Cập nhật mới

Khác Thịt người hay vị máu tanh

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
406362626-256-k929575.jpg

Thịt Người Hay Vị Máu Tanh
Tác giả: BuTrnQuc
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Nhìn trong cái đói, liệu con người ta còn nhớ đến chính mình?

Kẻ đi, người ở lại.

Không thành vong chốc cũng thành thú dữ.

Đời người rẻ mạt, kiếp người rẻ tan.

Cầm đuốc lửa tàn vẫn mong ngày mai mình thanh thản?



nandoi​
 
Thịt Người Hay Vị Máu Tanh
Chương 1: Bình minh trên rìa chạng vạng


"Thưa ông chủ, có hai vị khách lạ vừa tới."

Giọng người quản gia vang lên khe khẽ bên khung cửa, nghe như thể ông sợ chính lời nói của mình sẽ khiến không khí trong căn nhà vốn tĩnh lặng này vỡ tan.

"Hai người à?" _ Dorakkan (thường được gọi là D) khẽ nhíu mày.

Anh đặt tách trà xuống bàn, ánh mắt thoáng qua một tia cảnh giác. _ "Họ trông như thế nào?"

"Họ khoác áo choàng dài, kín đến tận cổ, gần như chẳng để lộ lấy một mảnh da." _ Người quản gia đáp, giọng ông run nhẹ, ông hạ giọng hơn nữa _ "Họ còn bảo...

để sói đứng trước nhà là điềm gở cho gia chủ.

Tôi nghĩ chắc chỉ là vài kẻ cuồng tín hay lũ chó săn muốn tìm một chút sự chú ý thôi!

Ngài có muốn tôi đuổi họ đi không?"

D im lặng.

Đôi mắt anh dõi ra ngoài cửa sổ, nơi sương chiều đang quấn lấy hàng cây trong vườn như tấm màn mờ đục.

Bàn tay D khẽ siết chặt lại, rồi bất chợt anh nói:

"Đợi đã!

Có khi nào đó là Saian không?" _ Anh ngẩng đầu lên, ánh nhìn chợt sắc bén _ "Nếu đúng là hắn... thì chuyện chẳng lành rồi!

Tai ương....

Mau cho gọi toàn bộ người làm về ngay.

Và nhớ, canh chừng cả bầy chó săn.

Nếu có gì bất trắc, cứ tùy cơ ứng biến.

Hiểu chứ?"

"Vâng, thưa ngài." _ Người quản gia đáp với ánh mắt đã thoáng một nét bối rối.

"Khoan đã!" _ D đột ngột cất tiếng, khiến ông ta khựng lại. – "Có ai khác ngoài ông nhìn thấy họ chưa?"

"Nếu tôi nhớ không lầm thì... chỉ có chàng do thám Jeson.

Ngoài ra chẳng ai đứng gần cổng cả."

"Tốt." _ D nói, giọng nghiêm lại. _ "Ông hãy mời hai người đó vào phòng làm việc của ta.

Cả ông và Jeson cùng tới.

Nhưng nhớ...

đừng để ai khác trông thấy họ.

Không một ai, nghe rõ chưa?"

"Rõ, thưa ngài.

Tôi đi ngay." _ Người quản gia đáp khẽ, cúi đầu rồi rảo bước đi, tiếng giày của ông vang lên lẫn vào hành lang dài, hòa cùng hơi lạnh đang dần lan khắp tòa dinh thự.

Suốt dọc hành lang hẹp, hai bóng người lặng lẽ tiến bước, không ai chịu nói một lời.

Không khí ngột ngạt đến mức tưởng chừng chỉ cần một hơi thở mạnh cũng có thể khiến mọi thứ vỡ tan.

Cái lạnh đã len lỏi trên từng phiến đá lát sàn như đang bò dọc theo bước chân họ.

Cái buốt như thấm dần vào da thịt của vị quản gia.

Thứ duy nhất còn đọng lại nơi ấy là ánh nhìn sắc lạnh đến xé toạc không gian của kẻ đi sau, đối lập với vẻ thản nhiên đến rợn người của kẻ đi trước.

Cứ dăm ba bước, vị quản gia lại lo lắng ngoảnh đầu nhìn lại, mồ hôi rịn ra rồi chảy dọc theo thái dương, thứ mồ hôi lạnh không đến từ tiết trời se lạnh mà là từ nỗi sợ mơ hồ đang siết chặt nơi lồng ngực nhỏ bé.

Đôi lần, ông toan mở miệng nói điều gì đó, có thể là một lời nhắc hay chỉ đơn giản là một câu hỏi cho không gian đỡ phần nặng nề.

Nhưng mỗi khi ánh mắt kia lia qua, cổ họng ông lại đông cứng như có vạn mũi kim châm đâm thẳng vào yết hầu, mọi âm thanh nghẹn lại giữa cuống họng.

Những lời chưa kịp thoát ra đã bị gió lang thang trong hành lang nhỏ âm thầm cuốn mất.

Từ lúc cất tiếng ở cổng cho đến khi sắp chạm ngưỡng phòng của D, mọi thứ quanh họ như bị đóng băng trong một khung tranh tĩnh lặng.

Một mùa đông khó tả như đang hiện hữu dọc dinh thự.

Cả không gian đi từ bức tường phủ bụi cho đến ngọn đèn dầu leo lét trên hông tường đều có vẻ đang nép mình, cố trốn khỏi sự hiện diện nặng nề của hai con người ấy.

Chỉ khi tới gần một cánh cửa nhỏ, vị quản gia mới dám khẽ cất tiếng, giọng run run, lắp bắp như vừa nuốt phải chính nỗi sợ của mình:

"Ông chủ D đã đợi trong đó từ nãy rồi, mời hai vị vào."

Giọng vị quản gia run khẽ, the thé, ông nhẹ tay đẩy cánh cửa mở ra.

Tiếng bản lề kẽo kẹt vang lên giữa không gian im ắng như thể than thở cùng nỗi lo của ông.

Đôi tay run rẩy đến mức dễ nhìn thấy đó chưa bao giờ là cái run vì gió lạnh mà là vì thứ gì sâu hơn, một nỗi sợ vô hình đang dần siết chặt lá gan của lão quản gia nhỏ bé.

Người đi trước chỉ liếc nhìn ông một cái, ánh mắt sắc lạnh như dao lướt qua mặt nước, rồi lặng lẽ bước vào trong.

Bóng dáng hai vị khách vừa xuất hiện, D đã đứng bật dậy, ánh mắt sắc như gươm, vẻ nghiêm nghị hiện rõ trên gương mặt trẻ tuổi vốn thường chỉ giữ lại đôi nét điềm tĩnh.

Jeson cũng thoáng chột dạ.

Cậu chỉ kịp lùi lại, ép lưng vào bức tường lạnh, cúi gằm mặt như sợ chỉ cần thở mạnh cũng khiến không khí căng thẳng trong căn phòng này vỡ ra thành từng mảnh nhỏ xuyên thẳng qua da thịt.

Cả cậu và lão quản gia đều cúi đầu, lặng im như hai cái bóng vô danh, mù mờ.

Không ai dám hó hé chen vào giữa những ánh nhìn đang đối chọi như nước hòa với lửa ấy.

Áo choàng được tháo xuống.

Ngay khi lớp vải rơi khỏi vai, vẻ trẻ trung của hai người khách hiện ra rõ mồn một.

Họ chỉ tầm ngoài hai mươi nhưng trên gương mặt đã in hằn dấu vết của gió sương và thử thách.

Chỉ thoáng nhìn qua nhưng có thể thấy cả tuổi đời non trẻ ấy đã bị mài mòn trong những cuộc phiêu lưu không có hồi kết.

Người đi trước mang phong thái điềm nhiên, trầm tĩnh đến lạ.

Ánh mắt anh ta không những lạnh lẽo mà sâu thăm thẳm.

Đôi mắt ấy đủ khiến người khác rơi vào hố sâu vô tận trên từng ánh nhìn.

Kẻ đi sau lại khác, ánh nhìn luôn thận trọng, cảnh giác, luôn chực chờ phản ứng như một con thú săn mồi vẫn còn giữ bản năng dù đang đứng giữa nơi an toàn.

D quan sát họ một thoáng, đôi môi mím chặt, rồi bực tức bật ra trước khi lý trí kịp ngăn lại.

Giọng anh khàn khàn, chất chứa sự giận dữ pha lẫn nỗi lo mà chính bản thân mình cũng không muốn thừa nhận:

"Ngài Saian và anh Aarith!

Nắng chưa hạ về sau chân núi mà hai người đã tính mang cái trang viên này làm mồi cho bầy chó rồi sao?

Nơi này cần đóng cọc bao nhiêu cái đầu mới thỏa mãn hai người đây?"

Người đi trước khẽ nhếch mép, giọng điệu đầy bình thản mà nói:

" Miệng lưỡi ngậm xoắn cho kỹ trước khi nói.

Không có chúng ta thì các người bây giờ có lẽ đã nằm chất đống ngoài đồng hoang làm mồi cho cái đói rồi.

Suy nghĩ kỹ đi!

Nếu bây giờ ta muốn lấy lại sự sống đó thì ngươi có thể từ chối sao?"_Saian

"Từ kinh đô cho đến từng khe suối nhỏ, nơi nào không treo thưởng cho cái đầu chống đối của ngài!

Gia tộc này không đủ mạng để ngài đem cho chúng chặt đâu!"_D

"Hoảng làm gì?

Mấy cái lệnh truy nã còn không có nổi tấm hình phát thảo, thậm chí tất thảy chúng có lẽ cũng chả biết ta có đang còn sống hay không.

Cơ mà... ai mà chẳng phải chết.

Dăm ba hôm nữa thì cái trang viên nhỏ bé này cũng làm mồi nhậu của thần chết thôi!

À mà nói cũng mừng cho ngươi.

Ở Fri'oca con người ta phải ăn thịt nhau mà sống thì ở đây coi bộ lãnh chúa nhỏ của chúng ta còn sống sung sướng lắm!"_Saian nói với giọng đầy thách thức

"Hơn tám mươi phần trăm sản lượng đều phải nộp lại, gia tộc được thêm dăm ba xe nhỏ trợ cấp, phần giữ lại chia cho toàn bộ người làm cũng chỉ đủ bát cháo loãng sống cho tới vụ tiếp theo.

Ta cầu cái ngài nói còn không được há chi phải sống lay lắc như vầy?"_D

"Nói vậy thì cũng không sướng mấy nhể!

Thế mà cũng có kẻ hèn cố làm con thú nhỏ bé bám dưới chân chúng.

Hmm...

Lão già đó không biết có thấy nhục nhã về ngươi không?

Chứ ta lại thấy nực cười cho lão đó!"_Saian mỉa mai, cười nhẹ nhưng lại lộ rõ cái khinh thường trên mặt.

D lộ rõ sự ấm ức trên khuôn mặt nhưng cũng không dám cãi lấy một lời.

Anh nhẹ giọng mà thưa:

"Trước mắt là an nguy gia tộc.

Sau cũng đã giúp một phần người dân Re'mita ta được cái ăn lót dạ qua ngày.

Tạm thời kẻ đọa lạc trong dĩ vãng tươi sáng như ta còn làm gì khác được sao?"_D

"Gió thổi thoảng nương ngô xanh.

Nắng se nhẹ bông lúa.

Dân ta đang trong cảnh lầm than mà các gia tộc lớn ai cũng chỉ biết cắn răng, nhắm chặt đôi mắt vờ như lòng mình thanh thản.

Nếu dạ dày con người tiêu hóa được cây cỏ thì có lẽ ở Fri'oca đã không còn nổi một móng xanh.

Ngươi biết điều đó không D"_Saian

"Khổ cực của đồng bào đã in trong từng đôi mắt của mỗi kiếp người nơi đây!

Nhưng... gia tộc nhỏ bé này thì làm được gì chứ?

Lén lút trữ lấy từng thanh kiếm một.

Thức ăn thì không thể cự đến mùa xuân cho mọi người.

Ngài nói xem ta phải làm gì đây hả!"_ D càng nói giọng càng nghẹn đi.

Vừa dứt từ cuối cùng mắt anh cũng nhẹ tuông những giọt nước mắt.

"Không trở thành lũ phản trắc là thành công đầu tiên mà ngươi có thể làm được.

Nhưng nói xem, chúng ta sẽ chịu sự rẻ rúng này đến bao giờ?

Đến một ngày chúng đưa đĩa phân ngựa tới, ngươi sẽ nuốt ngược nó vào trong?

Số phận nước ta nghiệt ngã, người dân mất đi ngày tháng rong ruổi trên những mảnh đất ân tình.

Dân tộc kiêu hùng ngày nào nay lại làm những cái xác vô hồn cho người ta lạm dụng.

Sống trong khắc khoải, ngày đêm nơm nớp lo sợ cái chết.

Chồi non mới manh nha nảy mầm thì bị đem đi làm tôi tớ sai vặt.

Ở Fri'oca, lửa đã được đốt, mọi người đã sẵn sàng đấu tranh.

Tắm máu kẻ thù hoặc uống máu chính mình.

Lựa chọn là ở các ngươi tự tay mình quyết.

Đưa dân tộc đến ngày độc lập hay để dân mình sống tiếp trong những ngày tháng lầm than, lẩn khuất nơi hang cùng khe suối.

Ngươi là con người lương tri, ta mong ngươi sáng suốt cho kiếp sống của dân mình."_Saian

Câu nói của Saian vừa dứt, hơi ấm chưa kịp tan trong bầu không khí nặng nề ấy thì tiếng chân dồn dập cũng vang lên dọc khắp hành lang.

Một người làm hớt hải chạy vào, mồ hôi ướt đẫm trán, hơi thở đứt quãng, lời nói vội vã đến mức mới thốt ra đã sắp nghẹn lại trong cổ họng:

"Lũ chó săn đã tới trước cổng!" _ Anh ta vừa nói vừa thở hổn hển. _ "Chúng bảo khắp nơi đang lan tin... rằng ngài cấu kết cùng tên giặc Saian, định đứng lên chống lại chính quyền!

Chúng còn nói nếu ngài không mau ra trình diện, đừng trách...

đừng trách chúng vô tình."

D đứng lặng.

Khuôn mặt anh thoáng tái đi, đôi mắt chất chứa thứ gì đó giữa lo sợ và dằn vặt.

D chỉ khẽ gật đầu, ra hiệu cho người báo tin lui ra, rồi quay sang Saian, giọng anh trầm thấp, nặng như thể từng chữ rơi xuống cũng làm đau chính mình:

"Ông Kep, hãy đưa ngài Saian và anh Aarith men theo lối cổng sau, đi qua vườn ngô mà thoát."

D dừng lại một nhịp, ánh mắt chùng xuống.

"Về chuyện này... tôi sẽ có câu trả lời sớm nhất có thể.

Có lẽ giờ tôi không chắc mình nên làm gì.

Chỉ mong ngài hiểu cho tất cả những gì chúng tôi làm luôn đặt đất nước và gia đình bên cạnh."

Saian khẽ nhíu mày, ánh mắt thoáng qua một nỗi thất vọng buồn bã hơn là giận dữ.

Ngài hít một hơi, rồi đá với giọng bình thản nhưng rắn rỏi đến mức cả căn phòng phải lặng đi:

"Giải quyết đống hỗn loạn trước mắt đi.

Ta không chờ câu trả lời của ngươi mà cả đất nước này mới là kẻ đang chờ." _ Ngài bước lùi nửa bước, phủi nhẹ lớp bụi trên áo choàng, vẻ bình thản đến tàn nhẫn._ "Không dám nán lại lâu.

Nếu ở thêm, ta chỉ khiến ngươi gặp thêm phiền phức.

Vậy thì... xin phép đi trước."

Nói rồi, Saian đã khẽ ra hiệu cho Aarith.

Cả hai trao nhau ánh nhìn ngắn ngủi nhưng hiểu rõ đến từng nhịp thở.

Không thêm lời, họ lập tức ra hiệu cho quản gia Kep, người đã đứng chờ sẵn bên cửa, lặng lẽ dẫn đường qua lối hành lang phía tây.

Saian quay người, bóng ông khuất dần sau ánh đèn mờ, chỉ còn lại hơi gió lạnh thoảng qua khung cửa như mang theo một nỗi lòng khó nói thành lời.

Những tháng ngày sống trong bóng tối, trốn chạy giữa ranh giới của tự do và cái chết đã dạy họ thứ quan trọng hơn bất kỳ vũ khí nào là sự nhạy bén và bản năng sinh tồn dẫu là nhỏ nhất.

Mỗi bước đi, mỗi cái ngoảnh đầu, đều mang theo ý thức cảnh giác được mài giũa qua hàng trăm lần thoát hiểm.

Trong khi D xoay người đi về phía tiền sảnh, nơi tiếng hô của bọn lính đã bắt đầu vang lên ngoài cổng lớn, Saian và Aarith cùng Kep nhanh chóng biến mất vào hành lang hẹp.

Phía trước, D siết chặt bàn tay, hít một hơi thật sâu trước khi bước ra đối diện với lũ lính đang hô lớn từng đợt dưới cổng.

Phía sau, qua lối nhỏ, hai bóng người đã lẫn vào màn đêm, men theo rặng ngô cao quá đầu, biến mất giữa làn sương dày như tấm màn che phủ cả số phận.

Chỉ để lại lão quản gia vẫn chưa biết viết tiếp điều gì cho ngày mai của mình.

"Thằng nhóc đó đã chuẩn bị rất kỹ khi ta đến.

Ngài không thấy bất ngờ khi lũ chó săn bỗng nhiên xuất hiện sao?"_Aarith

Saian nhếch môi cười, nụ cười mang tính toán rõ nét:

"Lạ cái gì?

Đám chó con đó là do ta dẫn tới.

Chó cũng phải có thời gian đánh hơi chứ.

Sao chúng có thể tới sớm nếu không có ai sắp đặt trước được!_Saian

"Ý của ngài là..."_Aarith trợn mắt, nửa hỏi nửa ngờ.

"Anh nhận ra rồi thì chắc cũng khó che mắt được thằng nhóc đó lâu,"_ Saian nói, giọng thoáng vẻ xoa dịu nhưng lạnh lùng. _"Xin lỗi vì ta đã không nói trước với anh.

Trước khi tới đây, ta đã cho người gieo tin khắp Re'mita về chuyện này.

Ta không chờ một câu trả lời.

Ta ép nó phải chọn ngay trong ngày hôm nay."_Saian

Aarith bật cười khẩy, nụ cười như pha trò: "Ngài nham hiểm quá, chẳng khác gì mấy tên phản diện."

"Quán khen!

Nhưng có lý do.

Trước khi cha hắn khuất, ông ấy trăn trối với ta rằng nếu nhà Bamila không chịu đứng lên vì nước, thì hãy để cho cổ của chúng được chặt dưới thanh kiếm của ta.

Ta chỉ làm tròn những lời đã hứa với một người sắp lìa thế gian." _ Ánh mắt Saian lóe lên, nặng như một phán quyết. _"Ta chỉ làm hai việc cùng lúc thôi!

Các đại gia tộc giờ giống như lũ mối, chỉ biết sống bám vào những thân cây mục ruỗng.

Chính họ phải bị buộc thay đổi, vì số mệnh gia tộc và của đất nước này!

Máu đã chảy!

Không phải của riêng mỗi sinh mạng mà là của cả mảnh đất này.

Non sông núi rừng cũng đã chảy máu từng nhịp.

Người sống cắn răng mà đau, người chết ôm mồ mà khóc."_Saian

Chỉ ngay tối hôm đó, khi trăng còn chưa kịp vượt khỏi lưng đồi, sáu trụ cột của nhà Bamila đã lặng lẽ tụ họp trong căn phòng lớn phủ rèm nặng màu rượu chát.

Bên ngoài, gió rít qua những ô cửa, tiếng lá cọ vào tường nghe như lời than vãn của tổ tiên đang chứng kiến giờ phút dòng tộc điêu đứng.

Trong phòng, chỉ có người trong nhà, và thêm hai cái bóng nhỏ nhoi của Jeson và lão Kep đứng nép ở góc, lặng im như hai pho tượng canh gác cho một nghi lễ tang tóc.

