Cập nhật mới

Khác Tiếng chim hót trong bụi mận gai - COLLEEN McCULLOUGH

Tiếng Chim Hót Trong Bụi Mận Gai - Colleen Mccullough
I. 1915 - 1917


Mecghi

2.12

Petđi biết thiên hạ đồn đại như thế nào về đứa con phi thường của anh và anh hiểu rất rõ rằng Frenk đánh nhau là vì khao khát muốn khẳng định phẩm giá của mình, nhưng anh tức giận khi những vụ đả nhau ấy gây trở ngại cho công việc ở xưởng rèn.

Bản thân Petđi tầm vóc cũng không cao lớn, thời thanh niên anh cũng dùng nắm đấm để chứng tỏ sự gan dạ của mình, nhưng ở quê hương anh có khá nhiều người còn thấp hơn cả anh, còn khi đến Niu Zilơn, ở đó người ta cao to hơn, thì anh đã là người lớn.

Ý thức rằng mình thấp bé không giày vò anh dai dẳng như đối với Frenk.

Ngay cả bây giờ Petđi cũng thận trọng để mắt đến gã trai và uổng công cố hiểu nó; dù anh đã hết sức cố gắng đối xử như nhau với tất cả các con, thằng con trai cả không bao giờ được anh quí như những đứa khác.

Anh biết điều đó làm vợ buồn phiền, vợ anh lo lắng về cuộc đối chọi thầm lặng suốt đời giữa anh và Frenk, nhưng thậm chí cả tình yêu với Fiôna cũng không thể loại bỏ nỗi bực bội thường xuyên không sao khắc phục nổi đối với Frenk.

Đôi tay hơi ngắn, nhưng đẹp dáng của Frenk chặn lên tờ báo, đôi mắt nhìn chằm chằm vào bố, trong đó sự cầu khẩn và tính kiêu hãnh trộn lẫn với nhau một cách kì lạ - tính kiêu hãnh quá lì lợm để có thể thốt lên lời cầu khẩn.

Khuôn mặt thằng bé mới xa lạ làm sao!

Ở nó chẳng có cái gì của Kliri, hay thậm chí của dòng họ Amxtr'ông, trừ có đôi mắt có lẽ giống mắt mẹ, nếu như mắt Fiôna cũng đen như thế, và cùng bừng lên ánh lửa giận dữ về từng chuyện lặt vặt.

Gì thì gì, chứ sự gan dạ thì gã trai này không thiếu.

Sau khi Petđi nói về tầm vóc của Frenk, cuộc chuyện trò đứt quãng; họ ăn nốt món thịt thỏ nấu nhừ trong không khí im lặng khác thường, ngay cả Huyghi và Jêc cũng chỉ khe khẽ trao đổi với nhau vài lời và chốc chốc lại cười rúc rích.

Mecghi chẳng ăn tí gì và không rời mắt khỏi Frenk, như thể sợ anh sắp tan vào không khí.

Để cho phải phép, Frenk còn khoắng dĩa trong đĩa một lát nữa, rồi xin phép rời khỏi bàn.

Lát sau, từ chỗ để củi vang đến tiếng rìu bổ, Frenk hung hăng trút giận vào những khúc củi bướng bỉnh mà Petđi đã trữ được - thứ gỗ rắn này cháy chậm và mùa đông tha hồ ấm.

Khi mọi người đều tưởng là Mecghi đã ngủ, nó hé mở cửa sổ và lén ra chỗ chứa củi.

Góc sân này có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống của gia đình; cả một khoảng rộng chừng một ngàn fút vuông (1) phủ một lớp vỏ cây và dăm gỗ nhỏ dịn chặt, nhưng ở một mé ngất nghểu những dãy gỗ cây chưa phạt hêt cành, ở mé kia là một bức tường nhiều mảnh ghép bằng những khúc củi đều nhau - vừa đúng cỡ cái hòm gỗ trong bếp và xếp cẩn thận.

Còn ở chính giữa là ba gốc cây cụt giữ nguyên rễ, đây là những thớt kê để có thể bổ củi và những khúc gỗ bất cứ kích thước nào.

(1) Tức khoảng 100 mét vuông (N.D).

Frenk không có đây - cậu đang vất vả với cây gỗ khuynh điệp, nó to đến nỗi không thể kéo lên ngay cả cái gốc cây cụt thấp nhất và rộng nhất.

Cây gỗ bề ngang hai fut nằm trên mặt đất, hai đầu ghìm chặt bằng đinh móc sắt, còn Frenk đứng trên cây gỗ, chạng hai chân một cách vững chắc, và chặt ngang thân gỗ.

Cái rìu thấp thoáng, vun vút xé không khí, còn cái cán, bị nắm chặt bởi hai bàn tay ướt, phát ra thứ tiếng rít riêng biệt gì đó.

Lưỡi rìu loang loáng như ánh chớp trên đầu Frenk, lóe lên ánh bạc mờ đục lúc hạ xuống, và vạc trên thân gỗ một vệt đẽo hình cái nêm với vẻ nhẹ nhàng như thể đây không phải là gỗ khuynh điệp rắn như thép, mà là gỗ thông hay dẻ gai gì đó.

Dăm gỗ văng về mọi phía, bộ ngực và tấm lưng trần của Frenk ướt đẫm, trên trán cậu buộc chiếc khăn tay để mồ hôi không chảy xuống làm cay mắt!

Đẵn gỗ như thế là công việc nguy hiểm, lỡ tay một chút là đi đứt nửa bàn chân.

Frenk đeo những vòng đai da ở hai cổ tay để thấm mồ hôi, nhưng không đi bao tay, hai bàn tay nhỏ nhắn rắn chắc cầm cán rìu dường như không phải cố gắng gì, và mỗi nhát chặt đều khéo léo và chuẩn xác lạ lùng.

Mecghi ngồi xổm bên chiếc sơ mi Frenk vứt ra đấy và nhìn với vẻ e sợ và kính trọng.

Gần đấy có ba chiếc rìu dự trữ -đẵn gỗ khuynh diệp thì chỉ một chốc là lưỡi cùn ngay.

Mecghi cầm đằng cán, kéo một chiếc rìu lên đùi mình và ghen với Frenk - ước gì nó chặt củi cũng khéo như thế!

Rìu khá nặng, con bé gắng sức nhấc chiếc rìu lên.

Rìu Niu Zilơn chỉ có một lưỡi sắc như lưỡi dao cạo, vì rìu hai lưỡi quá nhẹ, loại rìu đó không đương nổi với gỗ khuynh điệp.

Còn cái rìu này có sống nặng, dày một đuim và cán cắm chặt vào lỗ nhờ những chêm gỗ đóng chết cứng.

Nếu rìu đóng không chắc, nó mà tuột khỏi cán thì sẽ văng đi như quả đạn đại bác và có khi làm chết người.

Trời tối nhanh, và Frenk bô rìu hình như trông nhờ vào linh tính nhiều hơn.

Theo thói quen, Mecghi cúi đầu dưới tầm dăm gỗ bay văng ra và kiên nhẫn chờ anh nhận ra nó, Frenk đã đẵn được nửa thân gỗ, cậu xoay mình thở lấy hơn; rồi cậu lại vung rìu và bắt đầu chặt mé bên kia.

Cậu đẵn trong thân gỗ một khe hẹp và sâu, vừa để cho nhanh, vừa để bớt dăm làm hao gỗ.

Khi gần đến lõi cây, lưỡi rìu gần như ngập trong khe và những dăm gỗ to gần như văng thẳng vào Frenk.

Nhưng cậu dường như không để ý đến chúng và bổ càng nhanh hơn.

Bỗng nhiên, rắc - thân gỗ gãy làm đôi, nhưng ngay lúc đó, mà có thể là trước khi rìu bổ nhát cuối cùng, Frenk vút lên không.

Cả hai nữa thân gỗ trật khỏi chỗ, còn Frenk, sau cái nhảy nhẹn như mèo, đã đứng ở phía bên và mỉm cười, nhưng đấy là cái cười không vui.
 
Tiếng Chim Hót Trong Bụi Mận Gai - Colleen Mccullough
I. 1915 - 1917


Mecghi

2.13

Muốn lấy cái rìu khác, cậu quay lại và nhìn thấy em gái: nó kiên nhẫn ngồi cách đó một quãng, chiếc áo ngủ đêm cài cúc cẩn thận suốt từ trên xuống dưới.

Một điều lạ lùng, không quen mắt: thay cho mái tóc dài buộc những mảnh vải trước khi đi ngủ, bây giờ trên đầu nó là chiếc mũ lồng bồng tạo nên bởi đám tóc xoăn ngắn ngủi, nhưng còn được như thế cũng là may, Frenk nghĩ, với mái tóc kiểu con trai ấy nom nó rất xinh.

Cậu tới gần Mecghi, ngồi xổm xuống, đặt chiếc rìu lên đùi.

- Em làm thế nào ra được đây, hả đồ hư đốn?

- Xtiua ngủ, em trèo qua cửa sổ.

- Coi chừng, rồi em sẽ hoàn toàn thành con trai mất thôi.

- Thế cũng được.

Chơi với con trai còn hơn thui thủi một mình.

- Đúng, chắc chắn là như thế.

- Frenk ngồi xuống, tựa lưng vào khúc gỗ lớn, mệt mỏi nhìn em gái.

- Có chuyện gì vậy, Mecghi.

- Anh Frenk ơi, anh sẽ đi thật ư?

Nó ôm lấy một đầu gối anh bằng hai bàn tay với những đốt móng bị gặm nham nhở và lo lắng ngước lên nhìn vào mặt anh, miệng hé mở - nó gắng hết sức để đừng bật khóc, nhưng nước mắt dâng lên khiến nó không thở được bằng mũi nữa.

- Có lẽ anh sẽ đi.

- Người anh trả lời bằng giọng dịu dàng.

- Ồ không, anh Frenk, sao lại thế!

Em và mẹ không thể nào thiếu anh được!

Thực đấy, thật tình em chẳng biết mẹ và em sẽ làm thế nào nếu không có anh!

Frenk hết sức khổ tâm, nhưng cũng không thể không mỉm cười - con bé nói hệt như mẹ.

- Trong đời không phải mọi cái đều như ta muốn, Mecghi ạ, em hãy nhớ kĩ điều đó.

Người trong gia đình Kliri chúng ta bao giờ cũng được dạy dỗ rằng mọi người hãy cùng làm lụng vì lợi ích chung, mỗi người nghĩ đến mình sau cùng.

Anh cho rằng điều đó không đúng, phải làm sao cho mỗi người trước hết có thể nghĩ đến mình.

Anh muốn đi bởi vì anh đã mười bảy tuổi, đã đến lúc anh xây dựng cuộc đời của anh theo ý anh.

Vậy mà ba nói: không, gia đình cần con ở nhà; và anh phải làm theo lời ba, bởi vì còn lâu anh mới đủ hai mươi mốt tuổi .

Mecghi nghiêm trang gật đầu, cố hiểu cho được lời giảng giải ấy.

- Thế này này, Mecghi ạ, anh đã nghĩ mãi, nghĩ đến nát óc ra rồi.

