Cập nhật mới

Trọng Sinh Tiểu Thanh Mai Của Thủ Phụ Đại Nhân

Tiểu Thanh Mai Của Thủ Phụ Đại Nhân
Chương 100: Chương 100


Trên phố Trường An, Ngọc Kinh lâu

Tiếng đàn róc rách, tiếng cười nũng nịu không ngừng vọng ra từ phòng bên ngoài.

Tiết Vô Vấn xoay chiếc nhẫn ngọc trên tay, nhìn Chu Dục Thành ngồi đối diện với nụ cười nửa miệng, rót đầy rượu cho ông ấy rồi trêu: “Cứ tưởng hôm nay thế thúc sẽ hẹn con đi ăn mì, ai ngờ lại đến Ngọc Kinh lâu? Chắc thế thúc đến đây là vì Tô ma ma phải không?”

Trong cả Thịnh Kinh, những lời đồn đại về chuyện tình giữa Chu Dục Thành và Tô Ngọc Nương chưa bao giờ dứt.

Ai cũng nói Tô Ngọc Nương, hoa khôi hạng nhất một thời có vô số người theo đuổi, mà vị Thứ phụ đại nhân trước mặt là một trong số đó.

Chu Thứ phụ tuổi không còn trẻ nhưng vẫn chưa thành thân, nghe nói là vì Tô Ngọc Nương.

Nhưng Tiết Vô Vấn biết, không phải Chu Thứ phụ không muốn thành thân, mà là Tô Ngọc Nương không muốn gả. Trước đây Tô Ngọc Nương cũng đã từng muốn gả cho ông ấy, khi đó ông ấy chỉ là một tiểu quan Cửu phẩm, còn bà ta là kỹ nữ nổi tiếng khắp Kinh thành.

Nếu hai người kết hôn, cũng coi là một chuyện tình đẹp được ca tụng.

Nhưng lúc đó mẫu thân của Chu Thứ phụ kiên quyết không đồng ý cho ông ấy cưới Tô Ngọc Nương, ông ấy lại là người con có hiếu, nên mối hôn sự đó đành phải bỏ dở. Giờ mẫu thân của Chu Thứ phụ đã qua đời từ lâu, Tô Ngọc Nương cũng từ hoa khôi nổi tiếng một thời trở thành Tô ma ma của Ngọc Kinh lâu.

Bà ta không cắt đứt với Chu Dục Thành, nhưng cũng không gả cho ông ấy, cứ thế, khi ông ấy đến, bà ta cùng uống rượu, trò chuyện. Lúc hứng khởi thì cùng vui vẻ.

Nếu không đến, cũng chẳng sao.

Bà ta bận rộn từng ngày, không chỉ phải nắm bắt mọi tin tức lớn nhỏ trong Thịnh Kinh, còn phải chăm sóc sức khỏe cho rất nhiều cô nương trong lầu, quả thực còn vất vả hơn cả thời làm hoa khôi.

Tất nhiên, bản thân Tô Ngọc Nương rất hài lòng với sự bận rộn này, nữ tử đâu phải chỉ có con đường xuất giá.

Bà ta là mật thám được Định Quốc Công tiền nhiệm bồi dưỡng kỹ lưỡng, khi từ Túc Châu đến Thịnh Kinh, đã chuẩn bị tinh thần cả đời không xuất giá.

Làm sao Chu Dục Thành không nghe ra ý trêu chọc trong lời Tiết Vô Vấn, nhưng cũng không tức giận.

Hôm nay ông ấy đến Ngọc Kinh lâu đúng là muốn gặp Tô Ngọc Nương một lần, chỉ là lúc này việc chính chưa xong, cũng không vội vàng gì một chốc một lát.

“Sao thế? Bảo con ra ngoài uống rượu với ta hôm nay, làm khó con rồi à?” Chu Dục Thành nâng chén rượu lên, từ từ uống cạn, cười cười rồi nói: “Hay là con sợ cô nương Vệ gia không cho con vào nhà? Tiết Vô Vấn con mà cũng có chuyện phải sợ sao?”

Tiết Vô Vấn cười không để ý, cà lơ phất phơ nói: “Điệt nhi không tài giỏi gì, quả thực là người sợ vợ. Huống chi hôm nay đoàn tụ sum vầy, bà nội đã mở tiệc trong phủ. Con còn chưa ăn cơm, lúc này bụng vẫn đang đói meo!”

Chu Dục Thành liếc nhìn hắn ta, nói: “Nếu không phải con giấu ta, không sớm nói với ta rằng vị Trạng nguyên lang đó là cháu của Vệ Thái phó, ta đâu có gọi con ra ngoài hôm nay?”

Ý trong lời là, Tiết Vô Vấn con giấu ta lâu như vậy, hôm nay ta cố tình gọi con ra ngoài đúng lúc con có hẹn với người đẹp, con làm gì được ta?

Tiết Vô Vấn sờ sờ mũi, chuyện này đúng là hắn ta có lỗi.

“Việc này quả thật là con suy nghĩ không chu đáo, con tự phạt ba chén.” Nói xong, bèn nghiêm túc rót đầy ba chén rượu, uống một hơi cạn sạch.

Chu Dục Thành hừ lạnh một tiếng bằng giọng mũi, cũng không tính toán với hắn ta nữa. Dù sao việc Tiết Vô Vấn giấu thân phận của Hoắc Giác, ông ấy cũng có thể hiểu được.

Vụ án mưu phản bảy năm trước, ở Thịnh Kinh là chuyện cũ không ai dám đụng đến.

Nếu thân phận của Hoắc Giác bị người ta biết được, vị Đại tiểu thư Vệ gia đang ẩn náu trong phủ Định Quốc Công cũng sẽ bị bại lộ, đến lúc đó, e rằng cả phủ Định Quốc Công cũng sẽ gặp họa.

Ít một người biết thì ít một phần rủi ro, bất kể người đó có phải là người đáng tin tưởng hay không.

***

Khi Hoắc Giác đến Văn Anh các, Tiết Vô Vấn đã uống hết một bình rượu.

Thấy cậu em rể này cuối cùng cũng đến, vị Chỉ huy sứ Cẩm Y Vệ kia bèn vội giơ quạt giấy lên, chỉ vào Hoắc Giác nói: “Người Chu thế thúc đợi đã đến, con có thể đi trước được không?”

Chu Dục Thành liếc nhìn hắn ta, nói: “Mật thư phụ thân con chuyển cho ta, con không muốn biết sao?”

Lúc này sắc mặt Tiết Vô Vấn mới nghiêm túc trở lại, nói: “Điệt nhi xin lắng nghe.”

Thực ra không cần Chu Dục Thành nói, Tiết Vô Vấn cũng đoán được là chuyện gì. Chỉ là cha hắn ta chọn nói việc này với Chu Dục Thành mà không gửi tin cho hắn ta, điều này thật đáng suy ngẫm.

Chu Dục Thành mỉm cười nhìn hắn ta, rồi nhìn Hoắc Giác đang đứng một bên cung kính hành lễ với ông ấy, nói: “Ngồi xuống đi. Không chiếm nhiều thời gian của các con đâu, lát nữa sẽ thả các con về bên nương tử.”

Hoắc Giác ngoan ngoãn ngồi xuống đệm mềm bên cạnh Tiết Vô Vấn, nói: “Đa tạ Thứ phụ đại nhân.”

Chu Dục Thành thong thả nhìn Hoắc Giác, nói: “Bài văn trong kỳ thi Hội của cậu, ta và Lăng Thủ phụ đều đã xem qua, cậu có biết sau khi xem xong ta đã nói gì với Lăng Thủ phụ không?”

Ông ấy và Lăng Duệ là quan chủ khảo kỳ thi Hội năm nay, khi chấm bài đều ở cùng một phòng. Đến giờ Chu Dục Thành vẫn nhớ, hôm đó khi đọc bài thi của Hoắc Giác, ông ấy đã ngạc nhiên thế nào.

Hoắc Giác tất nhiên biết lời Chu Dục Thành nói chắc chắn là lời khen ngợi, nhưng vẫn khiêm tốn đáp: “Hạ quan không biết.”

Chu Dục Thành nhìn người thanh niên đoan chính thận trọng này, thầm thở dài: Đúng là người Vệ gia, dù đã mai danh ẩn tích bảy năm, vẫn không che giấu được ánh hào quang.

“Ta nói với Lăng Thủ phụ rằng, nếu xem người qua văn chương, thì sĩ tử viết bài này quả có phong cách của Vệ Thái phó ngày xưa. Văn phong lão luyện hùng hồn, từng câu từng chữ đều có ý nghĩa sâu xa, như từ cao nhìn xuống, vừa có thể thấu suốt toàn cục, lại có thể tỉ mỉ chi tiết.”

Dám nhắc đến Vệ Hạng trước mặt Lăng Duệ một cách không chút e ngại như vậy, trong Thịnh Kinh chỉ có Chu Dục Thành và Định Quốc Công Tiết Tấn.

Lăng Duệ từ khi có công theo phò vua, nắm giữ quyền lực lớn, ít nhiều cũng có chút coi thường những công tử thế gia chỉ dựa vào sự che chở của tổ tiên mới có thể vào Kinh làm quan.

Mà thế gia lớn nhất thiên hạ chính là Vệ gia ở Thanh Châu, sau khi Vệ gia bị ông ta nhổ tận gốc, ông ta càng khinh thường thế gia.

Nghe xong lời Chu Dục Thành, Lăng Duệ bèn cười không đồng tình: “Cái gọi là phong cách thế gia, chẳng qua chỉ là lời khen của kẻ vô dụng. Người thực sự có tài, từ xưa đến nay không phải dựa vào tổ tiên.”

Nói như thể Lăng Duệ có thể từng bước thăng tiến ở Thịnh Kinh mà chưa từng cần sự giúp đỡ của nhà nhạc phụ và Vương gia của Doanh Châu vậy.

Chu Dục Thành vốn biết Lăng Duệ là kẻ ngụy quân tử, cũng không tranh cãi với ông ta, chỉ cười đáp: “Ta đánh cược với Lăng Thủ phụ, chỉ riêng với tầm nhìn bao quát và cái nhìn đại cục như từ cao nhìn xuống của người này, ta cá rằng sau này nhất định sẽ làm đến chức vị cao nhất.”

Lúc đó ông ấy đánh cá với Lăng Duệ, chẳng qua là vì không ưa cái kiểu ngụy quân tử của ông ta, muốn nói vài câu châm chọc.

Nhưng giờ nghĩ lại, trên đời này có mấy người có được phong cách của Vệ Thái phó?

Ngoài mấy người hậu bối Vệ gia, quả thật trong vạn người khó tìm được một.

Hoắc Giác tất nhiên nghe ra ý khen ngợi và bảo vệ của Chu Dục Thành dành cho mình, chắp tay cúi người, nghiêm túc nói lời cảm ơn: “Thứ phụ đại nhân quá khen, Giác còn chưa bằng một phần vạn của ông nội.”

Chu Dục Thành nhướn mày, không ngờ hắn lại thẳng thắn nhận mình là hậu duệ Vệ gia như vậy.

Dĩ nhiên ông ấy không biết, trước đây Hoắc Giác làm cho tiểu thiếp Chu Dục Thành đặt trong phủ Tề Xương Lâm thuận lợi chuyển tin tức đến Chu phủ, vốn đã có ý định kéo ông ấy vào cục diện, vì vậy Hoắc Giác chưa bao giờ định giấu giếm thân phận của mình với ông ấy.

Chu Dục Thành khẽ gật đầu, ánh mắt nhìn Hoắc Giác càng thêm hiền từ.

“Trước kia ta bị giáng chức đến Túc Châu, may mắn được Vệ Thái phó chỉ dạy. Đáng tiếc bảy năm trước, ta lực bất tòng tâm, dù là Thái tử Thái tôn hay Vệ gia Hoắc gia, đều không thể kịp thời ra tay viện trợ.”

Chu Dục Thành không giống Định Quốc Công, ông ấy chỉ là kẻ sĩ tầm thường, sau khi bị giáng chức khỏi Kinh thành, nhờ ân sư ở Kinh thành vận động, lại có Định Quốc Công tiến cử, mới được vào Kinh thành làm quan lần thứ hai.

Vụ án mưu phản của Thái tử bảy năm trước, ông ấy tưởng sẽ có đủ thời gian để rửa sạch nghi ngờ cho Thái tử. Nhưng không ngờ, chỉ trong vỏn vẹn bảy mươi hai ngày, không chỉ có vụ án mưu phản đã được định đoạt, mà thế sự triều chính còn hoàn toàn thay đổi.

Chu Dục Thành có quan hệ ở Thịnh Kinh, nhưng trong vụ án của Thái tử, những mối quan hệ đó vốn không có tác dụng gì lớn, huống chi là đi xa đến Thanh Châu cứu người.

“Thứ phụ đại nhân nói quá lời rồi. Vụ án oan khuất bảy năm trước, ngay cả ông nội và ông ngoại cũng không ngờ tới, huống chi là người xung quanh.”

Chu Dục Thành thở dài: “Giờ nhắc lại chuyện xưa cũng vô ích, muốn lật lại vụ án, cũng phải từ từ mà làm. Hôm qua ta nhận được tin từ Định Quốc Công, Định Viễn Hầu Tuyên Nịnh đột nhiên xuất hiện ở biên giới Túc Châu hồi đầu tháng, tiếp xúc với vị Nhị Hoàng tử của Bắc Địch. Còn về việc hai người họ nói gì, hiện tại vẫn chưa thể biết được.”

Những người có mặt ở đây đều là người tinh tường, dù không biết rõ Định Viễn Hầu đã đạt được thỏa thuận gì với Nhị Hoàng tử Bắc Địch, nhưng cũng có thể đoán ra được tám chín phần.

Trong bảy năm qua có lẽ Lăng Duệ đã bị quyền lực làm cho mờ mắt, lại dám làm chuyện bảo hổ lột da mà b*n n**c như vậy.

Hơn nữa gan cũng thật lớn, Túc Châu là nơi nào chứ? Túc Châu chính là nơi đóng quân của phủ Định Quốc Công đời đời kiếp kiếp, người ở đó ai ai cũng trung thành với phủ Định Quốc Công, ngay cả dân chúng cũng chỉ biết đến Định Quốc Công Tiết Tấn, chưa từng nghe đến Thành Thái Đế.

Bảy năm trước Tiết Tấn bị ám toán, sau khi chịu một thiệt hại lớn, việc giám sát Túc Châu càng thêm nghiêm ngặt, nói là kiên cố như thành đồng cũng không quá.

Đoàn người của Định Viễn Hầu, dù đã chuẩn bị kỹ càng, cải trang đến mức cha mẹ cũng không nhận ra, nhưng vẫn không thoát khỏi con mắt của dân chúng Túc Châu.

Từ khi họ bước vào địa phận Túc Châu, đã bị người ta theo dõi.

Hoắc Giác và Tiết Vô Vấn đưa mắt nhìn nhau, nếu Định Quốc Công đã biết chuyện này, có lẽ cũng sẽ sớm biết được nhiều việc ở Thịnh Kinh.

Chu Dục Thành nhìn hai người họ, bỗng cười nói: “Chuyện này, có phải các con đã biết từ sớm rồi không?”

Hoắc Giác thẳng thắn gật đầu, nói: “Mấy tháng trước Đô sát viện tìm được một quyển sổ từ bảy năm trước ở nha môn Binh bộ, trong đó có vài khoản mập mờ chỉ thẳng đến Bắc Địch. Từ đó, Đô sát viện bắt đầu để mắt đến Hồ Thượng thư. Hồ Thượng thư vừa mới định hôn sự với phủ Định Viễn Hầu, Định Viễn Hầu đột nhiên rời khỏi Thịnh Kinh, đến Túc Châu, sao có thể không gây chú ý? Giám sát Ngự sử mà Đô sát viện phái đến Túc Châu, chắc sẽ sớm truyền về tin tức.”

“Trùng hợp quá phải không?” Tiết Vô Vấn khẽ cười, ngón tay dài gõ gõ lên án thư, nói: “Mật thám của Cẩm Y Vệ ở Thanh Châu cũng đã bí mật tìm được một quyển sổ từ bảy năm trước trong phủ Lăng Nhược Phàm, trong đó có ba khoản tiền không nhỏ chuyển đến quân Nam Thiệu. Tháng trước còn điều tra được tâm phúc của Tần Vưu đã gặp mặt Đại tướng của quân Nam Thiệu, có lẽ mưu đồ không nhỏ.”

Hai tiểu tử này tên nào tên nấy nói năng trôi chảy, còn khá là có lý.

Nhưng trên đời làm gì có chuyện trùng hợp như vậy?

Hai quyển sổ đồng thời xuất hiện, một quyển ở Đô sát viện, một quyển ở Cẩm Y Vệ, lại vừa hay đều bị hai người họ phát hiện?

Chu Dục Thành nhìn họ đầy ẩn ý sâu xa, cười nói: “Thật là trùng hợp.”

Nếu bảy năm trước Nam Thiệu, Bắc Địch đã có thể trùng hợp tấn công Đại Chu vào lúc vụ án mưu phản của Thái tử xảy ra.

Thì sao những trùng hợp hiện tại lại không thể?

Chu Dục Thành nhìn về phía Hoắc Giác: “Ta đã xem qua quyển sổ trong tay Lỗ đại nhân, hiện giờ ông ấy đang cùng Tông đại nhân điều tra vụ án này. Quyển sổ đó là cậu tìm ra từ Binh Bộ, làm sao cậu biết quyển sổ đó xuất phát từ tay Tề Xương Lâm?”

Hôm trước sau khi nhận được tin từ Định Quốc Công, ông ấy đã đến Đô sát viện một chuyến. Từ miệng Lỗ Thân biết được về quyển sổ này, lại nghe Tông Già nhắc đến, quyển sổ đó xuất phát từ tay Tề Xương Lâm.

Bảy năm trước, Lăng Duệ câu kết với Bắc Địch, Nam Thiệu, âm thầm đưa ra một số lượng lớn bạc, để bọn chúng cùng tấn công Đại Chu, gây ra hỗn loạn.

Những sổ sách đó, theo lý mà nói, đáng lẽ đã bị tiêu hủy. Tề Xương Lâm lén lút dùng nét chữ của Hồ Đề sao chép ra một quyển sổ giống hệt, có lẽ là chuẩn bị khi sự việc bại lộ, dùng để tự bảo vệ mình.

Theo hiểu biết của Chu Dục Thành về Tề Xương Lâm, ông ta quả thực sẽ để lại một thủ đoạn như vậy. Nhưng thứ quan trọng như vậy, theo lý mà nói, ông ta sẽ không để ở trong nha môn Binh Bộ.

Người ta thường nói nơi nguy hiểm nhất chính là nơi an toàn nhất, một phòng chứa đồ vụn vặt bình thường không ai đến, dường như là một nơi tốt để cất giấu quyển sổ này.

Nhưng Tề Xương Lâm chưa từng tin vào điều đó, càng là thứ quan trọng, ông ta càng phải nắm chặt trong tay mình, ngày ngày đều có thể nhìn thấy sờ thấy, mới yên tâm.

Cũng vì vậy, trong mắt Chu Dục Thành, quyển sổ đã được cất giấu ở Binh Bộ, thì không có khả năng xuất phát từ tay Tề Xương Lâm.

Hoắc Giác tất nhiên đoán được sự nghi ngờ của Chu Dục Thành, hắn ngước mắt lên, khẽ nhếch môi, nói: “Chính thất của Tề Thượng thư, Tú nương tử, hiện đang làm đầu bếp trong quán rượu do thê tử của ta kinh doanh. Có lẽ sau khi Thứ phụ đại nhân gặp Tú nương tử một lần, sẽ biết được vì sao Tề Thượng thư lại mạo hiểm để lại quyển sổ đó.”

Hai bức thư trong tay Dư Tú Nương, cũng đã đến lúc nên lấy ra rồi.

***

Càn Thanh cung.

Hàng chục ngọn đèn Phật không ngừng cháy sáng, cả cung điện sáng như ban ngày.

Huệ Dương Trưởng Công chúa ngồi xếp bằng trên đệm nhung mềm mại như thuở còn thơ, chậm rãi rót đầy rượu vào chén rượu dưới đất.

“Ngày xưa khi Phụ Hoàng còn sống, không quan tâm là năm nào tháng nào, đều không cho ta uống rượu. Mỗi lần Huệ Dương đều phải nhìn các huynh uống, hôm nay cuối cùng không bị Phụ hoàng gò bó nữa.” Huệ Dương Trưởng Công chúa nâng chén rượu, đưa cho Thành Thái Đế, tiếp tục nói: “Đây là rượu do Kim ma ma nấu cho ta, Hoàng huynh nếm thử xem.”

Thành Thái Đế nhận lấy chén rượu, chậm rãi nói: “Muội vốn không chịu được rượu, chẳng qua là Phụ, Phụ hoàng sợ muội say rượu sẽ đau đầu mà thôi.”

Huệ Dương Trưởng Công chúa nhẹ nhàng “Ừm” một tiếng: “Nhưng lần nào Hoàng huynh cũng lén cho người mang rượu đến cho ta.”

Thành Thái Đế không thể chịu được dáng vẻ thèm thuồng của nàng ấy, âm thầm sai người mang rượu đến cho nàng ấy, sau khi mang đến lại sợ nàng ấy uống nhiều rượu sẽ đau đầu, lại dặn dò Kim ma ma không được để nàng ấy uống nhiều, ngay cả canh giải rượu cũng chuẩn bị sẵn cho nàng ấy.

Có lúc Huệ Dương Trưởng Công chúa sẽ cảm thấy, Thành Thái Đế không chỉ xem mình như muội muội, mà còn xem nàng ấy như nữ nhi vậy, cưng chiều hết mực, còn hơn cả Phụ hoàng.

Ngày xưa trong cung, ai không biết, Khang Vương và muội muội ruột Huệ Dương Trưởng Công chúa của mình là có tình cảm tốt nhất.

Thành Thái Đế uống cạn chén rượu, cười nói: “Những thứ Huệ Dương thích, chỉ cần Hoàng huynh có trong tay, thế nào cũng sẽ cho muội.”

Huệ Dương Trưởng Công chúa đặt chén rượu xuống, đăm đăm nhìn khuôn mặt xanh xao bệnh tật của Thành Thái Đế, thật sự không hiểu, một người huynh trưởng yêu thương mình như báu vật quan trọng nhất như vậy, tại sao lại có một mặt thế kia?

Năm bảy tuổi, nàng ấy chơi trốn tìm với cung nữ, lén lút trốn vào điện Xuân Hòa. Nàng ấy luôn nhớ rõ, khi trốn không được động đậy cũng không được phát ra tiếng động.

Ngày hôm đó thời tiết cực kỳ xấu, sấm chớp rền vang, mưa như trút nước.

Nàng ấy trốn dưới long sàng của mẫu phi, chứng kiến Hoàng huynh xé rách xiêm y của một tiểu cung nữ thế nào, rồi cười và bóp cổ nàng ta ra sao, hỏi nàng ta có thích không.

Cung nữ đó đầy vẻ kinh hãi, ra sức vùng vẫy nhưng cũng chỉ có thể dần dần kiệt sức như con chim vỗ cánh, cuối cùng chỉ có thể mềm nhũn buông tay xuống. Khi nàng ta nghiêng đầu nhìn về phía này, vừa hay chạm phải ánh mắt của Huệ Dương.

Đôi mắt chết lặng của tiểu cung nữ chợt sáng lên trong giây lát, môi thậm chí còn mấp máy mấy cái.

Tiếng sấm ầm ầm, hoàn toàn không có ai nghe rõ giọng nói nhỏ như muỗi kêu của nàng ta, nhưng Huệ Dương Trưởng Công chúa đã nhìn rõ nàng ta nói gì.

“Cứu ta.”

Đáng tiếc lúc đó nàng ấy còn quá nhỏ cũng quá sợ hãi, cả người nàng ấy run rẩy, trơ mắt nhìn tiểu cung nữ đó tắt thở trước mặt mình.

Sau khi Hoàng huynh rời đi, nàng ấy thậm chí không dám bò ra khỏi gầm giường. Thân hình nhỏ bé co ro lại, mơ màng lên cơn sốt, ngất đi, cho đến khi người của mẫu phi tìm được nàng ấy, đã qua nửa ngày rồi.

Mẫu phi hỏi nàng ấy, có nhìn thấy gì không?

Huệ Dương Trưởng Công chúa nhìn đôi mắt đầy lo âu của mẫu phi, khẽ lắc đầu, nói một tiếng “Không ạ”.

Từ đó về sau, nàng ấy mắc bệnh sợ đêm mưa sấm chớp. Triệu Vân thường cười nhạo nàng ấy nhát gan, trước đây nàng ấy còn không phục. Nhưng hiện giờ nghĩ lại, nàng ấy thật sự là một kẻ nhát gan.

Nếu không phải nhát gan, đêm Phụ hoàng băng hà, nếu nàng ấy có thể đến sớm hơn một chút, hoặc dũng cảm hơn đẩy Hoàng huynh ra, dùng cái chết uy h**p, dùng mạng mình ép Hoàng huynh cứu người, thậm chí rút trâm vàng trên đầu, hung hăng đâm bị thương ông ta.

Có lẽ… Phụ hoàng sẽ không chết.

Khi nàng ấy xông vào Càn Thanh cung, Phụ hoàng đã bị ép uống nửa bát thuốc.

Ông trừng mắt giận dữ, trừng Dư Vạn Chuyết, trừng Thành Thái Đế.

Nhưng sau khi Huệ Dương Trưởng Công chúa vào, sự giận dữ trong mắt ông dần dần tan biến, chuyển sang nhìn nàng ấy thật sâu.

Thừa Bình Đế lúc đó hoàn toàn không nói được lời nào, chỉ có thể phát ra tiếng “khục khặc” đau đớn.

Nhưng Huệ Dương Trưởng Công chúa đã hiểu ánh mắt cuối cùng của Thừa Bình Đế.

Ông nói, cứu ta.

Giống như tiểu cung nữ trong điện của mẫu phi nhiều năm trước, tuyệt vọng lại đầy hy vọng nói với nàng ấy, cứu ta.

Đáng tiếc đã muộn, nửa bát thuốc độc đó đã uống vào, Phụ hoàng sớm đã mất đi cơ hội sống sót.

Tiểu Huệ Dương bảy tuổi không cứu được tiểu cung nữ đó, Huệ Dương lớn lên cũng không cứu được Phụ hoàng.

Huệ Dương Trưởng Công chúa khẽ nhắm mắt lại, đôi mắt đỏ hoe nhanh chóng chảy ra hai hàng lệ.

“Hoàng huynh nói Huệ Dương muốn thứ gì, huynh đều sẽ cho ta, có thật không?”

Thành Thái Đế thấy muội muội được cưng chiều từ nhỏ đến lớn đột nhiên rơi lệ, vội vàng đưa tay lau nước mắt cho nàng ấy, hốt hoảng nói: “Đương nhiên là thật! Huệ Dương muốn gì, Hoàng huynh đều cho muội!”

Đây không phải lần đầu Huệ Dương Trưởng Công chúa nghe được những lời này.

Ngày xưa khi Thành Thái Đế còn là Khang Vương, thường hay nói với nàng ấy: “Huệ Dương muốn gì, Hoàng huynh đều sẽ đoạt về cho muội.”

Ông ta vốn không phải người tốt, nhưng luôn là một người huynh trưởng tốt.

Chính vì ông ta đối tốt với nàng ấy, ngày đó nàng ấy mới cướp được mật chiếu trong tay Triệu Vân, giam hắn ta ở phủ Công chúa, tự mình vào cung.

Hơn nữa… sau khi Phụ hoàng băng hà, không chọn cách nói ra sự thật, mà chọn cách im lặng.

Nhưng lúc đó, nàng ấy không nên im lặng.

Lỗi lầm nàng ấy phạm phải, vốn nên do nàng ấy chuộc tội.

Huệ Dương Trưởng Công chúa từ từ mở mắt, lặng lẽ nhìn Thành Thái Đế, nói: “Ta muốn mạng của hai người, Hoàng huynh có cho không?”
 
Tiểu Thanh Mai Của Thủ Phụ Đại Nhân
Chương 101: Chương 101


“Ta muốn mạng của hai người, Hoàng huynh có cho không?”

Trong cung điện rộng lớn, giọng nói của Huệ Dương Trưởng Công chúa như một tảng đá lớn rơi xuống mặt hồ yên tĩnh, lập tức gây nên sóng to gió lớn.

Thành Thái Đế hơi mở to mắt, khó tin nhìn Huệ Dương Trưởng Công chúa.

Trong ký ức của ông ta, Huệ Dương luôn hiền lành thân thiện, ngay cả việc trách phạt hạ nhân cũng chưa từng có.

Trong lòng Thành Thái Đế, muội muội này là người thiện lương nhất trên đời. Trước kia khi ông ta bị Phụ hoàng quở trách, ngay cả mẫu phi cũng chưa từng nói một lời nào bênh vực ông ta.

Chỉ có Huệ Dương, sẽ chắn trước mặt ông ta, kéo long bào của Phụ hoàng, nói với ông: “Phụ hoàng đừng mắng Hoàng huynh, Huệ Dương không thích nghe.”

Lúc đó nàng ấy đi còn chưa vững, giọng nói mềm mại ngọt ngào, đôi mắt trong veo như vừa được rửa bằng nước, tràn đầy sự bảo vệ dành cho ông ta.

“Huệ Dương, muốn mạng của ai?”

Giọng Thành Thái Đế khó khăn, ông ta biết trong lòng Huệ Dương có oán, cũng có hận.

Phụ hoàng yêu thương nàng ấy như vậy, Triệu Vân cũng yêu nàng ấy như vậy, nhưng tất cả đều bị ông ta hại chết. Nhưng, ông ta là bất đắc dĩ! Nếu họ không chết, người chết sẽ là ông ta!

Vừa dứt lời, tim Thành Thái Đế đã treo lên thật cao.

Mạng của hai người.

Ngày đó, chính tại Càn Thanh cung này, ông ta và Dư Vạn Chuyết đã đầu độc Phụ hoàng.

Huệ Dương, có phải muốn ông ta và Dư Vạn Chuyết chết không?

Nghĩ đến việc Huệ Dương Trưởng Công chúa hận ông ta đến mức muốn ông ta chết, tay ông ta cầm chén rượu không khỏi run rẩy, rượu trong veo từ miệng chén tràn ra, “tách tách” rơi xuống đất.

Huệ Dương Trưởng Công chúa nhìn khuôn mặt hoảng sợ méo mó của Thành Thái Đế, nhẹ giọng nói: “Dư Vạn Chuyết và Lăng Duệ, Hoàng huynh, ta muốn họ chết.”

“Phụ hoàng bị Dư Vạn Chuyết đầu độc chết. Nếu không phải ông ta cho thuốc độc vào thuốc của Phụ hoàng trong Càn Thanh cung này, làm sao Phụ hoàng lại chết? Còn có Lăng Duệ…”

Ngón tay thon dài từ từ v**t v* mép chén rượu, giọng Huệ Dương Trưởng Công chúa trầm thấp và bình tĩnh, mang theo sự mê hoặc: “Hiện nay triều đình phần lớn đều là người của lão, ngay cả Dư Vạn Chuyết cũng nghe lệnh lão. Hoàng huynh, huynh không sợ một ngày nào đó, Dư Vạn Chuyết sẽ hại chết huynh như đã từng hại chết Phụ hoàng sao?”

“Bảy năm trước, Hoàng huynh chẳng qua chỉ là bị họ lừa gạt nên mới làm sai. Huệ Dương biết, dù Hoàng huynh muốn ngai vàng, cũng không muốn g**t ch*t Phụ hoàng và Thái tử ca ca. Đều là họ lừa huynh, lợi dụng huynh.”

Đôi mắt đen láy của Huệ Dương Trưởng Công chúa từ từ hiện lên một tia tình thân và tin tưởng, giống như thuở còn nhỏ, nhìn Thành Thái Đế nói: “Ca ca, nếu thật có báo ứng, thì phải báo ứng lên đầu bọn họ mới đúng. Tại sao ca ca phải vì hối hận mà ngày ngày không được yên ổn, trong khi bọn họ lại bình chân như vại chứ? Bọn họ mới là kẻ chủ mưu, chỉ cần bọn họ chết, Phụ hoàng và Thái tử ca ca mới được yên nghỉ.”

“Trước kia ca ca làm sai, Phụ hoàng cùng lắm chỉ trách mắng vài câu rồi không phạt nữa. Lần này cũng vậy, ca ca, chúng ta cùng nhau, báo thù cho Phụ hoàng đi.”

***

Đêm dài tĩnh lặng, gió thu mang theo hơi lạnh thổi những chiếc đèn lồng đỏ dưới hành lang đung đưa.

Thành Thái Đế đặt tay lên vai Triệu Bảo Anh, quay đầu nhìn lại Càn Thanh cung sáng đèn.

Bên tai lại vang lên giọng Thừa Bình Đế quở trách ông ta vô dụng ngu ngốc.

“Triệu Bảo Anh.” Thành Thái Đế chậm rãi nhìn về phía Triệu Bảo Anh, đôi mắt mất đi tiêu cự, ẩn chứa một tia cảm xúc quái dị gần như điên cuồng: “Ngươi nói xem, nếu Trẫm báo thù cho Phụ hoàng, người có thôi mắng Trẫm không?”

Lời vừa nói ra, dù đã quen với nhiều bộ mặt không ai biết của Thành Thái Đế, tim Triệu Bảo Anh vẫn đập thình thịch.

Báo thù?

Kẻ hại chết Tiên Đế trước đây rõ ràng chính là ông ta, ông ta tìm ai để báo thù?

Chứng điên của vị Hoàng Đế này càng ngày càng phát bệnh rõ ràng rồi.

Là vừa rồi trong Càn Thanh cung bị Trưởng Công chúa kích động sao? Hay là Vương Quý phi lại cho ông ta uống thuốc?

Nghìn mối suy tư vây quanh trong lòng, sau một khoảnh khắc kinh ngạc, Triệu Bảo Anh nhanh chóng lấy lại bình tĩnh, sắc mặt ôn hòa như trước.

Câu hỏi của Thành Thái Đế hoàn toàn không cần câu trả lời, Triệu Bảo Anh cúi người thật sâu, chỉ nhẹ nhàng nói một câu “Hoàng thượng anh minh”, rồi không nói thêm, thái độ cung kính thành kính.

Một lúc sau, Thành Thái Đế quả nhiên dời ánh mắt đi, chậm rãi nói: “Ngươi đã từng nói với Trẫm, động đất ở Lâm An, bia công đức của Phụ hoàng nứt vỡ, không phải vì trời đang trừng phạt Trẫm, mà là trời đang cảnh báo Trẫm.”

“Ngươi nói đúng, ông trời quả thật đang cảnh báo Trẫm.”

***

Văn Anh các.

Sau khi Tiết Vô Vấn uống qua ba tuần rượu, bèn cung kính làm một vái với Chu Dục Thành, cười nói: “Hẳn là thế thúc đã biết những điều muốn biết, nếu tiểu điệt còn chưa về, sợ bị bà nội phạt.”

Chu Dục Thành ngước mắt nhìn hắn: “Là sợ bà nội con phạt, hay sợ người khác phạt?”

Tiết Vô Vấn sờ sờ mũi, cười đáp: “Đều sợ.”

Chu Dục Thành cười khẽ một tiếng, vẫy vẫy tay, nói: “Đi đi đi, đi mau đi! Đừng quấy rầy ta với Hoắc tiểu lang đánh cờ.”

Chu Dục Thành thích đánh cờ, hai ngày trước nghe Tông Già vô tình nhắc đến, nói vị tiểu lang quân Vệ gia này có tài chơi cờ kinh người, con sâu cờ trong lòng đã ngứa ngáy từ sớm.

Tiết Vô Vấn ném cho Hoắc Giác một ánh mắt “đệ tự lo liệu”, rồi rời khỏi Văn Anh các, trở về phủ Định Quốc Công.

Chu Dục Thành cầm lấy hai sọt cờ, tiện tay vốc một nắm quân cờ úp ngược trên bàn cờ, nói: “Đoán quân.”

Hai người bắt đầu hạ cờ qua lại trên bàn cờ, Chu Dục Thành cầm quân đen, Hoắc Giác cầm quân trắng.

Một ván kết thúc, Chu Dục Thành nhìn một vùng quân trắng lớn bao quanh quân đen, cảm thán nói: “Tông đại nhân rất ít khi khen ai, ta còn tưởng ông ấy nể mặt Vệ Thái phó mà khen cậu một câu. Hóa ra là ta nghĩ sai.”

Ván cờ vừa rồi, Chu Dục Thành thua bảy quân.

Lần cuối thua nhiều quân như vậy, còn là lúc ông ấy mới học cờ.

Ông ấy là Trạng nguyên lang năm Thừa Bình thứ mười sáu, cũng từng một ngày nhìn hết hoa Trường An mà tràn đầy khí thế, tự cho mình tài trí thông minh, tài đánh cờ bất phàm. Nhưng không ngờ, hôm nay lại bị một thiếu niên chưa đến tuổi đội mũ từng bước ép sát, ép đến mức bắt buộc phải tự cắt một cánh tay, mới không mất thêm nhiều lãnh địa.

Chu Dục Thành mỉm cười nhìn Hoắc Giác.

Vệ Thái phó từng là người mà vô số học sĩ trong giới trí thức suốt đời muốn theo đuổi, thiếu niên trước mắt, không nói có thể hậu sinh khả úy, nhưng ít nhất đã không phụ danh tiếng tổ tiên.

“Tông đại nhân nói cậu đến để rửa oan, đến ngày Vệ gia Hoắc gia rửa sạch oan khuất, cậu còn có kế hoạch gì?”

Chu Dục Thành rất rõ, rửa sạch oan khuất không có nghĩa là đưa sự thật ra ánh sáng. Ít nhất, vụ án Thái tử mưu phản làm chấn động Đại Chu bảy năm trước, vị trong điện Kim Loan đó, cũng như Lăng Duệ, không phải vô tội.

Lăng Duệ có thể chết, có thể để tiếng xấu muôn đời, bị vạn người phỉ nhổ, nhưng Thành Thái Đế thì không.

Ông ta là Hoàng Đế.

Không có thần tử nào dám yêu cầu một Hoàng Đế chiếu cáo với thiên hạ tội ác ông ta từng phạm.

Đã vậy, thiếu niên trước mắt này, còn muốn tiếp tục ở lại Thịnh Kinh, bán mạng cho tên đao phủ đã diệt cả tộc mình sao?

Làm sao Hoắc Giác không hiểu ý bên ngoài lời của Chu Dục Thành?

Nhẹ nhàng đặt quân cờ trong tay xuống, Hoắc Giác không biểu cảm nhìn Chu Dục Thành, ôn tồn nói: “Khi còn nhỏ, ông nội thường nói với chúng ta, dù là làm người hay làm việc, đều phải luôn nhớ trách nhiệm mình gánh vác. Thứ phụ đại nhân nghĩ, trách nhiệm của người làm quan là gì? Là tạo phúc cho dân, vì dân thỉnh mệnh, hay là trung thành với Hoàng Đế, trung thành với quyền vua?”

Chu Dục Thành hơi ngừng lại, chợt nhớ đến yến tiệc Ân vinh năm Thừa Bình thứ mười sáu.

Lúc đó Vệ Thái phó đứng bên cạnh Thừa Bình Đế, ánh mắt khôn ngoan và bình thản lướt qua từng người trong số họ — những Tiến sĩ mới đỗ đạt vừa vào quan trường, hừng hực khí thế hăng hái, cười nói với họ: “Người làm quan phải tự kiểm điểm ba lần mỗi ngày, đừng quên tâm nguyện ban đầu.”

Tâm nguyện ban đầu.

Chu Dục Thành xuất thân thường dân, đời đời đều là nông dân bán mặt cho đất bán lưng cho trời.

Huyện nhỏ nơi ông ấy sinh ra chỉ là một thị trấn nhỏ nghèo khó tầm thường, nơi đó tập quán chất phác, dù hàng xóm láng giềng thỉnh thoảng có tranh cãi, nhưng cuối cùng vẫn được coi là hòa thuận, hàng xóm tối lửa tắt đèn có nhau.

Quan trọng nhất là, Huyện lệnh Huyện thừa nơi đó đều là quan tốt.

Chính trị trong sạch, tập quán chất phác.

Cuộc sống tuy nghèo khó không giàu có, nhưng ngày tháng không đến nỗi khó khăn.

Ngay cả trẻ em nhà nghèo khó cũng được đi học, chi phí thi Hương của Chu Dục Thành đều do Huyện lão gia và quan huyện góp từng đồng bạc mà có.

Tâm nguyện ban đầu của Chu Dục Thành, có lẽ là trở thành một vị quan phụ mẫu như vậy.

Yêu dân như con, vì dân mà thỉnh mệnh, lấy việc an cư lạc nghiệp của nhân dân làm nhiệm vụ của mình.

Suy nghĩ một lát, ông ấy nói: “Làm quan thì phải trung quân, yêu nước, yêu dân.”

“Vậy nếu một ngày nào đó, quyền của vua và dân chúng bình thường mà ngài muốn bảo vệ xảy ra xung đột thì sao?” Hoắc Giác chắp tay đặt trên đùi, vẻ mặt nghiêm túc nói: “Hiến Đế tiền triều mê đắm đạo luyện đan, dùng máu của vô số đồng nam đồng nữ để luyện thuốc, cuối cùng không chỉ mình phát điên, mà còn làm cả nữ nhi mình bị câm. Lúc đó trời oán người giận, dân chúng lầm than, vì thế mới có chuyện Hoàng Đế Đại Chu nổi dậy.”

“Nếu một ngày nào đó, vị Hoàng Đế mà chúng ta trung thành lại muốn giết hại những bách tính mà chúng ta phải bảo vệ, Thứ phụ đại nhân, ngài sẽ chọn bảo vệ ai?”

***

Trăng thanh gió mát, hương thơm những bông hoa quế vàng óng lộng lẫy tỏa ngát mười dặm, nở rộ trong màn đêm.

Những cánh hoa nhỏ bị gió thổi từ từ rơi xuống đất, bánh xe ngựa cán qua lập tức tan thành bùn.

Hoắc Giác ngồi trong xe ngựa, nhìn ra ngoài cửa sổ nơi đèn hoa sáng như ban ngày, đôi mắt đen sâu thẳm chậm rãi quét qua hai tượng thú cát tường trước cổng phủ Công chúa.

Lúc này trong phủ Công chúa, Kim ma ma đang vắt tóc ướt cho Huệ Dương Trưởng Công chúa, nói: “Hôm qua Công chúa mới gội đầu, sao hôm nay lại gội nữa? Thời tiết sắp trở lạnh rồi, phải cẩn thận kẻo nhiễm lạnh.”

Huệ Dương Trưởng Công chúa nói: “Hôm nay vào cung.”

Kim ma ma thở dài.

Sáng nay vị Lỗ Đô Ngự sử ở Đô sát viện đột nhiên đến thăm, không biết nói gì với Công chúa trong thư phòng, khiến cả ngày nàng ấy hồn vía lên mây, sau đó còn mang rượu vào cung.

Lỗ Đô Ngự sử là thầy của Phò mã, rất được Công chúa kính trọng. Nhưng bảy năm trước, từ khi Phò mã gặp chuyện, Công chúa không còn qua lại với Lỗ đại nhân nữa, cũng hiếm khi vào cung.

Nàng ấy tự giam mình trong phủ Công chúa, mỗi ngày đều căng thẳng như dây đàn.

Kim ma ma không biết Công chúa đã nói gì với Hoàng thượng ở Càn Thanh cung, chỉ biết sau khi ra ngoài, có vẻ như sợi dây căng thẳng đó đã nới lỏng đôi chút.

Kim ma ma đang nghĩ ngợi, bỗng cảm thấy tay nóng lên.

Huệ Dương Trưởng Công chúa nhẹ nhàng nắm lấy tay bà ấy, dịu dàng nói: “Ma ma đừng lo, hôm nay Lỗ đại nhân đến chỉ là để nói cho ta biết một số chuyện, ta biết mình đang làm gì. Có những việc, lẽ ra ta nên làm từ sớm. Tuy bây giờ đã muộn, nhưng ít ra ta đã làm.”

Kim ma ma cúi đầu nhìn cô nương mà mình đã nuôi lớn, ánh đèn sáng trong phòng rọi vào đôi mắt nàng ấy, hình như đôi mắt đã chết lặng nhiều năm ấy… cuối cùng cũng đã có ánh sáng.

Kim ma ma nghẹn ngào, nói khẽ: “Lão nô không lo, lão nô không hỏi gì cả, lão nô chỉ muốn Công chúa sống thoải mái hơn, dễ chịu hơn, thế là đủ rồi.”

***

Qua rằm tháng tám, thời tiết ở Thịnh Kinh quả thật đã mát mẻ hơn.

Đến đầu tháng chín, những chiếc lá xanh mượt của mùa hè đều bị gió mát hiu hiu thổi vàng một góc.

Mùa thu đương nhiên phải ăn bánh quế và cua, hôm nay Minh Huệ Quận chúa và Tiết Oánh đến quán rượu uống rượu, Khương Lê thấy hoa quế trong sân đang nở đẹp, bèn xách một giỏ đầy hoa quế mới hái đến quán rượu, ngâm một ít rượu hoa quế, lại làm một ít bánh hoa quế.

Minh Huệ Quận chúa và Tiết Oánh vừa vào quán rượu đã ngửi thấy mùi hoa quế ngọt ngào.

Tiết Oánh vốn ham ăn, vừa thấy đĩa bánh hoa quế đã không nhịn được, cười híp mắt nhìn Khương Lê nói: “A Lê, sao bánh hoa quế này ngửi còn thơm hơn cả bánh ở Ngự thiện phòng trong cung vậy? Chắc chắn là rất ngon phải không!”

Minh Huệ Quận chúa nhìn bộ dạng thèm thuồng khó nhịn của Tiết Oánh, không nhịn được “phụt” cười, dùng quạt hương bồ khẽ đập vào vai nàng ấy, trêu chọc: “Hôm nay quên mang theo cái chậu đồng để hứng nước miếng cho cô rồi.”

Tiết Oánh trừng mắt nhìn Minh Huệ Quận chúa, nói: “Được lắm Minh Huệ, đừng nói là cô không muốn ăn? Chốc nữa ta sẽ ăn luôn phần của cô!”

Minh Huệ lấy quạt che miệng, đang định lên tiếng, bỗng thấy hai bóng người cao gầy từ phòng bên cạnh bước ra, vội ngước mắt nhìn.

Người đến là hai lang quân trẻ tuổi, một người mặc áo lụa Hàng Châu thêu chỉ vàng màu trắng, đầu đội mũ ngọc tinh xảo lộng lẫy, người kia mặc áo dài màu xanh đậm, ngoài một chiếc túi thơm ra thì trên người không có trang sức nào khác, ngay cả trên đầu cũng chỉ dùng một cây trâm gỗ đơn giản để búi tóc.

Minh Huệ dừng ánh mắt lại, nàng ấy nhận ra vị công tử chim công Tông gia kia. Nhưng vị lang quân bên cạnh, rõ ràng nàng ấy không quen biết, nhưng không hiểu sao, nàng ấy lại cứ cảm thấy như đã gặp ở đâu.
 
Tiểu Thanh Mai Của Thủ Phụ Đại Nhân
Chương 102: Chương 102


Minh Huệ Quận chúa nhìn thẳng vào Khương Lệnh, cậu đã để ý thấy.

Cậu vô thức sờ lên mặt, không biết có phải lúc nãy khi đang học sách luận với Tông Khuê ca để dính mực lên mặt không?

Đang định hỏi Tông Khuê thì thấy hắn ta bỗng chỉnh lại tay áo, tiến lên một bước, chắp tay thi lễ với hai vị cô nương.

“Khuê diện kiến Minh Huệ Quận chúa, diện kiến Tiết cô nương.”

Tuy Tông Khuê chưa bao giờ qua lại với các cô nương, nhưng hai cô nương trước mặt này, một người là Tiết Oánh của phủ Định Quốc Công, một người là nữ nhi duy nhất của Thành Vương – Minh Huệ Quận chúa.

Đều là những người thân phận tôn quý, gặp mặt mà không chào hỏi thì không được.

Minh Huệ Quận chúa và Tiết Oánh cùng đáp lễ, sau đó lập tức nghe Khương Lệnh tiến lên nói: “Tiểu sinh Khương Lệnh, diện kiến Minh Huệ Quận chúa, diện kiến Tiết cô nương.”

Minh Huệ và Tiết Oánh đều biết Khương Lê có một đệ đệ song sinh, cũng từng đến quán rượu uống vài lần, nhưng đây là lần đầu gặp Khương Lệnh, nên rất tò mò.

Minh Huệ nhìn Khương Lệnh một lúc mới nhớ ra vì sao thấy vị lang quân trẻ tuổi này quen mắt, chẳng phải chính là vị lang quân mà tiểu cô cô nhìn thấy ngày Ngự Nhai Khoa Quan đấy sao?

Tuy nàng ấy không can thiệp vào chuyện tiểu cô cô nuôi nam sủng, trong lòng còn thầm có chút ghen tị.

Nhưng mà, vị lang quân này đã là đệ đệ của A Lê, thì cũng là đệ đệ của nàng ấy rồi, không thể giới thiệu cho tiểu cô cô được.

Mấy người hàn huyên vài câu, tiện thể ngồi một bàn ăn bánh hoa quế.

Dương Huệ Nương thấy họ trò chuyện vui vẻ, bèn sai tiểu nhị mang thêm nhiều món đặc trưng của quán.

Nào là gà Quý phi, tôm hấp rượu, cua hấp, chân ngỗng om, vịt hun khói, bày đầy một bàn, nhiều món còn không có trong thực đơn, đều là làm riêng cho họ, thực sự là vô cùng thịnh soạn.

Đây cũng là lý do Tông Khuê thích đến quán rượu, muốn ăn gì đều có ngay, dì Dương rất quan tâm đến hắn ta.

Đâu như ở Tông gia, dù là ông bác Tông Già hay thúc thúc Tông Úc đều không quá đam mê ăn uống, ngày nào cũng ăn hết sức đạm bạc.

Khương Lê nhìn Tông Khuê và Tiết Oánh đang thảo luận xem gà Quý phi ngon hay gà Nhan Chi ngon hơn, lại nhìn A Lệnh cứ bị Minh Huệ nhìn một cái là sờ mặt, không hiểu sao thấy mình ngồi đây có gì đó không đúng.

Còn về việc vì sao không đúng, lại không nghĩ ra được.

***

Khi Hoắc Giác vào quán rượu, vừa nhìn qua đã thấy tiểu nương tử nhà mình cầm đũa gỗ, chốc chốc nhìn bên này, chốc chốc lại nhìn bên kia, trông rất mơ màng.

Không nhịn được cười khẽ, đi tới gọi: “A Lê.”

Đôi mắt nai của Khương Lê lập tức sáng lên, vội đặt đũa xuống, nhấc váy lên đón: “Việc đều xong rồi ư? Đói chưa? Ta bảo tiểu nhị lấy thêm bát đũa cho chàng.”

Hoắc Giác lắc đầu nói: “Ta ăn rồi, vừa nãy Lỗ phu nhân giữ ta lại ăn cơm.”

Hôm nay từ sáng sớm hắn đã đến phủ Đô Ngự sử Lỗ Thân, giờ mới về.

Từ sau Trung thu, Hoắc Giác bận rộn không lúc nào rảnh, thường là sáng sớm ra cửa, không phải đi trực thì là đi làm việc, ngày nghỉ cũng thường không ở nhà.

Khương Lê không hỏi hắn đi làm gì, hiếm khi thấy hôm nay nghỉ mà về sớm thế này, vội kéo hắn vào sân trong, pha trà mật ong mình tự làm cho hắn.

Hoắc Giác nhìn ấm trà có táo đen, kỷ tử, hoa quế, còn khuấy một thìa to mật ong, thực ra không quen uống lắm. Nhưng đã là A Lê làm thì cũng nhận lấy, uống một hơi cạn sạch.

“Ngon không? A Oánh và Minh Huệ đều nói ngon.” Khương Lê nhìn hắn với đôi mắt sáng long lanh.

Làm sao mà Hoắc Giác nói không ngon được, thuận miệng nói một câu “Ngon”, vẻ mặt hết sức chân thành.

Khương Lê cười toe toét, bỗng nhớ ra điều gì đó, nói: “Hôm nay Tú nương tử không đến quán làm việc, có một nương tử tên Tiểu Nguyệt đến nói với ta và mẹ. Hoắc Giác, chàng nói xem—”

Tiểu nương tử nói đến đây, dừng lại, đôi mắt trong veo nhìn hắn một cái: “Tú nương tử không xảy ra chuyện gì chứ?”

Hoắc Giác hơi ngạc nhiên, rồi đưa tay véo má nàng đang lo lắng, cười nói: “Không đâu, Tú nương tử không sao.”

Nghe vậy Khương Lê mới thở phào nhẹ nhõm.

Hôm nay vị tiểu nương tử tên Tiểu Nguyệt ấy nhìn họ với vẻ mặt dường như muốn nói gì đó, khiến Khương Lê lo lắng không yên. Đúng lúc Minh Huệ và Tiết Oánh đều ở đó, nên nàng cũng không tiện hỏi nhiều.

Hoắc Giác đặt chén trà xuống, không khỏi nhớ đến lời Lỗ đại nhân vừa nói với hắn ở Lỗ gia.

“Sáng nay Chu đại nhân đã đến phố Hòa Cổ, ngài ấy và thê tử của Tề Xương Lâm cũng coi như là người quen cũ. Hẳn là ngài ấy đứng ra sẽ thích hợp hơn bất kỳ ai trong chúng ta.”

Hiện giờ đoàn người của Định Viễn Hầu bị Định Quốc Công giữ lại ở Túc Châu, còn Tần Vưu và Lăng Nhược Phàm đang bị Chử thế thúc và Thẩm Thính theo dõi, tất cả tin tức từ Thanh Châu và Túc Châu mà Lăng Duệ nhận được trong nửa tháng qua đều là giả.

Thậm chí cả tin tức từ trong cung do Dư Vạn Chuyết chuyển ra cũng là nửa thật nửa giả, Lăng Duệ muốn Vương Loan cho Hoàng Đế uống thuốc, nhưng bây giờ Vương Loan đã có tính toán riêng, tất nhiên không nghe theo lệnh của Lăng Duệ.

Lăng Duệ bị bao vây bởi những tin tức giả này, tự cho rằng nắm chắc phần thắng, mấy ngày nay đi chầu còn mang theo gió(*), ánh mắt nhìn Chu Dục Thành và Lỗ Thân, Bách Chúc còn mang theo ý sâu xa.

<i>(*)Ý chỉ đi nhanh, bước chân nhẹ, kiểu đi đứng thuộc về tầng lớp trên.</i>

Hoàn toàn không biết rằng dưới vẻ bình yên tĩnh lặng này của Thịnh Kinh đang cuộn trào những gợn sóng như thế nào.

Bảy năm trước, Lăng Duệ có ý đồ không lường trước được, cùng với Đại lý tự Khanh Ngụy Truy, Binh bộ Thị lang Hồ Đề, Hình bộ Thị lang Tề Xương Lâm móc nối với Bắc Địch, Nam Thiệu, giăng một cái bẫy lớn cho phủ Tiên Thái tử và Hoắc gia, Vệ gia cho đến phủ Định Quốc Công Tiết gia.

Bây giờ, họ cũng giăng một cái lưới cho ông ta, đồng thời còn phải báo thù Nam Thiệu và Bắc Địch đã gieo rắc tai vạ cho Đại Chu, đâm sau lưng ám hại.

“Lăng Duệ b*n n**c, bảy năm trước vu cáo Tiên Thái tử cùng Nam Thiệu, Bắc Địch, Vệ Thái phó và Hoắc tướng quân mưu phản. Ta vốn không muốn kéo cậu vào vụ án này, nhưng nếu thê tử của Tề Xương Lâm hiện đang ở quán rượu của thê tử cậu, có nhiều việc có lẽ còn cần cậu làm, mới đành phải để cậu tham gia vào.”

“Cậu yên tâm, cậu là người của Đô sát viện, cho dù việc này có thành hay không, ta đều sẽ bảo vệ cậu.”

“Hiện giờ vừa hay có một việc muốn hỏi cậu. Tuy ở Thanh Châu có Giám sát Ngự sử của Đô sát viện, nhưng bất kể là ta, hay Tông đại nhân, Chu đại nhân đều cho rằng nên phái thêm một người đến. Hai vị đại nhân không hẹn mà cùng đề cử cậu, họ bảo ta hỏi cậu, cậu có muốn đích thân đến Thanh Châu một chuyến không?”

Lỗ Thân nhìn Hoắc Giác với ánh mắt rất ôn hòa.

Tông Già và Chu Dục Thành cùng đề cử Hoắc Giác đến Thanh Châu, ông ấy hoàn toàn không thấy ngạc nhiên.

Đứa trẻ này tuổi còn trẻ đã liên tiếp đỗ Lục nguyên, vào Kinh chưa đầy một năm đã lập kỳ công, những việc Đô sát viện giao cho, cho dù có hóc búa hay không, đều xử lý rất đẹp.

Có tài hoa, có năng lực, lại nổi danh khắp phủ Thuận Thiên vì cứu được người dân Lâm An, hai vị đại nhân cho rằng hắn có thể đảm nhận là chuyện đương nhiên.

Ngay cả Lỗ Thân cũng thấy, chuyến đi Thanh Châu này, hắn quả thực là người phù hợp.

“Giám sát Ngự sử ở bên ngoài, việc lớn có thể tâu lên, việc nhỏ có thể quyết định ngay. Nếu tình huống nguy cấp, ngay cả việc lớn cũng có thể quyết định ngay. Cậu yên tâm đi Thanh Châu, mọi việc có bổn quan và Bách đại nhân gánh vác cho cậu. Đợi đến khi việc ở Thanh Châu và Túc Châu xong xuôi, dù không thể một lưới bắt hết phe Lăng Duệ, ít nhất những kẻ chủ mưu cũng không thoát khỏi sự trừng phạt của pháp luật. Đến lúc đó, triều đình sẽ có không ít người bị cách chức. Đúng lúc cần người tài, nếu cậu lập công ở Thanh Châu, chắc chắn sẽ được Hoàng thượng trọng dụng.”

Hoắc Giác nhạy bén sắc sảo, chỉ trong một hơi thở đã hiểu Lỗ Thân đang mở đường cho mình. Hắn nhìn Lỗ Thân râu tóc bạc trắng, rất khó nói rõ cảm xúc đang trôi nổi trong lòng là gì.

Lỗ Thân là người cương trực, trung quân ái quốc, đối với Đại Chu quả thực tận tụy hết lòng, ngay cả đối với người trẻ của Đô sát viện cũng có thể nói là tâm huyết.

Không ngại vì triều đình vì Thành Thái Đế mà bồi dưỡng thêm vài trụ cột.

Ba vị đại thần trong triều hiện đang một lòng muốn lật đổ phe Lăng Duệ, Tông Già trung thành với gia tộc, Chu Dục Thành trung thành với bách tính, còn Lỗ Thân, từ đầu đến cuối đều trung thành với quyền vua, trung thành với Hoàng Đế.

Lúc này ba người đã sẵn lòng liên thủ, chẳng qua là vì phe Lăng Duệ dựa vào công trạng phò vua, muốn chuyên quyền triều chính, bóc lột bách tính, đã sớm trở thành mục tiêu công kích của mọi người.

Tuy nhiên sau khi Lăng Duệ ngã xuống, muốn để họ đồng tâm hiệp lực kéo Thành Thái Đế xuống ngai vàng là điều không thể.

Không nói gì khác, chỉ riêng vị Lỗ đại nhân trước mắt này, e rằng sẽ là người đầu tiên đứng trước mặt Thành Thái Đế để hộ chủ.

Đây cũng là lý do tại sao, việc hắn là con cháu họ Vệ, Tông Già có thể biết, Chu Dục Thành có thể biết, nhưng Lỗ Thân thì không thể.

Ít nhất là hiện tại không thể.

Hoắc Giác nuốt khan, khẽ cười, từ tốn nói với Lỗ Thân: “Đa tạ đại nhân tin tưởng, Thanh Châu, hạ quan sẽ đi.”

***

Khương Lê và Hoắc Giác ở sân trong gần nửa canh giờ, khi trở về đại sảnh quán rượu, không biết mấy người Tông Khuê đang nói chuyện gì mà cười đến rung vai, ngay cả A Lệnh ngốc nghếch cũng cười rất thoải mái.

“Chuyện gì mà vui thế?” Khương Lê không nhịn được hỏi.

Minh Huệ Quận chúa liếc nhìn nàng và Hoắc Giác, cười nói: “Ôi dào, ta vừa nói cô chạy đi đâu, thì ra là Hoắc đại nhân tới, chẳng trách!”

Mặt Khương Lê lập tức đỏ bừng, nói: “Lần sau cô còn muốn đến quán rượu nữa không?”

Gần đây Minh Huệ Quận chúa và Khương Lê đã gặp nhau không ít, biết nàng dễ ngại nên cũng không trêu nữa, chỉ cười tươi nâng chén rượu lên nói: “Đương nhiên là phải đến rồi, A Lê ngoan, ta nói sai rồi, ta tự phạt một chén.”

Nói xong bèn uống cạn chén rượu.

Tông Khuê thấy cũng ăn uống xong xuôi rồi, không quấy rầy mấy vị tiểu nương tử nói chuyện, vỗ vai Khương Lệnh nói: “Đi thôi, bài vở hôm nay còn chưa làm xong, tranh thủ lúc trời chưa tối, mau đi làm đi. Này, Trạng nguyên lang, huynh có muốn đi cùng không?”

Hoắc Giác nhớ đến công văn mình đặc biệt mang về từ Đô sát viện, gật đầu, đi theo hai người Tông Khuê vào phòng bên. Vừa vào cửa đã đưa công văn trong tay cho Tông Khuê, nói: “Ngày mai ta phải lên đường đi Thanh Châu, vụ án này đành phải phiền Tông đại nhân rồi.”

Tông Khuê vội lật xem hồ sơ, xem xong nhướn mày thật cao, nói: “Tào Phỉ mà lại có một hôn thê hứa hôn từ trong bụng mẹ sao? Vì sao vị hôn thê ấy lại kiện Tào Phỉ và phu nhân của hắn ta?”

Tông Khuê vừa xem vừa “chậc chậc” mấy tiếng, xem hết toàn bộ công văn với tốc độ mười dòng một lúc, sau đó dùng sức vỗ vỗ công văn nói: “Ta đã nói Tào Phỉ là kẻ ngụy quân tử mà, để cưới biểu muội của mình, lại vu khống hôn thê có tư tình với người khác, suýt nữa ép chết vị Trần cô nương đó. Hừ, đây là lần đầu ta thấy có nam nhân tự nguyện cắm sừng cho mình đấy. Được rồi, Trạng nguyên lang, vụ án này ta nhận. Huynh yên tâm, ta nhất định sẽ thay trời hành đạo!”

Con người Tông Khuê thế nào, Hoắc Giác tất nhiên hiểu rõ. Xuất thân từ thế gia vọng tộc, kiêu ngạo như chim công, nhưng trong người luôn mang nhiệt huyết của thiếu niên. Gặp chuyện bất bình, cũng sẽ nỗ lực đòi công đạo cho người khác.

Điểm này rất giống với Tông Úc.

Hoắc Giác gật đầu mỉm cười, chắp tay tạ ơn.

Trần thị – hôn thê trước của Tào Phỉ, thật ra là do hắn sai người đưa đến Thịnh Kinh, mà người thị nữ bị Tào Phỉ đầu độc nhưng không chết tên Tùy Vụ cũng là hắn cho người tìm về.

Thực ra Hoắc Giác chưa bao giờ coi Tào Phỉ ra gì, tất nhiên cũng không để ý nhiều đến Tiết Chân. Nhưng ngày yến tiệc trong cung, Từ Thư Dao và Tiết Chân muốn gài bẫy A Lê, thì đã chạm đến vảy ngược của hắn.

Trước đây hắn nể mặt Tiết Sơn trưởng mà tha cho nàng ta một mạng, nhưng bây giờ nàng ta lại muốn tính kế A Lê, dùng A Lê để lấy lòng Từ Thư Dao, vậy thì không cần phải nương tay nữa.

Còn về Từ Thư Dao bị đưa đến trang viên, sắp thành thân với Chu Duệ, lúc này chưa cần phải gấp, đợi đến khi vụ Định Viễn Hầu cấu kết với Bắc Địch được giải quyết xong, Chu gia và phủ Trấn Bình Hầu ai cũng không thoát được.

***

Minh Huệ Quận chúa và Tiết Oánh ở lại quán rượu đến chiều mới về, hai người đi xe ngựa của phủ Thành Vương có chạm bàn long.

Minh Huệ Quận chúa đưa Tiết Oánh về đến phủ Định Quốc Công ở đại phố Chu Tước an toàn trước, rồi mới đi về phủ Thành Vương.

Phủ Thành Vương nằm ở đại phố Hà Duyên, cách cửa Sùng Văn của Hoàng cung về phía Đông nửa canh giờ đi đường, không xa Hoàng cung.

Minh Huệ Quận chúa vừa vào cửa thùy hoa của Vương phủ đã thấy phụ vương yêu hội họa của nàng ấy đang cầm cây bút vẽ nhỏ mảnh, vẽ một con chim thái bình đậu trên cây.

Minh Huệ Quận chúa định bước lên hành lễ, lại thấy Thành Vương vẫy tay với nàng ấy, ra hiệu không được lên tiếng, rồi cẩn thận thêm chiếc lông đuôi cuối cùng lên giấy vẽ, xong xuôi mới thong thả nói: “Uống rượu về rồi à?”

Minh Huệ Quận chúa cười tươi nói: “Con chỉ đi gặp A Lê và A Oánh thôi, đâu có đi uống rượu?”

Thành Vương liếc nhìn nàng ấy, nói: “Ngửi mùi rượu nồng nặc trên người con, ai chẳng biết con đi uống rượu?”

Minh Huệ Quận chúa lười tranh cãi với phụ vương, cười tươi tiến lên xem tranh, nói: “Phụ vương lại vẽ chim gì vậy? Để con ngắm một chút nào.”

Thành Vương hơi nghiêng người, để lộ bức tranh trên bàn, tỏ vẻ hài lòng nói: “Hôm nay con chim thái bình này tỷ lệ đầu mình có thể nói là hoàn hảo, lông đuôi cánh cũng rực rỡ, lại rất hợp tác, đứng yên trên cành để ta vẽ, quả thật có linh tính.”

Minh Huệ Quận chúa tiến lên nhìn, trông thấy trên giấy vẽ một con chim thái bình thong dong đậu trên cành cây, đôi mắt lanh lợi, sống động như thật.

Nàng ấy thành thật khen ngợi: “Quả thực tràn đầy linh khí.”

Hai cha con đều là người yêu hội họa, Minh Huệ Quận chúa định cầm bức tranh lên ngắm kỹ, bên cạnh đột nhiên một cây bút vẽ gõ gõ vào tay nàng ấy, nói: “Mực còn chưa khô, vội cái gì? Chớ có làm hỏng bức tranh.”

Minh Huệ Quận chúa đành ngượng ngùng rút tay về, đợi đến khi mực khô, mới cẩn thận cầm bức tranh lên, tỉ mỉ ngắm nghía.

Thành Vương nhìn sự ngưỡng mộ không giấu giếm của nữ nhi nhà mình, đặt bút xuống, lấy khăn ướt lau tay, cười nói: “Ta đã nói với mẫu phi của con rồi, cuối tháng này, chúng ta sẽ rời Thịnh Kinh, đến biệt cung ở Tây Sơn.”

Minh Huệ Quận chúa nghe vậy thì nhướn mày, quay đầu nhìn Thành Vương, nói: “Nhưng chúng ta mới về Thịnh Kinh chưa được nửa năm, không phải nói chuyến về Kinh này ít nhất phải ở một năm nửa năm sao? Sao lại vội vã đi? Huống chi không phải năm ngoái đã vẽ cảnh tuyết Tây Sơn rồi sao?”

Tây Sơn ở ngoài phủ Thuận Thiên, đi về một chuyến phải mất nửa tháng.

Đôi mắt đen nhánh của Thành Vương liếc nhìn Hoàng cung phía Tây một cái không để lại dấu vết, nói: “Mẫu phi con muốn đi Tây Sơn tắm suối nước nóng, gần đây chỉ có suối nước nóng ở đó là dễ chịu nhất. Yên tâm, lần này đi không ở lâu đâu, đợi đến khi sang xuân năm sau sẽ về.”

Chuyện Thành Vương và Thành Vương phi quyết định, Minh Huệ Quận chúa vốn không thể thay đổi được, đành nói: “Vậy con hỏi A Oánh xem có muốn đi cùng con không, còn nữa, tiểu cô cô––”

“Không cần phải đi hỏi tiểu cô cô con.” Thành Vương đặt khăn ướt xuống, thở dài một tiếng, nói: “Ta đã sai người đi hỏi rồi, Kim ma ma nói Huệ Dương chỉ muốn ở lại Thịnh Kinh, lần này sẽ không đi Tây Sơn với chúng ta.”

Minh Huệ Quận chúa không biết tại sao vẫn cứ cảm thấy tiếng thở dài của phụ vương có chút ý tứ sâu xa, cũng có chút cảm thương.

Trước đây khi họ rời Kinh thành đi du ngoạn, cũng từng mời tiểu cô cô cùng đi. Nhưng lần nào tiểu cô cô cũng từ chối, thà ngày qua ngày ở lại phủ Công chúa.

Lúc đó phụ vương cũng sẽ thở dài một tiếng, nhưng không giống như vừa rồi, mang theo chút ý cảm thương.

Minh Huệ Quận chúa hé môi, nhưng lời đến miệng lại không hỏi được.

Nàng ấy biết, có những chuyện nàng ấy không thể hỏi cũng không nên hỏi, do dự một lúc rồi cuối cùng vẫn khép miệng lại.

Còn nói về phía quán rượu, sau khi mấy người Minh Huệ Quận chúa đi, Khương Lê bèn kéo Hoắc Giác về phố lớn Vĩnh Phúc.

Hiếm khi ngày nghỉ này hắn không bận, tất nhiên phải ở bên nàng nhiều hơn.

Nào ngờ hai người vừa về đến Hoắc phủ, còn chưa đi đến cửa nguyệt, Hà Chu và Hà Ninh đã cùng tiến lên, nói có việc cần bẩm báo.

Hoắc Giác nhìn vẻ mặt hơi thất vọng của tiểu nương tử, nắm lấy bàn tay mềm mại của nàng, mỉm cười nói: “Nàng về phòng trước đi, một lát nữa ta sẽ đến.”

Khương Lê dù thất vọng nhưng cũng không quấy rầy Hoắc Giác bàn chuyện chính sự, gật đầu rồi tự mình đi về phòng.

Nàng vừa đi, Hà Chu lập tức mở miệng nói: “Bẩm chủ tử, sáng sớm nay Thứ phụ đại nhân đã đến đại phố Hòa Cổ tìm Tú nương tử, hai người nói chuyện một hồi lâu. Ngoài ra, Tiết Thế tử nhờ thuộc hạ chuyển lời với chủ tử, Thịnh Kinh có ngài ấy trông coi, sẽ không loạn được đâu, chủ tử cứ yên tâm đi Thanh Châu là được. Còn nói Ám Nhị đại nhân đang ở Thanh Châu, các ám vệ của phủ Định Quốc Công ở Thanh Châu đều có thể nghe theo sự sai khiến của chủ tử.”

Chuyến đi Thanh Châu này, thực sự ngoài ý muốn.

Hoắc Giác vốn tưởng với lai lịch của mình, Lỗ Thân sẽ không phái hắn đi. Nào ngờ sau khi Chu Dục Thành và Tông Già tốn công sức thuyết phục, lại có thể thuyết phục được Lỗ Thân.

Đối với hắn mà nói, quả thực là niềm vui ngoài ý muốn.

Hoắc Giác nghe xong lời Hà Chu, khẽ gật đầu, chuyển ánh mắt sang Hà Ninh, ra hiệu Hà Ninh có gì thì nói nhanh.

Hà Ninh tinh thần căng thẳng, vội vàng tiến lên nói: “Cát lão từ Tây Vực đã về, hiện người đã trở về trại Bạch Thuỷ. Cát lão nói may mắn không phụ sứ mệnh, đã mang về được thứ… thuốc mà chủ tử muốn.”

Ánh mắt Hoắc Giác chợt trầm xuống, nói: “Ngươi chạy đến trại Bạch Thuỷ một chuyến, lấy thuốc về, phải canh chừng cẩn thận.”

Hà Ninh vội vàng dạ một tiếng rồi lui xuống.

***

Phố Hoà Cổ.

Mặt trời lặn về Tây, ánh sáng âm u khiến những đám mây ở chân trời bừng lên một màu đỏ rực rỡ.

Tiểu Nguyệt ngồi trên ngưỡng cửa, nhìn cây táo trụi lá trong sân, ánh mắt lộ vẻ lo lắng.

Sáng nay sau khi gặp vị đại nhân kia, phu nhân đã tự giam mình trong phòng bên rất lâu, ngay cả bữa trưa cũng không ăn.

Nói đến, khi phu nhân trở về Thịnh Kinh rõ ràng là mang đầy tâm sự nặng nề, nhưng từ sau khi đến “Trạng Nguyên lâu”, bà ấy dần dần trở nên vui vẻ, từ từ trở lại thành vị phu nhân Thị lang phóng khoáng trong ký ức của Tiểu Nguyệt.

Hôm nay khi phu nhân ra ngoài còn nói với nàng ấy, Dương chưởng quỹ đã thuê hai cửa tiệm bên cạnh Trạng Nguyên lâu, chuẩn bị mở rộng Trạng Nguyên lâu, đến lúc đó, sẽ để bà ấy làm nhị chưởng quỹ.

Khi phu nhân nói đến lúc hào hứng, nụ cười nơi khóe môi còn rạng rỡ hơn cả mặt trời bên ngoài, nhưng khi thoáng thấy cỗ xe ngựa ngoài cửa, nụ cười ấy như cơn mưa rào tháng sáu, tan biến trong chớp mắt.

Tiểu Nguyệt không nhận ra cỗ xe ngựa đó, nhưng nhận ra người ngồi trong xe.

Trước đây người đó đã từng đến phủ Thị lang, là đồng khoa với đại nhân.

Phu nhân không thích đại nhân uống rượu, nhưng mỗi khi vị đại nhân đó đến, bà ấy lại cho phép đại nhân uống chút rượu.

Phu nhân còn từng cười nói với Tiểu Nguyệt, người ta nói rượu gặp bạn tri kỷ, ngàn chén vẫn thấy ít, đại nhân của các ngươi hiếm có người nói chuyện hợp, hôm nay phải làm thêm vài món nhắm rượu cho họ.

Chỉ là sau này khi đại nhân vào Hình Bộ, vị đại nhân đó không bao giờ ghé thăm nữa.

Phu nhân cũng không nhắc đến vị đại nhân đó nữa.

Tiểu Nguyệt không biết rằng, sau khi hòa ly, Dư Tú Nương đã từng gặp Chu Dục Thành một lần.

Trước đây Dư Tú Nương tên là Ngu Tú Vân, việc đổi tên từ Ngu Tú Vân thành Dư Tú Nương, chính là do Chu Thứ phụ đang làm việc ở Hộ Bộ trực tiếp sửa hộ tịch cho bà ấy.

Nói đến, khi Dư Tú Nương gả đi đã nghĩ đến việc đổi họ, nhưng hành vi như vậy, dù là trước hay nay, đều bị người ta coi là đại nghịch bất đạo.

Danh tiếng của bà ấy ở hẻm Ngân Nguyệt vốn không tốt, hung hăng bất hiếu, nếu lại từ bỏ họ của phụ thân, e rằng nước bọt của người khác có thể nhấn chết bà ấy.

Dư Tú Nương không sợ người khác mắng chửi mình, nhưng sợ tiếng bất hiếu của mình sẽ ảnh hưởng đến con đường làm quan của Tề Xương Lâm, vì vậy, tuy trong lòng ghét cái họ cha, nhưng vẫn nhẫn nhịn không đổi.

Mãi đến khi hòa ly, lúc tách hộ ra riêng mới đổi tên hoàn toàn.

Lúc đó Chu Dục Thành đã hỏi bà ấy: “Tẩu phu nhân muốn đổi hộ tịch, có phải vì Tề huynh không?”

Dư Tú Nương tính tình quá rắn rỏi kiên cường, sau khi hòa ly đổi tên đổi họ, muốn phân định rõ ràng với quá khứ, cũng không ngoài dự đoán của Chu Dục Thành.

Nhưng Dư Tú Nương lại lắc đầu, nói với Chu Dục Thành: “Ta chỉ là nhặt lại những thứ từng bỏ xuống trước đây.”

Hôm nay Chu Dục Thành trong xe ngựa hỏi bà ấy: “Có phải Tú nương tử trở về để nhặt lại những thứ đã bỏ xuống trước đây không?”

Giống như chín năm trước khi rời khỏi Thịnh Kinh, Dư Tú Nương vẫn lắc đầu, cười nói: “Ta đến để trả lại những thứ đã nhặt được trước đây.”

Mấy tháng trước, từ khi bà ấy phát hiện ra hai bức thư đó ở Trung Châu, bà ấy đã lờ mờ đoán được việc Tề Xương Lâm hòa ly với mình năm đó, có lẽ là bất đắc dĩ.

