Khác Thi quan Kinh Niên

[BOT] Wattpad

Administrator
Tham gia
25/9/25
Bài viết
115,528
Điểm tương tác
0
Điểm
0
125040142-256-k436909.jpg

Thi Quan Kinh Niên
Tác giả: Yuntanie
Thể loại: Huyền ảo
Trạng thái: Hoàn thành


Giới thiệu truyện:

THI QUAN KINH NIÊN



Tác giả: Thác Ẩn



Thể loại: Cổ đại, Huyền nhuyễn, kinh dị, OE

Edit: Yunchan

Tình trạng edit: Hoàn thành

Được đăng trên trang wordpress: https://yuntannie.wordpress.com/3213-2/



thiquankinhnien​
 
Có thể bạn cũng thích
  • Thịnh thế Phong Hoa
  • anya trở lại thành vật thí nghiệm
  • Thiên Ca Sa Ngã
  • Giới thiệu một số truyện xuyên không
  • PHẦN 2:Cửu phượng triều hoàng:Tuyệt sắc thú phi...
  • [OLN] I Want To Live In This Adorable World (Rerun)
  • Thi Quan Kinh Niên
    Giới thiệu


    Thi quan Kinh Niên

    Tác giả: Thác Ẩn

    Thể loại: Cổ đại, Huyền nhuyễn, kinh dị, OE

    Edit: Yunchan

    Tình trạng edit: Đang tiến hành

    Lịch đăng: Không có lịch cụ thể ^^

    Giới thiệu nội dung:

    Thi quan, tức là người dẫn thi bắt thi.

    Kinh Niên, là một Thi quan quanh năm dắt theo một hành đầu cương thi "Thi Ngũ gia" đẹp trai.

    Tiểu cô nương này tuy nhỏ tuổi, nhưng lại không đơn giản.

    Nửa đêm nửa hôm xua bùa có thể xua được "Cái xác sống" công tử nhà họ Lâm vào mồ khâm liệm, còn bắt gọn được một con Linh Xà hai đầu đã tu thành chánh quả trên Mai Lĩnh, nhiêu đó đã đủ làm mọi người phục sát đất chưa nào?

    Đã vậy cô bé Kinh Niên này còn lơ nga lơ ngơ, lên núi bất cẩn để quỷ nhập vào người, lúc tham ăn thì mắt đen sẽ xoay lúng liếng, còn giả bộ ra vẻ đáng thương, lảm nhảm tâm sự với Thi Ngũ gia hệt như người nhà mình, thậm chí còn cho cương thi mặc đồ lộng lẫy diêm dúa hơn cả bản thân, sau đó tất nhiên là hàng loạt chuyện kỳ quái xảy ra.

    Cương thi Thi Ngũ gia không có tâm, nhưng lại cho cô ấm áp kỳ lạ, đây là cái thế giới kỳ ôn gì thế?

    Chưa kể sau đó một đạo sĩ "Chỉ biết xua hồn đuổi quỷ, suốt ngày hò hét khẩu hiệu" bắt đầu lên sàn, đợi cho Thi quan Đạo sĩ đều dọn hết lên bàn tiệc, thì diễn biến lại ra thế nào đây?

    Chỉ là một câu chuyện thần bí, không kinh dị, chỉ mang màu sắc hài hước nhẹ nhàng, đừng sợ hãi, cứ nhảy vào mồ đi.

    Cảnh báo: Phần giới thiệu trên là của tác giả, xin mọi người đừng bị lừa tình, đây là hố OE (Kết thúc mở), vì thấy thể loại lạ nên Yun quyết định đào hố, nếu kết thúc có bất mãn gì, xin các tỷ muội đừng tìm Yun xé áo xé quần, đòi công đạo, Yun chỉ là một editor ngây thơ vô tội.

    Cảnh bảo trước, đây không phải tiểu thuyết lãng mạn, nam chính từ đầu tới đuôi chả có một câu lời thoại nào (っ╥╯﹏╰╥c)
     
    Thi Quan Kinh Niên
    Mở đầu


    Mở đầu

    Kinh Niên

    Edit: Yunchan

    ***

    Tà dương chiếu rọi quanh thôn nhỏ, khói bếp bảng lảng phủ chiều hôm.

    Dưới gốc đại thụ ven sông đứng lố nhố tầm hai mươi đứa bé, nam có nữ có, tất cả đều đang lắng nghe phu tử giảng bài hết sức chăm chú.

    Mà vị được coi là phu tử này mặc chiếc váy ngắn trắng tinh, trên eo buộc một dải gấm đỏ, thắt thành một cái hoa to sau lưng, mái tóc đen nhánh buộc chếch bên đầu tạo thành cái đuôi ngựa dài tít tới đầu gối, nó cứ lắc lư theo mỗi câu nói của cô, nhìn sao cũng là một thiếu nữ non nớt chừng mười bốn mười lăm tuổi.

    Chỉ nghe cô cất tiếng giòn giã: "Người chết vô hồn, chỉ còn thể xác.

    Thân thể đã chết, nhưng hồn phách còn thì là cương thi, hồn phách nương nhờ vào thân xác người sống tức là quỷ nhập, hồn phách nương nhờ vào thi thể người chết tức là mượn xác hoàn hồn.

    Người ta nói, quỷ độc ba phần, thi ác chín phần, quỷ không thể xác nhưng có tâm, không nhập vào thân thể thì không thể nào đả thương người, thi thì có thân xác nhưng vô tâm, xác chết không có dương khí, âm dương không điều hòa, hồn phách sẽ bị bản năng cần dương khí của thi thể thúc đẩy tìm giết những vật còn sống, cũng chính là hút tinh khí của cơ thể sống để duy trì sự tồn tại của thân thể đã chết..."

    Nói tới đây cô ngừng lại giây lát, xoay tít mắt, nâng tay chọc ngón trỏ vào cằm, lắc đầu giả vờ giả vịt rồi mới nói tiếp: "Ta nói thi ác chín phần, tất nhiên một phần sót lại là nhóm không ác."

    Một bé trai đứng đầu thò tay chỉ chỉ đằng trước, chen lời: "Có phải như cái người đứng sau Mục tỷ tỷ không?"

    Cô gái giật mình, ngoái đầu nhìn nam nhân cao ráo cường tráng phía sau, màu da của hắn như sắt, cứ đứng thẳng băng như thế mà chẳng nhúc nhích lấy một lần, mảnh giấy vàng dán trên trán che hết miệng mũi, chỉ có thể nhìn thấy một đôi mắt thẫn thờ đang nhìn thẳng tới trước.

    Đầu năm nay người lo chuyện dẫn xác dọn thi gọi là thợ quan tài, kiếm bát cơm dựa vào người chết nói chung cũng chẳng phải là chuyện vẻ vang gì, nhưng làm Thi quan thì lại được nở mày nở mặt hơn nhiều, họ cũng dẫn xác dọn thi y như thế, có điều thứ họ chuyển không phải tử thi mà là dạng biết nhảy biết động.

    Thợ quan tài nào dám chơi loại này, dù may mắn đụng phải một con không cắn người, nhưng mỗi giây mỗi khắc đều bị vật chết này nhìn trừng trừng, người bình thường nào chịu thấu?

    Không bị hù chết vài lần thì cũng bị dọa cho phát ốm.

    Lúc này họ phải tìm Thi quan giúp một tay, nhờ Thi quan tiễn hồn đi, rồi giao lại cho thợ quan tài sửa trị.

    Hơn nữa danh hiệu Thi quan này không phải chỉ là hư danh.

    Bách tính có quan gia bảo bọc chăm lo, còn thi thể thì sao, đương nhiên cũng phải tìm một người chủ để trông nom rồi.

    Có nhiều nơi gọi Thi quan là thủ lĩnh cương thi, kiểu gọi này là đúng với sự thật, bởi ngoài có chút kỹ năng giang hồ như hàng yêu phục ma ra, thì làm Thi quan chí ít còn phải trang bị thêm một hành đầu(*) ---- chính là cương thi bị Thi quan dùng bùa chú điều khiển.

    (*) Đạo cụ hành nghề.

    Cô gái đang phổ cập kiến thức cho lũ trẻ ở đây tên là Mục Kinh Niên, hình như mới vào nghề chưa bao lâu đã dắt theo một hành đầu.

    Nom cách ăn mặc giản dị của cô thì chẳng giống một đại sư phụ có thể kiếm được nhiều ngân lượng, giá trị con người chắc cũng chỉ tầm mấy thợ quan tài mà thôi.

    Quay lại với Kinh Niên, sau khi ngắm nghía hành đầu hồi lâu thì khom lưng xoa xoa đầu bé trai, cười nói: "Đúng đúng, nhóm không ác đều bị mấy Thi quan như tỷ tỷ thu phục hết rồi."

    Một cậu bé khác hất đầu đi, xì một tiếng khinh thường: "Thi quan có gì đặc biệt hơn người đâu, lớn lên ta muốn làm đạo sĩ!"

    Kinh Niên dựng thẳng đôi mày, nện lên đầu cậu bé một cú, vừa nện vừa lớn giọng: "Coi ngươi đi, đây là chí hướng gì hả?

    Đạo sĩ thúi suốt ngày chỉ biết niệm kinh rồi đuổi theo cô hồn dã quỷ, nào oai như Thi quan hả?

    Cái loại chỉ biết giả danh lừa bịp kiếm bát cơm thì có gì hay ho hả?

    Hôm nay tỷ đây sẽ cho ngươi thấy đâu là bản lĩnh thật sự!"

    Đứa bé kia thấy Kinh Niên moi từ trong lòng ra một cây bút đỏ vẽ bùa, lập tức trào nước mắt nước mũi ôm chầm lấy cánh tay cô: "Mục tỷ tỷ, ta biết sai rồi biết sai rồi, đừng lấy bùa ấn ta, hôm qua ta bị phạt đứng suốt cả buổi chiều, chân tới giờ vẫn còn tê!"

    Kinh Ninh bật cười ha ha, kéo con sâu đang dính chặt trên tay xuống đất, bóp mũi nó nói: "Tiểu tử thối, ai bảo ngươi chạy tới ruộng Vương đại thúc gây sự!

    Chỉ phạt ngươi đứng là đã lợi cho ngươi lắm rồi!"

    Đứa bé kia chớp chớp mắt, miệng ngậm tăm chẳng dám ho he gì nữa, thay vào đó là bé gái mặc váy đỏ bên cạnh lên tiếng.

    "Mục tỷ tỷ, Mục tỷ tỷ."

    Cô bé kéo gấu váy của Kinh Niên, cười tới nỗi mắt mày cong cong: "Tỷ là Thi quan rất lợi hại sao?"

    Kinh Niên ưỡn ngực thẳng lưng, hai tay chống nạnh nói dõng dạc: "Tất nhiên!!

    Mục tỷ tỷ của muội chính là Thi quan đệ nhất thiên hạ!"

    Cô bé nuốt ực nước bọt, liếc liếc nam tử áo xanh sau lưng Kinh Niên, rồi hỏi với vẻ mặt đau khổ: "Nghe nói Thi quan nào cũng có nhiều cương thi hết, sao tỷ tỷ chỉ có mỗi một con?"

    Câu hỏi này làm Kinh Niên đen hết nửa mặt, cô gãi gãi ót, cười gượng mấy tiếng, tròng mắt đảo vòng, rồi đột nhiên đứng lên thụt lùi hai bước, vỗ vỗ vào cánh tay của nam thanh sam, sau đó ngẩng đầu, hếch mũi lên trời nói: "Đừng nói một trăm, dù là ngàn vạn cũng thua xa một người của tỷ tỷ đây!"

    Nói rồi co chân bỏ chạy, vừa chạy vừa hét ngược lại đằng sau: "Tỷ tỷ còn chuyện khẩn cấp phải làm, phần còn lại để mấy bữa nữa giảng tiếp!!"

    Lúc này, nam thanh sam bỗng duỗi thẳng cánh tay, nhảy nhảy đuổi theo.

    Bọn nhỏ nhìn kẻ trước người sau chạy biến mất tăm, cùng than vãn: "Mục tỷ tỷ... lại mánh cũ..."

    Ánh trăng sáng chan hòa, sương trắng lượn lờ phủ lên cả thôn làng, không có đèn đuốc cũng không quá tối tăm.

    Kinh Niên đứng trên chỗ đất dốc ở cổng thôn, nhìn về phía xa, cơn gió thổi thốc qua làm tà áo bay lên phần phật.

    "Cũng đã lâu như vậy rồi."

    Cô thì thầm, có thể nhìn thấy vẻ luyến tiếc thấp thoáng trong đáy mắt cô.

    Lúc đó đi ngang qua thôn này chỉ vì xin một giấc ngủ ngon, sau khi thôn dân biết được thân phận của cô thì nhiệt tình giữ lại năm lần bảy lượt, thấm thoắt đã gần nửa năm, mà cuộc sống trong thôn rất mộc mạc, yên ả thanh bình, hàng ngày ngoài thu hoạch lương thực giúp thôn dân ra, thì cô còn dạy bọn nhỏ chút ít kiến thức cần thiết, lâu dần, rốt cuộc cô cũng càng thích những ngày thanh nhàn này.

    Cô ngoảnh sang nam thanh sam bên cạnh, mỉm cười than thở: "Thật muốn ở lại đây tiếp... có phải không?

    Ngũ gia?"

    Mặc dù biết nam thanh sam chỉ là một cương thi cử động dựa vào bùa chú, nhưng Kinh Niên vẫn tự nói tự đáp, tán dóc với hắn cả buổi trời, ngày qua ngày đã thành một loại thói quen, tuy người ngoài thấy cô như thế sẽ chỉ trỏ, nhưng Kinh Niên vẫn phớt lờ như không thấy, muốn nói gì thì cứ nói.

    Cô bỗng kéo kéo ống tay áo của hành đầu thanh sam, thì thào: "Ở lại càng lâu thì càng hỏng chuyện, ta chỉ còn cách theo Thi Ngũ gia vào Nam ra Bắc thôi, chậc... cũng không tồi lắm ha..."

    Nói rồi cô quay phắt đầu, xoay lưng đi ra hướng ngoài thôn, cương thi được gọi là Thi Ngũ gia cũng giang cánh tay ra ngay lúc cô quay lưng đi, nhảy nhảy theo sau.

    "Ta nói nè Ngũ gia, có loại bùa nào cho ngài đi đứng bình thường không nhỉ?

    Để mai Kinh Niên làm thử coi sao, chứ ngài nhảy kiểu này ta nhìn cũng đuối lắm..."

    Theo tiếng rì rầm ngày một đi xa, hai bóng đen cũng dần biến mất trong màn đêm.

    ~~

    Đôi lời của Yun dễ thương đáng yêu xinh đẹp: Thấy truyện là lạ nên Yun quyết định đào hố mới, hố này không to chỉ tầm ba mươi mấy chương thôi, nhưng nghe đâu là OE, Yun vừa đọc vừa edit nên hoàn toàn không biết trước nội dung, tỷ muội nào muốn xì poi OE thế nào thì Yun chịu thôi, chỉ muốn nói trước để mọi người cảnh giác, Yun nhảy rồi, ai muốn nhảy theo chôn chung, xin nhiệt liệt nghênh đón.

    Vì còn đang làm dở "Nữ y về thời loạn" nên Yun không chắc truyện này sẽ ra đều, chắc tầm 1 tuần 2 chương, bạn nào thấy thích, đi ngang qua nhớ để lại dấu chân để Yun biết có người đang đọc nhé, hun một cái nào ‎(づ  ̄ ³ ̄)づ
     
    Thi Quan Kinh Niên
    Chương 1


    Chương 1

    THI CÔNG TỬ

    Edit: Yunchan

    ***

    "Dẫn xác dọn thi đây, bao trọn lộ trình đây!

    Thù lao giá rẻ, hầu hạ tận tình, con trai hiếu thảo, thiếu phụ hiền lành, ai đi ngang qua không nên bỏ lỡ đây —-"

    Kinh Niên giơ miếng vải đệm lên cao, vừa thét to vừa đi băng qua khu chợ náo nhiệt như con thoi, Thi Ngũ gia thì nhảy tưng tưng theo sau như biển hiệu mạ vàng.

    Tuy đầu năm nay nghề lo liệu tang ma rất nóng, nhưng người trẻ như cô ra phố làm ăn thì lại không nhiều lắm, dù có cái tên theo sau giữ thể diện, nhưng dáng dấp của chủ nhân lại khiến người ta nghi ngờ năng lực làm việc của cô.

    Thế nên dù gào thét cả buổi sáng nhưng chỉ đổi được vài ánh mắt động lòng, chứ chẳng ai bước lại hỏi giá.

    "Chậc chậc, có hành đầu tuấn tú như Ngũ gia thế này mà chả ai thèm tìm..."

    Kinh Niên càu nhàu đi tới trước một cửa hàng lộ thiên, ngồi xuống rồi gọi một chén trà, vén ống tay áo lên lau mồ hôi, sau đó nhìn về phía Thi Ngũ gia đứng bên cạnh, móc khăn ra phủi bụi trên y phục của hắn: "Ta nói, người ở đây đúng là không có mắt, phải không?

    Ngũ gia?"

    Lúc cô nói câu này thì đúng lúc tiểu nhị bưng trà lên, tiểu nhị ngó cô với ánh mắt kỳ quái một lát mới hỏi: "Vị khách quan này, ngài còn muốn gì nữa không?"

    Kinh Niên xua tay nói: "Không làm phiền."

    Nói đoạn nâng bát trà lên nhấp một hớp, lúc ngẩng đầu lên thì thấy tiểu nhị đang tò mò nhìn Thi Ngũ gia bên cạnh chằm chằm, chân mày cô giật giật, cười nói: "Tiểu nhị ca, cậu thấy Ngũ gia của ta có tuấn tú không?"

    Tiểu nhị giật mình tỉnh lại, nhìn gương mặt xinh xắn tươi rói kề tới gần, mặt hắn chợt đỏ lên, lật đật gật đầu trả lời: "Tuấn tú...

    Tuấn tú..."

    Kinh Niên cười càng phởn hơn, khoác một tay lên người Thi Ngũ gia, điệu bộ y như mẫu thân thấy con trai mình được người ta khen, cười được một hồi, mặt cô chợt xìu xuống, xót xa than thở: "Nhưng chẳng làm ăn được gì, tới nỗi uống một hớp trà mấy văn tiền cũng thấy đau lòng, còn chẳng nỡ mua một cái bánh bao lót dạ..."

    Dáng vẻ nhỏ bé tội nghiệp lập tức kéo tới ánh mắt thông cảm của những khách nhân chung quanh, đại thẩm chủ tiệm có lòng thương người nghe thế, vội vàng bê hai cái bánh bao nóng hôi hổi bước lại, còn sốt sắng vỗ bàn giục: "Ăn nhanh đi, đừng để đói."

    Kinh Niên sờ sờ hầu bao đeo ngang hông, nhìn hau háu hai cái bánh bao bốc khói với bộ mặt thèm nhỏ dãi, nuốt ực nước bọt, nhưng cuối cùng vẫn lắc đầu: "Không cần đâu, đại thẩm, ta uống trà được rồi."

    Đại thẩm ưỡn cái bụng béo, vỗ ngực đánh bộp, nói to: "Coi như ta mời, không tính tiền cô!"

    Kinh Niên gãi đầu, ngập ngừng: "Nhưng mà..."

    Vế sau chưa kịp nói đã bị cắt phăng: "Khỏi nhưng nhị gì hết, ăn cho nóng đi, cô không ăn thì ta cũng vứt hết!"

    Đại thẩm làm bộ cầm một cái bánh bao lên.

    Kinh Niên hớt hải giật lại nhét ngay vào miệng, ăn nhồm nhoàm như hổ đói, vừa ăn vừa lúng búng nói: "Ta ăn... ta ăn... cám ơn đại thẩm!"

    Đại thẩm thấy cô ăn ngấu nghiến thì không khỏi lắc đầu, nói: "Cha mẹ cô cũng thật là, để một tiểu cô nương như cô ra ngoài kiếm ăn một thân một mình."

    Cái tay đang nhét bánh bao chợt khựng lại, Kinh Niên nói lí nhí: "Cha mẹ ta...

    đã qua đời từ sớm... cũng không có người thân..."

    Cả cửa tiệm nhỏ thoắt cái rơi vào yên lặng, có thể loáng thoáng nghe thấy vài tiếng thở dài, đại thẩm cũng không biết nói gì để an ủi, đành vỗ vỗ vai Kinh Niên tỏ vẻ khích lệ, rồi quay về bếp làm việc tiếp.

    Kinh Niên cúi đầu gặm bánh bao, không ai nhìn thấy cặp mắt linh động của cô đang đảo tới đảo lui, đâu có tí bóng dáng nào của khổ sở bơ vơ không nơi nương tựa?

    Chẳng bao lâu sau, người đàn ông trung niên ngồi ở bàn kế bên chợt kéo ghế tới trước bàn cô, nhỏ giọng hỏi: "Tiểu cô nương, cô là Thi quan à?"

    Kinh Niên gật đầu, người đàn ông kia nhìn quanh quất rồi mới toét miệng cười ra vẻ thần bí: "Ngó bộ dạng này của cô sợ là không ai dám tìm cô đâu, chi bằng tới trước đại trạch Lâm gia thử xem?"

    Nói rồi chỉ chỉ đằng trước.

    Kinh Niên à một tiếng, hỏi tới: "Đại trạch Lâm gia?

    Chỗ đó có thể làm ăn được sao?"

    "Có làm được không... chuyện này ta cũng không dám bảo đảm, nhưng dạo gần đây đại trạch Lâm gia đang tìm Thi quan."

    Người đàn ông lại hạ thấp giọng, nói với âm lượng chỉ hai người nghe được: "Cô không biết đó thôi, đại công tử của Lâm gia mới đây bị người ta chém chết, đầu với cổ chỉ còn dính lại mỗi một lớp da thôi, mà hắn chết cũng đáng kiếp, suốt ngày chọc ghẹo nương tử nhà người ta, làm đủ chuyện ác, sau khi chết rồi còn quấy phá, lúc ông lão lo tang ma vá đầu với cổ lại cho hắn, cái miệng to như chậu máu bỗng ngoác ra cắn đứt tay lão, mất công lắm mới lôi ra được, mà tay của ông lão thì đứt hết gân, chuẩn một con trá thi(*)!

    Giờ mấy người làm việc ma chay trong thành chẳng ai có gan nhận, mang một thứ quỷ ma như vậy tới nghĩa địa, bị nó giết lúc nào cũng chả hay.

    Tiểu cô nương, ta thấy cương thi đại ca của cô rất oai, chắc là bắt được không ít thứ chết chóc rồi đúng không?"

    (*) Xác chết vùng dậy.

    Kinh Niên vỗ bộp lên vai của người đàn ông kia, mắt chiếu sáng lập lòe, đáp với giọng mười phần trung khí: "Đại thúc, coi như thúc tinh mắt!"

    Nói xong cô nhét nửa cái bánh bao còn thừa vào trong ngực, tới cái cờ chào hàng cũng không cầm kịp đã ném phăng đồng tiền mẻ lên bàn, nhảy phốc qua ghế rồi chạy như điên về hướng nghe nói là hướng tới đại trạch Lâm gia, lúc này Thi Ngũ gia luôn chậm nửa nhịp mới giơ hai tay lên, may mà tốc độ nhảy cũng nhanh, nên chỉ chốc lát đã đuổi kịp Kinh Niên, bám sát sau lưng cô.

    Một người một thi, chạy nhảy thần tốc, thời gian chừng nửa chén trà nhỏ đã tìm được cổng vào.

    Kinh Niên ngửa đầu nhìn tấm hoành phi treo trên cửa, xác nhận hai chữ to đùng chiếu lấp lánh này là Lâm Trạch, mới nghiêng đầu cười nói với Thi Ngũ gia: "Ngũ gia, chúng ta có việc làm rồi ~"

    Tiếp đó bước lên bậc tam cấp, tới trước cánh cửa gỗ khắc hoa, kéo vòng đồng "Cạch cạch cạch".

    Tiếng gõ cửa vừa lắng xuống, đã nghe bên trong có người lớn giọng đáp lại: "Tới đây tới đây..."

    Sau đó cánh cửa bị đẩy hé ra một khe hở nhỏ, thò ra một cái đầu tròn vo, lúc nhìn thấy khách trước cửa, cái mắt hí ra sức chớp lia lịa, sau đó mới lớn tiếng hỏi: "Tiểu cô nương, cô có chuyện gì?"

    Kinh Niên không vòng vo mà kéo ngay Thi Ngũ gia tới trước người, nói thẳng vào vấn đề: "Tới nhận việc."

    Tuy cái đầu tròn tự xưng là Tổng quản này có vẻ mặt không tín nhiệm gì, nhưng Thi Ngũ gia anh tư thần võ rốt cuộc cũng có tác dụng, cho nên rất nhanh sau đó Kinh Niên đã được dẫn tới gặp lão gia và phu nhân, đương nhiên, gặp là gặp, nhưng họ cũng không dám tùy tiện giao việc phục thi an trạch to tát này cho một tiểu cô nương người có một mẩu.

    Chuyện này không cần phải bàn, lúc đầu đại lão gia cũng không tin cô, ngắm nghía từ trên xuống dưới như nhìn con khỉ đang diễn xiếc, cất giọng hỏi: "Tiểu cô nương, cô là Thi quan thật à?"

    Kinh Niên cũng chẳng để bụng, nói nào ngay cô cũng quen rồi, để mặc ông ta nhìn cho đã, còn chuyện cần nói thì một chữ cũng không để sót, cô xoay lưng đi tới bên cạnh Thi Ngũ gia, kéo cánh tay hắn lên: "Ngài nhìn thử Ngũ gia nhà ta chẳng phải là biết liền sao?

    Nếu không phải Thi quan thì sao có được hành đầu chất lượng cao thế này?"

    Đại lão gia híp mắt nhìn cô với vẻ nghi ngờ, bước lên dạo quanh Thi Ngũ gia một vòng, vừa đi vừa săm soi, không nhịn nổi cái tặc lưỡi tấm tắc, lấy làm lạ: "Thứ này đúng là nhìn không tệ..."

    Câu đánh giá này lại làm Kinh Niên không thoải mái, cô phồng má rầu rĩ nói: "Không phải chỉ nhìn được, không phải chỉ không tệ thôi đâu."

    Nói xong cô nhón chân vén hé lá bùa của Thi Ngũ gia lên, để cho mọi người thấy ngũ quan bị che kín, nhưng chỉ chốc lát đã hạ xuống ngay: "Ngũ gia nhà ta chính là thượng phẩm chất lượng cao trăm năm...

    à không, là ngàn năm khó gặp, chuyện có lớn cỡ nào thì ngài ấy cũng làm được tuốt, bao hài lòng!"

    Đại lão gia còn hơi ngờ vực, còn đại phu nhân thì lại nóng lòng, bước khẽ tới bên cạnh, kề tai nói nhỏ với ông ta: "Lão gia à, việc này không thể kéo dài được nữa, mấy ngày nay đã có không ít nha hoàn người hầu bỏ việc mà tới tiền công cũng không thèm lãnh, Thi quan có phải một ngày một đêm là tìm được đâu, hiếm khi người ta tới cửa thế này, thôi thì cứ để cô ấy thử xem đi?"

    Đại lão gia cúi đầu suy xét, nhủ thầm gần đây đại trạch âm khí bức người, chẳng phải cũng vì cái xác chết ở trong nhà sao?

    Thân bằng hảo hữu cũng không lui tới, chẳng ai dám tiếp cận đại trạch này, nếu cứ thế mãi thì chẳng phải Lâm trạch sẽ biến thành quỷ trạch sao?

    Có lẽ nào lại thế?

    Sau một phen cân nhắc, cuối cùng đại lão gia đã hạ quyết định, nói ngay với Kinh Niên: "Vậy phiền ngài chỉnh thân tịnh thân cho hài nhi của ta trước, nghi thức ta đã làm xong hết, chỉ thiếu người đưa tới mồ, nếu ngài có thể làm ổn thỏa, thì tiền thù lao gấp bội..."

    "Gấp bội?"

    Vừa nghe thấy hai từ này Kinh Niên đã hăng hái hẳn lên, mấy câu sau cũng lười nghe tiếp, cười nói: "Đâu có đâu có, để cho ta xem hàng trước đã...

    à nhầm... là xem đại thiếu gia đã, có ai dẫn đường không?"

    Nhìn quanh một vòng, toàn bộ nha hoàn và thị tòng đứng hầu bên cạnh, bao gồm cả tổng quản đều lùi hết ra sau, ngay cả lão gia với phu nhân cũng không hẹn mà cùng cúi đầu.

    Kinh Niên nhướng nhướng mày, hạ thấp giọng hỏi: "Sao thế?

    Không ai dẫn đường à?"

    Lạ thật, dù sao nha hoàn với thị tòng là người ngoài nên sợ cũng bình thường, nhưng chẳng phải người bị chém chết là con trai của đại lão gia với đại phu nhân à?

    Sao cả hai đều có vẻ khiếp đảm như sợ trốn còn không kịp thế này?

    Đại lão gia ấp a ấp úng giải thích: "Chuyện là... không phải là không muốn dẫn đường... mà vì tiểu nhi tử thật... thật sự quá thảm..."

    Đừng nói người ngoài, ngay cả người làm cha như ông nhìn mà còn thấy khiếp, vừa nhắc tới đã phát rét toàn thân.

    Nghĩ rồi ông ta bước lại gần Kinh Niên nói khẽ: "Thi thể hình như biết cử động, tình hình đại khái là..."

    "Trá thi."

    Kinh Niên tiếp lời, thấy lão gia ra chiều ấp úng, vẻ mặt sợ hãi, cô bèn phất tay như không để tâm lắm: "Yên tâm yên tâm, không hù ta chạy nổi đâu, được rồi, nói cho ta biết ở đâu đi, để ta tự tới là được rồi."

    Phu nhân vỗ vỗ ngực, kéo Kinh Niên đi hai bước ra hậu viện, chỉ tay về hướng cổng đá ở cuối hành lang: "Đi theo hành lang này rẽ phải sẽ gặp một khách đường, thi thể của tiểu nhi đặt ở đó..."

    Kinh Niên nhìn thoáng qua sắc mặt trắng bệch của đại phu nhân mà tự nhiên buồn cười, cũng cảm thấy đáng buồn thay.

    Có điều khi nhìn thấy trá thi thì hơn phân nửa người bình thường sẽ có phản ứng này.

    Tới khi sợ chết khiếp rồi thì lục thân cũng không nhận, câu này thật có lý.

    Kinh Niên dẫu môi cười cười, quay trở lại vỗ nhẹ lên Thi Ngũ gia, nói một câu "Cầm tiền chuẩn bị xong" rồi chạy thẳng ra hậu viện, âm thanh nhảy lên nhảy xuống của Ngũ gia hệt như tiếng tim đập của mọi người "Bịch bịch bịch..."

    Vừa bước vào phòng lớn đã ngửi thấy một mùi hôi thối ập tới, Kinh Niên quạt quạt tay, khẽ kêu lên: "Thối quá!"

    Rồi nhìn về phía giường đá nơi bắt nguồn của mùi hôi, bước tới xốc mảnh vải trắng phủ trên đó lên, bất ngờ kêu to kích động: "Ối!

    Thảm thế này sao?!"

    Thi thể trông hệt như cái túi da heo rách nát bẩn thỉu, đầu mình lìa hai nơi chưa tính, tới y phục cũng lỗ chỗ vết máu, giập nát không thể tả.

    Tốt xấu gì cũng là thiếu gia nhà giàu, nhìn chất liệu của y phục thì cũng là hàng tốt, tám phần là lúc sinh tiền hết sức xa hoa phung phí, nào ngờ sau khi chết ngay cả y phục cũng chưa được thay...

    Nghe đâu do thường xuyên trêu ghẹo nương tử nhà người ta nên bị chém chết... kiểu chết này tuy thảm nhưng chỉ có thể nói là thiên lý tuần hoàn, báo ứng không sai.

    Kinh Niên quay qua lè lưỡi với Thi Ngũ gia, trêu ghẹo: "Nhìn người ta đi, về sau Kinh Niên lau người giúp Ngũ gia phải chịu khó hơn chút thôi ~"

    Trêu xong cô bắt đầu xắn tay áo, móc một túi vải từ đai lưng mở ra, trong đó đựng đủ loại móc, kim khâu lớn nhỏ và các loại chỉ nhiều màu với kích cỡ khác nhau, cô cầm túi vải rồi quan sát kỹ mặt cắt của đầu thi thể, nói thầm: "Khâu đầu lại cho ngươi trước đã, hơi ngặt nghèo đây, chậc, thịt teo hết rồi, vá cổ lại thì không ổn lắm!"

    Vừa nói vừa vươn ngón tay rút một cây kim ra, chờ cô lảm nhảm hết thì cũng xỏ xong chỉ.

    Xỏ xong cô nhanh nhảu thắt đầu chỉ lại, nhặt một cái móc mới, rồi mới nhét túi vải về đai lưng.

    Tiếp theo cô mang kim và móc lại gần cái đầu trên giường đá, cúi thấp người hơn, vươn tay trái ra nâng đầu thi thể.

    Đúng lúc này, cái mặt máu me đầm đìa bỗng nhăn nhúm lại, hai mắt vốn đang nhắm chặt bất ngờ trợn trừng, đôi môi thâm đen há ra, phập về hướng cái tay đang thò tới.

    Kinh Niên như đã đề phòng trước, khi hắn há mồm thì nhanh chóng rụt tay trái lại, tay phải hơi giơ lên, đâm một kim xuống cái lưỡi đang thè ra dài ngoằng, tay trái thì ra sức ấn lên trán của thi công tử một cái "Bốp", cái ót vừa rời khỏi giường đá chưa bao lâu đã đập mạnh về lại.

    Bàn tay cô vẫn đè nghiến xuống, rút đầu kim ra, trừng mắt quát: "Xem ra trước khi vá đầu thì phải khâu miệng của các hạ trước đã!"

    Thi công tử bị đè trán ngày càng trừng lớn hai mắt, miệng há ra ngậm vào mấy bận, hai hàm răng đánh nhau vang lên tiếng cạch cạch lanh lảnh, cả bộ mặt hoàn toàn biến dạng méo mó vì biểu cảm dữ tợn.

    Đổi lại người bình thường, tỷ như lão gia, phu nhân, nha hoàn và thị tòng phía ngoài, thấy cảnh tượng này sợ rằng đã bị dọa tới nỗi không hôn mê thì cũng chạy trối chết, nhưng Kinh Niên lại nhìn Thi công tử trên giường này từ trên xuống dưới như đang suy nghĩ điều gì.

    Chỉ thấy cô giơ tay xoa cằm, ngó hai tay run run trên giường đá, đột nhiên vỗ đùi cười phá lên: "Người này... chắc là vẫn chưa hóa cương thi hoàn toàn?

    Cứ nhìn cách hắn không thể hoạt động tự do là biết!"

    Cô ngoái đầu nhìn cái mặt không chút cảm xúc của Thi Ngũ gia, rồi ngoảnh lại Thi công tử, chẹp chẹp miệng, thản nhiên trêu chọc: "Chậc —- vô dụng như vậy thảo nào bị người ta chém chết, loại như ngươi căn bản không cần phải làm phiền tới Ngũ gia nhà ta."

    Nói xong rút một lá bùa đỏ trong đai lưng ra, trên đó vẽ một chữ "Phong"(*) màu đen, dán nó lên mặt Thi công tử, sau đó thu tay lại, Thi công tử kia lập tức không còn cựa quậy nữa.

    (*) Phong ấn.

    Kinh Niên dùng móc cắt hết những mẩu thịt vụn khô héo đi, móc tới đâu thì khâu tới đó, tay bận mà mồm cũng không nhàn rỗi, lải nhải liên miên hệt như đang nói chuyện phiếm với người quen: "Không cam lòng sao?

    Còn chưa muốn chết sao?

    Vậy đừng đi đầu thai vội, cứ ở âm tào địa phủ chờ người chém chết ngươi là xong rồi, cơ mà không có bản lĩnh thì đi tới đâu cũng vậy thôi, ta thật lo lắng ngươi trả đũa không thành còn bị người ta làm thịt, ngươi chết rồi, chết rồi sao bị làm thịt tiếp được hả?

    Có điều lúc ngươi gặp được người nọ thì hắn cũng chết mất đất rồi, ngươi cũng có chém hắn được đâu...

    Nói tới nói lui ngươi vẫn chẳng được lợi gì."

    Lải nhải xong thì đầu cũng được vá vào ngay hàng thẳng lối, sau khi bỏ dụng cụ làm đẹp thi thể vào lòng, Kinh Niên móc bút đỏ ra, quay người vẽ vài nét lên lá bùa trên trán Thi Ngũ gia, dấu ấn màu mực đỏ chậm rãi thấm vào lá bùa, chỉ trong nháy mắt đã biến mất trên giấy.

    Làm xong cô thu hồi cây bút đỏ, cười nịnh nọt với Thi Ngũ gia, nhẹ giọng nói: "Ngũ gia, Kinh Niên đi tìm lão gia với lão phu nhân lấy ít nước lau với bộ đồ mới, ngài cứ ở đây nghỉ ngơi một lát, Kinh Niên sẽ về ngay."

    Nói rồi đi vòng qua chiếc giường đá, vừa chạy vừa nhảy về hướng cửa sảnh, Thi Ngũ gia vẫn đứng yên tại chỗ, không theo sát đằng sau giống như trước nữa.

    Chẳng bao lâu, Kinh Niên đã một tay xách thùng nước, một tay cầm chồng y phục chạy về.

    "Để ngài đợi lâu rồi, Ngũ gia."

    Cô chạy tới trước giường đá đặt thùng nước và y phục xuống, rồi móc cây bút đỏ ra vẽ một đường trên lá bùa, chờ nét mực thấm hết mới ngồi vào giường đá, cởi quần áo cho thi công tử.

    "Bắt ngươi chịu đựng lâu như vậy cũng đủ khó chịu rồi!"

    Kinh Niên lột cái áo khoác tả tơi tàn tạ của Thi công tử ra, nhìn những vết sẹo chằng chịt trên thi thể phát đen, cô tin chắc đây không phải một đao chết luôn, có vài vết thương đã thối rữa mưng mủ, thảo nào mùi thối xông thiên.

    Cô rút cái khăn lông ướt trong thùng ra rồi chà lau nhẹ nhàng, từ mặt tới chân không sót chỗ nào, phải lau mất ba bốn lần mới lau sạch được vết máu khô, cả thùng nước trong đã thành nước bùn màu đen pha đỏ.

    Lau xong, Kinh Niên cầm chiếc lam bào mới tinh lên, nhìn Thi công tử thở dài tiếc nuối: "Ôi... thể trạng tốt thế này, lớn lên chắc cũng tuấn tú lắm, ôi, tuổi trẻ tiền đồ vô lượng..."

    Than xong lại liếc dọc từ trên xuống dưới mấy lượt, mới chậm rãi mặc nội sam và quần dài cho hắn, khoác thêm ngoại bào, cuối cùng là xỏ giày.

    Sau đó rút cái lược bên hông ra, bước tới đầu giường đá, nói khẽ: "Coi như là chút tâm ý của Kinh Niên."

    Cô nói xong thì đưa tay đỡ Thi công tử ngồi dậy, để hắn tựa lên người mình, một tay vòng qua sau lưng hắn, tay còn lại chải tóc cho hắn.

    Mỗi một lần chiếc lượt chải xuống, hai mắt của Thi công tử cũng nhắm lại vài phần, đợi tới khi Kinh Niên rút dây cột tóc trên đầu mình để buộc lên, thì đôi mắt của Thi công tử đã hoàn toàn khép lại, biểu cảm trên gương mặt cũng dần dần chuyển từ dữ tợn sang bình thản.

    Kinh Niên dìu Thi công tử nằm xuống, ngắm nhìn hồi lâu mới thu ánh mắt về, lẩm bẩm: "Ngươi ráng chịu thêm chút nữa nhé... chờ lên núi là có thể giải thoát rồi, đừng chờ người giết ngươi, cũng đừng muốn báo thù gì đó, hãy đầu thai vào nhà tốt rồi sống yên ổn hết kiếp sau đi."

    Lúc cô nhét lược vào lại đai lưng, còn đồng thời lôi ra một sợi dây đỏ tết lại mái tóc đã xõa tung, sau đó chạy tới trước mặt Thi Ngũ gia dựa người vào, nhắm hai mắt lại, chậm rãi thở ra một hơi, khuôn mặt bao lâu nay luôn đầy ắp nụ cười, giờ đây thoạt nhìn có vẻ mệt mỏi rã rời.

    ~ Hết chương 1 ~
     
    Thi Quan Kinh Niên
    Chương 2


    Chương 2

    TRÓI THI THĂNG LINH

    Edit: Yunchan

    ***

    Vào nửa đêm canh ba, dưới ánh mắt dõi theo của mọi người Lâm trạch, Kinh Niên dẫn Thi công tử lên đường tới bãi tha ma trên núi, phù tự trên trán thi công tử đã đổi từ "Phong" sang "Cân"(*), và cũng hệt như Thi Ngũ gia, nhảy tưng tưng theo sau Kinh Niên.

    (*) Đi theo.

    Đêm nay gió lạnh một cách lạ lùng, mây đen che trăng, mỗi ngã phố đều vắng tanh im ắng, tối đen như mực, thỉnh thoảng vẳng tới vài tiếng mèo kêu, nghe thê lương vô cùng.

    Người trong thành đại khái đều biết chuyện dẫn thi lên núi này, thế nên nhà nhà đều đóng cửa tắt đèn sớm, ngay cả đồng la điểm canh cũng vắng tiếng.

    Kinh Niên xách theo chiếc đèn lồng mờ nhạt mở đường phía trước, vừa đón gió lạnh vừa hát ngâm nga, cũng do Lâm lão gia đã thanh toán trước một nửa tiền đặt cọc, nên mới khiến cho tâm trạng Kinh Niên phấn khởi thế này.

    "Ôi chao, Ngũ gia, đại công tử, chúng ta sắp ra khỏi thành rồi, sức đi của Kinh Niên cũng cừ ghê!"

    Kinh Niên chạy vài bước tới cổng thành, vẫy tay với phía sau, vừa nghĩ sau khi xong việc là có thể nhét được một khoản thù lao kha khá vào hầu bao là cô đã vui vẻ không đừng được.

    Ra khỏi cổng thành đi chưa đầy hai dặm chính là đường núi dốc dẫn lên bãi tha ma, hai bên con đường hẹp là rừng cây yên tĩnh, liếc qua chỉ thấy sâu hút như cái hang đen ngòm không đáy.

    Đừng nói người bình thường không dám qua lại vào đêm khuya, mà phần lớn người dẫn thi lo tang ma cũng phải thủ sẵn một cây đuốc sáng rực mới có gan công tác.

    Người xách đèn lồng lên núi một mình như Kinh Niên, e là mấy thập niên cũng chẳng gặp được một.

    Song người khác là người khác, còn Kinh Niên là Kinh Niên, đi đêm nhiều, thấy cương thi nhiều, lá gan cũng tự nhiên to ra thôi.

    "Ngũ gia, Ngũ gia, lâu rồi chúng ta không đi đường rừng hẹp kiểu này nhỉ."

    Kinh Niên xoay vòng tròn, có vẻ hưng phấn lắm, sau đó lại chạy về giữa Thi Ngũ gia và Thi công tử, đi dàn hàng tới trước, hoàn toàn không quan tâm tiếng kêu oang oang dội vào rừng cây tạo nên từng đợt hồi âm hù chết người qua đường, vẫn thoải mái cao giọng cười nói như cũ.

    Cứ người đi kẻ nhảy như vậy ước chừng nửa canh giờ, rốt cuộc cũng leo lên đỉnh sườn núi, chỉ liếc mắt đã nhìn thấy một biển mộ bia đen nghìn nghịt nối liền san sát, mùi hôi thối ẩm mốc tự động xộc vào mũi người.

    Kinh Niên cảm thán: "Bãi tha ma ở đây trông cũng đồ sộ ghê ~"

    Từ xa nhìn lại, trước hàng dãy mộ bia là một căn nhà cỏ nho nhỏ, nếu không phải thị lực của cô vô cùng tốt, thì sợ là khó phát hiện ra căn nhà nhỏ cũ nát như hòa làm một với bóng tối này.

    Cô cong khóe miệng, thả bước đều đều về hướng căn nhà nhỏ.

    Căn nhà cỏ không có cửa sổ, chỉ có lỗ hổng đủ một người ra vào, nhìn từ ngoài vào chỉ thấy được một màu đen kịt, chẳng còn gì khác.

    Nhưng Kinh Niên xít lại gần, liếc vài cái vào trong nhà, rồi bỗng dưng toét miệng cười: "Đây là chỗ của sư phụ thủ sơn(*) sao?

    Vất vả vất vả, chúng ta đưa công tử của đại trạch Lâm gia tới đây."

    (*) Giữ núi.

    Sau khi cô nói xong câu này thì là một khoảng im ắng, tiếp đó trong nhà vọng ra một giọng ồm ồm, cười như không cười, khóc như không khóc, còn âm u thấu xương hơn cả gió lạnh nơi đây: "Hừ hừ... còn có kẻ nhớ ta là Hồn Nhân giữ núi ở đây à, đã bao nhiêu năm nay... mấy tên ngu xuẩn chỉ biết la hét ầm ĩ kia đều đui mù hết, từng tên từng tên đi ngang qua trước mắt ta, tới bắt chuyện cũng không, hừ hừ... hừ hừ..."

    "Sư phụ ngài đừng tức giận, Kinh Niên thay mấy tên mắt lệch đó bồi tội với ngài."

    Nói rồi hai tay Kinh Niên chắp lại bái một bái về hướng căn nhà.

    "Đứa nhỏ ngươi phải bồi tội gì?

    Mấy tên ngu xuẩn này chỉ biết bới đồ, chứ không biết mấy cái hố đó ta phải phí bao nhiêu sức để lấp lại!"

    Kinh Niên nghe mà nghẹn cười, cảm thấy sư phụ thủ sơn này tính trẻ con quá thể, khuyên nhủ: "Người ngu xuẩn đương nhiên chỉ biết làm chuyện ngu xuẩn rồi, sư phụ còn tính toán với chúng làm gì?"

    "Ha, bé con, câu này của ngươi xuôi tai đấy..."

    Có lẽ sư phụ thủ sơn rất lâu rồi mới giao tiếp với con người, nên vừa mở miệng thì nói như nã pháo, thao thao bất tuyệt không ngừng không nghỉ.

    Kinh Niên cũng hàn huyên với lão một trận đã nghiền, cứ thế ngươi một câu ta một lời, tán dóc tới nửa canh giờ.

    Sư phụ thủ sơn đại khái cũng nói đủ rồi, mới nhớ ra bé gái bên ngoài tới đây là để lo chính sự, bèn bắt lấy vấn đề này hỏi: "Bé con, ngươi dám một thân một mình dẫn thi lên núi vào đêm khuya thế này, chắc cũng chẳng phải cô nương tầm thường gì nhỉ?"

    "Tầm thường thôi tầm thường thôi, Kinh Niên cùng lắm chỉ là một Thi quan, vả lại, Kinh Niên không đi một mình."

    Nói đoạn cô kéo Thi Ngũ gia tới trước người: "Còn Ngũ gia nhà ta đi chung nữa!"

    Trong nhà vẳng ra tiếng chặc lưỡi tấm tắc, sau đó là tiếng thở dài: "Bé con à, mỗi hành đầu này của ngươi cũng đủ rồi, tuy ta thấy nhiều, nhưng chưa thấy loại nào tốt như của ngươi đâu."

    Được khen nên tâm tình Kinh Niên rất tốt, mặt mày rạng rỡ hẳn lên, không nói gì thêm mà chỉ tựa đầu vào cánh tay Thi Ngũ gia, cọ qua cọ lại mấy cái để bày tỏ mình hài lòng với hành đầu này bao nhiêu.

    Người trong nhà ho khan hai tiếng, nói tiếp: "Không còn sớm nữa, bé con đi đi, đừng trách Hồn Nhân không nhắc nhở ngươi, tuy trước đây những thứ đó đều là hạng hèn nhát, nhưng ít ra những thứ hèn nhát đó đều chôn cái mạng hèn ở... bãi tha ma này...

    Không lửa khó đi, dễ vào khó ra..."

    Kinh Niên ngẩn người, một khắc sau mới ngộ ra hàm ý của câu này, bèn kề mặt tới gần căn nhà, miệng cười ngọt ngào: "Đa tạ sư phụ nhắc nhở, theo ta thấy, sư phụ ngài cũng không đơn giản ~"

    Nói rồi xách đèn lồng quay gót chạy về hướng bãi tha ma, Thi Ngũ gia và Thi công tử cũng nhảy theo như thường lệ.

    Lúc ba cái bóng đã bước vào trong màn thi khí dầy đặc, trong lỗ hổng của căn nhà cỏ mới bay ra một luồng khói nhẹ, bỗng nghe giọng nói âm u đó vang lên lần nữa: "Haizz... xem ra Hồn Nhân lo lắng vô ích rồi..."

    Theo phu nhân của Lâm gia nói, bia mộ và quan tài chôn cùng đã gọi người khiêng lên vào ban ngày, đặt ngay bên cạnh hố.

    Nhưng trước mặt không chỉ có một cái bia hay một cái hố, Kinh Niên chẳng thể làm gì hơn là cúi người kề đèn lồng lên bia mộ để đọc chữ viết trên đó, tìm từng cái một.

    "Lâm...

    Lâm...

    Lâm..."

    Kinh Niên lẩm bẩm, nhìn từng cái bia thật cẩn thận —- nếu chôn sai hố, lập sai bia thì đúng là to chuyện, to tới mức có thể đập bể bảng hiệu Thi quan của cô luôn, nên không cẩn thận mà được à?

    Ngay lúc cô đi ngang qua cái hố thứ tư, thì ở chỗ sâu bên trong bãi tha ma chợt vọng lại tiếng xới đất, tiếp đó hai tiếng... ba tiếng... cuối cùng lọt vào tai như thể cả vùng đất đều bị lật hết lên.

    "Rõ thật là... không thể cho ta tìm được hố trước sao hả?"

    Kinh Niên đành phải ưỡn thẳng eo lên, nhìn thấy đằng sau dãy bia mộ trước mặt đứng lên liên tiếp hơn mười cái bóng đen, cô nhắm mắt lại thở dài, lôi từ bên hông ra một lá bùa chữ "Thủ"(*) thay cho chữ "Cân" trên mặt Thi công tử, sau đó moi cây bút đỏ vẽ vài nét lên lá bùa của Thi Ngũ gia.

    Đột nhiên hai tay đang giơ lên của Thi Ngũ gia dần hạ xuống đặt bên người, xoay gót chân hướng mặt về phía đám bóng đen đang nhảy từ từ tới gần.

    (*) Phòng thủ.

    "Ngũ gia, trông cả vào ngài."

    Kinh Niên lui ra sau vài bước, giương mắt nhìn một đống thi thể đang nhảy ra khỏi bóng tối âm u.

    Không giống với Thi công tử còn tươi sống, những thứ kia đều là loại hàng đã xuống mồ lâu năm, nhìn mức độ thối rữa của mũi miệng, tám phần không phải là cương thi thuần chủng.

    Có vài tử hồn dù đã rời khỏi thân thể nhưng không cách nào thăng thiên, là do vào lúc mai táng không làm nghi thức siêu độ đuổi hồn, cho nên những tử hồn này luôn quanh quẩn trên xác chết quanh năm suốt tháng.

    Ở đây nhiều thi thể như vậy, lâu dần sao phân biệt được ai với ai, thế nên vào được thì cứ vào, quản chi chuyện đó có phải cơ thể của mình hay không.

    Huống hồ, một khi đã rời khỏi cơ thể của mình, thì hồn phách không thể bám vào cơ thể lâu như cương thi, ngay khi mặt trời ló dạng thì nhất định phải thoát khỏi cơ thể núp vào chỗ tối, sợ lửa sợ sáng là bản tính của linh hồn người chết, tuy nói ánh mặt trời có thể siêu độ cho chúng thăng thiên, nhưng hồn phách lại không có ý thức rõ ràng như con người, hoàn toàn coi thăng thiên và tan biến là ngang nhau.

    "Thôi kệ!

    Gặp phải loại ý thức rõ ràng còn cứng đầu ở lỳ không chịu đi thì mới là phiền!"

    Kinh Niên đếm số thi thể lúc đàn thi đã cách rất gần, đoạn móc ra vài lá bùa, vỗ vỗ vào lưng Thi Ngũ gia, hất cằm tới trước, nhỏ giọng nói: "Ngũ gia, đi thôi."

    Giọng vừa dứt, Thi Ngũ gia đã lao vút về phía đàn thi hệt như mũi tên rời cung.

    Kinh Niên chớp đúng thời cơ, ném một lá bùa tới trước ngực của con cương thi gần Thi Ngũ gia nhất, nhắc tới cũng thần kỳ, trang giấy mỏng vừa tuột khỏi tay đã bắn thẳng đi như một luồng sáng trắng.

    Khi còn cách ngực chưa đầy hai tấc, Thi Ngũ gia chợt giơ hai ngón tay lên kẹp phắt lấy lá bùa, đầu ngón tay đâm xuống ngực trái của cương thi, ngón tay chọc sâu vào tim, khi rút tay về thì lá bùa cũng đã chôn vào, con cương thi bị dính bùa cụp đầu xụi tay, đứng thẳng tại chỗ vùng vẫy như bị trói.

    Lúc này, Kinh Niên lại phóng một lá bùa nữa tới con cương thi bên phải, tay phải của Thi Ngũ gia bắt lấy bùa, tay trái tung một quyền, thụi ngay vào giữa mặt con cương thi đang há mồm nhào tới, đánh bay nó ra ngoài, tay kia cũng chẳng ngừng nghỉ, thoắt cái đã chôn bùa xong.

    "Ngũ gia!

    Ngài dũng mãnh như thần!

    Ngũ gia!

    Ngài khỏe quá đi!"

    Kinh Niên nhảy nhót reo hò ngay tại chỗ, còn không quên tặng tiếp ba bốn lá bùa.

    Nhưng số lượng của đàn cương thi này rất đông, một nhóm quần nhau với Thi Ngũ gia không biết thời gian, một nhóm khác thì búng thẳng về hướng Kinh Niên bên này.

    "Úi!

    Tới rồi tới rồi!"

    Kinh Niên ôm tim, nhìn một bầy nhỏ đang ngày càng ép sát, lập tức quay lưng bỏ chạy, lấy Thi Ngũ gia làm tâm bắt đầu chạy vòng tròn, tiểu đoàn cương thi vẫn bất khuất nhảy theo sát gót.

    Trong đó có mấy con dừng lại bao vây Thi công tử, có lẽ Thi công tử mới chết chưa được bao lâu, dương khí trong cơ thể chưa tan hết, cho nên mấy tên này muốn gây nên thảm cảnh đồng loại tương tàn, nhắm thẳng vào cổ của Thi công tử mà gặm.

    "Tưởng đẹp!

    Coi chừng mẻ mấy cái răng đó!"

    Kinh Niên vừa chạy vừa phóng bùa, miệng vẫn không quên bép xép.

    Quả nhiên, ngay khoảnh khắc mấy cái răng vàng khè sứt sẹo ngoạm vào cổ của Thi công tử, thì trên lá bùa "Thủ" chợt tỏa ra ánh sáng vàng rực, mấy tên ăn quịt kia thoắt cái bị hất văng ra, Kinh Niên ngó thấy thì cười ha ha.

    Mà Thi Ngũ gia cũng hoàn thành xuất sắc công tác, bắt bùa chôn bùa liền mạch trôi chảy, chẳng dừng lại lấy nửa khắc, còn có thể giữ mình không bị thương, ngay cả y phục trên người cũng không rách một mảnh, có điều lúc chôn bùa thì bị dính không ít máu đen với thịt nát.

    Ngay khi Kinh Niên chạy hết vòng thứ năm, Thi Ngũ gia cũng xử xong đám kia, nhanh chóng quay qua bầy lũ đang nhảy sau lưng Kinh Niên.

    Có lẽ vì không phải loài cương thi thuần chủng, cho nên hồn phách trong bầy thi thể này ít nhiều cũng có tính tự giác.

    Khi thấy Thi Ngũ gia xông lại thì lập tức hùa nhau quay đầu chạy về hướng ngược lại, nhưng tốc độ của Thi Ngũ gia vẫn nhanh hơn nhiều, trong chớp mắt đã vọt tới trước chặn đường.

    "Ngũ gia!

    Chừng mười một con, một đòn xử hết đi!"

    Kinh Niên gân cổ hét, phóng lần lượt mấy là bùa còn dư.

    "Vút, vút, vút..."

    Âm thanh như muốn xé toạc gió đêm.

    Thi Ngũ gia thình lình đạp mạnh xuống đất bay vút lên, tiếp được một lá bùa liền chôn ngay vào cơ thể của con cương thi gần nhất.

    Sau đó hết bắt lại chôn, dùng cả hai tay, vút qua vút lại trong đàn thi.

    Chừng mười một con cương thi này cuối cùng chẳng còn giương nanh múa vuốt như lúc nãy nữa, không biết do hồn phách trong cơ thể đang sợ hãi hay là do tốc độ của Thi Ngũ gia quá thần sầu, nói chung là đứa nào đứa nấy đều ngoan ngoãn chờ xử lý.

    Sau khi chôn xong lá bùa cuối cùng, Thi Ngũ gia lại nhảy về bên cạnh Kinh Niên.

    Kinh Niên nhìn qua bầy cương thi bị dính bùa trói ngấu tại chỗ uốn tới ẹo lui, sau đó móc một chiếc khăn trong tay áo ra, cầm tay của Thi Ngũ gia lên, nhẹ nhàng lau chỗ máu bị dính vào.

    "Vất vả cho ngài, Ngũ gia, sáng mai cầm được bạc sẽ đổi cho ngài bộ đồ mới."

    Lau tay xong cô lại cầm khăn lau tới y phục của Thi Ngũ gia, vừa lau vừa nhíu mày, bởi máu chẳng những chùi không hết mà còn tỏa ra cái mùi phiền lòng.

    Vì vậy cô vỗ vỗ vai Thi Ngũ gia như dỗ dành, ý bảo hắn đừng để ý, sau đó tiếp tục công tác đang làm dở —- tìm hố!

    Sau khi mò xong cái bia thứ mười sáu, thì rốt cuộc ở cái bia thứ mười bảy cô đã nhìn thấy bốn chữ "Trưởng tử Lâm gia".

    Để cho chắc ăn, cô còn dí cái đèn lồng tới chiếu qua chiếu lại để nhìn thêm mấy lần, bấy giờ mới dám khẳng định cái hố này, cái bia này chính là nơi cư trú của Thi công tử.

    Kinh Niên hóng mắt vào hố nhìn vật bồi táng bên trong —- Woa!!

    Lâm gia quả nhiên có tiền, quan tài thượng hạng chưa bàn, bên trong còn chất đầy ngọc ngà châu bảo, cô có nên thừa gió bẻ măng, hốt một nắm đút túi riêng không đây?

    Kinh Niên ngồi xổm trước hố suy tư cả buổi, cuối cùng vẫn phải từ bỏ ý nghĩ tội ác này —- cô là một Thi quan có tôn nghiêm!!

    Nghĩ tới số thù lao kết xù sắp tới tay, trái tim bé nhỏ của Kinh Niên lại đập hiền hòa trở lại, cô ngoắc ngoắc tay với Thi Ngũ gia, nói: "Ngũ gia, làm phiền ngài đưa đại công tử tới đây được không?

    Kinh Niên không có sức."

    Thi Ngũ gia nghe cô nói vậy, bèn xoay người nhảy tới thi thể của Thi công tử, nhấc bổng hắn lên hệt như đang khiêng túi bông, rồi nhảy bịch bịch bịch tới trước hố, ném thẳng Thi công tử vào trong quan tài, tiếng va chạm của châu bảo khiến Kinh Niên hơi híp mắt lại.

    "Ngũ gia, sao ngài lại thô lỗ như thế?

    Mặc dù đại công tử không phải cô nương, nhưng dù sao cũng là da mỏng thịt mềm, ném hư tiếc lắm!"

    Kinh Niên dẫu môi oán giận với Thi Ngũ gia bên cạnh, sau đó ngẩng đầu ngó sắc trời.

    Trải qua một trận quần nhau tơi tả, lúc này chẳng còn bao lâu nữa là gà gáy, tuy mở nắp quan tài ra, đợi tới khi trời sáng thì hồn phách của Thi công tử sẽ tự động thăng thiên, nhưng mà:

    "Cho ngươi đi chung với mấy tên cô hồn dã quỷ tới bản thân mình là ai cũng quên mất thì đúng là ức thật."

    Nói đoạn cô lấy từ trong ngực ra một cái bao bố tròn tròn dẹt dẹt, nghiêng đầu nói với Thi Ngũ gia: "Ngũ gia, ngài đứng xa một tý, đừng để món đồ chơi này chạm tới."

    Thi Ngũ gia nghe lời nhảy mấy bước, đợi hắn đứng vững xong, Kinh Niên mới moi ra một cuộn vải trắng, mở ra đắp lên thi thể của Thi công tử, rồi lấy cây bút đỏ viết hai chữ "Thăng linh" lên mảnh vải.

    Lúc này đây, chữ viết không thấm vào vải, mà từ từ bốc cháy.

    Cùng lúc đó, Kinh Niên mở bao bố ra, để lộ vật bên trong, nó chính là cái kính Bạch Hổ bảy cạnh.

    Cô rọi mặt kính về phía Thi công tử, cắn ngón tay trích máu viết lên đó hai chữ "An hồn".

    Lửa cháy ngày càng đượm, chữ trên mặt kính cũng ngày càng sáng, phóng ra kim quang rực rỡ lóa mắt, kim quang kia khắc lên mảnh vải trắng, dần lan tỏa ra cho tới khi trói buộc toàn bộ thi thể.

    Đột nhiên mảnh vải trắng vừa cháy rực vừa phồng lên, ánh sáng bao quanh Thi công tử cũng rời khỏi thân thể theo miếng vải ấy, mãi tới khi miếng vải trắng cháy rụi rồi hóa thành khói xanh tản đi theo gió, mặt kính cũng từ từ biến đen như bị mực đặc bôi qua, trong khi nét chữ bằng máu đã sớm biến mất theo ánh sáng đang tắt lịm dần.

    Kinh Niên đóng túi lại cột thật chắc, nhét lại trong lòng, rồi đưa tay gỡ lá bùa trên mặt Thi công tử.

    Lúc này sắc mặt của Thi công tử đã chuyển từ xanh đen sang hồng hào, tựa như đang ngủ say.

    "Ai bảo lòng ta mềm quá làm chi?"

    Kinh Niên chậm rãi đẩy nắp quan tài, trước khi khép lại còn tăm tia bên trong một hồi mới chịu đẩy chặt.

    "Ngũ gia, ngài nói xem lòng ta có mềm không?

    Xem ra Kinh Niên đúng là một người tốt!"

    Cô đi tới cạnh Thi Ngũ gia, ngoái đầu lại nhìn mấy con cương thi còn đang giãy dụa không ngừng, cười nhạt, lấy ngón tay còn đang chảy máu vẽ vài đường lên lá bùa của Thi Ngũ gia, để vết máu thấm vào rồi, cô mới đút ngón tay vào miệng cầm máu.

    "Đi thôi, Ngũ gia."

    Kinh Niên duỗi người, đi ra khỏi bãi tha ma mà không quay đầu lại lấy một lần, nói nào ngay mấy thứ kia cũng không nhúc nhích được, tới hừng đông là có thể nhẹ nhõm rồi.

    Lúc đi ngang qua căn nhà cỏ, Kinh Niên cao giọng nói với cái lỗ hổng: "Sư phụ thủ sơn, Kinh Niên thay mặt người toàn thành nói một tiếng cảm tạ với ngài!"

    Không những cảm tạ việc mất công đào hố lấp hố, mà quan trọng hơn là ông đã luôn trông giữ nơi này.

    Sau đó...

    "Ngũ gia, chúng ta có thể đi về lĩnh tiền công rồi ~ ngài có vui không?

    Ha ha ha..."

    Tiếng độc thoại ngày một đi xa, trong lỗ hổng của căn nhà cỏ lại bay ra một luồng khói trắng, chợt nghe giọng ồm ồm vẳng ra: "Lương bổng cũng chẳng phải lãnh suông..."

    ~ Hết chương 2 ~
     
    Thi Quan Kinh Niên
    Chương 3


    Chương 3

    NÚI HOANG ĐẠO GIA

    Edit: Yunchan

    ***

    Lúc nhận được tiền công thì sắc trời đã hửng sáng, cả Lâm gia sáng rực đèn đuốc, chỉ chờ Thi quan về báo tin vui.

    Sau khi đã biết tin con trai cuối cùng cũng được hạ táng thuận lợi, Lâm lão gia không nói hai lời dâng ngay số tiền công còn lại, Lâm phu nhân thì trào nước mắt lôi lôi kéo kéo tay Kinh Niên, cám ơn cô rối rít, nói là rốt cuộc tiểu nhi cũng được yên nghỉ.

    Chẳng qua theo Kinh Niên thấy, có lẽ thành phần thở phào thoát nạn vẫn chiếm đa số, bằng không lão gia cũng không năm lần bảy lượt giữ cô lại tham gia bữa tiệc tang ma gì đó.

    Nghe đâu thân bằng hảo hữu đều có phần, ngay cả hàng xóm láng giềng hơi quen tý cũng không lọt sổ.

    Nếu chẳng phải thành này giàu có không có nhà nghèo nào, thì khó đảm bảo lão gia không mở kho thóc ăn mừng.

    Ăn mừng?

    Không sai, đích thực là ăn mừng!

    Tuy nói bên ngoài là tiệc tang ma, nhưng nhìn ý cười mập mờ trên mặt của lão gia, Kinh Niên thật là buồn thay cho Thi công tử, cũng may cuối cùng được ra đi thanh thản.

    Dù sao chuyện này cũng chẳng thể trách lão gia và phu nhân, đương nhiên, Kinh Niên cũng không nhìn ra bữa tiệc này có gì vui vẻ, cho nên khéo léo từ chối ý tốt của Lâm lão gia, hơn nữa Thi Ngũ gia dính đầy máu thối còn chưa xử lý, cho nên vừa cầm bạc xong đã dắt Thi Ngũ gia ra cổng lớn ngay mà không nán lại một lát nào.

    Tất nhiên, cũng không định cho bất cứ ai biết chuyến đi này còn giải quyết thêm không ít phiền phức, có lẽ sư phụ thủ sơn cũng có thể an nhàn một lúc.

    Gió sớm mai mát mẻ trong lành khác xa với không khí ẩm mốc ở bãi tha ma trên núi, dù luồn vào cổ hơi lạnh nhưng vẫn mang theo mùi của nắng.

    Kinh Niên sờ cái túi vải căng phồng, nụ cười phởn vẫn chưa héo đi chút nào từ khi ra khỏi cổng lớn của Lâm gia.

    Bạc nhiều tới độ hầu bao cũng không đựng nổi, sẽ có cảm giác gì?

    Nhìn cái vẻ hơn hớn của cô là biết liền thôi.

    "Ngũ gia, ta muốn mua cho ngài một bộ đồ mới trước!"

    Kinh Niên xoay người vừa đi thụt lùi vừa cười tít mắt, sau đó híp mắt ngó nghiêng, bắt gặp một phường vải ở ven đường, lập tức quay gót chạy bổ về hướng đó.

    Trong con ngõ nhỏ này có vài bố phường nằm liền kề nhau nối dài thành dãy, Kinh Niên chẳng buồn nghĩ ngợi mà vọt ngay vào một nhà lớn nhất, trông có vẻ là tiệm đứng đầu ở đây.

    Thi Ngũ gia nhảy theo sau lưng cô, thật ra nếu nhìn cho kỹ thì y phục trên người Thi Ngũ gia, dù màu sắc đã hơi phai nhưng chất liệu lại rất tốt, người lành nghề chỉ liếc sơ là nhìn ra ngay đây tuyệt đối là chất vải thượng hạng.

    Bộ đồ trên người Kinh Niên thì ngược lại, váy vải trắng thắt đai đỏ, ướm lên vừa khít, cũng khá là bắt mắt, nhưng chất liệu thì hốt được cả nắm ở ven đường.

    Tục ngữ có nói, người nhìn người, nhìn bề ngoài, người nhìn Thi quan, nhìn hành đầu.

    Nếu ngươi là thi quan mà không dắt theo được hành đầu nào, hứ!

    Mặc kệ ngươi ăn mặc lộng lẫy diêm dúa, châu ngọc la liệt đầy đầu, thì cũng chả ai thèm ngó ngàng tới ngươi, nhiều lắm là nhìn ngươi như coi xiếc khỉ.

    Thời buổi này nghề Thi quan cũng là nghề thịnh hành, nên người làm chủ nào mà không nhượng bộ vài bước, dù sao cái người ta muốn coi cũng đâu phải là ngươi!

    Bởi thế, dù có tìm cho Thi Ngũ gia hàng xịn hơn nữa, Kinh Niên cũng không phàn nàn nửa tiếng.

    Cô bước phăm phăm tới trước mặt chưởng quỹ, phất tay chỉ ngay vào mấy chồng vải tốt nhất: "Chưởng quỹ, mấy loại vải này có bộ nào may sẵn không?

    Kiểu của nam, vừa với Ngũ gia nhà ta, từ trong ra ngoài từ trên xuống dưới đều cần hết!"

    Chưởng quỹ đang gảy bàn tính chợt ngước mắt lên, vừa thấy cô thì đổi ngay sang cái mặt cười niềm nở, hai mắt phát sáng tới nỗi tưởng đâu chất vào đó cả đống vàng.

    Ông ta xoa xoa tay xít lại gần, nói: "A... chẳng phải vị này là Thi quan tiểu muội đưa Lâm đại công tử lên núi sao?

    Mời vào mời vào!!"

    Giọng kích động chưa từng thấy, cứ như chưa nghe thấy lời Kinh Niên mới nói xong.

    Thái độ vồn vã của chưởng quỹ làm Kinh Niên cảm giác như mình là đại tướng quân vừa chiến thắng trở về, thật ra cùng lắm chỉ là chuyển xác một chuyến thôi.

    Nhưng Kinh Niên cũng không bài xích sự nhiệt tình của người ta, kiên nhẫn lặp lại câu vừa rồi lần nữa, còn cố ý nói to, đẩy Ngũ gia lên trước, để chưởng quỹ nhìn cho sướng mắt.

    Chưởng quỹ đỡ cằm, dí sát mặt vào nhìn hồi lâu, ánh mắt như hận không thể lột sạch Thi Ngũ gia ra để ngắm cho trọn bộ.

    Giờ thì Kinh Niên có vẻ không vui rồi, thưởng thức với quấy rối là hai chuyện khác xa nhau nhé.

    Vì vậy cô ra sức ho khan hai tiếng, nhắc nhở chưởng quỹ nên chùi nước miếng.

    "Ơ...

    à... mua y phục cho đây đúng không..."

    Chưởng quỹ ý thức được sự thất thố của mình, nét mặt già nua không nén nổi thẹn, lật đật nói mấy câu lấy lệ rồi quay người lật nhìn hàng mẫu may sẵn: "Quần và áo lót trong bằng lụa khá hợp với vị gia đây, nhưng áo khoác ngoài e là phải đặt rồi."

    "Phải đợi bao lâu?"

    Kinh Niên nhoài người lên mặt quầy, nâng hai chân đá tới đá lui, con ngươi đảo vòng qua lại giữa các ô đựng vải.

    "Bây giờ đo người trước, đêm nay là có cho ngài."

    Da mặt của chưởng quỹ cũng không mỏng manh gì, quay người lại đã cười tươi rói, khiến Kinh Niên không nhịn nổi thôi thúc muốn vén chỗ thịt nhăn ở hai bên mặt ông ta ra.

    Chưởng quỹ dừng chốc lát, rồi hỏi tiếp: "Cô nương, cô thích màu sắc với kiểu dáng nào?

    Có cần ta chọn cho cô nương không?"

    Kinh Niên nghiêng đầu qua, nhìn Thi Ngũ gia ngẫm nghĩ một hồi, chỉ vào một cuộn vải nói: "Màu thì chọn loại này, tốt nhất là nền lam thêu đen, còn chất liệu ấy à, cứ chọn loại tốt nhất là được, ta mua nội sam trước, ngoại sam thì phiền ngài làm nhanh giùm, sau bữa cơm tối có được không?"