Anh đã quyết, anh sẽ đi, có thế thôi.

Anh biết, em và em rất cần anh, nhưng Bôp sắp lớn rồi, còn ba và mấy thằng kia sẽ không mong nhớ anh đâu.

Ba chỉ cần anh kiếm ra tiền thôi.

- Như vậy là anh chẳng còn yêu em và mẹ nữa chứ gì?

Frenk xoay người lại, bế con bé lên, lòng xốn xang một tình cảm trìu mến thiết tha và chua xót làm cậu đau khổ.

- Mecghi, Mecghi!

Em và mẹ là những người anh yêu nhất trên đời!

Trời ơi, giá như em nhiều tuổi hơn thì anh sẽ nói với em nhiều điều...

Nhưng có lẽ như thế lại còn hơn, em vẫn còn bé bỏng, có lẽ như thế còn hơn...

Cậu bỗng buông em ra và gắng tự chủ, lắc lắc đầu, va gáy vào súc gỗ, nuốt nước bọt ừng ực, môi run run.

Cuối cùng cậu nhìn em gái.

- Rồi đây lớn lên em sẽ hiểu anh.

- Anh đừng đi, anh Frenk ơi.

- Con bé nhắc lại.

Frenk bật ra tiếng cười giống như tiếng nức nở.

- Ôi Mecghi!

Chẳng lẽ em không nghe thấy anh nói gì sao?

Thôi được, không sao.

Cần nhất là em đừng nói với ai rằng tối nay em đã gặp anh, nghe chưa?

Anh không muốn mọi người nghĩ rằng em đã biết hết.

- Em nghe thấy chứ, anh Frenk, em nghe thấy hết.

- Mecghi nói.

- Mà em sẽ không nói gì với ai đâu, em thề như vậy.

Nhưng anh đi thì em tiếc lắm!

Nó còn quá nhỏ và không biết nói lên cái điều phi lý đang vật vã trong tâm hồn nó: Frenk đi thì nó còn có ai nữa?

Chỉ có mình anh công nhiên yêu mến nó, chỉ có mình anh đôi khi ôm nó và vuốt ve nó.

Trước kia bố thường bế nó lên, nhưng từ khi nó đi học, bố không cho phép nó leo lên đùi bố và ôm cổ bố, bố nói: "Con lớn rồi!

Mecghi ạ".

Còn mẹ lúc nào cũng bận rộn và hết sức mệt mỏi, mẹ có bao nhiêu nỗi lo lắng - những đứa con trai, việc cửa việc nhà...

Đối với Mecghi, Frenk là người đáng yêu nhất, anh như vì sao trên bầu trời hạn hẹp của nó.

Dường như chỉ có anh lấy làm vui sướng ngồi chơi nói chuyện với nó và mọi chuyện anh đều giảng giải đến là dễ hiểu.

Chính từ ngày Agơnex bị mất tóc, Frenk luôn luôn ở cạnh nó, và từ đó những đau buồn cay đắng nhất không đến nỗi làm tan lòng nát ruột.

Có thể chịu đựng nổi cả đòn đánh bằng gậy, cả xơ Agata, cả chấy, vì Frenk biết cách vỗ về an ủi.

Nhưng nó đứng lên và nén lòng mỉm cười.

- Nếu anh nhất định cần phải đi thì anh cứ đi, anh Frenk ạ, cũng chẳng sao.

- Còn em về giường ngủ đi thôi.

Mecghi, trong lúc mẹ chưa phát hiện ra em đã biến đi đâu mất.

Chạy nhanh lên!

Lúc này mọi ý nghĩ bay biến khỏi đầu óc Mecghi: nó cúi đầu, ngoặc lấy gấu chiếc áo ngủ đêm, kéo gấu áo từ phía sau ra phía trước như thể quặp đuôi lại và cứ giữ như thế, cắm đầu chạy, chân đất bước thẳng lên những dăm gỗ sắc nhọn như có gai.
 
Tiếng Chim Hót Trong Bụi Mận Gai - Colleen Mccullough
I. 1915 - 1917


Mecghi

2.14

Buổi sáng trở dậy thì Frenk đã biến mất, Fia đến đánh thức Mecghi, chị sầu não, nói nhát ngừng.

Mecghi chồm dậy khỏi giường như bị bỏng, hấp tấp mặc áo và thậm chí không nhờ mẹ cài giúp vô số chiếc cúc.

Trong bếp, bọn con trai đã ngồi ở bàn, mặt mày cau có, nhưng ghế của Petđi bỏ trống.

Ghế của Frenk cũng thế.

Ăn sáng xong, Fia bảo tất cả bọn chúng ra khỏi bếp và lúc đã ở sau nhà kho, Bôp nói với Mecghi việc vừa xảy ra.

- Frenk trốn đi rồi.

- Nó thì thào.

- Có lẽ anh ấy đi Uekhainơ đấy thôi.

- Mecghi đáp.

- Không phải đâu, đồ ngốc!

Anh ấy đi lính.

Ôi, tiếc rằng tao còn ít tuổi, không thì tao cũng đi theo anh ấy!

Anh ấy thật là sung sướng!

- Em lại tiếc là anh ấy đã đi, giá như anh ấy ở nhà thì hơn.

Bôp nhún vai.

- Thế mới là con nhóc, chẳng hiểu gì sất!

Trái lệ thường, Mecghi không nổi nóng về những lời xúc phạm như thế, nó vào nhà, có thể mẹ cần đến nó.

Fia đưa cho nó chiếc bàn là, và Mecghi bắt đầu là những chiếc mùi soa.

- Ba đâu hả mẹ!

- Nó hỏi.

- Đi Uekhainơ.

- Ba sẽ đưa anh Frenk về chứ ạ?

- Hãy thử giữ bí mật điều gì ở nhà này xem!

- Fia giận dữ cằn nhằn.

- Không, ba không thể tìm được Frenk ở Uekhainơ nữa, và ba cũng không hi vọng như thế.

Ba sẽ đánh điện về Uekhainơ cho cảnh sát và cấp chỉ huy quân sự.

Họ sẽ điệu Frenk về nhà.

- Ôi, mẹ ơi, họ mà tìm được Frenk thì tốt quá!

Con không muốn anh Frenk bỏ chúng ta mà đi!

Fia đổ lên bàn khối nguyên liệu trong máy đánh bơ và dùng hai bàn xẻng gỗ đập một cách dữ dội vào cái khối nhỏ màu vàng sện sệt.

- Chẳng ai muốn Frenk bỏ chúng ta mà đi.

Vì thế ba mới cố tìm cách đưa anh ấy về.

- Môi chị run run, chị bắt đầu đập khối bơ càng mạnh hơn.

- Tội nghiệp Frenk, tội nghiệp, tội nghiệp Frenk!

- Chị thở dài, quên hẳn Mecghi.

- Nhưng tại sao, tại sao con cái lại phải đền bù cho những tội lỗi của chúng ta.

Tội nghiệp Frenk của tôi, nó quá cả nghĩ...

Chợt chị nhận thấy Mecghi ngừng là, chị mím chặt môi, không thốt lên lời nào nữa.

Ba ngày sau, cảnh sát giải Frenk về nhà.

Viên trung sĩ giải cậu đi từ Uekhainơ nói với Pađric rằng Frenk chống cự kịch liệt khi bị bắt giữ.

- Một chiến binh anh hùng ra trò đấy!

Vừa thấy rõ rằng quân đội đã được báo trước về mình, cậu ta bỏ chạy tức thì, lao từ bậc tam cấp ra phố, hai người lính đuổi theo.

Tôi đã tưởng cậu ta sẽ chạy biến mất, nhưng cậu ta chẳng may lại đâm ngay vào đội tuần phòng của chúng tôi.

Cậu ta đánh đấm như điên, năm người phải xông vào mới tra nổi còng vào tay cậu ta.

Vừa nói viên trung sĩ vừa tháo cho Frenk sợi xích nặng và đẩy cậu vào cổng rào.

Frenk xuýt ngã, xô vào Petđi và lùi phắt lại như bị nọc châm.

Bọn trẻ nhỏ đứng túm tụm cách đấy khoảng mười bước sau lưng người lớn, từ góc nhà ngó ra và chờ đợi.

Bôp, Jêc và Huyghi thấm thỏm hi vọng Frenk lại xông vào ẩu đả; Xtiua vốn tính hiền lành, bình tĩnh nhìn với vẻ thông cảm; Mecghi hai tay ôm má, bóp chặt và vần vò má, sợ thất thần, chỉ lo có kẻ nào lại làm nhục Frenk.

Frenk quay về phía mẹ trước hết, nhìn thẳng vào mẹ, trong đôi mắt đen của cậu hướng tới đón gặp đôi mắt xám của mẹ biểu lộ một niềm cảm thông u uất, đau xót, sự thân thiết thầm kín chưa bao giờ, chưa lần nào được nói ra thành lời.

Cặp mắt xanh của Petđi nung đốt cậu bằng cái nhìn cuồng nộ và khinh miệt, nó nói lên rõ rệt - ta không hề chờ đợi điều gì khác ở mày, - và Frenk gằm mặt xuống như thừa nhận cơn giận ấy là chính đáng.

Từ nay Petđi sẽ không ban cho con trai một lời nào, ngoài cái tối cần thiết mà phép lịch sự đòi hỏi.

Nhưng khó khăn nhất đối với Frenk là giáp mặt lũ em - con chim rực rỡ đã bị đem trả về nhà một cách hổ nhục, nó vẫn chưa có dịp vút lên trời cao, cánh đã bị cắt cụt và tiếng hót tắc trong họng.

Mecghi chờ cho mẹ đi tua xong khắp lượt các buồng ngủ trước khi đi ngủ, nó tuồn qua cửa sổ hé mở và chạy ra sân sau.

Nó biết Frenk sẽ lánh ra chỗ chứa cỏ khô, tránh xa bố và mọi luồng mắt tò mò.

- Frenk, anh ở đâu, anh Frenk!

- Nó gọi thì thầm, tuy cũng khá to, len lỏi trong bóng tối mịt mù câm lặng của nhà kho, chân đi đất dò dẫm một cách tinh nhạy như con thú nhỏ, để bước đúng chỗ.

- Anh ở đây, Mecghi.

- Một giọng mệt mỏi đáp lại, hoàn toàn không giống tiếng Frenk, tàn lụi, không sức sống.

Con bé đến chỗ Frenk nằm duỗi dài trên cỏ khô, nằm thu lu bên nách anh, vươn hết tầm tay ôm lấy anh.

- Ôi anh Frenk, em sung sướng quá vì anh đã trở về!

Frenk tấm tức rên lên, trườn xuống phía dưới một chút và áp trán vào vai em.

Mecghi ghì lấy đầu anh, vuốt ve mái tóc dày duỗi thẳng, lí nhí câu gì âu yếm.

Trong bóng tối cậu không nhìn thấy em, nhưng ở nó toát ra sự đầm ấm thông cảm vô hình và Frenk không cầm lòng được.

Cậu khóc nức nở, toàn thân co rúm lại - lúc này cậu là cái nút thít chặt của nỗi đau đớn nhức buốt - nước mắt cậu thấm ướt đẫm chiếc áo ngủ của Mecghi.

