Cập nhật mới

Khác Tây Sơn bi hùng truyện

Tây Sơn Bi Hùng Truyện
Chương 39


Nguyễn Hữu Chỉnh thêm một lần bị đuổi khỏi nước.

Nguyễn Long Nhương phải hai phen kháng lệnh vua anh.

Nói về vua Thái Đức nhà Tây Sơn ở Hoàng đế thành (thành Quy Nhơn) nghe quân vào

báo:

- Tâu Bệ hạ, Long Nhương tướng quân đã chiếm xong đất Thuận Hoá.

Long Nhương sai quân mang thư báo tin thắng trận.

Vua Thái Đức mừng rỡ mở thư ra, đọc xong vua sa sầm nét mặt, đập tay xuống ngai quát:

- Nguyễn Huệ thật to gan!

Nguyễn Thung ngạc nhiên hỏi:

- Long Nhương tướng quân báo tin thắng trận vì sao Bệ hạ lại giận dữ nhà vậy?

Vua Thái Đức đáp:

- Ta lệnh cho Nguyễn Huệ đánh Thuận Hoá xong phải kéo quân về.

Vậy mà Huệ sai người báo tin thắng trận lại báo luôn tin sẽ đem quân đi đánh Bắc Hà.

Ấy chẳng phải là Nguyễn Huệ lộng quyền đã khinh thường ta, kháng mệnh hay sao?

Nguyễn Thung tâu:

- Long Nhương tướng quân xưa nay phàm làm việc gì cũng đặt quốc gia đại sự làm đầu, không kể về danh lợi, bản thân.

Nay Long Nhương đem quân ra Bắc ắt không là ngoại lệ.

Xin Bệ hạ bình tâm suy xét lại.

Nghe Nguyễn Thung nói, vua càng giận quát:

- Ngươi bao giờ cũng bênh vực cho Nguyễn Huệ cả.

Ngươi tưởng rằng chức quan Ngự sử có thể can vua là ta không giết được người sao?

Thấy vua Thái Đức quá giận.

Nguyễn Thung quỳ mọp dưới thềm không dám ngước lên.

Vua gọi thái giám Vũ Tâm Can bảo:

- Ngươi hãy mau mang chiếu chỉ của ta ngay để ra thành Phú Xuân gọi Nguyễn Huệ về đây cho ta.

Vũ Tâm Can vâng lệnh đi ngay.

Vừa bỏ mặc Nguyễn Thung quỳ dưới thềm đứng lên lui vào hậu cung.

Vũ Tâm Can đi rồi tháng sau quay về báo:

- Tâu Bệ hạ, Long Nhương tướng quân và các tướng đã đem binh đánh Bắc Hà.

Chỉ còn một mình Tiết chế Nguyễn Lữ ở lại trấn thủ Thuận Hoá mà thôi!

Vua Thái Đức hỏi:

- Huệ đem binh đi vào lúc nào?

Vũ Tâm Can đáp:

- Ngày trước Long Nhương sai người về kinh báo tin, ngày sau Long Nhương vội kéo quân đi.

Vua Thái Đức giận lắm, gằn giọng rằng:

- Nguyễn Huệ biết nếu xin lệnh của ta ắt ta sẽ không cho đi, nên nó chuẩn bị xuất binh trước rồi mới bảo ta hay.

Đã đến nước này đành cho nó kéo binh về rồi sẽ hay.

Lần này nếu ta không dùng phép nước mà trị tội nó thì còn gì là kỷ cương phép tắc.

Nghe vua Thái Đức nói, Vũ Tâm Can mừng lắm nhưng làm ra về buồn rầu rồi xin phép cáo lui.

Ít hôm sau quân lại vào dâng thư của Nguyễn Huệ và tâu với vua Thái Đức rằng:

- Tâu Bệ hạ, Long Nhương tướng quân đem binh vào Thăng Long đánh tan quân Trịnh.

Long Nhương tướng quân sai người mang thư về xin Bệ hạ duyệt lãm.

Tiếp thư đọc xong, vua Thái Đức nói:

- Nguyễn Huệ mượn tiếng phò Lê diệt Trịnh đem quân ra Bắc, nay đã đánh đến kinh thành Thăng Long.

Huệ mượn cớ giúp vua Lê chỉnh đốn cõi Bắc mà đóng quân ở nơi ấy ít lâu rồi sẽ kéo quân về phục mệnh.

Vũ Tâm Can tâu:

- Long Nhương tướng quân chỉ trong một tháng mà lật đổ họ Trịnh làm Chúa ở Đàng Ngoài suốt hai trăm năm.

Long Nhương hiện giờ vang danh khắp thiên hạ, trong tay nắm binh hùng tướng mạnh nên mới dám kháng lệnh của Bệ hạ.

Long Nhương là người quyết đoán, nếu Bệ hạ không đích thân ra Bắc mà chỉ sai sứ giả đem chiếu đi triệu Long Nhương thì hạ thần e rằng chưa hẳn ông ấy đã vâng lời.

Vua Thái Đức nói:

- Lời ngươi thật là hữu lý, ta phải thân hành ra Bắc mới yên.

Nói rồi vừa thiết triều giao quyền cho con là Thái tử Nguyễn Bảo trông coi chính sự, việc binh nhung giao cho đại tướng Lê Trung.

Vừa lại tuyển hai ngàn quân cấm vệ định ngày ra Thăng Long.

Quan ngự sử Nguyễn Thung biết việc ấy thì nghĩ thầm rằng: Càng ngày vua càng tin chắc rằng Long Nhương cậy công lấn quyền, phen này e Long Nhương nguy mất.

Nghĩ rồi bèn về nhà viết thư sai người tâm phúc ngày đêm đi gặp ra Thăng Long báo trước cho Nguyễn Huệ.

****

Nhắc lại ở thành Thăng Long, Nguyễn Huệ và Ngọc Hân công chúa thành thân được ít hôm thì vua Lê Hiển Tông lâm trọng bệnh.

Vua cho vời Nguyễn Huệ và Ngọc Hân đến trăng trối:

- Nay ta biết mình không còn sống được nữa.

Và sau khi ta mất đi Phò mã hãy đưa Hoàng tử tôn Lê Duy Kỳ lạ con trai Thái tử Lê Duy Vỹ lên kế vị.

Duy Kỳ mới mười tám tuổi hãy còn nhỏ dại nhờ Phò mã hết lòng phò tá cho.

Nói xong vừa băng hà.

Nguyễn Huệ đứng ra lo hậu sự cho vua rất trọng thể.

Sau đó đưa Hoàng tôn Lê Duy Kỳ lên ngôi.

Lê Duy Kỳ lên làm vua lấy hiệu là Chiêu Thống (năm Bính Ngọ, 1786).

Việc vừa xong Nguyễn Huệ nghe quân vào báo:

- Thưa Long Nhương, có người tâm phúc của quan ngự sử Nguyễn Thung xin vào ra mắt.

Nguyễn Huệ giật mình nói:

- Nguyễn Thung sai người ra gặp ta tất có điều cơ mật.

Mau cho vào.

Người nhà Nguyễn Thung vào dâng thư cho Nguyễn Huệ.

Nguyễn Huệ đọc xong trầm ngâm nói:

- Thật không ngoài dự liệu của ta.

Nguyễn Thung mật báo cho ta hay, Hoàng huynh ngự giá ra Bắc triệu ta về kinh thành Quy Nhơn trị tội kháng mệnh.

Ít hôm nưa Hoàng huynh sẽ đến đây.

Trần Văn Kỷ hỏi:

- Vậy Chúa công liệu tính thế nào?

Nguyễn Huệ đáp:

- Cứ để Hoàng huynh ta đến đây, rồi tuỳ theo thái độ của người thế nào ta sẽ liệu mà xử sự.

Vài hôm sau vua Thái Đức và hai ngàn quân cận vệ đến Thăng Long, Nguyễn Huệ cùng các tướng ra cổng thành Nam nghênh đón.

Các tướng cũng quỳ tung hô vạn tuế, Nguyễn Huệ kính cẩn thưa rằng:

- Tâu Hoàng huynh, em chưa được lệnh của Hoàng huynh mà đã đem quân ra Bắc, khiến Hoàng huynh phải nhọc sức ngự giá đến đây.

Em thật là đắc tội xin Hoàng huynh lượng thứ.

Vua Thái Đức an ủi rằng:

- Ta ở Hoàng đế thành nghe báo tin em chiếm Thuận Hoá xong liền đem quân ra đánh Bắc.

Em đem binh đi đánh Thuận Hoá chỉ có hai vạn quân trong khi đó Bắc Hà đất rộng dân đông, binh họ Trịnh có hơn mười vạn, anh sợ em có điều sơ sảy là anh đã phụ lời di huấn của phụ thân, nên anh chẳng quản ngày đêm ra đến đây gọi em về đó.

Nói xong vua Thái Đức liền theo Nguyễn Huệ vào nội Trịnh phủ.

Đêm ấy vua Thái Đức cho gọi đông đủ các tướng rồi bảo Nguyễn Huệ rằng:

- Em nhân danh Tây Sơn ta ra đây đánh Trịnh phò Lê.

Nay họ Trịnh đã diệt, vậy em hãy lệnh cho ba quân tướng sĩ chuẩn bị quân trang ít hôm nữa thì kéo quân về.

Nguyễn Huệ thưa:

- Thưa Hoàng huynh, Chúa Trịnh tuy đã diệt nhưng dư đảng vẫn còn có Trịnh Lệ, Trịnh Bồng.

Vả lại ngoài chúng dân loạn lạc, cướp bóc nổi dậy khắp nơi, nhân tình thật là thống khổ.

Nay nước chưa yên mà ta đã vội kéo quân về thì đối với thiên hạ thật không đúng nghĩa tôn phò, e người đời đi nghĩ là Tây Sơn ta thất tín.

Vua Thái Đức vỗ án quát:

- Nguyễn Huệ thật to gan!

Ngươi có hai tội đáng chết, ta nghĩ tình không bắt tội thì thôi, lại còn dám cãi nữa hay sao.

Huệ run run hỏi:

- Xin hỏi Hoàng huynh, em có hai tội gì gọi là đáng chết?

Vua cười gắn đáp:

- Ngươi còn giả vờ chưa biết thì hay nghe ta kể tội đây!

Ta lệnh cho ngươi đem binh đánh Thuận Hoá dùng sông Linh Giang làm ranh giới chia đôi thiên hạ với họ Trịnh ở Bắc Hà.

Ngươi lại dám cãi lời vua đem quân Bắc tiến.

Tội thứ nhất là kháng mệnh bất trung.

Phận làm con, việc hôn nhân là do mẹ cho định đoạt.

Mẹ cha mất phải hỏi ý của anh.

Nay mẹ vẫn còn đó, anh vẫn còn đây ngươi dám qua quyền mà tự tiện lấy vợ.

Tội thứ hai là luân thường bất hiếu.

Ta hỏi người bất trung bắt hiếu phải xử thế nào.

Nguyễn Huệ đập đầu thưa

- Hoàng huynh là người nhân đức, thích cảnh thái bình, ghét việc binh đao nên Hoàng huynh không muốn đem quân đánh Phú Xuân, Thuận Hoá.

Đến lúc thấy nhân dân Thuận Hoá bị quân Trịnh áp bức không sống nổi phải trong vào nước ta nương nhờ thánh đức, Hoàng huynh liền xuống lệnh xuất quân.

Ấy bởi Hoàng huynh không phải vì đất Thuận Hoá mà vì lòng nhân đức ra tay tế độ chúng dân.

Khi em đánh chiếm Thuận Hoá xong rồi, đưa mắt nhìn ra ngoài cõi Bắc, thấy muôn dân cũng thống khổ lầm than, nên mới đem binh dẹp loạn.

Xét về ly, tội là kháng mệnh, xét về tình là thi hành đức lớn của Hoàng huynh.

Ấy là một lẽ.

Đi đánh Trịnh cứu dân phải mượn tiếng phò Lê.

Vua Lê khăng khăng đòi nhận em làm Phò mã để danh chánh ngôn thuận mà vực nước cứu dân.

Vua Lê lúc ấy đã lâm trọng bệnh chưa biết sống chết thế nào.

Nếu nhà vua chẳng may khuất núi, việc hôn nhân ắt phải bất thành, thì còn đâu nghĩa cả giúp dân.

Nếu em về Quy Nhơn xin phép mẹ và Hoàng huynh rồi lại trở ra, đường sá xa xôi núi sông cách trở mà vua Lê không cầm cự được lâu ngày, thành ra lỡ việc lớn, nên em buộc lòng phải tự quyết lấy.

Quả nhiên, sau hôn lễ mấy ngày vua Lê đã băng hà.

Sự thực là như thế, em nào dám gian dối.

Xét theo lý, là qua quyền bất hiếu với mẹ cha, xét theo tình là hiếu với dân với nước.

Ấy là hai lẽ.

Xin Hoàng huynh hay vì hai tình ấy mà giảm cho hai tội chết kia.

Vua Thái Đức nói:

- Ngươi khá già mồm, giỏi biện luận.

Ta vì tình cốt nhục mà tha cho tội chết chứ không phải vì những lời nguỵ biện ấy đâu.

Nguyễn Huệ thấy anh đã bớt giận bèn cố xin thêm:

- Hoàng huynh đã rõ em vì hai tình lớn mà phạm vào hai lỗi nhỏ, vậy xin Hoàng huynh cho đóng quân ở lại ít lâu giúp vua Lê cho vẹn tình trọn nghĩa tôn phò.

Vua Thái Đức gạt đi bảo:

- Ta tha cho ngươi tội chết, tội sống khó tha phải theo ta về Quy Nhơn phục mệnh.

Nguyễn Huệ thấy ý vua đã quyết không dám mở miệng.

Nguyễn Hữu Chỉnh xen vào thưa:

- Long Nhương theo Bệ hạ về Quy Nhơn, cũng xin Bệ hạ hay cử tướng ở lại Bắc Hà phò giúp vua Lê là lòng dân xứ Bắc cũng chưa phải là không có lợi về sau.

Vua Thái Đức cười bảo:

- Hữu Chỉnh là tôi thần của vua Lê.

Việc này ngoài ngươi ra còn ai có thể thuận lý hơn được nữa.

Sau khi ta về Quy Nhơn sẽ để Hữu Chỉnh ở lại xứ Bắc giúp vua Lê.

Nguyễn Hữu Chỉnh mừng thầm lạy tạ lui ra.

Bỗng nghe quân vào báo rằng:

- Tâu Bệ hạ, có vua Lê Chiêu Thống đến xin cầu kiến.

Vua Thái Đức hỏi Nguyễn Huệ:

- Ta định thu xếp việc trong nhà rồi sẽ sang bái yết vua Lê.

Nay vua Lê lại đến đây trước, vậy phải làm thế nào cho phải?

Nguyễn Huệ đáp:

- Vua Lê hiện đang nhờ vả Tây Sơn ta, nay lại nghe tin Hoàng huynh đến đây nên vua Lê mới đến cầu kiến trước, ấy là việc phải làm của người thất thế.

Những theo nghĩa ta lấy tiếng tôn phò để diệt Trịnh cứu dân, nếu để người ta cầu luỵ mình e rằng mất nghĩa.

Xin Hoàng huynh xét lại.

Vua Thái Đức cười bảo:

- Ý em ta đã hiểu.

Theo em là ta phải có bổn phận sang cầu kiến vua Lê cho đúng nghĩa tôn phò.

Nguyễn Huệ vội vàng đáp:

- Ý em không phải là như vậy.

Vua Thái Đức hỏi:

- Vua Lê sang cầu kiến ta thì ngươi bảo là e mất nghĩa.

Vậy nếu ta không cầu kiến vua Lê thì là thế nào?

Huệ đáp:

- Vua Lê ở cung vua, Hoàng huynh ở phủ Trịnh vậy hai vua nên gặp nhau tại chính điện Kính Thiên là nơi dùng để thiết triều, thì không bên nào thất lễ với nhau.

Hoàng huynh xem có tiện chăng?

Vua Thái Đức vừa ngáp vừa nói:

- Ta cũng gắng chiều ý ngươi cho trọn nghĩa tôn phò.

Vậy hãy mau ra hẹn với vua Lê định ngày gặp nhau nơi chính điện.

Đến ngày hẹn, vua Thái Đức nhà Tây Sơn và vua Chiêu Thống nhà Lê gặp nhau tại chính điện Kính Thiên.

Bên vua Lê chỉ toàn quan văn, bên Tây Sơn tinh là võ tướng.

Sau khi thi lễ và phân ngôi chủ khách xong, vua Chiêu Thống nói:

- Bệ hạ từ Nam Hà lặn lội ra đến đây, tôi mới lên ngôi việc nước còn rối ren, không hay biết ra ngoài thành tiếp đón thật là thất lễ.

Vua Thái Đức khiêm tốn nói:

- Anh em tôi vì nghĩa tôn phò, đối với Bắc Hà là nước lớn, đối với Bệ hạ là kẻ bề trên.

Tôi có bổn phận phải xin diện kiến với Bệ hạ, nếu để Bệ hạ tiếp đón e rằng không phải đạo.

Bỗng vua Chiêu Thống đứng dậy chắp tay nói:

- Được Bệ hạ ngự giá thân chinh đến tận nước tôi đem nghĩa tôn phò bố cáo cũng thiên hạ, ấy thật là hồng phúc của nước tôi vậy.

Nay tôi có hai điều thỉnh cầu xin Bệ hạ thuận cho.

Vua Thái Đức hỏi:

- Hai điều ấy là điều gì?

Vua Chiêu Thống đáp:

- Điều thứ nhất là: Tôi còn nhỏ tuổi lại mới lên ngôi, thêm binh quyền không có, trong nước rối ren.

Xin Bệ hạ cử tướng ở lại giúp tôi định quốc an dân rồi hãy quay về.

Điều thứ hai là, nhà Lê tôi tiếng là làm vua, nhưng quyền hành đều trong tay họ Trịnh cảnh nhà thanh bạch không có gì để khao thưởng tướng sĩ.

Vậy khi xong việc rút quân về, tôi xin dâng đất Nghệ An là nơi giáp giới với nước của Bệ hạ ở làm lễ khao quân.

Chẳng hay ý Bệ hạ thế nào?

Vua Thái Đức cười đáp:

- Nguyễn Phúc Ánh vẫn ngấp nghé dấy loạn ở đất Gia Định nên nay tôi phải kéo quân về phòng khi có biến.

Tôi sẽ để Hữu Chỉnh ở lại Bắc Hà giúp vua.

Điều thứ nhất chắc chắn làm được.

Quân Tây Sơn tôi ra đây vì nghĩa phò Lê diệt Trịnh, không vì lợi.

Nếu là đất họ Trịnh một tấc cũng không để.

Đất nhà Lê một tấc cũng không lấy.

Xin Bệ hạ đừng nói điều cắt đất khao quân, tôi thật áy náy lắm.

Vua Chiêu Thống cả mừng nói:

- Ngày xưa Trịnh Sâm giết giết cha tôi.

Nay Bệ hạ sai Nguyên soái kéo quân ra diệt Trịnh là đã trả giùm thù cha cho tôi rồi.

Nhà Lê tôi bị họ Trịnh ở nên suốt hai trăm năm, nay được nắm giữ lấy vận mệnh nước nhà là Bệ hạ đã tái tạo cho nhà Lê tôi.

Hai ơn ấy thật là ví như trời biển biết lấy gì báo đáp.

Vua Thái Đức xua tay nói rằng:

- Tôi ra đây vì nghĩa thì sao dám kể ơn.

Xin Bệ hạ hay giữ lấy kỷ cương, lập lại giềng mối nối nghiệp Tiên đế để hai nước đời đời giao hảo là tôi đã thoả nguyện lắm rồi.

Nói xong vua Thái Đức cáo biệt vua Chiêu Thống cùng các tướng quay về phủ Chúa Trịnh.

Hôm sau vua Thái Đức gọi Nguyễn Huệ đến bảo:

- Em hãy lệnh cho các tướng chuẩn bị quân trang nửa đêm nay sẽ rút đại binh về nước!

Nguyễn Huệ hỏi:

- Nếu Hoàng huynh kéo binh về nước bỏ mặc vua Lê thì còn đâu là nghĩa tôn phò, e rằng thất tín với thiên hạ.

Xin Hoàng huynh xét lại.

Vua Thái Đức gạt đi bảo:

- Nguyễn Hữu Chỉnh muốn mượn tay Tây Sơn ta đưa hắn về nước nên mới xui người mượn tiếng phò Lê đánh Trịnh.

Ngươi không rõ bụng hắn vội nghe lời hắn kháng lệnh ta kéo quân ra Bắc.

Nay ta lệnh cho ngươi lập tức kéo quân về.

Có thất tín là thất tín với vua Lê và dân xứ Bắc chứ có thất tín với dân nước ta đâu mà ngại.

Vả lại ta hứa với vua Lê rằng sẽ để Hữu Chỉnh ở lại Bắc Hà giúp vua Lê thì ta vẫn để Hữu Chỉnh lại đấy thôi.

Sao bảo rằng ta thất tín.

Nguyễn Huệ biết anh đã quả quyết thế, không dám van nài bèn hỏi:

- Em vẫn biết Chỉnh muốn mượn quân Tây Sơn ta làm bá vương nơi cõi Bắc.

Những em kéo binh ra đã là diệt Trịnh cứu dân không phải vì chẳng hiểu bụng Chỉnh.

Chính vì vậy nên em định để tướng của ta ở lại Bắc Hà giúp vua Lê, chứ không phải là Hữu Chỉnh.

Đã biết bụng Chỉnh sao Hoàng huynh còn cho hắn mượn binh ở lại Bắc Hà.

Vua Thái Đức đáp:

- Lệnh rút quân không được để lộ cho Hữu Chỉnh biết.

Ta nào cho hắn mượn binh.

Ngươi Thăng Long oán Chỉnh đến xương tuỷ.

Ta chỉ muốn để hắn lại một mình không quản, không tướng, mượn tay người Bắc Hà giết hắn mà thôi.

Nguyễn Huệ hỏi:

- Vậy là Hoàng huynh không cho người ở lại giữ vua Lê?

Vua Thái Đức nghiêm mặt bảo:

- Ý ta đã quyết em chớ nhiều lời.

Nguyễn Huệ không dám cãi lời, lặng lẽ lui ra.

Vua Thái Đức lại sai quân gọi Nguyễn Hữu

Chỉnh.

Chỉnh đến, vua cười nói:

- Ngọc Hân công chúa thật là xinh đẹp.

Nguyễn Huệ mới ra đã được khanh làm mối cho một cô vẻ đẹp đến thế.

Nay ta đã đến đây khanh có thể làm mối cho ta được chăng?

Hữu Chỉnh thấy vua Thái Đức vui vẻ, mạnh dạn thưa rằng:

- Nếu Bệ hạ không chê gái Bắc Hà thì thần sao dám tiếc công làm mối.

Vua Thái Đức vờ mừng rỡ bảo:

- Vậy ngày nay khanh phải ở lại đây với ta tâm sự hàn huyên.

Ngày mai khanh phải khéo tìm cho ta một cô vợ nhé.

Nói rồi sai quân bày yến tiệc cùng Nguyễn Hữu Chỉnh chén tạc chén thù.

Nguyễn Hữu Chỉnh ngỡ vua lấy lòng mình để nhờ mình tìm vợ nên chẳng nghi ngờ gì cả, cứ thật lòng ăn uống no say.

Đến nửa đêm Nguyễn Hữu Chỉnh đã ngà ngà say.

Vua Thái Đức nói:

- Trẫm sẽ sai người đưa khanh về đến tận bản doanh.

Khanh muốn ở lại Bắc Hà, trẫm sẽ cho khanh được toại nguyện.

Nhưng nhờ rằng ngày mai hay tìm cho trẫm một cô vợ đấy nhé.

Nguyễn Hữu Chỉnh mừng rỡ lậy tạ ơn rồi cáo biệt ra về.

Đến nhà Nguyễn Hữu Chỉnh nói với thủ hạ là Nguyễn Viết Tuyển rằng:

- Nguyễn Huệ phen này phải theo vua Thái Đức về Quy Nhơn thọ tội kháng lệnh.

Vua Thái Đức sẽ cho ta cầm binh ở lại định yên cõi Bắc, chí của ta phen này đã thành.

Nguyễn Huệ bị tước quyền rồi hỏi trong thiên hạ còn ai anh hùng hơn ta được.

Khi ở Phú Xuân ta xui Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc ấy là kế "nhất tiễn diệt song điêu" của ta vậy.

Nói rồi thích thú trong lòng nằm lăn ra mà ngủ.

Mấy tên quân đưa Hữu Chỉnh về rồi quay lại báo cùng vua Thái Đức:

- Nguyễn Hữu Chỉnh về đến nhà liền ngủ say không hay biết gì cả.

Vua Thái Đức bảo:

- Truyền lệnh ta lập tức rút quân về nước!

Nửa đêm hôm ấy quân Tây Sơn theo hai đường thuỷ, bộ lặng lẽ rút binh.

Mờ sáng hôm sau Nguyễn Hữu Chỉnh còn đang mơ màng với giấc mộng Bá vương bỗng có người lay mình dậy và gọi lớn:

- Tướng quân dậy mau.

Tướng quân dậy mau!

Chỉnh giật mình thức giấc, thấy người gọi mình là Nguyễn Viết Tuyển, bèn hỏi:

- Việc gì mà người hốt hoảng thế?

Nguyễn Viết Tuyển đáp:

- Quân Tây Sơn đã rút toàn quân về nước mất rồi!

Chỉnh trấn an Tuyển rằng:

- Làm gì có việc ấy.

Ta vừa cùng vua Thái Đức uống rượu đến nữa đêm có nghe động tĩnh gì đâu?

Nguyễn Viết Tuyển thưa:

- Dân chúng trong thành đều truyền miệng nhau như vậy, ngoài kia đang náo động cả lên.

Tôi vừa cho mấy tên quân do thám đến trại quân Tây Sơn xem thế nào, chắc gần về tơi.

Tuyển vừa dứt lời mấy tên quân do thám chạy vào báo rằng:

- Thưa tướng quân, người ngựa thuyền bè của quân Tây Sơn không còn một ai cả.

Lúc ấy Hữu Chỉnh thất kinh than:

- Nguyễn Nhạc lừa ta.

Nguyễn Nhạc lừa ta.

Hắn bỏ ta ở lại Bắc Hà không quân, không tướng để mượn tay người Bắc Hà giết ta đây mà.

Vừa than dứt lời đã nghe ngoài cổng tiếng người giục nhau rằng:

- Quân Tây Sơn đã đi rồi, ta mau giết Hữu Chỉnh đi để làm giương cho những kẻ dẫn giặc về phá nhà.

Hữu Chỉnh liền cùng Viết Tuyển và mấy tên quân đem gia quyến đi ngõ sau trốn ra phía bờ sông.

Đến bến sông Nguyễn Viết Tuyển cướp được một chiếc thuyền lớn bèn đưa gia quyến xuống thuyền.

Vừa lúc ấy có vài mươi người cầm vũ khí đuổi đến nơi, bị Nguyễn Hữu Chỉnh đứng trên bờ vung gươm giết sạch.

Lên thuyền rồi Chỉnh sai quân giong buồm ra cửa bể.

Nguyễn Viết Tuyển hỏi:

- Giờ tướng quân định đi đâu?

Chỉnh đáp:

- Đi theo quân Tây Sơn chứ còn đi đâu nữa!

Tuyển lại hỏi:

- Nguyễn Nhạc định mượn tay người Bắc Hà giết ta.

Nay ta lại theo Nhạc, chắc gì Nhạc đã dùng?

Chỉnh đáp:

- Nếu Nhạc đang tâm giết ta cần gì phải mượn tay người.

Vả lại không theo Nhạc con biết phải đi đâu?

Nói rồi truyền quân cứ cho thuyền thẳng hướng Nam mà chạy theo thuỷ quân Tây Sơn.

****

Về phần vua Lê Chiêu Thống nghe quân bảo rằng quân Tây Sơn đã rút cả về Nam.

Vua thất kinh nói:

- Nguyễn Nhạc thật là xảo ngôn thất tín.

Hắn vừa hứa với ta sẽ cho tướng ở lại trợ giúp ta, nay lặng lẽ bỏ đi, lại lấy hết cả vàng bạc châu báu trong kho chúa Trịnh.

Giờ trong nước trống rỗng, ngộ nhỡ sinh ra biến loạn thì lấy gì mà trị?

Trần Công Xán bàn rằng:

- Trước khi Tiên đế chưa băng hà, thần đã biết rằng quân Tây Sơn mượn tiếng tôn phò để mưu đồ tư lợi, hạng người ấy còn kế gì đến tín nghĩa.

Ấy bởi do ta cả tin mà thôi.

Việc đã lỡ trách họ cũng chẳng ích gì.

Nay Bệ hạ nên hạ chiếu cần vương đem đi các trấn triệu các tướng về bảo vệ kinh thành để phòng sinh biến loạn.

Vua Chiêu Thống khen phải bèn y theo kế của Trần Công Xán mà làm.

Quân các trấn nhận được chiếu cần vương của vua Chiêu Thống bèn vin vào cớ ấy chiêu binh mãi mã, mỗi người hùng cứ một phương đánh giết lẫn nhau.

Quân lính lại được dịp kết bè lập đảng cướp bóc của dân.

Than ôi!

Trăm họ thêm lầm than, sinh linh càng điêu đứng, Nhân dân Bắc Hà vì lẽ ấy lại đâm oán Tây Sơn.

Họ truyền với nhau rằng: Cứ dưới ách Chúa Trịnh đành rằng là sưu cao thuế nặng, nhưng vẫn còn chút pháp luật kỷ cương.

Quân Tây Sơn mượn tiếng phò Lê, diệt Trịnh rồi lấy của cái kéo binh về để nước ta loạn lạc là do anh em Nhạc, Huệ vậy.

****

Nhắc lại anh em vua Thái Đức và Long Nhương tướng quân Nguyễn Huệ theo đường bộ vào đến Nghệ An trời vừa sẩm tối.

Vua liền truyền lệnh nghỉ đêm nội thành Nghệ An.

Xảy nghe quân vào báo:

- Tâu Bệ hạ, Nguyễn Hữu Chỉnh đem gia quyến theo ta xin được vào ra mắt.

Vua Thái Đức giật mình nói:

- Khá khen Hữu Chỉnh quyền biến.

Ta bỏ hắn cho người Bắc Hà giết hắn, vậy mà hắn lại thoát chết chạy theo ta.

Hữu Chỉnh tuy là người giảo quyệt nhưng chưa từng ra mặt phản ta, nay vô cớ giết đi thì không nỡ.

Vậy theo Huệ phải làm thế nào?

Nguyễn Huệ đáp:

- Chỉnh vì bất đắc dĩ mới ở dưới trướng của ta Nguyễn Duy vừa theo hàng ta, hai người này trước sau gì mà chẳng phản ta.

Nay Hoàng huynh nên lựa chừng một ngàn quân vừa mới tuyển được ở Bắc Hà cấp cho Hữu Chỉnh, Nguyễn Duy ở lại trấn thủ đất Nghệ An.

Nếu họ không phản thì ta có được đất Nghệ An.

Nếu họ phản thì ta cũng chẳng mất gì vì Nghệ An là đất của nhà Lê.

Vua Thái Đức hỏi:

- Lời em rất phải.

Nhưng em một dạ phò Lê nay lại lấy đất của nhà Lê là thế nào?

Huệ đáp:

- Em phò Lê không phải vì nhà Lê, mà vì dân vậy.

Vua Thái Đức lại bảo:

- Vậy em hãy thay ta mà nói chuyện cùng Hữu Chỉnh.

Ta không muốn gặp mặt Chỉnh.

Nguyễn Huệ vâng lời bái tạ đi ra ngoài.

Gặp Nguyễn Hữu Chỉnh, Huệ nói:

- Hoàng huynh ta bất ngờ ra Bắc đem ta về trị tội kháng lệnh.

Hoàng huynh lại không cử

tướng ở lại giúp vua Lê khiến cho ta phải thất tín với thiên hạ.

Còn ông vì tôi khuyên ta đi đánh Bắc Hà nên Hoàng huynh ta mới để ông ở lại cõi Bắc mà không muốn cho theo.

Nguyễn Hữu Chỉnh buồn rầu nói:

- Tướng quân bỏ về Nam không cử tướng giúp vua Lê khiến Bắc Hà loạn lạc.

Lòng người xứ Bắc lại đổ tội cho tôi rước gấu về phá tổ ong.

Nếu Hoàng thượng không cho theo mà để tôi ở lại xứ Bắc không quân không tướng thì chỉ có chết mà thôi.

Tướng quân có cách gì cứu tôi chăng?

