Chương thứ I.
Giã cố-sơn vâng ra kinh-quốc
Năm nhâm-dần, niên hiệu Cảnh-hưng 景興 thứ 43 (1781), tháng Mạnh-xuân, lúc đó trời quang mây tạnh, hoa cỏ đua tươi, ở trước sân nhà U-trai của tôi, có mấy cái cây đang ra hoa kết quả, tuyết rủ hương bay, tha-thướt bóng tà, hình như mĩ-nhân đâu vơ-vẩn.
Những con đống-giao 凍蛟 thời bò ra từng đàn, thỉnh-thoảng có mùi dị-hương.
Dưới ao bình-trì về mé tây-viên thời cá thung-thăng dợn sóng ra ăn vòng nguyệt.
Mấy con oanh vàng líu-lô và thấm-thoắt đưa thoi trong cái bụi rậm um-xùm kia, càng tỏ ra có cái ý sinh-dục của tạo-vật.
Trong những khi ấy: có lúc thì tôi dắt mấy tên đồng lên chơi núi, tha-hồ ngắm cảnh yên-hà mà giải-trí; có lúc thời tôi ngồi câu ở Nghinh-phong-đình 迎沨亭; có lúc thì tôi dạo cung cầm ở Tị-huyên-lư 避暄廬; có lúc thì tôi xem sách ở Tối-quảng-đình 最廣亭; lại có lúc thì tôi đánh cờ rồi ngủ ở Di-chân-đường 頣眞堂; tùy ý tôi thích chơi đâu thì chơi, ngày nào cũng chén say la-cà ra rồi mới về.
Đến ngày 12 tháng ấy, bỗng thấy hai người dịch-mục của quan Thự-trấn 署鎭 bản-xứ sai về, mới tới sân thì hai người cùng nói lên rằng: "Cụ lớn tôi có lời mừng cho cụ", tôi chưa hiểu ra việc gì, bèn bóc phong-thơ ra xem, thì thấy có hai đạo văn-thư như sau này.
Một đạo là bản sao lời truyền rằng:
"Quan Nội-sai-binh-phiên Trạch-trung-hầu 内差兵番澤忠候 phụng lời chỉ này mà truyền cho quan Thự-trấn xứ Nghệ-an là Côn-lĩnh-hầu 琨嶺候 phải hỏi thăm cho được một người tính-danh là Lê Hữu-Trác 黎有卓, tục gọi "Chiêu Bảy", con quan tiền Thượng-thư họ Lê, làng Liêu-xá 潦舍, huyện Đường-hào 唐豪; nay vào ở quê mẹ làng Tình-diễm 情艶, huyện Hương-sơn; rồi phải lượng sai lính trấn-binh tức-khắc đưa tiến kinh thi-mệnh.
"Nay chỉ truyền
"Ngày 29, tháng 11, năm Cảnh-hưng thứ 42"
Một đạo là thủ-thư của quan Thự-trấn đưa mừng tôi, đại-lược rằng:
"Một người học-trò nơi thảo-dã, mà nhất-đán danh tiếng đạt đến Cửu-trùng, thời thực đáng nên mừng-rỡ cho con đường tiền-trình muôn dặm kia là đường nào."
Lại "Vương-mệnh bất-sĩ-giá 王命不俟駕 phải tức-nhật đăng-trình ngay, ra đến Vĩnh-doanh 永營 đã có lính trấn-binh đón cả ở đó để tiến-hành".
Một người đem tin ấy lại bảo thầm tôi rằng: "Việc này là bởi quan Chánh-đường 正堂 cử-tri cho cụ vào vào thăm ông Đông-cung-vương-thế-tử bị bệnh nặng đã lâu.
Chuyến đi này không phải việc thường, phải bội-đạo mà đi, bất-phân mộ dạ mới được".
Tôi biết chuyện đầu đuôi rồi, kinh sợ vô-cùng, ngẩn người ra như thằng si, thằng ngốc đến một giờ lâu, người trong nhà nghe thấy, kẻ biết tôi thì họ lo thay cho tôi, kẻ không biết tôi thì họ mừng thầm cho tôi, không phải bàn đến cái việc của những bọn người nhà họ làm râm-ran cả lên một hồi bấy giờ nữa.
Nguyên quan Chánh-đường về hồi 4, 5 năm trước, ông phụng-mệnh ra trấn Hoan-châu 驩州 có mời tôi xem mạch và chữa thuốc, ông đãi tôi là bậc thượng-tân, ăn cùng mâm, ngồi cùng chiếu, lễ-ý rất là long-trọng.
Sau ông có cái công bình được bọn hải-khấu, về triều làm đến Tam-công 三公, tín-dụng không ai bằng.
Tôi nghe tin mấy năm nay vẫn lấy làm lo canh-cánh ở trong lòng, thường nói chuyện với học-trò rằng: "Tôi chắc thể nào cũng phải một phen lao-lục vào huyễn-điện ở chốn kinh-kỳ mà phụ với cỏ hoa chốn cố-sơn này chớ chẳng không."
Đến ngày nay sự-thể quả như thế, tôi cũng ân-hận cho tôi đi ẩn chưa được kín.
Tuy-nhiên, ông là người có tài-đức như ông Cơ-công 姬公 ngày trước, đối với những người thiên-hạ chi-sĩ, ai ông cũng đãi một cách nghiêm-cung tử-tế, nữa là ông đối với tôi.
