Cập nhật mới

Khác Thập nhị sứ quân loạn

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
401591649-256-k920474.jpg

Thập Nhị Sứ Quân Loạn
Tác giả: WBTUZM
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Câu truyện bắt đầu khi Ngô Quyền lâm chung.

Trước khi mất ông bàn giao lại đại nghiệp nhà Ngô cho con trai trưởng là Ngô Xương Ngập và giao cho Dương Tam Kha phò tá con trai mình.

Nhưng Tam Kha bất quân, ra tay cướp ngôi nhà Ngô lập nên nhà Dương.

Là mầm móng cho sự loạn lạc trên đất nước Vạn Xuân.

Sự tranh đoạt, chiến tranh sảy ra liên tục.

Ngôi vương của Tam Kha chưa giữ được bao lâu thì ông đã bị lật đổ bởi con thứ Ngô Quyền là Ngô Xương Văn.

Xương Văn cho người đón anh trai mình về kinh, mở ra một thời kỳ mới cho đất nước được gọi là "Hậu Ngô Vương".

Mặc dù nhà Ngô đã dành lại được ngai vàng nhưng loạn lạc trên khắp đất nước vẫn tiếp diễn.

Chẳng bao lâu hai vua cũng mất trong tình thế đất nước rối ren.

Giai đoạn loạn 12 sứ quân mở ra từ đó.

Với sự xuất hiện của anh hùng Đinh Bộ Lĩnh, người sau này sẽ chấm dứt loạn sứ quân, thống nhất thiên hạ, thái bình toàn cõi.



lichsu​
 
Thập Nhị Sứ Quân Loạn
Hồi 1: Ngô triều suy vong


Đầu năm 944 Tiền Ngô Vương (tức Ngô Quyền) lâm tử bệnh, trước khi lâm chung ông nằm liệt giường miệng thoi thóp những lời trăn trối cuối cùng với hai thiên tử và một vài tướng lĩnh thân cận.

Hôm ấy ngoài trời đổ một cơn mưa tầm tã, mưa rơi không ồ ạt như mưa giông, không nhẹ nhàng như mưa xuân.

Sắc trời ảm đạm, mây trắng ngả sang một màu xám xịt, đó là một cơn mưa rào, một cơn mưa âm ỉ, thầm lặng nhưng kéo dài không ngớt.

Lúc bấy giờ trong cung cũng mang theo một không khí ảm đạm, Ngô Quyền nằm trên giường dưỡng bệnh, bên cạnh ông là hai vị công tử.

Huynh trưởng Ngô Xương Ngập đang quỳ bên cạnh cha, tay ông nắm chặt tay cha, lệ từ khóe mắt tuôn ra không ngớt.

Nhị đệ cũng quỳ ngay cạnh đó, mắt ông nhìn cha đầy nỗi xót xa, đau khổ.

Đứng sau hai huynh là Dương Tam Kha một đại tướng thân cận của Ngô Quyền.

Thân là một đại tướng quân, đối với y chiến trường là nghĩa sống, cuộc đời y đã trải qua biết bao nhiêu trận chiến lớn nhỏ, người chết y còn thấy nhiều hơn cả người sống.

Trong mắt y sinh mạng là một thứ gì đó rất nhỏ bé, bất kỳ lúc nào cũng có thể đánh mất.

Nhưng khi đứng trước người bệ hạ mà y đã vào sinh ra tử không biết bao nhiêu lần.

Đang nằm liệt giường thoi thóp những hơi thở cuối cùng, một con người hùng dũng, máu lạnh như y cũng đã phải rơi những giọt lệ tiếc thương.

Y lúc này chỉ như một đứa trẻ mới lớn, y chỉ biết đứng đó cúi mặt âm thầm đổ lệ, cùng với một vài tướng lĩnh cũng như y ở đằng sau.

Ngay lúc này, Ngô Quyền bất chợt lên tiếng, người ông run rẩy, hơi thở trở nên nặng nhọc, mặc kệ những tín hiệu cơ thể đang ra hiệu cho sinh mệnh của ông sắp kết thúc, Ngô Quyền vẫn cố gắng nói ra những lời trăn trối cuối cùng cho mọi người.

- Trẫm dù gì cũng đã sống một đời oanh liệt.

Diệt giặc Hán giải thoát trăm vạn bá tánh đất Nam khỏi ách cai trị của bọn phong kiến phương bắc.

Tiếc thay đất nước chỉ vừa mới giành được hòa bình một thời gian thì số phận của trẫm đã đến cửa tử.

Thực lòng trẫm vẫn còn muốn được tiếp tục cai trị đất nước, nhưng sinh tử do trời, phận là người phàm không thể tránh được.

Trước khi trẫm mất trẫm còn vài trọng trách muốn giao lại cho các tướng lĩnh và hai con.

Thấy cha nói vậy, Ngô Xương Ngập càng nắm chặt tay cha, ông không nỡ từ biệt người cha của mình, nước mắt ông chảy ra càng ngày càng da diết hơn, ông cầu xin.

- Xin phụ thân đừng nói vậy, con đã mời được rất nhiều lang y tài giỏi trên khắp đất nước về kinh.

Bệnh của người sẽ sớm được chữa khỏi.

Người sẽ khỏe lại mà tiếp tục cai trị nước Vạn Xuân, để trăm vạn bá tánh tiếp tục ấm no, hòa bình.

Lúc này, Ngô Xương Văn cũng lên tiếng.

- Huynh trưởng nói đúng đấy phụ thân, xin phụ thân hãy vực dậy tinh thần, bệnh của người sẽ sớm được chữa khỏi thưa phụ thân.

Trái ngược lại với sự khẩn thiết của hai thái tử, Ngô Quyền cất lên một tiếng cười mãn nguyện, Ông buông tay mình ra khỏi tay Xương Ngập.

Đưa mắt nhìn tất cả mọi người một lần cuối, rồi ông nói.

- Nhìn các con như vậy, ta ra đi cũng mãn nguyện.

Cả cuộc đời ta sống ngay thẳng, không làm điều gì trái với nhân nghĩa con người, chết cũng không hổ thẹn với trời.

Chỉ có điều ta vẫn còn đang lo lắng cho số phận nước Vạn Xuân, quốc gia vẫn còn đang non trẻ, ta chết rồi đất nước sẽ đi về đâu?

Nhưng nghe lời hai con nói ta mới an tâm mà nhắm mắt.

Ta giao lại đất nước cho huynh trưởng con, Ngô Xương Ngập, con sẽ thay ta lên ngôi vương cai trị đất nước.

Này Dương Tam Kha.

Giọng ông trở nên khàn đặc, vừa nói vừa ho không ngớt, ông thều thào gọi Dương Tam Kha.

Tam Kha nghe bệ hạ gọi, Tam Kha có phần hơi giật mình, nhưng vẫn nhanh chóng quỳ chân, chắp tay đáp lại tiếng gọi của bệ hạ.

- Có mạt tướng, thưa bệ hạ!

- Nghe trẫm nói, trước khi trẫm chết trẫm còn có một di nguyện cuối cùng muốn giao lại cho ái khanh.

- Mạt tướng xin nghe lệnh bệ hạ!

- Trẫm coi ái khanh như huynh đệ, như anh em ruột thịt của mình.

Ngay phút lâm chung, ngoài hai con của trẫm ra, chỉ có ái khanh mới là người trẫm coi là thân tín nhất.

Ngô Xương Ngập, con cả của trẫm sẽ thay trẫm lên ngôi vua, ái khanh là người trẫm tuyệt đối tin tưởng giao lại cho trọng trách này.

Mặc dù trẫm truyền ngôi cho Xương Ngập, nhưng con trẫm nó còn trẻ người non dạ, ắt hẳn không tránh được sai sót.

Ái khánh theo hầu trẫm đã lâu, trẫm có di nguyện cuối là nhờ ái khanh hãy phò tá Xương Ngập trên con đường đế vương sau này.

- Mạt tướng, Dương Tam Kha xin tuân chỉ!

Nghe được câu trả lời của Tam Kha, Ngô Quyền mới yên lòng xuôi tay nhắm mắt.

Ông thanh thản ra đi trước những tiếng những khóc than không ngớt của các tướng lĩnh và hai vị công tử.

Ngày ông ra đi ngay cả trời cũng phải đổ lệ, hạt mưa bên ngoài rơi xuống ngày một nhiều, nhưng mưa vẫn rơi một cách âm ỉ và thầm lặng.

( Lưu ý: Ngô Quyền thực chất có bốn người con, lần lượt là huynh trưởng Ngô Xương Ngập, nhị đệ Ngô Xương Văn, tam đệ Nam Hưng, tứ đệ Càn Hưng.

Nhưng hai người con nhỏ Nam Hưng và Càn Hưng lại theo Dương quốc mẫu.

Chỉ có Xương Ngập và Xương Văn là theo đế vương Ngô Quyền.

Dương Tam Kha không chỉ là tướng lĩnh dưới trướng Ngô Quyền mà còn là em vợ Ngô Quyền.)

*********************************

Một tuần sau kể từ ngày Ngô Quyền ra đi, lúc này triều đình lại một lần nữa khoác lên mình bầu không khí trang trọng, như những ngày đầu Ngô Quyền xưng vương.

Ngô Xương Ngập ngồi trên ngai vàng, trước mặt ông là những bá quan đã dành hết phần đời còn lại để giữ vững sự trung nghĩa với triều Ngô.

Trong những ngày đầu Ngô Quyền mất, công việc triều chính trở nên vô cùng hỗn loạn, nhiều bá quan không phục vua trẻ, đâm ra bất mãn.

Có người cáo quan về ở ẩn, có người mưu kế đoạt ngôi, có người ngoài mặt trung thành nhưng trong lòng bất tuân.

Nhờ có sự hậu thuẫn của Tam Kha, những hoạn quan trong triều vẫn chưa dám làm gì manh động, triều đình tạm thời yên ổn.

Ngày Xương Ngập nhận ngôi, bá quan trước mặt ông chỉ vỏn vẹn mười người, bao gồm: Tài Dương, Khang Dự, Trương Môn, Gia Nhĩ, Mạnh Nghĩa, Ngô Đạt, Cát Sách, Trương Phúc, Vũ Lâm, Hạo Nhiên.

Trong tất cả mười người trung quan, có hai người được xem là bậc kỳ tài.

Chỉ riêng hai người này đã bằng tất thảy tám bá quan kia cộng lại, hai người đó là Tài Dương và Khang Dự.

Ngồi trên ngai vàng, Xương Ngập hai tay cầm ngọc tỷ đưa lên qua trán, ông nói bằng một giọng đanh thép.

- Kính gửi phụ thân trên trời, ngày hôm nay Ngô Xương Ngập con xin thực hiện di nguyện của phụ thân.

Lên ngôi thiên tử, tiếp quản cơ nghiệp của người, thay người cai quản triều đình, cai trị đất nước.

Các bá quan cung kính, đồng thanh:

- Bệ hạ vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế.

Bầu không khí trang trọng bỗng nhiên bị phá vỡ bởi một tiếng ''báo'' vội vàng của một tên lính truyền tin.

- Tại hạ bẩm báo!

Dương Tam Kha làm phản, tập hợp đại quân một vạn người đang kéo đến kinh đô nhằm cướp ngôi vương của bệ hạ!

Mọi người ai nấy đều cũng hoảng hốt, đặc biệt là Xương Ngập.

Ông nhất thời không tin những gì mình vừa nghe thấy, ông mong mình nghe nhầm bèn hỏi lại tên lính.

- Cái gì!

Dương Tam Kha làm phản?

- Thưa bệ hạ, đúng vậy ạ. một vạn quân do Dương Tam Kha dẫn đầu, quân lính tràn đầy khí thế, đã công phá đến cổng thành phía Bắc, sẽ chẳng ít lâu nữa mà kéo đến kinh đô cướp ngôi.

Xương Ngập vô cùng bực tức, răng cắn chặt môi đến bật cả máu, ông ra lệnh.

- Trẫm ra lệnh toàn bộ lính trong thành cố thủ, tập trung truy sát tên nghịch tặc Dương Tam Kha.

Ai lấy được thủ cấp của hắn ta liền trọng thưởng 5 nghìn lượng vàng, tăng ba chức tước.

Khang dự lập tức đứng lên, ông đại diện cho các quan văn trong triều bẩm báo.

- Thần xin bẩm báo bệ hạ, ngay lúc tên thất phu Dương Tam Kha đang làm loạn tại cổng phía Bắc.

Chúng thần xin ý kiến, bệ hãy rút lui theo phía Đông về Nam Sách tạm ẩn.

Ở đó có chư hầu Phạm Lệnh Công, lão ấy là một người tận tâm tận nghĩa với triều đình.

Nếu lão nghe tin bệ hạ gặp nạn ắt hẳn sẽ cứu giúp.

Bệ hạ cứ việc ẩn cư tại đó cho đến khi nào đánh đuổi được loạn tặc Dương Tam Kha rồi ngài hãy về lại kinh đô tiếp quản.

Xương Ngập lập tức từ chối, ông có phần do dự khi bỏ ngôi lui về Nam Sách.

Ông thừa biết với sức mạnh của quân triều đình, đánh dẹp một đại tướng như Dương Tam Kha là điều không thể.

Nhưng ông không muốn chạy, vì nếu chạy thì thật bẽ mặt với người cha đã mất, nhất thời ông không biết phải làm thế nào.

Ông liền thay đổi mệnh lệnh.

- Ta không đi, phụ thân đã giao lại ngôi vua cho ta, ta không thể thấy loạn mà chạy, thấy nguy mà trốn được.

Nếu ta mà bỏ chạy thì còn mặt mũi gì với phụ thân trên trời nữa.

Các chư hầu trên khắp đất nước có coi ta ra gì nữa không?

Đất nước vô chủ sẽ rơi vào loạn lạc, đời sống bá tánh sẽ vô cùng lầm than, khổ cực.

Dù có chết ta cũng không thể đi, ra lệnh cho quân lính các thành ngay lập tức rút về kinh đô cố thủ.

Tên Tam Kha kia đánh xong cổng bắc vẫn cần phải qua một cổng nữa mới có thể vào cung, nhiêu nấy thời gian cũng đủ để ta có thể tập trung quân lính sẵn sàng nghênh chiến tiêu diện quốc tặc.

Các quan trong triều đồng thanh ra sức ngăn cản, mười người một lời

- Không được thưa bệ hạ!

Sau đó Khang Dự tiếp tục nói tiếp.

- Tên Dương Tam Kha kia là một đại tướng dưới thời phụ thân ngài, hắn võ công cao cường, kinh nghiệm đánh trận dày dặn.

Đã thế các tướng quân võ mạnh trong triều phần lớn đã bị hắn thu phục, theo hắn làm phản.

Quân ta tuy có số lượng đông đảo, nhưng binh lính lại thiếu kinh nghiệm trận mạc, đối với quân của hắn thì cũng chỉ như một lũ tân binh yếu kém.

Cái ta thiếu nhất hiện tại là tướng lĩnh lãnh đạo, vì các tướng tài đều đã theo giặc.

Bệ hạ đừng trách, thần chỉ nói thật, bệ hạ giờ mà cố thủ thì không sớm hay muộn thì cũng đại bại, may thì giữ mạng nhưng lại bị hắn ta điều khiển, còn không may thì....

Ngô Xương Ngập quát lớn.

- Nếu ta không may thì sao!

Khang Dự cắn răng, nghiến lợi nói ra ba chữ như sét đánh vào tai Xương Ngập.

- Thì vong mạng!

Tài Dương cũng ngay lập tức tiếp lời.

- Thời gian gấp rút xin bệ hạ hãy bỏ kinh tháo chạy đi ạ.

Cho dù bệ hạ có ở đây kiểu gì cũng bại, bệ hạ đi vẫn sẽ bại nhưng giữ được mạng.

Xương Ngập đã vốn bực mình trong người sau lời của Khang Dự, ông nghe Tài Dương nói xong càng bực hơn nữa, ông gắt gỏng.

Mệnh lệnh của ông lúc này lại thêm một lần nữa thay đổi, ông quyết tử cầu hòa với giặc.

- Vong mạng thì sao!

Ta là bậc đế vương, cai quản hàng vạn sinh mạng, hà cớ gì vì sợ chết mà phải tháo chạy, cho dù ta có chết, có phải bỏ mạng ở đây thì ta cũng đồng lòng.

Một mạng ta có thể đổi lấy trăm vạn mạng người thì việc gì ta phải tiếc, chẳng phải là cái giá quá rẻ sao?

Người đâu ra lệnh cho toàn quân ngừng chiến, đóng cổng thủ thành.

Báo là bệ hạ dừng chiến muốn cầu hòa với Dương Tam Kha, thề sẽ không truy tội hắn.

Bảo hắn muốn gì trẫm cũng sẵn sàng hạ chỉ, kể cả là cái đầu của trẫm.....

Trẫm cũng hạ!

Xương Ngập dứt lời ngã gục xuống.

Các quan lại mặt cắt không một giọt máu, mất trật tự quỳ gối van lạy ông, Khang Dự đỡ ông dậy, rồi lớn giọng với quân lính.

- Bệ hạ nhất thời nóng giận các ngươi không được truyền lệnh ra ngoài, ai hé ra nửa lời.

Chém ngay lập tức!

Tài Dương cũng quỳ ngay trước mặt Xương Ngập, ông cầu xin vị tân hoàng đế.

- Xin bệ hạ bình tĩnh, xin bệ đừng nóng vội.

Bệ hạ không nên nói những lời như thế, bệ hạ nói vậy thiên hạ sẽ nghi rằng vua nhu nhược bất tài ắt sẽ càng loạn hơn nữa.

Chi bằng bây giờ ngài hãy rút đi để giữ mạng, chỉ cần ngài còn sống.

Chỉ cần ngài còn sống thì nhà Ngô vẫn còn cơ hội phục dựng.

Chỉ cần ngài còn sống thì nhà Ngô vẫn còn cơ hội dẹp giặc Tam Kha.

Chỉ cần ngài còn sống....

Nói đến đây khóe mắt Tài Dương ngấn lệ, ông nghẹn nào.

- Thì....

Thì....

Hàng vạn bá tánh, hàng vạn quân lính trong thành sẽ không phải bỏ mạng vô ích!

Xương Ngập lúc này cũng dịu lại, ông thở không ra hơi, mồ hôi đầm đìa khắp khuôn mặt, run rẩy chỉ tay về cửa đình ra lệnh.

- Người...

đâu... hãy chuẩn bị cho ta....

Ngựa và một trăm quân lính theo ta tháo chạy về Nam Sách.

Nương nhờ Phạm Lệnh Công.

Tài Dương hô to.

- Hãy mau chuẩn bị ngựa, lập tức xuất thành

Một lúc sau, ngựa và người đã chuẩn bị xong.

Xương Ngập rút khỏi kinh đô, ông rời đi âm thầm lặng lẽ, không ai ngoài những quan trong triều biết về điều ấy.

Tài Dương, Khang Dự lặng người cùng các quan khác trong triều đứng nhìn đoàn ngựa của vua rời đi, trên mặt ai nấy cũng đều mang một nỗi tiếc thương, được thể hiện qua những giọt lệ đang chảy xuống hai bên mặt.

Lệ chảy như máu.

Lúc này Khang Dự mới nhẹ nhàng nói.

- Bệ hạ cuối cùng cũng đi rồi.

Ông cùng mọi người lặng lẽ đứng nhìn đoàn ngựa ngày một đi xa.

Các quan xúc động tiễn biệt.

- Chúng thần xin tạm biệt bệ hạ!

Sau khi dứt lời từ biệt, các quan bỗng nhiên im lặng một hồi, không nói không rằng tất cả chỉ nhìn mặt nhau.

Giương lên một ánh mắt quyết tâm, môi cắn chặt. tất cả các quan lấy ra từ trong ống tay áo mỗi người một con dao nhỏ đã chuẩn bị sẵn, cả mười con người đều đưa mười con dao kề ngay cổ chuẩn bị tự sát.

Trước khi chết tất cả đều đồng thanh hô vang một lời, thập nhân nhất ngôn.

''TA THÀ CHẾT CHỨ QUYẾT KHÔNG LÀM VIỆC CHO BỌN PHẢN TẶC!''

Dứt lời tất cả đồng loạt cắt cổ, để lại giữa cung đình mười cái xác người và một vũng máu tươi hòa vào lẫn nhau, tô đỏ cả một khung cảnh.

Sự kiện này được gọi là ''THẬP VỊ CẬN THẦN QUYẾT TỬ TẬN TRUNG''.

Đời sau có thơ viết rằng:

''Nhất nhật hữu thời ngự tại cung

Nhân tâm oán hận khởi trùng trùng

Vị đăng đế vị, cung ly biệt

Thập quan quyết tử bảo trung hung.''

Dịch nghĩa:

''Một ngày nào đó ở trong cung

Lòng người oán hận dâng vô cùng

Vua chưa đăng ngôi phải ly tán

Mười quan quyết chết giữ lòng trung.''

*********************************

Ngô Xương Ngập ngồi một mình bên trong xe ngựa.

Lúc này ông mới bật khóc, ông khóc không phải vì ông sợ hãi, không phải vì ông tiếc nuối kinh thành mà ông khóc vì sự bất tài của chính mình.

Ông nhớ về phụ thân, ông thấy con người ông thật vô dụng, ông tự trách mình vô cùng.

''phụ thân, con thật vô dụng thưa phụ thân, phụ thân cả đời thành công oanh liệt, dạng danh thiên hạ.

Nhưng con của người thật bất tài, phụ thân ở trên trời chắc hẳn sẽ thất vọng về con lắm.

Nếu người biết mình truyền ngôi vương lại cho một đứa như con thì chắc người sẽ chết không nhắm mắt.

Thất bại lớn nhất của phụ thân không phải những trận thua trên chiến trường, mà là người đã đặt niềm tin sai người.

Thưa phụ thân, giang sơn phụ thân để lại cho con, con không thể giữ được dù chỉ mà một mảnh đất nhỏ nhất, chỉ trách con bất tài, nên chết để đền tội.''

Nghĩ vậy ông liền rút cây trâm cài tóc kề vào cổ định tự vẫn, nhưng bất chợt ông nghĩ đến các quân thần ở trong cung, các binh sĩ đã hy sinh cho ông tháo chạy, trăm vạn bá tánh đang rơi vào cảnh lầm than, khổ sở.

Cảm thấy trọng trách của mình quá lớn, nếu ông chết đi thì thiên hạ sẽ ra sao, những trung thần đã hy sinh tính mạng mình họ sẽ chết vô nghĩa ư?

Lấy lại tinh thần, ông trấn an bản thân, tự nhủ rằng

''Đúng!

Ta không thể chết được, nếu ta chết thì những hy sinh kia sẽ đổ sông đổ bể.

Người chết sẽ chết một cách tức tưởi, một cách vô nghĩa, người sống lại sẽ lâm vào loạn lạc, cùng cực.

Ta không thể chết, ta phải sống, sống để khôi phục nhà Ngô, sống để giành lại nền độc lập mà cha ta đã dành cả đời gây dựng.''

Tỉnh táo khỏi cơn suy sụp.

Ngô Xương Ngập liền cho người dừng ngựa, ông bước xuống, thấy trước mặt là một con sông lớn.

Ông bèn hỏi người lái xe ngựa.

- Cho trẫm hỏi ta đang ở nơi nào?

Người lá xe trả lời.

- Dạ thưa!

Ta đang ở bên bờ sông Đuống, còn cách Nam Sách hơn 200 dặm nữa.

Xương Ngập nói.

- Được rồi, cho ngựa dừng lại nghỉ một lát.

Ông một mình đi lên trước đoàn quân, mắt nhìn lên trời, nghiến chặt răng, tay giơ nắm đấm lên cao rồi hô to

- Dương Tam Khaaaaaaa!

Ta thề không đội trời chung với ngươi, ngay tại đây trước sông, trước đất mẹ, trước trời, trước núi và trước toàn bộ các binh lính ở đây.

Ngô Xương Ngập ta xin thề!

Một ngày nào đó sẽ tiêu diệt tên phản tặc Dương Tam Kha nhà ngươi.

Chém đứt đầu ngươi bằng chính đôi tay của mình, chu di cửu tộc dòng họ nhà ngươi.

Cuộc đời ta sẽ không bao giờ thanh thản nếu như tên phản tặc nhà ngươi chưa chết.

Ta thề!

Xương ngập ta còn sống ngày nào là sẽ dốc sức giết ngươi ngày ấy!

Nói xong ông liền rút cây trâm cài tóc mà ban nãy ông định dùng để quyên sinh ra đâm mạnh vào giữa lòng bàn tay, máu chảy xuống sông sau lời thề của ông.

Chứng kiến cảnh bệ hạ lấy máu ăn thề với sông nước, toàn bộ quân lính ai nấy đều không khỏi nể phục.

Toàn bộ quỳ gối lấy gươm rạch giữa lòng bàn tay, máu tươi hòa cùng màu đất.

Tất cả đồng thanh

- Bệ hạ anh minh, chúng thần tại nơi này trước sự chứng kiến của đất mẹ, trước trời, trước sông, trước núi và trước mặt bệ hạ.

Chúng thần xin thề!

Dành nguyên phần đời còn lại của mình tận tâm phục vụ bệ hạ.

Bệ hạ lên núi chúng thần lên núi, bệ hạ vô rừng chúng thần vô rừng.

Kể cả bệ hạ có đi chết chúng thần cũng nguyện chết vì bệ hạ, chết vì triều Ngô!!!

Ngô Xương Ngập vô cùng cảm động ông đi đến đỡ mọi người dậy, ông mượn lấy thanh gươm của một người lính trong số ấy.

Ông giơ cây kiếm lên hô lớn.

- Phục dựng triều Ngô, tiêu diệt phản tặc!

Rồi ông rạch vào hai lòng bàn tay mình bằng mũi kiếm, viết một chữ "折" (giết) với ngụ ý là sẽ giết chết tên phản tặc Dương Tam Kha bằng chính đôi bàn tay này.

*********************************

Đã trôi qua năm ngày kể từ khi Xương Ngập tháo chạy khỏi kinh thành.

Phạm Lệnh Công đương ngồi trong thành hưởng rượu, họa cung nữ, thì quân lính đi vào bẩm báo.

- Bẩm báo chủ công, có thư của Ngô Xương Ngập được quân lính gửi tới.

Lệnh Công đọc thư xong sắc mặt trở nên nghiêm trọng, trong thư khái quát sơ bộ tình hình triều chính.

Ngay lập tức Lệnh Công liền ra lệnh quân lính mở cửa thành ông đích thân ra nghênh đón Xương Ngập.

Lệnh Công vừa bước ra khỏi cổng thành, cùng lúc đó đoàn ngựa hộ tống Xương Ngập cũng vừa đến nơi.

Xương Ngập bước ra khỏi xe ngựa, sát khí ngút trời, mỗi bước đi của ông cũng làm cho các binh lính Nam Sách cảm thấy lạnh sống lưng.

Lệnh Công đi tới cúi đầu chào đón Xương Ngập.

Ông chào.

- Tại hạ kính chào công tử Ngô vương.

Xương Ngập nắm tay Lệnh Công, ông nói.

- Lão khách sáo, khách sáo quá rồi.

Ngay lúc nắm lấy bàn tay của công tử, Lệnh Công liền cảm thấy bàn tay của người có gì đó lạ thường, bàn tay trở nên gồ ghề tựa như lão đang sờ lấy một vết máu đông.

Nhưng hình dáng của vết máu đông rất lạ, nó giống như một chữ viết gì đó.

Lệnh Công im lặng, mồ hôi hột đổ ra, lão nhìn mặt Xương Ngập.

Xương Ngập lúc này cũng thầm hiểu ý của Lệnh Công, ông thì thầm bên tai lão.

- Tôi hiểu lão đang muốn hỏi điều gì.

Đây là bí mật trước mặt toàn bộ quân lính Nam Sách tôi không tiện nói, lát nữa vào bên trong tôi sẽ kể rõ ngọn ngành.

Nghe vậy Lệnh Công liền mời công tử vào phủ bên trong thành, trong phủ đã bày sẵn yến tiệc, lão mời Xương Ngập nhập tiệc, ăn no, hưởng rượu.

- Công tử, lão mời ngài dùng tiệc.

Xương Ngập đáp.

- Lệnh Công, mời.

Yến tiệc lúc này chỉ có hai người, không đợi Lệnh Công mở lời, Xương ngập liền lên tiếng nói về hai bàn tay của mình.

- Chắc lão thắc mắc bàn tay tôi có gì lạ lắm đúng không?

Nói vậy, Xương Ngập liền giơ hai tay lên cho lão thấy, hai bàn tay nổi lên hai vết máu đông hình chữ "giết".

Rồi ông nói tiếp.

- Mới ngay hai hôm trước, tôi đã thề với các quân lính trước bờ sông Đáy rằng.