Không khí đặc quánh, không khác gì buổi gặp cuối cùng của những người biết trước cái chết đang đợi mình ngoài cánh cửa.

Không ai nói, chỉ có tiếng than lửa lép bép trong lò sưởi và âm thanh khe khẽ của hơi thở bị kìm nén.

Mỗi khuôn mặt là một tầng lo lắng.

Lo cho gia đình, cho danh dự, cho cả số mệnh của cái tên "Bamila" đã mang trên vai hàng trăm năm nay.

Nỗi sợ và lòng trung thành giằng co trong từng ánh mắt như hai đầu dây kéo một con tim sắp đứt.

Rồi D đứng dậy, chậm rãi nhưng dứt khoát.

Ánh lửa hắt lên gương mặt anh, chia đôi nó thành hai nửa.

Một nửa sáng của lý trí, một nửa tối của định mệnh.

Giọng anh vang lên, trầm và rắn như thép:

"Mọi người đã nghe tin rồi phải không?" _ D ngừng lại, quét ánh nhìn qua từng người. _ "Giờ ta có ba lựa chọn.

Một là ra trình diện với chúng.

Nói rằng D này đã tạo phản cùng Saian.

Cái đầu ta rơi nhưng gia đình mọi người có thể được yên ổn phần nào.

Hai là theo ngài Saian, mang án diệt tộc, đánh cược sinh mạng để mơ rằng có thể đổi lấy độc lập cho đất nước.

Ba là nếu không muốn giúp ngài ấy, cũng chẳng chịu sống trong cảnh khom lưng, thì..." _ Anh rút thanh kiếm bên hông, giơ cao rồi đâm mạnh xuống bàn.

Tiếng kim loại chạm gỗ vang lên lạnh đến rợn người _ "...Cầm lấy thanh kiếm này mà tự kết liễu tại đây!"

Chỉ nghe tới đây, không khí trong phòng như đông cứng lại.

Không ai nhìn ai.

Không ai dám thở mạnh.

Chỉ có tiếng gió ngoài song cửa rít qua khe tường, như đang hát lên bản tiễn đưa dành cho một triều đại sắp tàn.

Mọi người đều cúi đầu, trong đôi mắt thấp thoáng nỗi sợ nhưng có chút niềm kiêu hãnh và cả những toan tính riêng, nhỏ bé mà cũng đáng thương.

Không ai nói, nhưng ai cũng hiểu:

"Đêm nay, nhà Bamila đã bước qua ngưỡng cửa không thể quay lại."

D ngẩng lên, ánh mắt như gom cả lịch sử dòng tộc vào trong một câu nói chậm rãi nhưng chắc nịch:

"Theo di nguyện của cha, ta sẽ ra đi để phò trợ cho ngài ấy." _ Giọng anh êm mà cương, trong đó có cả nỗi buộc lòng riêng và lòng trung nghĩa._ "Bất kỳ lựa chọn nào của mọi người, ta tôn trọng và thấu hiểu... bởi ta cũng là một người một nhà.

Cổng bắc là lối duy nhất còn mở để ta có thể tiến về Fri'oca.

Dân chúng của ta ở vùng đó đông, vì địa hình phức tạp đã rèn họ thành người biết sống kín đáo và bền bỉ.

Ai muốn theo ta, thì tối mai tập trung ở bìa rừng Mott.

Còn ai muốn khai báo, hãy khai vào sáng ngày mốt để dành chút cơ hội sống cho những kẻ khác." _ Anh nhấn mạnh từng chữ như cân nhắc sinh mệnh của cả một gia tộc trước một quyết định chẳng ai muốn phải lựa chọn.

"Lựa chọn là ở mỗi người."_ D hít một hơi dài, như rút cạn chút can đảm cuối cùng, rồi bước ra ngoài.

Bóng anh khuất dần trong ánh đèn hành lang, để lại sau lưng căn phòng nặng nề đầy những quyết định chưa kịp nói thành lời.

Bên ngoài, toàn bộ người làm trong trang viên đã tụ họp đầy đủ.

D đứng giữa khoảng sân rộng, ánh đuốc lay lắt hắt lên gương mặt từng người, chiếu rõ cả mồ hôi và nỗi sợ.

Gió đêm lùa qua hàng cây, mang theo hơi ẩm và mùi tro khói của một thời đại sắp tàn.

D nhìn một lượt những gương mặt quen thuộc, những con người đã cùng anh đi qua biết bao mùa mưa nắng.

Từ những ngày đầu gian khó cho đến tận bây giờ, khi bầu trời đang sắp đổ máu.

Một thoáng im lặng, rồi anh thở dài, giọng vang lên dõng dạc mà nặng trĩu:

"Tin đồn là thật!" _ D nói, ánh mắt không né tránh._ "Ta sẽ đi theo ngài Saian.

Chúng ta là con của đất nước này, không thể mãi làm kẻ đứng ngoài khi nó đang rỉ máu.

Ai muốn cùng ta đến Fri'oca chiến đấu, hãy chuẩn bị hành trang tối mai sẽ xuất phát."

Anh ngừng lại, giọng chùng xuống, pha lẫn chút nuối tiếc:

"Còn ai không muốn đi, hãy tìm đến trang viên của ngài Cecica.

Ông ấy sẽ cho mọi người chỗ trú, ít nhất là tạm thời."

Bên dưới bắt đầu vang lên những tiếng xì xào, nhỏ nhưng dồn dập như sóng vỗ vào thành.

Người nọ nhìn người kia, ánh mắt lộ rõ sự đắn đo giữa sống và chết.

Rồi, giữa đám đông, một người làm bước ra, dáng thấp bé nhưng giọng vang to trong không gian tĩnh lặng:

"Mạng sống này là của ngài!" _ Anh nói với tông giọng run run mà vẫn đầy chắc chắn. _"Ngài đi đâu, chúng tôi theo đó.

Ở đây, ai mà chẳng từng ăn gió nằm sương, ai mà chưa từng nếm đắng cay của cuộc đời.

Nếu ngài không chê, chúng tôi nguyện phục vụ đến hơi thở cuối cùng!"

Sau câu nói đó mọi người cũng dần hưởng ứng.

Bắt đầu có những âm thanh vang rõ lên như "chúng tôi nguyện theo ngài", "chiến đấu vì ngài D, vì đất nước này."...

Nghe được những câu nói này, D cũng nặn ra được nụ cười đã cố cất giấu.

Anh như trút bỏ được phần nào gánh nặng trong mình.

Giữa những tiếng cỗ vũ nồng nhiệt, có lẽ đây là giây phút anh thật sự được sống giống như cha mình trong những năm tháng cơ cực của đất nước.

Ngay đêm sau, đoàn người đã vội vã lên đường.

Hơn trăm con người, người cõng đồ, kẻ vác lúa, ngô, khoai, lầm lũi bước đi trong im lặng.

Không một tiếng nói to, chỉ có tiếng bước chân đạp lên lá khô và tiếng gió thổi qua rặng cây như lời rên rỉ của núi rừng.

Không một ngọn đuốc, không một ngọn đèn, chỉ có ánh trăng gầy guộc bởi cái đói, cái khát treo lơ lửng giữa đêm tối mịt mù làm ngọn đèn duy nhất soi đường cho họ.

Màn đêm ở vùng rừng Mott vốn đã hiểm, nay lại càng như mở ra một cánh cửa đen ngòm dẫn tới định mệnh.

Từng thân cây cao vút nghiêng ngả như những bóng người lặng lẽ đang theo dõi trên mỗi bước chân.

Từng luồng gió lạnh len qua vai, buốt nhẹ tâm trí khiến người ta rùng mình.

Thỉnh thoảng, tiếng chim lợn kêu vẳng lên, chát chúa, vang dội và chát chúa giữa màn đêm như điềm báo cho một hành trình sẽ không bao giờ còn có một cửa sinh để rút lui.

D, người từng được gọi là lãnh chúa trẻ của Bamila giờ chỉ đi giữa đoàn người với nho nhỏ trên vai treo nhẹ một chiếc túi da.

Trong đó, chỉ vài món châu báu nhỏ, vỏn vẹn vài đồng vàng cũ, một con dao ngắn và mảnh bùa nhỏ của người cha quá cố.

Cười thay cho cái kiếp gắng thêm hai chữ lãnh chúa.

Lủi thủi, mò mẫm ánh sáng trong đêm tối như con chuột nhắt chạy lũ.

Lãnh chúa?

Nghe chua chát cho phận người bần hèn nằm dưới sự cai trị của giặc.

Lãnh chúa?

Thoát khỏi đồn điền cũng không có bao nhiêu tài sản có thể tự hào cột chặt trên người.

Tất cả vốn liếng của người đứng đầu một gia tộc từng vang danh giờ chỉ gói gọn trong một bàn tay.

Nhưng chính trong cảnh nghèo nàn ấy, ánh sáng trong đôi mắt anh lại rực rỡ hơn bao giờ hết.

D nhìn quanh, những con người đi theo mình, người già, kẻ trẻ, binh sĩ, nô bộc, ai nấy đều khoác trên lưng những gùi nặng nhưng gương mặt lại ánh lên niềm tin cứng rắn.

Không ai nói ra, song tất cả đều hiểu rằng, họ đang đi vào một con đường mà có thể sẽ không bao giờ trở lại.

Đường đi càng lúc càng gập ghềnh.

Sương đêm bủa xuống đặc quánh, phủ mờ cả lối mòn, khiến người đi trước phải cúi đầu dò bước.

Nhiều đoạn, rễ cây quấn quanh mặt đất như xương tay len lỏi khổng lồ, như vong linh cố bấu víu lấy chân người cầu đặc chút hy vọng sinh sôi.

Thế nhưng chưa một ai than vãn.

Họ đi như những bóng ma trong rừng, âm thầm nhưng dũng cảm đến đáng sợ.

Điều kì diệu là mọi thứ đều may mắn và đi theo đúng quỹ đạo mà D đã dự đoán.

Cả đoàn trăm người ấy lại đi rất thuận lợi.

Ở mỗi chốt gác, binh lính đều là người Re'mita.

Họ vờ như không thấy, chỉ cúi đầu để bóng đoàn người lặng lẽ lướt qua.

Có nơi, những lính canh còn giả say, mở tiệc rượu, hát hò inh ỏi để đám gác của quân địch bỏ bê nhiệm vụ.

Cứ thế, họ vượt qua từng trạm, từng làng, từng con suối, như một dòng sông ngầm chảy trong lòng bóng tối.

Trong lòng D dấy lên một niềm xúc động lạ kỳ.

Không chỉ có một tia hy vọng là anh đang đi về Fri'oca, mà là biết bao con tim khác cũng đang hướng về đó.

Có lẽ cuộc chiến lớn nhất chỉ sắp đến nhưng ngọn lửa trong dân đã bùng lên âm ỉ như ánh trăng mờ hôm nay, tuy yếu ớt nhưng vẫn kiên cường rọi sáng qua tầng mây dày của thời thế.

Bình minh đã chớm ló dạng khi đoàn người vừa vượt qua biên giới Fri'oca.

Ánh sáng đầu ngày còn yếu, chỉ vừa kịp nhuộm lên rừng cây một lớp màu nhẹ sắc.

Sương sớm vẫn bám dày đặc, quấn lấy những tán lá, khiến mọi vật vừa như thực vừa như mộng.

Tiếng ngựa vài con thở khẽ hòa cùng tiếng gió len qua triền đồi, mang theo mùi ẩm của đất và hơi lạnh của đêm vừa qua.

Giữa làn hơi sương ấy, một nhóm người đã chờ sẵn.

Đi đầu là một người đàn ông cao gầy, khoác áo choàng xám tro, trên tay cầm một cây trượng khắc đầy những ký hiệu lạ.

Ông cúi nhẹ đầu, giọng vang đều, vừa có vẻ điềm đạm vừa mang chút hài hước:

"Tôi là Hallian, người kể chuyện của ngài Saian.

Được lệnh chờ đoàn ở đây từ chiều qua."_ Ông mỉm cười, nụ cười tươi tắn nhưng ánh mắt ẩn chút gì đó khó đoán.

"Lãnh chúa Dorakkan của nhà Bamila.

Hân hạnh được gặp." _ Đôi mắt D khẽ nheo lại nhìn người đối diện.

Giọng anh trầm xuống, pha lẫn mệt mỏi và nghi hoặc:

"Chúng ta đi chưa hề báo trước... vậy sao ngài ấy lại biết mà cho người chờ sẵn ở đây.

Là cơn gió lạ hay là phép màu?"

Hallian khẽ nghiêng đầu, nụ cười vẫn giữ nguyên:

"Tất cả đã được sắp đặt bởi chư thần, thưa lãnh chúa.

Mọi cuộc gặp gỡ đều đã được viết sẵn trên từng trang sử, chỉ đợi đúng lúc mà mở ra.

Ta gặp nhau cho đúng hẹn ngày bình minh nở rộ."

D bật cười nhẹ, nửa như chế giễu, nửa như bất lực trước số phận:

"Cả việc tung tin đồn và lũ chó săn cũng được chư thần sắp đặt sao?

Hay cho bàn tay của ngài Saian?"

Hallian đáp, giọng ấm nhưng rắn rỏi, ánh mắt không rời D:

"Chúng tôi chưa từng chờ một câu trả lời.

Mà chỉ chờ giây phút cơn mưa nhỏ xuất hiện."_ Ông dừng lại, khẽ vuốt nhẹ tay áo, rồi mỉm cười: "Và giờ, điều đó đã đến."

D liếc nhìn Hallian, khẽ hít một hơi dài, rồi cười nhạt:

"Vậy thì khi gặp lại, nhớ bảo ngài ấy thay chiếc áo choàng cũ đi.

Thâm quá rồi đó!"

Hallian cười, nụ cười lần này nghe như gió lùa qua đỉnh núi, nhẹ mà thấm sâu:

"Mọi thắc mắc sẽ được giải đáp khi ta đưa cậu đến gặp ngài ấy.

Được chứ?"

D gật nhẹ.

Ánh nắng khi ấy đã kịp tràn xuống triền đồi, chiếu lên khuôn mặt anh một vệt sáng mảnh vừa như khởi đầu mới của bình minh rực rỡ, vừa như lời cảnh báo cho hoàng hôn đỏ rực màu chiến tranh.

Hallian không chọn men theo con đường chính mà đưa đoàn vòng qua những sườn núi hẹp, lẩn sâu vào lòng rừng.

Cây cối mọc um tùm, cành lá đan xen thành một mái vòm dày đặc, xanh mà khép kín, chỉ để lọt qua vài tia sáng nhợt nhạt của sớm mai.

Thế nhưng, giữa rừng sâu ấy lại tuyệt nhiên không có lấy một tiếng thú kêu, không một dấu vết của sự sống.

Từ xa, tiếng suối khẽ róc rách, nhẹ như hơi thở cuối cùng của đất.

Dẫu đã rời khỏi đường lớn, mùi tanh của máu và cái chết vẫn lẩn khuất trong gió, thứ mùi nồng nặc đến mức chỉ hít khẽ thôi cũng khiến cổ họng khô rát, lỗ mũi như xé toạc ra mà chỉ chừa một chút minh mẫn để hít thêm cho cái mùi chết chóc.

Xa xa, đàn quạ đen chao liệng trên nền trời xám xịt, tiếng kêu khàn đục kéo dài, vọng xuống như tiếng chuông đưa đám.

Quạ khóc thuê cho từng thi thể nằm ngổn ngang nơi mặt đất lạnh lẽo.

Đau đớn thay, âm thanh cuối cùng trước khi rời xa nhân thế mà một con người được nghe lại là lời hỏi thăm cay đắng của loài quạ.

Giữa những khoảng sáng mờ, kền kền nối nhau hạ thấp cánh, đậu quanh vài mô đất lở.

Chúng nhìn nhau mà cười giòn tan trước bữa ăn linh đình bày biện khắp từng góc mắt.

Phía xa xa, một con kềnh kềnh đưa mắt nhìn về phía đoàn người.

Đôi mắt lạnh lẽo lại toát lên vẻ bất ngờ khác lạ.

Nó khẽ mở to cái mỏ như muốn hỏi rằng: "Này đoàn lữ khách, vẫn chưa chôn thân ngoài đồng cỏ sao?".

Và cứ thế, mỗi khi gió lùa qua, mùi xác thối lại phả lên chát và gắt, khiến cả đoàn người nhăn méo cả mặt, run gãy cả chân mới lê được từng bước mà đi tới.

D khẽ rùng mình.

Ánh mắt anh quét qua những tán cây sũng sương, giọng khàn vì kiệt sức:

"Thú hoang đâu hết rồi?

Thỏ, nai, heo rừng...đến cả một tiếng động cũng không còn."

Hallian vẫn từ tốn đi trước, từng bước chân chậm rãi nhẹ bước qua con lối mòn nhỏ.

Ông quay đầu lại, cố nặng nụ cười nhạt hằn sâu trong ánh mắt:

"Con người ta phải ăn cả xác chết thì cậu nghĩ thú vật có thể sống nổi sao?

Ở những bìa rừng xa, vẫn còn cọp, beo, hùm... nhưng chúng cũng biết sợ mùi máu mà bỏ đi.

Đó là cái chết thưa ngài lãnh chúa nhỏ.

Nó dọa sợ cả chúa sơn lâm, dọa cả ông hoàng rừng rậm.

Loài thống trị bây giờ lại thành những con người đến chính bản thân mình còn không thể giữ.

Suốt chiều dài lịch sử, con người lấy động vật làm miếng mồi nuôi dưỡng cái bao tử không đáy của họ.

Nhưng giờ đây, dẫu có hợp lực lại, ta vẫn không đủ sức để săn lấy một con hổ.

Thậm chí là chúng cũng dần chê những cái xác không có nổi một miếng thịt.

Fri'oca giờ không còn là vùng đất của những khu rừng nữa.

Nó không hơn không kém đã trở thành nghĩa địa của người dân, địa ngục sống của dân tộc."

Câu nói rơi xuống, nặng như đá.

Không ai đáp.

Chỉ có bước chân nhẹ đạp lên lá khô và gió lại gào qua vách núi, nghe như tiếng khóc của những linh hồn chưa siêu thoát.

Không gian trở nên trầm nặng, mặc cho âm thanh ai oán vẫn vọng lên từ cánh rừng sâu, tiếng rên rỉ của đất, tiếng than phiền của gió, cũng có những tiếng gì đó chẳng rõ từ đâu.

Có những tiếng vong linh phảng phất quanh co núi rừng.

Nhưng kỳ lạ thay, không ai trong đoàn cảm thấy sợ hãi.

Vì họ đều biết, đó là những linh hồn ấy không đến để hại người, mà để dẫn lối cho con cháu mình đi tiếp con đường gian nan phía trước.

Chốc chốc, đoàn người đã tới gần phía con thác.

Phía xa, bóng dáng quen thuộc của Aarith đã hiện ra.

Dưới ánh nắng đầu ngày, dáng người ấy đứng sừng sững, vẻ nghiêm nghị và cứng rắn như được đúc từ đá.

Từng thớ cơ căng lên, phản chiếu ánh sáng như kim loại dưới nước.

Thoáng nhìn, Aarith trông chẳng khác nào con hổ gác mình trước miệng thác nhỏ, canh giữ ranh giới giữa sinh tồn và diệt vong.

Hallian giơ tay chỉ về phía trước, giọng ông vang đều, nửa như giới thiệu, nửa như cảnh báo:

"Thấy miệng thác đó chứ?

Hiện tại, nó là một trong những căn cứ chính của quân cách mạng.

Dưới lòng đất, những hốc đá nối liền nhau, sâu tới tận chân núi Fri'oca.

Kẻ lạ đặt chân vào mà không người dẫn, chỉ cần lạc một bước là mãi không thấy đường ra.

Bọn ta vẫn thường vui vẻ gọi nó với cái tên Tổ Kiến.

Cấu trúc tối đa sự phức tạp, chỉ khác ở chỗ chúng ta không phải là kiến mà là những chiến binh vùng dậy sau cơn bão."

D liếc nhìn, ánh mắt anh đượm vẻ cảnh giác.

