Cập nhật mới

Khác Tây Sơn bi hùng truyện

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
181,601
Phản ứng
0
Điểm
0
VNĐ
44,735
253983535-256-k913409.jpg

Tây Sơn Bi Hùng Truyện
Tác giả: ailetu
Thể loại: Cổ đại
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Tác giả: Lê Đình Danh



babeo​
 
Tây Sơn Bi Hùng Truyện
Lời mở đầu


Lời mở đầu

"TÂY SƠN BI HÙNG TRUYỆN"

CUỐN TIỂU THUYẾT HẤP DẪN VÀ BỔ ÍCH

Phàm là một người người ham mê lịch sử và văn chương, cầm cuốn sách này khó có thể dứt ra được.

Rất giống cảm giác thuở học trò đọc Tam quốc diễn nghĩa hay Thủy hử, bạn sẽ bị cuốn sách lôi cuốn ngay cả khi đang ăn hay trước lúc đi ngủ.

Sẽ rất nhiều người mải theo cách dẫn dắt của tác giả mà quên khuấy cả giấc ngủ trưa, thậm chí cho qua cả một đêm trắng.

Tây Sơn bi hùng truyện của Lê Đình Danh mô phỏng cách viết chương hồi của La Quán Trung, Thi Nại Am và những tiểu thuyết gia Trung Quốc xưa, một cách kể chuyện như lùa người đọc vào hết mê hồn trận này đến những bí sử kia, mang đến cho người đọc cái không gian, thời gian, những sự kiện lịch sử, những chân dung tiêu biểu... làm nên gương mặt xã hội Việt Nam đầy biến động và bi thương, hiển hách và bi tráng suốt nửa cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX.

Khác với tiểu thuyết Sông Côn mùa lũ, tác phẩm của nhà văn Việt Kiều Nguyễn Mộng Giác, tái hiện khá thành công người anh hùng áo vải Tây Sơn và cuộc khởi nghĩa nông dân vĩ đại vào bậc nhất trong lịch sử dân tộc, từng in ở Mỹ và mới in lại ở Việt Nam, Lê Đình Danh viết về cuộc khởi nghĩa Tây Sơn và người anh hùng kiệt xuất Nguyễn Huệ với một bối cảnh rộng lớn hơn, đặt các nhân vật của Tây Sơn trong mối quan hệ trực diện, đối nghịch, một mất một còn với chúa Nguyễn Đàng Trong, chúa Trịnh Đàng Ngoài và Vương quốc Đại Thanh thời vua Càn Long hùng mạnh.

Không phải ngẫu nhiên mà thoạt đầu tác giả đặt cho bộ tiểu thuyết hai tập hơn nghìn trang in với 5 phần 70 chương của mình cái tựa đề Nhị Nguyễn tranh hùng mà hai nhân vật trung tâm xuyên suốt tác phẩm là Nguyễn Huệ và Nguyễn Phúc Ánh.

Có thể nói đó là hai nhân vật lịch sử, có vai trò cực kỳ quan trọng quyết định sự thành bại của hai dòng Nguyễn Tây Sơn và dòng Nguyễn thế gia vọng tộc Đàng Trong, quyết định khuynh hướng và bước ngoặt phát triển của dân tộc Việt từ đầu thế kỷ XIX.

Đặt nhân vật Nguyễn Huệ vào trong bối cảnh chế độ phong kiến do các chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã kiến lập hơn hai trăm năm, kể từ khi người anh hùng kiệt xuất Nguyễn Hoàng nhận ra dã tâm của Trịnh Kiểm, đã mang thân quyến và bộ hạ vào lánh nạn ở Thuận Quảng năm 1558, cho đến khi lộng thần Trương Phúc Loan lợi dụng sự mọt ruỗng của triều Nguyễn Đàng Trong định tiếm quyền, gây cho muôn dân lầm than cơ cực... mới thấy tài năng và sự xuất chúng tột bậc của người anh hùng áo vải trẻ tuổi.

Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn (1773) do Nguyễn Nhạc khởi xướng, nếu không có Nguyễn Huệ, chắc chắn sẽ bị tiêu diệt từ trong trứng.

Bởi khi ấy, mặc dù trong Nam, rường cột Chúa Nguyễn đã mục nát, nhưng lòng dân vẫn chưa hết ngưỡng vọng về một vương triều với 11 đời chúa kể từ Chúa Tiên Nguyễn Hoàng hơn hai trăm năm đã khai mở và củng cố đất Đại Việt suốt từ hận giới sông Gianh cho đến Sài Côn (Sài Gòn – Gia Định), Hà Tiên, Phú Quốc..., còn ở ngoài Bắc, mặc dù các chúa Trịnh tiếm quyền nhà Lê, dân tình cơ cực,

nhưng hầu hết các sĩ phu Bắc Hà vốn ngu tín, ngu trung và muôn dân vẫn hướng về nhà Lê mà ánh hào quang Lê Lợi - Nguyễn Trãi suốt từ cuộc kháng chiến chống giặc Minh đầu thế kỷ XV vẫn còn tỏa sáng.

Thu phục lòng dân đã khó, nhưng chiến thắng được hai thế lực phong kiến Nguyễn - Trịnh còn ngàn lần khó hơn.

Vậy mà "Bốn lần vào Nam truy chúa Nguyễn; Ba lần ra Bắc diệt vương tông" với những trận đánh thần kỳ; rồi trận Rạch Gầm lừng danh phá năm vạn quân Xiêm, trận thắng Pháp đầu tiên trong lịch sử - đốt tàu chiến Pháp do Bá Đa Lộc trợ giúp cho Nguyễn Phúc Ánh, và kỳ diệu nhất là trận đại phá 20 vạn quân Thanh, đánh bại ý đồ xâm lược của ngoại bang phương Bắc... thì quả là một thiên tài quân sự tầm cỡ thế giới.

Với tài năng và đức độ của Nguyễn Huệ, ông đã tập hợp quanh mình hàng loạt nhân vật kiệt hiệt nhất thời ấy, về văn có Trương Văn Hiến, Ngô Thì Nhậm, Trần Văn Kỷ, Nguyễn Thung, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp..., về võ hàng loạt các đại tướng kiệt hiệt mà tên tuổi mãi lưu truyền sử sách như vợ chồng Trần Quang Diệu – Bùi Thị Xuân, Đặng Văn Long, Đặng Xuân Phong, Đặng Xuân Bảo, Nguyễn Văn Tuyết, Phan Văn Lân, Ngô Văn Sở, Võ Văn Nhậm, Vũ Văn Dũng, Võ Đình Tú... (Nhân đây xin lưu ý các nhà lịch sử và các cấp chính quyền thành phố Hà Nội nên đổi lại tên phố Đặng Tiến Đông (ở bên gò Đống Đa) thành phố Đặng Văn Long, vì trong chính sử cũng như trong tiểu thuyết Tây Sơn bi hùng truyện của Lê Đình Danh không hề nhắc đến Đặng Tiến Đông mà chỉ có tên Đô đốc tài danh Đặng Văn Long).

Với Nguyễn Phúc Ánh (hay Nguyễn Ánh) dưới ngòi bút của Lê Đình Danh, cũng hiện lên như một anh hùng kiệt hiệt, 12 tuổi đã theo Võ vương Nguyễn Phúc Khoát "chống giặc Tây Sơn", 16 tuổi khi quân Tây Sơn truy đuổi chúa Nguyễn ra cửa Hàm Luông, chúa Nguyễn Phúc Thuần bị chết, chỉ còn duy nhất tiểu võ tướng Nguyễn Phúc Ánh một mình một thuyền đưa mẹ và em gái chạy trốn khỏi sự truy sát của Bùi Thị Xuân mà Nguyễn Phúc Ánh được bảo toàn mạng sống, trở thành chủ soái gánh vác cả cơ đồ nhà Nguyễn đang tưởng chừng tan thành mây khói dưới sự truy đuổi quyết liệt của Nguyễn Huệ.

Ở nhân vật này có dáng dấp của một tiểu Tào Tháo, đa mưu, túc kế, gian hùng.

Từ một tiểu võ tướng, trở thành Nguyễn Vương, có lúc trong tay chỉ có vài trăm quân, phải lẩn trốn sang Xiêm quốc, rồi các đảo Phú Quốc, Thổ Chu, Côn Đảo, Nguyễn Phúc Ánh đã dần dần củng cố lại thế lực nhà Nguyễn, thu phục dưới trướng mình nhiều tướng tài như Nguyễn Huỳnh Đức, Tống Việt Phước, Tống Viết Khuông, Châu Văn Tiếp, Lê Chất, Lê Văn Duyệt, Võ Tánh, Ngô Tùng Châu, Đặng Đức Siêu...

Nhưng phải đến khi người anh hùng kiệt xuất Nguyễn Huệ bị gian thần Bùi Đắc Tuyên hãm hại, thì Nguyễn Phúc Ánh mới xoay chuyển được thế cờ.

Cuộc trả thủ hèn hạ của Gia Long Nguyễn Ánh đối với hài cốt của Nguyễn Huệ và các bộ tướng Tây Sơn mãi mãi là vết nhơ trong lịch sử.

Tây Sơn bi hùng truyện thu hút người đọc không chỉ ở tư liệu lịch sử phong phú, kiến văn dồi dào, mà còn ở bút pháp dựng truyện, xây dựng nhân vật khá thành công.

Ngoài hai nhân vật Nguyễn Huệ, Nguyễn Phúc Ánh, hàng loạt các nhân vật thuộc các phe Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn và cả các tướng Mãn Thanh đều được tác giả phác họa khi thì bằng một vài chi tiết đặc sắc, khi kỳ công dẫn dắt qua hàng loạt các sự kiện, mối quan hệ đan xen phức tạp, ví như các nhân vật Ngô Thì Nhậm, Ngọc Hân công chúa, Nguyễn Hữu Chỉnh, Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, Đặng Văn Long, Nguyễn Văn Tuyết, Ngô Văn Sở, Vũ Văn Nhậm, Võ Tánh, Bùi Đắc Tuyên, Lê Văn Duyệt, Đặng Trần Thường, Vũ Tâm Can v.v...

Đọc sách, mà như được xem một cuốn phim lịch sử đầy bi thương hùng tráng, được xúc

động, yêu thương với người anh hùng Tây Sơn Nguyễn Huệ.

Giá như, với công nghệ điện ảnh hiện thời, Tây Sơn bi hùng truyện được đưa lên màn bạc, tin rằng con em chúng ta sẽ thêm một lần được học những bài học lịch sử sống động, và mỗi chúng ta sẽ càng thêm yêu thương đất nước, cội nguồn.

Hà Nội, 28-8-2005.

Nhà văn Hoàng Minh Tường.
 
Tây Sơn Bi Hùng Truyện
Phần I: Dựng cờ khởi nghĩa -Chương 1


Tại Đàng Ngoài, Tĩnh Đô Vương lộng hành giết chết Thái tử.

Ở Đàng Trong, Trương Phúc Loan lập mưu đoạt quyền Đô Thống.

Tại Đàng Ngoài, Tĩnh Đô Vương lộng hành giết chết Thái tử.

Ở Đàng Trong, Trương Phúc Loan lập mưu đoạt quyền Đô Thống.

Nước Nam, người Lạc Việt, từ khi Lê Lợi dựng cờ khởi nghĩa, mười năm kháng chiến đuổi quân Minh ra khỏi bờ cõi.

Lê Lợi lên ngôi vua lấy hiệu là Lê Thái Tổ lập nên nhà Hậu Lê đặt tên nước là Đại Việt (năm Mậu Thân - 1428).

Vua Thái Tổ truyền đến đời con cháu là Thái Tông, Thánh Tông đều là những bậc anh quân vì dân vì nước.

Từ ấy bốn phương thiên hạ thái bình, muôn dân no ấm.

Lúc bấy giờ người dân trong nước truyền tụng câu ca rằng:

Đời vua Thái Tổ, Thái Tông

Lúa thóc đầy đồng, trâu chẳng buồn ăn.

Nhà Hậu Lê truyền ngôi được trăm năm, đến đời vua Chiêu Tông thì Mạc Đăng Dung soán ngôi vua lập nên nhà Mạc vào năm Đinh Hợi (1527).

Lúc bấy giờ có quan Hữu vệ Điện tiền tướng quân An Thạch Hầu Nguyễn Kim cùng rể là Trịnh Kiểm tìm dòng dõi vua Lê Thái Tổ lập lên làm vua rồi đem quân chiếm đất Nghệ An đánh nhau với nhà Mạc.

Sau Nguyễn Kim chết, binh quyền về tay Trịnh Kiểm.

Kiểm sợ con Nguyễn Kim là Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng tranh quyền với mình, bèn giết chết Nguyễn Uông.

Trịnh Kiểm lại có ý xưng làm vua, nhưng thấy lòng người còn thương mến nhà Lê nên sai sứ vào Hải Dương hỏi ý Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Trạng Trình bảo:

- Năm nay mất mùa, thóc giống không tốt nên tìm giống cũ mà gieo mạ.

Rồi Trạng sai đầy tớ quét dọn chùa rồi đốt hương khấn rằng: Giữ chùa thờ phật thì ăn oản.

Kiểm hiểu ý vẫn giữ vua Lê làm hư vị, còn mình nắm giữ hết quyền hành.

Nguyễn Hoàng thấy Trịnh Kiểm giết anh mình là Nguyễn Uông sợ vạ lây đến thân, bèn lén vào hỏi ý Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Trạng chỉ tay vào Nam nói:

- Hoành Sơn nhất đái vạn đại dung thân (một dãy Hoành Sơn dung thân ngàn đời).

Hoàng lấy tình thâm ruột thịt nói với chị mình là vợ Trịnh Kiểm tên là Ngọc Bảo, xin với

Kiểm cho Hoàng vào trấn đất Thuận Hóa (Bình Trị Thiên ngày nay).

Ấy là vào năm Mậu Ngọ (1558).

Sau Trịnh Kiểm chết, con là Trịnh Tùng lên thay quyền.

Tùng đem quân đánh dứt được nhà Mạc.

Tùng vẫn giữ vua Lê làm hư vị, còn mình tự xưng là chúa Trịnh.

Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hóa thấy Trịnh Tùng xưng chúa ở Thăng Long, bèn tự xưng là chúa Nguyễn.

Về sau Hoàng chết, con là Nguyễn Phúc Nguyên sai Đào Duy Từ đắp lũy Trường Dục ở Châu Bố Chánh (Quảng Bình ngày nay) chống nhau với quân Trịnh.

Hai bên bắt đầu đánh nhau vào năm Đinh Mão 1627.

Từ ấy về sau đất nước chia hai, lấy sông Linh Giang làm ranh giới.

Từ sông Linh Giang trở ra tục gọi là Đàng Ngoài.

Từ sông

Linh Giang trở vào tục gọi là Đàng Trong.

Hai Đàng đánh nhau ngót một trăm năm, tạo ra cảnh binh đao khói lửa, huynh đệ tương tàn, nhân dân ta thán!

Ở Đàng Ngoài, Trịnh Tùng mượn tiếng tôn phò vua Lê nắm hết quyền hành.

Thủa ấy trong nhân gian thường truyền miệng nhau câu sấm rằng:

Chẳng Đế chẳng Bá, quyền nghiêng thiên hạ, Đến đời thứ tám, trong nhà dấy vạ.

Họ Trịnh cha truyền con nối làm chúa ở Đàng Ngoài đến đời thứ tám là Tĩnh Đô Vương Trịnh Sâm.

Lúc ấy vua nhà Lê là Lê Hiển Tông niên hiệu Cảnh Hưng có một người con lớn là Thái tử Lê Duy Vỹ.

Duy Vỹ tư chất thông minh diện mạo khôi ngô tuấn tú, văn võ song toàn.

Thường ngày Duy Vỹ đi ngao du sơn thủy kết giao với hào kiệt khắp vùng, ai ai cũng thương tài mến đức.

Một ngày kia, trong cung điện, vua Hiển Tông đánh cờ uống rượu cùng các quan thái giám, Duy Vỹ vào trông thấy quỳ tâu:

- Thưa Phụ hoàng, từ ngày nhà Lê ta trung hưng đến nay trải mười đời vua.

Họ Trịnh tiếng là tôn phò nhưng thực chất là áp chế nhà Lê ta.

Họ Trịnh muốn cho ai làm vua thì cho, muốn giết ai thì giết.

Như hai trăm năm trước Trịnh Tùng giết chết Anh Tông Hoàng Đế.

Rồi ba mươi năm sau Trịnh Tùng lại giết chết Hoàng Đế.

Mới bảy mươi năm trước đây Dụ Tông Hoàng Đế bị Trịnh Cương bắt phải thoái vị nhường ngôi cho Thái tử Duy Phương.