Tôi thề sẽ giết tên phản tặc Dương Tam Kha đó bằng chính đôi tay này của tôi.

Hai chữ giết trên tay này được viết bằng mũi gươm.

Lệnh Công run người, lão chỉ tay vào hai chữ giết, lão run rẩy hỏi.

- Bằng mũi gươm?

Xương Ngập cười khẩy, rồi ông đanh mặt lại, chau mày nghiêm túc nói.

- Chính xác, tôi mượn lấy gươm của lính rạch vào lòng bàn tay mình chữ giết, với quyết tâm sẽ giết chết tên giặc Tam Kha kia bằng chính đôi tay này của mình.

Nhưng hiện tại khả năng của tôi là không đủ để giết giặc, nên đành phải tạm thời cất lại sự hận thù, chiêu mộ binh lính, gây dựng quân đội, rèn rũa võ công.

Đến khi tôi đủ mạnh sẽ xuất binh đánh giặc.

Bây giờ chữ giết trên tay tôi, không phải để giết, mà để nhắc nhở bản thân mình rằng, không bao giờ được quên mối thù này.

Phạm Lệnh Công!

Nghe Xương Ngập nhắc đến tên mình, Lệnh Công có hơi giật mình.

Nhưng không đợi Lệnh Công đáp lời, Xương Ngập lập tức nói tiếp

- Tôi bây giờ không còn chốn dung thân, huống chi là lập nghiệp.

Nên Ngô Xương Ngập tôi đành mặt dày cầu xin lão, Xin lão chiếu cố cho Xương Ngập tôi mượn đất Nam Sách này làm chỗ gây dựng sự nghiệp, báo thù quốc tặc.

Nói xong Xương Ngập liền rời khỏi bàn ăn, ông quỳ gối cúi đầu trước mặt Lệnh Công, bày tỏ sự khẩn thiết.

Chứng kiến công tử hạ mình, Lệnh Công run người, lão vừa vô cùng kính phục, nhưng cũng vô cùng kinh hãi.

Lão thốt lên.

- Thánh nhân!

Công tử đúng là bậc thánh nhân hạ phàm.

Phạm Lệnh Công tôi hơn nửa đời người theo phò nhà Ngô, hưởng lộc nhà Ngô, bây giờ tuy Ngô vương đã mất, nhưng Ngô triều vẫn còn.

Tại hạ xin dành hết phần đời còn lại, theo phò công tử, hỗ trợ hết sức, hết của, trong công cuộc tiêu diệt phản tặc, phục dựng Ngô triều.

Nói xong lão liền đỡ công tử đứng dậy, phủi bụi dưới chân người, mắt cả hai ngấn lệ.

Đêm hôm ấy, dưới ánh trăng vàng của trời khuya, thành Nam Sách hiện lên những ánh lửa nhỏ bập bùng, chiếu sáng cả một tòa thành.

Ẩn giấu trong những ánh lửa nhỏ bé ấy, bùng cháy lên những ngọn lửa của lòng người, lửa không sáng, cũng không nóng, nhưng lại thiêu cháy vô cùng.

Ngọn lửa của hận thù, nhưng cũng là ngọn lửa của quyết tâm, của hy vọng.

Báo hiệu một tương lai sẽ vô cùng tàn khốc cho đất nước Vạn Xuân.

Muốn biết hành trình khôi phục triều Ngô, tiêu diệt phản tặc của Ngô Xương Ngập diễn ra thế nào, xem hồi sau sẽ rõ.
 
Thập Nhị Sứ Quân Loạn
Hồi 2: Vạn Xuân nhất quốc hữu nhị vương.


Sau khi đem quân làm phản, kinh thành Cổ Loa bây giờ dường như đã hoàn toàn nằm trong tay Dương Tam Kha.

Trên đà chiến thắng, đại quân của y tiến vào sâu bên trong nội thành.

Trong thành lúc này không có lấy một bóng người, mọi thứ trở nên yên ắng lạ thường.

Nghi rằng có mai phục, Tam Kha liền cho một nhóm lính nhỏ đi vào bên trong do thám.

Quân lính chầm chậm bước vào, bên trong vẫn không có một động tĩnh gì.

Cho đến khi, có một tiếng ''báo'' gấp gáp vọng ra bên ngoài, một người lính hớt hải chạy ra từ trong thành, bẩm báo với y.

- Báo!

Bên trong kinh thành trống rỗng, nhưng trước cửa cung đình có mười cái xác người, máu chảy thẫm đỏ cả mặt sàn.

Y giật mình, cau mặt:

- Mười cái xác?

Là những ai?

- Dạ, tại hạ không rõ.

Bực mình, Tam Kha liền cho quân thúc ngựa thẳng vào cung, y phải kiểm tra danh tính của những cái xác đó.

Y cưỡi ngựa bước đến gần bậc thềm cung đình.

Mùi máu tanh nồng xộc vào mũi, trước mặt quả thực có đến mười thi thể đang nằm ngổn ngang ở đó.

Y xuống ngựa tiến lại gần xem thử, y nhận ra đó là xác của mười tên quan văn thân tín nhất trong triều.

Lúc này y mới ngộ ra rằng, nguyên nhân cho sự im lặng bất thường đó không phải là mai phục, mà là tên tiểu tử Ngô Xương Ngập đã bỏ trốn khỏi kinh đô.

Hiểu được sự thật, y càng cáu hơn nữa,sắc mặt trở nên tối sầm, y cau mày, tay nắm chặt đấm xuống đất, y mắng.

- Khốn khiếp, tên Ngô Xương Ngập khốn khiếp, hắn dám bỏ trốn khỏi kinh thành, thật khốn khiếp!

Nhưng y không để sự bực tức diễn ra quá lâu, y chép miệng, thản nhiên dẫm lên những thi thể ấy hiên ngang đi vào trong triều.

Quân lính thấy vậy reo hò đầy kích động, vừa bước đi Tam Kha vừa hô lớn.

- Tất cả nghe lệnh, kể từ bây giờ trở đi, ngai vàng của nước Vạn Xuân sẽ do ta cai trị.

Dương Tam Kha ta sẽ lên ngôi hoàng đế!

Nghe vậy tất cả quân lính đều quỳ xuống trước mặt y, mọi người phấn khích đồng thanh.

- Bệ hạ vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế.

Y chỉ đáp lại bằng một tiếng cười lớn vang khắp cả kinh thành.

Sau hôm đó đất nước Vạn Xuân đã đổi chủ, Dương Tam Kha lên ngôi hoàng đế, hiệu là Dương Bình Vương.

Y ra sức ráo riết truy tìm tung tích của Ngô Xương Ngập, y được thám tử báo rằng Xương Ngập bây giờ đang ẩn cư tại vùng Nam Sách.

Nghe tin y liền cho sứ giả đi tới yêu cầu Phạm Lệnh Công giao Xương Ngập ra cho triều đình, nhưng Lệnh Công liên tục khước từ.

Biết không thể lay động lòng trung của lão, y liền tập hợp một đội quân gồm 10 ngàn người đi đến đất Nam Sách, truy lùng Ngô Xương Ngập.

Hay tin Bình Vương dẫn quân kéo tới, Lệnh Công liền lập tức đưa Xương Ngập vào vùng rừng núi sâu bên trong thành Nam Sách lẩn trốn.

Quân lính Bình Vương đến nơi lục soát mãi không được đành phải lui quân kéo về, nhưng Bình Vương không bỏ cuộc.

Y liên tiếp đưa quân đến ba phen đều không tìm được dấu vết của Xương Ngập, quá tam ba bận đành phải từ bỏ việc tìm kiếm.

Lúc này sâu trong rừng núi, Xương Ngập cũng không hề thảnh thơi.

Ông mượn danh Lệnh Công chiêu mộ binh lính, ngày đêm âm thầm luyện binh, nuôi chí báo thù, ra sức quyết tâm tiêu diệt quốc tặc Tam Kha.

Tuy thất bại trong việc truy sát người anh Xương Ngập, Bình Vương lại thành công trong việc tìm kiếm người em Xương Văn.

Y liền nhận Xương Văn là con nuôi, đưa về cung để tiện kiểm soát.

Do Bình Vương cướp ngôi của nhà Ngô, không được danh chính ngôn thuận, đâm ra triều đình rối loạn, chư hầu khắp nơi nổi dậy lập thế lực riêng.

Hai thế lực tiêu biểu nhất là tại vùng Tam Đái có sứ quân Nguyễn Khoan, vùng Đường Lâm nổi lên sứ quân Ngô Nhật Khánh.

Cảm thấy ngôi vương bị đe dọa, Bình Vương liền sai người cho gọi Xương Văn và hai tướng Đỗ Cảnh Thạc và Dương Cát Lợi vào triều.

Độ vài phút sau Xương Văn bước vào cùng với hai tướng đi theo bên cạnh, cả ba quỳ một chân, cúi đầu diện kiến.

- Tiểu tử bái kiến bệ hạ! (Xương Văn nói trước)

- Mạt tướng bái kiến bệ hạ! (hai tướng đồng thanh)

Bình Vương ngồi trên ngai vàng với phong thái uy nghi, y nắm chặt tay vịn chạm đầu rồng.

Miệng thở một hơi dài rồi y nghiêm nghị đứng dậy, tay đè đầu rồng gãy làm đôi, rơi xuống đất.

Y nói.

- Tên Ngô Xương Ngập yếu kém, trẫm lên ngôi hoàng đế là do ý trời.

Ấy vậy mà chư hầu các cứ bất mãn, chúng muốn phản lệnh trời, lập nên thế lực riêng nhằm lật đổ trẫm.

Nay trẫm phải thay trời hành đạo, quét sạch bọn nghịch tặc đó.

Nói vậy y đưa mắt dò xét thái độ của Xương Văn và hai viên tướng.

Thấy không có phản ứng gì, y hài lòng nói tiếp.

- Trẫm ra lệnh, Xương Văn con cùng với Cảnh Thạc và Cát Lợi Đem một vạn quân kỵ, đánh thẳng Tam Đái và Đường Lâm.

Trong một tháng phải mang về thủ cấp của Nguyễn Khoan, Nhật Khánh treo trước cổng kinh đô, thị uy thiên hạ!

Cả ba đồng thanh đáp lệnh.

- Chúng thần tuân chỉ!

Ngay trong ngày hôm ấy, Xương Văn cùng với Đỗ tướng quân và Dương tướng quân lãnh đạo 1 vạn kỵ binh.

Đầu tiên Xương Văn cho quân đi thẳng đến Tam Đái ở xa đánh trước, rồi sau đó trên đường lui binh mới bất ngờ chuyển quân quay đánh Đường Lâm.

Đoàn quân trên đường tiến được đến Từ Liêm, dừng chân nghỉ.

Trong lúc đó Xương Văn có họp bàn với hai tướng. kế hoạch của ông có chút thay đổi, Xương Văn nói.

- Theo ta nghĩ, Bình Vương thuận thế phụ thân ta lâm chung, đem quân đến cướp kinh đô Cổ Loa, là trái nhân nghĩa, nghịch đạo trời.

Ngôi vương của hắn không danh chính ngôn thuận, chư hầu các sứ nổi lên là lẽ thường tình.

Ta thấy các sứ quân không có tội, kẻ nghịch thiên duy nhất chỉ có Dương Bình Vương.

Thấy Xương Văn nói đúng, Cảnh Thạc và Cát Lợi cũng đồng tình với ý kiến của ông, Cảnh Thạc lên tiếng.

- Mạt tướng cũng thấy vậy, Bình Vương không phải là vương, mà là giặc.

Hắn lợi dụng huynh trưởng của ngài còn non trẻ thừa thế cướp ngôi, là tử tội không thể dung thứ .

Cát Lợi nói.

- Không truy sát được huynh trưởng, nên hắn mới truy tìm ngài, nhận làm con nuôi.

Hắn có ý đồ nắm giữ ngài làm con tin nhằm chiếm ưu thế trước huynh trưởng.

Thấy hai tướng nói thế Xương Văn vô cùng hài lòng.

Ông đứng dậy tay nâng chén rượu mời hai tướng, ông nói.

- Thật mừng khi trung thần của Ngô triều vẫn còn, ta có ý muốn bàn chung với hai tướng.

- Mạt tướng xin nghe! (Hai tướng đồng thanh.)

- Trong tay chúng ta đang có một vạn quân lính tinh nhuệ.

Kỳ trước Bình Vương cướp ngôi, trong tay hắn cũng chỉ có một vạn quân lính.

Hà cớ gì ta không nhân cơ hội này, cho quân quay về đoạt lại ngai vàng vốn thuộc về nhà Ngô!

Bình Vương ngày trước gieo nghiệp hôm nay hắn phải trả đủ!

Nghe vậy, Cảnh Thạc cũng đứng dậy nâng chén, ông nói.

- Công tử anh minh, nếu bây giờ ta bất ngờ cho quân quay về đánh kinh thành, Bình Vương không phòng bị kịp ắt sẽ đại bại.

Lúc này Cát Lợi cũng đứng lên, ông nói.

- Đúng vậy, chúng ta có ba điều thắng, Bình Vương có ba điều bại, việc gì phải sợ mà không đánh.

Thay trời hành đạo không phải là tiêu diệt sứ quân, mà là tiêu diệt phản tặc đội lốt thiên tử.

Chưa hiểu ba điều thắng bại của Cát Lợi, Xương Văn bèn hỏi.

- Cho ta hỏi ba điều thắng của chúng ta là gì?

Ba điều bại của Bình Vương là gì?

Cát Lợi lúc này cười lớn, ông uống cạn chén rượu rồi trả lời.

- Chúng ta nắm giữ một vạn tinh binh, điều thắng thứ nhất, Bình Vương tuy đông quân, nhưng trình độ binh lính thua xa, điều bại thứ nhất.

Chúng ta hành quân bất ngờ, điều thắng thứ hai, Bình Vương không kịp phòng bị, điều bại thứ hai.

Chúng ta thuận thiên giành ngôi, điều thắng thứ ba, Bình Vương cướp ngôi là nghịch thiên, điều bại thứ ba.

Nghe vậy Xương Văn phá lên cười đắc chí, ông vỗ tay khen ngợi không ngớt.

Cả ba cùng nâng chén rượu, nguyện thề thuận thiên trừ giặc.

Rượu cạn, ba người liền lập tức hạ lệnh lui quân quay gấp về thành đô tiến đánh phản tặc.

Vào đêm khuya hôm ấy, Bình Vương đương say giấc trong cung, quân Xương Văn đã kéo tới sát cổng phía tây thành Cổ Loa.

Là con nuôi của vua, Xương Văn có thể dễ dàng sai lính gác mở cổng.

Do đi vào bằng cổng chính, Xương Văn buộc phải để lại quân lính ở bên ngoài thành, ông chỉ có thể mang theo khoảng hai mươi lính bảo hộ.

Ông lần lượt đi qua các cổng thành Cổ Loa, sắp vào đến cung thì bị lính gác chặn lại, ông bực mình quát.

- Các ngươi biết ta là phụ tử của bệ hạ mà các ngươi dám chặn ta lại?

Tin ta cho chém đầu hết cả lũ không hả!

Thấy Xương Văn nổi nóng, lính gác vô cùng lo sợ.

Đột nhiên có một tiếng cáu gắt phát ra từ bên trong cung, đó là tiếng của Khả Diên, một cận tướng dưới chướng Bình Vương.

Được xem như là cánh tay phải của Ông.

Trên đường bước ra chỗ lính gác, Khả Diên vừa đi vừa mắng.

- Làm cái gì mà ầm ĩ ngoài này thế thả, bệ hạ đang ngủ bên trong các ngươi làm ồn phá giấc ngủ của bệ hạ.

Tin ta đem cả đám ra ngoài chém hết không!

Lính gác chỉ biên run rẩy đáp lại hai tiếng ''dạ... dạ'' yếu ớt, sợ sệt.

Khả Diên đi ra tay nắm chặt lên vai một tên lính, ông đưa mắt nhìn ra bên ngoài.

Chợt thấy Xương Văn đương cưỡi ngựa đứng ở đấy, vẻ mặt vô cùng bức bối.

Khả Diên lên tiếng chào.

-Mạt tướng kính chào Ngô công tử.

Tôi tưởng ngài hiện giờ đang điều binh đi đánh sứ quân nổi dậy chứ?

Sao ngài lại ở đây?

Xương Văn cau mày nói.

- Ta đi được nửa đường mới phát hiện lương thảo bị thiếu sót rất nhiều, nên đem theo ít người tức tốc quay lại tâu bệ hạ cấp thêm lương thảo.

Với kinh nghiệm thời gian dài làm tướng, Khả Diên lập tức hiểu rằng lời nói của Xương Văn không phải là nói thực.

Chắc hẳn có ý đồ khác mờ ám, không tiện vạch trần, Khả Diên liền dĩ hòa nói.

- Vậy xin ngài hãy chờ ngoài này một lát, để mạt tướng vào gọi bệ hạ dậy tiếp đón ngài.

Xương Văn hỏi.

- Phụ thân ta ngủ, ta là con của ngài lẽ nào ta không có quyền vào gọi ngài dậy sao?

Khả Diên lúc này cười lên, ánh mắt của ông bỗng chốc trở nên sắc lạnh, ông nhìn thẳng vào mặt Xương Văn, ông nói.

- Công tử xin thứ tội, bệ hạ dặn rằng.

Trong lúc người ngủ, tuyệt đối không được cho ai vào ngoài mạt tướng tôi đây.

- Kể cả con trai người? (Xương Văn hỏi.)

- Đúng vậy thưa công tử, vi phạm sẽ lập tức xử trảm.

Kế hoạch ám sát không thành.

Xương Văn liền tạch lưỡi, ông mắng hai từ: ''khốn khiếp''.

Rồi rút kiếm thúc ngựa xông thẳng vào trong.

Trong lúc chạy ông tiện tay chém chết hai tên lính gác trước mặt.

Cảm nhận được sát khí đằng sau, Khả Diên liền lập tức quay lưng rút kiếm.

Cùng lúc đó Xương Văn cũng cưỡi ngựa xông tới, giơ kiếm ra chém Khả Diên nhưng lưỡi kiếm đã bị hắn chặn lại.

Khả Diên ngay nhanh chân lùi lại, ông cúi xuống chém đứt luôn hai chân ngựa của Xương Văn.

Ngựa hí lên một tiếng đầy đau đớn mất đà ngã quỵ, Xương Văn bị hất xuống đất.

Tận dụng việc Xương Văn ngã ngựa, Khả Diên nhanh chân chạy vào cung.

Vừa chạy ông vừa hô lớn ra lệnh cho lính gác.

- Tất cả các ngươi mau cản Xương Văn lại, hắn có mưu đồ làm phản.

Biết đã hỏng việc, Xương Văn lập tức hô to với quân lính.

- Đại sự hỏng rồi, tất cả theo ta mở đường máu rút ra ngoài kinh báo tin cho Dương Cảnh Thạc và Đỗ Cát Lợi.

Nói xong Xương Văn lập tức cướp ngựa của lính vừa bị quân gác cổng chém chết, ông phi ngựa ra ngoài.

Lính gác không có ngựa, đuổi theo bất thành, đành ngậm ngùi nhìn quân Xương Văn rút lui.

Trên đường tháo chạy, Xương Văn cố tình để lại một vài người giữa đường, nhằm đề phòng viện binh.

Ngựa Xương Văn chạy đến đâu là chém đến đó, lính gác các cổng sau chết không kịp hiểu gì.

Cùng lúc Xương Văn lui quân, Khả Diên lúc đó đã chạy vào bên trong phủ.

Ông đánh thức bệ hạ, báo tin Xương Văn làm phản.

Bình Vương nghe tin giật mình tỉnh giấc, lập tức hạ lệnh đóng chặt cửa thành, cố thủ, không nghênh chiến.

Lính truyền tin nhận lệnh, liền lên ngựa báo tin.

Nhưng trên đường đã bị những lính Xương Văn để lại bắt được, giết ngay lập tức.

Tin không truyền được, trong thành không ai biết Xương Văn làm phản, đâm ra binh lính không được chuẩn bị, cổng mở toang.

Lúc này Xương Văn cũng đã ra khỏi thành, ông hội ngộ với Dương tướng và Đỗ tướng.

Ông nói.

- Khốn khiếp, Khả Diên ranh ma, ám sát thất bại rồi!

Trên đường rút lui toàn bộ lính gác tây môn đã được quân ta giết sạch.

Bây giờ hai tướng hãy cho quân theo ta tiến vào kinh thành tiêu diệt Bình Vương.

Nghe vậy Cảnh Thạc và Cát Lợi lập tức điều quân theo chân Xương Văn đánh thẳng vào cung.

Chỉ trong một đêm, kinh thành thất thủ, Khả Diên bị sát hại, Bình Vương bị bắt sống.

Quân lính đày y đến trước mặt Xương Văn, đánh y quỳ xuống.

Xương Văn nhìn Bình Vương với vẻ mặt lạnh lùng, ông hạ lệnh chém đầu y.

Từng là một người coi rẻ sinh mạng, nhưng khi đứng trước cái chết của mình.

Bình Vương cũng đành từ bỏ uy nghiêm mở miệng xin tha, y nói.

- Tiểu tử, ta đối xử với con không tệ, con có thể nể tình phụ tử, cho ta thêm một cơ hội sống.

Nghe Bình Vương nói xong Xương Văn cười phá lên một tiếng.

Ông chưa bao giờ coi tên giặc này là cha, nhưng ông cũng không phải là người cạn nghĩa.

Quả thực hắn đối xử với ông không tệ, suy nghĩ một hồi.

Xương Văn liền rút lệnh trảm, ông nói.

- Được rồi, ta chưa bao giờ coi giặc như ngươi là cha của mình.

Nhưng nể tình ngươi đối xử không tệ với ta, ta tha chết cho ngươi.

Giáng xuống làm chương dương công, đày đến Luy Lâu nhậm chức.

- Đa tạ, Đa tạ công tử rộng lượng. (Bình Vương cúi đầu cảm tạ)

Thấy Xương Văn tha mạng cho Bình Vương, Cảnh Thạc và Cát Lợi vô cùng bất mãn.

Cảnh Thạc giờ không quan tâm niên hiệu, nói thẳng ra tên Bình Vương, ông hỏi.

- Ngài biết tên Tam Kha đó là giặc, hà cớ gì lại tha mạng cho hắn?

Xương Văn mới trả lời.

- Ta quả thực cũng muốn giết chết tên đó lắm, hắn cướp ngôi họ Ngô, phản bội phụ thân ta, truy sát huynh trưởng ta.

Tội này không chết không được, nhưng ta vẫn phải tha cho hắn.

Nếu hắn không nhận ta làm con nuôi để đe dọa huynh trưởng, chắc có lẽ đầu ta đã bị hắn chém từ đời nào rồi.

Ta đã nợ hắn một mạng, hôm nay tha chết cho hắn coi như đã trả hết nợ.

Ta đày hắn ra Luy Lâu, mà từ Nam Sách đến Cổ Loa kiểu gì cũng đi qua Luy Lâu.

Nói đến đây hai tướng đã liền hiểu ra ý đồ thật sự của Xương Văn, cả hai chỉ biết cười lớn mà nói.

- Công tử thật anh minh, anh minh!

*******************************

Ở vùng núi sâu trong Nam Sách, Xương Ngập lúc này cũng vừa nhận được tin.

Ở cổ loa, nhị đệ Xương Văn trên đường đi đánh sứ quân nổi dậy.

Bất ngờ trong đêm quay lại giành ngôi Bình Vương, Tam Kha bại trận sống chết không rõ.

Xương Ngập ngoài mặt tỏ ra vô cùng vui mừng, nhưng trong lòng lại ghen tỵ không ngớt.

Ông cảm thấy công sức bao lâu nay dành ra bỗng chốc đổ sông đổ bể, tử thù không báo được.

Cảm thấy vô cùng bất mãn, Xương Ngập đột nhiên hộc máu, ngất đi giữa doanh trại.

Sau khi thành công đánh bại Bình Vương, năm 951 Xương Văn lên ngôi hoàng đế xưng là Nam Tấn Vương.

Ông sai người mang quân đến Nam Sách đón huynh trưởng về kinh.

Khi quân đến Nam Sách, được Lệnh Công cho người dẫn đường vào sâu trong rừng, nơi Xương Ngập đang ẩn cư đóng quân.

Xương Ngập nằm dưỡng bệnh trong doanh trại, hay tin quân triều đình đến đón mình về cung, bệnh trong ông lại càng thêm nặng.

Lệnh Công bước vào thấy vậy liền hỏi thăm.

- Công tử, ngài cảm thấy trong người thế nào công tử?

Xương Ngập thều thào trả lời.

- Trong người tôi bây giờ cảm thấy rất khó chịu, đầu đau như búa bổ, hơi thở trở nên khó khăn như có ai đó đang đè lên mình vậy.

Nghe vậy Lệnh Công thở dài, ông vuốt râu nói.

- Tôi biết bệnh của công tử là gì rồi.

Nói xong Lệnh Công viết ra bốn câu thơ gửi Xương Ngập.

Xương Ngập đọc xong bất giác cười lớn, giấu trong tiếng cười là những giọt lệ bất lực âm thầm tuôn ra từ khóe mắt.

Thơ viết rằng.

''Công tử lâm bệnh tự chốn xa

Thành đô nhị đệ trừ gian tà

Bao phen đại nghiệp tan mây khói

Thân bệnh suy tàn bởi thế ra.''

Thấy vậy Lệnh Công mới nói.

- Lão biết công tử muốn diệt giặc báo thù, ngày đêm ra sức chiêu binh luyện tập mong chờ ngày quyết chiến.

Nhưng quân chưa đánh giặc đã bại, đâm ra vô cùng thất vọng.

Công tử hãy nhớ rằng, Tam Kha sống chết chưa rõ.

Sống chết mà chưa rõ tức là còn sống, hắn còn sống là thù chưa dứt.

Chỉ khi nào nhận được tin hắn chết lúc đó mới được xem là đổ bể.

Vì vậy công tử hãy lấy lại tinh thần, sức khỏe truy tìm lấy hắn.

Ấy mới là việc mà ngài nên làm.

Nghe Lệnh Công nói vậy, Xương Ngập dường như bừng tỉnh.

Ông theo lính ra ngoài gặp quân triều đình, đi về kinh đô.

Ngồi trong xe ngựa ông nhận được mật thư do lính đánh xe đưa vào.

Đó là thư của nhị đệ ông, Tấn Vương, thư viết:

'' Gửi: Huynh trưởng.

Nhị đệ biết đối với huynh Dương Tam Kha chính là tử thù cướp ngôi.

Nay nhị đệ thành công dành lại kinh đô từ họ Dương về lại tay họ Ngô chúng ta.

Tên Tam Kha đó đã bị đệ giáng chức đuổi khỏi kinh đô về vùng Luy Lâu.

Huynh từ Nam Sách trở về ắt sẽ đi qua Luy Lâu, đây là cơ hội ngàn năm có một để huynh báo thù phản tặc.''

Xương Ngập đọc xong, cảm thấy tinh thần có phần được xoa dịu.

Ông giục lính thúc ngựa nhanh chân tiến thẳng đến Luy Lâu.

Tại Luy Lâu lúc này, Tam Kha đương đọc sách bên trong nhà, bất chợt được người hầu báo tin quân triều đình đến diện kiến.

Y mừng rỡ, chân không kịp xỏ giày, chạy vội ra ngoài đón tiếp.

Quân lính đi vào trong sự đón chào của y, bất chợt y bị quân lính giữ lại, trói chặt tay chân.

Từ trong xe bước xuống một gương mặt quen thuộc, đó chính là Xương Ngập.

Y nhìn thấy lập tức xanh mặt, không đợi Tam Kha nói năng một lời, Xương Ngập liền lập tức rút kiếm chém phăng đầu Tam Kha xuống đất.

Máu bắn ra không ngừng, trên mặt Xương Ngập lúc này cũng dính đầy máu tươi.

Ông sai người hầu trong nhà Tam Kha, mang ra một chén rượu.

Cầm chén trên tay ông hứng lấy những giọt máu đang không ngừng chảy ra từ thi thể Tam Kha.

Ông uống lấy một hơi, nét mặt trở nên tàn bạo, ông ra lệnh.

- Người đâu, lập tức phanh thây tên này ra làm trăm mảnh.

Bắt trói toàn bộ người nhà của hắn, không sót một ai, ép cho ăn bằng sạch thi thể, rồi chém hết không tha!

Kể từ hôm đó, dòng dõi nhà Dương bị chu di cửu tộc, gần như tuyệt diệt.

Xương Ngập trở về kinh đô hội ngộ với nhị đệ, ông cũng xưng làm hoàng đế hiệu là Thiên Sách Vương.

Đất nước Vạn Xuân bước vào thời kỳ một nước hai vua trị.