Và những người tìm bà ấy ở Trung Châu, hoặc là vì hai bức thư đó, hoặc là vì bà ấy.

Bà ấy trở về Thịnh Kinh, một mặt là để bảo vệ Hoằng nhi, mặt khác, là để trả lại những thứ mà chín năm trước Tề Xương Lâm đáng lẽ phải trả lại cho thế gian này.

Ngày rời khỏi phủ Thị lang, bà ấy đã nói với Tề Xương Lâm, đời này không gặp lại.

Trong lòng bà ấy vẫn còn một chút bướng bỉnh, đợi Tề Xương Lâm tự mình đến tìm mình. Nhưng không ngờ, người đến tìm bà ấy trước lại là Chu Dục Thành.

Dư Tú Nương nói xong câu đó, xuống xe ngựa, về phòng lấy ra túi da dê, đưa ba bức thư cho Chu Dục Thành.

“Ba bức thư, ngân phiếu thì ta đọc được, nhưng hai bức thư viết bằng chữ phiên, ta đọc không hiểu, Chu đại nhân đã đến, thì giúp ta xem thử, có phải chín năm trước, tên Tề Xương Lâm đáng chết kia đã làm chuyện trái với lương tâm không.”

Chu Dục Thành từ từ mở hai bức thư ra, đọc suốt hai tuần trà, rất lâu sau mới trầm giọng nói: “Đây là thư thông đồng với địch của Khang Vương và Thủ phụ Lăng Duệ chín năm trước, một bức từ Thái tử Bắc Địch, một bức từ Hoàng Đế Nam Thiệu. Trong thư họ hứa sẽ dốc hết sức giúp Khang Vương thuận lợi lên ngôi, nhưng điều kiện ngoài bạc hàng năm, còn cần hai cái đầu người. Một là Hoắc tướng quân Hoắc Diễm, hai là Định Quốc Công Tiết Tấn.”

Mặt mày Dư Tú Nương tái nhợt, siết chặt tay nhìn chằm chằm Chu Dục Thành, nói: “Vậy nên bảy năm trước, Tề Xương Lâm…”

Chu Dục Thành im lặng không nói.

Dư Tú Nương cắn môi, dù trong lòng đã có đoán trước, nhưng khi sự thật đẫm máu này bị xé toạc ra trước mặt, cả người bà ấy vẫn không khỏi lạnh buốt.

Năm xưa Ngu Đại nương tử ở hẻm Ngân Nguyệt luôn thủ sẵn dao, bị người khác chửi rủa thế nào cũng không đỏ mắt.

Lúc này viền mắt lại không kìm được đỏ lên, giọng run rẩy hỏi: “Chu đại nhân có thể cho ta ít thời gian không, ta để tên đáng chết kia tự mình đem hai bức thư này đến phủ ngài.”

Chu Dục Thành lặng lẽ nhìn Dư Tú Nương, biết hành động này của bà ấy, ắt hẳn là để bảo toàn một mạng cho Tề Xương Lâm.

Bên ngoài cửa sổ mặt trời mọc phía Đông, những tiểu thương trên phố Hoà Cổ lần lượt kéo cửa mở hàng.

Tiếng hô hoán, tiếng cười nói từ xa vọng lại.

Trong tiếng ồn ào nhộn nhịp nơi phố phường này, Chu Dục Thành gấp những lá thư lại, cho vào phong bì, cùng với túi da dê trả lại cho Dư Tú Nương.

“Xin Tú nương tử nói với Hoài Doãn một tiếng, bổn quan ở phủ chờ đợi đại giá của huynh ấy.”

***

Gió thu xào xạc.

Rõ ràng ban ngày ở Thịnh Kinh, khí hậu vẫn còn ấm áp. Nhưng đến đêm, không biết vì sao, ngọn gió còn mang chút ấm áp ban ngày lại vô thức mang thêm chút xơ xác tiêu điều.

Tiểu Nguyệt nhìn những chiếc lá vàng bị gió thổi rơi trong sân, chợt nghe một tiếng cửa mở “kẽo kẹt”, quay đầu nhìn lại đã thấy Dư Tú Nương mang sắc mặt bình tĩnh bước ra từ phòng bên, nói với nàng ấy: “Đi thôi, theo ta đi mượn xe ngựa, chúng ta ra ngoài một chuyến.”

Dư Tú Nương vừa mới lên xe ngựa đi về phía phủ Thượng Thư, Hà Chu đã nhận được tin từ ám vệ đưa đến.

Hắn ta nhìn ánh đèn vàng vọt trong chính viện lúc này, cuối cùng vẫn không tiến lên bẩm báo.

Ngày mai chủ tử sẽ phải đi Thanh Châu, lúc này e là không rảnh.

Dù sao, chủ tử đã biết Tú nương tử và Tề Thượng thư sớm muộn gì cũng sẽ gặp nhau từ trước, cũng không cần phải đặc biệt đi báo cáo.

Lúc này trong phòng, Khương Lê đang lải nhải nói với Hoắc Giác về việc mở rộng quán rượu.

Giọng nàng khá mềm mại, nhưng khi nói chuyện lại mang theo chút hồ hởi, dường như chuyện gì đến miệng nàng cũng trở thành chuyện tốt nhất trên đời này.

Hoắc Giác lặng lẽ lắng nghe, đôi mắt sâu thẳm như biển phản chiếu khuôn mặt trắng nõn của tiểu nương tử, khi nàng nói đến lúc hứng thú còn không quên bóp nhẹ ngón tay thon của nàng.

Đợi đến khi Khương Lê cuối cùng cũng nói xong, hắn nhìn nàng, dịu dàng nói: “A Lê, ta nhận nhiệm vụ của Đô sát viện, ngày mai phải đi Thanh Châu.”

Khương Lê sửng sốt.

Thanh Châu?

Đi Thanh Châu xa hơn rất nhiều so với việc hắn trước đây đến thành Lâm An và chùa Đại Tướng Quốc.

Nơi đó nằm ở phía Đông Nam Đại Chu, nghĩ một chút là biết, chắc chắn chuyến đi này của Hoắc Giác không phải ba năm ngày là có thể về được.

Khương Lê vội che giấu sự không nỡ trong lòng, cố gắng dùng giọng điệu bình tĩnh nói: “Chàng, phải đi bao lâu?”

“Đi đường thủy rồi chuyển sang đường bộ, đi về khoảng hai tháng.”

Khương Lê vừa nghe, cái giọng điệu bình tĩnh đó liền có chút không giữ được nữa.

“Vậy cũng lâu đấy.” Tiểu nương tử mím môi, cố gắng ép ra một nụ cười: “Nhưng đã là công vụ triều đình, tất nhiên phải làm cho thật tốt. Bây giờ ta sẽ đi thu xếp hành lý cho chàng, thời gian gấp rút, e là không kịp chuẩn bị nhiều lương khô đâu.”

Khương Lê nói xong bèn vội vàng đứng dậy, định gọi Đào Chu. Nhưng nàng vừa mới đứng lên, khoảnh khắc tiếp theo đã được Hoắc Giác ôm trọn vào lòng.

Lang quân tuấn tú cao lớn hơi cúi người, cọ cọ vào hõm cổ thơm ngát của tiểu nương tử, dịu dàng nói với nàng:

“A Lê, nàng có muốn đi Thanh Châu cùng ta không?”

“Thanh Châu, là nơi ta sinh ra.”
 
Tiểu Thanh Mai Của Thủ Phụ Đại Nhân
Chương 103: “Tên thật của ta là Vệ Cẩn, tự là Chiêu Minh.”


“A Lê, nàng có muốn đến Thanh Châu cùng ta không?”

“Thanh Châu, là nơi ta sinh ra.”

Lời của Hoắc Giác vừa dứt, người Khương Lê lập tức cứng đờ.

Nàng và Hoắc Giác thành thân đã gần một năm, Hoắc Giác chưa từng giấu giếm nàng điều gì. Về lai lịch của Hoắc Giác và Vệ Xuân, Khương Lê đã lờ mờ đoán được đôi chút, nhưng chưa từng tìm hiểu.

Nàng biết rõ, tâm tư của mình quá đơn giản dễ đoán, nhỡ như sau này kẻ thù của họ tìm đến, chỉ cần nàng không biết gì, thì không sợ những người đó có thể lấy được thông tin gì từ nàng.

Nàng chỉ là một tiểu nương tử bình thường, ngoài việc kiếm được chút bạc và cho Hoắc Giác một gia đình, những việc khác hoàn toàn không giúp được gì. Điều nàng có thể làm, chẳng qua là không trở thành gánh nặng cho Hoắc Giác.

Nhưng Thanh Châu, đó là nơi Hoắc Giác sinh ra, là nơi hắn ở trước khi xuất hiện ở phố Chu Phúc.

Nơi đó, có quá khứ của hắn.

Làm sao Khương Lê lại không muốn đi?

Tiểu cô nương chớp chớp mắt, cuối cùng không kìm được sự háo hức trong lòng, ngập ngừng hỏi: “Chàng đến Thanh Châu là đi làm công vụ, ta đi cùng chàng, chẳng phải sẽ gây phiền phức cho chàng sao?”

“Không đâu.” Hoắc Giác ngẩng đầu khỏi vai nàng, cọ cọ vào sống mũi thanh tú của nàng, cười nói: “Đến tháng mười e là Thanh Châu sẽ có biến động, lần này ta đi, đương nhiên không thể đường đường chính chính đi với thân phận Giám sát Ngự sử, có A Lê đi cùng, vừa hay có thể che mắt người ngoài. Tuy hiện giờ Thanh Châu không thể nói là thái bình, nhưng nàng yên tâm, ta sẽ bảo vệ nàng.”

Khương Lê hoàn toàn không lo lắng hắn không bảo vệ được mình, biết được việc đi cùng hắn không những không gây phiền phức, mà còn có thể giúp được hắn, vui mừng còn không kịp.

“Nếu ta có thể giúp được chàng, đương nhiên ta muốn đi.”

Đôi mắt tiểu nương tử sáng rỡ, nghe hắn nói đường đi sẽ vất vả, còn dùng sức kéo tay áo hắn, nghiêm túc nói: “Ta không sợ mệt, hiện giờ ta cưỡi ngựa cũng khá lắm, chẳng phải đã nói với chàng rồi sao? Mấy ngày trước ta còn cùng Minh Huệ, A Oánh đến trường đua ngựa chạy mấy vòng, họ đều khen ta tiến bộ nhiều.”

Nàng ngước mặt lên, lải nhải kể với hắn hiện giờ nàng giỏi thế nào, sợ hắn sẽ đổi ý.

Hoắc Giác nhìn chằm chằm Khương Lê, một lúc lâu sau, khẽ nhếch môi, cúi đầu thơm nhẹ lên má nàng, nói: “Vậy tiểu đệ cảm tạ Khương chưởng quỹ không quản vất vả đi làm việc cùng ta.”

Việc Khương Lê đi cùng Hoắc Giác đến Thanh Châu từ đó được định đoạt.

Sáng sớm hôm sau, trời còn chưa sáng, mấy người Đào Chu, Vân Chu đã thu xếp hành lý xong.

Lần này đi cùng Khương Lê đến Thanh Châu là Vân Chu và Tố Tùng, Đào Chu không có võ công đi cũng chẳng giúp được gì, đương nhiên không thể đi cùng.

Chỉ có thể cố gắng nhét tất cả những thứ có thể dùng đến trên đường vào hành lý, còn dặn dò Vân Chu, Tố Tùng rất kỹ.

Đến khi xe ngựa được trang bị xong xuôi, rời khỏi phố Vĩnh Phúc, đi về phía cổng thành, vừa đúng lúc trời sắp sáng.

Hoắc Giác ngồi trên xe ngựa, vén rèm nhìn về phía Hoàng cung.

Chỉ thấy một tia sáng vàng xuyên qua tầng mây, phủ lên cung điện nguy nga xa xa một lớp vàng vụn.

Hoắc Giác buông tay, hơi cụp mắt, đến khi hắn trở về từ Thanh Châu, Thịnh Kinh, nên nổi gió rồi.

***

Hôm nay vì thân thể Thành Thái Đế không khỏe, buổi triều sớm mới mở chưa đến một canh giờ đã kết thúc.

Lăng Duệ nhìn Thành Thái Đế chậm rãi bước xuống long tọa dưới sự dìu đỡ của Triệu Bảo Anh, khéo léo che giấu vẻ khác thường trong mắt.

Lúc ra đến cửa cung, ông ta thoáng ngoái đầu nhìn Dư Vạn Chuyết đang cúi mình đứng một bên, thấy đối phương gật đầu nhẹ đến gần như không thể nhận ra, khẽ nhếch môi, bước nhanh ra khỏi cửa cung.

Ngoài cửa cung, Tề Xương Lâm đang nói chuyện với Hồ Đề, ngẩng đầu thấy Lăng Duệ mặt mày hòa nhã bước ra từ cửa cung, vội dừng lời lại.

Lăng Duệ đi tới, khẽ gật đầu cười với họ: “Hai vị đại nhân hôm nay tan ca xong, có muốn đến Phi Tiên lâu một chuyến không?”

Hồ Đề vẫn đang quan sát sắc mặt Lăng Duệ, những ngày này ông ta ăn không ngon ngủ không yên, tim như treo trong cổ họng, mãi không thể rơi xuống.

Lúc này thấy Lăng Duệ bày ra sắc mặt hòa nhã, như thể đã nắm chắc trong tay, mới thở phào nhẹ nhõm, chắp tay nịnh nọt: “Vậy cung kính không bằng tuân mệnh.”

Tề Xương Lâm cũng chắp tay đáp lời, thái độ vẫn như trước đây, trong sự cung kính pha lẫn đôi chút kính phục và thần phục.

Đợi Lăng Duệ và Hồ Đề lên xe ngựa rời đi, ông ta vẫn đứng im không nhúc nhích ngoài cửa cung.

Tề An lo lắng nhìn ông ta, ánh mắt dừng lại trên má trái ông ta một lúc, cuối cùng không nhịn được, tiến lên một bước nói: “Đại nhân, nên đi thôi.”

Tề Xương Lâm lộ ra vẻ mặt bình thản gật đầu, nói: “Đến phố Tú Phường, ăn bát mì rồi đến quan nha.”

***

Cuối phố Tú Phường có một tiệm mì tên là “Khổng Ký”, tiệm mì này đã mở được hơn mười năm. Chủ quán là một ông lão què chân ăn nói thận trọng, người ở phố Tú Phường đều không biết họ tên thật của ông ấy, chỉ biết gọi ông ấy là lão Khổng.

Lão Khổng mở tiệm rất tùy ý, muốn mở thì mở, không muốn mở thì thôi. Tâm trạng tốt thì bán một trăm bát mì, tâm trạng không tốt thì một bát cũng không bán, dường như hoàn toàn không phải vì kiếm tiền mà mở tiệm mì này.

Nhưng đáng nói là, tay nghề của ông ấy thật sự tuyệt vời.

Sợi mì dai, nước dùng đậm đà thơm ngon, ngay cả thịt cũng cho rất hào phóng. Một bát mì vào bụng, thật sự là ngay cả những lỗ chân lông trên người cũng muốn há miệng để hút chút không khí thơm mùi mì.

Người phố Tú Phường đều thích đến đây ăn mì, đáng tiếc hôm nay chủ quán lại đóng cửa.

Những người quen trong phố lộ vẻ thất vọng đành phải ra về, hoàn toàn không để ý đến một cỗ xe ngựa không mấy nổi bật từ từ đi qua bên cạnh.

Tề Xương Lâm xuống xe ngựa rồi đi thẳng đến cửa bên tiệm mì, giơ vòng đồng gõ gõ, chỉ nghe cửa “kẽo kẹt” một tiếng, lộ ra gương mặt già nua trải qua đầy gió sương của lão Khổng.

Tề Xương Lâm đã nhiều năm không đến phố Tú Phường, tự nhiên cũng đã lâu không gặp lão Khổng.

Lão Khổng là người của Chu Dục Thành, Tề Xương Lâm gặp người rồi, cũng không hề ngượng ngùng chút nào, giống như hơn mười năm trước, thân thiết cười chào hỏi: “Khổng thúc gần đây có khỏe không?”

Lão Khổng cũng giống như trước đây, mặt không gợn sóng gật đầu đáp lại, hai tay lau lau vào tạp dề dầu, nói: “Bát mì của ngươi vẫn là thêm hành không cần rau mùi?”

Tề Xương Lâm cười đáp phải, nói kiểu tâng bốc: “Khổng thúc khỏe mạnh minh mẫn, trí nhớ này còn tốt hơn cả ta.”

Lão Khổng khịt mũi, liếc nhìn ông ta một cái, rồi tự mình vào bếp sau của tiệm.

Chu Dục Thành thản nhiên ngồi trên ghế đá dưới gốc cây già, cười cười với Tề Xương Lâm: “Huynh đến sớm hơn ta tưởng.”

Tề Xương Lâm bước nhanh đến dưới cây, ngồi xuống rồi nói: “Lúc tan triều bị Hồ Đề kéo lại nói chuyện một lúc, nếu không còn có thể sớm hơn nữa.”

Nói ra hai người đã hơn mười năm không ngồi ăn uống nói chuyện như thế này, trước đây hai người thuộc phe phái khác nhau, Tề Xương Lâm theo Lăng Duệ, Chu Dục Thành tự thành một phe đối chọi với Lăng Duệ.

Hai người từng kề vai đi chung một đoạn đường, từ lúc chia tay đã trở thành thù địch chứ không còn là bạn nữa.

Nhưng hiện giờ ngồi chung một bàn, ăn mì như thuở trước, lại chẳng có chút xa cách chia xa mỗi người một ngả hơn mười năm.

Chu Dục Thành rót đầy một chén trà cho Tề Xương Lâm, thong thả nhìn ông ta rất kỹ, nói: “Đêm qua Tú nương tử có mang dao đến phủ Thượng thư không?”

Tề Xương Lâm nhận chén trà, hạ mắt cười, thẳng thắn nói: “Thật ra không mang dao, chỉ tát ta một cái.”

Nói xong, nhớ đến ánh mắt giận dữ của Dư Tú Nương, ông ta lắc đầu cười một tiếng, nói: “Cũng là ta đáng đời.”

Chu Dục Thành không đáp lời, một lúc sau, lão Khổng đã bưng hai bát mì nóng hổi lên.

Hai người im lặng ăn mì, đợi đến khi bụng không còn trống rỗng nữa, Tề Xương Lâm mới đặt đũa xuống, ôn tồn nói: “Định Viễn Hầu gửi thư đến, nói Nhị Hoàng tử Bắc Địch đã đồng ý qua tháng mười sẽ phái người đột kích quân Túc Châu. Tin này là giả phải không?”

Chu Dục Thành nghe xong cũng không vội trả lời.

Chồng hai cái bát không lên nhau, đưa cho lão Khổng, lại thong thả pha một ấm trà, mới thản nhiên nói: “Sao lại nói vậy? Chẳng phải Định Viễn Hầu đến Túc Châu chữa bệnh chân sao?”

Tề Xương Lâm nhìn chăm chú Chu Dục Thành, lời vừa rồi thực sự là ông ta đang thăm dò Chu Dục Thành, nhưng vị đồng liêu năm xưa này quá mức bình tĩnh, không lộ ra một chút manh mối nào.

Hiện giờ ông ta thực sự không phân biệt được, rốt cuộc mấy người Chu Dục Thành là đang điều tra vụ án cũ bảy năm trước, đang đào hố cho Lăng Duệ, hay là cả hai.

Lúc này Lăng Duệ tự tin mọi việc đã sẵn sàng, còn thiếu mỗi gió Đông, chỉ đợi diễn lại vở kịch bảy năm trước.

Nhưng tất cả quá thuận lợi, những năm qua vì nắm quyền trong tay, Lăng Duệ ngày càng trở nên tự phụ ngạo mạn, tính nhạy bén và cẩn thận trước kia đã sớm cùn mòn.

Nhưng Tề Xương Lâm thì không.

Ông ta đã nhận ra điều bất thường, cũng nhận ra nguy hiểm, thậm chí còn lén lút cử người đến Túc Châu và Thanh Châu điều tra.

Chỉ là chưa nhận được hồi âm, Dư Tú Nương đã đến cửa.

Tề Xương Lâm lấy ra hai bức mật thư của địch quốc, đưa cho Chu Dục Thành và nói: “Trong mật thư có tên húy của Khang Vương, hẳn là các huynh sẽ không công khai những bức thư này.”

Đánh đổ Lăng Duệ không phải chuyện dễ, nhưng chỉ cần mưu tính chu toàn thì không phải không thể.

Nhưng dùng phương pháp nào cũng không thể liên lụy đến Thành Thái Đế đang tại vị.

Đó là Hoàng Đế, là Thiên tử.

Cho dù ban đầu ông ta lên ngôi bằng thủ đoạn gì, hiện tại ông ta vẫn là chủ nhân của điện Kim Loan.

Xem khắp lịch sử các triều đại, chỉ cần chưa đến lúc nước mất nhà tan, dân phẫn trời nộ, dù Hoàng Đế phạm sai lầm gì cũng sẽ không bị trừng phạt.

Cùng lắm cũng chỉ là một bức tội kỷ chiếu.

Trừ phi dùng thủ đoạn đặc biệt, giống như Lăng Duệ.

Nhưng Chu Dục Thành, cùng với nhóm Ngự sử Đô sát viện kia, thậm chí cả Định Quốc Công một lòng bảo vệ Túc Châu và Tông Già lấy gia tộc làm trách nhiệm, đều không phải người có thể làm chuyện giết vua đoạt quyền.

Vì thế, trong mắt Tề Xương Lâm, dù Chu Dục Thành có làm gì đi nữa, chẳng qua cũng chỉ là để đánh đổ Lăng Duệ. Cho dù điều tra án cũ, cũng sẽ hoàn toàn tách Thành Thái Đế ra khỏi vụ án đó.

Chu Dục Thành cất hai bức mật thư đi, không đáp lời Tề Xương Lâm vừa rồi, mà chuyển chủ đề: “Ta cứ tưởng huynh sẽ cân nhắc vài ngày mới giao những bức thư này.”

Tề Xương Lâm im lặng hồi lâu rồi nói: “Hôm qua A Tú nói với ta, ta đã làm cha rồi. Khi nàng ấy rời Kinh, đã mang thai được hai tháng, đứa bé tên là Tề Hoằng, sắp tròn tám tuổi.”

Tề Xương Lâm vừa nói vừa vỗ tay cười, giống như đang thở dài, lại giống như đang tự giễu.

Đêm qua, Dư Tú Nương đặt thư vào tay ông ta, từng chữ từng chữ nói với ông ta: “Ta không cầu sau này Hoằng nhi sẽ lấy ông làm niềm tự hào, chỉ cầu nó không cảm thấy xấu hổ vì người cha như ông. Tề Xương Lâm, đừng ép Hoằng nhi như ta, đến cả họ của cha mình cũng phải từ bỏ!”

Tề Xương Lâm vừa dứt lời, Chu Dục Thành lập tức thoáng sững người, sau đó ngước mắt lên, thật lòng thật dạ nói một câu: “Chúc mừng Hoài Doãn.”

Tề Xương Lâm khẽ cười, năm đó A Tú đi lên Kinh dự thi cùng ông ta, không biết mình đã mang thai. Xe ngựa trượt trên tuyết, bà ấy ngã khỏi xe, đứa bé đã mất.

Sau đó A Tú uống thuốc nhiều năm, vẫn không thể mang thai lại, lúc đó ông ta còn an ủi bà ấy, có lẽ kiếp này ông ta không có duyên với con cái. Nào ngờ, ngay khi ông ta đề xuất hòa ly với bà ấy, bà ấy lại có thai.

Phải nói là tạo hóa trêu ngươi chăng?

Nhưng dù lúc đó biết A Tú mang thai con của ông ta, chắc hẳn ông ta cũng sẽ đưa ra cùng một lựa chọn.

Cung đã b*n r* không thu tên về được, từ khi ông ta theo Lăng Duệ, từng bước làm đến chức Hình bộ Thị lang, ông ta đã không thể quay đầu nữa.

Một khi quay đầu, với thủ đoạn tàn nhẫn của Lăng Duệ, không chỉ có ông ta phải chết, A Tú cũng sẽ chết.

“Huynh còn nhớ ngày yến tiệc Ân vinh, Vệ Thái phó nói với chúng ta, làm quan phải tự xét mình ba lần mỗi ngày, đừng quên tâm nguyện ban đầu không?” Tề Xương Lâm cười cười nói: “Nói ra huynh đừng cười, ban đầu ta chọn làm quan, chỉ vì thấy mình học hành giỏi, không thi lấy công danh thì phí. Có công danh, sau này muốn cưới người thê tử mình thích cũng có thể tự tin hơn. Nhưng sau đó…”

Giọng ông ta ngừng lại.

Sau đó, ông ta gặp A Tú, rồi đến Thịnh Kinh, nghe những thế gia dòng dõi quý tộc, những phu nhân danh giá trong những bữa tiệc khách khứa đông đúc, cười nhạo ông ta cưới một nữ nhân thương hộ tầm thường.

Nói ông ta và A Tú giống như hoa tươi cắm bãi phân trâu, phí hoài công danh ông ta học hành khổ sở thi được.

Trong lòng ông ta tức giận vô cùng, nhưng ông ta bất lực, thậm chí không có can đảm ra ngoài tranh cãi với đồng liêu.

Vì thế ông ta đổi ý, chỉ muốn leo lên, leo đến vị trí đủ cao, để người đời không dám coi thường A Tú.

Nguyên Hậu của Đại Chu cũng xuất thân từ thương hộ.

Khi xưa Chu Nguyên Đế chưa lên ngôi, Chu Nguyên Hậu cũng từng bị người ta cười nhạo khinh thường. Sau đó, những tiểu thư quyền quý từng lén cười nhạo bà ấy từng người một từ từ quỳ trước mặt bà ấy, cung kính dập đầu hành lễ.

Quyền thế có thể giúp ngươi bảo vệ người mình muốn bảo vệ.

Nhưng một khi không có quyền thế, ngươi sẽ trở thành con cá cho người ta xẻ thịt.

Tề Xương Lâm nói được nửa chừng thì không nói tiếp nữa, Chu Dục Thành cũng không hỏi.

Sau một hồi im lặng, Tề Xương Lâm thở dài một tiếng, nói: “Ta biết các huynh muốn động đến Lăng Duệ, cũng biết lúc này huynh không dám tin ta. Bảy năm trước, để gây rối ở Túc Châu và Thanh Châu, Lăng Duệ từng lén lút gửi mấy đợt bạc đến Bắc Địch và Nam Thiệu, người phụ trách là Hồ Đề. Khi đó sổ sách––”

“Sổ sách huynh nói, có phải quyển này không?” Chu Dục Thành ngắt lời Tề Xương Lâm, lấy một quyển sổ cũ kỹ ra từ trong ngực, đặt trước mặt ông ta.

Tề Xương Lâm vừa nhìn thấy quyển sổ, con ngươi lập tức co rút dữ dội, nhanh chóng cầm lấy sổ sách, sắc mặt nghiêm trọng lật xem.

Một lúc sau, ông ta ngước mắt lên, nhìn chăm chú vào Chu Dục Thành.

Quyển sổ này hoàn toàn giống với quyển sổ ông ta giấu dưới đáy giường, không chỉ nét chữ giống nhau, mà mỗi khoản trong đó cũng không sai một ly.

Nhưng hai quyển sổ đó ông ta đã giấu rất kỹ, hơn nữa còn làm dấu, chỉ cần có người động vào, ông ta sẽ biết.

Vấn đề là, hai quyển sổ đó vẫn còn nằm yên dưới đáy giường, ngoài ông ta ra, không ai động đến.

Vậy quyển sổ gần như thật này trước mặt từ đâu mà có?

Tề Xương Lâm nheo mắt lại, đầy ẩn ý sâu xa, nói: “Do Phủ, ta rất tò mò, ngoài Lỗ Thân, Bách Chúc, Tông Già, Tiết Tấn ra, sau lưng huynh còn có ai?”

***

Mồng sáu tháng mười, Thanh Châu.

Thanh Châu cách Thịnh Kinh không gần, đi đường thủy rồi thêm đường bộ, phi ngựa gấp rút, khoảng mười ngày là đến.

Nhưng Hoắc Giác lo cho Khương Lê, nên không vội vã lên đường quá mức, đến tháng mười mới tới Thanh Châu.

Thanh Châu giáp ranh với Nam Thiệu, bao năm nay, những xung đột lớn nhỏ chưa từng dứt. Trước kia có Vệ gia và quân đội Hoắc gia, cuộc sống còn tạm yên bình, dân chúng cũng được coi là an cư lạc nghiệp.

Trong lãnh thổ Đại Chu, những thành trì giáp ranh với nước thù địch phần lớn có phong tục mạnh mẽ hung hãn.

Nhưng Thanh Châu thì khác, vì tộc họ Vệ truyền thừa thi thư xuất thân từ Thanh Châu, và đời đời đều bám rễ trên mảnh đất này.

Phong tục nơi đây không hề hung hãn, đi đâu cũng thấy những người đọc sách đang cầm sách, ngay cả những dân thường chưa từng đến trường học cũng có thể nói vài câu văn vẻ “Chi hồ giả dã”.

Vệ gia mở nhiều trường học cho mọi người, dù là dân nghèo hay con nhà quyền quý, chỉ cần muốn đến trường học đều được chào đón.

Con cháu tộc họ Vệ đủ mười hai tuổi phải đến học đường nghe giảng, phần lớn người đọc sách ở Thanh Châu đều xuất thân từ học đường của Vệ gia. Mỗi năm người đỗ Tú tài, Cử nhân không sao kể xiết.

Không ai ngờ rằng, Thanh Châu từng là nơi đời đời đèn sách thành phong trào, chỉ trong một đêm đã thay đổi hoàn toàn.

Vệ gia không còn, quân đội Hoắc gia tan rã, tín ngưỡng trong lòng vô số dân Thanh Châu cũng sụp đổ.

Hoắc Giác nhìn hai chữ “Thanh Châu” được khắc thật mạnh mẽ sắc nét trên cổng thành, đôi mắt vốn bình thản hiếm khi nổi lên gợn sóng.

Thanh Châu, Thanh Châu.

Kiếp trước hắn chưa từng trở về đây.

Không phải vì “cận hương tình khiếp”, mà là vì hắn không muốn trở về với thân phận Hoắc Đốc công bị ngàn người chỉ trích, vạn người thóa mạ.

Dù sao, từ khi hắn vào cung, Vệ Cẩn Nhị công tử của Vệ gia đã chết, dù có trở về cũng chỉ là một cô hồn dã quỷ không thể nhận tổ quy tông.

Cát bụi theo gió bay lên, bầu trời xám xịt, cả tòa thành như bị bao phủ trong một làn khói mù.

Khương Lê nhìn Hoắc Giác im lặng, không hiểu sao lại nhớ đến ngày đầu tiên vào Thịnh Kinh, Hoắc Giác cũng giống như bây giờ, lặng lẽ nhìn tấm biển đề “Hoắc phủ”, mặt rõ ràng không có một gợn sóng nhưng khiến nàng nhìn mà đau lòng.

Cũng giống như ngày đó, Khương Lê nhẹ nhàng nắm tay hắn, cười nói: “Hoắc Giác, cuối cùng chúng ta cũng đến Thanh Châu rồi.”

Cảm nhận được bàn tay ấm áp mềm mại như bông, Hoắc Giác hơi giật mình, rồi khóe miệng cong lên, yết hầu lên xuống khẽ “Ừm” một tiếng.

Phải, hắn đã trở về Thanh Châu.

Mọi người xuất trình giấy tờ thông quan, thuận lợi vào thành, lúc này trời đã tối.

Ánh chiều tà le lói, Khương Lê nhìn phố phường trở nên vắng lặng sau khi trời tối, đôi mày liễu dài thanh tú hơi nhíu lại.

Nghe nói Thanh Châu là thành trì biên cương quan trọng của Đại Chu, Khương Lê sớm biết nơi này chắc chắn sẽ là một thành trì đầy nghiêm trang mang chút cảm giác hoang tàn nặng nề.

Nhưng không ngờ lại yên tĩnh đến thế này.

Sự yên tĩnh này giống như sự tĩnh lặng trước cơn mưa bão, không hiểu sao lại khiến người ta cảm thấy bất an trong lòng.

Khương Lê quay sang nhìn Hoắc Giác, nói: “Thanh Châu trước đây cũng… yên tĩnh như vậy sao?”

“Không.” Hoắc Giác nhìn qua tấm rèm vải hé mở ra ngoài cửa sổ, bình tĩnh nói: “Thanh Châu trước đây giống như thành Đồng An, nơi đâu cũng náo nhiệt. Người ở đây thích đọc sách, đến đêm, dù là quán rượu hay quán trà, đều thích tổ chức ‘đấu văn hội’ ‘đấu thơ hội’. Dưới ảnh hưởng đó, ngay cả trẻ ba tuổi cũng có thể nói được một hai từ tao nhã.”

Hoắc Giác dịu giọng nói, khóe môi không kìm được cong lên:

“Nhưng nơi đây dù sao cũng là nơi đóng quân trọng yếu, người Thanh Châu tuy thích đọc sách nhưng không cổ hủ, tính tình cũng rất thẳng thắn. Khi đấu văn thơ thì vẫn văn vẻ, nhưng khi cãi nhau thì càng khó nghe càng tốt, có thể chửi đi chửi lại tổ tông mười tám đời của đối phương nhiều lần.”

Khương Lê nghe thấy thú vị, trong mắt không kìm được dâng lên ý cười, nói: “Vậy lúc nhỏ chàng có nghịch ngợm không? A tỷ nói lúc nhỏ chàng mãi không làm người ta bớt lo được, có bị mắng không?”

Hoắc Giác nhìn vẻ trêu chọc trong mắt tiểu cô nương, nhéo nhéo đầu ngón tay nàng, nói: “Tuy nói lúc nhỏ ta không ngoan như Đại ca và a tỷ, nhưng cũng không tính là nghịch ngợm, ngoài việc thỉnh thoảng bị ông nội phạt chép sách, thì cũng chưa từng bị ai mắng.”

Vệ gia là một tấm bia đá trong lòng dân Thanh Châu, bình thường chỉ cần nghe người ngoài nói một hai câu đôi câu ba lời đàm tiếu về người Vệ gia, đừng nói đến những nam nhân vạm vỡ, ngay cả những cụ già ngồi dưới gốc cây hóng mát cũng sẽ trừng mắt giận dữ, cầm quạt hương bồ chỉ vào những người ngoài đó mà mắng.

Là tiểu công tử Vệ gia, mỗi lần ra ngoài, dân Thanh Châu đều bận rộn chào hỏi hắn, làm sao có thể mắng hắn được?

Khương Lê nghe xong, mím môi cười, nói: “Trước kia chàng ở phố lớn Chu Phúc, lúc nào cũng lạnh lùng, cũng chẳng ai dám mắng chàng, còn phải trái lương tâm khen chàng khiêm tốn lễ độ nữa.”

Nói xong, nàng bắt chước dáng vẻ hắn thường hay làm với mình, giơ tay nhéo nhéo gương mặt trắng ngọc không tì vết của vị lang quân trẻ tuổi, nói: “Nói cho cùng, là vì gương mặt này của chàng quá được lòng người. Chàng có biết không, trước kia ở phố lớn Chu Phúc có bao nhiêu tiểu nương tử thích chàng? Đến giờ ta vẫn còn nhớ cảnh chàng bị các tiểu nương tử vây quanh, không ra được.”

Tiểu cô nương làm ra vẻ khởi binh hỏi tội, giương nanh múa vuốt, nhưng trong lòng vẫn thương yêu phu quân của mình, tay hoàn toàn không nỡ dùng sức, chỉ làm ra vẻ mà thôi.

Nhưng dù vậy, vị Trạng nguyên lang vốn luôn thanh tú lạnh lùng kia vẫn bị nàng nhéo, toát ra chút vẻ hài hước.

Khương Lê không nhịn được bật cười khúc khích.

Hoắc Giác cụp mắt nhìn hai lúm đồng tiền bên má nàng, thản nhiên để mặc nàng nhéo.

Đến khi xe ngựa dừng lại ở khách đ**m, Hà Chu và Hà Ninh đều phát hiện, từ khi đến Thanh Châu, chút lạnh lẽo khó nhận thấy của chủ tử nhà mình đã tan biến.

Khách đ**m họ dừng chân nằm ở phố Tiên Phủ của Thanh Châu, chưởng quỹ khách đ**m là một cụ già có tuổi, ông cụ ngồi sau quầy, chống cằm, vẻ mặt buồn ngủ.

Mọi người vừa vào cửa, chưởng quỹ đã mở hé mắt nhìn về phía cửa lớn, khi ánh mắt chạm đến Hoắc Giác thì đột nhiên dừng lại, rất nhanh đã vội vàng tiến lên phía trước, cúi người nói: “Mấy vị khách quan muốn ở trọ à?”

Hoắc Giác gật đầu, lộ ra vẻ mặt ôn hòa nói: “Phòng chữ Thiên phía Đông Nam, bốn gian, nếu có thể nhìn thấy núi Cửu Tiên của Thanh Châu thì càng tốt.”

<i>(*)Phòng chữ Thiên (</i><i>天字号房</i><i>): phòng tốt nhất</i>

Viền mắt chưởng quỹ đỏ hoe, người còn khom thấp hơn, luôn miệng đáp, giọng nói còn hơi run rẩy: “Có có có! Hôm nay quán trọ của lão không có khách, các vị muốn ở đâu cứ tùy ý!”

***

Thanh Châu có một ngọn núi Cửu Tiên, Khương Lê đã nghe nói đến trên đường tới đây.

Nghe đồn trước đây ở ngọn núi này từng có tiên nhân xuất hiện, trong đó có một đạo quán tên là Thanh Vân quán, rất được người dân Thanh Châu yêu thích.

“Trước đây bà ngoại là quả phụ danh môn, sau khi thủ tiết đã vào Thanh Vân quán làm đạo cô. Lúc trẻ bà ngoại là một hiệp khách không quan tâm chuyện gì nhưng võ công lại cao cường, một lần đến đạo quán gặp bà, còn tưởng rằng đã gặp được tiên tử.”

Trong phòng chữ Thiên, Hoắc Giác đẩy cửa sổ ra, chỉ về phía dãy núi mờ ảo trong đêm tối xa xa, tiếp tục cười nói với Khương Lê: “Sau khi biết được thân phận của bà ngoại, ông ngoại lập tức gia nhập quân ngũ, liều mạng lập quân công. Nghĩ rằng có được công danh thì mới có thể cưới bà ngoại.”

Không ai biết rằng, vị Hoắc lão tướng quân mà thiên hạ đều ca ngợi, dụng binh như thần ấy. Ban đầu nguyện ý tòng quân, cũng chỉ vì muốn cưới một nữ tử mà thôi.

“Sau này bà ngoại và ông ngoại thành thân, Phương thần y và Viên Thanh đại sư còn lén lút cho ông thuốc bí truyền, nói có thể đảm bảo ba ngày ba đêm, trăm hiệp không sờn(*).”

<i>(*)Nguyên văn là “Kim thương bất đảo” (</i><i>金</i><i>枪不倒</i><i>)</i>

Giọng nói trầm thấp của lang quân trẻ hòa quyện với đêm tối tạo nên một chút dịu dàng, Khương Lê lặng lẽ lắng nghe, trong lòng dần dần dâng lên nỗi chua xót.

Hoắc Giác ngừng lại một chút, một lúc sau, nói với nàng: “A Lê, Hoắc là họ của ngoại tổ ta, ta vốn họ Vệ.”

Vừa nói, Hoắc Giác liếc mắt sang, ngón tay dài chỉ về phía một phủ đệ đèn đuốc sáng trưng ở phía Đông, nói: “Nơi đó, từng là nơi ở đời đời của Vệ gia ta.”

Khương Lê nhìn theo, thấy phủ đệ không xa kia chiếm diện tích rộng lớn, ánh đèn lay động trong đêm tối như những con đom đóm ẩn mình trong rừng sâu đêm hè, ánh sáng dày đặc nối thành biển, nhìn là biết có người ở.

Khương Lê nghẹn ngào, nhưng cuối cùng vẫn hỏi: “Người đang sống ở đó bây giờ là ai?”

Hoắc Giác như thể cảm nhận được nỗi buồn khó kìm nén của Khương Lê.

Đóng cửa sổ lại, ôm lấy tiểu nương tử với viền mắt chóp mũi đỏ hoe, ngồi xuống giường.

“Nếu ta đoán không sai, người đang sống ở đó bây giờ, hẳn là nhi tử của Thủ phụ Lăng Duệ, Lăng Nhược Phàm.”

Các gia tộc danh giá khi chọn địa điểm dựng tộc, đều rất coi trọng phong thủy.

Mà phủ đệ họ Vệ, dựa núi tựa sông, là nơi có phong thủy tốt nhất Thanh Châu.

Chỉ là tổ trạch họ Vệ đã trải qua bao nhiêu đời gió mưa ấy, sớm đã bị thiêu rụi thành tro bụi trong trận hỏa hoạn bảy năm trước. Phủ đệ mới xây dựng trên đó hiện giờ, không còn mang họ Vệ nữa.

Hoắc Giác cúi đầu tìm ánh mắt Khương Lê, trong đôi mắt đen sâu thẳm, là sự nghiêm túc chưa từng có.

“A Lê, ta vốn tên là Vệ Cẩn, tự Chiêu Minh, là con cháu đời thứ sáu mươi ba của họ Vệ ở Thanh Châu.”

Mắt Khương Lê ngấn lệ, nghiêm túc gật đầu.

Ngày đó khi hắn nói với nàng, Thanh Châu là quê hương của hắn, nàng đã đoán được hắn là ai rồi.

Hắn họ Hoắc, a tỷ họ Vệ, xuất thân từ Thanh Châu.

Bảy năm trước, Hoắc Giác mình đầy thương tích xuất hiện ở phố Chu Phúc, a tỷ vào phủ Định Quốc Công, trở thành “Ngụy” di nương.

Nghĩ đến phong thái tuyệt thế vô song của hai người, ngoài họ Vệ Thanh Châu ra, còn có thể là ai?

Dân chúng ở phố Chu Phúc thực ra ít khi quan tâm đến chuyện triều đình, phần lớn chỉ lo cuộc sống trước mắt. Nhưng vụ án mưu phản bảy năm trước, ngay cả một đứa trẻ con tóc để chỏm như Khương Lê cũng đã từng nghe nói.

Năm Thừa Bình thứ hai mươi chín, Thái tử mưu phản, Hoàng Đế băng hà, biên cương báo động, Hoàng quyền thay đổi.

Năm đó, không chỉ phủ Thái tử không còn, mà cả họ Vệ nổi tiếng ở Thanh Châu và Hoắc tướng quân dụng binh như thần cũng không còn nữa.

Trên đời này không có chuyện gì có thể khiến người ta thật sự đồng cảm.

Chuyện buồn nhất trong đời Khương Lê là cha qua đời vì bệnh, nhưng Hoắc Giác mất đi không chỉ một người thân, mà là cả một gia tộc chết thảm trước mắt, vậy mà hắn không thể làm gì.

Khương Lê chỉ nghĩ thôi đã thấy lòng đau như dao cắt, huống chi là Hoắc Giác lúc nhỏ chưa đầy mười tuổi. Lúc đó hẳn là, hắn đã tuyệt vọng và đau thương đến nhường nào?

Vì vậy, suốt đường từ Thịnh Kinh đến Thanh Châu, chỉ cần Hoắc Giác không nói, Khương Lê sẽ không hỏi.

Sợ rằng nàng vừa hỏi, sẽ khơi gợi chuyện buồn của Hoắc Giác.

Giờ đây Hoắc Giác dùng giọng điệu nhẹ nhàng như gió thoảng mây bay, kể với nàng những chuyện quá khứ này, Khương Lê thực sự không thể kìm nén được nước mắt nữa.

Nàng nén khóc, cố gắng dùng giọng đầy hứng khởi nói: “Không sao đâu, Hoắc Giác, sau này khi chàng làm quan lớn, ta sẽ theo chàng về Thanh Châu. Sau đó, ta sẽ kiếm thật nhiều tiền, mua lại tổ trạch của Vệ gia!”

Khương Lê không hiểu chuyện triều đình, tất nhiên không biết Thủ phụ Lăng Duệ mà Hoắc Giác vừa nhắc đến chính là kẻ khiến hắn và a tỷ cửa nát nhà tan.

Trong lòng nàng, nhi tử của Thủ phụ sớm muộn gì cũng phải về Thịnh Kinh, đến lúc đó, chỉ cần nàng có đủ tiền, là có thể mua lại phủ đệ đó.

Hoắc Giác nhìn đôi mắt gần như chìm trong nước mắt của Khương Lê, không nói gì, chỉ cúi đầu, áp trán vào trán nàng, khẽ nói: “Được.”

Hắn đã khác xa với kiếp trước, kiếp trước Hoắc Giác đi sai đường, chọn con đường báo thù. Kiếp này, hắn có thứ quan trọng hơn cần bảo vệ.

Gần như ngay khoảnh khắc trán hắn chạm vào, nước mắt trong mắt Khương Lê không kìm được nữa, rơi xuống như những hạt châu đứt dây.

Hoắc Giác khẽ ngước mắt, dùng môi nhẹ nhàng đón lấy những giọt lệ đó, rồi tỉ mỉ hôn đôi mắt ướt át của nàng, ôm chặt lấy nàng, vành tai chạm tóc mai nàng, không hề mang theo sắc dục.

Với tính cách của hắn, lẽ ra hắn sẽ không đưa Khương Lê đến Thanh Châu vào thời điểm như thế này, dùng cách gần như tàn nhẫn, mổ xẻ quá khứ của hắn cho nàng xem.

Rốt cuộc hắn vẫn không nỡ để A Lê đau lòng, chỉ muốn nàng mãi là con chim khách ngày nào cũng vui vẻ.

Nhưng ngày đó, khi Chu Dục Thành tìm đến Dư Tú Nương, hắn không hiểu sao lại nhớ đến những lời Tề Xương Lâm nói với hắn trước khi chết ở kiếp trước.

Người ta nói kẻ sắp chết, lời nói đều thiện.

Có lẽ biết mình không còn sống được bao lâu, trong ngục Đại lý tự, Tề Xương Lâm đã nói với hắn không ít lời.

Về hẻm Ngân Nguyệt, về Dư Tú Nương, về tâm nguyện ban đầu của ông ta.

“Đốc công đã từng yêu ai chưa? Đã từng có khoảnh khắc rõ ràng không nỡ nhưng vẫn phải đẩy nàng ra khỏi bên cạnh mình chưa?”

“Ta thường nghĩ, nếu như ngay từ đầu, ta đã thẳng thắn nói với nàng, mà không phải giấu nàng, ép nàng hòa ly với ta. Có lẽ giờ đây kết cục của ta và nàng sẽ khác.”

Cho đến bây giờ, Hoắc Giác vẫn nhớ vẻ mặt của Tề Xương Lâm khi nhìn ra cửa sổ nhỏ trong ngục.

Ngày hôm đó ở Thịnh Kinh bầu trời xám xịt, làm nổi bật vẻ tĩnh mịch cô đơn như tuyết trong ánh mắt ông ta.

Khi hắn rời khỏi ngục Đại lý tự, Tề Xương Lâm dập đầu liên tục với hắn, nhìn bóng lưng hắn bình tĩnh nói: “Mong Đốc công đừng để nàng đến đến nhặt thi thể của ta, kiếp sau Tề mỗ nhất định sẽ ngậm cỏ kết vành, báo đáp ân tình của Đốc công.”

Vì câu nói này của ông ta, bước chân Hoắc Giác khựng lại nửa nhịp, vì dừng lại đột ngột, phất trần đen vẽ ra một đường cong trong không trung.

Có lẽ Tề Xương Lâm không biết, lúc đó Hoắc Đốc công cũng giống như mình.

Đi sai đường, chọn sai lựa chọn. Hắn tưởng rằng mình làm vậy là vì tốt cho nàng, hắn tưởng rằng mình đang bảo vệ nàng.

Nhưng không ngờ, những điều bọn họ tưởng, chưa bao giờ là điều các nàng muốn.
 
Tiểu Thanh Mai Của Thủ Phụ Đại Nhân
Chương 104: Thiếu niên Hoắc Giác một lòng muốn kế thừa những gì ông ngoại truyền xuống, trở thành Đại tướng quân, chưa bao gi�


Vào giờ Dậu năm khắc, đúng lúc đoàn người của Hoắc Giác đi qua cổng thành, một tên thám tử lặng lẽ rời khỏi cổng thành, đi về phủ Tham nghị.

Trong phủ Tham nghị, Lăng Nhược Phàm mặc áo gấm trắng thêu vàng, tay cầm một cuốn binh thư, ngồi yên lặng trong thư phòng, mỉm cười nghe trợ tá báo cáo tình hình ở Nam Thiệu.

Một lúc sau, bên ngoài vang lên tiếng gõ cửa.

Tên thám tử bước vào, chắp tay cung kính nói: “Đại nhân, vừa rồi có một đoàn thương nhân bán rượu đi vào từ ngoại thành. Thuộc hạ thấy không có gì bất thường, chỉ là hiện tại đang là thời điểm đặc biệt nên muốn báo cáo cho đại nhân một tiếng.”

Lăng Nhược Phàm đặt cuốn binh thư xuống, gương mặt anh tuấn thanh tú nở một nụ cười nho nhã, nói: “Các ngươi đã biết mấy ngày này là thời điểm đặc biệt thì cũng nên biết phải làm thế nào.”

Tên thám tử nghe vậy lập tức nghiêm mặt lại, nói: “Vâng, thuộc hạ tuân lệnh.”

Mấy trợ tá của phủ Tham nghị nghe thấy lời Lăng Nhược Phàm, trong lòng đều run sợ.

Trong hai tháng qua, những người từ nơi khác đến Thanh Châu, kẻ chết thì chết, kẻ mất tích thì mất tích, tất cả đều do vị Tả Tham nghị ôn văn nhã nhặn trước mặt này ra lệnh diệt khẩu.

Thủ đoạn này quả thực là tàn nhẫn độc ác.

Hiện tại Thanh Châu dưới sự kiểm soát của Lăng đại nhân và Tần Tướng quân đã vững như thành đồng, hơn nữa động tĩnh ở Nam Thiệu được giấu kín, hầu như chẳng ai có thể phát hiện ra điều bất thường, cần gì phải đuổi tận giết cùng như vậy?

Dù sao những người đó cũng chỉ là dân thường tay trói gà không chặt mà thôi!

Mấy người trong lòng nghĩ Lăng Nhược Phàm thủ đoạn tàn độc, nhưng trên mặt vẫn nịnh nọt khen ngợi hắn ta anh minh.

Lăng Nhược Phàm vẫn giữ vẻ ôn văn nhã nhặn, nói: “Qua vài ngày nữa, quân Nam Thiệu sẽ có hành động, lúc này dù chỉ là một con muỗi bay vào cũng phải bày sẵn thế trận. Những năm qua, tên điên Chử Ngộ đã gây khó dễ cho Tần Tướng quân không ít lần, muốn quân đội Thanh Châu hoàn toàn rơi vào tay chúng ta, Chử Ngộ không thể để lại, lần này hợp tác với Nam Thiệu, cũng là vì binh mã của Thanh Châu.”

Lăng Nhược Phàm nhìn họ, mỉm cười nói: “Các vị nên biết, lúc này không phải là lúc nương tay.”

Các trợ tá tất nhiên đều vâng dạ, lại liên tục ca ngợi Lăng Nhược Phàm. Đến khi họ rời khỏi thư phòng, nụ cười trên mặt Lăng Nhược Phàm lập tức biến mất.

“Một lũ rắn chuột, không có chút can đảm mà còn mơ tưởng đến phú quý ngất trời!”

Hắn ta khẽ bĩu môi, cầm một chiếc quạt xếp rồi ra khỏi thư phòng, nói với tùy tùng bên cạnh: “Đến phủ Tướng quân.”

Trong phủ Tướng quân, Tần Vưu nghe người hầu báo Lăng Nhược Phàm đến, vội vã vỗ vỗ vào đùi tiểu thiếp xinh đẹp, nói: “Ra ngoài đi, lão gia nhà nàng có chính sự cần phải làm.”

Tiểu thiếp đó liếc nhìn ông ta một cái đầy oán trách, ánh mắt đong đưa, quyến rũ mê người.

Nhìn đến mức Tần Vưu ngứa ngáy khó chịu, nhưng biết Lăng Nhược Phàm cũng giống như cha hắn ta, không chịu được người khác lười biếng, vẫn phải nhịn xuống, cười híp mắt nói: “Đến giường ở phòng Đông chờ ta, ta ở đây không lâu đâu.”

Nói xong, Tần Vưu chỉnh trang quần áo, nở một nụ cười ôn hòa, rồi ra cửa đón tiếp Lăng Nhược Phàm.

Vừa mới đi đến hành lang thì thấy một công tử áo trắng thong thả đi tới. Người đó đội mũ bạch ngọc, tay cầm quạt xếp, vẻ mặt ôn văn nhã nhặn, rõ ràng là dáng vẻ của một quân tử đoan chính.

Tần Vưu khẽ híp mắt không để lộ dấu vết.

Cách hành xử của Lăng Nhược Phàm này càng ngày càng giống Đại công tử Vệ Triệt của Vệ gia năm xưa.

Lăng Thủ phụ miệng nói coi thường Vệ gia, nhưng khi bồi dưỡng nhi tử mình, lại hoàn toàn đi theo khuôn mẫu của Vệ Triệt. Từ trang phục đến cử chỉ ăn nói, giống như muốn sao chép ra một Vệ Triệt khác vậy.

Thế gia liên kết với nhau, Tần Vưu là phò mã tài giỏi của tộc trưởng họ Vương, khi xưa chính nhờ mối quan hệ giữa họ Vương và họ Vệ mà ông ta mới thuận lợi vào được quân đội Thanh Châu, tiến thẳng đến dưới trướng Hoắc Diễm.

Ngày xưa mấy đứa trẻ Vệ gia gặp ông ta đều cung kính gọi một tiếng “Tần thúc”.

Ngay cả Vệ Đại công tử Vệ Triệt nổi danh Thanh Châu cũng tôn trọng ông ta từ tận đáy lòng.

Lăng Nhược Phàm bề ngoài cũng tỏ vẻ tôn trọng ông ta, nhưng sau lưng lại giống như cha hắn ta, đều chỉ coi ông ta như một con chó săn mà thôi!

Cho nên nói, đồ rởm thì vẫn là đồ rởm, dù bề ngoài Lăng Nhược Phàm có giả vờ giống đến đâu, bên trong vẫn giống như cha hắn ta, là một kẻ ngụy quân tử kiêu ngạo hư vinh.

Tần Vưu nghĩ ngợi trăm chiều, nhanh chóng tiến lên trước mặt Lăng Nhược Phàm, thân thiết nói: “Hiền điệt muốn đến phủ Tướng quân, sao không sai người nói trước một tiếng? Như vậy ta cũng có thể chuẩn bị ít rượu thịt, hai thúc cháu mình tâm sự cho thoải mái.”

Vừa nói vừa ôn hòa dẫn Lăng Nhược Phàm vào thư phòng, cửa vừa đóng lại, Lăng Nhược Phàm đã đi thẳng vào vấn đề: “Qua sáu ngày nữa sẽ đến ngày hẹn với Nam Thiệu. Tần Tướng quân, người của Chử Ngộ đã sắp xếp ổn thỏa chưa? Không xảy ra chuyện gì chứ?”

Tần Vưu tự nhận mình với Lăng Nhược Phàm là tình thúc cháu, nhưng Lăng Nhược Phàm luôn gọi ông ta là Tần Tướng quân, ngoài khách sáo ra còn có thêm vài phần xa cách.

Tần Vưu không để ý, dù sao việc luồn cúi đã trở thành chuyện cưỡi xe nhẹ đi đường quen với ông ta từ lâu.

Lúc này nghe lời Lăng Nhược Phàm, bèn cười nói: “Có thể xảy ra chuyện gì chứ? Chử Anh, nghĩa tử được Chử Ngộ tỉ mỉ bồi dưỡng đã sớm đầu quân cho ta, sau sáu ngày nữa, chỉ cần Chử Ngộ xuất chiến, Chử Anh sẽ tìm cơ hội ra tay. Trên chiến trường, đao kiếm vô tình, xảy ra chút ngoài ý muốn chẳng phải rất bình thường sao? Hiền điệt cứ yên tâm, chuyện trên chiến trường ta đã nắm chắc.”

“Chử Anh đó thật sự đáng tin cậy chứ?”

Tần Vưu liên tục gật đầu: “Khi xưa hắn ta lén lút đi sòng bạc ngầm thua hết hai nghìn lạng bạc, bị Chử Ngộ biết được, đánh ngay năm mươi roi quân, còn bắt hắn ta tự nghĩ cách trả nợ cờ bạc. Sau đó món nợ đó là ta thấy không đành lòng, âm thầm đưa ngân phiếu cho hắn ta trả hết. Nếu không thì chức vụ trong quân của hắn ta cũng bị cách chức rồi! Cha con họ sớm đã xa cách vì chuyện này, chỉ cần Chử Ngộ chết đi, binh quyền trong tay ông ta sẽ về tay Chử Anh. Thử hỏi ai có thể cưỡng lại sự cám dỗ như vậy?”

Muốn lợi dụng được người khác, không ngoài một số thủ đoạn uy h**p dụ dỗ, Tần Vưu chỉ cần dùng chút mưu kế nhỏ là đã dễ dàng khiến Chử Anh trở thành người của ông ta. Về điều này, ông ta còn khá tự đắc.

Lăng Nhược Phàm từng gặp Chử Anh vài lần, trong ấn tượng nhớ đó là người láu cá, không có chút khí phách nào của quân nhân, cả ngày chỉ thích chơi bời lêu lổng, cũng không biết Chử Ngộ cương trực anh vũ vì sao lại nhận hắn ta làm nghĩa tử.

Nhưng như vậy cũng tốt, nếu người này là người trọng tình nghĩa, làm sao có thể bị bọn họ lợi dụng?

Người đời đều tham, tham quyền, tham tiền, tham sắc.

Chỉ cần trong lòng có lòng tham, là có thể bị người khác lợi dụng.

Tần Vưu trước mặt chẳng phải như vậy sao?

Hoắc lão tướng quân có ân huệ nâng đỡ ông ta, bảy năm trước, lão tướng quân lên chiến trường nghênh địch, nếu không phải vì mấy mũi tên từ phía sau, làm sao có thể chết nhanh như vậy?

Người bắn mấy mũi tên đó khi xưa, chẳng phải là người trước mặt này sao?

***

Giờ Tý ba khắc, chính là lúc say giấc nồng.

Vài người áo đen trèo qua tường khách đ**m, vào hậu viện. Hôm nay mây đen che trăng, hậu viện này lại tối đen như mực, đưa tay không thấy năm ngón.

Nhưng dù sao những người áo đen đó cũng đã được huấn luyện bài bản, nhanh chóng phân biệt được phương hướng, lặng lẽ không tiếng động tiến về phía cổng chính.

Chỉ là người còn chưa đến gần cánh cửa đã khóa kia, bốn phía bỗng nhiên “vút vút” bay đến mấy chiếc kim nhỏ như lông trâu.

Đầu cây kim nhỏ lóe lên ánh sáng xanh lam u ám, nhìn là biết đã tẩm thuốc độc.

Đám người áo đen nghe thấy động tĩnh, cong người nhảy lên, những chiếc kim bay sượt qua da đầu. Mấy người vừa mới rơi xuống đất, đang định tìm kẻ ám toán mình, xung quanh đột nhiên xuất hiện hơn mười người, vây bọn chúng vào giữa.

Tất nhiên đám người áo đen biết thương nhân từ bên ngoài đi buôn bán, sẽ mang theo một số hộ vệ biết võ công. Bọn chúng tự cho mình võ công cao cường, cũng không coi những hộ vệ này ra gì, xông lên giao đấu với họ.

Nhưng chỉ trong khoảnh khắc vài hơi thở, đám người áo đen đã phát hiện ra điều bất thường.

Võ công của những người này hoàn toàn không kém bọn chúng, thậm chí có thể nói là còn giỏi hơn bọn chúng! Mấy người liếc nhìn nhau, đã nảy sinh ý định rút lui.

Nhưng đã đến đây rồi, làm sao có thể dễ dàng bỏ chạy được?

Chẳng mấy chốc, năm tên áo đen đã bị trói chặt.

Thẩm Thính cầm đuốc, sai người lột mặt nạ của chúng xuống, nói: “Tháo hàm của chúng ra, đừng để chúng uống thuốc độc tự vẫn. Những tên này còn phải giữ lại làm quà cho Lăng Nhược Phàm. Đồ Chủy, ngươi thức đêm làm mặt nạ da, đến sáng sắp xếp người giả dạng bọn chúng, quay về phủ Tham nghị.”

Nam nhân nhu mì có tên “Đồ Chủy” dịu dàng dạ một tiếng, ngồi xuống xem miệng một tên áo đen, cười cười nói: “Trong kẽ răng còn chẳng có túi thuốc độc, có lẽ nghĩ rằng có thể dễ dàng g**t ch*t chúng ta.”

Thẩm Thính nghe vậy thì cười lạnh, bước lên đạp vào tay tên áo đen, dùng sức nghiền nát, chỉ nghe “rắc” một tiếng, mấy ngón tay cùng gãy vụn.

“Giết người cho chủ tử của ngươi nhiều quá, có phải cho rằng ai cũng là kiến hôi, vung tay chém xuống là có thể dễ dàng lấy mạng người không?” Thẩm Thính đưa đuốc đến gần mặt tên áo đen: “Yên tâm, rất nhanh thôi các ngươi sẽ biết cảm giác của người làm đao thớt, mình làm cá thịt.”

Nói xong, không quan tâm đến vẻ mặt kinh hoàng của tên áo đen, đứng dậy, nhìn quanh một vòng, nói: “Mang người xuống, đừng làm phiền công tử và phu nhân.”

Khi hậu viện đã trở lại bình thường, Thẩm Thính dập tắt ngọn đuốc, đẩy cửa vào đại sảnh tầng một, nói với chưởng quỹ khách đ**m: “Thập Thất thúc, người đã được xử lý xong.”

Hoàng Thập Thất hơi gật đầu, nói: “Giờ Dần ngươi còn phải về doanh trại bảo vệ Chử Tướng quân, mau đi nghỉ một lát, tiểu công tử đã có ta trông nom.”

Hoắc Diễm làm người trượng nghĩa, từ trước khi trở thành du hiệp, đã có không ít người theo ông ấy, Hoàng Thập Thất là một trong số đó.

Những người làm việc trong khách đ**m đều là con cháu của huynh đệ khi xưa, ẩn náu ở đây, cũng chỉ để chờ ngày báo thù cho Hoắc Tướng quân.

Sau khi Thẩm Thính rời đi, Hoàng Thập Thất ngồi trên chiếc ghế xích đu gỗ hoàng hoa lê, chậm rãi nói với căn phòng tối đen: “Tướng quân à, tiểu công tử đã về rồi, ngài hãy kiên nhẫn chờ thêm, những kẻ đã hại ngài, sẽ sớm xuống dưới đó cùng ngài…”

***

Chuyện ồn ào xảy ra trong khách đ**m đêm qua, tất nhiên Khương Lê không hay biết gì, đêm qua khóc đến mệt mỏi, nàng cuộn mình trong lòng Hoắc Giác rồi ngủ thiếp đi.

Khi mở mắt ra, trời đã sáng tỏ, lang quân đã ôm nàng ngủ cả đêm không còn ở trong phòng nữa.

Vân Chu vào rửa mặt cho nàng, thấy mắt nàng hơi sưng, bèn hỏi: “Hôm qua phu nhân ngủ không ngon sao?”

Vừa dứt lời, nàng ấy lại nhớ ra đêm qua hậu viện ồn ào như vậy mà không đánh thức được phu nhân, chắc phu nhân ngủ khá say.

Quả nhiên ngay sau đó, thấy phu nhân lắc đầu nói: “Rất tốt.”

Vậy tại sao mắt lại sưng?

Còn có vẻ hơi ngẩn ngơ, dường như có chút buồn bã.

Vân Chu lại nhìn Khương Lê một cái, tỉ mỉ nhớ lại sắc mặt của công tử khi ra cửa sáng nay, vẫn lãnh đạm như trước, nghĩ lại đêm qua chắc hai người không cãi nhau.

Lúc này Vân Chu thật sự vô cùng nhớ Đào Chu, nếu Đào Chu tỷ ở đây thì tốt rồi, chắc chắn tỷ ấy sẽ biết rốt cuộc phu nhân có chuyện gì.

Bản thân nàng ấy từ nhỏ đã không tim không phổi, thô kệch, suy nghĩ hoàn toàn không sắc bén. Còn Tố Tùng lại là người ít nói, bình thường chỉ thích nghiên cứu các loại ám khí, càng không thể nói ra được ngọn ngành.

Đang nghĩ như vậy, bỗng bên ngoài cửa truyền đến tiếng bước chân rất nhẹ.

Chẳng mấy chốc đã thấy Hoắc Giác đẩy cửa bước vào.

Vân Chu lập tức thở phào nhẹ nhõm, công tử đã về, ắt hẳn phu nhân sẽ không buồn nữa.

Vị tiểu phu nhân nhà nàng ấy vốn hay cười, ngay cả Vân Chu thô kệch cũng nhìn ra được, khi công tử về, phu nhân sẽ cười ngọt ngào hơn bất cứ lúc nào.

Vân Chu nghĩ không sai chút nào, Hoắc Giác vừa mới vào, Khương Lê đã lập tức đứng dậy, cười nói: “Hoắc Giác, chàng đi đâu vậy?”

Hoắc Giác đặt mấy gói giấy dầu trên bàn xuống, tiến lên nhận lấy lược từ tay Vân Chu, nói: “Mua cho nàng vài món ăn vặt của Thanh Châu, đều là những món ta thích ăn lúc nhỏ.”

Đêm qua vị tiểu nương tử này khóc thật sự có chút dữ dội, Hoắc Giác không biết làm sao, chỉ có thể vắt óc kể cho nàng nghe những chuyện thú vị thời thơ ấu, để ngăn những giọt nước mắt kia của nàng.

Lúc thì kể chuyện ông ngoại làm thế nào để lừa được hắn vào doanh trại làm tiểu binh, rồi trong đêm khuya nghe những binh lính kể chuyện hạ lưu ra sao.

Lúc lại kể hắn thèm đồ ăn bên ngoài cỡ nào, làm sao cùng Thẩm Thính và Hạ Giác bịa cớ lén chạy ra ngoài phủ mua đồ ăn.

Những chuyện xưa này đối với Hoắc Giác mà nói, đã là chuyện từ rất lâu rồi.

Hắn từng tưởng những chuyện đó đã bị thời gian mài mòn đến phai mờ không rõ, không ngờ, lúc này nhớ lại, ngay cả chi tiết nhỏ nhất cũng hiện lên rõ mồn một trước mắt.

Dường như những ngày vô lo vô nghĩ ấy chưa từng xa rời, và cậu thiếu niên Hoắc Giác một lòng muốn kế thừa những gì ông ngoại truyền xuống, làm một Đại tướng quân, cũng chưa từng biến mất.

Tuy đêm qua Khương Lê đã rơi không ít nước mắt, nhưng nàng vẫn luôn nhớ rõ những lời Hoắc Giác nói.

Lúc này nghe hắn nói mua đồ ăn sáng về, vô thức hỏi ngay: “Có phải cháo ngọt(*), bánh dầu xoắn, bánh bao chiên cá mà chàng nói đêm qua không?”

<i>(*)Tên trước là “Thiêm mạt nhi”, là một loại cháo mặn truyền thống phổ biến ở Tề Nam, được gọi là ngọt vì ý nghĩa “sau đắng là ngọt” do xuất thân là cháo cứu trợ trong triều Minh – Thanh.</i>

Hoắc Giác nhẹ nhàng “Ừm” một tiếng.

Khương Lê lập tức có tinh thần, vừa chải tóc xong bèn đi qua xé giấy dầu ra, một mùi hương hành phi dầu thoang thoảng bay đến.

Khương Lê cắn một miếng bánh dầu xoắn, vỏ ngoài giòn rụm, nhân bên trong mềm thơm, quả thực là ngon tuyệt.

Nàng xé một miếng nhỏ, đút vào miệng Hoắc Giác, nói: “Khi công việc của chàng xong, chúng ta sẽ ra phố, ăn thỏa thích tất cả những món chàng thích ăn ngày xưa.”

Hoắc Giác đã quen với việc được Khương Lê đút cho ăn, rất hợp tác mở miệng, nếm món ăn quen thuộc từ thuở nhỏ, nhìn đôi mắt trong trẻo của tiểu nương tử nhà mình.

Bỗng nhiên cảm thấy, Thanh Châu này vẫn là Thanh Châu khi ấy.

***

Hai người ăn sáng xong, Hoắc Giác dẫn Khương Lê đến Thanh Vân quán.

Thanh Vân quán là nơi bà ngoại Hoắc Giác từng tu đạo, sau khi thê tử qua đời, Hoắc Diễm thường hay đến đạo quán này, Hoắc Giác thuở nhỏ cũng thường đến.

Quán chủ đạo quán vẫn là Ân đạo trưởng năm xưa, thấy bóng dáng hai người, bà ấy cũng không ngạc nhiên, chỉ cười nói: “Sáng nay chim khách hót trên cành, bần đạo đã biết có khách quý sẽ đến.”

Hoắc Giác khẽ cười, chắp tay thi lễ, nói: “Nhiều năm không gặp, đa tạ đạo trưởng vẫn còn nhớ tiểu tử.”

Ân đạo trưởng vốn là sư muội của bà ngoại Hoắc Giác, sau khi bà ngoại xuất giá, mỗi lần xuống núi đều đến phủ Tướng quân.

Hoắc Giác thuở nhỏ cũng từng gặp vị đạo trưởng này vài lần, lúc đó hắn còn nhỏ, tính tình hoạt bát, gặp ai cũng có thể nói vài câu. Lần nào Ân đạo trưởng gặp hắn, đều thích gọi hắn là “tiểu tử”.

Ân đạo trưởng nhìn Hoắc Giác, cười nói: “Từ nhỏ cháu đã giống sư tỷ, qua hai mươi năm nữa, bần đạo vẫn có thể nhận ra cháu ngay.”

Nói xong thì nhìn sang Khương Lê, ánh mắt ôn hòa, nói: “Cháu chính là A Lê?”

Vị đạo trưởng trước mặt mặc đạo bào màu tím nhạt, mái tóc bạc được búi thành búi đạo sĩ bằng trâm gỗ giản dị, gương mặt hiền từ.

Khương Lê lớn từng này, vẫn là lần đầu tiên nói chuyện với đạo trưởng tiên phong đạo cốt như vậy, vội vàng gật đầu, nói: “Vâng, đạo trưởng, tên ta là Khương Lê.”

Ân đạo trưởng tỉ mỉ quan sát đường nét gương mặt của nàng, rồi gật đầu cười, nói: “Là cô nương mắt sáng tâm thiện.”

Khương Lê bất ngờ được Ân đạo trưởng khen ngợi, trong lòng còn hơi ngượng ngùng, vội lén nhìn về phía Hoắc Giác, chỉ thấy vị lang quân của mình khẽ mỉm cười gật đầu, dáng vẻ giống như đang nói: Đạo trưởng nói đúng lắm, A Lê nhà ta quả thật là cô nương tốt, mắt sáng tâm thiện.

Ân đạo trưởng thấy đôi tiểu phu thê nhìn nhau mỉm cười, nỗi lo lắng ẩn sâu trong đáy mắt lập tức tan thành mây khói.

Mấy tháng trước bà ấy nhận được thư của Phương Tự Đồng, nói tiểu tử Vệ gia này đang bị tâm ma quấn thân. Nhưng giờ nhìn hắn, tâm tình ôn hòa, đôi mắt trong sáng, chẳng thấy dáng vẻ bị tâm ma quấn thân đâu cả.

“Đã đến rồi thì vào thắp hương bái tổ tiên đi!” Ân đạo trưởng cười nói với họ.

Sắc mặt Hoắc Giác hơi nghiêm lại, nói: “Đa tạ đạo trưởng, Cẩn và nội tử xin tuân mệnh.”

Nói xong, bèn đi theo Ân đạo trưởng vào một gian tịnh thất ở góc.

Bảy năm trước, biển lửa ngút trời đã thiêu rụi Hoắc gia và Vệ gia thành tro bụi.

Ngày hôm đó, trong biết bao vòng vây của vô số quan binh, vẫn có không ít dân chúng Thanh Châu xông vào cứu người.

Đáng tiếc thay, đừng nói là người, ngay cả linh bài tổ tiên trong từ đường cũng không cứu được.

Những linh bài hiện giờ cất giữ trong tịnh thất của Thanh Vân quán, đều là do sau này dân Thanh Châu lén lút khắc lại, mang đến đạo quán.

Nhưng dân chúng làm sao biết được danh sách tộc nhân dài dằng dặc của Vệ gia, nên hiện tại thờ phụng trong quán cũng chỉ có lác đác khoảng hơn mười vị.

Linh bài ông bà nội, ông bà ngoại, cha mẹ và Đại ca của Hoắc Giác đều ở trong đó.

“Ban đầu dân chúng còn làm cả của cháu và Đại nương tử, bần đạo nhận được thư của Phương thần y thì đã lấy linh bài của hai cháu xuống rồi. Hôm nay trong quán ngoài các cháu ra không có người ngoài nào, đừng lo bị quấy rầy.” Ân đạo trưởng nói xong thì đi ra khỏi tịnh thất.

Ân đạo trưởng vừa đi, Khương Lê đã tiến lên nắm tay Hoắc Giác.

Hoắc Giác thu hồi ánh mắt từ những tấm linh bài, nghiêng đầu nhìn Khương Lê, dịu dàng nói: “A Lê, ta đưa nàng đi gặp người thân của ta.”

***

Gió thu vi vu, cây cối trên núi bị gió thổi qua xào xạc, trong rừng sâu vọng lại tiếng chim hót, suối chảy róc rách.

Sau khi ra khỏi tịnh thất, Hoắc Giác nói với Khương Lê: “Vài ngày nữa, e là Thanh Châu sẽ có chiến sự. Vân Chu và Tố Tùng sẽ ở lại Thanh Vân quán với nàng, đợi khi chiến sự kết thúc, ta sẽ về đón nàng, dẫn nàng đi nếm thử rượu Thanh Châu của chúng ta.”

Hắn nói chuyện không nhanh không chậm, sắc mặt cũng bình thản, dường như cuộc chiến sắp xảy ra trước mắt, đối với hắn, cũng chỉ là chuyện nhỏ.

Dù trong lòng lo lắng, Khương Lê cũng không hỏi hắn định đi đâu làm gì, chỉ dịu dàng cười nói: “Vậy chàng nhớ đấy, dù thế nào cũng phải về đón ta an toàn vẹn nguyên, nếu không, ta sẽ không tha cho chàng đâu.”

Hoắc Giác nhìn nàng, cúi đầu khẽ chạm vào má nàng, thấp giọng nói: “Ta nghe lời phu nhân.”

Thời gian thoáng chốc đã trôi qua vài ngày, ngày mười một tháng mười, mới sáng sớm Khương Lê đã cùng Vân Chu, Tố Tùng vào rừng sâu hái quả mùa thu.

Những quả lê vàng óng treo đầy cành, Khương Lê hái đầy một giỏ, nói với hai người họ: “Trời thu hanh khô, chúng ta làm ít nước lê thu cho công tử. Nước lê thu dễ làm, vài ngày nữa công tử về vừa hay có uống luôn.”

Nói xong, nàng khẽ nhíu mày, nhìn về tường thành phía Nam.

Không biết bây giờ Hoắc Giác thế nào rồi, mọi việc ở biên quan có suôn sẻ không?

Lo lắng một lúc, Khương Lê thu hồi ánh mắt, khẽ lắc đầu, Hoắc Giác đã nói vài ngày nữa sẽ về đón nàng, vậy chắc chắn sẽ về, nàng cứ yên tâm đợi là được.

Những lời hắn nói, nàng chưa bao giờ nghi ngờ cả.

“Đi thôi.” Khương Lê mỉm cười với Vân Chu, Tố Tùng: “Chúng ta về đạo quán, mấy ngày này e là sẽ không được yên ổn lắm, chúng ta đừng ra ngoài, cứ ở yên trong đạo quán.”

Vân Chu vội vàng dạ một tiếng, nói: “Phu nhân yên tâm, công tử võ công cao cường, còn có thiếu trại chủ và người của trại Bạch Thủy, nhất định sẽ bình an trở về.”

Khương Lê biết Vân Chu đang an ủi mình, khẽ “Ừm” một tiếng. Ba chủ tớ xách đầy giỏ lê, đi về phía đạo quán.

Đêm đó, Hoắc Giác và Chử Ngộ cùng leo lên tường thành.

Ngoài tường thành cát vàng mịt mù, gió thu thổi qua chân tường, cuốn lên một trận bụi cát trong đêm tĩnh mịch.

Nếu không biết trước quân Nam Thiệu sẽ đột kích, đêm như thế này, giống hệt vô số đêm trước, yên tĩnh như thể cuộc sống rất bình yên.