Nhưng Mecghi không khóc.

Ở một điểm nào đó, mặc dù còn bé bỏng, nó đã trưởng thành và có đủ nữ tính để cảm thấy một niềm vui sướng sắc bén không sao kìm nén được; nó cần cho người khác.

Nó ghì chặt đầu anh vào ngực và khẽ lắc lư như ru anh, cho đến khi anh khóc vợi nỗi lòng và nín lặng, tâm hồn trống rỗng.

Hãy nhấn nhấn sao và bình luận ở phía dưới để chia sẻ cảm nghĩ của bạn nhé 🙂
 
Tiếng Chim Hót Trong Bụi Mận Gai - Colleen Mccullough
II. 1921 - 1928


RANFƠ

3.1

Con đường này về Đrôghêđa không có gì gợi nhớ đến những ngày tuổi trẻ, đức cha Ranfơ đờ Brikaxxa nghĩ vậy.

Nheo mắt để khỏi quá chói vì cái mui của chiếc "Đaimơlơ" khá mới, cha lái xe theo những vệt bánh xe gập ghềnh của con đường ngập trong cỏ cao ánh bạc.

Đúng, đây không phải là Ailen mến thương đầy sương mù và xanh tươi.

Thế còn chính Đrôghêđa ở vùng này thì sao?

Đấy cũng không phải là bãi chiến trường và không phải là thủ phủ của chính quyền tối cao.

Nhưng có phải vậy không nhỉ?

Tính hài hước linh lợi mà thực ra cha đã học được thói quen đè nén nó, lại vẽ lên với đức cha đờ Brikaxxa hình ảnh của Meri Cacxôn - một Crômoen (1) mặc váy luôn luôn giữ một thái độ ác cảm oai nghiêm có một không hai đối với tất cả mọi người, không trừ một ai.

Ờ, mà so sánh như thế không phải là khoa trương lắm đâu: hiển nhiên là nhân vật ấy có quyền lực không thua kém gì bất cứ vị tướng soái đầy quyền uy nào của thời trước và nắm trong tay vận mệnh của một số người đông đảo không kém gì.

(1) Cromwell (Olivier), 1599 - 1658, Nhiếp chính của chế độ cộng hòa Anh (N.D).

Sau những khoảnh hoàng dương và khuynh diệp hiện ra cái cổng cuối cùng; cha Ranfơ cho xe dừng lại, nhưng không tắt máy.

Chụp lên đầu chiếc mũ rộng vành cũ nát và bạc màu cho đỡ rát nắng, cha ra khỏi xe, mệt mỏi và sốt ruột kéo cái then sắt và mở toang cổng.

Từ nhà thờ Jilênbôum đến khu trại ấp Đrôghêđa có hai mươi tám cái cổng, và trước mỗi cổng phải dừng lại, ra khỏi xe, mở cổng, lại ngồi vào tay lái, cho xe qua cổng, rồi dừng lại, ra khỏi xe, quay lại cài then cổng, lại lên xe lái đi tiếp đến cổng sau.

Bao nhiêu lần cha muốn bỏ qua ít ra là một nửa số nghi thức đó - cứ phóng xe đi, bỏ lại sau tất cả những cổng đó như những cái miệng há hoác ngạc nhiên; nhưng làm như vậy thì ngay cả chức sắc đáng tôn sùng của cha cũng không ngăn được những chủ sở hữu các cổng đó lột da đức cha.

Tiếc rằng ngựa không nhanh bằng ô tô và không có cái ưu thế chẳng bao giờ biết mệt như ô tô, cưỡi ngựa thì có thể mở cổng và đóng cổng không xuống yên.

- Thùng mật nào cũng có một thìa nhựa đắng của nó - Cha nói và vỗ vào sườn chiếc ô tô khá mới của mình, rồi cho xe đi tiếp, bỏ lại đằng sau cái cổng đã đóng chặt: đến Ấp chính còn một dặm nữa toàn đồng cỏ xanh tươi không có lấy một cái cây nhỏ.

Ngay cả dưới con mắt của một người Ailen đã quen với những lâu đài và biệt thự lộng lẫy thì khu nhà ở đây của Úc nom cũng vẫn bề thế.

Chủ nhân đã quá cố của Đrôghêđa, một điền trang cổ nhất và giàu nhất vùng, yêu mê mệt cơ nghiệp của mình và xây tòa nhà tương xứng với nó.

Tòa nhà hai tầng, xây theo phong cách nghiêm nghị thời vua Giorgiơ, tạo bởi những khối sa thạch màu crem đẽo bằng tay, đưa về từ mỏ phía đông cách đây năm trăm dặm; những cửa sổ lớn, khung có hình trang trí, một hàng hiên rộng có những cột kim loại đánh đai lấy toàn bộ tầng dưới.

Tất cả các cửa sổ, như một khung ảnh tuyệt đẹp, đều có cánh cửa gỗ màu đen - đấy không phải chỉ là để trang trí: mùa hè nóng nực, cánh cửa đóng lại, giữ cho buồng mát mẻ.

Bây giờ đã sang thu, mái hàng hiên và các tường nhà mới chỉ chăng một mạng lưới lá cây xanh rờn, nhưng sang xuân, loại đậu tía trồng từ nửa thế kỷ trước, khi mới xây xong nhà, sẽ rầm rộ nở những chùm hoa màu tím nhạt tràn ngập khắp cả.

Bao quanh nhà là mấy acrơ (1) thảm cỏ được chăm sóc chu đáo, trên cái thảm xanh đều đặn ấy rải rác những bồn hoa gọn gàng theo kiểu Anh, ngay cả lúc này hoa vẫn phô sắc rực rỡ: hồng, quế trúc thơm, thược dược và cúc su xi.

Một đội ngũ "những bóng ma" tuyệt diệu - những cây khuynh diệp thân cây gần như trắng, lá hẹp bản rung rinh ở tầm cao tới bảy chục fut, - che cho ngôi nhà tránh được cái nắng ác liệt: những cành khuynh diệp có những dây hoa giấy màu tím rực rỡ quấn quít xung quanh tạo nên một mái lều liền kín.

Ngay cả những két chứa nước kì quái không thể thiếu được ở cái vùng nửa mọi rợ này cũng phủ một tấm áo khoác bằng bìm bìm địa phương giàu sức chịu đựng, hồng bò lan và dây đậu tía, và người ta xếp đặt khéo léo đến mức nom chúng không hẳn là vật thiết yếu thô kệch, mà là thứ trang trí.

Maicơn Cacxôn đã quá cố yêu Đrôghêđa của mình đến điên cuồng, ông ta bố trí một lượng két nước thừa dùng: nghe đồn rằng nước đủ tưới các thảm cỏ và bồn hoa cho dù mười năm liền không có lấy một giọt mưa.

(1) 1 acrơ = 4047m2 (N.D)

Người đi từ phía đồng cỏ đến thì cái đập vào mắt trước hết là chính tòa nhà và những cây khuynh diệp rủ bóng xuống nhà, rồi khách để ý thấy ở hai bên và phía sau một chút còn có những căn nhà một tầng bằng sa thạch màu vàng nhạt nối với tòa nhà chính bằng những hành lang có mái cũng tràn ngập cây leo xanh tươi.

Ở đây con đường lớn với những vệt bánh xe hằn sâu chuyển thành con đường nhánh trải đá răm chạy giữa các hàng cây.

Nó chạy vòng quanh tòa nhà ở phía bên - Ở đây có một bãi tròn để xe, - rồi dẫn ra xa hơn nữa, tới chỗ mà cuộc sống thực sự đang sục sôi: sân nuôi gia súc, nhà kho, bãi xén lông cừu.

Tất cả những căn nhà ấy và những công việc gắn liền với chúng ẩn dưới bóng những cây hồ tiêu khổng lồ - trong thâm tâm, cha Ranfơ thích chúng hơn những cây khuynh diệp nhợt nhạt canh giữ Nhà Lớn.

Lùm lá cây hồ tiêu dầy rậm, màu rất sáng, không lúc nào ngớt tiếng ong vo ve, hàm chứa một cái gì uể oải, khoan hòa và thích hợp không chê vào đâu được với một trang trại ở giữa lòng nước Úc.

Cha Ranfơ đỗ xe và đi về phía nhà, ngay lúc đó ở hàng hiên, khuôn mặt đầy tàn nhang của chị hầu phòng đã ngời lên nụ cười vô cùng hồ hởi chào đón cha.

- Chào chị Minni.

- Cha nói.

- Kính chào đức cha, thật là hân hạnh được đón cha vào một ngày tuyệt đẹp như thế này!

- Ngữ âm của chị đích thực là của người Ailen.

Một tay chị ta mở rộng cửa mời khách, tay kia đã đưa ra đón trước chiếc mũ cũ nát không xứng chút nào với chức sắc của Người.

Ở gian tiền sảnh rộng thênh thang tranh tối tranh sáng, sàn lát đá cẩm thạch và hàng tay vịn bọc đồng của cái cầu thang rộng sáng lấp lánh, cha Ranfơ nán lại một lát cho đến khi Minni nghiêng đầu mời cha vào phòng khách.
 
Tiếng Chim Hót Trong Bụi Mận Gai - Colleen Mccullough
II. 1921 - 1928


Ranfơ

3.2

Meri Cacxôn ngồi trong chiếc ghế bành, bên cái cửa sổ mở cao vút, choán hết chiều cao mười lăm fut từ sàn đến trần nhà, và có lẽ không để ý đến cái lạnh từ bên ngoài tràn vào.

Mái tóc dày của bà ta gần như vẫn giữ nguyên màu hung chói rực thời son trẻ; trên làn da bị những vết tàn nhang làm cho thô đi vẫn còn lộ ra những vệt nâu - dấu vết của tuổi già, nhưng nếp nhăn thì không bao nhiêu so với tuổi sáu mươi nhăm - một mạng lưới thưa thớt mỏng manh như trên tấm chăn độn lông tơ may chần.

Tính tình bất kham của người đàn bà này chỉ lộ ra ở những nếp hằn sâu nổi bật từ hai cánh của cái mũi thẳng kiểu La Mã tới khóe miệng và ở cái nhìn lạnh lùng của cặp mắt xanh nhợt.

Cha Ranfơ đi trên tấm thảm Pháp đắt tiền và lẳng lặng hôn tay bà chủ.

Vóc người cao lớn và cử chỉ thoải mái, cha làm việc đó hết sức duyên dáng, lại thêm bộ áo thầy tu màu đen nghiêm nghị tạo cho toàn bộ vẻ ngoài của cha một vẻ thanh nhã đặc biệt.

Cặp mắt không biểu lộ điều gì của Meri Cacxôn thoáng lộ vẻ bối rối, bà ta cố gắng lắm mới nén được nụ cười gượng.

- Cha dùng trà chứ, cha Ranfơ?

- Cái đó còn tùy theo bà có muốn dự lễ mixa không.

- cha nói, rồi ngồi xuống trước mặt bà ta, bắt chéo hai chân lên, khiến cho dưới bộ áo thầy tu hiện ra chiếc quần đi ngựa và đôi ủng cao đến gối: ở vùng này cha xứ khó mà ăn vận khác được.