Thái tử Duy Phương làm vua được ba năm lại bị Trịnh Giang vu là thông dâm với vợ Trịnh Cương mà đem giết đi.

Rồi đến lúc Phụ hoàng lên ngôi là do chính Trịnh Doanh đã buộc vua Ý Tông thoái vị nhường ngôi cho Phụ hoàng đó.

Xét trong lịch sử từ trước đến nay chưa có quyền thần nào lại lộng hành tàn ác, khi quân phạm thượng như họ nhà chúa Trịnh.

Vả lại xưa nay chỉ có nhà vua mới được quyền cha truyền con nối, chưa nghe nói đại thần mất thì con được lên thế chức bao giờ.

Nay họ Trịnh xưng vương, cha mất thì con lên kế vị, ấy chẳng qua là vì không dám phế bỏ nhà Lê ta để làm vua mà thôi.

Nay Phụ hoàng lên ngôi đã ba mươi hai năm mà mọi việc trong triều ngoài cõi Trịnh Doanh rồi đến Trịnh Sâm có cần bẩm báo gì với Phụ hoàng chăng?

Sao Phụ hoàng cứ mải vui say với cầm kỳ thi hoạ mà không nghĩ đến việc lấy lại quyền hành của nhà Lê ta?

Con vì giận họ Trịnh mà có đôi lời mạo phạm đến Phụ hoàng, xin Phụ hoàng thứ tội.

Duy Vỹ trong lòng uất hận họ Trịnh nói luôn một hơi.

Vua Hiển Tông nghe Vỹ nói xong liền quăng cờ, đuổi các thái giám ra ngoài rồi hốt hoảng nói:

- Bọn nội thị này tiếng là hầu hạ cho ta, nhưng đều là tay chân của Trịnh Sâm cả.

Sao con lại buông lời càn rỡ?

Nếu đến tai Trịnh Sâm mạng ắt chẳng còn!

Duy Vỹ nghe cha nói thế lại càng giận lắm, đứng dậy nói lớn:

- Sao Phụ hoàng lại sợ thằng nghịch tặc ấy đến thế?

Nếu Phụ hoàng giữ mình để mưu việc lớn thì con thật là khâm phục.

Còn Phụ hoàng vì sợ như bề tôi sợ vua mà im hơi lặng tiếng thì con thật lấy làm đau lòng lắm!

Hiển Tông ứa nước mắt hỏi:

- Con ơi!

Cha con ta khác nào thân cá chậu chim lồng!

Chính con vừa nói rằng họ Trịnh muốn giết ai thì giết, muốn lập ai thì lập đó sao?

Con có biết vì sao cha làm vua ba mươi hai năm nay mà chẳng có một tai hoạ nhỏ nào không?

- Con không được biết, xin Phụ hoàng phân giải!

- Làm vua thì phải lo cho dân cho nước, họ Trịnh đoạt quyền ta thì phải lo lấy cái lo của ta, để ta ngồi không mà hưởng lộc.

Ấy là phước sao gọi là hoạ?

Chính nhờ cha an phận như thế

nên cha làm vua hơn ba mươi năm mà không bị một tai hoạ nhỏ nào!

Duy Vỹ nghe Hiển Tông nói thế biết cha mình nhu nhược, có phân giải thế nào cũng vô ích đành ngồi ôm mặt khóc.

Vua Hiển Tông nói tiếp:

- Nay các quan trong triều tiếng là tôi nhà Lê nhưng kỳ thực đều là tay chân nhà chúa cả.

Con muốn làm điều lấp biển vá trời kia cha e rằng họa hổ bất thành mà chuốc vạ vào thân.

Nói rồi cha con ôm nhau khóc.

Khóc một hồi Duy Vỹ nói:

- Con xin vâng lời cha dạy.

Nói rồi lạy mà cáo từ về dinh phủ.

Lúc ấy trong cung điện vua Hiển Tông có tên quan nội thị tên là Phạm Ngô Cầu.

Ngô Cầu vốn là người xu nịnh tham quyền, hắn nghe mấy lời của thái tử Duy Vỹ rồi bị vua Hiển Tông đuổi ra, Cầu bèn chạy sang phủ chúa mách với Trịnh Sâm.

Sâm nổi giận nói:

- Duy Vỹ thật to gan, dám toan trở mặt làm phản, ta quyết giết chết không tha.

Ta nhớ lúc còn là Thế tử có lần ta và Phụ vương sang phủ vua.

Ta thấy Phụ vương ta ngồi ngang hàng với vua Hiển Tông, cũng bèn ngồi vào bàn với Duy Vỹ, lúc ấy Duy Vỹ hãy còn bé buột miệng nói rằng: Làm tôi sao lại dám ngồi cùng với vua, nói xong đứng lên bỏ đi.

Từ ấy đến nay ta vẫn muốn giết chết Duy Vỹ mới hả giận mà không có cớ gì.

Nay là tự tìm lấy cái chết mà thôi!

Nói xong Sâm hỏi Ngô Cầu:

- Nếu ta bắt tội Duy Vỹ, ngươi có dám đối chất chăng?

Cầu đáp:

- Hạ thần chịu ơn Chúa thượng không lấy chi trả được, Chúa thượng bảo nhảy vào lửa nào dám không vâng!

Sâm mừng rỡ nói:

- Xong việc này ta nhất định thăng thưởng cho ngươi.

Ngô Cầu hớn hở bái tạ ra về.

Ra ngoài phủ chúa, Cầu gặp quan thị lang là Vũ Trần Thiệu.

Thiệu vốn biết Cầu là kẻ tham lam, vô đạo, bất trung, bạo ngược.

Nay thấy mặt Cầu nửa vui lại nửa lo, Thiệu sinh nghi thầm nghĩ rằng: Phạm Ngô Cầu đang làm nội thị trong cung vua, nay bỗng dưng lại sang phủ chúa, ắt là ton hót việc gì hại vua đây, ta phải hỏi cho ra lẽ mới được!

Nghĩ rồi gọi Ngô Cầu hỏi:

- Xin chào quan nội thị.

Chẳng hay ngài có mạnh khoẻ chăng?

Đi đâu mà vội vàng thế?

Cầu lên giọng đáp:

- Hoàng thượng sai ta sang phủ chúa có việc.

Xong việc ta lại về điện vua.

Còn ngài đi đâu đó?

Thiệu biết Cầu rất ham mê bói toán liền nói gạt:

- Tôi nghe có một vị đạo sĩ gieo quẻ rất hay, định mời về tệ xá xem cho đường hoạn lộ ấy mà!

Cầu liền nói:

- Xin ngài cho tôi xem với!

Thiệu bảo:

- Vậy ngài hãy về nhà tôi trước.

Tôi đi rước đạo sĩ về chúng ta cùng xem.

Cầu tưởng thật vội vã đi ngay về nhà Thiệu, lát sau Thiệu về đến than rằng:

- Thật không may đạo sĩ đi vắng không có nhà.

Thôi nhân dịp này mời ngài vài chén vậy.

Nói xong gọi gia đình mang rượu thịt lên.

Rượu ngà ngà Cầu nói khoác rằng:

- Tôi muốn xem để thử tài đạo sĩ ấy mà thôi.

Chứ tôi đây xem thiên văn có thể đoán biết điều nhân sự thì cần gì phải nhờ ai xem cho.

Thiệu giả vờ say hỏi:

- Vậy ngài xem thiên văn biết sắp tới đây trong nước sẽ xảy ra việc gì?

Cầu đáp:

- Tôi đêm đêm xem thiên văn thấy chính tinh thì mờ mà phụ tinh lại sáng.

Nay mai thế nào Thái tử cũng gặp nạn mà thôi!

Nghe Cầu nói xong Thiệu thất kinh hồn vía, giả say ngã lăn ra mà ngủ, Cầu đứng dậy ra về.

Cầu về rồi Thiệu mới vùng dậy dặn dò người tín cẩn lập tức sang mật báo cùng Thái tử.

Duy Vỹ nghe nói xong giật mình than:

- Lời cha ta nói quả không sai.

Ta vì một lúc uất hận mà chuốc hoạ vào thân!

Than rồi liền lánh mình vào điện vua Hiển Tông.

Duy Vỹ vừa đi khỏi đã thấy quan binh đến vây nhà.

Quân về báo cùng Trịnh Sâm:

- Thái tử trốn sang điện vua.

Chúng thần không dám vây phủ vua, xin Chúa thượng định liệu.

Sâm liền sai quân đi gọi Phạm Ngô Cầu.

Cầu đến, Sâm bảo:

- Ta giao gươm lệnh cho ngươi, hãy dẫn quân sang phủ vua bắt Duy Vỹ về đây cho ta.

Ngô Cầu vâng lệnh đi ngay.

Đến chánh điện vua Hiển Tông bước ra hỏi:

- Việc gì các ngươi đem quân mang vũ khí đến đây?

Muốn làm phản giết vua chăng?

Ngô Cầu quỳ dưới thềm đáp:

- Hạ thần vâng lệnh chúa đến bắt Thái tử trốn trong điện Bệ hạ.

Xin Bệ hạ giao Thái tử ra đây, chúng thần lập tức về ngay.

Hiển Tông hỏi:

- Ngươi hãy về thưa với Tĩnh Đô Vương đến đây nói cho ta biết Thái tử có tội gì?

Cầu đáp:

- Chưa mời được Thái tử, hạ thần không dám về.

Xin Bệ hạ giao Thái tử cho!

Hiển Tông không đáp quày quả trở vào.

Cầu quỳ mãi dưới thềm, đến trưa Cầu đứng dậy nói lớn:

- Chúa bảo đến trưa mà Thái tử không ra, chúng thần được lệnh vào điện vua mà bắt.

Xin Bệ hạ lượng thứ.

Nói xong toan xông vào.

Bỗng Duy Vỹ bước ra quát:

- Ta đã ra đây, không cần các ngươi vào điện vua làm kinh động long thể mà mang tiếng là loài phản nghịch.

Nói xong toan theo Cầu đi, vua Hiển Tông chạy theo níu áo Thái tử gọi: "Con ơi".

Hai cha con ôm nhau mà khóc.

Vua Hiển Tông than rằng:

- Vì sự nhu nhược của cha đã giết con rồi vậy!

Thái tử nói:

- Sanh tử do trời.

Xin Phụ hoàng đừng quá ưu phiền.

Nói xong lạy vua Hiển Tông ba lạy rồi theo Phạm Ngô Cầu về phủ chúa.

Đến nơi Trịnh Sâm ngồi trên cao hỏi:

- Ngày hôm qua Thái tử nói nhà chúa thế nào?

Duy Vỹ đáp:

- Nhà chúa của ngươi ăn ở thế nào ai mà không biết, cần gì phải nói!

Sâm bảo Phạm Ngô Cầu:

- Hôm qua ngươi nghe Thái tử nói những gì, hãy thuật lại cho các quan cùng nghe.

Cầu chưa kịp mở lời, Duy Vỹ gạt đi bảo:

- Không có cớ này ngươi cũng tìm ra cớ khác, muốn giết ta thì giết cần gì phải đối chất làm chi!

Trịnh Sâm nổi giận truyền giam Thái tử vào ngục, Sâm nói với bá quan:

- Hơn một trăm năm nay nhà chúa ta một lòng phò tá vua Lê, gánh vác mọi việc lớn nhỏ trong triều, ngoài cõi.

Ơn ấy không nhớ thời thôi, nay Thái tử Duy Vỹ lại lấy oán trả ơn, tội thật đáng chết.

Nhưng ta thiết nghĩ Duy Vỹ là Thái tử con vua nên không thể đem ra pháp trường hành quyết như dân thường được.

Vậy ai thay ta vào ngục ban ân cho Thái tử được tự xử?

Bá quan văn võ đều cúi đầu làm thinh, không ai dám lên tiếng lãnh mạng.

Phạm Ngô Cầu bước ra nói:

- Khải Chúa, trăm quan ai cũng đồng lòng rằng Thái tử đáng tội chết nhưng không ai dám lãnh việc này vì sợ mang tiếng giết vua.

Phạm Ngô Cầu tôi xin lãnh mạng vào ngục ban ân cho Thái tử được tự xử.

Trịnh Sâm mừng lắm nói:

- Xử Thái tử không thể người tước thường mà làm được.

Nay ta phong cho ngươi tước Công vào ban ân của ta cho Thái tử.

Nói xong liền phong cho Phạm Ngô Cầu tước Tạo quận Công.

Cầu vào ngục nói với Duy Vỹ:

- Chúa thượng vì nể Thái tử là con vua nên sai thần vào đây, xin Thái tử hãy tự chọn lấy.

Nói xong dâng cho Duy Vỹ một chiếc khay đồng, trên khay ấy đựng một giải lụa, một thanh gươm và một chén thuốc độc.

Thái tử nhìn mâm đồng nói:

- Ta biết sớm muộn gì cũng có ngày này nên từ lâu đã lo trừ Trịnh Sâm.

Việc sinh tử là do số mệnh.

Nhưng trước lúc chết ta muốn hỏi ngươi, tại sao ngươi làm nội thị hầu hạ vua, ăn lộc vua còn dính kẽ răng sao nỡ phản vua như thế?

- Thần ăn lộc nhà chúa không ăn lộc nhà vua.

Vả lại phản vua là chúa phản, không phải thần phản.

- Lời ngươi cũng phải.

Hãy về nói với chúa ngươi rằng ta dù chết xuống âm phủ cũng làm ma cũng theo Trịnh Sâm mà đòi mạng.

Nói rồi ứa nước mắt bưng thuốc độc mà uống, Duy Vỹ vừa uống vào khỏi miệng liền thổ huyết chết ngay.

Vừa lúc ấy trời đang nắng to bỗng mây đen vần vũ, sấm chớp ầm ầm, gió bụi nổi lên, rồi một trận mưa lớn chưa từng thấy đổ xuống thành Thăng Long, trời đất tối mịt mù.

Duy Vỹ chết rồi mắt vẫn mở trừng trừng ai vuốt sao cũng không chịu nhắm.

Trịnh Sâm không biết làm sao đành để vậy mà tống táng.

Dân chúng trong thành ngoài nội nghe Thái tử bị Trịnh Sâm giết, nhà nhà đều đóng cửa cha ôm con, chồng ôm vợ, anh em ôm nhau mà khóc.

Từ ấy, trong Hoàng tộc nhà Lê, không còn ai dám nghĩ đến việc tranh giành quyền hành với nhà chúa cả.

oOo

Họ Nguyễn làm chúa ở Đàng Trong cha truyền con nối đến đời thứ tám là Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát.

Võ Vương đóng đô ở Phú Xuân (Huế ngày nay) phong Trương Phúc Loan làm Thái phó.

Phúc Loan là cậu ruột của Võ Vương nên người đời thường gọi là quan Quốc phó.

Chúa Nguyễn Phúc Khoát ngày ngày ở mãi trong tam cung, bỏ bê việc triều chính, do sắc dục quá độ mà mắc bệnh ngày càng nặng.

Loan thấy Võ Vương bệnh tình trầm trọng không thể sống được bèn toan lập vây cánh để sau khi chúa chết mình đoạt lấy quyền hành.

Loan cho gọi tay chân của mình là thái giám Chữ Đức đến bảo:

- Ta định tâu Chúa thượng phong ngươi làm Đô thống chỉ huy quân túc vệ.

Ngặt chức này Ngô Mãnh đang nắm giữ không có cớ gì mà thay thế được!

Chữ Đức nói:

- Quốc phó hãy lấy lòng Ngô Mãnh để mua chuộc hắn thì không cần phải thay tôi vào chức ấy.

Loan bảo:

- Ngô Mãnh võ nghệ siêu quần, sức khoẻ muôn người khôn địch, tính tình lại thẳng thắn cương trực không dễ gì mua chuộc được!

Lúc ấy có người thầy thuốc ở trong nhà Phúc Loan tên là Vương Đức Quý.

Quý mang thuốc lên cho Loan, nghe được bèn quỳ tâu:

- Tôi có một kế khiến cho quan thái giám Chữ Đức có thể thay thế chức của Ngô Mãnh.

Phúc Loan liền hỏi:

- Kế thế nào ngươi nói thử xem?

Đức Quý đáp:

- Quốc phó tiến cử tôi vào thăm bệnh cho chúa, tôi sẽ có cách khuyên chúa đi tuần du vào Nam, lúc ấy Quốc phó lại tiến cử Ngô Mãnh theo hộ giá, tất chức Đô thống chỉ huy cấm vệ quân cần được thay thế.

Chữ Đức có làm được chức quan ấy chăng là do Quốc phó vậy.

Phúc Loan cả mừng nói:

- Nếu được như thế ta nhất định thăng thưởng cho ngươi!

Nói xong liền sửa sang áo mão vào chầu chúa Vũ Vương.