Nguyễn Huệ không đáp mà hỏi lại Chỉnh rằng:

- Ông có biết vì sao ta đem quân ra đánh Bắc Hà không?

Chỉnh đáp ngay:

- Chí của tướng quân là thống nhất giang sơn.

Huệ cười bảo:

- Khá khen ông biết chí của ta.

Vậy ông có nghĩ rằng ta cũng biết chí của ông chăng.

Chỉnh đáp ngay:

- Tôi hiểu tướng quân thưa biết chí của tôi.

Huệ cười bảo:

- Ta cố van nài, Hoàng huynh ta đã bằng lòng cấp cho ông một ngàn quân mà ở lại trấn thủ Nghệ An.

Ý ông thế nào?

Chỉnh dè dặt hỏi:

- Đã biết chí tôi là muốn xưng hùng đất Bắc, sao tướng quân còn cấp binh mã cho tôi trấn thủ Nghệ An?

Huệ trầm ngâm đáp:

- Sau khi ta bỏ vua Lê mà đi, Bắc Hà tất loạn.

Nhân tài xứ Bắc chỉ mỗi mình ông.

Ta cấp binh chống trấn thủ Nghệ An.

Ít lâu sau nước loạn, vua Lê Chiêu Thống sẽ gọi ông đem quân về cứu giá, khi đó tất ông sẽ được toại chí.

Nhưng nếu bạc đãi vua Lê bức bách hoàng gia, thì ta sẽ đem quân Tây Sơn ra Bắc lần nữa để trừ ông đó.

Hữu Chỉnh cả mừng đáp:

- Được vậy thì còn gì bằng.

Ấy là nhờ ơn tái tạo của tướng quân, Chỉnh tôi xin tạc dạ ghi lòng.

Chỉnh tôi muốn xưng hùng đất Bắc cũng chỉ vì muốn binh yên đất nước mà thôi.

Xin tướng quân chớ nghi ngờ.

Nguyễn Huệ cười bởi:

- Biết lòng thành của ông, ta còn xin cho tướng theo giúp việc cho ông.

Ông mà biết được còn vui mừng nhiều đấy.

Hữu Chỉnh lo Nguyễn Huệ cho tướng theo giám sát mình, dè dặt hỏi:

- Tướng ấy là ai?

Nguyễn Huệ đáp:

- Là huynh đệ đồng môn với ông, Nguyễn Duy tướng quân đó.

Nguyễn Hữu Chỉnh vờ khen Nguyễn Huệ rằng:

- Tướng quân thật sáng suốt.

Nguyễn Duy trước cũng là tướng Trịnh, nay tướng quân để anh em tôi trấn đất Nghệ An thì mặt Bắc không phải lo gì nữa.

Sáng sớm hôm sau vua Thái Đức lại truyền quân lên đường về Nam.

Nguyễn Hữu Chỉnh và Nguyễn Duy ra cổng Nam thành Nghệ An đưa tiễn.

Đi được một đoạn, Nguyễn Huỳnh Đức giục ngựa theo xe vua tâu:

- Tâu Bệ hạ, đành rằng Nguyễn Hữu Chỉnh chưa ra mặt phản ta, nhưng Chỉnh là người xảo trá không thể tin được.

Nay cấp quân cho hắn ở lại Nghệ An khác nào thả hồ về rừng.

Vua Thái Đức nói:

- Ta vẫn biết thế nhưng người ta chưa phản giết đi thi không nỡ, Vả lại đất Nghệ An là của Lê, Trịnh.

Chỉnh có phản ta, ta cũng chẳng mất gì.

Huỳnh Đức lại thưa:

- Hạ thần đội ơn tha mạng của Bệ hạ chưa là được công gì trả đặng.

Xin Bệ hạ cho được ở lại trấn Nghệ An cùng Nguyễn Hữu Chỉnh và Nguyễn Duy để thăm dò động tĩnh và có cách kiềm chế họ.

Vua Thái Đức khen phải rồi bảo Nguyễn Huệ đưa Nguyễn Huỳnh Đức quay lại cùng Nguyễn Hữu Chỉnh.

Dọc đường Nguyễn Huệ bảo Huỳnh Đức:

- Hoàng huynh ta để Huỳnh Đức ở lại trấn Nghệ An cùng Nguyễn Hữu Chỉnh mới là thả hổ về rừng đó.

Huỳnh Đức giật mình hỏi:

- Long Nhương nói vậy là ý thế nào?

Huệ cười đáp:

- Đức gạt Hoàng huynh ta, chứ gạt ta sao được.

Phen này ngươi đã bỏ ta mà đi rồi đó.

Nguyễn Huỳnh Đức ngồi trên ngựa với Nguyễn Huệ rồi nói:

- Ngày trước tôi bằng lòng hàng tướng quân là có điều giao ước.

Nay nghe Chúa tôi đang ẩn náu tại Tiêm La Quốc, nên tôi xin ở lại trấn thủ Nghệ An để tìm đường theo Chúa.

Xin Long Nhương chớ quên lời giao ước năm xưa.

Huệ cười bảo:

- Người quân tử nói phải giữ lời, ta quên sao được.

Nhưng vì đâu ngươi không xin ta thả cho ngươi đi mà kiếm cớ ở lại Nghệ An?

Nguyễn Huỳnh Đức không nói, cười lớn lên mấy hồi.

Nguyễn Huệ hỏi:

- Huỳnh Đức cười gì mãi thế.

Bảy giờ Nguyễn Huỳnh Đức mới đáp:

- Nếu tôi theo Long Nhương về Quy Nhơn, vua Thái Đức bắt tội kháng lệnh của Long Nhương, và còn ai có thể thả cho tôi theo Chúa được.

Phen này Long Nhương không bị tội chết cũng bị tước mất binh quyền thì còn ai là đối thủ của Nguyễn Vương.

Tôi cười là do thế.

Nghe Huỳnh Đức nói xong, Nguyễn Huệ cũng ngửa mặt lên trời cười lên mấy hồi.

Đức ngạc nhiên hỏi:

- Tôi nói không đúng sao mà Long Nhương cười mãi thế?

Nguyễn Huệ nín cười đáp:

- Tuy không có ta, nhưng ngươi quên mất một người là đối thủ của Nguyễn Phúc Ánh.

Đức hỏi:

- Người ấy là ai?

Huệ đáp:

- Người này đang trấn thủ đất Gia Định, ngày trước đã bắt sống ngươi tại cửa Hàm Luông.

Ấy chính là Đô đốc Đặng Văn Long.

Nguyễn Huệ nói xong cũng vừa đến nơi.

Huệ bèn giao Huỳnh Đức cho Nguyễn Hữu Chỉnh, rồi quay ngựa chạy theo vua Thái Đức.

Khi đại binh Tây Sơn về đến Động Hải (Động Hải, Quảng Bình ngày nay), vua Thái Đức gọi Vũ Văn Nhậm đến bảo:

- Nay ta cho con năm ngàn binh mã trấn thủ Động Hải và luỹ Trường Dục.

Nếu Nguyễn Hữu Chỉnh phản ta thì con hãy dùng sông Linh Giang làm ranh giới chia đôi thiên hạ với nhà Lê, và làm thế môi răng cùng Nguyễn Lữ ở Phú Xuân.

Khi chưa có lệnh không được đem quân

ra khỏi sông Linh Giang.

Con nên cố gắng chớ phụ lòng ta.

Vũ Văn Nhậm hỏi:

- Con ở tiền biên trấn thủ Động Hải, Trường Dục.

Tiết chế hoàng thúc trấn thủ thành Phú Xuân, và còn Long Nhương hoàng thúc thì thế nào?

Vua Thái Đức đáp:

- Ta phải đem Nguyễn Huệ về Quy Nhơn thọ tội kháng mệnh.

Nói rồi vua Thái Đức đem đại binh về Phú Xuân.

Vũ Văn Nhậm trấn thủ Động Hải vui mừng nghĩ thầm rằng:

- Trong các tướng, tài của ta chỉ kém Long Nhương hoàng thúc.

Nay Long Nhương theo Phụ hoàng về Quy Nhơn thọ tội, để Tiết chế hoàng thúc trấn thủ Phú Xuân.

Tiết chế là người thật thà như nhược, vậy binh quyền ở đất Thuận Hoá này không về tay ta thì còn ai vào đây nữa.

Quân Tây Sơn về đến Phú Xuân thì trời vừa tối.

Vua Thái Đức truyền quân nghỉ đêm tại thành Phú Xuân.

Đêm ấy Nguyễn Huệ đi đi lại lại trong phòng, hết ngồi rồi đứng không sao ngủ được.

Trần Văn Kỷ hỏi:

- Nguyễn Hữu Chỉnh nuôi mộng Ba Vương.

Nguyễn Duy là người phản phúc.

Nguyễn Duy trước bỏ Nguyễn hàng Trịnh, sau bỏ Trịnh hàng ta đều do Nguyễn Hữu Chỉnh lấy tình huynh đệ đồng sư môn mà thuyết cả.

Nay Long Nhương lại cấp quân cho họ trấn đất Nghệ An khác nào xui họ làm phản ta sao.

Nguyễn Huệ đáp:

- Nhà Lê đã đến hồi mạt vận, không người tài giữ lấy kỷ cương.

Tướng lĩnh Bắc Hà ai cũng mượn tiếng phò Lê, mưu đồ danh lợi.

Ta rút binh về Bắc Hà ắt loạn.

Vậy nên tôi mới xin Hoàng huynh cho Hữu Chỉnh trấn đất Nghệ An được gần Thăng Long.

Sớm muộn gì vua Chiêu Thống lại chẳng mật chiếu với Hữu Chỉnh về kinh giúp vua.

Nhân tài Bắc Hà chỉ có Hữu Chỉnh là trội hơn cả, Chỉnh nắm quyền phò vua, may ra có thể tạm yên phần nào đất Bắc, trong khi ta con bận đối phó với Hoàng huynh ở mặt Nam.

Trần Văn Kỷ e dè hỏi:

- Long Nhương nói vậy nghĩa là...

Huệ tiếp lời:

- Vì muôn dân đại nghĩa, ta không thể nào theo Hoàng huynh về Quy Nhơn thọ tội.

Tính Hoàng huynh ta đã biết, rất thương kẻ cũng đường nhưng không muốn ai hơn mình.

Khi ta lần thứ hai kháng mệnh ai dám chắc rằng Hoàng huynh không dấy động can qua.

Sáng hôm sau Nguyễn Huệ dẫn các tướng đến gặp vua Thái Đức.

Huệ tâu:

- Thưa Hoàng huynh, đất Thuận Hoá chưa yên lòng dân còn ly tán, xin Hoàng huynh cho em ở lại trấn thủ Phú Xuân, Thuận Hoá lập lại kỷ cương...

Huệ chưa dứt lời vua Thái Đức vỗ án quát:

- Nguyễn Huệ to gan!

Tội khi quân kháng lệnh của ngươi ta không giết thì thôi.

Ta lệnh cho ngươi về Quy Nhơn thọ tội, ngươi lại xin ở lại Phú Xuân là thế nào.

Nguyễn Huệ khóc nói:

- Xin Hoàng huynh bớt giận mà bỏ lỗi cho, lần này em không thể nghe lệnh Hoàng huynh.

Vua Thái Đức hét lớn rằng:

- Quân bay mau bắt Nguyễn Huệ lại cho ta.

Nguyễn Huệ khóc lớn nói:

- Hoàng huynh nghĩ rằng lính của Hoàng huynh có thể bắt được em sao?

Lúc bấy giờ các tướng Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Văn Tuyết, Võ Đình Tú, Vũ Văn Dũng, Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân, Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân đều là người tâm phúc của Nguyễn

Huệ cả.

Bọn họ đều lặng lẽ cúi đầu.

Vua Thái Đức biết các tướng nghe lời Nguyễn Huệ mà không nghe lệnh mình nhưng cũng gắng nạt thị oai:

- Các ngươi không nghe lệnh của ta ư?

Muốn làm phản hay sao?

Các tướng vẫn lặng thinh.

Nguyễn Lữ bước ra khóc hỏi:

- Long Nhương huynh vì Hoàng huynh và nhà Tây Sơn đánh Nam dẹp Bắc có tội gì mà Hoàng huynh bắt tội.

Rồi quay sang Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ thật thà khóc hỏi:

- Xưa nay Hoàng huynh chỉ lấy đạo nhà mà dậy có bao giờ dùng phép nước trị tội anh đâu.

Sao ăn không theo Hoàng huynh về Quy Nhơn thọ tội, gây nên cảnh huynh đệ bắt hoa như thế này.

Bỗng Nguyễn Văn Tuyết bước ra hỏi lớn:

- Xin hỏi Bệ hạ, Long Nhương tướng quân có tội gì.

Kể từ khi Tây Sơn Thượng dấy binh đến nay, ai đã vì Bệ hạ ra Bắc vào Nam dựng nên nghiệp lớn?

Đánh thành Quy Nhơn xong Bệ hạ lại mượn lời di huấn của phụ thân không để Long Nhương xông pha nơi hiểm nghèo mà chẳng cho cầm quân Bắc tiến.

Vậy tại sao gặp quân Tôn Thất Hương kéo binh ba vạn vào sông Lại Dương Giang Bệ hạ lại gọi Long Nhương đem quân làm tiên phong đánh giặc mà quên lời di huấn của phụ thân?

Rồi ai đã đánh tan hai vạn quân Tống Phước Hiệp ở Phú Yên cứu Tây Sơn ta thoát khỏi thế lưỡng đầu thọ địch của hai nhà Trịnh -Nguyễn.

Như vậy không phải vào chốn hiểm nghèo hay sao.

Kể đến Long Nhương khuyên Bệ hạ vào Gia Định đánh Nguyễn Phúc Thuần, Bệ hạ hẹn lần hẹn lữa chẳng chịu xuất quân để khi Long Nhương phải giả du xuân ngã ngựa Bệ hạ liền sai Nguyễn Lữ đem binh Nam tiến.

Ấy chẳng phải là Bệ hạ đố tài kiềm chế Long Nhương sao?

Lại nữa, vì đâu khi vào Gia Định tiêu diệt năm vạn quân Tiêm La hùm cọp, Long Nhương vội vã kéo quân về để cho anh khỏi sinh lòng ngờ vực.

Nay ra Bắc Hà cũng một lòng vì dân vì nước, công không kể thì thôi, xin hỏi Bệ hạ, Long Nhương tướng quân có tội gì mà phải bắt?

Nguyễn Văn Tuyết nói một hồi, vua Thái Đức không biết trả lời thế nào, bèn vỗ án quát:

- Nguyễn Văn Tuyết!

Ngày ngươi thích khách Chúa Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát không thành, cướp ngựa Xích kỳ mà trốn, ai đã cứu người thoát chết khỏi tay giặc dữ.

Nay ngươi đủ lông đủ cánh là hùa theo Nguyễn Huệ mà phản ta sao.

Nguyễn Văn Tuyết khẳng khái đáp:

- Ơn Bệ hạ cưu mang Tuyết hạ thần sao đã quên.

Nhưng ơn ấy là tình riêng, việc quốc dân là nghĩa chung, thần không thể vì tình riêng mà bỏ nghĩa chung được.

Hẹn khi nào non nước bình yên thần sẽ đem mạng mình về Quy Nhơn trả cho Bệ hạ.

Vua Thái Đức đưa mắt nhìn các tướng rồi chậm rãi nói:

- Vậy là các ngươi đều một lòng ở lại đất Thuận Hoá phò Nguyễn Huệ phản lại ta.

Nguyễn Lữ mau theo ta về Quy Nhơn.

Nói xong vua Thái Đức liền bước ra ngoài chính điện đem hai ngàn quân cấm vệ thẳng đường về Nam.

Nguyễn Lữ vừa khóc vừa bái biệt Nguyễn Huệ và các tướng rồi lên ngựa chạy theo vua Thái Đức.

Nguyễn Huệ nhìn theo anh và em mỗi lúc một xa hai hàng nước mắt chảy ròng ròng.

Các tướng đều cúi đầu ứa lệ.
 
Tây Sơn Bi Hùng Truyện
Chương 40


Nhờ tình mẫu tử, Nguyễn Huệ lập kế can anh.

Mượn nghĩa tôi thần, Nguyễn Hữu Chỉnh xin quân đánh giặc.

Về đến Quy Nhơn vua Thái Đức liền thiết triều.

Vua giận dữ bảo các quan văn võ rằng:

- Nguyễn Huệ thật khinh ta quá lắm!

Nó ỷ có quân đông tướng mạnh, dám ngang nhiên cãi lệnh ta không về Quy Nhơn mà đóng binh nơi Thuận Hoá.

Các tướng mau kiểm điểm binh mã cùng ta cất quân đánh Thuận Hoá hỏi tội Nguyễn Huệ mới hả cơn giận của ta.

Nguyễn Lữ bước ra khóc nói:

- Xin Hoàng huynh bớt giận, hiện Long Nhương huynh có trong tay hai vạn tinh binh, các tướng giỏi từ lúc Tây Sơn Thượng dấy nghĩa như Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân, Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Vũ Văn Dũng, Võ Đình Tú, Nguyễn Văn Tuyết, Nguyễn Văn Lộc đều theo về dưới trướng.

Vả lại tướng của ta ở kinh thành chỉ còn lại hai cha con Lê Trung, Lê Chất, quân sĩ của ta từ trước đến nay đều sợ ơn uy của Long Nhương huynh.

Nay nếu Hoàng huynh gây cuộc binh đao huynh đệ tương tàn, em e rằng đã không thắng được mà tiếng nhơ còn để ngàn sau.

Xin Hoàng huynh xét lại.

Vua Thái Đức quát lớn:

- Nhưng nó khinh ta ra mặt hôi ta nhịn sao cho nổi.

Thái giám Vũ Tâm Can bước ra thưa:

- Tâu Bệ hạ, ngày trước cha thần vì phạm tội uống rượu phải tự đâm cổ mà chết để tỏ rõ là quân pháp bật vị thân.

Huống hồ nay Long Nhương đã hai lần kháng mệnh, khi quân phạm thượng.

Nếu Bệ ha không cử binh vấn tội, thần e lòng người bất phục.

Nghe nói vậy, vua Thái Đức càng quả quyết bảo các quan rằng:

- Các khanh mau về kiểm điểm binh mã, chuẩn bị lương thảo đạn dược, ta sẽ thân chinh hỏi tội Nguyễn Huệ.

Ý ta đã quyết không ai được can ngăn.

Nói xong vua truyền bãi triều.

Các quan văn võ đều ra về thu xếp công việc.

Quan ngự sử Nguyễn Thung vừa đi vừa nghĩ rằng, nếu Hoàng thượng cất binh ra đánh Long Nhương tướng quân thì hai bên đều hao binh tổn tướng, lòng người tan rã.

Nhà Tây Sơn phen này nguy mất.

Ta phải có cách gì ngăn vua mới được.

Về đến nhà, Nguyễn Thung cứ đi đi, lại lại nhăn trán cau mày mà chưa nghĩ ra cách gì.

Bỗng có người tâm phúc vào thưa rằng:

- Thưa đại quân, tháng trước đại quan sai tôi đem mật thư ra Thăng Long cho Long Nhương tướng quân báo tin rằng Hoàng thượng ra bắt tội Long Nhương.

Nay tôi đã hoàn thành sứ mạng xin về báo cho đã quân được rõ.

Nguyễn Thung hỏi:

- Long Nhương tướng quân có dặn điều gì chăng.

Người tâm phúc Nguyễn Thung đáp:

- Long Nhương có thư bảo trao cho đại quan.

Nguyễn Thung đọc thư xong mừng rỡ nói:

- Long Nhương tướng quân liệu việc không sai, ta phải mau theo kế ấy thi hành mới mong cản được vua dấy động can qua.

Nói rồi Nguyễn Thung liền tìm gặp Nguyễn Lữ.

Thung hỏi Lữ:

- Long Nhương vì sợ tội nên không dám theo Hoàng thượng về Quy Nhơn.

Hoàng thượng nghĩ rồi Long Nhương khi quân phạm thượng mà đem quân vấn tội.

Nếu để hai người đánh nhau e rằng nhà Tây Sơn ta nguy mất.

Tiết chế là anh em cốt ruột là không can được Hoàng thượng sao.

Nguyễn Lữ đáp:

- Chức Ngự sử là dùng để can vua.

Ông ở chức ấy mà không can được vua, việc này là việc

nước chữ chân phải việc nhà ông trách ta sao được.

Vả lại Hoàng huynh đang giận lắm, tôi không dám can ngăn.

Nguyễn Thung nói:

- Nay Tiết chế có thể nhờ một người can được Hoàng thượng sao Tiết chế không làm.

Nguyễn Lữ cười báo:

- Người mà ông định nói ta đã biết.

Phụ mẫu ta có thể can được Hoàng huynh.

Nhưng dù sao cũng phận đàn bà cao tuổi, không nghĩ xa nên Long Nhương huynh phải phạm thêm tội bất hiếu!

Nguyễn Thung hỏi:

- Vì sao Thái hậu can không cho Hoàng thượng đánh Long Nhương thì Long Nhương lại phạm tội bất hiếu?

Nguyễn Lữ đáp:

- Phụ mẫu ta can được Hoàng huynh rồi tất muốn anh em phải hoà hiếu với nhau, người ắt gọi Long Nhương huynh về giải hoà cùng Hoàng huynh.

Long Nhương huynh tội với vua quá nặng sao dám về, thì có phải là Long Nhương thêm tội bất hiếu nữa chăng.

Vì lẽ ấy ta còn đắn do chưa cho mẹ hay.

Nguyễn Thung nói:

- Tiết chế hãy thưa cùng Thái hậu thế này... thế này...

ắt Thái hậu sẽ không gọi Long Nhương về, thì không sợ Long Nhương mang tội bất hiếu!

Nguyễn Lư khen:

- Quan Ngự sử thật là cao kiến.

Nói xong Nguyễn Lữ liền đi tìm gặp mẹ.

Hôm sau nghe báo có Thái hậu thân hành đến tìm, vua Thái Đức ra ngoài nghênh đón, lậy chào mẹ xong vua hỏi:

- Những lần trước muốn gặp con, Thái hậu đều sai người đến gọi.

Lần này có việc chi hệ trọng mà mà lại thân hành đến tìm con?

Thái hậu nhỏ nhẹ đáp rằng:

- Ta nghe con định cắt ruột của mẹ, nên đến cầu xin con tha cho mẹ?

Vua Thái Đức thất kinh hỏi:

- Sao mẹ lại nói cơn như thế?

Thái hậu mắng rằng:

- Các con đều là khúc ruột của mẹ, nay con định giết em con thì chẳng phải là cắt ruột mẹ sao?

Vua quỳ không dám ngẩng mặt lên.

Vua nói:

- Do nó dám ra mặt phản con, nếu không trị thì còn gì phép nước.

Xin mẹ hiểu cho!

Thái hậu hỏi:

- Vì sao cơn bảo rằng thằng Huệ phản con?

Vua đáp:

- Con thân hành ra Bắc bảo nó về Quy Nhơn thọ tội.

Nó phản con cãi lệnh không về mà đóng quân lại Thuận Hoá.

Thái hậu lại hỏi:

- Nó tội gì mà còn phải đích thân ra Thăng Long bắt nó về Quy Nhơn thọ tội?

Vua đáp:

- Con sai nó mang quân đánh Thuận Hoá, nó cãi lệnh con đánh tới Bắc Hà.

Bây giờ Thái hậu mới lên tiếng rằng:

- Thuận Hoá và Bắc Hà đều của quân Trịnh, nó đánh giặc chưa báo cho mày, mày liền bắt tội.

Vậy mà toan giết em mày mà không báo cho ta thì là tội gì?

Vua Thái Đức cả sợ cúi mặt làm thinh.

Thái hậu vừa khóc vừa nói tiếp rằng:

- Thằng Huệ tài cao quyết đoán nhưng tính tình cương trực thẳng thắn, lúc nào cũng một lòng hiếu đễ, bởi tại con đem lòng ngờ vực nó, thân ra Thăng Long bắt tội nên nó sợ mà chẳng dám theo về.

Nếu nó có lòng phản Chúa phụ anh thì mấy phen đem đại binh vào Gia Định nó lại không làm phản được sao?

Từ ngày Tây Sơn khởi nghĩa đến nay nhờ nó đánh Nam dẹp Bắc, xông pha nơi hòn tên mũi đạn đưa mày lên ngôi vua, công sao mày không thưởng lại nhân lúc em mày đánh giặc chưa kịp báo tin liền ra bắt tội.

Ta hỏi mày nó có tội gì mà mấy phải bắt?

Vua Thái Đức thầy mẹ giận càng sợ lắm không dám mở lời.

Thái hậu quát:

- Ta nói mày có nghe không?

Vua Thái Đức giật mình đáp:

- Thưa mẹ, con xin vâng lời mẹ đây.

Thái hầu bảo:

- Hãy truyền lệnh cho tướng sĩ lập tức bãi binh.

Mày mau viết chiếu phong thằng Huệ làm Bắc Bình Vương trấn thủ Phú Xuân, Thuận Hoá.

Phong thằng Lữ làm Đông Định Vương trấn thủ Gia Định, Sài Côn.

Mỗi đứa cai trị một nơi khởi động chạm sinh ra xích mích.

Nếu con coi ta là mẹ thì chớ cãi lời.

Anh em bất hoà đều do tính đố kỵ của mày mà ra cả.

Xong việc rồi đến báo cho ta hay.

Nói rồi Thái hậu quày quả trở về hậu cung.

Thái hậu đi rồi vua Thái Đức nói với thái giám Vũ Tâm Can rằng:

- Thường ngày Phụ thân ta không mang đến việc quốc gia.

Sao nay lại biết phong Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương trấn thủ Phú Xuân, Thuận Hoá, phong Nguyễn Lữ làm Đông Định Vương trấn thủ Gia Định, Sài Côn?

Việc này ắt là có kẻ bày kế cho đây.

Vũ Tâm Can tâu:

- Thường ngày quan Ngự sử Nguyễn Thung thường hay bênh vực cho Long Nhương tướng quân.

Việc này có lẽ do quan Ngự Sử bày ra cho Thái hậu chăng.

Vua Thái Đức bảo:

- Ngày trước Nguyễn Thung và cha ngươi là anh em kết nghĩa cùng theo ta tụ nghĩa Tây Sơn.

Và ngươi hãy lấy tình bác cháu gần gũi Nguyễn Thung dò xét hắn xem sao.

Vũ Tâm Can vâng lệnh lui ra.

****

Mùa đông năm Bính Ngọ (1786) niên hiệu Thái Đức thứ chín, vua Thái Đức phong Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương cai quản từ ải Hải Vân trở ra Bắc, phong Nguyễn Lữ làm Đông Định Vương cai quản từ ải Vân Phong (Đèo Cả) trở vào Nam.

Vua Thái Đức tự xưng là Trung ương Hoàng đế cai quản bốn phủ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quy Nhơn và Phú Yên.

Ba anh em nhà Tây Sơn từ ấy thoả thuận nhau chia ba lãnh thổ trị vì.

Nhắc lại ở Bắc Hà, khi quân Tây Sơn rút về Nam rồi vua Lê Chiêu Thống xuống hịch cần vương gọi quân các trấn về bảo vệ kinh thành.

Lúc bấy giờ ở Kinh Bắc có quàn Bồi tụng tên là Dương Trọng Tế nhận được hịch của vua, Tế bên lập vương thân là Trịnh Lệ lên làm Chúa rồi kéo quân về thành Thăng Long.

Quân của Trịnh Lệ và Dương Trọng Tế vừa đến nơi liền truyền hịch phò vua và xuống lệnh chiêu an bá tánh.

Đồng thời Tế lại bố cáo cùng thiên hạ

lập ngôi chúa Trịnh phù trợ nhà Lê định yên xã tắc.

Vua Lê Chiêu Thống biết việc ấy liền bàn cùng các cận thần rằng:

- Nguyễn Huệ dù vì lợi mượn tiếng tôn phò kéo đến đây nhưng cũng nhờ đó mà lật đổ được họ Trịnh đã hiếp đáp ta suốt hai trăm năm này.

Điều may chưa kịp mừng thì thằng nghịch thần Dương Trọng Tế mượn tiếng phò vua hòng dựng lại ngôi chúa định áp bức ta nữa sao.

Ta nay vừa mới lên ngôi, nước nhà loạn lạc, thực quyền không có vậy phải làm thế nào?

Trần Công Xán bàn rằng:

- Lúc trước họ Trịnh áp chế các Tiên đế vì họ Trịnh nắm hết quyền hành trong nước.

Nay họ Trịnh đã đổ, Dương Trọng Tế muốn dựng lại ngôi chúa cho Trịnh Lệ ắt còn phải dò xét xem ý quân các trấn thế nào, vì còn cần Bệ hạ làm bức bình phong cho Trịnh Lệ.

Nay Bệ hạ cứ cương quyết hạ chiếu chỉ quở trách Trịnh Lệ không cho lập lại ngôi chúa chắc Trịnh Lệ nhất thời không dám cãi lệnh.

Xem thử ý Trịnh Lệ như thế nào rồi sẽ liệu sau.

Vua Chiêu Thống khen phải, nói:

- Phen này ta lên kế vị phải cương quyết lấy là oai quyền thiên tủ, điều hành vận mệnh nước nhà.

Nếu về sau trẫm lấy lại được đế quyền thì bọn nghịch thần như Trịnh Lệ và Dương Trọng Tế phải giết hết không tha!

Nói xong vua liền viết chiếu chỉ sai sứ giả để sang phủ chúa Trịnh.

Dương Trọng Tế và Trịnh Lệ quỳ nghe chiếu, sứ giả đọc chiếu xong, Dương Trọng Tế đứng phắt dậy giật tờ chiếu trên tay sứ giả.

Tế xe tờ chiếu làm mấy mảnh quăng ngày trước mặt sứ giả rồi nói lớn:

- Mấy trăm năm nay nhà vua nhờ Chúa lo việc quốc gia nên mới ngồi không mà hưởng lộc.

Quân Tây Sơn vừa đến giết hai chúa, nước không có chúa liền sinh ra loạn lạc.

Ta lập lại ngôi chúa cho yên xã tắc vì sao vừa lại quở trách.

Nhà vua mới lên ngôi từ còn nhỏ nên nghe lời xàm tấu của bọn văn nho.

Ngươi hãy về thưa cùng Bệ hạ, ta sẽ đến điều tra cho rõ kẻ nào bày điều quấy cho vua liền đem ra chém tức thì.

Sứ giả thấy Dương Trọng Tế nổi giận liền vội và lui ra.

Dương Trọng Tế quay lưng toan bước đi, Trịnh Lệ hỏi:

- Tướng quân định đi đâu?

Tế đáp:

- Tôi sang điện vua hỏi cho rõ việc này.

Tế vừa dứt lời xảy quân hớt hải vào báo:

- Thưa tướng quân.

Có biến, có biến!

Dương Trọng Tế giật mình hỏi:

- Biến thế nào?

Quân đáp:

- Thạc quận công Hoàng Phụng Cơ và Liễn trung hầu Đinh Tích Nhưỡng phò Côn quận công Trịnh Bồng làm Chúa đem quân từ Sơn Tây về kinh, hiện đến cách cửa Tây thành hai mươi dặm.

Trịnh Lệ kinh hãi nói:

- Đinh Tích Nhưỡng trước làm trấn thủ Sơn Nam giỏi thuỷ chiến, Hoàng Phụng Cơ là cháu Hoàng Ngũ Phúc cũng là tướng tài cả.

Nay hai người này theo phò Trịnh Bồng tranh ngôi chúa với ta, e rằng ta không địch nổi, vậy ta phải làm sao.

Dương Trọng Tế đáp:

- Xin Chúa thượng chớ lo, thần xin đem quân chặn đánh chúng ở ngoài thành.

Nói rồi liền kéo quân đi.

Quân Dương Trọng Tế ra khỏi thành liền gặp Trịnh Bồng, Đinh Tích Nhưỡng, Hoàng Phụng Cơ vừa dẫn quân tới.

Hai bên xáp chiến.

Dương Trọng Tế ít

quân lại ô hợp, địch không nổi bị quân Trịnh Bồng giết chết rất nhiều.

Dương Trọng Tế bèn dẫn quân chạy vào thành, Trịnh Bồng xua quân đuổi theo.

Quân Dương Trọng Tế tan vỡ cả.

Trọng Tế chỉ kịp ghé qua phủ Trịnh gọi Trịnh Lệ, cả hai chỉ còn lại trăm quân hầu cận chạy ra cửa Bắc thành trốn về Kinh Bắc (nay là Bắc Ninh).

