Khác Tiểu sử của các tướng LMHT

Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
Braum


Được ban cho những cơ bắp cuồn cuộn, một trái tim vĩ đại và một bộ ria huyền thoại không ngừng mọc dài, Braum được mọi người yêu mến.

Mỗi đứa trẻ sinh ra giữa vùng băng giá này đều biết về sức mạnh trong truyền thuyết của anh, thứ sức mạnh có thể đốn sạch cả rừng thông tuyết chỉ trong một đêm, hay phá tan sườn núi chỉ với tay không.

Mang trên lưng tấm khiên khổng lồ tối kiên cường, anh đi khắp thế gian, trở thành một người bạn của những ai cần giúp đỡ hoặc một kẻ thù đáng sợ của những tên dám làm điều xấu xa.
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
Brand


Con trai của một trị liệu sư người Freljord, Kegan Rodhe sinh ra đã bị xa lánh.

Chút phép thuật và khả năng điều chế thảo dược của mẹ gã cho phép cả hai sống qua ngày ở một thôn nhỏ ven biển có tên Rygann's Reach.

Từ khi còn nhỏ, gã đã biết cha mình là một cướp biển, và ông ta—cũng như Kegan—là lý do mẹ gã phải trốn tránh.

Dân làng gọi gã là "con hoang của cướp biển.

Sự cô độc và phẫn uất âm ỉ trong Kegan, thường chuyển thành bạo lực.

Sau nhiều năm khổ cực, cơ thể yếu ớt của mẹ gã cuối cùng cũng gục ngã.

Trong lúc rải tro của bà, Kegan nghĩ về những người bà đã dành cả đời để trị liệu.

Chẳng ai đến viếng.

Gã biết họ mong gã biến mất trong gió lạnh luôn cho rồi.

Gã sẽ làm thế, nhưng phải sau khi trả thù đã.

Gã thiêu rụi ngôi làng rồi chạy trốn trong đêm, đến khi chỉ còn mình gã với những vết sẹo chẳng bao giờ chữa lành.

Kegan lang thang trên đài nguyên băng giá ở Freljord.

Gã tự bảo rằng mình đang đi tìm cha, nhưng sâu trong tâm can, gã biết gã đang mong mỏi một người bạn... hoặc ít nhất là một gương mặt thân thiện.

Tìm hoài chẳng thấy, gã chui vào trong một cái hang chờ chết.

Nhưng cái chết không đến với gã, mà là một kẻ bị xa lánh khác.

Vị pháp sư thần bí Ryze nhìn thấy tiềm năng bên trong gã trai sắp chết cóng này, và thu nhận gã làm đồ đệ.

Hai thầy trò chật vật trước thứ ma thuật hoang dại của Kegan, và mọi lời yêu cầu kiên nhẫn cùng khiêm nhường của Ryze đều bị gã bỏ ngoài tai.

Không may, dạy dỗ Kegan chỉ đứng hàng thứ hai so với nhiệm vụ chính của Ryze.

Từ lâu, ông đã đi tìm kiếm và ẩn giấu một thứ sức mạnh có thể hủy diệt Runeterra—những Cổ Ngữ Thế Giới huyền thoại.

Sau khi lần ra một mảnh như thế, Kegan đối mặt với chính sự cám dỗ đã khiến nhiều kẻ trước gã điên loạn.

Cổ Ngữ là ngọn nguồn mọi ma thuật trên thế giới và, chẳng bận tâm lời cảnh báo của sư phụ, gã chọn cách chiếm đoạt sức mạnh đó cho riêng mình.

Ryze bất lực nhìn đồ đệ của mình bị ma thuật nguyên thủy thiêu đốt, linh hồn Kegan bị nuốt chửng hoàn toàn.

Sinh vật sinh ra trong thời khắc đó không còn là kẻ được Ryze cứu khỏi tuyết lạnh nữa, cũng chẳng phải tay pháp sư Freljord ông từng coi là bạn.

Sinh vật rực lửa đầy hận thù và cuồng nộ đang đi trên thế giới phàm tục này giờ được gọi là Brand.

Nguyền rủa người thầy cũ, cũng như mọi vật sống chắn giữa gã và các Cổ Ngữ, Brand giải phóng hàng loạt cột lửa ma thuật, và Ryze thoát chết trong gang tấc.

Nhiều thế kỉ đã trôi qua kể từ ngày đó, Brand vẫn tồn tại như một ngọn lửa cuồng loạn, lấy đi mọi thứ và chẳng trả lại bất kỳ thứ gì.

Có lúc, gã bay ngang bầu trời như một ngôi sao chổi.

Lúc khác, gã chìm xuống đất lạnh và say ngủ, chờ đợi chút dấu vết dẫn gã tới một Cổ Ngữ Thế Giới khác... và nếu gã tìm ra, có rất ít người trên Runeterra này đủ sức ngăn gã lại.
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
Blitzcrank


litzcrank là một người máy hơi nước khổng lồ, gần như không thể bị phá hủy vốn được tạo ra để dọn dẹp rác thải độc hại ở Zaun.

Tiến hóa vượt khỏi mục đích ban đầu, Blitzcrank quên mình sử dụng sức mạnh và sức bền của nó nhằm bảo vệ người khác.

Có khả năng nhìn thấu vỏ bọc ngụy tạo che giấu ý đồ thực sự, Blitzcrank luôn xuất hiện giúp đỡ những ai cần điều đó.

Không lâu sau khi hextech phát triển, các nhà phát minh và nhà khoa học đổ dồn đến Zaun, nơi họ có thể thử nghiệm những vật liệu không ổn định bị luật pháp Piltover nghiêm cấm.

Kết quả thường là thảm họa, cả tòa nhà nổ tanh bành còn hóa chất trào ra đường phố lân cận.

Nhóm nghiên cứu của Học Viện Ma-Kỹ đã chế tạo những người máy chạy bằng hơi nước để dọn dẹp đống đổ nát, một công việc quá nguy hiểm ngay cả với những công dân Zaun tuyệt vọng nhất.

Đám người máy lao động không mệt mỏi trên từng con phố, đem rác thải đến những bãi rác mọc lên như nấm quanh thành phố.

Nhưng, kể cả những cỗ máy chắc chắn nhất cũng hay gặp tai nạn, và chúng thường xuyên được gửi về Học Viện khi đã tan tành.

Loại bỏ chất nhầy ở tận đáy của Zaun không dễ dàng gì, và hóa chất ăn mòn độc hại cứ dần dần bào sạch lớp vỏ kim loại của chúng.

Một nhà phát minh trẻ đầy tham vọng có tên Viktor mong mỏi tạo ra một cỗ máy bền bỉ có thể dọn dẹp hiệu quả hơn và tránh được những lần sửa chữa tốn kém.

Anh tập hợp những phần hỏng hóc của các người máy đã hết cách sử dụng, bỏ qua mọi thành tố bắt mắt các đồng nghiệp hay dùng.

Dù gom về một đống vật liệu không ai muốn, anh vẫn thiết kế ra một sản phẩm chất lượng tốt hơn.

Viktor đặt tên cho người máy là Blitzcrank, hy vọng nó sẽ nhanh chóng dọn sạch mọi rác thải và trở nên vĩ đại hơn nhiều một tổng hợp các bộ phận bị vứt bỏ.

Sau khi cài đặt cho Blitzcrank một khao khát không ngừng được phục vụ người dân Zaun bằng cách loại bỏ độc chất trên đường họ đi, anh đưa nó tới Hầm Thải để giúp đỡ.

Blitzcrank ghi sâu lý tưởng của Viktor, nó tin rằng hy sinh và vị tha có thể đưa cả thành phố đến với huy hoàng.

Tham gia cùng các cỗ máy khác trong chương trình thu gom, nó tiến hành hoạt động trinh sát vượt xa ngoài khu vực ô nhiễm thông thường.

Không chút sợ hãi, nó tẩy sạch vùng lân cận khỏi chất độc từ những vụ rò rỉ ghê gớm nhất mà chẳng cần quay lại Học Viện sửa chữa.

Cùng các người máy khác, Blitzcrank phát triển những kế hoạch ngày một tham vọng hơn, nhưng nó mau chóng bực mình bởi, khi đụng độ mối nguy mới, chúng lại chỉ biết cắm cúi dọn dẹp hóa chất.

Một đêm, nó mượn tạm hộp dụng cụ quý giá của Viktor và mở tung động cơ hơi nước của chính mình.

Nó thiết lập lại cơ cấu và gỡ bỏ mọi giới hạn chức năng để có thể tạo nên khác biệt lớn hơn nữa trong thành phố.

Suốt mấy tuần sau, Blitzcrank chỉ huy những đợt di tản quy mô toàn khu để giúp người dân tránh mây khói độc, điều hướng lại hệ thống phân phối lương thực để tăng tính hiệu quả, và sửa chữa hệ thống lọc phức tạp để dẫn nước sạch tới giếng chung.

Cứ mỗi việc tốt làm ra, Blitzcrank lại củng cố thêm sự thấu hiểu về mục đích của chính mình.

Nó đã có được ý thức mà chưa người máy nào từng đạt đến.

Viktor nhận ra những thay đổi bất thường nơi tác phẩm của mình, anh tìm cách tái tạo cảm quan sâu sắc và tự giác của Blitzcrank ở các cỗ máy khác.

Nhưng Blitzcrank không bao giờ tiết lộ điều gì đã thức tỉnh nó.

Thiếu đi chìa khóa, Viktor không thể tạo nên một thành tựu tương tự.

Suốt ngày đêm, Blitzcrank đi khắp các con phố của Zaun, không ngừng nghỉ một khi còn có người đang cần giúp đỡ.

Nó hỗ trợ không chỉ nhân loại mà còn cả thú hoang hay thậm chí những người máy bị hỏng hóc.

Khi một vụ nổ khí ga thiêu rụi tháp đồng hồ Davoran, nó giải cứu gia đình thợ máy và chú mèo màu tro đen của họ bằng cánh tay quay khổng lồ - chưa kể còn dừng lại đem theo cô vũ công đồ chơi nhỏ trong phòng ngủ của đứa trẻ.

Chẳng có công việc nào là quá nhỏ nhoi với người máy hơi nước – chỉ trong một ngày nó ngăn được một vụ cướp của hóa-thủ, chụp trái cây ướp lạnh cho một đứa trẻ trước khi món ăn ngon lành đó rơi xuống vỉa hè, và tìm ra chú poro thất lạc của một gánh xiếc rong trước khi con vật bé nhỏ bị một cái chân siêu tốc vận hành sai chẹt phải.

Theo thời gian, Blitzcrank nhận ra nhiều người nó từng cứu trước đây bị mắc bệnh sau khi phơi nhiễm với hóa chất độc hại.

Lo lắng vì bất lực không thể giúp, nó cầu viện đến người sáng tạo ra mình.

Viktor, luôn hứng thú phát triển nhân tính vượt ra ngoài cơ thể phàm tục mong manh, rất sẵn lòng tương trợ.

Anh hứa với Blitzcrank rằng, thông qua phát triển ma-kỹ, cả hai có thể đánh bại cái chết.

Blitzcrank thuyết phục một gia đình cư trú dưới hầm thử cách của Viktor, và làm việc cùng nhà phát minh để cài đặt những máy móc tích hợp hoàn hảo vào cơ thể họ để diệt trừ bệnh tật.

Mới đầu, quá trình chuyển hóa thành công, cả gia đình lấy lại sự hoạt bát đã mất kể từ lúc bị ốm.

Nhưng sau vài tháng khỏe mạnh, cơ thể họ bắt đầu bị hủy hoại.

Viktor và Blitzcrank làm việc không mệt mỏi cố tìm ra cách chữa, nhưng nỗ lực của họ chỉ làm chậm lại điều không thể tránh khỏi.

Rất nhanh, cả gia đình qua đời.

Buồn bã vì thất bại, Blitzcrank biết đây không phải cách để nó giúp đỡ mọi người.

Nó chia tay với người sáng tạo đồng thời cũng là bạn và đồng nghiệp của mình, hy vọng tạo nên sự khác biệt lớn nhất có thể cho người dân Zaun.

Dù nhiều kẻ coi Zaun là một chốn hỗn loạn, nơi chẳng có trật tự và những thử nghiệm liều lĩnh nở rộ khắp nơi, Blitzcrank lại chỉ thấy ở nó những khả năng vô hạn.

Người máy hơi nước tìm kiếm ở Zaun con đường thực hiện những thay đổi tốt đẹp lâu dài, chú tâm hơn đến những ai bị xã hội quên lãng hay vứt bỏ.

Chỉ cần tra đủ dầu vào trục, Blitzcrank tin rằng Zaun sẽ lớn mạnh thành thành phố vĩ đại nhất từ trước đến giờ trên toàn Valoran.
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
Bard


Những thế giới Bard đã viếng thăm hoàn toàn vượt xa tất cả những gì người trần mắt thịt có thể tưởng tượng được.

Một số những học giả vĩ đại nhất trên khắp Valoran đã dùng cả đời mình hòng thấu hiểu những huyền bí ẩn sau sự hiện diện của ông.

Xuyên suốt dòng lịch sử của Valoran đã có rất nhiều biệt danh được đặt ra cho sinh linh thể bí ẩn này, chẳng hạn như Vệ Thần Lãng Du hay Ông Bụt Vũ Trụ, thế nhưng chẳng cái tên nào có đủ khả năng diễn đạt được mục đích chân chính của ông cả.

Bất cứ khi nào vũ trụ bị đe dọa, Bard sẽ xuất hiện để cứu rỗi.
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
Azir


Azir rảo bước trên Con Đường Đế Vương lát bằng vàng ròng.

Những bức tượng khôi vĩ của các cựu vương – những vị tổ tiên – dõi theo ngài.

Những tia sáng chập chờn mờ ảo của buổi chớm rạng đông thẩm thấu khắp thành phố.

Những vì sao lấp lánh nhất vẫn còn đang tỏa sáng lung linh trên bầu trời, dẫu rằng sớm thôi, chúng sẽ bị vầng mặt trời sắp trỗi dậy làm lu mờ hoàn toàn.

Bầu trời đêm không giống như trong kí ức của Azir, vật đã đổi, sao đã dời.

Cả thiên niên kỉ đã trôi qua.

Chiếc quyền trượng nặng trĩu nện lên mặt đất thành từng hồi hòa nhịp cùng mỗi bước chân của Azir, âm thanh cô độc ấy cứ vang vọng mãi trên khắp các nẻo đường thủ đô hiu quạnh.

Lần gần nhất khi ngài bước trên con đường này, 10.000 vệ binh thiện chiến đầy kiêu hãnh hộ giá ngài trong tiếng hoan hô vang trời của đám đông.

Sự huy hoàng đó lí ra đã phải dâng lên đến tột đỉnh – nếu như nó không bị đánh cắp khỏi ngài.

Giờ đây thành phố thật hoang vắng và điêu tàn.

Nhân dân của ngài hiện ở chốn nao?

Bằng một cử chỉ dứt khoát, Azir lệnh cho những đụn cát bên đường trỗi dậy, hóa thành các bức tượng sống động.