- Tôi đến nghe bà xưng tội và ban thánh thể cho bà, nhưng nếu bà muốn dự lễ mixa thì mấy phút nữa, tôi sẵn sàng làm lễ.

Tôi dùng bữa chậm lại một chút cũng chẳng sao.

- Cha quá tốt đối với tôi, thưa đức cha, - Meri Cacxôn nói với giọng tự mãn, bà ta hiểu rất rõ ràng cũng như mọi người khác, cha có thái độ kính trọng như thế không phải là đối với bản thân bà ta, mà đối với tiền bạc của bà ta.

- Xin mời cha dùng trà.

- Bà ta nói tiếp.

- Tôi chỉ cần xưng tội và được giải tội là đủ lắm rồi.

Gương mặt cha không hề thoáng lộ vẻ bực bội.

- xứ đạo này là một trường học rất tốt dạy cho người ta tính tự chủ.

Một khi có dịp để ngoi ra khỏi thân phận thấp kém mà cha đã sa vào do tính tình quá nóng nảy của mình thì cha sẽ không phạm sai lầm lần nữa.

Nếu tiến hành trò chơi một cách tinh vi thì có thể bà lão này là câu trả lời cho những lời cầu nguyện của cha.

- Thưa đức cha, phải thú thật với cha rằng tôi rất hài lòng về năm vừa qua.

- Bà ta nói.

- Cha là đấng chăn chiên xứng đáng hơn nhiều so với cha Kenli đã quá cố, cầu Chúa làm cho linh hồn ông ta rữa nát ra.

- Nói mấy lời cuối cùng, giọng bà ta bỗng bộc lộ sự hằn thù dữ tợn.

Cha Ranfơ ngước đôi mắt long lanh vui vẻ lên nhìn bà ta.

- Mixxix Cacxôn quí mến!

Bà nói ra những tình cảm không hợp lắm với người công giáo!

- Nhưng tôi nói sự thật.

Lão già là con sâu rượu, và tôi tin chắc rằng Chúa sẽ làm cho linh hồn lão rữa nát ra, cũng như rượu đã làm cho thể xác lão rữa nát.

- Bà ta nghiêng người về phía linh mục.

- Trong năm nay tôi đã được biết khá rõ về cha, và hẳn là tôi có quyền nêu ra với cha mấy câu hỏi, cha thấy thế nào?

Xét cho cùng, ở Đrôghêđa cha sống thoải mái - nghiên cứu việc chăn nuôi, luyện tài cưỡi ngựa cho hoàn hảo, không phải sống tạm bợ như ở Jinli.

Tất nhiên chính tôi mời cha đến, nhưng tôi có quyền được nghe một số câu trả lời chứ, cha nghĩ sao?

Chẳng lấy gì làm thú vị lắm khi phải nghe sự nhắc nhở đó - cha Ranfơ chịu ơn bà ta nhiều điều, nhưng từ lâu cha vẫn chờ đến lúc bà ta cho rằng bà ta đã có đủ quyền lực đối với cha và bắt đầu đề ra những đòi hỏi nào đó.

- Cố nhiên, đấy là quyền của bà, Mixxix Cacxôn ạ.

Tôi vô cùng biết ơn bà về việc tôi được về Đrôghêđa và những món quà bà tặng - ngựa, ô tô.

- Cha bao nhiêu tuổi?

- Bà ta hỏi, không chuyển tiếp gì cả.

- Hai mươi tám.

- Ít hơn tôi tưởng.

Dù sao những linh mục như cha thường không bị đưa về cái xó xỉnh như Jinli.

Cha phạm tội gì mà bị đẩy về một nơi hẻo lánh như thế?

- Tôi đã xúc phạm đến Đức giám mục.

- Cha đáp một cách bình tĩnh, miệng mỉm cười.

- Ồ, thế thì không phải chuyện đùa!

Nhưng tôi nghĩ, đấng chăn chiên có tài năng như cha hẳn không lấy gì làm vui khi bị kẹt ở một nơi như Jilênbôun.

- Đấy là ý Chúa.

- Nhảm nhí!

Cha bị đưa đến đây hoàn toàn do chỗ yếu của con người: của cha và của Đức giám mục.

Chỉ có Giáo hoàng La Mã là không bao giờ sai lầm.

Chỗ của cha hoàn toàn không phải ở Jinli, tất cả chúng tôi ở đây đều hiểu điều đó, mặc dù để đổi mới đi cho đỡ tẻ, có được một cha linh hồn như thế thì thật là tuyệt, thường thường người ta cử đến đây cho chúng tôi những người không may, không một xu dính túi, từ lúc còn trẻ cũng chỉ có một con đường đi làm linh mục.

Còn cha đáng phải giữ một chỗ nào đó trong giới cao cấp nhất của nhà thờ chứ tuyệt nhiên không phải là ở đây cùng với ngựa và cừu.

Bộ hồng y rất hợp với cha.

- Tôi e rằng không có hi vọng ấy.

Theo tôi nghĩ, đức Tổng giám mục, đấng khâm mạng giáo hoàng La Mã không hay nhớ tới xứ đạo xa xôi như thế và hẳn sẽ không tìm những vị hồng y xứng đáng ở đây.

Nhưng có khi còn tệ hơn nữa kia.

Còn ở đây tôi có bà và có Đrôghêđa.

Bà ta tiếp nhận lời tán dương công khai đó đúng như cha dự tính: điều thú vị là cha đẹp trai như thế, ân cần như thế, thông minh và hóm hỉnh như thế; đúng, quả thật là cha có thể trở thành một đức hồng y tuyệt diệu.

Từ thuở có ý thức về cuộc đời, chưa bao giờ bà ta gặp một người đẹp trai đến thế mà lại có thái độ độc đáo như thế đối với sự đẹp trai của mình.

Cố nhiên cha không thể không biết mình đẹp trai như thế nào: thân hình cao lớn, vóc dáng tuyệt mỹ, khuôn mặt quí phái thanh tú, toàn bộ ngoại hình của cha là một sự hài hòa và hoàn mỹ tuyệt vời - không phải mọi tạo vật của Chúa đều được Chúa ban thưởng hậu như thế.

Toàn bộ thân hình cha, từ mái tóc xoăn lượn sóng và cặp mắt xanh kì diệu cho đến đôi bàn tay và bàn chân nhỏ nhắn thanh nhã đều thực sự là hoàn hảo.

Cha không thể không có ý thức về điều đó.

Tuy nhiên, ở cha có một vẻ phiêu diêu thế nào đó, bằng một cách nào đó cha khiến người ta cảm thấy rằng cha chưa từng bao giờ và sẽ không bao giờ là nô lệ cho hình dáng của mình.

Không để lương tâm cắn rứt, cha lợi dụng cái đó nếu cần, nếu nó giúp cha đạt mục đích nào đó, nhưng tuyệt nhiên không chiêm ngưỡng mình, nói đúng hơn, cha có thái độ tuồng như những kẻ có thể bị những cái như thế cám dỗ là những kẻ thậm chí không đáng cho ta khinh bỉ.

Phải, Meri Cacxôn sẵn lòng trả một cái giá đắt nếu như dò biết được trong quá khứ cái gì đã làm cho cha Ranfơ đờ Brikaxxa thành người như thế.
 
Tiếng Chim Hót Trong Bụi Mận Gai - Colleen Mccullough
II. 1921 - 1928


Ranfơ

3.3

Lạ thật, không hiểu sao có rất nhiều thầy tu đẹp như Ađônix (1) và có sức cám dỗ không thể cưỡng lại nổi đối với phụ nữ như Đôn Joăng (2).

Có thể họ thề không lấy vợ vì sợ rằng sức hấp dẫn như thế của họ có thể gây nên tai họa chăng?

(1) Theo thần thoại Hy Lạp, Ađônix là chàng trai đẹp tuyệt vời đã khiến nữ thần ái tình Afrôđit say mê (N.D)

(2) Don Juan, nhân vật truyền thuyết, gốc Tây Ban Nha, cực kỳ đẹp trai, đa tình, hay quyến rũ phụ nữ (N.D)

- Vì lẽ gì cha cam chịu ở Jilênbôun?

- Bà ta hỏi.

- Thà bỏ chức thánh chẳng hơn là chịu như thế sao?

Với tài năng như thế, cha có thể vừa trở nên giàu có vừa đạt được quyền thế trong bất cứ lĩnh vực nào, và đừng có cam kết với tôi rằng cha không hám quyền lực, ít ra là hám quyền lực.

Cha nhướng cao lông mày trái.

- Mixxix Cacxôn quí mến, bà là người công giáo.

Bà biết lời thề của tôi là không thể phá bỏ được.

Tôi sẽ là linh mục cho đến lúc chết.

Tôi không thể phản bội lời thề.

Bà ta phì một tiếng khinh bỉ:

- Này thôi đi!

Chẳng lẽ cha thật sự tin rằng nếu cha từ bỏ chức thánh thì cha sẽ bị sét đánh chết hay sẽ bị kẻ nào dùng chó và súng săn đuổi cha ư?

- Tất nhiên là không.

Cũng như tôi không tin bà kém thông minh đến nỗi tưởng đâu tôi không dám rời bỏ nhà thờ là vì sợ trừng phạt.

- Ô hô!

Cha thật là ác khẩu, cha đờ Brikaxxa!

Thế thì cái gì trói buộc cha?

Vì lẽ gì cha vui lòng chịu đựng bụi bậm, nóng rực và ruồi ở đây?

Biết đâu cái nạn khổ sai của cha ở Jinli lại chẳng là khổ sai chung thân.

Trong giây lát cặp mắt xanh của cha sầm tối, nhưng cha mỉm cười và nhìn người đối thoại với mình bằng cái nhìn thương hại.

- Bà thực là một người an ủi đại tài!

- Cha ngước mắt lên trần, thở dài.

- Tôi đã được chuẩn bị cho việc phụng thờ Chúa từ lúc còn trong nôi, nhưng không phải chỉ có thế mà thôi.

Tôi là cái bình, Mixxix Cacxôn ạ, và có những giờ tôi tràn đầy Chúa.

Nếu tôi là người nô bộc tận tụy nhất của nhà thờ, tôi sẽ không bao giờ trống rỗng.

Sự tràn đầy ấy, sự hợp nhất với Chúa không tùy thuộc vào việc tôi ở đâu.

Nó đến với tôi bất kể tôi ở Jilênbôun hay ở trong cung điện của Đức giám mục.

Nhưng diễn giải tình cảm đó bằng lời khó vô cùng, bởi vì ngay cả với người tu hành, nó cũng là một bí mật vĩ đại.

Quà của Chúa ban cho, không mấy người được nếm.

Thế đấy.

Từ bỏ cái đó ư?

Tôi không thể làm như thế được.

- Như vậy đó là quyền uy, phải không?

Nhưng tại sao nó lại được trao cho chính các linh mục?

Theo cha, con người có được quyền uy chỉ vì trong thời gian làm lễ hết sức mỏi mệt và dài dằng dặc, người đó được xức dầu thánh ư?

Vì lẽ gì cha tưởng như thế?

Cha lắc đầu.