Trịnh Bồng vào thành rồi, lại sai người xé bỏ cáo thị của Trịnh Lệ, dán hịch truyền chiêu an bá tánh phò vực vua Lê, rồi cùng Hoàng Phụng Cơ và Đinh Tích Nhưỡng sang cung vua yết kiến vua Chiêu Thống.

Thi lễ xong Hoàng Phụng Cơ tâu với vua rằng:

- Quân Tây Sơn kéo quân đến đây mượn tiếng phò vua giết chúa, rồi lại lấy hết kho tàng lương thực kéo quân về để nước ta loạn lạc.

Vậy xin Bệ hạ hay phong Côn quận công tước vương, lập lại ngồi chúa cho ở lòng muôn dân, mới mong lập lại kỷ cương cho xã tắc.

Vua Chiêu Thống gạt đi bảo:

- Nếu các khanh một lòng phò vua giúp nước không vì lợi ích thì việc gì phải đòi phong vương.

Hay cũng muốn lập lại ngôi chúa dựng riêng triều đình nắm quyền hành để áp chế ta.

Hoàng Phụng Cơ đáp:

- Oai đức của nhà vua là để an lòng trăm họ quyền hành nhà chúa là để hiệu triệu trăm quân.

Xưa nay vẫn thế, nếu Bệ hạ muốn yên xã tắc thì không thể làm khác được.

Vua Chiêu Thống cương quyết nói:

- Nếu vậy người hay tự phong vương cho mình cần gì phải xin mệnh của ta.

Nói rồi vua liền đứng lên quày quả vào hậu cung bỏ mặc bọn Trịnh Bồng, Hoàng Phụng Cơ và Đinh Tích Nhưỡng.

Trịnh Bồng về phủ chúa hỏi Hoàng Phụng Cơ và Đinh Tích Nhưỡng:

- Nay vừa không chịu phong vương và lập lại ngôi Chúa cho ta, vậy phải làm thế nào?

Đinh Tích Nhưỡng đáp liều rằng:

- Ta cho quân sang vay điện vua nói dối rằng bảo vệ Hoàng cung, không cho vua và Hoàng tộc ra ngoài đề phòng vua trốn ra khỏi thành xuống hịch cần vương chống lại ta.

Rồi thần xin vào điện vua bức vua phải hạ chỉ phong vương.

Có mệnh vua, Chúa thượng mới hiệu triệu được quân các trấn.

Trịnh Bồng bảo:

- Nếu muốn lập lại nhà chúa ta chỉ còn có cách ở mà thôi.

Nói rồi liền theo kế của Đinh Tích Nhưỡng mà làm.

****

Nhắc lại vua Lê Chiêu Thống lui vào hậu cung, Trần Công Xán hỏi vua rằng:

- Hoàng Phụng Cơ và Đinh Tích Nhưỡng đều là bọn võ tướng ngu phu.

Nay Bệ hạ căng thẳng quá e vũ phu ấy tham quyền làm liều thì sao?

Vua Chiêu Thống hỏi lại:

- Theo ý khanh thì phải thế nào.

Không lẽ ta lập lại ngôi chúa cho bọn chúng hiếp đáp ta ư?

Trần Công Xán hiến kế:

- Theo thần nếu bọn Trịnh Bồng dùng uy vũ ép vua, Bệ hạ hãy vờ nghe theo lời hắn phong vương lập lại ngôi Chúa.

Rồi Bệ hạ nên mật chiếu với một người mang quân về cứu giá diệt Trịnh Bồng.

Vua vội vàng hỏi:

- Người ấy là ai?

Xán đáp:

- Người ấy là Nguyễn Hữu Chỉnh hiện đang theo lệnh vua Thái Đức nhà Tây Sơn trấn thủ Nghệ An.

Vua Chiêu Thống hỏi:

- Nguyễn Hữu Chỉnh đã phản ta theo vua Tây Sơn thì làm gì nghe chiếu chỉ của ta mang quân về cứu giá.

Xán đáp:

- Năm xưa kiêu binh giết Huy quận công Hoàng Đình Bảo phế vương tử Cán lập vương tử Khải lên làm Chúa, Nguyễn Hữu Chỉnh là tay chân của Hoàng Đình Bảo nên sợ tội mà trốn theo vua Tây Sơn, thật lòng không muốn phản.

Mới đây Chỉnh xui Nguyễn Huệ mượn tiếng tôn phò đem quân đến đây, ý muốn mượn tay Tây Sơn diệt Trịnh.

Diệt được Trịnh rồi Chỉnh lại xin Tiên đế gả công chúa Ngọc Hân cho Nguyễn Huệ và nhờ Tiên đế xin cho Chỉnh mượn quân ở lại Bắc Hà giúp vua.

Không ngờ vua Thái Đức nhà Tây Sơn bất ngờ ra Bắc buộc Nguyễn Huệ phải kéo quân về, bỏ Hữu Chỉnh ở Bắc Hà không quân không tướng, làm đảo lộn mọi kế hoạch của Chỉnh và khiến cho Chỉnh suýt chết dưới tay dân chúng ở Thăng Long.

Hữu Chỉnh lần thứ hai bất đắc dĩ phải theo vua Tây Sơn nhưng trong lòng rất oán.

Nay Bệ hạ mật chiếu đến vời, Nguyễn Hữu Chỉnh nhất định nhân dịp này sẽ bỏ Tây Sơn đem quân về cứu giá.

Trần Công Xán vừa dứt lời, nghe quân vào báo:

- Tâu Bệ hạ, Đinh Tích Nhưỡng đem quân vây kín Hoàng cung chẳng rõ là có ý gì?

Trần Công Xán trấn an vua:

- Xin Bệ hạ bình tâm, Đinh Tích Nhưỡng chỉ e Bệ hạ phong vương cho Trịnh Bồng mà thôi.

Xin Bệ hạ cứ theo lời thần dặn mà làm!

Quả nhiên, Đinh Tích Nhưỡng vào đến, không lậy mà vịn tay vào đốc kiếm hỏi vua Chiêu Thống rằng:

- Việc Côn quận công xin phong vương, Bệ hạ định thế nào?

Vua Chiêu Thống vờ hoảng sợ nói:

- Quả nhân ngay bây giờ xuống chiếu phong vương.

Nói xong liền đem nghiên bút viết chiếu phong Trịnh Bồng làm Yến Đô Vương chức nguyên soái, rồi trao cho Đinh Tích Nhưỡng.

Nhường cầm tờ chiếu trên tay cười lớn nói:

- Phải như thế!

Chứ lẽ đâu có cái gương của Thái tử thời Tiên đế, Bệ hạ lại chẳng thấy hay sao (ý Đinh Tích Nhưỡng muốn nói việc Thái tử Vỹ là cha vua Lê Chiêu Thống bị Trịnh Sâm giết chết).

Nói xong Nhưỡng bỏ ra ngoài.

Vua Lê Chiêu Thống nghe những lời của Nhưỡng, uất ức mà thổ huyết.

Quân hầu đỡ vua dậy.

Vua gạt đi bảo:

- Hay mang một tấm lụa đến cho ta.

Quân mang lụa đến.

Vua Chiêu Thống ngồi xuống nền điện cho huyết thổ ra, lấy tay chấm vào huyết ấy mà viết mật chỉ.

Viết xong vua bảo:

- Hãy lập tức sai người tâm phúc lén vào Nghệ An trao mật chiếu này cho Nguyễn Hữu Chỉnh.

****

Nói về Nguyễn Hữu Chỉnh lúc ấy đang cùng Nguyễn Duy và Nguyễn Huỳnh Đức trấn thủ Nghệ An.

Nhận được mật chỉ của vua Lê Chiêu Thống, Chỉnh bảo sứ giả rằng:

- Ngài quay về trước tâu vua hãy hạ mình giữ gìn long thể.

Tôi điểm binh rồi lập tức về kinh

cứu giá.

Sứ giả vâng mệnh đi ngay.

Nguyễn Viết Tuyển nói với Nguyễn Hữu Chỉnh rằng:

- Có mật chiếu của vua là ta có thể khiến được thiên hạ ở Bắc Hà.

Vậy tướng quân mau đem binh về kinh.

Nguyễn Hữu Chỉnh bảo:

- Ta trấn thủ Nghệ An cùng Nguyễn Duy và Nguyễn Huỳnh Đức tất trên danh nghĩa vẫn là tôi nhà Tây Sơn.

Nay nếu đem quân ra Bắc cũng phải xin lệnh của Bắc Bình Vương mới được.

Nguyễn Viết Tuyển hỏi:

- Ta đã muốn bỏ Tây Sơn thì cần gì phải xin mệnh Bắc Bình Vương.

Chỉnh đáp:

- Ngươi cơ trí phải biết đường tiến thoái.

Nếu ta tự tiện đem quân ra Thăng Long mà không xin lệnh Bắc Bình Vương, ngộ nhỡ không thắng còn quay lại được sao.

Tuyển lại hỏi:

- Nếu ta xin lệnh trước mà Bắc Bình Vương không cho đi thì làm thế nào?

Chỉnh đáp:

- Bắc Bình Vương có hai lẽ phải một dạ phù Lê.

Nay nghe vua Lê hạ chiếu cần vương tất phải cho ta ra Bắc.

Tuyển hỏi:

- Vì hai lẽ gì mà Bắc Bình Vương phải một dạ phù Lê?

Chỉnh đáp:

- Lẽ thứ nhất Bắc Bình Vương là rể của họ Lê, nay nghe bên vợ kêu cứu lẽ nào mà không giúp.

Lẽ thứ hai là Bắc Bình Vương lần trước ra Bắc mượn tiếng phò Lê diệt Trịnh, nào ngờ vua Thái Đức ra bắt về khiến Nguyễn Huệ thất tín với thiên hạ, bẽ mặt với Ngọc Hân công chúa.

Nay được dịp để chứng tỏ lòng thành, lấy lại uy tín thì làm gì không một một lần nữa truyền hịch phò Lê diệt Trịnh.

Viết Tuyển lại hỏi:

- Nhưng tôi vẫn e rằng Nguyễn Huệ không cho tướng quân cầm binh ra Bắc.

Chỉnh hỏi:

- Vì sao?

Tuyển đáp:

- Vì Nguyễn Huệ rất rõ chí của tướng quân.

Chỉnh cười đáp:

- Nguyễn Huệ biết rõ chí ta.

Nhưng ta cũng biết rõ Nguyễn Huệ tất phải để ta đi không thể khác được, thế mới lạ kỳ.

Nói rồi liền viết mật thư sai người tâm phúc lập tức mang vào Phú Xuân trình Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ.

Nguyễn Huệ ở thành Phú Xuân nhận được thư Nguyễn Hữu Chỉnh liền hỏi Trần Văn Kỷ rằng:

- Ta này đã được trọn quyền lo mọi việc từ đèo Hải Vân ra Bắc, không phải chịu mệnh của Hoàng huynh.

Quả như ta dự đoán khi theo Hoàng huynh rút khỏi Thăng Long là Bắc Hà sinh loạn.

Nay Trịnh Bồng lấy lại ngai Chúa bức bách ấu quân.

Vua Chiêu Thống mới lấy máu viết mật chỉ vời Nguyễn Hữu Chỉnh về kinh cứu giá.

Nguyễn Hữu Chỉnh lại viết thư vào xin lệnh của ta, vậy theo ý Trung Thư ta phải thế nào?

Trần Văn Kỷ đáp:

- Theo ý tôi Chúa công chớ nên cho Hữu Chỉnh cầm quân ra Bắc.

Huệ hỏi:

- Vì sao?

Kỷ đáp:

- Chí Hữu Chỉnh là muốn làm bá vương nơi đất Bắc, dùng sông Linh Giang chia cắt trời Năm.

Nếu để Hữu Chỉnh ra Bắc phen này ắt hắn dựa vào tiếng phò Lê trước sau gì mà chẳng phản ta.

Chi bằng ta sai tướng khác cầm quân ra Bắc vậy.

Nguyễn Huệ nói:

- Việc này không được.

Trần Văn Kỷ hỏi:

- Xin hỏi Chúa công vì sao lại không được?

Huệ đáp:

- Trên danh nghĩa đối với thiên hạ, Tây Sơn ta và Bắc Hà là hai nước hai vua.

Vua Lê chỉ mật chiếu vời Hữu Chỉnh về cứu giá.

Nay nếu ta giữ Hữu Chỉnh lại Nghệ An, sai tướng khác truyền hịch tôn phò đem quân ra Bắc, e rằng vua Lê sẽ hoảng sợ mà trốn khỏi kinh thành hạ chiếu cần vương mộ quân đánh lại Tây Sơn ta thì ta trở thành kẻ xảo ngôn vậy.

Trần Văn Kỷ lại hỏi:

- Dám hỏi Chúa công vì sao sai tướng khác ra phò Lê, giữ Hữu Chỉnh ở lại Nghệ An thì vua Lê phải hoảng sợ mà trốn khỏi kinh thành.

Huệ đáp vẻ nuối tiếc:

- Lần trước Hoàng huynh ra Bắc triệu ta về Quy Nhơn thọ tội, khiến Tây Sơn ta phải thất tín với vua Lê và thiên hạ Đàng Ngoài.

Vua Lê bây giờ tất sinh lòng ngờ vực, lại thấy ta giữ Hữu Chỉnh ở Nghệ An sai tướng khác cầm quân Bắc tiến, dù có truyền hịch phò Lê thì vua Lê ắt sẽ nghĩ ta thừa dịp mà đem quân cướp nước lại chẳng trốn khỏi Hoàng cung ư?

Vì lẽ ấy nên trước kia ta để Chỉnh trấn thủ Nghệ An tất vua Lê sẽ gọi về cứu giá.

Bởi chỉ mình Chỉnh mới đủ chính nghĩa phò Lê sau khi Tây Sơn ta thất tín ở Bắc Hà mà thôi.

Trần Văn Kỷ nói:

- Lời Chúa công rất phải.

Vậy ta bắt đắc dĩ phải để Hữu Chỉnh đem quân ra Bắc.

Nếu về sau hắn ra mặt chống lại ta thì sao.

Huệ cười đáp:

- Nguyễn Hữu Chỉnh có tài làm tướng mà lập chí bá vương, sớm muộn gì cũng sinh ra biến loạn ở Bắc Hà.

Khi ấy ta sẽ danh chánh ngôn thuận thống nhất sơn hà.

Nói rồi Nguyễn Huệ liền viết thư thuận ý cho Nguyễn Hữu Chỉnh cầm quân Bắc tiến, sai người ra Nghệ An trao cho Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Hữu Chỉnh nhận được thư của Nguyễn Huệ bên cười to bảo Nguyễn Viết Tuyển rằng:

- Nguyễn Huệ đã thuận ý cho ta ra Bắc Hà diệt Trịnh phò Lê.

Ngươi thấy ta liệu việc thế nào, ở sánh cùng Nguyễn Huệ được chưa?

Nguyễn Viết Tuyển đáp:

- Tướng quân liệu việc như thần.

Thực tài nào có kém gì Nguyễn Huệ.

Hữu Chỉnh nghe Tuyển khen thích thú lắm cười nói:

- Ta ra Bắc phen này ắt cái chí dùng sông Linh Giang chia đôi thiên hạ với nhà Tây Sơn đã thành rồi vậy.

Nói xong bèn họp các tướng bàn việc quân.

Chỉnh nói với Nguyễn Duy và Nguyễn Huỳnh Đức rằng:

- Nay Bắc Bình Vương sai tôi ra Bắc diệt Trịnh phò Lê.

Tôi đi chuyến này nếu diệt được

Trịnh Bồng ắt vua Lê Chiêu Thống không cho tôi về.

Xin chia ta trước với hai ông vậy.

Nguyễn Duy thất kinh nói:

- Tôi trước bỏ Nguyễn theo Trịnh, sau bỏ Trịnh theo Tây Sơn đều làm theo ý của sư đệ cả.

Nay sư đệ ra Bắc không về, Bắc Bình Vương tất nghĩ tôi với sư đệ thông đồng với nhau, ông ấy lại dùng tôi sao.

Nếu sư đệ ra Bắc không về là đã hại tôi rồi vậy.

Nguyễn Huỳnh Đức hiểu bụng của Nguyễn Hữu Chỉnh và Nguyễn Duy liền xen vào nói:

- Theo tôi, nếu hai ông liên kết lại làm thế môi răng thì không ai có thể hại được hai ông!

Nguyễn Duy hỏi:

- Ông nói vậy là ý thế nào?

Huỳnh Đức đáp:

- Nay ông Chỉnh mang quân ra Bắc là vâng mệnh của Bắc Bình Vương.

Nếu thua binh thì chạy về và nương náu dưới quyền Bắc Bình Vương, nếu thắng thì tung hoành nơi đất Bắc ắt ông Duy phải luỹ đến thân.

Vậy tại sao ông Chỉnh không dùng ông Duy lấy lại đất Nghệ dùng sông Linh Giang làm ranh giới đối chọi Bắc Bình Vương, ấy không phải là thượng sách ư?

Nghe Huỳnh Đức nói xong, Nguyễn Hữu Chỉnh tuốt gươm khỏi vỏ quát lên rằng:

- Quân bay mau bắt Nguyễn Huỳnh Đức lại, ta giải về cho Bắc Bình Vương trị tội.

Võ sĩ xông vào trói Huỳnh Đức.

Đức cười lớn hỏi:

- Tôi có tội gì mà ông bắt tôi cho Bắc Bình Vương trị tội.

Chỉnh trợn mắt quát:

- Lòng ngươi mưu phản Bắc Bình Vương lại còn chối nữa hay sao.

Đức điềm nhiên đáp:

- Ngày xưa tôi bị Bắc Bình Vương bắt sống ở miền đất Gia Định.

Bắc Bình Vương khuyên hàng đã có điều giao ước, ngày sau nghe Chúa Nguyễn Phúc Ánh ở đâu thì đi hay ở là tuỳ ý sở cầu.

Mới đây vua Thái Đức đem Bắc Bình Vương về Quy Nhơn thọ tội, tôi bèn xin ông ấy cho ở lại Nghệ An với hai ông để tiện đường về với chúa.

Nay tôi bày kế cho hai ông cũng là vì chúa của tôi.

Bắc Bình Vương là người quang minh chính đại, lý gì mà bắt tội tôi được.

Nguyễn Hữu Chỉnh hỏi:

- Ông vừa nói bày kế cho hai ta là vì chúa của ông.

Vậy nếu đại sự mà thành thì chúa ông có lợi gì.

Nguyễn Huỳnh Đức đáp:

- Sau khi thua trận ở Trường Đồn, Rạch Gầm, Chúa tôi đã sang ẩn náu ở Tiêm La Quốc mưu việc khôi phục cơ đồ nhà Nguyễn ở Đàng Trong.

Nay anh em Nhạc, Huệ, Lữ đã chia ba lãnh thổ ra mà cai trị.

Lãnh thổ của Nguyễn Huệ chỉ vỏn vẹn có vùng Phú Xuân, Thuận Hoá đất hẹp dân nghèo.

Nếu ông là Chúa ở Bắc Hà đất rộng dân đông thì Bắc Bình Vương ở Thuận Hoá không phải là đối thủ của ông.

Khi ấy ông cho tôi mượn quân đánh đổ Tây Sơn có Đàng Trong dựng lại cơ nghiệp cho Chúa tôi.

Khi diệt được Tây Sơn rồi ta lại dùng Linh Giang làm ranh giới, ông Đàng Ngoài, Chúa tôi Đàng Trong đời đời giao hiếu thế chẳng tốt hay sao?

Nguyễn Hữu Chỉnh mừng rỡ cởi trói cho Nguyễn Huỳnh Đức rồi nói:

- Từ xưa đến nay chỉ có mình ông nói ra điều mưu phản là không sợ tội mà thôi.

Tôi vẫn biết ông có thế đặc biệt thế, nên mới giả vờ như vậy để ông nói ra hầu rõ lòng nhau mà thôi.

Ngày sau nếu được như vậy thì Nguyễn Duy sư huynh muốn lấy tình sự đó mà theo tôi học lấy nghĩa chúa cũ mà theo chúa Nguyễn là tuỳ ý sở cầu như Huỳnh Đức đã giao ước với Nguyễn Huệ vậy.

Nguyễn Hữu Chỉnh nói xong, ba tướng cùng bắt tay nhau thích thú cười vang.

Bàn bạc xong

Nguyễn Duy và Nguyễn Huỳnh Đức ở lại trấn thủ Nghệ An, con Nguyễn Hữu Chỉnh đem năm ngàn quân truyền hịch diệt Trịnh phò Lê lên đường ra Bắc.
 
Tây Sơn Bi Hùng Truyện
Chương 41


Mộng Bá Vương, Bằng Trung Công mượn tiếng phò vua.

Vì đại nghĩa, Bắc Bình Vương cất quân đánh anh.

Nhắc lại Nguyễn Hữu Chỉnh từ Nghệ An đem quân theo gồm tướng Nguyễn Viết Tuyển, Lê Duật, Nguyễn Như Thái, Nguyễn Cảnh Thước cử binh lên đường ra Bắc.

Hữu Chỉnh thúc quân đi cả ngày đêm, khi đến được núi Tam Điệp (đèo Ba Dội) mới cho quân nghỉ ngơi ăn uống.

Sáng hôm sau chưa nghe Hữu Chỉnh truyền lệnh xuất quân Nguyễn Viết Tuyển hỏi:

- Từ Nghệ An đến đây tướng quân hối quân đi ngày đêm không nghỉ, giờ quân ta đã nghỉ qua đêm, sức lực sung mãn sao tướng quân chưa cho tiến binh.

Chỉnh đáp:

- Tây Sơn rút binh về, Bắc Hà trống rỗng không quân không tướng, từ Nghệ An đến Thăng Long chỉ có ải Tam điệp này là hiểm địa.

Ai lấy được đèo này thì có thể chặn lui quân địch, còn từ Tam Điệp ra Thăng Long đất phẳng đường liền, mạnh được yếu thua nên ta gấp hối quân đi là vì lẽ ấy.

Nay đã lấy được đèo rồi có gì mà phải gấp, để quân ta nghỉ thêm một vài hôm nữa rồi vào Thăng Long nào có muộn gì.

Nói rồi cho quân nghỉ ngơi.

Hai hôm sau Nguyễn Hữu Chỉnh mới hạ lệnh tiến binh.

Khi quân đi đến trấn Sơn Nam cách thành Thăng Long một trăm dặm thì gặp lúc tối trời, Chỉnh liền bảo quân hạ trại cạnh một ngôi làng.

Bỗng một con chim Phượng hoàng từ đâu bay đến đậu trên cổng làng ấy hót lên ba tiếng vui mừng thánh thót rồi vỗ cánh bay đi.

Nguyễn Hữu Chỉnh hỏi:

- Cổng làng kia có tấm biển đề chữ gì vậy?

Nguyễn Viết Tuyển thưa:

- Tấm biển ấy đề hai chữ Bình Vọng là tên chữ của làng này, tục thường gọi là làng Bằng.

Hữu Chỉnh vui mừng nói:

- Ngày trước theo Hoàng Ngũ Phúc đánh Thuận Hóa về ta được Chúa Trịnh Sâm phong tước Bằng Lĩnh hầu.

Nay kéo quân đến làng Bằng như tước phong của ta thì có Phượng hoàng ra đón, ấy thật là điềm lành vậy.

Truyền lệnh ta, quân sĩ nghỉ ngơi ngày mai sẽ tiến vào Thăng Long!

Quân Chỉnh thấy điềm lành thế đều phấn chấn dạ ran.

****

Nói về Trịnh Bồng ở thành Thăng Long nghe quân vào báo rằng:

- Tâu Chúa thượng!

Nguyễn Hữu Chỉnh ở Nghệ An truyền hịch phò Lê đem quân ra Thăng Long, hiện đang đóng ở làng Bằng cách thành một trăm dặm.

Trịnh Bồng hỏi quân do thám rằng:

- Binh Chỉnh được bao nhiêu người?

Quân đáp:

- Ở Nghệ An, Chỉnh chỉ có hơn năm ngàn quân.

Trên đường qua Thanh Hóa, Vị Hoàng, Sơn Nam quân ta trước chạy lạc lúc giặc Tây Sơn ra Bắc nay đều theo Chỉnh nên quân lên

đến hàng vạn.

Trịnh Bồng lo lắng hỏi các tướng rằng:

- Hữu Chỉnh trước dẫn Nguyễn Huệ ra Bắc phò Lê diệt Trịnh giết chết Đoan Nam Vương.

Nay ta vừa mới kế vị ngôi Chúa, nó lại truyền hịch phò Lê kéo quân đến đây, vậy ta nên tiến thủ thế nào.

Hoàng Phùng Cơ đáp:

- Nguyễn Hữu Chỉnh trước cùng thần đều ở dưới trướng Việp Quận Công Hoàng Ngũ Phúc, cũng là người đa mưu túc trí.

Từ trấn Sơn Nam đến kinh thành không có núi sông hiểm trở để lập trận đánh địch.

Vậy ta cứ ở trong thành cố thủ, chờ Chỉnh đem quân đến đây thần sẽ có cách khuyên Chỉnh lui binh.

Chúa thượng không phải lo.

Vừa lúc ấy quân vào báo:

- Tâu Chúa thượng, quân Nguyễn Hữu Chỉnh đã đến gần cổng Nam thành.

Xin Chúa thượng định liệu.

Hoàng Phùng Cơ liền truyền quân canh phòng cẩn mật rồi mặc giáp đeo gươm lên mặt thành gọi lớn:

- Bằng Lĩnh hầu kéo quân đến đây toan phản vua bội chúa chăng?

Hữu Chỉnh đáp lớn rằng:

- Các ngươi đều là tôi của vua Lê, đáng lẽ nên thừa lúc nhà chúa đã diệt mà phò vua mới phải, sao còn rước Trịnh Bồng về làm chúa?

Hòng ép vua nữa chăng?

Hoàng Phùng Cơ đáp:

- Quân Tây Sơn mượn tiếng phò Lê diệt Trịnh vào nước ta cướp của, rồi kéo quân về để nước ta loạn lạc.

Vua bèn viết chiếu triệu Yến Đô Vương về làm chúa phò vua để yên thiên hạ sao lại bảo là ép vua.

Vả lại ngày trước ngươi cũng chịu mệnh của chúa, được Tĩnh Đô Vương phong tước Bằng Lĩnh hầu, nay lại kéo về kinh thành phản vua bội chúa.

Nay vua viết chiếu phong cho ngươi làm trấn thủ đất Thanh Hóa, mau kéo quân về cho rõ nghĩa tôi thần.

Hữu Chỉnh nói:

- Vậy xin mở cổng thành cho ta vào nhận chiếu của Bệ hạ rồi sẽ kéo quân đi ngay.

Hoàng Phùng Cơ bảo:

- Bởi trước ngươi đã theo quân Tây Sơn nên giờ vua không dám tin, vậy ngươi hãy rút quân về trước để tỏ lòng thành, rồi vua sẽ sai sứ giả đem chiếu chỉ đến sau.

Nguyễn Hữu Chỉnh nổi giận mắng rằng:

- Thằng giặc già kia, mày xem ta như con nít hay sao mà hòng lừa phỉnh.

Ta vì bất đắc dĩ phải bỏ nước mà đi nhưng lòng lúc nào cũng trông về cố quốc.

Người tín cẩn của ta đã kể cho ta biết việc mày và Đinh Tích Nhưỡng mượn chuyện Tĩnh Đô Vương giết Thái tử Vĩ dọa vua, buộc vua phải phong vương cho Trịnh Bồng.

Nay còn dám giả mệnh vua để gạt ta.

Đợi ta phá thành rồi sẽ bắt chúa tôi Yến Đô Vương của ngươi quỳ trước bệ rồng đối chất xem thật giả thế nào.

Hoàng Phùng Cơ biết không gạt được Hữu Chỉnh liền hô quân bắn tên xuống như mưa.

Nguyễn Hữu Chỉnh gạt quân lui ra khỏi tầm tên rồi hạ lệnh tấn công.

Quân Chỉnh đặt đại bác mà bắn.

Súng nổ ầm ầm như sấm, cổng thành liền vỡ.

Quân Trịnh Bồng bảo nhau rằng:

- Nguyễn Hữu Chỉnh mượn đại bác của quân Tây Sơn đánh thành ta địch sao cho nổi, mau chạy thoát thân.

Nói rồi mạnh ai nấy chạy.

Nguyễn Hữu Chỉnh xua quân vào thành chém giết như chỗ không người.

Hoàng Phùng Cơ đương không nổi phải phò Trịnh Bồng ra cửa Tây thành chạy trốn

về Sơn Tây.

Vào thành rồi Nguyễn Hữu Chỉnh liền vào cung yết kiến vua Lê Chiêu Thống, Chỉnh quỳ tâu:

- Nhận được mật chỉ, hạ thần lập tức đêm ngày mang quân về kinh cứu giá.

Nhờ oai võ của Bệ hạ thần đã đuổi được bọn Trịnh Bồng chạy trốn hết cả.

Nay đến đây quỳ dưới bệ rồng xin phục mệnh.

Vua Chiêu Thống mừng rỡ nói:

- Khanh về đây cứu giá đuổi loạn thần thật công lao rất lớn.

Nay ta phong khanh làm Bình Chương quốc quân trọng sự, Đại tư đồ tước Bằng Trưng Công.

Khanh hãy cầm trọng binh ở lại kinh thành giúp trẫm định yên xã tắc.

Nguyễn Hữu Chỉnh khấu đầu lạy tạ.

Mưu sĩ Trần Công Xán bàn rằng:

- Nay Dương Trọng Tế và Trịnh Lệ vẫn hùng cứ ở Kinh Bắc, Hoàng Phùng Cơ vùng vẫy đất Sơn Tây, Đinh Tích Nhưỡng làm chủ đất Hải Dương.

Vậy nhân khi chúng hãy còn ô hợp, quan Đại tư đồ nên chia quân đánh bắt, nếu để lâu chúng liên kết với nhau ba mặt đánh tới kinh thành, e rằng quân ta bất lợi.

Nguyễn Hữu Chỉnh khen phải liền sai Nguyễn Viết Tuyển đem binh đánh Hoàng Phùng Cơ ở Sơn Tây, sai Nguyễn Cảnh Thước sang Kinh Bắc đánh Dương Trọng Tế và sai Nguyễn Như Thái xuống Hải Dương đánh Đinh Tích Nhưỡng.

Chẳng bao lâu quân Chỉnh đánh bắt dược Hoàng Phùng Cơ và Dương Trọng Tế giải đến kinh thành.

Nguyễn Hữu Chỉnh xin mệnh vua Chiêu Thống rồi đem Hoàng Phùng Cơ và Dương Trọng Tế ra chém.

****

Ngày ấy họp các tướng, Chỉnh tự đắc nói:

- Ta từ Nghệ An đem quân ra Bắc, đi đến đâu không ai dám kháng cự.

Chém đầu Hoàng Phùng Cơ, phanh thây Dương Trọng Tế, chỉ còn Đinh Tích Nhưỡng đem Trịnh Bồng đi trốn ở hóc hẻm nào.

Bọn ấy thì có sá gì!

Nay ta phong Nguyễn Viết Tuyển làm trấn thủ Sơn Tây, Nguyễn Cảnh Thước làm trấn thủ Kinh Bắc, Nguyễn Như Thái trấn thủ Sơn Nam, Lê Duật trấn thủ Thanh Hóa.

Đợi ít lâu nữa ta yên được đất Bắc chiêu binh mãi mã sẽ đối đầu với Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ xem ai là kẻ anh hùng.

Nói rồi sai quân bày yến tiệc, Chỉnh tự tay rót rượu tiễn các tướng.

Nguyễn Viết Tuyển, Nguyễn Cảnh Thước và Nguyễn Như Thái liền bái biệt lên đường.

Riêng Lê Duật hãy còn chần chừ chưa muốn đi.

Chỉnh liền hỏi Duật:

- Ngươi còn muốn nói gì nữa chăng.

Duật hỏi lại Chỉnh:

- Đất Nghệ An do hai tướng Tây Sơn là Nguyễn Duy và Nguyễn Huỳnh Đức trấn thủ, Thanh Hóa lại giáp giới đất Nghệ An.

Nay tôi vào trấn thủ Thanh Hóa nếu Tây Sơn đem quân đến đánh thì nên tiến thủ thế nào?

Chỉnh cười lớn đáp:

- Nguyễn Duy và Nguyễn Huỳnh Đức tiếng là tướng của Tây Sơn nhưng đều là người nhà của ta ngươi không phải ngại.

Lê Duật nói:

- Tôi chịu ơn tri ngộ của tướng quân xin đem thân khuyển mã báo đền.

Nhưng Nguyễn Duy là người phản phúc tôi vẫn lấy làm lo lắm.

Mạng tôi nào có sá gì, chỉ e rằng thua binh

làm nhục mệnh của tướng quân mà thôi.