Quá khứ sẽ được tái hiện ngay chốn này, đã từng là hình ảnh của một Shurima huy hoàng.

Những bức tượng cát dõi mắt về phía xa và cúi đầu trước chiếc Đĩa Mặt Trời khổng lồ nằm trên Bệ Đài Thăng Hoa khoảng nửa dặm.

Nó vẫn lơ lửng tại đấy như một minh chứng về sự hùng mạnh và huy hoàng của vương triều thuộc quyền Azir, dẫu rằng chẳng còn ai để thưởng thức nó.

Cô gái tộc nhân Shurima, hậu duệ của Azir, người đánh thức ngài dậy, đã biến mất.

Ngài cảm nhận được sự tồn tại của cô gái đâu đó ngoài kia trong sa mạc.

Huyết quản kết nối họ với nhau.

Khi Azir tiếp tục rảo bước trên Con Đường Đế Vương, những bức tượng cát đóng vai nhân dân tụ tập quanh Đĩa Mặt Trời, khuôn mặt tươi vui của họ nhanh chóng hóa thành khiếp hãi.

Miệng gào to những tiếng thét câm lặng.

Họ bỏ chạy, loạng choạng và gục ngã.

Azir chứng kiến những khoảnh khắc cuối cùng của họ trong trầm lặng tĩnh mịch.

Họ bị xóa sổ bởi một làn sóng năng lượng vô hình, và tất cả tro tàn đều cuốn theo chiều gió.

Sai lầm nào trong nghi thức Thăng Hoa đã dẫn tới thảm họa này?

Azir thu hẹp sự chú ý của mình lại.

Những bước chân dần trở nên quả quyết hơn.

Ngài tiến đến những nấc đầu tiên của chiếc Thang Thăng Hoa rồi bắt đầu leo lên, sải chân năm bậc một lần.

Chỉ những quân lính tín cẩn, các tế tư, và dòng dõi hoàng gia mới được quyền đặt chân lên chiếc Thang.

Các phiên bản tượng cát sắm những vai kể trên xếp hàng theo chân ngài, mặt ngước lên nhăn nhó và gào lên trong câm lặng trước khi bị gió cuốn phăng đi mất.

Ngài chạy, sải chân trên các nấc thang nhanh hơn tất thảy, vuốt chân cắm phập vào những viên đá, tạo nên các vết xước chẳng lẫn vào đâu được.

Những bức tượng cát liên tiếp trỗi dậy rồi lại biến mất hai bên người ngài trong suốt hành trình leo thang.

Ngài đã đến đỉnh.

Tại đấy ngài trông thấy những người quan khán cuối cùng: các phụ tá thân cận nhất, các cố vấn, các tư tế tối cao.

Gia đình của ngài.

Azir khuỵu ngã.

Gia đình ngài ở ngay phía trước, được khắc họa sống động đến từng chi tiết một cách đau lòng.

Hoàng hậu đang hoài thai tay nắm chặt nàng công chúa bé nhỏ nhút nhát.

Chàng hoàng tử đứng nghiêm nghị cạnh bên, chẳng mấy chốc nữa sẽ đến tuổi trưởng thành.

Điếng người, Azir nhìn thấy những thay đổi trong biểu cảm của họ.

Dẫu biết rõ điều gì sẽ xảy ra, ngài không thể nào quay đi.

Nàng công chúa giấu mặt sau chiếc váy của hoàng hậu; chàng hoàng tử trờ tay đến thanh gươm, gầm lên bằng hết sức bình sinh.

Hoàng hậu...

đôi mắt nàng mở trân trối ánh lên vẻ sầu muộn và tuyệt vọng.

Thảm họa vô hình biến tất cả thành hư không.

Quá đỗi đớn đau, nhưng nào có giọt nước mắt lăn trên bờ mi Azir.

Thể Thăng Hoa đã tước đi mãi mãi quyền được thương tiếc khỏi ngài.

Trái tim trĩu nặng, ngài cố ép mình đứng dậy.

Câu hỏi vẫn chưa có lời đáp, làm sao hậu duệ của ngài vẫn tồn tại.

Đợt tái hiện cuối cùng tiếp nối.

Ngài tiến tới, chững lại một bước dưới Bệ Đài, và tập trung vào đoạn kết của vở diễn, tái hiện lại dưới hình hài của cát.

Ngài nhìn thấy chính mình, trong hình hài nhân loại, bay trên không trung bên dưới Đĩa Mặt Trời, tay trải dài hai bên ưỡn ngực về phía trước.

Ngài vẫn còn nhớ khoảnh khắc này.

Năng lượng cuồn cuộn chảy bên trong, hòa trộn thể xác và lấp đầy cả người ngài với sức mạnh thần thánh.

Một bức tượng cát mới được định hình.

Vị pháp sư, trợ tá tín cẩn nhất của ngài, Xerath.

Người bạn đó thốt lên một hơi lặng.

Azir nhìn chính bản thân mình vỡ tan thành từng mẩu cát nhỏ.

"Xerath," Azir thở ra.

Biểu cảm của kẻ phản bội thật bất định, nhưng tất cả những gì Azir thấy là khôn mặt của một tên sát nhân.

Sự căm hờn đó bắt nguồn từ đâu?

Azir chẳng bao giờ có thể ngờ tới.

Hình hài bằng cát của Xerath bay cao lên trong không trung nơi các nguồn năng lượng của Đĩa Mặt Trời hội tụ.

Hàng toán các vệ binh thiện chiến nhất lao hết tốc lực về phía hắn, nhưng tất cả đã quá trễ.

Một cơn sóng chấn động khủng khiếp lan tỏa khắp muôn nơi, phân hủy cảnh tượng tối hậu của Shurima.

Azir đứng một mình mình cô quạnh trong những âm vang tàn dư của quá khứ.

Đây là điều đã giết chết nhân dân của ngài.

Azir quay mình, vừa lúc những tia nắng đầu tiên của một bình minh mới chiếu rọi trên đỉnh của chiếc Đĩa Mặt Trời.

Ngài đã thấy đủ rồi.

Biến thể bằng cát của Xerath sụp đổ đằng sau ngài.

Ánh bình minh phản chiếu lộng lẫy trên lớp giáp hoàng kim của Azir.

Ngay khoảnh khắc đó, ngài biết rằng tên phản bội vẫn còn sống.

Ngài có thể cảm nhận được sự tồn tại của gã pháp sư trong từng hơi thở.

Azir giơ tay lên cao, và một đội quân những binh sĩ thiện chiến trỗi dậy từ hàng tấn cát bên dưới Thang Thăng Hoa.

"Xerath," ngài cất lời, giọng nói chất chứa cơn thịnh nộ.

"Tội ác của ngươi sẽ phải bị trừng trị."
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
Ashe


Ashe được sinh ra tại phương bắc của vùng đất Freljord băng giá, nơi mà những cuộc chiến bạo tàn giữa các bộ tộc, cũng như tiếng gào thét những cơn gió rét buốt hay những lãnh nguyên với cái lạnh vĩnh cửu luôn là một phần của vùng đất này đây.

Là đứa con duy nhất của Grena, vị Chiến Mẫu của của bộ tộc Hậu Nhân Avarosan nhỏ bé, Ashe là một Băng Tộc: một chủng tộc thượng đẳng với dòng máu chiến binh, được ban tặng mối liên kết bẩm sinh với ma thuật của chính vùng đất, và khả năng sử dụng những món vũ khí làm từ Chân Băng.

Mọi người đều nghĩ rằng Ashe sẽ nối nghiệp mẹ mình để trở thành người lãnh đạo tiếp theo của bộ tộc.

Tuy nhiên, Ashe lại không hề khao khát thứ vinh quang đó.

Chính dòng máu chiến tranh đã đặt lên vai cô một trách nhiệm không thể lay chuyển, còn quyền năng lạ thường đó khiến Ashe luôn cảm thấy mình bị xa lánh, đè nặng và cô độc.

Niềm vui duy nhất đối với Ashe là khi Sejuani, một cô bạn Băng Tộc từ một bộ tộc láng giềng, đến ở cùng họ trong những chuyến săn mùa hè ở vùng núi Ornnkaal.

Tình bạn của hai cô gái chính là tuổi thơ duy nhất của họ, nhưng rồi nó cũng nhanh chóng qua đi khi họ bước vào độ tuổi thiếu niên.

Vì một lý do nào đó, Grena đã làm phật lòng bà của Sejuani, và tình hảo hữu giữa hai bộ tộc kết thúc một cách chóng vánh.

Không lâu sau, khi tuổi già đã cận kề, mẹ của Ashe bắt đầu chuyến hành trình tìm kiếm "Ngai Báu của Avarosa", một kho tàng những cổ vật ma thuật mà bà mong rằng sẽ giúp bộ tộc của mình lấy lại những vinh quang ngày nào.

Nhưng lòng tin mù quáng của Grena vào truyền thuyết và những lời tiên tri đã khiến bà hành động một cách khinh suất, và chính điều này đã làm cả bộ tộc suy yếu đi đáng kể.

Rốt cuộc, trong một trận chiến nguy hiểm và không cần thiết ngay trên lãnh địa của một bộ tộc khác, Grena đã bỏ mạng.

Cái chết của bà buộc Ashe bé nhỏ phải bỏ chạy, trong khi bộ tộc của bà bị quét sạch gần như toàn bộ.

Đơn độc, bị truy cùng diệt tận, Ashe đã lần mò theo tấm bản đồ cuối cùng của mẹ cô đến một lãnh nguyên băng giá, nơi cô tìm thấy lăng mộ của Avarosa, và chiếc cung Chân Băng huyền thoại của bà.

Ashe dùng món vũ khí đó để trả thù cho mẹ mình, và rồi cô tiến bước về phía tây

Không rõ là vì rảnh rỗi hay do sự cô độc của bản thân, Ashe dần có được danh tiếng khi cô ra tay tương trợ những bộ tộc lò rèn mà cô đã gặp gỡ.

Cô xóa bỏ phong tục lên ngôi truyền thống, thay vào đó chọn cách thu nhận những cư dân khốn cùng thành những thành viên bình đẳng trong bộ tộc mới của mình.

Nhờ đó, danh tiếng của cô nhanh chóng được lan rộng.

Thậm chí, nhiều người đã tin rằng Ashe không chỉ là người nắm giữ món vũ khí huyền thoại của Avarosa—mà cô chính was là Người, tái sinh và mang trên mình sứ mệnh thống nhất Freljord.

Nhưng những truyền thuyết hào hùng đó không thể nuôi sống bộ tộc mới của cô, và họ nhanh chóng đứng trên bờ vực diệt vong trên chuyến hành trình về phương nam của mình.

Vì thế, Ashe buộc phải lợi dụng những truyền thuyết về mình để liên minh với các bộ lạc hùng mạnh và giàu có phía nam, với lời hứa sẽ đưa họ trở thành một đất nước thống nhất có đủ khả năng để thách thức các vương quốc láng giềng.

Những liên minh mới đem đến cho cô những mối hiểm họa mới, và Ashe nhanh chóng bị cuốn vào vòng xoáy chính trị.

Một Chiến Mẫu, người trị vì các bộ tộc xứ Freljord, cần phải sở hữu huyết thệ cho mình, nhưng việc chọn lấy nửa kia từ một bộ tộc sẽ khiến các bộ tộc khác nổi giận.

Ashe có thể lấy nhiều huyết thệ, nhưng điều đó cũng sẽ tạo ra xung đột ngay bên trong bộ tộc của cô, và chiến tranh tàn phá liên minh mà Ashe đã ra sức gầy dựng sẽ là điều không thể tránh khỏi.

Câu trả lời của cô là một gã lang thang nghèo đói từ một bộ tộc sơn cước đã gần như bị quét sạch—người chiến binh tên Tryndamere.

Gã ta không phải là một thuật sư tài ba, cũng chẳng có bất kỳ quyền năng ma thuật nào cả, nhưng khi vừa đặt chân đến thủ phủ mới của Ashe, Tryndamere đã có mặt trong bất kỳ trận đấu tay đôi nào mà gã tìm được.

Gã đã một mình chiến đấu, tuyệt vọng chứng tỏ rằng số ít người còn sống sót trong bộ tộc của gã xứng đáng được nhận vào một bộ tộc khác hùng mạnh hơn.

Nhưng kỹ năng chiến đấu điên cuồng cùng nguồn thể lực vô hạn của của gã là vô cùng bất thường, kể cả đối với những cư dân Freljord vốn mạnh mẽ, và nhiều người nghi hoặc rằng gã ta có liên quan đến hắc thuật.

Dù vậy, Ashe vẫn phớt lờ điều đó và đề nghị nhận những người trong bộ tộc của gã, với điều kiện là gã sẽ trở thành huyết thệ đầu tiên và duy nhất của cô.

Tryndamere miễn cưỡng nhận lời.

Dù ban đầu là một cuộc hôn nhân nhuốm màu chính trị, nhưng cảm xúc mà họ dành cho nhau là có thật, và một tình yêu đích thực đã dần dần nảy nở.

Giờ đây, Ashe giữ cương vị thủ lĩnh của liên minh bộ tộc lớn nhất Freljord trong suốt nhiều thế hệ.

Dù vậy, nền hòa bình bên trong một thể thống nhất mà cô đã gầy dựng vẫn liên tục bị đe dọa bởi những thế lực từ bên ngoài lẫn bên trong, đó là quân đoàn Móng Vuốt Mùa Đông đang mạnh lên từng ngày, hoặc chính là định mệnh mà Ashe buộc phải giả vờ tin tưởng...
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
Annie


Những năm tháng cuối cùng Boram Darkwill ngồi trên ngai vàng là thời kỳ Noxus bất ổn nhất, và rất nhiều người biết dùng phép thuật đều rời thủ phủ đến những thành trấn xa hơn mong hưởng yên bình.

Gregori Áo Xám và vợ, một phù thủy có tên Amoline, thì thích thể hiện sức mạnh Noxus thông qua việc thuần phục vùng biên ải hơn là dính líu đến chuyện chính trị giữa các gia tộc.

Cặp đôi này đã chiếm một mảnh đất phía bắc dãy Ironspike.

Họ kịp dựng nhà trước mùa đông, đúng lúc đứa con đầu lòng chào đời.

Trong suốt hành trình, truyện kể về đàn gấu bóng tối từng tung hoành ở đây khiến Amoline thích thú—không thể đi lại nhiều khi mang thai, cô ngồi bên đống lửa để tạo ra phiên bản đồ chơi của những con thú hộ mệnh kia.

Vừa khi đính xong cúc làm mắt gấu bông, cô chuyển dạ.

Sau này, Gregori nhận xét rằng đứa trẻ kia quá háo hức được chạm tay vào món đồ chơi mới, đến nỗi phải vội vã chui ra ngay cạnh đống than hồng âm ỉ.

Khi Annie mới chập chững biết đi, cô bé và cha bị bệnh.

Đêm xuống, cơn sốt bắt đầu thiêu đốt Annie, khiến cô bé trở nên nóng tới mức mẹ cô bé không còn bế nổi trên tay.

Amoline tuyệt vọng, cuối cùng quyết định đi lấy nước từ con sông gần đó.