Gió thổi ngược, mang theo hơi nước lạnh buốt từ dòng thác đổ xuống, bắn tung thành những hạt li ti phủ lên tóc và áo.

Anh khẽ cười:

"Ở đây đâu phải chỉ có một người?

Trước khi bước đến những nơi hiểm yếu, kẻ làm khách đáng lẽ phải giấu nhẹ đôi mắt vào sâu trong lồng ngực mà tới chứ!"

Hallian bật cười khẽ, âm thanh trầm như tiếng đá lăn trong vách núi:

"Nhạy bén đấy, chàng trai trẻ.

Nhưng ngài Saian cũng từng dặn tôi rằng: sẽ không ai trong số bọn chúng nhớ nổi đoạn đường mình vừa đi qua đâu!

Bởi vì..." _ Ông ngừng một chút, giọng bỗng trầm xuống _ "Mỗi lần quay đầu lại là cái chết nằm trực chờ phía sau, còn phía trước lại là sự mệt mỏi kéo dài đến vô tận.

Cái trước giết ý chí, cái sau ăn mòn thể xác.

Đầu khắc đầu, thân khắc thân.

Tới được đây, thở ra được một hơi đã là phước phần rồi, sức đâu mà nghĩ điều khác."

D khẽ nhíu mày, nửa đùa nửa thật:

"Có lẽ ta đã hỏi câu này rất nhiều lần.

Nhưng mà...Còn điều gì ở chúng ta mà ngài ấy chưa biết không?"

Hallian nhún vai, nụ cười nghiêng hờ như gió thoảng:

"Trừ những gì được đính thẳng lên thân thể, còn lại... kể cả những suy nghĩ thầm kín nhất bên trong đầu các người, ngài ấy cũng nắm nhẹ như chiếc lông ngỗng nằm trong lòng bàn tay."

D bật cười nhưng tiếng cười nghe mỏng và đượm chút bất lực.

Anh không nói gì thêm, chỉ lẳng lặng theo bước Hallian.

Đi được vài bước, Hallian khẽ quay đầu lại, giọng ông nghiêm hơn, vang trong tiếng nước thác đổ:

"Người đi đầu nghe cho kỹ, rồi truyền xuống kẻ đi sau.

Làm gì cũng phải cẩn trọng từng cử chỉ, từng lời nói.

Miệng lưỡi ngậm xoắn trước mỗi câu mình thốt ra.

Ngài ấy không ra lệnh nhưng chúng ta có những nguyên tắc riêng.

Nhớ lấy."

Tiếng thác đổ hòa cùng lời ông, đoàn người lại lặng lẽ bước tiếp, men theo vách đá phủ rêu, nơi ánh sáng dần bị nuốt bởi cái cao sừng sững nơi núi cao chót vót.

D nghe xong cũng nhẹ xoay người, khẽ gật đầu ra hiệu cho người đi sau.

Đoàn người tiếp tục men theo sườn đá, bước chân hòa lẫn trong tiếng thác đổ.

Phía cuối hàng, Jeson với cơ thể vẫn còn lấm bụi đường nhẹ nghiêng đầu nói nhỏ, giọng rụt rè như sợ phá tan không khí quanh họ:

"Miệng lưỡi ngậm xoắn... là gì vậy, ông Kep?

Thứ cho tôi ít học, nghe lạ quá."

Lão Kep, người quản gia già đã theo D từ thuở thiếu thời, chỉ khẽ nhìn lên rồi lắc đầu.

Trước khi ông kịp nói gì, D ở phía trước đã cất giọng, trầm mà hiền:

"Đó là tiếng cổ của vùng này, Jeson à.

Ông Kep đã dành cả đời để sống ở Re'mita nên chắc chưa đã từng được nghe nhiều đâu.

Cụm từ ấy vốn gắn với những truyền thống và câu chuyện xưa, điều mà người ta vẫn truyền miệng về các vị thần bảo hộ".

Hallian khẽ liếc sang D, ánh mắt nửa tò mò nửa tán thưởng.

Ông cười khẽ:

"Trai trẻ vùng R mà lại am hiểu truyền thống đất F thế này, hiếm lắm đấy.

Vùng đất này từng là cái nôi của nhiều nhóm văn hóa nhỏ, nơi mà từng nếp sống được tạo dựng từ đất, từ gió, từ chính những giọt mồ hôi của người xưa.

Cây cối quanh năm tươi tốt, rễ cắm sâu vào đá, nhưng lạ thay... hoa màu lại chẳng mấy khi chịu trổ bông."

Ông ngước mắt nhìn lên những tán cây cao, giọng kể chậm rãi như đang dẫn dắt họ bước ngược vào dòng ký ức xa xưa:

"Thuở đầu, dân nơi đây sống rải rác thành từng nhóm nhỏ, người thì chăn bò, người nuôi heo dê, kẻ giữ gà, trông thỏ.

Họ cố gắng trồng thêm rau, lúa, ngô, khoai...

Nhưng đất rừng khắc nghiệt, thú hoang không ngừng quấy nhiễu, người lạ trộm cướp mưu cầu cái ăn, cái uống, cái mặc và cả cái tôi to lớn không thể khạc ra khỏi cổ họng.

Cây lương thực chưa kịp vụ thu đã vội chết khô trên đất.

Con người khi ấy đói nghèo, lay lắt như ngọn đèn sắp tàn.

Rồi họ bỏ làng mà đi, chọn lối sống du mục.

Nhưng cuộc sống nay đây mai đó lại là bài thử thách lớn đối với lòng người.

Hôm nay thì đói, ngày mai thì lạnh, bệnh tật quẩn quanh như bóng ma.

Ở một chỗ thì chẳng yên, đi mãi cũng chẳng được cái thanh thản."

Hallian khẽ dừng lại, lấy hơi, ánh mắt nhìn xa về phía triền núi mờ sương:

"Cuối cùng, họ học cách kết hợp cả hai.

Dừng lại vừa đủ để chăn nuôi, rồi lại rời đi trước khi đất trở nên bạc màu.

Cứ dăm ba ngày, họ dựng trại; tới rạng sáng ngày thứ bảy, lại dỡ đi.

Khi săn thú, họ chỉ giết những con đã trưởng thành, chừa lại con non và con đang độ sinh nở, để sự sống còn tiếp diễn.

Nhờ vậy, cái ăn dần được đảm bảo.

Nhưng rồi ăn mãi thịt thú, con người trở nên nặng nề, chậm chạp như chính loài vật mà họ giết.

Bệnh tật sinh ra và thế là hoa cỏ, rễ cây lại trở thành thứ cứu rỗi họ."

Ông cười nhạt, nụ cười mang vẻ cảm khái hơn là vui:

"Không ai tìm thấy vùng đất thích hợp để trồng lương thực.

Cho đến một ngày, người ta kể rằng... một người đàn ông đã bước vào đền thần mùa vụ.

Ông cầu nguyện ròng rã suốt một tháng.

Không ăn, không ngủ.

Chư thần thấy vậy bèn ban cho ông ấy cái no mà không cần ăn, cái sức mà không cần ngủ.

Đến ngày cuối, các vị chỉ cho người ấy biết nơi mà đất thật sự có thể sinh ra hoa màu, đẻ ra sự sống cho con người nhỏ bé.

Người ấy quay về, dẫn mọi người đến đó và cây lúa trĩu bông đầu tiên lại mọc lên.

Cuộc sống du mục ngày nào trở lại quỹ đạo cũ, một vòng luân hồi của sinh tồn."

Hallian thở dài, giọng ông thấp xuống, nghe như tiếng gió u u trong lòng núi:

"Nhưng rồi chiến tranh kéo dài hàng chục năm.

Văn hóa cũ bị vùi lấp, chư thần cũng dần quay lưng, để mặc cho thế gian tự chìm trong máu và tro tàn.

Những kẻ xấu xa đã biến lời khấn nguyện thành tiếng thét cầu xin.

Hóa những con sông thành dòng chảy của máu.

Bầu trời dần u ám như chính đôi mắt của những "con mồi" nhỏ bé.

Và giờ... chỉ còn chúng ta, những kẻ đang bước lại trên vùng đất từng được chư thần chở che.

Chưa ai từng quên.

Nhưng cũng chẳng ai muốn nhớ cho những năm tháng yên bình.

Đó không phải là thuốc mà là chiếc tủ nhỏ giúp con người ta trốn khỏi hiện thực tàn khốc."

Ông dứt lời.

Cả đoàn im lặng.

Tiếng nước thác đổ hòa vào tiếng gió như tiếng khóc u u của những linh hồn cổ xưa đang vọng về trong hơi sương lạnh.

D im lặng thêm một lúc lâu, ánh nhìn anh khẽ đăm chiêu về phía xa, nơi ánh sáng sớm đã bắt đầu rọi xuống dòng thác trắng xóa.

Giọng anh vang lên, trầm mà mang chút chất vấn:

"Tội ác không xuất phát từ con tim của chúng ta.

Kẻ lạ mang tới.

Mỗi cái đau đớn là do lũ xâm lược gây ra.

Chư thần ngán ngẩm trước tội lỗi kinh hoàng ấy.

Nhưng chúng chưa bao giờ thật sự tôn thờ các vị thần.

Người vẫn luôn quỳ đó khấn cầu là ta không phải bọn giặc đó.

Nếu vậy, tại sao thần linh lại không nán lại vì dân chúng, vì những con người vẫn luôn khắc mãi hình bóng các ngài bên trong tâm trí?

Mà chỉ khăn khăn nhìn vào cái dịch bệnh đã lây vào vùng đất này.

"

Hallian bước chậm hơn, trượng gõ nhè nhẹ lên đá, âm thanh vang lên lẫn trong tiếng nước rơi.

Ông đáp, giọng như đang kể lại điều gì đã quá xa xưa:

"Ta không có câu trả lời cho điều đó, Dorakkan.

Thần linh đã xuất hiện trong tâm trí, trong từng giấc ngủ của con người từ thuở rất lâu rồi.

Họ tồn tại giữa những câu chuyện, giữa nỗi sợ và niềm tin.

Thực tế nhưng huyền ảo.

Không ai dám phủ định nhưng cũng ít ai dám khẳng định rằng họ vẫn còn hiện hữu nơi đây.

Con người sợ phạm thượng nhưng cầu hoài mà chẳng thấy.

Dần dần niềm tin cũng nguôi ngoai.

Ai cũng có lý lẽ riêng và trong mỗi cách nhìn đều có một phần của điều đúng.

Cơ mà cứ kệ đi, dù thế nào, thần linh cũng đã từng ban cho chúng ta những năm tháng hòa bình hiếm hoi trong dòng đời đầy giông bão."

D hơi cúi đầu, giọng anh nhỏ lại:

"Vậy ông có còn tin vào họ không, Hallian?

Các vị thần."

Hallian khẽ cười, ánh nhìn xa xăm, như đang soi thấy điều gì đó trong ký ức:

"Ta vẫn luôn tin vào chư thần, vào tâm linh và vào những điều huyền ảo mà lý trí có suy nghĩ cả đời cũng chẳng thể cắt nghĩa.

Bởi lẽ, người đàn ông từng ngồi cầu nguyện trong ngôi đền mùa vụ năm xưa... chính là ông nội của ta.

Ông đã tin đến giây phút cuối cùng của đời mình.

Và quả thật, trong những năm ấy, vùng đất này thịnh vượng hơn bao giờ hết.

Dưới sự bảo hộ của chư thần, lúa mọc tốt, thú dữ tránh xa, mùa màng dồi dào.

Cho đến khi chiến tranh ập tới, niềm tin ấy dần bị vùi lấp."

Ông khẽ ngừng một chút, rồi nói tiếp, giọng như thấp xuống, pha chút mỉm cười đầy hoài niệm:

"À, còn chuyện về "miệng lưỡi ngậm xoắn" mà cậu nhắc...

Câu nói ấy bắt nguồn từ một truyền thuyết cũ, kể về thần Mùa Vụ và thần Thời Tiết.

Sau mỗi vụ bội thu, hai vị thần lại gặp nhau, cùng uống rượu ca hát đến tận khuya.

Mọi chuyện vốn êm đềm, cho tới một lần, khi men say dâng tràn, thần Mùa Vụ buông vài lời đùa cợt với người vợ của đối phương.

Điều đó thật phàm phu và cũng khiến thần Thời Tiết bùng lên cơn ghen dữ dội.

Gió nổi, sấm gào, mưa trút.

Chiếc cốc bạc trên bàn tiệc bị ném thẳng vào đầu thần Mùa Vụ và từ đó, họ trở mặt.

Ngay hôm sau, đất khô, cây chết, mùa màng tiêu điều.

Cỏ chẳng mọc, sông cũng cạn.

Thần Mùa Vụ vì hối hận đã tìm đến để tạ lỗi.

Ngài quỳ dưới chân Thần Thời Tiết, xin được thứ tha.

Nhưng để chuộc lại lỗi lầm, ngài buộc phải nhận một lời nguyền.

Đó là lời nguyền "xoắn miệng lưỡi trong im lặng".

Từ ấy về sau, thần Mùa Vụ không còn được cất tiếng nói mỗi khi có thần Thời Tiết ở đó.

Ông chỉ có thể cúi đầu mỗi khi mưa rơi xuống mảnh đất này.

Nó cũng là lý do vì sao bây giờ trước những mùa vụ không ai còn được thông báo về mưa, bão, hạn hán.

Vị thần của người dân chịu lép vế mãi mãi chỉ vì dăm ba câu đùa trong cơn say.

Vậy nên con cháu về sau vẫn nhắc nhau: "Ngậm xoắn miệng lưỡi, giữ lòng tĩnh lặng."

Một lời dạy sâu thẳm rằng trước khi nói ra điều gì, phải nghĩ đến hậu quả mà nó có thể mang lại."

Hallian cười nhẹ, đôi mắt ánh lên một tia mệt mỏi nhưng cũng đầy ấm áp:

"Đó là bài học hậu thế, Dorakkan.

Dẫu chiến tranh có xóa đi bao nhiêu điều nhưng những lời dặn từ cổ xưa vẫn còn đấy, chỉ chờ người biết lắng nghe, biết thấu hiểu cho từng câu nói dặn dò."

D khẽ nghiêng đầu, ánh mắt thoáng đượm suy tư.

"Thế còn lời nguyền vô định trong im lặng?" _ Anh hỏi, giọng nhẹ nhưng lẫn trong đó là sự tò mò chân thành.

Hallian mỉm cười, nụ cười chậm rãi như người sắp kể một câu chuyện đã đi qua hàng trăm năm.

"Cũng tương tự thôi." _ Ông bắt đầu, giọng đều đặn, hòa vào tiếng thác vỗ vào vách đá _ "Ngày xưa, trong một buổi yến tiệc linh đình giữa chư thần, thần Bốn Mùa, anh ruột của thần Thời Tiết cũng chẳng tránh khỏi máu ghen.

Vợ ông, người đàn bà tuyệt sắc, có giọng ca tựa ánh trăng tan trên mặt hồ.

Khi nàng hát, đàn cá cũng nổi lên múa lượn, gió ngừng thổi, hoa thôi rụng.

Ai nấy đều say sưa, thậm chí cả thần Thời Tiết cũng dừng chén rượu mà lặng nghe.

Chỉ có duy nhất một người không đáp lại cái khiêu gợi của câu hát đó, chính thần Bốn Mùa.

Người vốn phải chìm đắm nhất trong đó thì giờ đây lại lặng lẽ siết chặt tay vì cơn ghen dâng tràn.

Cơn ghen xuất hiện, chỉ đơn giản là vì âm thanh đó không phải dành riêng cho ông.

Khi lý trí bị che mờ, ông đã thốt ra một lời nguyền trút vào trái Sear, một loại quả nhỏ màu lam bạc chỉ mọc trong rừng Fri'oca.

Lời nguyền ấy khiến cho toàn bộ buổi tiệc chìm vào câm lặng, chẳng ai còn có thể nghe thấy điều gì.

Tiếng đàn im bặt, tiếng hát tắt lịm, cả thần linh cũng không còn nghe thấy chính mình.

Chỉ khi men rượu tan, lửa cũng nhẹ tàn và tiệc đã kết thúc, lời nguyền mới tự phá vỡ, trả lại âm thanh cho thế giới.

Và kể từ giây phút cái ghen tuông trở thành sự bung bét, mọi người đã lẳng lặng quay lưng.

Từ đó, thần Bốn Mùa bị chư thần xa lánh, sống trọn đời trong cô độc.

Ông cứ mãi đi, loanh quanh khắp bốn phương, tìm lại những mối quan hệ đã mất.

Và thế là, bốn mùa cứ trôi đi lặng lẽ, vạn vật vẫn xoay quanh ông nhưng chính ông thì chẳng còn cảm nhận được ai, chỉ còn mình ông xoay vòng giữa luân hồi của thời gian."

Hallian dừng lại, ánh mắt hướng lên trời, nơi mặt trời đang dần ló lên khỏi rặng núi.

Giọng ông trở nên nhẹ hơn, gần như là một hơi thở:

"Người ta nói đó chỉ là chuyện cổ tích nhưng trái Sear vẫn tồn tại đến tận bây giờ.

Dân Fri'oca vẫn dùng nó khi cần bảo mật chuyện trọng đại.

Hộ vệ thường sẽ được dùng nó trong các cuộc họp.

Vừa có thể bảo vệ chủ nhân, vừa không nghe được thông tin tối mật trong cuộc thảo luận.

Một món quà nhỏ của chư thần hay của mẹ thiên nhiên.

Đôi khi không thể nghe thấy cái trong lành của cuộc sống lại là món quà cho người ta giữ lại cái mạng nhỏ của mình."

Hallian nheo mắt nhìn D, nụ cười pha chút trêu chọc:

"Rất hữu dụng đấy, chàng trai.

Nhất là khi ta đang bước vào nơi không nên để cho ai nghe thấy quá nhiều."

Gió rừng khẽ thổi qua, mang theo mùi tanh của đất và hương ngọt lạ lùng như từ hoa Sear thoảng ra đâu đó.

D chỉ khẽ cười, ánh nhìn anh lẫn trong sương vừa tò mò, vừa cảnh giác.

Câu chuyện vừa dứt cũng là lúc họ đến chân con thác.

Hơi nước bắn tung trắng xóa, sương mù phủ mờ cả triền đá, tiếng thác đổ xuống vang như hàng ngàn tiếng trống dội vào lòng đất.

Aarith đã đứng chờ sẵn từ bao giờ.

Ánh mắt anh sắc như dao, giọng nói vang lên trầm ấm nhưng đầy quyền lực:

" Tất cả đã được sắp đặt.

Ngài Saian đang đợi mọi người bên trong."

Hallian khẽ cúi đầu, làm dấu hiệu cho D tiến lên trước.

D hít sâu một hơi, ánh mắt ngẩng lên nhìn con thác, nơi màn nước đổ xuống tựa như bức rèm của số phận.

Anh khẽ nói, giọng lẫn vào tiếng nước:

"Thế là cuối cùng cũng đến."

Men theo con đường nhỏ phía sau thác, hơi nước lạnh buốt quất vào mặt nhưng không ai mở lời.

Không khí bây giờ trái ngược hoàn toàn với lúc còn ở dinh thự, không còn sự nặng nề, u uất mà là một thứ tĩnh lặng lạ lùng.

Từng bước chân vang lên giữa ánh sáng lập lòe, hòa cùng âm thanh kim loại va chạm vọng lại từ sâu trong lòng núi.

Càng đi, ánh sáng càng lộ rõ.

Một màu đỏ cam như lửa phản chiếu trên vách đá ẩm, chiếu lên những giọt nước đang chảy ròng ròng.

Rồi họ bước ra khỏi con hẻm hẹp ấy và trước mắt D là một thế giới khác hoàn toàn.

Một hang động khổng lồ mở ra giữa lòng núi, ánh lửa từ hàng trăm ngọn đuốc soi rực cả không gian.

Mùi khói, mùi sắt nung, mùi chất nổ hòa quyện với nhau rồi đặc quánh trong không khí.

Dưới nền đá, hàng chục thợ rèn đang dốc sức làm việc, búa đập chan chát, tia lửa văng tung tóe như những con đom đóm rực sáng trong sương.