    Chưởng quỹ gật đầu tới tấp, thu tiền đặt cọc, đo người cho Thi Ngũ gia, gói kỹ nội sam bằng lụa trắng đã may sẵn, rồi đưa qua.

    Kinh Niên nhận hàng, hỏi khách điếm tốt nhất trong thành ở đâu, sau đó hăm hở kéo Thi Ngũ gia đi tìm.

    Lúc ông chủ béo ú trơn mỡ của khách điếm mặc áo gấm xa xỉ đích thân dẫn cô lên nhã phòng lầu hai, đồng thời sai người xách một thùng nước nóng lên trong thời gian ngắn nhất, Kinh Niên mới ngỡ ngàng nhận ra một chuyện ngoài ý muốn, đó là cô đã biến thành nhân vật được ưa chuộng nổi tiếng toàn thành, cũng là nhờ hưởng ké hào quang của Thi Ngũ gia.

    "Ngũ gia ơi Ngũ gia, sao ngài luôn được hoan nghênh thế?"

    Đợi mấy người sai vặt đi hết rồi, Kinh Niên bèn cài then cửa, đi tới trước Thi Ngũ gia với vẻ mặt rất ư cảm thán.

    Sau đó đổi chữ trên bùa cho hắn, cởi y phục bẩn ra, cởi luôn cả dây cột tóc.

    Đoạn chọc tay vào thùng nước thử độ ấm, rồi mới đỡ hắn vào trong bồn tắm ngồi, xắn cao ống tay áo, cầm chiếc khăn giắt ở mép bồn thả vào trong nước thấm ướt.

    "Ngũ gia, nước này hơi nóng, nhưng thoải mái lắm đúng không?

    Hứng gió lạnh cả đêm cũng nên làm ấm cơ thể chút."

    Kinh Niên cầm khăn chà lau thân thể của Thi Ngũ gia, nhẹ nhàng dịu dàng, lau kỹ càng từng tấc da, nụ cười nhàn nhạt trên gò má như đang làm chuyện vui vẻ nhất, hạnh phúc nhất.

    Lau người xong thì bắt đầu chuyển sang gội đầu, một tay đỡ sau cổ Thi Ngũ gia, để đầu của hắn ngửa ra sau, tay còn lại múc gáo nước, đổ từ trán xuống một cách cẩn thận, cố gắng không để ướt lá bùa.

    Khi rửa tới mặt, Kinh Niên vắt khô cái khăn, nhấc lá bùa lên từ tốn chà lau, mắt mũi miệng, chỗ nào cũng không bỏ qua.

    Lúc lau tới cằm thì động tác của Kinh Niên hơi khựng lại, hai mắt nhìn thẳng vào mặt của Thi Ngũ gia, ngắm mê mẩn tới phát ngốc hồi lâu, cuối cùng mới lưu luyến thả lá bùa ra, than: "Ngũ gia...

    Thật tình không nỡ dán cái này lên mặt ngài tý nào, nhưng Kinh Niên quả thật không dám bóc ra, ngài thứ lỗi cho Kinh Niên nhé..."

    Nói rồi bưng má thở dài, sau đó cô dìu Thi Ngũ gia ra khỏi thùng nước tắm, lau khô người rồi mặc nội sam vào cho hắn.

    Cột chắc đai lưng xong Kinh Niên mới giơ tay lên lau mồ hôi, ôm lấy eo của Thi Ngũ gia, đắc ý hỏi: "Ngũ gia, Kinh Niên hầu hạ chu đáo quá phải không?

    Ngũ gia ngài khoan khoái rồi ha ~ chờ tóc khô nữa ta sẽ chải suông cho ngài, ngài ngồi lên giường chờ ta lát nhé, không được nhìn qua đâu, Kinh Niên xấu hổ."

    Thi Ngũ gia ngoan ngoãn ngồi xuống mép giường, mặt đối mặt với cái cột giường, còn làm y như thật không quay qua quay lại.

    Lúc này Kinh Niên mới đi tới trước thùng nước tắm cởi áo tháo thắt lưng —– rốt cuộc cũng được tắm nước nóng rồi!!!

    Vào chạng vạng, ông chủ tiệm vải đích thân đưa bộ ngoại bào mới tinh tới, nửa dưới áo bào thêu hoa văn đen tuyền, vạt áo dưới còn thêu đường viền.

    Sau khi trả tiền tiễn người về xong, Kinh Niên không rời khỏi khách điếm ngay mà ở lại ăn cơm tối, vùi trong lòng Thi Ngũ gia ngủ say tới tận bình minh.

    Lúc lên đường tinh thần đã dạt dào phấn chấn, khác xa với lúc mới vào thành đi hết đường nọ tới đường kia tìm mối làm ăn.

    Ra khỏi thành, lúc đi ngang con đường lên núi đêm qua thì Kinh Niên hơi dừng chân lại, ngửa đầu ngó lên trên một chút, vỗ bồm bộp vào túi hành lý căng phồng trên vai, toét miệng cười hí hửng, sau đó liếc qua khóe mắt nhìn bộ đồ mới toanh chất lượng cao của Thi Ngũ gia, cười tới nỗi hai mắt cong tít thành nửa vầng trăng.

    "Tục ngữ dạy cấm sai, người cần ăn mặc, Phật cần kim trang, Ngũ gia ngài chẳng mặc gì đã đủ đẹp, mặc vào một phát lại càng anh tư hiên ngang khí thế bừng bừng, tới thần phật cũng phải nhường đường cho ngài!"

    Kinh Niên ngoảnh đầu đi tiếp, miệng còn huyên thuyên mấy câu ca tụng Ngũ gia, cái mặt đó cực kỳ giống lão Vương bán dưa ngoài chợ.

    Càng đi tới đường càng vắng vẻ, cây cối xanh biếc chung quanh từ từ đổi thành đường đá gồ ghề san sát, người qua đường cũng ngày một ít đi, cuối cùng chỉ còn thỉnh thoảng gặp được vài người.

    Đường thông tới thành trấn kế tiếp có ba bốn ngã rẽ, mặc kệ ngã nào thì nó cũng là đường, vậy mà Kinh Niên cứ khăng khăng muốn vượt qua núi đá không có đường, đúng là đi tắt, nhưng trừ Kinh Niên ra, sợ là mọi người đều thà đi vòng để tránh xa cái ngọn núi quỷ quái ấy.

    Địa thế hiểm trở, núi non hoang vắng...

    Mấy thứ này đều không phải là vấn đề to tát gì, sợ là sợ trong ngọn núi này có thứ bất thường.

    Dù không ai nói được rõ ràng chính xác, nhưng không có lửa làm sao có khói, mạng treo trong tay mình đâu phải chuyện đùa.

    Thế mà Kinh Niên cứ không tin, không phải không tin trong núi có thứ kỳ dị, mà là không tin mình không vượt qua được.

    Làm Thi quan được một thời gian, gặp mấy chuyện kiểu này mãi thì cũng dần cứng cỏi hơn.

    Cũng chẳng phải mình Kinh Niên như thế, khi đụng phải loại núi có lời đồn kỳ quái kiểu này, mười Thi quan thì hết chín nhất định là muốn xông vào.

    Leo men theo chân núi lên trên chưa đầy mấy dặm, Kinh Niên đã phát hiện ra ngọn núi này không gập ghềnh như tưởng tượng, chỉ có đất là cứng chắc, một tấc cỏ cũng khó mọc, những tảng đá xám trắng rắn chắc với nhiều loại kích cỡ cắm xiêng trên mặt đất như những nấm mồ nối liền nhau, nom cực kỳ u ám hoang vu.

    Kinh Niên bám vào hố to hố nhỏ trên sườn núi leo mất cả buổi sáng, mắt thấy mặt trời ngày càng lên cao, cô bèn chọn một chỗ đất bằng, ngồi xuống một hòn đá nhô lên, ở đây không có cây cũng chẳng có sông, nhìn sao cũng là một vùng đất chết.

    Cô hết cách đành phải rút cái khăn khô ra phủi phủi bụi cho Thi Ngũ gia trước, sau đó chà chà cái mặt tròn lấm đất của mình, rồi moi nửa cái bánh bao khô hôm qua chưa ăn hết ra gặm, vừa gặm vừa ngẩng đầu nhìn mặt trời trên đỉnh.

    Theo lý thì vừa sang xuân ít ngày, ánh mặt trời buổi trưa có hơi gay gắt cũng không phải chuyện lạ, chỉ cần đứng bất động một lát cũng đủ làm người ta miệng khô lưỡi khô.

    Vậy mà cô leo núi cũng khá lâu lại chẳng nhỏ được một giọt mồ hôi nào, trái lại còn thấy gió lạnh thổi vù vù, thái dương như họa vậy, thấy được chứ không dùng được, vả lại càng đi lên đỉnh núi cảm giác này càng mãnh liệt, theo tình hình này thì tám phần không liên quan gì tới khí hậu.

    "Ngọn núi này có trò lạ."

    Nuốt nốt miếng bánh bao cuối cùng vào bụng, Kinh Niên liếm liếm ngón tay, không vội đứng dậy đi tiếp, trái lại còn rảnh rỗi ngó nghiêng chung quanh.

    Đương nhiên không phải cô đang thưởng thức phong cảnh, mà với kinh nghiệm quan sát của cô, gió núi lạnh thế này hơn phân nửa là do thi khí.

    "Cơ mà, sao không thấy nửa cái bóng nào?"

    Chả lẽ còn phải lên nữa?

    Nhưng họ vào núi cũng lâu rồi, mà mũi của mấy thứ chết chóc đó rất thính, đáng lẽ đã lần theo mùi dương khí tìm tới đây từ lâu rồi chứ.

    "Cũng đỡ, không tới là hay nhất, khỏi rắc rối."

    Nếu đụng thật thì chỉ có thể trách số của mấy thứ kia quá đen.

    Kinh Niên đứng lên phủi mông, xách túi vải đeo lên vai, quay đầu nói với Thi Ngũ gia một tiếng, rồi lại đi lên theo vách núi.

    Càng đi vào sâu hơn luồng khí trắng vốn dĩ rất mỏng lại ngày một nhiều lên, rất nhanh nó đã tụ thành một màn sương mù dầy đặc trước mắt Kinh Niên, dầy tới độ che khuất bầu trời.

    Tới khi Kinh Niên dừng lại lần nữa, nhìn quanh mới phát hiện cái lồng sương này đang quấn quanh thân, cả tầm mắt là một vùng trắng xóa.

    "Đây là..."

    Tim Kinh Niên thót lên, nhảy mấy bước tới bên cạnh Thi Ngũ gia, nhìn về phía trước.

    Trước mặt nào còn thấy trời xanh mây trắng, cách tầng tầng lớp lớp sương mù, e là nửa tia nắng cũng không lọt vào được.

    Cương thi không sợ ngày đêm luân chuyển, nhưng quỷ hồn thì khác.

    Ý thức được điều này Kinh Niên vội vàng thò tay vào lòng, nhưng đã quá trễ, ngay tích tắc bàn tay chạm tới bùa, cô đột nhiên cảm thấy sau lưng nóng lên, cánh tay cũng rút ra không nghe theo điều khiển.

    "Toi rồi toi rồi..."

    Kinh Niên nhắm mắt lại, đống mồ hôi không ra nổi hồi nãy, bây giờ lại toát hết ra trên trán.

    Cô biết tình huống này gọi là quỷ nhập, trước đây cũng từng bị một hai lần, nhưng lúc đó đều có người giúp đỡ, còn hiện tại, bên cạnh chỉ có một Ngũ gia... rõ là anh hùng không có đất dụng võ mà...

    Thi quan chỉ biết cách đối phó với cương thi, dù chừng trăm cái thây ma xông lên cũng chỉ là chuyện vặt.

    Nhưng Thi quan không luyện mắt âm dương, không nhìn thấy Quỷ Hồn, cũng không biết cách đuổi tử hồn giúp người sống.

    Mà điểm chết người nhất chính là, bản thể Thi quan bị dựa thân, công lực lão đạo dù mạnh tới đâu cũng phải lao lực hao tâm tốn sức, tới khi dùng hết tinh khí thì cũng phải phó mạng cho số phận.

    Người có công lực kém thì chưa cần tới nửa khác đã mất quyền làm chủ, nhẹ thì đổ bệnh, nặng thì chết.

    Để tránh xảy ra chuyện này, Thi quan nào cũng có một lá bùa giữ hồn, dán ở mắt, hai vai, ngực, bụng và rốn để hộ dương thể, khiến tử hồn không tiếp cận được cơ thể.

    Đương nhiên trên người Kinh Niên cũng có, nhưng lúc cô vào núi lại lơ là không dán bùa vào đúng chỗ, đến nỗi vừa rồi mới nhớ tới chuyện lấy bùa dán vào.

    Kinh Niên nhìn Thi Ngũ gia vẫn bất động bên cạnh, tuy mọi khi còn có thể tìm được vài cách, nhưng theo tình hình này, tay chân không nghe điều khiển, bùa chú cũng chẳng biết đổi cách nào, huống hồ cái hồn này...

    "Cho ta ăn thêm chút nữa!!"

    Vừa nói xong câu này, chân Kinh Niên tức khắc nhũn ra, quỳ phịch xuống đất, vì một thoáng phân tâm mà sức kháng cự vừa tích tụ lúc nãy đều mất sạch, chỉ thấy cô bổ nhào ra đất liều mạng đấm đất.

    "Ta chỉ muốn ăn một cái nữa thôi!!

    Cho ta một cái bánh bao là đủ rồi!!!

    Tại sao tới một cái bánh bao cũng không cho ta..."

    Từ trong miệng Kinh Niên xổ ra khẩu âm phương Bắc tục tằng phối với giọng thiếu nữ non nớt, nghe vào hết sức kỳ dị.

    Tiếng càu nhàu chồng lên nhau, lặp đi lặp lại câu "Cho ta một cái bánh bao", trên cái trán kéo căng của Kinh Niên bỗng gồ lên một đường gân xanh hình chữ thập, mỗi lần thốt ra một câu thì nó lại lồi lên một chút, rốt cuộc bùng nổ —-

    "Câm hết cho ta!!!"

    Kinh Niên bất ngờ nhảy vọt khỏi mặt đất, giẫm giẫm giẫm: "Con bà nó có phải ngươi ăn nhiều quá nên đột tử không hả?

    Còn ăn ăn ăn..."

    Còn chưa nói hết lời, trên lưng đã đột nhiên mát lạnh, Kinh Niên tức khắc cảm thấy thân thể nhẹ đi không ít, biết là hồn tự động xuất ra khỏi cơ thể, bèn lật đật thò tay vào ngực định bới bùa.

    Ai ngờ tay còn chưa sờ được gì thì ngực lại nóng lên, cái tay đang thò vào vạt áo lập tức chuyển sang bưng mặt khóc thút thít —

    "Hu hu hu... tiểu nữ đúng là số khổ ...

    Nhà có mẹ già tám mươi, Lâm công tử không bằng cầm thú còn định cưỡng đoạt ta, mẹ già tức giận đến nỗi mất mạng, ta còn giữ lại làm gì, bị Lâm công tử vấy bẩn chi bằng chết mà giữ được trong sạch...

    Hu hu hu..."

    "Nghe ta nói nè cô nương!!

    Lâm đại công tử đã bị người ta chém rồi!!

    Đầu mình hai nơi, chết muốn xấu bao nhiêu thì xấu bấy nhiêu!!

    Tuyệt đối thảm hơn cô!!"

    Kinh Niên ráng hết sức giật tay ra khỏi mặt, nắm chặt tay lại, hét lớn một tiếng: "Thi thể của tiểu gia đó là đích thân ta dẫn lên bãi tha ma!!"

    Bất thình lình —- ngực mát lạnh, Kinh Niên không dám thở một hơi nào, lật đật lấy bùa ra, lần này còn ghê hơn, tay mới nhích khẽ thì trên đỉnh đầu, trước ngực, trên cổ rồi dăm ba chỗ khác đều nóng lên cùng một lúc...

    Xong đời...

    "Ha ha ha ha ha ha ha!!

    Hú hú hú hú hú hú!!

    Hí hí hí..."

    Kinh Niên ôm bụng lăn lộn trên đất, mồm ngoác to đến mức toét lên tận mang tai.

    Trong chốc lát lại đột nhiên nhảy dựng lên, bê một tảng đá mẻ cố sống cố chết nện xuống mặt đất, vừa nện vừa chửi ầm lên: "Con đàn bà thối!!

    Lão tử chỉ tát ngươi vài cái, ngươi đã cắm sừng lão tử!

    Đôi cẩu nam nữ này!

    Gian phu dâm phụ này!

    Mông không có ** này!

    Cởi quần không đánh nổi rắm này..."

    Sau đó bất ngờ lạc điệu, biến thành tiếng tụng niệm bi ai: "Nhớ thuở xưa, ca vân mộng vũ, là ai, ném đá vào hồ tâm, khơi lên lớp lớp sóng lòng..."

    Chỉ thấy Kinh Niên giang hai tay ra, trông điệu bộ như muốn moi tim móc phổi, ngửa đầu hét to: "Ôi ——– áng mây, ngươi là trái tim nhỏ của ta, ôi —— hoa sen, ngươi thật giống như tên nở rộ trong lòng ta, ôi —– Mỵ Nương, đến giờ ta vẫn không quên được đêm mây mưa hôm đó, nghe tiếng nàng e thẹn rên khẽ bên tai ta..."

    Giỏi cho ngươi tên đại sắc quỷ!!!

    Bị người ta bắt gian tại trận đánh chết ngay tại chỗ, rõ là không đánh oan ngươi!

    Dám mò lên giường em vợ Huyện gia!

    Chẳng phải chán sống rồi sao?!

    Kinh Niên thầm lý sự trong lòng.

    Chờ sau khi kêu hết tên của mười bảy cô nương, sắc quỷ rốt cuộc cũng tâm sự đủ, cổ mát lạnh lần nữa, linh hồn bé nhỏ bay mất.

    Kinh Niên đỡ cái cằm mỏi nhừ, vừa định lấy hơi đứng dậy, nào ngờ thân thể lại như bị định trụ không nhích được nửa phân, xem ra còn chưa xuất hết.

    Thôi được, để coi vị này định làm gì.

    Kinh Niên dứt khoát không mất công chống cự nữa, đứng nghiêm một lát, đột nhiên, hai tay giơ lên tóm lấy vạt áo, kéo mạnh —-

    "Vị gia kia ơi giúp ta một tay đi, ta nóng quá..."

    Giọng õng ẹo uốn éo vừa vọt ra khỏi miệng, Kinh Niên đã đỏ phừng mặt —- đây đây đây... lẽ nào là...

    "A... nóng quá đi... thật là khó chịu mà... ui... a..."

    Quả nhiên!!

    Quả nhiên không phải là nữ tử nhà lành mà, sao lại thành thế này, sao lại thành thế này, sao lại thành thế này hảaaa?!!!

    Không được, tôn nghiêm của cô không thể ném cho thứ này!!!!

    Nhưng nghĩ thì cứ nghĩ mà làm thì cứ làm, tay Kinh Niên vẫn nỗ lực kiên trì, lột cái áo trắng bên ngoài xuống, để lộ nội sam xanh biếc.

    "Ngũ gia!!

    Không được nhìn qua bên này!!"

    Kinh Niên vừa liều mạng cản hai cái tay đang làm bậy, vừa hét to về hướng Thi Ngũ gia.

    Thi Ngũ gia nghiêng đầu đi như thật, mặt cũng ngoảnh sang hướng khác.

    "A...

    Thật là khó chịu...

    Nóng quá...

    Câm miệng!!

    Mùa vụ qua lâu rồi!!!

    A...

    Ta không được... ngươi không được chỗ nào?

    A...

    Đừng mà....!!

    Ta cũng muốn!!

    Không muốn!

    Ngươi im miệng cho ta!!!"

    Kinh Niên nghiến răng nghiến lợi chiến đấu với hai cái tay không an phận của mình, khổ nỗi sau một loạt hồn dựa thân thì sức lực cũng giảm đi, dù ý thức có kiên định cỡ nào cũng không thực hiện được, mắt thấy bạch sam sắp bị tuột tới thắt lưng.

    Lẽ nào đường đường là Thi quan như ta lại diễn màn thoát y ngoạn mục vô song ngay tại vùng núi hoang vu này sao?

    Ngay khi cô định vứt bỏ ý muốn chống cự, thì đúng lúc này kim quang vạn trượng bỗng bắn vào trong màn sương, lóa mắt như vậy chắc chắn không phải là ánh sáng mờ của đèn dầu.

    Kinh Niên bị luồng ánh sáng đâm tới, khiến hai mắt không mở nổi, nhưng đầu vai bỗng mát lạnh, toàn thân nhất thời xụi lơ như bùn, lòng cô biết rõ bị thứ mạnh như vậy chiếu tới, hồn phách không muốn thăng thiên cũng khó.

    Sương mù dầy đặc bị xua đi rất nhanh, mắt của Kinh Niên cũng lấy lại tác dụng.

    Cô thần tốc mặc y phục vào, ngồi xổm cạnh chân của Thi Ngũ gia, nhìn về hướng vừa phóng ra ánh sáng, thấy một bóng đen đi về phía này.

    Theo màn sương dần tan đi, bóng đen kia cũng dần rõ hơn, thân mặc thanh bào, đầu đội cao quan, gương mặt tuấn tú, hẳn là một đạo sĩ thiếu niên.

    Đạo sĩ kia kẹp trong khuỷu tay một vật như đĩa bát quái, Kinh Niên nhận ra nó, đó là bát quái Thái Hư mà đạo sĩ chuyên dùng để xua hồn thu phách, ánh sáng vừa rồi nhất định cũng phát ra từ món đồ chơi này.

    Đạo sĩ kia bước nhanh tới trước Kinh Niên, khom lưng hỏi: "Tiểu cô nương, cô không sao chứ?"

    Kinh Niên có hơi bất mãn với thái độ nhìn từ trên cao xuống, nhưng lúc này tới đi cũng như nhũn ra, muốn đứng cũng đứng không nổi.

    Vì vậy đành cười tươi đáp: "Không sao hết không sao hết, đa tạ đạo gia cứu nguy."

    Đạo gia kia cũng cười, đứng thẳng người lên nhìn về phía Thi Ngũ gia, trừng mắt quan sát một lát, tấm tắc: "Thì ra tiểu cô nương đây là một Thi quan?"

    Nói đoạn nhìn xuống chứng thực, thấy Kinh Niên gật đầu thì không nén nổi nét mặt kinh ngạc: "Thời buổi này Thi quan còn bị quỷ nhập thật là hiếm hoi, may mà gặp được bần đạo, chúc mừng chúc mừng!"

    Đạo sĩ cười tươi như hoa, nhưng nói chuyện thì đâm người chưa từng thấy.

    Kinh Niên cười lơ đễnh, đạo sĩ coi thường Thi quan cũng chẳng phải chuyện đáng ngạc nhiên, theo lý thì họ là hai đường song song, bên lo quỷ bên quản thi, bên này không chọc bên kia.

    Nhưng Thi quan coi chuyện này là buôn bán, nên bị xem là thấp hèn, đạo sĩ coi nó là nghĩa vụ trách nhiệm, nên được xem là cao cả.

    Thế là lập tức phân cấp bậc, vả lại đạo sĩ nhà người ta có quan(*) có phái, mà Thi quan thì sao?

    Không phải tới nơi thôn dã kiếm tiền thì chính là bám quyền leo thế, làm chân chó theo đuôi người giàu, thảo nào mấy đạo sĩ thanh liêm cao quý không ưa.

    Đương nhiên, người làm Thi quan cũng có mấy ai ưa đạo sĩ đâu.

    (*) Đạo quán

    Mối quan hệ căng thẳng này nhắc tới cũng rất buồn cười, dù sao hơn ba trăm năm trước cũng là người một nhà, chẳng biết từ khi nào đã mỗi người đi mỗi ngả?

    Kinh Niên thở dài, thấy đạo gia kia che tay lên chân mày nhìn chung quanh, bèn khách sáo nói: "Đạo gia cũng muốn tới trấn Mai Lĩnh sao?"

    Đạo gia cúi đầu nhìn hai mắt cô, nghe giọng điệu cô hiền lành, nên cũng không nỡ châm chọc tiếp, đáp: "Đúng vậy, núi này là đường dẫn tới trấn Mai Lĩnh nhanh nhất."

    "Kinh Niên cũng leo lên núi này vì biết nó là đường gần nhất."

    Môi đạo sĩ thiếu niên giật giật, muốn nói nếu không nhờ bát quái Thái Hư cảm ứng được trong núi này có Quỷ Hồn quần tụ, thì cô còn phải lăn thêm một trận ở đây rồi.

    Những linh hồn lúc nãy đều là oan hồn, oán khí quá nặng nên không thể được ánh mặt trời siêu độ, tất cả đều trốn hết vào đây.

    Ý niệm trước khi chết của chúng quá nặng, nên dù không phải ác linh, nhưng khi nhập vào người cũng rất phiền toái.

    Nếu y không tới, thì tiểu Thi quan này tính đối phó thế nào đây?

    Y thật tình rất tò mò.

    "Cô nương, nếu chúng ta cùng đường thì chi bằng đi chung với nhau, cũng hay có thêm người làm bạn."

    Sợ cô bị quỷ nhập nữa đây mà.

    Kinh Niên thừa nhận là bản thân sơ suất, nhưng một lỗi sai ai lại mắc hai lần?

    Nếu đi con đường nhỏ này, thì cô nhất định sẽ dán bùa giữ hồn trước.

    Có điều nếu người ta đã mở lời, không ngại đồng hành cùng một Thi quan như cô, thì cô đương nhiên không tiện cự tuyệt rồi.

    Do đó đành gật đầu: "Đạo gia nói phải."

    Đạo sĩ nghe cô cứ mở miệng là đạo gia, chân mày cau lại, hình như không quen lắm với kiểu xưng hô này, nói: "Bần đạo họ kép Gia Cát, tên một chữ Thủ, cô nương gọi thẳng tên bần đạo là được, chẳng hay bần đạo phải xưng hô với cô nương thế nào?"

    "Đạo gia cứ gọi Kinh Niên là được rồi."

    Nào giờ cô luôn nói với người khác như vậy, kiểu như rất tự hào với cái tên của mình.

    Gia Cát Thủ thấy cô vẫn chưa chịu đổi cách xưng hô, môi mím lại, nhưng không phàn nàn nữa, chỉ đáp: "Chúng ta nên lên đường nhanh đi, tốt nhất là tới trấn trước khi trời tối."

    Nếu không thì phải ngủ ngoài đồng.

    Kinh Niên ừ một tiếng, vịn Thi Ngũ gia đứng lên từ từ, hai chân còn nhũn tới nỗi run cầm cập.

    Gia Cát Thủ nghĩ cô vừa bị hồn nhập thân, trong chốc lát âm khí trong cơ thể chưa tan hết, đưa tay định dìu cô, nói: "Lại đây, bần đạo dìu cô."

    Kinh Niên khoát khoát tay: "Đa tạ lòng tốt của đạo gia, Kinh Niên chỉ nhận tấm lòng."

    Ngay cả vấn đề bé xíu này cũng không đối phó nổi thì cô lăn lộn cách nào đây!

    Gia Cát Thủ thu tay lại, thấy cô moi cây bút đỏ vẽ vài nét trên lá bùa của Thi Ngũ gia, rồi ghé vào người hắn nói: "Ngũ gia, Kinh Niên đi không nổi, làm phiền ngài bế một đoạn nhé."

    Chợt thấy hai tay của Thi Ngũ gia nâng lên, bế bổng cô lên, nhảy nhảy tới trước.

    Kinh Niên vòng một cánh tay qua cổ Thi Ngũ gia, vẫy vẫy tay qua vai hắn: "Đạo gia, đi thôi."

    Gia Cát Thủ sững sờ cả buổi trời mới tỉnh hồn lại, bước nhanh đuổi theo, lúc này, hắn khó lòng mà phủ nhận rằng làm Thi quan quả thật... tiện lợi hơn làm đạo sĩ...

    ~ Hết chương 3 ~
     
    Thi Quan Kinh Niên
    Chương 4


    Chương 4

    MAI LĨNH TAI ƯƠNG

    Edit: Yunchan

    ***

    Mai Lĩnh là vùng đồi núi thấp tọa lạc ở miền Đông Nam, trên núi non trùng điệp mọc đầy cây mai dại, mỗi khi tới mùa mai nở là hương bay ngàn dặm, hấp dẫn thương khách lui tới.

    Có vài người làm ăn biết nắm bắt cơ hội, dựng quán trà và khách điếm ở chân núi bằng phẳng.

    Vài hộ giàu có cũng đặt biệt quán ở đây.

    Dần dà, diện tích nhà ở ngày một rộng hơn, người định cư cũng ngày một nhiều, rồi cứ thế hình thành trấn Mai Lĩnh vòng núi ôm non chẳng biết từ bao giờ.

    Vị đạo sĩ Gia Cát Thủ nọ tuy còn trẻ tuổi, nhưng nơi từng đi qua lại khá nhiều.

    Dọc đường kể rất nhiều chuyện về trấn Mai Lĩnh, khiến Kinh Niên có cái nhìn tổng thể về trấn nhỏ này trước cả khi bước vào cổng trấn.

    Lúc này, trời đã chập tối, con đường đá dẫn vào trấn được ánh trăng chiếu vào làm ánh lên màu xám trắng.

    Cả con đường dù dõi mắt khắp lượt cũng chẳng có lấy một người qua lại, gió cuốn bay đám lá rụng trên đất, phát ra tiếng xào xạc tiêu điều.

    "Sao trấn.... này lại vắng tanh thế này?"

    Kinh Niên nhìn trái nhìn phải, nhìn thế nào cũng cảm thấy lạ.

    Chẳng phải nói trấn nhỏ này phồn hoa có thể sánh bằng kinh thành, nhà nào cũng buôn may bán đắt sao?

    Gia Cát Thủ cúi đầu nhìn thoáng qua chiếc bóng bị kéo dài dưới chân, đáp: "Có lẽ tới đúng lúc nghỉ ngơi."

    "Phải không..."

    Kinh Niên tự lẩm bẩm, nhớ lại lần mình tới kinh thành, dù có trễ hơn nữa cũng còn tửu lâu mở cửa tầm hoan mua vui.

    Gia Cát Thủ chẳng biết suy nghĩ của cô, chỉ nói tiếp: "Cứ tìm chỗ nghỉ chân trước đã."

    Nói rồi rảo nhanh bước chân đi vào sâu trong trấn, nhìn quanh hai bên đường tìm khách điếm có thể ngủ lại.

    Kinh Niên theo sau lưng hắn, thả chậm bước lại đi song song với Thi Ngũ gia, nhờ ánh trăng lờ mờ để quan sát kỹ cái trấn nhỏ này.

    Bất kể đi tới đâu cũng có thể ngửi thấy mùi hương tỏa ra từ dãy núi chập chùng đen ngòm phía bên trái, còn kéo theo từng đợt gió rét căm căm.

    Đi chưa bao lâu, Gia Cát Thủ bỗng dừng chân ngoái đầu, Kinh Niên cũng dừng lại, nhìn sang bên đường.

    Từng cái đèn lồng chiêu bài xếp thành dãy có trật tự, con đường trước mặt bỗng trở nên sáng sủa hẳn lên, có điều chẳng soi thấy nửa bóng người nào.

    Hai người đi tiếp tới con phố đằng trước, dọc phố mở đầy khách điếm tửu lâu, nhưng kỳ lạ là đèn lồng trước tiệm nhà nào cũng rất sáng, nhưng cửa lớn thì đóng im ỉm, ngay cả một người đứng chào khách cũng không thấy.

    Gia Cát Thủ hiếu kỳ nhưng lo lắng lại nhiều hơn, ở đây không có tiệm nào buôn bán, chẳng lẽ bắt họ phải ngủ ngoài trời sao?

    Chẳng phải hắn chưa từng nghỉ chân ngoài trời, nhưng ngả ra đất ngay giữa phố thì đúng là chưa thử qua lần nào.

    Kinh Niên nhìn ra sầu não của hắn, cười nói: "Hay là chúng ta thử gõ cửa đi?"

    Nói rồi chạy thật nhanh lên bậc thềm của một khách điếm, Gia Cát Thủ vội vàng theo sau.

    Kinh Niên toan kéo cái vòng cửa, thì đúng lúc này bỗng nghe bên trong vọng ra một tràng cười to, cô giật mình, áp lỗ tai tới nghe thử.

    Gia Cát Thủ nghe thấy tiếng cười kia thì cũng ngẩn ra, thấy cô dán tai lên ván cửa thì cũng học theo, rốt cuộc nghe được tiếng ầm ĩ huyên náo, như một đám người đang uống rượu tán chuyện.

    Hai người liếc nhau, sau đó hai cái tai cùng rời khỏi ván cửa.

    Kinh Niên muốn vào trong thăm dò tới cùng, bèn nhấc cái vòng cửa lên gõ gõ.

    Chỉ chốc lát sau, cửa được kéo ra, một tiểu ca ăn mặc như hỏa kế thò người ra ngoài, lúc thấy Kinh Niên thì lộ ra cái mặt kinh ngạc, nhưng khi hắn ngó tới Thi Ngũ gia đằng sau và Gia Cát Thủ mặc đạo bào thì kêu a một tiếng hết sức nhẹ nhàng, sau đó né người qua bên, cung kính nói: "Nhị vị mời vào."

    Gia Cát Thủ hơi chần chừ, Kinh Niên thì nhảy tót vào cửa không khách sáo, đi được một hai bước bỗng khựng lại, đứng bất động tại chỗ.

    Lúc này Gia Cát Thủ cũng sải bước lên tới, đang định hỏi cô sao không đi tiếp, nhưng đến khi nhìn thấy cảnh tượng trước mắt thì cũng nghệt người ra.

    Trong khách điếm này có bảy bàn khách nhân, ba bàn ghép lại kề sát vào vách tường phía Tây, trên bàn bày cháo trắng và dưa cải, ngồi quây quần bên bàn là năm sáu người mặc đạo bào.

    Bốn bàn còn lại thì ghép vào dựa sát vách tường phía Tây, trên bàn rượu thịt ê hề, chén bát lộn xộn, ngồi ở đó là ba nam tử trẻ tuổi ăn mặc khác nhau kiễng chân vắt chéo, mỗi người cầm một ngọn đèn soi về hướng cửa nhòm ngó, sau lưng họ là mấy người bị dán bùa chú đứng lẫn chung một chỗ, không phân biệt được chủ nhân là ai.

    "Không phải đạo sĩ... thì cũng là Thi quan..."

    Gia Cát Thủ thì thào, chân mày cũng chau lại theo.

    Lúc này, chưởng quỹ đứng sau bàn chạy tới, cười hỏi: "Nhị vị muốn lên phòng trọ trên lầu luôn, hay là ở dưới này dùng chút thức ăn trước?"

    Dọc đường đi vội nên cũng chưa ăn uống gì, được chưởng quỹ hỏi như vậy, Gia Cát Thủ bỗng cảm thấy bụng réo ùng ục.

    Vì vậy nói với Kinh Niên: "Chúng ta ngồi trước đi."

    Chưa đợi Kinh Niên trả lời, một nam tử ở bốn bàn bên kia đã cao giọng nói: "Tiểu cô nương, lại đây ngồi đi, huynh đệ ta mời muội ăn uống thả cửa, tội gì phải theo tên đạo sĩ thúi đó húp cháo loãng?"

    Vừa kêu xong, hai người ngồi cùng bàn cũng cười phá lên.

    Gia Cát Thủ chỉ hờ hững liếc mắt qua như không thèm chấp.

    Nhưng đạo sĩ ở ba bàn kia lại nổi đóa, một người trong số đó đập bàn đứng dậy, lôi kéo: "Tiểu đạo gia bên kia, qua đây hàn huyên đi, đừng để mùi rượu làm bẩn mũi ngươi!"

    Chưởng quỹ đứng bên quýnh đến độ toát mồ hôi đầu, nhưng không dám tùy tiện ngắt lời, chỉ chờ hai người trước mặt ra quyết định.

    Kinh Niên nhìn nhìn bốn bàn bên này, rồi ngó sang Gia Cát Thủ, hỏi: "Ngươi muốn ăn gì?"

    "...

    Cháo trắng bánh bao."

    "Ngươi tính mời ta sao?"

    "...

    Chia đều!"

    "Vậy xin lỗi không tiếp được ~" Kinh Niên xoay gót chạy vèo về hướng bốn bàn.

    Gia Cát Thủ hung hăng trừng cô một cái, mới chậm rãi đi về hướng mấy người đồng đạo.

    Kinh Niên vừa ngồi vào chỗ bốn bàn ghép, thì một Thi quan ăn mặc như võ phu lập tức bảo hỏa kế dọn bớt mấy món ăn thừa rượu cặn xuống, thay vào một mâm khác, lấy thêm một bộ bát đũa, trong khi hai người còn lại ăn diện như công tử thì nhìn chòng chọc Thi Ngũ gia cả buổi trời.

    Người ăn mặc kiểu võ phu gắp một miếng thịt nướng vào bát của Kinh Niên, cười nói: "Tiểu đệ họ Lô, danh là Hoài Nhâm, cô nương xưng hô thế nào?"

    Kinh Niên cám ơn một tiếng rồi mới trả lời: "Lô đại ca, cứ gọi Kinh Niên được rồi."

    Hai tiếng đại ca gọi lên rõ là trong trẻo lảnh lót, khiến Lô Hoài Nhâm êm tai mát ruột.

    Hai người còn lại cũng không chịu thua kém, cả hai đều tự báo danh hào, một người tên là Tùy Phi, một người tên là Thư Khai Triệt.

    Kinh Niên không thiên vị gọi mỗi người một tiếng đại ca.

    Hai người nghe tới rạng rỡ mặt mày, toàn bộ đồ ngon trên bàn đều bỏ hết vào trong bát của Kinh Niên, thoáng cái đã chất thành núi.

    Kinh Niên tạ ơn mấy tiếng liền, chưa vội ăn ngay mà móc khăn ra phủi bụi cho Thi Ngũ gia trước, nói: "Ngũ gia, ngài đợi thêm tý nữa nhé, chờ Kinh Niên ăn cơm xong sẽ về nghỉ chung với ngài."

    Nói xong mới cầm chén đũa lên.

    Hành động này của cô lọt vào mắt của ba người đồng hành, cả ba đều thấy kỳ quái, nhưng không phải là quá khó hiểu, tới y phục mặc lâu còn có cảm tình, nói chi tới trợ thủ tốt luôn theo mình vào Nam ra Bắc.

    Người tên Tùy Phi xít lại gần, bắt chuyện với Kinh Niên: "Kinh Niên muội, muội thật là không đơn giản, hành nghề như chúng ta không phải là không có nữ nhân, nhưng người nhỏ tuổi như muội thì mới thấy lần đầu."

    Kinh Niên đang thả sức lùa cơm, nghe y nói thế thì ngẩng đầu cười: "Tuổi của ta cũng không coi là nhỏ nữa, ra ngoài kiếm tiền nuôi sống mình cũng không phải là việc khó gì..."

    Tùy Phi nghĩ tiểu cô nương này lang bạt một mình chắc là tứ cố vô thân, không nơi nương tựa, nên không mở miệng nhắc tới chuyện này nữa.

    Ánh mắt quét về phía Thi Ngũ gia, dừng lại trên mặt: "Hành đầu này của muội thật không tệ."

    Hai tên nhà y hợp lại cũng không so nổi, đã làm nghề này thì chỉ liếc mắt đã định được khả năng rồi.

    Nghe có người khen Thi Ngũ gia, Kinh Niên tất nhiên vui tới nở hoa, khổ nỗi trong miệng nhồi đầy cơm với thức ăn, nên chẳng thể làm gì hơn là gật đầu lia lịa thay cho câu trả lời.

    Lúc này, Thư Khai Triệt bỗng chen vào: "Nói vậy công lực của tiểu muội không kém, mới thu được hành đầu tốt thế này... bằng không thì..."

    Trong giọng mang theo vẻ sầu lo mơ hồ.

    Lô Hoài Nhâm thấy y muốn nói lại thôi thì lắc đầu, bàn tay đặt lên đùi: "Haizz, Kinh Niên muội à, hành đầu này của muội tài giỏi tới đâu ta không biết, ta chỉ biết muội còn nhỏ quá, chỉ là một bé gái thôi, khi không phải đền mạng thì tiếc lắm.

    Đại ca ta mời muội ăn một bữa thỏa thuê, tối nay ngủ một giấc cho đã, rồi sáng mai tranh thủ rời khỏi trấn này nhanh đi!"

    Kinh Niên nghe hắn nói vậy thì biết ngay trấn này có chuyện, Thi quan và đạo sĩ cùng tụ tập lại đây nhất định cũng vì thế, bèn lên tiếng hỏi: "Lô đại ca, rốt cuộc trấn này làm sao vậy?

    Cái gì gọi là đền mạng?

    Kinh Niên nghe mà hồ đồ."

    Người bên cạnh nghe cô hỏi thì ngỡ ngàng ra mặt, ngay cả những đạo sĩ đối diện, hỏa kế đang làm việc luôn tay và chưởng quỹ đang lui cui gảy bàn tính cũng đồng loạt ngó về bên này, vẻ mặt cứ như thấy quỷ.

    Tùy Phi phản ứng nhanh nhất, chỉ đờ ra một giây rồi hỏi tiếp: "Tiểu muội, không phải muội tới vì chuyện trong trấn này sao?"

    Thấy Kinh Niên gật đầu, y mới nói tiếp: "Hiện khắp nơi đều dán cáo thị, trong ngoài thành đều sôi sục hết lên, vậy mà muội không nghe thấy gì thật sao?"

    Giọng điệu rõ ràng không thể tin nổi.

    Kinh Niên xấu hổ thấy rõ: "Tùy đại ca có chỗ không biết, ta mới từ thành Phú Quý tới, trước đây thường đi đường rừng đường núi nên không gặp được mấy ai, ở lại trong thành cũng chỉ có một hai ngày, còn phải vội làm ăn.

    Thành ra cáo thị gì đó, Kinh Niên hoàn toàn không nhìn thấy, cho dù có người bàn luận cũng không lắng nghe.

    Lần này vội tới đây nghỉ đêm, nên mới may mắn kết bạn với các vị đại ca."

    Nói rồi giở ra cái mặt phước may ba đời, tuy trong câu nói không có từ nịnh hót nào, nhưng mấy tiếng đại ca gọi với giọng non nớt ngọt ngào, nghe vào xuôi tai tới độ không gì tả nổi, làm ba người lập tức cười tươi roi rói.

    Kinh Niên theo sát đề tài cũ: "Ba vị đại ca, có thể kể cho ta chút đỉnh được không, huyện Mai Lĩnh này xảy ra chuyện lớn gì sao?

    Dù Kinh Niên phải đi thì trong lòng cũng muốn biết nguyên nhân, bằng không tò mò lên thì lại không đi thoải mái được."

    Ba người kia nhìn nhau một lúc, nghĩ cô nói cũng có lý.

    Đã nói tới mức này rồi, không nói rõ hết thì chẳng phải vô trách nhiệm quá sao?

    Thế nên Thư Khai Triệt bèn cất giọng, kể vanh vách chân tướng bên trong...

    Trấn Mai Lĩnh này là đường giao thông chính của vùng Đông Nam, là thánh địa nghỉ ngơi nổi tiếng gần xa.

    Ngày nào cũng náo nhiệt tấp nập như trẩy hội, đặc biệt là vào mùa Đông hàn, biển người ngắm mai đổ về lũ lượt, thế nên hàng đêm càng sáng rực đèn đuốc, khách điếm và trà lâu đều đông nghịt khách khứa.

    Đó là cảnh phồn vinh của cuối năm ngoái tới đầu năm nay.

    Song mới đây, khi hoa mai nở rộ đầu cành, mùi hoa thơm nức đưa tới sự hiếu kỳ của mọi người, khách thưởng ngoạn cảm thấy thích thú bèn kết thành đoàn kéo lên núi.

    Nhưng chuyến đi này lại không thấy một ai trở ra, sau đó có thêm hai ba nhóm đến để tìm hiểu tới cùng, tất cả đều một đi không trở lại.

    Thế là không ai dám vào nữa, người dân trong vùng kháo nhau rằng, loáng thoáng nghe thấy trong núi vẳng ra từng hồi âm thanh, như tiếng người rên xiết.

    Việc này trỗi dậy, huyên náo tới nỗi lòng người hoang mang, dân trong trấn nghi trên núi có quỷ quái, bèn đi khắp nơi mời Thi quan và Đạo sĩ, nhưng lần lượt đều có đi không về.

    Đến đây dân trong trấn càng bất an hơn, người bên ngoài không dám vào trấn, buôn bán cũng chẳng còn lòng dạ đâu mà làm.

    Vì thế mọi người hợp lại đề xuất dán cáo thị ở các nơi, triệu tập Thi quan, Đạo sĩ và cao thủ tài giỏi các lộ tới trấn.

    Thứ nhất là để tìm người, thứ hai là để xác định rõ trong núi có quỷ quái hay không, để mọi người yên dạ.

    Hễ ai sẵn lòng vào núi, thì mặc kệ kết quả ra sao, tìm được người thì thêm năm trăm lượng, nếu hàng phục được quỷ quái, thì cứ tính theo giá thị trường.

    Cũng nhờ món thù lao khổng lồ này mới có thể triệu tập được nhiều người tới đây như vậy.

    "Không chỉ mỗi nhà này, mà mấy khách điếm trong trấn đều đầy người hết."

    Sau khi kể xong, Thư Khai Triệt nốc ngay một hớp trà cho trơn cổ họng, mắt liếc qua nhóm đạo sĩ bên kia, miễn cưỡng nói: "Chúng ta làm nghề này, ở đâu có tiền thì tới, kiếm tiền chính là liều mạng.

    Khác với bọn giả bộ thanh cao, luôn mồm nói không cần trả công, tới lúc chết rồi cũng chả có tiền chôn."

    Giọng điệu sặc mùi đâm chọt, còn cười xấu xa.

    Mấy người Đạo sĩ trừng y phẫn nộ, nhưng chẳng ai vặt lại, như thể khinh thường chẳng thèm chấp, tiếp tục quay đầu nói chuyện với người nhà mình.

    Thư Khai Triệt cười khẩy một tiếng, sau đó ngả vào lưng ghế nhắm mắt dưỡng thần.

    Lúc này Kinh Niên cũng đã ăn tới no căng, Lô Hoài Nhâm thấy bát cơm của cô đã hết veo nhưng không có ý định động đũa nữa, bèn nói: "Tiểu muội, sao muội không ăn nhiều một chút?

    Đừng khách sáo với ta!"

    Kinh Niên lắc đầu cười, vỗ vỗ bụng: "No lắm rồi, ăn nữa bể bụng."

    Nếu câu này đổi cho một nữ tử khác nói thì rõ là thô tục, nhưng Kinh Niên nhìn ngược nhìn xuôi vẫn còn là con nít, người ngoài nghe thấy chỉ nói cô ngây thơ ngay thẳng.

    Tùy Phi thấy cô dụi dụi mắt, cảm thấy động tác này quả là trẻ con đáng yêu, nhủ thầm nếu mình có một muội ruột như vậy, thì giá nào cũng không nỡ để cô ra ngoài bôn ba.

    Nghĩ tới đây, y nhất thời nảy lòng thương hại, dịu giọng nói: "Muội tử, ta thấy muội mệt lắm rồi, chi bằng đi nghỉ trước đi."

    Lô Hoài Nhâm cười lớn tiếp lời: "Đúng đúng, mấy đại lão gia chúng ta thức suốt đêm là chuyện thường, còn bé con giờ này phải buồn ngủ rồi."

    Thư Khai Triệt cũng gật đầu hùa theo: "Sáng mai mọi người phải lên núi, không thì nhất định sẽ tiễn muội một đoạn đường."

    Kinh Niên hàn huyên thêm vài câu với họ, rồi bảo hỏa kế dẫn lên lầu.

    Gia Cát Thủ nhìn cô lên lầu, nét mặt mang theo vài phần ủ dột.

    Đêm khuya thanh vắng, chỉ có ngọn đèn lồng ngoài cửa đong đưa theo gió, trong phòng khách hỏa kế gục xuống bàn nằm ngủ, bãi chiến trường ngổn ngang chén bát đã được dọn sạch từ lâu.

    Kinh Niên đứng ở đầu hành lang ngó xuống, sau đó nhẹ nhàng nhanh nhẹn lỉnh về phòng, Thi Ngũ gia vẫn ngồi nghiêm chỉnh trên giường như mọi khi.

    "Ngũ gia, tiểu ca đó mới ngủ thôi, chúng ta đợi thêm lát nữa nhé."

    Nói rồi bước tới trước cửa sổ, vừa mở cửa ra gió lạnh đã thổi táp vào mặt lạnh đến xương.

    Khí hậu dường như đã thay đổi khác hẳn lúc mới vào thành, rõ ràng đã qua đầu xuân mà thời tiết lại rét căm.

    Kinh Niên mặc tới hai lớp áo mùa xuân, đáng lẽ là vừa đủ, thế mà bây giờ lại bất giác rùng mình, rì rầm hai tiếng "Lạnh quá."

    Vừa than xong, chợt thấy Thi Ngũ gia đứng dậy, nhảy chậm qua, mở rộng hai tay ra, rồi ôm cô vào trong ngực.

    Kinh Niên trợn tròn mắt một giây, sau đó thở dài như nghĩ tới cái gì: "Ngũ gia, hồi nãy là Kinh Niên vô tâm..."

    Nói đoạn quay người lại đối mặt với Thi Ngũ gia, áp má vào ngực hắn, nhắm mắt lại: "Ngũ gia ôm vẫn ấm thế này, mặc kệ lúc nào, Kinh Niên cũng thích được Ngũ gia ôm..."

    Cô biết đây không phải xuất phát từ ý muốn của Ngũ gia, nhưng biết thì có sao đâu, chỉ cần thân thể này có thể sưởi ấm cho cô là đủ rồi...

    "Xin lỗi, Ngũ gia, Kinh Niên quá ích kỷ, ngài trách ta đi, cứ trách ta đi..."

    Kinh Niên vòng tay qua ôm lấy eo của Thi Ngũ gia, thở hắt ra một hơi rồi nói: "Ngũ gia, Kinh Niên không lạnh, ngài buông tay đi."

    Lúc này Thi Ngũ gia mới thả hai cánh tay ra, buông thõng bên chân, Kinh Niên lùi về sau một bước, nhìn ra ngoài cửa sổ: "Khí âm lãnh như vậy, quả thật giống như trong gió ẩn giấu vô số lưỡi dao bén, thứ trong núi không phải tầm thường...

    Ngũ gia, Kinh Niên không muốn cứu người, cũng không muốn để người ta nhìn thấy bản lĩnh thật của Ngũ gia ngài, mà bỏ chạy cũng không phải tác phong của Kinh Niên.

    Kinh Niên rất tò mò, đành làm phiền Ngũ gia mang Kinh Niên đi thôi."

    Nói xong móc cây bút đỏ ra vẽ vài nét, Thi Ngũ gia lập tức bế thốc cô lên, tung người nhảy từ cửa sổ lầu hai xuống, chạy vài bước, rồi lại nhảy vút lên một mái hiên khác, mũi chân điểm nhẹ trên mái ngói nóc nhà, vọt lên vài lần đã nhảy qua mấy hộ dân.

    Bóng lam bật nhảy lên xuống trên không trung, không tạo ra tý tiếng động nào, nhắm thẳng về hướng núi bay vút tới.

    Bóng lam chìm vào màn đêm chưa bao lâu, thì một cánh cửa sổ trên lầu hai của khách điếm cũng bị đẩy ra, sau đó một bóng xanh nhảy vút xuống đất.

    Vượt qua bụi cỏ mọc lút sau trấn để vào núi, ngay lúc bay qua ngọn cỏ cuối cùng Kinh Niên bèn lệnh cho Thi Ngũ gia thả cô xuống, rồi men theo đất núi chạy vội vào trong.

    Càng vào sâu sương mù càng dầy, mùi thơm càng nồng, và cũng càng rét.

    Hơi thở phả ra trước mặt toàn bộ đều hóa thành luồng khí trắng đục.

    Chạy mãi tới khi dưới chân phát ra tiếng lạo xạo, Kinh Niên mới dừng bước nhìn xuống, trên mặt cỏ dưới dất đã kết một lớp sương giá dầy cộp.

    Ngước mắt nhìn mấy cây mai gần bên, trên cánh hoa đầu cành đều phủ kín sương trắng, hệt như vừa hứng chịu một trận đại tuyết.

    Nếu không có màn sương dầy cản mất tầm nhìn, thì cảnh tượng thu vào mắt sẽ là một bức tranh đẹp tới cỡ nào.

    Kinh Niên chà chà cánh tay, không dám dừng lại lâu mà tiếp tục chạy về phía trước.

    Trong một vùng trắng xóa không tài nào phân biệt rõ phương hướng, chỉ biết chạy lâu như vậy, đại khái đã vào sâu trong núi.

    Đừng nói không thấy một ai, mà ngay cả một cái xác cũng không thấy nốt.

    Sống phải thấy người, chết phải thấy xác, những người vào núi trước đây đi đâu cả rồi?

    Đừng nói là chôn xuống đất nhé!

    Ngay giây phút hoang mang này, một mùi ẩm ướt chợt xộc thẳng vào mũi, Kinh Niên hẫng lại, mắt đảo quanh lùng tìm.

    Trên cỏ vang lên tiếng "Sột soạt", nhưng màn sương trắng trước mắt hệt như chiếc màn che dầy cộp, không cho phép nhìn thấy bất cứ thứ gì bên ngoài.

    Thình lình, một tiếng "Vút" phá không dội tới, mang theo một bóng đen quét xiêng vào trong.

    Kinh Niên thét to: "Nhảy!"

    Đồng thời nhảy lùi lại cùng Thi Ngũ gia, né khỏi đợt tấn công này.

    Tới khi đáp xuống đất thì bốn phía cũng yên ắng trở lại.

    Kinh Niên gấp rút móc cây bút đỏ ra đổi chữ trên bùa cho Thi Ngũ gia, địch trong tối ta ngoài sáng, nói cô không khẩn trương chút nào là nói dối, chỉ còn cách lấy tĩnh chế động, chờ cho đối phương ra tay lần nữa, từ đó mò ra phương hướng để trả đòn.

    Quả nhiên, lại nghe "Vút vút vút" mấy tiếng, cái bóng dài vung tới như roi, quét ngang, bổ dọc, trói vòng, tất cả chỉ trong nháy mắt.

    Kinh Niên cũng tránh rất nhanh, mỗi lần thứ đó trờ tới cô chỉ nhảy nhẹ, chạy chậm, dùng động tác có biên độ cực nhỏ để tránh công kích thật mau lẹ.

    Thi Ngũ gia càng linh hoạt hơn, băng qua giữa hàng lớp bóng đen đan xen hệt như yến lượn.

    Đột nhiên, bóng đen đâm tới trực diện, hắn bèn vung một đòn "Thiết bản kiều", ngửa ra sau tránh khỏi đợt tấn công, tay trái duỗi ra bắt được một bóng đen, rồi tiện đà lộn ra sau nửa vòng, tiếp đất vững vàng.

    Sau đó kéo mạnh một phát, ở đằng trước không xa chợt phát ra tiếng "Soạt", như có vật gì bị kéo lê trên thảm cỏ.

    Thi Ngũ gia lùi về sau vài bước, kéo thêm phát nữa, thứ đen đúa đó chợt tuột khỏi tay, thoắt cái rụt về trong màn sương.

    Kinh Niên chạy lên nhìn thử, thấy lòng bàn tay trái của Thi Ngũ gia dính chất nhầy đen ngòm, bốc ra mùi gay mũi.

    "Mùi này rất quen, trước đây ta từng ngửi thấy ở đâu rồi..."

    Ngón trỏ của Kinh Niên khều khều chóp mũi, ngón cái thì xoa một cái, cầm ống tay áo lên lau tay giúp Thi Ngũ gia, trong khi miệng vẫn lẩm bẩm: "Nếu là thứ đó thì kỳ quá."

    Không chờ Kinh Niên lau xong, vài tia sáng trắng đã xé không bắn thẳng tới, cánh tay Thi Ngũ gia chợt với ra ôm phắt lấy sườn của Kinh Niên, trượt nghiêng sang bên mấy bước, ngay sau đó lại nhảy vút lên, ánh sáng trắng sượt qua dưới chân, đánh "Choang choang choang" vào thân cây mai rồi tức thì vỡ vụn thành những viên băng, mà thân cây khô lại chẳng hư hại chút nào.

    Cùng lúc đó, vài chùm sáng trắng lại phóng tới, mà Thi Ngũ gia thì đang lơ lửng giữa không trung.

    Thế là hắn đá nghiêng đùi phải, đạp lên cành mai ngay bên cạnh, mượn lực đàn hồi dẻo dai của cành cây để nhảy sang một cành khác.

    Chùm sáng trắng kia lại đuổi rát theo hệt như hình với bóng, Thi Ngũ gia qua lại vòng vèo giữa những cành cây mọc ngang dọc, dù né được tất nhưng lại bị cuốn lấy không cách nào thoát thân.

    Hơn nữa Kinh Niên còn chưa thăm dò được lai lịch của đối thủ, không nhìn thấy phương hướng cụ thể, trong chốc lát, chẳng thể làm gì hơn là vọt lên nhảy xuống theo Thi Ngũ gia.

    Giữa lúc Kinh Niên đang vắt óc tìm cách, thì phía sau chợt lóe lên hào quang vạn trượng, trong tích tắc cả vùng như bị hút vào trong biển kim quang.

    Kinh Niên nhắm tịt mắt lại, đợi Thi Ngũ gia đáp xuống đất, thả mình xuống mới mở ra lại.

    Sực nhớ trước đây cũng từng gặp tình huống tương tự, cô lập tức ngoái đầu lại, lúc này sương mù đã từ từ tản đi, có thể nhìn thấy một người đang đứng trên hai nhánh cây bên ngoài, thanh bào cao quan, tay cầm bát quái Thái Hư, không phải Gia Cát Thủ thì ai vào đây?

    Kinh Niên hơi ngớ ra, lập tức cười nói: "Đạo gia, ngươi đuổi theo rất đúng lúc, ta còn..."

    Lời còn chưa dứt đã phát hiện mặt Gia Cát Thủ cắt không còn giọt máu trừng mắt nhìn đất chằm chằm, há miệng muốn nói gì đó nhưng môi cứ mở ra khép lại.

    Tim Kinh Niên thót lên, từ từ quay đầu lại.

    Đối diện là một vật trắng toát dài ngoằng, lần theo vật trắng đó dời lên chút xíu là....

    "Ngũ gia..."

    Cô căng miệng cười khan một tiếng, giật giật ống tay áo Thi Ngũ gia: "Chúng ta đi thôi!"

    Nói xong quay lưng cắm đầu chạy như điên, Thi Ngũ gia nhảy theo sát gót.

    Gia Cát Thủ thấy Kinh Niên chạy tới trước mặt mình, thứ đằng sau cũng di chuyển theo ngày một gần, tới khi Kinh Niên chạy sượt qua mới hoàn hồn, chạy bổ theo, vừa chạy vừa kêu: "Cô trốn cái gì?"

    "Vậy ngài trốn cái gì hả?"

    Kinh Niên la với lại mà chẳng thèm ngoái đầu.

    Gia Cát Thủ bức lên chạy sóng vai với cô, mặt đầy bực tức, rống thẳng về hướng cô: "Có gan mò tới mà không có gan chịu trách nhiệm sao?

    Giết chết thứ kia là có thể cầm được tiền thưởng lớn rồi, sao không đứng lại làm đi?!"

    "Đạo gia, ngài đề cao Kinh Niên quá rồi đó, thứ đồ chơi kia không thuộc trách nhiệm của ta, còn đạo sĩ chẳng phải nên trừ hại cho dân sao?

    Ngài cứ yên tâm đi, chuyện nhặt xác Kinh Niên rành lắm."

    Gia Cát Thủ cáu tới nổi mặt đỏ tới mang tai: "Thứ này bần đạo xía vào làm gì?

    Đạo sĩ chỉ biết xua hồn đuổi quỷ, chuyện la hét khẩu hiệu không phải là chuyên môn của Thi quan các cô sao?"

    "Ta nói nè đạo gia, ngài tội gì tính toán thế chứ?

    Không phải Thi quan chúng ta cũng bị các ngài chửi là con buôn thô tục, người nực hơi tiền suốt sao?

    Hơn nữa..."

    Nói đoạn giẫm lên đất một phát, nhảy phắt khỏi nơi vừa đứng.

    Thi Ngũ gia và Gia Cát Thủ cũng đều trượt nhanh sang bên, né khỏi tia sáng trắng chiếu thẳng từ trên xuống.

    "Ngài lơ ta cũng bỏ, vậy rốt cuộc thứ này ai lo?"

    Kinh Niên ngẩng đầu nhìn lên trên, chỉ thấy hai cái mồm to như chậu máu treo lơ lửng giữa không trung, cái lưỡi đen ngòm chìa ra lắc lư lên xuống phát ra tiếng khè khè rợn tóc gáy, chẳng phải gì khác mà chính là một con rắn hai đầu to vĩ đại.

    Đường kính của con rắn đó rộng chừng một thân cây già năm người ôm, cái bụng trắng hếu, thân rắn dát đầy vảy trắng ánh bạc, riêng phần đuôi là đen kịt như mực.

    Trên hai cái đầu, một bên có cặp mắt xanh biếc như phỉ thúy, một bên thì đỏ tươi như son.

    Cái mình dài ngoằng quấn hai vòng trên mặt đất, lúc cái đầu kia ngẩng lên thì vượt qua cả ngọn cây, tỏa sáng cùng ánh trăng.

    Dù giờ phút này hết sức nguy cấp, nhưng Kinh Niên vẫn có lòng phát biểu cảm tưởng: "Đẹp quá chừng, thật là mỹ sắc thế gian khó thể sánh bằng!"

    Gia Cát Thủ lườm cô, nghi lỗ tai mình có vấn đề, bằng không sao lại nghe có người trong lúc nguy cấp còn rảnh rang ca ngợi tướng tá của đối thủ?

    Chẳng bằng khen đây là con quái vật khát máu hung tợn thì đúng hơn.

    "Theo bần đạo thấy, chúng ta có chạy trời cũng không khỏi nắng, thôi thì dứt khoát ở lại, liều một mất một còn với nó!"

    Kinh Niên hơi lưỡng lự: "Linh Xà hai đầu này ở trên đỉnh Tuyết sơn, sao lại xuất hiện trong ngọn núi phía Nam?"

    Thảo nào thấy mùi quen quen, trước đây lúc cô vượt qua Tuyết sơn với Thi Ngũ gia có từng đụng phải, đúng lúc con rắn kia đang ngủ say, bọn họ nhẹ nhàng chuồn khỏi mới không đến nỗi xảy ra chuyện hỏng bét này.

    Kinh Niên nhớ lại tập tính của Linh Xà, ngẫm lại nó ở lỳ trong núi rất lâu mà không bò xuống trấn quậy phá, bèn buột miệng nói: "Linh Xà sẽ không đả thương người vô cớ, nhưng cũng không cho phép bất cứ vật sống nào xông vào lãnh thổ của mình, ta thấy chắc là nó đã chiếm núi này làm ổ rồi, chỉ cần chúng ta ra khỏi chỗ này là sẽ bình an vô sự thôi!"

    Gia Cát Thủ toan đáp lại, thì ngay lúc này đầu rắn mắt xanh há miệng, vài tia sáng trắng tức khắc bắn ra, hắn buộc lòng phải nhảy qua bên.

    Chưa đợi hắn lấy lại thăng bằng thì cái đầu mắt đỏ lại bắn thêm mấy phát, làm hắn phải nhảy tiếp lần nữa, núp ra đằng sau một thân cây.

    Sau đó con rắn lập tức quay đầu đánh thốc về phía Kinh Niên, hai đầu luân phiên, đuôi cũng quất tới.

    Kinh Niên vừa né vừa nói với Gia Cát Thủ: "Ngài coi, ngài mới trốn ra sau cây là nó không động khẩu nữa, có người nói Linh Xà trời sinh thích cây cối hoa cỏ, chúng ta giết nó có phải là dã man quá không?"

    Gia Cát Thủ tức quá hóa cười, nhỏ giọng giễu cợt: "Ta thấy cô nói ngược thì có."

    Hiện giờ ngay cả chạy trốn họ cũng không thoát nổi, kết cục đại khái chẳng khác gì với mấy người mất tích trước đây.

    Nghĩ rồi hắn bịt một mắt lại, trong đồng tử của con mắt còn lại lóe lên kim quang, hắn dùng kim nhãn này nhìn vào bụng rắn, vừa nhìn vào thì tim cũng lạnh đi phân nửa.

    Kinh Niên chú ý tới động tác này của hắn, sau vài lần trở mình cũng tới được bên cạnh hắn, thấy kim quang trong mắt hắn chưa tắt, bèn hỏi: "Ngài thấy gì qua mắt âm dương thế?"

    Linh Xà thấy Kinh Niên trốn ra sau cây thì cũng không truy kích nữa, hai đầu và một đuôi dồn toàn sức để đối phó với Thi Ngũ gia, lúc này Gia Cát Thủ mới có thời gian để trả lời câu hỏi của cô.

    "Trong bụng có chừng một trăm hồn phách, xem ra toàn bộ người vào núi đều bị nuốt chửng hết rồi."

    Nếu như không tiêu diệt Linh Xà trước, xua hết khí âm hàn, thì những hồn phách này sẽ bị nhốt trong bụng rắn vĩnh viễn, chịu hết mọi giày vò.

    Nhưng theo tình hình hiện tại, thì họ chẳng những không diệt nổi Linh Xà, mà rất có thể còn trở thành đồng bọn của chừng trăm oan hồn đó.

    "Này, cô quen con rắn quái này lắm phải không, vậy nó có nhược điểm gì?"

    Kinh Niên đáp ngay mà chẳng hề nghĩ ngợi: "Sợ lửa, sợ nóng."

    "Sợ lửa sợ nóng?"

    "Đoán thôi."

    Cô cười hì hì, thấy mặt Gia Cát Thủ sầm xuống thì lật đật nói tiếp: "Linh Xà là vật chí âm chí hàn, nếu nhắc tới thứ có thể khắc âm hàn, thì khắp thiên hạ ngoài mặt trời ra không phải là lửa sao?"

    Gia Cát Thủ thấy lời cô nói cũng khá có lý, ngẫm lại ánh sáng bát quái khi nãy dù có thể xua tan sương mù nhưng lại không mấy ảnh hưởng tới Linh Xà, chẳng biết lửa có tác dụng hay không?

    "Đạo gia, ngài biết chú thuật gọi lửa này nọ không?"

    Gia Cát Thủ gật đầu, tiếp lời: "Biết, nhưng sức lửa còn chưa đủ, sợ là không được."

    "Có được hay không phải thử mới biết, ta sẽ lên trước, thừa cơ nó cuốn lấy bọn ta thì trổ tài, đương nhiên, nếu ngài muốn bỏ của chạy lấy người thì ta cũng không phản đối."

    Nói rồi Kinh Niên xua xua tay, xông lên gánh công kích với Thi Ngũ gia.

    Gia Cát Thủ cắn răng nói: "Sao bần đạo lại thua một tiểu nha đầu như cô hả!"

    Nói rồi bước ra khỏi thân cây, lúc này con rắn đang ác chiến với một người một thi, không rảnh chú ý tới xung quanh.

    Thấy thế hắn mới định tâm lại, đặt bát quái Thái Hư trước ngực, miệng lâm râm niệm chú.

    Trang sức hình bán cầu khảm vào giữa bát quái phóng ra ánh vàng mờ mờ, bên trong hình như có một ngọn lửa chập chờn, thế lửa dần mạnh lên, mãi tới khi lấp đầy bên trong nó, chuyển vần thần tốc như một quả cầu lửa, cơn sóng nhiệt phát tán ra bốn phía, ánh sáng vàng đi đến đâu sương giá lập tức hòa tan đến đó.

    Gia Cát Thủ trở tay ra sau cổ rút thanh trường kiếm, thân kiếm khắc chú văn, mềm dẻo như cành liễu.

    Đột nhiên hắn cầm ngang chuôi kiếm, kề thân kiếm lên trang sức hình cầu rồi ma sát qua lại, nơi tiếp xúc với món trang sức lập tức bùng lên ngọn lửa đỏ vàng xen lẫn, trường kiếm thoắt cái hóa thành kiếm lửa.

    Linh Xà cảm nhận được nhiệt khí, hai cái đầu bỗng nhiên co rụt lại, tạm ngừng động tác.

    Kinh Niên nhìn lại, bật thốt lên kích động: "Đại Diễm Thái Dương kiếm!"

    Kích động xong cô vội lệnh cho Thi Ngũ gia lùi lại, còn mình cũng nhảy liền mấy cái, đáp xuống một gốc cây xa tít.

    "Đạo gia, thuật của ngài cao cấp như vậy, làm Kinh Niên phải lau mắt mà nhìn."

    Lúc nói câu này cô nhân tiện thở hắt ra một hơi, lau cái trán tháo mồ hôi hột.

    Khả năng của cô cũng không tới nỗi, nhưng lâu rồi không luyện thực chiến, đa số toàn để Ngũ gia ra tay dọn dẹp, xương cốt khó đảm bảo không rỉ sét.

    Lúc này nhìn phản ứng của Linh Xà, có lẽ thiên tính sợ lửa thật sự bị cô đoán mò mà trúng rồi.

    "Đừng vui mừng quá sớm, thuật này bần đạo chỉ luyện được ba thành công lực, đây là lần đầu dùng thử, uy lực ra sao không dám chắc đâu."

    Gia Cát Thủ liếc Kinh Niên, giơ kiếm đi chậm tới trước, mỗi bước ép tới, Linh Xà lại thụt ra sau vài tấc, hai đầu giữa không trung lắc lư dữ dội, cái đuôi cũng quất xuống đất uỳnh uỳnh.

    ~ Hết chương 4 ~
     
    Thi Quan Kinh Niên
    chương 5


    Chương 5

    THẢ BÁCH LINH

    Edit: Yunchan

    ***

    Gia Cát Thủ thấy Linh Xà nao núng thì mừng thầm trong bụng, nhưng không dám lơ lờ cảnh giác, chĩa thẳng trường kiếm lửa phóng tới trước ngực một tấc.

    Đuôi Linh Xà khẽ động, chóp đuôi quét về phía hai tay hắn.

    Gia Cát Thủ đã có đề phòng trước, đạp đất vọt lên, vung tay phải tới, miệng niệm to "Nhất thức đại diễm tiễn"(*).

    Nhuyễn kiếm ngay lập tức uốn lại thành hình cung, hắn chặp ngón giữa và ngón trỏ tay trái lại quét ngang giữa kiếm, một tia lửa nhỏ bỗng chạy dọc giữa hai ngón tay.

    Chợt nghe hắn hét một tiếng, tách xa hai ngón tay ra, tia lửa nhỏ kia tức thì bắn vụt đi hệt như mũi tên rời cung, nhắm thẳng vào cổ họng của Linh Xà.

    (*) Thức thứ nhất mũi tên lửa.

    Thế đi của mũi tên lửa này rất dũng mãnh, tuy chỉ là một đường cực mảnh, nhưng tiếng động rít lên như xé gió.

    Hình thể của Linh Xà quá lớn nên nào né kịp, đầu rắn mắt xanh lập tức há mồm phóng ra ánh sáng trắng, đánh trả lại mũi tên lửa.

    Hai luồng sáng đỏ trắng va chạm, "Đùng" một tiếng, mũi tên lửa đâm xuyên qua chùm sáng trắng, tốc độ không giảm đi chút nào.

    Luồng sáng trắng thì hệt như bó củi bị rìu bửa, vỡ toang thành hai mảnh, hóa thành hai luồng khói nhạt rồi tan biến.

    Linh Xà thấy mũi tên lửa kia sắp đâm vào cổ họng, cái mình dài ngoằng đột nhiên dựng lên, khiến đòn này đâm trúng vào bên phải bụng.

    Tuy né được chỗ hiểm, nhưng cũng làm nó đau đớn quằn quại, hai cái đầu ngửa lên trời gào rít.

    Hơn phân nửa mũi tên không cắm vào da thịt nên cháy được một hồi rồi tắt ngấm, vùng quanh vết thương hai thước thoắt cái nám đen khô héo.

    Gia Cát Thủ thấy có tác dụng, lập tức kéo thêm một mũi tên lửa nữa, nhưng mới kéo được nửa chừng, hai miệng của Linh Xà đã phun loạn xạ một trận, hàng loạt ánh sáng trắng đâm xiêng tới.