- Bà ạ, trước khi phong chức thánh là nhiều năm chuẩn bị cẩn thận linh hồn mình để có thể trở thành cái bình của Chúa.

Cần phải xứng đáng với ân huệ!

Đấy là sự khó từng ngày, từng giờ.

Đây là ý nghĩa lời thề của tu sĩ, bà không hiểu sao?

Sao cho không một cái gì trần tục có thể đứng giữa người phụng sự nhà thờ và trạng thái linh hồn của người đó, - dù là tình yêu phụ nữ, lòng ham tiền hay không muốn khuất lụy người khác.

Nghèo không có gì mới đối với tôi.

Tôi sinh ra trong một gia đình không giàu có.

Giữ mình thanh sạch chẳng có gì là khó đối với tôi.

Còn sự khuất lụy?

Đối với tôi đó là một trong ba nhiệm vụ khó nhất.

Nhưng tôi làm được, vì nếu tôi đặt cao hơn bổn phận làm cái bình của Chúa thì tôi hỏng rồi.

Tôi khuất lụy.

Nếu cần, tôi sẵn lòng chịu đựng Jilênbôun cho đến những ngày cuối đời.

- Thế thì cha thật ngốc nghếch.

- Bà ta nói - Tôi cũng cho rằng có những cái quan trọng hơn các ả nhân tình, nhưng vai trò cái bình của Chúa không nằm trong số đó.

Kỳ lạ thật.

Chưa bao giờ tôi nghĩ rằng cha sốt mến đạo đến như thế.

Tôi có cảm giác rằng những nghi ngờ cũng không xa lạ với cha.

- Những cái đó cũng không xa lạ với tôi.

Người nào có suy nghĩ mà lại không biết nghi ngờ?

Vì thế đôi khi tôi cũng cảm thấy trống rỗng.

- Cha phóng tầm mắt qua phía trên đầu bà ta, nhìn một cái gì mà mắt bà ta không thấu tới được.

- Bà có biết rằng tôi sẽ từ bỏ mọi ham muốn của mình, mọi dự định háo danh miễn là trở thành một linh mục thật sự hoàn hảo không?

- Sự hoàn hảo về bất cứ điều gì cũng chán chết đi được!

- Meri Cacxôn nói.

- Còn về tôi thì thiếu hoàn hảo một chút tôi lại thích hơn.

Cha bật cười, nhìn bà ta với vẻ thán phục và không chút ghen tị.

Khỏi phải nói, Meri Cacxôn là một phụ nữ xuất chúng!
 
Tiếng Chim Hót Trong Bụi Mận Gai - Colleen Mccullough
II. 1921 - 1928


Ranfơ

3.4

Ba mươi năm trước bà ta góa chồng, đứa con trai duy nhất của bà ta chết từ lúc còn ấu thơ.

Do địa vị đặc biệt của mình trong xã hội Jilênbôun, bà ta không ưng thuận ngay cả những kẻ háo danh nhất muốn cầu hôn và chinh phục trái tim bà ta.

Bởi vì là vợ góa của Maicơn Cacxôn, đương nhiên bà ta là bà hoàng của những vùng này, còn nếu lấy đi một người nào đó, bà ta sẽ phải trao quyền cho người đó về tất cả sản nghiệp của mình.

Không, chơi cây đàn thứ hai trong cuộc đời không phải là việc của Meri Cacxôn.

Bà ta khước từ những thú vui xác thịt, thích làm bà chúa chuyên quyền hơn.

Còn về việc kiếm một người tình thì không nên nghĩ gì đến ở Jilênbôun, những chuyện ngồi lê đôi mách truyền đi nhanh như điện.

Mà bà ta hoàn toàn không khao khát chứng tỏ rằng bà ta không xa lạ với sự yếu đuối của con người.

Nhưng bây giờ bà ta đã khá già, người ta vẫn cho rằng đây là cái tuổi mà những thôi thúc về xác thịt đã lùi vào dĩ vãng.

Nếu vị linh mục trẻ tuổi mới đến luôn luôn mẫn cán làm bổn phận cha linh hồn của bà ta và bà ta thưởng cho lòng nhiệt thành của cha những món quà nhỏ như chiếc ô tô thì chẳng có gì là không phải phép.

Suốt đời mình, Meri Cacxôn là chỗ dựa không gì lay chuyển được của nhà thờ công giáo, bà ta ủng hộ chu đáo xứ đạo của mình và cha xứ, ngay cả khi cha Kenli vừa đọc kinh cầu nguyện trong buổi lễ vừa nấc lên vì say rượu.

Bà ta không phải là người duy nhất ái mộ người thế chân cha Kenli: cha Ranfơ đờ Brikaxxa xứng đáng được toàn thể giáo dân quí trọng, điều này thì người giàu cũng như người nghèo đều nhất trí.

Nếu giáo dân ở các vùng xa không thể đến Jinli trình cha thì cha thân hành đến thăm họ, hồi Meri Cacxôn chưa tặng chiếc ô tô thì cha đi ngựa.

Do tính nhẫn nại và nhân hậu của cha, mọi người đều có thiện cảm với cha, một số người thành thật yêu mến cha.

Mactin Kinh ở Bughêla không tiếc tiền mua sắm đồ đạc mới cho ngôi nhà ở của nhà chung, Đôminic Ô Rôc ở Đipben - Đipben trả tiền thuê một bà quản gia qua tuyệt giỏi.

Vậy là, ngự trên bệ cao tuổi tác và địa vị của mình, Meri Cacxôn tha hồ thường xuyên gặp gỡ cha Ranfơ mà không e ngại gì, thật là thú vị khi được đưa tài sắc sảo với một đối thủ cũng tinh nhạy như thế, thật là thú vị khi vượt được ông ta về trí sáng suốt - thực ra chưa bao giờ bà ta tin chắc là mình thực sự vượt hơn ông ta.

- Này nhé, cha vừa nói rằng vị khâm mạng giáo hoàng chắc là không mấy khi nhớ đến xứ đạo xa xôi như thế, - bà ta vừa nói vừa ngồi lọt sâu hơn nữa vào ghế bành.

- Vậy thì theo ý cha, cái gì có thể làm cho đức cha thánh thiện này sửng sốt đến nỗi Ngài đã làm cho Jinli thành cái trục hoạt động của mình?

Cha Ranfơ nhếch mép cười không vui.

- Quả tình là tôi không biết.

Có cái gì phi thường chăng?

Việc bất ngờ cứu được một nghìn linh hồn một lúc, cái tài chữa lành những người thọt và người mù đột nhiên bộc lộ ra...

Nhưng thời của phép màu đã qua rồi.

- Này, thôi đi, điều đó thì tôi rất lấy làm ngờ.

Chẳng qua là Chúa trời đã thay đổi kỹ thuật.

Ngày nay ngài sử dụng đồng tiền.

- Bà là một người phụ nữ trâng tráo!

Có lẽ vì thế mà tôi rất mến bà, Mixxix Cacxôn ạ.

- Tên tôi là Meri.

Xin cứ gọi tôi là Meri thôi.

Cô hầu phòng Minni đẩy cái bàn trà vào phòng đúng lúc cha đờ Brikaxxa thốt lên:

- Cám ơn bà, Meri.

Trước những chiếc bánh tráng nóng hổi và bánh mì rán với cá trổng, Meri Cacxôn thở dài:

- Tôi muốn hôm nay cha cầu nguyện cho tôi sốt sắng gấp đôi, cha Ranfơ quí mến ạ.

- Xin gọi tôi là Ranfơ thôi.

- Cha nói, đoạn nói thêm, không phải không có phần ranh mãnh: - Quả tình tôi không biết tôi có thể cầu nguyện cho bà nhiệt tâm hơn mọi khi không, nhưng tôi sẽ thử xem.

- Ôi, cha có duyên quá đi thôi!

Hay đấy là lời ám chỉ độc địa?

Nói chung tôi không thích sự phỉnh nịnh lộ liễu, nhưng với cha thì không bao giờ biết rõ được - có lẽ trong sự lộ liễu đó có ẩn một ý nghĩa sâu hơn chăng?

Một thứ mồi nhử nào đó, một túm cỏ trước mũi con lừa.

Thực ra cha nghĩ về tôi, cha đờ Brikaxxa?

Điều đó chẳng bao giờ tôi nhận ra, cha chẳng bao giờ thiếu tế nhị đến mức nói thật với tôi, phải thế không?

Thật là đáng yêu, thật là hấp dẫn...

Nhưng cha có trách nhiệm cầu nguyện cho tôi.

Tôi già rồi và phạm nhiều tội lỗi.

- Tất cả chúng ta đều không trẻ lại được, và tôi cũng có tội lỗi.

Bà ta bật lên tiếng cười cụt lủn.

- Tôi sẵn lòng trả một giá đắt để biết những tội lỗi của cha!

Đúng thế đấy, cha có thể tin như vậy!

- Bà ta im lặng một lát, rồi đột ngột chuyển sang chuyện khác: - tôi lại không còn người quản cừu nữa rồi.

- Lại thay nữa ư?

- Năm ngoái đã thay năm người.

Ngày càng khó tìm người làm tử tế.

- Nhưng nghe đồn bà chủ cũng không lấy gì làm ân cần và hào phóng cho lắm.

- Xất xược chưa!

- Bà ta la lên và bật cười.

- Thế ai mua cho cha chiếc "Đaimơlơ" còn mới để cha khỏi phải đi ngựa.

- Đúng, nhưng tôi cầu nguyện nhiệt tâm như thế cho bà được rỗi linh hồn kia mà!
 
Tiếng Chim Hót Trong Bụi Mận Gai - Colleen Mccullough
II. 1921 - 1928


Ranfơ

3.5

- Giá như Maicơn có được một nửa trí tuệ và sự cứng rắn của cha thì chắc là tôi sẽ yêu ông ấy. – Meri Cacxôn bỗng nói.

Mặt bà ta trở nên dữ tợn và đầy vẻ khinh miệt. – Cha nghĩ sao, tôi không có ai là ruột thịt và tôi phải để lại tiền bạc và đất đai của tôi cho nhà thờ chăng?

- Tôi chẳng biết gì về chuyện này, - cha Ranfơ điềm tĩnh trả lời và rót thêm trà cho mình.

- Xin lưu ý rằng tôi có người em trai, một ông bố tốt số có nhiều con trai.

- Rất mừng cho bà. – Linh mục tuyên bố hết sức nghiêm trang.

- Khi tôi đi lấy chồng, tôi không có một xu dính túi.

Và tôi biết rằng ở Ailen, tôi không thể mảy may thay đổi được thân phận mình bằng cách kiếm một tấm chồng: ở đấy, muốn câu được một ông chồng giàu thì mình phải là người được giáo dục chu đáo, con nhà dòng dõi và có những mối quen biết.

Tôi làm lụng như một con tù khổ sai cho đến khi tích được đủ tiền mua vé đến một nước mà những người phong lưu không kĩ tính lắm.

Khi đến đây, tôi chỉ có khuôn mặt cùng với thân hình và nhiều trí tuệ hơn mức người ta thường chờ đợi ở một người đàn bà, như vậy là đủ để vồ được gã nhà giàu ngốc nghếch Maicơn Cacxôn.