Xa hơn, có thể thấy những người lính trẻ đang mài kiếm, sửa cung, vá áo giáp.

Những câu chuyện được nói với nhau theo vẻ mặt cười đùa khoái trá.

Không ai có thời gian để khóc.

Phải lấy vận mệnh che đậy đi mỗi vết thương tâm hồn đang dần vụn vỡ.

Tấm lòng con người giờ đây cũng như chiếc lò nung ấy, cháy rực ngọn lửa nhiệt huyết.

Lửa tắm lên da thịt, tôi luyện không chỉ những thanh thép mà là cả tinh thần của mỗi con người với đôi mắt chỉ đang còn sự thù hận và đau thương.

Ở giữa hang, Saian ngồi trên phiến đá lớn, chiếc áo choàng cũ đã được cởi bỏ để bớt cái cái nóng hiện hữu nơi đây.

Khuôn mặt ngài hằn sâu bởi khói lửa và thời gian nhưng ánh mắt vẫn sáng rực như có thể xuyên qua từng giọt mồ hôi rơi trên má mỗi tay thợ rèn.

Khi D bước vào, Saian chỉ khẽ nhếch môi, nụ cười mỏng như lưỡi dao:

"Ta biết cậu sẽ tới nhưng có vẻ trễ hơn ta dự kiến.

Tuy nhiên, mọi thứ cũng đã được sắp đặt.

Dòng máu Bamila đâu dễ bỏ chạy khi đã chọn con đường của mình."

D cúi đầu, rồi nhanh chóng quỳ rạp xuống.

Những người khác cùng đồng loạt làm theo, có cả những người đứng đầu gia tộc Bamila đang khép mình trong đó.

D đáp lại bằng giọng điềm tĩnh nhưng không giấu nổi xúc cảm:

" Gia tộc Bamila đã đến.

Không một ai chịu khuất phục mà ở lại.

Cả họ nguyện trung thành với ngài cho đến khi chỉ còn một hơi thở trước ngày dân ta độc lập.

Cha tôi cũng từng nói rằng: "nếu không đứng lên, thì ngọn lửa của Bamila sẽ tự tàn trong bóng tối.

Rạp gối, dặn lòng đấu tranh cùng với người xứng đáng.

Một giây còn quỳ trước kẻ thù là một giây sống trong tủi nhục."

Mọi thứ đã định.

Có tránh ý mình cũng khó né ý trời."

Saian khẽ gật đầu.

Tự hào với từng gương mặt đang hiện hữu trước mắt của mình.

Ngài cũng nhanh chóng mời mọi người đứng dậy rồi cất tiếng hô lớn:

" Vì sự thịnh vượng chung.

Lũ giặc nghĩ chúng ta muôn đời là con thú tiêu khiển nằm dưới chân bọn nó.

Nhưng chính hôm nay, chúng sẽ phải thấy...

Chúng ta chưa bao giờ chịu thất bại trước sự ngông cuồng của chúng.

Cuộc sống của chúng ta không biết sẽ được viết thêm bao nhiêu điều đẹp đẽ trên từng trang sử nhưng... chỉ cần còn một giây chiến đấu là thêm một trang sử oai hùng cho thế hệ sau.

Cuộc sống còn nhiều điều hơn thứ mà đôi mắt phàm trần có thể thấy được.

Chiến đầu để dành nó về lại đôi tay của mình.

Chúng ta... chưa từng và sẽ không bao giờ làm nô lệ."

Ngài càng nói, giọng điệu càng trở nên đanh thép.

Những lời ấy vang vọng trong lòng hang như tiếng sấm đầu mùa, thấm sâu vào từng phiến đá, từng hơi thở của người nghe.

Xung quanh, toàn bộ quân lính và thợ rèn đều đã tề tựu lại, chen chúc trong không gian chật hẹp, ánh lửa từng chút, từng chút hắt lên những gương mặt khô ráp, chai sạn ấy những tia lửa của khát vọng.

Rồi bỗng nhiên, một tiếng hô vang lên, nối tiếp bằng hàng trăm, hàng nghìn tiếng hô khác.

Âm thanh ấy như muốn xé toạc ngọn núi, rung chuyển cả lòng Fri'oca.

Dường như mọi thanh âm trên đời đều hòa vào trong tiếng kêu gọi ấy, một lời thề sắt son, một nhát kiếm phóng thẳng về kinh đô xa xăm vẫn đang chờ họ đặt chân tới.

Ở góc hang, một vài người ghi chép lại từng câu từng chữ của ngài Saian.

Những nét mực run rẩy trên giấy da, thấm đẫm mồ hôi và hơi nước, trở thành dấu bút đầu tiên lưu lại lịch sử.

Không ai biết rằng, chính khoảnh khắc đó sẽ mãi mãi là chương đầu trong giai thoại oai hùng của họ.

Lời nói của Saian đã trở thành khúc mở đầu hoành tráng cho lời kêu gọi toàn dân cùng đứng lên kháng chiến.

Chỉ thêm ít phút, khi đám đông vẫn còn đang hừng hực trong cơn men khí thế, Saian khẽ đưa tay ra hiệu lui.

Giọng ngài nhỏ lại, trầm và cứng như đá núi:

"Vui đến đó đã là quá đủ rồi.

Việc còn lại không phải là của lời nói mà là của hành động.

Một giây ta dừng lại cả vạn vạn con tim còn đang trong bể khổ.

Ráng hoàng thành công việc trước chiều tàn rồi ta sẽ nghỉ ngơi cho những ngày gian khó phía sau."

Nói đoạn, ông quay sang Aarith, Hallian, và Dorakkan, rồi ra dấu cho năm thành viên lớn của đại gia tộc Bamila theo sau.

Bóng họ dần khuất trong khe đá hẹp.

Lửa vẫn cháy lớn, tiếng ồn ào phía sau vẫn còn vang vọng như tiếng sóng cuộn mãi không muốn dứt.

Họ men theo lối nhỏ nằm sâu bên trong lòng hang.

Con đường hẹp, ẩm và tối, chỉ đủ cho hai người đi sát vai.

Ánh lửa từ chiếc đuốc nhỏ trên tay Aarith chập chờn trên con đường nhỏ.

Bóng người phía sau trở nên chập chờn.

Lúc dài, lúc ngắn.

Khi lại méo mó và huyền hoặc.

Tiếng bước chân vọng xuống nền đá, vang vọng như nhịp đập của trái tim chiến tranh.

Hallian khẽ nói, giọng ông vang trong bóng tối:

"Phía trước là nơi chỉ những kẻ mang dòng máu thề nguyện mới được phép bước vào.

Ai đến đây, dù là bạn hay thù, đều sẽ bị lịch sử ghi nhớ.

Trùng thành hay phản phúc đều được người ta nhớ từng khuôn mặt"

Saian không đáp.

Ngài chỉ đưa tay vuốt dọc vách đá, một bức tường khắc đầy những ký tự cổ đã phai.

Vài ký tự phát sáng mờ mờ trong ánh đuốc như hơi thở còn sót lại của chư thần.

Rồi, không một lời báo trước, vách đá khẽ rung lên, mở ra một lối hầm sâu hơn.

Một luồng gió lạnh phả ra, mang theo mùi ẩm mốc và hơi sắt của máu khô.

Saian bước vào trước, bóng ngài bị nuốt trọn trong bóng tối và cái bóng đêm ấy nuốt cả ngọn lửa đang cháy phập phồng trên tay Aarith.

Không gian tối khịt, người đi sau cứ vài bước lại vấp vào nhau.

Loay hoay một lúc mới thoát vào một hang nhỏ sáng rực bởi những ngọn đuốc và một chiếc giếng trời nhỏ đâm thẳng lên trên ngọn núi làm hở nhẹ một đốm nhỏ của bầu trời.

Không để mọi người kịp lấy lại vẻ bình tĩnh, Saian cất tiếng, giọng ngài vang lên rắn rỏi, dội vào vách đá như sấm đầu mùa:

"Ta cũng muốn biết, lần đến này, nhà Bamila đã mang đến cho quân cách mạng món quà gì?

Một cơn mưa rào vội vã hay một cơn bão dài hạn?"

Cả gian phòng lặng đi.

Ánh lửa hắt bóng người đổ dài trên nền đá ướt.

D khẽ ngẩng đầu, ánh nhìn anh vững chãi nhưng ánh sáng trong mắt lại như ẩn giấu điều gì sâu hơn.

"Số lượng chưa bao giờ là thế mạnh của gia tộc, thưa ngài Saian," _ Anh đáp, giọng đều mà rắn._ "Điều khiến Bamila thịnh vượng cho đến trước khi vùng đất này bị xâm lược là hệ thống giao thương chợ ngầm và những lối nhỏ chạy luân phiên liên tục dưới vùng Re'mita.

Chúng tôi lấy mạng lưới bù cho tất cả những gì còn thiếu sót.

Có được Bamila, xem như ngài đã nắm trong tay hơn một nửa mạch máu của vùng đất ấy.

Mỗi người trong tộc đều quản lý một phần của hệ thống ngầm.

Nhưng hôm nay, tất cả đã tới đây, để hợp mọi mảnh ghép lại thành một.

Một tấm bản đồ chung cho kháng chiến, không còn là kho báu riêng cho gia tộc nhỏ này!"

Anh ra hiệu, năm vị đại diện của nhà Bamila cũng dần bước lên.

Ba người đàn ông chững chạc cạnh bên một bà lão và một cậu bé chỉ ngoài mười tuổi.

Ngay lúc đó, người đàn ông tóc ngã đậm màu muối tiêu đứng đầu, giọng trầm vang:

"Tôi là Kerr, trông coi miền trọng yếu của Re'mita.

Dưới tay tôi dù có gần bốn trăm người.

Nhưng nếu ngài Saian cần, họ sẽ vẫn có thể ngay lập tức cắt nguồn mọi nguồn cung hàng ẩn cho kinh đô và đồng thời có thể chặn mọi luồng chuyển hàng dọc Re'mita."

Người thứ phụ nữ lớn tuổi nhất ở đây nhẹ đưa ánh mắt cứng rắn nhưng kiêu hãnh nối lời:

"Tôi, Mera, kiểm soát vùng muối trọng yếu.

Kế hợp với một số miền giao thương ngầm của các vị chủ nhân khác nhà Bamila.

Muối là thứ quan trọng luôn được chuyển định kỳ về kinh đô.

Thứ mà không phải ai cũng muốn đưa tay ra làm nhưng lại không một ai có thể thiếu.

Đó là nguồn sức mạnh ngầm vô cùng to lớn nếu được cung cấp một cách đầy đủ.

Nếu một lúc nào đó ngài thật sự muốn nổ cuộc chiến tại Re'mita, nó sẽ được cắt hoàn toàn.

Những vùng đất phía trong không thể cung cấp đủ thứ vàng trắng này cho toàn bộ binh lính.

Ba gia tộc lớn là Bamila, Gruvalo, Namibatirin đã chiếm tám mươi phần trăm sản lượng muối.

Chúng ta chưa từng phản bội nhau nhưng cũng không thể nào mạn phép mà đi khuyên họ.

Nếu được, vẫn mong ngài có thể thân chinh tới chiêu mộ hai nhà này để làm cái gốc để phá hủy hậu phương của chúng."

"Quả là bậc trưởng lão.

Saian rất cảm ơn lời khuyên của bà.

Chắc chắn ta sẽ thực hiện điều đó" _ Saian nhẹ cười cầm tay bà lão.

Saian nhìn từng người một, khóe miệng nhếch nhẹ, rồi gật đầu tán thưởng:

"Tốt.

Giữ vững Re'mita.

Đó sẽ là vũ khí sắc bén nhất mà ta có.

Vừa là nguồn chiêu mộ nghĩa sĩ, vừa là bức tường thép khi Fri'oca trở thành tiền tuyến."

Ngài ngừng lại, mắt nhìn D, ánh nhìn sâu như soi thấu cả lòng người:

"Nhưng còn một điều, D à.

Theo cậu, ta nên phát động chiến dịch chiêu quân trước hay chiêu mộ các đại gia tộc trước?"

D nhìn quanh, anh im lặng nhìn thấy những ánh mắt của người Bamila đang hướng về mình, chờ đợi, nghi hoặc, xen lẫn niềm tin.

Anh nói chậm rãi:

"Tôi nghĩ nên phát động trong dân chúng Fri'oca trước.

Khi lòng dân hướng về tự do, các đại gia tộc sẽ không còn đường chối bỏ.

Dân chúng là rễ, cái thân, cái gốc.

Tộc lớn chỉ là cành nhỏ xum xuê trên một thân cây vững trãi.

Có rễ, cành sẽ tự mọc, hoa sẽ tự ra và lá sẽ tự xanh mướt bất kể thời tiết."

Saian nhẹ giọng hỏi.

Nhìn thái độ ấy như đang dò xét một câu trả lời thỏa đáng:

"Nhưng nếu ngọn lửa ấy được trao tới cho từng đôi tay dân chúng nổi dậy, mà ta lại không đặt "tượng đài" vững trãi phía sau cho họ chống lưng, họ sẽ trở thành chú người rơm nhỏ bé mặc cho người ta chém trước khi kịp nhấc nổi thanh gươm."

Hallian nhẹ giọng như thêm vào vở kịch của Saian:

"Đúng vậy!

Cái nhành của cây xanh, cái gai của cây xương rồng một khi mà gãy thì rễ và thân cũng sớm bị nhổ thôi.

Phải giữ thế trước khi gieo mầm."

Saian khẽ đưa tay, ra hiệu im lặng.

Ngài nhìn D, ánh mắt vẫn giữ nụ cười nhẹ đầy ẩn ý:

"Nếu các đại gia tộc không theo canh bạc này, mà chúng nó kéo quân thẳng tới Fri'oca đàn áp thì sao?

Nếu thật như vậy thì ta đang ném con mình vào lửa đỏ đó?"

D mỉm cười, hơi cúi đầu:

"Nói vậy... nãy giờ ngài chỉ đang muốn bùa tôi phải không?

Tôi có trả lời như thế nào thì nó vẫn sẽ không đúng, bởi vì chính ngài đã có cho mình một lựa chọn ngay từ phút chúng ta đặt chân vào căn phòng này rồi.

Hoặc có thể từ giây phút chúng tôi rời khổi Re'mita nhỉ ?"

Saian cười nhẹ, thoáng chút vui mừng khi nhận được câu hỏi đó:

"Phải.

Ngay từ đầu ta đã luôn muốn triệu tập các đại tộc trước.

Nhưng đó là lựa chọn của ta.

Ta hỏi cậu là để cậu tự làm điều mình vừa nói, trong khi ta đi thuyết phục những kẻ đang được cầm quyền lực và gươm đao trong đôi tay của mình tay."

D khẽ cười, ánh mắt anh nheo lại:

" Con sói trắng ngày nào nay vẫn nham hiểm như vậy nhỉ.

Thứ đáng sợ hơn cọp, nguy hiểm hơn sư tử là con sói dữ đang ẩn mình thầm lặng bên trong ngài đó."

Saian đáp lại bằng cái nhếch môi:

"Còn cậu Dorakkan, là con cọp mới lớn nhưng lại biết chọn đúng thời điểm để vồ."

Tiếng cười giữa hai người dần xuất hiện, dẫu nhẹ mà nặng như mũi giáo đâm thẳng vào chiếc khiên.

Không khí căng thẳng dần được xoa dịu nhưng ai cũng hiểu ẩn sau nụ cười đó là toan tính và máu.

Ngay sau đó, Saian nhẹ cho các thành viên nhà Bamila rời đi.

D cũng nhẹ cất giọng:

"Đã tới lúc đưa tất cả về một mối.

Từ giờ, nó không còn là của từng người, mà là của cả đất nước này."

Hallian cúi nhẹ người:

" Vậy tôi cũng tranh thủ chuẩn bị vài thứ.

Xin phép ngài tôi lui trước"

Rồi ông rời khỏi hang cùng nhóm gia tộc sau cái gật đầu cho phép của ngài ấy.

Chỉ để lại Saian, Aarith và D giữa ngọn lửa bập bùng.

Gió luồn qua khe đá, ngọn đuốc lay động hắt bóng ba người lên vách tường, dài như những định mệnh đang đan chéo từng lớp một vào nhau.

Chỉ tới lúc này mặt Saian mới nhẹ giãn ra.

Ngài ngồi lên chiếc bàn bằng đá tọa lạc giữa điểm hang nhỏ.

Saian quay người sang nhìn vào Aarith hỏi:

" Anh đã đi theo ta bao lâu rồi nhỉ Aartih."_Saian

" Tôi đồng hành cùng ngài thuở bầy sói mới bắt đầu xuất hiện.

Năm đó ngài chỉ mới mười sáu, tôi lại vừa tròn mười tám.

Hai năm tôi cùng ngài chung sức vì bầy.

Và sáu năm tôi phục vụ ngài dưới danh nghĩa là hộ vệ của lãnh đạo đàn sói Saian.

Tám năm ròng rã, ngược xuôi và bây giờ ngài tròn hai tư tôi qua ngưỡng hai mươi sáu."_ Aarith trả lời vút chút chân thành trong lời nói.

Saian ngẩng đầu nhìn xuyên qua chiếc giếng trời nhỏ.

Mọi thứ như tĩnh lại, một miền ký ức xưa nuốt trọn nơi đây như đã bị bỏ đói lâu ngày.

Sự nghiêm nghị vốn có đã đành nhượng lại gương mặt đó cho sự hoài niệm.

Ngài thẩn thơ một lúc rồi lại quay về phía Aarith:

" Tám năm rồi sao?

Cũng nhanh quá nhỉ!

Ta cần phải trả bao nhiêu để quay lại những năm tháng ấy chứ?"

" Có những thứ đã không nhìn lại mà trôi qua, những điều đã không để lại nụ cười mà bỏ lỡ.

Đến tận bây giờ ngài vẫn còn lưu luyến nó?

Có lẽ thứ chúng ta cần hỏi không phải là trả bao nhiêu để quay về năm tháng ấy, mà là chi thêm bao nhiêu để ta thoát khỏi năm tháng đang ăn mòn tâm trí mình như thế này."_ Aarith nhẹ lòng mang theo nỗi niềm riêng cùng sự an ủi.

D nhẹ giọng, hơi do dự nhưng cũng thỏ thẻ chêm lời cùng Aarith:

" Ngài đã từng là con sói đầu đàn của bầy.

Giờ lại là lãnh đạo của quân cách mạng.

Có lẽ là ta nên chôn chút tình riêng của mình để chừa chỗ cho đại sự phía trước."

Saian mỉm cười, nụ cười nhẹ như tia nắng cuối cùng của hoàng hôn:

" Vậy cậu nói xem... ta phải làm gì để đào được cái hố đủ sâu mà chôn lấy nó?"

" Điều gì còn đang giữ lại ngài ở năm tháng ấy?" _D đưa tiếng tiếp lời

Chợt như những năm tháng trên thảo nguyên mênh mông đang được sống lại ngay trong chiếc hang tối này.

Không gian tĩnh lặng bỗng chuyển mình, đoàn người xa xưa dần dần hiện ra ăn từng thớ thịt trong ký ức như những bóng mờ nhẹ lướt qua chỗ Saian vừa ngồi.

Cái thân thuộc ấy như khiến lớp đá lạnh trở nên rộng lớn như khoảng trời xưa cũ.

Cỏ non xanh mướt lững lờ từng láng nhỏ như mái tóc nhẹ bơm thổi cơn gió xuân, lớp lớp, trùng trùng, trải dài đến bất tận.

Những cơn gió ấm thổi qua từng kẽ tóc mướt rượt, thanh cao.

Bầu trời xanh bát ngát ôm trọn cả từng ánh nhìn buôn hờ trên đôi mi.

Dấu chân khẽ đạp nhẹ đồng cỏ, nơi những bước chân từng đi qua mang theo cả tuổi trẻ, cả nhiệt huyết, cả hy vọng và khổ đau.

Ngay bên cạnh Aarith, một bóng hình quen thuộc dần rõ nét, một Saian có phần khác lạ, trẻ trung hơn, dữ dội hơn và cũng toát lên cái đằm thắm, vui cười hơn chính ngài của hiện tại.