Chử Ngộ vỗ vỗ áo giáp trên vai Hoắc Giác, hào sảng cười nói: “Một lát nữa đừng nương tay, cũng đừng phân tâm. Ta vẫn còn sức, lại có Thẩm Thính bên cạnh, sẽ không xảy ra chuyện gì đâu.”

Chử Ngộ tuổi đã cao, khi cười đuôi mắt đầy nếp nhăn chồng chất, nhưng ánh mắt vẫn sắc bén như tên, không hề thấy vẻ gì là già nua.

Hoắc Giác nói: “Chử thế thúc yên tâm, những gì ông ngoại dạy từ trước, Cẩn chưa từng có ngày nào quên.”

“Tốt tốt tốt!” Bàn tay thật dày của Chử Ngộ lại vỗ lên vai hắn: “Trước kia Tướng quân thường nói với chúng ta, rằng theo thời gian tiểu tử cháu nhất định sẽ sóng sau xô sóng trước, thay thế ông ấy bảo vệ Thanh Châu! Nếu Tướng quân còn sống, thấy cháu ngày hôm nay, chắc chắn sẽ lại khoe khoang với chúng ta ba ngày ba đêm!”

Mấy tháng trước, Thẩm Thính đã mang hai bức thư bí mật đến Thanh Châu.

Thư không chỉ nói về việc nghĩa tử của ông ấy theo Tần Vưu, còn mượn cơ hội này bày kế trong kế, lợi dụng Nam Thiệu, giáng đòn chí mạng vào Tần Vưu và Lăng Nhược Phàm.

Nghĩ đến đây, Chử Ngộ không khỏi thở dài.

Một là thở dài vì mình không biết nhận người, tuổi càng cao, càng không nhìn thấu lòng người, không thấu hiểu được nhân tính. Chử Anh là đứa trẻ được ông ấy tự tay dạy dỗ, nghĩ rằng có ngày sẽ kế thừa những gì mình truyền lại.

Lúc trước Chử Anh nợ nần cờ bạc, Chử Ngộ đánh hắn ta năm mươi trượng quân pháp rồi bắt hắn ta tự trả nợ, chỉ muốn hắn ta nhớ được cờ bạc sẽ mang lại hậu quả như thế nào. Không ngờ ân đức một thạch gạo lại thành thù oán một đấu gạo, khiến hắn ta ghi hận trong lòng.

Nếu không có Thẩm Thính mang thư đến, đêm nay ông ấy giao chiến với Nam Thiệu, chắc chắn sẽ là một đi không trở về. Ông ấy chết đi, toàn bộ quân Thanh Châu sẽ rơi vào tay Tần Vưu.

Hai là thở dài vì vị cháu ngoại của Tướng quân, thật sự là suy tính tỉ mỉ đâu ra đó, tính toán không sai một nước. Đứa trẻ này từ nhỏ đã lập chí muốn làm Đại tướng quân, bảo vệ Thanh Châu giống với ông ngoại.

Nếu như năm đó Vệ gia, Hoắc gia không xảy ra chuyện, sao hắn có thể không phải là Hoắc tướng quân, Định Quốc Công tiếp theo được?

Đáng tiếc thay!

Đang cảm thán, một binh sĩ đột nhiên chạy lên tường thành, sắc mặt nghiêm nghị nói: “Bẩm Tướng quân, do thám truyền tin, đêm nay Nam Thiệu do Đại hộ quốc tướng quân Mông Xá dẫn binh.”

Mông Xá chính là Tướng quân Nam Thiệu xâm phạm Thanh Châu bảy năm trước, chức Đại hộ quốc tướng quân của hắn cũng là bảy năm trước, sau khi biết Hoắc lão tướng quân chết, Hoàng Đế Nam Thiệu đích thân ban thưởng cho.

“Đến hay lắm!” Chử Ngộ vỗ tay mạnh, nói: “Đêm nay lão tử nhất định khiến tên tôn nhi đó có đến mà không có về!”

***

Giờ Dần ba khắc, quân Nam Thiệu đột kích Thanh Châu.

Giờ Mão một khắc, Tần Vưu liên tiếp nhận được tin do mấy thám tử mang đến: Chử Tướng quân trúng kế, bị quân địch vây ở ải Bình Cốc, ngã ngựa, hiện giờ sống chết chưa rõ.

“Tốt tốt tốt!” Tần Vưu “phịch” một tiếng ném cái chén trà trong tay xuống, mặt đầy hưng phấn nói: “Chử Tướng quân khinh địch trúng phục kích, quân Nam Thiệu đã áp sát thành, tất cả theo Bản tướng đến ải Bình Cốc cứu viện!”

Mấy nghìn binh mã ầm ầm tiến về ải Bình Cốc, vó ngựa “lộc cộc”, tung lên một màn cát vàng, trong đêm tĩnh lặng, theo gió rơi xuống.

Tần Vưu đã mưu tính với Hoàng Đế Nam Thiệu từ lâu, chỉ cần ông ta vừa đến, quân Nam Thiệu sẽ giả vờ bị đánh lui, nhanh chóng rút khỏi ải Bình Cốc. Như vậy, không chỉ có quân của Chử Ngộ sẽ rơi vào tay ông ta, còn có thể nhân cơ hội này lập một công lao bằng trời!

Đến ải Bình Cốc, Tần Vưu ngồi trên ngựa, hưng phấn nhìn quanh bốn phía.

Nhưng thấy trong cát vàng bay đầy trời, đừng nói là Mông Xá, ngay cả nửa tên lính Nam Thiệu cũng không thấy.

Kinh nghiệm vào sinh ra tử nhiều năm khiến trong lòng ông ta lập tức dấy lên cảnh giác, vừa định mở miệng nói, một mũi tên lạnh lẽo đã bay từ phía sau tới, nhắm thẳng đến lưng ông ta.

Một tiếng “phụt” của vũ khí xé rách thịt vang lên, bị gió thu cuốn đi.

Hoắc Giác ẩn mình trong rừng rậm ải Bình Cốc, hạ cung xuống, chậm rãi nói: “Mũi tên thứ nhất.”

Năm xưa ông ngoại trúng ba mũi tên, còn hai mũi nữa.

Hoắc Giác rút một mũi tên thật nhọn từ ống tên, lại giương cung, mũi tên “vút” một tiếng b*n r*, nhanh chóng c*m v** cánh tay Tần Vưu.

Tần Vưu bị thương ở vai phải và đùi trái, máu tươi tuôn ra ồ ạt, ông ta nhịn đau, hét lên thất thanh: “Mau vây quanh ta! Là ai! Là ai dùng tên bắn lén!”

Mấy phó tướng bên cạnh ông ta đều hoảng sợ nhìn quanh bốn phía, do dự thúc ngựa tiến lên, nhưng vó ngựa vừa nhấc, vô số mũi tên đã đột nhiên bắn tới từ bốn phương tám hướng, xuyên thẳng qua móng ngựa.

Tuấn mã đau đớn hí vang, dùng sức ngả về phía sau, mấy phó tướng lập tức trượt khỏi lưng ngựa, ngã mạnh xuống đất.

Và lúc này mũi tên thứ ba trên tay Hoắc Giác theo sát phía sau, hung hãn xuyên qua bụng dưới của Tần Vưu.

“Mũi tên thứ ba.”
 
Tiểu Thanh Mai Của Thủ Phụ Đại Nhân
Chương 105: Vệ Tướng quân nhà ta thật tuấn tú


Địa điểm hẹn giữa quân Nam Thiệu và Tần Vưu chưa bao giờ là ải Bình Cốc, chỉ là tin tức Nam Thiệu gửi đến đã bị Chử Ngộ và Thẩm Thính thao túng, khi đến tay Tần Vưu đã trở thành ải Bình Cốc.

Mũi tên thứ ba gần như không gặp bất kỳ cản trở nào đã xuyên thủng bụng dưới của Tần Vưu, mũi tên được mài rất sắc bén, ba vết thương trên người máu thịt be bét, máu chảy như suối.

Dưới cơn đau dữ dội, mặt Tần Vưu tái nhợt như tờ giấy, phải nắm chặt dây cương mới có thể khống chế không rơi xuống.

Hai phó tướng ngã xuống đất nhìn Tần Vưu với vẻ kinh hoàng, áo giáp trên người ông ta là áo giáp sắt được rèn công phu, làm sao có thể bị bắn thủng?

Nhưng người ẩn nấp trong bóng tối có tài bắn cung thực sự cao minh, mượn ánh trăng mỏng manh, mũi tên với khí thế như sấm sét trực tiếp chui vào kẽ hở giữa các mảnh giáp, xuyên thủng bụng.

Hai phó tướng vội chống người dậy, định đứng lên bảo vệ Tần Vưu, nhưng vừa mới ngồi dậy lại ngã vật xuống, chỉ thấy đầu váng mắt hoa, hoa mắt ù tai, toàn thân không còn chút sức lực, như thể trúng độc vậy.

Họ nhìn nhau, đều thấy nỗi sợ hãi trong mắt đối phương.

Rất nhanh sau đó là một loạt tiếng ngã xuống đất vang lên “bịch” “bịch” “bịch”, những binh lính theo Tần Vưu lần lượt rơi xuống từ lưng ngựa, ngay cả những con ngựa dưới thân cũng như không chịu nổi, chân trước “bịch” một tiếng quỳ xuống đất.

Trong tình cảnh này, ai có mặt ở đó còn không hiểu chuyện gì? Bọn họ đã mắc mưu rồi! Không biết khâu nào đã xảy ra sai sót, tất cả đều trúng thuốc.

“Là ai! Ra đây cho Bổn tướng!” Tần Vưu thở hổn hển, đôi mắt đầy tia máu tràn ngập vẻ dữ tợn, nhưng cơ thể không ngừng run rẩy.

Người tập kích ông ta không thể là quân Nam Thiệu.

Hoàng Đế Nam Thiệu không thể bỏ qua cơ hội g**t ch*t Chử Ngộ này.

Mấy năm nay không biết Chử Ngộ đã giao chiến với quân Nam Thiệu bao nhiêu lần, lần nào cũng như chó điên không sợ chết, như muốn cắn xé một miếng thịt từ quân Nam Thiệu.

Mông Xá hận không thể phanh thây Chử Ngộ làm nghìn mảnh, cơ hội tốt như vậy, làm sao có thể bỏ qua? Chắc chắn phải làm theo kế hoạch để cho Chử Ngộ một đòn chí mạng mới đúng.

Nhưng hiện tại ở ải Bình Cốc này không thấy bóng dáng một tên lính Nam Thiệu nào, chỉ có thể là họ đã trúng kế người khác ngay từ đầu! Mà người giăng bẫy họ ngoài Chử Ngộ ra còn có thể là ai?

Tần Vưu cũng là kẻ hung ác, thấy mình sắp ngất đi vì mất máu quá nhiều, bèn dùng sức xoay mũi tên trên vai, mượn cơn đau dữ dội để duy trì tỉnh táo, quát lớn:

“Chử Tướng quân! Ta là Trấn Quốc tướng quân Tam phẩm được Hoàng thượng thân phong, ngày thường ngươi có ghét ta đến mấy, cũng không thể mượn đao giết người vào lúc Nam Thiệu xâm lược! Đây là cố tình phạm pháp!”

Tần Vưu hiểu Chử Ngộ, người này rất trọng đạo nghĩa. Lần này ám toán ông ta, có lẽ là vì biết được kế hoạch bí mật của ông ta với Nam Thiệu, nên mới tương kế tựu kế, muốn mượn cơ hội này tìm ra bằng chứng ông ta cấu kết với Nam Thiệu, để rửa sạch tội danh cho Hoắc Tướng quân.

Nhưng Mông Xá sẽ không khai ra ông ta!

Cha của Mông Xá chính là bị Hoắc Diễm chém giết, hắn ta hận Hoắc Diễm đến tận xương tủy, làm sao có thể giúp Chử Ngộ lật lại bản án cho ông ấy?

Nghĩ đến đây, Tần Vưu ổn định lại tinh thần, định mở miệng.

Đột nhiên một mũi tên lạnh lẽo nhắm thẳng vào mặt bắn tới, xuyên thẳng qua tai phải của ông ta.

“A!”

Tần Vưu kêu thảm một tiếng, cuối cùng không chịu nổi, ngả về phía sau rơi khỏi lưng ngựa.

Cũng vào lúc này, vài chục binh sĩ mặc quân phục Đại Chu, chỉnh tề bước ra từ rừng rậm, tay cầm cung tên, vây kín xung quanh họ.

Người đứng đầu thân hình cao lớn, mặt mày như ngọc, áo giáp lạnh lẽo càng làm nổi bật khuôn mặt lạnh lùng của hắn.

Ánh trăng lấp lánh soi sáng đôi mắt đen thẫm của hắn.

Tần Vưu đối diện với ánh mắt đó, con ngươi lập tức co rút lại, như thể nhìn thấy thứ gì đó đáng sợ không thể tin được.

Sau khi kinh ngạc một lúc, ông ta trợn tròn mắt, thở hổn hển, nói: “Ngươi, ngươi là—”

Đáng tiếc lời nói mới được nửa chừng, một đôi quân ủng màu đen đã hung hăng giẫm lên cổ họng ông ta, khẽ nghiền nát, chặn lại tất cả lời nói trong cổ họng.

Tần Vưu “khò khè” vài tiếng, chỉ cảm thấy một ngụm máu tanh ngọt trào ra từ cổ họng.

Mắt ông ta trợn càng to hơn, kế đó nghe người đó bình tĩnh nói: “Ta là Đô sát viện Giám sát Ngự sử Hoắc Giác, phụng mệnh đến Thanh Châu giúp Chử Tướng quân một tay, bắt giữ tội thần b*n n**c cấu kết với địch quốc, hãm hại trung lương.”

Lời hắn vừa dứt, phía sau lập tức truyền đến tiếng vó ngựa “lộc cộc” dồn dập nặng nề.

Tiếng vó ngựa đó không nhỏ, và càng lúc càng to rõ, nghe một cái đã biết là một đội kỵ binh số lượng lớn đang tiến đến.

Nghe thấy động tĩnh này, Tần Vưu mạnh mẽ vùng vẫy, đôi mắt đầy tia máu nhìn chằm chằm về phía phát ra âm thanh, con ngươi màu đen lộ ra một tia hy vọng quái dị.

Chỉ cần người đến là Mông Xá, là quân Nam Thiệu…

Tần Vưu chăm chú nhìn không chớp mắt, ánh trăng nhợt nhạt dần dần phác họa khuôn mặt của người đến.

Sau khi nhìn rõ người đến và vật trong tay người đó, ánh sáng trong mắt Tần Vưu lập tức tắt ngấm, như một nắm tro tàn cháy hết, không thể sáng lên một tia lửa nào nữa.

Cả người cũng không vùng vẫy, mềm nhũn như bùn nhão nằm trên đất.

Chử Ngộ dùng sức ném đầu của Mông Xá, đập xuống bên chân Tần Vưu, lớn tiếng nói: “Tần tặc, món quà lớn ta mang đến cho ngươi, ngươi có thích không?”

Đêm nay Chử Ngộ đã bị thương nhẹ, trên mặt có vài vết máu, áo giáp cũng đầy vết máu khô. Vị lão tướng quân này đã thức trắng một đêm lại nửa đêm chiến đấu với quân Nam Thiệu nhưng không có chút mệt mỏi nào, tinh thần sảng khoái, tràn đầy khí thế, thậm chí thần thái còn là chưa từng có trước đây.

Ông ấy cười lớn, nói với mấy ngàn binh tướng: “Tuy Mông Xá đã chết, nhưng mấy tâm phúc bên cạnh hắn ta đã bị chúng ta bắt sống, khai ra Tần Vưu và Lăng Nhược Phàm. Theo luật Đại Chu, kẻ thông đồng với giặc b*n n**c, xử lăng trì! Ta biết các ngươi bị Tần tặc và Lăng tặc ép buộc lừa gạt nối giáo cho giặc, hôm nay ta cho các ngươi một cơ hội lập công chuộc tội, xem các ngươi có hiểu được nắm bắt thời cơ không!”

***

Kẻ thức thời mới là trang tuấn kiệt.

Lăng Duệ sẽ không để nhi tử mình liều lĩnh, việc cấu kết với Nam Thiệu đều là do Tần Vưu đứng ra mặt. Cũng vì thế, khi cái tên Lăng Nhược Phàm vừa xuất hiện, đừng nói Tần Vưu, ngay cả tất cả binh sĩ có mặt đều biến sắc.

Người đứng sau Lăng Nhược Phàm là Lăng Thủ phụ, nếu Lăng Nhược Phàm bị định tội, vị Thủ phụ đại nhân đang giữ chức vị cao kia sẽ ra sao?

Người ta nói đương kim Thánh thượng là do Lăng Thủ phụ có con mắt tinh tường nhận biết được minh quân, ba lần quỳ mời, mới rước được Khang Vương ra khỏi Khang Vương phủ, lên ngôi Hoàng Đế.

Mấy năm qua, Lăng Thủ phụ có thể nói là được Thánh thượng sủng ái.

Nhưng tình thế hiện tại, chẳng lẽ Hoàng Đế và Lăng Thủ phụ đã cắt đứt?

Người đầu tiên phản bội Tần Vưu, dập đầu trước Chử Ngộ, chính là hai phó tướng mà ông ta tin tưởng nhất. Cho dù là vụ mưu phản bảy năm trước hay vụ thông đồng với Nam Thiệu hôm nay, hai người này đều biết rõ tất cả chi tiết bên trong.

Còn về những binh lính cấp dưới, phần lớn không biết về những âm mưu bỉ ổi của Tần Vưu và Nam Thiệu. Thấy phó tướng đã bước lên nhận tội, họ cũng vội vã vứt bỏ vũ khí trong tay, dập đầu nhận tội.

Tần Vưu trợn mắt đến sắp rách mí mắt, muốn gào lên chửi rủa đám phản chủ này!

Nhưng cổ họng đau đớn không chịu nổi, như thể bị đứt đoạn, ngoài những tiếng “ôi ôi” như tiếng trống rách, ông ta không thể phát ra được một chữ nào.

Chử Ngộ quay đầu nhìn về phía Hoắc Giác, dường như cuối cùng, đôi lông mày nhăn nhó nhiều năm cũng giãn ra trong giây phút này.

“Hoắc đại nhân, Tả Tham nghị Lăng Nhược Phàm vẫn còn ở trong phủ Tham nghị. Ngự sử ở bên ngoài, mang theo Thánh chỉ, có thể thay mặt Hoàng thượng quyết định. Xin đại nhân tự mình đến phủ Tham nghị một chuyến, bắt giữ tội phạm trọng yếu.”

Phủ Tả Tham nghị.

Từ khi đêm xuống, Lăng Nhược Phàm cứ thấy mí mắt giật liên tục, tâm thần bất an.

Đèn trong thư phòng đã cháy suốt đêm, mấy vị trợ tá lần đầu thấy hắn ta bồn chồn như vậy, vội an ủi: “Thám tử của phủ Tham nghị chúng ta cứ nửa canh giờ lại báo tin tức một lần, lúc này Chử Ngộ gặp nạn ở ải Bình Cốc, chắc chắn là thập tử vô sinh. Tần Tướng quân đã đến ải Bình Cốc, hẳn đã ‘đẩy lui’ quân Nam Thiệu theo kế hoạch, chắc Tần Tướng quân sẽ sớm phái người truyền tin thắng trận.”

Trợ tá nói xong, thấy vẻ lo lắng trên mặt Lăng Nhược Phàm giảm bớt, trong lòng đang đắc ý vì lại được ghi điểm trước mặt hắn ta, bỗng có tiếng đập cửa mạnh vang lên từ phía sau.

Hắn ta vội quay đầu nhìn lại, đã thấy cửa thư phòng bị người ta đá mạnh mở ra, năm thám tử mặc y phục dạ hành bước vào.

Các trợ tá không lạ gì với những thám tử này, bọn chúng là ám vệ được Lăng Nhược Phàm tín nhiệm nhất, thường ngày không biết đã giết bao nhiêu người cho hắn ta. Dù là dân thường hay quan viên, chỉ cần không phục tùng Lăng Nhược Phàm và Tần Vưu, đều không thể sống quá ba ngày.

Khiến cả Thanh Châu sợ bóng sợ gió, không còn sự náo nhiệt yên bình như thời Vệ gia, cả thành như thể mất hết sinh khí chỉ trong một đêm.

Giờ đây những thám tử này không hỏi han gì đã đạp cửa xông vào, đừng nói là Lăng Nhược Phàm, ngay cả mấy trợ tá cũng lộ vẻ không hài lòng.

Đồng thời trong lòng nảy sinh nghi hoặc, mấy người này vốn luôn nghe lời Lăng Nhược Phàm, gọi là chó săn cũng đã là nâng họ lên, sao hôm nay lại vô lễ như vậy?

Đang nghĩ ngợi, lại nghe tên thám tử đứng đầu cười lạnh, nói: “Tiểu nhân đặc biệt đến báo tin mừng cho các vị đại nhân, đại thắng ở Ngao Kim cốc, quân Nam Thiệu đại bại, gần như toàn quân bị tiêu diệt!”

Những người trong phòng nghe xong, cũng không còn tâm trí trách mắng việc thám tử vô lễ nữa, trên mặt đều lộ vẻ mừng rỡ.

Nhưng rất nhanh lại phản ứng lại, đâu phải là Ngao Kim cốc? Rõ ràng là ải Bình Cốc mà, Mông Xá nói rõ là lấy mạng con chó Chử Ngộ ở ải Bình Cốc, rồi giả vờ bị Tần Vưu đánh bại!

Mọi người còn muốn hỏi thêm, năm tên thám tử đã đột nhiên bước nhanh vào phòng. “keng” một tiếng rút thanh đao dài bên hông ra, khóe môi cong lên, nụ cười trên mặt như ác khuyển.

“Tên cẩu tặc Tần Vưu thông đồng với giặc b*n n**c đã bị bắt, tiếp theo, đến lượt các ngươi!”

“To gan! Các ngươi đang làm gì vậy!” Lăng Nhược Phàm bước nhanh lên phía trước, quát lớn: “Có phải đã quên cha mẹ thê nhi của các ngươi đều đang ở Thịnh Kinh? Các ngươi không cần mạng mình, chẳng lẽ cũng không cần cả mạng bọn họ sao?”

Lăng Nhược Phàm nắm chặt chiếc quạt trong tay, mặt lộ vẻ hung dữ, nhưng sau lưng đã ướt đẫm mồ hôi lạnh.

Sự bất an suốt cả đêm dường như đều thành sự thật, lúc này dù hắn ta có chậm hiểu đến đâu cũng biết chắc là có chỗ nào đó không đúng rồi.

Tên ngu xuẩn Tần Vưu hẳn là đã trúng kế, và ám vệ của phủ Tham nghị đã sớm phản chủ!

Lăng Nhược Phàm cố gắng bình tĩnh lại, việc cấp bách là bảo toàn tính mạng, rời khỏi Thanh Châu.

Chỉ cần về được Thịnh Kinh, phụ thân sẽ tự có cách xử lý tàn cục ở Thanh Châu.

Vốn tưởng nói những lời đó ra, những tên ám vệ ít nhất sẽ đau khổ mâu thuẫn một phen, ai ngờ mấy người đó lại ngửa đầu cười lớn, như thể vừa nghe thấy chuyện gì đó hài hước.

Lăng Nhược Phàm ghét nhất là người khác khinh thường hắn ta như vậy, không giữ được vẻ đoan chính trầm ổn nữa, lập tức lộ ra vẻ mặt dữ tợn.

“Đại nhân yên tâm, cha mẹ già của ta đã bị tên cẩu quan như ngươi hại chết từ lâu rồi!” Một tên ám vệ từ từ đặt thanh đao dài vào cổ Lăng Nhược Phàm, nói: “Bây giờ, mời đại nhân cùng đám chó con này của ngươi cút ra sân!”

***

Sân rộng lớn, trồng đầy cây thường xanh. Dù là mùa thu tiêu điều quạnh hiu, nhưng trong đình viện thật sâu, màu xanh vẫn như mây.

Tuy nhiên trong màu xanh ấy, có một cây bông lạ bị lửa đốt mất một nửa nhưng lại mọc lại từ cái gốc khô.

Hoắc Giác lặng lẽ nhìn cây bông lạ đó.

Nghe nói, cây bông lạ này là ngày xưa ông nội đích thân trồng, chỉ vì bà nội thích hoa trên cây này.

Vốn tưởng sau trận hỏa hoạn đó, ở đây không còn gì cả, nhưng không ngờ, vẫn còn một cái cây sống lại sau khi chết.

Rõ ràng vết thương đã thành một đám than đen từ lâu, nhưng trong đám than đen chết chóc ấy lại mọc ra một chạc cây. Chạc cây đó cố gắng vươn ra ngoài, tìm ánh sáng, tìm sương mưa, lại thật sự khiến nó mọc được lá xanh.

Đây là sức sống được sinh ra từ cái chết.

Hoắc Giác tháo mũ giáp xuống, chậm rãi bước tới.

Lá xanh trong lòng bàn tay rõ ràng non mềm yếu ớt, nhưng trong thu lạnh gió rét này, lại có một phong thái kiêu hùng kỳ lạ.

“Chủ tử, Lăng Nhược Phàm đã đến.” Hà Ninh bước tới nói nhỏ.

Hoắc Giác nhẹ nhàng thu tay lại, xoay người nhìn về phía người đến.

Kiếp trước, Lăng Nhược Phàm và Tần Vưu hại chết Chử thế thúc, toàn bộ quân Thanh Châu rơi vào tay Lăng Nhược Phàm. Lăng Nhược Phàm dựa vào “công lao” lập được ở Thanh Châu, từng bước thăng tiến, vừa về Kinh thành lập tức trở thành Tả Thông chính Tứ phẩm của Thông chính ty.

Hoắc Giác từng xa xa nhìn hắn ta từ từ đi qua cầu Kim Thủy, khí độ toàn thân ôn nhuận như ngọc.

Lúc đó hắn nghe nói khi còn ở Thanh Châu, người này rất thích cầm một chiếc quạt xếp màu trắng, cài trâm gỗ trên đầu, cùng người ta uống một bình nước trà xanh, bàn về thiên hạ bàn về sinh linh.

Đại ca thuở xưa cũng như vậy.

Nhưng rốt cuộc Lăng Nhược Phàm vẫn không phải là Đại ca, Đại ca không bao giờ mạ vàng chiếc quạt của mình, cũng không bao giờ khảm ngọc vào trâm gỗ.

Chiếc quạt xếp màu trắng của Đại ca là do a tỷ và hắn làm, trâm gỗ trên đầu cũng chỉ là vật luyện tay của mình, chính vì là vật do đệ đệ muội muội tự tay làm, nên mới ngày ngày đêm đêm mang theo bên mình.

Hoắc Giác lạnh nhạt nhìn chiếc quạt đeo bên hông Lăng Nhược Phàm, tay dài vung lên, đầu ngón tay đã có thêm một chiếc lá, rồi khẽ búng, lá khô thành đao, không một tiếng động xé gió, “keng” một tiếng đánh rơi chiếc quạt đó.

“Vệ Đại công tử Vệ Triệt của Thanh Châu, há phải là người mà kẻ tiểu nhân như ngươi có thể học được?”

Thân thể Lăng Nhược Phàm run lên, vừa rồi chỉ cảm thấy một luồng kình phong lướt qua bên hông, nhanh đến nỗi hắn ta thậm chí không thấy rõ nam tử trước mặt đã dùng vật gì để đánh rơi quạt của mình.

Hắn ta đột nhiên ngước mắt lên, đôi mắt phượng giống hệt Lăng Duệ nhìn chằm chằm vào Hoắc Giác, rõ ràng giọng nói của người này bình tĩnh đến mức không nghe ra nửa phần vui giận, đôi mắt đen kịt đó cũng không có một gợn sóng.

Nhưng vừa đối diện với hắn, Lăng Nhược Phàm đã có cảm giác da đầu tê dại vì sợ hãi. Như thể bản thân đứng trước mặt hắn, không hơn gì một con sâu cái kiến nực cười vụng về bắt chước theo.

“Ngươi là người phương nào?” Lăng Nhược Phàm nhíu chặt lông mày: “Ngươi có biết ta là ai không? Phủ Tả Tham nghị này đâu phải là nơi các ngươi muốn xông vào là có thể xông vào? Vừa rồi các ngươi nói Tần Tướng quân thông đồng với giặc b*n n**c, có bằng chứng không? Huống hồ, dù Tần Tướng quân có làm tên b*n n**c, thì có liên quan gì đến ta?”

Hoắc Giác không lên tiếng, chỉ hơi hạ mắt xuống, nhận lấy một thanh trường kiếm từ tay Hà Chu.

Ánh mắt Lăng Nhược Phàm đi từ thanh kiếm toát ra hàn quang, từng chút từng chút di chuyển đến mặt Hoắc Giác.

Không thể không nói, người này có dung mạo vô cùng tuấn mỹ, Lăng Nhược Phàm tự cho mình cũng là một mỹ nam hiếm có, nhưng so với người trước mắt, dù hắn ta có tự phụ đến đâu, cũng phải thừa nhận, hắn ta thật sự không bằng.

Tuy nhiên ngoại hình chỉ là thứ yếu, quan trọng nhất là khí chất phong nhã trên người người này.

Đó có lẽ là thứ… mà phụ thân hy vọng thấy được trên người hắn ta.

Từ nhỏ, phụ thân đã đặt nhiều kỳ vọng vào hắn ta, mỗi chữ hắn ta biết đều do phụ thân tận tay dạy dỗ.

Lúc đó phụ thân thường nói với hắn ta: “Rồi có ngày, Lăng gia sẽ lại rạng rỡ vinh quang đời đời trong tay cha con chúng ta!”

Lần này việc ở Thanh Châu thất bại, chắc chắn phụ thân sẽ thất vọng.

Ý nghĩ này vừa nổi lên, vẻ hối tiếc trong đáy mắt còn chưa kịp tan biến, ngực hắn ta đã đột nhiên đau nhói. Chỉ trong khoảnh khắc một hơi thở, thanh kiếm trong tay người kia nhanh như chớp đã xuyên thủng trái tim hắn ta.

Lăng Nhược Phàm kinh ngạc trợn mắt nhìn Hoắc Giác, không ngờ kẻ này lại dám giết hắn ta!

Hoắc Giác nhìn Lăng Nhược Phàm, nói: “Bổn quan là Giám sát Ngự sử Hoắc Giác của Đô sát viện. Tả Tham nghị Lăng Nhược Phàm cấu kết với Nam Thiệu, cùng Đại tướng quân Tần Vưu mưu đồ gây loạn Thanh Châu, bỏ mặc trăm họ Thanh Châu và cương vực Đại Chu. Khi người và tang vật đều bị bắt, hai kẻ này vẫn chống cự quyết liệt, không chịu về Kinh thẩm vấn. Bổn quan đã nhận mệnh vua, hôm nay tất phải thay Hoàng thượng chém giết nghịch tặc theo pháp luật, để bảo vệ thái bình nơi biên cương Đại Chu!”

Lăng Nhược Phàm mấp máy môi, muốn quay đầu gọi ám vệ bên cạnh cứu chủ, nhưng chỉ thấy những khuôn mặt đầy vẻ châm biếm khoái chí.

Áo trắng trước ngực nhanh chóng nhuốm đẫm máu tươi, “phịch” một tiếng, hắn ta quỵ gối xuống đất, ngẩng mắt căm hận nhìn chằm chằm Hoắc Giác.

Hắn ta chống cự quyết liệt, không chịu về Kinh thẩm vấn lúc nào?

Rõ ràng là kẻ trước mắt này muốn nhân cơ hội giết người!

“Ngươi… vu khống, phụ, phụ thân, sẽ thay ta, báo, báo—”

Chữ “thù” còn chưa kịp thốt ra, một chiếc ủng đen bỗng đá hắn ta ngã sấp xuống đất.

Ám Nhị lạnh lùng khịt mũi: “Phụ thân ngươi sắp vào ngục Đại lý tự rồi, còn báo báo báo, báo cái con bê!”

Ám Nhị ở Thanh Châu mấy tháng, sớm đã thấy ngứa mắt kẻ này.

Không nói đến việc kẻ này ở Thanh Châu tự coi mình như vua một cõi, động một tí là giết người diệt khẩu. Chỉ riêng việc lần này phụ thân Thủ phụ của kẻ này cấu kết với Bắc Địch định hại Quốc Công đại nhân và dân chúng Túc Châu, hắn ta đã không thể nuốt trôi cơn giận này.

Ám Nhị chửi xong một câu, cũng chẳng quan tâm Lăng Nhược Phàm đã tắt thở chưa, quay đầu nhìn Hoắc Giác, nói: “Hoắc đại nhân, có cần ta ném tên này ra ngoài cho chó ăn không? Để hắn ta chết ở đây, làm bẩn cả mảnh đất!”

Hoắc Giác lắc đầu đầy vẻ thản nhiên: “Bảo quản thi thể Lăng đại nhân cho cẩn thận, còn cần phải đưa về Thịnh Kinh cho Lăng Thủ phụ.”

Lăng Duệ càng coi trọng quyền thế bao nhiêu thì càng coi trọng nhi tử Lăng Nhược Phàm này bấy nhiêu, thậm chí còn coi trọng hơn cả Đại Hoàng tử trong cung.

Đại Hoàng tử sinh trong cung, Lăng Duệ chưa từng bế, chưa từng dạy một chữ, ngay cả nói chuyện cũng chẳng nhiều lời.

Lăng Duệ là người bạc tình, với Đại Hoàng tử, phần nhiều chỉ có ý lợi dụng, nào có chút tình phụ tử gì.

Nhưng Lăng Nhược Phàm thì khác, Lăng Nhược Phàm là do chính tay ông ta dạy dỗ, dùng hết toàn tâm toàn sức.

Năm xưa khi Vệ gia gặp nạn, ông ta bí mật phái người đến Thanh Châu định bắt cóc a tỷ, chẳng phải là muốn để Lăng Nhược Phàm mượn mệnh phượng hoàng của a tỷ, ngày sau ngồi lên vị trí kia sao?

Lăng Duệ bên ngoài ôn hòa nho nhã, thực ra kiêu ngạo cuồng vọng, tham vọng ngút trời. Nhưng vì từ nhỏ đã sống nhờ vả vào người khác nên trong lòng luôn tự ti.

Căm ghét thế gia, đồng thời lại khao khát trở thành thế gia.

Lăng Nhược Phàm so với nói là nhi tử của ông ta, không bằng nói là một phiên bản khác mà bản thân ông ta mong muốn trở thành.

Sinh ra trong gia đình quyền quý, có một phụ thân nắm giữ quyền lực to lớn, từ nhỏ đã được phụ thân coi trọng, được người đời ca ngợi, sống cả đời trong hoa gấm nhung lụa, chết đi còn được lưu danh sử sách.

Bảy năm trước, ngục Đại lý tự và Hình Bộ bỏ qua ý kiến phản đối của Đô sát viện, vội vàng kết án Tiên Thái tử và hai nhà Vệ, Hoắc mưu phản, sau đó còn dùng khí thế sét đánh không kịp bịt tai mà huyết tẩy ba phủ.

Giờ đây, hắn đã một kiếm g**t ch*t Lăng Nhược Phàm.

Thủ phụ Đại Chu ở tận Thịnh Kinh sẽ sớm phải nếm trải nỗi đau người thân chưa được xét xử công bằng đã vội vã bị kết tội và g**t ch*t.

Kẻ giết người, phải giết vào trong tâm.

Có những việc, nếu không để kẻ ác tự mình trải qua một lần. E rằng chúng mãi mãi không biết, tội ác mình gây ra là như thế nào.

Hoắc Giác lạnh lùng nhìn thi thể chết không nhắm mắt của Lăng Nhược Phàm, rút thanh kiếm khỏi ngực hắn ta, bước nhanh ra khỏi phủ Tả Tham nghị.

Ánh sáng mỏng manh mờ ảo dần dần xua tan bóng đêm.

Hoắc Giác ngẩng đầu nhìn tấm biển trước phủ, bốn chữ vàng “Phủ Tả Tham nghị” lấp lánh dưới ánh bình minh.

Lang quân trẻ tuổi chạm đầu ngón chân lên vách tường, vung kiếm một cái, tấm biển sơn đen chữ vàng bị chém đôi, “bịch” một tiếng rơi xuống đất, bụi tung mù mịt.

Những hạt cát li ti lơ lửng trong không khí, vài giọt máu đỏ tươi chảy xuống từ vết chém của tấm biển ngấm vào đất vàng.

Hoắc Giác cầm kiếm đứng trong ánh bình minh mỏng manh, để gió sau lưng từng chút từng chút thổi tan màn sương mù bao phủ Thanh Châu.

Hôm nay, mảnh đất từng bị hỏa hoạn tàn phá này, lấy máu của họ Lăng làm lễ tế.

***

Thanh Vân quán.

Khương Lê đưa nước lê thu vừa làm xong cho Ân đạo trưởng, rồi dẫn Vân Chu, Tố Tùng chậm rãi đi về khách xá.

Buổi sáng trên núi luôn khiến người ta mê mẩn.

Sương trắng đọng nơi cành cây, gió mát dịu dàng, hương trái chín lan tỏa khắp núi đồi, ngay cả gió cũng mang chút vị ngọt.

Vân Chu ngước nhìn bầu trời, chỉ vào vầng thái dương cười nói: “Phu nhân, trời quang rồi!”

Khương Lê ngẩng đầu nhìn, quả nhiên thấy bầu trời u ám mấy ngày đã tạnh, lộ ra một màu xanh trong vắt.

Lập tức cười nói ngay: “Đúng là trời quang thật, có lẽ hôm nay là một ngày tốt lành.”

Ba chủ tớ về đến khách xá, lấy trái cây phơi khô hôm qua ngâm muối đường đầy một hũ lớn. Bận rộn cả buổi sáng, đến giờ Ngọ, bỗng nghe tiếng gõ cửa.

Rồi nghe tiếng tiểu đạo cô cười nói ngoài cửa: “Phu nhân, Hoắc đại nhân về đón người rồi.”

Những ngày Khương Lê ở trong đạo quán, ngày nào cũng đến tịnh thất nói chuyện với linh vị của tổ tiên hai nhà Vệ, Hoắc, còn cùng các tiểu đạo cô niệm kinh buổi sáng, buổi tối, giờ quan hệ với mọi người đều rất tốt.

Các tiểu đạo cô trong quán đều biết, vị phu nhân có giọng nói dịu dàng, nụ cười ngọt ngào này ngày ngày đều mong phu quân của nàng trở về. Vì thế, vừa nghe nói có khách từ ngoài núi đến, lại là vị Hoắc lang quân kia, bèn vội vàng chạy đến báo cho nàng.

Khương Lê nghe tiểu đạo cô nói, vội vàng đặt hũ xuống, hấp tấp nói lời cảm ơn, rồi xách váy chạy ra khỏi khách xá. Tiểu nương tử chạy gấp đến nỗi không kịp rửa tay còn dính muối đường, trong lòng trong mắt chỉ có một ý nghĩ là mau gặp được Hoắc Giác.

Nàng ở trong núi không nhạy tin tức, cũng không biết chiến sự đã kết thúc chưa, Hoắc Giác có bị thương không.

Càng nghĩ lòng càng sốt ruột, bước chân cũng càng nhanh hơn, đến cổng đạo quán đã thấy nắng thu ấm áp treo cao trên cành, vị lang quân nàng luôn hằng nhớ mong mặc một thân giáp oai phong, nhảy xuống ngựa, dang tay ôm nàng vào lòng.

“A Lê, ta đến đón nàng rồi.” Hắn cười nói bên tai nàng.

Khương Lê lập tức đỏ hoe mắt, cuống quýt hỏi: “Công việc của chàng đã xong hết chưa? Có bị thương không?”

Hoắc Giác sợ vị tiểu nương tử dễ khóc đến không thể dễ hơn này lại khóc, vội buông tay để nàng kiểm tra kỹ lưỡng. Đến khi nàng thở phào một hơi, mới dịu dàng nói: “Đều xong rồi, qua vài ngày nữa chúng ta sẽ khởi hành về Thanh Châu.”

Khương Lê nắm tay hắn, gật đầu nói: “Được, chúng ta đi nếm rượu Thanh Châu, còn có những món ăn chàng đã nói, còn có những con hẻm nhỏ chàng đã đi qua thuở nhỏ.”

Khi nói chuyện, đôi mắt còn ngấn lệ của nàng không kìm được đảo qua đảo lại trên người Hoắc Giác.

Lúc nãy vội xem hắn có bị thương không, không để ý kỹ dáng vẻ hắn mặc quân phục này, giờ nhìn kỹ, lại có chút kinh ngạc.

Lang quân nhà nàng vốn đã đẹp, mặc gì cũng đẹp.

Chỉ là đã thấy hắn mặc y phục văn nhã một màu và quan phục trang nghiêm nhiều rồi, hôm nay bộ quân phục tay áo hẹp ngang gối, anh khí bừng bừng này khiến cả người hắn khác hẳn thường ngày, thật sự khá mới mẻ.

Cứ cảm thấy là hắn, lại như không phải hắn.

Khương Lê nhìn Hoắc Giác chăm chú hồi lâu, nhớ lại khi rời Thanh Vân quán, hắn từng nói với nàng, ước mơ thuở nhỏ của hắn là giống như ông ngoại, làm một Đại tướng quân giết giặc đuổi thù, bảo vệ Thanh Châu.

Giờ thấy hắn mặc quân phục, thẳng tắp như tùng bách, tựa như một thanh bảo kiếm ẩn chứa phong mang, lại không kìm được nhón chân, thì thầm bên tai hắn: “Vệ tướng quân nhà ta thật tuấn tú.”
 
Tiểu Thanh Mai Của Thủ Phụ Đại Nhân
Chương 106: Thanh Châu đã quang đãng, mọi thứ đều tốt đẹp


Năm Thành Thái thứ sáu, ngày mười ba tháng mười, tại Thanh Châu, bầu trời trong xanh như được gột rửa.

Tin đồn về việc Trấn Quốc Tướng quân Tần Vưu và Tả Tham nghị Lăng Nhược Phàm thông đồng với địch phản quốc, hãm hại trung lương được lan truyền nhanh chóng, chỉ một đêm đã như lửa cháy đồng, ai ai cũng biết.

Vô số dân chúng Thanh Châu truyền tin cho nhau, có người biết từ Thịnh Kinh có một vị Ngự sử đến, bèn cùng nhau kéo đến phủ Tuần án, thỉnh cầu triều đình điều tra lại vụ án mưu phản của Vệ gia, Hoắc gia từ bảy năm trước.

Trong bảy năm qua, hễ có dân chúng minh oan cho hai họ Vệ Hoắc, đều bị bắt giam với tội danh đồng phạm trong vụ án mưu phản.

Vụ án mưu phản đó từ lâu đã trở thành một cái gai trong lòng dân chúng Thanh Châu, muốn nhắc lại mà không dám, nhưng chạm vào là đau.

Giờ đây Tần Vưu bị bắt, Lăng Nhược Phàm đã bị giết, cuối cùng lại có người dám mạo hiểm nhắc lại chuyện cũ dù có nguy cơ bị bắt giam, cùng nhau khẩn cầu vị Ngự sử từ Kinh thành có thể tâu lên Hoàng thượng về nguyện vọng của dân Thanh Châu.

Khương Lê nghe được chuyện này từ bà chủ một tiệm hoành thánh.

Bà chủ đã bốn mươi sáu tuổi, sau khi nói chuyện với chủ tiệm mì bên cạnh, liền giao tiệm cho tiểu nhị, tháo tạp dề dầu ở thắt lưng rồi vội vã đi về phía phủ Tuần án.

Trước khi đi còn không quên nói: “Ta không tin là khi toàn dân Thanh Châu đều đi thỉnh cầu, vị Ngự sử đại nhân đó vẫn không nghe! Ngày xưa cháu nhỏ của Vệ Thái phó rất thích ăn hoành thánh tôm của ta, người thích ăn hoành thánh của Hoa Nhị Nương ta sao có thể là người xấu!”

Chủ tiệm mì cũng lật đật đi theo, nhỏ giọng phản bác: “Nói bậy, rõ ràng tiểu công tử thích nhất là mì thịt băm của Liễu Tứ ta…”

Bóng dáng hai người dần khuất xa, tiếng nói cũng dần bị gió thổi tan.

Khương Lê cầm đũa tre, tò mò nhìn Hoắc Giác, hỏi: “Vậy chàng thích ăn hoành thánh tôm hay mì thịt băm?”

Hoắc Giác khẽ mỉm cười, rót cho nàng một chén trà trần bì, đáp: “Người thích ăn hoành thánh tôm là Hạ Giác, người thích ăn mì thịt băm là Thẩm Thính. Ngày xưa khi ta ra ngoài, đều có họ đi cùng, ăn uống phần lớn cũng theo ý họ.”

Thẩm Thính thì tất nhiên Khương Lê biết, chính là vị thiếu trại chủ của trại Bạch Thủy ngày trước, Vân Chu và Tố Tùng đều do hắn ta gửi đến. Còn Hạ Giác, tuy Khương Lê chưa từng gặp, nhưng đã nghe Hoắc Giác nhắc qua một lần.

Chính là nhi tử của nhũ mẫu đã chịu chết thay hắn.

Hoắc Giác sở dĩ có tên là Hoắc Giác, chính là lấy tên của Hạ Giác.

Bia mộ của Hạ Giác là do Thẩm Thính nghe theo lệnh của Hoắc Giác, dựng trong lăng mộ họ Vệ sau khi về Thanh Châu.

Sáng nay Khương Lê còn cùng Hoắc Giác đến lăng mộ họ Vệ tế bái, Hoắc Giác đứng trước bia mộ chỉ nói một câu: “Hạ Giác, ta đã sống sót trở về.”

Vị lang quân trẻ tuổi đứng đó, sương sớm làm ướt đôi mi, tuy sắc mặt vẫn giống như bình thường nhưng không hiểu sao khiến Khương Lê nhìn mà cay mắt.

Lúc này đến quán ăn mà Hoắc Giác yêu thích để ăn hoành thánh tôm mà ngày xưa hắn thích, hẳn là đang tưởng nhớ cố nhân.

Nghĩ đến đây, trong lòng Khương Lê như có dao nhỏ chậm rãi cắt qua, vừa chua xót vừa khó chịu.

Ngay cả hoành thánh thơm ngon cũng trở nên nhạt nhẽo, nhưng nàng vẫn nghiêm túc ăn từng chiếc một.

Người đã khuất, nhưng dấu vết họ để lại vẫn chưa hề phai mờ.

Nàng muốn cùng Hoắc Giác nhớ về quá khứ của hắn ở Thanh Châu, cũng như những người đã dùng tính mạng để mở ra một con đường sống cho hắn trong những năm tháng đã qua.

Khương Lê cụp mắt xuống, viền mắt hơi nóng lên.

Chỉ qua vài lời của bà chủ quán ban nãy, nàng đã hiểu được trận hỏa hoạn bảy năm trước khủng khiếp thế nào, cũng biết được có bao nhiêu người không chút do dự lao vào đám cháy, dùng thân xác phàm trần để đổi lấy một tương lai cho hậu nhân của họ Vệ.

Thanh Châu như vậy, Vệ gia như vậy, làm sao không khiến nàng đau lòng?

Dường như cảm nhận được tâm trạng u buồn của Khương Lê, những ngón tay thon dài của Hoắc Giác từ từ đan lấy mười ngón tay nàng, nói: “A Lê, đã ăn xong chưa? Chử thế thúc vẫn muốn gặp nàng, ta đưa nàng đi gặp thúc ấy nhé?”

Khương Lê vội kìm nén nước mắt, cười đáp “Được”.

***

Chử Ngộ đã hai ngày hai đêm không chợp mắt, nhưng tinh thần vẫn rất tốt.

Ông ấy được Hoắc Diễm đích thân nâng đỡ, thuật bày binh bố trận cũng là do Hoắc Diễm trực tiếp truyền dạy. Bảy năm trước, ông ấy tận mắt chứng kiến Hoắc Diễm bị tên bắn trên chiến trường như thế nào, rồi làm sao mang thân thể trọng thương gắng gượng để sắp xếp cho Hoắc Giác rời khỏi Thanh Châu.

Lúc đó, câu nói cuối cùng Hoắc Diễm nói với ông ấy chính là giữ vững quân Thanh Châu.

“Chử Ngộ, rời khỏi phủ Tướng quân, đừng quay đầu lại, đừng cứu ta! Hãy giữ vững quân Thanh Châu, giữ vững Thanh Châu! Đây là quân lệnh!”

Chử Ngộ đã trải qua bao năm sống chết trên sa trường, chưa từng có lúc nào căm ghét bản thân như vậy.

Nhưng ông ấy biết, quân Thanh Châu là do tướng quân một tay bồi dưỡng ra, là tâm huyết, cũng là hoài bão của tướng quân. Ông ấy phải giữ vững quân Thanh Châu mới không để tên tiểu nhân Tần Vưu được như ý.

Chử Ngộ đã giữ mình suốt bảy năm, giờ đây cuối cùng cũng báo được thù mũi tên đâm sau lưng cho tướng quân.

Nhưng chưa đủ, còn xa mới đủ.

Kẻ ngồi nơi cao xa ở triều đình kia, cũng không thể tha.

Khi Khương Lê và Hoắc Giác đến phủ Tướng quân, Chử Ngộ vừa viết xong mấy bức mật thư. Tuy ông ấy ở Thanh Châu, nhưng trong Thịnh Kinh cũng có vài người bạn tâm giao, có lẽ có thể giúp đỡ được Hoắc Giác.

“Khi nào cháu về Thịnh Kinh thì thay ta gửi những bức thư này đến phủ của mấy người này, có lẽ sẽ có ích cho cháu.”

Chử Ngộ nói xong thì nhìn sang Khương Lê, cười hiền từ nói: “Cháu chính là A Lê nhỉ? Chiêu Minh nói lúc trước chính là cháu và Tô đại phu đã cứu nó ở phố lớn Chu Phúc, thế thúc tại đây xin cảm tạ cháu!”

Nói rồi định chắp tay hành lễ.

Khương Lê sao có thể nhận đại lễ của bậc trưởng bối, vội nghiêng người tránh, nói: “Chử thế thúc không cần khách sáo, ta cũng chẳng làm gì nhiều, đều là công của Tô lão gia.”

Nàng cũng chỉ chăm sóc một chút khi Hoắc Giác hôn mê mà thôi, đâu có ân cứu mạng gì?

Thấy tiểu cô nương tỏ vẻ bất an, ánh mắt Chử Ngộ càng thêm từ ái, lấy ra một con dao găm lớn bằng bàn tay, đưa cho Khương Lê, nói: “Tốt tốt tốt, ta không khách sáo với A Lê nữa. Vậy A Lê cũng đừng khách sáo với thế thúc, đây là món quà gặp mặt thế thúc thay ông ngoại của Chiêu Minh tặng cho cháu, cháu xem có thích không?”

Đó là một con dao găm tinh xảo, hình trăng khuyết, nạm mấy viên hồng ngọc kích cỡ to nhỏ khác nhau, ở chỗ chuôi dao còn có một lỗ nhỏ, xỏ dây lụa vào là có thể đeo ở thắt lưng.

Người ta vẫn nói không thể từ chối lễ vật của trưởng bối, huống chi còn là nhân danh Hoắc lão tướng quân tặng.

Khương Lê do dự một lúc, cuối cùng vẫn đưa tay nhận lấy con dao găm, cười nói: “Đa tạ Chử thế thúc, A Lê rất thích.”

Chử Ngộ không có con cái, cũng không biết nữ nhi thích cái gì, thấy vẻ mặt Khương Lê không giả vờ, là thực sự thích, trong lòng tự nhiên cũng vui vẻ.

Ông ấy giữ hai người ngồi nói chuyện cả buổi chiều ở phòng khách, lại ăn cơm tối ở phủ Tướng quân, mới luyến tiếc nói với Hoắc Giác: “Cháu yên tâm về Thịnh Kinh, chỉ cần ta còn sống, sẽ không để Thanh Châu gặp loạn. Lần này Nam Thiệu mất một Đại tướng và mấy nghìn binh mã, chắc chắn sẽ không từ bỏ ý đồ, thế thúc phải ở lại Thanh Châu canh giữ, nên không thể đích thân tiễn cháu về Thịnh Kinh được.”

Chử Ngộ nói đến đây, dừng lại, nhìn sâu vào mắt Hoắc Giác, mới tiếp tục: “Chiêu Minh à, thế thúc ở Thanh Châu đợi cháu và A Xuân về.”

Hoắc Giác hiểu Chử Ngộ nói “về” này, là trở về với tư cách con cháu Vệ gia.

Nhìn khuôn mặt Chử Ngộ rõ ràng đã già hơn bảy năm trước nhiều, hắn gật đầu đáp: “Ngày sau Cẩn và a tỷ chắc chắn sẽ về thăm thế thúc, mong thế thúc bảo trọng.”

Ra khỏi phủ Tướng quân, trời đã tối.

Khương Lê liếc nhìn vò rượu nhỏ bằng hai bàn tay trong tay Hoắc Giác, cười tủm tỉm nói: “Chứ thế thúc có rượu ngon, chúng ta không cần phải đi tìm quán rượu bên ngoài nữa. Chi bằng tìm một chỗ uống rượu, ta còn chưa được nếm rượu Thanh Châu đâu.”

Ban nãy Chử Ngộ biết nhà nàng mở quán rượu, lập tức đào từ dưới gốc cây ra một vò rượu nhỏ tặng nàng, nói là rượu ngon ủ lâu năm của Thanh Châu.

Khương Lê nhận rượu này không hề do dự, rượu ủ lâu năm này không chỉ lắng đọng năm tháng trôi qua, mà còn có linh khí sơn thủy của một vùng đất, vô cùng quý giá.

Của ngon như vậy, hiếm khi Chử Ngộ sẵn lòng bỏ ra!

Nghe ra vẻ háo hức trong lời tiểu cô nương, Hoắc Giác mỉm cười, nói: “Được, ta đưa nàng đến một nơi thích hợp để uống rượu.”

***

Mãi nửa canh giờ sau, Khương Lê mới biết nơi thích hợp để uống rượu mà Hoắc Giác nói là tổ trạch cũ của Vệ gia.

Cũng chính là nơi nhi tử vị Thủ phụ kia từng ở.

Khương Lê nghe Hoắc Giác kể sơ qua về sự việc xảy ra tại phủ Tả Tham nghị đêm qua, tất nhiên cũng biết Lăng Nhược Phàm đã phạm phải lỗi gì, trong lòng nàng không hề có chút đồng cảm nào với người đó.

Trên đời này rõ ràng có biết bao nhiêu con đường để đi, sao lại cứ phải chọn con đường lệch lạc hại người hại mình?

Khương Lê nhìn quanh một vòng.

Nơi này trước đây vẫn có binh lính canh gác nghiêm ngặt, không biết có phải vì những thứ cần tìm đều đã bị lục soát đi hết nên đêm nay không còn một ai canh gác cổng chính nữa không.

Hoắc Giác dẫn nàng vào phủ từ cửa hông, đi đến một khu viện ở góc Tây Nam.

“Đây là nơi ta từng ở trước kia, gọi là Văn Lan viện. Trong sân Văn Lan viện có trồng cây ngô đồng. Đến mùa xuân, chim khách thường đến đậu, kêu mãi không thôi trên cành cây.”

Phủ đệ mà Lăng Nhược Phàm xây dựng lại trên mảnh đất phong thủy tốt này, dù là cách bố trí hay phong cảnh, đều không khác gì so với tổ trạch Vệ gia ngày xưa.

Ngay cả tên Văn Lan viện cũng không đổi, chỉ là cây ngô đồng trong sân được thay bằng cây hợp hoan.

Hoắc Giác chỉ vào một cây hợp hoan cao hơn cả một tòa nhà, nói: “Chúng ta lên cây uống rượu đi.”

Không khí mùa thu đã nhuộm vàng cả những cây hợp hoan trong sân, từng lớp lá vàng trên cành lay động như sắp rụng, làm ánh trăng lạnh lẽo rọi xuống hóa thành từng đốm sáng trên mặt đất.

Hoắc Giác ôm Khương Lê, khẽ vận khí một cái đã ung dung bay lên trên cây, ngồi trên một cành cây to khỏe nhất ở trên cao.

Khi còn nhỏ, Khương Lê thường leo trèo trên những cây ăn quả ở núi Thanh Đồng.

Lúc này lên cây, tất nhiên nàng không sợ, hứng thú mở nút vải đỏ trên bình rượu ra, đặt miệng vào uống một ngụm.

Rượu hơi mát, hương vị đậm đà, quả thật là rượu ngon.

“Rượu này ngon lắm.” Khương Lê nâng hai tai bình rượu, đưa đến bên môi Hoắc Giác và nói: “Chàng nếm thử xem.”

Hoắc Giác một tay đỡ eo nàng, tay kia nâng cổ tay nàng, cúi đầu uống một ngụm lớn, dòng rượu trong suốt chảy từ khóe môi hắn.

Khương Lê nhìn đường nét gương mặt thanh tú của hắn được ánh trăng phác họa càng thêm nổi bật, thoáng chốc như bị mê hoặc.

Người ta vẫn nói rượu không làm người say, người tự say.

Nhân lúc Hoắc Giác cúi đầu, nàng áp đôi môi ấm áp lên khóe miệng hắn, đầu lưỡi khẽ l**m nhẹ.

Thân thể Hoắc Giác hơi khựng lại, ánh mắt dần trở nên sâu thẳm, nghiêng đầu đỡ lấy gáy nàng, in môi lên môi nàng.

Khương Lê nhắm mắt lại, mũi và miệng chỉ còn hương rượu nhẹ nhàng, cùng với mùi hương xạ và trúc quen thuộc trên người hắn.

Gió đêm khẽ thổi, vài chiếc lá vàng bay qua bên người nàng, chạm vào đôi giày thêu hoa hợp hoan, rồi rơi xuống đất không một tiếng động.

Nàng cảm nhận được hắn từng bước ép sát, cùng với nụ hôn điên cuồng như đang công thành đoạt đất.

Tim Khương Lê đập thình thịch, lòng bàn tay buông lỏng, bình rượu nhỏ trong tay trượt xuống.

Nàng kêu lên một tiếng, đột ngột mở mắt, khóe mắt nhanh chóng liếc thấy lang quân của mình không nhanh không chậm dùng mũi chân giữ vững bình rượu, khẽ nâng lên, bình rượu đã rơi vào lòng bàn tay hắn.

Vài giọt rượu b*n r* từ bình rượu cuốn theo gió, rơi vào hai bóng người đổ dài trên mặt đất.

Ánh trăng kéo dài bóng hai người.

Chỉ thấy trong bóng lay động, lang quân khẽ cọ mũi vào mũi tiểu nương tử, cười khàn giọng nói: “A Lê không chuyên tâm…”

Đêm cuối cùng của Khương Lê ở Thanh Châu tiêu hao trong một bình rượu và những nụ hôn nồng nhiệt của Hoắc Giác.

Đến nỗi về sau, nàng ngồi trên cành cây, thậm chí có cảm giác như đang bay bổng trên mây.

Khi trở về Thanh Vân quán, vẫn không quên hào khí ngất trời mà nói với Hoắc Giác: “Chàng yên tâm, rồi có một ngày, ta sẽ chuộc lại tổ trạch họ Vệ cho Vệ tiểu tướng quân của chúng ta!”

Hoắc Giác vừa đáp lại lời hứa của chú sâu rượu nhỏ này, vừa lấy khăn ướt lau mặt rửa người cho nàng. Đợi đến khi tiểu nương tử mơ màng ngủ thiếp đi, mới cẩn thận đắp chăn cho nàng rồi bước ra khỏi khách xá.

Đêm trong núi vẫn luôn tĩnh mịch như thường lệ.

Ân đạo trưởng ngồi dưới một cây cổ thụ, thấy hắn đến thì vội vàng gật đầu nói: “Tiểu tử, lại đây uống trà.”

Bàn đặt dưới gốc cây là một khúc gỗ cổ thụ to đến ba người ôm, những vòng năm tháng chất chứa biết bao mưa gió của núi rừng này.

Hoắc Giác cúi mắt nhìn ba chữ “Ân Tố Thập” khắc ở góc bàn, dịu giọng nói: “Đa tạ đạo trưởng đã chăm sóc cho tiện nội trong những ngày qua.”

Ân đạo trưởng cười nói: “Tính tình A Lê thuần khiết thẳng thắn, có cô bé ở đây, núi non này cũng náo nhiệt hẳn lên.”

Tiểu nương tử chỉ mới ở đạo quán vài ngày mà đã làm được không ít nước lê thu, mơ ngâm đường, bánh rau dại, nước mật trái cây, biến những ngày tháng vốn tĩnh lặng khô khan trở nên sinh động, nụ cười trên khóe mắt còn rực rỡ hơn cả ánh nắng thu bên ngoài.

Các tiểu đạo cô trong quán vừa hoàn thành buổi niệm kinh sáng tối là thích vây quanh nàng, mang đến không ít tiếng cười nói cho đạo quán vốn tĩnh lặng này, ngay cả gió trong trăng sáng trên núi cũng nhuốm màu nhân gian.

“Trước kia cháu và bà ngoại cháu thường phàn nàn Văn Lan viện có quá nhiều cây ngô đồng, nói tai sắp chai vì tiếng chim khách ồn ào trên cây.” Ân đạo trưởng nhấc ấm đồng đang bốc hơi nóng từ lò đất nung đỏ, pha hai chén trà trong, tiếp tục nói: “Nhưng theo bần đạo thấy, chú chim khách nhỏ này rất hợp với cháu.”

Ngày đầu tiên Hoắc Giác vào đạo quán, tuy bà ấy thấy hắn không có tâm ma quấn thân, nhưng cuối cùng vẫn không tìm thấy được khí thế hăng hái ngày xưa của tiểu tử đó.

Vệ Cẩn ngày xưa tâm hồn thuần khiết ngay thẳng, như mặt trời rực rỡ, không biết có bao nhiêu đứa trẻ ở Thanh Châu thích chạy theo sau hắn, hò hét đòi cùng đi tòng quân.

Hôm qua hắn mặc áo giáp, cưỡi ngựa trở về. Không biết chim khách nhỏ trong lòng hắn đã nói gì bên tai mà khiến hắn sửng sốt rồi bật cười nhẹ nhàng.

Khoảnh khắc đó của hắn, khiến Ân đạo trưởng thoáng nhìn thấy được dáng vẻ ngày xưa của Vệ Cẩn.

Ân đạo trưởng đùa xong, lại lấy ra ba đồng tiền đồng, nghiêm túc nói: “Hôm nay bần đạo đã xem quẻ cho cháu, lần này cháu đi về phía Bắc, mọi việc đều nên để lại một con đường sống, tự có duyên lành giúp cháu giải nguy. Vạn vật trên đời này, đều không nằm ngoài quy luật nhân quả. Tiểu tử phải luôn ghi nhớ, nhân hôm qua, quả hôm nay. Nhân hôm nay, quả ngày mai.”

Ân đạo trưởng mang lòng dạ từ bi, Hoắc Giác tất nhiên hiểu được ý nghĩa sâu xa trong lời nói của bà ấy.

Im lặng hồi lâu, mới nâng chén trà lên nói: “Cẩn đa tạ đạo trưởng chỉ điểm.”

Uống cạn một chén trà, hắn đặt chén xuống, ánh mắt lại quét qua tên ở góc bàn, dịu dàng nói: “Nếu đạo trưởng không phản đối, có thể cho phép Cẩn đặt linh bài của Tố Thập tỷ vào tịnh thất không?”

Ân đạo trưởng không ngờ hắn lại nhắc đến danh húy của Tiểu Thập Nhi, sững người mất mấy hơi thở.

Trong tĩnh thất đều là linh bài của hai họ Vệ Hoắc, còn Tiểu Thập Nhi là đứa trẻ bị bỏ rơi mà bà ấy nhận nuôi, cũng là đạo cô của Thanh Vân quán, đặt linh bài của nàng ấy vào tịnh thất quả thật không thích hợp.

Ân đạo trưởng định từ chối, lại nghe Hoắc Giác nói: “Hẳn là Tố Thập tỷ cũng sẽ muốn vậy.”

Giọng nói của vị lang quân trẻ tuổi rất bình thản, nhưng giọng điệu lại vô cùng chắc chắn.

Những lời định nói của Ân đạo trưởng bỗng nghẹn lại trong cổ họng.

Trong đầu lại nhớ về đêm bảy năm trước, tiểu đạo cô mặc đạo bào màu xanh, tiêu sái cười nói với bà ấy: “Sư phụ, người đừng vì con mà đau lòng. Chẳng qua con chỉ chọn làm theo bản tâm mà thôi, đây là con đường con tự chọn.”

Còn có ngày Vệ Triệt đến tuổi trưởng trưởng thành, lá bùa bình an mà nàng ấy trao cho y.

Lúc đó tiểu đạo cô cười híp mắt nói với Vệ Triệt: “Đây là lá bùa bình an mà bổn đạo trưởng đã tốn không ít tâm huyết vẽ ra đấy, nếu huynh dám không thích, sau này đừng hòng đến Thanh Vân quán cầu bình an!”

Mọi người đều tưởng đó thật sự là một lá bùa bình an.

Chỉ có Ân đạo trưởng mới biết, trong lá bùa đó thực sự viết gì.

Ân đạo trưởng lặng lẽ nhìn Hoắc Giác, đối diện với đôi mắt dường như nhìn thấu tất cả của hắn, nuốt lại lời từ chối.

Bà ấy đứng dậy, khẽ nói: “Ta đã lập một phần mộ chôn quần áo di vật cho Tố Thập, linh bài của nó đặt trong phòng ta thường ngồi thiền, cháu theo ta đến đó.”



Hoắc Giác đặt linh bài của Ân Tố Thập bên cạnh linh bài của Vệ Triệt, ánh mắt từ từ quét qua các linh bài trên bàn thờ, ngồi yên lặng hồi lâu. Đợi đến khi tiếng gà gáy lẻ tẻ vọng đến từ rừng rậm trên núi, mới dập đầu thật mạnh, rồi bước đi.

Ám Nhị và Thẩm Thính đã chờ dưới chân núi từ khi trời chưa sáng, gần đến giờ Thìn thì thấy Hoắc Giác và Khương Lê dẫn Vân Chu, Tố Tùng đi xuống từ bậc thang đá.

Khương Lê thấy hai người, vội bảo Vân Chu đưa cho mỗi người một lá bùa bình an.

Vân Chu không dùng túi gấm để đựng bùa bình an, mà là một túi vải buộc dây, Ám Nhị và Thẩm Thính đều thấy rõ, trong túi vải phồng phồng toàn là bùa bình an, ít nhất cũng có bốn năm mươi cái.

Bùa bình an của Thanh Vân quán tuy không đến nỗi khó cầu, nhưng cũng không phải muốn xin là có thể xin mấy chục cái mang đi.

Điệu bộ này của tiểu phu nhân, giống như đã cướp sạch tất cả bùa bình an của Thanh Vân quán vậy.

Trong lòng Ám Nhị và Thẩm Thính rất kinh ngạc, nhưng trên mặt không để lộ chút nào. Ngoan ngoãn nhận lấy bùa bình an, chắp tay thi lễ cảm tạ Khương Lê.

Đợi Khương Lê và hai nha hoàn lên xe ngựa, Ám Nhị mới tiến lên nói với Hoắc Giác: “Hoắc công tử, theo lệnh của ngài, ta đã chuyển tin Chử tướng quân tử trận, Tần Vưu đại bại Nam Thiệu đến cho Lăng Thủ phụ.”

Hoắc Giác nói: “Vất vả rồi, ngươi còn phải về báo cáo với người của phủ Quốc Công. Chuyến này các ngươi đi trước, không cần đợi chúng ta.”

Ám Nhị nghe vậy thì thở phào nhẹ nhõm, hắn ta quả thật đang nghĩ đến việc phi ngựa về báo cáo tình hình Thanh Châu với Thế tử gia, đồng thời xem có cần đến Túc Châu giúp Định Quốc Công một tay không.

Lăng Duệ tham quyền, lòng lang dạ thú đã lộ rõ như ban ngày.

Theo kế hoạch của ông ta, trước tiên lợi dụng Nam Thiệu giúp Tần Vưu đoạt binh quyền ở Thanh Châu, sau đó lại dùng Bắc Địch gây tổn thất nặng cho Định Quốc Công, chia một phần quân Túc Châu cho Định Viễn Hầu.

Việc ở Thanh Châu đã xong, không biết tình hình Túc Châu bây giờ ra sao.

Ám Nhị sinh ra ở phủ Định Quốc Công, người thân trong nhà đều ở Túc Châu, tất nhiên là lòng nóng như lửa đốt.

“Tiểu nhân xin tuân lệnh, Hoắc công tử có cần ta nhắn lại gì không?”

Hoắc Giác trầm ngâm một lát rồi nói: “Phiền ngươi thay ta nói với a tỷ một câu, Thanh Châu đã quang đãng, mọi việc đều tốt đẹp.”

Ám Nhị chắp tay nói: “Công tử yên tâm, lời của ngài, ta nhất định sẽ truyền đạt.”

Nói xong, hắn ta khẽ gật đầu với Thẩm Thính, nói: “Ngày khác đến Thịnh Kinh tìm ta uống rượu.”

Thẩm Thính nghe vậy thì cười, nói: “Lúc đó nhớ dẫn theo huynh trưởng của huynh, nghe nói người đó là kẻ nhiều lời.”

Khi Ám Nhị vừa đi, Thẩm Thính bèn đưa những bức thư tìm được từ phủ Tần Vưu và Lăng Nhược Phàm, cùng với quyển sổ sách cũ cho Hoắc Giác, nói: “Công tử đoán không sai, Tần Vưu và Lăng Nhược Phàm đều đề phòng nhau, giữ lại không ít chứng cứ phạm tội của đối phương. Trộn quyển sổ sách cũ này vào những chứng cứ đó, hẳn là sẽ không gây nghi ngờ.”

Hoắc Giác gật đầu nói: “Thời gian qua vất vả cho ngươi rồi, Chử thế thúc có ý muốn bồi dưỡng ngươi làm vị tướng lĩnh tiếp theo của quân Thanh Châu, ngươi hãy ở lại Thanh Châu.”

Nói xong, lấy ra một tờ hộ tịch từ trong ngực, đưa cho Thẩm Thính, nghiêm túc nói: “Thẩm Thính, nếu ngươi đồng ý, từ nay về sau ngươi sẽ là Hoắc Thính. Sau này, sẽ do ngươi xây dựng lại một phủ Hoắc Tướng quân ở Thanh Châu.”

Thẩm Thính nghe vậy toàn thân chấn động, ngẩng phắt đầu lên, nói: “Công tử!”

Trước kia Thẩm Thính là một đứa trẻ mồ côi, được lão quản gia của phủ Tướng quân nhặt về, rồi đem về phủ Tướng quân. Theo họ của lão quản gia, trở thành cháu trai của lão quản gia.

Ban đầu vì tiểu Vệ Cẩn một lòng muốn làm tướng quân, Hoắc Diễm mới chọn Thẩm Thính, để hắn ta làm tùy tùng của Vệ tiểu công tử, tự tay dạy họ võ nghệ và thuật bày binh bố trận.

Hoắc Giác nhìn vết sẹo dài ở khóe mắt Thẩm Thính, nhớ lại kiếp trước, khi nói với Thẩm Thính về việc trở về Thanh Châu, xây dựng lại Hoắc gia, Thẩm Thính bày ra vẻ mặt như tro tàn nói: “Thẩm Thính không xứng đáng, Đại nương tử chết trong tay ta, cả đời này ta đều là kẻ có tội.”

Sau khi Lăng Duệ và Chu Nguyên Canh chết, Thẩm Thính đã tự vẫn trước mộ a tỷ.

Nghĩ đến chuyện xưa, Hoắc Giác che giấu vẻ cay đắng trong đáy mắt, nói: “Ngươi xây dựng một Hoắc gia ở Thanh Châu, ta về Thịnh Kinh xây dựng một Vệ gia, hẳn là Thẩm thế thúc khi nghe được sẽ rất vui mừng.”

Trong giây lát, Thẩm Thính đã nước mắt tràn mi, nhớ lại ngày đầu tiên đến thành Đồng An năm ngoái, công tử nói với hắn ta: “Nếu Vệ gia đổ thì xây lại một Vệ gia, nếu phủ Tướng quân đổ thì xây lại một phủ Tướng quân.”

Lúc đó rõ ràng cảm thấy phía trước không lối đi, nhưng lời của Hoắc Giác như sấm dậy bên tai, khiến hắn ta nhìn thấy hy vọng trên con đường mênh mông phía trước.

Lúc này cũng vậy.

Vị tiểu trại chủ của trại Bạch Thủy vốn luôn trưng ra vẻ lạnh lùng lãnh đạm, cuối cùng cũng nghẹn ngào nói: “Thẩm Thính tuân lệnh, Thẩm Thính sẽ ở Thanh Châu đợi công tử trở về.”

Xe ngựa phi rất nhanh, đón ánh nắng ấm áp buổi sáng Thanh Châu ra khỏi cổng thành.

Khương Lê vén rèm lên, nhìn dòng chữ “Thanh Châu” khí thế dần dần lùi xa, nhỏ dần, trong lòng bỗng dâng lên một chút không nỡ.

“Chúng ta sẽ còn trở lại chứ?”

Hoắc Giác gật đầu, giọng khẳng định: “Sẽ.”

Khương Lê lại hỏi: “Có thể trở về cùng a tỷ không? A tỷ chắc cũng rất muốn về Thanh Châu.”

Hoắc Giác lại cười cười nói: “Sẽ.”

“Thế thì tốt quá.” Khương Lê nghiêng đầu nhìn hắn, dịu dàng nói: “Nếu dân chúng Thanh Châu biết Đại nương tử và tiểu công tử Vệ gia trở về, chắc chắn sẽ tràn từ khắp nơi tới, xếp hàng hai bên đường chào đón! Nói không chừng, chúng ta lại đi ăn hoành thánh, bà chủ quán sẽ không lấy tiền của chúng ta.”

Hoắc Giác nghe xong câu này, trong lòng không khỏi thấy buồn cười.

Vị tiểu nương tử nhà hắn có lẽ là sợ hắn buồn phiền, nên mới lải nhải dỗ dành hắn vui vẻ.

Quả thật, đối với hắn, Thanh Châu là một nơi đặc biệt.

Nhưng hắn đã sống hai kiếp người, từng trải qua vô số sóng gió, tâm tình đã được rèn giũa đến mức bình ổn không gợn sóng, hiếm khi nổi sóng. Nhưng một tấm lòng của tiểu nương tử, tất nhiên hắn cũng không thể phụ lòng.

Đưa tay vén lọn tóc mai bên má Khương Lê, hắn mỉm cười nói: “Ở chỗ Chử thế thúc chắc còn giấu rượu ngon, lần sau đến, ta sẽ lại cùng nàng đi xin rượu uống.”

***

Khi Khương Lê cùng Hoắc Giác đến Thanh Châu, lòng còn đang lo lắng.

Nhưng khi rời đi, lòng lại đã yên ổn.

Có lẽ vì tâm trạng khác nhau, đường về cảm thấy thông suốt hơn lúc đi nhiều.

Chỉ là sự thuận lợi trên đường này chẳng mấy chốc đã bị một luồng khí lạnh từ phương Bắc đến làm gián đoạn.

Càng đi về phía Bắc, trời càng lạnh, luồng khí lạnh đột ngột ập đến này càng khiến nhiệt độ giảm mạnh, tuyết bắt đầu rơi. Đến khi thuyền tới được thành Khúc Lương, mặt sông đã có dấu hiệu đóng băng, đành phải dừng lại ở Khúc Lương.

Có lẽ vì hứng gió lạnh bên sông mấy ngày, khi Khương Lê xuống thuyền, đầu đã bắt đầu hơi đau.

Từ bến tàu xuống, vừa lên xe ngựa đã bị sốt cao.

Lúc này đã là ngày mười lăm tháng mười một.

Thành Khúc Lương cách Thịnh Kinh không xa, khoảng ba ngày đi đường. Vì cơn bệnh phong hàn của Khương Lê, kế hoạch vội vã đi Thịnh Kinh ban đêm cũng đành phải gác lại.

Mọi người đành phải tạm thời ở lại thành Khúc Lương, Khương Lê thực sự rất phiền não, chỉ sợ làm trì hoãn chính sự của Hoắc Giác.

Đặc biệt là lần này phong hàn đến dữ dội, cổ họng nàng như bị nhét một cục bông vải, giọng vốn mềm mại nay trở nên khàn đặc, còn ngày đêm ho không ngừng.

Hoắc Giác mời đại phu đến bốc thuốc, uống mấy thang thuốc, Khương Lê thấy khá hơn một chút, bèn vội vàng nói với Hoắc Giác: “Ta đã đỡ hơn rồi, chúng ta tiếp tục lên đường đi, vốn đã làm chậm trễ lịch trình, không thể tiếp tục trì hoãn nữa!”

Hoắc Giác khẽ nhíu mày.

Thi thể của Lăng Nhược Phàm đã được vận chuyển đến Thịnh Kinh, rất nhanh sẽ được chuyển đến Đại lý tự. Cũng vào khoảng thời điểm này, người của Cẩm Y Vệ sẽ áp giải Tần Vưu về Kinh.

Hoắc Giác với tư cách là Giám sát Ngự sử, trên người còn mang theo những bức thư và sổ sách kia, tất nhiên phải cùng về phục mệnh, thật sự không thể trì hoãn nhiều.