Y say mê tôi đắm đuối cho đến lúc chết.

- Em trai tôi kém tôi mười một tuổi, vậy là bây giờ chú ấy năm mươi tư.

Cả nhà tôi chỉ còn có hai người.

Tôi gần như không biết nó; khi tôi rời khỏi Gôluai nó còn nhỏ tuổi.

Bây giờ nó ở Niu Zilơn, nhưng nếu nó chuyển đến đây để tìm cách làm giàu thì nó không thành công được.

Tối hôm qua, khi người chăn gia súc từ trại đến trình với tôi rằng Actua Teviet gói ghém hành lý và đòi tính công xá thì tôi chợt nghĩ đến Pađric.

Tôi đang về già, vậy mà bên cạnh tôi không người ruột thịt nào cả.

Còn Petđi thì có kinh nghiệm.

Chú ấy biết khai thác đất đai, nhưng không có đất và chẳng có tiền mua đất.

Tôi mới nảy ra ý nghĩ rằng tại sao không viết thư bảo chú ấy đến đây và đưa cả các con trai đến.

Sau khi tôi chết thì cả Đrôghêđa và "Mitsar Limited" sẽ là của chú ấy, dù sao chú ấy là người ruột thịt duy nhất gần tôi hơn bất cứ người họ hàng nào ở Ailen, loại họ hàng xa lắc xa lơ mà thậm chí tôi không hề biết họ.

Bà ta mỉm cười.

- Chờ đợi thì thật khờ dại, phải không?

Ở đâu cũng vẫn làm ăn, chú ấy có thể đến thẳng đây ngay bây giờ, tập cho quen nuôi cừu trên đồng bằng đất đen của chúng ta, đây không phải là Niu Zilơn, mọi cái đều khác.

Như thế sau khi tôi qua đời, chú ấy sẽ cảm thấy hoàn toàn bình tĩnh trong vai trò ông chủ.

Bà ta cúi đầu xuống và liếc ngang chăm chú nhìn linh mục bằng con mắt tinh tường.

- Lạ thật, sao bà không nghĩ đến chuyện ấy từ trước nữa. – Cha nói.

- Tôi có nghĩ ấy.

Nhưng cho đến thời gian gần đây, tôi hoàn toàn không muốn để lũ ruồi bọ chỉ rình cho tôi chết đi.

Còn bây giờ hình như giờ chết của tôi đang đến gần, tôi có cảm giác rằng...

ờ, mà tôi chẳng biết nữa.

Có lẽ sẽ dễ chịu khi xung quanh không phải là những người xa lạ, mà là người máu mủ ruột thịt.

- Có chuyện gì vậy, bà có cảm giác là bà ốm nặng chăng? – Cha Ranfơ hỏi nhanh và mắt cha lộ vẻ lo ngại thật sự.

Meri Cacxôn nhún vai.

- Tôi hoàn toàn khỏe mạnh.

Nhưng khi đã đến tuổi sáu mươi lăm thì vẫn có cái gì bất thường.

Bỗng nhiên ta hiểu: tuổi già không phải là cái gì đó có thể xảy ra với ta, mà là cái đã xảy ra rồi.

- Vâng, tôi hiểu, bà có lý.

Bà sẽ được khuây khỏa khi nghe thấy trong nhà vang lên những giọng nói trẻ trung.

- Ồ không, họ sẽ không ở đây: - Bà ta bác lại. – Họ sẽ ở ngôi nhà của người quản cừu bên sông, cách xa tôi một chút.

Tôi chẳng thú gì trẻ con và tiếng la hét của trẻ con.

- Bà đối xử với người em trai duy nhất như thế mà không biết ngượng ư, Meri, tuy ông ấy ít tuổi hơn bà nhiều?

- Chú ấy sẽ thừa hưởng toàn bộ tài sản của tôi, vậy thì trước hết hãy lao động đi đã, - Meri Cacxôn nói sẵng giọng.
 
Tiếng Chim Hót Trong Bụi Mận Gai - Colleen Mccullough
II. 1921 - 1928


Ranfơ

3.6

Một tuần trước khi Mecghi tròn chín tuổi, Fiôna Kliri sinh thêm một con trai nữa, nhưng trước khi chị cho rằng chị may mắn: mấy năm trời không có thêm đứa nào nữa, chỉ có hai lần sảy thai.

Mới chín tuổi Mecghi đã thành người giúp việc thực sự.

Còn Fiôna đã ngoài bốn mươi, không còn trẻ trung gì, chửa đẻ đã là việc quá sức chị.

Và thằng Hêrônđơ sinh ra đã yếu đuối; lần đầu tiên trong đời sống của gia đình, bác sĩ thường xuyên đến nhà.

Như thường tình, tai họa nối tiếp tai họa.

Sau chiến tranh, trong nông nghiệp sự phồn thịnh nhường chỗ cho suy thoái.

Ngày càng khó tìm việc làm.

Một buổi tối, sau bữa ăn, ông già Engux Mắc Uetơ đem đến nhà Kliri một bức điện và Petđi hai tay run run mở ra xem: những bức điện thường không đem đến tin lành.

Bọn trẻ con trai chen chúc xung quanh, riêng Frenk cầm lấy chén trà và ra khỏi phòng ăn.

Fia đưa mắt nhìn theo và quay lại khi nghe thấy Petđi kêu lên một tiếng.

- Có chuyện gì vậy? – Chị hỏi.

Petđi nhìn tờ giấy bằng cặp mắt như thể nó báo tin ai qua đời.

- Đây là điện của Arsibanđơ, ông ta không cần chúng ta nữa.

Bôp hung hăng đấm tay xuống bàn đánh rầm một cái: đã từ lâu nó mơ ước được cùng đi với bố, làm thợ phụ xén lông cừu và việc đó phải được khởi đầu ở trại của Arsibanđơ.

- Tại sao ông ta lại chơi xỏ chúng ta như vậy, hả ba?

Lẽ ra ngày mai chúng ta bắt đầu làm rồi kia mà!

- Ông ta không viết rõ tại sao, Bôp ạ.

Chắc là có một thằng khốn kiếp nào nhận làm lấy công rẻ hơn và hớt tay trên của ta.

- Ôi chao, Petđi. – Fia thở dài.

Trong cái nồi cạnh bếp thằng bé Hen cất tiếng khóc, nhưng Fia chưa kịp nhúc nhích thì Mecghi đã ở cạnh nó.

Frenk trở lại, tay cầm chén trà đứng trên ngưỡng cửa và nhìn bố không dứt.

- Hừ, rõ ràng là tôi sẽ phải đến nói chuyện với Arsibanđơ thôi. – Cuối cùng Petđi nói. – Bây giờ tìm chỗ làm khác thì muộn rồi, nhưng ông ta phải giải thích rõ ràng tại sao ông ta lại chơi xỏ tôi như vậy.

Ta hãy hi vọng rằng tạm thời ta sẽ tìm được việc vắt sữa ở nơi nào đó, rồi đến tháng bảy thì sẽ bắt đầu xén lông cừu ở trại Uynlôubi.

Từ đống tã lót để ở cạnh bếp lò cho ấm, Mecghi lôi ra một chiếc tã, trải cẩn thận trên chiếc bàn làm việc, bế đứa em đang khóc ra khỏi cái nôi đan.

Trên đầu nó là một túm tóc thưa thớt, rực rỡ ánh vàng, hệt như tất cả các con Kliri.

Mecghi thay tã lót cho em nhanh nhẹn và khéo léo không kém gì mẹ.

- Mẹ Mecghi bé bỏng. – Frenk trêu ghẹo.

- Nói thế! – Cô bé cáu kỉnh đáp lại. – Em chỉ giúp mẹ thôi chứ.

- Anh biết, - Frenk dịu giọng nói. – Em của anh tinh khôn lắm, bé Mecghi ạ.

Cậu kéo dải băng bằng lụa trắng ở gáy em và vén nó về một bên.

Mecghi ngước đôi mắt to màu xám nhìn anh với niềm yêu thương vô hạn.

Phía trên mái đầu bé nhỏ lắc lư của đứa hài nhi, gương mặt con bé nom gần như người lớn.

Trái tim Frenk se lại: tại sao cái việc đó lại trút lên vai nó, bản thân nó vẫn còn là con nít, lẽ ra nó chỉ chăm bẵm búp bê thôi, nhưng bây giờ búp bê đã bị quên lãng, bị tống vào buồng ngủ .

Nếu như không vì Mecghi và mẹ thì Frenk đã bỏ nhà ra đi từ lâu rồi.

Cậu cau có nhìn bố: đây chính là kẻ có lỗi đã làm cho gia đình thêm một sinh mạng nữa và mọi việc lộn nhào hết.

Bây giờ ông bố không được nhận vào làm ở cái trại mà xưa nay ông vẫn xén lông cừu, thế là đáng đời.

Không hiểu sao, những đứa em trai khác cũng như cả Mecghi đều không gợi cho cậu những ý nghĩ như Hen.

Nhưng lần này, khi eo lưng mẹ bắt đầu phình ra thì Frenk đã đủ tư cách là người lớn, chính cậu đã có thể lấy vợ và làm bố.

Mọi người, trừ bé Mecghi, đều cảm thấy ngượng ngập, đặc biệt mẹ.

Mấy đứa con trai bé nhìn trộm mẹ, và mẹ sợ sệt co rúm người lại, thẹn thùng đưa mắt nhìn đi nơi khác và không thể chịu đựng nổi cái nhìn của Frenk.

Không một người phụ nữ nào đáng phải chịu cực khổ như thế, lần thứ một nghìn Frenk tự nhủ như vậy khi nhớ tới tiếng rên la vang ra từ buồng ngủ của mẹ trong cái đêm Hen ra đời.

Frenk lúc ấy đã là người lớn, không bị đưa sang các nhà hàng xóm như những đứa kia.

Còn bây giờ bố mất việc, bị tống cổ đi, đáng đời ông ta.

Người đứng đắn thì đã để cho vợ yên thân.

Người mẹ nhìn Petđi qua suốt cả bàn dài, dưới ánh sáng ngọn đèn điện mới mắc, mái tóc của chị hệt như bó sợi bằng vàng, khuôn mặt trông nghiêng đều đặn đẹp không thể tả được.

Duyên cớ làm sao mà một người phụ nữ kiều diễm duyên dáng nhường ấy lại đi lấy một gã lang thang, thợ xén lông cừu sinh trưởng ở vùng đầm lầy Gôluai?

Và chị hoài đời ở đây, cũng như bộ đồ ăn bằng sứ mỏng manh của chị, những tấm khăn bàn bằng vải gai đẹp đẽ và những tấm thảm Ba Tư trong phòng khách, chẳng ai nhìn thấy những thứ đó vì vợ những người như Petđi lánh chị.

Trước mặt chị, họ ngượng ngập họ bỗng nhận thấy họ hay la lối quá, họ quê kệch và không biết dùng bộ đồ ăn thế nào nếu trong đó có quá một cái dĩa.
 