Saian mang chiếc bán mặt nạ sói luôn ẩn nửa gương mặt.

Chiếc mặt nạ nhỏ cho ngài một nửa của con sói mà chính "oanh linh" ấy đang cần có trên con đường chinh phục của mình.

Ngài đứng ở cuối đoàn, hiên ngang như một mũi giáo găm thẳng vào chân trời, ánh nhìn xa xăm, cứng rắn đến mức gió cũng phải cúi mình mà nép sang một bên.

Khoảnh khắc ấy làm Aarith khẽ ngẩn người.

Ánh mắt Saian ngày xưa quả thật lạ.

Ánh mắt của kẻ vừa bước ra khỏi lửa thử thách, ánh mắt của người chưa nếm quá nhiều mất mát nhưng đã mang trọng trách nặng hơn tuổi đời gấp nhiều lần.

Aarith thoáng thấy chính mình trong dáng đứng đó: trẻ, dứt khoát, tràn đầy niềm tin đến mức không biết sợ là gì.

Và rồi hình ảnh trên thảo nguyên tan đi, như lớp tro khẽ bị gió cuốn.

Chỉ còn lại tiếng thác đổ và ánh lửa nhỏ trong hang nhưng trong tim Aarith và có thể là lờ mờ của chính ngài Saian, những bước chân năm xưa đã sống lại thêm một lần nữa.

Nó thật, rõ và đau đến nghẹn là ở ngay vòm họng.

" Những năm tháng ấy, nó không yên bình, nó khó khăn, nó mệt mỏi.

Nỗi đau và cái chết luôn thường trực.

Nó canh mình để có thể hiện hữu trước đôi mắt ta bất kỳ lúc nào.

Ta cũng chỉ là một lãnh đạo nhỏ, vậy thì hai người nghĩ nó có gì để ta luyến tiếc?"_Saian nhẹ giọng, câu hỏi ấy nhẹ tựa cánh hoa hồng trôi trên mặt nước gợn sóng.

D nghe tới đó cũng chỉ biết nuốt ngược đôi lời mình định nói.

Chỉ có Aarith vẫn lẳng lặng nhìn vào sâu đôi mắt Saian.

Đôi mắt ấy, tâm hồn ấy, có lẽ đã có câu trả lời cho riêng mình.

Sự dũng mãnh ngày nào nay đã dần tan biến.

Con thú dữ ấy cũng có lúc muốn được đắm mình trong vòng tay an ủi.

Bản năng hổ dữ bây đang ở đâu?

Hay vốn chỉ là chú mèo nhỏ bị bỏ rơi trước cái khắc nghiệt của dòng đời.

" Có lẽ là vì năm tháng ấy chúng ta vẫn còn trẻ.

Giữa muôn vàn khó khăn, ta vẫn đủ nhiệt huyết để bám vào niềm vui nhất thời của những giây phút bình yên nhỏ.

Dẫu có khó khăn, ta vẫn nở nụ cười để lấn át nó.

Dẫu mệt mỏi nhưng vì còn trẻ nên ta tự dặn lòng mình đó là sự cống hiến thầm lặng.

Cái chết hiện hữu nhưng ta vẫn chưa thấy được mọi nỗi đau mà nó để lại.

Cái khổ của nhân dân là thứ làm ta đau lòng chứ không phải là điều làm ta day dứt mỗi độ đêm về.

Ta biết ơn với mỗi sự giúp đỡ và bây giờ ta phải chịu ơn cho từng khoảnh khắc ấy.

Nó là bể khổ của thân xác nhưng lại là chốn nhỏ bình yên cho mỗi tâm hồn.

Có lẽ là vì ta còn trẻ.

Cũng có lẽ là vì cái trẻ đó chỉ là một điều thoáng qua nhanh chóng trong tâm trí.

Nó chưa từng là một giai đoạn mà của cuộc đời...

Mà chỉ là cơn gió nhẹ thoáng qua, nó thổi cho ta một mảnh ghép nhỏ mà lại để cho tâm trí này một bức tranh khổng lồ không thể ghép được thành lời."

Saian mặc cho sự im lặng xuất hiện phía sau câu nói ấy.

Ngài quay qua D nhỏ giọng như nhắc nhỡ và an ủi:

" Nghe nói năm nay cậu vừa tròn mười tám?

Đặt một bước chân vô căn phòng này đã là lựa chọn bỏ lại mọi thứ phía sau.

Có lẽ là cậu sắp phải ngừng sự an yên nơi con tim đầu ngọn sóng.

Nhưng ta mong cậu vẫn sẽ luôn giữ lại một phần của nó bên trong mình.

Một lúc nào đó cậu sẽ không muốn giống như ta hay Aarith đâu.

Ta tin chắc là như vậy."

Không khí liên tục thay đổi, lại một khung bật khác được đặt ngay sau sự an ủi đó.

Ngài nghiêm giọng:

" Tám năm ròng Aarith đồng hành cùng ta.

Anh ấy là người ta tin tưởng nhất ở thời điểm hiện tại.

Nói vậy thì... kể cả anh ấy có bảo ta chém cậu, ta vẫn sẽ làm điều đó.

Không có ngoại lệ.

Nhưng nói gì thì nói, kể từ hôm nay... ngoài Aarith, cậu muốn giết ai thì chính ta sẽ là người vung kiếm."

Không ai lên tiếng.

Chỉ có tiếng thác nước vọng từ xa như tiếng trống của đất trời báo hiệu một khởi đầu mới.

D lặng người, anh hiểu đó không chỉ là một lời cảnh báo mà là một khế ước ngầm giữa tin tưởng và thử thách, giữa sống và chết.

Trong lòng anh, cảm xúc đan xen giữa dè chừng, lo lắng, nhưng cũng có một chút an tâm kỳ lạ.

Người chỉ huy trước mắt ấy, dù nguy hiểm nhưng lại mang thứ hào quang khiến người ta muốn tin, muốn gửi gắm cả lý tưởng mình vào trong đó.

Có lẽ đó chính là sự quyến rũ chết người của những kẻ vốn sinh ra để dẫn đầu.

Con sói ấy vốn chưa bao giờ thay đổi sự nguy hiểm bên trong mình.

Aarith, vẫn đứng bên phải Saian, khẽ nghiêng đầu.

Đôi mắt người chiến binh ấy lặng như nước nhưng trong sâu thẳm, một tia sáng lạ lóe lên.

Đó không phải sự cảnh giác, mà là niềm tin tuyệt đối.

Tám năm gắn bó đủ để anh hiểu: "Saian không bao giờ nói đùa về máu, cũng chẳng bao giờ nói dối về lòng trung thành."

Aarith đặt nhẹ tay lên chuôi kiếm, một cử chỉ không đe dọa mà như để tự nhắc nhở bản thân rằng nghĩa vụ của anh không nằm trong danh vọng nhất thời mà trong từng nhịp tim còn đập nơi anh và chính ngài đang thổn thức.

Ngọn lửa trong hang đã nhỏ dần, chỉ còn ánh than hồng chập chờn trên những gương mặt in dấu thời cuộc.

D khẽ thở ra, ánh mắt anh dừng lại ở mép bản đồ đang sém lửa.

Những con đường nhỏ trên tấm da thú ấy bỗng khiến anh nghĩ đến những ngã rẽ khác của đời người, nơi không có máu, không có gươm, chỉ có yên bình và tiếng cười.

Một thoáng yên lặng kéo dài, rồi D bật cười khẽ, nụ cười nghe như vừa tự trêu chính mình vừa muốn phá vỡ không khí căng thẳng:

"Ngài Saian, nếu được chọn lại, liệu ngài có muốn sống một cuộc đời bình thường không?

Không có gươm, không có thác máu, chỉ có một tình yêu bên cạnh và có cả những ước mơ bay bổng."

Aarith nhướng mày, đôi môi anh cong lên đầy ý nhị:

"Cậu hỏi vậy là đang nghĩ cho ngài ấy hay đang tự hỏi cho chính mình?"

D cười nhẹ, cúi đầu né tránh, giọng anh thấp xuống, pha chút buồn:

"Chắc là cả hai chăng."

Saian nhẹ đáp lại:

"Con người ta đôi khi hỏi người khác vốn chỉ để giấu đi điều mình không muốn nói.

Chiến tranh có thể cướp nhiều thứ, nhưng ký ức... thì lại cứ dai dẳng trong lòng.

Vậy nếu không phải là chúng ta, thì ai có thể giúp mọi người quay lại những ngày tháng ấy."

"Vậy thì phải chiến thắng nhanh thôi.

Tôi cũng bắt đầu muốn có một tình yêu bên cạnh rồi!" _ D khẽ cười, giọng anh pha chút dí dỏm hồn nhiên của tuổi trẻ.

Saian ngẩng lên, ánh mắt thoáng lóe trong ánh đỏ:

"Tình yêu ư?"

Ngài lặp lại, giọng khàn, nghe vừa mỉa mai vừa như hỏi chính bản thân mình.

D vẫn giữ nụ cười, cố pha chút nhẹ nhõm cho bầu không khí:

"Ngài cũng đã hai mươi bốn rồi, không lẽ cứ lủi thủi một mình vậy sao?

Ngày xưa người ta vẫn bảo rằng đằng sau một vị tướng luôn có một kẻ giữ lửa, để khi quay về nơi ấy, họ còn thấy chiếc bếp chưa tàn.

Có lẽ ngài cũng nên... nghĩ về điều đó dù chỉ là một chút chứ!"

Saian khẽ cười, một nụ cười nửa như chế giễu, nửa như tiếc nuối.

Giọng ngài trầm xuống, lạnh như gió quét qua cửa hang:

"Tình yêu à...

Một thứ thảo dược rẻ tiền làm con người ta mụ mị.

Một lời nguyền chết chóc, khẽ khàng mà khi ai dính vào cũng xem nó như phép màu của trời đất.

Tình yêu?

Khi ngươi yêu, tâm trí ngươi trở nên yếu đuối.

Khi ngươi mất nó, tâm hồn ngươi trở nên đau đớn, quằn quại.

Ngươi cố giữ, nó lại tan nhanh như cơn gió cuối thu.

Ngươi buông bỏ, nó như đâm thẳng lưỡi kiếm sắc bén vào tim mình."

Nói rồi ngài đưa tay khẽ vuốt qua vết sẹo mờ ở cổ, ánh nhìn xa xăm như đang chạm lại một hình bóng nào đó trong trí nhớ.

D im lặng giây lát, rồi mỉm cười, giọng anh mềm nhưng dứt khoát:

"Ngài tiêu cực quá rồi đó.

Tim con người không phải là sắt thép, nó là máu thịt.

Cái lạnh của chiến tranh đâu thể để ta một bước mà sưởi ấm bằng lý trí.

Chúng ta mang thân mình đày đọa trong cuộc chiến, tâm trí giày vò bởi những khắc nghiệt.

Không có tình yêu, lấy gì mà vá nổi một trái tim đang dần vụn vỡ?"

Saian bấy giờ mới nhìn thẳng vào D, giọng cứng rắn như bàn thạch:

"Thuở chư thần tạo ra con người.

Ngài tạo ra chúng ta là giống loài tối ưu nhất trên trần thế này.

Con người có tiếng nói trên nhu cầu sinh tồn tại những mảnh đất đơn sơ khi nó còn ở các năm tháng khai thiên lập địa.

Họ ban cho chúng ta đầu óc để học hỏi.

Bản năng để sinh tồn trước những nỗi sợ từ nguyên thủy cho đến những nỗi sợ thầm kín khác nhau.

Cho chúng ta cơ thể linh hoạt để mưu sinh trên từng cơn thác của khó khăn, gian khổ.

Cho ta cảm xúc để trung hòa cuộc sống vốn là bể chứa của sự đau thương, chết chóc.

Và các ngài tạo cho chúng ta trái tim để biết mình còn đang sống hay đã chết.

Đời sống ngày một phát triển, con người phải phát triển tư duy dựa trên sự tiến bộ của cuộc sống.

Phải phát triển đạo đức dựa trên các quy chuẩn của xã hội.

Phải lựa chọn hành vi cho phù hợp với cái nhìn chung của một kiếp người.

Họ tự tìm một trăm phương thức để phát triển và bảo vệ tư duy, suy nghĩ.

Họ đưa ra cả trăm luật lệ để kiểm soát từng hành vi.

Nhưng cuối cùng không ai xây... thậm chí là dựng một chiếc rào nhỏ bao bọc quanh trái tim mình.

Thứ vốn là điều con người ít chú ý nhất nhưng lại là điều chi phối con người ta nhiều hơn tất thảy.

Họ không có một ràng buộc nào cho thứ duy nhất mà tâm trí mình không thể một lần chiếm lấy quyền kiểm soát.

Khi con tim lên tiếng là lúc mọi lý trí phải nhường chỗ, mọi hành vi đều loạn nhịp.

Giây phút khi ta để trái tim kiểm soát cũng là lúc ta trở về với bản năng nguyên thủy nhất của con người.

Chư thần không cho chúng ta đặc điểm sinh tồn tiêu biểu như thú vật.

Nhưng cho chúng tối đa trí khôn, hơn tất thảy gấp bội lần các giống loài trên khắp lục địa.

Và đến chúng ta...ta lại cố gỡ các vết rèn mà các ngài đã dày công đóng chặt lên trái tim.

Ta bỏ qua tất cả chỉ để phục vụ một tiếng yêu...

Vậy nên trước khi để mọi thứ trở nên bung bét, ta chọn ngăn chặn nó thật kỹ, kể cả không để một luồng gió nhẹ chạm vào."

Saian khựng lại vài giây rồi ngài nhẹ nói tiếp:

" Mặc cho trái tim con người là máu thịt chính ta phải tự tôi luyện nó thành thanh thép trong ngọn lửa hồng.

Để... kể cả nó có gãy vụn ta vẫn còn có thể tiếp tục chấp nối lại nó."

Không khí như ngừng lại sau câu nói chắc nịch ấy.

D có vẻ như chưa thật sự đồng ý nhưng cũng chắc có cách nào để phản đối điều ấy.

Để giải quyết bài toán khó, anh chỉ dám nhẹ giọng hỏi:

" Không lẽ... ngài chưa từng thật sự thích một người?"

Saian không trả lời ngay.

Ánh nhìn ngài khẽ trôi về phía nơi ánh lửa cuối cùng trong hang đang dần hấp hối giữa làn khói trắng.

Trên gương mặt ngài, sự cứng rắn dần bị thay thế bằng một nỗi lặng lẽ khó gọi tên, như thể thời gian bỗng dừng lại chỉ để gió có thể thổi qua ký ức cũ.

"Thích ư..." _ Ngài khẽ lặp lại, giọng thấp, rời rạc như vừa nói vừa dò lại từng mảnh ký ức của chính mình.

Bàn tay ấy dần buông ra, ánh mắt trượt vào khoảng không xa xăm, nơi không còn là bức tường đá của Fri'oca, mà là một miền ký ức xa lắc, phủ sương và máu.

Trong tâm trí Saian, một bóng đen mờ nhạt dần hiện ra, không rõ nhân tướng, chỉ là một dáng người đơn sơ giữa màn đêm thảo nguyên bất tận đang lặng lẽ quay lưng về phía ngài.

Thoáng chỉ thấy tà áo choàng cũ lay động giữa gió trắng, mềm như tro, nhẹ như một bông cỏ lau khẽ rung rinh giữa cơn gió.

Rồi, như một kẻ đang mơ, Saian thấy chính mình bước đến, ôm lấy bóng ấy.

Không có tiếng nói, không nước mắt, chỉ có một niềm hạnh phúc mong manh đến mức đau đớn như thể ngài sợ nếu hít thở mạnh thêm chút nữa, người kia sẽ tan vào hư không.

Mọi thứ im lặng đến là thường.

Chính D cũng có thể nhận ra mình vừa mới nói điều gì đó dại dột.

Chỉ có Aarith con người vẫn luôn trầm lặng ấy là biết được tâm trí ấy đang hướng về con người xa xăm phương nào.

Một lúc sau, khi không khí dần...

D khẽ giọng mang chút rụt rè và áy náy:

" Tôi xin lỗi... nếu... nếu đã nói điều gì đó không vui ở đây."

Vửa dứt câu, Saian nhẹ quay đầu lại.

Ngài khẽ hít một hơi dài rồi quay lại.

Ánh lửa yếu hắt lên khiến gương mặt ngài như được khắc từng chi tiết bằng đồng nung, những đường nét cứng cỏi bỗng từ từ rạn nứt một cách tĩnh lặng.

Ngài nhìn D, ánh mắt ấy vốn sắc như lưỡi kiếm nay đã mờ đi, đỏ ửng như lửa bị gió thổi ngược, vừa ướt vừa cay.

Những tia đỏ dần hiện lên siết chặt lấy con ngươi nhỏ bé, đôi mắt nâu nhẹ ấy bây giờ lại ôm một rừng tua tủa từng thớ đỏ thẫm.

Đôi mắt cứng rắn ấy, giờ lại yếu đuối như một ánh nhìn của chú cáo sa mạc.

Chốc chốc lại trông như đôi mắt của con mèo đốm gỉ.

Đôi mắt ấy giờ đây lại là kết tinh của vô số con vật nhỏ bé phải vùi mình trước cái khó khăn của tự nhiên.

Đôi mắt ấy như đang phản lại chính sự cứng rắn, nghiêm nghị thường ngày của ngài.

Hơi thở Saian trở nên nặng hơn thoáng lại có chút ngắt quãng.

Hai vai hơi run, nhưng ngài vẫn giữ cho mình tư thế thẳng, như sợ chỉ cần cúi xuống thôi là cả một cuộn nước mắt sẽ tràn ra theo.

Cơ mặt căng cứng, quai hàm siết lại đến trắng bệch.

Từng thớ cơ quanh miệng giật nhẹ, cố nén điều gì đó đang cố gào thét bên trong.

Ánh sáng hắt qua khiến đôi mắt ngài long lanh, viền mi khẽ rung không phải vì mệt, mà vì trái tim ông vừa vô tình chạm vào vết thương.

Và vết thương ấy bây giờ như đang vô tình chảy máu một lần nữa.

Cả hang im phăng phắc.

Chỉ còn tiếng thác vọng xa, trầm đục như nhịp tim đang đập chậm của người từng mất quá nhiều.

D đứng yên, không dám cử động.

Anh không thấy một vị lãnh tụ, không thấy kẻ sắt đá, chỉ thấy một con người đang cố giấu giọt lệ sau lớp giáp lạnh của mình.

Ngài khẽ đưa tay lên, đặt nhẹ lên vai D, bàn tay ấy ấm nhưng nặng như thể đang truyền cả một phần ký ức đã hóa thành tro tàn bay nhẹ theo cơn gió.

Saian cúi đầu đôi chút rồi nhìn thẳng vào mắt D.

Khoảnh khắc ấy, không ai nói gì.

Ánh nhìn của ngài... thật khó tả bằng lời.

Đó không phải ánh mắt của một người lãnh đạo, cũng chẳng phải của kẻ từng nếm máu và thép mà là đôi mắt thơ "dại" của một con người cũng từng biết yêu, từng phải mất và đã từng chọn tự chôn tim mình để tiếp tục sống.

Trong ánh sáng lửa lập lòe, đôi đồng tử ấy đỏ lên, viền nước long lanh như sắp vỡ.

Cơ mặt ngài căng ra, môi run nhẹ, từng đường gân ở cổ hiện rõ như đang phải gồng chống lại điều gì đó sâu thẳm.

Ánh nhìn ấy vừa ấm, vừa đau, vừa như cầu xin người đối diện chôn thay cái nỗi đau đã ngủ suốt bao năm tháng.

Một hơi thở nặng thoát ra, giọng ngài khàn khàn, nhỏ đến mức tưởng chỉ là gió khẽ lướt qua vách đá:

"Cậu đoán xem... với đôi mắt này...

Ta có từng yêu kẻ nào trên đời không?"

Nói rồi, Saian từ từ quay đi, không để có thêm bất kỳ câu thoại nào được tiếp diễn.

