đi đau khổ cho lão, nhưng thực ra chỉ khiến cho đau khổ thêm tăng…

* * *

Rốt cuộc ai là Lão Quỷ?

Buổi trưa, một vệ binh báo cáo với Kawa Hihara một việc quan trọng, nói rõ đó là Cố Tiểu Mộng!

Sự việc là như thế này, Thư ký Bạch nói chuyện với mọi người xong, cũng đã đến lúc ăn trưa.

Theo quy định thì mọi việc ăn uống, vệ sinh đều do Vương Điền Hương dẫn đi, đến giờ Vương Điền Hương phải đưa mọi người đến nhà ăn ăn cơm.

Nhưng trưa nay không đi được, vì Kawa Hihara không được xuất đầu lộ diện (đang ở trong thành phố mà), Vương Điền Hương phải dẫn Kawa Hihara đi ăn.

Thế là Vương Điền Hương liền cử Tham mưu Trương (béo) thay mình đi tiếp bọn họ.

Tham mưu Trương (béo) đi và nói với Thư ký Bạch: Trưởng phòng Vương vào thành phố đón Kawa Hihara, chắc sẽ trở về ngay thôi.

Nói xong, Tham mưu Trương đưa bọn họ đi ăn cũng được, bảo nhà bếp bên Đông lầu đưa cơm đến cũng được, đều là quang minh chính đại cả, chẳng có khuất tất gì.

Nhưng Cố Tiểu Mộng lại gây khó cho Tham mưu Trương: Cô nói cô không đói, không đi ăn cơm.

Trong tình huống đặc biệt như thế này, Tham mưu Trương không biết có nên đồng ý không.

Không đồng ý thì chỉ còn cách trói cô ta lại đưa đi, bởi vì Cố Tiểu Mộng đang nằm trên giường, thử hỏi còn cách nào?

Hết cách, đành đồng ý.

Không đồng ý cũng phải đồng ý.

Nhưng ngộ nhỡ xảy ra chuyện gì thì sao?

Đành tìm cách vá víu, để một vệ binh ở lại canh cô ta.

Đâu ngờ được, lại trúng ngay kế của Cố Tiểu Mộng.

Lại nói Kawa Hihara và Vương Điền Hương nhìn thấy qua cửa sổ, trong đám người đi ăn cơm không có Cố Tiểu Mộng, không biết có chuyện gì.

Kawa Hihara cho là cô ấy giả bệnh.

“Cô ta nói bị ốm.

Anh làm thế nào?

Có để cô ấy đi không?”

Kawa Hihara hỏi Vương Điền Hương, có ý thử xem cách nghĩ của Vương Điền Hương.

Vương Điền Hương nói: “Nếu như vờ bị ốm thì mặc cô ta, còn nếu ốm thật thì mời bác sĩ tới.

Tóm lại là đừng mong thoát thân”.

Trả lời rất lưu loát, chu toàn, khẩu khí đường hoàng, cứ như đã chuẩn bị từ trước.

Kawa Hihara cố ý tấn công Vương Điền Hương: “Anh nói dễ thật!

Trước tiên, anh làm thế nào để biết thật hay giả?

Cô ta là đàn bà, nếu như cô ta bảo bị bệnh phụ khoa thì anh làm sao?

Tiếp nữa, anh bảo nếu như bệnh thật thì mời bác sĩ đến, nhưng ngộ nhỡ bác sĩ nhận ra chân tướng của chúng ta ở đây, ra ngoài nói lung tung thì sao?”.

Nói là vậy.

Xem ra đây không phải là vấn đề nhỏ, nếu Cố Tiểu Mộng bày ra trò ấy, thì thật là phức tạp.

May là Cố Tiểu Mộng không bày ra trò ấy, nhưng cũng gây không ít rắc rối với Vương Điền Hương, làm khổ anh ta, ngay cả ăn bữa cơm cũng không yên.

Việc đưa cơm tới vốn rất hay, được một mình cùng chủ ăn cơm thật tuyệt vời.

Bình thường làm gì có cơ hội như vậy, một đối một, mặt đối mặt, anh một câu, tôi một câu, giống như một đôi bạn thân vậy.

Thế nhưng vừa mới nói được đôi câu, cơm cũng mới ăn được vài miếng, lính canh ở Tây lầu đã gấp gáp đến gõ cửa, nói có việc.

Đúng là xảy ra việc thật.

Hóa ra, bọn Thư ký Bạch vừa ra cửa, Cố Tiểu Mộng đã xuống lầu, đến bắt chuyện với lính canh, trước tiên là rào trước đón sau vài câu linh tinh, chủ yếu là tiết lộ những chi tiết về thân phận phi phàm của cô ấy, sau đó mới đi vào việc.

Làm gì vậy?

Nhờ lính canh giúp cô ta gọi điện thoại cho một người, bảo người ấy nhanh đến chỗ này, cô ta có việc gấp muốn thông báo.

Tất nhiên là làm xong việc sẽ được báo đáp, cô ta hứa xong việc sẽ tạ ơn người lính canh.

Còn về người kia, tên lính canh bảo là họ Giản, nam giới, có cả số điện thoại, còn những thông tin khác thì không rõ.

* * *

Giản tiên sinh rốt cuộc là người nào?

Cố Tiểu Mộng tại sao lại muốn gặp gấp như vậy?

Là mờ ám hay là công khai minh bạch?

Kawa Hihara nhìn ra ngoài cửa sổ, trầm ngâm.

Nhưng rất nhanh, hắn quay người lại dặn dò lính canh: “Mày về bảo cô ta, mày đã gọi điện nhưng không có người nhấc máy”.

Lính canh định đi, hắn lại dặn thêm: “Phải nhớ, sau này cứ làm như vậy, cô ấy nhờ mày đi gọi điện thoại, mày cứ đi, nhưng lúc về thì cứ nói như thế, không có người nhấc máy”.

Sau khi tên lính canh đi, Kawa Hihara lấy ghi chép cuộc đối thoại giữa Cố Tiểu Mộng và Thư ký Bạch ra xem, xem xong hỏi Vương Điền Hương: “Anh xem có tìm ra được gì không?”.

Không để Vương Điền Hương kịp trả lời hắn lại tiếp: “Lần này, tôi thấy có hai Cố Tiểu Mộng: một là cô gái ngang ngược, cậy thế ức hiếp người khác, dựa vào quyền thế của cha, không sợ trời không sợ đất; một nữa là Lão Quỷ kinh nghiệm dày dạn, gan dạ sáng suốt hơn người, dùng cách giả điên giả dại mê hoặc anh, một chiêu khác thường và táo bạo”.

Lời nói thật uyên thâm, Vương Điền Hương không thể có lời đối lại.

Kawa Hihara giải thích: “Chẳng phải cô ta đã liều nhận mình là Lão Quỷ đấy thôi, trực giác vừa rồi của chúng ta là cô ta đang cố tình chơi xỏ, cố tình gây sự.

Bây giờ thấy chưa hẳn đã vậy, anh đã nghĩ đến chưa, nếu như cô ta là Lão Quỷ thật thì sao?

Quả thật là trí tuệ và gan dạ.

Thời Tống nước anh chẳng phải có một câu chuyện, một tên trộm đi ăn cắp nhà giàu, vào nhà tên trộm lật tung cả nhà lên cũng không thấy của cải đâu, hóa ra chủ nhà đã coi của cải như hoa quả khô treo lên hiên nhà cùng với thịt muối và ớt khô.

Đây là một kiểu tư duy trái chiều, là trí tuệ lưu manh, đưa ra những cái không ngờ, lấy đó để giành chiến thắng”.

Vương Điền Hương nhìn nét mặt “ông chủ” rạng ngời, lời lẽ khác thường, rõ ràng là dáng vẻ đang nhập vào nhân vật, trong lòng như được khích lệ, hết sức hưng phấn.

Hưng phấn quá độ lại làm đầu óc hắn trống rỗng, sợ nói ra những câu vô nghĩa, đành phụ họa: “Vừa nãy, Kim Sinh Hỏa cũng nói cô ta là Cộng sản”.

Kawa Hihara tự nhủ: “Bản thân cách nói của Kim Sinh Hỏa không đáng tin cậy, nhưng đặt vào trường hợp của Cố Tiểu Mộng hiện nay, một kẻ đang nóng lòng liên lạc với bên ngoài thì đáng chú trọng.

Vấn đề bây giờ là chúng ta phải tìm ra một cách đơn giản và có hiệu quả nhất để làm rõ những hoài nghi của mình”.

Kawa Hihara quyết định dùng con bài cũ của nhà binh: Mượn gió bẻ măng, dụ địch vào tròng.

Hắn yêu cầu Vương Điền Hương lập tức gọi điện thoại cho Giản tiên sinh: “Anh nói với gã họ Giản là Cố Tiểu Mộng hiện đang làm nhiệm vụ, không đi được, nhờ anh mang một ít đồ tới cho gã, anh sẽ gặp gã”.

Công việc cứ thế mà tiến hành.

Gọi điện thoại cho Giản tiên sinh.

Quả là có Giản tiên sinh!

Giản tiên sinh nghe xong sự tình, không biết đây là mưu mô, vui sướng hết cỡ.

Tâm trạng vui mừng khôn xiết.

Niềm vui bất ngờ tột bậc thể hiện cả trong giọng nói.

Qua dây điện thoại.

Trong ống nghe.

Ngay cả Kawa Hihara cách xa ống nghe vài mét cũng cảm nhận được.

Thế là hẹn xong thời gian và địa điểm gặp nhau: Thời gian tất nhiên là càng nhanh càng tốt, thậm chí là ngay tức khắc; địa điểm tất nhiên trong nhà là tốt nhất, như vậy gã có chạy đằng trời, hòa thượng sao chạy khỏi miếu.

Vấn đề bây giờ là mang gì?

Đồ gì thực ra không quan trọng lắm, mấu chốt là đặt một thiết bị nghe trộm trong gói đồ đó để thăm dò thân phận của Cố Tiểu Mộng và Giản tiên sinh.

Kawa Hihara cho rằng giả định Cố Tiểu Mộng là một tên giặc Cộng thật, thì Giản tiên sinh sẽ chính là thêm một Lão Quỷ khác.

Tuyến trên hoặc tuyến dưới của Lão Quỷ.

Cố Tiểu Mộng mong ngóng gặp Giản tiên sinh, rõ ràng là để chuyển tin tình báo.

Theo tư duy này, Kawa Hihara thiết kế đặt một mảnh giấy vào trong món đồ, lấy danh nghĩa Lão Quỷ thông báo Giản tiên sinh nhanh chóng đi đến một nơi nào đó lấy hàng.

Chọn đi chọn lại món đồ, cuối cùng quyết định lấy một hộp bánh quy được Kawa Hihara mang từ Thượng Hải về.

Vỏ hộp bằng sắt.

Mảnh giấy được nhét cẩn thận vào đáy hộp, không để ý sẽ không phát hiện ra, cố ý tìm sẽ thấy.

Kawa Hihara cho rằng, nếu như Cố Tiểu Mộng là Lão Quỷ, Giản tiên sinh sau khi nhận quà nhất định sẽ tìm thấy mảnh giấy, và tiếp tục làm theo ước hẹn, đến một nơi nào đó lấy hàng, nếu không thì miễn bàn luận.

Tất cả đã chuẩn bị xong xuôi, Vương Điền Hương xuất phát.

* * *

Giản tiên sinh là người miền Bắc, dáng cao to, nói tiếng phổ thông, quàng chiếc khăn dài, đeo kính.

Nói chung dáng dấp có vẻ không rõ ràng: Vừa giống một thủy thủ cao to, sức vóc, lại vừa giống thư sinh, cử chỉ nho nhã lịch sự, lời nói khách khí.

Gặp mặt nhau Vương Điền Hương luôn cảm thấy Giản tiên sinh có gì đó quen quen, qua hỏi han một hồi mới biết.

Hóa ra Giản tiên sinh là nhân vật nổi tiếng đương thời ở thành Hàng Châu, hồi đầu năm có diễn vai chính trong vở kịch về tình hữu nghị Trung ‐ Nhật, những tấm áp phích ảnh chân dung của gã dán đầy đường phố.

Sau đó, vở kịch này còn được diễn ở nhiều doanh trại, không thể nào quên được.

Nơi ở của Giản tiên sinh là căn phòng thuê của khách sạn, ở tầng hai, có hai phòng.

Phòng trong là phòng ngủ, trên bàn ngủ ở đầu giường có để khung ảnh Cố Tiểu Mộng, chứng tỏ có thể hai người đang yêu nhau.

Bức ảnh được tô màu, môi đỏ tươi, lông mi đen, má ửng hồng, phớt hồng trên làn da trắng.

Nhìn qua thì không giống Cố Tiểu Mộng, nhìn kỹ mới thấy giống.

Phòng ngoài là phòng khách kiêm thư phòng, Vương Điền Hương ngồi trên ghế sofa một lát rồi rút điếu thuốc ra hút, nói dăm ba câu với Giản tiên sinh.

Theo quan sát của Vương Điền Hương thì biển hiện của Giản tiên sinh rất bình thường, không có vẻ gì là giặc, lời lẽ hiền lành, không giống gì là phần tử Đảng bí mật.

Nhưng có một cuốn sách vứt trên ghế sofa khiến Vương Điền Hương có chút cảnh giác và nghi ngờ.

Đây là tác phẩm mới mang tên Thu của tác gia tiến bộ nổi tiếng Ba Kim, mới được xuất bản năm ngoái (tháng 7/1940).

Sau đó nhìn lên giá sách, còn có rất nhiều tác phẩm của Ba Kim, nào là Nhà, Xuân, Diệt vong…

đều có cả.

Ngoài ra còn có rất nhiều tác phẩm của các tác gia cánh tả như Lỗ Tấn, Mao Thuẫn, Đinh Linh, Tưởng Quang Từ, Tiêu Quân, Nhu Thạch.

Một hàng lớn.

Chẳng lẽ hắn hát kịch cho Hoàng Quân chỉ là giả bộ?

Kawa Hihara nghe thông báo tình hình này qua điện thoại, liền vội vàng ra lệnh cho Vương Điền Hương:

“Bám sát gã này, chỉ cần gã đến địa điểm ghi trên mảnh giấy là bắt ngay.”

Nhưng Giản tiên sinh lại không đi, ít ra thì cũng không vội vã đi ngay.

Sau khi tiễn Vương Điền Hương liền đi đến đoàn kịch, sau đó không thấy ra, hình như biết bên ngoài đang có người theo dõi.

Vương Điền Hương đứng canh khoảng hơn hai tiếng đồng hồ, chán nản, mãi đến khi trời tối mới bố trí được một tên lính đứng canh chừng, còn mình về báo cáo tình hình với Kawa Hihara.

Kawa Hihara nghe xong báo cáo, phân tích, suy đoán kỹ càng, cuối cùng cho rằng mối nghi Cố Tiểu Mộng là Lão Quỷ vẫn chưa thể loại trừ.

Hắn nói: “Bây giờ không đi, không có nghĩa là đêm không đi.

Ngay cả đêm không đi thì cũng chưa hẳn sẽ vĩnh viễn không bao giờ đi và không có nghĩa là gã trong sạch”.

Hắn nói như có ý hoài nghi Vương Điền Hương hành sự bất cẩn, bị Giản tiên sinh phát hiện ra âm mưu.

Vương Điền Hương nhận ra sự hoài nghi của cấp trên, liền thề rằng hắn hành sự hết sức thận trọng, tuyệt đối không để đối phương nghi ngờ.

Kawa Hihara cười hà hà nói: “Ý của anh là khẳng định Giản tiên sinh không phải là Cộng sản?”.

Vương Điền Hương đâu dám mạnh mồm như vậy?

“Cho nên” Kawa Hihara nói, “Hãy cử người theo dõi gã, đừng để con cá cắn câu chạy mất”.

Tóm lại, tình hình không được như ý, vừa đúng vừa sai, khó mà đánh nhanh thắng nhanh, chỉ có thể tạm thời để đó, quan sát rồi tính tiếp.

Nhưng quan sát thì quan sát như thế nào?

Để thuận theo tự nhiên hay là đào mương dẫn nước?

Kawa Hihara thiên về phương án sau.

Vậy thì đào mương ở đâu?

Dẫn nước nào?

Kawa Hihara lúc này không thể nghĩ ra một nguyên cớ nào.

Sau đó Vương Điền Hương buột miệng nói, Cố Tiểu Mộng là một người tích cực trên bàn rượu, Kawa Hihara bỗng nảy ra ý tưởng, quả quyết nói:

“Vậy chúng ta hãy bày một bữa tiệc hồng môn cho cô ta.”

Không ngờ, đến tối, trên bàn rượu Lý Ninh Ngọc lại xuất hiện làm mờ đi tầm nhìn của Kawa Hihara.

* * *

Bữa tối do Kawa Hihara đích thân cùng bọn họ ăn cơm, bao cả nhà ăn.

Đồ ăn rất ngon, có cá, có gà, có rượu, rượu là loại rượu trắng mạnh Tiền Giang Đại Khúc[1].

Kawa Hihara muốn bọn họ uống rượu, uống nhiều, uống say bí tỉ, rượu vào mới nói thật lòng.

Vì vậy vừa vào cuộc, Kawa Hihara đích thân rót cho mỗi người một chén rượu đầy, đồng thời cầm trịch nâng cốc rượu nói: “Nào, các vị hãy nâng cốc, đây là bữa cơm đầu tiên tôi ăn cùng các vị ở đây, tôi hy vọng đây cũng là bữa cơm cuối cùng”.

[1] Tên một loại rượu.

Ý là nói, hắn tìm ra Lão Quỷ mới cho mọi người giải tán.

Hay nói cách khác, hắn muốn Lão Quỷ sẽ lòi đuôi sau hơi men.

Nhưng Lý Ninh Ngọc không chịu nâng cốc, cô nói dị ứng với rượu và chưa từng uống rượu bao giờ.

Kawa Hihara hỏi mọi người Lý Ninh Ngọc nói có đúng hay sai?

Mọi người đều nói không biết.

Bởi vì từ trước tới nay Lý Ninh Ngọc không hay giao tiếp với mọi người, chưa có ai đi ăn cơm cùng với cô.

Kawa Hihara nghe xong, cười: “Xem ra, Trưởng phòng Lý của chúng ta là con gái nhà lành đây”.

Lý Ninh Ngọc nghiêm nét mặt nói: “Tất nhiên rồi, lẽ nào Kawa Hihara lại muốn tôi trụy lạc sao?”.

Kawa Hihara cười ha hả: “Nếu cô cho rằng uống một chén rượu là trụy lạc thì tôi cũng muốn cô trụy lạc một chút, cơ hội hiếm có mà!”.

Không uống!

Dứt khoát không uống!

Do Lý Ninh Ngọc dở trò ảnh hưởng đến tâm trạng và không khí uống rượu của mọi người, khiến cả Kawa Hihara cũng tức tối.

Người tức giận thường đa nghi, Kawa Hihara nhìn ánh mắt lạnh nhạt thờ ơ của Lý Ninh Ngọc, bất giác nghĩ đến chắc chắn là cô sợ uống rượu vào sẽ lộ chân tướng?

Chính là nói, Lý Ninh Ngọc từ chối uống rượu chính là tự hại chính mình, gây sự nghi ngờ của Kawa Hihara đối với cô.

Nếu nói đây chỉ là ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu, vậy thì sự việc xảy ra sau đó hiển nhiên khiến Kawa Hihara nhắm đúng vào cô ‐ Lý Ninh Ngọc.

Sự việc là như thế này, dùng bữa được khoảng nửa tiếng, Lý Ninh Ngọc và Ngô Chí Quốc lại cãi nhau một trận!

Đây là việc sớm muộn mà thôi, vì trước đó hai người đã hục hặc với nhau, luôn tìm cớ cãi lộn, lúc này Kawa Hihara bày tiệc rượu rõ ràng là tạo cơ hội.

Châm ngòi.

Từ lúc ngồi vào chỗ, Ngô Chí Quốc đã trợn tròn dựng mày nhìn Lý Ninh Ngọc, tỏ ra tức giận.

Có lúc bốn mắt lườm nhau, Ngô Chí Quốc còn ngầm giơ nắm đấm về phía Lý Ninh Ngọc để uy hiếp.

Khi bắt đầu dùng bữa, nhân lúc chạm chén, Ngô Chí Quốc giở giọng càu nhàu, nói cạnh nói khóe, châm biếm mỉa mai.

Lý Ninh Ngọc không thèm đáp lời, nhẫn nhịn, làm như không nghe thấy, tỏ ra hết sức rộng lượng, nhưng có chút yếu thế nhường cho yên chuyện.

Sau đó Ngô Chí Quốc ra vẻ chợt nhớ ra điều gì, bắt Lý Ninh Ngọc trước mặt mọi người, nhắc lại một lần nữa những lời cô đã nói chiều hôm qua (cô đã dẫn anh vào phòng làm việc như thế nào và nói với anh về nội dung bức mật điện như thế nào).

Ngô Chí Quốc nói với Kawa Hihara: “Nếu như cô ấy nói không nhất quán, chứng tỏ cô ấy nói dối.”

Lý Ninh Ngọc hỏi lại: “Nếu giống nhau thì sao, liệu có chứng tỏ anh là Lão Quỷ”.

Ngô Chí Quốc nói: “Giống nhau thì chứng tỏ cô quá gian xảo, ngay cả lời nói dối cũng nhớ được”.

Lý Ninh Ngọc nói: “Nếu vậy thì tôi không nói đấy, kiểu gì mà tôi chả sai”.

Ngô Chí Quốc nói: “Cô không dám nói, ngay cả rượu cũng không dám uống, sợ uống rượu xong sẽ lòi cái đuôi Lão Quỷ ra mất…”.

Lời nói chưa dứt, chỉ thấy Lý Ninh Ngọc cầm chén rượu hắt về phía Ngô Chí Quốc, rượu đầy mặt Ngô Chí Quốc.

Cảnh tượng bỗng chốc trở nên hỗn loạn.

May những người khuyên can vừa nhiều lại hăng hái, kịp thời tách hai người ra, kéo đi, nếu không thì Lý Ninh Ngọc nhất định sẽ bị ăn vài đòn.

Ngô Chí Quốc là loại người nào chứ, cỗ máy đánh người, thượng cẳng chân hạ cẳng tay quen rồi.

Lý Ninh Ngọc dù gì cũng là con gái, tuy tính cách lạnh lùng cứng rắn, những nếu hai người đánh nhau thật, bị thua thiệt là nhãn tiền.

Tuy một cuộc ẩu đả đã được dẹp, nhưng bữa tiệc hồng môn của Kawa Hihara cũng bị phá hỏng.

Kawa Hihara nhìn mọi người lần lượt ra về, trong mắt và trong lòng hắn chỉ còn lại một người ‐ Lý Ninh Ngọc.

Kawa Hihara cho rằng, tối nay Lý Ninh Ngọc đã sơ hở ‐ gậy ông đập lưng ông!

Hắn không có cách nào để kiềm chế được suy nghĩ trước đó Lý Ninh Ngọc đã chịu đựng được sự khiêu khích và chửi đổng của Ngô Chí Quốc, vì sao lúc đó lại đột nhiên không chịu nổi?

Câu nói ấy khó nghe đến vậy sao?

Khó nghe ở chỗ nào?

Những câu nói đó là sạch sẽ mà, đâu có dơ bẩn, vừa không có ý đe dọa sẽ làm gì cô, cũng không đào bới cụ tổ tám đời nhà cô, quá lắm cũng chỉ là ác khẩu mà thôi, có chút mỉa mai nhân thân, đáng để nổi trận lôi đình sao?

Nghĩ đi nghĩ lại Kawa Hihara đều thấy không hợp lý, hắn đoán có thể Lý Ninh Ngọc cố tình gây rối, mục đích là dựa vào sự hỗn loạn để né tránh yêu cầu của Ngô Chí Quốc.

Suy đoán tiếp thì điều đó chứng tỏ có thể Lý Ninh Ngọc sợ mình nói không giống như trước.

Suy đoán thêm thì chứng tỏ có thể cô ấy nói dối.

Tiếp tục suy đoán thêm…

Sự việc càng rắc rối hơn.

Điều kỳ lạ là Kawa Hihara không vì thế mà cảm thấy phẫn nộ, không một chút nào.

Hình như còn có chút vui vẻ.

Có lẽ nói từ đáy lòng, hắn không muốn Cố Tiểu Mộng là Lão Quỷ, dẫu sao bố cô cũng là nhân vật đang nổi, tiếng tăm danh vọng, người cầm cờ, tấm gương của Chính quyền Nam Kinh, nếu như con gái ông làm xằng làm bậy thì đều can hệ đến ngụy quân ngụy quốc.

Chính quyền này vốn đã bị người dân khinh bỉ, quan chức cao cấp và nhân vật tiếng tăm danh vọng nếu gây ra chuyện gì tai tiếng gì, chẳng phải là đã xấu xa lại càng thêm xấu xa sao, càng khiến người đời phỉ nhổ mà thôi.

Tất nhiên, hy vọng là hy vọng, sự việc vẫn là sự việc, bây giờ nói ai đúng ai sai vẫn còn sớm, hãy đợi xem.

Xem cái gì chứ?

* * *

Vương Điền Hương đề nghị: Xem chữ của bọn họ.

Chính là nói tra xét nét chữ.

Đây quả là một ý kiến không tồi.

Kawa Hihara cũng đã nghĩ đến.

Chỉ có điều, một là với kinh nghiệm của hắn thì trong tình hình đối phương đã có sự chuẩn bị thì hiệu quả của kiểm tra nét chữ sẽ không cao.

Bây giờ đối phương như con chim sợ cành cong, anh bất thình lình kêu bọn họ đến viết cái gì đó, bọn họ không cảnh giác sao được.

Cảnh giác rồi thì liệu có hiệu quả không, lấy đâu ra hiệu quả.

Hai là Kawa Hihara còn ngại như vậy quá phiền phức, bắt cá trong chậu, hà tất phải phiền phức như vậy?

Bây giờ xem ra quả thật không đơn giản như vậy.

Phức tạp nữa là khác, những gì nên nói đều đã nói rồi, nên dọa cũng đã dọa rồi, nên lừa đã lừa rồi, nhưng vẫn không kết quả, vẫn không thấy người nào khuất phục đầu hàng, cũng chẳng thấy người nào tố cáo.

Tuy nói là có mục tiêu, nhưng rút cục lại không nắm được chứng cứ, chỉ là nghi ngờ mà thôi.

Trong tình hình này, để lấy chứng cứ, để làm rõ trắng đen, Kawa Hihara cũng không ngại phiền phức nữa, quyết định phải tra xét nét bút.

Biết đâu kết quả có thể ngoài cả ý muốn, hắn nghĩ.

Mà kiểm tra như thế nào?

Lẽ nào lại làm công khai dứt khoát?

Không được.

Kawa Hihara tự nhắc nhở mình không nên nóng vội.

Nóng vội sẽ hỏng việc.

Nóng ruột là biểu hiện của tình cảm quá cao, tình cảm quá cao sẽ khiến trí thông minh giảm xuống.

Con người như Kawa Hihara thuộc loại trí tuệ, thông minh hơn người, thích nhất được người khác khen mình trí tuệ hơn người, cũng sợ nhất bị người khác nắm được đằng chuôi cái nhược trí của mình, làm sao có thể làm việc ngốc nghếch được?

Bất cứ việc gì đều cần phải có phương án tốt nhất, tạm thời không có, không có nghĩa là lát nữa không có, tối nay không có không có nghĩa là ngày mai không có.

Có lẽ đi bộ, ngủ một giấc, mơ một giấc, những thứ không có lại sinh ra từ trong thứ không có, từ hư không, từ bóng tối, chẳng phải tổ tông đã nói, mọi thứ đều sinh ra từ hư không sao.

Theo cách nghĩ của Vương Điền Hương, tra xét nét bút là việc rất dễ, chỉ cần anh ta đọc những gì Lão Quỷ đã viết trên mảnh giấy, bắt bọn họ viết theo như kiểu viết chính tả vậy.

Nói thật nhẹ nhàng!

Nếu làm như vậy, dễ thì dễ thật, nhưng khó bảo đảm việc này sẽ đem lại kết quả.

Để đảm bảo có hiệu quả, Kawa Hihara điều chỉnh cho vấn đề phức tạp hóa, tự mình ngẫm nghĩ không nói ra, chỉ khổ cho Vương Điền Hương và Thư ký Bạch, chỉ riêng công việc chuẩn bị cũng đã phải vắt óc suy nghĩ rồi.

Làm gì?

Viết một bức thư.

Đúng vậy, là viết một bức thư.

Phương án mà Kawa Hihara trầm tư suy nghĩ là lấy giọng điệu của bốn người Ngô, Kim, Lý, Cố, viết thư cho từng người thân hoặc họ hàng của mỗi người.

Ý chính của bức thư là: Làm việc ở bên ngoài, viết thư báo bình an.

Giới hạn khoảng một trăm từ.

Việc này thì có gì khó?

Cái khó là ở phía sau, là ở yêu cầu: Trong bức thư phải bao hàm mười chín chữ mà Lão Quỷ đã viết trên mẩu giấy!

Việc này chẳng khác nào đeo xiềng xích bắt nhảy múa, bày võ đài trên nhành hoa mai, thử thách người ta quá đáng.

May mà tài viết và sức tưởng tượng của Thư ký Bạch có thừa, thư viết ra đủ thấy trình độ, còn “nộp bài” đúng thời gian.

Kawa Hihara xem xong, vui vẻ cho điểm tối đa.

Có được bức thư này rồi thì tra xét nét bút không còn gọi là tra xét nét bút nữa, mà gọi là gì nhỉ?

Gọi là thư báo bình an cho gia đình bọn họ vậy.

Nhưng tại sao lại không để họ tự viết?

Ấy là sợ họ không thận trọng trong lựa chọn ngôn từ, sơ xuất tiết lộ cơ mật.

Tóm lại là có thể miễn cưỡng nói là thông thuận, thêm nữa khi thực hiện cụ thể sẽ dùng một số biện pháp “ngu dân” thích hợp, về cơ bản có thể đảm bảo mê hoặc lòng người, đạt được mục đích làm tê liệt họ.

Cái gọi là “ngu dân” có ba cách: Thứ nhất, bất ngờ.

Không nói bất cứ điều gì trước, giữ bí mật, gọi tất cả mọi người đến rồi mới nói rõ nguyên nhân.

Thứ hai, phân tán.

Bốn người lần lượt đến, từng người từng người một, nhằm tạo ra cảm giác sai lầm chỉ có mình.

Thứ ba, truyền miệng trực tiếp, vừa nghĩ vừa nói, biết câu trước mà không hiểu ý sau, cảm giác như là vừa mới quyết định.

Việc này do Thư ký Bạch chủ trì, địa điểm tại phòng họp, tính chất là lừa gạt, đen tối.

Đừng nghĩ rằng như vậy là đã xong, chưa hết đâu, mới chỉ là một nửa.

Khi anh viết xong thư đi từ phòng họp ra, còn được Vương Điền Hương trong phòng khách mời chép lại ba lần nguyên văn lời viết trong mảnh giấy của Lão Quỷ “Cấp báo Lão Hổ, hành tung của đặc sứ 201 đã bại lộ, hủy bỏ Quần anh hội!

Lão Quỷ.

Ngày tháng”.

Như vậy là rõ rồi.

Có sáng có tối, mới thú vị chứ.

Về thời gian mà nói, thời gian chép ba lần nguyên văn lời viết của Lão Quỷ tương đương với thời gian ghi bức thư, vì thế có thể thực hiện lần lượt.

Anh vừa từ trên tầng đi xuống, trước tiên vào phòng họp viết một bức thư theo lời của Thư ký Bạch, sau đó lại vào phòng khách chép nguyên văn lời nhắn của Lão Quỷ, người thứ hai vào phòng họp viết thư… cùng một thời điểm.

Bốn người Ngô, Kim, Lý, Cố lên tầng xuống tầng, ra cửa vào cửa, ghi ghi chép chép, trong nhà diễn ra cảnh tượng nhộn nhịp.

Trong thời gian đó, Tư lệnh Trương cũng đến cổ vũ, việc chính của hắn là đến đưa điện báo cho Kawa Hihara.

Hai ngày nay, liên lạc giữa phòng điện tín và Nam Kinh liên tục, như hôm qua có tới năm lần liên lạc, sáu bức điện báo được đưa đến.

Nội dung những bức điện báo này đều có liên quan đến hành tung của tên K và chỉ thị liên quan đến việc này của Tướng quân Iwane Matsui.

Một tiếng trước, Tư lệnh Trương ăn xong, không có việc gì, tiện thể đến phòng điện tín xem, đúng lúc họ nhận được một bức điện báo quan trọng, nội dung như sau:

Điện khẩn!

Được biết tên K đã tới Thượng Hải, dự đoán tối nay có thể tới Hàng Châu, mọi việc nhất thiết phải tiến hành theo kế hoạch đã định, không được khinh suất manh động.

Tư lệnh Trương biết bức điện báo này rất quan trọng liền đích thân chuyển đến.

Kawa Hihara đọc xong bức điện, tính toán thời gian một hồi, sáng ngày hôm kia tên K xuất phát từ Tây An, đến Thượng Hải sớm hơn một ngày so với dự kiến, dự đoán là tên này chắc chắn đi tàu hỏa thẳng đến, không dừng lại ở Vũ Hán.

Tư lệnh Trương nói hắn cũng nghĩ như vậy, trước khi hắn tới đã tăng thêm lực lượng tại ga tàu theo dõi cẩn mật.

“Theo dõi thì có tác dụng gì?”, Kawa Hihara nói, “Khi anh lại không biết hắn”.

Cười cười rồi nói tiếp: “Mà có biết hắn thì cũng chẳng ích gì, bây giờ chúng ta không thể bắt hắn.

Anh đã dặn dò chưa, không được bắt hắn”.

“Dặn rồi, dặn rồi.”

Tư lệnh Trương luôn miệng đáp.

“Hãy để hắn tới,” Kawa Hihara vừa sắp xếp những mảnh giấy tra xét nét bút vừa thu được vừa nói, “đến rồi thì tốt, tôi chỉ sợ hắn không đến.

Đến rồi chứng tỏ hắn vẫn chưa biết sự thật, cắn câu rồi, cũng chứng tỏ Tư lệnh Trương có hy vọng lập công lớn.

Tạm thời chúng ta không cần quan tâm gì cả, chỉ trông chừng cho tốt núi Phượng Hoàng, ôm cây đợi thỏ.

Anh trông chừng cho tốt, đến lúc đó anh sẽ thấy bọn chúng, cũng giống như những trò này, có thể sẽ nói cho anh biết ai là Lão Quỷ”.

“Những trò” mà Kawa Hihara nói ấy, là chỉ nét chữ của bốn người bọn họ Ngô, Kim, Lý, Cố, lúc này đều thu đủ, để đợi xem.

Tư lệnh Trương vô tình đến đúng lúc, Kawa Hihara liền mời hắn cùng xem và tra xét.

Hai người bày sẵn thế trận chờ đợi, huy động toàn bộ tinh lực trí lực, chỉ sợ sơ suất một chút là sẽ bị Lão Quỷ lừa lại và qua mặt.

Là một gián điệp được đào tạo kỹ càng, Kawa Hihara có chút ít kiến thức nghiên cứu nét bút, hắn biết nét chữ giống như vân tay, chữ viết và nét bút của mỗi người là khác nhau.

Nhưng mặt khác nét bút dù gì cũng không phải là vân tay, vân tay thì không bao giờ thay đổi, ngay cả khi bị cắt da, lớp da mới lên vẫn như vậy, muốn phá cũng không phá được!

Còn nét chữ thì có thể thay đổi được, tuy nói vạn biến cũng không rời xa nguyên mẫu, nhưng muốn nhận ra nguyên gốc của nó cũng không phải là chuyện dễ dàng, nhất lại là những người đã luyện qua thư pháp, ngửa tay là mây, úp tay là mưa, khiến cho hắn hoa mắt chóng mặt.

Nhưng hôm nay hai người thật may mắn, Tư lệnh Trương vừa đọc đến tờ thứ hai thì kêu lên sung sướng: “Ngài Kawa Hihara, lại đây xem, ra rồi”.

Kawa Hihara chỉ nhìn qua là đồng tình với cảm giác của Tư lệnh Trương, lộ vẻ tươi cười.

Ngay sau đó, hai người đem bốn lần ghi chép của người này xem xét kỹ lưỡng, mỗi lần xem, Tư lệnh Trương lại kêu lên: Chính là hắn!

Kawa Hihara tuy không nói ra, nhưng vui sướng trong lòng.

Quả thật hắn không thể tin rằng Lão Quỷ lại hiện hình đơn giản như vậy, hơn nữa lại khó mà tin được rằng đó không phải là Lý Ninh Ngọc, cũng chẳng phải là Cố Tiểu Mộng.

Là ai?

Ngô Chí Quốc!

Có thể là do thận trọng, có thể là để chia sẻ sự vui sướng bất ngờ này, Kawa Hihara cho gọi Vương Điền Hương và Thư ký Bạch tới xem.

Trong bối cảnh không hề gợi ý hay có ám hiệu gì, họ đã đưa ra kết luận trùng hợp đến phát sợ, ngay cả khẩu khí và cách dùng từ tuyệt đối đều hết sức giống nhau.

Vương Điền Hương nói: “Chắc chắn là hắn!”.

Thư ký Bạch nói: “Đích thị là hắn!”.

Kawa Hihara nhìn Tư lệnh Trương: “Nói như vậy, chính là hắn rồi”.

Tư lệnh Trương nghiêm nét mặt: “Bắt hắn tới đây!”.

* * *

Ngô Chí Quốc bị Vương Điền Hương đưa từ trên tầng xuống.

Giải tới tất nhiên là để thẩm vấn.

Có được chứng cứ thép, những gì cần nói trong thẩm vấn đã được trình thức hóa, Kawa Hihara và Tư lệnh Trương đều thuộc làu làu, hai người anh một câu, tôi một câu, dọa này dọa nọ, tấn công bốn bề.

Nói, mày gia nhập Đảng Cộng sản khi nào?

Nói , tuyến trên của mày là ai?

Nói, tuyến dưới của mày là ai?

Nói, hãy khai hết những thứ mày biết ra mau…

Mới đầu Ngô Chí Quốc tỏ ra rất cứng rắn, đầu óc tỉnh táo, dùng từ chau chuốt, thái độ thản nhiên, ung dung không sợ sệt.

Nhưng khi Kawa Hihara vứt ra trước mặt anh nguyên mảnh giấy Lão Quỷ viết và bốn mảnh giấy do chính anh ta viết lúc tối, anh ta như thất thần, giống như gặp ma, ánh mắt đăm đăm, sắc mặt đanh lại, có thể thấy trong lòng khủng hoảng muôn phần.

Kawa Hihara ăn cơm của đặc vụ, thăm dò ý tứ qua sắc mặt và lời nói là chuyên môn chính, nhìn thấy thần sắc Ngô Chí Quốc thay đổi, hắn biết sự việc đã sắp đến hồi kết.

“Khai ra đi, Trưởng phòng Ngô.”

Kawa Hihara vỗ vai anh ta.

“Nghe rõ không, hãy khai đi!”

Ngón tay của Tư lệnh Trương giống như đoản kiếm chĩa vào trán anh ta.

Kawa Hihara gạt tay Tư lệnh Trương ra, dùng lời ngon ngọt khuyên nhủ: “Tôi nhớ Trung Quốc có một câu ngạn ngữ, gọi người biết thức thời là tuấn kiệt, bây giờ anh kháng cự không phải là tuấn kiệt đâu.”

“Tôn Ngộ Không có tới bảy mươi hai phép thần thông biến hóa, cũng không làm thay đổi được nét chữ của mình.”

Tư lệnh Trương gầm lên.

“Đúng vậy”, Kawa Hihara chỉ vào đống mẩu giấy trên bàn “anh không khai, nhưng chữ của anh đã khai rồi, giấy trắng mực đen, chứng cứ rành rành đấy”.

“Chưa nhìn thấy quan tài chưa nhỏ lệ đây mà, bây giờ mày đang đứng trước quan tài rồi, còn gì để chống đỡ.”

Tư lệnh Trương nhặt một mẩu giấy ném về phía Ngô Chí Quốc, “Xem kỹ đi, ngay cả thằng mù sờ cũng biết đây là chữ của mày”.

Kawa Hihara cười khà khà nói: “Tư lệnh Trương nói hơi phóng đại rồi, người mù không thể biết được, nhưng chúng ta có thể nhìn ra.

Mỗi người đều có thể nhìn ra.

Tôi thống kê cho anh, tổng cộng có mười tám chữ Hán, ba chữ số và một chữ cái tiếng Anh, ít nhất anh có mười chữ Hán và một chữ số viết giống hệt Lão Quỷ, thật là thần tình.

Hơn nữa trong đó có bốn chữ giống như dùng con dấu đóng lên vậy, có lẽ người mù cũng sờ ra đấy”.

Tư lệnh Trương chửi mắng: “Có phải là mày rượu mời không uống, muốn uống rượu phạt hử”.

Kawa Hihara khuyên nhủ: “Hãy thông minh đi, khai ra sẽ được miễn tội”.

Nhưng Ngô Chí Quốc vẫn không khai.

Kiên quyết không khai.

Lúc lên giọng thề thốt, lúc thì nói với giọng oán trách, cố gắng biện hộ cho sự trong sạch và oan khuất của mình, khiến Tư lệnh Trương tức điên người!

Khiến cho tinh thần và sự nhẫn nại mong manh được nuôi dưỡng trong đám người hèn nhát của Kawa Hihara cũng bị giày vò sống đi chết lại.

Vốn cho rằng trước chứng cứ thép, cuộc thẩm vấn sẽ có kết quả nhanh chóng, nào ngờ gặp phải thứ khó nhằn, xem ra một tiếng rưỡi đồng hồ vẫn chưa kết thúc.

Nói thật, Kawa Hihara không muốn lúc thẩm vấn có người khác luẩn quẩn bên cạnh, vừa nãy không tiện nói, bây giờ đã qua một hiệp, thất bại một hiệp, như chẳng còn gì mà ngại ngùng.

Hắn gọi Tư lệnh Trương ra cửa, khéo léo bảo Tư lệnh Trương về trước.

Thẩm vấn loại vớ vẩn thế này đâu phải việc của đại Tư lệnh chứ?

Tư lệnh chỉ cần ra lệnh rồi ngồi nhà đợi tin tốt lành là xong, vân vân.

Nói đến nỗi Tư lệnh Trương dãn hết cả gân cốt, để lại chỉ thị rồi đi.

Kawa Hihara tiễn Tư lệnh Trương về xong liền sai Vương Điền Hương đưa Ngô Chí Quốc đi.

Đi đâu?

Đến tòa nhà đối diện.

Làm gì?

Tất nhiên là thẩm vấn tiếp.

Thẩm vấn là cần phải có kỹ thuật, địa điểm, phương thức, ngôn ngữ, hoàn cảnh, không khí, nặng nhẹ, nhanh chậm, trình tự, tiết tấu vân vân, đều cần phải chau chuốt và có kỹ thuật.

Kawa Hihara áp giải anh đến chính là để chau chuốt và theo đuổi những thứ này, hy vọng như vậy có thể tăng thêm sức ép về tinh thần với Ngô Chí Quốc, khuất phục anh ta, khiến anh ta suy sụp.

Sang bên nay, giống như là về nhà vậy, Kawa Hihara có thể vừa nhâm nhi trà vừa thẩm vấn một cách không kiêng nể gì, chửi mắng, đe dọa, tra tấn…

đều có thể được.

Mệt mỏi, buồn ngủ có thể nghỉ trên ghế sofa ở phòng khách, cũng có thể lên tầng chợp mắt.

Mới đầu, việc hỏi cung được sắp xếp ngay ở phòng khách, Kawa Hihara mời Ngô Chí Quốc ngồi vào ghế sofa, còn sai Tham mưu Trương (béo) pha trà cho anh.

Biết anh ta hay hút thuốc, nên để sẵn một bao thuốc lá, còn đích thân rút cho anh ta một điếu.

Không nói nặng lời, chỉ là những câu khách khí, thậm chí cố gắng tạo ra sự vui vẻ.

Người ngoài nhìn thấy, nói gì thì cũng không giống với đang thẩm vấn, mà giống đang tiếp một người bạn cũ, hoặc một cấp dưới từ xa tới.

Tham mưu Trương (béo) cho là như vậy.

Vừa nãy hắn không sang bên kia nên không biết tình hình, cho là Ngô Chí Quốc lúc này đã hết bị nghi ngờ, có biết đâu đây vẫn là đang hỏi cung.

Đã là hỏi cung thì cần anh phải nói, cần anh khai ra hết sự thật.

Anh không khai, như thế là không thức thời.

Không biết nhìn lên.

Sai lầm lấy giầy rách làm mũ quan[1].

Không biết trời cao đất dày.

Không biết mình là ai…

Hầy, cái tốt không nhận, có phúc mà không biết hưởng, thì làm sao đến được thái cực.

Kawa Hihara vốn là người kiên nhẫn, nói bao nhiêu lời hay ý đẹp, nhẫn nhịn lại nhẫn nhịn nữa, cuối cùng không thể nhẫn được nữa, ném chén trà đang cầm trên tay về phía anh ta, quát: “Mẹ mày!

Không phải mày ép tao giở mặt đấy sao”.

[1] Cách nói có ý mỉa mai của người Trung Quốc.

Vương Điền Hương nhìn thấy ông chủ nổi cáu, Ngô Chí Quốc lại tránh được chén trà, không bị sao, nên có ý muốn lấy sĩ diện cho chủ, liền xông lên, đạp mạnh một đạp vào kheo gối Ngô Chí Quốc.

Ngô Chí Quốc vừa tránh được chén trà, còn đang bàng hoàng, đứng còn chưa vững, lại bị bồi thêm một đạp, kêu “ối” một tiếng rồi ngã quỵ xuống.

Kawa Hihara bước đến bên cạnh Ngô Chí Quốc, nhếch mép cười chế giễu nói: “Chẳng phải nói đầu gối đàn ông là vàng sao, thế nào mà nói quỳ là quỳ ngay thế?

Đứng dậy!

Mày không cần thể diện, còn quân phục làm gì chứ.”

Nhìn thấy Ngô Chí Quốc đã đứng dậy, hắn nói tiếp: “Nghe đây, tao cho mày một cơ hội nữa, đừng mà giả ngây giả ngô nữa nhé”.

Ngô Chí Quốc vẫn vậy không chịu thức thời.

Nghĩa là anh ta đã vứt đi cơ hội cuối cùng.

Không nhận.

Dứt khoát không nhận!

Điều khác trước là thái độ có thay đổi.

Khác hẳn.

Nước mắt đầm đìa kể khổ.

Hình như còn quỳ xuống, cốt cách và thể diện sẵn có trong anh đã vỡ vụn trên nền nhà, không còn nữa, không lấy lại được nữa.

Vương Điền Hương quát: “Đừng giả bộ nữa, nước “đái” của mày đáng giá gì đâu, đừng hòng mê hoặc bọn tao”.

Kawa Hihara xua xua tay với Vương Điền Hương, bước đến gần sát trước mặt Ngô Chí Quốc, mỉa mai nói: “Chẳng phải người ta thường nói nước mắt đàn ông khó rơi sao, tại sao anh lại khóc?

Tôi không chịu nổi nước mắt đàn ông đâu, trông như đàn bà vậy.

Khóc gì chứ, tôi không cần anh khóc, mà cần anh khai ra.

Cứ cho là nước mắt anh khiến tôi cảm động, thế này nhé, tôi cho anh thêm một cơ hội nữa, thế là tôi tận tình tận nghĩa với anh rồi”.

Kawa Hihara nói những lời tốt đẹp trước, sau đó là những lời cảnh cáo nghiêm khắc: “Nhưng anh đừng thử thách sự kiên nhẫn của tôi, đây nhất quyết là cơ hội cuối cùng của anh đấy”.

Ngô Chí Quốc lại lãng phí cơ hội cuối cùng.

Không nhận!

Nhất định không nhận!

Thể hiện tinh thần cách mạng gan dạ vốn có của các phần tử Cộng sản, thà chết không chịu khuất phục, xem cái chết là sự trở về.

Có thể nhẫn, ai lại không nhẫn?

Kawa Hihara đập bàn đứng dậy: “Sư mày, cứ cho là tao mở mắt ra, gặp phải mày, một hòn đá trong hố rác, vừa hôi thối vừa cứng!

Được, cho dù mày giả cứng, nói ngọt không nghe, muốn ăn đòn, được, sẽ cho mày biết”.

Hắn quay đầu ném một câu về phía Vương Điền Hương: “Đến lượt anh đấy, xem xem nó còn cứng cổ đến mức nào”.

Nói xong nghênh ngang bước đi, đi nửa bước đã quay lại, nhìn quanh, cuối cùng chỉ vào một căn phòng ở phía Đông ra lệnh cho Vương Điền Hương: “Hãy đi vào trong, đừng làm phiền tôi”.

* * *

Căn phòng mà Kawa Hihara chỉ liền với phòng khách, giáp tường phía Đông, là một gian phòng nhỏ, hiện vẫn bỏ trống.

Vương Điền Hương đi vào trước, xé ga trải giường chiếu, dọn dẹp hết đồ đạc trong phòng rồi mới gọi Tham mưu Trương (béo) đưa người vào.

Vừa bước vào phòng, Vương Điền Hương búng mẩu thuốc lá trên tay nhằm mặt Ngô Chí Quốc, Ngô Chí Quốc tránh được.

“Vẫn còn nhanh nhẹn lắm”, Vương Điền Hương cười nhạt, “chỉ có điều lòng dạ thâm độc, quả là một thằng khốn.”

“Anh cho rằng tôi là Lão Quỷ thật sao?”

Ngô Chí Quốc tức giận trừng mắt, “Nói cho anh biết, tôi không phải là Lão Quỷ”.

“Ái chà, vậy tôi nguy quá.”

Vương Điền Hương cố làm ra vẻ sợ hãi, “Đợi mày chứng minh được, chắc tao gặp họa rồi”.

Ngô Chí Quốc thản nhiên nói: “Cho nên anh nên để cho mình một con đường thoát”.

Vương Điền Hương cười gian xảo: “Đây chính là thứ đường lui của mày!”.

Hắn đá vào bụng Ngô Chí Quốc, Ngô Chí Quốc kêu lên một tiếng rồi nằm vật ra đất, khiến Tham mưu Trương (béo) đứng cạnh sợ hãi lùi lại hai bước.

“Xin lỗi.”

Vương Điền Hương nói bâng quơ, không biết là nói với Ngô Chí Quốc hay nói với Tham mưu Trương (béo).

Có thể là nói với Kawa Hihara ở tầng trên, vì nhìn từ góc độ phương hướng lan truyền và mức độ lan truyền của tiếng kêu vừa rồi thì Vương Điền Hương cảm thấy nó đã truyền đến tai ông chủ của mình.

Đây chẳng phải đã vi phạm yêu cầu rồi sao, thế là hắn lôi chiếc khăn phủ gối và khăn trải giường, bảo Tham mưu Trương (béo) cùng trói Ngô Chí Quốc vào khung giường và bịt miệng lại.

“Nghe đây”, Vương Điền Hương nói với Ngô Chí Quốc đang bị bịt miệng, “trước đây mày hành hình bọn phản động như thế nào thì hôm nay tao sẽ làm với mày như thế.

Khi mày đã không chịu nổi, muốn khai, thì gật đầu với tao ba cái.

Nghe rõ chưa, phải gật đầu liền ba cái, tao mới cho mày mở miệng”.

Ngô Chí Quốc vùng vẫy rất mạnh, kêu ú ớ ầm lên, giống như đang chửi bới.

Vương Điền Hương cười lạnh lùng nói: “Tao biết mày đang nói gì, mày nói tao đang lấy đá tự đập vào chân mình, đợi mày ra rồi, phục hồi chức vụ sẽ cho tao ăn đủ.

Nhưng tao nói cho mày biết, sẽ không có ngày đó đâu, mày cho là có ngày đó thật, sợ rằng khả năng đó chỉ một phần vạn thôi.

Tao dám không?

Không dám?

Còn tao dám đấy, điều đó chứng tỏ không có khả năng ấy.

Mày không nghe Tư lệnh Trương nói à, ngay cả thằng mù lấy tay sờ cũng biết là mày, tao không phải thằng mù đâu.

Bây giờ thằng mù là mày, đến lúc này mà vẫn không nhận, buộc bọn tao phải ác với mày.

Tham mưu Trương (béo), anh nói có đúng không?

Anh có sẵn lòng cho hắn uống rượu phạt không?

Chắc chắn là không, đều là người quen thân cả mà, ai muốn làm người ác đâu.

Nhưng mày buộc bọn tao phải làm vậy, hết cách rồi?

Mày có biết không?

Chính là mày buộc bọn tao thôi, chiều theo ý mày vậy”, vừa nói hắn vừa rút súng ngắn ra, cởi đai vũ trang đưa cho Tham mưu Trương: “Nào, hành động đi”.

Hành động thật!

Mặc dù bị bịt miệng, không cho kêu, nhưng Kawa Hihara ở tầng trên vẫn nghe thấy tiếng động ở dưới tầng: Tiếng đánh đập, âm thanh của dây da đánh vào vật cứng (khung giường, hoặc tường), tiếng gào thét nặng nề của Ngô Chí Quốc, tiếng chửi mắng không kiềm chế nổi của Vương Điền Hương, âm thanh lạ lẫm…

Không biết là do tức hay do tối hôm qua ở phòng khách ăn chơi nhảy múa bị mệt, ở trên tầng Kawa Hihara cảm thấy người rất uể oải, chân tay nặng nề, mắt hoa đầu váng.

Hắn ngồi dựa lưng trên giường, định nghỉ một lát rồi xuống dưới tầng ngó xem, sau đó không chống chịu nổi với cơn buồn ngủ, liền đánh một giấc, ngủ mê man.

Âm thanh dưới nhà chốc chốc lại đánh thức hắn, hắn nghĩ mông lung, bọn Cộng sản này đều như nhau, chưa thấy quan tài chưa nhỏ lệ.
 
Tiểu Thuyết Phong Thanh
CHƯƠNG SÁU


Sáng sớm ngày hôm sau, trời mới tờ mờ sáng, những người trong ngôi nhà vẫn đang ngủ, Kawa Hihara lại bị tiếng khóc của Ngô Chí Quốc trong mơ đánh thức.

Hắn mơ thấy Ngô Chí Quốc giống như một con rắn giả chết nằm cuộn dưới chân hắn, cầu xin tha mạng, nước mắt dàn dụa.

Khi tỉnh dậy, cảm giác đầu tiên của hắn là sự tĩnh mịch trong ngôi nhà, rất tối, cứ như là đã xảy ra chuyện gì chết người, có động mà không có âm thanh, có mặt trời mà không có ánh sáng.

Bóng đen mông lung chui qua khung kính cửa sổ, nằm im lìm trên đệm giường, xù lông, mạnh mẽ, mãnh liệt, biến ảo…

Bởi vì sự tĩnh mịch, hắn có cảm giác như nghe thấy cả âm thanh tụ tán của ánh bình minh.

Sự tĩnh lặng tột cùng khiến hắn có linh cảm một điều không tốt lành, hắn vùng dậy, vội vã mặc quần áo, lúc mở cửa tay đã nắm chắc khẩu súng, hình như ngoài cửa có một khẩu súng khác.

Một khẩu súng đầy thù hận, đạn đã lên nòng, kẽ chạm là nhả đạn.

Mở cửa ra nhìn, bên ngoài chẳng có gì, không có súng, chẳng có người, chỉ có âm thanh nhẹ nhàng lọt ra từ căn phòng bên cạnh, hình như có người.

Hắn thấy cửa đóng, không biết bên trong là ai, vẫn không dám buông lỏng tay súng.

Cho đến khi đi qua cửa sổ, thấy bóng đen của lính gác trước ngôi nhà đối diện vẫn như thường mới thở phào nhẹ nhõm, nới lỏng tay súng.

Hắn gõ cửa phòng bên cạnh, hỏi có xảy ra chuyện gì không, thực ra là muốn xem xem Vương Điền Hương có trong đó không.

Không có, cũng không có việc gì.

Hoặc giả nói, việc họ (hai tên nghe trộm) vừa nói, hắn cho rằng không tính.

Đi xuống dưới.

Tham mưu Trương (béo) suốt đêm tra tấn, thấm mệt, nằm ngửa trên ghế sofa ngáy, mặc giá rét, đùi đè lên khẩu súng ngắn, có hơi hướng của gái đĩ giả con nhà lành.

Kawa Hihara ho khan một tiếng, Tham mưu Trương (béo) lập tức tỉnh dậy, vội vàng đứng nghiêm, đầu gối run lập cập như sắp rơi xuống vực.

“Đã chịu khai chưa? ”

“Chưa.”

Nghe thấy chưa, vẫn chưa chịu khai.

Kawa Hihara nghĩ, thật đúng là một thằng khốn, vừa hôi thối lại vừa cứng đầu.

“Thế người đâu?”

“Ở trong ấy.”

Nhốt ở trong phòng.

Kawa Hihara định vào phòng xem, nhưng không thành, vì hắn bỗng nhiên thấy đau bụng.

Vào nhà vệ sinh mới thấy không phải là đau bụng thông thường, mà là miệng nôn trôn tháo, buộc phải đến bệnh viện khám.

Tình thế rất gấp gáp, thậm chí còn không kịp lôi Vương Điền Hương ra khỏi đống chăn, bảo Tham mưu Trương (béo) vội vàng xuất phát.

* * *

Bệnh cấp được điều trị cấp, kiểm soát được ngay.

Đúng mười giờ, Kawa Hihara và Tham mưu Trương (béo) từ thành phố trở về.

Xe tiến thẳng vào phía sân sau trang viên, ánh mắt của Kawa Hihara như vô tình, như cố ý nhìn sang Tây lầu, hắn thấy lính gác trước nhà đang quát mắng và xua đuổi một ông già.

Ông già gánh đôi sọt tre, trên đòn gánh vắt một chiếc khăn, trông như người đi thu mua đồng nát.

Ông già cao gầy, bước đi lưng thẳng tắp, chân tay thõng thượt, trông như người dị hình dị dạng, khiến Kawa Hihara chú ý.

Nhưng cũng không lưu tâm, mà chỉ nhìn để mà nhìn vậy thôi, chẳng suy nghĩ nhiều làm gì.

Về đến nhà, không thấy Vương Điền Hương, chỉ có một tên lính đang canh Ngô Chí Quốc ở phòng khách.

Kawa Hihara nghĩ Vương Điền Hương nhất định đang ở ngôi nhà đối diện, trong lòng không mấy vui vẻ, sai tên lính đi gọi Vương Điền Hương về.

Tên lính vẻ cảnh giác kiểm tra phòng của Ngô Chí Quốc, không có gì bất thường mới sán gần tới trước mặt Kawa Hihara nói một cách bí hiểm: “Sở trưởng Vương ra ngoài rồi.

Có tình hình mới, Ba Ba đến rồi, Sở trưởng Vương bám theo hắn rồi”.

Ba Ba là ai?

Kawa Hihara lúc này chưa nhớ ra.

Tham mưu Trương (béo) chỉ chỉ vào phòng của Ngô Chí Quốc thì thầm: “Chính là liên lạc của hắn”.

Kawa Hihara nhớ ra cái tên Ba Ba mà Vương Điền Hương đã từng kể cho hắn.

Chợt ngộ ra, ông già ban nãy hắn nhìn thấy từ trên xe có thể chính là Ba Ba, liền bỏ mặc tên lính, bước nhanh ra cửa nhìn.

Nhìn thấy Vương Điền Hương cởi áo khoác, cùng với một cấp dưới giả vờ luận bàn về võ nghệ bên bìa rừng, mắt không rời ông già, nên hắn càng tin chắc ông già chính là Ba Ba.

Lúc ấy, Ba Ba đã bị lính gác ở Tây lầu đuổi, hậm hực bước đi, ngó ngang liếc dọc mà không biết đi hướng nào ‐ hình như muốn đi sang bên này, nhưng lại lưỡng lự.

Kawa Hihara vội về phòng, bảo với Tham mưu Trương (béo): “Ba Ba đang ở ngoài kia, anh ra hỏi xem có phải lão đi thu lượm phế liệu không, nếu đúng thì bảo ở đây có ít giấy vụn, rồi dẫn lão vào đây. ”

Ba Ba hôm nay cải trang là một người thu lượm phế liệu, có giấy vụn tất nhiên sẽ đến lấy.

Lúc này anh là chủ nhà, việc của anh là bán giấy vụn, tuyệt đối đừng có làm gì hơn, kẻo rút dây động rừng.

Cho nên Ba Ba vừa vào, Kawa Hihara bảo lính gác đi ra chỗ khác, sai Tham mưu Trương (béo) lên tầng lấy mấy thùng giấy xuống.

Những thùng giấy này có phải là thứ bỏ đi đâu, đều dùng đựng thiết bị nghe trộm, bây giờ là đóng kịch nhưng làm thật, nên đành hy sinh mấy thùng giấy ấy.

Hơn nữa đây đâu phải sự hy sinh vô ích, mà là có ích, lợi ích lớn nữa là đằng khác.

Qua lần tiếp xúc này, vừa nhìn vừa nói chuyện với Ba Ba, lại thêm sự phối hợp ăn ý của Tham mưu Trương (béo), Kawa Hihara ít nhất cũng đạt được hai mục đích:

Một, tuy nói chuyện phiếm với Ba Ba, chẳng có nghĩa gì, nhưng âm thanh là có phương hướng và có dụng ý cả, đủ để Ngô Chí Quốc ở trong phòng nghe thấy.

Như là, nếu Ngô Chí Quốc là Lão Quỷ, hẳn sẽ hiểu được chuyện gì ‐ đồng bọn đang tìm.

Được!

Đồng bọn đang tìm mày, mày sốt ruột rồi hả.

Sốt ruột rồi sẽ dễ sơ suất, dễ mất lý trí.

Lúc này, cái mà Kawa Hihara đang đợi chính là: Để Ngô Chí Quốc sốt ruột, loạn trí, mất đi phương hướng.

Hai, nhân khi Ba Ba đang thu dọn thùng giấy, Kawa Hihara cố tình giả vờ như vừa nhớ ra điều gì, hỏi Tham mưu Trương (béo) đã đem hoa quả đến ngôi nhà đối diện chưa.

Câu hỏi rất tuyệt, bất kể Tham mưu Trương (béo) trả lời thế nào ‐ đem rồi hoặc chưa, Kawa Hihara đều có thể dựa vào đó để khéo léo thể hiện sự quan tâm của hắn với những người trong ngôi nhà đối diện, khiến cho Ba Ba càng sai lầm hơn khi nắm được những thông tin tình báo giả.

Mục đích thứ nhất như cho uống thuốc tiêu chảy, khiến cho Lão Quỷ đứng ngồi không yên: lúc tỉnh táo mà rối bời như có lửa đốt.

Còn mục đích thứ hai chính là mũi tiêm thuốc mê ‐ gây mê toàn thân, khiến Ba Ba và Lão Hổ không tỉnh lại được, trong lúc mê muội sẽ bình chân như vại.

Một tỉnh một say, giống như bên lồi bên lõm của cái mộng gỗ, ghép khớp rồi, chặt và không còn khe hở rồi thì cả cái khung mới chắc chắn được.

Vững chãi không thể đổ, chắc chắn như kim loại.

Như vậy, chỉ còn chờ để xem màn kịch hay.

Kawa Hihara thậm chí còn nghĩ, lần này sẽ lại đi khuyên Ngô Chí Quốc đầu hàng, cảm giác lần này nhất định khác trước, có khi chưa khuyên mà đã hàng rồi ấy chứ.

Kawa Hihara đích thân tiễn Ba Ba đi khá xa, bỗng dưng trong lòng nảy sinh chút thiện cảm với Ba Ba.

Hắn cảm kích lần tương phùng này, hắn cảm kích Ba Ba đến thật đúng lúc, khiến hắn có cơ hội gia cố cho cả cái khung, bảo đảm dạng như Lão K, Lão Hổ cuối cùng ngồi đợi kết cục là cái chết.

* * *

Vừa tiễn Ba Ba đi, Kawa Hihara vẫn đứng ở cửa ngẫm nghĩ, Vương Điền Hương đột nhiên như là ma hiện ra từ phía sau hắn.

Thế này là thế nào?

Vừa nãy chẳng phải còn ở bìa rừng cơ mà, vào trong phòng từ lúc nào nhỉ?

Thì ra Vương Điền Hương thấy Ba Ba được tên lính dẫn vào phòng, đoán là Kawa Hihara mời.

Hắn không dám ngang nhiên đi vào lối cửa chính, mà đi vòng ra đằng sau trèo cửa sổ vào.

Câu chuyện phiếm vừa rồi của Kawa Hihara và Ba Ba, cũng như màn kịch diễn đôi với Tham mưu Trương (béo), hắn ta đứng ở ngoài nghe thấy hết, lúc này Kawa Hihara nên lắng nghe hắn nói.

Vương Điền Hương nói, nửa tiếng trước, lính gác ở cổng chính gọi điện thoại cho anh ta bảo, hắn vừa cho một ông già thu lượm phế liệu vào, chính là người dọn vệ sinh ở doanh trại.

Vương Điền Hương nghĩ, đây không phải là Ba Ba sao, liền đi ra theo dõi.

Ba Ba hiển nhiên không biết mình đã bị lộ, sau lưng có rất nhiều cặp mắt to nhỏ dõi theo, lão lượn quanh một hồi mang tính tượng trưng rồi tiến thẳng về phía sân sau trang viên.

Bình thường, phía sau không có lấy một bóng người, đến đây thu lượm rác, chỉ có ma mới tin?

Vương Điền Hương dõi theo, trong lòng thầm nghĩ lão này đúng là liều lĩnh thật.

“Lão đi vào phía sau rồi đi thẳng đến Tây lầu à?”

“Đại thể là như vậy.”

“Không phải là đại thể, mà phải là khẳng định đúng không hay?”