Sáng hôm sau, Gregori tỉnh dậy, người rã rời vì trận ốm.

Trong nôi, một Annie hoàn toàn khỏe mạnh đang chơi đùa cùng chú gấu bông Tibbers, nhưng Amoline đã biến mất.

Annie ngây thơ tin rằng mẹ cô bé rồi sẽ trở lại.

Gregori thường thấy cô bé ngồi trên cái ghế đặt bên lò sưởi, ôm chặt Tibbers và nhìn chằm chằm vào ngọn lửa đang kêu lép bép ở nơi mà ông chắc chắn chẳng có gì ngoài tro lạnh.

Ông nghĩ đó là ảo giác do gánh nặng gà trống nuôi con mang lại.

Năm tháng trôi qua, càng ngày càng có thêm nhiều người đến nơi này.

Và rồi, Gregori gặp Leanna, một phụ nữ tìm kiếm cuộc sống mới bên ngoài thủ phủ cùng cô con gái riêng, Daisy.

Annie mong muốn có bạn chơi cùng, nhưng vốn là con một nên được nuông chiều sinh hư, cô bé khó lòng quen với gia đình mới.

Những cơn giận bột phát của Annie khiến Leanna khó chịu, và nhanh chóng đứng ra bênh về phía con đẻ.

Gregori phải là người cố gắng giải hòa cho cả ba.

Không biết đến những hiểm nguy của vùng biên hoang dã, trong một lần đùa nghịch, Daisy gặp nạn.

Tất nhiên, Leanna đổ lỗi cho Annie vì cái chết của con bà, trút hết giận dữ và đau buồn lên món đồ đáng giá nhất của cô bé: Tibbers.

Annie phát khiếp trước cảnh kỉ vật cuối cùng của mẹ cô bé bị đe dọa.

Nỗi sợ lớn dần thành cơn thịnh nộ, phóng thích sức mạnh điều khiển lửa tiềm tàng, và chú gấu bông hóa thành một quái vật với những quầng sáng đỏ rực vây quanh.

Khi lửa tàn, tro bụi lắng xuống, Annie đã mồ côi và cô độc.

Tin rằng hầu hết những người lớn ở thành phố đều giống mẹ kế, Annie quyết định ở lại ngoài vùng hoang dã.

Thi thoảng, cô sẽ sử dụng vẻ ngoài dễ thương để được một gia đình đi khai khẩn mời vào nhà dùng bữa và tặng quần áo mới.

Tuy nhiên, lửa và cái chết luôn chực chờ bất kỳ kẻ ngu ngốc nào định chia cách Annie và chú gấu bông cô bé cầm trên tay.

Được Tibbers giữ an toàn, cô đi khắp những cánh rừng hắc ám của Noxus, chẳng biết đến hiểm nguy—và cả những nguy hiểm gây ra cho người khác bởi sức mạnh không kiềm giữ của cô—hy vọng một ngày sẽ tìm ra ai để chơi cùng.
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
Anivia


Anivia là một thực thể của mùa đông lạnh giá nhất, một hiện thân của sức mạnh băng giá, một hộ thần cổ xưa của Freljord.

Cô ta có thể điều khiển sức mạnh và sự cuồng nộ của vùng đất này, kêu gọi tuyết và những cơn gió buốt bảo vệ quê hương mình khỏi kẻ thù.

Một sinh vật tốt bụng nhưng bí ẩn, sứ mệnh vĩnh hằng của Anivia là bảo vệ vùng Freljord cho dù là sống, chết hay trải qua sự tái sinh.

Anivia gắn bó với Freljord như những dòng sông băng vĩnh cửu nơi này.

Rất lâu trước khi con người đặt chân lên vùng lãnh nguyên khô cằn của nơi này, cô ta đã trải qua vô vàn vòng đời và vô số cái chết.

Sự khởi đầu và kết thúc của vòng đời vĩnh cửu đó luôn báo hiệu những thay đổi to lớn, từ những cơn bão lớn cho đến những kỉ băng hà.

Người ta nói rằng khi phượng hoàng băng chết đi, kỉ nguyên sẽ kết thúc; và khi nó tái sinh, một kỉ nguyên mới sẽ bắt đầu.

Dù cho những cuộc sống cũ của Anivia đã phai nhạt trong trí nhớ của cô, Anivia vẫn nhớ nhiệm vụ của mình: bảo vệ Freljord bằng mọi giá.

Lần cuối cùng cô hồi sinh, Anivia được chứng kiến sự trỗi dậy của một bộ tộc hùng mạnh và đoàn kết.

Cô bảo vệ lãnh thổ của họ với lòng tự hào trong khi họ ngày càng phát triển, nhưng sự gắn kết như thế không thể tồn tại mãi mãi.

Bộ tộc vĩ đại đó tách ra thành 3 nhóm, và sau sự kiện đó, Anivia chứng kiến người dân Freljord chìm trong những cuộc chiến.

Trong khi cố gắng dẹp yên sự hỗn loạn đang phá hủy quê hương mình, Anivia bắt đầu nhận thấy một mối đe dọa lớn hơn: một loài ác quỷ cổ xưa đang trỗi dậy từ sâu trong lòng đất.

Cô cảm thấy ma pháp băng giá trở nên đen tối và tha hóa, và điều này khiến Anivia kinh hoàng.

Cũng giống như máu loang ra trong nước, bóng tối từ từ xâm chiếm Freljord.

Với sứ mệnh của mình gắn chặt với sức mạnh của vùng đất này, Anivia biết rằng nếu thứ xấu xa quỷ quái này chiếm được Freljord, cô cũng sẽ bị tha hóa.

Cô không thể chỉ là một vệ thần được nữa – phượng hoàng băng phải ra tay.

Anivia sớm tìm được một đồng minh, Ashe – Xạ Thủ Băng Giá.

Ashe cũng tin rằng sự thống nhất là cách ngăn chặn sự diệt vong của Freljord, và Anivia đề nghị được giúp đỡ cô.

Giờ đây khi chiến tranh đang thấp thoáng nơi chân trời, Anivia chuẩn bị để chiến đấu vì hòa bình, nhưng cô biết một sự thật không thể tránh khỏi của số phận mình.

Một ngày nào đó, cái ác sẽ trỗi dậy từ băng giá, và cô phải hủy diệt nó – bằng bất cứ giá nào.
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
AMUMUXÁC ƯỚP U SẦU


Linh hồn đơn độc và u sầu của Shurima – Amumu – đi khắp thế giới tìm kiếm bạn bè.

Bị ếm phép thuật cổ xưa, cậu phải sống một mình mãi mãi, bởi mỗi lần cậu chạm vào ai, cái chết sẽ đến với người đó.

Những kẻ từng nhìn thấy miêu tả Amumu như một xác chết biết đi nhỏ bé và quấn đầy băng vải có màu như rêu.

Amumu là cảm hứng cho thần thoại, truyện dân gian và truyền thuyết đã kể đi kể lại qua nhiều thế hệ – những thứ ta không thể phân biệt đâu là sự thật đâu là tưởng tượng.

Cư dân lâu đời ở Shurima đều nhất trí về một số điều: gió luôn thổi sang phía đông vào buổi sáng; mang thai vào đêm trăng non là điềm xấu; kho tàng chôn giấu dưới những tảng đá nặng nề nhất.

Tuy nhiên, lại không có câu chuyện thống nhất nào về Amumu.

Thường gặp nhất là câu chuyện kể rằng Amumu là thành viên gia tộc vĩ đại đầu tiên từng cai trị Shurima.

Họ mắc phải căn bệnh khiến da thịt bị ăn mòn với tốc độ khủng khiếp.

Người con út, Amumu, bị cách ly trong phòng và kết bạn với một hầu gái vô tình nghe được tiếng khóc của cậu vẳng qua tường.

Cô làm cậu bé cô độc thích thú bằng những tin tức ngắn gọn và những truyện kể về sức mạnh thần bí của bà mình.

Một sáng, cô gái báo tin anh trai duy nhất còn lại của Amumu đã qua đời, giờ cậu là Hoàng đế Shurima.

Thương cảm trước cảnh cậu bé phải đón nhận nỗi đau này một mình, cô mở cửa phòng và chạy vào an ủi.

Amumu quàng tay quanh người cô, nhưng ngay lúc đó, cậu vội lùi lại khi nhận ra mình đã kết án cô vào cùng số phận thảm khốc của chính gia tộc cậu.

Bà cô gái xuất hiện sau cái chết của người cháu ếm lên vị hoàng đế trẻ một lời nguyền.

Với bà, Amumu chính là hung thủ đã sát hại họ hàng thân thiết.

Phép thuật phát huy tác dụng, và Amumu bị kẹt trong giờ phút đau đớn đó như con châu chấu bị mật ong dính chặt vậy.

Câu chuyện thứ hai kể về một vương tử khác, một kẻ nóng nảy, tàn bạo, và kiêu ngạo.

Theo những gì trong đó, Amumu lên ngôi Hoàng đế Shurima từ thời trẻ.

Tin rằng mình được mặt trời ban phước, hắn buộc thần dân phải thờ phụng như thần thánh.

Amumu săn lùng Mắt Angor huyền thoại, một cổ vật ẩn sâu trong lăng mộ huy hoàng, nghe đồn sẽ ban cuộc sống vĩnh hằng cho những ai nhìn vào nó với trái tim thuần khiết.

Hắn tìm kiếm kho báu này nhiều năm, dẫn hàng đoàn nô lệ len lỏi qua những hầm mộ rắc rối, hy sinh họ để phá bẫy nhằm bước tiếp bình an vô sự.

Cuối cùng, Amumu đến được cánh cổng vòm bằng vàng khổng lồ, nơi hàng chục thợ đá làm việc ngày đêm để phá vỡ dấu niêm phong của nó.

Khi vị hoàng đế trẻ chạy vội vào để nhìn Mắt Angor, đám nô lệ chớp thời cơ và khóa kín lối vào.

Có người nói hắn đã chịu đựng bóng tối bao năm ròng, đến khi sự cô đơn khiến hắn điên loạn và tự xé toạc da mình, kể từ đó hắn buộc phải quấn băng.

Cuộc sống của hắn được Con Mắt kéo dài, chỉ để hắn mãi đắm chìm trong tội lỗi quá khứ và bị nguyền rủa phải sống một mình mãi mãi.

Khi một loạt trận động đất phá tan nền móng của lăng mộ, vị hoàng đế bị giam cầm bấy lâu thoát ra, tìm kiếm cách đảo ngược nỗi thống khổ hắn đã gây ra trong đời.

Còn một câu chuyện nữa kể về chúa tể Yordle đầu tiên và cuối cùng của Shurima, người tin vào lòng tốt vốn có trong trái tim con người.

Để chứng tỏ những người phản đối mình là sai lầm, ông tuyên thệ sống như một kẻ ăn mày đến lúc tìm được bằng hữu chân chính và thuyết phục mọi người tụ hợp lại giúp đỡ cư dân Shurima.

Hàng ngàn người đi ngang qua chàng Yordle khốn khổ nhưng chẳng ai dừng lại chìa tay ra giúp đỡ.

Nỗi buồn của Amumu lớn dần đến khi trái tim ông tan vỡ ra và băng hà.

Nhưng cái chết không phải tận cùng, nhiều người thề rằng vị vua Yordle vẫn lang thang trên sa mạc, mãi mãi kiếm tìm người có thể phục hồi niềm tin của ông với nhân loại.

Những câu chuyện trên, dù khác biệt, vẫn được kể song song với nhau.

Dù lý do có là gì, Amumu đều bị nguyền rủa phải tồn tại trong cảnh cô độc, vĩnh viễn không có bạn bè.

Định mệnh buộc cậu mãi mãi kiếm tìm người đồng hành, nhưng lại ban cho người đó cái chết ngay khi cậu chạm vào.

Trong những đêm đông khi lửa không bao giờ được phép lụi tàn, đôi khi người ta nghe thấy xác ước u sầu thổn thức giữa sa mạc, tuyệt vọng vì không bao giờ biết đến hơi ấm tình bằng hữu.
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
Jayce


Jayce là một nhà phát minh tài năng dành cả đời phòng hộ Piltover và theo đuổi không ngừng nghỉ sự tiến bộ.

Cầm cây búa biến hình Hextech trên tay, Jayce dùng sức mạnh, lòng can đảm, và trí tuệ vượt trội để bảo vệ quê nhà.

Dù nổi danh khắp thành phố như một anh hùng, nhưng anh chẳng quan tâm lắm.

Trái tim của Jayce luôn đặt đúng chỗ, và ngay cả những người ghen tị với tài năng thiên bẩm của anh cũng phải biết ơn anh đã bảo vệ Thành Phố Tân Tiến.

Sinh ra tại Piltover, Jayce được nuôi dạy để tin vào những nguyên tắc đã làm thành phố trở nên vĩ đại: Phát minh.

Khám phá.

Không đến Zaun nếu có thể.

Với khả năng thấu suốt máy móc, Jayce được vinh danh là tập sự trẻ tuổi nhất từng được Nhà Giopara – một trong những gia tộc hùng mạnh nhất Piltover – tuyển mộ.

Chẳng ngạc nhiên gì, Jayce nhận đề nghị đó, và dành phần lớn những năm đầu xây dựng các thiết bị Hextech tiềm năng cũng như thiết kế các công cụ đa hình cho các lớp nghề ở Piltover: một cái cờ lê có thể biến thành xà beng, cuốc chim có thể biến thành xẻng, búa có thể biến thành một chùm tia tàn phá, nếu có đủ nguồn năng lượng.

Mọi thứ Jayce chạm vào đều khiến những người đương thời thấy hổ thẹn.

Mọi thứ đều dễ dàng với Jayce, anh không thể hiểu được vì sao những người kia gặp rắc rối đến vậy với, theo anh, những khái niệm đơn giản.

Do đó, gần như mọi người làm việc cùng Jayce đều thấy anh kiêu ngạo, thiếu tin tưởng, và không sẵn lòng chậm bước lại giúp đỡ đồng nghiệp.

Thời gian dần trôi, khách hàng của anh ít dần, trong lúc đó, có sự rạn nứt xuất hiện giữa phong thái lịch thiệp và quyến rũ của Jayce.

Chỉ một người có thể sáng ngang với trí tuệ của Jayce, đồng thời duy trì sự thờ ơ trước thái độ cao ngạo của anh.

Tên người đó là Viktor.

Hai người gặp nhau trong một bữa tiệc Ngày Tiến Bộ, và ngay lập tức chia sẻ sự khó chịu khi phải ở đó.

Không lâu sau, họ bắt đầu cộng tác.

Viktor mở rộng chân trời trí tuệ của Jayce và thách thức nhiều giả định của anh.

Trong lúc Jayce tìm cách cải thiện nhân tính thông qua công nghệ đa dạng, Viktor lại tìm cách giải quyết các vấn đề của bản chất con người, chẳng hạn như hao mòn thể chất hay định kiến phi logic.

Họ liên tục tranh luận cùng nhau, nhưng cuộc xung đột không bao giờ trở nên quá mức – dù phương pháp khác biệt, hai người đều biết mục tiêu cuối cùng của họ là như nhau.