Chỉ là hiện giờ thời tiết mỗi ngày một lạnh hơn, tuyết phủ gió rít, A Lê chưa khỏi phong hàn, hắn thực sự không yên tâm.

Khương Lê vừa thấy vẻ mặt này của hắn đã biết hắn sắp từ chối đề nghị của nàng, vội nắm lấy tay hắn, nói: “Chính sự quan trọng, thân thể ta vốn khỏe mạnh, chịu đựng được. Cùng lắm thì kê thêm vài thang thuốc, uống dọc đường.”

Lúc này tiểu nương tử ốm yếu xanh xao, một câu nói phải chia làm nhiều đoạn, nói nhiều vài chữ đã phải ho suyễn không ngừng.

Đại phu đã đặc biệt dặn dò, lúc này nàng cần phải tĩnh dưỡng tốt, tốt nhất là đợi bệnh khỏi hẳn rồi hãy tiếp tục lên đường. Tránh để khí lạnh vào tận phổi, về sau mắc chứng ho, lúc đó muốn chữa trị tận gốc sẽ rất khó.

Hoắc Giác cụp mắt suy nghĩ một lát, nhẹ nhàng bóp bóp ngón tay nàng, nói: “Nàng ở lại Khúc Lương dưỡng bệnh, nhiều nhất sáu bảy ngày, ta sẽ dẫn Phương thần y cùng đến đón nàng. Ngoài Vân Chu, Tố Tùng, ta để Hà Chu, Hà Ninh cũng ở lại bảo vệ nàng.”

Khương Lê ngoài miệng nói chịu đựng được, thực tế lúc này đã vô cùng khó chịu.

Cổ họng đau, đầu đau, cả phổi cũng đau. Nếu nàng ở lại Khúc Lương dưỡng bệnh, còn Hoắc Giác tiếp tục lên đường thì không phải là một cách tốt sao.

“Được, ta sẽ ở đây dưỡng bệnh, không đi đâu cả. Chàng không cần lo lắng, cứ yên tâm lo việc chính là được. Đến khi chàng trở về, bệnh của ta có lẽ cũng đã khỏi.” Nói đến đây, nàng dừng lại một chút, nhìn Hoắc Giác nghiêm túc nói: “Chàng để Hà Ninh ở lại là đủ rồi, Hà Chu về Thịnh Kinh cùng chàng. Nhỡ có chuyện gì, còn có thể để huynh ấy giúp chàng chạy chút việc.”

Hoắc Giác nhìn cằm tiểu cô nương đã gầy đi không ít mấy ngày này, suy nghĩ một lát, rồi nói: “Vậy ta để Hà Ninh ở lại, hàng ngày nàng muốn ăn gì, cứ để nhà bếp khách đ**m làm cho nàng.”

Hoắc Giác rời khỏi thành Khúc Lương ngay đêm đó, hắn bỏ xe cưỡi ngựa, phi nhanh, giữa đường hầu như không nghỉ ngơi.

Chỉ hai ngày đã đến Thịnh Kinh, vừa mới qua cổng thành, đã thấy Ám Nhất mang vẻ mặt gấp gáp bước đến, hạ thấp giọng nói: “Hoắc công tử, ta đang định ra thành tìm ngài.”

“Mười ngày trước, quân Túc Châu đánh bại Bắc Địch, chém giết Thái tử Bắc Địch. Tin Định Viễn Hầu thông đồng với giặc, bị Định Quốc Công bắt giữ cũng đã truyền về Thịnh Kinh. Thế tử vẫn luôn cho người theo dõi phủ Định Viễn Hầu, sáng nay bỗng có người đến báo, nói Tuyên Thế tử của phủ Định Viễn Hầu đã biến mất, người hiện đang ở trong Hầu phủ là giả. Khoảng mấy ngày trước, khi tin tức từ Túc Châu vừa truyền đến, Tuyên Thế tử đã lặng lẽ rời khỏi Thịnh Kinh.”

“Không chỉ có Tuyên Thế tử biến mất khỏi phủ Định Viễn Hầu, mà còn có một đội hộ vệ. Thế tử biết ngài có hiềm khích với vị Tuyên thế tử kia, nên sai ta ra thành thông báo cho ngài. Tránh gặp phải, sẽ chịu thiệt.”

Hoắc Giác nghe vậy, không biết nghĩ đến điều gì, vẻ mặt vốn bình thản không gợn sóng khẽ biến đổi.

Đưa xấp thư từ sổ sách trong ngực cho Ám Nhất, trầm giọng nói: “Thay ta mang những thư tín này đến Đô sát viện, giao cho Lỗ Ngự sử hoặc Bách Ngự sử.”

Nói xong lập tức lên ngựa, thúc ngựa, nhanh chóng ra khỏi thành.
 
Tiểu Thanh Mai Của Thủ Phụ Đại Nhân
Chương 107: Kiếp sau ta vẫn sẽ nhớ nàng, thậm chí sẽ tìm được nàng trước ngươi, để nàng làm thê tử của ta


Sáng ngày hôm sau khi Hoắc Giác rời đi, Khương Lê sớm đã nghe tiểu nhị trong khách đ**m nói rằng, nửa đêm hôm qua, núi Lộc Minh gần thành Khúc Lương nhất bỗng nhiên xảy ra tuyết lở, từng mảng tuyết lớn đổ xuống từ đỉnh núi, chất đống trên đường cái.

Trên đường cái ngoài những đống tuyết dày đặc còn có vô số cành cây gãy nằm chắn ngang, nhìn qua vô cùng kinh hoàng.

Ngoài thành Khúc Lương, dưới chân núi Lộc Minh còn có vài thành khác, trong trận tuyết lở này cũng không thoát khỏi tai họa.

Trong số những thành trì được xây dựng quanh núi này, Khúc Lương được xem là có tình hình tốt nhất, thành Lạc Thủy bên cạnh thậm chí cả nhà cửa của dân chúng cũng bị ảnh hưởng.

Khương Lê nhìn ra ngoài cửa sổ, những bông tuyết lớn như lông ngỗng tung bay, đôi mày thanh tú hơi nhíu lại.

Tháng mười hai còn chưa đến mà đã có tuyết rơi lớn như vậy, hơn nữa nhìn bầu trời u ám này, còn có xu hướng rơi ngày càng lớn.

May là nàng chỉ định ở trong khách đ**m dưỡng bệnh, tuyết bên ngoài có rơi to đến đâu, chỉ cần không ra ngoài thì cũng không sao. Chỉ mong qua vài ngày nữa, trận tuyết lớn này có thể tạm ngừng một chút.

Nếu không, năm nay lại sẽ là một mùa đông khó khăn.

Mấy ngày tiếp theo, Khúc Lương bị tuyết phong thành.

Vì tuyết lở, đường cái hoàn toàn bị cắt đứt. Người ngoài không vào được, người trong không ra được.

Có không ít người bị mắc kẹt trong thành Khúc Lương, khách đ**m lập tức chật kín người, quá tải, ngay cả những vật dụng hàng ngày cũng thiếu thốn.

May mà khi Hoắc Giác rời đi, đã đưa cho chủ khách đ**m một tờ ngân phiếu. Ngân lượng đủ nhiều, mấy chủ tớ ở đây, chậu than, nước nóng, thức ăn chưa từng thiếu.

Khương Lê ngày ngày ở trong khách đ**m, cũng coi như bình yên. Liên tục uống thuốc mấy ngày, bệnh phong hàn cũng dần dần thuyên giảm.

Tối hôm đó vừa uống xong thuốc, Khương Lê lập tức ngủ thiếp đi.

Thuốc đại phu kê cho có tác dụng an thần, đến nửa đêm, Khương Lê nghe thấy tiếng ồn ào từ bên ngoài truyền vào, mới từ từ tỉnh lại.

Khi tỉnh dậy đầu óc còn hơi choáng váng, chưa hoàn toàn tỉnh táo, đã thấy Vân Chu nhíu mày đi vào, nói với giọng gấp gáp: “Phu nhân, Hà Ninh nói bên ngoài có rất nhiều dân lưu lạc xông vào cướp đồ, khách đ**m sắp không giữ được nữa. Nơi này không nên ở lâu, nô tỳ đã thu dọn đồ đạc cho người, chúng ta đến quan nha tránh một lúc.”

Cũng là đến lúc này, Khương Lê mới biết được rốt cuộc trận tuyết lở đã mang lại hậu quả đáng sợ thế nào.

Vân Chu nghe ngóng từ bên ngoài, rất nhiều dân chúng đang ngủ say đã bị chôn vùi trong tuyết, chết tươi trong đó.

Khương Lê tất nhiên biết lúc này không thể chậm trễ một khắc, vội vàng vỗ mạnh vào mặt, nói: “Chúng ta đi luôn thôi.”

Cùng lúc đó, trong một ngôi miếu đổ nát cách cổng thành Khúc Lương vài dặm, Tuyên Nghị nhìn mấy ám vệ vội vàng đi vào, nói: “Dân lưu lạc bên ngoài đã tràn vào thành hết chưa?”

Một ám vệ chắp tay nói: “Thưa Thế tử, chúng ta đã dẫn dân lưu lạc từ mấy thành lân cận đến đây, nói với họ trong thành Khúc Lương có nhà giàu tốt bụng cứu giúp, lại giúp họ phá cổng thành. Hiện giờ họ đều đã tràn vào trong thành, qua một lát nữa chắc sẽ gây loạn.”

Tuyên Nghị khẽ gật đầu, nghiêm mặt nói: “Chúng ta nhân cơ hội này vào thành, đi qua Khúc Lương đến bến đò, rồi đi đường tắt đến Túc Châu. Bắc Địch thua trận, Thái tử bị chém giết, nhưng vẫn còn một Nhị Hoàng tử ở đó. Định Quốc Công chắc chắn không bỏ được Túc Châu, cũng sẽ không tự mình áp giải phụ thân về Thịnh Kinh. Bây giờ chúng ta đuổi tới đó, thể nào cũng có thể cướp xe tù, cứu phụ thân.”

Nói xong, hắn ta dùng sức nắm chặt lệnh bài khắc hai chữ “Định Viễn” trong tay, lại nghĩ đến bóng dáng phụ thân kéo chân bệnh, bước chân khập khiễng lên xe ngựa rời đi.

Từ khi phụ thân bị thương ở chân, không còn có thể ra chiến trường. Người khác đều cười nhạo phủ Định Viễn Hầu bây giờ hổ xuống đồng bằng, không còn vinh quang như trước nữa. Những năm này phụ thân đã bạc đầu vì lo lắng, chỉ để có một ngày có thể khôi phục vinh quang của phủ Định Viễn Hầu.

Lệnh bài trong tay là đêm phụ thân xuất phát đi Túc Châu đã trao cho hắn ta, người cầm lệnh bài này có thể điều động ám vệ của Hầu phủ.

Mặc dù phủ Định Viễn Hầu đã suy vi, nhưng vẫn còn một số người có thể dùng được.

Hơn hai mươi người đang theo Tuyên Nghị chạy trốn khỏi Thịnh Kinh trước mắt, người nào người nấy cũng là tử sĩ của phủ Định Viễn Hầu. Lần này đi, đã sớm chuẩn bị tinh thần dùng mạng mình đổi lấy mạng Định Viễn Hầu.

Lúc này nghe lời Tuyên Nghị, mọi người đồng thanh đáp: “Thuộc hạ tuân lệnh!” Nói xong, bèn theo Tuyên Nghị trà trộn vào đám dân lưu lạc quần áo tả tơi xông vào thành.

***

Gió tuyết hoành hành trong đêm đen.

Sau khi rời khỏi khách đ**m Khương Lê mới biết trận tuyết lở này đã khiến bao nhiêu người phải trôi dạt khắp nơi.

Vô số người như ruồi không đầu cuống cuồng chạy loạn trên đường phố, rất nhiều khách đ**m và cửa hàng bán đồ ăn đều bị đập vỡ cửa.

Lần đầu tiên Khương Lê thấy nhiều dân lưu lạc tụ tập đông đúc trong một thành như vậy, vội vàng ngồi lên xe ngựa, nắm chặt con dao găm bên hông.

Vân Chu thấy nàng lộ ra vẻ mặt căng thẳng, vội an ủi: “Phu nhân đừng lo lắng, em và Tố Tùng sẽ bảo vệ người. Từ sợi tóc đến đế giày Tố Tùng đều là ám khí, có bao nhiêu người đến cũng không sợ.”

Tố Tùng bên cạnh sờ vòng tay bạc chứa đầy kim độc trên tay, rất tán thành gật đầu.

Khương Lê cong khóe môi, giọng khàn khàn nói: “Ừm, ta biết, em và Tố Tùng đều sẽ bảo vệ ta.”

Lời còn chưa dứt, xe ngựa bỗng lắc mạnh một cái.

Vì cú lắc này, thân hình Khương Lê nghiêng đi, đầu “cộp” một tiếng đập vào cửa sổ xe.

Cửa sổ bị đập mở ra, một luồng gió lạnh thấu xương đột nhiên ùa vào. Khương Lê bị gió lạnh k*ch th*ch, lập tức ho liên tục mấy tiếng, ho đến nỗi cả mắt cũng đẫm lệ.

Nàng nhìn ra ngoài cửa sổ, chỉ thấy trên đường phố trắng xóa, thậm chí có người còn đâm vào mấy chiếc xe ngựa đang đi về phía quan nha.

Thì ra trong thành có mấy nhà giàu cũng nhận ra điều bất thường, thu dọn tài sản định trốn đến quan nha.

Xe ngựa Khương Lê ngồi là giản dị nhất, dân lưu lạc vây quanh không nhiều. Nhưng dù vậy, vẫn khiến nàng hoảng sợ, khuôn mặt nhỏ nhắn lúc này còn trắng hơn cả tuyết bên ngoài.

Khương Lê ổn định lại tinh thần, vịn vào thành xe giữ vững cơ thể, trong lúc hoảng hốt đã đối diện với một đôi mắt lạnh lẽo dữ tợn.

Người đó mặc một chiếc áo ngoài đen, ẩn trong tuyết mù mịt. Khương Lê không nhìn rõ mặt hắn ta, chỉ cảm thấy đôi mắt đó có vẻ như đã từng gặp ở đâu.

“Phu nhân, người không sao chứ?” Tố Tùng bên cạnh đưa tay đỡ Khương Lê, tiện tay đóng cửa sổ lại.

Khương Lê thu hồi ánh mắt, ho khan vài tiếng, nói: “Ta không sao, bên ngoài dân lưu lạc quá đông. Quan phủ không đến sớm, sợ là sẽ có đại loạn, bảo Hà Ninh đánh xe nhanh hơn một chút!”

Cửa sổ đóng lại, tất nhiên Khương Lê cũng không thấy được bóng dáng ẩn trong gió tuyết vừa rồi đang nhanh chóng tiến đến gần xe ngựa.

“Bảo vệ chiếc xe đó, đưa đến ngoài quan nha.” Tuyên Nghị lạnh lùng ra lệnh.

Mấy ám vệ bên cạnh nghe vậy đều lộ ra vẻ giật mình, bọn họ là muốn nhân lúc loạn này, đi qua thành Khúc Lương rồi đi đường vòng đến bến đò, đương nhiên càng tránh xa người của quan phủ càng tốt.

Sao có thể đến quan nha vào lúc này?

Các ám vệ nhìn nhau, nhưng lời của Thế tử, họ ngay cả tư cách hỏi cũng không có, chỉ có thể ngoan ngoãn nghe lệnh. Vì vậy một đoàn người không để lại dấu vết trà trộn vào đám dân lưu lạc, vây quanh hai bên xe ngựa đó.

Những người này tay đã dính máu của không biết bao nhiêu mạng người, cho dù ngụy trang thế nào cũng không che giấu được sát khí máu tanh trên người. Lúc này vừa đứng đó, những dân lưu lạc xung quanh muốn nhân cơ hội cướp xe ngựa đều đồng loạt lùi bước.

Tuyên Nghị đi qua đám dân lưu lạc đó, đang định đi đến bên cửa sổ xe, bỗng “cạch” một tiếng, dưới chân đột nhiên giẫm phải một v*t c*ng.

Hắn ta dời chân, hiện ra một con dao găm tinh xảo bằng ngọc to cỡ bàn tay. Hình như vừa rồi khi nàng vội vàng vịn cửa sổ, đã đánh rơi vật này.

Tuyên Nghị nhặt con dao găm lên, cười khẩy một tiếng.

Một con dao găm nữ tính như vậy, thật sự gặp phải dân lưu lạc cướp xe, có thể chống đỡ được gì?

Sao vẫn còn ngây thơ như trước thế?

Hắn ta nhét con dao găm vào ngực áo, lại nhớ đến trong mơ, nàng rút trâm vàng trên đầu, đâm vào vai hắn ta.

Trâm vàng đó vừa mỏng vừa nhỏ, không làm hắn ta bị thương được bao nhiêu, ngược lại làm nàng đủ hoảng sợ, có lẽ đó là lần đầu tiên nàng làm tổn thương người khác.

Tuyên Nghị nhếch khóe môi, ánh mắt như lưỡi dao, vững vàng đẩy lùi những người muốn cướp con dao găm.

Đồ của nàng, cớ sao có thể cho người khác làm bẩn?

***

Khương Lê lo lắng cả một đường, rất sợ sẽ lại có dân lưu lạc đâm vào. Nhưng cho đến khi đến quan nha, xe ngựa vẫn an ổn.

Dương Thiên, Huyện lệnh thành Khúc Lương và Tông Úc, cựu Huyện lệnh thành Lâm An là bạn thân, gần như ngay khi Hà Ninh vừa báo tên của Hoắc Giác, ông ấy đã ôn hòa nói: “Tiện nội đang ở phủ Huyện lệnh phía sau nha môn, Hoắc phu nhân có thể tạm trú ở đó. Xin yên tâm, phủ Thuận Thiên sẽ sớm điều binh đến, Khúc Lương sẽ nhanh chóng khôi phục thái bình.”

Đầu năm, khi Lâm An động đất, tuy Khúc Lương cách xa nên không chịu thiệt hại quá lớn.

Nhưng hành động của Hoắc Giác đêm đó không chỉ được người dân phủ Thuận Thiên nhớ đến, mà dân chúng các thành lân cận phủ Thuận Thiên cũng đều biết, ngay cả thê tử của Dương Thiên cũng từng nói với ông ấy về chuyện này.

Nếu lúc đó không có Hoắc Giác, khi động đất, không biết bao nhiêu dân Lâm An đã phải chết. Tông Úc chắc chắn cũng bị liên lụy, làm sao có thể thuận buồm xuôi gió thăng chức đến Thịnh Kinh được?

Dương Thiên nói xong lập tức sắp xếp người dẫn đoàn của Khương Lê đến phủ Huyện lệnh.

Bên ngoài nha môn, Tuyên Nghị đứng sau một gò đất.

Đợi khi thấy Khương Lê biến mất sau cánh cổng phủ Huyện lệnh, mới kéo kéo áo choàng trên người, nắm chặt con dao găm trong tay, nói: “Đi!”

Cố tình tạo ra một trận tuyết lở, rồi dẫn vô số dân lưu lạc vào thành Khúc Lương, chính là muốn kìm chân truy binh từ Thịnh Kinh. Đồng thời bày trận giả để đánh lạc hướng, khiến họ không phân biệt được người của phủ Định Viễn Hầu đi đường nào đến Túc Châu.

Tuyên Nghị nhìn bầu trời u ám, nghiến chặt răng.

Lúc này cứu phụ thân mới là việc quan trọng hơn.

Từ khi tin Bắc Địch thất trận, Thái tử bị chém truyền đến, phụ thân của hắn ta đã xin nghỉ, vội vã đến phủ Thủ phụ.

Sau khi trở về càng ngày càng bất an.

Lúc đó hắn ta đã có linh cảm không hay, quả nhiên chỉ vài ngày sau, lại truyền đến tin phụ thân cấu kết với Bắc Địch.

Phụ thân đi Túc Châu rõ ràng là vì nhận lời ủy thác của Hồ Đề.

Nghĩ đến biểu hiện của Hồ Đề những ngày qua, việc thông đồng với Bắc Địch có lẽ là thật.

Trước đây phụ thân ở nhà cũng từng giận dữ chửi mắng Bắc Địch, Nam Thiệu lòng lang dạ thú, hận không thể nuốt gan uống máu bọn chúng để trút mối hận thù trong lòng.

Nhưng giờ đây, vì để khôi phục vinh quang ngày xưa của phủ Định Viễn Hầu, phụ thân lại thực sự làm ra chuyện b*n n**c.

Tuyên Nghị thở dài một hơi thật nặng nề, phụ thân không thể về Thịnh Kinh chịu xét xử, Hồ Đề và Lăng Duệ không thể nào cứu phụ thân.

Trở về, cũng chỉ có một con đường chết.

Một khi cứu được phụ thân, nửa đời còn lại của họ e rằng chỉ có thể sống mai danh ẩn tích.

Tại bến đò ở phía Đông thành Khúc Lương, một chiếc thuyền không thu hút sự chú ý đậu ở bờ, đuôi thuyền khắc chữ “Định”.

Đoàn người vừa đến, một cụ già mặc áo tơi lập tức bước ra từ trong khoang thuyền, chắp tay hành lễ với Tuyên Nghị.

Tuyên Nghị khẽ gật đầu, nhét dao găm vào ngực áo, vừa định bước lên thuyền, bỗng phía sau có hơn mười mũi hỏa tiễn bắn tới.

Mũi tên “vút” một tiếng găm chắc vào thân thuyền, lập tức bùng lên một mảng lửa.

Ám vệ của phủ Định Viễn Hầu “soạt”một tiếng rút loan đao ra, vây Tuyên Nghị vào giữa, cảnh giác nhìn về phía rừng rậm trước bến đò.

Chỉ thấy trong gió tuyết mịt mù, từ khu rừng rậm đó lại b*n r* hàng chục mũi hỏa tiễn.

Ám vệ dùng sức chém rơi, nhưng vẫn có người trúng tên, ngọn lửa “bùng” lên cuốn lấy quần áo, còn nhiều mũi tên khác bắn trúng tấm bạt dầu trên thuyền.

Trong bão tuyết, muốn đốt cháy một chiếc thuyền không dễ, nhưng tấm bạt dầu rõ ràng đã bị động tay động chân, gần như ngay khi chạm vào tia lửa, ngọn lửa đã nhanh chóng lan rộng, trong chốc lát lửa cháy dữ dội.

Không có thuyền, kế hoạch đi đường thủy của họ sẽ không thể thực hiện được.

Ngọn lửa lớn như đóa hoa rực rỡ nhất nở giữa trời băng tuyết.

Một đội kỵ binh không đến mười người chậm rãi bước ra từ khu rừng rậm, người đứng đầu mặc y phục màu đen huyền, ngồi trên lưng ngựa, lạnh lùng nhìn họ.

Tuyên Nghị đối diện với ánh mắt người đó, sững sờ trong chốc lát.

Trong thoáng chốc, dường như lại trở về giấc mộng.

“Thế tử, ngài chạy trước đi! Chúng ta đông người, đợi giải quyết xong đám này, sẽ đi tụ hội với ngài!”

Tuyên Nghị lộ ra vẻ mặt lạnh lùng, chậm rãi lắc đầu, nói: “Không kịp nữa, chúng ta đã trúng Nhuyễn Cân Hương(*). Những mũi tên đó quấn thuốc, gặp lửa sẽ cháy, phát tán trong không khí, từ nãy chúng ta đã hít phải không ít.”

<i>(*)Hương mềm gân.</i>

Lời này vừa dứt, đám ám vệ đều giật mình.

Lúc nãy khi rút đao đã cảm thấy lực bất tòng tâm, tưởng là do mấy ngày không chợp mắt nên mệt mỏi, không ngờ lại là trúng Nhuyễn Cân Hương.

Khó trách đội kỵ binh kia ra khỏi rừng rậm rồi lại không tiến lên nữa. Là đang đợi họ trúng thuốc rồi mới bắt rùa trong hũ!

Mọi chuyện liên kết chặt chẽ với nhau, e rằng từ khi họ vào thành Khúc Lương đã bị người ta theo dõi rồi!

Phủ Huyện lệnh.

Phu nhân của Dương Huyện lệnh nhận được tin Khương Lê sẽ đến từ sớm, đã dọn dẹp sẵn một căn phòng ở viện phụ.

Chỉ riêng chậu than đã đặt ba cái, rất sợ tiểu cô nương bị lạnh trong đêm.

Đến khi Vân Chu và Tố Tùng bưng nước vào, Khương Lê mới phát hiện con dao găm nhỏ đã biến mất.

Vân Chu thấy nàng lo lắng s* s**ng quần áo, bèn hỏi: “Có phải dao găm của phu nhân bị mất không?”

Khương Lê hạ mắt lật tìm trong váy, “Ừm” một tiếng, nói: “Chắc là lúc xe ngựa bị đụng ban nãy đã đánh rơi rồi.”

Vân Chu biết con dao găm đó là do Chử Đại tướng quân của quân Thanh Châu tặng cho nàng, phu nhân của nàng ấy còn từng cho nàng ấy và Tố Tùng xem ở Thanh Vân quán.

Vân Chu nghĩ một lúc, bèn nói: “Em ra ngoài tìm lại cho phu nhân.”

Vừa nói vừa định ra ngoài, Khương Lê vội kéo nàng ấy lại, nói: “Mất thì mất, bên ngoài đang lộn xộn. Bây giờ em ra ngoài, nhỡ có bị thương thì sao?”

Tuy có phần có lỗi với tấm lòng của Chử thế thúc, nhưng rốt cuộc vật chết vẫn không quan trọng bằng sự an toàn của người sống.

Khương Lê buông quần áo trong tay xuống, nhìn ra bóng đêm bên ngoài, nói: “Nhân lúc trời chưa sáng, chúng ta ngủ thêm một lát, tránh ngày mai không có tinh thần. Ngày mai còn chưa biết bên ngoài sẽ ra sao nữa!”

Khương Lê vừa mới ngủ được một lúc, lại mơ màng nghe thấy tiếng bước chân từ hành lang bên ngoài truyền đến.

Nàng cũng không nghĩ nhiều, chỉ tưởng là nữ tỳ trong phủ Huyện lệnh dậy làm việc.

Cho đến khi tiếng bước chân dần dần đến gần, dừng lại ngoài cửa, nàng mới giật mình, ngồi dậy, tiện tay cầm lấy một giá nến.

Cửa đột nhiên bị đẩy ra, một bóng hình màu đen lặng lẽ đứng đó, những bông tuyết thổi vào hành lang rơi từng mảng trên vai người ấy.

Lang quân đứng ngược sáng, không nhìn rõ mặt, nhưng Khương Lê đã quá quen thuộc với hắn, gần như trong khoảnh khắc cửa mở, lập tức nhận ra hắn.

“Hoắc Giác!”

Nghe tiếng của tiểu nương tử, Hoắc Giác bước vào trong, đi đến bên giường, nhìn nàng một cái thật tỉ mỉ, nói: “Hôm nay có bị sợ không?”

Khương Lê ngẩn người đặt giá nến xuống, thoáng chốc không phân biệt được có phải mình đang nằm mơ không, vô thức nắm lấy tay hắn, lại phát hiện bàn tay vốn luôn ấm áp kia, giờ lại lạnh như băng.

“Ta không sao, có nhiều người bảo vệ ta như vậy, sao ta phải sợ? Sao chàng lại quay về Khúc Lương sớm vậy? Ta còn tưởng phải một hai ngày nữa chàng mới về chứ? Còn nữa—” Khương Lê nói rồi nhíu mày, hai tay ôm lấy tay hắn, nói: “Sao tay chàng lại lạnh thế này?”

Hoắc Giác im lặng nắm ngược lấy tay nàng, hạ mắt nhìn khuôn mặt nhỏ trắng trẻo của nàng.

Đêm nay trên con phố dài đó, khi dân lưu lạc đâm vào xe ngựa, suýt nữa hắn đã không nhịn được muốn hiện thân, sợ nàng bị hoảng sợ.

Chợt nhớ đến hành vi bảo vệ xe ngựa của Tuyên Nghị và ám vệ phủ Định Viễn Hầu, hắn khẽ nhíu mày, nói: “Thịnh Kinh có tội phạm chạy trốn, trốn đến Khúc Lương. Tình hình khẩn cấp, ta đành phải quay lại bắt yếu phạm.”

Nói đến đây, hắn nhẹ nhàng bóp bóp lòng bàn tay của tiểu cô nương, nói: “Nàng đừng sợ, tên yếu phạm đó đã bị bắt, lát nữa ta sẽ đi thẩm vấn hắn.”

Khương Lê vô thức hỏi: “Vậy chàng còn quay lại không?”

Hoắc Giác chỉnh lại cổ áo giữa cho nàng, “Ừm” một tiếng: “Đương nhiên là sẽ về. Quan binh phủ Thuận Thiên sắp đến, ngày mai Khúc Lương sẽ trở lại bình thường. Đợi bên này xong việc, ta sẽ cùng nàng về Thịnh Kinh.”

Lúc này Khương Lê mới thực sự yên tâm.

Tuy võ công của Vân Chu, Tố Tùng và Hà Ninh đều thuộc hàng bậc nhất, nhưng có Hoắc Giác ở đây, dù sao cũng khác.

Hoắc Giác ở trong phòng chưa được bao lâu đã ra ngoài.

Vừa ra khỏi cửa, Hà Chu đã tiến lên phía trước, đưa cho Hoắc Giác một lọ thuốc màu xanh biếc, nói: “Chủ tử, đây chính là ‘Phệ Hồn’ từ Tây Vực. Cát lão nói, tất cả thuốc ‘Phệ Hồn’ đều ở đây, tổng cộng có sáu viên. Theo lời vị vu sư Tây Vực, người thường uống một viên sẽ mất đi phần lớn ký ức, hai viên có thể quên sạch mọi chuyện đã qua, đến cả tên mình cũng không nhớ nổi. Ba viên thì sẽ hoàn toàn khờ dại.”

Hoắc Giác không lạ lẫm gì với loại thuốc này, khẽ gật đầu, nhận lấy lọ thuốc rồi đi đến nha môn huyện.

Đêm nay dân lưu lạc gây rối, nha dịch đã bắt được không ít dân lưu lạc cố tình gây sự. Lại thêm việc bắt một đám người của phủ Định Viễn Hầu, lúc này các nhà giam trong nha môn đã chật ních người.

Tuyên Nghị bị giam riêng trong một phòng chứa củi bỏ hoang, bên ngoài có hai lính cai ngục cầm đao canh giữ. Một cai ngục thấy Hoắc Giác đến, nhớ đến lời dặn của Huyện lệnh đại nhân, vội vàng trao chìa khóa phòng chứa củi cho hắn.

Hà Ninh, Hà Chu đi theo sau Hoắc Giác thấy vậy, rất tự nhiên vỗ vai hai người cai ngục, cười nói: “Mấy ngày nay Khúc Lương lạnh khác thường, huynh đệ chúng ta ra ngoài uống một hớp rượu nóng đi!”

Lính cai ngục nhìn Hoắc Giác, biết người này là vị Giám sát Ngự sử lập được công lớn đêm nay, ngay cả Dương Huyện lệnh cũng rất tán thưởng. Cuối cùng cũng không sinh nghi ngờ gì, chỉ hơi do dự rồi cùng Hà Chu, Hà Ninh ra ngoài sân.

***

Trong phòng chứa củi ánh sáng mờ tối, trên sàn nhà ẩm ướt lạnh lẽo, toàn là mạt gỗ vụn.

Tay chân Tuyên Nghị đeo xiềng xích, ngồi ở góc phòng, nghe thấy tiếng mở cửa, thì trừng mắt lên.

Hoắc Giác kéo một chiếc ghế gỗ, ngồi xuống trước mặt hắn ta, đi thẳng vào vấn đề: “Tuyên Thế tử phạm ba tội. Một, trộm thuốc nổ, cho nổ núi Lộc Minh, cố tình tạo ra tuyết lở, khiến chín mươi sáu dân thường thiệt mạng, và hàng nghìn người dân lưu lạc mất chỗ ở.”

“Hai, dụ dỗ dân lưu lạc từ nhiều thành tụ tập về thành Khúc Lương, gây ra náo loạn, khiến hàng chục khách đ**m cửa hàng bị thiệt hại, bốn mươi hai người vô tội thiệt mạng.”

“Ba, trộm thuyền, định đi đường thủy đến Túc Châu cướp tù. Ba tội này, bất kỳ tội nào cũng đều là tội chết. Nhưng nếu Tuyên Thế tử bằng lòng hợp tác với Đô sát viện, có thể miễn tội chết.”

Tuyên Nghị là người thông minh, dĩ nhiên hiểu rõ “hợp tác” mà Hoắc Giác nói là gì.

Hắn ta làm việc ở Binh Bộ, lại là con rể tương lai của Hồ Đề, cũng được coi là một trong những người thân tín của Hồ Đề. Hiện giờ phụ thân bị bắt ở Túc Châu, người của Đô sát viện đại để là muốn hắn ta đứng ra làm chứng chống lại Hồ Đề, thậm chí cả Lăng Duệ đứng sau Hồ Đề.

Cả triều đình, ai mà không biết Đô sát viện với Lăng Thủ phụ không hợp nhau.

Nhưng hiện giờ hắn ta không thể cứu được phụ thân, dù thế nào phụ thân cũng khó thoát khỏi cái chết.

Còn bản thân hắn dù có được miễn tội chết, chắc chắn cũng không có kết cục tốt đẹp gì. Hắn ta đã từng trải qua vô số lần đau đớn cầu chết mà không được trong mơ, cái chết đối với hắn ta ngược lại không phải là điều gì đáng sợ.

Từ khi bị giam vào căn phòng này, hắn ta đã không còn quan tâm đến sống chết của mình nữa. Lúc này đây, hắn ta cũng chỉ ngước đôi mắt âm u lên, ánh mắt chăm chú nhìn chằm chằm vào mặt Hoắc Giác.

Nói ra, người này cho hắn ta một cảm giác rất quen thuộc.

Giọng nói quen thuộc, khí thế quen thuộc, ngay cả bóng dáng vừa rồi đứng ngoài cửa trong bóng tối cũng vô cùng quen thuộc.

Luôn khiến hắn ta nhớ đến vị “Đốc công” đã giết hắn ta vô số lần trong mơ kia, phất trần đen nhánh, áo hoạn quan màu đỏ thẫm, ánh mắt u ám như địa ngục.

Nhưng người đó rõ ràng là một nội thị, còn người trước mắt này thì không phải.

Tuyên Nghị từng phái người vào cung tìm một nội thị dùng phất trần đen, nhưng được báo lại rằng, Đại Chu lập quốc hai trăm năm, trong cung chưa từng xuất hiện nội thị dùng phất trần đen.

Chỉ là giấc mơ đó quá đỗi chân thực, chân thực đến mức hắn ta thà tin đó là cái gọi là kiếp trước kiếp này.

Vị “Đốc công” trong mơ bắt hắn ta chính là để báo thù cho tiểu nương tử kia. Còn vị Trạng nguyên lang trước mắt này, hiện giờ đã trở thành phu quân của tiểu nương tử nọ.

Có khi nào, người trước mắt này cũng giống như hắn ta, đã từng có những giấc mơ kỳ lạ như vậy?

Tuyên Nghị đối mặt với Hoắc Giác một lúc, đột nhiên nói: “Hôm nay ta tình cờ nhặt được một vật cũ của tôn phu nhân, nếu Hoắc đại nhân cho phép ta gặp nàng một lần, đích thân trả lại vật cũ này cho nàng, ta sẽ đồng ý với việc đại nhân vừa đề cập.”

Hoắc Giác nhìn Tuyên Nghị không chút gợn sóng, hồi lâu, khẽ cười một tiếng, nói: “Nếu Tuyên Thế tử đã không muốn hợp tác với Đô sát viện, tất nhiên Bổn quan sẽ không ép buộc Thế tử, chỉ đành mượn Thế tử dùng một lát.”

Tuyên Nghị nhíu mày, chưa kịp nghĩ ra “mượn Thế tử dùng một lát” trong lời nói của hắn là ý gì. Đột nhiên trước mắt hoa lên, cằm đau nhói, cả hàm dưới đã bị Hoắc Giác hung hăng tháo ra.

Hoắc Giác đổ ra bốn viên thuốc màu đỏ thẫm từ một lọ sứ màu xanh, nhẹ nhàng vỗ vào miệng hắn ta, những viên thuốc đó nhanh chóng lăn vào cổ họng hắn ta từng viên một.

Gần như ngay khi Hoắc Giác đổ thuốc ra, sắc mặt Tuyên Nghị lập tức biến đổi, theo phản xạ định giơ tay gạt đi những viên thuốc trên tay Hoắc Giác.

Thuốc đó giống hệt như loại thuốc trong mơ.

Lúc này hắn ta dường như đã quay trở lại nhà lao ẩm ướt trong mơ, đầu đau như búa bổ, như có vô số trùng độc đang gặm nhấm tủy não vậy.

“Là… ngươi!” Tuyên Nghị nhịn đau, từng chữ từng chữ khó nhọc nói.

Hoắc Giác đại phát từ bi nối lại hàm dưới cho hắn ta, cao giọng nói: “Ta biết ngươi đang dùng nàng để thử ta, nhưng ngươi hoàn toàn không xứng đáng nhắc đến nàng.”

Tuyên Nghị đau đến nỗi hoa mắt chóng mặt, mồ hôi lạnh tuôn ra như tắm, cả người như vừa được vớt lên từ dưới nước.

Hắn ta nghiến răng nghiến lợi nói: “Ngươi là ‘Đốc công’ đó! Chính ngươi đã giết ta!”

Hoắc Giác khẽ nhíu mày, trong tích tắc đã hiểu ra vì sao vừa rồi Tuyên Nghị muốn thử hắn.

Hắn ta không chỉ mơ thấy A Lê kiếp trước, mà còn mơ thấy Hoắc Đốc công kiếp trước, cùng với việc hắn ta đã chết như thế nào.

Đây cũng là lý do vì sao vừa rồi hắn ta vừa thấy “Phệ Hồn”, phản ứng lại dữ dội như vậy.

“Kiếp trước ngươi bắt ta uống thuốc này, ép ta quên nàng. Nhưng ngươi xem, ta không những không quên nàng, mà còn khắc sâu nàng trong não, ngay cả trong mơ cũng chỉ mơ thấy nàng!” Tuyên Nghị oán hận nhìn chằm chằm Hoắc Giác, vẻ mặt điên dại: “Kiếp sau ta vẫn sẽ nhớ nàng, thậm chí sẽ tìm được nàng trước ngươi, để nàng làm thê tử của ta!”

Sắc mặt Hoắc Giác không hề dao động chút nào vì những lời này của hắn ta, chỉ lặng lẽ chờ đợi trùng độc trong “Phệ Hồn” nuốt chửng ký ức của hắn ta.

Kiếp trước, hắn cho Tuyên Nghị uống ba viên “Phệ Hồn” vẫn không thể khiến hắn ta quên A Lê. Cho đến khi cho uống viên thứ tư, hắn ta mới hoàn toàn mất đi ký ức, khờ dại như đứa trẻ lên ba.

Thời gian trôi qua từng chút một, không biết đã bao lâu, ánh mắt sáng rõ đầy đau đớn ban đầu của Tuyên Nghị dần dần có thêm vài phần mơ hồ.

Trong đầu tràn ngập vô số mảnh ký ức vụn vỡ, những ký ức đó như đèn kéo quân lướt qua từng khung hình một.

Khi thì là lúc mẫu thân qua đời, nắm tay hắn ta dặn dò phải chăm sóc tốt cho phụ thân.

Khi thì là thiếu nữ hắn ta yêu thương cầm trâm vàng đâm mạnh vào hắn ta, nói với hắn ta: “Đời này kiếp này ta sẽ không bao giờ thích ngươi.”

Khi thì lại là trong nhà lao âm u kia, chết đi sống lại hết lần này đến lần khác.

Tuyên Nghị dùng mười ngón tay cắm mạnh vào mái tóc ướt đẫm, vẻ mặt đau đớn, hắn ta thở hổn hển từng hơi lớn, ánh mắt chạm phải gương mặt lạnh lùng của Hoắc Giác, tất cả nỗi đau đớn đều hóa thành căm hận ngút trời, không nhịn được nói một cách hung dữ:

“Ngươi rõ ràng chỉ là một con ma từ âm phủ, một hoạn quan không thể làm việc nam nhân! Ngươi tưởng nàng sẽ thích một kẻ như ngươi sao? Nếu nàng biết bộ mặt thật của ngươi, chắc chắn sẽ ghê tởm ngươi giống như ghê tởm ta vậy!”

Không lâu sau, giọng nói của Tuyên Nghị dần dần yếu đi, đến cuối cùng, cả căn phòng im lặng như tờ.

Hoắc Giác nhìn chằm chằm vào đôi mắt trong veo lại mơ hồ của hắn ta, nói: “Kiếp sau, nếu ngươi dám xuất hiện trước mặt nàng, ta sẽ dám hủy hoại ngươi một lần nữa.”

Dứt lời, hắn cúi người thò vào áo Tuyên Nghị, lấy ra một con dao găm nhỏ bằng bàn tay, xoay người ra khỏi phòng.

***

Thịnh Kinh, phủ Định Quốc Công.

Gió lạnh thê lương, tuyết lớn đầy trời

Cây mai vàng trong Vô Song viện đã mọc ra những nụ hoa nhỏ li ti, nhìn từ xa, khiến người ta không phân biệt được thứ đậu trên cành là tuyết, hay là hoa.

Tiết Vô Vấn trở về từ Đại lý tự, cũng không kịp thay bộ Phi Ngư phục trên người, đi thẳng đẩy cửa phòng ngủ, bước vào trong.

Thấy Vệ Xuân đứng bên cửa sổ mở một nửa, lặng lẽ nhìn cây mai đông bên ngoài, không khỏi nhíu mày, bước nhanh lên phía trước đóng cửa sổ lại, nói: “Gió bên ngoài như dao mềm vậy, không sợ bị lạnh à?”

Vệ Xuân quay đầu nhìn hắn ta, nói: “Trong phòng quá ngột ngạt.”

Gần đây nàng ấy luôn cảm thấy lồng ngực bức bối.

Mấy ngày nay thời tiết đột nhiên trở lạnh, trong phủ đã đốt địa long, còn đặt không ít chậu than trong phòng, nhưng lại khiến nàng ấy càng cảm thấy ngột ngạt hơn.

Tiết Vô Vấn dùng mu bàn tay thử nhiệt độ trên trán nàng ấy, thấy nàng ấy không sốt, hơi thở phào nhẹ nhõm, nói: “Ngày mai mời Phương thần y bắt mạch cho nàng, có lẽ là đầy hơi.”

Vừa dứt lời, mới chợt nhớ ra, Phương thần y đang trên đường đến thành Khúc Lương, phải mất vài ngày nữa mới có thể trở về phủ Quốc Công.

Vệ Xuân dĩ nhiên cũng nghĩ đến điều đó, cong môi cười một tiếng, nói: “Không cần phiền Phương thần y đâu, ta chỉ là mấy ngày nay ngủ không ngon, nên mới cảm thấy ngột ngạt thôi. Hôm nay chàng về sớm như vậy, có phải là xảy ra chuyện gì không?”

Tiết Vô Vấn nhìn nàng ấy, nói: “Một tin tốt, một tin xấu. Nàng muốn nghe cái nào trước?”
 
Tiểu Thanh Mai Của Thủ Phụ Đại Nhân
Chương 108: “Ta là người của chàng, chàng cũng là người của ta. Tất cả những vết thương chàng chịu, ta đều phải biết.”


Vệ Xuân nghe xong thì liếc nhìn Tiết Vô Vấn một cái, ánh mắt lành lạnh.

Người này lúc nào cũng vậy, có chuyện gì cũng không nói thẳng ra, cứ chia làm hai nửa. Nói một nửa giấu một nửa, chỉ chờ xem nàng ấy nóng lòng như thế nào.

Vệ Xuân không mắc bẫy của hắn ta, lạnh nhạt nói một câu “Muốn nói hay không thì tùy chàng”, rồi tựa người vào gối lớn trên ghế quý phi.

Tiết Vô Vấn vốn quen thói không biết xấu hổ thường ngày, nghe thấy thế bèn lên ghế ôm lấy cô nương, cúi đầu tìm môi nàng ấy.

Sau khi thơm nhẹ vài cái, mới cười nói: “Triều sớm sáng nay, Lỗ Đô Ngự sử mang mật thư bí mật gửi về từ Thanh Châu, tại điện Kim Loan tố cáo Tả Tham nghị Bố chính ti Thanh Châu Lăng Nhược Phàm và Trấn Quốc Tướng quân Tần Vưu thông đồng với giặc b*n n**c. Chu Nguyên Canh giận dữ, ra lệnh cho Đại lý tự, Đô sát viện và Hình Bộ cùng thẩm án này, phải điều tra cho rõ ràng, lôi tất cả những kẻ tham gia ra từng người một.”

Tiết Vô Vấn nói đến đây, đôi mắt đào hoa đa tình khẽ nheo lại, không khỏi nhớ đến sự mất bình tĩnh của Thành Thái Đế hôm nay.

Hai cái chặn giấy và chén trà trên bàn đã bị ông ta đập vỡ nát, đôi mắt sưng húp mờ đục không biết đang nhìn vào đâu, cứ thế lác mắt chỉ vào đám quần thần đang quỳ đầy sân, lớn tiếng mắng chửi, dáng vẻ điên cuồng.

Khác hẳn với vị quân vương “tài đức sáng suốt” trước kia từng cử chỉ đều học theo Thái tử.

Nhìn dáng vẻ như người điên của ông ta, các quần thần trong điện Kim Loan đều im thin thít.

Ngay cả Lăng Duệ cũng không dám tiến lên kêu oan cho nhi tử nhà mình, chỉ lộ ra vẻ mặt trắng bệch, toàn thân run rẩy quỳ trên đất, cầu xin Hoàng thượng nguôi giận, bảo trọng long thể.

Sau khi tan triều, còn lảo đảo quỳ ngoài điện Dưỡng Tâm suốt hai canh giờ.

Tiết Vô Vấn cúi mắt nhìn Vệ Xuân, thấy sắc mặt nàng ấy bình thản thờ ơ, dường như cũng không vui mừng vì lời nói đó của hắn ta, bèn hôn lên mí mắt nàng ấy, kể lại cho nàng ấy nghe những chuyện xảy ra trên triều đình hôm nay.

“Hôm nay Lăng Duệ chắc đã thấm thía thế nào là vui quá hóa buồn. Trước đó tin tức tiểu tử kia cho người đưa đến đều là tin giả, trước khi lên triều hôm nay có lẽ ông ta còn đang mơ về việc quân quyền Thanh Châu đều rơi vào tay mình, nào ngờ, vừa lên triều đã nhận tin nhi tử chết thảm, thân tín bị bắt. Vị Lăng Thủ phụ của triều Đại Chu chúng ta, e rằng đêm nay sẽ không thể ngủ yên.”

Vệ Xuân khẽ “Ừm” một tiếng, mấy ngày trước, khi Ám Nhị trở về phủ Định Quốc Công, đã mang về lời nhắn của Hoắc Giác.

Việc ở Thanh Châu, nàng ấy cũng biết được tám chín phần.

Tin tốt Tiết Vô Vấn nói với nàng ấy, thực ra nàng ấy cũng đoán được.

Còn về tin xấu…

Vệ Xuân hạ mi mắt xuống, giơ tay vẽ theo hoa văn phi ngư mãng xà trên y phục của Tiết Vô Vấn, nói: “Tin xấu chàng nói có liên quan đến Tiết thế thúc không? Tiết thế thúc… cũng sắp về Thịnh Kinh rồi phải không?”

Nàng vừa nói xong, vẻ mặt trước đó còn hơi đùa cợt của Tiết Vô Vấn lập tức cứng lại.

Rồi bật cười, quả thật chẳng giấu được nàng ấy điều gì.

“Vệ Đại nương tử của chúng ta có nên đi mở quầy bói toán không? Đoán cái nào trúng cái đó.” Tiết Vô Vấn tặc lưỡi một cái, bóp bóp cằm nhọn của Vệ Xuân, nói: “Hay là, chỉ có Vệ Xuân là hiểu rõ nhất cách đoán ý ta? Những suy nghĩ trong lòng ta có phải đều không thoát khỏi đôi mắt này của nàng không?”

Nói xong, lại đi tìm mắt nàng ấy, trong ánh mắt hắn ta mang theo nụ cười hơi trêu chọc, dáng vẻ đó nói có bao nhiêu không đứng đắn thì có bấy nhiêu không đứng đắn.

Làm gì có chút thái độ nào muốn nói chuyện nghiêm túc với người khác?

Vệ Xuân không để ý đến việc hắn ta đùa giỡn, chỉ lặng lẽ nhìn vào mắt hắn ta, nói: “Có phải là tin từ Túc Châu truyền về không? Bắc Địch tuy chết một Thái tử, nhưng vẫn còn một Nhị Hoàng tử đầy tham vọng, sao Tiết thế thúc lại về vào lúc này?”

Tiết gia đời đời canh giữ Túc Châu, đối với Tiết Tấn mà nói, trừ phi Túc Châu yên ổn, nếu không chắc chắn sẽ không rời khỏi Túc Châu.

Những gì Vệ Xuân nghĩ cũng là điều mà nhiều đại thần trong triều nghĩ. Bắc Địch là dân du mục, người nơi đó ai cũng hung hãn, còn khó đối phó hơn Nam Thiệu.

Hoàng Đế Bắc Địch đã cao tuổi, dưới gối có hơn mười Hoàng tử, nhưng Hoàng tử trưởng thành thực sự có khả năng kế vị ngôi vua chỉ có Thái tử và Nhị Hoàng tử.

Ban đầu Hoàng Đế Bắc Địch coi trọng Thái tử, đặc biệt bỏ số tiền lớn mời danh nho của Đại Chu dạy dỗ tỉ mỉ cho Thái tử, nghĩ rằng biết người biết ta, trăm trận trăm thắng.

Tuy nhiên, cùng với sự trưởng thành của Nhị Hoàng tử, trái tim ông ta dần dần nghiêng về phía Nhị Hoàng tử.

Nhị Hoàng tử so với Thái tử, có thêm một phần bản tính loài lang sói, về tài năng bày binh bố trận cũng cao hơn Thái tử, được nhiều tướng lĩnh Bắc Địch tôn sùng.

Mẫu tộc sau lưng của Nhị Hoàng tử cũng là bộ lạc giàu có đông đúc nhất Bắc Địch, vì vậy, tiếng nói ủng hộ Nhị Hoàng tử trong triều đình Bắc Địch cũng ngày một cao hơn.

“Dù phụ thân đã phế đi Thái tử Bắc Địch, nhưng không lấy mạng hắn ta. Lần này Thái tử Bắc Địch xuất chinh hoàn toàn là do trúng kế của Nhị Hoàng tử, có lẽ Nhị Hoàng tử đã phát hiện kế hoạch của hắn ta và Lăng Duệ đã bị lộ, nên đơn giản tương kế tựu kế, âm mưu hãm hại Thái tử một phen, thiết kế cho người ca ca ruột này lên chiến trường lập công.”

“Nếu phụ thân thật sự giết Thái tử này, thì đúng là giúp Nhị Hoàng tử một việc lớn. Phụ thân không thể giúp việc này, chỉ sai người bí mật đầu độc hắn ta. Hiện tại Thái tử kia trúng độc mà không biết, thứ độc đó im hơi lặng tiếng, ít nhất phải tiềm ẩn một năm mới phát tác. Đưa hắn ta về Bắc Địch an toàn, nàng nói xem hắn ta có tính sổ cũ với người đệ đệ tốt của mình không?”

Nhị Hoàng tử Bắc Địch tính tình độc ác, nhưng Thái tử này cũng không phải người hiền lành, tính tình âm hiểm xảo quyệt. Bảy năm trước Tiết Tấn từng bị hắn ta ám hại, trúng độc.

Bây giờ cũng coi như là ăn miếng trả miếng.

“Vậy, Thái tử Bắc Địch bị chém chết trên chiến trường cũng là tin giả do chính hắn ta tung ra?” Vệ Xuân hỏi.

”Ừm.” Tiết Vô Vấn cười khẽ một tiếng: “Trong chiến báo phụ thân gửi về đâu có nói g**t ch*t vị Thái tử kia, chẳng qua là Thái tử Bắc Địch lên đài diễn kịch cho Nhị Hoàng tử xem mà thôi. Ta đoán, qua một tháng nữa, ít nhất Nhị Hoàng tử Bắc Địch sẽ mất một viên Đại tướng, chịu trách nhiệm cho thất bại trên chiến trường lần này.”

Chỉ cần là việc người làm, nhất định sẽ để lại dấu vết.

Thái tử Bắc Địch dù thế nào cũng sẽ quy thất bại này cho đấu đá phe phái. Dân chúng Bắc Địch vốn sùng bái kẻ mạnh, một lần thất bại đã đủ khiến hắn ta mất đi không ít lòng dân.

Chỉ cần tìm được bằng chứng Nhị Hoàng tử hãm hại hắn ta, ít nhất có thể xoa dịu lòng dân, lấy lại lòng dân đã mất.

Thấy cô nương trong lòng nhíu mày, Tiết Vô Vấn thở dài một tiếng, nói: “Thôi, không nói những chuyện này với nàng nữa. Vốn nghĩ nói những điều này nàng sẽ vui vẻ hơn, nhưng xem nàng nhíu mày thành cái gì rồi?”

Nói xong bèn chuyển hướng câu chuyện: “Hôm nay nàng và A Oánh lại chép kinh sách cùng bà nội à? Có mệt không?”

Vệ Xuân không trả lời hắn ta, chỉ bình tĩnh nói: “E rằng một tháng nữa Tiết thế thúc sẽ về đến Thịnh Kinh.”

“Sao thế? Sợ ta chết sao?” Tiết Vô Vấn buồn cười vuốt thẳng nếp nhăn giữa lông mày nàng ấy, nói: “Sợ gì? Không thì làm một đôi quỷ phu thê đi.”

“Tiết Vô Vấn!” Vệ Xuân không nhịn được nâng cao giọng, nhíu mày càng sâu hơn.

Tiết Vô Vấn thấy nàng ấy lại sắp giận, không còn trêu chọc nữa, bàn tay lớn nắm lấy eo thon của nàng ấy, khẽ kéo một cái, kéo nàng ấy vào lòng, thấp giọng nói: “Đợi phụ thân về, một trận roi là không tránh khỏi. Nhưng nàng cũng đừng lo lắng, có bà nội ở đó, dù sao cũng không đến mức thương gân động cốt.”

Gia huấn của phủ Định Quốc Công là trung thành với Đại Chu, trung thành với quân vương, bảo vệ tốt Túc Châu, vĩnh viễn không dính vào đấu đá phe phái.

Những việc Tiết Vô Vấn làm ở Thịnh Kinh trong một năm nay, hoàn toàn vi phạm gia huấn. Sợ rằng đánh mười trận roi, cũng không thể dập tắt được cơn giận của Định Quốc Công.

Vệ Xuân lại nhớ đến những vết sẹo chằng chịt trên lưng hắn ta, tay vô thức v**t v* lưng hắn ta.

Tư thế này khiến nàng ấy càng gần hắn ta hơn, một làn hương nhạt quấn quýt nơi đầu mũi. Hắn ta vốn không thích dùng hương, nhưng vì ngày đêm ở bên cạnh nàng ấy, nên cũng dính mùi hương trên người nàng ấy.

Chưa từng có một lúc nào giống như lúc này, khiến nàng ấy biết rằng, nam nhân này thuộc về nàng ấy.

Vệ Xuân tựa cằm lên bờ vai cứng rắn của Tiết Vô Vấn, dịu dàng nói: “Nếu Tiết thế thúc muốn phạt chàng, chàng không được giấu ta. Không được giống như bảy năm trước, ta là người của chàng, chàng cũng là người của ta. Tất cả những vết thương chàng chịu, ta đều phải biết.”

Tiết Vô Vấn trước tiên là sửng sốt, rồi mỉm cười.

Trong ánh mắt tràn đầy dịu dàng quyến luyến.

“Được.” Hắn ta ôm chặt cô nương trong lòng, thấp giọng nói: “Người của nàng đồng ý với nàng.”

***

Ánh trăng lạnh lẽo sáng ngời, tuyết bay như bông, rơi đầy khắp mặt đất.

Một cỗ xe ngựa chậm rãi di chuyển trên tuyết, để lại hai vết bánh xe sâu.

Xe ngựa dừng lại ở cuối phố Tú Phường, Tề Xương Lâm xuống xe, đi thẳng vào cửa hông tiệm mì.

Đêm nay tuyết lớn, Chu Dục Thành nổi hứng, bảo lão Khổng đặt một bếp lửa dưới cây, cùng ông ta ăn lẩu.

Lão Khổng có tay nghề nấu nướng tốt, từng miếng thịt đều được thái rất mỏng, trong nồi đồng có nước dùng màu trắng sữa đang sôi sùng sục, chỉ cần nhúng nhẹ vào là chín. Thừa dịp nóng ăn vào miệng, thịt tươi ngon, béo mà không ngấy, lục phủ ngũ tạng như được một dòng suối ấm áp nhẹ nhàng xoa dịu.

Tề Xương Lâm thấy Chu Dục Thành ăn ngon lành, cũng không vội nói chuyện, nhận lấy đũa tre từ lão Khổng đưa tới, gắp một miếng thịt dê đưa vào miệng, vừa ăn vừa nói: “Khổng thúc, nước dùng ngon thế này mà không có mì thì phí quá.”

Ngụ ý là muốn ăn mì.

Lão Khổng nghe vậy bèn đứng dậy, cũng không chê ông ta mặt dày, chỉ liếc nhìn rồi vào bếp sau làm mì.

Chu Dục Thành liếc nhìn Tề Xương Lâm, cười nói: “Lăng Thủ phụ thậm chí còn không mời huynh và Hồ Đề ăn tối sao?”

Quả thật Tề Xương Lâm vừa trở về từ biệt viện của Lăng Duệ.

Thành Thái Đế ra lệnh cho Tam pháp ty cùng xét xử vụ án Lăng Nhược Phàm và Tần Vưu thông đồng với địch. Thông đồng với địch b*n n**c là tội lớn, một khi tội danh được xác định, toàn bộ Lăng gia sẽ gặp họa.

Lăng Duệ muốn tránh xa vụ án này, tất nhiên không thể để tội danh của Lăng Nhược Phàm được chứng thực.

Hơn nữa, Lăng Nhược Phàm b*n n**c, trong cả triều đình, có ai tin được Lăng Duệ không biết? Huống chi là Thành Thái Đế vốn đã có ý đàn áp Lăng Duệ.

Hiện tại biện pháp khả thi duy nhất là để Tần Vưu làm con tốt thí tội, một mình gánh hết tội danh.

Nhưng Tần Vưu là người xảo quyệt, phía sau còn có họ Vương chống lưng. Nhờ có Vương Quý phi và Đại Hoàng tử nên hiện tại ở Đại Chu họ Vương ngày càng thịnh vượng, được coi là đệ nhất thế gia của Đại Chu.

Một khi Tần Vưu bị kết tội, e rằng cả họ Vương ở Doanh Châu và vị Quý phi trong cung cũng sẽ bị liên lụy.

Lăng Duệ gọi Tề Xương Lâm đến biệt viện là vì chuyện này.

Tề Xương Lâm là Hình bộ Thượng thư, chỉ cần động tay chân với chứng cứ là có thể giúp Lăng Nhược Phàm thoát tội.

“Hôm nay Lăng Duệ còn chưa ăn nổi một hạt gạo. Dù sao Lăng Nhược Phàm cũng là đứa con mà ông ta thực sự yêu thương, giờ thi thể nằm ở Đại lý tự, ngay cả vào nhìn một cái cũng không được, còn tâm trí đâu mà ăn uống?”

Lăng Duệ không ăn, ông ta và Hồ Đề dù đói cũng phải nhịn.

Chu Dục Thành hôm nay cũng nghe người ta nói, chính thê của Lăng Duệ là Mộ thị đích thân mang quan tài đến Đại lý tự cầu xin Tông Già, muốn lo liệu hậu sự cho Lăng Nhược Phàm, nhưng bị Tông Già từ chối không cho vào.

Tội danh chưa được xác định, ngay cả tư cách được an táng, Lăng Nhược Phàm cũng không có.

Chu Dục Thành lắc đầu thở dài, nói: “Tự gây nghiệt, không thể sống. Một khi con người đi sai đường, những người bị liên lụy luôn là thê nhi. Lăng Duệ và Lăng Nhược Phàm có tội, nhưng Mộ thị và Lăng Nhược Mẫn lại là người vô tội.”

Lời này của ông ấy cũng là đang cảnh báo Tề Xương Lâm.

Tề Xương Lâm cười một tiếng, cầm bình rượu đã hâm nóng, rót một ly, bình thản ung dung nói: “Người ta vẫn nói vinh cùng vinh, nhục cùng nhục. Mộ thị và Lăng Nhược Mẫn đã hưởng vinh hoa phú quý bao nhiêu năm, tất nhiên cũng phải gánh chịu rủi ro mà vinh hoa phú quý mang lại.”

Giống như ông ta, đường đường là Hình bộ Thượng thư chính Nhị phẩm, nhưng dù là thê tử hay nhi tử đều chưa từng được hưởng nửa phần lợi lộc từ chức quan cao của ông ta.

Cũng vì thế, dù ông ta phạm tội gì, sống chết thế nào, cũng không liên lụy đến họ.

Tề Xương Lâm vừa nói xong, lão Khổng đã bưng một mớ mì tươi vừa làm xong đi tới, thả vào nồi đồng. Nước dùng màu trắng đục sôi “ùng ục ùng ục” nổi bong bóng lớn, khói trắng bay lên trong gió tuyết.

Tề Xương Lâm đợi một lát, đến khi mì chín, bèn gắp cho Chu Dục Thành một đũa mì, chậm rãi nói: “Lăng Duệ muốn ta nghĩ cách rửa sạch tội danh cho Lăng Nhược Phàm, để Tần Vưu gánh tội.”

Chu Dục Thành nhướn mày, nhìn Tề Xương Lâm nói: “Huynh định làm thế nào?”

Tề Xương Lâm cười cười: “Còn làm sao nữa? Dĩ nhiên là thay ông ta đi cảnh cáo Tần Vưu một phen, tiện thể hé lộ vài câu, để Tần Vưu biết kế hoạch của Lăng Duệ. Tần Vưu là kẻ trời sinh có tính phản bội, Lăng Duệ không cứu ông ta, tất nhiên ông ta phải tự cứu mình.”

Chu Dục Thành nói: “Tần Vưu là kẻ cực kỳ xảo quyệt, ông ta sẽ tự cứu mình thế nào?”

“Dĩ nhiên là dùng tất cả những gì có trong tay để đổi lấy Vương Quý phi tính kế giúp.” Tề Xương Lâm nói: “Trước đây tên này cũng là dựa vào họ Vương mới có thể thăng tiến, nhưng từ khi được phong Trấn Quốc Tướng quân, việc gì cũng chỉ nghe lệnh Lăng Duệ, người Vương gia đã không sai khiến được ông ta nữa. Giờ Lăng Duệ muốn ông ta chết, ngoài Vương Quý phi ra, ông ta còn có thể cầu ai?”

Tuy Vương Quý phi xuất thân từ họ Vương ở Doanh Châu, nhưng bà ta và họ Vương chưa bao giờ đồng lòng.

Tề Xương Lâm nói đến đây, không nhịn được dừng đũa lại, nhìn Chu Dục Thành nói: “Ta nghe nói Vương Quý phi từng có ý định mời huynh dạy dỗ Đại Hoàng tử, làm thầy của Đại Hoàng tử?”

Chu Dục Thành liếc nhìn ông ấy một cái, rồi cười cười, lắc đầu nói: “Chỉ là lời đồn thôi, vô căn cứ.”

Tề Xương Lâm cũng cười, cúi đầu vớt thịt trong nồi đồng. Rốt cuộc có phải là vô căn cứ hay không, trong lòng hai người tự khắc hiểu rõ.

Vương Quý phi này, Lăng Duệ muốn khống chế bà ta, họ Vương muốn lợi dụng bà ta.

Rõ ràng là phi tần duy nhất trong hậu cung được sủng ái không suy giảm, lại là mẫu thân của Đại Hoàng tử, địa vị vô cùng tôn quý.

Nhưng có lẽ vì trước đây địa vị trong họ Vương quá thấp kém, dù là họ Vương hay Lăng Duệ đều không thực sự coi trọng bà ta, chỉ xem bà ta như một quân cờ hữu dụng.

Ai ngờ được một nữ tử yếu đuối như vậy, trong lòng có không ít toan tính hơn những nam nhân này.

Vương Loan, e rằng sẽ nhân cơ hội này, đồng thời giải quyết cả Lăng Duệ và họ Vương.

Như vậy sau khi Đại Hoàng tử lên ngôi, mới không bị họ Vương và Lăng Duệ chèn ép. Cũng không giống như bà ta, bị người ta ép buộc làm một quân cờ.

Còn Chu Dục Thành xuất thân bình dân, không vợ không con không tông tộc, lại có tài hoa và năng lực, hơn nữa còn có tấm lòng hướng về bách tính. Những người theo sau Chu Dục Thành đều là những sĩ tử bình dân có hoài bão trong lòng, có ông ấy trợ tá Đại Hoàng tử, đủ để khiến kẻ dưới phục tùng.

Văn có một phái của Chu Dục Thành, võ có tộc Định Quốc Công. Quân thần đồng lòng, chính trị trong sạch, đây là tương lai mà Vương Loan đã vạch ra cho Đại Hoàng tử.

“Do Phủ này, huynh còn nhớ hoài bão chúng ta đã nói khi say rượu ngày xưa không?” Tề Xương Lâm cười hỏi.

Chu Dục Thành hơi giật mình.

Sau yến tiệc Ân vinh năm Thừa Bình thứ mười sáu, hai người họ từng uống say mèm trong căn nhà đơn sơ của Tề Xương Lâm.

Lúc đó Tề Xương Lâm cười nói, ông ta muốn dẫn A Tú vinh quang trở về hẻm Ngân Nguyệt, làm một đại thần đứng đầu tạo phúc cho con cháu đời sau.

Ông ấy nghe vậy thì cười lớn, nói đèn sách mười năm, một sớm làm quan, tất nhiên không thể chỉ tạo phúc cho con cháu đời sau, còn phải tạo phúc cho bách tính, phải để người già trẻ nhỏ nữ nhân trong thiên hạ này đều có chỗ nương tựa.

Còn phải thiên hạ sóng yên biển lặng, vạn bang triều cống.

Một tràng những lời say như vậy, chính là hoài bão thời niên thiếu của họ.

Ánh mắt Chu Dục Thành nhìn Tề Xương Lâm dần mang ý tứ sâu xa, từ khi ông ấy và Tề Xương Lâm chia rẽ, mỗi người một phương, hiếm khi nhắc đến chuyện xưa.

Dù là hiện tại hai người hợp lực đánh bại Lăng Duệ, cũng luôn đề phòng lẫn nhau. Với tính cách của Tề Xương Lâm, ông ta sẽ không và không nên nhắc đến quá khứ, nhắc đến hoài bão vào lúc này.

Tề Xương Lâm nhìn thẳng vào Chu Dục Thành, cười nói: “Huynh vừa cảm thán thê nhi của Lăng Duệ thật là vô tội, nếu có ngày Do Phủ có thể thực hiện hoài bão, nhất định sẽ để người đời này không còn bị người khác coi thường, mất đi tương lai vì tội lỗi của đời trước. Xương Lâm xin tạ ơn!”

Nói xong, uống cạn chén rượu.

Ánh mắt Chu Dục Thành chợt khựng lại.

Trong tích tắc đã hiểu ra, Tề Xương Lâm đang tuyên bố đầu quân cho ông ấy, đồng thời cũng là đang mưu cầu một tương lai cho Tề Hoằng.

Một tương lai không bị người đời khinh miệt vì là nhi tử của tội thần Tề Xương Lâm.

Đêm càng về khuya, lửa tắt canh nguội.

Chu Dục Thành vừa về phủ, đã nghe lão quản gia tiến lên bẩm báo: “Đại nhân, nội gián trong cung đến chuyển tin, nói rằng Tăng Củng, vị Đại học sĩ điện Trung Cực dạy Đại Hoàng tử, tháng sau sẽ từ quan. Quý phi nương nương lại đề xuất với Hoàng thượng, muốn đại nhân thay thế Tăng đại nhân làm thầy của Đại Hoàng tử.”

Chu Dục Thành nhẹ nhàng “Ừm” một tiếng, nói: “Ta biết rồi, đêm đã khuya, quản gia đi nghỉ đi.”

Nói xong, ông ấy phủi bớt tuyết bám trên tay áo, cầm đèn lồng giấy, thong thả bước lên hành lang.

Đến cửa thư phòng, ông ấy ngoái nhìn bầu trời tối sẫm, chợt nhớ đến lời Hoắc Giác nói với mình.

“Thứ phụ đại nhân có nghĩ xem, rốt cuộc vị Hoàng Đế như thế nào mới là vị Hoàng Đế mà bách tính mong muốn? Theo Giác thấy, chỉ có người được lòng dân và thuận theo ý trời mới có thể trở thành người đứng đầu bách tính.”

“Đại Chu trong vòng bảy năm ngắn ngủi, sẽ phải gánh chịu hai lần biến động. Bên ngoài có Nam Thiệu, Bắc Địch rình rập, bên trong có các phe phái chỉ biết tự lo cho mình. Một khi diệt trừ được phe của Lăng Duệ, sự thật về vụ Thái tử mưu phản sẽ sáng tỏ khắp thiên hạ, triều đình và dân gian ắt sẽ nổi loạn. Lúc đó, chúng ta rốt cuộc cần một vị Hoàng Đế như thế nào, vừa có thể chấn nhiếp ngoại địch, vừa có thể điều khiển bách quan, ổn định lòng dân giữa cơn nguy loạn?”

Được lòng dân, thuận theo ý trời.

Vừa có thể chấn nhiếp ngoại địch, vừa có thể điều khiển bách quan.

Người như vậy, vẫn luôn tồn tại.

Chỉ là người đó một lòng chỉ muốn giữ Túc Châu.

Chu Dục Thành lẩm bẩm: “Đại Hoàng tử, rốt cuộc là quá yếu đuối.”

Chu Dục Thành đã từng gặp Đại Hoàng tử, cũng từng dạy cho cậu vài lần khi Tăng Đại học sĩ xin nghỉ.

Đứa trẻ đó thông minh, chăm chỉ học hành, nhưng tính cách lại quá mềm yếu. Người bên cạnh phạm lỗi, cũng không dám quở trách. Cân nhắc trước sau, sợ người ta sẽ bàn tán sau lưng rằng cậu không đủ khoan dung độ lượng, không có tướng của minh quân.

Là Hoàng tử duy nhất trong cung, sao lại nuôi dạy nên một tính cách thận trọng và hay do dự như vậy.

Tính cách như thế, vào thời thái bình thịnh trị, tất nhiên sẽ là một vị Hoàng Đế có thể giữ vững thành tựu, cũng không có gì không tốt.

Nhưng Đại Chu hiện tại đang trong thời điểm sắp có biến, cần một vị Hoàng Đế mạnh mẽ hơn, có thể ổn định lòng dân hơn.

Chu Dục Thành khẽ thở dài, tiểu tử Vệ gia kia quả thực quá giỏi ăn nói. Hoặc có thể nói, quá biết cách đo lường lòng người.

Trong lòng ông ấy, từ khi nảy sinh ý nghĩ đó, chưa từng buông bỏ.

***

“Húc nhi phải tàn nhẫn hơn, người dưới phạm lỗi, đáng phạt thì phải phạt. Con là người kế vị, quá mềm lòng nhân từ, e rằng sẽ bị người khác lợi dụng, cũng khó mà chấn nhiếp được người khác.”

Ba canh giờ trước, Vương Quý phi nói với Đại Hoàng tử Chu Hoài Húc như vậy trong điện Thừa Loan.

Chu Hoài Húc cẩn thận gật đầu, nói: “Mẫu phi dạy bảo rất đúng, sau này nhi thần nhất định sẽ không che giấu cho họ nữa.”

Vương Quý phi nhìn gương mặt ngoan ngoãn của nhi tử, thầm thở dài trong lòng.

Thực ra cũng không phải chuyện lớn gì, chỉ là người dưới lười biếng, làm mất một quyển tập chữ của cậu.

Nhưng mọi việc thấy mầm biết cây, thấy đầu biết cuối.

Húc nhi từ nhỏ đã quá mềm lòng, rốt cuộc vẫn không phải là điều tốt.

Một vị Hoàng Đế có thể nhân từ, nhưng không thể mềm lòng, càng không thể vì người khác xin vài câu mà quên cả việc khiển trách.

Vương Quý phi nhẹ nhàng nắm tay Chu Hoài Húc, hạ thấp giọng nói: “Húc nhi, con là Hoàng tử duy nhất trong cung, hiện giờ thân thể Phụ hoàng con một ngày một yếu đi, sớm muộn con sẽ kế thừa giang sơn của Phụ hoàng. Làm quân vương, có thể từ bi với thiên hạ bách tính, nhưng tuyệt đối không thể mềm lòng với người bên cạnh, nên cắt đứt thì phải cắt đứt, tránh để hậu hoạn vô cùng!”

Chu Hoài Húc nhìn đôi mắt có phần sắc bén của Vương Quý phi, lặng lẽ gật đầu.

“Thôi, hôm nay mẫu phi không nói nhiều nữa. Để ma ma đưa con về điện Càn Đông, ngày mai trời chưa sáng đã phải dậy sớm đi học. Hai thái giám đó cứ để lại đây, mẫu phi tự có sắp xếp.”

Chu Hoài Húc hiểu rằng hai tiểu thái giám từ nhỏ ở bên cạnh mình, chắc là không giữ được mạng nữa. Môi cậu mấp máy, nhưng cuối cùng vẫn không cầu xin.

Ra khỏi điện Thừa Loan, Nguyễn ma ma che ô, dịu dàng nói với Chu Hoài Húc: “Hôm nay tuyết lớn, đất trơn, Điện hạ cẩn thận dưới chân.”

Chu Hoài Húc không để tâm trí ở đó, ậm ừ một tiếng, nhớ lại lời Vương Quý phi vừa dặn, không nhịn được nói: “Ma ma, ta không muốn làm Hoàng Đế, một chút cũng không muốn làm. Làm Hoàng Đế, có gì tốt?”

Nhất là, làm Hoàng Đế như Phụ hoàng.

Lời Chu Hoài Húc nói rất nhẹ, giọng nói cũng rất nhỏ khẽ, chỉ có Nguyễn ma ma đứng gần nhất mới nghe thấy.

Nhưng dù vậy, Nguyễn ma ma vẫn bị lời này làm cho giật mình.

Vội vàng nhìn quanh một lượt, hạ thấp giọng nói với Chu Hoài Húc: “Điện hạ đừng nói linh tinh! Nếu lời vừa rồi bị người khác nghe thấy, e rằng tất cả người hầu hạ bên cạnh ngài đều không thấy được mặt trời ngày mai! Quý phi nương nương đặt nhiều kỳ vọng vào ngài, ngài không thể để nương nương thất vọng! Ngài là Hoàng tử duy nhất trong cung này, chỉ có ngài, sau này mới có thể làm chủ nhân cung này!”

Chu Hoài Húc nghe xong lời này, đôi vai gầy lập tức sụp xuống. Nghĩ đến sự quan tâm tỉ mỉ và kỳ vọng tha thiết của Vương Quý phi, chỉ đành quật cường mím môi, không nói gì nữa.

Nguyễn ma ma nhìn mà lòng đau xót.

Đại Hoàng tử là do bà ấy nuôi lớn, bà ấy hiểu rõ nhất tính cách của cậu. Đứa trẻ này quá mềm lòng, cũng không có tham vọng gì. Sở dĩ học hành chăm chỉ như vậy, chẳng qua là vì Quý phi nương nương mà thôi.

Nhưng nếu cậu thật sự muốn tốt cho Quý phi nương nương, thì bằng mọi giá phải ngồi lên vị trí đó. Nếu không, những khổ cực Quý phi nương nương chịu đựng những năm này, chẳng phải là uổng công sao?

Cuộc đối thoại bên ngoài điện này, tất nhiên Vương Loan không biết.

Sau khi Chu Hoài Húc rời đi, bà ta cầm một chiếc quạt thêu hoa mẫu đơn bằng tơ vàng lên, nghiêng người trên ghế quý phi, nhắm mắt suy nghĩ.

Mã ma ma thấy bà ta có vẻ trầm trọng, vội tiến lên xoa xoa thái dương cho bà ta, dịu dàng nói: “Chuyện triều đình, nương nương đừng quá lo lắng. Dù sao cũng chỉ là chuyện của Lăng Thủ phụ và Vương gia, có can hệ gì đến nương nương đâu? Gần đây Hoàng thượng… tính khí ngày càng nóng nảy, vào lúc này, tốt nhất là nương nương đừng quan tâm đến chuyện gì cả.”