Vương Điền Hương nói lưỡng lự: “Lão đi đến chỗ ngã rẽ, nhìn quanh rồi đi về phía Tây lầu”.

Kawa Hihara lại hỏi: “Là anh bảo lính gác không cho lão vào trong nhà à?”.

“Vâng…”

Vương Điền Hương lo lắng mình đã làm sai, nên nói vừa nhỏ lại vừa chần chừ, nhưng lại vội vàng giải thích ngay, “Tôi không biết anh muốn gặp lão, nên không dám cho lão vào”.

“Đương nhiên không thể để lão vào rồi.”

Kawa Hihara không trách, trái lại còn khen, “bên ấy người đông, nhiều chuyện, lỡ để cho lão phát hiện ra điều gì thì đúng là vạch áo cho người xem lưng, phức tạp ra”.

Nhưng Kawa Hihara tự trách mình, cho rằng bảo Tham mưu Trương (béo) đi gọi Ba Ba quá sớm.

“Gọi quá sớm mất rồi!”

Hắn tự trách mình, “Giờ thì chúng ta khó mà phán đoán được Ba Ba vốn dĩ có ý định vào đây, hay là bị tôi gọi vào”.

“Vậy thì có gì khác nhau?”

“Khác nhiều chứ!”

Kawa Hihara nói một cách đầy khoe khoang: “Nếu tôi không gọi lão, lão tự đi mất rồi thì tôi có thể lấy đó mà lập tức thả một người”.

“Ai vậy?”

“Cố Tiểu Mộng.”

Kawa Hihara phân tích, chuyến viếng thăm của Ba Ba hôm nay không ngoài hai mục đích: Một là tìm chứng cứ thực hư của tin tình báo giả; hai là tùy cơ ứng biến, xem có thể nối được liên lạc với Lão Quỷ, liên lạc được thì tốt mà không được thì thôi.

Trong hai mục đích thì mục đích thứ nhất là chính, mục đích thứ hai chỉ là “tiện tay dắt cừu” mà thôi.

“Vì sao?”

Kawa Hihara tự hỏi tự trả lời, “Chẳng phải các anh đã tiết lộ cơ mật cho lão sao, khiến lão có được dịp may biết Lão Quỷ đang thực hiện nhiệm vụ ở đây, nhưng rốt cuộc chỉ là nghe thì không có bằng chứng, làm sao mà quả quyết được chứ?

Phải nhìn thấy mới tin là thật chứ.

Thế là lão đến đây để làm rõ thực hư.

Giả như lão chỉ vào trong ngôi nhà đối diện thăm dò mà không sang bên này, thì anh nghĩ thế nào?”.

Nhìn Vương Điền Hương nhất thời không thể trả lời được, lại hỏi tiếp: “Thế lúc anh tiết lộ thông tin cho lão, có nói Lão Quỷ ở ngôi nhà nào không?”.

“Không.”

Vương Điền Hương nói quả quyết.

“Thế thì…”

Kawa Hihara nghĩ rồi nói, “Giả như lão chỉ vào ngôi nhà đối diện thăm dò mà không sang bên này, thì rõ ràng là lão đã biết Lão Quỷ ở bên đó.

Nhưng các anh không nói, lão làm sao biết được nhỉ?

Là ai đã nói cho lão?

Chỉ có thể là người nhà Lão Quỷ”.

Ngưng một lát, Kawa Hihara nói nhanh hơn, “Người nhà Lão Quỷ đã đến đây, biết bọn họ ở bên đó.

Ba Ba vốn là không thể biết, nếu mà là biết thì chắc chắn là người nhà Lão Quỷ đã nói với lão, điều này đủ để cho thấy người nhà Lão Quỷ chắc chắn cũng là Cộng sản.

Nhưng hôm đó người nhà Cố Tiểu Mộng đến là bà già quản gia, cơm chưa kịp ăn đã bị tôi tống cổ đi rồi, cơ bản là chưa đến đây.

Cho nên chúng ta có thể loại trừ Cố Tiểu Mộng”.

Nhưng bây giờ thì không được, bây giờ Ba Ba chưa đi đến ngã rẽ thì đã bị Tham mưu Trương (béo) gọi lại, cho nên không thể phán đoán Ba Ba rốt cuộc là bị gọi lại, hay là vốn đã chuẩn bị để vào.

Nói đi nói lại vẫn là gọi quá sớm, có lẽ chỉ sớm một phút thôi, nhưng đã mất đi cả một địa bàn rộng lớn ‐ tha hồ suy đoán.

Vương Điền Hương nhìn Kawa Hihara trầm ngâm trong sự tiếc nuối, khuyên hắn: “Thực ra cũng không sao, dù gì thì Ngô Chí Quốc chính là Lão Quỷ, còn cần những suy đoán ấy làm gì”.

Sự việc đã đến nước này, cái gì đáng nói đã nói rồi, mắng chửi rồi, đòn độc cũng dùng rồi, là hắn sợ Ngô Chí Quốc không phải là Lão Quỷ.

Kawa Hihara lắc đầu nói: “Không thể nói thế được, làm cái nghề của chúng ta, chứng cứ là số một, giờ chúng ta nhận định Ngô Chí Quốc là Lão Quỷ, chính là do chúng ta có được chứng cứ xác thực ‐ nét bút tích của hắn.

Nhưng chứng cứ đó chỉ có thể chứng minh hắn là Lão Quỷ, không thể chứng minh vợ hắn là đồng đảng.

Hơn nữa, chứng cứ đến tận tay, do mình suy tính chưa kỹ nên để tuột mất, tóm lại là đáng tiếc”.

Nói vậy, hình như đụng chạm đến cái gọi là tinh thần nghề nghiệp, Kawa Hihara cao hứng: “Lấy một ví dụ, hai người đánh cờ, cho dù thắng thua đã định, nhưng anh cũng nên đi từng nước cờ hay.

Đây chính là một thói quen, cũng chính thói quen tốt này, mới có thể bảo đảm anh luôn chiến thắng.

Hôm nay tôi đã hơi sơ suất, đi sai một nước cờ, đáng lẽ không nên như vậy”.

Kawa Hihara thực sự cảm thấy nuối tiếc, bện vào việc này, chỉ riêng chứng cứ thôi cũng nói không hết.

Hắn thở dài, nói tiếp: “Nói gì thì nói, bây giờ chúng ta rất cần cái bằng chứng này, Ngô Chí Quốc không chịu khai, điều này chứng tỏ bằng chứng chúng ta có là chưa đủ, ít nhất hắn cũng cho rằng còn có chỗ để chối cãi.

Nếu như bằng chứng đã có đủ, liệu hắn có còn chối cãi được không?

Dám không?”.

Vương Điền Hương nói: “Hắn chết cũng không khai đâu”.

“Tối qua anh đã tra tấn hắn chưa?”

Sau khi nghe được câu trả lời khẳng định của Vương Điền Hương, Kawa Hihara lại hỏi một cách bí hiểm, “Anh không sợ hắn không phải là Lão Quỷ à?”.

“Anh… là sao… tình hình có gì mới à?”

Vương Điền Hương bỗng nhiên trong lòng thấy gờn gợn.

“Không có.”

Kawa Hihara cười, “Đáng tra tấn thì vẫn phải tra tấn, tôi đồng ý anh còn sợ gì”.

“Tôi không sợ.”

Vương Điền Hương ra vẻ cứng rắn, “Sao không phải là hắn được, chắc chắn là hắn”.

Lúc này lính gác ở cổng gọi điện đến, báo cáo một tin giật mình: Ba Ba chưa đi!

Lão không đi thì còn làm gì?

Lẽ nào muốn ở lại?

Đương nhiên ở lại là không thể, lão không ngốc đến thế đâu.

Lão rất thông minh, đến nhà bếp lượn quanh một vòng, nhận ra một người, xem ra hai người rất thân thiết, có thể là người quen cũ.

Cũng không hẳn vậy, người kia là cấp dưỡng kiêm làm vệ sinh trong nhà ăn, cũng giống như lão, giống nhau cả.

Cũng đều là lưu lạc bốn phương trời, gặp nhau chắc gì đã là từng quen biết.

Kẻ tám lạng người nửa cân vừa mới quen nhau cũng có thể rất thân thiết, huống hồ là Ba Ba còn chủ động giúp anh ta chẻ củi.

Chẻ củi rất hăng say.

“Lão tạm thời sẽ không đi đâu.”

Kawa Hihara đoán vậy, “Lão phải đợi ăn bữa trưa xong rồi mới đi”.

“Lão muốn liên lạc với Lão Quỷ?”

Vương Điền Hương hỏi.

“Đúng vậy.”

Kawa Hihara nói, “Nhất định là lão đã nghe được từ đầu bếp bên ấy, bọn họ ăn cơm ở bên ngoài.

Lão cho rằng có cơ hội để liên lạc với Lão Quỷ, nên quyết định không đi nữa, mà đợi ăn cơm, thừa cơ liên lạc với Lão Quỷ”.

“Vậy phải làm thế nào?”

Vương Điền Hương chỉ vào phòng của Ngô Chí Quốc và hỏi, “Cho hắn ta đi ăn cơm chắc?”.

* * *

Phải vậy!

Tất nhiên là cần!

Kawa Hihara phân tích, hiện giờ Ba Ba chắc chắn không biết là mình bị theo dõi, đồng thời cũng muốn liên lạc với Lão Quỷ, cho nên chỉ cần Lão Quỷ lộ diện trước mắt lão thì lão nhất định sẽ tìm cách để liên lạc.

Ít nhất sẽ có dấu hiệu muốn liên lạc, có động tĩnh và có phản ứng.

Không cần bàn cãi, có phản ứng với ai, người đó chính là Lão Quỷ.

Rõ ràng, thân phận hiện tại của Ba Ba là rõ ràng, ý muốn liên lạc với Lão Quỷ cũng rất rõ ràng, lúc liên lạc có thể nhất cử nhất động cũng rõ ràng, sợ gì nháy mắt ra tín hiệu, hay giả vờ tiếng mèo kêu, lượn lởn vởn hay lắc lư xung quanh Lão Quỷ, tất cả đều bị theo dõi một cách nghiêm ngặt, không chi tiết nào có thể lọt qua hay che dấu được.

Có thể nói hiện giờ Ba Ba chính là thuốc thử Lão Quỷ, là đồng hồ dự báo nắng mưa.

Ngô Chí Quốc nói hắn không phải là Lão Quỷ, rốt cuộc có thế nào, đưa đến cho Ba Ba gặp là rõ trắng đen ngay.

Nói theo lời Kawa Hihara: Tấn công chính diện không chịu thì tấn công phía mạng sườn.

Nhưng mở cửa nhìn bộ dạng của Ngô Chí Quốc, Kawa Hihara biết là đã đi tong, kế hoạch của hắn đã đổ bể.

Có một đêm không gặp mà Kawa Hihara đã không nhận ra Ngô Chí Quốc, anh ta đã trở thành một con ma sống!

Cởi trần, áo trong áo ngoài đều cuốn lại, quấn ngược lên trên đầu, lưng thì như bị xẻ da cắt thịt.

Phần dưới thân, thắt lưng da đã bị rút ra, khiến quần bị tụt xuống dưới hông, quần lót loang lổ vết máu, nếu là con gái thì nhất định sẽ khiến người ta nghĩ vừa bị cưỡng hiếp.

Thấy vậy, theo bản năng Kawa Hihara lùi lại phía sau, dặn dò Vương Điền Hương hãy chỉnh trang lại cho anh ta rồi hãy đưa ra.

Hắn không ngờ Vương Điền Hương lại ra tay tàn độc đến vậy!

Ngô Chí Quốc được đưa ra trông cũng không khả quan hơn là mấy, lưng cúi lom khom, chân khập khiễng, đi từng bước run rẩy, trông giống như một bại tướng từ chiến trường trở về.

Nhưng trên mặt không có mấy những vết tím bầm hay chảy máu, công lao đó thuộc về Vương Điền Hương vì đã kịp thời quấn áo anh ta lên đầu (Như vậy tránh được bốn mắt nhìn nhau, cũng không ảnh hướng đến giấc ngủ của Kawa Hihara), nhưng có thể đã bị khăn trải gối nhét chặt quá nên giờ miệng không ngậm lại được, giống hình chữ O, khóe miệng còn hai vết máu, trông rất thê thảm.

Kawa Hihara thậm chí chưa nhìn hết lượt đã xua tay bảo không đi nữa, khiến mọi người không sao hiểu nổi.

Không dễ gì có được cơ hội minh oan, lại bị hủy bỏ.

Ngô Chí Quốc không chịu, vùng vẫy, khàn giọng gào thét kêu oan với Kawa Hihara, không chịu trở về phòng.

Kawa Hihara tiến đến trước mặt anh, lạnh lùng nói: “Không gào nữa, mày còn kêu gào tao sẽ bịt miệng lại đấy”.

Ngô Chí Quốc nhìn thấy Tham mưu Trương (béo) tay đang cầm chiếc khăn trải gối lúc nãy vừa rút ra từ miệng mình, bất cứ lúc nào đều có thể bị nhét trở lại, nên ngoan ngoãn im lặng, đợi Kawa Hihara lên tiếng.

Kawa Hihara hỏi: “Ban nãy không ngủ chứ, chắc mày cũng biết có người đến thăm chứ?”.

“Ai?”

Ngô Chí Quốc lơ ngơ không rõ, hoặc là giả vờ lơ ngơ không rõ.

“Ba Ba đấy.”

“Ba Ba là ai?

Tôi không quen…

Tôi không biết Ba Ba nào cả…”

Kawa Hihara cắt ngang: “Đừng giả vờ nữa, nói thật là định cho mày một cơ hội, để chúng mày được gặp nhau một lần.

Nhưng mày như thế này thì làm sao mà được, Ba Ba nhìn thấy bộ dạng mày thế này thì sẽ biết ngay mày đã bị bọn tao bắt, bị tra tấn, như thế thì bọn tao làm sao mà bắt được Lão K.

Cho nên, không được, mày hãy quay về phòng đợi đấy.”

Ngô Chí Quốc nhìn Vương Điền Hương chuẩn bị ra kéo mình đi, vội né sang một bên, gấp gáp nói: “Ngài Kawa Hihara, tôi không phải là Lão Quỷ… tôi không biết…

Ba Ba gì đó… ngài hãy nghe tôi nói…”.

Nhưng tiếc là không nói được nữa rồi, vì Vương Điền Hương và Tham mưu Trương (béo) đã ôm chặt anh, bịt miệng anh ta lại.

Nói chung, Kawa Hihara cảm thấy hắn và Ba Ba không có duyên, hai cơ hội ngon ăn dâng đến tận nơi mà lại bỏ lỡ, đều thất bại, không có duyên tận dụng, còn khiến thêm bận rộn, ngay đến thời gian uống ngụm nước cũng không có.

Trong lòng buồn bực, miệng cũng khát khô, hắn quyết định lên tầng pha trà uống.

Hơn nữa, còn phải uống thuốc.

Uống thuốc xong, Kawa Hihara không xuống tầng ngay, mà đứng trước cửa sổ hành lang, vừa nhâm nhi thưởng thức trà vừa nhìn ra bên ngoài cửa sổ.

Ánh nắng chiếu vào ngôi nhà đối diện phía Tây sáng một cách lạ thường, mỗi ô cửa kính đều lấp lánh, dường như cả ngôi nhà đang có những âm thanh rất khẽ, như là vô số những con kiến đang di chuyển nó về tổ.

Kawa Hihara, bọn họ đều muốn được về nhà.

Lại nghĩ bọn họ sẽ sớm được trở về thôi, chỉ cần một lời của Ngô Chí Quốc: Khai!

Nhưng Ngô Chí Quốc giờ đây có vẻ gì là khai đâu?

Hắn sẵn sàng chết.

Chết cũng không khai, khiến hắn không thể kết thúc… khiến hắn phải nghi ngờ người khác… khiến hắn tạo ra oan giả án sai… khiến hắn ăn không ngon đã phải đi…

Nghĩ vậy, khiến cho nỗi hận trong lòng của Kawa Hihara với Ngô Chí Quốc càng mạnh mẽ, rõ ràng, đầu óc cũng theo đó mà nhanh nhẹn, tỉnh táo hơn, suy nghĩ như sóng trào lần lượt ập về.

Cứ như vậy, Kawa Hihara có một linh cảm, bèn lập tức cất bước đi xuống tầng.

* * *

Kawa Hihara đi đến Tây lầu, cùng bọn họ tiến hành họp.

Tại cuộc họp, Kawa Hihara thẳng thắn cảnh báo, hắn đã nắm được những chứng cứ vô cùng chính xác chứng minh Ngô Chí Quốc chính là Lão Quỷ.

“Mọi người sẽ nói, sao bắt được Lão Quỷ rồi mà không cho bọn tôi về nhà?”.

Kawa Hihara cười, vẻ mặt mừng rỡ nói: “Phải về chứ, cũng nên về rồi, có điều theo trình tự thì phải chậm lại chút.

Trình tự gì?

Trình tự Ngô Chí Quốc khai nhận.

Bây giờ tôi cũng không cần phải giấu các vị nữa, nói thật, mặc dù chứng cớ rành rành nhưng Ngô Chí Quốc vẫn đang nằm mơ, không chịu khai nhận”.

Hắn lắc đầu, biểu lộ phần nào tức giận: “Đây là do anh ta không thông minh, hoặc cũng có thể nói là quá thông minh, tự cho rằng mình thông minh!

Kết quả chắc chắn là thông minh đã hại hại thông minh, không chịu khai, tự mình làm hại mình.

Người Trung Quốc các vị có câu “đi với Bụt mặc áo cà sa”, đi đến địa ngục rồi mà anh ta vẫn mơ giấc mơ thiên đàng, các vị nói xem như vậy có phải là rất ngu ngốc không?

Thật quá ngu ngốc!

Nhưng nói gì thì nói, anh ta chưa chịu khai, sự việc chưa thể kết thúc.

Đấy là vấn đề trình tự, cũng giống như bài văn viết xong rồi, vẫn cần đặt một dấu chấm hết.

Bây giờ chúng ta đang đợi anh ta đặt dấu chấm hết này”.

Nói đến đây Kawa Hihara ngừng lại, nhìn quanh mọi người.

Thấy Cố Tiểu Mộng định nói gì những lại thôi, hắn cổ vũ: “Cô nói đi, cô Cố, có điều gì cứ nói tự nhiên”.

Cố Tiểu Mộng nói: “Nếu như Ngô Chí Quốc không chịu đặt dấu chấm hết ấy thì sao?”.

Nói ra đúng nỗi lo chung của mọi người.

Kawa Hihara cười nói: “Vậy ư?

Sẽ không đâu.

Các vị nghĩ xem, tứ chi đã chìm dưới nước rồi, cái đuôi liệu có thể ở trên bờ được không?

Không thể, chỉ là sớm muộn mà thôi, nằm mơ mà thôi.

Đã là nằm mơ thì sẽ tỉnh lại, thế gian này làm gì có người mơ mà không tỉnh, gọi không tỉnh, đánh cũng không tỉnh sao.

Không cần phải lo, các vị phải tin tưởng sự việc đó không phải do anh ta quyết mà do chúng tôi, còn cả các vị nữa.

Tôi triệu tập các vị tới họp chính là ý đó, hy vọng mọi người gạt hết mọi lo ngại trong lòng, phối hợp với chúng tôi để kéo anh ta ra khỏi cơn mơ, gọi anh ta tỉnh dậy.

Anh ta tỉnh sớm chút nào, chúng ta giải tán, về nhà sớm chút đó”.

Kawa Hihara nói ra những điều này đều là thật lòng, thổ lộ lòng mình, rất thật.

Kawa Hihara giải thích: “Tôi đã mở cửa, mục đích là hy vọng các vị không còn đắn đo, nói thoải mái, có gì nói nấy.

Tôi tin Ngô Chí Quốc chính là Lão Quỷ, các vị không phải sợ, suy nghĩ kỹ, tìm ra chứng cứ, anh ta sẽ hết đường chối cãi”.

Nếu tìm không được thì làm sao?

Cũng không sao.

Nói theo một ý nghĩa nào đó, không tìm được cũng là bình thường.

Sự việc đã đến nước này, nếu như ai có chứng cứ Ngô Chí Quốc là Lão Quỷ, dù có là bán tín bán nghi cũng đã sớm báo cáo rồi.

Con người mà, đều có lý trí, tự mình bảo vệ mình là lý trí cơ bản nhất.

Mọi người quả nhiên không có bất kỳ thứ gì có giá trị.

Kawa Hihara cũng không hề tức giận, còn an ủi mọi người: “Điều này chứng tỏ Ngô Chí Quốc không phải là con mèo ba chân.

Hắn cáo già quỷ quyệt, đa mưu túc trí, bình thường hành sự rất thận trọng, kín kẽ từng ly từng tý, nên qua mặt mọi người”.

Nói một thôi một hồi, cổ họng đắng ngắt, miệng khô lưỡi cứng, Kawa Hihara chỉ muốn mọi người yên tâm, không lo sợ, vui vẻ đến nhà ăn ăn cơm (đi gặp Ba Ba).

Ba Ba vừa ra sức chẻ củi giúp, vừa sốt ruột đợi Lão Quỷ đi ăn cơm.

Xem ra giờ lão không gặp được Ngô Chí Quốc rồi, với bộ dạng không ra hồn người như vậy, ai dám để hắn ra gặp?

Không dám.

Không gặp được thì “thuốc thử” làm sao có phản ứng được?

Cơ hội tốt như vậy, đã mang đến tận nơi rồi mà đành bỏ phí, Kawa Hihara cảm thấy thật nuối tiếc.

Nhưng chớ vội, Kawa Hihara đã có linh cảm, nghĩ ra một nước cờ hay.

Hay không thể tả!

Nước cờ này có chút của kiểu giương đông kích tây, nguyên lý cụ thể là: Ba Ba gặp Lão Quỷ chắc chắn sẽ có biểu hiện, vậy nếu không có biểu hiện thì sao?

Thì không phải là Lão Quỷ.

Hiện giờ chúng ta biết, Ngô Chí Quốc mười phần đã có tám chín phần là Lão Quỷ, giả sử Kawa Hihara đưa bọn họ tới nhà ăn ăn cơm, cố để cho Ba Ba thấy, tạo cơ hội để Ba Ba có biểu hiện, nếu Ba Ba thờ ơ, lẽ nào lại không thể chứng minh Ngô Chí Quốc là Lão Quỷ?

Đó là vấn đề toán học giản đơn, có thể dùng lô‐gích bài trừ để suy đoán:

Giả thiết: Lão Quỷ là X

Đã biết: X = 1/ABCD Do: X ≠ ABC

Vậy: X = D

Thực ra, nói một cách ngắn gọn, càng đơn giản hơn: Không phải cái này thì là cái kia.

Phép phản chứng.

Tóm lại, như vậy là thông rồi, rất lô‐gích, hơn thế không gây hậu quả bất lợi, có thể mạnh dạn thực hiện.

Với cách tính này, Kawa Hihara mới hào hứng thông báo thẳng thắn như vậy.

Hào hứng là vì việc này có ý nghĩa, có lợi chứ không có hại, không có sơ hở.

Thẳng thắn một nửa là xuất phát từ sự tin tưởng với những người ABC hiện tại, một nửa là từ nhu cầu thực tế.

Kawa Hihara chuẩn bị sắp xếp cho bọn họ một bữa trưa nhẹ nhàng, để Ba Ba có thể thoải mái có biểu hiện ngay tại chỗ, vì thế cần thiết phải có cách nói dọn đường trước.

Với tình hình hiện tại, nói bịa đặt thế nào cũng không bằng nói thật.

Như vậy vừa đỡ rắc rối, vừa không phải lao tâm khổ tứ bịa chuyện, lại có cả đường lui.

Mặc dù có bằng chứng rõ ràng trong tay, khả năng Ngô Chí Quốc là Lão Quỷ cực lớn, nhưng rốt cuộc vẫn chưa thể kết án được, bởi vì chưa phải là một trăm phần trăm.

Biết đâu cứ làm, lại chẳng hé lộ ra chút ít?

Khả năng này rất nhỏ, có lẽ chỉ khoảng không phẩy một phần trăm.

Nhưng khi sự việc phức tạp thêm, thì không thể dễ nói được, biết đâu cái không phẩy một phần trăm này lại chính là một trăm phần trăm.

Kawa Hihara thậm chí còn nghĩ, chút ít hé lộ có thể xuất hiện với hai phương thức sau:

1, X ≠ D, X = 1/ABC.

Vậy là, Lão Quỷ không phải là Ngô Chí Quốc, mà là người khác.

2, X = D+1/ABC.

Vậy là, Lão Quỷ không phải một người, mà là một đôi.

Hơn thế, không cần biết liệu có hé lộ được điều gì không, đằng nào bây giờ nói thật vẫn là đúng, có trăm lợi mà không một chút hại nào.

Nếu như không hé lộ được điều gì, thì Ngô Chí Quốc chính là Lão Quỷ (X = D), có thể coi là sự tin tưởng đối với bọn họ (ABC), cũng chính là những gì họ đáng có.

Nếu hé lộ được điều gì ( X = 1/ABC hoặc D + 1/ABC), thì sẽ có sẵn mưu kế, có thể khiến Lão Quỷ của 1/ABC mất cảnh giác, buông lơi cảnh giác, mạnh dạn liên lạc với Ba Ba.

Chính bởi dòng suy nghĩ này, Kawa Hihara mới đến Tây lầu diễn vai một người tốt, quang minh lỗi lạc, thành thật và tốt bụng.

Hắn có đủ nhẫn nại, đủ nhiệt tình và hứng thú, vui vẻ dẫn mọi người đến nhà ăn ăn cơm.

* * *

Khi ăn cơm, Kawa Hihara cười nói oang oang, tỏ ra hết sức thân thiện, như một vị cấp trên bình dị, gần gũi.

Ba Ba đương nhiên không cần phải lo, Kawa Hihara sẽ tạo thuận lợi cho lão, để lão có thừa điều kiện và cơ hội phát hiện và tiếp cận với bọn họ.

Vì thế, trước tiên Kawa Hihara chọn bàn ăn ở phòng ăn lớn, trên tầng dưới tầng đều nhìn thấy hết, đi đến cũng gần, sau đó vời mấy cô nàng trẻ trung trên tầng xuống tiếp rượu và hát, khuấy động không khí.

Đây vốn là giả ý uống rượu mừng thành công, gọi vài ba cô nàng trẻ trung phục vụ thì có gì sai, hơn nữa ở đây có đầy các cô nàng, chỉ đợi các anh gọi.

Thoạt đầu mọi người có chút câu nệ, kể cả Vương Điền Hương và Thư ký Bạch, dù gì Kawa Hihara cũng là cấp trên, người của Nhật Hoàng.

Nhưng nghe vài bài hát, uống mấy chén rượu, ai nấy đều mạnh bạo hơn, người uống cũng nhiều hơn, tiết tấu cũng nhanh hơn, càng lúc càng trở nên náo nhiệt.

Duy có Lý Ninh Ngọc, vì không uống được rượu nên không tham gia, có phần cô đơn vô vị.

Nhưng Cố Tiểu Mộng dường như có ý che chở cho cô, chốc chốc lại kéo cô nhập hội, chơi trò đoán số không được, chơi trò dễ hơn, tung đồng xu, ném xúc xắc, thậm chí đến cả oẳn tù tỳ, nếu thua bị phạt rượu thì Cố Tiểu Mộng uống hộ.

Thế là, Lý Ninh Ngọc cũng không cô đơn.

Thế là, rượu càng uống lại càng ngọt, hát càng nhiều càng hay, trò vui càng lúc càng nhiều, tán tỉnh, chửi mắng, uống rượu giao tay, rượu uống như nước lã, không khí thật náo nhiệt, khiến mọi người ở tầng trên tầng dưới đều thấy lạ, chốc chốc lại ngó nhìn.

Có lúc (Vương Điền Hương quan sát) còn có cả một đám đông quây lại xem, hoặc dựa vào lan can trên tầng nhìn xuống, hoặc là đứng lì bên cạnh xem.

Lúc này, Kawa Hihara và Vương Điền Hương liên tục rời khỏi chỗ ngồi, lúc thì đi nghe điện thoại, lúc thì ra nhà vệ sinh, bịt miệng khạc đờm đi ra cửa nhổ.

Nói chung là phải tin, Kawa Hihara đã bằng mọi cách nói phải tin, hôm nay mình không phải là đối tượng nghi vấn, không ai theo dõi, có thể tự do hoạt động, tự do tự tại, rất tiện cho việc đưa ra những ám hiệu.

Dễ như trở bàn tay.

Cho nên, nếu anh là Lão Quỷ, khi Ba Ba đến, anh nhất định có cơ hội liên lạc.

Kawa Hihara không cần phải lo Ba Ba không xuất hiện.

Hôm nay Ba Ba đến đây là muốn gặp Lão Quỷ, đến tận nơi gặp thì không được, ở lại đây ăn cơm cũng có thể lắm chứ, có thể nói sốt ruột muốn gặp mặt, sẽ dám mạo hiểm làm liều.

Bây giờ cơ hội tốt như vậy, làm sao có thể bỏ qua được?

Lão ở lại cũng chính là đợi cơ hội này.

Cơ hội sẽ khiến lão đến, sẽ dẫn đường cho lão.

Quả nhiên, mọi người vừa ngồi ổn định thì Kawa Hihara thấy Ba Ba xuất hiện.

Lão từ nhà bếp đi ra, lượn lờ ở quầy bar một hồi, lấy hai que tăm rồi đi.

Có vẻ đây là hành động thám thính.

Vương Điền Hương thấy vậy, đưa mắt ra tín hiệu với kíp trưởng, kíp trưởng ngầm hiểu ý, đi đến nhà bếp nói bóng gió để Ba Ba nghe thấy, dặn nhân viên phục vụ lấy thêm cho cái bát đôi đũa, Trưởng ban Ngô sẽ đến.

Việc này đã được tính toán trước, tránh để Ba Ba không nhìn thấy Ngô Chí Quốc sẽ nghĩ lung tung.

Chừng mười phút sau, Ba Ba lại xuất hiện.

Đúng ra thì lần này không thể coi là Ba Ba xuất hiện, lão chỉ thò đầu ra ở hành lang rồi lùi vào trong ngay.

Như lần trước, kíp trưởng lại theo yêu cầu của Vương Điền Hương đi vào bếp nói bóng gió cho Ba Ba nghe thấy, gọi nhân viên phục vụ chuẩn bị ngay một xuất cơm mang cho Trưởng ban Ngô, anh ta đang giải quyết một việc gấp nên không có thời gian xuống ăn.

Đây cũng là điều đã nằm trong kế hoạch, để xem Ba Ba còn xuất hiện nữa không: Nếu còn xuất hiện, thì cho thấy còn khả năng hé lộ điều khác (X = 1/ABC), ngược lại, một trăm phần trăm là Ngô Chí Quốc (X = D).

Kết quả, Ba Ba không xuất hiện nữa, đến lúc tiệc tàn mọi người giải tán cũng không thấy lão lộ diện.

Ba Ba đang làm gì nhỉ?

Hóa ra lão không làm gì cả, chỉ ngồi xổm ở bên cạnh bếp lò phì phèo hút thuốc.

Đến khi nghe thấy bên ngoài tan cuộc giải tán, lão mới đứng dậy, đi theo Kawa Hihara và đoàn người, giữ khoảng cách khoảng mấy chục mét.

Không khí bữa tiệc rượu khá náo nhiệt, nhưng không kéo dài, chưa đến một tiếng đồng hồ.

Một là do Kawa Hihara dự đoán Ba Ba sẽ không lộ diện nữa, bữa tiệc kéo dài cũng vô ích.

Thứ hai, Cố Tiểu Mộng có chút quá chén, chửi mắng người khác, cô ta chửi Ngô Chí Quốc:

“Mẹ nó chứ, bọn Nhật chó má hại bà, nhốt bà hai ngày ở đây!”

Ai bảo mọi người đang bị nhốt?

Mọi người đang thi hành nhiệm vụ!

Không được, như vậy sẽ hỏng việc, nhanh chóng bịt mồm cô ta lại.

Vương Điền Hương vội vàng sai người đỡ cô ta đi, mọi người cũng theo đó giải tán.

Phong cách uống rượu của Cố Tiểu

Mộng khá quân tử, thích uống, nhưng tửu lượng không nhiều, hơn thế còn uống hộ Lý Ninh Ngọc bao nhiêu là rượu phạt, sớm muộn gì chẳng say.

Cũng may là chỉ say lơ mơ thôi, không phải say túy lúy, bảo đi thì cô cũng đi, không càn quấy, làm hỏng kế hoạch lớn của Kawa Hihara.

Qua bữa rượu hôm nay, Kawa Hihara có chút thiện cảm với Cố Tiểu Mộng.

Trên đường trở về, nửa đoạn đường Kawa Hihara chỉ nghĩ về Ngô Chí Quốc, càng nghĩ trong lòng càng cảm thấy vững tin, cứ như là đã uống thuốc định tâm hoàn.

Không thể nghi ngờ, chính là hắn.

Nửa đoạn đường sau khi chia tay với tốp người ở Tây lầu chỗ ngã rẽ, Kawa Hihara không hiểu sao lại nói chuyện với Vương Điền Hương: “Nếu Lão Quỷ ở trong số bọn họ”, hắn chỉ tay về phía tốp người của Thư ký Bạch vừa chia tay bên kia, “qua quan sát ở bữa rượu hôm nay, liệu anh có được kết luận gì?”.

Vương Điền Hương bối rối: “Sao bây giờ anh vẫn còn nghi ngờ bọn họ?

Lão Quỷ chính là Ngô Chí Quốc rồi”.

Kawa Hihara nói: “Tôi không nói không phải là Ngô Chí Quốc, là tôi nói giả sử không có Ngô Chí Quốc, căn cứ vào những biểu hiện trên bàn rượu vừa nãy, anh có thể đưa ra phán đoán như thế nào?”.

Thì ra, là nói chơi, mà cũng là kiểm tra hắn, xem hắn có thể thông qua hiện tượng để nắm bắt bản chất không.

Rất tiếc, Vương Điền Hương chẳng nắm bắt được gì, ấp a ấp úng, không biết nói gì.

“Lẽ nào anh không cảm thấy cô ta đáng yêu sao?”

Kawa Hihara bất chợt hỏi.

“Ai cơ?”

“Cố Tiểu Mộng.”

“Đáng yêu?”

Vương Điền Hương sững sờ, thể hiện sự không đồng tình, “Anh không nhìn cô ta uống say à, suýt nữa lật hết tẩy của chúng ta còn gì”.

Kawa Hihara bảo rằng, dám uống rượu đến say chính là sự đáng yêu của cô ta.

Kawa Hihara nói: “Chẳng phải anh bảo cô ta thích uống rượu sao, tối qua tôi mời bọn họ uống rượu, mục đích là xem cô ta có dám uống không, nhưng bị Lý Ninh Ngọc quấy rối, nên không nhận thấy.

Thích uống rượu lại không dám uống, rõ ràng là vô lý, không ngờ cố ấy dám uống thật.

Điều này cho thấy trong cô ta không có ma.

Anh cũng thấy rồi đấy, cô ta uống say, nói lung tung, nếu như cô ta là Lão Quỷ, chắc chắn sẽ không dám vô tư như vậy, cô ta dám, chứng tỏ cô ta không phải.

Cho nên, tôi dám chắc gã họ Giản có thể cho qua được rồi”.

Nói như vậy, Cố Tiểu Mộng là người đầu tiên may mắn được loại ra khỏi danh sách đối tượng tình nghi.

Như vậy thì Kawa Hihara nên để cô đi rồi, nhưng nghĩ cái miệng oang oang của Cố Tiểu Mộng, sợ cô ra ngoài nói lung tung hỏng mất việc lớn, Kawa Hihara quyết định tạm thời để cô chịu thiệt thòi đôi chút.

Vương Điền Hương cười khẩy: “Như vậy có thể đúng với ý của cô ta rồi”.

Kawa Hihara không hiểu: “Ý anh là sao?”.

Vương Điền Hương phát hiện Cố Tiểu Mộng rất tốt với Lý Ninh Ngọc, trước mặt hay sau lưng đều bảo vệ Lý Ninh Ngọc: “Nhất là vừa nãy, sau khi uống rượu say, ánh mắt cô ta nhìn Lý Ninh Ngọc rất trìu mến, ấm áp”.

Kawa Hihara nghe xong cố ra vẻ nghiêm túc nói: “Anh không định nói với tôi rằng họ đồng tính đấy chứ?”.

Vương Điền Hương nói: “Kiểu gì thì loại người sinh ra trong những gia đình giàu có, bệnh quái quỷ gì cũng đều có thể có”.

Kawa Hihara cười khẩy: “Anh biết thế nào gọi là đồng tính luyến ái không?”.

Vương Điền Hương lắc đầu đầy vẻ hiếu kỳ: “Còn ngài chắc biết chứ?”.

Kawa Hihara cười nói: “Vấn đề sâu xa như vậy, tôi sao biết được”.
 
Tiểu Thuyết Phong Thanh
CHƯƠNG BẢY


Kawa Hihara cũng thế mà Vương Điền Hương cũng vậy, bữa cơm trưa nay không chỉ cơm no rượu say, mà còn như uống cả định tâm hoàn.

Định tâm hoàn xuất xưởng từ luật bài trừ trong lý thuyết toán học, chất lượng đảm bảo.

Tâm đã ổn định, ý định cũng đã có.

Thế là, về đến nhà, Kawa Hihara vội đưa Ngô Chí Quốc ra phòng khách, đích thân thẩm vấn.

Ngô Chí Quốc được đưa ra, tay bị trói, bịt miệng, cho thấy anh vẫn không chịu khai.

Tham mưu Trương (béo) bảo có lúc anh hung dữ như con sói, kêu gào đòi gặp Tư lệnh Trương.

Kawa Hihara lôi cái khăn bịt miệng anh ra: “Mày cần gặp Tư lệnh Trương à, tao bây giờ chính là Tư lệnh Trương, thay mặt Tư lệnh Trương đây, mày cần nói gì thì nói đi”.

Sao mà có thể nói ngay được, miệng lưỡi tê dại, thử mấy lần đều vô ích.

Kawa Hihara nói: “Được rồi, hãy nghe bọn tao nói trước vậy”.

Sau đó bảo Vương Điền Hương kể lại chuyện buổi trưa cho Ngô Chí Quốc nghe một lượt.

Kể xong, Kawa Hihara nói với Ngô Chí Quốc: “Nghe rõ rồi chứ, tình hình là vậy, Ba Ba mong ngóng gặp mày.

Lần đầu ngó ra, không thấy mày, lão quay đầu đi luôn, nghe nói mày sẽ đến, lão lại ra ngó lần nữa.

Nghe nói mày không đến tham gia được, thì không thấy lão ra nữa.

Như vậy nói lên điều gì chứ?

Chứng tỏ rằng lão đi loanh quanh ở đó là vì mày, mày còn cãi không quen lão à, thế mà mày cũng nói ra được.

Có điều, tao nghĩ bây giờ mày sẽ không nói như vậy nữa, nói cho tao biết mày định nói gì bây giờ?”.

Lưỡi của Ngô Chí Quốc đã cử động được, tuy chưa được như bình thường, nhưng vẫn có thể nhả ra được từng chữ, nói từng chữ từng chữ, như người vừa mới học nói, cà lắp cà lắp: “Tôi… rõ ràng là… không… quen… với ông ấy”.

Kawa Hihara cắt ngang: “Mày nói những điều ấy, nhưng tao không muốn nghe”.

Quay đầu lại nói với Vương Điền Hương và Tham mưu Trương (béo), “Các anh muốn nghe thì cứ nghe, tôi đi đây”.

Hắn bỏ đi sẽ là lại đến màn tra tấn, Ngô Chí Quốc vội bước lên trước, chặn đường của Kawa Hihara, mắt trợn trừng trừng giận dữ, như là chuẩn bị bất chấp tất cả.

Kawa Hihara theo bản năng lùi lại một bước, quát: “Mày muốn gì!”.

Thấy Vương Điền Hương lao lên như tên bắn, chắn trước mặt, rõ ràng là bảo vệ cho hắn, Kawa Hihara càng tức vì vừa rồi đã lùi lại một bước.

Có lẽ là muốn lấy lại thể diện, hắn đẩy Vương Điền Hương ra, tiến lên trước bạt tai Ngô Chí Quốc một cái nổ đom đóm mắt, quát: “Mày muốn chết?”.

Ngô Chí Quốc nhắm mắt lại, vừa chua xót nói: “Kawa Hihara, không ngờ…

ông cũng là thứ giẻ rách, coi một người trung thành với Hoàng quân… là giặc Cộng”.

Kawa Hihara hậm hừ: “Bây giờ mày hãy mau khai ra, như thế mới là trung thành tuyệt đối với Hoàng quân”.

Ngô Chí Quốc mở to mắt, lưỡi cũng đã linh hoạt hơn, nói một cách hùng hồn: “Tôi có… trung thành hay không, ông có thể đi hỏi… cả cái thành phố này, hỏi cả… sông Tiền Đường, những người ở đây… ai mà không biết…

Trong công việc tiễu phỉ… tôi đã xuất sắc như thế nào…

đã bắt và giết bao nhiêu tên giặc Tưởng… giặc Cộng…

Tôi mà là Lão Quỷ, bọn giặc Tưởng, giặc Cộng kia ai bắt, ai giết”.

Kawa Hihara không lấy làm ngạc nhiên: “Theo như tao biết, những người mày đã bắt và giết phần lớn là bọn Tưởng, còn Cộng sản có được bao nhiêu”.

Miệng lưỡi như đã linh hoạt hơn, Ngô Chí Quốc nói một mạch: “Đấy là do bọn Cộng sản ít, lại rất ma lanh, chủ yếu hoạt động ở khu vực rừng núi, nên rất khó bắt”.

“Không,” Kawa Hihara cười gằn: “bởi vì mày là Lão Quỷ, làm sao mày lại bắt giết chính đồng chí của mày được?”.

“Không phải vậy!”

Ngô Chí Quốc kêu lên, “Lý Ninh Ngọc mới chính là Lão Quỷ!”.

“Theo ý mày, thì Ba Ba cũng không phải là Cộng sản ư?”

“Tôi không biết Ba Ba nào cả…”

“Nhưng lão lại biết mày.”

“Không thể nào!”

Ngô Chí Quát nói to, “Ông đã bảo lão ấy đến nhận diện tôi”.

Dù gì cũng là cấp trên, trong lúc nguy cấp, khẩu khí của trưởng ban cũng được bộc lộ, khiến cho Kawa Hihara được một trận cười.

“Tao đi gọi lão ấy ư?”

Kawa Hihara cười nham hiểm, “Không được, tao phải nuôi lão để câu con cá lớn chứ”.

“Con cá lớn ở ngay cạnh ông đấy.”

“Đúng vậy, đó chính là mày.”

“Là Lý Ninh Ngọc!”

“Lý Ninh Ngọc ư?”

“Chính là Lý Ninh Ngọc!”

Kawa Hihara chầm chậm bước đi, nụ cười trên mặt dần tan biến, dường như là đang thử thách mức độ nhẫn nại, cũng có thể là sự trầm ngâm trước khi nổi giận.

Vương Điền Hương đã sớm muốn ra uy giúp Kawa Hihara, bây giờ có cơ hội, tiến đến túm tóc Ngô Chí Quốc, buông lời chửi mắng: “Mẹ mày chứ, mày còn nói là Lý Ninh Ngọc, ông mày đây cắt cái lưỡi chó của mày đi đấy!

Chẳng lẽ Lý Ninh Ngọc lại biết viết chữ của mày à!”.

“Đúng!”

Ngô Chí Quốc kiên quyết khẳng định, “Cô ấy đã vụng trộm luyện chữ của tôi!”.

“Mày nói láo!”, Vương Điền Hương tiện tay cho một bạt, suýt nữa thì quật Ngô Chí Quốc ngã xuống nền nhà.

Ngô Chí Quốc đứng vững lại, tiến lên một bước gần hơn với Kawa Hihara, nói ngon ngọt: “Ngài Kawa Hihara, những điều tôi nói đều là thật, Lý Ninh Ngọc viết được chữ của tôi, cô ta đã vụng trộm luyện viết chữ của tôi”.

Điều này quả thực có chút giật mình, khiến cho Kawa Hihara cười ha hả, cười xong lại cảm thấy có chút gì đó không đáng cười, chỉ thấy hoang đường, sa sầm mặt lại, cảnh cáo Ngô Chí Quốc: “Mày còn trò gì nữa thì đem nốt ra đi.

Thật là hoang đường!

Lý Ninh Ngọc luyện viết chữ của mày ư, chứng cứ đâu?

Lấy ra đây, tao sẽ thả cho mày về”.

“Chứng cứ chính là hai chữ đó rất giống.”

Ngô Chí Quốc ngẩng đầu lên, xúc động nói, “Hai chữ mà ông bảo đến người mù cũng sờ thấy giống ấy chính là chứng cứ.

Cô ta đang âm mưu với chứng cứ của tôi, ông xem…”.

Ngô Chí Quốc lấy từ trong người ra một tờ giấy, đưa cho Kawa Hihara, “Đây cũng là chữ tôi viết, có giống như vậy không?

Người mù cũng sờ thấy giống không?”.

Kawa Hihara cầm mẩu giấy xem, phát hiện trên giấy viết đầy câu ấy.

Đây là tờ giấy Ngô Chí Quốc đã tranh thủ viết lúc ăn trưa được cởi trói.

Có lẽ các chuyên gia chuyên về nghiên cứu nét bút cuối cùng cũng sẽ từ mớ bùng nhùng ấy nhận ra, đây cũng vậy do chính tay Ngô Chí Quốc viết, nhưng tuyệt đối không giống như tối qua đã viết, liếc qua là biết ngay, ai nhìn cũng nhận ra, đến người mù sờ cũng phát hiện ra.

Ngô Chí Quốc tranh thủ lúc Kawa Hihara xem mẩu giấy, ra sức giải thích: “Nếu như tôi là Lão Quỷ, tối qua khi kiểm tra nét chữ, kiểu gì tôi cũng sẽ cố tình thay đổi nét chữ của mình khác đi chứ…”.

Kawa Hihara ngắt lời: “Lúc đầu chép thư mày đâu có biết là kiểm tra nét chữ”.

Ngô Chí Quốc đáp: “Nếu tôi là Lão Quỷ thì tôi sẽ biết.

Làm gì có việc như vậy, vô duyên vô cớ gọi bọn tôi đến chép một bức thư.

Tôi không phải là Lão Quỷ thì cũng đoán ra được, đây chắc chắn là đang cần nét chữ của bọn tôi”.

Ngô Chí Quốc năm lần bảy lượt nhấn mạnh, nếu như anh ta là Lão Quỷ, thì trường hợp như buổi tối qua anh ta nhất định sẽ cố tình thay đổi nét chữ của mình: “Chẳng sợ thay đổi không giỏi, cuối cùng cũng sẽ bị các ông phát hiện, nhưng tuyệt đối không giống như bây giờ, không thay đổi một chút nào, ai cũng đều nhìn ra, càng không thể có mấy chữ giống kiểu đóng cùng một con dấu được”.

Ngô Chí Quốc nói, giống hệt như đóng con dấu, điều này càng chứng tỏ không phải anh ta.

Đó là thứ nhất.

Thứ hai là, nói ngược lại thì nếu anh ta là Lão Quỷ, với chứng cớ rành rành trước mặt, dù có không chịu đầu hàng, cũng sẽ thừa nhận mình là Lão Quỷ, không việc gì phải vì thế mà chịu đòn tra tấn dã man.

“Thừa nhận mình là Lão Quỷ và đầu hàng là hai chuyện khác nhau.”

Ngô Chí Quốc thao thao hùng biện: “Tôi không ngốc đến mức ấy, một mặt như thằng ngốc, khi kiểm tra nét chữ, tự chui đầu vào rọ.

Mặt khác giống như một thằng điên chỉ vì mỗi cái danh phận Lão Quỷ mà phải liều chết chống lại, bị đánh thảm đến mức này vẫn không thừa nhận”.

Anh ta cầu khẩn Kawa Hihara tin mình, có người âm mưu hãm hại anh, người ấy chính là Lão Quỷ ‐ Lý Ninh Ngọc.

“Ai là Lão Quỷ, nếu trừ Lý Ninh Ngọc ra.”

Ngô Chí Quốc thề rằng có thể lấy tính mạng để đảm bảo, hôm đó anh tuyệt đối không vào phòng làm việc của Lý Ninh Ngọc, Lý Ninh Ngọc cũng chưa hề nói với anh nội dung điện mật: Đây chính là căn cứ để anh tin Lý Ninh Ngọc chính là Lão Quỷ.

Nói đến việc Lý Ninh Ngọc tại sao lại phải vụng trộm luyện theo chữ của Ngô Chí Quốc để hại anh ta, anh ta giải thích là vì anh đã bắt và giết rất nhiều giặc Tưởng và giặc Cộng, nên là cái gai trong mắt bọn giặc Tưởng, giặc Cộng.

Lý Ninh Ngọc là Lão Quỷ, nhất định muốn trừ khử anh ta, âm mưu hãm hại anh ta, cho nên lợi dụng thuận lợi trong công việc mà lén lút khổ luyện viết nét chữ của anh ta, và dùng chữ của anh để gửi những tin tức tình báo.

Anh bảo mặc dù hiện tại đây chỉ là một giả thiết, nhưng khả năng này hoàn toàn có thể tồn tại, nhất định là tồn tại.

Anh ta nói: “Kỳ thực, đây là những trò mà người làm công tác đặc vụ thường làm”.

Vì thế, anh ta còn nêu ra một ví dụ khiến cho Kawa Hihara cảm thấy sát thực, trước đây anh có nghe người ta nói, ở Âu Mỹ, kể cả Nhật Bản, mỗi một điệp viên chuyên nghiệp, khi đào tạo đều được yêu cầu phải viết được hai kiểu chữ, trong đó một kiểu chữ là để chuyên dùng vào việc gửi tin tức tình báo.

Những điều này chính là do anh vắt óc nghĩ ra trong lúc bị kích động bởi đau đớn và sợ hãi, nghe ra có vẻ rất hợp lý.

Đương nhiên cũng có thể là âm mưu trong âm mưu, sự gian xảo trong gian xảo.

Kawa Hihara nghe xong không nói một lời, bỏ đi.

Lên tầng.

Qua thần sắc thì không nhận ra được rốt cuộc hắn bị những lời giải thích vô cùng hợp lý của Ngô Chí Quốc thuyết phục, hay là bị âm mưu trong âm mưu khiến cho tức giận.

* * *

Không cần biết bị thuyết phục hay là bị chọc tức, đối với Vương Điền Hương mà nói, sự việc đã vượt ra ngoài sức tưởng tượng và ý nguyện của hắn.

Hắn vốn nghĩ hôm nay nhất định sẽ kết thúc được vụ này, thậm chí đã hẹn trước với nhóm phục vụ của nhà khách tối nay đi giải khuây.

Bây giờ thấy sự việc hình như đã có thay đổi, chuyển hướng và đi sang ngả khác.

Về cả tình và lý, đây là điều hắn không thể chấp nhận được.

Hắn muốn kéo sự việc quay lại chiều hướng cũ, nhưng không nhận được sự chấp nhận của Kawa Hihara, cho nên không dám liều mình.

Vậy thì phải bí mật, tự làm và lặng lẽ làm.

Hắn nhốt Ngô Chí Quốc vào trong phòng, sau đó ra ngoài cửa hút thuốc để lấy lại tỉnh táo, quay lại khóa cửa phòng, bắt đầu một mình thẩm vấn Ngô Chí Quốc, cứ như là tự dựng công đường vậy.

Mới đầu Vương Điền Hương không nói to, đến Tham mưu Trương (béo) ngồi ở phòng khách cũng không nghe thấy họ nói gì.

Sau đó tiếng nói liên tiếp lọt ra, có lúc thậm chí rất vang, Tham mưu Trương (béo) có thể nghe thấy rất rõ.

Vương Điền Hương: …

Mày thề cũng không có giá trị!

Ngô Chí Quốc: …

Vương Điền Hương: Tao cần chứng cứ!

Ngô Chí Quốc: Lý Ninh Ngọc lén luyện viết chữ của tôi chính là chứng cứ.

Vương Điền Hương: Nói láo!

Ý của mày là Lý Ninh Ngọc đã biết trước tin tức tình báo ấy sẽ rơi vào tay bọn tao, cho nên đã mô phỏng theo chữ của mày để hại mày phải không?

Có ma quỷ mới tin lời mày!

Ngô Chí Quốc: Cô ta đã sớm tập viết chữ của tôi từ trước, muốn hãm hại tôi.

Vương Điền Hương: Sao cô ta không hãm hại tao, không hãm hại Kim Sinh Hỏa, lại chỉ hãm hại mày?

Mày với cô ấy có thù hận à?

Ngô Chí Quốc: Bởi vì tôi là người chỉ huy công tác diệt trừ giặc Tưởng giặc Cộng.

Vương Điền Hương: Bây giờ mày chỉ có thể chỉ huy được sự sống chết của bản thân mày thôi!

Đúng lúc, Kawa Hihara ở trên tầng gọi Vương Điền Hương.

Vương Điền Hương biết chắc do mình nói to kinh động đến Kawa Hihara, hậm hực đi lên tầng.

Gặp Kawa Hihara, Vương Điền Hương có ý phủ đầu: “Ngài Kawa Hihara, hắn nói toàn những thứ bịa đặt, tôi không thể tin được”.

Kawa Hihara cười lạnh lùng: “Cho nên anh không can tâm, muốn giải quyết nhanh việc này?

Vội gì chứ”.

Kawa Hihara mời Vương Điền Hương ngồi, “Tư lệnh Trương (béo) nói rất hay, cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra, anh sợ cái gì chứ, chúng ta có nhiều thời gian mà.

Đừng nóng vội, không nên dùng chiến thuật biển người, ép cả thời gian nghỉ ngơi của người ta, hà tất phải vậy?

Không đáng đâu”.

Không phải là chỉ trích, mà là cố gần gũi, quan tâm.

Cái Vương Điền Hương quan tâm chính là Kawa Hihara không được để những lời ma quỷ của Ngô Chí Quốc mê hoặc: “Ngài thấy hắn nói có lý không, ngài Kawa Hihara?”.

Vương Điền Hương như vướng ở trong cổ, buột miệng hỏi, muốn cố nuốt xuống mà không nuốt được.

Đấy chính là điều hắn quan tâm nhất bây giờ, nên rất muốn được an ủi.

Kawa Hihara nghĩ ngợi, cuối cùng nói một cách lập lờ: “Vỏ quýt dày có móng tay nhọn”.

Nói xong vứt tờ báo đang cầm trên tay cho Vương Điền Hương, “Cô ta hiện giờ đang ở đâu?”.

Người hắn hỏi là bà.

“Trong thành, vẫn bị nhốt.”

“Anh đi dẫn cô ta về đây cho tôi.”

Vương Điền Hương có chút chần chừ, Kawa Hihara trợn mắt nhìn anh: “Đừng nói với tôi là cô ta không biết Lão Quỷ, tôi biết là hôm qua anh giấu tôi gọi cô ta đến để nhận diện.

Anh cứ tự cho rằng mình thông minh, như vậy không được đâu, làm hỏng việc đấy”.

Vương Điền Hương đờ đẫn nhìn ảnh chân dung mợ Hai trên báo, không biết ông chủ đang an ủi gì mình.

Kawa Hihara như đoán được ý nghĩ của Vương Điền Hương: “Đừng quan tâm tôi sẽ làm gì, nhanh chóng đi dẫn cô ta về đây.

Đi nhanh về sớm, tôi chờ”.

Thế là Vương Điền Hương đi.

* * *

Bà Hai đúng là còn rất trẻ, dù đã kinh qua nhiều việc như kết hôn, sinh con, làm cách mạng, nhưng mới có hai mươi hai tuổi, ở cái tuổi đẹp như hoa.

Ba năm trước, khi bà Hai được gả cho Tiền Hổ Dực làm vợ bé thì chưa xinh đẹp như bây giờ, thân hình cũng mảnh dẻ, yếu ớt, ánh mắt toát lên vẻ đoan chính, tóc thì bị bạn học theo cách mạng cắt ngắn, trông hơi giống con trai.

Lúc bấy giờ cô mới tốt nghiệp trường trung học Cửu Bằng, người bạn cách mạng của cô động viên cô cùng đi Nam Kinh thi vào trường quốc lập nữ thục Kim Lăng, nhưng bố mẹ cô không đồng ý, hoặc đã nói không thể đồng ý được vì tốn quá nhiều tiền.

Sau đó, có một hôm, gã họ Tiền mang theo một túi tiền tìm đến bố mẹ cô, nói muốn làm con rể của họ, đây là sính lễ.

Bố cô nhìn món tiền có thể đủ cho con gái đi học ở Nam Kinh, bèn gọi vợ và con gái ra thương lượng, xem cô có đồng ý với giải pháp này không để được đi học.

Cô đã đồng ý, nhưng lại không đi học.

Bố cô đến lúc chết cũng không hiểu được cuối cùng là con gái tự nguyện, hay là kết quả của việc con gái đã bị bà vợ hám lợi lừa gạt hoặc cưỡng ép.

Tóm lại, bà Hai đã chôn vùi tuổi thanh xuân của mình như vậy đấy, làm vợ lẽ của Tiền Hổ Dực.

Con gái lớn thay đổi trông thấy.

Sau đó, Vương Điền Hương thấy dáng người của bà Hai đầy đặn hơn, lộ rõ các đường cong cơ thể, tóc càng ngày càng dài mượt, những người đi đường ngoái lại nhìn cô nhiều hơn.

Do vậy, gã Tiền thường khoác lác hắn chính là chuyên gia làm đẹp cho chị em.

Nói láo, đúng ra phải nói ngược lại, gã chiếm hữu, hưởng thụ, phung phí và chà đạp năm tháng tuổi xuân tươi đẹp của bà Hai.

Cũng may là thời gian chà đạp không quá lâu, bà Hai năm nay cũng mới có hai mươi hai tuổi, đi trên phố vẫn vậy, luôn thu hút ánh mắt nhìn theo của đàn ông.

Do thân phận hiện tại của cô không chỉ là nhân viên của một hãng vận tải nào đó, mà còn là tuyến dưới của Ba Ba: Một cô gái trăng hoa thường xuyên đến sạp thuốc lá của Ba Ba mua thuốc hút, cho nên cô học được cách trang điểm.

Đó là cách trang điểm dễ khơi dậy dục vọng của đàn ông, chiếc túi nhỏ cô mang theo người toàn đựng đồ trang điểm như: phấn hồng, son môi, kem trắng da, phấn lót, bút kẻ lông mày, nước hoa, kem trang điểm, v.v…, hơn nữa kỹ thuật trang điểm cũng rất điệu nghệ, quệt quệt mấy cái là tươi xinh và hương thơm ngất ngây ngay.

Bây giờ, cô nghe Vương Điền Hương nói là sẽ dẫn cô tới Cầu trang, cô không biết là đi làm gì, nghĩ chắc là có người muốn hỏi cung, thế là cô lại quệt quệt vài nhát, trang điểm cho mình trở thành một cô gái trăng hoa lả lơi.

Đây chính là thân phận hiện tại của cô, cô phải làm tốt thân phận này thì mới có cơ che dấu được tất cả.

Cô cũng đã quyết tâm rồi, không thừa nhận bản thân là Cộng sản (Lão Hán).

Cô nói với Vương Điền Hương: “Đồ khốn, mày cần tình thì tao có thể chiều, vì bây giờ làm làm cái nghề này, bị bọn khốn chúng mày cưỡng hiếp.

Nhưng mày nói tao là Cộng sản gì đó, thì tao thấy mày đúng là đã bị bọn Nhật Bản thối tha làm cho ngu muội rồi.

Sao có thể như thế được chứ?

Tao chỉ là một con điếm, một con điếm đã bị thằng chó chết Tiền Hổ Dực vùi dập tan nát, nếu mày không hiềm khích tao đã từng là vợ thằng chó họ Tiền, muốn ngủ với tao thì mày cứ tự nhiên.

Nhưng tao bảo muốn ngủ với tao thì phải đưa tao về nhà mày, chứ không đến Cầu trang, tao ghét cái nơi quỷ quái ấy lắm rồi”.

Vương Điền Hương cười ha hả: “Tôi không thèm làm tình với cô đâu, giờ đây những người mà tôi muốn ngủ có rất nhiều, họ đều xinh đẹp trẻ trung hơn cô”.

May mà Kawa Hihara không nghe thấy câu này, Kawa Hihara mà nghe thấy chắc chắn sẽ mắng Vương Điền Hương không biết phân biệt hàng!

Thô tục!

Ấn tượng của Kawa Hihara với bà Hai là một câu thơ: vừa nóng bỏng như vàng, lại dịu dàng như bạc…

Câu thơ này là trong Nguyên thị vật ngữ thuộc Tử thức bộ, là lời bình phẩm của Công tử họ Nguyên với Lục Điều phi tử.

Lục Điều phi tử không chỉ dung nhan hơn người, mà còn tình tứ thanh cao, được mệnh danh là tài nữ.

Người con gái vô tài là đức.

Người con gái xinh đẹp là họa.

Lục Điều phi tử vừa có tài vừa có sắc, vận mệnh đa đoan cũng không có gì là lạ, cuối cùng cực chẳng đã tìm đến cửa chùa, cạo đầu đi tu.

Nhưng Công tử họ Nguyên là người đàn ông có ma lực, sức hấp dẫn của Công tử họ Nguyên không thua kém gì phép thuật, một cái nhìn của Công tử đã làm thức tỉnh dục vọng đã ngủ say bấy lâu của Lục Điều phi tử, dưới ánh nắng hai người tình cờ gặp gỡ, không lâu sau vào một buổi tối trăng sáng như gương, như một vụ hỏa hoạn bất ngờ, đôi trai gái mây mưa ngay bên trong cánh cửa sáu tấm thanh tịnh nơi cửa phật.

Xong rồi, Công tử họ Nguyên đã ngâm câu mấy thơ:

Nàng nóng bỏng như vàng,

Lại dịu dàng như bạc.

Nàng từ thiên đường xuống,

Hay từ địa ngục lên.

Kawa Hihara vừa thấy bà Hai, trong đầu đã rộn lên câu thơ ấy.

Hắn còn nghĩ cảnh hắn gặp bà Hai cũng không khác với cuộc gặp gỡ của Công tử họ Nguyên và Lục Điều phi tử ở chốn thâm nghiêm cửa phật: Một người ở bên này, một người ở bờ bên kia, ở giữa là rừng gươm biển lửa, thiên hào.

Nhưng Công tử họ Nguyên coi rừng gươm là đồi cát, vượt thiên hào như qua một cây cầu, xứng đáng là hào kiệt với cuộc đời sắc tình phóng đãng, khiến hắn ta tự than thân trách phận.

Hắn biết mục đích gọi cô ấy đến, cho nên dù trong đầu lởn vởn mấy câu thơ ấy, trong lòng có linh cảm thì cũng không thể vì thế mà manh động.

Mục đích đưa bà Hai đến chỉ có một, chính là nhận diện, nhận diện Lão Quỷ.

Nhận diện ai?

Nhận diện Ngô Chí Quốc trước, sau đó đi nhận diện Lý Ninh Ngọc.

Từ đó có thể thấy, Kawa Hihara đã bị thuyết phục bởi lý lẽ của Ngô Chí Quốc.

* * *

Rõ ràng, Kawa Hihara vốn đã có những hoài nghi với những biểu hiện của Lý Ninh Ngọc trên bàn rượu tối qua, chỉ có điều là sau đó trong quá trình kiểm tra nét chữ hắn đã bị chứng cứ rành rành của Ngô Chí Quốc làm cho u mê đầu óc, tạm thời gạt Lý Ninh Ngọc sang một bên.

Trưa nay, sự biện minh ngoan cố và có lý của Ngô Chí Quốc đã khơi dậy nghi ngờ của hắn đối với Lý Ninh Ngọc.

Tỉnh táo rồi.

Ai đúng ai sai?

Hắn còn nghiêng ngả giữa hai người Ngô Chí Quốc và Lý Ninh Ngọc, thế là hắn nghĩ tới dùng con bài bà Hai.

Hắn không tin là họ không biết nhau, cho dù bà Hai không biết Lão Quỷ, nhưng Lão Quỷ không thể không biết bà Hai.

Kawa Hihara cho rằng, chỉ cần quen biết, gặp nhau trực diện, thêm một vài chiêu nhất định, thật khó nói sẽ không có tác dụng.

Tục ngữ có câu, là chó thì phải kêu, là ma thì sợ ánh sáng.

Hắn giải bà Hai đến để đóng vai là chó và thử ma.

Trước tiên là thử với Ngô Chí Quốc, giăng bẫy, ngon ngọt, dụ dỗ, khuyên răn, đe dọa, tra tấn dã man… kịch thật diễn giả, kịch giả diễn thật, văn võ đủ cả, mềm rắn đều có, mười tám ban võ nghệ lần lượt được dùng cả.

Kết quả, phản ứng không rõ ràng, liền đưa sang thử người bên Tây lầu, chủ yếu là Lý Ninh Ngọc.

Vẫn là kiểu cũ, mặt đỏ, mặt trắng, nói chính, nói phản, đấm đá đủ hiểu…

Cuối cùng bà Hai bị đánh đến gần chết, vẫn là không có ai có chút phản ứng rõ ràng nào, khiến Kawa Hihara tức muốn chết.

Trong việc này, Ngô Chí Quốc và Lý Ninh Ngọc hòa, kẻ thua duy nhất là Kawa Hihara.

Hắn vốn cho rằng có thể mượn quân bài bà Hai để đưa ra quyết định cuối cùng giữa Ngô Chí Quốc và Lý Ninh Ngọc, nhưng xong mới biết là nước bài này đã vô ích, không thu được thứ gì, vừa không có được sự lựa chọn như trong tưởng tượng, vừa không có được kết quả ngoài ý muốn.

Có điều ván bài này còn chưa xong, bà Hai vẫn còn sống.

Kawa Hihara đã nói trước với mợ Hai: Đừng thử thách sự nhẫn nại của hắn!