Ngày sau chúa gọi Đức Quý đến hỏi:

- Ta mắc bệnh cứ đi khoảng vài trăm bước là hoa mắt, chân run, toàn thân giá lạnh.

Các danh y đã điều trị nửa năm mà không hề thuyên giảm là cớ làm sao vậy?

Đức Quý xem mạch cho Vũ Vương xong, quỳ tâu:

- Xin Chúa thượng tha tội kẻ hạ thần mới dám tâu trình.

Chúa bảo:

- Vì sức khoẻ của ta, ngươi cứ thật sự tỏ bày.

Có gì ta cũng không bắt tội.

Đức Quý thưa:

- Mạch của Chúa thượng ở bộ xích quá trầm mà lại quá vi ấy là thận gần tuyệt.

Mạch sáu bộ đều quá nhược, quá hư ấy là dương khí đại suy.

Trong sách y có nói: Thận là khí tiên thiên, là nguồn gốc của sự sống con người.

Thận sinh tinh, tinh sinh ra tủy, tủy nuôi dưỡng xương, tủy thông lên óc não.

Bởi vậy nên tinh khô thì thận tuyệt, không đủ tinh để nuôi dưỡng xương, tủy, óc não nên hoa mắt chân run là do thế.

Vả lại trong thận có thận âm và thận dương.

Tinh là khí của thận âm, hễ âm suy thì dương thoát.

Dương chủ quản phần ngoài cơ thể để hấp thụ thanh khí và bài trừ trọc khí của vũ trụ.

Dương đại suy nên toàn thân giá lạnh là do thế.

Chúa lo lắng hỏi:

- Chẳng lẽ bệnh của ta không có thuốc chữa khỏi hay sao?

- Nếu chỉ dùng thuốc thôi thì không thể khỏi.

Chúa vội vàng hỏi:

- Nói vậy là còn cách gì khác hay chăng?

- Bệnh của Chúa thượng trong dùng thuốc Nhân sâm, Huỳnh kỳ, Phụ tử bổ dương khí, dùng Hoài sơn, Thục địa bổ thận đã đành.

Kẻ hạ thần trộm nghĩ nay là tháng hai đang tiết xuân, khí dương đang thịnh.

Hướng Nam cũng là hướng thuộc dương.

Nay chúa thượng nên tuần du một chuyến về phương Nam cho thân thể hấp thụ thanh khí dương của trời đất để bồi bổ bệnh dương suy.

Trong Chúa thượng lại có thể xa lánh tam cung thì khỏi hao tinh làm tổn thương nguyên khí, thì sẽ tráng dương bổ thận.

Trong sách y có câu: Tích tinh, dưỡng khí, tồn thần là ba đạo lớn trong thuật dưỡng sinh.

Xin Chúa thượng minh xét.

Chúa gật đầu nói:

- Lời ngươi thật hữu lý, ta cũng nên du xuân vào Nam một chuyến để xa lánh phi tần mỹ nữ.

Vả lại tháng trước vua Cao Miên có tặng ta con ngựa tên Xích kỳ, toàn thân đỏ như lửa.

Nó là con tuấn mã ngày chạy ngàn dặm không biết mệt.

Ta dắt theo để khi hết bệnh sẽ cưỡi xem nó chạy hay dở thế nào.

Hôm sau chúa liền thiết triều hội bá quan văn võ, gọi quan Quốc phó Trương Thúc Loan bảo:

- Nay ta vào Nam tuần du xa lánh tam cung để dưỡng bệnh.

Vậy khanh hãy thay ta trông coi việc triều chính.

Từ việc lớn đến việc nhỏ cho khanh trọn quyền quyết định.

Loan lạy tạ tâu:

- Nay Chúa thượng đem thân vàng ngọc ra khỏi kinh thành e có điều bất trắc, vậy thần xin tiến cử một người theo hộ giá.

- Người nào vậy?

- Ấy là quan Đô thống Ngô Mãnh chỉ huy cấm vệ quân.

Chúa khen:

- Lời khanh rất hợp ý ta.

Đô thống Ngô Mãnh võ nghệ tuyệt luân, từ lâu đã nổi danh vô địch, nay theo hộ giá thì ta còn gì lo nữa.

Bỗng Ngô Mãnh bước ra quỳ tâu:

- Kính Chúa thượng, thần đã trên lục tuần, tuổi già sức yếu không còn xứng với danh hiệu vô địch nữa.

Nay có một người tài khiêm văn võ, thượng thông thiên văn hạ đạt địa lý.

Chúa thượng nên sai người ấy theo hộ giá mới được trọn vẹn.

- Người ấy là ai?

- Người ấy tuổi trạc tứ tuần tên Trương Văn Hiến, là gia tướng của lão đại thần Ý Đức hầu Thái uý Trương Văn Hạnh.

Chúa hỏi Hạnh:

- Khanh có người gia tướng có tài sao lâu nay không tiến cử để giúp việc quốc gia?

Văn Hạnh tâu:

- Kính Chúa thượng, Hiến là cháu của lão thần, cũng có ít tài văn võ.

Nếu muốn giúp việc quốc gia thì đã có trường thi để tiến thân trên đường quan lộ, nhưng tánh nó ưa ngao du sơn thuỷ, chẳng thiết công danh nên không chịu thi cử gì cả.

Bởi vậy nay đã bốn mươi tuổi mà vẫn giúp việc gia đình.

Vả lại, nếu lão thần tiến cử thì e mang tiếng là thiên vị thân nhân.

Mong Chúa thượng lượng cả xét soi.

Phúc Loan xen vào nói:

- Kính Chúa thượng, tài Văn Hiến hư thực chưa rõ ra sao.

Vả chăng việc hộ giá mình rồng không thể đường đột mà giao cho kẻ chưa từng bụng dạ.

Xin...

Chúa ngắt lời Loan:

- Lời hai khanh đều hữu lý, người không muốn lập công danh thì chẳng nên ép làm gì.

Truyền quân phi báo vào các phủ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quy Nhơn chuẩn bị đón tiếp.

Đô Thống Ngô Mãnh đem năm trăm quân cấm vệ ngày mai hộ giá vào Nam!

Phúc Loan tâu:

- Ngô Mãnh theo hộ giá Chúa thượng tuần du, vậy thần xin tiến cử thái giám Chữ Đức làm

Đô thống chỉ huy quân túc vệ.

Chẳng hay ý Chúa thượng thế nào?

Chúa đáp:

- Nay ta phong cho Vương Đức Quý làm ngự y, Ngô Mãnh làm đại hộ giá, Chữ Đức làm Đô thống chỉ huy quân túc vệ.

Sau khi xa giá vào Nam mọi việc trong triều giao cho Quốc phó được thay quyền nhiếp chính.

Nói xong truyền bãi chầu.

Ra ngoài Ngô Mãnh nói riêng với Trương Văn Hạnh:

- Phúc Loan tâu chúa cho tôi theo hộ giá, hòng để tay chân là Chữ Đức thay vào chức chưởng cấm vệ quân, làm vây cánh cho mình.

Tôi đã biết ý ấy của Loan nên tiến cử Văn Hiến đi thay, không ngờ chúa chẳng chịu.

Nay tôi theo hộ giá ra ngoài, quan Thái uý hãy đề phòng bụng dạ của Loan.

Văn Hạnh nói:

- Quan Quốc phó xưa nay thường tị hiềm với tôi là kẻ đại thần được nhiều người mến phục.

Nhưng ngặt nỗi quan Quốc phó nắm quyền nhiếp chính, lại là cậu của Chúa thượng, ông ấy nói gì chúa lại chẳng nghe.

Xét cho cùng Phúc Loan là kẻ tham danh hám lợi nên lập vây cánh để làm lợi riêng mình chứ dám đâu làm việc của Mạc Đăng Dung ngày trước.

Ông hãy hộ giá chúa hết lòng, còn tôi sẽ liệu bề tính kế.

Nhưng ông chớ để lộ ra ngoài kẻo không bảo toàn tính mạng được đâu!

Nói xong hai người chia tay nhau.
 
Tây Sơn Bi Hùng Truyện
Chương 2


Thương lương dân, Hồ Nhạc buôn trầu Ghét bạo chúa, Văn Tuyết thích khách.

Lúc bấy giờ ở ấp Kiên Thành, huyện Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn có một người nông dân tên là Hồ Nhạc tuổi vừa quá đôi mươi, mặt mày phúc hậu, tay dài quá gối, tướng mạo phi phàm.

Ngày kia Nhạc vào rừng săn bắn, bỗng gặp một người bị cọp đuổi.

Nhạc bèn giương cung lắp tên bắn một phát nhằm giữa trán cọp, cọp giãy nảy, chết ngay.

Thấy người bị nạn kết tóc đuôi sam, vận y phục người Tàu, Nhạc hỏi:

- Tôi xem ông không phải người ở xứ này, sao một mình vào chốn rừng sâu để đến nỗi suýt bị cọp dữ hại tánh mạng như thế?

Người ấy lạy tạ ơn đáp:

- Chẳng dám dấu ân nhân, tôi tên Quách Đại vốn là thầy địa lý ở Quảng Đông sang đây để tìm long điềm huyệt, nên một mình vào chốn núi non hiểm trở.

Chẳng ngờ gặp hổ dữ, nếu không có ân nhân ra tay cứu mạng ắt thân này đã vào trong miệng cọp.

Nhạc cả cười nói đùa rằng:

- Tôi thật xưa nay không tin việc ấy.

Nhưng nếu ông muốn đi tìm long huyệt, tôi tình nguyện làm hướng đạo và bảo vệ cho ông.

Nếu sau này ông có làm vua xin thưởng cho tôi thật nhiều vàng bạc để cứu giúp dân tôi thoát cảnh nghèo khổ là đủ rồi.

Quách Đại vui mừng chấp thuận.

Từ ấy Nhạc đưa Quách Đại đi khắp chốn núi non phủ Quy Nhơn để tìm long huyệt.

Ngày ấy Nhạc đưa Quách Đại đến đèo Mang (đèo An Khê ngày nay), khi leo lên đến núi Hoành Sơn đứng nhìn ra bốn hướng, Quách Đại cả mừng hỏi Nhạc:

- Hòn núi này tên gọi là núi gì?

- Núi này gọi là núi Hoành Sơn, tục gọi là núi Ngang.

Phía bên tả là núi Trưng Sơn thường

gọi là núi Bút, phía bên hữu là núi Hợi Sơn thường gọi là núi Nghiên.

- Vì sao gọi là núi Bút và núi Nghiên?

- Vì hòn núi Trưng Sơn ở bên tả cao hơn và nhọn như một ngòi bút viết lên trời nên dân gian thường gọi là núi Bút.

Còn hòn Hợi Sơn ở bên hữu gọi là núi Nghiên vì trên đỉnh có một hồ nước vừa rộng vừa sâu quanh năm trong vắt không bao giờ cạn như là một nghiên mực vậy.

Quách Đại lại chỉ xuống ba hòn núi nhỏ dưới chân Hoành Sơn hỏi:

- Có ba hòn núi kia tên gọi là gì?

- Ba hòn núi nhỏ ấy, một hòn giống hình quả chuông nên gọi là Chung Sơn, một hòn giống hình quả ấn nên gọi là Ấn Sơn, một hòn thấp và dài kia giống hình thanh gươm nên gọi là núi Kiếm Sơn.

Quách Đại mừng quá vỗ tay nói lớn:

- Long huyệt chính là nằm trong núi Hoành Sơn này đó!

Hồ Nhạc nghi ngờ hỏi:

- Sao thầy dám quả quyết long huyệt nằm trong núi Hoành Sơn?

- Ân nhân không thấy sao?

Núi Hoành Sơn này bên tả thì có Bút mà bên hữu thì có Nghiên để cho vua viết chiếu chỉ.

Trước mặt thì có chuông để đánh gọi bá quan đến chầu.

Lại có ấn kiếm định vị ngôi vua.

Vậy núi Hoành Sơn này không phải là Bệ Rồng thì là gì nữa?

Nói xong quày quả ra về.

Đến nhà Hồ Nhạc, Quách Đại cáo từ nói:

- Nay tôi phải về bên Quảng Đông, ít lâu nữa lại sang.

Từ xưa ở xứ này hẳn có người biết đây là long địa nên mới đặt các hòn núi này tên là Nghiên, Bút, Chuông, Ấn, Kiếm.

Biết long địa là việc dễ, biết long huyệt mới là việc khó.

Chỉ mình tôi là biết long huyệt mà thôi.

Nói rồi bái biệt ra đi.

Ít lâu sau Quách Đại quay lại nhà Hồ Nhạc, mang theo một chiếc tráp ngoài bọc lụa điều lúc nào cũng kè kè bên mình.

Nhạc biết ấy là hài cốt của song thân Quách Đại, hỏi rằng:

- Thầy đến đây đã ba ngày sao không đem hài cốt ấy mà táng vào long huyệt?

Đại cười đáp:

- Vũ trụ biến hoá đều nằm trong vòng của Âm, Dương, Ngũ hành cả.

Khi can và chi giáp lại là sáu mươi năm long huyệt mới mở một lần.

Mỗi lần mở chỉ trong một canh giờ là đóng.

Biết long huyệt đã khó mà biết ngày giờ của long huyệt mở lại càng khó hơn gấp bội.

Đợi ít hôm nữa long huyệt mở tôi sẽ táng hài cốt phụ thân tôi vào nơi ấy.

Đêm ấy Hồ Nhạc trằn trọc không ngủ được, ngồi dậy nghĩ thầm rằng: Trên đời lại có việc lạ thế sao?

Cái lộc của sông núi nước Nam ta, tội gì để người Tàu sang hưởng.

Nếu là Đại long huyệt để người Tàu đoạt đi, khi ấy họ cường thịnh lại sang xâm lấn nước ta, hiếp đáp dân ta, ấy là ta có tội với dân với nước vậy.

Nghĩ rồi liền cầm gươm vác cuốc đứng dậy đi ngay ra khỏi nhà.

Ít hôm sau Quách Đại một mình ôm tráp lẻn lên núi Hoành Sơn.

Vừa đến chân núi bỗng một con hổ vằn to lớn từ trong bụi rậm xông ra.

Đại kinh hồn bạt vía quăng tráp vắt chân lên cổ mà chạy không dám ngoái đầu lại.

Hồ Nhạc từ trong lốt hổ chui ra lấy tráp mở ra đánh tráo bộ hài cốt trong tráp, xong việc liền mang lốt hổ vào trong rừng mà nấp.

Quách Đại chạy một hồi không thấy hổ đuổi theo liền mon men quay lại chỗ hổ vồ.

Đến nơi thấy hổ đã bỏ đi, tráp vẫn còn nguyên vẹn.

Đại mừng lắm bèn đem cái tráp ấy lên núi Hoành Sơn.

Nhạc nấp trong bụi rậm thấy thế cười thầm nghĩ:

- Ta phải theo Quách Đại rình xem long huyệt nằm ở đâu trên núi Hoành Sơn.

Để sau này còn biết được mà xây mộ cho phụ thân.

Nghĩ rồi liền theo rình Quách Đại lên núi.

Đến một hòn đá to, một nửa nằm dưới đất, một nửa lộ thiên.

Quách Đại cả mừng một mình nói lớn:

- Núi Hoàng Sơn là một con rồng, đây chính là hàm rồng vậy.

Nhạc nghe Đại nói thế chăm chú nhìn, thấy hòn đá ấy hình dạng trông giống như cái đầu rồng thật, hồi hộp chờ xem.

Chờ đến đúng giờ Ngọ bỗng thấy hòn đá miệng rồng nơi giáp đất nứt ra, phía trong có lỗ trống, Quách Đại liền đặt tráp vào trong lỗ ấy.

Một giờ sau hàm rồng bằng đá ngậm miệng lại vẫn liền nguyên như cũ.

Quách Đại mừng quá vừa chạy xuống núi vừa hét lên rằng:

- Ta về nước đợi ngày lên ngôi Thiên tử.

Giờ có gặp cọp, cọp cũng phải phục xuống lạy ta.

Nói xong liền bỏ về Quảng Đông.

Hồ Nhạc thấy cảnh tượng như vậy rùng mình sởn ốc nói thầm:

- Trên đời này lại có việc lạ thế thật sao?

Từ ấy Hồ Nhạc đêm ngày ôm ấp mộng làm vua!

Nhạc thường ngày đi đây đi đó, thấy cảnh dân nghèo khắp chốn không tiền nộp thuế bị quan binh dùng roi vọt mà đánh đập, bắt tù đầy, nơi phố phường người ăn xin đầy rẫy, chỗ nông thôn cũng lắm người chết đói, Nhạc thương xót lấy làm đau lòng lắm.