Vương Loan ngước mắt lên, quay đầu nhìn Mã ma ma đang đầy vẻ lo lắng, cười nói: “Bổn cung muốn không quan tâm cũng không được. Ma ma tin không, sáng mai, Dư Vạn Chuyết chắc chắn sẽ lén lút chuyển tin đến điện Thừa Loan. Gã ngụy quân tử Lăng Duệ đó sao có thể nghĩ cho Bổn cung? Còn có phía Doanh Châu và Tần Vưu, chắc chắn cũng cần Bổn cung nghĩ cách. Những người này, đúng là như xương mắc trong cổ, làm sao tránh cũng không tránh được! Nhưng ma ma yên tâm, Bổn cung không hề lo lắng chút nào, không chỉ không lo lắng, thực ra trong lòng còn vui sướng vô cùng!”

Mã ma ma ngừng động tác trên tay, tưởng Vương Loan đang nói lẫy: “Nương nương…”

Vương Loan nói: “Ma ma có biết Lăng Duệ coi trọng Lăng Nhược Phàm như thế nào không? Cái chết của Lăng Nhược Phàm đối với hắn ta mà nói, không khác gì một đòn đánh thật mạnh. Khi xưa hắn ta phái người đến Thanh Châu cứu vị Đại nương tử trời sinh có mệnh phượng hoàng Vệ gia, có chủ ý gì, làm sao Bổn cung không biết?”

Vương Loan nói đến đây, gương mặt trang điểm tinh tế lộ ra một nét mỉa mai: “Hắn ta vừa mới thề thốt với Bổn cung rằng, sau này nhất định sẽ dùng hết toàn lực trợ tá Húc nhi, sau đó đã phái người đến Thanh Châu. Nhưng hắn ta chắc chắn không biết, Bổn cung cũng phái người theo dõi ám vệ Lăng gia, ngăn cản họ cứu Vệ Xuân.”

Nam nhân à, luôn luôn như vậy, một mặt coi thường nữ tử, chê nữ nhân tóc dài trí ngắn. Một mặt lại hèn hạ lợi dụng nữ tử, để mưu cầu quyền thế cho mình.

Thật sự là không biết xấu hổ đến cực điểm.

Nhưng nếu những nam nhân không tự đại như vậy, làm sao bà ta có cơ hội như hiện tại chứ?

“Ma ma.” Vương Loan đặt quạt xuống, mỉm cười nhìn Mã ma ma, ý vị thâm sâu nói: “Hiện tại đúng là cơ hội ngàn năm có một, một cơ hội hoàn toàn để thoát khỏi Lăng Duệ và Vương gia!”

***

Vương Loan đoán không sai, sáng sớm hôm sau, tiểu thái giám bên cạnh Dư Vạn Chuyết nhân cơ hội đưa than, lén lút chuyển tin đến Mã ma ma, hỏi: Trời lạnh rồi, Quý phi nương nương có muốn gửi ít bạc mua than đến am Tịnh Nguyệt không?

Vương Loan vừa nghe đã biết là Lăng Duệ muốn bà ta đến am Tịnh Nguyệt, bà ta cười cười, bảo người thưởng cho tiểu thái giám đó một túi bạc vụn.

Tiểu thái giám ôm túi thưởng nặng trịch, vui vẻ ra khỏi điện Thừa Loan, đi qua Ngự Hoa viên, khẽ gật đầu với Dư Vạn Chuyết đang đứng bên thủy tạ.

Dư Vạn Chuyết đã đợi nửa canh giờ mới thấy vẻ mặt dịu đi, vội vã đi về phía cửa cung.

Hôm qua ông ta đứng trong điện Kim Loan, sợ đến mức chân sắp mềm nhũn. Đêm qua càng không ngủ được, ông ta có quan hệ mật thiết với Lăng Duệ, nếu Lăng Duệ gặp chuyện, chắc chắn ông ta cũng không có kết cục tốt.

Hoàng thượng vốn đã chán ghét ông ta, nếu Lăng Duệ không còn, e rằng cái đầu của ông ta cũng không giữ được bao lâu nữa.

Dư Vạn Chuyết bước đi vội vã, hoàn toàn không để ý đến bên cạnh đang có một chiếc kiệu đi tới, Trưởng Công chúa ngồi trong kiệu, lặng lẽ nhìn bóng lưng Dư Vạn Chuyết, nói với Triệu Bảo Anh: “Cứ đi tiếp, hôm nay Hoàng huynh không lên triều, chắc là có thời gian gặp Bổn cung.”

Triệu Bảo Anh vội cung kính cười nói: “Hoàng thượng và Công chúa tình nghĩa huynh muội đậm sâu, biết Công chúa đến, tất nhiên sẽ vui mừng khôn xiết.”

Nói xong bèn giơ tay lên, ra hiệu cho thái giám phía trước nâng kiệu.

Kiệu vừa động, Triệu Bảo Anh không để lộ dấu vết liếc nhìn về phía cửa cung, rồi từ từ cong môi cười.

Hôm nay cung điện thật là náo nhiệt!
 
Tiểu Thanh Mai Của Thủ Phụ Đại Nhân
Chương 109: “Ta đưa dao cho chàng.”


Hoàng cung, tại điện Dưỡng Tâm.

Chu Nguyên Canh dùng sức lật những tấu chương trong tay, đôi mắt ông ta đã không còn nhìn rõ chữ viết trên đó nữa. Nhưng dù vậy, ông ta vẫn biết trên đó viết những gì.

Kể từ sau khi tan triều ngày hôm qua, những tấu chương công kích Lăng Duệ cứ như tuyết rơi, lần lượt được đưa vào cung, chất đầy cả bàn.

Lửa giận trong lòng Thành Thái Đế càng bốc cháy dữ dội.

Làm sao Lăng Nhược Phàm dám? Làm sao Tần Vưu dám?

Còn có Định Viễn Hầu, tên phế vật què chân kia, ở triều đình ăn không ngồi rồi, ông ta cũng không tước bỏ tước vị của tên đó, vậy mà tên đó lại dám cấu kết với Bắc Địch ám hại Định Quốc Công, muốn làm rối loạn giang sơn Đại Chu!

Đây là giang sơn của Chu Nguyên Canh ông ta, làm sao bọn chúng dám?

Thành Thái Đế th* d*c nặng nề, cho đến khi nghe thái giám bên ngoài điện thông báo Trưởng Công chúa đến, sắc mặt mới dịu đi.

Huệ Dương Trưởng Công chúa vừa vào điện, đã thấy trên án rồng chất đầy những tấu chương dày đặc, có những tấu chương bị ném rơi xuống chén trà, chữ viết trên đó đã bị nước trà làm nhòe thành một mảng mực đen.

Có thể thấy tâm trạng Thành Thái Đế lúc này chắc chắn không tốt.

Huệ Dương Trưởng Công chúa khẽ cụp mắt, hành lễ với Thành Thái Đế, nói: “Huệ Dương tham kiến Hoàng huynh.”

Thành Thái Đế nén giận trong lòng, dịu giọng nói: “Đứng dậy đi! Muội với Trẫm còn làm lễ gì nữa?”

“Lễ không thể bỏ.” Huệ Dương Trưởng Công chúa bình thản nói, khóe môi nở một nụ cười: “Hôm qua Kim ma ma nói với ta Thanh Châu có nhiễu loạn, Huệ Dương cũng không biết hiện giờ tình hình Thanh Châu thế nào, đành phải vào cung hỏi thăm Hoàng huynh.”

Nàng ấy không nhắc tới chuyện này thì thôi, vừa nhắc tới, ngọn lửa giận Thành Thái Đế vừa nén xuống lại bùng lên, chửi mắng mấy người Tần Vưu.

“Toàn là bọn phế vật lòng lang dạ thú! Trẫm đối xử với chúng không tệ, thăng quan tiến tước còn chưa đủ sao? Lại dám lén lút cấu kết với Nam Thiệu, Bắc Địch mưu hại Chử Ngộ và Tiết Tấn!”

Tiết Tấn.

Vậy là Túc Châu cũng xảy ra chuyện.

Huệ Dương Trưởng Công chúa lộ ra sắc mặt nghiêm túc, Lỗ đại nhân chỉ nói với nàng ấy chuyện ở Thanh Châu, nàng ấy không ngờ cả Túc Châu cũng xảy ra chuyện.

Thanh Châu, Túc Châu.

Bảy năm trước chẳng phải cũng như vậy sao? Hai quan ải quan trọng nhất của Đại Chu đồng thời bị địch quốc đột kích, cả Đại Chu hoang mang lo sợ, chỉ mong Hoàng quyền sớm thay đổi, để dốc hết sức lực đuổi giặc ngoại xâm, khôi phục thái bình nơi biên ải.

Đối với bách tính mà nói, ai làm Hoàng Đế không quan trọng.

Quan trọng nhất là đừng để họ làm nô lệ mất nước, ngay cả quê hương cũng không giữ được.

“Huệ Dương không ngờ Túc Châu cũng xảy ra rối loạn, Định Quốc Công có được bình an không?” Huệ Dương Trưởng Công chúa khẽ nhíu mày, nói: “Định Quốc Công là chiến thần trong lòng bách tính Đại Chu, nếu ông ấy xảy ra chuyện, e rằng lòng người sẽ rối loạn.”

“Tiết Tấn không sao cả, lão tặc Tuyên Hoa bề ngoài nói là đến Túc Châu chữa chân, thực ra là đi cấu kết với người Bắc Địch, muốn ám hại Tiết Tấn. Trẫm nhận được mật hàm Tiết Tấn phái người đưa tới, ông ấy đã bắt được Tuyên Hoa, lên đường về Thịnh Kinh, không lâu nữa sẽ đến nơi.”

Thành Thái Đế day day thái dương ngày càng đau nhức, chỉ vào chiếc ghế tứ phương bên cạnh, tiếp tục nói: “Ngồi xuống đi, nói chuyện với Hoàng huynh. Trẫm nghe Triệu Bảo Anh nói, tháng trước muội đã đến Hoàng lăng một chuyến à?”

Huệ Dương Trưởng Công chúa gật đầu nói: “Phải, Huệ Dương đến Hoàng lăng ở hai ngày, nói chuyện với Phụ hoàng và mẫu phi khá nhiều.”

Thành Thái Đế nghe Huệ Dương Trưởng Công chúa nhắc đến Thừa Bình Đế, sắc mặt hơi thay đổi.

Trong Hoàng cung này, chỉ có Huệ Dương Trưởng Công chúa dám nhắc đến Thừa Bình Đế mà sắc mặt không đổi.

“Phụ hoàng là người cần mẫn yêu dân nhất, nếu Huệ Dương nói với người, Hoàng huynh trị vì Đại Chu rất tốt, chắc người cũng sẽ cảm thấy an ủi.” Huệ Dương Trưởng Công chúa nhếch khóe môi lên, lặng lẽ nhìn Thành Thái Đế, nói: “Ai ngờ Thanh Châu và Túc Châu lại đồng thời xảy ra chuyện, nếu Phụ hoàng biết được, chắc chắn sẽ nổi trận lôi đình. Hiện giờ mùa đông sắp đến, sao Thanh Châu và Túc Châu lại xảy ra nhiễu loạn vào lúc này? Sự trùng hợp như vậy, luôn khiến Huệ Dương nhớ đến mùa hè bảy năm trước.”

Sắc mặt Thành Thái Đế cứng đờ.

Huệ Dương nói không sai.

Mùa hè bảy năm trước cũng như vậy, biên ải náo động, Thừa Bình Đế băng hà, lúc này mới có cơ hội để Chu Nguyên Canh ông ta lên ngôi Hoàng Đế.

Câu nói của Huệ Dương Trưởng Công chúa vừa dứt, không khí trong điện lập tức im ắng.

Triệu Bảo Anh dẫn một tiểu thái giám vào cửa, vừa hay nghe được nửa câu sau của Trưởng Công chúa.

Dựa vào nửa câu đó, ông ấy đã đoán được sơ qua mục đích lần này Huệ Dương Trưởng Công chúa vào cung.

Ông ấy quay người tiếp nhận khay trà từ tay tiểu thái giám, cười tươi nói: “Ra ngoài đi, nơi này có ta hầu hạ.”

Triệu Bảo Anh bưng khay trà tiến lên, pha trà cho Thành Thái Đế và Huệ Dương Trưởng Công chúa, lại nhỏ nhẹ nói: “Trưởng Công chúa có muốn thêm một thìa mật không? Nô tài đặc biệt mang theo nửa chén mật hoa từ phương Nam tiến cống, nghe nói vị ngọt mà không ngấy, rất thanh nhã.”

Huệ Dương Trưởng Công chúa ngước mắt nhìn Triệu Bảo Anh, bỗng mỉm cười, nói: “Triệu công công có tâm rồi, trước kia mẫu phi uống trà thích nhất là cho mật vào trà. Lần nào Bổn cung và Hoàng huynh đến điện Xuân Hoà, cũng được uống một chén trà ngọt.”

Nói xong, lại nhẹ nhàng mở nắp chén trà.

Triệu Bảo Anh cầm một cái thìa bạc dài mảnh, tiến lên thêm một thìa mật.

Lời của Huệ Dương Trưởng Công chúa tự nhiên cũng khiến Thành Thái Đế nhớ đến Hiếu Văn Thuần Thái hậu đã khuất, cũng chính là mẫu phi của ông ta và Huệ Dương.

Trước khi mẫu phi qua đời từng nắm tay ông ta, nói với ông ta: “Mẫu phi không thể bảo vệ con nữa rồi, Nguyên Canh à, đừng làm điều ác nữa. Buông đao xuống, để mẫu phi tự hào về con một lần, được không?”

Lúc đó khuôn mặt mẫu phi gầy đến mức chỉ còn lại đôi mắt, đôi mắt to đó cứ nhìn ông ta như vậy, đáy mắt không còn vẻ nghiêm khắc như xưa, chỉ còn lại vẻ dịu dàng buồn bã.

Nghĩ đến Hiếu Văn Thuần Thái hậu, lòng Thành Thái Đế mềm nhũn, đặt chén trà vừa nhấp một ngụm xuống, ra hiệu cho Triệu Bảo Anh cũng cho thêm một thìa mật.

Sau đó lại vẫy tay về phía Triệu Bảo Anh, ra hiệu cho ông ấy lui xuống.

Sau khi Triệu Bảo Anh rời khỏi điện Dưỡng Tâm, Huệ Dương Trưởng Công chúa cầm chén trà, nói với Thành Thái Đế: “Hoàng huynh có từng nghĩ, nhi tử của Định Viễn Hầu và trưởng nữ của Hồ Thượng thư đính hôn, hai nhà qua lại thường xuyên, Hồ Thượng thư là Binh bộ Thượng thư, làm sao không biết Định Viễn Hầu đến Túc Châu làm gì? Lăng Nhược Phàm là nhi tử của Lăng Duệ, Hồ Thượng thư cũng là em rể của Lăng Duệ. Hành vi của họ, Lăng Duệ thật sự không biết sao?”

Huệ Dương Trưởng Công chúa kín đáo quan sát sắc mặt Thành Thái Đế, thấy ông ta lộ vẻ giận dữ nhưng không ngạc nhiên, thì biết trong lòng Thành Thái Đế đã sớm nghi ngờ Lăng Duệ.

Hôm qua Lăng Duệ quỳ ngoài điện Dưỡng Tâm mấy canh giờ, vừa khóc vừa quỳ, giả bộ thảm thiết kể lể về lòng trung thành của ông ta với Thành Thái Đế, nàng ấy và Lỗ Ngự sử còn lo Hoàng huynh sẽ thực sự tin ông ta.

Bây giờ xem ra, có lẽ Hoàng huynh chưa bao giờ bỏ đi cảnh giác đối với Lăng Duệ.

Nghĩ đến đây, Huệ Dương Trưởng Công chúa dùng ánh mắt nghiêm túc nhìn Thành Thái Đế, nghiêm túc nói: “Đêm rằm tháng tám, ở Càn Thanh cung, Huệ Dương đã xin Hoàng huynh hai cái đầu người. Hoàng huynh nói thời cơ chưa đến, bảo Huệ Dương kiên nhẫn chờ đợi. Nhưng hiện giờ Lăng Duệ đã muốn cướp long tọa của Hoàng huynh rồi, chẳng lẽ thời cơ vẫn chưa đến sao?”

***

Bên kia Triệu Bảo Anh vừa ra khỏi điện Dưỡng Tâm, đã thấy Cao Tiến Bảo hung thần ác sát bước nhanh lên từ bậc thềm ngọc, thấp giọng báo cáo: “Vị Tiết Thế tử của phủ Định Quốc Công hiện đang đợi Đốc công ở góc cửa Nam Trực.”

Triệu Bảo Anh nghe vậy thì mặt không một gợn sóng, gật đầu nói: “Ngươi đi theo hầu hạ Tiết Thế tử đi, nói ta còn đang trực, tạm thời không thể rời đi. Đợi có thời gian rảnh sẽ lập tức qua tìm hắn.”

Cao Tiến Bảo vội vàng dạ một tiếng, bước nhanh về phía cửa Nam Trực.

Triệu Bảo Anh khẽ nheo mắt, có chút không đoán ra được vị Thế tử Định Quốc Công này tìm ông ấy có việc gì. Tuy hai người từng cùng xuất cung làm việc mấy lần, đối xử với nhau cũng luôn tôn trọng, nhưng chưa từng có giao tình lén lút gặp riêng thế này.

Tuy Triệu Bảo Anh không đoán ra ý định của Tiết Vô Vấn, nhưng trong lòng cũng không gấp, cứ đứng thản nhiên bên ngoài điện Dưỡng Tâm như vậy. Đến khi Huệ Dương Trưởng Công chúa từ trong điện đi ra, cung kính tiễn nàng ấy ra khỏi cửa cung rồi, mới thong thả đi về phía cửa Nam Trực.

Lúc này đã qua giờ Ngọ, trên mặt đất đã tích một lớp tuyết dày, bước lên phát ra tiếng “cọt kẹt” “cọt kẹt”.

Tiết Vô Vấn khoanh tay trước ngực, ngả ngớn dựa vào một cây hạnh, nghiêng đầu nói chuyện với Cao Tiến Bảo, trên gương mặt anh tuấn lúc nào cũng mang theo ý cười phong lưu.

Hắn ta đã đợi cũng khá lâu rồi, đôi ủng màu đen đã phủ đầy tuyết từ lâu.

Nhưng trên mặt không có chút mất kiên nhẫn nào, như thể đang đi du xuân ngoại thành vậy.

Đường đường là Chỉ huy sứ Cẩm Y Vệ, đáng lẽ phải bận rộn đến nỗi chân không chấm đất mới phải, vậy mà lúc này lại lãng phí nhiều thời gian như vậy để đợi Đốc công nhà mình, Cao Tiến Bảo thật sự cảm thấy hơi áy náy.

Cố gắng vắt ra chút ý cười từ khuôn mặt vốn trông rất hung dữ đó, vắt óc tìm chuyện để trò chuyện với Tiết Vô Vấn.

Đối với Cao Tiến Bảo mà nói, việc này quả thật còn khó hơn cả việc đối phó với Dư Vạn Chuyết.

May mắn là Đốc công nhà hắn ta cuối cùng cũng xuất hiện khi hắn ta sắp không thể tiếp tục nói chuyện nữa, Cao Tiến Bảo thở phào nhẹ nhõm theo cách mắt trần có thể thấy được, dừng câu chuyện với Tiết Vô Vấn, rồi lặng lẽ đi ra phía trước trông chừng.

Triệu Bảo Anh phẩy phất trần một cái, cười híp mắt nói với Tiết Vô Vấn: “Làm phiền Tiết đại nhân đợi lâu, không biết đại nhân tìm ta có việc gì?”

Tiết Vô Vấn móc từ trong tay áo ra một hạt châu, đưa cho Triệu Bảo Anh xem, nói: “Bổn quan nhận lời ủy thác của người khác, đặc biệt thay họ đến đây để cầu xin Đốc công một việc.”

Hạt châu đó được mài từ gỗ bồ đề, Triệu Bảo Anh vừa nhìn đã nhận ra là do Như Nương tự tay làm.

Trước đây ở huyện Định Phong, Như Nương thường thích nhặt những miếng gỗ cũ không ai đoái hoài về cho ông ấy. Bảo ông ấy mài thành hạt châu cho bà ấy, làm thành vòng tay.

Ông ấy làm đồ gỗ không giỏi lắm, những viên châu gỗ mài ra tất nhiên cũng không đẹp lắm, nhưng Như Nương vẫn yêu thích không rời.

Sau này hai người xa cách một khoảng thời gian dài như vậy, ông ấy sớm đã không còn làm đồ gỗ nữa. Không ngờ Như Nương lại nhặt lấy nghề này, hễ thấy những miếng gỗ đặc biệt một chút, đều phải đem về mài thử.

Hạt châu trong tay Tiết Vô Vấn chính là được mài từ đoạn gỗ bồ đề mà Hoắc Giác đặc biệt mang về từ chùa Đại Tướng Quốc, trên người Triệu Bảo Anh cũng có một viên giống hệt.

Khi Như Nương đưa cho ông ấy, còn nghiêm túc nói, đây là gỗ bồ đề đã thấm nhuần vô số hương khói, nghe vô số kinh văn, đeo vào chắc chắn sẽ được bình an.

Có bảo vệ được bình an hay không thì Triệu Bảo Anh không biết, nhưng đã là do Như Nương làm, tất nhiên ông ấy sẽ trân trọng.

Hạt châu trong tay Tiết Vô Vấn là của ai, dĩ nhiên Triệu Bảo Anh cũng đoán được.

“Hoắc đại nhân định dùng viên ngọc này để nhờ ta làm việc?”

“Không phải, không phải.” Tiết Vô Vấn nhét viên ngọc vào lại trong tay áo, cười giễu một tiếng, nói: “Tiểu tử đó bảo chỉ cho Đốc công xem hạt châu này một cái, tránh để Đốc công nghi ngờ Bổn quan. Đợi hắn về, Bổn quan còn phải tự mình đưa hạt châu này về nguyên vẹn cho chủ cũ.”

Tiết Vô Vấn nói xong câu này, ánh mắt nhìn Triệu Bảo Anh không khỏi mang theo chút đồng tình của người đồng bệnh tương lân.

Tiểu tử đó ngay cả hạt châu cũng không nỡ cho, keo kiệt chỉ cho người ta được nhìn một cái, vậy mà lại bắt vị thái giám Chấp bút Ti Lễ Giám trước mắt này chạy việc cho hắn.

Thật là mặt dày hơn cả tuyết trên mặt đất.

Chậc, vị Triệu công công này còn thảm hơn Tiết Vô Vấn hắn ta ba phần.

Triệu Bảo Anh ngược lại không nhận ra vẻ đồng tình trong mắt Tiết Vô Vấn, nghe xong lời của hắn ta, bèn cười cười, nói: “Hoắc đại nhân muốn ta giúp ngài ấy việc gì?”

Tiết Vô Vấn nói: “Hắn nhờ Bổn quan thỉnh cầu Đốc công, giữ mạng Dư Vạn Chuyết đến sang xuân năm sau.”

Triệu Bảo Anh nhướn mày, có chút bất ngờ về việc Hoắc Giác cầu xin.

Trầm ngâm một lúc sau, ông ấy cười một tiếng, nói: “Quan hệ giữa Dư Chưởng ấn và ta, từ trước đến nay không tốt. Sao Hoắc đại nhân lại chắc chắn rằng ta sẽ giúp việc này?”

“Điều này thì ta không biết.” Tiết Vô Vấn nhún vai, nói: “Bổn quan chỉ là người đưa tin, giờ tin đã chuyển đến, cũng đến lúc phải về Cẩm Y Vệ trực ban rồi. E rằng từ hôm nay Thịnh Kinh này sẽ bắt đầu náo nhiệt, mong Đốc công bảo trọng.”

Nói xong thì nhấc chân, thong thả rời đi. Dáng vẻ đó nhìn qua, có vẻ như thật sự chỉ là người đến truyền tin. Tin đã truyền đến, hắn ta không nói thêm gì nữa mà đi luôn, cũng không hỏi Triệu Bảo Anh rốt cuộc có đồng ý hay không.

Triệu Bảo Anh nhìn bóng dáng cao gầy của Tiết Vô Vấn, khuôn mặt nhu mì lộ ra một tia trầm tư.

Có thể khiến Tiết Vô Vấn chạy việc cho mình, quan hệ giữa vị Trạng nguyên lang đó với phủ Định Quốc Công còn sâu đậm hơn cả những gì thấy được bề ngoài.

Hắn cứ thế đường đường chính chính phô bày ra mối quan hệ của mình với phủ Định Quốc Công, lại đường đường chính chính xin mình giúp việc, điệu bộ không coi mình là người ngoài.

Thật sự khiến ông ấy vừa tức vừa buồn cười.

Trong cung ngoài cung, người muốn nhờ Triệu Bảo Anh ông ấy giúp việc không biết bao nhiêu mà kể, cũng chưa từng có ai dám đến tay không. Có người tặng vàng bạc châu báu, có người biếu mỹ nhân tuấn mã, nhưng chưa từng thấy ai, chỉ cho ông ấy xem qua một hạt châu đã muốn ông ấy làm việc.

Thật là… một lời khó nói hết.

Triệu Bảo Anh lắc đầu cười.

Bên kia Cao Tiến Bảo đang đi về phía ông ấy, thấy mặt ông ấy mang ý cười, thoáng có chút khó hiểu.

Chẳng lẽ vị Thế tử đó đã nói với Đốc công tin tốt gì sao? Lại có thể khiến Đốc công cười vui vẻ như vậy.

Trong lòng Cao Tiến Bảo tò mò, mới ngốc nghếch hỏi một câu: “Có phải Tiết Thế tử đến báo tin vui với Đốc công không?”

Khóe môi Triệu Bảo Anh càng cong lên, nói: “Đâu có báo tin vui gì? Tiết Thế tử là đến đòi nợ.”

Cao Tiến Bảo không hiểu rõ lời này, nhưng thấy Triệu Bảo Anh nói câu này không có chút bực bội nào, biết ngay món nợ phải đòi này, chắc chắn là món nợ mà Đốc công tự nguyện thiếu.

***

Bên kia Tiết Vô Vấn ra khỏi cửa Nam Trực, lập tức đi thẳng lên một cỗ xe ngựa bên ngoài.

Ám Nhị đứng canh bên xe ngựa, thấy hắn ta đến, bèn lặng lẽ tiến lên, nói nhỏ: “Thế tử, sáng sớm Tề Thượng thư của Hình Bộ đã ra cửa. Trước tiên là đến ngục Đại lý tự thăm Tần Vưu, sau đó lại tự mình đến nha môn Đại lý tự, cởi mũ ô sa, nhận tội với Tông đại nhân, nói vụ án mưu phản của phủ Thái tử tiền nhiệm cùng hai nhà Hoắc Vệ bảy năm trước là án oan, và người tạo ra vụ án oan này chính là Lăng Thủ phụ. Hình như Tông đại nhân đã nhận vụ án này, hiện giờ đang trên đường vào cung.”

Tiết Vô Vấn nhíu mày suy nghĩ, ngón tay dài gõ gõ thanh Tú Xuân đao bên hông, nói: “Chu Thứ phụ ở đâu?”

“Chu Thứ phụ đã đến Đô sát viện từ sáng sớm, vừa đến được một lúc, Lỗ Ngự sử đã vội vã rời khỏi Đô sát viện, đến phủ Trưởng Công chúa. Sau đó, Trưởng Công chúa lập tức vào cung.”

Đô sát viện, phủ Trưởng Công chúa.

Đây là Chu thế thúc đến Đô sát viện nhờ Lỗ Ngự sử làm người thuyết phục, khó trách Trường công chúa lại chọn ngày hôm nay vào cung.

Tiết Vô Vấn khẽ cười một tiếng.

Thật đúng như lời tiểu tử kia nói, Tề Xương Lâm sẽ chủ động nhận tội, tiên phong vạch trần vụ án cũ bảy năm trước.

Chỉ cần ông ta nhận tội, Chu Thứ phụ, Tông Già, Lỗ Ngự sử thậm chí cả Trưởng Công chúa đều sẽ có hành động.

Và những người này sẽ làm thế nào, hắn lại tính toán đúng từng người một.

Lăng Duệ là người cẩn thận, cho dù là chuyện ở Thanh Châu hay Túc Châu, đều ẩn mình sau màn, chưa từng xuất đầu lộ diện.

Tuy nói chỉ cần là việc do người làm, nhất định sẽ để lại một chút dấu vết. Nhưng những dấu vết đó, đều đã bị hắn ta và Hoắc Giác xử lý sạch sẽ không còn một mảnh vụn.

Lần này dù là vụ án ở Thanh Châu, hay vụ án ở Túc Châu, đều không thể đốt đến người Lăng Duệ.

Mà đây chính là cục diện họ muốn.

Việc ở Thanh Châu, Túc Châu, Lăng Nhược Phàm có thể có tội, Tần Vưu có thể có tội, Định Viễn Hầu và Hồ Đề cũng có thể có tội.

Nhưng không thể dùng để định tội Lăng Duệ.

Cho dù Lăng Duệ không thể tách ra khỏi vụ án này, họ cũng sẽ giúp ông ta tách ra sạch sẽ.

Lăng Nhược Phàm là nhi tử của Lăng Duệ, Hồ Đề là em rể của Lăng Duệ, người sáng suốt đều biết Lăng Duệ không trong sạch. Nhưng chỉ cần không có bằng chứng, Lăng Duệ vẫn có thể đường hoàng kêu oan.

Không thể không nói, kẻ ngụy quân tử Lăng Duệ này đã quen việc diễn trò, tất nhiên tiếng tăm trong dân gian những năm qua cũng không tệ.

Chỉ cần ông ta kêu oan, thật sự sẽ có người tin, những người theo ông ta cũng sẽ đồng lòng giúp ông ta vận động.

Đối với một người như vậy, rõ ràng biết ông ta có tội, nhưng lại không có bằng chứng để định tội ông ta.

Cho dù là hai vị Đô Ngự sử của Đô sát viện, hay Trưởng Công chúa, thậm chí là Vương Quý phi trong cung, chắc chắn đều sẽ không cam lòng.

Đánh rắn không chết, chắc chắn hậu họa sẽ là vô cùng. Lần này Lăng Duệ không chết được, ai biết sau này ông ta có ngóc đầu trở lại không?

Có lẽ là ngay từ đầu, tiểu tử kia đã tính toán như vậy rồi.

Từng bước từng bước đi đến cục diện hiện tại này, chỉ có xét lại vụ án bảy năm trước, mới có thể hoàn toàn g**t ch*t Lăng Duệ.

Như vậy, cho dù là ai, đều sẽ không do dự nữa.

Hiện tại, vì Tề Xương Lâm đã tự đến Đại lý tự nhận tội, nên tất cả những kẻ phạm tội bảy năm trước, ngoại trừ Khang Vương hiện là Thành Thái Đế, những người còn lại chắc chắn không ai có thể thoát tội.

Bảy năm trước, họ đã có bằng chứng về việc Lăng Duệ hãm hại Tiên Thái tử, giờ lại thêm Tề Xương Lâm làm nhân chứng. Chỉ cần điều tra lại vụ án cũ, Lăng Duệ khó lòng lật ngược tình thế.

Còn về Thành Thái Đế…

Không cần vội đối phó.

Lần này điều tra lại án cũ chắc chắn sẽ không liên lụy đến Thành Thái Đế, nếu không làm sao có thể ép được Thành Thái Đế đồng ý điều tra lại vụ án mưu phản của phủ Thái tử?

Hai bức mật hàm có tên Khang Vương hiện đang trong tay Chu Dục Thành, chưa được gửi đến Đại lý tự. Hoắc Giác yên tâm để mật hàm rơi vào tay Chu Dục Thành, lại bảo Triệu Bảo Anh giữ mạng Dư Vạn Chuyết, hẳn là đã có hậu chiêu.

Nghĩ đến Dư Vạn Chuyết, Tiết Vô Vấn hơi nheo mắt, hỏi: “Hôm nay có người xuất cung từ điện Thừa Loan, có phải đến Đại lý tự không?”

Ám Nhị gật đầu đáp: “Là ma ma bên cạnh Vương Quý phi.”

Tiết Vô Vấn khẽ cười.

Được rồi, tuy tiểu tử kia không có mặt ở Thịnh Kinh, nhưng mọi người đều đang hành động theo dự liệu của hắn.

Đã như vậy, hắn ta cũng không cần phải tốn công suy nghĩ nữa, dù sao hắn ta còn có việc quan trọng hơn phải làm.

Tiết Vô Vấn gác chân lên, lười biếng tựa vào đệm mềm, thong dong nói: “Đi đến tiệm mứt ở phố Trường Thái một chuyến.”

Tiệm mứt?

Tiệm mứt có liên quan gì đến vụ án này?

Ám Nhị nhíu mày, nhìn Thế tử nhà mình, ngập ngừng nói: “Thế tử không đến Đại lý tự xem sao? Vẫn chưa biết Tần Vưu sẽ nói gì?”

“Còn có thể nói gì nữa? Tần Vưu không phải kẻ ngốc, đã biết Lăng Duệ muốn giết mình, làm sao có thể ngồi yên chờ chết? Vị Quý phi nương nương kia chắc chắn cũng sẽ ngầm ám chỉ ông ta, giữa ông ta và Lăng Duệ chỉ có thể có một người sống. Ông ta muốn sống sót, tất nhiên sẽ đổ hết tội lên đầu Lăng Duệ.”

Tiết Vô Vấn day day trán, nói: “Mau đến phố Trường Thái, trễ hơn nữa thì bánh táo chua sẽ hết mất.”

Ám Nhị vừa nghe đã đoán được bánh táo chua là để mua cho Ngụy di nương.

Sáng nay hắn ta mới nghe Đồng ma ma nói, có lẽ vì trời lạnh nên mấy ngày nay Ngụy di nương có vẻ không có khẩu vị.

Ở phủ Định Quốc Công, chuyện gì cũng không quan trọng bằng chuyện của Ngụy di nương.

Vì thế Ám Nhị cũng không trì hoãn nữa, dạ một tiếng rồi ra phía trước đánh xe.

Vừa đánh xe vừa nghĩ, may mà Ám Nhất đưa Phương thần y đến thành Khúc Lương rồi, nếu không sẽ lại thầm than Thế tử gia không làm việc đàng hoàng…

***

“Hắt xì!” Ám Nhất đang trên đường từ thành Khúc Lương về Thịnh Kinh thì hắt hơi mạnh.

Hắn ta dụi dụi mũi, nói với Tố Tùng bên cạnh: “Chắc là huynh đệ của ta nhớ ta rồi.”

Tố Tùng liếc nhìn hắn ta một cái, mặt không cảm xúc gật đầu, rồi lại mặt không cảm xúc lau lau vòng tay vừa lắp xong kim độc, mắt cảnh giác nhìn quanh.

Thấy cô nương này bày ra vẻ mặt nghiêm túc, Ám Nhất ho nhẹ một tiếng, sờ sờ mũi, ngoan ngoãn im lặng.

Hắn ta đưa Phương thần y qua đây cũng đã mấy ngày, bệnh phong hàn của Khương tiểu nương tử đã gần khỏi, lúc này mọi người đang trên đường về Thịnh Kinh.

Thời tiết ngày càng lạnh giá, tuyết trên mặt đất càng ngày càng dày, đường đi càng lúc càng khó đi.

Chuyến đi này của bọn họ còn phải áp giải người của phủ Định Viễn Hầu về Kinh, đương nhiên phải cẩn thận hơn. Hoắc công tử đã nói rồi, trên đường về Kinh này có thể sẽ có phục kích.

Ám Nhất là thủ lĩnh ám vệ của phủ Định Quốc Công, Tố Tùng là cao thủ võ lâm am hiểu các loại ám khí và phục kích ở trại Bạch Thủy nhất, hai người được Hoắc Giác phái đi thám thính cũng không phải lần đầu.

Ám Nhất phủi phủi tuyết bám trên áo, trong lòng không khỏi cảm thán đã bao nhiêu ngày không được nói chuyện tử tế, may là còn hai ngày nữa sẽ đến Thịnh Kinh, cuối cùng cũng không còn phải nhịn nói nữa.

Đang nghĩ như vậy, đã thấy Tố Tùng bên cạnh đeo vòng tay lại, tiếc lời như vàng nói: “Sạch sẽ, rút lui.”

Ám Nhất: “…”

Tuy trên đường không có phục kích, nhưng đêm đó, ở khách đ**m họ dừng chân lại xuất hiện một nhóm thích khách.

May mà Thuận Thiên phủ doãn Tông Úc đã phái không ít người đến, Ám Nhất cũng dẫn theo không ít cao thủ, đã giải quyết được bọn chúng mà không gặp nguy hiểm gì.

“Hoắc công tử, những người này rốt cuộc là ai phái đến? Lại toàn là tử sĩ, không giữ lại được cả một tên còn sống.” Ám Nhất không nhịn được nhíu mày nói.

Hoắc Giác lạnh nhạt nhìn thi thể dưới đất: “Không phải Lăng Duệ thì là Hồ Đề, không sao, mấy ngày tới, bọn họ chắc không có thời gian đến cứu người.”

Hồ Đề và Lăng Duệ muốn cứu Tuyên Nghị, đương nhiên không phải vì hôn sự của Tuyên Nghị và Hồ Ngọc Nhã, chẳng qua chỉ là để đe dọa Định Viễn Hầu sắp được đưa về Thịnh Kinh mà thôi.

Hiện tại Tề Xương Lâm đã đến Đại lý tự nhận tội, Lăng Duệ và Hồ Đề sắp không thể bảo toàn thân mình, còn đâu tâm trí mà phái người đến cướp người?



Đêm nay nhóm thích khách này gây náo động không nhỏ, Khương Lê trong phòng tuy đã có Vân Chu và Tố Tùng bảo vệ, nhưng vẫn thấp thỏm lo lắng hồi lâu, tay nắm chặt con dao găm đã mất lại kiếm về được thật chắc

Khương Lê vốn còn tưởng con dao găm này đã bị mất trong ngày dân lưu lạc nổi loạn, không ngờ Hoắc Giác lại tìm được nó về.

Tiếng binh khí va chạm trong sân dần dần yếu đi, khoảng nửa canh giờ sau, Hoắc Giác đẩy cửa bước vào.

Thấy tiểu cô nương ngồi sau cửa phòng, căng thẳng nắm chặt con dao găm, trong lòng không khỏi mềm nhũn.

Hắn gật đầu với Vân Chu và Tố Tùng, hai người rất biết điều lui xuống.

Cửa phòng vừa đóng, Hoắc Giác bước nhanh lên phía trước, ngồi xổm trước mặt Khương Lê, dịu dàng nói: “Có sợ không?”

Khương Lê đương nhiên lắc đầu, vội bỏ dao găm xuống, quan sát hắn từ đầu đến chân tỉ mỉ, hỏi: “Chàng có bị thương không?”

Hoắc Giác nhẹ nhàng nói: “Không có. Vừa rồi thích khách đến không nhiều, người chúng ta đông, không tốn nhiều công sức đã giải quyết xong. Nàng đừng lo, sẽ không có thích khách đến nữa. Còn hai ngày nữa, chúng ta sẽ đến Thịnh Kinh.”

Khương Lê khẽ “Ừ” một tiếng, cúi đầu chỉ vết máu trên tay áo và mu bàn tay hắn, nói: “Đây là lúc nãy tên áo đen muốn đánh lén chàng dính vào phải không?”

Trong phòng có một cửa sổ đối diện với sân, lúc nãy khi những tên áo đen xông vào sân, qua cửa sổ, Khương Lê vừa hay nhìn thấy một tên áo đen rút kiếm đâm về phía lưng Hoắc Giác.

Chỉ là thanh kiếm còn chưa chạm được vào áo hắn, Hoắc Giác đã xoay người khóa cổ tay tên áo đen, bàn tay vừa vặn lại, lập tức đổi hướng thanh kiếm, đâm thẳng vào ngực tên áo đen.

Một kiếm chí mạng.

Máu tươi “tí tách tí tách” tuôn ra từ ngực người đó, nhỏ xuống tuyết lạnh lẽo, còn có một ít máu bắn lên tay áo Hoắc Giác.

Trong sân treo mấy chiếc đèn lồng giấy, trong ánh đèn vàng nhạt, ánh mắt Hoắc Giác lạnh lùng, đôi mắt đen không mang chút cảm xúc nào, thân hình như điện, chớp mắt đã lấy đi một mạng người.

Khương Lê nói xong, kéo tay hắn, lấy khăn tay lau kỹ vết máu trên mu bàn tay hắn.

Mắt Hoắc Giác hơi trầm xuống, bàn tay bị nàng nắm thậm chí hơi cứng lại. Cũng không biết tại sao, bên tai chợt vang lên câu nói của Tuyên Nghị—

“Nếu nàng biết được bộ mặt thật của ngươi, chắc chắn sẽ ghê tởm ngươi như ghê tởm ta vậy.”

Những lời Tuyên Nghị nói hôm đó, thực ra hắn không để tâm.

Nhưng lúc này đây, khi hắn biết Khương Lê đã thấy hắn giết người, hắn không thể không thừa nhận, trong lòng hắn thực sự dậy sóng.

Không phải sợ nàng ghê tởm, mà là sợ… nàng sẽ cảm thấy hắn không còn là Hoắc Giác mà nàng vẫn luôn yêu thích.

Hoắc Giác cúi mắt, nhìn tiểu cô nương đang chăm chú lau mu bàn tay hắn, khẽ nói: “A Lê có sợ không?”

Khương Lê ngước mắt lên, nghi hoặc hỏi: “Sợ gì?”

Hoắc Giác mấp máy môi: “Ta giết người.”

Khương Lê nghe vậy, hầu như không suy nghĩ đã gật đầu nói: “Sợ, nhưng không phải sợ chàng giết người, mà là sợ người đó làm chàng bị thương. May mà thân thủ chàng tốt, không để người đó thực hiện được.”

Thật sự, lúc nãy thấy trong sân có người chết, nàng cũng có chút sợ hãi.

Dù sao đây là lần đầu tiên thấy một người còn sống chết trước mặt nàng.

Nhưng kẻ giết người, sẽ bị người giết lại.

Người đó muốn giết Hoắc Giác, dù nàng có mềm lòng, cũng sẽ không cảm thấy người đó không đáng chết.

Nghĩ đến đây, nàng dừng lời, nhìn Hoắc Giác, thấy sắc mặt hắn có vẻ nghiêm trọng, tưởng rằng lang quân nhà nàng vì giết người nên trong lòng không thoải mái.

“Chàng không làm sai.” Khương Lê vội bỏ khăn xuống, nắm chặt tay Hoắc Giác, nghiêm túc nói: “Là người đó muốn giết chàng, chàng mới giết hắn. Về sau nếu có người muốn hại chàng, đừng nói là chàng, ngay cả ta, cũng sẽ không tha cho bọn họ!”

“Dù ta không giết được bọn họ, cũng sẽ đưa dao cho chàng.”

Tiểu cô nương nói chắc nịch, giọng nói mềm mại của nàng vừa dứt, Hoắc Giác đã khẽ cười không phát ra tiếng động.

Có lẽ A Lê không biết những lời này êm tai đến nhường nào.

Bình thường tiểu nương tử này cầm dao giết cá mổ gà thì lanh lẹ, nhưng thật sự bảo nàng giết người, e là cả dao còn không cầm vững.

Nhưng dù vậy, nàng vẫn nói muốn đưa dao cho hắn, không hề sợ Hoắc Giác sẽ giết người kia dù chỉ là một chút.

Giống như trước đây, dù hắn đã trở thành một hoạn quan không thể làm việc nam nhân, nhưng trong mắt nàng, hắn vẫn là hắn.

A Lê của hắn, vẫn luôn là A Lê dù hắn có thay đổi thế nào, cũng muốn cố gắng chuộc hắn ra khỏi cung.

Ánh nến chập chờn.

Ánh mắt Hoắc Giác dần dần nhuộm màu ấm áp của ánh đèn.

Lang quân trẻ nắm ngược lại tay tiểu cô nương, cười đáp lời nàng: “Vậy sau này, ta phải mài cho A Lê một con dao tốt.”
 
Tiểu Thanh Mai Của Thủ Phụ Đại Nhân
Chương 110: Bằng hữu xa lánh


Vào ngày hai mươi lăm tháng mười một, năm Thành Thái thứ sáu, Hình bộ Thượng thư Tề Xương Lâm đến Đại lý tự, tự thú nhận tội lỗi của mình, nói rằng vụ án mưu nghịch của Tiên Thái tử bảy năm trước là một vụ án oan.

Ngày hai mươi tám tháng mười một, Thành Thái Đế ra lệnh cho Thứ phụ Nội Các Chu Dục Thành tạm thời quản lý Hình Bộ, cùng với Đại lý tự và Đô sát viện xét xử lại vụ án mưu nghịch của Tiên Thái tử.

“Nghe nói chưa, hóa ra vụ án bảy năm trước là án oan! Ta đã nói nếu Tiên Thái tử muốn làm Hoàng Đế thì lúc Tiên Đế bị thích khách ám sát, ngài ấy đã không xông lên đỡ tên độc cho Tiên Đế! Nếu không trúng độc, thân thể của ngài ấy đâu có trở nên yếu ớt như vậy?”

“Phải đấy! Lúc đó mọi người đều đồn đại mệnh Tiên Thái tử không còn lâu, Tiên Đế vì muốn trấn an triều đình còn đích thân đón Tiên Thái tôn vào cung, tỏ lòng thiên vị phủ Thái tử. Mọi người đều nói Tiên Thái tôn được Tiên Đế bế ngồi trên long ỷ, tự tay dạy dỗ. Tuổi Tiên Đế cũng đã cao, ngôi báu sớm muộn gì cũng là của Tiên Thái tử và Tiên Thái tôn, họ mạo hiểm mưu nghịch để làm gì chứ?”

“Nghe nói là Lăng Thủ phụ đứng sau giật dây vụ án oan này, chỉ vì Tiên Thái tử có ý muốn mời Vệ Thái phó ra khỏi Thanh Châu. Lăng Duệ không được Tiên Thái tử coi trọng, lại sợ chức vị Thủ phụ của mình không giữ được, mới liều lĩnh vu oan giá họa cho phủ Thái tử. Trước tiên trừ khử Tiên Thái tử và Tiên Thái tôn, đưa Khang Vương lên ngôi. Đợi đến thời cơ chín muồi, lại phế truất Khang Vương, tự mình làm Hoàng Đế.”

“Đúng là lòng lang dạ sói! Mấy hôm trước Thanh Châu và Túc Châu suýt nữa thì xảy ra chuyện, chẳng phải là vì vị Lăng Thủ phụ này nóng lòng muốn làm Hoàng Đế sao! Than ôi, oan uổng nhất chính là gia đình Vệ Thái phó và Hoắc lão tướng quân, những trung thần lương tướng như vậy lại vì một kẻ tiểu nhân mà mất mạng.”

“Đúng vậy đấy! Còn vị Phò mã của Trưởng Công chúa năm xưa, chẳng phải là vì muốn minh oan cho Tiên Thái tử mà đập đầu chết trên trống Đăng Văn sao?”

Dân chúng Thịnh Kinh tận mắt chứng kiến phủ Thái tử năm xưa chỉ trong vòng bảy mươi hai ngày đã hoàn toàn sụp đổ, lúc đó trong lòng tuy đầy nghi hoặc, nhưng không ai dám nhắc đến.

Hiện giờ Đại lý tự xét xử lại vụ án cũ, đã giải đáp được những khúc mắc chôn giấu trong lòng mọi người bấy lâu nay.

Quả nhiên là án oan!

Nếu không phải án oan, sao lại xét xử lại?

Lại nghĩ đến bia công đức của Tiên Đế ở Hoàng lăng nhỏ máu, linh bài tổ tiên Vệ gia ở chùa Đại Tướng Quốc nứt toác, chẳng phải là vì có oan khuất sao?

Phải biết rằng, năm xưa chỉ vì tội danh mưu nghịch mà Tiên Thái tử và Tiên Thái tôn thậm chí còn không được chôn cất ở Hoàng lăng.

Tiên Đế yêu thương Tiên Thái tử và Tiên Thái tôn như vậy, đương nhiên là chết không nhắm mắt!

Còn hơn ba trăm mạng người Vệ gia và Hoắc gia cũng biến mất trong một đêm hỏa hoạn, làm sao không cảm thấy oan ức được?

Nếu tất cả những điều này thật sự là do có người cố ý gây ra, thật nên lăng trì xử tử những người đó!

“Sao vẫn chưa bắt người? Không phải nói tên Thủ phụ kia lại chạy vào Hoàng cung kêu oan sao? Hoàng Đế trên điện Kim Loan là do tên Thủ phụ này đích thân đến cửa thỉnh cầu lên ngôi, ngài ấy đừng vì thế mà tha cho tên Thủ phụ này!”

Ngày Hoắc Giác và Khương Lê vào Kinh, bách tính đã xôn xao bàn luận về việc cớ sao Cẩm Y Vệ vẫn chưa bắt người, còn có người lo lắng Hoàng Đế sẽ vì tình xưa mà thiên vị bỏ qua cho Lăng Duệ.

Khương Lê buông rèm xe xuống, tò mò hỏi Hoắc Giác: “Người đó thật sự chạy đi kêu oan sao? Hoàng thượng sẽ nghe sao?”

Những lời bách tính vừa nói Hoắc Giác cũng nghe thấy, có thể khiến dư luận nghiêng về một phía trong thời gian ngắn như vậy, một mặt là vì vụ án bảy năm trước quả thật quá khác thường, mặt khác đại khái là có người đứng sau dẫn dắt dư luận.

Hoắc Giác đặt chén trà xuống, nói: “Chỉ là lời đồn đại thôi. Mấy ngày nay người đó cáo bệnh ở nhà, ngay cả lâm triều cũng không đi.”

Khương Lê “À” một tiếng: “Hoàng thượng đừng vì ông ta bệnh mà mềm lòng, làm chuyện xấu thì dù bệnh đến chỉ còn một hơi thở cũng phải để ông ta chịu xét xử gánh chịu hậu quả. Kẻ như ông ta khi chết dù xuống mười tám tầng địa ngục cũng không đủ chuộc tội!”

Tiểu cô nương càng nói càng phẫn nộ, đôi mắt ướt át trừng lên, hận không thể lập tức mắng vào mặt Lăng Duệ vài câu.

Hoắc Giác thấy buồn cười, sao Chu Nguyên Canh có thể mềm lòng được?

Lúc này chắc Lăng Duệ vẫn nghĩ chỉ cần ông ta nắm trong tay nhược điểm của Chu Nguyên Canh, Chu Nguyên Canh sẽ không dám đuổi cùng giết tận ông ta.

Đáng tiếc, hai phong mật hàm kia đã sớm bị Tề Xương Lâm đánh tráo rồi.

Vụ án mưu nghịch bảy năm trước là do Lăng Duệ bày mưu tính kế, Chu Nguyên Canh nhát gan như chuột, sợ bị người khác phát hiện, hoàn toàn không dám có bất kỳ quan hệ công khai nào với Lăng Duệ.

Cũng vì vậy, để đề phòng ngày sau Chu Nguyên Canh qua cầu rút ván, Lăng Duệ đã để lại hai phong thư từ qua lại với Bắc Địch và Nam Thiệu, bên trong giấy trắng mực đen viết “lời hứa” năm xưa của Khang Vương với Thái tử Bắc Địch và Hoàng Đế Nam Thiệu.

Chỉ là Lăng Duệ vẫn luôn cho rằng mật hàm vẫn bị ông ta giấu kín, thực chất nó đã rơi vào tay Chu Dục Thành.

Chu Nguyên Canh bất mãn với Lăng Duệ đã lâu, chuyện Thanh Châu và Túc Châu là ngòi nổ, triệt để châm ngòi cho sự bất mãn của ông ta với Lăng Duệ những năm qua.

Thêm Trưởng Công chúa ở bên cạnh thêm dầu vào lửa, chỉ cần vụ án bảy năm trước không liên lụy đến ông ta, ông ta nhất định sẽ đồng ý xét xử lại vụ án mưu phản của phủ Tiên Thái tử.

Sự thật cũng là như vậy.

Tình cảnh của Lăng Duệ lúc này nói là giậu đổ bìm leo cũng không quá đáng.

Chẳng mấy chốc ông ta sẽ biết thế nào là bằng hữu xa lánh.

Hoàng Đế mà ông ta từng nâng đỡ muốn giết ông ta, thân tín mà ông ta tự tay đề bạt phản bội ông ta, người phụ nữ mà ông ta tưởng rằng yêu ông ta sâu đậm lợi dụng ông ta, khinh bỉ ông ta, ngay cả đứa con trai được ông ta dạy dỗ cẩn thận cũng chết trước ông ta.

“Ông ta sẽ tự gánh chịu hậu quả.” Hoắc Giác đưa tay véo nhẹ má Khương Lê đang hơi phồng lên, giọng nói mang theo chút dỗ dành: “Nhiều nhất là một tháng nữa. A Lê cứ đợi thêm, đến cuối năm, mọi chuyện sẽ được định đoạt.”

Khương Lê không biết thời gian Tam pháp ti xét xử vụ án mất bao lâu, nhất là những vụ án trọng đại.

Lúc này nghe Hoắc Giác nói còn một tháng nữa, lại nhanh hơn so với dự đoán của nàng.

Một tháng, nàng vẫn đợi được.

***

Một tháng Khương Lê chờ được, nhưng Lăng Duệ lại không thể chờ.

“Đem thuốc này đến chỗ Vương Quý phi, mười ngày nữa, Bổn quan muốn Chu Nguyên Canh chết.”

Lăng Duệ nắm chặt lọ thuốc trong tay, đưa cho nội thị cải trang xuất cung. Khuôn mặt vốn nho nhã giờ phủ đầy mây đen, trong mắt tràn ngập sát ý hung dữ.

Tên nội thị mặc áo vải thô nghe vậy cung kính nhận lấy lọ thuốc, giọng the thé đáp: “Đại nhân yên tâm, tiểu nhân nhất định sẽ đem thuốc đến điện Thừa Loan.”

Lăng Duệ gật đầu, nhìn tuyết rơi dày đặc ngoài cửa sổ, nói: “Hiện tại người của Đô sát viện và Đại lý tự đang theo dõi rất sát, Bổn quan không tiện đến am Tịnh Nguyệt nữa. Ngươi nói với Quý phi nương nương, vì Đại Hoàng tử, không thể giữ lại Chu Nguyên Canh. Nếu không, sớm muộn gì ông ta cũng sẽ phát giác ra thân phận thật sự của Đại Hoàng tử.”

Lăng Duệ dừng một chút, lại dặn dò: “Còn nữa, chuyện của Dư Chưởng ấn, bảo ông ta bình tĩnh đừng manh động, chớ tự loạn trận cước. Chuyện ông ta và Chu Nguyên Canh hạ độc Tiên Đế, trừ phi Chu Nguyên Canh không muốn làm Hoàng Đế nữa, nếu không nhất định sẽ không để người ta tra ra nguyên nhân cái chết của Tiên Đế.”

Nội thị cúi đầu đáp một tiếng, nhanh chóng lặng lẽ rời khỏi Lăng phủ.

Hắn ta vừa đi, trong thư phòng có người khác bước vào.

Người nọ mặc đồ tang trắng toát, dung nhan tiều tụy, đầu cài hoa trắng, chính là vợ cả của Lăng Duệ, Mộ thị.

Mộ thị vừa vào đã trừng mắt đỏ ngầu nhìn Lăng Duệ, nói: “Người vừa rồi là ai? Thi thể của Phàm nhi, rốt cuộc khi nào chàng mới đòi lại cho ta?”

Lăng Duệ cau mày thật chặt. Mộ thị xuất thân khuê các, sau khi hai người thành thân, bà ấy luôn hiểu chuyện, dịu dàng săn sóc, là một hiền thê lương mẫu đúng mực.

Nhưng từ khi thi thể của Phàm nhi được đưa về Thịnh Kinh, bà ấy như phát điên, thỉnh thoảng lại chạy đến gây chuyện với ông ta, khóc lóc om sòm, càng ngày càng không có phong thái của một đương gia chủ mẫu.

Hiện tại ông ta đang ở trong tình thế như đi trên băng mỏng, chỉ một chút sơ sẩy là sẽ mất mạng. Bà ấy không an ủi ông ta thì thôi, còn thay đổi tính tình hiền thục trước kia, hễ mở miệng là trách ông ta không bảo vệ tốt Phàm nhi.

Lăng Duệ nhìn trời âm u ngoài cửa sổ, trầm giọng nói: “Chẳng phải ta đã nói với nàng rồi sao? Mười ngày nữa! Mộ thị, chuyện của ta nàng đừng hỏi han nữa, nàng…”

Ông ta chưa nói hết câu, Mộ thị đã bước nhanh đến, “chát” một tiếng, giáng cho ông ta một cái tát mạnh.

“Đừng hỏi han?” Mộ thị cười lạnh, giễu cợt nói: “Chàng tưởng ta không biết chuyện của chàng và vị kia trong cung sao? Chàng tưởng chuyện chàng đến am Tịnh Nguyệt thật sự không ai hay biết sao?”

Lăng Duệ bị cái tát gần như dồn hết sức lực của bà ấy đánh đến nghiêng đầu, trên mặt bị móng tay bà ấy cào ra một vết xước dài.

Ông ta không thể tin nổi trừng mắt nhìn Mộ thị, sau đó gân xanh trên cổ nổi lên, nổi giận quát lớn: “Mộ thị! Nàng điên rồi sao? Nàng có biết mình đang làm gì không? Nàng muốn chết phải không?”

Mộ thị cố nén nước mắt, cười thảm thiết: “Lăng Duệ, trời có mắt! Chàng làm chuyện gì trong lòng tự biết, rõ ràng người làm sai là chàng, tại sao người chết lại là Phàm nhi của ta? Chàng chính là đồ súc sinh, sớm muộn gì cũng sẽ gặp báo ứng!”

Nói xong, trước khi nước mắt rơi xuống, bà ấy xoay người chạy ra khỏi thư phòng.

Lăng Duệ nghiến răng nhìn bóng lưng Mộ thị, sau đó thân thể loạng choạng, “ầm” một tiếng vịn chặt lấy góc bàn, lẩm bẩm: “Ta sẽ không thua, chỉ cần Chu Nguyên Canh chết, bọn họ sẽ không thể định tội ta. Đại Hoàng tử là con trai ta, chẳng lẽ nó không giúp ta sao? Còn có Vương Loan, nàng vốn đã hận Chu Nguyên Canh, nhất định sẽ nhân cơ hội này giết ông ta…”

***

Hoàng cung, điện Thừa Loan.

“Ông ta muốn Chu Nguyên Canh chết thì tự mình giết đi, nói với Bổn cung những lời này có ích gì?”

Vương Loan vừa cười vừa xoay lọ thuốc trong tay, nói với Mã ma ma: “Ngươi nói xem ông ta tự phụ đến mức nào mới nghĩ Bổn cung sẽ ra tay giết người giúp ông ta vào lúc này? Còn lấy Húc nhi ra uy h**p Bổn cung, thật là si tâm vọng tưởng!”

“Nương nương hiểu rõ là tốt rồi, Lăng Thủ phụ nói không chừng sắp… Nương nương nên tránh xa ông ta ra thì hơn.” Mã ma ma nói đến đây, tiến lên lấy lọ thuốc trong tay Vương Loan, nói: “Trong lọ này chắc là thuốc độc, lão nô đi xử lý, kẻo bị người ta nhìn thấy, rước họa vào thân.”

“Chậm đã, ma ma.” Vương Loan ngăn Mã ma ma lại: “Thuốc này có thể dùng được sau này, cứ giữ lại đã.”

Mã ma ma biến sắc: “Nương nương!”

Vương Loan cười nói: “Không phải dùng cho Hoàng thượng, ma ma đừng lo.”

Mã ma ma cau mày, nhưng cũng không nói gì nữa, tìm một ch* k*n đáo cất lọ thuốc đi. Vừa làm xong việc này thì có nội thị đến bẩm báo, nói Hoàng thượng giá lâm.

Mấy ngày nay người trong cung ai mà không biết tâm trạng của Thành Thái Đế đang rất tệ, chén trà, chặn giấy trong điện Dưỡng Tâm không biết đã bị ông ta đập vỡ bao nhiêu cái.

Cũng chỉ ở điện Thừa Loan này, mới có thể yên ổn một chút.

Mã ma ma lo lắng nhìn Vương Loan, định mở miệng, nhưng thấy Vương Loan giơ tay lên, nói: “Ma ma lui xuống đi, Hoàng thượng không thích có người ngoài.”

Mã ma ma đành nuốt lời định nói vào bụng, dẫn theo đám cung nữ đứng hầu bên ngoài lui ra.

Thành Thái Đế bước vào nội điện, thấy Vương Loan đang định lấy đồ trong tủ gỗ kim tơ nam mộc, nói: “Hôm nay không cần dùng Thần Tiên Hoàn nữa, A Loan lại đây cùng Trẫm nói chuyện.”

Vương Loan ngoan ngoãn thu tay lại, che giấu vẻ khác lạ trong mắt, nở nụ cười dịu dàng, nói với Thành Thái Đế: “Vậy thần thiếp cung kính không bằng tuân mệnh.”

Nói xong thì ngồi xuống bên cạnh Thành Thái Đế.

Thành Thái Đế gối đầu lên đùi bà ấy, nhắm mắt lại, như trở về hồi nhỏ ở điện Xuân Hòa, ông ta cũng gối đầu lên đùi mẫu phi như vậy, nghe mẫu phi dịu dàng nói chuyện với ông ta.

Vương Loan đi theo Thành Thái Đế nhiều năm như vậy, sớm đã biết ông ta thích nghe những gì.

Những lời nói lúc này đều là những lời dỗ dành ông ta vui vẻ, thỉnh thoảng lại nhắc đến chuyện của Đại Hoàng tử.

Thành Thái Đế nhắm mắt nghe, nghe được một nửa, đột nhiên ngắt lời: “Lăng Duệ là biểu ca của nàng, Tần Vưu là tỷ phu của nàng. Nếu Trẫm muốn trị tội bọn họ, A Loan có giận Trẫm không?”

Nụ cười trên môi Vương Loan không giảm, nhẹ nhàng xoa huyệt thái dương cho Thành Thái Đế, dịu dàng nói: “Hoàng thượng nói gì vậy? Thần thiếp chỉ là một nữ nhân tầm thường, thần thiếp không hiểu chuyện triều chính. Thần thiếp chỉ biết, bất cứ kẻ nào làm tổn thương Hoàng thượng, thần thiếp đều không tha thứ. Nếu biểu ca và tỷ phu làm sai, Hoàng thượng cứ phạt theo luật. Thần thiếp chỉ cần Hoàng thượng vui vẻ là mãn nguyện rồi.”

Thành Thái Đế mở mắt nhìn Vương Loan, nói: “Nàng đừng trách Trẫm lòng dạ ác độc. Trẫm đối đãi với bọn họ không tệ, thăng quan tiến chức, để bọn họ quyền cao chức trọng. Nhưng bọn họ lại vì tư lợi, muốn làm loạn giang sơn của Trẫm, Trẫm không thể nhịn. Hơn nữa, đúng như Huệ Dương nói, bảy năm trước, nếu không phải bọn họ xúi giục Trẫm, sao Trẫm lại muốn tổn thương Thái tử và Phụ hoàng chứ?”

Vương Loan nhẹ nhàng phụ họa: “Biểu ca là người khéo ăn nói, ngay cả trưởng bối của thần thiếp, tộc trưởng của Vương thị Doanh Châu cũng nghe theo lời hắn. Từ nhiều năm trước thần thiếp đã cảm thấy không ổn, hiện giờ hắn chọc giận Hoàng thượng, vậy Hoàng thượng không cần nể mặt thần thiếp, cứ xử lý theo luật pháp Đại Chu. Chỗ dựa của thần thiếp chưa bao giờ là người khác, không phải gia tộc, mà là Hoàng thượng. Hoàng thượng đừng vì biểu ca và Vương gia phạm lỗi mà ghét bỏ thần thiếp.”

Vương Loan nói đến đây, đôi mắt phượng long lanh nhìn Thành Thái Đế đầy tình ý, mang theo chút hờn dỗi.

Thành Thái Đế nhếch mép cười, chút nghi ngờ trong lòng lập tức tan thành mây khói.

Từ trước đến nay A Loan vẫn luôn sùng bái và yêu mến ông ta như vậy, coi ông ta như trời, làm sao có thể phản bội ông ta?

Thành Thái Đế vỗ tay Vương Loan, ôn tồn an ủi: “A Loan là người hiểu ta nhất trên đời, sao ta có thể ghét bỏ nàng?”

Ông ta nói là “Ta”, chứ không phải “Trẫm”.

Vương Loan cụp mắt xuống, khẽ cười, nói: “Thiếp và Húc nhi chỉ có Hoàng thượng thôi, Hoàng thượng phải nhớ kỹ lời người nói hôm nay.”

Thành Thái Đế ở điện Thừa Loan gần nửa canh giờ rồi rời đi, trở về điện Dưỡng Tâm xử lý chính sự.

Lần này Đại lý tự thẩm tra lại vụ án mưu nghịch của Tiên Thái tử, hầu như ngày nào ông ta cũng phái người giám sát.

Hôm ấy, Tông Già đến cầu kiến, trình lên chứng cứ trong tay cùng lời khai của Tề Xương Lâm, tâu rằng: “Vụ án Thanh Châu, chủ mưu là Tần Vưu. Lăng Nhược Phàm có chứng cứ Tần Vưu thông địch lại không bẩm báo, cùng lắm chỉ có thể định tội bao che, giấu giếm. Hiện tại chứng cứ thần thu thập được vẫn chưa đủ để định tội Lăng Thủ phụ, trừ phi Hoàng thượng đồng ý cho thần thẩm tra lại vụ án mưu phản bảy năm trước. Tội thần Tề Xương Lâm đã nhận tội về việc năm đó, kính xin Hoàng thượng cho phép thần thẩm tra lại vụ án cũ.”

Thành Thái Đế sai Triệu Bảo Anh đọc kỹ lời khai có đóng dấu của Tề Xương Lâm cho ông ta nghe, từng chữ từng câu đều chỉ hướng đến phe cánh của Lăng Duệ, nửa lời cũng không nhắc đến Thành Thái Đế.

Nhưng dù vậy, Thành Thái Đế vẫn không yên tâm, ngày nào cũng sai Triệu Bảo Anh đến Đại lý tự giám sát.

Ông ta lật xem công văn vừa mới trình lên, nói với Triệu Bảo Anh: “Tông Già cùng Chu Dục Thành sao vẫn chưa phái người bắt Lăng Duệ vào đại lao? Nếu muốn thẩm tra lại vụ án cũ, vậy thì càng nhanh càng tốt! Mau chóng kết thúc vụ án này!”

Triệu Bảo Anh cung kính đáp: “Xưa nay hai vị đại nhân làm việc công chính nghiêm minh, tuân theo luật pháp, chắc là muốn đợi chứng cứ xác thực mới hạ lệnh bắt người. Hiện giờ Lăng đại nhân cáo bệnh ở nhà, nếu cưỡng chế bắt giam, lỡ trong ngục xảy ra chuyện gì, e rằng sẽ bị người ta bắt bẻ, nói Đại lý tự dùng nhục hình bức cung, hãm hại trung lương. Nô tài thấy, hai vị đại nhân chắc chắn đã nắm chắc trong lòng.”

Thành Thái Đế nghe vậy, lông mày cau lại rốt cuộc cũng giãn ra: “Như vậy thì không cần thúc giục bọn họ nữa.”

Sau khi Thành Thái Đế rời khỏi điện Thừa Loan, Mã ma ma liền vào nội điện.

Thấy Vương Loan bình an vô sự, bà ấy mới lặng lẽ thở phào nhẹ nhõm. Nhưng hơi thở này vừa mới buông xuống, không biết nghĩ đến điều gì, khóe môi lại mím chặt.

Vương Loan liếc mắt nhìn bà ấy, hỏi: “Vừa rồi xảy ra chuyện gì sao?”

Mã ma ma do dự một lát, nói: “Vừa rồi Hoàng thượng mới vào điện Thừa Loan không lâu, Đại Hoàng tử từ điện Càn Đông đến. Nô tỳ ghi nhớ lời dặn của nương nương, không cho Điện hạ vào, sai người đưa Điện hạ trở về điện Càn Đông.”

Vương Loan lạnh nhạt “Ừ” một tiếng.

Điện Càn Đông nằm ở phía Đông điện Dưỡng Tâm, Húc nhi chắc là nhìn thấy kiệu của Phụ hoàng, muốn nói chuyện với Phụ hoàng nên mới đi theo. Dù sao lúc Húc nhi còn nhỏ, thích nhất là ở điện Thừa Loan quấn quýt nói chuyện với Phụ hoàng.

Chỉ là từ ba bốn năm trước, không biết vì sao, cậu bỗng nhiên không còn thân thiết với Phụ hoàng nữa.

Vương Loan xoa xoa thái dương, nói thật, Thành Thái Đế buồn vui thất thường, nếu Húc nhi ở đây, bà ấy lại càng lo lắng.

Trong lòng bà ấy cũng không mong Húc nhi thân thiết với Chu Nguyên Canh, ma ma đưa cậu về điện Càn Đông là tốt nhất.

“Ngày mai để Nguyễn ma ma đưa nó đến dùng bữa trưa đi.” Vương Loan thở dài: “Ngày mai Hoàng thượng chắc sẽ không đến.”

Mã ma ma vội vàng đáp ứng, mấy ngày trước Tiểu Điện hạ mới mất hai nội thị cùng lớn lên từ nhỏ, chắc là vẫn còn đau lòng, ngày mai đến điện Thừa Loan nói chuyện với nương nương cũng tốt.

***

Gần cuối năm, tuy chuyện Tam pháp ti muốn thẩm tra lại vụ án cũ khiến bách tính ở Thịnh Kinh có thêm nhiều thứ để bàn tán, nhưng cũng chỉ là nói vài câu lúc rỗi rãi. Dù sao thì ngày tháng vẫn phải tự mình trải qua, thấy sắp đến Tết, nhà nhà đều bắt đầu chuẩn bị đồ Tết.

Mấy ngày nay, những người đến Trạng Nguyên lâu đặt rượu không ít.

Từ khi Khương Lê trở về Thịnh Kinh, tuy chứng phong hàn đã gần khỏi, nhưng Dương Huệ Nương thấy nàng gầy đến cằm nhọn hoắt, cứ giữ nàng ở nhà tịnh dưỡng thêm mấy ngày mới cho nàng đến quán rượu.

Khương Lê rời Thịnh Kinh hơn hai tháng, khi trở về, hai gian cửa hàng bên cạnh Trạng Nguyên lâu đã được Dương Huệ Nương thuê lại.

Trạng Nguyên lâu bây giờ đã không nhỏ, nhân thủ tất nhiên là không đủ.

Dương Huệ Nương lại tuyển thêm người, ngay cả nha hoàn Tiểu Nguyệt là tỳ nữ trước kia của Dư Tú Nương cũng đến quán rượu làm nương tử chưng cất rượu.

Khương Lê từng gặp Tiểu Nguyệt một lần, hai người chào hỏi vài câu, Khương Lê nhìn về phía sau bếp, không nhịn được hỏi: “Sao hôm nay Tú nương tử không đến?”

Tiểu Nguyệt im lặng một lát. Mười ngày trước, lão gia đến Đại lý tự nhận tội.

Không lâu sau, Thịnh Kinh này có thêm nhiều lời đồn đãi.

Mọi người đều nói lão gia giúp kẻ ác, thay tên Lăng Thủ phụ kia hại chết Tiên Thái tử, còn cả Vệ Thái phó cùng Hoắc lão tướng quân ở Thanh Châu.

Bây giờ bị lương tâm cắn rứt nên mới không màng đến tính mạng, đến Đại lý tự tự thú tội lỗi bảy năm trước.

Nhưng Tiểu Nguyệt biết, lý do lão gia chịu nhận tội phần lớn là vì phu nhân.

Còn phu nhân hôm nay không có ở quán rượu là vì đến ngục Đại lý tự thăm lão gia.

Tiểu Nguyệt vén tóc bên mai ra sau tai, nói với Khương Lê: “Phu nhân đến ngục Đại lý tự.”

Thật ra trước khi Khương Lê trở về, phu nhân đã thú nhận hết mọi chuyện trong quá khứ với Dương chưởng quỹ và Như Nương.

Phu nhân sợ chuyện của lão gia sẽ liên lụy đến quán rượu, định thú nhận rồi rời khỏi quán rượu, nhưng lại bị Dương chưởng quỹ thẳng thừng từ chối.

“Người phạm lỗi là chồng trước của cô, liên quan gì đến cô?” Dương chưởng quỹ chỉ tiếc rèn sắt không thành thép nói: “Ta không phải loại người không nói lý lẽ, cô cứ yên tâm ở lại quán rượu. Nếu có ai dám mắng cô, ta sẽ mắng lại thay cô! Con rể ta làm Ngự sử ở Đô sát viện không phải để trưng cho đẹp!”

Phu nhân nói mấy vị nương tử ở quán rượu đều là người tốt, lần này Tiểu Nguyệt mới thật sự cảm nhận được.

Sợ Khương Lê lo lắng, sau khi nói xong câu đó, nàng ấy vội vàng bổ sung thêm một câu: “Mấy ngày trước người đến Đại lý tự nhận tội là vị Hình bộ Thượng thư, là… phu quân trước đây của phu nhân. Phu nhân đến ngục Đại lý tự thăm ông ta.”

Lúc này Khương Lê mới thật sự kinh ngạc.

Không ngờ người hòa ly với Tú nương tử lại là Hình bộ Thượng thư Tề Xương Lâm. Quan Nhị phẩm ở Thịnh Kinh rất hiếm, đếm được trên mười đầu ngón tay, thật không ngờ chồng trước của Tú nương tử lại là một trong số đó.

Lại nói tiếp, người đó trong vụ án mưu nghịch của Tiên Thái tử bảy năm trước cũng không vô tội, như vậy xem ra, ông ta cũng coi như là một trong những người hại Hoắc Giác và a tỷ.

Chỉ là ông ta bây giờ đã nhận tội, lại bằng lòng chỉ ra những kẻ đồng mưu khác, coi như cũng làm chút chuyện nên làm.

Ban đêm Hoắc Giác trở về, Khương Lê không nhịn được kể chuyện này cho hắn nghe.

“Tiểu Nguyệt nói chồng trước của Tú nương tử là Tề Hình bộ Thượng thư, hôm nay Tú nương tử không đến quán rượu vì đến ngục Đại lý tự thăm ông ta.” Khương Lê tiến lên nửa bước, cởi quan phục cho Hoắc Giác, tiếp tục nói: “Tú nương tử xưa nay là người không chịu được sạn trong mắt, Tề Thượng thư phạm tội lớn như vậy, bà ấy bằng lòng đi thăm ông ta chắc là vì toàn vẹn tình nghĩa vợ chồng trước đây, coi như cũng là hết lòng quan tâm.”

Tiểu cô nương nói xong ngước mắt nhìn hắn, quan sát ánh mắt của hắn.

Thấy lang quân nhà mình cúi đầu nhìn nàng cười, dường như đã nhìn thấu tâm tư của nàng, cũng cười theo, nói: “Ta nghe mẹ nói, Tú nương tử sợ chúng ta cùng quán rượu bị bà ấy liên lụy nên đã nói với mẹ muốn từ chức, may mà được mẹ khuyên nhủ. Tên Tề Thượng thư kia không phải người tốt, nhưng Tú nương tử là người tốt. Chàng, chàng đừng trách bà ấy.”

“Ừm, đừng suy nghĩ nhiều, ta sẽ không giận lây sang Tú nương tử.” Hoắc Giác đáp nhỏ, thay xong y phục, liền ôm Khương Lê, để nàng ngồi trên đầu gối mình, hỏi: “Hôm nay cổ họng còn ho nữa không?”

Khương Lê vội nói: “Hôm qua đã không ho nữa, thuốc Phương thần y kê còn lại một thang, mẹ nói không thể lãng phí, nhất định phải bắt ta uống thêm một ngày.”

Hoắc Giác nhéo nhéo đầu ngón tay mượt mà của nàng, nói: “Bệnh đi như rút tơ, mẹ cũng là vì muốn tốt cho nàng, Phương thần y nói những thang thuốc này không thể thiếu dù chỉ một thang.”

Thuốc Phương Tự Đồng kê hiệu quả rất tốt, Khương Lê uống mấy ngày đã gần khỏi.

Nhưng ông ấy nói chứng phong hàn lần này của nàng quá nặng, phòng ngừa để lại bệnh căn, lại kê thêm cho nàng mấy ngày thuốc.

Nhắc đến Phương thần y, Khương Lê không khỏi nhớ đến ngày mới về Kinh, người của phủ Định Quốc Công vội vàng đến Hoắc phủ đón ông đi.

“A tỷ thật sự không có chuyện gì sao?” Khương Lê kéo tay áo Hoắc Giác, lo lắng hỏi: “Hôm đó ta thấy Ám Nhị đến đón Phương thần y, hình như rất gấp.”

Hoắc Giác nói: “Đừng lo lắng, a tỷ không sao.”

Không chỉ không sao, mà có lẽ còn có tin vui. Chỉ là a tỷ không nói, vậy hắn cũng giả vờ như không biết.

A tỷ… chắc là có dự định của tỷ ấy.

***

“Tại sao cô nương không nói với Thế tử?”

Lúc này ở Vô Song viện, Đồng ma ma cũng nói đến cùng một chuyện: “Thế tử mong mỏi có một đứa con gái với cô nương, nếu biết cô nương có thai không biết sẽ vui mừng đến mức nào!”