Bấy giờ có một người giải-muộn cho tôi rằng: "Ông là một người uyên-súc và tinh-thâm về cái học tính-mệnh, không làm nên một nhà lương-tướng thì cũng nên làm một nhà lương-y, đã đành cái sự sản-thái mai-quang, vẫn là cao-thượng, nhưng nay cửu-trùng tri-ngộ, tứ-hải nghe danh, thì lại không phải là cái việc của kẻ trượng-phu đáng nên làm hay sao?"
Tôi ngần-ngừ mà trả lời rằng: "Vị hoa nên người ta hái, vị hư-danh nên phải lụy mình."
Vậy thời căng-danh sao bằng đào-danh có thú hơn không?"
Bấy giờ tôi bất-rứt không biết là dường nào, suốt đêm không ngủ, tự nghĩ thầm trong bụng rằng: "Mình lúc thiếu-thời mài gươm, đọc sách, rồi phiêu đãng chốn giang-hồ, chốc ngoại mười-lăm năm, không sở-đắc được một cái gì, sau vất bỏ cả công-danh ra ngoài về ẩn-cư ở dưới núi Hương-sơn này, vừa nuôi mẹ, vừa xem sách cho được tiêu-dao trong cái vườn đạo-lý của ông Hiên ông Kỳ, mà tự lấy cái sự bảo-thân tế-thế làm đắc-sách, hay đâu nhất-đán bị cái hư-danh nó làm lụy cho mình thế này."
Nghĩ chán rồi tôi lại tự an-ủi lấy cho tôi rằng: "Mình khốn-tâm hành-lự về một khoa y-học đã ba-mươi năm nay, tập được một bộ Tâm-lĩnh 心領, muốn đem vấn-thế, nhưng việc cả, nhà nghèo, khôn lẽ làm cho xong việc, vậy xin quỉ-thần cảm-cách cái tấm thành-tâm này cho, thì chuyến đi chắc có chỗ tao-ngộ cũng chưa biết chừng".
Nghĩ quanh tính quẩn như thế rồi bất-giác mừng hớn-hở cả người lên, bèn ra tiếp-đãi hai người lai sứ và viết một phong-thơ để trả lời quan bản-trấn.
Ông vốn là người tương-tri với tôi, ông muốn làm tờ khải để nói thay cho tôi, nên tôi phải kê cả cái sự tôi đã suy-lão rồi, xin ông chước-miễn đi cho.
Hôm sau quan bản-trấn lại sai một tên thuộc-vệ đem một lá phiếu về, trong phiếu nói rằng: "Bản-chức đã vát-thủ những thuyền-chích để đi duyên-giang cho tới trạm, vậy ông phải khởi-thân ngay, nếu còn trì-duyên thì sẽ can-hệ."
Mà kẻ trong nhà tôi chúng nó cũng cố hết sức khuyên dỗ tôi, tôi biết thế-bất-đắc-dĩ, tức thì đạt giấy cho bọn đạo-đồ hợp lại; ngày mười-tư làm lễ tiên-thánh, tiên-hiền, rồi hát một chầu; ngày mười-sáu bọn đạo-đồ thấy tôi có việc viễn-hành lại bày một tiệc hát nữa; ngày mười-bảy tôi sắp-sửa nửa quảy đồ-thư, một bên cầm-kiếm, cho đem xuống thuyền để đi đường thủy ra Vĩnh-dinh.
Bấy giờ tân-khách đến chơi đông một nhà, kẻ thì xin thuốc, người thì tiễn tiền, dùng-dằng chẳng nỡ chia tay, mãi đến lúc mặt trời đã xế non đoài mới nhổ sào xuôi, lúc đó tôi ngồi ở trong thuyền, đối-cảnh hàm-tình, lòng khách chứa-chan không biết là chừng nào, mới ứng-khẩu đọc ra một bài thơ rằng:
流水何太急
行人意慾遲
羣山分岸走
一揁劈烟飛
沙雁親如送
遊魚急欲追
雲間香嶺樹
太半已斜暉.
Nước chảy đâu mà vội,
Hành-nhân vẫn lững-lờ.
Trèo đèo lên đám khói,
Núi chạy rẽ đôi bờ.
Cá sông đưa tất-tả,
Nhạn cồn tiễn ngẩn-ngơ.
Mây ám cây Hương-lĩnh,
Bóng hôm nửa rõ mờ.
Đêm hôm ấy, thuyền đi dưới bóng trăng, trông ra làng-mạc hai bên bờ sông đều im-ả cả, thỉnh-thoảng tiếng chó sủa theo thuyền đi, một vầng minh-nguyệt, vằng-vặc lòng sông; đôi ngạn hải-trào, mênh-mông bến khách; chuông nện chùa xa văng-vẳng, sương sa bụi dặm mịt-mù; mấy ngọn ngư-đăng hiu-hắt, vài đôi âu-lộ sóng bày.
Bọn đạo-đồ tùy-hành ai nấy mượn chén tiêu-sầu.
Tôi bèn ngâm một thiên tiểu-luật để tự-tình rằng:
一江烟水靖
客思满關河
風重征帆急
霜深去雁斜
寒山來夜磬
遠浦出漁歌
今夕猶如此
明朝且奈何.
Một dải sông quang tạnh,
Xui lòng khách chứa chan.
Gió mạnh buồm xuôi chóng,
Sương mù nhạn rẽ ngang.
Véo-von chài viễn-phố,
Lanh-lảnh khách hàn-san.
Ấy cảnh đêm nay thế,
Mai biết đâu mà bàn.
Gà gáy đến Vĩnh-dinh, cắm sào trước bến đi nghỉ được một chốc.