Lúc bấy giờ ở trên đỉnh đèo Mang gọi là Tây Sơn Thượng là một vùng rừng hoang rộng hàng vạn dặm, quyền hạn binh triều không lên đến nơi này.

Nhạc bèn lập kế giả dạng người đi buôn trầu, lên Tây Sơn Thượng (An Khê ngày nay) mua trầu của người Thượng rồi đánh xe ngựa về thành Quy Nhơn bán (thị trấn Đập Đá ngày nay).

Được bạc Nhạc lại xuống chợ Giả (thành phố Quy Nhơn ngày nay) mua muối, đánh xe ngược lên Tây Sơn Thượng đổi cho người Thượng lấy trầu nguồn.

Gặp những người dân cùng đường đói rách, Nhạc lén đem họ lên Tây Sơn Thượng chu cấp gạo muối cho khai khẩn đất hoang.

Chẳng bao lâu số người Nhạc đem lên Tây Sơn Thượng lên đến mấy trăm thủ hạ.

Mỗi khi chờ Nhạc đem gạo, muối tới, lâu không thấy, bọn thủ hạ thường đến đỉnh đèo Mang ngồi ngóng, đặt câu hát rằng:

Ơn ông Hồ Nhạc chí tình

Tây Sơn quạnh quẽ nhưng mình vẫn vui

Tiếng ca vang dội núi rừng Tây Sơn Thượng. oOo

Lúc bấy giờ xa giá của chúa Võ vương đến nghỉ đêm tại phủ Quy Nhơn.

Ngô Mãnh chia quân cấm vệ canh phòng cẩn mật, tự mình lúc nào cũng đeo gươm canh ngay cửa dinh của chúa.

Canh ba đêm ấy bỗng nghe lính gác la rân:

- Thích khách!

Có Thích khách.

Ngô Mãnh lập tức tuốt gươm khỏi vỏ, quát quân lính vây bắt.

Tên thích khách vung song đao loang loáng giết chết vài chục quân lính.

Song quân canh đông quá vây lớp trong lớp ngoài dồn thích khách vào cạnh chuồng ngựa.

Bỗng ngựa cất tiếng hí vang.

Thích khách nghĩ thầm: Tiếng hí thật vô cùng hùng dũng, ắt phải là tuấn mã hiếm có trên đời, ta cướp lấy chạy mau mới mong thoát chết.

Chúa đang ngon giấc nghe tin thích khách, giật mình run cầm cập, không cho Ngô Mãnh rời khỏi phòng mình.

Bỗng nghe tiếng ngựa hí, chúa liền hỏi Ngô Mãnh:

- Ngô tướng quân, ngựa Xích kỳ của ta làm sao thế?

Đang đứng ngoài trướng thị chiến, Mãnh quay vào đáp:

- Kính Chúa, tên thích khách đã cưỡi ngựa Xích kỳ hòng chạy thoát thân nhưng quân ta đang vây chặt, đao kiếm loạn xạ thế kia e quăng chuột bể đồ.

Chúa hổn hển bảo:

- Lập tức truyền lệnh của ta đánh bắt tên thích khách thế nào thì tùy nhưng không được hại đến ngựa quý.

Nếu kẻ nào sai lệnh chém đầu.

Lệnh được truyền ra.

Tên thích khách nghe thấy, liền múa song đao vùn vụt giết thêm vài chục tên lính nữa mà giáo gươm của binh cấm vệ chẳng phạm được vào người.

Quân lính không dám chém chân ngựa, nhờ vậy mà thích khách vượt khỏi trùng vây chạy thoát.

Chúa lập tức cho mời quan trấn thủ phủ Quy Nhơn là Nguyễn Khắc Tuyên đến bảo:

- Ngươi lập tức phát lệnh cho toàn quân trong phủ huyện thấy kẻ nào cưỡi ngựa cao lớn toàn thân đỏ như lửa hãy giết chết, mang ngựa về đây cho ta.

Hạn cho mười ngày nếu không có ngựa thì mang đầu ngươi về kinh thay thế.

Rồi chúa quay sang Ngô Mãnh:

- Ngươi hãy sửa soạn xe ngựa ngày mai xa giá hồi kinh.

Nói đến đây chúa vừa sợ vừa uất ngã ra bất tỉnh.

oOo

Nói về tên thích khách chạy đến đâu cũng bị quan quân truy đuổi.

Bèn nhằm hướng núi rừng An Khê Tây Sơn Thượng mà chạy.

Ngựa Xích kỳ dù tuấn mã nhưng chạy suốt đêm ngày không ăn uống nên đã đuối sức mà phía sau quan quân đuổi theo rất gấp.

Trong cơn nguy khốn bỗng thấy một người từ đèo Mang đi xuống.

Người này tuổi trạc hai lăm, mặt mày cương nghị dáng dấp oai phong, đi trước một cỗ xe chở toàn lá trầu có mười người theo sau áp tải.

Người ấy thấy quan quân vài mươi người đuổi bắt một tên mặt vuông râu rậm.

Biết tên này đã đuối sức, người ấy cùng đồng bọn đón bắt trói lại quăng lên xe trầu chờ quan quân đến nói:

- Chúng tôi là kẻ lái buôn xin bắt cướp giúp quan.

Quan quân đến gần liền bị người ấy cùng đồ đảng rút gươm giết sạch.

Thích khách hỏi:

- Bắt ta cho bọn chúng, rồi lại giết chúng là cớ làm sao?

Người ấy cười lớn đáp:

- Anh chưa biết đấy thôi, ta đây là Hồ Nhạc quê ở ấp Kiên Thành, chuyên đi buôn trầu, người quanh vùng gọi là anh Hai trầu.

Ta vốn rất ghét lũ quan quân triều đình tham lam tàn ác.

Ta bắt anh dụ chúng đến gần cho dễ ra tay mà thôi.

Còn anh vì sao bị chúng rượt đuổi đến đây?

Thích khách đáp.

- Tôi tên Nguyễn Văn Tuyết là kẻ không nhà ở huyện Tuy Viễn.

Nghe chúa Nguyễn xa giá đến Quy Nhơn thì định làm như Kinh Kha thuở ấy, nhưng việc bại lộ mới chạy đến đây may gặp được ân nhân.

Xin nhận lạy này tạ ơn cứu mạng.

Hồ Nhạc đỡ Tuyết dậy nói:

- Kiến nghĩa bất vi vô dòng giả, kể ơn nghĩa làm gì.

Vừa rồi anh nói tên Nguyễn Văn Tuyết, có phải song đao Nguyễn Văn Tuyết lừng danh Tuy Viễn đó chăng?

Tuyết đáp:

- Người quanh vùng thường gọi tôi tên ấy!

- Giờ Văn Tuyết định đi về đâu?

- Tuyết tôi bị truy đuổi là do quân triều nhận dạng con ngựa Xích kỳ, nguyên là tuấn mã của chúa, tôi cướp được đêm rồi.

Nếu bỏ ngựa thì có ai biết Tuyết là ai, nhưng bỏ ngựa hay thì uổng quá thành ra cũng chưa biết tính sao.

Hồ Nhạc cầm tay Nguyễn Văn Tuyết nói:

- Tôi vốn đang chiêu tập quân mã vài trăm người lập doanh trại ở Tây Sơn Thượng.

Ấy là chốn núi rừng hiểm trở, quyền hành binh triều không với tới.

Nay không chỗ nương thân, anh có thể cùng tôi lên ấy điều binh giúp người khốn khổ bị bức bách cùng đường được chăng?

Tuyết vái lạy thưa:

- Thú thật từ lâu tôi đã nghe danh chủ tướng là người tài đức vẹn toàn.

Hôm nay gặp mặt đã thoả lòng mong ước.

Nếu chủ tướng thương dùng, tôi nguyện đem chút tài mọn đáp đền ơn tri ngộ.

Nhạc cả mừng bảo quân áp tải xe trầu đi trước, rồi cùng Nguyễn Văn Tuyết hai ngựa song song ngược đường đèo Mang lên Tây Sơn Thượng.
 
Tây Sơn Bi Hùng Truyện
Chương 3


Thành Phú Xuân hoàng tộc tranh quyền Đất Quy Nhơn anh hùng hội tụ.

Nói về chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, sau khi xa giá hồi kinh, phần tâm thần kinh động vì việc bị thích khách, phần vừa giận vừa tiếc vì bị mất ngựa quý nên bệnh trở nặng thêm.

Chúa cho mời quan Quốc phó Trương Phúc Loan đến bảo:

- Đời người ai cũng phải chết, nay số ta đã hết, có mấy điều căn dặn, khanh hãy vì ta mà hứa hết lòng.

Phúc Loan nước mắt dầm dề tâu:

- Xin Chúa thượng hãy an tâm, xin thề có trời cao chứng giám, nếu thần phụ lòng Chúa thượng thì sẽ bị trăm quan bắt giao cho kẻ địch xử tội bêu đầu.

Chúa thều thào nói:

- Khi trước Thế tử Nguyễn Phúc Hiệu mất, Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương mới chín tuổi hãy còn nhỏ dại.

Nay ta đã viết di chiếu truyền ngôi cho con thứ hai của ta là Nguyễn Phúc Luân lên kế vị...

Đây là gươm lệnh, khanh chớ sai lời.

Nói xong chúa mất!

Sau khi mai táng chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát, Trương Phúc Loan cho gọi bá quan văn võ thiết triều.

Loan nói:

- Chúa chẳng may lâm bệnh qua đời.

Trước khi nhắm mắt Tiên vương phó thác cho ta lập Thế tử Nguyễn Phúc Thuần lên kế vị.

Đây là tờ di chiếu và ngọc ấn Tiên vương giao cho ta.

Hãy đọc cho các quan cùng nghe.

Di chiếu truyền rằng:

Võ vương Nguyễn Phúc Khoát truyền chỉ.

Nay ta sắp theo về cùng các Tiên vương.

Đúng lệ là Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương là con Thế tử Nguyễn Phúc Hiệu lên kế vị.

Nhưng quả nhân xét thấy Hoàng tôn mới chín tuổi hãy còn nhỏ dại không thế đảm đương được quốc gia đại sự.

Vậy nay truyền chỉ phong Nguyễn Phúc Thuần làm Thế tử.

Sau khi quả nhân qua đời Thế tử Nguyễn Phúc Thuần sẽ lên thay quyền kế

vị trị quốc an dân.

Nay chiếu.

Chiếu đọc xong, Hoàng tử Nguyễn Phúc Luân bước ra nói:

- Ngày trước Thế tử mất, Phụ vương thường nói ngày sau sẽ cho ta kế vị, sao trước lúc lâm chung lại có sự nhầm lẫm như thế?

Vả lại, nói rằng Hoàng tôn mới chín tuổi còn nhỏ nên không lập, mà lại lập Nguyễn Phúc Thuần cũng mới mười hai tuổi, ấy chẳng phải là điều vô lý hay sao?

Trương Phúc Loan giơ gươm lệnh lên nói:

- Đây là gươm lệnh của Tiên vương.

Thấy gươm như thấy chúa.

Xin Hoàng tử đừng khi quân phạm thượng.

Nguyễn Phúc Luân đùng đùng nổi giận:

- Ngươi có gươm lệnh thì làm gì được ta nào.

Có mặt trăm quan ở đây há để cho ngươi làm điều thoán đoạt hay sao.

Bá quan nghĩ thế nào?

Đây là tờ di chiếu giả.

Luân nói chưa dứt lời liền bị Loan thét võ sĩ lôi ra chém.

Thái úy Trương Văn Hạnh bước ra nói:

- Xin Quốc phó bớt giận, Hoàng tử dù buông lời nói càn, nhưng tiên chúa mới qua đời nếu làm thế e thiên hạ dị nghị rằng: Mồ cha chưa xanh cỏ, con đã tranh giành nhau của cải.

Xin Quốc phó tha cho.

Loan ngẫm nghĩ rồi nói:

- Nể lời quan Thái uý không giết nhưng hãy giam vào ngục chờ chọn ngày lành tháng tốt lập Thế tử Nguyễn Phúc Thuần lên kế vị, rồi xử trị thế nào do Tân vương định đoạt.

Bỗng hộ giá quan Ngô Mãnh bước ra nói:

- Tôi thường ngày hộ giá Tiên vương, thường được xem văn thư của chúa.

Vậy xin cho xem di bút của tờ di chiếu.

Phúc Loan thấy Mãnh đeo gươm bên hông bèn trỏ mặt Mãnh quát rằng:

- Ngô Mãnh!

Khi thiết triều trong cung điện không ai được mang vũ khí, sao ngươi dám đeo gươm bên mình là có ý gì?

Ngô Mãnh đáp:

- Lúc Tiên vương còn tại thế tôi làm Đô thống chỉ huy cấm vệ quân.

Tiên vương cho phép tôi theo hầu ở bất cứ đâu, kể cả cung cấm của Tiên vương.

Xin Quốc phó xét cho.

Loan cầm gươm lệnh giơ lên quát:

- Ngày trước ngươi làm chưởng cấm vệ quân chứ há phải ngày nay.

Gươm của ngươi lại bằng gươm lệnh của chúa hay sao?

Võ sĩ đâu lôi ra chém!

Võ sĩ xông ra bắt Ngô Mãnh trói lại.

Thái úy Trương Văn Hạnh can:

- Thưa Quốc phó, Ngô Mãnh đeo gươm chẳng qua là sự vô tình.

Nay Quốc phó đem ra giết đi, chẳng phải là cố chấp hay sao?

Vả chăng Ngô Mãnh muốn xem di bút của Tiên chúa, Quốc phó chẳng cho xem lại mượn sự đeo gươm mà giết đi e thiên hạ dị nghị rằng có điều mờ ám.

Văn Hạnh nói chưa dứt câu, Phúc Loan lại vỗ đùi quát:

- Việc mờ ám chính là ngươi đó!

Văn Hạnh hỏi:

- Tôi làm việc gì mà gọi là mờ ám?

Loan đáp:

- Ngày trước chúa xa giá vào Nam, Ngô Mãnh tiến cử cháu ngươi là Trương Văn Hiến theo

hộ giá để âm mưu hại chúa.

Việc không thành Ngô Mãnh lại để mất ngựa quý nên chúa buồn giận mà mất.

Nay lại phạm luật đeo gươm vào triều, hai tội ấy không đáng chết lắm sao?

Nay ngươi còn đứng ra ngăn trở chẳng phải là đồng đảng đồng mưu ư?

Nói xong truyền quân giam Trương Văn Hạnh vào ngục và đem Ngô Mãnh ra chém.

Võ sĩ lôi Ngô Mãnh ra ngoài cung điện, có người tùy tướng của Ngô Mãnh là Phan Văn Long xông đến đâm chết mấy tên võ sĩ rồi cắt dây trói cho Ngô Mãnh.

Long hối:

- Tướng quân mau chạy đi, để tôi ở lại chặn binh triều.

Mãnh than:

- Đã đến nước này đằng nào cũng mang tiếng bất trung.

Ta trốn đi đã đành nhưng còn ngươi thì sao?

- Thần đội ơn tri ngộ của tướng quân, nay dù có xương tan thịt nát là dịp để báo đền.

Binh triều kéo đến kìa, tướng quân mau về đem gia quyến trốn đi.

Xin tướng quân bảo bọc con thần là Phan Văn Lân thì thần yên lòng nhắm mắt.

Một lạy này xin vĩnh biệt tướng quân.

Nói xong Long vung thương xông đến phía binh triều.

Ngô Mãnh chạy thoát về nhà.

Phan Văn Long chặn binh triều giết chết trăm tên quân rồi trúng tên chết.

Loan sai Chữ Đức bằm thây trăm mảnh.

Ngô Mãnh chỉ kịp dắt theo con Phan Văn Long là Phan Văn Lân, và cháu nội mình là Ngô Văn Sở.

Toàn gia quyến bị Loan bắt giết sạch.

Nguyên Sở và Lân là con nhà võ tướng nên mới mười ba tuổi đã thạo nghề cưỡi ngựa.

Ba ông cháu ra cổng Nam thành Phú Xuân nhắm hướng Nam mà chạy.

Ngô Mãnh dắt hai cháu lội suối trèo đèo, đêm ngày không nghỉ, lần hồi đến Quy Nhơn thì Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân ngã bệnh, Mãnh đành phải ra giữa chợ hành khất để kiếm tiền chữa bệnh cho cháu.

Bỗng có một phú nông họ Bùi đi ngang qua thấy lão ăn mày quắc thước và hai thiếu niên khôi ngô tuấn tú đem lòng thương, xuống ngựa hỏi Ngô Mãnh:

- Tôi xem cụ và hai cháu đâu phải kẻ hèn, cớ sao đến nông nỗi này?