Nguyễn Hữu Chỉnh an ủi Lê Duật rằng:

- Lòng trung của Duật thật đáng khen thay.

Hiểu được bụng người trung nghĩa thì dễ, hiểu được lòng dạ của kẻ phản phúc mới là việc khó.

Vậy mà ta hiểu được bụng của Nguyễn Duy đó.

Nguyễn Duy ở cái thế phải phản Nguyễn Huệ mà không thể phản ta.

Ngươi hãy an tâm mà đi đi.

Nếu Nguyễn Duy và Nguyễn Huỳnh Đức mà đem quân đánh tới, ngươi cứ bỏ Thanh Hóa mà chạy về đây, có gì ta cũng không bắt tội.

Lê Duật liền thưa rằng:

- Tướng quân đã nói chắc thế tôi thật là an lòng.

Tin ở lòng người là việc dễ, tin ở người tài mới là việc khó.

Vậy mà tôi đã tin tài của tướng quân đó.

Nếu tướng quân đoán lầm, Duật tôi quyết bỏ mình không bỏ đất.

Nói rồi từ biệt Hữu Chỉnh mà đi.

Lê Duật đi rồi, con Chỉnh là Nguyễn Hữu Du bước ra hỏi:

- Nay các tướng đã được phong hầu, còn con đã từng theo cha xông pha trận mạc sao cha không phong tước cho con.

Chỉnh cười đáp:

- Ta sẽ phong cho con ngôi Thế tử .Ý con thế nào?

Nói rồi liền sai quân lập dinh thế tử cho Nguyễn Hữu Du đến ở.

Vua Chiêu Thống hay tin ấy bèn nói với các quan tín cẩn rằng:

- Nguyễn Hữu Chỉnh ngày càng kiêu ngạo hống hách không coi ta ra gì cả.

Hắn tự ý lập ngôi thế tử cho con mình, tự ý phong hầu cho các tướng.

Tuy không tự xưng vương nhưng việc làm nào có khác gì họ Trịnh.

Cũng mượn tiếng phò vua mà làm chúa đó thôi!

Ta cũng muốn trừ Hữu Chỉnh lấy lại quyền thiên tử, các khanh có kế gì chăng.

Quan nội thị Ngô Vi Quý hiến kế:

- Bệ hạ lấy cớ Chỉnh đã trừ được Hoàng Phùng Cơ và Dương Trọng Tế, mời Chỉnh vào điện uống rượu rồi đánh thuốc độc mà giết đi thì có khó gì.

Vua Chiêu Thống gật đầu khen phải, toan theo kế ấy mà làm.

Bỗng nghe có Trần Công Xán đến chầu vua liền đem kế ấy nói với Trần Công Xán.

Xán thất kinh nói:

- Ai bày cho Bệ hạ kế ấy là hại Bệ hạ, nguy cho xã tắc rồi.

Vua Chiêu Thống hỏi:

- Vì sao giết Chỉnh lại hại ta và nguy cho xã tắc.

Xán đáp:

- Đành rằng là Hữu Chỉnh cậy công lộng quyền, còn hơn để bọn Cơ, Nhưỡng, Tế, Lệ, Bồng thay nhau áp chế Bệ hạ.

Vả lại nhờ có Chỉnh mà kinh thành yên ổn, bọn vô lại không còn mượn tiếng cần vương giết hại lẫn nhau làm kinh động cửa khuyết, rối loạn nhân tâm.

Nay nếu giết Chỉnh thì tay chân Chỉnh là Nguyễn Cảnh Thước ở Kinh Bắc, Nguyễn Viết Tuyển ở Sơn Tây, Nguyễn Như Thái ở Sơn Nam, Lê Duật ở Thanh Hóa kéo về làm loạn thì Bệ hạ xử trí thế nào.

Ấy chẳng phải là hại cho Bệ hạ và nguy cho xã tắc ư?

Vua Chiêu Thống giật mình nói:

- Lời khanh rất phải!

Ta vì uất hận bởi những lũ tiểu nhân cứ đem nhà Lê ta ra làm bức bình phong tranh giành danh lợi mà suýt nữa đã làm lỡ việc quốc gia.

Từ nay thôi không bàn đến việc ấy nữa.

Rồi vua ngửa mặt than rằng:

- Không lẽ ta đành cam để cho phường phản nghịch hiếp đáp mãi sao.

Trần Công Xán thương vua ứa nước mắt rồi cáo biệt lui ra.

Xán đến gặp Nguyễn Hữu Chỉnh nói:

- Hoàng thượng là người cương quyết không muốn cho người áp chế nên khi ông vừa kéo quân đến đây Hoàng thượng đã phóng hỏa đốt Trịnh phủ.

Sao ông còn giẫm lên bước chân của họ Trịnh, tự ý phong hầu cho các tướng lập ngôi thế tử, khiến Hoàng thượng giận nghe lời Ngô Vi Quý toan giết ông, ông đã biết chưa.

Nguyễn Hữu Chỉnh giận lắm nhưng cố nén hỏi Trần Công Xán rằng:

- Luyện Đường hầu vì vua hay vì tôi mà kể với tôi những lời ấy?

Xán đáp:

- Tôi vì vua vì ông nên không muốn vua và ông nghi kỵ bất hòa nhau, ấy là tôi vì xã tắc vậy.

Chỉnh lại hỏi:

- Thế ngộ nhỡ tôi giận mà hại vua thì ông nghĩ thế nào.

Xán đáp:

- Phò vua là bổn phận của bề tôi không thể kể là công.

Ỷ công lấn quyền vua là trái đạo, việc trái do mình gây ra thì không được giận, nếu giận là bất nghĩa bất nhân.

Tôi biết ông là người nhân nghĩa.

Vả, nếu ông có giận mà hại vua thì mất chính nghĩa thiên hạ ắt loạn, ấy là việc làm của người bất trí.

Ông là kẻ trí sao dám hại vua.

Vì hai lẽ ấy nên tôi nói ra điều vua định giết ông mà không ngại.

Chỉnh đổi giận làm vui nói:

- Ông thật là xét việc sâu xa nhìn thấu lòng người.

Việc tôi đã lỡ làm, nếu rút lại hóa ra làm trò cười cho thiên hạ, vậy xin ông hãy tâu vua xuống lệnh thuận phong.

Ngoài việc ấy ra từ nay về sau làm việc gì tôi cũng sẽ vào xin mệnh của vua.

Trần Công Xán về tâu với vua Chiêu Thống những lời của Chỉnh.

Vua thở dài nói:

- Ở với người bất nhân bất nghĩa mà có trí cũng còn hơn ở với kẻ bất nghĩa bất trí bất nhân.

Nói rồi vua Chiêu Thống viết chiếu thuận phong Thế tử cho con và tước hầu cho các tướng của Chỉnh.

Chỉnh nhận được chiếu rồi từ ấy về sau làm việc gì cũng không cần bàn với vua nữa.

Vua giận lắm tuy chẳng dám nói ra nhưng định bụng có dịp sẽ ra tay trừ Chỉnh.

****

Lại nói về Nguyễn Huệ ở Phú Xuân, nhận được chiếu chỉ của vua Thái Đức phong làm Bắc Bình Vương cai quản từ ải Hải Vân trở ra rồi, Huệ bèn hội các tướng bàn việc nước.

Huệ nói:

- Nay ta đã được tự lập riêng một cõi, không chịu sự kiềm chế của Hoàng huynh.

Vậy ta phải tổ chức quân đội, các tướng phải chia binh phòng thủ các nơi, thường xuyên thao luyện quân sĩ lại giúp dân canh tác cấy cày.

Ý các tướng thế nào?

Nguyễn Văn Tuyết bước ra thưa:

- Bọn hạ thần theo Chúa công dựng nghiệp cứu dân nào sá chi sinh tử hiểm nghèo.

Nhưng bây giờ phải đi trấn nhậm thật chẳng an tâm.

Nguyễn Huệ cười hỏi:

- Ngày xưa Văn Tuyết một mình vác song đao thích khách Võ Vương cướp ngựa Xích kỳ không hề nao núng, sao nay đi trấn nhậm lại chẳng an tâm?

Tuyết đáp:

- Nay Chúa công tự lập riêng một cõi cùng Bệ hạ chia ranh giới ra cai trị.

Bọn hạ thần theo Chúa công ở Phú Xuân, còn vợ con gia quyến chúng thần lại đang ở Quy Nhơn bảo chúng thần an tâm sao được?

Các tướng Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân, Võ Đình Tú, Vũ Văn Dũng, Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Nguyễn Văn Lộc cùng quỳ cạnh Nguyễn Văn Tuyết đồng thanh thưa:

- Xin Chúa công cho được đi đón gia quyến đến đây rồi sẽ lo việc nước cũng chẳng muộn

gì.

Nguyễn Huệ trầm ngâm nói:

- Vợ con ta cũng đang còn ở thành Quy Nhơn.

Nay các tướng đã quyết lòng như thế, ta sẽ

thảo thư xin Hoàng huynh cho gia quyến của bọn ta đến đây.

Nói xong Nguyễn Huệ liền viết thư sai người gấp mang vào Quy Nhơn trao cùng vua Thái Đức.

Trước khi sứ giả lên đường Nguyễn Huệ căn dặn rằng:

- Ta có riêng bức mật thư ngươi hãy kín đáo mà đưa cho quan Ngự Sử Nguyễn Thung.

Sứ giả vâng lệnh mà đi.

Vua Thái Đức ở thành Quy Nhơn nhận được thư của Nguyễn Huệ, đọc xong vua đưa cho Vũ Tâm Can xem và hỏi:

- Theo ý ngươi thì thế nào.

Vũ Tâm Can đáp:

- Bắc Bình Vương và các tướng mưu toan làm phản sợ ta hại gia quyến nên mới lập kế đưa vợ con ra trước.

Chi bằng ta giữ vợ con họ lại làm con tin, ắt là Bắc Bình Vương không dám cử động.

Vua Thái Đức nói:

- Ta cũng định như vậy, nhưng nếu mẫu thân ta hay được rằng ta bắt giam vợ con Nguyễn Huệ người lại quở trách ta thì làm thế nào.

Can đáp:

- Thái hậu đã già yếu, quanh năm không ra khỏi cung cấm sao biết được việc bên ngoài.

Nay Bệ hạ nên cho người tâm phúc hộ vệ bên ngoài không cho ai vào thì việc chắc là không đến tai Thái hậu được.

Vua Thái Đức khen phải bèn theo kế ấy mà làm, sai quân bắt tất cả gia quyến của Nguyễn Huệ và các tướng giam lỏng một nơi.

Nguyễn Thung hay tin ấy nhủ thầm rằng: Bắc Bình Vương bảo ta nếu vua bắt giam gia quyến làm con tin thì tâu lên Thái hậu.

Vậy ta phải thân đến gặp Thái hậu mới được.

Nghĩ rồi bèn khăn áo mà đi.

Đến cung Thái hậu quân canh chặn lại hỏi:

- Quan Ngự Sử vào cung Thái hậu có việc gì?

Nguyễn Thung đáp:

- Ngày trước khi chưa khởi binh ta và Thái hậu là chỗ hàng xóm với nhau, nay nhân đi ngang qua chợt nhớ định ghé thăm thôi mà.

Các ngươi mau cho ta vào đi.

Quân canh nói:

- Thái hậu sức khỏe bất an, vua lệnh cho chúng tôi không được để ai vào.

Nguyễn Thung không biết làm sao đành lủi thủi ra về.

Đến nhà chợt nghe quân vào báo có Vũ Tâm Can đến thăm.

Thung mời vào.

Vũ Tâm Can vào nhà hỏi Nguyễn Thung:

- Bá phụ vào thăm Thái hậu bị quân lính coi thường nên buồn bực chứ gì.

Nguyễn Thung đáp:

- Quân lính chỉ tuân theo mệnh vua cớ sao ta lại buồn bực họ.

Thung lại giật mình hỏi:

- Nhưng sao cháu lại biết việc này?

Vũ Tâm Can đáp:

- Cháu lúc nào cũng hầu hạ bên Hoàng thượng, nghe quân vào báo cùng Hoàng thượng

việc bá phụ vào thăm Thái hậu nên cháu mới biết.

Bá phụ gặp Thái hậu có việc gì cứ nói với cháu, cháu sẽ có cách giúp cho Bá phụ.

Nguyễn Thung nói:

- Bắc Bình Vương bảo ta tâu cùng Thái hậu nhờ Thái hậu khuyên Hoàng thượng thả gia quyến Bắc Bình Vương và các tướng về Phú Xuân.

Nhưng ta không có cách gì báo cho Thái hậu hay được.

Nếu Đông Định Vương còn ở Quy Nhơn ta sẽ nhờ Đông Định Vương vào bẩm với Thái hậu nhưng nay Đông Định Vương đã vào Gia Định biết phải làm sao?

Vũ Tâm Can nói:

- Việc này nào có khó gì.

Bá phụ hãy viết một phong thư nói giả là của Đông Định Vương từ Gia Định gởi về cho Thái hậu.

Quân canh ắt mang thư vào ngay, không nghi ngờ gì cả.

Nguyễn Thung hết kế và ngỡ Vũ Tâm Can ngay lòng nói thật, liền viết thư cầm vào nhờ quân canh trao cho Thái hậu.

****

Hôm sau vua Thái Đức thiết triều cho đòi Nguyễn Thung đến hỏi:

- Lần trước có phải ngươi đã bày Thái hậu ngăn ta đem quân đánh Nguyễn Huệ.

Và lần này ngươi đã bày Thái hậu bảo ta thả vợ con Nguyễn Huệ và mấy tên phản nghịch về Phú Xuân có phải chăng.

Nguyễn Thung thất sắc đáp:

- Việc này là do nơi Thái hậu, hạ thần không dám can dự.

Vua Thái Đức quăng lá thư xuống đất quát:

- Vậy lá thư này là thủ bút của ai đây.

Ta vốn đã biết bụng ngươi nên cho Vũ Tâm Can bày kế lấy chứng cớ bắt tội ngươi cho được rõ ràng trước mặt trăm quan.

Ngươi còn gì để nói nữa chăng!

Nguyễn Thung khóc rằng:

- Hạ thần làm thế là vì lòng trung với Bệ hạ.

Xin Bệ hạ xét cho.

Vua quát hỏi:

- A dua theo thằng Huệ phản ta sao bảo là trung.

Thung đáp:

- Nếu Bệ hạ thả gia quyến thì anh em hòa thuận.

Bằng không sớm muộn gì Bắc Bình Vương cũng đem quân đánh tới.

Xin Bệ hạ hãy nghe lời thần mà tha cho gia quyến họ.

Vua Thái Đức cười hỏi:

- Ta có con tin trong tay, Nguyễn Huệ và đồng bọn dám động binh hay sao.

Nguyễn Thung lại khóc rằng:

- Con chim trước khi chết hót ra lời thánh thót, con người trước khi chết thường nói đúng không sai.

Thần nay tất phải chết có mấy lời sau cùng xin thưa cùng Bệ hạ.

Bắc Bình Vương xét việc phải làm là ích nước lợi dân thì không có việc gì mà ông ấy chẳng dám làm.

Nếu Bệ hạ nghĩ rằng dùng gia quyến của họ làm con tin mà có thể kềm chế được Bắc Bình Vương thì hãy đem hài cốt của tôi mà chặt làm chín khúc.

Nói dứt lời Nguyễn Thung đâm đầu vào cột rồng vỡ sọ mà chết.

Các quan trông thấy không ai dám nói lời nào.

Vua Thái Đức thấy Nguyễn Thung chết rồi liền truyền bãi triều.

Vũ Tâm Can về kể chuyện Nguyễn Thung chết cho Vũ Mẫu nghe.

Vũ Mẫu buồn rầu hỏi:

- Nguyễn Thung xưa cùng cha con kết nghĩa huynh đệ.

Lúc cha con bị Nguyễn Nhạc xử tội chết, chính ông ấy đã xin đem thi hài cha con về quê an táng.

Ông ấy là người ơn của gia

đình ta sao con lại lập mưu hại chết Nguyễn Thung.

Vũ Tâm Can đáp:

- Con vẫn biết vậy nhưng Nguyễn Thung cứ giúp anh em Nhạc, Huệ giải hòa nhau.

Không hại ông ấy sao ta phá được nhà Tây Sơn của Nhạc, Huệ.

Vũ Mẫu hỏi:

- Nay Nhạc đã bắt giam vợ con Huệ cùng các tướng.

Vậy Nguyễn Huệ phản ứng thế nào?

Can đáp:

- Con sẽ cho người ra báo tin cùng Nguyễn Huệ, sớm muộn gì anh em họ chẳng chém giết lẫn nhau.

Vũ Mẫu lại hỏi:

- Người của ta sao ra báo tin cho Nguyễn Huệ dược.

Vũ Tâm Can đáp:

- Trước con thường kết giao với một người là anh vợ của Nguyễn Huệ, lại là chú ruột của nữ tướng Bùi Thị Xuân.

Khi Nguyễn Nhạc bắt gia quyến thì hắn trốn vào nhà con xin nương nhờ.

Nay ta thả hắn về Phú Xuân tất hắn sẽ kể việc bắt giam gia quyến và giết chết Nguyễn Thung.

Như vậy ta đã đạt mục đích mà hắn còn mang ơn ta nữa.

Vũ Mẫu vội hỏi:

- Người ấy là ai?

Can đáp:

- Hắn là Bùi Đắc Tuyên.

Nói xong Can liền quay đi sắp xếp ghe thuyền sai người tín cẩn đưa Bùi Đắc Tuyên đi trốn.

****

Bùi Đắc Tuyên trốn được ra Phú Xuân xin vào yết kiến Nguyễn Huệ, kể chuyện vua Thái Đức bắt giam gia quyến và giết chết Nguyễn Thung cho Huệ và các tướng nghe.

Nghe xong Huệ khóc lớn rằng:

- Thương thay Nguyễn Thung.

Chính ta đã hại chết Nguyễn Thung rồi vậy.

Hoàng huynh sao nỡ nhẫn tâm giết hại công thần như thế!

Trần Quang Diệu bước ra hỏi:

- Hoàng thượng khi trên người thì thi ân bố đức, cảm thấy kém người thì đố kỵ làm càn.

Nay việc đã như vậy, Chúa công liệu tính làm sao?

Nguyễn Huệ gạt nước mắt đáp:

- Truyền lệnh ta, các tướng hãy chỉnh đốn binh mã theo ta vào Quy Nhơn đòi Hoàng huynh phải trả con tin.

Trần Văn Kỷ bước ra can:

- Thưa Chúa công có hai điều không nên làm việc ấy.

Huệ hỏi:

- Ấy là điều gì?

Trần Văn Kỷ đáp:

- Nếu Chúa công động binh đánh Quy Nhơn, Hoàng thượng tất nổi giận mà giết hết gia quyến, ấy là một lẽ.

Hai bên đánh nhau tất hao quân tổn tướng làm suy yếu nhà Tây Sơn ta, ấy là hai lẽ.

Vì hai lẽ ấy nên thần cúi xin Chúa công chớ động binh.

Nguyễn Huệ nói:

- Hoàng huynh vì giận làm càn nhưng người biết rõ tánh ta không vì tình nhà mà bỏ quên việc nước ắt là không dám giết gia quyến.

Lẽ thứ nhất không phải lo.

Hiện nay trấn thủ Quảng Nam là Đặng Mộng Kỳ, trấn thủ Quảng Ngãi là Lê Trung.

Lê Trung trước từng theo ta vào Gia Định đánh Nguyễn Phúc Ánh vốn chịu ân đức của ta lại dám chống lại ta sao?

Đặng Mộng Kỳ văn võ song toàn biết điều lễ nghĩa, nay ta dùng nghĩa lý mà khuyên Đặng Mộng Kỳ phải lui quân, thì chẳng lo gì đến việc phải đánh nhau.

Ấy là hai lẽ!

Chẳng qua ta kéo binh vào làm áp lực buộc Hoàng huynh thả con tin không được kềm chế ta mà thôi.

Nếu không như thế ta mãi chịu mệnh nhỏ của Hoàng huynh thì làm sao có thể thi hành được nghĩa lớn là thống nhất sơn hà.

Việc này Văn Kỷ chớ lo!

Nói xong Nguyễn Huệ hạ lệnh:

- Trần Văn Kỷ mau soạn hịch kể tội Hoàng huynh ta truyền đi khắp các phủ trước, không được chậm trễ.

Trần Văn Kỷ vâng lệnh lui ra.

Nguyễn Huệ nhìn hết các tướng một lượt rồi bảo:

- Vũ Văn Dũng, Võ Đình Tú lãnh năm ngàn binh trấn thủ Phú Xuân.

Vợ chồng Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân theo đường thượng đạo đến Tây Sơn Thượng xuống đèo Mang bất ngờ đánh lấy ải Cù Mông.

Nguyễn Văn Tuyết, Nguyễn Văn Lộc đem năm ngàn thủy quân theo đường bể chiếm cửa biển Thị Nại và cửa Cách Thử uy hiếp mặt Đông.

Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân theo ta đi đường đại lộ tiến đến Quy Nhơn.

Các tướng nên nhớ kỹ, khi ta kéo đến, quân Hoàng huynh tất lui về thành Quy Nhơn cố thủ, các ngươi không được chém giết, ai trái lệnh chém đầu.

Các tướng cùng bước lên lãnh lệnh.

Trần Quang Diệu hỏi:

- Nếu quân Hoàng thượng kháng cự thì phải thế nào.

Nguyễn Huệ quả quyết đáp:

- Ta đã sai Trần Văn Kỷ đi trước truyền hịch khắp nơi, nay thấy binh ta đến chắc chắn các tướng của Hoàng huynh chẳng dám chống lại ta.

Nếu gặp kháng cự cứ kéo quân về có gì ta cũng không bắt tội.

Nói rồi Nguyễn Huệ truyền lệnh xuất quân.
 
Tây Sơn Bi Hùng Truyện
Chương 42


Giấu mẹ hiền, vua Thái Đức bắt giam Nguyễn Lữ.

Cầu Thái hậu, Đặng Văn Long bắn Tử Cấm Thành.

Nhắc lại việc Nguyễn Huệ đem quân vào Quy Nhơn đánh vua Thái Đức.

Quân Nguyễn Huệ vượt ải Hải Vân vào đất Quảng Nam, quân tiền đồn chạy về phi báo cùng trấn thủ Quảng Nam là Đặng Mộng Kỳ.

Kỳ bèn bàn với phó tướng là La Xuân Kiều rằng:

- Hoàng thượng bắt giam gia quyến của Bắc Bình Vương và các tướng theo Bắc Bình Vương ở lại Phú Xuân.

Nav Bắc Bình Vương truyền hịch đến đây nói là chỉ kéo quân vào yêu cầu vua thả con tin chứ không có gì khác.

Vậy theo ông ta nên xử trí thế nào?

La Xuân Kiều đáp:

- Hoàng thượng thấy uy đanh của Bắc Bình Vương lừng lẫy, sợ Bắc Bình Vương làm phản nên mới bắt giam gia quyến làm con tin.

Theo tôi nếu Bắc Bình Vương có lòng tạo phản thì cứ thúc quân mà đánh cần gì phải truyền hịch trước, bọn chúng ta đâu phải là đối thủ của

ông ấy!

Đặng Mộng Kỳ lại hỏi:

- Theo ông nay ta nên làm thế nào?

La Xuân Kiều đáp:

- Nay ta nên rút quân về Quảng Ngãi với Lê Trung xem thử ý Lê Trung thế nào rồi sẽ liệu mà xử sự.

Đặng Mộng Kỳ khen phải bèn bỏ Quảng Nam rút về Quảng Ngãi.

Đọc tờ hịch của Bắc Bình Vương do Đặng Mộng Kỳ trao xong, trấn thủ Quảng Ngãi Lê Trung nói:

- Bọn chúng ta mà chọi với Bắc Bình Vương khác nào lấy trứng chọi đá.

Bắc Bình Vương là người sống phải nghĩa phải tình ắt là không có ý hại anh, vả lại việc này do nơi Hoàng thượng mà ra.

Vậy chi bằng ta hãy kéo quân về thành Quy Nhơn nói là đánh không lại Bắc Bình Vương, ắt Hoàng thượng cũng không thể bắt tội ta đrợc.

Nói rồi ba người liền bỏ Quảng Ngãi kéo quân về Quy Nhơn.

Vua Thái Đức ở trong thành Quy Nhơn ngày ấy nghe quân vào báo rằng:

- Tâu Bệ hạ, Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân theo lệnh Bắc Bình Vương đem quân theo đường Thượng đạo đánh lấy ải Cù Mông.

Hiện quân Trần Quang Diệu đã vây kín mặt Tây Nam.

Quân do thám mặt Đông về báo:

- Bắc Bình Vương sai Đô đốc Tuyết và Đô đốc Lộc đem thủy binh vào chiếm cửa biển Cách Thử và cửa biển Thị Nại uy hiếp mặt Đông.

Vua Thái Đức còn đang bối rối chợt quân canh lại vào báo:

- Tướng quân Đặng Mộng Kỳ trấn thủ Quảng Nam và tướng quân Lê Trung trấn thủ Quảng Ngãi đã kéo quân về thành còn đang đợi mệnh.

Vua Thái Đức truyền cho vào.

Vua quát hỏi:

- Tại sao giặc đánh tới hai ngươi chưa đánh mà đã lui binh?

Lê Trung đáp:

- Tâu Bệ hạ, trước hạ thần đã từng theo Bắc Bình Vương vào Nam đánh Nguyễn nên có biết tài của ông ấy.

Bọn thần không phải là đối thủ của Bắc Bình Vương, nếu chống nhau với ông ấy chỉ có bại binh mà thôi, ấy là một lẽ.

Bắc Bình Vương và Hoàng thượng là anh em cật ruột, binh tướng chúng ta đều là người một nhà cả đã từng đồng cam cộng khổ sinh tử có nhau, nay chém giết lẫn nhau máu chảy ruột mềm, lòng thần không nỡ, ấy là hai lẽ.

Vả lại Bắc Bình Vương truyền hịch đi các nơi rằng chỉ đem binh vào xin Hoàng thượng thả gia quyến mà thôi.

Xin Hoàng thượng hãy thả gia quyến của họ ra để tránh cho trăm họ phải cảnh can qua.

Vua Thái Đức giận lắm quát hỏi:

- Ngươi có dám chắc rằng sau khi thả gia quyến, nó không làm phản ta chăng?

Lê Trung đáp:

- Nếu Bắc Bình Vương có lòng tạo phản chúng thần xin cam tâm chịu chết.

Vua Thái Đức thét quân:

- Quân bay mau bắt giam Lê Trung, Đặng Mộng Kỳ và La Xuân Kiều vào ngục.

Sau khi thả gia quyến mà thằng Huệ không chịu bãi binh thì ta đem ba ngươi làm lễ tế cờ rồi sẽ xuất quân!

Quân lôi ba tướng vào ngục xong, lại có tin báo:

- Tâu Bệ hạ, Bắc Bình Vương đã đem quân vây kín bốn mặt thành.

Bắc Bình Vương mời Bệ hạ lên mặt thành nói chuyện.

Vua Thái Đức liền nai nịt lên mặt thành.

Thấy bốn bên gươm giáo ngời ngời, tinh kỳ phấp phới, lại thấy Nguyễn Huệ mình mặt giáp trụ, đầu đội kim khôi cưỡi voi trước trận, vua giận lắm mắng rằng:

- Thằng phản chúa phụ anh kia, hiện mẹ còn đang ở trong thành mày lại đem quân vây đánh, thật là phường bất trung bất hiếu.

Mày có giỏi thì cứ đánh đi, gọi ta lên nói chuyện để làm gì.

Nguyễn Huệ chắp tay nói:

- Em vì mặc giáp trụ không thể thi lễ được, xin Hoàng huynh miễn chấp.

Em kéo quân đến đây cốt gặp mặt Hoàng huynh để nói một lời, xin Hoàng huynh trao trả con tin, em lập tức lui binh.

Vua Thái Đức cười lớn mấy hồi, cười đến rơi nước mắt rồi bảo:

- Ta biết ngươi có lòng tạo phản nên mới bắt gia quyến làm con tin.

Quả nhiên ta có con tin mà ngươi còn đem quân đánh tới.

Nếu ta thả con tin thì ngươi giết chúa hại anh nào có ngại gì.

Ngươi không ngại tiếng đời thì cứ đánh đi, phen này ta quyết liều mạng với ngươi.

Nói rồi vua lệnh các tướng canh phòng cẩn mật, súng ống sẵn sàng, cung tên nước sôi gỗ đá đầy đủ, hễ địch tấn công thì liều chết mà đánh.

Nguyễn Huệ thấy vua Thái Đức quyết lòng giữ con tin liều chết thủ thành lấy làm lo ngại lắm.

Đêm ấy trong đại bản doanh Nguyễn Huệ hết đứng lên lại ngồi xuống rồi đi quanh quẩn trong phòng thở dài não ruột.

Trần Văn Kỷ thấy vậy hỏi:

- Chúa công có điều lo lắng lắm sao mà nét mặt dàu dàu như thế.

Nguyễn Huệ buồn rầu đáp:

- Ta cứ ngỡ đem quân vây thành là Hoàng huynh sợ ta quyết đánh phải thả con tin.

Nào ngờ Hoàng huynh lại càng giữ con tin liều chết cố thủ.

Nay việc đã lỡ chỉ còn cách gọi Nguyễn Lữ về đây mới mong khuyên được Hoàng huynh thả gia quyến của ta và các tướng ra mà thôi.

Nói rồi Nguyễn Huệ liền viết thư sai người tâm phúc cấp tốc vào Sài Côn trao cho Nguyễn Lữ.

****

Nguyễn Lữ ở thành Sài Côn nhận được thư Nguyễn Huệ, đọc xong Lữ oà khóc lớn nói rằng:

- Hai anh ta sao lại đến nỗi này.

Đặng Văn Long thất kinh nói:

- Việc gì mà nhị sư huynh lại tỏ ra bi thảm thế?

Nguyễn Lữ vẫn khóc nói:

- Hoàng huynh bắt giam gia quyến của Bắc Vương huynh và các tướng trong thành Quy Nhơn.

Bắc Vương huynh đem quân vây hãm kinh thành buộc Hoàng huynh phải thả con tin.

Hoàng huynh vì sợ thả con tin rồi Bắc Vương huynh làm phản đánh thành nên liều chết cố thủ.

Nay Bắc Vương huynh viết thư gọi ta về Quy Nhơn vào thành báo cùng mẹ ta khuyên Hoàng huynh thả hết gia quyến, Bắc Vương huynh sẽ lập tức lui binh.

Ta phải kíp đi ngay.

Đặng Văn Long nói:

- Việc này rất nghiêm trọng, tôi cũng phải theo nhị sư huynh về Quy Nhơn mới được!

Nói rồi Nguyễn Lữ và Đặng Văn Long gọi quan Thái Báo tên là Phạm Văn Tham đến nói:

- Nay ta và Đặng Văn Long phải về Quy Nhơn hòa giải hai anh ta.

Vậy ngươi hãy thay ta trấn thủ Gia Định Sài Côn, xong việc ta sẽ quay về.

Dặn dò Phạm Văn Tham xong, Nguyễn Lữ và Đặng Văn Long liền lên ngựa nhắm hướng Bắc trực chỉ.

Đến Quy Nhơn ra mắt Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ ôm Huệ khóc rằng:

- Anh Huệ ơi.

Vì sao phải đến nông nỗi này?

Nguyễn Huệ ôm em khóc nói:

- Hoàng huynh nghi ngờ anh có lòng tạo phản nên bắt giam gia quyến của anh và các tướng trong thành.

Ngự Sử Nguyễn Thung can gián, Hoàng huynh lại giết chết Nguyễn Thung.

Anh bất đắc dĩ phải đem quân vây thành yêu cầu Hoàng huynh thả con tin, không ngờ Hoàng huynh quyết giữ con tin liều chết cố thủ.

Anh vì tình cốt nhục không thể động can qua.

Nay em hãy vào thành báo cho mẹ hay, mẹ sẽ bảo Hoàng huynh thả con tin, anh kíp kéo quân về hàn gắn tình huynh đệ, cùng lo việc quốc gia.

Việc này chỉ có mình em làm được mà thôi.

Nguyễn Lữ nghe lời Nguyễn Huệ liền quay đi.

Nguyễn Huệ bước theo dặn dò Nguyễn Lữ rằng:

- Khi vào được thành em chớ để lộ việc báo mẹ hay cho Hoàng huynh biết, nếu không như thế việc ắt chẳng thành.

Nguyễn Lữ vâng lời gạt nước mắt mà đi.

