Khác Tiểu sử của các tướng LMHT

Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
Veigar


Đối với mọi người, tộc yordle trông không có vẻ gì là đáng sợ.

Bộ tộc nhỏ con dễ dãi này, dẫu hung dữ, vẫn thường được xem là khá dễ tính.

Với chất giọng cao vút cùng bộ dạng nhỏ nhắn dễ thương họ thường đánh thức bản năng bảo bọc của những loài to lớn hơn, hay ít nhất cũng khiến người khác mường tượng ra những hình ảnh của những đứa trẻ đang cố tỏ ra vẻ người lớn.

Nhưng luôn tồn tại ngoại lệ, một yordle đã trở nên tha hóa xấu xa đến mức, bất kể hình hài nhỏ nhắn của mình, ai cũng khiếp sợ khi nhắc đến hắn.

Veigar chính là tên của hắn.

Là một bậc thầy ma thuật hắc ám và năng lượng đen của vũ trụ, hắn là một trong những pháp sư hùng mạnh nhất trên khắp Valoran.

Khi còn bé, Veigar cũng là một yordle bình thường với một ngoại lệ nho nhỏ - hắn khát khao muốn tham quan thế giới bên ngoài thành phố Bandle.

Chú yordle nhỏ bé sử dụng hầu hết quãng thời gian của mình để học hỏi về phần còn lại của Valoran, và khi cơ hội đến, cậu lập tức tham gia chuyến du hành giao thương giữa các thành bang chính.

Không may cho cả cậu bé và cả thế giới, vụ trao đổi giữa thương nhân Noxus hóa ra lại là một vụ buôn bán của thế giới ngầm mà lại còn bị phát hiện; Veigar và những người bạn của mình bị đưa ra làm bia đỡ đạn.

Bị chính quyền giam giữ, hắn phải chịu số phận tù đày ở Noxus nhiều năm liền.

Một sự cô lập như thế rất nguy hiểm cho một yordle, và Veigar dần dần trở nên điên cuồng.

Cuối cùng hắn cũng trốn thoát được, nhưng cái giá phải trả là sự thơ ngây hồn nhiên của ngày nào.

Thay vì trở về với tộc yordle và thành phố Bandle, hắn tầm sư học đạo từ các phù thủy hắc ám trên khắp miền đất.

Với ý chí kiên định tập trung vào một điều duy nhất, hắn nhanh chóng trở thành một pháp sư hùng mạnh và nguy hiểm.

Giờ đây hắn muốn kết thúc tất cả mâu thuẫn ở Valoran bằng cách triệt hạ tất cả mọi thành bang.

Liên Minh Huyền Thoại là một công cụ hoàn hảo giúp hắn đạt được tham vọng này - hiện tại là vậy.

Ai nói ác quỷ trông phải dễ sợ chứ hả?
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
Vel'Koz


Để thực sự hiểu nỗi kinh hoàng mang tên Vel'Koz, trước hết người ta phải nhắc tới các Băng Ác Thần, và cách chúng bị nhân giới che mắt ra sao.

Nằm ngoài vị diện vật chất ở đâu đó bên dưới nó, là một vực thẳm không gì soi thấu nổi.

Đó là thế giới Hư Không, nơi chẳng một sinh vật nào, dù bất tử hay không, tồn tại được.

Bạn không cần biết làm thế nào hay tại sao nó sinh ra đâu—chỉ cần biết nó có thật là đủ.

Hư Không vĩnh cửu.

Hư Không nuốt sạch tất cả.

Tại đó, trong hắc ám lạnh lẽo vô tận, vạn vật đều trống rỗng như nhau.

Qua biết bao thời đại, nơi này vẫn giữ nguyên sự thuần khiết.

Và yên bình nữa, nếu nó thực sự mang ý nghĩa gì trong chốn này.

Thế rồi, có gì đó thay đổi.

Không phải ở Hư Không, mà ở một nơi khác.

Có gì đó tồn tại, có gì đó...

ở nơi trước đây vốn không có gì, và sự hiện diện của nó tạo nên một thoáng gợn trên người những thực thể to lớn, lạnh lẽo, không hình dạng đang lướt trong màn đen u tối.

Trước đó, chúng thậm chí còn không biết chúng có nhận thức, và giờ chúng biết chúng không thể khoan dung cho sự có mặt của một nơi khác; một nơi đầy sự sống và sáng tạo.

Những thực thể này theo dõi.

Chăm chú theo dõi.

Rất nhanh, các Băng Ác Thần thấy chính chúng bị thăm dò lại.

Những tâm trí phàm tục nhỏ nhoi tiếp xúc với chúng thật không đáng kể, còn thua cả những bụi sáng ngoài rìa vực thẳm.

Tuy nhiên ở chúng, các Băng Ác Thần thấy cơ hội để xâm nhập thế giới vật chất, để tiêu diệt nó, để dập tắt nhịp đập thực tại bên ngoài Hư Không.

Những kẻ táo bạo nhất trong số chúng xé toạc tấm màn ngăn, lao vụt lên trên, để rồi bị mất phương hướng bởi sự thay đổi đột ngột giữa vực thẳm và thực tại.

Trong thoáng chốc, có thời gian, có sức nóng, có đau đớn...

Rồi chỉ còn lạnh lẽo.

Con đường bị bịt kín, hàng chục Băng Ác Thần mắc kẹt trong không gian giữa hai thế giới, đóng băng trong khoảnh khắc chuyển đổi.

Những kẻ còn ở lại Hư Không chùn bước.

Chúng không có khái niệm gì về chuyện vừa xảy ra, nhưng chúng biết chúng đã bị phản bội.

Và thế là, chúng thích nghi.

Chạm khẽ vào nhân giới, các Băng Ác Thần lấy thứ vật chất nguyên sơ đã tạo nên nó, đổi dạng, ác hóa và truyền ý thức vào đó.

Chúng là những Hư Không Tộc đầu tiên, và sẽ là tai mắt của các chủ nhân, được gửi vào cơn ác mộng của tồn tại để nhìn, để nghe, và để học.

Trong số chúng, có một con nổi bật hẳn lên.

Có lẽ là Hư Không Tộc sống sót lâu nhất, và chắc chắn là tồn tại bền bỉ nhất bên ngoài vực thẳm, nó được biết đến dưới vô số cái tên với những kẻ bất hạnh vô tình đụng độ.

Hàng ngàn năm trước khi Icathia phóng thích Hư Không, nên văn hóa nguyên thủy của Shurima đã sợ hãi con quỷ Vel'Koz, kẻ bò lên từ chốn âm ti để cướp đoạt giấc mơ của những con người thông thái.

Dù tên của nó không thể dịch sát nghĩa trong ngôn ngữ hiện đại, nhưng đại khái là "phá đi để hiểu rõ."

Khao khát vô độ với tri thức đã dẫn Vel'Koz đi khắp thế giới, đến những đỉnh núi cao nhất và những tầng đáy sâu nhất.

Xảo quyệt và có phương pháp, nó lặng lẽ quan sát các nền văn minh trỗi dậy, trì trệ và suy tàn, dành hàng thế kỷ rà khắp thềm đại dương tìm kiếm những bí mật, thậm chí lần dò những chuyển động của sao trời trên đầu.

Nó mang tất cả tri thức này trở lại khe nứt vĩ đại trong kết cấu của Runeterra—để các Băng Ác Thần biết điều nó biết—và sẽ tiêu hủy không do dự bất kỳ ai cản đường nó.

Bởi Hư Không vĩnh hằng, và nó sẽ nuốt sạch tất cả.
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
Viktor


Sứ giả của thời đại công nghệ mới, Viktor dành cả đời cống hiến cho tiến bộ của nhân loại.

Một người theo chủ nghĩa lý tưởng luôn tìm cách đưa con người lên tầm hiểu biết mới, anh tin rằng chỉ có đón nhận tiến hóa huy hoàng của công nghệ mới hiện thực hóa được toàn bộ tiềm năng của loài người.

Sở hữu cơ thể nâng cấp bằng sắt thép và khoa học, Viktor nhiệt thành theo đuổi tương lai tươi sáng này.

Viktor sinh ra tại Zaun ở vùng rìa của tầng Gác Xép.

Được cha mẹ làm nghề thủ công ủng hộ, anh phát hiện ra niềm đam mê với phát minh và thiết kế.

Anh bỏ từng phút một để nghiên cứu, ghét phải ngắt quãng công việc dù để ăn hay ngủ.

Tệ hơn nữa là phải nhanh chóng chuyển chỗ ở nếu gần đó có một vụ tràn hóa chất, một vụ nổ bất ngờ hoặc hóa-vân sắp tới.

Ngưng làm việc, dù trong chốc lát, cũng trở thành nỗi căm ghét của Viktor.

Trong thôi thúc thiết lập trật tự và ổn định trên thế giới, Viktor nghiên cứu nhiều vụ tai nạn của Zaun và nhận ra hầu hết tất cả chúng đều do sai lầm của con người, chứ không phải do hỏng hóc của máy móc.

Anh đề nghị với những doanh nghiệp địa phương, cam kết thực hiện các phát minh đảm bảo môi trường làm việc an toàn hơn rất nhiều cho họ.

Phần lớn đều từ chối, chỉ có một – Hóa-lò Fredersen – đã thử vận may với chàng thanh niên nhiệt huyết này.

Các phát minh về tự động hóa của Viktor đã giảm thiểu tai nạn trong xưởng rèn xuống con số không trong vòng một tháng.

Rất nhanh, các cơ sở khác tìm đến và các thiết kế của anh trở nên phổ biến khắp Zaun, cải thiện năng suất qua mỗi lần cách tân nhằm loại bỏ sai lầm của con người ra khỏi quy trình sản xuất.

Cuối cùng, năm 19 tuổi, anh ngạc nhiên khi thấy mình được đề nghị một vị trí trong Học Viện Ma Kỹ danh tiếng.

Nhưng công trình của Viktor đã thu hút sự chú ý của Giáo sư Stanwick của Piltover, người đã thuyết phục anh rời Zaun đến một học viện trong Thành Phố Tiến Bộ.

Tại đó, anh được làm việc trong những phòng thí nghiệm tân tiến nhất và tiếp cận được với mọi nguồn lực nơi này có thể đem lại.

Phấn khích vì được tuyển chọn, Viktor chấp nhận lời mời và chuyển tới định cư ở Piltover, nơi anh mài giũa tay nghề và tìm cách hoàn thiện các định lý của mình theo cách có lợi cho tất cả mọi người.

Viktor cộng tác cùng những người xuất sắc nhất Piltover; trong đó có một thiên tài không ai chịu nổi tên Jayce.

Cả hai có trí tuệ ngang bằng, nhưng trong khi Viktor có phương pháp, logic và tỉ mỉ, Jayce lại khoa trương và kiêu ngạo.

Hai người thường xuyên làm việc cùng nhau, nhưng chưa bao giờ thực sự trở thành bạn bè.

Thường thì cả hai sẽ đối đầu về quan điểm giữa trực giác và logic trong quá trình phát minh, nhưng có một sự tôn trọng lẫn nhau ở một chừng mực nào đó dần hình thành khi người này thấy được tài hoa không hoàn mỹ ở người kia.

Khi Viktor đang nghiên cứu ở Piltover, một vụ tràn hóa chất lớn đã tàn phá toàn bộ Zaun, và anh quay về quê nhà để giúp giải cứu.

Bằng cách cấy ghép một chuỗi phức tạp những vòng lặp nhận thức vào công nghệ tự động hóa sẵn có, anh tạo nên một người máy tùy biến, Blitzcrank, để hỗ trợ dọn dẹp.

Blitzcrank cứu được vô số sinh mạng và dường như phát triển một mức độ tri giác vượt ra ngoài mọi hình dung của Viktor.

Ngay cả khi vụ tràn hóa chất đã được kiểm soát, Viktor vẫn ở lại Zaun để giúp những ai bị ảnh hưởng bởi khí độc rò rỉ.

Có chú người máy trợ giúp, anh cố gắng dùng tài năng ma-kỹ của mình để cứu những sinh mạng bị thảm họa hủy hoại.

Nỗ lực của họ rốt cuộc cũng không thành công trong việc ngăn chặn thêm cái chết, và cả hai chia tay.

Dù đau buồn trước mất mát ở Zaun, công việc này vẫn dạy cho Viktor nhiều điều về việc kết hợp giải phẫu con người với công nghệ và về việc cơ thể phàm nhân có thể được cường hóa ra sao nhờ công nghệ.

Nhiều tuần sau, khi quay lại Piltover, Viktor thấy Giáo sư Stanwick tổ chức một hội nghị chuyên đề về Blitzcrank và nhận những nghiên cứu anh đã làm là của mình.

Viktor gửi khiếu nại chính thức lên hội đồng quản trị học viên, nhưng lời tuyên bố chính anh mới là người thiết kế ra Blitzcrank cứ thế rơi vào im lặng.

Anh nhờ Jayce xác nhận, nhưng người đồng môn từ chối lên tiếng, do đó càng nới rộng thêm khoảng cách giữa họ, và chuyện kết thúc theo hướng có lợi cho Giáo sư Stanwick.

Cay đắng, nhưng cam chịu, Viktor lao đầu vào học tập, bởi anh biết mục tiêu cải thiện đời sống con người và cường hóa nhân loại quan trọng hơn nhiều một dự án bị cướp đoạt và một cái tôi bị tổn thương.

Anh tiếp tục nổi trội trong công việc, tìm thêm nhiều phương pháp mới mẻ để loại bỏ sai lầm và nhược điểm của con người khỏi giai đoạn sản xuất.

Khía cạnh nghiên cứu này ngự trị hoàn toàn suy nghĩ của Viktor.

Anh coi sự can thiệp của con người vào bất kỳ phần nào trong quy trình là cực kỳ thiếu hiệu quả – quan điểm khiến anh dị biệt với nhiều sinh viên và giáo sư khác, những người coi mọi thứ Viktor mong muốn loại bỏ là ngọn nguồn của tài năng và sáng tạo cho nhân loại.

Đỉnh điểm của mâu thuẫn này là trong một lần miễn cưỡng hợp tác với Jayce để cải tiến bộ đồ lặn dùng để dọn dẹp những mảnh vỡ dưới nước và chất thải hóa học còn tồn đọng tại các bến cảng của Pilltover.

Bộ đồ cường hóa của Viktor và Jayce cho phép người mặc lặn sâu hơn ở dưới nước lâu hơn, và nâng được vật nặng hơn.

Nhưng nhiều công nhân bảo rằng họ thấy những thi thể ma quái tỏa sáng dưới đáy sâu hoặc bị ảo giác do hóa chất gây ra.

Khi thợ lặn gặp triệu chứng như vậy, họ hoảng loạn và thường khiến bản thân hoặc đồng nghiệp tử nạn.

Viktor thấy vấn đề không nằm ở kỹ thuật, mà do thần kinh của người mặc không chịu nổi bóng tối dưới lòng đại đương.

Anh nghĩ ra mũ hóa-chuyển cho phép người điều hành trên mặt đất bỏ qua phản ứng sợ hãi của người mặc, và điều khiển thợ lặn một cách hiệu quả.

Tranh cãi nảy lửa nổ ra giữa Viktor và Jayce về tự do ý chí và nô lệ tinh thần ngày một gay gắt – thậm chí bạo lực – và cả hai thề không bao giờ làm việc cùng nhau nữa.

Jayce báo cáo sự vụ lên hội đồng quản trị học viện, và Viktor bị khiển trách vì vi phạm giá trị các nhân quyền cơ bản – dù, trong mắt anh, những gì anh làm đáng ra sẽ cứu được vô số sinh mạng.

Bị đuổi khỏi học viện, anh lui về phòng thí nghiệm cũ ở Zaun, ghê tởm trước nhận thức hạn hẹp của đám cư dân Piltover.

Đơn độc giữa lúc khó khăn, Viktor rơi vào trạng thái trầm cảm nặng nề và phải trải qua một giai đoạn nội quan đầy đau khổ suốt nhiều tuần.

Anh vật lộn đối mặt với tình thế tiến thoái lưỡng nan về đạo lý hiện tại, nhận ra rằng, một lần nữa, cảm xúc và sự yếu đuối trong nhân tính lại cản đường anh.

Anh đã cố giúp đỡ, cố nâng kẻ khác vượt lên năng lực tự nhiên của họ để tránh khỏi sai lầm và cứu rỗi sinh linh.

Ánh sáng chân lý chợt đến khi anh nhận ra chính mình cũng chịu thua những cảm xúc đó, để cho niềm tin ngây thơ rằng ý định tốt đẹp có thể vượt qua mọi thành kiến thâm căn cố đế che đi những thiếu sót của con người.

Viktor biết anh không thể mong đợi người khác theo sau nếu bản thân không đi đầu, nên, trong bí mật, anh tự phẫu thuật để loại bỏ những phần trên cơ thể và tinh thần phụ thuộc hoặc bị cảm xúc kiềm chế.

Khi hoàn tất phẫu thuật, gần như không còn tồn tại dấu vết nào của chàng trai trẻ từng đặt chân đến Piltover nữa.

Anh đã thay thế phần lớn cấu trúc giải phẫu bằng các nâng cấp cơ khí, và cả tính cách cũng thay đổi.

Hy vọng về một xã hội tốt đẹp hơn biến thành nỗi ám ảnh với thứ anh gọi là Tiến Hóa Huy Hoàng.

Viktor giờ coi mình là người tiên phong cho tương lai của Valoran – một giấc mơ lý tưởng nơi con người chối bỏ xương thịt để đổi lấy những nâng cấp Hextech mạnh mẽ hơn.

Nó sẽ giải phóng nhân loại khỏi những sai lầm và nỗi đau chết người, dù Viktor biết đây là nhiệm vụ không thể hoàn thành dễ dàng nhanh chóng.

Anh đắm mình vào công trình vĩ đại này để phục thù.

Anh sử dụng nâng cấp công nghệ để giúp những người dân Zaun bị thương trong tai nạn tái tạo cơ thể, hoàn thiện các cỗ máy thở, và miệt mài làm việc để giảm bớt sự thiếu hiệu quả của con người bằng cách tách biệt thân thể khỏi cảm xúc.

Những gì anh làm cứu được hàng trăm sinh mạng, nhưng truy cầu sự giúp đỡ từ Viktor có thể rất nguy hiểm, bởi giải pháp anh đưa ra thường đem lại hậu quả khó lường.

Nhưng nếu bạn đang tuyệt vọng, Viktor là người bạn tìm đến.

Nhiều người ở Zaun, khi nghe được những mẩu triết lý và thấy được những thành công của anh, coi anh là đấng cứu thế.

Viktor không hứng thú gì, anh xem sự sùng kính mang nhiều màu sắc tôn giáo của họ là một chướng ngại; lại một lý do nữa để loại bỏ mọi nhược điểm cảm xúc và cả thứ niềm tin không thể được chứng minh bằng thực tiễn này.

Sau một sự cố độc chất dưới Hầm Thải làm hàng trăm người trong Rừng Xưởng trở nên điên loạn, Viktor buộc phải dùng đến thuốc ngủ cực mạnh để gây mê các nạn nhân và đưa về phòng thí nghiệm tìm cách khắc phục thiệt hại.

Chất độc bắt đầu ăn mòn từng phần não bộ, nhưng Viktor vẫn làm chậm được quá trình thoái hóa bằng cách mở hộp sọ và lắp đặt máy móc để từ từ lọc máu độc.

Công nghệ hiện có của anh không đủ sức hoàn thành nhiệm vụ ấy, và Viktor biết nhiều người sẽ chết trừ khi anh tìm ra cách để cường hóa cỗ máy thanh lọc.

Khi đang nỗ lực cứu sống những người này, anh phát hiện năng lượng Hextech bùng phát từ Piltover và ngay lập tức nhận thấy thứ đó có thể cung cấp anh thứ sức mạnh anh cần.

Bám theo dao động năng lượng mạnh mẽ, anh đến được ngọn nguồn của nó.

Phòng thí nghiệm Jayce.

Viktor yêu cầu Jayce trao nguồn sức mạnh cho mình, một tinh thể từ sa mạc Shurima.

Nhưng người đồng nghiệp cũ từ chối, không cho Viktor lựa chọn nào ngoài cướp nó đi bằng vũ lực.

Anh quay lại Zaun và gắn khối tinh thể kỳ lạ vào hệ thống lọc, chuẩn bị sẵn một đội người máy hơi nước cho mỗi bệnh nhân đề phòng trường hợp cơ thể họ kiệt sức trước áp lực của liệu pháp chữa trị.

Được tiếp sức bởi nguồn năng lượng mới, các cỗ máy của Viktor hoạt động và dần dần đảo ngược thiệt hại do độc chất gây ra.

Việc Viktor làm sẽ cứu sống những con người – có thể coi là vậy – và giữ lại trong anh nhiều hơn chỉ một mảnh nhân tính, anh sẽ được tán dương.

Dẫu vậy, anh chỉ cho phép mình thoáng mỉm cười.

Trước khi quá trình chữa trị hoàn thành, một Jayce khát khao báo thù xộc vào và bắt đầu đập phá phòng thí nghiệm bằng cây búa đầy năng lượng.

Biết rõ một kẻ kiêu ngạo ngốc nghếch như Jayce sẽ không bao giờ nói lý lẽ, Viktor ra lệnh cho đám người máy tự động tấn công anh ta.

Trận chiến thật khốc liệt, và chỉ kết thúc khi Jayce phá nát khối tinh thể Viktor đã lấy đi, khiến cả khu nhà kho sụp xuống trong một cơn mưa sắt thép và đá tảng, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của những người Viktor đang cố cứu giúp.

Cứ thế, Jayce trở lại Piltover, được hoan nghênh như một người hùng.

Viktor thoát được khỏi phòng thí nghiệm bị phá hủy, và quay lại với sứ mệnh cải tiến nhân loại bằng cách giải phóng họ khỏi những thôi thúc cảm xúc tiêu cực.

Trong tâm trí Viktor, màn tấn công bốc đồng của Jayce chỉ chứng tỏ sự đúng đắn trong mục tiêu của anh và củng cố mong muốn gỡ bỏ gánh nặng xương thịt cho con người.

Không lâu sau đó, Viktor cho đám tay chân nâng cấp hóa-kỹ đến cướp phá phòng thí nghiệm của Jayce.

Đây – Viktor tự nhủ – không phải để báo thù, mà để tìm hiểu xem liệu còn mảnh tinh thể Shurima nào nữa anh có thể sử dụng cho sự tiến bộ của loài người không.

Tuy nhiên, kế hoạch bất thành, và Viktor chẳng bận tâm đến Jayce nữa.

Thay vào đó, anh tăng cường nỗ lực để tìm ra phương pháp dẫn dắt nhân tính ra khỏi sự yếu đuối của cảm xúc và đưa đến một giai đoạn tiến hóa hợp lý hơn.

Những nghiên cứu loại đó đôi khi vượt quá giới hạn của những gì được coi là đạo đức ở Piltover (và cả Zaun), nhưng chúng đều là những bước cần thiết để đem Tiến Hóa Huy Hoàng của Viktor đến gần.
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
Vladimir


Có một ngôi đền nằm ẩn sâu trong những dãy núi giữa Noxus và Đồng Bằng Bão Tố, nơi các bí ẩn ma pháp cổ xưa được lưu giữ.

Xung quanh ngôi đền rải rác đầy những xác chết của những kẻ lưu lạc đến gần nơi đây.

Tất cả những điều này chỉ càng khơi dậy tính tò mò của Vladimir, khi - còn trẻ - hắn đi ngang qua những dãy núi này sau khi trốn thoát từ Noxus.