Ngô Mãnh gạt lệ đáp:

- Tôi quê ở Phú Xuân, rủi gặp nạn phải dắt cháu ăn xin độ nhật.

Xin ông thương tình bố thí để chữa bệnh cháu thơ.

Bùi ông nói:

- Tôi có thể giúp cụ, nhưng cháu bớt bệnh rồi thì tá túc vào đâu?

Chi bằng cụ về tệ xá tại ấp Tây Sơn ở tạm, thuốc men đã có thầy nhà.

Nói rồi bèn đem ông cháu Ngô Mãnh về nhà mình đối đãi tử tế, lo thuốc men cho Sở và Lân đến khi hồi phục.

Một đêm kia Ngô Mãnh đang ngon giấc bỗng nghe la "cướp, cướp" liền tung cửa chạy ra.

Thì ra bọn cướp độ chừng vài chục tên hành hung người nhà Bùi ông, toan giở trò đạo tặc.

Ngô Mãnh nghĩ bụng, đây là lúc để ta đáp nghĩa ân nhân.

Mãnh quát lên như sấm:

- Lũ cướp dừng tay!

Mãnh tay không xông vào bọn cướp đến đâu chúng ngã lăn ra đến đấy, đứa vỡ đầu lọi cẳng gãy tay, lạy lục xin tha.

Ngô Mãnh khuỳnh tay quát:

- Ta lấy đức hiếu sinh tha cho chúng bay một lần.

Hãy cải tà quy chánh, chớ đem lòng đạo tặc mà có ngày chuốc vạ vào thân.

Tha bọn cướp xong, Bùi ông mời lão Ngô vào nhà hỏi.

- Cụ tài đức vẹn toàn mà phải tha phương cầu thực ắt là có uẩn khúc chi đây?

Nếu không nghi ngại có thể bày tỏ cho vơi nỗi lòng được chăng?

Ngô Mãnh đáp:

- Giờ này chẳng dám giấu ân nhân.

Tôi tên Ngô Mãnh làm Đô thống ở thành Phú Xuân bị

Quốc phó Trương Phúc Loan làm hại nên trốn vào đây, gặp ân nhân ra tay tế độ lòng rất áy náy bấy lâu không biết lấy chi đền đáp.

Nói xong quỳ lạy Bùi ông.

Bùi ông đỡ dậy nói:

- Làm việc nghĩa ai lại nghĩ đến chuyện trả ơn.

Nhưng nếu cụ muốn trả ơn cũng chẳng khó gì.

Tôi có một con gái tên là Bùi Thị Xuân, tính ưa theo đòi cung kiếm, phiền cụ chỉ dạy cho cháu phòng khi hữu sự.

Nói xong gọi con ra bái Ngô Mãnh làm thầy, Ngô Mãnh thấy Bùi Thị Xuân mày tằm mắt phượng, môi nhỏ má hồng, dáng vẻ thanh tao mà thần sắc oai phong trong bụng rất mừng.

Từ ấy ông ngày đêm ra sức dạy võ nghệ binh thư cho Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân và Bùi Thị Xuân.

Ngày qua tháng lại thấm thoát năm năm Xuân cùng Lân, Sở ba người đều võ nghệ siêu quần, tài trí hơn người, tiếng lành đồn khắp gần xa.

****

Trong khi Ngô Mãnh thoát chết trốn vào phủ Quy Nhơn tá túc nhà Bùi ông ở ấp Tây Sơn thì Trương Văn Hạnh bị giam vào ngục, Phúc Loan lại cho quân vây nhà Văn Hạnh bắt hết gia quyến, người tùy tướng là Trương Văn Hiến đơn thương độc mã đột phá trùng vậy chạy thoát khỏi thành Phú Xuân nhắm hướng Nam mà chạy.

Lần hồi đến Quy Nhơn phủ thấy núi non hung vĩ cỏ cây sầm uất, Hiến nghĩ thầm:

- Nơi đây là thành Đồ Bàn cũ của vua Chiêm, sau lưng dựa vào núi non hiểm trở, trước mặt trông ra biển lớn, trong ngoài đều có đèo cao án ngữ, thật là đất dụng võ.

Thảo nào ngày xưa vua Chiêm là Chế Bồng Nga lập kinh đô ở đất này đã làm nên võ công hiển hách.

Địa linh ắt sinh nhân kiệt.

Thôi thì ta tạm tìm nơi ẩn náu rồi sẽ liệu sau.

Nghĩ xong bỗng nghe tiếng binh khí chạm nhau loảng xoảng.

Ngoảnh nhìn lại thấy một thanh niên vừa đánh vừa lui, một mình chống đỡ hơn mười tên mặt mày hung tợn.

Xem người này yếu thế, đã thấm mệt, Hiến bèn xông ra nói lớn:

- Các người sao lại ỷ đông hiếp yếu thì đâu phải là người hào kiệt.

Tên đầu đảng quát:

- Bọn ta là cướp, cần bạc vàng chứ đâu cần làm hào kiệt.

Giết!

Chúng vung đao chém bừa.

Hiến chỉ múa vài đường roi bọn chúng văng vũ khí liền hò nhau bỏ chạy.

Người thanh niên quỳ lạy tạ ơn.

Hiến đỡ dậy hỏi:

- Đây là nơi hoang vắng, sao anh lại mạo hiểm đi một mình để gặp cướp thế này?

Người ấy đáp:

- Tôi tên Hồ Nhạc nhà ở ấp Kiên Thành thường đi buôn trầu ở Tây Sơn Thượng đem xuống thành Quy Nhơn bán, rồi lấy vàng bạc xuống chợ Giả ở cửa Bể mua muối chở lên bán cho người Thượng ở Tây Sơn Thượng.

Nay giữa đường gặp cướp nếu không gặp ân nhân mạng ắt chẳng còn.

Nghe tiếng nói ân nhân không phải là người địa phương, dám hỏi ân nhân quê quán ở đâu, vì sao phải đến chốn này?

Hiến ngậm ngùi đáp:

- Tôi tên Trương Văn Hiến quê ở thành Phú Xuân, thời loạn ly gặp đại nạn phải bỏ nhà trốn tránh nơi đây.

Nhạc hỏi:

- Giờ ân nhân định đi về đâu?

Hiến đáp:

- Giờ đây là kẻ không nhà chưa biết phải về đâu?

Nói xong khật khưỡng vừa đi vừa ca rằng:

Không nhà chẳng biết đói no

Khá khen tạo hóa bày trò trêu ngươi Sự đời chỉ một trận cười

Ta theo trăng gió dạo chơi ngũ hồ.

Nhạc chạy theo quỳ trước mặt Hiến thưa:

- Xin ân nhân dừng bước.

Tôi hiện còn một căn nhà trống ba gian, xin ân nhân hãy về ở tạm.

Tài văn võ của tiên sinh nếu mở trường dạy học thì chẳng những đã có kế sinh nhai lại còn được người đời trọng vọng.

Xin tiên sinh chớ chối từ.

Hiến xúc động nói:

- Cảm ơn tấm thịnh tình của anh.

Nhưng ta từ phương xa đến đây, ai biết ta thế nào mà cho con em theo học?

Nhạc đáp:

- Việc ấy xin tiên sinh chớ ngại.

Tôi tuy tài hèn nhưng người quanh vùng đều mến phục.

Nay họ thấy tôi tôn tiên sinh làm thầy lo gì họ chẳng cho con em theo học.

Hiến bèn theo Nhạc về nhà.

Hôm sau Nhạc đến gặp Hiến nói:

- Tôi vốn phụ thân đã mất nên phải thay cha lo kế sinh nhai.

Hiện còn hai em trai, nay đem đến bái sư xin nhờ thầy giáo huấn.

Hiến nói:

- Anh khách sáo làm gì, hãy cho trẻ vào ra mắt.

Nhạc gọi hai em vào lạy chào.

Nhạc trỏ hai em nói:

- Đây là Hồ Huệ, tên tục là Thơm tuổi mới mười ba, còn kia là Hồ Lữ tuổi mới mười hai.

Hiến ngắm Lữ thấy tay chân vạm vỡ mặt mày hiền lương chân chất lòng rất cảm thương, lại thấy Huệ tuy còn niên thiếu mà lưng hùm vai gấu, mặt vuông tai lớn, mắt sắc như gươm, ánh nhìn như chớp thì lấy làm lạ bèn hỏi:

- Vì sao Huệ lại có tên tục là Thơm?

Nhạc bảo Huệ:

- Em hãy bẩm với thầy xem.

Huệ kính cẩn thưa:

- Bẩm thầy, con nghe thân mẫu kể rằng lúc lâm bồn sanh con, hoa huệ trong vườn bỗng nở thơm ngát nên thân phụ mới đặt tên chữ là Huệ, tên tục là Thơm.

Hiến nghe tiếng nói của Huệ sang sảng như chuông, thất kinh nghĩ thầm, thằng bé này về sau nhất định là bậc anh hùng quán thế, tài trùm thiên hạ chứ chẳng phải là kẻ tầm thường.

Từ ấy Trương Văn Hiến giữ Huệ và Lữ ở lại nhà truyền văn thụ võ.

****

Một hôm Trương Văn Hiến có việc đi ngang qua núi Hoành Sơn.

Khi đến chân núi, Hiến gặp một cậu bé trạc mười hai, mười ba tuổi đang ngồi hí hoáy vẽ.

Thỉnh thoảng cậu bé đứng dậy đăm đăm nhìn lên núi rồi lại ngồi xuống chăm chú vẽ.

Hiến lấy làm lạ đến gần hỏi:

- Cháu bé kia!

Cháu vẽ gì thế?

Cậu bé đáp:

- Cháu vẽ núi!

Hiến nhìn vào bản vẽ cười to bảo:

- Vẽ núi thì phải có cỏ, có cây, có mây, có nước mới nên phong cảnh đẹp.

Hình vẽ của cháu chỉ có hình mấy dãy núi và quả núi, lại có mấy đường ngoằn ngoèo dẫn lên núi thì cần gì mà quan sát kỹ lưỡng thế?

Cậu bé cũng cười to đáp :

- Cỏ cây mây nước của ông thì ai cũng nhìn thấy được, còn những đường ngoằn ngoèo của cháu mắt phàm không thể trông thấy, nên cháu phải quan sát kỹ lưỡng là do thế.

Hiến ngạc nhiên hỏi:

- Những đường ấy là đường gì mà mắt phàm không thể nhìn thấy được?

Cậu bé hỏi lại Hiến:

- Thế ông nhìn lên núi có thấy những đường ngoằn ngoèo như trong bản vẽ của cháu chăng?

Hiến đáp:

- Ta chỉ thấy cỏ cây chứ làm gì có những đường ấy!

Cậu bé cười ngặt nghẽo nói:

- Ấy mắt ông cũng là mắt phàm vậy.

Hiến tò mò hỏi:

- Cháu hãy nói xem những đường ấy là đường gì?

Nếu nói hay ta sẽ thưởng.

Bấy giờ cậu bé chỉ tay lên núi hỏi Hiến:

- Núi non cỏ cây sầm uất đều xanh thẫm một màu, vậy còn vùng núi màu xanh lợt kia là gì ông có biết không?

Hiến cười đáp:

- Ấy là trảng cỏ tranh bị cháy rồi nảy mầm non nên có màu xanh lợt.

Việc ấy có gì mà không biết.

Cậu bé nói:

- Nai, mang, mển trong rừng thường đến vùng cỏ mới cháy để ăn mầm non, nên cháu vẽ đường lên trảng cỏ tranh ấy cho phường săn của ông Đặng Đồng Phụng đến bắt nai, mang.

Hiến hỏi:

- Cháu đã lên đấy chưa mà biết được đường?

Cậu bé lại cười to đáp:

- Nếu đã biết đường thì cần gì phải nhìn núi mà vẽ!

Hiến lấy làm lạ hỏi:

- Không biết đường sao vẽ được đường?

Cậu bé lại cười đáp:

- Cháu nhìn núi xem dốc đổ phía nào mà biết được dòng suối chảy vào mùa mưa.

Nước chảy tất phải trôi mất đất, mà không còn đất chỉ còn đá, tất cây không mọc được.

Tự nhiên nơi ấy sẽ thành đường đi trong rừng.

Đó là cái mà ngoài cháu ra kẻ mắt phàm không nhìn thấy được.

Hiến mừng rỡ reo lên:

- Đây thật là bậc kỳ tài trong thiên hạ.

Quả nhiên đất Quy Nhơn địa linh sinh nhân kiệt.

Đoạn Hiến hỏi cậu bé:

- Cháu tên gì?

Nhà ở đâu?

- Cháu tên Võ Văn Dũng!

Nhà ở Tây Sơn Hạ!

- Cháu có muốn làm học trò của ta chăng?

Văn Dũng hỏi lại Hiến:

- Ông có tài gì mà đòi làm thầy của cháu?

Hiến chưa biết trả lời thế nào bỗng nghe sau lưng có tiếng quát lớn:

- Ta định nhận Văn Dũng làm học trò, ngươi là ai mà dám giành học trò của ta?

Hiến và Dũng giật mình quay lại thấy một ông già tuổi trạc lục tuần, tóc râu đã bạc nhưng thân thể hãy còn tráng kiện lắm.

Võ Văn Dũng nói:

- Ấy là lão Đặng Đồng Phụng đầu phường săn.

Hiến hỏi lão Phụng:

- Vì sao tiền bối định nhận cháu Dũng làm học trò?

Lão Phụng đáp:

- Ta dạy võ nghệ cho nó mai sau lớn lên đi săn bắt thú rừng đem về thành bán cho quan quân.

Như vậy cũng được phú quý.

Hiến hỏi Võ Văn Dũng:

- Còn ta sẽ dạy cho con văn võ binh thư, mai sau khôn lớn vẽ bản đồ sông núi nước Nam để dùng quân đánh đổ binh triều cứu nguy trăm họ.

Vậy con muốn theo ai?

Võ Văn Dũng đáp:

- Con xin nhận thầy làm sư phụ.

Lão Phụng thấy vậy giận lắm quát lên:

- Nếu ngươi đánh thắng ta thì ta sẽ không giành học trò với ngươi nữa.

Quát xong xông vào đánh liền, Trương Văn Hiến đưa tay đỡ đòn.

Hai tay chạm nhau, Hiến nghe tay mình đau buốt liền nhảy khỏi vòng chiến, Lão Phụng cả cười nói:

- Đặng Đồng Phụng ta được chân truyền về môn cương công.

Ta tập luyện hai cánh tay như sắt, côn gỗ đánh vào còn không hề hấn gì thì tay ngươi sao chịu nổi.

Vậy đã chịu thua chưa?

Hiến hỏi lại Lão Phụng:

- Nếu tôi đánh lại được tiền bối thì thế nào?

Lão Phụng cười to đáp:

- Ta sẽ nhường học trò cho ngươi, không giành nữa.

Văn Hiến mừng rỡ nói:

- Xin tiền bối chớ quên lời, vậy tiền bối hãy ra tay trước.

Đặng Đồng Phụng vung tay đánh Hiến.

Hiến co ngón tay giữa nhô lên thành Độc giác chỉ điểm mạnh vào huyệt Hợp cốc ở hổ khẩu và huyệt Khúc trì ở khuỷu tay lão Phụng.

Lão Phụng hai tay tê hại không cử động được, lão liền vung chân đá Hiến.

Hiến lại co ngón tay giữa, điểm mạnh vào huyệt Ủy trung ở nhượng chân và huyệt Thừa sơn ở giữa bắp chân của lão Phụng.

Lão Phụng cà nhắc một chân cúi đầu nói:

- Ông võ nghệ cao cường tôi xin bái phục.

Xin hỏi vừa rồi ông sử dụng môn võ gì?

Hiến đáp:

- Môn cương công của tiền bối đã luyện tay chân cứng như sắt thật là vô địch thiên hạ.

Muốn thắng được tiền bối tôi phải dùng nhu công điểm vào các yếu huyệt làm cho tay chân tê dại mà thôi!

Lão Phụng bảo Võ Văn Dũng:

- Ta mừng cho cháu gặp được thầy hay - rồi quay sang Trương Văn Hiến, Lão Phụng nói :

- Tôi có một đứa cháu nội tuổi trạc như Võ Văn Dũng tên là Đặng Văn Long.

Cha nó chẳng may mất sớm, mẹ con nó được tôi nuôi dưỡng, nay xin gửi thầy theo học nghề văn võ mai sau giúp ích cho đời.

Xin thầy vui lòng nhận cho.

Hiến vui vẻ chấp thuận.

Từ ấy hai cậu bé Võ Văn Dũng và Đặng Văn Long theo làm học trò Trương Văn Hiến.

Võ Văn Dũng và Đặng Văn Long gọi Hồ Huệ là đại sư huynh, gọi Lữ là nhị sư huynh.