Hơn thế, họ biết điều gì khiến cả hai bị đồng nghiệp tẩy chay: suy nghĩ không theo quy ước của Viktor, và sự thô lỗ của Jayce.

Cùng nhau, Jayce và Viktor phát minh ra bộ giáp cơ khí cho thợ cảng Piltover – một thứ đủ sức tăng cường sức mạnh của người sử dụng, nhưng cũng đủ nhẹ để họ không chìm nghỉm khi rơi khỏi tàu.

Tuy nhiên, cả hai rơi vào ngõ cụt khi Viktor thiết kế phiên bản mới với hóa-kỹ có thể tăng mười lần sức mạnh của người sử dụng, nhưng cũng ngăn họ mệt mỏi, hoảng lạn, hay bất tuân lệnh cấp trên.

Viktor coi đây là một tính năng tuyệt vời để giảm bớt tần suất tai nạn lao động, nhưng Jayce thấy trói buộc ý chí của nó là đạo đức.

Cả hai suýt nữa đã gây lộn, và cuối cùng, sau khi Jayce cảnh bóa cho học viện về phát minh của Viktor, Viktor bị tước mọi danh dự và tẩy chay khỏi cộng đồng khoa học Piltover.

Viktor là người gần nhất Jayce có thể gọi là bạn.

Quẫn trí khi tình bạn tan vỡ, Jayce quay lại làm việc một mình.

Anh càng xa cách hơn.

Khách hàng càng ít đi.

Trong lúc Jayce cô độc nghiên cứu, đội thám hiểm Nhà Giopara tìm ra một tinh thể lam nguyên chất sâu trong sa mạc Shurima.

Jayce tình nguyện thử nghiệm (đặc biệt là khi nói các học giả khác của gia tộc sẽ không đủ thông minh để rút ra bất kỳ thứ gì từ đó), nhưng Nhà Giopara giao nó cho các học giả hòa nhã hơn để trừng phạt thói ăn nói không giữ ý của anh.

Sau nhiều tháng, các học giả thống nhất: viên tinh thể vô giá trị.

Một đống đá đã bị rút hết sức mạnh.

Viên tộc trưởng thất vọng cuối cùng cũng giao nó cho Jayce, cho rằng ngay cả anh, với trí tuệ siêu phàm, cũng không thể tìm hiểu gì từ đó.

Có gì đó trong khối tinh thể kêu gọi Jayce.

Không, còn hơn thế - nó hát với anh.

Anh không thể giải thích, nhưng anh biết viên ngọc Shurima nắm giữ bí ẩn chưa được khám phá.

Anh dành nhiều tháng chạy đủ bài kiểm tra trên khối tinh thể.

Cho vào máy ly tâm, thiêu ở nhiệt độ cao, đóng băng; anh thử nghiệm, quan sát, đặt giả thuyết và cặm cụi nghiên cứu.

Jayce không quen phải làm việc vất vả: khối tinh thể là thứ đầu tiên kháng cự được học thức mênh mông của anh.

Lần đầu tiên, anh nhận ra những người bên cạnh cảm thấy sao khi cố gắng giải quyết một vấn đề, chỉ để va phải những giới hạn của chính mình.

Thật bực bội.

Thật bất công.

Chắc còn tệ hơn rất, rất nhiều nếu bạn làm cùng một nhà phát minh kiêu căng gạt đi mọi nỗ lực của bạn.

Jayce nhận ra dù mình có không tin tưởng đồng nghiệp thế nào, không ai trong họ từ bỏ.

Không ai ngừng tìm kiếm những thứ đã tạo nên Piltover: Tiến bộ.

Khám phá.

Nếu họ đã không làm thế, thì anh cũng không.

Và có thể anh sẽ cố tử tế hơn.

Có thể.

Jayce tiếp cận vấn đề từ một góc hoàn toàn khác.

Thay vì cố thử nghiệm toàn bộ khối tinh thể, sao anh không thử với một mảnh nhỏ hơn?

Jayce khoét một phần khối tinh thể và ngâm nó trong hợp kim lỏng.

Khi cho dòng điện chạy qua đó, Jayce suýt thủng màng nhĩ vì tiếng nổ phát ra từ mảnh vỡ.

Nhiệt tỏa ra, và trong chớp sáng, nó rực rỡ đến mức khiến anh gần như mù.

Nó thật khó lường.

Nó có thể nguy hiểm.

Nhưng nó là tiến bộ.

Jayce không thể ngăn được nụ cười nở trên môi khi anh làm việc thâu đêm suốt sáng.

Ngày hôm sau, Jayce ngạc nhiên khi thấy người bạn cũ Viktor đứng trước ngưỡng cửa.

Nhận ra sức mạnh kinh hoàng của mảnh tinh thể, Viktor đưa ra một đề nghị đơn giản.

Sau khi bị trục xuất khỏi cộng đồng, Viktor bắt đầu thực hiện một dự án bí mật ở Zaun.

Hắn cuối cùng cũng đạt được ước mơ – xóa nhòa mọi bệnh tật, đói khổ, thù ghét.

Nếu Jayce tham gia cùng, cả hai có thể làm được nhiều hơn bất kỳ ai ở Piltover hay Zaun: họ sẽ cứu nhân loại khỏi chính nó.

Jayce đã nghe đoạn độc thoại đó từ Viktor trước đây.

Anh không thích đoạn nó sẽ dẫn tới.

Viktor bảo Jayce hắn chỉ cần một thứ cho Tiến Hóa Huy Hoàng – một nguồn năng lượng cỡ khối tinh thể của Jayce.

Jayce từ chối, bảo Viktor rằng thứ hắn thực sự cần là một kim chỉ nam về đạo đức.

Viktor, người từ lâu đã mệt mỏi vì sự thô lỗ của Jayce, nhảy xổ vào anh, giật lấy khối tinh thể và đánh anh bất tỉnh.

Nhiều giờ sau, khi Jayce tỉnh lại, anh nhận ra khối tinh thể đã bị Viktor lấy đi, nhưng mảnh vỡ kia vẫn không bị hắn chú ý hay quan tâm tới.

Dù Viktor đang dự định gì, hắn cũng chỉ làm đến mức này nếu đã gần hoàn thiện.

Anh không biết nội dung của Tiến Hóa Huy Hoàng, nhưng chắc chắn nó chẳng tôn trọng ý chí tự do của kẻ khác đâu.

Không để lỡ một giây, Jayce lấy mảnh vỡ và gắn nó vào cây búa biến hình khổng lồ - một phát minh hủy diệt từng bị anh bỏ xó nhiều năm trước vì thiếu nguồn năng lượng đủ mạnh.

Không biết Viktor đem khối tinh thể đi đâu, nhưng anh có thể cảm thấy cây búa Hextech rung động, dẫn anh xuống, hướng tới thành phố ngầm Zaun.

Mảnh vỡ, háo hức được hợp nhất với khối tinh thể, dẫn Jayce tới một nhà kho sâu trong khu Hầm Thấp.

Bên trong tòa nhà, anh thấy một chuyện thật kinh khủng.

Hàng tá thi thể nằm đó, bên cạnh là một đạo quân chiến binh kim loại bất động, đang chờ đợi khối tinh thể dập dờn.

Đây là bước đầu trong Tiến Hóa Huy Hoàng của Viktor.

Jayce mất dần tự tin khi sải bước lại gần Viktor.

Anh và hắn luôn không bằng mặt, nhưng chuyện này hoàn toàn khác.

Lần đầu tiên, Jayce nghĩ mình có thể ra tay với ông bạn cũ.

Anh gọi Viktor, chỉ vào đội quân người máy đang đứng đó.

Jayce bảo hắn nhìn quanh xem hắn đang làm gì.

Dù có ra sao – thứ Tiến Hóa này – không phải là sự tiến bộ.

Thậm chí, trước sự ngạc nhiên của Viktor, anh xin lỗi hắn vì đã hành động như một gã khốn.

Viktor thở dài.

Hắn chỉ đáp lại bằng hai từ: "Hạ hắn."

Đám người máy lao vào Jayce, thoát khỏi đám dây nhợ kết nối chúng với khối tinh thể và đem đến cho Jayce một cảm xúc mới: hoảng loạn.

Anh nắm chặt cây búa, nhận ra mình chưa từng thực sự sử dụng nó.

Khi con người máy đầu tiên vào tầm, anh vung hết mức có thể, cảm thấy năng lượng của mảnh vỡ trào qua cơ bắp, tăng tốc chuyển động của cây búa đến khi Jayce lo lắng nó sẽ bay khỏi tay anh mất.

Nó đập vào bọn người máy, nổ tung thành một trận mưa kim loại.

Mặc cho đồng đội bị tiêu hủy, những con khác vẫn không ngừng lao vào Jayce, cố gắng đánh anh bất tỉnh.

Jayce phân tích đội hình của làn sóng máy móc đang lao đến và cố gắng tính toán nhanh cách hạ gục số lượng lớn nhất có thể với số lần vung búa ít nhất.

Thật vô nghĩa; chúng áp sát trước cả khi anh kịp vung một lần.

Khi gục xuống đất dưới một cơn bão đánh đập, Jayce thấy Viktor nhìn mình, không phải đắc thắng, mà là buồn bã.

Hắn đã thông minh hơn Jayce và đảm bảo tương lai nhân loại, nhưng hắn biết tương lai đó có cái giá của nó: hắn không thể để bạn mình sống sót.

Jayce biến mất dưới một biển cánh tay kim loại vung vít.

Đó là khi Jayce, lần đầu tiên trong đời, quyết định ngừng suy nghĩ và chỉ đập phá mà thôi.

Không còn quan tâm đến sự an toàn của chính mình, Jayce dùng từng phân sức mạnh cuối cùng để thoát khỏi đám người máy của Viktor.

Anh nhào tới khối tinh thể đang phát sáng, và đập nó với tất cả sức mạnh Hextech cường hóa cây búa của anh tích tục được, đập tan vật thể huyền bí ấy.

Viktor kêu lên kinh hoàng khi khối tinh thể tan thành mảnh vụn, làn sóng chấn động đẩy lui tất cả trong lúc đội quân người máy gục xuống không còn sức sống trên sàn.

Nền móng của căn nhà kho rung chuyển, và Jayce tìm cách thoát được ngay trước khi tòa nhà sụp xuống.

Thi thể Viktor không bao giờ được tìm thấy.

Khi trở về Piltover, Jayce thông báo cho tộc trưởng về kế hoạch đáng sợ của Viktor.

Rất nhanh, Jayce thấy mình trở thành chủ đề tranh cãi ở cả Zaun và Piltover.

Được hoan nghênh vì hành động quyết đoán trong lúc khủng hoảng, Jayce trở thành hình tượng được yêu mến (ít nhất là với những ai chưa gặp anh), được đặt biệt danh: Người Bảo Hộ Mai Sau.

Jayce ít quan tâm đến sự ngưỡng mộ của cư dân Piltover, nhưng khắc ghi biệt danh ấy.

Anh biết Viktor vẫn ngoài đó, âm mưu báo thù.

Một ngày – có lẽ sẽ sớm thôi – một loạt rắc rối sẽ hướng tới Piltover.

Và Jayce sẽ ở đó chờ đợi.
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
Jax


Hiếm khi có chuyện một vị tướng lại bị đánh giá bởi những hành động của mình sau khi gia nhập Liên Minh Huyền Thoại thay vì trước đó.

Nhưng lại có và đó là trường hợp của Jax, người dẫn đến các cuộc tranh cãi rằng hắn ta là chiến sĩ giác đấu đáng gờm nhất hiện tại ở Viện Chiến Tranh.

Trước khi tham gia Liên Minh, Jax là một tên lính đánh thuê vô danh.

Vì một số lý do mà chỉ cựu lãnh đạo của Liên Minh, Bộ Trưởng Tối Cao - Reginald Ashram rõ, Jax đứng đầu trong danh sách ứng viên cho một cuộc Sát Hạch của Liên Minh - một quá trình kiểm tra xem người đó có nhận được chứng nhận danh hiệu tướng hay không.

Cuộc Sát Hạch của hắn diễn ra nhanh nhất trong cả lịch sử của Liên Minh, Cánh Cửa Thừa Nhận lóe sáng và chậm rãi mở ra ngay khi quá trình bắt đầu.

Jax chẳng gặp phải Quan Trắc hay Ảnh Phản gì trong kì Sát Hạch của hắn.

Jax lập tức chứng minh mình là một nỗi kinh hoàng trên Chiến Trường Công Lí.

Kẻ tự phong ''BậcThầy Vũ Khí" của Liên Minh tạo một chuỗi các chiến thắng liên tục mà mãi đến ngày nay vẫn chưa ai có thể sánh nổi.

Một số anh hùng ở Liên Minh bắt đầu lo ngại rằng sự khách quan ở Liên Minh Huyền Thoại sẽ có thể bị chất vấn, bởi sự hiện diện của một tên đấu sĩ vô danh bất khả chiến bại.

Chính vì lý do này mà lãnh đạo mới nhận chức của Liên Minh (sau vụ mất tích của Reginald Ashram), Bộ Trưởng Tối Cao - Heyward Relivash, đã ban hành một sắc lệnh đặc biệt buộc Jax phải tuân theo, một điều mà Liên Minh chưa bao giờ thực hiện trước đây và kể cả về sau.

Gã đấu sĩ đáp ứng, nhưng phải kèm theo một điều kiện đặc biệt của chính hắn; một dạng kháng nghị, hắn chỉ cho phép bản thân chiến đấu bằng một cây đèn đồng.

Dù bị ràng buộc bởi Liên Minh và chính bản thân, thành tích của Jax không hề bị lung lay.

Liên Minh đành bãi bỏ sắc lệnh, nhưng Jax thì không; hắn chiến đấu và chiến đấu dũng mãnh chỉ với cây đèn đồng tin cậy của mình.

''Hãy chú ý – đã từng có một nạn dịch vết bầm hình đèn đồng ở Liên Minh Huyền Thoại.''

-- Gragas
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
Jarvan IV


Hoàng tử Jarvan IV đến từ dòng dõi hoàng đế, và được tín nhiệm là người sẽ lãnh đạo Demacia trong tương lai.

Được nuôi lớn để trở thành tượng đài của những đức tính vĩ đại nhất của Demacia, Jarvan IV thường gặp nhiều khó khăn với những kỳ vọng được người đời đặt lên mình.

Trên chiến trường, anh dẫn đầu đoàn quân Demacia với dũng khí và can trường, tỏ rõ khả năng lãnh đạo nhân dân của anh.

Tuy rằng các bậc trị vì Demacia đều được chọn bởi một hội đồng những ứng viên danh dự, ba vị vua gần nhất đều đến từ một huyết thống.

Là con trai duy nhất của Hoàng đế Jarvan III, Jarvan IV được nuôi dạy từ nhỏ để kế thừa truyền thống gia đình đó.

Ý định này của gia đình được phản ánh từ mọi khía cạnh trong cuộc sống của Jarvan IV, từ trách vụ cao cả cho đến danh xưng của anh.

Ngoài được giáo dục bởi những nhà hiền triết anh minh nhất về cách trị vì một quốc gia, Jarvan IV còn học binh pháp chiến trận.