Một hôm trước, Vladimir trẻ tuổi vừa hạ sát hai chàng trai trạc tuổi hắn, chẳng vì lý do nào khác hơn ngoài sự đam mê ngắm nhìn máu bắn ra như những bông hoa.

Hắn chợt nhận ra mình chẳng thể ngăn nổi niềm đam mê đẫm máu này, và nếu hắn còn ở lại Noxus, tội ác của hắn sẽ buộc hắn phải trả giá.

Không chần chừ, hắn bỏ đi, và chu du về phương nam.

Các dấu vết thi thể dẫn hắn đến ngôi đền đá đổ nát.

Bên trong hắn thấy một nhà sư già nhìn hắn với đôi mắt thuần túy một màu đỏ.

Vladirmir khiến nhà sư ngạc nhiên khi đáp trả lại bằng một ánh mắt không chút sợ hãi.

Nhận thấy sự độc ác tiềm tàng của chàng trai, nhà sư đã dạy hắn cách điều khiểu dòng nhựa sống trong cơ thể, thực tập chúng trên những người du hành ngang qua.

Khi đến lúc Vladimir học bài học cuối cùng, nhà sư cảnh báo hắn thất bại đồng nghĩa với cái chết.

Vladimir đã thành công; trong suốt nghi thức, từng giọt máu của nhà sư đều được hắn hấp thu vào người, hòa với linh hồn quyền năng của người thầy, và các linh hồn trước đó.

Còn lại một mình và không mục đích, Vladimir quay về Noxus, yêu cầu một chỗ trong Liên Minh để thể hiện khả năng.

Khi Bộ Chỉ Huy Tối Cao Noxus nhìn thấy số phận của những tên lính gác cản đường, họ nhìn ra được tài năng đáng sợ của Vladimir.

''Cái chất chảy qua ngươi sẽ khiến ngươi qua đời.''

-- Vladimir
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
Volibear


Những ngọn đèo phương bắc khắc nghiệt của vùng Freljord là quê hương của tộc Đại Hùng, một giống loài hung dữ và hiếu chiến đã tồn tại ở vùng lãnh nguyên khô cằn này hàng ngàn năm qua.

Thủ lĩnh của họ là một thế lực kinh hoàng với khả năng hô sấm gọi sét khiến kẻ thù khiếp đảm: Volibear.

Vừa là một chiến binh vừa là một thuật sư, Volibear luôn tìm cách bảo tồn truyền thống và tinh thần của chiến binh của bộ tộc mình.

Dù sử sách vẫn ghi dấu những cuộc chiến huyền thoại của họ, giờ đây tộc Đại Hùng sống lặng lẽ và yên bình.

Những chiến binh của họ được dẫn dắt bởi một tam đầu chế, những người luôn sống ẩn dật, tránh xa những tranh chấp vặt vãnh.

Là thầy tu của bộ ba này, Volibear rất được trọng vọng bởi trí tuệ của mình.

Đó là một thời kì yên bình chưa từng thấy trước đây, nhưng Volibear vẫn cảm thấy một nỗi sợ mơ hồ.

Sự sung túc đã khiến cả bộ tộc trở nên mềm yếu, và rất nhiều thành viên đã quên mất nghệ thuật chiến trận linh thiêng.

Volibear lo sợ rằng rồi sẽ có lúc ngọn lửa trong họ sẽ sớm lụi tàn.

Khi hắn bày tỏ sự âu lo này với tam đầu chế thủ lĩnh, họ chẳng những không thèm đoái hoài mà còn nhắc hắn phải biết thân biết phận.

Để đi tìm sự minh mẫn, Volibear mạo hiểm trèo lên đỉnh ngọn núi thiêng của tộc Đại Hùng, một nơi luôn bị bao trùm trong những cơn bão sấm sét.

Người ta nói rằng mắt bão nơi đây có thể đem đến những điềm báo, và những cột sét sẽ là dấu chỉ của tộc trưởng vĩ đại tiếp theo của tộc Đại Hùng.

Khi Volibear đang tiến lên đỉnh núi, một cột sét lạ lùng giáng xuống hắn.

Khi tỉnh dậy, hắn bị ám ảnh bởi viễn cảnh Freljord bị nuốt chửng bởi bóng đêm.

Volibear thấy tộc Đại Hùng tự mãn bị hủy diệt bởi những sinh thể băng giá khủng khiếp.

Ngay khi đó hắn biết rằng dân tộc mình sẽ lụi tàn nếu không sẵn sàng ra trận.

Volibear lao xuống núi để thông báo những gì mình vừa thấy nhưng bị chặn đường bởi ba người – tam đầu chế thủ lĩnh tộc Đại Hùng.

Họ biết hắn sẽ chấm dứt cảnh yên lành đang có, họ từ chối nghe lời cảnh báo của Volibear và yêu cầu hắn ngậm miệng lại hoặc là chọn cái chết.

Quyết không lùi bước vì biết sự sống còn của tộc Đại Hùng đang nằm trên đôi vai mình, Volibear lao vào chiến đấu dữ dội với bọn tam đầu chế.

Một trận chiến kinh hoàng diễn ra, khi Volibear sắp gục ngã trước đối thủ, hắn kêu gọi sức mạnh của một cơn bão sấm sét.

Phóng ra những luồng sét mạnh mẽ, hắn hạ gục bộ ba kia với những đòn mạnh như sấm gầm.

Choáng váng và kinh ngạc, tam đầu chế nhận ra thủ lĩnh mới của tộc Đại Hùng: người nắm giữ sức mạnh của cơn bão linh thiêng.

Chấp nhận rằng hắn là vị thủ lĩnh trong truyền thuyết, tam đầu chế đưa Volibear lên làm thủ lĩnh mới của tộc Đại Hùng.

Sức ảnh hưởng của hắn ngay lập tức được thể hiện: hắn vực bộ tộc khỏi sự tự mãn, hồi sinh truyền thống dày dạn trận mạc của họ, và liên kết với Sejuani, chiến binh sẽ sát cánh cùng họ trong cuộc chiến sắp tới.

Thời gian trôi qua, tộc Đại Hùng trở lại là những chiến binh dũng mãnh trong truyền thuyết.

Volibear và tộc Đại Hùng giờ đây sẵn sàng chờ đón những ngày đen tối đang thấp thoáng ở đường chân trời băng giá ngoài kia.

''Tộc Đại Hùng không thể có hòa bình mà không trải qua chiến tranh.''

-- Volibear
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
Warwick


Warwick là một quái vật lẩn khuất trong những con hẻm xám của Zaun.

Bị biến đổi sau những thử nghiệm đầy đau đớn, cơ thể hắn giờ được kết hợp với một hệ thống phức tạp những khoang và bơm, hóa chất cuồng nộ ngập đầy mạch máu hắn.

Vọt ra khỏi bóng tối, hắn săn lùng những tên tội phạm đang khủng bố đáy sâu của thành phố.

Warwick bị máu thu hút, và mùi vị của nó khiến hắn phát điên.

Không ai bị chảy máu mà thoát khỏi hắn được.

Dù nhiều người nghĩ Warwick chẳng hơn gì một con thú, bị vùi sâu dưới cơn thịnh nộ choán đầy tâm trí con người – một gã côn đồ đã rửa tay gác kiếm và lấy một cái tên mới để sống đời tốt hơn.

Nhưng không cần biết hắn cố gắng ra sao, hắn không thể trốn thoát khỏi tội lỗi quá khứ.

Những ký ức về quãng thời gian đó thoáng qua Warwick trước khi chúng vuột mất mà không cách nào giữ được, thay vào đó là những tiếng vọng cháy bỏng về những ngày hắn bị trói trên bàn phòng thí nghiệm của Singed, khuôn mặt của tên dược sĩ điên phủ bóng bên trên hắn.

Thế giới của hắn là ảo ảnh của sự đau đớn, Warwick không thể nhớ mình rơi vào tay Singed ra sao... thậm chí còn khó mà nhớ khi nào cơn đau bắt đầu.

Tay dược sĩ kiên nhẫn mổ xẻ hắn, đặt bơm và ống để truyền hóa chất vào mạch máu, tìm kiếm những gì một nhà giả kim luôn tìm kiếm: biến đổi.

Singed sẽ tiết lộ bản chất thật sự của đối tượng – con quái thú chết người ẩn giấu bên trong một "người tốt."

Hóa chất bơm vào mạch máu Warwick tăng khả năng hồi phục, cho phép Singed tái tạo gã một cách từ từ và đau đớn.

Khi tay hắn bị cắt rời trong quá trình thí nghiệm, Singed đã có thể gắn nó lại, nâng cấp nó với những móng vuốt cơ khí mạnh mẽ, và đem Warwick lại gần hơn với tiềm năng đích thực của mình.

Một khoang hóa chất được đặt lên lưng Warwick và thâm nhập hệ thần kinh của hắn.

Mỗi khi hắn nổi giận, hay thù ghét, hay sợ hãi, nó sẽ dẫn chất lỏng cuồng nộ sâu hơn vào mạch máu, thức tỉnh hoàn toàn con thú bên trong.

Hắn buộc phải chịu đựng mọi nhát cắt từ con dao mổ của tay dược sĩ.

Đau đớn là cần thiết, Singed khẳng định với đối tượng như thế; nó chứng tỏ cho giai đoạn "đại xúc tác" trong biến đổi.

Dù hóa chất cho phép cơ thể Warwick hồi phục hầu hết sát thương vật lý, tâm trí hắn vẫn tan nát trước cơn giày vò không hồi kết.

Warwick chật vật nhớ lại một chút ký ức từ quá khứ...

Tất cả những gì hắn thấy là máu.

Nhưng rồi hắn nghe tiếng la hét của một cô bé.

La hét về thứ gì đó hắn không hiểu nổi.

Nghe như một cái tên.

Hắn đã quên rồi.

Hắn thấy thế là tốt nhất.

Đau đớn nhanh chóng che phủ mọi suy nghĩ khác.

Máu là thứ duy nhất còn lại.

Dù tinh thần và thể xác suy sụp sau nhiều tuần hành hạ, Warwick vẫn bướng bỉnh chống chọi lại hóa chất đang biến đổi hắn.

Chất độc rỉ ra từ mắt hắn thay cho nước mắt.

Hắn ho ra từng đợt dãi ăn mòn vương vãi trên ngực, khoét ra vài lỗ nông trên sàn phòng thí nghiệm.

Bị trói trên mặt bàn thép lạnh, hắn rúm ró trong đau đớn hàng giờ, đến khi cơ thể cuối cùng cũng bỏ cuộc.

Cái chết không đúng lúc của đối tượng làm Singed phải bỏ thi thể trong một hố xác sâu dưới Hầm Thải của Zaun, trước khi chuyển sang thí nghiệm tiếp theo.

Nhưng cái chết chính là chất xúc tác cần thiệt cho Warwick chuyển đổi.

Khi hắn nằm lạnh lẽo trên một đống thi thể, các hóa chất cuối cùng cũng có thể hoàn thành nhiệm vụ.

Khoang trên lưng hắn bắt đầu bơm mạnh.

Cơ thể hắn vặn vẹo phi tự nhiên, xương cong lại và kêu răng rắc, răng mọc ra, cơ bắp xé toạc ra rồi hồi phục lại trong luồng sáng giả kim yếu ớt, da thịt thối rữa được thay thế bằng thứ khác mới mẻ và mạnh mẽ hơn.

Khi trái tim hắn bắt đầu đập lại, con người và cuộc sống trước đây của Warwick đã biến mất.

Hắn tỉnh giấc trong đói khát.

Mọi thứ đều khiến hắn phát đau.

Chỉ có một điều là quan trọng.

Hắn cần máu.

Đầu tiên, là máu của một tay dọn-hầm gần đó, đang lục lọi trong hố xác.

Rồi một tư tế của Tiến Hóa Huy Hoàng, đang tìm kiếm một thành viên trong hội.

Rồi một tập sự Piltover đi qua lối tắt, và một thương nhân lẩn tránh một băng đảng, rồi một kẻ buôn lậu, rồi một người mai táng, rồi một hóa-thủ...

Hắn thiết lập một hang ổ không xa nơi vẫn ẩn hiện trong tâm trí giờ đã là thú vật của hắn.

Tại đó, hắn tiếp tục cuộc tàn sát, không quan tâm ai là nạn nhân của bộ móng vuốt.

Chừng nào máu chưa rỏ khỏi hàm răng nghiến chặt, hắn sẽ chẳng cảm thấy gì ngoài một tấm màn đỏ trong ý thức, cơn đói trong ruột lấn át mọi mối bận tâm đến những nạn nhân ngẫu nhiên của hắn.

Tuy nhiên, dù có đầu hàng con quái thú, những mảnh quá khứ bắt đầu ám ảnh hắn.

Hắn thấy một người đàn ông để râu phản chiếu trong đôi mắt gã ăn mày bị hắn xé toạc cổ họng.

Một người khác ủ rũ hơn, có chút gì quen thuộc; với vết sẹo trên cánh tay.

Đôi khi, trong lúc hắn đang say sưa với bữa ăn trong hẻm tối, chớp sáng của con dao làm hắn nhớ lại lưỡi thép cũ phủ đầy máu.

Máu nhỏ từ lưỡi dao sang tay hắn.

Rồi từ tay hắn vấy sang mọi thứ hắn chạm vào.

Đôi khi, hắn lại nhớ đến cô bé đó.

Và vẫn chỉ toàn là máu.

Nó luôn ở đó, hắn nhận ra vậy, cả đời hắn, và không gì hắn làm có thể tẩy sạch nó được.

Hắn để lại quá nhiều vết sẹo dù không nhớ gì quá khứ.

Khi nhìn vào mắt đám tội phạm ở Zaun – những ông trùm, những kẻ sát nhân, những kẻ trộm cắp – hắn thấy chính mình.

Khoang hóa chất trên lưng khiến cơ thể hắn ngập tràn thù hận.

Móng vuốt bật khỏi ngón tay hắn.

Hắn đi săn.

Không còn hài lòng với việc tàn sát vô tội vạ, Warwick giờ theo đuổi những kẻ đã bị mùi máu tanh hôi bao phủ.

Y như ngày hắn được kéo đến trước cửa phòng thí nghiệm của Singed.

Hắn vẫn tự hỏi liệu hắn có thực sự muốn điều đó.

Hắn không thể nhớ chi tiết, nhưng thế là đủ.

Đủ để biết Singed đã đúng ngay từ đầu – con người tốt kia là một điều dối trá, trước khi thảm họa thiêu sạch nó, để lộ ra sự thật.

Hắn là Warwick.

Hắn là kẻ sát nhân.

Và ngoài kia có quá nhiều kẻ sát nhân để săn đuổi.
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
Vayne


Shauna Vayne, một thợ săn quái vật đáng sợ và không mệt mỏi, đã thề dành cả đời truy lùng con quỷ sát hại gia đình cô.

Trang bị cây nỏ đeo nơi cổ tay, cùng một trái tim ngập tràn khát khao báo thù, Vayne chỉ thực sự hài lòng khi hạ gục những kẻ sử dụng nghệ thuật hắc ám hay những tạo vật của nó.

Là con gái duy nhất của một cặp vợ chồng Demacia giàu có, Vayne được hưởng vô số đặc quyền.

Gần như cả thời thơ ấu, cô say sưa với những thú vui đơn độc – đọc sách, học nhạc, sưu tập côn trùng ở khoảng đất xung quanh dinh thự.

Thời trẻ, cha mẹ cô du hành khắp Runeterra, nhưng định cư tại Demacia sau khi hạ sinh Shauna bởi người dân nơi đây quan tâm đến nhau nhiều hơn bất cứ chốn nào.

Không lâu sau sinh nhật thứ mười sáu của Vayne, cô từ một dạ tiệc mùa hè trở về và chứng kiến cảnh tượng cô sẽ không bao giờ quên.

Một phụ nữ có sừng với vẻ đẹp không lời nào tả xiết đang đứng đó, trước thi thể đẫm máu của cha mẹ cô.

Vayne hét lên trong đau đớn và kinh hoàng.

Trước khi biến mất, con quỷ ngó xuống cô gái trẻ, một nụ cười ghê rợn đầy dục vọng thoáng hiện.

Vayne cố gạt những sợi tóc bết máu ra khỏi đôi mắt của mẹ, nhưng nụ cười ám ảnh đó cứ bám lấy tâm trí cô.

Kể cả khi cô đang run rẩy vuốt mắt cho cha – miệng ông vẫn mở rộng, kẹt cứng trong thời khắc hoảng loạn cuối cùng – nụ cười của con quỷ đã ngấm vào suy nghĩ cô.

Nụ cười sẽ khiến hận thù cuộn chảy trong huyết quản Shauna suốt những ngày còn lại trong đời.

Vayne cố gắng giải thích chuyện đã xảy ra, nhưng không ai thực sự tin cô.

Chuyện một con quỷ hoành hành – giữa vương quốc Demacia được phòng ngự cẩn mật trước ma thuật ở khắp mọi nơi – quá hoang đường để nghĩ tới.

Vayne biết rõ hơn họ.

Từ nụ cười kia, cô biết con quỷ sẽ ra tay lần nữa.

Cả những bức tường cao ngất của Demacia cũng không thể ngăn ma thuật hắc ám len lỏi qua từng kẽ nứt.

Nó có thể ngụy trang dưới đủ hình dạng xảo quyệt, hay ẩn nấp nơi góc tối, nhưng Vayne biết nó có tồn tại.

Và cô đã sợ hãi đủ rồi.

Vayne có trái tim đầy căm thù và đủ tiền để trang bị cho một đội quân nhỏ, nhưng chẳng đội quân nào dám theo cô đến nơi cô sẽ tới.

Cô cần học mọi thứ về ma thuật hắc ám: Làm sao để theo dấu nó.

Làm sao để ngăn chặn nó.

Làm sao để tiêu diệt những kẻ sử dụng nó.

Cô cần một sư phụ.

Cha mẹ cô đã kể chuyện về những chiến binh đã chiến đấu chống Băng Phù Thủy ở phương bắc xa xôi.

Suốt nhiều thế hệ, họ đã tự bảo vệ mình trước những thế lực cô không thể hiểu nổi và cả đám tay chân hắc ám.

Vayne biết đây sẽ là nơi cô tìm kiếm người dẫn dắt.

Cô trốn khỏi người bảo hộ được chỉ định và mua vé tàu đến Freljord.

Ngay khi đến nơi, Vayne tìm kiếm một thợ săn quái vật.

Cô đã làm được, dù không theo cách dự kiến.

Trên đường băng qua khe núi băng phủ, Vayne dẫm trúng một bẫy băng xếp đặt cực kỳ thông minh.

Ngã xuống tận đáy hố lởm chởm băng đá, Vayne ngước lên và thấy một con quái băng dữ tợn đang liếm môi nhìn chằm chằm vào con mồi nó bắt được.

Cái lưỡi xanh khổng lồ rũ xuống khi một mũi giáo vút qua không khí, xuyên thẳng vào đầu con quái băng.

Nó nhào xuống hố, buộc Vayne phải lộn sang bên vừa kịp lúc để tránh bị nghiền nát.

Một vũng máu và nước dãi chảy ra, dính nhớp dưới đôi ủng cô đang mang.

Cứu tinh của Vayne là một phụ nữ trung tuổi vóc người to lớn có tên Frey.

Bà băng bó vết thương cho cô bên đống lửa trại ấm áp bập bùng cháy giữa hẻm núi giá lạnh.

Frey kể cho cô về cuộc đời chỉ dành để chống lại lũ tay chân của Băng Phù Thủy, những kẻ đã sát hại đàn con của bà.

Vayne khẩn cầu bà nhận mình làm đồ đệ và dạy cô cách theo dấu đám sinh vật hắc ám trên thế giới này, nhưng bà không mảy may hứng thú.

Vayne sặc mùi quyền quý và tiền bạc, chẳng thứ nào trong đó giữ cho răng bạn nghiến chặt hay dao bạn sắc bén qua những trận chiến mệt nhoài.

Vayne không chấp nhận câu trả lời của Frey và thách bà đấu tay đôi: nếu cô thắng, Frey phải dạy cô.

Nếu cô thua, cô sẽ lấy thân làm mồi nhử bọn tay sai của Băng Phù Thủy để Frey có thể tập kích chúng.

Vayne không nghĩ ra lý do nào để có thể chiến thắng – tất cả những gì cô tập luyện là một buổi chiều tập đâm kiếm trước khi mệt lử vì phải chiến đấu với một tay để sau lưng – nhưng cô không chịu bỏ cuộc.

Đáp lại dũng khí của Vayne, Frey ném tuyết vào mắt cô và dạy cô quy tắc đầu tiên khi săn quái vật: đừng chơi công bằng.

Frey thấy trong Vayne lòng quyết tâm đến bà cũng phải kính trọng.

Cô gái còn cả chặng đường dài mới trở thành một đấu sĩ, nhưng mỗi lần Vayne gượng dậy với cơ thể bầm dập để tiếp tục cuộc chiến, Frey lại thấy rõ hơn một chút nàng thợ săn ghê gớm tương lai.

Thua về trình độ, nhưng không kém về tinh thần, Vayne van nài Frey một lần cuối: gia đình của cả hai đều đã mất.

Frey có thể dành phần đời còn lại đuổi theo lũ quái băng đến khi có một con lấy đầu bà, hoặc bà có thể dạy cô.

Cùng nhau, họ có thể tiêu diệt gấp đôi số quái vật.

Cùng nhau, họ có thể cứu được gấp đôi số gia đình khỏi nỗi đau họ từng nếm trải.

Frey thấy nơi mắt Vayne cùng lòng căm thù và mất mát đã cháy bỏng trong bà bao năm nay.

Frey đồng ý đi cùng Vayne về lại Demacia.

Họ xuôi về phương nam, cải trang cho Frey để qua mặt lính biên phòng Demacia.

Khi đã yên vị trong dinh thự của Vayne, họ bỏ nhiều năm tập luyện.

Mặc cho hàng dài những người đến cầu hôn, Shauna chẳng quan tâm đến gì khác ngoài các buổi huấn luyện cùng Frey.

Qua đó, cả hai trở nên cực kỳ thân thiết.

Frey dạy Vayne kiến thức cơ bản về ma thuật hắc ám, bọn quái thú được triệu gọi, và những bùa phép tà ác.

Vayne khắc sâu từng lời chỉ bảo của Frey, nhưng cô hơi băn khoăn khi bà chưa từng giải thích làm sao bà biết chi tiết đến thế về thứ độc địa này.

Nhờ đội lính canh đầy cảnh giác cùng loài cây kháng ma thuật mọc khắp vương quốc, lũ sinh vật hắc ám hiếm khi lai vãng bên trong tường thành Demacia.

Vì vậy, hàng đêm Frey và Vayne phải đi săn trong các khu rừng gần biên giới.

Vayne có được chiến công đầu – một quái thú khát máu chuyên rình rập lái buôn – khi mới mười tám tuổi.

Đứng trên xác con vật, một thứ khác trong Vayne được đánh thức: sự khoái trá.

Máu nóng cuộn chảy, sục sôi phục hận và bạo lực, cô thích thú với cảm giác đó.

Vayne và Frey săn lùng bọn sinh vật hắc ám nhiều năm liền, sự tôn trọng họ dành cho nhau lớn dần sau mỗi chiến tích.

Một ngày, Vayne nhận ra mình coi Frey như mẹ, nhưng tình cảm gia đình của cô bị trói buộc quá sâu đậm cùng đớn đau và thương tổn.

Vayne cố chống lại chúng, như chống lại bất kỳ quái vật nào muốn làm hại cô.