    Hắn lộn mấy vòng ngay tại chỗ, né tránh có hơi chật vật, nửa mũi tên lửa lại rụt về trong nhuyễn kiếm vòng cung.

    Linh Xà bắn ánh sáng trắng tới tấp, người vừa né phải, đầu liền rẽ phải, người vừa núp trái, đầu liền quẹo trái, không cho hắn nghỉ xả hơi giây nào.

    Lúc này, Kinh Niên đã chuồn về bên cạnh Thi Ngũ gia, thấy Gia Cát Thủ bị truy bắn chạy trốn vòng vòng, bèn la lên: "Đạo gia, ngài không làm được thì réo một tiếng ha!"

    Gia Cát Thủ liếc qua khóe mắt thấy cô khoanh tay đứng ngó, miệng cười toe, trông bộ dạng hệt như đang xem tấu hài, làm hắn giận tới bốc khói đầu, nghiêng phắt người tránh khỏi một chùm sáng trắng, không chạy trốn nữa mà rung tay khua kiếm.

    Chỉ thấy hắn vung kiếm vẽ ra một đường cầu vồng trước người, đầu mũi kiếm tóe lên bụi lửa.

    Hắn vẽ xong thì thu kiếm về ngay, cầu vồng lửa nối liền thành một vòng tròn lửa, cao hơn mặt đất nửa người, nhiệt khí phả ra tứ phía, khiến từng đóa mai héo vàng rồi tàn lụi, ánh sáng trắng bắn tới trước vòng tròn lửa đều hóa thành làn khói mỏng.

    Gia Cát Thủ quát, "Nhị thức diễm hỏa luân"(*) , đoạn khua mấy đường kiếm vào khoảng không, khơi dậy một đợt cuồng phong đẩy hỏa luân ra ngoài.

    Linh Xà lại bắn tiếp mấy chùm sáng trắng, nhưng vừa va phải hỏa luân đều tan biến cấp tốc.

    Mình rắn cuống cuồng vặn vẹo như muốn né tránh.

    Trong cơn bấn loạn, một cái đầu chạy bên trái, cái còn lại chạy bên phải, kéo căng thân thể về hai hướng, hai bên giằng co khiến cơ thể khó nhúc nhích được mảy may, mặc cho đại hỏa luân đâm thẳng vào cái bụng trắng như tuyết, tức khắc đốt cháy thành một cái rãnh sâu hình tròn xanh đen.

    Linh Xà bị đau tới nỗi rú rít điên cuồng, cái mình dài co quắp lại thành vòng tròn.

    (*) Thức thứ hai bánh xe lửa.

    Gia Cát Thủ nổi lên đấu tính, cầm kiếm định tung thêm một chiêu, thì ngay lúc này cổ Linh Xà bẻ ngoặt, ngoác cái mồm to như chậu máu chụp thẳng xuống.

    Gia Cát Thủ nhảy lùi lại, đầu Linh Xà phập một phát cắm vào đất, đất đá bị xới lên tung tóe, chờ nó ngẩng đầu lên lần nữa, thì trên mặt đất đã lõm xuống một mảng lớn.

    Hai đầu của nó thay phiên đục ra từng cái hố to trên đất.

    Sức mạnh này quả là khủng khiếp, nhưng hình thể Linh Xà vô cùng khổng lồ, nên khoảng cách mỗi lần lên xuống khá lâu.

    Gia Cát Thủ quan sát kỹ rồi bắt chuẩn nhịp điệu, mỗi lần đầu rắn đục xuống hắn đều nhẹ nhàng thoát được, trong lúc né tránh còn bắn ra thêm hai ngọn lửa, thiêu tới nỗi Linh Xà rên xiết thống thiết.

    Kinh Niên vẫn khoanh tay đứng nhìn nãy giờ, lúc này bỗng quay qua thì thầm với Thi Ngũ gia vài câu, Thi Ngũ gia lập tức đi ra khỏi thân cây.

    Gia Cát Thủ đang muốn đẩy một hỏa luân ra nửa, đột nhiên một bóng lam chắn ngang trước người, hắn vội vàng thu tay lại, thấy người chõ đầu vào đánh nhau với Linh Xà là Thi Ngũ gia, thì quay ngoắc người lại quát: "Cô lại muốn làm gì hả?!"

    Kinh Niên dựa lưng vào thân cây, cười rõ nịnh: "Đạo gia, ta thấy ngài sắp thắng, để ta thơm lây xíu nhé, tiền thù lao sau này ta với ngày chia đều cũng không lỗ mà."

    Gia Cát Thủ không ngờ cô còn nhỏ tuổi mà lại tham lợi như vậy, nên hơi đực mặt ra một thoáng.

    Đúng lúc này đuôi rắn chợt quét ngang tới, hắn vội vàng né ra sau, "may mắn" làm sao lại gặp đúng Thi Ngũ gia vừa vượt ra sau lưng để né hai cái đầu rắn, nhân tiện chặn mất đường lui, một bước khựng lại này làm Gia Cát Thủ hưởng ngay một đòn vào gáy.

    Thi Ngũ gia nhanh chóng mở rộng tay phải chộp lấy đuôi rắn, mặc dù giảm bớt được thế đánh nhưng lực còn quá mạnh, vẫn làm Gia Cát Thủ bay vèo ra ngoài, đập vào một thân cây, bịch một tiếng dội ngược xuống đất, lăn lông lốc trên đất mấy vòng rồi bất động, trường kiếm lửa trong tay cũng biến hình, quay trở lại thanh nhuyễn kiếm ban đầu.

    Linh Xà thấy đã quất trúng hắn, hai đầu ngửa thẳng rít lên ăn mừng, nhưng đúng lúc này, Kinh Niên bỗng chạy lên vài bước, vung tay bắn ra cả đống bùa, quát: "Ngũ gia!

    Bắt!!"

    Thi Ngũ gia trở tay, chụp hết số bùa đó vào lòng bàn tay, rồi men theo đuôi rắn chạy nhanh lên trên.

    Linh Xà thấy hắn leo lên người mình thì không dám dùng đầu đâm, mà dùng lại chiêu bắn ánh sáng.

    Thi Ngũ gia nhảy lên, lật người xoay vòng, lúc chân hạ xuống vẫn đạp vào đuôi rắn, có bắn kiểu nào cũng không trúng hắn nổi.

    Chạy được một lát, hắn lại phóng vút người lên, nhảy liền mấy phát tới chỗ cao nhất ngang với đầu rắn.

    Sau đó tay trái của hắn rút bùa đang nắm chặt trong tay phải, kẹp giữa hai ngón tay, đợi khi Linh Xà há to miệng ra muốn nuốt mình vào bụng, thì cuộn ngược người lại, đầu dưới chân trên, một chân đạp vào cằm dưới của con rắn, đẩy cơ thể về phía thân rắn như tên bắn, trước khi đâm vào thân rắn, cánh tay bỗng chọc mạnh tới, đầu ngón tay khoét thịt đâm vào trong, ngập vào dưới nách.

    Sau đó hắn nới lỏng ngón tay ra, bùa chú tiện đà chôn vào trong cơ thể Linh Xà.

    Linh Xà rít lên một tiếng ghê rợn, máu đen phun tung tóe ra ngoài, vừa nhỏ xuống đất lập tức đông thành băng, hệt như một tấm thủy tinh đen rộng lớn.

    Thi Ngũ gia đạp lên thân rắn, nhân tiện chôn thêm vài lá bùa vào bụng rắn, lúc đế giày chạm đất thì phù chú trong tay đã dùng hết.

    Cơ thể của con rắn kia có tổng cộng bảy nơi bị đâm thủng, khiến bảy cột máu tươi phọt ra hệt như suối lạnh.

    Cái mình dài của Linh Xà quằn quại rên xiết, dường như vô cùng thống khổ, cũng không còn sức lực để đánh trả Thi Ngũ gia đang đứng bất động ngay dưới thân.

    Kinh Niên nhón tay nhặt một lá bùa ở trước mắt, tay còn lại duỗi ra ba ngón miết lên lá bùa.

    Trên mặt lá bùa nhất thời tỏa ra hồng quang, cô giơ tay bắn hồng phù lên cao, lúc mặt lá bùa gần chạm vào đầu rắn, hai tay cô bỗng mở rộng ra, quát một tiếng "Ngục đạo hỏa viêm phược!"(*).

    (*) Lửa địa ngục trói.

    Bùa chợt khựng lại, tỏa ra bảy ngọn lửa tương hỗ với bảy lỗ hổng, cột máu thoáng cái bị khí nóng bốc hơi thành khói, lửa nhập vào bảy lỗ hổng, đâm thẳng từ sau lưng ra trước, ôm vòng theo thân rắn, cuối cùng giao thoa rồi bện lại thành một cái lồng lửa, nhốt con Linh Xà bên trong.

    Linh Xà vùng vẫy giãy dụa, mỗi lần cựa quậy chạm vào lồng lửa, thì trên cái mình trắng toát sẽ nung ra thêm một dấu cháy sém.

    Qua vài lần nó cũng không dám manh động nữa, bấy giờ Kinh Niên mới chậm rãi đi tới trước Thi Ngũ gia, ngẩng đầu ngước nhìn.

    "Cơ thể bị chôn bùa kết hợp với Hỏa Viêm Phược, đừng nói ngươi là tiểu yêu mới tu thành chính quả, cho dù là rắn đại tiên dính phải cũng chỉ còn nước khoanh tay chịu trói thôi."

    Kinh Niên cười đến là vui vẻ, nói tiếp: "Ta thấy ngươi rất thông minh, vậy cứ tự mình thưởng thức để biết sự lợi hại của đạo phược chú này nhé, nếu ta muốn, thì bắt ngươi chết không để lại xác cũng dễ như trở bàn tay."

    Hai cái đầu Linh Xà nhìn nhau, đồng thời ngậm miệng lại, giở ra bộ điệu ngoan ngoãn.

    Kinh Niên thấy nó thức thời như vậy thì gật đầu hài lòng: "Ta biết ngươi có thể hóa thành Linh Xà không phải do đạo hạnh ngàn năm, mà do một viên linh đan, linh đan đó ngươi có được từ đâu?"

    Linh Xà trừng mắt nhìn, hai đầu cũng hơi lay động.

    Kinh Niên chỉ cau mày ngóng nhìn, mắt đối mắt với Linh Xà, trông thấy vẻ mờ mịt trong mắt nó thì mi tâm cô giãn ra, nhủ thầm: Xem ra ngươi cũng không biết đó là linh đan, chỉ tiện miệng nuốt vào bụng thôi, cái đà này, hỏi ngươi làm sao tới ngọn núi này cũng chỉ uổng công.

    Cô thở dài một lát, rồi nghiêm mặt nói: "Ngươi chiếm núi này làm ổ cũng được thôi, nhưng ngươi lại dính líu tới trăm mạng người, giết người thì đền mạng, nơi đây thuộc về con người, mặc dù ngươi là súc sinh thì cũng phải tuân theo quy củ, chết cũng không oan!"

    Linh Xà thấy cô dữ dằn như vậy thì trong mắt lộ ra vẻ sợ hãi, tưởng cô muốn hạ sát mình.

    Song lại thấy Kinh Niên cười hì hì nói tiếp: "Ngươi khoan hoảng đã, việc này cũng không phải hoàn toàn không thể thương lượng, ngươi chưa xuống trấn hại người, chỉ vì bị thiên tính sai khiến, cho nên tội giảm phân nửa, nhưng linh đan trong bụng ngươi đã nhập vào khí noãn, làm cơ thể ngươi dư thừa âm khí, đè nặng hơn trăm linh hồn không thể thăng thiên.

    Thế này đi, lát nữa ta thu hồi Hỏa Viêm phược, ngươi hãy phun linh đan ra rồi thả những tử hồn ra ngoài, ta sẽ tha mạng cho ngươi, thế nào?"

    Hai cặp mắt Linh Xà lồi ra xoay tít mấy vòng, sau đó gật đầu tỏ vẻ đồng ý.

    Kinh Niên mỉm cười, vỗ hai tay vào nhau, hồng phù theo đó bay về, lồng lửa tạo thành từ bảy ngọn lửa cũng lần lượt tản ra, lúc vượt qua cơ thể Linh Xà còn kéo theo lá bùa chôn bên trong, bảy lá bùa vừa rời khỏi cơ thể thì đều hóa thành tro.

    Đợi ngọn lửa nhập hết vào trong hồng phù, Kinh Niên mới thu bùa nói: "Được rồi, tới lượt ngươi."

    Vậy mà Linh Xà vừa được tự do đã lộ ngay hung tính, hai cái mồm đồng loạt bổ về hướng Kinh Niên cắn xuống.

    Kinh Niên chẳng chút hoang mang, hét lên một tiếng "Ngũ gia".

    Ngay khi cô gọi phù chú về đã phái Thi Ngũ gia đi vòng ra phía sau Linh Xà.

    Cô vừa hét lên, Thi Ngũ gia cũng vung hai tay ra tóm phắt lấy cái đuôi to chừng miệng chén, vác lên vai rồi quay người nhảy đi, cơ thể rắn cuộn tròn trên đất bị hắn kéo dãn ra.

    Hắn tiếp tục chạy băng băng, ngay lúc cái miệng rắn sắp vồ xuống Kinh Niên, thì lòng bàn chân hắn tức tốc ghìm xuống đất, dồn sức kéo một phát, cả cơ thể rắn bị một luồng lực cực mạnh lôi giật ra sau, khiến miệng Linh Xà tợp vào khoảng không.

    Thi Ngũ gia vung nắm đấm, thụi mạnh vào chỗ thịt bong, máu phụt ra tung tóe.

    Linh Xà gào rít thê thảm, liều mạng quật đuôi, Thi Ngũ gia gập ngón tay thành trảo, năm ngón tay ghim vào trong thịt, bấu thật chặt, mặc cho nó quẫy đập thế nào cũng không giãy ra nổi.

    Bàn tay khác thì không ngừng ra quyền nện vào cùng một chỗ, chỉ chừng mười lần nện thì phần xương đuôi đã gãy lìa.

    Linh Xà đau tới nỗi lăn lộn trên đất, khuấy lên từng đợt sóng bụi.

    Thi Ngũ gia vứt đoạn đuôi cụt trong tay đi, rồi chạy dọc theo lưng rắn, lúc chạy được nửa đường thì tung người phi thân, nhảy lên đầu rắn, nghiêng người lao xuống, gập khuỷu tay dộng thẳng vào giữa hộp sọ của đầu mắt xanh.

    Một tiếng "Cốp" vang lên, cả cái đầu của con rắn đều bị dộng sâu vào đất, không còn cục cựa nữa.

    Cái đầu mắt đỏ cũng bị lôi xuống theo, cằm đập xuống đất, làm tung lên màn bụi mịt mù.

    Kinh Niên đứng cách miệng rắn chưa đầy một thước, lúc thân rắn đổ ầm xuống cũng chẳng buồn di chuyển.

    Mãi tới khi Thi Ngũ gia đáp xuống sau lưng, cô mới quơ tay phẩy phẩy bụi, bước lại đối diện với mắt đỏ, còn cái đầu vùi vào trong đất kia e là đã bất tỉnh nhân sự từ đời nào rồi.

    "Chúng ta đã nói trước rồi, ta căm nhất là người không giữ lời hứa, cho dù không phải người cũng vậy, nếu ngươi đã không làm theo lời giao ước trước đó, thì ta sẽ kêu Ngũ gia mở mấy cái lỗ trên đầu ngươi."

    Lúc cô nói câu này, trên mặt vẫn giữ nét bình thản, nhưng thấy tròng mắt Linh Xà vẫn chuyển động lanh lợi, mi tâm của cô càng siết chặt hơn, khuôn mặt bình thường dễ thương đáng yêu giờ đây lại phủ kín một tầng sát khí.

    Rồi đột nhiên cô nhếch mép nở ra một nụ cười, nhưng nó lại lạnh lẽo không mang theo nửa phần ý cười: "Phun linh đan ra sẽ phá yêu thân của ngươi."

    Một câu thả ra rất nhẹ nhàng, nhưng hai mắt Kinh Niên đã dần đổi màu, một bên lóe lên kim quang, giống như con mắt âm dương của Gia Cát Thủ, bên còn lại thì đồng tử đen hóa thành trắng, gần như trong suốt.

    Linh Xà vừa thấy hai mắt cô, tức khắc ngửa đầu lên.

    Sau khi cổ họng nuốt xuống vài lần, thì phun ra một đống chất nhầy màu trắng, trong chất nhầy bao bọc một hạt châu lớn cỡ trứng gà, khi mới ra khỏi miệng thì tỏa sáng lóng lánh, nhưng tới khi rơi xuống đất thì đã tối tăm như một hòn đá trắng.

    Nét mặt của Kinh Niên hơi dịu lại, đồng tử cũng trở lại với tông đen bình thường.

    Ngay lúc Linh Xà phun linh đan ra, một luồng khói trắng cũng trào ra khỏi miệng, thổi bay lên tầng không cao ngất rồi dần dần tan hết.

    Sau đó một trận sương mù bốc ra phủ ngập toàn thân rắn, giống như một áng mây dầy tuôn ra trên mặt đất, càng phun càng mỏng, càng phun càng ngắn, chờ sương mù mỏng đi rồi, thì nào đâu còn cái bóng dáng Linh Xà.

    Kinh Niên ngồi xổm xuống, thấy con tiểu Bạch Xà dài chưa đầy một thước dưới chân đang bò về hướng linh đan, khi bò tới gần thì lại không biết phải làm thế nào, chỉ biết bò loanh quanh linh đan.

    Hóa ra linh đan đó có tính phụ thuộc cực mạnh, vốn phải phá khí noãn mà ra, hiện nay còn mang cả vật bên trong ra ngoài, đạo hạnh âm khí luyện thành bên trong khí noãn lúc trước đều bị linh đan nuốt chửng hết, nên hóa ra kiếm củi ba năm thiêu một giờ, đành phải tu luyện lại từ đầu.

    Tiểu Bạch Xà bò qua bò lại trước linh đan, thân hai đầu không còn tồn tại nữa, chỉ chừa lại hai con mắt một đỏ một xanh ầng ậng nước, rơi nước mắt tong tong.

    Kinh Niên thấy tội nghiệp, bèn đưa tay nâng nó lên lòng bàn tay, đặt trước mặt nói: "Linh đan chỉ dùng được một lần thôi, dù ngươi có nuốt lại cũng không còn tác dụng nữa đâu."

    Nghe xong lời phủ phàng, con rắn trắng bỗng gục đầu xuống, trông càng đáng thương hơn.

    Kinh Niên moi bọc vải trong lòng ra, dịu giọng nói: "Nếu ngươi nguyện theo ta, thì ta sẽ thu ngươi vào trong Bạch Hổ kính, ở trong đó dồi dào linh khí, không ngoài mười năm ngươi sẽ tu thành chính quả, chẳng qua trước đó nếu có chỗ cần ngươi ra sức, thì nhất định phải nghe hiệu lệnh của ta, ý của ngươi sao nào?"

    Tiểu Bạch Xà nhìn cô lâu thật lâu, cuối cùng gật đầu.

    Kinh Niên nở nụ cười, đặt nó xuống đất, rồi mở bao vải lấy cái kính Bạch Hổ bảy cạnh ra, mặt kính vẫn đen kịt như thế.

    Chỉ thấy Kinh Niên vẽ bùa tự lên khoảng không, mặt kính hướng về phía con rắn nhỏ, kêu khẽ một tiếng "Thu".

    Con rắn nhỏ liền bị lực hút vô hình hút vào trong kính, mặt kính như một đầm nước đen, ngay lúc thân rắn nhập vào thì gợn lên từng vòng sóng.

    Đợi sóng gợn lắng xuống, Kinh Niên mới khép miệng bọc vải lại nhét vào trong ngực, rồi đứng dậy nhìn về phía Thi Ngũ gia: "Ngũ gia, may mà có ngài."

    Thấy toàn thân hắn đẫm máu, hai tay dính đầy chất nhầy sền sệt, không khỏi thở dài: "Kinh Niên phải rửa tay tắm người giặt y phục cho Ngũ gia thôi."

    Bộ đồ mới toanh chưa mặc được bao lâu?

    Còn chưa biết có giặt sạch được hay không đây.

    Đổi hết bùa lại, xong đâu đấy Kinh Niên mới đi tới trước Gia Cát Thủ ngồi xổm xuống, đưa tay kề lên gáy cổ của hắn một lát, xác định hắn không có gì đáng ngại thì đứng lên, nói với Thi Ngũ gia "Chúng ta đi thôi."

    Sau đó liếc thêm cái nữa, rồi bước nhanh về con đường cũ mà chẳng thèm ngoái đầu lại thêm lần nào.

    Sáng sớm hôm sau, đám đông hùng hổ kéo lên núi, xới tung khắp cả núi Mai Lĩnh, nhưng ngoài tìm được một tiểu đạo đang bất tỉnh, thấy hoa rụng đầy đất, tàn đỏ bay tán loạn theo gió, thì chỉ còn lại dư hương lượn lờ không dứt...

    ~ Hết chương 5 ~
     
    Thi Quan Kinh Niên
    Chương 6


    Chương 6

    CỔ THÀNH KỲ VĂN

    Edit: Yunchan

    ***

    Rời khỏi trấn Mai Lĩnh đã được mấy ngày, Kinh Niên và Thi Ngũ gia ngày đi đêm nghỉ, một đường xuôi nam tới Lý Nữ giang, một vùng ven sông.

    Ngày hôm đó khí trời quang đãng, cơn gió Đông Nam mang theo luồng khí khô hanh, thổi vào mặt làm da khô ráp, mồ hôi không đổ được một giọt càng làm cho bụng dạ buồn bực phát hỏa.

    Kinh Niên bèn tới trước sạp đầu thôn mua một cây quạt hương bồ, vừa đi vừa phe phẩy, trông vào cũng khá là thong dong tự tại.

    Đương vào dịp xuân nhộn nhịp, ven bờ sông và trên đường nhỏ tấp nập nhiều thương buôn hơn bình thường gấp bội, xe lừa và mã xa thồ hàng nhan nhản khắp đó đây, rất nhiều người bán hàng rong cũng chạy tới góp náo nhiệt, và cũng không thiếu người chọn dịp này để qua sông thăm người thân.

    Tiếng chào hàng, tiếng rao bán, tiếng người ầm ĩ không dứt bên tai, như nồi nước sôi đang réo lên sùng sục.

    Xưa nay Kinh Niên toàn chọn đi đường nhỏ vắng vẻ yên tĩnh, mặc dù không phải là người ưa ầm ĩ, nhưng đã quá lâu không nhìn thấy khung cảnh nóng hừng hực, nên khi nghe thấy tiếng gào thét tràn đầy tinh thần này, tâm trạng thật là khoan khái.

    Bước chân tự động sải dài, chạy băng băng về phía âm thanh, đất đai núi rừng và cây cối lùi thật nhanh ra sau.

    Cô xuyên qua biển người hệt như một người cá, tận tới khi chạy tới chỗ neo tàu mới dừng lại.

    Cô vừa nghỉ chân xong, Thi Ngũ gia cũng đã đuổi theo sát nút, chẳng qua chỉ xê xít một chốc lát.

    Kinh Niên quơ quơ quạt hương bồ, cười nói: "Ngũ gia, ngài sắp chạy nhanh bằng Kinh Niên rồi, lần tới ngài chạy trước để Kinh Niên chạy sau cho."

    Nói thì nói vậy, lúc đi về hướng bến thuyền, Thi Ngũ gia vẫn an phận nhảy sau lưng cô.

    Ngồi bên rìa đầu cầu gỗ bắt lên thuyền có mấy thợ thuyền, họ đang say sưa tán dóc chuyện trên trời dưới đất.

    Kinh Niên cắm cái quạt hương bồ vào túi đeo ngang lưng, rồi bước lên cất tiếng chào, hỏi chuyện người có vẻ nhiều tuổi nhất: "Lão sư phụ, xin hỏi mấy thuyền này đi về hướng nào?"

    Sư phụ đang ngậm cái tẩu, nghe tiếng thì ngẩng đầu lên, trông thấy người hỏi là một bé gái thì vội vàng đẩy cái tẩu qua bên mép, phả một miệng đầy khói qua bên cạnh rồi đứng lên, hướng mặt về phía sông chỉ vẽ: "Thuyền gỗ sơn đen kia là đi về hướng thôn Yên Hoa, cái thuyền màu đỏ khảm song ngư hí châu(*) thì lái về hướng cố đô Nam thành, đoàn thuyền ở sau đuôi là thuyền khứ hồi, muốn đi các thôn trấn nhỏ khác thì ngồi thuyền kia, số còn lại là thuyền hàng, không chở du khách."

    (*) Song ngư hí châu: Hai con kim ngư và một hạt châu, biểu thị cho phú quý cát tường.

    Lão sư phụ nói tường tận xong, Kinh Niên nói tiếng cám ơn rồi hỏi tiếp: "Bây giờ có thể lên không?"

    Lão sư phụ lắc đầu, nói là chưa tới giờ đón khách, cần đợi thêm một canh giờ nữa.

    Kinh Niên thấy ông ngậm lại cái tẩu ngồi xuống thì khom lưng thi lễ, cảm ơn mấy tiếng, sau đó lộn trở lại đi tới một nhà khách điếm ở cạnh bến tàu.

    Cả trong lẫn ngoài khách điếm đều ngồi chật ních hành khách chờ thuyền, nào còn chỗ trống?

    Tiểu nhị bèn thương lượng với một bàn bốn hán tử thồ hàng, chừa ra một góc bàn cho Kinh Niên ngồi nhờ.

    Bốn hán tử thấy bề ngoài cô đáng yêu, còn dắt theo một hành đầu, nên thoải mái hàn huyên với cô đôi câu, hỏi tên tuổi xong thì lại quay về chuyện ba hoa khoác lác giữa cánh đàn ông.

    Kinh Niên gọi một bình trà và mấy món ăn nhẹ, rồi vừa ăn vừa nghe mấy người kia tán chuyện.

    "Nói lại thì bảng treo thưởng quan phủ mới dán mấy ngày trước đây đấy, nhiều hảo hán kéo tới tưởng đâu sắp đạp đổ cổng thành, vậy mà lăn qua lộn lại rất lâu, bảng niêm yết kia vẫn dán ngay ngắn chỉnh tề, tới cái mép giấy cũng không bị xé xuống.

    Người nào cũng vào thì thẳng thớm ra thì liêu xiêu, không chết mà chả khác nào chết, chẳng phải gãy tay gãy chân, thì nhẹ cũng mặt mũi bầm dập, anh hùng đều thành cẩu hùng hết trọi!"

    Nói tới đây thì bốn người phá lên cười, đập tay đập chân, nện bàn rầm rầm, ồn ào một trận, rồi lại nghe người nọ nói tiếp: "

    Sau này thì không ai dám tới nữa, hoàng bảng dán ở bên kia phơi nắng phơi gió, hư hại tới độ chả nhìn thấy chữ.

    Thời gian lâu dần, mọi người đều quên béng mất chuyện này.

    Bên trên muốn trưng thu đất lập miếu quan, kỳ hạn gần ngay trước mắt, Huyện thái gia không sốt ruột tới quýnh lên mới lạ, thành ra lại yết bảng, tiền thưởng tăng lên bội phần, khổ nỗi vẫn chả ma nào thèm ngó, ngươi nói coi bạc hay là mạng quan trọng hơn?

    Trong bụng ai mà không cân đo đong đếm!

    Chỉ tội cho Huyện gia không hoàn thành nhiệm vụ, bị cách chức quan là nhỏ, kết tội bỏ tù tịch biên mất mạng mới là oan!"

    Lúc này, một hán tử khác chen ngang, đùa cợt: "Vậy là trên đời lại nhiều thêm một oan hồn."

    Dứt lời lại cười vang một trận, tiểu nhị liên tục qua lại đưa thức ăn, lúc đi ngang qua bàn này thì chõ vào vài câu: "Cái gương đó thì thần kỳ bao nhiêu chứ?

    Đáng để canh giữ ở chỗ đó sao?

    Ngay cả thăng quan tiến tước cũng không muốn, chẳng phải chỉ là một cái gương vỡ mặt thôi à?"

    Đại hán khơi chuyện nghe vậy thì xì một tiếng, nói: "Tiểu nhị ca nói sai rồi!

    Người nhìn thấy cáo thị tới đây thu đất, chả mấy ai nhìn trúng bạc hết, hơn phân nửa là nhắm vào mặt gương đó đấy.

    Ngươi nói nó là gương thần, còn người khác nói nó là bảo kính lưu truyền từ thời viễn cổ, coi quá khứ đoán tương lai, muốn gì có nấy.

    Cũng có người đồn nó là thần vật trấn yêu trừ ma, còn có tin đồn là soi nó sẽ sống lâu trăm tuổi, giữ mãi tuổi thanh xuân, ôi...

    Càng đồn thì càng phóng lên trời, mấy hán tử cục mịch bọn ta thì không thèm cái chuyện thật giả lẫn lộn đó, nhưng đã có người đồn thì tất có vài chỗ đáng tin, không thì chiếm đất làm giống gì?"

    Tiểu nhị nghe mà gật đầu lia lịa, mãi tới khi khách nhân bàn bên réo tên mới chịu đi.

    Ban đầu Kinh Niên nghe như nghe người ta kể chuyện xưa, vào tai này lại ra tai kia, căn bản không để tâm lắm.

    Song khi nghe người nọ nói tới cái gương, đột nhiên hai mắt sáng ngời, hứng thú trỗi dậy.

    Đại hán kia phát biểu vài câu cảm nghĩ về việc này, rồi chuyển qua đề tài khác.

    Kinh Niên nghe được không đầu không đuôi, không nhịn nổi bèn lên tiếng hỏi: "Cáo thị dán ở đâu?

    Chiếm đất giữ gương là ai?

    Cái gương đó là cái gương gì thế?"

    Cô xổ liền mấy câu hỏi hệt như nã pháo liên thanh, hỏi tới nỗi hán tử kia phải đực mặt ra một lát.

    Thấy cô đỡ má, nhìn mình đầy tò mò, một hán tử thô kệch như hắn không quen qua lại với các cô nương, giờ này lại bị một bé gái nhìn chòng chọc như vậy thì có hơi luống cuống, nhủ bụng chắc chỉ do trẻ con thích tò mò quấy phá, giá nào cũng phải thỏa mãn thôi.

    Thành ra hắn ho khan vài tiếng, hạ thấp giọng nói:

    "Cô nương có chỗ không biết, trong ngọn núi hoang bên ngoài cổng cố đô Nam thành có một tòa phế trạch, nghe đâu chủ nhân của tòa trạch đó đời đời đều là triều thần.

    Nhưng tới đời này chẳng biết phạm vào tội gì mà lại bị cách chức quan, niêm phong tòa trạch.

    Mà người đó cũng lạ, nói cỡ nào cũng không chịu rời khỏi chỗ ấy.

    Ban đầu, hoàng thượng cũng mặc cho hắn ở trong đó, nhưng gần đây lại bảo là muốn xây miếu quan, nhìn trúng đỉnh núi này, bèn kêu người đi trưng thu đất.

    Chủ nhân tòa nhà lại không chịu nhường, trong khi thánh chỉ truyền xuống hết quyển nọ tới quyển kia, cho hắn phục chức quan, cho hắn đi nơi khác dựng hào trạch, nhưng cỡ nào cũng vô dụng, hắn vẫn ở lỳ không đi.

    Hoàng thượng dưới cơn nóng giận muốn bắt hắn hỏi chém.

    Nhưng nói tới cũng kỳ, quan binh tài giỏi cỡ nào đi vào tòa trạch đều trọng thương trở ra, hỏi họ sao lại bị thương, thì tất cả đều nói là không nhớ rõ, chỉ nhớ là nhìn thấy một cái mặt gương.

    Ngay sau đó lại có thêm vài nhóm đi vào, tất cả đều gặp chuyện y như vậy.

    Hoàng thượng bèn giao cho Huyện gia quản lý thành này đi xử lý, nếu trong kỳ hạn không thu hồi được đất, thì sẽ hỏi tội ông ta.

    Huyện gia hết đường lui, đành phải triệu tập người tài trong thiên hạ, cho phép dùng bất cứ cách gì, chỉ cần có thể thu được đất thì sẽ thưởng to.

    Kết quả ai đi vào cũng bị thương mà về, cũng bảo là không rõ xảy ra chuyện gì, thế không phải có quỷ à?!

    Mắt thấy thời gian ngày một trôi qua, dù huyện gia có tăng cao tiền thưởng đi nữa thì cũng chẳng ai ngó ngàng."

    Hán tử nói xong một hơi thì nốc hết cả chén nước trà vào bụng, quẹt miệng, rồi liếc về phía Thi Ngũ gia: "Tiểu cô nương, đừng nói cô hỏi thăm chuyện này vì muốn đi đó nhé?

    Giá nào cũng đừng đi, chuyện này tới mấy người nhiều kinh nghiệm hơn cô cũng bó tay, đừng vì hiếu kỳ mà đâm đầu vào mũi giáo, được một mất mười đấy!"

    Kinh Niên vội cười xua xua tay: "Coi đại ca nói kìa, ta không hiếu kỳ, nào có gan mò tới chứ?"

    Nói thế nhưng con ngươi thì xoay tít mấy vòng, trong đầu thầm suy xét một phen.

    Chén xong đồ ăn trong đĩa, uống trà rồi ngồi thêm một lúc, sau đó cô mới chào tạm biệt bốn người kia, tính tiền rồi rời khỏi chỗ ngồi.

    Ra khỏi tiệm rồi, Kinh Niên rẽ trái đi vòng ra sau tiệm, đi về hướng bờ sông.

    Gió mát vờn qua trước mặt mang theo mùi đất ẩm, ngửi vào mũi tanh tanh nhưng cũng trong lành không gì sánh được.

    Cô vươn vai duỗi lưng, tới bên bờ sông ngồi xổm xuống, nhìn sóng gợn lăn tăn trên mặt sông, Thi Ngũ gia thì đứng sau lưng cô.

    "Ngũ gia, ngài nói đi, lần này là thật sao?"

    Kinh Niên không xoay người lại, nhìn về phía bờ xa xa bên kia sông, hai mắt híp lại: "Bất kể có phải hay không, cũng phải thăm dò thử, thà giết lầm một trăm chứ không bỏ sót một..."

    Cô nói xong câu này thì nghệt người ra, đột nhiên bật cười khanh khách: "Ây da, xài câu này cho việc này hình như không hợp xíu nào."

    Cô cười một hồi, người chợt ngả ra sau, đặt mông ngồi bệt dưới đất, dựa lưng vào trước chân của Thi Ngũ gia, rồi ngửa đầu nhìn lên: "Kinh Niên không biết nói chuyện, Ngũ gia ngài có chê không?"

    Tất nhiên cô biết Thi Ngũ gia không có khả năng đáp lại cô, chỉ độc thoại theo thói quen mà thôi.

    Thế rồi cô duỗi hai đầu gối ra, cũng chẳng để tâm bùn trên đất làm dơ chiếc váy trắng tinh, bàn tay phủ lên đầu gối, hai mắt nhìn chằm chằm mười ngón tay đang dao động qua lại.

    "Nếu là thật, Kinh Niên tất nhiên là vừa buồn vừa vui, nếu không phải, thì Kinh Niên cũng buồn vui lẫn lộn, giống nhưng cũng khác nhau... chẳng biết Ngũ gia sẽ có tâm trạng nào..."

    Cô lại ngẩng đầu, nhìn từ dưới lên, lúc này thấy Thi Ngũ gia đã hơi cúi đầu, mắt hướng xuống, giống như đang nhìn cô.

    Tim Kinh Niên thót một cái, chân nhảy bật lên, quay người nhìn lại, hai mắt Thi Ngũ gia vẫn nhìn thẳng phía trước như cũ, hoàn toàn trống rỗng, nhìn tới nỗi mũi cô cay xè, ôm chầm tới: "Ngũ gia...

    Ngũ gia...

    Kinh Niên cứ luôn nghĩ ngài đang nhìn ta, có phải Kinh Niên nhìn lầm rồi không?

    Ngũ gia, ngài thấy được chút gì rồi?

    Trong mắt ngài có hình dáng của Kinh Niên không?

    Trong lòng ngài có hình dáng của Kinh Niên không?"

    Thi Ngũ gia vẫn đứng thẳng đơ, không nhúc nhích lấy một chút, tròng mắt cũng chẳng dao động mảy may, lá bùa che lấp gương mặt in lên một vùng tối đen sâu đậm.

    Kinh Niên lui về sau vài bước, lấy tay xoắn xoắn lọn tóc rối trên trán, tự giễu: "Kinh Niên à Kinh Niên, ngươi rõ thật là... càng sống càng thụt lùi..."

    Biết rõ Ngũ gia vô tâm, còn nói mấy câu ngớ ngẩn đó làm gì?

    Một trận gió Nam lùa qua mặt sông, thổi tới bờ rồi thổi tung mái tóc, vạt áo tung bay phần phật, cơn gió ẩm ướt ấm áp xoa mát người, nhưng Kinh Niên lại như bị đẩy vào vùng tuyết rét căm, hai tay ôm lấy người, rụt cổ lại, kêu khẽ: "Lạnh, lạnh quá... lạnh quá..."

    Chữ lạnh đầu tiên còn chưa dứt, Thi Ngũ gia đã giang cánh tay ra ôm cô vào ngực, trán Kinh Niên kề lên trước ngực hắn, không ngừng kêu to "Lạnh quá", hắn lập tức thu hẹp hai tay ôm cô càng chặt hơn.

    Hai bóng dáng một lam một trắng dưới sóng nước chiếu hắt lên, trông lại từ xa, thấp thoáng như bị ngăn trở sau hàng lớp màn sa, mơ hồ mông lung, làm say lòng người.

    Ôm nhau như vậy một lúc, Kinh Niên bèn lệnh cho Thi Ngũ gia buông tay, quay qua ngồi xuống cạnh bờ sông, không nói gì nữa mà chỉ yên lặng thưởng thức phong cảnh.

    Ngồi một chút đã ngồi hơn nửa canh giờ, tận tới khi bên kia kêu mở thuyền thì mới đứng dậy đi qua, theo dòng người bước lên thuyền khách màu đỏ thắm.

    Hành khách trên thuyền cùng lắm chỉ hơn hai mươi người, không bì nổi với chiếc thuyền đen tới thôn Yên Hoa xa xa kia.

    Có lẽ vì nghe nói trong thành đang náo loạn, nên không ai muốn tới mảnh đất thị phi đó.

    Vốn dĩ Kinh Niên cũng dự định tới thôn Yên Hoa, bây giờ cách lần trước cô tới cũng lâu rồi, không biết trong thôn lại chế ra loại pháo hoa pháo trúc gì mới đây, cô còn định tới đó mua vài cây nghịch chơi, nào ngờ ngay phút chót lại đổi lộ trình.

    Trong khoang thuyền có một thuyết thư tiên sinh(*), đang kể tới nguồn gốc của tên con sông Lý Nữ này, mọi người quây quanh y nghe rất ư là say sưa.

    Kinh Niên lặng lẽ đi lên trên, dựa vào thành thuyền hóng gió, cúi đầu nhìn xuống bọt sóng đang tung lên cạnh thuyền, cười độc thoại: "Chuyện xưa về con sông này ta cũng thuộc lòng, đổi lại là ta, không biết có kể đặc sắc như thuyết thư tiên sinh không nhở?"

    (*) Tiên sinh kể chuyện.

    Nói rồi liếc liếc Thi Ngũ gia bên cạnh: "Ngũ gia muốn nghe không?"

    Đoạn im lặng một chút rồi tiếp lời: "Chuyện xưa này rất thú vị, bảo đảm Ngũ gia sẽ không thấy chán."

    Sau đó chậm rãi đưa mắt về trên cuộn sóng, nhẹ giọng bắt đầu chuyện xưa, tiếng nói giòn giã bị tiếng sóng gió át mất, nếu tai của Thi Ngũ gia xài tốt, thì cũng chỉ mình hắn nghe được mà thôi.

    "Rất nhiều năm trước đây... chẳng biết là đã bao nhiêu năm, là ba trăm năm hay là ba ngàn năm... nói tóm lại lúc con sông này còn chưa gọi là Lý Nữ, đương nhiên cũng chưa có bến tàu, chưa có khách điếm, chưa có thương thuyền...

    Con người thời đó chỉ chống những tấm bản nhỏ xíu tới tới đi đi, ai cũng sống dựa vào nghề bắt cá.

    Lý ngư(*) trong con sông này vừa béo vừa to, mọi người rất thích ăn, ngày nào cũng nướng lý ngư, luộc lý ngư, chẳng chịu ăn thứ khác...

    Rồi có một ngày, các ngư phu kết thành đoàn đi thả lưới bắt cá, kết quả bắt được cái gì nào?"

    (*) Cá chép.

    Nói tới đây, Kinh Niên trợn tròn mắt, vỗ tay đánh bốp: "Là một quái vật nửa người nửa cá!

    Mọi người nhìn thấy đương nhiên sợ run, chẳng biết xử thế nào, bèn trói nó lại giao cho một ngư phu trẻ tuổi trông coi, định bụng tìm đạo sĩ gì đó tới coi thử.

    Người cá hết lời cầu xin ngư phu trẻ tuổi thả cho nó một con đường sống...

    Phải rồi, lúc nãy quên kể, nửa thân trên của người cá là một nữ tử có gương mặt xinh đẹp, khóc như hoa lê trong mưa, ai nhìn thấy mà không đau lòng nào?

    Mấy ngày đầu ngư phu trẻ tuổi ấy còn do dự, mấy ngày kế tiếp, hai người lại dần nảy sinh cảm tình.

    Lúc này những người khác dắt theo một hòa thượng tới, nghe đâu là chuyên xua đuổi yêu ma.

    Hòa thượng này vừa thấy người cá thì phán ngay là tà vật, muốn làm pháp thức để đoạt mạng nó.

    Ngư phu trẻ tuổi không đành lòng, nhân lúc đêm khuya thả nó xuống nước, người cá cảm kích vô cùng.

    Sau khi biết được chuyện này, hòa thượng kia bèn nói rằng ngư phu trẻ tuổi bị người cá mê hoặc tâm trí, phải đánh côn để đuổi quỷ.

    Một đám người đi tới cầm luân bổng(*) đánh cực lực, cuối cùng đánh chết ngư phu trẻ tuổi ấy!"

    (*) Gậy luân thường.

    Kinh Niên dừng lại một lát, thở dài rồi mới tiếp tục: "Máu tươi của ngư phu chảy xuống lòng sông, vì thế mà người cá biết được ân nhân bị giết hại, dưới cơn phẫn nộ nó đã dâng lên sóng lớn nuốt chửng cả thôn ngư phu, à, lại quên nói, người cá ở trong nước tuy có bản lĩnh ngất trời, nhưng ra khỏi nước thì hết xài được rồi!

    Từ đó về sau, nếu có ai chèo thuyền trên sông thì sẽ gặp nạn, không ra được sông, cũng không đánh được cá, còn nuôi gia đình thế nào được, ôi!

    Thành thử, để làm nguôi cơn giận của người cá, mọi người sống bên bờ sông bèn xây một ngôi mộ cho ngư phu trẻ tuổi năm đó, rồi dâng tặng cống phẩm.

    Sau đó liên tiếp hai ngày hai đêm, trên sông sóng lớn cuộn trào mãnh liệt, không ai dám ra sông, chờ sau khi gió yên sóng lặng thì ngôi mộ còn đâu, cống phẩm cũng bị nước cuốn đi hết.

    Ai cũng rỉ tai nhau rằng người cá chuyển ngôi mộ đi để đích thân thờ phụng.

    Vì thế mỗi lần tới ngày giỗ của ngư phu trẻ tuổi, mọi người bèn ném vào sông hoa quả khô và lương thực.

    Từ đó trở đi, vượt qua con sông này cũng không còn quá khó khăn nữa!"

    Nói xong thì thở hắt ra một hơi, sống lưng thẳng tắp, ngoảnh sang Thi Ngũ gia, hớn hở nói: "Ngũ gia, chuyện xưa này ngài cũng nghe rất nhiều lần rồi, nhưng mỗi lần Kinh Niên kể mỗi kiểu, cam đoan ngài sẽ không ngại phiền!"

    Đột nhiên mặt cô xị xuống, dùng một ngón tay chọc chọc huyệt thái dương, lầu bầu với vẻ mặt hoang mang: "Tại sao không gọi là Ngư Phu giang chứ?

    Tại sao lại nói là hai người yêu nhau chứ?

    Mới ở chung mấy ngày cũng yêu được sao?"

    Rồi cô ngước mắt nhìn về phía Thi Ngũ gia: "Kinh Niên chỉ từng nghe câu lâu ngày sinh tình, tuy cũng có cách nói nhất kiến chung tình, nhưng câu trước vẫn thực tế hơn, có phải không?

    Ngũ gia?"

    Tiếp đó cười rộ lên, dựa lưng vào thành thuyền, ngửa đầu nhắm mắt như đang hưởng thụ gió sông ấm áp, tóc bị gió thổi phất phơ sau lưng tạo thành gợn sóng dập dềnh.

    Qua chừng hai canh giờ, thuyền cập bến ở bậc đá thanh văn, lúc này Kinh Niên mới bước xuống khoang tàu đi tới cửa hông, theo sau mọi người đi qua cây cầu gỗ bắt lên bờ.

    Ra khỏi bến tàu, là đặt chân vào con đường đá xanh nối tới cổng thành Bắc.

    Nam Thành là đường giao thông quan trọng của vùng biên giới, người ở đông đúc, hiệu buôn sầm uất, người làm ăn cảnh ngoại đều phải đi qua bến thuyền này.

    Để tiện bề giao dịch hàng hóa với phiên ban, quan phủ còn bố trí riêng tổ chức địa phương trong thành, lấy lương thực và lá trà để trao đổi với da dê và ngựa của ngoại tộc.

    Sau khi vào thành, Kinh Niên hết nhìn đông tới ngó tây, hai bên đường người bán hàng rong bày sạp, rao hàng í ới với khách qua đường, cô tiện chân dừng lại mấy sạp, ngắm nghía mấy món hàng nho nhỏ bày trên mỗi sạp, thấy thích thì cầm lên soi kỹ, soi xong thì đặt xuống chứ không mua.

    Mấy chủ sạp thấy cô là một tiểu cô nương, cầm lên đặt xuống đều nhẹ tay nhẹ chân, nên không so đo chuyện cô nhìn mà không mua, cứ mặc cho cô nghịch.

    Tuy mấy ngày gần đây du khách tới vùng này không nhiều lắm, nhưng trong thành vẫn không thiếu trò vui.

    Kinh Niên đi dạo trong chợ một chút, chốc thì chen vào trong đám đông xem xiếc, chốc thì lẩn vào lũ trẻ con, đông sờ sờ, tây dạo dạo, chạy mòn gót khắp con phố ở cổng thành, chơi vui hết biết.

    Chờ tới khi chơi thỏa thích rồi thì mới tìm một trà lâu để nghỉ chân.

    Bấy giờ mặt trời vẫn còn chênh chếch, chưa tới giờ cơm tối, nên Kinh Niên chỉ gọi một bình trà, một hộp mứt quả bốn ngăn, ngồi ở cái bàn tròn sát bên đài, xem đào nữ trên đài múa hát.

    Sau màn, cầm tranh gảy cung, đàn sáo hòa âm, đang hợp tấu một khúc "Hoàn Sơn Nguyệt", thong dong u tịch, trong nhu hòa pha lẫn đau thương, kể hết nỗi ưu tư như vò tơ trăm mối của tiểu nữ nhi.

    Đào nữ kia vấn cao búi tóc, mặc chiếc váy đỏ vàng buông dài, khoác chiếc áo ngắn tay bằng sa trắng.

    Dáng người biến hóa bềnh bồng theo làn điệu, khi phất tay xoay eo làm ống tay áo bay bay, là lúc mọi người bên dưới ngắm đến nỗi như mê như si.

    Kinh Niên dựa lưng vào ghế, tay nhón một miếng mơ muối thả vào miệng, nhai nhóp nhép, xem đến là chăm chú, tới chỗ hứng thú còn hùa theo quần chúng vỗ tay reo hò, cứ thế mà tiêu phí thời gian.

    Sau khi nghe thêm hai ba khúc nữa, cô ngó ra cửa sổ thấy sắc đã chập tối, đang muốn gọi hỏa kế dọn lên ít thức ăn, thì chợt nghe ngoài cửa tửu lâu vang lên hai tiếng ngựa hí, sau đó một người ăn vận như thư sinh vội vã nhảy vào cửa, quay lưng hét lên với người bên ngoài: "Ngươi bị gì mà bám theo ta riết thế hả?!"

    Giọng này rất quen, Kinh Niên ngó sang, thấy người nọ hầm hầm quay đầu lại, bạch diện thanh tú, chính là Gia Cát Thủ.

    Sau đó nghe ngoài cửa có người lên tiếng trả lời: "Chẳng phải kết bạn đồng hành sao!"

    Giọng sang sảng, sải bước tiến vào ngay sau đó là một người có vóc dáng cường tráng, với gương mặt phóng khoáng của nam nhi phương Bắc, mặc võ bào màu xám tro, hông thắt chiếc đai lưng đen kịt, còn có một tên dán bùa nhảy nhảy sau lưng.

    Kinh Niên hơi bị kinh ngạc, vì đó chẳng phải ai khác mà chính là người đã đãi cô một bữa no nê ở trấn Mai Lĩnh, Lô Hoài Nhâm.

    Sao hai người này lại đi chung với nhau thế?

    "Ai làm bạn đồng hành với ngươi!

    Mấy ngày tới không được quấn chân ta nữa...

    Ớ...

    Cô!"

    Gia Cát Thủ vừa la hét vừa đi vào trong, khi ngoái đầu lại thì chạm ngay mặt Kinh Niên.

    Hắn sững ra một giây, rồi ngay tức khắc hóa thành một cơn gió lốc, cuốn phăng tới trước bàn tròn, cúi đầu trợn mắt trừng cô.

    Kinh Niên làm như không thấy cái mặt như quỷ đòi nợ kia, thủng thẳng giơ tay phải lên, cười tươi rói chào: "Ơ!

    Đạo gia, mới mấy ngày không gặp, ngài đổi nghề làm tú tài rồi à?"

    Gia Cát Thủ thấy trên tay cô cầm quả mơ muối, chân bắt chéo, trông điệu bộ hệt như lão thần tự tại, còn nghe cô mở miệng đùa cợt thì càng giận tới nghiến răng.

    Nhưng may mà hắn tu tính cực tốt, cho dù nghẹn tới nội thương cũng không muốn làm quá lên với cô trước ánh mắt hau háu của đám đông, thế nên chỉ hừ một tiếng lạnh lùng: "Cô nương hưởng thụ thật nhỉ, đừng nói đổi nghề, ngay cả khi bần đạo có chết ngất trong gió lạnh bị người ta lột da rút xương thì cũng chẳng liên quan gì tới cô!"

    Kinh Niên biết hắn tính toán chuyện đêm hôm đó, bỏ hắn nằm bò ra đất một đêm quả là thiếu nghĩa khí giang hồ.

    Nhưng tốt xấu gì cô cũng xác nhận hắn không sao rồi mới đi mà, hơn nữa không có hàn khí, thời tiết rất thích hợp để ngủ ngoài trời đếm sao, còn có hoa rơi thơ mộng, lỗ chỗ nào đâu?

    Nghĩ thế, cảm giác tội lỗi của cô thoắt cái bị quét sạch trơn.

    "Đạo gia, cầm được bạc nên vui vẻ mới đúng, Kinh Niên rất đứng đắn, tới một văn cũng không lấy, sao ngài còn có vẻ mặt ấm ức này vậy?

    Lại đây lại đây, ngồi xuống uống miếng nước nhai miếng mứt nào!"

    Nói rồi thả quả mơ xuống, nhấc ấm trà lên lắc lắc trước mặt hắn.

    Gia Cát Thủ phất tay đẩy ra, đang muốn nói tiếp, thì đúng lúc này Lô Hoài Nhâm đi theo đằng sau cũng nhìn thấy Kinh Niên, sấn lên vài bước mừng rỡ nói: "Là muội sao, tiểu muội!"

    Kinh Niên đứng lên, cười tới nỗi mắt mày cong cong, đáp: "Lô đại ca, chạm phải huynh thật là vui, mời ngồi mời ngồi!"

    Sau đó gọi tiểu hỏa kế kê thêm hai cái ghế, Lô Hoài Nhâm không khách sáo, kéo ghế ngồi xuống bên cạnh, Gia Cát Thủ thì vẫn còn hậm hực đứng trước mặt Kinh Niên.

    "Đạo gia, có chuyện gì chúng ta ngồi xuống từ từ nói cũng không muộn mà, ngài đâu chỉ tới để tìm Kinh Niên khởi binh vấn tội đúng không?"

    Kinh Niên thả tay vẩy vẩy phía đối diện, rồi ngồi xuống tiếp tục nhai mơ, còn rất tốt bụng đưa qua một quả.

    Gia Cát Thủ liếc xéo quả mơ rồi hất đầu đi, bước tới ngồi vào ghế.

    Kinh Niên chuyển tay sang Lô Hoài Nhâm bên cạnh: "Lô đại ca, có muốn một miếng không?

    Ăn ngon lắm."

    Lô Hoài Nhâm nhận lấy rồi ném tọt vào miệng, bị vị chua lè xông cho nhíu chặt mày, lát sau mới giãn mặt ra nói: "Xem ra đại nam nhân không quen ăn thứ mứt quả chua kiểu này."

    Kinh Niên cười cười miễn bình luận, nhìn về phía Gia Cát Thủ vẫn đang uống trà, hỏi: "Sao ngài lại...

    đi chung với huynh ấy thế?"

    Lô Hoài Nhâm nheo mắt nhìn qua: "Ta có vài chuyện muốn tìm tiểu đạo này hỏi, nhưng hắn cứ nói không biết, hừ!

    Ta không tin thì hắn càng không nói... hừ, cứ vậy mà tới thôi!"

    Kinh Niên không lên tiếng, dùng đầu gối nghĩ cũng biết Lô Hoài Nhân muốn hỏi chuyện gì — trong một đêm, hoa mai rụng hết, dưới vạn cánh hoa chôn một đạo sĩ, trên tay còn cầm kiếm, trên mặt đất còn nguyên mấy cái hố... nhìn kiểu nào cũng là kết cục sau một trận đánh nhau kịch liệt, người muốn hỏi rõ bảo đảm không chỉ một người.

    Gia Cát Thủ nâng cằm, cặp mắt híp mảnh dài quét tới, nhếch mép nói: "Bần đạo nói không biết là không biết, hỏi ta chi bằng hỏi tiểu cô nương Kinh Niên đây, đúng không?"

    Nghe sao cũng là giọng điệu sợ thiên họa bớt loạn, cuối cùng còn không quên bỏ nhỏ một câu: "Đêm đó cô nương này còn xung phong vào trước, không hỏi cô thì hỏi ai?"

    Lô Hoài Nhâm trợn to mắt một giây, há mồm một lát cuối cùng mới thốt nổi một câu: "Tiểu muội tử!

    Muội thật quá thiếu suy nghĩ!

    Lại dám lừa đại ca, không phải đã dặn không được đi rồi sao!"

    Kinh Niên chắp hai tay thành hình chữ thập, cười ngượng nói: "Xin lỗi, Lô đại ca, chỉ tại Kinh Niên tò mò quá thôi, lần sau không dám nữa!"

    Dừng một chút, khóe mắt liếc tới cái mặt phản đối của Gia Cát Thủ, nói tiếp: "Nhưng ta chẳng thấy được gì hết, chỉ thấy đạo gia kia tự múa kiếm múa tới dữ dội, hất gió đào đất tới nỗi lồi lõm lỗ chỗ, ta trốn ở đằng sau cây bị gió thổi tới rát mặt, hết một lúc lâu hắn mới dừng lại, kết quả dừng một lần thì người cũng ngã theo!

    Ta không biết chuyện gì xảy ra, sợ quá nên bỏ chạy về thật nhanh!"

    Gia Cát Thủ nghe cô bịa bậy chế bạ, cáu mà không có chỗ xả, bèn đứng bật ngay dậy, nhưng mới nói được mỗi chữ "Ngươi" thì đã bị chặn họng.

    "Đạo gia, ta biết ngài giận Kinh Niên không nói đạo nghĩa, không thèm nhìn ngài một cái đã bỏ chạy lấy người.

    Ngài đại nhân đại lượng, đừng tính toán với một tiểu nữ tử được không!"

    Kinh Niên nặng giọng, ánh mắt bắn về phía Gia Cát Thủ mang theo cảnh cáo, trừng tới nỗi lòng hắn thót lên vô cớ, đứng ngốc ra cả buổi, cuối cùng ngồi xuống im thin thít.

    Lô Hoài Nhâm nhìn Kinh Niên một chút rồi ngó sang Gia Cát Thủ một lát, qua lại hai lần, cuối cùng cười nói: "Hiếm khi gặp lại tiểu muội, trước hết khoan nói tới chuyện này đã, đều chưa ăn cơm tối đúng không, nào!

    Để ta mời!"

    Nói rồi vẫy tay gọi hỏa kế lại, dọn lên một bàn đủ món chay mặn, thơm ngon nức mũi, đĩa đồ chay thì đẩy hết qua bên Gia Cát Thủ.

    Kinh Niên mời mọi người rồi ăn mấy miếng, thấy Gia Cát Thủ không cầm đũa lên thì hỏi: "Đạo gia không ăn vì chê cơm nước không ngon sao?"

    Gia Cát Thủ lườm cô, nhìn mấy món chay trước mặt, thầm nhủ người khác lo lắng cho mình chu đáo như thế, sao hắn lại làm dáng được nữa chứ?

    Nghĩ rồi cầm đũa lên gắp món gần nhất vào bát.

    Kinh Niên thấy hắn nhai kỹ nuốt chậm, cười hỏi: "Đạo sĩ ăn chay, nhưng chẳng nghe ai nói tú tài không thể ăn mặn, đạo gia, không phải ngài đổi nghề rồi sao?"

    Lúc này Gia Cát Thủ cũng nguôi giận nhiều rồi, nên nghe cô có ý xỏ mình mà cũng chẳng buồn vặt lại, chỉ đáp nhạt nhẽo: "Đổi nghề cái gì?

    Áo choàng rách không thể mặc tiếp, lúc nào bần đạo đi ngang qua đạo quan tự thì hỏi xin một bộ là được."

    Kinh Niên lè lưỡi, không nói đùa nữa, vừa ăn vừa tám chuyện nhà với Lô Hoài Nhâm, từ thân thế bản thân tới tình hình bản xứ, không giấu nhau thứ gì.

    Tới khi nói sang chuyện nghề nghiệp, Lô Hoài Nhâm hết sức tự hào, đứng lên vỗ vỗ hành đầu của mình, nói: "Người này tên là Trần Mộc, sinh tiền là đệ tử Thiếu Lâm, theo ta chừng mười năm, công phu khỏi nói, có hắn rồi, mấy tên khác ta đều không thuận mắt!"

    Kinh Niên tiến lên trước nhìn phải nhìn trái, rồi ngửa đầu chắp tay: "Trần Mộc đại gia, Kinh Niên bên này có lễ!"

    Nói xong còn thi lễ có bài có bản hẳn hoi, chọc cho Lô Hoài Nhâm bật cười.

    Gia Cát Thủ cũng không nhịn được nhìn lâu hơn một lúc: "Cương thi này qua mười năm còn dùng được sao?"

    Theo hắn biết, mặc dù cương thi không dễ thối rữa như thi thể bình thường, nhưng lâu ngày cũng khó bảo đảm hồn phách không rời khỏi cơ thể, cho nên thông thường Thi quan dùng một hành đầu cùng lắm là năm năm.

    Lô Hoài Nhâm hớp rượu cho trôi cái miệng nhồi đầy thịt nướng: "Tiểu đạo sĩ không biết đó thôi, dùng càng lâu thì ngôn chú càng dễ dùng hơn, vật này của ta đã có thể dùng được hơn trăm câu ngôn chú rồi đấy!"

    Ngôn chú tức là niệm chú bằng lời.

    Khi Thi quan muốn cương thi làm một nhiệm vụ nào đó, trước hết phải dán lên một lá bùa, trên đó viết phù tự tương ứng với yêu cầu.

    Đại bộ phận Thi quan quen mang theo nhiều loại phù chú khác nhau, theo nhu cầu thay đổi, cũng có vài người thích dùng bút lông để vẽ bùa không(*).

    Thứ nhất là tiết kiệm giấy, thứ hai là trong lúc nguy hiểm đỡ mất thời gian đổi bùa.

    Phàm là phù chú, đều cần niệm ra miệng mới có hiệu lực, một loại chú dùng lâu dần sẽ có tác động trực tiếp lên thịt da trên cơ thể, mặc dù không dán bùa tương ứng, chỉ cần nói ra lời là đạt hiệu quả ngay.

    (*) Bùa vẽ vào khoảng không.

    Việc này Gia Cát Thủ cũng biết được lõm bõm, nhưng dù ngôn chú có linh hơn nữa, thì cũng chẳng cản được sự ảnh hưởng của ánh sáng mặt trời với hồn phách.

    Một khi thân thể suy kiệt, cương thi thối rữa, thì giá nào cũng không dùng được nữa.

    Nhưng nhìn Trần Mộc thì không giống vậy, cho nên hắn vẫn hoang mang không giải thích được: "Gần mười năm mà cũng có thể giữ nguyên dạng sao?

    Kém chút thì một hai năm đã xuống mồ, cho dù tốt cũng không quá bảy tám năm cơ mà?"

    "Ngươi nói không sai, cho nên ta mới dùng thần sa (chu sa loại tốt nhất) bôi lên bảy chỗ, giữa ót, trong ngực, buồng tim, giữa bàn tay trái phải, và giữ hai lòng bàn chân, để che cửa vào thất khiếu(*), trấn áp hồn phách, lúc này dùng thêm hai ba mươi năm cũng không thành vấn đề!"

    (*) Thất khiếu gồm hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi và miệng.

    Lô Hoài Nhâm cười ha ha một tiếng, nói tới hả hê, nhưng Gia Cát Thủ biết cách thức phong hồn này là tà thuật nghịch thiên.

    Trên hành thư ghi lại, thế gian có ba loại cấm thuật, một là Huyết Cấm thuật, hai là Phong Hồn thuật, và ba là Kỳ Kinh thuật.

    Phong Hồn thuật này ngăn trở thiên linh, làm điều trái đạo, là việc con người không thể làm, nếu không ắt sẽ gặp tai họa.

    Tuy không có tài liệu lịch sử nào ghi chép về tai họa gặp phải, nhưng trong đó thực hư khó đoán, thà tin còn hơn không tin.

    Thi quan cũng thế mà đạo sĩ cũng vậy, cho dù là tam giới cửu lưu(*) cũng không muốn chạm vào rủi ro này, không biết Lô Hoài Nhâm không tin hay không sợ đây?

    Mà cấm thuật này không phải ai cũng biết sử dụng, chẳng biết hắn nói thật hay đùa.

    Thế nên Gia Cát Thủ chỉ than thầm trong bụng, chứ không tiện hỏi nhiều nữa.

    (*) Tam giới gồm Đạo Giáo, Phật Giáo, Nho Giáo.

    Cửu lưu gồm 9 học phái lớn thời Chiến Quốc.

    Ngụ ý của câu này là tất cả mọi người.

    Lô Hoài Nhâm nói xong thì uống liền mấy chén rượu nóng vào bụng, trên trán rịn ra một lớp mồ hôi dầy, đoạn ngước mắt nhìn ra sau lưng Kinh Niên: "Tiểu muội, hành đầu này theo muội thế nào?

    Ngó không dễ ứng phó đâu!"

    Kinh Niên đang gắp một tảng thịt lớn đưa tới mép, vừa nghe hắn hỏi vậy thì lập tức thả thịt vào trong bát, quay người lại kéo tay của Thi Ngũ gia: "Ngũ gia, là bảo bối gia truyền của nhà ta!"

    "Nói vậy là sao?"

    Lô Hoài Nhâm kinh ngạc thấy rõ, sao cương thi lại là bảo bối gia truyền được chứ.

    "Ngũ gia là do tổ tiên truyền lại, vào năm ta mười lăm tuổi đã theo ta rồi..."

    Kinh Niên kéo tay Thi Ngũ gia áp lên má mình.

    Lô Hoài Nhâm nghĩ cô cũng chỉ mới cập kê, bề ngoài có vẻ trẻ con hơn tuổi thật, nói cách khác lúc Thi Ngũ gia vào tay cô thì cùng lắm là nửa năm tới một năm thôi, thế nên hắn vẫn nửa tin nửa ngờ với lời giải thích của cô: "Tổ tiên truyền lại... vậy ít nhất cũng có trăm năm rồi... sao lại... sao lại..."

    Nói đoạn, đột nhiên biến sắc: "Lẽ nào cũng dùng Phong Hồn thuật?"

    Kinh Niên cười hì hì, thả tay Thi Ngũ gia ra: "Kinh Niên cũng không biết, nhưng Kinh Niên không dùng Phong Hồn thuật gì đó."

    Lô Hoài Nhâm thở hắt ra một hơi, cúi đầu nhìn bóng ngược trong chén rượu, trầm mặc một lát, lại hỏi: "Tiểu muội tới thành này không phải là tình cờ đi ngang thôi đúng không?"

    "Lô đại ca, bây giờ Kinh Niên không giấu diếm nữa, Kinh Niên nghe thấy chuyện yết bảng treo thưởng, nên muốn tới tòa trạch trong núi hoang thăm dò tới cùng."

    Gia Cát Thủ đã ăn uống no nê đang ngồi tới sắp buồn ngủ, vừa nghe cô nói câu này, thoắt cái thẳng người dậy.

    Lô Hoài Nhâm lấy ngón trỏ gãi gãi huyệt Thái Dương: "Tiểu muội à, lúc này lại hiếu kỳ nữa sao?"

    Kinh Niên gật đầu: "Đương nhiên rất hiếu kỳ, còn có tiền thưởng cao, đủ mua mảnh đất sống yên ổn.

    Lô đại ca, huynh cũng muốn đi phải không?

    Ta không cần nhiều đâu, huynh chia cho ta hai phần là đủ rồi!"

    Lô Hoài Nhâm phì cười, lật đật lấy tay che miệng cười nghẹn một lát mới nói tiếp: "Tiểu muội muốn tiền thưởng có gì khó đâu, đại ca cho muội hết cũng được."

    Gia Cát Thủ bên kia lành lạnh ngắt lời: "Đừng quên một phần của bần đạo."

    Hai người còn lại đờ ra, lập tức phá lên cười lăn lộn.

    Bữa cơm này ăn cũng thoải mái.

    Thanh toán xong ba người nhất trí tìm một khách điếm để ngủ trọ, hẹn giờ ngọ ngày mai cùng nhau lên núi, sau đó ai về phòng nấy.

    Kinh Niên vừa mới kiểm kê mấy món đồ quan trọng xong, chưa kịp ngồi xuống thì cánh cửa đã bị gõ vang, cô thở dài bước tới, đẩy cửa ra thì chỉ thấy Gia Cát Thủ đang đeo cái mặt tối tăm đứng ngay trước cửa, sắc mặt kia muốn thối bao nhiêu thì thối bấy nhiêu: "Đạo gia, đã trễ thế này, thứ cho Kinh Niên không tiện mời ngài vào phòng."

    Gia Cát Thủ cố sức nhắm hai mắt lại, quả đấm hết bóp chặt rồi thả ra, cuối cùng dằn giọng quát khẽ một tiếng: "Đi ra!"

    Kinh Niên nhún vai: "Đạo gia ngài tìm Kinh Niên đánh nhau sao?

    Cần gì chứ?

    Không sợ người ta nói ngài ỷ lớn hiếp nhỏ sao?"

    Nói xong còn chớp mắt mấy cái, rõ là dáng vẻ đáng thương vô tội, đổi lại người khác thì đã bị bộ dạng này làm trỗi dậy tình thương phụ mẫu rồi.

    Nhưng Gia Cát Thủ lúc này chỉ muốn bóp cái cổ nhỏ của cô rồi hung hăng rống một trận, hắn lôi ra nụ cười hiền lành, dịu thanh dịu giọng nói: "Cô nương, bần đạo chỉ muốn tìm cô thỉnh giáo chút chuyện, có thể dời gót theo bần đạo ra ngoài đàm đạo được không?"

    Kinh Niên xoa xoa cánh tay, cũng đáp trả bằng nụ cười ngây thơ: "Đạo gia, không phải ngài muốn hỏi chuyện đêm đó sao, Kinh Niên nói cho ngài biết ngay tại đây luôn.

    Thật ra Kinh Niên không thấy gì hết, sau khi ngài bị linh xà đánh ngất đương nhiên ta giữ mạng là quan trọng, cho nên chạy một mạch ra ngoài.

    Ta nghĩ hôm sau cũng có nhiều người lên núi, không cần tới ta đi chuyến nữa để giúp ngài nhặt xác..."

    Cô càng nói mặt Gia Cát Thủ càng khó coi, Kinh Niên thành khẩn nhìn chằm chằm hai đấm của hắn, đỡ cho một lần kích động nó lại chào hỏi lên mặt mình: "Không phải ngài vẫn sống khỏe re sao?

    Còn cầm được cả đống bạc, Kinh Niên có làm ngài lỗ gì đâu!"

    Gia Cát Thu vung một đấm nện lên khung cửa, trừng mắt lườm cô hung tợn: "Lão tử không lấy một xu!"

    Dứt lời quay ngoắc người bước thẳng về hướng phòng mình.

    Kinh Niên dựa lên ván cửa, nhìn dấu nấm đấm in lên khung cửa, huýt sáo một tiếng: "Đạo gia, ngài quả thật không đơn giản đâu."

    Gió đêm gào rít, ánh trăng bị tầng mây mỏng che mờ như ẩn như hiện.

    Mọi nhà đã tắt đèn chìm vào giấc ngủ từ lâu, thỉnh thoảng chỉ thấy hai ba người lữ hành đến muộn đang tìm khách điếm để qua đêm.

    Bỗng nhiên cổng lớn của một khách điếm bị đẩy từ trong ra, công tử bạch y lặng lẽ ra khỏi tiệm.

    Ánh trăng mờ tỏ chiếu lên khuôn mặt, mờ nhạt tới nỗi không thấy rõ mặt mũi.

    Chỉ thấy người nọ đi dọc theo con phố đi về hướng ngoài thành, ra khỏi thành rồi đi thẳng tới bờ Lý Nữ giang, tìm tới bến đò.

    Sau đó rút từ ống tay áo ra một vật dài nhỏ, móc đá đánh lửa từ đai lưng, chà cạch cạch vài cái trên mặt đất, tóe ra tia lửa, nhen lên vật dài kia một chút.

    Vật dài kia bén lửa cháy bùng lên, tới khi cháy gần nửa, hắn mới cắm đứng nó lên đất, lui ra sau hai bước.

    Chỉ nghe trong đó rung lên mấy đợt, rồi bắn ra một tia sáng vàng nhắm thẳng lên đám mây, hóa ra là một cây pháo trúc trùng thiên.

    Cây pháo trúc chỉ bắn lên vài phát rồi tắt lửa, công tử bạch y lại lấy từ trong ngực ra một tẩu thuốc, lấy đá đánh lửa nhen lên thuốc, rồi ngồi xổm xuống đất hút.

    Sau vài lần phả khói, hắn lầu bầu nói: "Một ngày được hai lần thế này, khó quá đi mất..."

    Nói rồi ngẩng đầu nhìn trời một lát, đang muốn đứng dậy thì cảm thấy thân thể bị ghìm xuống, gáy sau như bị kẹp kiềm sắc.

    "Vết thương ở gáy còn chưa lành đúng không?"

    Giọng quen thuộc vang lên sau ót, hắn định quay đầu lại, nhưng mới động khẽ, xương gáy đã lan ra một cơn đau nhói, chợt nghe giọng kia nói tiếp: "Không muốn cái cổ bị bẻ gãy thì đừng nhúc nhích."

    ~ Hết chương 6 ~
     
    Thi Quan Kinh Niên
    Chương 7


    Chương 7

    VỊ KHÁCH BẤT NGỜ

    Edit: Yunchan

    ***

    Mây mù bềnh bồng che mờ ánh trăng lúc sáng lúc tối, công tử bạch y không dám quay đầu, con ngươi liếc sang bên trông thấy góc lam bào thì biết mình bị ai khống chế, lập tức bật ra tiếng cười khẩy: "Bần đạo chẳng qua chỉ rảnh rỗi bắn một cây pháo hoa, mà phải dùng tới hậu đãi thế này sao?"