Sáng mười-tám đổ bộ, vào yết quan Thự trấn thì ông đợi tôi đã mấy hôm, nhân nhà ông có tiên-kỵ, nên ông phải về quê rồi, chỉ dặn lại người thuộc-viên sắp-sẵn lính bản-dinh với năm quan tiền để cung bản-phí mà nói rằng: "Quan tôi có tiên-kỵ phải về quê không kịp tiếp cụ, có chút vi-thành này xin cụ tỏ tình cho."
Quan Thự-trấn lại phái một quan Văn-thư đem ba-mươi tên lính bản-đạo và sắp đủ khẩu-lương để đi hộ-tống.
Ngày hai-mươi quan Văn-thư sửa-sang hành-lý đăng-trình, nhưng bọn lính tùy-hành ấy chưa đủ lương, còn phải đi vay giật, mãi đến quá trưa mới trẩy được.
Tôi nghỉ ở trạm xã Kim-khê 金溪, quan Văn-thư làm lễ vào yết miếu ở làng ấy; ông có đặt một tiệc hát mà cho mời tôi, tôi đến thì thấy một "cô đồng" đang hầu giá nhà thánh ngồi trên sập, vừa đảo vừa đang lảm-nhảm nói, có người bảo tôi rằng: "Thánh-mẫu đây linh-ứng lắm, cụ thầy nhân vô Kinh, có muốn cầu việc gì thì sao không ra mà kêu ngài."
Tôi nói: "Phàm ai cũng cầu lấy cái sở-đắc, chứ có ai cầu lấy cái sở-thất, bụng tôi không có nguyện-đắc cái gì, thì còn cầu mà làm chi."
Cô đồng nghe nói tủm-tỉm cười, quan Văn-thư cũng trông tôi cả cười.
Nửa đêm tan tiệc, ai nấy đều về nhà trọ nghỉ, sáng sớm tinh sương ngày hai-mươi mốt chúng tôi khởi-hành, bấy giờ gặp trận mưa dầm tầm-tã, một tụi hành-nhân rét-mướt quá thể, mà trông lên đàng trước mặt thì núi san-sát dãy dài hàng mấy trăm ngọn, đường sá gập ghềnh, tôi thấy đường đi bạt-thiệp gian-nan như thế, bất-giác buột miệng ngâm nga một câu rằng:
南望千山如黛色
愁君客路在其中.
Trời nam sắc nước như chàm,
Thương anh lẽo-đẽo dặm đàng còn xa.
Đường đi qua Cấm-sơn 禁山, sang đò Cấm-giang 禁江, tới bến Thiết-cảng 鉄港.
Lúc đó hơi mặt bể, khói đầu non, bốc lên nghi-ngút, thực như câu:
Núi này trăm sáu ngọn cao,
Chẳng may sư cụ nẻo nào ra vô.
Độ trong vài bước mà không ai trông thấy ai, chỉ nghe tiếng chim kêu vượn hót ở trên tầng mây, nhác xem cái thú sơn-lâm ấy, hình như có ý khiến cho tôi phải đối-cảnh sinh-tình mà có điều cảm-súc thầm ở trong bụng rằng: ba-mươi năm nay, cái đám lợi danh kia, mình đã buông theo với dòng lưu-thủy, để cho được ưu-du trong cái chỗ suối rừng, lấy một chữ nhàn làm đắc-sách; ai hay đã không có cái bụng lợi-danh mà lại hóa ra làm cái thân danh-lợi thế này, thật chỉ vì mình không chân-độn được nên mới phải thế, nhân cảm-hoài nên một bài thơ để dãi lòng rằng:
遯世從醫養一眞
不知爲富豈知貧
林泉欲了三生道
綸綍難辭萬里身
半擔烟霞勞驛馬
满山猿鶴送征人
虛名自揣無他秘
只恐疎狂對聖君.
Nương-náu nghề y để dưỡng-chân,
Nghĩ chi là phú nghĩ chi bần.
Suối rừng quanh-quẩn khuây vì đạo,
Chiếu mệnh xa vời phải dấn thân.
Nửa gánh yên-hà thêm nhọc trạm,
Đầy ngàn viên hạc rộn đưa chân.
Biết ai đâu nữa mà mang tiếng,
Luống sợ sơ-cuồng trước thánh-quân.
Tối hôm ấy đến chợ Đông-điệp 東曡, nghỉ lại ...(lược)...
Sáng mai tôi cho một tên tùng-nhân đến cáo với quan Văn-thư để cho bọn chúng tôi đi trước, mà hẹn đến trạm chợ Hoàng-mai 黄梅 thì cùng nghỉ, vì quan Văn-thư nhân có việc quan chưa xong, còn phải đóng ở đó, nên y vâng lời ngay.
Ngày hai-mươi-hai tôi đưa bọn tùng-nhân đi trước ra mé tây núi, núi ấy một dải liền nhau, ngọn thì ẩn, ngọn thì hiện ở trên đám mây trắng, lại có mấy quả núi nhỏ li-quần mọc ra bên đường, bóng chiều phơn-phớt hoe-hoe ánh ra ngoài đồng bằng.
Tới núi Long-sơn 龍山 thì thấy một chỗ độ một cung đất, trong có những cây cổ-thụ um-tùm, dâm-dâm man-mát, thật là xinh thay; đá cuội thì thâm-thấp như cái đẳng bày hàng tề-chỉnh.