Hai người đi khắp Valoran, tới tận khi những câu chuyện trong lữ quán miền sơn cước đến tai họ, thì thầm về một ác quỷ có sừng mang vẻ đẹp đầy mê hoặc.

Theo lời đồn, nữ quỷ đó đang khá bận rộn: ả lập ra một giáo phái để thu hút các tín đồ răm rắp tuân theo mệnh lệnh.

Người ta sẽ đi lên những ngọn đồi, rồi bặt vô âm tín.

Nghe nói các đại tư tế của giáo phái xây một thánh điện bên rìa vách núi, nơi chúng chuẩn bị lễ hiến tế cho ác quỷ.

Cuộc săn của Vayne và Frey ngay lập tức bắt đầu.

Trong hành trình tiến vào những ngọn đồi dưới sự che chở của màn đêm, Vayne thấy mình bị phân tâm.

Lần đầu tiên kể từ khi họ đi chung, cô thấy lo cho Frey – lo rằng cô có thể mất đi người mẹ thứ hai.

Trước khi Vayne kịp thú nhận nỗi sợ, một tư tế của nữ quỷ phóng ra khỏi bụi rậm, vung chùy đập vào vai cô.

Vayne bị thương nặng.

Frey ngần ngừ trong thoáng chốc, rồi mắt bà lóe lên sắc thép đầy quả quyết khi xin lỗi cô và biến thành một con sói Freljord khổng lồ.

Vayne kinh ngạc chứng kiến Frey – trong dạng thú – xé toang cổ họng tên tư tế bằng một cú khợp hàm sấm sét.

Thi thể tên tư tế nằm dài dưới chân Vayne khi Frey hoàn hình về dạng người, nhưng ánh mắt đã tiết lộ con thú đang sợ hãi bên trong.

Bà giải thích, sau cái chết của gia đình, bà đã trở thành vu sư, kêu gọi lời nguyền ám lên chính bản thân để đổi lấy sức mạnh biến hình nhằm chống lại Băng Phù Thủy.

Nghi thức đó cần tới ma thuật hắc ám, nhưng bà quyết định hy sinh để bảo vệ...

Vayne bắn mũi tên xuyên qua trái tim người đồng hành trước khi bà kịp nói thêm lời nào.

Mọi tình cảm từng có tan biến ngay khi cô khám phá ra thân thế thực sự của bà.

Một giọt lệ đọng trong mắt Frey khi bà gục xuống, nhưng Vayne không bận tâm – hơi ấm họ từng sẻ chia đã chết cùng bà rồi.

Còn nhiều giờ nữa mới đến bình minh, nghĩa là còn nhiều giờ nữa để tiếp tục cuộc săn.

Vayne chỉ nghĩ đến nữ quỷ.

Cô sẽ tận hưởng niềm vui hạ gục ả.

Và tất cả những kẻ sắp tới nữa.

Thế giới ngầm của Runeterra sẽ khiếp sợ cô, như cô đã từng sợ chúng.

Lần đầu tiên kể từ lúc cha mẹ bị sát hại, Vayne mỉm cười.
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
Varus


Không kể đến những gì mà sau này hắn trở thành, Varus đã từng là một hình mẫu cho sự trung thành và danh dự.

Là một cung thủ thiện xạ của đế chế Shurima cổ đại, hắn đã từng được giao trọng trách canh gác một ngôi đền ở phía đông, và hắn đã thực hiện nhiệm vụ thiên liêng này tốt hơn tất cả mọi người khác.

Trong suốt giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh với Icathia, dù ở cách xa vùng đất bị nguyền rủa đó, quê nhà của Varus vẫn bị tấn công.

Trong khi những người gác đền khác bỏ dở vị trí của họ để quay về bảo vệ những ngôi làng hẻo lánh, Varus vẫn ở lại một mình, kêu khóc trong đau đớn với mỗi mũi tên mình bắn ra - vì hắn đã chọn hoàn thành lời tuyên thệ của mình thay vì quay trở về nhà để bảo vệ chính gia đình của mình.

Sứ giả của Quân Đoàn Thăng Hoa tìm thấy hắn đang thiền định trong giữa đống xác chết của kẻ thù.

Người ta kể rằng ánh nhìn lạnh lùng của hắn khiến ngay cả những vị chiến binh thần thánh phải bối rối, và để công nhận sự hi sinh của hắn, họ đã đề nghị với Varus một vị trí trong hàng ngũ của họ.

Là một trong những Chiến Binh Thăng Hoa vĩ đại, hắn dần bị nuốt chửng bởi quyết tâm phục hận đối với người Icathia, và những nỗi kinh hoàng nơi Hư Không mà họ đã gieo rắc.

Có vẻ như Varus không hoàn toàn quan tâm đến chiến thắng của Shurima trong cuộc chiến đó - hay cả khi đế chế này sụp đổ vài thế kỉ sau đó, và từ đó suy nghĩ của hắn dần biến đổi.

Bạo tàn tiếp nối bạo tàn, biến hắn thành một kẻ sát nhân lạnh lùng, khép kín, biến chất, bị những tên chiến hữu suy đồi đưa ra chiến trường hết lần này đến lần khác.

Thế giới dần trở nên sợ hãi khi nghe thấy tên bọn họ.

Bọn darkin.

Xâu xé lẫn nhau, họ bắt đầu hủy diệt tất cả những ai dám đứng lên chống lại họ.

Với cây cung tinh thạch, Varus ám sát tướng lĩnh và chiến binh của đối phương, giúp darkin đánh bại những đội quân người phàm một cách dễ dàng.

Không lâu sau, Varus bị dồn đuổi bởi những thợ săn mặt trăng của tộc Vastaya và những pháp sư nhân loại phụng sự một nữ hoàng chiến binh mang giáp vàng đến từ Valoran.

Họ phong ấn hắn bên trong cây cung tinh thạch, để mặc hắn gào thét trong cơn cuồng nộ.

Khi ấy, người ta đã biết đến khả năng khiến kẻ khác biến chất của tộc Darkin, nhưng dù vậy vị nữ hoàng chiến binh mang theo cây cung chết chóc kia bước vào trận chiến cuối cùng, nguyện hi sinh bản thân vì chiến thắng vĩ đại.

Vài tháng sau đó, nữ hoàng đem cây cung của Varus đến Vùng Đất Đầu Tiên - nơi mà sau này có tên Ionia.

Giờ đây, khi đang dần bị hủy hoại bởi sức mạnh của cây cung, hành động cuối cùng của bà là ra lệnh cho những người tùy tùng của mình chôn sống bản thân vào trong một giếng sâu tối đen bên dưới ngôi đền trên ngọn núi cạnh làng Pallas.

Và ở nơi đó, Varus bị giam cầm bởi ma thuật tự nhiên của Ionia, cũng như là những nghi thức được chăm sóc bởi những người gác đền.

Cây cung bị giấu đi trong nhiều thế kỷ, không ai biết tới, không ai chạm tới, và chìm vào quên lãng cho đến khi Noxus xâm lăng Vùng Đất Đầu Tiên.

Hai thợ săn quái vật – Valmar và ánh sáng trong tim chàng, Kai – đã chống lại đợt tấn công đầu tiên tại Đền Pallas.

Dù cả hai đều chiến đấu dũng cảm và đẩy lùi kẻ thù, Kai bị tử thương.

Valmar, lòng trĩu nặng vì đau buồn, đưa Kai vào trong đền, tin rằng cầm thuật bên trong ngôi đền có thể chữa lành cho cậu ta.

Nhưng ngôi đền này chỉ mang đến kiếp đọa đày, hai người thợ săn bị sức mạnh của tên Darkin bị giam giữ bên trong vừa được phóng thích nuốt chửng.

Từng phân vật chất trong cơ thể họ tách ra và kết nối lại để tạo thành một thân xác mới, một thân xác có thể giúp hắn thoát ra khỏi ngôi đền.

Bước ra khỏi đáy giếng là một sinh vật toàn diện, nhợt nhạt, mang vẻ đẹp phi nhân loại, nửa người, nửa Darkin.

Sau hơn một ngàn năm, Varus đã tái sinh.

Dù vậy, hai yếu tố con người và Darkin không ngừng cuộn chảy bên trong cơ thể không hoàn hảo này, có lúc yếu tố này chiếm quyền điều khiển được chốc lát trước khi bị yếu tố kia chế ngự.

Varus cố gắng khiến hai linh hồn phàm trần câm lặng một lần và mãi mãi để có thể báo thù nhân loại vì đã hủy diệt chủng tộc của hắn.

Nhưng Kai và Val vẫn kiên cường chống trả sức ảnh hưởng tà ác, hy vọng tình yêu giữa họ có thể áp chế lòng thù hận của tên darkin.

Họ có thể kiềm hãm Varus được bao lâu thì không ai biết được, nhưng nếu tên Darkin độc ác và ích kỷ này có thể hoàn toàn thống trị vật chủ mới, chắc chắn hắn sẽ tìm cách tụ hội với những kẻ cùng chủng tộc để biến Runeterra thành chốn hoang tàn.
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
URGOT


Từng là tên đao phủ đáng sợ của Noxus, Noxus bị chính đế quốc mình phục vụ phản bội.

Giữa đống xiềng xích, hắn buộc phải học hỏi ý nghĩa thực sự của sức mạnh ở Đáy Sông – một hầm mỏ kiêm nhà tù sâu bên dưới Zaun.

Thoát ra từ một thảm họa khiến cả thành phố rơi vào hỗn loạn, giờ hắn phủ cái bóng đầy đe dọa lên thế giới tội phạm ngầm.

Trừng phạt các nạn nhân bằng chính đám xích từng trói buộc mình, hắn sẽ thanh lọc những kẻ không xứng đáng khỏi ngôi nhà mới, biến nó thành luyện ngục của nỗi đau.

Urgot luôn tin mình là kẻ đáng giá, một đao phủ, người hành quyết lũ yếu đuối.

Hắn là hiện thân của lý tưởng Noxus về sức mạnh thống trị tất cả, hiện thực hóa nó với mỗi cú vung rìu.

Niềm kiêu hãnh của hắn dâng cao theo đống thi thể ngày một chất chồng sau lưng, và chỉ sự hiện diện đầy đe dọa của hắn thôi cũng đủ giữ vô số chiến đoàn phải đứng ngay hàng thẳng lối.

Thế nhưng, chỉ một lời nói là đủ để định đoạt số phận hắn.

Được cử đến Zaun xa xôi để ngăn chặn âm mưu nổi loạn chống lại sự cai trị của Noxus, Urgot muộn màng nhật ra nhiệm vụ này chỉ là sắp đặt để hắn rời kinh thành trong lúc kẻ chiếm ngôi Swain giành quyền lực.

Bị vây quanh bởi lũ tay sai của các hóa-chủ, và nổi điên vì mọi thứ hắn tin tưởng đều là dối trá, Urgot bị lôi xuống tận hầm mỏ dưới đáy Zaun.

Hắn đã bị đánh bại.

Hắn đã bị nô lệ.

Rốt cuộc hắn là kẻ không đáng giá.

Hắn im lặng chịu đựng cuộc sống đọa đày trong hầm ngục chờ chết.

Ở Đáy Sông, cái chết mang muôn hình vạn trạng...

Quản ngục, Hóa Chủ Voss, đôi khi sẽ ra giá tự do để đổi lấy việc một tù nhân chấp nhận bị tra khảo – bởi lưỡi dao của chính mụ.

Từ những tiếng thét vang vọng qua đường hầm, Urgot biết được những điều đáng kinh ngạc về Zaun.

Có gì đó đặc biệt ở thành phố này, thứ gì đó màu nhiệm và hiển hiện ngay cả trong những bí mật tuôn ra từ cổ họng những kẻ hấp hối.

Urgot không biết đó là gì đến khi hắn được mang tới trước Voss, sợ rằng ả sẽ đánh gục hắn.

Nhưng ngay khi lưỡi dao cắt vào thịt, Urgot nhận ra cơ thể hắn đã bị bủa vây bởi thống khổ sẵn rồi, nỗi thống khổ vượt xa hơn bất kỳ thứ gì Voss gây ra được.

Đáy Sông đã khiến hắn mạnh mẽ hơn cả khi còn là đao phủ.

Đau đớn là bí mật của Zaun.

Tiếng cười của hắn khiến Voss phải bỏ chạy lên tầng mặt, và một triều đại hỗn loạn bắt đầu từ đáy sâu.

Giành quyền cai trị nhà ngục, Urgot tận hưởng thử thách sống còn mới.

Hắn tìm ra những phần cơ thể yếu ớt nhất, và thay thế chúng bằng đống máy móc góp nhặt được, thứ công nghệ được tạo ra bởi những kẻ sẽ chết nếu không có chúng – thiếu thốn là nguồn gốc của đau khổ.

Lính canh không còn có thể tiến vào những khu vực bị Urgot giật khỏi tay Voss nữa.

Đám tù nhân thì sợ cai ngục mới còn hơn cả người tiền nhiệm.

Nhiều kẻ còn sùng kính đến mức cuồng tín với Urgot khi chúng bị buộc nghe bài thuyết giảng của hắn về bản chất của sức mạnh, tiếng bàn tay của hắn siết chặt quanh cổ của những kẻ không chịu lắng nghe.

Chỉ khi một điệp viên Noxus đến Đáy Sông, Urgot mới bị buộc phải đối mặt với quá khứ.

Dù tay gián điệp nhận ra hắn và xin hắn giúp trốn thoát, Urgot đánh gã không nương tay rồi ném đống bầm dập đó vào bóng tối.

Giờ Urgot nhận ra, sức mạnh không thể thứ cai trị Noxus, mà là con người... và con người thì yếu đuối.

Sẽ không có kẻ cai trị, không có dối trị, không có gì can thiệp vào sự hỗn loạn thuần khiết của việc sinh tồn.

Mở màn cuộc nổi loạn bằng cách kích nổ mạch hóa kỹ bên trong khu mỏ, Urgot khiến cả thành phố bên trên rung chuyển, và mở toang nhà ngục trong vụ nổ không thua kém gì vụ nổ đã tạo nên Zaun.

Rất nhiều tù nhân chết tại chỗ, và hàng ngàn kẻ nữa biến mất trong Hầm Thải.

Nhưng những kẻ đáng giá, như thường lệ, đã sống sót.

Kể từ đó, triều đại khủng bố của Urgot ngày càng lớn mạnh.

Kết hợp cả công nghệ máy móc và tính tàn bạo của Noxus, hắn sát hại hết hóa-chủ này đến hóa-chủ khác, tập hợp được một đội tay sai trong số những người bị áp bức ở Zaun.

Với bất kỳ ai may mắn thoát khỏi cơn điên cuồng chết người của hắn, họ nhận được một thông điệp: hắn không ở đây để lãnh đạo, mà để sống sót.

Nếu ngươi đáng giá, ngươi cũng sẽ sống sót.

Và thử thách... mới chỉ bắt đầu thôi.
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
Udyr


Nơi vùng đất Freljord tàn độc, có những kẻ được ban tặng mối liên kết sâu thẳm với ma thuật tâm linh.

Những tu sĩ chiến binh ấy, được biết đến với cái tên "lữ khách tinh linh", đem bản thân phục vụ cho những bộ lạc khác nhau, dâng hiến nguồn sức mạnh của mình để được chấp nhận trong một cộng đồng, nơi họ có thể sống sót và tập luyện.

Sinh ra trong một đêm trăng máu đỏ, Udyr đã thể hiện khả năng nhận biết những thực thể vô hình ngay từ khi còn là một đứa trẻ.

Cậu bé có thể cảm nhận được xúc cảm của những loài sinh vật xung quanh, thấu hiểu được những tiếng tru ai oán của bầy sói lãnh nguyên trước lúc có thể tự thân phát ra tiếng nói đầu tiên của mình.

Được định sẵn sẽ trở thành một lữ khách tinh linh vĩ đại, anh được tộc Móng Vuốt Mùa Đông thu nhận, và tìm kiếm con đường để thuần phục những tài năng thiên bẩm của mình.

Khi những người chỉ dạy tin rằng anh sẽ phát triển năng lực của mình một cách dễ dàng, cậu bé rốt cuộc lại gục ngã bởi chính tài năng thiên bẩm của mình.

Ý nghĩ hỗn loạn từ mọi sinh vật ngập tràn tâm trí anh, đẩy nó đến bờ vực của sự điên loạn.

Suốt ngày đêm, Udyr chỉ muốn tìm được cho mình một khoảnh khắc bình yên... nhưng lời nguyện cầu của anh lại chỉ được đáp ứng trong một ngày đen tối nhất.

Một buổi chiều kinh hoàng, khi bộ tộc của anh bị đám Thủ Vệ Băng Giá phục kích.

Bất dung và tàn độc, đám tín đồ của Mụ Phù Thủy Băng thần bí tàn sát cả bộ tộc, và đặc biệt quan tâm đến việc loại trừ những kẻ có tiềm năng ma thuật.

Nếu không nhờ sự hinh sinh anh dũng từ những người thầy của mình, có lẽ số phận của Udyr đã chấm dứt vào đêm định mệnh ấy.

Tràn ngập nỗi buồn, và bị giằng xé bởi những tiếng thét gào trong đau đớn của những người trong cùng bộ tộc, Udyr mất hết kiểm soát.

Anh giải phóng cơn thịnh nộ, tạo nên một vụ nổ ma pháp tâm linh mạnh đến nỗi làm rung chuyển cả những đỉnh núi.

Lớp tuyết dày bị chấn động.

Và chỉ sau vài giây, một trận lở tuyết đổ sụp xuống chiến trường, buộc bọn Thủ Vệ Băng Giá phải tháo chạy.

Khi người lữ khách tinh linh trẻ bò ra khỏi đống tuyết, anh chỉ thấy vài người sống sót.

Sợ hãi với sức mạnh hủy diệt ấy, những người Móng Vuốt Mùa Đông bỏ rơi anh—tất cả ngoại trừ một người.

Một Băng Tộc đầy lòng thương cảm đã nhìn thấu qua sức mạnh thiên bẩm Udyr.

Cô thấy một người với sức mạnh và cả những nỗi yếu mềm như bất kì ai khác, cả hai cùng vui vẻ với nhau trong một khoảng thời gian ngắn mà họ có được, giữa những thách thức tàn độc trong cuộc sống nơi Freljord.

Nhưng ngoài mối quan hệ này, Udyr đã quen với sự cô độc.

Sự xuất hiện của anh luôn khiến những kẻ khác phải bỏ chạy, cho đến một ngày anh gặp được một thầy tu khổ hạnh đã lãng du thật lâu, từ một vùng đất thật xa.

Người này tìm kiếm trí tuệ từ những kẻ có thể hòa hợp linh hồn mình với các linh thú.

Cảnh giác với mọi kẻ lạ mặt, Udyr lao vào người thầy tu hết lần này đến lần khác, nhưng những cú đánh của anh đều bị né cả.

Khi cả hai đều đã mệt nhừ, người thầy tu giới thiệu mình là Lee Sin—bên trong gã ta, Udyr thấy một người với cùng nỗi thống khổ.

Cả hai nhanh chóng kết bằng hữu với nhau, rồi Lee Sin đề nghị đưa Udyr về phía đông, đến Ionia, nơi con người đã bỏ ra nhiều thế hệ để tìm kiếm sự hòa hợp với thế giới tinh linh.

Trên đường đi, họ thấy rằng đế chế Noxus đã xâm lược Ionia, và Udyr đề nghị được chiến đấu bên cạnh người bạn của mình để bảo vệ tu viện Hirana.

Quyền năng của người lữ khách tinh linh thật sự là món quà vô giá, khi anh vận sức từ những loài dã thú mạnh mẽ, dồn nguồn năng lượng bất kham của chúng vào bên trong những đòn đánh phàm trần của mình.

Sau một trận chiến dữ dội và nảy lửa, anh vẫn đứng vững, cạnh những thầy tu bị thương.

Họ đã chiến thắng.

Thích thú với sự thông hiểu của người Ionian về linh giới, Udyr đã quyết định ở lại và tập luyện cùng những trưởng lão đáng kính nơi Hirana.

Anh nhận thức được cách mà người dân nơi đây trân trọng sự hòa hợp, và rồi, nhiều mùa trăng trôi qua, tâm trí và cơ thể anh cũng dần tìm được sự bình lặng nhờ lòng thương cảm từ họ

Dù vậy, Udyr vẫn không thể chối từ tiếng gọi nơi quê nhà.

Anh nghe thấy tiếng khóc than từ những tinh linh Freljord được cuốn theo những ngọn gió tây, và cảm nhận được một mối hiểm họa đang thầm trỗi dậy ở đâu đó bên kia đường chân trời.

Giã biệt Ionia và Lee Sin, anh rời đi để quay lại Móng Vuốt Mùa Đông, dù hề chẳng biết giờ đây họ sẽ nhìn nhận anh ra sao...
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
TWITCH


Báo cáo sự vụ H.I.V.E.

Nội dung vi phạm: Sát nhân

Tình trạng hồ sơ: Chưa giải quyết

Thanh tra phụ trách: Rol, P.

Đội phản hồi các báo cáo tình nghi hoạt động phạm pháp; di chuyển đến Sump Works, Khu vực 90TZ.

Khu vực 90TZ biến mất.

Ở vị trí đó: hố sâu, khói, hơi độc.

Thẩm vấn nhân viên bảo vệ tư nhân cho thấy nhu cầu cấp thiết phải có bảo vệ tốt hơn.

Đội phản ứng nhanh đi vào hố ở hiện trường.

Chất độc đã làm tan chảy gạch đá vụn.

Hai nạn nhân còn sống, một đã bị tan chảy một phần.

Sáu nạn nhân tìm thấy trong đống đổ nát, ba trong số đó không nguyên vẹn; hai nạn nhân đã có trước khi sự việc được ghi nhận.

Nghi phạm có vẻ như đã tháo trang sức, đồ dùng, răng giả, sau đó chia chúng theo màu.

Nguyên nhân tử vong bao gồm nhiễm độc phân hủy, vết thương chí mạng từ nỏ.

Không rõ việc phá hủy hiện trường là mục đích chính hay chỉ nhằm đánh lạc hướng.

Nạn nhân sống sót #1 (Ra Qintava, chuyên viên nghiên cứu) được thẩm vấn, nhưng không thể cung cấp lời khai do 1) hoảng loạn và 2) phân hủy lưỡi và hàm dưới.

Chờ kết quả xét nghiệm chất độc.

Quá trình tìm kiếm cứu hộ cho thấy một khu tạm trú dựng từ phế liệu.

Tìm thấy:

57 tiểu thuyết tình cảm sũng nước, không đọc được, có ghi chú bằng bút chì

108 chai, không có nhãn (có thể là chất độc hoặc xà phòng)

90kg kẹo cao su (có thể là tác phẩm nghệ thuật sắp đặt)

1 lọ móng chân, có dán nhãn, ngày tháng và tâm trạng

Nạn nhân sống sót #2 (Valori Olant, chuyên viên phân tích chất thải công nghiệp) đang hồi phục; đã tỉnh táo dần nhờ sốc điện kéo dài.

Trích dẫn lời khai như sau:

V.O.: PHẢI LÀM GÌ ĐÓ -

Y TÁ: Cô ta mất quá nhiều máu --

P.R.: Đồng nghiệp của cô ta còn mất nhiều hơn thế --

V.O.: NÓ VẪN Ở NGOÀI ĐÓ!

P.R.: Thưa cô, tôi cần cô tập trung lại.

Tả cho tôi hắn trông như thế nào.

V.O.: NHƯ MỘT CON CHUỘT! (ngưng lại)

Y TÁ: Như cái gì?