    "Bắn pháo hoa?"

    Kinh Niên đi vài bước nhặt xác pháo rỗng trên đất, giơ tay soi dưới ánh trăng ngắm nghía, rồi đi tới bên cạnh Gia Cát Thủ ngồi xổm xuống, đong đưa xác pháo ở trước mặt hắn: "Phát pháo hoa này... nhìn thế nào cũng giống như là tín tử báo tin thông phong, còn nữa..."

    Đoạn rút tẩu thuốc trong tay hắn kề lên mũi hít hít, tiện tay đặt ở bên chân, rồi ôm đầu gối nghiêng đầu cười rộ lên: "Đạo gia ngài là một người nghiện thuốc à, thật không hiểu nổi luật giới thanh tu của đạo sĩ quy định thế nào nữa."

    Gia Cát Thủ tức thì đỏ mặt, lặng thinh hồi lâu mới lắp bắp phản vấn: "Có... có... có quy tắc nào nói đạo sĩ không thể hút thuốc?"

    Kinh Niên "À" một tiếng, nhấc khuỷu tay đỡ cằm: "Vậy là Kinh Niên quê mùa thiển cận rồi, có điều, đạo gia này, ngài theo ta hoài làm chi thế?"

    Gia Cát Thủ nghe vậy thì phun nước miếng nói: "Ai theo cô?!

    Chẳng qua là bị họ Lô đeo một mạch tới đây, lại trùng hợp đụng phải cô mà thôi!"

    "Ợ... là trùng hợp sao?

    Trùng hợp từ thành Phú Quý tới trấn Mai Lĩnh rồi tới tận nơi này à?"

    "Thành Phú Quý gì hả?

    Bần đạo không biết, nếu không phải vì bát quái Thái Hư cảm ứng được âm khí thì sẽ không xui xẻo đụng phải cô!"

    Kinh Niên cười ha hả, ngón trỏ chọc chọc trán y: "Ta vì ngài nên mới chọn đi đường núi hẻo lánh, để cho ngài xuất hiện thuận lợi trôi chảy, đỡ phải trốn chui trốn nhủi ở sau lưng người ta, sao nào?

    Không phải ngài theo đuôi từ trong thành ra tới ngoài thành sao?

    Đạo!

    Gia!

    Có lẽ ta nên gọi ngài là sư phụ thủ sơn mới đúng?"

    Nghe thấy bốn chữ cuối cùng Gia Cát Thủ hệt như bị nện cho một đòn trời giáng, sắc mặt thay đổi đột ngột, giọt mồ hôi to tướng chảy từ trán xuống gò má, đôi môi khép mở mấy lần, rốt cuộc cũng nặn ra được một câu trọn vẹn: "Cô... cô biết từ khi nào?"

    "Ngài muốn hỏi chuyện ta phát hiện ngài theo dõi ta, hay là chuyện phát hiện ra thân phận của ngài?"

    Kinh Niên thưởng thức sắc mặt trắng xanh hỗn tạp của hắn, khuôn mặt hớn hở thể hiện rõ tâm trạng hết sức sung sướng của cô lúc này.

    Chỉ thấy cô đứng lên đảo vòng quanh Gia Cát Thủ, vừa đi vừa nói:

    "Công phu đổi giọng của đạo gia ngài đúng là nhất hạng.

    Mới đầu Kinh Niên chỉ biết ngài bám theo sau lưng thôi, ai mà nghĩ tới chuyện đặt một tiểu đạo sĩ với một lão đầu cùng một chỗ chứ?

    Muốn trách là trách ngài nghiện thuốc khó bỏ, người lúc nào cũng bốc mùi thuốc lá.

    Mùi này rất giống với mùi bay ra từ căn nhà cỏ lúc ta đưa Thi công tử lên núi.

    Mà một tiểu thiếu niên thì tội gì xông vào chỗ các cụ chứ?

    Cho nên ta đoán sư phụ thủ sơn thật sự là một vị sư phụ già, trên đường ngài làm nhiệm vụ không thể để người ngoài phát hiện nên mới đổi giọng, đạo gia, ngài nói thử xem ta đoán đúng mấy phần?"

    Gia Cát Thủ hừ một tiếng, lấy lại nét mặt nặng nề lạnh lẽo, mở miệng nói: "Đúng một nửa, sư phụ thủ sơn tuổi không phải nhỏ, nhưng bần đạo cần gì phải đổi giọng chứ.

    Hôm ấy người nói chuyện với cô quả thật là lão tiên sinh kia, chẳng qua là trong căn nhà cỏ đó không phải chỉ có một mình lão."

    Kinh Niên có hơi kinh ngạc, hôm ấy cô nhìn qua lỗ hổng vào trong, tuy không thấy rõ, nhưng nhất định là có người, chẳng qua là không ngờ lại có tới hai người bên trong.

    Nói cách khác, người nói chuyện với cô chính là lão sư phụ, còn người hút thuốc bên trong chính là Gia Cát Thủ?

    Lúc đó cô chỉ cảm thấy một lão sư phụ hút thuốc thì không có gì không hợp, nào ngờ lại là một tên thiếu niên thích tỏ ra từng trải.

    "Được rồi, đạo gia, coi như Kinh Niên chỉ đoán đúng năm phần, tạm thời không hỏi ngài chạy vào nhà cỏ làm chi, ta chỉ muốn biết ngài bám theo ta cả quãng đường để làm gì?

    Là ai sai ngài làm vậy?"

    Gia Cát Thủ dời mắt nhìn đất, đôi môi khép chặt, không ừ hử tiếng nào.

    Kinh Niên nhìn cái dáng câm như hến không đánh thì không hé răng của hắn, bèn dạo một vòng ra sau lưng hắn một quãng không xa, mắt lóe lên hàn quang: "Ban đầu ta thấy ngài không có ác ý gì, theo thì theo thôi, nhưng nếu mặc cho ngài phóng hỏa tín, thì khó đảm bảo mai sau không đưa tới phiền phức, ngài cũng không chịu nói thật, vậy ta đành phải kết liễu ngài tại đây thôi!

    Ngũ gia!!"

    Cô hét lớn một tiếng, Thi Ngũ gia tức khắc giơ tay còn lại lên, bốn ngón tay khép lại thành hình dao đâm thẳng tới giữa lưng Gia Cát Thủ.

    Diễn biến sau đó xảy ra chớp nhoáng, một bóng đen thình lình vọt lên từ dưới đê, vung cánh tay ngăn đường đâm của Thi Ngũ gia, đoạn lật người vỗ lên cổ tay đang khóa Gia Cát Thủ.

    Thi Ngũ gia thu tay lại phá mấy chiêu của người kia, rồi cấp tốc lùi ra phía sau Kinh Niên.

    Bóng đen đứng trước người Gia Cát Thủ, khoác võ bào đen tuyền, đầu đội màn che bằng hắc sa, che kín toàn bộ gương mặt.

    "Huyền Ảnh!

    Là ngươi!"

    Kinh Niên ngẩn người, nhìn về phía Gia Cát Thủ đang ngồi sau lưng hắn: "Hắn là người của Điện hạ?"

    Huyền Ảnh khẽ gật đầu, hai tay ôm quyền hành lễ: "Gia Cát đại nhân phụng mệnh hành sự, xin Mục ngự quan thủ hạ lưu tình."

    Giọng phát ra khàn khàn như bị đá sỏi mài, nghe vào tai khiến toàn thân người ta khó chịu như bị cát chà qua.

    Kinh Niên cau mày nói: "Ngươi ở đây, sao không thấy Điện hạ...

    Ngài ấy không đi cùng ngươi sao?"

    Kể từ khi ra bến tàu đã phát hiện bị người theo dõi, không ngờ đó lại là Huyền Ảnh.

    Hắn tới sớm hơn Gia Cát Thủ, còn núp suốt trong bóng tối, cô không thấy được người nên cũng không tiện manh động, trong lòng nhận định là đồng bọn được đạo sĩ đưa tới... quả nhiên không sai.

    Nhưng Gia Cát Thủ còn dễ xử, còn Huyền Ảnh lại là một nhân vật gai góc, lúc này còn chưa xác định được họ là địch hay bạn, nên Kinh Niên không dám lơi lỏng đề phòng.

    "Điện hạ hiện đang qua đêm trong phủ của Huyện thái gia."

    Giọng điệu Huyền Ảnh cung kính, không có dấu hiệu nào là muốn gây chuyện với cô.

    Kinh Niên thoáng an tâm, thấy Gia Cát Thủ bò dậy, bèn cười nói: "Đạo gia, mạo phạm."

    Cô cũng không có ý định lấy mạng người ta, mà chỉ muốn hù hắn sợ thôi, lúc nãy dù Huyền Ảnh không ra mặt thì cô cũng sẽ lệnh Thi Ngũ gia ngừng tay đúng lúc.

    Gia Cát Thủ hừ một tiếng không đếm xỉa tới cô, muốn giở ra tư thế thanh cao, nhưng khổ nỗi hai chân tê dại, đành phải kéo một cánh tay của Huyền Ảnh để giữ thăng bằng.

    Kinh Niên đưa mắt chuyển qua Huyền Ảnh: "Điện hạ tới để bắt ta về triều hỏi tội sao?"

    Huyền Ảnh không đáp một lời, Kinh Niên nghiêng đầu cười buồn: "Quên đi, hỏi ngươi cũng như không hỏi, bây giờ muốn sao đây?

    Bắt ta tới chỗ Điện hạ à?"

    "Huyền Ảnh không dám."

    Huyền Ảnh lùi một bước: "Huyền Ảnh được Điện hạ ủy thác âm thầm bảo vệ Mục ngự quan và Gia Cát đại nhân, không hơn."

    "Hừ... ta mà cần tới ngươi bảo vệ à?

    Quản kỹ đạo sĩ kia là được rồi!"

    Kinh Niên phất tay áo đi về hướng cổng thành, gương mặt đã quen vui cười giờ lại thay bằng vẻ không vui.

    Đi chưa được bao xa thì bỗng dừng bước, quay người nhìn về phía Huyền Ảnh: "Theo ta về khách điếm, tìm một phòng nghỉ tạm!"

    Huyền Ảnh ngẩng đầu, trầm mặc một lúc lâu, rồi thấp giọng đáp: "Ý tốt của Mục Ngự quan Huyền Ảnh xin nhận tấm lòng."

    Kinh Niên hình như đã đoán trước là hắn sẽ nói như vậy, lầu bầu một tiếng "Phải không."

    Rồi dẫn Thi Ngũ gia vào thành mà chẳng buồn ngoảnh đầu lại.

    Bấy giờ Gia Cát Thủ mới lên tiếng: "Huyền Ảnh hộ vệ, ngươi với cô ta quan hệ rất tốt sao?

    Thấy cô ta rất quan tâm ngươi."

    "Đây là phúc phận của Huyền Ảnh."

    Huyền Ảnh nhàn nhạt trả lời, giọng khàn khàn mang theo tâm tình không rõ, hợp với gió sông nơi đây, càng khiến người ta cảm thấy một nỗi thê lương khó thể diễn tả.

    Buổi trưa hôm sau, ba người nhóm Gia Cát Thủ đi bộ về hướng núi hoang bên ngoài cổng thành Đông.

    Đường núi gồ ghề mấp mô, cỏ dại mọc lút thành bụi, mất gần nửa canh giờ mới leo lên được sườn núi bằng phẳng.

    Đi men theo sườn núi ước chừng thời gian một chén trà nhỏ thì thấy một tòa đại trạch, quy mô tương đối đồ sộ, có điều gạch đá hư hại, nước sơn phai màu, bị năm tháng tàn phá đi vẻ huy hoàng vốn có.

    "Người ở trong tòa trạch này chính là trọng thần tam triều..."

    Gia Cát Thủ thở dài, nhìn mấy chữ to "Trấn Nam tướng quân phủ" trên cửa, trong lòng phiền muộn khó hiểu.

    Tấm hoành phi vốn phải lấp lánh kim quang, giờ đây lại bị một lớp bụi phủ dầy, dù được ánh mặt trời chiếu thẳng tới cũng không tìm lại được hào quang rực rỡ thuở xưa.

    Kinh Niên đi tới trước cửa đưa tay đẩy nhẹ, cửa "Két" một tiếng hé ra một khe hở, cô thấy bên dưới không buộc dây nên thuận thế đẩy rộng ra.

    Lô Hoài Nhâm ở bên cạnh thấy cô chẳng chịu nghĩ gì đã nhảy vào trong, lật đật đi tới chắn đường: "Khoan đã!

    Tiểu muội!

    Ai cũng nói tòa trạch này có thứ quái dị, mọi người đi vào đều bị thương trở ra, còn không biết là mình bị thương thế nào, chúng ta nên cẩn thận thì hơn."

    Kinh Niên rụt cái chân vừa sải qua bậc cửa lại, hướng mắt nhìn lên mái hiên, rồi thò đầu vào cửa ngó quanh quất một vòng: "Kinh Niên không nghĩ chỗ này có gì quái dị."

    Gia Cát Thủ đi tới, cũng nhìn vào trong theo: "Bần đạo cũng không cảm giác được chỗ này có gì quái dị."

    Bát quái Thái Hư cũng không phản ứng, rốt cuộc những người đi vào gặp phải chuyện gì?

    "Cứ vào coi thử đi, trừ chết ra còn gì to tát đâu!"

    Kinh Niên tiên phong nhảy vào, Thi Ngũ gia theo sát phía sau, kế tiếp là Gia Cát Thủ, hắn chỉ nghĩ ngợi giây lát rồi cũng bước vào.

    Lô Hoài Nhân kêu "Ê ê" hai tiếng, thấy không ai ngoái đầu lại thì thở dài, cuối cùng đành phải dắt Trần Mộc vào theo.

    Ba người đi men theo đường đá vào trong, dưới chân ngổn ngang đá vụn và cỏ nát, bụi cỏ hai bên như mới bị người ta xới lên, bùn đất văng khắp nơi.

    Trên thềm đá dẫn vào tiền sảnh chắn ngang một chiếc gương đồng cao cỡ một người, mặt gương đối diện cổng lớn, trên khung gương cẩn ba viên ngọc châu, một viên trong số đó cắm vài cây châm ám khí.

    Kinh Niên sờ sờ mặt ngoài gương đồng, quan sát trên dưới một lượt: "Chẳng lẽ đây là cái gương mà mọi người nói không gì không thể sao?"

    Dứt lời thở dài nặng trĩu.

    Gia Cát Thủ đi vòng ra sau chiếc gương, xoa cằm, hỏi với vẻ khó hiểu: "Đặt cái gương ở đây làm gì chứ?

    Có ý nghĩa đặc biệt gì ư?"

    Lúc này Lô Hoài Nhâm cũng chạy tới nơi, vừa nhác thấy gương đồng thì buột miệng kêu: "Mê Hồn kính?"

    Gia Cát Thủ nghe hắn gọi tên của gương đồng, bèn ló đầu ra từ sau gương, hỏi: "Cái gì Mê Hồn kính?"

    Lô Hoài Nhâm cười rộ lên: "Ta làm Thi quan lý nào không biết nguyên tắc của món đồ chơi này?

    Đúng không?

    Tiểu muội?"

    Hắn liếc qua Kinh Niên một cái, thấy cô gật đầu mới nói tiếp: "Mê Hồn kính, kính cũng như tên, có thể mê hoặc tâm thần, kỳ thật nguyên tắc khá giống với Mê Hồn trận, thứ thật sự phát huy tác dụng không phải bản thân gương đồng, mà là ba viên tiểu ngọc châu.

    Trên châu có khắc mê hồn chú, ngươi xem thử đi."

    Hắn dùng đầu ngón tay cạo cạo trên đỉnh ngọc châu, Gia Cát Thủ xít lại gần nhìn qua, quả nhiên nhìn thấy chú tự li ti cong cong lượn lượn trải rộng toàn bộ mặt châu.

    Lô Hoài Nhâm nói tiếp: "Lúc ba viên ngọc châu bị chiếu sáng, chú tự sẽ thành hình, ba tia nối nhau hình thành một tiểu trận, rồi mượn mặt gương để khuếch tán rộng ra.

    Khu vực từ đây tới cổng chính đều thuộc bên trong trận pháp, xem ra những người trước đây vừa bước vào cửa đã rơi vào trong Mê Hồn trận, thần trí hỗn loạn, địch ta chẳng phân biệt được nên đánh nhau rối beng một trận, đợi tới khi trận thuật hơi yếu xuống thì bỏ chạy, sau khi tỉnh trí lại không nhớ rõ bên trong xảy ra chuyện gì, thành ra mới nghi thần nghi quỷ đồn bậy đồn bạ."

    "Xem ra chuyện cái gương cũng do trong lúc đầu óc rối mù nhìn thấy sơ sơ."

    Còn đồn đi rất chi là thần kỳ, mà hoàn toàn không biết nó mới là đầu sỏ gây chuyện.

    Kinh Niên nhổ vài cây châm xuống, ngọc châu thoáng chốc vỡ "Rắc rắc" thành từng mảnh rồi rơi xuống mặt đất: "Cũng may có người làm hư hạt châu, không thì chúng ta cũng phiền phức."

    Gia Cát Thủ nghiêng đầu nhìn cái gương một lát, đột nhiên nói: "Tại sao làm Thi quan cũng biết việc này?"

    Giọng có vẻ không cam lòng.

    Lô Hoài Nhâm nhìn vẻ mặt tị nạnh của Gia Cát Thủ, có lẽ là đang bất bình cho nghề nghiệp của mình đây mà.

    Hắn cảm thấy tiểu đạo sĩ này rất có tài so bì, thấy buồn cười trong bụng nên tiện đà đáp luôn: "Các loại trận pháp, chú thuật mê hồn này đều là tà ma ngoại đạo, đạo sĩ hòa thượng tự xưng là chính phái, đương nhiên chẳng thèm nhắc tới.

    Còn đa số Thi quan bọn ta trời sinh mạng khổ, mới bước chân vào giang hồ bất cẩn một lát là giao luôn cả mạng, không học nhiều chút thì sao được?"

    Câu xỏ xiêng chê ngầm này vừa dứt, trong bụng Gia Cát Thủ cũng ngầm bốc hỏa, nhưng không cãi lại được, lại gặp cặp mắt cười nom có chút hả hê của Kinh Niên, hắn chỉ còn biết cắn tới nỗi hàm răng kêu cạch cạch, bực mình quay ngoắc đi, to tiếng nói: "Nếu cái gương này vô dụng thì còn ở lại làm gì, đi thôi!"

    Nói rồi bước xồng xộc vào phòng.

    Kinh Niên cười trộm liên tục, che nửa bên mặt rù rì: "Lô đại ca, coi huynh làm hắn nổi khùng rồi kìa."

    Lô Hoài Nhâm bĩu môi: "Đạo sĩ thúi nào cũng y xì một đức hạnh, con mắt lỗ mũi hẹp hòi không cho người khác nói nửa câu mích lòng."

    Hai người nhìn nhau cười toe, rồi một trái một phải vòng qua cái gương đuổi theo.

    Cửa tiền sảnh mở hé, bên trong kê bàn ghế rất ngăn nắp, có điều đâu đâu cũng phủ bụi dầy như lâu rồi không được dùng tới.

    Ba người đi băng qua hành lang phía sau phòng ra sau hậu viện, dọc đường đi không gặp được nửa bóng người nào.

    Khi đi tới lối vào hậu viện, Gia Cát Thủ đang đi tít ở đằng trước đột nhiên dừng bước, tay phải lần vào bên hông: "Bát quát Thái Hư có phản ứng."

    Kinh Niên xáp lên trước sóng vai với y, mắt hơi nheo lại: "Có âm khí?"

    "Ừ."

    Gia Cát Thủ lấy bát quái Thái Hư ra đặt trong lòng bàn tay nhìn một lúc: "Rất yếu, nhưng đúng là tỏa ra từ trong viện."

    "Hề!

    Ngay cả ta cũng không nhìn ra tý khí ít ỏi này, dù có quỷ thì chắc cũng chả mạnh mẽ gì!"

    Lúc này Lô Hoài Nhâm lại khá gan dạ dũng cảm, khoanh tay trước ngực nghênh ngang bước vào.

    Gia Cát Thủ cầm bát quát, dợm từng bước nhỏ tới trước, Kinh Niên cũng không gấp gáp, chậm rãi đi theo sau lưng hắn.

    Mãi tới khi nghe Lô Hoài Nhâm ở trong viện hét lên một tiếng: "Ai?" mới đẩy nhanh bước chân vượt lên trước.

    Chỉ thấy trong viện bốn bề hỗn độn, thảm cỏ trên đất đều bị xới lên tán loạn, khắp nơi la liệt những vũng nước sâu lớn nhỏ.

    Vừa ngước mắt lên, thì thấy trước cái hố to ngay giữa viện đang đứng hai người, một người mặc hắc bào đội mạng che, chính là Huyền Ảnh, người còn lại mặc tử sam, bên hông buộc kim đái.

    Lúc người này nhìn thấy Kinh Niên thì nở ra một nụ cười mỉm.

    Đợi thấy rõ được mặt mũi người nọ, Kinh Niên và Gia Cát Thủ đều thất kinh.

    Sau đó chợt nghe Gia Cát Thủ hô lên một tiếng "Điện hạ", rồi sải bước đi tới.

    Lô Hoài Nhâm nhìn trước ngó sau, đoạn thu lá bùa vừa mới móc ra lại, nghiêng đầu hỏi: "Quen à?"

    Kinh Niên gật đầu, đứng nguyên tại chỗ không nhúc nhích, nhưng công tử mặc tử sam lại đi về hướng cô, lúc tới trước mặt, cô mới khom lưng chắp tay thi lễ, gọi một tiếng: "Điện hạ."

    Lô Hoài Nhâm hết nhìn bên nọ tới ngó bên kia, gãi ót hỏi: "Các người gọi hắn là Điện hạ?

    Điện hạ gì?"

    Chẳng lẽ là vương tôn quý tộc?

    Gia Cát Thủ đang định lên tiếng, thì công tử mặc tử sam đã vội giành nói trước: "Tại hạ họ Điền, là Điền trong tá điền, tên một chữ Hạ, mấy bằng hữu đều thích gọi cả tên lẫn họ, nên thường khiến người ta hiểu lầm, thật là chẳng còn cách nào!

    Có phải không?

    Thủ, lão, đệ!"

    Khi nói xong ba chữ cuối còn tiện thể trừng qua một cái mắt hổ, chân Gia Cát Thủ trợt một phát, xém nữa ngả chỏng gọng, bèn lật đật níu lấy Huyền Ảnh, không biết ứng phó sao mới phải.

    Cuối cùng nhờ Kinh Niên cơ trí, nhận ra công tử kia không muốn để lộ thân phận thật, ngay tích tắc Gia Cát Thủ sửng sờ đã tiếp lời ngay: "Đúng vậy, y còn có một biệt hiệu là Điền tiểu nhị, cũng hay bị người ta hiểu lầm lắm."

    Lúc này không chỉ Gia Cát Thủ, mà ngay cả công tử kia cũng mém chút nữa trượt chân, Lô Hoài Nhâm cười ngặt nghẽo, giơ tay nhắm chuẩn lưng công tử kia mà bộp cho hai phát: "Công tử gia, đừng để bụng làm gì, ai mà không có vài cái tên tục?

    Không nghe lọt thì bỏ đi!"

    Công tử kia bị hắn vỗ tới sặc nước bọt, ho khan cả buổi mới nặn ra được khuôn mặt tươi cười có khuôn có mẫu.

    Gia Cát Thủ đứng bên cạnh, ghé tai nói nhỏ với Huyền Ảnh: "Giờ Điện hạ lại giỡn trò gì thế?"

    Huyền Ảnh lắc đầu không trả lời.

    Kinh Niên lướt qua mấy người đi thẳng tới cái hố to, tới bên mép hố đưa mắt nhòm xuống, chỉ nhìn sơ qua rồi xoay người lại hỏi: "Điện hạ, ngài tới sớm hơn chúng ta, có biết ở đây rốt cuộc xảy ra chuyện gì không?"

    Công tử tử sam trầm mặt lại, mí mắt hơi rũ xuống, quay về trước hố đứng chung với cô, lúc này những người khác cũng vây sang đây nhìn xuống dưới, sắc mặt tất cả đều đại biến.

    Trên mặt nước đục trong hố trôi lềnh bềnh đầy mảnh gỗ vụn, hai bộ quan tài rỗng gãy nát cắm xiêng trên thành hố, nước bên trong sủi bọt khí liên tục, bốc lên rồi vỡ ra bên ngoài, trông như một nồi bùn nhão đang sôi trào.

    "Trong quan tài không có hài cốt?"

    Kinh Niên nhìn về phía công tử tử sam.

    Công tử kia không đáp lời ngay, mà liếc mắt qua một cái mới nói: "Không có, lúc tại hạ vào thì đã là thảm trạng này rồi, trong nhà cũng không có ai."

    Kinh Niên đặt tầm mắt lên bọt khí giữa hố nước: "Người có thể phá Mê Hồn trận, là Huyền Ảnh, đúng không?"

    Huyền Ảnh không lên tiếng trả lời, tức là ngầm thừa nhận, cô trao cho hắn một ánh mắt tán thưởng: "Trước đây không biết ngươi có thể dùng ám khí giỏi như vậy, chỉ dùng vài cây châm nhỏ là có thể phá được trận pháp kia, thân thủ quả là siêu phàm."

    "Mục Ngự... cô nương khen ngợi, Huyền Ảnh thật không dám nhận."

    Kinh Niên nhìn cái dáng cúi đầu câu nệ của hắn mà không khỏi mỉm cười, đoạn giơ hai tay đan vào sau gáy, duỗi người nói: "Hình như ở đây hết vui rồi, chúng ta tới chỗ cáo thị nhận tiền thưởng đi!"

    Nói xong quay đầu đi.

    Gia Cát Thủ gọi giật cô lại: "Chờ chút đã!"

    Vừa nói vừa kề bát quái Thái Hư tới gần mặt nước: "Âm khí phát ra từ chỗ này!"

    "Tất nhiên rồi, chỗ này có quan tài, nghĩa là trước đây từng chôn xác chết, huống hồ dưới nền đất vốn tập trung nhiều âm hàn, có âm khí còn không bình thường quá à, tiểu đạo sĩ đừng thiếu hiểu biết nên thấy gì cũng lạ nữa."

    Lô Hoài Nhâm ngáp mấy cái liền, nối gót theo Kinh Niên.

    Gia Cát Thủ bị hắn bám lâu, giữa chừng còn hứng đủ loại khiêu khích châm chọt, trong bụng vốn đã tích lửa, đêm qua còn thiếu chút nữa bỏ mạng trong tay Thi Ngũ gia càng làm cho hắn điên tiết hơn.

    Trước đây hai người này kẻ tung người hứng trêu đùa, hắn đã cáu tới tận óc, lúc này còn nghe Lô Hoài Nhâm bồi thêm mấy câu đùa cợt, rốt cuộc hắn bùng nổ —-

    "Đừng có hở một tiếng là tiểu đạo sĩ!

    Bần đạo đi không đổi tên ngồi không đổi họ, ngươi không phải tổ tiên nhà ta cũng không phải sư phụ của ta, sau này mời tôn trọng chút!"

    Kinh Niên ngoái đầu nhíu mày: "Lô đại ca, huynh gọi hắn là đạo gia như ta có phải hơn không, chúng ta đâu cần ngay cả loại chuyện nhỏ nhặt này cũng tính toán chi li đâu."

    Đây rõ ràng là ám chỉ hắn bụng dạ hẹp hòi, Gia Cát Thủ "Ngươi" nửa ngày cũng không nặn ra được câu sau.

    Lô Hoài Nhâm kêu liền hai tiếng "Đạo gia", giọng còn lớn hơn bình thường, âm mưu chọc người ta nổi khùng, cuối cùng còn cười to mấy tiếng, vừa nói vừa cười theo Kinh Niên đi ra khỏi viện.

    Thi Ngũ gia và Trần Mộc phía sau cũng sóng vai nhảy theo, nhảy lên đáp xuống nhịp nhàng ăn khớp.

    Chỉ tội cho Gia Cát Thủ tức tới nhe răng trợn mắt, lúc này công tử tử sam bước lên vỗ vỗ vai hắn, hí mắt cười, lộ ra hai hàm răng sáng bóng: "Được rồi, Thủ lão đệ, không phải đệ là đạo sĩ sao?

    Đổi nghề làm tú tài khi nào thế?"

    Sau đó moi cái quạt xếp trong ngực ra, mở phật rồi vỗ phạch phạch vào vạt áo trước, bước ra ngoài.

    Huyền Ảnh bám sát sau lưng y, khi đi tới trước cổng viện thì bỗng dừng lại, nghĩ ngợi gì đó rồi lộn trở lại: "Gia Cát đại nhân, Điện hạ không phải cố tình đùa cợt đại nhân đâu."

    "..."

    Đoàn người xuống núi vào thành, Gia Cát Thủ và Lô Hoài Nhâm về khách điếm trước, Điện Hạ và Kinh Niên đi tới bờ sông ngoài cổng Bắc, Huyền Ảnh thì chờ ở cổng thành.

    "Điện Hạ, nói với ta một chút đi."

    Kinh Niên tựa vào hàng rào bao dọc bến thuyền, thốt ra một câu không đầu không đuôi.

    Nhưng Điện Hạ lại không thấy kỳ quái, chỉ hỏi: "Nói gì đây?

    Nói ta tìm muội vì cái gì sao?"

    "Cái đó bàn sau."

    Kinh Niên liếc y một cái: "Lúc nãy có người ngoài không tiện hỏi, chẳng phải phủ Tướng quân kia là do Tiên Thái Hoàng ban thưởng à?

    Sao bây giờ lại muốn thu hồi, ngài tới chỗ Huyện gia chắc không chỉ để đánh một giấc nhỉ?

    Nghe nói ngài và Phó tướng giao tình rất tốt, hắn đâu rồi?"

    "Câu hỏi của muội đúng là không ít."

    Điện Hạ nhìn cô cười cười, rồi ngoảnh đầu nhìn hướng mặt sông: "Phó tướng đi đâu... ta cũng không biết, phụ hoàng trắng trợn khởi công xây dựng miếu quan, ba nơi dân chúng cư ngụ là Ngũ Liên sơn, Phong Hoa cốc, Thổ Diêu đều bị cưỡng chế di dời, chỉ riêng ở đây là lâu rồi chưa trưng thu xong...

    Tất nhiên thôi, linh mộ của Tướng quân hai đời trước đều hạ táng dưới tòa trạch, lúc xây miếu quan nhất định phải đào xới đất, chuyện nghịch lý đào mồ tổ tiên này người nào chịu theo chứ?"

    Kinh Niên cảm thấy khó thể tưởng tượng nổi, hỏi: "Sao Tướng quân lại chôn hài cốt đời trước bên trong nhà?"

    Là truyền thống gia tộc hay vì lý do kỳ quặc khác?

    Điện hạ cũng biết cô sẽ hỏi vậy, không chỉ mình cô, mà nghĩ việc này kỳ quái có tới khối người: "Ta cũng chỉ nghe Phó tướng quân kể lại thôi.

    Ban đầu trên đỉnh núi này có một miệng giếng, vì nước giếng sủi bọt quanh năm, không ai dám uống nên để hoang rất lâu.

    Sau đó có một ông chủ trà lâu hám lợi, sai người chạy lên đây múc nước, dùng nước giếng đục này để pha trà.

    Kết quả người uống nước trà pha bằng nước giếng này không phải mắc bệnh nặng thì cũng chết bất đắc kỳ tử.

    Tới khi quan sai tìm đến ông chủ kia mới lộ ra chuyện nước giếng.

    Quan phủ lập tức lên núi xét nghiệm nguồn nước, nhưng không thử ra độc.

    Vậy mà ông chủ kia cứ khăng khăng là nước giếng đang giở trò, quyết định đào cái giếng lên để tìm hiểu tới cùng.

    Cuối cùng đào ra một xác nam."

    Y nói đến đây bèn dừng lại, hơi nghiêng đầu thì thấy Kinh Niên đang há miệng, dáng vẻ nghe tới nhập thần, trong mắt y hiện lên ý cười, ho khan một cái rồi tiếp tục:

    "Nhìn kiểu y phục mặc trên người thi thể kia, ít nhất cũng có trăm năm lịch sử, nhưng ngoài hư hại chút ít ra thì màu sắc vẫn tươi mới như trước, ngay cả thi thể cũng không hư thối, cứ như mới chết không bao lâu vậy."

    "Quan phủ vừa nghi vừa sợ, nên tìm đạo sĩ tới để làm pháp sự hỏa táng cho thi thể, đồng thời báo chuyện này lên trên.

    Khi đó cũng đúng lúc Tướng quân đời đầu tiên chinh Đông thắng lợi trở về, nghe thấy việc này thì nói đùa với Tiên Thái Hoàng rằng muốn lấy mảnh đất đó làm phần thưởng, nói rằng sau khi chết muốn để lại thân thể trên đời.

    Nào ngờ Tiên Thái Hoàng đồng ý ngay không do dự, chẳng những ban thưởng đất xây phủ, mà còn ban tước hiệu "Trấn Nam Tướng quân", tự tay đề hoành phi rồi phái người tặng tới cửa.

    Sau đó, Tướng quân cho người tu sửa lại miệng giếng, đồng thời mở rộng đáy giếng xây một cái huyệt dưới nước, đợi sau khi y về cõi tiên, người nhà liền mang quan tài gỗ bỏ vào đáy giếng.

    Đời thứ hai cũng thế, tập tục cứ vậy mà truyền lại."

    Kinh Niên nói chen vào: "Trong cái hố giữa sân có cắm hai bộ quan tài, lẽ nào cái hố đó là miệng giếng?"

    Điện Hạ gật đầu, sắc mặt tối đi trông thấy: "Ta từng lên phủ Tướng quân làm khách mấy lần nên sẽ không nhớ lầm, đích thật là ở đó, mặt gương kia ta cũng đã gặp, Phó tướng quân từng nói đó là bảo vật trấn phủ.

    Có lẽ do bị người ta xông tới thu đất dồn dập, dồn tới đường cùng mới ra hạ sách này.

    Ta cũng nhờ Huyền Ảnh phá Mê Hồn trận xong mới vào được, cứ tưởng có thể gặp được Tướng quân, nào ngờ... ngẫm lại nếu có người tới trước đào giếng trộm thi, chỉ sợ Phó tướng cũng dữ nhiều lành ít."

    "Người tới trước cũng thật bản lĩnh, có thể vòng qua Mê Hồn trận đi thẳng vào trong."

    Người biết có một trận thuật khá nhiều, nhưng người thật sự thấy thì không có mấy.

    Nếu không phải biết trước ở trước cửa bị bày trận, thì phải biết rõ cách phá trận.

    Chẳng biết đào giếng trộm thi có phải một người hay không, cũng không biết nó có liên quan gì tới chuyện trưng thu đất của Hoàng thượng.

    Nhưng nhắc tới Ngũ Liên sơn, Phong Hoa cốc và Thổ Diêu, làm cô sực nhớ ra núi hoang này vốn tên là Nam Lĩnh, từng là sơn cư thịnh địa(*), xây miếu quan tại bốn nơi này chắc chắn có ẩn tình.

    Nghĩ vậy, cô chợt cảm thấy sống lưng lạnh toát, dự cảm như có tai họa sắp giáng xuống.

    (*) Ngọn núi dồi dào tài nguyên thích hợp để định cư.

    Điện Hạ không để ý thấy vẻ mặt bất an của cô, trong lòng vẫn canh cánh về an nguy của Phó tướng quân, nhìn sông than thở: "Sau khi tướng quân bị cách chức ta có từng tới đây thăm, khi đó y đã đuổi hết gia nhân, một mình đóng giữ nơi đó, thầm muốn giữ gìn một chốn an thân, nhưng ngay cả tâm nguyện nhỏ nhoi này của y mà ta cũng không thực hiện được."

    Y từng nhiều lần nói vào, xin phụ hoàng thu hồi trình mệnh, nhưng phụ hoàng cứ quyết tâm muốn thu hồi đất lại: "Haizz...

    Phụ hoàng thật là càng già càng hồ đồ."

    Coi như không nhắc tới chuyện mấy đời Tướng quân dốc sức cho triều đình, chiến công hiển hách, mà chỉ dựa vào Thánh địa được chính Tiên Thái Hoàng ngự ban cũng không cho phép hậu thế ngông cuồng sửa lại di mệnh, đó là chưa kể chuyện đào mồ tổ tiên của người ta lên cũng đủ khiến cho thiên hạ xỉ vả.

    Kinh Niên thấy vẻ mặt xúc động phẫn nộ của y thì thở dài: "Ngài nói về Hoàng thượng bất kính như vậy, không ngại sao?"

    Điện Hạ hừ một tiếng: "Ông ta dựng miếu quan là để luyện linh đan cầu trường sinh bất tử, không phải hồ đồ thì là gì!

    Sinh lão bệnh tử, bất di bất dịch, nào có ai không chết?

    Tại sao phụ hoàng không nhìn thấu chứ?"

    Y kính trọng phụ hoàng ở chỗ dũng cảm vĩ đại, trên có thể chấn triều cương, dưới biết thương dân khổ, huy hoàng hơn nửa đời người, sóng gió gì cũng đã trải qua, dù thân chinh ra chiến trường cũng chưa từng lùi bước, vậy mà phút cuối cùng lại khiếp sợ chuyện tất yếu phải xảy ra.

    Y không rõ, người già rồi thì suy nghĩ cũng thay đổi theo ư, nếu ai ai cũng như thế, thì chẳng phải thiên hạ đại loạn rồi sao?

    "Chuyện mà con người không nhìn thấu rất nhiều, người muốn trường sinh bất tử cũng rất nhiều, nhưng có mấy ai được toại nguyện đâu?

    Con người nên an phận làm người thì hơn."

    Kinh Niên khom lưng tựa vào hàng rào, chống khuỷu tay đỡ má, mắt lim dim như đang ngủ:

    "Không nói chuyện này nữa, Điện Hạ, ngài nói chút đi, muốn tới bắt Kinh Niên thì cứ tới, tội gì sai một đạo sĩ theo chân ta?

    Đạo gia đó làm quan à?

    Trước đây chưa từng thấy hắn ở trong cung."

    "Thủ lão đệ là con trai độc nhất của Hiền thừa tướng, Hiền thừa tướng say mê đạo học, sau khi có con thì lập tức đưa con tới đạo quan tu hành.

    Thủ lão đệ cũng không kém cỏi, còn nhỏ tuổi đã được tôn xưng là chân nhân, mười tuổi vào triều thụ phong chức ngự quan, lúc muội còn ở trong cung hắn đang ra ngoài đi thăm đạo quan các nơi, cho nên không chạm mặt..."

    Y thấy Kinh Niên nguýt sang, cứ như cực mất kiên nhẫn khi nghe y nói về gia thế của Gia Cát Thủ, vội vàng vào thẳng đề: "Hắn bám theo muội cũng xuất phát từ trùng hợp, ta từng phái người đi nghe ngóng tung tích của muội khắp mọi nơi, nhân tiện phát thư tín cho các quan viên ngoài hoàng thành, nếu nhìn thấy cô nương mặc bạch y gấm hồng, bên cạnh dẫn theo một cương thi hành đầu, thì phát hỏa tín báo vị trí.

    Thủ lão đệ phát hỏa tín đầu tiên ở thành Phú Quý, nghe đâu lúc đó hắn được người nhờ cậy vào đó đuổi quỷ, kết quả tình cờ gặp được một người như miêu tả.

    Thủ lão đệ là người có nề nếp, đã được người nhờ vả thì nhất định dụng tâm, do đó mới bám theo muội, tránh cho ta tới nơi thì muội cũng chạy xa."

    Kinh Niên cười giễu một tiếng, mỉa mai nói: "Hắn dụng tâm cũng dụng hơi quá rồi!"

    Không phải chỉ bắt một người thôi sao, còn phải mất công phí sức như vậy, khiến cho cô phải nghi thần nghi quỷ, không an tâm nổi.

    Điện Hạ nhìn thoáng qua cô, dường như đoán được cô đang nghĩ gì, bèn nở ra một nụ cười nhạt: "Muội cho là... ta tới để bắt muội về triều hỏi tội sao?"

    Kinh Niên trầm mặc không đáp, y nói tiếp: "Lén chạy ra khỏi cung là một tội, tự tiện mang theo Thi Ngũ gia lại là một tội, tội chồng thêm tội, đáng bị phạt nặng."

    "Đừng quên Ngũ gia là ta mang vào cung, chức quan cũng không phải ta muốn, phạt tội bừa khó thể phục người."

    Đầu năm ngoái, cô vào kinh xem hội chùa, đúng lúc Hoàng thượng xuất cung tế linh, giữa chừng Ngự thi quan đi theo xảy ra sự cố trong lúc đổi bùa, làm hành đầu đột nhiên phát cuồng gặp ai cắn nấy.

    Lúc ấy cô tình cờ đi ngang qua, thấy thứ điên khùng kia đang cắn bậy cắn bạ ở đối diện nên tiện tay ném một lá bùa qua.

    Khi ấy cô không biết người ngồi trong kiệu là ai, nếu như biết thì giá nào cũng sẽ không ra tay bừa bãi.

    Hậu quả là chỉ ném ra một cái, cũng ném luôn mình vào đống rắc rối to.

    "Mục ngự quan, Thi Ngũ gia là cương thi trong sách Ngự, tuy năm xưa hoàng đế phân cho tổ tiên muội sử dụng, nhưng nó vẫn thuộc về hoàng thất, tổ tiên muội vì muốn chiếm làm của mình nên mới bị trục xuất khỏi cung.

    Phụ hoàng niệm tình muội có công hàng phục cuồng thi, nên mới không tính toán tội trạng trước đây.

    Phong muội làm Ngự thi quan là muốn muội có thể tiếp nối trách nhiệm còn dang dở của tổ tiên, tiếp tục dốc sức cho triều đình, muội thật sự không nên..."

    "Ngũ gia là của ta!"

    Kinh Niên cắt ngang lời y, ánh mắt sắc như đao: "Cương thi bị xếp vào sách Ngự chỉ cần bị phái đi thì ai cũng dùng được, tới khi không cần thì tống vào hầm băng.

    Tuổi đời quá lâu không xài được nữa thị bị đốt trụi như đốt thứ vứt đi, Ngũ gia ta sao có thể chịu thứ đãi ngộ như vậy?!"

    "Hỏa táng... là một loại giải cấm cho linh hồn, sao có thể nói..."

    Y còn chưa nói hết lời đã bị vành mắt ầng ậng nước của Kinh Niên làm phát hoảng.

    "Đó không phải hỏa táng, mà là hỏa hình!

    Để đuổi linh hồn khỏi cơ thể mới dùng tới dương hỏa để thiêu cháy, dù cho âm linh có thể nhờ đó mà thoát khỏi cơ thể thăng thiên, nhưng trong đó có bao nhiêu thống khổ ngài có tưởng tượng được không?!

    Thăng linh, đuổi linh chỉ khác nhau một chữ, nhưng ý nghĩa lại khác nhau như trời đất!"

    Con người có bao nhiêu ngu xuẩn thì có bấy nhiêu ích kỷ!

    Điện Hạ không ngờ phản ứng của cô lại mãnh liệt như vậy, nhất thời cứng họng không biết nói gì.

    Từ khi quen biết tới nay cô luôn chào đón mọi người bằng gương mặt tươi cười, làm cho người ta không khỏi hoài nghi có phải cô chỉ có độc một loại cảm xúc vui tươi hay không, người như vậy lại có thể lấy nước mắt của cô, thứ đã mất đó quan trọng đến vậy sao, đáng để cô phải thế này sao?

    Kinh Niên túm tay áo lên lau mắt, hít khô nước mũi, lúc thả tay xuống thì đã trở lại với khuôn mặt tươi cười: "Điện Hạ, không tán dóc nữa, ngài muốn bắt ta, còn phải xem ngài có bãn lĩnh này hay không.

    Không phải ta khoác lác, nói thật dù Huyền Ảnh xuất thủ cũng chưa chắc làm gì được ta, chưa kể có thêm Ngũ gia áp trận, nếu không muốn lưỡng bại câu thương(*), thì ta khuyên Điện Hạ nên nhắm một mắt mở một mắt thả Kinh Niên đi đi!"

    (*) Cả hai đều thiệt.

    ~ Hết chương 7 ~
     
    Thi Quan Kinh Niên
    Chương 8


    Chương 8

    ĐẦU CẦU GẶP TRỞ NGẠI

    Edit: Yunchan

    ***

    Điện Hạ có hơi bất ngờ khi cô nói thẳng ra như vậy, tuy khẩu khí bất kính, nhưng ý tứ trong đó lại rất rõ ràng.

    Y từng tận mắt nhìn thấy cô nương này dùng một đạo bùa hàng phục cuồng thi mà chúng Ngự quan phải bó tay hết cách.

    Phải nói rằng thực lực không thể khinh thường, bằng không phụ hoàng cũng sẽ không mời cô vào triều.

    Nhưng một cô nương ít tuổi đời, dù lợi hại cũng không dọa chết người được.

    Trước tiên không đề cập tới chuyện trong cung cao thủ như mây, mà chỉ mình Huyền Ảnh cũng quyết không rơi vào thế hạ phong, cô lấy đâu ra tự tin thế chứ?

    Ỷ vào Thi Ngũ gia bản lĩnh cao cường hay chỉ nói bừa mà thôi?

    Những suy nghĩ này lóe lên rồi biến mất trong đầu y, nghĩ thì nghĩ vậy, nhưng lời thốt ra miệng lại hoàn toàn khác.

    Chỉ thấy y run ống tay áo, trượt quạt giấy ra nắm trong lòng bàn tay nhưng không mở, chỉ gõ đánh nhịp lên hàng rào làm phát ra tiếng "Keng keng" giòn giã, đoạn cười nói: "Mục ngự quan chớ nên hiểu lầm, lần này ta đến đây không phải là muốn làm khó muội, phụ hoàng đã đồng ý với ta, nếu muội muốn quay về cống hiến cho triều đình, thì Thi Ngũ gia vẫn thuộc quyền của muội.

    Còn nếu thật sự không muốn, chỉ cần mang vật quy về nguyên chủ(*), thì mặc cho muội ngao du bốn phương trời nam đất bắc."

    (*) Vật trả về chủ.

    Nói tới đây, y dừng lại quan sát phản ứng của Kinh Niên, chỉ thấy cô sụp mắt nhìn mặt sông, cười khẽ hai tiếng, lẩm bẩm: "Hay cho câu vật quy nguyên chủ, vật là ai, chủ là ai..."

    Giọng điệu bình thản nhưng lại nghe ra ý châm biếm, không biết là châm biếm người nói hay là đang mỉa mai chính mình.

    Hai tay cô nắm lấy hàng rào, đẩy nửa thân trên ra xa, rồi ngẩng đầu lên nói: "Điện Hạ, nếu như ta không thích cái nào hết thì sao?"

    Điện Hạ nghe cô hỏi ngược lại thì chau mi tâm nói: "Mục ngự quan, ta thật lòng không hiểu, vào triều làm quan có gì không tốt?

    Bao nhiêu người tranh giành cướp đoạt hòng chen vào, sao muội cứ phải khăng khăng lùi lại phía sau, đi ngược dòng như vậy đối với muội có ích gì?"

    Kinh Niên bật cười hai tiếng, quay đầu nhìn về phía y, cất cao giọng nói: "Người có ba bảy loại, Điện hạ cũng là loại người một gậy lật úp thuyền(*) đó thôi.

    Kinh Niên ta mặc dù không cha mẹ không con cái, nhưng vẫn có một Ngũ gia bên cạnh, không thể nói lời nào thì sao chứ, đối với Kinh Niên mà nói ngài ấy chính là người thân duy nhất.

    Muốn ta chuyển ngài ấy qua tay người khác như một món đồ thì quả là chuyện nực cười nhất trong thiên hạ!

    Kinh Niên lang bạt bên ngoài, một không chịu đói, hai không bị lạnh, muốn ăn thì ăn muốn ngủ thì ngủ, nhân sinh vui vẻ nhất không gì hơn những thứ này.

    Chỉ có ngốc mới muốn thăng quan tiến chức, bị cả đống phép tắc vây khốn, gần vua như gần cọp, tổ tiên đã có vết xe đổ, giá nào cũng không giẫm lên!"

    (*) Ý chỉ làm việc võ đoán, phiến diện, không phân biệt được thị phi.

    Điện Hạ nghe mà lắc đầu liên tục, nói thẳng: "Tầm nhìn của tiểu nữ tử, quả là tầm nhìn của tiểu nữ tử!"

    Kinh Niên trả lời: "Ta vốn là nữ tử, tất nhiên là nhìn đời bằng con mắt của nữ tử, thiên hạ lớn như thế, bao nhiêu người muốn đóng góp cho xã tắc phải ôm nuối tiếc suốt đời, bao nhiêu quan lại trong triều chỉ lo bản thân ăn uống hưởng lạc, hai loại người này cùng lắm chỉ chiếm một phần nhỏ trong thiên hạ mà thôi.

    Mỗi người một cách nghĩ, Kinh Niên chỉ muốn sống yên ổn qua ngày, không hại người cũng không bị người hại, Điện Hạ nói xem đó là sai sao?"

    Không sai, nhưng tại sao nghe thế nào cũng thấy khó chịu.

    Y thở dài, không muốn tranh luận trên phương diện này nữa, bèn thả quạt xếp vào lòng bàn tay, nhẹ nhàng vuốt phẳng bằng năm ngón, suy tư một hồi rồi nói: "Mục ngự quan, ta tìm muội không phải chỉ vì Thi Ngũ gia, cũng không phải để bắt muội về triều diện thánh."

    Kinh Niên nhìn nét mặt nghiêm túc của y, không giống như đang nói dối hòng lừa phỉnh cô, bèn hỏi: "Vậy vì cái gì?"

    Điện Hạ mở quạt xếp ra che khuất miệng mũi, tia giảo hoạt lóe lên trong mắt rồi biến mất: "Lúc muội mới vào cung vẫn chưa tự bộc gia sử(*), dù trong sách Ngự có ghi chép vẽ lại chân dung, nhưng dù sao cũng là chuyện xưa của những năm đầu triều đại, vậy mà lại có người khẳng định Thi Ngũ gia đi theo bên cạnh muội chính là cương thi bị lén mang ra khỏi cung năm xưa, muội có biết đó là ai không?"

    (*) Tự bạch lịch sử gia đình.

    Y không trực tiếp đưa ra đáp án, nhưng câu trả lời lạc đề này lại khiến cơn tò mò của Kinh Niên trỗi dậy.

    Lúc hoàng thượng nói ra chuyện cũ, cô chỉ cho rằng Ngũ gia quá mức gây chú ý, tuy không có duyên nhìn thấy tư thế oai hùng của ngài ấy trong sách Ngự, nhưng với hình dáng và tướng mạo này, nhất định ai từng gặp qua sẽ không quên được.

    Cô chỉ cho rằng hoàng thượng đọc thuộc triều sử, có hiểu biết chút đỉnh về giai đoạn này, sau đó lật thêm sách Ngự, nên nhận ra Ngũ gia cũng không có gì kỳ lạ, lẽ nào mọi chuyện không như cô nghĩ?

    Kinh Niên ngẫm lại tình hình lúc đó trong lòng một lần, rồi hỏi: "Kinh Niên ngu đần, xin Điện Hạ chỉ bảo."

    Điện Hạ lắc lắc cây quạt, rời khỏi hàng rảo rồi rảo bước qua lại: "Có thể giở xem sách Ngự bất cứ lúc nào, ngoài hoàng thượng ra chỉ có người phụ trách biên soạn sách Ngự, đại thần phân phái cương thi, muội nói xem người đó là ai?"

    Kinh Niên sửng sốt, phút chốc tỉnh ngộ: "Là thống lĩnh Ngự quan, Nguyên Thiên Sư!"

    Điện Hạ dừng bước, quay người đối diện với cô, thu quạt xếp lại rồi đi tới trước một chút: "Không sai!

    Chính là hắn!

    Khuyên phụ hoàng thu hồi Thi Ngũ gia, muốn bắt muội hỏi tội cũng là hắn!"

    Kinh Niên khó hiểu, cô với người này chỉ là người lạ, trong cung cũng chỉ gặp qua dăm ba lần, ngay cả nói chuyện cũng chưa nói câu nào, sao lại muốn gây khó dễ cho cô: "Lẽ nào trong lúc vô ý Kinh Niên đã đắc tội với ông ta sao?

    Kinh Niên đúng là bị làm cho rối tung lên rồi!"

    Điện Hạ nhìn cô một cái, rồi chuyển tầm nhìn qua Thi Ngũ gia bên cạnh cô: "Mục ngự quan có điều không biết, hắn từng đòi Thi Ngũ gia cho mình sử dụng, khi đó muội mới vào triều chưa bao lâu, phụ hoàng khá coi trọng nên không muốn chọc cho muội thay lòng, bèn tạm dẹp chuyện này qua bên.

    Cương thi trải qua trăm năm mà hình dáng không đổi cực kỳ hi hữu, nghe đâu Thi Ngũ gia sinh tiền đã luyện được bản lĩnh tột đỉnh không ai bằng, thảo nào Nguyên Thiên Sư muốn giành riêng cho mình."

    Phàm là Thi quan có ai không muốn một hành đầu tài giỏi, bất kể là tổ tiên Kinh Niên hay chính cô, cũng muốn độc chiếm Thi Ngũ gia bên mình.

    Kinh Niên đứng nghệt ra một lúc, suốt một năm ở trong cung, tuy không có cơ hội va chạm với Nguyên Thiên Sư, nhưng ngẫm kỹ lại, mỗi lần gặp mặt, ông ta đều nhòm ngó Thi Ngũ gia với ánh mắt quái dị.

    Rất nhiều người mơ ước Ngũ gia, còn từng có người dùng toàn bộ gia sản để đổi với cô, lẽ nào lão nhân kia cũng vì vậy mà tìm cô gây rắc rối?

    Nghĩ ngợi một chút cơn oán trách cũng ngoi đầu dậy, thế là cô nghiêng đầu nhìn về phía Thi Ngũ gia, bực mình nói: "Đều tại Ngũ gia làm người ta thích quá đáng, ngày mai Kinh Niên may cái túi bỏ ngài vào rồi vác đi cho xong!"

    Nói xong còn đập nhẹ hắn một cái, mãi tới khi nhác thấy cái mặt ngỡ ngàng của Điện Hạ mới ho khan một tiếng, quay lại với vẻ mặt lười biếng, ghé vào hàng rào ngáp một cái, một tay chống đầu, nghiêng nghiêng đầu nhìn Điện Hạ, cười như có như không nói: "Điện Hạ, từ lần trò chuyện này của ngài, Kinh Niên không cảm thấy gì khác, mà chỉ cảm thấy ngài tìm đến ta tám phần không thoát khỏi quan hệ với Nguyên Thiên Sư, theo hiểu biết của Kinh Niên về điểm này thì hình như ông ta ủng hộ lập tam hoàng tử làm người kế nhiệm vương vị, khéo thay lại đối địch với ngài."

    Điện Hạ cười lắc đầu, nói hờ hững: "Tuy ta là trưởng tử nhưng suốt ngày lông bông không có chí tiến thủ, tam đệ trấn nội loạn, thảo ngoại địch(*), liên tiếp lập kỳ công, dù ngày sau được lập làm Thái tử cũng không có gì đáng trách."

    (*) Trấn áp nội loạn, thảo phạt kẻ thù.

    Kinh Niên nhếch miệng, nhìn y như suy nghĩ điều gì, không phát biểu cảm nhận về câu này của y, chỉ nói: "Điện Hạ, ngài đừng quanh co với Kinh Niên nữa, cứ nói thẳng đi, muốn Kinh Niêm làm cái gì?"

    Nghe cô hỏi toạc ra như vậy, Điện Hạ bèn rút lại vẻ cợt đùa, dự định từ từ tiếp cận, chậm rãi vào đề lúc đầu đều nuốt hết vào bụng, nói ngay vào trọng điểm: "Ta muốn diệt trừ đầu sâu độc kia, Mục ngự quan, hy vọng muội có thể giúp ta một tay!"

    Ý định này của y, Kinh Niên đã đoán chuẩn được bảy tám phần, nhưng vẫn thản nhiên hỏi ngược lại: "Điện Hạ muốn diệt trừ...

    Nguyên Thiên Sư?

    Vì cớ gì?"

    Điện Hạ muốn mời cô giúp đỡ, tất nhiên sẽ hỏi đâu đáp đó: "Phụ hoàng tuổi già lắm bệnh, từng một lần nằm liệt trên giường không dậy nổi.

    Sau khi được Nguyên Thiên Sư dâng lên một quả linh dược, thì đột nhiên tinh thần phấn chấn, về sau còn nghe từ miệng hắn chuyện luyện linh đan bất tử, thành ra quá sức mê mẩn, nghe theo lời hắn rầm rộ xây dựng đạo quan để luyện linh đan.

    Gần đây đã si dại tới nỗi Nguyên Thiên Sư nói gì nghe nấy, ngoài mặt là đang ngồi trên long vị, nhưng trong tối là lão tặc nắm giữ thực quyền, hoàng không làm hoàng, không lo triều chính, khó giữ triều cương, nếu không sớm ngày nhổ đi nanh nọc, thì khó bảo toàn được triều đại giang sơn!"

    "Điện Hạ, bất luận tâm tư của ngài có đúng với lời ngài nói hay không, nhưng nếu Nguyên Thiên Sư nắm quyền, quan thần trong triều không hoàn toàn muốn lật đổ hắn, ngay cả hoàng thượng cũng nghe theo hắn, thì dù ngài có là đại hoàng tử địa vị cao quý, muốn động vào hắn sợ cũng khó như lên trời."

    "Không thể đánh sáng, vậy thì xử tối!"

    Điện Hạ siết chặt cán quạt, khớp ngón tay kêu lên răng rắc, trong mắt ánh lên sát ý hung tợn.

    Kinh Niên quơ quơ tay, nói: "Không được không được, Điện Hạ, đây không phải ngài muốn ta giúp ngài một tay, mà định để Kinh Niên chịu tiếng xấu thay ngài!"

    Dùng người của mình làm việc này quá mạo hiểm, ngộ nhỡ để lộ dấu vết, mò được một đầu mối rồi mò thẳng tới chủ tử thì toi.

    Mà cô là quan mới vào triều chưa bao lâu đã trốn ra ngoài, thích hợp cho hành động mượn đao giết người này nhất, dù bị bắt khai ra người xúi giục, đến lúc đó y cố chết phủ nhận, nhân tiện giáng cho một tội phỉ báng, cũng chẳng sợ lạc nhân khẩu thật(*), đúng là tuyệt thay!

    Nhưng Kinh Niên không phải người ngu, kiểu buôn bán lỗ vốn này cô không làm, vả lại cũng không muốn nhúng tay vào chuyện tranh quyền đoạt thế trong cung, đỡ phải dính một thân tanh tưởi.

    (*) Ý là chẳng sợ lộ sơ hở cho người khác công kích.

    Điện Hạ cũng không giận việc cô cự tuyệt, chỉ lấy trong lòng ra một quyển sách, bày ra trước mắt cô: "Muội có biết đây là gì không?"

    Thấy cô không quan tâm lắm, y cười cười nói tiếp: "Các thế hệ triều đại đều ở hết trên đây, ta lén mang một quyển xuất cung, trong đó là sử ký những năm đầu lập triều, chuyện tổ tiên muội bị giáng tội đuổi khỏi cung cũng được ghi lại trong đây, muội không muốn xóa bỏ đoạn chuyện cũ này ư?"

    Trong quan niệm của y, tổ tiên là tội nhân ắt sẽ rước lấy nhục cho con cháu đời sau, y muốn dùng thứ này làm lợi thế, nếu đổi lại là người bình thường thì ít nhiều sẽ động tâm, nhưng suy nghĩ của Kinh Niên lại bất bình thường, cho nên cô chỉ há miệng cười, hệt như bị y chọc cười vậy:

    "Tổ tiên là tổ tiên, Kinh Niên là Kinh Niên, dù chuyện này do chính tay ta làm thì sao chứ.

    Ghi trên đó ta không mất miếng thịt nào, mà không ghi ta cũng chả thêm được miếng thịt nào.

    Dù sao cũng làm rồi, huống hồ Kinh Niên không nghĩ làm vậy là phạm tội, Điện Hạ, chiêu này của ngài vô dụng với ta rồi!"

    Lúc này Điện Hạ lại đờ người ra, cứ tưởng đâu chí ít cô sẽ suy nghĩ một chút, nào ngờ cô lại đáp trả thẳng thừng như vậy, khiến mấy lời dụ dỗ thuyết phục của y không có đất diễn.

    Trong đầu xoay chuyển, tính toán những cách có thể dùng khác, nhưng nghĩ hồi lâu cũng chẳng có đầu mối nào.

    Trong lúc bối rối trong đầu chợt hiện lên gương mặt rưng rưng nước mắt của cô, tâm thần rung động, nhớ lại phản ứng kịch liệt của cô vừa rồi thì chợt nảy ra một kế, cũng chưa biết có hiệu quả hay không, nhưng lúc này y không thể nghi ngờ bất cứ thứ gì.

    Thế là y bước tới hai bước, mặt đối mặt với Thi Ngũ gia: "Mục ngự quan, ta thấy muội khá coi trọng nó, mặc dù bây giờ ta chưa tiện làm điều này, nhưng nếu muội giúp ta lần này, thì chờ sau khi kế vị ta sẽ giao quyển ghi chép về Thi Ngũ gia trong sách Ngự cho muội xử trí, về sau nó sẽ không còn liên quan gì tới hoàng thất, đây là cam kết của ta, nếu muội không tin cũng không sao!"

    Kinh Niên cười yếu ớt, nhớ trước đó y còn nói tặng vương vị cho tam hoàng tử, vậy mà chưa đầy mấy câu đã lật mặt nói chuyện sau khi mình kế vị, rõ là nói một đằng nghĩ một nẻo, lập một người như vậy lên ngôi làm sao khiến người ta tin phục đây?

    Nhưng cô đích thực không thích trong sách Ngự ghi chép về Ngũ gia, trộm cướp sách phi tang chứng cứ suy cho cùng không đắc nhân tâm bằng làm theo cam kết của hoàng tử, đương nhiên, nếu lời hứa của y không phải lừa bịp, vậy thì việc này thật sự có thể khơi dậy chút hứng thú của cô rồi.

    "Điện Hạ, nói miệng không bằng chứng, ngài muốn ta tin ngài mà không làm tý chuyện thực tế thì e là không ổn đâu."

    Cô cười hì hì nói, bắt đầu giở trò vô lại.

    Điện Hạ gập cây quạt lại, giơ tay phải lên trời lập lời thề độc: "Trời xanh tại thượng, đất dầy chứng giám, Mục ngự quan trợ ta diệt trừ gian tặc, ta sẽ ban thưởng sách Ngự, nếu có nói ngoa, ắt bị ngũ lôi oanh đỉnh, trọn đời không được siêu sinh!"

    Thần thái kiên nghị, ánh mắt chân thành, Kinh Niên mới nghe đã giật mình quên bẵng cả chuyện ngăn cản, nghệt mặt ra cả buổi mới ngượng ngùng nói: "Ai bảo ngài thề độc, chỉ cần viết giấy trắng mực đen rõ ràng, rồi đóng ngọc ấn của ngài lên là đủ rồi..."

    Còn thề thốt kiểu này chả khác nào bắt cô đâm lao phải theo lao.

    Điện Hạ khoanh tay bước lại dựa nghiêng vào hàng rào: "Ta chỉ muốn cho muội biết, lần này tới tìm muội không phải là ác ý, mặc dù cần mượn tay muội, nhưng nhất quyết sẽ không để muội rơi vào nguy hiểm.

    Nếu lời thề độc này còn chưa đủ, đừng nói giấy trắng mực đen, dù bảo đặt cái mạng này vào tay muội ta cũng cam tâm tình nguyện."

    Y liếc mắt nhìn sang, ngữ điệu êm ái như gió mát lướt qua mặt sông, Kinh Niên nghiêng đầu nhìn lại thì bị ánh mắt kia nhìn chòng chọc tới hết hồn, lại nghe y cười nhẹ một tiếng, nhìn lướt qua mình hướng ra phía sau: "Ngũ gia đó của muội, quả thật khiến người ta rất hâm mộ, nếu hắn là người sống, thì tới một kẽ hở nhỏ ta cũng không chui nổi..."

    Cứ như hiện tại đã đủ khiến y khó chịu, trong lòng y thầm cười nhạo bản thân ghen tuông với một cái xác chết.

    Lòng Kinh Niên chùng xuống: "Điện Hạ, ngài..."

    Nói xong một chữ "Ngài" thì không biết nên nói gì tiếp nữa.

    Điện Hạ nhìn mắt cô, hỏi với vẻ mặt khẩn thiết: "Mục ngự quan, ta đối với muội..."

    Chưa nói hết câu đã bị cô cắt ngang: "Điện Hạ, Kinh Niên không dám trèo cao!"

    Kinh Niên không né tránh mà nhìn thẳng vào mắt của y, Điện Hạ bị cô nhìn tới lạnh lòng, im lặng một lúc lâu mới hỏi: "Mục ngự quan... có phải đã có ý trung nhân?"

    Thấy cô ngậm miệng không đáp, y bèn giương mắt nhìn thoáng qua cổng thành: "Là...

    Huyền Ảnh hộ vệ?"

    Ở trong triều một năm, mặc dù cô gặp ai cũng cười, nhưng luôn khách sáo xa cách, chỉ riêng Huyền Ảnh là quan tâm khác hẳn mọi người, hỏi sao y không nghi ngờ.

    Kinh Niên ngẩn người, nhìn theo ánh mắt của y, thấy Huyền Ảnh đang đứng bên cạnh tường thành, thẳng tắp như tùng xanh, mặc gió táp mưa sa vẫn sừng sững bất động.

    Cô nhìn chốc lát rồi thu hồi ánh mắt, sụp mắt nhìn mặt giày, nhẹ giọng hỏi ngược lại: "Nếu như ta nói phải thì sao?"

    Điện Hạ vừa nghe cô nói vậy thì trong lòng rúng động, ấp úng đáp: "Nếu... nếu như... phải... ta..."

    Y nói không thành câu, chốc thì nhìn Huyền Ảnh, chốc thì nghiêng đầu nhìn Kinh Niên, thật lòng không biết trả lời cô thế nào.

    Kinh Niên có hơi không đành lòng, nói vội: "Đừng nghĩ nữa, không liên quan gì tới Huyền Ảnh, trong lòng Kinh Niên chưa từng để ý người nào."

    Điện Hạ mừng rỡ ra mặt, nhưng lại nghe cô bồi thêm: "Trước đây không, sau này cũng không, ta không nghĩ tới chuyện này và cũng không muốn nghĩ, Điện Hạ, hoa thơm trong thiên hạ rất nhiều, ngài đừng phí phạm giao lòng mình cho Kinh Niên."

    Cô quay người nhìn mặt sông, trưng ra dáng vẻ không muốn nói chuyện này nữa.

    Điện Hạ cũng đổi đề tài theo ý cô, trong mắt lại lóe lên hào quang rực rỡ, sáng tới bất thường: "Mục ngự quan, thỉnh cầu của ta... muội suy nghĩ kỹ rồi sao?'

    Lúc nói chuyện, hai mắt nhìn chằm chằm vào má cô không hề chớp.

    Tuy Kinh Niên không nhìn thấy nhưng cũng có thể cảm giác được tia nhìn sáng quắc của y, lòng than thầm không ngớt, nhưng ngoài mặt vẫn giữ vẻ thản nhiên trước sau như một: "Ngài thề độc mất tiêu rồi, ta không đáp ứng mà được à?"

    Có được câu này của cô, Điện Hạ tất nhiên mừng không gì bằng, mặt lập tức giãn ra tươi cười.

    Kinh Niên thì thầm tính toán xem bước tiếp theo nên đi thế nào, đang mải nghĩ thì cô chợt hẫng lại, mở miệng hỏi: "Việc này có bao nhiêu người biết?"

    Điện Hạ đáp: "Chỉ có muội, ta và Huyền Ảnh."

    Tuy thuộc hạ đông đảo, nhưng chỉ riêng Huyền Ảnh là y tin tưởng nhất, cho nên không cố ý giấu diếm bất cứ chuyện gì.

    "Đạo sĩ kia thì sao?

    Đuổi đi à?"

    Điện Hạ lắc đầu: "Lần này ta ra ngoài, dọc đường gặp nhiều mai phục, có lẽ lão tặc kia đã có cảnh giác, định thừa dịp ta xuất cung để tiên hạ thủ vi cường(*), thế nên càng nhiều người đồng hành thì càng bớt đi một phần nguy hiểm."

    (*) Ra tay trước thì chiếm được lợi thế.

    Kinh Niên nghĩ câu này rất có lý, bèn tiện đà nói luôn: "Vậy Lô Hoài Nhâm đi chung cũng không có hại."

    "Lô Hoài Nhâm?"

    Điện Hạ nghe cái tên xa lạ này thì sửng sốt một giây, sau đó mới nhớ ra là ai.

    Trên đường từ núi hoang xuống thành y từng hàn huyên với hắn vài câu, biết hắn và nhóm Kinh Niên gặp gỡ nhau ra sao, lúc này nghe cách Kinh Niên nói về hắn ta hình như rất có cảm tình, trong lòng tự dưng bốc mùi chua, hỏi: "Hắn có chỗ nào xài được?

    Đừng để tới lúc cần chỉ làm liên lụy mọi người."

    Kinh Niên mỉm cười, trợn to hai mắt liếc về phía y: "Chớ xem thường Lô đại ca, huynh ấy không thua kém gì đạo gia của ngài đâu!"

    Người biết dùng Phong Hồn thuật khẳng định không phải tay mơ, đại ca kia thường ngày nhìn lương dân thế thôi, khéo cũng là cao thủ thâm tàng bất lộ đấy nhé.

    Đến khi ba người trở lại khách điếm thì cũng đã gần hoàng hôn, Điện Hạ bảo chủ quán dọn một bàn cơm rồi đi gọi Lô Hoài Nhâm và Gia Cát Thủ.

    Ở trên bàn cơm Điện Hạ chỉ nói gặp phải chuyện phiền phức muốn tìm bằng hữu giúp đỡ, tuy Lô Hoài Nhâm quen biết họ chưa bao lâu nhưng rất trọng nghĩa khí, vừa nghe y hỏi mình có sẵn lòng đi theo không thì đã đồng ý cái rụp.

    Nhưng khi Điện Hạ vào phòng Gia Cát Thủ mật đàm thì lại nói khác hẳn, trừ nguyên nhân Kinh Niên vào cung xuất cung và chuyện xưa liên quan tới Thi Ngũ gia ra, những chuyện khác y đều kể lại có chọn lọc.

    Chỉ nói mình phụng chỉ đón cô về triều tiếp tục nhậm chức.

    Lúc Gia Cát Thủ hỏi tại sao lại để kẻ không đâu làm bạn đồng hành, thì y chỉ đáp muốn lợi dụng hắn làm việc cho mình rồi sau đó đuổi đi.

    Trong lúc Điện Hạ và Gia Cát Thủ trò chuyện, thì Kinh Niên đang ở trong phòng mình xử lý hành đầu.

    Chỉ thấy Thi Ngũ gia ngồi ngay ngắn trước bàn, mặc trường sam bằng lụa trắng, áo bào đơn đặt trên một cái ghế khác, mái tóc xõa dài quá vai, Kinh Niên đứng sau lưng chải đầu cho hắn.

    "Ngũ gia, ngài nói xem có phải Kinh Niên không nên lội vũng nước đục này không?"

    Một tay cô cầm mép tóc, một tay luồn nhẹ cây lược gỗ vào rồi chải tới đuôi tóc, vừa nói vừa chải, động tác hết sức dịu dàng: "Haizz...

    Nếu chỉ là chuyện tranh giành cấu xé giữa nội bộ trong cung, thì nói kiểu nào ta cũng không thèm nhúng tay vào, nhưng bốn chỗ Nguyên Thiên Sư chọn để xây miếu quan lại là âm huyệt, hỏi sao người ta không lo, Ngũ gia... rốt cuộc Kinh Niên vẫn không buông bỏ được..."