Trong suốt quá trình rèn luyện chiến đấu của Jarvan, anh thường đấu tập với một chiến binh trẻ mang tên Garen, người đang chuẩn bị để trở thành vệ binh Crownguard cho nhà vua tiếp theo.

Jarvan rất ngưỡng mộ sự kiên cường của Garen, và ngược lại với Garen là sự nhanh trí của hoàng tử.

Bộ đôi này nhanh chóng trở nên không thể tách rời.

Khi Jarvan IV trưởng thành, cha của anh trao cho anh nghĩa vụ cao cả là một tướng quân trong quân đội Demacia.

Tuy đã học binh pháp và chiến thuật, cũng như có thể đấu thắng thầy dạy kiếm của mình trên võ đài, Jarvan IV vẫn chưa bao giờ đích thân ra chiến tuyến, nói gì đến lấy đi một sinh mạng.

Quyết tâm chứng tỏ bản lĩnh bằng vinh quang chiến trận, Jarvan IV dẫn quân đối đầu với cướp tộc Vuốt Đông, các bộ tộc nội chiến, và thậm chí một băng nhóm pháp sư nổi loạn.

Tuy rất thành công khi lãnh đạo binh sĩ, Jarvan luôn thấy được bảo vệ bởi lính canh xung quanh mình, khiến anh không thể đóng góp cho cuộc chiến như một người lính được.

Khi quân Noxus cướp một vùng đất nông gần biên giới Demacia, Jarvan IV dẫn quân bảo vệ đất nước.

Anh cùng binh lính của mình hành quân nhiều ngày khi Noxus tấn công.

Tội ác của kẻ thù khiến Jarvan kinh hãi.

Quân Noxus đã thiêu trụi các bản làng và hạ sát hàng trăm cư dân Demacia; chỉ còn một vài nhân chứng sống sót.

Các đội trưởng của anh khuyên Jarvan nên rút lui và kêu gọi tiếp viện.

Nhưng làm sao hoàng tử Demacia, đứng trước những sinh linh đã nằm lại đó, có thể bỏ mặc những người sống sót cần cứu viện?

Anh sẽ bảo vệ những người bị thương và đảm bảo rằng kẻ thù sẽ không toàn mạng thoát thân.

Và cũng bởi vì, theo ý anh, một đoàn quân Demacia thứ hai sẽ không thể tiếp viện kịp thời để đối đầu với quân Noxus.

Jarvan phải hành động ngay.

Jarvan chia quân lính thành hai nhóm, một ở lại chữa chạy cho dân thường bị thương, còn lại cùng anh chinh chiến.

Họ phục kích quân Noxus trong đêm, nhưng giữa vòng chiến hỗn loạn, Jarvan bị lạc khỏi đoàn quân của mình.

Anh chiến đấu dũng mãnh và hạ gục được vô số kẻ thù, nhưng cuối cùng cũng bị áp đảo.

Quân Noxus bắt giữ Jarvan làm tù binh, với mục đích diễu hành anh trong xiềng xích qua Thành Bất Diệt cho đến khi tới Noxus.

Mỗi dặm đường rời xa khỏi Demacia trong những tuần bị bắt giữ này, Jarvan càng thấm nỗi nhục khiến cho nhiều binh sĩ Demacia phải bỏ mạng vì đã vội vã quyết định truy đuổi quân Noxus.

Đau đớn vì mất mát, anh tin rằng anh không còn xứng đáng được đặt chân trở lại Demacia nữa, nói gì đến việc kế tục ngai vàng.

Vào một đêm vắng trăng, Garen cùng một toán quân gan dạ mang tên đội Tiên Phong Bất Khuất tấn công doanh trại Noxus.

Tuy những chiến binh Demacia không thể đến được với hoàng tử, Jarvan vẫn kịp lợi dụng sự kiện đó để chiến đấu thoát thân.

Một mũi tên Noxus găm vào sườn Jarvan trên đường chạy trốn, nhưng anh đã chịu đựng được và biến mất vào hoang dã.

Jarvan chạy không dừng bước cho đến khi anh gục ngã vào giữa đống cây đổ nát ẩn mình trong đó và cố gắng băng bó vết thương hết sức có thể.

Cứ thế nhiều ngay trôi qua, lúc tỉnh lúc mê, Jarvan tin rằng thần chết đã đến gần kề.

Trong cơn nửa tình nửa mê đó, Jarvan về sau có nhớ lại một cô gái da tím với đôi mắt rực lửa đã cứu anh về một ngôi làng Demacia hẻo lánh.

Ở đó, anh được những thầy thuốc bản địa chăm sóc bằng lá thuốc cho đến khi khỏe lại.

Trong thời gian dưỡng sức, Jarvan cảm thấy sự yên bình tại khu làng nhỏ nơi đồi xa ngoài rìa Demacia này.

Lần đầu tiên trong đời, những gánh nặng và áp lực từ nghĩa vụ hoàng gia của anh để anh tự do.

Ngôi làng đã chào đón nống hậu một người lạ như anh, mang lại cho Jarvan cảm giác an bình hiếm có.

Ngoài ra, Jarvan còn được biết rằng nhân vật da tím bí hiểm đã cứu anh có tên là Shyvana.

Sự bình an của cuộc sống làng mạc chưa được bao lâu với Jarvan thì một con rồng khủng khiếp tới tàn phá những khu vực xung quanh, thiêu rụi nhà cửa và đất trồng thành tro bụi.

Jarvan biết rằng ngôi làng sẽ không sống sót được trước sự tấn công của rộng, vì thế, anh dẫn người dân đến một tòa thành gàn đó - Lâu Đài Wrenwall.

Đêm hôm đó, Jarvan bắt gặp Shyvana đang rời khỏi khu vực.

Cô thú nhận dòng máu nửa rồng của mình, và con thú đang hoành hành kia không ai khác chính là mẹ cô, Yvva, với lòng căm ghét Shyvana như vết nhơ trong huyết tộc của mình.

Yvva sẽ không dừng lại cho đến khi Shyvana nằm xuống.

Như mọi thần dân Demacia khác, Jarvan được dạy rằng phải luôn nghi ngờ mọi sinh vật thần bí trên thế giới - nhưng anh tin vào lòng tốt và sức mạnh của Shyvana; và quyết tâm trả món nợ sinh mạng của mình cho cô.

Chỉ có cách hợp sức, họ mới có thể đánh bại được kẻ thù đáng gờm như vậy.

Với hiểm họa rồng tấn công luôn chực chờ, Jarvan rèn luyện những người dân làng để cùng chiến đấu với các binh sĩ.

Anh chọn một khu phế tích petricite cổ phía tây làm địa điểm giao chiến.

Nơi đây từng là khu điện thờ cấp cao được xây vào thời đại biến động của Cuộc Chiến Cổ Ngữ; và giờ đây những phiến đá hóa giải phép thuật sẽ là tấm khiên tốt nhất của họ trước loài rồng.

Anh còn lấy đá petricite làm đầu mũi tên cho họ, vì biết rằng chỉ có sự đồng lòng chuẩn bị kỹ càng nhất mới có thể cho họ một cơ hội hạ gục con quái thú.

Shyvana đứng giữa khu phế tích trong khi Jarvan và các binh sĩ ẩn mình xung quanh.

Anh sững sờ nhìn Shyvana biến thân thành rồng, lửa phun kín trời như một lời thách thức đến với mẹ của cô.

Những người dân làng phải lùi lại vì sợ hãi, nhưng Jarvan củng cố lòng dũng cảm của họ, nhắc lại rằng Shyvana sẽ giúp họ tiêu diệt kẻ thù.

Chỉ sau một chốc, một hình bóng thậm chí còn kinh khủng hơn che phủ bầu trời - Yvva, rồng khổng lồ, đã hạ cánh.

Theo lệnh Jarvan, hàng chục mũi tên kháng ma thạch từ tay cung những binh sĩ găm vào lưng con rồng, mỗi mũi tên lấy đi một chút sức mạnh của nó.

Từng đợt lửa cháy bỏng được phun ra mỗi khi Yvva quằn quại vì đau đớn.

Áo giáp cũng những binh sĩ tuy cũng cháy đen, nhưng những mũi tên vẫn được bắn ra không ngừng nghỉ, cùng với không gian chật hẹp của khu phế tích khiến con rồng không thể cất cánh.

Sức mạnh long trời lở đất khi Shyvana và mẹ cô đụng độ khiến Jarvan lặng người.

Đôi quái thú khổng lồ giao chiến trong mịt mù cho đến khi Jarvan chẳng thế phân biệt nổi ai là ai, khiến anh phải lệnh cho cung thủ ngừng bắn, sợ rằng những mũi tên sẽ đả thương bạn mình.

Tim anh thắt lại khi thấy Shyvana biến trở về dạng người, máu chảy thành dòng từ cổ.

Nhưng, mắt vẫn không hề rời mắt mẹ, Shyvana tước lấy trái tim nóng bỏng của mẹ cô từ lồng ngực với bộ vuốt rực lửa.

Kẻ thù đã bị tiêu diệt, Jarvan IV cuối cùng cũng cảm thấy xứng đáng được trở về quê hương.

Anh hiểu ra rằng những giá trị đích thực của người Demacia không chỉ nằm ở vinh quang chiến thắng, mà còn ở việc sát cánh bên nhau chiến đấu, bất kể khác biệt.

Để thưởng cho dũng khí của Shyvana, anh hứa rằng cô sẽ luôn có thể coi nơi đây là nhà của cô.

Thế nhưng cả hai người đều biết rằng vương quốc Demacia sẽ luôn nghi ngờ bản chất của ma thuật, vì vậy Shyvana thề sẽ không để lộ nguyên hình chừng nào cô còn chiến đấu bên cạnh Jarvan.

Họ cùng nhau trở về thủ đô, đầu của rồng Yvva được kéo theo sau.

Tuy hầu hết mọi người đều vui mừng khi thấy hoàng tử của họ trở về an toàn, những người khác nghi ngờ quyết định của Jarvan khi tuyển mộ Shyvana làm cận vệ, và mối nghi ngờ đó càng tăng lên khi biết anh không về thẳng thủ đô ngay sau khi thoát khỏi quân Noxus.

Cho dù vua Jarvan III có nghĩ gì đi chăng nữa, bề ngoài ông vẫn chào mừng con trai trở về.

Với nghĩa vụ hoàng gia được phục hồi, Jarvan thề sẽ giữ vững lý tưởng Demacia, bằng cách xây dựng một cường quốc coi trọng từng người dân và thống nhất tất cả trước bất kỳ thế lực thù địch nào.
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
Janna


Sở hữu sức mạnh bão tố của Runeterra, là một tinh linh gió đầy bí ẩn bảo vệ cho những con người khốn cùng ở Zaun.

Nhiều người tin rằng cô có mặt trên trần thế theo lời thỉnh cầu của các thủy thủ mong mỏi cơn gió thuận khi băng qua vùng nước đầy bất trắc và bão dông.

Kể từ đó, lòng tốt và sự bảo hộ của cô được kêu gọi từ thẳm sâu đất Zaun, nơi trở thành biểu tượng cho hy vọng với những ai cần đến.

Không người nào biết cô sẽ xuất hiện và ở đâu, nhưng thường thì, cô luôn đến để giúp đỡ.

Nhiều thủy thủ Runeterra có thói mê tín kỳ lạ, chẳng lạ gì khi họ luôn phải liều mình trước thời tiết bất thường.

Có thuyền trưởng quả quyết phải đổ muối lên sàn để biển không nhận ra họ từ đất liền tới.

Kẻ khác thì chắc chắn phải ném con cá đầu tiên bắt được xuống nước để tỏ lòng nhân từ.

Không có gì đáng ngạc nhiên, hầu hết họ đều khẩn nài gió đều, biển lặng, và trời trong.

Nhiều người tin rằng tinh linh được sinh ra từ những lời nguyện ấy.

Cô khởi đầu thật khiêm tốn.

Các nhà hải hành đôi khi phát hiện ra một chú chim màu lam sáng rực ngay trước khi ngọn gió mát lành tràn ngập cánh buồm.

Những người khác thề rằng họ đã nghe thấy tiếng huýt sáo trong không trung ngay trước cơn bão, như thể cảnh báo họ về điều sắp tới.

Tin đồn về điềm lành cứ thế lan truyền, và người ta cũng nhìn thấy chú chim kia thường xuyên hơn.

Có kẻ thề rằng đã thấy con vật biến hình thành một phụ nữ.

Đôi tai nhọn, suối tóc bồng bềnh, cô gái thần bí này được tả là lơ lửng trên mặt nước và điều hướng cơn gió nhờ cây quyền trượng.

Các nhà hải hành lập ra những bàn thờ nhỏ từ xương sẻ biển và vỏ xò gắn quanh mũi thuyền.

Những con tàu giàu có hơn thì tạc hình đầu người trên cột buồm, hy vọng cách thể hiện lòng tin đầy phô trương này sẽ cho họ luồng khí lưu thuận lợi nhất.

Cuối cùng, thủy thủ ở Runeterra đồng ý với cái tên cảu tinh linh gió này: "," một từ Shurima cổ mang nghĩa "người canh gác."

Càng có thêm thủy thủ tin vào và dâng tế phẩm để cầu xin ân huệ, cô càng mạnh mẽ hơn. giúp các nhà thám hiểm đi qua vùng nước mới, đưa thuyền bè ra khỏi rặng đá ngầm nguy hiểm, và – trong những đêm không trăng – bao bọc quanh vai người thủy thủ nhớ nhà bằng làn gió ấm áp.

Những kẻ ra khơi với ý đồ xấu – hải tặc, cướp bóc, và tương tự - đôi khi được đồn là đã hất chúng văng khỏi hải trình bằng những cơn dông bão bất chợt.

rất vui thích với công việc của mình.

Dù là giúp đỡ người khác hay trừng phạt những kẻ đáng bị vậy, cô cũng thấy hạnh phúc khi coi sóc các đại dương ở Runeterra.

Từ rất lâu rồi, một eo đất đã chia đôi đại dương phía đông và phía tây Valoran.

Để di chuyển từ tây sang đông, hoặc ngược lại, thuyền bè phải đối mặt với những vùng nước nguy hiểm khó lường ở mũi phía nam lục địa.

Hầu hết thủy thủ đều dâng lễ vật cho để đổi lấy ngọn gió mạnh mẽ hỗ trợ họ trên hành trình quanh bờ biển lởm chởm đá.

Những người điều hành thành phố thương mại sầm uất bên bờ eo đất đã phát mệt khi nhìn từng đoàn thuyền làm một chuyến đi dài dằng dặc qua phias nam lục địa, thường phải mất nhiều tháng.

Họ thuê những khoa học gia xuất sắc nhất để dùng nguồn tài nguyên hóa chất dồi dào mới được khám phá trong vùng nhằm tạo ra một con đường khổng lồ nối liên các biển lớn ở Valoran.

Tin tức về con kênh này lan nhanh trong giới thủy thủ.

Lối đi đó sẽ mở ra những cơ hội giao thương không giới hạn, cho phép những chuyến đi dễ dàng hơn, giảm thiểu thời gian hải hành và mở đầu cho việc vận chuyển hàng hóa dễ hỏng.