P.R.: Ý cô là nhỏ người à?

Mắt bé?

Mặt choắt -- ?

V.O.: Ý TÔI LÀ HẮN TRÔNG NHƯ MỘT CON CHUỘT KHỔNG LỒ! (ngưng lại).

VỚI MỘT CÂY NỎ! (ngưng lại).

P.R.: (nói với y tá) Liệu chúng ta có thể bớt thuốc giảm đau của cô ta không -- ?

V.O.: CÁC NGƯỜI KHÔNG HIỂU!

ĐÓ LÀ MỘT CON CHUỘT SÁT NHÂN ĐIÊN LOẠN KHỔNG LỒ!

NÓ MẶC ÁO KHOÁC DÀI!

P.R.: Y tá?

Y TÁ: (tiêm thuốc an thần cho Olant) Được rồi.

[BỔ SUNG]

V.O.: Chúng tôi chỉ là khoa học gia, đang nghiên cứu việc lọc chất thải thành các loại xà phòng giá rẻ... [BỔ SUNG] Tôi đã thấy - Tôi không biết nói sao - một CON CHUỘT khổng lồ, điên loạn - hét vào chúng tôi!

Đá tung mọi thứ!

Nhổ vào thức ăn của chúng tôi! [BỔ SUNG] Phòng thí nghiệp bị phong tỏa.

Không có chỗ thoát thân.

Chất hóa học tràn vào... [BỔ SUNG] Tôi tỉnh dậy trong bóng tối.

A-xít đã làm hỏng mắt tôi.

Tôi có thể NGỬI THẤY nó đang cách tôi vài xăng-ti-mét.

Nó nói, 'KHÔNG AI ĐƯỢC CƯỚP DÒNG NƯỚC QUÝ BÁU CỦA TWITCH!', RỒI BỎ ĐI...

Tôi vẫn có thể ngửi thấy nó trong tâm trí mình.

TRỜI ƠI, TÔI VẪN CÓ THỂ NGỬI THẤY NÓ—''

Biên bản chấm dứt.

Lúc này nạn nhân bắt đầu la hét; chưa ngừng lại.

[CẬP NHẬT: Qintava, Lời khai]

Tóm tắt về nghi phạm, theo báo cáo:

TÊN/BIỆT DANH: ''Twitch.''

GIỚI TÍNH: Nam (chưa xác nhận).

TUỔI: không rõ.

CHIỀU CAO: 1m5 (gù)

CÂN NẶNG: dưới 45 kí (ướt).

ĐẶC ĐIỂM NHẬN DẠNG: Là một con chuột khổng lồ.

TÌNH TRẠNG: tự do, có vũ khí, cực kì nguy hiểm; KHÔNG ĐƯỢC TẤN CÔNG.

H.I.V.E - Đang truy lùng!
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
Twisted Fate


Twisted Fate là một gã thần bài đầy tai tiếng cũng như một kẻ lừa đảo dùng quân bài và mị lực của bản thân ở mọi nơi mà hắn đi qua, khiến cho lũ nhà giàu ngu ngốc cảm thấy vừa tức tối vừa ngưỡng mộ.

Hiếm khi nào hắn làm điều gì nghiêm túc, hắn chào đón mỗi ngày với một nụ cười mỉa mai và phong thái nghênh ngang không lẫn vào đâu được.

Trong mọi tình cảnh ngặt nghèo, Twisted Fate luôn còn một quân bài trong tay áo.
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
KHADA JHIN


"Làm nghệ thuật cần phải tàn nhẫn...

ở một mức nào đó."

Jhin là một tên tội phạm tâm thần, kẻ tin rằng sát nhân là một nghệ thuật.

Từng bị giam trong ngục tối của Ionia, hắn đã được một số thành phần hắc ám trong hội đồng cai trị nơi này phóng thích.

Giờ, tên sát nhân hàng loạt này trở thành sát thủ riêng của chúng.

Sử dụng khẩu súng như một cây cọ, Jhin tạo nên những tác phẩm nghệ thuật tàn nhẫn, làm kinh hoàng cả nạn nhân lẫn những ai chứng kiến.

Đạt được niềm khoái trá ác độc khi biểu diễn trên sân khấu tử thần do chính mình dựng lên, hắn là lựa chọn hoàn hảo để truyền đạt thông điệp quyền lực nhất: sự khủng bố.

Trong nhiều năm trời, dãy núi phía nam Ionia bị "Ác Quỷ Hoàng Kim" ám ảnh.

Trên khắp địa bàn tỉnh Zhyun, một con quái vật đã tàn sát không biết bao người lữ hành, đôi khi là cả một trang trại, để lại hiện trường những thi thể bị biến dạng.

Các đội tự vệ vũ trang đầy đủ lục soát mọi khu rừng, các thành phố đổ hàng đống vàng thuê thợ săn quỷ, các bậc thầy Wuju canh giữ từng con đường – nhưng không gì có thể khiến con quái thú ghê rợn đó chùn tay.

Trong cơn tuyệt vọng, Hội đồng Zhyun gửi phái viên đến khẩn cầu Đại Sư phụ Kusho giúp đỡ.

Sau khi nghe chuyện, Kusho vờ từ chối.

Một tuần sau, ông cùng con trai Shen và cậu nhẫn giả tập sự đầy triển vọng Zed đóng giả làm lái buôn đến đó.

Họ bí mật ghé thăm vô số gia đình bị tên sát nhân làm cho tan đàn xẻ nghé, khám nghiệm kỹ lưỡng những địa điểm diễn ra tội ác bi thảm, và tìm kiếm mọi mối liên hệ hoặc kiểu mẫu có thể có của những vụ án mạng.

Cuộc điều tra kéo dài bốn năm ròng, và khiến cả ba người thay đổi.

Mái tóc bờm đỏ nổi tiếng của Kusho chuyển màu trắng; Shen, vốn thông minh và hài hước, trở nên ủ rũ; và Zed, ngôi sao sáng của điện Kusho, bắt đầu gặp khó khăn với những bài học của mình.

Cuối cùng, khi tìm ra kiểu mẫu của những vụ sát nhân, Đại Sư phụ đã thốt lên: "Thiện và ác không phải là chân lý.

Chúng được sinh ra từ con người và mỗi người chúng ta lại thấy cái bóng của chúng theo một cách khác nhau."

Được nhắc đến trong rất nhiều vở kịch và anh hùng ca, vụ bắt giữ "Ác Quỷ Hoàng Kim" là kỳ công thứ bảy – cũng là kỳ công cuối cùng và vĩ đại nhất trong sự nghiệp huy hoàng của Kusho.

Đêm ngày Hội Hoa ở Cổng Jyom, Kusho cải trang thành một thư pháp gia nổi tiếng lẫn vào trong các nghệ sĩ khách mời.

Thế rồi, ông chờ đợi.

Mọi người đều cho rằng chỉ một linh hồn tà ác mới có thể phạm những tội lỗi kinh khủng như thế, nhưng Kusho nhận thấy tên sát nhân chỉ là một người bình thường.

"Ác Quỷ Hoàng Kim" lừng danh thật ra chỉ là một tay dựng sân khấu nhỏ nhoi trong các đoàn kịch rong và những gánh hát dạo ở Zhyun, hắn tên là Khada Jhin.

Khi bắt được Jhin, Zed tiến lên trước định kết liễu kẻ đang nằm rúm ró dưới sàn, nhưng Kusho ngăn cậu lại.

Dù cho những hành động man rợ của Jhin, vị nhẫn giả huyền thoại quyết định rằng hắn phải sống và chịu sự giam cầm trong Ngục Tuula.

Shen không đồng tình, nhưng phải chấp nhận những lý luận không cảm xúc của cha mình.

Zed, ghê tởm và bị ám ảnh bởi những gì đã chứng kiến, không thể hiểu được sự khoan dung đó, và oán giận bắt đầu nảy nở trong tim chàng trai trẻ.

Dù bị nhốt ở Tuula nhiều năm, gã Khada Jhin lịch thiệp và nhút nhát vẫn hé lộ rất ít về bản thân – thậm chí tên thật của hắn cũng còn là một bí ẩn.

Dù là một tù nhân, các tu sĩ nhận thấy hắn là một học trò sáng dạ trong nhiều môn, như rèn đúc, thơ ca, và khiêu vũ.

Tuy nhiên, họ không thể tìm ra cách nào để xua đi những ý nghĩ bệnh hoạn trong hắn.

Bên ngoài, Ionia chìm trong cơn hỗn loạn khi bị đế chế Noxus xâm lăng, dẫn đến tình trạng bất ổn chính trị.

Chiến tranh đánh thức sự khát máu trong quốc gia thanh tĩnh này.

Nền hòa bình và sự cân bằng Kusho cố gắng gìn giữ đã tan vỡ từ bên trong khi những tâm hồn đen tối trỗi dậy giành quyền lực, khi những liên minh ngấm ngầm tranh đấu giành ảnh hưởng.

Để khắc chế sức mạnh của các nhẫn giả và kiếm sư Wuju, một đảng phái trong hội đồng cai trị âm mưu trả tự do cho Jhin và biến hắn thành vũ khí khủng bố.

Giờ, được quyền tiếp cận với những vũ khí tối tân trong kho của Kashuri, và có trong tay một ngân quỹ vô hạn, quy mô những "buổi biểu diễn" của Khada Jhin đã mở rộng.

Những gì hắn làm đã khiến nhiều quan chức ngoại quốc và cả những thế lực chính trị ngầm ở Ionia khiếp sợ.

Nhưng, một tên sát nhân hàng loạt, với khát khao được chú ý, sẽ vui lòng chịu hoạt động trong bóng tối bao lâu nữa?

Khẩu súng trong tay hắn chỉ là một công cụ—nhưng được chế tạo hoàn hảo.

Sắc vàng khảm trên nền kim loại màu xanh đen viết nên tên người thợ rèn, cũng là niềm kiêu hãnh và sự tự tin của kẻ đã làm ra nó.

Không phải một vũ khí kiểu Piltover—những thứ lòe loẹt chứa chút xíu ma thuật có trong vùng đất này.

Khẩu súng được nhào nặn bởi bàn tay của một bậc thầy thực sự.

Dòng chảy ma thuật khẽ đập bên trong phần lõi bằng đồng Ionia của nó.

Hắn lau chùi báng súng lần thứ tư.

Hắn không thể chắc rằng nó đã sạch bóng cho đến khi lau đủ bốn lần.

Không cần biết là hắn chưa từng sử dụng nó.

Không cần biết là hắn sẽ chỉ xếp nó gọn ghẽ trong bao và đặt dưới gầm giường.

Hắn không thể rời tay khỏi nó cho đến khi chắc rằng nó đã sạch.

Và hắn không thể chắc rằng nó đã sạch cho đến khi lau đủ bốn lần.

Giờ thì sạch sẽ rồi.

Bốn lần là đủ để khiến nó sạch sẽ.

Nó sạch sẽ, và tuyệt đẹp.

Những ông chủ mới của hắn thật hào phóng.

Nhưng, họa sĩ tài năng nhất không xứng đáng có được cây cọ tốt nhất sao?

Sức mạnh và sự chính xác của thiết bị mới này khiến những việc Jhin đã từng làm trước đây với đao kiếm dường như chẳng có gì đáng kể.

Phải mất nhiều tuần nghiên cứu mới hiểu hết cơ chế của nó, nhưng để nâng cao kiếm thuật thì phải tốn hàng tháng trời.

II

Khẩu súng chứa được bốn viên đạn.

Mỗi viên đều chứa đầy năng lượng ma thuật.

Mỗi viên đều hoàn hảo như lưỡi đao của thầy tu Lassil.

Mỗi viên là một nét vẽ họa nên bức tranh của hắn.

Mỗi viên là một tuyệt tác.

Nó không cắt rời mục tiêu ra.

Nó sắp đặt lại.

Buổi diễn thử trong thị trấn đã thể hiện được tiềm năng của khẩu súng.

Và những ông chủ mới của hắn rất hài lòng với kết quả thu được.

Hắn đã ngừng đánh bóng, nhưng vẫn cầm khẩu súng trên tay phải.

Cám dỗ quá lớn.

Hắn biết mình không nên, nhưng hắn đã lấy ra bộ áo đen bằng da rắn.

Hắn lướt nhẹ ngón tay lên bề mặt nhẵn nhụi của nó.

Cảm giác trơn tru khiến hơi thở hắn gấp gáp hơn.

Hắn cầm chiếc mặt nạ da lên, rồi—không dừng được—đeo vào.

Nó che phủ mắt phải và miệng hắn.

Nó siết chặt lấy hô hấp và loại bỏ nhận thức bề sâu của hắn.

Thật tuyệt.

Hắn khoác giáp vai lên khi những cái chuông giấu dưới bậc thang dẫn lên phòng hắn rung lên.

Hắn nhanh chóng cất vũ khí và bỏ mặt nạ.

"Xin chào?" cô phục vụ hỏi từ ngoài cửa.

Giọng nói du dương gợi đến một nơi cách thị trấn này rất xa về phía nam.

"Cô đã làm việc ta yêu cầu chưa?" hắn nói.

"Vâng, thưa ngài.

Bốn thước một đèn lồng trắng.

Mười sáu thước một đèn lồng đỏ."

"Vậy ta có thể bắt đầu," Khada Jhin nói khi hắn mở tung cửa phòng.

Đôi mắt cô gái mở to khi hắn bước ra.

Jhin biết rõ mình trông ra sao.

Bình thường, nó khiến hắn ghê tởm chính bản thân mình, nhưng hôm nay lại là ngày biểu diễn.

Hôm nay, Khada Jhin, cao gầy và thanh nhã, tiến ra ngoài với cây gậy trên tay.

Lưng hắn hơi gù, và tấm áo choàng dường như đang che phủ một thứ kỳ dị trên vai hắn, nhưng những bước đi thong dong đã xóa mờ tất cả.

Hắn gõ gõ cây gậy phía trước mình khi đi về phía cửa sổ.

Hắn đập vào khung cửa theo nhịp điệu—ba cái, rồi cái thứ tư.

Ánh vàng lấp lánh, tấm áo choàng màu kem của hắn bay phấp phới, và những viên đá quý sáng lên trong ánh mặt trời.

"Cái...cái gì vậy ạ?" cô phục vụ chỉ tay vào vai Jhin và hỏi.

Jhin ngừng lại một chút để xem xét khuôn mặt hiền hậu của cô gái.

Tròn trịa và đối xứng một cách hoàn hảo.

Một thiết kế tẻ nhạt và dễ đoán.

Bỏ nó đi, và một tấm mặt nạ khủng khiếp sẽ được tạo ra.

"Cái này để cho đoạn cao trào, cưng ạ," Khada Jhin nói.

Từ cửa sổ của lữ quán, hắn có thể nhìn rõ phần còn lại của thị trấn trong thung lũng phía dưới.

Buổi trình diễn phải thật tuyệt vời, nhưng vẫn còn rất nhiều việc phải làm.

Ngài ủy viên phải đến chiều tối mới về—cho đến lúc đó, mọi kế hoạch của Jhin cho đêm nay dường như... quá tầm thường

"Tôi có mang ít hoa đến trang trí phòng ngài," cô gái nói khi đi ngang qua hắn.

Hắn có thể dùng một người khác để đặt những chiếc đèn lồng.

Nhưng hắn không làm thế.

Hắn có thể thay quần áo trước khi mở cửa.

Nhưng hắn không làm thế.

Giờ cô ta đã thấy Khada Jhin trong bộ dạng đẹp nhất của hắn.

Cảm hứng hắn cần đến giờ đã quá hiển nhiên.

Đúng là định mệnh.

Không bao giờ có lựa chọn.

Không bao giờ có lối thoát khỏi Nghệ Thuật.

Hắn sẽ khiến khuôn mặt cô phục vụ... thú vị hơn nhiều.

III

Miếng thịt tẩm mật lấp lánh ở trên cùng của đĩa súp ngũ vị.

Mùi thơm mời gọi Shen, nhưng anh đặt thìa sang một bên.

Người phục vụ mỉm cười và gật đầu đồng ý trước khi rời đi.

Lớp mỡ vẫn còn chưa tan hẳn.

Không nghi ngờ gì nữa, món ăn đã rất hoàn hảo, nhưng trong một khoảnh khắc, vị ngon của nó sẽ đạt đến đỉnh điểm.

Phải kiên nhẫn.

Shen ngắm nghía bên trong quán Vách Đá Trắng.

Người ta dễ tưởng nhầm là nó đơn giản và thô kệch.

Những người thợ xây đúng là những bậc thầy, họ chỉ tách vỏ cây và lá ở những nơi cần thiết.

Ngọn nến trên bàn của anh rung rinh... một cách bất thường.

Shen đưa tay xuống dưới mặt bàn, rút thanh kiếm giấu trong áo choàng ra.

"Đám đồ đệ của ngươi đi lại nhẹ nhàng như bà chửa vậy," Shen chế giễu.

Đi một mình và ăn mặc như lái buôn, Zed tiến vào quán trọ.

Lướt qua người phục vụ, hắn ngồi xuống cách Shen ba bàn.

Khoảng cách quá xa để Shen có thể làm được gì.

Từng phân trên người anh đều muốn lao tới địch thủ.

Để báo thù cho cha.

Nhưng đây không phải con đường của hoàng hôn.

Anh tự trấn tĩnh lại khi nhận ra khoảng cách là quá xa... nhưng chỉ tính theo chiều dài ngón trỏ của Shen mà thôi.

Shen nhìn vào Zed, chờ đợi sẽ thấy nụ cười lộ ra trên khuôn mặt hắn.

Nhưng thay vào đó, địch thủ của anh thở dài.

Nước da hắn vàng vọt, và một tấm mạng đen che đi nửa dưới khuôn mặt.

"Ta đã đợi, năm năm rồi," Shen nói.

"Ta tính sai khoảng cách sao?"

"Ngay cả khi đầu rơi xuống đất, ta vẫn sẽ lại gần và tấn công," Shen nói khi anh lùi chân lại sau một chút và gõ xuống mặt sàn.

Zed cách anh mười bước và một nửa chiều dài ngón trỏ.

"Con đường của ngươi gần gũi hơn với ta.

Những lý tưởng của cha ngươi quá yếu đuối.

Ionia không thể chịu được chúng nữa," Zed nói.

Hắn tựa lưng vào ghế, vẫn giữ mình ngoài tầm Shen cần để tung cú đánh đoạt mạng.

"Ta biết mình không thể khiến ngươi hiểu được.

Nhưng ta sẽ cho ngươi một cơ hội để báo thù."

"Ta không hành động để báo thù.

Ngươi bất chấp sự cân bằng.

Do đó, ngươi bị nguyền rủa," Shen vừa nói vừa nhích lại gần mép ghế hơn một chút.

"Ác Quỷ Hoàng Kim đã trốn thoát," Zed đáp lại.

"Không thể nào."

Shen thấy lồng ngực trống rỗng.

"Thắng lợi vĩ đại nhất của cha ngươi.

Và giờ, lại một lần nữa, sự nhân từ ngu ngốc đã làm hoen ố di sản của ông ta."

Zed lắc đầu.

"Ngươi biết cái... thứ đó có thể làm gì rồi đấy."

Rồi Zed dựa tay lên bàn, ngay trong tầm tấn công của Shen, cố ý để lộ cổ ra."

Và ngươi biết chúng ta là hai kẻ duy nhất có thể tiến lại đủ gần để ngăn hắn,"

Shen nhớ lại lần đầu tiên anh thấy thi thể một nạn nhân của Khada Jhin.

Ký ức đó khiến anh sởn gai ốc và nghiến chặt răng lại.

Chỉ có cha anh là đủ mình để vẫn tin tưởng rằng sự khoan hồng của công lý có thể tồn tại.

Ngày hôm ấy, có gì đó trong Shen đã thay đổi.

Có gì đó trong Zed đã rạn nứt.

Giờ, con quái vật kia đã trở lại.

Shen đặt cây kiếm lên bàn.

Anh nhìn xuống bát súp hoàn hảo trước mặt mình.

Những giọt mỡ nhỏ lấp lánh trên bề mặt của nó, nhưng anh không còn thấy đói nữa.

IV

Vẫn chưa có dấu hiệu gì của Zed.

Thất vọng thật.

Thất vọng thật đấy.

Chắc chắn là hắn phải đi tìm ông bạn cũ của hắn rồi.

Dường như Zed đang ẩn nấp và theo dõi đâu đây.

Jhin cần thận trọng.

Đứng trên cầu tàu, Jhin nhìn lại con thuyền ngoại quốc kia.

Thủy triều đã lên, và con thuyền sẽ rời đi trong chốc lát.

Hắn phải quay về thật sớm nếu muốn biểu diễn ở Zaun tháng tới.

Nguy cơ chất chồng nguy cơ.

Hắn dừng chân để xem xét hình ảnh phản chiếu của mình trong vũng nước.

Một thương nhân già nhìn lại hắn.

Những năm tháng luyện tập diễn xuất và võ thuật đã giúp hắn hoàn toàn kiểm soát được các cơ trên mặt.

Một khuôn mặt phổ thông, chẳng có biểu hiện gì đặc biệt.

Khi tiến bước lên đồi, Jhin dễ dàng hòa lẫn vào đám đông.

Hắn kiểm tra những lồng đèn trắng trên đầu, thầm tính toán khoảng cách.

Nếu Zed xuất hiện, hắn sẽ cần đến chúng.

Tại lữ quán trên đỉnh đồi, hắn liếc qua những nơi mình đã đặt bẫy.

Những lưỡi thép sắc bén được tạo hình như những bông hoa.

Chúng trấn giữ đường thoát của hắn, đề phòng có biến xảy ra.

Hắn nghĩ đến cách kím loại cắt qua đám đông và nhuộm màu đỏ lên tòa nhà mới sơn màu lục ánh lam kia.

Thật quyến rũ.

Hắn chen qua đám đông khi nghe thấy vị trưởng lão trong thị trấn nói với Shen.

"Vì sao tên ác quỷ lại tấn công cô ấy và ngài ủy viên," ông hỏi.

Shen, trong bộ áo màu lam thường ngày của anh, không trả lời lại.

Một Kinkou khác, một cô gái trẻ tên Akali, đứng cạnh Shen.

Cô vừa bước ra khỏi cửa lữ quán.

"Không," Shen chặn cô lại và nói.

"Điều gì khiến anh nghĩ tôi chưa sẵn sàng?"

Akali bực mình hỏi.

"Bởi tôi cũng như thế khi ở tuổi cô."

Đúng lúc này, một lính gác đổ gục xuống trên lối vào thị trấn, mặt anh ta tái nhợt và kinh hoàng.

"Người cô ấy, nó... nó..." anh ta lắp bắp, rồi đổ gục xuống mặt đất sau khi bước thêm được vài bước.

"Hắn thấy rồi.

Hắn đã thấy bông hoa!"

Dựa lưng vào bức tường phía xa, ông chủ quán rượu phá lên cười.

Rồi ông ta bắt đầu lau sạch lớp mặt nạ.

Không có ai chứng kiến những việc làm của Khada Jhin mà lại quên đi được.

Shen chăm chú xem xét khuôn mặt của từng người trong đám đông.

Thông minh đó, Jhin nghĩ vậy trước khi biến mất.

Trên đường quay lại thuyền, hắn kiểm tra mái nhà xem có Zed ẩn nấp trên đó không.

Không thể tránh khỏi chuyện này.

Dù đi cùng nhau hay một mình, Zed và Shen vẫn sẽ lần theo những manh mối hắn để lại.