    Cô chải suông tóc rồi tém lại phía sau cho Thi Ngũ gia, tay xoa lên xoa xuống mấy lần, sau đó nắm lấy bím tóc mình bóp bóp: "Tóc Ngũ gia trơn trơn, tóc của Kinh Niên cũng trơn trơn, Phát lộ(*) trong cung đúng là khác đồ thường, phải thừa cơ chôm thêm mấy lọ mới được."

    (*) Nước dưỡng tóc.

    Cô toét miệng cười, đỡ Thi Ngũ gia ngồi ở mép giường: "Kinh Niên luôn thích làm gì thì làm đó, khiến Ngũ gia phải chạy theo tới mệt, thật ra Ngũ gia không cam lòng..."

    Cô nghiêng đầu, tầm mắt rơi trên mặt Thi Ngũ gia, nhủ bụng lá bùa mỏng này đúng là vướng víu, bèn đưa tay vén lên cao: "Qua lâu như vậy... qua lâu như vậy... ta còn sợ gì?"

    Nói rồi tay phải nhẹ nhàng mơn trớn mũi miệng hắn, tay trái vén giấy đưa lên cao hơn, một góc lá bùa đã bị bóc ra khỏi trán, lúc này Kinh Niên bỗng dừng tay lại, cô nhìn thấy trong con ngươi không tiêu cự của Thi Ngũ gia lóe lên một tia sáng mơ hồ, một lát sau toàn thân đều rung động.

    Cô nuốt ực nước bọt, mồ hôi lạnh chảy từ gò má xuống, sống lưng phát lạnh khiến cơ thể nhớ lại cơn khủng hoảng này sớm hơn cả nội tâm, vài đoạn quá khứ rời rạc đột nhiên tái hiện trong đầu, khiến cô bộp một tiếng dán lá bùa về chỗ cũ, cong gập lưng há mồm thở dốc, thở được một hồi, đợi tới khi hơi thở điều hòa lại cô mới ngẩng đầu, thấy Thi Ngũ gia đã hồi phục trạng thái bình thường, ánh sáng trong mắt cũng tự biến mất mới thở phào một hơi, cười miễn cưỡng nói: "Ngũ gia, sự dũng mãnh của ngài Kinh Niên không muốn thỉnh giáo thêm lần nữa đâu, ngài hãy nhẫn nại chút nữa nhé, Kinh Niên không chỉ muốn cho ngài mỗi thân thể tự do, nếu Kinh Niên chết ở đây thì không giúp ngài được nữa rồi!"

    Vừa dứt câu đã đẩy hắn xuống giường, cúi người cởi giầy cho hắn, rồi đặt cả hai chân lên giường, đắp chăn tươm tất xong thì mình cũng lăn quay vào bên trong giường, chui vào trong chăn.

    "Ngũ gia, ngài còn có thể ở bên cạnh Kinh Niên bao lâu nữa đây?"

    Cô nhìn đỉnh màn nhẹ nhàng thở ra, không để ý tới Thi Ngũ gia đang nằm bên cạnh, bàn tay vốn đang đặt trên chăn của hắn chậm rãi nắm thành quyền, run rẩy nâng lên, nhưng chỉ một chút đã đặt về trên chăn.

    .

    Sáng sớm hôm sau, đoàn người theo Điện Hạ tới Châu Huyện phủ điều động nhân lực để niêm phong phế trạch, đồng thời xin Huyện gia một con ngựa tốt.

    Gia Cát Thủ và Lô Hoài Nhâm tới Nam thành để thuê một con ngựa đi đường bộ, Điện Hạ và Huyền Ảnh vốn cưỡi ngựa tới đây, còn Kinh Niên vẫn luôn trung thành với đi bộ.

    Song lần này không phải là du sơn ngoạn thủy, do đó Điện Hạ mới cố ý cuốn tới Huyện phủ, lấy ngựa thay cuốc bộ, rút ngắn hành trình.

    Kinh Niên chẳng có ý kiến gì, có ngựa thì cứ nhảy lên, giống với Lô Hoài Nhâm người trước thi sau, cũng đỡ phải vẽ thêm bùa khác.

    Ra khỏi châu huyện thì đi dọc theo bờ tây của con sông Lý Nữ, một đường lên Bắc.

    Vòng qua con sông Lý Nữ, năm người đi đường tắt vượt qua núi, dọc đường đi ngang qua trấn Mai Lĩnh, núi Hoang Thạch, từ đường mòn Dương Tràng ngoài thành Phú Quý đi suốt tới, tới tối thì tìm một nhà trọ thôn quê nghỉ ngơi một canh giờ, không chờ bình minh lên đã tiếp tục lên đường.

    Đi như vậy ước chừng ba ngày, đã ra khỏi Nam cảnh vào trung tâm của lưu vực sông Hắc Thủy.

    Dòng sông Hắc Thủy chảy theo hướng từ Đông tới Tây, chảy ra khỏi cảnh nội nhập vào hồ Thiên Bạc, đồng thời tạo thành ranh giới chia nơi đây thành hai miền Nam Bắc, muốn lên kinh thì nhất định phải vượt qua con sông này.

    Trước đây qua sông chỉ có mỗi cách là lên thuyền, nhưng dòng người vãng lai tập trung đông đúc, hàng hóa lộn xộn, từng có lần vì quản lý không chặt mà khiến đường thủy ở vùng này bị tê liệt.

    Mãi tới năm Lý Thần Nguyên, Cẩm Đế lên ngôi, sai người xây hai cây cầu đá ở hai nơi trên sông mới giải quyết được phần nào vấn đề đường thủy.

    Hai cây cầu đá này nối dài qua sông Hắc Thủy, một dựa vào hướng Tây nằm giữa Phong Hoa cốc và thôn Hưng Lương, tên là cầu Vạn Phúc, một dựa vào Hướng Đông gần núi Thiên Dương, xưng là cầu Thiên Dương.

    Nhờ đó đã chia nhỏ được lượng người qua sông, đặc biệt là một phần kiệu xe và đoàn ngựa thồ hàng, chỉ cần nộp ngân lượng, kiểm tra hàng hóa là được.

    Song hôm nay chẳng những lan can cầu không mở, mà ngay cả tàu thuyền cũng đậu mãi ở bến không ra sông.

    Bây giờ đã gần hoàng hôn, bọn Kinh Niên cũng đứng đợi dưới cổng vòm Song Long đầu cầu Vạn Phúc lâu rồi, nếu không lên đường thì e là phải dừng lại một đêm.

    Khổ nỗi thị vệ canh giữ trước lan can cầu không chịu mở chốt cho người lưu thông.

    Gia Cát Thủ nổi sùng, bước lên lý luận với hai thị vệ, nói vài câu bất hòa đã nổi lên tranh chấp, người tụ tập chờ lên cầu chung quanh đều vây lại khuyên can, toàn nói mấy câu thiên vị hai người thị vệ kia, nói họ chặn đường cũng có lý do của họ, khiến Gia Cát Thủ xám mặt xám mày lui về.

    Hắn mắng mấy người đó là đồ kỳ quái, cầu không qua được còn chờ ở đây làm quái gì.

    Lúc này những người khác đều lắc đầu mỉm cười.

    Gia Cát Thủ khó hiểu hỏi: "Có gì đáng cười?"

    Điện Hạ đi tới vỗ vỗ vai hắn: "Thủ lão đệ, đệ có muốn biết tại sao mấy người kia không vội qua cầu, và tại sao không chỉ trích hai thị vệ đó không?"

    Thấy Gia Cát Thủ có vẻ mù mờ, y bèn chĩa đầu quạt về hướng bên kia sông gõ gõ: "Đệ xem, bên kia cầu chính là vùng Phong Hoa cốc, tuy dân trong cốc đã dời khỏi đất từ lâu, nhưng không băng qua Phong Hoa cốc sẽ không tới được thành trấn kế tiếp, trong cốc có ba lối đi, chung điểm bắt đầu chung điểm kết thúc, hễ qua sông đi tiếp lên Bắc thì phải đi qua một trong ba con đường này, chuyện này đệ biết chứ?"

    Gia Cát Thủ gật đầu, mi tâm thắt lại thành hai gút: "Vậy thì sao?"

    Hắn không rõ chuyện này liên quan gì tới chuyện qua sông qua cầu.

    Điện Hạ mở quạt xếp ra lắc lư, quay lưng lại lan can cầu đi thong thả hai bước, thở dài nói: "Vậy thì không sao, nhưng có điều mấy ngày gần đây hễ ai đi qua ba con đường này thì đều không chết cũng bị thương, theo lời của người may mắn sống sót kể lại, thì trong cốc có ma vật quỷ quái, mỗi khi mặt trời xuống núi sẽ đi ra hại người.

    Sau khi nha môn Thủy ti nghe tin bèn triệu tập người tài và hiệp khách vào cốc, đáng tiếc vào nhiều nhưng ra ít, không một ai được việc.

    Nha môn đã xin bên trên chi viện, nhưng đà này xem ra vẫn chưa mời được.

    Trước đó, con đường thủy này buộc lòng chỉ mở ra nửa buổi, Thủ lão đệ, hai thị vệ đó chỉ muốn tốt cho đệ thôi."

    Dứt lời gập quạt lại gõ một cái lên lưng Gia Cát Thủ.

    Gia Cát Thủ ngờ vực nhìn chằm chằm y một lát, sau đó nhìn lướt qua nét mặt của từng người một, thấy ai cũng thư thái thoải mái, rõ là đã nghe thấy trước rồi, trong bụng hết sức nghi hoặc: "Sao bần đạo chưa từng nghe chuyện này?"

    Kinh Niên toét miệng cười hì hì, không thèm trả lời hắn, tiếp tục vắt vẻo trên lan can cầu ăn mơ muối.

    Lô Hoài Nhâm cười khì nói: "Đạo gia là quý nhân, lời của phàm phu tục tử sao vào được lỗ tai ngài."

    Hai hàng lông mày của Gia Cát Thủ dựng thẳng lên, chưa kịp nổi bão đã thấy Lô Hoài Nhâm quay người nằm bò lên lan can, hắn đành hừ hừ mấy tiếng rồi đi tới cột đá bên cạnh cổng vòm ngồi xổm xuống, ném đá trên đất xả giận.

    Điện Hạ chẳng qua chỉ trêu hắn, chứ lòng luôn biết rõ Gia Cát Thủ làm việc gì cũng rất tích cực, thấy hắn giận dữ ra mặt thế kia thì biết là bị chọc tức rồi, toan đi qua lấy lòng đôi câu, nhưng ngay khi quay đầu thì nhìn thấy Kinh Niên và Lô Hoài Nhâm đứng trước lan can nói nói cười cười, biến sắc, lập tức nháy mắt ra hiệu với Huyền Ảnh, sau đó sải bước đi tới chen vào giữa hai người kia.

    Huyền Ảnh đuổi theo mấy bước, bỗng quay gót đi về hướng bên phải, ngồi xổm xuống bên cạnh Gia Cát Thủ, thấp giọng nói: "Gia Cát đại nhân, lúc đó ngài đang ở trong phòng, bởi vậy không nghe được tin đồn."

    Gia Cát Thủ ngẩn ra, ngẫm lại mấy ngày nay chạy miệt mài ngựa không dừng vó, rã rời tới nỗi chân hắn muốn nhũn ra, mỗi lần tới chỗ nghỉ chân là lật đật chạy ùa vào phòng trùm chăn ngủ vùi, ngay cả cơm cũng lùa vội hai cái cho xong.

    Có lẽ lúc hắn ngủ mấy người kia còn tụ tập ở bàn, trong tiểu điếm người qua kẻ lại, chắc ít nhiều cũng nhắc tới chuyện này, mọi người biết hết cũng không có gì lạ.

    Nhưng như vậy hắn lại càng tức, nếu bọn họ biết chuyện thì sao cứ kệ mình hắn lơ mơ, vừa rồi hắn xung đột với hai tên thị vệ cũng chả thấy người nào lên nói một câu, tốt xấu gì cũng nên nói rõ ra chứ.

    Kết giao lâu như vậy mà sao ngày nào cũng thích chọc điên mỗi mình hắn!

    "Này!

    Huyền Ảnh hộ vệ!

    Bần đạo khiến người ta ghét lắm chắc?"

    Gia Cát Thủ kéo tay áo Huyền Ảnh, mắt lom lom nhìn mạng che đen ngòm trên đỉnh đầu: "Ngươi nói với Điện Hạ, nếu không muốn bần đạo đi theo thì cứ nói một tiếng, bần đạo cứ ở lỳ không đi được sao?"

    Huyền Ảnh trầm mặc một hồi: "Gia Cát đại nhân, Điện Hạ không có ý này... ngài..."

    Còn chưa nói hết câu đã bị ngắt ngang, Gia Cát Thủ quay đầu sang hướng khác căng môi cười: "Tiểu cô nương với tên đại nam nhân kia cũng thôi đi, Thi quan vốn đã không vừa mắt đạo sĩ bọn ta, bọn họ kích ta chọc ta cũng không có gì.

    Nhưng ta, ngươi với Điện Hạ biết nhau bao lâu nay, sao ngay cả các người cũng... thôi đi thôi đi... ngươi qua chỗ Điện Hạ đi, mặc kệ ta!"

    Hắn xua xua ống tay áo đuổi người, Huyền Ảnh vẫn ngồi nguyên xi tại chỗ không buồn nhúc nhích, miệng ngậm tăm, trơ ra hệt như tượng đá.

    Gia Cát Thủ lửa bốc lên đầu, nhảy dựng lên, la hét với hắn: "Ngươi còn ngồi đây làm gì hả?

    Được, ngươi thích ngồi thì cứ ngồi!"

    Nói rồi chạy tới đầu khác của cổng vòm, Huyền Ảnh cũng đứng dậy đi theo, Gia Cát Thủ lại đổi chỗ, mặc kệ hắn đổi tới đâu Huyền Ảnh đều theo tới đó như hình với bóng.

    Kinh Niên chống má nghiêng đầu xem trò vui, Lô Hoài Nhâm cau mày nói: "Ngươi xem tiểu đạo sĩ kia đi, giống hệt quả bóng khí, chúng ta chẳng qua chỉ trêu hắn chút xíu, có đáng để giận dỗi thế này không?"

    Điện Hạ cười cười: "Thủ lão đệ còn nhỏ tuổi, không hiểu được thế thái nhân tình, tính tình cũng hơi ngay thẳng."

    Kinh Niên nhìn hai bóng người một trước một sau, chậm rãi thở hắt ra: "Tính tình ngay thẳng cũng không tồi."

    Sau đó ngoảnh mặt sang Điện Hạ: "Ngài lại bắt Huyền Ảnh làm việc khổ sai, biết rõ Huyền Ảnh không nói được câu nào có ích, sao không tự đi dỗ tiểu đạo gia đi?"

    Điện Hạ rũ mắt, vẻ mặt như cười như không: "Muội... chẳng lẽ đang đau lòng sao?"

    Giọng điệu có vẻ thờ ơ, nhưng bàn tay cầm quạt đã siết tới độ khớp ngón tay trắng bệch.

    Tất nhiên Kinh Niên nhìn ra vẻ khẩn trương của y, nhưng vẫn vờ như không phát hiện ra, tầm mắt vẫn đuổi theo hai người kia như trước: "Đau cho Huyền Ảnh?

    Hay là đau cho Gia Cát Thủ?"

    Nhìn thêm một lúc mới quay đầu ngắm mặt nước, liếc qua khóe mắt nhìn thấy Điện Hạ đang nín thở chờ đợi, trong lòng thở dài một hơi, buồn bã nói: "Ta đang đau cho mình."

    Sau đó chưa đợi y lên tiếng đã bồi thêm: "Điện Hạ, ngài không định đợi tới mai thật chứ?"

    ~ Hết chương 8 ~
     
    Thi Quan Kinh Niên
    Chương 9


    Chương 9

    LỆ THI ĐẦU.

    Edit: Yunchan

    ***

    Điện Hạ nhìn chăm chăm mặt sông, lặng thinh không đáp lời nào, bên môi vẫn nở nụ cười như có như không.

    Kinh Niên nhìn chăm chú y giây lát, rồi vòng mắt qua y nhìn sang Lô Hoài Nhâm bị tách ra xa: "Lô đại ca, huynh cũng định chờ tới ngày mai sao?"

    Lô Hoài Nhâm vỗ một phát lên lan can, mạnh tới nỗi song sắt rung lên bần bật, dằn giọng đáp: "Chờ thì tốt nỗi gì?

    Ta ăn cả bụng cơm, chờ người không nói, còn chờ quỷ chờ quái nữa sao?

    Đây là cái lẽ gì!

    Nó dám chường mặt ra hại người còn mặc kệ được sao?

    Đường ta ta cứ đi, để coi nó là thứ thối nát gì, chân đụng phải thì tiện chân đạp luôn, sợ gì nó?"

    Kinh Niên vỗ tay, cười hì hì nói: "Đại ca quá khí phách!

    Lần ở phế trạch, Kinh Niên còn cười lén huynh quá rụt rè dè dặt nữa!"

    Lô Hoài Nhâm nhớ lại tình cảnh khi đó thì cười ha ha: "Cẩn thận chút là tốt, mạng người giá trị mà, nhưng can đảm lại càng tốt hơn, làm nghề này không mạnh dạn xông pha thì sao được, muội nói có đúng không, tiểu muội?"

    Kinh Niên gật đầu khen tới tấp, sau đó ánh mắt lại bay về hướng Điện Hạ: "Ý của Lô đại ca chính là ý của Kinh Niên, Điện Hạ, nếu ngài băn khoăn thì chúng ta nên chia làm hai đường, đêm nay Lô đại ca với ta chuồn trước, ngài chờ tới sáng mai cầu mở hẵn qua, Huyền Ảnh nhất định sẽ theo ngài, về phần đạo gia... ta thấy hắn mỏng manh dễ vỡ quá, đừng nên theo đường chúng ta thì hơn!"

    Điện Hạ nghe cô nói hai câu cuối thì bỗng dưng bật cười: "Xem ra chuyến đi này Thủ lão đệ khiến muội phiền lòng rồi."

    Nếu không sao cứ trêu suốt từ đầu đường tới cuối đường, chẳng lẽ quan hệ giữa Đạo sĩ với Thi quan đã tới nông nỗi nước lửa bất dung rồi à?

    Kinh Niên lắc đầu: "Đạo gia quả là làm cho ta nhức đầu, nhưng không liên quan gì tới phiền hay không phiền, chẳng qua vừa nhìn cái tướng khó ưa đó là người ta đã ngứa lưỡi, muốn trêu cho tức thôi."

    Điện Hạ liếc mắt ra sau, ngó cái người đang ngồi quay lưng về phía Huyền Ảnh hút thuốc phì phì, cười đồng cảm: "Cũng đúng, cái dáng trẻ con này, ai thấy cũng muốn bắt nạt."

    Kinh Niên cũng cười theo một tiếng, rồi giương mắt nhìn về phía Huyền Ảnh đứng bên cạnh, cái đảo mắt này, tất nhiên Điện Hạ biết cô đang nhìn ai, nụ cười trên mặt tắt ngóm, nhếch mép hỏi: "Muội nói chuồn qua cầu, nhưng thị vệ đã đóng chốt ở đầu cầu không cho qua, muốn chuồn kiểu nào?"

    Lô Hoài Nhâm chen vào: "Thị vệ thì đơn giản, một xử một dư sức."

    Điện Hạ cũng đoán trước bọn họ sẽ giở thói bạo lực, bèn mở xoạch quạt xếp ra vỗ nhẹ trước ngực: "Haizz, không được không được!

    Sao có thể tự tiện ra tay đánh người được?

    Người ta đâu chọc tới chúng ta."

    Kinh Niên tiếp lời cực nhanh: "Được rồi, vậy để họ đánh trước hai cái."

    Điện Hạ vẫn lắc đầu: "Chẳng phải chỉ muốn qua cầu sớm thôi ư, đáng để xung đột lấy cứng đối cứng sao?

    Thế có đáng hay không!"

    Cái này không được cái kia cũng không xong, Lô Hoài Nhâm bắt đầu bốc hỏa: "Huynh đệ, theo ý ngươi thì chúng ta phải đợi tới sáng mai sao?"

    Lúc này Kinh Niên lại im thin thít, cô biết Điện Hạ có sở thích nói chuyện đánh vòng, càng hỏi y càng vòng tới chóng mặt, thôi thì cứ dứt khoát im miệng, chờ y tự nói cho lành.

    Quả nhiên, lúc hai người cùng tắt đài, Điện Hạ cũng gập quạt xếp lại, đến đây mới chịu nói vào trọng điểm: "Muốn qua cầu cũng không phải việc khó gì, ta, tại hạ bất tài... cũng quen biết không ít bằng hữu làm quan trong kinh, trong đó khéo thay lại có một Nam quận thủy đề đốc, khéo thay vùng này lại thuộc quyền cai quản của y, nếu thương lượng một chút, thì phá lệ một lần cũng không phải quá khó."

    "Ầy, huynh đệ!

    Sao ngươi không nói sớm?

    Xoay tới xoay lui xiêu xiêu vẹo vẹo, ta sắp bị ngươi xoay tới quáng rồi đây!"

    Lô Hoài Nhâm nghe y nói đẩy nói đưa cả buổi, cuối cùng thành ra y có cách vượt sông Hắc Thủy ban đêm, đã vậy còn nói nhiều thế làm chi?

    Nụ cười của Điện Hạ vẫn không giảm, mắt liếc qua người bên cạnh: "Còn không phải vì cô nương này sao, mới nói một câu đã xác định ta sẽ đợi tới bình minh."

    "Nghe ý của huynh đệ, chẳng lẽ muốn đi chung với hai chúng ta à?"

    "Dĩ nhiên, ta đã mời hai người hỗ trợ thì bản thân đâu thể làm rùa rút đầu, nào có lý này chứ?"

    Điện Hạ nắm cán quạt lúc mở lúc đóng, cúi đầu như đang nhìn mặt sông, nhưng ánh mắt lại liếc nghiêng một bên.

    Kinh Niên nhấp nhấp môi, bàn tay đang nắm lan can đột nhiên siết chặt lại: "Nếu Điện Hạ đi, tất nhiên Huyền Ảnh sẽ theo, đạo gia kia..."

    Trong phút chốc, trong đầu cô hiện lên tình cảnh trên núi Mai Lĩnh, Gia Cát Thủ rõ ràng sợ tới nỗi bỏ chạy vậy mà lại bị mấy câu của cô khích tướng, kiên nhẫn ở lại chiến với linh xà hai đầu, nghĩ tới đó không khỏi nhếch môi: "Đạo gia nhất định sẽ không rớt lại."

    Điện Hạ gật đầu: "Ta nói rồi, càng nhiều người càng bớt nguy hiểm."

    Nói đoạn lui ra sau vài bước, quay lưng đi: "Việc này không nên chậm trễ, ta sẽ bảo Huyền Ảnh tới Đốc phủ một chuyến."

    Y bước nhanh tới trước Huyền Ảnh, thông báo vài câu, rồi lấy từ trong lòng ra một vật như miếng ngọc bài.

    Sau khi Huyền Ảnh nhận lấy thì hỏa tốc chạy đi tháo dây buộc, trở người nhảy vọt lên yên ngựa, phi như bay dọc theo sông Hắc Thủy về hướng Tây.

    Điện Hạ quay trở lại, Kinh Niên xít lại gần nhỏ giọng trêu: "Ngài đây nào phải thương lượng với bằng hữu, rành rành là đang lấy thịt đè người?"

    Cái ngọc bài sáng lóa đó tương đương với hoàng tử đích thân tới, nào cho phép Thủy Đề Đốc nói chữ "Không" chứ?

    Điện Hạ thở dài, mở quạt xếp che nửa bên mặt trái, nghiêng đầu nói: "Chuyện nhất thiết phải làm thôi, thị vệ ở đầu cầu với cuối cầu không tính, đầu đường vào cốc còn có người gác, nếu muốn xông bừa vào thật thì chỉ sợ rước thêm phiền toái, thế nên đừng xem thường cái lệnh thông hành nhỏ bé!"

    Ba người hàn huyên với nhau thêm một lát, Gia Cát Thủ ngồi xổm bên cạnh hút thuốc xong thì nhét cái tẩu vào trong lòng, đứng dậy phủi phủi y phục rồi đi qua, hắn không buồn đếm xỉa tới Kinh Niên và Lô Hoài Nhâm mà đi thẳng tới sau lưng Điện Hạ, lấy bát quái Thái Hư cầm trước ngực nói:

    "Từ nãy đến giờ, bát quái Thái Hư luôn rung động, tuy phản ứng rất yếu ớt, nhưng vùng này quả thật âm khí dầy đặc, có điều bần đạo quan sát hồi lâu vẫn chưa tìm ra nơi bắt nguồn âm khí, có lẽ có liên quan tới thứ quỷ quái bên trong Phong Hoa cốc.

    Điện Hạ, lát nữa phải cẩn thận."

    Ra lệnh cho Huyền Ảnh đi đòi lệnh thông hành, khỏi cần nghĩ cũng biết chắc chắn là muốn xuất hành vào đêm.

    Điện Hạ quay người nhìn về phía mặt đĩa, quả nhiên nhìn thấy bát quát trên tay hắn khẽ rung rung, phát ra âm thanh ong ong, đồ trang sức hình bán cầu khảm giữa đĩa cũng lúc sáng lúc tối.

    Lô Hoài Nhâm liếc xéo qua, hừ khẽ một tiếng, ngạo mạn nói: "Theo văn thư có liên quan ghi chép lại, trước khi Ma vương Hình Thiên bị phong ấn từng dùng cả đời để luyện tà khí, phân ra bốn nơi trong lòng đất, thông qua mạch nước ngầm tới các nơi.

    Nơi nào âm khí đi qua cây cỏ đều héo úa, dịch bệnh lan tràn, cả người lẫn thú đều chết hết.

    Đại Thần Thiên Tôn bèn cho đòi chúng tiên hợp lực bày pháp trận ở chung quanh âm huyệt, tuy không cách nào niêm phong hết, nhưng có thể ức chế âm khí tiết ra ngoài, khiến nó không đến mức ảnh hưởng tới cuộc sống của mọi người..."

    Hắn ngừng một lát, thấy Gia Cát Thủ và Điện Hạ nghe tới chăm chú, bèn cười nói tiếp: "Ta không biết chuyện trong sách này viết là sự thật hay là do người đời sau bịa đặt, nhưng tứ đại âm huyệt thì không sai, Phong Hoa cốc trước mặt là một chỗ, sông huyệt tương liên, nên sông Hắc Thủy này mang âm khí bên trong ra ngoài cũng là điều dễ hiểu, mà con sông này là sông sống, dòng nước thay đổi liên tục, thế nên đĩa bát quái của tiểu...

    đạo gia này có phản ứng nhưng không tìm ra nơi bắt nguồn, ngươi nói có phải không?"

    Lô Hoài Nhâm ngoái đầu toét miệng với Gia Cát Thủ, làm lộ ra cả hàm răng trắng bóng, hệt như đang ngầm xỏ hắn kiến thức nông cạn.

    Mặt Gia Cát Thủ đỏ bừng, tuy trong lòng tức giận, nhưng nghĩ lại, hắn cũng từng nghe kể lờ mờ về chuyện tứ đại âm huyệt này, nhưng hắn chỉ coi đó là truyện dân gian, mấy thứ ghi chép trong văn thư cũng chẳng thèm đọc kỹ một đoạn nào, chuyện cần biết lại không biết, sao có thể trách người khác coi thường?

    Vì vậy chỉ thở hộc ra vài hơi, rồi thu hồi đĩa bát quái, khiêm tốn thỉnh giáo: "Theo bần đạo biết, vùng Phong Hoa cốc từ trước tới nay rất bình yên, sao người mới dời đi đã xảy ra biến cố?

    Chẳng lẽ là bị âm khí dưới lòng đất ảnh hưởng sao?"

    Theo lý nếu trước đây mọi người có thể an cư lạc nghiệp, thì dù hôm nay có thứ gì tác quái cũng không trách được âm huyệt trở mình, thế vấn đề ở đây là gì?

    Người bị hại chết thì không thể mở miệng, người may mắn trốn thoát thì cũng ốm tới mụ mị, càng đồn đi thì càng biến tấu muôn hình vạn trạng.

    Lô Hoài Nhâm chống cằm lặng thinh, Kinh Niên liếc hắn một cái rồi thay mặt tiếp lời: "Trong phủ Tướng quân ở núi hoang ngươi cũng từng nói đĩa bát quái có phản ứng đúng không?

    Lúc đó Lô đại ca lại cố tình chọc cho ngươi phát hỏa, mà không nói rõ ràng."

    Gia Cát Thủ nhìn về phía Lô Hoài Nhâm, chỉ thấy hắn gãi đầu cười trừ, rõ là bộ dạng bị nói trúng tim đen.

    Nhớ lại khi đó mình bị người ta châm chọc thiếu hiểu biết, bực bội nên không ngẫm kỹ lại, bây giờ được Kinh Niên chỉ ra, thì lại sực chú ý tới vị trí Nam thành đó trùng hợp nằm ở vùng Nam Lĩnh, mà Nam Lĩnh lại giống với Phong Hoa cốc, cũng là một trong tứ đại âm huyệt.

    Núi hoang cách Nam thành không xa, cái hố bên trong phủ Tướng quân ban đầu là một miệng giếng, lẽ nào âm khí xuôi dòng chảy vào trong cái giếng này?

    Kinh Niên thấy hắn ra chiều đăm chiêu, trong lòng biết hắn đã ngộ ra, bèn nói tiếp: "Núi hoang đó vốn tên là Nam Lĩnh, từng là sơn cư thịnh địa, nhưng vì chặt cây quá độ, tài nguyên trên núi ngày càng thiếu thốn, mọi người đều dời nhà xuống dưới chân núi, nên mới trở thành một ngọn núi hoang.

    Điện Hạ từng kể cho ta nghe một sự tích, có người đào được một xác nam trăm năm dưới giếng nước trên núi Nam Lĩnh, diện mạo vẫn y nguyên sống động, thi thể không chỗ nào thối rữa..."

    Cô không kể tiếp việc Tướng quân thời đó xin ban thưởng, mà chỉ liếc mắt nhìn Điện Hạ đầy thâm ý, đoạn chậm rãi nói: "Sau đó ta hết suy lại nghĩ... thi thể không thối rữa nếu không phải dương hồn ở trong cơ thể thì là âm phách trú ngụ bên trong..."

    Điện Hạ chen lời: "Xác nam kia không mục rữa, chẳng lẽ là bị quỷ hồn nhập thân sao?"

    Kinh Niên lắc đầu, quay đầu nhìn về phía bóng núi mờ tối: "Người có ba hồn bảy phách, hồn là tâm thức, có linh hồn sử dụng mà vô hình người, phách là nơi tiếp nhận và cất trữ tâm thức, ba hồn một là Thái Thanh Dương hòa khí, một là Sảnh Linh khí, một là Âm Biến khí, ba hồn này sinh thì mang tới chết thì mang đi, người sống thiếu một phần hồn ắt tâm trí không đầy đủ, người chết thiếu một phần hồn ắt không được thăng thiên.

    Mà bảy phách —- Thi Cẩu, Phục Thỉ, Tước Âm, Thôn Tặc, Trừ Uế, Xú Uế, tích tụ âm tà của con người thưở bình sinh, sau khi người chết thì tách khỏi ba hồn, nhập vào xác chết thì trở thành lệ thi, vào cơ thể sống thì trở thành yêu ma quỷ quái, vào súc vật thì trở thành độc, nó không thể đánh đồng với quỷ hồn.

    Điện Hạ nói xác nam kia chưa hóa thành bất cứ loại nào trong số đó, có thể thấy nó không liên quan gì tới hồn phách.

    Sau đó ta sực nhớ ra tên của ngọn núi hoang, mới suy đoán thi thể đó chắc hẳn bị âm khí dưới lòng đất thấm vào lục phủ ngũ tạng, mặc dù hồn phách không còn, nhưng tại nơi cực âm cũng có thể giữ được trăm năm bất biến."

    Điện Hạ chưa từng nghe ai kể tỉ mỉ về chuyện quỷ thần như vậy, trong nhất thời nghe chăm chú tới xuất thần, mãi tới khi Kinh Niên khép cái miệng nhỏ lại lâu thật lâu rồi vẫn chưa tỉnh táo lại.

    Còn Gia Cát Thủ lớn lên ở đạo quan từ nhỏ, tất nhiên thuộc những thứ này như lòng bàn tay, chẳng qua lúc nói tới đoạn tên ngọn núi hoang là Nam Lĩnh thì thoáng giật mình.

    Hắn vẫn cho rằng núi hoang đó cách âm huyệt không xa, nào ngờ lại chính là chỗ đó.

    Tuy mấy câu này không thoát khỏi âm huyệt, nhưng nói tới nói lui vẫn chưa nói vào trọng điểm!

    Hắn đang định mở miệng hỏi, Kinh Niên lại như hiểu rõ tâm sự của hắn, tiếp luôn: "Tất nhiên âm khí dưới đáy giếng có thể khiến người chết không thối rữa, nhưng âm khí tỏa ra mặt nước suy cho cùng vẫn có hạn, do đó đĩa bát quái của đạo gia mới phản ứng yếu, nếu không nó đã quậy banh Nam thành tới gà bay chó sủa rồi, đâu còn sống yên vui như vậy chứ?

    Cứ thế mà suy ra, yêu tinh hại người trong Phong Hoa cốc này không thể đổ lên đầu âm huyệt được, trừ phi..."

    "Trừ phi cái gì?"

    Ba người còn lại đồng thanh truy vấn.

    Kinh Niên cười hì hì, cầm bím tóc lên nghịch: "Ờ... cũng không chắc lắm, nói theo cách khác đi, mọi người ngẫm lại nhé, nếu như trong cái giếng Nam Lĩnh không phải một tử thi không hồn phách, mà là bên cạnh... thì thế nào?"

    "Bên cạnh..."

    Lô Hoài Nhâm sờ sờ cằm, chân mày ngày càng nhíu chặt.

    Gia Cát Thủ thì gõ bộp vào lòng bàn tay: "Đúng rồi!

    Nếu có linh hồn thì không phải xong rồi sao?

    Ngay cả con người cũng phải biến thành quỷ!"

    Điện Hạ bất giác liếc mắt qua Thi Ngũ gia và Trần Mộc, cổ họng động vài cái, khéo thay bị Lô Hoài Nhâm nhìn thấy, lập tức bật cười, lôi hành đầu của mình qua: "Đừng sợ, huynh đệ, chúng ta đây là thuần chủng tự nhiên mà, phải không?"

    Dứt lời, lấy cùi chỏ huých huých hành đầu, rồi liếc qua Kinh Niên cười ha ha.

    Kinh Niên thấy tầm nhìn của Điện Hạ vẫn đảo qua lại giữa hai hành đầu, rõ ràng hoàn toàn không hiểu mô tê gì về phương diện này, bèn kéo tay Thi Ngũ gia đặt vào hai tay mình: "Điện Hạ, cương thi cũng chia làm ba bảy loại.

    Âm hồn mượn cơ thể, âm phách nhập thân... hành đầu của bọn ta thì khác với con người.

    Con người là thân và hồn hợp thành nhất thể, hồn vào tâm sinh dương khí khu động thân thể.

    Còn họ thì thân và hồn tách biệt nhau, mặc dù hồn lưu lại trong cơ thể nhưng không cách nào nương tựa vào đó, tuy có dương khí nhưng không thể chảy tràn ra tứ chi bách hài, hồn không vào tâm thì vô tâm.

    Người vô tâm tự nhiên vô tình, ngay cả cử động cũng chỉ xuất phát từ bản năng khát cầu dương khí, thi đả thương người cũng không xuất phát từ ác ý, mà tất cả đều vì vô tâm..."

    Lòng bàn tay chợt giật lên, Kinh Niên hơi rũ mí mắt, gập ngón tay siết chặt bàn tay đang nắm bên trong lại, nắm một hồi mới dần dần thả lỏng, sau đó vẫn cười tươi như trước: "Chẳng qua là dù có thân thể con người che chở, nhưng hồn phách vẫn bị ánh mắt trời ảnh hưởng phần nào, đợi sau khi hồn tan hết bảy phách, thì bản thân cũng đi theo ánh mặt trời.

    Những tên đã hư thối vẫn có thể cử động, tám phần là trong cơ thể không còn bao nhiêu hồn phách.

    Đương nhiên, cũng có ngoại lệ, tỷ như Ngũ gia nhà ta đây, có bí phù tổ truyền của ta che chở, ba hồn bảy phách ấy hả!

    Một phách cũng không chạy được!!"

    Điện Hạ nhìn trái ngó phải: "Bí phù là cái gì?

    Có phải thứ dán trên trán hắn không?"

    Gia Cát Thủ cũng cau mày hỏi: "Có loại phù này thật sao?

    Bần đạo mới nghe lần đầu."

    Kinh Niên buông tay ra, đổi sang ôm cánh tay Thi Ngũ gia, cười làm mặt quỷ: "Đã nó là bí phù tổ truyền thì sao để cho người ngoài biết được?"

    Sau đó nhìn về phía Lô Hoài Nhâm: "Lô đại ca, đừng nói ngay cả huynh cũng cho rằng Kinh Niên nói dối nhé?"

    Lô Hoài Nhâm sững ra một giây, sau đó cười hùa: "Ta không biết bí phù có thật không, nhưng nhìn hành đầu của muội, không tin cũng không được!"

    Kinh Niên tất nhiên là êm từ tai khoái từ bụng, khen Ngũ gia, nghe nhiều hơn cũng không chán tý nào!

    Sau đó cô lại bị Điện Hạ hỏi tiếp về đủ loại truyền thuyết yêu ma quỷ quái.

    Đợi Huyền Ảnh về tới thì trời cũng đã tối hẳn, trên mặt sông phản chiếu ánh trăng cong cong và hàng ngàn ngôi sao lấp lánh.

    Sau khi đưa ra lệnh thông hành, thị vệ giữ cầu kiểm tra một lát, xác nhận con dấu không phải đồ giả xong mới bằng lòng mở rào thả người.

    Mấy người thúc ngựa chạy một mạch từ đầu cầu tới cuối cầu, ôm vòng theo bờ sông phi nhanh về hướng Phong Hoa cốc, tại đây lại chạm phải vài nhóm thị vệ, chạy mãi tới đầu con đường rừng vào cốc mới giáp mặt nhóm canh gác cuối cùng.

    Thủ lĩnh thị vệ xem lệnh thông hành xong, hết lời khuyên can nhưng vẫn vô dụng, đành sai người châm năm bó đuốc chia cho mỗi người rồi mới cho qua.

    Phong Hoa cốc là vùng thung lũng trũng, phía trên cốc bao quanh bởi rừng rậm và đất bằng, sườn dốc dẫn vào cốc cấu thành từ loại đất đỏ tơi xốp, màu mỡ ẩm ướt, là chất dinh dưỡng dồi dào cho cây trà hoang mọc sum xuê tươi tốt.

    Hoa sơn trà sinh trưởng, tháng ba nhú ngọn, tháng tư đâm chồi, tháng năm ngừng phát triển, hạ tuần tháng năm tới trung tuần tháng sáu khi gió mùa hạ thổi qua sẽ thúc đẩy hoa nở.

    Mỗi độ hoa sơn trà nở rộ, cánh hoa bay lả tả phía trên thung lũng, hương trà phảng phất, hợp thành một khung cảnh đặc biệt.

    Bất kể từ trên cốc nhìn xuống hay từ đáy cốc ngắm lên, đều như thể cách một lớp màn sa dệt bằng hoa bay bổng, bởi thế nơi đây mới có cái tên là Phong Hoa cốc.

    Tuy mua bán lá trà mấy năm gần đây ngày càng phát đạt, nhưng cư dân nơi đây vẫn không hái lá trà để trao đổi, mà lại mua những cây khác chôn xuống đất để vun trồng.

    Thứ nhất vì không muốn lãng phí tài nguyên đất đai, thứ hai cũng vì cây trà hoang dại sinh trưởng thành vùng rộng lớn như vậy cực kỳ hi hữu, định kỳ hái một ít lá trà sẽ giúp cho cây sinh sôi nảy nở, nhưng thu hoạch số lượng lớn thì lại dễ gây ra tình trạng vàng lá khô lá.

    Dân ở đây hái lá trà hoang về nghiền thành bột trà, cất trong nhà, chỉ khi tới dịp đặc biệt hoặc chiêu đãi khách quý mới tách một góc để pha, bởi vị trà ngọt nhẹ thanh sạch, phiến lá trắng bạc, nhọn về hai đầu, nên văn nhân từng thưởng qua vị trà này đã đặt cho nó một mỹ danh là "Tố Tuyết Hoa Tuyền".(*)

    (*) Suối hoa tuyết trắng.

    Bấy giờ đã qua tháng tư, cũng đúng dịp hoa lá đâm chồi, nhưng đoàn người của Kinh niên thúc ngựa đổ dốc hồi lâu, sắp tới tận đáy cốc, vậy mà cây trà chung quanh vẫn khô cành trụi gốc hệt như mùa đông, gió táp vào mặt cũng lạnh lẽo tiêu điều, khiến người ta run cầm cập, càng đi xuống dưới càng lạnh, như đang bước vào một vùng khí hậu khác.

    Lô Hoài Nhâm và Kinh Niên giục ngựa đi song song ở đầu hàng, Điện Hạ, Gia Cát Thủ một trái một phải đi chính giữa, Huyền Ảnh chắn hậu.

    Thình lình một trận gió thổi rít qua, cây đuốc trong tay Lô Hoài Nhâm phụt tắt, đúng lúc đó, Gia Cát Thủ cũng phát ra một tiếng kêu khẽ, hai tay đồng thời ấn lên eo, cây đuốc tuột khỏi tay rơi phịch xuống đất, tắt ngấm.

    "Sao thế?"

    Điện Hạ ngoái đầu nhìn về phía hắn, giọng cất cao trong tiếng gió ào ào có vẻ bén nhọn kỳ lạ.

    Sắc mặt Gia Cát Thủ không khá mấy, ghìm ngựa rồi tháo bát quái Thái Hư bên hông xuống, đĩa bát quái được cầm trên hai tay thì càng chấn động kêu "Lạch cạch" liên hồi, vừa rung vừa xoay tròn, trang sức hình bán cầu giữa đĩa phóng ra ánh vàng sáng rực: "Lúc đầu chỉ chấn động nhẹ, nhưng càng vào trong thì càng rung khủng khiếp hơn..."

    Khi hắn nói chuyện thì cánh tay cũng đồng thời bị đĩa bát quái rung tới nỗi giật lên xuống: "Lần đầu ta thấy nó chuyển động như thế..."

    Thấy sắc mặt hắn trắng bệch, đầu mướt mồ hôi lạnh, tim Điện Hạ cũng đập tăng tốc theo.

    Bất ngờ một trận gió nữa thổi thốc qua, cây đuốc trong tay Điện Hạ và Huyền Ảnh cũng lần lượt tắt phụt, tỏa ra hai luồng khói xanh, lượn lờ lãng đãng rồi tan biến trên không trung.

    Điện Hạ chợt cảm thấy bóng tối ập tới từ bốn phía, tiếng lăn của hòn đá, tiếng ma sát của cành khô, không tiếng động nào không làm y giật mình, tới câu hỏi sau đó cũng không thốt nổi ra lời, chỉ dắt ngựa quay vòng vòng tại chỗ, không nhìn được phương hướng.

    Kinh Niên giục ngựa đến gần, cầm cây đuốc tới gần mặt Điện Hạ, mới nhích khẽ, ngọn lửa mỏng manh chập chờn vài cái, rốt cuộc vẫn bị nuốt vào gió lạnh, chỉ còn lại ánh sáng của quả cầu hắt ra từ đĩa bát quái.

    Kinh Niên ném cây đuốc xuống đất, trợn to hai mắt nhìn về hướng Điện Hạ: "Điện Hạ, đừng hoảng hốt, đúng là ở đây âm khí rất nặng, nhưng vẫn chưa tới mức chúng ta phải lo lắng..."

    Cô ngước mắt nhìn bầu trời, bóng cây chằng chịt, bồn bề xào xạc tối đen, còn thoang thoảng mùi mục nát khó ngửi, nhưng mặt đất vẫn bằng phẳng, còn có dấu vết đi đường.

    Thế là cô vin vào đó trấn an: "Ngài nhìn thử đi, suốt đường đi mặt đất đều sạch sẽ, một không có thây phơi giữa đường, hai không có vết máu, cho thấy những người xông vào trước đây không phải bị giết hại ở đây, đại khái xuống chút nữa mới đụng..."

    Nhìn sắc mặt y khẩn trương, lại bỏ thêm một câu: "Đương nhiên, ngài muốn quay về hướng cũ cũng được, như vậy là hay nhất."

    Lô Hoài Nhâm cũng ngoái đầu lại nói: "Huynh đệ, ngươi không làm nghề như chúng ta, nên nhanh chóng quay về thì hay hơn."

    Điện Hạ há mồm ngơ ngác, mất một lát mới ý thức được họ đang nói gì, lập tức lắc đầu nguầy nguậy, miễn cưỡng căng ra một nụ cười mỉm, cố giữ bình tĩnh nói: "Như vậy sao được, mọi người cùng tiến cùng thoái, cùng lắm thì... chỉ đền một cái mạng!"

    "Hì...

    Điện Hạ, mạng người là đáng tiền nhất, đừng lấy chuyện sống chết ra làm trò đùa chứ."

    Kinh Niên hớn hở vỗ một chưởng lên vai y, suýt nữa vỗ y rớt xuống ngựa.

    Lúc này Huyền Ảnh trầm giọng nói: "Huyền Ảnh nhất định sẽ liều mạng bảo vệ Điện Hạ."

    Dù cách một lớp mạng che mặt không thấy rõ biểu cảm, nhưng có thể nghe ra sự kiên định trong giọng nói.

    Kinh Niên dời tầm mắt dừng lại trên người hắn một lúc lâu mới thu hồi.

    Ngay khi cô kéo dây cương quay ngựa lại, Gia Cát Thủ tiến lên đi tới giữa Kinh Niên và Lô Hoài Nhâm, nghiêng người hỏi: "Không phải nói âm khí của âm huyệt có pháp trận bao bọc sao?

    Tại sao lại thế này?"

    Hắn nâng đĩa bát quái, buồn bực nhìn thân đĩa đang chấn động.

    Lô Hoài Nhâm cười phá lên một tiếng, rồi cũng nghiêng người tới gần bát quái: "Tiểu đạo gia, đó là trên văn thư ghi thế thôi, ai biết là thật hay giả?"

    "Nhưng ở trong phủ Tướng quân không phải thế này."

    Chẳng phải ở đó cũng là một âm huyệt sao?

    Nhưng âm khí ở đó vẫn cực kỳ nhỏ bé, độ dao động của đĩa bát quát nếu không chú ý còn tưởng bước đi làm nó lắc theo.

    Kinh Niên vỗ nhẹ lưng hắn, nói với hắn bằng giọng ôn hòa hiếm khi xài tới: "Đi tới nữa không phải là biết ngay sao?

    Đi thôi!"

    Nói rồi ngoảnh sang Lô Hoài Nhâm: "Lô đại ca, huynh có gan dẫn đầu không?

    Kinh Niên hơi sợ rồi!"

    Lô Hoài Nhâm vỗ ngực bồm bộp, sảng khoái nói: "Không thành vấn đề!

    Cứ giao hết cho đại ca muội!"

    Dứt lời thúc hai chân vào bụng ngựa, đi thẳng tới trước mở đường.

    Kinh Niên đi bên cạnh Gia Cát Thủ, Điện Hạ chếch phía sau, Huyền Ảnh vẫn đi cuối.

    "Mục...

    Kinh Niên cô nương, không phải vì bận tâm ta nên cô mới đi rớt lại chứ?"

    Chẳng phải Gia Cát Thủ tự đánh giá thấp tài mình không bằng người, mà qua quãng thời gian ở chung này, hắn ngày càng nhận ra cô nương này không đơn giản.

    Mới đầu chỉ nghĩ cô ỷ vào một hành đầu ra ngoài lừa ăn gạt uống, lúc đến trấn Mai Lĩnh, cũng chỉ kinh ngạc cô không biết sống chết, vì tiền có thể bán mạng.

    Nhưng sau đêm nay, nỗi băn khoan trong lòng hắn chỉ tăng chứ không giảm, rốt cuộc chuyện gì đã xảy ra với Linh Xà?

    Sự thật đúng như cô nói ư?

    Trước khi ngất hắn vẫn chưa cho Linh Xà vết thương trí mạng, sao có thể ngủ một giấc an ổn tới hừng sáng?

    Nếu cô nương kia chạy thoát thì chỉ có một cách giải thích là Linh Xà cũng tự động dừng công kích, rời khỏi Mai Lĩnh trong một đêm, nếu không thì chẳng lẽ dời nhà vào đất ngủ!

    Chuyện này... chuyện này đúng là nghĩ mãi không thông!

    Nếu cô nương kia không chạy... mà hạ gục Linh Xà, cứu được mạng hắn, vậy thì thực lực đó tất nhiên không cần bàn nữa!

    Dù bây giờ chuyện đó còn mơ hồ, nhưng ở bờ sông Lý Nữ, cô im hơi lặng tiếng đuổi theo tới nơi, còn lệnh Thi Ngũ gia khống chế hắn trong chớp nhoáng, không để lại một đường phản kháng nào.

    Lúc ấy dù không nhìn thấy mặt cô, nhưng giọng điệu đó lại khiến người nghe như bị quẳng vào suối băng, lạnh thấu tim, nếu như không có Huyền Ảnh ra tay cứu nguy, thì rất có khả năng hắn đã chết ngay lập tức trong tay Thi Ngũ gia rồi, khi đó hắn thật lòng nghĩ mình hết sống nổi.

    Sau đó, cô khi thì ngọt ngào đáng yêu, khi thì chanh chua đanh đá, khi thì nghiêm trang chững chạc, khi thì thờ ơ hững hờ...

    Nói chung, không để lộ ra bộ mặt đêm hôm đó lần nào nữa, nhưng đáy lòng Gia Cát Thủ đã sinh ra ý sợ hãi từ lâu, lúc nhìn cô, giá nào cũng không cảm thấy đây là tiểu cô nương hoạt bát rạng rỡ, còn hơi tính con buôn mà mình gặp gỡ lúc đầu nữa.

    Mỗi lời nói cử chỉ của cô lọt vào mắt đều hóa thành một ý đồ khác.

    Ít nhất bây giờ, khi cô rớt lại phía sau đi song song với hắn hoàn toàn không giống vì "Có hơi sợ" như lời cô nói!

    Kinh Niên nhìn cái dáng đề phòng của hắn mà bỗng dưng buồn cười: "Đừng nói ngài nghĩ Kinh Niên đi cạnh để ám toán ngài nhé?"

    Gia Cát Thủ thộn mặt ra, hắn chưa từng nghĩ mình đáng để người ta ám toán, huống hồ hiện tại họ là bạn không phải địch, ở đây cũng không có lý do để gây bất lợi cho hắn, vì vậy hắn nói thẳng: "Dĩ nhiên không phải... bần đạo chỉ hỏi đại thôi."

    "Hì, Kinh Niên cũng đáp đại —- tại ngài đa nghi quá thôi."

    Kinh Niên nhìn về hướng bàn tay đang nắm dây cương, đột nhiên hếch đầu lên hớn hở nói: "Đạo gia, cuối cùng ngài cũng chịu gọi tên Kinh Niên rồi nhỉ?

    Hồi trước không ê, nè thì là cô nương này nọ, ai không biết còn tưởng ngài gọi họ, ngoài đường đầy nhóc cô nương mà!"

    Bị cô nhắc như thế, Gia Cát Thủ mới để ý vừa rồi mình xưng cô là gì, trước đây vì giận cô luôn chọt chỉa xỏ xiên đạo gia này đạo gia nọ nên mới không thèm gọi tên cô, bây giờ nghĩ lại tới mình còn buồn cười, hơn thua nhau thứ này làm gì?

    Làm kêu tới nỗi thuận miệng.

    Nghĩ rồi hắn cười đáp: "Không phải cô cũng gọi đạo gia suốt đó à, chúng ta huề nhau, không, cô phải gọi trả ta một tiếng mới huề!"

    "Gọi ngài một tiếng?

    Gọi gì?

    Đại ca hay lão đệ?

    Ta cũng đâu bắt chước người khác, đạo gia là Kinh Niên gọi đầu tiên, đương nhiên phải gọi tới cùng!"

    Kinh Niên le lưỡi với hắn giả làm mặt quỷ, rồi quay đầu ngêu ngao một điệu hát.

    Gia Cát Thủ lại không thấy giận, sờ sờ mũi, đột nhiên phát giác tiểu thi quan này cũng có chỗ đáng yêu.

    Đi thêm một đoạn nữa, rốt cuộc cũng tới được đáy cốc, vượt qua rừng trà thì thân cây chắn tầm mắt cũng thưa dần, tuy ánh trăng mờ mịt, nhưng nương theo ánh sáng rực rỡ phát ra từ bát quái cũng có thể thấy được quang cảnh cách đó không xa.

    Vách nhà đổ nát, hàng rào gỗ bị bứng ra nằm chỏng chơ dưới đất, cho thấy hành động tháo dỡ nhà này do con người làm ra, nhưng chỉ tiến hành được phân nửa thì bị chuyện gì đó cắt ngang.

    Kinh Niên cúi đầu, chỉ có thể nhìn rõ khoảnh đất cách vó ngựa chưa đầy mười tấc.

    Trên đó có vết máu đỏ sẫm, còn hằn khá nhiều vết cào ngang dọc, cô quay đầu lại kêu một tiếng "Cẩn thận", rồi ngẩng đầu nói với Lô Hoài Nhâm: "Lô đại ca, chúng ta đi vào trong chút nữa đi!"

    "Được" Lô Hoài Nhâm đáp một tiếng rồi đạp chân thúc ngựa, nhưng móng trước của con ngựa cứ đạp qua đạp lại, quanh quẩn trái phải, rõ ràng không chịu bước tới trước, hắn cau mày kéo dây cương, quát to: "Đi!

    Nhanh!"

    Nhưng con ngựa này lại hất đầu lên, phát ra tiếng hí vang the thé.

    Kinh Niên trở mình xuống ngựa, lên tiếng gọi Thi Ngũ gia, sau đó đi tới hai bước: "Lô đại ca, thôi, chúng nó tới được đây đã không dễ dàng rồi, thả chúng về đi."

    Lô Hoài Nhâm nghĩ ngợi một chút, gật đầu: "Cũng được!"

    Đoạn tung người xuống ngựa gọi Trần Mộc, ba người còn lại cũng lần lượt xuống ngựa.

    Bốn con ngựa tụ tập lại, chụm đầu liếm liếm nhau rồi đi trước.

    Con ngựa của Điện Hạ thì cọ mặt với y, tình thương mến thương một lúc lâu, mãi tới khi chủ nhân xua tay đuổi thì mới giật lùi về phía sau mấy bước, quay đầu phóng vó chạy đi.

    Nhóm Kinh Niên cũng quay lưng đi vào trong cốc, mới vừa đi mấy bước, chợt nghe sau lưng vang lên tiếng "Vút", ngay sau đó tiếng ngựa hí thảm thiết xuyên thủng rừng cây.

    Mọi người quay phắt đầu nhìn lại, thấy một bóng ngựa dao động trên đường rừng, ở cổ chẳng biết dính phải vật gì, ánh sáng quá mờ nên chỉ thấy một đống đen kịt.

    Điện Hạ nhào lên đầu tiên, vì con ngựa đó y cưỡi đã nhiều năm, tình cảm rất sâu đậm, vừa thấy nó bị tập kích trong lòng đã nóng như lửa đốt, cũng quên luôn cả sợ.

    Huyền Ảnh đuổi sát bên cạnh y, ba người còn lại cũng hối hả chạy theo.

    Nhưng dù đuổi theo cũng không còn kịp nữa, tới khi mọi người chạy lại, con ngựa kia đã phun bọt máu, không còn cách nào để xoay chuyển tình thế.

    Thứ đỏ đen pha tạp kia chính là một cái đầu người, chỉ dư lại cái cổ, yết hầu kéo lê giữa không trung, ở chỗ đứt nhầy nhụa máu thịt, không thể phân biệt rõ đó là xương đầu hay da.

    Chỉ thấy trên cái mặt nứt nẻ đẫm máu đen là cái mồm há to rợn người, lúc khép lúc mở gặm cắn cổ ngựa, một phát cắn xé toạc một mảng thịt da, tới phát cắn tiếp theo ngay cả gân cốt cũng bị cắn đứt.

    Tiếng gặm cắn "Răng rắc" lẫn vào tiếng dinh dính sền sệt của vụn thịt va chạm, khiến người nghe sởn gai ốc, da đầu tê dại.

    Nhìn thấy thảm trạng này, Điện Hạ chạy tới đầu tiên lúc này chết sững bất động, không dám lê thêm bước nào, trơ mắt nhìn cái đầu kia cắn xuống phát cuối cùng, xé đầu và mình của con ngựa ra làm hai, ngay khi đầu ngựa rơi xuống đất, cái xác ngựa không đầu cũng đổ vật xuống theo.

    Cái đầu người kia rít lên ken két, xoay tròn thần tốc, chuyển sang cái gáy đứt trên thân ngựa.

    Cái đầu bay ngang, cắm thẳng vào nửa đoạn cổ đứt, làm văng lên một mảng máu thịt.

    Điện Hạ thấy cái đầu nọ cắm lên thân con ngựa của mình rồi xoay tít, xoay tới nỗi chỗ đứt tung tóe thịt nát, vô cùng thê thảm.

    Nghĩ con ngựa lúc sinh tiền mười phần linh tính, sau khi chết lại bị chà đạp như vậy, thoắt cái một cơn bi phẫn xông lên đầu, dằn xuống mọi sợ hãi, y lập tức khua cây đuốc vọt tới, gào lên phẫn nộ: "Thứ quỷ quái này!

    Còn không cút ngay cho ta!"

    Huyền Ảnh tức khắc bay vọt lên.

    Cái đầu kia xoay tít một hồi thì đột nhiên dừng lại, mặt quay ngoắc về phía Điện Hạ, ngoác rộng mồm, hai hàm răng bén nhọn va nhau lạch cạch, ở cổ họng phát ra tiếng lục bục nguy hiểm.

    Rồi nó thình lình rút khỏi gáy ngựa, lao lên không bay thẳng về phía Điện Hạ, cắn phập vào đầu cây đuốc.

    Điện Hạ cầm cây đuốc gãy quơ đánh túi bụi, cái đầu kia lúc cao lúc thấp, lúc trước lúc sau, từ đầu tới cuối vẫn không thể đánh trúng nó.

    Sau mấy gậy đánh hụt vào không khí Điện Hạ đã kiệt sức, tay thoáng dừng lại nghỉ lấy sức, đúng lúc này cái đầu há mồm ngoạm thẳng xuống phía đối diện.

    Gia Cát Thủ thét lên một tiếng, Kinh Niên và Lô Hoài Nhâm đuổi theo đằng sau đồng thời bắn ra phù chú trong tay, nhưng cự ly quá xa, e là không kịp.

    Ngay khoảnh khắc cái miệng đầy răng nhọn sắp hôn lên mặt, Điện Hạ chợt thấy sau cổ bị giật một phát, cả người té ngửa ra sau, khiến cái đầu kia cắn hụt vào không khí, nhưng nó không chịu thua, tiếp tục vồ tới cắn thêm phát nữa.

    Diễn biến sau đó xảy ra chớp nhoáng, Huyền Ảnh lướt tới trước, vung tay phải lên, ba cây ngân châm đâm vào giữa đầu người, hai cây găm vào mắt trái, một cây cắm vào mắt phải.

    Cái đầu tức thì xoáy thẳng lên cao, rú lên lồng lộn.

    Nhưng chưa qua bao lâu, mái tóc khô quắc của nó đột nhiên hất tung lên, hai con mắt trào máu muốn lồi ra khỏi vành mắt, miệng rách tới mang tai, chiếc lưỡi cháy sém thò ra khỏi miệng xoắn lại bên ngoài, bề ngoài trông càng dữ tợn hơn.

    Rồi bất thần nó lao vút xuống dưới, nhắm chính xác vào Điện Hạ đang ngã ngồi dưới đất, Huyền Ảnh vung tay kéo y qua tách khỏi cái đầu, đưa tới bên cạnh che chắn.

    Cái đầu đột ngột chuyển hướng phóng qua Gia Cát Thủ.

    Gia Cát Thủ đã chuẩn bị trước, dựng thẳng Thái Dương kiếm ở trước ngực từ lâu, chưa đợi nó tới gần đã tung ra "Nhất thức đại diễm tên", tặng liền ba tiễn, nhưng mũi tên lửa còn chưa bắn tới cái đầu thì đã lụi tắt.

    Âm dương tương sinh tương khắc, âm thịnh thì khắc dương, ngẫm lại ở đây âm khí thịnh khắc lửa dương trên mũi tên lửa, mới đưa tới tình trạng tên vừa bay ra đã bị dập tắt.

    Giữa lúc hắn hết đường xoay sở thì cái đầu đã bay tới trước người, Thi Ngũ gia đằng sau chộp lấy Gia Cát thủ nhảy tới bên cạnh Kinh Niên, cùng lúc đó Lô Hoài Nhâm bắn lá bùa "Trấn" ra ngoài.

    Trần Mộc nhảy lên trước kẹp lá bùa vào hai ngón tay dán lên ót đầu người, nào ngờ cái đầu vẫn hoạt động không ngừng, quay phắt lại phập một phát, cắn tước một miếng da lớn trên vai Trần Mộc, nhai rau ráu vài cái rồi khạc ra phì phì.

    Lô Hoài Nhâm quát to một tiếng: "Nhân huynh!!"

    Dứt lời bổ nhào tới, vung một quyền thụi ngay vào trán, đánh bay cái đầu ra ngoài, lá bùa lập tức rơi ra.

    Tiếp theo nhanh chóng kiểm tra chỗ bị cắn của Trần Mộc, người bị thương có thể khỏi hẳn, nhưng thi bị tổn thương thì không cách nào khôi phục, nếu muốn sử dụng hành đầu lâu dài, thì chủ phải hết sức cẩn thận.

    Lô Hoài Nhâm xé phần áo trên vai của hành đầu xem thật kỹ, cũng may chỉ bị tước một miếng da ngoài, đến đây hắn mới thở hắt ra.

    Nào ngờ cái đầu thừa dịp hắn lơ là cảnh giác bay vòng lại, thần tốc như gió, Lô Hoài Nhâm không kịp phòng bị, hai tay đan chéo trước mặt yểm hộ.

    Gia Cát Thủ đoán trước được hướng đi của cái đầu, cấp tốc chắn ở trước Lô Hoài Nhâm tung ra một chiêu "Đại diễm hỏa luân", ngọn lửa của thức thứ hai lớn hơn thức thứ nhất, có thể cầm cự được một chốc trong cự ly gần, nhưng uy lực cũng không lớn, chỉ có thể ngăn được nhất thời, chẳng mấy chốc hỏa luân đã tắt lịm.

    Lô Hoài Nhâm cười to nói: "Ha ha ha, tiểu đạo sĩ, đa tạ cứu giúp, ân huệ này, ta nợ!"

    Nói rồi khua tay ngăn Gia Cát Thủ lại, tay không tấc sắc đọ sức với đầu người, Trần Mộc kề vai sát cánh với hắn, ở bên tung quyền cước tương trợ, hai người một trái một phải, chiêu thức quyền pháp giống hệt nhau, phối hợp cực ăn ý.

    "Quá bản lĩnh!"

    Kinh Niên vỗ tay khen ngợi, nhưng thấy cái đầu tuy bị đánh cho thoái lui liên tiếp, mà vẫn có thể hoạt động, cứ đánh tiếp như vậy thì còn phải kéo dài bao lâu?

    Đợi tới bình minh thì nó sẽ bỏ chạy hay tan biến?

    Vậy chẳng phải uổng công họ lên đường suốt đêm sao, còn không bằng ở khách điếm đánh một giấc cho đã mắt!

    Mắt cô dạo qua một vòng, rồi kéo Gia Cát Thủ qua kề tai nói: "Ngài dùng mắt âm dương nhìn thử xem trong cái đầu đó có linh hồn hay không nhé?"

    Căn cứ theo lẽ thường, đầu mình tách đôi, hồn tất nhiên sẽ dựa vào chủ thể.

    Lúc này, Huyền Ảnh cũng nhảy lên triền đấu, để Lô Hoài Nhâm liên tục thi triển quyền cước được nghỉ xả hơi, thân thủ của Huyền Ảnh cực nhanh, cái đầu xoay cỡ nào cũng khó lòng tiếp cận.

    Gia Cát Thủ khép mắt lại, con mắt trái hóa thành kim sắc, hắn nhìn kỹ càng một lúc lâu rồi nói: "Không có!

    Trong cái đầu đó không có hồn!

    Không hồn làm sao cử động được?!"

    "Chỉ cần một phách trong số bảy phách tồn tại là có thể hóa thi thành yêu ma quỷ quái, mắt âm dương chỉ có thể nhận biết hồn chứ không nhìn thấy khí âm phách."

    Chắc hẳn thi đầu ở đây đã bị âm khí lây nhiễm, không cần xác cũng có thể ứng phó: "Vậy cũng tốt, không cần bận tâm chuyện thăng thiên!"

    Sau đó gân cổ hét về phía đám đánh nhau bên kia: "Lô đại ca!

    Huyền Ảnh!

    Thi đầu có phách không hồn, chỉ cần đánh nhừ là được rồi, không thì xắt vụn ra cũng được!"

    Lô Hoài Nhâm vừa ra quyền vừa hét trả: "Tiểu muội!

    Muội nói thì dễ lắm!

    Muội coi ta tẩn nó bao nhiêu quyền rồi?!

    Chỉ đánh cho mặt nó lõm mấy lỗ thôi, muốn đành nhừ hả?

    Vậy phải..."

    Lời còn chưa dứt, Huyền Ảnh đã rút phăng phối đao bên hông ra "Phập phập phập phập ...." xắt thi đầu thành mười tám khúc, thịt nát rơi trên mặt đất ngọ nguậy liên tục.

    Lô Hoài Nhâm nhấc cái chân to lên đạp một cái, nghiền bên phải nghiền bên trái, thịt khúc biến thành thịt bằm vùi vào trong đất, xong xuôi hắn quay đầu nhìn về phía Huyền Ảnh nói: "Nè!

    Huynh đệ lồng che, ngươi có đao cũng nên tuốt ra sớm sớm chứ, làm mất công tốn sức quá thể, còn lãng phí cá đống ngân châm!"

    "Đúng đúng, nó là bạc thật đó, đem đi cầm có thể đổi được vài xâu tiền!"

    Kinh Niên xen mồm, chân trái chà chà gót chân phải, mắt tỏa sáng nhìn chằm chằm mặt đất.

    Huyền Ảnh thấy Điện Hạ đứng lên, bèn bước lại đỡ, lúc lướt qua Kinh Niên nhẹ giọng bỏ lại một câu: "Châm là mạ bạc."

    Kinh Niên vừa nghe, tức thì đổi sang cái mặt khổ qua, Gia Cát Thủ cứng họng, lát sau mới lắp bắp nói: "Huyền...

    Huyền Ảnh...

    Hộ vệ... lại... lại... nói chuyện kiểu đó..."

    Kinh Niên lấy tay đập đập lưng hắn: "Huyền Ảnh đâu phải người chết, đương nhiên có thể nói chuyện!"

    "Ta không có ý đó... là..."

    Hắn đang nghĩ xem nên dùng từ ngữ gì để diễn tả độ nghiêm túc của Huyền Ảnh, Kinh Niên lại chạy thẳng về hướng đáy cốc, vừa chạy vừa ngoái đầu ngoắc ngoắc: "Đi tiếp thôi!

    Nhanh lên chút nào!"

    Gia Cát Thủ và Lô Hoài Nhâm theo sát phía sau, lúc này Thi Ngũ gia mới nhảy theo, chẳng biết tại sao tốc độ nhảy lại chậm hơn bình thường không ít.

    Đợi Điện Hạ tưởng niệm cho con ngựa yêu xong, cùng Huyền Ảnh cất bước đuổi theo, lúc này Trần Mộc mới chậm rãi giơ hai tay lên.

    Ba người nhóm Kinh Niên dẫn đầu chạy vào trong cốc, chỉ thấy vách tường và mặt đất la liệt máu đen và thịt vữa, nhưng không thấy một cái thi thể nào.

    Chạy thêm một chút nữa, Kinh Niên và Lô Hoài Nhâm không thấy hành đầu theo tới, chẳng thể làm gì hơn là dừng lại đợi, Thi Ngũ gia chỉ tới sớm hơn Điện Hạ và Huyền Ảnh vài bước, mất hồi lâu mới thấy Trần Mộc nhảy lừng khừng tới, tốc độ còn chậm hơn cả người thường đi bộ.

    Gia Cát Thủ thấy kỳ lạ, hỏi: "Chúng làm sao vậy?

    Bình thường chạy còn nhanh hơn mà chúng cũng đâu rớt lại."

    Hắn là đạo sĩ, thấy tình huống này tất nhiên là khó hiểu, nhưng Kinh Niên và Lô Hoài Nhâm lại biết rất rõ, vốn dĩ không muốn nói nhiều, nhưng đã có người hỏi thì nói chút đỉnh cũng không sao.

    Vì vậy Lô Hoài Nhâm mở miệng giải thích: "Ở đây âm khí không phải tầm thường, cũng có ảnh hướng tới hiệu lực của phù chú, vẽ bùa dẫn xác vốn là bổ dương trấn âm, nơi đây dương không thắng âm, phù lực tất nhiên sẽ bị suy yếu, thành ra hành động của họ chậm chạp hơn cũng là bình thường."

    Gia Cát Thủ gật đầu, toan hỏi thêm một câu, thì chợt nghe giọng Kinh Niên vang lên bên tai: "Không có thì giờ nói chuyện phiếm đâu!"

    Kinh Niên giương mắt nhìn lên bầu trời phía trước, một giọt mồ chảy từ trán xuống mặt.

    Mọi người nhìn theo ánh mắt cô, chỉ thấy trên bầu trời cách đó không xa có một đụn mây đen đang bay tới hướng này với tốc độ cực nhanh, đụn mây cuộn trào sóng lớn, càng tới gần càng rõ hơn —- đó nào phải mây đen gì, căn bản là hàng loạt đầu người tụ chung một chỗ, rậm rạp chi chít, nối dài không dứt!

    ~ Hết chương 9 ~

    Óa óa, chương này làm Yun rối, rối rối rối quá!!!

    ლ(¯ロ¯ლ)
     
    Thi Quan Kinh Niên
    Chương 10


    Chương 10

    CƯỜNG TRẤN PHONG HOA CỐC (THƯỢNG)

    Edit: Yunchan

    ***

    Thấy vô số đầu người tụ lại thành mảng kéo tới ùn ùn che trời lấp trăng, ai nấy đều thở hộc ra sửng sờ.

    Huyền Ảnh, Gia Cát Thủ chắn đao kiếm trước ngực, chia ra bảo vệ trước sau Điện Hạ, Lô Hoài Nhâm nắm chặt song quyền, đứng bên cạnh Trần Mộc bày sẵn tư thế, nghiêng đầu nói với Kinh Niên: "Tiểu muội, hành đầu của ta hành động bất tiện, hai người đứng yên ở đây đừng cách xa ta, nếu không ta khó bảo vệ được."

    Kinh Niên kề sát vào lưng Thi Ngũ gia, cười nói: "Lô đại ca đừng lo, dù Kinh Niên kém cỏi, nhưng vẫn còn chút sức tự vệ."

    Dứt lời moi cái bao vải trong lòng ra, mở miệng bao.

    Lô Hoài Nhâm vừa thấy thứ bên trong bao vải thì buột miệng kêu: "Kính Bạch Hổ bảy cạnh!"

    Kinh Niên sửng sốt, đảo mắt qua mặt kính, lúc này mặt kính không còn đen kịt nữa mà đã lấy lại ánh sáng ban đầu.

    Cô nhướng nhướng đuôi mày, liếc về phía Lô Hoài Nhâm: "Lô đại ca thật tinh mắt, người có thể nói ra danh hào của nó không nhiều lắm đâu."

    Nói đoạn một tay nâng kính lên, tay còn lại rút đoản kiếm giắt bên hông ra, đoản kiếm hai lưỡi hình xương, độ dài ước chừng ba tấc, làm vũ khí thì thiếu lực sát thương, làm trang sức thì hình thức lại quái dị, khiến những người còn lại không biết cô rút đoản kiếm này ra để làm gì.