Tôi mới cho đỗ cáng lại ở đó để đi du-ngoạn một lát, nhân đề một bài thơ lên vách đá rằng:
依山崗作寺
徬石架山鍾
細雨描春草
明霞落晚松
人吟殘照裏
鳥語亂林中
奉詔趨行驛
勤勢笑懶翁.
Chùa dựng bên sườn núi,
Chuông cheo mỏm đá hòn.
Mây quyến thông già rụng,
Mưa vờn cỏ xuân non.
Bóng xế người ngâm-ngợi,
Rừng rậm chim véo-von.
Nực cười cho ông Lãn,
Phụng chiếu cũng lon-son.
Đề rồi giục-giã lên đường, đến chợ Hoàng-mai thì chiều hôm nghỉ lại, mà cũng chưa thấy quan Văn-thư đến.
Sáng hôm sau tôi sai lính bản-dinh cứ khởi-hành, đến chiều thì quan Văn-thư mới tới nơi, y nói với tôi rằng: "Tôi sợ lính đi đường không đủ dùng, mà số lính quan bản-trấn tôi phụng-mệnh truyền để kén ở các nơi huyện-thành chưa đủ, nên tôi muốn bắt thêm mấy người nữa để đài-tải hộ vào mà đi cho chững-chạc."
Tôi nói: "Đi đây có mấy hột tiền lương mà phải lo chi việc ấy."
Sáng ngày hai-mươi-ba đi ra cầu Kim-lan-mạn 金蘭蔓橋 rồi đến suối Lãnh-thủy 冷水溪 cái chỗ Thanh Nghệ giáp-giới nhau, thấy một bọn hành-nhân đứng ở bên đường, trông thấy tôi thì họ đều chào vái; hỏi ra thì là người ở một làng bên đường đó, họ mới ở Kinh về, tôi cũng dừng võng lại nói chuyện ít lâu mới đi.
Lúc đó tôi niềm quê nỗi khách, ngổn-ngang trong lòng, nhân ứng-khẩu ngâm ra một bài thơ rằng:
驩愛分彊地
羣山亙送迎.
樵歌雲路出
鳥語谷風生.
伏石當途立
遥天斷碧橫.
行人說鄉思
惟我上神京.
Chỗ này giáp Hoan Ái,
Non nước đón đưa ta.
Trong hang tiếng chim gáy,
Trên mây giọng tiều ca.
Đá vầng ngăn trước lối,
Mây biếc chặn đàng xa.
Tiến Kinh duy có lão,
Còn họ chỉ chuyện nhà.
Ngày hôm đó trời xuân êm-ả, đường bộ thảnh-thơi, hôm đến chợ Thổ-sơn 土山 trọ lại.
Chợ ấy có một cái đồn-binh của trấn Thanh-hoa phân-phái ra đóng trú-phòng ở đó, binh-khí cũng nhiều, thấy bọn chúng tôi họ giữ lại xét hỏi, sau biết chúng tôi đi có phụng-mệnh, họ mới xúm lại xin lỗi rồi lui ra.
Ngày hai-mươi bốn, sáng sớm tiến-trình; bấy giờ mây kéo đen dầm tứ phía, sương khói mù-mịt, gió rét lạnh-lùng, dẫu mặc áo bông dày cũng phải rét run lên cầm-cập.
Đi mấy giờ nữa mới đến bờ bể Hào-môn 豪門; trông ra một nước một trời, sóng vỗ mênh-mang muôn dặm.
Nhân sực nhớ đến cái việc ông Tần-Hoàng 秦皇và ông Hán Vũ 漢武帝 khi xưa, phí biết bao nhiêu là tâm-tư, nào cái thuật đánh cho đá phải chạy lồng lên rồi bỏ vào túi vân-nang mà quảy, thế mà rút cục lại cũng chẳng trông thấy cái hút bóng chỗ Bồng-lai tiên-cảnh ở đâu cả, thì thực là suyễn-mậu chi thậm!-Lại cổ-nhân thường cho cái đám quan-trường là nơi hoạn-hải là biết trong chỗ phù-trầm có cái nguy-cơ; lúc đó tôi vừa hết sức ngắm cảnh yên-ba vừa ứng-khẩu ngâm một bài thơ rằng:
海岸驚行客
蒼茫萬里秋
波濤震鰲極
雲霧起天摳
浴日千重浪
隨風一葉舟
古人嗟宦海
深意在沉浮.
Khách đi trên mé bể,
Ghé trông tít-mù khơi.
Sóng mênh-mang mặt đất,
Cơn ngùn-ngụt chân trời.
Nước lau vầng nhật xế,
Gió giục chiếc thuyền bơi.
Ý thâm chữ hoạn-hải,
Là chìm nổi đòi nơi.
Hôm ấy quan Văn-thư sai chọn ba cái mành để sang cửa Cự-nham 巨岩mà đổ bộ, vào chợ Hàng-cơm trọ lại; ngày hai-mươi-nhăm đi lên con đường thượng-đạo mà con đường hạ-đạo thì là cửa bể Thần-phù 神符, qua mấy chỗ tôn-lăng tôi đều xuống võng đi bộ, tối đến một cái chợ nghỉ lại; sáng hai-mươi-sáu ra đi, chiều hôm sang đò Đài-xước 薹逴 đến chợ Huyện nghỉ-ngơi, ăn cơm chiều, bỗng đâu thấy một người ăn bận mũ áo thầy tu, tay cầm gậy trúc đi đến, xem ra có vẻ phiêu-nhiên xuất-trần, tôi lấy làm lạ, mới hỏi chủ hàng, chủ hàng nói: "Người là trụ-trì-tăng ở chùa bản-tự trên núi đấy, người xem bói hay lắm."