Huệ và Lữ gọi Văn Dũng là tam sư đệ và Đặng Văn Long là tứ sư đệ.

Trương Văn Hiến đem hết sở học truyền cho bốn học trò.

Ngày qua tháng lại thấm thoát đã năm năm.

Huệ, Lữ, Dũng, Long đã trở thành những trang thiếu niên anh kiệt.

Tiếng lành đồn khắp gần xa.
 
Tây Sơn Bi Hùng Truyện
Chương 4


Thiếu quân lương, Huệ bày anh làm quan Thuận ý trời, Hiến khuyên trò đổi họ.

Một hôm Hiến cùng Nhạc ngồi đàm đạo có Huệ và Lữ đứng hầu bên cạnh.

Bỗng nghe tiếng đàn bà hát ru con rằng:

Chiều chiều én liệng Truông Mây

Cảm thương chàng Lía bị vây trong thành.

Huệ nghe vòng tay hỏi:

- Bẩm thầy, tên Lía trong chữ Hán viết như thế nào?

Xin thầy chỉ dạy.

Hiến đáp:

- Tiếng Nam ta có nhiều từ mà chữ Hán không viết được.

Ví như chữ Lía con vừa hỏi đó.

Huệ hỏi:

- Thế lúc Lía tập hợp dân khởi nghĩa ở Truông Mây, quan trấn thủ dâng sớ báo về triều thì viết chữ "Lía" như thế nào?

Hiến đáp:

- Điều này ta cũng không rõ, có lẽ viết tên Lía bằng chữ Nôm của nước Nam ta vậy.

Huệ lại hỏi:

- Thế tại sao triều đình không dùng chữ Nôm của nước ta, viết chiếu chỉ văn thư thay cho chữ Hán, để khi truyền đạt cho dân chúng không cần đến người dịch nghĩa.

Theo con nghĩ như thế chẳng tiện hơn sao?

Hiến đáp:

- Từ xưa đến nay đã thành lệ như thế.

Vả lại chưa thấy có ông vua nào có ý thay đổi quốc tự cả.

Huệ quay sang Nhạc thưa:

- Đại huynh, ngày sau đại huynh có làm vua nhất định phải đem chữ Nôm thay cho chữ Hán, chứ dùng văn tự của người Tàu thì làm sao gọi là quốc tự được.

Nhạc chỉ mặt Huệ mắng rằng:

- Ngươi là đứa con nít mới mười tám tuổi dám ngỗ nghịch nói càn.

Quốc tự là việc lớn trong thiên hạ há để cho đứa con nít như ngươi bàn đến hay sao?

Vả lại vua và chúa còn sờ sờ ra đó, muốn ta mất đầu hay sao mà buông lời xằng bậy.

Mau ra ngoài cho ta hầu chuyện với thầy.

Huệ sợ hãi lui ra.

Hiến nói :

- Ta thấy ý của Huệ là ý hay, nhưng không biết sau này có ai làm được hay không.

Còn Huệ là em, chắc hiểu được được chí của anh nên mới nói thế chăng?

Nhạc vội vã thưa :

- Xin thầy chớ nghe lời trẻ con rồ dại.

Tôi giữ phận con dân, chỉ biết đem trầu của miền ngược bán về miền xuôi, đem muối ở miền xuôi bán lên cho người Thượng, tần tảo thay cha nuôi em.

Nếu nó có nói như thế ấy là ý của nó mà thôi.

Xin thầy chớ để tâm làm gì.

Hiến trầm ngâm nói :

- Chẳng giấu gì anh, ta vốn là tùy tướng của quan Thái úy Trương Văn Hạnh.

Quan Thái úy bị loạn thần Trương Phúc Loan làm hại phải chết, ta đành bỏ kinh thành trốn vào đây để giữ lấy thân.

Nay ta thấy ở Đàng Ngoài vua Lê bị chúa Trịnh lấn áp.

Trịnh - Nguyễn phân tranh lấy sông Linh Giang làm ranh giới nội chiến ngót trăm năm, dân tình thống khổ.

Trong thì chúa Nguyễn chỉ lo hưởng lạc để trăm quan bóc lột lương dân.

Gần đây Phúc Loan tham lam bạo ngược bá tánh lại càng thêm điêu đứng.

Ta với anh có duyên hội ngộ, thân thế của ta từ lâu có dám thổ lộ với ai đâu.

Người xưa có câu : "Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu", giấu nhau làm chi nữa.

Vả chăng đem muối bán cho người Thượng chỉ là cái cớ, chẳng phải anh dự trữ một thứ lương thực không có gì thay thế được, mưu lấy vùng núi rừng Tây Sơn Thượng làm nơi dụng võ hay sao.

Việc ấy chỉ che mắt kẻ khác chứ lừa được ta ư.

Nếu anh đã có chí thay đổi cơ trời, ta xin giúp một tay, trước cứu muôn dân sau báo thù cho chủ tướng.

Nhạc thất kinh sụp lạy :

- Nhạc tôi có mắt không tròng, toan lấy vải thưa mà che mắt thánh.

Thấy dân trong phủ lầm than, tiếng kêu oan đã thấu đến trời, tôi muốn làm như Lương Sơn Bạc quy tụ anh hùng định đánh đuổi quan trấn thủ Quy Nhơn là Nguyễn Khắc Tuyên cho thoả lòng nghĩa hiệp mà thôi, chứ thân chưa ra khỏi núi rừng, chưa biết được điạ lợi nhân hòa thì dám đâu thay đổi cơ trời.

Nay việc đã lỡ cúi xin thầy anh minh dạy bảo.

Hiến đỡ Nhạc dậy hỏi :

- Hiện nay việc ấy anh đã làm đến đâu rồi ?

Nhạc thưa :

- Tôi quy tụ được năm trăm quân nghĩa đóng ở Tây Sơn Thượng, hiện đang giao cho Nguyễn Văn Tuyết trông coi việc phá rừng khai khẩn đất hoang tự lo lấy việc binh lương.

Trong lúc ban đầu khai khẩn, thiếu lương thực nuôi quân, bạc tiền hết sạch, nếu để quân đói cướp bóc của dân thì còn gì là chính nghĩa.

Thầy có cao kiến gì xin mách bảo cho.

Hiến còn đang suy nghĩ, bỗng Huệ bước vào chấp tay thưa :

- Bẩm thầy và đại huynh, con có một kế.

Nhạc tức giận toan quát, Hiến ngăn lại :

- Cứ để Huệ nói xem, anh đừng xem thường kẻ hậu sanh khả úy.

Nể lời thầy Nhạc nín thinh, Huệ nói :

- Hiện nay mỗi tháng Biện lại Vân Đồn thu thuế của dân lên đến trăm lạng vàng.

Đại huynh lúc buôn trầu có quen biết Đốc Trưng Đằng trông coi thuế khóa trong phủ Quy Nhơn.

Nay đại huynh lo lót cho hắn xin làm Biện lại Vân Đồn, ta thu thuế ba tháng, sau đó bỏ chức đem bạc vào nuôi quân.

Lúc ấy ta khai khẩn rừng hoang ở Tây Sơn Thượng, đất đai hàng trăm dặm thì vạn quân còn nuôi nổi, cứ gì năm trăm quân.

Xin đại huynh xét lại.

Hiến khen :

- Diệu kế !

Nhưng ta không đành làm cướp đêm, lại đi làm cướp ngày sao được ?

Huệ đáp :

- Dù đại huynh không nhận chức cũng có người khác làm thay e rằng càng khổ cho dân hơn nữa.

Vả lại nhân dân vốn khiếp sợ quân quan triều đình.

Quan sai người đến lấy thuế, dân

lập tức nộp ngay để tránh đòn roi.

Người nào không đủ tiến nộp thuế, phải bỏ quê lẩn trốn lên rừng.

Năm trăm quân của đại huynh ở Tây Sơn Thượng đều là người nghèo trốn thuế cả.

Ta lấy tiền thuế nuôi dân sao gọi là cướp ngày được.

Dám xin thầy xét lại.

Nhạc khen :

- Em thật là sáng dạ hơn người.

Nhưng việc này ta thấy có một điều khó, đó là, Biện lại Vân Đồn có người đang tại chức thì làm sao xin thế chân cho được ?

Huệ đáp :

- Việc tên Biện lại Vân Đồn háo sắc không còn tại chức đại huynh cứ để em lo.

Nhạc lại hỏi :

- Lo bằng cách nào ?

Huệ đáp :

- Xin đại huynh chớ hỏi, hẹn trong năm ngày đại huynh đến xin Đốc Trưng Đằng nhận chức.

Hiến xen vào nói :

- Thôi được, anh Nhạc cứ an tâm, ta làm thầy ắt rõ tính trò.

Huệ đã nói chắc vậy thì ắt việc phải thành đừng bàn đến nữa.

Nay ta có điều này định nói anh xem ý thế nào?

Nhạc hỏi :

- Có việc gì xin thầy cứ vui lòng dạy bảo.

Hiến nói :

- Muôn dân ở Đàng Trong mang nặng ơn chúa Nguyễn Hoàng khai phá đất đai mở mang bờ cõi.

Vả lại xét trong lịch sử nước ta Hồ Quý Ly làm vua do soán ngôi nhà Trần không được lòng dân.

Gần đây ta lại nghe thiên hạ truyền miệng nhau hai câu sấm : Một là : "Tây khởi nghĩa, Bắc thu công".

Nay Nhạc dấy binh ở đất Tây Sơn đã phù hợp với câu sấm này rồi vậy.

Câu thứ hai là : "Phụ Nguyễn phục thống", nghĩa là một họ Nguyễn khác sẽ thống nhất Giang Sơn.

Vậy sau này Nhạc ra nhận chức Biện lại ở Vân Đồn thì nên đổi họ Hồ ra họ Nguyễn cho thuận ý trời.

Ý Nhạc thế nào ?

Nhạc bái lạy :

- Lời thầy thật chí lý, tôi đâu dám không nghe.

Từ ấy anh em Nhạc, Huệ, Lữ đổi họ Hồ thành họ Nguyễn.

****

Canh ba đêm ấy Huệ giắt kiếm vào lưng lẻn đến nhà toan giết chết Biện lại Vân Đồn.

Đến cổng thấy vài chục tên lính nằm chết ngổn ngang, một người thanh niêm cầm gươm cắt vạt áo của xác tên Biện lại Vân Đồn rồi gói đầu hắn vào vạt áo ấy.

Người này vừa đi vừa nói :

- Nay giết tên tham quan này, giờ có ra đầu thú cũng đã làm xong một việc có ích.

Huệ chặn người ấy lại nói :

- Hôm qua tên tham quan này hãm hiếp con gái nhà lành, tôi định cầm gươm đến lấy đầu hắn, không ngờ tráng sĩ đã lấy mất rồi.

Tôi xem tài tráng sĩ có thể tung hoành trong thiên hạ, khí khái hơn người, sao vì một tên dâm tặc mà tự hủy thân mình, chẳng phải là việc làm nông nổi lắm ư ?

Người ấy đáp :

- Tôi tên Vũ Văn Nhậm quê quán ở phủ Quảng Nam, mồ côi cha mẹ.

Đầu quân triều đình làm đội trưởng, bị quan trên chèn ép mới bỏ đến đây.

Nghe tên quan này ban ngày ban mặt

hãm hiếp con gái nhà lành mới giết đi định ra đầu thú.

Bởi trong trời đất này không có chỗ dung thân ta nữa rồi.

Còn cao nhân là ai, có thể cứu được kẻ cùng đường này sao mà hỏi những lời ấy ?

Huệ nói :

- Tôi tên Nguyễn Huệ, anh tôi là Nguyễn Nhạc dấy binh ở Tây Sơn, chiêu hiền đãi sĩ mong làm việc đại nghĩa cứu rỗi muôn dân.

Nếu tráng sĩ không chê là phường đạo tặc thì có thể cùng nhau một phen lấp biển vá trời chăng?

Vũ Văn Nhậm bái tạ xin theo.

Huệ bèn dẫn Nhậm về nhà ra mắt Nguyễn Nhạc, kể lại sự tình rồi nói :

- Nay tôi xin đến chiêu tập Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân và Bùi Thị Xuân đều là trang thiếu niên anh kiệt, vốn cùng tôi kết nghĩa đệ huynh, tình như thủ túc.

Sau đó đại huynh đưa chúng tôi lên Tây Sơn Thượng xây dựng doanh trại, huấn luyện binh sĩ.

Rồi đại huynh đệ về xin nhận chức Biện lại Vân Đồn.

Hẹn ba tháng sau đón đại huynh lên đường cùng khởi sự.

Đêm hôm sau Nhạc dẫn Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, Vũ Văn Nhậm, Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân, Bùi Thị Xuân, trong tiết cuối đông trời se se lạnh dưới ánh trăng mờ mờ, nhắm hướng núi rừng Tây Sơn Thượng, sương trắng giăng giăng cùng nhau thẳng tiến.
 
Tây Sơn Bi Hùng Truyện
Chương 5


Thay quyền anh, Nguyễn Huệ nhổ cây thu phục Nguyễn Văn Tuyết.

Tìm minh chủ, Trần Quang Diệu đánh cọp gặp gỡ Bùi Thị Xuân.

Nhắc lại Nguyễn Nhạc dẫn hai em là Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ cùng các thủ hạ lên Tây Sơn Thượng.

Tuyết hay tin ra nghênh đón rồi tất cả cùng vào doanh trại.

Sau khi yên vị Nhạc nói:

- Ngày mai ta về Quy Nhơn để nhận chức Biện lại huyện Vân Đồn.

Nguyễn Huệ em kế của ta sẽ thay ta điều binh khiển tướng, huấn luyện binh sĩ, xây dựng doanh trại để phòng thủ.

Hẹn ba tháng sau ta mang lương thảo về rồi cùng nhau khởi sự.

Nguyễn Văn Tuyết hậm hực bước ra nói:

- Từ ngày tôi theo phò chủ tướng đã năm năm nay.

Nguyện Huệ dù là em ruột của chủ tướng nhưng có tài cán gì, vả lại, tuổi còn nhỏ dại nay thay chủ tướng điều khiển ba quân tôi e có nhiều người không phục.

Huệ điềm đạm nói:

- Thưa đại huynh, việc người thay thế hãy khoan bàn đến, Xin đại huynh hãy cho duyệt binh xem quân thế uy dũng ra sao, tiến thoái thế nào?

Nhạc khen:

- Lời em rất phải.

Nói xong liền ra ngoài doanh trại tập hợp binh sĩ, bảo Nguyễn Văn Tuyết:

- Tướng quân chỉ huy binh sĩ luyện tập xem sao!

Huệ đứng nhìn thấy năm trăm quân hàng ngũ lộn xộn, chỉ luyện tập võ nghệ không có hiệu lệnh tiến thoái gì cả.

Chờ Tuyết luyện quân xong Huệ nói:

- Tướng quân võ nghệ hơn người nên luyện tập binh sĩ khí thế dũng mãnh một có thể địch hai, ba.

Nhưng nếu dùng hiệu lệnh bảo quân tiến thì thế nào, lui thế nào và sang tả, hữu thì sao, xin tướng quân vui lòng chỉ dạy.

Tuyết ngập ngừng đáp:

- Tôi chỉ luyện quân gặp giặc thì đánh, địch ở đâu thì tiến về phía ấy vậy chẳng đúng hay sao?

Huệ nói:

- Binh pháp có dạy: quân ngũ phải chỉnh tề, quân pháp phải nghiêm minh, tiến thoái đúng theo hiệu lệnh thì nhuệ khí mới mạnh mẽ, ba quân vững dạ, địch quân trông thấy ắt là nao núng có khi chưa đánh đã tan.

Xin tướng quân xét lại.

Tuyết chẳng nói gì.

Nhạc xen vào hỏi:

- Theo ý em thì nên thế nào?

Huệ đáp:

- Lúc qua đèo Mang em quan sát địa hình thấy gần đỉnh đèo có hai hòn núi(1) ở hai bên đường cách nhau vài dặm.

Ta cho quân đắp lũy nối hai núi này, đường đèo làm cổng lên Tây Sơn Thượng đề phòng binh triều đến đánh.

Trong chỉnh đốn đội ngũ, cứ mười quân làm một toán, mười toán làm một đội, mười đội làm một cơ có toán trưởng, đội trưởng chưởng cơ đứng đầu.

Tập binh tiến thoái theo hiệu cờ và trống lệnh.

Người Thượng có tài bắn cung nỏ bách phát bách trúng, họ vốn mang ân đức của đại huynh đem muối lên phân phát.

Nay ta chiêu mộ người Thượng lập thành đội xạ thủ, thì dù quân triều có thiên binh vạn mã cũng không thể vượt khỏi đèo Mang hiểm trở, nói gì đến việc lên vùng Tây Sơn Thượng.