Nhưng bà Hai lại không thức thời, cả hai cơ hội đều lãng phí.

Mạng sống của loại người như vậy không đáng để quý.

Kawa Hihara không phải là Công tử họ Nguyên, bị nhan sắc làm cho mờ mắt, làm hỏng quy định và đạo đức.

Kawa Hihara là quân nhân của đại đế quốc Nhật Bản, không có chuyện thương hoa tiếc ngọc.

Hắn quyết định chơi con bài tính mạng của bà Hai.

Vậy là, Kawa Hihara đưa mợ Hai từ Tây lầu về Đông lầu, đẩy đến trước mặt Ngô Chí Quốc, rút súng ngắn ra hỏi Ngô Chí Quốc: “Tao sẽ bắn, hay là mày?”.

“Để tôi.”

Ngô Chí Quốc nói xong, cầm lấy khẩu súng, bắn liền ba nhát vào đầu bà Hai, máu và não bắn tung tóe.

Kawa Hihara ngợi khen: “Ông đã thể hiện rất tốt, khiến tôi nghĩ đến một câu thành ngữ của quý quốc: Đại nghĩa diệt thân”.

Miệng nói vậy nhưng trong lòng đang loạn.

Nếu như trước đây sự nghi ngờ của Kawa Hihara đối với Lý Ninh Ngọc và Ngô Quốc Chí là như nhau, thì sau ba phát súng của Ngô Chí Quốc nhằm vào đầu bà Hai, điều này đã được thay đổi: Hắn nghi ngờ Lý Ninh Ngọc nhiều hơn Ngô Chí Quốc.

Thế là, Kawa Hihara tính kế cho hành động tiếp theo, giăng bẫy với Lý Ninh Ngọc.

Hắn sai Vương Điền Hương đem giấy bút đến, yêu cầu Ngô Chí Quốc viết một bức huyết thư, nội dung do hắn đích thân đọc, Ngô Chí Quốc chỉ cần chép theo.

Máu đã có sẵn, vẫn lặng lẽ chảy trên đầu của bà Hai, phả ra hơi nóng tanh nồng.

Ngô Chí Quốc điềm nhiên chấm bút vào vết máu tươi, theo lời của Kawa Hihara, viết một bức di thư bằng máu tươi nội dung như sau:

Tư lệnh Trương: Tôi phải lấy cái chết để chứng minh với ông rằng, tôi không phải là giặc Cộng, giặc Cộng chính là Lý Ninh Ngọc.

Xin hãy tin tôi!

Hãy chăm lo cho người nhà của tôi…

Tuyệt bút của Ngô Chí Quốc Kawa Hihara nhìn bức huyết thư còn chưa kịp khô, nói với Ngô Chí Quốc: “Nhớ kỹ, từ nay trở đi anh đã chết rồi”.

Ngô Chí Quốc ậm ừ: “Tôi không thể chết, Lý Ninh Ngọc sẽ làm tôi sống lại”.

Kawa Hihara cười lạnh lùng: “Đừng vội mừng.

Nói cho anh biết, nếu như Lý Ninh Ngọc không phải là Lão Quỷ thì anh còn chết thảm hơn, tôi sẽ không chăm lo cho người thân của anh đâu”.

Ngô Chí Quốc lớn tiếng nói: “Cô ấy chắc chắn là Lão Quỷ”.

Kawa Hihara trợn mắt nhìn Ngô Chí Quốc: “Cái đó phải để tôi nói mới có giá trị”.

Nhưng Kawa Hihara cuối cùng cũng không có cách nào để nói như vậy, bởi Lý Ninh Ngọc đã lật tẩy và đánh trả lại quân bài của chính hắn.

* * *

Phải nói là ván bài ấy Kawa Hihara đã chơi rất kỳ công, cẩn thận, không chỉ đích thân xuất hiện mà còn điều động nhiều người, xe hơi để làm đạo cụ, tạo đủ thanh thế.

Ấy là một vở kịch đã được dày công chuẩn bị, có ngọn có nguồn, được phân thành các đoạn khởi, thừa, chuyển, hợp.

Đoạn đầu do Kawa Hihara diễn chính hát chính, hắn một mình hẹn Lý Ninh Ngọc ra ngoài, đưa cô đi dạo ở sườn đồi phía sau trang viên, cùng nhau đi lòng vòng, giống như hai người bạn thân lâu ngày gặp lại.

Cuối cùng hai người dừng lại trong chòi hóng mát, hình như muốn nói chuyện thẳng thắn với nhau.

Chòi hóng mát dựng bên sườn núi, địa thế cao, móng cũng cao, tầm nhìn thoáng rộng, từ đây có thể nhìn ra ngoài, quang cảnh trong trang viên đều nằm trong tầm nhìn.

Họ vừa ngồi xuống chưa lâu, một chiếc xe cứu thương màu trắng dừng lại phía trước Đông lầu, mang xác của bà Hai đi.

Cùng lúc, Vương Điền Hương lấy một chiếc xe Jeep màu xanh, đón những người trong Tây lầu gồm Kim Sinh Hỏa, Cố Tiểu Mộng và Thư ký Bạch lên xe đi.

Còn tại sao đi, đi đâu thì Vương Điền Hương khoát không nói.

Mọi việc, Kawa Hihara và Lý Ninh Ngọc ngồi trong chòi hóng mát đều nhìn thấy rất rõ, Kawa Hihara cũng nói rất rõ, chỉ có điều những gì hắn nói đều là nói dối, xác của Hai thì nói là của Ngô Chí Quốc, đưa Kim Sinh Hỏa, Cố Tiểu Mộng và Thư ký Bạch đi thì nói là đưa họ về nhà.

“Tại sao lại về nhà?”

Kawa Hihara tự hỏi tự trả lời: “Bởi vì sự việc đã kết thúc, chân tướng Lão Quỷ đã rõ ràng”.

“Ai là Lão Quỷ?”

Kawa Hihara vẫn tự hỏi tự trả lời: “Ầy à, thôi không nói chuyện này nữa, tôi nghĩ hãy thay Trưởng ban Ngô hoàn thành di nguyện đã, dù gì thì việc của người chết cũng luôn gấp hơn việc của người sống, cô nói có đúng không, Trưởng phòng Lý?”.

Nói rồi nhìn Lý Ninh Ngọc cười cười, yêu cầu Lý Ninh Ngọc thuật lại lần nữa quá trình cô tiết lộ điện mật cho Ngô Chí Quốc khi trước.

Kawa Hihara nói một cách nghiêm chỉnh: “Cô nên biết, nếu như cô nói không giống như lần trước, có thêm bớt, thì tôi sẽ hiểu thế nào rồi”.

Lý Ninh Ngọc nghĩ ngợi, cô vừa nghịch cái lược gỗ, vừa bình tĩnh nhớ lại, thời gian, địa điểm, nguyên nhân, quá trình, đối thoại, cách nghĩ, tình hình, một là một, hai là hai, diễn biến từ đầu chí cuối, tuy là không giống từng chữ so với lần trước, nhưng về cơ bản thì không thêm bớt gì.

“Biểu hiện rất tốt, cần biểu dương.”

Lý Ninh Ngọc nói xong, Kawa Hihara vỗ tay khen hay, “Không đơn giản, thật không đơn giản.

Có điều nói như Trưởng ban Ngô, ngay cả đến nói dối cô cũng nhớ như vậy, chứng tỏ cô ta thật là khôn ngoan, quá khôn ngoan”.

“Đây là sự thật.”

“Là sự thật ư?”

“Đúng.”

Lý Ninh Ngọc nhìn Kawa Hihara,

“Ngài Kawa Hihara, lẽ nào ông nghi ngờ tôi là giặc Cộng sản?”.

“Không phải là nghi ngờ, mà là khẳng định.”

Kawa Hihara, “Nếu không làm sao tôi có thể thả bọn họ chứ?”.

Lý Ninh Ngọc do dự một lát: “Ngài Kawa Hihara, ông… tại sao…”.

Kawa Hihara ngắt lời: “Lý Ninh Ngọc, cô đừng đóng kịch nữa, tại sao ở trên tay tôi đây này”.

Nói xong giơ ra huyết thư của Ngô Chí Quốc, ném cho cô: “Xem đi, bằng chứng này là đủ chứ?”.

Đến đây thì vở kịch đã diễn xong phần “thừa”, đi vào phần “chuyển”, lý thú và cao trào cũng sắp diễn ra.

Giấy trắng chữ đỏ, vừa nhìn đã hoảng hồn!

Cho dù chiếc lược gỗ có là mũi tiêm an thần, thì cũng khó mà khiến cho Lý Ninh Ngọc bình tĩnh.

Cô vụt đứng dậy…

đứng dậy như vậy, giống như là bị quật ngã linh hồn, mắt nhìn thẳng, toàn thân bất động, trơ như khúc gỗ, khiến Kawa Hihara không khỏi kinh sợ.

Đứng thẫn thờ như vậy một hồi, Lý Ninh Ngọc giống như chợt nhớ ra điều gì, cô gọi thất thanh: “Không được rồi, ngài Kawa Hihara, chúng ta bị lừa rồi!

Ngô Chí Quốc… tôi bây giờ tin chắc Ngô Chí Quốc chính là Lão Quỷ”.

“Hoang đường!”

Kawa Hihara bác bỏ nói, “Cô ngồi xuống, làm trò quái quỷ gì vậy, đừng đóng kịch nữa, cô mới là Lão Quỷ.

Bây giờ cô nói gì tôi cũng không tin đâu”.

“Ông… ngài Kawa Hihara…”

Lý Ninh Ngọc đau khổ lắc đầu, bao nhiêu điều muốn nói mà không biết bắt đầu từ đâu.

“Khai ra đi.”

Kawa Hihara trái lại rất biết phải nói như thế nào, bởi vì những gì cần nói, lúc trưa vừa mới nói với Ngô Chí Quốc, “Người Trung Quốc các cô có câu: Kẻ biết thời thế mới là tuấn kiệt, giờ khai ra còn có thể lấy công chuộc tội, làm lại từ đầu.

Cô là người thông minh, lại lấy một câu nói quen thuộc của quý quốc: Mất bò mới lo làm chuồng, vẫn còn chưa muộn”.

Hắn không uy hiếp mà dụ dỗ khai nhận.

Kawa Hihara nho nhã thư sinh như con gái, tính tình dịu dàng, giọng nói nhẹ nhàng, không phù hợp với uy hiếp, hơn thế bao nhiêu năm làm phiên dịch khiến hắn trưởng thành lên nhiều, ăn nói uyển chuyển khôn khéo đi vào lòng người, dụ cung chính là thế mạnh của hắn.

Lý Ninh Ngọc chằm chằm nhìn Kawa Hihara, lời lẽ đanh thép: “Ngài Kawa Hihara, câu nói này lẽ ra phải để tôi nói mới đúng, mất bò mới lo làm chuồng, vẫn còn chưa muộn!

Hãy mau giữ xác của Ngô Chí Quốc lại, không thể để cho mang đi!”.

“Tại sao?”

“Hắn mượn thi thể để chuyển thông tin tình báo đấy!”

“Cái gì?

Cô nói cái gì?”

Mắt Kawa Hihara trợn tròn.

Lý Ninh Ngọc đi đến trước mặt Kawa Hihara, hỏi một cách hùng hổ: “Ông đã kiểm tra thi thể hắn chưa?”.

Kawa Hihara chớp chớp mắt nhìn: “Cô muốn nói là hắn giấu tin tức tình báo trong thi thể?”.

“Đúng vậy!”

“Cảm ơn cô đã nhắc nhở.”

Kawa Hihara cười khẩy, “Có điều cô đã quá lo.

Nói cho cô biết, tôi đã kiểm tra người hắn rồi, từ đầu đến chân, từng chân tơ kẽ tóc đều đã kiểm tra hết.

Nếu như thi thể là cô, thì tôi còn phải xem cả vùng kín của cô, cả tử cung nữa, những chỗ ấy đều có thể giấu được, cô bảo có đúng không?”.

Lý Ninh Ngọc chán ghét quay đầu bỏ đi: “Vậy đợi ông kiểm tra xong thi thể của hắn rồi hãy đến tìm tôi, có thể trong bụng hắn có giấu thứ gì đó”.

Nói rồi cất bước bỏ đi.

“Đứng lại!”

Kawa Hihara chặn đường, tự nhiên và lịch sự dang tay ra, “Đã kiểm tra rồi, không có, không có gì cả.

Đây là trò trẻ con, đã sớm có người diễn rồi, bây giờ không còn ai chơi trò này nữa”.

Vừa nói vừa tiến lại gần Lý Ninh Ngọc, rạch ròi từng câu từng chữ: “Cô trụ không nổi rồi phải không?

Mà việc gì phải cố trụ chứ?

Tôi không thể hiểu nổi, việc đến nước này rồi, cô không còn sự lựa chọn nào tốt hơn, chỉ còn cách khai ra thôi”.

Lý Ninh Ngọc bất ngờ đặt mình xuống ghế đá, chưa nói câu nào mà nước mắt đã trào ra: “Ngài Kawa Hihara, ông hãy tin tôi, tôi không phải là giặc Cộng, Ngô Chí Quốc nói tôi là Lão Quỷ thì chính là đã nói rõ hắn là Lão Quỷ…”.

Kawa Hihara cắt ngang lời: “Tôi tin người chết, không tin người sống”.

Lý Ninh Ngọc trầm ngâm một lát rồi đột nhiên nói lớn: “Ngài Kawa Hihara, cứ cho là trong bụng Ngô Chí Quốc không giấu gì, tôi vẫn khẳng định hắn là giặc Cộng.

Ông coi hắn sợ tội nên tự sát là hy sinh vì nghĩa, lẽ nào không sợ làm nhơ bẩn trí tuệ của ông?

Những ví dụ về giặc Cộng bị bắt đã sợ tội tự sát đầy ra đó”.

Kawa Hihara liếc nhìn Lý Ninh Ngọc: “Giờ đây chính là cô đang làm nhơ bẩn trí tuệ của tôi đấy, nhưng tôi sẽ không để cô mê hoặc đâu”.

Lý Ninh Ngọc sán đến trước mặt Kawa Hihara tỏ thái độ đối đầu gay gắt, “Xin hỏi ngài Kawa Hihara, Ngô Chí Quốc tại sao lại cứ phải lấy cái chết để tố cáo tôi, lẽ nào hắn không thể nói, không thể viết?”, ngừng lại, rồi tràng giang đại hải nói tiếp, “Ngài Kawa Hihara, tôi hy vọng ông thay đổi cách nghĩ để xem xét vấn đề.

Ông nghĩ xem, nếu như ông có đủ chứng cứ chứng minh tôi là Lão Quỷ, ông sẽ dùng cách này để tố cáo tôi chứ?

Chọn cái chết thực ra là có lợi cho tôi, vì chết rồi thì không đối chứng được.

Ông chết, đồng nghĩa với nhân chứng đã chết, chứng cứ cũng đã chết, khi ấy tôi có thể giở trò, có thể cắn răng chịu đựng mà không chịu khai.

Cho nên, nếu như tôi thực sự là lão Quỷ, tôi tin chắc chắn là Ngô Chí Quốc sẽ không chết, bởi vì hắn lấy cái chết ra để tố cáo tôi, thì chỉ là có lợi cho tôi mà thôi, để ngỏ khả năng cho tôi thoát thân.

Nhưng tôi không phải là Lão Quỷ, vì sao hắn lại cố tình nói tôi là Lão Quỷ?

Chỉ có một khả năng:

Hắn chính là Lão Quỷ.

Hắn biết trước không thể sống, sẽ phải chết, chết quách đi cho xong, sau đó lợi dụng cái chết của hắn để đánh lừa ông.

Nếu như thành công, ông sẽ coi tôi là Lão Quỷ, bắt tôi và giết tôi, hồn ma của hắn sẽ ngửa mặt lên trời mà cười ha hả”.

Kawa Hihara cười nói: “Còn cao kiến gì, cứ nói tiếp đi”.

Lý Ninh Ngọc trấn tĩnh lại tinh thần, nói tiếp: “Mong ngài Kawa Hihara nghĩ lại, cái cách tố cáo tôi của hắn mới chỉ là nói thế, làm gì có chứng cứ, còn hắn ‐ tôi nghĩ tối qua các ông bắt hắn chắc chắn là đã có chứng cứ trong tay.

Cái này tạm thời không nói đến, theo cá nhân tôi, hắn không chết, không tự sát, thì tôi không nghĩ hắn là Lão Quỷ, tuy hắn nói hắn không biết nội dung bức điện mật, tôi biết rất rõ hắn đang nói dối, nhưng tôi cũng không vì thế mà khẳng định hắn là Lão Quỷ, bởi vì tôi cảm thấy bản thân việc hắn thăm dò tôi về nội dung bức điện mật vốn đã không đàng hoàng gì rồi, hắn muốn đổ vứa trách nhiệm, không thừa nhận cũng là điều dễ hiểu.

Hôm qua, Thư ký Bạch tìm tôi nói chuyện, tôi cũng nói như vậy.

Nhưng bây giờ hắn chết, huyết thư của hắn đang chứng tỏ hắn là Lão Quỷ, bởi vì tôi biết tôi không phải là Lão Quỷ gì cả, chỉ có lão Quỷ mới nói tôi là Lão Quỷ”.

Kawa Hihara cười cười, định nói, Lý Ninh Ngọc lại cướp lời nói: “Tôi có thể nói như thế này, nếu như hắn chết chỉ để chứng minh sự trong sạch của mình, tôi thấy kiểu chứng minh này cũng có mặt có thể tin.

Nhưng giờ đây hắn không chỉ muốn trong sạch, mà còn kéo người khác chết thay, khiến tôi phải chết, điều này tuyệt đối không thể tin được.

Bởi vì như tôi vừa nói, tôi biết tôi không phải là Lão Quỷ, quân bài tẩy của hắn là con bài lừa gạt.

Điểm này chỉ có tôi biết, ông không biết, cho nên hắn muốn đánh lừa ông.

Tôi nói tôi không phải là Lão Quỷ, chỉ là khẩu thiệt vô bằng, ông có tin không?

Không tin.

Đây chính là điều kiện để hắn lừa ông, bởi vì bây giờ ông nghi ngờ tất thảy bọn tôi.

Hắn dùng chính sự nghi ngờ chúng tôi của ông để đánh bạc với ông, nếu thua thì cũng không sao cả, dù sao thì sớm muộn gì cũng phải chết.

Nhưng nếu thắng thì hắn là người thắng lớn, thắng ông và hại chết tôi, thật là tuyệt!

Còn vì sao hắn không tố cáo những người khác, chỉ tố cáo tôi, cái đó thì quá rõ ràng rồi, bởi vì chính tôi là người đã nói ra sự thật, khiến hắn bị bắt vào đây.

Tóm lại, bây giờ tôi có thể từ cái chết của hắn và sự vu cáo tôi của hắn, dám khẳng định hắn chính là Lão Quỷ. hy vọng ngài Kawa Hihara có thể nhìn rõ mọi việc, đừng vì cái mạng chó rẻ mạt của hắn làm cho mê muội.

Tôi tin chắc nếu hắn biết tôi là Lão Quỷ, hắn sẽ không chết, mà sống sẽ tốt hơn”.

“Nói xong rồi chứ?”

Kawa Hihara nghe xong lại vỗ tay khen: “Nói hay lắm.

Vẫn bảo cô ít nói, thực ra là rất có khiếu nói”.

Thấy Lý Ninh Ngọc định nói chen vào, hắn ngăn lại, “Giờ đến lượt tôi nói.

Nếu tôi nói với cô là Ngô Chí Quốc chưa chết, nói như cô thì tôi đang lừa cô, vậy cô có cao kiến gì?”.

Lý Ninh Ngọc trống ngực đập thình thịch, cảm giác như tim đã rơi xuống tận đũng quần, toàn thân không còn cảm giác, trước mắt là một màu đen.

Nhưng khoảnh khắc này rất ngắn, giống như là việc gạt cầu dao, rất nhanh lại có điện trở lại, cô nghe thấy mình đã nói: “Nếu như vậy, tôi rút lại lời tôi đã nói”.

Kawa Hihara kinh ngạc, vội hỏi dồn dập: “Nói như vậy có nghĩ là cô lại không cho rằng hắn là Lão Quỷ?

Hắn không phải, cô cũng không phải, vậy lại là ai nữa đây?

Là Kim Sinh Hỏa hay Cố Tiểu Mộng?”.

“Là ai thì cũng phải có chứng cứ.”

Lý Ninh Ngọc nói một cách thận trọng, “Vừa nãy tôi đã nói rồi, là tôi căn cứ vào sự tự sát của hắn và tố cáo tôi để phán đoán hắn là Lão Quỷ.

Nếu như sự việc không phải như vậy, thì tôi cũng không thể phán đoán.

Tôi không cho rằng hắn không phải là Lão Quỷ, mà cũng không thể nói là ai.

Tôi đã nói, không có chứng cứ xác thực, tôi không thể tùy tiện tố cáo người nào được”.

Kawa Hihara suy nghĩ một hồi, đứng dậy, nhìn xuống dưới núi nói: “Tôi cho rằng, cho đến hiện tại, biểu hiện của cô rất tốt.

Tôi thích cô đó, trí tuệ của cô quả là không thường, tố chất tâm lý cũng rất tốt.

Nhưng tôi càng thích bắt được cô, bắt được tên giặc Cộng như cô khiến tôi có một cảm giác thành công, cô có biết không?”.

Kawa Hihara nói là nói thật, vở kịch này xem ra chỉ có thể diễn đến đây, hắn không muốn diễn tiếp.

Nếu như có thể, hắn còn muốn xóa đi tất cả những gì đã diễn trước đó, bởi vì vở kịch dày công dàn dựng và huy động nhiều người này thực ra không có chút kết quả nào.

Về điểm này bất luận là Ngô Chí Quốc đang bị nhốt ở Đông lầu hay Vương Điền Hương đang đợi ở nhà khách đều đã có dự cảm.

Vương Điền Hương sau khi đưa Kim Sinh Hỏa, Cố Tiểu Mộng và Thư ký Bạch lên xe, thực ra xe chưa ra khỏi cổng lớn, mà chỉ đỗ ở trước nhà, cứ ngỡ sự việc sẽ nhanh chóng kết thúc.

Sau đó lâu lâu không có tin gì, xem ra đã đến lúc ăn tối, bèn cho bọn họ xuống xe, đi đến nhà ăn đợi.

Đợi, đợi mãi vẫn không có tin tức gì, Vương Điền Hương lo lắng xảy ra chuyện, bèn giao người cho Tham mưu Trương (béo) canh, còn mình thì đi ra phía sau nhà.

Vừa đi đến sân sau ngôi nhà, từ xa đã nhìn thấy Kawa Hihara và Lý Ninh Ngọc, kẻ trước người sau, đi xuống núi, trông rất là nhàn nhã, nhìn đã biết ngay không có kết quả gì.

Do tầm nhìn hạn chế, nấp ở phía sau khe cửa sổ nhìn trộm, Ngô Chí Quốc phải một lát sau mới nhìn thấy.

Đợi khi hắn nhìn thấy bộ dạng của hai người ‐ Lý Ninh Ngọc vẫn cầm lược chải chải tóc như thể không có ai bên cạnh!

Hắn đột nhiên thấy trời đất quay cuồng, hình như sợ hãi đã biến hắn chỉ còn nhỏ như sợi tóc, đang bị cái lược của Lý Ninh Ngọc cào đi kéo lại, bất cứ lúc nào cũng cũng có thể cào rụng, rơi xuống đất.

Lúc ấy, đúng buổi hoàng hôn, sắc vàng rực của ánh hoàng hôn xế chiều như đang chuyển động, nhảy múa, lấp lánh trên chiếc lược gỗ sơn bóng, khiến người ta có cảm giác trên tay Lý Ninh Ngọc như có phép thuật và thần thánh.

* * *

Sự thật chứng minh Lý Ninh Ngọc không có gì là phép thuật hay thần thánh cả.

Lúc ăn tối, món ăn còn chưa mang lên, đồ ăn chính vẫn còn chưa bắt đầu, thì Lý Ninh Ngọc lại bị một món khai vị ‐ nửa quả ớt rừng ‐ làm cho gục ngã.

Là đau dạ dày.

Đau đến nỗi nhìn cô như một con rắn đang hoảng sợ, thân co quắp như cánh cung, không đứng thẳng lên được.

Nếu bộ dạng khom lưng có thể giả vờ được, nhưng còn những giọt mồ hôi như những hạt đậu tương trên trán thì không thể là giả được.

Không phải giả thì đương nhiên là thật.

Là thật thì phải mời bác sĩ khám cho cô ấy.

Cố Tiểu Mộng kiên quyết yêu cầu Kawa Hihara đưa cô ấy đi viện.

Cố Tiểu Mộng nói: “Cứ cho cô ấy là Lão Quỷ, thì ông cũng không thể thấy chết mà không cứu”.

Kawa Hihara cười nói với Cố Tiểu Mộng:

“Cô Cố à, cô toàn nói những thứ đâu đâu, nếu cô ấy là lão Quỷ, thì tôi càng phải cứu cô ấy”.

Đúng vậy, Kawa Hihara sẽ phải cứu cô ấy.

Nhưng có cần đến bệnh viện hay không, hắn để Lý Ninh Ngọc tự quyết định.

Ở đây lại có nguyên cớ của hắn, hắn đang thăm dò Lý Ninh Ngọc.

Nếu như Lý Ninh Ngọc nằng nặc đòi đi bệnh viện, Kawa Hihara sẽ xem đây là khổ nhục kế do Lý Ninh Ngọc đạo diễn: Nói là nửa quả ớt, nhưng thực tế có thể là lặng lẽ nuốt thứ gì đó đáng sợ làm đau dạ dày, để bản thân có cơ hội tiếp cận với bên ngoài.

Hắn còn suy đoán Lý Ninh Ngọc có thể sẽ chỉ định rõ là đi bệnh viện nào, nếu như là vậy thì hắn sẽ có đủ lý do để nghi ngờ, và trong bệnh viện, chắc chắn có đồng bọn của Lý Ninh Ngọc.

Nhưng Lý Ninh Ngọc chẳng những không yêu cầu đi bệnh viện, mà còn coi bệnh của mình không hề hấn gì.

“Không sao đâu”, cô nói như vậy với cả Kawa Hihara và Cố Tiểu Mộng, “bệnh cũ ấy mà, uống thuốc là sẽ khỏi thôi”.

Hơn thế còn rất giống một người bệnh đã quen với bệnh của mình, còn biết uống thuốc gì nữa: Hồ thị vị thông ninh và Hồ tự dưỡng vị hoàn[1].

[1] Thuốc chữa đau dạ dày và thuốc bổ dạ dày hiệu họ Hồ.

Hai loại thuốc đó đều sản xuất trong nước, rất phổ biến, có thể mua được ở bất kỳ nhà thuốc hay bệnh viện nào.

Nói như vậy là cô ấy không hề làm trò với Kawa Hihara và Vương Điền Hương, chỉ là muốn Tham mưu Trương (béo) đi ra ngoài, chạy sang đường Nam Sơn ở phía đối diện để mua thuốc.

Tham mưu Trương (béo) đi xe gắn máy, nên quay về rất nhanh.

Lúc ấy, mọi người vẫn đang ăn, Lý Ninh Ngọc nằm nghỉ ở bên cạnh, đợi thuốc.

Cố Tiểu Mộng đích thân đến nhà bếp lấy nước, đỡ Lý Ninh Ngọc dậy uống thuốc.

Hình như thuốc rất công hiệu, uống vào một lúc, đã thấy Lý Ninh Ngọc không còn nhíu mày, nhăn mặt, mồ hôi trên trán cũng thấy ít đi nhiều.

Khi mọi người ăn cơm xong, cô đã không còn cảm thấy đau đớn nữa, đi bộ cũng không sao.

Tuy chưa thể rảo bước như bình thường, nhưng cô hoàn toàn có thể tự đi một mình, không cần ai dìu đỡ.

Kawa Hihara muốn bảo Tham mưu Trương (béo) lấy xe gắn máy đưa cô về, cô cũng từ chối.

Không phải khéo léo cảm ơn từ chối, mà là từ chối thật sự, thái độ hờ hững, lời nói lạnh lùng.

Ít nhất là Kawa Hihara nghe thấy như vậy.

Lý Ninh Ngọc bảo: “Tôi đi cùng mọi người, tránh gây thêm sự hoài nghi tôi là Lão Quỷ”.

Kawa Hihara cười nói: “Nói thế hóa ra cô không đi bệnh viện là vì trong sạch?”.

Lý Ninh Ngọc đáp: “Đúng vậy”.

Kawa Hihara lại hỏi: “Nói như vậy là trong sạch quan trọng hơn cả tính mạng à?”.

Lý Ninh Ngọc đáp: “Đúng thế”.

Kawa Hihara cười bảo: “Vậy thì đi thôi.

Đi, cùng đi”.

Vậy là họ cùng nhau đi.
 
Tiểu Thuyết Phong Thanh
CHƯƠNG TÁM


Đêm như màn sương buông xuống, gió từ Tây Hồ thổi tới, đem theo cái lạnh của đêm tối xen với mùi hương ẩm ướt của bùn đất.

Lão Quỷ nhìn ra cửa sổ, trong lòng cũng đen như đêm tối.

Lão không lo cho sự sống chết của mình, cái đó từ lâu lão đã không màng đến.

Cái mà lão lo lắng chính là sự an toàn của Lão K và các đồng chí, với hoàn cảnh hiện tại, không có tin tình báo của lão, tổ chức sẽ không thể lấy được tin tình báo từ các kênh khác.

Kẻ địch đã như chim sợ cành cong, tuyệt đối sẽ không để thêm một người nào biết bí mật của bọn chúng, còn những người đã biết đều bị nhốt ở đây.

Nếu như lão không chuyển được tin tình báo, thì sự an toàn của Lão K và các đồng chí sẽ khó được bảo đảm.

Vậy phải làm thế nào để chuyển được tin tình báo ra ngoài?

Lão Quỷ suy ngẫm.

Vắt óc ra để suy nghĩ. lão từng nghĩ đến một khả năng, các đồng chí ở bên ngoài đã biết được bà Hai bị bắt, tiếp đến là phát hiện ra lão đã mất tích, rồi nghĩ cách tìm lão, sau đó biết được lão đang ở đây, để Ba Ba đến liên lạc với lão.

Đó là một chuỗi mắt xích, bất kỳ mắt xích nào cũng không thể đứt.

Khả năng này là rất nhỏ, nhưng không phải là không có.

Lão buồn rầu nghĩ, chỉ cần Ba Ba đến liên lạc với lão, bản thân cũng có thể lợi dụng quy ước ngầm sẵn có với Ba Ba, bí mật chuyển tin tình báo ra ngoài.

Là người hoạt động bí mật lão luyện, lão biết rất rõ mọi công tác điệp báo đều dành được thắng lợi ở các cơ hội chiến thắng ít nhất.

Hôm nay lão thấy Ba Ba đến Cầu trang, trong lòng mừng vui, tuy hai người cuối cùng vẫn chưa liên lạc, nhưng ít nhất Ba Ba cũng đã biết lão đang ở đây.

Điều này rất quan trọng! lão nghĩ ngày mai Ba Ba nhất định sẽ lại đến. lão cảm thấy sự việc đang phát triển theo ý hướng của mình, mình phải chuẩn bị tốt công việc liên lạc với Ba Ba.

Trên thực tế, lão đã bí mật chuẩn bị, chỉ đợi cơn gió Đông sứ mệnh đưa Ba Ba đến.

* * *

“Vậy bây giờ ngài nghĩ ai là Lão Quỷ?”

“Tôi vẫn chưa thể có câu trả lời chắc chắn với anh.”

“Tôi cho rằng chính là Ngô Chí Quốc, ngài Kawa Hihara à, ngài đừng để hắn mê hoặc…”

Buổi tối, Tư lệnh Trương (béo) gọi điện cho Kawa Hihara, sau khi biết được tình hình mới nhất, đã bày tỏ rõ quan điểm của mình: Ngô Chí Quốc đang lấp liếm.

Trong điện thoại, Tư lệnh Trương không ngại phiền hà với Kawa Hihara, lật lại chuyện cũ của Ngô Chí Quốc, nói hắn đã từng là phần tử tích cực của Phong trào thanh niên Ngũ Tứ, từng học ở trường sĩ quan Hoàng Phố, từng tham gia cuộc chiến tranh Bắc phạt, đã từng lên núi Tỉnh Cương, sau này khi Hồng quân từ núi Tỉnh Cương chuyển đi, hắn bị thương và bị lạc, bị lực lượng của Tư lệnh Trương bắt làm tù binh.

Tư lệnh Trương nói: “Không giấu gì ngài Kawa Hihara, tôi cũng tốt nghiệp trường sĩ quan Hoàng Phố, tôi nghĩ hắn và tôi cùng được đào tạo tại một trường, không giết hắn, mà động viên hắn từ bỏ Cộng sản, làm lại từ đầu, thực sự là tôi đã động viên được hắn.

Từ đó về sau, hắn luôn theo tôi, tôi cũng không ngừng bồi dưỡng hắn thì mới có được ngày hôm nay, giờ xem ra tôi có mắt như mù!”.

Là sao?

Tư lệnh Trương nghi ngờ có thể hắn chưa từng rời bỏ Cộng sản, hơn thế càng nghĩ càng thấy khả năng này càng lớn.

“Vì sao?”

Tư lệnh Trương nói đầy chua xót, “Thực ra tôi cần sớm nhận ra, tôi đã từng nói với ngài, từ khi hắn chỉ huy công tác tiễu phỉ đến nay, những kẻ hắn bắt và giết đều là giặc Tưởng, rất ít giặc Cộng.

Đây là điều rất không bình thường, nhưng tôi lại không chú ý, tôi có lỗi với quân đội Nhật Hoàng!”.

Tóm lại, sự việc đến hôm nay, Tư lệnh Trương có cảm giác như vừa tỉnh giấc mộng.

Cúp điện thoại, Kawa Hihara nói lại thái độ của Tư lệnh Trương cho Vương Điền Hương nghe, Vương Điền Hương kiên quyết đồng tình với ý kiến của Tư lệnh Trương, còn bổ sung thêm một chứng cứ thuyết phục, đó là: Hồi đầu năm, Ngô Chí Quốc đã làm cỏ cả đội Tiểu Hổ chống Nhật khá rầm rộ ở Hồ Châu.

Vương Điền Hương nói: “Toàn là bọn Tưởng, hơn thế sự việc xảy ra khi biến cố Hoản Nam[1] xảy ra chưa lâu, việc này chẳng bày sờ sờ trước mặt, Tưởng Giới Thạch ra tay dã man với Tân Tứ quân[2], hắn báo thù mà”.

[1] Biến cố miền Nam An Huy năm 1941.

[2] Quân đoàn số 4 mới biên chế, thuộc lực lượng Quốc dân cách mạng.

Nói rất có đầu có cuối, đâu ra đấy, độ tin cậy rất cao.

Nhưng Kawa Hihara vẫn bán tín bán nghi, không quyết định được.

Hắn thừa nhận về mặt lý thì mọi người nói là đúng, rốt cuộc thì Ngô Chí Quốc có vật chứng, có nhu cầu khách quan biện hộ.

Mà cách biện hộ của hắn rất kiên định, huống hồ hiện nay hắn chưa thấy được sơ hở nào của Lý Ninh Ngọc.

Có lúc tự bản thân Kawa Hihara cũng thấy kỳ quái, sao hắn lại coi trọng lời nói cửa miệng của Ngô Chí Quốc như vậy, mà coi nhẹ những vật chứng hắn để lại.

Điều này dường như có gì đó không thể lý giải.

Nhưng nghĩ kỹ lại, hắn cũng tự tìm cho mình câu trả lời ‐ hắn thấy nếu đúng như những gì mọi người nói, rằng: Ngô Chí Quốc đúng là Lão Quỷ đã hoạt động ngầm bao năm nay, vậy thì Ngô Chí Quốc không dễ gì để lộ dấu vết như vậy chứ!

Mặc dù hiện tại hắn chưa biết ai là Lão Quỷ, nhưng hình như đã rất nhiều lần nhìn thấy hình bóng của Lão Quỷ.

Từ hình bóng ấy để lại cho hắn một vài phán đoán, một vài tưởng tượng, hắn luôn cảm thấy là không giống với Ngô Chí Quốc.

Kawa Hihara nói với Vương Điền Hương: “Nhìn nhận tình hình từ hai ngày nay, anh cũng đã cảm nhận được Lão Quỷ quả không phải là tên giặc Cộng sản bình thường, không chừng còn là tên nhà nghề.

Nhưng Ngô Chí Quốc từ khi vào đây đến giờ, lúc nào cũng cãi vã ầm ĩ, lại dễ dàng để lộ bút tích như vậy, không giống nhà nghề chút nào”.

Vương Điền Hương đáp lại: “Nếu như chúng ta cố tình coi hắn là Lão Quỷ thì sao?

Đến bây giờ hắn còn chưa chịu khai, chưa hết ngài xem cái cách hắn bắn chết bà Hai, đâu phải là cái kiểu của bọn lâu la thông thường”.

Kawa Hihara nói: “Là tôi đang nghĩ, một tên tình báo nhà nghề như vậy, sẽ không thể phạm sai lầm đơn giản đến thế về bút tích của mình.

Anh nhìn chữ của hắn viết sau đó xem, nét bút rất linh hoạt, không phải là không đủ trình độ bịp người ta”.

Vương Điền Hương cứ như là đã suy nghĩ kỹ vấn đề này từ trước, bèn nói luôn: “Nhưng mà tôi nghĩ có thể hắn cố ý làm như vậy, cố để lộ dấu tích trước, sau đó đạp đổ, mục đích chính là muốn vu cáo Lý Ninh Ngọc”.

Thấy biểu hiện của Kawa Hihara có vẻ bị thuyết phục, hắn hùng hồn bổ sung thêm, “Tôi luôn cảm thấy hắn bảo hắn không biết nội dung bức điện mật là không thể tin được, bởi vì Lý Ninh Ngọc nói hắn biết hết từ trước khi đến đây, lúc đó mọi người không ai biết đã xảy ra chuyện gì, biết gì mà vu cáo hắn”.

Tiếp theo, Vương Điền Hương cho rằng, không cần biết ai là Lão Quỷ, sau khi đến đây, cách giấu mình tốt nhất chính là thông qua vu cáo người khác để khuấy đục nước lên, còn Lý Ninh Ngọc, trước khi Ngô Chí Quốc dùng huyết thư tố cáo cô ấy, chưa từng tố cáo ai.

Chưa hết, từ khi Ngô Chí Quốc bắt đầu gây phiền hà cho Lý Ninh Ngọc, đến bây giờ lại gây khó cho cô ta, là liền một mạch, khẳng định một mình Lý Ninh Ngọc.

Còn nữa, thông qua việc phạm lỗi kém cỏi để giải thoát cho bản thân, đó là một kế sách hay, rất dễ qua mặt người khác.

Tóm lại, Vương Điền Hương khắc họa cho Kawa Hihara thấy một Lão Quỷ Ngô Chí Quốc đích thực, Kawa Hihara nghe xong, cũng thừa nhận Vương Điền Hương nói có lý.

“Vương Điền Hương, anh đã trưởng thành nhiều đấy.”

Kawa Hihara quá lời khen ngợi Vương Điền Hương, “Anh đã nghĩ đến những điều ấy, chứng tỏ anh đã động não, suy xét kỹ càng, nói được, về lý cũng thông, khiến người ta tâm phục.

Nhưng vẫn chưa thể khiến tôi tâm phục hoàn toàn, bởi vì cái bài Ngô Chí Quốc tố cáo Lý Ninh Ngọc, giống như vậy, về lý cũng rất thuận.

Thứ nhất, Lão Quỷ có thể bí mật tập viết chữ của người khác là điều hoàn toàn có thể, rất nhiều đặc vụ đều đã làm như vậy, đây dường như là một trong những thuật tàng thân cơ bản của bọn chúng, cũng giống như nghệ thuật hóa trang.

Thứ hai, Lý Ninh Ngọc vì là Lão Quỷ, nên với bất cứ việc gì cũng đều hết sức cảnh giác, cô ta vừa lấy nội dung điện mật làm tin tức tình báo gửi đi, Tư lệnh Trương đột nhiên hỏi cô ta có tiết lộ với ai nội dung của điện mật không, anh nói xem cô ta sẽ nghĩ như thế nào?

Cô ta rất dễ nghĩ rằng đã xảy ra chuyện, sau đó cô ta kéo ngay con cừu thế tội mà cô ta đã toan tính từ trước vào để thế tội cũng không có gì là lạ.

Thứ ba, đã có được cừu thế tội bên cạnh, cô ta có thể không hề sốt ruột, ngồi vững trên núi Thái Sơn, bởi vì những vụ kiểu này, tra xét nét bút điều không thể bỏ qua, cô ta chỉ còn việc chờ đợi để xem trò cười mà thôi.

Anh bảo, như vậy có phải là theo thường lệ thì vẫn có lý không?

Vấn đề hiện nay là như vậy, cách nói của anh và tôi đều có lý, nhưng không thể thuyết phục lẫn nhau, anh không thể bác được tôi, mà tôi cũng không thể bác được anh, anh muốn bác tôi thì anh cần có thêm chứng cớ, tôi cũng vậy”.

Cuối cùng, Kawa Hihara nói: “Do vậy, bây giờ chúng ta trước tiên là không được kết luận tùy tiện, hãy cứ để xem, phải đi tìm chứng cứ.

Anh đến lục soát ngay phòng làm việc của Lý Ninh Ngọc, nếu như có thể tìm được chứng cứ cô ta bí mật luyện viết chữ của Ngô Chí Quốc thì tốt rồi”.

* * *

Rất tiếc.

Nửa tiếng sau, Vương Điền Hương gọi điện cho Kawa Hihara từ phòng làm việc của Lý Ninh Ngọc, hắn không tìm thấy chứng cứ liên quan nào.

Việc quân cơ không nề hà dối trá.

Không tìm được vẫn có thể nói là tìm được.

Cúp máy xuống, Kawa Hihara lao ngay đến Tây lầu, hẹn Lý Ninh Ngọc xuống phòng họp ở dười tầng, nói không hề úp mở: “Sở trưởng Vương đang lục soát văn phòng của cô, cô có biết tôi muốn kiểm tra gì không?”.

“Không biết.”

“Cô sợ chứ?”

“Không.”

“Không, cô sợ, bởi vì cô vội vàng đến đây, không kịp hủy chứng cứ phạm tội của cô”.

Kawa Hihara nói, “Sở trưởng Vương vừa gọi điện thoại cho tôi bảo, họ đã tìm thấy bí mật của cô ở phòng làm việc của cô.

Một bí mật lớn đó.

Cô đoán xem là gì nào?”.

“Không biết”.

Lý Ninh Ngọc đáp, “Những bí mật của tôi đều là bí mật của Quân đội Nhật Hoàng”.

“Không phải chứ”.

Kawa Hihara nói, “Lẽ nào lén luyện viết chữ của Trưởng ban Ngô cũng là bí mật của Quân đội Nhật Hoàng?”.

“Cái gì cơ?”

Lý Ninh Ngọc chưa nghe rõ.

Kawa Hihara nhắc lại: “Sở trưởng Vương phát hiện cô đang luyện chữ của Trưởng ban Ngô?

Xin hỏi là vì sao vậy?

Cô nói thật đi”.

Lý Ninh Ngọc gần như lần đầu tiên để lộ nụ cười: “Tôi nghĩ chắc là Sở trưởng Vương đến nhầm phòng rồi”.

Kawa Hihara hừm một tiếng, giơ ngón tay cái về phía Lý Ninh Ngọc: “Bái phục!

Biểu hiện của cô quả thật rất tốt.

Lý Ninh Ngọc tôi nói thật với cô nhé, nếu như cuối cùng cô có thể chứng minh cô không phải là Lão Quỷ thì Quân đội Nhật Hoàng sẽ rất trọng dụng cô”.

Chuyển sáng câu chuyện khác, ngón tay cái lại thành ngón tay út, “Nhưng hiện giờ thì… xin lỗi, tôi e rằng cô không thể chứng minh nổi.

Cô bảo tôi lừa cô, không ngừng lừa gạt cô, chính là muốn chứng minh sự nghi ngờ của tôi đối với cô”.

Lý Ninh Ngọc trầm ngâm giây lát, không tiếp theo lời Kawa Hihara mà hỏi một cách lạ lẫm: “Ngài Kawa Hihara, tôi muốn biết bức huyết thư của Ngô Chí Quốc mà hồi sáng nay anh cho tôi xem là thật chứ?”.

“Theo cô thì sao?”

“Tôi hy vọng là thật.”

Lý Ninh Ngọc nói, “Như vậy hắn đã chứng minh tôi không phải là Lão Quỷ.

Ngài Kawa Hihara, ông hãy tin tôi, chỉ cần điều ấy là thật, Ngô Chí Quốc chắc chắn chính là Lão Quỷ, ông không cần phải nghi ngờ ai thêm nữa, sự việc đã có thể kết thúc”.

“Còn nếu như là giả?”

“Nếu là giả.”

Lý Ninh Ngọc nói một cách dứt khoát: “Có một việc mà theo tôi ông nên đi thẩm tra”.

Lý Ninh Ngọc kể, vừa nãy cô nghe thấy Kim Sinh Hỏa nói, lúc Kim Sinh Hỏa giao mật điện cho Tư lệnh Trương, Thư ký Bạch có mặt ở đó, mà là Thư ký Bạch nhận trước rồi mới chuyển cho cho Tư lệnh Trương.

Lý Ninh Ngọc đặc biệt nhấn mạnh: “Trưởng phòng Kim bảo Thư ký Bạch nhận điện, đã xem trước”.

Chính là nói, trước khi sự việc xảy ra không chỉ có bốn người bọn họ là Ngô Chí Quốc, Kim Sinh Hỏa, Lý Ninh Ngọc và Cố Tiểu Mộng biết nội dung điện mật, mà còn có người thứ năm, chính là Thư ký Bạch.

Ý tại ngôn ngoại, Thư ký Bạch cũng nên được coi là đối tượng tình nghi.

Kawa Hihara thản nhiên nói: “Sao cô lại biết tôi không nghi ngờ Thư ký Bạch, cô thông minh như vậy thì cũng phải biết rõ, Thư ký Bạch cũng bị bí mật nghi ngờ”.

Lý Ninh Ngọc đáp: “Điều này là khi ngài Kawa Hihara bảo anh ta viết một bức thư cho gia đình, tôi đã phần nào có dự cảm, mục đích ngài bảo anh ta viết thư trước là để xem chữ của anh ấy, nhưng tôi cho rằng cứ bí mật nghi ngờ như vậy thì hiệu quả thực tế là không ra sao”.

Lý Ninh Ngọc cho rằng, công khai nghi ngờ thì có sức uy hiếp, Lão Quỷ biết mình bị nghi ngờ thì trong lòng sẽ căng thẳng.

Trong lòng căng thẳng, hành vi khó tránh khỏi khác lạ, dễ lộ sơ hở.

Bí mật nghi ngờ trong một số trường hợp nào đó thì cũng hữu dụng, ví dụ như anh ta chuẩn bị hành động, không biết đằng sau có người theo dõi thì sẽ dễ bị bắt quả tang.

“Nhìn nhận từ tình hình hiện nay,” Lý Ninh Ngọc nói, “cơ bản Lão Quỷ sẽ không dám có bất kỳ hành động gì, mọi hành động đều không khác gì con thiêu thân lao vào lửa, hắn không dám, mà cũng không thể.

Lão Quỷ không hành động, giá trị của việc bí mật theo dõi sẽ rất nhỏ, thậm chí còn có tác dụng ngược, bởi vì hắn không biết mình bị nghi ngờ, trong lòng sẽ không lo ngại, ngược lại dễ che giấu bản thân”.

Những điều này đều là phân tích, Kawa Hihara muốn cô đưa ra kết luận.

“Kết luận của tôi chính là nếu Ngô Chí Quốc thật sự chưa chết, ngài lòe tôi thà chẳng bằng lòe Thư ký Bạch.”

Lý Ninh Ngọc nói, “Tôi không biết ngài Kawa Hihara có đi lòe Trưởng phòng Kim và Cố Tiểu Mộng như lòe tôi không, chứ Trưởng ban Ngô chắc chắn cũng bị lòe hết lần này đến lần khác giống như tôi, thậm chí còn bị tra tấn uy hiếp.

Tôi đang nghĩ, nếu như Lão Quỷ là một trong số bốn người bọn tôi, chắc chắn hắn đã sớm bị ngài lòe và tìm ra rồi.

Bởi vì ngài nghĩ xem, một chân của Lão Quỷ thực ra là đã ở trong nhà giam rồi, chân còn lại thì trong mấy ngày nay cũng đã vào nhà giam nốt rồi, hắn có ngoan cố, giỏi biện hộ và giỏi cãi cùn đến đâu thì cũng không qua được bài vở của ngài, dù cho miệng không khai, thì sắc mặt cũng khai rồi.

Con người mà, ai chẳng tham sống sợ chết, đã đến bên bờ vực, mạng sống treo trên sợi tóc, gì mà chả căng thẳng”.

Kawa Hihara nói: “Cũng có những người coi thường cái chết, coi cái chết là trở về, tôi thấy cô chính là dạng người như vậy”.

Lý Ninh Ngọc đáp lại: “Tiếc là tôi còn có hai đứa con chưa trưởng thành, nếu không ông sỉ nhục tôi như vậy, thì thà tôi sống chẳng bằng chết”.

Kawa Hihara nói: “Tôi ngỡ là, với hai đứa con của cô, thực sự cô không nên cứng đầu như vậy.

Cô đã nghĩ chưa, kết quả cô cứ cứng đầu sẽ như thế nào?

Khiến cho tôi và cả Tư lệnh Trương đều phẫn nộ.

Tôi có thể nói cho cô biết, thức thời một chút, sớm khai ra, chúng ta có thể việc ai nấy chịu, không liên lụy đến người nhà cô, nếu không ‐ đừng trách chúng tôi không khách sáo!”.

Lý Ninh Ngọc nói: “Ngài Kawa Hihara, tôi kiến nghị ngài đem những lời này đi nói với Thư ký Bạch.

Tôi cho rằng, nếu như Ngô Chí Quốc thực sự chưa chết, ngài uy hiếp như vậy với Thư ký Bạch, biết đâu sẽ thu được kết quả không ngờ tới”.

Kawa Hihara nghe xong, trong lòng thấy cũng có chút dao động, nhưng miệng thì vẫn không phục: “Chẳng phải cô đã nói nếu không có chứng cứ rõ ràng thì sẽ không thể tùy tiện tố cáo ai sao?

Sao lại lại tiền hậu bất nhất thế?”.

Lý Ninh Ngọc đáp lại: “Tôi không tố cáo anh ấy, là tôi đang phân tích giúp ông, đưa ra kiến nghị”.

Cuối cùng, Lý Ninh Ngọc nhấn mạnh: “Tôi phải nhắc lại cho rõ ràng, những điều tôi nói là với tiền đề Trưởng ban Ngô vẫn còn sống.

Nếu như hắn đã thật sự chết rồi, thì tôi vẫn là nói, ngài Kawa Hihara không cần phải tốn công sức nữa, hắn chính là Lão Quỷ, không cần phải nghi ngờ”.

Kawa Hihara chửi thầm trong bụng: Làm sao mà tao không tốn công sức chứ, hai đứa khốn nạn chúng mày đã đủ khiến tao lao tâm khổ tứ rồi, giờ mày lại đào thêm ra cho tao một Thư ký Bạch nữa.

Không cần phải nói, cho dù có chửi cô là con khốn kiếp thì Kawa Hihara vẫn cảm thấy Lý Ninh Ngọc nói không phải là không có lý.

Điều khiến hắn cảm thấy trăn trở là hắn không biết phải làm thế nào với những biểu hiện của Lý Ninh Ngọc, là tăng thêm hoài nghi với cô hay ngược lại?

Hắn lưỡng lự, chưa biết làm thế nào.

Hắn mang theo trăn trở ấy bỏ đi để lại mình Lý Ninh Ngọc, trong lòng không một chút cảm giác thành công.

Quá buồn bực, thật là!

Tối hôm ấy, Kawa Hihara không đi tìm gái, tâm trạng không vui thì gái cũng chẳng bằng cây cỏ.

Tâm trạng buồn bực, ngủ cũng không sâu giấc, dễ nằm mơ.

Trong mơ, Kawa Hihara lại một lần nữa trải qua tất cả những gì mà ban ngày hắn đã trải qua: Ba Ba thập thà thập thò, Cố Tiểu Mộng rượu say túy lúy, tiếng súng đinh tai nhức óc, thi thể của bà Hai, Lý Ninh Ngọc nói năng đĩnh đạc, huyết thư của Ngô Chí Quốc, v.v… tất cả đều theo gió bay đến rồi lại theo gió bay đi.

Giấc mơ là anh em sinh đôi của tư duy.

Cũng chính giấc mơ đã gợi ý, hắn biết quân bài tiếp theo phải đánh như thế nào.

Có điều đây là quân bài cũ: Huyết thư của Ngô Chí Quốc.

Sáng sớm hôm sau, việc đầu tiên sau khi Kawa Hihara ngủ dậy là đưa huyết thư cho Vương Điền Hương, bảo với anh ta: “Anh đi thông báo với Thư ký Bạch, ăn sáng xong thì triệu tập mọi người họp, để bọn họ đều nhìn thấy huyết thư, đồng thời tách riêng nói chuyện với từng người, xem bọn họ phản ứng thế nào”.

Vương Điền Hương không hiểu ông chủ giở trò gì.

Theo như Vương Điền Hương với quân bài cũ này khó mà có kết quả, bởi vì Lý Ninh Ngọc đã biết đây là quân bài lòe bịp, có khi còn phản tác dụng.

Kawa Hihara nhớ kỹ lại lần nữa rồi quả quyết: “Từ đầu tới cuối tôi chưa hề nói với cô ta là Ngô Chí Quốc giả chết, cô ta cùng lắm cũng chỉ là nghi ngờ mà thôi”.

Ngừng lại suy nghĩ, nói tiếp: “Hơn nữa, cứ cho là cô ta biết cũng không hề gì, ở đây không phải tôi lòe cô ta mà là muốn xem rốt cuộc cô ta phán đoán việc này như thế nào, sau đó còn phải xem cô ta có nói lại với ai việc này không”.

“Nói rồi thì sao?”

“Vậy thì xem cô ta nói như thế nào.”

Kawa Hihara ngập ngừng nói, “Nếu cô ta phán đoán Ngô Chí Quốc đã chết thật, sau đó đem chuyện này kể với bọn họ, thì chứng tỏ tối hôm qua cô ta tố cáo Thư ký Bạch với tôi đơn thuần chỉ là nói mò, cô ta muốn tung hỏa mù, như vậy anh đã biết rõ cô ta là thứ gì rồi”.

“Nhưng nếu không nói thì sao?”

“Không nói thì xem phản ứng của những người khác.”

Kawa Hihara hùng hồn nói, “anh nghĩ xem, nếu Lý Ninh Ngọc chính là Lão Quỷ, trước đây chưa có bức huyết thư này, bọn họ cho dù có nghi ngờ cô ta cũng chưa hẳn đã dám nói.

Toàn là những thứ như đúng mà sai, ngộ nhỡ nói sai, không phải gây thù oán sao, sau đó thì làm sao mà cùng làm việc với nhau được?

Bây giờ có thứ này, mọi người đều dám nói thẳng thừng, như vậy tiện cho chúng ta thu thập chứng cứ về cô ta.

Nếu Lý Ninh Ngọc không phải là Lão Quỷ, Lão Quỷ thật khi thấy chúng ta nghi ngờ sai, trong lòng chắc chắn sẽ rất vui, nhất định sẽ đẩy cô ta ngã hẳn…”.

Từ đó có thể thấy, dùng quân bài cũ của Kawa Hihara đánh ván mới, trong đó chứa rất nhiều ý đồ, có thể nói là một mũi tên trúng nhiều đích!

Từ đó có thể thấy, giờ đây ánh mắt nghi ngờ của Kawa Hihara đã bị phân tán, hắn hy vọng đây chỉ là bóng tối trước bình minh.

Đây là buổi sáng thứ ba, đúng một nửa thời gian đã trôi đi, ông trời cũng sốt ruột thay bọn họ, đổ mưa phùn xuống.

* * *

Vương Điền Hương đội mưa đi sang Tây lầu, khắp người ướt lướt thướt bước vào phòng Thư ký Bạch, may là mưa không to nên chưa làm ướt huyết thư.

Hắn đưa bức huyết thư cho Thư ký Bạch, dặn dò một hồi rồi đi.

Thư ký Bạch hỏi hắn đi đâu, có ý muốn mời hắn cùng họp, hắn bực tức đáp: “Tôi làm gì có thời gian, bày ra cái trò dở hơi này!”.

Thư ký Bạch nghĩ cũng đúng, Trưởng ban xả thân vì nghĩa, sự việc này làm to chuyện, hẳn là tạo ra án sai oan thật, nhất định sẽ phải đối mặt với hàng loạt chuyện rắc rối.

Hôm ấy Thư ký Bạch cũng đã xem nét chữ, đúng là Trưởng ban Ngô, giấy trắng mực đen sai sao được, thế nào mà sao bây giờ lại sai được chứ?

Hắn nghĩ chắc họ (Kawa Hihara và Vương Điền Hương) khi thu thập đã làm lẫn lộn, râu ông nọ cắm cằm bà kia rồi, nhầm của Lý Ninh Ngọc là của Trưởng ban Ngô.

Thật là không nên như vậy, hắn kêu oan thay cho Trưởng ban Ngô.

Vương Điền Hương vừa đi, Thư ký Bạch liền triệu tập mọi người xuống dưới tầng họp.

Cuộc họp bắt đầu bằng việc mọi người truyền tay nhau xem bức huyết thư, không khí căng thẳng lo sợ bao trùm cuộc họp.

Phản ứng của Kim Sinh Hỏa là liên tục nói “ối giời”, dường như xúc động trước sự cương nghị và trung thành của Trưởng ban Ngô, mắt dưng dưng nhỏ lệ, ánh mắt nhìn Lý Ninh Ngọc bỗng chốc trở nên căm thù phẫn nộ.

Lý Ninh Ngọc như cá nằm trên thớt, lẽ ra phải vô cùng lo sợ, nhưng cô lại bình tĩnh đến lạ thường, ấy là vì cô đã sớm được đọc bức huyết thư, nên không lấy gì làm lạ.

Thái độ không lo sợ, không ngạc nhiên của cô khiến Thư ký Bạch vô cùng căm ghét, thậm chí chẳng cần che đậy.

Phản ứng của Cố Tiểu Mộng rất khác người, cô không quan tâm tới nội dung bức huyết thư, với Lý Ninh Ngọc không có biểu hiện phản cảm cần có, trái lại đưa ra ý kiến trái ngược về vụ tự sát của Trưởng ban Ngô.

“Lẽ nào lại là hắn bị giết!”

Kim Sinh Hỏa nghe xong, thậm chí không thể lý giải.

“Hừm”, Cố Tiểu Mộng nói to, “không phải tự sát thì đương nhiên là hắn bi giết”.

“Vậy hung thủ là ai?”

Kim Sinh Hỏa hỏi một cách tò mò.

Cố Tiểu Mộng chỉ ra bên ngoài của sổ: “Có trời mới biết”.

Kim Sinh Hỏa lẩm bẩm một mình: “Làm sao lại có thể như thế chứ?

Ai giết anh ấy chứ?”.

Thư ký Bạch phát chán xua tay nói với Kim Sinh Hỏa: “Anh Kim, anh đừng có nghe cô ta nói tầm bậy”.

Mục đích của buổi họp này là để xem phản ứng của mọi người trước việc này, để kiểm chứng Lý Ninh Ngọc xem liệu đã nói việc này với mọi người chưa.

Từ tình hình này, có thể thấy Lý Ninh Ngọc chắc chắn chưa nói.

Cho nên nội dung cuộc họp rất đơn giản, ngoài việc thông báo tình hình, chỉ phổ biến một việc, điều chỉnh chỗ ở của Lý Ninh Ngọc: Điều Lý Ninh Ngọc từ ở chung phòng với Cố Tiểu Mộng chuyển sang phòng Trưởng ban Ngô, một mình Lý Ninh Ngọc ở đó.

Đây là sự đãi ngộ từ bức huyết thư, cũng là yêu cầu của kịch giả diễn thật, là làm để cho bọn họ thấy.

Sau khi tan họp, theo gợi ý của Vương Điền Hương, Thư ký Bạch bảo Lý Ninh Ngọc nán lại, cười nhạt đầy ý tứ sâu xa với cô, rồi bắt đầu gặng hỏi theo yêu cầu gợi ý của Vương Điền Hương.

Thư ký Bạch nói: “Lý Ninh Ngọc, tôi nghĩ giờ tâm trạng trong cô đang rất phức tạp.

Trưởng ban Ngô đã lấy cái chết để chứng minh sự trong sạch của mình và lòng trung thành tuyệt đối với Quân đội Nhật Hoàng, đồng thời cũng khẳng định với chúng tôi tên giặc Cộng sản đích thực ‐ Lão Quỷ ‐ là cô.

Không biết cô nghĩ sao về việc này?”.

Lý Ninh Ngọc trầm ngâm giây lát, đột nhiên ngẩng đầu, nhìn Thư ký Bạch nói: “Anh đi mà hỏi ngài Kawa Hihara ấy”.

Nói rồi đứng dậy bỏ đi, khiến Thư ký Bạch tức điên người, chửi ầm lên.

Kawa Hihara nghe tiếng Thư ký Bạch chửi và tiếng bước chân đã đi xa của Lý Ninh Ngọc, nói với Vương Điền Hương: “Xem ra quan hệ của cô ta với Tư lệnh Trương quả thực không tồi, trước mặt cô ta, Thư ký Bạch của các anh chỉ như thằng hề”.

Tiếp theo là Kim Sinh Hỏa.

Lần này, tâm trạng Kim Sinh Hỏa rất thản nhiên, tốt, không chán nản uể oải như lần trước, ngồi xuống là trả lời hết thảy, thái độ rất rõ ràng: Lý Ninh Ngọc chính là Lão Quỷ!

Kim Sinh Hỏa: Thật không ngờ, không ngờ, tôi làm việc cùng cô ta bao năm nay, thì ra là làm việc cùng một phần tử Cộng sản.

Thư ký Bạch: Anh có dám khẳng định chính cô ta là Lão Quỷ không?

Kim Sinh Hỏa: Trưởng ban Ngô đã lấy cái chết để tố cáo cô ta, chẳng lẽ vẫn còn phải nghi ngờ sao?

Thư ký Bạch: Vậy anh có thể cung cấp chứng cứ của mình không?

Kim Sinh Hỏa: Chứng cứ á… nhiều lắm…

Nhoáng cái đã liệt kê ra cả đống, nhưng phần nhiều là suy luận trống rỗng và nghi ngờ,

Kawa Hihara thấy đúng là kiểu giậu đổ bìm leo.

Nghe xong, Kawa Hihara cười với Vương Điền Hương: “Tôi thật không hiểu nổi Tư lệnh Trương của các anh tại sao lại cho một tên xuẩn ngốc đến thế quản lý đơn vị số Một của toàn quân.

Mà nếu hắn là Lão Quỷ, tôi có bắt được cũng không cảm thấy thành công, đúng là kẻ hèn mạt!”.

Vương Điền Hương đáp: “Đúng là hắn hèn nhát thật, nhiều lần mất mặt trước thiên hạ, bị vợ đuổi đánh khắp trang viên”.

Kawa Hihara nói: “Cộng sản đào tạo loại người này làm điệp viên, có lẽ chỉ hợp với kiểu vĩnh viễn trốn ở trong hầm mà thôi”.

Sau đó tiếp theo là Cố Tiểu Mộng.

Thư ký Bạch nói chuyện với Cố Tiểu Mộng đã phạm một sai lầm, dẫn dắt câu chuyện đi sai hướng, câu đầu tiên Thư ký Bạch mở miệng hỏi là: Vì sao cô bảo Trưởng ban Ngô không tự sát?

Cố Tiểu Mộng: Lẽ nào tối qua anh không nghe thấy tiếng kêu gào của anh ấy?

Thư ký Bạch: Ý của cô là…

Cố Tiểu Mộng: Anh ấy bị đánh chết.

Thư ký Bạch: Không phải chứ?

Cố Tiểu Mộng: Vậy là anh không hiểu Sở trưởng Vương và cấp dưới của anh ta.

Bọn họ rất dã man, đánh chết người là chuyện bình thường, còn không đánh anh chết mới là chuyện lạ.

Vương Điền Hương nghe xong, tức tối nghiến răng kèn kẹt.

Nói đến vấn đề Lý Ninh Ngọc có phải là Lão Quỷ hay không, Cố Tiểu Mộng lại đầy vẻ oán thán.

Cố Tiểu Mộng: Tôi không biết cô ấy có phải là giặc Cộng sản không, nhưng tôi hy vọng cô ấy không phải.

Thư ký Bạch: Sao vậy?

Cố Tiểu Mộng: Bởi vì tôi thích cô ấy.

Thư ký Bạch: Cô thích cô ấy ở điểm gì?

Cố Tiểu Mộng: Anh không quản nổi sao?

Thư ký Bạch: Thì phải xem cô thích cô ấy điểm gì, nếu như cô thích cô ấy chuyển tin tức tình báo cho giặc Cộng thì đương nhiên chúng tôi phải quản rồi.

Cố Tiểu Mộng: Chắc anh không quản nổi đâu, bởi vì bản thân anh còn khó bảo toàn, lại còn đòi quản cả tôi, nực cười!

Thư ký Bạch: Đây không phải là tôi đang quản cô sao, tôi gọi cô xuống là cô phải xuống.

Cố Tiểu Mộng: Tôi thích đi thì tôi đi đã sao.

Thư ký Bạch: Cô dám!

Cố Tiểu Mộng: Có gì mà không dám…

Nói xong, đứng dậy bỏ đi, Thư ký Bạch tiến đến định ngăn lại nhưng bị đẩy ra: “Tránh ra!