Đời sau có thơ viết rằng:

''Vạn Xuân nhất quốc hữu nhị vương

Tứ xứ chư hầu lập cát phương

Bách tính loạn lạc sinh khổ tử

Quốc thế vô định tựa hàn sương.''

Dịch:

''Vạn Xuân một nước hai vua trị

Bốn bể chư hầu dựng riêng phương

Loạn lạc triền miên dân khổ lụy

Vận nước bấp bênh tựa giá sương.''.

Chưa biết vận mệnh đất nước Vạn Xuân rồi sẽ đi về đâu, xem hồi sau sẽ rõ.
 
Thập Nhị Sứ Quân Loạn
Hồi 3: Triều đình loạn lạc, Ngô triều sụp đổ, thập nhị sứ quân nổi loạn.


Sau khi Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn cùng xưng vương, đất nước Vạn Xuân bước vào thời Hậu Ngô Vương.

Vì cùng lúc hai vua song song cai trị, triều chính trở nên hỗn loạn, các thế lực địa phương liên tục nổi dậy tranh quyền.

Ở vùng núi non hiểm trở Hoa Lư cũng nổi lên một hào kiệt.

Ông là con trai của cựu tướng, thứ sử Đinh Công Trứ, người họ Đinh, tên tự Bộ Lĩnh.

Đinh Bộ Lĩnh, mình cao tám thước, dáng vẻ oai phong, mắt sâu, râu dài.

Khoác áo giáp sắt, giắt kiếm ngang hông, cưỡi trên chiến mã.

Bậc đại trượng phu, ắt thành đại sự.

Nhận thấy thế lực của Đinh Bộ Lĩnh ngày càng vững mạnh, lo sợ hậu họa sau này.

Tấn Vương bèn bàn với huynh trưởng Sách Vương.

Tấn Vương nói.

- Nay thiên hạ vô cùng hỗn loạn, chư hầu lớn nhỏ khắp nơi nổi dậy vô số kể.

Đáng lo nhất là họ Đinh ở vùng Hoa Lư, thủ lĩnh nơi đó là Đinh Bộ Lĩnh, hắn rất có tiềm năng làm nên đại sự.

Chi bằng bây giờ huynh đệ ta nhân lúc thế lực hắn còn yếu, diệt sớm đề phòng sau này.

Sách Vương nghe vậy cũng thấy có lý.

Nhưng triều đình lúc bấy giờ binh lính ngày đêm chinh phạt, sức cùng lực kiệt, nhuệ khí suy giảm.

Lại thêm Hoa Lư hiểm trở, dễ thủ khó công, nên ông tạm hoãn việc tiến binh.

Sai người gửi thư chiêu hàng, chờ xem tình thế.

Bộ Lĩnh nhận thư được triều đình gửi đến, đọc thư xong ông cả giận, đập tay xuống bàn, miệng mắng hai từ ''khốn khiếp''.

Lưu Cơ, một mưu sĩ thân cận của Bộ Lĩnh, thấy vậy mới bèn hỏi.

- Chủ công, trong thư viết gì mà người tức giận thế?

Bộ Lĩnh trả lời.

- Triều đình khốn khiếp, gửi thư chiêu hàng ta.

Nghe vậy Lưu Cơ mới hỏi.

- Chủ công thấy sao?

Bộ Lĩnh đáp.

- Ta cũng đang rất đau đầu đây, ta mưu đồ hành đại sự làm sao có thể quy hàng được.

Làm thế thì công sức bấy lâu còn là gì nữa!

Nhưng không hàng cũng dở, thế lực ta vẫn đang chưa vững mạnh.

Nếu phải đánh với anh em Sách Vương, Tấn Vương, há gì đã thắng.

Như nghe được đúng ý mình, Lưu Cơ cười khà nói với Bộ Lĩnh.

- Thần có kế này.

Nay thiên hạ đại loạn, binh triều đình liên tiếp chinh phạt, tất đã mỏi mệt.

Chính vì vậy Sách Vương mới phải gửi thư gọi hàng.

Thần nghĩ chủ công nên đưa công tử Đinh Liễn vào kinh làm tin.

Như vậy ta có thể cầu hòa với triều đình mà không phải quy hàng.

Tránh được một trận quyết chiến.

Bộ Lĩnh nghe vậy cũng thấy làm phải, ông liền viết một bức thư gửi cho sứ giả mang về kinh.

Ông dặn thêm sứ giả hãy mang theo con trai của ông đi cùng.

Sứ giả về kinh diện kiến hai vua.

Sách Vương nhận được thư do sứ giả đem về, đọc song sắc mặt ông bỗng tối sầm.

Ông đưa thư cho nhị đệ của mình, Tấn Vương đọc xong cũng nổi giận đùng đùng.

Ông ném thư xuống đất mà quát.

- Tên Đinh Bộ Lĩnh coi thường triều đình, không coi ta ra gì.

Đáng chết!

Sách Vương nhìn Đinh Liễn bực càng thêm bực.

Ông hỏi.

- Tên tiểu tử kia ngươi đến đây làm gì?

Đinh Liễn nghe vua quát mắng, cậu run rẩy, ấp úng đáp.

- Dạ....

Muôn...

Muôn tâu bệ hạ...

Phụ thân...

Phụ thân thần sai thần đến diện kiến bệ hạ.

Sách Vương cười khẩy, ông đập bàn đứng dậy.

- Diện kiến?

Họ Đinh nhà ngươi xem trẫm không ra gì nên mới mang cái loại tiểu tử như mi đến diện kiến trẫm.

Cha ngươi đâu sao hắn không đến?

Hắn coi lệnh của trẫm là trò đùa đúng không?

Tấn Vương ngồi đó ra lệnh.

- Người đâu mau mang tên tiểu từ này vô nhà lao.

Tập hợp binh lính, một tháng sau theo trẫm đánh thẳng Hoa Lư.

Tiêu diệt hết họ Đinh chúng nó!

Đinh Liễn bị hai lính vác vai kéo ra ngoài, mặc cho cậu van xin hết mực nhưng lính vẫn lạnh lùng vác cậu ném vào lao nhốt lại.

Độ một tháng sau, quân triều đình tổng cộng hơn ba vạn lính.

Hai huynh đệ Sách Vương, Tấn Vương đều cùng lãnh đạo quân tiên phong, mang theo Đinh Liễn làm con tin.

Ba vạn quân chẳng mấy chốc đã tiến đến ngay sát vùng Hoa Lư.

Bộ Lĩnh nhận được tin báo quân triều đình đã khởi binh chinh phạt.

Ông liền tức tốc ra lệnh cho binh lính dựng hơn ba chục doanh trại trải dài khắp Hoa Lư, cố thủ không đánh.

Hai bên giằng co với nhau hơn một tháng, không phân thắng bại.

Tấn Vương lúc này mới đem Đinh Liễn ra, treo lên giữa doanh trại quân mình.

Ông sai người báo cho Bộ Lĩnh, nếu không quy hàng lập tức chém Đinh Liễn.

Bộ Lĩnh nhận được tin báo, ông chỉ tức giận nói.

- Đại trượng phu chỉ mong lập công danh cho dân tộc.

Há lại bắt trước thói đàn bà xót con hay sao!

Sau có thơ khen rằng:

''Bộ Lĩnh anh hùng lẫm liệt sinh

Phong ba nào sợ, chí quang minh

Trượng phu dựng nghiệp lo muôn thế

Há học nữ nhân lụy thân tình''

Dịch:

''Bộ Lĩnh anh hùng bao lẫm liệt

Sinh thời phong ba có nào sợ

Đàn ông chí lớn làm đại nghiệp

Không học đàn bà sót con thơ!''

Sau đó ông liền ra lệnh quân lính dương cung nhắm thằng vào Đinh Liễn bắn.

Thấy vậy lính truyền tin của vua lập tức phi ngựa chạy về cấp báo.

Hai vua nhận được tin, Tấn Vương cả giận nói với huynh trưởng Sách Vương.

- Ta treo con nó lên là để nó đoái tiếc con mà ra hàng cho chóng, nó tàn nhẫn như thế còn treo con nó làm gì.

Nói xong Tấn Vương liền cho lui quân, rút về kinh đô không đánh nữa.

Sách Vương không đồng ý, ra sức phản đối, Tấn Vương bèn khuyên.

- Quân ta đã hơn tháng trời giằng co bất phân thắng bại với Bộ Lĩnh, binh lính mỏi mệt, quân lương cạn kiệt.

Huống chi đây còn là vùng đất dễ thủ khó công, là nhà của Bộ Lĩnh.

Hắn cứ việc cố thủ không đánh, lương thảo gần như không bao giờ cạn.

Chưa cần biết thắng bại, chỉ cần so về ưu thế thì bên địch đã hơn ta mười phần.

Theo đệ thấy, quân ta nên rút về thì hơn.

Nghe nhị vương nói vậy, Sách Vương tuy không phục nhưng lại không đủ lý để phản biện.

Đành nuốt bực theo quân rút lui trở về kinh.

Vừa về đến cổng thành Cổ Loa.

Sách Vương lúc này giận lắm, mất hết bình tĩnh, toan chém chết Đinh Liễn, ngay lúc ông vừa rút kiếm ra thì các tướng đã vội vàng ngăn cản.

Một tướng khuyên can.

- Bệ hạ chớ nóng vội mà chém chết tên tiểu tử đó.

Nếu bệ hạ làm vậy thiên hạ sẽ đồn rằng bệ hạ tàn bạo, tức giận chém người vô tội.

Loạn ắt thêm loạn.

Nghe vậy Sách Vương cũng phải hậm hực cất kiếm.

Kiếm vừa cất vào bao, bỗng nhiên ông lên cơn thổ huyết, máu trong miệng trào ra như nước chảy.

Các tướng thấy vậy liền cấp tốc đưa ông trở về phủ dưỡng thương.

Sức khỏe Sách Vương càng ngày càng yếu dần, chỉ ba năm sau cái ngày ông đại bại tại Hoa Lư, năm 954 Sách Vương đã về với cửu tuyền.

Ông ra đi mà không nhắm mắt, cũng không kịp nói lời nào, đột ngột và lặng lẽ, đầy căm hận và bất lực...

*********************************

Chẳng mấy chốc, tin Sách Vương qua đời đã lan truyền khắp thiên hạ.

Vận nước Vạn Xuân càng thêm loạn lạc, triều đình không kịp làm tang lễ cho ông.

Tấn Vương ngày đêm điều binh dẹp loạn, tự mình thân chinh.

Có những thành tích điển hình như Nam dẹp Chu Thái, Bắc chém Dương Huy, nhưng sức người có hạn.

Binh lính lâu ngày chinh chiến sa trường đã vô cùng mỏi mệt, nhuệ khí sụt giảm, càng đánh càng bại.

Đến năm 965, Xương Văn đem quân chinh phạt Đường Lâm và Tam Đái.

Nhưng đi cùng ông lần này lại không có Đỗ Cảnh Thạc và Dương Cát Lợi.

Trên đường hành quân thời tiết mưa gió bão bùng.

Con ngựa kéo xe chở vua bỗng nhiên đổ bệnh chết ngay giữa đường, buộc phải thay con khác.

Trong quân có tướng là Nghi Du lo sợ rằng đây là điềm báo cho một đại họa sắp diễn ra với Tấn Vương.

Tấn Vương nghe vậy liền cho rằng Nghi Du bất tuân, trù ẻo thiên tử, mưu đồ bất chính.

Ông liền ra lệnh chém chết Nghi Du mặc cho các tướng còn lại ra sức ngăn cản.

Dường như sự sau sự ra đi của huynh trưởng, Tấn Vương đã bị nỗi đau buồn che mờ sự tinh tường.

Ông càng ngày càng trở nên nóng nảy và cố chấp.

Gần một tuần sau, quân triều đình đã tiến sát đến gần Đường Lâm, chỉ cách cổng thành lấy một con sông.

Tấn Vương liền ra lệnh cho lính vượt sông công thành.

Đại quân vừa đặt chân lên bờ, bất chợt địch từ trong thành lẫn hai bên bờ sông xuất hiện dương cung bắn tới.

Tên bay như mưa, bị trúng phục binh, Tấn Vương liền cho quân rút lui về kinh.

Trên đường rút lui, mặc cho các tướng ra sức che chắn nhưng Tấn Vương vẫn bị trúng tên của địch, chết ngay lập tức.

Ông hi sinh giữa chiến trường, trước sự đau thương xen lẫn hỗn loạn.

Xác Tấn Vương ngã xuống ngựa nhưng tay vẫn nắm chặt dây cương, dường như vẫn còn ước nguyện chưa thành.

Thời kỳ Hậu Ngô Vương theo vậy mà kết thúc với sự ra đi của hai vua, Thiên Sách Vương và Nam Tấn Vương.

Hai người cùng xưng vương, nhưng một người phải chết trong căm hận, một người bỏ mạng giữa mưa tên.

Từ đây là khởi đầu cho một giai đoạn mới của Vạn Xuân, loạn mười hai sứ quân.

Đời sau có thơ:

''Sách Vương mệnh tận lòng còn uất

Tấn Vương sa trường máu nhuộm tên

Vạn Xuân quốc thế bỗng đổi vận

Sứ quân nổi dậy loạn ngày đêm''

Sau khi Xương Văn hi sinh, tại kinh đô Cổ Loa, Ngô Xương Xí con trai thứ của Thiên Sách Vương, tiếp nối cơ nghiệp họ Ngô.

Vừa khi tiếp quản triều chính, ông được một vị quan khuyên rằng.

- Thưa công tử, nay ngài tiếp quản cơ nghiệp của phụ thân và nhị đệ của người.

Mười bốn năm trước, ngày mà Thiên Sách Vương với Nam Tấn Vương cùng nhau chinh phạt Hoa Lư.

Mặc dù quân ta đại bại, nhưng tiểu tử họ Đinh vẫn đang trong tay chúng ta.

Thần nghĩ công tử nên trả Đinh Liễn trở về Hoa Lư, hội ngộ với phụ thân của hắn.

Không nóng tính như phụ thân của mình, Xương Xí ôn tồn hỏi.

- Cớ sao ta phải trả Đinh Liễn?

Nếu giữ hắn lại, chẳng phải ta có thể dùng hắn làm con tin trước Đinh Bộ Lĩnh sao?

Quan chỉ biết cười khì lắc đầu đáp.

- Vậy là công tử chưa nghe câu này của Bộ Lĩnh rồi.

Hắn ta nói hắn ta là đại trượng phu chỉ mong lập công danh, há gì bắt chước đàn bà thói xót con.

Hắn nói xong còn cho lính dương cung ngắm vào chính con của hắn mà bắn.

Giữ Đinh Liễn chẳng những không làm hắn run sợ.

Mà còn trao cho hắn cái cớ để khởi binh đánh ta.

Mà công tử vừa mới tiếp quản cơ nghiệp, thế lực còn yếu.

Thần e là không phải đối thủ của Đinh Bộ Lĩnh.

Thấy quan khuyên phải, Xương Xí liền cho người chuẩn bị kiệu.

Trao trả Đinh Liễn trở về với quê hương Hoa Lư.

Nhưng sau khi ông thừa kế đại nghiệp nhà Ngô, trong thành Cổ Loa trở nên hỗn loạn vô cùng.

Các tướng lĩnh thi nhau tranh dành ngai vàng, ba thế lực mạnh nhất bao gồm.

Sứ quân cùng họ là Ngô Nhật Khánh, sau khi sát vương tại Đường Lâm, cũng đem quân về Cổ Loa tranh ngôi.

Thứ sử Phong Châu Kiều Công Hãn cũng không ngồi yên.

Ông cũng đem theo hơn vạn tinh bình tiến về kinh đô.

Lã Xử Bình, là một đại tướng trong kinh, cậy nội lực mạnh, cũng xuất binh làm phản.

Nhật Khánh, Công Hãn, Xử Bình đều cùng tranh đoạt ngôi vương với Xương Xí.

Bốn phe loạn chiến, không ai nhường ai, thành Cổ Loa ngâm mình trong biển lửa, mặt đất trở nên gồ ghề do phơi xác quân nhân.

Mưa tên rơi nhiều hơn mưa trời, khắp thành dội lên âm thanh chém giết, la hét không ngừng.

Quân đội ra sức cướp bóc thường dân, hằng xa số đạo quân cùng dân tộc, cũng đều đang ra sức tàn sát lẫn nhau.

Xương Xí thế yếu địch không nổi.

Bèn buông bỏ kinh đô, rút về Bình Kiều lập cát cứ riêng, xưng làm sứ quân.

Thấy vậy các thế lực riêng phương trên khắp thiên hạ Vạn Xuân cũng liên tiếp từng người nổi dậy tranh làm sứ quân mưu đồ đại nghiệp.

Tổng tất thảy các sứ quân là mười hai người, Vạn Xuân từ đó nổi lên một thời kỳ mới, là thời kỳ ''Loạn Thập Nhị Sứ Quân''.

Các sứ quân bao gồm:

- Ngô Xương Xí nắm giữ đất Bình Kiều.

- Đỗ Cảnh Thạc, hiệu Đỗ Cảnh Thông nắm giữ đất Đỗ Động Giang.

- Trần Lãm, hiệu Trần Minh Công nắm giữ đất Bố Hải Khẩu.

- Kiều Công Hãn, hiệu Kiều Tam Chế nắm giữ đất Phong Châu.

- Nguyễn Khoan, hiệu Nguyễn Thái Bình nắm giữ đất Tam Đái.

- Ngô Nhật Khánh, hiệu Ngô Lãm Công nắm giữ đất Đường Lâm.

- Lý Khuê, hiệu Lý Lãng Công nắm giữ đất Siêu Loại.

- Nguyễn Thủ Tiệp, hiệu Nguyễn Lệnh Công, sau đổi thành Vũ Ninh Vương nắm giữ đất Tiên Du.

- Lã Đường, hiệu Lã Tá Công nắm giữ đất Tế Giang.

- Nguyễn Siêu, hiệu Nguyễn Hữu Công nắm giữ đất Tây Phù Liệt.

- Kiều Thuận, hiệu Kiều Lệnh Công nắm giữ đất Hồi Hồ.

- Phạm Bạch Hổ, hiệu Phạm Phòng Át nắm giữ đất Đằng Châu.

Các sứ quân nổi dậy, đất nước loạn lạc, chiến tranh triền miên, người chết nhiều hơn người sống, bá tánh đói khổ, hoạn nạn cướp bóc, quân sĩ lao lực.

Đời sau có thơ khóc than rằng:

''Thiên hạ loạn ly thập nhị quân

Bá dân cơ cực biết muôn phần

Giang hạ thẫm đỏ màu huyết lệ

Non sơn chồng chất bởi xác thân

Kinh đô phế nát tựa tro bụi

Vạn lý tiêu điều khói chiến quân

Hào kiệt tứ xứ mưu đại sự

Tranh giành thiên hạ máu chan vần

Tử thi vô ngần, nhân sinh hữu

Tướng hành chiến sự, sư hành mưu

Anh hùng, gian hùng vô phân biệt

Vạn Xuân phân ly vô nhật tựu

Phương Nam ngàn thu chịu Bắc thuộc

Nam đế độc tôn được mấy khi

Ngô triều suy tận, thiên bất trợ

Đành mong anh hùng phục xuân thì''

Trong thời kỳ quốc sự loạn thế như vậy.

Có một vị anh hùng xuất thân từ Hoa Lư đã đứng lên dẹp loạn sứ quân, thống nhất thiên hạ.

Vị anh hùng đấy không ai khác chính là Đinh Bộ Lĩnh.

Ngay từ thuở nhỏ Bộ Lĩnh đã thể hiện rằng bản thân mình có tố chất của bậc đế vương.

Muốn biết tuổi thơ của anh hùng họ Đinh thế nào, xem hồi sau sẽ rõ.
 
Thập Nhị Sứ Quân Loạn
Hồi 4: Tuổi thơ Đinh Bộ Lĩnh, tam tài nhi kết huynh đệ, hứa hẹn đại nghiệp.


Đinh Bộ Lĩnh, phụ thân là Đinh Công Trứ.

Phụ thân ông lúc sinh thời là một quan lớn phục vụ triều Ngô, giữ chức thứ sử vùng Hoan Châu.

Nhưng không may phụ thân mất sớm, Đinh Bộ Lĩnh mồ côi cha từ bé nên phải theo gia mẫu về quê ngoại.

Nương nhờ nhà chú ruột Đinh Thúc ở gần đó.

Ngay hồi còn nhỏ Đinh Bộ Lĩnh đã mang trong người ý chí của một bậc đế vương, văn võ song toàn, tầm nhìn nhạy bén và đặc biệt có khả năng lãnh đạo rất cừ.

Ông thường cùng những đứa trẻ chăn trâu chơi đánh trận giả, ông bắt các bạn chéo tay nhau làm kiệu cưỡi, lấy bông lau làm cờ, trâu nước làm chiến mã.

Và trong đám trẻ chăn trâu ấy có Đinh Điền, Nguyễn Bặc hai con người sau này sẽ đồng hành cùng Đinh Bộ Lĩnh lập nên đại nghiệp cho đất Vạn Xuân.

*********************************

Ở bên trên đỉnh đồi cỏ xanh có một gốc cây si cổ thụ mọc ngay chính giữa, bên dưới gốc cây có hai đứa trẻ chăn trâu đang nghỉ mát, đó là Đinh Điền và Nguyễn Bặc.

Đinh Điền tay gác ra sau gáy, lưng ngả vào thân cây, miệng ngậm cọng cỏ gà làm bộ như đang hút tẩu.

Nguyễn Bặc cũng ngồi ngay cạnh, cậu ngồi khoanh chân, đầu ngửa lên trời, tay cầm bình hồ lô đưa lên miệng tu ừng ực, tưởng chừng như cậu đang uống rượu nhưng thực chất bên trong chỉ toàn là nước suối.

Đằng trước mặt hai cậu là hai hàng các đứa trẻ chăn trâu đang quỳ, đám trẻ xếp hàng song song nhau hai bên mỗi bên năm đứa, chỉ chừa ra một khoảng trống ở giữa là đường đi của hai vị đại ca kia.

Ngay trong lúc đám trẻ đang nghỉ bên gốc cây, đằng dưới đồi vang lên những tiếng quất roi, những tiếng thúc trâu của một đứa trẻ lạ '' nhanh lên, đi nhanh lên đỉnh đồi ''.

Nguyễn Bặc thấy làm lạ, những đứa trẻ chăn trâu trong cái làng này đều đang quy phục dưới tay cậu và Đinh Điền, thật lạ thay lại có tiếng trẻ dưới kia, làm gì còn đứa nào chăn trâu của làng này mà cậu không biết, để giải thích được cho sự khó hiểu trong đầu cậu, cậu bèn sai một trong những đứa trẻ đang quỳ trước mặt.

Người cậu chọn để sai là Năm béo, một cậu bé ục ịch, chậm chạp.

Tuy cậu bé ấy có phần vụng về nhưng không có một cái thông tin gì trong làng này là cậu không biết, một tay thám tử đắc lực của nhóm chăn trâu.

Nguyễn Bặc lớn giọng gọi.

- Này Năm béo!

- Dạ, có đệ thưa đại ca. (Năm béo thưa)

- Mi có biết cái thằng đang chăn trâu dưới kia là thằng nào không, nó từ đâu đến?

Năm béo đưa mắt nhìn xuống đồi, mắt cậu díu lại, cậu nhìn lấy một lúc rồi mới trả lời Nguyễn Bặc.

- Dạ, thưa đại ca.

Đệ nhìn kỹ rồi, không thể nào mà nhầm được, thằng đó là Đinh Bộ Lĩnh, nó mới cùng gia mẫu chuyển đến làng mình thưa đại ca.

Nghe Năm béo nói về tên, họ Đinh nhưng không nhắc gì đến cha, Nguyễn Bặc thấy lạ liền hỏi.

- Thế phụ thân nó đâu, phụ thân nó làm nghề gì?

- Dạ, đệ nghe người trong làng bảo phụ thân nó là Đinh Công Trứ, là thứ sử Hoan Châu, một quan trong triều đình thưa đại ca.

Đinh Điền, người nãy giờ chỉ ngồi im ngậm cỏ, cũng giật mình nhổ cọng cỏ trong mồm ra mà lên tiếng.

- Cái gì?

Phụ thân thằng kia là quan á?

- Dạ, đúng vậy thưa đại ca, nhưng mà phụ thân của nó chết rồi.

Giờ nó đang cùng gia mẫu ở nhờ nhà chú ruột nó, nó làm chăn trâu cho nhà chú ấy.

Đinh Điền nghe vậy quát rằng.

- Hừ, hóa ra vậy, thế mà mi không nói sớm, làm tao cứ tưởng.

Nghe xong Năm béo thắc mắc hỏi.

- Tưởng gì vậy thưa đại ca?

Đinh Điền không nói gì, cậu im lặng ra hiệu cho Năm béo đi gần lại, rồi cậu mới nói.

- Tưởng gì á?

Tưởng cái này này!

Cậu vung tay tát cái bốp vào mặt Năm béo, Năm béo đau quá tay chỉ biết ôm má rồi thút thít, cậu đau nhưng cậu không dám la vì cậu biết cậu mà la thì sẽ càng bị đánh đau hơn nữa.

Tát xong Đinh Điền bèn ra lệnh.

- Tại mi mà tao cứ tưởng phụ thân thằng này làm to, không đụng được vào người nó.

Nhưng phụ thân nhà nó chết rồi thì cớ gì Đinh Điền tao phải sợ.

Chúng mày đâu đứng lên theo tao xuống đồi dạy dỗ lính mới.

Nguyễn Bặc cười trừ.

- Chúng mày xem đại ca Đinh Điền của chúng mày lại tiếp tục thị uy sức mạnh rồi kìa.

Đám trẻ đang im lặng bỗng cùng nhau đồng thanh.

- Tuân lệnh thưa đại ca.

Bộ Lĩnh đương đánh trâu lên đồi, cậu thấy từ trên đồi có một đám trẻ tiến xuống.

Cậu nheo mắt lại nhìn kỹ, dẫn đầu là hai đứa trẻ trông vẻ nổi bật.

Một cậu da ngăm đen, mình tuy gầy nhưng hai bắp tay lại rất săn chắc cơ bắp, đó chính là Đinh Điền.

Còn một cậu trông có vẻ trắng hơn, người nhỏ hơn nhưng nhìn nét mặt lại vô cùng tinh quái, nghịch ngợm, chính là Nguyễn Bặc.

Đám trẻ đi đến sát Bộ Lĩnh, Đinh Điền lên tiếng, giọng đầy hống hách.

- Ê nhóc!

Mi là ai, từ đâu đến?

Bộ Lĩnh trả lời.

- Tôi tên là Bộ Lĩnh, họ Đinh, mới theo gia mẫu chuyển về đây nương nhờ nhà chú.

Đinh Điền nghe vậy, nhổ phụt một bãi đờm xuống đất.

Mặt cậu ngưởng lên vẻ kiêu căng, tay chỉ vào ngực.

Cậu nói.

- Mi biết bọn ta đây là ai không?

Bộ Lĩnh dứt khoát.

- Không!

Nguyễn Bặc lúc này mới lên tiếng.

- Không biết thì phải hỏi, vùng đồi này là địa bàn của bọn tao.

Giới thiệu với mi tao là Nguyễn Bặc, còn tên kia là Đinh Điền.

Hai đứa bọn tao là đại ca vùng đồi này.

Mi mới đến nên ta không trách.

Bây giờ tao cho mi hai lựa chọn, một là đánh trâu cút về, hai là quỳ xuống làm đệ tử của bọn tao.

Bộ Lĩnh thấy Nguyễn Bặc nói vô lý nên phá lên cười.

Cậu nói.

- Tôi không thích đấy thì sao?

Các cậu bảo đây là địa bàn của các cậu, bằng chứng đâu?

Quan nào phong cho các cậu làm chủ nơi này?

Tôi chăn trâu là việc của tôi, liên quan gì mấy người.

Bổn đại nhân ta đây không rảnh để chơi mấy cái trò con nít như chúng bay.

Không bình tĩnh như Nguyễn Bặc, Đinh Điền không nói lời nào liền vung tay đấm thẳng mặt Bộ Lĩnh.

Nhưng Bộ Lĩnh né được, cậu dơ tay cầm chặt lấy nắm đấm của Đinh Điền.

Thấy vậy Đinh Điền liền nhanh chân tung một cước vào bụng Bộ Lĩnh.

Bộ Lĩnh giật mình buông tay ra lùi lại hai bước.

Nguyễn Bặc lúc này mới lên tiếng.

- Thôi!

Chúng ta đều là những bậc quân tử, dùng nắm đấm vì đại nghĩa chứ không vì nóng giận.

Tao thấy mi cũng là một đứa không phải dạng vừa, giờ tính như này đi.

Mi đấu một trận tay đôi với Đinh Điền của bọn tao.