Nhạc mừng rỡ nói:

- Em quả nhiên có tài thao lược.

Nay có em điều binh khiển tướng ta mới yên lòng.

Nhạc quay sang Tuyết, cười hỏi:

- Chẳng hay ý song đao tướng quân Nguyễn Văn Tuyết thế nào?

Tuyết vòng tay đáp:

- Tôi thọ ơn chủ tướng chẳng dám sai lời, nhưng lòng này không phục.

Nhạc hỏi:

- Như thế nào tướng quân mới phục?

Tuyết hai tay vịn hai chuôi đao đeo sau lưng đáp:

- Nếu Huệ thắng được song đao của tôi, thì dù bảo nhảy vào lửa Tuyết cũng xin vâng.

Bỗng có tiếng quát:

- Một ngọn giáo của ta cũng đủ, cần gì phiền đến nhị ca.

Mọi người nhìn lại thấy Vũ Văn Nhậm đã vác giáo đứng giữa sân, Phan Văn Lân tiến đến can:

- Giáo của Vũ huynh vừa chém đầu tham quan giữa chợ ai cũng biết tài.

Hãy để trường thương của tôi xem song đao vô địch biến hóa thế nào.

Tuyết thấy Văn Lân mặt mày trắng trẻo, dáng dấp thư sinh liền cười lớn:

- Song đao của ta đâu dùng để đánh tên học trò trói gà không chặt như ngươi!

Văn Lân thân người mảnh khảnh nhưng tính nóng như lửa, nghe Tuyết cười mình, hơi giận bốc lên vung thương toan xông đến.

Huệ trừng mắt quát:

- Văn Lân không được vô lễ.

Lân hậm hực lui ra, Huệ trỏ vào một cây rừng ở giữa giáo trường hỏi Nhạc và Tuyết:

- Ở trước doanh trại nên dựng cột treo cờ cho thêm vẻ oai nghiêm.

Dám hỏi đại huynh cùng tướng quân Văn Tuyết, cây hoang mọc trước doanh trại là cây gì?

Vì sao không chặt đi?

Tuyết đáp:

- Ấy là cây sơn núi, giống cây này có nhựa màu đen nếu chạm phải nhựa ấy liền bị nhức nhối khắp mình.

Nếu thế thôi thì cũng có thể chặt được, riêng cây này chẳng rõ vì sao lại rất

độc, quân lính đã mấy phen chặt thử, nhưng mới chặt vào một dao, nhựa ứa ra hơi độc xông lên liền sưng phù mình mẩy, nhức nhối ngay tại chỗ nên không ai dám chặt.

Vả lại tôi xét thấy cũng chẳng hại gì nên đành thôi vậy.

Huệ hỏi:

- Sao không chất lửa đốt đi?

Nhạc đỡ lời:

- Những cây sơn khác nếu đốt khói độc xông lên người ngựa đều mắc bệnh, huống hồ cây này, nên không dám đốt.

Huệ đến gần quan sát thấy cây độc cao vài chục thước, chu vi vừa tràm hai gang tay, bèn nói:

- Tôi có cách này không cần chặt, cũng không cần đốt lại có thể loại bỏ được cây độc.

Nhạc cùng các tướng đồng thanh hỏi:

- Cách nào?

Huệ đáp:

- Nhổ đi.

Tuyết vỗ tay cười lớn:

- Nãy giờ chỉ nghe ông nói thì hay lắm nhưng chẳng thấy làm.

Nếu được như lời ta xin dập đầu bái phục.

Huệ chẳng nói chẳng rằng xắn tay áo, rùn chân xuống tấn ôm lấy thân cây, hét lên một tiếng nhổ bật cả gốc rễ, buông tay ra cây đã đổ ầm xuống đất.

Ba quân vỗ tay hoan hô như sấm.

Tuyết quỳ xuống vái lạy:

- Tôi có mắt không tròng, chẳng thấy núi Thái Sơn trước mặt, xin tướng quân miễn chấp.

Nguyện một lòng tuân theo lời sai khiến của tướng quân.

Huệ đỡ Tuyết đứng dậy nói:

- Nếu tôi có điều gì mạo phạm ấy cũng vì lo đại cuộc mà thôi.

Xin tướng quân chớ để bụng.

Nhạc mừng rỡ nói với các tướng:

- Ngày mai ta về thành Quy Nhơn nhận chức Biện lại Vân Đồn để lo việc lương thảo.

Em ta là Nguyễn Huệ tạm thời thay ta điều binh khiển tướng.

Còn ai không phục nữa chăng?

Tướng sĩ đồng thanh hô:

- Chúng tôi xin bái phục.

****

Một hôm Huệ cùng các tướng Bùi Thị Xuân, Nguyễn Văn Tuyết, Phan Văn Lân, Ngô Văn Sở, Vũ Văn Nhậm đang luyện tập quân sĩ bỗng có quân canh vào báo.

- Bẩm tướng quân, có người Thượng ở trên đèo Măng Giang đến báo, có con voi trắng một ngà dẫn đầu đàn voi vào làng phá hoại nhà cửa, hoa màu rất dữ.

Nhờ tướng quân đem quân giết voi cứu dân.

Huệ truyền lệnh:

- Văn Tuyết, Văn Nhậm, cô Xuân ở lại giữ doanh trại.

Văn Lân, Văn Sỡ dẫn theo một trăm tên xạ thủ cùng ta đến đấy xem sao.

Nữ tướng Bùi Thị Xuân bước ra thưa:

- Ngày trước thầy tôi là ông nội của tướng quân Ngô Văn Sở, tên Ngô Mãnh, nguyên làm chức Đô thống cấm vệ quân của Võ vương Nguyễn Phúc Khoát, theo hộ giá chúa Nguyễn đến Quy Nhơn để mất ngựa Xích Kỳ của chúa.

Phúc Loan mượn cớ làm tội, nên thầy tôi mới

trốn vào ẩn ở Tây Sơn, dạy võ nghệ cho tôi cùng Văn Lân, Văn Sở.

Thầy tôi có dạy cho tôi cách thuần phục voi rừng.

Dù voi dữ cũng chớ giết đi mà uổng.

Tôi xin đem theo một trăm quân đến tùy cơ ứng biến, nếu thuần phục được chúng lập thành đội tượng binh thì sức mạnh của quân ta tăng lên gấp bội.

Xin tướng quân chấp thuận.

Huệ khen:

- Cô Xuân thật là nữ nhi hào kiệt đáng làm hổ thẹn đấng mày râu.

Nhưng mình cô đi ta thật chẳng yên lòng.

Văn Lân, Văn Sở hãy theo giúp nữ tướng Bùi Thị Xuân, nếu việc thành thì công lao của các ngươi thật là to lớn đó.

Văn Tuyết xen vào hỏi:

- Dám hỏi thầy của nữ tướng giờ đây sức khỏe thế nào?

Văn Sở đáp:

- Ông nội tôi lâm bệnh đã mất cánh đây hai năm rồi.

Tuyết bước đến cầm tay Sở, bùi ngùi nói:

- Ông nội tướng quân phải gian truân xa quê chết nơi đất khách chính là lỗi do tôi!

Văn Sở còn đang kinh ngạc thì Văn Lân hỏi:

- Tuyết tướng quân nói gì chúng tôi không hiểu?

Nguyễn Huệ đỡ lời:

- Ta nghe đại huynh kể lại rằng: Ngày trước chúa Nguyễn xa giá vào Quy Nhơn có tên thích khách chúa không thành bèn cướp ngựa Xích kỳ của chúa trốn đi chính là song đao Nguyễn Văn Tuyết đó.

Nay nghe Đô thống Ngô Mãnh vì mất ngựa mà phải tội nên trong lòng áy náy đó thôi.

Văn Sở điềm đạm nói:

- Ông tôi dù còn sống cũng đâu vì thế mà trách cứ tướng quân.

Có đáng trách là lũ quan tham bạo chúa để muôn dân oán ghét mà thôi.

Âu cũng là ý trời muốn anh hung hội tụ đất Tây Sơn, chúng ta hãy bỏ qua chuyện cũ thề một lòng phò chủ tướng vì nước cứu dân.

Nguyễn Huệ rót rượu cho các tướng nâng ly đồng thanh hô lớn: "Xin thề."

Bùi Thị Xuân, Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân bái biệt lên đường.

Bùi Thị Xuân cùng Sở, Lân dẫn đầu đến nơi bỗng nghe tiếng voi gầm.

Lân quay lại bảo xạ thủ:

- Quân sĩ chuẩn bị cung tên, voi dữ sắp đến.

Xuân lắng nghe rồi bảo:

- Tiếng gầm nghe bi ai đau đớn chắc là voi bị nạn, hai em có thấy thế không?

Văn Sở gật đầu nói:

- Chị Xuân nói rất đúng, loài voi tuy dữ nhưng rất có nghĩa, trọng ơn.

Nếu cứu được chúng đó là trời giúp ta vậy.

Văn Lân hối:

- Nếu vậy anh Sở ở lại đây bố trí ba quân, tôi cùng chị Xuân lần theo tiếng voi gầm, vào đấy xem sao.

Nói xong vọt ngựa đi liền, Xuân giục ngựa đuổi theo.

Đến gần tiếng voi gầm hai người thấy con voi trắng một ngà to lớn đang bị một con trăn dài chừng trăm thước, to ngót thân người quấn chặt.

Voi không cựa quậy được gầm lên đau đớn.

Không chút chậm trễ, Xuân liền lấy cung rút tên độc bắn một phát cắm ngập vào đầu trăn.

Trăn quằn quại nhả dần, nhả dần rồi rơi xuống đất.

Xuân nhảy xuống ngựa tiến lại gần voi.

Voi một ngà quỳ hai chân trước cúi đầu co vòi lạy người cứu mạng.

Xuân đến gần nói:

- Ta không có ý hại ngươi, chỉ khuyên ngươi đừng nhiễu hại dân làng.

Nếu hiểu được lời thì hãy theo ta về phò vua giúp nước.

Voi phủ phục cho Xuân leo lên cổ rồi ngoan ngoãn đứng dậy theo Văn Lân đang đi trước dẫn đường.

Bùi Thị Xuân cưỡi voi trắng một ngà cùng Văn Sở, Văn Lân về doanh trại.

Nguyễn Huệ thân hành ra đón, khen rằng:

- Nhờ tài xạ tiễn cô Xuân thu phục được voi rừng, thật xưa nay hiếm có nữ nhi nào như thế.

Nếu thời thế tạo anh hùng thì ắt có thể sánh bằng bà Triệu, bà Trưng ngày xưa vậy.

Thị Xuân khiêm tốn nói:

- Được như vậy là nhờ hồng phúc của chủ tướng mà thôi.

Chứ nếu voi dữ không gặp nạn thì dễ gì đem được về đây?

Huệ nói:

- Còn việc thành lập đội tượng binh cô Xuân định làm thế nào?

Xuân đáp:

- Tướng quân chiêu mộ vài mươi quản tượng.

Còn tôi, xin một mình dẫn voi trắng đầu đàn lên rừng thuần phục đàn voi ấy.

Sau đó theo hiệu cờ và trống lệnh quản tượng sẽ dạy cho chúng tiến thoái thành đội ngũ.

Như thế chắc rằng ta có thể thành lập nên một đội tượng binh hùng mạnh.

Huệ khen:

- Hay!

Hay lắm đúng là nữ nhi anh kiệt, chưa ra trận đã tỏ rõ tài thao lược, đáng khen thay.

Nói đoạn lập tức sai người tuyển chọn quản tượng.

Từ ấy về sau ngày ngày Thị Xuân cưỡi voi trắng vào rừng bắt voi hoang đem về doanh trại.

****

Một hôm, Xuân vào rừng bỗng nghe tiếng cọp gầm rung chuyển núi đồi, lại nghe có tiếng người hét vang.

Xuân cưỡi voi về phía ấy, thấy giữa trảng cỏ tranh một thanh niên tay cầm đại đao đang đánh nhau với cọp dữ.

Phút chốc cọp bị đao chém chết ngay.

Không ngờ một con hổ khác từ sau lưng vồ tới, người ấy lách mình tránh khỏi nhưng bị cọp tát văng mất đại đao.

Người ấy không hề nao núng, tay không đánh nhau với hổ dữ suốt nửa giờ không phân thắng bại.

Bùi Thị Xuân ngồi trên bành voi gương cung lắp tên bắn một phát nhằm giữa trán hổ.

Cọp dữ ngã ra chết ngay.

Người ấy giật mình quay lại, thấy kẻ cầm cung là một thiếu nữ mặt hoa má phấn, mười phần xinh đẹp liền bước đến thi lễ.

- Tạ ơn nữ hiệp đã ra tay cứu giúp, nếu không mạng tôi chưa biết thế nào!

Xuân từ lưng voi nhảy xuống:

- Xin tráng sĩ đừng nên khách sáo, gặp nguy khốn giúp nhau là chuyện thường tình.

Dám hỏi tráng sĩ là người phương nào, cớ sao một mình vào chốn rừng sâu?

Người ấy đáp:

- Tôi tên Trần Quang Diệu quê ở Bồng Sơn đi đường núi vào Tây Sơn tìm bạn nên gặp cọp giữa đường.

Còn cô nương sao cưỡi voi vào rừng làm chi, thân nữ nhi coi thường nguy hiểm, bắn tên bách phát bách trúng thật làm Diệu tôi khâm phục vô cùng.

Thấy Trần Quang Diệu mày tăm mắt phụng tướng mạo khôi ngô, Xuân e thẹn trả lời:

- Tôi tên Bùi Thị Xuân quê ở Tây Sơn Hạ, theo chủ tướng là Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ dấy binh ở Tây Sơn Thượng.

Nay vào rừng săn voi mới tình cờ gặp tráng sĩ tay không đánh

cọp, tài năng thật hiếm thấy trên đời.

Tráng sĩ vào đây tìm bạn ở đâu, tôi có thể chỉ giúp được chăng?

Diệu mừng rỡ đáp:

- Nếu cô nương theo Nguyện Huệ dấy binh thì thật là may cho tôi quá, bạn tôi chính là Nguyễn Huệ đó.

Xuân vội đỡ lời:

- Hay quá!

Vậy mời tráng sĩ cùng lên lưng voi về doanh trại.

Diệu ngập ngừng:

- Kẻ nam người nữ điều ấy có tiện hay chăng?

Cô nương cứ để mặc tôi đi bộ theo sau cũng được rồi.

Xuân cúi đầu đáp:

- Vẫn biết rằng: "Nam nữ thọ thọ bất tương thân."

Nhưng từ đây về bản trại đi bộ mất nửa ngày đường mà trời đã xế chiều.

Vả lại tráng sĩ chẳng nghe chuyện vị cao tăng cõng cô gái qua sông mà tâm chỉ nghĩ về Phật pháp hay sao.

Nếu đã cùng nhau lo đại sự còn chấp nê chuyện nhỏ nhặt làm gì.

Quang Diệu chẳng biết nói sao đành lên lưng voi cùng Bùi Thị Xuân về doanh trại.

Đến nơi Quang Diệu vào yết kiến Nguyễn Huệ.

Huệ mời ngồi rồi nói:

- Tôi có nghe cô Xuân kể rằng, gặp tráng sĩ đánh cọp giữa rừng lại tự xưng là bạn của Huệ.

Huệ tôi không bao giờ dám quên tình xưa nghĩa cũ, nhưng quả thật không nhớ rằng đã gặp tráng sĩ ở đâu?

Diệu cười lớn:

- Tôi nghe tiếng Nguyễn Huệ là người thường vì kẻ khác quên mình, sức mạnh như thần, võ nghệ tuyệt luân, gồm tài thao lược đang chiêu hiền đãi sĩ nên vượt núi rừng đến xin kết bạn.

Chẳng hay huynh trưởng chê tôi là người hèn mọn hay chăng?

Huệ cười ha hả nói:

- Kẻ anh hùng trong bốn biển đều là huynh đệ.

Người đức độ ai cũng muốn bớt thù thêm bạn, nay có bậc hào kiệt đến kết giao chẳng phải là điều may mắn hay sao?

Nói xong sai quân đem rượu thịt thết đãi.

Quang Diệu nói:

- Chẳng giấu gì tướng quân, tôi hiện đang chiêu mộ được vài trăm tráng sĩ, hằng ngày có kết giao với Đặng Văn Long vốn cùng tướng quân là huynh đệ đồng môn.

Nghe Văn Long nói tướng quân chiêu hiền đãi sĩ ở Tây Sơn nên trước đến xem sự thể thế nào, sau sẽ đem quân đến hầu trước tướng.

Huệ vội hỏi:

- Văn Long trước cùng tôi chia tay khi nghe tin mẹ bệnh.