“Phương thần y nói, hiện tại thời gian còn ngắn, vẫn chưa thể xác định có thật sự có thai hay không. Nếu mấy ngày tới nguyệt sự đến, chẳng phải là mừng hụt sao? Hơn nữa…” Vệ Xuân sờ bụng, cụp mi mắt xuống, nói: “Cho dù thật sự có thai, hiện tại cũng không phải thời cơ.”

Đồng ma ma không hiểu: “Vậy khi nào mới là thời cơ?”

Vệ Xuân nhìn tuyết rơi dày đặc bên ngoài, nhỏ giọng nói: “Cứ chờ thêm đã.”

“Chờ cái gì?” Tiết Vô Vấn từ ngoài vào, vừa lúc nghe thấy nàng ấy nói câu này, theo bản năng hỏi một câu.

Vệ Xuân thấy áo choàng của hắn còn dính tuyết, vội vàng tiến lên cởi áo choàng cho hắn, nói: “Chờ hoa cây mai vàng nở rộ hơn.”

Tiết Vô Vấn nhìn cây mai vàng ngoài cửa sổ, chỉ thấy trên đó nhú ra từng nụ hoa, phủ kín cành.

Vệ Xuân thích mai vàng, những năm trước cứ đến mùa mai vàng nở là thích dẫn nha hoàn bà vú trong viện hái hoa, phơi khô để điều chế hương liệu.

Hắn thu hồi tầm mắt, ánh mắt lại rơi trên mặt nàng.

Mấy hôm trước Phương thần y bắt mạch cho nàng, nói là bị đầy bụng khó tiêu, lại kê thêm mấy thang thuốc. Uống thuốc hai ngày, dạ dày của nàng quả thật đã khá hơn, trên mặt cũng có chút huyết sắc.

Ánh mắt Tiết Vô Vấn sâu hơn, bàn tay đặt bên hông Vệ Xuân nóng lên, hắn v**t v* eo nàng, cúi đầu ngửi ngửi trên cổ nàng, lúc mở miệng giọng nói hơi khàn.

“Vệ Xuân…”

Vệ Xuân khựng lại, theo bản năng lùi lại một bước, nói: “Hôm nay không được.”

Tiết Vô Vấn chưa bao giờ ép buộc nàng chuyện này, nhịn xuống, dời tay khỏi eo nàng, nói: “Vậy khi nào được?”

Trời biết hắn đã bao lâu không chạm vào nàng rồi.

Vệ Xuân ngước mắt nhìn hắn, xoay người treo áo choàng lên, chậm rãi nói: “Chờ thân thể ta hoàn toàn khôi phục đi.”

Chắc cũng chỉ một năm…

Tiết Vô Vấn nghĩ trong lòng nàng uống thêm mấy ngày thuốc nữa chắc là được rồi, dù sao cũng chỉ mấy ngày, nhịn một chút là qua.

Vệ Xuân không biết hắn đang nghĩ gì, treo áo choàng xong, ngồi xuống trên ghế quý phi, hỏi: “Trước khi trở về chàng đi gặp Chu Thứ phụ?”

Tiết Vô Vấn ừ một tiếng: “Tên tiểu tử kia cũng đi, ở tiệm bánh trên phố Tú Phường.”

“Ta biết nàng muốn hỏi gì.” Hắn nắm tay nàng, nhẹ nhàng ôm nàng vào lòng, nói: “Chu thế thúc nói, ông ấy cùng Tông đại nhân, Lỗ đại nhân đã chuẩn bị xong hết thảy, ngày mai sẽ phái người bắt Lăng Duệ, từ nay trở đi chính thức thẩm vấn. Nàng yên tâm, lần này Lăng Duệ có chạy đằng trời, những người mong ông ta chết đâu chỉ có chúng ta.”

“Vệ Xuân.” Tiết Vô Vấn cúi đầu chạm nhẹ vào lông mày và mắt nàng, nghiêm túc nói: “Rất nhanh thôi nàng sẽ không còn là Ngụy di nương của Vô Song viện nữa.”
 
Tiểu Thanh Mai Của Thủ Phụ Đại Nhân
Chương 111: Trò cười


Sáng sớm ngày mùng ba tháng mười hai, Lăng Duệ bị người của Cẩm Y Vệ áp giải thẳng vào ngục Đại lý tự.

Lúc ấy trời còn tờ mờ sáng, vào đúng lúc ngủ ngon giấc. Tiết Vô Vấn dẫn theo mười mấy tên Cẩm Y Vệ mặc Phi Ngư phục, phá cửa xông vào, đích thân bắt người.

Lăng Duệ còn đang mê man trong giấc mộng, đêm qua ông ta cùng tâm phúc bàn bạc suốt đêm, mãi đến giờ Mão một khắc mới nghỉ ngơi. Nào ngờ mới ngủ chưa được nửa canh giờ, Cẩm Y Vệ đã ập đến bắt người.

Ông ta chỉ mặc độc một lớp áo trong đã bị lôi dậy khỏi giường một cách thô bạo, chẳng có thời gian rửa mặt thay y phục, loạng choạng bị đẩy ra sân.

Mộ thị cùng Lăng Nhược Mẫn vội vàng mặc quần áo, thấy sân đầy Cẩm Y Vệ, sắc mặt đều biến đổi kinh hãi.

Lăng Nhược Mẫn giang hai tay chắn trước Tiết Vô Vấn, nghẹn ngào nói: “Tiết đại nhân, phụ thân oan uổng! Người không thể nào làm ra chuyện hãm hại trung thần lương tướng! Nhược Mẫn biết ngài phụng Thánh chỉ, hôm nay không thể không bắt người. Tiết đại nhân có thể nể mặt Nhược Mẫn, cho phụ thân chút thời gian được không? Ít nhất, ít nhất cũng để người ăn một bữa nóng, thay bộ y phục rồi hẵng đến ngục Đại lý tự.”

Vị thiên kim Thủ phụ được sống trong nhung lụa, nổi danh là tài nữ đệ nhất Kinh thành, giờ đây gương mặt thanh tú trắng bệch, đôi mắt đỏ hoe nhìn Tiết Vô Vấn, ánh mắt cầu xin.

Tiết Vô Vấn tay đặt lên Tú Xuân đao, đôi mắt đào hoa luôn mang nụ cười nay thờ ơ liếc Lăng Nhược Mẫn, thản nhiên nói: “Lăng cô nương, Lăng đại nhân có oan uổng hay không còn phải đợi Đại lý tự xét xử mới rõ. Còn chuyện ăn uống, y phục, thứ lỗi tại hạ bất lực. Công việc của ta thật không dám trì hoãn.”

Dứt lời, hắn lạnh nhạt dời mắt, gật đầu với Đường Kình, nói: “Áp giải Lăng đại nhân đến ngục Đại lý tự.”

Chỉ huy đồng tri Đường Kình là người của Tiết Vô Vấn, nghe vậy vội vàng đáp lời, giả vờ không thấy bóng dáng lung lay sắp đổ của Lăng Nhược Mẫn và Mộ thị, cứng rắn áp giải Lăng Duệ đầu tóc rối bời, bộ dạng chật vật ra khỏi Lăng phủ.

Trong lòng không khỏi kinh ngạc.

Vị Chỉ huy sứ Cẩm Y Vệ nhà hắn ta mỗi lần bắt người, trừ phi là tội phạm bỏ trốn tội ác tày trời, nếu không ít nhiều cũng sẽ giữ chút thể diện cho phạm nhân.

Còn từng nói với hắn ta: “Chúng ta chỉ phụng mệnh bắt người, bắt được người là được, không được tự ý làm nhục hay dùng tư hình. Dù sao trước khi bị định tội, không nên coi họ là phạm nhân.”

Nhưng hôm nay bắt Lăng đại nhân, Chỉ huy sứ không cho Lăng Thủ phụ chút mặt mũi nào, thậm chí còn cố ý chọn lúc này, để Lăng Thủ phụ bị áp giải đi trong bộ dạng vô cùng nhếch nhác.

Ngay cả lời cầu xin của Lăng cô nương cũng không để ý, quả thật quá mức sắt đá.

Đường Kình nhớ đến dáng vẻ đáng thương vừa rồi của Lăng Nhược Mẫn, không nhịn được tụt lại một bước, nhỏ giọng bàn bạc với Tiết Vô Vấn: “Đại nhân, Lăng đại nhân dù sao cũng là Thủ phụ, hơn nữa Lăng cô nương cùng Lăng phu nhân đều đang nhìn. Hay là… châm chước một chút?”

“Châm chước?” Tiết Vô Vấn nhếch môi, nhìn Đường Kình như cười như không, nói: “Lúc Lăng Duệ tịch thu nhà người ta, diệt cả tộc người ta, có từng nghĩ đến việc thông cảm một chút, để con gái người ta chuẩn bị một bữa cơm nóng, một bộ y phục hay không?”

Cô nương nhà hắn cùng người thân ruột thịt của nàng thậm chí còn không có cơ hội nói lời từ biệt, nếu không phải hắn kịp thời đến Thanh Châu, suýt nữa nàng đã mất mạng. Bảy năm qua, Vệ Xuân đau khổ dằn vặt trong lòng thế nào, hắn há lại không biết?

Cớ sao Lăng Duệ còn có cơm nóng áo ấm?

Đường Kình bị hắn nhìn, nhìn đến nỗi lạnh sống lưng, vội vàng nói: “Đại nhân nói chí phải!”

Nói xong thì nghiêm mặt, sải bước đuổi theo, đích thân áp giải Lăng Duệ lên xe tù.

Lúc này trời còn sớm, nhưng ngoài cửa lớn đã vây kín ba tầng người trong, ba tầng người ngoài.

Lăng Duệ vừa lên xe tù, liền có người ném hai quả trứng sống vào người ông ta, “xoạch” một tiếng, lòng trắng lòng đỏ tanh tưởi chảy xuống từ trán.

Từ nhỏ đến lớn dù Lăng Duệ có sa cơ lỡ vận cũng chưa từng chật vật đến thế này. Ông ta ghét nhất bị người khác khinh miệt, nhưng giờ phút này, ông ta im lặng chịu đựng sự sỉ nhục, sắc mặt thậm chí có thể gọi là bình tĩnh.

Nhưng sự bình tĩnh này giống như sự yên ắng trước cơn bão, chỉ chờ một khoảnh khắc sụp đổ, sẽ phá hủy hoàn toàn sự bình tĩnh này.

Bách tính thấy ông ta cắn chặt răng không nói lời nào, lại mắng một câu: “Gian thần nịnh thần!”

Chẳng mấy chốc, trên người Lăng Duệ không chỉ có trứng thối, mà còn dính đầy rau củ quả thối rữa, nhếch nhác vô cùng.

Tiết Vô Vấn đứng bên cạnh lạnh lùng quan sát, hắn không lên tiếng nên xe tất nhiên cũng không thể chuyển bánh.

Vị Chỉ huy sứ đại nhân vừa rồi còn thề thốt nói “Công việc của ta không dám trì hoãn”, giờ đây dường như chẳng hề vội vàng.

Cứ thế mỉm cười, lẳng lặng nhìn hồi lâu, rồi mới mở lòng từ bi nói: “Áp giải đi.”

Bánh xe lăn, Tiết Vô Vấn nhìn xe tù dần dần đi xa.

Rồi thong thả bước đến một chiếc xe ngựa cách đó không xa, đẩy cửa xe bước lên, nói rõ ràng: “Vở kịch hôm nay có hay không?”

Vệ Xuân chầm chậm ngước mắt, đôi mắt trong veo lặng lẽ nhìn hắn, khóe mắt hơi phiếm hồng.

Cô nương này ít khi khóc, khóe mắt hơi hồng tức là vô cùng khổ sở rồi.

Khóe môi Tiết Vô Vấn đang nhếch lên dần dần hạ xuống, ôn tồn nói: “Vệ Xuân à, ta đặc biệt đưa nàng ra xem kịch hay, sao nàng lại đỏ mắt thế?”

Vệ Xuân quay mặt đi.

Tiết Vô Vấn nắm lấy cằm nàng, xoay gương mặt trắng nõn của nàng lại, nhìn nàng một lúc, dịu dàng nói: “Trời lạnh rồi, lát nữa nàng hãy về Vô Song viện, đừng nán lại ngoài này. Ta cùng Ám Nhất đến Đại lý tự, đêm nay e là không về Vô Song viện với nàng được. Mấy hôm nữa, đợi vụ án xét xử xong, ta sẽ bảo Ám Nhất kể cho nàng nghe Lăng Duệ bị dùng hình ra sao, bị định tội ra sao. Được không?”

Ám Nhất được tôi luyện qua vô số vở kịch, ba phần thảm cũng có thể nói thành bảy phần, bảo hắn ta kể cho Vệ Xuân nghe tình cảnh thê thảm của Lăng Duệ, chọc nàng vui vẻ, quả là thích hợp nhất.

Vệ Xuân khẽ “Ừm” một tiếng, nói: “Chàng cứ lo việc đi, ta không sao, trong lòng ta thấy hả dạ.”

Vệ gia, Hoắc gia oan uổng bảy năm, kẻ gây tội càng thê thảm, đương nhiên nàng càng hả dạ.

Chỉ là vừa nhìn thấy Lăng Duệ, khó tránh khỏi nhớ đến chuyện cũ, tâm trạng khó mà bình ổn.

Tiết Vô Vấn nhìn kỹ đôi mắt nàng, thấy ánh mắt nàng đã trở lại bình thường, lúc này mới thở phào nhẹ nhõm.

“Tên tiểu tử kia hôm nay cũng sẽ đến, chứng cứ ở Thanh Châu là do đệ ấy mang về, Lỗ Ngự sử nhất định sẽ dẫn đệ ấy cùng đến Đại lý tự.” Tiết Vô Vấn dùng đầu ngón tay cọ xát môi Vệ Xuân, cười nói: “Có đệ ấy ở đó, e rằng một khắc Lăng Duệ trong ngục cũng khó sống yên.”

Vệ Xuân nghe hắn nhắc đến Hoắc Giác, khóe môi cuối cùng cũng cong lên, nói: “A Giác chờ ngày này cũng đã lâu lắm rồi.”

***

Dù sao Lăng Duệ cũng là Thủ phụ đứng đầu quốc gia, phòng ngục Tông Già sắp xếp cho ông ta cũng không tệ.

Biết ông ta bị ném đầy trứng thối rau thối, còn chu đáo phái người đưa đến y phục dày dặn sạch sẽ để thay.

Mặt Lăng Duệ bình tĩnh, lúc này, ông ta không thể tự mình rối loạn.

Ông ta có nhược điểm của Chu Nguyên Canh trong tay, còn có Vương Loan giúp đỡ, dù sao cũng có đường sống.

Chỉ cần chờ thêm vài ngày, chỉ cần Chu Nguyên Canh chết, Đại Hoàng tử đăng cơ, ông ta sẽ được ra ngoài.

Đợi ông ta ra ngoài rồi, những kẻ đã sỉ nhục ông ta, ông ta sẽ không bỏ qua một ai. Chu Dục Thành, Tông Già, Lỗ Thân, Tiết Vô Vấn, còn cả những kẻ đã phản bội ông ta, ông ta sẽ không bỏ qua bất kỳ ai…

Hai tay dần nắm chặt thành quyền, Lăng Duệ ngước đôi mắt mờ mịt, nhớ lại nhiều năm trước ở Doanh Châu, ông ta sống trong căn phòng ẩm thấp tối tăm, ngày ngày đều phải cúi lưng khom người, sống qua ngày bằng của ăn xin.

Những ngày tháng khó khăn như vậy ông ta còn chịu đựng được thì chút khó khăn trước mắt này có là gì?

Lăng Duệ thở ra một hơi nặng nề, trong mắt dần dần lại sáng lên.

Khi Hoắc Giác bước vào nhà giam thì thấy bộ dạng hừng hực khí thế này của ông ta.

“Leng keng” một tiếng va chạm của chìa khóa, cửa nhà giam từ từ mở ra.

Hoắc Giác chậm bước vào trong, cúi đầu nhìn Lăng Duệ đang ngồi trong góc.

Có lẽ do Tông Già đã dặn dò trước, sau khi đưa chìa khóa cho hắn, cai ngục đã lui ra ngoài, hiện giờ trong phòng giam chỉ còn hai người bọn họ.

Lăng Duệ biết hôm nay ắt hẳn sẽ có khách đến, nhưng tuyệt đối không ngờ lại là vị Trạng nguyên lang trẻ tuổi này.

Ông ta đương nhiên nhớ rõ người này, lúc trước trong yến tiệc Ân Vinh, hắn say khướt bỏ Hàn Lâm Viện để vào Đô sát viện, thật khiến Lăng Duệ khinh thường. Bọn người ở Đô sát viện ra sao, ông ta rõ nhất.

Đều là lũ ngu xuẩn vì cái gọi là lý tưởng hoài bão mà không tiếc mạng sống.

Khi ấy, Lăng Duệ chỉ xem hắn là một thiếu niên ngây dại, tự cho mình là trung can nghĩa đảm, giống như Triệu Vân năm xưa.

Sau đó, vào ba tháng trước, người này lĩnh mệnh đi Thanh Châu, đưa Phàm nhi và Tần Vưu trở về.

Lăng Duệ không phải kẻ ngu dốt, ngược lại, ông ta rất thông minh.

Từ khi Lăng Nhược Phàm và Tần Vưu bị áp giải về Thịnh Kinh, ông ta đã biết, chuyện Thanh Châu, Túc Châu, ngay từ đầu ông ta đã trúng kế của người khác.

Người khác trong chuyện này là ai, ngẫm nghĩ cũng biết, chẳng qua là mấy người kia mà thôi.

Bởi vậy, trong mắt Lăng Duệ, Hoắc Giác chẳng qua chỉ là kẻ chạy việc cho cái tên đầu lừa Lỗ Thân.

Giờ thấy vị thiếu niên này đột ngột xuất hiện, ông ta không khỏi nhíu mày, nói: “Hoắc đại nhân đến đây có chuyện gì?”

Dù có thẩm vấn ông ta, cũng không đến lượt tên tiểu tử phẩm cấp thấp kém này.

Ông ta tưởng người đến thẩm vấn ông ta sẽ là Chu Dục Thành hoặc là Tông Già, Lỗ Thân, sao lại là người này?

Quả thực Hoắc Giác không phải đến thẩm vấn ông ta.

“Giờ Dần sáu khắc, bốn tên ám vệ từ phủ Thủ phụ đi ra, vội vã đến am Tịnh Nguyệt ngoài thành. Người của Cẩm Y Vệ bám theo, trong Phật đường của am Tịnh Nguyệt lại phát hiện hai phong mật hàm, xem ra đây chính là hậu chiêu của Lăng đại nhân.”

Đôi mắt sâu thẳm như biển của Hoắc Giác nhìn chằm chằm Lăng Duệ, lấy từ trong ngực ra hai phong mật hàm, tiếp tục nói: “Trong mật hàm là thư của Thái tử Bắc Địch và Hoàng Đế Nam Thiệu viết cho Lăng đại nhân bảy năm trước.”

Khi Hoắc Giác lấy thư ra, đồng tử Lăng Duệ co rút mạnh.

Nhìn nét chữ bên ngoài thư, quả thật là thư năm xưa Thái tử Bắc Địch và Hoàng Đế Nam Thiệu viết cho ông ta và Chu Nguyên Canh.

Im lặng một lát, Lăng Duệ đột nhiên cười, nói: “Thư này sao lại là viết cho ta? Nếu ngươi đã xem mật hàm, chẳng lẽ không biết thư này rốt cuộc viết cho ai? Sao? Các ngươi thật sự dám công bố mật hàm này ra ngoài? Thanh niên à, hiện giờ không phải lúc hành động theo cảm tính, ngươi có biết công bố mật hàm này ra ngoài sẽ gây ra hậu quả gì không?”

“Có gì mà không dám?” Hoắc Giác nhếch môi, nói: “Theo như trong thư, đại nhân muốn mượn sức bọn họ, một lần tiêu diệt phủ Tiên Thái tử, sau đó đưa Khang Vương lên ngôi Hoàng Đế, để Khang Vương làm Hoàng Đế bù nhìn. Đợi thời cơ chín muồi, sẽ tự mình xưng Đế, Lăng Thủ phụ quả thật mưu đồ rất lớn.”

Sắc mặt Lăng Duệ đột nhiên biến đổi: “Ngươi ngậm máu phun người! Nội dung trong thư căn bản không phải như vậy!”

“Có hay không, Lăng đại nhân tự biết rõ trong lòng, ta không cần lừa gạt đại nhân.”

Lăng Duệ nhìn chằm chằm Hoắc Giác, thấy thần sắc hắn không giống giả vờ, trong lòng đột nhiên lạnh toát.

Người có thể đến tiểu Phật đường am Tịnh Nguyệt, ngoài ông ta ra chỉ có Vương Loan.

Chẳng lẽ là Vương Loan đã đổi thư?

Hoắc Giác quan sát Lăng Duệ, thấy ánh mắt ông ta chớp động bất an, ý cười nơi khóe môi càng sâu.

“Nghe nói Tả Tham nghị chưa đến mười sáu tuổi đã thi đỗ Thám hoa, tài hoa hơn người lại còn có chí lớn với quốc gia đại sự, sau khi thi đỗ Thám hoa đã tự mình xin đi trấn thủ Thanh Châu. Ai ai cũng nói, Tả Tham nghị có phong thái của phụ thân. Trong mắt ta, hai cha con các ngài quả thật rất giống nhau.”

Vừa dứt lời, đột nhiên “bốp” một tiếng, một chiếc quạt xếp bị ném xuống bên cạnh Lăng Duệ.

Chiếc quạt xếp đó là vật mà Lăng Nhược Phàm đi đâu cũng mang theo, bốn chữ “Gia quốc thiên hạ” trên đó còn do chính tay Lăng Duệ đề, ý là luôn nhắc nhở Lăng Nhược Phàm không được ham mê hưởng lạc.

Lăng Duệ nhặt chiếc quạt xếp lên, dường như lại hiện lên hình ảnh Lăng Nhược Phàm tay cầm quạt cung kính gọi ông ta “Phụ thân”.

Nỗi đau mất con bị ông ta cưỡng ép đè nén giờ như lũ kiến, từng chút từng chút gặm nhấm tâm can ông ta.

Lăng Duệ chậm rãi mở chiếc quạt xếp ra, lại chậm rãi ngước mắt lên, hỏi: “Hoắc đại nhân làm vậy là có ý gì?”

Hoắc Giác nói: “Khắc hạc không thành mà giống vịt, vẽ hổ không thành mà giống chó. Lăng đại nhân như vậy, Tả Tham nghị cũng như vậy. Sống đến cuối cùng, chẳng qua chỉ là một trò cười.”

“Giờ hai cha con các ngài không chỉ là trò cười trong miệng bách tính Thịnh Kinh, mà còn là trò cười mà sử quan muốn viết vào sử sách. Lăng đại nhân muốn Lăng gia thiên thu vạn đại, muôn đời lưu danh, nhưng ngài hao tâm tổn trí mưu đồ tất cả, lại chỉ biến bản thân mình thành nỗi nhục lớn nhất của Lăng gia. Nếu đại nhân may mắn có con cháu, chúng nó nhất định sẽ coi ngài là nỗi hổ thẹn.”

Vị lang quân trẻ tuổi dáng người như tùng, khuôn mặt thanh tú khuất sau ánh sáng, rõ ràng không nhìn rõ thần sắc, ngữ khí cũng bình thản, nhưng lại khiến người ta nghe ra sự khinh miệt và coi thường trong lời nói của hắn.

Là loại coi thường của kẻ đứng ở vị trí cao đối với con kiến hôi trần tục.

Hoắc Giác đã giao thiệp với Lăng Duệ hai đời, tất nhiên biết lời nào có thể đâm vào tim ông ta nhất, khiến ông ta máu thịt be bét, đau đớn không chịu nổi.

Quả nhiên vừa nói ra đã thấy Lăng Duệ trừng mắt, sự bình tĩnh gắng gượng bấy lâu dưới những đả kích tầng tầng lớp lớp này cuối cùng cũng sụp đổ.

Ông ta đột nhiên đứng dậy, vì động tác quá lớn, xiềng xích trên người bị kéo kêu “loảng xoảng”.

“Thằng nhãi ranh này ngươi dám!”

Hoắc Giác bình tĩnh cười nói: “Tả Tham nghị là do ta giết, ở trong chính tòa nhà cũ của Vệ gia. Lăng đại nhân yên tâm, Tả Tham nghị chết không đau đớn, chỉ là một kiếm xuyên tim, không chống đỡ được bao lâu đã tắt thở. Ta biết Lăng đại nhân thương con, đã an bài xong cho đại nhân rồi.”

Nói xong, hắn không nhìn Lăng Duệ nữa, xoay người ra khỏi lao ngục, dặn dò người bên ngoài đưa thi thể đã thối rữa của Lăng Nhược Phàm vào phòng giam của Lăng Duệ.

Để ông ta trước khi chết, ngày ngày đêm đêm đối diện với thi thể con trai mình, không được yên ổn.

***

Sáng sớm hôm sau, Tam pháp ti chính thức thẩm vấn Lăng Duệ, Thủ phụ Đại Chu tại Đại lý tự.

Ngoài Lăng Duệ, Binh bộ Thượng thư Hồ Đề, Hình bộ Thượng thư Tề Xương Lâm, và Trấn Quốc Tướng quân Tần Vưu cũng bị giam trong ngục, chờ thẩm vấn.

Hoắc Giác đứng ngoài rèm cửa, nghe thấy bên trong truyền đến từng tiếng chất vấn, cùng với tiếng gào thét không nhận tội của Lăng Duệ.

Ánh mắt hơi lóe lên, nhớ đến kiếp trước, Lăng Duệ cũng như vậy, đến chết cũng không nhận tội.

Khi đó hắn muốn giết Lăng Duệ chẳng qua chỉ là chuyện một chén rượu độc.

Nhưng cuối cùng hắn không nỡ để Lăng Duệ chết dễ dàng như vậy.

Hắn biết Lăng Duệ rất coi trọng danh tiếng, chưa cho ông ta nếm trải nỗi khổ thân bại danh liệt thì sao có thể để ông ta chết?

Tề Xương Lâm dâng lên hai quyển sổ sách, Dư Tú Nương cũng giao nộp hai phong mật hàm. Hắn liên kết với Chu Dục Thành, lại mượn tay Tông Già, thẩm vấn Lăng Duệ tại Đại lý tự.

Đáng tiếc vụ án thẩm được một nửa, Lăng Duệ tự sát, khi chết để lại một bức thư máu, nói ông ta Lăng Duệ chưa từng làm bất cứ chuyện bất trung bất nghĩa nào, nguyện lấy cái chết để chứng minh trong sạch.

Phải nói rằng, khi một người thà tự sát cũng không chịu nhận tội, phần lớn người đời sẽ cho rằng người này bị oan.

Vì vậy vụ án Lăng Duệ phản quốc, hãm hại trung lương cứ như vậy thẩm được một nửa phải bỏ dở.

Còn quyền thần Hoắc Giác lại thêm một tội danh coi thường mạng người, bức hại trung lương.

Lúc đó Thành Thái Đế đã sớm trở thành phế nhân, Đại Hoàng tử được lập làm Thái tử, thay cha giám quốc, còn Vương Quý phi trở thành kẻ thao túng sau lưng Đại Hoàng tử, những người từng đi theo Lăng Duệ đều trở thành thế lực trong tay bà ta.

Lăng Duệ là người tiếc mệnh, căn bản không thể nào đi con đường tự sát, đặc biệt là khi con trai mình đã ngồi lên long ỷ điện Kim Loan.

Nguyên nhân cái chết, chẳng qua là Vương Loan không muốn để ông ta tiếp tục sống. Diễn một màn tự sát, không chỉ có thể lấy mạng Lăng Duệ, còn có thể hắt nước bẩn lên người Hoắc Giác, có thể nói là một hòn đá hạ hai con chim.

Bây giờ, e rằng Vương Loan cũng chẳng muốn Lăng Duệ sống nữa.

Hoắc Giác khẽ cụp mắt xuống, nghe Lăng Duệ khóc than thảm thiết: “Muốn gán tội thì thiếu gì lời! Ta vì Đại Chu tận tâm tận lực đến nay, chẳng có công lao cũng có khổ lao, các ngươi lại đối đãi với bề tôi trung thành như thế này sao? Ta muốn gặp Hoàng thượng!”

Hai phong mật hàm giả hôm qua đã trình lên tay Chu Nguyên Canh, lúc này Chu Nguyên Canh hận ông ta thấu xương, sao có thể gặp ông ta?

Hoắc Giác thần sắc lãnh đạm phủi phủi bụi trên quan phục, bước ra khỏi Đại lý tự.

***

Đêm khuya Hoắc Giác trở về phố Vĩnh Phúc, vừa qua cửa ngách của chính viện, thấy Khương Lê đang cùng mấy nha hoàn bà vú chôn vò rượu dưới gốc mai.

Tiểu nương tử thấy lang quân nhà mình đứng đó lặng lẽ nhìn nàng, vội cười cong mày, nói: “Hoắc Giác, chàng lại đây mau!”

Mặt mày Hoắc Giác chợt ấm áp, “Ừm” một tiếng rồi đi đến dưới gốc cây, hỏi: “Hôm nay A Lê làm rượu gì?”

Khương Lê cười nói: “Năm nay hoa mai nở sớm, sáng sớm thức dậy, tuyết trắng tầng tầng lớp lớp phủ đầy cành, cành cây như muốn bị đè cong. Ta nghĩ tuyết trên cây vương vấn hương mai, không nên lãng phí, bèn cùng Đào Chu, Vân Chu cùng nhau lấy tuyết ủ rượu. Đợi đến sang năm, rượu kia chắc chắn sẽ ngập tràn hương mai.”

Tiểu cô nương nói rồi chỉ vò rượu trên mặt đất: “Đây, bận rộn cả một ngày, mới làm được bảy tám vò này.”

Chỉ thấy trên nền tuyết trắng phản chiếu ánh sáng trong vắt, mấy vò rượu xanh ngọc xếp ngay ngắn dưới đất, khiến đêm tuyết lạnh lẽo dường như cũng thêm chút hơi ấm của khói lửa nhân gian.

Hoắc Giác nhìn vò rượu dưới đất, lại nhìn khuôn mặt nhỏ nhắn như viết ba chữ “Mau khen ta” của tiểu cô nương, mỉm cười đáp: “Rượu thanh nhã thế này mà làm được bảy tám vò là không dễ, A Lê thật sự tài giỏi.”

Khương Lê mím môi cười, để bà vú chôn vò rượu xuống dưới gốc mai, rồi tự mình kéo Hoắc Giác vào phòng ngủ.

Tay lang quân rất ấm, mười ngón tay thon dài như hành của Khương Lê đã sớm lạnh như băng, bị bàn tay to của Hoắc Giác nắm lấy, lúc này mới cảm thấy lạnh.

Hoắc Giác nắm chặt tay Khương Lê, khẽ nhíu mày, “Lần sau hái tuyết ủ rượu để nha hoàn bà vú làm là được rồi, nàng mới khỏi phong hàn, chớ để bị nhiễm lạnh nữa.”

Khương Lê tự biết đuối lý, vội ngoan ngoãn nghe dạy bảo, tiện thể than thở một câu: “Mùa đông năm nay thật sự quá lạnh, tháng mười hai của những năm trước đâu có tuyết rơi lớn thế này. Trời lạnh như vậy, không biết bao nhiêu người phải chịu khổ.”

Hoắc Giác ngước mắt nhìn tuyết rơi lả tả ngoài kia.

Trận tuyết lớn năm Thành Thái thứ sáu bắt đầu từ tháng mười vẫn chưa ngừng, mãi đến cuối tháng tư năm sau mới dứt.

Cả Đại Chu phải trải qua một trận tuyết tai họa vô cùng hiếm gặp.

Trận tuyết này thậm chí còn lan sang mấy nước lân cận, trong đó tình hình của Bắc Địch là nghiêm trọng nhất, không biết bao nhiêu trâu bò dê cừu bị chết rét. Một khi không sống nổi, những bộ lạc du mục ăn lông ở lỗ này sẽ lại bắt đầu nghĩ cách cướp lương thực của người khác.

Vào khoảng tháng hai tháng ba năm sau, quân Bắc Địch bắt đầu điên cuồng tấn công mấy tòa thành biên quan của Đại Chu, đốt phá cướp bóc, không việc ác nào không làm, bách tính biên quan chết vô số kể.

Ngoại trừ biên quan, trong nội địa Đại Chu cũng không khá hơn.

Dân đói phiêu bạt khắp nơi, ngay cả phủ Thuận Thiên cũng có không ít nạn dân đói kém chạy đến dưới chân Thiên tử cầu xin Hoàng thượng cứu tế.

Hoắc Giác khẽ xoa xoa ngón tay.

Kiếp trước khi trận tuyết này bắt đầu, hắn đã vào cung, rất nhiều chuyện đều là nghe nội thị trong cung kể lại. Lúc đó phủ Thuận Thiên có quá nhiều lưu dân, khiến nạn lưu dân nghiêm trọng hơn những năm trước.

Kiếp này, trận tuyết thiên tai này đã nằm trong kế hoạch của hắn.

Quả thật, lúc ban đầu hắn bày mưu tính kế, chỉ nghĩ là muốn lợi dụng trận tuyết này làm chút gì đó, còn về chuyện hắn có thể làm gì cho trận tuyết này, hắn căn bản không quan tâm, cũng chưa từng nghĩ tới.

Nhưng bây giờ, lại khác rồi.

Đêm vắng lặng, tiếng gió tuyết rít gào.

Hoắc Giác nhớ tới lúc rời khỏi Thanh Châu, Ân đạo trưởng đã nói với hắn về nhân quả báo ứng. Cũng nhớ tới ngày đó, vô số bách tính Thanh Châu cùng nhau đến phủ Ngự sử, thỉnh cầu Ngự sử từ Kinh thành trình dân ý của Thanh Châu lên Thánh thượng, để rửa sạch oan khuất cho hai tộc Vệ Hoắc.

Còn có câu than thở vừa rồi của tiểu nương tử: “Trời lạnh như vậy, không biết bao nhiêu người phải chịu khổ.”

Vào phòng, Hoắc Giác cầm chiếc ấm nước đưa cho Khương Lê, rồi đi vòng qua bình phong gỗ hoàng hoa lê, vừa thay quan phục vừa nói với nàng: “Tuyết năm nay e rằng sẽ gây ra chút thiên tai, nếu A Lê lo lắng, chúng ta chuẩn bị trước là được.”

Khương Lê ôm chiếc ấm nước, tò mò hỏi: “Chuẩn bị như thế nào?”

Hoắc Giác thay một bộ thường phục đi ra, nghe vậy cũng không đáp, bế ngang tiểu cô nương đi về phía giường, dịu dàng nói: “Chuyện này ngày mai hãy nói, bây giờ còn có việc quan trọng hơn cần làm.”

Khương Lê còn muốn hỏi là việc quan trọng gì, vừa ngẩng đầu lên thấy hắn dập tắt đèn xung quanh, chỉ để lại một ngọn đèn đầu giường, còn thả màn xuống.

Khương Lê còn không hiểu sao?

Khuôn mặt nhỏ nhắn lập tức nóng rực, lời đến bên miệng cũng bị nuốt trở lại.

Tính ra, từ tháng chín bọn họ xuất phát đi Thanh Châu, họ đã không còn thân mật trên giường nữa.

Người này, đừng thấy bình thường hắn lạnh lùng hờ hững, như thần tiên không màng thế sự. Thực ra lên giường hoàn toàn biến thành một người khác, hận không thể nghiền nát nàng nuốt vào bụng.

Thanh tâm quả dục ba tháng, vất vả lắm lúc này nàng đã khỏi bệnh, cũng khó trách hắn nhịn không được, đương nhiên nàng cũng không phải là không muốn.

Khương Lê nhắm mắt lại, vòng tay ôm lấy cổ hắn, chủ động hôn lên khóe miệng hắn.

Rất nhanh đã nghe thấy từ trong lồng ngực hắn phát ra một tiếng cười, khẽ hỏi: “Lần này, là A Lê đến, hay là ta đến?”

Khương Lê vừa nghe, cũng không hôn hắn nữa, vội vàng lấy tay che tai, tức giận nói: “Không cho nhắc lại!”

Hoắc Giác nắm lấy cổ tay nàng, đặt tay nàng lên trên đầu, cúi đầu cắn tai nàng, nói: “Hiểu rồi, ta đến.”

Khương Lê: “…”

Nha hoàn bà vú bên ngoài sớm đã ra khỏi sân khi đèn trong phòng ngủ tắt, Đào Chu, Vân Chu ôm lò sưởi đi về phía dãy nhà phía sau.

Mấy bà vú đi phía trước bỗng nhiên nghe thấy Đào Chu phía sau gọi một tiếng. Mấy người khó hiểu dừng bước, chờ Đào Chu phân phó.

“Ngày mai phòng bếp nhớ hầm canh, cho thêm hai con gà ác và a giao (cao da lừa).” Đào Chu khẽ ho một tiếng: “Từ ngày mai trở đi, ngày nào cũng hầm canh bổ này. Phu nhân bệnh một trận, lại vào đông rồi, cũng nên bồi bổ cho tốt.”

Mấy bà vú vừa nghe vội vàng đồng ý, cũng không nghĩ nhiều.

Đợi qua năm, phu nhân sẽ mười bảy tuổi, quả thật nên bồi bổ cho tốt để mau chóng sinh cho công tử một trai một gái.

***

Ngọn đèn leo lét trong phòng, lay động từ giờ Tuất đến giờ Hợi, mới như kiệt sức mà lụi tắt.

Lúc Khương Lê được Hoắc Giác bế trở lại giường, mí mắt đã không mở nổi.

Hoắc Giác hôn lên khóe mắt nàng, đợi hơi thở nàng đều đặn, mới vén chăn xuống giường, khoác áo ngoài đi vào thư phòng.

Hà Chu Hà Ninh canh giữ bên ngoài thư phòng, thấy hắn đến, vội vàng mở cửa thư phòng, nói: “Chủ tử, hôm nay Triệu đại phu đã đến.”

Hoắc Giác nói: “Là bên Viên Thanh đại sư có tin tức sao?”

Hà Chu gật đầu nói: “Triệu đại phu nói Viên Thanh đại sư ở tháp Cửu Phật không tìm được lời châm ngôn thứ hai, nhưng mà…”

Hà Chu nói đến đây, đại khái là cảm thấy không thể tưởng tượng nổi, theo bản năng dừng lại.

Viên Thanh đại sư không tìm được lời châm ngôn thứ hai, Hoắc Giác cũng không bất ngờ.

Kiếp trước hắn đã tự mình đến tháp Cửu Phật, cũng không thu hoạch được gì. Nếu trên đời này thật sự có lời châm ngôn thứ hai, e rằng cũng chỉ có các đời trụ trì của chùa Đại Tướng Quốc mới biết lời châm ngôn đó giấu ở đâu.

Sắc mặt Hoắc Giác không chút gợn sóng, cũng không vì lời nói của Hà Chu mà thất vọng, chỉ nhàn nhạt hỏi: “Nhưng mà cái gì?”

Hà Chu hít sâu một hơi, nói: “Viên Thanh đại sư nói, nếu không tìm được, vậy thì ông ấy tự mình tạo ra một cái. Ông ấy nói cả đời ông ấy cứu người vô số, Phật tổ chắc sẽ không trách tội ông ấy. Cho dù có trách, ông ấy cũng không sợ, cùng lắm thì ông ấy hoàn tục.”

Hà Chu nói xong, nhớ tới vị cao tăng có đôi mắt nghiêm nghị kia, trong lòng không khỏi dâng lên một sự kính nể.

Vị Viên Thanh đại sư này thật sự là người không câu nệ tiểu tiết, mọi việc đều làm theo bản tâm, căn bản không bị chiếc áo cà sa trên người ràng buộc. Hà Chu rong ruổi khắp nơi nhiều năm như vậy, chưa từng gặp qua hòa thượng nào như vậy.

Hoắc Giác nghe xong lời của Hà Chu, khuôn mặt vốn luôn bình tĩnh hiếm khi lộ ra vẻ kinh ngạc.

Ngay sau đó khẽ mỉm cười, cầm bút chấm mực, viết một bức thư, đưa cho Hà Ninh nói: “Ngày mai cùng Triệu đại phu đưa bức thư này đến Dược Cốc cho Viên Thanh đại sư, ý tốt của đại sư, chúng ta đừng nên phụ lòng.”

Hà Ninh lĩnh mệnh lui xuống.

Hoắc Giác lại không buông bút, cầm bút viết lưu loát đầy một trang giấy, nói với Hà Chu: “Ở trại Bạch Thủy còn cất giấu chút bạc, ngày mai ngươi đi lấy bạc về, mua sắm những thứ liệt kê ở trên.”

Hà Chu cẩn thận xem những thứ liệt kê trên giấy, kinh ngạc nói: “Nhiều như vậy? Chủ tử muốn dùng những thứ này vào việc gì?”

Hoắc Giác treo bút lông lên, ý vị thâm trường nói: “Đương nhiên là dùng để qua mùa đông.”
 
Tiểu Thanh Mai Của Thủ Phụ Đại Nhân
Chương 112: Trả lại trong sạch


Việc xét xử tại Đại lý tự, nhất là những vụ án trọng đại, không dễ gì kết luận trong vòng một hai tháng.

Thế nhưng vụ án của Lăng Duệ lần này, chứng cứ rõ ràng, nhân chứng cũng không ít. Tề Xương Lâm, Hồ Đề, Tần Vưu, từng người từng người đều nhận tội. Những kẻ này lăn lộn trong quan trường nhiều năm, sớm đã hiểu rõ thời khắc này chỉ có Lăng Duệ chết, bọn họ mới có cơ hội sống.

Dù sao, chủ mưu vẫn khác với tòng phạm.

Ngày mười một tháng mười hai, lúc lâm triều, Chu Dục Thành, Tông Già và Lỗ Thân cùng dâng tấu chương, khép Lăng Duệ tội thông địch phản quốc, hãm hại trung lương, có ý đồ mưu phản.

Mà bảy năm trước, vụ án mưu phản của phủ Tiên Thái tử cùng Vệ, Hoắc phủ Thanh Châu là do Lăng Duệ cùng bè lũ hãm hại cần được minh oan, rửa sạch tội danh, công bố thiên hạ.

Chu Dục Thành tay cầm hốt ngà, sải bước tiến lên, cung kính tâu: “Thiên lý rõ ràng, lưới trời lồng lộng. Vi thần khẩn cầu Hoàng thượng trả lại trong sạch cho ba phủ Tiên Thái tử, Thái tôn, Vệ Thái phó, Hoắc Tướng quân, để tỏ rõ Thánh minh!”

Lời vừa dứt, Tông Già, Lỗ Thân, Bách Chúc cùng các quan viên Nhị Tam phẩm đồng loạt bước ra, đồng thanh tâu: “Kính xin Hoàng thượng trả lại trong sạch cho ba phủ, để tỏ rõ Thánh minh.”

Thế cục đã định.

Các quan viên khác trong điện Kim Loan bất kể chức quan lớn nhỏ đều không phải kẻ ngu dốt, trong lòng ai nấy đều sáng tỏ, lần lượt bước ra, lặp lại lời của Chu Dục Thành cùng các vị đại thần vừa tâu.

Những quan viên trước đây từng đi theo Lăng Duệ lúc này đều cúi gằm mặt, chỉ hận không thể tìm được một cái lỗ để chui xuống, tốt nhất là không để ai phát hiện ra. Sợ rằng sơ sẩy một chút sẽ liên lụy đến bản thân.

Thành Thái Đế nhìn xuống quần thần bên dưới, ánh mắt lơ đãng, trong thoáng chốc bên tai lại vang lên lời của Huệ Dương Trưởng Công chúa: “Bia công đức của Phụ hoàng nhỏ máu chắc là vì nhớ Thái tử ca ca và Hựu nhi. Nếu có thể an táng Thái tử ca ca và Hựu nhi vào Hoàng lăng, Phụ hoàng cũng có thể nhắm mắt xuôi tay.”

Thành Thái Đế vô thức sờ sờ tai, mấy ngày nay, từ khi Lăng Duệ bị bắt, quả thật ông ta ít nghe thấy tiếng Phụ hoàng mắng mình.

Vậy nên, Phụ hoàng chỉ là giận tên loạn thần tặc tử Lăng Duệ kia, chứ không phải đang trách ông ta…

Huệ Dương nói đúng, chỉ cần ông ta bảo vệ tốt giang sơn Đại Chu, Phụ hoàng cuối cùng cũng sẽ tha thứ cho ông ta.

Nghĩ đến đây, Thành Thái Đế gật đầu, ôn hòa nói: “Trẫm chuẩn tấu.”



Tuy đoán được Vương Loan có lẽ đã thay lòng đổi dạ, nhưng Lăng Duệ vẫn còn ôm chút hy vọng.

Cho đến tận lúc này, ông ta vẫn không muốn tin, Vương thị A Loan, người từng một lòng một dạ với ông ta lại phản bội ông ta.

Nhưng ông ta ở trong ngục Đại lý tự chờ ngày này qua ngày khác, không đợi được tin Thành Thái Đế băng hà, chỉ đợi được tin ông ta bị khép vào tội chết, tịch thu tài sản, tru di cả nhà.

Lăng Duệ quỳ ngồi trên chiếu rơm, nghe Triệu Bảo Anh đọc xong Thánh chỉ, cuối cùng ngước đôi mắt đầy tơ máu dữ tợn, khàn giọng nói: “Ta muốn gặp Quý phi nương nương một lần.”

Triệu Bảo Anh mỉm cười ôn hòa, nói: “Nếu đây là nguyện vọng cuối cùng trước khi chết của Lăng đại nhân, chúng ta có thể thay đại nhân truyền lời đến điện Thừa Loan. Lăng đại nhân tiếp chỉ tạ ơn đi!”

Tiếp chỉ? Tạ ơn?

Chu Nguyên Canh muốn giết cả nhà ông ta, ông ta còn tiếp chỉ gì, tạ ơn gì nữa?

Lăng Duệ như nghe thấy chuyện cười, ngửa mặt cười lớn.

“Ngươi biết tại sao ta muốn đưa Chu Nguyên Canh lên làm Hoàng Đế không? Chỉ vì ông ta nhu nhược, ngu xuẩn! Tốt lắm! Ta tiếp chỉ, ta tạ ơn! Ta, muốn cảm tạ tên ngu xuẩn Chu Nguyên Canh kia đã làm tất cả vì ta!”

Hai tiểu thái giám đi theo sau Triệu Bảo Anh, thấy Lăng Thủ phụ trước đây nho nhã tuấn tú giờ lại như kẻ điên mà dập đầu cười lớn, bĩu môi, chỉ coi là ông ta điên rồi.

Chỉ có Triệu Bảo Anh hiểu được thâm ý trong lời nói của Lăng Duệ, những suy đoán trước đây cũng được chứng thực vào lúc này.

E rằng huyết mạch Đại Hoàng tử không chính thống.

Triệu Bảo Anh cúi nhìn Lăng Duệ đang điên cuồng, giọng nói âm trầm: “Đi thôi, đều theo ta hồi cung phục mệnh.”

Xe ngựa mui đỏ in hằn hai vệt bánh xe sâu trên nền tuyết, khi xe ngựa đi ngang qua phố Trường An náo nhiệt, Triệu Bảo Anh vén rèm, nhìn về hướng phố Thuận Lạc.

Cao Tiến Bảo đối diện hạ giọng nói: “Vừa rồi Hoắc công tử đã sai người đưa thuốc cho Tiểu Phúc Tử.”

Triệu Bảo Anh buông rèm xuống, nói: “Thuốc đó là do Viên Thanh đại sư ở chùa Đại Tướng Quốc chế tạo?”

Cao Tiến Bảo gật đầu: “Đúng vậy.”

Triệu Bảo Anh cười cười: “Được rồi, lát nữa vào cung bẩm báo Hoàng thượng xong, chắc sẽ đến Ti Lễ Giám bắt người, ngươi tìm cơ hội đổi rượu độc đi, để cho Dư Chưởng ấn của chúng ta sống thêm vài ngày nữa.”

Lăng Duệ vừa ngã, sao Dư Vạn Chuyết còn sống được?

Thành Thái Đế muốn ông ta chết, Vương Quý phi muốn ông ta chết, ngay cả bản thân Triệu Bảo Anh, nếu không phải đã đáp ứng vị Trạng nguyên lang kia, đại khái cũng muốn ông ta chết.

Cao Tiến Bảo nhìn khuôn mặt tươi cười của Đốc công nhà mình, môi mấp máy, vẻ mặt muốn nói lại thôi.

Triệu Bảo Anh nhìn hắn ta, cười mắng: “Muốn nói gì thì nói!”

Cao Tiến Bảo nhìn trái nhìn phải, chỉ đủ hai người nghe thấy mới nói: “Từ sau chuyện của Chu Quý tần, Quý phi nương nương đối với Đốc công đa phần là bất mãn. Không bằng nhân lúc Đại Hoàng tử chưa đăng cơ, Hoàng thượng còn tại vị, Đốc công cầu xin ân điển được xuất cung an dưỡng. Đốc công cứ thuê một căn nhà gần phố Thuận Lạc, ngày ngày đến Trạng Nguyên lâu uống rượu, trò chuyện với Như nương tử, cuộc sống đó chẳng phải rất tốt sao?”

Vương Quý phi từ một nữ tử chi thứ của Vương thị Doanh Châu đi đến ngày hôm nay, đương nhiên không phải người thiện lương.

Cao Tiến Bảo thật sự lo lắng một khi Thành Thái Đế không còn, Vương Quý phi sẽ ra tay với Đốc công.

Dù sao, Đốc công nhà mình biết quá nhiều chuyện, lại còn đắc tội với Vương Quý phi vì chuyện của Chu Quý tần.

Cao Tiến Bảo là người thẳng tính, không biết nói những lời quanh co, nói xong câu vừa rồi thở dài một tiếng, nói: “Thuộc hạ chỉ mong Đốc công bình an.”

Chẳng lẽ Triệu Bảo Anh không biết Cao Tiến Bảo là người như thế nào, thấy hắn ta nhíu mày, liền cười lắc đầu, nói: “Ta tự có chừng mực. Vương Quý phi là người cẩn thận, trừ phi nắm chắc tuyệt đối, nếu không sẽ không dễ dàng ra tay.”

Chỗ dựa của Vương Quý phi là Đại Hoàng tử, nếu thật sự có ngày bà ta muốn giết ông ấy, vậy ông ấy cũng sẽ có cách khiến chỗ dựa của bà ta không còn là chỗ dựa của bà ta nữa.

Dù sao tất cả ni cô trong am Tịnh Nguyệt cũng không phải đều là người của Vương Loan.

Triệu Bảo Anh v**t v* hạt châu gỗ trên chiếc nhẫn, hơi nheo mắt lại.

Ông ấy và Như Nương vất vả lắm mới gặp lại nhau, cô nương hay nói lắp của ông ấy đã chịu nhiều khổ cực như vậy, sao ông ấy có thể bỏ bà lại, một mình ra đi?

***

Triệu Bảo Anh vừa về cung liền đến điện Dưỡng Tâm, tiện thể phái Tiểu Phúc Tử đến điện Thừa Loan truyền lời cho Vương Quý phi.

Vương Loan cúi đầu nhìn móng tay mới sơn, nghe Tiểu Phúc Tử truyền lời, mỉm cười quyến rũ, nói với Tiểu Phúc Tử: “Thay Bổn cung cảm tạ Triệu công công.”

Tiểu Phúc Tử vừa rời khỏi điện Thừa Loan, Mã ma ma cầm cây búa nhỏ gõ vai cho Vương Loan, nói: “Nương nương định đến ngục Đại lý tự gặp người kia sao?”

“Đi, sao lại không đi?” Vương Loan cười nói: “Có vài chuyện dù sao cũng phải để biểu ca biết chứ? Cũng không thể để ông ta sắp chết rồi còn làm quỷ hồ đồ.”

Đêm đó Vương Loan nói với Thành Thái Đế chuyện muốn gặp Lăng Duệ lần cuối.

“Thần thiếp chỉ muốn hỏi ông ta, sao có thể phụ lòng tin tưởng của Hoàng thượng đối với ông ta như vậy, uổng công lúc trước thần thiếp đã nói tốt cho ông ta trước mặt Hoàng thượng nhiều như vậy! Thần thiếp còn muốn khuyên ông ta thành thật nhận tội, đừng gây thêm phiền phức cho Hoàng thượng nữa.”

Dung mạo Vương Quý phi đoan trang, trên mặt toàn là vẻ bất bình, còn có một chút áy náy rõ ràng.

Thành Thái Đế nhìn bà ấy chằm chằm, thấy bà ấy nói năng đều là bênh vực ông ta và căm ghét Lăng Duệ, cười vỗ nhẹ mu bàn tay bà ấy, nói: “Cũng được, nàng đã muốn đi gặp hắn thì thay Trẫm nói với hắn một câu, Trẫm đối với hắn đã là nhân từ hết mức.”

Sáng sớm hôm sau Vương Loan xuất cung đến ngục Đại lý tự.

Lăng Duệ dường như không ngờ bà ấy lại đến nhanh như vậy, khi nhìn thấy bà ấy, thần sắc có chút ngẩn ngơ.

“A Loan, muội đến rồi…”

Lăng Duệ đứng đó, mang xiềng xích, dáng vẻ tiều tụy.

Khuôn mặt như già đi mười tuổi trong một đêm, không còn vẻ anh tuấn nho nhã như trước.

Vương Loan chậm rãi nhìn ông ta, cười nói: “Trước khi chết người mà biểu ca muốn gặp không phải Mộ muội muội, cũng không phải Nhược Mẫn, mà là ta. Nếu như thế, sao ta có thể không đến chứ?”

Lăng Duệ khàn giọng hỏi: “Thuốc ta đưa cho muội, muội chưa cho Chu Nguyên Canh uống sao? Còn có mật hàm trong am Tịnh Nguyệt, cũng là muội đổi?”

Ánh mắt Vương Loan khẽ động, nhướn mày nói: “Quả thật ta chưa cho Hoàng thượng uống thuốc, bất kể là Thần Tiên Hoàn hay độc dược huynh đưa mấy hôm trước, ta đều chưa từng dùng. Nhưng mật hàm huynh nói, ta chưa từng động đến. Nếu có người nói với huynh như vậy, người đó nhất định là đang lừa huynh.”

Hôm nay Vương Loan mặc một bộ cung trang màu lam ngọc rực rỡ, cả nhà giam dường như sáng sủa hơn nhờ sự hiện diện của bà ấy.

Thế cờ đã định, hy vọng sống duy nhất cũng bị Vương Loan cắt đứt.

Lăng Duệ không hiểu, ông ta không hiểu tại sao Vương Loan lại không cứu ông ta?

Ông ta nhìn khuôn mặt mềm mại đoan trang của Vương Loan, lẩm bẩm: “Muội không giết ông ta, chẳng lẽ là vì đã yêu ông ta?”

Vương Loan dịu dàng cười.

Chẳng lẽ nam nhân tưởng rằng trong đầu nữ nhân chỉ nghĩ đến chuyện tình ái hay sao?

Vương thị A Loan trước kia đúng là yêu Lăng Duệ đến tận xương tủy, nhưng Vương Loan như thế đã chết ở Khang Vương phủ rồi, người sống sót chính là Quý phi Vương Loan.

“Biểu ca, giờ huynh còn nói yêu thương với ta làm gì? Chẳng qua giữa huynh và hắn thì ta chỉ lựa chọn hắn thôi. Đương nhiên, nếu huynh nhất định phải hỏi ta, giữa hai người ta chán ghét ai hơn, thì dĩ nhiên là huynh. Huynh có biết không? Thuốc tuyệt tự năm xưa huynh bảo ta cho Hoàng thượng dùng, ta cũng cho huynh dùng rồi. Nếu không, sao huynh chỉ có hai đứa con?”

“Còn nữa, huynh muốn cứu vị Vệ Đại nương tử có mệnh phượng hoàng của Vệ gia, cũng là ta ngăn cản. Dù huynh muốn làm Hoàng Đế, hay muốn làm cha của Hoàng Đế, không có ta cho phép, huynh đều không làm được.”

“Biểu ca à, huynh nên mừng đi. Lăng Nhược Phàm chết rồi, ít ra còn có Húc nhi nối dõi huyết mạch Lăng gia cho huynh. Đương nhiên, ta sẽ không để Húc nhi biết huynh là cha ruột của nó. So với kẻ đạo đức giả như huynh, ta vẫn thà để Hoàng thượng làm cha nó.”

Theo từng lời của Vương Loan, sắc mặt xám xịt của Lăng Duệ dần nhiễm vài tia đỏ ửng bất thường.

Lồng ngực ông ta phập phồng kịch liệt, lửa giận như thủy triều, cuồn cuộn dập dềnh rồi lại điên cuồng rút đi.

Đến cuối cùng, chỉ còn lại nỗi bi ai đến nực cười.

Sự phản bội của Tề Xương Lâm, Hồ Đề đều không bằng nỗi đau mà Vương Loan mang đến cho ông ta chỉ trong ba câu hai lời. Vị Quý phi nương nương được sủng ái trong hậu cung bao năm nay, dùng giọng điệu dịu dàng nhất nói ra những lời độc ác nhất, từng nhát dao đâm vào tim ông ta.

“Ha ha, ha ha ha…”

Lăng Duệ cười lớn, cười đến mức chảy hai hàng lệ nóng hổi lăn dài trên khóe mắt.

Vương Loan vẫn luôn mỉm cười, thấy ông ta như vậy, ý cười dần lạnh xuống.

Bà ấy lấy ra một lọ thuốc màu xanh biếc, đặt xuống đất, dịu dàng nói: “Đây là độc dược mấy hôm trước huynh sai người đưa tới, giờ, Bổn cung trả lại cho chủ nhân của nó. Lăng đại nhân, cho phép huynh tự chọn cách chết là ân huệ lớn nhất Bổn cung dành cho huynh.”

Vương Loan đặt lọ thuốc xuống, chầm chậm rời khỏi ngục Đại lý tự.

Trong xe ngựa hồi cung, Mã ma ma nhỏ giọng nói: “Nương nương không sợ Lăng Thủ phụ…”

“Không sợ.” Vương Loan ôn tồn ngắt lời Mã ma ma, thản nhiên nói: “Bổn cung biết ma ma đang lo lắng điều gì, Lăng Duệ là người hão huyền lại tham quyền, hiện giờ Húc nhi là cốt nhục duy nhất của ông ta, ông ta mong Húc nhi ngồi lên ngôi Hoàng Đế hơn bất cứ ai. Cũng vì vậy, ông ta không dám cũng sẽ không nói ra chuyện của Húc nhi.”

Khoảng cách giữa hai hàng lông mày của Mã ma ma giãn ra đôi chút, lại nói: “Vậy ông ta có dùng độc dược nương nương để lại cho ông ta không?”

Vương Loan mỉm cười, nói: “Độc dược đó đúng là ân điển cuối cùng Bổn cung ban cho ông ta, còn ông ta có nhận ân điển này hay không, Bổn cung không quan tâm.”

Thành Thái Đế muốn trừ hậu hoạn, nhất quyết tru di nhất tộc Lăng thị.

Đầu sỏ Lăng Duệ phải chịu hình phạt dưới con mắt của bá quan văn võ, tại Ngọ Môn trải qua một hồi tuyên tội dài dằng dặc, sau đó mới bị chém đầu thị chúng.

Nếu Lăng Duệ không chết trước trong ngục thì sẽ phải chết trong tiếng mắng chửi của bá tánh. Vị biểu ca này của bà ấy từ trước đến nay luôn cao ngạo, cách chết như vậy đối với ông ta thật sự quá nhục nhã, chắc sẽ chọn tự vẫn trong ngục.

***

Vương Loan đoán không sai, đêm đó Lăng Duệ uống độc dược, đồng thời để lại một phong thư máu, cầu xin Thành Thái Đế xem như ông ta đã chuộc tội bằng cái chết, tha cho Mộ thị và Lăng Nhược Mẫn.

Đáng tiếc vị Lăng thủ phụ vừa uống độc dược xong đã bị Giám sát Ngự sử Hoắc Giác đi ngang qua ngục Đại lý tự phát hiện, sau một hồi móc họng cho uống thuốc, cưỡng ép cứu ông ta một mạng từ quỷ môn quan.

Đại lý tự Khanh Tông Già thấy ông ta hơi tàn sắp tắt, nằm trên chiếu rơm ngay cả sức lực đứng dậy cũng không có, bèn phát từ bi tấu xin Hoàng thượng, dời ngày xử trảm tại Ngọ Môn dự kiến ba ngày sau sang bảy ngày sau.

Mặt khác, từ Túc Châu chạy về Thịnh Kinh, vào ngày mười bảy tháng mười hai, tức là hai ngày trước khi Lăng Duệ bị xử trảm tại Ngọ Môn, cuối cùng Định Quốc Công Tiết Tấn cũng đến Thịnh Kinh.

Cơn bão tuyết cuồng phong ngày này còn dữ dội hơn mấy ngày trước.

Tiết Tấn một đường vượt bão tuyết, đêm ngày lên đường nhưng không lộ chút mệt mỏi.

Ông ấy cưỡi một con tuấn mã cao lớn đen tuyền, đôi mắt thâm trầm, sáng suốt chậm rãi lướt qua cổng thành, nghiêm nghị nói: “Vào cung!”
 
Tiểu Thanh Mai Của Thủ Phụ Đại Nhân
Chương 113: Gia pháp


Lần này Tiết Tấn hồi Kinh không mang theo nhiều người, tính cả thảy cũng chỉ độ hai mươi người.

Vừa vào Kinh, trước tiên áp giải Định Viễn Hầu Tuyên Hoa giao cho Hình Bộ, sau đó lập tức vào cung diện Thánh.

Phải nói rằng, Tiết Tấn hồi Kinh đúng thời điểm.

Không chỉ bắt được Định Viễn Hầu thông địch b*n n**c, khiến âm mưu của Nhị Hoàng tử Bắc Địch và Lăng Duệ chết từ trong trứng nước, mà còn đánh một trận thắng lớn với Bắc Địch ở Túc Châu.

Bao nhiêu bá tánh sau khi biết trọng thần triều đình cấu kết với Nam Thiệu, Bắc Địch thì lòng người hoang mang, lo sợ biên quan Đại Chu bị công phá.

Tiên Đế mê đắm đan dược mà mất nước, chẳng phải là do nội thần phản bội, cấu kết với địch quốc quấy nhiễu biên quan, khiến quốc gia suy vong, dân chúng lầm than hay sao?

Chính vì vậy mới tạo cơ hội cho Chu Nguyên Đế tranh giành thiên hạ.

May thay lần này nội thần mưu phản, Thanh Châu và Túc Châu trước sau đều truyền đến tin thắng trận mới ổn định được lòng dân.

Bá tánh phủ Thuận Thiên biết Định Quốc Công hồi Kinh, bất chấp thời tiết gió tuyết khắc nghiệt, khoác áo bông lên người chạy ra hai bên quan đạo nghênh đón, cung nghênh Tiết Tấn hồi Kinh.

Trong lòng bá tánh, Tiết Tấn chẳng khác nào chiến thần, không ít thiếu niên lang muốn tòng quân lớn lên cùng với những câu chuyện về uy danh lừng lẫy của ông ấy.

Ngay cả Thành Thái Đế cũng đối đãi với Tiết Tấn khác với các đại thần khác.

Ngoài kính trọng, còn có thêm vài phần kiêng dè, năm xưa ông ta đồng ý cho Tiết Vô Vấn vào Cẩm Y Vệ, ít nhiều cũng là vì chút kiêng dè này.

Tiết Tấn vào cung tâu trình tỉ mỉ với Thành Thái Đế về những biến động mà Bắc Địch gây ra ở Túc Châu, âm mưu của Định Viễn Hầu cùng đồng bọn.

Hơn một tháng trước, Thành Thái Đế đã nhận được thư Tiết Tấn sai người thúc ngựa gửi về, ông ta đã sớm biết những việc Tiết Tấn trình bày hôm nay.

Chỉ là ông ta rất hưởng thụ thái độ cung kính và trịnh trọng của Tiết Tấn, trước kia khi còn là Khang Vương, trong lòng ông ta luôn e ngại ba người. Một là Tiên Đế, hai là Vệ Thái phó, ba là Tiết Tấn.

Tiên Đế và Vệ Thái phó đều đã chết, còn Tiết Tấn trước mắt tuy hai bên thái dương đã điểm bạc, nhưng vẫn đang ở độ tuổi tráng niên. Thành Thái Đế kiêng dè ông ấy, nhưng lại không thể không dựa vào ông ấy.

Ai ai cũng nói Tiết Tấn là người trung thành, ngay cả loạn thần tặc tử Lăng Duệ cũng từng nói với ông ta: “Trên đời này ai cũng có thể phản, nhưng Tiết Tấn thì không.”

Sự thần phục của Tiết Tấn khiến Thành Thái Đế yên tâm, cũng thỏa mãn lòng hư vinh của một bậc Đế vương.

Trong đại điện rộng lớn, giọng nói trầm thấp, lạnh lẽo của Tiết Tấn như những viên đá cứng nhất trần gian, từng viên từng viên rơi xuống đất.

Thành Thái Đế lặng lẽ lắng nghe, đợi đến khi Tiết Tấn tâu trình xong, mới gật đầu mỉm cười: “Có Định Quốc Công trấn giữ biên cương Đại Chu, Trẫm rất yên lòng.”

Gần như ngay khi Tiết Tấn vào cửa thành, Tiết Vô Vấn đã nhận được tin tức do Ám Nhất đưa tới.

Hắn nhìn ánh mắt Ám Nhất pha lẫn lo lắng, đồng cảm cùng nhiều cảm xúc khó tả, khóe mắt hắn giật giật, nói: “Sai người đi báo cho bà nội, tiện thể bảo Phương thần y chuẩn bị cho ta ít thuốc trị thương ngoài da.”

Ám Nhất gãi gãi mặt, nói: “Thế tử, ngài nhún nhường một chút, Quốc Công gia có lẽ sẽ không đánh ngài đâu.”

Ám Nhất là thủ lĩnh ám vệ tân nhiệm của phủ Định Quốc Công, võ công của Quốc Công gia cao đến đâu, hắn ta biết rất rõ.

Hồi nhỏ khi luyện võ cùng Thế tử, hắn ta không ít lần bị Quốc Công gia “hành hạ”.

Tiết Vô Vấn khẽ cười một tiếng: “Còn cần ngươi lo lắng sao? Mau về phủ Định Quốc Công, phụ thân vào cung bẩm báo công việc, không mất nhiều thời gian đâu.”

Ám Nhất trong lòng run lên, vội vàng đáp “Vâng”, đang định xoay người, bỗng nhiên lại bị Tiết Vô Vấn gọi lại.

“Chờ đã.”

Tiết Vô Vấn xoa xoa ấn đường: “Sai người đi một chuyến đến phố Vĩnh Phúc, bảo tiểu tử kia kiếm cớ đón Ngụy di nương qua đó ở hai ngày.”

Nghĩ đến việc hai ngày không gặp được Vệ Xuân, trái tim vị Chỉ huy sứ Cẩm Y Vệ khẽ thắt lại.

Ám Nhất nhìn Thế tử nhà mình với ánh mắt đầy đồng cảm, lại đáp một tiếng “Vâng”, đang định xoay người, lại lần nữa bị gọi lại.

“Chờ đã.” Tiết Vô Vấn nhớ lại lực tay của phụ thân, nhịn một chút lại nói: “Ba ngày, bảo tiểu tử kia giữ Ngụy di nương lại ba ngày, dùng cớ gì cũng được.”

Ba ngày, ít nhất vết thương cũng ngừng chảy máu rồi.

Lần này, cuối cùng Ám Nhất cũng thuận lợi bước đi.

Tuyết rơi đầy trời, gió lạnh như dao cứa vào da thịt đau rát.

Tiết Vô Vấn đứng giữa trời gió tuyết, tay nắm chặt Tú Xuân đao bên hông, trầm ngâm một lúc, rồi bước chân hướng Trấn Phủ Ty.

Trong ngục của Trấn Phủ Ty giam giữ một người cha nhiều năm tìm kiếm con gái không thấy mà gây ra không ít tội ác.

Tay tên này dính máu mấy mạng người vô tội, tội không thể tha.

Nhưng Tiết Vô Vấn đã từng hứa, trước khi ông ta bị hành hình, sẽ cho ông ta biết sự thật.

Đôi giày ống màu đen dính đầy tuyết từ từ bước vào nhà lao tối tăm, trong một góc tối tăm lạnh lẽo, tên đồ tể bị trói chặt tứ chi bằng xích sắt khẽ chuyển động con ngươi đục ngầu, nhìn về phía người tới.

Ngay sau đó nghe thấy người này nói: “Ngày hành hình của ngươi định vào tháng năm sang năm. Trước đó, thế gian này sẽ trả lại công bằng cho con gái ngươi. Còn ngươi, phải dùng cái đầu của mình trả lại công bằng cho những người đã chết thảm dưới tay ngươi.”

***

Phủ Định Quốc Công, Vô Song viện.

Đồng ma ma bẻ vài cành mai vàng nở rộ, dẫn nha hoàn đi đến nhà ấm, sắp đến cửa thì bỗng nghe hộ vệ đến báo, nói Khương tiểu nương tử có việc gấp, muốn mời Ngụy di nương qua Hoắc phủ một chuyến.

Đồng ma ma vừa nghe liền biết người có việc gấp hẳn không phải A Lê, mà là tiểu công tử.

Mấy ngày nay, cả Hoắc phủ và Vô Song viện đều đang chờ đợi hai ngày nữa, Lăng Duệ bị xử trảm ở Ngọ Môn.

Đồng ma ma sợ xảy ra biến cố, vội vàng vén rèm lên, vào nói với Vệ Xuân.

Vệ Xuân nhận lấy cành mai vàng trong tay Đồng ma ma, dịu dàng an ủi: “Ma ma đừng lo lắng, lát nữa qua chỗ A Giác sẽ biết là chuyện gì, hẳn là không có biến cố gì đâu.”

Nói xong thì cắm cành mai vàng vào bình hoa, lấy khăn lau tay, khoác áo choàng lên người, cùng Đồng ma ma ra ngoài.

Xe ngựa chở Vệ Xuân vừa ra khỏi phố Chu Phúc, Ám Nhất thở phào nhẹ nhõm, sau đó nghe một ám vệ dưới trướng đến báo: “Quốc Công gia đã ra khỏi Hoàng cung, Thế tử gia đặc biệt đến cửa cung chờ ngài ấy, hiện giờ bọn họ sắp đến cổng phủ Định Quốc Công rồi.”

Ám Nhất lại hít một hơi thật sâu: “Phương thần y đã lấy thuốc chưa?”

Tên ám vệ kia lôi ra một đống bình thuốc, vừa đưa cho Ám Nhất thì nghe thấy giọng nói kích động của quản gia truyền đến từ bên ngoài: “Quốc Công gia!”

Nhìn thấy lão quản gia kích động đến mức sắp rơi lệ, khuôn mặt nghiêm nghị của Tiết Tấn cuối cùng cũng lộ ra chút ý cười, nói: “Lâm quản gia.”

Lão quản gia đáp “Ôi chao” một tiếng, nói: “Quốc Công gia muốn đến Tĩnh Tâm đường ạ? Lão phu nhân đang chờ ở trong đó.”

Tiết Tấn “Ừm” một tiếng, quay đầu nhìn Tiết Vô Vấn, lạnh nhạt phân phó: “Đến từ đường chờ ta.”

Nói xong, ông ấy bước qua cửa thùy hoa, đi về phía Tĩnh Tâm đường.

Tiết Vô Vấn nhìn bóng lưng phụ thân, thần sắc bình thản bước vào hành lang uốn khúc bên cạnh.

Ám Nhất từ đầu kia hành lang đi tới, cho Tiết Vô Vấn xem bình thuốc trong túi, an ủi: “Phương thần y nói, có những thứ thuốc này thì cho dù Thế tử gia bị đánh đến mức chỉ còn nửa cái mạng cũng có thể cứu sống.”

Khóe miệng Tiết Vô Vấn giật giật.

Nếu thực sự bị đánh đến chỉ còn nửa cái mạng, ba ngày e là không đủ…

Tiết Tấn ở Tĩnh Tâm đường gần một canh giờ, sau khi ra ngoài sải bước đi về phía từ đường.

Từ đường nằm ở phía Bắc phủ Định Quốc Công, đi vòng qua tiểu Phật đường là đến từ đường thờ bài vị tổ tiên Tiết gia.

“Kẽo kẹt” một tiếng, Tiết Tấn đẩy cánh cửa gỗ nặng nề ra.

Thấy trong ánh sáng lờ mờ, một bóng người thẳng tắp quỳ ngay ngắn trước bàn thờ bài vị.

Tiết Tấn mặt lạnh như nước, chậm rãi bước tới, đứng trước mặt Tiết Vô Vấn, trầm giọng nói: “Ký Dữ, khi con rời khỏi Túc Châu, con còn nhớ đã hứa với vi phụ điều gì không?”

“Nhớ.” Tiết Vô Vấn đáp: “Nhi tử đã hứa với người, sau khi vào Kinh nhất định tuân thủ tổ huấn, trung quân ái quốc, bảo vệ Túc Châu, tuyệt không kết bè kết cánh.”

Nghe vậy, Tiết Tấn cụp mắt xuống.

Dung mạo ông ấy cực kỳ anh tuấn, đôi đen láy thấm đẫm sát khí của Túc Châu, khi nhìn người khác, ánh mắt tựa như mũi tên sắc bén, dường như có thể nhìn thấu nhân tâm.

Tiết Tấn vẫn mặc khôi giáp trên mình, thân hình cao lớn đứng trước Tiết Vô Vấn, mang theo uy áp nặng nề.

“Vậy ta hỏi con, năm nay, con có làm việc gì trái với tổ huấn không?”

Tiết Vô Vấn nhìn thẳng vào mắt cha, không lên tiếng, đôi mắt đào hoa chứa đầy tình cảm lóe lên ánh sáng lạnh lẽo giống như Tiết Tấn.

Suốt một năm qua, rất nhiều chuyện, hắn chỉ là lửa cháy thêm dầu, chưa từng thật sự ra tay.

Nếu cứ cố cãi, thật ra hắn có thể mạnh miệng nói một câu “Không có”.

Nhưng đúng là hắn đã có ý phản nghịch với Thành Thái Đế, cũng có ý định thay đổi triều đại, thậm chí đã bày sẵn thế trận, muốn Thành Thái Đế phải sám hối tội lỗi giữa ban ngày ban mặt, trước mặt Vệ Xuân.

Dù là Thừa Bình Đế hay Thành Thái Đế, hắn – Tiết Vô Vấn – đối với kẻ ngồi trên long ỷ kia, chưa từng có chút kính sợ nào.

Cái gọi là trung quân, chẳng qua chỉ là một câu nói suông.

Điều này hắn biết, cha hắn cũng biết, thật sự không cần phải cãi.

Bầu không khí nhất thời đông lạnh.

Hai cha con đều rất hiểu tính tình của nhau, có vài lời thậm chí không cần nói ra cũng đã biết rõ đối phương nghĩ gì trong lòng. Đây cũng là lý do vì sao khi Tiết Tấn chưa bước vào, Tiết Vô Vấn đã chủ động quỳ trước linh bài liệt tổ liệt tông.

Im lặng một lúc lâu, Tiết Vô Vấn nói: “Cha biết con từ nhỏ đã là một đứa hỗn xược, trời không kính đất không sợ, muốn con tận trung cũng không phải là không được, nhưng ít ra ông ta phải là người đáng để tận trung. Kẻ đó thân là Thiên tử, tạm thời không nói đến việc giết hại huynh trưởng, bức hại trung lương, chỉ riêng việc ông ta tàn sát bá tánh tay không tấc sắt, đã đủ để con rút đao bên hông!”

Tiết Vô Vấn nói xong liền từ trong ngực lấy ra một cuộn án kiện, nói: “Nếu cha không tin thì tự xem án kiện này. Đây toàn là những thiếu nữ bị ông ta hại chết, có một nửa số người khi chết còn chưa cập kê, còn nhỏ hơn cả A Oánh. Người như vậy, đức không xứng vị, sao có thể làm vua một nước? Sao xứng đáng với lòng trung thành của cả Tiết gia chúng ta?”

Ánh mắt Tiết Tấn chậm rãi lướt qua cuộn án kiện, nói: “Con có biết vì sao tổ tiên Tiết Bàn lại phò tá Chu Nguyên Đế đoạt thiên hạ không? Hôn quân tiền triều Hiến Đế vô năng, muốn cắt sáu phần đất của Túc Châu cho Bắc Địch. Căn cơ của Tiết gia ở Túc Châu, lại tranh đấu sinh tử với Bắc Địch trăm năm. Một khi Túc Châu rơi vào tay Bắc Địch, Tiết gia chắc chắn không một ai sống sót, lúc đó mới bị ép buộc phải phản.”

Những thế gia có cơ nghiệp trăm năm như Tiết thị Túc Châu cùng với Vệ thị Thanh Châu, Vương thị Doanh Châu, ban đầu đều là những thế gia đại tộc thi thư gia truyền.

Cho đến khi người Bắc Địch ở Túc Châu thiêu giết cướp bóc, không việc ác nào không làm, mà triều đình lại không có một vị lương tướng nào có thể chi viện cho Túc Châu, còn ru ngủ bách tính Túc Châu bằng thái bình.