Chó ngoan thì không chắn đường.

Anh tưởng anh là ai chứ?

Anh và tôi giống nhau, đều là nghi phạm Lão Quỷ”.

Thư ký Bạch cười ha hả, đầy vẻ coi thường.

Cố Tiểu Mộng: “Bộ dạng của anh thật tức cười, làm cứ như là ông lớn, thực ra chỉ là một anh hề”.

Thư ký Bạch: “Cô nói tôi thế nào cũng được, nhưng tôi yêu cầu cô nói về Lý Ninh Ngọc”.

Cố Tiểu Mộng: “Giờ tôi lại chỉ thích nói về anh, tôi cảm thấy anh còn có khả năng là Lão Quỷ hơn cả Trưởng phòng Lý”.

“Cô nói láo!”

“Anh mới là kẻ nói láo!”

Hai người cãi nhau đến nỗi không ngăn lại được, suýt nữa thì đánh nhau, may mà lính gác ngoài cửa kịp thời vào can thì mới yên chuyện.

Sau khi được khuyên can, Cố Tiểu Mộng đòi gặp Kawa Hihara.

Gặp Kawa Hihara, không kiêng nể gì, nói ngay trước mặt Thư ký Bạch:

“Ngài Kawa Hihara, tôi cho rằng có thể Bạch Tiểu Niên là Lão Quỷ.”

* * *

Cố Tiểu Mộng không nói bừa, mà nói rất rõ ràng mạch lạc: “Ngài Kawa Hihara có thể không biết, thực ra Thư ký Bạch cũng biết nội dung điện mật.

Trưởng phòng Kim bảo, khi anh ấy chuyển điện mật cho Tư lệnh thì Thư ký Bạch cũng ở đó, hơn thế Thư ký Bạch xem trước rồi mới chuyển cho Tư lệnh”.

“Tôi biết cô muốn nói gì.”

Kawa Hihara ngắt lời cô, “Cô muốn nói anh ta cũng là đối tượng tình nghi là Lão Quỷ, phải không?”.

“Đúng thế.”

Cố Tiểu Mộng nói một cách kiên quyết.

“Vì sao bọn tôi bị nghi ngờ?

Là vì chúng tôi biết nội dung của điện mật đấy thôi.

Thư ký Bạch cũng biết, vậy vì cớ gì mà không nghi ngờ anh ta, lẽ nào xương của anh ta đáng giá hơn xương bọn tôi?”.

Kawa Hihara an ủi cô: “Thôi được, việc này không cần phải nói nhiều nữa, xương của anh ta chắc cũng không đáng giá hơn cô.

Không giấu gì cô, chúng tôi cũng đã nghi ngờ anh ta, cô xem đây là cái gì?”.

Kawa Hihara nói thật, trong phòng này có máy nghe trộm, còn hắn luôn ở ngôi nhà đối diện để nghe các cuộc nói chuyện giữa Thư ký Bạch với mọi người, “Lẽ nào Lý Ninh Ngọc không nói với cô, chúng tôi đang bí mật theo dõi anh ta?”.

Cố Tiểu Mộng ngơ ngác lắc đầu, vẻ mặt ngạc nhiên.

Kawa Hihara nói tiếp: “Giờ tôi không nghi ngờ ai hết, Trưởng ban Ngô đã lấy tính mạng ra làm chứng, Lý Ninh Ngọc chính là Lão Quỷ, vấn đề bây giờ là cần cô ta thừa nhận, thành khẩn khai nhận, không cần phải nghi ngờ ai nữa.

Quan hệ của cô và Lý Ninh Ngọc rất tốt, lẽ nào cô không phát hiện ra điều gì khác lạ ở cô ta?

Cứ nghĩ kỹ đi, có nhiều điều không nghĩ thì không biết, một khi nghĩ thì lại thấy giật mình đấy”.

Cố Tiểu Mộng nghĩ đi nghĩ lại, rốt cuộc là lắc đầu, còn thề thốt: “Hoặc là cô ấy quá tinh khôn, bằng không tôi không thể tin được sự thực Lý Ninh Ngọc là Lão Quỷ.

Theo tôi, cô ấy rất trung thành với quân đội Nhật Hoàng.

Trưởng ban Ngô lấy cái chết để chứng minh cô ấy là Cộng sản, trái lại còn tôi khiến tôi nghi ngờ ở đây có sự dối trá.”

Lời nói xoay quanh ý tứ Lý Ninh Ngọc đã nói, khiến Kawa Hihara cho rằng chắc Lý Ninh Ngọc đã bí mật nói với Cố Tiểu Mộng.

Nhưng Cố Tiểu Mộng nói rất chắc chắn: “Tôi có thể lấy danh dự của bố tôi ra để bảo đảm, cô ấy chưa từng nói với tôi điều gì.”

“Thật kỳ lạ!”

Kawa Hihara ậm ừ nói, “Lẽ nào là Trưởng ban Ngô?

Cô phải nói thật lòng với tôi, nếu như bảo cô chọn ra Lão Quỷ giữa Lý Ninh Ngọc và Ngô Chí Quốc, cô sẽ chọn ai?”.

Cố Tiểu Mộng nghĩ ngợi, đột nhiên nói: “Sợ rằng Trưởng ban Ngô không phải là tự sát”.

Là sao?

Là do Sở trưởng Vương tra tấn quá đà, lỡ tay, sợ Kawa Hihara và Tư lệnh Trương trách mắng nên mới dùng hạ sách này.

“Nếu thực sự là như vậy,” Cố Tiểu Mộng nói, “tôi vẫn chỉ nghi ngờ Thư ký Bạch.

Tại sao ư?

Bởi vì Sở trưởng Vương tra tấn quá đà, đến mức lỡ tay cướp đi sinh mạng của người ta, cho thấy Trưởng ban Ngô nhất định từ chối không khai nhận.

Suy luận thêm, Trưởng ban Ngô có thể là bị vu oan.

Ai vu oan cho anh ấy?

Chỉ có Thư ký Bạch, tối hôm ấy Thư ký Bạch đã mánh khóe trong lúc tra xét nét chữ.”

“Mánh khóe gì?”

“Lấy bút tích của người khác đổi cho Trưởng ban Ngô.”

“Người khác là ai?”

“Là chính anh ta.”

“Ai?”

“Chính là Thư ký Bạch.”

“Nhưng tối hôm ấy Thư ký Bạch không để lại bút tích.”

“Anh ta có thể đã chuẩn bị trước, lợi dụng thực thi công việc mà tráo đổi.”

Cố Tiểu Mộng hắng giọng, nhìn Kawa Hihara, “Ngài nghĩ xem, tôi nhớ là tối hôm ấy tất cả các bản bút tích do anh ta một mình thu lại và đưa lên, đúng vậy không?”.

Kawa Hihara nhớ lại, hình như đúng là như vậy.

Nhưng vấn đề là Trưởng ban Ngô chưa chết ‐ có thể chết không đối chứng, nhưng Trưởng ban Ngô vẫn còn sống, anh đã thừa nhận đó là bút tích của mình, nhưng nghi ngờ là có người giả mạo nét chữ của mình để chuyển tin tình báo.

Chính là nói, ý nghĩ táo bạo này của Cố Tiểu Mộng không có giá trị thực tế.

Nhưng Cố Tiểu Mộng không vì thế mà từ bỏ tố cáo Thư ký Bạch: “Nếu như nói có người lén luyện viết chữ của Trưởng ban Ngô, lại viết giống như vậy, người này chắc chắn không phải là Trưởng phòng Lý”.

“Tại sao?”

“Bởi vì cô ấy là đàn bà, đàn bà mà luyện viết chữ của đàn ông thì quả thật rất khó.”

Cuối cùng, Cố Tiểu Mộng nói thẳng với Kawa Hihara: “Ngài ở đối diện, có thể cũng đã nghe thấy, mỗi lần Bạch Tiểu Niên tìm tôi nói chuyện, tôi đều nói huyên thuyên, vì sao ư?

Bởi vì tôi không tin anh ta, không muốn hợp tác với anh ta.

Nói thật nhé, nếu như nói Lão Quỷ chắc chắn ở Đông lầu này, tôi dám chắc ngoài Thư ký Bạch ra không là ai khác!

Chỉ sợ Lão Quỷ không ở Đông lầu này thôi”.

Vậy ở đâu?

Kawa Hihara không ngờ, Cố Tiểu Mộng dám chĩa mũi giáo vào Tư lệnh Trương.

Với vẻ bất chấp, Cố Tiểu Mộng nói: “Tục ngữ có câu: Không thể không đề phòng người khác.

Xét về lý, chỉ cần biết nội dung bức điện mật, đều bị nghi ngờ là Lão Quỷ.

Tư lệnh Trương dựa vào đâu mà được loại trừ?

Là vì anh ta là Tư lệnh ư?

Những người làm quan to hơn anh ta đều đang bán đứng Quân đội Nhật Hoàng và Chủ tịch Uông đấy thôi”.

Nghe đến đây, Kawa Hihara như bị bỏng, hắn chửi thầm trong bụng, đứng dậy, khoát tay bỏ đi.

Hắn tức giận, có lẽ không phải với Cố Tiểu Mộng, mà là vì vụ này, đã nhiều tra xét, Lý Ninh Ngọc vẫn là Lý Ninh Ngọc, Lão Quỷ vẫn mưu mẹo ẩn trong bóng tối.

Lời nhắc nhở của Cố Tiểu Mộng khiến cho Lão Quỷ càng trở nên biến hóa khôn lường, mặc dù xét theo lý trí thì hắn tin tưởng Tư lệnh Trương, nhưng xét theo logic thì Cố Tiểu Mộng nói không sai.

Hắn bực tức chính là ở chỗ: Lời nhắc nhở của Cố Tiểu Mộng về mặt logic là chặt chẽ.

Lúc này, hắn không thể né tránh phát hiện ra rằng, hắn luôn hy vọng Lý Ninh Ngọc là Lão Quỷ (không chỉ là nghi ngờ), đến nỗi khi xuất hiện tình trạng bất lợi cho việc buộc tội Lý Ninh Ngọc, trong lòng hắn lại không thoải mái, không vui vẻ, bực tức tột độ, cứ như là bị người khác bán đứng và vứt bỏ vậy.

Nói thật, đến đây Kawa Hihara rất không hài lòng với những biểu hiện của chính mình trước mặt Lão Quỷ.

Hắn vốn nghĩ là vụ việc có thể kết thúc bất cứ lúc nào, nhưng đến giờ này vẫn chưa thể kết thúc, trái lại còn thụt lùi rất nhiều.

Dường như thời gian đã quay trở lại buổi chiều hôm kia, khi hắn vừa đến đây, tất cả đều mới bắt đầu, tất cả mọi người đều nằm trong danh sách đen của hắn, mọi việc đều đợi hắn triển khai, chứng thực, nhưng quân bài hắn có thể sử dụng rõ ràng là càng ngày càng ít.
 
Tiểu Thuyết Phong Thanh
CHƯƠNG CHÍN


Sự việc đúng là càng lúc càng phức tạp, Kawa Hihara không đừng được suy nghĩ: Lẽ nào mình đã sai?

Tục ngữ có câu, biết người biết mặt sao biết được lòng, lòng người quả là khó lường…

Nghĩ kỹ lại, mối nghi ngờ đối với Tư lệnh Trương lớn dần, ví như tối hôm ấy, tra xét nét chữ, Tư lệnh Trương không được mời mà tự đến, hơn thế chính hắn là người đầu tiên phát hiện ra sơ hở của Ngô Chí Quốc, tối hôm qua Tư lệnh Trương còn gọi điện, khẳng định là Ngô Chí Quốc…

Nghĩ đến, càng thấy mông lung.

Vốn là, từ sau khi Ngô Chí Quốc bắn bà Hai liền ba phát, óc bắn tứ tung, Kawa Hihara duy chỉ nghi ngờ Lý Ninh Ngọc, nhưng Cố Tiểu Mộng lại kiên quyết phủ nhận nghi ngờ của hắn đến như vậy.

Mấy ngày lật đi giở lại, người khiến hắn yên tâm nhất chỉ có mình Cố Tiểu Mộng.

Vấn đề là ở chỗ này đây, người đáng để hắn tin tưởng lại không ủng hộ hắn, thậm chí không ngần ngại tố cáo Tư lệnh Trương để bảo vệ Lý Ninh Ngọc.

Nghĩ kỹ lại thì thấy, Tư lệnh Trương là người thích thơ văn nghệ thuật, sao chép nói không chừng cũng là sở trường của Tư lệnh Trương…

Nghĩ vậy, Kawa Hihara cảm thấy đứng ngồi không yên.

Trước khi ăn trưa, Kawa Hihara dẫn Vương Điền Hương bất ngờ tới thăm Tư lệnh Trương, đầu tiên là ngồi tán phét một hồi ở phòng làm việc của Tư lệnh Trương, sau đó bảo muốn đến nhà riêng thăm phu nhân của Tư lệnh Trương, ăn bữa cơm gia đình.

Tóm lại, muốn xem xem Tư lệnh Trương thường ngày có luyện viết chữ hay không.

Tư lệnh Trương là người tài hoa, trong nhà bút, mực, giấy, nghiên đều có đủ, trên tường còn treo tranh của họa sỹ nổi tiếng và những tác phẩm ưng ý của mình: một đôi câu đối, vế trước là Thiên thượng hành tinh địa thượng lập nhân, vế đối là Tự lý tàng long họa lý ngọa hổ [1].

Đúng là người tài hoa, thư pháp thanh thoát, nét ngang như đao, nét dọc như kiếm, nét chữ rắn rỏi, mang hơi hướng của chữ bia Ngụy.

[1] Trên trời có sao, dưới đất có con người và trong chữ có rồng, trong tranh có hổ.

Tự lý tàng long?

Ý tứ thật mơ hồ!

Kawa Hihara xem xong, trong lòng buồn bực vô cùng, ăn cơm xong vội vàng quay về Cầu trang.

Đương nhiên, hắn không mong muốn Tư lệnh Trương có âm mưu đen tối, nhưng Tư lệnh Trương quả khiến người khác có chút cảm giác khó hiểu.

Quay về nói chuyện với Ngô Chí Quốc, ít nhiều cũng an ủi hắn.

Ngô Chí Quốc nhận định: Tư lệnh là người tuyệt đối đáng tin cậy, Lão Quỷ nhất định là Lý Ninh Ngọc, không cần thiết phải nghi ngờ bất kỳ người nào khác nữa.

Ngô Chí Quốc thậm chí còn thề: “Tối mai mọi chuyện sẽ rõ ràng.

Nếu không phải là Lý Ninh Ngọc, Ngô Chí Quốc tôi đây sẽ đền bằng tính mạng của cả nhà tôi”.

Ngô Chí Quốc có vợ, ba đứa con và một mẹ già, sẵn sàng lấy tính mạng của năm người thân ra để đặt cược, canh bạc này xem ra đủ thấy giá trị.

Còn Lý Ninh Ngọc có dám không?

Với suy nghĩ ấy, Kawa Hihara chuẩn bị cuộc chơi mới với Lý Ninh Ngọc.

* * *

Mưa xong trời lại sáng, cỏ mọc mới tươi tốt, xanh non óng ả.

Móng nhà của Đông lầu cao, Kawa Hihara vừa ra cửa, ngẩng đầu nhìn lên, đã thấy Lý Ninh Ngọc ngồi trên ban công, chân vắt chéo, trông rất an nhàn.

Đến gần xem, mới phát hiện cô ấy đang vẽ tranh, giá vẽ, giấy vẽ, bút vẽ, đều rất đầy đủ, cứ như là đã chuẩn bị sẵn từ trước.

Thực ra tất cả đều là di vật của Tiền Cẩu Vĩ.

Sau này, Thư ký Bạch kể lại cho Kawa Hihara, con gái của Tiền Cầu Vĩ lúc còn sống từng học hội họa, sau khi chết đi, cả bộ đồ vẽ vẫn treo ở phòng cô (chính là phòng Kim Sinh Hỏa đang ở).

Buổi trưa, khi ăn cơm, Kim Sinh Hỏa kể ra chuyện này, ngay lúc ấy Lý Ninh Ngọc đã yêu cầu cho cô ấy, bảo rằng ngày bé cũng từng học vẽ, giờ chẳng có việc gì làm, muốn vẽ để giết thời gian.

Lý Ninh Ngọc vẽ hai cây hoang dã vô danh trên triền dốc.

Kawa Hihara thấy cô vẽ cũng có đường nét, lên tiếng khen: “Khá lắm, quả đúng là cô đã từng học vẽ”.

Lý Ninh Ngọc không ngẩng đầu lên, vừa vẽ tiếp vừa nói: “Giờ ngài càng có lý do để nghi ngờ tôi lén lút luyện viết chữ của Ngô Chí Quốc”.

Kawa Hihara lúc ấy không hiểu ý cô nói, bèn hỏi: “Vì sao?”.

Lý Ninh Ngọc có ý dùng hành động để giải thích liền vẽ lên mặt đất một nhánh cỏ và giải thích: “Bởi vì viết chữ và vẽ tranh đều là nghệ thuật ngòi bút, tôi có thể sao chép núi sông, thì sao chép chữ có khó khăn gì”.

Kawa Hihara cười nói: “Sau đó cô muốn nói cho tôi biết, nếu như cô là Lão Quỷ, đạo chữ của Trưởng ban Ngô để chuyển tin tình báo, thì cô sẽ không thể để lộ cho tôi biết là cô biết vẽ, phải không?

Lý Ninh Ngọc này, tôi thấy cô càng ngày càng thích nói rồi đấy, khác hẳn hai ngày trước, là sao vậy, cô có thể cho tôi biết không?”.

Lý Ninh Ngọc dừng bút, nhìn Kawa Hihara: “Là ngài đến tìm tôi, nếu ngài chê tôi nói nhiều, tôi không nói nữa”.

Nói đoạn đi vào trong phòng, ngồi trên giường vẽ tiếp.

Kawa Hihara đi theo vào phòng: “Tôi muốn hỏi cô một câu, Lý Ninh Ngọc, nhà cô có mấy người?”.

Lý Ninh Ngọc không thèm để ý, Kawa Hihara lại tiếp, “Cô có phải Lão Quỷ hay không, tối mai sẽ rõ thực hư.

Nếu là thật, bây giờ thừa nhận, tôi chỉ hỏi tội mình cô, nếu không, tôi sẽ giết cả nhà cô, không chừa một ai, kể cả hai đứa trẻ”.

Lý Ninh Ngọc nói: “Ngày mai ngài sẽ biết tôi không phải là Lão Quỷ”.

Lý Ninh Ngọc có chồng, hai đứa con, một trai một gái, con trai bảy tuổi, con gái năm tuổi, trong nhà còn có người giúp việc đem từ quê lên, theo họ cũng đã vài năm, tình cảm cũng khá sâu đậm.

Tất cả những thông tin này đều là Kawa Hihara sau khi về Đông lầu, được Vương Điền Hương cung cấp.

Vương Điền Hương còn bảo: “Chồng cô ta là ký giả của một tờ báo, mới thoạt nhìn tưởng là một thư sinh trắng trẻo, nhưng tính khí rất tàn bạo, thường xuyên đánh Lý Ninh Ngọc.

Hồi Tết, một hôm Lý Ninh Ngọc đang trực ở cơ quan, không biết vì lí do gì mà chồng cô đến tận phòng làm việc, đánh cô ta chảy máu đầu.

Từ đó trở đi, Lý Ninh Ngọc không về nhà, ở lại phòng làm việc cơ quan, sau đó tìm một phòng đơn thân ở khu tập thể để ở”.

“Bỏ mặc con cái à?”

“Không, buổi trưa cô ấy về nhà.”

Vương Điền Hương xem chừng rất hiểu hoàn cảnh của Lý Ninh Ngọc, “Chồng cô ấy làm việc ở quận phía Bắc, quá xa, buổi trưa không thể về nhà.

Cô ấy buổi trưa thường về nhà thăm con, hôm nào cũng vậy”.

Kawa Hihara còn định hỏi điều gì nữa, bất ngờ nghe thấy từ ống nghe dội lại âm thanh thách thức của Thư ký Bạch:

“Lý Ninh Ngọc, cô làm gì mà hung hổ như vậy, tôi còn tưởng không gọi được cô xuống cơ!”

Kawa Hihara không ngờ, Thư ký Bạch vẫn còn gọi Lý Ninh Ngọc xuống được.

“Kêu cô xuống là để bõ tức!”

Lần này Thư ký Bạch không phải là kẻ dễ bắt nạt, vừa thấy người, bản mặt đã hằm hằm, trước ánh mắt lạnh lùng của Lý Ninh Ngọc vẫn không nao núng, tiếp tục nói giọng đầy khiêu khích, “Cô đừng nghĩ cô sẽ ra khỏi đây được, mọi việc chưa làm rõ, cô không ra khỏi đây nổi đâu.”

Lý Ninh Ngọc đáp gọn lỏn: “Tôi không có gì để nói”.

Thư ký Bạch hùng hổ: “Nhưng cô phải nói”.

Lý Ninh Ngọc: “Bảo tôi nói gì?”.

Thư ký Bạch: “Khai nhận!

Trung thực khai nhận”.

Lý Ninh Ngọc: “Là ngài Kawa Hihara dàn xếp anh bảo tôi khai nhận, hay là Sở trưởng Vương?”.

Thư ký Bạch: “Là tôi, sao?

Không được à?”

Lý Ninh Ngọc: “Đương nhiên là không được, anh không có tư cách”.

Thư ký Bạch: “Tư cách không phải do cô định!”.

Lý Ninh Ngọc: “Cũng không phải do anh quyết.

Anh cũng như tôi, đều là nghi phạm Lão Quỷ”.

Thư ký Bạch: “Nói láo!

Bây giờ chỉ có một nghi phạm, chính là cô!”.

Lý Ninh Ngọc: “Thế thì bắt tôi đi, thả bọn họ ra, kể cả anh nữa”.

Thư ký Bạch: “Rồi sẽ bắt!

Cô đợi xem, rồi họ sẽ bắt cô”.

Nghe đến đây, Kawa Hihara hậm hực: “Thư ký Bạch không thắng nổi cô ta đâu”.

Vương Điền Hương đã sẵn bực bội trong lòng, nghe thấy Kawa Hihara vừa nói vậy đã bộc lộ, chĩa vào ống nghe quát: “Ai bảo anh thẩm vấn cô ấy?”.

Kawa Hihara cười nói: “Tôi cứ tưởng là anh bảo”.

Vương Điền Hương đáp: “Sao lại thế được?

Ngài Kawa Hihara, tôi thấy Lý Ninh Ngọc không giống Lão Quỷ, tôi vẫn tin đó là Ngô Chí Quốc”.

Kawa Hihara đứng dậy, vừa đi ra ngoài vừa nói: “Tôi biết anh sợ, nếu như không phải là Ngô Chí Quốc, được thả rồi sẽ trả thù anh.

Đừng lo, anh là người của tôi, anh ta dám à?

Gạt bỏ suy nghĩ ấy đi, anh sẽ thấy Ngô Chí Quốc không giống lắm”.

Kawa Hihara cho rằng nếu Ngô Chí Quốc là Lão Quỷ, hắn chết cũng không thừa nhận, còn nếu muốn tìm kẻ chết thay, người thích hợp nhất để hắn lựa chọn, trước nhất phải là Cố Tiểu Mộng: “Bởi vì cha cô là tín cẩn của Chủ tịch Vương, bức hại cô ấy rất đáng giá, về đối ngoại có thể bôi nhọ chính quyền Nam Kinh, đối nội sẽ khiến cha cô bất bình với chính quyền”.

Thứ hai Tư lệnh Trương, tha ba là Kim Sinh Hỏa, địa vị của bọn họ đều quan trọng hơn Lý Ninh Ngọc, Lý Ninh Ngọc chỉ là trưởng một nhóm nhỏ, lật đổ cô ta cũng chẳng mấy ý nghĩa.

Kawa Hihara nhìn ra ngoài cửa sổ, hình như nói một mình: “Chiều nay, lúc chúng ta từ thành trở về, tôi đã lại tìm Ngô Chí Quốc để nói chuyện, thử thăm dò bảo với hắn là có người tố cáo Tư lệnh Trương, hắn kiên quyết bảo vệ Tư lệnh Trương.

Nếu như hắn là Lão Quỷ, thì đã không làm như vậy, hắn có thể mượn gió bẻ măng, hoặc giả cũng sẽ mập mờ ấp úng”.

Vương Điền Hương thì thầm: “Nhưng nếu như Lý Ninh Ngọc Là lão Quỷ, khi Ngô Chí Quốc lấy cái chết để tố cáo, cô ta đã thừa nhận rồi, nói gì đến chuyện vì cứu hai đứa bé”.

“Đúng thế,” Kawa Hihara nói: “Về lý thì là vậy, cho nên tôi mãi vẫn chưa hạ nổi quyết tâm tra tấn cô ta”.

“Vậy thì tra tấn,” Vương Điền Hương nói lấy lòng, “Có một số người luôn không biết thức thời”.

“Nếu có thể dùng trí tuệ để chiến thắng, thú vị hơn nhiều,” Kawa Hihara nói đầy hứng khởi, “chúng ta chơi thêm một ván bài nữa.”

* * *

Ván bài này khác lạ, hoàn toàn không theo quy luật thông thường.

Trước bữa cơm tối, Kawa Hihara thông báo với Vương Điền Hương cơm tối nay không ăn ở nhà khách.

Kawa Hihara nói: “Chó cùng dứt giậu, thỏ cùng cắn người, chỉ còn lại một ngày cuối cùng, chúng ta cẩn thận vẫn hơn, đừng để bọn họ ra khỏi cửa.

Hôm nay giờ này vẫn chưa thấy Ba Ba đến, tôi đồ rằng tối nay hắn sẽ đến.

Ngộ nhỡ hắn liên lạc được với Lão Quỷ ở nhà ăn, vậy thì công sức của chúng ta từ trước đến giờ trở thành công cốc”.

Thế là bố trí nhà bếp đưa cơm lên tận nơi.

Ăn cơm xong, Kawa Hihara yêu cầu mọi người tập hợp ở phòng họp, lại họp.

Mọi người đều đã sớm có mặt đông đủ, Kawa Hihara cố tình chưa vội đến.

Cuối cùng cũng đến, nhưng không phải đi một mình, còn dẫn một người.

Là ai?

Ngô Chí Quốc.

Người chết sống lại, khiến mọi người mắt chữ A mồm chữ O, kể cả Vương Điền Hương, cũng không biết Kawa Hihara có bài thuốc gì trong bình hồ lô.

Kawa Hihara tất nhiên sẽ giải thích, hắn nói một cách thần bí: “Mọi người không có gì phải thấy lạ, Ngô Chí Quốc không phải là người chết sống lại, mà là tự sát không thành.

Anh ấy tự cứa cổ tay lấy máu viết huyết thư, sẵn sàng chết vì nghĩa.

Nhưng anh ấy đã mắc một sai lầm không đáng có, chính là cắt cổ tay tự sát thì phải nhúng vết cắt vào trong nước, đương nhiên tốt nhất là nước nóng, như thế máu mới chảy không ngừng và sẽ chết vì mất máu.

Trưởng Ban Ngô cắt cổ tay xong, nằm trên giường, thấy máu tuôn chảy, liền nhắm mắt, ngỡ là sẽ chết chắc.

Thực ra lúc anh ấy nhắm mắt, vết cắt dần dần tự liền lại.

Máu có tính năng tự đông, điều này chúng ta ai cũng biết, khi bị thương, lúc đầu sẽ chảy máu, nhưng sau đó sẽ ngừng chảy.

Mạng người không đáng chết, muốn chết cũng không chết được, Trưởng ban Ngô, anh cao số lắm.

Đại nạn không chết, tất có hậu phúc, có thể tận mắt nhìn thấy Lão Quỷ bị trói chờ xử trảm, cũng có thể là hậu phúc của anh rồi đấy”.

Kawa Hihara sau khi nói một thôi một hồi mở đầu cuộc họp, lại bảo mọi người đợi, còn một người khác nữa tới.

Ai thế nhỉ?

Tư lệnh Trương.

Kawa Hihara nói: “Hành động của chúng ta sắp kết thúc, thời gian do Tư lệnh Trương quy định không còn nhiều, đến nay lão Quỷ vẫn chưa lộ là do tôi bất tài.

Nhưng đây là canh bạc phải thắng, tôi cũng không có gì phải buồn, kẻ đáng buồn là Lão Quỷ, đợi đến mai chúng ta quét một mẻ lưới bắt gọn Lão K và đồng bọn, ta không tin ngươi còn có thể giấu.

Tôi không phải nói trước, đến lúc ấy ta sẽ giết cả nhà ngươi, gọi đấy là rượu phạt, là cái giá của việc ngươi không chịu đầu thú.

Tôi đưa ra thời hạn, trước 12 giờ đêm nay.

Theo như lời Tư lệnh Trương, trước thời khắc ấy là cơ hội, sau thời khắc ấy đừng hối hận”.

Nói đến Tư lệnh Trương thì Tư lệnh Trương tới.

Tư lệnh Trương xé màn đêm để tới, đêm tối dường như còn phủ một lớp trên mặt, lầm lì, lộ rõ vẻ già nua trước tuổi và hung ác.

Hắn nhìn khắp mọi người, cuối cùng trừng mắt nhìn Ngô Chí Quốc, hình như muốn nói điều gì đó, bị Kawa Hihara cắt ngang.

Kawa Hihara sợ Tư lệnh Trương không biết chuyện, nhỡ nói sai, liền cướp lời lên tiếng trước, đại ý là hôm nay mời Tư lệnh Trương đến họp tổng kết, báo cáo với Tư lệnh tình hình của mấy ngày qua.

Đây là bản báo cáo hổ lốn.

Kawa Hihara nói tường tận hết mọi tình hình mà hắn nắm bắt và che giấu trong mấy ngày qua, ví như hắn ở phòng đối diện nghe lén những cuộc đối thoại như thế nào, đã nghe thấy gì, nhìn thấy gì, nghĩ những gì, gặp những gì, đều nói ra hết, không giấu điều gì.

Thế là, bút tích của Ngô Chí Quốc, cả những luận giải của hắn về bút tích; nghi nghi ngờ tố cáo ban đầu của Kim Sinh Hỏa đối với Cố Tiểu Mộng, sau đó là chuyện không đâu vào đâu với Lý Ninh Ngọc; nghi ngờ của Lý Ninh Ngọc đối với Thư ký Bạch và phản bác của cô đối với huyết thư của Ngô Chí Quốc; lời thề sống thề chết của Ngô Chí Quốc khi tố cáo Lý Ninh Ngọc; Cố Tiểu Mộng quyết bảo vệ Lý Ninh Ngọc đến cùng; bí mật nghi ngờ của tổ chức đối với Thư ký Bạch v.v…

Tóm lại, tất cả những việc làm, lời nói riêng tư của mọi người trong mấy ngày qua đều được đem ra nói hết trên bàn họp, rõ ràng rành mạch, không giấu giếm điều gì.

Không, vẫn có cái được giấu nhẹm, chính là: Việc bọn chúng theo dõi Giản tiên sinh, là sự nghi ngờ về suy luận của Cố Tiểu Mộng với Tư lệnh Trương, cả việc bọn họ bí mật trinh sát thư phòng của Tư lệnh Trương v.v…

Kawa Hihara đều giấu biến, không nói.

Điều này có thể hiểu được, bởi vì nghi ngờ Tư lệnh Trương là nguy hiểm, trong khi Cố Tiểu Mộng là người cần được bảo vệ, vì cô ta đã được Kawa Hihara tin cậy.

Mặc dù vẫn còn có điều che giấu, song cuộc họp cũng đã đủ loạn lên rồi!

Đầu tiên là Cố Tiểu Mộng gây rối, lên tiếng mắng té tát Kim Sinh Hỏa.

Thư ký Bạch cũng không vừa, Tư lệnh Trương và Kawa Hihara thì Thư ký Bạch không dám chửi, liền lấy Vương Điền Hương ra làm vật thế mạng để trút xuống, chửi không tiếc lời, vừa chửi vừa đe dọa.

Ngô Chí Quốc đã sớm nhịn đủ với Lý Ninh Ngọc, cũng nhanh chóng tuôn ra.

Ban đầu Lý Ninh Ngọc còn trụ vững, nén giận không nói, nhận hết những phỉ báng, nguyền rủa, nhưng sau hình như có một câu gì đó, khiến cô không làm chủ được nữa, bệnh cũ tái phát, hùng hổ nhằm vào mặt Ngô Chí Quốc mà ném.

Tất nhiên hôm nay ném vào mặt Ngô Chí Quốc không phải là rượu, là chiếc lược luôn mang theo bên người.

Chiếc lược như phi tiêu, bay vù vù về phía mặt Ngô Chí Quốc.

Thân hình Ngô Chí Quốc vốn đầy thương tích, né tránh không kịp, cằm dưới bị răng lược cào cho chảy máu.

Ngô Chí Quốc nhoài người, lao về phía Lý Ninh Ngọc định ra đòn, không ngờ Cố Tiểu Mộng cầm ghế giơ cao, đứng chặn ở giữa như một anh hùng khẳng khái nói:

“Trừ phi là Kawa Hihara và Tư lệnh Trương bảo Tổ trưởng Lý chính là Lão Quỷ thì tôi không can thiệp, bằng không anh, một nam tử đại trượng phu đi đánh một phụ nữ, chỉ vậy thôi đã đủ chướng mắt rồi, tôi không thể làm ngơ.”

Mỗi lúc càng hay, cao trào lúc lên lúc xuống.

Nhưng đây vẫn chưa phải là cao trào.

Màn cao trào là do Thư ký Bạch và Vương Điền Hương song diễn, đạo cụ là súng thật và đạn thật.

Hai người ban đầu là khẩu chiến kịch liệt, tiếng chửa rủa vang trời, nước bọt bắn tung tóe, sau cùng là rút súng đe dọa lẫn nhau, đạn đã lên nòng, chỉ cần khẽ động ngón tay trỏ, hai mạng người có thể cùng về Tây thiên…

Kể cũng lạ, ban đầu mọi người làm ầm lên như thế, Tư lệnh Trương và Kawa Hihara vẫn coi như không nghe thấy, phớt lờ, lạnh lùng quan sát.

Mãi đến lúc này, thấy sắp có thể xảy ra án mạng, Kawa Hihara và Tư lệnh Trương mới cùng lúc đập bàn đứng dậy, mỗi người phải có đến năm mươi lần đập bàn, mới dẹp yên được trận chiến sắp bùng nổ.

Thực ra đây đâu phải là họp, đây là độc kế Kawa Hihara đưa ra, mượn danh báo cáo với Tư lệnh Trương, khơi ra mâu thuẫn của mọi người, tự cắn xé lẫn nhau, công kích lẫn nhau, xấu xa lộ ra hết.

Kawa Hihara cho rằng bức mọi người đến đường cùng, cùng lúc với xấu xa lộ ra hết cũng có thể để lộ sơ hở.

Bây giờ hắn nhận định, Lão Quỷ chắc chắn không phải là cá mạt, tôm riu, khẽ dọa và khẽ nhử đã lộ nguyên hình.

Hắn cũng nghi ngờ hắn đã đi sai đường, cần phải điều chỉnh lại hướng tư duy, mở rộng phạm vi nghi ngờ, bao gồm cả Tư lệnh Trương, cho nên tối nay mới gọi Tư lệnh Trương đến.

Hắn mở to mắt, căng tai lắng nghe, hy vọng có được manh mối trong lúc mọi người hỗn chiến, để có kết quả bất ngờ.

Hơn nữa, chỉ có như vậy mới giết được quãng thời gian dài dằng dặc này.

* * *

Đêm đã khuya.

Trong trang viên, đèn đã dần tắt, chỉ có phòng họp ở Tây lầu, đèn vẫn sáng.

Đột nhiên trong trang viên vang lên tiếng súng!

Tiếng súng đanh thép vang lên xen lẫn cả tiếng kêu thảm thiết, tiếng bắn nhau, tiếng bước chân… mọi người trong phòng họp còn chưa kịp phản ứng xem là chuyện gì thì hai người lạ bịt mặt đã nhanh chóng phá cửa sổ đột nhập vào phòng, hét lớn:

“Không được nhúc nhích!

Giơ tay lên!”

Không ai ngờ rằng, quân Cộng sản có thể mạo hiểm đột nhập vào cứu Lão Quỷ.

Vương Điền Hương định rút súng, chợt nhìn thấy hai người bịt mặt nữa đập cửa xông vào, đành ngoan ngoãn giơ hai tay lên.

Từng cánh tay lần lượt giơ lên, trước họng súng đen ngòm, mạng sống như ngàn cân treo sợi tóc.

“Lão Quỷ, theo chúng tôi nhanh lên!”

“Nhanh lên, Lão Quỷ, chúng tôi là người của Lão Hổ cử đến giải cứu.”

Kawa Hihara hình như là không cam chịu chết rồi vẫn không biết được ai là Lão Quỷ, vừa giơ hai tay lên vừa lén nhìn khắp mọi người một lượt, xem rốt cuộc ai là Lão Quỷ.

Không ngờ rằng tất thảy mọi người đều ngoan ngoãn giơ tay, người cao người thấp, người thẳng người cong, không chừa một ai.

Thế nhưng, Kawa Hihara đã kịp nhận ra, trong số họ chỉ có Lý Ninh Ngọc giống như Vương Điền Hương, lộ ra vẻ điềm tĩnh như người ngoài cuộc, còn lại những người khác không ai không lộ vẻ khiếp sợ.

Thư ký Bạch thậm chí còn sợ đến chảy cả nước miếng, thật là mất mặt.

“Lão Quỷ, nhanh đi theo chúng tôi, muộn sẽ không kịp nữa!”

“Nhanh lên, Lão Quỷ, quân tiếp viện của địch sẽ kéo đến…”

Cơ hội không thể bỏ lỡ, chậm trễ là hỏng việc!

Thế nhưng không ai ra khỏi hàng, đi theo họ.

Kawa Hihara vô tình phát hiện ra một trong số những người bịt mặt đi giày da mũi lớn được đóng chuyên dụng cho binh sĩ Tổng đội, biết là có thể đã bị Lão Quỷ phát hiện, lập tức cơn tức giận xông lên, khi tay còn chưa buông xuống đã quát mắng:

“Cút!

Cút hết ra ngoài cho ta!”

Tiếng quát mang hơi hướng của việc đạp đổ tất cả.

Hóa ra đây là màn kịch do Kawa Hihara dày công sắp xếp và tổ chức, kéo dài thời gian họp cũng là để chờ thời gian qua đi.

Đêm khuya, để quân Cộng sản dám mạo hiểm, để Lão Quỷ tự sa lưới.

Nhưng Lão Quỷ rốt cuộc đúng là Lão Quỷ, kinh nghiệm lão luyện, tôi luyện thành tinh, đâu dễ bị bọn nhãi nhép lừa được?

Bọn chúng đi cùng một loại giày, tay cầm cùng một loại súng, đâu giống với đồng chí của Lão Quỷ.

Đồng chí của Lão Quỷ đến từ khắp nơi, vũ khí đủ loại, giọng nói kẻ Nam người Bắc, sao có thể thống nhất chỉn chu đến vậy?

Không cần phải nói, Kawa Hihara đã mất trắng một canh bạc.

Không chỉ mất trắng, mà còn mất mặt.

Lại nói Tư lệnh Trương, tàn bạo là thế, mà đứng trước cấp dưới của mình cũng ngoan ngoãn run run giơ tay lên đầu?

Kawa Hihara có hành động cả gan đến vậy, cũng không thèm nói trước với hắn một tiếng, để hắn ngoài cuộc, đúng là trò hề.

Hắn không nén nổi, nghiêm mặt, tức giận hỏi Kawa Hihara: “Ngài Kawa Hihara, rốt cuộc ông định giở trò quái quỷ gì vậy?”.

Kawa Hihara đang tức giận, không hề khách khí đáp: “Cái này còn phải hỏi sao?

Tôi là đang dụ rắn ra khỏi hang, nhử quỷ hiện hình.

Ông không thấy là con quỷ cạnh ông quá khôn ranh đó sao?

Nếu Tư lệnh thấy tôi hành động không đúng, vậy có cao kiến gì ông cứ nói ra nghe xem”.

Tư lệnh Trương thấy Kawa Hihara đã quá tức giận, nén giận khuyên: “Theo tôi, chúng ta đợi ngày mai hãy nói.

Đợi đến giờ này ngày mai, Lão K, Lão Hổ, Lão Quỷ gì cũng sẽ hiện hình hết”.

Kawa Hihara bước đến trước mặt Lý Ninh Ngọc nói: “Tôi nghĩ đã hiện hình rồi, Lý Ninh Ngọc, còn cô thì sao?

Vừa rồi, tôi thấy cô rất bình tĩnh.

Sao cô lại điềm tĩnh đến vậy, có thể nói cho tôi biết không?”.

Lý Ninh Ngọc nhìn Kawa Hihara, bình tĩnh nói: “Bởi vì tôi thấy sống nhục nhã như thế này, lúc nào cũng bị ông vô cớ nghi ngờ, hạch sách là phần tử Đảng Cộng sản, chi bằng chết đi còn hơn”.

Kawa Hihara cười ha hả nói: “Chết còn không sợ, sao lại sợ thừa nhận?

Tôi biết cô chính là Lão Quỷ”.

Lý Ninh Ngọc trừng mắt nhìn hắn nói: “Ông chẳng có gì đáng cười cả, tôi không phải là Lão Quỷ.

Bây giờ đáng cười hơn là Lão Quỷ, ông thật là có mắt không tròng”.

“Là cô.”

Kawa Hihara nói, “Tôi biết.

Tôi tin tưởng vào cảm giác của tôi, cô chính là Lão Quỷ”.

“Đã thế,” Lý Ninh Ngọc nghiến răng, “sao cần phải nhiều lời, bắt tôi là xong.”

“Tôi muốn tìm ra chứng cứ.”

Kawa Hihara nói, “Tất nhiên không có chứng cứ vẫn bắt cô được, nhưng tôi không thích, vì sao ư?

Tôi muốn giỡn chơi cùng cô.

Đã thấy mèo bắt chuột chưa?

Con mèo bắt được con chuột, nhưng không thích ăn thịt ngay, mà thích đùa giỡn với chuột một hồi, thả ra rồi lại bắt lại, lại thả ra bắt lại, như vậy có thể còn hứng thú hơn cả ăn con chuột.

Tôi bây giờ cũng muốn đùa giỡn với cô, tôi muốn thấy cuối cùng cô chui vào tấm lưới do tôi giăng ra như thế nào, như vậy cô sẽ hận mình đến chết, còn tôi thì hứng thú tột cùng, cô có hiểu không?”.

Khi Kawa Hihara nói vậy, Lý Ninh Ngọc có cảm giác từng mảng da đầu đang tê dại, trong đầu như có một luồng khí nóng bốc lên, muốn thoát ra ngoài, muốn bốc cháy, muốn nổ tung… lúc ấy, cô chưa kịp hiểu chuyện gì đang diễn ra, thì cả người cô đã lao về phía Kawa Hihara, khiến Kawa Hihara ngã bổ nhào, hai tay xiết chặt lấy cổ Kawa Hihara hét lên:

“Tao không phải là Lão Quỷ!

Tao không là Lão Quỷ!

Mày dựa vào cảm giác bảo tao là Lão Quỷ, tao sẽ giết mày!

Mày bức hiếp người quá lắm, tao phải giết mày!…”

Hoàn toàn điên rồi!

Cố Tiểu Mộng và Thư ký Bạch muốn lôi cô ra, nhưng đâu lôi được, cô như ngọn núi đè lên người Kawa Hihara, tay như gọng kìm sắt siết chặt cổ Kawa Hihara, lôi ra chẳng ích gì.

Cuối cùng vẫn là Vương Điền Hương, nhanh chóng cầm chiếc ghế đập mạnh vào lưng Lý Ninh Ngọc, như vậy mới khiến Lý Ninh Ngọc dừng tay, bò trên nền nhà.

Đừng thấy Kawa Hihara thân hình nhỏ bé, thường ngày ăn nói nhỏ nhẹ như con gái, thực ra anh ta học võ từ nhỏ, là người có võ công.

Vừa nãy là do quá bất ngờ, bị Lý Ninh Ngọc tấn công và xiết đúng chỗ hiểm, tinh lực đều tập trung nơi cổ, nên mới không thể phản công.

Lúc này, Lý Ninh Ngọc vừa buông lỏng tay, khí đã thuận, hắn cong người bật dậy thật đẹp mắt,.

Lúc này, Lý Ninh Ngọc nằm dưới đất, vẫn chưa hoàn toàn tỉnh lại, Kawa Hihara bước đến, dùng chân đá vào người, ra lệnh cô đứng dậy.

Lý Ninh Ngọc bò dậy, vừa đứng thẳng, Kawa Hihara vung tay, một nắm đấm nhằm thẳng mặt Lý Ninh Ngọc.

Cú đấm quá mạnh, nhanh, lúc ra đòn còn nghe cả tiếng gió vù vù, Lý Ninh Ngọc ngã vật xuống đất, máu trào ra.

“Đứng dậy!”

“Dậy!”

“Mày có gan hãy bò dậy đi!”

Lý Ninh Ngọc vừa lồm cồm bò dậy, Kawa Hihara lại ra đòn.

Đòn đấm móc tay trái, đòn đấm móc tay phải, đòn đấm giữa ngực, đòn khuỷu tay… từng đợt từng đợt liên tiếp, Kawa Hihara như đang biểu diễn quyền cước vậy, khiến Lý Ninh Ngọc mụ mị đầu óc, máu me be bét khắp mặt, không còn đủ sức bò dậy nữa.

Thấy Lý Ninh Ngọc không còn tự bò dậy được, Kawa Hihara lệnh cho Vương Điền Hương dựng cô dậy, đánh tiếp, đánh đến khi Lý Ninh Ngọc toàn thân mềm nhũn, nhão nhoét như bùn, không dựng dậy nổi nữa, ngay cả Tư lệnh Trương cũng động lòng trắc ẩn, khuyên Kawa Hihara thôi đi, hắn ta mới chịu dừng tay.

Lúc này, Lý Ninh Ngọc miệng lưỡi đã biến dạng, nói không nổi nữa, những vẫn cứng giọng bảo Kawa Hihara đánh tiếp: “Đánh đi…đánh chết tao đi…Mày không đánh tao chết….Tao sẽ lên tòa án quân sự kiện mày, mày làm việc dựa vào cảm giác…

đâu có cái lý này, tao sẽ kiện mày… bọn họ đều là nhân chứng…”.

Kawa Hihara cười lạnh lùng: “Mày kiện tao ư?

Đi đâu mà kiện?

Tòa án quân sự ư?

Đấy là nơi cho mày đến sao?

Mày tưởng mày là gì cơ chứ!

Tao nói cho mày biết, mày là Lão Quỷ cũng được, không phải cũng được, tao đánh chết mày cũng chỉ như đánh chết một con chó, không ai quan tâm đâu!”.

Lý Ninh Ngọc nghe thấy vậy, cảm giác còn đau đớn hơn cả trận đòn lúc trước, khiến cô phẫn uất tột cùng, mắt đờ đẫn, lẩm bẩm một mình: “Tôi là một con chó… tôi là một con chó….”.

Cứ như không có ai bên cạnh, một mình đơn độc.

Trong chốc lát những lời lẩm bẩm một mình ấy, như nước vỡ bờ, biến thành tiếng khóc than ghê sợ: “Tôi chỉ là một con chó, chết cũng đâu có ai đoái hoài… tôi chỉ là một con chó, hãy để cho tôi chết…”, vừa nói vừa tìm cách đứng dậy, lao thẳng vào tường đập đầu tự vẫn, khiến mọi người một phen hoảng hồn.

* * *

Lý Ninh Ngọc đập đầu vào tường tự tử không chết, cô đứng còn chưa vững nói gì đến đập đầu vào tường tự vẫn.

Lý Ninh Ngọc thấy mình chưa chết, lại nhào về phía Kawa Hihara, ôm chặt chân hắn, nhổ một bãi nước bọt lẫn máu vào hắn, chửi: “Mày là đồ súc sinh… nếu ngày mai chứng minh, tao không phải là Lão Quỷ… thì mày hãy chết quách đi”.

Kawa Hihara nhấc chân, phủi tay áo bỏ đi.

Lý Ninh Ngọc bò đến trước Tư lệnh Trương khóc: “Tư lệnh Trương, tôi không phải là Lão Quỷ…

Tư lệnh Trương, tôi không là Lão Quỷ…”.

Tư lệnh Trương thấy cảnh này, ra hiệu cho đám người Thư ký Bạch bên cạnh, quay đầu bước theo Kawa Hihara, ra khỏi phòng rồi vẫn nghe thấy tiếng thét rầu rĩ của Lý Ninh Ngọc: “Tư lệnh Trương, tôi không phải là Lão Quỷ!”.

Nói Lý Ninh Ngọc chưa chết, nhưng thực ra cách cái chết cũng chẳng là mấy.

Trán bị rạn, sống mũi bị thụt vào trong, răng lợi nhô ra, máu rịn ra như mạch nước ngầm, nếu như không có người cứu, sống chết chỉ còn là ý trời.

Dù sao cũng là đồng nghiệp, cứ cho cô ấy là Lão Quỷ thì cũng không thể thấy chết mà không cứu, huống hồ là trong hoàn cảnh này, Lý Ninh Ngọc hơn ai hết không giống Lão Quỷ.

Lúc này có thể chỉ có Lão Quỷ mới mong Lý Ninh Ngọc chết, nhưng Lão Quỷ muốn che giấu mình, cũng sẽ phải giả vờ ra tay cứu giúp, mấy người vội vàng giúp đỡ, kẻ đi gọi bác sĩ ngoài nhà khách, người cấp cứu tạm thời, dùng tay bịt, dùng khăn mùi xoa rịt chặt, tạm thời cầm máu, rồi đưa cô lên tầng.

Không lâu sau, một nhân viên y tế tới, Kim Hỏa Sinh và Thư ký Bạch mượn cớ cáo lui, chỉ còn Cố Tiểu Mộng lưu lại phụ giúp nhân viên y tế băng bó cho Lý Ninh Ngọc.

Sau đó nhân viên y tế về, Cố Tiểu Mộng vẫn nán lại, lấy nước rửa những vết máu cho Lý Ninh Ngọc, xong việc còn ngồi lại với Lý Ninh Ngọc khá lâu.

Trong số bọn họ, chỉ có quan hệ của hai người là là hòa thuận nhất, ngay cả trong đám hỗn chiến vừa nãy, hai người cũng không cắn xé, hủy hoại lẫn nhau.

Cuối cùng, khi Cố Tiểu Mộng ra về, Lý Ninh Ngọc cố gượng ngồi dậy nói lời cảm ơn với Cố Tiểu Mộng: “Chỉ có cô coi tôi là bạn, tôi chết cũng sẽ không quên cô”.

Sơn trang vào đêm, tối đen như mực, yên tĩnh đến rợn người.

Lý Ninh Ngọc nằm trên giường có thể nghe thấy cả tiếng lá rơi theo gió bên ngoài cửa sổ.

Cô không ngủ được, dường như cũng chẳng muốn ngủ, chỉ nằm im trên giường, hai mắt mở to không chớp, tròn và sáng, cứ như là sợ nhắm mắt lại sẽ không thể mở ra được nữa, cũng là muốn dùng ánh mắt cuối cùng để xua đi màn đêm đen tối.

Bóng đêm dần dần bị xua tan.

Ánh sáng cũng dần dần hé rạng.

Một ngày mới mà đối với ai cũng là ngày cuối cùng, đối với Lão Quỷ là vậy, với tất cả những người khác cũng vậy.

Do bất ngờ phát hiện thấy mình rõ ràng giống như lời Cố Tiểu Mộng nói lúc trước, cũng là một trong những người bị tình nghi là Lão Quỷ, tối qua Thư ký Bạch ngủ không yên giấc.

Ác mộng giống Lão Quỷ cứ ám ảnh hắn, khiến hắn luôn trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê, thanh âm xung quanh dễ dàng đi vào cơn mê của hắn rồi lại từ trong cơn mê của hắn đi ra ngoài: Từ ngoài giấc mơ đi vào, rồi từ trong giấc mơ lại đi ra, đi vào tai này đi ra tai khác.

Trước khi trời sáng, hắn nghe thấy trên tầng dội lại một âm thanh lớn, ngắn và khô khốc, rồi im lặng, như một đống đồ đạc gì đấy bị đổ xuống sàn nhà.

Hắn mơ mơ hồ hồ nghĩ, không ổn rồi, xảy ra chuyện rồi, bèn ra lệnh cho bản thân phải tỉnh ngay tức khắc.

Tỉnh được vài phút,hắn mông lung nghe thấy tiếng rên rỉ đau khổ của Lý Ninh Ngọc, trong lòng nghĩ có thể là Kawa Hihara lại tìm Lý Ninh Ngọc để trút giận, trong lòng thấy nhẹ nhàng, rồi lại chìm vào giấc ngủ.

Sáng sớm, khi những chú chim nhỏ ríu rít trên cây đánh thức hắn dậy, ý thức đầu tiên sau khi tỉnh lại là tiếng rên rỉ đau khổ của Lý Ninh Ngọc, hắn càng khẳng định đêm qua Lý Ninh Ngọc lại bị Kawa Hihara tra tấn.

Vì thế, hắn tỉnh dậy, công việc đầu tiên là đến xem Lý Ninh Ngọc.

Cửa phòng khép hờ, khe cửa thoát ra không khí chẳng lành, khiến hắn không dám ngang nhiên đẩy cửa.

Hắn gọi to tên Lý Ninh Ngọc hai lần, không có tiếng trả lời, mới bước đến đẩy cánh cửa ra, thấy Lý Ninh Ngọc nằm sấp trên sàn nhà, trông như một quả trứng đáng thương bị đập vụn, như muốn bò đi, nhưng không bò nổi.

Hắn lại gọi tên Lý Ninh Ngọc, vừa bước lên định đỡ cô lên giường, nhưng bị bộ dạng chết thảm hại của Lý Ninh Ngọc khiến cho sợ vãi linh hồn.

“Mắt, mồm, mũi, hai lỗ tai, tất cả đều có máu, toàn là máu đen…”

Sau đó, khi Thư ký Bạch bẩm báo với Kawa Hihara, vẫn còn sợ hãi.

Kawa Hihara nghe thấy, thong dong bảo: “Như thế là thất khiếu chảy máu, có thể là đã uống phải thuốc độc gì đó”.

* * *

Quả thực, Kawa Hihara nói đúng, Lý Ninh Ngọc chết là do uống thuốc độc.

Điều này đã được nói rõ trong di ngôn của cô.

Lý Ninh Ngọc để lại ba di ngôn, lần lượt gửi Tư lệnh Trương, Kawa Hihara và người chồng không mấy hòa thuận của cô.

Di ngôn được viết trên ba trang giấy xé trong quyển sổ tay của cô, nội dung như sau:

Tư lệnh Trương kính mến: Một năm trước, khi tôi nhận trọng trách Tổ trưởng Tổ dịch điện, trên tổ chức có phát cho tôi viên thuốc cực độc này, tôi biết rõ, khi bí mật mà tôi nắm giữ đứng trước mối đe dọa, tôi nên không chút do dự nuốt viên thuốc độc này.

Hôm nay, tôi nuốt viên thuốc độc này, tuyệt đối không phải là do bí mật bị đe dọa, mà hoàn toàn là lòng trung thành của tôi với Quân đội Nhật Hoàng và với Ngài bị nghi ngờ.

Kawa Hihara ngang ngược nghi ngờ tôi là giặc Cộng sản, tôi rất đau lòng, cũng thấy đau khổ khi con người gian trá khôn lường.

Những người hiểu tôi không ai bằng ngài, tôi không tranh với đời, chỉ biết toàn tâm báo quốc.

Những người trung thành với ngài chẳng ai bằng tôi, lúc nguy nan sẵn sàng lấy cái chết để báo đáp, trước là thế, bây giờ cũng vẫn thế.

Quan trường hiểm ác, ngài hiểu rõ hơn tôi, lòng người khó lường, chỉ có trời biết, đất biết.

Nghi ngờ của Kawa Hihara với tôi quá sâu, tất sẽ là sai lầm lớn.

Cái chết của tôi có lẽ có thể khiến Kawa Hihara hóa giải được mâu thuẫn, nhận rõ thực hư, tôi chết là vì thế, vì nghĩa không hối hận.

Chỉ có điều, sự việc còn nhiều uẩn khúc, tôi ngậm nước mắt ra đi, chết rồi vẫn còn nhiều oán hận!

Kính mong Tư lệnh minh oan.

Thuộc hạ trung thành của Ngài

Lý Ninh Ngọc

Kawa Hihara: Tao mạng rẻ như chó, chết cũng không đáng tiếc!

Nhưng, con chó đến đường cùng cũng đòi dứt giậu, huống hồ tao không phải là con chó, cũng không phải là nô lệ, đường đường là một sỹ quan mang hàm Trung tá, đâu dễ để mày chà đạp.

Tao quả thực đã bị mày bức chết!

Chết cũng không nhắm mắt!

Trên dương gian ta không thể kiện mày, xuống âm phủ tao sẽ vẫn kiện mày!

Trung tá Lý Ninh Ngọc

Chồng Lương Minh Ngô: Tha lỗi cho em khi còn sống không thể bên nhau, khi chết cũng không lời từ biệt.

Em chấp hành nhiệm vụ, bị bệnh mà chết, chết vì việc công, cũng không hối tiếc.

Chỉ thương các con còn nhỏ dại, mà em không đành.

Em cố gắng quên bệnh vẽ một bức tranh, hy vọng các con dưới sự nuôi dạy của anh sẽ thành cây thành tài, hưởng phúc lộc trọn đời.

Em ở suối vàng sẽ phù hộ cho bố con anh.

Tiểu Ninh

Kawa Hihara là người đầu tiên nhìn thấy di ngôn, nhanh chân, mắt la mày lén, không chỉ đọc phần di ngôn thuộc về mình, mà còn xem cả di ngôn không thuộc về mình.

Xem xong di ngôn dành cho mình, cảm nhận của hắn giống như câu đầu tiên trên bức di ngôn: Một con chó chết không đáng tiếc, còn dám đe dọa cả hắn, to gan!

Xoẹt, xoẹt, xoẹt, xé luôn bức di ngôn.

Hai bức di ngôn sau không xé, xem xong gấp lại như cũ, vì còn phải đưa lại cho chủ nhân của bức di chúc.

Sau đó, Kawa Hihara và Vương Điền Hương lục lọi lôi hết tất cả di vật của Lý Ninh Ngọc ra, tập trung lại, gồm: Một chiếc đồng hồ bỏ túi kiểu Anh, một cuốn sổ tay sử dụng trong nội bộ cơ quan, một cây bút máy nắp màu trắng, một chiếc lược rách (đã bị gãy ba răng lược), một chiếc ví da (bên trong có nửa tháng tiền lương), một chiếc cặp tóc, một thỏi son môi, một chùm chìa khóa, một cốc uống trà, nửa hộp thuốc, một khăn quấn tóc, một bộ quần áo lót, một bức tranh.

Bức tranh đã vẽ xong, trong tranh là hai cái cây không rõ tên, to lớn, đứng thẳng, song song, dưới đất mọc đầy cỏ, phía trên còn viết một câu:

Ngưu Nhi, Tiểu Ngọc, mẹ hy vọng các con lớn lên làm cây lớn, đừng làm cây cỏ.

Rõ ràng là vẽ cho các con.

Vẽ rất đơn giản, dùng nét bút đơn miêu tả, không có đám màu sắc nào.

Nhưng Kawa Hihara vẫn lo trong tranh tàng tự, xem đi xem lại, xem mặt trước, xem mặt sau, dốc ngược lên xem, để trước ánh đèn xem, dùng kính lúp xem.

Tóm lại, mỗi một đồ vật, Kawa Hihara và Vương Điền Hương đều lần lượt kiểm tra từng chi tiết, chắc chắn không còn nghi ngờ gì rồi mới đưa vào làm di vật, gồm cả bức tranh.

Duy chỉ có cuốn sổ tay, đã dùng hơn nửa, nếu muốn kiểm tra từ đầu chí cuối cũng phải mất cả tiếng đồng hồ.

Kawa Hihara lười chưa muốn xem, liền giữ lại, tịch thu luôn.

Kiểm tra nhiều như vậy, Kawa Hihara vẫn cảm thấy chưa đủ, bảo Vương Điền Hương kiểm tra thi thể của Lý Ninh Ngọc.

“Để làm gì?”

Vương Điền Hương khó chịu hỏi.

“Ngộ nhỡ cô ta là Lão Quỷ, cô ta có thể mượn thi thể mình để chuyển tin tình báo.”

Kawa Hihara nói một cách lão luyện, “Trên người cô ta những nơi có thể cất giấu tin tình báo quá nhiều”.

“Ngài vẫn đang nghi ngờ cô ta?”

Vương Điền Hương bực dọc hỏi.

“Làm cái nghề của chúng ta, chỉ có thể tin vào sự thật.”

Kawa Hihara đáp một cách uyên thâm.

Thấy Vương Điền Hương định nói lại thôi, hắn nói tiếp: “Cho dù chắc chắn không nghi ngờ, cũng nên kiểm tra một lần, coi như là có thêm đảm bảo”.

Thế là hai người lật đi lật lại thi thể Lý Ninh Ngọc để kiểm tra trong ngoài hết một lượt, từng chân tơ kẽ tóc, kẽ răng, cổ họng, lỗ mũi, lỗ tai, hậu môn, âm đạo đều kiểm tra hết.

Đến ngay cả quần áo, giầy dép, mũ mão trên người và cả những thứ có thể sẽ mặc càng không thể bỏ qua.

Tóm lại, tất cả mọi ngóc ngách có thể cất giấu từng mảnh giấy, mẩu giấy, mọi chỗ có thể viết chữ, vẽ ký hiệu đều kiểm tra không loại trừ.

Kiểm tra rồi, xem rồi, xét rồi, anh xét tôi xem, xét trái xem phải, xét trên xem dưới…

đều không có.

Không có.

Trên người không có.

Ngoài người cũng không có.

Mọi chỗ đều không có.

Không có lấy một dòng một chữ!

Không có ký hiệu ám hiệu!

Nói thực tình, đêm qua kể từ lúc Lý Ninh Ngọc xiết cổ Kawa Hihara, nghi ngờ của hắn đối với Lý Ninh Ngọc đã chẳng còn mấy phần, kiểu điên dại như thế, phẫn nộ như thế, tuyệt vọng như thế đều là chứng cứ cho thấy cô bị oan, đợi đến khi thấy cô đập đầu đánh uỳnh vào tường tự vẫn, hắn cảm thấy mình đã bắt đầu có chút thương hại cô.

Nói cách khác, hành động Lý Ninh Ngọc đập đầu vào tường tự tử, khiến Kawa Hihara rốt cuộc đã tin cô là người bất hạnh.

Còn việc khám xét thi thể ban nãy, chỉ là do bệnh nghề nghiệp mà thôi, tất cả mọi việc đều phải cẩn thận mà.

Về cái chết của Lý Ninh Ngọc, Kawa Hihara vừa cảm thấy bất ngờ, vừa cảm thấy như trong dự đoán.

Hắn nghĩ lại đêm qua, Lý Ninh Ngọc đập đầu vào tường, cảm thấy cái chết của Lý Ninh Ngọc bây giờ chỉ là sự tiếp diễn của thời khắc ấy mà thôi.

Lúc ấy, hắn đã từng nghĩ, Lý Ninh Ngọc tìm đến cái chết là muốn hắn thừa nhận cô chỉ là người bất hạnh, hắn đã nghĩ oan cho cô.

Nếu chỉ là vậy, Kawa Hihara cảm thấy Lý Ninh Ngọc đã đạt được mục đích rồi.

Nhưng vấn đề là, theo Kawa Hihara nghĩ, cô đã đạt được mục đích, hà cớ gì phải đi vào vết xe đổ?

Cho nên, hắn lại có chút cảm thấy bất ngờ, có lẽ còn có chút thương xót cô.

Tuy vậy, nhìn chung, cảm nhận của Kawa Hihara là một con chó chết đi cũng chẳng có gì đáng tiếc.

“Chết cũng chết rồi, đây là cái giá cô ta phải trả cho sự điên rồ của mình”, Kawa Hihara lắc lắc cuốn sổ của Lý Ninh Ngọc, có ý an ủi Vương Điền Hương.

Thấy Vương Điền Hương chợt ngây người ra, nói tiếp: “Anh biết tại sao cô ta đòi chết không?”.

“Muốn chứng minh với ngài cô ấy trong sạch.”

Vương Điền Hương không hồ hởi đáp.

“Sai”, Kawa Hihara nói, “Cô ta sợ tôi về sau sẽ trả thù, tìm cô ta để tính sổ.

Hầy, tất nhiên tôi sẽ tìm cô ta để tính sổ, đúng là coi trời bằng vung, dám hạ độc thủ với tôi!

Chết cũng đáng, chết cho xong chuyện”.

Vương Điền Hương chỉ thi thể Lý Ninh Ngọc hỏi: “Làm thế nào bây giờ?”.

Kawa Hihara đáp: “Báo cho Tư lệnh Trương, để ông ta nhanh chóng cho người đến xử lý, lẽ nào để chúng ta phải thu dọn cái xác mới được hay sao?”.

Nhìn thấy thi thể, mặt be bét vết máu, thân đầy thương tích, thảm thương khôn kể, Kawa Hihara quay qua dặn dò Vương Điền Hương: “Tìm người đến lau rửa cho cô ấy, lấy bộ quân phục mới mặc vào cho cô ấy”.

Đợi khi Tư lệnh Trương đến, Lý Ninh Ngọc đã được ăn mặc chỉnh tề, mặt mũi đã được lau rửa sạch, mặc bộ quân phục mới với khuôn mặt được trang điểm đúng mực, khiến cô có chút thần khí siêu phàm, ám chỉ cô ra đi ung dung thanh thản, chết không hối tiếc.