Tấm lưng ngài sẫm lại trong ánh lửa, cái bóng dài đổ lên vách đá run run như một vết thương đang rỉ máu.

Không ai dám nói gì.

D đứng lặng, cảm giác bàn tay ngài còn vương lại hơi ấm nơi vai mình.

Một hơi ấm lạ lùng giữa lòng hang lạnh, vừa an ủi, vừa khiến người ta muốn khóc thêm một lần nữa.

" Đó không phải lỗi của cậu mà là của cuộc sống khó khăn này.

Đừng suy nghĩ quá nhiều về nó."_ Aarith nhẹ giọng.

D vẫn đứng yên nơi đó, trầm ngâm nhìn theo bóng lưng đang dần tan vào màn tối của hang đá.

Ánh lửa sau lưng chập chờn hắt ra, kéo dài cái bóng của ngài Saian, run rẩy như một sợi khói chưa tan, rồi cũng biến mất giữa lòng đá lạnh.

Căn phòng lại trở về với sự tĩnh lặng tuyệt đối, chỉ còn tiếng nước nhỏ đều đặn từ trần hang rơi xuống mặt đất nghe như nhịp đập lặng lẽ của thời gian.

D khẽ thở ra, trong lòng không còn nặng nề mà là một thứ cảm giác vừa ấm, vừa buốt.

Có lẽ ngay chính khoảnh khắc đó, anh hiểu được rằng: "sự buông bỏ phòng bị của ngài dù chỉ thoáng chốc nhưng cũng là một sự tin tưởng hiếm hoi mà ít ai từng có được."

Nó không phải là lời khen, cũng chẳng phải sự công nhận.

Nó là một vết nứt rất nhỏ trong lớp thép quanh trái tim của người lãnh tụ và D đã được nhìn thấy một phần bên trong đó.

Anh cúi đầu thật nhẹ như để đáp lại một lời chưa từng nói cũng là một phần giải quyết cho cái áy náy mình vừa gây ra.

Ánh mắt anh vẫn hướng về con đường đá sâu hút kia, nơi bóng ngài vừa khuất hẳn.

"Cậu biết không D...

Có "kẻ" chỉ cần một khoảnh khắc để buông tay đã có thể bỏ lại tất cả những gì từng là của mình.

Nhưng cũng có người, phải mất gần tám năm trời nhưng vẫn không thể tháo nổi một nút thắt bên trong lòng họ."
 
Thịt Người Hay Vị Máu Tanh
Chương 2: Cắt mảnh hai chữ thiên đường


Bầu trời Fri'oca chạng vạng cứ như bị ai đó ghì chặt thớ than non đỏ hỏn mà chà nát lên từng mảng mây.

Mây mỏng nhẹ từng lớp, lững lờ như thể cũng đang bị chính cái đói hành hạ.

Như một mạng sống nhỏ, giờ đây nó chỉ còn giữ lại riêng cho mình được một chút hơi thở cuối cùng để cố lay lắt cho bản thân mình tồn tại.

Con người cũng như từng áng mây nhỉ?

An yên, tự tại hay mỏng nhẹ, vô hồn trước cái khắc nghiệt của "thời tiết".

Cả bầu trời nom như một sinh linh oán thán, đói kiệt, nó mong manh, mềm mềm xong lại bạc phếch rồi cứ nhẹ mãi, nhẹ mãi... chẳng còn đủ dạ để tự siết lại cái bụng ốm trơ hay thắt chặt ruột già lòng thòng mà giữ lấy vỏn vẹn một hơi cầm cự cho thân xác.

Chúng trôi như sợ rằng chỉ cần cố thêm một nhịp bay thôi thì chính cái tấm thân gầy nhom kia cũng sẽ bị gió xé làm đôi, tan ra thành từng vệt khói trắng.

"Như" những tầng tầng, áng mây trôi, chúng xuất hiện rồi lại tan ra không đọng lại trong tâm trí người khác dẫu là một chi tiết nhỏ.

Cao hơn nữa, mặt trời đỏ rực, nắng lúc vàng nhức mắt, khi lại đỏ chói gắt như thứ thân thể non dại đó vừa mới phải tự lột từng mảng da tươi của mình để nhai cho bỏ cơn đói.

Da đã mất, chỉ còn những thớ cơ đỏ phừng phừng, căng lên trông tựa đang tự phơi bày sự trần trụi đau đớn của chính mình.

Khi khi lại trông nó như ai đó đã xé hết lớp che chắn, buộc nó phải đứng trần truồng giữa trời đất, để lộ từng đường gân, từng vết nứt đang rơm rớm hạt hạt, tia tia máu nhỏ.

Nhìn cảnh đó, người ta chỉ thấy được chính cái đói, một cái đói có màu đo đỏ dịu hiền, thô sống và giãy giụa từng nhịp.

Cả khoảng không trở thành một vũng đầm lầy nặng mùi tanh của xác thịt.

Hương thơm thoang thoảng như của một vại hầm đang ninh nhừ cả cái xác khô héo, cái thịt người ngổn ngang và thêm một chút hương vị "tươi sống" của đủ loại thực phẩm trên đời.

Những luồng gió thổi qua nghe tưởng lành lạnh nhưng thực chất lại mang theo cái vị ngai ngái của máu tươi bị cắt ra từ động mạch chủ của trăm thân người, hương thơm tỏa ngát được chiết ra từ trăm thi thể ngổn ngang thành từng gò, từng bãi trông nhau lớp lớp như mạ non đầu mùa.

Mùi ấy không giống mùi chết thông thường, nó là mùi của sự sống bị xé nhỏ, bị bòn mót từng chút, từng chút một.

Nó xót đến độ người ta còn chẳng thể biết trong những cái xác người phơi thây ngoài nắng kia, họ còn đọng lại một giọt máu nào hay không, dẫu là trên từng khóe nơi mí mắt khô đọng.

Hay chính họ đã từng phải tự cắn vào cổ tay mình để rút từng dòng, hút ừng ực cho chút máu loãng còn sót lại mà nuốt trọn xuống cho qua cơn lả.

Bầy quạ đen từ phía núi kéo đến dày đặc, phủ kín cả bầu trời như che đi nhịp sống vốn dĩ thuộc về con người bên dưới.

Mà ở Fri'oca này!

Cuộc sống nào là của con người nhỉ!

Từng con một thi nhau lượn thành mỗi vòng tròn nhỏ, vòng này nối vòng khác như đang mở cái mỏ the thẻ đếm số linh hồn chưa tan trong gió.

Mỗi tiếng "qua... qua..." vang lên lại tạo thành tiếng nhạc gọi mồ, tiếng kèn đưa đám, khi lại tan thương, chốc lại bi oan, ai oán đến từng lỗ chân lông nhỏ.

Lúc chúng kêu nghe nứt nẻ như xương đòn gãy vụn, lúc lại như tiếng khóc của từng thớ cơ bị xé thành đoạn, kéo kéo như que kẹo mỏng, nó réo gọi cho mỗi mảng âm nhỏ của cả người chết lẫn người còn đang hấp hối.

Ngay đó, chim lợn lạnh lẽo đáp xuống những mái nhà mục nát, đứng chễm chệ như những vị thần bạo tàn đang quan sát công cuộc hủy diệt của vùng đất này.

Đôi cánh trắng phớ của chúng nhơ nhớp, tơi tả, nhìn chẳng khác gì những chiếc khăn liệm quấn dở.

Chúng cứ đập cánh phành phạch khi lại trông như những chiếc khăn tang vô hình mơ mỏng đang lượn khắp bầu trời rực lửa mà không cần người sống cắn môi quấn lên.

Rồi vài tiếng bìm bịp vọng xuống, lừa người nghe bằng một chút ấm áp giả dối thể như vùng đất này vẫn còn một giọt sự sống mong manh đang ngầm chảy trên từng mạch máu ngầm nằm sâu dưới lòng đất.

Nhưng tiếng kêu ấy cũng chỉ giống một lời chúc phúc độc ác, vì bản năng lũ bìm bịp vốn là loài gửi tang thương vào từng ổ trứng mà chúng thẳng thừng nhắm nghiền mắt mình mà ký sinh.

Từng tiếng kêu, nó nhẹ, đăm đăm từng nhịp bên tai hệt lời tiên báo về một sự đổ vỡ sắp đến.

Xa xa, tiếng chim Loon từ phía đầm nước vọng về, dài và rỗng như tiếng người thất thần gọi vọng giữa đêm giông.

Trong tiếng Loon ấy là cả một nỗi tuyệt vọng bị dồn nén, giống tiếng kêu của linh hồn bị giam tù khép kín trong mỗi cơ thể còn chưa kịp thối rữa.

Và đâu đó từ sâu trong rừng, nghe như tiếng Piha vang vọng lên thật gắt, bén, lạnh hệt chiếc còi báo tử thổi phập phập vào màng nhĩ, khiến người ta lạnh cứng cả sống lưng, buốt từ ngọn đốt sống cổ dọc tới tận xương cùng của con người.

Đó là âm thanh của sự kết thúc của mùa màng, của trời đất, của những sinh linh lạc lõng không còn lấy một nơi trốn chạy.

Nhìn bầu trời lúc ấy, ai cũng có cảm giác Fri'oca không còn là vùng đất cho con người tung lòng mình mà sống nữa.

Nó đã biến thành một bãi tế lễ khổng lồ, nơi mỗi tiếng kêu của loài chim đều là một lời phán quyết, nơi từng đám mây trên cao đều treo lơ lửng một bóng mơ hồ nơi tử thần đang nghiễm nhiên chờ ghi tên người tiếp theo một bút vào điểm đến cái chết nhỏ.

Cái chết khẽ run đùi, nó đang nhìn ngắm, chép miệng, khi lại chảy từng hàng nước miếng xuống từng sinh linh con đang vùng vẫy dưới bầu trời rực vị tang thương ấy.

Không khí của Fri'oca đã thôi không còn được gọi đơn giản là hai từ "không khí".

Nó giống như một lớp sương đặc quánh mà mỗi khi hít vào, người ta lại có cảm giác phổi mình đang bị trét đầy nhựa thông hay dính lớp lớp mùn cưa hòa với mùi tanh tưởi của xác mục rác rác, lỗ lỗ.

Hơi thở lẫn trong những tạp chất vô hình đến mức dù chỉ đứng yên, ai cũng cảm nhận cổ họng mình nóng rát như đang nuốt từng than lửa nhỏ.

Những nơi cạnh các mồ chôn tập thể, chỉ cần con người ta đủ can đảm kéo dài một nhịp thở... thì cổ họng sẽ thoáng chốc bung bét ra như đổ một ấm nước đang sôi sùng sục chảy thẳng xuống tận cùng của cuống họng.

Trên những con đường đất, mùi rơm mục hòa với mùi cỏ cháy, mùi phân thối của... của...của một thứ gì đó đã chết từ nhiều ngày nhưng chẳng ai còn hơi sức để lê thân nặng trịch mà kéo chúng đi chôn.

Có lẽ để thêm vài tháng thì mảnh đất này chẳng mấy chốc mà tươi tốt.

Đâu ai giàu đến độ vừa đổ đầy thớ phân còn rải thêm chất hữu cơ tự nhiên để "bón" dư thừa trên từng ô đất nhỏ.

Hơi gió thổi qua từ phía "nghĩa địa" bỏ hoang mang theo tiếng ruồi nhặng vo ve đôi ba những lời tụng kinh điên khùng, loạn lạc của thế giới bên kia.

Mùi của đói, mùi của xác, mùi của những linh hồn chưa kịp buông bỏ cái cơ thể phàm trần của mình... tất cả quyện lại thành một thứ hương thơm ngạt ngào, nồng nặc đến mức ngay cả thần linh nếu họ còn tồn tại hẳn cũng chẳng dám hạ mình xuống mảnh đất này.

Rừng cây Fri'oca từng là mái nhà che chở cho dân chúng, nay chỉ còn lại những trụ xương khổng lồ cắm trơ trọi, xiên xuống mặt đất khô nứt như một bãi chiến trường bị bỏ quên.

Từng thân cây vươn lên trời cao, đen sì và chai sạn như những cánh tay bị thiêu dở, bị mặt trời hun nóng ngày này qua ngày khác cho đến khi da thịt già nua của chúng nứt ra thành vô số đường rãnh loang lổ.

Những vết nứt ấy không còn giống vết thương... mà giống như những cái miệng há rộng, khô rát, nghẹn lại vì cơn khát kéo dài đến tuyệt vọng.

Lá rụng không phải từng chiếc, mà là từng mảng, từng mảng lớn như lột lột mảnh da khỏi thân thể của một con tê tê khổng lồ đang chết dần.

Chúng rơi, chồng lên nhau thành những lớp mỏng phập phồng, phát ra âm thanh sột soạt như tiếng da người bị kéo lê từng hàng qua mặt đất.

Cả khu rừng rộng lớn vì thế mà trở thành một bộ hiện vật xác sống chân thực, vẫn đứng sừng sững nhưng không còn lấy một hơi thở dù là yếu đuối nhất.

Trẻ con ngày trước từng đuổi nhau giữa những bụi cây rậm rạp, nay chẳng mạng nào dám ho he đến gần.

Chỉ một con gió mạnh thổi qua là những nhánh cây khô, giòn đến mức vỡ vụn, nó cũng có thể gãy rụp xuống không báo trước, cắm sâu vào mặt đất như những mũi giáo xót xa rơi từ tay vị thần đã bỏ mặc miền đất này.

Muông thú bỏ rừng mà đi từ rất lâu.

Những con đã quá yếu để có thể chạy trốn thì co ro trong các hốc đá, mắt lõm sâu như hai đốm lửa sắp tàn của ngọn đèn dầu.

Bộ lông của chúng xơ xác, bết lại như những sợi rơm bị vò lấy, vò để ngày này qua ngày khác.

Cũng còn vài con cố lê cái thân xác khẳng khiu dọc mặt đất, nhưng tiếng động duy nhất chúng tạo ra chỉ là một tiếng thở dài, tiếng o o nhẹ tưng từ chiếc bụng rỗng... tiếng thở dài của kẻ sống mà như đã chết từ nửa mùa trước.

Rừng Fri'oca vốn từng là lá phổi xanh nuôi cái sự sống nhỏ, là linh hồn của vùng đất mà giờ chẳng khác gì một cỗ quan tài khổng lồ bị ai đó mở nắp rồi quăng đi một cách sõng soài.

Gió rít qua những thân cây khô nghe như tiếng khóc nấc nghẹn bị ai đó bóp nghẹt.

Còn những cành cây kẽo kẹt, rung lên trong gió chẳng phải tiếng của gỗ nữa, mà là tiếng da thịt của một sinh linh đang chết rất chậm, rất im và rất đau.

Trên những con đường dẫn dọc trung tâm Fri'oca, xác người nằm la liệt, dày dày đến mức chẳng còn phân biệt nổi đâu là hình hài, đâu là bóng đổ.

Chúng trải dài, ôm cái tang thương theo từng thước đất, từng ngã rẽ như một tấm thảm rách mà thời gian đã cố tình kéo lê trên con đường mòn qua nhiều mùa mưa nắng.

Có những xác già cằn cỗi gục ngay bên thềm nhà, khi lại ngã quật ra hiên cửa, đôi tay khô quắt vẫn chới với đưa ra phía trước như vẫy gọi một nắm gạo chưa từng hiện hữu trong đời họ.

Những ngón tay cong queo, cái quắp thẳng, cái cụp cong cong như nắng cò súng, quằn quại rê vào lồng ngực như đang níu lại chút hy vọng cuối cùng.

Nhưng với cơ thể điêu tàn ấy thì chỉ cần một cơn gió nhẹ thoảng qua là cũng có thể rụng như sung tới mùa.

Không chỉ vấn víu đôi ba cái xác già khụ, xác người lớp lớp tuổi ngổn ngang bãi bãi, gò gò, lớp sau chồng lên lớp trước.

Kẻ nằm nghiêng, kẻ nằm vẹo, kẻ nằm ngửa mắt nhìn trời như muốn hỏi vì sao cái chết lại đến nhanh hơn cả ánh nhìn nhỏ bé trước bữa ăn cuối cùng.

Có xác nằm trơ trọi giữa đường, có xác lại chất lên nhau thành từng đống như những phế tích nghệ thuật bị quẳng đi vội vàng.

Dù có cả trăm, cả ngàn cái la liệt nhưng chẳng cái nào giống cái nào, mỗi thân xác là một câu chuyện còn dang dở, một nỗi tuyệt vọng không bao giờ có kết thúc kể cả là hơi thở cuối cùng.

Có những xác người mục quắt trong tư thế ôm chặt đứa con còn đỏ hỏn.

Trong lòng mẹ dịu ấm ấy là cái xác nhỏ cứng lại như cành củi khô để qua mùa đông, gương mặt hằn rõ nỗi ngây thơ hay nỗi sợ hãi mà chả ai đủ can đảm nhìn thẳng vào nó để đưa ra câu trả lời cuối cùng.

Một sinh linh mang theo một hy vọng mong manh chưa kịp sinh sôi đã vụt tắt.

Trẻ con chết lẫn trong bụi rậm ven làng, gương mặt chúng đờ đẫn, đôi mắt mở rộng như thể vẫn đang chờ một miếng ăn từ trời cao rơi thẳng xuống dạ dày.

Có đứa chết trong tư thế bò trườn, lăn lộn, có đứa chết khi đang nắm một nắm đất tưởng chừng là thức ăn.

Không đứa nào khóc, nước mắt cũng đã khô từ những ngày đầu đói kém.

Người sống thì không còn đủ sức để chôn người chết.

Họ chỉ biết lê lết trên mặt đất, mỗi bước là một tiếng kéo lê tuyệt vọng của thân xác sắp cạn hơi.

Họ tìm nước, tìm lá cây, tìm bất cứ thứ gì có thể nhét vào miệng dù nó chẳng khác gì bùn đất.

Những thân thể ấy không còn "sống", mà chỉ còn "tồn tại" như những chiếc bóng níu giữ kiếp người trong tuyệt vọng.

Xác người để qua một đêm là ruồi nhặng bâu kín, đặc như tấm vải đen phù dành cho lễ tang.

Qua hai đêm thì chó hoang kéo đến, xé từng mảng thịt khô rệu, đôi khi còn tranh nhau đến mức văng tung tóe những mẩu xương mỏng.

Qua ba đêm... thì chẳng còn gì để nhận dạng, chổ này, chổ kia lúc chúc, mảnh mảnh thịt nhỏ rơi vãi.

Qua đêm bốn, cái thân thể phàm trần được dâng lên cho đám ăn xác nhâm nhi, gặm nhấm.

Chỉ còn những vệt máu mờ, vài đốt xương vụn và một mùi tanh dai dẳng bám như bóng ma vào từng thớ đất.

Kiếp sống con người ý nghĩa làm sao!

Khi sống ta chăm lo cho bôn ba đời cuộc đời, tạo của cải, sinh vật chất.

Sống tôn thờ, chết tôn thói.

Có người cả năm trời chưa được miếng thịt bỏ bụng, giờ lại làm thớ thịt chui tọt vào bụng những con vật từng dành cả đời nằm khép nép trước chân từng cái xác thối mục ấy.

Và giữa cảnh tượng hỗn loạn ấy, người ta vẫn nghe được một thứ âm thanh rất nhỏ tiếng, gió lùa qua khung xương ngực mở toác của một cái xác nào đó.

Nghe như tiếng thở dài cuối cùng của Fri'oca, nó cứ thở, thở ra cho đến khi chẳng còn lại gì để thở.

Giữa trung tâm Fri'oca, cái đói đã xóa cả lối đi lẫn lề đường.

Xác người phủ kín thành từng lớp, lớp mới đè lên lớp cũ, lớp cũ đè lên những kẻ đã chết từ mùa nảo mùa nao trước đó.

Có nơi, người còn sống nếu muốn di chuyển... chỉ có một cách duy nhất là bước lên chính những thân xác ấy.

Mỗi bước chân đặt xuống, họ lại nghe dưới bàn chân mình một thứ âm thanh đặc quánh không phải tiếng đạp đất, không phải tiếng lá xào xạc, mà là tiếng xương mục lún xuống, kêu răng rắc như những hòn cuội bị nghiền nát có thể là bằng chính cơ hàm chắc khỏe.