Nó sẽ đưa đông đến với tây, tây lại với đông, và trên hết, nó đem tới thay đổi.

Nếu có con kênh, các thủy thủ sẽ không cần gió từ để giữ thuyền an toàn đi qua những vách đá của Valoran.

Họ chẳng cần lập bàn thờ hay nhìn ra chân trời mờ mịt tìm bóng những chú chim xanh.

Sự an toàn và tốc độ của con thuyền không còn phụ thuộc vào một vị thần khó đoán, mà vào tài khéo léo của con người.

Do đó, khi công cuộc xây dựng tiến triển suốt nhiều thập kỷ, mờ nhạt dần.

Điện thờ đổ nát, bị hải âu tha mất, và hiếm khi tên cô được nhắc đến, kể cả khi con nước biến động hơn vào mùa đông.

thấy mình yếu đi, quyền năng của cô dần biến mất.

Khi cô triệu hồi cơn cuồng phong, cô chỉ gọi ra được một làn gió thoảng.

Nếu biến thành dạng chim, cô chỉ bay được vài phút trước khi phải nghỉ ngơi.

Mới vài năm trước, cô quan trọng biết bao với những người đi biển – họ quên đi người giữ họ an toàn và vinh danh những lời nguyện cầu của họ mới dễ dàng làm sao? buồn bã khi dần dần lụi tàn vào quên lãng, và khi con kênh hoàn thiện, tất cả những gì còn lại trong cô tan biến.

Buổi khai trương con kênh thật náo nhiệt.

Hàng ngàn thiết bị hóa-kỹ được đặt khắp eo đất.

Những người điều hành thành phố tụ tập lại cho lễ châm ngòi trong lúc khách lữ hành khắp thế giới ngóng chờ, với nụ cười trên môi và tự hào trong tim.

Thiết bị nổ kích hoạt.

Gói hóa chất từ đá nóng chảy tỏa ra.

Tiếng nổ vang vọng khắp eo đất.

Mặt vách đá bắt đầu nứt ra.

Đất bắt đầu rung chuyển.

Những người tập hợp nghe tiếng nước gầm và khí ga phun xì xì.

Đó là lúc tiếng la hét vang lên.

Trong những năm sau, không ai biết chính xác nguyên nhân thảm họa.

Có người nói đó là do sự bất ổn của bom hóa-kỹ, người khác thì bảo đó là do tính toán sai lầm của các kỹ sư.

Dù gì đi nữa, vụ nổ cũng tạo ra phản ứng động đất dây chuyền làm rung chuyển eo đất đến tận nền móng.

Cả quận đổ sụp xuống đại dương, và gần nửa số cư dân thành phố chợt thấy mình phải đấu tranh giành mạng sống khi dòng thủy lưu đông tây đụng đầu.

Hàng ngàn người chìm dưới cơn sóng triều, họ van xin giúp đỡ, cầu nguyện cứu cánh.

Họ cất lên cái tên, cho đến gần đây, trái tim họ luôn nhớ tới mỗi lúc biển sâu trỗi dậy:

.

Những lời cầu khẩn tha thiết dấy lên mạnh mẽ, và được vật chất hóa với sức mạnh vĩ đại hơn nhiều lần trước đây.

Phần đông người chìm dưới nước đã chết đuối, nhưng khi đám mây hóa-khí độc hại rò rỉ ra phố, khiến hàng trăm người không may hít phải nghẹt thở, biết cách giúp họ.

Cô biến mất trong màn khí đang bao trùm những nạn nhân bất lực trong ngày con kênh vĩ đại ra đời.

Giơ cao quyền trượng, cô nhắm mắt lại khi gió cuộn tròn xung quanh, lốc xoáy mạnh mẽ đến mức những người triệu hồi cô sợ rằng họ sẽ bị nuốt chửng hay xé tan thành mảnh vụn.

Cây trượng của cô sáng rực ánh xanh cho đến khi cô dộng nó xuống, xua tan màn hơi độc bằng một pha bùng nổ không khí mạnh mẽ.

Mọi người hô hấp lại bình thường và ngước nhìn cô gái đã cứu sống họ, thề sẽ không bao giờ quên cô một lần nào nữa.

Một cơn gió thổi qua đường phố, và biến mất... dù có người thề rằng họ đã thấy một con chim xanh làm tổ trên tòa tháp bằng sắt thép và kính màu cao ngất trên thành phố.

Nhiều năm sau khi thành phố mang tên Zaun được sửa sang và thành phố rực rỡ Piltover được xây dựng trên đó, cái tên của vẫn tồn tại trong vô số câu chuyện kể về tinh linh gió lãng du xuất hiện khi ai đó cần đến.

Lúc Zaun Xám dày thêm, có người bảo thổi tan nó đi, rồi biến mất nhanh như khi đến.

Khi thủ hạ một Hóa-Chủ đi quá xa hay tiếng kêu than của một nạn nhân không được đáp lại, một cơn cuồng phong đáng sợ có thể quét qua con hẻm và giúp người mà những người khác không sẵn lòng giúp.

Có người nói là một thần thoại: một câu chuyện cổ tích đầy lạc quan đem lại chút hy vọng cho những người tuyệt vọng nhất Zaun khi họ cần.

Những người khác – những người nghĩ đến khi gió thổi qua khe hẹp hay quấn quanh điện thờ tự tay làm – biết rõ hơn nhiều.

Khi gió thổi tung quần áo đang phơi, chắc chắn đang hiện diện trong không khí.

Mỗi Ngày Tiến Bộ, không cần biết thời tiết lạnh lẽo ra sao, các tín đồ vẫn mở tung cửa để có thể xua đi không khí cũ kỹ của năm ngoái và chào đón luồng gió mới.

Cả những ai hoài nghi nhất cũng thấy tinh thần nhẹ nhõm khi bắt gặp một con chim xanh đập cánh bay qua đường phố Zaun.

Dù không ai biết chắc khi nào, làm sao, hay liệu có xuất hiện hay không, nhưng hầu hết mọi người đều đồng tình với một điều: thật hay khi có ai đó trông chừng cho bạn.
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
Irelia


Từ khi còn nhỏ, Xan Irelia đã thích thú trước sự thanh nhã và vẻ đẹp từ chuyển động của con người.

Dưới sự hướng dẫn của bà, cô học điệu múa lụa truyền thống trong tỉnh—dù khá ngờ vực về mối quan hệ thần bí của chúng với Tinh Linh Ionia, nhưng cô thực sự yêu chúng.

Trên đường tìm kiếm cách làm chủ môn nghệ thuật này, cô rời nhà đến thụ giáo những nghệ nhân đáng kính nhất ở Thiên Phận Navori.

Người dân Irelia sống hòa bình với láng giềng, nhưng tin đồn về quân xâm lược ngoại bang đã khiến nhiều người ở Thiên Phận lo lắng.

Irelia trở về làng và thấy nó đã bị chiếm đóng, những binh sĩ Noxus đội mũ thép cầm giáo xua dân chúng qua những con đường.

Đô đốc Duqal đã chiếm Xan làm nơi đóng quân.

Cha Irelia, Lito, cùng các anh trai đã kháng cự; giờ cả nhà cô nằm dưới những ngôi mộ không tên rải rác khắp khu vườn.

Trong cơn buồn thương, cô gái trẻ thấy người của Duqal đang khuân những món đồ giá trị khỏi ngôi nhà.

Giữa đám chiến lợi phẩm là một huy hiệu kim loại lớn, biểu tượng của gia tộc Xan.

Irelia chạy thẳng tới, giằng nó khỏi tay quân Noxus.

Tên đô đốc hất cô ngã xuống đất, và lệnh cho đám chiến binh lấy búa đập nát huy hiệu, trước khi đào một ngôi mộ mới cho kẻ cứng đầu này.

Irelia nhìn vào mảnh vụn của huy hiệu gia tộc Xan nằm trên mặt đất.

Từ sâu trong tâm hồn, cô thấy một nhịp điệu lạ kỳ bắt đầu trỗi dậy.

Những mảnh kim loại xoắn vặn, cứ như đang tự di chuyển, và niềm vui thuần khiết của những điệu nhảy lại tràn ngập tâm trí Irelia...

Quét tay một cái, những mảnh vỡ bay vèo vèo, cắt qua người hai tên Noxus.

Nhân lúc Duqal và thủ hạ đang choáng váng, Irelia chụp lấy tấm huy hiệu đã vỡ và chạy khỏi làng.

Trong khu rừng tĩnh lặng cách đó rất xa, Irelia than khóc cho gia đình, và nhớ lại những gì bà đã dạy.

Cô nhận ra những gì mình học được không chỉ là những điệu nhảy bình thường—chúng biểu hiện cho thứ gì đó to lớn hơn rất nhiều.

Cuộc xâm lăng của Noxus sớm trở thành bài thử cho nền hòa bình mong manh ở Vùng Đất Đầu Tiên.

Nghe đồn cả giáo chủ Karma cũng bị buộc phải đánh trả, dù các môn đồ của cô giờ đã rút khỏi Đền Vĩnh Hằng và không gây thêm bạo lực nào nữa.

Khắp Navori, những con người bất mãn tập hợp lại.

Một đội quân kháng chiến hình thành, và sẽ không ngừng nghỉ cho đến khi Ionia được giải phóng.

Irelia gia nhập hàng ngũ đó, biểu diễn những vũ điệu tươi vui của mình trong những khu trại giữa rừng, để bảo tồn nền văn hóa đang mất dần.

Cô mới suýt soát mười bốn tuổi khi trở lại Thiên Phận.

Quân kháng chiến tham gia cùng đội dân binh đã thề bảo vệ các tu viện và các khu vườn thiêng hoang dã.

Nhưng quân Noxus biết quá rõ nơi này đại diện cho điều gì.

Tên tướng quân xảo quyệt Jericho Swain đã chiếm Thiên Phận và bắt quân phòng thủ làm con tin, hy vọng lùa đội tiếp viện vào bẫy.

Chính lúc đó, định mệnh của Irelia trỗi dậy.

Thoát khỏi mọi trói buộc, cô giải phóng hoàn toàn tiềm năng của điệu kiếm vũ.

Một tá cựu binh của Swain ngã xuống, khiến hàng ngũ rối loạn trong lúc những người đang bị cầm tù tham chiến cùng cô, trước khi cô hạ gục chính tên tướng quân—cảnh cô gái giơ cao cánh tay bị chặt đứt của hắn chính là bước ngoặt của cuộc chiến.

Chiến thắng này, Đại Chiến Vệ Quốc ở Navori, khiến Xan Irelia được mọi người Ionia biết tên, và mong cô lên làm lãnh đạo.

Cô miễn cưỡng chỉ huy quân kháng chiến gần ba năm trước khi khải hoàn ở Vịnh Dalu.

Ở đó, cô đã dồn Đô đốc Duqal vào chân tường, và báo thù cho những người thân đã khuất.

Dù chiến tranh kết thúc đã lâu, nhưng Ionia vĩnh viễn bị nó thay đổi.

Vùng Đất Đầu Tiên giờ bị chia cắt, với nhiều phe phái thù nghịch đấu đá lẫn nhau khốc liệt không khác gì với quân Noxus.

Nhiều người tiếp tục trông đợi ở Irelia nhưng, trong khi người khác mong mỏi quyền lực, Irelia lại thấy không thoải mái với nó.

Sâu trong trái tim, cô vẫn chỉ muốn nhảy múa một mình.
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
Heimerdinger


Trích Ghi chú của Giáo sư Cecil B.

Heimerdinger

10.14

09:15

Điều kiện khí tượng của thành phố Bandle có vẻ hoàn hảo.

Áp suất khí quyển lí tưởng để tiến hành thí nghiệm!

Tiến hành chạy thử lần thứ năm cho máy Tridyminiumobulator vào trưa nay.

Cần tinh chỉnh thêm; bộ ria của ta bị cháy xém.

Cần điều chỉnh việc truyền dẫn năng lượng.

16:00

Tridyminiumobulator vẫn chưa giữ được mức hiệu năng mong muốn!

Cần nghiên cứu thêm số liệu.

Trong khi đó, ta đã phát hiện ra một thứ khác rất thú vị.

Khi đang trên đường trở về nhà sau những thí nghiệm hôm nay, ta đi ngang qua một nhóm trẻ con yordle ném những vật hình cầu vào nhau.

Đó là một khái niệm đơn giản: ném vật thể vào ai đó, chụp lại, ném nó vào một yordle khác, lặp lại.

Nhưng những tính toán trật chìa của yordle tạo ra nhiều lỗi!

Độ chính xác và lực ném không ổn định, và "quả bóng" (chúng gọi thế) thường rớt xuống đất...

Có rất nhiều cách để cải thiện quá trình này.

Theo tính toán của ta, và sau khi thu thập dữ liệu từ những người tham gia, nếu cú ném có được tốc độ và hướng đi ổn định thì niềm vui sẽ tăng 44.57%!

Ta cần phải nghĩ thêm về vấn đề này vào tối nay.

10.15

05:20

Eureka!

Ta đã có giải pháp.

Ta đã tạo ra một máy bắn bóng tự động.

Tên hiện tại: H-28G.

Nó có tốc độ và đường bay ổn định, đảm bảo người nhận luôn bắt được bóng.

Nó sẽ tự chuyển hướng đến yordle gần nhất (nếu có nhiều hơn một trong khu vực gần đó) để chắc chắn mọi người đều được chơi.

Ta sẽ đem nó đến bọn trẻ em yordle để trình diễn sáng chế này.

Ngoài ra: đổ axit độc lên giày sáng nay.

Phiền phức.

10:30

Hôm nay thử nghiệm máy bắn bóng tự động.

Mọi thứ không diễn ra như hoạch định.

Bọn trẻ con rất hào hứng, nhưng, khi máy được bật lên, nó quá mạnh!

Ngay cả ở mức thấp nhất nó vẫn bắn văng một đứa bé yordle.

Rõ ràng, ta đã đánh giá quá cao vận tốc những cú ném của bọn trẻ...

Ta sẽ quay lại để điều chỉnh sau.

Nhưng hiện tại thì ưu tiên của là cái máy Tridyminiumobulator; ta phải chỉnh xong nó trước bữa trưa.

Khi hoàn thành, ta sẽ phải thử nghiệm ở một chỗ khác.

Thành phố Bandle rõ ràng là không thể đủ dùng làm bãi thử nữa.

10.16

15:55

Rõ ràng là đang có một gã khổng lồ trong thành phố.

Một thứ dị thường vô cùng khó chịu.

Tiếng ồn bên ngoài ảnh hưởng đến công tác nghiên cứu của ta!

Hôm nay phải kiểm tra hồ cá.

Dạo này chúng hơi yên ắng...

10.17

10:40

Ta nghe nói nhiều yordle đã bị thương vì gã khổng lồ đó.

Nếu chuyện này không kết thúc sớm, phải có sự can thiệp!

Ta hi vọng rằng khẩu H-28G vẫn còn nguyên vẹn.

Nếu phải làm lại nó thì mất thời gian lắm.

16:30

Mọi thứ lại yên ắng.