Mặc dù vậy, Tư lệnh Trương xem xong di ngôn vẫn cảm thấy sống mũi cay cay, lồng ngực căng ra, vừa thương vừa giận.

Tư lệnh Trương xúc động bước đến nắm chặt bàn tay lạnh ngắt của người chết, thương tiếc cho cái chết, khen cho nghĩa cả, tình cảm đau thương chất đầy trong lời nói, khiến cho Kawa Hihara đứng bên cạnh thấy bồn chồn.

“Lẽ nào ngài định coi cô ấy là một anh hùng để đón về?”

Kawa Hihara như đang giễu cợt hỏi Tư lệnh Trương.

“Chẳng lẽ tôi phải coi cô ta là giặc Cộng sản?”

Tư lệnh Trương lộ vẻ tức giận, lạnh lùng đáp.

“Không cần phải vậy”, Kawa Hihara cười, “Có điều là anh hùng không hợp”.

“Vậy thì là gì mới được?

Mời ngài Kawa Hihara nói xem.”

Tư lệnh Trương đáp cứng.

Kawa Hihara nói luôn: “Trong di ngôn gửi chồng, chẳng phải cô ấy đã nói rồi sao, bị bệnh mà chết”.

Tư lệnh Trương nhìn mũi bầm mặt tím của thi thể nói: “Thế này mà bảo bị bệnh chết à!”.

Kawa Hihara không muốn lôi thôi, quay người bỏ đi: “Vậy ông tự làm đi, là gì cũng được, nhưng không thể là anh hùng”.

Kawa Hihara nghĩ bụng: Để cô ta là anh hùng, thì ta há chẳng phải tội phạm sao?

Cho dù thừa nhận Lý Ninh Ngọc là do hắn hại chết, hắn vẫn xem đó chỉ là một con chó bị chết, không hề có chút cảm giác tội lỗi nào.

Hắn mời Tư lệnh Trương xuống phòng họp dưới tầng, Tư lệnh Trương vẻ không đồng tình nói: “Tôi muốn ngồi với cô ấy thêm lát nữa”, nói rồi ngồi xuống trước giường Lý Ninh Ngọc nằm.

Kawa Hihara thấy vậy, không nói gì thêm, lặng lẽ ra khỏi phòng, bước đi.

Xe chở thi thể đến, đã gần trưa, khiêng thi thể lên xe xong thì cũng đã đến giờ ăn trưa.

Kawa Hihara mời Tư lệnh Trương ở lại dùng bữa rồi hãy về, Tư lệnh Trương khéo léo từ chối.

“Không cần đâu”, Tư lệnh Trương nói, “Lão Quỷ đến nay vẫn ung dung ngoài vòng pháp luật, ngài làm gì có thời gian tiếp tôi ăn cơm cùng.

Hơn nữa, buổi chiều ngài thu xếp vào thành sớm, hành động tối nay còn đang chờ ngài sắp xếp”.

Nói vài câu rồi lặng lẽ cáo từ, khiến Kawa Hihara rất không vui, chửi thầm trong bụng:

Ngươi là cái thá gì chứ!

Dám lên mặt với ta, hoang đường!

Chửi thầm không hả giận, còn với theo xe chở thi thể Lý Ninh Ngọc lớn tiếng chửi: “Hầy!

Rồi sẽ có ngày lão đây sờ gáy ngươi, cái đồ không biết trời cao đất dày là gì”.

Cơm trưa xong, Kawa Hihara và Vương Điền Hương đến thẳng nơi giam Ngô Chí Quốc.

Nghĩ lại lúc ban đầu tưởng như chứng cứ đã rành rành, vậy mà bản thân vẫn cứ bị kiểu lý giải chắc chắn và chối cãi quyết liệt của Ngô Chí Quốc mê hoặc, vứt bỏ cả chứng cứ thép, gây ra một đống việc bùng nhùng thế này, cũng khiến cho bản thân sức cùng lực kiệt.

Kawa Hihara vừa hận bản thân, hận luôn cả Ngô Chí Quốc.

Nhưng suy cho cùng, bao oán hận phải bắt tên khốn Ngô Chí Quốc gánh hết.

Như vậy, Ngô Chí Quốc sẽ không thể tránh khỏi bị những trận đòn tra tấn dã man.

Nghĩ đến việc Tư lệnh Trương làm cho hắn bẽ mặt, Kawa Hihara vô cùng tức giận, gặp Ngô Chí Quốc không nói nửa lời, cầm ngay lấy roi, quật một hồi rồi xả cơn giận, mới bắt đầu hỏi cung.

Thực ra, Kawa Hihara sở dĩ đánh trước hỏi sau, không phải là để uy hiếp Ngô Chí Quốc, mà là muốn xả cơn giận để giải tỏa cơn hận.

Còn phải uy hiếp sao?

Sợ hắn khai quá nhanh ấy chứ.

Kawa Hihara cho rằng, trước chỉ có vật chứng, bây giờ Lý Ninh Ngọc chết rồi, giống như là có thêm nhân chứng, có đủ nhân chứng vật chứng, Ngô Chí Quốc nhất định sẽ khai hết.

Đợi hắn khai nhận rồi, Kawa Hihara sẽ không còn cơ hội xả cơn giận nữa, cho nên cứ đánh trước rồi tính.

Nhưng không ngờ, Ngô Chí Quốc trước nhân chứng, vật chứng rõ ràng vẫn sống chết không khai.

Tra tấn, vẫn không khai.

Tra tấn dã man, vẫn là không khai.

Chết rồi, vẫn không khai, khiến cho Kawa Hihara không thể lý giải nổi, sao vong quốc nô vẫn cứng đầu đến vậy.

Ngô Chí Quốc bị đánh cho đến chết, điều này dường như đúng với lời của Cố Tiểu Mộng: Vương Điền Hương và tay chân của hắn toàn là những kẻ tàn ác, đánh chết người là bình thường, không đánh chết người mới là chuyện lạ.

Chết không thừa nhận!

Ngô Chí Quốc chết khiến Kawa Hihara lại thấy nghi ngờ bản thân, lo sợ Lão Quỷ vẫn còn sống, như vẫn đang ở Tây lầu.

Đây rõ ràng là loạn rồi, Kawa Hihara cảm thấy như sắp phát điên, nửa bộ não của hắn đang nghĩ về hai thi thể, nửa bộ não của hắn nghĩ đến Lão Quỷ không rõ ràng ấy, người cũng cảm thấy có một nửa đã chết, trống rỗng, đen tối, vỡ vụn.

Hắn thực sự muốn moi tim của tất cả những người bên cạnh, để xem rốt cuộc ai là Lão Quỷ.

Nhưng hắn không còn thời gian, xe đón hắn vào thành đã đợi trước nhà.

Hắn phải vào thành để chỉ huy cuộc bắt bớ tối nay, lúc sắp đi, hắn lệnh cho lính gác khóa cửa Tây lầu lại, không cho phép bất cứ ai được ra vào, tất cả phải đợi hắn quay về tính tiếp.

Kawa Hihara tin rằng, bất luận thế nào, đợi đến tối bắt được người, hắn sẽ biết ai là Lão Quỷ.

Nhưng buổi tối, hắn không bắt được một ai: Lão K, Lão Hổ, Lão Quỷ không bắt được người nào.

Đến bóng dáng của họ cũng không thấy.

Nhà khách Văn Hiên Các nằm trên núi Phượng Hoàng ở ngoại ô, một vùng lạnh lẽo, nổi tiếng thanh tịnh và nền nã, mỗi khi đêm xuống, có rất nhiều văn nhân mặc khách đến hưởng cuộc sống đêm ở đây, uống rượu ngâm thơ, chơi gái đánh bạc, đàm đạo thế sự.

Nơi đây toát lên một vẻ phóng đãng, đèn sáng suốt đêm, tiếng hát lan tỏa theo gió.

Vậy mà Kawa Hihara chỉ nhìn thấy một khu nhà im ắng và tối đen, từng ngôi nhà âm u đáng sợ, cứ như vừa từ dưới đất đen mọc lên, tất cả còn chưa bắt đầu.

Thực ra là đã kết thúc rồi.

Kawa Hihara lệnh cho cấp dưới thắp sáng tất cả đèn lên, thấy chỉ có một khu nhà rộng lớn, từng ngôi nhà gọn ghẽ, yên tĩnh thanh tịnh, nền nã tráng lệ, chỉ là không thấy bóng người, tìm cũng không thấy… người đi, nhà trống, đây rốt cuộc là chuyện gì vậy?

Kawa Hihara nhìn ra rừng núi tối đen, cảm thấy hai đầu gối mềm nhũn, trong lòng dấy lên cảm giác khó chịu, sợ hãi khó tả.
 
Tiểu Thuyết Phong Thanh
CHƯƠNG MƯỜI


Đây đã là hậu ký, chủ yếu là còn một số việc về sau phải nói rõ, ví dụ như: ai là Lão Quỷ?

Tin tình báo đã được chuyển đi chưa?

Nếu đã chuyển đi thì là chuyển như thế nào?

V.v…

Câu hỏi vẫn còn đang treo lơ lửng mà chưa có lời đáp.

Tôi tất nhiên sẽ giải quyết điều này, hãy tin tôi.

Ở đây, tôi muốn giới thiệu với mọi người làm quen với một cụ già, cụ là thân phụ của giáo sư Phan.

Những hiểu biết của tôi về câu chuyện này đều là từ hồi ức của những người biết chuyện mà cụ Phan và giáo sư Phan đã giới thiệu để tôi làm quen với tư liệu mà họ cung cấp.

Thời gian đang lãng quên đi câu chuyện này.

Tôi may mắn quen cụ Phan vào những năm tháng cuối đời của cụ và được cụ tin tưởng, mới may mắn tập hợp được một câu chuyện có thể sẽ bị tiêu tán.

Không cần phải nói, cụ Phan sẽ nói cho cho chúng ta tất cả bí mật, cụ là một trong những nhân chứng quan trọng của câu chuyện.

Trong câu chuyện, cụ Phan là một nhân viên hoạt động ngầm của ta, mang bí danh Lão Thiên, chủ yếu phụ trách công việc liên lạc vô tuyến giữa tổ chức bí mật ở Hàng Châu với Sở chỉ huy Tân Tứ quân ‐ sóng điện vô tuyến là dựa vào không trung để truyền đi, gọi là Lão Thiên đại khái cũng là theo ý nghĩa này.

Ngoài ra cụ còn phụ trách chuyển tin tình báo cho Lão Quỷ.

Vậy cuối cùng thì Lão Quỷ là ai?

“Chính là Lý Ninh Ngọc!” cụ Phan nói.

Còn cụ chính là Lương Minh Ngô, người mà trong di ngôn của Lý Ninh Ngọc đã nhắc đến: chồng của Lý Ninh Ngọc.

“Có điều, đấy chỉ là giả thôi.”

Cụ Phan nói với tôi, “Chúng tôi thực ra là anh em, là đồng chí, công việc yêu cầu phải đóng giả làm vợ chồng”.

* * *

Phần trên đã nói, Lý Ninh Ngọc tự kể có một người anh bị Tưởng Giới Thạch giết hại, thực ra là nói tới cụ Phan.

Cụ Phan ban đầu là người của Đảng Cộng sản được cài vào hàng ngũ Tưởng Giới Thạch, sau thân phận bại lộ, bị xử tử hình, thật may người xử bắn cụ là đồng chí, liền tạo ra vụ xử bắn giả.

Từ đó trở đi mọi người đều nghĩ cụ không còn trên thế gian này, thực ra chỉ là mai danh ẩn tích mà thôi.

Sau đó tổ chức phái cụ đến chỗ Lý Ninh Ngọc, đóng giả làm vợ chồng, triển khai hành động bí mật kháng Nhật.

Cái gọi là tính khí nóng nảy tàn bạo, dám đến tận cơ quan đánh Lý Ninh Ngọc; Lý Ninh Ngọc kể tình hết nghĩa, sống ly thân, buổi tối không về nhà vân vân…tất cả đều là cố tình làm ra vẻ để mọi người thấy cảnh vợ chồng không hòa thuận.

Như thế, hai người có thể tránh được những thói thường cần có giữa hai vợ chồng, như cùng nhau đi dạo phố, tản bộ, đưa con cái đi chơi…

Đồng sàng dị mộng, nhưng cuối cùng thì vẫn là vợ chồng, vẫn có thể sống cùng dưới một mái nhà.

Cụ Phan nói: “Điều chúng tôi cần chính là cái này, lấy gia đình làm trạm liên lạc, tiện cho việc chuyển tin tức tình báo”.

Khi ấy tin tức tình báo của Lý Ninh Ngọc rất nhiều, tin khẩn thường do Ba Ba phụ trách chuyển đi.

Họ có thể gặp mặt nhau bất cứ lúc nào, ra ám hiệu, chỉ cần Lý Ninh Ngọc vứt rác trước mặt Ba Ba, Ba Ba đã biết đến chỗ nào để lấy tin tức tình báo.

Nếu như không phải là tin khẩn, Lý Ninh Ngọc sẽ đem tin tình báo về nhà vào buổi trưa, sau đó sẽ do cụ Phan phụ trách chuyển đi.

Thời gian Lý Ninh Ngọc bị giam lỏng tại Cầu trang, do công tác che đậy của quân địch làm rất tốt, mọi kẽ hở đều được bưng bít, trên tổ chức từ đầu đến cuối đều không biết được sự thật ra sao.

Nói đến chuyện này, tâm trạng cụ Phan có phần bị kích động, cụ liên tục lắc đầu nói với tôi: “Thực ra lúc đầu tôi cũng có chút cảnh giác, tại sao?

Bởi vì rất lạ, đưa đi có mấy ngày, mà rất trọng thị, vừa mời chúng tôi ăn cơm ở quán Lầu Ngoại Lầu, còn đưa chúng tôi tới Cầu trang thăm, cứ như là sợ chúng tôi không tin ấy.

Hơn nữa, đúng ngày hôm ấy, đồng chí Lão Hán (bà Hai) bị Cục Cảnh sát bắt.

Ở đây thực ra là có sơ hở, nhưng Lão Hổ tổng hợp tin tức của Ba Ba, cuối cùng không phát hiện có gì đáng nghi ngờ.

Điều này, nguyên nhân chủ yếu là do ngày thứ hai, khi Ba Ba đến Cầu trang, Lý Ninh Ngọc không ra bất kỳ ám hiệu nào cho anh ấy.

Ba Ba cho rằng, chỉ cần có tình hình mới, Lý Ninh Ngọc nhất định sẽ tìm cách báo cho anh ấy, trước đây đều là như thế.

Anh ấy không biết Lý Ninh Ngọc lúc đó đang bị theo dõi rất chặt, không dám có bất kỳ biểu thị gì với anh ấy”.

Tại sao Ba Ba lần thứ hai từ trong bếp thò đầu ra rồi về ngay?

Cụ Phan cho tôi biết, đấy là vì anh ấy nhìn thấy túi áo ngực của Lý Ninh Ngọc có gài chiếc bút nắp trắng.

Đây là ám hiệu của hai người, chỉ cần Lý Ninh Ngọc để lộ ra cây bút máy này, chính là bảo Ba Ba đừng tiếp cận cô ấy.

Cụ Phan nói: “Thực ra sai lầm lớn nhất là ở chỗ này đây: lý giải sai về việc để lộ cây bút.

Ý tứ của Lý Ninh Ngọc lúc ấy chắc chắn là sợ Ba Ba liên lạc với cô ấy sẽ bị kẻ thù phát hiện, cho nên mới thông báo cho Ba Ba đừng tiếp cận.

Nhưng Ba Ba đơn thuần lý giải là không có tình hình gì, nên không cần tiếp cận cô ấy.

Cho nên, Ba Ba về báo cáo khẳng định là không có tình hình gì.

Lão Hổ căn cứ theo tình hình này, tổng hợp, phân tích, cho rằng Lý Ninh Ngọc đúng là đang ở ngoài làm nhiệm vụ nên không phải để tâm.

Chỉ đến khi thi thể của cô ấy được đưa về, tôi mới biết đã xảy ra chuyện”.

Tôi không hiểu: “Trong di ngôn, nói rõ là bị bệnh nên đột tử, cụ làm thế nào mà biết đã xảy ra chuyện?”.

Cụ Phan nói: “Trước tiên là đột ngột chết đã rất lạ, không bình thường rồi.

Có bệnh gì mà chết đột ngột thế?

Nếu như đột tử, sao lại có thể để lại di ngôn được.

Thứ hai là cô ấy cố ý nhấn mạnh gọi tôi là chồng Lương Minh Ngô, đây cũng là điều không bình thường.

Như quan hệ của chúng tôi, cô ấy muốn nói với tôi điều gì, chỉ cần gọi thẳng tên là được, hà cớ gì mà phải cố ý nhấn mạnh là “chồng Lương Minh Ngô”?

Chưa hết, đây cũng là điều quan trọng nhất, cô ấy đặc biệt nhấn mạnh là vì công vụ mà chết, chết không hối tiếc.

Cái này quả đúng là rất không bình thường.

Cậu nghĩ xem, nếu quả thực chỉ là do làm việc cho Kawa Hihara mà chết, sao cô ấy không hối tiếc được?

Con còn nhỏ dại, cách mạng còn chưa thành công, cô ấy đáng ra là chết không nhắm mắt mới đúng!

Chính là câu này đã nhắc nhở tôi, khiến tôi nghi ngờ trên người cô ấy có thể có mang theo tin tức tình báo, bởi vì chỉ có như thế, cố ấy mới chết không hối tiếc”.

* * *

Thế nhưng, cụ Phan tìm khắp trên người và trong đống di vật của Lý Ninh Ngọc cũng không phát hiện ra điều gì.

Làm sao có thể phát hiện ra được gì chứ?

Kawa Hihara đã đi trước cụ một bước, lật giở thi thể và đồ đạc của Lý Ninh Ngọc để tìm kiếm đến nát ra rồi, còn đồ mặc, đồ đi trên người đều là thay đồ mới, càng không thể có gì.

“Nhưng tôi tin chắc sẽ có, tôi không từ bỏ, vẫn tìm, vẫn nghĩ, vẫn suy đoán.”

Cụ Phan nhíu mày, phảng phất như cụ đang quay về cảnh tượng ngày hôm ấy.

“Sau khi tôi tìm đi tìm lại nhiều lần, tin chắc không có gì, tôi nghi ngờ cô ấy có thể đã dùng phương pháp bí mật nào đấy.

Phương pháp gì đây?

Tôi nghĩ nếu như là trên cơ thể, thì nhất định là trong bụng, cô ấy đã nuốt vào bụng.

Nhưng điều này trong di ngôn cô ấy không hề đề cập gì, hơn nữa đây lại chẳng phải là điều dễ dàng chứng thực, cho nên tôi không nghĩ theo hướng này nữa.

Không ở trên người thì trong đống di vật, tôi cảm thấy nếu là trong đống di vật thì nơi duy nhất có thể giấu tin tức tình báo chỉ có thể là bức tranh kia mà thôi, hơn nữa trong di ngôn cô ấy cũng đặc biệt đề cập tới bức tranh.

Thế là tôi cẩn thận xem lại bức tranh nhiều lần, hy vọng có thể phát hiện ra điều gì từ trong bức tranh.

Nhưng tôi nhìn ngắm như thế nào, xem đi xem lại, ngắm tái ngắm hồi ra sao, cũng không phát hiện ra được điều gì.”

Bức tranh lúc ấy được treo trong thư phòng của cụ Phan và đã dùng vải lụa phủ lên, được đóng trong một khung kính màu nâu.

Xem phong cách của bức tranh, nói là vẽ, nhưng thực ra là vẽ mà cố như viết, cành cây và tán cây đều dùng những nét thô để vẽ, chỉ là vẽ phác hình dáng, cỏ dại lại càng đơn giản, chỉ cần một nét bút đã xong, rất sơ sài.

Không cần dùng kính lúp, chỉ bằng mắt thường, tôi dám khẳng định trên bức tranh không thể giấu được tin tức tình báo gì.

Nhưng cụ Phan nói tin tức tình báo đúng là được giấu trong bức tranh ấy và bảo tôi đoán.

Thoạt đầu, tôi thấy giấy vẽ tương đối dày, có lẽ có thể bóc tách ở giữa được, vì thế tôi nghi là có thể được kẹp ở trong.

Tiếp đến, tôi thấy hình dáng của hai tán cây giống với bản đồ dẫn đường nào đó, bụng nghĩ bí mật liệu có nằm trong đó.

Sau đó, tôi lại đoán trong câu Lý Ninh Ngọc dặn cho hai con có nội dung gì đó.

Năm lần bảy lượt, đều bị cụ Phan bác bỏ.

Sau cùng xem chừng tôi không thể có được ý tưởng nào khác, cụ Phan mới nhắc tôi:

“Cậu để ý xem đám cỏ dại kia, có đặc điểm gì không?”

Đám cỏ ấy tôi đã xem đi xem lại nhiều lần, một hàng dài, cao thấp khác nhau, một nửa ở dưới đất, một nửa trên mặt đất, độ dày đều nhau, mà cũng không đều nhau, xem ra vẽ rất cẩu thả, đa số là bằng một nét bút.

Nếu như phải nói có đặc điểm gì, thì chính là được vẽ một cách tùy tiện, không thể nào giấu được gì trong đó.

Cụ Phan cười nói: “Hướng tư duy của cậu như vậy là không đúng, cậu chỉ nghĩ trên bức tranh có thể trực tiếp thấy được điều gì, làm sao mà như thế được chứ?

Hoàn cảnh của Lý Ninh Ngọc lúc ấy làm sao có thể trực tiếp nói với chúng tôi điều gì?

Tất cả những đồ đạc đem ra theo, đều được kiểm tra kĩ càng năm lần bảy lượt, anh thấy được kẻ thù đương nhiên cũng thấy được, như vậy sao được.

Cậu nên nghĩ rằng cô ấy nhất định sẽ giấu tin tức tình báo ở nơi mà chỉ có tôi mới có thể phát hiện được, vậy tôi khác người khác ở điểm nào?

Tôi đâu có hỏa nhãn kim tinh?

Tôi vừa nói với cậu rồi, tôi là một nhân viên báo vụ, lúc đó điện đài liên lạc vô tuyến giữa tổ chức bí mật ở Hàng Châu và Tân Tứ quân do tôi phụ trách, còn bản thân Lý Ninh Ngọc là nhân viên dịch điện chuyên trách, vì thế rất tinh thông mật mã Morce”.

Nói đến đây, cụ Phan dừng lại, hỏi tôi có hiểu về mật mã Morce không.

Tất nhiên là tôi hiểu.

Nếu tôi không hiểu mật mã Morce, thì làm sao tôi có thể viết Lắng nghe trong gió?

Nhân vật A Bỉnh trong Lắng nghe trong gió là một cao thủ, là chuyên gia trong lĩnh vực dò nghe mật mã.

Bây giờ có rất nhiều người còn bảo tôi đã từng làm việc tại cơ quan bí mật tương tự như thế, thậm chí còn đồn đại, bảo tôi do viết Giải mật và Lắng nghe trong gió nên đã bị tổ chức hữu quan khai trừ.

Với những chuyện này, tôi chẳng có gì để nói, bởi vì tôi không biết nên nói thế nào.

Không nói là xong.

Tôi luôn cho rằng, tôi quan trọng đối với mọi người không phải là vì thứ gì đó của tôi, mà là con chữ, là tác phẩm.

Tôi cũng không quan tâm ‐ không để ý ‐ bị tổ chức khai trừ hay trọng dụng.

Sở dĩ tôi không suy nghĩ là vì tôi có ý định khác: Viết ra tác phẩm hay, khiến cho người đọc thích tôi, để những ai đọc tác phẩm của tôi đều có một không gian sống mới.

Hay nói cách khác, cái tôi quan tâm là đừng để độc giả bỏ rơi, khai trừ.

Tôi thấy cái này không dễ làm được như nhiều người vẫn nói, nói là dễ có lẽ chỉ là ngôn từ một mặt giản đơn, không để tham khảo.

* * *

Thôi, quay lại câu chuyện của chúng ta, nói về mật mã Morce.

Tôi thấy Morce thật sự vĩ đại, đã phát minh ra một dạng ngôn ngữ đơn giản đến vậy.

Trong dạng ngôn ngữ này, chỉ có hai âm thanh: tạch và I; chỉ có hai nét bút: chấm (.) và gạch (‐).

Quan hệ của chấm và gạch, hay là tạch và tè là một với ba.

Ba chấm liền nhau chính là một gạch.

Nói rõ hơn, chỉ một nét chấm đã có thể dung nạp tất cả mọi dạng ngôn ngữ trên thế giới vào trong đó.

Kênh chuyển tải nó là không gian, là các đám mây, là tầng khí quyển.

Chỉ cần bạn ở dưới bầu trời này, thì đều có thể sử dụng ngôn ngữ ký hiệu này.

Ba mươi năm trước, khi tôi còn là cậu học sinh lớp hai tiểu học, có một hôm mẹ chồng của cô tôi mất, con trai bà đang công tác ở Bắc Kinh, muốn báo gấp để chú kịp về dự tang lễ.

Bố đưa tôi đến bưu điện, người phụ trách máy điện báo là người nhà tôi, khiến tôi có được may mắn lần đầu tiên được nhìn thấy máy điện báo và cả quá trình phát điện báo.

Tôi nhìn thấy người họ hàng ngồi trước bàn điện báo, ngón giữa của bàn tay phải liên tiếp nhấp nhấp trên một phím, cùng lúc trong phòng đầy ắp tiếng tạch tạch tè tè.

Không đến năm phút, người họ hàng bảo là chú ấy đã gửi yêu cầu của chúng tôi cho đồng chí ở Bắc Kinh rồi, đầu bên kia (ở Bắc Kinh) đã nhận được.

Tôi cảm thấy không thể lý giải được, còn nghi ngờ chú ấy giả vờ, đang lừa chúng tôi nữa.

Thế nhưng đến tối, người họ hàng nhà tôi đem đến nhà tôi một bức điện báo, nói con trai của cô tôi đang trên tàu từ Bắc Kinh về nhà, bảo chúng tôi bất luận thế nào cũng phải đợi cậu ấy trở về mới được mai táng.

Tôi lúc ấy đã đọc được khá nhiều chữ, nên đem bức điện báo ra đọc, nhưng tôi nhìn thấy chỉ toàn là con số, từng nhóm từng nhóm, mỗi nhóm có bốn số.

Tôi hỏi người họ hàng sao có thể hiểu bức nội dung bức điện báo, chú bảo có một quyển sách để tra, do quyển sách ấy chú dùng thường xuyên, nên đã thuộc, không cần tra cũng biết được nội dung điện báo.

Thực ra, đấy chính là cuốn giải mã.

Đến bưu điện gửi điện báo, bạn sẽ thấy trên bàn của nhân viên làm việc đều có một cuốn như thế, khổ rộng 16 cm, khá dầy, giống như quyển đại tự điển Anh ‐ Hán mà ta vẫn thấy.

Trong cuốn giải mã này, tất cả chữ Hán và ký hiệu hay dấu, đều biến thành con số, ví dụ Trung Quốc, biến thành: 0022 0948; Mỹ sẽ biến thành: 5019 0948; dấu phẩy biến thành: 9976, vân vân đều như vậy.

Đến tay nhân viên báo vụ, những thứ này còn phải biến tiếp, biến thành âm thanh tạch tè, ví dụ 1 biến thành tạch tè, 2 biến thành tạch tạch tè.

Gọi là một chút kiến thức, tôi mạn phép liệt kê một vài ví dụ như sau:

1: tạch tè

2: tạch tạch tè

3: tạch tạch tạch tè tè

4: tạch tạch tạch tạch tè

5: tạch tạch tạch tạch tạch

6: tè tạch tạch tạch tạch

7: tè tè tạch tạch tạch

8: tè tạch tạch

9: tè tạch

0: tè

Đây là âm thanh, nghe thì như vậy.

Nếu biến thành nét bút, thì như sau:

1: . ‐

2: . . ‐

3: . . . ‐ ‐

4: . . . . ‐

5: . . . . .

6: ‐ . . . .

7: ‐ ‐ . . .

8: ‐ . .

9: ‐ .

0: ‐

Nếu chúng ta dựng âm tè (‐) đứng lên (/) thì thế nào?

Có thể thấy, 1234567890, theo phương thức mật mã morce để viết ra, thì là:

. / .. / . . . / / . . . . / . . . . . / . . . . / / . . . / . . / . /

Đây là in ấn, nhìn rất là quy củ, ngay ngắn, có lẽ không thể khiến bạn liên tưởng tới cỏ dại.

Nhưng, chúng ta đều biết, phía trên đã nói rồi, quan hệ tạch tè là một với ba, nói chung là một ngắn một dài.

Còn cỏ dại vốn trời sinh đã là cái dài cái ngắn, như lời cụ Phan nói: Mười ngón tay cũng có ngón ngắn ngón dài, huống hồ là cỏ dại.

Cụ Phan chỉ đám cỏ dại trong bức tranh, xúc động nói với tôi: “Bây giờ thì cậu đã hiểu rồi chứ, đây không phải là cỏ dại, thực ra đây là một bức điện báo, là mật mã Morce, cỏ cao là đại diện cho tè (‐), cỏ thấp đại diện cho tạch (.).”

Tất nhiên là tôi đã hiểu rồi, không cần phải giải thích nhiều, hơn nữa với kiến thức chuyên ngành của mình, tôi có thể dễ dàng chuyển đổi cỏ dại trong tranh thành mật mã Morce, cụ thể như sau:

6643 1032 9976 0523 1801 0648 3194 5028 5391 2585 9982

Là một chuyên gia báo vụ hoạt động ngầm, năng lực nghiệp vụ của cụ Phan vượt xa người họ hàng làm báo vụ của gia đình tôi.

Được biết, yêu cầu làm việc của một nhân viên báo vụ thông thường ở bưu điện là phải nhớ và viết thạo năm trăm chữ thường dùng, còn cụ Phan bảo hồi trẻ cụ đã nhớ được hơn hai nghìn năm trăm chữ rồi.

Cho nên, căn bản cụ không cần phải tra cuốn giải mã, mà nhận ra ngay tại chỗ, nội dung của bức điện báo là:

Cấp báo, cần phải hủy ngay Quần Anh hội!

Theo tôi biết, ba mươi năm trước, mỗi lần ra bưu điện gửi điện báo, một chữ là 7 xu, mỗi ký hiệu và dấu tính là một chữ.

Như bức điện này, tính luôn cả phí thủ tục cũng chỉ hết có hơn một đồng.

Nhưng Lý Ninh Ngọc vì chuyển bức điện này ra ngoài, đã phải trả bằng cả tính mạng của mình.

Đương nhiên, bức điện là vô giá.

Đến nay, cụ Phan đã không còn nhớ rõ ngày tháng cụ thể nữa, nhưng trong cuốn Bầu trời dưới lòng đất do cụ kể lại nhiều năm trước, Giáo sư Hà Đại Thảo biên soạn, Nhà xuất bản Thanh Thành, Thành Đô xuất bản tháng 7 năm 1995 có ghi lại, là đêm mùng 2 tháng 5 năm 1941, tức bốn ngày sau so với thời gian đã định, Đặc sứ của Chu Ân Lai, Lão K đã triệu tập cuộc họp tương tự tại nhà một người dân ở số 108 đường Vũ Lâm thành phố Hàng Châu.

Trước giờ họp, tất cả các đồng chí tham dự bỏ mũ để một phút mặc niệm Lý Ninh Ngọc, bày tỏ lòng tôn kính tiếc thương đối với tinh thần cách mạng cao cả, mưu trí dũng cảm xem thường cái chết của cô!

* * *

Cuối cùng, hãy nói về đám người của Kawa Hihara.

Kawa Hihara tất nhiên không biết được những gì ở trên đã viết.

Có thể tưởng tượng, khi Kawa Hihara đứng trước khu nhà trống, không một bóng người ở nhà khách Văn Hiên Các, hắn nhất định không thể tin vào sự thật trước mắt: hành động bắt bớ đã thất bại!

Hay nói cách khác, Lão Quỷ đã chuyển được tin tình báo ra ngoài rồi!

Nhưng ai là Lão Quỷ?

Tin tức tình báo được chuyển ra theo cách nào?

Kawa Hihara lúc đó đã không còn tâm tư để tìm hiểu nữa, tâm tư của hắn dồn hết vào bức mật thư do Tổng Tư lệnh Matsui trao cho hắn trước khi đi.

Đây cũng là một bức mật điện, và chìa khóa để giải mã chính là thời gian, khi thời gian chưa đến chỉ có thể đoán, thời gian đến rồi mới có thể xem.

Kawa Hihara mở bức mật thư ra xem, bên trong chỉ có một câu:

Giết nhầm là sai nhỏ, bỏ sót là lỗi lớn.

Tức là nói, ai thuộc diện tình nghi đều giết hết, miễn bàn luận.

Không có chứng cứ xác thực chứng tỏ rốt cuộc Kawa Hihara đã giết ai, nhưng theo tư liệu hồi ức của lính canh A nói, đêm hôm ấy Kawa Hihara đã rút hết lính gác và nhân viên trực ban, bố trí họ trở về doanh trại ngay trong đêm.

Trước khi họ đi, thấy Tư lệnh Trương lặng lẽ đến ăn đêm cùng với Kawa Hihara.

Lính canh A bảo khi anh ta trở về doanh trại thì phát hiện không thấy ví tiền đâu, nghi là để quên ở trong phòng, cho nên sáng sớm ngày hôm sau vội quay lại Cầu trang tìm ví, nhưng thấy cả hai Đông lầu và Tây lầu đều không một bóng người.

Họ đi lúc nào, đi đâu, không ai biết.

Sau này, ngoại trừ Cố Tiểu Mộng và Vương Điền Hương quay trở lại doanh trại ra, còn những người khác như Tư lệnh Trương, Kim Sinh Hỏa, Thư ký Bạch, Tham mưu Trương (béo) và một chiến sĩ phụ trách nghe trộm đều đi đâu không biết, giống như bốc hơi khỏi thế gian này.

Tên lính canh A cho rằng, những người ấy đều đã bị Kawa Hihara giết hết, anh ta còn suy đoán sau đó Kawa Hihara cũng bị ám sát, có thể là thân hữu của những người bị Kawa Hihara giết hại đã ám sát hắn.

Cụ Phan thừa nhận không biết nhiều về Kawa Hihara, nhưng khi nói đến chuyện Kawa Hihara bị ám sát, mắt cụ vằn lên lòng căm hận, hùng hồn nói với tôi: “Mùa đông năm ấy, trong thành Hàng Châu thường xuyên xuất hiện tin đồn liên quan đến Kawa Hihara, đầu tiên là nói có người đã bỏ ra mười vạn đồng bạc (đồng tiền của Trung Quốc ngày xưa), mời lực lượng trừ gian ám sát hắn, lại có người nói treo thưởng là hai mươi vạn đồng bạc.

Có một hôm, tất cả các tờ báo ở Hàng Châu đều đăng tin Kawa Hihara bị ám sát ở Tây Hồ, thi thể vứt trước cửa miếu Nhạc Phi, chân tay bị cắt rời, mắt bị khoét, bị giết hết sức thế thảm, hả hê lòng người.”

Còn về chuyện ai giết thì có rất nhiều cách nói, có người thì nói là do đồng chí hoạt động bí mật của ta giết, có người nói là do đội trừ gian Trùng Khánh giết, có người bảo là do cấp dưới của Tư lệnh Trương và Ngô Chí Quốc giết, có người còn bảo là do Cố Tiểu Mộng bỏ tiền thuê sát thủ chuyên nghiệp giết, nói chung là loạn hết cả nên, không giống nhau nhưng cũng đủ loại giả thiết.

Cho nên, câu chuyện Kawa Hihara bị giết, do quá sinh động li kỳ nên giống như một truyền thuyết, vượt qua nhiều thế hệ, đến nay vẫn còn lưu truyền trong dân gian Hàng Châu.

Tôi rất tiếc vẫn chưa tìm được Cố Tiểu Mộng.

Nghe nói cô ấy vẫn sống, đang ở Đài Loan, con cái rất khá.

Trong đó, có một con trai là tỷ phú nổi tiếng Hồng Kông, vào những năm 90 của thế kỷ trước thường xuyên hoạt động tại Đại Lục, đầu tư rất nhiều tiền của, có quan hệ rất tốt đẹp với các quan chức cấp cao.

Tôi cũng từng có lần qua sự giúp đỡ của bạn bè, liên lạc với thư ký của cậu ấy, hy vọng có thể đến Đài Loan gặp Cố Tiểu Mộng một lần.

Thư ký của cậu ấy chưa hỏi tôi vì sao đã dập máy, thái độ rất dứt khoát nên tôi biết mình chẳng còn hy vọng.

Theo tư liệu tôi có để suy đoán, Cố Tiểu Mộng năm tới sẽ làm lễ thượng thọ 85 tuổi, thôi thì ở phương trời xa xôi kính chúc bà sống lâu trăm tuổi, hưởng phúc dài lâu!
 
Tiểu Thuyết Phong Thanh
phần 2 Gió Tây


LỜI TỰA

Cố Tiểu Mộng!

Cố Tiểu Mộng!

Bà Cố y hệt như Lão Quỷ hiện ra thật thần kỳ, khiến cho bản thảo của tôi khó có thể kết thúc ‐ kết thúc lại quyay về bắt đầu.

Đây là một khoảng thời gian với những trải nghiệm không hề vui vẻ.

Đó là trước Tết năm nay, khi bản thảo cuốn Tân lắng nghe trong gió của tôi đang trong giai đoạn gấp rút chỉnh sửa và phát hành, một buổi chiều A Bưu, người phụ trách biên tập bất ngờ gọi điện cho tôi, buồn bã bảo sách của tôi không xuất bản được.

Tôi hỏi tại sao, anh ấy nói có người chỉ trích tôi cố tình ác ý bóp méo sự thật lịch sử, đánh lộ con đen, bôi nhọ hình tượng của người trong truyện.

Tôi muốn hài hước một chút, nói với anh ấy: “Việc này giống như cai thuốc lá ấy mà, tôi đã trải qua nhiều rồi”.

A Bưu quả thật không nhận ra được ý tứ đùa vui của tôi để có thể thoải mái, nhẹ nhõm hơn, mà lo lắng nói với tôi: “Lần này khác, bên kia họ kiên quyết lắm, nếu chúng ta cứ tự ý xuất bản, họ sẽ kiện chúng ta (tôi và nhà xuất bản) ra tòa đấy”.

Tôi hỏi họ là ai, A Bưu bảo là một ông họ X.

Tôi bảo trong bản thảo của tôi không có nhân vật nào họ X cả.

A Bưu bảo chính là con cháu của Cố Tiểu Mộng.

Đầu tôi như phình to ra, bởi vì trong bản thảo đây là chỗ hở sườn của tôi: Không đến thăm được Cố Tiểu Mộng.

Tôi từng nghĩ bà ấy ở Đài Loan chắc không thể xem được sách, sao biết được chưa xuất bản chứ, rõ ràng bà ấy đã đọc trước.

Chuyện gì vậy chứ?

Hóa ra, tôi đã vô tình kể với A Bưu về chuyện của Cố Tiểu Mộng và con cái của bà ấy, (có một người con trai là tỷ phú X tiếng tăm lừng lẫy ở Trung Quốc), Giám đốc nhà xuất bản của A Bưu sau khi biết chuyện rất nhạy cảm, yêu cầu A Bưu lấy bản thảo tác phẩm của tôi làm chủ đề lựa chọn trọng điểm báo cáo lên cơ quan hữu quan cấp trên thẩm duyệt.

Đồng chí phụ trách thẩm duyệt thấy con trai tỷ phú của Cố Tiểu Mộng là Ủy viên Hội nghị Chính trị hiệp thương toàn quốc[1], có quan hệ khá rộng rãi với lãnh đạo cấp cao, cẩn thận in thử bản thảo, lòng vòng chuyển tới tay Cố Tiểu Mộng, hy vọng bà xem qua và cho ý kiến.

Ý kiến của bà Cố là như thế này: Không thể xuất bản, nếu muốn xuất bản thì hãy ra tòa.

[1] Gọi tắt là Chính hiệp.

Hai mắt tôi tối sầm… từ khi lấy tư liệu cho tới khi viết xong, chỉ vì cuốn sách cỏn con này đã giày vò tôi đủ ba năm, kết cục bi tráng khiến tôi nghĩ tới một câu nói kinh điển trong những cuộc tranh tài: Ngã ở gần điểm kết thúc nhất.

Còn thê thảm hơn cả Lý Ninh Ngọc!

Lý Ninh Ngọc tuy phải trả giá bằng cả tính mạng quý báu của mình, nhưng bà ấy là người chiến thắng ‐ sống phải vẻ vang, chết anh hùng.

Tôi vất vả ba năm trời, chỉ đổi lại được một câu: uổng công vô ích.

Bỗng nhiên tôi buột miệng chửi thề như bọn trẻ: Mẹ nó!

Đừng kích động, kích động là ma quỷ.

Kích động sẽ làm giảm chỉ số IQ.

Tôi tự an ủi bản thân, cần phải tâm bình hòa khí, cần phải yêu thương, phải hiểu biết.

Thế là, tôi thành khẩn viết một lá thư, nhờ đồng chí phụ trách thẩm duyệt gửi giúp cho Cố Tiểu Mộng ‐ tôi nghĩ, anh ấy có thể đưa bản thảo sách của tôi tới chỗ bà Cố, nhất định cũng có thể chuyển được lá thư của tôi.

Một tháng.

Hai tháng.

Ba tháng…

Khi tôi đang tuyệt vọng, một ngày (trong thời gian diễn ra “lưỡng hội”[2] tôi bất ngờ nhận được một cuộc điện thoại của một người lạ, tự xưng là con gái Cố Tiểu Mộng, đã xem bản thảo sách của tôi, có một số điều muốn nói với tôi.

Nói thật, cô ấy không có ác ý chỉ trích tôi, thậm chí đánh giá cao nửa đầu tác phẩm của tôi, chỉ nhấn mạnh nửa sau sai sự thật một cách nghiêm trọng.

Cuối cùng, cô ấy bảo mẹ cô muốn gặp tôi, hy vọng tôi có thể tới Đài Loan.

Có lẽ sợ tôi không đi, trong điện thoại cô ấy khéo léo bảo với tôi, cô ấy vừa được bầu là ủy viên Chính hiệp toàn quốc, hiện đang tham dự hội nghị tại Bắc Kinh, buổi sáng các vị lãnh đạo… vừa tiếp cô ấy.

Hàm ý là tôi phải coi trọng yêu cầu của cô và mẹ cô.

Thật không ngờ, đây chính là điều mà trong mơ tôi vẫn kiếm tìm.

[2] Hội nghị Đại biểu Nhân dân toàn quốc ‐ và Hội nghị Chính trị Hiệp thương toàn quốc.

Sự việc cuối cùng cũng đã có chiều hướng tốt.

Thế là tôi tới Đài Loan với cách nhanh nhất có thể, tới chào bà Cố.

Hơn nửa thế kỷ đi qua, vẻ đẹp xưa đã không còn tìm thấy trên khuôn mặt của bà Cố.

Bà đã già, tám sáu tuổi rồi, dường như đã thay đổi tất cả: mái tóc bạc lưa thưa, hàm răng giả khá đều, mắt đã mờ, ánh mắt không còn tinh tường nữa…

Nhưng khi bà cất giọng nói, lập tức khiến tôi liên hệ bà với Cố Tiểu Mộng.

Bà nói chuyện rất dứt khoát, rõ ràng, mang hơi hướng của kẻ mạnh.

Câu đầu tiên bà nói với tôi là một câu chất vấn thẳng thừng:

“Tại sao cậu lại phải đổi trắng thay đen, cố tình tâng bốc Lý Ninh Ngọc, mà viết tôi là Hán gian!”.

Lời lẽ đanh thép, tức giận đùng đùng, tuyệt nhiên không hề có sự hiền lành cần có của một cụ già.

Tôi muốn giải thích, nhưng vừa định mở miệng thì lại bị bà giơ tay ngắt lời.

Hiển nhiên bà đã dồn nén rất nhiều điều muốn nói, mà hình như trong bụng đã nói trước nhiều lần rồi, hễ cứ nói là giống như mở máy ghi âm, âm thanh phát ra lanh lảnh, không ngừng xối vào tai, câu sau nối tiếp câu trước, không dễ để tôi nói chen vào.

Tôi ngạc nhiên trước khả năng ăn nói và suy nghĩ vô cùng mạch lạc của bà, một người cao tuổi như vậy, âm thanh, ngữ khí, cũng như sự chau chuốt trong từng câu không hề thua kém tôi.

Ít nhất cũng phải giảm đi cho bà 30 tuổi!

Tôi nghĩ.

Bà nói một mạch với tôi rằng:

“Tuy cậu nói là viết tiểu thuyết, nhưng ai cũng có thể nhận ra, cậu chính là nói chuyện này, là những con người này, chính là tôi và Lý Ninh Ngọc.

Là tôi, nhưng không phải là con người thật của tôi!

Cậu thử hỏi Lý Ninh Ngọc ở cửu tuyền xem, tôi có phải như vậy không?

Sự thật hoàn toàn không phải như những gì cậu viết, tin tình báo đó căn bản không phải do Lý Ninh Ngọc chuyển ra ngoài, mà là tôi!

Cậu có biết không?”

Là bà?

Cậu có tin không?

Tôi không tin.

Sự không tin của tôi tuy không nói ra, nhưng nó lại được thể hiện rõ trên mặt.

“Cậu không tin đúng không?”

Bà Cố nhận ra sự hoài nghi của tôi, “Cậu nghĩ là tôi muốn cướp công à?

Tôi muốn cướp công mà lại tới Đài Loan sao?

Phải ở lại Đại lục làm anh hùng mới đúng chứ.

Tôi không cần công lao, tôi chỉ cần sự thật, tin tức tình báo ấy là do tôi chuyển ra ngoài, đây là sự thật, tôi không cho phép các cậu đổi trắng thay đen!”.

Bà Cố lại nã về phía tôi một loạt đạn pháo: “Nói cho tôi biết, anh bạn trẻ, tại sao cậu lại vu cáo tôi như vậy?

Là ai đã để cho cậu nói như vậy?

Có phải là lão già họ Phan chưa chịu chết kia không?”.

Người bà Cố chỉ là cụ Phan, tôi không dám phủ nhận.

Thấy tôi gật đầu, bà Cố hừ một tiếng, tức giận nói: “Cái lão già đáng ghét, tôi đoán ngay là lão mà!

Lão muốn gán mọi chuyện tốt đẹp cho Lý Ninh Ngọc, còn vàng thì dán lên mặt mình!

Lão vẽ người nhà mình thành đại anh hùng hết, còn những người khác đều là Hán gian, tay sai.

Bỉ ổi!

Vô liêm sỉ!

Lão Phan kia, tôi vẫn còn chưa chết, lão đã dám nói xằng nói bậy như vậy, tôi sẽ kêu trời trừng phạt lão!

Lão là một tên lừa bịp, kẻ dối trá!”.

Tâm trạng của bà Cố mỗi lúc càng tức giận hơn, trong lời nói chốc chốc lại chêm vào những câu từ thô tục chửi rủa và những câu từ cảm thán khó nghe.

May mà con gái bà cũng có mặt, kịp thời khuyên can bà, cứ cói là làm nguôi đi sự phẫn nộ của bà.

Sau khi bình tĩnh lại, bà Cố mang bản thảo cuốn tiểu thuyết của tôi ra, quăng xuống trước mặt tôi, vẫn hậm hực chất vấn tôi:

“Cậu thấy mình đã cân nhắc kỹ khi viết những điều này chưa?

Cậu đã từng nghĩ chưa, tình hình lúc đó, Kawa Hihara có thể để thi thể Lý Ninh Ngọc được đưa ra ngoài sao?

Để bắt Lão Quỷ, hắn sẵn sàng giam tất cả những người còn sống như chúng tôi, cớ gì mà lại rủ lòng từ bi với một cái xác chết?

Cứ cho là Lý Ninh Ngọc lấy cái chết làm chứng, để Kawa Hihara tin bà ấy không phải là Lão Quỷ, trong hoàn cảnh đó cũng không thể mang thi thể ra ngoài được.

Tại sao chứ?

Không có thời gian!

Buổi tối phải đi bắt người, ai còn tư tưởng đâu để làm chuyện này nữa chứ?

Chỉ là một xác chết thôi mà, bỏ lại một ngày cũng có gì căng thẳng đâu?

Đằng này, cậu đã viết đấy thôi, Kawa Hihara còn lục soát thi thể Lý Ninh Ngọc, sao lại phải lục soát?

Chính là vì không tin, ít nhất cũng là không hoàn toàn tin tưởng.

Đã không tin, tại sao lại mang thi thể ra ngoài?

Lẽ nào không mang ra ngoài, Kawa Hihara cầm chắc sẽ bị kiện?”

“Điều này…”, tôi cẩn thận nói chầm chậm, “Lục soát, phát hiện trên người Lý Ninh Ngọc không giấu tin tức tình báo…”.

“Sau đó thì tin chứ?”

Bà Cố cười nhạt, “Kiểm tra lục soát gì?

Là chuyện lục soát như cậu viết à?

Lục soát kiểu như vậy có thể chứng minh trên người Lý Ninh Ngọc không giấu tin tức tình báo gì sao?

Trò hề!

Trên người bà ấy nơi có thể giấu tin tức tình báo vô thiên lủng, trong bụng, trong tử cung, chỗ nào mà chả giấu được chứ.

Nếu muốn lục soát đến cùng thì phải mổ bụng, không mất một ngày, thực ra là không thể lục soát hết được!

Đã không kiểm tra đến cùng thì không thể tin tưởng hoàn toàn được, sau đó cậu nghĩ lại xem, cậu là một nhà văn, đáng ra phải có khả năng phán đoán chứ, đã không tin bà ấy hoàn toàn rồi, sao có thể đưa thi thể bà ấy ra ngoài được?

Ngộ nhỡ bà ấy chính là Lão Quỷ thì sao?

Trong tình huống một cuộc họp quan trọng sắp được triệu tập, mọi người đều rất cẩn thận, chỉ cần hơi có chút động tĩnh là đều có thể thay đổi kế hoạch.

Nếu theo như cậu viết, cần bức tranh đó làm gì?

Không cần thiết, chỉ cần mang thi thể ra ngoài, thì chẳng còn cần gì khác nữa.

Tôi dám chắc, các đồng chí của Lý Ninh Ngọc ở bên ngoài chỉ cần nhìn thấy thi thể của bà ấy, cho dù là di ngôn bà ấy nói gì, chết do bệnh cũng được, chết do tai nạn xe cộ cũng được, cuộc họp đó nhất định phải hủy.

Cậu không nghĩ thử xem, một người sống sờ sờ ra đấy, đột ngột chết trong lúc nhạy cảm như vậy, chẳng lẽ cậu không hề có chút cảnh giác nào sao?

Chỉ cần có một chút cảnh giác, thì cuộc họp sẽ không thể diễn ra, sẽ phải hủy bỏ, nhất thiết hủy bỏ!

Cho dù sợ nhầm cũng phải hủy, đây chính là công tác bí mật”.

Những lời bà Cố kể đã lay động tôi.

Những cơn lay động liên tiếp và dồn dập.

Sau đó mấy ngày, bà Cố hẹn tôi tới căn biệt thự của bà ở vùng quê (cách thành phố Đài Bắc khoảng 80km, có những bằng chứng quý giá được cất giấu ở đó), để tiến hành một cuộc tìm hiểu rõ ngọn ngành.

Suy cho cùng, tuổi tác cũng không tha cho một ai, mỗi lần bà chỉ có thể nói chuyện với tôi được một tiếng rưỡi đồng hồ, thi thoảng bà Cố phải ngả lưng trên chiếc chõng quý phi màu hạnh nhân, có lúc thì ngồi dựa vào chiếc ghế mây dài màu nâu sẫm, lúc khẳng khái mạnh mẽ, lúc dịu dàng chầm chậm, đưa tôi trở về với thế giới của năm 1966 mà tôi tự thấy mình rất đỗi quen thuộc.

Nhưng giống như lời bà Cố nói: Thực ra điều tôi biết được không nhiều bằng những điều bị che giấu…

Bây giờ, tôi quyết định viết lại câu chuyện này, chỉ là không biết liệu còn có người đến chỉ trích tôi không tôn trọng lịch sử nữa không.

Có lúc, tôi thật không biết, cuối cùng thì lịch sử như thế nào mới là chân thực nữa.
 
Tiểu Thuyết Phong Thanh
CHƯƠNG MỘT


Thanh đằng, tử trúc, điểu ngữ

Lão nhân, mộ niên, thế ngoại[1]

[1] Tạm dịch: Mây xanh, trúc tía, rộn tiếng chim; an hưởng tuổi già cảnh như tiên.

Đây là ấn tượng đầu tiên khi tôi mang theo nỗi lo lắng hoảng hốt bước vào ngôi biệt thự của bà Cố ở vùng quê.

Khuôn viên không rộng, nhưng mát mẻ bình yên, hoa thơm chim hót, không âm thanh ồn ã nơi thị thành, không mùi xú uế nơi phàm tục, có chút giống như cõi bồng lai tiên cảnh.

Một căn nhà ba tầng nhỏ xinh, gạch son ngói đỏ, mây xanh leo quanh, trúc tím bao bọc, làm mất đi sự liên tưởng tới ximăng, cốt thép.

Bày biện bài trí trong phòng khách theo phong cách Đông ‐ Tây kết hợp, vừa có ghế sofa và tràng kỷ theo kiểu của thời kỳ Louis 14, lại có ban thờ tổ tiên đặc kiểu Trung Hoa, hương khói nghi ngút, thờ cúng Quan Thế Âm Bồ Tát đại từ đại bi.

Mặc dù khi vừa gặp, trên khuôn mặt bà Cố vẫn còn vương vẻ giận hờn từ hôm qua, nhưng tôi thấy trên chiếc bàn mây tinh xảo đã đặt sẵn bộ đồ pha trà bằng gốm, vì thế mà tôi biết bà Cố đã sẵn sàng tiếp nhận cuộc phỏng vấn của tôi.

Tôi tự mừng thầm trong bụng, nhưng không hề để lộ ra ngoài.

Tôi tự cảm nhận, nhẹ nhàng từ tốn cũng là một sự coi trọng, chỉ có điều sự coi trọng này không giống với sự coi trọng bộc tuệch của bà Cố, bà là người đã tham gia, là người từng trải, là người có mọi thứ, còn tôi là người khai thác, là người mong đợi.

Tôi phải để sự kính trọng của tôi ở trong lòng, giấu kín trong đầu, cho nên không khúm núm, không ngạo mạn, trở về trạng thái thường thấy khi tôi thăm bề trên là anh hào quyền quý, hay bề dưới là người dân thường.

Nhất là lần này vội vàng vượt đường trường tới đảo Đài Loan, sự quyết tâm đã dẫn dắt tôi đi giải mã bí mật trong bí mật của nửa thế kỷ về trước, bản thân chuyến viễn hành này giống như một tác phẩm kém như ma xui quỷ mà trở lên tuyệt vời và đáng xem.

Trong bế tắc, tôi cảm ơn sự quyết tâm của tôi, những bí mật mới đang nằm trong sự trông chờ của tôi, thôi thúc tôi giải mã.

Sau khi chị giúp việc pha xong ấm trà Thiết Quan Âm rót vào chén, mùi hương thơm thoang thoảng, nhẹ nhàng, đưa tôi và bà Cố quay trở lại câu chuyện cũ khủng khiếp, nghĩ lại mà đau đớn ấy.

Rất rõ ràng, bà Cố đã trang điểm và chuẩn bị rất công phu để thực hiện cuộc phỏng vấn của tôi.

Bà mặc một chiếc áo màu lam nhạt, trông nhàn hạ mà đa cảm, chiếc vòng đeo tay màu kê huyết lặng lẽ toát lên sự cao quý và giàu có của bà, nước da trắng hiện đầy những vết nhăn của tuổi già khó thể che đậy nổi.

Cho dù đôi môi nhăn nhúm đã được thoa lớp son hồng nhạt, giống như đang cố gắng gìn giữ bí mật của nhiều năm, nhưng lúc này, tôi luôn có cảm giác như mình bước vào cảnh cuối đời của nữ nhân vật chính trong bộ phim Titanic: Ánh mắt họ như đều đang chứa đựng khoảnh khắc của sự ra đi, và một kiểu bí mật, miên man bất định lóe sáng riêng chỉ có ở người già.

“Bà ạ!

Bà bảo tin tức tình báo là do bà chuyển ra ngoài, cháu muốn biết bà đã chuyển nó ra ngoài như thế nào?”

Tôi đi thẳng vào vấn đề.

“Cậu nên hỏi tôi, tại sao tôi lại giúp Lý Ninh Ngọc chuyển tin tình báo.”

Bà Cố phản bác lại tôi.

“Vâng, tại sao vậy?”

“Bởi vì tôi không phải quân ngụy.”

“Bà là đồng chí của Lý Ninh Ngọc?”

“Cái này phải xem nói thế nào đã, nếu là đối với bọn giặc Nhật thì chúng tôi là đồng chí, còn khi không có bọn giặc Nhật, chúng tôi là kẻ thù của nhau.”

Tôi bừng tỉnh ngộ: “Bà là người của Trùng Khánh?”.

Bà cười nhạt: “Hừ, coi như cậu thông minh, đoán đúng.

Tôi là người của Cục Quân Thống[2] cài cắm nằm vùng trong tổ chức của ngụy Uông[3]”.

[2] Một tổ chức đặc vụ của Quốc dân đảng.

[3] Phái chống Cộng thân Nhật trong nội bộ Chính phủ Quốc dân thời kỳ kháng Nhật, do Uông Tinh vệ cầm đầu, gọi tắt là ngụy Uông.

Tôi nghĩ ngay đến, người cha giàu có của bà chắc chắn là một điệp viên hoạt động ngầm của Quân Thống.

Bà Cố ngẩng đầu, nhìn lên khung ảnh treo trên tường, trong ảnh là một chiếc máy bay phản lực kiểu Mỹ: “Nó chính là chiếc máy bay cha tôi tặng Uông Tinh Vệ, cũng là món quà gặp mặt khi hai cha con tôi gia nhập chính quyền ngụy Uông, làm bước tạo đà.

Thực ra, máy bay này là Đới Lạp tặng, chỉ là mượn tên của cha tôi thôi”.

Tôi hỏi: “Là sự việc từ năm nào vậy?”.

Bà Cố run run đưa tay xoa nhẹ lên chiếc vòng tay, ngón tay trỏ bịt chặt kẽ môi, ánh mắt mơ màng về nơi xa xăm, giống như đang nắm bắt lại những hạt bụi trần ai chìm nổi suốt hơn nửa thế kỉ trước nhưng rất khó phai mờ…

* * *

Mùa hè năm 1939.

Cố Tiểu Mộng nhớ rất rõ, buổi chiều hôm ấy, cô vừa tham dự lễ tốt nghiệp tại trường Cảnh sát Thanh Phố (Thượng Hải), phấn chấn trở về nhà, nhìn thấy dưới giàn nho trong vườn, cha cô đang ngồi hút xì gà trên chiếc ghế mây đã ngả màu, đang bàn chuyện cùng một người trung niên.

Điếu xì gà nhập ngoại trên tay cha, tuy là thuốc lá, nhưng nó là sự hào nhoáng, là đạo cụ, là phong độ của một ông chủ, từ điệu bộ nhíu mày và nuốt khói thuốc của ông, Cố Tiểu Mộng không khó để đưa ra phán đoán, câu chuyện của cha cô và người khách không hề vui vẻ.

Có lẽ có thể dùng cụm từ khá không vui vẻ để hình dung, bởi vì cô để ý thấy sắc mặt nghiêm trọng, ánh mắt rực lửa của cha.

Ở nhà cha rất ít khi bộc lộ sắc mặt như vậy, thậm chí mấy tháng trước, khi cha biết tin số hàng hóa trị giá hàng triệu bạc bị trúng đạn pháo chìm xuống đáy biển cũng không đến mức như vậy, nhìn thấy con gái ông cũng không cất tiếng chào.

Trong ký ức của cô con gái, chỉ có hai năm trước, ngày mẹ cô bất ngờ qua đời bởi máy bay của bọn giặc Nhật oanh tạc, cô không biết tin dữ, tung tẩy khẽ hát bước vào nhà, cha cô rõ ràng nhìn thấy nhưng không hề quan tâm, mà quay lưng bước đi, tấm lưng trầm lặng của ông giống như một tấm bình phong màu đen, chia lìa tình thân vốn có giữa hai cha con.

Vị khách mặc bộ đồ Trung Sơn vải kaki đen, đầu đội mũ phớt hiệu Thiên Tân Thịnh Tích Phúc, chiếc kính râm mắt tròn vắt ngang sống mũi lộ rõ đôi phần bí ẩn và ngạo mạn.

Nhìn chiếc cặp công văn để trên bàn trà, Cố Tiểu Mộng cơ bản đã đoán ra thân phận của vị khách, không phải là người của quân đội, thì là người của lực lượng cảnh sát.

Cô nghiêng về phần là người của lực lượng cảnh sát hơn, bởi vì cô vừa tốt nghiệp trường cảnh sát, có lẽ cha đang cùng vị khách bàn về tương lai của cô.

Nếu đúng là như vậy, cô cảm thấy mình tạm thời chưa xuất hiện sẽ tốt hơn.

Vì thế, cô lưỡng lự rồi lặng lẽ rút lui, đi vòng ra phía sau trở về phòng.

Vú Tống mừng rỡ đón cô trở về, thấy mồ hôi lấm tấm trên trán, vú Tống liền lấy khăn mặt giúp cô thấm mồ hôi.

Cô cầm khăn, vừa lau mồ hôi vừa hỏi vú Tống: “Người đó là ai vậy?”.

Vú Tống lắc đầu: “Không biết nữa…

Ông nhà dặn tôi không làm phiền họ nói chuyện”.

Cố Tiểu Mộng lau mồ hôi qua loa rồi đưa lại khăn cho vú Tống: “Ông ta tới đây lâu chưa?”.

Vú Tống nhìn lên chiếc đồng hồ treo trên tường: “Hơn một giờ đồng hồ rồi”.

Đang nói thì chiếc đồng hồ treo tường và tiếng chuông nhà thờ bên ngoài cùng vang lên, tư‐ư‐ưng‐tư‐ư‐ưng‐tư‐ư‐ưng‐giống như cả thành phố đang chuẩn bị nhổ neo đi xa.

Hai năm trước, mẹ cô mất chưa lâu, vì an toàn của con gái, cha cô đã dời nhà từ Hàng Châu tới khu tô giới của Pháp ở Thượng Hải, đối diện cửa nhà cô có một nhà thờ Thiên chúa giáo, mỗi lần, sau khi tiếng chuông nhà thờ vang lên, lại có một đàn bồ câu từ nóc nhà họ bay qua, trải xuống đường một lớp lông vũ cùng tiếng chim gù.

Mùa hè ở Thượng Hải oi bức, Cố Tiểu Mộng thấy chóng mặt buồn ngủ, cô rửa mặt, muốn lên lầu ngủ một giấc.

Nhưng lên giường rồi lại không ngủ được, đành uể oải lật xem cuốn tạp chí điện ảnh Khán Khách.

Chẳng biết bao lâu sau, cô bật dậy khỏi giường tới bên cửa sổ, vừa đúng lúc thấy cha đứng dậy tiễn vị khách ra về.

Vị khách một tay nắm chặt tay cha cô, một tay xoa vai cha cô, vỗ nhẹ.

Qua biểu hiện của cha, vừa có chút bất lực, lại vừa có chút như chấp nhận sự an ủi của vị khách.

Điều khiến Cố Tiểu Mộng ngạc nhiên nhất là cha cô vào phòng nhìn thấy con gái, tiếng cười sảng khoái thường thấy trước đây không còn nữa.

Cô hỏi vị khách ấy là ai, cha cô cũng chỉ nói qua loa cho qua chuyện.

Khác lạ vẫn còn tiếp diễn, khi ăn cơm tối, cha cố tình liên tục gắp thức ăn cho cô để thay cho những câu trò chuyện vốn có giữa hai cha con, cảnh tượng như có gì đó thật chua xót, ảm đạm thê lương.

Mẹ mất bỏ cha lại một mình, hai anh trai đều ở nước ngoài, Cố Tiểu Mộng là người thân duy nhất ở bên cạnh cha, nên cha cô càng nuông chiều và bao bọc cô hơn, vì thế tính cách ngang ngược, bất cần của Cố Tiểu Mộng có điều kiện phát triển.

Trong mắt Cố Tiểu Mộng, cha còn không uy nghiêm bằng vú Tống.

Cô không khỏi bực mình trước sự khác thường của cha, hỏi thì không được trả lời cặn kẽ, cô tức giận, bỏ bát đũa, hậm hực bước lên lầu.

Người cha ăn cơm xong, lên lầu thăm con gái.

Cuối cùng cô đã không thể nhịn nổi, lớn tiếng với cha: “Một kẻ gây sự mặc đồ đen đã đến nhà mình phải không?

Làm cho nhà mình u ám như đưa đám, lẽ nào ông ta là Diêm Vương?”.

Con gái vô lễ, nhưng người cha không hề tức giận, trái lại chán nản gục đầu, lặng lẽ ngồi xuống trước mặt con gái, buồn bã nói: “Con à, cha không biết phải nói thế nào với con nữa”.

Con gái ông đùng đùng tức giận: “Có gì thì nói vậy”.

Người cha cầm tay con gái, lắc đầu, muốn nói nhưng lại thôi.

Cố Tiểu Mộng ít nhiều thấy mơ hồ, nắm chặt tay cha: “Cha, rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì vậy?”.

Người cha thở dài, mắt nhắm lại nói: “Chuyện từ trên trời rơi xuống”.

Lúc sau, cha cô hai mắt mở to, nói đầy vẻ nghiêm túc: “Tiểu Mộng à, ông trời có sụp xuống, cha còn có thể dùng hết tài sản nhà mình để chống cho con, nhưng lần này… cha… không giúp nổi con được rồi, cha con mình không còn sự lựa chọn nào khác, chỉ có thể nghe theo lời ông ấy thôi”.