Tôi liền cho tên dược-đồng ra mời vào hàng, phân chủ khách ngồi xong, tôi nói: "Tôi nghe tiếng sư cụ người đây, thâm-minh về Dịch-lý, tôi muốn nhờ người xem cho một quẻ về con đường tiền-trình thế nào, có nên chăng?"
Nhà sư không hề từ trối, trả lời ngay rằng: "Nay quan muốn xem việc gì thì cứ thành-tâm mà xem là linh-ứng ngay."
Tôi bèn kể đầu đuôi cho nhà sư nghe; nhà sư nghĩ độ một phút rồi nói to lên một câu rằng: "Quẻ này tốt lành lắm, đích là một việc phi-thường."
Tôi nói: "Quân-tử hỏi điều dữ chứ không hỏi điều lành, có thế nào người cứ nói thực."
Nhà sư nói: "Tôi xem quẻ này là quẻ "Nguyên-thủ", có cái tượng "quân minh thần lương"; trong quẻ hào Chu-tước 朱雀thừa vượng, hào Thanh-long 青龍 cư trung; hào Bạch-hổ 白虎 cư mạt, Quí-nhân 貴人lâm vào bản-mệnh, Dịch-mã 驛馬ứng vào hành-niên, quẻ này đích là cái điềm được trưng-triệu, ba lần truyền mà nhật can 日干thời-chi 辰支cùng được lục-hợp, thật là cá nước duyên ưa, rồng mây gặp hội, tốt lành lắm!
Nhưng chỉ hiềm hào Bạch-hổ nó nhập tù thì lo lúc vào đến Kinh lại bị bệnh."
Tôi nghe nói nghĩ thầm trong bụng rằng: "Người này hình-mạo thì nham-cổ mà học-thức thì tinh-vi, chắc có cái kiến-thức xuất-nhân, nhưng chỉ hận rằng gặp khí muộn quá, không dò được hết chỗ uẩn-để của người ta."
Tôi mới kể qua đầu đuôi cái chuyện thực của tôi một lần và nói rằng: "Chỗ tôi ở tuy là một nơi rừng hang hẻo-lánh, nhưng cái thú u-nhân, trăng mặt bể, mây đỉnh non kia lưu-luyến đã thành ra nghiện mà không thể rời ra được, không biết bao giờ tôi lại được phản-hồi chỗ đó cho được giong chơi với bầy mi-lộc, đối-thoại với bọn ngư-tiều ở dưới bóng tịch-dương ấy?"
Nhà sư nghe tôi nói cũng ta-thán mãi mà rằng: "Miếng cao-lương làm mê cho tạng-phủ người ta, sao người ta thì mê mà chỉ có một ngài đây là tỉnh như vậy?
Tuy-nhiên, quẻ này xem ra "chủ khách vinh-vượng, thượng-hạ sinh-hợp", nên chưa đoán được quan bao giờ được về."
Tôi nghe thôi thở dài mấy tiếng, rồi sai tên dược-đồng lấy tiền ra hậu-tặng nhà sư; nhà sư kiên-từ và cười rằng: "Quan đi đây, xin ngài chỉ cho nhà chùa tôi vài chén kính-tửu là đủ."
Tôi liền sai người tùng-giả ra hàng mua một hồ rượu ngon đem lại; nhà sư mừng lắm, hai tay nâng lấy mà rót ra đầy một cái bát lớn, cũng chẳng hỏi gì đến đồ nhắm, há ngay miệng ra mà nốc một hơi như long cuốn thủy cho rõ hết, rồi nhổ nước dãi uống gầm giường mà khen lên một tiếng rõ to rằng: "Ngon!..."
Đoạn rồi chào tôi mà từ-biệt.
Bấy giờ tôi mới ra lên một cái đò đồng để đi, đến chiều tới chỗ trọ, quan Văn-thư đi đến chỗ nhà trọ tôi bảo tôi rằng: "Cụ với chúng tôi đi chuyến này là việc công-sự rất khẩn-yếu, thế mà mỗi ngày đi không được năm-mươi dặm; trong lời chỉ-truyền bữa nọ nói rằng: Ngày mồng mười đến Vĩnh-dinh, ngày 11 tới nhà cụ, mà nay gần nửa tháng rồi, đường trường còn những sáu bảy ngày nữa, trì-duyên như thế, lúc vào trình tôi lấy làm ngại lắm; xin cụ liệu chọn lấy những người lính nào cường-tráng cho bội-đạo đi suốt ngày, đêm khuya sẽ nghỉ; còn những người lính nào yếu đuối thì cho ở lại."
Tôi cười mà rằng: "Bác cần gì việc ấy, tuy chỉ-truyền rằng mười một đến nhà tôi, nhưng tôi còn đi chữa thuốc vắng, quãng đó lại còn phải đi tìm tôi mất mấy bữa; sau đi thì lại bị dọc đường mưa gió ngăn trở, như thế tưởng có mọc cánh ra hôm nay cũng vị tất đã tới nơi được."
Ông quan ấy cười mà rằng: "Rồi cũng phải thế mới xong."
Nói thôi pha trà uống mà đàm-tiếu với nhau, đoạn đều về nhà trọ nghỉ; gà gáy ngày hai-mươi-bảy giục nhau ra đi, quãng đường ấy tinh những núi non bao-bọc, mù-mịt khói mây, bầy hươu cái thấy tiếng người đi mà chạy bổ lên; đàn chim đang ngủ trên cành nghe tiếng người nói chuyện mà bay vọt ra; đó là ngàn Ba-đội 巴隊.