Có vẻ như gã khổng lồ đã bình tĩnh lại và bỏ đi.

Ta cần phải đi thu khẩu H-28G lại, khi nào giải quyết xong các vấn đề cấp thiết khác đã.

Ta đã gần hoàn thiện máy Tridyminiumobulator rồi!

10.18

08:30

Hôm nay quả là một ngày chộn rộn.

Ta rất bất ngờ khi có người gõ cửa.

Có vẻ như cả thành phố đã đến trước cửa nhà ta.

Thông thường, khi có một đám đông tụ tập lại là do họ muốn than phiền về công chuyện của ta.

Nhưng lần này họ đang reo hò vui vẻ!

Thật bất ngờ, có vẻ như một cậu yordle trẻ nào đó đã tận dụng mẫu súng H-28G của ta để lại khi gã khồng lồ quậy phá.

Cậu ta tỏ ra sáng tạo, và đã biến phát minh của ta thành một ụ súng máy.

Nó đủ sức mạnh để đuổi gả khổng lồ đi.

Hãy tưởng tượng mà xem!

Quả là một chàng trai thiên tài.

Ước gì ta có thể có được sự hợp tác của cậu ta trong tương lai.

Ta có những kế hoạch lớn lao và sự hỗ trợ của cậu ta sẽ rất hữu ích.

Nhưng ta phải rời thành phố Bandle.

Với tầm vóc của những dự án này, ta cần những bãi thử rộng rãi hơn.

Cả Runeterra mới đủ!
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
Galio


Huyền thoại về Galio khởi nguồn từ những tàn tích của Chiến Tranh Cổ Ngữ, khi vô số những người tị nạn trốn chạy khỏi quyền năng hủy diệt của ma thuật.

Ở một nơi phía tây Valoran, đoàn người trốn chạy bị truy đuổi bởi một đám pháp sư hắc ám tàn ác—kiệt sức vì nhiều ngày liên tục lẩn trốn, những người tị nạn ẩn náu dưới bóng một tán rừng hóa thạch cổ đại, và tại nơi đây, đột nhiên những kẻ truy đuổi phát hiện ra rằng ma thuật của họ không hề có tác dụng.

Dường như những tán cây hóa thạch là những tấm khiên chắn ma thuật tự nhiên, và bất kì pháp thuật nào sử dụng lên chúng đều đơn giản là trở nên thất bại.

Không còn vô vọng nữa, đoàn người tị nạn quay mũi kiếm của họ vào đám pháp sư hắc ám và đuổi họ khỏi vùng đất đó.

Một số người cho rằng nơi thánh địa đó là một món quà từ thần linh, những người khác nghĩ rằng nó là một phần thưởng xứng đáng cho chuyến hành trình khủng khiếp của họ, nhưng tất cả đều đồng ý rằng đó sẽ là quê hương mới của họ.

Nhiều năm trôi qua, những người định cư bắt đầu biết chế tạo những công cụ phòng hộ từ khu rừng được phù phép.

Rốt cuộc, họ phát hiện ra rằng nó có thể được trộn với tàn tro và đá vôi để tạo nên kháng ma thạch—thứ vật liệu có khả năng kháng ma thuật cực mạnh.

Đó là nền tảng cho một nền văn minh mới, bên trong những bức tường thành của vương quốc Demacia.

Trong nhiều năm, những tấm khiên chắn kháng ma thạch là tất cả những gì người Demacia cần để cảm thấy an toàn khỏi mối hiểm họa ma thuật từ bên trong biên giới của quê hương.

Trong dịp hiếm hoi, khi cần giải quyết những xung đột bên ngoài, quân đội của họ đều chứng tỏ được sự dũng mãnh và đáng sợ của mình... nhưng khi đối thủ triển khai ma thuật, những đoàn quân viễn chinh của Demacia gần như không thể chống trả.

Họ cần phải đưa tấm khiên chắn ma thuật của họ ra chiến trận, bằng một cách nào đó.

Nhà điêu khắc Durand đã được giao nhiệm vụ thiết kế một bức tường kháng ma thạch cho quân đội, và hai năm sau ông đã vén màn cho tuyệt tác của mình.

Dù chẳng phải là thứ mà nhiều người đã mong chờ, bức tượng vệ thần có cánh Galio đã trở thành một phần thiết yếu trong cuộc chiến vệ quốc, và cũng là biểu tượng của Demacia trên khắp vùng Valoran.

Dùng một hệ thống ròng rọc, búa thép và vô số trâu bò, họ kéo bức tượng đá khổng lồ ra chiến trận.

Và những kẻ xâm lăng chỉ biết sững sờ trước bóng đen khổng lồ bao phủ lên họ—vị vệ thần "ăn ma thuật" tượng trưng cho cả một vương quốc, và là nỗi kinh hoàng của những kẻ dám chống đối.

Dù vậy, chẳng ai có thể mường tượng được khi bức tượng hấp thụ quá nhiều năng lượng bất ổn, điều gì sẽ xảy đến...

Demacia đang sa lầy trong một trận chiến với lực lượng đối địch nơi Núi Nanh Lục.

Một hội pháp sư chiến trận tinh nhuệ, được biết đến với cái tên Nắm Đấm Bí Thuật, oanh tạc lực lượng của Demacia bằng những tia sét năng lượng thần bí trong suốt mười ba ngày.

Những kẻ may mắn sống sót với sĩ khí giờ đã tiêu tan, rút về chỗ Galio.

Trong thời khắc tinh thần của họ đang sụt giảm hơn bao giờ hết, một tiếng động chậm chạp mà vang trời vọng lên nơi thung lũng, như thể hai ngọn núi đang nghiến nhau.

Khi bóng đen khổng lồ bao phủ lên họ, những người lính Demacia đều đã sẵn sàng cho thời khắc tận cùng của mình.

Một tiếng gầm vang vọng từ phía trên.

Trong sự kinh ngạc của quân Demacia, tiếng động đó phát ra từ vị vệ thần khổng lồ phía sau lưng họ—Galio đang tự thân di chuyển, nói chuyện.

Bằng một cách nào đó, thứ năng lượng khủng khiếp đã hấp thụ đã cho ông ta sự sống.

Ông bước lên phía trước những người lính Demacia, che chở cho họ hết đòn này đến đòn khác, hấp thụ những tia sét ma thuật vào trong tấm thân hộ pháp, sắt đá của mình.

Và rồi Galio xoay mình, lao vút về phía sườn núi, nghiền nát từng tên Nắm Đấm Bí Thuật vào sỏi đá khô cằn.

Những người lính Demacia mừng rỡ.

Họ muốn bày tỏ lòng biết ơn đối với vị vệ thần kháng ma thạch đã cứu mạng họ... nhưng cũng nhanh chóng như khi sống dậy, người hộ pháp đáng sợ của họ đã trở về chỗ bệ đỡ, đứng lặng yên tự lúc nào.

Trở về Đại Đô, câu chuyện kì dị này được kể lại những kẻ may mắn sống sót sau Trận Nanh Lục, nhưng chỉ được đáp lại bằng sự lặng thinh.

Ngày hôm đó đã trở thành một huyền thoại—có lẽ là một câu chuyện cổ tích hoang đường để khích lệ mọi người trong những thời khắc khó khăn

Dĩ nhiên, chẳng ai có thể tin được rằng vị thần khổng lồ vẫn đang tiếp tục dõi theo những sự vật đang diễn ra quanh ông.

Ngay cả khi bất động, Galio vẫn giữ được ý thức, khao khát trải nghiệm cảm giác của chiến trận một lần nữa.

Ông ngắm nhìn những kẻ phàm nhân qua lại dưới chân mình, dâng đồ cúng lễ hết năm này đến năm khác.

Ông chẳng thể hiểu vì sao rồi từng người một lại biến mất khi thời gian trôi qua.

Galio tự hỏi họ đã đi đâu.

Có lẽ họ được đưa đi sửa chữa chăng, cũng như ông sau mỗi lần quay trở về từ chiến trận?

Rồi nhiều năm nữa trôi qua, Galio nhận ra câu trả lời tàn khốc cho thắc mắc của mình—không như ông, những người Demacia không thể được sơn lại, và những tổn thương của họ hề dễ dàng để sửa chữa.

Nhân loại là những sinh vật mỏng manh, phù du, và ông hiểu rằng họ cần sự bảo vệ của mình đến nhường nào.

Chiến đấu là khát khao của ông, nhưng giờ đây, những con người này mới là mục đích của ông.

Dù vậy, Galio chỉ được triệu ra chiến trận vài lần trong suốt nhiều thế kỷ.

Demacia đã bắt đầu chú trọng đến những việc bên trong hơn, cùng với đó là sự suy giảm của ma thuật trên thế giới so với trước đây, và cũng vì thế nên vị vệ thần khổng lồ vẫn cứ đứng yên đó, quan sát thế giới qua bức màn u tối nơi giấc mộng tỉnh thức của mình.

Niềm hy vọng lớn nhất của bức tượng là một ngày ông sẽ nhận được nguồn năng lượng ma thuật mạnh đến nỗi ông sẽ không cần phải chìm vào giấc ngủ nữa.

Chỉ khi đó, Galio mới có thể hoàn toàn theo đuổi sứ mệnh của mình: đứng lên và chiến đấu như một người bảo hộ của Demacia, ngày đó và mãi mãi về sau.
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
Gnar


Trước khi băng giá bao phủ Freljord, nơi đây từng là một vùng đất căng tràn nhựa sống - thật vậy, nếu ai đó có thể nhìn thấy vùng đất này qua đôi mắt của Gnar.

Là một yordle non trẻ với nguồn năng lượng dồi dào, Gnar cùng đồng loại của mình sinh sống trong một bộ tộc nơi vùng đất phương bắc.

Dù nhỏ bé đến nỗi những dấu chân gần như không thể in hằn trên tuyết, tính khí của cậu lại trái ngược hoàn toàn với những sinh vật khổng lồ hơn cậu gấp nhiều lần, và cậu ta sẽ luôn bập bẹ chửi rủa mỗi khi có điều gì đó không vừa ý.

Cũng vì vậy, Gnar cảm thấy gắn kết những sinh vật to lớn và thông minh kia, những sinh vật luôn cố tránh xa người phàm.

Đối với Gnar, họ cũng như những yordle khổng lồ với bộ lông trắng muốt... và với cậu thế đã là đủ.

Trong khi những bộ tộc cùng nhau du hành khắp vùng lãnh nguyên, nhặt nhạnh những loài quả mọng mọc dại và những bụi rêu ngon lành, Gnar lại dành thời gian kiếm tìm những thứ thiết thực hơn, như những hòn đá, hòn sỏi, hay những xác chết thối rữa của những con chim.

Món đồ quý giá nhất mà cậu tìm được là một mảnh xương hàm của một con drüvask.

Khi nhặt được nó từ mặt đất lạnh giá, cậu đã kêu lên vui sướng và ném nó đi xa nhất có thể.

Và nó hạ cánh cách đó chỉ hai bước nhảy.

Cảm thấy thích thú với thành công ban đầu, Gnar đã đem chiếc "boomerang" theo mình đến tất cả mọi nơi.

Vùng đất này dù đã đem lại cho cậu những món đồ chơi mới - những mẩu sợi lấp lánh, những giọt mật ngọt, hay những vòng tròn kỳ lạ - nhưng chẳng thứ nào có thể sánh được với niềm vui được ném và nhặt thứ vũ khí chết chóc ấy.

Cậu tự cho mình là một thợ săn, và theo đuổi những đàn thú hoang chẳng hề để tâm đến cậu.

Nhưng ngay cả cậu cũng có thể cảm nhận được sự thay đổi đang dần đến với vùng đất này.

Bầu trời trở nên u tối hơn.

Những cơn gió trở nên lạnh lẽo hơn.

Và những tộc người đã từng du hành cùng nhau, giờ lại trở mặt và săn đuổi nhau...

Những yordle trắng khổng lồ sẽ biết phải làm gì.

Gnar muốn tìm đến họ.

Dùng tất cả những kỹ năng săn đuổi của mình, cậu theo dấu họ đến một đỉnh núi phủ tuyết phía trên một dãy núi khổng lồ, xa hơn nhiều so với những nơi mà cậu từng đi qua.

Và trong khi đang âm thầm tiến đến, cậu thấy có rất nhiều người phàm đã ở sẵn đó, vượt xa con số mà cậu có thể đếm được.

Điều này thật thú vị, nhưng có vẻ như không có ai lấy gì làm vui vẻ thì phải.

Rồi mặt đất rung chuyển, và nứt đôi ra.

Lần đầu tiên trong đời Gnar, cậu có lẽ đang chứng kiến tất cả mọi người trở nên giận dữ.

Những người phàm la hét.

Những yordle khổng lồ gầm lên.

Nhưng rồi sự xuất hiện của con quái vật đã khiến tất cả câm lặng.

Dần trồi lên từ vực thẳm vừa mới hình thành, những chiếc sừng khổng lồ, những xúc tu hủy diệt, và một con mắt, rực cháy với một thứ ánh sáng kỳ dị khiến lông của Gnar dựng ngược.

Khi nhìn thấy một vài người phàm bắt đầu bỏ chạy, Gnar bắt đầu cảm thấy một cơn đau kỳ lạ nơi lồng ngực - nó như là khi cậu nghĩ đến việc sẽ đánh mất chiếc boomerang, hoặc là sẽ chẳng bao giờ được ôm ấp lần nữa.

Thứ sinh vật kinh tởm đó đang muốn làm hại những người bạn của cậu.

Và điều này khiến cậu nổi giận.

Trong khoảnh khắc đó, Gnar thực sự nổi điên.

Những gì cậu có thể thấy là con quái vật.

Trong chớp nhoáng, cậu đã nhảy trên không trung, lao về phía nó.

Bàn tay cậu nắm chặt một quả cầu tuyết... cậu chỉ nghĩ thế thôi.

Nhưng thật ra, đó là cả một tảng đá khổng lồ được nhổ lên từ bên sườn núi, bởi Gnar giờ đây đã to lớn như những yordle trắng khổng lồ rồi.

Gnar sẽ tiễn con quái vật này trở về nơi mà nó thuộc về, bằng một cú đập thẳng vào mặt nó.

Nhưng cú đánh đó đã không bao giờ trúng đích.

Gnar chỉ cảm thấy một cơn lạnh, giá buốt hơn bất kì mùa đông nào, những tưởng nó như có thể biến cả không khí thành băng tuyết - và thật như thế, bởi thứ ma thuật đó đã xuyên qua lớp lông dày của cậu và đóng băng cậu tại chỗ ngay lập tức.

Mọi thứ, kể cả con quái vật, đều trở nên im lặng.

Sức mạnh và cơn giận của cậu bé yordle dần tan biến.

Một sự mệt mỏi lan tỏa trong cơ bắp, và cậu dần chìm vào giấc ngủ.

Gnar đã ngủ một giấc thật dài.

Rồi cuối cùng cậu cũng thức dậy, giũ bỏ lớp băng tuyết bao phủ trên vai mình, và thở hổn hển.

Mọi người xung quanh đã biến mất.