Chúng sẽ dẫn hai tên đó tới Hội Hoa.

Tới Cổng Jyom.

Và, khi trở nên tuyệt vọng, cả hai buộc phải hợp tác cùng nhau, một lần nữa.

Sẽ trở lại như ngày chúng còn trẻ.

Chúng sẽ tụ tập lại trong kinh hoàng và hoảng loạn.

Chỉ đến khi đó Khada Jhin vĩ đại mới lộ diện...

Và kiệt tác của hắn sẽ thật sự bắt đầu.
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
AURELION SOL ÁC LONG THƯỢNG GIỚI


Núi Targon là nơi cao nhất ở Runeterra, một dãy núi hùng vĩ bằng đá nung đầy những đỉnh núi sừng sững mà không nơi nào khác trên thế giới này có thể so bì.

Nằm cách xa chốn văn minh, Núi Targon là một vùng hẻo lánh mà chỉ có những người kiên định nhất mới có thể đặt chân tới.

Có nhiều truyền thuyết gắn liền với Núi Targon, từ những truyện kể về các chiến binh rực lửa mang trong mình sức mạnh phi thường từ trên trời hạ xuống để chiến đấu với lũ quái vật, đến những thần thoại về thần linh và chốn thượng giới của họ tan vỡ hình thành nên dãy núi.

Một số truyền thuyết còn đi quá xa đến mức quả quyết rằng bản thân dãy núi là một vị thần khổng lồ cổ xưa đang ngủ.

Như mọi chốn thần bí khác, Núi Targon là nơi thu hút những kẻ mơ mộng, điên khùng hoặc ưa mạo hiểm.

Bất kỳ ai sống sót qua hành trình gian khổ đến dưới chân dãy núi đồ sộ đều được chào đón như những người hành hương bởi các bộ tộc nhỏ lẻ thiết lập trại du mục của họ quanh đó.

Và những người lữ hành mệt mỏi được biết đến các bộ tộc như Rakkor.

Họ đã sống trong khí hậu khắc nghiệt và vùng đất khô cằn quanh dãy núi nhiều thiên niên kỷ.

Cư dân ở đây có một tín ngưỡng chung rằng sống dưới bóng của tòa kiến trúc kỳ vĩ của thần linh này sẽ ban cho họ những quyền năng bí ẩn.

Nguồn gốc và mục đích của nó – nếu thực sự từng có một thứ như thế – vẫn còn là một bí ẩn, bởi người phàm chẳng thể nào hiểu nổi suy nghĩ của những người kiến tạo đã biến mất từ lâu.

Nhiều giáo phái bắt rễ quanh dãy núi, nhưng tất cả đều quy phục trước Hội Solari, một tôn giáo thờ mặt trời thống trị vùng đất này.

Đại điện của Hội Solari nằm ở sườn đông dãy núi, nơi người ta chỉ có thể đến bằng cách băng qua những cây cầu treo vắt qua vực thẳm, trèo lên những bậc thang do gió khoét vào đá núi và bước trên những gờ đá mỏng manh trên vách núi thẳng đứng được khắc những ký hiệu cổ xưa và những hình nổi to lớn.

Một vài linh hồn can đảm đã cố chiến thắng dãy núi, có lẽ để tìm kiếm trí tuệ hoặc giác ngộ, hoặc để theo đuổi vinh quanh hay khao khát được chiêm ngưỡng đỉnh cao của nó.

Những người sống dưới chân núi vẫn cổ vũ cho những con người dũng cảm bắt đầu cuộc hành trình, dù biết rằng phần lớn họ đều sẽ bị dãy núi coi là không xứng đáng.

Và như thế đồng nghĩa với cái chết.

Những sườn núi dốc đứng và địa hình xảo trá tại đây đã khiến dãy núi cực kỳ khó chinh phục.

Đâu đó, ta lại bắt gặp thi thể không lành lặn của những kẻ xấu số đã thất bại.

Leo lên Núi Targon là một thử thách sẽ vắt kiệt mọi thứ của người chấp nhận nó: sức mạnh, nghị lực, quyết tâm và ý chí.

Có những người đã leo hàng tuần hoặc tháng, có người thì chỉ một ngày, bởi dãy núi luôn biến đổi.

Và ngay cả với những ai đã sống sót lên được đến đỉnh núi, thử thách vẫn chưa kết thúc.

Một số người tìm đường lên đến nơi cao nhất, và chỉ thấy nó gần như trống rỗng, một mớ tàn tích bị bỏ hoang cùng những hình khắc mờ nhạt nằm ngoài tầm hiểu biết của con người.

Không biết vì lý do gì, ngọn núi thấy họ thiếu đi phần nào đó trong tâm hồn.

Tuy nhiên, với rất ít người khác, nghe nói dãy núi bị che phủ trong một dòng thác ánh sáng mờ ảo, qua đó ta có thể thoáng thấy những kỳ quan và những viễn cảnh xa vời, khung cảnh ẩn hiện của một vùng đất thần bí ở phía trên.

Dù đạt được mục tiêu là leo lên đến đỉnh, hầu hết đều thất bại trong thử thách cuối cùng này, họ quay lưng bỏ chạy trong hoảng sợ trước thế giới phi nhân loại.

Hiếm người dám tiến bước, và đa số đều không bao giờ quay về, chỉ có một phần nhỏ tái xuất sau đó vài phút, vài năm, hoặc thậm chí vài thế kỷ.

Duy nhất có một điều chắc chắn – những ai quay về đều đã có những sự thay đổi ngoài tầm nhận thức của chúng ta.
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
TALIYAHPHÙ THỦY ĐÁ


"Thế giới này là tấm thảm do chính chúng ta dệt nên."

Taliyah là một pháp sư lang thang đến từ Shurima, người điều khiển đá với nhiệt tình và quyết tâm mạnh mẽ.

Giằng xé giữa lo lắng trẻ thơ và trách nhiệm trưởng thành, cô đi khắp Valoran trong chuyến hành trình tìm hiểu bản chất thực sự của quyền năng mình đang nắm giữ.

Nghe được tin đồn về một vị hoàng đế đã băng hà từ lâu lại trỗi dậy, cô hồi hương nhằm bảo vệ bộ tộc khỏi những nguy hiểm ẩn dưới dòng cát của Shurima.

Nhiều kẻ nhầm lẫn trái tim mềm mỏng của Taliyah với sự yếu đuối và đã phải trả giá, bởi bên dưới cách hành xử trẻ con đó là một ý chí mạnh mẽ đủ để chuyển núi ngăn sông, và một tinh thần sục sôi đủ để dời non lấp bể.

Sinh ra dưới chân những ngọn đồi lởm chởm đá nằm bên rìa Icathia đổ nát, Taliyah dành thời thơ ấu để chăn dê cho bộ tộc những thợ dệt du mục.

Người ngoài toàn xem Shurima là vùng chó ăn đá gà ăn sỏi, nhưng Taliyah được nuôi dạy để trở thành một cô gái thực sự của sa mạc và để thấy được nét đẹp đầy màu sắc nơi đây.

Cô luôn bị những viên đá bên dưới đụn cát cuốn hút.

Khi mới biết đi, cô đã thu thập đá màu trong lúc mọi người đi theo nguồn nước luân chuyển theo mùa.

Lớn hơn một chút, chính mặt đất lại bị cô thu hút, nó chuyển động theo từng bước chân của cô trên mặt cát.

Sau sáu mùa hè, Taliyah tách đoàn để tìm kiếm một con dê lạc do cô chăn dắt.

Quyết tâm không làm cha – người đứng đầu bộ tộc – thất vọng, cô lần theo dấu con vật nhỏ trong đêm tối.

Những vết móng guốc bé xíu dẫn cô đến một hẻm núi.

Con thú đã leo lên tít trên cao, và không tìm được đường xuống.

Cát đá kêu gọi cô, thôi thúc cô đặt tay lên vách.

Quyết tâm giải cứu chú dê đang sợ hãi, Taliyah thử chạm vào.

Sức mạnh cô cảm nhận được cấp bách và ngập tràn như mưa mùa.

Ngay lúc vừa thả lỏng mình trước ma thuật, nó rót thẳng vào người cô.

Đá nhảy múa theo ngón tay, khiến cả hẻm núi và con vật rơi xuống đầu Taliyah.

Sáng hôm sau, cha Taliyah lo lắng chạy bổ đi tìm.

Ông khuỵu xuống khi thấy con gái đang bất tỉnh, trên người phủ hờ tấm chăn dệt bằng đá.

Ủ rũ, ông đưa cô quay lại bộ tộc.

Hai ngày trôi qua, cô bé kích động tỉnh dậy trong lều Babajan, mẹ lớn của bộ tộc.

Taliyah bắt đầu kể cho cụ bà thông thái và các vị phụ huynh đang lo lắng về đêm trong hẻm núi, về tiếng đất đá gọi cô.

Babajan an ủi gia đình, bảo họ rằng dấu vết để lại cho thấy Đấng Sáng Tạo, người bảo hộ thần bí cho bộ tộc, đang dõi theo cô bé.

Trong lúc đó, Taliyah thấy được nỗi phiền muộn của bố mẹ và quyết định che giấu điều thực sự xảy ra đêm ấy: rằng chính cô – chứ không phải Đấng Sáng Tạo – đã kéo sập đá.

Khi trẻ con trong bộ tộc Taliyah đủ lớn, chúng sẽ nhảy một điệu dưới ánh trăng tròn để dâng lên Đấng Sáng Tạo.

Điệu nhảy đón mừng tài năng thiên bẩm của lũ trẻ và thể hiện món quà chúng mang lại cho bộ tộc khi trưởng thành.

Nó là điểm khởi đầu cho con đường học hỏi khi chúng sẽ sớm tìm cho mình một người thầy.

Taliyah tiếp tục giấu kín sức mạnh ngày một tăng thêm, cô tin rằng bí mật đó là một nguy hiểm chứ chẳng phải phước lành gì.

Cô ngắm nhìn bạn đồng lứa xe chỉ để giữ ấm cho bộ tộc khỏi cái lạnh đêm sa mạc, chứng tỏ sự giỏi giang trong việc cắt xén và nhuộm màu, hay dệt nên hoa văn kể lại tích xưa chuyện cũ.

Suốt những đêm dài, cô nằm thao thức đến tận khi lò than đã tàn, bị giày vò bởi chính quyền năng đang chảy trong người.

Cuối cùng cũng đến lúc Taliyah nhảy dưới trăng rằm.

Dù đủ giỏi để chăn dê như cha, hay dệt vải như mẹ, cô gái trẻ vẫn lo sợ điều điệu nhảy sẽ thực sự tiết lộ.

Đặt chân lên cát, với những công cụ vây quanh: gậy chăn dê và con suốt.

Cô cố tập trung vào việc cần làm trước mắt, nhưng những tảng đá, những lớp màu của vùng đất đang kêu gọi cô.

Taliyah nhắm mắt và nhảy.

Choáng ngợp trước dòng sức mạnh trào qua, cô bắt đầu quay, nhưng không phải chỉ, mà là chính mặt đất dưới chân.

Những tiếng kêu thảng thốt của người trong tộc khiến cô ngừng lại.

Một dải đá nhọn vươn tới tận ánh sáng trăng.

Taliyah nhìn vào gương mặt choáng váng xung quanh.

Ý chí đặt lên đất đá tan vỡ, và tấm thảm sụp xuống.

Mẹ Taliyah chạy đến chỗ con gái để bảo vệ cô khỏi đá rơi.

Khi bụi tan, Taliyah thấy được sự phá hủy cô tạo nên, và sự dè chừng nơi từng thành viên bộ tộc.

Nhưng chính vết cắt nhỏ trên mặt mẹ mới làm cô hoảng sợ nhất.

Chỉ sướt qua thôi, song lúc đó Taliyah biết mình là mối nguy cho những ai cô yêu mến nhất trên đời.

Cô bỏ chạy vào màn đêm, tuyệt vọng đè nặng đến nỗi mặt đất run rẩy dưới chân.

Lại là cha tìm thấy cô giữa sa mạc.

Họ ngồi dưới ánh bình minh, nghe Taliyah thổn thức thú nhận những gì đang che giấu.

Thế rồi, ông làm điều duy nhất một người cha có thể: ôm cô thật chặt.

Ông bảo cô không thể trốn tránh sức mạnh đó, rằng cô phải hoàn thành điệu nhảy và xem xem con đường nó đem lại là gì.

Quay lưng trước món quà của Đấng Sáng Tạo sẽ làm trái tim ông và mẹ cô tan vỡ.

Taliyah cùng cha quay về bộ tộc.

Cô mở to mắt, bước vào giữa vòng tròn.

Lần này, cô đeo một cái nơ bằng đá, mỗi màu sắc và đường vân là một ký ức về những người quanh cô.

Khi cô kết thúc, cả bộ tộc chết lặng.

Taliyah nín thở chờ đợi.

Đã đến lúc một người trong bộ tộc đứng lên nhận cô làm học trò.

Mỗi nhịp tim dường như kéo dài cả thế kỷ.

Cô nghe tiếng cha đứng dậy.

Rồi đến mẹ cô.

Rồi đến Babajan và bậc thầy nhuộm vải và bậc thầy quay sợi.

Trong thoáng chốc, cả bộ tộc đều đứng lên.

Tất cả họ đứng cùng cô gái có thể dệt đá.

Taliyah nhìn từng người.

Cô biết sức mạnh của cô có lẽ chưa từng xuất hiện.

Họ đang đứng quanh cô, yêu thương và tin tưởng, nhưng cũng không thể xóa nhòa nỗi lo.

Không ai trong họ nghe được tiếng đất gọi như cô.

Không ai có thể chỉ cho cô cách kiểm soát ma thuật nguyên tố đang cuộn chảy bên trong.

Cô biết ở bên bộ tộc là đang đánh liều mạng sống của họ.

Dù đau đớn, cô vẫn phải nói lời từ biệt với cha mẹ và mọi người, rồi một mình đi ra thế giới.

Cô du hành về phía Tây, hướng đỉnh Targon mà đi, mối liên hệ tự nhiên với đá thu hút cô về phía ngọn núi chạm đến các vì sao này.

Tuy nhiên, ở rìa Bắc Shurima, những kẻ mang cờ hiệu Noxus đã phát hiện ra sức mạnh của cô trước.

Ở Noxus, ma thuật loại này rất được chào đón, chúng bảo cô vậy; thậm chí là tôn sùng.

Chúng hứa sẽ tìm cho cô một người thầy.

Taliyah lớn lên trong sự tin tưởng người khác, nên cô chẳng hay biết về những lời hứa lươn lẹo và nụ cười giả tạo của đám Noxus.

Cô theo chúng đi qua vô số Noxtoraa, cánh cổng sắt vĩ đại đánh dấu chủ quyền của Đế chế trên một lãnh thổ vừa bị chinh phục.

Sự xô bồ và tầng tầng lớp lớp chính trị trong thủ phủ khiến cô gái đến từ sa mạc rộng lớn phát sợ.

Taliyah đi qua hết hội ma thuật này đến hội ma thuật khác.

Nhiều người tỏ ra hứng thú với sức mạnh của cô, với tiềm năng của nó.

Một thuyền trưởng hứa sẽ đưa cô đến vùng hoang dã bên kia biển, nơi cô có thể rèn giũa khả năng mà không cần sợ hãi.

Lời hứa nghe thật thuyết phục.

Cô chấp nhận đề nghị và vượt biển đến Ionia.

Tuy nhiên, khi thuyền bỏ neo, cô mới phát hiện ra mình được sử dụng như một thứ vũ khí cho một kẻ đang cố gắng tuyệt vọng để tìm lại vị trí trong hàng ngũ hải quân Noxus.

Lúc bình minh, tên thuyền trưởng đưa ra cho cô hai lựa chọn: chôn sống những con người đang say ngủ ngoài kia hoặc bỏ xác dưới lớp sóng.

Taliyah nhìn qua vịnh.

Khói bếp vẫn chưa bốc lên từ những bếp lửa đang âm ỉ.

Đây không phải điều cô đã phải lặn lội đến tận đây để học hỏi.

Taliyah từ chối, và bị ném khỏi boong tàu.

Tránh được dòng triều và cả trận chiến trên bờ biển, cô thấy mình lang thang, lạc lối giữa những rặng núi xa lạ của Ionia.

Chính tại đó cô cuối cùng cũng tìm ra người thầy của mình, một kiếm sĩ có thể nắm bắt cơn gió, một người thấu hiểu các nguyên tố và sự cân bằng.

Cô luyện tập cùng ông một thời gian và bắt đầu có thể kiểm soát thứ cô hằng mong muốn.

Khi đang nghỉ ngơi ở một quán ăn xa xôi, Taliyah nghe tin Hoàng đế Thăng Hoa của Shurima đã trở lại.

Tin đồn rằng ông đang cố tập hợp dân chúng, những bộ tộc tứ tán trên sa mạc, về lại dưới ách cai trị của mình.

Ngay cả khi quá trình luyện tập vẫn chưa hoàn thành, cũng chẳng có lựa chọn nào khác cho Taliyah; cô biết mình phải quay lại với gia đình để bảo vệ.

Dù rất buồn, cô và sư phụ vẫn phải chia tay.

Taliyah lên đường về với những đụn cát cao ngất của Shurima.

Khi ánh mặt trời gay gắt chiếu vào người, cô tiến sâu hơn, quyết tâm tìm kiếm bộ tộc.

Sở hữu ý chí sắt đá, cô sẽ làm tất cả những gì cần thiết để giữ cho những người thân thuộc an toàn trước hiểm họa đang rình rập phía chân trời.

TIẾNG VỌNG TRONG ĐÁTIẾNG VỌNG TRONG ĐÁ

Taliyah đã thoát khỏi cơn bão cát khi cô nhận ra dấu hiệu của nước.

Mới đầu, nó thật yếu ớt, chỉ là chút hơi ẩm lạnh lẽo cô cảm nhận được khi nhấc những viên đá nằm sâu dưới cát lên.

Càng đến gần Shurima, nước càng bám nhiều trên từng viên đá, như thể chúng đang thổn thức.

Taliyah biết mỗi viên đều có câu chuyện của riêng mình, nhưng cô không có thời gian để nghe, để biết xem đó là giọt lệ mừng vui hay sầu khổ.

Khi đã đứng dưới bóng của Đĩa Mặt Trời khổng lồ, nước ngầm bắt đầu tuôn ra từ đá cứ như cô đang đi giữa một dòng suối nhỏ.

Và khi đến được cổng, Taliyah nghe tiếng nước inh tai trào qua thềm đá.

Ốc Đảo Bình Minh, Mẹ Của Sự Sống, đang lên tiếng dưới lớp cát.

Người trong tộc cô đã đi theo những con nước mùa cả trăm năm.

Giờ cô cũng đi theo chúng để tìm kiếm họ, và không may, nước ở Shurima giờ đây chỉ chảy ra từ một nguồn duy nhất.

Người ta luôn cố tránh xa tàn tích bi thảm của thủ phủ, cũng như con Sai khổng lồ và đám sinh vật chết chóc đang săn lùng quanh đây.

Ngay cả lũ trộm cũng giữ khoảng cách với chốn này.

Cho đến bây giờ.

Taliyah đột ngột dừng tảng đá cô đang lướt trên, suýt nữa thì văng khỏi nó.

Cô nhìn quanh.

Người phụ nữ đến từ Vekaura đã đúng.

Đây không còn là một đống đổ nát hoang tàn đầy cát và hồn ma nữa; quả thật, có đầy người trong khu trại tạm bên ngoài bức tường, như một tổ kiến trước lũ.

Không biết họ là ai, cô quyết định không nên để lộ ra nhiều hơn mức cần thiết.

Dường như các bộ tộc từ bốn phương trời đã tụ tập lại, nhưng Taliyah kiếm khắp xung quanh mà không thấy gương mặt nào thân thuộc cả.

Họ trông thật xơ xác.

Họ cãi nhau xem nên ở trong trại tạm hay tìm chỗ trú trong thành phố.

Vài người thấy cơn bão với quầng sét phi tự nhiên và nghĩ tốt hơn mình nên vào bên trong những bức tường, ngay cả khi chúng đã biến mất dưới cát nhiều thế hệ.

Tất cả bọn họ đều cố đi lại thật nhanh, thỉnh thoảng lại gói ghém đồ đạc và lo lắng liếc nhìn trời.

Taliyah đã chạy đua thắng cơn bão, nhưng không lâu nữa đâu, đám roi cát sẽ quật vào cánh cổng.

"Đến lúc quyết định rồi."

Một phụ nữ gọi cô, giọng gần như lạc đi giữa tiếng ầm ầm của dòng nước ốc đảo và cơn bão đang dâng lên.

"Đi vào hay bỏ đi đây, cô bé?"

Taliyah quay lại đối diện với bà.

Người Shurima.

Xa lạ.

"Tôi đang tìm gia đình."

Taliyah chỉ vào áo chẽn.

"Họ là thợ dệt."

"Cha-Ưng đã hứa bảo vệ cho tất cả những người bên trong bức tường," bà nói.

"Cha-Ưng?"

Bà nhìn vào khuôn mặt lo ngại của Taliyah và mỉm cười, cầm lấy tay cô.

"Azir đã trở lại trong dạng Thăng Hoa.

Ốc Đảo Bình Minh lại tuôn chảy.

Một ngày mới đã tới với Shurima."

Taliyah nhìn khắp mọi người.

Thật là thế.

Họ đang chần chừ không muốn đi xa khỏi thủ phủ tráng lệ, nỗi sợ trên mặt họ dành cho cơn bão bất thường nhiều hơn là vị hoàng đế vừa sống dậy.

Người phụ nữ tiếp tục, "Có những thợ dệt đến đây lúc sáng.

Họ quyết định tránh bão bên trong."

Bà chỉ vào đám người đang xô đẩy tiến vào trái tim mới hình thành của Shurima.

"Chúng ta phải nhanh lên.

Họ gần đến cổng rồi."

Taliyah thấy mình bị bà kéo tới một trong những cánh cổng đồ sộ của kinh đô, chen vào một đám người lạ đã quyết định vào phút chót rằng không nên tự mình đương đầu với cát.

Còn có mấy nhóm túm tụm quanh đám thú, quyết định sẽ đối đầu với bão như các đoàn lữ hành Shurima vẫn làm từ nhiều thế hệ.

Ngoài xa, những tia sét đầy đe dọa rạch ngang rìa cơn gió xoáy.

Truyền thống xa xưa ở Shurima chắc sẽ không trụ được khi nó tràn qua.

Taliyah và người phụ nữ bị đẩy qua ngưỡng cửa bằng vàng ngăn cách Shurima với sa mạc bao quanh.

Cánh cổng nặng nề đóng sầm lại sau lưng họ.

Vẻ huy hoàng cổ xưa của thủ phủ trải ra mênh mông trước mắt họ.

Đám đông bám chặt vào bức tường dày, không chắc mình nên đi đâu.

Như thể họ thấy đường phố vắng lặng kia thuộc về ai đó khác vậy.

"Ta chắc người của cháu ở đâu đây thôi.

Hầu hết đều chỉ đứng gần cổng.

Có ít kẻ là dám đi xa hơn.

Hy vọng cháu sẽ tìm được điều mình cần."

Bà thả tay Taliyah ra và mỉm cười.

"Cầu cho nước và bóng râm ở bên cháu, cháu gái."

"Cầu cho nước và bóng râm ở bên bà."

Giọng Taliyah nhỏ dần khi người phụ nữ biến mất giữa đám nhộn nhạo.

Thành phố im lìm cả thiên niên kỷ giờ tràn đầy nhịp sống.