Lên đến đỉnh ngàn mới thấy nhỏ bóng chiêu-đôn, sương tan chưa hết, một tụi hành-nhân áo quần ướt-thướt cả; tôi mới cho đóng lại vào một cái quán bỏ không trên đỉnh ngàn, để đánh lửa hơ áo và sưởi và sai tên tùng-nhân lay một hòn thạch-bàn, tôi bèn ngồi lên thạch-bàn tựa vào cành lá dưới gốc cổ-thụ, rồi gọi dược-đồng đun nước pha trà, nhà bếp thì đi làm bữa tảo-phạn mà cho mời quan Văn-thư đến chén với tôi.
Đang khi đăng-cao vọng-viễn, cái ý-thú nó làm cho tôi lang-láng không biết là chừng nào, tôi vừa toan đọc một đôi câu cổ-thi để khiển-hứng thời bất-giác buột miệng đọc ngay lên rằng:
雲橫秦嶺家何在
雪擁藍關馬不前.
Mây ám non Tần nhà khuất nẻo,
Tuyết phong ải Bắc ngựa lùi chân.
Ngâm thôi dường như có điều súc-động bên lòng, lẳng-lặng chẳng muốn nói-năng chi nữa, quan Văn-thư thấy tôi ra dáng buồn, y cười mà rằng: "Ở đây cỏ hoa đua nở, riêng một càn-khôn, chẳng khác gì phong-vị ở Hương-sơn, mà sao cụ súc-cảnh sinh-tình, dường như không được vui, cụ lầm rồi, chứ sĩ-quân-tử ở đời có hai cách là xuất với xử, xử thời lấy đạo mà tự-lạc, xuất thời lấy đạo mà tế-thời, cụ náu hình ở nơi thâm-sơn cùng-cốc, mà nhất-đán trên cửu-trùng biết tiếng, quan đại-thần trọng-đãi, thực là một dịp kỳ-phùng hiếm có đó, chớ sao cụ lại thế?"
Tôi nói: "Quí-hầu dạy quá lời, khiến cho người ta thêm thẹn.
Cổ-nhân người ta tài cao học rộng, uẩn-súc kinh-luân, cho nên lúc xử thì mai-quang sản-thái, lúc xuất thì trí-quân trạch-dân, chớ như tôi đây học-hành lõm-bõm, tài-trí hẹp-hòi, đã vô-dụng với đời, may vớ được một cái bạc-nghệ để tùy-thân là tốt, còn ngờ đâu nhất-đán thế này, thật là không xứng, chứ còn gọi là may thế nào được."
Quan Văn-thư nói: "Tôi đã vẫn được thấy quan tôi những lúc nhàn-đàm nói đến chuyện cũ, ý giả cụ là một nhà cao-ẩn mà mượn cái tiếng làm một ông thầy thuốc đấy thôi."
Tôi cười mà rằng: "Có lẽ đâu thế."
Quan Văn-thư lại nói" "cái trí cụ có như sắt như đá, tôi không dám nói nữa, nhưng tôi nghe thấy tiếng cụ làm được nhiều thơ hay lắm, tôi xin cụ cho nghe một đôi lời vàng ngọc, tôi cũng xin nối điêu lại để bày cười mà giải muộn cho cụ, có nên chăng?"
Tôi mừng mà rằng: "Khách ôm cầm chỉ khổ vì không có tri-âm, cái khúc Cao-sơn Lưu-thủy kia ông đã hiểu rồi đấy chớ."
Liền gọi đồng đem văn-phòng tứ-bảo lại, tôi xướng trước lên một bài rằng:
一百六峯嵐霧迷
人從三級上雲梯
烟環沈綠橫天北
螺髻浮青赴海西
煮茗霜花傾粉汗
吟詩幽鳥向人啼
每逢勝景爲詩累
繾绻辰餘始過溪.
Núi trăm sáu ngọn khi mơ-màng,
Nhẹ bước đường mây bậc bậc thang.
Ngàn bắc đen dầm mây cuồn-cuộn,
Bể tây xanh ngắt nước mênh-mang.
Ngâm thơ chim bụi theo vần họa,
Pha nước sương hoa rỏ giọt nhang.
Lòng thơ những mến nơi danh-thắng,
Bên suối giờ lâu mới lội sang.
Viết xong đưa cho ông họa, ông xem đi xem lại bốn năm lần, rồi tán-thán rằng: "Thơ cụ thực như những bài Bạch-tuyết 白雪, Dương-xuân 陽春, khó họa lại lắm, xin để tôi cố nghĩ mà bòn nhặt ở trong cái khô-tràng này mấy bữa nữa cho kỹ rồi mới dám hiến-sú lại."
Bây giờ chúng tôi mới dắt nhau hạ-sơn.
Chiều hôm ấy tới trạm chợ Vân-sàng 雲床巿.
Ngày hai-mươi-tám đến trạm Khương-kiều 康橋; ngày ba-mươi đến trạm Thịnh-liệt-kiều 盛烈橋, quan Văn-thư mới bàn với tôi rằng" "Trong khải này nói: ngày mấy thì tiếp được lệnh truyền, ngày mấy thời khởi-trình, ngày mấy thì tới nơi, xin cụ xem qua thể-thức để lúc vào hầu mà liệu."
Nói rồi đưa tờ khải cho tôi mà cười rằng: "Nhất nhất cứ xin y như lời kế-hoạch của cụ đã bày ở dọc đường, nhưng chiều mai thì ta cùng đến cả ở dinh quan Chánh-đường, xem công-việc thế nào."