Mi thắng thì bọn tao quy hàng, mi thua thì quy hàng bọn tao.

Đồng ý không?

Đinh Điền với Bộ Lĩnh đồng thanh.

- Được!

Thế là đám trẻ liền đứng quây lại thành một vòng tròn.

Để lại Đinh Điền với Bộ Lĩnh đứng đối diện nhau, cả hai mặt hầm hầm.

Nguyễn Bặc đứng đằng giữa làm trọng tài, qua ba tiếng đếm, Nguyễn Bặc lùi lại.

Trận đấu bắt đầu, cả hai liền lao vào nhau tung ra những đòn mạnh bạo bằng bản năng của chúng.

Đinh Điền cậy sức khỏe hơn lấy thân mình đè Bộ Lĩnh ngã xuống đất.

Cậu đấm lia lịa dưới sự cổ vũ không ngừng của đám trẻ.

Bộ Lĩnh không chịu thua, cậu ra sức đỡ đòn bằng hai cánh tay.

Rồi Bộ Lĩnh liền thúc gối đẩy ngã Đinh Điền về phía trước.

Tận dụng lúc Đinh Điền mất thăng bằng sơ hở, Bộ Lĩnh quay người bò lùi về.

Đinh Điền bị đẩy mặt úp xuống đất, không để Đinh Điền đứng dậy.

Bộ Lĩnh liền ra sức đè Đinh Điền nằm gục xuống, cậu bẻ hai tay Đinh Điền ra sau lưng.

Lấy khuỷu tay tì mạnh giữa lưng Đinh Điền, Đinh Điền đau quá la lên.

Bộ Lĩnh liền lấy trán của mình đập vào đầu sau của Đinh Điền, cú đập mạnh bạo làm Đinh Điền choáng váng một lúc.

Ngay liền lúc đó, Bộ Lĩnh quay sau người, hai tay vẫn giữ chặt tay Đinh Điền.

Cậu lấy chân siết cổ đối phương, thấy Đinh Điền có vẻ không thở được, Nguyễn Bặc liền ra tay cản Bộ Lĩnh lại, cậu nói.

- Mi thắng rồi đấy, bọn tao đầu hàng.

Nghe vậy Bộ Lĩnh liền thả lỏng người ra, cậu phủi bụi đứng dậy.

Đinh Điền được thả ra, thở hổn hển.

Bộ Lĩnh thấy thế liền đưa tay dìu Đinh Điền đứng lên.

Đinh Điền thua tâm phục khẩu phục, cậu chỉ đành thở dài rồi để Bộ Lĩnh dìu mình dậy.

Nguyễn Bặc lúc này dõng dạc tuyên bố.

- Kể từ bây giờ, Đinh Bộ Lĩnh chính là đại ca của chúng mình, ai không phục thì lên tiếng.

Đám trẻ tuyệt nhiên không ai nói lời nào, Bộ Lĩnh thắng quá thuyết phục, tất cả đều quy phục đệ tử, cả đám đồng thanh.

- Đại ca Đinh Bộ Lĩnh!

Đinh Bộ Lĩnh đại ca!

Đinh Bộ Lĩnh hô lên.

- Kể từ bây giờ, tất cả phải hòa đồng, không bắt nạt, không đánh nhau.

Ai vi phạm sẽ phạt thật nặng.

Đám trẻ một lần nữa đồng thanh.

- Vạn tuế, Đinh Bộ Lĩnh đại ca vạn tuế!

Bộ Lĩnh lúc này ho một tiếng rồi dõng dạc tuyên bố.

- Giờ tôi chính là đại ca các cậu, Đinh Điền là nhị ca, Nguyễn Bặc là tam ca.

Cả ba đồng sức, đồng lòng, kết làm huynh đệ từ đây.

Đinh Điền bất chợt rơi lệ, câu hét lên một tiếng rồi quỳ xuống trước mặt Bộ Lĩnh.

- Tôi xin lỗi vì thái độ của mình trước đó.

Kể từ giờ tôi xin nguyện làm cánh tay phải đắc lực của cậu.

Nguyện theo cậu làm đệ tử suốt đời.

Nghe Đinh Điền nói vậy Bộ Lĩnh khoái chí lắm, cậu đưa mắt sang nhìn Nguyễn Bặc.

Như hiểu ý Bộ Lĩnh, Nguyễn Bặc thở dài, cậu cười thầm rồi từ tốn nói.

- Đã có cánh tay phải rồi thì phải có cánh tay trái chứ nhỉ?

Bộ Lĩnh hỏi.

- Vậy vị trí đó cậu sẽ đảm nhiệm nhé?

- Được, tôi đồng ý (Nguyễn Bặc trả lời).

Cả ba bắt tay nhau trong sự reo hò không ngớt, từ đây cả ba đã kết huynh đệ trước sự chứng giám của đám trẻ xung quanh.

Kể từ hôm đó hằng ngày Bộ Lĩnh đều cùng Đinh Điền, Nguyễn Bặc và đám trẻ trong làng cùng nhau lên đồi chăn trâu, chơi đùa.

Bộ Lĩnh thường xuyên cùng đám trẻ dùng cỏ lau chơi trận giả.

Lãnh đạo tiểu quân cùng nhau nhặt củi đem về cho gia mẫu.

Gia mẫu Bộ Lĩnh thấy con trai giỏi giang, ngoan ngoãn mừng lắm.

Liền vào trong nhà mổ lợn chiêu đãi tòng quân.

Ngày qua ngày yên bình cho đến một hôm, đám trẻ chăn trâu từ làng bên bỗng xuất hiện chiếm lĩnh lấy đồi cỏ mà đám Bộ Lĩnh hay chăn.

Chúng vô cùng kiêu căng hống hách, hễ cứ thấy đứa trẻ nào tiến đến đồi là liền đuổi đánh.

Bộ Lĩnh thấy vậy bèn hỏi Năm béo.

- Cậu biết đám trẻ ấy là ai không?

Năm béo trả lời.

- Đương nhiên là đệ biết chứ, cầm đầu đám đó là tên mặt sẹo cao cao kia.

Hắn tên là Khiêm Tân.

Bên cạnh là em trai hắn Khiêm Du, hai anh em đều có sức khỏe phi thường, đánh nhau rất cừ.

Nghe vậy Bộ Lĩnh liền hỏi Đinh Điền.

- Cậu thấy sao, một trong hai đứa đấy cậu nghĩ cậu có thể đấu với ai?

Đinh Điền suy nghĩ một lúc rồi mới trả lời.

- Tên thủ lĩnh Khiêm Tân hắn lớn hơn mình ba tuổi, tôi e rằng đấu không lại.

Còn tên em của hắn tôi nghĩ là tôi có thể đấu nhưng không chắc thắng.

Bộ Lĩnh nghe vậy cũng nói.

- Thế giờ tên Khiêm Du để cậu xử lý, Khiêm Tân để tôi.

Nguyễn Bặc như suy nghĩ ra được điều gì đó, liền nói với mọi người.

- Tôi vừa nghĩ ra kế này, mọi người có thể tập trung bàn bạc với nhau được không?

- Được! (Bộ Lĩnh nói)

Đám trẻ cùng nhau tụ họp một chỗ, Nguyễn Bặc bèn nói.

- Tôi thấy bên dưới đồi cỏ này có một bãi lau rất rậm, nên có ý này.

Bây giờ chúng ta có tổng là mười ba người, tôi cần chọn ra bốn người chạy nhanh nhất.

Thấy có bốn đứa trẻ trong đám xung phong, Nguyễn Bặc nói tiếp.

- Được bây giờ các cậu sẽ cùng tôi chạy lên đồi, khiêu khích, trêu ghẹo tụi nó.

Mình chỉ khiêu khích nó thôi chứ tuyệt đối không đánh.

Chúng nó bị mình trêu ắt sẽ đuổi, một khi chúng nó đuổi là liền lập tức chạy vào bãi lau.

Tôi sẽ cố ý chạy sau cùng.

Ngoài Bộ Lĩnh với Đinh Điền ra toàn bộ những người còn lại chia ra làm hai bên, mỗi bên ba người.

Các cậu kiếm lấy cho tôi mấy sợi dây thừng, mỗi người cầm lấy một đầu sợi dây.

Một khi bọn tôi dụ được tụi kia vào giữa bãi lau, sau khi tôi chạy qua tôi sẽ hô lên một tiếng.

Các cậu ngay lập tức lúc ấy căng dây ra, chúng nó mắc dây chắc chắn sẽ ngã sõng soài.

Sau khi chúng nó ngã hết hai bên sợi dây lập tức ùa ra đè chúng nó trói hết lại, bọn tôi sẽ quay lại hỗ trợ.

Một đứa trong đám thấy lạ chưa hiểu một điểm, liền hỏi.

- Vậy Bộ Lĩnh với Đinh Điền sẽ làm gì?

Nguyễn Bặc liền trả lời.

- Mấu chốt chính là ở đấy, tôi sợ rằng hai anh em nhà Khiêm khỏe hơn tụi mình, sẽ thoát được việc bị trói.

Ấy vậy tôi mới để Bộ Lĩnh và Đinh Điền lại nhằm dưỡng sức đối đầu với tụi nó.

Đinh Điền sẽ đấu với Khiêm Du.

Còn Bộ Lĩnh, việc sử Khiêm Tân sẽ thuộc về cậu.

Đám trẻ nghe Nguyễn Bặc bày mưu xong, tất cả cảm thấy phục vô cùng, đồng thanh hô một tiếng.

- Rõ!

Rồi sau đó bắt tay vào công cuộc bày binh bố trận của Nguyễn Bặc, dưới sự lãnh đạo của Bộ Lĩnh.

Theo như kế hoạch, đầu tiên Nguyễn Bặc cùng với bốn đứa trẻ chạy lên trên đồi.

Cách nhóm tụi nhà Khiêm chỉ độ vài thước, Nguyễn Bặc liền dừng lại.

Cậu cùng với các anh em liên tục buông lời khích tướng đối phương: '' Lêu Lêu thằng Khiêm Tân, Khiêm Du học dốt.'', ''Ở làng mi không làm được gì ai nên mới phải qua làng tao thị uy cho đỡ nhục.'', ''Cái bọn có mẫu có phụ mà phụ mẫu không biết dạy.'', ''Chúng mày oai như những gì chúng mày có thì có giỏi ra đây đánh với tao.''.

Nghe lời châm chọc của đám Nguyễn Bặc, Khiêm Tân nhịn không được.

Liền cho anh em chạy theo đuổi đánh, cậu hô.

- Chúng mày đâu, đánh chết nó, đánh chết thằng Nguyễn Bặc, hắn cũng là đại ca của cái làng này.

Cả đám liền ùa theo Khiêm Tân, lùa Nguyễn Bặc.

Thấy vậy Nguyễn Bặc liền cho anh em chạy về bụi cỏ lau.

Tụi bọn Khiêm đuổi theo, Khiêm Tân, Khiêm Du chạy trước, vừa chạy vừa không ngừng quát tháo: "Bọn chuột nhắt kia, tụi mày có ngon đứng lại đấu một chọi một với tụi tao.'' ''Đứa nào hồi nãy khiêu khích bọn tao sao giờ lại chạy như chó hèn thế này.''.Nguyễn Bặc vẫn mặc kệ tụi Khiêm Tân, cậu chạy một mạch vào bụi lau.

Chạy qua chỗ mai phục, Nguyễn Bặc liền hô lên một tiếng ''hây''.

Đám trẻ nghe lệnh liền căng dây ra, do bụi lau rậm rạp.

Che hết tầm nhìn, đám tụi Khiêm liền vướng dây ngã hết.

Khiêm Tân, Khiêm Du chạy đầu ngã trước, tụi chạy sau không kịp thắng lại cũng vướng dây ngã theo.

Chỉ chờ có vậy Nguyễn Bặc liền cho anh em quay lại, đám trẻ núp trong lau cũng cùng lúc ùa ra.

Tất cả đè đám tụi Khiêm ra trói hết, Khiêm Tân, Khiêm Du vùng vẫy liên tục.

Đám trẻ không tài nào trói được đành phải buông ra.

Hai anh em Khiêm thoát ra liền định quay lại giúp đám trẻ làng mình thoát khỏi bẫy của Nguyễn Bặc.

Nhưng bất chợt từ hai bên xông ra là Bộ Lĩnh và Đinh Điền, cả hai hợp sức đánh nhau với Khiêm Tân, Khiêm Du.

Khiêm Tân lúc này mới bực mình quát.

- Tụi mày đúng là khốn khiếp, tụi mày gài tao.

Bộ Lĩnh thấy vậy mới mắng.

- Nếu tụi mày đàng hoàng thì việc gì tụi tao phải gài tụi mày.

Nay chúng mày thua tại đây, tất là do chúng mày sống lỗi.

Khiêm Tân bực lắm, mất bình tĩnh lao vào Bộ Lĩnh.

Bộ Lĩnh liền chạy ra hướng khác, Khiêm Tân đuổi theo.

Khiêm Tân đương đuổi thì bất chợt Bộ Lĩnh dừng lại, Khiêm Tân nhất thời không kịp phản ứng.

Tận dụng lúc Khiêm Tân bất cẩn, Bộ Lĩnh cúi xuống gạt chân Khiêm Tân.

Khiêm Tân ngã uỵch xuống đất, thấy vậy Bộ Lĩnh liền lao lại dùng đòn siết cổ bằng chân mà cậu đã dùng lúc đấu với Đinh Điền.

Khiêm Tân không thở được bèn đập tay xuống đất đầu hàng.

Cùng với lúc Bộ Lĩnh đang đấu với Khiêm Tân, Đinh Điền đánh với Khiêm Du có phần thất thế.

Tưởng chừng như Đinh Điền sẽ bại, thì ngay lúc ấy Năm béo không biết từ đâu chạy ra.

Cậu lấy thân hình mập mạp của mình đẩy Khiêm Du ngã ngửa xuống đất.

Ngay lúc Khiêm Du định đứng dậy, Đinh Điền liền dùng một đòn khuỷu tay.

Đánh một phát mạnh vào giữa bụng Khiêm Du, Khiêm Du đau quá la lên một tiếng rồi nằm ôm bụng.

Đám trẻ của Bộ Lĩnh đại thắng đám Khiêm Tân.

Chiều hôm ấy tụi Khiêm Tân, Khiêm Du cúi mặt, vác chấn thương trở về làng.

Từ đấy không bao giờ bén mảng sang làng Bộ Lĩnh một lần nào nữa.

Kể từ trận đại thắng đám Khiêm Tân, bộ ba Bộ Lĩnh, Đinh Điền, Nguyễn Bặc trở nên nổi danh vô cùng.

Không chỉ đối với đám trẻ con, mà ngay cả người lớn cũng phải kính nể ba người mấy phần.

Khí chất của bậc đế vương ngày càng bộc lộ rõ rệt trong con người của Đinh Bộ Lĩnh.

Các phụ lão trong làng còn bảo nhau rằng: '' Đứa trẻ này khí độ như thế, tất sẽ làm nên việc, bọn chúng ta nếu không theo về, ngày sau hối không kịp.'' .

Chưa biết hành trình lập nên đại nghiệp của anh hùng Đinh Bộ Lĩnh diễn ra thế nào, xem hồi sau sẽ rõ.
 
Thập Nhị Sứ Quân Loạn
Hồi 5: Ba anh tài xuất sơn dựng thế riêng, lập mưu tính kế chiến Tử Vũ.


Đinh Bộ Lĩnh năm ấy vừa tròn hai mươi tuổi.

Vào một ngày mát trời, ông cùng với hai huynh đệ Đinh Điền và Nguyễn Bặc cưỡi ngựa chạy lên đỉnh núi, ngọn núi ấy tên Thiên Long Sơn.

Con chiến mã mà Bộ Lĩnh cưỡi chính là Bạch Diện Ô.

Toàn thân ngựa mang một màu đen tuyền, nhưng bờm ngựa, sống mũi và tứ chi lại có màu trắng phau.

Dáng ngựa khỏe khoắn, mình cao, chân dài.

Ngựa một ngày có thể chạy vạn dặm, chạy đường núi nhanh như đường phẳng, lội nước sâu nhanh hơn cả cá bơi, một lần nhảy xa được hơn chục thước.

Ngựa phi nước đại tựa gió lốc, bật nhảy như cá chép vượt vũ môn, tiếng hí làm rung cả cành lá.

Bộ Lĩnh ngồi trên Bạch Diện Ô, hào khí tỏa ra như bậc anh hùng cưỡi kỳ lân.

Chiến mã này vốn là ngựa của vị hào trưởng già trong làng.

Trước khi vị ấy lâm chung, trông thấy chí lớn của Bộ Lĩnh nên tặng lại Bạch Diện Ô cho ông.

Chiến mã của Đinh Điền thì tên là Hùng Tử Lam Nhãn.

Toàn thân ngựa mang một màu nâu đất, hai mắt xanh như ngọc lưu ly, mình đô, chân chắc.

Dáng ngựa trông vạm vỡ, không được nhanh nhẹn cho lắm.

Nhưng đổi lại ngựa chạy rất bền, Hùng Tử Lam Nhãn có thể phi nước đại liên tục trong ba ngày ba đêm, không ăn, không nghỉ.

Hùng Tử Lam Nhãn vốn từng là ngựa của một vị quan trong làng.

Có một đêm, ngựa lúc đó đang nghỉ trong chuồng, quan còn đang say giấc.

Vào canh hai đêm ấy, từ trong rừng đi ra một con hổ dữ.

Con hổ đi đến khu nuôi ngựa trong nhà quan, cắn chết liền một lúc năm con ngựa.

Cho đến khi hổ lại gần chuồng Lam Nhãn, ngay lúc nó lao vào cắn.

Thì bị Lam Nhãn quay mình tung vó, đá con hổ vỡ sọ chết ngay lập tức.

Ngựa đá chết hổ xong lại tiếp tục đứng nghỉ.

Sáng hôm sau quan dậy thì vô cùng hoảng hốt, cả chuồng nuôi sáu con ngựa thì chỉ còn lại một con còn sống, dưới sàn la liệt là xác năm con ngựa xấu số kia và một xác hổ chết ngay đấy.

Biết rằng con hổ đó chết là vì bị Hùng Tử Lam Nhãn đá vỡ sọ, quan cả mừng.

Quan nhận thấy con ngựa của mình mạnh mẽ, oai phong giống như Đinh Điền, liền trong ngày hôm đó cho người mang ngựa sang nhà Đinh Điền trao tặng.

Còn chiến mã của Nguyễn Bặc tên là Bạch Hồng Phi.

Toàn thân ngựa trắng như tuyết, nhưng khắp mình lại chi chít những vết loang đỏ, mình ngựa trầy đầy dấu thương tích.

Ngựa vốn là chiến mã của một cựu tướng quân cùng làng.

Người nhận thấy Nguyễn Bặc có tính chất thông minh nên đem lòng yêu thích, trao tặng lại cho Nguyễn Bặc con Bạch Hồng Phi.

Người kể với Nguyễn Bặc rằng.

- Chiến mã của ta đã trải qua nhiều lần chinh chiến xa trường, những vết loang trên người nó chính là máu của thương tích chiến trận.

Vết máu ấy bám chặt lắm, ta tắm rửa cho nó mà kỳ mãi không trôi.

Thân ngựa tuy nhiều thương tích như vậy, nhưng Bạch Hồng Phi của ta có điều đặc biệt.

Nó bị thương càng đau, thì phi nước đại lại càng nhanh.

Đỉnh điểm có thể chạy cả trăm dặm chỉ trong vài giờ.

Ba người đi một lúc cũng lên đến đỉnh núi, cả ba xuống ngựa rồi nhìn vào làng mạc phía dưới.

Trông thấy dân làng sống cơ cực, nạn cướp bóc xảy ra triền miên, lúa mới gieo trồng thì đã dập nát gần hết.

Quân lính khắp nơi mỗi lần hành quân qua là ra sức vơ vét lương thực và nữ nhân trong làng nhằm làm của riêng.

Thấy vậy Bộ Lĩnh vô cùng thương xót cho bá tánh làng mình.

Ông trải bàn, rót ba ly rượu rồi cùng thề với hai đệ Đinh Điền, Nguyễn Bặc.

Bộ Lĩnh nói.

- Ta, Đinh Bộ Lĩnh nhận thấy thiên hạ loạn lạc, cuộc sống bá tánh lầm than, chiến tranh triền miên.

Thiên hạ suy nhiều sẽ đổi thịnh, thịnh nhiều sẽ hóa suy.

Nên từ giờ ta sẽ lập nên một thế lực riêng, bảo hộ cho cư dân Hoa Lư khỏi hoạn nạn.

Số phận Ngô triều đã tận, thiên hạ từ đây đổi chủ.

Hôm nay Bộ Lĩnh ta xin thề cùng với hai đệ Đinh Điền, Nguyễn Bặc.

Soán ngôi triều Ngô lập nên triều Đinh, thống nhất thiên hạ, non sông Vạn Xuân sẽ một lần nữa trở lại hòa bình.

Nghe Bộ Lĩnh nói xong, Đinh Điền và Nguyễn Bặc liền tiếp lời.

- Ta, Đinh Điền, xin thề!

- Ta, Nguyễn Bặc, xin thề!

Bộ Lĩnh lúc này cũng thề.

- Ta, Bộ Lĩnh, xin thề!

dứt lời, ông cùng hai đệ cắn rách ngón tay, nhỏ máu vào trong ly rượu rồi uống cạn.

Rượu vừa hết, trời bỗng nhiên sấm chớp đùng đùng, một lúc sau liền đổ một cơn mưa dữ dội.

Ba huynh đệ liền lên ngựa, đi xuống núi.

Đương lúc đang đi Bộ Lĩnh liền thấy dưới đất có một vật kỳ lạ phát ra ánh sáng chói loá.

Ông thúc ngựa đi lại để nhìn cho rõ thì nhận ra đó là một thanh kiếm.

Thấy vậy ông liền xuống ngựa, cầm thanh kiếm lên, bao kiếm loáng bóng, dọc bao chạm khắc hoa văn những đám mây sấm sét.

Nguyễn Bặc thấy Bộ Lĩnh cầm kiếm, liền đi lại mượn xem.

Chỉ mới nhìn qua Nguyễn Bặc đã giật mình bất ngờ.

Ông run rẩy nói.

- Đây...

Đây...

Đây là thanh Thiên Long Kiếm đó...

Bộ Lĩnh huynh ơi!

Đinh Điền ngay cạnh nghe thấy thế cũng bất ngờ, liền xuống ngựa đi lại xem.

Cầm kiếm trên tay Đinh Điền nhìn một lúc rồi cũng run rẩy nói.

- Đúng...

Đúng là Thiên...

Long Kiếm thật rồi!

Nguyễn Bặc xúc động, ngửa mặt lên trời hô lớn.

- Huynh ta đích thị là anh hùng rồi!

Bộ Lĩnh đích thị là người được trời chọn làm anh hùng dẹp loạn thiên hạ rồi!

Bộ Lĩnh khó hiểu phản ứng của hai đệ, ông hỏi.

- Sao mà nhìn hai đệ lạ thế?

Thiên Long Kiếm là sao?

Nguyễn Bặc mới trả lời.

- Chắc huynh là người chuyển đến đây nên huynh không biết.

Thanh kiếm mà huynh nhặt được hôm nay, không phải là ngẫu nhiên nhặt được.

Mà bởi do huynh chính là bậc anh hùng chân chính, được trời chọn sẽ trở thành thiên tử.

Bộ Lĩnh lại càng khó hiểu hơn, ông hỏi.

- Được trời chọn là sao?

Nguyễn Bặc nói tiếp.

- Vừa tròn một trăm năm về trước, hôm ấy ngay tại mảnh đất Hoa Lư này trời đổ một trận bão lớn.

Mây đen kịt khắp trời, sấm sét không ngừng đánh xuống.

Sét đánh trên đỉnh núi này, trúng vào một tảng đá lớn, vỡ ra một loại khoáng sản kỳ lạ.

Một tuần sau trận bão, hôm ấy có một người thợ rèn, người ấy là ai thì đệ không rõ.Người thợ rèn đi lên trên ngọn núi này kiếm củi về nấu bếp.

Đang đi giữa đường thì nhặt được mảnh khoáng sản kỳ lạ ấy.

Bèn liền mang về rèn liên tục trong một tuần trời, rèn ra được thanh kiếm này.

Thanh kiếm vừa được rèn xong, lưỡi kiếm liền hiện ra một hoa văn hình con rồng ở dọc theo chính giữa.

Trong thoáng chốc hoa văn rồng bỗng phát sáng lên thành hình rồng rồi biến mất.

Thấy trời cho một thanh kiếm rồng, người thợ rèn liền đặt tên là là Thiên Long Kiếm.

Còn ngọn núi nơi tìm thấy mảnh khoáng sản thì đặt tên là Thiên Long Sơn, chính là ngọn núi huynh đệ ta nguyện thề đại nghiệp hôm nay.

Ngay sau hôm rèn được thanh kiếm, trời lại một lần nữa nổi trận mưa bão, mưa triền miên gây ra lũ lụt.

Nhà của người thợ rèn bị lũ quét vỡ nát, người trong nhà chết cả.

Còn thanh kiếm từ đó bỗng nhiên biến mất, không ai biết thanh kiếm đã mất đi đâu.

Người ta đồn rằng, đó là thanh kiếm được trời trao tặng, chỉ có bậc anh hùng thực thụ mới xứng đáng sở hữu nó.

Từ đó đến giờ cũng đã một trăm năm thanh kiếm mất tích, ngay hôm nay huynh nhặt được.

Điều đó chứng tỏ huynh chính là vị anh hùng mà trời đã chọn.

Bộ Lĩnh nghe vậy vô cùng mừng rỡ.

Ông liền rút kiếm ra, hoa văn rồng ở giữa kiếm liền phát sáng.

Ánh sáng quả thực mang hình ảnh một con rồng, con rồng bay một mạch lên trời.

Ngay giây sau trời bỗng nhiên tạnh mưa hẳn, ánh sáng mặt trời lần lượt chiếu xuyên qua đám mây đen.

Bộ Lĩnh cầm kiếm trên tay vô cùng ngạc nhiên, ông liền đi lại gốc cây cổ thụ gần đó để thử kiếm.

Chỉ một nhát chém thân cây đứt làm đôi, cây đổ về phía sau, bán kính thân cây cũng dài hơn một thước.

Chém xong Bộ Lĩnh liền lại ngựa tháo ra một mảnh giáp sắt đang để trong bao bên hông ngựa.

Ông treo giáp lên phần thân cây vừa gãy, hô lên một tiếng rồi vung kiếm, mảnh giáp liền chia làm hai nửa.

Đường kiếm sắc bén, kiếm chém đến đâu đều có dư ảnh sáng rực kéo theo đến đó.

Quả thực Thiên Long Kiếm, chém cây như xẻ vải, chém sắt như cắt bùn.

Bộ Lĩnh xúc động giơ kiếm lên trời, ông nói.

- Thiên hạ đại loạn không biết bao giờ thái bình, nay số trời đã định.

Bộ Lĩnh ta ắt sẽ hoàn thành đại nghiệp, thống nhất toàn cõi.

Nói xong Bộ Lĩnh liền dắt kiếm bên hông, từ đó không bao giờ rời xa.

Quả thực là anh hùng trời ban cho Vạn Xuân.

Đời sau có thơ khen:

"Hoa Lư dậy sóng bão giông dồn

Thiên lôi giáng nứt đá nghìn tôn

Khoáng linh vỡ vụn gieo huyền tích

Thiên Long rèn nên bằng cả hồn

Long quang sáng rực bay vời vợi

Thần kiếm chìm trong lũ cuốn trôi

Trăm năm vắng bóng dường như mất

Chỉ đợi anh hùng đến nhận thôi

Bộ Lĩnh ngạo nghễ lên Thiên sơn

Điền, Bặc đồng tâm máu kết lời

Uống chén thề son rung đất trời

Dựng nghiệp non sông, cứu muôn đời

Rồng sáng theo kiếm bay thẳng tắp

Mây tan, nhật chiếu, tạnh cơn vơi

Bộ Lĩnh nâng kiếm tay rạng ngời

Thiên mệnh từ đây đã đổi dời.''

Trở về từ lần cắt máu ăn thề, Bộ Lĩnh ra sức chiêu binh, tuyển tướng suốt cả tháng trời.

Ông thu nhận được hơn ba nghìn binh lính, một nghìn chiến mã, và các tướng lĩnh bao gồm: anh em sinh đôi Bạch Mai, Bạch Ngọ và em họ Bạch Đa quê ở Đình Đại Vi, Nghè Gạ.

Bùi Quang Dũng quê ở Bố Hải Khẩu.

Cao Các, Cao Sơn quê Xuân Hòa Hưng Nguyên, Cao Đình, Cao Đỗ quê Kim Sơn, Cao Y quê Hoàng Trung.