Nguyễn Lữ một mình một ngựa đến trước cổng thành gọi lớn:

- Quân bay mau vào báo cùng Hoàng thượng có ta là Đông Định Vương Nguyễn Lữ xin vào yết kiến.

Quân canh vào báo cùng vua Thái Đức.

Vua đích thân lên mặt thành xem xét, thấy quả nhiên Nguyễn Lữ đứng dưới thành không quân không tướng.

Vua bèn truyền mở cổng thành rồi đích thân xuống dưới thành đón Nguyễn Lữ.

Anh em gặp mặt ôm nhau mà khóc.

Tướng sĩ trông thấy đều bùi ngùi rơi lệ.

Vua Thái Đức hỏi Nguyễn Lữ:

- Nay em nghe lời Nguyễn Huệ đến gặp anh có gì để nói.

Lữ quỳ lạy đáp:

- Em trấn thủ Sài Côn Gia Định, nghe hai anh có việc bất hòa, dấy cuộc binh đao lòng đau như cắt vội vã về đây dập đầu can gián.

Xin hỏi Hoàng huynh, anh Huệ là người trung nghĩa dày công hạn mã giúp Hoàng huynh dựng nên nghiệp lớn, sao Hoàng huynh lại bắt giam gia quyến làm con tin.

Vua Thái Đức liền hỏi:

- Nó là người trung nghĩa sao kéo quân vây thành phản chúa phụ anh?

Nguyễn Lữ đáp:

- Anh Huệ bảo em xin Hoàng huynh hãy thả con tin anh ấy sẽ lui binh.

Vua Thái Đức đang nước mắt dầm dề bỗng cười to nói:

- Em thật thà nghe lời lừa phỉnh của nó.

Ta có con tin nó còn đem quân vây thành.

Nếu thả con tin nó bốn mặt công thành thì làm thế nào?

Em hãy về bảo nó lập tức lui binh trước, ta sẽ thả con tin sau.

Nguyễn Lữ nghĩ thầm rằng: Anh Huệ lui quân, Hoàng huynh cho rằng giữ con tin là kềm chế được anh Huệ thì lại càng không thả con tin, vậy mối bất hòa này bao giờ mới dứt.

Chi bằng ta báo mẹ là hơn.

Nghĩ xong bèn nói:

- Anh Huệ đã quyết ý chưa có gia quyến thì nhất định chẳng lui binh dù em có nói thế nào cũng không lay chuyển được.

Vậy em xin vào vấn an mẹ, việc này do hai anh tự xử với nhau

vậy.

Nói xong dợm bước toan đi.

Vua Thái Đức quát:

- Quân bay mau bắt Nguyễn Lữ lại cho ta.

Võ sĩ vâng lệnh bắt Nguyễn Lữ trói lại dưới thềm.

Lữ ngạc nhiên hỏi:

- Em có tội gì?

Vua Thái Đức đáp:

- Nếu em vào gặp mẹ cho mẹ biết việc này ắt mẹ sẽ buộc ta thả con tin ra.

Khi ấy nó đánh thành thì ta lấy gì chống đỡ.

Bởi vậy anh tạm giam em, khi nào thằng Huệ lui binh anh sẽ thả em ra.

Nguyễn Lữ bị võ sĩ lôi đi nói với lại rằng:

- Em chỉ vào vấn an mẹ, không nói tới việc này.

Vua Thái Đức đáp:

- Em thật thà không lường được bụng dạ thằng Huệ.

Việc ấy lấy gì làm chắc.

Nguyễn Lữ khóc rống lên rằng:

- Hoàng huynh ơi!

Anh đã lầm rồi!

Vào ngục rồi Nguyễn Lữ cứ ngồi khóc mãi không thôi.

Thấy vua Thái Đức bắt giam Nguyễn Lữ rồi, thái giám Vũ Tâm Can nhủ thầm rằng, nay ta báo tin này cho Nguyễn Huệ, chắc chắn Huệ sẽ hạ lệnh đánh thành.

Anh em nó tàn hại lẫn nhau là ta đã báo được thù cha rồi vậy.

Đêm ấy Vũ Tâm Can quấn thư quanh thân tên rồi lén lên mặt thành nhắm vào quân Nguyễn Huệ mà bắn.

Quân bắt được thư đem vào dâng lên Nguyễn Huệ.

Huệ đọc xong bèn hội các tướng nói:

- Nguyễn Lữ để lộ việc báo tin cho mẹ nên đã bị Hoàng huynh bắt giam.

Mẹ ta tuổi đã già ở mãi trong cung, Hoàng huynh lại chẳng cho ai vào, thành ra mẹ ta không hề hay biết việc Hoàng huynh bắt giam gia quyến và ta đã đem binh vây thành.

Chỉ có cách báo mẹ ta hay mới giải quyết được việc này.

Vậy ai có kế gì chăng?

Mưu sĩ Trần Văn Kỷ và các tướng còn đang suy nghĩ thì Đặng Văn Long bước ra nói:

- Hạ thần có một kế có thể báo được cho Thái hậu.

Nguyễn Huệ liền hỏi:

- Kế thế nào?

Long đáp:

- Ở gần phía Đông Nam thành có một hòn núi tên là núi Long Cốt.

Ở trong thành có một vòng thành nhỏ gọi là Tử Cấm Thành để cho Hoàng thượng và Thái hậu ở.

Núi Long Cốt cao hơn mặt thành chừng mươi trượng, thần xin đem vài khẩu đại bác đặt trên đỉnh núi Long Cốt thì chắc chắn tầm đạn bắn đến Tử Cấm Thành.

Thái hậu nghe súng nổ đạn bay ắt phải dò cho ra lẽ, thì lo gì việc không thành.

Nguyễn Huệ cả mừng khen rằng:

- Đặng Văn Long thật trí dũng song toàn, kế này rất hay.

Nhưng e rằng đạn lạc ngộ nhỡ mẹ ta và Hoàng huynh có mệnh hệ nào thì hối không kịp.

Đặng Văn Long đáp:

- Hạ thần trấn thủ Gia Định nghe Phúc Ánh lẩn trốn ở Tiêm La Quốc đang cầu viện quân Pháp Lang Sa định ngày trở lại, nên đã cùng quân sĩ ngày đêm luyện tập bắn súng đại bác không sai lệch bao giờ.

Thần đem đại bác lên núi Long Cốt chỉ nhắm vào mặt thành của Tử Cấm Thành mà bắn.

Dinh thự nhà cửa sẽ không hề hấn gì, xin đại sư huynh chớ ngại. (Lúc

bấy giờ đạn đại bác không có sức nổ công phá.

Đạn chỉ bay đến mục đích như một cục sắt mà thôi).

Nguyễn Huệ nói:

- Nếu vậy thì ta theo cách ấy mà làm.

Phen này tứ sư đệ đã cứu ta rồi đó.

Đặng Văn Long kéo đại bác lên núi Long Cốt hướng nòng súng vào Tử Cấm Thành, ngắm nghía xong Văn Long sai quân nạp đạn nhồi thuốc mà bắn.

Bà Thái hậu đang ở trong cung bỗng nghe súng nổ ầm ầm, đạn bay lên mặt Tử Cấm Thành tới tấp.

Thái hậu sợ hỏi a hoàn:

- Con ta Đông Định Vương Nguyễn Lữ đang trấn thủ Gia Định, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đang trấn thủ Phú Xuân, vậy ở thành Quy Nhơn giặc nào đánh tới.

A hoàn tâu:

- Thưa Thái hậu chúng con không được rõ.

Thái hậu bảo:

- Hãy mau đưa ta sang ngự điện hỏi vua xem.

Bọn a hoàn dìu Thái hậu ra ngoài, gặp lính tuần canh, Thái hậu hỏi:

- Giặc từ đâu đánh tới.

Vua hiện đang ở nơi nào?

Quân canh đáp:

- Bắc Bình Vương đem quân vây thành đã mấy tháng.

Nay Bắc Bình Vương kéo đại bác nơi núi Long Cốt bắn vào Tử Cấm Thành.

Thái hậu thất kinh liền vội vã vào ngự điện, gặp vua Thái hậu vừa khóc vừa hỏi:

- Thằng Huệ đem quân vây thành đã mấy tháng sao con không cho mẹ hay.

Vua Thái Đức thất kinh quỳ lạy đáp:

- Thưa Thái hậu, con sợ mẹ không vui nên không dám nói.

Thái hậu lại hỏi:

- Vậy thì cớ gì nó lại đem quân vây thành?

Vua không dám giấu đáp:

- Con sợ thằng Huệ làm phản nên bắt giam gia quyến của nó và các tướng ở Phú Xuân làm con tin.

Quả nhiên nó làm phản đem quân đánh tới.

Thái hậu nổi giận quát:

- Thảo nào mà mày giấu nhẹm không cho ta hay.

Thượng bất chính thì hạ tắc loạn, việc này do nơi lòng đố kỵ của ngươi gây ra đó.

Nếu nó có lòng phản chúa phụ anh thì cứ bắn cho vỡ Hoàng đế thành rồi xua quân đánh giết việc gì phải kéo đại bác lên núi Long Cốt bắn đến Tử Cấm Thành làm chi.

Ta chắc là nó mượn súng đại bác để báo tin cho ta hay vậy.

Vua Thái Đức thấy mẹ giận không dám mở miệng chỉ cúi mặt làm thinh.

Thái hậu bảo:

- Giờ ta lên mặt thành gặp nó, mày hãy mau vào ngục đưa Quang Toản lên mặt thành ngay.

Vua Thái Đức khóc nói:

- Con xin vâng lời mẹ dạy.

Thái hậu chống gậy lên đứng trên mặt thành.

Đặng Văn Long trông thấy liền bảo quân:

- Thái hậu đã đến rồi, mau ngừng bắn.

Nguyễn Huệ lúc ấy đang cưỡi ngựa trước trận trông thấy mẹ đứng trên mặt thành mà khóc thì thất kinh hồn vía liền quăng gươm xuống ngựa, lột bỏ nón kim khôi, cởi luôn giáp trụ khấu đầu mà lạy rồi gào lớn lên rằng:

- Con bất hiếu xin cúi đầu chịu tội!

Lúc ấy vua Thái Đức vừa dẫn Nguyễn Lữ và con Nguyễn Huệ là Quang Toản mới vừa năm

tuổi lên mặt thành đứng cạnh Thái hậu.

Quang Toản ngây thơ kêu lớn:

- Cha ơi.

Sao không về với con?

Vua Thái Đức vừa khóc vừa nói:

- Nồi da xáo thịt sao em đành lòng!

Nguyễn Huệ dưới thành ngửa mặt nhìn lên, lệ tuôn lã chã nói vọng lên rằng:

- Xin mẹ và Hoàng huynh tha cho đại tội.

Bởi tại trời cao xui nên nghịch cảnh, chứ em nào có lòng phản chúa phụ anh.

Quân tướng hai bên trông thấy cảnh này không ai là không rơi nước mắt.

Nguyễn Huệ đứng lên quay lại bảo quân:

- Truyền lệnh ta lập tức lui binh.

Nguyễn Văn Tuyết hỏi:

- Hoàng thượng chưa thả con tin, sao Chúa công đã vội lui binh?

Huệ đáp:

- Việc này ngươi không phải lo, đã có mẹ ta ở đó.

Trên mặt thành Thái hậu bảo vua Thái Đức:

- Con còn chờ gì mà không thả con tin ra.

Vua Thái Đức vâng lời thả hết gia quyến.

Nguyễn Huệ và các tướng đem gia quyến lặng lẽ rút binh về Phú Xuân.

Trước khi đi Nguyễn Huệ gọi Đặng Văn Long đến bảo:

- Nhờ trí dũng của tứ sư đệ đã hòa giải được mối bất hòa của anh em ta.

Vậy Văn Long hãy mau theo Nguyễn Lữ vào trấn đất Gia Định đề phòng Nguyễn Phúc Ánh rước ngoại xâm về giày xéo nước ta.

Đặng Văn Long đáp:

- Nay hạ thần không thể vào Gia Định được nữa.

Huệ hiểu mà vẫn hỏi:

- Vì sao?

Long đáp:

- Hoàng thượng vâng lời Thái hậu mà phải cùng Đại sư huynh giảng hòa, nhưng trong lòng vẫn còn uất hận vì uy quyền bị bất phục.

Nếu thần về Gia Định e Hoàng thượng không dung.

Xin Đại sư huynh cho thần theo về Phú Xuân mới được vẹn toàn.

Nguyễn Huệ thở dài:

- Nguyễn Lữ là người thật thà, nếu không có Văn Long trợ giúp e rằng Nguyễn Lữ không phải là đối thủ của Nguyễn Phúc Ánh.

Văn Long nói:

- Việc đến nước này chẳng thể khác được.

Vả lại theo phò Đông Định Nhị sư huynh còn có Thái Bảo Phạm Văn Tham cũng là người tài trí.

Nếu sau Phúc Ánh có rước giặc ngoài về ta sẽ liệu sau.

Nguyễn Huệ không biết làm thế nào đành để Đặng Văn Long theo về Phú Xuân.

Nguyễn Huệ rút quân đi rồi, vua Thái Đức liền sai quân thả La Xuân Kiều và Đặng Mộng Kỳ về trấn thủ Quảng Nam, Lê Trung về trấn thủ Quảng Ngãi.

Phần Nguyễn Lữ vì khóc nhiều quá đến nỗi máu tuôn theo nước mắt, hai mắt sưng vù nên phải tĩnh dưỡng chờ khi lành bệnh mới vào Gia Định.

Lúc các tướng La Xuân Kiều, Đặng Mộng Kỳ và Lê Trung vào bái biệt lên đường, vua Thái Đức say khướt vừa cười vừa khóc bảo:

- Ai đã đựng cờ khởi nghĩa cứu dân, dựng nên cơ nghiệp.

Các ngươi được như ngày nay là nhờ ai?

Vậy mà em ta nó đã phản ta rồi!

La Xuân Kiều, ĐặngMộng Kỳ và Lê Trung cùng khóc lạy rồi ra đi
 
Tây Sơn Bi Hùng Truyện
chương 43


Lầm Vũ Văn Nhậm, Nguyễn Huỳnh Đức về theo Phúc Ánh.

Trừ Nguyễn Hữu Chỉnh, Bắc Bình Vương cầu cứu Ngọc Hân.

Nhắc lại Bằng Trung Công Nguyễn Hữu Chỉnh ở Thăng Long nghe tin anh em nhà Tây Sơn đánh nhau, Chỉnh cả mừng nói:

- Ngày trước khi khuyên Nguyễn Huệ đem quân ra Bắc diệt Trịnh phò Lê ta đã biết trước Nguyễn Nhạc tất đem lòng đố kỵ mà trị tội kháng mệnh của Nguyễn Huệ, thật quả không sai.

Nhưng không ngờ Nguyễn Huệ xem nhẹ luân thường đạp trên đạo lý nên phản chúa phụ anh, điều này ta không lường trước được.

Nay Nguyễn Huệ tất bị thiên hạ chê cười, mất lòng tin trăm họ thì dù có tài dùng binh như Tôn Ngô ngày trước cũng chẳng ích gì.

Đây chính là lúc ta thu đất Nghệ An dùng sông Linh Giang chia hai thiên hạ như hai nhà Trịnh - Nguyễn trước kia thì Nguyễn Huệ chỉ còn có đất Thuận Hóa nghèo nàn chật hẹp sao sánh cùng ta được.

Con Chỉnh là Nguyễn Hữu Du hỏi:

- Cha làm thế nào thu phục được đất Nghệ An?

Chỉnh đáp:

- Trước khi đem quân ra Bắc ta có hẹn cùng hai tướng trấn thủ Nghệ An là Nguyễn Duy và Nguyễn Huỳnh Đức khi ta chiếm được Bắc Hà, Du và Đức sẽ trở giáo theo ta đánh lại Tây Sơn.

Ta đã có kế này không tốn một mũi tên hòn đạn, không những lấy được Nghệ An mà có thể thu phục Động Hải nữa là khác.

Hữu Du hỏi:

- Nguyễn Duy và Huỳnh Đức trước đã giao ước cùng ta vậy nay ta lấy đất Nghệ An là việc dễ.

Nhưng làm thế nào có thể lấy được Cát Dinh, Động Hải mà không tốn một mũi tên hòn đạn.

Chỉnh kề tai Du nói nhỏ như vầy... như vầy... nghe xong Du khen:

- Cha thật là đa mưu túc trí.

Nguyễn Huệ không thể bì kịp.

Nguyễn Hữu Chỉnh liền viết thư sai sứ giả đem vào Nghệ An trao cho Nguyễn Duy và Nguyễn Huỳnh Đức.

Nhận được thư Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Duy bàn với Nguyễn Huỳnh Đức rằng:

- Bằng Trung Công bảo ta viết thư cho trấn thủ Động Hải là Vũ Văn Nhậm, khuyên Nhậm làm phản Bắc Bình Vương rồi cùng hợp binh vào Phú Xuân đánh Bắc Bình Vương.

Vậy ý ông thế nào?

Nguyễn Huỳnh Đức đáp:

- Kế này rất hay.

Nguyễn Huệ vừa đánh nhau với Nguyễn Nhạc.

Vũ Văn Nhậm lại là con rể của Nguyễn Nhạc tất sợ bị Nguyễn Huệ nghi ngờ sớm muộn gì cũng làm hại.

Nay được liên mình với ta đánh Nguyễn Huệ lập công với cha vợ ắt phải thuận lòng.

Nguyễn Duy nghe lời ấy liền viết thư sai người tâm phúc vào Động Hải trao cho Vũ Văn Nhậm.

Vũ Văn Nhậm nhận được thư của Nguyễn Duy nhủ thầm rằng: Bắc Bình Vương Hoàng Thúc là người kiệt hiệt, lại thêm các tướng đều trí dũng song toàn, dù ta liên minh cùng Nguyễn Duy và Huỳnh Đức cũng không dễ gì chống nổi ông ấy.

Vả lại ta có nghe Trần

Quang Diệu mở đường Thượng đạo ra đến Nghệ An.

Nếu Bắc Bình Vương sai Diệu theo đường này chiếm lấy Nghệ An thì ta ở Động Hải lưỡng đầu thọ địch tiến thoái lưỡng nan ắt là phải chết.

Chi bằng ta đem việc này tâu cùng Bắc Bình Vương để lấy lòng tin của ông ấy là hơn.

Nghĩ rồi liền thét võ sĩ chém đầu sứ giả, lại sai người vào Phú Xuân báo tin cho Nguyễn Huệ.

Nguyễn Huệ liền bảo quân:

- Mau ra Động Hải truyền lệnh ta bảo Vũ Văn Nhậm cất quân đánh Nghệ An bắt Nguyễn Duy và Huỳnh Đức về đây cho ta.

Quân vâng lệnh đi ngay.

Nguyễn Duy ở Nghệ An nghe thám mã về báo rằng:

- Vũ Văn Nhậm chém đầu sứ giả, lại vâng lệnh Bắc Bình Vương chỉnh đốn binh mã chuẩn bị tiến ra Nghệ An đánh ta.

Xin tướng quân định liệu.

Nguyễn Duy thất sắc hỏi Nguyễn Huỳnh Đức:

- Nay ta phải liệu thế nào?

Huỳnh Đức đáp:

- Nay ta đã là người của Bằng Trung Công vậy ta hãy cầu ông ấy đem binh cứu viện.

Nguyễn Duy nghe lời bèn sai sứ giả cấp tốc ra Thăng Long báo cho Hữu Chỉnh hay và xin binh cứu viện.

Nhận được tin ấy Chỉnh nói với sứ giả:

- Ngươi hãy về thưa với Nguyễn Duy tướng quân rằng: việc này lộ ra là do Nguyễn Duy không kín đáo nên mới đến tai Bắc Bình Vương.

Vậy Nguyễn Duy hãy tự lo lấy, việc Nghệ An không can dự gì đến ta.

Sứ giả về tâu cùng Nguyễn Duy, Duy thất kinh nói:

- Chỉnh hứa sẽ dung ta, bày ta kế liên minh cùng Vũ Văn Nhậm.

Nay lại bỏ ta là cớ làm sao?

Huỳnh Đức điềm nhiên đáp:

- Vũ Văn Nhậm không dám phản Bắc Bình Vương nên mới lộ việc.

Hữu Chỉnh sợ nếu cứu ta là ra mặt chống đối Bắc Bình Vương, nhỡ Bắc Bình Vương đem quân đánh ra thì không chống nổi nên mới bỏ ta.

Nguyễn Duy nổi giận quát:

- Thằng giặc Chỉnh thật là phường bất nhân bất nghĩa.

Ta ít quân giữ cũng không được mà chạy theo Chỉnh cũng không xong.

Vậy phải làm sao?

Huỳnh Đức làm ra vẻ bí mật đáp:

- Ta hãy còn có một con đường sống.

Duy hỏi:

- Ấy là đường nào?

Đức cười đáp:

- Ông trước là tôi của Chúa Nguyễn Định Vương, nay hãy cùng tôi trốn sang Tiêm La Quốc theo phò Chúa Nguyễn Vương Phúc Ánh.

Ấy là con đường sống vậy.

Nguyễn Duy than:

- Đến nước này chỉ còn con đường ấy mà thôi.

Nói rồi Nguyễn Duy cùng Nguyễn Huỳnh Đức bỏ Nghệ An đem theo trăm quân tín cẩn xuống thuyền ra bể tìm đường sang Tiêm La Quốc.

****

Đến Vọng Cát ra mắt Nguyễn Vương Phúc Ánh, Huỳnh Đức tâu:

- Tội thần là Nguyễn Huỳnh Đức ngày trước bị giặc Tây Sơn bắt ở cửa Hàm Luông, nay thoát được về đây xin ra mắt Thượng vương.

Phúc Ánh hỏi:

- Từ ngày ngươi bị bắt đến nay đã được bốn năm ở dưới trướng của giặc sao mãi đến nay mới về được.

Đức đáp:

- Hạ thần bị bắt, Nguyễn Huệ dụ hàng nhưng thần quyết chẳng nghe.

Sau Huệ giao ước nếu về sau biết Thượng vương ở đâu thì đi hay ở là tuỳ ý sở cầu nên thần mới tạm hàng Nguyễn Huệ.

Nay nghe Thượng vương ở Tiêm La Quốc bèn nhắc lời giao ước với Nguyễn Huệ rồi vượt biển đến đây.

Phúc Ánh chỉ Nguyễn Duy hỏi:

- Còn người này là ai?

Đức đáp:

- Đây là tướng quân Nguyễn Duy trước trấn thủ thành Trường Dục dưới thời Chúa Định Vương.

Nay theo thần về phò Thượng vương.

Ánh nghiêm giọng chỉ mặt Nguyễn Duy nói:

- Ngươi là tôi của nhà Nguyễn ta, quân Trịnh đến thì theo hàng quân Trịnh, Tây Sơn đánh Trịnh thì bỏ Trịnh đầu Tây.

Nay cùng đường lại theo về với ta.

Loài phản phúc như ngươi để sống làm gì.

Nói rồi hô quân lôi Nguyễn Duy ra ngoài mà chém.

Võ sĩ lôi Nguyễn Duy đi xong, Phúc Ánh ngoảnh lại bảo các tướng rằng:

- Đó là kết cuộc của kẻ bất trung, các ngươi hãy lấy đó làm gương.

Nguyễn Huỳnh Đức dập đầu lạy thưa:

- Hạ thần không phải như Nguyễn Duy, xin Thượng vương xét lại.

Phúc Ánh đỡ Đức dậy an ủi rằng:

- Lòng trung của khanh ta đã biết, khanh không cần phải lo sợ.

Khanh hãy nói rõ tình hình quân Tây Sơn như thế nào.

Đức đáp:

- Năm Bính Ngọ Nguyễn Huệ truyền hịch phò Lê diệt Trịnh đem quân ra Bắc, trong một tháng giết Trịnh Khải chiếm Thăng Long.

Phúc Ánh giật mình nói:

- Họ Trịnh binh hùng tướng mạnh lại là một nước đã nên gốc rễ hơn hai trăm năm.

Vậy mà Nguyễn Huệ đem quân vào nước người chỉ trong một tháng đã diệt được họ Trịnh ư.

Tài Nguyễn Huệ thật là đáng sợ.

Rồi sau đó thế nào?

Huỳnh Đức đáp:

- Tâu Thượng vương, Nguyễn Nhạc thấy Nguyễn Huệ lập võ công hiển hách, uy danh lừng lẫy nên đem lòng nghi kỵ gọi về Quy Nhơn thọ tội, Huệ giận đem quân vây thành Quy Nhơn, Nhạc không chống nổi phải xin hòa.

Từ ấy Nhạc phong cho Huệ làm Bắc Bình Vương cai quản từ đèo Hải Vân trở ra Phú Xuân, Thuận Hóa và phong Nguyễn Lữ là Đông Định Vương cai quản từ đèo Vân Phong vào đến Gia Định, Sài Côn.

Nghe đến đây Phúc Ánh vui mừng reo lên rằng:

- Anh em Nhạc, Huệ, Lữ bất hòa chia ba lãnh thổ, Nguyễn Huệ lại trấn thủ mặt Bắc, thật là trời giúp ta rồi vậy.

Nguyễn Văn Thành xen vào nói:

- Nhưng trấn thủ Gia Định với Nguyễn Lữ còn có Đặng Văn Long.

Đặng Văn Long trí dũng

song toàn, ngày trước chính nó đã bắt sống Nguyễn Huỳnh Đức ở cửa Hàm Luông, sau lại chặn đường về của ta ở Rạch Gầm trên sông Tiền Giang.

Gia Định còn Đặng Văn Long là còn một mối lo vậy.

Nguyễn Huỳnh Đức đáp:

- Đặng Văn Long là tay chân của Nguyễn Huệ.

Nay Nhạc, Huệ bất hòa Long sợ Nhạc làm tội nên bỏ Gia Định theo về Phú Xuân với Nguyễn Huệ rồi.

Phúc Ánh lại vỗ tay giậm cẳng nói:

- Ấy thật là trời đã bày ra chuyện thằng buôn trầu Nguyễn Nhạc có tính đố tài để giúp cho ta khôi phục cơ đồ rồi vậy.

Nguyễn Huỳnh Đức bàn rằng:

- Nay Nguyễn Huệ và các tướng giỏi đều đã ở Phú Xuân cả, vậy Thượng vương nên nhân cơ hội này về nước chiêu binh mãi mã chiếm đất Gia Định khôi phục cơ nghiệp đừng bỏ lỡ thời cơ.

Phúc Ánh nói:

- Từ ngày ta cho con là hoàng tử Cảnh theo Bá Đa Lộc sang nước Pháp Lang Sa làm con tin để cầu viện đến nay đã hai năm mà chẳng thấy tin tức gì, ta thật lấy làm lo lắng.

Để ta sai người đến Pháp Lang Sa liên lạc với Bá Đa Lộc xem sự thể thế nào rồi sẽ liệu sau.

Đoạn Phúc Ánh liền sai sứ giả kíp đi ngay sang nước Pháp Lang Sa tìm Bá Đa Lộc.

****

Nhắc lại sau khi Nguyễn Duy và Nguyễn Huỳnh Đức trốn đi rồi, tướng Tây Sơn trấn thủ Động Hải là Vũ Văn Nhậm kéo quân ra chiếm thành Nghệ An bỏ trống.

Vào thành rồi Vũ Văn Nhậm tự đắc nói với tả hữu rằng:

- Nguyễn Duy và Nguyễn Huỳnh Đức mới nghe oai ta đã bỏ thành mà chạy.

Nếu Bắc Bình Vương chẳng dặn trước là không được đánh ra Bắc thì ta đã kéo rốc ra Thăng Long bắt luôn Nguyễn Hữu Chỉnh cho thiên hạ biết tài.

Nói rồi Nhậm bèn sai quân về Phú Xuân báo tin thắng trận cho Nguyễn Huệ hay.

Nguyễn Huệ nhận được thư báo tiệp của Vũ Văn Nhậm liền bảo với các tướng rằng:

- Nguyễn Hữu Chỉnh thật xảo quyệt.

Hắn xúi Nguyễn Duy và Nguyễn Huỳnh Đức chống lại ta, khi lộ việc Vũ Văn Nhậm kéo quân ra đánh, hắn sợ không dám dung Nguyễn Duy nên Nguyễn Duy bất đắc dĩ phải theo Nguyễn Huỳnh Đức chạy theo phò Nguyễn Phúc Ánh.

Trần Văn Kỷ tâu:

- Dù Chỉnh có ra mặt dung túng Nguyễn Duy mà phản ta, ta cũng không phải vì cớ ấy mà cất quân đánh hắn được.

Các tướng đồng thanh hỏi:

- Vì sao ta lại không đánh Chỉnh được.

Huệ đỡ lời Trần Văn Kỷ:

- Vì Nguyễn Hữu Chỉnh đang nấp bóng phò Lê.

Nguyễn Văn Tuyết vểnh râu nói:

- Thằng giặc Chỉnh mấy phen được Chúa công cứu mạng lại cho mượn quân ra tung hoành trên đất Bắc, nay ra mặt làm phản ta thật tức chết đi được.

Nguyễn Huệ trầm ngâm nói:

- Nếu muốn cất quân đánh Chỉnh ta phải nhờ đến một người mới được!

Các tướng đồng thanh hỏi:

- Người ấy là ai?

Huệ đáp:

- Ấy chính là Ngọc Hân công chúa!

Nói xong Nguyễn Huệ truyền bãi triều rồi lui về hậu cung.

Ngọc Hân hỏi Huệ rằng:

- Việc nước có gì hệ trọng mà phu quân buồn rầu như thế?

Huệ thở dài nói:

- Lúc trước ta vâng lệnh Tiên đế đưa cháu của nàng là Lê Duy Kỳ tên ngôi vua Chiêu Thống.

Nhưng ngặt nỗi Hoàng huynh ta thình lình ra Bắc triệu về Quy Nhơn thọ tội nên ta không thể nào ở lại Thăng Long phò tá vua Lê.

Bởi vậy Trịnh Bồng mới đem quân về kinh ép vua phải lập lại ngôi Chúa, phong vương cho Trịnh Bồng.

Vua uất hận lấy máu viết mật thư triệu Nguyễn Hữu Chỉnh về kinh cứu giá.

Chỉnh đã đuổi được Trịnh Bồng đi, nhưng Chỉnh là người kiêu ngạo tham quyền lại đi theo vết cũ họ Trịnh, lập con làm thế tử, tự ý phong hầu cho các tướng, hiếp đáp vua Lê, khiến hào kiệt bất bình nổi dậy khắp nơi, làm trăm họ thật là điêu đứng.

Ta vì danh nghĩa là người của nước Tây Sơn ở Đàng Trong không thể lấy lý gì mà đem quân ra Bắc.

Thấy muôn dân đói khổ lầm than nên trong lòng đau đớn mà ưu phiền là thế.

Huệ nói xong mặt mày càng ủ dột.

Ngọc Hân thương lắm đến gần Huệ an ủi rằng:

- Xin phu quân chớ quá thương tâm.

Thiếp có một kế có thể khiến vua Chiêu Thống viết mật chỉ vời phu quân ra cứu giá, trừ Hữu Chỉnh giúp dân.

Nguyễn Huệ lắc đầu nói:

- Lúc Hoàng huynh ra Bắc buộc ta rút binh về thì Tây Sơn ta đã thất tín với vua Lê và thiên hạ Đàng Ngoài.

Vua Chiêu Thống đã không tin thì làm gì dám gọi ta về cứu giá?

Ngọc Hân ngậm ngùi đáp:

- Thiếp là công chúa nhà Lê theo chồng xa cố quốc, nay thiếp viết thư về thăm Hoàng tộc, lại ngầm sai sứ giả nói với vua thế này... thế này.

Ắt vua phải tin phu quân mà vời chàng về cứu giá.

Nguyễn Huệ mừng rỡ khen:

- Nàng thật là đa mưu túc trí.

Phen này dân Bắc Hà nhờ nàng mà thoát vòng loạn lạc vậy.

Ngọc Hân khiêm tốn nói:

- Việc cứu dân Bắc Hà về sau là nhờ vào tài kinh bang tế thế của phu quân.

Kế mọn của thiếp có đáng kể gì?

Nói rồi Ngọc Hân liền viết thư sai người tâm phúc ra Thăng Long trao cho vua Lê Chiêu Thống.

****

Sứ giả ra đến Thăng Long vào Hoàng cung xin gặp vua, quân canh liền dẫn vào dinh Nguyễn Hữu Chỉnh.

Chỉnh hỏi:

- Ngươi là người ở đâu.

Xin vào gặp vua có việc gì?

Sứ đáp:

- Tôi là người nhà của Ngọc Hân công chúa.

Công chúa sai tôi mang thư ra dâng vua và thăm hỏi Hoàng tộc.