Cố Tiểu Mộng đứng bật dậy, “Là cha nói người tới đây chiều nay?”.

“Ừ.”

“Ông ấy là ai vậy?”

“Ông ấy chỉ là một tên lâu la, quan trọng là người mà ông ấy thay mặt.”

“Ông ấy đại diện cho ai vậy?”

“Đất nước chúng ta, đất nước đã tan nát này.”

* * *

[Ghi âm]

Ầy, cha bảo tôi người ấy họ Tống, phó Trưởng phòng III, Cục Quân Thống của Quốc dân đảng, chức vụ không cao, quân hàm Thượng tá, nhưng trên người ông ấy có giấy phép được gặp quan chức cấp cao nhất.

Đây chính là Quân Thống thời bấy giờ.

Là Quân Thống của thời Đới Lạp, quyền lực có thể che kín mặt trời, có thể khiến cậu biến thành rồng lên trời, cũng có thể khiến cậu trở thành con giun chui dưới đất.

Theo như tôi biết, nhiều năm trước khi cha tôi ở Nam Kinh đã có qua lại với Đới Lạp, lúc ấy kháng chiến còn chưa bùng nổ, nhưng nội bộ của Quốc dân đảng lục đục, lừa gạt lẫn nhau, đấu đá không ngớt, người của Cục Quân Thống chiêu mộ đồng bọn khắp nơi, cài cắm thân tín.

Cha tôi buôn bán vũ khí, quan hệ khá nhiều với giới quân đội.

Đới Lạp luôn muốn lôi kéo cha tôi gia nhập Quân Thống, làm tai mắt cho hắn.

Cha tôi thấy đây không phải là một công việc tốt, làm không khéo rất dễ xôi hỏng bỏng không, nên không đồng ý, cái giá phải trả là cha tôi đã bỏ ra một khoản tiền lớn cho Quân Thống.

Đây cũng coi như là rủi ro thiệt hại, dùng tiền để mua tự do cho mình.

Lúc đó Quân Thống còn chưa lớn mạnh như sau này, bản thân Đới Lạp cũng chưa hoành hành ngang ngược như sau này.

Hắn nhận tiền, duy trì quan hệ tình cảm nhất định với cha tôi, có việc thì gọi điện thoại, không có việc thì không liên hệ.

Lần này, trước khi phó Trưởng phòng Tống tới thăm, cha tôi đã nhận được một cuộc điện thoại của Đới Lạp, nói rằng có việc cần thương lượng, đã cử riêng một người tới nói chuyện trực tiếp.

Nói như vậy, phó Trưởng phòng Tống thực ra là đại diện cho Đới Lạp tới nhà tôi.

Cha tôi cho rằng, cái gọi là có việc, chắc lại là muốn tiền bạc của cha tôi.

Sau khi kháng chiến bùng nổ, ngân khố mỗi ngày một trống rỗng, mà chi phí của Quân Thống trước nay đều tốn rất nhiều, tiền của chỉ có thể lấy từ dân.

Sao mà biết được, phó Trưởng phòng Tống lại mang tới cho cha tôi một khoản tiền lớn, thật kì lạ?

Sự việc kỳ quặc, tất có ẩn ý.

Nói trắng ra, Đới Lạp lần này không phải tới tìm cha tôi để lấy tiền, mà là muốn lấy danh và vị thế của cha tôi để làm việc cho Quân Thống.

Làm việc gì?

Chính là dùng số tiền này để mua một chiếc máy bay, lấy danh nghĩa cha tôi để tặng cho tên Hán gian Uông Tinh Vệ, đổi lấy sự tín nhiệm của tên gian tặc họ Uông.

Lúc đó Uông Tinh Vệ đang tích cực chuẩn bị lập chính quyền ngụy tại Vũ Hán, Quân Thống cần phải có người cài vào hàng ngũ của Uông Tinh Vệ, Đới Lạp đã nhắm cha tôi, chính là vậy.

Cha tôi là con trai một thợ rèn, trở thành một người giàu có bậc nhất, trước là dựa vào thời loạn, loạn thế sinh anh hùng mà.

Hai là dựa vào khả năng cân bằng giữa kinh nghiệm làm ăn buôn bán độc đáo với quan hệ giao tế cao siêu của cha tôi.

Tôi luôn nghĩ, cha tôi là một thiên tài về buôn bán, thiên tài ấy được thể hiện ở chỗ giỏi nắm bắt tình thế và cơ hội trong quan hệ với quan chức chính quyền và chính giới.

Thương nhân Trung Quốc nếu không bắt bè với quan chức chính quyền thì không thể làm ăn lớn, từ xưa tới nay đều là như vậy, Đại Lục và Đài Loan đều như nhau.

Nhưng nếu bắt bè thái quá, đến mức giống như Hồ Tuyết Nham, lấy buôn bán để làm chính trị, không tách rời buôn bán với chính trị, cũng sẽ không có kết cục tốt đẹp, xử lý không khéo sẽ xôi hỏng bỏng không, buôn bán thất bại, quan chức cũng chẳng thành, chỉ còn là thất bại.

Cha tôi luôn nhớ mình là thương nhân, duy trì quan hệ cần có với quan chức và chính giới, nhưng cũng duy trì khoảng cách vừa đủ với họ.

Như gần như xa, thân sơ đúng mực, luôn giữ khoảng cách vừa đủ.

Khôn ngoan đủ trăm bề, mới có thể thành công, đây chính là những kinh nghiệm làm ăn buôn bán của cha tôi.

Bây giờ, Đới Lạp muốn cha tôi góp công cho Quốc dân đảng, trở thành quả mìn chôn cạnh tên giặc ngụy họ Uông, việc này với cha tôi hiển nhiên không phải là chuyện vui.

Nhưng đây là việc lớn kháng Nhật cứu nước, cha tôi chỉ biết đồng ý, không còn đường lui ‐ không thể như lần trước dùng tiền để mua lấy một đường lui.

Cha tôi biết nhiều, hiểu rộng, khả năng nhìn mây đoán mưa hơn người, khi thấy Đới Lạp tự bỏ tiền đem tới ông đã đoán ra sự việc rồi, lần này Đới Lạp sẽ không để ông có đường lui.

Đã như vậy, cha tôi không do dự, thà nhận lời cho xong.

Vấn đề không phải ở cha tôi, mà là tôi ‐ đối phương yêu cầu tôi cũng gia nhập Quân Thống làm cộng sự của cha tôi, cùng thâm nhập vào tập đoàn của ngụy quân Uông Tinh Vệ.

Đương nhiên, về lý mà nói yêu cầu này cũng rất chính đáng, đã bỏ ra một khoản tiền lớn để có được cha tôi, còn tôi chẳng qua là tiện đi cùng xe với cha tôi mà thôi, không phải vướng víu, nhân tiện làm luôn, dù gì thì thêm một người cũng có thêm sức mạnh.

Nhưng cha tôi kiên quyết không đồng ý!

Cha không muốn kéo tôi vào chuyện này, bởi vì ông biết, biết hơn ai hết, cơm của Quân Thống không dễ ăn, rủi ro rất lớn, sống ‐ chết chỉ cách nhau gang tấc.

Tôi là đứa con gái độc nhất của cha, từ nhỏ tôi đã lớn lên bên cạnh cha, hai anh trai đều ở nước ngoài, cha coi tôi như viên ngọc trên tay ông, sao ông có thể để tôi mạo hiểm đi vào chỗ chết?

Chiều hôm đó, cha tôi đã cố gắng thuyết phục phó Trưởng phòng Tống để tôi ngoài cuộc, nhưng đối phương luôn kiên quyết, quyết không buông tay, khiến cha tôi đau khổ vô cùng.

Một bên là đất nước, một bên là gia đình, một bên là tổ chức bí mật thần thông quảng đại, một bên chỉ là một thương nhân có chút tiền bạc, kết quả cũng có thể dễ dàng đoán ra.

Nhưng cha tôi vẫn không bỏ cuộc, sau khi ông kể hết ngọn nguồn câu chuyện với tôi, cuối cùng quyết định: để tôi bỏ trốn là xong.

Điều khiến ông chủ Cố không hề ngờ tới là quyết tâm dũng cảm của ông bị con gái phản đối trước nhất.

Cố Tiểu Mộng nghe cha kể xong, không chỉ không hề kinh sợ, trái lại vui vẻ khoác tay cha, an ủi cha: “Nhìn bộ dạng hết cách của cha kìa, con lại tưởng là xảy ra chuyện gì rồi cơ, hóa ra là như vậy.

Cha không thấy đây là một việc tốt sao?

Ít nhất cũng có thể báo thù cho mẹ con.

Không giấu gì cha, con còn chuẩn bị tìm người để giúp gia nhập Quân Thống nữa cơ, cha không biết à?”.

“Nói linh tinh!”

Người cha nghiêm túc cảnh cáo con gái, “Con biết gì!

Đó là vực sâu, rơi vào là không thể ra được đâu”.

“Vấn đề là rất nhiều người muốn vào mà không vào được.”

Giọng của con gái lộ rõ vẻ hưng phấn không thể kìm nén được.

Cô nói với cha, Cục Quân Thống đã nhiều lần bí mật tới trường của cô để tìm nhân tài, điều kiện của họ rất cao, những người được chọn đều là những sinh viên xuất sắc nhất lớp.

Chính vì vậy, Cố Tiểu Mộng mới mong được gia nhập Cục Quân Thống, giờ cơ hội đang ở ngay trước mắt, lẽ nào cô chịu bỏ qua!

“Không, con à, chuyện này con nhất định phải nghe cha.”

“Không!

Con không nghe, đây là chuyện riêng của con, cha đừng quan tâm…”

Như vậy, đối với ông chủ Cố, cảnh đối đầu, tranh chấp hồi chiều lại tái diễn, điều khác là, hồi chiều ông đối mặt với phó Trưởng phòng Tống thiết diện vô tư, còn giờ ông đối mặt với cô con gái vốn được nuông chiều của mình.

Nhưng kết quả thì giống nhau, sự cố gắng của ông chỉ chứng minh một điều là ông vô dụng, không thể thay đổi ý định kiên quyết của đối phương.

Đây hình như là một quy luật: Trong những vấn đề hệ trọng như tình yêu hay tiền đồ, cha mẹ và con cái một khi bất đồng ý kiến, người thua cuộc cuối cùng luôn là cha mẹ.

Tối hôm ấy, ông chủ Cố giàu có cảm thấy vô cùng trống rỗng và bất lực.

Ông giống như một con thú hoang bị giam giữ, không ngừng đi đi lại lại trong hoa viên tĩnh mịch, dưới ánh trăng thi thoảng nhìn thấy những giọt lệ lăn trên khuôn mặt từng trải của ông.

* * *

Lại là một đêm trăng sáng, phó Trưởng phòng Tống đến đúng hẹn, ông mang đến tờ khai, cờ Đảng, ảnh chân dung Tôn Trung Sơn.

Làm gì?

Để giúp hai cha con ông Cố làm thủ tục gia nhập Quân Thống.

Đầu tiên là điền vào tờ khai, mỗi người một tờ khai, mỗi tờ khai ba bản.

Hai cha con điền xong tờ khai, lấy dấu vân tay, mỗi người có một mã số bí mật riêng: cha là 036, con là 312.

Sau đó là tuyên thệ, hai cha con giơ tay phải lên, nắm chặt nắm đấm, trước cờ Đảng và ảnh của Tôn tiên sinh, do phó Trưởng phòng Tống đọc dẫn, tuyên thệ một cách trang nghiêm: “Tôi xin thề, từ hôm nay, tôi sống là người của Quốc dân đảng, chết là ma của Quốc dân đảng.

Tôi sẽ mãi mãi trung thành với Quốc dân đảng, cho dù gặp phải bất cứ sự đe dọa hay dụ dỗ nào, tôi nguyện chết để bảo vệ lợi ích của Quốc dân đảng, cho tới chết cũng không thay đổi ý chí phục tùng Quốc dân đảng, kiên quyết hoàn thành mỗi mệnh lệnh của cấp trên giao phó, sẽ không màng tới sự sống chết…”

Tất cả thực hiện xong, phó Trưởng phòng Tống nghiêm túc như một vị thủ trưởng, dặn dò ông chủ Cố: “Lập tức tung tin ra bên ngoài, con gái của ông sang Mỹ nghỉ ngơi, thăm hai anh trai”.

Ông chủ Cố ngay lập tức dự cảm thấy con gái sẽ phải xa ông: “Các anh đưa nó đi sao?”.

Phó Trưởng phòng Tống nói với Cố Tiểu Mộng: “Cô cần phải được huấn luyện”.

Không lâu sau, Cố Tiểu Mộng lên một chiếc tàu thuộc công ty Weiyuan của Mỹ, lênh đênh trên biển, danh nghĩa là đi nghỉ, nhưng trên thực tế là sang Mỹ để huấn luyện bí mật.

Lúc đó chính quyền Quốc dân đảng lập một căn cứ huấn luyện bí mật tại vùng ngoại ô Washington, phụ trách căn cứ huấn luyện này là Trưởng tùy viên quân sự Tiêu Bột của Đại sứ quán Trung Quốc tại Mỹ, ông cũng là Trạm trưởng Trạm Quân Thống tại Mỹ.

Chính trong thời gian huấn luyện tại căn cứ, Cố Tiểu Mộng đọc được trên báo tin cha cô tặng máy bay cho Uông Tinh Vệ, sau đó nhiều năm cô và cha luôn trong vai chó săn trung thành của Uông Tinh Vệ bị quốc dân chửi rủa.

Cho tới khi kháng chiến kết thúc, phía Quân Thống mới đưa ra những chứng cứ và nhân chứng, khôi phục lại danh dự cho cha con ông chủ Cố.

Nhưng trong những năm năm mươi, lại có người nghi ngờ về thân phận của cha con ông chủ Cố, lúc đó Đới Lạp và phó Trưởng phòng Tống đều đã qua đời, Tùy viên Trưởng Tiêu Bột trở thành nhân chứng trực tiếp và có hiệu quả nhất.

Nhiều năm qua, gia đình họ Cố luôn cất giấu những bằng chứng của Tùy viên Trưởng Tiêu Bột như báu vật trong nhà, tôi may mắn được thấy, toàn văn như sau:

Tôi có thể làm chứng, Cố Tiểu Mộng là chiến sĩ đặc biệt của Quốc dân Đảng, từ tháng 9 đến tháng 10 năm 1939, cô ấy tham gia huấn luyện tại căn cứ huấn luyện bí mật của Bộ Quốc phòng lập tại Washington do chính tôi phụ trách, cùng khóa có bảy người, đều do Cục Điều tra ‐ Thống kê Ủy ban Quân sự Chính phủ Quốc dân (gọi tắt là Quân Thống) tuyển chọn.

Trong thời gian đó, Cố Tiểu Mộng học hành chăm chỉ, tác phong ngay thẳng, ý chí kháng Nhật cứu quốc luôn sẵn có, không thể nghi ngờ.

Sau khi hoàn thành khóa huấn luyện về nước, tôi đã rất nhiều lần nghe thấy những người trong nội bộ Quân Thống, kể cả Cục trưởng Đới Lạp nói về những việc trung thành báo quốc, lập công dựng nghiệp của hai cha con ông Cố.

Sau khi kháng chiến kết thúc, tổ chức đã kết luận về hành động trung dũng báo quốc của hai cha con họ, giờ đây có người hòng thay đổi sự thật, mưu đồ khó lường, là nỗi sỉ nhục quốc dân.

Tái bút: Lời chứng thực trên được viết thành hai bản, một bản do Ủy ban An ninh Trung ương Chính phủ Quốc dân Đảng lưu giữ, một bản do chính Cố Tiểu Mộng cất giữ.

Lời chứng thực được in trên giấy trắng khổ A4, là bản gốc, phần dưới còn có chữ ký bằng mực đen của Tiêu Bột và đóng dấu, in vân tay cá nhân màu đỏ, mang tính chân thực đầy đủ và nghiêm trang.

Được sự đồng ý của bà Cố, tôi dùng máy ảnh kĩ thuật số chụp lại lời chứng thực.

Điều thú vị là bà Cố phát hiện máy ảnh của tôi chỉ có 4 megapixel, độ nét không cao, bắt tôi dùng chiếc máy ảnh 9 megapixel của bà chụp lại một lần nữa để tôi đưa vào máy tính.

Bây giờ bức ảnh lưu trong máy tính của tôi là bức ảnh được chụp bằng chiếc máy ảnh có độ nét cao của bà Cố, mỗi dấu chấm, dấu phẩy đều rất rõ ràng.

Buổi phỏng vấn đầu tiên đến đây kết thúc, bà Cố đã thay đổi thái độ lạnh nhạt lúc trước đối với tôi, còn có ý tiễn tôi ra xe, tôi cảm ơn từ chối, bà còn khăng khăng tiễn tôi ra cửa và bắt tay tạm biệt.

Đây là bàn tay yếu ớt nhất mà tôi từng bắt, dường như không còn một sợi thịt nào, chỉ toàn da, tôi bắt tay bà mà không hề cảm thấy một chút nhiệt độ cơ thể và trọng lượng nào, nhẹ tựa một tờ giấy, có thể bị gió thổi bay bất cứ lúc nào.

Tôi bất giác nghĩ, may mà ký ức của bà không yếu ớt giống như bàn tay này.

Ký ức của bà đã không phản bội bà, khiến tôi có niềm an ủi và cảm động vô định, không biết nên phải cảm ơn ai.
 
Tiểu Thuyết Phong Thanh
CHƯƠNG HAI


Đài Bắc tháng Tư, sắc xuân ngập tràn, trên phố chỗ nào cũng có thể thấy người mặc váy và ăn kem.

Buổi trưa, dưới ánh nắng, mặt đường như bốc hơi, khắp nơi mọi người đều đeo kính râm.

Mà lúc đó, ở nhà tôi mọi người có lẽ vẫn còn mặc áo ấm.

Tôi nghĩ, tôi từ quê tới Đài Bắc, thực ra là từ mùa đông đi tới mùa hè.

Con gái bà Cố nói với tôi, mẹ cô không thể chịu được điều hòa, mỗi khi tới mùa hè bà đều rời Đài Bắc, về một biệt thự ở quê để sống.

Thường thì tới cuối tháng Tư là chuyển, năm nay vì tôi nên sẽ đi sớm một tuần.

Căn biệt thự thường xuyên có hai người đàn ông làm vườn cùng một người quét dọn vệ sinh chăm nom, ngoài ra còn có một cô người Malaysia gốc Hoa phục vụ các sinh hoạt thường ngày cho bà Cố từ nhiều năm nay.

Người này họ Trần, năm mươi tuổi, dáng người tầm thước, hơi béo, tôi gọi cô ấy là chị Trần.

Chị Trần có thể nói tiếng Phổ thông, tiếng Anh và tiếng Quảng Đông, quê gốc ở Phật Sơn, Quảng Đông, hai mươi năm trước bắt đầu phục vụ bà Cố, bây giờ tiền lương tháng của chị đổi sang nhân dân tệ cũng gần mười nghìn tệ, ở Đại lục là thuộc lớp người phụ vụ được trả lương cao.

Ngày thứ hai tôi tới, bà Cố vẫn chưa xuống lầu, phòng khách chỉ có mình chị Trần, chị đang cẩn thật đặt chiếc kính lão của bà Cố lên chiếc bàn trà, bên cạnh là bản phô tô tác phẩm kém cỏi Tân lắng nghe trong gió của tôi, được chặn bằng một cái chặn giấy bằng gỗ pơ mu, có ý thể hiện sự trân trọng.

Chị Trần chào tôi rồi vội lên lầu dìu bà Cố xuống, đồng thời mang theo xuống một chiếc hộp nhỏ được đan bằng nan tre, sơn màu nâu, nước sơn bóng nhoáng, mang phong vị cổ xưa.

Bà Cố vừa ngồi xuống, liền bảo chị Trần mở chiếc hộp, bảo tôi tới xem.

Tôi thấy trong đó là một đống hỗn độn gồm một tấm ảnh đã ố vàng, một chiếc lược cũ đã gãy vài răng, một chiếc bút máy có nắp trên màu trắng, một thỏi son, hai viên thuốc và ba đồng tiền bạc, thậm chí còn có cả một lọn tóc.

Người trong ảnh bện tóc hai bên, hơn ba mươi tuổi, khuôn mặt thanh tú, miệng không cười, ánh mắt lạnh lùng, có chút gì đó như oán hận.

Bà Cố hỏi tôi: “Cậu biết đây là ai không?”.

Tôi tất nhiên là biết.

Tôi vừa nhìn tấm ảnh là nhận ra Lý Ninh Ngọc, những thứ đồ kia thiết nghĩ chính là di vật của Lý Ninh Ngọc.

Điều khiến tôi không hiểu là có hai thứ: Chiếc bút máy có nắp trên màu trắng và chiếc lược rách đã gẫy vài răng, tôi cũng đã từng nhìn thấy chúng ở nhà ông Phan rồi, chẳng lẽ những món đồ này đều có hai?

Bà Cố sau khi nghe tôi thắc mắc, lại chửi mắng ông Phan một hồi, sau đó với giọng trầm trầm giải thích: “Chỉ những thứ tôi giữ đây mới là thật, ông ấy không thể có những thứ này!

Những gì ông ấy có là đồ giả, lừa người ta!

Ông ấy còn dám nói là tin tức tình báo do Lý Ninh Ngọc chuyển ra, thì còn có gì là không dám lừa người khác!

Một tên lừa đảo chính trị, cả ngày chỉ nghĩ cách lừa đời lấy tiếng!”.

Tôi thấy bà Cố lại bị kích động, liền an ủi: “Vâng, muốn tìm được hai thứ ấy thì quá dễ, bất kể ở chợ đồ cũ của thành phố nào cũng có thể mua được, tôi tin những thứ trước mặt tôi đây mới là thật”.

Để chuyển chủ đề, tôi hỏi bà Cố:

“Bà à, năm nào thì bà quen Lý Ninh Ngọc?

Là khi ở Mỹ về quen ngay cô ấy à?”.

“Không phải sớm như vậy.”

Bà Cố ngả dựa vào thành sofa, có vẻ không muốn trả lời tôi.

“Tôi nghe nói sau khi bà từ Mỹ về, mới đầu hình như làm việc ở Cục Cảnh sát Thượng Hải một thời gian?”

Tôi hỏi tiếp.

“Đúng vậy…”

Bà Cố bảo tôi, khi bà từ Mỹ về, cha của bà đã trở thành một người nổi như cồn bên cạnh Uông Tinh Vệ, là tên đại Hán gian trong cộng đồng, đảm nhiệm chức phó Chủ tịch Hội Bảo vệ đặc biệt Thượng Hải, mỗi khi Uông Tinh Vệ đến Thượng Hải đều gặp ông.

Lúc đó bà muốn tới đâu làm việc cũng được, nhưng xét thấy bà tốt nghiệp trường cảnh sát, trong nháy mắt đã vào làm việc trong quân đội dễ khiến người ta sinh nghi, cẩn thận vẫn hơn, tạm thời làm việc ở Cục Cảnh sát thuộc Hội Bảo vệ đặc biệt.

Trong thời gian này, thông qua quan hệ của cha, bà được cử đi học kỹ thuật vô tuyến điện và giải mã tại Nam Kinh.

Thực ra, khi ở Mỹ đã học những thứ này rồi, bây giờ học chẳng qua chỉ là gắn mác, học xong có thể danh chính ngôn thuận vào làm việc tại bộ phận hạt nhân của quân đội.

Khi ấy, chính quyền Ngụy của Uông Tinh Vệ đang trong quá trình xây dựng rầm rộ, tại các vùng địch chiếm đều tổ chức xây dựng lực lượng quân ngụy, trong đó Tổng đội tiễu phỉ Hoa Đông có trụ sở ở Hàng Châu là lực lượng trực thuộc mà tên giặc Uông đã dốc nhiều công sức để xây dựng, phía dưới có bốn đại đội độc lập, lần lượt đóng tại Trấn Giang, Hàng Châu, Thường Châu và Thượng Nhiêu, đây chính là chiếc ô bảo hộ giúp chính quyền ngụy của Uông Tinh Vệ tổ chức xây dựng thuận lợi và ổn định tình hình trong tương lai.

“Bánh ngọt của kẻ thù cũng là bánh ngọt của chúng tôi”, bà Cố cười nhạt, nói ngọt như không, “đương nhiên là chúng tôi cài cắm người vào rồi.

Cài cắm ai là thích hợp nhất?

Cấp trên bắt đầu toan tính, cuối cùng đã chọn cha con tôi.”

“Do nhà bà ở Hàng Châu?”

“Đây chỉ là một cái cớ.”

Bà Cố bảo, nguyên nhân chủ yếu là do không có người nào phù hợp hơn bà, lúc ấy bà vừa học xong kỹ thuật giải mã vô tuyến điện, có đủ điều kiện xâm nhập vào bộ phận cơ yếu của địch, “chắc chắn không phải là tổ điện tín, cũng là tổ dịch điện, hai bộ phận này đều là những bộ phận nắm được bí mật cốt lõi nhất, có hiệu quả một bằng mười”.

“Cuối cùng bà vào tổ giải mã?”

“Đúng vậy.”

“Thế là bà quen Lý Ninh Ngọc?”

“Đâu chỉ dừng lại ở quen.”

Bà Cố thở dài, cầm chiếc lược mân mê, lật đi lật lại, dường như muốn dùng chiếc lược gãy để chải lại ký ức đang ngày một mất dần và mờ nhạt.

Có thể thấy, ngón tay của bà Cố đã không còn linh hoạt, tuổi tác không tha cho con người đã mang lại sự vụng về, khiến tôi lo lắng chiếc lược có thể rơi xuống đất bất kỳ lúc nào.

Một lúc lâu sau, bà Cố mới nói tiếp: “Chúng ta hãy bắt đầu nói từ chiếc lược này.

Ngày đầu tiên tôi quen Lý Ninh Ngọc, nó là vật làm chứng; lần cuối cùng tôi nhìn thấy Lý Ninh Ngọc, cũng là nó làm chứng…”.

* * *

Thời gian quay trở lại một buổi chiều của tháng 12 năm 1939, đương kim Tư lệnh Tổng đội tiễu phỉ lúc đó, Tiền Hồ Dực dẫn Cố Tiểu Mộng tới phòng làm việc của Tổ trưởng Tổ dịch điện Lý Ninh Ngọc.

Lúc ấy, hình như Lý Ninh Ngọc vừa gội đầu xong, đang vừa vùi đầu đọc báo, vừa chải mái tóc còn ướt.

Cố Tiểu Mộng ngạc nhiên với mái tóc đẹp đến vậy của Lý Ninh Ngọc, vừa đen vừa suôn, như những sợi tơ tơi mềm, xõa xuống phía trước mặt, chiếc lược đỏ chải từ trên xuống dưới, vừa mang ý thơ, vừa có chút gì đó thần bí.

Nói theo bất kì ý nghĩa nào, Cố Tiểu Mộng vẫn là quen mái tóc và chiếc lược trước rồi mới quen Lý Ninh Ngọc.

Con người ấy thực ra chẳng ý nhị, dịu dàng chút nào, mặc dù mắt xanh mày tú, làn da trắng, gương mặt xinh đẹp, nhưng vẻ nghiêm nghị khiến người ta có cảm giác chẳng dễ gần.

Cố Tiểu Mộng tới đây là do Uông Tinh Vệ đã ký và còn gọi điện thoại đến nữa, khi Tiền Hổ Dực giới thiệu Cố Tiểu Mộng, đã cố ý làm nổi bật điều này.

Cố Tiểu Mộng ngỡ rằng điều này nhất định sẽ khiến cấp trên quản lý trực tiếp trước mắt mình vứt bỏ thái độ cấp trên đi, nhiệt liệt chào đón cô với những lời chân thành.

Nhưng Lý Ninh Ngọc không thế, mà vẫn giữ vẻ mặt lạnh tanh, chỉ lạnh lùng nói một câu:

“Hoan nghênh.”

Tiếc chữ như tiếc vàng, ngữ điệu cũng giống như chiếc lược trên tay, lạnh lẽo, âm thanh giống như từ một cỗ máy phát ra.

Cố Tiểu Mộng cũng muốn tạo dựng hình tượng của mình: Một tiểu thư con nhà giàu có quyền quý, không hiểu sự đời, cá tính, sắc sảo, không màng quyền quý, dám nói dám làm.

Cho nên, khi thấy cấp trên như vậy, cũng không hề khách sáo đáp lại:

“Nhưng tôi cảm thấy chị không hề hoan nghênh tôi.”

Ngỡ là như vậy sẽ khiến Lý Ninh Ngọc khó xử.

Nào ngờ Lý Ninh Ngọc không hề thua kém, trịnh trọng nói: “Đương nhiên là tôi không hoan nghênh cô, gốc gác của cô quá lớn, cái miếu nhỏ của tôi không chứa nổi cô”.

[Ghi âm]

Chúng tôi quen biết nhau như vậy đấy, như một cặp cừu địch, gặp nhau là sinh sự.

Có thể cậu sẽ cho rằng, Lý Ninh Ngọc đối xử với tôi như vậy chắc sẽ khiến tôi hận muốn chết, không, ngược lại hoàn toàn, tôi lại có cảm tình tốt với chị ấy, có kì lạ không chứ?

Thực ra cũng không có gì lạ, từ bé đến lớn xung quanh tôi toàn là những người nịnh bợ, người dám xúc phạm tôi như Lý Ninh Ngọc rất ít.

Của hiếm là của quý mà, bà ấy không theo thói thường khi gặp tôi, đối với tôi lại là một sự kích thích, khiến tôi cảm thấy hay hay, hiếu kỳ và rất có ý nghĩa.

Đó là cảm nhận bản năng của tôi, rất chân thực, có lẽ chỉ có những người như tôi mới có thể cảm nhận được.

Tôi nghĩ nếu Lý Ninh Ngọc cũng giống những người khác, coi tôi là một tiểu thư quyền quý, bởi vì có gốc gác, dù chuyện gì cũng nhường nhịn tôi, dung túng tôi, sau này chúng tôi có thể sẽ không thể trở thành bạn tốt.

Tất nhiên xuất phát từ mục đích cá nhân, để hoàn thành nhiệm vụ của cấp trên tôi phải tìm cách tiếp cận, lung lạc bà ấy, nhưng không thể trở thành bạn được.

Thực ra, tôi nói cho cậu biết, cừu địch thật ra rất dễ trở thành bạn, một típ người thế này thích kết bạn với một típ người khác, chính là chân lý này.

Tôi và Lý Ninh Ngọc là hai típ người khác nhau.

Tôi thường nói, bà ấy là núi băng ở Nam cực, cỏ không mọc được, không có màu sắc, lạnh đến bốc khói, không ai dám lại gần.

Còn tôi, ha ha, là núi Tử Kim ở Nam Kinh, xây thành công viên rồi, rất náo nhiệt, ai cũng đi vây quanh tôi.

Ở cơ quan, bà ấy ngồi yên cả ngày, hơn nữa thường xuyên vài ngày không nói lấy một câu, coi im lặng như là cơm để ăn vậy.

Còn tôi thì, như bôi dầu ở mông, không có việc gì thì không thể ngồi nổi ở phòng làm việc, chạy khắp mọi chỗ, tán phét, đấu khẩu, cãi lộn, không nghiêm túc chút nào.

Đây một phần là tính nết trời sinh, một phần là biện pháp để tôi mê hoặc kẻ thù.

Cha từng nói với tôi, tính cách bẩm sinh của một con người không bao giờ có thể giấu được, chi bằng cứ để như vậy, hơn nữa ai cũng biết thân phận đặc biệt của tôi, tôi hoàn toàn có thể lợi dụng điều kiện tuổi còn nhỏ và có chỗ dựa vững chắc, tạo dáng thành một tiểu thư con nhà giàu, ăn chơi, không cần biết đến thế sự, làm việc không cần khuôn phép, dám nói lớn tiếng, qua đó tạo cho mọi người ấn tượng là mình vô tâm, vô tư.

Hồi ấy, phòng tôi có ba tổ là Tổ điện tín, Tổ dịch diện và Tổ Nội bộ, cả sĩ quan và lính cộng lại khoảng ba mươi người, tôi chưa cần tới một tuần đã quen hết mọi người, phương pháp rất đơn giản: Đối với đồng nghiệp nữ, dẫn họ dạo phố tiêu tiền, rủ đi xem phim, mua quần áo, ăn nhà hàng, đi chụp ảnh; đối với những đồng nghiệp nam thì ngược lại, tôi nhờ họ đưa tôi đi phố tiêu tiền.

Có một lần, tôi còn gọi tất cả sĩ quan trong phòng về nhà tôi đánh chén một trận, cha tôi còn tặng quà cho từng người, sau đó phân tích về từng người riêng với tôi.

Khi phân tích tới Lý Ninh Ngọc, cha tôi đưa ra dự kiến giống như một thầy bói, bảo chúng tôi sau này chắc chắn sẽ trở thành bạn tốt.

Tôi hỏi vì sao, cha tôi bảo vì những thứ mà chúng tôi cần, đa số là nằm trong tay bà ấy.

Ý của cha tôi thực ra là nói, tôi muốn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ cấp trên giao, cần phải trở thành bạn tốt với Lý Ninh Ngọc, như vậy tôi mới có thể có được nhiều tin tức tình báo.

Cho nên, tôi thường luôn cố gắng tiếp cận Lý Ninh Ngọc, ví như mua một bộ đồ mới, tôi liền tới tìm bà ấy, mặc thử, xem màu sắc có phù hợp hay không, trưng cầu ý kiến của bà ấy, sau đó là công việc, tôi thường xuyên nhờ bà ấy chỉ bảo, một bức điện báo rõ ràng tôi biết dịch thế nào, những cố ý giả như không biết, nhờ bà ấy chỉ bảo giúp.

Tóm lại, tôi tìm mọi cách để gần gũi bà ấy, tạo quan hệ riêng tư.

Nhưng hiệu quả thì rất tồi, bà ấy trước sau vẫn giữ bộ dạng lạnh lùng như tủ nước đá, cứ để lờ tôi.

Ngoài quan hệ công việc ra, dứt khoát không quan hệ gì với tôi, khiến tôi cũng bó tay hết cách.

Tình hình chuyển biến tốt đẹp hơn khi sang đầu năm mới, sau Tết Nguyên Đán.

Hôm ấy, Cố Tiểu Mộng vừa bước tới hành lang trên tầng dẫn tới phòng làm việc thì thấy Lý Ninh Ngọc đang cãi cọ với một người đàn ông mà không can nổi, một đám người chen chúc ngoài hành lang dỏng tai lên nghe họ cãi lộn, chỉ có một mình Trưởng phòng Kim khuyên can.

Nhưng không can được, người đàn ông đang rất tức giận, nhảy chồm chồm chửi mắng Lý Ninh Ngọc là con điếm, tuyên bố sẽ bẻ gãy chân Lý Ninh Ngọc và cấm cửa không cho bước vào nhà.

Chửi là chửi như vậy, những không ai nghĩ rằng anh ta ra tay đánh người thật, hơn nữa còn ra tay rất mạnh, đấm đá liên tục, khiến Lý Ninh Ngọc kêu oai oái, Trưởng phòng Kim cũng sợ hãi tránh sang một bên.

Những người khác thấy sự việc chẳng lành, có người lui về phòng làm việc, có người xuống tầng vệ binh, chẳng có ai dám đứng ra can ngăn, chỉ có Cố Tiểu Mộng kịp thời xông lên, bảo vệ Lý Ninh Ngọc, đồng thời chửi mắng gã đàn ông, bao nhiêu lời lẽ thô tục, bẩn thỉu văng ra hết, chửi đến mức gã đàn ông phải lầm lũi bỏ đi.

* * *

Tôi biết, người đó chính là ông Phan khi còn trẻ, ông mượn cớ nghe đồn Lý Ninh Ngọc đang có quan hệ khá tốt với người đàn ông khác ở bên ngoài, nên đến để hỏi tội.

Thực ra đây chính là màn khổ nhục kế Lý Ninh Ngọc và ông Phan cùng diễn, mục đích chính là để đuổi Lý Ninh Ngọc ra khỏi nhà, khiến bà ấy buổi tối không về nhà, ở lại luôn cơ quan, tiện theo dõi mọi việc trong cơ quan bất cứ lúc nào.

Sau đó, quả nhiên cơ quan đã cấp cho Lý Ninh Ngọc một căn phòng đơn, ăn ở đều tại cơ quan, trở thành một quả phụ, chỉ có buổi trưa mới có thể về nhà thăm con ‐ thực ra là để mang tin tức tình báo về nhà.

Tất cả những việc này, lúc ấy Cố Tiểu Mộng tất nhiên không biết, cho nên bà đặc biệt ủng hộ Lý Ninh Ngọc.

Tối hôm ấy, Lý Ninh Ngọc có nhà nhưng không thể về, không có nơi nào để đi, Cố Tiểu Mộng gọi cho lái xe của cha tới, đưa Lý Ninh Ngọc về nhà mình một đêm.

Do nhu cầu kịch giả diễn thật, Lý Ninh Ngọc đã chấp nhận lòng tốt của Cố Tiểu Mộng.

Từ đó về sau, quan hệ của hai người dần trở nên thân thiết.

Sau đó, phòng ở mà cơ quan cấp cho Lý Ninh Ngọc lại cùng một tầng với phòng của Cố Tiểu Mộng, đi làm hay tan ca họ đều ở cùng nhau, cúi đầu không thấy nhưng ngẩng đầu lên là thấy mặt nhau, quan hệ giữa hai người càng gần gũi hơn, thường xuyên cùng đi cùng về, cùng ăn cùng làm, như hai chị em vậy.

[Ghi âm]

Hồi đó, tôi thường xuyên về nhà đột xuất, chỉ cần trong tay có “hàng”, gọi một cuộc điện thoại, lái xe sẽ tới đón.

Chỉ có cuối tuần, bất kể là có được tin tức tình báo hay không tôi cũng về nhà ăn một bữa cho đã, cơm nước trong nhà ăn của cơ quan quá chán.

Thường thì cuối tuần khi về nhà tôi thường rủ cả bà ấy, không phải lần nào bà ấy cũng đồng ý, nhưng đồng ý cũng khá nhiều.

Dần dần, bà ấy cũng quen thân với cha tôi hơn.

Cha tôi cảm thấy bà ấy trầm mặc kiệm lời, tính cách chỉ biết đến mình rất phù hợp để làm cộng sự với tôi, cha từng kiến nghị tôi coi bà ấy là đối tượng phát triển, tìm cách phát triển bà ấy.

Lúc ấy, chúng tôi nghĩ tới việc bà ấy là người của Diên An, của Đảng Cộng sản.

Nói đi nói lại, chính vì bà ấy là người của Diên An, cho nên bà ấy mới sẵn sàng kết thân với chúng tôi, ban đầu bà ấy lạnh nhạt với tôi, thực ra cũng là sách lược để tiếp cận tôi: Vờ tha để bắt.

Bà ấy muốn thăm dò bí mật trong cấp cao chính quyền ngụy Uông từ cha con tôi!

Cậu bảo công tác hoạt động ngầm này có mệt không chứ?

Sớm biết là như vậy, thì cứ nói rõ ra, hà tất phải làm phức tạp như vậy?

Suy cho cùng đối với bọn giặc Nhật và lũ chó săn Uông Tinh Vệ của chúng, Quốc Cộng[1] vẫn có rất nhiều lợi ích chung.

Nhưng không được, ai cũng muốn làm người bịt mặt, không dám tiết lộ thân phận thật sự của mình, để lộ ra không khéo bị mất đầu.

[1] Quốc Dân đảng và Đảng Cộng sản.

Vừa nãy tôi đã nói rồi, cha tôi đã từng kiến nghị tôi phát triển bà ấy, nhưng chưa lâu, có người từ Trùng Khánh đến, sau khi tình cờ nghe thấy cha tôi nói tới chuyện này đã gọi tôi về nhà gấp, kiên quyết không cho tôi phát triển bà ấy ‐ không được phép phát triển bất kỳ ai!

Tại sao?

Chính là sợ ngộ nhỡ phát triển không được, hỏng việc lớn.

Cha tôi là con cá lớn mà Trùng Khánh đã bỏ ra một số tiền lớn để nuôi, sao phải mạo hiểm vậy?

Như vậy khác nào chui vào tận hang ổ kẻ thù khi chưa nắm chắc được tình hình, được mất quá mơ hồ, quả là quá ngu xuẩn.

Đừng nói tới việc phát triển người mới, lúc đó bên cạnh tôi có rất nhiều đồng chí Quân Thống, có người từng là đồng chí cũ, trên tổ chức cũng nghiêm cấm chúng tôi tiếp xúc với họ.

Cả vùng Chiết Giang khi ấy, chúng tôi có rất nhiều người là người của mình, nhưng biết rõ thân phận của cha con tôi thì không có mấy người, vì sao sau khi Đới Lạp chết lại có nhiều người đưa ra sự nghi ngờ về thân phận của cha con tôi như vậy, nguyên nhân là ở chỗ ấy đấy, họ không biết, cũng chưa từng nghe.

Họ cho rằng cha mua chuộc Uông Tinh Vệ và cũng dùng biện pháp cũ này để mua chuộc cả Đới Lạp, bây giờ Đới Lạp chết rồi, lại muốn thay đổi gốc tích, hoang đường!

Thực ra, trong số họ, mạng sống của nhiều người là do cha tôi cứu.

Nói tóm lại, nếu lúc đó trên tổ chức đồng ý cho tôi phát triển Lý Ninh Ngọc, nói không chừng tôi đã sớm biết bà ấy là người của Đảng Cộng sản rồi.

* * *

Bà Cố nói tới đây, tôi không chịu nổi liền hỏi: “Vậy khi nào thì bà mới biết Lý Ninh Ngọc là người của Đảng Cộng sản?”.

“Sau khi vào Cầu trang”, bà đành trả lời.

“Lẽ nào cả một thời gian dài như vậy mà bà không hề có cảm nhận gì sao?”

“Cậu thấy thế nào?”

Bà Cố hỏi lại tôi.

Tôi biết nói thế nào.

Bà Cố lại hỏi tôi: “Lẽ nào cậu thực sự thấy tôi kém cỏi như vậy sao, ngay cả một bức điện báo nội cũng không dịch nổi?”.

Bức điện báo nói đến là điện từ Nam Kinh.

Bà Cố bảo với tôi, mặc dù bức mật điện này có cài thêm mật mã, nhưng trò vặt vãnh này với bà chẳng có gì là khó.

“Nên biết, tôi đã được huấn luyện chuyên môn ở Mỹ về, sau này còn đi học ở Nam Kinh nữa, trò vặt vãnh ấy mà không nhận ra, hóa ra tôi học công toi à?

Tôi đần độn đến vậy sao?

Nếu tôi đần độn như thế, có thể sống nổi tới hôm nay sao?”

Bà Cố không khách khí quăng ra cho tôi một loạt câu hỏi chất vấn, mục đích chỉ có một: Phê phán tôi!

Bà Cố bảo tôi, thực ra bà đã sớm dịch được bức điện mật ấy, căn bản không giống như trong tiểu thuyết tôi đã viết, do không dịch nổi nên bà mới đi tìm Lý Ninh Ngọc giúp.

Tôi không nhịn được hỏi: “Đã dịch được rồi, sao bà còn đi nhờ Lý Ninh Ngọc?”.

Bà Cố cười nhạt: “Chẳng phải cậu đã hỏi tôi, suốt một thời gian dài như vậy mà tôi không có cảm nhận gì Lý Ninh Ngọc là người của Đảng Cộng sản rồi sao?

Thực ra tôi đã trả lời cậu rồi đấy.

Cậu nghĩ xem, nếu không có cảm giác ấy, liệu tôi có đi nhờ bà ấy giúp không?”.

Có lẽ là do làm công tác bí mật trong suốt thời gian dài, bà Cố nói chuyện vòng vo, rào trước đón sau, chỉ nói một nửa, nửa kín nửa hở, khiến tôi rất mệt mỏi, giống như đang chơi trò chơi trí tuệ. trò chơi kết thúc, tôi biết được, bà Cố lúc đó đã có phần nghi ngờ về thân phận của Lý Ninh Ngọc, chính vì có nghi ngờ, nên sau khi dịch điện xong, phát hiện sự việc có liên quan tới sự sống chết của Lão K và tổ chức Đảng Cộng sản bí mật ở Hàng Châu, do vậy mới giả vờ không dịch nổi để nhờ Lý Ninh Ngọc.

“Tôi đâu có đi nhờ, mà là tôi đang thử may rủi, nếu Lý Ninh Ngọc đích thực là người của Đảng Cộng sản, coi như tôi đã làm được việc tốt.”

Bà Cố như trút được nỗi niềm, giải thích tiếp, “nhưng, tôi cũng muốn thông qua việc này để chứng minh rốt cuộc Lý Ninh Ngọc có phải là Đảng Cộng sản hay không.

Nói thực, nghi ngờ của tôi đối với bà ấy không hề có căn cứ gì, thậm chí ngay cả cảm giác cũng không, chỉ là dựa vào một câu nói của cha tôi”.

* * *

Ông chủ Cố đã nói điều gì?

Cố Tiểu Mộng dường như thấy mọi thứ rõ ràng ngay trước mắt.

Lúc đó là Tết Trung Thu năm 1940, Cố Tiểu Mộng và Lý Ninh Ngọc sau hơn nửa năm kết thân, quan hệ đã rất gắn bó, coi nhau như chị em.

Có một chuyện có thể chứng minh cho sự thân thiết giữa họ, chính là chuyện về Giản tiên sinh.

Giản từng là một thanh niên tiến bộ, rất yêu văn nghệ, nhưng bản tính có phần tham lam hư vinh, thích huênh hoang.

Để thỏa mãn ham muốn hư vinh, hắn ta có thể vứt bỏ tư cách là một thanh niên tiến bộ của mình, hát những bài hát ca ngợi thay cho giặc Nhật quân ngụy, diễn những vở kịch ca ngợi quân ngụy.

Không cần phải nói, hắn quỳ gối dưới hiên nhà họ Cố, theo đuổi Cố Tiểu Mộng, cũng là tham vọng hư vinh.

Hắn đâu có biết thân phận thật sự của Cố Tiểu Mộng, đường đi khác nhau, mưu cầu khác nhau.

Nhưng con mắt tinh đời của ông chủ Cố sớm đã nhận ra giá trị kết thân với hắn: Hắn ta là một diễn viên, đại diện cho thế hệ Hán gian trẻ, kết thân với hắn, chẳng phải đã chứng minh người nhà họ Cố và hắn là cùng một giuộc?

Một sự che chắn tuyệt vời.

Thế là, Cố Tiểu Mộng bắt đầu đóng kịch với Giản tiên sinh, gọi điện thoại, viết thư tình, hò hẹn…

Tất cả đều như là tình yêu, từng bước từng bước cứ như thật.

Trò đóng kịch này có lợi cho việc che giấu thân phận của bà, nhưng lại nguy hiểm cho việc bảo vệ sự trinh tiết của bà, đặc biệt là đến giai đoạn hẹn hò, trăng thanh vắng vẻ, ngộ nhỡ hắn động chân động tay thì phải làm sao?

Không được, nhất định phải có người đi cùng.

Ai đi cùng?

Lý Ninh Ngọc.

Mỗi lần đều là Lý Ninh Ngọc.

Những chuyện riêng tư như thế, đều có bà ấy tham gia, có thể thấy quan hệ của hai người không chỉ ở mức bình thường.

Quan hệ tốt như vậy, ăn Tết, không thể để bà ấy một mình ở cơ quan?

Đương nhiên là không.

Tết Trung Thu năm ấy, là cái Tết Trung Thu cuối cùng trong đời của Lý Ninh Ngọc, ăn Tết Trung Thu ở nhà ông chủ Cố.

Dịp Tết đến càng nhớ người thân, dù gì thì chuyện vợ chồng bất hòa, có nhà mà khó về cũng chỉ là giả, dưới ánh trăng sáng, Lý Ninh Ngọc nhớ người thân đến thắt ruột, liền kiếm cớ đi trước.

Cố Tiểu Mộng vốn đã quyết định buổi tối về nhà đoàn viên với cha, nên không đi cùng, chỉ tiễn Lý Ninh Ngọc ra cửa.

Tiễn khách xong quay trở về, dưới ánh trăng sáng ông chủ Cố nghiêm khắc hỏi con gái:

“Con thấy chị Lý của con có phải là người Đảng Cộng sản không?”

Câu hỏi khiến người ta phát sợ.

Cố Tiểu Mộng ngạc nhiên, hỏi lại cha sao lại nghĩ như vậy.

Ông chủ Cố nói: “Hiện nay lực lượng chủ yếu của Tân Tứ quân đều ở Giang Nam, cha đoán Đảng Cộng sản chắc chắn cũng sẽ cài cắm người vào làm nội tuyến trong lực lượng của bọn con”.

Điều này có thể hiểu được, nhưng tại sao lại là Lý Ninh Ngọc chứ?

Ông chủ Cố nói: “Cha cũng không chắc chắn là cô ấy, chỉ tự nhiên nghĩ như vậy thôi.

Nhưng phân tích theo lý thông thường, Đảng Cộng sản muốn cài cắm người, nhất định sẽ cài cắm vào bộ phận chủ chốt, không ngoài mấy chỗ: Phòng cơ yếu quân sự của con, Sở Đặc vụ của Vương Điền Hương, còn nữa là Văn phòng thư ký.

Bây giờ đương nhiên chúng ta chưa biết rốt cuộc là chỗ nào, nếu như có thể khẳng định là trong phòng của con, cha thấy khả năng là Lý Ninh Ngọc rất lớn, bởi vì những người trong phòng của con cha đều gặp, những người ấy không thể ăn nổi bát cơm này đâu”.

Hóa ra, kết luận của ông chủ Cố là từ phân tích mà ra, chưa có chứng cứ thực tế.

Nhưng phân tích như vậy không phải là không có lý, bản thân Cố Tiểu Mộng cũng cảm thấy, những người khác ở phòng của họ đều rất đơn giản, chỉ cần thoáng qua là đã hiểu thấu, duy có Lý Ninh Ngọc, hai người thân thiết đến vậy, nhưng bà vẫn không thể hiểu rõ Lý Ninh Ngọc, lại thêm câu nói như vậy của cha, bà dường như đã được đánh thức.

Như vậy, chính là đêm Trung Thu ấy, Cố Tiểu Mộng đã ngầm nghi ngờ Lý Ninh Ngọc và những ngày sau đó bắt đầu thăm dò Lý Ninh Ngọc.

Đáng tiếc là, quả đúng như bà Cố nói: Cho đến cuối cùng (một ngày trước khi vào Cầu trang), thăm dò của bà còn chưa có kết luận, vẫn đang trong quá trình thăm dò.

Buổi chiều hôm đó, câu cuối cùng bà Cố nói với tôi là ngửa đầu than trời: “Bà ấy giấu tôi quá kỹ!”.
 
Tiểu Thuyết Phong Thanh
CHƯƠNG BA


Mưa xuân lất phất, rả rích, rửa sạch oi nồng trong không khí, không khí ở vùng quê lại càng trong lành hơn.

Vì trời mưa đường trơn, vẫn người lái xe ấy, xe ấy, cùng một khoảng cách và cùng một con đường, nhưng phải mất thêm hai mươi phút so với hai lần trước.

Tôi đến hơi muộn, trong lòng hoang mang, sợ bà Cố trách mắng.

Đồng thời, cũng có chút hân hoan không kìm nén được, không xóa đi được,…

Trên đường, tôi chỉ nghĩ, hôm qua bà Cố đã mở ra trình tự trong mới tiểu thuyết của tôi, hôm nay nhất định sẽ tiến vào sâu hơn.

Sẽ như thế nào đây?

Tính tò mò khiến hôm nay tôi tràn ngập hy vọng và hưng phấn, giống như không phải tôi sắp được gặp một bà cụ đến từ quá khứ, mà là một người ngoài hành tinh đến từ tương lai.

Thời tiết đẹp đã mang tới cho bà Cố tinh thần tốt hơn, bước đệm đã có, thúc giục chúng tôi nhanh chóng đi vào vấn đề chính ‐ Cầu trang.

Dù gì cũng là đương sự, từ nhỏ đã lớn lên trong một trang viên tương tự như Cầu trang, bà Cố giới thiệu về Cầu trang 60 năm trước, đương nhiên cụ thể hơn, sinh động hơn so với ông Phan hay những người khác biết về Cầu trang.

Bà có thể liệt kê một cách chính xác phong cách kiến trúc, vật liệu, bố cục của Cầu trang, những cây cối hoa lá trong vườn, cũng như những bức tượng đá dưới mái hiên, những món đồ trang trí bày biện bên hành lang giếng trời.

Tất cả, mỗi thứ đều có tên có họ, có hình có dạng, có thể cảm nhận, có thể biết rõ, cứ như là đang ở trong Cầu trang vậy.

Máy ghi âm ngay bên cạnh, khi cần tôi có thể nhấn nút mở và chép lại.

Nhưng khi nghe kỹ, tôi cảm thấy nó chỉ như một miếng thịt thừa, quyết định tua qua.

Phía sau có một số việc sự việc dài dòng, nhưng có thể nói gọn lại.

Cũng như là cắt bỏ chỗ thịt thừa.

Bà Cố bảo, mặc dù bà thấy Tư lệnh nửa đêm triệu tập mọi người đến Cầu trang là rất lạ, nhưng suy đoán thế nào vẫn chỉ là mù tịt, không có kết quả.

Bà thừa nhận, khi còn chưa dịch được bài thơ xoàng mà Tư lệnh Trương dương dương tự đắc, bà vốn không nghĩ tới sự việc sẽ như thế này.

Cho nên, trước đó cũng không có gì đáng nói, còn sau đó, bà nghĩ ngay Lý Ninh Ngọc là người của Đảng Cộng sản.

[Ghi âm]

Này này, mặc dù lúc ấy tôi cũng không biết cụ thể đã xảy ra chuyện gì, với mấy con người ấy ‐ bốn người Ngô, Kim, Lý, Cố ai là phỉ, tôi nghi ngờ chính là bà ấy.

Sau đó (buổi chiều), tại cuộc họp, Trương Nhất Đỉnh xác định rõ sự việc có liên quan tới bức điện mật từ Nam Kinh, tôi càng khẳng định là bà ấy, đó là cái bẫy tôi gài cho bà ấy.

Tôi có phần đắc ý, trong lòng nghĩ cuối cùng thì phép thử của mình đã có kết quả, tìm ra thân phận của Lý Ninh Ngọc, nhưng nhiều hơn hết lại là nước mắt buồn đau, bởi vì tôi dự cảm lần này bà ấy khó mà thoát được.

Nói thực, kéo Ngô Chí Quốc vào cuộc trước, đây là kiệt tác của Lý Ninh Ngọc.

Tôi quả thực lúc ấy không thể nào xác định được Ngô Chí Quốc có vào phòng làm việc của bà ấy hay không.

Tôi không nhìn thấy, không chú ý.

Nhưng theo bà ấy nói, Ngô Chí Quốc tìm bà ấy là dò hỏi xem nội dung bức mật điện có liên quan gì tới vấn đề bãi miễn nhân sự hay không, chỉ ở điểm này thôi thì tôi đã nghĩ ngay là bà ấy đang nói dối.

Tại sao ư?

Bởi vì ai cũng biết Lý Ninh Ngọc rất kín miệng, tính cách khác người, không dễ trò chuyện, Ngô Chí Quốc quả thực muốn dò hỏi thì cũng không nên tìm bà ấy, mà là tìm tôi.

Đấy là điều thứ nhất.

Thứ hai nữa, kể cả Ngô Chí Quốc vào phòng làm việc của bà ấy, hỏi bà ấy, theo tôi hiểu về bà ấy, thì bà ấy cũng không nói.

Lúc ấy nội dung bức mật điện còn do tôi đang chép lại, còn chưa báo lên trên, làm sao bà ấy có thể nói được?

Nếu nói, cũng phải đợi tôi báo lên cấp trên rồi mới nói, như thế may ra còn được.

Tóm lại, khi đó tôi dường như đã chắc chắn một trăm phần trăm là bà ấy đang nói dối, vì thế tôi cũng khẳng định bà ấy là Lão Quỷ.

Sau đó cậu thử nghĩ xem, biết bà ấy là Lão Quỷ rồi thì tâm trạng tôi thế nào?

Nói cho cậu biết, bất luận là công hay tư, tôi đều không mong muốn bà ấy bị bại lộ.

Tôi muốn giúp bà ấy, tuy khả năng này xem ra rất nhỏ, nhưng tôi vẫn muốn thử xem, dù chỉ là cơ hội mong manh.

Vậy tôi có thể làm được gì?

Nói thực, bảo tôi vô cớ tố cáo Ngô Chí Quốc hay Kim Sinh Hỏa, tôi không dám.

Bởi vì ngộ nhỡ tố cáo không thành, không hại được họ, cuối cùng vẫn là Lý Ninh Ngọc bị bọn họ bóc mẽ, tôi không ăn nổi mà bỏ đi cũng không xong, không khéo còn rước họa vào thân, ngay cả thân phận của tôi cũng bị bại lộ.

Đúng là đùa với lửa, rủi ro quá lớn, tôi không chơi nổi và không dám chơi.

Vậy tôi có thể làm gì?

Là thế này, như trong bản thảo sách của cậu đã viết: Cố tình bộc lộ tính cách của tiểu thư con nhà giàu, không chấp nhận thẩm vấn, cãi chày cãi cối với Thư ký Bạch, nói xằng nói bậy.

Sau đó, buổi trưa tôi cố tình không đi ăn cơm, tìm cách tiếp cận lính canh, để gã họ Giản đến tìm tôi v.v...

Mục đích tôi làm những việc này là để tung hỏa mù, để Kawa Hihara nghi ngờ tôi.

Tôi không sợ bị nghi ngờ, vì tôi biết mình không phải là Lão Quỷ, là thật thì không thể là giả, còn là giả thì không thể là thật.

Tôi chỉ nghĩ làm như vậy để cho Lý Ninh Ngọc có một cơ hội, để bà ấy thừa cơ bỏ trốn.

Đã là có mục đích để Lý Ninh Ngọc thừa cơ bỏ trốn, Cố Tiểu Mộng tất nhiên phải hợp tác, bàn bạc với Lý Ninh Ngọc.

Nhưng thật không thể ngờ, lòng tốt của Cố Tiểu Mộng bị Lý Ninh Ngọc xem như thứ bỏ đi.

* * *

Đấy là sự việc xảy ra sau buổi trưa, Lý Ninh Ngọc ăn cơm trưa xong về thấy Cố Tiểu Mộng vẫn nằm dài trên giường, bèn hỏi sao không đi ăn.

Cố Tiểu Mộng ngồi dậy, nhìn chằm chằm Lý Ninh Ngọc nói: “Tôi cũng đang muốn hỏi chị đây, đến nước này mà vẫn còn ăn được sao!”.

Lý Ninh Ngọc an ủi Cố Tiểu Mộng: “Cô yếu đuối quá, Tiểu Mộng à, trong chuyện này, chúng ta cây ngay không sợ chết đứng, cô sợ cái gì chứ”.

Cố Tiểu Mộng cười lạnh lùng: “Tôi đúng là cây ngay không sợ chết đứng”.

Lý Ninh Ngọc cũng cười: “Cho nên, cô không cần phải sợ”.

Cố Tiểu Mộng trợn mắt nhìn Lý Ninh Ngọc: “Nhưng còn chị?”.

Lý Ninh Ngọc hỏi lại: “Tôi thì làm sao?”.

Cố Tiểu Mộng với giọng thành khẩn bảo: “Chị Lý, chị đừng lừa tôi nữa, tôi biết cả rồi.”.

Lý Ninh Ngọc nổi giận trợn mắt quát: “Cô biết cái gì, lẽ nào cô nghi ngờ tôi?

Hoang đường!

Thật uổng cho cô chơi với tôi lâu như vậy, tôi còn xem cô như chị em nữa, tôi đúng là có mắt như mù!”.

Nói xong xắn tay áo bỏ đi, ra đến cửa còn quay lại nói với Cố Tiểu Mộng: “Cô hãy mở to mắt ra mà xem, đợi mọi việc sáng tỏ, tôi xem đến lúc ấy cô sẽ nghĩ thế nào!”.

[Ghi âm]

Nghĩ thế nào?

Tôi lúc ấy đúng là lú lẫn hoàn toàn, nhìn vẻ phẫn nộ của bà ấy, cứ như đúng là tôi đã nghĩ oan cho bà ấy.

Nhưng cậu biết đấy, tôi không đổ oan cho bà ấy, mà là bà ấy đang đóng kịch, diễn rất tốt!

Thật đấy, tôi làm công tác bí mật đã ngần ấy năm, chưa gặp ai lại có bản lĩnh đến thế.

Sau đó bà ấy bảo tôi, khi ấy sở dĩ bà ấy làm như vậy, không nhận tình cảm của tôi là có lý do: Thứ nhất, bà ấy liệu trước được Kawa Hihara sẽ cho tra xét nét bút, mà tra xét nét bút thì bà ấy đã có kẻ thế mạng, bà ấy không sợ; thứ hai bà ấy đã nhận ra xung quanh bốn bề đều được canh phòng cẩn mật, muốn trốn cũng không thoát, chỉ còn cách kháng cự, chống chọi đến cùng.

Chưa hết, vì sao khi đó bà ấy không muốn nói nhiều với tôi, cố ý giả vờ tức giận bỏ đi, là bởi vì bà ấy đã phát hiện trong phòng có đặt máy nghe trộm.

Cậu xem, bà ấy thật giỏi, đáng kính nể, mọi việc đều có thể thấy, đều có thể tính toán được trước.

Lại nói, đến tối, hôm tiến hành kiểm tra nét bút, quả nhiên Kawa Hihara đã mắc lừa, đưa Ngô Chí Quốc đi.

Lúc đó quả thực tôi nghĩ là mình đổ oan cho bà ấy.

Cho nên sau đó tôi cũng không tung hỏa mù nữa, trong bản thảo của cậu viết Kawa Hihara là người đầu tiên loại trừ tôi, cơ bản đúng là như vậy.

Sau đó, khi tôi phát hiện là Ngô Chí Quốc, căn bản tôi không muốn giúp anh ta, tôi cũng không vì anh ta mà làm chuyện gì.

Lúc đó, tại Hồ Châu, Ngô Chí Quốc vừa giết hại mấy chục anh em đồng chí của chúng tôi, giả sử anh ta là Lão Quỷ, chứng tỏ căn bản anh ta không coi Quốc dân đảng chúng tôi là người cùng một nhà kháng Nhật chống Uông, mà là đang lợi dụng quyền lực, mượn đao giết người.

Sau biến cố miền Nam An Huy, mối quan hệ giữa Quốc dân đảng và Đảng Cộng sản đã bị rạn nứt, sự việc như thế không phải là chưa từng xảy ra.

Hầy, giai đoạn lịch sử ấy quá phức tạp, đừng nói lớp trẻ các cậu đây, đến chúng tôi là những người trong cuộc có một số sự việc cũng không sao hiểu nổi.

Tôi sợ bà Cố chuyển sang chủ đề mới khác, nhân lúc bà thở dài than vãn, tôi vội hỏi: “Bà ạ, vậy sau đó bà làm thế nào phát hiện ra Lý Ninh Ngọc là Lão Quỷ?”.

“Tôi đã nói rồi, là thật thì không thể giả nổi, là giả muốn thật cũng không xong.”

Bà Cố hình như còn chưa muốn đi vào vấn đề chính nhanh như vậy, thản nhiên nói.

“Vâng đúng, nhưng bà làm thế nào để tìm ra sự thật?”

Tôi vẫn không từ bỏ hỏi tiếp.

“Hoàn toàn là ngẫu nhiên.”

Bà Cố gượng cười đáp, “Có lẽ do ông trời sắp đặt, tôi phải giúp bà ấy”.

“Đấy là vào ngày nào ạ?”

Tôi không buông tha hỏi.

“Chính là ngày hôm đó”, bà Cố nhìn tôi, đành nói, “ngày mà bà ấy giở trò đau dạ dày”.

* * *

Mặc dù hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng bà Cố vẫn nhớ rất rõ mọi chuyện xảy ra trong ngày hôm ấy, tất cả từng chi tiết đều có thể kể ra được, cứ như hồi tưởng mọi chuyện mây mưa của cái đêm ban đầu.

Sự việc xảy ra trên đường từ nhà ăn trở về, Lý Ninh Ngọc bị đau dạ dày, cơn đau chưa dứt, đi rất chậm.

Lúc đầu Cố Tiểu Mộng khoác tay Lý Ninh Ngọc dìu đi, sau đó, khi gần đến đoạn rẽ vào cổng chính, Lý Ninh Ngọc cười đẩy tay Cố Tiểu Mộng ra nói: “Không sao đâu, tôi tự đi được”.

Vừa nói vừa tiện tay vứt hai vỏ nhựa đựng thuốc đau dạ dày hiệu Hồ Tự đang cầm trên tay xuống đất, trong đó một chiếc vỏ nhựa lăn ra vệ đường.

Cố Tiểu Mộng cười nói: “xem ra loại thuốc dạ dày này rất công hiệu, chỉ cần uống vào là thấy tác dụng ngay”.

Lý Ninh Ngọc đáp: “Đúng vậy, mỗi lần tôi đau đều uống loại thuốc này, rất công hiệu”.

Hai người cứ thế vừa đi vừa trò chuyện, đi sau bọn người Kawa Hihara.

Thực ra bọn họ cũng không đi nhanh để còn giúp hai chúng tôi, nhưng hai chúng tôi vẫn rớt lại sau cùng.

Khoảng cách cũng không xa, chỉ là ba bốn mét là cùng.

Bà Cố bảo tôi, thuốc chữa dạ dày Hồ Tự là thuốc Đông y, dạng viên tròn, bột thuốc có chứa dầu ôliu, cho nên thuốc hơi ướt, hơn thế phải giữ ẩm, nếu thuốc khô sẽ không còn tác dụng.