Đinh Đức Đạt, Đinh Đức Thông quê Cát Đằng Ý Yên, Phạm Hạp quê Nam Sách và còn rất nhiều tướng khác.

Trong các tướng lĩnh mới chiêu mộ, Phạm Hạp chính là tướng nổi bật nhất với võ công cao cường.

Phạm Hạp mình cao hơn bảy thước, trên tay luôn cầm một thanh đao dài tám thước, nặng hơn bảy mươi cân, đao vung như gió quét.

Khi ấy ở Hoa Lư cũng nổi lên một thế lực mạnh khác, người cầm đầu nơi đó là Tử Vũ.

Quân Tử Vũ vô cùng tàn bạo, thiện chiến, chúng thường xuyên đánh cướp lương thực, của cải của bá tánh trong vùng.

Bên cạnh Tử Vũ còn có hai cái tên quen thuộc, chính là anh em Khiêm Tân, Khiêm Du cùng rất nhiều tên tướng khác.

Nhận thấy thế lực Tử Vũ độc ác, là một mối nguy lớn cần phải trừ sớm.

Nguyễn Bặc liền nói với Bộ Lĩnh.

- Bè lũ Tử Vũ, chuyên môn cướp bóc của cải, lương thực bá tánh trong vùng, bạo ngược, tàn ác vô độ.

Tên cầm đầu thì bất nhân bất nghĩa, có lần hắn cho quân kéo đến đánh cướp một làng nhỏ ở dưới chân núi Chùa.

Già trẻ giết sạch, trai tráng hễ ai không quy phục thì bị hắn bức hại làm khổ sai, ai hàng thì trở thành lính dưới trướng, nữ nhi trong làng bị hắn bắt giam, hãm hiếp và chia cho ba quân làm tiêu khiển.

Tên này là nội giặc, chủ công nên sớm diệt trừ.

Bộ Lĩnh nghe xong cũng đồng tình.

Ông liền ra lệnh cho quân tiến đến đóng quân tại chân núi Cổ Giải.

Sau đó cho Đinh Điền cùng Phạm Hạp đem một nghìn quân kỵ đến doanh trại Tử Vũ ở núi Chùa thách đánh.

Bộ Lĩnh nói với Đinh Điền.

- Bây giờ đệ chỉ cần đem quân đến khiêu chiến, đánh được một lúc liền thu quân trở về.

Trước khi về hãy nói cho địch rằng, ta hẹn Tử Vũ một tuần nữa hãy đem đại quân ra vùng giữa hai núi Chùa và Cổ Giải.

Ta sẽ cùng tử chiến với hắn tại đó!

Đinh Điền nghe lời dẫn quân đến nơi, đánh trống khua chiêng, liên tục khiêu khích.

Tử Vũ bấy giờ đang ở trong trại nghe quân báo tin Đinh Điền đến thách đánh.

Hắn liền đi lên thành trại dò xem tình hình, thấy quân Đinh Điền ở dưới liên tục mắng chửi, Tử Vũ giận lắm liền hỏi các tướng.

- Đinh Điền là đại tướng dưới trướng Bộ Lĩnh, ai xung phong ra đánh?

Có một người xung phong, đó chính là Gia Hạo.

Tử Vũ liền ra lệnh cho mở cổng thành, Gia Hạo tay cầm thương cưỡi ngựa phi từ trong doanh trại ra tiếp chiến.

Đình Điền liền cho Phạm Hạp cầm đao ra đánh.

Đánh được ba hiệp Gia Hạo liền bị Phạm Hạp xiên một đao qua ngực, chết ngay lập tức.

Tử Vũ trên thành tức giận, liền hỏi các tướng.

- Gia Hạo bất tài chết rồi, còn ai xung phong ra nghênh địch nữa không?

Thấy vậy Khiêm Du liền xung phong, hắn nói.

- Mạt tướng có mối thù từ bé với Đinh Điền, nên xin xung phong ra đánh.

Tử Vũ vô cùng hài lòng đồng ý.

Cổng thành mở ra, Khiêm Du lập tức phi ngựa ra bên ngoài, tay hắn cầm một cây thương đồng dài sáu thước.

Đinh Điền thấy Khiêm Du ra đánh liền cho Phạm Hạp quay về, ông đích thân cầm kích nghênh chiến.

Khiêm Du thấy Đinh Điền liền mắng rằng.

- Tên tiểu tử nhà ngươi, sao dám phản triều đình, lập thế lực riêng?

Đinh Điền tức giận mắng lại.

- Ngươi nói mà không biết ngượng mồm à, tên Tử Vũ chủ công ngươi không những là phản tặc mà còn bức hại bá tánh, tệ hơn cả súc sanh.

Mắng xong Đinh Điền liền xông vào múa kích chém Khiêm Du, Khiêm Du ngang thương ra đỡ.

Cả hai đánh nhau hơn trăm hiệp không phân thắng bại, Khiêm Du liền nói.

- Ta với ngươi đánh nhau mãi rồi, giờ ngựa cũng đã mỏi, về nghỉ một lúc rồi quay lại đánh tiếp.

Đinh Điền nói.

- Chỉ có ngựa ngươi mới mỏi, Hùng Tử Lam Nhãn của ta không biết mỏi là gì.

Đinh Điền nói xong vẫn đánh tiếp, nhưng ngựa của Khiêm Du lúc này trụ không nổi, liền ngã quỵ, Khiêm Du lăn xuống đất vẫn cầm thương ra sức chống cự.

Đinh Điền lúc này mới nói.

- Báo với ngươi một tin, Bộ Lĩnh huynh ta muốn khiêu chiến với bọn giặc cướp nhà ngươi.

Hẹn một tuần nữa, hai quân giao chiến ở vùng đồng bằng giữa núi Chùa và Cổ Giải.

Nói xong Đinh Điền liền thu ngựa kéo quân về.

Khiêm Du trở về thành, Tử Vũ liền hỏi nguyên do ngựa ngã.

Khiêm Du kể sự tình rồi hắn thuật lại luôn lời của Đinh Điền.

Tử Vũ cả giận, liền cho quân tập trận, để tuần sau tử chiến.

Đinh Điền trở về từ trận thách đánh, ông vào phủ báo tin cho Bộ Lĩnh.

Bộ Lĩnh đương lúc này đang bàn chiến sự với Nguyễn Bặc.

Nghe Đinh Điền báo tin ông cả mừng, liền rót rượu mời Đinh Điền vào trong cùng bàn tiếp chiến sự.

Xong xuôi, Nguyễn Bặc tiếp tục chỉ tay vào tấm bản đồ Hoa Lư rồi nói.

- Để từ Cổ Giải đi ra chỗ thách đánh, kiểu gì ta cũng phải đi qua vùng thung lũng dưới chân núi.

Nơi này chật hẹp hai bên núi cao rất phù hợp để cho quân mai phục.

Bộ Lĩnh huynh cùng với Đinh Điền huynh sẽ thống lĩnh bốn đội kỵ binh ra nghênh chiến.

Hai huynh phải giả vờ thua, chạy về lại doanh trại.

Địch thấy hai huynh tháo chạy, ắt hẳn sẽ ra sức đuổi theo.

Đệ sẽ tự mình thống lĩnh đội cung binh mai phục hai bên núi.

Quân địch đuổi theo hai huynh đến vùng thung lũng, đệ lập tức cho quân bắn mưa bên xuống dưới.

Quân địch trúng tên ắt sẽ bại.

Bộ Lĩnh nghe kế của Nguyễn Bặc liền nghĩ ra một kế trong kế.

Ông nói.

- Theo kế của đệ, huynh sẽ cho lính mang theo bên mình những bình rượu mạnh.

Trên đường tháo chạy vào trong thung lũng, sẽ đổ hết rượu xuống đường, ném thêm áo giáp, đồ dùng.

Địch thấy quân ta như vậy, ắt nghĩ quân ta cùng đường bỏ của tháo chạy sẽ càng đuổi hăng hơn nữa.

Nào quân chạy qua hết sẽ quay lại ném đuốc châm lửa, cùng với hai bên chân núi um tùm cỏ cây.

Lửa bùng lên địch đằng sau chắc chắn sẽ khó thoát ra được.

Đinh Điền nghe xong vô cùng thán phục, ông cảm thán.

- Hai người quả là những bậc trí dũng song toàn, Đinh Điền tôi vô cùng kính phục.

Nguyễn Bặc lúc này tiếp lời.

- Theo kế của Bộ Lĩnh huynh, vậy thì đệ sẽ chia cung thủ ra làm hai.

Một nửa vẫn tiếp tục mai phục ở hai bên núi cho anh em Bạch Mai, Bạch Ngọ nắm giữ.

Một nửa thì đệ sẽ tự mình cầm quân mai phục ở phía ngoài thung lũng, nơi hai huynh dẫn địch tiến vào.

Để đề phòng quân địch quay đầu tháo chạy.

Khi nào lửa của Bộ Lĩnh huynh bốc lên, quân mai phục hai bên bắn tên xuống, thì đệ sẽ dẫn quân ùa ra bọc hậu.

Dương cung ngắm vào bên trong, hễ cứ thấy địch chạy ra là bắn.

Như thế quân địch sẽ bị bao vây, thương vong không đếm xuể.

Bộ Lĩnh và Đinh Điền đều thán phục kế hay.

Cả ba liền rót rượu nâng ly cầu thắng trận, uống cạn ly rồi lập tức bày binh triển kế, chuẩn bị cho trận quyết chiến sắp tới.

Chưa biết cuộc chiến xảy ra như nào, hồi sau sẽ rõ.
 
Thập Nhị Sứ Quân Loạn
Hồi 6: Đinh Bộ Lĩnh đại thắng Tử Vũ, bậc anh hùng mạnh càng thêm mạnh.


Một tuần sau kể từ ngày Đinh Điền gửi lời khiêu chiến, Hôm ấy tại giữa mảnh đất đồng bằng rộng rãi, trống trải.

Bộ Lĩnh dẫn đầu một nghìn kỵ binh dàn hàng chờ sẵn quân Tử Vũ tiến tới.

Từ đằng xa, khói bụi mù mịt, Tử Vũ đi đầu, dẫn đại quân kéo theo sau.

Đại quân dừng lại khi chỉ cách Bộ Lĩnh khoảng chừng hai trăm thước.

Quân Tử Vũ tất thảy năm nghìn người trong đó có hai nghìn rưỡi kỵ binh, hai nghìn bộ binh, và năm trăm cung thủ.

Bộ Lĩnh trông thấy Tử Vũ, liền ra lệnh cho quân sĩ di chuyển liên tục theo hàng ngang.

Đội quân di chuyển, làm cho bên Tử Vũ không tài nào ước lượng được Bộ Lĩnh mang theo bao nhiêu quân mã.

Hai bên dàn xong thế trận, trống đánh liên hồi, binh sĩ hô vang cả một vùng.

Một tướng bên Tử Vũ cầm thanh trượng ba ngạnh, tế ngựa ra khiêu chiến.

Vị tướng đó tên là Trình Lang, là tướng tiên phong dưới trướng của Khiêm Tân.

Thấy vậy Bộ Lĩnh cũng cho Phạm Hạp ra nghênh chiến.

Hai bên đánh với nhau được mười hiệp, Trình Lang bị đao Phạm Hạp xẻ đôi mặt, ngã ngựa chết.

Bực mình, Khiêm Tân liền cho thêm một tướng là Hạ Vĩ ra đánh.

Chỉ trong năm hiệp, Hạ Vĩ bị Phạm Hạp chém gãy đôi binh khí liền rút lui chạy về.

Hạ Vĩ vừa về đã bị Khiêm Tân tế ngựa chạy ra chém đầu.

Mặc cho thủ cấp Hạ Vĩ rơi lăn lóc dưới đất, Khiêm Tân chạy thẳng ra đánh Phạm Hạp.

Hai bên đánh với nhau được hai mươi hiệp, Phạm Hạp liệu mình địch không lại liền chạy ngựa trở về.

Thấy Phạm Hạp trở về, Bộ Lĩnh trực tiếp cưỡi Bạch Diện Ô, cầm Thiên Long Kiếm ra nghênh chiến.

Đánh với Khiêm Tân hơn trăm hiệp, Bộ Lĩnh giả thua, cho quân tháo chạy trở về núi Cổ Giải.

Được đà chiến thắng, Tử Vũ liền cho ba quân đuổi theo.

Bộ Lĩnh chạy vào giữa thung lũng như kế hoạch.

Tử Vũ đương truy đuổi, thì một tướng trung đội là Tạ Uyên chạy đến nói rằng.

- Đằng trước là thung lũng hẹp, rất phù hợp cho quân mai phục.

Mạt tướng cho rằng, đó là kế của Bộ Lĩnh, ta không nên đuổi theo.

Tử Vũ ban đầu cũng sinh nghi, định cho quân dừng lại không truy sát nữa.

Nhưng bất chợt hắn thấy binh lính Bộ Lĩnh, đang lần lượt tháo giáp, vứt hành trang, đổ hết rượu xuống đất.

Bèn không nghi ngờ gì mà đuổi tiếp.

Tạ Uyên cố khuyên, Tử Vũ cả giận mắng rằng.

- Quân địch đang sợ hãi, bao nhiêu của cải hành trang chúng ném hết kia.

Bộ Lĩnh chắc chắn thua thật, làm gì có chuyện mai phục ở đây.

Lẽ nào ngươi có bụng làm phản, khuyên ta tha cho hắn.

Tạ Uyên sợ hãi liền nói.

- Mạt tướng không có ý đó.

Nói xong lui về sau, quân Tử Vũ vẫn ráo riết truy đuổi.

Đến khi Bộ Lĩnh chạy gần qua khỏi thung lũng.

Ông liền cho ba quân dừng lại, đốt lửa ném xuống đất.

Lửa rơi xuống, chạm vào rượu do quân lính đổ ra ban nãy, liền bùng cháy dữ dội.

Lửa lan sang hai bên, nơi cây cỏ um tùm càng cháy dữ hơn nữa.

Tử Vũ lúc này mới hoảng sợ, hắn thét lên.

- Trúng kế rồi!

Ta trúng kế Bộ Lĩnh rồi!

Liền cho quân quay đầu tháo chạy, những con ngựa chạy sau bị lửa cháy đến chân hí lên hoảng sợ, lính mất cương ngã chết vô số.

Ngay lúc đó từ hai bên núi xuất hiện quân mai phục bắn tên xuống.

Tên bắn như mưa quân Tử Vũ thương vong quá nửa.

Tử Vũ được các tướng bảo vệ, cố mở đường máu chạy thoát ra ngoài.

Vừa ra đến ngoài, liền thấy Nguyễn Bặc, cùng binh lính dương cung chờ sẵn.

Nguyễn Bặc hô lên một tiếng, vô số mũi tên bắn thẳng vào quân Tử Vũ đang tháo chạy.

Khiêm Du đi đầu bị tên Nguyễn Bặc bắn xuyên tim chết ngay trong loạn quân.

Tử Vũ nhờ các tướng che chắn, cố lắm mới đánh được một góc chạy thoát.

Lại nói lúc quân Tử Vũ trúng mai phục, Khiêm Tân do ham đánh nên không cho binh quay đầu.

Hắn cố gắng dẫn theo một tiểu đội và vài tướng dưới trướng, vượt mưa bên, lửa đốt lao lên cố giết Bộ Lĩnh.

Vừa vượt qua khỏi biển lửa, đã thấy quân kỵ Bộ Lĩnh dàn sẵn hàng ngang đứng đó.

Khiêm Tân thét lên một tiếng, hai tướng tiên phong của hắn là Lý Dực và Triệu Nghĩa cầm thương xông lên.

Bên bộ Lĩnh cũng có hai tướng là anh em Cao Các, Cao Sơn ra nghênh chiến, người cầm chùy, người cầm rìu.

Hai bên song chiến với nhau hai mươi hiệp không phân thắng bại.

Thấy vậy, một viên tướng của Khiêm Tân là Mã Vĩ, cầm cung bắn tới rồi rút kiếm xông vào trợ chiến.

Cung lao đến bị Cao Các cầm chùy đánh gãy rơi xuống đất.

Cùng lúc đó Bạch Đa bên Bộ Lĩnh cũng tế ngựa chạy vào, Bạch Đa cầm giáo ném một phát, ngọn giáo đâm ngay chính giữa mặt Lý Dực.

Triệu Nghĩa cũng bị Cao Các vung chùy đánh gãy chân ngựa, ngã uỵch xuống đất, đập đầu vào đá chết luôn.

Mã Vĩ vừa chạy tới, chưa kịp đánh đã bị Cao Sơn cầm rìu chém bay đầu.

Khiêm Tân thấy tướng mình thua thảm, bực mình vác họa kích tế ngựa ra đánh.

Ba tướng chống không lại liền thua chạy về, Bộ Lĩnh thay mặt ba tướng cưỡi Bạch Diện Ô ra đánh với Khiêm Tân.

Ông rút thanh Thiên Long Kiếm, đánh Khiêm Tân gần năm mươi hiệp.

Thì Khiêm Tân bị kiếm của Bộ Lĩnh chém gãy đôi thanh họa kích.

Chưa kịp hoảng hồn thì đầu của Khiêm Tân đã rơi, quân Bộ Lĩnh thừa thắng đánh loạn lên, quân Khiêm Tân thua cả.

Bộ Lĩnh thu giữ được thêm năm trăm binh lính quy hàng.

Lại nói về Tử Vũ, hắn chạy thoát được khỏi vòng vây của Nguyễn Bặc, chạy đến núi Mông Mang.

Bên bờ sông dọc chân núi, lúc qua cầu, quân lính của hắn chỉ còn lại hơn hai trăm người.

Tướng Lĩnh còn bảy, lần lượt là: Tạ Uyên, Liễu Hùng, Nguyễn Quang, Đinh Trạch, Đỗ Kiệt, Ngô Tín, Trác Văn.

Lúc này Tạ Uyên mới ngẩng mặt lên trời mà than rằng.

- Trời ơi, nếu chủ công mà nghe ta, thì đâu bại đến nỗi này!

Tử Vũ nghe được giận lắm, rút ngay kiếm ra chém Tạ Uyên.

Tạ Uyên vừa gục chết thì cùng lúc đó từ chân núi xông ra một toán quân.

Tướng dẫn đầu là Lê Hoàn, Lê Hoàn cầm trượng vừa cưỡi ngựa phi tới vừa mắng.

Giặc cướp Tử Vũ, hãy mau chết đi!

Tử Vũ đang trong cơn giận, tự mình xông ra giao chiến với Lê Hoàn.

Cả hai mỗi người một ngựa giao chiến với nhau ngay giữa cầu.

Quân lính hai bên đầu cầu đứng xem, khua chiêng gõ trống ầm ĩ.

Đánh với nhau được gần hai trăm hiệp, Tử Vũ bị Lê Hoàn khua tay chém một trượng cắt đứt cổ.

Tử Vũ chết, đầu văng xuống chân ngựa Lê Hoàn.

Xác rơi qua thành cầu trôi dọc theo dòng nước sông chảy qua chân núi.

Tàn binh của Tử Vũ cũng bị Lê Hoàn đánh tan, sáu tướng còn lại không sao chống được, bị trượng của Lê Hoàn giết sạch.

Đời sau có thơ khen Lê Hoàn:

"Tay giết sáu tướng, trảm Tử Vũ

Đơn thân điều binh, phá quân thù

Cưỡi ngựa cầm đao bao lẫm liệt

Lê Hoàn đích thực bậc trượng phu"

Sau đó Lê Hoàn liền cầm thủ cấp của Tử Vũ, cho ba quân giữ thủ cấp của sáu tên tướng.

Ông dẫn đầu quân sĩ, đi đến chiến trận của Bộ Lĩnh để xin theo phò tá.

Lúc này quân Bộ Lĩnh vừa đại thắng Tử Vũ, hai bên chiến tuyến thu phục được hơn một nghìn binh lính quy hàng.

Ông liền cho ba quân trở về doanh trại trên núi Cổ Giải, mở tiệc ăn mừng chiến thắng.

Ngay khi Bộ Lĩnh đang uống rượu với các tướng, thì ở bên ngoài có lính chạy vào báo tin rằng.

- Báo!

Có một người, dẫn theo hơn hai trăm binh mã muốn diện kiến chủ công.

Bộ Lĩnh hỏi.

- Người ấy là ai?

Tên gì?

Lính thưa.

- Người ấy bảo nào gặp được chủ công thì mới nói danh tính.

Nghe vậy Bộ Lĩnh liền dừng tiệc, ông cùng hai đệ Nguyễn Bặc, Đinh điền ra xem người đó là ai.

Vừa ra đến ngoài Bộ Lĩnh thấy quả thực có hơn hai trăm quân kỵ.

Đứng đầu có một vị trai tráng, mình cao tám thước, ngồi cưỡi trên ngựa, hai tay một tay cầm trượng, một tay cầm thủ cấp của ai đó chưa rõ.

Bộ Lĩnh mới hỏi.

- Xin cho hỏi, vị quân tử đang ở kia là ai?

Lúc này người ấy mới xuống ngựa, đi lại đến trước mặt Bộ Lĩnh đặt trượng, đặt đầu xuống đất rồi quỳ gối báo cáo danh tính.

Người nói.

- Tôi họ Lê, tên Hoàn, quê ở Ái Châu.

Nhận thấy thiên hạ loạn lạc, tôi cùng với huynh đệ của mình là Nguyễn Minh tập hợp nghĩa quân.

Hay tin Bộ Lĩnh ngài là bậc trượng phu đức cao, trí tài, tinh thông võ nghệ nên muốn đầu quân phò tá.

Bộ Lĩnh nghe xong mừng rỡ, ông đỡ Lê Hoàn dậy rồi hỏi.

- Sao vị biết tôi ở đây mà đến vậy?

Lê Hoàn trả lời.

- Tôi biết rằng ngài đang chiêu mộ binh lính ở Hoa Lư, nên đem quân đi đến.

Đương đóng trại ở trên núi Mông Mang thì hay tin ngài đang đại chiến với bọn Tử Vũ ở núi Cổ Giải liền cấp tốc cho quân xuống núi.

Trên đường đến chỗ ngài, quân tôi có đi qua đoạn sông chảy quanh chân núi Mông Mang.

Bất chợt thấy tàn quân Tử Vũ đang tháo chạy đến đó cho nên đã ra tay đánh dẹp.

Chiếc đầu đằng kia chính là thủ cấp của Tử Vũ, ngoài ra tôi còn giết được thêm sáu tướng còn lại của hắn và cũng lấy thủ cấp luôn.

Nói xong Lê Hoàn liền đưa thủ cấp của Tử Vũ cho Bộ Lĩnh xem.

Bộ Lĩnh vô cùng mừng rỡ nói rằng.

- Tốt quá, quả nhiên ông trời giúp ta.

Không những đại thắng quân cướp bóc, mà còn chiêu mộ được thêm một dũng tướng.

Như này thì mấy chốc đại nghiệp sẽ thành.

Sau đó Bộ Lĩnh liền mời ba quân Lê Hoàn vào trong doanh trại dùng bữa ăn mừng cùng luôn.

Ông nắm tay Lê Hoàn dẫn vào trong trại, tự tay mình rót rượu đưa cho Lê Hoàn.

Tất cả cùng hòa vào bầu không khí hân hoan.

Rượu được vài tuần, Nguyễn Bặc liền lên tiếng nói.

- Khi Tử Vũ ban nãy chạy thoát, sống chết không rõ, tôi chưa dám hé lời.

Nay hắn đã bỏ mạng dưới tay quân ta, tôi xin nói thật: Tử Vũ vốn là giặc cướp, trong doanh trại hắn hẳn còn giam giữ nhiều mỹ nữ, tù binh và nô bộc.

Xin Bộ Lĩnh huynh sớm phái quân đến giải thoát họ, ấy mới là nghĩa lớn.

Tất cả nghe xong lời Nguyễn Bặc, ai nấy cũng tán thành.

Bộ Lĩnh lúc này mới nói.

- Ta sớm cũng đã nghĩ đến điều đó, quân sĩ hôm nay liên hoan, ngủ nghỉ đầy đủ đi.

Ngày mai sẽ lên đường tiến lên núi Chùa nơi Tử Vũ đóng quân.

Sáng hôm sau Bộ Lĩnh đích thân dẫn theo một nghìn binh lính và hai đệ Đinh Điền, Nguyễn Bặc cùng với Lê Hoàn lên núi Chùa, tiến vào doanh trại Tử Vũ.

Lên đến nơi, Bộ Lĩnh thấy thành Tử Vũ trống trơn, không còn một mọn lính.

Ông cho quân đi vào kiểm tra, đang đi giữa doanh trại, Bộ Lĩnh liền nghe ở đâu đó một tiếng hát than rằng.

"Quốc thế vượt can qua

Thái bình chẳng được lâu

Thiên hạ khởi phong ba

Tiểu nhân chỉ biết sầu

Tiền Ngô lâm tử bệnh

Nào ngờ giặc Tam Kha

Công tử mệnh còn trẻ

Địch sao nổi gian tà

Bá dân cầu anh hùng

Liệu cầu ắt được ngay?

Nhất sinh thập tử loạn

Thương thay, ôi thương thay!"

Vừa nghe tiếng hát Bộ Lĩnh liền biết người đó ắt hẳn làm một bậc hiền tài.

Ông đi nơi tiếng hát phát ra, đi đến một buồng giam.

Chợt thấy bên trong là một vị trai tráng, mình cao, tóc dài không thấy mặt.

Bộ Lĩnh lúc này mới mở lời hỏi.

- Cho hỏi vị tiên sinh trong đó là ai vậy?

Người kia liền giật mình, quay mặt trở ra.

Bộ Lĩnh thấy dung mạo người ấy hiền từ, khôi ngôi tuấn tú, cũng trạc tuổi của mình.

Người ấy mới trả lời.

- Tôi họ Lưu, tên Cơ, từng sống ẩn dật trên ngọn núi này trước khi bọn Tử Vũ lên đây đóng quân.

Khi Tử Vũ đến, hắn cho quân vào nhà tôi vơ vét hết của cải.

Một túp lều ngói tranh nhỏ cũng không còn lại gì.

Tôi thì bị hắn bắt giam đến ngày nay cũng đã hơn được một tháng.

Bộ Lĩnh nghe xong rỏ nước mắt thương xót, lấy lạ Lưu Cơ bèn hỏi.

- Cho hỏi vị đây là ai?

Vào được bên trong nơi này bằng cách nào?

Bộ Lĩnh liền trả lời.

- Tôi họ Đinh, tên Bộ Lĩnh, cũng là người cùng quê Hoa Lư với tiên sinh.

Nay tôi đánh dẹp được bọn cướp Tử Vũ, cho quân lên đây giải thoát cho mọi người.

Nói xong Bộ Lĩnh liền rút kiếm chém gãy khóa cửa buồng giam.

Ông đi vào dìu đưa Lưu Cơ ra ngoài.

Lưu Cơ sau khi nghe Bộ Lĩnh giới thiệu xúc động đến đổ lệ, ông nói.

- Ngài là Đinh Bộ Lĩnh đấy ư?

Nghe danh ngài từ lâu, nay mới có duyên được gặp.

Quả thực ngài là đại trượng phu như những gì tôi nghe đồn.

Bộ Lĩnh nói.

- Tiên sinh nói hơi quá lời, thế lực tôi vẫn còn non trẻ, chưa có công danh gì vẻ vang.

Sao có thể nhận là đại trượng phu!

Nói xong Bộ Lĩnh liền nắm chặt tay Lưu Cơ, ông nói tiếp.

- Từ xa tôi đã được nghe lời ca than khóc của tiên sinh.

Tôi liền nhận ra vị tiên sinh đây hẳn là người hiền sĩ.

Tôi muốn hành đại nghiệp, nhưng lực lượng còn yếu, nên rất cần những người như tiên sinh làm quân sư.

Tôi xin mạn phép mời tiên sinh xuống núi ra tay tương trợ.

Lưu Cơ nghe lời Bộ Lĩnh nói, ông đưa tay, ngẩng mặt lên trời cảm thán rằng.

- Rồng thiêng bấy lâu ẩn mình trong núi, nay đã tung mình bay lên thiên vân!

Anh hùng bấy lâu nay thiên hạ tối ngày mong chờ, cuối cùng đã xuất hiện rồi!

Vạn Xuân sẽ chẳng bao lâu mà thái bình!

Hôm ấy quân của Bộ Lĩnh đã giải cứu được hơn hai trăm nam nhi, quá nửa trong số ấy đã đầu quân gia nhập lực lượng của Bộ Lĩnh.

Đồng thời cũng cứu được hơn một trăm năm mươi nữ nhi bị Tử Vũ và binh lính của hắn bắt làm thê, làm thiếp.

Lưu Cơ sau hôm ấy cũng nguyện theo làm quân sư, phò tá Bộ Lĩnh trên con đường hành đại nghiệp.