Tiếng Chim Hót Trong Bụi Mận Gai - Colleen Mccullough
II. 1921 - 1928


Ranfơ

3.7

Đôi khi, ngày chủ nhật, bà mẹ ngồi một mình trong phòng khách, bên cỗ đàn clavêxin bé nhỏ cạnh cửa sổ và chơi đàn, mặc dù do không có lúc nào rảnh rỗi để tập luyện, ngón tay chị đã mất sự lẹ làng từ lâu và bây giờ chị chỉ chơi được những vở kịch ngắn hết sức đơn giản.

Trong những giờ như thế, Frenk nấp dưới cửa sổ trong bụi tử đinh hương và loa kèn, nhắm mắt lại và nghe.

Khi ấy cậu mường tượng thấy mẹ mặc chiếc áo dài lướt thướt lộng lẫy bằng hàng ren màu hồng nhạt hết sức mềm mại, ngồi bên chiếc đàn clavêxin trong căn phòng lớn màu ngà voi dưới ánh hòa quang lung linh của những cây nến, trên cái giá nến tráng lệ.

Hình ảnh ấy khiến cậu muốn khóc, nhưng bây giờ cậu không bao giờ khóc nữa - kể từ buổi tối đáng ghi nhớ ấy trong nhà kho, từ khi cảnh sát bắt cậu trở về nhà.

Mecghi lại đặt Hen vào nôi và đến chỗ mẹ.

Cả con bé này cũng sẽ hoài đời.

Cũng dáng hình trông nghiêng thanh tú kiêu kì như thế; cả đôi tay cũng như cái thân hình còn hoàn toàn trẻ con của nó cũng có cái gì thừa hưởng của mẹ.

Lớn lên nó cũng sẽ giống mẹ như đúc.

Và ai sẽ lấy nó?

Cũng lại một gã thợ xén lông cừu người Ailen nào đó hay một thằng cha thô lỗ đần độn ở gần Uekhainơ ư?

Nó đáng được hưởng một số phận tốt đẹp nhất, nhưng nó sinh ra không phải để lãnh nhận cái tốt đẹp nhất.

Không có lối thoát nào cả, mọi người đều nói như thế, mỗi một năm càng thấy rõ một cách không thể cứu vãn được rằng đấy là sự thật.

Bấy giờ cảm thấy cái nhìn của Frenk, cả Fia và Mecghi đều quay lại, tặng cho Frenk nụ cười trìu mến khôn tả, phụ nữ chỉ cười như thế với những người họ yêu quý nhất.

Frenk đặt cái chén lên bàn và ra ngoài cho chó ăn.

Giá như cậu có thể khóc hoặc giết một người nào!

Muốn ra sao thì ra, miễn là thoát khỏi nỗi đau đớn này.

Ba ngày sau Petđi mất việc ở trại của Arsibanđơ thì có thư của Meri Cacxôn.

Anh đọc ngay ở bưu điện Uekhainơ khi vừa nhận được và nhảy chân sáo trở về nhà như đứa trẻ con.

- Chúng ta sẽ đi Úc!

- Anh gào lên và vung vẩy tờ giấy vêlanh (1) quí giá trước cả gia đình đang sững sờ.

(1) Loại giấy dày, nhẵn bóng (N.D)

Im lặng, mọi con mắt đổ dồn vào Petđi.

Ánh mắt Fiôna lộ vẻ sợ hãi, ánh mắt Mecghi cũng thế, nhưng mắt những thằng bé bừng lên niềm vui sướng, còn mắt Frenk rực lên như hai hòn than.

- Petđi, nhưng tại sao bà ta bỗng nhớ tới mình sau ngần ấy năm?

- Đọc xong bức thư, Fia hỏi.

- Không phải ngày hôm qua bà ta mới giàu và sống một thân một mình.

Tôi không nhớ có lần nào bà ta ngỏ ý giúp đỡ chúng ta.

- Hình như bà ấy sợ phải chết trong cảnh cô đơn, - Petđi nói, không chỉ cốt làm cho vợ yên tâm, mà cho cả mình nữa.

- Mình thấy bà ta viết đấy chứ: "Tôi không còn trẻ nữa, chú và các con trai của chú là người thừa kế tài sản của tôi.

Tôi nghĩ rằng chúng ta nên gặp nhau trong lúc tôi còn sống, đã đến lúc chú cần học cách quản lý tài sản mà chú được thừa kế.

Tôi định để chú làm người quản cừu, đấy là cách thực tập tốt nhất, các con trai lớn của chú có thể làm người chăn cừu.

Đrôghêđa sẽ trở thành một cơ sở sản xuất gia đình, sẽ có thể không cần dùng đến người ngoài".

- Thế bà ta không viết gì về việc bà ta sẽ gửi tiền đi đường cho chúng ta à?

- Fia hỏi.

Petđi vươn thẳng người.

Anh nói sẵng giọng:

- Tôi không nghĩ đến chuyện vòi vĩnh và ta!

Chúng ta sẽ đến Úc bằng tiền của mình.

Tôi có dành dụm được một ít, đủ dùng.

- Nhưng theo ý tôi, bà ta nên trả phí tổn đi đường cho chúng ta.

- Fia khăng khăng nhắc lại, khiến cả nhà ngạc nhiên và bối rối: chị không hay cãi lại chồng.

- Vì lẽ gì mình vứt bỏ hết mọi thứ ở đây và đến làm cho bà ta chỉ vì bà ta hứa hẹn với mình điều gì đó trong thư?

Trước đây không một lần nào bà ta nhúc nhích lấy một ngón tay để giúp đỡ chúng ta, tôi không tin cậy bà ta.

Tôi chỉ nhớ mình luôn luôn nói rằng trên đời này mình chưa từng thấy kẻ nào keo kiệt như bà ta.

Petđi ạ, xét cho cùng, mình hầu như không quen biết bà ta, mình ít tuổi hơn bà ta nhiều, bà ta sang Úc khi mình còn chưa đi học kia mà.

- Theo ý tôi tất cả những điều đó bây giờ không quan trọng gì nữa, mà nếu bà ta có ki bo một chút thì tài sản để lại chúng ta càng nhiều chứ sao.

Không, Fia ạ, chúng ta sẽ đi Úc và sẽ tự lo lấy chi phí đi đường.

Fia không bàn cãi nữa.

Và nhìn mặt chị, không thể hiểu được chị có bực tức vì chồng cứ nhất định một mực theo ý riêng không.

Ura, chúng ta đi Úc!

- Bôp reo lên và vồ lấy vai bố, Jêc, Huyghi và Xtiua nhảy lên vì hoan hỉ, còn Frenk mỉm cười, mải mê nhìn cái gì ở ngoài những bức tường căn buồng này mà chỉ mình cậu nhìn thấy.

Riêng có Fiôna và Mecghi vẫn ngờ vực và sợ hãi, hai mẹ con khắc khoải hi vọng rằng ý định ấy có thể sẽ bị hủy bỏ: vẫn những lo âu bận rộn ấy đang chờ đợi họ, thế mà mọi cái xung quanh đều sẽ xa lạ, không quen thuộc.
 
Tiếng Chim Hót Trong Bụi Mận Gai - Colleen Mccullough
II. 1921 - 1928


Ranfơ

3.8

- Jilênbôun là ở đâu nhỉ?

- Xtiua hỏi.

Họ lôi ra một tập bản đồ địa lý cũ.

Tuy gia đình luôn luôn túng thiếu, nhưng ở bếp phía sau bàn ăn có mấy giá sách.

Mấy thằng bé chúi mũi vào những tờ giấy đã ố vàng với thời gian và cuối cùng đã tìm thấy Niu Xaođơ Wênx.

Đã quen với những khoảng cách nhỏ ở Niu Zilơn, họ không nghĩ tới việc đối chiếu với tỷ lệ ghi ở góc phía dưới bên trái tấm bản đồ.

Tất nhiên họ quyết đoán rằng Niu Xaođơ Wênx không to hơn đảo Bắc của Niu Zilơn.

Ở góc bên trái phía trên tấm bản đồ đã tìm thấy cả Jilênbôun - có lẽ nó cách Xitnây không xa hơn khoảng Uônganui và Ôklenđơ, tuy những vòng tròn và những chấm - cách thành phố - ít gặp hơn nhiều so với bản đồ Đảo Bắc.

- Tấm bản đồ này cũ lắm rồi.

- Petđi nói.

- Úc giống như Mỹ, nso không phát triển từ từ, mà nhảy vọt.

Bây giờ ở đấy chắc hẳn có nhiều thành phố hơn.

Đi tàu thủy sẽ phải lấy vé hạng tư, nhưng chẳng sao, vẻn vẹn có ba ngày thôi mà.

Đâu phải đằng đẵng hàng tuần như khi từ Anh sang bán cầu kia.

Chỉ có thể mang theo áo quần, bát đĩa, chăn nệm, đồ dùng làm bếp và thứ của báu này - sách; giường tủ thì phải bán, không thì không đủ tiền để chuyên chở số đồ vật ít ỏi bày biện phòng khách của Fiôna - chiếc đàn clavêxin của chị, thảm, ghế.

- Tôi không để cho mình từ bỏ những thứ đó đâu.

- Petđi tuyên bố dứt khoát với vợ.

- Nhưng khoản phí tổn ấy có vừa túi chúng ta không?

- Khỏi lo.

Còn về các đồ đạc khác thì Meri viết rằng họ sẽ chuẩn bị cho chúng ta ngôi nhà của người quản cừu trước kia, ở đấy có tất cả những gì chúng ta có thể cần đến.

Tôi lấy làm mừng rằng chúng ta không phải sống chung dưới một mái nhà với bà ta.

- Tôi cũng thế, - Fia nói.

Petđi đi Uônganui và lấy vé ngăn buồng tám chỗ hạng tư trên tàu "Uekhainơ"; kì lạ, con tàu cùng tên với thành phố gần họ nhất.

Tàu khởi hành vào cuối tháng tám, và ngay từ đầu tháng mọi người đã bắt đầu hiểu rằng thực đang xảy ra một biến cố trọng đại.

Cần phải bán chó, bán ngựa, cỗ xe hai bánh, chất bàn ghế giường tủ lên xe tải của ông già Engux Măc Uectơ và đem đi bán ở Uônganui, còn một số đồ vật thuộc số hồi môn của Fiôna thì đóng gói cùng với bát đĩa, chăn nệm, sách và đồ dùng làm bếp.

Frenk bắt gặp mẹ ở cạnh cỗ đàn clavêxin cổ xinh đẹp - mẹ vuốt ve lớp gỗ màu hồng nhạt có đường vân mảnh và trầm ngâm nhìn những vệt thếp vàng để lại bụi phấn trên ngón tay.

- Cây đàn clavêxin này xưa nay vẫn là của mẹ ư, hả mẹ?

- Frenk hỏi.

- Ừ.

Người ta không thể lấy được đồ riêng của mẹ khi mẹ đi lấy chồng.

Cây đàn clavêxin này, những tấm thảm Batư, chiếc đi văng và những chiếc ghế theo kiểu thời Lu-i mười lăm, cái bàn viết nhỏ thời Nhiếp chính.

Không nhiều nhặn gì, nhưng tất cả những cái đó, theo luật định, là của mẹ.