Hẹn-hò tử-tế rồi ai nấy về nhà trọ nghỉ, mai quan Văn-thư đi con đường bên tả qua làng Nhân-mục 仁睦 rẽ sang con đường Hoàng-mai 黄梅qua cầu Chiền 纏橋vào thành.
Còn bọn tôi có tên Tòng Thuần là học-trò đi theo nói với tôi rằng: "Năm trước con có một người bạn tâm-giao tên là Sự con một chú bắc-khách, về ở quê mẹ Lai-triên-ngung 來朝隅 tức là Hiến-nam-cung 獻南宮; nay di-cư sang cửa tây Khương-đình 康亭, làm nghề thầy-thuốc, con thấy anh ấy là người chân-thành hiếu-hữu, con có cho anh ấy một bộ Tâm-lĩnh của thầy, tự đó anh ấy đêm ngày học tập không lúc nào tay rời quyển sách ra, học-thuật ngày càng tấn-tới, nổi tiếng trong đất kinh-thành, anh ấy thường phàn-nàn rằng: Chỉ chiêm-ngưỡng mãi ngoài dặm nghìn mà không được tới chỗ cung-tường nhà thầy, vẫn định vào đến Vân-hương mà bái-yết, nhưng ngặt vì còn chút mẹ già, không có thể đi xa được, bởi vậy anh ấy có đặt một cái ban để thờ sinh-vị thầy, khuya sớm đèn nhang, gọi là báo đức, hay đâu trời cũng chiều người mà cho anh ấy bây giờ lại được hầu gần thầy; vả lại từ nhà anh ấy vào thành cũng chỉ vài dặm mà con đường ấy cũng ngang với con đường cầu Chiền, nên con muốn đến báo tin cho anh ấy biết, thầy dạy thế nào?"
Tôi thấy nói con người có nghĩa mà ưng cho, Tổng Thuần vâng lời đi trước, tôi thì đi theo con đường bên tả, mới được hơn dặm đất, đã thấy anh ta ra nghênh-tiếp ở bên đường quan-lộ, thấy tôi anh ta mừng-rỡ không biết là chừng nào, mời vào nhà trong bái-tạ, kể hết cái tình khao-khát bất lâu, tôi nghỉ lại một đêm, anh ta khoản-đãi rất hậu, tôi bảo anh ta rằng: "Hà-tất phải làm như thế, Nay có quan hộ-tống (Văn-thư) đã hẹn với tôi ngày hôm nay thì cũng gặp nhau cả ở dinh quan Chánh-đường, việc là việc khẩn, vì dọc đường gió mưa ngăn-trở, nay mới tới đây, không còn trì-hoãn được nữa, nhưng tôi về ở chỗ sơn-lâm, bao nhiêu đường lối trong thành-đô quên mất cả, vậy nhờ ông đưa giùm cho."
Lại pha trà uống xong, chúng tôi khởi-thân ra đi, thầy Sự đi dẫn đường, qua cửa Vũ-quan 武關vào cửa thành đó có một cái thổ-thành cũng không cao lắm, ngoài thành có một dẫy nữ-tướng, trên mặt tường chạy ngựa được, ngoài tường chôn rào tre kín mít, dưới bờ rào có hào sâu, trong hào thả chông, xem ra thập-phần kiên-cố lắm; lại đặt ba lầu vọng-canh, lầu nào cũng có lính đứng sắp hàng hai bên, gươm mác sáng quắc như tuyết, lính canh thấy bọn chúng tôi đi có đeo đồ binh-khí thì họ giữ lại tra hỏi ngặt lắm.
Khi biết đoan-đích và nhận thấy hiệu có lính trấn-binh Nghệ-an, họ mới cho đi, chúng tôi bèn vào hàng tạm nghỉ.
Nguyên chỗ này là nơi khi tôi còn bé đã từng trọ học, tôi mới chống gậy đi nhàn-bộ ra chơi khắp chung-quanh, xem phong-cảnh cũ, tuy hồ-sơn y-cựu mà phật-điện, đình-đài, quan-xá, quan-cư, nhất-nhất khác cả phong-dạng ngày trước, người đi kẻ lại như nêm, ngựa xe rộn-rã, tôi càng thêm cảm-khái, bèn tự-hoài một bài thơ rằng:
落魄江湖三十年
偶隨丹詔入長安
衣冠文物生中土
摟舘亭臺接遠天
粗率染宬山野性
趨陪羞對玉堂仙
少辰歷歷嬉遊地
今日重來半不然.
Lưu-lạc giang-hồ ba chục niên,
Bỗng vâng chiếu-chỉ lại Trường-yên,
Đình-đài lâu-quán trời thâm-thấp,
Văn-vật y-quan đất dõi truyền.
Trót quen thô-suất nơi rừng-rú,
Những thẹn su-bồi chốn cửa tiên.
Trải xem những thú chơi khi nhỏ,
Quả nửa ngày nay đã biến-thiên.
Ngâm xong tôi lại lên võng đi, từ cửa cung Khánh-thụy 慶瑞宮門qua đình Quảng-minh 廣明亭tới cửa Đại-hưng-môn 大興門, theo con đường bên hữu đi hơn nửa dặm đến dinh quan Chánh-đường, thấy cửa dinh vừa cao vừa rộng, voi đi cũng lọt, hai bên có điểm túc-trực bày đồ nhung-trang xem nghiêm-chỉnh lắm, lính canh đêm ngày, xét hỏi những người nhàn-tạp.