Sau khi gia nhập quân Bộ Lĩnh, Lưu Cơ liền nói với Bộ Lĩnh rằng.

- Tôi có một người huynh đệ dưới núi, vốn tinh thông võ nghệ.

Có thể giúp được chủ công trên con đường hành nghiệp.

Bộ Lĩnh cười nói.

- Quân sư muốn tiến cử ai thì cứ mời, người được quân sư tin trọng ắt có tài.

Lưu Cơ mới trả lời.

- Người ấy họ Trịnh, tên Tú là một tráng sĩ đã kết huynh đệ với tôi.

Người này tính tình cẩn trọng, thích hành việc trượng nghĩa.

Nếu chủ công có lòng tin dùng, hãy mau cho người chiêu mộ người ấy vào quân.

Bộ Lĩnh nghe lời, cho quân lính đi tìm tráng sĩ tên là Trịnh Tú ấy về quân.

Quân lính truy tìm được nhưng mời mãi Trịnh Tú không chịu theo.

Lính về báo với Bộ Lĩnh, ông lúc này đương không biết xử trí thế nào thì Lưu Cơ xung phong đi thuyết phục.

Đinh Điền cũng ngồi cạnh đấy, ngỏ ý xin đi theo.

Bộ Lĩnh chấp thuận cả hai, hai người đi với nhau đến nhà Trịnh Tú.

Được Trịnh Tú đón tiếp nồng hậu, đương lúc trò chuyện thì Lưu Cơ mới nói.

- Này người huynh đệ, cậu không biết đến trận Bộ Lĩnh với Tử Vũ ư?

Trịnh Tú trả lời.

- Tôi biết chứ.

Lưu Cơ lúc này hỏi tiếp.

- Vậy sao cậu không mau theo phò, trượng phu theo trượng phu là lẽ thường tình ở đời.

Chim khôn chọn cành yên mà đậu, tôi giỏi chọn chủ mạnh mà thờ.

Nay chủ mạnh đã có, sao không mau theo đi?

Trịnh Tú mới thở dài.

- Tôi cũng muốn theo lắm, nhưng thực tình vẫn chưa yên tâm.

Đinh Điền lúc này đứng dậy lên tiếng.

- Tôi là Đinh Điền tướng quân, vốn theo Bộ Lĩnh đã lâu.

Hay tin tráng sĩ đây là người tinh thông võ nghệ, liệu tôi có thể tỉ thí với tráng sĩ một hiệp được không?

Trịnh Tú chấp thuận, cả hai ra sân ngoài.

Sau ba tiếng đếm của Lưu Cơ, hai người liền xông vào nhau đấu vật.

Đấu với nhau được một lúc, hai người vẫn giữ ở thế cân bằng.

Lúc này Đinh Điền thét lên, đấm tay xuống đất rồi lao vào Trịnh Tú tựa như trâu húc.

Trịnh Tú cố đỡ nhưng không lại, liền bị Đinh Điền đẩy ngã.

Trịnh Tú nhận thua Đinh Điền, được Đinh Điền giơ tay đỡ dậy.

Đinh Điền lúc này mới nói.

- Tôi sức khỏe là thế, cả đời tôi chưa thua bất kì một ai chỉ trừ một người.

Đó chính là chủ công tôi cũng như là người huynh của tôi, Đinh Bộ Lĩnh.

Trịnh Tú phủi bụi trên người rồi nói.

- Tướng quân đã mạnh như này, mà chủ của tướng quân còn mạnh hơn.

Thì còn cớ gì mà tôi không theo.

Nghe câu trả lời của Trịnh Tú, hai người Đinh Điền, Lưu Cơ vô cùng hài lòng.

Cả ba tiếp tục vào nhà trò chuyện, Lưu Cơ lúc này mới kể việc mình bị Tử Vũ bắt giam.

Trịnh Tú nghe xong thì thương cảm vô cùng.

Ông rỏ nước mắt vừa khóc người huynh đệ, vừa tự trách bản thân vì đã không biết tin mà cứu giúp.

Lưu Cơ kể đến đoạn mình được Bộ Lĩnh cứu thân như nào, trò chuyện với Bộ Lĩnh ra sao.

Trịnh Tú càng nghe càng phục con người này.

Chiều hôm ấy, Trịnh Tú theo hai người trở về doanh trại của Bộ Lĩnh diện kiến.

Bộ Lĩnh vừa thấy Trịnh Tú thì đã đem lòng yêu thích.

Truyện trò với Trịnh Tú cả đêm, đến độ ăn chung bữa ngủ chung giường.

Kể từ hôm ấy thế lực Bộ Lĩnh tại vùng Hoa Lư ngày một thêm mạnh, hùng bá một phương, nổi danh thiên hạ.

Trở lại với thực tại loạn mười hai sứ quân.

Chưa biết vị anh hùng Bộ Lĩnh khởi binh ra sao, hồi sau sẽ rõ.

(Lưu ý: Thời gian trong hồi 5, hồi 6 trùng với thời gian Dương Tam Kha ra lệnh cho Nam Tấn Vương đem quân đến đánh hai sứ quân Nguyễn khoan và Ngô Nhật Khánh..)
 
Thập Nhị Sứ Quân Loạn
Hồi 7: Sứ quân giao tranh, Nguyễn Lệnh Công tiến đánh Dương Huy.


Sau khi thứ sử các vùng lần lượt xưng sứ quân, thiên hạ đại loạn.

Tại vùng Tiên Du Nguyễn Thủ Tiệp là một thứ sử có rất nhiều tài sản, ông sở hữu một trang trại lớn tên là Nguyễn Xá Trang.

Nhận thấy quốc thế loạn lạc, Thủ Tiệp cũng có tham vọng thôn tính toàn cõi ông liền tự xưng làm sứ quân lấy hiệu là Nguyễn Lệnh Công.

Ông cho người xây thành, đắp lũy tại vùng núi Bát Vạn, ra sức chiêu binh, tuyển tướng không ngừng.

Trong tay ông đặc biệt có hai võ tướng được xem như ngọn giáo tiên phong là Liễu Cương và Vũ Dực.

Liễu Cương cường tráng, sức địch vạn người, tính tình nóng nảy bộc trực.

Vũ Dực có phần yếu hơn về thể lực, nhưng lại vô cùng tiểu nhân không từ thủ đoạn để đạt được thắng lợi.

Thế lực của Lệnh Công ngày một lớn, một vùng nhỏ bé như Tiên Du là không đủ để con cá lớn này vùng vẫy.

Để mở rộng lãnh địa, Lệnh Công đã có bụng đem quân xâm chiếm Vũ Ninh của thứ sử Dương Huy.

Ông liền bàn với hai tướng.

- Thế lực của ta ngày càng mạnh, một vùng như Tiên Du há chẳng đủ.

Mặc dù trang trại của ta có nhiều lương thực, nhưng lượng chi ra còn nhiều hơn lượng thu hoạch được.

Cứ tiếp diễn tình hình như này cũng chẳng mấy chốc mà cạn kiệt.

Hai tướng có ý gì không?

Hai tướng cũng hiểu ý định của Lệnh Công, nên liền đáp.

- Chúng ta cần điều binh mở rộng thêm căn cứ.

Lệnh Công hài lòng nói.

- Hai ngươi nói vậy hợp ý ta.

Ta nhận thấy bên cạnh Tiên Du có vùng Vũ Ninh là tốt nhất.

Nơi đó đồng bằng rộng lớn phù hợp cho việc trồng trọt, chiêu binh và luyện tập quân kỵ.

Liễu Cương nghe xong vỗ ngực nói.

- Chủ công nơi đó là Dương Huy, là một kẻ có cái tôi cao nhưng lại không có trí lớn.

Binh lính hắn tuy nhiều nhưng kỷ cương không có, tướng trong tay hắn thì bất tài.

Nay ta mà đem quân đến đánh, chúng nó ắt loạn.

Vũ Dực cười lắc đầu, ông nói.

- Cương tướng nói vậy là chưa đúng, quân Dương Huy tuy yếu nhưng số lượng vô cùng đông đảo quân ta chỉ ba nghìn mà quân hắn gấp cả chục.

Chỉ cần toàn quân hắn loạn chiến xông lên, quân ta dù có mạnh đến mấy thì sự chênh lệch về quân số cũng đủ đè bẹp ta đến chết.

Liễu Cương bị Vũ Dực bác bỏ ý kiến nên vô cùng nổi giận, Lệnh Công thấy vậy bèn xoa dịu tình hình, ông nói.

- Ta thấy Vũ Dực nói cũng đúng, ta không nên quá khinh địch.

Vậy theo ý của Vũ Dực, ngươi có mưu kế gì để đánh Dương Huy không?

Liễu Cương nói bồi.

- Đúng, ngươi có kế gì không!

Vũ Dực mới nói.

- Dương Huy hắn là một kẻ có cái tôi cao, thích nghe những lời xu nịnh.

Tôi có liên hoàn kế như sau.

Chúng ta nên cho người chiêu mộ những tướng lĩnh canh giữ các thành biên giới giữa hai vùng.

Những kẻ ấy là những người thẳng thắn không được Dương Huy trọng dụng, vốn có bất mãn với hắn từ lâu.

Trong tay Dương Huy có một tên tham quan là Lý Nhiên.

Tên này chuyên môn nịnh hót nên rất được lòng Dương Huy.

Tuy là thế nhưng hắn lại là một con người tham lam, ta chỉ cần hối lộ hắn một khoản đủ nhiều, cho hắn làm nội ứng.

Sau khi hoàn thành hai điều trên, Cương tướng quân đem năm trăm binh mã đến trước thành Dương Huy.

Chửi mắng không ngừng, đụng vào cái tôi của hắn, chắc chắn hắn sẽ vô cùng nổi giận cho quân đuổi đánh.

Khi quân hắn ra thành hết, ngươi tuyệt đối không nên ham đánh mà đối địch với hắn.

Ngươi chỉ việc nhử địch đến vùng các tướng biên phòng ta mới chiêu mộ.

Chủ công mang hai nghìn rưỡi binh lính, cộng với quân của họ mai phục sẵn ở đó.

Đợi quân ta lui về thì dương cung ra bắn quân Dương Huy.

Dương Huy sợ mai phục ắt sẽ cho quân quay lại về thành.

Lúc Dương Huy rời đi tôi sẽ cho một nghìn quân mai phục sẵn đằng sau tiến đến cướp thành.

Lúc hắn cho quân quay về thì thành đã mất, tiến không được lùi không xong, lòng quân chắc chắn loạn.

Mà lòng quân đã loạn rồi thì Dương Huy không còn đường nào để thắng cả.

Liễu Cương nghe xong càng thêm bực mình mắng rằng.

- Ngươi nói ta phải chạy dụ địch là có ý gì?

Ngươi nghĩ rằng sức của ta không đủ để đánh với hắn sao?

Lệnh Công mắng Liễu Cương.

- Ngươi im đi!

Đừng để cái sự nóng nảy của ngươi mà hỏng đại sự!

Vũ Dực mới xoa dịu Liễu Cương rằng.

- Vậy thì để tôi khiêu khích địch, ngươi sẽ là người cho quân núp sẵn đằng sau thành Dương Huy, chờ cho quân trong thành kéo ra hết.

Thì ngươi sẽ ùa vào cướp thành.

Đến khi Dương Huy quay trở về, ngươi làm gì thì làm tuyệt đối không để mất thành.

Nếu thành mà mất thì ngươi đừng hòng nguyên đầu quay về đây!

Liễu Cương mời cười lớn lên nói rằng.

- Ngươi nói vậy mới hợp bụng ta.

Cả ba bàn bạc xong xuôi, Lệnh Công mới làm lễ cúng bái gia tiên.

Rồi ông cho người làm sứ giả đi đến các thành ngay sát biên giới hai vùng, chiêu mộ các tướng bên đó.

Hứa hẹn phong chức tước, trọng thưởng cho họ.

Sau khi các tướng đồng ý quy phục, Lệnh Công liền viết một bức phong thư, sai Vũ Dực mang một trăm quân mã, đem theo một trăm lượng vàng chất đầy rương, đi thẳng đến nhà của Lý Nhiên.

Vũ Dực đến nơi, thấy người hầu ra hỏi, ông bèn nói.

- Ta đến đây gặp Lý Nhiên muốn bàn chút chuyện.

Đợi một lúc người hầu mới ra mời Vũ Dực vào trong nhà, bên trong nhà Lý Nhiên đang thỏa sức rượu tiệc, ngắm mỹ nữ múa hát.

Lý Nhiên thấy Vũ Dực vào liền mời ông dùng rượu.

Rượu được vài tuần Vũ Dực liền đưa cho Lý Nhiên bức thư do chủ công của ông viết, rồi sai người mang rương vàng vào để trước mặt Lý Nhiên.

Lý Nhiên đọc xong thư liền cười nhếch miệng, ông nói.

- Ngươi nghĩ chỉ có một nấy vàng bạc là đủ để lấy đi lòng trung của ta sao?

Vũ Dực lựa lời đáp.

- Đây chỉ là một chút lễ nghĩa chủ công tôi tặng cho ông thôi.

Sau khi tiêu diệt được Dương Huy, chủ công tôi sẽ chia đất cho ông một vùng, tự mình cai quản.

Ông thấy sao?

Liệu ông theo Dương Huy thì có được những thứ ấy không?

Lý Nhiên trong bụng vẫn chưa thỏa mãn, ông vứt thư xuống đất, rồi nói.

- Ngươi nghĩ ta ngu sao!

Chỉ có nhiêu đây là chưa đủ, ít nhất phải thêm một nghìn lượng vàng nữa.

Vũ Dực cau mày, nhưng cũng đành chấp thuận.

Thấy có vẻ dễ Lý Nhiên lại mặt dày vòi vĩnh thêm.

- Ta nghĩ lại rồi, một nghìn cũng không đủ, ít nhất phải nghìn rưỡi.

Đạt tới giới hạn của mình, Vũ Dực liền từ chối.

- Như vậy thì không được, cùng lắm tôi chỉ cho ông được nghìn mốt.

Lý Nhiên làm bộ hờn dỗi, ông nói.

- Thế thì thôi vậy, ta chỉ cần mang tin này báo cho chủ công thì Nguyễn Lệnh Công nhà ngươi chết chắc.

Vũ Dực giận không chịu nổi, liền đập bàn đứng dậy chỉ tay vào mặt Lý Nhiên mắng.

- Ngươi là tên đê tiện!

Lý Nhiên làm mặt khiêu khích, Vũ Dực càng giận hơn.

Ông phất tay ra hiệu một tiếng, quân lính bên ngoài ùa vào bắt giữ hết người nhà, lẫn người hầu của Lý Nhiên.

Không đợi Lý Nhiên hành động, Vũ Dực liền rút kiếm chĩa thẳng vào mặt đối phương.

Lý Nhiên nhìn lưỡi kiếm trước mặt, ông ngồi tại chỗ run rẩy hoảng sợ.

Vũ Dực nói.

- Giờ tôi hỏi ông một câu, ông có đồng ý làm tay trong cho tôi không?

Lý Nhiên run rẩy nói.

- Được...

Được, tôi đồng ý, nhưng vàng tôi phải lấy ít nhất nghìn ba.

Vũ Dực bực mình, vung một nhát chém gãy đôi bàn tiệc của Lý Nhiên.

Lý Nhiên hoảng sợ hét lên.

- Nghìn mốt thì nghìn mốt!

Vũ Dực lúc này mới hài lòng thu kiếm lại.

Ông ghé sát tai Lý Nhiên nói thầm.

- Ông cứ yên tâm đi.

Theo tôi, tôi không bao giờ để ông thiệt đâu.

Dứt lời Vũ Dực liền ra lệnh cho quân lính bắt hết người nhà Lý Nhiên đem về Tiên Du.

Lý Nhiên thấy vậy mới mắng.

- Ta đồng ý theo ngươi rồi, cớ sao ngươi còn bắt người nhà của ta!

Vũ Dực trả lời.

- Để làm tin.

Nói xong liền rời đi, để lại Lý Nhiên ở nhà một mình cùng với một rương vàng.

Vũ Dực trở về bẩm báo lại với Lệnh Công.

Thấy các bước chuẩn bị đã thành công, Lệnh Công liền chọn ngày cất quân, viết một bức mật thư rồi cho người đem gửi tới Lý Nhiên.

Liễu Cương dẫn theo một nghìn quân mã, tranh thủ hành quân trong đêm tiến đến mặt sau thành của Dương Huy.

Vũ Dực nắm năm trăm quân mã, chực chờ tin Liễu Cương đến nơi, chuẩn bị xong mai phục là tiến quân đến thẳng thành Dương Huy khiêu khích.

Còn Lệnh Công giữ nghìn rưỡi binh lính còn lại, cùng với một nghìn lính cùng các tướng biên giới mai phục sẵn.

Chờ Vũ Dực dẫn quân Dương Huy chạy về là liền tấn công.

Mọi sự đã thành, hôm ấy Vũ Dực đem quân đến trước thành như kế hoạch.

Quân lính ra sức mắng chửi, lôi cả tổ tông, họ hàng Dương Huy ra mắng.

Dương Huy trong thành nghe lính báo thì giận lắm.

Lý Nhiên bên cạnh liền khuyên.

- Nay giặc đến trước nhà chửi mắng tổ tông chủ công như vậy ngài há chịu được ư?

Thần nghĩ bây giờ chủ công nên mang hết toàn bộ binh lính trong thành đuổi đánh sát phạt chúng luôn, để thị uy sức mạnh.

Dương Huy nghe xong cũng định cho quân ra đánh thì có một người liền can, người đó chính là Mẫn Đạt.

Mẫn Đạt nói.

- Thần nghĩ chủ công không nên mang hết quân ra, điều ấy rất nguy hiểm.

Ngài chỉ nên điều ra một nửa quân, và cho tướng cầm quân ra đánh.

Ngài không cần phải đích thân ra trận đâu.

Lý Nhiên nghe vậy, sợ kế hoạch bị phá vỡ liền nói đểu Mẫn Đạt.

- Ông nói vậy là ý làm sao.

Ý ông là chủ công không có khả năng cầm quân ư?

Hay ông lo cho địch bị quân ta giết hết hả?

Dứt lời Lý Nhiên nói với Dương Huy.

- Mẫn Đạt là tên hèn nhát, hắn sợ chủ công thua trận là không coi ngài ra gì.

Thần nghĩ ngài vẫn nên đem hết quân ra đánh, như vậy ta mới thể hiện được sức mạnh của ta.

Thị uy cho giặc cũng như cho toàn thiên hạ biết quân ta đông mạnh như thế nào.

Chủ công anh minh mong ngài suy xét.

Mẫn Đạt nghe Lý Nhiên nói vậy liền chỉ tay mắng.

- Sao ông dám nói vậy!

Ông khuyên dại chủ công là có ý làm phản đúng không?

Dương Huy nghe Mẫn Đạt nói thì bực lắm, ông đập bàn mắng rằng.

- Ngươi im đi, ta thấy Lý Nhiên hắn nói đúng đấy.

Ngươi khuyên ta không nên ra trận là ý ngươi chê ta không biết cầm quân chứ gì.

Ta phải thể hiện sức mạnh của mình cho giặc biết thì hắn mới thấy sợ ta.

Thiên hạ mới thấy quân ta mạnh mà dè chừng.

Chứ ở trong thành như ngươi nói thì khác gì ta là một tên đê hèn, một tên rùa rụt cổ.

Mẫn Đạt nghe vậy liền quỳ xuống khóc nói.

- Thần thực sự không có ý đó, mong chủ công minh xét!

Dương Huy không thèm nhìn lấy một cái, ông liền sai người đem Mẫn Đạt ra chém đầu.

Mẫn Đạt bị quân lính lôi ra ông ngẩng mặt lên trời mà than rằng.

- Tớ ngu, chủ hèn, ắt đại bại!

Đời sau có thơ khen Mẫn Đạt rằng.

"Mẫn Đạt anh minh, phò nhầm chúa

Khuyên can hết dạ chẳng thành công

Chủ mù chẳng thấu lời trung nghĩa

Sử trảm trung thần nhuộm huyết hồng''

Sử trảm Mẫn Đạt xong, Dương Huy liền mặc áo giáp, tự mình đích thân dẫn gần vạn rưỡi quân trong thành ra đánh với Vũ Dực, chỉ để lại số ít giữ thành.

Vũ Dực thấy quân Dương Huy ùa ra, liền thu quân tháo chạy.

Đợi quân Dương Huy đuổi được hơn năm mươi dặm, quân Liễu Cương từ đằng sau ùa vào cướp thành.

Quân trong thành ít quá địch không nổi, bị Liễu Cương giết sạch.

Vũ Dực chạy về đến khu vực biên giới, cung thủ hai bên tả hữu cùng với từ trên thành bắn xuống vào quân Dương Huy.

Biết trúng kế mai phục, Dương Huy liền cho quân tháo chạy trở về thành.

Dương Huy vừa cho quân lui thì Vũ Dực lại cho quân ùa ra đánh.

Hai tướng hộ vệ của Dương Huy là Trịnh Hùng và Tạ Uy tế ngựa nghênh địch.

Vũ Dực rút song kiếm ra múa một đường, chưa đầy một hiệp đầu hai tướng rơi cả.

Quân Dương Huy chạy về đến thành, cửa thành không chịu mở.

Dương Huy nhìn lên thấy Liễu Cương đang cầm mã tấu đứng trên thành.

Dương Huy than rằng.

- Lý Nhiên lừa ta rồi, khốn khiếp!

Vừa dứt lời thì cổng thành bỗng nhiên mở ra, Liễu Cương một thân một mình phi ngựa thách đánh.

Dương Huy thấy thế liền hỏi ba quân.

- Có ai dám ra đánh không?

Thì có mười tướng cùng lúc xung phong, lần lượt là: Nguyễn Vọng, Vũ Tín, Hà Lang, Dương Kiệt, Triệu Hùng, Vũ Khuông, Hà Nghiêm, Lý Vũ, Hoàng Thao, Cao Diên.

Cả mười người cầm binh khí, tế ngựa nghênh chiến với Liễu Cương.

Liễu Cương một mình đánh mười tướng được năm hiệp, thì bị các tướng bao vây lại.

Liễu Cương liền xoay ngựa, vung mã tấu chém một đường hình vòng cung.

Mười tướng gãy binh khí, máu phun ra từ cổ chết cả.

Ba quân Dương Huy thấy thế ai nấy cũng đều kinh sợ, mất hết tinh thần chiến đấu.

Cùng lúc đó từ đằng sau quân Lệnh Công và Vũ Dực đang ùa đến.

Dương Huy cho quân chạy đến Thanh Sơn, dựng thành cố thủ.

Thấy vậy Vũ Dực liền bàn với Lệnh Công.

- Nay quân địch thua chạy như vậy, tôi có kế này ta không cần đánh cũng thắng.

Lệnh Công mừng rỡ hỏi.

- Liệu Vũ tướng quân có kế gì?

Vũ Dực trả lời.

- Dương Huy vội vàng xuất quân, không đem theo lương thảo.

Thêm với trận thua vừa rồi, tinh thần quân sĩ đang loạn.

Ta chỉ cần đem những lời dụ dỗ, mang lương khao quân hàng, trọng thưởng cho ai có được đầu Dương Huy.

Quân của hắn chắc chắn sẽ phản.

Lệnh Công khen.

- Quả thực là diệu kế!

Sau đó ông liền cho quân kéo đến vây thành tại Thanh Sơn, sai người bắn tên mang theo thư gọi hàng vào thành.

Quân lính Dương Huy nhận được thư liền bạo loạn nội chiến với nhau.

Chỉ trong hai ngày đã có vô số người quy hàng, Dương Huy trong cơn bạo loạn bị phản quân giết chết.

Thủ cấp của ông cũng bị quân hàng đem ra trao cho Lệnh Công nhận thưởng.

Từ sau cái chết của Dương Huy, quân đóng tại các quận thành chung quanh trong vùng đều chủ động tìm đến xin hàng Lệnh Công cả.

Ông chỉ mất vài ngày đã thâu tóm được toàn bộ Vũ Ninh, quân hàng, tướng lĩnh thu phục nhiều vô kể.

Từ đó ông đổi niên hiệu thành Vũ Ninh Vương.

Hôm ấy quân lính đang ăn mừng, thì có người vào báo tin Lý Nhiên đến gặp.

Vũ Dực xung phong thay Ninh Vương ra tiếp, ông mời Lý Nhiên vào nhập tiệc.

Hôm sau tự mình đích thân, đưa quân hộ tống Lý Nhiên đến Tiên Du.

Vũ Dực thả hết người nhà Lý Nhiên ra rồi mang cả chục rương vàng ra tặng.

Lý Nhiên thấy vàng trong tay liền mờ hết cả mắt.

Ông cúi xuống mở rương ra vui thú đếm vàng.

Lý Nhiên đương đếm thì bỗng nhiên Vũ Dực rút kiếm ra chém phăng đầu Lý Nhiên, ông chưa kịp phản ứng thì đã lìa đầu chết ngay bên cạnh đống vàng.

Đầu lăn lông lốc dưới sân, rương vàng nhuốm máu đỏ.

Người nhà Lý Nhiên vừa được thả ra đã bị quân lính vây lại chém hết.

Kẻ tham lam như Lý Nhiên, vì phú quý mà phản chủ giờ đây lại chết tức tưởi bên cạnh đống phú quý ấy mà không nhận lại được gì.

Chưa biết các sứ quân khác diễn biến thế nào, xem hồi sau sẽ rõ.
 
Thập Nhị Sứ Quân Loạn
Hồi 8: Sứ quân Lã Tá Công đại chiến sứ quân Đỗ Cảnh Thông.


Sứ quân Đỗ Cảnh Thạc, hiệu là Đỗ Cảnh Thông.

Kể từ sau khi Nam Tấn Vương qua đời, thế lực của Cảnh Thông tại kinh đô ngày càng mạnh.

Ông cũng làm một trong những tướng quân tranh giành ngôi vương tại kinh đô.

Nhưng nhận thấy quân sĩ mình còn ít, đem đánh với ba người Xử Bình, Công Hãn, Nhật Khánh thì không khác gì tự mang đầu ra chém.

Bèn âm thầm cho quân rút khỏi kinh đô, lui về Đỗ Động Giang xưng bá.

Tướng Dương Cát lợi sau lần ấy cũng theo Cảnh Thông.

Hai người cùng đồng tâm, đồng lực với nhau như mãnh hổ mọc thêm cánh, càng ngày càng mạnh.

Cảnh Thông về chinh phục Đỗ Động Giang, các thành trì, các quân địa phương hễ ai không quy hàng đều bị ông cho quân đánh chiếm.

Cảnh Thông liên tiếp đạt thắng lợi, tính tình trở nên kiêu căng, ngạo mạn.

Không xem trời đất ra gì, sống xa hoa vô độ, cung tần mỹ nữ nhiều không đếm xuể.

Trong một lần đi săn, Cảnh Thông có đi qua vùng Tế Giang, nơi sứ quân Lã Đường, hiệu là Lã Tá Công đang chiếm giữ.

Cảnh Thông đi dọc bên bìa rừng, chợt thấy ở bên bờ suối có một người thiếu nữ.

Nhan sắc tuyệt đẹp, tóc đen dài óng mượt, làn da trắng muốt tựa sương mai.

Người thiếu nữ ngồi bên bờ suốt chải tóc, miệng ngân nga giai điệu nhạc trong trẻo.

Kẻ háo sắc như Cảnh Thông, không thể không mê hoặc.

Cảnh Thông hỏi các tướng.

- Các ngươi biết người thiếu nữ kia là ai không?

Có một tướng vốn quê ở Tế Giang, nhìn qua đã biết bèn trả lời Cảnh Thông.

- Mạt tướng vốn là người quê ở đây, thiếu nữ đang trải tóc ở kia là Ánh Mai.

Nếu phương Bắc nổi tiếng với Điêu Thuyền, chị em Đại Kiều, Tiểu Kiều.

Thì phương Nam ta có Ánh Mai được xem là đệ nhất mỹ nhân.

Cảnh Thông cười lớn khoái chí, ông vỗ vào vai tên tướng kia nói rằng.

- Tốt, tốt, khá khen cho ngươi.

Nói xong Cảnh Thông liền xuống ngựa, định tiến đến cưỡng hiếp Ánh Mai, thì bị Cát Lợi ngăn lại, ông nói.

- Nếu đây chính xác là Ánh Mai thì không còn nhầm gì nữa, chủ công không nên làm bậy với cô ấy đâu.

Cảnh Thông bực mình hỏi.

- Tại sao?

Cát Lợi đáp.

- Chủ công không biết ư?

Ánh Mai chính là con gái ruột của sứ quân Tá Công, chủ của vùng Tế Giang này đấy.

Nay mình đang trên đất họ mà làm bậy với con họ, đó không phải việc hay.