Chẳng còn con quái vật nào để chiến đấu, hay những người bạn để bảo vệ, cậu một lần nữa cảm thấy bản thân mình thật nhỏ bé và cô độc.

Vùng đất này cũng đã đổi thay quá nhiều.

Băng tuyết giờ đây ở khắp mọi nơi, phủ một bức màn trắng muốt lên mọi cảnh vật nằm trong tầm mắt của cậu.

Dù vậy, cậu vẫn rú lên vui sướng khi nhìn thấy chiếc boomerang yêu quý của mình nằm ngay bên cạnh, và rồi nhanh chóng lẩn đi để tìm kiếm thứ gì đó cho cuộc săn của mình.

Ngay cả đến bây giờ, Gnar vẫn chẳng thể hình dung được điều gì đã xảy ra trong cái ngày định mệnh ấy, hay làm cách nào cách mà cậu lại thoát được.

Cậu chỉ đơn giản là cảm thấy tò mò trước thế giới mới vừa mở ra trước mắt, với quá nhiều đồ vật lạ kỳ để lượm lặt, hay những địa điểm mới mẻ để khám phá.
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
Gragas


Thứ duy nhất Gragas thích hơn uống rượu là đánh nhau.

Cơn khát rượu không thể xoa dịu dẫn dắt hắn tìm kiếm những thứ nguyên liệu mạnh nhất và kì quái nhất để ủ rượu.

Bốc đồng và khó đoán, cã bợm này thích đập thùng rượu cũng như thích đập đầu kẻ khác.

Nhờ vào những thứ rượu lạ kì và tính khí thất thường của hắn, nhậu chung với Gragas luôn là một cuộc phiêu lưu.

Gragas có một tình yêu bất diệt dành cho rượu ngon, nhưng cơ thể khổng lồ của hắn khiến cho việc đạt tới cảnh giới tuyệt đỉnh lưu linh là không thể.

Một đêm nọ, khi đã nốc hết thùng này đến thùng khác mà vẫn chưa đã, trong đầu Gragas nảy lên một ý tưởng chứ không phải nảy sao khi bị ghế quán rượu đập vào đầu: tại sao hắn không thể tự mình ủ ra một thứ có thể khiến hắn say thực sự?

Đó là lúc hắn thề phải tạo ra bằng được thứ rượu thượng đẳng.

Hành trình của Gragas dẫn hắn đến với vùng Freljord, nơi mà hắn có thể tìm thấy thứ nước địa cực tinh khiết nhất ở những hoang mạc hoang vu.

Khi đang lạc trong một cơn bão tuyết khủng khiếp, Gragas tìm thấy một vực gió hú khổng lồ.

Ở đó hắn đã tìm thấy thứ mình cần: một mảnh băng hoàn hảo nhất mà hắn từng thấy.

Mảnh băng vĩnh cửu này không chỉ đem lại cho rượu của hắn những đặc tính ảo diệu, nó còn có một tác dụng phụ tiện lợi khác – nó khiến cho hỗn hợp rượu luôn mát lạnh ở nhiệt độ phù hợp.

Dưới sự tác động của thứ thành phẩm mới này, Gragas tìm về với văn minh, háo hức được chia sẻ thành quả của mình.

Định mệnh đã an bài rằng đám đông đầu tiên mà Gragas bắt gặp sẽ là những người định hình tương lai của vùng Freljord.

Hắn loạng choạng tiến tới một cuộc thương thuyết đang đi vào ngõ cụt của hai bộ tộc về việc liên minh với Ashe.

Dù Ashe cũng không phản đối việc có cái gì đó để giảm căng thẳng, những chiến binh khác bực bội với sự đường đột này và chửi rủa gã béo say rượu.

Đúng với bản chất của mình, Gragas đáp lại bằng một cú húc đầu ngoại giao, khởi đầu cho một trận chiến xứng đáng đi vào huyền thoại Freljord.

Khi những kẻ nằm gục sau cuộc ẩu đả tỉnh dậy, Ashe mời mọi người một chầu kết giao thay cho việc đánh đấm.

Khi cơn giận đã bị dìm trong bia bọt, hai bộ tộc suýt nữa đã tuyên chiến với nhau giờ lại đoàn kết trong thứ rượu ngon của Gragas.

Dù cho thù hận đã không còn và Gragas được tôn vinh như một người hùng, hắn vẫn chưa đạt được giấc mơ tuyệt đỉnh lưu linh.

Do đó một lần nữa hắn lại lên đường, hướng về vùng lãnh nguyên để tìm cho bằng được những nguyên liệu làm ra thứ rượu hoàn hảo nhất của Runeterra.

''Thứ này sẽ khiến ngực ngươi mọc lông!''

-- Gragas
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
GRAVES


MALCOLM GRAVES, KẺ NGOÀI VÒNG PHÁP LUẬT

"Chúng ta đến lấy vàng chứ không phải lấy đầu của các ngươi, đừng ai cố làm anh hùng."

Malcolm Graves là kẻ bị truy nã ở mọi vương quốc, thành bang và đế chế hắn đặt chân đến.

Cứng cỏi, có ý chí mạnh mẽ, và trên hết là vô cùng tàn nhẫn, suốt cuộc đời tội phạm của mình, hắn đã tích góp được (rồi lại để mất) một gia tài nhỏ.

Trưởng thành giữa chốn hẻm tối của Bilgewater, Malcolm nhanh chóng học được cách đánh lộn và trộm cắp, những kỹ năng giúp ích rất nhiều cho hắn sau này.

Đi lậu đến đất liền trên một con tàu hàng, hắn trộm cắp, lừa lọc và bài bạc hết nơi này đến nơi khác.

Chính trên bàn bài mà Malcolm gặp người sẽ thay đổi cuộc đời hắn: thần bài Twisted Fate.

Cả hai cùng thấy ở nhau máu ưa mạo hiểm và phiêu lưu, và một tình bằng hữu kéo dài gần thập kỷ đã nảy sinh.

Kết hợp những khả năng độc đáo của mình, Graves và Twisted Fate là một cặp bài trùng đã cùng thực hiện vô số phi vụ.

Chúng lấy trộm và lừa gạt những tay nhà giàu ngu ngốc để thu về tiền bạc, danh tiếng, và cả sự kích thích.

Tính phiêu lưu trong những hành động đó còn hấp dẫn hơn bất kỳ chiến lợi phẩm nào.

Ở biên giới Noxus, chúng dàn cảnh bắt cóc một người thừa kế, khiến hai gia tộc nổi tiếng nghi ngờ lẫn nhau.

Rồi chúng ra đi mang theo tiền chuộc cũng như tiền thưởng cho việc giải cứu con tin.

Ở Piltover, chúng là những kẻ duy nhất từng đột nhập vào Hầm Dây Cót bất khả xâm phạm.

Không chỉ khoắng sạch báu vật trong đó, chúng còn lừa được lính gác tự chất đồ lên thuyền cho mình.

Vụ cướp chỉ bị phát hiện khi hai tên trộm đã khuất dạng, chỉ để lại lá bài trứ danh của Twisted Fate.

Nhưng cuối cùng may mắn của chúng cũng cạn.

Trong một phi vụ thất bại, có vẻ như Twisted Fate đã phản bội và từ bỏ chiến hữu của mình.

Graves bị bắt sống và tống vào ngục Tủ Khóa.

Suốt những năm tù đày, Graves nuôi dưỡng mối hận với người bạn cũ.

Một kẻ yếu đuối hơn chắc chắn đã gục ngã, nhưng Malcolm Graves chịu đựng tất thảy và cuối cùng đào thoát thành công.

Được tự do, hắn bắt đầu truy đuổi Twisted Fate, kẻ phản bội đã tặng cho hắn mười năm khốn khổ.

Nhiều năm sau, Graves cuối cùng cũng tìm thấy Twisted Fate.

Tuy nhiên, sau khi biết sự thật về chuyện xảy ra và cùng nhau thoát khỏi cái chết trong tay của Gangplank, Graves đã quên đi ý muốn báo thù.

Già hơn và dày dạn hơn, bộ đôi tiếp tục con đường chúng đã từ bỏ: làm giàu từ lừa gạt, trộm cắp và bạo lực.

Ngồi trong một quán rượu với cả tá vết thương trên người và một đám người muốn hắn chết vây quanh, Malcolm Graves đã từng thấy những ngày tốt đẹp hơn thế này.

Hắn cũng từng thấy những ngày tồi tệ nhất, nên hắn chẳng hề lo lắng.

Graves tựa lên quầy và lấy một chai rượu, hắn thở dài khi thấy nhãn của nó.

"Rượu vang Demacia?

Ngươi chỉ có thứ này thôi à?"

"Chai đắt nhất tôi có rồi..." chủ quán nói, ông co rúm lại dưới quầy rượu, giữa một biển thủy tinh vỡ lấp lánh.

Graves nhìn quanh và cười.

"Chai duy nhất ngươi còn thì có."

Hoảng loạn tràn ngập tâm trí người chủ quán.

Rõ ràng là ông không quen với việc đặt mình vào giữa một cuộc đấu súng.

Đây không phải Bilgewater, nơi những cuộc ẩu đả chết người nổ ra mười lần một ngày.

Piltover được coi là một thành phố văn minh hơn quê nhà của Graves.

Ít nhất là ở một vài chỗ.

Hắn dùng răng mở nút chai và nhổ nó xuống sàn trước khi tu một ngụm.

Hắn súc vài lần trước khi nuốt vào bụng, như hắn đã từng thấy mấy tay nhà giàu làm.

"Nhạt toẹt," hắn nói, "nhưng ăn mày đâu có được đòi xôi gấc, nhỉ?"

Một giọng nói hét vọng qua cửa sổ vỡ nát, cố ra vẻ tự tin và can đảm khi bên mình đông người hơn.

"Đầu hàng đi, Graves.

Chúng ta có bảy và ngươi chỉ có một mình.

Sẽ không có kết cục tốt đẹp đâu."

"Hiển nhiên là không," Graves đáp trả.

"Nếu ngươi muốn rời đi lành lặn, tốt nhất là nên gọi thêm nhiều người hơn đi!"

Hắn uống một ngụm nữa, rồi đặt chai lên quầy.

"Đến giờ làm việc rồi," hắn vừa nói vừa cầm khẩu súng độc nhất vô nhị của mình lên.

Graves nạp lại đạn.

Thứ vũ khí bật lên một tiếng động thỏa mãn đầy chết chóc, đủ lớn để những người ngoài kia nghe được.

Ai biết hắn cũng biết âm thanh đó và ý nghĩa của nó.

Kẻ ngoài vòng pháp luật rời khỏi ghế và tiến ra cửa, thủy tinh vỡ kêu rào rạo dưới gót giày hắn.

Hắn dừng lại nhìn qua ô cửa sổ rạn nứt.

Bốn người nấp sau tấm chắn tạm thời; hai người ở tầng trên của một nhà xưởng, và hai người khác nấp trong bóng tối hai bên lối vào.

Tất cả đều nắm chắc nỏ hoặc súng hỏa mai.

"Chúng ta đã theo dấu ngươi khắp thế giới, đồ khốn," giọng nói lại hét lên.

"Lệnh truy nã không nói phải giết hay bắt sống ngươi.

Đi ra ngoài, hạ vũ khí và sẽ không có máu đổ."

"Ồ, ta đang ra đây," Graves hét lại.

"Đừng lo gì cả."

Hắn móc ra một đồng Ngân Xà trong túi và quăng nó lên quầy.

Nó lăn qua một vũng rượu rum trước khi dừng lại.

Một bàn tay run rẩy với lên lấy nó.

Graves bật cười.

"Trả cho cái cửa đó," hắn nói.

"Cái cửa làm sao cơ?" chủ quán hỏi.

Graves đạp mạnh vào cửa trước của quán rượu, đá văng chúng ra khỏi bản lề.

Hắn lăn qua đám gỗ vụn nát, quỳ một chân xuống, khẩu súng bên hông tóe lửa.

"Được ròi, lũ khốn!" hắn gầm lên.

"Kết thúc chuyện này đi!"
 
Tiểu Sử Của Các Tướng Lmht
Fizz


Hàng thế kỉ trước, một thủy tộc cổ đại đã xây dựng nên một thành phố ẩn sâu dưới một dãy núi trong lòng đại dương mênh mông.

Dẫu đầy rẫy những kẻ thù xung quanh, thành phố vẫn luôn tồn tại như một pháo đài bất khả xâm phạm.

Nhưng rồi cũng chính vì nó mà dần dần những cư dân nơi đấy đã để sự tự mãn làm lu mờ lí trí.

Tuy nhiên, Fizz, với sự tò mò hiếu động vốn có của mình, chẳng tài nào có thể chịu đựng một cuộc sống tự mãn như thế cả.

Không thể kháng cự lại sự cám dỗ của mạo hiểm, Fizz thường hay lẻn ra ngoài thành phố để bắt đầu những cuộc thám hiểm.

Và chính những cuộc du hành đó đã giúp hắn ngày càng mạnh mẽ hơn, đủ để giúp hắn thoát khỏi mọi nguy hiểm dễ như trở bàn tay.

Một ngày nọ, Fizz trở về để rồi bàng hoàng phát hiện ra cả thành phố đã bị bỏ hoang, mọi người đều biến mất không chút dấu vết.

Chẳng còn gì để níu giữ bản thân, Fizz tìm thấy một chiếc đinh ba ma thuật rồi lên đường ra đi.

Trong suốt nhiều năm liền Fizz lang thang chốn biển khơi, sử dụng những kỹ năng hắn đã học được từ thuở ấu thơ để sống sót.

Cuối cùng, Fizz phát hiện ra cảng biển Bilgewater.

Kinh ngạc và bị hấp dẫn bởi sự tồn tại của sự sống trên mặt nước, sự tò mò bắt đầu trỗi dậy, thúc giục hắn thám hiểm hòn đảo này.

Nhưng chẳng bao lâu sau, sự tò mò đã khiến hắn gặp phải rắc rối với những cư dân nơi đây, và dĩ nhiên sự khác biệt của hắn nhanh chóng bị nhận ra.

Những trò nghịch của hắn khiến cư dân nơi đấy nổi giận muốn bắt lấy hắn, thậm chí còn có kẻ muốn tiêu diệt hắn.

Fizz bị dồn đến chân tường, hắn chẳng còn cách nào khác ngoài quay lại biển khơi, dẫu rằng chẳng muốn điều đó chút nào.

Bất ngờ, một con cá mập khổng lồ tấn công vào cảng biển.

Fizz lập tức vận dụng những hiểu biết của mình về các loài sinh vật biển để tiêu diệt nó không chút khó khăn.

Nhận được sự cảm kích và tôn trọng của loài người, Fizz quyết định ở lại Bilgewater.

Hắn sau đó gia nhập vào Liên Minh Huyền Thoại để tiếp tục cống hiến cho quê hương mới này của mình.

''Fizz biến những tên thủy thủ dày dạn nhất của Bilgewater thành những gã hề lố bịch nhất trong các quán nhậu.

May mà hắn là đồng minh của chúng ta.''

-- Miss Fortune, Kẻ Săn Tiền Thưởng.
 
Back
Top Dưới