Những lính canh khoác áo choàng màu vàng và đỏ thẫm đang lặng lẽ trông chừng cư dân mới đến.

Dù không có rắc rối xảy ra, Taliyah vẫn thấy có gì đó không ổn ở nơi này.

Taliyah chống tay lên tường để ổn định lại cơ thể.

Cô thở dốc.

Đá rung rinh dưới bàn tay cô.

Một cơn đau đến mờ mắt chụp lấy cô.

Ngàn vạn giọng nói khắc vào đá tảng.

Nỗi sợ và sự giày vò trong thời khắc cuối cùng của họ, trước khi sinh mạng tan biến và hình bóng họ in lên đá, gào thét trong tâm trí cô.

Taliyah rút tay ra, gục xuống.

Cô từng cảm thấy những rung động tương tự, những tiếng vọng của ký ức đã trôi qua từ lâu, nhưng không cái nào giống cái này.

Biết được những gì đã xảy đến khiến cô ngã quỵ.

Cô đứng dậy, ngắm nhìn thành phố mới với đôi mắt thất thần.

Một sự thay đổi đột ngột quét qua.

Đây không phải kinh đô được hồi sinh, nó là nấm mồ trống rỗng trỗi dậy từ lòng cát.

Lần gần nhất Azir hứa hẹn với cư dân Shurima, nó đã khiến họ phải trả giá bằng sinh mạng.

"Mình phải tìm được gia đình," cô thầm nhủ.
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
KLED KỊ SĨ CÁU KỈNH


Truyện kể về Kled đã có từ thời đế chế còn non trẻ, trong trận Drugne.

Giữa những ngọn đồi đầy bụi bặm nơi vùng đất khô cằn này, Quân Đoàn Thứ Nhất đang tháo chạy khỏi một bầy man tộc.

Để thua hai trận chiến trước, sĩ khí giảm sút mạnh mẽ, họ buộc phải bỏ lại đoàn xe tiếp tế trong khi vẫn còn một tuần hành quân nữa mới đến được tiền đồn gần nhất.

Chỉ huy Quân Đoàn là một nhóm các quý tộc giàu có mang trên mình bộ giáp vàng không chút vấy bẩn.

Họ lo lắng cho vẻ ngoài và mưu đồ quyền vị hơn là những người họ đang chỉ huy.

Tệ hơn, đám tướng lĩnh này—dù rất tài tình trong ám sát và đấu giải—lại hoàn toàn chẳng có hy vọng trên chiến trường.

Bị kẻ thù bao vây, họ lệnh cho tàn quân tạo thành một vòng tròn cố thủ, mong rằng sẽ nhờ đó mà thương thảo tiền chuộc cho chính họ.

Thế rồi, khi nắng mai lên, hình dạng kỳ bí của Kled xuất hiện trên đỉnh đồi nhìn xuống khu chiến địa.

Hắn cưỡi Skaarl, một con thằn lằn sa mạc bất tử.

Con thú cưỡi chỉ đứng trên hai chân; chi trước như đôi tai quạt quạt hai bên đầu, treo lủng lẳng một cách hối lỗi như thể viên quản gia vừa vô tình nhúng tay vào bát súp.

Tay kị sĩ đơn độc đứng trên yên thằn lằn.

Vũ khí đã rỉ sét, áo giáp đã mòn vẹt, và quần áo thì rách rưới—nhưng một nỗi giận khôn nguôi cháy bỏng trong một con mắt còn sáng của hắn.

"Ta sẽ cho các ngươi một cơ hội để biến khỏi vùng đất của ta!"

Kled tuyên bố với bầy man tộc, nhưng gã Yordle không đợi câu trả lời.

Hắn ra lệnh cho con thú cưỡi và la hét giận dữ bắt đầu cuộc xung phong.

Tuyệt vọng, đói khát, và điên tiết với đám quý tộc, tinh thần Quân Đoàn bùng lên như thuốc súng bắt lửa trước hành động dũng cảm đến mất trí của gã Yordle.

Đám lính lao theo Kled và Skaarl khi cả hai xuyên thẳng vào trung tâm đội hình địch.

Chuyện xảy ra tiếp theo là trận giao tranh khốc liệt nhất mà Quân Đoàn từng có.

Thành công bước đầu có được nhờ cuộc tấn công bất ngờ đã tan vỡ khi lực lượng man tộc phản kích vào bên sườn của Quân Đoàn.

Khi trận chiến xoay chiều chống lại người Noxus và kẻ địch bủa vây khắp mọi hướng, Skaarl hoảng loạn, hất ngã Kled, và bỏ chạy.

Giống như con thằn lằn nhát chết, lính tráng Noxus tứ tán.

Nhưng giữa đám người, Kled vẫn tiếp tục tả xung hữu đột.

Xác địch chất chồng quanh Kled, áo hắn nhuộm đỏ.

Mặc cho thiệt hại to lớn gây ra với mỗi lần cây rìu dài vung lên, hắn vẫn bị đẩy lùi trước làn sóng triều không dứt của man tộc.

Hắn hét lớn hơn, những lời thách thức và chửi rủa.

Rõ ràng gã Yordle sẵn sàng chết chứ không chịu lui bước.

Lòng dũng cảm và sự hèn nhát đều lan truyền nhanh không kém gì dịch bệnh.

Nhìn thấy quyết tâm của Kled, Quân Đoàn tiến bước.

Ngay cả Skaarl cũng thôi bỏ chạy và quay lại nhìn chốt chặn cuối cùng của đội quân Noxus.

Rồi, khi hàng ngũ tan vỡ và số lượng kẻ thù áp đảo đẩy Kled ngã xuống, con thằn lằn nhào tới tấn công bên cánh của man tộc.

Gầm gừ, khua móng vuốt loạn xạ, nó thọc sâu vào đám người cho đến khi gặp lại chủ nhân.

Với con thú cưỡi trở về bên mình, Kled tràn đầy sinh lực và một lần nữa biến thành cơn lốc chết chóc, buộc man tộc rối rít tháo lui.

Dù chỉ có vài mống Noxus sống sót, nhưng họ đã thắng trận.

Tộc Drugne bị đánh bại, và lãnh thổ của chúng sáp nhập vào đế chế.

Thi thể của đám quý tộc, cũng như những bộ giáp vàng tinh xảo, không bao giờ được tìm thấy.

Dần dần, hầu hết quân đoàn khác của đế chế cũng lưu truyền các câu chuyện tương tự về Kled, minh chứng cho việc không thất bại nào là chắc chắn khi đối mặt cùng lòng quả cảm đến bất bình thường.

Nghe nói hắn cưỡi thằn lằn đến bất kỳ đâu quân đoàn có mặt, giành lấy chiến lợi phẩm và đất đai cho chính hắn cũng như Skaarl.

Đa số dân Noxus vẫn thấy nghi ngờ về tính xác thực của những truyện kể đó.

Nhưng theo bước các quân đoàn, người ta luôn tìm thấy những dấu hiệu thông báo một lãnh thổ mới là "Tài sản của Kled".

Thềm Núi Phương Bắc không phải chốn cho lũ bánh bèo và công tử bột.

Nó rất khắc nghiệt.

Không gì hiện diện ở đây ngoài lũ cướp man tộc, cỏ độc, và gió rít.

Để sống sót, ngươi phải ăn đá và gặm nham thạch cho qua ngày.

Còn ta, ta chính là kẻ cứng cỏi, độc ác, chết chóc nhất.

Do đó ta thấy vùng đất này là của mình.

"Nhưng sao ta lại kết thúc ở đây?

Sao ta lại một mình với con quỷ xù xì ngốc nghếch này?" ta hét lớn.

Skaarl khụt khịt trả lời từ trên tảng đá nó đang nằm phơi nắng.

Lớp vảy màu kim loại tối ánh vàng.

Không gì có thể xuyên qua da thằn lằn sa mạc.

Ta đã từng thấy một lưỡi kiếm thép vỡ vụn khi chém vào chân nó.

Điều đó cũng chẳng làm cái mùi của nó khá hơn chút nào.

"Tao đang gọi mày là đồ nhát chết đấy.

Có gì muốn nói không?"

"Greefrglarg," nó ngẩng đầu lên và ngáp.

"Chỉ là một con gà gô!

Lớn không quá bàn tay.

Thế mà mày bỏ chạy...

Con vật ngu ngốc!"

"Greef...rglarg?"

Skaarl đuổi lũ ruồi đang đậu trên cặp mắt nửa nhắm nửa mở của nó.

"Ờ, trả lời hay lắm!

Vui thật nhỉ?

Ha ha ha!

Tao phát mệt vì mấy cái thứ này rồi.

Đáng ra tao nên mặc kệ mày.

Đúng thế.

Mày sẽ chết trong cô độc.

Khỉ thật, mày sẽ không trụ nổi một ngày mà không có tao."

Skaarl tựa đầu lên tảng đá.

Nói chuyện với nó cũng chẳng ích gì.

Ta nên tha thứ cho nó – nhưng rồi, chắc chắn là để chế nhạo ta, nó xả ra một tràng mùi khó ai chịu nổi, thẳng vào ta.

"Thế đấy, đồ quỷ!" ta ném mũ xuống đất và chạy khỏi nơi cắm trại, thề rằng sẽ không bao giờ để mắt đến con thằn lằn bẩn bựa đó lần nào nữa.

Tất nhiên, cái mũ rất đẹp, nên ta phải quay lại và nhặt nó lên trước đã.

"Ừ, cứ ngủ đi, đồ lười biếng," ta nói trong lúc bỏ đi.

"Tao sẽ đi tuần!"

Ở cách nông trang gần nhất mười con trăng không ngăn ta đi tuần được.

Đây là đất của ta.

Và ta sẽ giữ nó như thế.

Dù con thằn lằn phản trắc đó có giúp ta hay không.

Mặt trời bắt đầu lặn xuống dưới đường chân trời khi ta đặt chân đến những ngọn đồi.

Thời gian này trong ngày là lúc ánh sáng dễ lừa người nhất.

Ta bắt gặp một con rắn định tranh luận về vỏ bánh táo, trừ việc nó không phải rắn mà chỉ là cái bóng của một tảng đá.

Xấu hổ thật.

Ta có hiểu biết rất sâu về vỏ bánh táo.

Ít nhất là khi ta nhớ lại xem chúng trông ra sao.

Ta chưa có cuộc nói chuyện nào tử tế về chủ đề này nhiều năm rồi.

Ta chuẩn bị làm một ngụm nước ép nấm và giải thích quan điểm của mình cho con rắn thì chợt nghe thấy chúng.

Lũ sói đói đang hú hét và kêu inh ỏi.

Chúng chỉ phát ra âm thanh này khi rình mò đám gia súc.

Và nếu có gia súc, tức là có con người.

Và lũ người đó là kẻ xâm phạm.

Ta vơ vội một viên đá gần đó và kiểm tra phía Bắc trước.

Chẳng có gì giữa những ngọn đồi trên thảo nguyên của ta cả, trừ vài gốc cây rải rác dọc chân trời.

Tiếng sói tru có lẽ chỉ là do nước ép nấm tác động lên tâm trí ta...

Nhưng rồi ta quay xuống phía Nam.

Chúng đứng cách ngọn đồi này nửa ngày đường.

Ba trăm con thú đang giày xéo mảnh đất của ta.

Lũ sói đói vây quanh đàn gia súc, nhưng chẳng có ngựa.

Vài con người đi quanh chúng.

Con người không thích đi bộ.

Chẳng phải thiên tài mới nghĩ ra được chúng hẳn là một phần của đoàn đông đảo hơn nhiều.

Tất nhiên, ta là thiên tài rồi.

Chuyện đó quá đơn giản đi.

Máu ta bắt đầu sôi lên.

Thế có nghĩa là sẽ có thêm lũ xâm phạm phá hoại sự yên bình của ta.

Tại đây, khi ta sắp chuyện trò vui vẻ về vỏ bánh táo với con rắn đó.

Ta hớp thêm một ngụm nước ép nấm nữa và quay lại nơi cắm trại.

"Dậy nào, đồ thằn lằn," ta túm lấy yên cương và nói.

Nó ngẩng đầu, càu nhàu đáp trả, và lại nằm xuống lớp cỏ mềm.

"Dậy!

Dậy!

DẬY!" ta hét lên.

"Có lũ xâm phạm, phá hoại sự thanh bình quanh ta."

Nó ngây ra nhìn ta.

Đôi lúc ta quên mát nó không hiểu ta nói gì.

Đặt yên cương lên lưng nó, ta nói.

"Có con người trong đất của chúng ta!"

Nó đứng dậy, dỏng tai lo lắng.

Con người.

Từ đó thì nó biết.

Ta nhảy lên yên.

"Hạ lũ người đó nào!" ta gầm lên, chỉ về hướng Nam.

Nhưng con thú chết tiệt ấy lại chạy về phía Bắc.

"Không, không, KHÔNG!

Chúng ở hướng đó!

Hướng đó!" ta dùng dây cương để kéo con quái nhát chết về đúng đường.

"Greefrglaaarg!" con thằn lằn sa mạc kêu gào, đá chân lia lịa.

Trong chốc lát, nó chạy.

Tốc độ kinh hoàng khiến ta phải nhắm mắt lại.

Cỏ thô quất quanh chân ta đau điếng.

Một đám mây bụi quay cuồng phía sau chúng ta.

Quãng đường này trước ta phải mất nửa ngày mới đi hết.

"Greefrglorg!" nó rít lên.

"Giờ, đừng có thế!

Không phải mày đã nói là mày muốn có bạn đồng hành tối qua à?"

Mặt trời đã lặn khi ta đến chỗ đàn gia súc.

Ta điều khiển Skaarl đi nước kiệu để tiếp cận khu trại.

Chúng đã bắt đầu nhóm lửa và nấu nướng.

"Dừng lại, kẻ lạ kia.

Giơ tay lên cho ta thấy trước khi lại gần," một con người đội mũ đỏ nói.

Thủ lĩnh của chúng, ta nghĩ thế.

Ta từ từ bỏ tay khỏi dây cương.

Nhưng thay vì giơ chúng lên, ta rút phăng cây búa dài ra.

"Ngươi không hiểu ý ta rồi, lão khọm già," tên người đội mũ đỏ lại nói.

Đồng bọn của hắn đã sẵn sàng vũ khí: kiếm, thòng lọng, và một tá cung nỏ.

"Greefrglooorg," Skaarl gầm gừ, đã nhấc một chân lên định bỏ chạy.

"Tao kiểm soát được mà," ta bảo con thằn lằn trước khi quay sang đám người.

"Ta không bị dọa bởi đống vũ khí đẹp đẽ của các ngươi đâu.

Giờ ta chỉ cảnh báo một lần thôi.

Biến khỏi đất của ta.

Hoặc là."

"Hoặc là cái gì?" một gã người trẻ tuổi hơn hỏi.

"Lũ nhóc các ngươi tốt nhất nên biết mình phải đối đầu cùng ai," ta nói.

"Đây là Skaarl.

Thằn lằn sa mạc.

Và ta là Kled, Đại Đô Đốc của Quân đoàn kỵ – pháo binh kết hợp số Hai."

Nhiều tên người bắt đầu cười khúc khích.

Ta sẽ dạy dỗ chúng sớm thôi – đợi ta nói xong đã.

"Và điều gì khiến ngươi nghĩ đây là đất của ngươi?" gã người đội mũ đỏ cười hỏi.

"Nó là của ta.

Ta lấy nó từ tay lũ man tộc."

"Đây là tài sản của Lãnh chúa Vakhul.

Ngài được Tư Lệnh Tối Cao ban cho.

Nó là đất phân phong hợp pháp của ngài."

"À, Tư Lệnh Tối Cao!

Sao ngươi không nói thế nhỉ?!" ta nhổ xuống đất.

"Luật duy nhất một người Noxus chân chính tuân theo là sức mạnh.

Hắn có thể có nó nếu đủ sức lấy nó từ tay ta."

"Ngươi và con ngựa lùn xủn tốt nhất nên biến đi khi còn có thể."

Đôi khi ta quên mất con người không thấy chúng ta như chúng ta thấy chúng.

Dù vậy, đây vẫn là giọt nước làm tràn ly.

"XUNG PHONG!!!" ta giữ chặt cương, hét lớn.

Con thằn lằn sa mạc lao thẳng tới trước.

Ta định đáp trả một câu thật ngầu cơ, nhưng ta đi trước cả bản thân mất luôn.

Lũ ngươi xả ra loạt tên đầu tiên, nhưng Skaarl dựng tai lên.

Như hai cánh quạt khổng lồ, lớp da không thể xuyên thủng của nó che chắn cho chúng ta trước cơn mưa cung nỏ.

Nó gầm lên hạnh phúc khi xông qua khu trại tới chỗ tên thủ lĩnh đội mũ đỏ.

Kiếm chém chan chát lên người Skaarl, còn lưỡi rìu của ta thì vung vít.

Ta biến hai gã người thành món thịt băm nóng hổi.

Gã khốn đội mũ đỏ nhanh thật.

Hắn thụp người né lưỡi rìu vừa đúng lúc nó quét qua.

Một loạt tên khác lại bắn đến.

Skaarl la hét hoảng sợ.

Chẳng ai giết nổi nó, thế mà nó dễ bị dọa đến lạ.

Đúng là vấn đề với đám thú thần bí, không thể hiểu nổi chúng nữa.

Ta ghìm cương, và chúng ta quay ngược lại giữa đám người.

Hạ chúng thì thật dễ dàng, nhưng tên đội mũ đỏ thì hơi khó nhằn đó.

Rìu ta chém vào hắn – nhưng cú đánh bị chặn lại bởi lớp giáp nặng nề.

Dù sao thì nó cũng khiến hắn phải suy nghĩ tương đối.

Rồi cái máy bắn tên xạ kích.

Mũi tên dài hơn cả một toa tàu.

Nó dộng thẳng vào con thằn lằn, hất văng rìu khỏi tay ta, và đẩy cả hai ngã lăn xuống đất.

Skaarl không bị thương.

Nhưng nó quật ta ngã ngựa rồi bỏ chạy lên đồi.

"Con cờ-hó vô ơn!

Sắp thắng rồi cơ mà!" ta định nói câu gì đó hay ho hơn, nhưng những lời lẽ cứ lẫn cả vào với nhau.

Ta gượng đứng dậy.

Bụi và cỏ phủ đầy mặt ta.

Ta ném mũ về phía đường bỏ chạy của con thằn lằn hèn nhát kia, rồi quay lại đối mặt với gã người đội mũ đỏ.

Nhưng phía sau hắn, dưới chân đồi, là thêm một trăm tên khác.

Những chiến binh mang giáp sắt khát máu, và một cỗ máy bắn tên khổng lồ.

Mũ Đỏ mang theo bên mình gần cả một quân đoàn.

"Ngươi chẳng là gì ngoài một kẻ lén lút chết tiệt!" ta hét vang.

"Ngươi thì không giống thế lắm," hắn đáp, "nhưng ta đoán ngươi là kẻ đã khiến thủ hạ của Lãnh chúa Vakhul gặp nhiều rắc rối."

"Vakhul không phải một Noxus chân chính.

Lãnh chúa của ngươi có thể hôn chân con thằn lằn của ta đấy!"

"Có lẽ ta sẽ để ngươi chết rục trong những hầm đấu của Lãnh chúa Vakhul.

Nếu ngươi học được cách ngậm miệng lại."

"Ta sẽ cắt lưỡi ngươi để lau giày đấy!" ta gào lên.

Chắc là hắn không thích thế, bởi hắn và một trăm anh em bắt đầu xông đến chỗ ta, vũ khí giương cao.

Ta có thể chạy.

Nhưng không.

Chúng sẽ phải trả giá đắt nếu muốn hạ ta.

Mũ Đỏ nhanh đấy.

Hắn gần như chạm đến ta trước khi ta kịp nhặt vũ khí rơi trên đất lên.

Hắn tung cú đánh chí mạng.

Nhưng ta đã có khẩu súng giấu trong mình.

Vụ nổ hất hắn văng ra xa.

Nó cũng đẩy ta lùi lại luôn.

Ta loạng choạng.

Phát súng câu cho ta ít thời gian.

Nhưng không nhiều.

Lũ đồng bọn cũng áp sát nhanh không kém.

Thanh đao móc của chúng vung lên.

Ta sẽ chết giữa đống rác rưởi này.

Hừm, nếu đây là giờ phút cuối cùng của ta, ta phải khiến nó thật huy hoàng.

Khi tuyến đầu của quân địch tràn tới, ta rũ sạch bụi và bắt đầu điên cuồng đánh trả.

Nhưng chúng quá đông.

Ta bắt đầu mệt mỏi vì cố gắng và mất nhiều máu.

Rồi lũ chiến binh sắt gầm lên tiếng thét xung trận, chúng xông tới trong bộ giáp đen đặc.

Chúng chia làm hai nhóm, tạo nên thế gọng kìm.

Chúng tính dùng hai bức tường kim loại cán ta ra mỏng hơn cả một đồng xu Noxus.

Khỉ thật.

Mọi hy vọng sống sót của ta đã mất...

Và đó là lúc ta thấy nó.

Người bạn trung thành nhất, đáng tin nhất, chính trực nhất một gã tồi tệ như ta từng có.

Skaarl.

Phóng như bay về phía ta.

Nhanh hơn bất kỳ lúc nào.

Bụi bốc lên phía sau nó như đuôi sao chổi.

Con thằn lằn ấy thậm chí còn nhặt mũ lên cho ta trên đường trở lại.

Ta chạy tới chỗ nó vừa kịp lúc đám chiến binh đen kịt kia sắp nghiền nát ta.

Nhảy lên yên, ta cùng nó chạy vòng quanh lũ lính.

Để chúng lại sau đi, ta phải làm thịt cỗ máy bắn tên đã.

"Lâu rồi chúng ta mới hạ cả một đội quân cùng nhau đấy," I say.

"Greefrglarg," Skaarl kêu lên hạnh phúc.

"Ta cũng thế, bạn hiền," ta nói, cười ngoác miệng.

Bởi không có gì ta yêu mến hơn con thằn lằn ngốc nghếch này.
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
IVERN THỤ THẦN THÂN THIỆN


Trí khôn của loài nấm luôn làm ta ngạc nhiên.

Ivern Bramblefoot, được nhiều người biết đến với cái tên Thụ Thần Thân Thiện là một sinh vật kỳ lạ nửa người nửa cây lãng du khắp các khu rừng ở Runeterra, gieo mầm sự sống ở mỗi nơi ông ghé qua.

Ông biết những bí mật của thiên nhiên, và kết tình bằng hữu với tất cả những gì sinh trưởng, bay lượn, hay chạy nhảy.

Ivern đi giữa chốn hoang dã, truyền đạt tri thức cho bất kỳ ai ông gặp, làm tươi tốt thêm những cánh rừng, và đôi khi gửi gắm bí mật cho những chú bướm ngây thơ.

Những ngày đầu của Freljord, Ivern là một chiến binh cuồng bạo với ý chí sắt đá và lòng kiên định không gì lay chuyển nổi.

Tuy nhiên, ông không đủ sức mạnh chống lại tộc Iceborn - những kẻ chỉ coi Ivern cùng đồng loại là đám phàm nhân bất hạnh dám thách thức chúng.

Cùng họ hàng, ông âm mưu lật đổ lũ chủ nhân phù thủy này.

Ivern Tàn Bạo và quân đoàn dạn dày chinh chiến dưới quyền giương buồm từ hải cảng băng giá của Frostguard tới vùng đất xa xôi được truyền tụng là nguồn gốc của mọi ma thuật.