Cảnh Thông nghe xong giật mình, ông khen Cát Lợi, rồi cười.

- Đúng, đúng may có tướng khuyên ta, không là ta làm nên việc ngu ngốc rồi.

Ta đã có cách này, các tướng theo ta trở về Đỗ Động Giang.

Trở về trong phủ, Cảnh Thông liền viết một bức phong thư, sai người đem đến gửi Tá Công.

Tá Công nhận được thư, một mình trở vào phòng mở ra đọc, thư viết:

" Gửi sứ quân Lã Tá Công

Ta là sứ quân Đỗ Cảnh Thông, trong lần đi săn cùng các tướng, ta có gặp được thiếu nữ xinh đẹp tuyệt trần.

Hỏi ra thì mới biết người thiếu nữ ấy tên là Ánh Mai, quý tiểu thư của nhà ông.

Nay ta gửi thư cho ông là mong muốn hai bên kết tình nghĩa với nhau.

Ta muốn cưới Ánh Mai về làm thiếp trong nhà.

Ánh mai về với ta chẳng những duyên tình trọn vẹn mà đất Tế Giang của ông sẽ được Cảnh Thông ta bảo vệ.

Ông chỉ cần chấp thuận mối lương duyên này, quy hàng ta thì ta đảm bảo gia đình ông muôn đời vinh hiển.

Không phải lo lắng loạn thế bên ngoài.''

Đọc xong thư Tá Công giận lắm, ném thư xuống đất, miệng mắng rằng.

- Tên Cảnh Thông khốn khiếp.

Hắn đúng là coi ta không ra gì mà, hắn dám coi thường con gái ta, khinh nhờn Tế Giang ta.

Nhưng ông cũng nhận thấy rằng Cảnh Thông là một sứ quân mạnh, cũng không dễ đánh được.

Suy nghĩ một hồi, vẫn chưa quyết được nên đánh hay nên thuận theo thư của Cảnh Thông mà quy hàng.

Hôm sau, Tá Công liền cho họp các quan văn, mưu sĩ.

Ông cho người đọc thư cho các quan nghe, rồi liền hỏi chủ ý các quan rằng.

- Sứ quân Cảnh Thông vừa gửi thư cho ta, các ngươi xem nội dung thư rồi cho ta biết.

Ta nên tự mình đánh với hắn, hay thuận theo ý hắn quy hàng.

Các quan văn đều có ý muốn hàng.

Tá Công nghe xong liền cho các quan lui, ông vẫn chưa quyết định.

Một hôm khác, Tá Công lại cho họp các quan võ, tướng sĩ.

Ông lại cho người đọc thư, rồi hỏi câu y chang câu ông đã hỏi các quan văn.

Các quan võ lại có ý muốn đánh.

Tá Công nghe vậy cũng cho các quan lui.

Ông suy nghĩ liên tục trong một tuần trời vẫn chưa ban lệnh là đánh hay hàng.

Tướng dưới trướng Tá Công là Lý Cảnh Uy vô cùng nóng lòng muốn đánh.

Ông giải bày tâm tình với người quân sư mà ông thân thiết, người quân sư ấy tên là Đinh Uyên.

Đinh Uyên nghe xong liền nói.

- Tôi nghe tướng quân kể vậy, trong lòng đã nghĩ ra cách khiến cho chủ công bắt buộc phải đánh.

Cảnh Uy mừng rỡ hỏi.

- Xin cho hỏi quân sư đã có kế gì.

Đinh Uyên chỉ cười một tiếng, rồi vỗ vào vai Cảnh Uy nói.

- Tướng quân cứ yên tâm trở về, đợi vài ngày sau sẽ rõ kết quả.

Nghe Đinh Uyên nói vậy Cảnh Uy chỉ đành đem theo sự ngờ vực đi về.

Tối hôm đấy, Đinh Uyên cho người viết một mẩu thơ, chép ra làm trăm bản âm thầm ban đêm rải quanh Tế Giang.

Thơ viết như sau:

"Cảnh Thông oai dũng như hùm dữ

Tá Công hèn nhát tựa quy co

Trốn hùm!

Há quy sao chốn mãi!

Đại nghiệp tan thành khói bụi tro"

Sáng hôm sau, toàn dân trong thành ai nấy cũng đều bàn tán xôn xao về nội dung đoạn thơ.

Chuyện đến tai Tá Công, Tá Công biết được nổi giận vô cùng Ông ra lệnh cho ba quân truy tìm xem ai chính là thủ phạm viết ra những lời thơ ấy.

Nhưng tìm mãi không được, Tá Công đành nuốt giận cam chịu việc bị chế giễu.

Đinh Uyên đợi gần một tuần trời, không thấy chủ công cho họp các quan.

Đành tối hôm đó ông lại cho người viết tiếp một đoạn thơ, chép ra tiếp một trăm bản rồi lại âm thầm ban đêm đi rải.

Thơ viết rằng:

"Khuyển nô giữ cửa còn trung tín

Tá Công hèn nhơ lại hiến thành

Nữ nhi đem hiến cho tay giặc

Minh chủ còn thua cả súc sanh"

Thơ lần này không chế giễu nữa, mà mắng thẳng Tá Công.

Sáng hôm sau cũng y như rằng, toàn dân Tế Giang lại dịp nữa bàn tán.

Tá Công nghe được thơ, giận không chịu nổi liền lập tức cho triệu toàn bộ quan văn võ đến bàn.

Các quan yên vị đâu đấy cả, Tá Công liền mắng.

- Các ngươi nhìn xem, nay dân chúng nó giễu ta không được, nó mắng thẳng mặt ta không xem ta ra gì.

Xem như này ta có chịu nổi không!

Cảnh Uy ngồi đó liền lập tức đứng lên hỏi.

- Vậy chủ công tính sao?

Tá Công dứt khoát trả lời.

- Ta nghĩ thông rồi, Cảnh Thông không đánh không được.

Ba quân tướng sĩ mau lập tức chuẩn bị quân lính, một tuần sau theo ta đánh thẳng đến Đỗ Động Giang.

Các quan văn vốn chủ hàng, nhưng nay sự việc đã vậy cũng không dám khuyên nữa.

Mệnh lệnh được đưa ra, các tướng không ai dám chậm trễ, ba vạn quân Tế Giang đều đã chuẩn bị đông đủ, chỉ đợi ngày quyết chiến để xuất quân.

Cảnh Thông lúc này nhận được tin mật thám báo về.

Biết Tá Công đang chuẩn bị đem ba vạn quân tiến đánh Đỗ Động Giang.

Cảnh Thông không hề kinh sợ, ông cho hỏi các tướng.

- Nay Tá Công đem ba vạn quân đến đánh ta, trong quân có ai dám ra nghênh địch?

Thấy Cảnh Thông hỏi vậy, Cát Lợi liền xung phong.

Cảnh Thông mừng rỡ nói.

- Tốt! tướng muốn đem bao theo bao nhiêu quân lính.

Cát Lợi trả lời.

- Mạt tướng chỉ cần một vạn là đủ.

Đánh không thắng, không nguyên đầu trở về!

Cảnh Thông lập tức chấp thuận, lập quân pháp, cho Cát Lợi đem một vạn binh đến Động Giã đón địch.

Khi ba vạn quân đến nơi, thấy quân địch đã đợi sẵn, cũng có phần dè chừng, chưa đánh vào vội.

Cát Lợi thấy địch chưa tiến đánh, liền cho quân phao tin rằng đã vòng ra Đoài Đông âm thầm đánh hậu.

Quân do thám về báo với Tá Công, Tá Công liền vội cho quân đến đánh Đoài Đông, thì Đinh Uyên cản lại.

- Chủ công không nên cho quân đi vội, tôi e đây là kế của địch.

Tá Công vội hỏi.

- Sao quân sư cho rằng như vậy.

Đinh Uyên chỉ nói một câu.

- Nếu địch âm thầm đánh hậu như vậy, chắc chắn sẽ không dễ để thông tin lộ ra.

Tá Công nghe xong sực tỉnh, ông nói.

- May nhờ có quân sư cứu ta một phen, nhưng nếu không cho quân ra kiểm tra thì ta cũng không an tâm lắm.

Liệu quân sư có cách gì không?

Đinh Uyên trả lời.

- Ta nên cho một tướng lĩnh một nhóm quân đi kiểm tra, quân còn lại dựng doanh trại đối đầu với địch.

Tá Công cũng chấp thuận, ông cho Lý tướng quân đem một nghìn kỵ binh tức tốc đến Đoài Đông trinh sát.

Cát Lợi nghe quân báo Cảnh Uy đã rời thành, ông mừng lắm nói rằng.

- Tốt, ta chỉ cần như này là đủ, chỉ cần vậy thôi là có thể đẩy lùi quân địch rồi.

Nói xong ông lập tức, cho một ngàn quân cùng ùa đến đánh thẳng Tá Công.

Tá Công không có Cảnh Uy, các tướng khác trong quân ra đánh lần lượt bị Cát Lợi giết cả.

Tuy đông quân hơn nhưng chẳng mấy chốc quân Tá Công đánh thua, phải lui quân hơn năm mươi dặm.

Cát Lợi không ham đánh mà đuổi theo, chỉ đẩy lùi quân địch rồi lại cho quân trở về Động Giã dựng trai, chuẩn bị tác chiến trường kỳ.

Cảnh Uy vừa đến nơi, không thấy có quân lính nào liền trở về.

Trên đường về thì bắt gặp một lính truyền tin phe mình.

Cảnh Uy nhận được tin quân mình đánh thua, phải lui về một đoạn, ông giật mình cấp tốc phi ngựa về cho nhanh.

Đinh Uyên sau khi cùng ba quân đánh bại, ông đấm ngực mà than rằng.

- Ta tính được mưu kế của địch, nhưng không tính được uy lực của địch!

Tá Công không trách Đinh Uyên lại càng làm Đinh Uyên áy náy hơn nữa.

Hai bên sau trận đánh lớn hôm ấy, gần một tháng trời đánh giáp lá cà những trận nhỏ lẻ với nhau.

Đánh đến tròn một tháng, Cát Lợi lại tiếp tục cho quân lính phao tin tiến đến Đoài Đông.

Các tướng trong quân hỏi rằng.

- Mới tháng trước ngài vừa dùng kế này dụ địch, cớ sao nay lại tiếp tục dùng lại kế ấy?

Cát Lợi chỉ cười nói.

- Ta biết rằng Đinh Uyên là một người mưu trí, mà những kẻ mưu trí thường rất đa nghi.

Để thắng kẻ đa nghi thì ta chỉ cần dùng những gì thật đơn giản là được.

Nghe vậy các tướng đều vô cùng nể phục tài trí của Cát Lợi.

Đúng như ông dự đoán, thông tin Cát Lợi tiến đến Đoài Đông được truyền đến quân Tá Công.

Tá Công hỏi Đinh Uyên.

- Quân sư thấy sao về thông tin này?

Đinh Uyên trả lời.

- Tháng trước Cát Lợi đưa tin tiến quân đến Đoài Đông, lần này lại tiếp tục đưa tin đến Đoài Đông nữa.

Nếu tháng trước là hắn tung tin giả, tôi đoán lần này hắn nghĩ ta nghi lần này cũng là giả.

Thành ra lại tung tin thật nhằm hù dọa quân ta.

Tá Công nghe Đinh Uyên nói vậy cũng hợp lý.

Ông liền chia một nửa quân đến Đoài Đông đánh Cát Lợi.

Quân lính vừa đi, độ vài tiếng sau từ đằng xa quân Cát Lợi lại tiến tới.

Chỉ với một nửa quân còn lại, không tài nào thắng được Cát Lợi.

Nhưng cũng may lần này Cảnh Uy không rời đi, Cảnh Uy cố đánh mãi cũng giúp một lượng lớn quân lui về hơn ba mươi dặm so với doanh trại trước.

Cát Lợi thấy không diệt được quân Tá Công lại cho quân đóng trại cách đấy năm mươi dặm.

Đinh Uyên thấy lại một lần nữa mắc sai lầm, ông tự trách bản thân vô cùng.

Muốn chém đầu mình trước ba quân để tạ lỗi.

Tá Công thương sót mà an ủi rằng.

- Cũng may nhờ có quân sư, mới giúp ta bảo vệ được một nửa số quân kia.

Đinh Uyên cảm động, nước mắt tuôn ra không ngừng.

Ông quỳ lạy chủ công đến vài mươi lần rồi từ đó cáo bệnh, không muốn tham gia việc quân nữa.

Cát Lợi ở doanh trại, mời ba quân no say một bữa.

Hai bên quân lại tiếp tục đánh với nhau những trận nhỏ xuyên suốt một tháng.

Tròn một tháng sau Cát Lợi lại tiếp tục tung tin cho quân đi đến Đoài Đông.

Lần này Tá Công hay tin, không suy nghĩ gì nữa, lập tức cho toàn bộ binh lính đánh một trận tử chiến vào thẳng doanh trại Cát Lợi đã cho quân đóng trước đó.

Quân Tá Công đến nơi, thì thấy doanh trại trống trơn.

Tá Công hoảng sợ hô lên.

- Lần này địch ra Đoài Đông thật rồi!

Đinh Uyên lúc đó đang nằm nghỉ trong trại, tỉnh dậy thấy trại trống liền hốt hoảng, lập tức tế ngựa chạy đi tìm chủ công.

Đinh Uyên tế ngựa đi được một đoạn, thì từ phía đông quân Cát Lợi như ong vỡ tổ ùa ra.

Ba quân rải rơm, bắn tên lửa không biết bao nhiêu mà kể.

Chẳng mấy chốc doanh trại Tá Công chìm vào trong biển lửa.

Bao nhiêu lương thảo cất trong kho đều cháy sạch.

Đốt xong quân Cát Lợi liền chia năm, xẻ bảy chạy về bốn phương tám hướng.

Đinh Uyên đang chạy thấy đằng sau lửa bùng lên, lúc ông kịp nhận ra sự việc thì đã muộn.

Hối hận Đinh Uyên than trời một câu.

- Ta phận làm tôi, mà tiếp tay cho giặc giết chủ, thật đáng chết!

Nói xong liền rút kiếm chém cổ tự vẫn.

Tá Công cho quân chạy về, thấy toàn bộ doanh trại đã hóa thành tro bụi.

Ba quân rơi vào hỗn loạn, bỗng nhiên thấy từ khắp hướng quân Cát Lợi ùa ra.

Chưa biết Tá Công thành bại ra sao, hồi sau sẽ rõ.
 
Thập Nhị Sứ Quân Loạn
Hồi 9: Tá Công chiến bại, thiếu lương. Cảnh Uy anh dũng tử trận.


Quân Cát Lợi đột nhiên ùa ra từ tám hướng, binh lính Tá Công rơi vào hoảng sợ.

Ý chí chiến đấu dường như sụp đổ, ba quân tán loạn chạy về Tế Giang, dẫm đạp lên nhau người chết không xuể.

Cát Lợi cho quân ráo riết đuổi đánh, cho đến khi tiến gần Tế Giang mới cho quân ngừng đuổi rút về.

Tá Công trong loạn quân được Cảnh Uy che chắn cũng may mắn giữ được mạng.

Toàn quân trở về Tế Giang thiệt hại quá nửa, Tá Công giận mình lên cơn thổ huyết.

Các tướng vô cùng hoảng sợ, đưa trở về phủ dưỡng thương.

Cảnh Uy trông thấy tình hình thì vô cùng đau xót.

Ông nén chịu cơn đau, một mình một ngựa đi đến rừng tre rút kiếm luyện chém.

Kiếm đưa đến đâu vạn vật đổ rạp đến đó, cho đến khi ông tỉnh lại thì trời đã tối.

Cảnh Uy trở về nhà, vừa về đến thì người hầu đã chạy ra gửi cho ông một bức thư tin từ chỗ Tá Công gửi đến.

Ông mở thư ra đọc, toàn thân tê cứng ngã gục xuống đất.

Trong thư báo tin quân sư Đinh Uyên đã tử trận trong cuộc chiến.

Cảnh Uy khóc rống lên một lúc lâu, rồi ngẩng mặt lên trời đầy vẻ quyết tâm.

Ông quyết tâm một ngày nào đó sẽ đem quân báo thù cho huynh đệ của mình.

Lại nói về Cát Lợi, kể từ khi thắng trận trở về, ông được Cảnh Thông thưởng rất hậu, chiêu đãi yến tiệc suốt cả tuần trời.

Cảnh Thông mới nói.

- Chiến thắng của chúng ta lần này, hoàn toàn là nhờ công của tướng.

Tướng có mong muốn điều gì thì cứ nói, ta sẽ ban cho.

Cát Lợi từ tốn trả lời.

- Mạt tướng thì cũng không mong muốn hư danh hay của cải gì.

Chỉ muốn xin chủ công lấy một điều.

Cảnh Thông thấy lạ bèn hỏi.

- Tướng cần điều gì?

Cát Lợi trả lời.

- Toàn bộ của cải ban nãy chủ công tặng tôi, xin ngài có thể chia đều cho ba quân theo tôi ra trận.

Nếu không có họ trợ giúp, thì một mình tôi sao có thể đánh nổi ba vạn quân Tá Công.

Còn nữa, những gia đình có người hy sinh trong trận, tôi cũng muốn gửi họ chút ít làm quà an ủi đau thương.

Cảnh Thông nghe vậy vô cùng nể phục, ông khen.

- Tướng quân quả thực là bậc đại nhân nghĩa.

Nói về Cảnh Uy kể từ sau đêm hôm ấy, ông liền đến phủ Tá Công xin lãnh binh phục thù.

Tá Công khuyên mấy Cảnh Uy cũng không nghe.

Cũng đành cho Cảnh Uy một vạn quân, nửa tháng sau sẽ đánh.

Nửa tháng ngắn ngủi nhanh chóng trôi qua, Cảnh Uy mang đầy căm hận, xuất quân một mạch đánh thẳng đến Động Giã.

Cát Lợi kể từ sau bữa yến tiệc, ông xin Cảnh Thông cho đóng quân ở Động Giã đề phòng quân địch lần nữa tiến tới.

Cảnh Uy đến Động Giã thách đánh, Cát Lợi đóng quân ở đấy cũng đồng ý ra nghênh chiến.

Cảnh Uy một thân một mình cầm kiếm, cưỡi ngựa chờ sẵn.

Ba quân của ông đứng cách đó hai trăm thước, trống kèn không ngừng.

Một lúc sau Cát Lợi từ trong thành, cầm một thanh đao lưỡi dài, tế ngựa chạy ra.

Hai tướng giao chiến với nhau không ngừng, Cát Lợi vung đao đến đâu, khói bụi đều bay lên đến đấy.

Cảnh Uy cũng không kém cạnh, mỗi lần ông vung kiếm chém, là tiếng gió phát ra như bị xẻ đôi.

Đánh với nhau được một trăm hiệp không phân thắng bại.

Hai tướng đánh tiếp đến trăm rưỡi, hai trăm, hai trăm rưỡi, cho đến hiệp thứ 300 thì ngựa hai bên đã mỏi, gục hết xuống đất.

Cả hai bỏ ngựa, xuống giao chiến đường bộ với nhau, cho đến khi mặt trời dần lặn thì mới chịu thu quân trở về.

Cảnh Uy đóng quân cách Cát Lợi chừng hai mươi dặm.

Cả hai giằng co xuyên suốt hai tháng trời không phân thắng bại.

Trong lúc Cát Lợi đang đau đầu không biết dùng cách gì để đánh bại Cảnh Uy.

Thì đột nhiên quân lính vào báo tin, lương thực tiếp tế đã được giao tới.

Nghe vậy trong đầu Cát Lợi liền nghĩ ra một kế, ông lập tức viết một bức phong thư cho người gửi về chủ công Cảnh Thông.

Cảnh Thông đọc được thư, hiểu ra kế của Cát Lợi, ông liền cho năm trăm quân sĩ.

Cải trang là dân làng tỵ nạn, di cư đến Tế Giang.

Quân giả danh, đi qua đến doanh trại của Cảnh Uy thì bị giữ lại tra hỏi.

Hỏi ra Cảnh Uy mới biết, Cảnh Thông làm sứ quân, đòi sưu cao, thuế nặng, bóc lột dân thường quá đáng.

Là bậc quân tử, Cảnh Uy cũng không nỡ tay tống giam, hay giết chết dân tỵ nạn.

Ông liền cho người mở cổng để dân đi qua.

Đoàn quân giả danh đi được khoảng trăm dặm, thì thấy từ đằng xa có quân tiếp lương từ Tế Giang tiến đến.

Lúc này toàn quân dỡ bỏ lớp ngụy trang, cất giấu trong đống hành trang chính là vũ khí chiến trận.

Quân tiếp lương vừa đi đến, thì liền bị mai phục đánh bại.

Toàn bộ lương thực rơi vào tay quân giả danh của Cảnh Thông.

Cảnh Uy tiếp tục đối phó với Cát Lợi thêm nửa tháng, không thấy lương thực tiếp tế được giao đến.

Trong kho lương của doanh trại giờ đây cũng đã dần cạn.

Đánh tiếp thêm nửa tháng nửa thì kho lương Cảnh Uy hết sạch, tinh thần binh sĩ sa sút, càng đánh càng bại.

Cảnh Uy đành phải cho quân rút lui trong sự bất mãn tột cùng.

Cát Lợi thấy quân Cảnh Uy đang âm thầm rút, liền lập tức cho quân ùa đến đánh.

Cảnh Uy phải liều chết chống đỡ mãi mới cho quân thoát khỏi sự truy sát của Cát Lợi.

Rút được thêm một đoạn, thì bỗng dưng hai bên tả hữu ùa ra một tốp quân lính.

Cảnh Uy trông nhìn thì đã liền nhận ra đó chính là tốp người tỵ nạn mà tháng trước ông cho đi qua thành.

Cảnh Uy đánh mãi thì tốp quân cũng bị tiêu diệt hết.

Ông đi thêm một đoạn nữa thì bỗng thấy dưới đất la liệt xác quân chết.

Ông cho lính kiểm tra thì mới biết đó là xác của quân vận chuyển lương thực.

Cảnh Uy lúc này mới hiểu rõ sự việc, tay ông nắm chặt đến chảy cả máu, ông ngẩng mặt lên trời mà than rằng.

- Nếu Đinh Uyên còn đây, há gì ta đã lâm vào cảnh này!

Nói xong, ba quân tiếp tục rút lui thêm vài ngày rồi cũng trở về được Tế Giang.

Một vạn quân xuất chiến, giờ đây chỉ còn vỏn vẹn ba trăm tàn quân trở về.

Cát Lợi lại một lần nữa lập công chiến thắng đạo quân Tế Giang.

Tá Công nhận được tin Cảnh Uy thua trận trở về, thì vô cùng thương xót và tự trách bản thân.

Ông cho họp các quan hỏi ý kiến.

- Quân ta đã hai lần giao tranh với quân Cảnh Thông, thì hai lần đều bại thảm hại dưới tay Cát Lợi.

Các thần cho ta ý kiến chúng ta nên làm gì, tiếp tục đánh hay hàng?

Lần này các quan văn, quan võ đều đồng thanh một ý là quyết đánh.

Một mưu sĩ trong đám quan văn đứng ra nói, tên ông là Thái Nghiêu.

- Những lần trước ta thua là do không có được sự đồng lòng của các quân thần.

Nay ta đã thua đến hai lần, há có thể chịu được ư.

Ta không những bại đã đành, thậm chí lại còn bại bởi một người.

Đây là một nỗi nhục lớn đối với toàn bộ dân Tế Giang.

Các quan còn lại cũng nhất trí một lời.

- Có thù tất phải trả!

Tá Công nghe lời, huy động quân sĩ đến nửa năm.

Tập hợp được hơn mười vạn quân, toàn bộ các tướng trong vùng cũng đều ra trận.

Tế Giang bây giờ gần như toàn quân xuất chiến, chỉ để lại một chút ít làm hư danh giữ thành.

Một tuần sau, quân lính chuẩn bị đầy đủ đâu vào đó.

Tá Công lập một bàn thờ giữa ba quân, ông cắt máu nhỏ xuống ba chén rượu.

Một chén cho ông, ông cho mời Cảnh Uy một chén, kể từ trận thua kỳ đó.

Trong quân họp bàn, bầu Cảnh Uy lên làm đại đô đốc, thống lĩnh ba quân.

Cả hai đứng cạnh nhau, nâng chén cầu nguyện, rồi uống cạn.

Còn một chén còn lại Tá Công rải xuống đất, tưởng nhớ quân sư Đinh Uyên.

Làm lễ một lúc xong, mười vạn quân liền đồng thời xuất phát.

Một tuần sau khi xuất quân, Cát Lợi giữ ở Động Giã chống không nổi liền cho quân tháo chạy về báo với Cảnh Thông.

Cát Lợi vừa về, thì đã thấy Cảnh Thông dẫn hơn bảy vạn rưỡi binh chờ sẵn ở đó.

Cảnh Thông nói.

- Ta đã biết tin Tá Công dẫn đại quân xuất chiến từ lâu, nay quân sĩ đã chuẩn bị đầy đủ.

Chỉ chờ tướng quân trở về để đánh.

Cát Lợi xúc động, Cảnh Thông ra lệnh cho toàn quân dàn trận, một vạn quân kỵ bên hữu, cờ đỏ và một vạn bên tả, cờ xanh do hai tướng lần lượt là Công Uy và Chu Khang nắm binh.

Cảnh Thông cho hai bên quân kỵ di chuyển sang hai bên, cách trung quân khoảng ba mươi dặm, nhằm che giấu quân địch.

Ông cho một vạn quân khiên và giáo đứng tiên phong, có tướng Cát Lợi nắm giữ mang cờ hiệu Cảnh Thông.

Một vạn quân bộ đứng giữ hậu cho Hoàng Thao cầm quân cầm cờ lục.

Hai bên tả hữu chia ra mỗi bên gần một vạn rưỡi quân bộ, có Cao Hung, Lý Tín điều quân, đều mang cờ vàng.

Bốn đạo quân đứng sát nhau thành một hình khối, chừa lại một khoảng ở chính giữa là gần năm nghìn cung thủ do chính tay Cảnh Thông cầm quân, không cầm cờ, chỉ mang trống đánh hiệu.

Toàn quân dàn trận đâu đấy, từ từ tiến vào đại quân của Tá Công.

Bên này quân tá công cũng bày một thế trận, với toàn bộ quân bộ dàn ra một hàng ngang dài che kín đường chân trời, mang cờ hiệu của ông.

Đằng sau là những tốp cung thủ đi theo bắn yểm trợ quân bộ hàng đầu.

Thấy quân Cảnh Thông từ đằng xa tiến tới, Tá Công cho quân đánh ùa cả lên.

Quân Tá Công khi tiến gần đến quân địch, đại quân hàng ngang giờ đây đang co hẹp lại thành hình móng ngựa.

Quân Cảnh Thông bị bao vây hoàn toàn.

Quân bộ, quân kiên hai bên tả hữu và mặt trước ra sức chống đỡ quân.

Quân cung ở giữa bắn tên lia lịa vào đại quân bên địch.

Quân lính giữ hậu thì vẫn án binh bất động.

Chỉ thi thoảng có một vài quân địch đánh tới thì mới chống đỡ.

Cung thủ quân Tá Công cũng không kém cạnh.

Trên trời tên bay như mưa, quân lính Tá Công ra sức phòng thủ bị trúng tên chết như ngả dạ.

Tưởng chừng như khối quân của Cảnh Thông đang dần bị đại quân khổng lồ của Tá Quân nuối chửng.

Thì từ hai bên đằng sau vọt ra hai đại quân kỵ binh, Tá Công lại không cho bày quân lính giữ hậu.

Bị kỵ binh quân địch bất ngờ tấn công từ đằng sau.

Tá Công không kịp cho quân chống đỡ, cung thủ đằng sau yểm trợ không chống nổi quân kỵ liền bị đánh tan tành.

Tá Công đang từ thế thượng phong rơi thẳng xuống thế đại bại.

Ba quân hỗn loạn chết trong mưa tên, vó ngựa.

Tá Công cho quân rút lui lên một ngọn núi gần đó, cho quân ở tạm trong hang, phòng thủ.

Trong lúc rút lui, quân lính hỗn loạn, lương thực bị quân Cảnh Thông đánh phá gần hết.

Cảnh Uy và các quân dưới trước bị lạc mất đại quân.

Phải rút ra đến một con sông gần đó, cố gắng vượt sông dựng trại tác chiến.

Lại nói về Tá Công lúc cho quân rút lên núi, ngày qua ngày không thấy Cảnh Thông tiến đánh, lương thực dần vơi cạn.

Quân lính đói không chịu nổi nữa, liền đánh liều xuống núi.

Quân vừa đến chân núi thì bỗng nhiên gặp đại quân Cảnh Thông đang bao vây kín mít tại đấy.

Ba quân hoảng sợ, lại tháo chạy trở về hang núi.