Chúng tôi bèn vào hàng cơm trọ lại, bọn tùng-nhân đi sắm-sửa áo mũ để cho tôi vào sảnh-đường; bấy giờ trống lầu vừa điểm canh tư, vào tới cửa sảnh-đường thì thấy đồ nghi-trượng sắp bày sáng lòe cả mắt.
Ngoài sân lính-tráng đi lại như chợ, tôi đứng đợi giờ lâu mới hỏi một viên trực-nhật dịch trưởng thì y nói: "Cụ lớn còn ở trong nội-đường, nên không dám vào bẩm".
Tôi lại hỏi một người "Mân-giả" thì y hỏi lại ngay tôi rằng: "Ông có phải là Lãn-ông làm thầy-thuốc ở Hương-sơn đó không?"
Tôi nói: "Chính phải, nhưng sao quan biết tôi?"
Mân-giả nói: "Thường nghe thấy cụ lớn tôi nói chuyện, lại có thánh-chỉ tuyên-triệu, cho nên tôi biết, ông cứ đợi đây một lát nữa, cụ lớn tôi đi chầu qua đó, thì ông sẽ đón giá mà tiến-kiến cho tiện."
Tôi nghe lời ngồi đợi một lát, quả-nhiên thấy cụ lớn ngài đi ra, thì chúng tôi chạy rạt cả ra nín im thin-thít; giữa sân đặt một cỗ kiệu, những người cầm đồ nghi-trượng đứng thị-lập cả trước sau, trang-nghiêm lắm, tôi bèn bước dảo đến trước sân để bái-kiến, thì trên tòa vội nói ra một tiếng, lính tranh nhau truyền cho chước miễn và vẫy tôi vào gần, quan Chánh-đường cười mà bảo tôi rằng: "Khởi-trình từ bữa nào, bữa nào tới kinh?"
Tôi thưa hết đầu đuôi rồi quan Chánh-đường ngoảnh lại bảo khẽ một vị thiếu-niên tiểu-quan đứng thị-lập ở đấy mấy câu thì ông lên kiệu đi chầu ngay, tôi chưa hiểu ra sao, thấy vị tiểu-quan ấy ra mời tôi vào trong nhà tư, tôi mới biết vị tiểu-quan ấy là cậu cả con quan Chánh-đường, xuân-xanh trạc độ trong ngoài hai-mươi, tướng-mạo đẹp như ngà ngọc.
Tiểu-quan mời tôi cùng ngồi một chiếu, tôi chối từ hai ba lần mà tiểu-quan không nghe, sau phân hai bên chủ khách cùng ngồi, tiểu-quan nói trước ngay lên rằng: "Nghe cụ là một người hoài-tài bão-học, chỉ ưu-du trong chốn lâm-toàn, lấy cái thú cầm-tôn để tự-lạc, lại dốc một niềm về sự tế-nhân độ-thế, vẫn thấy gia-quân tôi thường thường khen-ngợi rằng: Kể trong y-đạo đời nay, không ai hơn cụ được.
Tôi vẫn có lòng hoài-vọng đã lâu, nhất-đán được thừa-nhan thế này, thực là tam-sinh hữu-hạnh."
Tôi từ-tạ mà rằng: "Kẻ sơn-dã sơ-cuồng này, đâu dám so với đời, mà Quận-hầu quá ban lời long-dự như vậy, tôi lấy làm e sợ quá".
Tôi nói thế rồi, Quận-hầu bèn gọi một tên dịch-mục lại mà bảo rằng: "Anh sang bên dinh quan Trung-kiên 中堅 bắt những lính canh dinh ở đấy quét dọn dinh-viện đi, rồi kê giường rải chiếu, một lát thì về báo cáo cho tôi biết, nhá?"
Tên dịch-mục đi không đến một giờ thì về bẩm đã tề-chỉnh cả rồi, Quận-hầu nói: "Trong dinh này huyên-náo lắm, không tiện, có một chỗ bên nhà chú tôi, tuy không được rộng-rãi lắm, nhưng có vẻ thanh-u khả-ái, hiện nay chú tôi có công-vụ phải đi Sơn-tây-trấn, cho nên dinh ấy vẫn để không, vậy xin mời cụ sang nghỉ bên ấy".
Nói thôi Quận-hầu đứng dậy dắt tay tôi cùng đi qua nhà nội-sảnh-đường độ vài mươi bước, đi vào một cái cửa mạch, thì thấy nào nhà ngoại-sảnh, nhà trung-đường, phòng ăn, nhà bếp, rất là tề-chỉnh.
Quận-hầu mời tôi vào nhà trung-đường, cùng ngồi nhàn-đàm với nhau.
Lúc kỳ-thủy tôi vẫn tưởng y là bậc công-tử vương-tôn, sinh-trưởng nơi phú-quí, tập nhiễm thói phồn-hoa, kịp đến khi thấy con người học-vấn uyên-bác, thâm-hiểu cả mọi lẽ kim-cổ thị-phi, nhân-tình thế-vị, hình như một người đã nếm trải cả rồi, vả lại phú-tính khiêm-nhường, tuyệt không có cái vẻ gì là kiêu-lận, tôi lại càng thêm kinh-phục lắm.
Trời đã gần tối, Quận-hầu mới cáo-từ tôi mà về, tôi mới sai bọn tùng-nhân cất dọn đồ hành-lý vào, còn bọn trấn-binh đi hộ-tống thì cho hồi-trấn mà không nói đến việc ấy nữa.