Chỉnh bảo:

- Phiền ngươi đưa thư cho ta xem trước thử có điều gì gian dối hay chăng?

Sứ giả vâng lời đưa thư cho Chỉnh.

Chỉnh tiếp thư đọc thấy lời lẽ thăm hỏi bình thường

không có ẩn ý gì, bèn bảo quân:

- Các ngươi mau lục soát khắp người hắn xem có giấu giếm gì chăng.

Quân soát xong chẳng phát hiện thấy vật gì, Chỉnh bèn trả thư cho sứ giả và nói:

- Hiện nay họ Trịnh đang cho tay chân tìm cách ám hại vua nên ta phải cẩn thận đề phòng.

Ngươi đừng vì thế mà phiền lòng.

Đoạn Chỉnh cho phép sứ giả vào điện yết kiến vua Chiêu Thống.

Đọc thư của công chúa Ngọc Hân xong vua Chiêu Thống hỏi sứ giả:

- Ngoài lá thư thăm hỏi này Hoàng cô còn nói gì nữa chăng?

Sứ giả đáp:

- Bắc Bình Vương và phu nhân có nhắn lời tạ lỗi cùng Bệ hạ.

Vua hỏi:

- Tạ lỗi thế nào?

Sứ đáp:

- Bắc Bình Vương bảo thần thưa cùng Bệ hạ rằng: Năm Bính Ngọ đem quân ra Bắc phò Lê diệt Trịnh, Bắc Bình Vương những muốn đóng quân ở lại giúp Bệ hạ định quốc an dân.

Chẳng ngờ vua Thái Đức thình lình ra Bắc buộc Bắc Bình Vương phải rút quân về, làm cho Bắc Bình Vương mang tiếng là người thất tín.

Nay Bắc Bình Vương và phu nhân bảo hạ thần nhắn lời tạ lỗi cùng Bệ hạ là do thế.

Vua Chiêu Thống lại hỏi:

- Nếu Bắc Bình Vương thật lòng sao không tự viết thư mà phải nhắn miệng.

Thật là họ khinh ta quá lắm.

Sứ vội vàng đáp:

- Xin Bệ hạ chớ khá hiểu lầm.

Bắc Bình Vương biết Hữu Chỉnh áp chế Bệ hạ tất phải dò xét người có liên quan nên Bắc Bình Vương không dám viết thư.

Quả nhiên khi hạ thần đến đây liền bị Hữu Chỉnh kiểm duyệt thư và lục soát khắp người.

Bắc Bình Vương và phu nhân không dám viết thư tạ lỗi cùng Bệ hạ là do thế.

Vua Chiêu Thống bấy giờ mừng rỡ nói:

- Nay Bắc Bình Vương đã tự lập riêng một cõi không phải chịu mệnh vua Thái Đức và thật lòng như thế, vậy ta mau viết mật chỉ cho ngươi đem về trao Bắc Bình Vương đem quân ra giúp trừ Nguyễn Hữu Chỉnh.

Sứ giả tâu:

- Nếu có mật chỉ, Bắc Bình Vương nào dám không vâng.

Nhưng khi hạ thần ra về e rằng Hữu Chỉnh sẽ lục soát rồi mới cho đi.

Nếu Chỉnh phát hiện ra mật thư thì nguy cho Bệ hạ.

Vua ngẫm nghĩ rồi bảo:

- Nay người của ta ra khỏi kinh thành đều bị Chỉnh kiểm soát.

Vậy làm sao đưa mật chỉ cho Bắc Bình Vương được.

Sứ giả tâu:

- Phu nhân có dặn thần tâu cùng Bệ hạ kế này ắt việc sẽ thành.

Vua vội hỏi:

- Hoàng cô bày kế thế nào?

Sứ giả kề tai vua nói nhỏ:

- Bệ hạ vời Chỉnh đến nói như vầy... như vầy...

ắt Chỉnh sẽ nghe lời mà đưa người của Bệ hạ vào Phú Xuân trao mật chỉ cho Bắc Bình Vương.

Vua mừng rỡ khen:

- Hoàng cô từ nhỏ đã nổi danh tài sắc vẹn toàn, nay xuất giá theo chồng mà còn lo lắng cho

nước nhà.

Thật đáng thương thay.

Sứ giả đi rồi Vua Chiêu Thống vời Chỉnh đến nói:

- Đất Nghệ An là nơi trọng yếu của nước ta nay Nguyễn Huệ đã lấy mất.

Ta định bàn với khanh sai sứ giả vào đòi lại đất Nghệ An.

Chẳng hay ý khanh thế nào.

Chỉnh nghi ngờ hỏi lại vua:

- Trước giờ không nghe Bệ hạ nói đến việc ấy.

Nay bỗng dưng nảy ra ý định đòi lại đất Nghệ An là cớ làm sao?

Vua đáp:

- Lâu nay ta nghĩ Nguyễn Huệ là kẻ giảo quyệt nên ta không nói đến việc này.

Nay Hoàng cô Ngọc Hân sai người tâm phúc ra nói với trẫm rằng: Năm Bính Ngọ vua Thái Đức ra Bắc buộc Nguyễn Huệ phải kéo quan về Quy Nhơn thọ tội cho nên Nguyễn Huệ đành thất tín với thiên hạ và nhà Lê ta.

Bởi vậy Huệ giận mới cất quân đánh Nhạc.

Nay biết Nguyễn Huệ không chịu mệnh vua Thái Đức lại thật lòng phò Lê, chắc chắn là Huệ phải trả đất Nghệ An cho ta.

Vả lại, khanh sai sứ giả vào Phú Xuân đòi đất, ta sẽ cử thêm Hoàng thân Lê Duy Án nhân danh Hoàng tộc vào thăm Hoàng cô Ngọc Hân, xúi Ngọc Hân nói thêm vào.

Nguyễn Huệ rất sùng ái Ngọc Hân lẽ nào chẳng bằng lòng.

Chỉnh cả mừng nói:

- Bệ hạ thật là sáng suốt.

Phen này nước ta lại vẹn vẻ như xưa.

Hạ thần xin theo kế ấy lập tức thi hành.

Nói xong Chỉnh từ biệt về dinh phủ sai Trần Công Xán cầm đầu sứ bộ định ngày vào Phú Xuân gặp Nguyễn Huệ.

Phần vua Chiêu Thống viết mật chỉ rồi bảo Lê Duy Án cuộn tròn vào trong thắt lưng quần mà giấu.

Đoạn vua đưa Lê Duy Án qua dinh Nguyễn Hữu Chỉnh và nói:

- Hoàng thân Lê Duy Án sẽ theo sứ bộ vào Phú Xuân gặp riêng Hoàng cô Ngọc Hân, nhờ Hoàng cô nói thêm vào.

Nghĩa chung và tình riêng đều thuận cả, phen này nhất định Nguyễn Huệ phải trả đất Nghệ An.

Nguyễn Hữu Chỉnh không chút nghi ngờ.

Tiễn sứ đoàn đi xong, Chỉnh tươi cười hớn hở bảo Nguyễn Hữu Du:

- Lần này cái chí dùng sông Linh Giang chia đôi đất nước của cha đã thành rồi đó.
 
Tây Sơn Bi Hùng Truyện
Chương 44


Nguyễn Hữu Chỉnh mắc mưu đòi đất Nghệ An.

Nguyễn Huệ bất đắc dĩ giết Trần Công Xán.

Nói về Trần Công Xán vào Phú Xuân gặp Nguyễn Huệ.

Huệ hỏi:

- Tiên sinh đến đây có điều chi dạy bảo.

Xán đáp:

- Hạ thần vâng lệnh vua nước thần vào xin Bắc Bình Vương trả đất Nghệ An.

Nguyễn Huệ nói:

- Vua nước ngài kinh thành còn không giữ nổi để hết Trịnh Lệ và Dương Trọng Tế lộng hành rồi đến Trịnh Bồng và Hoàng Phùng Cơ áp chế nên vua phải viết mật chỉ vời Nguyễn Hữu Chỉnh về kinh cứu giá.

Nguyễn Hữu Chỉnh xin lệnh của ta, ta bèn sai Chỉnh đem quân ra Bắc cứu vua Lê.

Nào ngờ xong việc Chỉnh lại ra mặt cấu kết với Nguyễn Duy và Huỳnh Đức

làm phản.

Tội ấy ta chưa hỏi, nay hắn lại mượn tiếng vua Lê đòi đất Nghệ An.

Tiên sinh hãy về tâu với vua Lê rằng: đợi ta đem binh ra chém đầu Hữu Chỉnh rồi sẽ trả luôn đất Nghệ An cho vua Lê.

Trần Công Xán hỏi:

- Năm Bính Ngọ vua nước ngài ra Bắc gặp vua thần tại điện Kính Thiên có nói rằng: Đất họ Trịnh một tấc cũng không để, đất họ Lê một tấc cũng không lấy.

Nay họ Trịnh đã diệt sao còn không trả đất Nghệ An.

Nghe Xán nhắc đến vua Thái Đức, Huệ liền nói hoãn:

- Phiền tiên sinh ra nghỉ ngoài công quán, đợi ta sai người về Quy Nhơn thỉnh ý Hoàng huynh rồi mới trả lời.

Trần Công Xán ra nghỉ ngoài công quán, đêm ấy bảo với Lê Duy Án rằng:

- Nguyễn Huệ nuốt lời không muốn trả đất Nghệ An.

Vậy Hoàng thân hãy vào gặp Hoàng cô Ngọc Hân nhờ người nói giúp xem sao.

Lê Duy Án liền đi ngay đến hậu cung xin vào yết kiến Ngọc Hân.

Án nói:

- Hoàng thượng có mật chỉ nhờ Hoàng cô trao cho Bắc Bình Vương.

Ngọc Hân đọc mật thư xong bèn nói:

- Quả nhiên Hữu Chỉnh theo vết xe họ Trịnh áp chế nhà Lê ta.

Nay Hoàng thượng viết mật chỉ vời Bắc Bình Vương về cứu giá.

Vậy Hoàng thân mau ra ngoài công quán kẻo Trần Công Xán nghi ngờ, ta sẽ trao mật chỉ cho Bắc Bình Vương ngay.

Ngọc Hân đến gặp Nguyễn Huệ, khóc nói:

- Nhà Lê của thiếp đã hai trăm năm bị họ Trịnh hiếp đáp, sau nhờ phu quân đem binh ra Bắc diệt Trịnh phò Lê, những tưởng đã nắm lấy quyền hành, nào ngờ nay Nguyễn Hữu Chỉnh lại lộng hành áp chế vua trẻ, xin phu quân hãy vì dân vì nước ra Bắc diệt Chỉnh, ơn ấy ngàn đời thiếp chẳng dám quên.

Nói xong Ngọc Hân trao mật chỉ cho Nguyễn Huệ rồi lấy vạt áo lau nước mắt.

Nguyễn Huệ cảm động an ủi Ngọc Hân:

- Nàng chớ nên buồn phiền như thế.

Nay có mật chỉ của vua Lê ta mới danh chính ngôn thuận ra Bắc trừ Nguyễn Hữu Chỉnh được.

Ngọc Hân mừng rỡ thưa:

- Cảm ơn phu quân đã có lòng đoái thương đến nhà Lê của thiếp.

Ơn này thiếp xin tạc dạ.

Nói xong Ngọc Hân mủi lòng khóc mãi.

Nguyễn Huệ vỗ về Ngọc Hân rằng:

- Nàng hãy về cung nghỉ trước, ta còn phải đi gặp người bàn việc nước.

Ngọc Hân hỏi:

- Phu quân định đi gặp ai vào giờ này?

Huệ đáp:

- Ta đi gặp Trần Văn Kỷ.

Nói xong Nguyễn Huệ tiễn Ngọc Hân về cung rồi sang nhà Trần Văn Kỷ, vừa đến cổng đã thấy Trần Văn Kỷ xăm xăm bước ra.

Huệ hỏi Kỷ:

- Đêm đã khuya tiên sinh còn đi đâu đó?

Kỷ thi lễ rồi đáp:

- Tôi định sang yết kiến Chúa công.

Không ngờ Chúa công lại đến đây, nên không kịp nghênh đón.

Xin Chúa công miễn chấp.

Đoạn Kỷ mời Huệ vào nhà.

An toạ xong Huệ hỏi:

- Chắc có điều gì hệ trọng nên tiên sinh mới định đến tìm tôi vào đêm khuya chăng?

Văn Kỷ đáp:

- Thần nghe có sứ giả của Chỉnh vào đòi đất Nghệ An, nên định sang hỏi Chúa công liệu tính thế nào?

Nguyễn Huệ đáp:

- Nguyễn Hữu Chỉnh quả nhiên trúng kế, nghe lời Lê Chiêu Thống sai sứ vào đòi đất Nghệ An.

Vua Lê mới cho Hoàng thân Lê Duy Án theo sứ bộ đem mật chỉ vời ta ra cứu giá.

Nay ta có mật chỉ của vua Lê tất có chính nghĩa cất quân ra diệt Chỉnh.

Trần Văn Kỷ hỏi:

- Vậy sau khi diệt Chỉnh rồi Chúa công liệu thế nào.

Huệ đáp:

- Ta ở lại giúp vua Lê ít lâu sau rồi lại kéo quân về.

Trần Văn Kỷ ung dung nói:

- Vậy mà tôi cứ ngỡ Chúa công nửa đêm đến đây là để nói về việc truất bỏ nhà Lê.

Nguyễn Huệ mừng rỡ bảo:

- Tiên sinh thật là hiểu ta đó.

Trần Văn Kỷ hỏi:

- Chúa công định dùng kế gì để truất nhà Lê.

Nguyễn Huệ cười đáp:

- Kế của tôi là "rung cây nhát khỉ".

Trần Văn Kỷ cười theo, nói:

- Chúa công có chí tự cường nên mới dùng chữ Nôm là "rung cây nhát khỉ".

Kế này trong binh thư chữ Hán gọi là "Phạt thảo kinh xà" đó.

Nguyễn Huệ nắm tay Trần Văn Kỷ cười to nói:

- Tiên sinh thật là người tri kỷ của ta vậy.

Nhưng việc này ta phải nói trước với Ngọc Hân mới được.

Văn Kỷ can:

- Ta phạt thảo, rung cây mà không ai biết, thì Chúa công chớ nên nói trước với công chúa làm gì.

Ngộ nhỡ công chúa không bằng lòng truất bỏ nhà Lê rồi lộ việc thì làm thế nào?

Huệ trầm ngâm đáp:

- Ta đã có cách nói khiến công chúa phải bằng lòng cho ta truất bỏ nhà Lê.

Đoạn Nguyễn Huệ về hỏi Ngọc Hân:

- Vua Chiêu Thống là người như thế nào?

Ngọc Hân buồn rầu đáp:

- Nhà Lê thật là vô phước nên anh của thiếp là Duy Vỹ bị Trịnh Sâm giết chết, khiến Hoàng tôn Duy Kỳ mới kế vị ngôi vua là Lê Chiêu Thống.

Chiêu Thống là người vô tài kém đức, đố kỵ nhỏ nhen.

Nếu phu quân không ra tay cứu giúp, e Bắc Hà loạn lạc muôn đời.

Nguyễn Huệ lại hỏi:

- Chuyến này ta ra Bắc diệt Chỉnh xong, nếu kéo quân về thì Bắc Hà vẫn loạn.

Nhược bằng đóng binh phò giúp vua tất phải tự quyền điều hành vận mệnh quốc gia thì nước mới yên được.

Khi ấy e rằng vua kém tài mà muốn quyền cao lại cho ta là lộng hành thì sao.

Khi ấy nàng có hiểu cho ta chăng?

Ngọc Hân lo sợ hỏi lại Huệ rằng:

- Vậy phu quân liệu tính thế nào?

Huệ trầm tư đáp:

- Ta ngày quên ăn đêm bỏ ngủ vì e rằng khi nói ra điều này nàng sẽ giận ta mà thôi.

Ngọc Hân nói:

- Thiếp với chàng nên nghĩa phu thê ấy là duyên kỳ ngộ.

Lòng trung với dân hiếu với nước của chàng thiếp lại chẳng biết sao.

Nay việc nên làm là thế nào chàng cứ nói ra đừng ngại ngần gì cả.

Nguyễn Huệ chậm rãi nói:

- Bấy lâu hào kiệt ở Bắc Hà chỉ mượn tiếng phò Lê, mỗi người hùng cứ một phương đánh giết lẫn nhau tranh giành danh lợi khiến trăm họ vô cùng thống khổ, lòng người chán ngán không biết đâu là thật giả.

Cổ nhân có câu: Thượng bất chính, hạ tắc loạn.

Nay Lê Chiêu Thống bất tài kém đức sao đem được thái bình về cho trăm họ.

Vận mệnh của nhà Lê đã hết, muốn thống nhất sơn hà dựng đời thịnh trị chỉ có cách duy nhất là truất phế nhà Lê mà thôi.

Nguyễn Huệ nói xong, Ngọc Hân thảng thốt kêu lên:

- Đành rằng như thế, nhưng lòng dân Bắc Hà vẫn còn thương tiếc công đức của vua Lê Thái Tổ, Thái Tông.

Nếu không phò Lê, phu quân lấy danh nghĩa gì kéo quân ra Bắc?

Nguyễn Huệ đáp:

- Ta ra Bắc lần này vẫn lấy danh nghĩa diệt Chỉnh phò Lê.

Ngọc Hân ngạc nhiên hỏi:

- Phu quân muốn truất bỏ nhà Lê sao lại còn lấy danh nghĩa phò Lê?

Nguyễn Huệ đáp:

- Nay ta có chiếu chỉ của vua Lê vời về kinh cứu giá trình trước thiên hạ, ấy là ta có danh nghĩa phò Lê kéo quân ra Bắc đánh Chỉnh.

Nhưng khi ta đánh Chỉnh vua Lê Chiêu Thống tất bỏ kinh thành mà chạy không dám ở ngôi vua, ấy là ta truất bỏ nhà Lê vậy.

Ngọc Hân lấy làm lạ hỏi:

- Nghe quân ta đem mật chỉ diệt Chỉnh phò Lê kéo quân ra Bắc, thì vua Lê phải ở kinh thành đón quân ta, cớ gì phải bỏ chạy.

Nguyễn Huệ đáp:

- Ta dùng kế "Phạt thảo kinh xà" thì đuổi vua Chiêu Thống bỏ nước mà chạy, còn đối với thiên hạ ta vẫn được tiếng phò Lê.

Chỉ e rằng truất bỏ nhà Lê nàng sẽ oán ta mà thôi.

Ngọc Hân gạt nước mắt nói:

- Việc làm của phu quân là vì dân vì nước, thiếp dù thương tiếc cơ nghiệp tổ tiên cũng không thể oán phu quân được.

Nhưng thiếp vẫn chưa hiểu thế nào là kế "Phạt thảo kinh xà"?

Nguyễn Huệ kề tai Ngọc Hân nói:

- Ta cứ làm như vầy... như vầy... tất vua Lê Chiêu Thống phải sợ mà trốn khỏi kinh thành.

Ngọc Hân lại hỏi:

- Nhưng Trần Công Xán và Lê Duy Án là người vô tội.

Nguyễn Huệ phân trần rằng:

- Muốn đem giang san quy về một mối, cứu muôn dân Đàng Ngoài khỏi cảnh lầm than thì phải hy sinh Lê Duy Án và Trần Công Xán.

Nếu làm thế nàng có cho ta là người sâu hiểm hay chăng.

Ngọc Hân bùi ngùi đáp:

- Phu quân là người đức cả tài cao, quang minh chính đại.

Trước tha mưu sĩ Nguyễn Đăng Trường về với Định Vương, sau thả Nguyễn Huỳnh Đức theo cùng Phúc Ánh.

Nay phu quân vì dân vì nước, bất đắc dĩ phải làm như thế thiếp sao dám cho chàng là người hiểm độc.

Tuy là việc nên làm, nhưng những giọt nước mắt này là vì thương tiếc cơ nghiệp của tổ tiên.

Xin phu quân rộng xét.

Nguyễn Huệ cả mừng nói:

- Truất bỏ nhà Lê, ta thật là khó xử nên mới đem ra bàn trước với nàng.

Cảm ơn nàng đã thấu được lòng ta.

Đoạn Nguyền Huệ âu yếm lấy khăn lau nước mắt cho Ngọc Hân.

Hai người mặt nhìn mặt, tay nắm tay dìu nhau vào phòng trong tâm sự hàn thuyên.

****

Nói về Trần Công Xán hôm ấy đi dạo quanh phố rồi vê công quán lo lắng hỏi Lê Duy Án rằng:

- Hoàng cô Ngọc Hân hứa với ông thế nào mà ta nghe khắp kinh thành bàn tán xôn xao rằng Bắc Bình Vương đã sai Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân đem năm ngàn binh mã ra Nghệ An hợp cùng Vũ Văn Nhậm đánh Thăng Long phò Lê diệt Chỉnh.

Vậy ông mau vào Hậu cung hỏi Hoàng cô xem sự thể thế nào?

Lê Duy Án đi một hồi rồi về báo:

- Quân canh bảo Hoàng cô đang ở Vương phủ với Bắc Bình Vương, không có nơi hậu cung.

Trần Công Xán lòng nóng như lửa đốt, bèn nói:

- Vậy ta phải vào Vương phủ diện kiến Bắc Bình Vương hỏi cho ra lẽ mới được.

Nói xong khăn áo vào chầu.

Gặp Huệ, Xán hỏi:

- Việc vua của thần xin lại đất Nghệ An, Đại Vương liệu tính thế nào?

Huệ cười hỏi lại Xán:

- Tiên sinh vào đây đòi đất là theo mệnh vua hay Hữu Chỉnh?

Xán đáp:

- Xưa nay thần chỉ theo mệnh vua.

Huệ ôn tồn hỏi:

- Tiên sinh theo mệnh vua, vậy tại sao vua viết mật chỉ vời ta ra cứu giá trừ Nguyễn Hữu Chỉnh tiên sinh lại không biết.

Xán thản nhiên đáp:

- Xin Đại Vương đừng cậy thế hiếp người.

Phàm làm việc gì cũng phải có chứng cứ hẳn hoi, chớ nghe lời xàm tấu.

Nguyễn Huệ đưa tờ mật chỉ của vua Chiêu Thống cho Xán rồi hỏi:

- Tiên sinh hãy nhìn cho rõ, đây chăng phải là thủ bút của vua sao?

Dấu ấn này chẳng phải của triều đình nhà Lê sao.

Vậy đây là chứng cứ hay lời xàm tấu?

Trần Công Xán sững sờ nhìn đăm đăm vào tờ mật chỉ, rồi bình tĩnh nói:

- Vua thần không có ý đòi đất Nghệ An.

Vậy thần xin được về nước.

Huệ cười bảo:

- Nay ta đang sắp đặt binh mã ra đánh Chỉnh nếu tiên sinh về thì lộ việc quân cơ.

Thôi, ta tạm giữ tiên sinh ở lại Phú Xuân, chờ lấy đầu Hữu Chỉnh xong sẽ cho tiên sinh về nước.

Trần Công Xán quả quyết nói:

- Nếu không được về nước Trần Công Xán này chỉ có chết mà thôi.

Nguyễn Huệ lại cười rằng:

- Ta nói đùa để thử lòng tiên sinh, quả nhiên ông là người trung nghĩa.

Đêm nay ta sắp sẵn ghe thuyền, ngày mai sẽ sai người đưa tiên sinh cùng sứ đoàn về nước.

Khi đoàn thuyền đi đến vùng biển thuộc phủ Nghệ An, viên đô đốc Tây Sơn chỉ huy quân hộ tống gọi vài tên thuộc hạ đến bảo:

- Các ngươi mau lặn xuống biển đến đục thuyền Lê Duy Án và Trần Công Xán.

Quân xây Sơn vâng lệnh lập tức thi hành.

Trần Công Xán và Lê Duy Án đang ở trong khoang, bỗng nước từ dưới đáy thuyền phun lên ào ào.

Thuyền từ từ chìm xuống.

Trần Công Xán tức tối vỗ đùi nói lớn:

- Nguyễn Huệ vì sợ lộ việc quân đã giết bọn ta trên đường về rồi vậy.

Lê Duy Án kinh hãi bảo:

- Không lý nào có việc ấy được, chắc do thuyền bị thủng mà thôi.

Ta mau ra ngoài gọi thuyền hộ tống đến cứu.

Nói xong liền vội vã ra khỏi khoang thuyền gọi lớn:

- Các ngươi mau mau đến cứu ta.

Quân Tây Sơn chỉ nhìn mà không cứu.

Nước tràn vào mỗi lúc một nhiều.

Nước đã ngập hết lòng thuyền, Lê Duy Án vừa khóc vừa gào lên rằng:

- Nếu ta mất mạng, Bắc Bình Vương sẽ lấy đầu các ngươi ngay.

Viên đô đốc Tây Sơn cười to nói:

- Ngài có uất thì xuống Diêm vương mà kiện.

Lúc ấy nước đã đến thắt lưng, Trần Công Xán hướng mặt về phía Bắc lạy ba lạy rồi quay lại bảo Lê Duy Án:

- Được vì nước mà chết ông còn uất nỗi gì mà gào lên như thế?

Lê Duy Án hoảng loạn nói:

-Ta đem mật chỉ của Hoàng thượng vời Nguyễn Huệ về kinh diệt Chỉnh.

Vậy cớ gì Nguyễn Huệ lại giết ta?

Nước đã ngập hết con thuyền, Trần Công Xán ngước mặt tránh sóng tràn vào mui rồi hét lên:

- Vậy Nguyễn Huệ giết ta đã đành, cớ gì lại giết cả ngươi.

Lê Duy Án dùng hết sức bình sinh ôm cột buồm leo lên khỏi làn nước gào khóc rằng:

- Nếu không đem quân diệt Chỉnh phò vua cũng chẳng can cớ gì phải giết chết ta.

Dứt lời Lê Duy Án và Trần Công Xán theo con thuyền chìm xuống biển sâu.

Viên đô đốc Tây Sơn gọi mấy tên quân đến bảo:

- Các ngươi mau lội vào bờ lựa chỗ đông người phao tin này lên cho khắp nơi được biết.

Đoạn viên đô đốc Tây Sơn quay về tâu cùng Nguyễn Huệ.

Huệ gọi Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân đến bảo:

- Văn Sở đem thủy binh, Văn Lân đem bộ binh đến Nghệ An hợp cùng Vũ Văn Nhậm cứ y như trong thư ta dặn mà làm.

Sở và Lân lãnh mệnh đi ngay.

****

Nhắc lại vua Lê Chiêu Thống và Nguyễn Hữu Chỉnh ở Thăng Long ngày ấy đang đàm đạo trong trướng nghe quân vào báo:

- Tâu Bệ hạ, quân Tây Sơn lội vào bờ đến ranh giới đất Nghệ An và Thanh Hóa hô lên rằng: Sứ đoàn trở về nước bị bão đánh chìm thuyền đều chết hết cả.

Quan trấn thủ Thanh Hóa sai thần về cấp báo.

Nguyễn Hữu Chỉnh giật mình nói:

- Nguyễn Huệ làm thế là có ý gì?

Vừa dứt lời quân thám mã thứ hai hớt hải chạy vào báo:

- Tâu Bệ hạ, tướng Tây Sơn là Vũ Văn Nhậm, Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân thống lĩnh một

vạn binh tiến đánh Thanh Hóa.

Tướng quân trấn thủ Lê Duật tử trận.

Chỉnh nghe qua như sét đánh ngang mày, nhưng cố giữ bình tĩnh nói:

- Như vậy Nguyễn Huệ đã lợi dụng tình chồng vợ bảo Hoàng cô nói gạt Bệ hạ là hắn thực bụng phò Lê rồi bất ngờ tiến đánh.

Thần phải lập tức vào Thanh Hóa chống giặc mới được.

Những tưởng đòi được đất Nghệ An nào ngờ lại mất luôn Thanh Hóa.

Đoạn Chỉnh hỏi tên quân rằng:

- Trước khi ra trận Lê Duật có nói gì chăng.

Tên quân đáp:

- Khi nghe quân Tây Sơn tiến đánh, Lê tướng quân có nói rằng: "Biết lòng người thì dễ, biết tài người mới là việc khó.

Ta không biết tài bằng Trung Công vậy!"

Hữu Chỉnh than:

- Ta lại không biết tài Nguyễn Huệ vậy.

Rồi Lê Duật ra trận thế nào?

Tên quân đáp:

- Lúc ấy có người khuyên Lê tướng quân bỏ thành Thanh Hóa lui về giữ ải Tam Điệp.

Lê tướng quân bảo: Ta đã hứa với Bằng Trung Công là thà bỏ mạng không bỏ đất, nay bỏ thành mà chạy còn mặt mũi nào nhìn ai được nữa.

Khi bị quân Tây Sơn vây, Lê tướng quân đâm cổ mà chết.

Nghe xong Chỉnh vừa đi vừa ứa nước mắt than:

- Thương thay lê Duật.

Và ta không biết tài Nguyễn Huệ mà đã hại chết ngươi rồi!

Chỉnh đi rồi vua Chiêu Thống gọi Phan Lê Phiên đến bảo:

- Nguyễn Huệ bảo Hoàng cô lừa ta viết mật chỉ vời Huệ về kinh cứu giá.

Có mật chỉ rồi hắn lại giết sứ của ta là cớ làm sao?

Phan Lê Phiên đáp:

- Việc này bởi do Nguyễn Hữu Chỉnh chuyên quyền nên Nguyễn Huệ mới thừa cơ dùng ly gián kế.

Hắn muốn cướp nước ta mà không có cớ gì, nên mới lừa Hoàng cô Ngọc Hân đem tình nhà gạt Bệ hạ để hắn có mật chỉ của Bệ hạ.

Được danh chánh ngôn thuận để xuất quân rồi hắn lại giết chết Trần Công Xán và Lê Duy Án, thật rõ là lòng gian dối.

Việc đến nước này chỉ trông chờ vào tài dùng binh của Hữu Chỉnh mà thôi.

Vua Chiêu Thống hỏi:

- Ngộ nhỡ Chỉnh bại trận thì sao.

Phiên đáp:

- Thì ta phải bỏ Hoàng cung mà chạy.

Nếu ở lại trước sau gì Nguyễn Huệ cũng hại đến Bệ hạ.

Vua tức tối đấm ngực kêu lên:

- Nguyễn Huệ lừa ta.

Nguyễn Huệ lừa ta!
 
Tây Sơn Bi Hùng Truyện
Phần IV: Truất bỏ Triều Lê-Chương 45


Nguyễn Hữu Chỉnh háo danh mà thiệt mạng.

Vũ Văn Nhậm hám lợi phải mất đầu.

Nhắc lại Nguyễn Hữu Chỉnh về dinh phủ gọi con là Nguyễn Hữu Du và tướng là Nguyễn Như Thái đến bảo:

- Hai người lãnh một vạn quân mau mau vào chiếm giữ đèo Tam Điệp.

Nếu để quân Tây Sơn lấy mất thì binh ta thất thế.

Ta sẽ gọi Nguyễn Cảnh Thước ở Kinh Bắc và Nguyễn Viết Tuyển ở Tây Sơn về hợp quân rồi đem đại binh theo tiếp ứng.

Nguyễn Hữu Du cười bảo Chỉnh:

- Cha cứ an tâm ăn ngon ngủ yên.

Con đi phen này sẽ lấy đầu Vũ Văn Nhậm về nộp dưới trướng.

Nói xong liền xuất quân.

Nguyễn Hữu Du và Nguyễn Như Thái kéo quân vừa vượt Sông Vị Hoàng, xảy quân thám mã về báo:

- Thưa Thế tử, quân Tây Sơn đã chiếm đèo Tam Điệp hiện đang tiến cách quân ta chừng trăm dặm.

Nguyễn Hữu Du thất kinh nói:

- Quân Tây Sơn thế mạnh lại chiếm đèo Tam Điệp, chi bằng ta lui về bờ Bắc sông Vị Hoàng, dùng sông này làm hào chống nhau với giặc là hơn.

Nguyễn Như Thái bàn:

- Quân ta vừa mới vượt sông mà tiến, nghe giặc đến lại vượt sông mà lùi sao khỏi mất đi nhuệ khí.

Theo tôi nhân lúc này ta bày trận Bối thủy quay lưng xuống sông mà chống nhau với giặc.

Nguyễn Hữu Du hỏi:

- Bày trận Bối thủy ngộ nhỡ thua binh chẳng phải là mình tự chặn đường về của mình sao?

Như Thái đáp:

- Quân ta một vạn, quân Tây Sơn do Phan Văn Lân làm tiên phong thống lãnh chỉ có năm ngàn, ta lại bày trận Bối thủy buộc quân ta phải liều chết mà đánh.

Thế nhất định phải thắng.