Có khi họ giẫm phải tay ai đó, ngón tay gãy cụp xuống như một cành cây khô.

Có khi chân họ trượt trên mảng vải mục, kéo theo cả cái xác xoay nghiêng, để lộ gương mặt đã đen thẫm và đôi mắt trợn ngược còn đọng lại hình bóng của bữa ăn chưa kịp đến.

Có người cố tránh, nhấc chân cao để không chạm vào đầu, vào mặt, vào những phần thân thể còn chưa phân hủy hết.

Nhưng càng đi, càng không còn chỗ trống.

Đường đi đã trở thành một tấm chăn bông lụa là ghép từ hàng trăm, hàng ngàn xác người.

Người sống muốn sang được bên kia đường, buộc phải ba bước một chà, miết chân, dẫm lên da thịt đã lạnh.

Vì sao đôi lúc lại có chỗ xác người lê lết đến thế?

Có người sợ ảnh hưởng đến người thân mà chọn bỏ đi chút thời gian gặp gỡ cuối cùng.

Họ lê thân lạnh lẽo nằm cạnh một xác lạ nào đó như tìm người bầu bạn cuối cùng trên cuộc đời.

Và cứ thế, họ tự biến nó thành quy tắc chung cho những kẻ sắp lìa xa cõi trần tạm bợ.

Cứ thế, cứ thế, cho đến khi bạn đồng hành không còn đơn giản là đôi bạn lạ... mà là một nhóm người đủ mọi lứa tuổi hòa tay nhau buông bỏ hơi thở cuối cùng.

Có đứa trẻ mặt ngây ngây, môi khô ráp cố lẫn vào giữa chồng xác ấy như tìm lấy sự bảo bọc cuối cùng...hmm thật ấm áp biết bao!

Nhiều người đi qua mà không dám nhìn xuống.

Họ đưa mắt lên trời, nhưng bầu trời Fri'oca chỉ là một vũng máu đỏ mở toang, chẳng che giấu được gì.

Đôi lúc bầu trời lạc bạc sẫm như chiếc gương bằng đồng thau.

Nó không soi cái tuyệt sắc mỹ miều, mà nó chiếu chi tiết cho từng phận người cùng khổ.

Nét mặt, gân xanh, tuổi dại con con, cái chết nho nhỏ, thác thác oai linh.

Người sống tự nhắm mắt mà nhìn ngắm.

Có người đứng giữa đường, nghẹn ngào một tiếng khô khốc, rồi tiếp tục lê bước, bởi dừng lại đồng nghĩa với việc nằm xuống cùng những kẻ họ vừa giẫm lên.

Những đứa trẻ còn sống, nhẹ cân như que củi, bị buộc phải bước theo người lớn.

Chúng đi run rẩy, mỗi bước là một tiếng nấc.

Có đứa sẩy chân đạp vào hốc mắt đã khô quắt của một người chết, khiến con mắt lún xuống như trái nho bị bóp bẹp.

Nó hoảng loạn khóc thét nhưng tiếng khóc cũng chẳng kéo được ai lại gần vì chẳng ai còn đủ sức mà nuôi cái lòng trắc ẩn của mình.

Cứ thế, từng bước, từng bước một.

Người sống đi trên người chết, mà cái ranh giới giữa hai khái niệm ấy đã mỏng đến mức không ai phân biệt được mình đang ở bên nào.

Mùi tử khí, mùi thịt rữa, mùi đất ẩm hòa vào nhau, bám lên chân họ, lên vạt áo họ, lên cả từng hơi thở đứt quãng mà họ hít vào phổi.

Rồi khi họ tới cuối đoạn đường, nhát mặt mà quay đầu nhìn lại, thứ họ vừa đi qua tức thì chẳng còn giống lấy một con đường nữa.

Nó giống một lối nhỏ địa ngục kéo dài, một con suối đông đặc bằng xác người chồng chất.

Và họ hiểu rằng ngày mai, nếu không tìm được gì để ăn, thì chính họ cũng sẽ trở thành một lớp mới, mới toanh trong cái dòng suối ấy.

Người Fri'oca bây giờ không còn đi nữa, họ lê lê, khi lại bò bò, lúc lại lết lết.

Bụng hóp sâu đến mức xương sườn trồi lên như muốn phá khỏi lớp da mỏng.

Mắt trũng xuống như hai cái hố đen, không còn ánh nhìn của một con người sống.

Người già nằm co quắp bên cạnh những đống rạ, miệng lẩm bẩm những từ rời rạc nhưng hơi thở yếu ớt đến mức khó phân biệt họ còn sống hay đã ra đi.

Trẻ con ngồi thừ bên vệ đường, tay cầm những gốc cây khô mà chúng vờ như là thức ăn.

Có kẻ khom cả tấm lưng, bò lết như một con thú bị gãy chi sau, "nó" cố nhai nốt những nắm cỏ sót lại trên mặt đất khô cháy.

Mớ cỏ ấy quắt queo như mấy sợi râu bạc của một cụ già đang hấp hối bên bờ cửa tử.

Không còn lấy một giọt nước, thế mà họ vẫn cố nhét vào miệng, nhai đến khi cỏ vụn nát bết vào khóe môi đã nứt toác.

Mỗi lần họ nhai, tiếng vang lên rạo rạo, khô khốc như đá cuội bị nghiền vỡ, nghe mà tưởng chừng cổ họng họ cũng sắp rã ra thành bụi mịn.

Hmm... như một con vật nhai lại, trông họ như chỉ có thể dùng lưỡi để lùa thớ co cỏ vào miệng rồi dùng hàm dưới yếu rệt để gặm đứt từng chút, từng chút một và sau đó là nuốt cái ực xuống.

Có người khác thì gặm cả những khúc gỗ nhỏ so ra chỉ bằng ngón tay áp út của trẻ con.

Họ cắn điên dại, cắn như thể trong thớ gỗ kia còn cất giấu chút "no" cuối cùng của khu rừng đã chết.

Nhưng gỗ chỉ lạnh và cứng như khúc xương voi già.

Răng họ bật máu, chảy xuống thành dòng đỏ sẫm, nhìn như thể họ đang uống lại chính hơi thở cuối cùng của mình.

Có kẻ nuốt được một chút vụn gỗ, và cổ họng lập tức nghẹn lại, đau rát như thể bị đàn kiến ba khoang gặm nhấm không thương tiếc.

Trông kiếp người còn thua cả kiếp con mối cặm cụi đục thân cây tàn.

Kẻ khác bò rạp xuống, bới bới, cào cào, đào đào giống như lũ chuột tuyệt vọng lần tìm hạt lúa cuối cùng trong kho thóc đã sạch trơn trụi.

Họ cào mạnh từng nắm đất, moi sâu vào nền đất nứt nẻ, mong vớt lại chút rễ non còn sót.

Những sợi rễ nhỏ như mạch máu, mảnh như sợi chỉ, mong manh như có thể luồng qua cả hốc mắt mà chỉ cần chạm "mạnh" là gãy lìa ba bốn đoạn.

Nhưng họ vẫn cố, cố như thể từng sợi rễ ấy chính là sợi dây mong manh níu họ khỏi cửa miệng của vực sâu tăm tối.

Ngàn cân treo sợi tóc nhưng mấy ai quan tâm chứ?

Và đến khi tìm được, họ lập tức nhét vào miệng, nuốt như nuốt báu vật, dù vị đắng nghét ấy chẳng khác gì giọt nước mắt cuối của đất mẹ.

Có kẻ đào đến mức lớp da cuối cùng trên đầu ngón tay bật tung ra.

Da rách toạc, lật ngược như cánh hoa dại khô ráp bị gió bứt phăng.

Máu rịn ra từng giọt, rơi xuống đất đỏ thẫm, loang như những bông hoa bỉ ngạn tàn muộn trong lòng đất.

Đôi tay run lẩy bẩy, nhưng họ vẫn đào, vẫn cào, như thể vừa tự đào hố chôn mình.

Họ vừa cố níu một mầm non thoi thóp sống nhưng cũng đang lụi dần như chính con người họ của vài khắc trước.

Có người đầu ngón tay chạm đất là thịt đã bật khỏi xương, trượt xuống như lớp vỏ xà cừ lột khỏi nhành cây đã thối rữa.

Nhưng họ không kêu, không khóc, cũng không có lấy một tiếng rên ư ử the thé phát ra từ cuống họng.

Họ chỉ nhìn chằm chằm xuống đất, ánh mắt đục đặc như hòn đá mài cũ, rồi lại tiếp tục đào như những bộ xương biết động đậy, cố níu giọt linh hồn cuối cùng chưa kịp tan trước cõi vô định.

Và lúc ấy, cả Fri'oca trông chẳng khác gì một bãi săn khổng lồ.

Mùa săn bắn đã tới.

Tới rất sớm, rất nhanh và rất gọn gàng.

Nhưng ở đó, con mồi không phải thú rừng, mà là chính con người.

Thứ con người bé bé mà nhỏ nhỏ.

Còn kẻ săn họ... chính là cái đói, thứ đói đủ tàn độc để lấy cả móng tay, thịt, xương và máu của họ làm bữa ăn mở đầu cho mùa chết vẫn đang kéo dài có thể là đến mãi mãi.

Có kẻ tuyệt vọng đến mức quỳ sụp xuống, hai tay run lẩy bẩy bốc từng nắm bùn đen đặc, sền sệt dưới đất mà nhét thẳng vào khuôn miệng.

Họ ăn đất như thể đang ăn một thứ gì đó thiêng liêng, như thể cái lạnh lẽo vô vị kia có thể làm đầy được một dạ dày vốn đã rách toạc bởi cái đói.

Bùn dính đầy kẽ răng, nghèn nghẹn ở cổ họng, cộm như đá vụn hay then sỏi dưới đáy hồ, nhưng họ vẫn cố nuốt, nuốt cho bằng được, nuốt cho bằng hết, nuốt như sợ chỉ cần chần chừ một nhịp thở thôi là cái miếng ăn nhỏ bé, tồi tàn mà họ vớt vát được ấy cũng sẽ bị một oán linh đói khát khác sẽ vô hồn trông ngóng mà cướp mất.

Có người còn trộn bùn với chút rễ khô mới moi được lên, vo lại thành từng cục, đưa lên miệng mà nhai như nhai thứ bánh thô mộc nào đó từng thuộc về quá khứ xa xỉ.

Đất bám quanh môi, quanh cằm, phơi trần sự nhục nhã của cái đói, nhưng họ chẳng buồn lau.

Nỗi sợ mất một miếng ăn dù miếng ăn ấy là bùn, là rác, là thứ mà ngay cả thú cũng chẳng buồn liếm vẫn còn lớn hơn cả nỗi sợ nuốt tiếp chính cuộc đời mình xuống hố sâu tuyệt vọng.

Kẻ nào may mắn bốc được một con cá gầy nhom dưới hồ thì chỉ kịp hơ qua lửa một lần đảo tay, một làn khói mỏng bốc lên rồi lập tức lao vào cắn xé, như sợ chỉ cần chậm một nhịp thôi, con cá sẽ tan biến như bụi bay buổi xế chiều ngay trong chính lòng bàn tay họ.

Cái cách họ ăn không còn giống một con người, nó giống bản năng của loài thú hoang, một con gấu nâu bị vắt đến cạn kiệt sự sống suốt bao tháng trời.

Con cá nhỏ bé ấy bị ngấu nghiến đến tận phần cuối cùng của hình hài.

Nắp mang cá bị bẻ bật ra, đưa lên miệng cắn rộp rộp như cắn vào lớp vỏ khô của một sinh vật đã chết từ mùa xuân chục năm về trước.

Mỗi cú nhai sắc gọn, thô bạo, như thể răng họ đang nghiền nát cả cơn đói đang réo gào trong bụng chứ chẳng phải miếng thịt bé xíu kia.

Ngón tay run bần bật, họ mân mê từng chiếc vây sống lưng sắc như những mũi dao nhỏ.

Họ liếm sạch chút mỡ đã khô quắt trên đó dù chẳng còn gì có thể gọi là dinh dưỡng.

Rồi lại cắn tiếp đến tận cuống đuôi: cái phần khô, cứng, mang mùi bùn nồng nhất của cá.

Vây hậu môn, vây đuôi, vây mái chèo... thứ nào cũng bị xoắn lại giữa hai hàm răng và nuốt trọn, như thể chỉ cần nhả ra một chút thôi, cái chết sẽ lập tức níu họ ngược trở lại.

Đến cả những mảng vảy khô nhất, bén nhất tựa những mảnh sắc như vừa nạo từ thân một thanh gươm han gỉ cũng không bị bỏ sót.

Họ bốc lên, đưa vào miệng, nuốt xuống.

Có kẻ nuốt vội đến mức mảnh vảy cứa ngang cổ họng, bật thành đốm máu nhỏ.

Nhưng họ vẫn ăn, vẫn nuốt, như thể chính dòng máu đó cũng chỉ là thứ gia vị quái đản mà cái đói bắt họ phải nếm.

Và đến khi chỉ còn đoạn xương sống cuối cùng, họ vẫn đưa lên miệng mà nhai.

Tiếng xương rệu rã gãy vụn trong kẽ răng nghe chẳng khác gì tiếng một nhánh củi mục sinh cả nấm mốc bị bẻ giữa đêm khô, sắc, lạnh đến rợn người.

Con cá chết trong tay họ chỉ một lần.

Còn họ những kẻ đang hấp hối vì đói ăn nó như đang cố kéo lại thêm một nhịp sống cuối cùng cho chính mình.

Họ đã, sẽ, đang chết có lẽ là hai, ba, bốn, thậm chí là thêm một ngàn lần nữa.

Cuộc sống nơi Fri'oca lúc ấy khắc khoải đến mức bất cứ thứ gì còn động đậy dù chỉ là một cái quẫy đuôi yếu ớt dưới gốc cây cũng lập tức trở thành "miếng ăn" trong mắt con người.

Họ không còn lựa chọn nữa.

Họ thậm chí không còn tư cách để lựa chọn.

Chỉ cần nghe một tiếng sột soạt nhỏ, nhỏ đến mức tưởng như chỉ là tiếng lá khô tự rụng, là cả một đám người có thể đồng loạt chồm lên như bầy linh cẩu tuyệt vọng, ai nấy đều cố giật lấy sinh vật ấy trước khi bàn tay khác kịp nhìn thấy mà thò tới.

Kẻ còn giữ được chút tỉnh táo thì rút con dao mẻ răng rạch bụng con chuột vừa tóm được.

Con vật bé bỏng vẫn còn co giật, nhưng chẳng ai quan tâm.

Người ấy thọc hai ngón tay vào, moi phần nội tạng còn nóng hổi ra và ăn sống ngay tại chỗ ăn như thể sự run rẩy cuối cùng của con chuột chính là thứ gia vị duy nhất còn sót lại trong đời.

Máu bắn lên mép, nóng hừng hực, họ chỉ đưa cánh tay run lẩy bẩy quệt sơ rồi lại tiếp tục nhai, cố gắng nuốt trọn cái vị tanh nồng để lấp bớt khoảng rỗng đang gào thét trong bụng.

Nhưng đó vẫn còn được coi là...

"ăn có suy nghĩ".

Có kẻ u mê hơn hay đúng hơn là đã bị cái đói tước sạch lý trí, họ chỉ cần chộp được một con chuột chù còn đang ngọ nguậy, chưa kịp giết nó hoặc không thể giết nó.

Hắn ta ngửa đầu, nhét thẳng con vật vào miệng và nuốt ực từng đợt, mặc cho nó quẫy, cào, cựa loạn trong cổ họng.

Cổ hắn phập phồng dữ dội, như thể bên trong đang có một linh hồn bé nhỏ đang cố giãy chết cho cái sống sượng.

Axit dạ dày rồi sẽ đốt sạch con vật ấy.

Nhưng ký ức về cái thứ từng ngo ngoe trong bụng, ngay giữa cổ họng hắn sẽ sớm biến thành một cái mộ sống đeo bám hắn trong từng giấc ngủ chập chờn.

Chỉ cần nhắm mắt lại, hắn sẽ thấy nó quẫy đạp trong đêm tối, cố trườn ngược lên cổ họng để chạy trốn khỏi cái chết.

Có kẻ đứng xem, vừa sợ vừa thèm ăn, thứ cảm giác rợn người và khao khát hòa vào nhau thành một mớ không tên.

Không ai trách hắn được.

Không ai đủ sức để gọi hắn là điên.

Ở Fri'oca lúc ấy, chỉ những kẻ còn đủ no mới đủ xa xỉ để mà chê cười sự điên dại của người khác.

Còn khi đói... ai cũng biến thành một sinh vật chỉ biết bấu vào bản năng.

Một sinh vật mà ngay cả chính họ... cũng không dám thừa nhận là mình.

Có người lần mò đến bên những xác thú hoang đã phơi nắng hay sương tới tơi tả nhiều ngày, thịt đã thâm đen, da quắt lại cứng như lớp da ngựa sần đem đi bọc đá.

Họ cúi sụp xuống trước cái xác hôi thối ấy như quỳ bên một khung bàn thờ méo mó của sự sống còn.

Kẻ nào còn chút sức thì cố bứt từng mảng thịt chưa kịp bị giòi khoét hết, kẻ yếu hơn thì đưa thẳng lên miệng mà nhai sống, nhai ngấu nghiến như thể mỗi lần răng cắn xuống là một nắm hy vọng được níu lại từ cái mép hở hang của cửa tử.

Cái đói đã giày vò mỗi con người đến mức chẳng còn đường phân giữa bản năng và tuyệt vọng.

Có người tọng cả miếng thịt dính đất, dính cỏ, dính cả lông thú rối bết.

Có kẻ còn cạp nguyên một mảng da khô cong như miếng gốm mới dạc lò sắp nứt, chỉ để cảm giác dạ dày có "cái gì đó" lấp vào khoảng trống đang gào thét trong người.

Răng họ chạm vào xương kêu rộp rộp như tiếng đá vỡ.

Có người nhai vội đến mức mảnh xương nhỏ đâm toạc vòm họng, vết rách há hoác như cái miệng nứt của đồng ruộng ngày hè, nó muốn bật máu mà cổ họng đã khô cong, chẳng còn giọt nào để chảy.

Họ khục khặc, muốn ho nhưng không đủ sức, cuối cùng vẫn cúi đầu tiếp tục nhai, tiếp tục nuốt, tiếp tục để chính những mảnh xương sắc đó tự cào rách cổ mình.

Có người tệ hơn nữa hắn cắn vào một đoạn xương sống còn sót lại.

Mảnh xương mảnh như kim xuyên thẳng qua cuống họng, thủng cả một đoạn thịt mềm nơi cổ.

Tiếng thở bật ra khe khẽ như gió lùa qua lỗ hổng trống rỗng.

Thế mà hắn vẫn khư khư giữ lấy khúc xương bằng đôi tay run lẩy bẩy, cố cắn thêm vài mẩu nữa rồi nhét vội vào túi áo rách, như thể chỉ cần buông lơi là sẽ có kẻ khác cướp mất phần ăn của mình.

Thịt đã phân hủy, xương đã cũ, mùi hôi nồng đến mức đứng gần thôi cũng đủ khiến người ta nôn thốc, nôn tháo... thế mà họ vẫn ăn.

Vì ở Fri'oca lúc đó, cái chết duy nhất họ sợ không phải thối, không phải bệnh, không phải giòi mà là đói.

Có người vẫn hay kéo khẽ, thủ thỉ vào tai:

Đuổi theo một miếng ăn còn khó hơn đuổi theo sự sống



Sợ mất một miếng ăn còn lớn hơn sợ mất chính mình.

Và rồi... những điều kinh hoàng nhất cũng tìm đến, lặng lẽ như bóng đêm bò lên từ dưới gót chân rồi siết dần, siết dần, cho đến khi con người chẳng còn gì để bấu víu ngoài chính cái thân xác đang rệu rã của mình.

Trong khoảnh khắc ấy, người ta không còn phân biệt nổi đâu là phần xác mình đang cố níu để tiếp tục sống, đâu là phần bản ngã đã bị cái đói moi rỗng từ lâu.