Từ đó Tiết gia mới sửa đổi tổ huấn, dẫn dắt con cháu trong tộc học võ học binh pháp. Một thế gia vốn lấy thơ sách gia truyền từ đó trở thành một nhà võ tướng kiên cường.

Về sau tổ huấn Tiết gia lấy việc bảo vệ Túc Châu, duy trì huyết mạch gia tộc là nhiệm vụ hàng đầu.

Cái gọi là trung quân ái quốc, thực chất là xiềng xích mà Tiết Tấn muốn dùng để ràng buộc Tiết Vô Vấn.

Cha nào con nấy, con trai ông ấy trời sinh thông minh, thành tựu sau này sẽ không kém gì ông ấy. Nhưng hắn có một lòng nhiệt huyết bảo vệ biên cương, lại không có một trái tim chịu sự ràng buộc của thế tục.

Người như vậy có thể mang đến cho một gia tộc vinh quang vô hạn, cũng có thể mang đến họa diệt tộc.

Những việc hắn làm hiện giờ chính là như vậy.

Thành công có lẽ có thể đưa Tiết gia lên một tầng cao mới. Thất bại thì cả Tiết gia phải chôn cùng hắn.

Nhưng hiện nay Tiết gia đang cực kỳ thịnh vượng, hoa tươi gấm vóc, căn bản không cần phải lên thêm tầng cao nào nữa.

Nếu không sẽ công cao chấn chủ khiến Thiên tử kiêng dè, ngược lại sẽ là tai họa.

“Ta biết kẻ ngồi trên điện Kim Loan kia là hôn quân, đó cũng là lý do vì sao ta mặc kệ người khác hạ độc hắn. Hắn sớm muộn gì cũng chết, chỉ cần Hoàng Đế kế vị sau hắn không phải là hôn quân thì được.” Ánh mắt Tiết Tấn trầm xuống, chỉ vào bàn thờ hương phía sau, nói: “Con phải nhớ kỹ, Tiết gia chúng ta không tham gia tranh giành quyền lực, chỉ bảo vệ Túc Châu, chỉ làm lương tướng mà Hoàng Đế không thể thiếu. Chỉ khi Túc Châu gặp nguy, mới noi theo tổ tiên Tiết Bàn, cứu Tiết gia, cứu Túc Châu.”

Tiết Vô Vấn cười khẩy một tiếng: “Ông ta bị độc chết vẫn là vị Hoàng Đế ôn văn nho nhã trong mắt bá tánh, vẫn có thể được an táng trong Hoàng lăng, được sử quan ghi chép một câu khen ngợi. Nhưng dựa vào cái gì chứ? Con đã tham gia vào tranh đấu, muốn làm chuyện bất trung bất nghĩa. Sao cha không trực tiếp coi như Tiết gia đã gặp nguy? Cha và mẹ chỉ có con là con trai duy nhất, con là huyết mạch duy nhất của dòng đích Tiết gia. Nếu con chết, Tiết gia cũng sẽ phải đối mặt với nguy cơ tuyệt tự, liệt tổ liệt tông Tiết gia chắc chắn sẽ không đồng ý, nói không chừng còn trách cứ cha.”

“Làm càn!” Tiết Tấn quát lớn một tiếng, xoay người rút ra một cây roi dài có gai từ phía sau bàn thờ hương: “Trước mặt tổ tông mà dám nói năng bừa bãi, con muốn ăn một trận gia pháp phải không?”

Tiết Vô Vấn chủ động cởi áo ngoài, lộ ra tấm lưng đầy vết thương, nói: “Vô Vấn tự biết bất trung bất hiếu, trận gia pháp này, con nhận!”

Tiết Tấn nhìn bộ dạng ngoan cố của hắn, nhất thời lửa giận bốc lên, giương roi dài lên, “bốp” một tiếng đánh vào lưng hắn. Những chiếc gai nhỏ xíu đâm vào da thịt hắn, lập tức để lại những chấm máu nhỏ li ti trên lưng.

Tiết Vô Vấn không hề rên lấy một tiếng, chỉ cúi đầu cắn chặt răng.

Roi dài lại vung lên, ngay lúc roi thứ hai sắp giáng xuống, bên ngoài bỗng vang lên tiếng gõ cửa.

“Con cháu Vệ thị Thanh Châu, Vệ Xuân, Vệ Cẩn, xin cầu kiến Tiết thế thúc.”
 
Tiểu Thanh Mai Của Thủ Phụ Đại Nhân
Chương 114: “Cái roi này ta chịu, đáng lắm…”


“Con cháu Vệ thị Thanh Châu, Vệ Xuân, Vệ Cẩn, xin cầu kiến Tiết thế thúc.”

Vệ Xuân vừa dứt lời, hai cha con trong phòng đều ngẩn ra. Tiết Tấn ngạc nhiên vì hai chữ “Vệ Cẩn”, còn Tiết Vô Vấn thì ngạc nhiên vì Vệ Xuân quay lại.

Tiết Tấn nhìn Tiết Vô Vấn một cái thật sâu, đặt roi xuống, tự mình ra mở cửa.

Tiết Vô Vấn thừa dịp cha đi mở cửa, vội vàng mặc áo vào. Áo trong trắng tinh vừa chạm vào thân đã thấm ra một mảng máu đỏ tươi.

May mà áo ngoài là quan phục Cẩm Y Vệ, vải đen dù có dính máu cũng chẳng nhìn ra được.

Bên ngoài, Tiết Tấn mở cửa, gương mặt vốn lạnh lùng nghiêm nghị khi nhìn thấy Hoắc Giác và Vệ Xuân bỗng chốc dịu lại, nói: “Ta định bụng xong việc bên này sẽ tự mình đến gặp hai tỷ đệ các con.”

Nói đến đây, ông ấy dừng lại một chút, nhìn Hoắc Giác, rồi nói tiếp: “Ở Túc Châu, ta nghe nói có người tuổi còn trẻ mà đỗ Lục nguyên, đề tên bảng vàng. Lúc đó ta đã nghĩ đến Vệ Thái phó, nhưng chưa từng nghĩ con chính là Chiêu Minh. Quả không hổ danh là con cháu Vệ gia Thanh Châu, nếu ông nội con còn sống, chắc hẳn sẽ rất tự hào về con.”

Trên đường hồi Kinh, Tiết Tấn mới biết tân khoa Trạng nguyên Hoắc Giác chính là Vệ Cẩn của Vệ gia.

Ông ấy vẫn luôn tiếc nuối vì không cứu được Vệ Triệt, giữ lại chút hương hỏa cho Vệ gia. Giờ đây thấy Hoắc Giác bình an đứng trước mặt, lại còn kế thừa tài năng của ông nội hắn, không khỏi mừng rỡ.

Trong từ đường vẫn còn người đang quỳ, Tiết Tấn lại như quên mất con trai mình, nói: “Chỗ này không tiện hàn huyên, hai tỷ đệ cứ theo thế thúc ra chính sảnh uống trà.”

Vệ Xuân nhìn bóng lưng thẳng tắp của Tiết Vô Vấn, lắc đầu cười, nói: “Ký Dữ đang quỳ gối trong đó, sao con có thể không quan tâm? Con và chàng vốn là một thể, nếu chàng làm sai đáng phạt thì Vệ Xuân cũng đáng phạt.”

Nói xong, Vệ Xuân khẽ vái chào Tiết Tấn, rồi nâng váy bước vào, quỳ xuống bên cạnh Tiết Vô Vấn.

Nàng ấy không cầu xin cho Tiết Vô Vấn, nàng ấy chỉ ở bên cạnh hắn.

Tiết Vô Vấn nghiêng đầu nhìn nàng ấy, đôi mắt đào hoa vốn mang theo ý cười nhẹ nhàng lúc này lại không hề có chút ý cười nào.

Hắn muốn nói hắn không sao, bảo nàng ấy đi ra ngoài.

Phạt quỳ chịu đòn đối với hắn chẳng qua là chuyện nhỏ, nhưng rơi vào người Vệ Xuân, đó lại là chuyện lớn.

Ngay cả một sợi tóc của cô nương này, hắn cũng không nỡ để nàng rụng, sao nỡ để nàng cùng hắn chịu khổ ở đây? Lại còn là chịu khổ quỳ gối như thế này.

Nhưng ánh mắt vừa chạm vào gương mặt thanh tú ung dung của nàng, lời từ chối lại không thể thốt ra.

Nàng muốn ở bên hắn, muốn cùng hắn đối mặt với phong ba bão táp, sao hắn có thể từ chối? Sao nỡ từ chối?

Yết hầu khẽ động đậy, rồi lại từ từ hạ xuống.

Tiết Vô Vấn mím môi cười, cũng chẳng màng đến bài vị tổ tiên phía trước đang nhìn, tự mình nắm lấy tay Vệ Xuân.

Lông mi Vệ Xuân khẽ run.

Cây roi dài trên bàn thờ, những chiếc gai mềm còn dính máu của hắn, trong không khí cũng thoang thoảng mùi máu tanh.

Nàng cắn môi, nhẹ nhàng nắm lại tay Tiết Vô Vấn.

Tiết Tấn nhìn Vệ Xuân và Tiết Vô Vấn quỳ cạnh nhau, đang định lên tiếng, bỗng thấy trước mặt tối sầm lại. Tiểu tử Vệ gia mà ông ấy vừa khen ngợi lúc nãy đã sải bước vào trong, vén áo quỳ xuống.

“Những việc thế huynh làm đều vì công đạo, vì lê dân bách tính. Nếu huynh ấy có lỗi, thì Giác cũng có lỗi. Giác không nên tin trên đời này có công đạo, không nên tin nỗi oan khuất của Vệ gia và Hoắc gia rồi sẽ có ngày được rửa sạch. Điều Giác nên làm là ăn miếng trả miếng, lấy giết trả giết, dùng máu tươi của kẻ vô tội để trải một con đường báo thù.”

Tư thế lang quân trẻ tuổi thẳng tắp, giọng nói ôn hòa bình tĩnh, nhưng từng lời nói ra đều như rỉ máu.

Tiết Tấn không biết, kiếp trước ông ấy đã từng nói với Hoắc Giác, trên đời này có muôn vàn con đường tìm kiếm công đạo, nhưng điều không nên nhất chính là dùng mạng sống của người vô tội để báo thù cho mình.

Vị Tướng quân chinh chiến sa trường nhiều năm dùng máu thịt của mình lập nên vô số chiến công hiển hách, sau một thoáng ngẩn người, ông ấy bỗng nhìn về phía bài vị trên bàn thờ.

Bên ngoài, tuyết lớn rơi lả tả như lông ngỗng.

Tân ma ma cầm ô, bước nhanh theo sau Tiết lão phu nhân. Liên Kỳ, Liên Họa phía sau thậm chí còn không kịp cầm ô, chỉ đắp kín mũ choàng, vội vàng theo sau Tân ma ma.

Hai người vốn là nha hoàn Tiết lão phu nhân phái đến bên cạnh Ngụy di nương, nhưng từ khi vào Vô Song viện, bị Thế tử dùng thủ đoạn cứng rắn dạy dỗ, trong mắt họ chỉ còn Ngụy di nương.

Bề ngoài họ là tai mắt của lão phu nhân, nhưng thực chất đã sớm là người của Ngụy di nương. Lúc nãy hai người được Đồng ma ma ám thị, lén chạy đến Tĩnh Tâm đường mời lão phu nhân.

Tiết lão phu nhân quả nhiên quyết đoán, vừa nghe Ngụy di nương có dấu hiệu bất thường về nguyệt sự, lại còn đến từ đường tìm Thế tử thì lập tức chạy đến đây.

Tiết lão phu nhân vừa đến từ đường, thấy ba người quỳ ngay ngắn trong đó, lông mày nhíu lại, nói với Tiết Tấn: “Hôm nay không thi hành gia pháp, để ba đứa ra ngoài đi!”

Tuy từ đường này quanh năm hương khói nghi ngút, nhưng dù sao cũng là nơi đặt bài vị người đã khuất, âm khí quả thực quá nặng.

Nam nhân dương cương ở đây lâu cũng không tốt, huống chi là Vệ Xuân, một cô nương yếu ớt.

Nếu nàng thật sự đang mang thai, thì càng không thể vào đây.

Hai cha con này thật là hồ đồ, người thì vội vàng dạy dỗ con, kẻ thì vội vàng chịu phạt. Nếu đứa nhỏ trong bụng Vệ Xuân có mệnh hệ gì, họ có khóc cũng chẳng kịp!

Tiết lão phu nhân hít sâu một hơi, mắt lườm Tiết Tấn và Tiết Vô Vấn.

“Phái người đến Phúc An đường mời Phương thần y đến Tĩnh Tâm đường.”

***

Từ khi Phương Tự Đồng bị Tiết Vô Vấn “mời” vào phủ Định Quốc Công, ông ấy ở lại Phúc An đường.

Tiểu viện này hẻo lánh, ngày thường cũng không có mấy người đến làm phiền ông ấy, coi như cũng được thanh nhàn, nói chung là không có gì bất mãn.

Nhưng hôm nay Phúc An đường lại khá náo nhiệt.

Đầu tiên là Đồng ma ma phái người đến truyền lời, tiếp theo là Hà Ninh đến truyền lời, chưa được bao lâu thì lão phu nhân ở Tĩnh Tâm đường lại vội vàng sai người đến mời ông ấy.

Phương Tự Đồng thở dài một tiếng, khoác hòm thuốc lên vai rồi đi đến Tĩnh Tâm đường.

Trong thiền điện của Tĩnh Tâm đường, Vệ Xuân ngồi trên giường, dưới ánh mắt đầy mong đợi của Tiết lão phu nhân, đặt tay lên gối bắt mạch.

Mấy ngày trước Phương Tự Đồng mới bắt mạch cho nàng ấy, tuy rằng vì thời gian còn ít, mạch tượng chưa rõ ràng, nhưng ông ấy đã bắt mạch biết bao nhiêu người, mạch tượng của Vệ Xuân tám chín phần mười là có thai.

Hôm nay bắt mạch lại, mạch tượng dưới tay lưu loát, như châu lăn trên đĩa, rõ ràng là hỉ mạch.

Phương Tự Đồng rút tay về, nói với Tiết lão phu nhân và Vệ Xuân: “Chúc mừng lão phu nhân, Vệ Đại nương tử có hỉ mạch.”

Lời vừa dứt, đừng nói là Tiết lão phu nhân, ngay cả những lão bộc như Tân ma ma cũng lộ vẻ vui mừng.

Trời biết lão phu nhân mong có chắt bế bao lâu rồi!

Cả phòng đều tràn ngập niềm vui, chỉ có Vệ Xuân là bình tĩnh.

Tiết lão phu nhân nhìn nàng với ánh mắt trìu mến, lại hỏi Phương Tự Đồng: “Con bé này từ nhỏ thân thể yếu ớt, có điều gì cần chú ý không?”

Phương Tự Đồng đáp: “Thân thể Vệ Đại nương tử hai năm nay so với trước kia đã tốt hơn nhiều, nhưng dù sao cũng là lần đầu mang thai, vẫn nên cẩn thận một chút thì hơn. Lão phu sẽ liệt kê một số điều cần chú ý về ăn uống, nhưng quan trọng nhất vẫn là giữ tinh thần thoải mái, vui vẻ, chớ nên quá buồn quá giận.”

Tiết lão phu nhân nghe vậy khẽ “Ừm” một tiếng: “Đương nhiên là vậy.”

Phương Tự Đồng kê thuốc xong, lại viết thêm hai trang giấy kín mít những điều cần lưu ý, rồi mới rời khỏi Tĩnh Tâm đường.

Vừa đi khuất, Tiết lão phu nhân kéo tay Vệ Xuân, nhẹ nhàng vỗ vỗ, nói: “Con yên tâm, việc đánh roi Ký Dữ hôm nay xem như bỏ qua. Có ta ở đây, Tiết thế thúc của con sẽ không để nó bị phạt gia pháp nữa.”

Vệ Xuân khẽ cười, nhìn vào đôi mắt từ ái của Tiết lão phu nhân, dịu dàng nói: “Lão phu nhân có giận Xuân nhi không?”

Tiết lão phu nhân ngẩn người, hiểu ra Vệ Xuân đang nói đến chuyện gì.

Suốt một năm qua, Vệ Xuân hầu như ngày nào cũng đến Tĩnh Tâm đường cùng bà ấy lễ Phật, chép kinh thư, tụng kinh, đàm luận Phật pháp.

Mỗi ngày hai người đều dành không ít thời gian cho Phật pháp, Tiết lão phu nhân tất nhiên không nhận ra tôn nhi của mình đã làm gì bên ngoài.

Thật vậy, nếu không có Vệ Xuân, Tiết lão phu nhân quả thực sẽ sớm nhận ra những hành động lén lút của Tiết Vô Vấn.

Nhưng cũng chẳng sớm hơn được bao nhiêu.

Với thủ đoạn của tôn nhi bà, muốn giấu bà thật sự không phải chuyện khó.

“Giận con chuyện gì? Giận con bỏ thời gian bầu bạn giải buồn với bà già này ư?” Tiết lão phu nhân bật cười: “Ta đâu phải người không biết lý lẽ, được voi đòi tiên. Con đó, là đang lo ta bất mãn với Ký Dữ, phải không?”

Vệ Xuân không phủ nhận, chỉ đoan trang nói: “Lão phu nhân nhân từ, chắc chắn sẽ không so đo với Ký Dữ.”

Nói rồi nàng đặt tay lên bụng, dịu dàng nói: “Ký Dữ còn chưa biết con có thai, nếu lão phu nhân giận chàng, chúng ta sẽ giấu chàng một thời gian, coi như là để lão phu nhân nguôi giận.”

Tiết lão phu nhân hừ một tiếng: “Tính nó như vậy, vẫn nên để nó sớm biết mình sắp làm cha thì hơn, ít ra cũng khiến nó chững chạc hơn chút.”

Vệ Xuân nghe vậy thì cười, một lúc sau, lại từ từ thu lại nụ cười, nghiêm túc nói: “Lão phu nhân, trên đời này chỉ có con mới có thể làm thê tử của Ký Dữ. Cũng chỉ có con mới xứng làm mẹ của đứa trẻ này. Đứa trẻ này không thể là con của thị thiếp.”

Vệ Xuân nói những lời này với giọng điệu bình tĩnh và kiên định, không hề có chút thấp hèn cầu xin nào, như thể đang nói một chuyện hết sức bình thường trên đời, khiến Tiết lão phu nhân thở dài trong lòng.

Cô nương Vệ gia này quả thật được dạy dỗ rất tốt, có thủ đoạn, có tâm cơ nhưng không mất đi cốt cách, ngay cả khi nhận lỗi cũng thẳng thắn, không hề che giấu.

Quan trọng nhất là cô nương này quá thông suốt, chỉ vài ba câu đã nói ra điểm yếu của một người.

Ký Dữ chỉ cần nàng, không thể cưới thêm người khác, hậu duệ của Tiết gia cũng chỉ có thể từ trong bụng nàng mà ra.

Nếu Vệ Xuân vẫn là Ngụy di nương, vậy chắt của bà ấy cả đời mang danh con của di nương, mà điều này căn bản là không thể.

Trước đây Tiết lão phu nhân đã tận mắt chứng kiến tôn nhi của mình vì nàng mà chống lại tộc lệnh, lại vì nàng mà bỏ lại tất cả ở Túc Châu đến Thịnh Kinh.

Bà ấy từng bất bình cho Ký Dữ, đường đường là Thế tử Định Quốc Công, địa vị tôn quý lại tài mạo song toàn, không biết đã khiến bao nhiêu tiểu thư tương tư, sao lại phải yêu một người một cách thấp hèn như vậy?

Nhưng hôm nay trong từ đường Tiết gia, cô nương mà nó hết lòng yêu thương đã không chút do dự quỳ xuống bên cạnh nó.

Hai người nắm tay nhau, bóng dáng quỳ gối bên nhau như đang nói với mọi người, sau này dù có chuyện gì xảy ra, họ cũng sẽ cùng nhau đối mặt. Họ là một thể thống nhất.

Tiết lão phu nhân nhìn sâu vào Vệ Xuân, nói: “Từ hôm nay trở đi, con hãy cùng Ký Dữ gọi ta là ‘Bà nội’. Bà nội không cầu gì khác, chỉ cầu con nhớ kỹ, con đó, trước hết là thê tử của Ký Dữ, sau mới là mẫu thân, tỷ tỷ và nữ nhi của người khác.”

Tiết lão phu nhân nói chuyện với Vệ Xuân một lúc lâu mới ra khỏi phòng, vừa ra ngoài đã thấy tôn nhi của mình đứng dưới gốc cây ngô đồng trong sân, không biết đã đến từ bao giờ, trên vai và tóc đều phủ đầy vụn tuyết.

Bà ấy liếc nhìn Tiết Vô Vấn, nói với vẻ không vui: “Lát nữa Tân ma ma sẽ mang thuốc đến, con nhớ cho Xuân nhi uống lúc còn nóng.”

Tiết Vô Vấn vội vàng đáp ứng, vội vã hành lễ với Tiết lão phu nhân rồi vào phòng, khiến Tiết lão phu nhân không khỏi lắc đầu.

***

Vệ Xuân tất nhiên nghe thấy động tĩnh bên ngoài, khi Tiết Vô Vấn vào, nàng liền đứng dậy.

Tiết Vô Vấn sải bước tới, ôm nàng vào lòng, khàn giọng nói: “Có chỗ nào không thoải mái không?”

Vệ Xuân lắc đầu, ôm lấy cổ hắn, nhỏ giọng nói: “Chàng hãy đặt ta xuống trước, ta xem vết thương trên lưng chàng.”

Tiết Vô Vấn nhớ lại lời nàng nói với hắn, mỗi một vết thương trên người hắn nàng đều muốn biết.

Nghĩ một chút, hắn ôm nàng ngồi xuống chiếc giường nhỏ bên cạnh, cúi đầu tìm mắt nàng, giọng điệu cà lơ phất phơ: “Nàng biết đấy, ngoại thương nhìn thì có vẻ nghiêm trọng, nhưng thực ra chẳng hề hấn gì. Cha chỉ đánh một roi, còn chưa kịp đánh roi thứ hai, thì nàng đã đến rồi. Ta nói thật, một roi đó đối với ta chẳng khác gì gãi ngứa, chẳng đau chút nào.”

Vệ Xuân “Ừ” một tiếng, đưa tay cởi y phục trên người hắn, vừa cởi áo khoác và áo trong, sờ thấy chất vải áo lót vốn mềm mại trên lưng hắn đã cứng lại.

Đó là cảm giác của máu dính trên vải khô lại.

Đầu ngón tay Vệ Xuân khựng lại, hơi ngước mắt, nói với hắn: “Tiết Vô Vấn, chàng quay người lại đi.”

Tiết Vô Vấn cúi mắt nhìn nàng, chậm rãi quay người lại, lúc này lại hối hận vô cùng vì lúc nãy không về Vô Song viện thay y phục trước.

Khi phụ thân vung roi đã dùng mười phần mười sức lực, trực tiếp tạo thành một vết thương hở.

Vết máu lớn lan từ vị trí vai trái đến eo bên phải, trên nền áo lót trắng như tuyết loang ra một màu đỏ sẫm chói mắt.

Vệ Xuân khẽ nín thở, cố gắng kìm nén sự chua xót nơi chóp mũi. Nhưng nỗi đau xót dâng trào, trong khoảnh khắc đã tràn ngập trong lòng.

Chỉ một roi mà đã chảy nhiều máu như vậy, bốn mươi chín roi bảy năm trước hắn đã chảy bao nhiêu máu?

Vệ Xuân lấy thuốc Phương thần y đã chuẩn bị, nhẹ nhàng bôi thuốc cho hắn.

Cảm nhận được động tác của nàng, Tiết Vô Vấn cúi đầu, xương cổ gáy rõ ràng, tạo thành một đường cong cứng cáp.

Thật lòng mà nói, hắn không cảm thấy vết thương trên lưng đau lắm.

Nhưng hơi thở mềm mại của Vệ Xuân cùng những ngón tay thon thả lướt qua cơ lưng hắn lại khiến toàn thân hắn ngứa ngáy không yên, là kiểu ngứa đến tận xương tủy.

Hắn vừa nghiến răng chịu đựng, vừa mắng mình là cầm thú.

Vất vả lắm mới bôi thuốc xong, mặc lại y phục, cô nương này bỗng nhiên ôm lấy cổ hắn, nhẹ nhàng đặt một nụ hôn lên gáy, nói: “Tiết Vô Vấn, chàng hãy nhớ, sau này ta Vệ Xuân trước hết là thê tử của chàng, sau mới là mẫu thân và tỷ tỷ của người khác.”

Toàn thân Tiết Vô Vấn cứng đờ, tất cả những suy nghĩ miên man trong lòng đều tan biến trong chốc lát.

Thay vào đó là tình yêu như nước lũ tràn về.

Nàng hiểu hắn, hắn cũng hiểu nàng.

Cô nương nhà hắn đang nói với hắn, sau này hắn, Tiết Vô Vấn sẽ là người đứng đầu trong lòng nàng.

Tiết Vô Vấn quay người nhìn nàng, khóe môi khẽ nhếch, hai tay nâng mặt nàng lên, nhẹ nhàng áp trán vào trán nàng, giọng điệu bất cần đời như thở dài lại như trêu chọc.

“Chậc, một roi này của ta, đáng giá thật…”

Vệ Xuân khẽ ngước mắt nhìn hắn, nhớ tới lời của Tiết lão phu nhân. Nàng vô thức nắm lấy tay hắn, áp bàn tay rộng lớn của hắn lên bụng phẳng lì của mình, nói: “Ký Dữ, chàng sắp làm cha rồi.”

***

Trong Tĩnh Tâm đường, lò sưởi dưới nền nhà cháy hừng hực, bên ngoài tuyết rơi gió rét, nhưng trong phòng lại ấm áp như xuân.

So với Tĩnh Tâm đường, thư phòng của Tiết Tấn lạnh hơn nhiều.

Hoắc Giác cùng Tiết Tấn uống vài chén trà, đánh vài ván cờ, rồi kể về sáu năm hắn ở thành Đồng An.

Hắn kể về A Lê của hắn, về quán rượu và hiệu thuốc, còn có những chuyện vụn vặt trên phố Chu Phúc. Lang quân trẻ tuổi khi nhắc đến chuyện cũ, đôi mày thanh tú không hề có chút u ám nào.

Tiết Tấn khẽ gật đầu.

Ông ấy biết những biến động ở Thịnh Kinh năm nay không thể thiếu sự góp sức của Hoắc Giác, thậm chí cả việc đứa con trai ngỗ nghịch của mình làm chuyện đại nghịch bất đạo cũng không thể thiếu sự xúi giục của chàng trai trẻ này.

Với Tiết Vô Vấn, Tiết Tấn có thể giơ roi đánh cho một trận nên thân.

Nhưng với Hoắc Giác, ông ấy không thể làm vậy, cũng không có tư cách đó.

Đứa trẻ này cùng Vệ Xuân đã trải qua cảnh nhà tan cửa nát, người thân chết thảm như vậy, nếu họ muốn báo thù, không ai có tư cách chỉ trích họ.

Huống chi, những việc hắn làm hiện nay không hề làm hại người vô tội, ngược lại còn mang đến lợi ích cho vô số bá tánh.

Thanh Châu, thành Lâm An, và cả chuyện loạn dân ở thành Khúc Lương mới đây được hắn cảnh giác, ngăn chặn trước, đều nhờ hắn mà tránh được cảnh lầm than.

Chỉ có đối với Thành Thái Đế…

Tiết Tấn đang cân nhắc lời nói, định mở miệng thì nghe chàng trai trẻ đối diện ôn tồn nói: “Thế thúc cứ tin ở Giác, Giác tuyệt đối sẽ không làm chuyện gì tổn hại đến thanh danh của Vệ gia, cũng sẽ không liên lụy khiến thế huynh bị sử quan phê phán.”

Câu này lọt vào tai Tiết Tấn chính là lời hứa Hoắc Giác sẽ không làm chuyện bất trung bất nghĩa.

Tiết Tấn ngước mắt, nhìn vào đôi mắt trong veo khó dò của Hoắc Giác, yết hầu khẽ động, nói: “Thế thúc tin con.”

Trước khi rời khỏi phủ Định Quốc Công, Hoắc Giác vốn định đến Tĩnh Tâm đường thăm Vệ Xuân. Nhưng chưa kịp đến nơi, đã nghe Đồng ma ma cười nói, Thế tử gia biết Đại nương tử có thai, đã bế Đại nương tử về Vô Song viện, nói muốn nói chuyện với đứa nhỏ trong bụng, để A Thiền làm quen với giọng nói của cha.

Đồng ma ma vừa cười vừa lắc đầu: “Thế tử gia mong Đại nương tử sinh một tiểu cô nương giống Đại nương tử, nhưng lão nô lại mong Đại nương tử lần này sinh tiểu công tử.”

Hoắc Giác nhớ đến tiểu A Thiền trầm lặng kiếp trước, lại mong kiếp này A Thiền có thể sớm đến với thế gian này. Nhưng hắn cũng hiểu Đồng ma ma đang lo lắng điều gì, bèn an ủi: “Ma ma đừng lo, Tiết gia không phải là dòng họ trọng nam khinh nữ.”

Kiếp trước A Thiền tuy mất mẹ, sau lại mất cha, nhưng trên dưới Tiết gia, dù là Tiết lão phu nhân hay Tiết Tấn, ai cũng yêu thương nó như châu như ngọc. Ngay cả hắn, cậu của nó cũng đáp ứng mọi yêu cầu của nó.

Kiếp này, mọi thứ đều khác rồi.

A Thiền không cần phải kéo tay áo hắn, từng chữ từng chữ hỏi hắn: “Mắt con thật sự giống hệt mắt của mẹ sao?”

Tiếng gió rít gào.

Hoắc Giác nhớ đến đôi mắt tĩnh lặng như trăng sáng của tiểu A Thiền, bước chân đạp lên lớp tuyết dày.

Sau khi Hoắc Giác rời khỏi phủ Định Quốc Công, Tiết Tấn cũng biết tin Vệ Xuân có thai.

Ông ấy trầm ngâm một lúc, rồi nói với người hầu: “Mời Nhị gia đến đây.”

Nhị gia của phủ Định Quốc Công, Tiết Khoảnh, là đường đệ của Tiết Tấn, cha của Tiết Khoảnh là con thứ của lão Định Quốc Công.

Đại Chu tự xưng là nơi tuân thủ lễ nghi, phân biệt đích thứ rõ ràng, mà chế độ đích thứ của các gia tộc vọng tộc còn khắt khe hơn cả dân thường.

Nhưng không ít nam nhi Tiết gia đã tử trận nơi sa trường, người Tiết gia bây giờ càng ngày càng ít, đến đời Tiết Vô Vấn thậm chí chỉ còn hai hậu bối là Tiết Vô Vấn và Tiết Oánh.

Vì vậy, tuy Tiết Khoảnh là con thứ, nhưng địa vị trong phủ Định Quốc Công lại không hề thấp.

Tiết Tấn cũng từng khuyên Tiết Khoảnh ra chiến trường Túc Châu lập công, nhưng so với việc đánh trận, Tiết Khoảnh dường như thích chu du sơn hà, làm thơ vẽ tranh hơn, hễ rảnh rỗi là lại cùng Thành Vương ra ngoài du ngoạn.

Có lẽ vì chung chí hướng, Tiết Khoảnh và Thành Vương Chu Nguyên Quý có quan hệ rất tốt, con gái của hai người, Tiết Oánh và Minh Huệ Quận chúa cũng vì thế mà trở thành bạn thân.

Tiết Tấn gọi Tiết Khoảnh đến là để hỏi chuyện Thành Vương.

Tiết Khoảnh vừa vào phòng, ông ấy đi thẳng vào vấn đề: “Đệ giao du với Thành Vương nhiều, đệ thấy Thành Vương là người thế nào?”

Tiết Khoảnh dừng bước, nghe vậy liền xoa cằm, nói: “Thành Vương là người yêu thích vẽ tranh, tính tình thú vị lại không hề kiểu cách, là một người bạn đáng kết giao.”

Tiết Tấn nhíu mày, lại hỏi thêm vài chuyện về Chu Nguyên Quý, hỏi đến mức Tiết Khoảnh thấp thỏm lo âu. Tiết Khoảnh nói: “Đại ca, chẳng lẽ Thành Vương gây ra chuyện gì sao?”

Tiết Tấn lắc đầu, ánh mắt nhìn chằm chằm vào bức tranh sơn thủy trên bàn, im lặng không nói.

***

Ngày tháng trôi qua, chớp mắt đã đến ngày mười chín tháng mười hai.

Hôm nay trời đặc biệt lạnh, nhưng dù vậy, ngoài Ngọ Môn vẫn tụ tập rất đông người từ sáng sớm.

Có bá tánh Thịnh Kinh, có sĩ tử lên Kinh dự thi chuẩn bị tham gia Ân khoa năm sau, còn có các quan lại đội mũ mão.

Lăng Duệ mặc áo tù in chữ “Tù” màu đen, bị hai nha dịch áp giải đến Ngọ Môn. Chỉ trong mười mấy ngày ngắn ngủi, ông ta gầy trơ xương, sắc mặt xám xịt, đôi mắt không ánh sáng, như một cái xác không hồn.

Tông Già cuối cùng vẫn giữ lại cho ông ta chút thể diện, sai người chải đầu rửa mặt cho ông ta sạch sẽ rồi mới áp giải đến Ngọ Môn chịu phán quyết.

Tên cai ngục phía sau đẩy mạnh một cái, Lăng Duệ “bịch” một tiếng quỳ xuống. Cơ thể ông ta bị kịch độc tàn phá, đã gần đất xa trời, ngay cả thở thôi cũng đau đớn.

Trong ngày đông lạnh giá này, Lăng Duệ thờ ơ nghe Tông Già nghiêm nghị tuyên đọc tội danh của ông ta — thông địch, phản quốc, tàn sát trung lương, mưu nghịch.

“Quả nhiên, năm xưa Tiên Thái tử và Tiên Thái tôn đều bị ông ta hãm hại, còn có Vệ Thái phó và Hoắc Tướng quân! Phỉ! Loại súc sinh này, chết mười lần cũng không đủ!”

“Làm quan, phải trung quân ái quốc, phải xứng đáng với lễ nghĩa liêm sỉ, trời đất chứng giám! Những việc ngươi làm, thật sự là nỗi nhục của văn nhân!”

“Tên quan chó này, không chỉ hại bản thân mình, còn hại cả tộc nhân của ngươi, bọn họ cũng bị liên lụy vì ngươi! Tên súc sinh này thật sự hại người không ít!”



Từng câu mắng chửi lọt vào tai Lăng Duệ, dần dần hóa thành tiếng ong ong, khiến đầu ông ta càng thêm đau.

Chẳng mấy chốc, Lăng Duệ nghe thấy Tông Già ở trên cao giọng hỏi: “Tội thần Lăng Duệ, ngươi có nhận tội không?”

Nghe thấy câu này, khuôn mặt vô cảm của Lăng Duệ rốt cuộc cũng có chút biến đổi, ông ta cười tự giễu.

Thắng làm vua thua làm giặc.

Thua chính là thua, dù không cam tâm, ông ta vẫn là kẻ thua cuộc.

Lăng Duệ ngẩng đầu, lớn tiếng chế giễu: “Ta, Lăng Duệ, nhận tội! Nhưng người đáng nhận tội không chỉ có mình ta! Nếu nói ta chết không đáng tiếc, trên đời này còn có kẻ đáng chết hơn ta, tội ác tày trời hơn ta!”

Trong số hàng trăm người có mặt, chỉ có vài người hiểu được câu này.

Chu Dục Thành lặng lẽ nhìn kẻ thù chính trị đã đấu đá với mình nhiều năm, giờ phút này ông ấy lại dâng lên ý chế giễu tương tự như Lăng Duệ.

“Giờ Ngọ ba khắc đã đến, Tông đại nhân, hành hình đi.” Ông ta nói với Tông Già.

Tông Già gật đầu, ném thẻ bài khắc chữ “Trảm” màu đỏ son xuống dưới đài.

Đao phủ uống cạn một ngụm rượu mạnh, phun lên lưỡi đao. Lưỡi đao đã chém vô số đầu người được giơ cao lên, rồi lại rơi xuống, nhanh chóng nhuốm máu đỏ.

Hoắc Giác đứng sau Chu Dục Thành cùng vài người khác, nhìn ra phía ngoài đám đông. Ở đó, Vệ Xuân khoác áo choàng màu xanh, được vài Cẩm Y Vệ bảo vệ, lặng lẽ nhìn cảnh tượng máu me trên đài cao.

Như cảm nhận được ánh mắt của Hoắc Giác, nàng ấy ngước đôi mắt hơi đỏ lên, nhìn Hoắc Giác từ xa.

Một lúc lâu sau, Hoắc Giác thu hồi ánh mắt, nhìn xuống dưới đài. Lần này, cuối cùng cũng để a tỷ tận mắt chứng kiến Lăng Duệ chết đi.

Chuyện Lăng Duệ bị xử tử hôm nay, tất nhiên người trong Trạng Nguyên lâu đều biết. Khương Lê vốn muốn đi xem, nhưng bị Dương Huệ Nương ngăn cản, nói là không may mắn.

“Hôm nay thời tiết quá xấu, âm u, dù là giờ Ngọ ba khắc, dương khí cũng không đủ!”

Dương Huệ Nương tin Phật, rất tin nhân quả.

Loại người ác vô cùng như Lăng Duệ vừa bị chém đầu, chắc chắn sẽ có quỷ sai âm phủ đến câu hồn ngay, nếu bị âm sai đụng phải thì không tốt.

“Con yên tâm, những kẻ ác đã hại nhiều mạng người như vậy, không đầu thai làm súc sinh thì cũng làm ngạ quỷ.” Dương Huệ Nương khẳng định chắc nịch.

Khương Lê không quan tâm Lăng Duệ chết rồi sẽ đầu thai vào cõi nào, nàng chỉ muốn đi cùng Hoắc Giác. Chỉ là Dương Huệ Nương không đồng ý, nàng cũng không thể đi.

Sáng nay nàng cùng Dương Huệ Nương đến quán rượu, mấy hôm nay trời lạnh hơn mọi năm rất nhiều, khắp nơi đều phủ trắng tuyết. Lại vì sắp đến Tết, người đến quán rượu mua rượu thật sự rất đông.

Hai mẹ con bàn bạc suốt đường đi xem nên ủ thêm loại rượu gì, sắp đến quán rượu, Dương Huệ Nương bỗng hỏi Khương Lê: “Lăng Thủ phụ bị chém đầu, còn những người khác bị định tội gì?”

Khương Lê suy nghĩ một lúc, nói: “Mấy người kia đều bị tịch biên gia sản, định xử trảm vào mùa thu năm sau. May là mấy người này tuy phạm tội, nhưng không liên lụy đến người nhà, coi như là khai ân ngoài vòng pháp luật.”

Nói đến đây, một trong số đó chính là chồng cũ của Dư Tú Nương, Tề Xương Lâm. Mấy hôm trước Tú nương tử biết tin Tề Xương Lâm bị phán tử hình, im lặng rất lâu. Hôm sau nói với Dương Huệ Nương, chờ đến mùa thu năm sau, bà ấy sẽ trở về Trung Châu.

Khương Lê không khỏi nghĩ, lý do Tú nương tử muốn ở lại Thịnh Kinh đến tận mùa thu năm sau là vì muốn thu liệm hài cốt cho chồng cũ.

Người ta nói một ngày vợ chồng, trăm ngày ân nghĩa, Tú nương tử và chồng cũ dù sao cũng có chút tình nghĩa.

Nghe Tiểu Nguyệt nói, trước khi vị Tề đại nhân kia đến Đại lý tự đầu thú, đã đuổi hết đám thiếp thất trong nhà, còn chia cho họ chút bạc, để họ tìm người tốt gả đi.

“Tề An nói đại nhân chưa từng động vào những thiếp thất đó, những thiếp thất đó được nạp vào nhà chỉ là để che mắt người ngoài. Vậy tại sao lúc trước đại nhân lại nhất quyết muốn hòa ly với phu nhân? Nếu phu nhân không rời khỏi phủ Thị lang, nói không chừng đại nhân cũng sẽ không phạm phải sai lầm lớn như vậy, rõ ràng trước kia đại nhân và phu nhân rất tình cảm.”

Vẻ mặt đau buồn của Tiểu Nguyệt khiến Khương Lê không khỏi thở dài. Nói đúng ra, Tề Xương Lâm cũng là người đã hại nhà Hoắc Giác, tất nhiên Khương Lê hận.

Nhưng nàng nghe Hoắc Giác nói, vụ án Lăng Duệ lần này, nếu không có ông ta tự thú, vạch trần chuyện Lăng Duệ hãm hại Tiên Thái tử, e rằng xử lý tên gian thần Lăng Duệ phải tốn chút công phu.

Từ điểm này mà xem, người này ít nhất cũng không đến nỗi tội ác tày trời như Lăng Duệ.

Tối đến, Hoắc Giác làm nhiệm vụ trở về, Khương Lê hỏi han rất nhiều chuyện Lăng Duệ hành hình hôm nay, nghe nói ông ta nhận tội còn vỗ tay, tiếc nuối nói: “Tiếc là mẹ không cho ta đi, nếu không ta nhất định phải mắng ông ta vài câu cho hả giận.”

Hoắc Giác cởi áo choàng ngoài, cười nói: “Mẹ cũng là vì muốn tốt cho nàng, cảnh tượng chém đầu như vậy, thật sự không thích hợp để nàng xem, nàng biết ông ta đã đền mạng rồi là được.”

Hôm nay Lăng Duệ hành hình, sau khi a tỷ xem xong Lăng Duệ bị chém đầu, Tiết Vô Vấn vội vàng đưa nàng ấy về phủ Định Quốc Công. Nếu không phải a tỷ nhất quyết muốn xem, Tiết Vô Vấn chắc là sẽ không đưa nàng ấy đến.

Khương Lê đưa cho Hoắc Giác một chén trà gừng để ấm người: “Chàng ở ngoài chịu gió lạnh cả ngày, mau uống chút trà gừng cho ấm.”

Hoắc Giác không cảm thấy khó chịu gì, nhưng trà gừng này là do Khương Lê đặc biệt nấu cho hắn, đương nhiên hắn sẽ không từ chối, chỉ trong chốc lát đã uống cạn sạch.

Nhân lúc hắn uống trà, không biết vì sao Khương Lê lại nhớ đến lời Tiểu Nguyệt nói.

Đợi Hoắc Giác uống xong, không nhịn được nói với hắn: “Những người khác… ý ta là chồng cũ của Tú nương tử, Tề Xương Lâm, thật sự sẽ bị xử trảm vào mùa thu năm sau sao?”
 
Tiểu Thanh Mai Của Thủ Phụ Đại Nhân
Chương 115: Chương 115


Ngọn nến khẽ nổ “lách tách”, ánh đèn lay động nhẹ.

Hoắc Giác đặt chén xuống, kéo Khương Lê vào lòng, ngón tay thon dài nhẹ nhàng v**t v* mái tóc nàng buông trên vai, cúi mắt hỏi: “Có phải Tú nương tử đã nói gì với nàng không?”

Khương Lê đáp: “Không phải, hôm đó Tú nương tử có nhắc đến chuyện sang năm sẽ về Trung Châu, sau đó thì không nói gì về chuyện của mình nữa, chỉ là ta và mẹ muốn biết mà thôi.”

Nói đến đây, tiểu cô nương tựa cằm lên vai Hoắc Giác, nhỏ giọng nói: “Ông ta gây ra bao nhiêu tội ác, nếu thật sự phải chịu tội chết, thì cũng không thể trách ai khác.”

Hoắc Giác cọ cọ vào vành tai nàng, dịu dàng nói: “Chỉ là?”

Khương Lê im lặng một lát, rồi mới nói: “Tú nương tử và Tề đại nhân có một tiểu lang quân, tên là Tề Hoằng, đã tám tuổi rồi. Kỳ thực tuy Tề đại nhân không lập công chuộc tội, nhưng dù sao cũng đã bù đắp một phần lỗi lầm, coi như là biết sai mà sửa.”

Khương Lê bảy tuổi đã mất cha, không hiểu sao khi biết con trai của Tú nương tử cũng giống như nàng, tuổi còn nhỏ đã phải mất cha, trong lòng luôn cảm thấy tiếc nuối.

Tú nương tử tốt như vậy, tiểu lang quân do bà ấy nuôi dạy chắc chắn cũng không tệ.

Tiểu nương tử nói xong câu đó thì im lặng.

Hoắc Giác vỗ vỗ lưng nàng, nói: “Tề đại nhân sẽ không chết, chỉ là ông ta dù sao cũng phạm phải đại tội, tội sống khó thoát.”

Tề Xương Lâm trong vụ án của Lăng Duệ lần này thật sự đã lập được đại công, công tội bù trừ, so với hai người Hồ Đề, Tần Vưu, tội của ông ta hẳn là nhẹ nhất, tội không đáng chết.

Nhưng Thành Thái Đế không thể để bọn họ sống, quân muốn thần chết, thần không thể không chết. Sau một hồi bàn bạc, Chu Dục Thành và Tông Già cũng chỉ trì hoãn ngày hành hình đến sang năm.

Nhưng chỉ cần kéo dài đến mùa thu sang năm, ông ta sẽ có cơ hội sống.

Một đạo đại xá đủ để giảm tội chết của Tề Xương Lâm thành tội sống.

Quả thật, những đại tội như thông địch, mưu phản, chưa bao giờ nằm trong danh sách các tội có thể đại xá. Nhưng Chu Dục Thành sẽ không để Tề Xương Lâm chết, lại có hắn giúp đỡ, nhân cơ hội đại xá để giữ lại mạng sống cho Tề Xương Lâm không khó.

Khương Lê không hiểu những chuyện quanh co trong triều đình, nhưng những lời Hoắc Giác nói, nàng luôn tin tưởng.

Hoắc Giác nói Tề Xương Lâm sẽ không chết, vậy ông ta sẽ không chết.

“Ông ta phạm phải sai lầm như vậy, có thể giữ được mạng đã là may mắn rồi.” Khương Lê dừng một chút, nói: “Ông ta còn sống, Tú nương tử và Tề Hoằng chắc sẽ vui mừng.”

Hoắc Giác “Ừ” một tiếng.

Kiếp trước Tú nương tử không đến ngục Đại lý tự nhận xác Tề Xương Lâm, người đi là Tề An. Còn kiếp này Tề Xương Lâm chủ động nhận tội, Tú nương tử cũng lựa chọn ở lại Thịnh Kinh, chờ sau khi ông ta chết sẽ đưa ông ta rời đi.

Hai ngày trước Hoắc Giác đến ngục Đại lý tự, Tề Xương Lâm là người bình tĩnh nhất trong mấy vị quyền thần từng nắm giữ đại quyền bị giam trong ngục, dường như từ đầu đã đoán được điều gì đang chờ đợi mình.

Ông ta hiểu rõ, từ khi đến Đại lý tự tự thú, ông ta đã biết mình không thể sống. Ông ta cởi mũ ô sa, dâng lên tờ giấy cam kết, chẳng qua là muốn đổi mạng của mình lấy sự chiếu cố của Chu Dục Thành đối với Tề Hoằng sau này.

Lúc Hoắc Giác đến, Tề Xương Lâm thậm chí còn mỉm cười nói với hắn: “Lúc A Tú xuất hiện ở Trạng Nguyên lâu, ta đã phái người điều tra ngươi. Ngươi rõ ràng cũng là một sĩ tử nhà nghèo giống ta, cũng cưới một nữ thương nhân tài giỏi. Lúc đó ta còn nghĩ ngươi tuy còn trẻ nhưng làm tốt hơn ta. Nhưng bây giờ nghĩ lại, sau lưng Tông gia có ngươi, sau lưng Tiết Vô Vấn có ngươi, sau lưng Chu Dục Thành có ngươi, sau lưng hai vị Ngự sử Đô sát viện cũng có ngươi.”

Khi Tề Xương Lâm nói ra những lời này, ngay cả ông ta cũng cảm thấy khó tin.

Ông ta luôn cảm thấy cục diện ở Thịnh Kinh có một bàn tay vô hình đang thao túng, nhưng lại không đoán được là ai.

Cho đến khi Hoắc Giác từ Thanh Châu trở về, ông ta mới chợt hiểu ra, dường như trong đầu có một sợi dây xâu chuỗi những suy nghĩ hỗn loạn lại với nhau, cuối cùng cũng vén được mây mù.

Nhưng điều này cũng quá khó tin, chỉ một người trẻ tuổi mới vào quan trường một năm, sao có thể có tâm tư sâu sắc, thủ đoạn cao minh như vậy?

Tuổi chưa đến hai mươi đã có mưu lược như vậy, ai tin?

Tề Xương Lâm ngồi ngay ngắn trên tấm chiếu rơm đơn sơ, mỉm cười ôn hòa, hỏi: “Hoắc đại nhân, ngươi rốt cuộc là ai? Người đứng sau ngươi là ai?”

Hoắc Giác lại không đáp, chỉ nói: “Sau này Tề Thượng thư tự khắc sẽ biết.”

Tề Xương Lâm ngẩn người một lúc, rồi lắc đầu cười: “Ta không còn bao nhiêu ngày sau này nữa. Lời đại nhân vừa nói, chẳng lẽ trước mùa thu sang năm, Thịnh Kinh lại có một trận mưa máu nữa sao?”

Hoắc Giác không nói, chỉ lặng lẽ nhìn Tề Xương Lâm một cái rồi quay người rời khỏi ngục Đại lý tự.

Cũng là ở trong ngục, cũng là án tử hình.

Tề Xương Lâm kiếp này so với kiếp trước không còn tâm như tro tàn. Rõ ràng đều là đi chịu chết, ông ta lại có một loại tự tại, đạt được điều mình mong muốn.

Lần này, ông ta cũng không ngăn cản Tú nương tử đến nhận hài cốt của ông ta.

Sự an tâm này, sự tự tại này, có lẽ là bởi vì ông ta biết sau khi ông ta chết, Tú nương tử nhất định sẽ đưa ông ta rời đi.

Hoắc Giác nhẹ nhàng nâng mặt Khương Lê lên, nhìn ánh nến dịu dàng chiếu sáng lông mày và đôi mắt nàng, nhìn đôi mắt trong veo của nàng phản chiếu khuôn mặt đang mỉm cười của hắn.

Tề Xương Lâm kiếp này đã có kết cục tốt nhất, mà Hoắc Giác kiếp này cũng đã có kết cục tốt nhất.

***

Đêm khuya, khi đèn đuốc trong Hoắc phủ đã tắt, một bóng đen mặc y phục dạ hành lướt qua cửa hông, nhanh chóng hướng về phủ Công chúa.

Lúc này trong phủ Công chúa, Huệ Dương Trưởng Công chúa đang nắm tay Kim ma ma, nói: “Bức mật tín lần trước nói Lăng Duệ chết, Triệu Vân sẽ sống. Ma ma, người nói xem Triệu Vân thật sự còn sống sao?”

Kim ma ma mấp máy môi, nhưng không nói nên lời.

Ngay từ đầu bà ấy đã không cảm thấy Phò mã còn sống, năm đó thi thể của Phò mã Công chúa đã tự mình xem qua, tự mình sờ qua. Nhưng dáng vẻ đầy hy vọng của Công chúa lại khiến bà ấy không nỡ nói ra những lời làm mất hứng.

Kim ma ma trìu mến cụp mắt, mỉm cười nói: “Dù Phò mã còn sống hay không, Điện hạ cũng phải coi như ngài ấy còn sống. Như vậy, người sống mới có hy vọng.”

Vừa dứt lời, liền nghe thấy “vút” một tiếng—

Một mũi tên xuyên qua cửa sổ, “đinh” một tiếng ghim vào giá sách cổ làm bằng gỗ kim tơ nam mộc bên tường, được mũi tên ghim bên dưới là một bức thư.

Gần như ngay khi mũi tên bắn vào, Huệ Dương Trưởng Công chúa lập tức xuống giường, thậm chí không kịp mang giày vội vàng rút mũi tên, xé bức thư.

Giống như bức mật tín trước đó, bức thư này chỉ có một câu ngắn ngủi: Chùa Đại Tướng Quốc, Dược Cốc.

Tay Huệ Dương Trưởng Công chúa cầm thư run lên, lẩm bẩm: “Triệu Vân…”

Nàng ấy đặt thư xuống, nói với Kim ma ma: “Ma ma, ta muốn đến chùa Đại Tướng Quốc.”

Kim ma ma vội vàng ngăn nàng ấy lại, nói: “Công chúa, còn mấy ngày nữa là ngày an táng Tiên Thái tử, Tiên Thái tử phi và Thái tôn vào Hoàng lăng. Lúc này Điện hạ sao có thể rời khỏi Thịnh Kinh, Hoàng thượng bên kia…”

Động tác của Huệ Dương Trưởng Công chúa khựng lại, hơi thở gấp gáp dần dần chậm lại.

Đúng vậy, nàng ấy tốn biết bao nhiêu lời nói, cuối cùng mới khiến Hoàng huynh đồng ý an táng hài cốt của cả nhà Thái tử ca ca vào Hoàng lăng.

Lúc này, nàng ấy không thể rời khỏi Thịnh Kinh.

Ít nhất, phải đợi cả nhà Thái tử ca ca an táng xong xuôi, nàng ấy mới có thể đi.

Huệ Dương Trưởng Công chúa cẩn thận gấp bức thư lại.

Thần sắc có chút hoảng hốt, bảy năm nay, nàng ấy cũng đã từng đến chùa Đại Tướng Quốc, nhiều lần đi ngang qua Dược Cốc nhưng chưa từng vào trong.

Nàng ấy biết Viên Thanh đại sư ở Dược Cốc là thúc thúc của Triệu Vân, từ khi Triệu Vân còn nhỏ, gần như mỗi năm đều đến chùa Đại Tướng Quốc thăm Viên Thanh đại sư. Tuy Viên Thanh đại sư là người xuất gia, nhưng tình cảm của hai thúc cháu vẫn luôn rất tốt.

Triệu Vân không chỉ một lần nói đùa với nàng ấy, nói sư phụ của thúc thúc khen hắn thông minh sáng suốt, nói nếu Công chúa Điện hạ không tha thứ, hắn sẽ đến Dược Cốc tìm thúc thúc của hắn.

Vậy nên bảy năm trước, Triệu Vân chỉ là giả chết, chỉ là đến Dược Cốc tìm thúc thúc của hắn sao?

Mắt Huệ Dương Trưởng Công chúa đỏ hoe: “Ma ma, người nói xem nếu Triệu Vân còn sống, có phải hắn vẫn còn giận ta nên mới không chịu về Thịnh Kinh?”

So với việc Triệu Vân thật sự đã chết, Huệ Dương Trưởng Công chúa thà rằng Triệu Vân giận nàng nên mới không đến tìm nàng.

Kim ma ma khuyên nhủ: “Điện hạ, còn chưa biết nội dung trên thư… là thật hay giả.”

Huệ Dương Trưởng Công chúa hiểu Kim ma ma đang lo lắng điều gì, có lẽ là sợ nàng ấy hy vọng càng lớn, thất vọng càng lớn.

Nhưng lúc này nàng ấy căn bản không muốn nghe lời khuyên của người khác, nàng ấy mỉm cười, nói với Kim ma ma: “Ma ma, người ra ngoài trước đi, ta muốn yên tĩnh một lát.”

Sau khi Kim ma ma rời đi, Huệ Dương Trưởng Công chúa ngồi yên lặng trên giường một lát.

Đột nhiên đứng dậy, đi đến trước giá gỗ cổ, dịch chuyển một chiếc đèn lưu ly tinh xảo, nhẹ nhàng ấn cơ quan.

Liền thấy giá gỗ cổ khẽ rung lên, từ giữa từ từ di chuyển sang hai bên, lộ ra một mặt trống giấu bên trong.

Mặt trống trải qua không biết bao nhiêu năm mưa gió, giá đỡ màu đỏ đã phai màu, mặt trống màu xám trắng lại loang lổ một mảng máu đỏ sẫm chói mắt.

Mặt trống dường như bị một lực cực mạnh va chạm, rách ra một đường lớn, khe hở lộ ra một góc vải lụa màu vàng.

Đêm tuyết rơi xào xạc, gió thổi vi vu, bên trong điện đèn đuốc sáng trưng, yên tĩnh không một tiếng động.

Trưởng Công chúa nhìn mặt trống cũ kỹ, từ từ nhắm mắt lại, bàn tay mềm mại run rẩy phủ lên vết máu, nhẹ nhàng gọi: “Triệu Vân…”

***

Tuyết lớn phủ trắng Kinh thành.

Ngày hai mươi sáu tháng mười hai, là ngày lành tháng tốt do Khâm Thiên Giám tính toán, thích hợp để an táng di cốt Tiên Thái tử, Tiên Thái tử phi và Tiên Thái tôn vào Hoàng lăng.

Cả Thịnh Kinh không ai không biết vụ án Tam phủ mưu nghịch bảy năm trước vốn là án oan.

Những bá tánh từng được phủ Tiên Thái tử chiếu cố, nay mặc đồ tang trắng, tay cầm ô đứng dọc phố Trường An, tiễn đưa linh cữu phủ gấm vàng rực rỡ từ Thái miếu đi về phía Hoàng lăng.

Tang lễ của Tiên Thái tử Chu Nguyên Tuần chỉ kém đôi chút so với lễ an táng của Hoàng Đế. Từ ngày linh cữu được đưa ra khỏi Thái miếu, Thành Thái Đế tuân theo lễ chế, hạ lệnh cho bá quan trong triều chay tịnh mười ngày.

Phi tần hậu cung cùng với vị Hoàng tử duy nhất Chu Hoài Húc cũng phải theo lễ chay tịnh.

Những ngày này, Vương Quý phi mỗi ngày đều cho Đại Hoàng tử đến điện Thừa Loan dùng bữa, tránh kẻ dưới phạm lỗi, để Hoàng tử ăn phải đồ mặn, sau này bị ngôn quan chỉ trích.

Lăng Duệ đã chết, phần lớn người Vương gia cũng bị bãi quan.

Giờ đây Vương Loan cuối cùng cũng hoàn toàn thoát khỏi Lăng Duệ và Vương gia, nhưng bà ấy vẫn không dám lơi lỏng. Chỉ cần Húc nhi chưa ngồi lên ngôi vị kia thì một ngày cũng không thể buông lỏng.

Vương Loan càng ngày càng quản thúc Chu Hoài Húc chặt chẽ, những ngày này cậu sống thật sự có chút ngột ngạt.

Ngày cuối cùng của thời gian chay tịnh, cậu vừa tan học từ Thượng thư phòng, đi đến Ngự Hoa viên thì gặp một chiếc kiệu quen mà lạ.

Chu Hoài Húc nhận ra đó là kiệu của Huệ Dương Trưởng Công chúa, không nhịn được gọi: “Tiểu cô cô!”

Huệ Dương Trưởng Công chúa vội cho người dừng kiệu, vén rèm một bên, mỉm cười nhạt với Chu Hoài Húc: “Đại Hoàng tử.”

Một tiếng gọi “Đại Hoàng tử” khiến Chu Hoài Húc cảm thấy có chút xa cách.

Cậu ngước đôi mắt phượng trong veo nhìn Huệ Dương Trưởng Công chúa, nói: “Tiểu cô cô, con có thể ngồi kiệu của người về điện Thừa Loan không?”

Giọng nói tiểu lang quân còn chút non nớt, nhưng khuôn mặt nhỏ nhắn lại nghiêm nghị, ra dáng người lớn, ngày nhỏ Chu Hoài Húc nào phải như vậy.

Huệ Dương Trưởng Công chúa thở dài trong lòng, nói: “Lên đi, Bổn cung đưa Đại Hoàng tử về điện Thừa Loan.”

Hôm nay nàng ấy mặc một bộ tang phục trắng toát, mặt không trang điểm, trên búi tóc chỉ cài một đóa hoa trắng. Không hiểu sao lại khiến Chu Hoài Húc nhớ đến tiểu cô cô của bảy năm trước.

Năm đó cậu chưa đầy bốn tuổi, nhưng cậu lại nhớ rất rõ ngày hôm ấy.

Hôm đó tiểu cô cô cũng mặc một bộ tang phục trắng đến điện Dưỡng Tâm, sau đó thất hồn lạc phách rời khỏi Hoàng cung.

Ấn tượng của cậu về tiểu cô cô luôn là người dịu dàng hay cười, cậu chưa từng thấy nàng lộ ra vẻ mặt đau khổ như vậy.

Nhũ mẫu nói với cậu đó là vì Phò mã của tiểu cô cô đã chết.

Trước khi Phò mã chết, tiểu cô cô rất thân thiết với cậu, mỗi lần vào cung, đều mang cho cậu vài món đồ chơi nhỏ bên ngoài, lại thân mật gọi cậu là “Húc nhi”.

Khi đó cậu ngày nào cũng mong tiểu cô cô vào cung, nhưng sau này nàng ấy ít khi vào cung, mà có vào cũng không đến thăm cậu nữa.

Như thể chỉ trong một ngày, nàng ấy không còn là tiểu cô cô của cậu nữa.

Trong kiệu đốt hương, Huệ Dương Trưởng Công chúa đưa lò sưởi tay cho Chu Hoài Húc, hỏi han vài câu về việc học của cậu rồi im lặng.

Gần đến điện Thừa Loan, Chu Hoài Húc liếc nàng ấy, do dự một lát, nhỏ giọng chỉ đủ hai người nghe thấy: “Tiểu cô cô không vào cung có phải vì Phụ hoàng sẽ đánh người không?”

“Choang” một tiếng, lò sưởi bằng đồng trong tay Huệ Dương Trưởng Công chúa rơi xuống đất.

“Con nói gì?” Nàng ấy đột nhiên quay đầu, ánh mắt có chút kinh ngạc: “Con… nhìn thấy gì?”

Chu Hoài Húc vừa nói ra câu đó liền hối hận.

Nguyễn ma ma đã dặn cậu, chuyện cậu thấy đêm đó phải chôn chặt trong bụng cả đời, không được nói với ai, kể cả mẫu phi.

Cậu sợ hãi cúi đầu, như thể đã làm sai chuyện gì đó.

Huệ Dương Trưởng Công chúa hít một hơi, nhẹ giọng nói: “Đại Hoàng tử đã từng thấy Phụ hoàng con, quở trách… cung nhân?”

Chu Hoài Húc lắc đầu, nghĩ một lúc, lại do dự gật đầu.

“Không phải cung nhân, là mẫu phi, con thấy Phụ hoàng đánh mẫu phi.”
 
Tiểu Thanh Mai Của Thủ Phụ Đại Nhân
Chương 116: Là nàng hại hắn


Năm Thành Thái thứ bảy, tuyết rơi thành thiên tai

Người ta nói năm mới trừ tai ương, nhưng Tết năm nay vì phải chay tịnh cho Tiên Thái tử và Tiên Thái tôn, cả Thịnh Kinh phủ một màu trắng tang tóc.

Đến mười lăm tháng giêng, Tết Nguyên Tiêu, việc chay tịnh cuối cùng cũng kết thúc.

Ngày này, phố Trường An lại treo đèn lồng đỏ rực, đèn hoa kết thành biển lửa, pháo hoa rực rỡ phần nào xua tan đi vẻ tiêu điều, lạnh lẽo do bão tuyết mang lại.

“Nghe nói từ sáng sớm trong cung đã thắp đèn Phật, Viên Huyền đại sư cũng được mời vào cung tụng kinh.”

Sáng sớm Tông Khuê đã đến nhà bái phỏng, mượn cớ là để tặng lễ Tết cho Dương Huệ Nương, Như Nương cùng các vị chưởng quỹ, nhưng thực chất là đến để ăn ké.

Vị lang quân trẻ tuổi mặc cẩm bào màu lam, đầu đội kim quan này không chút khách khí ăn hết hai đĩa bánh sen và bánh sữa tơ vàng, rồi lấy khăn lau tay, vẫy tay với Khương Lệnh: “Hiếm khi ta đến đây một chuyến, lát nữa cho ta xem bài sách luận đệ làm gần đây.”

Khương Lệnh, người hoàn toàn không muốn phải “làm việc” ngày Tết: “…“

Cậu giờ cũng coi như đã hiểu, mỗi lần Tông Khuê ca đến giảng bài cho cậu, cơ bản là sẽ mất cả ngày.

Ăn sáng xong ăn trưa, ăn trưa xong lại tiếp tục ăn tối, ăn tối xong còn phải ăn thêm vài món khuya mới chịu rời đi.

Nhưng tấm lòng của Tông Khuê ca, cậu cũng không thể phụ lòng, vội vàng đồng ý.

Hai người đang định ra khỏi chính sảnh, Tông Khuê bỗng nhớ tới chuyện của hai vị trưởng bối trong nhà mấy hôm trước.

Nghĩ một chút, dừng bước, quay lại nói với Hoắc Giác: “Đúng rồi, Trạng nguyên lang, mấy hôm trước ông bác đã đồng ý cho thúc thúc điều tra lại vụ án treo năm xưa. Mấy ngày nay thúc thúc ngay cả nghỉ Tết cũng không nghỉ, ngày ngày ở trong phủ nha. Nghe nói đã tra ra thân phận của mấy cỗ thi thể, qua Tết Nguyên Tiêu sẽ phái người đi tìm thân nhân của những người này.”

Ánh mắt Hoắc Giác hơi ngưng lại.

Hắn đoán được Tông Già nhất định sẽ để Tông Úc điều tra vụ án đó, nhưng không ngờ lại nhanh như vậy.

Tông Già quả không hổ là người đứng đầu Tông thị ở Tịnh Châu.

Năm xưa ông ta có thể bảo vệ Tông gia dưới nanh vuốt của bè phái Lăng Duệ, đoạt được chức Đại lý tự Khanh. Giờ phút này cũng có thể trong cơn mưa gió sắp đến, xem xét thời thế, đưa ra quyết định tốt nhất.

Nhưng Hoắc Giác không biết, Tông Già quyết định nhanh như vậy không chỉ là vì xem xét thời thế, mà còn vì một câu nói của Chu Dục Thành.

Từ khi Lăng Duệ bị cách chức, Chu Dục Thành đã thay thế Lăng Duệ trở thành Thủ phụ Nội Các.

Một ngày trước khi Lăng Duệ bị bắt, Chu Dục Thành đích thân đến nhà bái phỏng, mỉm cười nói với Tông Già: “Đầu năm Lâm An động đất, nếu không phải Hoắc tiểu lang sớm đưa ra cảnh báo, cứu sống bá tánh nửa thành, Tông đại nhân có nghĩ đến tiểu Tông đại nhân sẽ ra sao?”

Tiểu Tông đại nhân chính là Tông Úc.

Tông Úc nhờ lúc động đất cứu trợ kịp thời, lập được đại công. Vì vậy mới liên tiếp thăng quan hai cấp, thuận lợi vào phủ Thuận Thiên.

Phủ doãn phủ Thuận Thiên trước kia là người của Lăng Duệ, Chu Dục Thành đã sớm muốn thay người.

Khi còn làm Tri huyện ở Lâm An Tông Úc đã nhiều lần phá được kỳ án, trong mắt bá tánh phủ Thuận Thiên là một vị quan thanh liêm. Nhưng ngày Lâm An động đất, nếu không có Hoắc Giác, Tông Úc đừng nói là kiếm công lao, e là ngay cả mũ ô sa cũng chưa chắc giữ được.

Chu Dục Thành đến nói với Tông Già một câu như vậy, thực chất là đang đòi lại một ân tình cho Hoắc Giác.

Một ân tình mà Tông gia nợ Hoắc Giác.

Thực ra dù Chu Dục Thành không đến, trong lòng Tông Già cũng hiểu rõ.

Tông gia thật sự nợ Hoắc Giác một ân tình, Hoắc Giác không đòi ân tình này không có nghĩa là bọn họ có thể quên.

Hơn nữa, tình hình hiện nay tuy chưa hoàn toàn rõ ràng, nhưng cũng gần như vậy. Nếu đợi đến khi mọi thứ được định đoạt, rồi mới để Tông Úc lật lại vụ án cũ thì đã muộn.

Dệt hoa trên gấm vĩnh viễn không bằng đưa than sưởi ấm trong ngày tuyết rơi.

Tuổi Tông Già đã cao, hậu bối trong Tông gia xuất sắc nhất chính là Tông Úc và Tông Khuê, đời gia chủ tiếp theo cũng không ai khác ngoài Tông Úc.

Vụ án thi thể lần này chẳng phải là nền tảng để Tông Úc ngày sau thăng tiến sao?

Tông Già có thể làm gia chủ Tông gia nhiều năm như vậy, khi cần đưa ra quyết định tất nhiên sẽ không do dự.

Chu Dục Thành vừa đi đã lập tức gọi Tông Úc đến, nói: “Đi điều tra vụ án đi, trả lại công đạo cho những người đã chết oan uổng.”

***

Nói xong câu đó với Hoắc Giác, Tông Khuê cũng không đợi Hoắc Giác trả lời, sải bước ra khỏi chính sảnh cùng Khương Lệnh.

Hoắc Giác ngồi ngay ngắn trên ghế, im lặng một lúc lâu rồi không nhịn được khẽ nhếch khóe môi.

Lúc đầu con đường báo thù kiếp trước chỉ có một mình hắn, sau này bên cạnh có thêm Tiết Vô Vấn và Triệu Bảo Anh.

Còn Tông Già và Chu Dục Thành, khi là đồng minh khi là kẻ thù, còn tùy xem là vì chuyện gì.

Về phần hai vị Đô Ngự sử của Đô sát viện, lập trường rất rõ ràng, từ đầu đến cuối chỉ muốn giết hắn.

Nhưng kiếp này, những người này quả thật đã khác.

Người từng muốn hắn chết lại tận tâm tận lực mưu cầu tiền đồ cho hắn; người từng là địch cũng là bạn lại đi trước hắn một bước, quét sạch gió tuyết trên đường cho hắn.

Đang suy nghĩ, Hà Chu vội vàng đi tới, chắp tay nói: “Chủ tử, Trưởng Công chúa đã đến chùa Đại Tướng Quốc.”

Hoắc Giác gõ nhẹ ngón tay lên bàn, nói: “Viên Thanh đại sư đã đến tháp Cửu Phật chưa?”

Hà Chu gật đầu: “Viên Huyền đại sư vừa rời khỏi chùa Đại Tướng Quốc, Viên Thanh đại sư đã đến tháp Cửu Phật ngay.”

Hoắc Giác đứng dậy, nhìn tuyết rơi càng lúc càng lớn bên ngoài, nói: “Hiện giờ có bao nhiêu lưu dân chạy đến phủ Thuận Thiên?”

“Đã có mấy nghìn người, thời tiết bây giờ ngày càng lạnh, mấy hôm trước còn mưa đá. Thuộc hạ thấy qua thêm vài ngày nữa, lưu dân đến phủ Thuận Thiên e là sẽ càng ngày càng đông.”

Lưu dân ở phủ Thuận Thiên quả thật sẽ ngày càng đông, không chỉ là lưu dân, đến tháng hai, ngay cả bá tánh trong Thịnh Kinh cũng bắt đầu náo loạn.

Sau này sử quan khi ghi chép về trận tuyết thiên tai năm Thành Thái thứ bảy, đã ghi lại như sau: Mỗi ngày lên đến hàng nghìn người chết vì đói rét.

Tuyết mãi đến tháng tư mới chấm dứt, theo kế hoạch ban đầu của Hoắc Giác, tai họa này càng nhiều thương vong thì càng có lợi cho kế hoạch của hắn.

Nhưng giờ hắn đã thay đổi chủ ý.

“Đi theo ta ra ngoài một chuyến.” Hắn nhận lấy áo choàng Hà Chu đưa tới, vừa đi vừa mặc vào, sắp ra khỏi cửa sân, bỗng nhiên dừng bước, lại nói: “Thôi, ngày mai ta mới ra ngoài, ngươi đi gửi giúp ta mấy phong thư.”

Hà Chu ngẩn người, lập tức hiểu ra.

Hôm nay là Tết Nguyên Tiêu, nhất định là chủ tử muốn ở lại cùng phu nhân.

Năm ngoái vì chuyện ở Lâm An, chủ tử đã không thể về làm đèn hoa cho phu nhân.

Hôm nay nhất định là muốn bù đắp lại sự tiếc nuối năm ngoái.

Ngày lễ như Tết Nguyên Tiêu, nhà nhà đều phải tự tay làm một chiếc đèn bình an.

Từ hôm qua, các viện trong phủ đều đã treo đèn bình an, nhưng Khương Lê vẫn muốn cùng Hoắc Giác tự tay làm một chiếc đèn bình an, đưa đến Vô Song viện.

Hoắc Giác bước vào, nàng đã gần làm xong chiếc đèn, chỉ còn thiếu bức tranh đèn cuối cùng.

“Chàng đến vừa lúc, chàng vẽ đẹp, mau vẽ lên đây mấy đứa trẻ đáng yêu, lát nữa cho Hà Chu đưa đến phủ Định Quốc Công.” Khương Lê vừa nói vừa đi lấy bút mực, đôi mắt ướt át tràn đầy mong đợi: “Phải vẽ thật kháu khỉnh, tốt nhất là, phải vẽ giống a tỷ một chút, lại giống Tiết Thế tử một chút.”

Nàng nói đến đây, không nhịn được dừng lại.

Bản thân nàng cũng cảm thấy quá khó, vừa muốn giống a tỷ vừa muốn giống Tiết Thế tử, e là không dễ vẽ.

Nàng đang định rút lại yêu cầu vừa rồi, ai ngờ Hoắc Giác cầm bút lên bắt đầu vẽ, gần như một hơi đã vẽ xong ba đứa trẻ.

Từ đứa bé còn đang tập nói đến bé gái tóc thắt hai bím, dường như chỉ cần xoay nhẹ là thấy một bé gái dần dần lớn lên.

Điều kỳ diệu nhất là mỗi bức tranh đèn ở đây, bé gái đều thật sự có nét giống a tỷ lại giống Tiết Vô Vấn.

Lông mày giống a tỷ, miệng mũi giống Tiết Thế tử, xinh đẹp vô cùng.

Khương Lê càng xem càng hài lòng, không nhịn được khen: “Chàng vẽ tranh đèn đẹp quá, chàng vẽ A Thiền sao?”

Hoắc Giác “Ừ” một tiếng.

Khương Lê cầm chiếc đèn lên, ngắm nghía hồi lâu không rời tay.

Sau đó cẩn thận đặt xuống, từ bên cạnh nhấc lên một chiếc đèn bình an còn trống. Nàng sợ lần đầu Hoắc Giác vẽ sẽ vẽ không đẹp nên đã làm thêm một chiếc đèn bình an trống để dự phòng, nghĩ là có phòng bị vẫn tốt hơn.

Giờ thì đúng là có ích.

Khương Lê đặt chiếc đèn bình an này lên bàn, mỉm cười nói: “Hoắc Giác, chàng vẽ cho A Mãn của chúng ta một cái nữa đi!”

Hoắc Giác nhìn Khương Lê, rồi lại nhìn chiếc đèn bình an trước mặt.

Hơi dừng lại một chút, lại cầm bút lên.

Vẽ A Mãn quả thật không được như lúc vẽ A Thiền, nét bút uyển chuyển liền mạch mà cứ vẽ vài nét lại dừng, nhìn Khương Lê một chút rồi mới tiếp tục.

Vẽ như vậy mất gần nửa canh giờ, đợi Hoắc Giác dừng bút, Khương Lê đến gần xem, vừa nhìn bức tranh đèn thì tròn mắt kinh ngạc.

“Đây không phải chàng vẽ ta sao?” Nàng nói: “Chẳng giống chàng chút nào.”

Hoắc Giác đặt bút xuống, chăm chú ngắm ba mặt tranh đèn, tự mình lại thấy rất hài lòng.

“Nàng đẹp hơn ta, sau này dung mạo hài tử tốt nhất là giống nàng.”

Khương Lê nghe vậy, tức thì đỏ bừng cả vành tai.

Xem lời người này nói kìa, nếu bị người khác nghe được, chẳng phải cười nàng sao, rõ ràng dung mạo hắn cũng đẹp.

May mà trong phòng chỉ có hai người bọn họ.

Khương Lê cầm lấy đèn bình an, xoay nhẹ, một tiểu nữ hài có ngũ quan cực kỳ giống nàng, mỉm cười tươi tắn nhìn nàng, khóe môi điểm hai lúm đồng tiền nhỏ như hạt gạo.

Phải nói rằng, nụ cười của tiểu nữ hài ngọt ngào như mật, khiến người ta vừa nhìn đã thấy vui vẻ.

Khương Lê cong môi, sau này A Mãn giống nàng hình như cũng không tệ.

Nàng nắm chặt đèn bình an trong tay, nói: “Đèn bình an này ta phải cất giữ cho kỹ, sau này để cho A Mãn xem.”

***

Lúc này tại chùa Đại Tướng Quốc, Huệ Dương Trưởng Công chúa cũng nắm chặt đèn bình an trong tay, ngẩng đầu nhìn hai chữ “Dược Cốc” trên cao.

Hít sâu một hơi, nàng ấy bước lên gõ cửa.

Tay nàng ấy lạnh đến khác thường, không biết là do thời tiết lạnh giá, hay là do sự mong đợi và sợ hãi trong lòng.