Cặp mắt xám buồn rầu của chị lướt qua bên Frenk, nhìn lên tường, nhìn bức chân dung sơn dầu - thời gian đã làm cho màu sắc hơi nhạt đi, nhưng vẫn còn có thể nhận rõ một người phụ nữ tóc vàng óng ánh mặc bộ y phục lộng lẫy bằng hàng ren màu hồng nhạt hết sức mềm mại - chiếc váy phồng và vô số đường viên.

Frenk quay lại và cũng nhìn bức chân dung.

- Người nào đấy, hả mẹ?

- Frenk hỏi với vẻ tò mò.

- Con vẫn muốn hỏi mẹ từ lâu rồi.

- Một phu nhân quyền quí.

- Chắc là có họ hàng với mẹ.

Hao hao giống mẹ.

- Mẹ và bà ấy là chỗ họ hàng ư?

- Fia ngừng ngắm bức chân dung và nhìn con trai với vẻ giễu cợt.

- Chẳng lẽ nom mẹ mà mường tượng được là mẹ có thể có người họ hàng như thế ư?

- Vâng.

- Nghĩ lại đi, đầu óc con rối loạn đấy.

- Mẹ nên kể cho con rõ mọi chuyện đúng thực là thế nào đi, mẹ ạ.

Fia thở dài, đóng nắp đàn clavêxin, phủi bụi phấn vàng ở ngón tay.

- Chẳng có gì mà kể, chẳng có gì hết.

Hãy giúp mẹ chuyển những đồ vật này ra giữa phòng, rồi ba sẽ đóng gói.

Việc di chuyển quả là một khổ hình thực sự.

Ngay từ trước khi tàu "Uekhainơ" rời khỏi cảng Wenlinhtơn, cả nhà đã say sóng biển và cơn say sóng chỉ hoàn toàn buông thả họ khi tàu đã bỏ lại đằng sau một ngàn hai trăm hải lý biển mùa đông bão tố.

Petđi đưa các con trai lên boong và giữ chúng ở đấy, trong gió quất dữ dội và chốc chốc bọt sóng lại táp lên, chỉ khi có một người nào tốt bụng nhận trông nom giúp những đứa con trai khốn khổ mệt phờ vì nôn mửa, anh mới xuống khoang buồng tàu thăm vợ, con gái và đứa hài nhi.

Frenk cũng khao khát một hớp không khí tươi mát, nhưng cậu vẫn ở lại với mẹ và Mecghi.

Ngăn buồng tàu ngột ngạt nồng nặc mùi dầu hỏa, nó ở dưới đường mớn nước, gần mũi và chòng chành rất dữ.

Sau mấy giờ đi biển đầu tiên, Frenk và Mecghi đinh ninh là mẹ sắp chết.

Bác sĩ, do người nhân viên phục vụ đầy lo lắng mới từ khoang hạng nhất xuống, rầu rĩ lắc đầu:

- Còn may là chuyến đi không dài.

- Ông nói và bảo cô y tá đem sữa đến cho đứa hài nhi.

Giữa những cơn say sóng biển, Frenk và Mecghi đã khéo tìm cách cho Hen bú sữa bằng chai (tuy nó cưỡng lại, không chịu ngậm đầu vú).

Fiôna không nôn nữa, chị nằm như chết, và người nhà không thể làm cho chị tỉnh lại.

Xtiua giúp Frenk đặt mẹ lên giường trên, ở đó dễ thở hơn, và Frenk áp chặt chiếc khăn tay vào miệng vì chính cậu cũng hơi rộn rực muốn lộn mửa, cậu ngồi ghé xuống mép giường và vén đám tóc vàng óng ánh trên trán mẹ.

Dù yếu mệt thế nào đi nữa, cậu vẫn ở vị trí của mình hàng giờ: lần nào Frenk cũng bắt gặp trong ngăn buồng tàu và vẫn cảnh tưởng ấy: cậu ngồi cạnh mẹ và vuốt tóc mẹ, còn Mecghi, miệng nhét chiếc khăn tay, co quắp ở giường dưới, cạnh Hen.
 
Tiếng Chim Hót Trong Bụi Mận Gai - Colleen Mccullough
II. 1921 - 1928


Ranfơ

3.9

Ba giờ sau khi tàu dừng ở Xitnây, biển lặng, và chiếc tàu thủy già nua chìm ngập trong sương mù từ Nam Cực xa xôi lẻn tới trên mặt nước phẳng lặng như gương.

Còi lại rú lên, và Mecghi đã hơi hồi tỉnh, tưởng chừng bây giờ khi những đòn va đập dữ dội vào thành tàu đã ngừng hẳn, con tàu già nua gào lên vì đau đớn.

"Uekhainơ" ì ạch len lén di chuyển trong sương mù màu xám quện dính, như con thú bị truy lùng, và từ chỗ nào phía trên lại vọng xuống tiếng gào khàn khàn, đơn điệu, cô đơn, tuyệt vọng, buồn nản vô cùng.

Rồi tất cả xung quanh tràn ngập những tiếng gào cũng đau đớn buồn như vậy, chúng lướt trên mặt nước cuồn cuộn những vòng sương mù xoáy ốc hư ảo, lọt vào bến.

Mecghi nhớ suốt đời những tiếng còi trong sương mù ấy khi nước Úc đón tiếp nó.

Petđi bế vợ lên khỏi tàu, theo sau anh là Frenk bế đứa nhỏ, Mecghi mang chiếc vali, mỗi thằng bé kéo lê một thứ hành lý gì đó vừa đi vừa vấp một cách mệt mỏi.

Họ đến Pirmônt - tên của nó không nói với họ điều gì, - vào một buổi sáng mùa đông sương mù, cuối tháng tám 1921.

Tiếp sau cái mái che bằng tôn khổng lồ ở bến là một chuỗi bất tận xe taxi đang chờ.

Mecghi mở to mắt ngạc nhiên, chưa bao giờ nó thấy nhiều ô tô như vậy cùng một lúc.

Petđi cố nhét bừa cả gia đình vào một chiếc xe, người lái xe nhận đưa họ đến cung điện nhân dân.

- Chỗ ấy hợp với anh hết ý, anh bạn ạ.

- Anh ta giải thích .

- Đại loại là một khách sạn cho người lao động, mà các bà chủ ở đấy là thuộc "Đạo quân cứu thế" (1)

(1) Một tổ chức từ thiện tôn giáo của tư sản, thành lập ở Anh thế kỷ 19 (N.D)

Phố phường nhan nhản ô tô phóng vun vút, dường như cùng một lúc phóng về mọi phía; hầu như không thấy ngựa.

Từ các cửa kính xe taxi, lũ con Kliri mê thích nhìn những ngôi nhà gạch cao vót, những phố hẹp ngoằn ngoèo, chúng sửng sốt thấy những đám tụ tập và tan đi nhanh chóng như thực hiện một nghi thức kỳ quặc nào của thành phố.

Welinhtơn gợi nên cho chúng sự kính trọng, nhưng so với Xitnây thì cả đến Wenlinhtơn cũng chỉ như một thị trấn hẻo lánh.

Trong lúc Fiôna nghỉ ngơi tại một trong vô số ngăn tổ của cái tổ ong khổng lồ - nhà của "Quân cứu thế", được gọi một cách trìu mến là Cung điện nhân dân, thì Petđi định ra ga trung tâm thăm xem bao giờ có tàu hỏa đi Jilênbôun.

Những thằng bé đã hoàn toàn hồi tỉnh và vòi anh: chúng nghe nói chỗ đó không xa lắm và dọc đường đầy rẫy các cửa hàng, trong đó có một hàng bán hành biển tẩm đường.

Petđi đành chiều chúng, lòng thầm ghen với sự mau lẹ của trẻ con, bản thân anh sau ba ngày say sóng đứng còn chưa vững hẳn.

Frenk và Mecghi ở lại với mẹ và em bé, chúng cũng muốn đi lắm, nhưng đối với chúng, làm sao cho mẹ đỡ mệt còn quan trọng hơn nhiều.

Tuy nhiên, trên mặt đất vững chắc, sức lực mau chóng trở lại với chị, chị uống một chén nước hầm thịt do đấng thiên thần hộ mệnh đội mũ chùm mang đến, thậm chí còn bẻ một miếng bánh mì rán.

Đúng lúc ấy Petđi trở về.

- Fia ạ, nếu chúng ta không đi hôm nay thì phải đợi cả một tuần mới có chuyến tàu suốt tiếp theo.

- Anh nói.

- ý mình thế nào, mình có đủ sức đi ngay tối nay không?

Fia run rẩy ngồi lên.

- Được thôi, tôi sẽ gắng chịu.

- Con cho rằng nên khoan đã.

- Frenk mạnh dạn xen vào.

- Theo con, mẹ còn yếu lắm, chưa đi được đâu.

- Rõ ràng là con chưa hiểu, Frenk ạ, nếu chúng ta bỏ lỡ chuyến này thì sẽ phải ở lại Xitnây này suốt một tuần, ba không có tiền chi cho khoản đó.

Úc là một nước lớn, không phải ngày nào cũng có chuyến tàu đến các nơi mà chúng ta cần đến.

Ngày mai có ba chuyến tàu đi Đaphô, nhưng ở đây sẽ phải chờ tàu địa phương, người ta bảo ba rằng như thế chúng ta sẽ càng khổ hơn, chẳng thà gắng một chút mà đi ngay chuyến tàu suốt hôm nay còn hơn.

- Tôi gắng được mà, Petđi ạ.

- Fia nhắc lại.

- Frenk và Mecghi ở cạnh tôi thì tôi sẽ chẳng làm sao cả đâu.

Ánh mắt chị van vỉ Frenk đừng nói gì nữa.

- Thế thì tôi sẽ đi đánh điện ngay để Meri đợi chúng ta vào ngày mai.

Ga trung tâm thật là đồ sộ, họ chưa bao giờ vào một tòa nhà như thế - cái ống trụ khổng lồ bằng kính dường như dội lại tiếng vang, đồng thời nuốt mất tiếng ồn ào và tiếng nói của hàng ngàn người đang chờ đợi cạnh những chiếc vali cũ nát chằng dây da hay dây thừng, mắt vẫn không rời khỏi tấm bảng chỉ dẫn mà các nhân viên nhà ga dùng những cây sào dài thay đổi tin tức các chuyến tàu.

Trong bóng tối mỗi lúc một sậm lại, gia đình Kliri hòa lẫn với đám đông, mọi con mắt đều dán vào hàng chấn song sắt - cái cổng xếp mở theo đường rãnh dẫn tới đường ke số năm.

Lúc này cổng đóng, nhưng trên cổng có treo tấm bảng có hàng chữ viết tay: "Tàu thư Jilênbôun".

Trên đường ke số một và số hai đang nhốn nháo cả lên vì nhà ga báo tin những chuyến tàu nhanh đi Brixben và Men-buôc sắp khởi hành, và hành khách ùa ra ngoài.

Chẳng bao lâu đã đến lượt cả gia đình Kliri - cánh cổng trước ga thu dồn lại như cỗ đàn xếp và người ta vội vã đổ vào sân ga.
 
Back
Top Bottom