Hữu Du còn e ngại nên bàn:

- Vậy ta sai quân đem chiến thuyền vận chuyển đến chỗ kín đáo giấu đi.

Nếu lỡ thua binh thì dùng thuyền ấy thoát về bờ Bắc.

Nói xong hai người theo kế đã bàn mà làm.

Quân Hữu Du vừa bố trận xong, quân Tây Sơn rầm rộ kéo đến, đi đầu là tiên phong Phan Văn Lân.

Nguyễn Như Thái trông thấy liền lướt ngựa đến hét lớn:

- Nguyễn Huệ hết tướng hay sao mà sai thằng thư sinh trói gà không chặt như ngươi ra trận.

Mau xuống ngựa quy hàng ta sẽ tha chết.

Phan Văn Lân cả cười nói:

- Mày là đồ vô đanh tiểu tốt sao biết được oai ta.

Hãy về hỏi Hữu Chỉnh xem thư sinh Đại tướng Phan Văn Lân lợi hại thế nào?

Nói xong hai bên liền giáp chiến.

Quân Tây Sơn khí thế đang hăng, quân Bắc cùng đường

liều chết mà đánh, tiếng hò reo vang dội.

Đánh được mấy hiệp Nguyễn Như Thái cả kinh nghĩ thầm, thằng học trò này trông gầy gò ốm yếu mà sức mạnh vô cùng.

Nó dùng thương lợi thế đánh xa, ta dùng đoản đao phải lừa thế đánh gần mới mong giết được nó.

Nghĩ rồi chờ thương Văn Lân đâm tới, Thái dùng hết sức bình sinh hất mũi thương lên rồi hoành đao mà chém ngang hông Văn Lân.

Chẳng ngờ Lân lanh lẹ bình thương đỡ lưỡi đao rồi trở đốc thương đâm Như Thái.

Đốc thương đâm ngay vào miếng kính tâm trên áo giáp Như Thái mạnh đến nỗi Thái văng khỏi lưng ngựa hộc máu chết tươi.

Nguyễn Hữu Du trông thấy Thái chết thì thất kinh quất ngựa mà chạy, đến bờ sông vội vã cướp thuyền sang sông về bờ Bắc.

Quân sĩ thấy vậy vứt giáo quăng gươm, kẻ nào lên thuyền được thì lên, còn không bèn cởi giáp lội bộ qua sông chạy theo chủ tướng.

Quân Tây Sơn đại thắng giết quân Bắc và thu lượm vũ khí rất nhiều.

Phan Văn Lân thắng trận rồi bèn gò ngựa đứng nhìn dòng sông Vị Hoàng mênh mông, lại thấy trời đã tối Lân bèn bảo quân hạ trại chờ Vũ Văn Nhậm và Ngô Văn Sở đến rồi sẽ vượt sông.

Vừa lúc ấy Vũ Văn Nhậm dẫn bộ binh và Ngô Văn Sở đem thủy binh cùng đến Vị Hoàng.

Vũ Văn Nhậm bàn:

- Quân do thám ta về báo rằng Chỉnh đã đem quân đến làng Bình Vọng.

Từ đây đến Thăng Long đường bộ thời xa mà đường thủy thì gần.

Vậy ông Sở hãy đem thủy quân theo sông Vị Hoàng tiến lên rồi bất ngờ đánh vào phía Tây thành Thăng Long.

Chiếm được Thăng Long thì quân Chỉnh ở làng Bình Vọng sẽ không còn đường rút, ta và ông Lân đem đại bộ binh đánh ra ắt là bắt được Hữu Chỉnh.

Ngô Văn Sở y lệnh thống lãnh thủy quân tiến lên thượng lưu sông Vị.

****

Nhắc lại Nguyễn Hữu Chỉnh ở Thăng Long triệu Nguyễn Cảnh Thước về rồi bèn thống lĩnh đại binh trợ chiến cho Nguyễn Hữu Du và Nguyễn Như Thái.

Đại binh đi đến làng Bình Vọng, Chỉnh quay lại hỏi Nguyễn Viết Tuyển:

- Có phải làng Bình Vọng này tục gọi là làng Bằng đó chăng?

Tuyển đáp:

- Thưa ấy chính là làng Bằng.

Chỉnh ngậm ngùi nói:

- Ngày trước ta kéo quân ra diệt Trịnh Bồng ngang ra làng Bằng có chim Phượng ra đón.

Nay chim Phượng ấy ở đâu?

Chỉnh vừa dứt lời bỗng một chim Phượng hoàng bay đến đậu trên biển danh của làng.

Chẳng ngờ tấm biển đề hai chữ Bình Vọng ấy lâu ngày đã mục, chim vừa đậu lên, biển liền gãy đổ tan tành.

Chim hốt hoảng kêu lên ba tiếng thất thanh rồi vỗ cánh bay đi.

Nguyễn Viết Tuyển nói:

- Chim Phượng hoàng năm cũ đã ra nhưng lại đạp vỡ cổng làng Bằng e là điềm gở.

Xin Bằng Trung Công liệu tính.

Nguyễn Hữu Chỉnh trong lòng hồi hộp bèn nói:

- Giờ trời đã tối truyền lệnh ta đóng quân nghỉ tạm, ngày mai lại tiếp tục hành quân.

Vừa hạ trại xong quân canh vào báo cùng Hữu Chỉnh:

- Thưa Thượng công, Thế tử thua trận chạy về xin vào ra mắt.

Chỉnh đang ăn cơm quăng đũa đứng dậy bảo:

- Mau cho con ta vào đây.

Hữu Du vào đến quỳ thưa:

- Con kéo quân vượt sông Vị Hoàng thì quân Tây Sơn tiến đánh.

Con liền bày trận Bối thủy chống nhau với giặc, không ngờ quân Tây Sơn dũng mãnh quân ta đương không nổi.

Nguyễn Như Thái bị Phan Văn Lân đánh chết.

Con may cướp được thuyền còn mấy trăm quân chạy về xin chịu tội.

Hữu Chỉnh hỏi:

- Ai bày ngươi lập trận Bối thủy.

Hữu Du đáp:

- Thưa cha, Nguyễn Như Thái.

Chỉnh vỗ đùi than:

- Quân Tây Sơn thiện chiến, còn quân ta mới mộ, phần thua nhiều hơn phần thắng lại bày trận Bối thủy triệt đường về của mình, khiến một vạn quân ta đều chết cả.

Thật là đồ bất dũng vô mưu.

Nguyễn Viết Tuyển bàn:

- Từ đây đến kinh thành không núi sông hiểm trở e rằng ta không đương nổi với giặc Tây Sơn.

Chi bằng ta rút quân về Thăng Long rồi đem vua chạy lên Sơn Tây tránh thế mạnh của giặc rồi sẽ liệu sau.

Nguyễn Hữu Chỉnh nghe lời liền lệnh quân nhổ trại lui binh.

Vua Chiêu Thống ở thành Thăng Long ngày ấy nghe lòng nóng như lửa đốt, hết ra lại vào trông tin Nguyễn Hữu Chỉnh.

Bỗng quân thám mã về báo:

- Tâu Bệ hạ, Bằng Trung Công thua binh chạy về thành.

Hiện đã ra cửa Tây thành chạy lên Sơn Tây.

Vua thất kinh nói:

- Nguyễn Hữu Chỉnh chạy đi sao không bảo ta một tiếng.

Tên quân đáp:

- Giặc Tây Sơn đang đuổi sau lưng nên Bằng Trung Công không kịp vào yết kiến, người sai hạ thần đến báo cùng Bệ hạ.

Vua buồn rầu than:

- Đã đến nước này ta phải đem Hoàng tộc chạy lên Sơn Tây theo Nguyễn Hữu Chỉnh.

Phan Lê Phiên hầu cạnh vua can rằng:

- Việc ấy không nên.

Vua ngạc nhiên hỏi:

- Nếu không theo Hữu Chỉnh chẳng lẽ ở lại kinh thành cho Nguyễn Huệ hại ta ư.

Phiên đáp:

- Nay Nguyễn Huệ sai Vũ Văn Nhậm truyền khắp thiên hạ mật chỉ phò Lê diệt Chỉnh do chính tay Bệ hạ viết ra.

Vậy Bệ hạ chạy theo Chỉnh khác nào chạy vào chỗ chết.

Vua Chiêu Thống giật mình hỏi:

- Ở lại với Huệ cũng không được, theo Chỉnh cũng không xong.

Vậy phải làm sao?

Phiên đáp:

- Bệ hạ nên chạy ra Kinh Bắc xuống hịch cần vương chiêu dụ quân các trấn Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang rồi đùng sông Như Nguyệt làm hào chống nhau với giặc Tây Sơn.

Nếu quân ta yếu thế thì theo đường Lạng Sơn chạy sang đất Đại Thanh cầu viện vua Càn Long đem binh sang giúp tất có thể khôi phục được cơ nghiệp.

Thần nay đã răng long đầu bạc không còn sức theo hầu Bệ hạ.

Xin Bệ hạ bảo trọng.

Nói xong Phan Lê Phiên lạy từ biệt vua về nhà.

Vua Chiêu Thống liền đem gia quyến chạy ra Kinh Bắc.

****

Phần Hữu Chỉnh dẫn quân ra cửa Tây thành năm dặm bỗng gặp một đạo quân Tây Sơn xông ra cản đường, đi đầu là một viên dũng tướng.

Viên tướng ấy vung đại đao lướt ngựa đến hét lên:

- Phản tặc Nguyễn Hữu Chỉnh chạy đâu cho thoát.

Có ta là Khổn Nghịch đại tướng quân Ngô Văn Sở đến đây.

Nguyễn Hữu Chỉnh quay lại bảo các tướng:

- Ngô Văn Sở đao pháp tinh thông.

Năm Bính Ngọ ta dẫn Nguyễn Huệ ra phò Lê diệt Trịnh, chính Ngô Văn Sở một mình bắt sống hai tướng Ngô Cảnh Hoàn và Mai Thế Pháp trên sông Thúy Ái nên mới có tên là Khổn Nghịch đại tướng quân.

Nay nó chặn đường rút của ta, vậy phải liều chết mà đánh mới dược.

Nói xong Chỉnh cùng Nguyễn Hữu Du, Nguyễn Viết Tuyển, Nguyễn Cảnh Thước đồng loạt xông lên.

Ngô Văn Sở vẫy tay làm hiệu, đội xạ thủ lập tức bắn tên, Nguyễn Viết Tuyển và Nguyễn Cảnh Thước trúng tên độc ngã ngựa chết tươi.

Bấy giờ Ngô Văn Sở mới hô quân giáp chiến.

Quân Hữu Chỉnh không còn tinh thần chiến đấu, chưa đánh đã tan.

Cha con Chỉnh liệu thế không xong bèn quất ngựa mà chạy.

Văn Sở một mình thúc ngựa đuổi theo.

Chạy một hồi cha con Hữu Chỉnh thấy Ngô Văn Sở không quân hộ vệ liền quay lại vây Văn Sở mà đánh.

Ngô Văn Sở không hề nao núng vung đại đao cự chiến, khi quay bên tả chặn thương Hữu Du, lúc tràn bên hữu bạt kiếm Hữu Chỉnh.

Đánh dược ba mươi hiệp Văn Sở hoành đao chém Hữu Du rơi đầu.

Chỉnh chẳng còn hồn vía nào quay lưng toan chạy, Văn Sở hạ đao chém chân ngựa Hữu Chỉnh.

Ngựa ngã qụy hất Chỉnh té nhào xuống đất.

Văn Sở bèn trói Hữu Chỉnh đặt lên lưng ngựa rồi cắt đầu Hữu Du treo nơi cổ ngựa quay lại phía quân mình.

Quân Tây Sơn trông thấy đồng thanh nói:

- Phản nghịch Nguyễn Hữu Chỉnh gặp Khổn Nghịch đại tướng quân thì chạy đâu cho thoát.

Vào thành Thăng Long, Văn Sở nộp Chỉnh dưới thềm.

Vũ Văn Nhậm quát hỏi Chỉnh:

- Ngươi mượn tay Tây Sơn ta ra làm vương đất Bắc lại đem lòng bội phản Bắc Bình Vương.

Tội đã đáng chết hay chưa?

Chỉnh điềm nhiên đáp:

- Ta chết đã đành, nhưng trước lúc chết ta muốn hỏi ngươi một điều.

Nhậm đáp:

- Ngươi cứ hỏi.

Chỉnh nói:

- Ta quản thúc vua Lê rất kỹ, sao vua Lê viết mật chỉ vời Nguyễn Huệ về kinh cứu giá lại lọt khỏi sự kiềm soát của ta?

Nhậm cười to đáp:

- Đến giờ này ngươi còn chưa biết mà dám kiêu ngạo tự cho mình ngang tài với Bắc Bình Vương.

Tấm mật chỉ phò Lê diệt Chỉnh do Lê Duy Án trao cho Bắc Bình Vương khi theo Trần Công Xán vào đòi đất Nghệ An đó!

Nghe Nhậm nói xong, Chỉnh than dài một tiếng:

- Ta thật không sánh bằng Nguyễn Huệ vậy.

Vũ Văn Nhậm lại hỏi:

- Trước khi chết ngươi còn ân hận gì chăng?

Chỉnh đáp:

- Ta chỉ ân hận rằng lúc trước không đem quân giúp Nguyễn Duy và Nguyễn Huỳnh Đức giữ Nghệ An dùng sông Linh Giang làm ranh giới chia đôi thiên hạ với Nguyễn Huệ mà thôi.

Nhậm cười bảo:

- Ngươi trước lúc chết còn ngông cuồng nói lời càn rỡ.

Về trí thì không biết lòng người nên mới xui ta làm phản Bắc Bình Vương.

Về dũng thì hai cha con ngươi không cự nổi một đường đao của Ngô Văn Sở, thế mà dám nuôi chí chia đôi thiên hạ với Chúa ta.

Người chết thật là đáng lắm.

Quân đâu lôi ra ngoài chém.

Giết Nguyễn Hữu Chỉnh rồi, Vũ Văn Nhậm sai Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân đi khắp các nơi dán yết thị chiêu an bá tánh, còn Nhậm đích thân đi xem xét các kho tàng ở trong kinh thành.

Thấy các kho đều trống rỗng không có vật gì đáng quý, Nhậm gọi tên quản kho đến bảo:

- Năm Bính Ngọ ta theo Bắc Bình Vương ra Thăng Long phò Lê diệt Trịnh thấy trong kho báu vật rất nhiều.

Sao nay các kho đều trống rỗng là cớ gì?

Tên quản kho của vua Lê đáp:

- Thưa tướng quân, lúc tướng quân kéo đại binh đến, vua Lê và Bằng Trung Công nghe tin đã bỏ thành mà chạy.

Dân chúng trong thành thừa dịp ấy bèn kéo nhau đến phá cửa kho lấy châu báu về làm của riêng hết cả rồi.

Vũ Văn Nhậm liền quay về dinh phủ gọi tên tùy tướng tên là Trần Đường đến bảo:

- Ngươi hãy dẫn quân đi soát khắp nhà dân trong thành.

Nhà nào có châu báu trong kho tịch thu hết về đây cho ta.

Trần Đường vâng lệnh dẫn quân đi.

Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân đang đem quân đi dán cáo thị diệt Chỉnh phò Lên chiêu an bá tánh, bỗng một lão già từ đâu chạy đến gào khóc kêu lên:

- Quân các ngươi đi cướp bóc của dân thì dán cáo thị chiêu an bá tánh làm gì!

Sở và Lân nhìn theo hướng chỉ tay của lão già, quả nhiên thấy một toán quân Tây Sơn đang khiêng hòm châu báu thật.

Phan Văn Lân liền chặn viên tiểu tướng lại hỏi:

- Các ngươi là quân nào, khiêng hòm châu báu đi đâu?

Tên tiểu tướng đáp:

- Hạ thần tên Trần Đường vâng lệnh phò mã Tiết Chế Vũ Văn Nhậm đi lục soát nhà dân lấy lại châu báu dân cướp trong kho khi kinh thành bỏ trống.

Ngô Văn Sở thất kinh nói:

- Tiết chế phò mã sao lại làm như thế.

Tây Sơn ta quân pháp nghiêm minh, nếu Bắc Bình Vương nghe được ắt phải chết.

Đoạn Sở và Lân tức tốc tìm gặp Vũ Văn Nhậm.

Sở nói:

- Bọn tay chân của phò mã thừa lệnh làm càn, cho quân cướp bóc của dân.

Vả lại bọn ta vâng lệnh Bắc Bình Vương ra đây là vì dân không vì lợi.

Tiết Chế làm thế e rằng mất chính nghĩa Tây Sơn ta.

Nhậm phật ý đáp:

- Châu báu trong kho là của vua Lê, bọn gian tà lấy đi ta sai quân lấy lại có gì là không đúng.

Nếu Hoàng thúc bắt tội ta xin chịu, các ông không phải lo.

Phan Văn Lân nói:

- Nhưng dân khắp kinh thành đều bảo phò mã cậy thế là rể vua làm điều trái đạo.

Xin phò mã nghĩ lại.

Nhậm không đáp lời Lân, lại bảo Trần Đường:

- Ngươi hãy dẫn quân đi khắp kinh thành, ai đặt điều nói bậy chém chết cho ta.

Nói xong Nhậm quay gót vào hậu dinh bỏ mặc Sở và Lân nơi tiền sảnh.

Về bản doanh Phan Văn Lân ức uất nói với Ngô Văn Sở rằng:

- Vũ Văn Nhậm thấy bạc vàng lóa mắt, tham quá hóa sân si.

Hắn cậy là phò mã khinh anh em ta quá đáng.

Ta ở dưới quyền, vậy làm sao ngăn hắn đừng sách nhiễu lương dân.

Ngô Văn Sở đáp:

- Ta phải mật báo với Chúa công mới được.

Nguyễn Huệ ở Phú Xuân nhận được mật báo của Ngô Văn Sở, liền bảo tả hữu:

- Mau sai quân sắp sẵn ngàn quân cấm vệ và năm mươi thớt voi.

Ta phải lập tức lên đường ra Bắc.

Trần Văn Kỷ hỏi:

- Vũ Văn Nhậm phạm vào quân lệnh, sao Chúa công không viết chiếu lệnh triệu Nhậm về trị tội, cần gì phải thân hành ra Bắc?

Nguyễn Huệ lắc đầu đáp:

- Kể từ khi ta vào vây thành Quy Nhơn buộc Hoàng huynh phải thả con tin thì Vũ Văn Nhậm đã có ý ngờ ta.

Nay Vũ Văn Nhậm nắm quyền ở Thăng Long, nếu ta viết chiếu chỉ gọi Nhậm về trị tội, ta sợ rằng Nhậm sợ tội mà làm phản.

Việc này nếu ta không thân hành ra Bắc ắt không xong.

Nói rồi Nguyễn Huệ liền lên đường ra Bắc.

****

Nguyễn Huệ đến Thăng Long đã quá nửa đêm.

Đến dưới thành Huệ sai quân gọi lớn:

- Mau mở cổng thành, có Bắc Bình Vương đến!

Quân canh nhìn xuống thấy đèn đuốc sáng ngời, rõ ràng Nguyền Huệ ngồi trên bành voi oai phong lẫm liệt, bệ vệ uy nghi.

Quân trong thành thất kinh vội vàng mở cổng.

Vào thành rồi Huệ bảo quân:

- Các ngươi ai ở yên nơi ấy không được làm kinh động bá tánh.

Nguyễn Huệ vào dinh Vũ Văn Nhậm bảo bọn canh cửa:

- Các ngươi ai ở yên nơi ấy không được làm kinh động đến phò mã.

Quân sĩ vốn sợ uy Nguyễn Huệ, răm rắp vâng lời không đám động đậy.

Nhậm lúc ấy vẫn đang ngủ say không hề hay biết.

Huệ đến gần lay Vũ Văn Nhậm.

Nhậm cựa mình gắt:

- Kẻ nào dám quấy rầy giấc ngủ của ta.

Nguyễn Huệ bình thản đáp:

- Thưa Tiết Chế phò mã, có Bắc Bình Vương đến.

Nhậm giật mình ngồi phắt dậy quát:

- Đứa nào dám đùa với ta thế?

Vừa dứt lời ngước lên thấy Nguyễn Huệ đứng sừng sững trước mặt, Vũ Văn Nhậm thất kinh sụp lạy:

- Cháu không biết là Hoàng thúc đến đây nên không kịp nghênh đón.

Xin Hoàng thúc tha tội.

Nguyễn Huệ nghiêm giọng hỏi:

- Vũ Văn Nhậm!

Ngươi có biết ta đang lo trăm công ngàn việc ở Phú Xuân lại phải cấp tốc ra Thăng Long là vì sao không?

Nhậm cúi đầu đáp:

- Thưa, cháu không được biết.

Huệ lại hỏi:

- Vậy ngươi có biết ai đã sai quân đi cướp bóc của nhân dân trong thành Thăng Long chăng?

Vũ Văn Nhậm sợ hãi đáp:

-Ấy là châu báu trong kho của vua Lê, dân chúng trộm đi nên cháu mới sai quân lấy lại sung vào công quỹ.

Lúc ấy Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân vừa đến, thi lễ với Huệ xong, Sở thưa:

- Chúa công nửa đêm đến đây chúng thần không được biết.

Xin Chúa công thứ tội!

Nguyễn Huệ liền bảo:

- Hai ngươi mau đi bắt hết tòng phạm của Vũ Văn Nhậm về đây cho ta.

Rồi quay sang Nhậm, Huệ hỏi:

- Vậy số châu báu đang cất tại kho nào?

Nhậm run rẩy chỉ vào mấy chiếc hòm ở góc phòng, đáp:

- Cháu còn cất nơi đây chưa kịp đưa vào kho.

Nguyễn Huệ nạt:

- Quân bay mau trói Vũ Văn Nhậm lại cho ta.

Võ sĩ xông vào trói Nhậm.

Nhậm cố van nài:

- Xin Hoàng thúc nghĩ tình Phụ vương mà tha cho cháu một lần.

Lúc ấy Phan Văn Lân vừa giải Trần Đường đến.

Huệ bảo Vũ Văn Nhậm và Trần Đường rằng:

- Ngày mai ra trước dân, dân bảo tha thì ta tha, dân bảo chém thì ta chém.

Đoạn Huệ sai quân lập công đường ngoài dinh phủ chờ trời sáng sẽ đem Vũ Văn Nhậm ra trước dân mà xử.

Sáng hôm sau nhân dân ở thành Thăng Long nghe tin rủ nhau đến xem, người đông nghìn nghịt.

Vũ Văn Nhậm và Trần Đường bị trói quỳ trước án.

Nguyễn Huệ hướng về phía dân cất tiếng sang sảng hỏi:

- Bá tánh hãy nhìn cho rõ, kẻ nào đã dẫn quân đi cướp của nhân dân trong thành?

Một cụ già bước ra nói:

- Thưa Bắc Bình Vương, tôi thay mặt bá tánh trong thành xin thưa rõ mọi chuyện.

Nguyễn Huệ kính cẩn khích lệ:

- Sự thật thế nào xin cụ cứ nói ra.

Cụ già chỉ mặt Trần Đường nói:

- Chính vị tướng quân này dẫn quân đi lấy cướp vàng bạc châu báu của dân.

Quay sang Trần Đường, Huệ hỏi:

- Trần Đường!

Có đúng là ngươi đã dẫn quân đi cướp của dân chăng?

Trần Đường hoảng sợ lạy như tế sao:

- Xin Bắc Bình Vương tha mạng, kẻ hạ thần chỉ làm theo lệnh của phò mã mà thôi.

Nguyễn Huệ lại quay sang hỏi Vũ Văn Nhậm:

- Vũ Văn Nhậm!

Ngươi theo Tây Sơn ta từ lúc mới dấy binh.

Vậy quân lệnh của ta, cướp của dân phải xử thế nào ngươi có biết chăng?

Vũ Văn Nhậm kinh hồn bạt vía dập đầu thưa:

- Phải xử tội chết.

Xin Hoàng thúc hãy nghĩ tình Phụ hoàng mà tha cho cháu một phen.

Nguyễn Huệ nghiêm giọng nói:

- Quân pháp bất vị thân.

Nếu tha cho ngươi sao an được lòng dân, sao nghiêm minh quân kỷ!

Nhậm cố van nài:

- Ngày xưa khởi binh cháu chém đầu tham quan giữa chợ cho Phụ hoàng nhậm chức Biện lại Vân Đồn.

Lại có công thả Hoàng tôn Dương, xạ tiễn cứu công chúa Thọ Hương.

Cháu từng theo Hoàng thúc vào Nam ra Bắc, sinh tử có nhau.

Nay vì một tội nhỏ mà Hoàng thúc nỡ quên tình xưa nghĩa cũ xử cháu vào tội chết hay sao?

Xin Hoàng thúc thương tình nghĩ

lại!

Nguyễn Huệ trầm ngâm nói:

- Ngày trước ngươi chém đầu tham quan giữa chợ, sao nay làm quan lại còn cướp của hại dân.

Xạ tiễn cứu Thọ Hương được phong làm phò mã ấy là công đã được trả.

Nếu người có công ai cũng cậy công làm càn như ngươi thì trăm họ sẽ ra sao?

Võ sĩ đâu đem Vũ Văn Nhậm và Trần Đường ra pháp trường xử trảm.

Nhậm thấy van nài không được bèn nói cứng:

- Hạ thần có tội đã đành, nhưng thần là Phò mã rể vua.

Xin Hoàng thúc giải thần về Quy Nhơn cho Phụ hoàng xử tội.

Nguyễn Huệ bảo:

- Ngươi gây tội ở Thăng Long phải xử ở Thăng Long, có tội với dân phải trước dân mà xử, không thể đem ngươi về Quy Nhơn được.

Vũ Văn Nhậm thấy Nguyễn Huệ đã quyết ý hoảng sợ khóc rống lên rằng:

- Dù sao cháu cũng là người trong nhà.

Hoàng thúc hãy nể Phụ hoàng, nghĩ tình Thọ Hương mà tha cho cháu một phen.

Thấy Nhậm cuống cuồng kêu khóc, Nguyễn Huệ ứa nước mắt rồi nghiêm giọng nói gằn từng tiếng:

- Pháp luật nghiêm minh!

Chém!

Nhìn võ sĩ lôi Vũ Văn Nhậm và Trần Đường đi, hai hàng nước mắt Nguyễn Huệ chảy ròng ròng.

Thấy vậy Trần Văn Kỷ khuyên:

- Ấy là vì thi hành pháp luật, xin Chúa công chớ quá thương tâm.

Nguyễn Huệ lau nước mắt đáp:

- Vũ Văn Nhậm đã từng cùng ta vào sinh ra tử, lại là cháu rể của ta.

Nay phạm tội chết ta không đau lòng sao được!

Rồi Nguyễn Huệ bảo dân chúng rằng:

- Trong bá tánh ai bị Vũ Văn Nhậm lấy vật gì hãy đến khai rõ cùng quan Trung thư Trần Văn Kỷ sẽ được trả lại.

Nếu phát hiện người nào khai gian tội khó dung tha.

Dân chúng bảo nhau rằng:

- Bắc Bình Vương xử trị nghiêm minh, hành pháp vô tư, đến phò mã còn bị đưa ra trước dân xử tội chết.

Hãy lấy đó làm gương, mất vật gì phải khai cho thật.

Nội nhật hôm ấy Trần Văn Kỷ trả lại của cải bị mất cho dân không sót một tờ hào nào cả.

Xong việc ấy Nguyễn Huệ chia quân đi đồn trú khắp các trấn thủ ở Bắc Hà, lại truyền hịch rằng ai biết được chỗ trú ẩn của vua Lê Chiêu Thống để quân Tây Sơn đến rước vua về kinh trị vì trăm họ, thì kẻ đó sẽ được phong quan.
 
Tây Sơn Bi Hùng Truyện
Chương 46


Trần Văn Kỷ đón Ngô Thì Nhậm.

Nguyễn Huệ đuổi Đặng Trần Thường.

Lúc bấy giờ ở Thăng Long có một người tên Đặng Trần Thường.

Ngày ấy nghe hịch quân Tây Sơn truyền ra, Thường nhủ thầm rằng:

- Nếu có kế rước được vua về kinh sẽ được phong quan.

Vậy ta phải hỏi kế Ngô Thì Nhậm mới được.

Nghĩ rồi bèn lên ngựa đến phủ Thái Bình gặp Ngô Thì Nhậm.

Phân ngôi chủ khách xong, Thường nói:

- Ngô huynh trước làm quan cho Chúa Trịnh sau vì tội mà đến đây ở ẩn.

Nay đã đến lúc ra làm quan trở lại sao còn ở mãi trong chòi tranh chật hẹp nơi núi rừng hoang vắng như thế này.

Ngô Thì Nhậm hỏi:

- Đặng huynh nói vậy là ý thế nào?

Thường đáp:

- Vừa rồi Nguyễn Huệ ra thông báo, ai có kế rước được vua về kinh trị vì trăm họ sẽ được phong quan.

Ngô huynh là danh sĩ bậc nhất Bắc Hà lại không có kế gì sao?

Nghe Thường nói xong, Nhậm hỏi:

- Nếu rước được vua về rồi, Đặng huynh sẽ làm quan với vua Lê hay với nhà Tây Sơn?

Thường đáp:

- Nguyễn Huệ phò Lê xong ít lâu sau lại rút quân về thì ta vẫn làm quan với nhà Lê vậy.

Nhậm lại hỏi:

- Thế ngộ nhỡ lần này Nguyễn Huệ chiếm luôn Bắc Hà không rút quân về trả nước cho vua Lê thì làm thế nào.

Thường đáp:

- Nguyễn Huệ phò Lê nên mới rước vua về trị vì trăm họ, sao có việc chiếm đất Bắc Hà.

Nghe Thường nói xong, Nhậm ôm bụng cười to.

Thấy Nhậm cười mãi, Thường phật ý nhưng nén lòng hỏi:

- Cớ gì Ngô huynh cười mãi thế?

Nhậm nín cười đáp:

- Tôi cười vì Đặng huynh xét việc nông cạn, đến nước này mà còn bảo Nguyễn Huệ phò Lê.

Nguyễn Huệ truyền hịch tìm vua Lê tức là đuổi vua Lê đó.

Thường ngạc nhiên hỏi:

- Ngô huynh nói vậy là ý thế nào.

Nhậm hỏi lại Thường rằng:

- Đặng huynh không nghe việc Ngô Duy Án và Trần Công Xán đi sứ về bị chết chìm ngoài biển hay sao?

Thường đáp:

- Việc này tôi có nghe.

Nhưng đó là Nguyễn Huệ thấy Trần Công Xán có tài nên mới giết đi, việc đó nào có liên quan gì đến việc phò Lê hay không phò Lê.

Ngô Thì Nhậm lắc đầu bảo:

- Nguyễn Huệ đang thu phục lòng nho sĩ đất Bắc cớ gì phải giết Trần Công Xán.

Vả lại Trần Công Xán tài gì mà Nguyễn Huệ phải giết đi, chẳng qua Nguyễn Huệ dùng kế "Phạt thảo kinh xà" để đuổi vua Lê Chiêu Thống chạy khỏi nước mà thôi.

Thường ngạc nhiên hỏi:

- Ngô huynh nói gì tôi vẫn chưa hiểu.

Kế thế nào là "Thảo phạt kinh xà"?

Nhậm đáp:

- Trần Công Xán và Lê Duy Án ngoài theo lệnh Hữu Chỉnh đi sứ vào đòi đất Nghệ An.

Trong khi đó Lê Duy Án lại giấu mật chỉ của vua Lê Chiêu Thống viết vời Nguyễn Huệ về kinh cứu giá trừ Chỉnh.

Có mật chỉ rồi Nguyễn Huệ lại giết Lê Duy Án là tay chân của vua Lê, khiến vua Lê hoảng sợ.

Nên khi Vũ Văn Nhậm theo lệnh Nguyễn Huệ truyền hịch phò Lê ra đánh Chỉnh vua Lê phải bỏ Hoàng thành mà chạy trốn.

Trần Công Xán cầm đầu sứ đoàn nên phải chết theo Lê Duy Án chứ Nguyễn Huệ nào cố ý giết Trần Công Xán.

Ấy chính là kế "Phạt thảo kinh xà" của Nguyễn Huệ vậy.

Đặng Trần Thường cãi:

- Vô lý!

Nếu muốn đuổi vua Lê thì Nguyễn Huệ cứ đem quân ra đánh không nêu nghĩa phò Lê, ắt vua Lê cũng phải bỏ kinh thành mà chạy, cần gì phải giết Lê Duy Án và Trần Công Xán.

Nhậm đáp:

- Lê Duy Án theo lệnh vua Lê đem mật chỉ cứu giá trao Nguyễn Huệ.