Ngày trước chủ yếu là dùng giấy dầu gói để giữ ẩm, nhưng hiệu quả không cao, thời gian dài sẽ bị khô.

Sau đó người Nhật đưa đồ nhựa vào Trung Quốc, thiết kế vỏ nhựa cho loại thuốc này, viên thuốc được đựng trong vỏ nhựa, bên ngoài được phủ kín bằng sáp nến, nên tác dụng giữ ẩm rất tốt, để một hai năm cũng không vấn đề gì, khi uống chỉ việc cạo lớp sáp nến ấy đi, tách đôi vỏ nhựa là có thể dùng được, còn vỏ nhựa có thể ghép lại hoàn chỉnh như ban đầu.

“Cậu xem, chính là nó.”

Bà với tay xuống cái hộp đen bằng tre cầm lên một vỏ nhựa đựng thuốc, huơ huơ trước mặt tôi nói: “Hồi ấy tôi thường xuyên thấy người ta uống thuốc, nên mới giữ lại vỏ này, cảm thấy cái vỏ đẹp như thế vứt đi thật tiếc.

Nhưng thực ra giữ lại cũng chẳng có tác dụng gì, cùng lắm là cho bọn trẻ con chơi, vì thế nhìn thấy bà ấy vứt vỏ thuốc đi cũng chẳng lưu tâm gì”.

Thực ra, Lý Ninh Ngọc không phải là tiện tay vứt vỏ thuốc đi, mà là cố tình chọn đoạn đường mọi người đều phải đi qua, hơn nữa còn phải chọn chỗ dễ trông thấy nhất để vứt.

Lúc đó có một vỏ lăn ra vệ đường, bà ấy còn vờ như vô tình đá nó lăn ra giữa đường.

Bà cần phải làm như vậy đặt chúng vào chỗ dễ nhìn thấy nhất, để ngày mai khi Ba Ba đến liên lạc với bà ấy sẽ dễ dàng nhìn thấy.

Đúng như cụ Phan đã nói, Lý Ninh Ngọc và Ba Ba có ám hiệu và mật ngữ liên lạc riêng, ví dụ như buổi trưa hôm ấy trong nhà ăn, Ba Ba xuất hiện lần thứ nhất là mang tính chất đánh tiếng, là cố ý để Lý Ninh Ngọc thấy.

Nói chính xác là thông báo cho Lý Ninh Ngọc: Tôi ở đây, cô có tin tình báo thì hãy chuẩn bị để chuyển đi, lát nữa tôi sẽ còn xuất hiện.

Nhưng vì sao lần xuất hiện sau, Ba Ba chỉ thò đầu ra ngó qua rồi đi?

Đấy là vì ông ấy nhìn thấy ở túi áo bên trái trước ngực Lý Ninh Ngọc có cài cây bút máy có nắp màu trắng.

Cây bút máy ấy chính là ám hiệu, mách bảo ông ấy rằng: Có người đang theo dõi, đừng liên lạc với tôi.

Cho nên, Ba Ba nhìn thấy cây bút liền lánh đi, không quay lại nữa.

Vỏ nhựa đựng thuốc chữa đau dạ dày hiệu Hồ Tự cũng là ám hiệu.

[Ghi âm]

Sau đó Lý Ninh Ngọc bảo tôi, tin tức tình báo của bà ấy thông thường được chuyển đi theo ba cách.

Cách thứ nhất cũng là cách an toàn nhất, là buổi trưa nhân tiện về nhà thăm con sẽ đem tin tức tình báo về nhà, ông Phan chuyển cho Lão Hổ.

Cách này an toàn thì an toàn thật, nhưng thời gian tính lại kém, bởi vì ông Phan làm việc ở toà báo, về nhà muộn, thường thì chín mười giờ tối mới về đến nhà, cho nên chỉ thích hợp với loại tin tình báo không có yêu cầu cao về thời gian.

Nếu như có tin tình báo gấp rút về thời gian, ví dụ tin khẩn hay thượng khẩn, thường do Ba Ba nhận và chuyển đi.

Những tin khẩn là chỉ những thông tin yêu cầu nội trong ngày hôm đó phải đến được tay Lão Hổ, phương thức chuyển loại tin tình báo này là: Lý Ninh Ngọc sẽ giấu tin tình báo lẫn vào rác, vứt vào thùng rác ở dưới tầng, túi đựng rác có đánh dấu, Ba Ba nhìn là nhận ra ngay đâu là rác của Lý Ninh Ngọc vứt.

Thời gian thu gom rác của Ba Ba là trước hoặc sau khi ăn cơm tối, khoảng sáu bảy giờ tối, sau đó đến cửa công viên Cầm Đài giao cho bà Hai của Tiền Hổ Dực, chính là Lão Hán, cuối cùng do bà Hai chuyển tới lão Hổ.

Buổi tối hôm đó thuộc hạ của Vương Điền Hương bắt được chính là loại tin tình báo này: Tin khẩn, đúng lúc Lão Hán vừa nhận xong tin tình báo, đang trên đường đến chuyển cho Lão Hổ thì bị kẻ thù bắt.

Còn nữa, tin tình báo thượng khẩn lại có một cách chuyển khác.

Những tin thượng khẩn yêu cầu phải được giao cho Lão Hổ trong thời gian ngắn nhất, nhưng thời gian Ba Ba thu gom rác là cố định, hai người lại không thể trực tiếp tiếp xúc, khi có tin thượng khẩn thì Lý Ninh Ngọc làm thế nào để báo cho Ba Ba?

Chính là nhờ vỏ đựng thuốc chữa đau dạ dày hiệu Hồ Tự này đây!

Lý Ninh Ngọc đúng là bị bệnh đau dạ dày, thuốc dạ dày hiệu Hồ Tự là loại thuốc Đông y đặc trị, không có tác dụng phụ, lại sản xuất tại chỗ, giá rẻ chất lượng tốt, Lý Ninh Ngọc thường xuyên dùng loại thuốc này, nên có rất nhiều vỏ thuốc.

Cậu xem, cái vỏ chỉ bằng cỡ quả nhãn, lại có màu sẫm, vứt trên đường, người chủ tâm sẽ nhất định nhìn thấy, còn đối với người vô tâm thì nó chẳng qua chỉ là rác thải mà thôi, sẽ không ai thèm để ý đến nó.

Ngay cả khi để ý đi chăng nữa cũng chẳng sao, bởi vì bên trong chẳng có gì ‐ nếu có cũng chỉ là cát và sỏi, để tăng thêm trọng lượng cho nó, tránh bị gió thổi bay mất.

Tóm lại, bên trong không có tin tức tình báo gì cả, nó chỉ là để nhắc nhở, mách cho Ba Ba biết là: Có hàng, nhanh chóng đi nhận hàng.

Vậy hàng ở đâu?

Bên trong vỏ thuốc.

Nhưng vỏ thuốc này không phải là vỏ thuốc vứt trên đường, mà là vỏ thuốc được vứt trên thành thùng rác.

Vỏ thuốc trên đường chỉ có tác dụng thông báo, không giấu hàng, hàng được giấu trong vỏ thuốc vứt trên thành thùng rác.

* * *

Lúc ấy, tôi ngắm nhìn cái vỏ thuốc đã bị khoảng thời gian sáu mươi năm làm cho cũ kỹ, không đừng được thốt ra lời thán phục cách thức chuyển tin tình báo độc đáo, mưu trí của Lý Ninh Ngọc.

Chỗ mở của vỏ thuốc có nẫy cài, tiện cho việc tách ra và đóng lại, mở ra là hai nửa hình tròn, đóng lại khít chặt nguyên vẹn, tránh mưa, tránh nước, rất thích hợp giấu hàng, hơn nữa Ba Ba lấy nó cũng rất tiện.

Do là tin tức thượng khẩn, cần phải lấy ngay, nếu giấu lẫn trong rác quả là không thích hợp ‐ bởi vì không thể lúc nào cũng đi thu gom rác được, nhưng đổ rác thì có thể vào bất cứ lúc nào.

Mỗi ngày, Ba Ba đi làm, trước tiên là quan sát các ngã rẽ, trên đường cũng liên tục quan sát.

Có thể hình dung thế này, nếu thấy chỗ ngã rẽ có vỏ thuốc, Ba Ba sẽ kiếm một ít rác đi đổ, sau đó sẽ tiện tay lấy vỏ thuốc (vỏ thuốc có giấu tin tình báo) mà Lý Ninh Ngọc vứt trên thành thùng rác.

Đây là tin tức thượng khẩn, Ba Ba nhận xong sẽ lập tức đi tìm Lão Hán, thậm chí có thể trực tiếp gọi điện cho tổ chức, thông báo cho Lão Hổ trong thời gian nhanh nhất.

Việc đặc biệt phải làm theo cách đặc biệt là thế.

Không cần nói, hai cái vỏ thuốc mà Cố Tiểu Mộng nhìn thấy Lý Ninh Ngọc vứt trên đường thực ra là ám hiệu Lý Ninh Ngọc gửi cho Ba Ba ‐ thông báo ‐ thông báo có hàng ‐ đến thùng rác để nhận.

Lúc ấy Cố Tiểu Mộng không thể để ý đến điều này, cả sau đó, họ đi thêm được một đoạn đường nữa, khi Lý Ninh Ngọc giả vờ bị tuột dây giày, cố tình đi đến bên một thùng rác, ghếch chân lên thùng rác cột lại dây giày, Cố Tiểu Mộng vẫn không cảm thấy có gì khác thường cả.

“Có gì khác thường nào?”

Bà Cố vừa tự hỏi vừa tự trả lời: “Bởi vì bà ấy trong người không được khỏe, tìm một thùng rác ghếch chân lên để tránh phải cúi người quá thấp, hợp lý quá đi chứ, quả thật tôi không nghĩ còn có bí mật ẩn nào chứa trong đó”.

Cho nên, khi Lý Ninh Ngọc dừng lại cột dây giày, Cố Tiểu Mộng không để ý tiếp tục bước đi.

Sau đó ngoái đầu lại nhìn, cũng không phải là nghi ngờ gì Lý Ninh Ngọc, hay muốn nhìn trộm, mà chỉ hoàn toàn là vô tình quay lại nhìn thôi.

Nhưng chính cái nhìn vô tình ấy lại khiến Cố Tiểu Mộng nhìn thấy bí mật của Lý Ninh Ngọc.

“Đúng lúc ấy, tôi nhìn thấy một vỏ thuốc từ trong tay Lý Ninh Ngọc lộ ra, rơi xuống, lăn trên thành thùng rác.”

Bà Cố hùng hồn nói với tôi, “Bà ấy rất tinh tế, không phải là cố tình để rơi, mà là vừa cột dây giày vừa thả xuống, cứ như là không may bị rơi vậy”.

Có thể tưởng tượng, trong tay Lý Ninh Ngọc đã sớm có vỏ thuốc ấy, nhân lúc cột dây giày thì lỏng tay, vỏ thuốc sẽ tự nhiên lăn xuống thành thùng rác.

Bà Cố nói: “Những gì tôi chứng kiến đúng là chỉ trong khoảnh khắc, chừng một giây”.

Chính là trong khoảng một giây ấy, khoảnh khắc ấy, Lý Ninh Ngọc đã đánh mất niềm tin của Cố Tiểu Mộng.

“Bởi vì quá kỳ lạ”, nét vẻ mặt bà Cố lộ rõ vẻ xem thường, “chỉ là mấy cái vỏ thuốc bỏ đi, sao không vứt luôn một thể lại phải vứt làm hai lần.

Hơn nữa, lần này rõ ràng là không muốn cho tôi nhìn thấy”.

Không muốn cho người ta xem, người ta nhất quyết phải xem bằng được.

Về đến nhà, Cố Tiểu Mộng lấy cớ bảo là để quên chìa khóa ở nhà ăn, phải quay lại lấy, trên đường đi bèn nhặt hết cả ba vỏ thuốc.

Bà không mở xem ngay, mà đi về trước đã, mở cửa phòng, để Lý Ninh Ngọc vào, còn bà thì đi ra nhà vệ sinh.

Khi ấy trời đã nhá nhem, trong nhà vệ sinh quá tối, bà bật đèn, dùng móng tay lần lượt tách ba vỏ thuốc ra xem.

Vỏ thứ nhất không có gì.

Vỏ thứ hai vẫn không có gì.

Vỏ thứ ba ‐ là vỏ trên thành thùng rác ‐ khiến bà kinh sợ ngây người ra!

Bên trong có một mẩu giấy, có nội dung như sau:

Khẩn!!!

Hành tung của Lão K đã bị địch phát hiện, tôi cũng bị nghi ngờ, bị giam lỏng ở đây.

Tình thế hết sức nguy cấp!

Phải hủy ngay Quần anh hội!

Lão Quỷ.

Cứ như thế tất cả mọi bí mật của Lý Ninh Ngọc giống như một đứa bé sơ sinh, trần như nhộng trước mắt Cố Tiểu Mộng.

Nhưng sự việc không ngờ đến còn ở phía sau.

Mặc dù dưới ánh đèn mờ ảo, Cố Tiểu Mộng vẫn phát hiện ra được bí mật lớn hơn của Lý Ninh Ngọc!

Lúc ấy, Cố Tiểu Mộng đã hoàn toàn đoán được chuyện gì đã xảy ra với Ngô Chí Quốc: Đây chính là kết quả hãm hại của Lý Ninh Ngọc, bà ấy đã mạo chữ của Ngô Chí Quốc viết ra mẩu giấy ấy.

Nhưng hiện giờ Ngô Chí Quốc đang bị giam, thậm chí có thể đã chết (Kawa Hihara lừa Lý Ninh Ngọc rằng Ngô Chí Quốc đã tự sát, hơn nữa còn lấy cái chết để tố cáo Lý Ninh Ngọc là Lão Quỷ), nếu lại dùng nét bút của Ngô Chí Quốc để viết thì không hợp lý, Cố Tiểu Mộng nghĩ rằng lần này chắc Lý Ninh Ngọc chỉ có thể dùng nét chữ của chính mình để viết, nhưng nét chữ trên mẩu giấy ấy nhìn thế nào cũng không giống chữ của Lý Ninh Ngọc.

Vậy thì là của ai?

Qua rất nhiều lần xem đi xét lại, Cố Tiểu Mộng khẳng định đây là nét bút của chính mình!

“Trời ạ, tôi thực sự không dám tin vào mắt mình, bà ấy có thể đem tôi ra làm bia đỡ đạn!”

Thời gian không thể ăn mòn sự kinh tởm và phẫn nộ của bà Cố, bà than trời kêu đất, như đang sống lại khoảng thời gian của năm ấy.

Cố Tiểu Mộng như bị sét đánh, nửa ngày vẫn chưa lấy lại được tinh thần.

Bà hoàn toàn bị đánh gục, không làm chủ được mình, mơ hồ mông lung ngồi bệt xuống đất, rất lâu không nhúc nhích, cho đến khi Lý Ninh Ngọc cảm thấy có điều gì không ổn, đi đến nhà vệ sinh tìm, bà mới lấy lại được tinh thần.

Sau khi tỉnh lại, trong đầu Cố Tiểu Mộng chỉ có duy nhất một chữ: Căm!

Bà Cố nói: “Lúc ấy tôi căm bà ấy muốn chết, chị em gì chứ, tình cảm gì chứ, xổ toẹt tất cả.

Tôi chuẩn bị đi tố cáo bà ta!”.

Có thể Lý Ninh Ngọc đã nhận ra có điều gì đó không ổn, ngăn Cố Tiểu Mộng ngay trước cửa, hỏi có chuyện gì vậy.

Cố Tiểu Mộng chửi rủa Lý Ninh Ngọc và quát tránh ra.

“Đừng động vào tôi!”

Cố Tiểu Mộng đẩy Lý Ninh Ngọc ra, “Tay cô quá bẩn!

Tim cô quá đen!

Chỉ hợp với cái chết thôi!”.

Vì thế, Lý Ninh Ngọc đã cơ bản đoán được chuyện gì đã xảy ra, cô ôm chặt Cố Tiểu Mộng, không cho đi.

Phẫn nộ khiến Cố Tiểu Mộng mệt mỏi, cô vùng vằng chống đỡ yếu ớt rồi lại ngồi phịch xuống đất, vỏ thuốc và mẩu giấy khi nãy nắm chặt trong tay lỏng ra, rơi xuống trước mặt Lý Ninh Ngọc.

* * *

Giấy trắng mực đen, chứng cứ rành rành.

Lý Ninh Ngọc biết rõ giờ phút này chối cãi cũng chẳng có nghĩa lý gì.

Chối cãi là sự lựa chọn thiếu sáng suốt, chỉ khiến chọc giận thêm Cố Tiểu Mộng.

Lý Ninh Ngọc đã lựa chọn thừa nhận và tỏ ra yếu thế.

Chỉ thừa nhận cũng chẳng có tác dụng gì, quan trọng là phải giải thích, xin tha thứ.

Lý Ninh Ngọc nói sở dĩ cô làm như thế là vì biết rõ Cố Tiểu Mộng không phải là Lão Quỷ, Kawa Hihara chắc chắn sẽ không nghi ngờ Cố Tiểu Mộng; cho dù Kawa Hihara có nghi ngờ, cha Cố Tiểu Mộng có đủ bản lĩnh để cứu cô ấy thoát v.v…

Lôgic kiểu gì thế!

Nhưng thực ra khi ấy cũng chẳng quan tâm là nói gì, mà là phải nói ra, nói không ngừng, không có gì nói cũng phải tìm ra cái để nói, biện hộ cũng được, nói dối cũng được, đều phải thể hiện sự yếu thế, cầu xin nể tình, cầu xin tha thứ.

Tất nhiên cách thể hiện sự yếu thế tốt nhất là khóc, khóc nhưng không được khóc to, chỉ có thể khóc thút thít.

Lý Ninh Ngọc ôm chặt lấy Cố Tiểu Mộng, vừa khóc vừa thầm thì bên tai Cố Tiểu Mộng:

“Hãy nể tình chị em giữa chúng ta, tha lỗi cho tôi một lần…

Cô không tha thứ cho tôi, tôi chỉ còn một đường chết, cô nhẫn tâm nhìn tôi chết sao?…

Tôi chết, hai con tôi sẽ trở thành những đứa trẻ mồ côi, bọn chúng đều rất yêu mến cô, suốt ngày vòi vĩnh tôi cho đi gặp dì, gặp dì…

Tiểu Mộng.

Tôi có lỗi với cô, cũng là tôi không còn cách nào khác…

Hãy thương hai đứa con tôi, cô tha lỗi cho tôi lần này…”

Cứ như thế, bà ấy khóc, bà ấy nói, nước mắt giàn giụa, khẩn khoản cầu xin Cố Tiểu Mộng tha thứ.

Nước mắt đã làm mềm tâm trạng bị kích động của Cố Tiểu Mộng, nhưng khoảng cách đến tha thứ dường như vẫn còn đến mười vạn tám nghìn dặm.

Thế là Lý Ninh Ngọc lại giở chiêu khác: Lừa gạt.

[Ghi âm]

Bà ấy ngỡ rằng tôi và gã Giản yêu nhau thật lòng, nên lừa tôi bà ấy và gã họ Giản kia là đồng chí.

Mới đầu tôi không tin, nhưng bà ấy nói có lý có tình, từ gia cảnh đến lai lịch của gã họ Giản, kể từ quá trình chúng tôi quen nhau đến những chuyện hiếm người biết về gã, một là một, hai là hai, từng chuyện từng chuyện như bày ra trước mắt, khiến tôi cảm thấy giữa họ thật gần gũi, còn gần gũi hơn cả tôi nữa.

Những chuyện bà ấy kể phần lớn tôi đều chưa từng nghe bao giờ, nhưng cũng có vài chuyện tôi biết là có thật.

Ví dụ, chuyện gã họ Giản kia từng bí mật đi Trùng Khánh, điều này tôi biết là thật.

Còn cả chuyện thường ngày gã hay xem các loại sách tiến bộ như “Ngữ ty” hay “Tiểu thuyết nguyệt báo”, gã thường lén mua và lén đọc.

Tôi không rõ bà ấy từ đâu biết được những chuyện này, tôi nghĩ chắc cũng chỉ có hai con đường: Thứ nhất gã họ Giản khi ấy được coi là đại minh tinh trong thành Hàng Châu, là đại Hán gian trong giới văn nghệ sĩ, các báo thường xuyên đăng tải thông tin liên quan tới gã, trong xã hội cũng có không ít các lời đồn đại về gã, Lý Ninh Ngọc có thể là đọc được trên báo, hoặc được nghe nói thế.

Còn một khả năng nữa là có thể do tôi vô tình nói ra với bà ấy, tôi đã quên nhưng bà ấy vẫn nhớ.

Bà ấy còn nói, gã họ Giản sở dĩ làm bạn với tôi, mục đích là muốn phát triển tôi thành đồng chí của họ.

Thực ra sau này tôi mới biết, gã họ Giản kia không phải là đồng chí của bà ấy, bà ấy sở dĩ dám tạo dựng bịa đặt câu chuyện là do tôi lúc đó không thể đi tìm gã họ Giản để đối chứng, nói linh tinh là muốn trấn tĩnh tôi.

Hầy, bà ấy đâu biết rằng nói với tôi những lời này có tác dụng gì, tôi không yêu gã thư sinh mặt trắng ấy, càng không thể là đồng chí của bọn họ ‐ cả khi gã họ Giản kia có là đồng chí của bà ấy chăng nữa.

Hoang đường hơn là ngay lúc đó, bà ấy còn dám động viên tôi trở thành đồng chí của bà ấy, để tôi giúp bà ấy chuyển tin tức tình báo.

Bà ấy nói với tôi từ lý lẽ lớn đến lý lẽ nhỏ, từ Nhạc Phi[1] đến Tần Cối[2], từ sự nhục nhã làm quân ngụy đến sự vô liêm sỉ làm bọn Hán gian, cứ thế nói một mạch, như thể chỉ có làm đồng chí của bà ấy mới là con đường đúng đắn duy nhất.

Lúc đó tôi nghe mà cảm thấy rất phản cảm, tôi thẳng thừng chửi mắng và chế nhạo bà ấy.

Tôi không nhớ rõ lúc ấy đã nói những gì, nhưng chắc chắn là để chứng tỏ tôi không phải là loại vô liêm sỉ như bà ấy nói, tôi nói hơi quá lời, khiến bà ấy giật mình nghi ngờ thân phận thực sự của tôi.

[1] Nhà chiến lược, quân sự nổi tiếng của Trung Quốc thời Tống 960 ‐ 1279.

[2] Tên Hán gian nổi tiếng thời Nam Tống 1127 ‐ 1279.

Lý Ninh Ngọc có được cơ hội để xoay chuyển tình thế.

Từ những lời mắng chửi và chế nhạo không có trật tự của Cố Tiểu Mộng, Lý Ninh Ngọc đã phát hiện ra miền đất mới, thế là lại đưa ra một chiêu khác: Đe dọa.

Lý Ninh Ngọc nói: “Được rồi, cô không cần phải nói thêm gì nữa, tôi biết rồi, biết tất cả rồi.

Bây giờ tôi nghĩ cô càng nên giúp tôi, Đảng Cộng sản và Quốc dân đảng là người cùng một nhà, cô không giúp tôi mà còn định tố cáo tôi, trời không dung đất không tha cho cô đâu”.

Cố Tiểu Mộng nhận thấy có điều không ổn, muốn chối đẩy đi: “Chị biết gì chứ!

Ai cùng một nhà với chị!”.

Lý Ninh Ngọc từng bước từng bước lấn tới, hùng hổ dọa: “Cô từ trước đến nay dám làm dám chịu, công việc vinh quang như vậy có gì mà không dám nhận.

Cô đừng có ép tôi, nếu cô dám tố cáo tôi, tôi cũng sẽ tố cáo cô, tôi sẽ theo cô đến cùng!”.

Cố Tiểu Mộng nói cứng: “Chị đi mà tố cáo, đi ngay đi!”.

Lý Ninh Ngọc cười lạnh lùng: “Cô đồng ý, nhưng e là bố cô cũng không đồng ý đâu?

Cô chỉ là con cá nhỏ, bị bắt bị giết thì Kawa Hihara cũng không thấy vui, nhưng bắt được con cá lớn bên cạnh tên giặc Uông, nhất định hắn sẽ rất vui đấy”.

Sự việc đã đến nước này, Cố Tiểu Mộng đâu phải đối thủ của Lý Ninh Ngọc, chỉ sau mấy hồi Cố Tiểu Mộng đã mất hết khí thế.

Cô không biết mình vừa nói gì mà đến nỗi thân phận của cha cô cũng bị Lý Ninh Ngọc biết hết.

Thực ra cô không nói điều gì, cùng lắm chỉ là hơi để lộ đuôi một chút mà thôi, chỉ tại Lý Ninh Ngọc quá nhạy cảm, nghe gió đoán mưa, nắm chặt lấy đuôi của cô, vừa dụ dỗ vừa đe dọa, vừa tâng bốc vừa dối gạt, kiên quyết không buông tha khiến cô thất bại dưới tay Lý Ninh Ngọc hoàn toàn, không còn đường lui.

Cuối cùng, Cố Tiểu Mộng không thể không hạ vũ khí đầu hàng, cùng Lý Ninh Ngọc đi đến một thỏa hiệp: Không tố cáo cũng không giúp.

Như vậy Lý Ninh Ngọc càng có cơ sở nghi ngờ những phán đoán của mình là chính xác.

Nói đến đây, bà Cố cảm khái rất nhiều: “Này nhé!

Bà Lý Ninh Ngọc ấy, rõ ràng là hồ ly đầu thai, rất tinh quái!

Bà ấy quá sắc sảo, lắm mưu nhiều kế!

Người bình thường trong tình cảnh nguy cấp như vậy, nhất định sẽ tâm thần hoảng loạn không biết phải làm sao, nhưng bà ấy thì khác, chỉ cần nắm được một chút sơ hở của tôi, đã ngay lập tức phản công lại tôi ngay, hơn nữa chỉ trong chốc lát đã nắm được điểm yếu của tôi, khiến tôi trước sau đều thấy khó xử, tố cáo hay không tố cáo đều không được, lui hay không lui đều không xong.

Cho nên, tôi bảo bà ấy trời sinh ra là để làm công tác tình báo, tố chất tâm lý cực tốt, bẩm sinh đã có được bản lĩnh khi loạn không hoảng, khi nguy không sợ”.

Tôi nhìn thấy cốt lõi của câu chuyện đã giống như nụ hoa khoe phần tươi đẹp nhất, bà Cố cũng đang rất hưng phấn, chẳng để ý đến thời gian đã hết, tôi giục bà kể tiếp.

Nhưng chị Trần không chịu, với con mắt nghề nghiệp, chị đã thấy khóe mắt bà Cố đùn rỉ, bảo tôi đấy là dấu hiệu bà Cố đã mệt mỏi, khuyên tôi nên rời khỏi đây.

Tôi hơi do dự, chị Trần như một học giả chỉ bảo và giảng giải cho tôi: “Một đứa trẻ mệt mỏi chỉ cần nghỉ ngơi một lúc là khỏe lại, anh mệt mỏi có thể chỉ cần ngủ một giấc là lấy lại sức, nhưng bà Cố mệt mỏi thì ít nhất cũng phải vài ngày mới hồi phục được”.

Ý tứ đã rõ ràng, tôi cũng không thể vì chuyện nhỏ mà làm hỏng việc lớn.

Sẩm tối hôm ấy, tôi quay lại thành phố với không gian tưởng tượng khổng lồ, những giả thuyết vô hạn khiến tôi cả đêm không ngủ.

Tôi chủ yếu nghĩ đến hai vấn đề.

Thứ nhất, trong hoàn cảnh như thế (Lý và Cố chuyển từ bạn thành thù), thì lý do gì khiến Cố Tiểu Mộng cuối cùng lại quyết định giúp đỡ Lý Ninh Ngọc?

Thứ hai, Cố Tiểu Mộng đã giúp Lý Ninh Ngọc chuyển tin tình báo như thế nào?

Đối với câu hỏi thứ hai, tôi còn hơi có cảm nhận, trong lòng nghĩ cách thực tế nhất là đem ba vỏ thuốc lần lượt đặt lại vị trí cũ, đợi hôm sau Ba Ba đến lấy là xong.

So sánh một chút, vấn đề thứ nhất tôi thấy phức tạp hơn nhiều, bởi vì hai người khi ấy đã thù hận nhau, với tính tình của Cố Tiểu Mộng, muốn cô ấy nhanh chóng thay đổi ý định, e rằng rất khó.

Đến đây chúng ta biết, Cố Tiểu Mộng và Lý Ninh Ngọc đi đến thỏa hiệp không tố cáo lẫn nhau là do không còn cách nào khác, chứ không phải là đã giác ngộ.

Vậy thì, cuối cùng điều gì đã khiến Cố Tiểu Mộng thay đổi?

Câu hỏi này khiến tôi cả đêm trằn trọc không ngủ, nỗi khổ sở mất ngủ cả đêm còn in đậm trên mắt tôi.
 
Tiểu Thuyết Phong Thanh
CHƯƠNG BỐN


Mất ngủ là bị đêm tối hành hạ.

Ngày hôm sau, bà Cố nhìn thấy mắt tôi có quầng thâm, bèn hỏi tôi có chuyện gì.

Tôi thật thà đáp: Cả đêm không ngủ.

Bà cười sảng khoái nói: “Cậu có gì mà phải mất ngủ, người mất ngủ phải là Lý Ninh Ngọc cơ”.

Như thế, chúng tôi lại đi thẳng vào câu chuyện chính.

Có thể tưởng tượng, Lý Ninh Ngọc đã nhiều đêm liên tiếp ngủ không yên giấc.

Sao mà ngủ yên được chứ?

Là Lão Quỷ, hơn ai hết bà ấy đoán biết trước được tình thế bất lợi ‐ ngay lúc đầu đã cảm nhận thấy rồi.

Tối hôm đó, Tư lệnh Trương gọi điện thoại hỏi bà ấy đã nói với ai về bức điện mật đến từ Nam Kinh hồi chiều chưa, ngay lập tức bà nghĩ đã xảy ra chuyện ‐ tin tình báo bà ấy chuyển đi đã bị chặn lại!

Vài giờ trước, bà ấy đem tin tình báo vứt vào thùng rác, chỉ vài giờ sau, Tư lệnh Trương bất ngờ hỏi, bà ấy tất nhiên sẽ nghĩ như vậy.

Điều này không cần đến khả năng đặc biệt, người bình thường cũng có thể đoán ra được, cho nên bà ấy mới tính đến việc kéo Ngô Chí Quốc vào cuộc, như lời bà Cố nói thì đây là kiệt tác của Lý Ninh Ngọc!

Ngô Chí Quốc trước sau gì cũng có ngày này.

Cố Tiểu Mộng sau này mới biết, Lý Ninh Ngọc đã sớm bắt đầu luyện cách viết chữ của người khác, chủ yếu là luyện viết chữ của Ngô Chí Quốc, sau đó là luyện viết chữ của Cố Tiểu Mộng, còn có cả chữ của Thư ký Bạch và Kim Sinh Hỏa v.v…

Chữ của những người này Lý Ninh Ngọc đều có thể “nhìn bầu vẽ dưa”, viết giống đến tám chín phần.

Từ bé bà ấy đã học vẽ, khả năng sao chép rất tốt.

Trong đó, chữ của Ngô Chí Quốc là bà bỏ nhiều công sức luyện viết hơn cả và đã sớm thành công, từng nét từng chữ giống nhau vô cùng.

Bình thường bà ấy thường dùng kiểu chữ của Ngô Chí Quốc để chuyển tin tình báo, mục đích chính là gán tội cho tên “anh hùng diệt Cộng sản” này, muốn hắn không biết mình đã “trở thành” Cộng sản, chết cũng phải khổ nhục.

Mưu kế này đã có từ lâu, chỉ có điều lần này thời cơ không được tốt, trong bối cảnh bà ấy chưa hề chuẩn bị.

Bà ấy từng có ý tưởng, tốt nhất là nhân dịp bà ấy đi công tác, tạo một tin tình báo giả để lừa Ngô Chí Quốc vào cuộc, như thế sẽ không phương hại đến tổ chức và bản thân bà cũng không bị nghi ngờ.

Nhưng tình cảnh hiện nay rất nguy kịch, trước hết tin tình báo là thật, mà còn rất quan trọng, kẻ thù đã chặn lại rồi, trên tổ chức không biết được sự việc, sự an toàn của Lão K và các đồng chí rất bất lợi.

Thứ hai là bản thân bà cũng khó tránh bị liên lụy.

Quả nhiên là thế, sự việc sau này xảy ra đúng như bà ấy đã dự liệu: Tin tình báo bị chặn lại, kẻ thù bắt đầu khoanh vùng, truy tìm Lão Quỷ.

Bà ấy vốn nghĩ có Ngô Chí Quốc đặt cọc, kẻ thù sẽ không thể nào nghi ngờ tới bà ấy được.

Chính là nói, bị liên lụy bà ấy cũng không sợ, vì bà ấy biết, đã sớm biết Ngô Chí Quốc sẽ thay bà ấy hứng chịu.

Điều bà ấy sợ là người bị giam lỏng ở đây, tin tức tình báo không thể chuyển ra ngoài được.

Cho nên, buổi sáng ấy thấy Ba Ba đến đây tìm, bà ấy vui mừng khôn xiết.

Bà ấy cho rằng lần này có hy vọng chuyển được tin tình báo ra ngoài rồi, nhưng không ngờ buổi chiều hôm ấy lại xảy ra quá nhiều chuyện như thế.

[Ghi âm]

Trước tiên, bà ấy không ngờ Kawa Hihara sẽ nhắm đến bà ấy.

Theo như sau này bà ấy nói lại với tôi thì lúc ấy bà ấy không biết được Ngô Chí Quốc là chết thật hay chết giả, chỉ là qua phân tích thì nhận thấy khả năng chết thật là rất lớn, bởi vì bà ấy không thể tưởng tượng được nếu như Ngô Chí Quốc quả thực chưa chết thì hắn đã dựa vào cái gì để thuyết phục Kawa Hihara khiến Kawa Hihara nhắm sang bà ấy.

Trong chuyện này Lý Ninh Ngọc đã đưa ra phán đoán sai lầm, đây cũng chính là nguyên nhân khiến sau này Kawa Hihara nghi ngờ không buông tha bà ấy.

Thứ nữa là bà ấy càng không thể ngờ tôi nửa chừng nhảy ra gây rối rắm thêm cho bà ấy.

Sự xuất hiện đột ngột của tôi đúng quả thực bà ấy không ngờ tới, nên trở tay không kịp.

Mặc dù do tôi lắm lời nhiều chuyện nên bị bà ấy nhận ra thân phận, nhất thời khống chế được tôi (đồng ý không tố cáo bà ấy), nhưng dù gì bà ấy cũng đã làm tổn thương tình cảm của tôi, khó tránh khỏi lo sợ tôi mưu ma chước quỷ, sau lưng sẽ bán đứng bà ấy.

Chúng tôi sống với nhau lâu như vậy, bà ấy hiểu rõ tôi là người thế nào, tôi là người cá tính, hiếu thắng, không chịu được thấp hèn, khi giận thì chuyện gì tôi cũng có thể làm.

Vì thế cậu có thể tượng tượng lúc ấy bà ấy rất nôn nóng muốn trấn áp tôi triệt để, khiến tôi im lặng đến cùng.

Nói thật, với hoàn cảnh và tâm trạng của tôi lúc ấy, ý nghĩ tố cáo bà ấy đã không còn nữa, bởi vì tôi sợ bà ấy sẽ quay lại hại tôi.

Nhưng bảo tôi tha thứ cho bà ấy là không thể, giúp bà ấy thì càng không.

Tôi hy vọng bà ấy tự thú, như thế tốt cả cho tôi và bà ấy.

Nhưng bà ấy bảo tôi, trước khi tin tình báo được chuyển ra, bà ấy quyết không tự thú, thậm chí bà ấy còn ra điều kiện với tôi, nói là nếu tôi giúp bà ấy chuyển tin tình báo ra ngoài, thì bà ấy sẽ tự thú, cậu bảo có hoang đường không chứ?

Tôi bảo bà ấy đừng có mà nằm mơ.

Bà ấy bảo, không chuyển được tin tình báo ra ngoài, bà ấy sống cũng không có ý nghĩa gì, thà chết đi còn hơn.

Tôi bảo: Vậy thì chị chết đi, thắt cổ, uống thuốc độc, nuốt dao tùy chị.

Tóm lại tôi kiên quyết từ chối, không muốn nói thêm với bà ấy câu nào nữa.

Tôi cảm thấy không tố cáo bà ấy đã là vượt quá giới hạn của tôi rồi, quyết không thể giúp bà ấy được nữa.

Nhưng tôi quả thực đâu phải là đối thủ của bà ấy, bà ấy trị tôi từng bài từng bài một, cuối cùng tôi vẫn phải khuất phục bà ấy.

* * *

Đấy là một đêm rất đặc biệt, Lý Ninh Ngọc bình thường rất kiệm lời giờ lại nói liên hồi, khiến Cố Tiểu Mộng mắt tròn mắt dẹt ngạc nhiên.

Bà Cố bảo tôi, đêm hôm đó từ nhà vệ sinh quay trở lại phòng, mặt mũi tay chân chẳng thèm rửa, cứ thế lên giường.

Lý Ninh Ngọc cũng vậy, quay về là lên giường ngủ ngay.

Nửa đầu đêm, hai người như những người xa lạ, ai nằm giường người ấy không nói một câu, trong phòng chỉ có tiếng trở mình trăn trở của hai con người.

Âm thanh của sự mất ngủ.

Nửa cuối đêm, bà Cố mơ mơ hồ hồ chìm vào giấc ngủ, trong mông lung bà nghe thấy Lý Ninh Ngọc trở dậy, lục lọi trong phòng một lúc lâu, không biết là làm gì.

Thực ra là cô ấy đang xử lý máy nghe trộm.

Là Lão Quỷ, là con mồi trước họng súng, Lý Ninh Ngọc đã sớm cảnh giác kẻ thù sẽ đặt thiết bị nghe trộm trong phòng của họ ‐ mỗi phòng đều có.

Buổi chiều Kawa Hihara thừa nhận với bà ấy là Thư ký Bạch đang bị nghi ngờ bí mật, đồng nghĩa với việc cho bà ấy biết trong phòng họp có đặt máy nghe trộm.

Lúc ấy, Lý Ninh Ngọc có rất nhiều điều muốn nói với Cố Tiểu Mộng, nhưng nghĩ đến máy nghe trộm như những con mèo trong bóng đêm, nên đành nín nhịn.

Chỉ đến nửa sau của đêm, ai cũng nghĩ bọn họ đều ngủ say, bà ấy rút dây mic của thiết bị nghe trộm ra, mới không bị nghi ngờ.

Đấy là Lý Ninh Ngọc, bất luận lúc nào cũng luôn giữ được cái đầu tỉnh táo, làm mọi việc đều kín kẽ chu đáo, luôn giữ được bình tĩnh, tuyệt đối không thể sơ suất.

Không còn nỗi ám ảnh bị nghe trộm, Lý Ninh Ngọc gọi Cố Tiểu Mộng dậy, bắt đầu nói không ngừng: Từ hoàn cảnh gia đình cho đến thân thế, từ khi xa gia đình đi học cho đến khi tham gia cách mạng, từ lúc công khai đi theo Quốc dân đảng cho đến khi bí mật tham gia Đảng Cộng sản, từ chuyện tình lãng mạn đến đám cưới cách mạng, từ việc làm mẹ đến khi thành quả phụ, từ việc mất chồng đến cảnh vợ chồng giả v.v…

Từ nhỏ đến lớn, từ trước đến sau, thao thao bất tuyệt.

Nói ngắn gọn, Lý Ninh Ngọc xuất thân trong một gia đình hào nông vùng Khai Minh ở Hồ Nam, năm 16 tuổi bà theo anh trai (tức ông Phan) đến Quảng Châu học.

Anh trai học trường Quân sự Hoàng Phố, còn bà theo học trường Y dành cho nữ sinh.

Trong thời gian theo học, tại quê bà cách mạng bùng nổ, đánh đổ địa chủ, phân chia đất đai, bố bà là đại địa chủ số một tại đây, đã bị Hồng quân trấn áp, bị bắn chết tại chỗ.

Vì thế sau khi tốt nghiệp, hai anh em nuôi chí báo thù cho cha nên đã lần lượt gia nhập quân cách mạng Quốc dân đảng, bôn ba nơi tiền tuyến Giang Tây, Hồ Nam, tham gia chiến đấu bao vây Hồng quân.

Nhưng điều không ai ngờ đến là chỉ vài năm sau, người anh đã bí mật tham gia Đảng Cộng sản, người giới thiệu anh bà vào Đảng Cộng sản sau đó trở thành chồng bà.

Anh trai bà thập tử nhất sinh (ngay tại nơi hành quyết xử bắn được đồng chí cứu thoát), gặp đại nạn vẫn sống, nhưng chồng bà thì vào năm 1937, trong chiến dịch Tùng Hộ[1] ở Thượng Hải, khi đang ngồi nhà đọc báo thì bị một viên đạn lạc bắn trúng, chết mà không biết tìm ai tính sổ.

Lúc ấy, bà đang mang thai đứa con thứ ba, nhìn chồng lìa khỏi nhân gian trong cảnh máu chảy đầm đìa, đứa bé trong bụng bà cũng biến thành cục máu, đi theo cha…

[1] Chiến dịch quân đội Trung Quốc chống lại phát xít Nhật tấn công Thượng Hải.

Nói đến đây, Lý Ninh Ngọc không nén nổi đau thương, bật khóc thổn thức, những giọt nước mắt lặng lẽ rơi xuống người Cố Tiểu Mộng.

Nước mắt đã xóa nhòa oán hận trong lòng Cố Tiểu Mộng, nhưng Cố Tiểu Mộng nhờ bóng tối che chở, cố nén lòng trắc ẩn, cố không nghe, không bận tâm, cũng không hành động.

Không khí trong phòng ngột ngạt đến nỗi khiến người ta nghẹt thở.

Lúc lâu sau Lý Ninh Ngọc cố gắng lấy lại bình tĩnh tiếp tục nói: “Tiểu Mộng à, nói thật lòng, tôi kể với cô những chuyện này không phải là để cô đồng tình với tôi, mà chỉ là muốn cô hiểu tôi.

Mạng sống của tôi giờ đang nằm trong tay cô, chỉ cần cô nói với Kawa Hihara, thì cho dù tôi là mèo đầu thai, có tới chín mạng sống đi chăng nữa cũng chỉ còn nước đi gặp cụ CácMác mà thôi.

Chúng ta đã là chị em, tôi không muốn chết một cách không rõ ràng, tôi muốn cô hiểu tôi…”.

Cố Tiểu Mộng cắt ngang lời Lý Ninh Ngọc: “Chị nói những lời thừa vậy làm gì, tôi đã nói rồi, sẽ không tố cáo chị đâu!”.

Đây là câu đầu tiên bà ấy nói trong buổi tối hôm nay.

Lý Ninh Ngọc đưa tay ra muốn bắt tay Cố Tiểu Mộng: “Cảm ơn cô, Tiểu Mộng, cô có thể tha thứ cho tôi, chứng tỏ tình bạn giữa chúng ta vẫn còn”.

Cố Tiểu Mộng hất tay Lý Ninh Ngọc ra: “Chị bỏ cái trò này đi!

Tôi với chị không có tình bạn, chỉ có trao đổi mà thôi”.

Nói đến trao đổi, Lý Ninh Ngọc bày tỏ sẵn sàng làm tất cả cho Cố Tiểu Mộng, chỉ mong muốn Cố Tiểu Mộng giúp chuyển tin tình báo ra ngoài.

Lý Ninh Ngọc nói: “Dù giữa chúng ta không có tình bạn cá nhân, thì ít nhất cũng còn có tình bạn cách mạng, vả lại cô cũng không muốn nhìn thấy đồng chí của chúng tôi bị Kawa Hihara bắt giết phải không?”.

Hừm!

Cố Tiểu Mộng cười lạnh lùng: “Tôi suýt nữa đã trở thành Ngô Chí Quốc thứ hai rồi, chị còn mặt mũi nào để nói gì với tôi về tình bạn cách mạng?

Tình bạn cách mạng của chị là gì, chính là hy sinh mạng sống của tôi thì có!”.

Lý Ninh Ngọc ủ rũ nói: “Đấy là vì trước đó tôi không biết cô là đồng chí của tôi…”.

Cố Tiểu Mộng giận dữ nói: “Ai là đồng chí của chị?

Chị đừng có mà mơ!”.

Tóm lại, bất kể Lý Ninh Ngọc nói gì, đều bị Cố Tiểu Mộng phản bác lại.

Không còn cách nào khác, Lý Ninh Ngọc đành phải không giấu giếm, nói: “Nếu cô không giúp tôi chuyển tin tình báo ra ngoài, cô không tố cáo tôi cũng chẳng có ý nghĩa gì nữa, chẳng lẽ tôi cố sống để nhìn thấy các đồng chí của mình bị Kawa Hihara giết hại sao?

Thà chẳng bằng chết đi còn hơn”.

Cố Tiểu Mộng nói: “Đấy là việc của chị.

Sống chết của chị có liên quan gì đến tôi?

Đúng là gặp ma!”.

Lý Ninh Ngọc nói: “Cô đã vô tình như thế thì đừng trách tôi không tình nghĩa, muốn gặp ma thì tất cả cùng đi một thể!”.

Là ý gì đây?

Lý Ninh Ngọc lật bài ngửa, yêu cầu rõ: Cố Tiểu Mộng phải giúp bà chuyển tin tình báo ra ngoài, nếu không bà sẽ tâu với Kawa Hihara về bí mật của hai cha con Cố Tiểu Mộng.

Như vậy, Lý Ninh Ngọc muốn lật đổ “Thỏa hiệp nhà vệ sinh” (không tố cáo cũng không giúp bà), bà đã tăng thêm yếu tố lợi thế, thời cơ được đằng chân lân đằng đầu đã đến!

Cố Tiểu Mộng giận run lên: “Chị quá vô liêm sỉ!”.

Lý Ninh Ngọc ngược lại hết sức bình tĩnh: “Không phải là tôi vô liêm sỉ, mà là cô quá vô tình, việc cỏn con cũng không muốn giúp tôi, muốn tôi mở to mắt nhìn các đồng chí của mình bị Kawa Hihara giết hại.

Như vậy sống chẳng bằng chết, chi bằng cô cứ tố cáo tôi đi, để tôi có thể chết một cách vinh quang”.

Đúng là logic của bọn kẻ cướp!

Cố Tiểu Mộng không nói gì.

Những điều Lý Ninh Ngọc muốn nói, đã sớm chuẩn bị sẵn trong đầu từ nửa đầu của đêm, bây giờ nói lưu loát như đã học thuộc lòng vậy: “Thực ra cô không tố cáo tôi đã là đang giúp tôi rồi, cô đã sẵn sàng giúp tôi rồi thì hãy giúp đến cùng, giúp tôi chuyển tin tình báo ra ngoài.

Chỉ giúp một nửa, tấm chân tình ấy tôi không thể nhận.

Vừa rồi tôi đã nói, nếu cô chỉ không tố cáo tôi thôi, thì hồi sau tôi sẽ càng thê thảm hơn, vậy thì sao tôi có thể nhận tấm chân tình của cô được?

Tôi hận cô, việc cỏn con mà cũng cương quyết không chịu giúp tôi, nếu đã vậy thì chúng ta cùng chết”.

Nói đoạn, Lý Ninh Ngọc đứng lên ghế, chuẩn bị cắm lại dây mic của máy nghe trộm.

Cố Tiểu Mộng không hiểu ý Lý Ninh Ngọc, bèn hỏi: “Chị định làm gì?”.

Lý Ninh Ngọc lạnh lùng nói: “Cô nói xem làm gì?

Đây là máy nghe trộm, lúc nãy tôi rút dây mic ra, bây giờ tôi thấy không cần thiết, kiểu gì thì chúng ta cũng chỉ có một con đường là chết, chẳng việc gì phải sợ, cứ để cho bọn họ nghe đi”.

Dao đã kề tận cổ!

Cố Tiểu Mộng kéo Lý Ninh Ngọc xuống, khóc thút thít.

[Ghi âm]

Ầy a!

Đúng thế, tôi đã đầu hàng.

Tôi chẳng còn cách nào khác, chỉ còn biết nhượng bộ.

Bà ấy nắm được thóp của tôi, tuy chẳng phải là chứng cứ cụ thể gì, nhưng tôi sợ bà ấy phanh phui ra hết.

Việc này đã không nói thì thôi, nếu nói ra thì chuyện gì cũng có thể xảy ra, mọi người sẽ dùng ba con mắt để nhìn, suy nghĩ, phân tích và thăm dò, cho dù trước đó đã che đậy được hết, sau đó thì sao, làm thế nào để tiếp tục làm việc được?

Nói cho cùng, trừ phi tôi không phải là người của Quân Thống thì tôi mới không sợ bà ấy nói linh tinh.

Nhưng mấu chốt là tôi đúng là người của Quân Thống, không sợ được sao?

Sợ, đương nhiên sợ.

Cho nên, đứng trước yêu cầu ngang ngược của bà ấy, tôi chỉ còn biết nuốt giận, để bà xỏ mũi dắt đi.

Sau đó tôi phát hiện điều Lý Ninh Ngọc muốn tôi giúp quả thực chỉ là việc cỏn con: Bà ấy chỉ nhờ tôi đem đặt ba vỏ thuốc về lại chỗ cũ.

Bà ấy bảo ngày mai sẽ có đồng chí (Ba Ba) đến đây liên lạc với bà ấy, chỉ cần tôi đem vỏ thuốc đặt lại vị trí cũ thì tin tình báo sẽ được chuyển ra ngoài.

Tôi nghĩ việc đơn giản thế, bà ấy hoàn toàn có thể tự làm, cần gì phải lột mặt nạ và dùng cách vô sỉ với tôi?

Giải thích của bà ấy là: Kawa Hihara đã nhằm vào bà ấy, bà ấy tự làm sẽ không an toàn.

Hầy!

Cách giải thích này xem ra không cần phải cân nhắc.

Sau này tôi mới biết bà ấy chơi trò này, lột mặt nạ tôi, được đằng chân lân đằng đầu, mục đích là muốn thăm dò tôi, thậm chí là khống chế tôi.

Thực ra lúc đó bà ấy cũng không dám khẳng định tôi và cha tôi có chắc chắn là người của Quân Thống hay không, chẳng qua bà ấy căn cứ vào những gì tôi nói để phân tích, nghi ngờ và phán đoán.

Làm thế nào để chứng thực?

Chứng thực hơn nữa?

Cứ như vậy, lật lọng với tôi, ép tôi, uy hiếp tôi, chọc giận tôi.

Cậu nghĩ xem, nếu tôi và cha tôi không phải là người của Trùng Khánh thì khi bà ấy đưa ra yêu cầu vô lí như thế liệu tôi có quan tâm hay không?

Tôi tát vào mặt bà ấy nghe còn được.

Bây giờ thì được rồi, tôi mềm một chút, bà ấy đã hiểu ra tất cả.

Sau đó bà ấy lại cố tình tìm một việc hết sức đơn giản để dụ tôi làm giúp, chỉ cần làm thế thì tôi đã trở thành đồng phạm của bà ấy, như thế là bà ấy đã khống chế được tôi.

Ôi!

Bà Lý Ninh Ngọc này, tất cả mọi chuyện đều do bà tính toán cặn kẽ, trị tôi từng bước từng bước một, tôi căn bản không lại được với bà ấy.

Chẳng phải gừng càng già càng cay sao, Cố Tiểu Mộng khi ấy quả đúng là còn non nớt!

Còn Lý Ninh Ngọc khi ấy đã lão luyện sa trường, kinh nghiệm dày dạn, ngay cả con hồ ly tinh Kawa Hihara cũng không làm gì được bà ấy, nói gì đến một Cố Tiểu Mộng còn non nớt.

Làm công tác tình báo, hoạt động bí mật, bản lĩnh và kinh nghiệm đều được tích lũy theo thời gian và quá trình rèn luyện, cái gọi là năng khiếu bẩm sinh chẳng qua chỉ là đi nhiều hiểu rộng mà thôi.

* * *

Ngày hôm sau là một ngày đen tối nhất của Lý Ninh Ngọc.

Trước tiên, Cố Tiểu Mộng vốn đã đồng ý nhận lời, nhân lúc đi ăn sáng sẽ đặt ba vỏ thuốc trả lại vị trí cũ.

Có thể chính là do Cố Tiểu Mộng đã nhận lời rồi nên tâm trạng bà ấy thoải mái hơn, lại thêm mấy ngày ngủ không yên giấc nên trước khi trời sáng Lý Ninh Ngọc đã ngủ mất.

Cố Tiểu Mộng suốt đêm không ngủ, sớm buồn ngủ rũ mắt, thấy Lý Ninh Ngọc đã ngủ cũng nhắm mắt ngủ theo.

Đến khi Thư ký Bạch lên tầng gõ cửa gọi đi ăn sáng thì hai người mới tỉnh.

Vội vàng tỉnh dậy, vội vàng xuống lầu, khiến Cố Tiểu Mộng ra khỏi cửa quên mang theo ba vỏ thuốc kia.

Điều này khiến bà ấy tức chết đi được!

Sau khi biết Lý Ninh Ngọc không tránh khỏi nghi ngờ Cố Tiểu Mộng đang giở trò với bà, cũng giận bản thân trong thời khắc quan trọng lại phạm sai lầm, không kịp nhắc Cố Tiểu Mộng.

Có trời mới biết được trên đường đời cũng thường xảy ra những sai lầm ngớ ngẩn như thế!

Ăn sáng xong, trên đường về, Lý Ninh Ngọc yêu cầu Cố Tiểu Mộng về phải nhanh chóng nghĩ ra một cớ gì đấy để quay lại lần nữa, đem ba vỏ thuốc kia trả lại vị trí cũ.

Cố Tiểu Mộng đồng ý.

Nhưng khi về đến nhà, Vương Điền Hương đích thân gọi mọi người đến phòng họp để họp, đến thời gian lên tầng còn không có sao có thể lẻn đi đâu được.

Như đoạn trước đã kể, cuộc họp này được bắt đầu bằng việc mọi người chuyền tay nhau xem bức huyết thư của Ngô Chí Quốc, phòng họp tràn ngập không khí lo sợ.

Kim Sinh Hỏa là người đầu tiên lựa gió xoay chiều, hắn hoàn toàn bị bức huyết thư còn đỏ tươi của Ngô Chí Quốc làm cho kinh hãi, mắt ướt nhòe nhoẹt, vừa than trời vừa lau nước mắt, dáng vẻ vừa đau lại vừa hận khiến cho Thư ký Bạch rất hả hê.

Chính là nói, Thư ký Bạch cũng vì thế mà khẳng định Lý Ninh Ngọc chính là Lão Quỷ.

Cố Tiểu Mộng thì càng không cần phải nói, hơn ai hết bà biết rõ Lý Ninh Ngọc chính là Lão Quỷ, chỉ có điều bị ép nên không dám tố cáo mà thôi, nhưng giờ đây Ngô Chí Quốc dùng huyết thư tố cáo Lý Ninh Ngọc, trong chốc lát Cố Tiểu Mộng biến thành người bàng quan, vô can, bình tĩnh, vô lo vô nghĩ.

Ở đây may ra chỉ có Vương Điền Hương là có chút tâm ý hướng về Lý Ninh Ngọc, vì chỉ có hắn mới biết đây lại là một trò lừa bịp khác của Kawa Hihara.

Hắn hy vọng Lý Ninh Ngọc làm rõ chân tướng, lật lại thế thắng, một lần nữa chụp lên đầu Ngô Chí Quốc cái kiềng Lão Quỷ để tránh hậu họa cho hắn sau này.

Hắn chú ý phản ứng của Lý Ninh Ngọc và thầm hy vọng Lý Ninh Ngọc đưa ra được những đòn phản công uy lực.

Lý Ninh Ngọc vẫn im lặng, trầm tư, cố trấn tĩnh để không lộ sơ hở.

Nhưng Lý Ninh Ngọc cảm nhận được sức ép rất lớn, tưởng như có thể nổ tung bất kỳ lúc nào.

Trong mấy ngày nay, đây là lần đầu tiên Lý Ninh Ngọc thấy mình muốn nổ tung.

Bà không thể ngờ Kawa Hihara tung ra bức huyết thư của Ngô Chí Quốc, công khai nghi ngờ bà trước tất cả mọi người.

Bà ấy không biết đây rốt cuộc lại là một trò gian trá khác của Kawa Hihara, là bà đã làm sai điều gì, hay là Cố Tiểu Mộng đã bán đứng bà ấy?

Lý Ninh Ngọc bỗng chốc có cảm giác bốn phía đều là kẻ thù, nhất thời không biết làm thế nào để thoát khỏi vòng vây.

Bà im lặng một cách tuyệt vọng, nhìn thì có vẻ bình bình tĩnh, chẳng suy tư gì, nhưng thực ra trong lòng rối bời, hỗn loạn, đầu óc tê dại đi như có một lưỡi dao sắc bén đang treo lơ lửng trên đầu, có thể rơi xuống bất kỳ lúc nào, khiến tim bà đập thình thịnh.

Trong tình trạng cấp bách ấy, bà ấy theo bản năng lấy cây lược ra chải đầu, thế là chọc giận Thư ký Bạch.

Thư ký Bạch quả nhiên nghiêm giọng: “Lý Ninh Ngọc, cô nói đi chứ, đến người chết cũng đã mở miệng rồi, lẽ nào cô không có gì để nói?”

Lý Ninh Ngọc như được đánh thức, nhanh chóng suy nghĩ, nên có phản ứng thế nào cho phải.

Cuối cùng bà nghĩ không thể giằng co mãi, dứt khoát một lần cho xong, thế nên ngẩng đầu lên, mặt đỏ phừng phừng lớn tiếng với Thư ký Bạch: “Anh đi mà hỏi ngài Kawa Hihara ấy”.

Nói xong tức giận rời khỏi chỗ đi ra ngoài.

Ra đến cửa, quay đầu lại nói với Vương Điền Hương: “Ngô Chí Quốc dùng huyết thư để nói, ông Kim dùng nước mắt để nói, tất cả chỉ để nói một điều, Lý Ninh Ngọc tôi là Lão Quỷ, vậy anh bắt tôi đi”.

“Bắt ai?”

Vương Điền Hương biết rõ nhưng vẫn cố hỏi, hắn không bằng lòng với biểu hiện của Lý Ninh Ngọc.

“Bắt tôi đây.”

“Cô thừa nhận rồi?”

“Tôi không thừa nhận cũng đâu có tác dụng gì chứ?

Người sống người chết đều cho rằng tôi là Lão Quỷ, tôi còn biết nói gì cơ chứ, tôi chỉ còn cách xuống địa ngục để nói mà thôi.”

Nói xong quay người bước đi.

Vương Điền Hương bảo bà ấy đứng lại, rồi đứng dậy bước về phía bà ấy, hình như muốn kéo bà ấy quay trở lại, nhưng lại dừng bước đứng trước mặt bà ấy nửa như cười mà như không cười nói: “Nói ở đây thôi, cô xuống địa ngục nói, chúng tôi làm sao biết cô nói gì?”.

Lý Ninh Ngọc nói: “Những gì muốn nói, hôm qua tôi đều đã nói hết với ngài Kawa Hihara rồi, giờ tôi không muốn nói gì, mà cũng chẳng có gì để nói.

Nếu như muốn nói thì tôi chỉ muốn hỏi Tham mưu Cố, vì từ nãy giờ cô ấy chưa có biểu hiện gì hết”.

Cố Tiểu Mộng hỏi: “Chị muốn hỏi gì?”.

Lý Ninh Ngọc nói: “Có phải cô cũng cho rằng tôi là Lão Quỷ không?”.

Từ phòng thủ chuyển sang phản công, khá khen cho Lý Ninh Ngọc!

Cố Tiểu Mộng thầm khâm phục, song lại cảm thấy thật đáng ghét.

Khâm phục vì đúng là tài xoay xở của bà ấy quá cao, trong thế bị động như vậy mà mặt không biến sắc, tạo ra ưu thế, giành lại quyền chủ động trong tay.

Đáng ghét là vì bà ấy đã hỏi, bản thân Cố Tiểu Mộng căn bản không biết nên nói thế nào, nên giấu nhẹm đi không tố cáo, hay là nói ra tất cả sự thật?

Mặc dù trong tâm bà biết, vạn vạn lần không nên đắc tội với Lý Ninh Ngọc, nhưng ý nghĩ chống lại luôn dấy lên như sóng như gió trong lòng, bà quả thực rất sợ mình nhất thời bị kích động, sẽ nói ra hết.

Nói hay không nói?

Bà hận là không thể làm theo lẽ thường, tránh thế khó xử bên trái chẳng phải mà bên phải cũng không xong.

Nhưng làm thế nào để tránh?

Lý Ninh Ngọc nhìn bà đầy dọa nạt, như muốn nuốt chửng bà.

Cố Tiểu Mộng đón nhận cái nhìn của Lý Ninh Ngọc, nói một cách không hề khách sáo: “Nếu như tôi cũng nói cô là Lão Quỷ thì sao?”.

Lý Ninh Ngọc nói đầy ẩn ý: “Với những gì cô đã hiểu về tôi, cô sẽ không nói như vậy”.

Cố Tiểu Mộng chửi thầm trong bụng: Với những gì tôi hiểu về chị, tôi sẽ nói như vậy đấy!

Thế nhưng…

Bà hằn học nhìn Lý Ninh Ngọc, đe dọa nói: “Nếu tôi nói thì sao?”.

Lý Ninh Ngọc nói không cần suy nghĩ:

“Vậy chứng tỏ đây chính là địa ngục, những gì mọi người nói đều là lời của ma quỷ”.

Cố Tiểu Mộng bỗng cười như phát điên: “Đúng, những gì bọn họ nói đều là lời của ma quỷ, ở đây chính là địa ngục, địa ngục!”.

Cười xong, đổi giọng ngay, nói với Vương Điền Hương: “Chẳng giấu gì Sở trưởng Vương, tôi không tin Tổ trưởng Lý là Lão Quỷ.

Cũng có thể nói, tôi không tin Ngô Chí Quốc lại cao cả đến vậy, sẵn sàng lấy tính mạng mình ra để thể hiện lòng trung thành với Quân đội Nhật Hoàng”.

Lý Ninh Ngọc nghe xong, trong lòng như trút được gánh nặng.

Thực ra, Lý Ninh Ngọc sợ nhất là Cố Tiểu Mộng bán đứng bà, chỉ cần Cố Tiểu Mộng không nuốt lời cam kết, vậy thì chẳng phải sợ bà bị bắt giam lập tức, tin tình báo vẫn có hy vọng được chuyển ra ngoài.

* * *

Không hoàn toàn bị giam, nhưng cũng gần như thế, không thể ra khỏi nhà, ăn cơm có vệ binh đưa đi, phòng ngủ cũng được điều chỉnh:

Lý Ninh Ngọc bị chuyển sang ở phòng của Ngô Chí Quốc trước.

Một phòng rộng, chỉ có một mình ở.

Đây là sự “ưu ái” do bức huyết thư của Ngô Chí Quốc đem lại cho bà, là nhu cầu kịch giả diễn thật, cũng là làm để cho Kim Sinh Hỏa và Cố Tiểu Mộng thấy.

Ý tứ là muốn bảo với họ bức huyết thư là thật, các người nên tin rằng cái đuôi của Lý Ninh Ngọc đã không thể giấu được nữa, các người biết gì thì cứ nói đi, không cần phải sợ nữa.

[Ghi âm]

Lúc đó chúng tôi đều không biết cái chết của Ngô Chí Quốc là giả, vì thế tôi cũng nghĩ bà ấy thế là xong rồi.

Một người dùng tính mạng để tố cáo bạn, bạn còn nói gì được nữa?

Nói thật, lúc đầu tôi cũng có chút hí hửng khi thấy người khác gặp nạn, bụng nghĩ ta không tố cáo mi thì vẫn vậy có người khác tố cáo mi.

Nhưng sau đó, khi bà cố tình hỏi tôi, tôi bỗng cảm thấy có gì không ổn, tôi có cảm giác là bà ấy nghi ngờ bị tôi bán đứng bà ấy.

Nếu đúng bà ấy nghĩ như thế, hiển nhiên không có lợi cho tôi, ngộ nhỡ trong một phút kích động thái quá, bà ấy cũng bán đứng tôi thì sao?

Cho nên, ngay lập tức tôi chợt hiểu ra, tình cảnh của bà ấy càng nguy hiểm, với tôi càng bất lợi.

Sở dĩ lúc ấy tôi quả quyết bà ấy không phải là Lão Quỷ cũng chính bởi lí do này, muốn bà ấy hiểu rõ:

Chuyện này không liên quan đến tôi.

Nhưng tôi cũng biết, chỉ như thế thôi thì không thể xóa hết nghi ngờ của bà ấy đối với mình.

Bởi vì vậy, bà ấy vẫn nghĩ tôi câu kết với bọn Kawa Hihara, đóng kịch, làm kẻ xấu sau lưng, làm người tốt trước mặt.

Vậy làm thế nào để bà ấy xóa bỏ hết mọi nghi ngờ về tôi?

Tôi biết, chỉ còn cách duy nhất là nhanh chóng giúp bà ấy đặt ba vỏ thuốc về vị trí cũ, dùng hành động thực tế để chứng minh, để bày tỏ, để bà ấy tin tôi.

Nghĩ như vậy, khi cuộc họp vừa kết thúc tôi vội lẻn đi.

Nhưng lý do để lẻn đi, nhất thời tôi không nghĩ ra, lúc ấy dây mic của máy nghe trộm đã cắm lại, chúng tôi không thể tùy tiện trao đổi.

Bất ngờ, Lý Ninh Ngọc ôm chặt lấy tôi, vừa khóc mắng Ngô Chí Quốc hãm hại bà ấy, vừa nói nhỏ cho tôi cách lẻn đi.