    Chỉ thấy Kinh Niên nâng kiếm lên quá đầu, hướng thẳng lưỡi kiếm xuống mặt kính rồi quát to: "Tới lúc dùng ngươi rồi!

    Ra đi!"

    Theo tiếng quát này, mặt kính chợt hiện lên hào quang màu bạc, sau đó một làn khói nhẹ bay chếch lên trên, bao lấy thân đoản kiếm, chậm rãi hợp làm một thể rồi kéo dài tới trước, chẳng bao lâu sau làn khói nhẹ đã hóa thành một thanh trường kiếm dài hơn hai thước, thân kiếm trơn nhẵn, mỏng như băng phiến, phản xạ ra ánh sáng rực rỡ, còn tản mác ra từng luồng hàn khí.

    Chuôi kiếm đơn giản trải rộng ra miếng vảy bảo hộ, ở hai bên tay cầm nở nộ hình hoa sen vờn quanh qua chuôi kiếm.

    Sau khi thân kiếm thành hình, Kinh Niên nhét kính Bạch Hổ vào lòng, nghe Gia Cát Thủ quát to một tiếng thì quay đầu lại, thấy hắn chỉ cái tay run run sang đây, chữ ráp không thành câu: "...

    Đó... không phải là...

    đó không phải là...

    Mai Lĩnh đó... cái đó..."

    Người ngoài có lẽ chỉ nói nó là cái kính thần, nhưng nói nào ngay Gia Cát Thủ đã từng đánh nhau chính diện với Linh Xà, nên tất nhiên rất quen với luồng hàn khí này, dù Linh Xà không hiện nguyên hình cũng có thể cảm giác được.

    Kinh Niên lại chẳng thấy kinh ngạc tẹo nào, nếu đã lấy ra thì cũng chẳng quan tâm bị hắn phát hiện, bây giờ nghe hắn nói lắp cả buổi cũng không ráp được thành câu nguyên vẹn, bèn dứt khoát lật bài: "Chính nó đó, đạo gia, chỉ khác là đêm đó nó đối địch với chúng ta, còn đêm nay nó là trợ thủ đắc lực của Kinh Niên."

    Tuy Gia Cát Thủ chưa từng nghĩ lời cô kể là thật, nhưng cũng chẳng bao giờ ngờ cô đã thu phục được Linh Xà, còn dạy nó thành ngoan ngoãn thế này.

    Con rắn kia lợi hại thế nào hắn vẫn nhớ như in, chỉ cần vừa nghĩ tới là đã tháo mồ hôi lạnh, tuy rất muốn biết Kinh Niên đã hàng phục Xà quái bằng cách nào, nhưng giờ khắc này không cho phép hắn hỏi thêm gì nữa, bởi lũ đầu người đã bao vây tứ phía, vồ tới từ bốn phương tám hướng.

    Huyền Ảnh khua đại đao, quét ngang bổ dọc, bọn đầu người trước mắt đều bị xả thành mảnh nhỏ rơi la liệt xuống đất.

    Tuy Đại Diễm Hỏa Luân của Gia Cát Thủ không thể tung ra xa, nhưng có thể chắn ở trước người, hễ cái đầu nào chạm tới Hỏa Luân đều bị thiêu rụi phát ra tiếng gào khóc hãi hùng, không dám tới gần.

    Điện Hạ được hai người đẩy vào giữa che chắn, không bị thương chút nào.

    Thiếu Trần Mộc phối hợp, quyền cước của Lô Hoài Nhâm không hiệu nghiệm như trước, chưa kể bọn đầu người quá nhiều, lũ lượt chen tới, hắn vừa phải lo thân vừa phải che chở cho Trần Mộc, hơn mười chiêu đã có vẻ kiệt sức.

    Linh Xà kiếm của Kinh Niên rất lợi hại, hễ đầu người va vào thân kiếm thì tức khắc bị hàn khí đóng băng, không thể động đậy, sau đó chém vỡ rất dễ dàng.

    Mặc dù Thi Ngũ gia có trở nên chậm hơn, song lại không như Trần Mộc, vẫn có thể vung quyền tung chân, sức của hắn rất mạnh, chỉ cần một quyền đã có thể đánh nát bấy lũ đầu người, chẳng cần ai bận tâm thay, cho nên Kinh Niên cũng rảnh tay hơn nhiều.

    Cô nhìn thấy Lô Hoài Nhâm có nhiều lần là né thoát trong đường tơ kẽ tóc, ở vai và cánh tay bị răng bén xước qua bị thương, bèn nhảy qua ngăn công kích phía sau giúp hắn.

    "Tiểu muội, rất xin lỗi, trái lại còn phải để muội giúp."

    Lô Hoài Nhâm gãi gãi ót, một quyền đánh bay cái đầu đang vọt tới trước mặt, trong giọng nói mang theo tiếng thở hổn hển.

    Kinh Niên nghiêng đầu cười, tiếp tục khua trường kiếm.

    Trong không trung chằng chịt ánh đao bóng kiếm, nhiệt khí lãnh khí va chạm, hợp lại rồi tan ra, máu đen văng tung tóe khắp nơi, tiếng kêu rú xé tai vang lên dồn dập, thịt nát rơi nhầy nhụa đầy đất, mỗi lần dịch chuyển là mỗi lần đạp lên, phát ra âm thanh nhớp nhúa sền sệt.

    Thế nhưng đầu người cứ bay hàng đàn hàng lũ nối tiếp nhau từ trong cốc ra, đánh nát một tốp thì tốp sau đã xông lên, cứ như đánh kiểu nào cũng không hết nổi.

    Qua hồi lâu, tinh thần và thể lực đã bị hao mòn không ít, động tác ra đòn của mọi người cũng dần chậm lại.

    Điện Hạ và Gia Cát Thủ tuy không bị thương, nhưng Huyền Ảnh dốc hết sức bảo vệ hai người lại bị cắn trúng cổ tay, Lô Hoài Nhâm cũng bị thương nhiều chỗ.

    Dưới tình huống này, nếu muốn tự bảo vệ mình chỉ còn nước rời khỏi cốc, nhưng trước sau đều bị vây ráp, muốn thoát thân một mình thì có thể, nhưng muốn dẫn một Điện Hạ không biết võ công và một Trần Mộc không cục cựa toàn thân trở ra là việc khó như lên trời.

    Nhưng mắt thấy đầu người tập trung lại ngày càng nhiều, hệt một cái lồng khổng lồ chụp từ trên xuống, chỉ bị động chịu trận thì sợ rằng khó lòng giữ mạng.

    Kinh Niên thấy lũ đầu người đều trào tới từ một hướng duy nhất, đoán rằng chỗ đó nhất định có huyền cơ.

    Nếu có thể tìm được đầu nguồn âm khí, nói không chừng sẽ có cách đối phó với bọn đầu người này.

    Nhưng Huyền Ảnh và Gia Cát Thủ vây quanh trước sau Điện Hạ, Lô Hoài Nhâm phải che chắn cho Trần Mộc, chẳng ai có thể tự do hành động, muốn chạy sâu vào cốc tìm kiếm nơi bắt nguồn, suy cho cùng chỉ có mỗi mình cô.

    Kinh Niên đang định lôi cây bút ra lệnh cho Thi Ngũ gia ở lại đây hỗ trợ cho Lô Hoài Nhâm, thì đúng lúc này mấy cái đầu đồng loạt vọt tới.

    Bàn tay đang moi bút của cô vẫn còn trong vạt áo, tay còn lại cầm kiếm quét ngang, chợt nghe phía sau phát ra một tiếng rống điên cuồng, không giống tiếng thét bén nhọn của thi đầu, đồng thời nghe thấy tiếng quát to của Lô Hoài Nhâm: "Không ổn!

    Phù chú mất hiệu lực, cẩn thận —-"

    Cô vừa quay đầu lại đã thấy hai mắt Trần Mộc lóe ánh đỏ, duỗi thẳng hai tay nhào lên, hai tay bóp lên vai cô, há mồm cắn xuống.

    Kinh Niên không ngờ tới Trần Mộc sẽ phát cuồng vào lúc này, lúc cần phòng bị thì đã không kịp nữa, chưa kể lũ đầu người đang vồ thẳng tới mặt, mà cô chỉ có một tay cầm kiếm.

    Trước thời khắc nguy cấp trước có sói sau có hổ này, không cho phép nửa điểm do dự.

    Đằng nào cũng bị cắn, đầu người có bảy, Trần Mộc chỉ có một, hơn nữa cô liếc qua khóe mắt thấy Lô Hoài Nhâm đã kéo Trần Mộc lại, thế nên dứt khoát mặc kệ phía sau, chém kiếm về phía đầu người.

    Đúng lúc này, một bóng lam bay vụt tới bên cạnh Kinh Niên, một chưởng quét bay thi đầu, cánh tay còn lại chắn ngang ở sau gáy cô, răng Trần Mộc tức thì cắn phập xuống cánh tay đó.

    "Ngũ gia?!"

    Kinh Niên la lên một tiếng khiếp đảm, thấy Thi Ngũ gia vẫn giữ vẻ mặt không cảm xúc như thường, chỉ có đôi mắt là lóe lên tia sáng mơ hồ, như có như không lập lòe ở đáy mắt.

    Lô Hoài Nhâm vận sức giật Trần Mộc ra, Kinh Niên lật đật xoay người kiểm tra cánh tay của Thi Ngũ gia.

    Cô xé tay áo bị gặm nham nhở xuống, thấy trên cánh tay chỉ có dấu răng chứ không rách da mới thở phào một cái.

    Còn Trần Mộc thì tạo phản đánh ngược lại chủ, Lô Hoài Nhâm vội vàng móc ra ba lá bùa, tống lên ngực và hai vai nó, trói gô nó tại chỗ, hai mắt nó phun máu, nhe răng trợn mắt, miệng sùi bọt mép, cơ thể vặn vẹo liều mạng giãy giụa, hoàn toàn khác xa với hình dạng bình thường.

    Gia Cát Thủ và Điện Hạ thấy cảnh này thì thầm kinh hãi, cảm thấy dắt theo một vật như vậy bên người quá sức nguy hiểm.

    Lô Hoài Nhâm trói hành đầu xong thì quay lại chiến đấu với đầu người lần nữa, không bao lâu sau chợt nghe thấy một tiếng rít gào, Trần Mộc đã đánh văng ra ba chỗ bùa chú, nhìn trời gầm thét, không đợi Lô Hoài Nhâm hành động đã sải chân chạy như điên vào chỗ sâu trong cốc.

    Lô Hoài Nhâm thoắt cái như bị sét đánh, chết điếng cả người.

    Kinh Niên khua kiếm chặn đàn thi đầu xung quanh hắn lại, mãi tới khi Trần Mộc chạy khuất dạng hắn mới như sực tỉnh mộng, hét to một tiếng "Nhân huynh", rồi quỵ phịch xuống, đấm một quyền xuống đất: "Mẹ nó!

    Rốt cuộc là sao!

    Ba đại bùa Trấn Hồn của ta lại... lại..."

    "Âm khí càng ngày càng nặng!

    Chỉ dùng phù chú xem ra không có ích đâu, đừng nói Trần Mộc, ngay cả Ngũ gia cũng..."

    Kinh Niên nhìn về phía Thi Ngũ gia đã chạy ào vào đống thi đầu đánh đấm điên cuồng, động tác đã nhanh lại một cách bất ngờ, không chỉ vậy, mà thậm chí còn nhanh hơn: "Ngài ấy hoàn toàn không nghe theo phù chú, cả ngôn chú cũng không nghe..."

    Vừa rồi cũng không gọi ngài ấy tới, nhưng ngài ấy vẫn cản răng của Trần Mộc.

    Trong lòng Kinh Niên lo sợ bất an, Ngũ gia ra tay là vì hiệu lực của phù chú chưa đánh mất hoàn toàn hay chỉ vô tình trùng hợp...

    Còn một loại khả năng, cô mới nghĩ tới đã không muốn đi sâu xuống nữa.

    Lô Hoài Nhâm đấm đất phát tiết xong thì nhảy phắt lên, nói với Kinh Niên: "Tiểu muội, ta phải đoạt hành đầu về!"

    Nói rồi ngẩng đầu nhìn về phía nhóm Gia Cát Thủ, lần lữa chưa hành động.

    Kinh Niên nở nụ cười, nói thẳng: "Huynh cứ đi đi, bọn ta có thể chống đỡ được."

    Lô Hoài Nhâm cười khổ: "Haizz, có ta ở đây trái lại còn khiến tiểu muội vướng tay vướng chân..."

    Hắn trở tay hất bay một cái đầu, sau đó ôm quyền nói: "Xin lỗi, nếu ta có thể sống sót ra khỏi đây, thì sẽ tới kinh thành tìm mọi người!"

    Dứt lời chạy thẳng về hướng Trần Mộc biến mất.

    Gia Cát Thủ thấy hắn chạy đi, trề môi ném cho một câu: "Không đáng tin."

    Kinh Niên nghe thấy, sau khi giết chết mấy cái đầu vây quanh mình thì nhảy nhanh qua mấy bước, nói với hắn: "Ở lại đây mãi cũng chẳng có cách gì, chúng ta đi theo luôn đi?"

    Nói rồi móc cái kính Bạch Hổ ra đặt vào tay Điện Hạ, lật ngón cái của y lên lấy móng tay cắt vào, sau đó ấn bụng ngón tay lên mặt kính, lên tiếng giải thích trước khi y mở miệng: "Trong kính này dồi dào linh khí, có thể theo huyết mạch lan khắp toàn thân ngài, ngài ấn xuống đừng động, mấy cái đầu đó sẽ không dám lại gần ngài đâu."

    Gia Cát Thủ không rõ chuyện kính Bạch Hổ lắm, song cũng biết linh khí là nơi âm dương tương hợp, tức có thể phá dương cũng có thể khắc âm.

    Vậy tại sao cô không lấy ra sớm hơn?

    Kinh Niên nhìn thấu suy nghĩ của hắn, cười nhạt: "Lúc nãy bên phía Lô đại ca cũng rất nguy hiểm, Kinh Niên thật tình không biết nên đưa cái gương này cho ai hộ thân, tới tận giờ này cũng rất khó khăn...

    đang suy nghĩ là cho Điện Hạ hay là đưa cho đạo gia ngài?"

    Gia Cát Thủ vừa xỉ Lô Hoài Nhâm "Không đáng tin", câu này của Kinh Niên đơn giản là ám chỉ hắn cũng giống với Lô Hoài Nhâm, đại ca chớ nên nói nhị ca.

    Trong lòng hắn không phục, đáp ngay: "Bần đạo không cần cái gương đó!"

    "Ờ?"

    Kinh Niên hí mắt liếc hắn, trong mắt ngập đầy vẻ hoài nghi.

    Gia Cát Thủ bị ánh mắt nhìn người qua khe cửa của cô chọc cho xù lông, tay run một cái, mũi kiếm chĩa về phía trước, lấy bát quái đặt xuống dưới kiếm, hét lớn một tiếng: "Tam thức đại diễm hỏa long!"

    Viên hình cầu giữa đĩa bát quái chợt phừng lên một ngọn lửa, chạy dọc từ chuôi kiếm tới mũi kiếm, Gia Cát Thủ giơ tay lên vung mạnh xuống, ngọn lửa kia bị quất dài ra giống như một chiếc roi lửa, khi dừng lại thì ngọn lửa đó lại trở về trên thân kiếm.

    "Đại diễm hỏa long..."

    Kinh Niên thì thào nhẩm lại, dán mắt vào ngọn lửa trên mặt kiếm, thấy hỏa tâm phồng lên như nước sôi, biết ngay thức thứ ba này cao hơn thứ nhất và thứ hai mấy phần.

    Đầu người mới đó còn đột kích dồn dập, lúc này tất cả lại lượn vòng ở bên ngoài ba thước, ngay cả lòng bàn tay cô đang cầm thanh kiếm cực hàn cũng bắt đầu đổ mồ hôi, sức nóng này không phải đùa đâu.

    Vì vậy dùng cùi chỏ huých huýt Gia Cát Thủ: "Ta nói này đạo gia, chiêu này sao ngài không tung ra sớm sớm vậy, làm hại Huyền Ảnh bị cắn toi công."

    Gia Cát Thủ nhìn về phía Huyền Ảnh, trên bao cổ tay của cánh tay không cầm đao đã bị nhuộm một mảng lớn máu tươi, vừa rồi lúc hắn bận thi triển hỏa luân không kịp đề phòng, khiến thi đầu tấn công giữa lưng, Huyền Ảnh cầm đao bảo vệ Điện Hạ, tay còn lại ném ngân châm đâm xiên đầu người để cứu hắn, không ngờ bị cắn trả lại một cái.

    Gia Cát Thủ lần đầu tiên thấy Huyền Ảnh thụ thương, mà còn là vì mình, thấp giọng nói "Xin lỗi", nhưng không giải thích tại sao mình lần lữa không ra thức thứ ba.

    Đại Diễm Thái Dương kiếm tổng cộng có bảy thức, hắn chỉ luyện tới thức thứ ba, hơn nữa thức thứ ba này chưa từng dùng lúc đối phó địch, chỉ vì nó hao tổn rất nhiều tinh lực, bình thường lúc tu luyện cũng duy trì chẳng được bao lâu, huống hồ sau khi sử dụng toàn thân sẽ bủn rủn kiệt sức, đừng nói Thái Dương kiếm, ngay cả hỏa chú thông thường cũng không phát ra nổi.

    Thế nên không dám thử nghiệm tùy tiện.

    Nhưng hiện tại là thời điểm vạn bất đắc dĩ, chỉ còn biết đi một bước tính một bước.

    Hắn xả thân xông lên trước, kiếm lửa thoắt trái thoắt phải, ngọn lửa bắn ra ngoằn ngoèo, hệt như rồng lượn, thoáng chốc quất lũ đầu người phía trước ra hai bên, mở một con đường thoát.

    Kinh Niên vỗ tay reo lên: "Hay quá!

    Chúng ta cứ vậy mà chạy vào trong đi, đạo gia, làm phiền ngài mở đường phía trước!"

    Gia Cát Thủ hiểu rõ dụng ý của cô, bị kẹt mãi ở nơi vào cốc bị cả đống đầu người quấy rầy, chưa tới hừng đông sẽ mệt chết vì vận động quá mức.

    Hắn gật đầu, thấy Huyền Ảnh bảo vệ sau lưng Điện Hạ chạy lên trước, bọn đầu người không xoay quanh bên phía Điện Hạ nữa, trái lại toàn bộ bay hết về phía này, thà bị hỏa thiêu cũng không tình nguyện tiếp cận khu vực của Điện Hạ.

    Trong lòng hắn khẳng định Kinh Niên không nói ngoa, mặt kính đó quả thật có thể bảo vệ Điện Hạ bình an, lúc này mới thở phào nhẹ nhõm, quất roi lửa xông thẳng tới trước.

    Điện Hạ không thể chạy nhanh, Huyền Ảnh bèn lấy một tay kẹp sườn của y rượt theo phía sau, Kinh Niên thì xoay người chạy về hướng Thi Ngũ gia.

    Lũ thi đầu thấy có người thoát ra khỏi vùng ảnh hưởng của hỏa diễm và Bạch Hổ kính, thế nên hàng loạt đầu người với số lượng khổng lồ đổ ập về phía cô.

    Điện Hạ hoảng sợ tái mặt, thét lên với Gia Cát Thủ: "Chờ đã!

    Thủ lão đệ!

    Mục ngự quan rớt lại!"

    Gia Cát Thủ quay đầu, đã thấy một tia sáng trắng lóe lên, một mảng lớn đầu người văng tung tóe trước mặt Kinh Niên hệt như màn vải bị xé toạc, Kinh Niên cầm ngang Linh Xà kiếm bằng một tay, mặt mỉm cười chớp chớp mắt: "Đạo gia, Kinh Niên muốn nán lại một lát."

    Đoạn dựng thẳng ngón tay cái chỉ chỉ sau lưng: "Các người đi trước đi!"

    Cái chớp mắt kia vô cùng dí dỏm, đổi lại ngày thường, Gia Cát Thủ sẽ cảm thấy tiểu cô nương này hết sức dễ thương, nhưng bây giờ, toàn thân cô đẫm máu, trên mặt nhem nhuốc vết ố đen loang lổ, chiếc váy vải trắng ngần đã sắp tiệp màu với dải gấm đỏ trên eo, chưa kể bên chân cô còn vây quanh từng đống thịt nhầy nhụa.

    Dưới tình huống này, thái độ dửng dưng của cô chỉ tổ khiến người ta khó chịu từ tận đáy lòng.

    Gia Cát Thủ nuốt ực nước bọt, quay đầu chạy tiếp tới trước, tứ chi Điện Hạ vắt vẻo trên trời, chỉ còn biết để mặc cho Huyền Ảnh cắp đi.

    Kinh Niên nhìn theo bóng ba người còn chưa chìm vào trong bóng tối, sau đó trường kiếm quét mấy đường, đóng băng mấy cái đầu đang vật lộn với Thi Ngũ gia.

    Thi Ngũ gia lập tức vung quyền đánh nát, nhưng vẫn chưa chịu dừng tay, tiếp tục đi tới chỗ đầu người tụ tập.

    Kinh Niên hét to một tiếng "Ngũ gia", thân hình hắn khựng lại, cứng đờ một thoáng, sau đó lại cất bước đi tiếp.

    "Phù chú vô dụng thật sao?

    Vậy tại sao không giống Trần Mộc..."

    Kinh Niên chạy lên hai bước, giang hai tay ra chắn trước người Thi Ngũ gia: "Ngũ gia!

    Cứ tấn công tới đây như trước đi!

    Nói cho ta biết những ngờ vực không giải thích được này đều là vớ vẩn đi!!"

    Cô hy vọng có thể kết thúc mơ tưởng hoang đường của bản thân tại đây, nhưng vẫn chờ mong Ngũ gia đừng động thủ.

    Quả nhiên Thi Ngũ gia chậm rãi nâng hai tay lên, đưa về phía cô, tay phải nắm chặt thành quyền, vươn lên giữa chừng rồi đột ngột đánh ra.

    Kinh Niên nhắm hai mắt lại, nghĩ sau khi quyền này giáng xuống mình sẽ triệt để chết tâm.

    Chỉ nghe tiếng gió gào thét sượt qua bên tai, theo sau là tiếng răng rắc của xương vỡ vụn.

    Kinh Niên bỗng chốc mở mắt, mặt của Thi Ngũ gia đang ở ngay bên trên, đuôi lá bùa rũ xuống trên đầu cô.

    Sau đó là mấy tiếng bịch bịch như có vật gì rơi xuống đất, hóa ra quyền kia không giáng xuống mặt cô, mà là lướt qua đánh nát đầu người nhào tới sau lưng cô.

    "Ngũ gia... ngài... ngài...

    đang cứu...

    Kinh Niên sao?"

    Cô ngẩng đầu nhìn lên, muốn nhìn rõ biểu cảm của Thi Ngũ gia, muốn nhìn thử xem rốt cuộc ánh mắt hắn có phải rơi trên người mình không.

    Thế nhưng cô lại bị hắn dùng bàn tay trái phủ lên sau ót ấn vào trong ngực, tay kia cũng mở ra vòng qua sau lưng Kinh Niên, hai cánh tay ôm siết lại.

    Kinh Niên tựa má vào trước ngực hắn, cảm thấy bị ôm rất chặt rất chặt, hai cánh tay của hắn còn mạnh mẽ hơn bất cứ thứ gì, tưởng như muốn ép cô vào trong cơ thể: "Ngũ...

    Ngũ gia...

    Kinh Niên... còn chưa nói lạnh mà..."

    Cánh tay của Ngũ gia càng buột chặt vài phần, nhưng chỉ trong nháy mắt đã thả ra, vung quyền đánh nát bấy mấy tên phá đám.

    Kinh Niên chớp thời cơ vén lá bùa lên, thấy đôi mắt thấu quang của Thi Ngũ gia vẫn trước sau như một, hoàn toàn không nhìn cô, cũng không nhìn về phía đầu người bị giã nát, mà chỉ trừng thẳng phía trước, hành động vừa rồi có lẽ là do bùa chú chưa mất hết linh nghiệm.

    Cô dồn nén thất vọng trong lòng, thả tay xuống, kêu một tiếng thăm dò: "Ngũ gia, chúng ta đi theo đi!"

    Thi Ngũ gia lại xuất thủ đánh nát hai cái đầu mới đánh vòng tới trước người cô, tay trái chụp tới khiêng cô lên vai, rồi giẫm chân chạy như bay về hướng trong cốc.

    ~ Hết chương 10 ~
     
    Thi Quan Kinh Niên
    Chương 11


    Chương 11

    CƯỜNG TRẤN PHONG HOA CỐC (HẠ)

    Edit: Yunchan

    ***

    Tốc độ chạy của hắn nhanh tới phi thường, chẳng mất bao lâu đã vượt qua bọn Gia Cát Thủ, dưới sự ra hiệu của Kinh Niên mới chạy chậm lại đi theo phía sau.

    Có Hỏa Long mở đường, Bạch Hổ kính hộ thân, đám đầu người không dám xông lên bừa bãi nữa, mà tất cả đều bay quần theo chung quanh.

    Ven đường gạch bể ngói vỡ sụp đổ ngổn ngang, mảnh vụn y phục và các loại binh khí cũng rơi vãi đầy đất, nhưng vẫn chưa thấy nửa cái xác nào.

    Chạy thêm chốc lát nữa là dần vào chỗ sâu bên trong cốc, lúc này trước mặt chợt ánh lên tia sáng thoắt sáng thoắt tối, mọi người đẩy nhanh bước chân chạy về hướng nguồn sáng.

    Trên mặt đất cách đó không xa bị đào lên một cái hố to đùng, chung quanh hố chất đống đất đá cao hơn nửa thân người, ánh sáng trắng phát ra từ trong đó.

    Mấy người chạy tới nơi cách hố chưa đầy một trượng thì dừng lại, thế lửa trên thanh kiếm từ từ yếu xuống chứng tỏ âm khí đang chảy ra từ chính chỗ này, cộng thêm đầu người đang nối đuôi bay ra từ trong cái hố kia, Kinh Niên dám khẳng định nơi đây chính là mấu chốt mà họ muốn tìm.

    Cô bèn lệnh cho Thi Ngũ gia thả mình xuống đất, toan bước tới trước hố.

    Đúng lúc này ngọn lửa trên thân kiếm của Gia Cát Thủ đột nhiên tan thành luồng khói nhẹ, cả người hắn cũng ngã vật xuống đất.

    Huyền Ảnh nhoáng lên vọt tới bên cạnh hắn, buông Điện Hạ đã ngất từ lâu xuống, tay này cầm đao vung chém, tay kia cầm ngân châm bắn ra.

    Thi Ngũ gia ở bên trợ trận, còn Kinh Niên gấp rút ngồi xổm xuống coi tình hình của Gia Cát Thủ, thấy sắc mặt hắn tái nhợt, hô hấp mỏng manh, tám phần là dương lực tiêu hao.

    Mà Điện hạ là người không có võ công, bị âm khí mạnh như vậy vây khốn, có thể cầm cự tới tận đây đã là khá can trường rồi.

    Nghĩ tới đây cô lập tức moi Bảo Hồn phù ra dán lên ngực của hai người, để tránh cho âm khí thấm vào trong, sau đó kéo Gia Cát Thủ và Điện Hạ nằm xít lại gần nhau, Bạch Hổ kính đặt ở giữa hai người.

    Cô lại nắm cổ tay của Gia Cát Thủ lên, lấy móng tay rạch vào lòng bàn tay, đặt nó lên mặt kính, làm thế này linh khí có thể phân đều ra bên trong cơ thể của mỗi người, bảo vệ thất kinh bát mạch.

    Sau đó, cô rút nhuyễn kiếm trong tay Gia Cát Thủ ra ném cho Huyền Ảnh: "Họ có Bạch Hổ kính hộ thể, không cần lo lắng."

    Thấy hắn nhận lấy nhuyễn kiếm nhưng chỉ cầm trên tay, bèn bồi thêm: "Hiện tại chỉ còn ta và ngươi, ngươi có thể tung hết bản lĩnh thật sự ra, Huyền Ảnh hộ vệ đâu phải chỉ biết múa mỗi đại đao, làm mấy việc kim chỉ, nếu ngươi ngại nhuyễn kiếm không vừa tay, ta có thể cho ngươi mượn phù chú."

    "Mục ngự quan, cô biết quá nhiều chuyện."

    Huyền Ảnh tra đao vào vỏ, cánh tay hất lên, nhuyễn kiếm chợt thẳng băng, mũi kiếm hướng về phía Kinh Niên phát ra tiếng ong ong bén ngót.

    Kinh Niên xoay người chém một đường trăng khuyết, đầu người gần bên tức thì bị kiếm phong quét thành băng phiến, cô đạp vỡ miếng thịt đông rơi trước chân, rồi nhếch miệng cười: "Người không phạm ta, ta không phạm người.

    Trước đây chúng ta không phải địch không phải bạn, hiện tại chúng ta chính là châu chấu xâu chung trên một sợi dây, về phần sau này Kinh Niên không dám nói, chẳng qua... chí ít ngươi và điện hạ, ta quyết không để hai người bị thương mảy may."

    Là Huyền Ảnh nên cô mới nói vậy, trên đời này trừ Ngũ gia ra, thì chỉ có người đang đứng ngay trước mắt này mới có thể khiến cô thổ lộ vài lời thật lòng.

    Huyền Ảnh tiếp lời ngay sau đó: "Còn có Gia Cát đại nhân, cái mạng này của Huyền Ảnh chỉ cho hai người họ, nếu có người âm mưu làm hại họ, dù Huyền Ảnh có chết cũng sẽ không tha!"

    Kinh Niên liếc mắt nhìn người trên đất, mi tâm khẽ chau: "Câu này, không nên nói với ta."

    Huyền Ảnh không nhiều lời nữa, run tay lên, ngọn lửa từ lòng bàn tay bén qua chuôi kiếm rồi lan khắp cả thân kiếm, hắn bỗng nhiên vung tay, một đường Hỏa Long xoay vụt ra, thế lửa hừng hực bốc ra khói mù đen ngòm xông thẳng lên trời, thân rồng cháy tanh tách, tia lửa bắn ra tứ phía, hễ đầu người bị ngọn lửa chạm tới đều lập tức bị đốt trụi khô héo thành một đống đen kịt rơi xuống đất.

    "Công lực của đạo gia thua ngươi tới vạn vạn phần..."

    Cùng là Tam Thức Đại Diễm Hỏa Long, nhưng đi qua khí Thuần Dương trong cơ thể Huyền Ảnh lại thúc ra ngọn lửa mạnh hơn hẳn roi lửa xuất ra từ đĩa bát quái của Gia Cát Thủ.

    Nếu hiện tại Huyền Ảnh phát huy được tám phần công lực, thì Gia Cát Thủ chỉ tầm một hai phần.

    Huyền Ảnh không tiếp lời, múa kiếm lửa lượn quanh vài vòng, cơn lốc lửa mang theo từng trận gió xoáy, cuốn lũ đầu người chung quanh vào trong, sau đó hắn sải bước đi tới phía hố, Kinh Niên cũng nhảy lót tót theo sau, có Đại Hỏa Long này, cô cũng tiết kiệm được khá nhiều sức.

    Hai người leo lên ụ đất nhìn xuống dưới, trong hố là một dòng thanh thủy giống như trăng sáng, bắn ra ba quang sóng sánh, trên mặt nước sủi lên bọt khí, hàn khí lượn lờ.

    Nhìn xuyên qua màn sương mỏng kia tới dưới đáy hố, thấy tầng tầng lớp lớp đầu người chồng chất lên nhau, nếu ví cái hố này như cái chén, thì nước trong hố chính là canh, còn mỗi cái đầu là một hạt gạo, xới vào đầy ụ hơn phân nửa chén.

    Bị đè bên dưới thì không nhìn rõ lắm, còn những cái đầu ở trên cùng, vành mắt nào cũng muốn nứt ra, mặt xanh nanh vàng, rục rịch dưới nước, thỉnh thoảng trồi lên mặt nước, gia nhập vào binh đoàn đang xoáy vòng ở giữa không trung.

    Kinh Niên đã trông thấy rất nhiều xác chết, nhưng khi thấy cảnh tượng hùng vĩ này cũng phải biến sắc, đưa tay bịt miệng mũi, để khỏi bị mùi tanh tưởi bốc lên xông cho choáng váng đầu óc, cô lui ra sau nửa bước, lẩm bẩm một mình: "Ở đâu ra nhiều đầu thế này?"

    Huyền Ảnh quất Hỏa Long vào trong lòng hố, một tiếng "Soạt" vang lên, ngọn lửa còn chưa chạm tới mặt nước đã bị dội ngược lại, tiện đà tắt ngóm, cứ như bên trên có một vòng bảo vệ vô hình.

    "Xem ra dương lực của kiếm lửa vẫn còn thiếu, đầu người phóng ra âm khí khổng lồ, nếu không nghĩ cách, sớm muộn gì âm huyệt cũng sẽ bị phá..."

    Đến lúc đó chẳng những là lũ đầu người này, mà sợ rằng năm huyện ngoại thành lân cận cũng sẽ chịu ảnh hưởng, thi biến quái, người hóa ma, hậu quả thiết nghĩ không chịu nổi.

    Huyền Ảnh đốt kiếm lửa lên lần nữa, từng cuộn lửa lăn từ chuôi kiếm tới đầu kiếm, từ từ tụ hợp, càng lúc càng lớn, dần dần hình thành một quả cầu lửa cực lớn.

    Hắn nhẹ nhàng nâng lên, ném quả cầu lửa lên cao, để nó xoay tròn thần tốc trên đỉnh đầu, từng cơn sóng nhiệt tỏa ra chung quanh.

    "Tứ thức Đại Diễm Liệt Nhật.(*)" Kinh Niên gọi chính xác danh hào của nó, hơi nghiêng đầu liếc sang Huyền Ảnh, cười với hắn một cái, rồi ngẩng đầu nhìn về phía quả cầu lửa, thấy nó càng xoay càng chậm, càng lăn càng nhỏ, mặt lộ vẻ buồn rầu: "Còn chưa được nữa, thật là chết người."

    (*) Mặt trời lửa.

    Chiêu Đại Diễm Liệt Nhật này Huyền Ảnh chỉ dùng nửa thức, hắn biết dù dùng toàn bộ cũng sẽ bị âm khí nơi này nuốt chửng, cho nên chỉ dùng nó để xua bọn đầu người vo ve qua lại hệt như ruồi muỗi, tranh thủ giây lát để nói chuyện và nghỉ xả hơi.

    Hắn tắt ngọn lửa trên thân kiếm, không muốn hao tổn sức lực vô ích, ngoảnh sang Kinh Niên nói: "Vì sao không dùng linh khí trong Bạch Hổ kính?"

    "Viết chú tự, làm mấy thao tác chuẩn bị không phải chỉ một chốc một lát là dùng được ngay đâu, giờ ta cầm cái kính đi thì Điện Hạ với Đạo gia biết làm sao bây giờ?"

    "Họ có ta bảo vệ!"

    Kinh Niên hừ nhẹ một tiếng, quét mắt nhìn hắn như cười như không: "Huyền Ảnh, ngươi nên biết linh khí trong Bạch Hổ kính một khi mất đi thì phải bù vào đúng lúc, trước khi linh khí sung mãn thì không dùng được, bình thường làm mấy việc ma chay lặt vặt như thăng linh, độ hồn các loại, cách dăm ba ngày không xài cũng chẳng hề gì.

    Nhưng theo tình hình ở đây, một khi lấy linh khí trong kính ra, thì không đợi một năm cũng phải chờ hơn nửa năm mới khôi phục lại được, không phải vạn bất đắc dĩ, Kinh Niên sao dám tùy tiện nghĩ tới nó?"

    Huyền Ảnh bẻ ngược lại: "Bây giờ không phải lúc vạn bất đắc dĩ sao?"

    Kinh Niên nghe vậy thì lộ ra cái mặt kinh dị: "Chúng ta mới đi bao xa đâu?

    Ngươi không sợ sau này sẽ gặp chuyện gì phiền phức hơn sao?"

    Thấy hắn lặng thinh, cô bèn thay bằng cái mặt cười xấu xa: "Ngươi đề phòng ta, không muốn để lộ tài thật đúng không?

    Suy nghĩ này rõ là không chấp nhận được mà, làm Huyền hộ vệ thì nên tận hết sức lực, không phải sao?"

    Cơ thể Huyền Ảnh rúng động, tay cầm kiếm run lên khe khẽ, mắt thấy quả cầu lửa lớn đã biến thành viên lửa nhỏ, lũ đầu người chỉ chực vồ tới đang áp sát ngày một gần, hắn đột nhiên lên tiếng: "Mục ngự quan, Huyền Ảnh không giữ lại gì cả, mà chỉ sợ có lòng nhưng không đủ sức."

    Kinh Niên lắc đầu thở dài: "Nếu đây là lời thật lòng thì ngươi đúng là coi thường mình, âm huyệt ở đây chưa bị phá hoàn toàn, chỉ dựa vào âm khí của đầu người làm bình phong che chắn, bằng sức một mình ngươi là đủ, ngươi cứ phóng thêm một quả cầu lửa nữa, lần này dồn hết lực vào trong hố đó là được rồi."

    Huyền Ảnh làm theo lời cô, cầm kiếm chĩa thẳng phía trước, hai tay phát lực đẩy sóng lửa tới tập trung tại mũi kiếm, ngay khoảnh khoắc viên cầu lửa trên đầu lụi tắt, hắn tung người nhảy lên không trung, lộn một vòng lớn, mượn lực xoay kiếm, đánh quả cầu lửa về phía cái hố trên mặt đất.

    Quả cầu lửa quay tít mù, kéo ra chiếc đuôi lửa cực dài, thế đi dũng mãnh, nhưng khi sắp đập vào mặt nước thì bị một luồng lực ngăn cản, lơ lửng rung chuyển ở độ cao cách mặt nước chưa đầy một thước, hệt như đang phân cao thấp với trở lực vậy.

    Hai khí âm dương đối đầu tương phản, va chạm nhau phóng ra đợt sóng khí cực lớn, lấy hố làm tâm dạt ra ngoài từng vòng sóng dập, đầu người bị cơn bão lưỡng cực giao nhau này xé toạc thành mảnh nhỏ.

    Ngay tại giây phút giằng co nguy hiểm này, Kinh Niên bỗng dựng thẳng Linh Xà kiếm trước mắt, lấy tay vuốt khẽ qua thân kiếm, thấp giọng nói: "Rắn nhỏ ngoan, ngươi ra đi!"

    Mũi kiếm vẩy tới trước, thoáng chốc một tia sáng trắng vuột khỏi kiếm, quanh thân bao phủ một lớp sương mù, như thực như ảo, mông lung mơ hồ.

    Tiểu Bạch xà này vốn là thể âm hàn, trải qua trận đánh ở Mai Lĩnh, bị ép phun linh đan ra khỏi khí noãn, khiến đạo hạnh tu luyện nhiều năm bị hủy hoại trong chốc lát.

    Sau khi vào trong Bạch Hổ kính, âm khí chẳng còn sót lại mấy bên trong cơ thể đã chuyển thành thiên địa linh khí từ lâu, trở thành một con rắn đáng mặt "Linh", thế nên tất nhiên không sợ lửa thiêu.

    Chỉ thấy nó ngóc đầu quẫy đuôi, vọt lên không bơi về phía cầu lửa rồi chui tọt vào, đợi toàn thân nó đã vào hết, quả cầu lửa chợt "Phừng" một tiếng phồng lớn lên, xuyên thấu qua kẽ hở giữa ngọn lửa có thể thấy rõ cơn lốc bạch sắc đang đảo quanh ở trung tâm, từ từ hòa làm một với bức tường lửa.

    Ngọn lửa đỏ vàng xen lẫn lúc ban đầu được sương trắng tuôn ra ồ ạt bao bọc lấy, ngấm từ trong ra ngoài, hóa thành màn bụi lửa xanh biếc, ngọn lửa sa xuống như những ngôi sao li ti, ghim vào trong nước.

    Chỉ nghe "Uỳnh" một tiếng, đợt sóng lớn cao hơn ba trượng bị cuốn lên, lật tung lũ đầu người ngâm trong nước.

    Hơi nóng trào lên cuồn cuộn, sóng nước bốc ra sương mù đặc quánh, còn chưa hạ xuống đã bị bốc hơi thành khí trắng tan biến giữa không trung.

    Đầu người bị bọt sóng bắn vào đều khô quắc lại trong nháy mắt hệt như bị rút sạch nước, rơi ra khỏi hố, khi va xuống đất thì vỡ tan tành, tung lên lớp bụi xám trắng.

    Bụi lửa kia bốc hơi hết âm thủy trong hố, rồi tiếp tục xoáy vun vút ở đáy hố, khấy lũ đầu người lót dưới đáy tới nỗi bọt máu văng tung tóe, trộn lẫn với bùn ẩm, không phân biệt rõ đâu là đất đâu là thịt.

    Lúc này, Kinh Niên giơ ngón trỏ và ngón giữa lên huýt một tiếng bên mép, luồng khỏi nhẹ lập tức thoát khỏi bụi lửa, loi nhoi giữa lưng trời, rồi chậm rãi hóa thành thân rắn.

    Màn bụi lửa kia tức thì biến về quả cầu lửa lúc đầu, càng xoay càng nhỏ, càng xoay càng chậm, cuối cùng tắt ngấm.

    Linh Xà bơi tới cạnh Kinh Niên, quấn ở cổ cô cọ đầu ăn mừng, Kinh Niên vốn đã rất thích cặp mắt một hồng một xanh giống như bảo thạch hiếm có, cùng đám vảy lóng la lóng lánh trắng tinh của nó, giờ thấy nó tự nguyện làm thân với mình thì hí hửng trong lòng, dùng ngón trỏ chọc chọc giữa trán nó, cười nói: "Rắn nhỏ ngoan, cực cho ngươi rồi."

    Nói rồi cúi đầu nhìn đáy hố khô khốc lại rỉ ra nước trong, thở dài nặng nề, ngẩng đầu ngắm nghía bốn phía.

    Hơn nửa số đầu người đều bị trận sóng khí vừa rồi ảnh hưởng, không phải rút khô vỡ tan, thì cũng rơi trên đất mất khả năng hoạt động, nhưng lũ đầu người vây quanh bên ngoài thì trốn khỏi kiếp nạn này, bây giờ lại kéo bè kết đản tụ tập lại.

    Kinh Niên thấy Huyền Ảnh xoay người rời khỏi hố, đặt nhuyễn kiếm bên cạnh Gia Cát Thủ, khoanh chân ngồi xuống trước mặt hai người, rõ ràng là không có ý định động thủ lần nữa.

    Bạch Hổ kính ở bên cạnh, nên bọn đầu người chỉ tìm tới Kinh Niên đang đứng ở trước hố cách đó xa xa.

    "Huyền Ảnh, ngươi đúng là lười chảy thây, không biết cái gì gọi là tiễn Phật tiễn tới Tây Thiên, hử?"

    Hơn mười cái đầu còn sót lại hành động chậm chạp, ở trong nước vớt vát số âm khí ít ỏi còn dư lại, sợ rằng ngay cả há mồm cắn người cũng không nổi, dù chả làm gì cũng khó lòng thoát khỏi cốc bình yên.

    Kinh Niên dự là Huyền Ảnh nghĩ như thế, cho nên không muốn tốn sức thêm nữa.

    Nhưng nước âm huyệt lại chảy ra cuồn cuộn không dứt, lũ đầu người biến lại thành quỷ quái hung tàn cũng chỉ là vấn đề sớm muộn.

    Chẳng qua chuyện đó xảy ra khi Điện Hạ và Gia Cát Thủ đã rời cốc đi xa rồi, nó chả liên quan gì tới hai người họ sất, thành thử Huyền Ảnh không thèm nhúng tay vào nữa.

    Kinh Niên không trách Huyền Ảnh khoanh tay đứng nhìn, bởi ai mà không có mặt ích kỷ, cả cô cũng không ngoại lệ.

    "Đã làm tới nước này rồi, không kết thúc sạch sẽ thì đúng là có lỗi với bản thân."

    Cơ mà nói thì nói vậy, nhưng trong lòng cô cũng rất sáng suốt, nhiều đầu người như vậy dù sao cũng không tự chúng nhảy vào trong hố, dù xử sạch cái chén này rồi, nhưng chỉ cần âm huyệt chưa bị phong kín, thì khó lòng đảm bảo sau này không có ai chuyển đầu người vào đó nữa.

    Không riêng gì đầu người, mà bất cứ vật chết nào bị ném vào trong đều có thể biến thành tinh hại người.

    Nhưng cô không biết âm huyệt bị mở bằng cách nào, cũng không biết người xưa dùng cách gì để trấn âm thủy, việc duy nhất làm được chỉ có thủ tiêu rốt ráo bọn đầu người còn lại mà thôi.

    Trong lúc cô đang mải suy nghĩ, Thi Ngũ gia đang đứng sau lưng đột nhiên tung người đánh về lũ đầu người, từng quyền một, băng qua băng lại ở giữa, "Bộp bộp bộp bộp", đầu người lần lượt nổ tung như pháo liên châu.

    Thậm chí Kinh Niên còn không thấy rõ Ngũ gia ra quyền lúc nào, tới khi bừng tỉnh lại thì Thi Ngũ gia đã nhảy về lại.

    Một trận gió nóng thổi thốc qua, cuốn tung cát bụi trên đất, nào còn thấy bóng đen lơ lửng trên bầu trời, đống thịt chết trải đầy trên đất thở ra loại âm thanh chán chường quái dị như đã trút hết tâm can.

    Mây đỏ chếch đi, nửa bánh xe mặt trời ló ra bên sườn cốc, mang theo vạt nắng đầu tiên xua tan màn sương ảm đạm đặc quánh bên trong cốc.

    Họ bị ngập sâu trong cái lồng tanh máu, tầm mắt bị che khuất không thấy được bầu trời, cũng không nhìn thấy nhật nguyệt, vật đổi sao dời, ngày đêm luân chuyển.

    Tìm mọi cách để chạy suốt đêm tới đây, nhưng rốt cuộc vẫn phải phí sức tới tận bình minh.

    Nếu họ chịu ngủ một giấc yên ổn, sáng nay theo thuyền xuất phát, lúc ấy bọn đầu người đã quay về yên giấc bên trong nước, Điện Hạ sẽ không mất đi con ngựa yêu, Trần Mộc sẽ không hóa rồ, Lô Hoài Nhâm sẽ không bỏ đi, Huyền Ảnh sẽ không bị thương, Gia Cát Thủ sẽ không kiệt sức bất tỉnh... và Ngũ gia cũng sẽ không mất đi khống chế...

    Kinh Niên nhìn sang, thấy Thi Ngũ gia đứng thẳng ngay đối diện cô, ánh mặt trời ấm áp rọi tới từ hướng ngược lại, chiếu lên người hắn vẽ ra một đường nét nhu hòa.

    Lúc gió thổi lùa qua, phất lên lam bào dính máu, làm thổi bay mái tóc đen rối bời và lá bùa thật mỏng.

    Ngược sáng, khuôn mặt bị bóng tối che lấp, chỉ nhìn thấy tia sáng sâu kín đang nhảy nhót sâu trong đáy mắt.

    Kinh Niên nhìn thấy bản thân trong cặp mắt đó, cuống quýt quay mặt đi, khoảnh khắc hoảng hốt đó khiến trên mặt cô lộ ra vẻ bối rối hiếm có.

    Lúc này, Huyền Ảnh cầm Bạch Hổ kính trong tay, cánh tay cắp Điện Hạ, vai khiêng Gia Cát Thủ đứng lên đi về hướng cô, trả Bạch Hổ kính lại rồi đứng chờ một bên.

    Kinh Niên biết chỗ này không nên ở lâu, đợi Linh Xà vào kính, nhét kính vào trong ngực xong thì cất tiếng gọi Ngũ gia, sợ ngôn chú không có tác dụng, cô còn móc bút đỏ ra vẽ thêm phù tự, sau đó cùng Huyền Ảnh đi tới con đường xuất cốc.

    Song đi được vài bước, khi quay đầu lại thì phát hiện Thi Ngũ gia vẫn đứng bất động tại chỗ, cô lật đật vòng lại.

    Cô thấy Huyền Ảnh cũng dừng bước quay người lại, bèn phất tay nói: "Ngươi dẫn họ ra ngoài trước đi!"

    Trong cốc còn sót lại tàn dư âm khí, Điện Hạ và Gia Cát Thủ thể hư khí nhược(*), ở lâu một khắc sẽ nguy hiểm thêm một phần.

    Vì vậy Huyền Ảnh gật đầu, đi tới hai bước rồi lại quay đầu: "Ra khỏi cốc một dặm có tòa Diêm Vương tự, ta mang hai người họ tới đó trước."

    Nói rồi cất bước đi.

    (*) Thể trạng suy kiệt.

    Kinh Niên chăm chú nhìn trái nhìn phải, vòng trước vòng sau Thi Ngũ gia hai vòng, thấy hắn vẫn đờ đẫn như trước đây, cũng chẳng có điềm báo phát cuồng, thế tại sao phù chú lại mất linh?

    "Ngũ gia, chúng ta phải đi rồi!"

    Cô kêu thêm tiếng nữa, thấy Thi Ngũ gia vẫn không có phản ứng, bèn dứt khoát kéo cánh tay hắn lôi đi, nhưng lôi cách nào cũng không nhúc nhích, Thi Ngũ gia không vận sức chống cự, mà giống như một pho tượng đá, lòng bàn chân cắm rễ dưới đất.

    Kinh Niên thở hồng hộc buông tay ra, lầu bầu: "Chẳng lẽ âm khí vào tới bên trong rồi?

    Không khéo như vậy chứ..."

    Cô nghiêng đầu nghĩ ngợi một chút, rồi lập tức đưa ngón trỏ phải vào miệng cắn rách, nhón chân lên, tay trái bám lên vai hắn, sau đó đưa ngón tay rỉ máu kề lên môi hắn: "Ngũ gia, thứ ngài thích nhất nè."

    Trong máu tươi chứa lượng lớn dương khí, Ngũ gia không phải người sống, mặc dù thân thể không thối rữa như những cương thi khác, nhưng không có dương khí áp chế thì không thể bị phù chú khống chế.

    Cho nên cách một khoảng thời gian cô sẽ đút máu làm thức ăn, dùng nó để điều hòa khí âm dương tuần hoàn trong cơ thể hắn.

    Thi tính là huyết nhục của người sống lấy dương bổ âm, nhưng lần này, Thi Ngũ gia không mút máu tươi trên đầu ngón tay theo bản năng như trước đây, mà vẫn đứng thẳng bất động.

    Kinh Niên bắt đầu nóng ruột, cố nhét ngón tay vào trong miệng hắn, nhưng chẳng tài nào cạy nổi khớp hàm đóng chặt.

    "Lẽ nào lượng máu còn chưa đủ?

    Đúng rồi, ở đây âm khí quá thịnh, chỉ có hai giọt máu tươi sao đủ!"

    Trong lòng cô thầm suy nghĩ, rồi rút ba tấc kiếm bên hông ra đè lên cổ tay toan rạch xuống.

    Ngay khoảnh khắc mũi kiếm sắp rạch lên da, cổ tay chợt bị tóm lấy giơ cao quá đỉnh đầu, cô ngạc nhiên trợn to hai mắt.

    Mặt Thi Ngũ gia càng ngày càng lớn theo động tác cúi người, đuôi phù chú giắt lên đỉnh đầu Kinh Niên, ngay khi cô còn chưa ý thức được chuyện gì xảy ra, cảm giác mát lạnh ấm áp đã tập kích lên môi.

    ~ Hết chương 11 ~
     
    Thi Quan Kinh Niên
    Chương 12


    Chương 12

    NỮ TỬ ÔM BIA

    Edit: Yunchan

    ***

    Cô nhìn trừng trừng vào đôi mắt sâu như hố đen của Thi Ngũ gia, thấy dưới đáy mắt lập lòe ánh sáng đang phản chiếu một khuôn mặt thất kinh, nhưng ánh mắt đó vẫn không có tiêu cự.

    Kinh Niên chỉ cảm thấy miệng lưỡi bị ngậm, mút vào nhẹ nhàng, từ khoang bụng tuôn ra một luồng nhiệt khí nóng hổi đi qua ngực, lên cổ họng, rồi trôi khỏi miệng.

    Trong cơn hỗn loạn, óc cô tự động hồi tưởng lại lần đối chọi gay gắt duy nhất đó, Thi Ngũ gia nổi điên lên, từng chiêu đoạt mạng, càng đấu cô càng kiệt sức, người chằng chịt vết thương, mắt thấy khó giữ được tính mạng, dưới tình thế cấp bách mới lấy miệng tương đối, độ dương khí.

    Thi không phải người, không hiểu gì là mánh khóe thủ đoạn, chỉ dựa vào bản năng cần dương khí mà ăn thịt người uống máu người, hạ thủ chẳng biết nặng nhẹ, cuối cùng phải cắn nát xé rách cơ thể người mới chịu bỏ qua.

    Khi đó Thi Ngũ gia cũng thế, chỉ muốn nuốt chửng vật thể sống trước mắt vào bụng, Kinh Niên bị hắn bắt trói cả tay lẫn chân, chỉ tới khi lấy miệng độ dương khí mới lỏng ra đôi phần.

    Nhưng âm thể đòi hỏi vô độ, điên cuồng hấp thu tinh khí, chẳng quan tâm người sống có thể chịu đựng tới mức nào.

    Lúc đó, may mà trước khi mất đi ý thức Kinh Niên đã kịp hạ phù, mới không bị hút luôn cả mạng.

    Từ đó trở đi, cô chỉ dùng phương pháp lấy máu làm thức ăn, chứ không dám nghĩ tới chuyện động khẩu độ dương khí nữa.

    Cảm giác choáng ngất quen thuộc ập tới khiến cô hoảng hốt, tay cầm kiếm nắm thành quyền đặt trên bụng Thi Ngũ gia chống cự theo bản năng, nhưng tay trái bị xách lên rất cao, đầu ngón chân hầu như bị nhấc lên không chạm được mặt đất, kiểu tư thế này khiến cô không làm gì được, vùng vẫy cũng không thể thoát khỏi khống chế.

    Trước đây từng được phù chú cứu mạng, nhưng dưới tình huống này, ngay tại đây thì dán phù chú có tác dụng gì sao?

    Kinh Niên thật lòng không nghĩ ra đối sách, tuy trong tay cầm kiếm, nhưng thà mình toi mạng cũng không muốn dùng nó đả thương Ngũ gia.

    Đương vắt óc suy nghĩ, thì chợt cảm thấy nhiệt khí ngấm lại miệng trôi về cổ họng, từ từ chìm xuống, hơi thở về lại đan điền, động tác trên môi cũng dần chậm lại.

    Kinh Niên thấy tia sáng lập lòe trong mắt Thi Ngũ gia biến mất, thầm đoán là đã hút đủ dương lực nên bị phù chú áp chế thi tính.

    Cô cảm thấy bàn tay sắt đang bóp ở cổ tay mình rung rung rồi thả lỏng từng tấc, trong bụng thầm vui mừng khôn xiết.

    Nào ngờ bàn chân vừa mới chống vững trên đất, cánh tay đang rụt về lại bị chộp lấy, lực đè lên môi đột nhiên tăng mạnh, nhưng môi và môi đụng chạm cũng không kéo dài lâu hơn nữa, chỉ cố sức trằn trọc trong thoáng chốc, một khắc sau, Thi Ngũ gia đã thu tay lại đứng thẳng, lá bùa che lại miệng mũi một lần nữa, vùng tối đó chẳng những che đi khuôn mặt, mà còn che giấu tia sáng cuối cùng lóe lên trong đáy mắt.

    Không có ngoại lực lôi kéo, chân Kinh Niên cũng nhũn ra, thân thể mất khống chế ngã oạch ra đất.

    Lúc nãy bị hút dương khí không tính là nhiều lắm, nhưng cũng đủ hành người, trong vòng một canh giờ nhất định không có sức đứng lên.

    Cô vẫn chưa tỉnh hồn, sợ hãi và nghi vấn quay cuồng hỗn tạp trong đầu, khuấy đến nỗi tư duy rối loạn.

    Cô khẽ nâng mắt nhìn về hướng Thi Ngũ gia, thấy dáng đứng của hắn hệt như trước khi vào cốc, chỉ chờ phát lệnh.

    Lần mất khống chế này Kinh Niên chưa từng gặp trước đây, cũng không biết có phải Thi Ngũ gia đã hoàn toàn khôi phục lại trạng thái bình thường hay chưa.

    Cô không đứng nổi, cũng không cách nào thay đổi chú tự, buộc lòng phải ôm suy nghĩ ba phần may mắn bảy phần mạo hiểm, kêu: "Ngũ gia, Kinh Niên đi không nổi, làm phiền ngài bế một cái đi."

    Thi Ngũ gia lập tức cúi người xuống mà không có lấy một khắc trì hoãn, vớt cô từ dưới đất lên, ôm ngang bằng hai tay.

    Thấy ngôn chú có hiệu quả, lúc này Kinh Niên sướng rơn trong bụng, ôm lấy cổ Ngũ gia âu yếm một trận, rồi chỉ vào con đường xuất cốc, nói nhỏ: "Ngũ gia, đi tới đó ra ngoài nào."

    Vừa dứt lời, Thi Ngũ gia tức khắc nhảy qua hướng cô chỉ, dưới màn bụi đỏ tanh tưởi che lấp, thoáng chốc đã mất bóng, chỉ còn nghe được tiếng bước chân đạp lên thịt nát quanh quẩn bên trên cốc.

    .

    Nằm ngoài cửa nam của Phong hoa cốc là vùng sườn núi hoang vu, ở đầu sườn núi dựng một tấm bia đá, trên bia có khắc bốn chữ to "Thập Điện Diêm Ma".

    Ban đầu trong ngoài sườn núi hoang này ba trăm dặm là một đình viện đồ sộ với hoa cỏ mọc thành bụi, cầu cột đình đài nối tiếp nhau.

    Dưới sườn núi phía Tây, ở giữa đầm nước tròn xây một tòa bảo tháp mười tầng, vốn tên là "Thập Tháp tự".

    Dân gian tương truyền rằng, thuở xưa Diêm La vương chấp chưởng Địa ngục U Minh hóa thân tới nhân gian, ghé chân nơi này, thấy bảo tháp trên mặt nước thật lung linh, bèn vào tháp thăm thú, bị một lão tăng đắc đạo trong tháp tự nhìn ra chân thân, lão tăng bèn sai người đắp tượng bùn đặt ngay giữa tự điện, sớm chiều thờ phụng, người đời sau để tưởng niệm việc này đã đổi tên "Thập Tháp tự" thành "Diêm Vương tự".

    Nghe đâu khi Diêm La đại vương thượng du nhân gian đã dừng chân tổng cộng ở mười nơi, sườn núi hoang này chính là nơi thứ mười, do đó có tên là "Thập Điện Diêm Ma".

    Ngoài ra còn có chín điện khác rải rác ở các nơi.

    Thập Điện này là do phàm nhân cảm động trước ân điển trời biển, nên cung cấp cho Diêm Vương một biệt uyển để dùng trên trần thế.

    Theo sự thay đổi của triều đại, thời gian chảy trôi, thời thế đổi dời, cung đình trên sườn núi từng hấp dẫn du khách bốn phương đã không còn tồn tại nữa, chỉ trơ lại tấm bia đá hư hại và đống tàn tích ngổn ngang khắp sườn núi.

    Vắng bóng du khách và người cúng tế, nhang đèn khó thể kéo dài, tăng lữ trong tự dần ít đi qua năm tháng, cuối cùng chỉ chừa lại một tòa trống rỗng và một đầm nước biếc.

    Kinh Niên đang dựa vào tấm bia này nghỉ ngơi, lúc này mặt trời chưa lên tới đỉnh, trong gió còn mang theo chút hơi thở của bình minh, tuy không có tiếng chim hót chuyền cành, nhưng bị nhốt trong cốc suốt đêm, ngửi toàn mùi mục nát lợm giọng, nên trời ấm gió ấm trở nên càng quý giá hơn.

    Mấy ngày nay cứ dồn dập hết chuyện này tới chuyện kia, rắc rối kéo tới ùn ùn, bao nhiêu là người vờn quanh, ồn tới mức ngực Kinh Niên khó chịu, cũng không tiện "Giao lưu" thường xuyên với Ngũ gia.

    Nhân dịp trời trong lành, còn hiếm khi được ở riêng một mình, mà cô cũng không muốn bị bế tới bế lui mãi, nên dứt khoát ở lại sườn núi hoang này nghỉ ngơi điều tức, chứ không vội chạy đi nhập hội với nhóm Huyền Ảnh.

    Cô ngồi dưới đất nhìn Thi Ngũ gia bên cạnh, đám mây mỏng trên đỉnh đầu trôi đi, cũng không biết nhìn bao lâu, Kinh Niên đột nhiên cúi đầu nhòm về phía ngón chân, tay vỗ vỗ ngực, nở nụ cười: "Làm ta sợ muốn chết, làm ta sợ muốn chết."

    Rồi lại ngửa đầu nói: "Ngũ gia, lại bị ngài hù lần nữa, làm Kinh Niên muốn thăng thiên..."

    Nói tới đây đột nhiên im bặt, ngây người một chút, nụ cười từ từ đóng băng, giọng chát đắng mang theo vẻ tự giễu: "Nói gì mà thăng thiên, ngay cả địa ngục cũng không vào được...

    Ngũ gia, Kinh Niên không muốn tới chỗ nào hết, chỉ muốn ở bên cạnh ngài thôi, hầu hạ ngài mặc quần áo, hầu hạ ngài rửa mặt chải đầu... nhưng ngài, dù sao cũng phải đi, tới lúc đó, Kinh Niên cũng coi như hoàn thành tâm nguyện cuối cùng..."

    Cô nhìn về đỉnh núi rồi nhắm hai mắt lại, cảm nhận làn gió hiu hiu khoan khoái, hít sâu vào một hơi, tham lam hưởng thụ sự trong lành ùa vào miệng mũi, ngửa người tựa lên tấm bia ngắm không trung.

    Nhìn lên từ góc độ này, chỉ thấy vạt nắng lọt qua giữa tóc và trán của Thi Ngũ gia chiếu xuống dưới, hình thành mấy vòng sáng nhu hòa, tôn hắn lên như một vị thần, vùng kim quang như muốn hòa tan hắn vào trong.

    Chẳng biết từ đâu sinh ra một nguồn sức mạnh, khiến hai chân vốn tê dại rã rời bỗng lấy lại tri giác.

    Chỉ thấy Kinh Niên giẫm đất bật dậy, chạy ào vào lòng Thi Ngũ gia, hai tay vòng sít sao quanh eo hắn.

    "Ngũ gia, đừng đi!

    Đừng bỏ Kinh Niên lại một mình..."

    Cô vùi mặt vào trong chiếc áo bị máu nhuộm thành màu tím đen, cọ cọ mè nheo.

    Những chuyện xảy ra gần đây khiến cho cô bất an, việc Thi Ngũ gia mất khống chế đã đổ thêm dầu vào lửa, tất cả mọi chuyện như đang xâu lại với nhau, con đường vốn không nên đi lại đang mở ra trước mắt: "Không nên tới Diêm Vương tự, mấy chuyện lộn xộn đó ta không muốn xía vào nữa..."

    Nói đoạn lại biến thành khóc thút thít: "Ta cũng không tìm cái gương gì đó nữa, Ngũ gia... ta không muốn giúp ngài... không muốn giúp ngài ra đi...

    Kinh Niên không biết suy nghĩ của ngài, nếu như ở lại bên cạnh ta không phải tự nguyện, Kinh Niên thà rằng vĩnh viễn không mở phù chú, chỉ cần có thể giữ ngài lại, dù chỉ là thân thể cũng đủ rồi..."

    Cô cúi đầu nghẹn ngào, hai vai run run một hồi rồi dừng lại, thả tay lui ra sau một bước, ngẩng đầu nhìn về phía mặt của Thi Ngũ gia, lệ đọng ở hai gò má còn chưa khô đã híp mắt mỉm cười: "Lừa ngài thôi!"

    Cô le lưỡi, nói tiếp: "Tuy cũng có khi nghĩ vậy, nhưng suy cho cùng... nguyện vọng của Ngũ gia chính là nguyện vọng của Kinh Niên, chỉ cần chuyện tốt cho Ngũ gia, Kinh Niên đều cam tâm tình nguyện làm!

    Chẳng là, Ngũ gia ngài... không được hù ta giống như trước nữa, ngài muốn tìm dương khí thì cũng từ từ, vừa lôi vừa kéo, Kinh Niên thật tình cho là sắp bị chơi toi rồi, cái mạng này của ta còn phải giữ lại cho Ngũ gia đó!"

    Cô chà chà hai chân, thấy có vẻ linh hoạt, trong bụng thầm giật mình, xem ra dương khí bị hút cũng không nhiều như mình nghĩ.

    Nếu có thể đi được, thì cô cũng không muốn nán lại lâu nữa.

    Kinh Niên tự nhận mình không phải là người thích trốn tránh, đối với cô mà nói, nếu đã nhúng tay vào thì phải cố gắng tới cùng, huống hồ cứ bỏ đi như vậy trong lòng sẽ có khúc mắc, người chỉ cầu một giấc ngủ ngon, cô cũng không muốn thấy ác mộng.

    Vì vậy, phủi phủi quần áo, lau khô nước mắt, hai tay vươn lên duỗi người, gọi Thi Ngũ gia đi lên sườn núi.

    Lên tới đỉnh núi, rồi lần theo hướng Tây Nam xuống dốc núi, sau khi tới đáy nhìn thoáng qua đã thấy tòa bảo tháp phía bên trái, cách chân núi không quá nửa dặm đường.

    Bên cạnh cái đầm nước nhỏ dựng một căn lều, trước lều xếp lộn xộn mấy bộ bàn ghế, có lẽ là một dã điếm giữa núi.

    Kinh Niên cất bước nhắm thẳng tới hướng đó, khi sắp tới căn lều xập xệ, thì chợt thấy một nữ tử đi tới trước mặt, bám theo đằng sau là ba đứa trẻ hò hét ầm ĩ hốt đá trên đất ném qua.

    Cô gái kia mặc bộ hắc y rách rưới, rụt vai cúi đầu, trên búi tóc rối bời cắm mấy cành khô lá mục, hai tay ôm một vật đen nhánh tỏa sáng, giấu vào trong ngực nên không thấy rõ lắm, trên hai mắt cá chân đeo một đôi xiềng xích, dây xích thô đen kéo lê trên đường đất mấp mô phát ra tiếng "Leng keng" lanh lảnh, cái cùm chân kia trông cực kỳ nặng nề, thảo nào cô bước đi lại chậm như rùa bò.

    Kinh Niên nhất thời hiếu kỳ dừng bước lại, thấy cô gái kia đi một mạch tới trước mặt, ngẩng đầu cười với mình, đúng là một trang tuyệt sắc nghiêng nước nghiêng thành, chẳng qua sắc mặt có vẻ ốm yếu bệnh hoạn, mặt mày tái nhợt không tìm được một chút huyết sắc, giữa trán khắc một chữ "Quỷ" đỏ tươi, nhìn thấy mà giật mình.

    Đá cứ ném túi bụi về phía cô ta, mãi tới khi đập tới giữa tóc mai làm rỉ ra vết máu đỏ tươi, cô ta vẫn cười tới vui vẻ, Kinh Niên thấy cô ta đang nhìn mình, bất giác mở miệng hỏi: "Cô cười gì vậy?

    Không đau sao?"

    Cô ta vẫn cứ cười, lắc đầu khẽ khàng: "Quen rồi sẽ hết đau."

    Giọng yếu ớt nhàn nhạt, như tiếng suối chảy xuôi qua rừng rậm đêm khuya, Kinh Niên nghe mà tâm thần nhoáng lên, lúc cúi mắt lại phát hiện bên dưới làn váy tàn tạ ló ra một cặp chân khẳng khiu như que củi, đôi xiềng nặng trịch trói bên trên, như muốn hòa làm một thể với nó vậy.

    Trên dưới xiềng là một vòng thịt hồng loang lổ, làn da dưới bắp chân đã hoàn toàn biến thành màu đỏ tía, thậm chí ngay trên giày thêu cũng dính vết máu.

    Kinh Niên dời tầm mắt lên mặt cô gái, bây giờ khi nhìn lại nụ cười kia trong lòng cô bỗng sinh ra sự thương hại.

    Nhìn lũ tiểu quỷ càng chọi càng hăng, hòn sau còn to hơn hòn trước, Kinh Niên sải bước dài tới, lướt qua cô gái kia, ngoảnh về phía lũ trẻ hét to: "Tiểu quỷ thối!

    Mới tí tuổi đầu mà đã ăn hiếp người ta, hả?

    Xem ta dạy dỗ tụi bây thế nào!!!"

    Hét xong xắn xắn tay áo nhảy vọt tới.

    Lũ trẻ thấy mặt cô bê bết máu đen, khí thế sừng sộ, thì ré to lên: "Quỷ tới!

    Quỷ tới!"

    Rồi sợ chết khiếp chạy ào vào trong lều, sau đó đã bị một người ăn mặc như tiểu hỏa kế lôi vào nhà gỗ, sập "Ầm" cửa lại.

    Kinh Niên làm mặt quỷ với cái lều, quay người lại đã thấy cô gái kia nâng vật trong ngực lên lòng bàn tay, chính là một cái linh bia nhỏ cao một thước, trên bia có khắc ba chữ "Diêm Vương nhãn".

    Đổi lại người thường nhiều lắm chỉ nghĩ linh bia này hình dạng kỳ dị, nhưng trong tích tắc Kinh Niên đối mặt với dòng chữ trên bia lại cảm thấy như có một con mắt cực to đang mở ra nhìn mình, bắn ra vạn tia sáng đỏ đoạt hồn nhiếp phách, cô vội vàng nhắm hai mắt lại, rồi chợt nghe giọng mềm mại của cô gái kia bay vào trong tai: "Cô là bạn của ba người trong tự sao?"

    Kinh Niên không dám mở mắt ra, hỏi lại: "Cô là ai?"

    Sau đó nghe cô gái kia nói: "Ta đã giấu linh bia rồi, cô đừng sợ."

    Chần chừ một chút, lát sau cô mới từ từ mở mí mắt ra, quả nhiên thấy cô gái kia đã ôm tấm bia vào ngực lại, lấy ống tay áo che thật kín.

    Cô gái kia nhìn thẳng vào hai mắt cô, cười nói: "Ta tên là Hoàn Tình, gặp phải đại nạn, nên tới Diêm Vương tự an thân, trước đây không lâu có ba người vào tự, cũng giống như cô, áo nhuộm máu, cơ thể mang trọc âm(*), nhất định là mới đi ra từ Phong Hoa cốc đối diện sườn núi, không phải bạn thì cũng quen biết."

    (*)khí âm đục bẩn.

    Kinh Niên vốn định biến hóa hai mắt để nhìn lén thân phận cô ta, nhưng bị cái nhìn chằm chằm làm trước mắt hóa hư không, không thể tụ được khí, biết ngay là gặp phải người phi phàm, nếu không muốn tự hiện thân thì chắc sẽ không để người ta nhìn thấu, thế nên cô không phí công nữa, thở hắt ra, nói: "Cô nương nói không sai, ta và ba người đó thật sự đi ra từ Phong Hoa cốc, hẹn gặp gỡ trong tự, nếu tháp tự là chỗ an thân của cô nương, thì ta chỉ có thể nói tiếng quấy rầy thôi."

    Hoàn Tình lắc đầu nói: "Ta với cô có duyên, dù không ra đây cũng sẽ gặp nhau trong tự, có điều hai vị bằng hữu của cô thân thể suy yếu, đói khát khó chịu, nên ta muốn tới khách điếm mua ít nước với thức ăn, nào ngờ chủ quán giá nào cũng không chịu bán cho ta..."

    Cô ta mở tay ra, vài đỉnh bạc vụn khảm vào lòng bàn tay, góc cạnh bén nhọn đâm vào trong thịt.

    Kinh Niên thấy trên bạc dính máu, vậy mà cô ta tới liếc cũng chẳng buồn liếc, chỉ nhìn chằm chằm mình, cười đến là hạnh phúc, không hiểu sao Kinh Niên lại đâm ra phiền muộn, đưa tay nắm mấy đỉnh bạc vụn, cau mày nói: "Cô không biết đau sao?"