Vậy nếu Huệ không giết Lê Duy Án làm sao gây nghi sợ trong lòng vua Lê được.

Dùng kế này Nguyễn Huệ đã đuổi được vua Lê lại có chính nghĩa phò Lê lấy lòng trăm họ.

Nay nghe Nguyễn Huệ thông báo tìm vua Lê, vua Lê lại càng hoảng sợ mà lo chạy cho xa.

Còn những kẻ sĩ như Đặng huynh cũng phải tin Nguyễn Huệ phò Lê, kể gì đến kẻ dân thường ít học.

Thật là một mũi tên mà trúng hai đích vậy.

Đặng Trần Thường trầm trồ khen:

- Ấy thật là độc kế!

Theo ý Ngô huynh Nguyễn Huệ là người thế nào?

Nhậm đáp:

- Theo tôi Nguyễn Huệ là một bậc anh hùng kiệt hiệt, mưu trí hơn người, xuất thân là nông dân áo vải giúp nước cứu dân dựng nên nghiệp lớn xưa nay hiếm thấy.

Xét việc trị tội Vũ Văn Nhậm thật là một đấng minh quân.

Cơ trời sắp đổi, vận mệnh nhà Lê đã hết, tôi định ra phò minh Chúa góp công định quốc an dân, nhưng e người đời hiểu lầm rằng mình tham danh hám lợi nên chưa biết tính sao.

Đặng Trần Thường cáo từ nói:

- Ngô huynh là Hồng Hạc chờ người ta đến đón, còn tôi chim sẻ phải tự lo kiếm ăn.

Cảm ơn Ngô huynh đã chỉ cho chỗ sáng.

Xin tạm biệt Ngô huynh, tôi ra làm quan với nhà Tây Sơn đây.

Rời khỏi chòi tranh Ngô Thì Nhậm, Đặng Trần Thường rong ruổi đến kinh thành.

Tới nơi nghe dân chúng bảo nhau rằng:

- Bắc Bình Vương đưa Hoàng thân Lê Duy Cận lên làm Giám Quốc.

Hiện Bắc Bình Vương đang ở tại hoàng cung.

Đặng Trần Thường nghĩ thầm:

- Nguyễn Huệ đang ở tại Hoàng cung ắt phải về lại tư dinh.

Vậy ta cứ phục trên đường về tất gặp được Nguyễn Huệ.

Nghĩ rồi bèn đến nằm dưới gốc cây bên vệ đường.

Quả nhiên thoáng chốc đã thấy Nguyễn Huệ từ Hoàng cung đi về phía mình.

Chờ Huệ đến gần, Đặng Trần Thường vừa nhịp chân vừa ca rằng:

Dân nhớ ơn vua Lê.

Người đuổi vua Lê.

Lại được lòng dân.

Đời thật oai oăm!.

Kế "Phạt thảo kinh xà".

Quả là lợi hại.

Nguyễn Huệ nghe tiếng ca giật mình hỏi Trần Văn Kỷ:

- Người này là ai mà biết kế của ta?

Trần Văn Kỷ đáp:

- Bắc Hà đất rộng dân đông, danh sĩ hằng hà, kẻ hạ thần không biết được.

Nguyễn Huệ liền xuống ngựa đến gần Đặng Trần Thường thi lễ rồi hỏi:

- Cao nhân quý danh là gì.

Biết rõ kế của Huệ ắt phải là nhân tài bậc nhất ở Bắc Hà?

Thường đứng dậy vái chào Nguyễn Huệ rồi đáp:

- Thần dân họ Đặng tên Trần Thường, chỉ là một kẻ hủ nho nơi đất Bắc.

Kế của Chúa công ngoài thần dân ra còn có một người biết nữa là hai.

Nguyễn Huệ liền hỏi:

- Người ấy là ai?

Thường đáp:

- Đó là Ngô Thì Nhậm, người làng Thanh Oai trấn Nam Sơn, làm quan chức Đốc Đồng ở Hải Dương.

Trịnh Sâm thường khen là tài học không dưới người khác.

Sau vì loạn kiêu binh nên bỏ về ở ẩn.

Ngô Thì Nhậm cũng biết Chúa công dùng kế "Phạt thảo kinh xà" truất bỏ nhà Lê.

Nhậm định tìm gặp vua Lê Chiêu Thống khuyên vua quay về lại kinh thành ắt Chúa công vì lấy lòng dân xứ Bắc mà vẫn phải phò Lê.

Nếu như thế e đại sự khó thành.

Nguyễn Huệ hỏi Đặng Trần Thường:

- Tiên sinh là người đa mưu trúc trí vậy có kế gì giúp ta chăng?

Thường đáp:

- Nay kẻ hạ thần quyết lòng bỏ chữ ngu trung ra giúp Chúa công định quốc an dân.

Nếu Chúa công không chê hạ thần xin hiến một kế.

Nguyễn Huệ vui mừng nói:

- Huệ ta lúc nào cũng chiêu hiền đãi sĩ, ngưỡng mộ nhân tài.

Được tiên sinh theo giúp còn hân hạnh gì hơn.

Kế thế nào xin tiên sinh chỉ vẽ.

Đặng Trần Thường đáp:

- Trong lúc Ngô Thì Nhậm chưa đến tìm gặp vua Lê Chiêu Thống, ta ra tay trước là hơn.

Nguyễn Huệ kiên nhẫn hỏi:

- Thế nào là ra tay trước?

Thường đáp:

- Thần xin chỉ nơi ẩn náu của Ngô Thì Nhậm, Chúa công sai người đến giết Nhậm là xong.

Nguyễn Huệ nghe xong nói ngay:

- Xin mời tiên sinh về dinh cùng Huệ.

Huệ tôi sắp xếp có chức gì phù hợp sẽ mời tiên sinh thọ chức.

Nói xong liền mời Đặng Trần Thường về cho nghỉ ngoài công quán.

Đến tư dinh, Nguyễn Huệ hỏi Trần Văn Kỷ:

- Theo ý Trung thư, Đặng Trần Thường là người thế nào?

Trần Văn Kỷ đáp:

- Thần xem Đặng Trần Thường không phải là người ngay.

Mới gặp Chúa công đã bày chuyện hại người.

Người này chớ nên dùng.

Nguyễn Huệ gật đầu nói:

- Ta nghe Ngô Thì Nhậm là danh sĩ bậc nhất ở Bắc Hà, trong lòng ngưỡng mộ từ lâu.

Nay

Trung thư có thể đến thuyết Nhậm theo giúp Tây Sơn ta được chăng?

Trần Văn Kỷ đáp:

- Thần nghe Ngô Thì Nhậm tài hoa lỗi lạc, là kẻ thức thời, nay xin đến thuyết nhất định Nhậm sẽ theo về với Chúa công.

Hôm sau Ngô Thì Nhậm theo Trần Văn Kỷ đến yết kiến Nguyễn Huệ.

Huệ mời ngồi hỏi:

- Ta nghe tiên sinh là bậc kỳ tài trong thiên hạ, vẫn hằng mong được nghiêng mình chào đón.

Nay tiên sinh đến đây thật là hồng phúc của nước nhà.

Tiên sinh là bề tôi cũ của nhà Lê, nay ta truất phế nhà Lê, tiên sinh có oán ta chăng.

Ngô Thì Nhậm đáp:

- Vua Lê vô tài kém đức, để nước nhà loạn lạc muôn dân đói khổ lầm than, Chúa công dùng kế "Phạt thảo kinh xà" truất nhà Lê cứu dân vực nước sao hạ thần lại dám oán Chúa công.

Nguyễn Huệ nói:

- Cảm ơn tiên sinh đã hiểu được Huệ ta.

Nhưng có người bảo ta rằng tiên sinh định khuyên vua Lê Chiêu Thống quay lại Hoàng cung phá thế "Phạt thảo kinh xà" của ta.

Chính vì lẽ ấy nên ta mới hỏi tiên sinh có vì nhà Lê mà oán ta chăng.

Ngô Thì Nhậm kinh ngạc hỏi:

- Ai bảo với Chúa công điều ấy?

Nguyễn Huệ đáp:

- Đó chính là Đặng Trần Thường!

Ngô Thì Nhậm lấy làm lạ hỏi:

- Đặng Trần Thường có đến hỏi thần về thế cuộc.

Thần khuyên Thường ra giúp Chúa công, làm gì có việc thần định khuyên vua Chiêu Thống về lại kinh thành.

Sao lại có sự lạ như thế?

Nguyễn Huệ trầm ngâm hỏi:

- Tiên sinh và Đặng Trần Thường có thù oán gì chăng?

Nhậm đáp:

- Mỗi khi gặp khó họ Đặng thường đến vấn kế của thần, làm gì có việc thù oán.

Nguyễn Huệ ngoảnh lại bảo quân:

- Mau đến công quán mời Đặng Trần Thường tới đây cho ta.

Quân đi rồi Nguyễn Huệ lại bảo Ngô Thì Nhậm:

- Tiên sinh cảm phiền nấp sau bức bình phong, ta có việc riêng cần hỏi Đặng Trần Thường ít câu.

Nhậm liền làm theo lời Huệ.

Thường đến, Huệ hỏi:

- Đặng tiên sinh khuyên ta nên giết Ngô Thì Nhậm.

Nay có người khuyên nên thuyết Nhậm bỏ Lê ra giúp ta.

Vậy theo ý tiên sinh thì thế nào?

Đặng Trần Thường đáp:

- Làm gì có việc ấy.

Chính hạ thần đã thuyết Nhậm ra phò Chúa công nhưng Nhậm không nghe kia mà!

Nguyễn Huệ cười bảo:

- Nhưng người này lại thuyết được Ngô Thì Nhậm chẳng phải là tài hơn Đặng tiên sinh sao.

Để ta gọi người này ra cho Đặng tiên sinh gặp mặt.

Nói xong Huệ quay vào trong gọi:

- Ngô tiên sinh hãy ra di!

Ngô Thì Nhậm từ sau bức bình phong bước ra.

Nhìn thẳng vào mặt Đặng Trần Thường, Nhậm hỏi:

- Tôi khuyên Đặng huynh ra giúp Tây Sơn.

Sao Đặng huynh lập kế hãm hại tôi?

Đặng Trần Thường thất sắc chẳng biết đối đáp thế nào.

Bỗng nghe Nguyễn Huệ vỗ án quát:

- Phường tiểu nhân đê tiện!

Quân đâu, lôi Đặng Trần Thường ra ngoài chém chết cho ta.

Ngô Thì Nhậm vội can Nguyễn Huệ:

- Đại trượng phu là kẻ kính người quân tử, thương xót tiểu nhân.

Xin Chúa công hãy thương xót mà tha cho họ Đặng một phen.

Nguyễn Huệ hầm hầm nói:

- Bình sinh ta rất ghét bọn người lấy oán trả ân.

Nể lời Ngô Thì Nhậm tha chết cho ngươi, nhưng phải đánh hai mươi hèo làm gương cho kẻ khác.

Ngô Thì Nhậm lại can:

- Đặng Trần Thường là học trò sao chịu nổi hai mươi hèo.

Xin Chúa công mở lượng hiếu sinh mà tha cho.

Nguyễn Huệ bảo Thường:

- Ngươi là học trò, vậy ta ra một vế đối.

Nếu đối được thì tha, bằng không phải đánh hai mươi hèo.

Đặng Trần Thường thoát chết, hoàn hồn thưa:

- Xin Chúa công ra câu đối.

Nguyễn Huệ mỉm cười đọc rằng:

- Trần tục, tầm thường như Đặng Trần Thường, kẻ tiểu nhân làm gì nên đặng.

Đặng Trần Thường nhăn trán chau mày suy nghĩ sợ đà sởn gai ốc, đổ mồ hôi hột mà vẫn chưa tìm ra vế đối.

Trong cơn nguy khốn chợt nghe Ngô Thì Nhậm nói:

- Người thượng quân từ sánh bằng cây trúc, người trung quân tử sánh với cây ngô đồng.

Nhậm tôi thời đến được Chúa công trọng dụng cho nhậm chức, sự quân tử chỉ đáng sánh với cây ngô đồng mà thôi.

Thường nghe Nhậm nói xong mừng rỡ thưa cùng Nguyễn Huệ:

- Tiểu sinh xin đọc vế đối.

Huệ hất hàm bảo:

- Ngươi hãy đọc đi.

Nếu đối được ta sẽ tha không đánh!

Đặng Trần Thường đối rằng:

- Thời đến, chức nhậm như Ngô Thì Nhậm, người quân tử đáng sánh cây ngô.

Nguyễn Huệ vỗ án quát:

- Câu đối của ngươi tuy chỉnh về văn nhưng không chỉnh về ý.

Quân bay đè xuống đánh hai mươi hèo.

Thường thất kinh hỏi:

- Thưa Chúa công thế nào là không chỉnh ý?

Huệ đáp:

- Ngươi lấy oán trả ân toan hại Ngô Thì Nhậm.

Nhậm không lấy đó làm hiềm, nhắc ý cho ngươi đối được câu đối của ta để cứu ngươi.

Đó là thượng quân tử đáng sánh bằng cây trúc, sao bảo rằng chỉ sánh bằng cây ngô.

Ấy là không chỉnh về ý.

Quân bay đè xuống đánh ngay.

Đặng Trần Thường bị đánh hai mươi hèo lột da cháy máu đau đớn tủi hổ rời khỏi dinh.

Thường nghĩ thầm:

- Nguyễn Huệ và Ngô Thì Nhậm hùa nhau làm nhục ta.

Ta nghe Nguyễn Phúc Ánh đang khởi binh ở Gia Định chống nhau với Tây Sơn, vậy thì nên vào theo Chúa Nguyễn.

Trước là lập công danh với đời, sau là báo tư thù mới hả dạ.

Nghĩ xong liền tìm thuyền vượt biển vào Gia Định.

Phần Nguyễn Huệ và Ngô Thì Nhậm, sau khi đuổi Đặng Trần Thường đi rồi, Nhậm hỏi:

- Lê Chiêu Thống bị Chúa công dùng kế "Phạt thảo kinh xà" đuổi khỏi kinh thành, thần e rằng vua Lê sẽ sang Tàu cầu cứu vua Càn Long nhà Thanh.

Nếu quân Thanh mượn cớ phù Lê sang xâm lược nước ta thì nguy.

Xin Chúa công liệu trước.

Nguyễn Huệ khen Nhậm:

- Tiên sinh mới ra khỏi chòi tranh mà biết trước thời cuộc thật tài năng hiếm có.

Đây là phong thư ta viết sẵn xin tiên sinh cất giữ, khi nào quân Thanh sang xâm lược nước ta thì tiên sinh hãy mở ra xem.

Trong đó đã có kế chống nhau với giặc.

Đoạn Huệ trao thư cho Nhậm.

Nhậm quỳ nhận thư, Huệ lại dặn:

- Việc ta giao mật thư này cho khanh không được tiết lộ cho một ai biết, kể cả Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân và Nguyễn Văn Tuyết.

Ngô Thì Nhậm tò mò hỏi:

- Kế chống giặc thế nào mà hệ trọng thế?

Huệ cười đáp:

- Đợi quân Thanh sang khanh mới được giở ra, khi ấy khắc biết!

Dặn dò Ngô Thì Nhậm xong, Nguyễn Huệ hội các tướng Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân, Nguyễn Văn Tuyết đến nói:

- Nay ta phong Ngô Văn Sở đứng đầu quan võ, Ngô Thì Nhậm cai quản quan văn, giao mười một trấn ở Bắc Hà cho các khanh định đoạt.

Đừng nên phân biệt kẻ văn người võ, kẻ mới người cũ mà khích bác lẫn nhau.

Nếu không có việc hệ trọng thì không cần tâu bẩm làm chi.

Các khanh nên gắng sức chớ phụ lòng mong đợi của ta.

Sắp đặt mọi việc xong, Nguyễn Huệ liền cùng Trần Văn Kỷ trở về Phú Xuân.
 
Tây Sơn Bi Hùng Truyện
Chương 47


Võ Tánh bày điệu hổ ly sơn.

Nguyễn Văn Trương dùng ly gian kế.

Nhắc lại Nguyễn Vương Phúc Ánh ở Tiêm La quốc chờ Bá Đa Lộc cầu viện nước Pháp Lang Sa đem binh thuyền đến giúp.

Chờ mãi không thấy tăm hơi đâu cả, Ánh liền sai sứ tìm đường sang Pháp quốc dò la tin tức Bá Đa Lộc.

Một ngày kia sứ giả về báo rằng:

- Tâu Thượng vương, nước Pháp Lang Sa có loạn nên vua Pháp không bằng lòng đem quân sang giúp.

Bá Đa Lộc nói sẽ tự mình bỏ tiền mua súng đóng thuyền tuyển mộ binh lính rồi sẽ đến giúp Thượng vương.

Nguyễn Phúc Ánh buồn rầu nói:

- Ta không thể nào chờ Bá Đa Lộc được nữa, phải tự mình lo lấy mà thôi.

Nhưng bây giờ trong tay chỉ có một ngàn quân sao về nước đánh Tây Sơn được.

Các tướng ai có kế gì chăng.

Nguyễn Huỳnh Đức bước ra nói:

- Hiện nay Nguyễn Huệ cai trị từ ải Hải Vân trở ra Bắc.

Anh em Nhạc - Huệ bất hòa đánh giết lẫn nhau.

Đất Gia Định do Nguyễn Lữ trấn thủ.

Nguyễn Lữ thật thà, bất tài, nhu nhược, Đặng Văn Long lại bỏ Nguyễn Lữ ra Phú Xuân theo Nguyễn Huệ.

Ấy thật là trời giúp Thượng vương nên mới dành đất Gia Định cho Thượng vương đó.

Đánh lấy Gia Định đất rộng dân đông là nương theo thiên thời mà giành địa lợi.

Nguyễn Vương chặn Đức lại hỏi:

- Nhưng quân ta chỉ có một ngàn, sao chiếm nổi Gia Định?

Đức đáp:

- Muốn giành địa lợi thì phải được nhân hòa.

Nguyễn Vương hỏi:

- Thế nào là nhân hòa?

Đức đáp:

- Nay ở Gia Định có một người nắm trong tay hàng vạn quân lập căn cứ trong rừng đang đánh nhau với quân Tây Sơn.

Thượng vương thuyết người này về giúp lo gì không lấy được Gia Định.

Nguyễn Vương hỏi:

- Người ấy là ai.

Lập căn cứ tại đâu?

Nguyễn Huỳnh Đức đáp:

- Người này nổi danh là đệ nhất hùng trong Gia Định tam hùng.

Đang lập căn cứ tại rừng Tam Phụ.

Nguyễn Vương lắc đầu nói:

- Ta trước giết Võ Nhân là anh ruột Võ Tánh, nên năm xưa ta sai Ngô Tùng Châu đến thuyết mà Võ Tánh không theo.

Nay nói cách gì cho Võ Tánh giúp ta được?

Ngô Tùng Châu xen vào thưa:

- Võ Tánh là người trung quân ái quốc, nhưng e Thượng vương ngờ Võ Tánh còn nhớ thù nhà nên chưa đến giúp Thượng vương được đó thôi.

Nguyễn Vương hỏi:

- Ta thì ngại Võ Tánh còn nhớ thù anh.

Võ Tánh thì sợ ta vì điều ấy mà không tin Tánh thực lòng theo giúp.

Vậy phải làm sao hóa giải được nỗi hiềm nghi này.

Ngô Tùng Châu cười đáp:

- Trước Thượng vương cắt đứt ruột thịt người ta, nay Thượng vương nên đem ruột thịt của mình nhà thưởng cho họ, ắt Võ Tánh sẽ hết nghi ngờ.

Nguyễn Vương ngạc nhiên hỏi:

- Ngô tham mưu nói vậy là ý thế nào.

Ta vẫn chưa hiểu?

Ngô Tùng Châu kề tai Phúc Ánh nói nhỏ một hồi.

Nghe xong Nguyễn Vương mừng rỡ khen:

- Ngô tiên sinh thật là cao kiến.

Vậy phiền tiên sinh tìm về cố quốc đến rừng Tam Phụ gặp Võ Tánh lần nữa.

Ngô Tùng Châu vâng lệnh đi ngay.

Gặp nhau, Tánh hỏi Châu:

- Năm xưa tôi hẹn với Ngô huynh chờ mãn hạn tang anh sẽ đem quân theo giúp Chúa.

Không ngờ Nguyễn Huệ đem quân vào Gia Định đuổi Chúa chạy sang Tiêm La quốc.

Nay tôi muốn theo Chúa vậy phải tìm ở đâu?

Ngô Tùng Châu mừng rỡ đáp:

- Chẳng giấu gì Võ đệ, tôi vâng lệnh Chúa đến trao cho Võ đệ một vật để chứng tỏ rằng Chúa không hề nghi ngờ gì Võ đệ cả.

Võ Tánh hỏi:

- Ấy là vật gì?

Ngô Tùng Châu liền đưa cho Võ Tánh xem một bức tranh vẽ hình một người con gái dung nhan diễm lệ.

Xem xong Tánh ngạc nhiên hỏi:

- Bức chân dung này của ai.

Cho tôi xem có dụng ý gì.

Ngô Tùng Châu cười đáp:

- Đây là chân dung của quận chúa Ngọc Du là em ruột của Chúa.

Nay Chúa muốn gả quận chúa Ngọc Du cho Võ đệ, ấy là muốn lấy tình thật mà đãi ngộ Võ đệ đó!

Võ Tánh xua tay nói:

- Tôi nay ra giúp Chúa vì đã mãn hạn tang anh không còn sợ mang tiếng là người bất hiếu.

Nếu chờ Chúa gả em gái mới ra giúp sao bảo là trung được.

Ngô huynh hãy về tâu với Chúa rằng khi nào Chúa về nước, Tánh tôi sẽ thân hành đem quân đến đón.

Còn việc gả Quận chúa, Tánh tôi là kẻ vũ phu thật tình không dám nhận.

Tùng Châu hỏi:

- Chúa ta trong tay chỉ có năm ngàn quân sao dám đường đột về nước.

Theo tôi Võ đệ hãy ra quân đánh lấy Trường Đồn, Hà Tiên.

Chúa sẽ theo đường bể về Hà Tiên.

Như vậy mới tiện.

Võ Tánh cười đáp:

- Một ngàn quân cũng đã chiếm được Hà Tiên.

Nguyễn Lữ nghe Chúa ta ít quân tất đem quân tiến xuống Trường Đồn đánh Hà Tiên.

Khi ấy tôi ở rừng Tam Phụ sẽ bất ngờ đánh chiếm Sài Côn, Nguyễn Lữ ở Trường Đồn sẽ lâm vào thế lưỡng đầu thọ địch.

Ấy là kế điệu hổ ly sơn đó.

Ngô Tùng Châu mừng rỡ khen:

- Ấy thật là diệu kế.

Phen này phải bắt sống Nguyễn Lữ.

Nói xong Châu liền từ biệt Võ Tánh sang Tiêm La quốc thuật lại kế Võ Tánh cho Nguyễn Vương nghe.

Nguyễn Vương cảm khái nói:

- Võ Tánh thật là người trung hiếu vẹn toàn xưa nay hiếm thấy.

Nghĩa thật là đáng kính, tài thật là đáng phục.

Đoạn Nguyễn Vương liền đem quân theo đường bể tiến đánh Hà Tiên.

****

Bấy giờ Đông Định Vương Nguyễn Lữ ngày ấy ở trong thành Sài Côn nghe quân thám mã về báo rằng:

- Thưa Đông Định Vương, Nguyễn Phúc Ánh từ Tiêm La quốc đem quân về đánh chiếm Hà Tiên.

Xin Đông Định Vương định liệu.

Nguyễn Lữ giật mình nói:

- Hai anh ta bất hòa khiến lòng người ly tán.

Dân Gia Định chỉ một lòng về với Phúc Ánh.

Vả lại Phúc Ánh ở Tiêm La về chiếm Hà Tiên chắc là có quân Tiêm La theo giúp.

Chi bằng ta bỏ Gia Định về Quy Nhơn với Hoàng huynh là hơn.

Nguyễn Lữ vừa dứt lời bỗng nghe tiếng nói lớn:

- Xin Đông Định Vương chớ bỏ Gia Định.

Mọi người giật mình nhìn lại, thì ra người vừa nói là quan Thái bảo Phạm Văn Tham.

Nguyễn Lữ hỏi:

- Văn Tham cho rằng ta có thể địch nổi với quân Tiêm La hay sao mà bảo đừng bỏ đất Gia Định.

Phạm Văn Tham đáp:

- Năm trước quân Tiêm La bi tiêu diệt ở Rạch Gầm, Trường Đồn, năm vạn quân còn lại mấy trăm ôm đầu chạy về nước.

Từ ấy đến nay chúng nghe tiếng Tây Sơn ta đã kinh tâm tán đởm làm gì mà dám sang lần nữa.

Xin Đông Định Vương chớ vội bỏ đất Gia Định.

Nguyễn Lữ chau mày nói:

- Dù quân Tiêm không sang thật, nhưng lòng dân Gia Định chỉ theo về Phúc Ánh, thành Sài

Côn lại chẳng có núi non che chở e không chổng nổi với giặc.

Ý ta đã quyết, Văn Tham đừng nói nữa.

Tham quỳ dưới án một mực cầu xin:

- Bệ hạ giao cho bọn ta trấn thủ Gia Định, giặc đến chưa đánh đã chạy sao đáng mặt làm tướng.

Nếu Đông Định Vương muốn lui xin hãy tạm về đóng ở Trấn Biên cho an lòng quân sĩ.

Tôi xin ở lại Sài Côn đánh Phúc Ánh.

Nếu chẳng may Văn Tham tôi bỏ mạng thì Đông Định Vương từ Trấn Biên chạy về Quy Nhơn cũng chẳng muộn gì.

Nguyễn Lữ nghe vậy an tâm liền đem năm ngàn quân lui về giữ Trấn Biên.

Lúc bấy giờ ở trong quân Tây Sơn có một viên tiểu tướng tên là Nguyễn Văn Trương hay việc ấy bèn bảo bọn thủ hạ rằng:

- Đông Định Vương Nguyễn Lữ là người bất tài, sớm muộn gì đất Gia Định không mất về tay Chúa Nguyễn.

Bọn ta đều là người Gia Định sao không theo về với Chúa Nguyễn lập công danh với đời.

Nói xong Trương đem ba trăm thủ hạ về Hà Tiên quy hàng Nguyễn Vương.

Nguyễn Vương hỏi:

- Ngươi bỏ Tây Sơn theo ta lấy gì tin là thực.

Nguyễn Văn Trương đáp:

- Hạ thần xin hiến một kế khiến Nguyễn Lữ phải bỏ Trấn Biên mà chạy về Quy Nhơn, Phạm Văn Tham tất bị cô lập ở Sài Côn.

Khi ấy Thượng vương lấy đất Gia Định như trở bàn tay, rồi tin thực hay không tùy Thượng vương phán quyết.

Nguyễn Vương hỏi:

- Kế thế nào?

Trương đáp:

- Thượng vương cứ làm như vầy... như vầy.

Ấy là ly gián kế.

Nguyễn Vương nghi ngờ hỏi:

- Kế mọn này có thể lừa được Nguyễn Lữ sao.

Trương đáp:

- Phạm Văn Tham biết Nguyễn Lữ là người bất nhất, tất cả hai sẽ trúng kế.

Thần xin đem đầu ra bảo đảm, xin Thượng vương chớ lo.

Nguyễn Vương nghe Văn Trương cả quyết thế liền theo kế thi hành.

Nhắc lại Phạm Văn Tham trấn thủ Sài Côn nghe quân vào báo:

- Thưa tướng quân, vua Thái Đức sai ngươi đi đường biển vào trao thư cho Đông Vương.

Phạm Văn Tham nói:

- Đông Vương không có ở đây, vậy ta phải mở thư ra xem vua dặn dò đánh giặc thế nào?

Tham mở thư ra đọc.

Thư rằng:

Em quyết lòng rút binh mà Phạm Văn Tham nhất định xin ở lại trấn Sài Côn là có ý ở biên cương để dễ hàng gịăc.

Đã biết ý của Tham như thế sao không giết đi còn tâu bẩm làm gì!

Phạm văn Tham xem thư xong thất kinh than:

- Ta một lòng vì nước sao Đông Vương nỡ ngờ ta như thế.

Ta phải về Trấn Biên minh oan cùng Đông Vương mới đuợc.

Nói rồi Phạm Văn Tham chỉ đem vài trăm quân ra cửa Bắc thành Sài Côn, nhắm Trấn Biên trực chỉ.

Nguyễn Lữ ở trong thành Trấn Biên nghe quân vào báo:

- Thưa Đông Vương, dân ở thành Trấn Biên xầm xì bàn tán rằng: Phạm Văn Tham đã dâng thành Sài Côn đầu hàng Nguyễn Phúc Ánh.

Nguyễn Lữ gạt đi bảo:

- Phạm Văn Tham là người trung nghĩa làm gì có việc phản ta.

Vừa dứt lời quân tín cẩn vào báo:

- Khắp trong thành ngoài nội đều đồn rằng Phạm Văn Tham sắp dẫn quân Nguyễn Phúc Ánh đến đánh ta.

Nguyễn Lữ liền đứng lên đi đi lại lại nghĩ thầm:

- Lẽ đâu Phạm Văn Tham muốn hàng nên mới một mực xin ta cho ở lại trấn thủ Sài Côn.

Lữ còn đang hoài nghi bỗng quân do thám hớt hải chạy vào báo rằng:

- Thưa Đông Vương, Phạm Văn Tham đang dẫn quân tiến về thành Trấn Biên.

Chẳng hiểu là có ý gì?

Nguyễn Lữ giật mình kinh hãi nói:

- Phạm Văn Tham đã phản ta rồi dẫn quân Nguyễn Phúc Ánh đến đánh ta đó.

Mau rút binh về Quy Nhơn.

Than rồi Lữ liền dần quân ra cửa Bắc thành mà chạy.

Hay tin ấy Phạm Văn Tham than:

- Nếu vậy ta chỉ còn một cách là đánh thắng Phúc Ánh mới minh oan với vua Thái Đức và Đông Vương Nguyễn Lữ được mà thôi.

Đoạn Phạm Văn Tham lại dẫn quân quay về thành Sài Côn.

Đến nơi Tham gọi tên thuộc tướng là Phạm Hổ tới bảo:

- Ta đã viết sẵn một phong thư, ngươi hãy gấp ra Phú Xuân báo cáo tình hình cùng Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ.

Chỉ Bắc Bình Vương mới cứu ta được mà thôi.

Phạm Hổ vâng lời liền lên thuyền đi đường biển ra Phú Xuân.

Hổ đi rồi, Tham bảo quân:

- Mau truyền lệnh ta đem toàn quân vào Trường Đồn đánh Nguyễn Phúc Ánh.

Nguyễn Vương hay tin ấy bảo các tướng:

- Nguyễn Lữ và Phạm Văn Tham trúng kế ly gián của Nguyễn Văn Trương.

Phạm Văn Tham kéo quân đến Trường Đồn ắt Sài Côn bỏ trống đúng như Võ Tánh dự đoán.

Vậy ta phải mật sai Võ Tánh từ rừng Tam Phụ đánh chiếm Sài Côn.

Khi ấy Phạm Văn Tham không còn đường rút tất phải đầu hàng.

Phạm Văn Tham ở Trường Đồn nghe quân vào báo:

- Võ Tánh ở rừng Tam Phụ đã đem quân đánh chiếm Sài Côn.

Tham thất kinh nói:

- Ta đã lầm mưu Nguyễn Phúc Ánh.

Thành Sài Côn mất, ta ở Trường Đồn ba mặt đều thọ địch, nếu không sớm theo sông Tiền Giang ra cửa Hàm Luông theo đường biển rút quân về Bắc, ngộ nhỡ địch đem thủy binh chặn mất đường ấy thì làm thế nào.

Tham vừa dứt lời quân thám mã lại vào báo:

- Thưa tướng quân, thủy binh quân Nguyễn đã đóng thủy trại kín cả một dải Tiền Giang.

Phạm Văn Tham buồn rầu hạ lệnh:

- Ba quân canh phòng cẩn mật liều chết thủ thành chờ Bắc Bình Vương đem quân đến cứu.

Phạm Văn Tham lo lắng lên mặt thành Trường Đồn nhìn xuống sông Tiền Giang, chiến thuyền của quân Nguyễn giăng lớp lớp.

Lại trông về phương Bắc tin quân cứu viện của Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ còn trong làn sương khói xa mờ.

Phạm Văn Tham thở dài than:

- Vái trời cho Phạm Hổ đến được Phú Xuân cầu cứu Bắc Bình Vương.
 
Back
Top Bottom