Quân Cảnh Thông bao vây trên núi đến gần nửa tháng, mới cho quân lao lên đánh dẹp.

Ngay lúc đại quân chuẩn bị đánh lên núi, thì từ đằng xa Cảnh Uy đang dẫn theo một nhóm quân, đánh liều lên trên núi.

Lại nói về Cảnh Uy, lúc ông đang đóng trại ở bên bờ sông.

Chờ mãi không thấy địch có động tĩnh gì, liền cho người đi do thám tình hình chiến sự.

Thì mới hay tin chủ công đang bị quân địch bao vây trên núi.

Thế nên ông liền cho quân nhổ trại, lập tức tiến đến núi mở đường máu giải cứu chủ công.

Quay trở lại thế trận, Cảnh Thông lúc này thấy Cảnh Uy đánh đến, liền cho Cát Lợi cầm một nhóm binh đối đầu Cảnh Uy.

Cảnh Thông tiếp tục cho đại quân đánh thẳng lên trên núi.

Cảnh Uy giao chiến với Cát Lợi, đánh mãi không tài nào vượt qua được.

Liền cho quân giả vờ rút, lợi dụng lúc địch đuổi mà bất ngờ phản công.

Nhưng Cảnh Uy không ngờ rằng là, khi ông cho quân rút, Cát Lợi lại không thèm đuổi đánh.

Cảnh Uy cáu quá lại cho quân quay đầu đánh tiếp.

Cát Lợi lúc này thấy Cảnh Uy quay lại thì liền cho quân dương cung bắn thẳng vào.

Quân Cảnh Uy trúng tên lần lượt ngã xuống, ngay cả Cảnh Uy cũng bị tên bắn trúng.

Nhưng ông bất chấp thương tích trên người, tế ngựa hô lên một tiếng cổ vũ ba quân.

Rồi vượt mưa tên liều đánh, thấy Cảnh Uy liều mình như vậy, Cát Lợi càng cho quân bắn mạnh hơn nữa.

Quân lính bắn liên tục vài lượt tên, Cảnh Uy vẫn vượt tên đánh tới.

Phải đến khi Cát Lợi đích thân cầm cung bắn lấy một mũi tên cắm xuyên qua đầu Cảnh Uy thì ông mới chịu ngã xuống.

Cảnh Uy hy sinh giữa chiến trận, lúc này bên cạnh ông các binh lính đều đã chết cả dưới mưa tên rồi.

Chỉ có ông là người cuối cùng ngã xuống, ông hy sinh oanh liệt với cây kiếm vẫn nắm chặt trên tay.

Trải dài trên khắp cơ thể người tráng sĩ có tất thảy năm mươi bảy mũi tên cắm chặt.

Đời sau có thơ khen Cảnh Uy rằng:

"Cảnh Uy quyết tử hộ chủ công

Thân vong xuyên tiễn, chí vô song

Trung nghĩa khinh thân, tròn đạo tướng

Ngũ thập thất tiễn huyết nhuộm hồng''

Dịch:

"Cảnh Uy liều chết vào cứu chủ

Thân tàn mưa tên, dạ không dời

Vĩ nghĩa quên mình, vẹn mệnh tướng

Năm bảy tên xuyên, máu đỏ rơi"

Lại nói về Cảnh Thông, đương dẫn quân lên thì thấy rất lạ.

Quân ông đã tiến vào rất sâu trong núi mà không hề thấy bên trong có một chút động tĩnh gì.

Ông ngờ vực cho quân tiến vào sâu hơn, vẫn không thấy động tĩnh, tiến vào sâu hơn nữa thì bất chợt thấy rằng.

Chưa biết Cảnh Thông thấy được điều gì, hồi sau sẽ rõ.
 
Thập Nhị Sứ Quân Loạn
Hồi 10: Lã Tá Công tử trận, Kiều Công Hãn thủy chiến Nguyễn Khoan.


Sau khi Cảnh Thông cho quân tiến lên núi, quân dừng ngay ở cửa hang.

Trước mặt ông là cả một khung cảnh mà ngay cả người dũng mãnh nhất thiên hạ cũng phải cảm thấy ghê rợn.

Đa số những binh lính của Tá Công đều đang gục người xuống đầy vẻ xác xơ, rệu rã, trông không còn hồn người.

Có cả người đói quá đến độ bỏ đi hết nhân tính mà gặm lấy những miếng thịt sống của xác đồng đội.

Còn có những người vì đói không chịu được nên đã cắt cổ tự vẫn từ khi nào không rõ.

Cả một vùng hang rộng lớn tỏa ra những mùi hương hôi thối, tanh tưởi của chất thải đan xen với mùi tử thi phân hủy.

Cảnh Thông cố nhịn thở đi sâu vào trong hang.

Ông chợt thấy thi thể của Tá Công nằm một góc tường đá.

Cảnh Thông lại kiểm tra thì phát hiện, cái xác đã trở nên biến dạng, giòi bọ lúc nhúc ăn sâu vào da thịt.

Cảm thấy kinh hãi, Cảnh Thông liền cùng quân lui ra khỏi hang, cho lính giết hết những con người đang vất vưởng bên trong.

Rồi xếp tất cả thi thể lại thành một đống, cho lửa thiêu sạch.

Hơn bảy vạn quân của Tá Công xuất quân đánh Đỗ Động Giang, thì đã gần bảy vạn nằm mãi nơi đây.

Chỉ có một số ít trong lúc loạn chiến chạy thoát được, thành công trở về Tế Giang.

Kể từ khi Tá Công hy sinh trong chiến trận, Tế Giang xảy ra một cuộc nội loạn.

Các hào trưởng địa phương lần lượt nổi dậy, tranh nhau thâu tóm, ôm mộng xưng bá.

Cảnh Thông từ sau cuộc đại chiến cũng muốn chiếm lấy luôn Tế Giang.

Nhưng bên ấy chiến sự hỗn loạn không sao xen vào được.

Cộng thêm với sứ quân Nguyễn Siêu, hiệu Nguyễn Hữu Công ở vùng Tây Phù Liệt, là một nơi trọng yếu nằm giữa hai vùng Đỗ Động Giang và Tế Giang.

Cũng đang có ý định xâm phạm bờ cõi của Cảnh Thông, nên ông đành phải từ bỏ Tế Giang để giữ vững cơ nghiệp của mình.

Lại nói về lúc Cảnh Thông đương cho người thiêu xác quân địch.

Thì Cát Lợi liền đi đến lạy van xin chủ công cho phép được giữ thi thể Cảnh Uy để làm tang lễ.

Cảnh Thông tuy không hài lòng, nhưng thấy Cát Lợi thực bụng tha thiết.

Xét rằng ông cũng là tướng có công lớn trong trận nên cũng đành chấp thuận.

Cát Lợi đem thi thể Cảnh Uy trở về nhà, ông lau sạch thân thể Cảnh Uy, mặc áo quần chỉnh tề cho tướng.

Rồi mới đặt vào trong quan tài đường hoàng.

Cát Lợi lập bàn cúng bái, mặc áo tang, hai bên kèn trống sẵn sàng, thắp hương xong xuôi.

Ông liền gục xuống bên quan tài Cảnh Uy, nước mắt lã chã, Cát Lợi vừa khóc vừa nói.

- Thương thay, thương thay, Lý tướng quân là một người trung nghĩa, võ nghệ cao cường.

Thực tình mà nói, tôi không nỡ lòng hạ sát ông.

Nhưng chiến trận vô tình, ông ra đi lòng tôi đau như cắt.

Đôi lời gửi đến ông ở dưới cửu tuyền, mạt tướng tôi đây không thể làm gì khác ngoài việc làm trọng tang cho ông.

Quả thực trong thời loạn thế, Lý tướng quân là một vị anh hùng.

Chỉ tiếc thiên nhãn không tinh, bạc mệnh với người hiền.

Ông là anh hùng đất Tế Giang, có mất thì cũng phải an táng tại Tế Giang.

Nói đến đây, Cát Lợi càng khóc lớn hơn, ông gục mặt xuống quan tài Cảnh Uy, rồi ngẩng mặt lên trời than rằng.

- Nếu chúng ta không thờ khác chủ, chắc có lẽ tôi với ông đã là huynh đệ rồi!

Cát Lợi dứt lời, kèn trống liền vang lên, ông khóc đến mấy hồi mới thôi.

Cho đến khi trời tối, Cát Lợi cho người âm thầm trong đêm mang quan tài Cảnh Uy về Tế Giang chôn cất.

****************************

Ở bên phía Đông Bắc, có bốn sứ quân nổi dậy, bao gồm: Kiều Thuận, hiệu Kiều Lệnh Công ở đất Hồi Hồ; Kiều Công Hãn, hiệu Kiều Tam Chế ở đất Phong Châu; Ngô Nhật Khánh, hiệu Ngô Lãm Công ở đất Đường Lâm; Nguyễn Khoan, hiệu Nguyễn Thái Bình ở đất Tam Đái.

Sứ quân Tam Chế nhận thấy lúc này Lãm Công bận chiến sự tại kinh đô Cổ Loa.

Liền có ý định cho quân đến đánh Đường Lâm, lúc chuẩn bị xuất quân thì ông được một quân sư ngăn lại.

Người quân sư ấy tên Bùi Khang, quân sư khuyên rằng.

- Mặc dù Lãm Công, đương không ở Đường Lâm.

Nhưng thần nghĩ rằng bây giờ đánh Đường Lâm cũng không nên.

Lãm Công là một sứ quân mạnh, nếu ta nhân lúc họ vắng nhà mà đánh chiếm thì.

Thứ nhất thần e rằng đó là việc không phải của quân tử.

Thứ hai nếu ta làm vậy sẽ gây lên một mối thù hằn giữa hai sứ quân.

Nếu ta buộc phải chiến với Lãm Công thì thắng bại thần chưa rõ nhưng thần chắc một điều rằng ta thiệt hại sẽ không nhỏ.

Theo ý thần, trong bốn sứ quân xung quanh đây, Thái Bình ở Tam Đái là sứ quân yếu nhất.

Ta nên đánh trước để bành trướng thế lực.

Sau đó hẵng tính việc đánh Lãm Công và Lệnh Công.

Tam Chế nghe vậy cũng thấy có lý, ông liền cho họp ba quân việc đánh chiếm Tam Đái.

Độ hai tháng sau, quân Tam Chế có hơn một nghìn thuyền chiến, năm trăm thuyền nhẹ, hai nghìn chiến thuyền hạng nặng.

Tổng quân lực có hơn hai vạn binh, hai trăm tướng lĩnh, quân, thuyền nghìn nghịt giữa dòng sông Lô.

Thông tin Tam Chế chuẩn bị quân lực để đánh Tam Đái cũng đến tai sứ quân Thái Bình, ông liền cho tập hợp quân lính, lập doanh trại, mai phục cố thủ.

Bên Thái Bình cũng có gần một nghìn thuyền chiến, hơn nghìn chiến thuyền hạng nặng lẫn thuyền chiến bình thường, ba trăm thuyền nhẹ.

Binh sĩ cũng ít hơn Tam Chế lấy nửa vạn.

Trong lúc Thái Bình đương đau đầu không biết làm sao để lấy ít chống nhiều, thì có một tướng đi vào hiến kế.

Tướng ấy tên là Chu Sang, ông nói.

- Kỳ trước Tiền Ngô Vương đã dùng kế đóng cọc, đại thắng quân Nam Hán, lập nên nhà Ngô.

Tôi nhận thấy ta ở hạ lưu, địch ở thượng lưu đánh xuống.

Ta nên dùng lại kế đóng cọc của Ngô Vương, nếu kế thành công ta ắt thắng.

Thái Bình thấy kế hay liền khen Chu Sang, nhưng nghĩ một lúc liền thấy có điểm chưa ổn, ông liền hỏi.

- Ngô Quyền thắng Nam Hán là nhờ thủy triều rút, ta ở hạ lưu nước từ trên thượng đổ xuống thì thủy triều sao hạ?

Chu Sang liền đáp.

- Mạt tướng đã nghĩ đến trường hợp đó, nên có ý rằng.

Ta nên cho người đào mấy con kênh dọc bờ sông.

Kênh dẫn vào trong đất liền, cuối kênh ta đào thêm một cái hồ thật sâu.

Khi địch dẫn quân kéo vào, ta liền cho người chờ sẵn ở đó, mở hết kênh ra.

Khi kênh mở ra nước sông sẽ lần lượt chảy vào dọc theo kênh rồi vào trong lòng hồ.

Như vậy ta có thể làm cho mực nước hạ xuống, thêm với nước sông chảy vào hồ ta có thể dùng làm nguồn nước dự trữ luôn.

Thái Bình nghe xong cả mừng, ông liền khen.

- Quả thực là diệu kế, diệu kế.

Nói xong ông liền ra lệnh cho binh lính ngày đêm đào kênh đào hồ.

Một tháng sau, quân Tam Chế bắt đầu xuất binh.

Một nghìn thuyền chiến đi tiên phong bị chặn lại bởi thuyền chiến Thái Bình.

Hai bên đánh với nhau được nửa ngày, Thái Bình liền cho quân rút.

Ba tướng tiên phong của Tam Chế lần lượt là Trần Dực, Nguyễn Uy, Đinh Bằng cho toàn quân đuổi theo.

Quân Tam Chế đi được một đoạn thì xung quanh dọc bờ sông Lô, mở ra mấy con kênh.

Nước sông bất chợt rút xuống, đại quân tiên phong không nghi kỵ gì vẫn ra sức đuổi.

Đương đuổi thì có chiếc thuyền nhẹ lùa theo.

Trên thuyền chỉ có một mình quân sư Bùi Khang, đuổi mãi Bùi Khang cũng theo kịp quân tiên phong.

Ông được Trần Dực đưa lên thuyền, lên đến nơi Bùi Khang liền nói.

- Tướng quân mau lập tức cho quân quay thuyền rút về đi.

Trần Dực khó hiểu liền hỏi nguyên do, thì Bùi Khang nói.

- Nước sông bất chợt hạ nhanh, tôi nghi quân địch có bẫy.

Nếu ta không rút về ắt mắc mưu địch mà bại.

Nghe vậy các tướng liền giật mình, cho quân rút về.

Thấy quân địch đột nhiên quay thuyền bỏ chạy.

Một tướng của Thái Bình, tên là Tạ Thành liền dẫn năm trăm quân, đi thuyền nhẹ đuổi theo.

Thuyền nhẹ đuổi nhanh, liền theo kịp được một chiến thuyền của quân Tam Chế.

Tạ Thành cho toàn bộ quân cùng leo lên đánh giết, quân địch bất ngờ không kịp phòng bị.

Chẳng mấy chốc một chiếc thuyền của quân tiên phong Tam Chế đã bị Tạ Thành cướp mất.

Tạ Thành cướp được thuyền, liền cho ba quân dương cung bắn vào các thuyền khác của địch.

Đinh Bằng thấy vậy liền cho quân bắn đáp trả lại, Nguyễn Uy từ bên tả điều thuyền ra áp sát.

Nguyễn Uy cho quân bắc ván, ùa vào giành lại thuyền.

Ba quân loạn chiến, Nguyễn Uy đánh với Tạ Thành được mười hiệp thì Tạ Thành bị gãy binh khí.

Nguyễn Uy liền lập tức khống chế, bắt sống được Tạ Thành, năm trăm quân Tạ Thành mang theo đều bị giết sạch.

Tạ Thành thấy quân mình bại, liền cố sức vùng vẫy thoát khỏi tay Nguyễn Uy.

Thoát được, ông liền chạy ra bên mạn thuyền, gieo mình xuống sông Lô tự vẫn.

Toàn quân Tam Chế rút được một lúc thì mới trông lại, từ đằng xa Trần Dực trông thấy có vô số cọc nhọn nhô lên trên mặt nước.

Ông cả sợ nói rằng.

- May mà nãy có Bùi Khang khuyên ta, nếu không toàn quân ta đã đại bại tại đây rồi.

Nói xong Trần Dực tiếp tục cho quân rút về, hội ngộ lại với đại quân.

Kể từ lúc ấy, xuyên suốt nửa năm trời, quân Tam Chế liên tục sang đánh Thái Bình.

Nhưng quân Thái Bình cố thủ quyết liệt quá, quân Tam Chế không tài nào thắng nổi.

Tam Chế thấy nhiều lần cất quân sang không lần nào hạ được địch, tính tình dần trở nên cáu gắt, mắng chửi quân lính, tướng tá vô độ.

Làm cho tinh thần ba quân trở nên căng thẳng, nhuệ khí suy giảm.

Có lần tướng Nguyễn Uy điều quân đánh Thái Bình bị địch mai phục, thiệt hại hơn năm trăm binh lính và một chiếc chiến thuyền.

Nguyễn Uy thua trận trở về báo với Tam Chế, thì bị ông mắng chửi thậm tệ, cho người đem chém.

Nhờ các tướng ra sức can mãi mới thôi, nhưng Nguyễn Uy vẫn bị phạt chịu một trăm đòn.

Nguyễn Uy chịu đòn xong cảm thấy vô cùng uất ức, ngay trong đêm hôm ấy.

Ông tự mình chèo thuyền sang gặp Thái Bình với ý định giả vờ quy hàng, làm nội ứng cho Tam Chế, lấy công chuộc tội.

Nguyễn Uy sang đến nơi, thấy quân sĩ bên đấy tập trận rất quy củ.

Binh lính được ăn no, ngủ kỹ tinh thần phấn chấn, đầy quyết tâm đánh giặc.

Nguyễn Uy quỳ lạy ở trước cổng thành, chờ quân lính vào báo cáo Thái Bình.

Thái Bình hay tin Nguyễn Uy đến hàng, liền chuẩn bị ra nghênh đón thì có tướng ngăn lại.

Tướng đó tên là Phạm Tân, tướng nói rằng.

- Quân Tam Chế liên tiếp đánh ta mà không hạ được.

Nay tướng của hắn xin hàng, hẳn là có ý đồ bất chính.

Thái Bình nói.

- Tướng chưa biết gì à, Nguyễn Uy thua ta về bị Tam Chế phạt đánh một trăm roi đấy.

Phạm Tân nghe xong càng hoảng sợ, ông nói.

- Thế chủ công chưa nghe đến kế sách của Chu Du (1) lúc đánh với Tào Tháo (2) trong trận Xích Bích (3) ở phương bắc ư?

Thái Bình thấy tướng nói vậy thì phì cười.

- Ta hiểu ý tướng, tướng không cần lo ta đã có cách thu phục Nguyễn Uy.

Nói xong ông liền tự thân ra nghênh đón Nguyễn Uy.

Thái Bình tiếp đón Nguyễn Uy rất chu đáo, mời Nguyễn Uy ăn tiệc thịnh soạn, mời rượu ngon, kể chuyện thân tình.

Ăn uống xong, Thái Bình mời tiếp Nguyễn Uy ra xem quân tập trận.

Ông muốn khoe sức mạnh quân sự bên mình cho Nguyễn Uy biết mà dè chừng.

Vui cuộc xong, Nguyễn Uy liền ngỏ lời mong muốn được hàng với Thái Bình, nhưng bị Thái Bình ân cần từ chối.

Nguyễn Uy van xin mấy lượt nhưng Thái Bình đều biện đủ lý do.

Xin hàng mãi không được Nguyễn Uy cũng đành thôi, Thái Bình cung kính tiễn Nguyễn Uy trở về với Tam Chế.

Trước khi Nguyễn Uy rời đi, Thái Bình có tiễn một lời.

- Tướng quân lần sau có muốn ghé chơi thì cứ tự nhiên.

Ngoài trận chúng ta là địch thủ, nhưng trong lòng tôi tướng quân đã là huynh đệ rồi!

Nghe Thái Bình nói vậy, trong lòng Nguyễn Uy giờ đây đã giao động.

Ông chèo thuyền đi được một đoạn, liền ngẩng đầu lên trời thét lên một tiếng, rồi quay thuyền về lại chỗ Thái Bình.

Trước sự bỡ ngỡ của toàn quân, Nguyễn Uy quỳ rạp xuống ngay đối diện Thái Bình.

Ông dập đầu đến chảy cả máu, mắt ngấn lệ nói ra những lời thật lòng.

- Tôi vốn mục đích sang đây quy hàng sứ quân là để làm nội ứng cho chủ công tôi.

Nhưng thấy sứ quân là một người nhân nghĩa, đối xử tốt đẹp với ba quân, biết quý trọng người tài.

Làm cho Nguyễn Uy tôi đây vô cùng kính phục. tôi theo phò Tam Chế, nhưng chủ công tôi đánh trận mãi không thắng nên giờ đây đổi tính đổi nết.

Trở nên cáu gắt lạ thường, khinh nhờn tướng sĩ chúng tôi.

Bản thân tôi tài hèn sức mọn, nhưng quyết tâm vì sứ quân mà hy sinh tính mạng.

Nay tôi không mong cầu gì hơn, nếu sứ quân quyết không dùng thì sinh mạng này tôi không còn thiết gì nữa.

Nói xong Nguyễn Uy liền rút kiếm kề ngay cổ toan tự vẫn.

Thấy vậy Thái Bình không còn nghi kỵ gì, ông đỡ Nguyễn Uy dậy, phủi bụi cho tướng rồi nói.

- Ta đã thấu được lòng tướng, đồng ý cho tướng quy phục dưới trướng ta.

Ta phong cho tướng làm tiên phong tướng quân, lãnh một nghìn binh thủy.

Nghe vậy nước mắt Nguyễn Uy ứa ra, Thái Bình cũng rơi nước mắt đầy xúc động.

Lại nói bên kia chiến tuyến, tin Nguyễn Uy quy hàng quân địch đã được lan truyền rộng rãi trong quân của Tam Chế.

Thấy lòng quân đã giao động, nay lại càng lung lay hơn.

Bùi Khang cả sợ, nói với Tam Chế rằng.

- Tinh thần quân sĩ bây giờ đương vô cùng hỗn loạn.

Thần có kế này muốn hiến cho chủ công.

Tam Chế nghe xong trong lòng phấn khởi, liền hỏi.

- Quân sư có kế gì sao?

Bùi Khang trả lời.

- Quân địch ít binh hơn quân ta, nhưng nhờ lợi thế địa hình mới cầm cự được thế trận.

Nay thần có kế này, nếu chủ công dùng quân ta ắt đánh lui được địch.

Chủ công nên cho các nông dân, bá tánh trong vùng mặc trang phục quân lính.

Giả làm quân bộ, vượt sông đánh móc vào thành Thái Bình.

Thái Bình hay tin quân ta đánh bộ, ắt hẳn phải chia quân ra chống đỡ.

Lúc này quân thủy của địch vốn đã ít nay còn ít hơn, ta há gì không đánh lại.

Tam Chế nghe kế của Bùi Khang xong khen rằng.

- Hay!

Diệu kế!

Quả thực là diệu kế!

Nói xong Tam Chế liền lập tức thực thi kế sách của Bùi Khang.

Bắt giữ trong làng được hai nghìn người từ người già, đến trai trẻ đều bị bắt hết, chỉ trừ mỗi đàn bà, phụ nữ.

Ông cho toàn bộ mặc giáp phục quân sĩ, cờ tung lên phấp phới, trống kèn, tùng chiêng vang cả một vùng.

Ở phía bên đối nghịch, Thái Bình được thám tử báo tin Tam Chế chuyển sang đánh bộ.

Nghe xong Thái Bình liền giật mình, chưa biết xử trí thế nào thì Phạm Tân đi vào.

Nguyên do Phạm Tân đã hay tin quân địch chuyển qua đánh bộ nên đến tiến cử bản thân, dẫn hai nghìn quân nghênh địch.

Thái Bình thấy thế cũng liền chấp thuận, ông cho tướng thêm một nghìn binh nữa là tổng ba nghìn.

Ngay lúc Phạm Tân xuất quân được vài canh giờ, thì trên mặt sông Lô.

Quân Tam Chế từ xa ồ ạt tiến tới, Thái Bình liền cho quân ra nghênh địch.

Nhưng quân Thái Bình vốn đã ít, giờ đây lại ít đi thêm ba nghìn.

Cố chống mãi vẫn lâm vào cảnh yếu thế mà phải từ từ lui về.

Quân Tam Chế càng đánh càng hăng, đẩy địch lùi sâu lấy chục dặm.

Lại nói về Phạm Tân, dẫn quân đến đánh bộ, quân bộ bên Tam Chế toàn là thường dân chưa được huấn luyện.

Phạm Tân chỉ đánh một lúc, toàn bộ quân địch bị diệt sạch.

Dẹp địch xong, Phạm Tân đương cho quân trở về thành.

Thì có người chạy ngựa lại báo tin Thái Bình đang đánh thua địch trên sông.

Hay tin Phạm Tân giật mình, ông cho quân trong ngày chạy thẳng đến doanh trại bên Tam Chế.

Quân Tam Chế đang đánh, thì cũng hay tin toàn bộ quân mồi nhử đã bị diệt sạch.

Sợ quân địch trở về viện trợ, Tam Chế liền cho quân ngừng đánh rút về.

Tối hôm ấy, bất chợt từ bên kia bờ sông Lô, ùa ra một đội quân mã.

Toàn quân ôm rơm, đổ dầu dẫn cháy lên khắp người, khắp ngựa.

Tốp quân tiếp cận sát vào các thuyền chiến đang neo ngay cạnh bờ, thì liền châm lửa thiêu thân, quyên sinh với giặc.

Nhìn kỹ trong đám cháy, người tiên phong dẫn đầu quân chính là Phạm Tân.

Binh lính Tam Chế lúc này đang nghỉ ngơi, thấy lửa bên bờ sông bốc lên liền hoảng sợ, loạn cả.

Đến khi lấy lại được kỷ cương , bắt đầu dập lửa, thì lửa đã cháy lan liên tiếp mấy chiến thuyền.

Tam Chế biết tin, quân mình bị phục kích thì tức tốc ra xem tình hình.

Thấy lửa lớn bùng lên, cả chục chiến thuyền đang từ từ tìm xuống.

Binh lính dính lửa chết cháy vô số, có những người nhảy xuống sông dập lửa thì cũng bị sông cuốn cho chết đuối.

Bùi Khang lúc này đang cho quân lái thuyền tránh xa các thuyền đã bị cháy ra.

Xoay sở đến chập sáng mới hoàn toàn thoát được lửa đốt.

Đến khi trời sáng hẳn, Tam Chế mới biết rằng nguyên do vụ cháy là bởi tướng Phạm Tân trong đêm dẫn toàn bộ quân sĩ châm mình đốt cháy chiến thuyền.

Ông nhớ tới Tạ Thành, xong lần này lại thêm Phạm Tân.

Tam Chế vừa tức giận, nhưng cũng vừa hoảng sợ và nể phục.

Ông lúc này ngẩng mặt lên trời mà than rằng.

- Tại sao trong tay ta lại không có những con người trung nghĩa như vậy!

Bùi Khang nghe lời chủ công than thì cũng trách rằng.

- Không phải chúng ta không có người trung nghĩa, mà do bởi chủ công không biết trọng dụng họ.

Nếu chủ công không trở nên cáu gắt, thì há gì Nguyễn Uy đã theo giặc.

Nghe lời Bùi Khang nói Tam Chế cũng nhận ra sai lầm của mình, ông hối hận vô cùng.

Trong lúc đang tự trách bản thân, liền có lính hớt hải từ ngoài chạy vào báo tin cho Tam Chế.

Chưa biết Tam Chế nhận được tin gì, hồi sau sẽ rõ.

(1: Chu Du là một đại đô đốc nước Ngô trong thời kỳ Tam Quốc, bên Trung Quốc.

2: Thào Tháo là Ngụy Vương, người lập nên nền móng cho nước Ngụy trong thời kỳ Tam Quốc, bên Trung Quốc.

3: Trong trận đại chiến Xích Bích, Chu Du sử dụng khổ nhục kế, ông sai Hoàng Cái, một vị thượng tướng nhà Ngô.

Giả vờ bất mãn, dùng lời lẽ thô lỗ xúc phạm Chu Du.

Chu Du theo kế, nổi giận, sai quân phạt đánh Hoàng Cái một trăm trượng đến mức máu chảy đầy thân, khiến cả quân sĩ đều tin là thật.

Sau đó, Hoàng Cái bí mật cho người gửi thư trá hàng sang Tào Tháo, lấy cớ bị Chu Du đánh nhục nên muốn phản bội.

Tào Tháo vốn đa nghi, nhưng thấy vết thương trên mình Hoàng Cái, lại được quân do thám ông cài vào Giang Đông tung tin lên, nên tin thật.

Nhờ vậy Hoàng Cái có thể đưa thuyền chở đầy củi khô và vật liệu dẫn cháy lao vào hạm đội của Tào, châm lửa đốt cháy toàn quân.

Khiến cho quân Tào Tháo đại bại.)
 
Back
Top Bottom