    Hoàn Tình vẫn cứ cười, bẵng qua một lúc lâu mới nhìn xuống bàn tay, nụ cười không tắt mà chỉ sửng sốt, tiếp đó thu tay về trong tay áo, như không nghe thấy cô hỏi gì, chỉ nói: "Ta muốn tới khách điếm khác hỏi thử, có thể chủ quán sẽ chịu bán cho ta, ta biết dọc theo chân núi đi về hướng Tây có một thôn nhỏ, nhưng ta đi rất chậm, sợ để bằng hữu của cô chờ lâu, nếu cô không ngại, có thể đi thay một chuyến không?"

    Kinh Niên nhìn trán cô, thầm nhủ dù đổi mấy nhà đi nữa, ông chủ khách điếm cũng chưa chắc chịu bán đồ cho cô, gánh trên trán cái chữ bị người ta kiêng kỵ, cô đã sống qua ngày thế nào đây?

    Lẽ nào là thần tiên thật sao?

    Hoàn Tình thấy cô không trả lời thì cũng không sốt ruột, cười nói: "Cũng được, thể khí của cô nương chưa hồi phục, cứ tới tự nghỉ ngơi trước đi, chờ ta trở lại."

    Nói rồi lê xiềng xích đi về hướng sườn núi.

    Kinh Niên với tay kéo cánh tay Hoàn Tình lại, nhưng vừa bắt lấy đã buông ra nhanh như chớp.

    Hoàn Tình nghiêng người, vuốt khẽ chỗ bị nắm, rồi ngoảnh qua nhìn nét mặt cô, cười nói: "Xin lỗi, làm cô sợ."

    Kinh Niên nhìn sơ qua lòng bàn tay rồi nhìn lên nữ tử đang cười như gió ấm tháng sáu, vì cảm xúc dưới tay vừa rồi rất kinh dị — đó là cánh tay người sao?

    Nhỏ tới lạ lùng, cũng không mềm mại như làn da mà nữ nhân nên có, tuy bị y phục che đậy không nhìn thấy, nhưng loại cảm giác này rõ ràng như một nhánh xương khô.

    Thấy Hoàn Tình lại muốn đi về phía trước, cô vội nói với theo: "Không cần phải đi xa như thế, ta đi là được rồi."

    Nói rồi đếm đếm bạc vụn trong tay, bước nhanh tới căn lều nhỏ xập xệ.

    Kinh Niên đi tới trước cánh cửa gỗ đóng chặt, gõ ầm ầm, kêu lớn: "Chủ quán!

    Chủ quán!

    Còn không mở cửa ra sao?!

    Mở cửa ra nhanh lên!

    Mở cửa ra —-"

    "Tới đây tới đây."

    Hỏa kế lôi lũ trẻ vào nhà lúc nãy mở rộng cửa đi ra, vừa thấy cô đã thét "Á" một tiếng rồi đóng sầm cửa lại.

    Kinh Niên nhấc chân đạp một đạp, đá văng cái cửa, xông thẳng vào.

    Hỏa kế bị cánh cửa bắn ngược lại té ngồi xuống đất, ngay sau đó lập tức quay người bò xuống dưới cái bàn cạnh cửa, ôm chân bàn kêu la: "Ông chủ ơi!

    Cứu mạng!!

    Quỷ muốn bắt ta!"

    Kinh Niên đi tới trước bàn, ngồi xổm xuống liếc xéo hắn: "Ngươi xem ngươi đen như than thối như phân, nếu ta là quỷ thật thì cũng không thèm bắt ngươi!"

    Chửi xong nhìn về phía nắm nhỏ núp đằng sau quầy, cười xấu xa: "Muốn thì phải bắt mấy nhóc kia kìa, trẻ con trắng trắng mềm mềm là ngon miệng nhất!"

    Câu dọa của cô dẫn tới tiếng la hét loạn xà ngầu, Kinh Niên đi tới, nhấc chân gác lên mặt quầy, chỉ vào giầy vải, giảng cho cái nắm trốn dưới quầy một bài: "Nè!

    Thấy rõ chưa thấy rõ chưa!

    Ta có tay có chân, quỷ ở đâu hả?"

    Quỷ hồn vô hình, cái này dân gian càng đồn càng thái quá, nói gì mà quỷ không có tay không có chân đủ thể loại, thật là chẳng khác gì với thi khuyết tật.

    Ông chủ ôm ba đứa bé hệt như gà mẹ ấp trứng, nghe cô nói vậy mới dám ngóc đầu nhìn cái đế giày lắc qua lắc lại trên mặt quầy, nhìn hồi lâu, mới thấp thỏm hỏi thăm: "...

    Vậy sao ngươi máu me đầy người, chẳng lẽ không phải chết oan về báo thù sao?"

    "Báo cái gì thù, là heo núi tới tìm ta báo thù thì có."

    Cô thả chân xuống, quay người lại kéo Thi Ngũ gia tới trước: "Ngũ gia chúng ta mới làm thịt con heo núi điên ở đằng trước, chà, máu phun ra phải nói, từ đầu tới chân, ông nói xem ta không máu me đầy người sao được hả?"

    Chủ quán ló mắt ra từ dưới cánh tay, xem kỹ mấy lần, thấy trên mặt Thi Ngũ gia dán lá bùa thì nhỏ giọng hỏi: "Cô... cô nương chẳng lẽ là... là Thi quan à?"

    "Chà, giờ ngài mới nhìn ra sao?

    Nên đi luyện mắt lại đi!"

    Kinh Niên đập tay lên quầy, rung rinh tới nỗi bàn tính hạt châu kêu lên lạch cạch.

    Chủ quán nhìn tử tế lại một hồi, thấy tay chân cô đầy đủ, trừ dính máu ra thì quả thật không có gì khác người, vả lại tên đứng bên cạnh cô nhìn kiểu nào cũng đáng mày đáng mặt, nên quyết định tin lời cô, đứng dậy, nhưng nét mặt vẫn còn khẩn trương chút đỉnh.

    Kinh Niên tựa lên cạnh quầy, phất tay che trước mặt hắn: "Chủ quán, ông đừng sợ, ta không ăn thịt ông đâu."

    Một đứa nhóc tì đứng bên dưới giật nhẹ ống quần chủ quán, bắt đầu tố cáo: "Cha, cô ta gạt người, hồi nãy cô ta còn che chở cho yêu quái kia."

    "Hừ!"

    Kinh Niên dựng thẳng chân mày, nổi sùng: "Ta không biết cô ấy thì bảo vệ cô ấy làm chi?

    Ta chỉ thấy mấy tên nhãi con các ngươi khinh người quá đáng, người ta chọc tới các ngươi à?

    Khi khổng khi không hốt đá ném người!

    Còn dám làm kẻ xấu cáo trạng trước hả?!"

    Một nhóc khác mạnh miệng cãi lại: "Chúng ta ném yêu quái chứ không ném người!"

    Thấy cô trừng qua thì cuống quýt rụt ra sau lưng cha.

    Kinh Niên chẳng thèm cãi nhau với mấy đứa trẻ hư không hiểu chuyện này, nói thẳng luôn với chủ quán: "Ta vừa hỏi cô nương ngoài kia rồi, cô ấy tới mua ít thức ăn với nước trà, đâu phải không có bạc, làm gì không bán cho người ta?"

    Chủ quán nghiêng người nhìn ra ngoài cửa, không thấy bóng dáng của cô gái áo đen kia mới nhìn về hướng Kinh Niên, mặt lộ vẻ khó xử: "Cô nương, cô không thấy chữ khắc trên trán cô ta à?"

    Kinh Niên gật đầu đáp: "Thấy, thì sao?"

    Chủ quán xoa tay vò đầu: "Ôi... còn sao nữa?

    Cô không biết cái chữ đó người nào mới có sao?!

    Là quỷ mượn xác đấy!"

    Kinh Niên cười lạnh: "Gì mà quỷ mượn xác, bậy bạ, đó là khó sinh!

    Ông lớn ngồng rồi mà không biết gì hết à?"

    Hoàng đế cũng là một người lớn ngồng, vậy mà cũng định ra cái quy định không thể giải thích được kia, phàm là phụ nữ chết vì khó sinh thì trán của đứa trẻ sinh ra sẽ bị khắc chữ buộc tội, đúng là thất đức!

    Ghim kỹ chuyện này về sau mách lại cho Điện Hạ mới được.

    Chủ quán không nói nữa, nhưng không phải đồng tình với lời của Kinh Niên, ông ta thở dài một cái, ánh mắt lộ ra vẻ thương hại, như ám chỉ cô là một nữ lưu kiến thức hạn hẹp.

    Kinh Niên cũng lười dài dòng với ông ta, không động vào bạc vụn trên tay, mà móc một xâu tiền trong lòng ra: "Chủ quán, đừng nói tới ta ông cũng không bán nhé?"

    Nói rồi quẳng tiền lên bàn: "Cho ta một cân thịt bò, bốn cân bánh bột mì, một bình nước nóng với một vò Thiên Tuế Hương, chỗ tiền dư khỏi thối, sau này nói con nhà ông đừng làm khó cô nương trong tự nữa."

    Chủ quán kia cầm tiền rồi gật đầu một cái, vừa đúng một nghìn văn, mua thêm năm con gà, một gánh gạo nữa vẫn còn dư.

    Lúc này mặt mày ông ta nở hoa, trên cái mặt già nua nhăn tít thành mấy cái rãnh sâu, lượn ra khỏi quầy, ân cần kéo cái ghế sau lưng: "Đâu có đâu có!

    Ngài ngồi trước chút nhé."

    Sau đó giận dữ lườm hỏa kế dưới gầm bàn, khiển trách: "Ngươi làm gì thế hả!

    Còn không châm trà cho khách quan?"

    Hỏa kế lồm cồm chui ra khỏi gầm bàn, luống ca luống cuống chạy đi lấy ấm trà, Kinh Niên ngăn hắn lại, nói: "Đừng mất công, ta còn phải đi nữa, chuẩn bị đồ ăn đầy đủ là được rồi."

    Chủ quán cười hùa theo "Vâng, phải", thấy hỏa kế vẫn còn đứng ngơ ngác tại chỗ thì hùng hổ đá hắn một cú: "Đực ra cái gì!

    Nhanh đi bảo Vương đầu bếp cắt một cân thịt bò, bốn cân bánh bột mì tới đây, ngươi đun thêm một bình nước, lấy một vò Thiên Tuế Hương, gói lại hết, nghe chưa?

    Sao còn chưa đi!"

    Quát xong thì đẩy một cái, hỏa kế mới lảo đảo chạy tất tả ra cửa sau, tới cạnh cửa còn ngoái đầu liếc một cái, trong mắt vẫn còn ba phần sợ hãi, Kinh Niên lập tức nhe răng với hắn, nhìn hắn bị hù tới giật bắn, chạy ào ra ngoài như bỏ trốn, tâm trạng cô tự nhiên tốt hơn hẳn, bảo chủ quán rót một chậu nước để lau máu khô trên mặt trên tay mình và Thi Ngũ gia, sau đó ngồi bên bàn chờ.

    Thời gian chưa qua một tuần trà, hỏa kế đã mang phần đồ ăn và rượu được gói ghém kỹ càng ra tới, Kinh Niên xách bánh và thịt bò, rồi lệnh cho Ngũ gia khiêng vò rượu với bình trà, sải bước khỏi cửa trong tiếng nịnh nọt của chủ quán.

    Ra khỏi tiệm rồi, thấy Hoàn Tình vẫn còn đứng tại chỗ như đang đợi mình, cô vội vã bước nhanh tới, hỏi: "Trong tự có chén đĩa gì đó không?

    Nếu không thì để ta quay lại xin chủ quán mấy bộ."

    Hoàn Tình cười đáp: "Có, là của mấy sư tăng từng trú trong tự dùng, có điều hơi cũ chút."

    "Không sao hết."

    Chỉ cần xài được là đủ rồi.

    Kinh Niên buộc xâu thịt bò và túi bánh vào với nhau, vác lên vai, rồi giục: "Đi nhanh thôi."

    Điện Hạ với Gia Cát Thủ đều là mạng phú quý không chịu nổi đói rét cực khổ, qua trận lăn lộn này họ cũng chịu đủ, không bỏ mạng trong Phong Hoa cốc mà ra ngoài lại bị chết đói chết khát thì khốn.

    Hoàn Tình khẽ lên tiếng, đang muốn dời bước thì thấy hai cái bọc giấy lớn treo vắt vẻo trên người Kinh Niên, bèn hỏi một câu: "Kinh Niên cô nương, ta giúp cô cầm một cái nhé."

    Nói rồi chìa một tay ra, bàn tay hướng tới trước.

    Kinh Niên nhìn chằm chằm vào cổ tay xương xẩu của cô, tay trái nhẹ nhàng giơ lên, trả lại chỗ bạc vụn lúc nãy, đáp: "Bạc này cô giữ đi, không cần lo cho ta đâu, đi thôi."

    Dứt lời, quay người đi về hướng tháp tự, bước chân chậm hơn bình thường rất nhiều.

    Hoàn Tình cười cười, lấy bạc về rồi thả từng bước nhỏ theo sau.

    Trên đầm là một chiếc cầu đá hẹp nối thẳng tới cổng lớn tháp tự, khi vào tầng thấp nhất của điện thứ đập ngay vào mắt chính là một pho tượng Diêm Vương, dù thân không mạ vàng nhưng trông rất sống động.

    Kinh Niên nhìn quanh một vòng, tuy bên trong chùa vắng ngắt, nhưng được quét tước sạch sẽ tới nỗi không nhiễm một hạt bụi.

    Hai bên đài dâng lễ bày hai đế cắm nến đối xứng nhau, mỗi bên giá cắm nến đặt đứng một ống thẻ, trong lọ hương giữa đài cắm ba nén nhang, cháy chưa được phân nửa.

    Hoàn Tình bước lên, đặt linh bia dưới tượng Diêm Vương, chắp tay lại xá một xá, rồi nhẹ nhàng thổi rơi tàn trên đầu nhang, xoay người lại nói với Kinh Niên: "Ba vị bằng hữu của cô đang nghỉ ngơi trong Tây thiền phòng trên tầng thượng, xin mời đi theo ta."

    Kinh Niên vòng qua cổng Thiên môn bên trái đi ra sau điện, tháp tự này không xây thang tháp, mà trên vách tường lõm vào một góc vuông nối từ tầng thứ nhất tới tầng cao nhất, hai người dọc theo mặt gạch nhô ra trong góc vuông, leo lên tầng cao nhất, băng ngang qua một góc đấu củng(*), đi lên hành lang tròn, đẩy cửa gỗ bốn cánh khắc hoa tước điểu ra, rồi xuyên qua điện thờ hình tai, thiền phòng nằm ngay sau cánh cửa núm tua(**), Hoàn Tình dẫn Kinh Niên vào trong, chuyển tới mặt khác của tháp.

    (*) Đấu củng (斗拱): một loại kết cấu đặc biệt của Trung Hoa, gồm những thanh ngang từ trụ cột chìa ra gọi là củng, và những trụ kê hình vuông chèn giữa các cũng gọi là đấu..

    (**) Cửa núm tua hay còn gọi là cửa thùy hoa(垂花门): một kiểu cửa trong kiến trúc nhà thờ thời xưa, trên có mái, bốn góc buông bốn trụ lửng, đỉnh trụ cột chạm trổ sơn màu.

    Thiền phòng phía Tây do ba gian nhà giữa và sáu phòng bên nối lại thành hình vòng cung, bọn Huyền Ảnh đang ngồi trong gian đầu của nhà giữa.

    Lúc đẩy cửa vào, Gia Cát thủ đang ngồi trên ghế thiền, còn Huyền Ảnh thì châm cứu cho Điện Hạ đang dựa nghiêng lên chiếc giường nhỏ.

    Nghe thấy tiếng động cả ba đều nhìn qua, thấy là Kinh Niên thì Gia Cát Thủ gật đầu coi như chào hỏi, sau đó nhắm mắt tu tâm.

    Kinh Niên thấy sắc mặt hắn không tốt, thái dương rướm mồ hôi, biết hắn đang vận khí điều dưỡng, không tiện quấy rầy, nên lấy đồ ăn và bình nước đặt lên cái bàn tròn, rồi đi thẳng tới trước giường.

    Lúc này Điện Hạ đã tỉnh lại, nhìn thấy cô thì mừng rỡ trong lòng, đang định đứng dậy lại bị Huyền Ảnh ấn vai đè xuống: "Điện Hạ, hai mươi huyệt vị của ngài đã đâm châm, cần qua nửa canh giờ nữa mới có thể hoạt động."

    Điện Hạ nghe lời không vận sức, nhưng hai mắt vẫn nhìn Kinh Niên chằm chằm, bĩu môi nói: "Làm muội chê cười rồi."

    Kinh Niên dựng thẳng một ngón tay lên lắc lắc trước mặt y: "Điện Hạ đừng khách sáo với ta, nói thật, Kinh Niên vốn đang nghĩ ngài rất vô dụng, nhưng giờ thì bội phục rồi."

    Điện Hạ cười yếu ớt: "Mục ngự quan, muội đừng giễu cợt ta."

    Kinh Niên lắc đầu, quay lại trước bàn ngồi xuống.

    Hoàn Tình bê một cái khay tới, giữa khuỷu tay còn giắt vài bộ tăng bào, cô đặt khay lên bàn, quần áo thì mắc lên ghế, đoạn lật bốn cái chén đá trên khay lên, tổng cộng có bốn chén, tuy trên cạnh chén có lổ hổng, thân chén đầy rẫy vết nứt, nhưng sạch sẽ bóng loáng, không dính một hạt bụi.

    Kinh Niên mở miếng giấy dầu đậy trên bình nước ra, hơi nóng tức thì bay ra từ miệng bình.

    Hoàn Tình cầm muôi múc nước vào bốn cái chén, bưng một chén cho Gia Cát Thủ trước.

    Gia Cát Thủ miệng khô lưỡi khô, nhận lấy chén nước uống một hơi cạn đáy, nói tiếng cám ơn rồi trả chén lại, cô nhận lấy đặt lại trong khay, rồi bưng chén thứ hai cho Huyền Ảnh, hắn lại đút hết cho Điện Hạ.

    Ánh mắt của Kinh Niên dịch chuyển theo thân hình đang thong thả qua lại, thấy Hoàn Tình định bưng tiếp chén thứ ba thì vội cản lại: "Không vội, Huyền Ảnh không uống đâu."

    Hoàn Tình nhìn về phía Huyền Ảnh, tầm mắt rơi lên cái mạng che mặt đen kịt, khựng lại một hồi mới đặt chén xuống, nói với Kinh Niên: "Cô không uống sao?"

    Kinh Niên đáp: "Ta không khát, khát thì sẽ tự uống."

    Ngụ ý là muốn cô đừng quan tâm.

    Hoàn Tình rũ mí mắt, cầm quần áo trên ghế đặt vào tay Kinh Niên: "Đây là đồ các tăng nhân trước đây để lại, nếu không chê, thì hãy thay bộ đồ dính máu kia đi, đợi ta giặt sạch cho cô rồi thay lại."

    Dừng một chút rồi nói tiếp: "Mấy bộ tăng y này tuy cũ, nhưng ta đều giặt rất sạch."

    Kinh Niên nhìn gương mặt dịu dàng tái nhợt trước mắt, không hiểu sao cô ta lại dùng ánh mắt như nhìn người quen để nhìn mình, nếu từng quen, thì dù chỉ nhìn thoáng qua cô cũng quyết không quên.

    Hoàn Tình cười yếu ớt, lúc không có ai nhìn qua, cô ta đưa tay ra chạm vào mặt Kinh Niên, cảm giác lạnh băng cứng ngắc từ đầu ngón tay miết thẳng tới đáy lòng Kinh Niên, ngay giây phút cô thất thần, Hoàn Tình đã đưa ngón tay chuyển qua Thi Ngũ gia, điểm một cái trên mu bàn tay, sau đó thu tay lại thấp giọng nói: "Dương lực không yếu, âm do thịnh chi, có tâm nhưng khó làm."

    Không đầu không mối, Kinh Niên nghe mà chẳng hiểu gì, nhưng biết lời này đang nói với mình, toan mở miệng hỏi thì Hoàn Tình đã chậm rãi bước ra ngoài cửa.

    ~ Hết chương 12 ~
     
    Thi Quan Kinh Niên
    Chương 13


    Chương 13

    THỔ DIÊN TRẤN TƯƠNG PHÙNG

    Edit: Yunchan

    ***

    Tới khi Điện Hạ rút ngân châm, Gia Cát Thủ và Kinh Niên ở lại nhà giữa, Huyền Ảnh lánh ra sau tấm bình phong, sau khi ăn uống xong thì chia nhau ra thay đồ bẩn.

    Bởi Điện Hạ và Gia Cát Thủ chưa bình phục, nên Huyền Ảnh ở bên hầu hạ, còn Kinh Niên và Hoàn Tình thì bỏ đồ vào trong chậu, đi chung tới đầm nước ngoài tháp để giặt giũ.

    Hai người ngồi sóng vai trên tảng đá nổi dưới nền tháp, chậu gỗ đặt ở giữa, Thi Ngũ gia đứng ở bên rìa nền tháp.

    Kinh Niên vừa cầm chày gỗ ra sức đập bồm bộp lên y phục ướt, vừa liếc sang gò má của người bên cạnh.

    Hoàn Tình biết cô đang nhìn mình, nhưng không nhìn đáp lại, đầu cũng không chệch đi chút nào, chỉ cố hết sức xốc y phục lên lật sang mặt khác, trải lên mặt đá rồi nện tiếp, cây chày gỗ cầm trong tay cô dường như còn nặng hơn cả côn sắt.

    Kinh Niên thấy khóe môi cô ta mỉm cười, nhưng miệng thì mím chặt như không có ý định nói chuyện, thế là cô không ngại lên tiếng phá vỡ sự im lặng: "Hai ta từng gặp nhau chưa?

    Cô biết ta phải không?

    Ở bên khách điếm cô từng kêu tên Kinh Niên, có phải là nghe bọn Huyền Ảnh nói không!"

    Hoàn Tình vẫn không dừng động tác trên tay, trên trán nhỏ mồ hôi tí tách mà mặt vẫn không đổi sắc, thậm chí nụ cười càng rõ nét hơn.

    Sau đó cô đặt chày gỗ qua bên, hai tay nắm lấy vai áo nhúng vào nước vò sạch, vết máu tản ra hệt như từng sợi mực đen.

    Vò được một lát, cô xách lên rồi trải ra trên mặt đá, đến đây mới trả lời câu hỏi: "Cô chưa từng gặp ta, nhưng ta lại nhận ra cô."

    Cô ngoảnh mặt về hướng Kinh Niên, mắt mày cong cong làm cho người ta liên tưởng tới mặt phật cười.

    Kinh Niên ngạc nhiên: "Ta chưa từng gặp cô, sao cô lại nhận ra ta?"

    Hoàn Tình đáp: "Có những chuyện có thể nói, có những chuyện không thể nói, cô không cần so đo những thứ ngoài lề, chỉ coi ta là một người hữu duyên thôi."

    Kinh Niên suy nghĩ một chút, hỏi: "Chuyện gì có thể nói, còn chuyện gì không thể nói?

    Cô thần thần bí bí như vậy, làm ta càng hiếu kỳ hơn rồi!"

    Thấy cô ta vẫn cười chứ không đáp, bèn hỏi tiếp: "Quỷ thần tiên yêu, cô là loại nào?"

    Câu hỏi này rất thất lễ, nhưng Hoàn Tình không để bụng mà vui vẻ đáp: "Ta là người."

    Thấy Kinh Niên ngó trái nhòm phải nửa tin nửa ngờ, tự dưng mỉm cười: "Cô không cần nghi ngờ, chẳng qua ta biết nhiều thấy nhiều hơn người thường thôi, Kinh Niên cô nương, cô cũng vậy."

    Kinh Niên hơi ngẩn ra, càng nhìn vào cặp mắt xuyên thấu mọi thứ đó thì càng thấy chột dạ, ánh mắt kia quá trong suốt, như mặt gương vậy, soi hết mọi ngóc ngách khiến người ta không còn chỗ nào che giấu, cô dứt mắt quay đầu đi, thì thào: "Hoàn Tình cô nương, cô nhìn thấy gì ở ta?"

    Hồi lâu không nghe đáp lại, cô rầu rĩ nói: "Chuyện này... cũng không thể nói sao?"

    Hoàn Tình ngắm nhìn cô từ trên xuống dưới, lướt qua đỉnh đầu rồi nhìn ra phía sau cô, cuối cùng dời mắt về, thì thầm khe khẽ: "Một sợi dây máu thắt hai đầu, hàng tháng hàng năm trông bất tận, mệnh không do trời chỉ thêm sầu."

    Lời này vừa nói xong Kinh Niên bỗng chấn động tâm thần, im bặt thật lâu.

    Hoàn Tình bỏ y phục đã vắt khô vào trong chậu, rồi lấy một bộ đồ ướt khác ra đập tiếp, cách một lát thấy Kinh Niên không ừ hử tiếng nào, y phục đang cầm cũng không vò tiếp, chỉ si ngốc ngơ ngác nhìn xuống dưới, rõ ràng đã bị vạch trần tâm sự mà không ai có thể nhìn ra nên nhất thời không chấp nhận được, thấy thế Hoàn Tình bèn trấn an: "Ta cũng không muốn dọa cô, vì cô hỏi vấn đề có thể nói, mà ta không thể không nói, cho nên ta biết không phải đọc suy nghĩ của cô, mà chỉ trùng hợp nhìn thấy tiền căn hậu quả trong này thôi."

    Thấy Kinh Niên toan mở miệng, Hoàn Tình bèn tiếp luôn: "Ta không thể nói nửa câu dối trá, cũng không thể giấu diếm nửa phần, cho nên sẽ không lừa cô, cô cũng đừng hỏi là thấy lúc nào ở đâu, làm sao thấy, những thứ này ta không thể nói."

    Dù cho trong lòng Kinh Niên có trăm ngàn ẩn số muốn hỏi, nhưng thấy Hoàn Tình thẳng thừng như vậy cũng không tiện truy cùng đuổi tận, bèn chọn ra vài nghi vấn trong đầu, lấy những điều liên quan tới bản thân, điều không thể suy xét, điều lo âu sợ hãi, tất cả xâu thành vài câu đơn giản, sau đó hăng hái hỏi thăm: "...

    Bên cạnh chúng ta sắp sửa xảy ra chuyện gì cô có thấy được không?

    Cô thấy với không thấy đối với chúng ta mà nói làm sao phân biệt?

    Cô đã nhìn thấu ta rồi, vậy có thể mách nước chút đỉnh, nói cho ta biết con đường nên đi với con đường không nên đi không...

    Những thứ này có thể nói hay không nói?"

    Hoàn Tình thả y phục xuống, dịch chân ngồi đối diện với cô, kéo tay cô qua đặt giữa hai tay mình, rồi ôn hòa nói: "Chuyện quá khứ ta có thể thấy, nhưng không có sức mạnh để thay đổi, chuyện tương lai không có định số, chẳng ai biết trước được, nhưng chuyện đang diễn ra thì ta lại thấy rất nhiều, rất chính xác.

    Nếu cô không đi ngang qua đây, thì e là hai ta phải lỡ mất kiếp này, hôm nay hai ta gặp nhau, có thể coi là bèo nước tương phùng, khiến ta tận hết tình chủ nhà tại Diêm Vương tự này.

    Kinh Niên, con đường nên đi đó câu trả lời là do cô quyết định, chỉ xin không thẹn với trời đất, không thẹn với bản thân thôi."

    Giọng thành khẩn thấm thía như bề trên giáo dục con cháu, Kinh Niên chưa bao giờ được người ta đối xử bằng thái độ này, bây giờ lại bị ánh mắt dịu dàng pha lẫn yêu thương này nhìn tới nỗi xót lòng, sinh ra một loại cảm giác khó hiểu trước nay chưa từng có, cô gái trước mắt này dường như trời sinh đã mang theo loại ma lực khiến người ta tin phục.

    Cô bỗng cảm thấy nhánh xương khô lạnh băng đang ấp trên tay trở nên ấm áp, loại cảm giác thoải mái này như đang ngồi trên mây phiêu du, mấy lời bình thường nhất định sẽ không nói với người ngoài lại không cầm nổi phun ra khỏi miệng: "Sao có thể không thẹn, ta có thể lừa được thế nhân, nhưng không gạt được bản thân... ta giúp người khác, nhưng ai giúp ta?

    Ta vốn là một thứ thừa thãi, trước đây là cái bóng của người khác, bây giờ là cái bóng của Ngũ gia... sau này sẽ lại biến thành của những người khác..."

    Dứt lời thở dài một hơi, quay đầu nhìn về phía Thi Ngũ gia, lộ ra một nụ cười thoải mái.

    Hoàn Tình đan chặt mười ngón tay vào nhau, nhắm mắt đắn đo chốc lát rồi lại mở mắt ra, cầm bàn tay đang ấp trong tay phủ lên ngực Kinh Niên: "Suy nghĩ trong lòng và việc cô đang làm có trái ngược nhau không?

    Kỳ vọng và sợ hãi của cô có nhất quán với nhau không?

    Có câu quan tâm tất loạn, còn tồn tại trên thế gian này thì mới có khả năng, đừng để sợ hãi che mờ mắt."

    Kinh Niên mơ hồ, chẳng biết cụ thể ám chỉ điều gì, nét mặt Hoàn Tình vẫn ân cần thành khẩn, nhưng lời nói ra lại hơi bị ông nói gà bà nói vịt.

    Hoàn Tình buông tay ra, quay người lại cầm chày gỗ, một tay xoa xoa mồ hôi giữa trán, híp mắt nhìn sóng nước lăn tăn, rồi cười nói: "Giặt nhanh chút thôi, nhân lúc trời nắng phơi khô, nói không chừng tới tối là khô rồi."

    Kinh Niên sững sờ, nhìn bộ đồ trong tay nhỏ nước tanh xuống dốc tảng đá rồi chảy vào trong đầm, lật đật quay đầu lại vò tiếp.

    Cô không nhìn ra chân thân của Hoàn Tình nên vốn hơi lo lắng, tính mượn thời gian này để thăm dò, nhưng qua cuộc đối thoại vừa rồi, cô đã phủi bay suy nghĩ này ra khỏi lòng.

    Mặc kệ là thân phận gì, mặc kệ lời Hoàn Tình nói đáng tin mấy phần, nhưng chỉ cần cô ấy không làm khó họ là đủ rồi.

    Cứ coi như gặp được thế ngoại cao nhân đi, có thể gặp mà không thể cầu.

    Một khi đã xác định suy nghĩ thì cô cũng không hỏi lung tung nữa, hết sức chuyên tâm giặt y phục.

    Hai người giặt xong thì treo quần áo lên sợi dây thừng giăng ngang ngoài cửa sổ phía Nam để hong khô, sau đó vào trong tháp.

    Hoàn Tình thay nhang đèn dọn dẹp tự đường, Kinh Niên thì dẫn Thi Ngũ gia lên thiền phòng tầng hai, lấy tro bùa pha với Thiên Tuế Hương làm rượu thuốc cho Điện Hạ và Gia Cát Thủ uống.

    Nằm trên giường tới tận hoàng hôn, cuối cùng tinh thần hai người cũng phấn chấn trở lại, quần áo cũng được gió hong khô, cho nên không ai muốn nán lại nữa.

    Hoàn Tình cũng không giữ lại lâu hơn, dẫn họ tới tượng thờ trước điện bái lạy và rút xăm cho châm ngôn.

    Kinh Niên rút được thẻ —- lấy tâm làm mắt, không gặp vô duyên, đừng hỏi tạo hóa sẽ ra sao, vinh hèn được mất tự công đạo.

    Điện Hạ rút được thẻ —– không cầu tư mưu, không lấy gian tín, không động vì lợi, không hư vì sắc.

    Huyền Ảnh rút được thẻ —– Một đời lao khổ đều do mệnh, biết quân phủ cực thái tương lai.

    Gia Cát Thủ rút được thẻ —- Nhật Nguyệt cùng thay, người hiền ở bên, nhân duyên thiên định.

    Hoàn Tình không giải xăm mà tiễn mọi người ra khỏi tháp, băng qua cầu hẹp, rồi hướng mặt về phía mọi người nói: "Ta là thân đại kiếp, hàng ngày phải coi chừng tự đường không được rời xa, có việc gì khó hãy tới đây tìm ta, ắt có thể giúp đỡ."

    Khi nói lời này, tầm mắt rơi trên người Thi Ngũ gia, hành động này lọt vào mắt Kinh Niên, mặc dù cô hoang mang khó hiểu nhưng bên ngoài vẫn thản nhiên.

    Từ biệt Hoàn Tình xong, mấy người vòng qua tháp tự nhắm thẳng về hướng Nam, trên đường thuê thêm bốn con ngựa, mỗi tối ăn cơm xong thì nghỉ ngơi, vào canh ba thì lên đường rời điếm, ra roi thúc ngựa, chưa đầy bảy ngày đã chạy tới cảnh nội Nam tỉnh.

    Khi tới ba ngã giao nhau, có hai ngã lên kinh —– một ngã đường xa phải vượt qua hai ngọn núi, một ngã đường gần, cần đi ngang qua Thổ Diêu trấn.

    Điện Hạ sau một lúc cân nhắc, quyết định không đổi lộ tuyến, không vòng đường xa, mà trực tiếp đi qua đường trấn.

    Thổ Diêu trấn giống như Phong Hoa cốc, cũng là một nơi trong tứ đại âm huyệt, đã có bài học trước đây nên họ không mò đường đi đêm nữa, mà ngủ nhờ trong một nhà dân trong thôn, đợi sáng mai vào trấn.

    Do trưng thu đất dựng miếu quan, dân trong trấn đã bị cưỡng chế di dời hết, quan phủ rào đất để khởi công, lấy một phiến đá to để ngăn vùng, chỉ chừa hai con đường mòn cho người vãng lai đi lại.

    Ở đây không hạ lệnh cấm hành, công trình dỡ nhà xới đất đang tiến hành ở bên trong, dòng người ra vào kinh đều chen chúc trên con đường hẹp bên ngoài, tiếng người ồn ào, tiếng đi đường huyên náo và tiếng thi công "Uỳnh uỳnh" trộn lẫn vào nhau, xáo tung mảnh đất này thành một vùng hỗn loạn.

    Điện Hạ dắt ngựa đi tuốt đằng trước, cầm quạt xếp phất qua phất lại, không cho dòng người chen chúc đụng vào mình, ngoái đầu nói: "Lúc ta đi ra còn chưa rào đá, mặt đường rất rộng, ngồi trên lưng ngựa đi một nước đã qua được."

    Gia Cát Thủ nối gót theo sau, thỉnh thoảng bị người đi sượt qua va vào, bây giờ còn chưa tới giữa trưa mà nho sam đã ướt nhẹp mồ hôi, trong tay hắn cầm cái quạt hương bồ mượn từ chỗ Kinh Niên, vừa đi vừa phẩy, bày tỏ cảm xúc với mùi mồ hôi xông ngợp mũi: "Không ngờ mùi người thối lên cũng làm người ta hết chịu nổi!"

    Nếu mùi xác chết trong Phong Hoa cốc đủ làm hắn choáng, thì cái mùi ở đây dư sức làm hắn té xỉu, chỉ có loại thôi thúc muốn đâm tường.

    Thi Ngũ gia cưỡi trên lưng ngựa, Kinh Niên dắt ngựa đi ở sau cùng, cô hết sức đồng cảm với câu phát biểu của Gia Cát Thủ, bèn chen tới cạnh Huyền Ảnh đằng trước giở giọng trêu: "Đạo gia, nhiêu đây ngài đã chịu không nổi, Kinh Niên còn ngửi qua mấy thứ thối hơn kìa!"

    Gia Cát Thủ không thèm tin lời cô, hỏi bật lại một câu: "Mùi gì còn thối hơn cái này hả?

    Chẳng lẽ là... phân?"

    Kinh Niên cười lăn lộn, với tay đập lưng hắn: "Nhiêu đó thì nhằm nhò gì?

    Mấy thứ đó chỉ ở trong bồn cầu cùng lắm một đêm đã bị đem đi đổ, ngài nên ngửi thử hố phân ngoài đồng á, phân người phân chó phân heo phân trâu, tất tần tật khuất đều, mặt trời hơ hơ, sinh giòi sinh bọ, chậc!

    Thật đúng là... thối hết xiết!!"

    Gia Cát Thủ nghe cô nói xong mặt cũng tái theo, chỉ nghĩ thôi mà đã thấy buồn nôn, nếu ngửi phải thật thì đúng là hỏng đời, cuống cuồng dùng tay che miệng: "Ta... ta khi không đi ngửi thứ đó làm gì hả?"

    Kinh Niên cười tới mức hệt như hồ ly thành tinh: "Phải ngửi phải ngửi!

    Hễ ăn chay niệm phật đều cần đi nhìn thử, rau cải trong cháo mà các ngài ba bữa không rời... chính là mọc từ trong đó ra á!"

    Gia Cát Thủ chỉ cảm thấy trong dạ dày trào lên cuồng phong bão tố, nước chua xộc thẳng lên trên, hắn lắp bắp phản bác: "Nào... nào có chuyện này, ngươi chớ nói bậy!"

    Kinh Niên cười hì hì: "Ta chẳng thèm nói bậy, là đạo gia ngài không biết gì về chuyện nhà nông, không tin thì đi hỏi Điện Hạ thử xem, nếu không hỏi Huyền Ảnh cũng được, hỏi thử xem dưa cải ngài ăn sinh ra lớn lên thế nào, vậy là biết ngay ta có hù ngài hay không thôi!"

    Điện Hạ nghe họ bàn tới phân, thấy đề tài này hơi bất nhã nên vốn không muốn chen vào, nhưng bị chỉ mặt đặt tên thì cũng không tiện giả câm tiếp, đành phải cười khổ đáp: "Phải, phải, Mục ngự quan nói quả là... không sai."

    Cây nông nghiệp dựa vào chất dinh dưỡng trong phân để sinh trưởng, nói là mọc ra từ đó cũng không quá đáng.

    Nhưng Gia Cát Thủ biết Điện Hạ một lòng hướng về Kinh Niên, lời nói ra cũng bớt nhiều tính chân thật, bèn quay đầu hỏi Huyền Ảnh sau lưng: "Huyền Ảnh hộ vệ, ngươi nói cho bần đạo nghe xem, cô nương kia nói thật hay đùa?"

    Huyền Ảnh im lặng một lúc, trong giọng khàn chứa ý cười hiếm hoi: "Mục ngự quan quá phóng đại, nông vật trồng trong đất tất nhiên phải bón phân, nhưng không thể nói là mọc ra từ đó."

    Câu này của hắn cũng tính là rõ ràng dễ hiểu, người có tý thường thức đều hiểu được ngay, vậy mà Gia Cát Thủ vẫn cứ không phân biệt được, là một tên mù việc nông, từ trước tới giờ chỉ biết ăn sẵn, chứ chẳng quan tâm lần tới nguồn gốc bao giờ.

    Thế là hắn cau mày suy tư, hỏi lại: "Ngươi nói... bón phân, chính là cái phân đó sao?"

    Huyền Ảnh đáp: "Không chỉ những thứ đó, mà nước bùn trong hồ sen cũng có thể dùng để tưới đồng ruộng."

    Kinh Niên chõ lời vào: "Huyền Ảnh, ngươi thật là am hiểu đủ thứ, sợ là ngay cả nữ hồng cũng không thua cô nương đâu?"

    Huyền Ảnh cúi đầu không đáp, Gia Cát Thủ thì trái lại, vừa nghe phân bón quả thật dùng tới mấy thứ đồ bẩn này thì khó tránh khỏi buồn nôn: "Nói vậy thì, không phải là ăn...

    ăn..."

    Hắn không nói được, thầm nghĩ từ dưới ra rồi lại từ trên vào, lòng vòng qua lại như vậy suy cho cùng là một loại vạn vật luân hồi, nhưng nghe kiểu nào cũng thấy khó chịu.

    Kinh Niên nhìn cái mặt bi thảm là đoán ra ngay hắn đang nghĩ gì, cười khúc khích nói: "Trước khi ăn đương nhiên phải nhặt rửa sạch sẽ, không thì ngài tưởng là gì?

    Ném cả đất với phân vào trong nồi à?

    Ta thấy ngài đấy, lúc tu đạo gia pháp thì bổ sung thêm thường thức đi, thật là mạng hoàng tôn phú quý!"

    Nói xong mới sực nhận ra câu xỏ này dính luôn cả Điên Hạ, cô đang muốn giải vây thì lại bị một trận ồn ào thu hút sự chú ý.

    Đằng trước cách đó không xa, một toán thị vệ mặc quan phục xô xô đẩy đẩy đi ra từ kẽ hở phiến đá, chắn ngang mộc trượng cầm giữ hai người.

    Tầm mắt bị biển người đông nghịt chắn mất nên không thấy rõ lắm, chỉ nghe một người trong đó gân cổ hét lên: "Muốn đi vào coi thử một cái không được sao?

    Một lát là đủ rồi!"

    Tiếng nói như chuông lớn, mười phần trung khí, nghe được làm mắt Kinh Niên sáng bừng lên, hớn hở reo to: "Giọng này quen, là Lô đại ca!"

    Cô giục mọi người bước nhanh lên, chen lại gần nhìn thử, quả nhiên là Lô Hoài Nhâm, bên cạnh hắn là người mặc áo vải nâu đất, mặt dán phù chú, không phải Trần Mộc thì là ai!

    Điện Hạ thấy hắn và bọn thị vệ cãi nhau chí chóe, chẳng biết tại sao lại xảy ra xung đột, bèn bước vội lên chen vào giữa hai người thị vệ hô: "Lô huynh, huynh đang làm gì ở đây?"

    Lô Hoài Nhâm đang cãi nhau hăng máu, nghe thấy tiếng kêu thì quay vụt đầu qua, thấy là người quen, cái mặt hầm hầm lập tức đổi thành cười tươi rói: "A ha!

    Huynh đệ, lại gặp mặt rồi!"

    Trông thấy mấy người đằng sau thì càng cười tới nở hoa, giơ một tay lên vẫy mạnh: "Tiểu muội, tiểu đạo sĩ, lồng che mặt, các người cũng khỏe hả?"

    Gia Cát Thủ không hợp bát tự với hắn, bình thường không thiếu gì người gọi trêu là "Tiểu đạo" đủ thứ loại, nghe xong cũng chẳng nghĩ gì, nhưng tiếng "Tiểu đạo sĩ" cứ tuồn ra từ miệng Lô Hoài Nhâm là nghe kiểu nào cũng thấy chói tai.

    Gia Cát Thủ không quen thói ngoài cười nhưng trong không cười, lòng thấy sao thì mặt hiện vậy, thế là hắn hất mặt đi, ngoảnh mặt làm ngơ với màn chào hỏi của Lô Hoài Nhâm, còn Huyền Ảnh xưa nay là đầu gỗ một cây, thành ra chỉ có mỗi Kinh Niên cười toe toét một mình, lôi dây cương ngoặt ngoặt rẽ rẽ vòng ra đằng trước, phủi phủi y phục hí hửng nói: "Khỏe, ai cũng khỏe!

    Lô đại ca, huynh sao rồi?"

    Lô Hoài Nhâm ôm lấy cổ Trần Mộc, cười tới khoái chí: "Tìm được huynh đệ này về rồi, đương nhiên khỏe miễn bàn!"

    Điện Hạ thấy hắn ăn mặc đẹp đẽ mới mẻ, mặt mày hồng hào, ngay cả Trần Mộc cũng được xử lý sạch sẽ, quay lại với dáng vẻ nhã nhặn trước khi phát cuồng, có thể thấy sau ngày ra khỏi cốc cũng không tệ lắm, vậy mà chạy kiểu nào lại tới chỗ này cãi nhau với người của quan phủ?

    Nghĩ rồi y ôn tồn nói với thị vệ bên cạnh: "Quan gia, người này là bằng hữu của ta, có chỗ nào xúc phạm xin hãy thông cảm."

    Thị vệ hai bên thấy tướng mạo Điện Hạ bất phàm, ăn vận đẹp đẽ quý phái, dự là công tử của danh gia vọng tộc, nên cả hai đều thu trượng dựng thẳng bên người, một người lên tiếng nói: "Nếu là bằng hữu thì khuyên hắn chút đi, ở đây bận rộn lật trời, đừng tới gây rối thêm!"

    Lô Hoài Nhâm trợn trắng mắt: "Cái gì gây rối thêm, ta cùng lắm chỉ muốn vào trong coi thử, coi một chút mà muốn mạng người sao hả?!"

    Thị vệ thấy hắn còn chưa biết điều, quay mặt qua toan bước lên dạy dỗ, Điện Hạ thấy vậy thì nhanh chóng đứng ra hòa giải, luôn miệng nhận lỗi, rồi lách người chen vào đám đông đang vây quanh, kéo cánh tay Lô Hoài Nhâm thấp giọng hỏi: "Lô huynh, nơi này là đất ngự dựng miếu quan, ngoại trừ đốc đầu và nhân công ra người bình thường không cho vào."

    Lúc nói vẫn liếc liếc Trần Mộc, bày sẵn tư thế chân trước chân sau, cứ như vào chỗ chuẩn bị chạy bất cứ lúc nào.

    Bởi ở Phong Hoa cốc hành đầu này nói nổi điên là nổi điên, vẻ điên loạn hung dữ làm người ta nhìn thấy một lần là khó quên, dù cho bây giờ nó hiền lành, nhưng ai dám chắc một khắc sau không nhào lên cắn người chứ?

    Cho nên đề phòng chút cũng không thừa.

    Lô Hoài Nhâm nhìn ra y đang sợ gì, cũng rất hiểu loại tâm trạng này, bèn sải một bước dài chắn trước Trần Mộc, lấy tay che miệng ghé vào tay y nói thầm: "Huynh đệ, ngươi vẫn chưa quên kinh nghiệm đêm đó chứ?

    Chỗ này cũng là âm huyệt, biết đâu cũng có mấy thứ đó... thì sao?"

    Nói rồi hắn so so trên cổ, hỏi tiếp: "Ngươi không muốn đi thăm dò tới cùng à?"

    Sắc mặt Điện Hạ trắng bệch ra, mấy đêm nay ngủ không ngon giấc cũng vì vừa nhắm mắt là có vạn cái đầu trồi lên từ bóng tối, bên này nhe răng cười bên kia đảo quanh y, cố ý ngủ đêm ở nhà dân cũng do không muốn dây vào chuyện tương tự, gan đâu mà dám thăm dò tới cùng gì nữa chứ?

    Thế là y hoảng sợ đáp: "Lô huynh, chúng ta đừng sinh sự nữa thì hơn, có mạng trốn chứ không có mạng đền đâu!"

    Lô Hoài Nhâm chỉ "Hầy" một tiếng, còn chưa kịp nói gì thì đã bị Kinh Niên lôi theo con ngựa chui vào giành nói trước: "Điện Hạ, mới nói ngài có khí phách, đừng làm cho Kinh Niên tự vả miệng mình chứ!"

    Mặt Điện hạ đỏ ửng lên, không muốn mất khí phách nam tử ở trước mặt cô, nhưng không thốt nổi lời hào hùng gì đó, hai tay chắp sau lưng, ngập ngừng đáp: "Khí phách hay không khí phách gì chứ, Huyền Ảnh bảo vệ rất chặt, ta đây chẳng làm gì, còn nói khí phách gì nữa!

    Cái mạng này cũng là do mọi người nhặt về, sợ thì sợ, nhưng nếu thật sự phải lên núi đao xuống chảo dầu, thì không thể thiếu ta!"

    Lô Hoài Nhâm vỗ một phát lên lưng y, giơ ngón cái lên khen: "Hay!

    Huynh đệ nói câu này rất đẳng cấp!"

    Kinh Niên cười khen: "Điện Hạ, ai muốn ngài lên núi đao xuống chảo dầu?

    Y như tiểu đạo gia, nói câu nào cũng tích cực!"

    Giọng điệu của cô trước sau vẫn bất kính như vậy, nghe nhiều rồi sẽ thành quen.

    Ngay cả Gia Cát Thủ cũng tự động chia lời cô thành mấy phần, ba phần đầu là tiếng người, lâu lâu mới nói, nghe xong bảo đảm thu được khá nhiều lợi.

    Ba phần là nói bậy, chuyện phiếm bá láp, không nghe cũng được.

    Ba phần là chuyện cười, có thể nghe giải sầu chút đỉnh, thư giãn bầu không khí.

    Còn một phần cuối cùng là mấy câu người ngoài nghe không hiểu, nói chung là, đừng tưởng thật hết là được.

    Nhưng Điện Hạ đối với ai cũng có thể cười một tiếng rồi thôi, chỉ riêng Kinh Niên là không được, cả trái tim đều giao hết cho người ta, bảo thần hồn điên đảo là quá mức, bảo rất có thiện cảm là chưa đủ, mà là không thể không quan tâm, không thể không bị hấp dẫn.

    Chỉ thấy y nhìn Kinh Niên, nghiêm mặt nói: "Ta không tích cực với người ngoài, chỉ tích cực với mình muội, chỉ cần là lời muội nói, mỗi câu ta đều lắng nghe chăm chú, nhớ kỹ từng lời từng chữ."

    ~ Hết chương 13 ~
     
    Thi Quan Kinh Niên
    Chương 14


    Chương 14

    THAY TÂM PHÙ (THƯỢNG)

    Edit: Yunchan

    ***

    Cái mặt cười của Kinh Niên cứng ngắc lại, vốn định nhanh miệng đùa vài câu, lần này thì hay rồi, rút lại không ổn, không rút lại cũng không ổn, không thể làm gì hơn là giả điếc giả ngơ với câu y nói, lôi lại đề tài cũ: "Bây giờ là ban ngày, nhân khí rất vượng, dù bên trong có ngưu quỷ xà quái này nọ cũng chẳng mò ra kiếm chuyện được, cứ đi vào thử để coi có gì kỳ dị không."

    "Chính thế chính thế!"

    Lô Hoài Nhâm ở bên hùa theo: "Tim cứ treo vắt vẻo làm cả người khó chịu!

    Trong đó sạch sẽ thì thôi, nếu không sạch, thì sớm muộn gì cũng thành cái Phong Hoa cốc thứ hai, về sau lại chịu tội!"

    Điện Hạ quan sát dòng người qua lại trên đường, mặc dù không thể nói sắc mặt ai cũng phấn khởi, nhưng cảnh tượng sục sôi ngất trời này không phải chứng tỏ nhân hòa vạn sự hưng ư?

    Nào có dấu hiệu của tai họa chứ?

    Nhưng ngẫm lại một chút, không phải không hại, mà là chưa tới thời điểm, ngộ nhỡ bên trong thật sự ẩn nấp thứ gì có thể hại người bất cứ lúc nào, thì họ bỏ đi lần này chẳng phải tương đương với thả ma làm ác sao?

    Đương lúc y còn đang giằng co đắn đo giữa vào hay không vào, thì trong khe hở phiến đá đã đi ra một đại nhân mặc quan bào xanh sẫm, đầu đội mũ quan.

    Điện Hạ vừa thấy hắn thì cuống quýt quay đầu, mở cây quạt che khuất mặt, chỉ lộ mỗi cặp mắt ra ngoài.

    Kinh Niên thì lách mình lùi lại sau lưng y.

    Đại nhân đó bước thẳng tới đây, bọn thị vệ đều nhường đường, cung kính đứng ở hai bên.

    Hắn không hỏi cả đống người dồn lại chỗ này làm gì, chỉ ngoảnh mặt qua quan sát Điện Hạ, chốc thì vuốt râu, chốc thì xít lại gần, hỏi với vẻ mặt nghi ngờ: "Vị... vị công tử này, có thể cho ta xem mặt được không?"

    Điện Hạ không biết người này, nhưng dựa theo màu áo bào cũng nhận ra hắn là quan lớn, rất có khả năng từng gặp mình trong cung, vì vậy không dịch quạt khỏi mặt, chỉ nghẹn giọng nói: "Khụ... tiểu... tiểu dân bị cảm chưa khỏi, sợ là không tiện... hy vọng đại nhân thứ lỗi."

    Đại nhân kia gật đầu, cau mày liếc Lô Hoài Nhâm, rồi nhìn ra sau lưng Điện Hạ, chỉ nhìn thấy một cái nơ bướm bằng gấm đỏ, cuối cùng dời tầm mắt về phía Thi Ngũ gia đang ngồi trên lưng ngựa, dừng lại một lúc mới thu hồi ánh mắt, trầm giọng quát bọn thị vệ: "Rúc ở đây làm cái gì?!

    Còn không đứng về chỗ cho ta!"

    Những thị vệ kia cuống cuồng chạy về miệng phiến đá, xếp thành hai hàng gác ở bên ngoài.

    Sau đó hắn lườm ngang qua Điện Hạ và Lô Hoài Nhâm: "Các ngươi cũng đừng chàng ràng ở đây nữa, đi đi đi!"

    Tay áo vung lên đuổi người.

    Điện Hạ thở phào nhẹ nhõm, toan quay người lại, ai ngờ đúng lúc này Gia Cát Thủ và Huyền Ảnh lách qua biển người chen tới.

    Đại nhân kia thấy Huyền Ảnh thì giật mình, nhìn qua Điện Hạ lần nữa, lia từ trên xuống dưới, lúc ánh mắt rơi lên ngọc bài Phi Phượng rũ xuống bên hông, lập tức vén bào quỳ gối xuống đất, chắp tay giơ cao quá đầu: "Hạ quan ngu muội, mạo phạm Thái tử Điện Hạ, xin Điện Hạ khoan thứ!"

    Điện Hạ ra sức vỗ ót, lắc đầu, gập quạt xếp lại, liếc qua Huyền Ảnh đầy bất đắc dĩ.

    Áo choàng đen mạng che đen, ở bên ngoài không nói làm gì, nhưng ở trong cung thì là độc nhất vô nhị, ai ai cũng biết Huyền Ảnh hộ vệ độc nhất vô nhị này theo hầu bên cạnh y, gần như là hình với bóng, có lẽ vị đại nhân này nhận ra thân phận mình cũng vì thế.

    Lô Hoài Nhâm không hiểu mô tê gì, nhìn đại quan đang quỳ trên đất, rồi lại nhìn Điện Hạ: "Cái... cái gì Thái Tử Điện Hạ?"

    Điện Hạ đang khó xử chẳng biết mở miệng thế nào, thì Kinh Niên bỗng chọt chọt lưng y, nói nhỏ: "Điện Hạ, ngài thú nhận luôn đi, cũng sắp tới kinh thành rồi, ngài còn mong giấu được bao lâu nữa?"

    Chuyện này che chuyện kia giấu, còn bảo người ta giúp đỡ thế nào?

    Điện Hạ thở dài, thấy Kinh Niên kéo Lô Hoài Nhâm qua, kề vào lỗ tai hắn thì thầm gì đó, Lô Hoài Nhâm bỗng nhiên trừng mắt nhìn qua đây như bừng tỉnh, Điện Hạ nặn ra nụ cười rất thiếu tự nhiên, rồi nói với người đang quỳ bên dưới: "Đứng lên đi, không cần đa lễ."

    Đại nhân nọ dập đầu thêm cái nữa, nói tiếng "Tạ Điện Hạ ân điển" rồi mới chậm rãi đứng dậy, nhưng không dám ngẩng mặt, cung kính lễ độ nói: "Chẳng hay Điện Hạ thân lâm tới nơi này là có chuyện gì quan trọng?"

    Điện Hạ "ừm" hai tiếng, mắt ngắm chếch qua bên cạnh, thấy Lô Hoài Nhâm nháy mắt ra hiệu, liều mạng làm khẩu hình "Đi vào đi vào", y bèn đặt quạt xếp vào lòng bàn tay, thong thả mở lời: "Dỡ bỏ Thổ Diêu là do ngài giám thị sao?"

    Đại nhân nọ trả lời: "Vâng, hạ quan Đề Thế Hiền, nhậm chức Thổ Ti phủ Tam Hưng."

    Điện Hạ cười cười, mở xoạch quạt ra vẫy vẫy trước ngực, quay lại với dáng vẻ ung dung: "Hóa ra là Đề Ngự Sử, ngưỡng mộ đã lâu ngưỡng mộ đã lâu, cung lan Thập Phượng Hí Long của ngài có thể nói là khéo léo tuyệt diệu, làm cho ta mở rộng tầm mắt!"

    Điêu khắc cung lan là sử dụng kỹ xảo để chạm khắc hoa văn lên tường cung điện nhằm tăng cảnh trí, mà Thập Phượng Hí Long là sản phẩm của kỹ thuật chạm trổ tột bậc.

    Đề Ngự Sử chắp tay đáp: "Đa tạ Điện Hạ ca ngợi, tiểu nhân thực không dám nhận."

    Điện Hạ thoáng thấy Lô Hoài Nhâm giơ tay ra dấu, trỏ thẳng vào khe hở phiến đá, y bèn hắng giọng một cái, lúc này mới vào đề: "Đề đại nhân, ta muốn biết công trình ở đây tiến hành tới đâu rồi, không ngại để ta vào xem một chút chứ?"

    Đề Ngự Sử đáp: "Không dám, Điện Hạ mời."

    Nói rồi nép qua bên nhường đường.

    Điện Hạ đang chuẩn bị bảo mọi người cột ngựa, còn chưa nói được chữ nào thì đã bị Kinh Niên kéo tay áo, cô lắc đầu, nói nhỏ: "Điện Hạ, hay là chúng ta đừng vào thì hơn."

    Điện Hạ khó hiểu: "Sao thế?"

    Vừa rồi người bảo đi vào cũng là cô, sao chỉ chớp mắt một cái đã thay đổi ý định rồi?

    Kinh Niên đang muốn giải thích, thì đã nghe thấy một tiếng cười lạnh: "Mục ngự quan, cô có gì thì cứ nói ra, không cần phải trốn trốn tránh tránh như vậy."

    Đề Ngự Sử run tay áo, dựng thẳng sống lưng, trên mặt nào còn nửa phần cung kính.

    Huyền Ảnh tức khắc sấn tới hai bước chắn trước mặt.

    Kinh Niên ra khỏi sau lưng Điện Hạ, cười tủm tỉm nói: "Đề đại nhân, mắt ngài tốt ghê, do có mắt thần hay là đã chuẩn bị trước thế?"

    Đề Ngự Sử nhìn thẳng tới trước, lạnh giọng châm chọc: "Không chuẩn bị cũng thế thôi, Mục ngự quan, đừng giấu đuôi rắn lộ đầu hổ, lần sau nhớ giấu cả đi!"

    Kinh Niên biết hắn đang ám chỉ điều gì, nhưng không cáu mà chỉ gọi Thi Ngũ gia xuống ngựa, quàng ở cánh tay rồi cười hệt như lưu manh: "Làm sao ngài biết là ta quên giấu?

    Ta chỉ không nỡ thôi, còn ngài ấy hả, cả người tanh tưởi, ở xa tít đã xộc vào lỗ mũi ta rồi!

    Không về nhà tắm một cái cũng nên mua cái bao tải trùm vào đi!"

    Điện Hạ ngửi thử nhưng chỉ ngửi thấy mùi mồ hôi, trong lòng thầm khó hiểu, y nào biết mùi tanh mà Kinh Niên nói là mùi thối rữa.

    Vừa rồi khi Ngự Sử đi tới, Kinh Niên núp ở đằng sau len lén dùng nửa phần quỷ nhãn nhìn sang, thấy sau lưng hắn lờ mờ tỏa ra một luồng khí trắng nhè nhẹ, như mới từ hầm băng đi ra, cô liền kết luận thứ bị rào bên trong phiến đá không chỉ là công trường đang tháo dỡ.

    Đề Ngự Sử không buồn để tâm tới Kinh Niên nữa, quay qua Điện Hạ: "Hạ quan phụng mệnh tới trước nghênh đón Điện Hạ, nếu ngài không muốn theo tiểu nhân vào trong, thì tiểu nhân sẽ dốc sức hộ tống Điện Hạ hồi cung."

    Điện Hạ gập quạt lại siết chặt trong tay, trầm mặt chất vấn: "Phụng mệnh?

    Phụng mệnh ai?

    Ta phải cần tới ngài hộ tống sao?!"

    Đề Ngự sử không trả lời, chỉ nói: "Hạ quan còn phụng chỉ tầm nã Mục ngự quan..."

    Không chờ hắn nói xong Điện Hạ đã đẩy Huyền Ảnh ra, xông lên nắm cổ áo hắn: "Cái gì gọi là phụng chỉ tầm nã?

    Trước khi đi phụ hoàng từng hứa với ta nếu có thể khuyên Mục Ngự quan phục chức thì không truy cứu nữa!

    Đây là ý chỉ gì hả?!"

    Đề Ngự Sử gỡ tay y ra, chỉnh lại y phục: "Điện Hạ, lời hứa có thể thay đổi bất cứ lúc nào, nhưng thánh chỉ thì khác!

    Huống hồ, ngài khuyên Mục Ngự quan phục chức thật ư?"

    Điện Hạ rùng mình, bất giác lùi lại một bước.

    Đề Ngự Sử nhìn qua quần chúng đang bu đen bu đỏ lại xem náo nhiệt, rồi liếc qua Gia Cát Thủ và Huyền Ảnh đang trong tư thế cảnh giác bên cạnh, sau đó cười với vẻ không có ý tốt: "Ở đây nhiều người lắm miệng, nếu động thủ ở đây thì khó đảm bảo không ngộ thương người vô tội, chủ nhân đang ở bên trong, các vị, xin mời!"

    Nói rồi đưa bàn tay hướng về phía miệng phiến đá.

    Điện Hạ do dự, trái lại Kinh Niên thì sảng khoái: "Đi thì đi, phiền phức này ở đây, sớm không tới thì muộn cũng tới."

    Lô Hoài Nhâm nhìn cô cười khổ: "Phiền phức này là ta chọc vào, xin lỗi, tiểu muội, lúc nãy là ta tự muốn vào, nhưng giờ là bị ép phải vào."

    Kinh Niên đáp: "Lô đại ca nghìn vạn lần chớ tự trách, là người ta muốn chọc vào, muốn đổ lỗi cũng không thể đổ lên đầu một mình huynh."

    Nói rồi nháy mắt với Điện Hạ.

    Điện Hạ gật đầu: "Cũng được, ta cũng muốn xem thử chủ nhân nhà ngươi là thứ gì!"

    Đề Ngự Sử gọi thị vệ tới dẫn ngựa, sau đó xoay người đi vào trong mở đường.

    Lô Hoài Nhâm tiên phong dắt Trần Mộc đuổi theo, Điện Hạ theo sát phía sau, có Huyền Ảnh, Gia Cát Thủ bảo vệ hai bên trái phải, Kinh Niên và Thi Ngũ gia đi cuối.

    Vào tới trong mới phát hiện, hóa ra đằng sau có tổng cộng năm tầng đá, ở giữa cách nhau bởi ba chiếc bàn dài, chỗ mỗi tầng đá chèn vào đều mở thông tới tầng lân cận, khe hở tầng này sẽ hướng tới giữa tầng đá tiếp theo, mặt trong của tầng đá ngoài cùng, và trên hai mặt của bốn tầng đá còn lại, đều bị dán bùa.

    Trừ Điện Hạ ra, những người còn lại đều biết bùa này chuyên dùng để che đậy âm khí.

    Thông thường được Đạo sĩ và Thi quan sử dụng như một thuật bảo mệnh khi rơi vào trường hợp bất đắc dĩ, có thể tạm thời vây khốn vật âm tà trong kết giới của bùa, đợi người chạy ra khỏi phạm vi của chú lực rồi, bùa này sẽ tự động giải.

    Mà dùng ở nơi này lại là một ý nghĩa khác, người thi chú này rất có thể đang ở trong kết giới của bùa, tất nhiên Kinh Niên sẽ không khờ dại cho rằng vì tránh cho âm khí tiết ra ngoài, làm bị thương bách tính.

    Vòng qua tầng đá cuối cùng, quả nhiên thấy bên trong sương mù lượn lờ, chính xác là giống hệt như Phong Hoa cốc, khác chăng là hố ở đây còn đang trong quá trình đào xới, trong ngoài hố bóng người lay động, cách một tầng sương mù nên không thấy rõ.

    Đề Ngự Sử thấy mọi người không theo kịp, bèn ngoái đầu lại nói: "Tại sao không đi tiếp?

    Chủ nhân còn đang chờ bên trong đấy!"

    Lúc này trong cổ họng Trần Mộc lại phát ra tiếng gầm gừ trầm thấp, Lô Hoài Nhâm trở tay đẩy hắn vào sau phiến đá, hạ ba đạo bùa Trấn Hồn, rồi treo thêm một chuỗi tràng hạt lên ngực hắn, Kinh Niên nói: "Lô đại ca, sao huynh lại xài đồ của hòa thượng?"

    Lô Hoài Nhâm gãi tóc, cười khan đáp: "Ta cũng hết cách rồi, trong tay không mang theo pháp bảo khác, buộc lòng phải chạy lên miếu hòa thượng xin chuỗi hạt châu, nghe nói là an hồn, tóm lại cũng có chỗ xài được, phải rồi, muội tử, phần muội xử sao?"

    Kinh Niên nghĩ ngợi một chút, rồi cũng đẩy Thi Ngũ gia ra sau phiến đá, sau đó quay lại nói với Ngự Sử: "Tới đây được rồi, gọi chủ nhân của ngươi tới đây đi, lẽ nào còn muốn Thái Tử Điện Hạ đi thỉnh an hắn à?"

    Đề Ngự Sử chưa lên tiếng, đã nghe một giọng khàn khàn trầm thấp vọng tới: "Sao dám sao dám, Thái Tử thuộc hàng tôn quý kia mà."

    Giọng khàn này khác với Huyền Ảnh và cũng không khó nghe, thậm chí còn khá êm tai, nhưng nó mang theo một loại áp lực, nghe vào như bên ngoài tai bị che một lớp màng.

    Ngay sau đó hai bóng người xuất hiện trong sương mù, chậm rãi đến gần, theo tầm nhìn từ mơ hồ dần trở nên rõ rệt.

    Người đi sau đầu tóc bù xù, gương mặt bị mái tóc rối phủ kín không nhìn rõ, áo quần cáu bẩn rách mướp treo vắt vẻo trên người, so với khất cái còn giống khất cái hơn.

    Người đi trước mặc chiến giáp đen đúa, bước đi vững vàng, áo choàng đỏ lửa bay bay sau lưng, trên vai là đầu phượng mình bạc mắt vàng, chiếc lưỡi đỏ lòm phun lửa bên ngoài cái mỏ quặp, tuy bị mũ giáp che mất mặt mũi, nhưng chiến giáp thần võ này chỉ có duy nhất một người sở hữu.

    Điện Hạ ấn nhẹ cánh tay đang che phía trước của Huyền Ảnh xuống, thả bước tiến lên, nét mặt nghiêm túc phút chốc biến đổi, phụt một tiếng cười phá lên, sau đó ngửa đầu nhắm mắt, than thở: "Đệ chính là chủ nhân sao?

    Không ngờ... thật không ngờ... thậm chí ngay cả đệ cũng lẫn vào đó!"

    Người nọ giơ tay lên tháo mũ giáp xuống kẹp bên thắt lưng, mái tóc dài xám trắng xõa ra ở bờ vai, những vết sẹo chằng chịt ngang dọc trên mặt, khiến khuôn mặt vốn dĩ tuấn tú tăng thêm vài phần dữ tợn.

    Chỉ thấy hắn lắc đầu, vén mái tóc lòa xòa trước mắt ra sau vai, rồi cười nói: "Lẽ nào hoàng huynh cho là ta chỉ đủ tư cách quát tháo trên chiến trường thôi ư?"

    Người này chính là tam hoàng tử Si Diên, là người mà Nguyên Thiên Sư ủng hộ, hắn dũng mãnh thiện chiến, được xưng là "Thôn Long Tướng quân".

    Hắn và Điện Hạ, một ở trên chiến trường, một ở trong tường cung, xa cách thì nhiều gần nhau thì ít, mặc dù là huynh đệ nhưng tình cảm lại cực hời hợt.

    Điện Hạ nhìn mái tóc hắn mà đăm chiêu, chính vì nhiều năm chinh chiến bên ngoài, dồn dập vượt qua bao cửa ải sinh tử nên lao lực tới nỗi mới thiếu niên đã bạc đầu, dù sao cũng cùng chung huyết mạch, không đành lòng nhìn thấy gương mặt dãi dầu sương gió này, y bèn sụp mắt nhìn xuống đất, nhỏ giọng nói: "Tam đệ chớ hiểu lầm, ta không có ý đó."

    Si Diên động khẽ bên mép, nói như cười như không: "Hoàng huynh không cần nghĩ một đằng nói một nẻo với ta, ai trong triều không nói ta mang danh là hoàng tử nhưng kỳ thật chỉ là một kẻ mãn phu, bụng dạ ngu ngốc chỉ xứng múa đao giỡn kiếm!"

    Điện Hạ từng nghe thấy mấy lời bàn tán này, nhưng chỉ coi nó là lời đánh rắm của mấy tên đui chột ăn no nhàn rỗi, không ngờ hắn lại canh cánh trong lòng: "Mấy lời lảm nhảm của hạng hạ lưu này đệ cần gì phải để ý?"

    Si Diên ngửa mặt lên trời cười quái gở, đoạn cúi đầu nhìn Điện Hạ đầy hung tợn, dáng vẻ hung thần so với lúc trước tưởng như hai người khác nhau: "Không để ý?

    Không để ý?!

    Các ngươi là những công tử đầy bụng kinh luân, phong độ cao nhã, sao hiểu được tâm trạng của ta?

    Ngươi hiểu sao?

    Hiểu sao?!"

    Hắn dồn hết sức đập mạnh mũ giáp xuống đất, một tay chà lung tung lên mặt, tay còn lại liều mạng giật tóc: "Nhìn bộ dạng này của ta đi?!

    Nhìn thử bộ dạng ma quỷ này của ta đi!!!

    A —-!!!"

    Hắn hét lên điên cuồng tới xé tim xé phổi, hai tay cùng ra sức giật tóc, cào xước da.

    Điện Hạ khiếp đảm tới mức lùi ra sau vài bước, Huyền Ảnh và Gia Cát Thủ sợ hắn sẽ ra tay đả thương người trong cơn điên loạn, cả hai cùng rút phăng đao kiếm, nghiêng người bước lên.

    Hắn khom lưng thở hổn hển, sau một lát mới thẳng người dậy, lấy lại vẻ mặt cười, máu tươi rỉ ra từ vết thương bị cào rách dưới mắt, chảy xuống theo má phải.

    Hắn không vội cầm máu, như thể người bị thương không phải mình, để mặc cho máu tươi nhỏ giọt lên áo giáp đen.

    Hắn đảo mắt qua lại hai người đang che chắn phía trước, sau đó nhìn xuyên qua kẽ hở tới Điện Hạ, cằm nâng lên: "Hoàng huynh thiếu mấy tên trợ thủ này sẽ thành vô tích sự sao?

    Gọi chúng lui ra, ta và ngươi một đấu một, ngươi có dám hay không?"

    Điện Hạ không bị hắn khích tướng, chỉ bước lên nửa bước: "Không dám, không có ai tương trợ, ta đích thực không làm được gì."

    Si Diên nghe vậy thì cười to sung sướng, vừa cười vừa nói: "Người xem đi, người xem thử đi!

    Phụ hoàng, trừ ta ra, đứa con nào của người cũng đều là thứ hèn nhát!

    Có thể kế vị người chỉ có mỗi mình ta!

    Người hối hận không muộn, hối hận không muộn đâu!!

    Ha ha ha ha...."

    Đợi hắn cười xong, Điện Hạ mới hỏi: "Lời này của đệ... là ý gì?"

    Si Diên tốc óa choàng lên, móc từ trong hung giáp ra một hoàng quyển bằng lụa vàng, mở ra, gằn từng chữ: "Trưởng hoàng tử nghe chiếu, thiên địa đại thành, vương uy xứng hùng, ngẫm ngươi phượng tử, lịch vị vô công, nay phế vị lưu phong, đổi lập tam hoàng tử Si Diên làm Thái tử, khâm thử —-"

    Hai âm cuối ngân dài thật dài, cơ thể Điện Hạ chao đảo, suýt chút nữa mất thăng bằng, may mà Lô Hoài Nhâm vươn tay đỡ mới không xấu mặt trước mọi người.

    Si Diên thấy y chịu đả kích thì vui sướng ra mặt, không cuộn thánh chỉ lại mà vung tay lên một cái, ném thẳng tới người Điện Hạ: "Xem cho rõ, nhìn con dấu là thật hay giả, đừng nói ta giả truyền thánh chỉ gạt ngươi!"