Nếu Ivern giành được quyền năng ấy cho riêng mình, ông có thể đánh bại tộc Iceborn.

Khi hạm đội khuất dần nơi chân trời, họ trôi khỏi ký ức và đi vào thần thoại, bởi không ai thấy họ nữa, và nhạt nhòa dần trong lịch sử Freljord như dấu chân trong gió tuyết mùa đông.

Đại dương kiên trì từ chối mục tiêu cao quý của họ bằng những con sóng cao ngất, làm lung lay quyết tâm của những con người kiên cường nhất.

Ivern, sau khi thanh trừng nhiều kẻ hèn nhát bằng thanh kiếm của mình, đã đổ bộ lên bờ biển Ionia và đánh bại không thương tiếc sự chống trả của dân bản xứ.

Người Ionia đầu hàng, và để dẫn quân Freljord đi vào cánh rừng thiêng Omikayalan, Trái Tim Của Thế Giới.

Phần đông thủ hạ của Ivern nghĩ đây là món quà cho những kẻ chinh phục, dấu hiệu của lòng trung thành.

Nhưng chính tại đó, trong khu vườn xanh tươi lạ thường ấy, họ đối mặt với sự kháng cự mãnh liệt nhất.

Một kẻ địch thần bí trỗi dậy.

Những sinh vật kỳ quái nửa người nửa thú săn đuổi đoàn quân ngày một ít dần, truy cùng diệt tận đám xâm lược.

Không nao núng, Ivern dẫn dắt chỗ tàn binh ít ỏi tìm được thứ thiêng liêng nhất với người Ionia: Liễu Thần, một cái cây khổng lồ phủ đầy lá tỏa sáng màu lục ánh vàng.

Trong lúc đám tay chân bị tàn sát trong đợt công kích cuối cùng, Ivern đứng sững bên cây thần.

Khao khát đập tan ý chí quân thù, ông nắm chắc cây rìu chiến và bổ vào cái cây với sức mạnh của mười người.

Ông không thấy tác động gì.

Ông không cảm thấy gì cả.

Chỉ có ánh sáng chói mắt khi ông đốn hạ cây Liễu Thần và dập tắt mọi sức sống trong nó.

Chuyện xảy ra tiếp theo còn lạ lùng hơn - tay ông hòa làm một với cây rìu chiến và lớp gỗ của Liễu Thần.

Tứ chi ông kéo dài ra, đầy mấu và xù xì thô ráp.

Ông bất lực đứng đó khi phần còn lại của cơ thể biến đổi dần.

Trong thoáng chốc, ông đã cao đến mười thước, ngó xuống chiến trường nơi những đồng đội đã bị sát hại.

Ông không thấy tim mình đập, nhưng ông đã thức tỉnh và giác ngộ.

Ông nghe một giọng nói sâu bên trong.

"Quan sát," nó nói.

Sau vài giây, những thi thể tan biến khi từng đoàn nấm sặc sỡ mọc lên.

Thịt thành nguồn thức ăn cho chim chóc và thú rừng.

Xương mục thành đất đai màu mỡ.

Hạt trái cây những kẻ chinh phục ăn đâm chồi tươi tốt.

Những ngọn đồi nhấp nhô như lá phổi dần được dưỡng khí tràn đầy.

Lá và cánh hoa rung rinh như những trái tim đủ màu sắc.

Từ quang cảnh chết chóc xung quanh ông, sự sống bùng nổ theo những cách khó ai tin nổi.

Ivern chưa bao giờ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp nhường ấy.

Sự sống muôn hình vạn trạng quấn quít lấy nhau như một nút thắt không mong được tháo gỡ.

Ông nhớ lại những sai lầm quá khứ, những hành động tàn bạo với kẻ khác, và thấy cảm giác buồn phiền ngập tràn.

Ông than khóc, những giọt lệ như sương mai trút xuống lớp vỏ cây và lá xanh giờ đã bao phủ khắp cơ thể.

Ta biến thành Liễu Thần rồi sao?

ông tự hỏi.

Rồi giọng nói bên trong Ivern nói cho một điều mới mẻ.

"Lắng nghe," nó nói.

Ông làm theo.

Mới đầu, ông chẳng nghe được gì.

Và rồi: tiếng rên rỉ của vô số động vật, tiếng than van của sông suối, tiếng kêu khóc của cây cối và tiếng nhỏ lệ của rêu mốc.

Chúng cất lên khúc ai ca cho cây Liễu Thần.

Cảm giác hối hận quét qua người Ivern, ông khóc lớn xin tha thứ.

Một chú sóc tí hon rúc dưới chân ông.

Ông thấy các sinh vật xung quanh nhìn mình chằm chằm.

Thực vật vươn rễ chạm tới ông.

Cả thiên nhiên hướng vào ông, và hơi ấm thứ tha truyền tới.

Cuối cùng, khi Ivern dời bước, hơn một thế kỷ đã trôi qua và thế giới đã đổi mới.

Cảnh bạo lực và tàn nhẫn trong con người cũ dội lại trong tim ông.

Ông sẽ không bao giờ quay lại làm một kẻ gieo rắc sự hủy diệt như thế nữa.

Ông thậm chí còn hỏi giọng nói bên trong mình, tại sao lại là ông?

Tại sao ông là được khoan dung?

Giọng nói cất lên lần thứ ba.

"Sinh trưởng," nó bảo.

Ông khó hiểu.

Ông phải sinh trưởng hay giúp thế giới này sinh trưởng đây?

Ông quyết định chắc là làm cả hai; sau tất cả, có ai không được hưởng lợi khi sinh trưởng thêm đâu?

Ivern nhìn vào chính mình, làn da như vỏ cây, nấm phủ trên cánh tay, gia đình sóc trú ngụ trong nơi ông vốn dùng để bao kiếm.

Cơ thể mới làm ông sững sờ.

Ông thấy mình có thể cắm chân sâu xuống lòng đất và trò chuyện cùng rễ cây và côn trùng: thậm chí bùn đất cũng góp ý kiến của chúng!

Ivern thấy mình nên khởi đầu bằng cách làm quen với tất cả cư dân trên thế giới, và ông làm thế.

Mất vài thế kỉ - chính xác là bao nhiêu thì Ivern cũng chẳng nói được, vì khi người ta vui vẻ thì thời gian trôi thật nhanh.

Ông đi khắp thế giới và kết tình bằng hữu thân thiết với mọi sinh vật đủ loại kích thước.

Ông quan sát những điểm yếu của chúng, thích thú tìm hiểu thói quen của chúng, và thỉnh thoảng cũng ra tay giúp đỡ.

Ông rút ngắn quãng đường chú sâu nhỏ phải đi, đùa giỡn với những bụi gai đỏ tinh nghịch, và vui cười cùng các trưởng lão nấm.

Mỗi nơi Ivern đến, rừng cây đâm chồi nảy lộc trong mùa xuân bất diệt và thú vật chung sống hòa hợp cùng nhau.

Nhiều dịp, ông giải cứu những sinh vật bị đám thú săn mồi vô tâm làm bị thương.

Và trong một dịp như thế, ông bắt gặp một cô người đá tội nghiệp đang nằm bên bờ cái chết.

Ông làm cho cô một trái tim mới từ sỏi.

Theo truyền thống của mọi loài có nguồn gốc khoáng thạch, cô người đá trở thành người bạn trung thành của Ivern.

Ông đặt tên cô là Daisy, theo tên loài hoa không hiểu sao mọc được trên người cô.

Từ đó đến giờ, nếu Ivern bị đe dọa, cô sẽ ngay lập tức chạy đến bên ông.

Đôi khi, ông chạm trán con người, và hầu hết họ đều tương đối hiền hòa.

Họ gọi ông là Bramblefoot hay Thụ Thần Thân Thiện và lưu truyền những câu chuyện về sự tử tế đến lạ lùng của ông.

Nhưng, họ lấy mới nhiều hơn cho đi làm sao, họ mới tàn nhẫn và "người" làm sao.

Ivern nản lòng, và ông không bầu bạn cùng họ nữa.

Rồi giọng nói trong ông cất lên lần thứ tư.

"Thể hiện," nó nói.

Ivern rời khu rừng và du hành ra ngoài thế giới tràn ngập nhân loại.

Quyết tâm ngày xưa trở lại, nhưng lần này không phải bị ác tâm hay tàn nhẫn thôi thúc.

Một ngày, ông hy vọng sẽ thay thế được những gì ông đã tước đoạt.

Nếu được gọi là Liễu Thần mới, ông cần phải vun trồng nhân tính, giúp họ quan sát, lắng nghe, và sinh trưởng.

Vốn từng là con người, Ivern biết chuyện này sẽ không dễ dàng, nên ông mỉm cười và tự thách thức mình hoàn thành nhiệm vụ đó trước ngày mặt trời tan biến.

Ông biết ông có đủ thời gian.

MÓN QUÀ NỌC ĐỘC

Với đa số người, một trăm năm là quãng thời gian thật dài.

Trong một thế kỷ, người ta có thể khám phá cả thế giới, gặp hàng nghìn người, hoặc hoàn thành vô số tác phẩm nghệ thuật.

Ai cũng dễ dàng cho rằng đứng một chỗ suốt trăm năm quả là lãng phí khủng khiếp.

Nhưng chính trong lúc đó, Ivern Bramblefoot lại đạt được nhiều thứ hơn bất kỳ ai.

Chẳng hạn, ông đã hòa giải một cuộc tranh cãi lâu đời giữa hội địa y và tảng đá cộng sinh cùng chúng, giúp từng thế hệ sóc tìm lại hạt dẻ bị bỏ quên, dỗ dành một nàng sói đơn độc trở về với bầy, dù họ từng gọi tiếng tru của cô là "inh tai."

Ngón chân Ivern đâm sâu xuống lớp đất mềm, luồn lách giữa những thân củ dày đặc và lũ giun đất thờ ơ để cuốn lấy bộ rễ các cây cổ thụ, và khu rừng quanh ông nở rộ.

Tất nhiên còn có nhiều nữa, nhưng những ví dụ trên là quá đủ để minh chứng cho một thế kỷ làm việc chăm chỉ rồi.

Mọi chuyện vẫn thuận buồm xuôi gió đến khi đám nguyệt quế bắt đầu thì thầm về những công việc hắc ám ngoài bìa rừng.

Thợ săn! họ hét lên qua bộ rễ, cảnh báo cả nửa cánh rừng.

Ivern biết nguyệt quế là loài dễ lo lắng, họ rung lá lên hoảng loạn chỉ vì một con sên bò qua, và sau cùng, săn bắt cũng không quá tệ, vì chẳng nên lãng phí hay bỏ qua thứ gì trong vòng đời cả.

Nhưng đám nguyệt quế làm bầy chim cổ đỏ nghĩ ngợi, rồi đến lượt chúng kể cho đàn bướm.

Nếu đàn bướm biết chuyện, thì cả khu rừng cũng biết.

Ivern đứng dậy, vỗ về đàn kiến có tổ vừa bị ông làm xê dịch, rồi vừa đi vừa rũ lớp vỏ cây bong tróc.

Càng tiến bước xuyên qua khu rừng, tiếng báo động càng ồn ào hơn.

Ba tên, lũ sóc liến thoắng.

Đôi mắt như hai vầng trăng máu, đám cua kỳ cục lắp bắp từ nơi ẩn náu.

Bọn chim cắt thề rằng những thợ săn này đang lùng kiếm trứng của chúng.

Hoa cúc ngà lo sợ cho những cánh hoa mỏng manh - và khiến cho Daisy, người rất yêu mến những bông hoa của mình, lo lắng.

Ivern trấn tĩnh từng người, và giục họ đi trốn đến khi rắc rối qua đi.

Ông vờ không nhận ra Daisy đang theo sau, vì cô nghĩ mình đi lại rất khẽ khàng.

Ông thấy một con shagyak tám sừng nằm chết trên thảm cỏ.

Ba mũi tên cắm sâu vào cổ.

Một giọt lệ trào ra khỏi đôi mắt Ivern, và chú sóc ông đặt tên là Mikkus bò lên ngực Thụ Thần Thân Thiện và lau nó khỏi gò má ông an ủi.

"Thợ săn lấy thịt làm thức ăn," Ivern nói lớn.

"Thợ săn chế tác xương làm đồ chơi và công cụ.

Thợ săn lấy lông làm quần áo và thuộc da làm giày."

Thi thể nằm đó đã mất đi tám cái sừng lấp lánh ánh ngọc trai.

Ivern chạm xuống đất, và một vòng cúc dại nở rộ quanh con shagyak đã qua đời.

Ông thấy một con rắn lục vảy đá trườn đi.

Rắn lục vảy đá thông minh trước tuổi nhiều.

"Aaaaan toàn chưa?" con rắn rít hỏi.

Ivern biết lũ rắn thường xấu hổ vì nói lắp và từng tránh dùng những âm khó đọc.

Ông đã thách họ sử dụng những từ họ sợ nhất, nhưng họ nằm lòng bài học đó và giờ chỉ nói những từ khó phát âm.

Loài rắn thường đạt được những thành tựu quá mức tưởng tượng.

"An toàn rồi, cậu bé."

Sinh vật tội nghiệp này hẳn đã chứng kiến tất cả.

"Cuộn mình ở đây và trông chừng con shagyak cho ta nhé," Ivern bảo nhóc rắn lục.

"Ta sẽ trở lại sau khi làm rõ chuyện này."

Sừng shagyak kêu lách cách không ngừng mỗi bước Risbell đi, đến nỗi cô phải dừng lại buộc túm chúng vào để tiếng ồn không dọa những con mồi sắp tới chạy mất.

Trên thượng nguồn, những cái sừng này đáng giá cả gia tài.

Dân thành thị trả giá cao cho những phương thuốc kỳ quặc lắm.

Niko, cô thợ săn hàm vuông chột mắt, phát hiện ra một loạt dấu móng guốc shagyak nữa.

Cô quay lại gọi Eddo, gã thị dân giàu có với cây cung xương cá voi.

Nụ cười đầy răng và đôi mắt hiểm độc của Eddo khiến Risbell, người trẻ tuổi nhất trong đoàn, rùng mình.

Phía trước, trên trảng cỏ, một con shagyak nữa đang nhấm nháp loại thức ăn yêu thích của nó.

Ba thợ săn chầm chậm tiến lại, lặng thinh, không làm xào xạc dẫu chỉ một cái lá.

Đồng loạt, cả ba giương cung lên và ngắm kỹ.

Đầu con shagyak vẫn cúi thấp, từ từ tận hưởng bữa tối, để lộ ra mấu thịt trên cổ.

Khi bị xuyên qua, cái bướu đó sẽ giữ cho máu chảy trong khi các thợ săn cắt sừng con vật.

Giữ cho con shagyak còn sống khi thu hoạch sừng là rất quan trọng để tăng hiệu lực của nó, Eddo đã nói vậy.

Mồ hôi nhỏ giọt xuống cổ cô khi chờ đợi con shagyak ngẩng đầu lên.

Vừa đúng lúc ấy, lớp cỏ trên trảng chợt mọc cao bất thường, từ xâm xấp mắt cả đến quá đầu người trong nháy mắt.

Ngọn cỏ vươn về hướng mặt trời, hoa nở rộ hàng hàng lớp lớp.

Bức tường thực vật hoàn toàn che phủ con shagyak.

Eddo buông rơi cây cung.

Con mắt lành lặn của Niko nhìn chòng chọc như muốn lồi ra.

Mũi tên của Risbell bất cẩn bay vụt vào không trung.

Cô không ra lệnh cho ngón tay buông dây.

Cô hoảng sợ tựa lưng vào cái cây gần nhất.

"Tôi đã bảo khu rừng này bị nguyền rủa mà," Risbell lẩm bẩm.

"Chúng ta phải đi ngay."

"Tôi từng đối đầu với yêu thuật trước đây rồi," Niko nói.

"Cứ làm theo lối cũ thôi."

Cô cho tên vào bao và rút ra con dao găm dài nơi thắt lưng.

Eddo làm theo.

Cả hai bảo Risbell ở lại trông coi đám sừng rồi lẳng lặng biến mất sau bức tường cỏ.

Cô nín thở chờ đợi, nhưng không thể nghe nổi tiếng chân của họ.

Một ngày, cô hy vọng mình có được sự im lặng chết chóc như các bạn đồng hành.

Tuy nhiên, cô vẫn không thể rũ bỏ cảm giác rằng bức tường trước mặt chính là một lời cảnh báo.

Bà cô từng kể chuyện về những sinh vật ma thuật kỳ quái lang thang trên thế giới này, và giờ những câu chuyện ấy lại gợi về.

Chuyện cho trẻ con thôi mà, cô tự nhắc mình.

Một âm thanh lạ lùng vọng qua trảng cỏ.

Không phải tiếng kêu của shagyak, mà là tiếng đá nên lên mặt đất thình thịch.

Dù cái gì gây ra âm thanh đó, nó cũng đủ để khiến Eddo và Niko bỏ chạy trối chết khỏi bụi cỏ.

Da họ tái nhợt, đôi mắt mở lớn.

Rồi có thấy thứ đã khiến hai người bạn đường tháo thân.

Một bông hoa cúc ngà nhảy múa phía trên ngọn cỏ.

Cảnh tượng thật khó hiểu.

Rồi Risbell nhận ra nó đang đến gần hơn.

Cỏ rẽ ra, để lộ một người khổng lồ đá phủ đầy rêu.

Một thể sống bằng hoa cương, cực kỳ mạnh mẽ và đi theo nhịp điệu.

Risbell đang choáng váng chưa biết chuyện gì xảy ra thì một giọng nói điềm tĩnh gọi tên sinh vật đó.

"Daisy!

Cẩn thận chứ.

Và... nhẹ nhàng thôi!"

Risbell túm lấy túi ngà, chạy theo Niko và Eddo, cố gắng nhớ lại con đường dẫn về nơi họ cắm trại.

Sau mỗi thân cây, một bức tường cỏ mới lại mọc lên.

Có gì đó rình rập bên trong đám cỏ, giẫm đạp lên lớp lá cây, và cười khúc khích khi Risbell quay vòng vòng tìm lối ra.

Cô đơn độc giữa khu rừng là, dưới mỗi cái cây, cỏ lại trỗi dậy gần như tức thời.

Risbell nhận ra mình đã bị lùa đi y như cách bà cô dùng để chăn cừu.

Biết rõ mình đang dấn thân vào một cái bẫy, Risbell nhún vai và đi theo đám cỏ.

Ivern quan sát cô thợ săn trẻ tuổi bước ra khỏi mê cung cỏ và lại gần thi thể con shagyak.

Sinh vật tội nghiệp kia trông hoảng sợ lắm.

Cô ta rõ ràng chưa từng thấy ai hay cái gì giống ông trước đây.

Ông cố tỏ ra nhã nhặn, nhưng con người có xu hướng phản ứng quá cá nhân.

"Vui lòng đừng hoảng sợ.

Trừ khi đó là bản tính của cô.

Trong trường hợp đó, cứ hoảng sợ đi.

Tôi sẽ đợi.

Không phiền gì đâu."

Ivern không có ý làm ai hoảng sợ cả.

Nhưng làm sao giải thích cho họ hiểu được chứ.

"Làm đi," Risbell nói, giọng cô run rẩy.

"Tôi đã xâm phạm, tôi biết.

Tôi đặt mình dưới lòng khoan dung của ngài.

Hãy làm nhanh đi."

"Nhanh?"

Ivern nhún vai.

"Chắc chắn rồi.

Tôi không thấy cô có chỗ nào tốt hơn để đi cả.

Tốt thôi."

Cô gái nhắm mắt lại và ngẩng cao đầu, để lộ cổ.

Cô lần tay xuống bao kiếm nơi thắt lưng và nắm chặt thanh đao.

Nếu hắn đến, sẽ có bất ngờ đấy.

"Nhưng tôi chỉ muốn biết tại sao," Ivern vui vẻ nói.

Ông chỉ những ngón tay như cành cây vào xác con shagyak.

Tay ông vươn dài hơn, chạm đến lưng con thú và nhẹ nhàng vuốt ve bộ lông dính máu.

Risbell rút dao ra và thấy đau nhói nơi mắt cá.

Cảm giác lạnh lẽo lan lên chân cô.

Khi nhìn xuống, cô thấy thủ phạm: con rắn lục vảy đá, loài độc nhất trên toàn Aulderwood.

Phần vì tức giận, phần vì bản năng, cô bổ xuống con rắn.

"Không!"

Ivern hét lớn.

Rễ cây mọc lên từ đất và túm lấy tay cô, ngăn lại đòn đánh.

Chúng quấn quanh cổ tay, mắt cá và đầu gối cô.

Cô buông rơi con dao trong lúc vùng vẫy thoát ra.

"Tôi sắp chết!" cô hét.

Chất độc lạnh lẽo đã lan qua đầu gối.

Con rắn trườn đến dưới chân Ivern và leo lên ngươi ông đến khi biến mất dưới nách.

Nó hiện ra từ phía sau đầu ông, cuộn mình quanh một nhánh cây và thè cái lưỡi chẻ ra liếm tai Ivern.

"Xxxxxin lỗi," con rắn rít lên.

"Gggggiật mình."

"Làm ơn," Risbell nói.

"Giúp tôi."

Ivern nghĩ mất một giây.

"À vâng!"

Đôi mắt ông ta sáng lên.

"Có một thứ yêu mến shagyak.

Đặc biệt là những con đã chết.

"Và vui lòng tha lỗi cho Syrus; nó vừa mới sinh và không biết cách kiểm soát nọc độc.

Tôi e nó đã cho cô nguyên liều rồi.

Nó nhờ tôi bảo cô nó rất xin lỗi.

Cô làm nó giật mình và nó hành động thuần túy theo bản năng thôi," Ivern nói.

"Giờ, quan sát nhé."

Người cây quỳ xuống trước xác con shagyak, nhắm mắt lại, và ngân nga một khúc ca sâu lắng.

Đôi tay ông đặt trên đất, ngón tay xòe rộng.

Tia sáng xanh đổ từ trên đầu xuống cánh tay, rồi xuống mặt đất.

Nấm mọc lên từ thi thể, mới đầu nhỏ, xong lớn dần trong lúc xác con shagyak phân hủy.

Rất nhanh, chỉ còn lông, xương và một quân đoàn nấm tím.

"À, nấm chữa chích," Ivern thở phào.

Ông nhẹ nhàng nhổ một cây.

"Luôn luôn đúng lúc."

Dây leo rút khỏi người Risbell.

Cô đổ xuống một đống.

Đôi tay ngay lập tức ôm lấy trái tim.

Nọc rắn lục đã lan đến ngực.

"Ăn cái này đi," Ivern nói, đưa cây nấm tím cho cô gái đang hấp hối.

"Nó không ngon lắm, nhưng cũng không đến nỗi quá dở đâu."

Risbell không hiểu lão người cây kỳ lạ này định làm gì, nhưng lúc này cô đâu có nhiều lựa chọn.

Giọng nói vọng lại từ quá khứ.

Bà của cô.

Tin vào thiên nhiên đi; Thụ Thần Thân Thiện không bao giờ dẫn con đi sai đường đâu.

Cô chộp lấy cây nấm từ tay Ivern.

Nó có vị như trà đắng và phù sa; bữa ăn cuối cùng đáng thất vọng.

Rồi cái lạnh như băng quanh tim cô tan ra và rút dần.

Trong vài phút, chân cô lại cử động được.

Trong lúc cô hồi phục, Ivern làm một bài thuốc bằng lá, nhựa cây, và nước từ suối nguồn ông tìm ra bằng ngón chân.

Ông đổ nó vào cái tổ chim cắt thả xuống tay.