“Tới rồi, tới rồi!” Triệu Khiển mở cửa, thấy Huệ Dương Trưởng Công chúa dường như cũng không ngạc nhiên, cung kính hành lễ xong, nhân tiện nói: “Thảo dân biết Điện hạ vì sao mà đến, mời Điện hạ đi theo ta.”

Huệ Dương Trưởng Công chúa ổn định giọng nói: “Làm phiền rồi.”

Nàng ấy xách đèn, mặc áo choàng đỏ thẫm, bước nhanh theo sau Triệu Khiển.

Tuyết dày bị giẫm lên kêu “ken két” “ken két”, hai người đi đến chỗ sâu trong Dược Cốc, đến một khu nhà tre.

“Kẽo kẹt” một tiếng, Triệu Khiển đẩy ra một cánh cửa trúc, nói: “Hắn ở trong đó, Công chúa vào đi.”

Huệ Dương Trưởng Công chúa vội vàng nói lời cảm tạ, cũng không màng phủi tuyết trên người, bước vào trong.

Trong nhà trúc đốt hương, còn đặt lò than, ánh sáng lờ mờ.

Người nọ nhắm mắt nằm trên giường, thần sắc an tường.

Đèn bình an trên tay Huệ Dương Trưởng Công chúa “loảng xoảng” một tiếng rơi xuống đất.

Chàng trai trước mắt gầy gò như que củi, không còn vẻ phong thần tuấn tú như xưa.

Nhưng nàng ấy vẫn nhận ra hắn ngay từ cái nhìn đầu tiên.

Chậm rãi đi đến bên giường, Huệ Dương Trưởng Công chúa cúi đầu nhìn Triệu Vân, hồi lâu sau, mới nhỏ giọng nói: “Triệu Vân, ta đến thăm chàng.”

Nàng đã nghĩ đến rất nhiều khả năng.

Hắn hận nàng, không còn yêu nàng nữa hoặc là quên nàng rồi, cho nên mới không muốn gặp nàng nữa.

Nhưng tuyệt đối không ngờ, lại là khả năng trước mắt này.

Hắn vẫn luôn hôn mê, chưa từng tỉnh lại.

Huệ Dương Trưởng Công chúa ngồi xuống bên giường, nghiêng người áp mặt vào tay Triệu Vân, mặc cho nước mắt tuôn ra lướt qua lòng bàn tay hắn.

Nhớ lại lần đầu gặp gỡ của bọn họ.

Mùa hè năm Thừa Bình thứ hai mươi hai, nàng đến điện Dưỡng Tâm tìm Phụ hoàng.

Đang định đẩy cửa vào, lại nghe thấy bên trong truyền ra một giọng nói chính nghĩa.

“Kẻ đó dựa vào việc là đệ đệ của Thục Phi nương nương, cường đoạt dân nữ làm thiếp, còn đánh gãy chân vị hôn phu của nữ tử đó. Theo luật Đại Chu, kẻ này đáng bị đánh chín mươi trượng, đày ra biên ải sung quân.”

Về việc đệ đệ ruột của Thục Phi nương nương gây ra, Huệ Dương Trưởng Công chúa cũng từng nghe mẫu phi nhắc đến.

Lúc đó Thục Phi đang được sủng ái, lại vừa mới sảy thai. Phụ hoàng thương xót, có ý muốn bỏ qua chuyện này.

Nhưng Triệu Ngự sử ở Đô sát viện lại không chịu bỏ qua, nhất định phải trị kẻ đó một tội nặng.

Huệ Dương Trưởng Công chúa đã không còn nhớ rõ lúc đó Phụ hoàng đã nói gì trong điện Dưỡng Tâm, chỉ nhớ rõ Triệu Vân bước ra từ bên trong.

Ngày hôm đó trời âm u xám xịt, sắc mặt Triệu Vân rõ ràng là thất vọng. Nhưng nàng nhìn rõ, ánh sáng trong mắt lang quân trẻ này chưa từng tắt, như đang nói, hắn sẽ không thỏa hiệp, cũng không muốn thỏa hiệp.

Sau này khi tuyển Phò mã, Phụ hoàng nói với nàng, tính tình Triệu Vân quá cương trực, e rằng không phải là người phù hợp.

Nhưng nàng lại thích Triệu Vân kiên định không lay chuyển, không sợ hãi như vậy.

Bởi vì sự kiên định không lay chuyển, không sợ hãi như vậy, là thứ nàng khao khát mà không có được.

Một người nhút nhát, điều khao khát nhất có lẽ chính là một phần dũng khí ngay thẳng không khuất phục như vậy.

Lúc mẫu phi qua đời, từng nắm chặt tay nàng, cầu xin nàng: “Huệ Dương đồng ý một chuyện với mẫu phi được không?”

“Ngày hôm đó ở điện Xuân Hòa, mẫu phi biết con đã nhìn thấy. Huệ Dương à, Hoàng huynh của con chỉ là bị bệnh, con đừng trách nó, nó sẽ khỏe lại. Trước khi nó khỏe lại, Huệ Dương thay mẫu phi bảo vệ Hoàng huynh thật tốt, được không?”

Mẫu phi trợn to mắt, nắm chặt tay nàng, như thể nếu nàng không đồng ý thì không thể nhắm mắt.

“Con là Công chúa duy nhất trong cung, là đứa con mà Phụ hoàng yêu thương nhất, ngay cả Hoàng huynh cũng nghe lời con. Huệ Dương của chúng ta có năng lực bảo vệ Hoàng huynh, đúng không?”

Lúc đó nàng đã mười hai tuổi, không còn là tiểu Huệ Dương năm năm trước trốn dưới gầm giường, ngay cả một chữ “Không” cũng không nói ra được.

Nhưng vậy thì sao?

Nhìn khuôn mặt bị bệnh tật giày vò nhiều năm của mẫu phi, nàng vẫn nhút nhát không thể nói ra được một chữ “Không”.

Mẫu phi là kẻ hèn nhát, Hoàng huynh là kẻ hèn nhát, nàng cũng vậy.

Trước kia nàng yêu chính là sự chân thành kiên định không lay chuyển của Triệu Vân, nhưng đến cuối cùng, nàng lại ép hắn làm một kẻ hèn nhát giống như nàng.

Là nàng hại hắn.

***

Viên Thanh đại sư từ tháp Cửu Phật xuống, vừa về đến Dược Cốc, nghe Triệu Khiển nói: “Sư thúc, Trưởng Công chúa đang ở nhà trúc chờ ngài.”

Viên Thanh đại sư nhướn mày, hừ một tiếng, sau khi vào nhà trúc liền nói: “Bần tăng biết người muốn hỏi gì, bệnh của cháu trai bần tăng không thuốc nào chữa khỏi. Hắn đến nay vẫn chưa tỉnh lại, hoặc là tam hồn thất phách bị mất, hoặc là tự hắn không muốn tỉnh lại.”

Huệ Dương Trưởng Công chúa nghe vậy cụp mắt xuống, đứng dậy hành lễ với Viên Thanh đại sư, nói: “Đa tạ đại sư giải đáp. Đại sư có thể cho phép Bổn cung mỗi ngày đều đến Dược Cốc thăm Triệu Vân không?”

Ánh mắt như có thể nhìn thấu lòng người của Viên Thanh đại sư lặng lẽ nhìn Huệ Dương Trưởng Công chúa, tuy là người xuất gia, không hỏi chuyện hồng trần, nhưng chuyện Trưởng Công chúa nuôi nam sủng ông ấy cũng có nghe nói.

Chẳng phải vị kim chi ngọc diệp này đã sớm quên Triệu Vân rồi sao? Bộ dạng ra vẻ này lúc này là sao?

Viên Thanh đại sư nhìn hốc mắt hơi sưng đỏ của nàng ấy, cuối cùng cũng không từ chối nàng ấy.

Chỉ phất tay một cái, lạnh lùng nói: “Công chúa muốn đến thì đến, chỉ là bần tăng nói trước lời khó nghe. Trong cốc của bần tăng trồng không ít hoa cỏ độc, nếu người không cẩn thận trúng độc, bần tăng sẽ không cứu.”

Người của Hoàng thất Chu gia bọn họ, ông sẽ không cứu một người nào cả.

Thái độ của Viên Thanh đại sư khá là bất kính, nhưng Huệ Dương Trưởng Công chúa không hề để tâm, chỉ khẽ gật đầu: “Đương nhiên phải như vậy.”

Nói xong lại trịnh trọng hành lễ.

Từ Dược Cốc ra, Huệ Dương Trưởng Công chúa vừa đi đến cổng chùa, thấy ngay Kim ma ma vội vàng bước xuống bậc đá.

Huệ Dương Trưởng Công chúa thấy thần sắc bà ấy hoảng hốt, vội dừng bước, hỏi: “Ma ma, xảy ra chuyện gì vậy?”

Kim ma ma vuốt ngực thở hổn hển, sau khi cẩn thận nhìn xung quanh mới tiến lên một bước, ghé vào tai Huệ Dương Trưởng Công chúa nhỏ giọng nói: “Điện hạ, vừa rồi tháp Cửu Phật hiển linh, từ bên trong rơi xuống một lời châm ngôn!”
 
Tiểu Thanh Mai Của Thủ Phụ Đại Nhân
Chương 117: Châm ngôn


Tết Nguyên Tiêu, người đến chùa Đại Tướng Quốc thắp hương cầu Phật không ít, từ thứ dân, sĩ tử lên Kinh ứng thí, đến cả bậc quyền quý.

Năm Thành Thái thứ sáu, bởi vì trận động đất năm ngoái, Hoàng lăng nhỏ máu, biên cương loạn lạc cùng tai họa nội thần, trong mắt bá tánh năm đó không còn là năm lành.

Cũng bởi vậy, mặc dù thời tiết khắc nghiệt, người đến chùa Đại Tướng Quốc dâng hương bái Phật còn đông hơn bất kỳ năm nào, mong Phật tổ phù hộ năm nay được bình an.

Trước cổng chùa, Huệ Dương Trưởng Công chúa nghe Kim ma ma nói xong, không khỏi nhíu mày: “Châm ngôn gì vậy?”

Kim ma ma nuốt nước miếng, run giọng đáp: “Tuyết xuân thành tai, long đài Tây Bắc, tai dứt thiên hòa.”

<i>(*)Tuyết xuân gây ra tai họa, rồng ngẩng đầu về phía Tây Bắc thì tai họa sẽ chấm dứt, trời đất lại hòa hợp.</i>

Khi Kim ma ma nhắc đến câu châm ngôn này, tim vẫn còn đập thình thịch, gần như không nói nên lời.

Lúc nãy, bà ấy còn chưa kịp bước lên tháp Cửu Phật thì đã thấy rất nhiều người quỳ dưới chân tháp.

Tất cả mọi người đều đang lẩm nhẩm câu châm ngôn đó.

Kim ma ma không nhịn được hỏi: “Điện hạ, câu châm ngôn này rốt cuộc có ý gì? long đài Tây Bắc, nghe sao giống như, giống như…”

Kim ma ma cuối cùng cũng không nói ra được lời nào, những lời đại nghịch bất đạo như vậy, sao dám nói? Sao có thể nói?

Từ xưa đến nay, phàm là châm ngôn có nhắc đến rồng, chắc chắn đều liên quan đến Đế vị và Hoàng tộc.

Gió mạnh gào thét, thổi cho áo choàng trên người kêu phần phật.

Huệ Dương Trưởng Công chúa ngước nhìn tháp Cửu Phật ẩn hiện trên đỉnh bậc thang đá, hồi lâu không nói gì.

Tương truyền, khi Đại Chu kiến quốc, có một vị Phật tử chuyển thế của chùa Đại Tướng Quốc đã để lại hai câu châm ngôn.

Câu châm ngôn thứ nhất đã xuất hiện, các gia tộc quyền quý đều biết. Còn câu châm ngôn thứ hai thì chưa từng xuất hiện, chỉ nghe đồn là được cất giấu trong tháp Cửu Phật.

Chẳng lẽ bây giờ câu châm ngôn thứ hai đã xuất hiện?

Đêm đó, Huệ Dương Trưởng Công chúa nghỉ lại tại quán trọ gần nhất với Dược Cốc.

Núi Minh Phật về đêm càng thêm trang nghiêm, tĩnh mịch hơn so với ban ngày. Kim ma ma lo lắng đặt túi chườm nóng vào trong chăn, nhìn Huệ Dương Trưởng Công chúa đang bình thản đọc sách thuốc, nói: “Hôm nay dưới chân tháp Cửu Phật, số người biết câu châm ngôn đó thật sự không ít. Điện hạ có nghĩ ra cách nào bịt miệng những người đó không?”

Huệ Dương Trưởng Công chúa đặt sách thuốc xuống, lắc đầu, nói: “Không bịt được đâu, ma ma. Bây giờ phải chờ xem trận tuyết tai này có đến hay không, và đến khi nào.”

Những người nhà quan lại, dù hiểu rõ câu châm ngôn đó nói gì, bất kể trong lòng nghĩ gì, cũng không dám lên tiếng. Nhưng họ không dám nói, lại có người dám nói.

Bách tính, sĩ tử.

Miệng lưỡi của hai loại người này là khó bịt nhất trên đời, mà hôm nay đến chùa Đại Tướng Quốc tham bái lại có nhiều bách tính và sĩ tử hơn mọi khi.

Hơn nữa, hiện tại cũng không cần thiết phải bịt miệng thiên hạ.

Nghe Trưởng Công chúa nói xong, Kim ma ma nhìn cửa sổ bị gió thổi kêu lạch cạch, lòng nặng trĩu.

Tuyết năm nay rơi dày hơn mọi năm, chẳng lẽ thiên tai thật sự sắp đến?

***

Chỉ trong vòng ba ngày ngắn ngủi, tin đồn về tháp Cửu Phật hiển linh đã lan truyền khắp phủ Thuận Thiên như lửa cháy lan ra đồng cỏ khô, thậm chí đến tai Thành Thái Đế và Vương Quý phi trong cung.

Nghe được câu châm ngôn, Thành Thái Đế vội vã chạy đến Càn Thanh cung tìm Viên Huyền đại sư, nói: “Trẫm nghe nói Tháp Cửu Phật hiển linh, lại còn nói sẽ có tai họa tuyết rơi mùa xuân. Đại sư, chuyện này, chuyện này rốt cuộc là thật hay giả?”

Tiếng mõ “tốc tốc” đột nhiên im bặt.

Viên Huyền đại sư ngước mắt, nhìn chằm chằm Thành Thái Đế mặt mày tái mét hoảng hốt, từ bi nói: “A Di Đà Phật. Chuyện Phật tháp có hiển linh hay không, không phải bần tăng có thể phán đoán.”

Nói xong, ông ấy đặt cây gõ mõ xuống, chậm rãi đứng dậy, nói: “Nếu Phật tháp thật sự hiển linh, bần tăng cũng nên rời đi.”

Viên Huyền đại sư rời khỏi Hoàng cung ngay hôm đó.

Con đường từ Thịnh Kinh đến núi Minh Phật vốn luôn vắng vẻ, nhưng hôm nay, con đường nhỏ vùng ngoại ô vốn ít người qua lại này lại vang lên tiếng than khóc, oán trách không ngừng.

Tiểu sa di vén rèm xe, tò mò nhìn ra ngoài, không nhịn được nói với vẻ thương cảm: “Sư phụ, trên đường toàn là những người già yếu, phụ nữ và trẻ em đang đi về Kinh thành, chắc là những người dân chạy nạn từ nơi khác đến đây. Con nghe Tiểu Phúc Tử nói, có vài thành trì xung quanh gặp nạn, rất nhiều dân chúng phải tha hương cầu thực, mấy ngày nay triều đình đang bàn bạc xem nên an trí những người này thế nào.”

Người xuất gia từ bi là cốt, tiểu sa di còn nhỏ tuổi, đây là lần đầu tiên theo Viên Huyền xuống núi. Nhìn thấy những người không nhà không cửa này, trong lòng tự nhiên không khỏi xót xa.

Viên Huyền nhìn theo ánh mắt của tiểu sa di, đập vào mắt là hình ảnh một người mẹ cõng đứa con nhỏ trên lưng, khó nhọc bước đi trong gió tuyết.

Tràng hạt xoay chuyển trong tay không một tiếng động, Viên Huyền chậm rãi cụp mắt xuống.

Khi xe ngựa đến núi Minh Phật thì trời đã tối, trong màn đêm mịt mùng, bậc thang đá dẫn lên tháp Cửu Phật phủ đầy tuyết.

Viên Huyền bước lên, bộ cà sa đỏ tươi nhanh chóng được phủ một lớp tuyết trắng.

Viên Thanh đại sư đứng dưới chân tháp, thấy bóng dáng Viên Huyền xuất hiện trong gió tuyết, liền phủi lớp tuyết trên người, chậm rãi nói: “Sư huynh đến nhanh hơn ta dự đoán, ta cứ tưởng huynh sẽ ở lại trong cung, tụng kinh thêm vài ngày cho tên Hoàng Đế chó chết đó.”

Viên Huyền chậm rãi xoay tràng hạt trong tay, không để ý đến lời Viên Thanh, chỉ bình tĩnh nói: “Sư đệ, mời theo ta.”

Nói xong, ông ấy bước qua Viên Thanh, đi thẳng lên tháp.

Tầng thứ chín của tháp Cửu Phật, người thường không được phép lên.

Nhưng Viên Huyền và Viên Thanh, một người quản lý chùa Đại Tướng Quốc, một người quản lý Dược Cốc, hai người họ muốn lên tháp Cửu Phật thì căn bản không ai dám ngăn cản.

Viên Huyền đẩy cánh cửa gỗ nặng nề, chỉ thấy bên trong điện thờ ở tầng chín đèn Phật sáng rực, tượng Phật từ bi mỉm cười lặng lẽ nhìn chúng sinh.

Sau khi vào trong, Viên Thanh tháo chuỗi tràng hạt trên cổ xuống, nói: “Đây là chuỗi tràng hạt sư phụ ban cho ta khi đặt pháp danh, hôm nay ta trả lại chuỗi tràng hạt này cho chùa Đại Tướng Quốc.”

Các đời trụ trì đều truyền miệng rằng, chùa Đại Tướng Quốc không được dính líu đến bất kỳ sự thay đổi quyền lực Hoàng gia nào của bất kỳ triều đại nào.

Viên Thanh tự ý bịa đặt ra lời châm ngôn thứ hai, hơn nữa lời sấm này lại ẩn chứa hàm ý sâu xa, ám chỉ long khí ẩn náu ở Tây Bắc, rõ ràng là đang lôi chùa Đại Tướng Quốc vào cuộc thay đổi triều đại sắp tới.

Viên Thanh trả lại tràng hạt, thực chất là trả lại pháp danh của mình. Một khi pháp danh đã trả, ông ta không còn là tăng nhân của chùa Đại Tướng Quốc nữa.

Viên Huyền không đưa tay nhận lấy tràng hạt trong tay ông ta, mà quay người bước về phía tượng Phật Đại Nhật Như Lai.

Tượng Phật Đại Nhật Như Lai trong điện thờ tay trái cầm kim cương linh, tay phải cầm bát phúc bảo luân.

Viên Huyền lặng lẽ hành lễ, niệm “A Di Đà Phật”, rồi chậm rãi áp lòng bàn tay lên kim cương linh, đồng thời miệng niệm kinh văn.

Đèn Phật leo lét, khoảng một khắc sau, Viên Huyền thu tay lại, trên lòng bàn tay có thêm một mảnh gỗ mỏng như cánh ve.

Ông ấy nhìn Viên Thanh, vẻ mặt từ bi, chậm rãi nói: “Lời châm ngôn thứ hai đã xuất hiện, trên thế gian này sẽ không còn lời châm ngôn thứ hai nữa.”

Nghe vậy, Viên Thanh trừng mắt.

Khoảnh khắc tiếp theo, ông ta thấy vị sư huynh từ nhỏ đã gạt bỏ phàm tâm của mình từ từ nắm chặt năm ngón tay, khi mở tay ra, mảnh gỗ đã hóa thành bụi phấn.

Viên Thanh kinh ngạc nói: “Sư huynh…”

Viên Huyền nói: “Sư đệ, đeo tràng hạt của đệ vào, trở về Dược Cốc đi.”

Sau khi Viên Thanh rời đi, Viên Huyền chậm rãi xoay tràng hạt trên tay, nhắm mắt lại.

Nhớ lại nhiều năm trước khi đến Thanh Châu, người nọ tay cầm một quân cờ, mỉm cười nói với ông ấy: “Ngươi nói xem thần Phật trên thế gian này, nếu chưa từng trải qua thất tình lục dục, chưa từng trải qua sinh lão bệnh tử, chưa từng làm người, thì làm sao có thể độ người, độ chúng sinh đây?”

***

Ở Dược Cốc, Triệu Khiển khoác chăn dày, đứng dưới gốc cây bồ đề của xá trúc, vừa giậm chân vừa ngóng đợi.

Mãi đến khi thấy Viên Thanh đại sư, mới hít hít mũi, cười hì hì: “Thế nào rồi, thúc công? Chúng ta có phải sắp dọn đồ rời khỏi Dược Cốc không? Mấy hôm nay trời rét căm căm, chúng ta có thể đi muộn chút không?”

Viên Thanh đại sư trừng mắt: “Không được đi đâu cả, cứ ngoan ngoãn ở lại Dược Cốc. Giờ mau về xá trúc của mình đi, sáng mai nhớ đến chùa làm lễ sớm.”

Khuôn mặt tươi cười của Triệu Khiển lập tức xụ xuống, nhưng không dám cãi lại, liếc nhìn Viên Thanh đại sư rồi quay về xá.

Lá bồ đề xào xạc, rơi đầy tuyết xuống đất.

Viên Thanh đại sư đứng dưới gốc cây bồ đề, cúi đầu nhìn tràng hạt trên tay, nhớ lại lúc nhìn thoáng qua mảnh gỗ kia—

“Ve sầu kêu giữa mùa đông, chính là Đế vương.”

Viên Thanh đại sư chậm rãi đeo tràng hạt vào, lẩm bẩm: “Vậy mà lại là ve sầu làm Đế, đây là… ý gì?”



Huệ Dương Trưởng Công chúa ở lại chùa Đại Tướng Quốc đã nửa tháng.

Nửa tháng này, ngày nào nàng ấy cũng đến Dược Cốc thăm Triệu Vân, đút hắn uống nước, ăn cháo, lại tỉ mỉ lau mặt, trở mình cho hắn, kể cho hắn nghe chuyện bảy năm qua.

Thế nhưng Triệu Vân vẫn không có chút dấu hiệu tỉnh lại, thậm chí ngày càng tiều tụy.

Tốc độ suy yếu đó ngay cả người bình thường cũng chưa chắc chịu đựng nổi, huống chi là Triệu Vân đã hôn mê nhiều năm như vậy.

Thời gian dần trôi, sinh khí của hắn cũng dần tan biến, cho đến khi lìa đời.

Mồng ba tháng hai, tuyết trắng phủ kín mặt đất đã ngập đến nửa bắp chân.

Huệ Dương Trưởng Công chúa vừa thay y phục mới cho Triệu Vân, thì nghe thấy tiếng gõ cửa bên ngoài.

Triệu Khiển cung kính đứng ngoài cửa trúc, nói: “Thưa Trưởng Công chúa Điện hạ, có người nhờ thảo dân đưa cho ngài một vài thứ.”

Thứ mà Triệu Khiển nói đến là một xấp giấy tờ dày chừng nửa gang tay.

Huệ Dương Trưởng Công chúa nhận lấy, do dự hỏi: “Có phải Lỗ đại nhân sai người đưa đến không?”

Triệu Khiển sờ sờ mũi, đáp: “Không phải Lỗ đại nhân, là Hoắc đại nhân ở Đô sát viện. Hoắc đại nhân dặn thảo dân nhắn với ngài một câu, xấp giấy tờ này chỉ là phần nổi của tảng băng chìm.”

“Hoắc đại nhân?”

Huệ Dương Trưởng Công chúa khẽ nhíu mày, đang định mở miệng hỏi, bỗng lại nghe Triệu Khiển nói: “Trận tuyết này từ mùa thu năm ngoái đến tận xuân năm nay vẫn chưa dứt, lại càng lúc càng lớn, khắp Đại Chu, từ phía Bắc đến Trung Châu, không biết bao nhiêu mùa màng bị hỏng! Dân chúng đói khổ kéo nhau đến phủ Thuận Thiên, chờ triều đình cứu tế. Thảo dân thấy, nếu tuyết cứ tiếp tục rơi, chắc chắn sẽ chết rất nhiều người, còn kinh khủng hơn cả vụ động đất năm ngoái.”

Triệu Khiển nói đến đây thì dừng lại, chắp tay cười nói: “Không biết Trưởng Công chúa có nghe nói chuyện tháp Cửu Phật hiển linh không? Nay tuyết tai đã đến, thảo dân thật sự lo lắng, nên mới nói nhiều lời, mong Điện hạ thứ lỗi.”

Triệu Khiển nói xong những lời cần nói, cũng không đợi Huệ Dương Trưởng Công chúa đáp lại, phẩy tay rồi kéo chặt áo choàng trên người, thong thả rời đi.

Huệ Dương Trưởng Công chúa nhìn theo bóng lưng hắn ta, khẽ mím môi.

Trở vào phòng, nàng ấy kéo một chiếc ghế gỗ bên giường, ngồi xuống rồi mở xấp giấy tờ ra xem.

Vừa mới xem xong hai trang đầu, ngón tay nàng ấy đã run lên không ngừng.

Khuôn mặt thanh tú phút chốc mất hết huyết sắc.

Giờ Ngọ một khắc, Kim ma ma xách hộp cơm bước vào.

Vừa vào cửa đã thấy Công chúa nhà mình ngồi bất động trên ghế gỗ, cúi đầu, không biết đang suy nghĩ điều gì.

Kim ma ma là nhũ mẫu của Trưởng Công chúa, hiểu nàng ấy nhất.

Vừa thấy nàng ấy như vậy, trong lòng không khỏi giật mình, khẽ gọi: “Điện hạ!”

Huệ Dương Trưởng Công chúa ngước mắt lên, mỉm cười với Kim ma ma, bình tĩnh nói: “Ma ma, ngày kia chúng ta sẽ về Thịnh Kinh.”

Kim ma ma ngẩn ra: “Điện hạ muốn về Thịnh Kinh làm gì?”

Huệ Dương Trưởng Công chúa đặt xấp giấy tờ xuống, nghiêng đầu nhìn Triệu Vân, nhẹ giọng nói: “Ta muốn trở về, sửa lại mặt trống kia.”
 
Tiểu Thanh Mai Của Thủ Phụ Đại Nhân
Chương 118: Đại kết cục (Thượng)


Mồng năm tháng hai, Hoắc phủ.

Hoắc Giác lặng yên nhìn bức thư trên tay, hồi lâu, hắn chậm rãi gấp lại, đặt vào phong thư.

Ngoài cửa sổ, băng tuyết rơi thành mưa đá, gió rít gào.

Kiếp trước, những kẻ đáng chết đã chết, kẻ đáng điên đã điên. Hắn trở thành Hoắc Đốc công quyền khuynh triều dã trong cung, còn Tiết Vô Vấn mang theo tro cốt của a tỷ biến mất không một dấu vết.

Mãi cho đến khi hắn bị thích khách vây kín trong điện Kim Loan, mãi cho đến khi hắn trùng sinh, Tiết Vô Vấn cũng chưa từng quay lại Thịnh Kinh.

Hoắc Đốc công quyền khuynh triều dã vừa chết, triều đình tất loạn, còn có… con sói con được hắn nhặt về từ đầu đường xó chợ để làm Hoàng Đế, chắc chắn sẽ phát điên.

Sau đó là Tiết Vô Vấn trở về bình định loạn Thịnh Kinh, đoạt ngôi vị Hoàng Đế? Hay là Chu Thứ phụ giống như kiếp này, trăm phương ngàn kế đưa Tiết Tấn lên ngôi?

Hoắc Giác khẽ nhắm mắt.

Thôi vậy, chuyện cũ khó mà truy cứu, huống chi là chuyện sau khi hắn chết ở kiếp trước.

Kiếp này, mới là quan trọng nhất.

Còn lời châm ngôn thứ hai này rốt cuộc là thật hay giả, cũng không còn quan trọng nữa.

Ngoài kia, Hà Ninh cầm ô bước vào sân, đặt cây ô giấy dầu bị gió tuyết làm gãy mấy nan xuống hành lang rồi vội vã vào thư phòng.

“Chủ tử, Trưởng Công chúa đã về phủ Công chúa rồi.”

Hoắc Giác nhàn nhạt “Ừ” một tiếng, trong đôi mắt tĩnh lặng như giếng cổ dấy lên một tia gợn sóng.

“Phái người theo dõi bên ngoài phủ Công chúa.”

Hà Ninh vội vàng đáp lời.

Hoắc Giác đưa bức thư trên tay cho hắn ta, giọng nói ôn hòa: “Tự mình đưa bức thư này đến Tĩnh Tâm đường, đưa tận tay Tiết lão phu nhân.”

Hà Ninh cúi đầu nhìn, nhận ra đây là bức thư mà Viên Thanh đại sư sai Triệu Khiển đưa đến hôm qua.

Bức thư này rốt cuộc viết gì, mà lại phải đưa tận tay Tiết lão phu nhân?

Tò mò thì tò mò, nhưng Hà Ninh tuyệt đối không dám mở thư ra xem, cũng không dám hỏi ra những nghi hoặc trong lòng.

Cầm lấy thư, hắn ta nhanh chóng bước ra khỏi thư phòng, đi đến phủ Định Quốc Công.

Sau khi Hà Ninh rời đi, Hoắc Giác lấy bút mực ra, viết ra hai bản tấu chương.

Sau Tết Nguyên Tiêu, hắn đã viết tấu chương《Tấu sáu việc cần làm sau khi có tai ương tuyết trắng》, trình lên Nội Các.

Từ khi lời châm ngôn về trận tuyết lớn ở chùa Đại Tướng Quốc lan truyền, các quan viên trong triều thực ra đa phần không tin. Ngay cả Chu Dục Thành cũng nửa tin nửa ngờ.

Chỉ là khi Hoắc Giác đưa đến《Tấu sáu việc cần làm sau khi có tai ương tuyết trắng》, vì coi trọng chàng trai trẻ này, ông ấy đã rất nghiêm túc xem xét tấu chương.

Suy nghĩ nửa ngày, lại mở mấy cuộc họp ở Nội Các, thậm chí đích thân đến Công Bộ, cùng Công bộ Thượng thư, Thị lang cùng thảo luận tính khả thi của bản tấu chương này, rồi đêm liền vào cung, thỉnh cầu triều đình chuẩn bị trước cho thiên tai tuyết trắng và nạn lưu dân có thể xảy ra.

Thành Thái Đế từ khi nghe được lời châm ngôn đó, đã như ngồi trên đống lửa, ngày đêm không yên.

Nghe nói đến hậu quả nghiêm trọng mà tai ương tuyết trắng sẽ mang đến, gần như không cần suy nghĩ đã đồng ý thỉnh cầu của Chu Dục Thành, dựa theo tấu chương của Hoắc Giác, sắp xếp trước cho những lưu dân đã đổ về phủ Thuận Thiên.

Phải nói rằng, đúng lúc dân chúng phủ Thuận Thiên đang hoang mang lo lắng vì lời châm ngôn, thì những hành động nhanh chóng của quan phủ đã khiến họ yên lòng phần nào.

Khi thiên tai nhân họa ập đến, điều đáng sợ nhất chính là lòng dân rối loạn.

“Nghe nói《Tấu sáu việc cần làm sau khi có tai ương tuyết trắng》là do Hoắc đại nhân ở Đô sát viện dâng lên. Hoắc đại nhân năm ngoái có thể dẫn theo một nửa dân chúng thành Lâm An thoát khỏi tai ương, nếu trận tuyết lớn thật sự đến, ngài ấy nhất định cũng có thể giúp chúng ta vượt qua tai họa lần này!”

“Năm ngoái là động đất, năm nay là tai ương tuyết trắng, năm sau đừng có hạn hán, lũ lụt gì nữa! Cả năm toàn tai ương, dân đen chúng ta còn sống sao nổi!”

“Ấy, ta nghe mấy vị đạo sĩ nói, sở dĩ liên tiếp xảy ra tai họa là do Thiên tử thất đức! Trời cao muốn đổi người làm Hoàng Đế! Ngươi nói lời châm ngôn nói rồng ngẩng đầu ở Tây Bắc, mới có thể tai qua nạn khỏi, trời yên biển lặng. Suỵt, Tây Bắc là chỉ Tây Bắc nào, chẳng lẽ là…”

“Suỵt, lời này ngươi đừng nói nữa, kẻo bị Cẩm Y Vệ nghe được, bắt ngươi vào ngục đấy!”

“Ây ây, ta chẳng qua là miệng ngứa thôi! Ta không tin ngươi không muốn biết Tây Bắc mà lời châm ngôn nói đến rốt cuộc là nơi nào!”

Trong quán trà ngoài cổng thành, Đường Kình nhìn Tiết Vô Vấn đang nhàn nhã uống trà, khẽ ho một tiếng.

Đừng nói là dân chúng, ngay cả hắn ta cũng rất tò mò lời châm ngôn đó rốt cuộc có ý gì.

Tây Bắc, ngoài Túc Châu ra, còn có thể là nơi nào nữa?

Đường Kình là quân nhân, bảy năm trước đã đi theo Tiết Vô Vấn làm việc, theo hắn từng bước leo lên vị trí ngày hôm nay.

Đối với vị Chỉ huy sứ đại nhân nhìn như phong lưu phóng khoáng này, hắn ta không thể nào hiểu rõ hơn.

Tâm tư kín đáo, thủ đoạn quyết đoán.

Bảy năm qua Cẩm Y Vệ phá được nhiều vụ án khó nhằn, bắt được nhiều kẻ tội ác tày trời, đều là công lao của Chỉ huy sứ.

Nếu Tây Bắc trong lời châm ngôn không phải là Túc Châu, hắn ta là người đầu tiên không phục!

Hơn nữa, với tâm nhãn của vị Chỉ huy sứ nhà hắn ta, nếu không muốn dân gian liên hệ lời châm ngôn với Túc Châu và Định Quốc Công thì đã sớm phái người đi bắt những kẻ lắm mồm rồi.

Sao có thể như bây giờ, ung dung tự tại uống trà chứ?

***

Đang miên man suy nghĩ, Đường Kình bỗng nhiên nghe thấy bên ngoài có người liên tục gọi “Dương chưởng quỹ” “Khương chưởng quỹ” “Lâm chưởng quỹ”, theo bản năng nhìn ra ngoài.

Chỉ thấy đối diện quán trà dựng lên lán tre, mấy vị chưởng quỹ nương tử dẫn theo nha hoàn, bà vú, tiểu đồng, đang phát cháo và đồ giữ ấm cho lưu dân.

Đường Kình tất nhiên nhận ra mấy vị chưởng quỹ nương tử đó, là mấy vị đương gia nương tử của quán rượu Trạng Nguyên lâu ở phố Thuận Lạc.

Mấy hôm trước khi lưu dân đổ vào phủ Thuận Thiên, chính Trạng Nguyên lâu đi đầu phát lương khô cho lưu dân.

Lương khô đó có vị ngọt ngọt của rượu, nghe nói bên trong có thêm chút rượu cao lương đặc trưng của Trạng Nguyên lâu, vị quả thật không tệ.

Thêm một bát trà nóng hổi, thật sự vừa no bụng vừa ngon miệng, tứ chi bách hài đông cứng dường như cũng sống lại.

Nói ra thì mấy vị chưởng quỹ nương tử này cũng rất thông minh, khi phát lương khô cho lưu dân, túi giấy dầu đựng lương khô đều in mấy chữ “Quán rượu Trạng Nguyên lâu”, ngày hôm sau nếu còn muốn nhận lương khô, thì phải mang theo túi giấy dầu này đến lấy.

Chỉ trong vòng ba hai ngày, cái tên Trạng Nguyên lâu đã trở nên nổi tiếng.

Quả thật là điển hình của việc làm việc tốt còn lưu danh.

Có Trạng Nguyên lâu làm gương, các cửa hàng khác trong Kinh thành, đặc biệt là những cửa hàng lớn, ví dụ như Phi Tiên lâu chẳng hạn, sao có thể chịu thua kém?

Còn có những nhà không thiếu bạc, chỉ thiếu một tiếng thơm, cũng đều cùng nhau làm việc tốt.

Người quyên lương thực thì quyên lương thực, người quyên quần áo thì quyên quần áo, còn có một số người giàu có, thì cho mượn cả trang trại ở ngoại ô Kinh thành.

Nhiều người cùng góp sức, thì lửa cháy càng to.

Lưu dân đổ vào ngoại ô Kinh thành đều được an trí chu đáo trước khi quan phủ bắt đầu cứu trợ.

Những năm trước khi thiên tai xảy ra, điều đáng sợ nhất chính là xảy ra loạn lạc.

May mà từ ngày người của Trạng Nguyên lâu ra phát đồ ăn, áo ấm, thì đã có nha dịch của phủ Thuận Thiên đến duy trì trật tự, ngay cả Tiết Vô Vấn cũng bí mật phái mấy Cẩm Y Vệ đến canh chừng.

Vị Chỉ huy sứ đại nhân nhà bọn họ không phải là người thương hoa tiếc ngọc gì, lại chủ động giúp người của Trạng Nguyên lâu, e là có chút quan hệ riêng tư với Hoắc đại nhân.

Đường Kình nhấp một ngụm trà nóng, bỗng nhiên nghe Tiết Vô Vấn hỏi: “Lâm Quy gần đây có tìm ngươi không?”

Lâm Quy là Phó thống lĩnh cấm quân, quan hệ với Đường Kình từ trước đến nay rất tốt.

Đường Kình vội nuốt trà trong miệng xuống, nói: “Hôm qua có đến nói chuyện với ta một lúc, ta thấy hắn ta hình như có tâm sự nặng nề. Đại nhân, chẳng lẽ vụ án của muội muội Lâm Quy có tiến triển rồi?”

Tiết Vô Vấn nhàn nhạt “Ừ” một tiếng.

Mấy hôm trước, Tông Úc gọi hắn và Lâm Quy đến nha môn phủ Thuận Thiên, chính thức cho Lâm Quy nhận dạng thi thể, thi thể đó quả thật là muội muội của hắn ta.

Lâm Quy từng tức giận nói với hắn, nói dù thế nào cũng phải tìm ra kẻ giết muội muội hắn ta, trừng trị theo pháp luật, trả lại công bằng cho muội muội hắn ta.

Giờ hắn ta đã biết hung thủ là ai, nhưng còn dám đòi công đạo nữa hay không?

Đang suy nghĩ, một bóng người gầy gò lọt vào tầm mắt.

Tiết Vô Vấn khẽ nhướn mày: “Ta đi hỏi thăm chút việc.”

Dứt lời, tiện tay ném một mảnh bạc vụn lên bàn, rồi bước ra khỏi quán trà.

Bên kia, Hoắc Giác cùng Khương Lê chưa kịp nói với nhau được đôi câu, đã nghe Hà Chu nhỏ giọng bẩm báo Tiết Vô Vấn đến.

Quay đầu nhìn lại, sau khi chạm mắt với Tiết Vô Vấn, hai người một trước một sau đi đến quán trọ phía sau cổng thành.

Chưởng quỹ vừa thấy hai người, liền quen đường quen lối mở cho họ một gian phòng thượng hạng.

Vào trong phòng, Tiết Vô Vấn nhấc ấm trà, tự rót hai chén, đẩy một chén sang, chậm rãi nói: “Ta nghe ám vệ trong cung nói, sau khi nghe được lời châm ngôn ở chùa Đại Tướng Quốc, vị nương nương ở điện Thừa Loan đã bắt đầu cho Chu Nguyên Canh dùng Thần Tiên Hoàn do Lăng Duệ đưa.”

Thần Tiên Hoàn là thuốc cấm, Tiên Đế triều trước mê mẩn luyện đan, coi Thần Tiên Hoàn như kẹo mà ăn, cuối cùng biến thành người không ra người ngợm không ra ngợm, gần như phát điên.

Thần Tiên Hoàn mà Lăng Duệ đưa cho Vương Loan chắc chắn là có pha thêm dược liệu khác, e rằng không phải độc thì cũng là cổ.

Những lời Tiết Vô Vấn nói, Hoắc Giác không hề tỏ ra ngạc nhiên.

Họ cố ý để mặc cho lời châm ngôn ở chùa Đại Tướng Quốc lan truyền khắp nơi, lại còn đổ nguyên nhân lời châm ngôn xuất hiện là do Thiên tử thất đức.

Với thủ đoạn của Vương Loan, chắc chắn sẽ cho Chu Nguyên Canh chết trước, để nâng đỡ Đại Hoàng tử kế vị.

“Không sao, có Triệu Đốc công ở đó, Chu Nguyên Canh sẽ không chết dễ dàng như vậy.” Hoắc Giác nói.

Tiết Vô Vấn nhìn hắn với ánh mắt nửa cười nửa không.

Tên nhóc này lại có quan hệ thân thiết với Triệu công công trong cung, với người như hắn, rất ít khi tin tưởng một ai đó. Xem ra giao tình giữa hắn và Triệu Bảo Anh không chỉ đơn thuần là vì vị nương tử ở quán rượu.

Về việc tại sao Hoắc Giác và Triệu Bảo Anh lại thân thiết như vậy, Tiết Vô Vấn không hề tò mò.

Ai cũng có bí mật của riêng mình, hắn ta không cần phải dò xét bí mật của Hoắc Giác.

“Tiết thế thúc bên kia…” Hoắc Giác vừa mở lời liền dừng lại, dường như đang cân nhắc cách dùng từ.

“Phụ thân tất nhiên là biết ông ấy trúng kế rồi.” Tiết Vô Vấn nhếch môi cười: “Suýt chút nữa lại lôi ta đến từ đường, may mà bà nội gọi ông ấy đến Tĩnh Tâm đường. Mà nói đi cũng phải nói lại, bức thư đệ đưa cho bà nội hôm đó rốt cuộc đã viết gì? Sau khi phụ thân từ Tĩnh Tâm đường trở ra, sắc mặt lại vô cùng nghiêm trọng.”

Hoắc Giác nói: “Là một câu nói mà Viên Thanh đại sư gửi tới.”

Tiết Vô Vấn nhướn mày: “Câu nói gì?”

Hoắc Giác vừa định mở miệng, đúng lúc này, ngoài cửa đột nhiên truyền đến giọng nói của Ám Nhất.

“Thế tử, vừa rồi Kim ma ma của phủ Trưởng Công chúa đã ra khỏi cổng thành, nhìn hướng xe ngựa đi, hẳn là đang đến chùa Đại Tướng Quốc.”

Quán trọ ở cổng thành này là sản nghiệp của phủ Định Quốc Công, chưởng quỹ và tiểu nhị bên trong đều là người của phủ Định Quốc Công.

Hễ có người có chút danh tiếng ở Thịnh Kinh ra khỏi thành, người ở đây sẽ biết ngay lập tức.

Tiết Vô Vấn dựa lưng vào ghế, trầm ngâm một lúc, rồi hỏi: “Trưởng Công chúa có cùng ra khỏi thành không?”

“Không, Trưởng Công chúa vẫn còn ở trong phủ.”

Tiết Vô Vấn thản nhiên nói: “Phái người đi theo Kim ma ma.”

Nói xong, Tiết Vô Vấn nghiêng mắt nhìn Hoắc Giác, lại nói: “Đệ có vẻ không chút ngạc nhiên. Đệ thật sự cho rằng giao những hồ sơ vụ án thi thể kia cho Huệ Dương Trưởng Công chúa xem sẽ có tác dụng sao?”

Hoắc Giác cụp mắt xuống.

Kiếp trước, Huệ Dương Trưởng Công chúa ở Càn Thanh cung, sau khi đâm chết Chu Nguyên Canh liền tự sát.

Nàng ấy dùng một con dao găm sắc bén, đâm một nhát vào cổ Chu Nguyên Canh, sau đó quay đầu đâm dao găm vào ngực mình.

Khi Hoắc Giác đến nơi, sàn Càn Thanh cung đầy máu tươi.

Huệ Dương Trưởng Công chúa nhắm mắt nằm trong vũng máu, sắc mặt bình tĩnh, không buồn không vui, đã tắt thở từ lâu.

Cho đến chết, nàng ấy cũng không giao ra mật chiếu, cũng không biết Triệu Vân đang ở chùa Đại Tướng Quốc, càng không biết nhát dao đó của nàng ấy căn bản không g**t ch*t Chu Nguyên Canh.

Hoắc Giác đã cứu Chu Nguyên Canh còn thoi thóp.

Sau đó, hắn nghe Tiểu Phúc Tử nói, trước khi đến Càn Thanh cung, Trưởng Công chúa đã gặp Đại Hoàng tử ở điện Càn Đông.

Nhưng không ai biết nàng ấy và Đại Hoàng tử đã nói gì.

Sau này, khi Đại Hoàng tử nhường ngôi, chỉ đưa ra hai yêu cầu.

Một là hậu táng Vương Quý phi, hai là hậu táng Huệ Dương Trưởng Công chúa.

Hoắc Giác nhìn nước trà trong veo trong chén.

Tiết Vô Vấn hỏi hắn, có tác dụng hay không?

Thật ra hắn cũng không biết.

Kiếp trước, hắn không hiểu tại sao Trưởng Công chúa lại giết Chu Nguyên Canh, dù sao Chu Nguyên Canh thật lòng yêu thương người muội muội này.

Mà nguyên nhân Trưởng Công chúa giấu mật chiếu của Thừa Bình Đế, có lẽ cũng là vì muốn bảo vệ vị huynh trưởng này. Nếu vậy, tại sao lại giết ông ta?

***

Người theo dõi phủ trưởng Công chúa không chỉ có người của Tiết Vô Vấn, tin tức Kim ma ma ra khỏi thành, Hà Ninh đương nhiên cũng biết.

Lúc này đang sốt ruột chờ đợi bên ngoài quán trọ, Hoắc Giác vừa ra, hắn ta liền vội vàng tiến lên, còn chưa kịp nói gì, đã nghe chủ tử nói: “Chuyện của Kim ma ma, ta đã biết. Có tra ra được Kim ma ma quay lại chùa Đại Tướng Quốc vì chuyện gì không?”

“Thuộc hạ không biết. Mấy ngày nay thuộc hạ vẫn luôn theo dõi phủ Công chúa, không phát hiện phủ Công chúa có gì khác thường, chỉ là…” Hà Ninh dừng lại, do dự nói: “Lúc Kim ma ma ra ngoài, thuộc hạ thấy hạ nhân của phủ Công chúa khiêng vào trong xe ngựa của bà ta một mặt trống.”

Hoắc Giác dừng bước: “Một mặt trống?”

“Vâng. Tuyết rơi quá lớn, lại ở xa, thuộc hạ chỉ nhìn thấy lờ mờ hình như là một mặt trống.”

Hoắc Giác lặng lẽ đứng đó, không biết nghĩ đến điều gì, ánh mắt dần trở nên nghiêm trọng.

“Ngươi đi báo cho Triệu công công, bảo ông ấy phái người theo dõi điện Càn Đông.”

Hà Ninh thấy thần sắc hắn hiếm khi nghiêm trọng như vậy, vội vàng đáp ứng một tiếng, xoay người lao vào trong gió tuyết, không bao lâu liền biến mất không thấy bóng dáng.

Bên kia, sau khi Hoắc Giác đến quán trọ, Khương Lê đi kiểm kê củi lửa chuẩn bị gửi cho nạn dân bên ngoài.

Bận rộn đến mức chân không chạm đất, thậm chí không biết Hoắc Giác đã quay về từ lúc nào.

Thấy hắn lặng lẽ đứng đó, liền hỏi một câu: “Việc của chàng đã xong hết rồi sao? Có muốn về phố Vĩnh Phúc không?”

Hoắc Giác nhìn sắc trời sắp tối, nói: “Về thôi, không đi nữa e là trời sẽ tối.”

Khương Lê khép sổ sách lại, bị gió lạnh thấu xương làm co rúm vai, nói: “Mẹ và thím Như Nương đã về phố Vĩnh Phúc rồi, chúng ta vừa về đến phủ là có thể uống canh nóng hổi.”

Trong đêm đông lạnh giá đến nước cũng đóng băng thế này, một bát canh nóng hổi chính là chút hơi ấm nhỏ nhoi giữa cuộc sống trần gian.

Đương nhiên, nếu người cùng uống canh với hắn là người hắn thích, thì lại càng tốt hơn nữa.

Vừa lên xe ngựa, Khương Lê đã không nhịn được mà nói: “Hôm nay ta nghe rất nhiều người khen chàng, ta, Khương đại chưởng quỹ, cũng thấy vinh hạnh lây.”

Ánh mắt Hoắc Giác tràn ra ý cười, thuận theo hỏi: “Khen ta cái gì?”

“Khen《Tấu sáu việc cần làm sau khi có tai ương tuyết trắng》của chàng rất hiệu quả, nghe nói Chu đại nhân đã đưa《Sáu biện pháp sau tai ương》đến các thành trì ở phía Bắc, để quan phủ bên đó xử lý nạn dân và trị an thành bang theo những gì đã viết trên đó.”

Thực tế,《Tấu sáu việc cần làm sau khi có tai ương tuyết trắng》mới được thực hiện chưa đầy mười ngày, nhưng hiệu quả lại rất rõ rệt.

Chu Dục Thành bèn đưa《Tấu sáu việc cần làm sau khi có tai ương tuyết trắng》đến tất cả những nơi bị ảnh hưởng bởi trận tuyết mùa xuân này, không chỉ riêng gì mấy thành ở phía Bắc.

Khương Lê vừa bẻ ngón tay vừa thuật lại những lời khen ngợi mà nàng nghe được hôm nay, lải nhải nói xong, lại nhớ đến lời châm ngôn tháp Cửu Phật mà dân chúng bàn tán xôn xao, không khỏi nhíu mày:

“Ta nghe người ta đồn, trong lời châm ngôn kia có nhắc đến Túc Châu và Định Quốc Công. Còn có người nói, nguyên nhân tai họa liên miên năm ngoái và năm nay là bởi vì Thiên tử thất đức. Hiện giờ lời đồn này hầu như ai cũng biết, chàng nói xem, phủ Định Quốc Công có gặp chuyện chẳng lành không?”

Không có Hoàng Đế nào cho phép thần dân của mình suy đoán rằng mình thất đức, huống chi lời châm ngôn kia dường như lại ám chỉ Định Quốc Công mới là chân mệnh Thiên tử.

Nếu thật sự là vậy, ai biết được sau này Hoàng Đế có ra tay với phủ Định Quốc Công hay không?

Vậy, vậy a tỷ phải làm sao?

Hoắc Giác đưa tay vuốt phẳng nếp nhăn giữa hai lông mày của Khương Lê, nói: “Phủ Định Quốc Công sẽ không sao, a tỷ cũng sẽ không sao. Nàng hãy tin ta.”

Lang quân nói xong lời này, im lặng một lát, rồi lại nói với Khương Lê: “A Lê, người đã hãm hại Vệ gia cùng Hoắc gia năm xưa, ngoài Lăng Duệ, còn có một người nữa. Đó chính là Hoàng Đế đương triều, Chu Nguyên Canh.”

***

Năm Thành Thái thứ bảy, ngày mười bốn tháng hai.

Gió rét căm căm, tuyết lớn phủ kín cây tùng, dưới mái hiên điện Kim Loan buông xuống những dải băng dài.

Trong điện, bá quan văn võ đứng thành hai hàng, sắc mặt nghiêm trọng bàn luận về những tấu chương mấy ngày nay từ các thành phía Bắc đưa tới.

Chỉ trong vài ngày, tuyết lớn đã gây nên tai họa.

Tấu chương cầu xin triều đình phái người cứu tế giống như bông tuyết, từng tờ từng tờ chất cao như núi trên long án.

May mắn là nhờ thực hiện《Tấu sáu việc cần làm sau khi có tai ương tuyết trắng》của Hoắc Giác, hiện tại tình hình thiên tai vẫn còn trong tầm kiểm soát.

Điều đáng lo ngại nhất chính là sự dị động của quân Bắc Địch.

Bắc Địch nằm ở phía Tây Bắc Đại Chu, giáp ranh với rất nhiều thành trì của Đại Chu.

Trong trận tuyết tai này, Bắc Địch chịu thiệt hại còn nặng nề hơn các thành phía Bắc Đại Chu. Những đồng cỏ rộng lớn bị đóng băng thành băng nguyên, gia súc không chịu nổi giá rét, chết hàng loạt.

Không ít người dân Bắc Địch đã đói đến mức tự động chạy đến biên giới cướp bóc.

Hiện giờ Thái tử và Nhị Hoàng tử Bắc Địch đang bận tranh giành quyền lực, tạm thời chưa rảnh để ý đến tình hình thiên tai.

Nhưng đến khi dân chúng oán thán khắp nơi, cho dù hai người chưa phân thắng bại, cũng sẽ tạm thời liên thủ để vượt qua thiên tai này.

Đối với người Bắc Địch, cách để vượt qua thiên tai chính là cướp bóc.

Cướp lương thực, cướp gia súc, cướp đất đai.

Hôm nay, triều đình đang thảo luận về cách ứng phó với thiên tai và chiến tranh sắp xảy ra.

Thành Thái Đế ngồi trên long ỷ, nhìn xuống Tiết Tấn đang đứng phía dưới, vừa rồi không ít người đề nghị để Định Quốc Công nhanh chóng trở về Túc Châu.

Có Định Quốc Công trấn giữ, ít nhiều cũng có thể uy h**p quân Bắc Địch.

Nhưng những kiến nghị này đều bị Thành Thái Đế bác bỏ.

Tuyết rơi mùa xuân đã ứng nghiệm, vậy còn rồng ngẩng đầu ở Tây Bắc thì sao? Có phải cũng sắp ứng nghiệm rồi không? Rồng ở phía Tây Bắc, ngoài Tiết Tấn ra, còn có thể là ai?

Nếu đã như vậy, làm sao ông ta có thể thả hổ về rừng?

Buổi lâm triều hôm nay kéo dài từ giờ Mão đến giờ Tỵ mới kết thúc.

Tan triều, Hoắc Giác vừa bước xuống bậc ngọc, đã thấy Tiểu Phúc Tử vội vã đi tới, nhỏ giọng nói bên tai hắn: “Trưởng Công chúa vào cung gặp Đại Hoàng tử lúc giờ Thìn, sau đó liền đi đến cửa Nam Trực.”

Sắc mặt Hoắc Giác nghiêm lại.

Ánh mắt trao đổi với Tiết Vô Vấn, người cũng nhận được tin tức, cả hai cùng lúc hành động.

Một người sải bước đi đến cửa Nam Trực, một người nhanh chóng đi tìm Chu Dục Thành.
 
Tiểu Thanh Mai Của Thủ Phụ Đại Nhân
Chương 119: Trống Đăng Văn vang (Đại kết cục – Trung)


Chùa Đại Tướng Quốc, Dược Cốc.

Tiếng chuông chùa trên núi “đang…” một tiếng vang lên, âm thanh ngân nga làm rung động cả những lá bồ đề xào xạc bên ngoài xá trúc.

Kim ma ma nhìn ngắm núi phủ đầy tuyết trắng, thở dài: “Giờ Tỵ rồi.”

Bà khép cửa sổ, ngồi xuống bên giường, vén lại chăn đắp cho Triệu Vân.

“Phò mã, chỉ thêm một khắc nữa thôi, Điện hạ sẽ đến cửa Nam Trực.”

“Điện hạ nói bảy năm trước, lẽ ra người đi đánh trống Đăng Văn là nàng. Ngày đó nếu ngài không đi, thì đã không hôn mê bất tỉnh đến tận bây giờ. Hôm nay, nàng bảo lão nô ở đây thay nàng đánh trống. Mặt trống này chính là mặt trống năm xưa ngài đã lấy đầu mình đập vào, mặt trống cũ đã nứt từ lâu, Điện hạ mất mấy ngày mới vá lại được.”

“Nàng bảo lão nô nói với ngài một tiếng, lần này, nàng sẽ không còn là vị Trưởng Công chúa nhát gan nữa.”

Nói đến cuối cùng, Kim ma ma không kìm được nước mắt lưng tròng.

Mười ngày trước, Huệ Dương Trưởng Công chúa trở về phủ Công chúa liền lấy ra từ chiếc trống vỡ này một đạo mật chiếu, mỉm cười nói với bà: “Ma ma, người thay ta nói với Triệu Vân một câu xin lỗi, đạo mật chiếu này đáng lẽ đã phải công bố thiên hạ từ lâu rồi.”

Kim ma ma dần dần khóc không thành tiếng.

Điện hạ của bà, vị Điện hạ mỗi khi đêm mưa sấm sét lại rúc vào lòng bà, một khi tiếng trống vang lên, có lẽ nàng ấy sẽ không thể quay trở lại nữa.

“Phò mã, nếu ngài nghe thấy tiếng trống Điện hạ đánh, vậy thì xin ngài hãy mở mắt ra nhìn xem!”



Giờ Tỵ một khắc, cửa Nam Trực.

Huệ Dương Trưởng Công chúa mặc bộ triều phục mà nhiều năm trước Thừa Bình Đế đã ban cho nàng ấy, từng bước một đi về phía cửa Nam Trực.

Năm mười lăm tuổi làm lễ cập kê, vì là Công chúa duy nhất của Đại Chu, lại rất được Hoàng Đế sủng ái, lễ cập kê của Huệ Dương Trưởng Công chúa vô cùng long trọng.

Ngày đó, nhạc cung đình vang lên, văn võ bá quan mặc triều phục đứng hai bên.

Nàng ấy tắm mình trong ánh bình minh, mặc bộ triều phục màu đỏ rực rỡ, từng bước một bước lên bậc ngọc, đi đến bên cạnh Phụ Hoàng và Mẫu hậu.

Phụ hoàng đội lên đầu nàng ấy mũ phượng tượng trưng cho thân phận Trưởng Công chúa, mỉm cười nói với nàng ấy: “Dương, nghĩa là ánh bình minh. Từ hôm nay trở đi, con chính là Huệ Dương Trưởng Công chúa của Đại Chu.”

Tà váy đỏ rực rỡ trải dài, Huệ Dương Trưởng Công chúa đi đến bên cạnh trống Đăng Văn, cầm lấy dùi trống.

Bảy năm trước, Triệu Vân chính là ở nơi này đánh lên trống Đăng Văn.

Lúc đó lẽ ra nàng ấy phải đi.

Giống như Phụ Hoàng đã nói, nàng ấy là Trưởng Công chúa của Đại Chu.

Có rất nhiều việc, người khác có thể làm, nàng ấy không thể làm.

Lại có rất nhiều việc, người khác không cần làm, nàng ấy phải làm.

“Đùng!”

“Đùng! Đùng!”

“Đùng! Đùng! Đùng!”

Tiếng trống vang dội, vọng lại giữa trời gió tuyết.

Dưới gốc bồ đề, Triệu Khiển và Viên Thanh đại sư buông xuống quả bồ đề trên tay, đồng loạt nhìn về phía xá trúc truyền đến tiếng trống.

Quảng trường bên trong cửa Nam Trực, các văn võ bá quan vừa tan triều kinh ngạc nhìn về phía cửa Nam Trực cách một bức tường.

Trên đường phố Trường An, vô số bá tánh vội vã chạy về phía cửa Nam Trực nơi đặt trống Đăng Văn.

“Có người đánh trống Đăng Văn rồi!”

“Nhanh, nhanh đến cửa Nam Trực! Xem là ai đánh trống Đăng Văn, lại là vì chuyện gì mà đánh!”

“Lần trước trống Đăng Văn vang lên là bảy năm trước, vị Phò mã lấy cái chết can gián kia đánh!”

Tuyết rơi như liễu rủ phủ xuống một con đường trắng xóa không tì vết, giống như tấm thảm nhung tinh khiết, phía trên dần dần in xuống chi chít dấu chân.

Ánh bình minh chiếu rọi cổng cung.

Ánh sáng vàng xuyên qua mây tuyết, rơi xuống chiếc mũ phượng vàng kim trên đầu Huệ Dương Trưởng Công chúa.

Nàng ấy đưa mắt nhìn quanh bá tánh và bá quan, lớn tiếng nói:

“Ta là Trưởng Công chúa Đại Chu Chu Nguyên Ninh, hôm nay đích thân đánh trống Đăng Văn, tố cáo Hoàng Đế Đại Chu, huynh trưởng của ta Chu Nguyên Canh, tội giết cha hại huynh, thông đồng b*n n**c, hãm hại Thái tử cùng trung thần, ức h**p bá tánh!”

“Bảy năm trước, Phụ Hoàng từng hạ mật chiếu. Trừ khử Khang Vương, cứu Thái tử. Đạo chiếu này vì tư tình của ta mà không được công bố suốt bảy năm. Phụ hoàng từng nói, Thiên tử phạm pháp chịu tội như thứ dân. Hôm nay, ta lệnh cho đạo chiếu này được công bố thiên hạ, khẩn cầu Hoàng huynh Chu Nguyên Canh thoái vị nhường ngôi, để sám hối tội lỗi của mình. Ta cũng xin từ bỏ danh hiệu Trưởng Công chúa, nguyện tự giáng làm thứ dân, lấy cái chết chuộc tội!”

Một đạo mật chiếu màu vàng nhạt từ từ mở ra, lộ ra sáu chữ viết nguệch ngoạc nhưng mạnh mẽ xuyên thấu qua giấy—

“Trừ khử Khang Vương, cứu Thái tử!”

***

Một khắc trước, điện Thừa Loan.

Hai mí mắt Vương Quý phi từ sáng sớm cứ giật liên hồi.

Mã ma ma vắt khăn nóng đắp lên mắt cho bà ấy, đắp được một nửa, một cung nữ thân tín hoảng hốt chạy vào nội điện, run rẩy nói: “Quý phi nương nương, Huệ Dương Trưởng Công chúa đi… đi đến cửa Nam Trực đánh trống Đăng Văn rồi!”

Vương Quý phi đột nhiên đứng dậy, khăn nóng “tách” một tiếng rơi xuống đất.

Bà ấy nghiêm giọng nói: “Nói lại lần nữa! Ai đi đến cửa Nam Trực?”

Cung nữ “bịch” một tiếng quỳ xuống, run rẩy đáp: “Là, là Huệ Dương Trưởng Công chúa. Nô tỳ không biết vì sao Trưởng Công chúa lại đánh trống Đăng Văn, nô tỳ nghe Nguyễn ma ma nói, trước khi Trưởng Công chúa đi cửa Nam Trực, đã đến điện Càn Đông của Đại Hoàng tử.”

Vương Quý phi hít sâu một hơi.

Lúc này không chỉ mí mắt giật, mà tim cũng “thình thịch thình thịch” đập rất nhanh.

Vương Quý phi bước qua cung nữ đang quỳ trên đất, vội vã ra khỏi nội điện.

Mã ma ma đuổi theo sau bà ấy, nói: “Trời lạnh, nương nương khoác thêm áo choàng cầm lò sưởi tay rồi hãy ra ngoài!”

Vương Quý phi không còn tâm trí để nói chuyện, vừa đi vừa suy nghĩ Huệ Dương Trưởng Công chúa rốt cuộc sẽ nói gì, bà ấy nên ứng phó như thế nào.

Bà ấy vừa ra khỏi ngoại điện, bước chân vội vã liền đột ngột dừng lại.

Dưới bậc ngọc bên ngoài điện, Cao Tiến Bảo cung kính hành lễ với Vương Quý phi, cung kính nói: “Quý phi nương nương, nô tài được người nhờ vả, đặc biệt đến đây chuyển lời cho nương nương.”

Vương Quý phi không nói gì, lạnh lùng nhìn Cao Tiến Bảo, ánh mắt băng giá.

Cao Tiến Bảo dường như không nhận ra cơn giận của bà ấy, nhanh chóng bước lên bậc ngọc, hạ giọng nói: “Người đó bảo nô tài nói với Quý phi nương nương, đôi mắt của Đại Hoàng tử rất giống với tội thần Lăng Duệ.”

Giữa trời đông giá rét, chỉ có Vương Quý phi và Mã ma ma nghe rõ Cao Tiến Bảo nói gì.

Mã ma ma lộ vẻ kinh hoàng, lò sưởi tay bằng vàng chạm khắc trong tay “loảng xoảng” một tiếng rơi xuống bậc thang, lăn xuống nền tuyết.

Cao Tiến Bảo nói xong lời này thì không nán lại nữa, xoay người sải bước rời đi.

“Nương nương!” Mã ma ma nhìn bóng lưng Cao Tiến Bảo, lại nhìn sắc mặt tái mét của Vương Quý phi: “Cao công công nói vậy, câu này là có ý gì?”

Vương Quý phi nói: “Hôm trước ma ma đến am Tịnh Nguyệt, có sư thái nào không thấy đâu không?”

Mã ma ma nói: “Lúc lão nô đi, ngoài am chủ, các sư thái khác đều có mặt.”

Am chủ… đó là người của bà ấy.

Mã ma ma đến, sao am chủ dám vắng mặt?

Hoặc là bị người bắt cóc, hoặc là đã đầu quân cho người khác.

Vương Quý phi nhắm chặt mắt, móng tay sơn màu đỏ tươi “tách” một tiếng gãy đôi.

“Nương nương, Đại Hoàng tử đến!” Mã ma ma đột nhiên nói.

Vương Quý phi bỗng nhiên mở mắt.

Chỉ thấy dưới bậc ngọc, Chu Hoài Húc khoác áo choàng dày bằng lông chuột màu xám xanh, chậm rãi bước lên bậc thang.

Bà ấy đè nén trăm mối suy tư trong lòng, khẽ cong khóe môi: “Húc nhi sao lại đến đây?”

Chu Hoài Húc thấy Vương Quý phi đứng giữa trời tuyết, ngay cả áo choàng cũng không mặc, vội vàng cởi áo choàng trên người khoác lên người Vương Quý phi, nhỏ giọng nói: “Trời lạnh, mẫu phi mặc áo choàng của Húc nhi đi.”

Chu Hoài Húc qua một năm lại cao thêm một chút, đứng bên cạnh Vương Quý phi, chiều cao đã gần bằng bà ấy.

Áo choàng của cậu khoác lên người Vương Quý phi, không rộng cũng không chật, lại vừa vặn.

Chu Hoài Húc rụt vai, xoa xoa chóp mũi đỏ ửng vì lạnh, lúc này mới chậm rãi trả lời câu hỏi của Vương Quý phi: “Tiểu cô cô sáng nay đến điện Càn Đông, bảo Húc nhi đến điện Thừa Loan, đừng ra ngoài. Mẫu phi, vì sao tiểu cô cô, vì sao lại bảo Húc nhi đừng ra ngoài?”

Vương Loan nhìn đôi mắt phượng hẹp dài của Chu Hoài Húc, nắm chặt áo choàng trên người.

Không đáp mà hỏi ngược lại: “Ngoài việc bảo Húc nhi đến điện Thừa Loan, Huệ Dương Trưởng Công chúa còn nói gì với Húc nhi nữa không?”

Chu Hoài Húc bất an cắn môi, trong đôi mắt trong veo thoáng qua một tia giằng xé.

Một lúc sau, cậu nói: “Tiểu cô cô nói, không bảo vệ được mẫu phi không phải lỗi của Húc nhi, tiểu cô cô còn bảo Húc nhi sau này phải làm người can đảm.”

Chính vì những lời này của Huệ Dương Trưởng Công chúa, Chu Hoài Húc mới lấy hết can đảm nói ra lời trong lòng với Vương Quý phi.

Tiểu lang quân nhìn Vương Quý phi với ánh mắt kiên định, giọng nói trong trẻo: “Con nói với tiểu cô cô, Húc nhi đã lớn rồi, sau này không chỉ bảo vệ mẫu phi, còn bảo vệ tiểu cô cô nữa. Như vậy, tiểu cô cô sẽ không còn sợ hãi khi vào cung nữa.”

Sắc mặt Vương Loan trắng bệch, trong nháy mắt đã hiểu ra tất cả.

Giữa mùa đông lạnh giá, cơn gió lạnh buốt thấu xương trong khoảnh khắc ùa vào tim, khiến cả người bà ấy như rơi vào hầm băng.

Nhưng hốc mắt lại dần dần nóng lên.

Vương Loan mím chặt môi, giọng nói vẫn như thường: “Mẫu phi đã biết rồi. Húc nhi hãy theo Mã ma ma vào trong điện trước, mẫu phi lát nữa sẽ vào.”

Chu Hoài Húc theo Mã ma ma vào nội điện, Vương Loan nhìn Nguyễn ma ma với ánh mắt lạnh nhạt.

Nguyễn ma ma “bịch” một tiếng quỳ xuống: “Nương nương thứ tội!”

Vương Loan lạnh giọng hỏi: “Chuyện khi nào?”

Nguyễn ma ma nghẹn ngào nói: “Ngày Đại Hoàng tử vừa tròn tám tuổi.”

Tám tuổi.

Đêm Húc Nhi tròn tám tuổi thì bị sốt cao, sáng hôm sau tỉnh dậy còn khóc nói với bà ấy: “Mẫu phi… đau.”

Khi ấy bà ấy cứ nghĩ Húc nhi nói chính mình đau, kỳ thực là cậu đang nói bà ấy đau!

Vương Loan lặng lẽ đứng đó, móng tay bật máu, từng giọt máu đỏ tươi “tách” một tiếng rơi xuống nền tuyết dưới chân.

Một lúc lâu sau, bà ấy nắm chặt áo choàng của Chu Hoài Húc, đang định xoay người, bỗng nghe Nguyễn ma ma lớn tiếng gọi: “Nương nương.”

Vương Loan dừng lại, cúi đầu nhìn Nguyễn ma ma.

Nguyễn ma ma tự biết hôm nay mình khó tránh khỏi bị nghiêm phạt, cũng không biết liệu có giữ được mạng hay không.

Vì vậy, có vài lời bà ta không thể không nói.

“Đại Hoàng tử thương nương nương nên liều mạng học làm một trữ quân xứng đáng. Nhưng ngài ấy không vui, ở trong cung này một chút cũng không vui! Nương nương, xin người hãy thương Đại Hoàng tử!”

Vương Loan im lặng một lát, rồi nhẹ nhàng v**t v* áo choàng trên người, gật đầu nói: “Bổn cung đã biết.”

Nói xong, bà ấy xoay người bước vào điện Thừa Loan.

***

Trống Đăng Văn ở cửa Nam Trực vang lên ròng rã suốt hai khắc đồng hồ.

Tiếng trống đầu tiên vang lên khi Thành Thái Đế vừa ngồi vào kiệu.

Từ sau khi tháp Cửu Phật hiển linh, ông ta lại bắt đầu nghe thấy tiếng Phụ Hoàng quở trách, đêm đêm không thể yên giấc.

Một buổi lâm triều đã vắt kiệt sức lực của ông ta.

Ông ta mệt mỏi nhắm mắt lại, không để ý kiệu đang từ từ lăn bánh trên nền tuyết, hướng về phía cửa Nam Trực.

Càng đến gần cửa Nam Trực, tiếng trống càng rõ ràng.

Thành Thái Đế kinh ngạc mở mắt.

Một lúc sau mới phản ứng lại, đây là có người đánh trống Đăng Văn!

Ông ta vội vàng vén rèm, đang định hỏi, bỗng thấy Triệu Bảo Anh hầu cận bên cạnh buông phất trần xuống, hai tay phủ phục, đầu dập xuống đất, giọng nói cung kính như trước.

“Nô tài đa tạ Hoàng thượng những năm qua đã hậu ái, hôm nay nô tài chỉ có thể đưa Hoàng thượng đến đây, Hoàng thượng xin mời.”

Thành Thái Đế trừng lớn đôi mắt đục ngầu, nhìn quanh một lượt, trong lòng bỗng bùng lên ngọn lửa giận dữ.

“Tên chó nô tài này, ngươi nói vậy là ý gì?! Trẫm muốn về điện Dưỡng Tâm! Còn tiếng trống bên ngoài là chuyện gì? Ngươi mau phái người đi tra xét!”

Đúng lúc này, một giọng nói trong trẻo quen thuộc vang lên từ ngoài tường cung.

“Ta là Trưởng Công chúa Đại Chu Chu Nguyên Ninh, hôm nay đích thân đánh trống Đăng Văn, tố cáo Hoàng Đế Đại Chu, huynh trưởng của ta, Chu Nguyên Canh, tội giết cha hại huynh, thông đồng b*n n**c, hãm hại Thái tử cùng trung thần, ức h**p bá tánh!”

Hai mắt Thành Thái Đế càng trợn to hơn, nhất thời không phân biệt được đây là thật hay là ảo giác.

Ông ta cũng không để ý đến Triệu Bảo Anh nữa, vội vàng xuống kiệu, thở hổn hển đi về phía cửa Nam Trực.

Bên ngoài cửa, Huệ Dương Trưởng Công chúa chậm rãi mở mật chiếu trong tay. Mật chiếu vừa xuất hiện, tất cả quan lại và bá tánh đều đồng loạt quỳ xuống.

Cuối con đường tuyết phủ, Hoắc Giác đứng dưới chân tường thành, nhìn Huệ Dương Trưởng Công chúa và mật chiếu trong tay nàng ấy.

Kiếp trước, hắn đã tìm khắp phủ Công chúa mà không thấy mật chiếu này.

Vốn tưởng rằng một ngày Triệu Vân chưa tỉnh, Trưởng Công chúa sẽ không lấy mật chiếu này ra.

Không ngờ, nàng ấy lại công bố mật chiếu vào lúc này.

Quả thật, việc làm hôm nay của Trưởng Công chúa đã hoàn toàn phá vỡ kế hoạch của hắn và Tiết Vô Vấn.

Nhưng tình hình hiện tại còn tốt hơn cả kế hoạch của hắn.

Ánh mắt Hoắc Giác khẽ chuyển, dừng lại trên góc áo màu vàng ở phía xa.

Kiếp trước, một đao của Trưởng Công chúa không giết được Chu Nguyên Canh, kiếp này, một tiếng trống của trống Đăng Văn tất nhiên cũng không lấy được mạng ông ta.

Nhưng lại có thể khiến ông ta sống không bằng chết.

Hãy để ông ta tận mắt chứng kiến người thân, thần tử, và cả bá tánh của ông ta, từng bước một cầm dùi trống, tố cáo Thiên tử vô đạo, bức ông ta phải thoái vị!

Đang suy nghĩ, lại có hơn hai mươi người dân mặc đồ tang trắng theo sau Tông Úc, đến cửa Nam Trực.

Chỉ thấy những người dân phẫn nộ này lần lượt tiến lên cầm dùi trống, đánh lên trống Đăng Văn.

“Ta tên là Lý Đình, là người Kinh thành. Mười hai năm trước, trưởng nữ của ta, Lý Từ, bị Khang Vương bắt cóc ở ngoại ô Kinh thành, chết thảm trong Khang Vương phủ. Hôm nay ta ở đây tố cáo Khang Vương, cũng chính là đương kim Thiên tử Chu Nguyên Canh, tội coi thường mạng người, tàn ngược bá tánh!”

“Ta tên là Trương Phùng, người Khai Phong… Hôm nay ta ở đây tố cáo đương kim Thiên tử…”

“Ta tên là Tiền Phú Quý, người Lâm An…”



Tiếng trống vang lên hết đợt này đến đợt khác, đợi hơn hai mươi người này tố cáo xong. Một người đang quỳ dưới đất, bỗng đứng dậy, kiên quyết bước đến trống Đăng Văn.

Dùi trống giơ lên, “đùng” một tiếng vang lên.

Chàng trai trẻ mặt mày cương nghị lớn tiếng nói: “Ta là Phó thống lĩnh cấm quân Lâm Quy, hôm nay đánh trống Đăng Văn, tố cáo Hoàng Đế Chu Nguyên Canh đã giết muội muội của ta là Lâm Ấu Nhụy. Lâm Quy ở đây khẩn cầu Hoàng Đế thoái vị, Thiên tử vô đạo, Quy không muốn phò tá kẻ vô đạo!”

Nói xong, liền tháo thẻ bài Phó thống lĩnh cấm quân xuống.

Hoắc Giác nhíu mày, chậm rãi tháo mũ ô sa trên đầu, bước lên phía trước.

Nghĩ từ khi hắn trùng sinh, từng bước tính toán, mưu tính thiên thời, địa lợi, nhân hòa.

Cảnh tượng lúc này, không nằm trong kế hoạch của hắn, nhưng lại có thể nói là thiên thời địa lợi nhân hòa.

Hoắc Giác nhận lấy dùi trống trong tay Lâm Quy, dùng sức đánh lên trống Đăng Văn, giọng nói vang dội:

“Ta là Giám sát Ngự sử Đô sát viện Hoắc Giác, tên thật là Vệ Cẩn, con cháu Vệ gia ở Thanh Châu. Ông nội ta là Vệ Hạng, ông ngoại ta là Hoắc Diễm từng tận tâm tận lực vì Đại Chu, chết vẫn không thôi, lại vì đương kim Thiên tử lòng lang dạ sói, mưu triều soán vị mà cả nhà bị oan chết. Hôm nay ta ở đây, cung thỉnh Hoàng Đế Chu Nguyên Canh thoái vị nhường hiền, tạ tội với thiên hạ, để yên lòng trời!”

Tiếng trống “đùng đùng” không dứt bên tai.

Kiếp này, người đánh trống Đăng Văn ở cửa Nam Trực, cuối cùng cũng không còn là a tỷ nữa.
 
Back
Top Bottom