Ở trung tâm Fri'oca, người dân bắt đầu thì thầm gọi nhau bằng hai cái tên rợn người: "đầu bếp" và "thực khách".

Không phải đầu bếp của mái nhà ấm lửa, cũng chẳng phải thực khách của bữa cơm đoàn viên.

Đó là những danh xưng méo mó, ghê rợn, sinh ra từ đáy, nơi tận cùng của một dân tộc bị cái đói dồn đến hang cùng.

Những "đầu bếp" ấy lê từng bước nặng trịch trên con đường ngập mùi tử khí.

Mặt họ xám lại như tro nguội của bếp lửa bỏ xó qua đêm, đôi mắt đục đặc như đã khóc khô nước mắt từ kiếp trước.

Họ không còn tìm thức ăn bởi ở Fri'oca lúc này làm gì còn thứ gì để gọi là đồ ăn, họ chỉ như cánh cò điên dại dò tìm những xác người mới mất vài hôm, những thân xác mà cái chết chưa kịp nuốt trọn, những thân xác mà cái đói chỉ kịp gặm lấy một phần đơn sơ của cơ thể.

Họ bới trong đống thịt người lạnh cứng ấy, cố tìm phần nào còn "nguyên hình" hơn các phần đã biến dạng khác, dù đôi khi cái gọi là "nguyên hình" ấy chỉ là một mảng thịt nhầy nhụa còn đang động đậy vì dòi bọ.

Kẻ chọn cắt thịt, người chọn hun khói.

Kẻ đốt lò, người nấu sôi.

Không ai nói một lời, không ai dám nhìn thẳng vào việc chính tay mình đang chạm vào cái gì.

Tất cả hành động như đang thực hiện một nghi lễ câm lặng cho một thế giới đã vỡ vụn từng mãnh từ lâu.

Và rồi từng "mẻ thịt" được chia đến cho cái từng cái miệng đã méo xệ của những người còn sống sót.

"Thịt mới lấy...

ăn đi cho đỡ đói..." _ Câu nói bật ra nhẹ như gió thoảng, không còn xấu hổ, càng không còn chút tự trọng để níu lại.

Những kẻ đói quá thì ăn, ăn như trút căm hờn lên chính cái miếng thịt mình đang giữ nó nằm giữa hai hàm răng mẻ từng chiếc.

Kẻ còn giữ chút cao thượng thì im lặng nhắm mắt, cố nuốt để không phải thấy, không phải nghĩ.

Có người cắn mà tay run, có người nhai mà nước mắt chảy xuống hòa vào miếng thịt ấm, có người ăn đến nôn ọe nhưng vẫn cố nhét thêm, vì sợ mình sẽ chết trước khi mặt trời kịp lặn.

Và bi thương nhất... là những người còn thoi thóp nhưng đã kiệt sức nằm một chỗ, cố hướng mắt về phía những "đầu bếp", run rẩy mở miệng nói bằng giọng đứt quãng:

"Nếu... tôi chết trước... xin các đừng bỏ phí... hãy...hãy...hãy dùng... thân tôi... cứu thêm được người nào... thì cứu..."

Không phải lời trăn trối.

Không phải cầu xin tha thiết.

Mà là sự dâng hiến tuyệt vọng cuối cùng của một con người cho chính đồng loại mình.

Fri'oca lúc ấy không còn đơn giản là một vùng đất.

Một địa ngục chưa từng góp mặt bởi cái chết già nua mà đã chết ngọt bởi nhát dao sắc lẹm, sắc bén, sắc lạnh, sắc đến lạ đời từ một thứ gì đó.

Nó trở thành nơi mà con người buộc phải học cách...

ăn cả cái bóng của chính mình để sống sót thêm một ngày nữa.

Và rồi, khi cái đói vượt qua mọi giới hạn mà con người từng tưởng tượng, Fri'oca lại sinh ra thêm một loại người nữa đáng sợ hơn cả những "đầu bếp".

Đó là những kẻ tự gọi mình bằng cái tên lạnh đến tê dại nơi sống lưng: "thực khách".

Nhưng "thực khách" của thời loạn này không phải những kẻ ngồi nhâm nhi trước bàn ăn đầy vị xa hoa, trang trọng.

Họ là những kẻ đi tìm bất cứ thứ gì còn nhúc nhích, còn mọc rễ, còn lên men, còn bốc mùi...

để nhét vào miệng.

Họ ăn cho đến khi bao tử co giật, cho đến khi ruột non căng ứ bởi thứ dịch nhầy không tên, cho đến khi thân thể phồng lên như một cái túi thịt bị bơm hơi căng dở.

Họ ăn với mục đích duy nhất là vỗ béo chính bản thân mình.

Nhìn từ xa, những "thực khách" ấy trông chẳng khác gì những chiếc bóng méo mó lầm lũi bò trên mặt đất lúc thì gặm rễ cây như thú gặm xương, lúc thì úp mặt xuống vũng bùn mà húp lấy húp để như đang tìm hơi ấm trong lòng đất lạnh, lúc lại nhét cả đá sỏi vào miệng chỉ để lừa cái đầu rằng mình vẫn còn ăn được.

Những "thực khách" ấy tiếp tục vỗ béo mình...lặp đi, lặp lại không phải để sống thêm một ngày nào, một khắc nào, một giây nao.

Mà để đến một lúc, khi thịt họ đủ săn, da họ đủ dày, cơ thể họ đủ "tươi" họ tự lê xác mình đến trước các đầu bếp.

Chính họ không khóc.

Chính họ không van xin.

Và chính họ cũng không cầu cứu.

Họ chỉ ngồi xuống, có vài kẻ yếu dạ đặt đôi tay run bần bật lên đùi mình, và thốt ra bằng hơi thở rã rời:

"Đến lúc rồi... hãy dùng ta đi... mang xác thịt này cứu lấy trăm kẻ khác.

Mang linh hồn này sưởi ấm cả trăm tâm hồn đang ai oán, tê dại ngoài kia..."

Miệng họ có khi vẫn dính bùn, dính lá, dính cả những sợi lông thú chưa kịp tiêu hóa.

Mắt họ mờ đi, nhưng vẫn ánh lên một tia mong mỏi kỳ lạ mong rằng cái thân xác đã phình lên vì tuyệt vọng ấy có thể trở thành bữa ăn cuối cho ai đó còn cần sống thêm một ngày nữa.

Trong cái đáy sâu của đau khổ, "thực khách" và "đầu bếp" hai danh xưng quái đản ấy trở thành hai nửa của cùng một bi kịch.

Một kẻ tự biến mình thành miếng thịt.

Một kẻ phải cắt phần thịt ấy ra để nuôi chút hy vọng mong manh còn sót lại bên trong tâm trí mơ hồ của loài người.

Và bên ngoài kia, gió Fri'oca vẫn thổi.

Thổi qua những mái nhà mục nát, qua bầu trời đỏ quạch như máu nghẹn lại nơi phần mạch không cón có thể dãn, thổi qua từng thân xác chưa kịp phân hủy và từng linh hồn chưa kịp rời đi.

Nó không mang theo hy vọng.

Nó chỉ mang theo tiếng thở dài của một dân tộc đang ăn dần... chính linh hồn của mình.

Ở vài góc làng nhỏ, trong những căn nhà chỉ còn trơ bộ khung tre xiêu vẹo, người ta đôi khi bắt gặp một cảnh tượng khiến cả trời Fri'oca cũng phải cúi đầu.

Một người mẹ dựa vào vách tường nứt nẻ, đôi môi tím ngắt, hai cánh tay run rẩy nâng đứa con gầy nhom lên lòng.

Đứa bé đói đến mức không còn đủ sức để khóc, nó chỉ hé đôi môi khô cong, thoi thóp những hơi thở yếu ớt như một con chim non vừa rơi khỏi tổ cao chót vót.

Phận làm người mẹ, không còn gì để cho, không còn gì để tìm và cũng không còn nơi nào có thể cầu xin sự cứu rỗi.

Người mẹ ấy cắn chặt răng, cúi đầu xuống cánh tay mình... và tự cắn.

Một nhát... rồi lại một nhát nữa.

Cứ lặp đi lặp lại cho tới khi mảng thịt đầu tiên bật ra đỏ tươi, nóng hổi, tanh nồng.

Cả thân bà giật bắn lên vì đau, đôi vai rung từng chập như muốn ngã quỵ.

Nhưng bà vẫn cố lẻo từng mảnh nhỏ, những mảnh thịt mỏng như vụn da của một trái cây đã khô, đặt vào tay đứa trẻ.

Không còn sức để bắt một bếp lửa, không còn sức để đun nó lên.

Miếng thịt trao tới tay thì đứa bé chỉ biết lẳng lặng đưa vào miệng, mút lấy, ngấu nghiến như thể đó là món ăn ngon nhất nó từng được nếm.

Nó không hiểu gì cả.

Nó chỉ ăn...

ăn vì bản năng níu lấy sự sống còn sót lại.

Còn người mẹ, đôi mắt bà nhìn con mình, xen lẫn thương yêu, đau đớn và tuyệt vọng sâu đến mức như xuyên qua cả xương tủy.

Bà cố mỉm cười, một nụ cười run rẩy nhưng tràn đầy cả bầu trời đã gãy vụn phía sau.

"Ăn đi con...

ăn để sống..."

Mỗi lần đứa bé nuốt xuống, bà lại nhắm mắt, nuốt ngược tiếng nấc nghẹn đang trào lên từ cổ họng, nơi đã khô cứng vì vừa đau vừa sợ vừa bất lực.

Cánh tay trái dần tím bầm, rỉ máu, làn da bị cắn đến mức lật ra, để lộ những sợi thớ trắng bệch ẩn sâu bên dưới.

Thế nhưng người mẹ ấy vẫn thủ thỉ, vẫn kiên trì đưa từng mảnh thịt còn lại của chính mình cho con như đang cố mua thêm một khoảnh khắc sự sống.

Dù trong trái tim bà, một sự thật tàn nhẫn vẫn đứng chờ sẵn.

Điều đó là gì nhỉ, là khi bà ngã xuống...sẽ không còn ai làm điều tương tự cho nó nữa.

Có nơi, trong những mái nhà đã chẳng còn mái, người ta thấy cảnh hai vợ chồng ngồi đối diện nhau giữa sàn đất lạnh.

Họ nắm tay nhau, không khóc, không van xin, không tuyệt vọng gào thét như những người khác chỉ lặng lẽ nhìn đối phương, như muốn khắc sâu từng đường nét cuối cùng của người mình yêu vào tận đáy linh hồn trước giờ chia tay thế giới.

"Chúng ta... có lẽ sống đến đây đã là cùng rồi." _Người vợ thì thào, giọng mỏng như sợi chỉ sắp đứt.

Người chồng đưa tay lau vệt đất trên má vợ.

Bàn tay gầy trơ như cành củi khô, vậy mà cái vuốt ve ấy vẫn mang theo hơi ấm của cả một đời thương yêu.

Hai người thì thầm trò chuyện với nhau như đang trao lời nguyện ước trong đêm tân hôn, chỉ khác là lần này...

đó là lời thề chia ly.

Rồi một trong hai người thường là người còn khỏe hơn, hoặc đôi khi lại là người yếu hơn nhưng muốn gánh nỗi đau thay cho người kia sẽ lặng lẽ đứng dậy, bước về phía sau nhà.

Không ai chạy theo, không ai níu lại và không ai muốn nhìn cảnh người mình yêu phải chết ngay trước mắt.

Một tiếng bịch khô khốc vang lên.

Rồi chợt im lặng.

Một kiểu im lặng dày đến mức tưởng chừng có thể cào rách cả không khí.

Người còn sống khụy xuống một chút, hít thật sâu, rồi lấy hết can đảm bước tới nơi ấy.

Thân xác người mình yêu giờ đã trở thành "tặng phẩm cuối cùng".

Họ cắn chặt môi đến bật máu, đôi tay run lẩy bẩy đến mức suýt làm rơi con dao, nhưng họ vẫn phải làm điều mà không lương tâm nào trên đời có thể chấp nhận.

Mỗi miếng thịt nuốt vào là một lần người còn sống run lên vì ám ảnh, đôi mắt cay xè vì tội lỗi, trái tim đau như bị ai bóp nghẹn.

Nhưng họ vẫn phải ăn, ăn để nuôi những đứa con còn đang nằm co ro chờ mong một phép màu bên trong hiên nhà hoặc ăn để chính mình đủ sức mà sống tiếp, không phụ người đã ngã xuống vì tình, một thứ tình dại hay tình yêu?

Đó không còn là miếng thịt.

Đó là sự hy sinh.

Hay đúng hơn... là tình yêu bị nghiền nát dưới móng vuốt của cái đói, một thứ đói đủ tàn độc để biến lòng trắc ẩn thành lương thực, và biến trái tim người thành nơi cuối cùng mà sự sống có thể bấu víu.

Có những đứa trẻ đứng bất động như tượng đá khi nhìn cha mẹ mình bước ra khỏi cửa lần cuối.

Chúng không khóc, không gọi, không níu kéo.

Không phải vì chúng mạnh mẽ mà vì cái đói đã rút cạn nước mắt trong cơ thể từ lâu đến mức chúng chẳng còn sức để bộc lộ nỗi đau.

Khi các "đầu bếp" đến, mang theo thân thể của người thân chúng đi mất, đám trẻ chỉ lặng lẽ dõi theo.

Đôi mắt to tròn của chúng giống như hai cái giếng cạn nước, trơ đáy, không soi được nỗi tuyệt vọng nào nữa chỉ là khoảng trống trắng bệch của những linh hồn còn quá nhỏ để hiểu, nhưng lại quá lớn để quên.

Có đứa tiến lại nơi cha mẹ vừa nằm xuống, chạm vào vệt máu còn mới trên đất.

Nó không biết đó là máu của ai.

Không biết nó có nên chạm vào hay không.

Chỉ biết rằng... màu đỏ ấy có thể là thứ cuối cùng còn lại.

Nó đưa ngón tay lên miệng, mút nhẹ, nhắm mắt như thể đang nếm một món quà quý giá nhất đời.

"Cha... mẹ... còn ấm..." nó thì thầm, chẳng rõ trong tiếc nuối hay trong niềm hy vọng hoang tàn.

Có đứa khác thì gào lên, tiếng gào khản đặc, méo mó như tiếng mèo bị cán dưới bánh xe, chẳng còn giống tiếng người.

Nó túm tay người lớn, lay đến run cả vai, hỏi trong tuyệt vọng: "Cha đâu?

Cha đâu rồi?

Tại sao mang cha đi?

Cha sẽ về sớm đúng không...?

Cha sẽ về mà...?".

Nhưng rồi... vài ngày sau, khi bát đồ ăn được đặt trước mặt, dù mùi hôi, dù nỗi sợ vẫn bám vào từng thớ da thịt, bọn trẻ vẫn cúi xuống ăn.

Ăn trong lặng lẽ, ăn trong run rẩy, ăn trong cảm giác tội lỗi mà chúng còn quá nhỏ để gọi tên và ăn vì tiếng gào của cái đói mạnh hơn bất kỳ ký ức nào.

Và dù không lời nào được nói ra, ai nhìn vào đôi mắt đờ đẫn, già nua trước tuổi ấy cũng đều hiểu khoảnh khắc chúng nhìn cha mẹ bị mang đi... chính là lúc tuổi thơ của chúng bị bóp nghẹt, vỡ vụn, rồi biến mất vĩnh viễn.

Cái đói đã làm thân xác con người teo tóp lại.

Còn việc ăn thịt đồng loại phụ trợ thêm phần tâm trí họ mục ruỗng luôn từ bên trong.

Có kẻ vừa nếm miếng thịt người đầu tiên, đôi mắt lập tức đảo ngược như tròng trắng muốn bật khỏi hốc mắt.

Toàn thân họ run giật như bị luồng điện lạnh quét ngang, rồi đột ngột bật cười một tiếng cười khô khốc, the thé, sắc như tiếng móng chim quệt lên mặt đá xù xì.

Có người khác ăn xong thì chạy khắp làng, miệng còn rỉ máu, gào loạn lên như kẻ nhìn thấy thiên đường trong địa ngục: "Ngọt...

Ngọt quá...Người... ngọt hơn thú... người... ngon hơn ta tưởng...".Dân làng phải trói họ lại, nhốt vào một góc nhà mục nát.

Nhưng chỉ vài hôm sau, dây trói bị cắn đứt.

Cái đầu điên dại ấy thò ra từ khung cửa sổ, đôi mắt lồi trừng trừng theo dõi từng đứa trẻ đi qua... giống hệt ánh nhìn của con sói đói đang rình bầy cừu lạc mẹ.

Có người lại phát điên theo một kiểu khác.

Sau khi ăn chính thịt người thân của mình, họ không ăn nữa.

Không ngủ nữa.

Không nói nữa.

Chỉ cắm đầu đào đất, đào ngày, đào đêm, đào đến khi mười đầu ngón tay rách toạc, máu lẫn với bùn thành một thứ màu nâu đục quái dị.

Khi dân làng kéo họ lên, người đó chỉ kịp gào trong cơn nấc nghẹn: "Ta chôn họ!

Phải chôn họ lại!

Ta...

đã ăn họ rồi... giờ phải... phải trả họ về cho đất...".

Rồi họ bật cười và khi lại bật khóc cùng một lúc, tiếng rên rỉ kéo dài như linh hồn bị xé làm đôi, vang lên khắp Fri'oca như một lời nguyền mà gió cũng không dám mang đi.

Thẳng thắn mà nói, họ vẫn còn may mắn, thớ may mắn loạn nhịp vì thứ cuối cùng họ níu giữ được vẫn là phần nhân tính mon men sót lại.

Dù phải ăn những thứ dơ bẩn nhất, kinh tởm nhất, dù phải nuốt xuống những mảng thịt tanh nồng hay những miếng rễ cây đắng nghét, họ vẫn không bao giờ chọn người sống làm miếng mồi cuối cùng cho cái dạ dày quằn quại của mình.

Tâm trí họ có thể méo mó đi một phần, bản ngã có thể rách nát, tư duy có thể chao đảo như ngọn đèn sắp tắt bên hiên cửa sổ, nhưng tuyệt nhiên chưa ai trở thành một con thú thật sự.

Họ chưa tấn công người sống, chưa coi đồng loại còn thở là nguồn thức ăn.

Họ chỉ bị dồn vào cái ngưỡng mà nhân tính và bản năng chạm trán nhau trong bóng tối, nhưng nhân tính vẫn còn thắng một bước, chỉ một bước chân mà dù khóe móng có lệch nhẹ cũng khiến họ chao đảo... nhưng đó là chiến thắng, dù là thắng bằng nhịp thở yếu đuối cuối cùng.

Cuộc sống...

đúng hơn là sự tàn độc của nó, bắt họ phải ngồi sụp bên chân của cái đói như một con chó bị chủ bỏ quên.

Cuộc đời, không thương tiếc mà kéo lê, kéo lết họ đi như kéo một con bò bị tròng dây vào cổ, không có sự lựa chọn, không có phản kháng, chỉ có tiếng bước chân lay lắt theo quán tính của kẻ còn muốn sống.

Nhưng giữa tất cả những điều tàn nhẫn ấy, họ vẫn không cắn một ngoặm nào vào da thịt của người sống.

Không phải vì họ không thể.

Mà vì họ vẫn còn... là con người?

" Lạ thay trong cái chết bên đường, ta không thấy bóng người... mà chỉ thấy bến thuyền độc mộc."

Nhìn trong cái chết, ta lại khoác lên mình màu áo cưới.

Nhìn trong cái sống, ta lại cởi khỏi mình cái bình yên, giản dị.

Mấy ai trông trời, trông đất

Mấy ai trông khóc mà than

Mấy ai dưới ngọn suối vàng

Mấy ai trên ngọn đèn tàn đốt than.

" Kẻ đi, người ở lại.

Không thành vong chốc cũng thành thú dữ.

Đời người rẻ mạt, kiếp người rẻ tan.

Cầm đuốc lửa tàn vẫn mong ngày mai mình thanh thản?"
 
Back
Top Bottom