"Là ông đúng không?

Thụ Thần Thân Thiện."

Ivern nhún vai như thể không biết.

"Cô biết chúng ta làm gì ở đây được không?"

ông nói, hướng sự chú ý sang đống xương shagyak.

"Rêu luôn thích những chỗ thế này."

Ngay khi ông nói thế, một tấm thảm rêu dày phủ lên đống xương.

Cùng với nấm, chúng khiến cảnh tượng tang thương trước đó trở nên tươi đẹp.

"Sheldon sẽ thích những gì diễn ra với bộ xương của nó.

Lửng sẽ dùng xương sườn của nó làm chỗ trú bão mùa thu.

Không gì bị lãng phí cả," Ivern nói, hướng sự chú ý sang Risbell.

"Nghe có vẻ vô lý, nhưng lại hợp lý đến hoàn hảo.

Nếu nó không chết, thì cô sẽ không sống."

"Chúng tôi chỉ muốn sừng," Risbell nói.

Cô cúi gằm mặt xuống vì xấu hổ.

"Người giàu muốn có chúng.

Sẵn sàng trả hậu hĩ."

"Ta vẫn nhớ tiền.

Nó hiếm khi là một động lực tốt."

"Tôi biết chúng tôi không nên làm điều đó.

Bà tôi từng bảo tôi rằng nếu phải xuống tay, con phải tận dụng tất cả để vinh danh con vật đó."

"Tôi mong được gặp bà cô lắm," Ivern nói.

"Bà đã về với đất rồi."

"Và đất vinh danh bà."

"Tôi rất tiếc," Risbell nói sau một thoáng im lặng.

"Mọi sự sống đều đáng quý."

Sự ân cần, ấm áp và khoan dung trong giọng nói của Ivern khiến Risbell bật khóc.

Ivern vỗ nhẹ lên đầu cô.

"Tôi có thể đã không tự mình xử lý tốt mọi chuyện.

Tôi có rất nhiều điều để nhớ về con người, và có rất nhiều điều tôi quên mình đã từng học được."

Ivern giúp Risbell đứng dậy.

"Tôi phải đi đây.

Tôi đã hứa với nòng nọc Hồ Phương Nam rằng tôi sẽ giám sát cuộc bầu chọn vua lá súng.

Một cuộc đua gay cấn đấy."

Một lát sau, Risbell rời khỏi rặng cây gần sông.

Sau khi hớp vài ngụm nước, cô đào một cái hố và nhẹ nhàng đặt đống sừng shagyak vào trong.

Cô bốc một nắm đất và ngân nga những lời nguyện cầu danh dự mà bà cô đã dạy.

Cô lặp lại nghi lễ đến khi đám sừng được chôn lấp.

Rồi cô cúi đầu tỏ lòng tôn kính và rời đi.

Từ sâu trong rừng Aulderwood, Ivern mỉm cười trước cử chỉ ấy.

Đàn shagyak sẽ tự hào lắm đây.
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
CAMILLE BÓNG THÉP


Được vũ trang để hành án bên ngoài ranh giới luật pháp, Camille là điệp viên tinh nhuệ đảm bảo cho cỗ máy Piltover và khu Zaun bên dưới hoạt động trơn tru.

Sức mạnh thực sự của Camille nằm ở khả năng thích nghi và lưu tâm đến từng chi tiết; cô coi mọi kỹ thuật vụng về là một sự xấu hổ cần phải đặt lại đúng chỗ.

Trưởng thành giữa gia quy và tiền bạc, cô là Đội Trưởng Tình Báo của Nhà Ferros, nhận trách nhiệm giải quyết những sự vụ hắc ám với độ chính xác của một bác sĩ phẫu thuật.

Sở hữu trí tuệ cũng sắc bén như lưỡi dao cô sử dụng, Camille theo đuổi sự ưu việt thông qua nâng cấp cơ thể bằng Hextech, khiến nhiều kẻ thắc mắc liệu phần máy trong cô có nhiều hơn phần người không.

Tài sản của gia đình Camille phần lớn có được nhờ khai thách tinh thể hiếm từ sinh vật bản địa ngoài sa mạc xa xôi.

Những ma-tinh-thể đầu tiên, hay "tinh thể đầu tiên," chứa sức mạnh thường chỉ dành cho ai có tiềm năng ma thuật bẩm sinh.

Bà cố của Camille, Elicia, đã mất một cánh tay, thậm chí suýt mất mạng, trong công cuộc khám phá sơ khai ấy.

Sự hy sinh đó mãi được ghi nhớ, và vẫn còn hiện hữu trong châm ngôn của Nhà Ferros ngày nay, "Vì gia tộc, tôi hiến dâng."

Giống loài Elicia tìm ra, tộc Brackern, không phải nguồn tài nguyên vô tận, và gia đình Camille phải tìm cách nâng cấp các tinh thể họ đã tích lũy được.

Sau một số vụ đầu tư mờ ám vào hóa kỹ và giả kim thuật cổ ngữ, Nhà Ferros tung ra thị trường loại ma-tinh-thể tổng hợp tuy không mạnh nhưng dễ sản xuất hơn.

Những thứ như thế thường đi kèm nhiều hậu quả, và quá trình sản xuất tinh thể tổng hợp nghe đồn có "đóng góp" to lớn vào Zaun Xám.

Sinh ra trong một gia tộc giàu có ở Phố Gió Xanh nổi tiếng Piltover, Camille là người con thứ sáu của Rhodri và Gemma, sau này là tộc trưởng Nhà Ferros.

Tuy nhiên, chỉ có Camille và em trai, Stevan, là qua được đến tuổi trưởng thành.

Gia đình tập trung hết vào Camille, người con lớn nhất còn sống sót.

Họ không tiếc công sức của cải đổ vào giáo dục cô, để cô thấm nhuần phong thái quý tộc và ý thức nghĩa vụ từ sớm.

Tinh anh trên toàn Valoran ghé qua Piltover, nên Camille chẳng thiếu những gia sư tài giỏi.

Do đó, cô nói thông thạo phương ngữ Zhyun ở Nam Ionia và tiếng Ur-Noxus.

Khi còn nhỏ, Camille được khuyến khích nghiên cứu lịch sử Valoran, và đã học cách đọc viết chữ Shurima Cổ trong lúc giúp cha đào xới ở Thung Lũng Odyn.

Camille cũng trở thành một nhạc sĩ tài năng và có thể chơi đàn cellovinna ở mức thượng thừa.

Trong các gia đình đứng đầu Piltover, tục lệ đặt ra là một đứa trẻ nhỏ hơn sẽ khoác lên mình tấm áo choàng của Đội Trưởng Tình Báo, thanh kiếm và tấm khiên của dòng họ.

Người được chọn chịu trách nhiệm hành động vì lợi ích cao nhất cho một gia tộc Piltover, phối hợp với tộc trưởng để đảm bảo sự phát triển không ngừng bằng mọi biện pháp cần thiết.

Nhà Ferros, với vô số bí mật, luôn coi trọng vị trí này, dồn nhiều tài nguyên nhằm chắc chắn điệp viên của họ lúc nào cũng là số một.

Em trai Camille, Stevan, sinh ra với thể trạng yếu ớt không đủ khả năng đảm đương vị trí đó.

Bố mẹ cô – nhất là bố – cực kỳ tự hào khi Camille thay thế Stevan làm Đội Trưởng Tình Báo.

Stevan nén nỗi đố kỵ nhìn Camille đón nhận thêm những đợt huấn luyện mới.

Cô nhanh chóng tinh thông giao chiến, gián điệp, và thẩm vấn.

Các kỹ thuật yêu thích của Camille là chiến đấu bằng cước kiếm Shon-Xan, thu thập tình báo bằng phương pháp điều tra truyền thống, và bay lượn trên tòa tháp đồng hồ cũ với bộ dây móc xuất xứ từ Quần Đảo Rắn Tây.

Năm Camille 25 tuổi, cô cùng cha bị tấn công bởi một băng nhóm nâng cấp cơ thể.

Chúng quyết định lên số trong thế giới ngầm Zaun bằng cách can thiệp vào các hoạt động sinh lợi bí mật của gia đình.

Cả hai đều bị thương, nhưng Camille hồi phục được, còn cha cô đầu hàng cái chết.

Không lâu sau, mẹ cô cũng qua đời vì không chịu nổi nỗi u sầu phủ lên khắp ngôi nhà.

Chức tộc trưởng chuyển sang cho Stevan.

Trẻ tuổi, hăng hái và khát khao chứng tỏ mình là một thủ lĩnh mạnh mẽ, Stevan đẩy mạnh gấp đôi hoạt động nghiên cứu nâng cấp con người bằng Hextech.

Sau một năm than khóc, Nhà Ferros trang hoàng lại dinh thự cho buổi trình diễn nhân Ngày Tiến Bộ sắp tới.

Đích thân Stevan giám sát lễ nhậm chức của Hakim Naderi, một tinh thể gia trẻ đầy hứa hẹn đến từ thành phố duyên hải Bel'zhun ở Shurima, làm kỹ sư trưởng của gia đình.

Nản lòng vì không thể bảo vệ cho cha, Camille yêu cầu Hakim nâng cấp Hextech để đưa sức mạnh của cô vượt ngoài cơ thể nhân loại.

Khi gặp Camille, Hakim ngay lập tức phải lòng cô và quyết tâm đưa cô ra khỏi bóng tối đang bủa vây sau cái chết của song thân.

Họ dần gắn bó qua những ngày làm việc và những câu chuyện kể đêm khuya về sa mạc Shurima.

Sau nhiều tháng cộng tác cùng nhau, cuối cùng Camille cũng không thể phủ nhận tình cảm của mình với Hakim.

Ngày nâng cấp Camille càng tới gần, hai người càng liều lĩnh hơn, bởi họ biết cuộc phẫu thuật sẽ đánh dấu chấm hết cho khoảng thời gian gần gũi này.

Hakim sẽ chuyển sang các dự án khác của gia đình, và Camille sẽ lại lần nữa hiến mình cho nghĩa vụ Đội Trưởng Tình Báo.

Còn hơn thế, Hakim lo rằng, khi cắt bỏ trái tim Camille, anh có thể quá tay và tước luôn nhân tính của cô nữa.

Vài ngày trước khi phẫu thuật, Hakim đã gạt bỏ mọi điều kìm nén bấy lâu.

Anh cầu hôn Camille, mong cô bỏ đi cùng mình.

Anh vẽ nên bức tranh về tương lai – lang thang trên mặt cát ấm áp của Bel'zhun, khám phá những tàn tích của Shurima Cổ, nuôi lớn con cái – một tương lai thật xa cách với bổn phận đang ràng buộc Camille với gia tộc.

Lần đầu tiên trong đời, Camille lưỡng lự.

Vị trí tộc trưởng của Stevan phụ thuộc nhiều vào khả năng thi hành mệnh lệnh của Camille.

Khi biết chuyện bí mật này, cậu thấy nguy hiểm đến gần khi Đội Trưởng Tình Báo sắp tuột mất, cùng với đó là quyền kiểm soát trong Nhà Ferros.

Stevan vạch ra kế hoạch nhắc nhở Camille về trách nhiệm cô đã thề trước cha họ.

Lần gặp nhau tiếp theo giữa Camille và Hakim, cậu dàn cảnh bị tấn công.

Dùng chính sự yếu đuối đã ngăn cậu đảm đương vị trí kia, Stevan xuất hiện trước mặt chị gái, người đầy máu và vết bầm dập, gợi lại những ký ức u tối trong đêm cô không làm nhiệm vụ với cha.

Camille không thể chối bỏ bằng chứng rành rành ra đó, bằng chứng về điều có thể xảy ra khi sự chú tâm của một điệp viên bị phân tán.

Hakim van nài Camille, nhưng cô không nghe.

Cô nắm giữ một phận sự đã có từ nhiều thế hệ trước, một phận sự mà, nếu chuẩn bị tốt hơn, cô đã cứu mạng được cha và ngăn những tổn thương cho em trai.

Camille kiên quyết tiến hành phẫu thuật và chấm dứt quan hệ với Hakim.

Hakim vẫn yêu Camille và biết anh là người duy nhất đủ sức thực hiện phẫu thuật an toàn.

Không thể để tình yêu của đời mình chết trên bàn mổ, anh cắt bỏ trái tim Camille như cô yêu cầu.

Sau khi chắc chắn trái tim cơ khi mới sẽ đập mà không cần anh tác động, Hakim rút lui.

Camille tỉnh dậy và thấy căn phòng thí nghiệm cô cùng Hakim từng chia sẻ nay đã trống không.

Camille vùi mình vào công việc, tiến hành những biến đổi tinh vi hơn dưới dạng chân kiếm, eo phóng dây, và một số nâng cấp Hextech nhỏ.

Mỗi lần như thế, Camille và công nghệ đầy tham vọng lại được đẩy đến giới hạn.

Nó khiến nhiều người tự hỏi quý cô kia còn bao phần nhân loại.

Nhà Ferros càng hùng mạnh và giàu có, các sứ mệnh Camille thực hiện cho em trai càng hắc ám và chết chóc hơn.

Nhờ rung động cải lão hoàn đồng của trái tim Hextech, Camille không hề già đi theo thời gian, và Hakim Naderi dần trôi vào dĩ vàng.

Nhưng năm tháng không buông tha em trai cô.

Cơ thể Stevan ngày một suy yếu, song cậu vẫn chưa buông lỏng bàn tay sắt của mình với chức vụ tộc trưởng.

Trong một nhiệm vụ gần đây, Camille khám phá ra một chuỗi sự kiện tiết lộ âm mưu thâm độc của Stevan.

Những lời dối trá để xua đuổi Hakim giờ đang đe dọa tiêu diệt Camille và toàn gia tộc.

Cô thấy rõ con người em trai: tham lam, ích kỷ và không còn vì lợi ích cao nhất của gia đình nữa.

Lúc đó, cô từ bỏ chút tình thân cuối cùng và giành quyền lãnh đạo Nhà Ferros.

Giờ Camille điều hành công chuyện của gia đình thông qua người cháu yêu được cô ủng hộ làm tộc trưởng.

Nó cho phép Camille tiếp tục thực hiện những chiến dịch mờ ám nhằm đảm bảo thành công của dòng họ.

Cống hiến hết mình cho vai trò giải quyết những vấn đề khó khăn, Camille sẵn sàng đón nhận những chuyển đổi siêu-nhân-loại và sức mạnh nó đem lại.

Năng lượng ma-tinh-thể căng tràn trong huyết quản, Camille không bao giờ hài lòng với việc ngồi im một chỗ, thay vào đó cô được tiếp thêm sinh lực từ những điệp vụ được thi hành hoàn hảo, một tách trà mới pha, và những chuyến đi dài hơi nơi Zaun Xám.
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
RAKAN


Thất thường mà quyến rũ, Rakan là kẻ gây rối nổi tiếng của vastaya và vũ sư chiến trường vĩ đại nhất trong lịch sử bộ tộc Lhotlan.

Đối với dân cao nguyên Ionia, tên anh từ lâu đã đồng nghĩa với những lễ hội hoang dã, những bữa tiệc không kiểm soát nổi, và âm nhạc hỗn loạn.

Ít ai ngờ rằng anh cũng là chiến hữu của kẻ nổi loạn Xayah, và hết mình cho lý tưởng của cô.

Ngoài bìa rừng sâu cổ xưa thần bí của Ionia, những vastaya Lhotlan cuối cùng đang sinh sống.

Đó là một nơi ma thuật tràn ngập không trung và thời gian chẳng có mấy ý nghĩa.

Với những sinh vật lạ lùng này, thế giới phàm tục không khác nào một sa mạc khô cằn, cạn kiệt ma thuật.

Ít người sẵn lòng đi xa khỏi vùng đất đang thu hẹp dần của họ, nhưng Rakan từ lâu đã bước trên con đường rủi ro đó.

Anh chu du dọc theo dòng chảy ma thuật của thế giới, như một nhà thám hiểm, một sứ giả, và một người hát rong cho bộ tộc.

Là một kẻ lang thang được chào đón ở bất kỳ quán trọ hay hội làng nào, Rakan hài lòng với những cuộc phiêu lưu giản đơn trên đường phố...

đến khi anh có cơ may gặp gỡ Xayah tại hội thu hoạch ở Vlonqo.

Nhìn thấy cô trong đám đông, Rakan biểu diễn một ca khúc cổ, thu hút toàn bộ thị trấn với bộ cánh lấp lánh của mình.

Dù vô số phụ nữ nhân loại và vastaya đã đổ gục vì điều đó trong quá khứ, Quạ Tím dường như miễn nhiễm trước sự quyến rũ của anh.

Sao cô nhìn thấy anh mà vẫn chưa chịu đi theo nhỉ?

Một câu đố khó có lời giải.

Tò mò, vũ sư chiến trường quyết định đi theo Xayah trong các chuyến hành trình của cô.

Anh bị thu hút trước cách cô tương tác với thế giới.

Cô dường như luôn chuẩn bị sẵn sàng, xa cách, và tập trung trong khi anh phớt lờ, niềm nở, và nhẹ dạ - nhưng trong mọi tình huống nguy hiểm, họ chiến đấu cùng nhau với sự hòa hợp không tưởng.

Rất nhanh, cả hai trở nên không thể tách rời.

Sau nhiều tháng kết thân, Rakan bắt đầu nhìn thế giới qua đôi mắt của Xayah.

Được lý tưởng của cô truyền cảm hứng, anh gia nhập cuộc thập tự chinh nhằm giành lại sức mạnh của vastaya, và lấy lại tất cả những gì đã mất.

Nhờ Xayah, anh đã tìm ra mục đích đời mình, và Rakan đã rơi vào lưới tình.
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
XAYAH


Chuẩn xác đến chết người, Xayah là một nhà cách mạng vastaya đang đích thân tiến hành cuộc chiến để giải cứu dân tộc.

Cô sử dụng tốc độ, sự tinh quái, và bộ lông vũ sắc như dao để tiêu diệt mọi kẻ ngáng đường.

Xayah hoạt động cùng chiến hữu và cũng là chồng cô, Rakan, để bảo vệ chủng loài đang dần biến mất của mình, và phục hồi vinh quanh xưa cũ của họ.

Khi còn bé, Xayah rất thích nghe cha hát những khúc dân ca về các anh hùng vastaya.

Giai điệu ngân nga đưa cô về thời đại đã bị quên lãng từ lâu, khi linh giới tự do nhảy múa giữa thế giới vật chất.

Nhưng, cứ sau một thế hệ, nhân loại lại tiến sâu hơn vào lãnh thổ Lhotlan, quấy nhiễu nguồn tinh hoa nguyên sơ và hỗn độn của Ionia vì mục đích cá nhân.

Không chịu đứng đó và nhìn dòng giống suy tàn, Xayah phớt lờ ý chỉ của tộc dân và đi ra ngoài nói lý lẽ với con người.

Cô du hành đến những ngôi làng nằm ngoài vùng hẻo lánh quê hương, và nhận ra mình biết về thế giới bên ngoài mới ít ỏi làm sao.

Một nhóm dân làng nghèo khó tấn công cô, có kẻ còn cố giật lông vũ của cô để làm chiến tích.

Những người khác thì khiếp sợ vẻ ngoài kỳ lạ của cô và gọi chính quyền đến, buộc cô phải ra tay tự vệ.

Ai tấn công Xayah sẽ rất nhanh chóng được nếm trải sự nguy hiểm khi đứng chắn đường cô đi, khi đám lông vũ ghê gớm cắm vào người họ.

Chán nản, cô trở về nhà và phát hiện cả bộ tộc, trong đó có cha cô, đã biến mất không dấu vết.

Một ngôi đền vastaya cổ đã bị ma thuật hắc ám tiêm nhiễm, cắt đứt mối liên kết giữa nó và linh giới.

Xayah phá hủy ngôi đền để ngăn chặn xâm thực.

Gần như ngay lập tức, phép thuật ùa ra khắp vùng đất xung quanh.

Cảnh tượng thật đẹp, nhưng bộ tộc của cô vẫn không thấy tăm tích.

Sau nhiều năm đột nhập vào những thành lũy kiên cố nhất và để lại vài thi thể, cô được đặt biệt danh "Quạ Tím."

Cô sống một mình, chỉ tập trung vào nhiệm vụ kế tiếp, và bước kế tiếp đến tự do cho chủng tộc.

Nhưng rồi cô gặp một vastaya khác, người sẽ thay đổi cuộc đời cô vĩnh viễn.

Khi xâm nhập vào thị trấn hẻo lánh Vlonqo để tìm kiếm một cổ vật vastaya bị đánh cắp, cô ngạc nhiên khi nhìn thấy cảnh tượng lạ lùng của một đám người đầy phấn khích.

Phía trước họ, trên sàn, một vũ công hào hoa đang trình diễn, một chú công vàng thực sự, cất lên những bài hát vastaya cổ xưa cho đoàn khán giả bị mê hoặc của mình.

Khi anh kết thúc buổi diễn bằng với một loạt mánh rẻ tiền – Xayah thấy như thế - đám đông vỡ òa ra và gọi tên anh: "Rakan."

Anh cúi mình chào điệu nghệ.

Đúng là trò hề.

Xayah quên phắt tay nghệ sĩ đó, và hoàn thành nhiệm vụ.

Cô trốn thoát, nhưng phải thừa nhận rằng công việc dễ dàng hơn hẳn khi tên hề kia làm cư dân Vlonqo phân tâm.

Dù đã thề không bao giờ gặp lại gã "Rakan" này lần nữa, nhưng xem ra cô không thể rũ bỏ anh khỏi tâm trí.

Một cảm giác lạ lùng và phức tạp; có thứ ánh sáng trong tâm hồn anh ta mà cô thấy lôi cuốn đến khó chịu.

Trên đường rời thị trấn, đầu óc Xayah ngập tràn suy nghĩ, khiến cô không phòng bị một thoáng trước cuộc tập kích của một đội lính đánh thuê.

Cô trông đợi một trận chiến, để có thể thoải mái nhuộm đỏ bộ cánh của mình.

Đánh lộn đã đời có lẽ là liều thuốc giải hoàn hảo cho những cảm giác vô dụng không mong muốn này.

Đó là khi Rakan thực hiện màn xuất hiện hoành tráng.

Xayah nhấn mạnh rằng cô không cần sự giúp đỡ của tay vastaya phô trương này.

Rakan nhấn mạnh lại rằng anh chẳng quan tâm – anh chỉ không muốn bỏ lỡ cuộc vui.

Trong suốt cuộc chiến, Rakan chứng tỏ mình là một đồng minh không chính thống, nhưng mạnh mẽ và hiệu quả đến bất ngờ.

Anh nhảy múa, xoay vòng khiến những kẻ tấn công không thể rời mắt, cho Xayah đủ thời gian để hạ gục tất cả bằng sự chính xác kinh người của cô.

Mặc cho cô phản đối, Rakan tiếp tục đi theo Xayah.

Dần dần, cô bắt đầu đón nhận sự đồng hành của anh và – dù mới đầu cô thấy ghê tởm khi phải thừa nhận – thế giới không tồi tệ và cô đơn đến thế.

Họ trở nên không thể tách rời, khi lý tưởng vastaya của cô lan sang vị vũ sư chiến trận.

Cô chấp nhận lối sống tự do của anh, tận dụng hỗn loạn Rakan tạo ra để đánh lạc hướng quân thù.

Cùng nhau, họ tranh đấu để giải phóng dòng chảy ma thuật cuồn cuộn của Ionia để vastaya có thể trỗi dậy lần thứ hai.
 
Back
Top Dưới