Bà ấy bảo tôi lừa Thư ký Bạch, chúng tôi vốn dùng chung một hộp kem đánh răng, bây giờ tách ra ở hai phòng, tôi cần phải ra chỗ nhà khách mua một hộp kem đánh răng khác.

Sau đó, tôi lấy cớ ấy để lẻn đi, tiện thể đem đặt ba vỏ thuốc về chỗ cũ, lúc ấy vẫn chưa đến mười giờ.

Khi Cố Tiểu Mộng ra ngoài mua kem đánh răng, Lý Ninh Ngọc đã dọn sang phòng của Ngô Chí Quốc, bà ấy đứng nép phía sau cửa sổ, ánh mắt không rời dõi theo bước chân Cố Tiểu Mộng, trong lòng ngập tràn sự hưng phấn và mong đợi.

Bà biết rất rõ trước mắt việc cấp bách là đặt ba vỏ thuốc trở lại vị trí cũ, trong hoàn cảnh này, Cố Tiểu Mộng vẫn giữ lời hứa, sẵn sàng mạo hiểm giúp bà, khiến bà cảm động khôn tả, cảm động đến nỗi hai chân như mềm nhũn.

Bà nghĩ, một cô gái thường ngày bướng bỉnh, đanh đá là thế, nhưng với công việc này lại rất thận trọng và nghe lời, hiển nhiên là đã tấn công đúng điểm yếu của Cố Tiểu Mộng!

Bà thấy không thể hình dung nổi, mình sống với Cố Tiểu Mộng lâu như vậy mà vẫn hề phát hiện ra bà ấy là người của Trùng Khánh, điều càng không thể hình dung nổi là bà giấu kỹ như vậy mà trong chớp mắt đã bị lật tẩy.

Bà chợt cảm kích vì bản thân lúc ấy lại có thể kiên quyết, lạnh lùng đến vậy, chính vì sự kiên quyết lạnh lùng ấy mà bà mới có thể cảm nhận được mọi việc từ những lời nói ngắn gọn, không đầu cuối của Cố Tiểu Mộng, tiến tới thăm dò và được chứng thực.

Đúng là một phát hiện động trời!

Đây là một thắng lợi nho nhỏ, bà nói với chính mình, nhưng có thể dự báo là thắng lợi cuối cùng của bà.

Cố Tiểu Mộng mất hút trong rừng trúc.

Lý Ninh Ngọc biết, chỉ cần tiến tiếp về phía trước không xa nữa, Cố Tiểu Mộng sẽ nhìn thấy thùng rác, chỉ cần khéo léo đi qua, vứt lại vỏ thuốc thứ nhất (vỏ chứa hàng), sau đó đi tiếp đến ngã rẽ lớn…

Bà vừa nghĩ, vừa rời khỏi cửa sổ như mộng du, mặc nhiên ngồi xuống giường.

Ngồi một lúc, bà cảm thấy mệt mỏi, nằm xuống giường lúc nào không hay.

Chiếc giường thật rộng, quá xa xỉ, nằm trên đó, bà cảm nhận tấm thân mình bỗng chốc như nhỏ lại, nhẹ nhàng và thật mỏng manh.

Chiếc chăn thêu vẫn còn vương mùi của kẻ nghiện thuốc lá.

Cả căn phòng toàn một mùi thuốc lá.

Bà biết, đấy là do Ngô Chí Quốc để lại.

Có lúc, bà nghĩ nếu Ngô Chí Quốc đúng là đã chết, chứng tỏ mạng của hắn chẳng bền bằng mùi thuốc lá kia.

Nghĩ đến hơn một năm qua, bà khổ luyện viết chữ của Ngô Chí Quốc, cuối cùng cũng có kết quả, trong lòng bà thoáng cảm giác đắc ý.

Ngoài cửa sổ, bầu trời nghiêng nghiêng, một con chim như một giấc mơ bay vút qua trước mắt bà.

Con chim đem tâm tư của Lý Ninh Ngọc ra khỏi trang viên, đi vào trong thành, tới bên Ba Ba.

Hơn một năm qua, bà vẫn có thể nhìn thấy Ba Ba tại một điểm cụ thể, một thời gian cụ thể, ngày nắng cũng như mưa, đông cũng như hè.

Bà từng nghĩ, Ba Ba như một phong cảnh trong doanh trại, chỉ cần muốn thấy thì luôn có thể thấy được.

Họ chưa từng nói với nhau câu nào, mỗi khi gặp nhau chỉ nhìn nhau không nói, ánh mắt nói thay và rác nói thay.

Có lần, bà đi làm về muộn, khi đi vứt rác, Ba Ba đã thu gom rác ở thùng rác dưới tầng ngôi nhà bà ở, bà trực tiếp đưa túi rác cho Ba Ba, khi đưa, hai người vô tình chạm tay nhau, bà như có cảm giác bị điện giật, toàn thân giật mình kinh sợ.

Lúc này đây, cái cảm giác của ngày hôm ấy lại tìm về, trong phút chốc bà cảm thấy như mình đã biến thành tia sáng bay lên không trung và biến mất trên bầu trời Cầu trang.

Không lâu sau, Cố Tiểu Mộng mang theo tâm trạng lập công lĩnh thưởng quay về, ở ngay hành lang vung tay một cách khoa trương bảo với Lý Ninh Ngọc ba vỏ thuốc kia đã được đặt về nguyên vị trí cũ.

Khi ấy, Lý Ninh Ngọc dấy lên niềm vui khôn tả tưởng như hồn bay phách lạc.

Vui tới nỗi xương như nhẹ bẫng đi, bay lên.

Bà nghĩ, chỉ cần Ba Ba bước vào Cầu trang thì với sự nhạy cảm của mình, Ba Ba chắc chắn sẽ nhìn thấy hai vỏ thuốc chỉ đường màu đen kia và tiếp tục lần theo đó tìm tới đích, cả một trang viên rộng lớn vậy cũng chỉ có vài thùng đựng rác, Ba Ba không thể không tìm được thùng chứa rác đặc biệt kia.

Nghĩ như vậy, bà bất giác co người lại, quỳ trên giường, chắp hai tay, mắt nhắm lại: Bà cầu nguyện để Ba Ba nhanh tới Cầu trang.

Vì quá hy vọng, nên bà không tránh khỏi nỗi lo sợ thất vọng.

Có lúc, bà cảm thấy lo lắng cũng là có lý, hôm qua do điều kiện hạn chế, bà không thể báo rõ cho Ba Ba hôm nay nhất định phải đến.

Nhưng phân tích đi phân tích lại, bà vẫn cảm thấy Ba Ba sẽ tới.

Bà tự nhủ, Quần anh hội sắp diễn ra, trên tổ chức nhất định muốn biết tin tức từ bà, thời gian này Ba Ba tự nhiên sẽ duy trì liên lạc thường xuyên với bà, không thể có chuyện một ngày không tới gặp bà.

Thậm chí bà còn nghĩ, Ba Ba hôm qua trước khi ra về nhất định còn để lại ám hiệu hôm nay sẽ tới ‐ có thể là để lại một thứ gì đó, cũng có thể là hẹn với người của nhà khách hôm nay sẽ đến dọn vệ sinh giúp họ.

Không cần phải nói, chỉ cần Ba Ba đến, dù chỉ là chốc lát cũng quá đủ.

* * *

Nếu Ba Ba đến, thì đã không có câu chuyện về sau.

Thế nhưng, Ba Ba đã không đến.

Đúng là không đến.

Mặt trời mọc đằng Đông rồi lại lặn đằng Tây, mong đợi ngập tràn của Lý Ninh Ngọc cũng dần dần trở thành mối lo, mối lo dần biến thành sự thật.

Đúng là bà không thể tưởng tượng nổi, vào thời khắc đặc biệt là thế, mà Ba Ba lại cả ngày không đến gặp bà.

[Ghi âm]

Hầy!

Bà ấy đâu biết cả Ba Ba lẫn ông Phan đều bị Kawa Hihara bỏ thuốc mê, bọn họ đều nghĩ Lý Ninh Ngọc ở đây là đang thực hiện nhiệm vụ thực sự.

Sau này, tôi có gặp được Ba Ba một lần, lúc đó ông ấy đã bị Vương Điền Hương bắt nhốt trong nhà giam, tôi lặng lẽ đi thăm ông ấy, cũng từng nghĩ đến việc cứu ông ấy.

Nhưng khi ấy, đùi ông ấy đã bị đánh gãy, chính là để ông ấy muốn trốn cũng không trốn được, sau đó không chịu nổi sự giày vò đau đớn nên đã tự sát.

Lần gặp ấy, ông đã nói với tôi rất nhiều điều, ông ấy nghĩ tôi là đồng chí của ông ấy.

Vì sao?

Tại vì tin tình báo cuối cùng là do tôi đưa cho Ba Ba mới có thể chuyển được ra ngoài.

Nhưng đấy là chuyện về sau, để sau hãy nói.

Lại nói, hôm ấy Ba Ba bảo tôi, nếu như hôm ấy thời tiết đẹp, có thể ông ấy sẽ tới Cầu trang.

Nhưng buổi sáng hôm đó trời lại mưa, thời tiết xấu, thiết nghĩ nếu cứ đội mưa đến quả là đường đột, sợ sẽ gây ra những phiền phức không đáng có, nên mới không đi nữa.

Khi ấy Quần anh hội sắp diễn ra, mọi người đều rất thận trọng, không dám hành động tùy tiện.

Buổi trưa, trời tạnh mưa, trong doanh trại ngập nước, lá rụng đầy khắp nơi, cũng không tiện đi.

Tất nhiên, nếu biết Lý Ninh Ngọc có tin tình báo muốn chuyển ra, thì dù thế nào ông ấy cũng sẽ nghĩ cách để đến, nhưng vấn đề là ở chỗ không biết!

Không ai biết cả, kể cả cha tôi, ông cũng không biết lúc đó tôi đang bị giam lỏng.

Nói chung, đấy là ý trời, chỉ một trận mưa mà làm hỏng tất cả.

Hầy!

Làm cái nghề của chúng tôi, có lúc là như vậy, dựa vào ý trời, mưu sự tại nhân thành sự tại thiên.

Lý Ninh Ngọc trông chờ mỏi mắt, sự nhẫn nại và kỳ vọng của bà dần bốc hơi dưới ánh nắng trong vắt sau cơn mưa, đến hơn bốn giờ chiều, dường như là đã tan biến sạch.

Bà biết sau năm rưỡi, Ba Ba sẽ bắt đầu tới từng nhà để thu gom rác, nhưng đến giờ này còn chưa thấy xuất hiện, chứng tỏ ông ấy hôm nay sẽ không tới, mà Hội nghị tối mai sẽ triệu tập, thời gian của Lý Ninh Ngọc không còn nhiều.

Bà tính toán lại, chậm nhất là đến trước chiều mai, tin tình báo phải được chuyển ra ngoài.

Nhưng không có Ba Ba ‐ ông ấy không đến ‐ đến giờ vẫn không đến… làm thế nào mới có thể chuyển được tin tình báo ra ngoài?

Lý Ninh Ngọc vì chuyện này đau khổ day dứt, dằn vặt, suy nghĩ.

Bà ấy không ngừng hỏi đi hỏi lại bản thân: Tôi phải làm sao mới có thể khiến cho các đồng chí nghe thấy tiếng nói của tôi?

Trong mông lung mơ hồ, từng khuôn mặt của các đồng chí hiện ra trước mắt bà, lúc thì là Ba Ba, lúc thì là anh bà (ông Phan).

Có lúc, thậm chí bà còn thấy cả Lão Hổ.

Thực ra nói một cách nghiêm túc, bà chưa từng gặp Lão Hổ, tuy nói là có thấy một lần, nhưng cũng là nhìn nghiêng từ đằng xa, hơn nữa lại vào lúc chập choạng tối, người thì đang di chuyển, chẳng nhìn rõ gì cả, nên không thể xác định được.

Anh bà đã từng gặp Lão Hổ, kể lại Lão Hổ người mảnh dẻ như con gái, eo nhỏ, ngón tay dài như bác sĩ ngoại khoa.

Nếu chỉ miêu tả như thế, bà thật khó hình dung nổi con người ấy lại có đủ dũng khí giết người.

Nhưng anh bà khẳng định với bà, tính đến hiện tại, trong hành động diệt gian trừ giặc trong thành Hàng Châu, Lão Hổ giết được nhiều Hán gian và giặc Nhật nhất, ít nhất cũng phải đến con số hàng trăm.

Được khích lệ bởi con số ấy, bà cảm thấy tự hào khi mình là người thuộc tổ chức của Lão Hổ.

Nhưng bây giờ, trước mắt, nếu bà không chuyển được tin tình báo ra ngoài, con người ấy, rồi còn cả người quan trọng hơn con người ấy ‐ Lão K đều có thể bị bọn giặc giết hết.

Nghĩ vậy khiến bà sợ hãi…

Sợ hãi giống như cơn sốt bốn mươi độ từ lồng ngực lan khắp toàn thân, khiến Lý Ninh Ngọc cảm thấy tứ chi rã rời, tim đập như trống dồn, đầu óc trống rỗng.

Đây là cảm giác chưa từng có kể từ khi bà tham gia hoạt động tình báo đến nay, sợ hãi và vô vọng như sợi dây thừng siết chặt lấy Lý Ninh Ngọc, biến bà thành một phế nhân, không thể liên lạc được với các đồng chí của mình, chỉ biết nằm dài trên giường một cách vô vọng.

Chợt một ý nghĩ kì quặc khiến bà bật ngồi dậy, bải hoải trong phòng ‐ có lẽ chỉ là để chứng tỏ ngoài việc nằm dài trên giường ra bà còn có thể xuống giường đi lại.

Căn phòng cũng như chiếc giường, xa hoa, rộng rãi, rộng tới mức bà không nghĩ mình sẽ đi hết căn phòng.

Bà quá yếu ớt, sự mệt mỏi dồn nén mấy ngày liền đang tấn công bà như để báo thù, hai đầu gối bà như mềm nhũn, sụp xuống đập xuống sàn đánh cộc một tiếng, giống như quỳ trước sự nhục nhã khôn cùng, nước mắt không ngừng tuôn chảy.

Bà đã khóc, ôm chặt lấy hai đầu gối lạnh toát của mình, khóc như đứa trẻ bị ruồng bỏ.

[Ghi âm]

Bà ấy khóc thảm thiết, như thể bị người khác cưỡng bức, khóc to đến nỗi những người tầng trên tầng dưới đều không thể ngồi yên.

Tôi nghĩ lúc đầu có thể đúng là bà ấy khóc thật, nhưng sau đó thì là khóc giả, bà ấy muốn dùng tiếng khóc thảm thiết để kéo mọi người tập trung lại.

Mọi người đến thì tôi cũng sẽ đến, đây chính là tính toán của bà ấy: Muốn gặp tôi, muốn tôi giúp bà ấy.

Người đến đầu tiên là Thư ký Bạch, sau đó là Vương Điền Hương, bọn họ đến là vì nhiệm vụ, chủ yếu là giáo huấn bà ấy.

Sau đó là Kim Sinh Hỏa, đến để xem cho vui.

Tôi là người đến cuối cùng.

Nói thực, tôi có chút lo sợ khi bước vào, tôi có linh cảm là bà ấy tìm tôi có việc.

Quả nhiên, vừa thấy tôi bước vào, bà ấy lao đến, ôm chặt lấy tôi, giống như buổi sáng khóc lóc kể lể với tôi, vừa kêu oan vừa chửi Ngô Chí Quốc.

Chửi và chửi, bà lôi cả lũ từ Kawa Hihara đến Kim Sinh Hỏa, Thư ký Bạch và Vương Điền Hương, chửi hết một lượt.

Mọi người thấy bà ấy chửi người khác, chửi mình đều quay đầu bỏ đi.

Như vậy đã trúng kế của Lý Ninh Ngọc, mục đích bà ấy chửi mọi người là để mọi người bỏ đi, bởi vì chỉ khi bọn họ bỏ đi, bà ấy mới nói chuyện công việc với tôi được.

Là việc gì?

Bà ấy muốn tôi tìm giúp giấy và bút vẽ.

Bà ấy vừa tiếp tục khóc, chửi, vừa thì thầm ý tưởng của bà ấy cho tôi biết.

Tôi bảo tìm mấy thứ ấy ở đâu ra bây giờ.

Bà ấy bảo ở nhà khách chắc chắn có, muốn tôi khi đi ăn tối phải tìm giúp bà ấy.

Tôi nói để tôi thử xem.

Bà ấy nói nhất định tôi phải tìm thấy, nếu không tìm được, thì chỉ cần một tờ giấy trắng to và một chiếc bút chì là được.

Tôi hỏi bà ấy cần những thứ đó làm gì, bà ấy bảo muốn thông qua bức tranh để chuyển tin tình báo ra ngoài.

Cậu không thể tưởng tượng đúng không, trong hoàn cảnh này rồi, người thì không thể ra khỏi cửa, điện thoại thì không thể gọi, đâu đâu cũng là người theo dõi, bà ấy vẫn không từ bỏ, vẫn muốn chuyển tin tình báo ra ngoài.

Nhưng tôi cảm thấy việc chuyển tin tình báo bằng bức tranh là điều không thể, cách làm này quá thông thường.

Bà ấy bảo đã nghĩ xong cả rồi, chỉ cần tôi tìm giúp giấy và bút vẽ, bà ấy nhất định sẽ chuyển được tin tình báo ra ngoài.

Chính là tôi muốn xem bản lĩnh của bà ấy cỡ nào nên đã đồng ý sẽ tìm giúp.

Thật tuyệt vời, Cố Tiểu Mộng về đến phòng mình, lục tìm mấy chỗ, quả nhiên tìm thấy trong tủ ra một tờ giấy trắng to, bị lấp dưới chiếc thảm chưa dùng.

Thực ra cũng chẳng phải là giấy trắng gì đâu, mà chỉ là tờ áp phích của một bộ phim, nhưng mặt sau trắng không tì vết gì.

Cố Tiểu Mộng cầm sang cho Lý Ninh Ngọc xem, Lý Ninh Ngọc thấy được, thế là xong.

Còn về bút chì, không cần nữa, vì chất lượng giấy của tờ áp phích rất tốt, bề mặt sáng bóng, dùng bút chì vẽ, chất lượng đánh màu chưa chắc đã tốt, Lý Ninh Ngọc quyết định sẽ dùng bút máy để vẽ.

Sau đó đúng là bà ấy đã dùng bút máy để vẽ bức tranh.

Nghe đến đây, tôi thấy kỳ lạ, như thế chẳng phải là nói bức tranh tôi đã được xem ở nhà ông Phan là giả?

Tôi lập tức tìm tấm ảnh chụp bức tranh đã lưu trong máy tính, hỏi bà Cố: “Lẽ nào đây không phải là bức tranh do Lý Ninh Ngọc vẽ?”.

“Đương nhiên không phải!”

Bà Cố đáp không do dự.

“Vậy…”, tôi hỏi một câu rất thừa, “bức tranh này do ai vẽ?”.

“Ma quỷ mới biết được là ai vẽ, chắc chắn là ông Phan tìm người vẽ rồi, dứt khoát tôi chưa bao giờ nhìn thấy thứ này.”

Bà Cố xem bức tranh cẩn thận, vừa chỉ cho tôi xem, “Cậu xem, trông giả quá, độ dài ngắn và khoảng cách của đám cỏ dại kia quá cứng nhắc, một chút ẩn chứa cũng không có, thật là nực cười!

Tôi đã thấy bức tranh Lý Ninh Ngọc vẽ, khá là chân thực, đáng tiếc là không giữ bức tranh ấy lại, Kawa Hihara đã lấy đem đi rồi”.

Nhưng Kawa Hihara không thể đem đi ký ức của bà Cố.

Bà nhìn bức tranh (giả mạo) rồi chỉ ra rành rọt từng nét từng điểm khác biệt lớn nhỏ so với bức tranh gốc, nhỏ tới mức kể cả những chi tiết khác biệt vụn vặt nhất bà chỉ ra rõ ràng, rành mạch, như thể bức tranh ấy đã khắc sâu trong tâm khảm của bà.

Khi ấy, chị Trần liên tục nháy mắt ra hiệu với tôi, rồi ra hiệu bằng tay nhắc nhở tôi thời gian đã hết.
 
Tiểu Thuyết Phong Thanh
CHƯƠNG NĂM


Rồi thời gian lại tới.

Bà Cố hình như vui hơn bởi cuộc thăm viếng đã gần đến hồi kết thúc, vừa thấy tôi đã cười nói: “Không còn nhiều nữa, hôm nay nhất định sẽ kết thúc”.

Đúng là không còn nhiều nữa.

Thời gian đã đi đến đêm cuối cùng, bất kể là Kawa Hihara hay Lý Ninh Ngọc, đều đang tính canh bạc cuối cùng.

Sự kiện đấu trí trong canh bạc cuối và cả những tình tiết từ nhỏ đến lớn, bà Cố kể đều giống như những gì tôi đã viết trong tiểu thuyết, duy chỉ có hai chi tiết không đúng: Một là đêm hôm đấy Ngô Chí Quốc không tới hiện trường; hai là lực lượng đóng giả quân Cộng sản không chỉ tấn công Tây lầu, mà còn tấn công cả Đông lầu, còn phóng hỏa đốt cháy cả một nhà để xe.

Chính là nói, thanh thế và quy mô cuộc tập kích này đều lớn hơn so với những gì tôi đã tả.

Bà Cố phê phán tôi: “Cậu để Ngô Chí Quốc tham dự cuộc họp là rất hoang đường, bởi vì trước đó Kawa Hihara đã công bố là hắn đã chết, sao có thể để hắn sống lại được?”.

Tôi thận trọng đưa ra quan điểm khác: “Bởi vì khi ấy Kawa Hihara vẫn chưa loại bỏ hoàn toàn khả năng Ngô Chí Quốc chính là Lão Quỷ, hắn cũng cần bị lực lượng Cộng quân giả thăm dò chứ”.

Bà Cố cười hỏi vặn lại tôi: “Chẳng lẽ hắn đến lúc bấy giờ vẫn chưa bị thăm dò sao?

Tôi nói rồi, cả lầu Đông và lầu Tây đều bị tập kích cùng lúc mà”.

Tôi nghĩ lại thì thấy cũng đúng, nếu như cả hai lầu Đông và Tây đều bị tập kích cùng lúc thì cho dù Ngô Chí Quốc không tới cuộc họp đi chăng nữa cũng vẫn bị thăm dò như thường.

Tôi cũng không thể không thừa nhận, ý kiến bà Cố càng hợp lý hơn.

Tuy vậy, bà Cố cho rằng những điều ấy đều là thứ yếu, quan trọng là chuyện sau này ‐ Lý Ninh Ngọc và Kawa Hihara trực tiếp xảy ra xung đột, tôi vẫn chưa nắm được cái hồn của Lý Ninh Ngọc.

Bà Cố trịnh trọng nêu rõ: Đêm hôm ấy sở dĩ Lý Ninh Ngọc kiên quyết như vậy (muốn giết chết Kawa Hihara) là vì lúc ấy bà đã chuẩn bị sẵn cái chết của mình.

Bà Cố nói: “Mọi người có thể không nhận ra, nhưng tôi vừa thấy tình cảnh ấy, đã biết ngay bà ấy muốn làm gì rồi, bà ấy muốn tìm tới cái chết, lấy cái chết để chứng minh mình không phải là Lão Quỷ, sau đó thì đúng như cậu đã viết, chỉ mong kẻ thù đem thi thể và di vật của bà ấy ra ngoài, bao gồm cả bức tranh.

Lúc ấy tôi vẫn chưa được nhìn thấy bức tranh, nhưng tôi khẳng định tin tức tình báo được giấu trong bức tranh ấy.

Điều tôi lo sợ là khi kẻ thù phát hiện ra bí mật ẩn giấu trong bức tranh thì sẽ thế nào?

Thế chẳng phải bà ấy đã chết thật vô ích sao?”.

Tôi hỏi: “Khi nào thì bà được nhìn thấy bức tranh?”.

Bà Cố bảo: “Sau khi Kawa Hihara đánh bà ấy và chúng tôi đưa bà ấy lên tầng…”.

* * *

Lý Ninh Ngọc khi ấy đã không còn hình người nữa, trán bị toác ra, sống mũi bị gãy, răng cửa bị gẫy, hai môi sưng vù, máu chảy không ngừng…

Bác sĩ đến đang băng bó cho Lý Ninh Ngọc, Cố Tiểu Mộng ngửi thấy một mùi quái dị của hỗn hợp giữa máu tanh và cồn, có cảm giác buồn nôn.

Cố Tiểu Mộng quyết định bước đi, đến trước cửa sổ thì nhìn thấy bức tranh ấy đặt trên bàn làm việc.

Cố Tiểu Mộng vừa hiếu kỳ vừa hồi hộp tiến lại gần xem, thấy bức tranh rất đơn giản, nhìn qua thì thấy không thể nào giấu tin tình báo trong đó được.

Khi ấy Cố Tiểu Mộng nghĩ tin tình báo chắc được giấu ở mặt sau của bức tranh (mặt có áp phích), rất muốn lật lại xem, nhưng lại sợ gây cảnh giác cho viên bác sĩ, nên đành thôi.

Viên bác sĩ vừa đi khỏi, bà nhanh chóng lật lại xem, xem xa xem gần, xem thuận xem ngược, xem ngang xem dọc nhưng trước sau vẫn không phát hiện được điều gì mới.

Bà xem mải miết tới độ lật giở bức tranh phát ra tiếng động, đánh thức cả Lý Ninh Ngọc đang hôn mê.

Lý Ninh Ngọc thấy cô đang xem bức tranh, ra hiệu bảo cô mang lại gần, sau đó nói nhỏ với cô chỗ giấu tin tình báo.

[Ghi âm]

Đúng vậy, thật không ngờ, không ai có thể ngờ tới.

Cho nên khi tôi biết được đám cỏ trong bức tranh chính là một bức điện được mã hóa, tôi đã sừng sờ ngây người ra.

Này, anh không thể không thừa nhận sáng kiến ấy quá tuyệt, quá hoàn hảo, trước chưa từng có, sau cũng không ai nghĩ ra được như thế, quả là quá thiên tài!

Tôi nói chính là Lý Ninh Ngọc, bà ấy là người hoạt động tình báo kỳ quái nhất mà tôi từng biết, không ai có thể sánh bằng!

Tôi không biết làm thế nào mà bà ấy nghĩ ra được, nhưng tôi tin và dám khẳng định, Kawa Hihara cũng không thể nào phát hiện ra bí mật trong đó, không ai có thể phát hiện ra được.

Vấn đề là như vậy cũng không thể bảo đảm chắc chắn kẻ thù sẽ tin tưởng tuyệt đối cái chết của Lý Ninh Ngọc chỉ là bất hạnh, sau đó đồng ý cho đem thi thể và di vật của bà ấy về nhà.

Bởi vì ‐ ngay từ đầu tôi đã nói với cậu rồi, trên người chỗ có thể cất giấu tin tình báo rất nhiều, một khi kẻ thù chưa mổ bụng khám nghiệm, tìm kiếm, sao có thể dám khẳng định trên người bà ấy không giấu tin tình báo?

Hơn nữa chỉ lại đúng một ngày nữa thôi, cho dù kẻ thù biết chắc trên người không giấu tin tình báo thì cũng không nhất định phải giải quyết chuyện hậu sự của bà ấy ngay, chậm một hai ngày thì cũng có vấn đề gì đâu?

Chẳng sao cả.

Tôi thì thầm nói với bà ấy ý nghĩ của mình, bà ấy cố tình gào to muốn đi vệ sinh.

Tôi biết bà ấy sợ có máy nghe trộm, liền đỡ bà ấy đi vệ sinh.

Đến nhà vệ sinh, Lý Ninh Ngọc nói hết cách nghĩ và cách làm của mình với Cố Tiểu Mộng, lúc ấy Cố Tiểu Mộng mới nhận thấy những lo lắng của mình là thừa.

Thực ra Lý Ninh Ngọc rất rõ điều này, chính là: Bất kể thế nào, kẻ thù cũng sẽ không cho đem thi thể bà và bức tranh ra ngoài.

Bà nói với Cố Tiểu Mộng: “Nếu như tôi chỉ mong chuyển tin tình báo ra ngoài như vậy, thì hà tất phải nói rõ bí mật của bức tranh kia với cô làm gì?”.

Quả thực, ngay từ đầu Lý Ninh Ngọc đã không nghĩ như thế, cách nghĩ của bà ấy ma quỷ cũng không đoán ra được!

Bà ấy nói với Cố Tiểu Mộng, đêm nay sẽ uống thuốc độc tự vẫn, trước khi chết bà sẽ viết hai bức di thư, một cho Kawa Hihara và một cho Tư lệnh Trương, nói rõ bà tự vẫn là bị bức bởi sự nghi ngờ quá đáng của Kawa Hihara đối với bà, để rửa sạch vết nhơ ấy, bà thà chết để chứng minh v.v… tạo ấn tượng với mọi người, bà ấy tuyệt đối không phải là Lão Quỷ của Cộng sản.

“Cô cho rằng Kawa Hihara sẽ tin chứ?”

Lý Ninh Ngọc hỏi Cố Tiểu Mộng.

“Khó…”

“Đúng thế, chắc chắn hắn sẽ không vì thế mà loại bỏ hoàn toàn sự nghi ngờ với tôi.

Hắn sẽ lục tìm thi thể tôi, kiểm tra toàn bộ di vật của tôi, nhất là bức tranh kia, hắn nhất định sẽ cho rằng có giấu tin tình báo trong đó mà kiểm tra đi kiểm tra lại.”

“Điều này tôi tin, nhưng hắn không thể phát hiện ra đâu.”

“Theo cô ai có thể phát hiện ra được?”

“Không ai cả.”

“Chỉ có cô.”

“Tôi?”

“Đúng, chẳng phải tôi đã nói cho cô rồi sao?”

“Chị… là ý gì vậy, tôi sẽ không nói với hắn đâu…”

“Không, cô phải nói với hắn!”

“Chị bảo tôi nói với hắn?”

“Đúng, cô giúp hắn dịch bức mật điện để đổi lấy sự tin cậy từ hắn…”

Ngoài cửa sổ, tiếng chim cú mèo kêu gào vang vọng, màn đêm đen đặc cũng không thể xóa đi nỗi ám ảnh có người sẽ chết.

Phía trong cửa sổ, Lý Ninh Ngọc đang cố gắng sức nói nhỏ hết sức về tất cả những gì sẽ diễn ra sau khi bà chết, Cố Tiểu Mộng chú tâm nghe, bất giác thấy sởn gai ốc, phảng phất cảm giác đang nói chuyện với một linh hồn phiêu du vậy.

* * *

Ngày hôm sau, mọi việc diễn ra như Lý Ninh Ngọc đã dự tính.

Khoảng hơn sáu giờ sáng, Thư ký Bạch là người đầu tiên phát hiện xác Lý Ninh Ngọc nằm cuộn trên sàn nhà như đống rác, thất khiếu đều chảy máu, tiếp đến là Kim Sinh Hỏa và Cố Tiểu Mộng, bị kinh động bởi sự kinh hoàng của Thư ký Bạch, lần lượt tới phòng Lý Ninh Ngọc…

Nửa tiếng sau Kawa Hihara và Vương Điền Hương vội vàng tới hiện trường, nhìn thấy Thư ký Bạch, Kim Sinh Hỏa và Cố Tiểu Mộng đều có mặt (Cố Tiểu Mộng vừa thút thít khóc vừa sắp xếp lại di vật của Lý Ninh Ngọc).

Kawa Hihara vội đuổi mọi người rời khỏi hiện trường, còn hắn cùng với Vương Điền Hương bắt đầu công việc điều tra sơ bộ…

Vài chục phút sau, Kawa Hihara và Vương Điền Hương ra khỏi phòng Lý Ninh Ngọc, chuẩn bị đi ăn sáng, Cố Tiểu Mộng nghe thấy tiếng vội chạy ra, chặn Kawa Hihara lại ngay ở cầu thang, khác hẳn với tâm trạng bi thương khi nãy, Cố Tiểu Mộng như một tên gian tế báo cáo Kawa Hihara, khi nãy sắp xếp lại di vật cho Lý Ninh Ngọc, có phát hiện thấy một bức tranh, cảm thấy có chút khác lạ, muốn xem lại.

Đúng lúc, Kawa Hihara đã sớm xem bức tranh ấy, đang đau đầu vì không tìm thấy gì, thấy Cố Tiểu Mộng có ý muốn hợp tác, khẳng khái chấp nhận ngay.

Ăn sáng xong, Kawa Hihara chủ động tìm Cố Tiểu Mộng để hỏi tình hình, Cố Tiểu Mộng làm đúng như kế hoạch, ung dung không hề vội vã.

“Không thấy gì, cái thứ chết tiệt này… rõ ràng là quái lạ.”

Cố Tiểu Mộng chơi trò thả hình bắt bóng, cố tình tỏ ra bí hiểm.

“Thế nhưng!

Ngài Kawa Hihara, tôi đã có một phát hiện lớn, một phát hiện động trời.”

“Là gì vậy, nói ra nghe xem nào.”

“Tôi đã biết ai là Lão Quỷ rồi.”

Cố Tiểu Mộng thấy Kawa Hihara định nói điều gì, bèn cướp lời nói trước, “Hầy, ngài đừng hỏi tôi vội, tôi muốn ngài đồng ý với tôi một điều kiện, thì tôi mới nói”.

Giọng nói phớt lờ, điệu bộ nũng nịu đong đưa, đúng là vai diễn sở trường của tiểu thư lá ngọc cành vàng con nhà giàu.

“Nói đi, điều kiện gì vậy?”

“Tôi nói cho ngài biết, ngài phải thưởng cho tôi.”

“Tất nhiên rồi, cô muốn thưởng gì?”

“Để tôi đi, cho tôi ra khỏi nơi này.”

Không vấn đề gì, miệng nói đồng ý cho đi một trăm lần cũng được.

Nhưng Cố Tiểu Mộng không bằng lòng với đồng ý miệng, cô chìa ngón tay út dễ thương của mình đòi móc nghéo với Kawa Hihara, một lời hứa giá ngàn vàng.

Thì móc, sợ gì, một ngón tay út có thể giết chết Quân đội Nhật Hoàng đại đế sao?

Thế là móc nghéo, vừa móc nghéo vừa thề: Một công việc tình báo nghiêm túc như vậy đã bị Cố Tiểu Mộng đem ra chơi như trò chơi của hai đứa trẻ con.

Móc nghéo xong, Cố Tiểu Mộng chỉ vào đám cỏ trong tranh của Lý Ninh Ngọc giải thích một cách rõ ràng, bí mật động trời ấy qua lời của Cố Tiểu Mộng đã quá rõ ràng.

Trong nháy mắt, đám cỏ ấy như có ma biến thành từng nhóm chữ số Ảrập: 6643 1032 9976… là bức điện bằng tiếng Trung Quốc được mã hóa bằng mã quốc tế, Cố Tiểu Mộng dịch bức điện này giống như ăn cơm hàng ngày, có thể đọc lưu loát ngay tại chỗ.

Thế là từng nhóm chữ số lại biến hóa tiếp, thành một câu như sau: Khẩn báo, hủy ngay Quần anh hội!

Để chứng minh mình không đùa giỡn với Kawa Hihara, Cố Tiểu Mộng đề nghị mời Trưởng phòng Kim đến dịch lại lần nữa.

Kim Sinh Hỏa là cấp trên, nghiệp vụ mai một đôi phần, không thể như Cố Tiểu Mộng nhìn là ra ngay, đọc lưu lóat ngay tại chỗ được, nhưng để dịch thì cũng không thành vấn đề.

Nội dung Trưởng phòng Kim dịch ra không khác một chữ so với Cố Tiểu Mộng.

Hầy a!

Kawa Hihara kinh ngạc vô cùng!

Chà chà!

Đúng là thiên tài đây!

Lý Ninh Ngọc là thiên tài mà!

Chà chà chà!

Cố Tiểu Mộng còn là thiên tài đánh bại thiên tài!

Thiên tài trong thiên tài!

Thế là xong, Kawa Hihara hoan hỉ nắm chặt bàn tay nhỏ nhắn của Cố Tiểu Mộng, hân hoan, kích động, cảm kích, không lời nào miêu tả hết.

Hắn tiếc một nỗi không thể tự tay thu xếp hành lý cho Cố Tiểu Mộng, thực hiện lời giao kèo móc nghéo của mình, để cho Cố Tiểu Mộng đi, còn muốn tiễn thêm một đoạn đường.

* * *

Đừng nóng vội, Cố Tiểu Mộng còn chưa muốn đi.

Yêu cầu là chuyện của yêu cầu, thứ mình được lấy hay không lấy lại là chuyện khác.

Trước đó, Lý Ninh Ngọc đã dặn kỹ Cố Tiểu Mộng, trừ phi Kawa Hihara vì thế mà giải tán cho tất cả mọi người đang bị nhốt ở đây về, còn không Cố Tiểu Mộng không thể một mình rời khỏi đây.

Tại sao?

Bởi vì, nếu chỉ một mình Cố Tiểu Mộng khỏi nơi đây, đến tối kẻ thù không bắt được Lão K, rất có thể Kawa Hihara sẽ dồn sự nghi ngờ sang Cố Tiểu Mộng.

Khi ấy, Cố Tiểu Mộng không biết Kawa Hihara định giải tán mọi người hay không, hắn đang bận bịu với việc thưởng cho Cố Tiểu Mộng, sắp xếp để bà đi, các vấn đề khác còn chưa kịp nghĩ tới.

Cẩn thận vẫn hơn, Cố Tiểu Mộng quyết định tạm thời chưa đi.

Không đi tất nhiên phải có cách nói để không đi: “Tấm thịnh tình và hiệp nghĩa của ngài Kawa Hihara tôi xin nhận, nhưng tôi sẽ không thể đi như vậy.

Tôi không ngốc đến thế đâu, để được đi trước vài tiếng mà đổi lấy rủi ro có thể cả đời rửa không sạch, thanh minh không được”.

Là ý gì đây?

Cố Tiểu Mộng đĩnh đạc nói: “Ngài Kawa Hihara, ngài đã nghĩ đến chưa, nếu bây giờ tôi đi, ngộ nhỡ bọn Cộng sản tạm thời thay đổi thời gian và địa điểm họp, tôi sẽ trở thành loại người như thế nào?

Ngôn không thuận, thanh minh không được, nhảy xuống sông Hoàng Hà cũng không rửa sạch!

Ngài tin tôi?

Nhưng chỉ vài ngày sau ngài cũng sẽ đi, ngài có thể lo cho tôi chốc lát, nhưng không thể lo cho tôi cả đời.

Nên thôi, cho qua.

Ngài Kawa Hihara, tôi vẫn cứ là ở lại với ngài thêm vài tiếng nữa, cố ở lại thêm vài tiếng để đổi lại một đời trong sạch, cũng rất đáng”.

Tôi nghe đến đây, rõ ràng là thấy rất mông lung: “Nói vậy, là bà không đi?

Vậy bà làm thế nào để chuyển tin tình báo ra ngoài được?”.

Bà cười, rất vui vẻ: “Ai bảo là tôi không đi?

Đương nhiên tôi phải đi chứ, chỉ là đi bằng cách khác thôi.

Tôi nói với Kawa Hihara không đi, nhưng đưa ra đề nghị gọi điện cho cha tôi, tất nhiên là hắn đồng ý ngay.

Tôi và cha khi nói chuyện điện thoại thường có giao hẹn và ám hiệu riêng, khi điện thoại vừa thông, tôi liền giả bộ như cha tôi đang giục tôi phải về, nên cố tình nói to đánh động: Ầy, làm thế nào bây giờ, con ở đây đang có công chuyện, không thể về được!

Cha lập tức hưởng ứng, bắt tôi phải về nhà ngay, tôi lại từ chối không về, cha lại yêu cầu tôi về, cứ thế giằng co”.

Tất cả đều có mưu đồ từ trước, khi Cố Tiểu Mộng gọi cuộc điện thoại này thì Kawa Hihara ở ngay bên cạnh, không đợi bà cúp máy, Kawa Hihara đã đại ý hiểu được câu chuyện, chân tình ra hiệu bằng tay với bà rằng đồng ý với cha bà là sẽ đưa bà về nhà ngay.

Đây là việc mới nảy sinh, chẳng có cách nào khác cả.

Đó là việc gì?

Chuyện này không thể tùy tiện bịa ra được, ít nhất cũng phải thỏa mãn một điều kiện, chính là: Cố Tiểu Mộng trước khi về nhà phải tạt qua cơ quan.

Không cần phải lo lắng, Cố Tiểu Mộng nhất định sẽ bịa ra được một câu chuyện hoàn hảo, ví dụ thế này…

Tóm lại, cha bà muốn bà về nhà vì đang cần gấp một thứ, mà thứ ấy đang để ở nơi ở trong cơ quan, bà về cơ quan để lấy trước, rồi mới có thể về nhà.

Kawa Hihara sắp xếp xe đưa bà đi.

Không được, chỉ điều xe không thôi là không ổn, phải cử cả người đi cùng.

Là để làm gì?

Tất nhiên là để nói cho thông, thanh minh cho thuận.

Cố Tiểu Mộng gợi ý để Vương Điền Hương đi cùng, bởi vì chỉ có Vương Điền Hương đi cùng là dễ thanh minh nhất.

Kawa Hihara cười hành động thừa này của bà.

Cố Tiểu Mộng khăng khăng bảo cẩn thận mới có thể lâu dài v.v… quả quyết theo ý mình, nhất định không thay đổi.

Kawa Hihara đồng ý với tất cả ý muốn của bà.

* * *

Mặt trời đã lên được ba cây sào, khoảng hơn chín giờ sáng, Vương Điền Hương đích thân lái xe đưa Cố Tiểu Mộng rời khỏi Cầu trang.

Bạn hãy tin, lần này Cố Tiểu Mộng không thể quên đem theo ba vỏ thuốc ‐ tất nhiên không phải là ba vỏ thuốc trước đây, đây là ba vỏ thuốc mà Lý Ninh Ngọc tối qua đưa cho bà.

Bạn cũng hãy tin, lần này Lý Ninh Ngọc cũng không thể quên nhắc nhở Cố Tiểu Mộng ‐ Lý Ninh Ngọc bảo với bà, có hai cách chuyển vỏ thuốc cho Ba Ba: Một là nếu về cơ quan mà không nhìn thấy Ba Ba, trên đường bà cần phải vứt hai vỏ thuốc rỗng ở một ngã ba, ngã tư nào đó, (vỏ không có hàng, là để thông báo cho Ba Ba biết), sau đó vứt vỏ thuốc thứ ba có giấu mẩu giấy bên cạnh thùng rác dưới nhà ở của hai người.

Hai là, nếu trong doanh trại gặp được Ba Ba, trong điều kiện cho phép, có thể trực tiếp vứt ba vỏ thuốc ấy cho Ba Ba.

So sánh một chút, cách thứ hai vừa đơn giản lại vừa an toàn, hiệu quả cao, chỉ có điều cần sự may mắn nhất định.

Hôm ấy là một ngày may mắn của Cố Tiểu Mộng, xe vừa đi vào doanh trại, từ xa bà đã nhìn thấy Ba Ba đang ngồi hút thuốc ở bậc thềm trước hội trường.

Cố Tiểu Mộng muốn vào chỗ ở, xe buộc phải rẽ ở đoạn ấy.

Cơ hội tốt như vậy, thứ muốn vứt đi cũng chỉ là cái vỏ thuốc cũ, như rác, nhỏ hơn nhẹ hơn cả quả nhãn, rơi xuống đất không chút tiếng động.

Cho nên, bạn hãy yên tâm, Cố Tiểu Mộng sẽ vứt vỏ thuốc cho Ba Ba mà ma không biết, quỷ không hay.

Còn Ba Ba, sợ gì bốn phương tám hướng đều có mật vụ theo dõi, Ba Ba cũng sẽ nhặt được vỏ thuốc mang ra khỏi doanh trại mà ma không biết, quỷ không hay ‐ ai có thể nghĩ rằng đây không phải là một vỏ thuốc cũ thông thường?

Tôi nghĩ, không ai có thể nghĩ ra được.
 
Tiểu Thuyết Phong Thanh
CHƯƠNG SÁU


Ngày phỏng vấn cuối cùng là một ngày đặc biệt, hôm ấy rơi đúng vào ngày giải mật của cơ quan bà Cố làm việc trước đây.

Con gái bà bảo tôi, những người như mẹ cô ấy, khi rời cơ quan, tất cả những thứ có chữ, bao gồm cả nhật ký hàng ngày đều phải nộp lên trên, do cơ quan bảo quản, cho đến một ngày thời hạn bảo mật của những thứ này đã hết, mới đem trả lại cho chủ nhân.

Từ những năm tám mươi của thế kỷ trước đến nay, mỗi năm đều có một ngày như thế: Ngày giải mật.

Mỗi khi đến ngày này, cô đều thay mẹ đến cơ quan xem có thứ gì của mẹ cô được giải mật không.

Sáng hôm nay cũng vậy, cô đến cơ quan và giúp mẹ mang về một ít đồ, khi cô đem đồ đến cho mẹ, tôi vẫn còn ở đó nên may mắn được xem.

Đồ vật được gói bằng một tấm vải nhung màu xanh lam, chắc là quan trọng.

Bởi vì đã giải mật, bà Cố mở ra xem ngay trước mặt tôi, chỉ là một cái khung ảnh và mấy bức thư gì đó.

Trong ảnh là một người đàn ông, tuổi chừng ngoài sáu mươi, đeo kính gọng vàng, xem ra có vẻ là người khá danh giá.

Bà vừa nhìn thấy khung ảnh, lẩm bẩm nói một mình: “Xem ra có lẽ là ông ấy đã đi rồi.”

Con gái bà Cố gật gật đầu.

Bà Cố bảo: “Ông ấy kém tôi mười một tuổi đấy”.

Cô con gái nói: “Chú ấy mắc bệnh chết mẹ ạ”.

Bà Cố lắc đầu: “Dù gì cũng đã mất rồi, như vậy tốt hơn, đều đã đi cả rồi, chỉ còn lại mình tôi”.

Nói đoạn bà Cố run run đứng dậy, toan bước lên lầu.

Cô con gái dường như đoán biết được mẹ mình lên lầu sẽ không xuống nữa, hỏi tôi đã phỏng vấn xong chưa.

Tôi bảo vẫn chưa xong, còn một vài vấn đề nhỏ nữa.

Bà Cố nghe thấy, quay xuống xua tay bảo với tôi: “Xong rồi, tôi đã nói đủ nhiều rồi, giờ tôi hối hận là đã nói với cậu nhiều như thế.

Kết thúc rồi, tất cả đã kết thúc rồi, cuộc phỏng vấn của cậu cũng nên kết thúc được rồi, đừng tới quấy rầy tôi nữa.

Đi đi, con gái tôi sẽ sắp xếp để cậu về”.

Bà cố tình không nói tạm biệt với tôi, chỉ bảo tôi đi đường may mắn.

Tôi nghĩ, sự thận trọng không cần thiết ấy nên coi là bệnh nghề nghiệp của bà Cố.

* * *

Nghề nghiệp của tôi mặc định cho tôi cái chất chơi bời lêu lổng, thích nay đây mai đó.

Tôi lớn lên ở vùng duyên hải tỉnh Chiết Giang, sinh ra trong những năm sáu mươi, hồi nhỏ, chỉ cần trên bầu trời đêm có vệt đèn sáng khác lạ, chúng tôi đều tưởng tượng chúng là máy bay của Đài Loan đang thả đặc vụ xuống.

Trung Quốc có nhiều tỉnh thành như vậy, Đài Loan là tỉnh ngoài đầu tiên mà tôi biết đến, biết đến trước cả Bắc Kinh và Thượng Hải.

Khi ấy tôi nghĩ Đài Loan ở rất gần, cảm giác chỉ như ở sườn núi bên kia, lớn lên nhất định sẽ phải tới thăm.

Nhưng đối với thế hệ như chúng tôi, thực ra cách thế giới rất gần, nhưng cách Đài Loan rất xa, anh có thể dễ dàng đi Mỹ, đi Achentina hay đi Úc, nhưng không chắc đã đi được Đài Loan, dù đó chỉ là một tỉnh của Trung Quốc.

Một nơi khó khăn lắm mới đến được như vậy, cho nên đã đến rồi thì phải ở lại chơi bời cho thỏa, tôi đã đăng ký tour du lịch năm ngày: Đài Bắc, Cao Hùng, Tân Trúc, Đào Viên, A Lý Sơn, Lục Đảo…

đi đến nơi nào, phong cảnh đẹp nhất nơi ấy cũng xua tan được giọng nói và hình ảnh của bà Cố, mới chơi được hai ngày, trong máy tính của tôi đã có năm câu hỏi lớn và một số câu hỏi nhỏ.

Năm câu hỏi lớn là:

(1) Ba Ba làm thế nào để chuyển tin tình báo cho tổ chức?

Khi ấy ông đã bị kẻ thù theo dõi hai tư trên hai tư, hơn nữa mọi việc bắt đầu từ cái đêm ông chuyển tin tình báo cho Lão Hán thì bị kẻ thù chặn lại, vậy thì lần này chuyển tin tình báo đi dựa vào đâu để bảo đảm không bị kẻ thù chặn lại nữa?

(2) Bà Cố mấy lần nhắc đến, khi bà phát hiện ra Lý Ninh Ngọc dùng nét chữ của mình để chuyển tin tình báo, bà vô cùng hận Lý Ninh Ngọc, sau đó lại quyết định không tố cáo Lý Ninh Ngọc, đồng thời giúp Lý Ninh Ngọc đặt ba vỏ thuốc trở lại vị trí cũ là vì sợ bị bà ấy phản lại, nhưng cuối cùng Lý Ninh Ngọc chết rồi, thực ra là đã không thể phản lại bà được nữa, thì thì tại sao bà vẫn giúp?

(3) Sau sự kiện này, Kawa Hihara đã đưa tất cả những người bị giam lỏng ở Cầu trang, kể cả Tư lệnh Trương đi đâu?

Những người ấy sau đó đều không rõ tung tích, là xảy ra chuyện gì vậy?

Họ còn sống hay đã chết?

(4) Rốt cuộc ai đã giết Kawa Hihara?

(5) Tại sao tâm tư của bà Cố đối với ông Phan lại mạnh mẽ như vậy?

Phải chăng trước đây đã từng có điều gì thái quá?

Những câu hỏi ấy như cơn nghiền thuốc phiện cứ quấn chặt lấy tôi, khiến tôi không còn tâm trí để ngắm cảnh, chỉ muốn gặp được bà Cố.

Đã mấy lần liên hệ đều bị từ chối, song tôi vẫn không bỏ cuộc, chỉ mong gặp may và quyết tâm.

Sang đến ngày thứ tư, khi đã thất vọng tràn trề, tôi quyết định bắt taxi tự tìm đến, như con nghiện lên cơn, không cần để ý đến tình hay lý, bất chấp tất cả.

Bà Cố đang nằm hóng mát trong vườn, thấy tôi không hẹn mà đến, ngạc nhiên quá đỗi khiến bà không có đủ tâm trí để có biện pháp hữu hiệu đối với tôi ‐ xua đuổi, bà như bao người già bình thường khác, lắc đầu than thở, lẩm bẩm trách mắng, nhìn t càng giống như là đang cầu xin một sự giúp đỡ.

Tôi không xin lỗi, bởi vì tôi biết xin lỗi sẽ đánh thức tâm trí bà, điều đó không có lợi cho tôi.

Tôi sử dụng tiểu xảo, tranh lời nói trước:

“Tôi không mời mà đến là vì tôi thấy câu chuyện bà kể có một số chỗ không ổn.”

“Sao có thể thế được?”

Chiêu này quả nhiên hiệu nghiệm, bà Cố xuất chiêu bằng cách giải thích biện hộ: “Những gì tôi nói đều là sự thật”.

Thứ tôi cần chính là sự biện hộ của bà ‐ một sự mở đầu tốt đẹp báo hiệu chuyến đi này của tôi không vô ích.

Quả nhiên, bà Cố rất quan tâm đến câu hỏi tôi đưa ra, dường như với mỗi vấn đề lớn nhỏ đều trả lời rất nghiêm túc.

Vấn đề lớn cuối cùng, chính là vấn đề tâm trạng của bà đối với ông Phan, bà tỏ ra rất không kiên nhẫn, ném cho tôi một câu: “Cậu đừng nhắc tới ông ta, nhắc đến là tôi thấy phiền lòng!”.

Tôi cảm thấy như trước đây hai người nhất định có gì đó mâu thuẫn, nhưng tôi không thể tưởng tượng ra được, là chuyện gì mà khiến cho một bà cụ già vẫn kiên quyết không thể mở lòng đến vậy?

Tôi đã ở tuổi trung niên, đã ngày càng tin hơn câu nói của một nhà triết học: Thời gian có thể ăn mòn màu sắc của tất cả mọi người trên thế gian tạo ra, bao gồm tình yêu và lòng hận thù sâu sắc nhất, kinh điển nhất.

Có thể tôi mượn lời của nhà triết học sẽ khiến bà lung lay, trút hết mọi tâm sự trong lòng.

Nhưng quả thực tôi không đành lòng, xét ở một góc độ nào đó, tôi thấy đã mãn nguyện lắm rồi, xét ở một góc độ khác, một số thứ phơi bày ra hết không tốt hơn lúc còn phong kín.

* * *

Tất nhiên, cũng có những thứ cần phải được phơi bày sáng tỏ, ví dụ như vấn đề một và hai.

Đối với câu hỏi một, bà Cố thực ra không phải là người trong cuộc, may là sau này bà có vào nhà giam gặp Ba Ba, ít nhiều cũng có hiểu được tình hình.

Bà kể lại, tối hôm ấy, Kawa Hihara không bắt được Lão K và đồng bọn, nhận định trong bọn họ (những người còn lại) có đồng bọn của Lão Quỷ.

Thế là, quay về bắt Ba Ba chịu tội, tra khảo suốt đêm, muốn chính từ miệng Ba Ba khai ra ai là đồng bọn của Lão Quỷ.

Nhưng Ba Ba thà chết chứ không khai, cho nên Kawa Hihara đến chết cũng không biết được ngọn ngành.

Sau đó, Kawa Hihara bỏ đi, Ba Ba vẫn bị nhốt trong nhà giam, một hôm bà Cố lén lút đi thăm Ba Ba, khi ấy những ngày còn sống của Ba Ba đã không còn nhiều.

Chính từ lần gặp ấy, bà Cố biết được không ít chuyện từ Ba Ba, gồm cả chuyện Ba Ba đã chuyển tin tình báo ra ngoài như thế nào.

“Ba Ba nói với tôi, gặp trường hợp có tin tình báo khẩn cấp bất ngờ gửi cho ông ấy, nhất định phải xem ngay, nắm bắt nội dung, sau đó căn cứ vào độ khẩn cấp của tin để đưa ra cách xử lý, phương thức xử lý khẩn cấp nhất là đến bưu điện trực tiếp gọi điện thoại cho trên tổ chức.”

Bà Cố giải thích, “Như vậy tất nhiên là mạo hiểm, bởi vì như thế có khả năng kẻ thù biết được điện thoại của tổ chức.

Nhưng đôi khi có những chuyện cần mạo hiểm thì vẫn phải mạo hiểm, chẳng có cách nào khác, làm nghề tình báo như chúng tôi vốn đã là mạo hiểm rồi, đầu óc lúc nào cũng luôn tỉnh táo.

Ba Ba bảo sau đó ông ấy gọi điện thoại thông báo với tổ chức, bởi vì quá gấp, các phương thức khác đều không được, chỉ còn cách mạo hiểm.

Lần mạo hiểm ấy của ông hóa ra lại hay, bởi vì kẻ thù không thể theo sát kè kè bên cạnh ông ấy được, phải luôn giữ khoảng cách nhất định, cho dù nhìn thấy ông ấy đang gọi điện thoại, cũng không biết được ông ấy đang nói gì.

Tin tình báo vì thế mà được chuyển đi, Lý Ninh Ngọc coi như là đã chết không vô ích”.

Tôi nhanh chóng đưa ra câu hỏi hai.

Bà Cố vừa nghe xong, tâm trạng thay đổi ngay, bùi ngùi, thương cảm vô cùng.

Sau đó nói liền một mạch, mặc dù không nhịn được nghẹn ngào, khiến tôi vô cùng bối rối.

Tiếng nghẹn ngào của một người già ở tuổi xưa nay hiếm, khiến trời xanh cũng phải động lòng…

Dùng khăn ấm lau mặt xong, uống một ngụm nước ấm, bà Cố mới bình tĩnh lại được, một lần nữa nhớ lại chuyện xảy ra trong nhà vệ sinh tối hôm ấy.

Bà Cố kể, tối hôm ấy Lý Ninh Ngọc quỳ dưới đất giao ba vỏ thuốc cho bà, quỳ xuống rồi không đứng lên nữa.

“Bà ấy muốn tôi thề với bà ấy rằng nhất định phải giúp bà ấy đưa vỏ thuốc cho Ba Ba, nếu không bà ấy không chịu đứng lên.”

Bà Cố không ngừng lắc đầu như đang quay lại cảnh tượng của tối hôm ấy, nhìn Lý Ninh Ngọc đang quỳ trước mặt bà.

“Tôi kéo bà ấy đứng dậy, bà ấy lại quỳ xuống, cứ như vậy không biết bao nhiêu lần.

Tôi vốn định không chịu thề với bà ấy, dựa vào đâu, cô cầu xin tôi giúp đỡ lại còn bắt tôi phải thề, làm gì có chuyện vô lý như thế?

Nhưng bà ấy cứ kiên quyết như vậy, quỳ dập hết lần này đến lần khác, cuối cùng đầu gối xây xát, máu chảy đầm đìa.

Tôi không nhẫn tâm nhìn tiếp, đành đồng ý, thề với bà ấy.

Cậu nói xem, tại sao bà ấy cứ phải như thế, kiên quyết như thế?

Bởi vì bà ấy biết rõ trong bối cảnh này không thể đe dọa tôi được nữa, chỉ có thể cảm hóa tôi, chiếm được tình cảm của tôi, mới có được sự giúp đỡ của tôi.

Nói một câu thật lòng thế này, sau đó tôi có do dự nên giúp hay không giúp bà ấy, dù gì thì việc này cũng nguy hiểm, nhưng cứ mỗi khi do dự là tôi lại nghĩ đến hình ảnh bà ấy quỳ trước mặt tôi không chịu đứng dậy, cái dáng trên mặt thì nước mắt đầm đìa, dưới ống quần máu thấm ướt sũng, thật đáng thương!

Trái tim con người cũng là máu thịt, có một số chuyện là như thế đấy, chỉ một ý nghĩ mà thành, cuối cùng tôi có thể chiến thắng sự hận thù và nỗi sợ hãi đối với bà ấy, sự đồng tình và lòng thương là rất quan trọng.”

Là thông cảm, là lòng thương, không phải là giác ngộ.

Không phải cố tình đề cao mình, tôi không có lí do để không tin phục.

Đối với vấn đề thứ ba, bà Cố bảo tôi, sau sự việc này, đúng là Kawa Hihara có đưa bà và những người còn lại trong bọn họ đi, bởi vì đến phút chót hắn vẫn không biết ai là đồng bọn của Lão Quỷ, chỉ còn cách đem người đi, đến Thượng Hải để tra khảo.

Sau khi đến Thượng Hải, bà và đám người bọn họ tách ra, bà cũng không biết bọn họ được đưa đi đâu.

Sau này chỉ có bà và Vương Điền Hương được đưa trở lại doanh trại, tung tích của những người khác đều không ai biết.

“Theo phán đoán, bọn họ chắc cũng không có kết cục gì tốt đẹp, cho dù không phải là chết, cũng là sống chẳng bằng chết.”

Chỉ còn lại một vấn đề cuối cùng: Là ai đã giết Kawa Hihara?

Với thắc mắc này, bà Cố không hề khiêm tốn bảo tôi là do chính bà giết, đồng thời nói với tôi về thời gian, địa điểm, người thực hiện, phương thức, các tình tiết giết Kawa Hihara một cách rành rọt, có đầu có cuối, đủ thấy không phải là hư cấu.

Nói tóm lại là bà Cố đã bỏ ra bốn nén vàng thuê hai sát thủ chuyên nghiệp trong xã hội đen để giết Kawa Hihara, theo yêu cầu, sát thủ chặt Kawa Hihara ra thành ba phần, vứt ngoài đường phố.

Tôi hỏi bà Cố tại sao phải tự bỏ vàng ra để thuê người giết Kawa Hihara, hơn nữa còn tàn bạo đến thế, ngay cả đối với thi thể cũng không chút nể tình.

Bà Cố nhìn tôi chằm chằm hồi lâu, chưa hết, rất nhanh cảnh cáo tôi: “Có một số người cả đời cố gắng để quên đi một số chuyện, cậu cứ truy hỏi tới cùng cũng là không có đạo đức đâu.”

Có rất nhiều chi tiết khiến tôi cảm nhận rất rõ rằng bà Cố chấp nhận cuộc phỏng vấn của tôi với nhiều tâm trạng phức tạp, một mặt bà hy vọng tôi hiểu rõ được sự thật của giai đoạn lịch sử ấy, mặt khác bà lại không muốn người ta chú ý tới giai đoạn lịch sử ấy.

Nói một cách khác, nguyện vọng lớn nhất của bà là hy vọng giai đoạn lịch sử ấy mãi mãi bị bịt kín, không bị phơi bày, giờ nói ra chỉ là vì bất đắc dĩ mà thôi ‐ bởi vì có người muốn thay đổi nó ‐ bao gồm cả tôi.

Với giai đoạn lịch sử ấy, để người khác bóp méo, làm trò, chi bằng tự mình đứng ra xé giấy niêm phong, tôi nghĩ đây cơ bản mới là tâm trạng thật của bà Cố.

Bà đã từng không dưới một lần cảnh cáo tôi: Quyền giải thích giai đoạn lịch sử này ngoài bà ra không còn ai khác, muốn tôi không được tin theo những lời bịa đặt, mà hãy tin những gì bà đã nói.

Khi tôi từ biệt bà ra về, bà Cố lại nhấn mạnh với tôi:

“Anh bạn trẻ, tôi đã ở cái tuổi cổ lai hy rồi, tám mươi sáu tuổi rồi, nửa phần cơ thể tôi đã chôn dưới đất rồi.

Lẽ nào tôi gọi cậu từ xa tới là để nói dối với cậu, đổi lấy danh ư?

Ầy, tôi lấy cái danh để làm gì chứ?

Tôi đã qua cái tuổi tranh danh đoạt lợi rồi.

Cái tôi cần là sự thật!

Chẳng phải cái cậu chú trọng nhất là thật sự cầu thị ư, tôi cần thật sự cầu thị.

Nếu hôm nay tôi không gọi cậu tới, lỡ có một ngày tôi mất rồi, sự thật bị cậu sửa chữa, chính là cậu đang lừa dối mọi người đấy.”

Tôi tin những gì bà Cố nói, chỉ có điều vẫn thấy có phần khó hiểu.

Tôi thấy, giai đoạn lịch sử ấy với bà Cố không hề có tì vết gì, thậm chí còn là vinh quang rạng rỡ đến vậy, vậy tại sao bà lại cố muốn giấu kín?

Lúc này, nói thật, từ thế hệ sau của Vương Điền Hương tôi đã tìm hiểu được ẩn tình trong đó, nhưng tôi quyết định không công khai.

Tôi muốn thay bà Cố giữ bí mật này, không oán không hận.

Tôi có thể tưởng tượng được, sở dĩ bà Cố giữ kín đến vậy câu chuyện của một giai đoạn lịch đã qua chắc chắn là để bí mật ấy của bà không bị xâm phạm.

Giờ đây bà nói đã đủ nhiều rồi, hãy cho phép chúng tôi vì bà mà im lặng một lần.

Không nên vì thế mà cảm thấy có điều gì đáng tiếc, thực ra trên thế giới này, những chuyện được giữ kín nhiều hơn rất nhiều so với những chuyện được công khai.
 
Tiểu Thuyết Phong Thanh
Ngoại truyện LẶNG GIÓ


LỜI TỰA

Lặng gió là thuật ngữ chuyên ngành khí tượng, nói nôm na là không có gió.

Thực ra gió luôn luôn có, có không khí lưu chuyển thì có gió, chỉ có điều khi dòng lưu chuyển nhỏ tới một mức độ nhất định (0.2 m/giây) thì chúng ta không cảm nhận được.

Tri giác của con người rất hạn chế, rất nhiều thứ chúng ta không nhìn thấy, không nghe thấy, không cảm nhận được, nhưng chúng vẫn dập dờn bên cạnh chúng ta, thậm chí còn ảnh hưởng tới chúng ta nhiều hơn cả những thứ mà mọi người đều nhìn thấy.

Tôi gọi phần này là phần Ngoại truyện, không phải là muốn bày đặt màu mè, mà là muốn nói rõ: Câu chuyện liên quan tới Lý Ninh Ngọc đã kết thúc, phần này không liên quan gì đến câu chuyện ấy.

Vậy liên quan đến cái gì?

Không tiện nói.

Tôi cảm thấy ngoài điều không liên quan tới câu chuyện ở trên ra, dường như liên quan tới tất cả mọi thứ, tạp nham đủ thứ, giống như vừa bước vào đời, chuyện gì cũng có, chỉ là không có những điều ăn khớp với nhau mà thôi.

Có người nói cốt truyện là phần nổi của tiểu thuyết, vậy thì đây chính là phần chìm rồi.

Do mê tín, từng chữ trong phần này, tôi đều chọn viết trong đêm khuya và những ngày trời mưa u ám, tôi nghĩ nếu như chọn thời gian đọc giống như vậy, có thể sẽ có được những kết quả bất ngờ.

Nghe nói có một cuốn sách, Le Dictionnaire Khazar (Từ điển Kazar) xuất bản năm 1961, độc giả đọc trong đêm khuya sau giờ tý có thể tự rước họa sát thân, nhưng tôi bảo đảm sách của tôi bất kể đọc lúc nào cũng không rước lấy bất kỳ tai họa nào.
 
Back
Top Bottom