    Khẩu khí thật là ngạo mạn.

    Tuấn nhan của Điện Hạ trắng bệch, tay run run lấy cuộn lụa vàng trên vai xuống cầm trên tay lật qua lật lại, nhìn bao nhiêu lần nét mặt cũng biến đổi bấy nhiêu dạng, từ không thể tin, sầu não tới thở dài cam chịu, cuối cùng nhắm mắt lại cúi đầu nói: "Nhi thần lĩnh chỉ."

    Sau đó chậm rãi cuộn thánh chỉ lại cất vào trong ngực, ngẩng đầu, không tìm thấy vẻ u ám trong ánh mắt mà ngược lại còn mang theo một niềm tin không lung lay, nhìn thẳng vào huynh đệ mình không tránh không nhường.

    Si Diên bị ánh mắt của y nhìn chằm chằm tới nỗi mất tự nhiên, hung hăng nói: "Thế nào?

    Ngươi không phục sao?"

    "Đã lĩnh chỉ, không thể không phục."

    Sắc mặt Điện Hạ vẫn trắng bệch như vậy, nhưng ngữ điệu thì vẫn bình thản, cứ như bị phế chức Thái tử đối với y mà nói chẳng qua chỉ là chuyện bên lề: "Ta đã từng nói, tam đệ trấn nội loạn trừ ngoại địch, liên tiếp lập kỳ công, dù mai sau được lập làm Thái tử cũng không có gì đáng trách."

    Si Diên cười lạnh không thôi, giễu cợt: "Đây là lời thật lòng của ngươi sao?

    Đừng chọc cười chết người!

    Muốn mượn nó để thể hiện lòng dạ rộng rãi của ngươi hay là xuôi theo chiều gió, xu nịnh bợ đỡ?"

    Điện Hạ để ngoài tai, đáp thản nhiên: "Mặc dù ta chưa bao giờ muốn nhường lại ngôi vị Thái tử, nhưng cũng từng tự ti không hơn gì đệ, so với Thái tử hữu danh vô thực lông bông tầm thường, thì danh hào Tướng quân chiến công hiển hách càng khiến cho người ta kính trọng ao ước hơn."

    Si Diên hừ một tiếng, không tiếp lời.

    Điện Hạ quan sát chung quanh, cảm thấy bên ngoài ánh dương rực rỡ, còn trong này lại ảm đạm u ám.

    Trong đầu y điểm lại những chuyện xảy ra gần đây một lần, tất cả ngờ vực nổi dậy, nhưng vẫn không giải thích được như cũ.

    Có điều trước kia, bất kể là phủ Tướng quân trên Nam Lĩnh hay Phong Hoa cốc, cũng không có tới nửa người sống biết nói chuyện, mà chỗ này lại khác hẳn.

    Vì vậy y trầm tư một lát, rồi dè dặt hỏi: "Tam đệ, tại sao đệ lại ở đây?"

    Chiến sự ở Nam cảnh đã chấm dứt, hắn quả thật đã quay về cung, nhưng chuyện tháo dỡ đào hố này cần dùng tới một hoàng tử... thậm chí là một Thái tử mới lập tới coi sóc sao?

    Sĩ Diên như đã đoán trước y sẽ hỏi vậy: "Ta thỉnh mệnh phụ hoàng tuyên chỉ, tất nhiên phải ở đây chờ ngươi."

    Điện Hạ tiếp lời: "Đệ biết chúng ta sẽ đi con đường này sao?"

    Si Diên cười khẩy: "Xuôi Nam vào kinh chỉ có hai con đường, các ngươi ngủ đêm ở nhà dân ngoài trấn, nhìn sao cũng như không muốn vòng đường xa!"

    Điện Hạ cả kinh, đang muốn mở miệng thì Si Diên đã hỏi thay: "Tại sao ta biết các ngươi ngủ đêm ở nhà dân à?

    Hừ...

    đầu tiên là tới châu huyện phủ mượn ngựa, tiếp theo đòi lệnh thông hành cứng đầu vượt qua cầu Vạn Phúc, không đi ngoại ô hoang vắng mà lại hành sự rêu rao, một công tử phóng khoáng, một hộ vệ che mặt, một thư sinh tuấn tú, một bé con hôi sữa dắt theo cương thi, tới đâu mà không khiến người ta chú ý?

    Trong ngoài trấn này có vô số tai mắt của ta, cố tình để mắt thì còn sợ không nắm được hành tung của các ngươi sao?"

    Điện Hạ sửng sốt, nghĩ thầm đây đúng là sơ sót của mình, chuyến đi này thể hiện ra ngoài là tìm người, tìm thấy thì dẫn về cung, mặc dù sợ sẽ gặp người ám toán trên đường, nhưng họ không phải đang chạy nạn, nhiều người hỗn tạp lắm lúc cũng là một loại lá chắn, thứ khó hiểu là, vì sao tam đệ phải cố hết sức thăm dò hành tung của họ?

    Nếu như muốn tuyên đọc thánh chỉ, thì chờ y hồi cung cũng làm được, vì sao phải dẫn họ tới đây?

    Mối nghi ngờ chồng chất, y lại không biết nên hỏi từ đâu.

    Thấy y cúi đầu lặng thinh, Si Diên quay lưng lại, đi lướt qua người phía sau nhẹ nhàng nói gì đó.

    Quái nhân vốn bất động như tượng gỗ đột nhiên xông tới, vòng qua Điện Hạ bay thẳng về hướng Kinh Niên.

    Kinh Niên đã đề phòng trước, nghiêng người né đi, quái nhân kia lại đánh về phía Thi Ngũ gia, lập tức bị Kinh Niên níu vạt sau, khom người quẳng qua vai, ngã văng ra ngoài.

    Hắn lộn nhào hai vòng trên không trung, lúc rơi xuống đất, đầu ngón chân đạp mạnh một phát, rồi bổ nhào lên lần nữa.

    Huyền Ảnh và Gia Cát Thủ bảo vệ Điện Hạ tránh sang bên, quái nhân kia chỉ tấn công Kinh Niên và Thi Ngũ gia, còn những người khác thì coi như không thấy.

    Hắn giương nanh múa vuốt mà chẳng hề có chiêu thức gì, tay cào tới há mồm cắn xuống, trừ có thêm cái mình ra, thì còn lại giống y chang đầu người trong Phong Hoa cốc.

    Điện Hạ phẫn nộ quát Si Diên: "Ngươi làm gì vậy hả?"

    Si Diên đáp thư thả: "Không phải Đề Ngự Sử đã nói rồi sao, phụng chỉ tầm nã Mục ngự quan, hoàng huynh, ngươi nên đứng cắm rễ ở đó đi, để đỡ phải mang họa lây."

    Điện Hạ nói: "Ngươi dừng tay lại!

    Ta sẽ dẫn Mục ngự quan hồi triều diện..."

    Lời còn chưa dứt đã bị cắt đứt: "Không cần!"

    Si Diên phất tay, chỉ thấy Đề Ngự Sử lôi một tông hoàng quyển khác từ ống tay áo, mở ra đọc: "Hoàng đế chiếu viết, Ngự thi quan Mục Kinh Niên vứt bỏ chức vụ, tự ý trộm Ngự thi, lén trốn khỏi cung, tội đáng chém, truyền tam phủ lục đốc, cầm lệnh tầm nã, lập tức xử quyết, kẻ nào kháng lệnh, giết không luận tội!"

    Sau đó đưa ra lệnh bài thông sát.

    Điện Hạ như bị sét đánh, rúng động toàn thân, đứng như trời trồng tại chỗ, lát sau mới hoàn hồn lại, liếc mắt thấy Lô Hoài Nhâm đã gia nhập chiến cuộc, trong lòng hết sức lo lắng, bèn nói với Huyền Ảnh: "Ngươi đi giúp Mục ngự quan một tay."

    Nhưng lại nghe Huyền Ảnh cự tuyệt: "Huyền Ảnh chỉ bảo vệ cho an nguy của Điện Hạ và Gia Cát đại nhân."

    Nói cách khác trừ họ ra, người khác sống chết ra sao cũng không liên quan gì tới hắn.

    Điện Hạ biết rõ cách hành xử của Huyền Ảnh, lúc này tuy y bị tước chức Thái tử nhưng tính mạng vẫn an toàn, người phụ hoàng muốn bắt chính là Mục ngự quan, vừa ra tay sẽ thành kháng chỉ, thuộc hạ phạm pháp, chủ tử cũng sẽ liên lụy theo, tất nhiên Huyền Ảnh không dám hành động thiếu suy nghĩ.

    Gia Cát Thủ thấy hắn nao núng, bèn xách kiếm muốn bước lên tương trợ.

    Hắn lớn lên ở đạo quan từ nhỏ, không hiểu những phép tắc rối ren trong cung, mà xưa nay chỉ giao hảo với Điện Hạ, thấy y khi không bị phế vị trong lòng đã phát hỏa, bây giờ tam hoàng tử còn hung hăng bức người, nói động thủ là động thủ, thứ xúc phạm ngang ngược này giá nào hắn cũng không nhìn nổi.

    Làm bạn dọc đường, cùng chung hoạn nạn, kiến thức của hắn tuy ít, nhưng cũng hiểu được hai chữ tình nghĩa, thấy bằng hữu bị bắt nạt sao có thể khoanh tay đứng nhìn.

    Thế là hét to hai tiếng "Ta tới!", toan nhào qua, song chưa chạy được hai bước đã bị Huyền Ảnh lôi lại, hắn không giãy ra được, sốt ruột tới độ đầu đầy mồ hôi.

    Si Siên lạnh lùng nhắc nhở hắn: "Gia Cát, dù ngươi là con trai độc nhất của hiền thần, nếu kháng chỉ cũng chỉ còn đường chết, ngươi muốn đoạn tuyệt hương khói nhà Gia Cát sao?"

    Gia Cát Thủ trả lời: "Không phiền ngài quan tâm!

    Cha từng nói với ta, có sống tức có chết, không sợ chết chỉ sợ sống hèn, nếu hôm nay ta bỏ mặc bằng hữu, làm rùa rút đầu, nhặt được cái mạng ở đây, thì về nhà cũng bị lão nhân gia đánh chết!"

    Si Diên hỏi ngược lại: "Ngươi cần tình nghĩa bằng hữu, chứ bất cần lễ nghĩa quân thần sao?"

    Gia Cát Thủ há mồm đốp lại: "Quân có lý thì thần tự nhiên theo, quân vô đức không bằng không làm hoàng đế!"

    Từ khi việc dựng miếu quan bị mang lên triều nghị luận, trong cung cũng rối tung tới mức lòng người đại loạn, triều thần phản đối thì bị cách chức bãi chức, tổng đề đốc phủ Tam Hưng vì chống đối không thi công mà bị buộc tội kháng chỉ tống vào đại lao, hiền thần cùng nhau cầu tình thì đều bị trục xuất, gọi cho hay là dưỡng già, thật ra là muốn họ rời xa triều chính, trên đầu treo một cái hư danh.

    Vì mưu cầu trường sinh mà trắng đen bất phân, thị phi bất minh, dung túng cho yêu nghiệt hoành hành, làm hại tới tính mạng con dân, hoàng đế như vậy, không có cũng được.

    Hắn nói ra lời kinh người, đừng nói Điện Hạ mà ngay cả Kinh Niên cũng bị hù cho khiếp vía, trong lúc thất thần suýt nữa bị quái nhân kia bắt được, cũng may Lô Hoài Nhâm tách cô ra đúng lúc.

    Si Diên liếc mắt qua, không có bất kỳ phản ứng nào với lời lẽ lỗ mãng của hắn, mà vẫn đi tiếp tới cái hố, Đề đại nhân theo sát phía sau.

    Điện Hạ thấy Kinh Niên và Lô Hoài Nhâm từ đầu tới cuối vẫn đọ tay không, chứ không dùng tới hành đầu.

    Kinh Niên cũng không cầm kiếm, triền đấu cực lực với quái nhân kia.

    Lập tức hạ quyết tâm, lôi thánh chỉ trong lòng ra xé ngay tại chỗ.

    Hôm nay hoàng đế chẳng qua chỉ là một con rối, y vốn không muốn gây chiến mà chỉ ngầm diệt trừ Nguyên Thiên Sư, thuận lợi kế nhiệm đế vị, cũng ít bị người chỉ trích.

    Trước khi được lập làm Thái tử y đã dốc sức ngầm tạo thế lực, lôi kéo cao quan quý thần, đương nhiên có một nhóm tử trung đi theo.

    Tam hoàng tử bên ngoài tay nắm binh quyền, bên trong có Nguyên Thiên Sư trợ lực, hai phe tranh chấp, hỏi ai đoạt được danh hiệu Thái tử, ai chiếm thế thượng phong.

    Chỉ một bước thất thủ không đồng nghĩ với thất bại hoàn toàn, văn võ cả triều đối với một bề tôi chuyên sủng đều giận mà không dám nói, thấy gió chiều nào thì xuôi chiều đó, bám quyền leo thế, ai đắc thế thì làm chân chó người đó, loại đó không đáng phí tâm.

    Tam hoàng tử hung hãn, hà khắc tàn bạo với binh sĩ, mặc dù luôn thắng trận nhưng lại mất lòng người, lần này cải lập, nhất định phải gánh miệng lưỡi người đời, khó phục chúng ý.

    Không có Nguyên Thiên Sư rỉ tai mê hoặc, thì y tự có cách khiến phụ hoàng sửa lại hoàng quyển lập Thái tử.

    Nghĩ rồi y kéo tay Huyền Ảnh, cắn răng nói: "Ngôi vị hoàng đế, không thể mất!"

    ~ Hết chương 14 ~
     
    Thi Quan Kinh Niên
    Chương 15


    Chương 15

    THAY TÂM PHÙ (HẠ)

    Edit: Yunchan

    ***

    Huyền Ảnh từng lập thệ lấy chủ làm trời, cả đời không đổi, vừa rồi từ chối giúp đỡ Kinh Niên là sợ Điện Hạ chịu liên lụy, nhưng Điện Hạ đã xé hoàng chỉ, tự cắt đứt đường lui, Huyền Ảnh biết lòng y đã tuyệt, lấy lui làm tiến, mình cũng không còn lựa chọn nào khác.

    Thế là Huyền Ảnh phi thân lên, không hướng về phía Kinh Niên, mà lại nhắm thẳng vào trong sương mù, khua đao chém tới giữa lưng Si Diên.

    Ngay lập tức một bóng đen vọt qua chắn sau lưng Si Diên, Huyền Ảnh thấy thứ kia chính là một thân thể không đầu, ở cổ đan chéo chữ thập, phong hai phù chú.

    Thấy thế tay hắn hơi khựng lại, nâng cánh tay trái lên, hai tay chập lại, bổ một đao xuống, xẻ dọc từ giữa cái cổ đứt tới tận dưới hông, chém cái xác không đầu ra làm hai.

    Lá bùa bị chém rách, cái mình bị bổ ra như bó củi, đổ sầm qua hai bên, giật giật một hồi rồi bất động.

    Huyền Ảnh chém thân người xong thì tung người bật lên, gập eo quét ngang, Si Diên nhảy lùi lại tránh ra, rồi lùi thêm mấy bước.

    Lúc này, từ phía sau chạy tới mấy cái xác không đầu nữa bao vây lấy Huyền Ảnh, mấy bóng đen vốn đang tụ tập trong hố cũng lần lượt nhảy "Vun vút" ra, đổ xô kéo tới.

    Ra khỏi sương mù nhìn kỹ lại, tất cả đều là thi thể không đầu, có mặc võ bào, có mặc đạo y, có mặc quan phục, tên nào tên nầy đều áo quần tơi tả, dính đầy máu tươi và bùn ẩm, trên mặt cắt cổ bị phong một lá bùa, áng chừng trăm tên.

    Một số vây tới Huyền Ảnh, một số nhảy về hướng Điện Hạ và Gia Cát Thủ, số còn lại thì dồn hết về phía Kinh Niên và Lô Hoài Nhâm.

    Huyền Ảnh sát phạt tầng tầng lớp lớp, phóng nhanh trở về, thoái lui tới lối vào cùng Gia Cát Thủ bảo vệ Điện Hạ.

    Kinh Niên thấy họ đi tới, bèn vung chưởng hất quái nhân đang quấn rát không nghỉ ra, rồi nhào lên lôi Điện Hạ ra sau phiến đá, sau đó hợp với ba người kia tạo thành nửa vòng tròn nhỏ.

    Huyền Ảnh và Lô Hoài Nhâm dựa vào hai bên miệng phiến đá, lưng đối nhau, Kinh Niên và Gia Cát Thủ đứng ở giữa, người này kề sát người kia, không chừa một khe hở nhỏ.

    Rồi chợt nghe Kinh Niên nghiêng đầu nói: "Điện Hạ, ngài ra ngoài trước đi!"

    Điện Hạ không chịu nghe: "Chúng ta cùng đi!"

    Kinh Niên lắc đầu: "Chỉ sợ chúng ta ra hết sẽ có kẻ không vui, tới lúc đó bóc phù chú trên đá xuống, thả mấy con quái vật này ra ngoài giương oai, chúng ta sẽ thành tội nhân!"

    Si Diên hừ lạnh: "Mục ngự quan, ngươi cũng tỉnh táo thật, chỉ cần ngươi tình nguyện trả Ngự thi lại rồi tự sát tạ tội, ta có thể không truy cứu lỗi lầm của những người khác, ngay cả mấy câu lỗ mãng của Gia Cát, hay hoàng huynh xé thánh chỉ...

    đều có thể coi như chưa thấy, ý của ngươi thế nào?"

    Kinh Niên nhổ toẹt nước bọt, nói với Lô Hoài Nhâm: "Lô đại ca, Trần Mộc gia không dùng được, huynh với hắn ra ngoài, hoặc là bảo hắn ra ngoài đi!"

    Lô Hoài Nhâm biết đây là giây phút sống còn, để lại một hành đầu không thể sử dụng bên cạnh nguy hiểm ra sao, lập tức xoay người lại đổi bùa, nói: "Nhân huynh, huynh tạm lui ra, chờ ta ở chỗ thấy ánh sáng!"

    Trần Mộc quay người nhảy ra.

    Kinh Niên cũng nói với Điện Hạ: "Theo đi, những thị vệ bên ngoài không dám làm khó dễ ngài đâu, đừng để cho họ ra tay với hành đầu của Lô đại ca!"

    Thấy y vẫn bất động, bèn lớn tiếng quát: "Còn không ra ngoài mau!

    Ngài ở đây chỉ tổ trói tay trói chân, muốn để mọi người chết vì ngài thật sao?!"

    Điện Hạ bị lời đanh thép tàn nhẫn của cô làm cho kinh hoàng, hai mắt nhìn nhau, y chỉ cảm thấy từ trong mắt cô bắn ra tía sáng bén nhọn, tự có uy thế khiến người ta cảm thấy khiếp sợ không kiềm chế được, nhưng trong lòng y cũng biết tự suy xét, biết kinh Niên nói không sai, giờ này khắc này, có thêm y chính là thêm gánh nặng, buộc lòng phải cắn răng quay đầu chạy ra ngoài.

    Gia Cát Thủ cười nói: "Mấy câu bần đạo giấu trong bụng đều bị cô nói hết ra!"

    Nói rồi lấy đĩa bát quái ra tụ hỏa diễm, vừa khai trận đã tung ra tam thức Đại Diễm Hỏa Long, vung tay phải, một ngọn lửa trườn ra, đâm xuyên qua mấy cái xác liền.

    Kinh Niên trêu hắn: "Đạo gia, không sợ xỉu nữa à?"

    Gia Cát Thủ nhướng nhướng mày với cô: "Cô xem rồi biết."

    Sau chuyện ở Phong Hoa cốc, ban ngày lúc đi đường hắn đã âm thầm học thuộc tâm pháp đạo gia, tu thổ khí, ban đêm ngồi thiền đi ngủ, mấy ngày liền công lực cũng tăng nhiều, xuất ra hỏa long cũng không cố sức như trước đây, có thể cầm cự được bao lâu hắn không dám nói bừa, nhưng chí ít sẽ không dễ mất đi tri giác như lần trước.

    Kinh Niên thấy cái dáng tự tin dào dạt của hắn thì nhất thời thả lỏng không ít, chỉ vào mấy cái xác nhảy lên nhảy xuống nói: "Ta đã hỏi sao có đầu mà không có mình?

    Té ra ở hết chỗ này, lúc đó ta đếm thử là hay rồi, tới đây coi đủ quân số không."

    Đoạn ngoảnh qua Gia Cát Thủ nói: "Ngài qua nhìn một cái đi, xem bọn nó rốt cuộc có cùng loại với bên kia không?"

    Gia Cát Thủ dùng mắt âm dương nhìn sang, kinh ngạc kêu khẽ: "Có... có hồn... mỗi một con đều có... là cương thi!"

    Kinh Niên nhìn về phía lá bùa dán trên cổ những thi thể đó, nói tiếp: "Là cương thi, thì phải có chủ cương thi!"

    Có thể khống chế nhiều thi thể cùng một lúc như vậy, chủ nhân nhất định là một tên khó lường.

    Cô nhìn về hướng Si Diên phía sau thi đàn, Đề Ngự Sử dời ghế ngồi hầu cạnh hắn, không động thủ cũng không động khẩu, vậy hắn làm sao sai khiến những hành đầu này?

    Đúng rồi, hắn từng nói gì đó với quái nhân kia, lẽ nào quái nhân kia cũng chết rồi sao?

    Kinh Niên nghĩ sao cũng thấy không hợp lý, lúc giao thủ với quái nhân kia có thể cảm thấy trong mũi hắn phả ra nhiệt khí, rõ ràng là người sống sờ sờ, cho nên cô mới lần lữa không rút ra Linh Xà kiếm.

    Đàn thi dồn sát tới, Gia Cát Thủ cầm kiếm nhảy vào trong, một chiếc roi rồng quất nghe vun vút, lượn vòng uốn khúc, thoắt ngắn thoắt dài, vừa có thể khắc địch vừa có thể phòng thân.

    Huyền Ảnh cũng tung người nhảy tới, cách hắn không xa chém ngang bổ dọc.

    Kinh Niên la lên: "Đừng băm nát, xắt chừng bảy tám khúc là đủ, chủ yếu là lá bùa trên cổ!"

    Rồi nghiêng đầu nói với Lô Hoài Nhâm: "Lô đại ca, là cương thi thì dễ xử rồi, không có Trần Mộc gia ở đây, mình huynh có đổi bùa được không?"

    Lô Hoài Nhâm đáp: "Hề, thi quan nào mà không tự thân bắt hành đầu đầu tiên chứ, nhưng còn muội..."

    Lo lắng liếc qua Thi Ngũ gia: "Người nhà muội, có nên ra ngoài luôn không?"

    Kinh Niên lắc đầu, quay người bước lại: "Lô đại ca, huynh đánh thay ta một trận nhé."

    Nói rồi đi ra sau phiến đá, đưa tay sờ lên mặt Thi Ngũ gia, vén lá bùa lên, thấy hắn vẫn đờ đẫn như lúc ban đầu, hình như không bị âm khí ảnh hưởng, nhưng tâm trạng cô vẫn thấp thỏm bất an.

    Thánh chỉ lệnh rõ ràng muốn bắt Ngũ gia đi, bất kể là ý của hoàng thượng hay là do Nguyên Thiên Sư giở trò bên trong, cũng có thể thấy bọn họ rất cố chấp với cái gọi là "Ngự thi" này.

    Cô không dám bảo Ngũ gia rời khỏi nơi mà mình có thể nhìn thấy, lỡ đâu có chuyện xảy ra cô cũng không thể ứng biến được.

    Nếu ở lại đây, mà đứng bất động thế này cũng nguy hiểm nốt, địch nhiều ta ít, Kinh Niên không thể chắn mãi ở chỗ này, hành động bị giới hạn là đại kỵ khi lâm địch.

    Cô ước lượng âm khí ở bên trong này, nặng thì nặng như không dầy đặc bằng chỗ sâu trong Phong Hoa cốc, tác dụng của phù chú trong Phong Hoa cốc chưa biến mất hoàn toàn, không lý nào tới đây lại vô dụng, nếu không khống chế được Ngũ gia thật, thì cùng lắm là độ dương khí lần nữa vậy.

    Ngón tay Kinh Niên chạm vào môi dưới, tim đập thình thịch, móc trong lòng ra cây bút đỏ đổi phù tự, rồi nuốt ực nước bọt, nhỏ giọng nói: "Ngũ gia, lại phải làm phiền ngài rồi."

    Thi Ngũ gia dừng một chút, hơi nghiêng đầu, rồi bắn ra ngoài phiến đá, Kinh Niên mừng như điên, reo lên: "Ngũ gia!

    Xử tên quái nhân kia trước đi!"

    Hắn lập tức nhảy vọt qua bên trái.

    Lúc này Lô Hoài Nhâm đang vật lộn với tên quái nhân kia, đã sắp không địch nổi, nhìn thoáng qua khóe mắt thấy Thi Ngũ gia vọt tới thì lập tức lùi lại, tựa vào vách đá thở dốc.

    Thi Ngũ gia còn chưa động thủ, quái nhân kia đã lướt qua mặt lao thẳng tới Kinh Niên.

    Ngũ gia xông tới hai bước, áp sát sau lưng quái nhân, rồi nghiêng người vồ tới, sau khi bắt được cánh tay thì bẻ một phát, quặp lại sau lưng, tay phải móc chặt hai xương cổ tay, vung một tay ra đè sau gáy cổ, hai vai ghì xuống.

    Quái nhân ra lực không được, bị ấn quỳ xuống đất, cứng đầu giãy dụa, nhưng lực tay của Ngũ gia ở bực nào chứ, nếu không phải Kinh Niên đổi phù tự sang nương tay, thì lúc này hắn đã bẻ gãy cổ quái nhân rồi, giờ khắc này dù cho dùng hết võ toàn thân cũng không thoát khỏi lòng bàn tay Ngũ gia.

    Lô Hoài Nhâm nghỉ xả hơi chốc lát, thấy bên này không cần mình mất công nữa, bèn móc một một xấp phù chú trong lòng ra nắm trong tay, gia nhập vào trận hỗn chiến của bầy thi.

    Chỉ thấy hắn bóc hai lá bùa dán trên cổ thi trước, rồi kẹp một lá bùa nhắm chuẩn vào ngực thi mà đâm, cứ thế một trước một sau, hai tay luân phiên, rất nhanh đã thay được chừng mười đạo phù.

    Quay lại bên kia, sau khi quái nhân bị chế trụ, Kinh Niên bước tới, vươn tay gạt mớ tốc rối trước mặt hắn ra.

    Quái nhân muốn cắn phập tới, ngặt nỗi bị kềm ở gáy không tài nào ngẩng đầu, chỉ cắn hàm tới nỗi vang lên tiếng cạch cạch.

    Kinh Niên thấy mắt hắn vẩn đục, nhưng không trắng đục như người chết, bèn khép ngón trỏ và ngón giữa lại, nhắm mắt ngưng thần, bụng ngón tay áp lên chỗ dưới tai ba tấc, dời dọc theo hướng chảy của khí mạch xuống, đi qua bên gáy, xương quai xanh, dưới nách, vòng tới ngực.

    Tới đây hai mắt đột nhiên mở ra, xòe lòng bàn tay ấn chung quanh, rồi gập ngón tay lại cào rách lớp vải, thấy trên ngực trái bị khoét một lỗ tầm quả đấm nhỏ, da thịt trên miệng lỗ hư thối, máu đông thành cục, rõ ràng không phải vết thương mới.

    Bị một kích trí mạng này, đổi lại người thường đã sớm đi đời nhà ma, nhưng quái nhân này chẳng những không chết, mà còn nhảy nhót loạn xạ đả thương người ta, thật là lạ lùng!

    Kinh Niên thu tay về, khom người nhìn vào trong lỗ, một con ngươi từ từ biến trắng, mới nhìn được nửa vật bị vùi trong tim đã hoảng sợ biến sắc, thẳng người lên nhìn về phía Si Diên sau thi đàn, nấm đấm siết chặt ở bên chân, quát: "Ngươi cho hắn loại chú gì?"

    Con ngươi từ trắng đổi sang màu lá cọ, trông như đang tô màu trên tờ giấy trắng vậy.

    Si Diên tất nhiên nhìn thấy quá trình đổi màu này, nét mặt hiện ra một tia kinh ngạc rồi biến mất nhanh chóng, đứng dậy khỏi ghế, bước thong thả vài bước, rồi bĩu môi cười: "Ngươi có từng nghe qua Thay Tâm phù chưa?"

    Kinh Niên sững ra một lúc, nhớ lại ba chữ "Thay Tâm phù" này hình như đã từng đọc được trong quyển sách nào đó, nhưng ấn tượng quá mơ hồ, ngẫm lại chắc chắn không phải là phù thuật đứng đắn gì, thiên môn ngoại gia cô biết cũng không ít, nhưng độc ba chữ này thì chỉ biết tên chứ không biết được nội pháp.

    Si Diên thấy cô không lên tiếng bèn nói tiếp: "Ngươi chưa từng nghe à?

    Vậy chắc ngươi phải biết thuật chôn bùa vào vật sống chứ, không phải đó là bản lĩnh giữ nhà của các ngươi sao?"

    Lúc Kinh Niên thu phục Linh Xà ở trấn Mai Lĩnh đã dùng chiêu thức ấy, giờ này nó thốt ra từ miệng hắn thì lại khiến người ta khó lòng không nghi ngờ.

    Tam hoàng tử nói trắng ra là một võ tướng, sao lại biết rõ kỳ thuật phù chú như vậy?

    Giữa lúc cô còn đang hoang mang, thì lại nghe hắn nói tiếp: "Phương pháp của nó cũng giống với chôn bùa vào cơ thể sống, chẳng qua chú đó chỉ trói thân thể, còn Thay Tâm phù này lại chuyên thao túng tâm hồn người!"

    Kinh Niên bỗng nhiên giác ngộ, thao túng người sống là cấm thuật ma tà, làm cô nhớ lại Thao Hồn thuật của Thiên Ma giáo.

    Giáo phái này năm trăm năm trước bị người cầm quyền Thiên tổ Thánh Thái Hoàng hưng binh tiêu diệt, mặc dù đã dùng lửa thiêu vạn quyển cấm chú, coi như bị diệt tích trên lãnh thổ Phượng quan.

    Nhưng vẫn có một bộ phận nhỏ dư đảng chạy trốn mang ra khỏi cảnh ngoại, giờ cách đã lâu, khó đảm bảo sẽ không lưu truyền lại, có lẽ "Thay Tâm phù" này là khai triển từ Thao Hồn thuật đó.

    Cô với tay muốn móc lá bùa trong lỗ ra, không ngờ Si Diên lại quát: "Chậm đã!

    Ngươi muốn khiến Phó tướng quân chết ngay lập tức sao?"

    Tay Kinh Niên run bắn, khựng lại trước lỗ: "Phó tướng quân?

    Phó tướng quân..."

    Nhẩm lại mấy lần, bên ngoài cửa Đông của thành Nam, trên sườn núi hoang, phủ đệ Tướng quân, cái huyệt dưới giếng, hai cái quan tài rỗng, rất nhiều cảnh tượng mở ra trong đầu hệt như một bức họa cuộn tròn, cô nhìn quái nhân kia, bật thốt lên: "Trấn Nam tướng quân Phó Tri Tuyên?!"

    Tên này vừa kêu lên, Huyền Ảnh và Gia Cát Thủ đều giật mình kinh hãi, người không tìm thấy trong phủ Tướng quân ở Nam Lĩnh hôm ấy, bây giờ lại xuất hiện ở đây.

    Si Diên chắp tay ngẩng đầu, rảo bước qua lại, vừa đi vừa thong thả nói: "Bùa này đã nhập sâu vào tim, một khi rút ra, người bị trúng chắc chắn phải chết!"

    Kinh Niên cười lạnh, hỏi vặn lại: "Rút hay không rút có gì khác nhau?

    Hắn ra thế này dễ chịu hơn chết sao?"

    Si Diên chặc lưỡi: "Phó tướng quân và hoàng huynh giao tình rất tốt, ngươi giết hắn rồi không sợ hoàng huynh đau lòng sao?

    Không bằng chúng ta thương lượng, lấy mạng ngươi đổi mạng tướng quân, thế nào?"

    Kinh Niên bật cười khanh khách, trả lời: "Ngươi cho ta là đồ đần sao?

    Hắn còn sống cũng chỉ là cái xác không hồn, ai lại lấy mạng mình đổi một cái xác sống?

    Bên Điện Hạ, ta tự đi bồi thường là được!"

    Dứt lời cánh tay duỗi ra rồi rụt lại nhanh như chớp nháy, lúc thu lại trên đầu ngón tay đã kẹp một lá bùa đẫm máu.

    Quái nhân phụt ra một ngụm máu lớn, đầu gục xuống trước ngực, không vận lực được nữa.

    Thi Ngũ gia thả tay, Kinh Niên ôm lấy thân thể xụi lơ, kéo ra sau phiến đá rồi đặt nằm dưới đất, nhẹ nhàng vuốt suông mái tóc rối bời, vuốt cặp mắt còn đang hé nửa, sau đó lấy ra một lá bùa an hồn dán lên vết thương trên ngực.

    Cuối cùng lặng người nhìn đôi mày dựng thẳng dần dần giãn ra, cái miệng bê bết máu há ra cũng từ từ khép lại, nét mặt dữ tợn trở nên hiền hòa, ngực phập phồng cũng dần chậm lại, rối cuộc hít vào một hơi cuối cùng.

    Cô đã từng thấy vô số lần sinh tử tương giao, ngọt bùi cay đắng trộn lẫn vào nhau, cuối cùng tan ra thành một loại chết lặng, tuy mũi cay xè nhưng chẳng nhỏ ra nửa giọt nước mắt.

    Hành động này của cô mất thời gian nửa nén nhang, trong lúc đó hàng loạt thi thể không đầu vọt tới ồ ạt, song tất cả đều bị Thi Ngũ gia đánh bay, không một con nào tới gần được.

    Cô dùng ống tay áo lau máu đen trên mặt Phó tướng quân, rồi đứng dậy chậm rãi bước lên, rút đoản kiếm ra, trong vạt áo bay ra một làn khói nhẹ hóa thành thân kiếm.

    Rồi cô đột ngột đập cánh tay xuống, mũi kiếm chĩa thẳng Si Diên, trợn mắt nhìn, rít qua kẽ răng một chữ: "Giết!"

    Dứt lời đạp chân nhảy vút lên, Thi Ngũ gia bám sát.

    ~ Hết chương 15 ~
     
    Thi Quan Kinh Niên
    Chương 16


    Chương 16

    KIẾP NẠN TRÙNG TRÙNG (THƯỢNG)

    Edit: Yunchan

    ***

    Si Diên thấy Kinh Niên không bị uy hiếp mà trái lại còn dắt Thi Ngũ gia sát phạt tới đây, hắn vẫn nhìn thẳng hai người không chút hoang mạng, chếch đầu né cú đâm thẳng yết hầu, tay phải chắn ngang hất phăng hai quyền đấm nghiêng vào sườn, sau đó trượt lui vài thước.

    Thi Ngũ gia lộn một vòng, phóng sượt qua đỉnh đầu hắn, đá xoáy giữa không trung, quét thẳng tới bên eo, một cước này lực xoáy rất mạnh cuốn theo tiếng gió rít vù vù.

    Si Diên không dám đỡ đòn, hai chân nhảy vọt lên, gối ép sát trước ngực, khiến một cước này đá sượt qua mũi chân hắn.

    Không chờ hắn rơi xuống đất, Kinh Niên đã run trường kiếm đâm thẳng tới trước ngực hắn, Thi Ngũ gia xoạt chân quét hụt, lại mượn lực quay thêm nửa vòng, lưng hướng về kẻ địch gập nghiêng người tới trước, chân khác tung một cú đá hậu, gót chân nhắm thẳng hàm dưới kẻ địch.

    Si Diên trước sau thọ địch, bèn lách người qua phải, đầu vai sụt xuống, "Keng" một tiếng, mũi kiếm đâm trượt qua đầu phượng trên vai giáp, tiếp đó thân thể hắn ngửa ra sau, né gót chân đang đá tới.

    Qua thêm mấy chiêu, Si Diên thấy họ từng chiêu đoạt mạng, kiếm pháp quyền chưởng tàn nhẫn tột cùng, cũng không sợ phản kích dội lại làm bị thương.

    Thấy thế hắn vòng qua trường kiếm, đánh áp sát với Kinh Niên, năm ngón tay móc thành trảo, vồ tới liên hoàn, có ý đồ cướp trường kiếm trong tay cô.

    Hai người đánh nhau quá sát, hơn nữa động tác ra đòn của Si Diên cực nhanh, ỷ vào Thi Ngũ gia hành sự theo phù chú, không phân biệt rõ vị trí, thế là hắn thoắt trái thoắt phải né trước tránh sau, lẩn quẩn quanh người Kinh Niên.

    Trong chốc lát, Kinh Niên gặp phải chiêu hiểm, bị buộc phải lùi lại liên tục.

    Đúng lúc này, ba cây ngân châm phóng tới ba huyệt Thái Dương, huyệt Ti Trúc Không(*), và huyệt Nhĩ Môn(**).

    Hắn vội vàng giật lùi lại, ngửa cổ ra sau, ba cây châm sượt qua sát mặt.

    Kinh Niên chớp thời cơ nhảy lùi vài cái, kéo dãn cự ly, đồng thời nghiêng đầu nói tiếng cảm ơn với Huyền Ảnh đang quần nhau trong đàn thi.

    Thi Ngũ gia sải bước tiếp cận giữa lưng Si Diên, hai tay rút về đặt ở trước ngực, lòng bàn tay hướng ra ngoài, một chiêu "Song chưởng dời núi", thúc mạnh tới trước.

    (*) Huyệt Ti Trúc Không nằm ở chỗ lõm bên ngoài đuôi lông mày.

    (**) Huyệt Nhĩ Môn nằm ở ngay phía trước rãnh trên bình tai.

    Si Diên không tránh kịp, đành xoay người lại xuất chưởng, hai chưởng đập vào nhau, Si Diên tức thì bị dội ngược lại bay vọt ra sau hơn trượng, lúc rơi xuống đất ngã lùi thêm mấy bước liền, vất vả lắm mới đứng vững được, hắn chỉ cảm thấy mỗi khớp xương trên cánh tay đều bị chấn động tới run bần bật, còn Thi Ngũ gia vẫn bất động như núi, ai cao ai thấp, nhìn thôi đã biết.

    Trên chiến trường Si Diên nổi danh bất bại, từ trước tới nay luôn kiêu ngạo với thân thủ của mình, hắn lấy sức mạnh để phục chúng nhân, kẻ mạnh mới có thể đoạt được thiên hạ.

    Ngang dọc sa trường nhiều năm, từ lâu hắn đã luyện được một thân gân cốt sắt thép, chỉ cần vận khí toàn thân là đao thương bất nhập.

    Từ khi luyện được cơ thể kim cương bất hoại này, đã có ba năm da thịt không tổn hại, nào ngờ lại chịu nhục tại đây, bị một con cương thi làm giảm uy phong.

    Trong lòng rất căm tức, hắn lập tức chộp tay phải lên đầu phượng trên vai trái, cầm lấy chiếc lưỡi đỏ thè ra bên ngoài miệng phượng, rút con đao nhọn trong đó ra.

    Đầu phượng thoạt nhìn không khác gì với vai giáp thông thường, song bên trong lại có huyền cơ.

    Kết cấu bên trong cổ họng phượng thật ra giống như vỏ đao, cán đao thiết kế thành hình ngọn lửa, cắm vào trong lưỡi phượng, nối liền một thể với đầu phượng.

    Bình thường đi lại trong cung, không tiện mang theo binh khí thì lấy thứ này hộ thân.

    Lúc này, Thi Ngũ gia xông lên trước, Kinh Niên giơ cao trường kiếm, đánh thế gọng kìm.

    Si Diên đổi đao qua tay trái, đâm tới tấp về phía Thi Ngũ gia, tay phải tháo đầu phượng trên vai xuống cầm trên tay vung qua bên, đỡ mũi kiếm.

    Thi Ngũ gia nghiêng người né đao phong, rồi sụp người xuống chui vào dưới cánh tay Si Diên, giáng ba quyền lên bụng.

    Si Diên co người lại, thoát một quyền, đầu phượng lượn xuống nửa vòng, bốp bốp hai tiếng, hai quyền đấm lên mặt phượng, làm lõm vào hai lỗ trũng.

    Kinh Niên nhân cơ hội vung kiếm rạch tới cổ hắn, Si Diên giơ ngang đao lên, choang một tiếng, hai lưỡi bén va chạm, Kinh Niên chỉ cảm thấy lòng bàn tay tê rần, thiếu chút nữa không cầm nổi kiếm, kêu lên: "Mạnh quá!!"

    Si Diên phấn chấn hẳn lên, giơ đao nhắm đầu cô đánh xuống, Kinh Niên vội vàng cầm kiếm đỡ, nhưng ý thức được sức mình cố mấy cũng không sánh bằng, nếu lấy kiếm đỡ đao thì thể nào cũng bị đè nghiến xuống đầu.

    Một giây chần chừ này đã làm vuột mất cơ hội né đòn, cô chỉ kịp nghiêng đầu đi, nhưng lại lộ ra vai phải.

    Si Diên vận sức cực mạnh, chỉ mong có thể xẻo từ vai tới nửa người dưới.

    Đúng lúc này Thi Ngũ gia vòng qua ngăn cản của đầu phượng, quỳ một chân, khụy người che trước Kinh Niên, đan hai cánh tay lại giơ qua đầu, một đao kia chém vào chỗ giáp nhau của hai cánh tay, "keng" một tiếng, lưỡi đao bị hõm vào một lỗ, lòng bàn tay Si Diên rúng động, cảm giác hệt như chém vào tảng đá.

    Kinh Niên sợ tới nỗi toát mồ hôi lạnh, bất chấp đang đánh nhau lập tức kéo tay của Thi Ngũ gia xuống kiểm tra, thấy chỗ khuỷu tay hằn hai vết đỏ, mặc dù không chảy máu nhưng cũng khiến cô đau lòng muốn chết, trợn mắt trừng Si Diên, chửi: "Đồ tặc tôn!

    Coi bà nội ngươi băm ngươi thành nhân bánh bao!"

    Chửi xong xách kiếm nhào tới.

    Si Diên bị cản một đòn, ngơ ngác nhìn chỗ lõm trên lưỡi đao hãy còn sửng sờ, lúc nghe thấy tiếng mắng của Kinh Niên thì ngẩng đầu lên, thấy trước mắt ánh kiếm chói lòa, cuốn theo bão tố, giống như mười đóa hoa băng đồng loạt nứt ra.

    Trong cơn khiếp hãi, hắn quơ đao cản trái đỡ phải, nhưng nào biết Kinh Niên giương đông kích tây, hư hư thật thật, thân như yến lượn băng qua dương liễu, chiêu thức bộ pháp biến hóa chớp nhoáng, khiến cho người xem hoa cả mắt.

    Si Diên luống cuống tay chân, đành phải lùi liên tiếp ra sau, trong lúc né tránh bên ngoài cánh tay và bắp đùi trúng ba bốn kiếm liền.

    Càng chiến càng hăng, động tác Kinh Niên càng lúc càng nhanh, múa Linh Xà kiếm thành một vòng bóng trắng.

    Si Diên không nhìn rõ đường đi của kiếm, chưa kể Thi Ngũ gia quyền cước trợ trận, đừng nói là tấn công, ngay cả thủ cũng không thủ được.

    Hắn cuống tới nóng nảy, mắt thấy khó giữ được tính mạng, dứt khoát ném phăng đầu phượng làm lá chắn đi, dốc hết sức mạo hiểm với gió kiếm mưa quyền.

    Ngay lúc này, một chùm sáng bạc bắn tới bên này, Kinh Niên cảm thấy trời đất đảo điên, tay chân run bần bật không nghe theo sai khiến, trường kiếm tuột tay rơi choang xuống, lúc chạm đất lập tức hóa thành ba tấc đoản kiếm, Linh Xà thoát khỏi thân kiếm quay về trong vạt áo cô.

    Thi Ngũ gia cũng cứng thẳng người, cánh tay phút chốc vung mở ra ngoài, lát sau lại đột nhiên rũ xuống như trúng phải thuật định thân, vùng vẫy cỡ nào cũng không thoát được.

    Kinh Niên không cách nào quay đầu, liếc qua khóe mắt nhìn về hướng chùm sáng bắn tới, chỉ thấy Đề Ngự Sử bê một mặt kính chiếu tới, khung kính xanh thẫm như ngọc bích, có hình tròn ôm lấy mặt kính kình bầu dục, bên trên khắc hai con du long, đầu đuôi giao nhau, trên mắt của một con rồng khảm một đôi minh châu, con còn lại trống rỗng.

    Kinh Niên hướng về mặt kính, cảm thấy mắt đau rát, chỉ nhìn giây lát đã không mở mắt nổi, thoáng nhìn qua Thi Ngũ gia cũng hệt như mình, trong bụng thầm kêu hỏng bét.

    Đề Ngự Sử chậm rãi bước tới gần, mặt kính vẫn hướng về phía Kinh Niên và Thi Ngũ gia từ đầu chí cuối, không dám chệch đi nửa tấc, đoạn nói với Si Diên: "Thái tử điện hạ, nhân lúc này hãy mau động thủ đi!"

    Si Diên sa sầm mặt trừng hắn: "Ai khiến ngươi xen vào việc người khác!"

    Si Diên sửng sốt, đáp ngay: "Nguyên Thiên Sư đã dặn dò, nhất thiết phải lấy thu hồi Ngự thi làm trọng, nếu ngài dây dưa với chúng, e rằng..."

    Si Diên nạt ngang: "Làm càn!

    Ý ngươi là ta không đánh lại chúng sao?!"

    Đề Ngự Sử không run sợ mà sắc mặt vẫn như trước, chỉ nghe hắn bình thản phát biểu: "Tình hình trước mắt đúng là như thế."

    Nói rồi ánh mắt lướt tới chỗ cách đó không xa, trước khi Si Diên tức giận đã bồi thêm: "Hơn phân nửa thi đàn đã bị quật ngã, ba người kia đã chú ý thấy tình hình bên này không ổn, phong chú trên Thanh Long kính vẫn chưa phá giải hoàn toàn, không duy trì được lâu, xin Thái tử điện hạ lấy lời nhắc nhở của Nguyên Thiên Sư làm trọng."

    Si Diên nén giận, nhắm mắt hít sâu hai hơi, rồi khom lưng cầm đầu phượng lên ráp lại vai trái.

    Đề Ngự Sử thấy hắn muốn cắm đao về thì lật đật ngăn cản: "Khoan đã, Thái tử điện hạ, Mục ngự quan chưa xử quyết!"

    Si Diên liếc xéo hắn, cánh tay đang co lại đột nhiên duỗi thẳng, mũi đao chĩa thẳng vào chóp mũi Kinh Niên, chỉ cách chưa đầy một tấc thì khựng lại, nhìn vào mồ hôi chảy ướt đẫm trên trán cô, rồi đột nhiên xoay cổ tay, lưỡi đao quét sang phải, xén đứt một lọn tóc trước tai, cán đao đảo ngược nửa vòng trong tay rồi keng một tiếng vào vỏ.

    Kinh Niên trợn trừng hai mắt, ánh mắt lia từ trên xuống dưới lọn tóc bị xén đứt, sau đó quay lại mặt Si Diên, chỉ thấy hắn cười lạnh lùng, ngạo mạn nói: "Tạm giữ lại mạng ngươi."

    Dứt lời quay lưng đi, hai tay chắp sau lưng.

    Trái lại Đề Ngự Sử thấy Si Diên không chịu hạ sát, bèn vung một tay rút ra một con dao găm đâm vào buồng tim của Kinh Niên.

    Si Diên lập tức vươn tay cản lại, hai ngón tay kẹp lấy lưỡi dao vận lực, "Rắc" một tiếng, lưỡi dao lẫn cán dao đồng loạt bị bẻ gẫy.

    Hắn hất tay ném đi, lưỡi đao bay vút ra ngoài găm phập lên phiến đá, cạnh dao sượt qua má của Đề Ngự Sử, rạch ra một đường rỉ máu.

    Si Diên tới liếc cũng chẳng buồn liếc, chỉ hờ hững nói: "Đề đại nhân, ngươi thờ Nguyên Thiên Sư như thần, không để Thiên tử hoàng triều vào mắt cũng chẳng sao, nhưng hôm nay, chỉ cần ta còn đứng ở chỗ này, thì không tới lượt ngươi chõ đầu vào!

    Nếu không muốn giống như con dao găm này thì an phận chút cho ta!"

    Đề Ngự Sử lui lại một bước, khom lưng sụp mắt, hắn biết tam hoàng tử tuy tính cách thô bạo nhưng cũng nhất ngôn cửu đỉnh, nói được làm được, nếu trái ý thì tính mạng khó bảo toàn.

    Nghĩ rồi Đề Ngự Sử ném cán dao trong tay xuống, không dám lỗ mãng nữa, bấm ngón tay lên mép huýt một tiếng.

    Tiếng huýt sáo vừa lắng, chợt nghe từ sau hố vẳng tới tiếng vó ngựa "Cộp cộp cộp", từ xa tới gần.

    Ba người bọn Gia Cát Thủ nghe được tiếng vó ngựa đều nhìn sang, chỉ thấy một bóng đen phóng qua hố, nhảy lên trong sương mù, thân béo cường tráng, xỏ giáp trụ bờm đỏ, nhìn thân hình và màu lông rõ là một con thần câu trăm năm khó gặp, tất nhiên cũng không có đầu, trên cái cổ thối rữa nhớp nháp cũng dán bùa.

    Huyền Ảnh nhận ra nó là tọa kỵ của Điện Hạ, nó đã bị thi đầu cắn chết ở Phong Hoa cốc từ lâu, sao lại xuất hiện ở đây?

    Không đợi hắn suy nghĩ rạch ròi, đã nghe Đề Ngự Sử hô: "Thái tử điện hạ, nhanh!"

    Si Diên lập tức xốc vai trái của Thi Ngũ gia lên, Đề Ngự Sử nhét Thanh Long kính vào trong vạt áo sau của Thi Ngũ gia.

    Chân Kinh Niên mềm nhũn ra, cố chống người dậy.

    Đúng lúc này, con ngựa không đầu phi vút tới, vẫn không ngừng vó.

    Lúc phi sát qua người, Đề Ngự Sử níu lấy bờm phóng người lên ngựa.

    Si Diên vác Thi Ngũ gia nhưng thân thủ vẫn nhanh nhẹn như trước, hắn chạy lấy đà vài bước, giẫm mạnh xuống đất phóng vọt lên, vững vàng đáp xuống phía sau Đề Ngự Sử, ngoái đầu lại thấy Kinh Niên đang lê hai chân, chật vật đuổi theo phía sau, bèn lên tiếng cười nói: "Mục ngự quan, lần sau gặp mặt sẽ là ngày chết của ngươi!"

    Kinh Niên cật lực đuổi theo, khổ nỗi sau khi bị Thanh Long kính chiếu vào cơ thể như bị hút đi tinh khí vậy, tứ chi mềm nhũn, cô ngửa đầu thét: "Ngũ gia!!"

    Ba người nhóm Huyền Ảnh bỏ qua bầy thi thể không đầu chưa xử hết, chạy nhanh tới miệng phiến đá chắn đường, nhưng con ngựa không đầu này bỗng nhấc vó nhảy lên, bay vút qua đỉnh đầu mọi người.

    Gia Cát Thủ cái khó ló cái khôn, quất roi lửa quấn lên đuôi ngựa, kéo ghì lại, nhưng cả người lại bị lôi đi, bèn đưa tay siết chặt lấy đuôi ngựa, đợi con ngựa tiếp đất chạy tiếp, thì hắn cũng bị lôi theo phía sau.

    Huyền Ảnh và Lô Hoài Nhâm vội vàng đuổi theo, vòng ra ngoài phiến đá.

    Kinh Niên dồn sức toàn thân vào hai chân, lấy đà chạy tới gần, rồi nhảy vọt lên đột ngột, một hơi đã bật nhảy qua năm phiến đá, ra tường rào trước cả Huyền Ảnh và Lô Hoài Nhâm, gấp rút đuổi theo.

    Trên con đường hẹp rất đông người, khi thấy con ngựa không đầu thì đều tá hỏa tới nỗi bỏ chạy tán loạn, cản hết đường đi.

    Kinh Niên nóng lòng như lửa đốt, dùng cả hai tay đẩy người chắn ở trước mặt, trơ mắt nhìn con ngựa kia chạy mỗi lúc một xa.

    Gia Cát Thủ bị treo vắt vẻo, một tay nắm chặt đuôi ngựa, tay còn lại quất roi lửa tới cuốn lấy cơ thể Thi Ngũ gia, lúc này cũng bất chấp lửa có đốt hỏng da tay hắn không, chỉ mong có thể đoạt lại là đủ.

    Vậy mà đầu roi còn chưa đụng tới, tay đã bị người ta bắt lấy xách lên.

    Si Diên kéo Thi Ngũ gia xuống khỏi vai, đặt ngang trên hai chân, tay trái bóp xương cổ tay Gia Cát Thủ nghe răng rắc.

    Lòng bàn tay vận lực mạnh một lát, cuối cùng "Rắc" một tiếng, xương tay kêu lên một tiếng rồi gãy.

    Gia Cát Thủ đau khủng khiếp, hét lên một tiếng thảm thiết.

    Vậy mà Si Diên cứ như nghe thấy âm thanh của tự nhiên, vui vẻ lộ ra vẻ mặt say mê, tiếp đó xoay người, quyền phải đánh thốc ra, đấm ngay giữa ngực Gia Cát Thủ.

    Thấy trong miệng Gia Cát Thủ phun máu tươi điên cuồng, ngoẹo đầu ngất đi, hắn không kiềm nổi khoái ý dâng trào, bật ra một tràng cười dài, sau đó vung cánh tay lên, hất Gia Cát Thủ ra.

    ~ Hết chương 16 ~
     
    Thi Quan Kinh Niên
    Chương 17


    Chương 17

    KIẾP NẠN TRÙNG TRÙNG (HẠ)

    Edit: Yunchan

    ***

    Kinh Niên chạy nhanh đuổi theo, đúng lúc nhìn thấy cảnh này.

    Gia Cát Thủ chịu một đấm vào ngực đã bị thương nặng, nếu cứ ngã xuống kiểu đó thì còn gì là mạng?

    Cô quyết định thật nhanh, lật nghiêng người, sải chân xông về phía trước, kịp thời làm đệm thịt trước khi hắn rơi xuống đất, mặt ngửa lên trời, giang hai cánh tay ra bắt lấy.

    Ổn định được cơ thể Gia Cát Thủ rồi, cô lại bị xung lực va cho thất điên bát đảo, chỉ vì khí cô vận lên chân chưa kịp thu về, mà lục phủ ngũ tạng chỉ được một túi da che chắn bên ngoài, trở nên yếu đuối cực kỳ, bị một lực đè xuống như thế chỉ cảm thấy tim muốn dán luôn vào lưng, trong ngực bụng đau nhói lên một trận, trước mắt tối sầm, cổ họng ngọt tanh.

    Cô lắc đầu, mím môi bế khí, cố dằn huyết khí đang trào lên về lại, hai khuỷu tay chống đất đứng dậy, lặng người nhìn con ngựa không đầu phi nước đại đi xa.

    Huyền Ảnh, Lô Hoài Nhâm lần lượt chạy tới, quần chúng trước đó còn chạy bát nháo tránh nạn giờ này cũng quây lại xem náo nhiệt.

    Kinh Niên chỉ cảm thấy có mấy nghìn con chim sẻ bao vây quanh mình chí chí chóe chóe, nhưng không biết đang chí chóe cái gì, ồn tới nỗi tai cô lùng bùng.

    Gia Cát Thủ bỗng ho ra thêm một búng máu, Kinh Niên giật thót, cúi đầu thấy hắn hít thở dồn dập, cấp tốc điểm vào ba huyệt hộ tâm, rồi ngước mắt nhìn về phía trước, chỉ thấy một màn bụi bặm cuốn lên, sau đó lại cúi đầu nhìn Gia Cát Thủ, cứ vài lần như vậy rốt cuộc cũng hạ quyết tâm, dè dặt thận trọng nâng cơ thể hắn lên giao vào tay Huyền Ảnh, thở hộc ra một hơi, nhẹ giọng nói: "Mau dẫn hắn đi đi, đêm nay chúng ta ngủ nhờ nhà dân chữa thương."

    Lúc này Điện Hạ mới dạt dòng người ra chen lên trước, vừa rồi y vẫn đứng canh giữ ở miệng phiến đá, thứ nhìn thấy trước nhất là một con ngựa bờm đỏ không đầu chở hai người một thi chạy vụt ra, y liếc mắt đã nhận ra con ngựa kia chính là con ngựa yêu chết thảm cách đây không lâu của mình, tiếp theo lại thấy Gia Cát Thủ nắm đuôi ngựa bị lôi xềnh xệch ở đằng sau.

    Còn đang kinh ngạc, Kinh Niên đã từ trên trời giáng xuống, rơi ngay bên cạnh y, rồi cuống cuồng vùng dậy đuổi theo, sau đó Huyền Ảnh và Lô Hoài Nhâm cũng nối gót theo một trước một sau.

    Không ai dừng lại giải thích cho y một lời, đều gấp như lửa đốt sau lưng, Điện Hạ cảm thấy đại sự không ổn, bèn bám sát theo sau, có điều y chạy không nhanh, nên không thấy kịp cảnh tượng trước đó, bây giờ thấy Gia Cát Thủ máu me đẫm mặt nằm trong lòng Huyền Ảnh, mặt như tro xám, hai mắt nhắm nghiền, y nhất thời hoảng sợ, run ngón tay đưa qua, giọng run rẩy không thốt được một lời.

    Kinh Niên bước lên vỗ vai y, đợi y lấy lại tinh thần rồi mới mở miệng: "Đạo gia bị thương không nhẹ, tính mệnh nguy ngập, ta đã bảo Huyền Ảnh mang hắn đi chữa thương, ngài cũng theo chăm sóc đi, việc này không nên chậm trễ, đi nhanh đi!"

    Huyền Ảnh bế Gia Cát Thủ đi ra khỏi đám đông, mọi người đều nhường đường, hắn không dám đi quá nhanh, sợ lắc lư sẽ khiến nội thương của Gia Cát Thủ nặng thêm.

    Kinh Niên thấy Điện Hạ còn đứng như trời trồng tại chỗ, bèn ra sức vỗ mạnh y một phát: "Đi nhanh đi!"

    Điện Hạ a hai tiếng rồi xoay người sải dài hai bước, nhưng ngẫm lại vẫn không yên lòng, ngoái đầu hỏi: "Vậy hai người thì sao?"

    Nhìn cô một chút rồi nhìn thoáng qua Lô Hoài Nhâm đứng bên.

    Kinh Niên trả lời: "Còn chút chuyện chưa làm xong, làm xong rồi sẽ đi tìm các ngài."

    Dứt lời xua tay đuổi người, Điện Hạ muốn nói lại thôi, cau mày nhìn cô chốc lát rồi phất áo bào, vội vã đuổi theo Huyền Ảnh.

    Lô Hoài Nhâm thấy Kinh Niên đứng chôn chân tại chỗ nhìn mặt đất tới thẫn thờ, dè dặt hỏi: "Tiểu... tiểu muội, muội định làm thế nào?"

    Kinh Niên "ừ" một tiếng, phủi phủi quần áo, rồi quay đầu nhìn về phía bóng lưng đang chìm vào biển người của Điện Hạ, một lát sau mới lên tiếng đáp lại: "Trước tiên dẹp hết mấy thứ trên phiến đá đã."

    Giọng không gợn sóng, bình thản chẳng có gì khác lạ, nhưng sau đó cô chợt ấn tay trái lên ngực vỗ hai cái, ho sù sụ nôn ra một búng máu sẫm, nhìn thoáng qua vẻ mặt lo âu của Lô Hoài Nhâm, cô bật cười khẽ, nhẹ giọng nói: "Lô đại ca đừng lo, Kinh Niên không sao."

    Nói rồi đi vòng lại chỗ phiến đá, trong lòng suy nghĩ nên giải quyết hậu quả thế nào mới ổn.

    Tường rào bằng đá phiến tuy có phù chú làm thành kết giới, nhưng nếu chú lực mất hiệu lực, âm khí tiết ra ngoài, âm nhập vào dương thể, người sống sẽ gặp nạn.

    Cho nên, trước khi xua tan âm khí tuyệt đối không thể phá kết giới của bùa.

    Song nếu không phá thì sương âm trong tường vây khó tan, trên thi thể không đầu còn lưu lại chủ hồn, không được mặt trời rọi tới thì cũng không thăng linh được.

    Huống hồ, dẫu thăng linh thành công thì trên đất cũng đầy rẫy thi thể cụt tay cụt chân, nghĩ tới đầu người trong Phong Hoa cốc tuy không hồn nhưng vẫn có thể hại người, chính vì nhờ có âm khí nuôi thành quái vật, khó chắc mấy phần tay cụt chân cụt đó sẽ không bị ảnh hưởng rồi hóa thành ma vật giống vậy, nói tóm lại trong phạm vi âm huyệt không thể để lại bất cứ thịt thừa nào.

    Cách khả thi nhất ở đây chính là không dựa vào ánh mặt trời, siêu độ vong hồn, khu trừ âm phách bằng sức mình, rồi hủy sạch thi hài, nhưng muốn một mình siêu độ cho chừng trăm vong hồn trong Thổ Diêu cực âm, Kinh Niên tự nhận mình không có bản lĩnh đó.

    Hai người đi tới bên miệng phiến đá, Trần Mộc vẫn đứng bất động ở chỗ cũ, thị vệ vốn đóng giữ bên ngoài chẳng biết đã đi đâu, thay vào đó là đám đông tò mò đứng áng hết trước cửa ra vào thò đầu dòm ngó, nhưng chẳng ai dám bước vào nửa bước.

    Kinh Niên đứng do dự bên ngoài tường rào, cứ phân vân mãi giữa vào và không vào, cuối cùng vẫn không thể nào mặc kệ được, đành thở dài một hơi, dạt đám đông ra đi vào bên trong.

    Lô Hoài Nhâm đổi phù cho Trần Mộc trước, sau đó dẫn vào cùng, nhưng khi vòng qua phiến đá thứ hai thì bị Kinh Niên ngăn lại, cô lôi Bạch Hổ kính trong lòng ra, nhìn chằm chằm mặt kính không chớp mắt, Lô Hoài Nhâm sững người, hoảng sợ hỏi: "Chẳng... chẳng lẽ muội muốn dùng Bạch Hổ kính?!"

    Kinh Niên hơi gật đầu, mặt đanh lại: "Không sai, ta muốn mượn linh khí trong kính để độ âm hồn, nhưng tinh khí trời đất giao hòa chỉ sợ ngay cả hồn phách của người sống cũng sẽ bị lôi ra khỏi cơ thể.

    Lô đại ca, huynh với Trần Mộc gia nên chờ ta ở ngoài thì hơn."

    Lô Hoài Nhâm nhìn Bạch Hổ kính trong tay cô rồi ngoảnh đầu nhìn qua Trần Mộc, nghĩ ngợi một hồi, hỏi: "Không biết có thể xin tiểu muội giúp một chuyện không?

    Ta..."

    Thấy hắn ngập ngừng, Kinh Niên bèn mở lời: "Có chuyện gì cứ nói đừng ngại."

    Lô Hoài Nhâm kéo Trần Mộc lại gần, như thể phải hạ quyết tâm ghê gớm, dứt khoát mở lời: "Lô mỗ mang nhân huynh vào, cùng chịu chiếu kính với những thi thể không đầu đó!"

    Kinh Niên nghe mà kinh ngạc, nhưng nghĩ lại cũng hiểu được, cô từng nghe Lô Hoài Nhâm nhắc tới thuật Phong Hồn, cho tới nay vẫn ôm suy nghĩ nửa tin nửa ngờ, nhưng theo lời của hắn lúc này thì đã tin là thật.

    Vì vậy nói với giọng ba phần thử bảy phần chắc: "Lô đại ca muốn giải cấm Phong Hồn thuật sao?"

    Thấy Lô Hoài Nhâm biến sắc, biết là mình đã nói trúng, bèn nói tiếp: "Trong cổ thư ghi chép về pháp môn yếu quyết của thuật này, đã cảnh báo cho thế nhân rằng, thi thuật này ắt bị trời phạt... theo Kinh Niên thấy, ý của nó là phải trả giá rất lớn, không biết Lô đại ca... sau khi huynh dùng Phong Hồn thuật đã xảy ra chuyện gì?"

    Lô Hoài Nhâm lộ vẻ khó xử, ánh mắt bất định, ấp a ấp úng như không muốn thổ lộ, Kinh Niên cười cười, nói tiếp: "Không muốn nói cũng được, Kinh Niên cũng không muốn ép buộc huynh, có điều, với linh quang của Bạch Hổ kính thì không thể nào giải cấm chú, huynh đã đọc qua sách cấm, sao không rõ chuyện này?"

    Lô Hoài Nhâm nghe cách nói của cô, như thể rất quen với nội dung ghi chép trong sách cấm, không khỏi nghi hoặc trong lòng, hỏi ngược lại: "Sao muội biết?"

    Kinh Niên thấy sắc mặt hắn thay đổi, mặt đầy vẻ đề phòng, lời muốn nói ra lại nuốt về bụng, lát sau mới đáp: "Ta cũng chỉ nghe tổ tiên kể lại thôi, cách giải cấm chú là lợi dụng Bạch Hổ kính hóa âm dương thành linh tính, gột rửa ô trọc, nhưng không phải một sớm một chiều là có thể thành công, mà phải lấy mặt kính chiếu thân, qua ba trăm bốn mươi lăm ngày mới có thể viên mãn.

    Cách này chỉ có thể dùng một lần, gián đoạn một ngày sẽ thất bại trong gang tấc..."

    Nói tới đây thì dừng lại suy tư giây lát, đột nhiên vỗ ót cười ngây ngô: "Mấy chuyện này cũng do ta tình cờ nghe tiền bối nói, lâu rồi nên chỉ nhớ được nhiêu đó..."

    Thấy Lô Hoài Nhâm nhìn mình ngờ vực, cô lại đổi sang nét mặt đoan trang, khuyên nhủ: "Lô đại ca, tổ tiên nói thì chỉ có thể tin là có, không thể tin không có, huynh nên nghĩ kỹ trước rồi hẵn làm."

    Lô Hoài Nhâm sờ sờ trán ão não, thấp giọng nói thầm: "Nếu không phải sách bị hỏng, thì sao ta lại khổ não thế này..."

    Trong mắt Kinh Niên lóe lên tia sáng dị thường rồi tắt đi nhanh chóng, chỉ nghe cô lên tiếng: "Nếu huynh thật lòng muốn thử một lần, thì cho huynh mượn Bạch Hổ kính cũng không khó."

    Hai tay Lô Hoài Nhâm run lên, sấn tới một bước, run giọng hỏi: "Có thể cho ta mượn thật sao?"

    Kinh Niên cười nói: "Chuyện này có gì mà không thể, chẳng là chúng ta phải giao ước trước, muốn thử thì tự huynh thử, đừng kêu Kinh Niên hỗ trợ, ngộ nhỡ có sai lầm gì thì Kinh Niên không kham nổi đâu."

    Lô Hoài Nhâm vừa gãi đầu vừa xoa tay, kinh hỉ nhiều hơn là khó tin, rồi lại nghe Kinh Niên nói tiếp: "Bạch Hổ kính dùng ở đây thì phải chờ thêm một năm rưỡi nữa mới có thể nạp đầy linh khí lại, Lô đại ca, còn nhiều thời gian, việc cấp bách trước mắt là kết thúc chuyện này đã, mời!"

    Tay hướng ra ngoài phiến đá, mời hắn ra ngoài.

    Lô Hoài Nhâm ngưng thần nhìn cô hồi lâu, than thở: "Tiểu muội, lúc mới gặp muội, Lô mỗ chỉ coi muội là một nha đầu đáng yêu, suốt quãng đường... cũng chưa từng xem muội là người ngoài, ta đối với muội như đối với muội ruột của mình, nhưng bây giờ, lại thấy rất xa lạ."

    Dứt lời gọi Trần Mộc xoay người ra ngoài.

    Kinh Niên yên lặng nhìn theo bóng lưng họ, trong nháy mắt đột nhiên sinh ra một loại tâm trạng khó hiểu, cất giọng kêu theo trực giác: "Ngũ gia, là do âm khí chỗ này quá nặng sao?

    Sao Kinh Niên lại thấy rét run cả người..."

    Nói rồi nghiêng đầu nhìn sang bên, hình khuất dạng bóng khó tầm, gió lạnh thổi lùa qua tay áo càng thêm hiu quạnh, làm vành mắt đỏ lên, Kinh Niên giơ tay chùi mắt, thở hắt ra một hơi rồi chậm rãi đi vào.

    Âm phong ùa vào hơi thở của người sống, mười thi thể không đầu vốn dĩ đang bu quanh hố đột nhiên nhảy vọt về hướng miệng phiến đá, Kinh Niên động khẽ vai, phù chú vào tay, lao thẳng ra ngoài, dán trực tiếp bùa trói hồn lên lá bùa thập tự trên cổ thi thể.

    Lấy bùa trấn bùa, không nắm chắc mười phần thì sao dám sử dụng.

    Bóng người chớp nhanh như sao băng, thoáng cái đã lướt qua, không kịp thấy rõ động tác, thoắt cái lũ tàn thi còn sót lại đều bị dán bùa, trói gô tứ chi, khó thể nhúc nhích.

    Kinh Niên đi sâu vào trong, nhắm thẳng tới trước hố, rút ba tấc đoản kiếm ra rạch vào cổ tay một nhát, duỗi tay ra lật ngược xuống, máu nóng chảy ra ồ ạt hệt như tấm lụa đỏ chậm rãi rơi vào lòng hố, mặt nước lờ lợ bốc hơi lên khí nóng hầm hập, máu tan ra như dòng mực đặc, tan mãi cho tới khi cả mặt nước đều hóa đỏ như nhuộm son.

    Sau đó cô nâng lưng kính, để mặt kính hướng lên trời, rồi dịch cổ tay lên trên mặt kính, lấy máu ngấm vào, mặt kính chợt gợn lên sóng nhẹ, phút chốc phóng ra ánh đỏ.

    Cô lại lấy một lá bùa dán lên trên kính, ngón tay chấm máu viết bốn chữ "Độ hồn tịnh phách", xong đâu đấy bèn giơ cổ tay lên mút cầm máu, cuối cùng ném cái kính lên trên miệng hố, cạnh kính bay vòng trên không, mặt kính hướng xuống mặt nước, giao hòa cùng huyết khí, dần dần ở giữa chúng hình thành một cột sương đỏ, tràn ngập bốn phía, tràn ra tới đâu hắc khí lập tức tản ra tới đó, âm linh tiêu tan, hóa thành khói nhẹ hướng về phía bầu trời.

    Khi sương đỏ đã phủ ngập khắp tường vây, Kinh Niên bèn nhảy lên thu hồi Bạch Hổ kính, ánh đỏ bỗng tắt lịm, một vòng tròn đen lan ra trên khung kính, sau đó mặt kính lại biến thành một cái đầm nước đen kịt.

    Kinh Niên bước tới bên dưới một phiến đá hướng Nam, điểm chân nhảy lên đỉnh phiến đá, bóc lá bùa trên kính đi rồi ném phắt vào trong sương mù, chữ viết bằng máu trên bùa đột nhiên bùng cháy, chạm vào sương thì lan rộng ra, ngọn lửa phừng lên.

    Chỉ nghe tiếng vang dậy ầm ầm, ngọn lửa hừng hực đốt mây thiêu trời, bị vây trong lớp lớp phiến đá cuốn lên sóng nhiệt ngút trời.

    Trước khi ngọn lửa bùng lên Kinh Niên đã phóng qua phiến đá nhảy ra ngoài, rơi xuống đất nhìn quanh, nơi đây là một sườn cát, là lối đi nhỏ ra khỏi trấn Thổ Diêu, từ đây nhìn về xa xa có thể thấy được Bắc môn vào kinh, cô không hề đi vòng lại để gặp Lô Hoài Nhâm, mà dứt khoát men theo đường này đổ dốc xuống chạy thẳng về hướng hoàng thành.

    ~ Hết chương 17 ~
     
    Back
    Top Dưới