Có hẹn trước cùng nhau tụ nghĩa ở Tây Sơn, nay chẳng biết gia cảnh thế nào mà Văn Long chưa đến.

Diệu đáp:

- Mẹ Văn Long đã mất nên ở nhà chịu tang ba năm.

Huệ ngậm ngùi:

- Văn Long là người hiếu nghĩa, thích ngao du sơn thủy xem nhẹ công danh.

Nay vì chữ hiếu đành chôn chí tang bồng hồ thỉ, thật đáng tiếc thay.

Chợt nhớ ra điều gì Huệ hỏi:

- Từ Bồng Sơn vào đây sao tướng quân không đi đường đại lộ qua thành Quy Nhơn rồi theo hướng Tây Sơn Hạ vượt đèo Mang lên Tây Sơn Thượng mà lại theo đường núi cho lắm gian nguy đến thế?

Diệu đáp:

- Tôi vốn mộ quân lập căn cứ ở núi rừng phía Tây Bồng Sơn nên có quen biết với người Thượng.

Họ có đường băng rừng từ Quảng Ngãi có thể vào đến Tây Sơn, có thể ra đến Quảng Nam, Thuận Hoá.

Nên tôi mới đi trước dò đường vì khi đưa hai trăm quân vào đây không thể nào qua thành Quy Nhơn mà chẳng bị sự truy cản của quan quân.

Huệ mừng rỡ nói:

- Trời đưa tướng quân về với ta chính là trời giúp ta vậy.

Diệu nói:

- Tôi có tài cán gì mà chủ tướng quá khen thế.

Huệ chợt hỏi:

- Không có tài cán gì mà tay không dám đánh nhau với cọp dữ?

Nhưng tại sao tướng quân bị mất đao?

Diệu đáp:

- Tôi bị cọp vồ từ sau lưng, may mà tránh kịp, nhưng bị cọp tát văng mất đại đao.

Huệ trầm ngâm nói:

- Nếu ta có con đường thượng đạo ấy bất ngờ đánh vào sau lưng kẻ địch, ví như cọp vồ từ sau lưng tướng quân đó.

Diệu giật mình đứng dậy chắp tay.

- Lời Văn Long nói quả không sai, chủ tướng nhìn xa thấy rộng.

Diệu tôi vô cùng bái phục.

Huệ nắm tay Diệu thân mật nói:

- Khi về tướng quân hãy vì tôi đem quân mở đường theo lối mòn của người Thượng từ Bồng Sơn vào đây rồi cùng hội quân ở Tây Sơn Thượng.

Sau đó tôi sẽ cấp thêm quân lương cho tướng quân, cứ theo dãy núi Trường Sơn mở đường từ Nam ra Bắc, sau này đạo binh đi theo đường thượng đạo đánh vào sau lưng địch quân chính là của tướng quân đó.

Bây giờ mời tướng quân hãy vào trong trướng nghỉ ngơi, ngày mai sẽ lên đường.

Diệu vâng lệnh lui ra.

Chú thích:

(1): Hai hòn núi này nay được mang tên là núi ông Nhạc và núi ông Bình (một tên khác của Nguyễn Huệ).
 
Tây Sơn Bi Hùng Truyện
Chương 6


Mượn oai trời Nguyễn Nhạc dấy binh Giấu chân tướng Tây Sơn làm cướp

Một đêm kia, dân chúng trong vùng Tây Sơn Hạ đang ngon giấc bỗng nghe một tiếng nổ long trời lở đất, ngó vô trong chân núi đèo Mang bập bùng ánh lửa.

Chốc chốc lại nghe một tiếng nổ vang lên.

Suốt ba đêm, đêm nào cũng vậy.

Mọi người tụ tập ở sân đình cùng nhau bàn tán xôn xao.

Bỗng nghe tiếng nói sang sảng vang lên:

- Các người làm gì mà sợ hãi thế?

Ta cứ rủ nhau đến đấy xem hư thực thế nào?

Mọi người ngoảnh lại nhìn ra là Nguyễn Nhạc.

Một ông lão bước ra nói:

- Chúng tôi cũng muốn đến cho biết sự lạ gì.

Hiềm một nỗi chẳng có ai dẫn đầu nên không một người nào dám đi cả.

Nhạc khẳng khái đáp:

- Dù là quỷ thần cũng đâu nỡ hại người ngay.

Tôi tuy bất tài cũng xin đi trước để xem sự thể thế nào.

Nói rồi tuốt gươm cầm đuốc lăm lăm tiến bước.

Hàng trăm trai tráng nô nức đi theo.

Đến chân núi, bốn bề rừng hoang vắng lặng chỉ thấy một đám lửa bập bùng trước tảng đá to.

Bỗng một tiếng nổ long trời, cát bụi mịt mù.

Bụi tan, tảng đá biến đâu mất, chỉ thấy một cụ già râu tóc bạc phơ tay cầm thanh kiếm dáng dấp đạo cốt tiên ông.

Mọi người kinh sợ lùi lại, chỉ có Nhạc vẫn đứng nguyên chỗ cũ.

Tiên ông cất tiếng sang sảng:

- Ta là sứ giả của Ngọc Hoàng.

Trong các ngươi ai là Nguyễn Nhạc hãy đến đây nhận lệnh.

Nhạc bỏ gươm chắp tay tiến đến gần tiên ông.

Tiên ông phán:

- Đây là kiếm báu Trời ban cho, ngươi hãy thay Trời hành đạo cứu giúp muôn dân.

Nhạc quỳ nhận kiếm báu rồi lui ra.

Một tiếng nổ nữa vang lên cát bay mù mịt, bụi tan, tiên ông lại biến mất.

Mọi người đổ xô vây quanh Nhạc.

Nhạc trịnh trọng tuốt kiếm.

Kiếm báu ánh lên nước thép sáng ngời.

Giữa lưỡi gươm rõ ràng bốn chữ "Nguyễn Nhạc Vi Vương".

Mọi người đồng thanh quỳ xuống hô vang:

- Nguyễn Nhạc Vi Vương!

Vua trời Nguyễn Nhạc!

Nguyễn Nhạc dẫn đám trai tráng về đến sân đình, Nhạc nói:

- Các anh em ai về phía nấy, từ biệt gia đình mang theo hành lý, ai muốn theo ta đánh đuổi bọn tham quan ô lại thì rạng sáng ngày mai tụ họp ở sân đình này, rồi cùng ta lên Tây Sơn Thượng tụ nghĩa.

Trai tráng tản mạn đi cả.

Nhạc toan quay lưng về nhà, bỗng nghe tiếng cười vang rồi một giọng nói lớn:

- "Nguyễn Nhạc Vi Vương" lừa dân như thế là cùng!

Nhạc giật mình quay lại thấy hai người tuổi trạc tứ tuần.

Thấy hai người này phong cách khác thường, Nhạc dè dặt hỏi:

- Chẳng hay nhị vị là ai, nói vậy là có ý gì ?

Người cầm bầu rượu nói:

- Còn ý gì nữa.

Ông tiên già là thầy giáo Hiến, tiếng nổ tan nát đá là do đốt thuốc súng.

Quan Biện lại Nguyễn Nhạc lừa được đám ngu dân chứ lừa ta sao được!

Nhạc ung dung nói:

- Ngày trước vua Lê Thái Tổ khởi binh đánh giặc Minh, dùng mật viết: "Lê Lợi vi vương, Nguyễn Trãi vi thần" lên lá rừng cho kiến đục theo vết mật, rồi thả lá rừng xuống sông cho trôi về xuôi, nên muôn dân đều gom về một mối, thiên hạ vững tin, nhờ vậy mới đánh giặc ra ngoài bờ cõi, cứu muôn dân khỏi ách nô lệ.

Ta xin hỏi nhị vị ấy là vua Lê Thái Tổ lừa dân chăng?

Người kia bấy giờ mới nói:

- Xin tướng quân chớ ngại, Huyền đệ nói vậy chẳng qua để thử lòng nhau thôi chứ chẳng có ý gì khác.

Tôi là Nguyễn Thung, còn đây là em kết nghĩa của tôi tên Vũ Tất Thận hiệu Huyền Khê tánh tình trung trực, nhưng phải tật thường hay uống rượu nói chẳng giữ lời.

Xin tướng quân bỏ qua cho.

Nhạc vòng tay bái:

- Thì ra hai vị là Nguyễn Thung và Huyền Khê.

Tôi đã nghe danh tiếng từ lâu, nay nhị vị tiên sinh đến đây có điều chi chỉ giáo?

Nguyễn Thung nói:

- Anh em tôi chiêu mộ được vài trăm tráng sĩ, trong nhà lương thảo chẳng thiếu chi.

Nay

đến đây để biết chí của tướng quân.

Nếu tướng quân không chê, ngày mai xin đem quân tụ nghĩa dưới cờ.

Nhạc cả mừng:

- Được nhị vị đem quân hợp tác thật là hồng phúc của muôn dân.

Nhạc xin thay mặt bá tánh cảm tạ nhị vị tiên sinh.

Hôm sau Nguyễn Nhạc cùng Trương Văn Hiến dẫn Nguyễn Thung, Huyền Khê cùng trai tráng vừa chiêu mộ được lên Tây Sơn Thượng.

Dọc đường dân chúng nô nức đi theo rất đông, quân số lên đến ước ngàn người.

Nguyễn Huệ hay tin đem các tướng ra đèo Mang nghênh đón.

Vào doanh trại Nguyễn Nhạc liền cho họp các tướng bàn bạc việc quân.

Nguyễn Nhạc ngồi giữa Trương Văn Hiến bên tả, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ bên hữu.

Nhạc nói:

- Ta vừa bỏ chức Biện lại Vân Đồn đem vàng bạc thu thuế được mua lương thực để nuôi quân.

Nay quân của ta đã lên đến hai ngàn.

Các vị hãy cùng bàn bạc xem kế sách tiến thủ như thế nào để đánh đuổi binh triều, cứu nguy trăm họ!

Đoạn Nhạc quay sang Hiến hỏi:

- Chẳng hay thầy có cao kiến gì chăng?

Hiến đứng dậy vòng tay nói:

- Việc thầy trò là việc riêng, việc đại sự là việc chung.

Nay trước mặt các anh hùng hảo hán cùng bàn việc đại sự, xin chủ tướng đừng xưng hô theo tình riêng như thế.

Nhạc do dự giây lâu rồi nói:

- Xin các vị hãy bình tâm nghe Nhạc tôi có đôi điều bày tỏ.

Nguyên trước kia Nhạc chỉ là kẻ buôn trầu, người quanh vùng thường gọi là anh Hai trầu.

Lúc ấy tôi thấy người nghèo không tiền nộp thuế phải chịu đòn roi của binh triều nên động lòng trắc ẩn, bèn đem họ lên trốn tránh ở nơi này chu cấp gạo muối cho khai hoang lập ấp.

Những tưởng chúa hôn trong một lúc, ắt có ngày thức tỉnh, tôi sẽ đem họ về quê an cư lạc nghiệp giữ phận con dân.

Ngờ đâu Tiên chúa mất, ấu chúa lên kế vị để Phúc Loan bạo ác tham tàn tăng thêm sưu thuế xây dựng cung điện Phấn Dương, bắt muôn dân phục dịch thật là thống khổ.

Vì vậy người nghèo trốn thuế theo tôi mỗi lúc một đông, đến nỗi tôi không thể cung cấp đủ lương thực cho họ.

Thầy Trương Văn Hiến bày kế cho tôi xin làm Biện lại Vân Đồn lấy tiền thuế trong ba tháng rồi bỏ chức, đem bạc về nuôi quân.

Mới vài hôm trước đây, chỉ trong một ngày tôi chiêu mộ được ngàn quân là do kế của thầy Trương Văn Hiến cả.

Thầy Trương Văn Hiến có công giáo huấn hai em tôi là Huệ và Lữ.

Tôi dù không có thời gian theo hầu thầy dưới án nhưng lòng vẫn tôn kính như sư phụ.

Nay lấy lý vì nghĩa chung không nên xưng hô theo tình riêng, thì xin hỏi các vị, Nhạc phải gọi thầy như thế nào cho danh chánh ngôn thuận đây?

Nguyễn Thung bước ra nói:

- Việc ấy theo tôi không có chỉ là khó.

Có một cách xưng hô mà xét theo tình riêng hay nghĩa chung đều thuận cả.

Nhạc hỏi:

- Theo ý tiên sinh thì nên gọi thế nào?

Thung cười rằng:

- Từ hai tay trắng bày kế nuôi nổi ngàn quân, trong một ngày đêm mộ được ngàn quân.

Mưu hay xưa nay hiếm có như thế, sao chủ tướng không gọi là quân sư, thì công tư vẹn cả đôi bề.

Các tướng cùng vỗ tay khen:

- Nguyễn Thung tiên sinh thật là cao kiến, ta nay vì dân dấy nghĩa ắt phải có quân sư.

Nhạc rót rượu mời Hiến:

- Các vị hãy cùng chúc mừng quân sư.

Văn Hiến thoái thác rằng:

- Tôi tài cán gì mà dám nhận chức ấy.

Bày kế làm Biện lại Vân Đồn nuôi quân là của Nguyện Huệ.

Giết tên biện lại cũ để chủ tướng thế chân là Vũ Văn Nhậm.

Nay tôi nhận chức ấy té ra là tranh công của Huệ và Nhậm hay sao?

Các vị há chẳng nghe người xưa nói: có ba điều nguy là:

Không có tài mà ở địa vị cao

Không có công mà hưởng bổng lộc nhiều Không có đức mà bắt người phải phục

Tôi quyết chẳng làm việc nguy hiểm ấy đâu!

Huệ bước ra nói:

- Xin quân sư chớ khiêm tốn.

Bọn chúng con đều là võ tướng hữu dũng vô mưu, nếu không có quân sư đảm nhận trọng trách ấy, e rằng đại sự khó thành.

Vũ Văn Nhậm cũng bước ra nói thêm vào:

- Hôm ấy tôi vì căm giận tên tham quan háo sắc nên lấy đầu hắn cho hả dạ trong một lúc.

Nếu không có tôi thì tướng quân Nguyễn Huệ cũng đến lấy đầu của hắn vậy.

Nếu không có tướng quân Nguyễn Huệ dẫn lối về Tây Sơn e mạng tôi giờ đã chôn sâu trong lòng đất.

Ơn ấy chưa đem thân khuyển mã báo đền thì sao dám nhận là công được.

Xin quân sư chớ khá chối từ cho an lòng tướng sĩ.

Các tướng đồng thanh nói:

- Xin quân sư chớ khá chối từ.

Trương Văn Hiến chờ các tướng lặng im rồi mới ôn tồn nói:

- Xưa nay trong thiên hạ có quân rồi mới có thần.

Nay các vị tôn tôi làm quân sư thì ngôi chí tôn phải định thế nào đây?

Nguyễn Thung cười nói:

- Tôi thấy chủ tướng được trời sai sứ giả ban cho kiếm báu "Nguyễn Nhạc Vi Vương".

Ấy là số trời đã định cho chủ tướng làm vua.

Chi bằng chủ tướng hãy xưng vương cho an lòng tướng sĩ, rồi truyền hịch đi các nơi đánh đổ hôn chúa, trừ nghịch Phúc Loan cứu nguy trăm họ.

Trước là tỏ chính nghĩa quân ta, sau là thuận được cái lý quân thần, các vị thấy thế nào?

Nguyễn Huệ bước ra can rằng:

- Theo tôi đại huynh xưng vương và truyền hịch đánh đổ quân triều thì khác nào chuốc họa vào thân.

Thung hỏi:

- Vì sao tướng quân nghĩ thế?

Huệ đáp:

- Một là, nay quân ta chỉ mới có hai ngàn người, mà một ngàn người mới mộ chưa được huấn luyện thuần thục, thì binh lực hãy còn yếu kém.

Nếu truyền hịch xưng vương ắt triều đình Phú Xuân cử đại binh vào chinh phạt thì tôi e rằng chính nghĩa của ta sẽ bị dập tắt khi còn trong trứng trước.

Hai là nay lòng người dù oán ghét Phúc Loan bạo ngược nhưng vẫn nhớ ơn chúa Nguyễn khai sơn phá thạch mở mang bờ cõi.

Còn quân ta đang ở núi rừng Tây Sơn Thượng chưa có công đức gì cho bá tánh thì lấy danh nghĩa gì để xưng vương?

Nếu làm

thế tôi e rằng thiên hạ chỉ cho ta là phường nghịch tặc mà thôi.

Ấy không phải kế sách để thu phục lòng dân.

Xin đại huynh xét lại!

Nghe Huệ nói, Nhạc tỏ ý không vui hỏi:

- Theo ý em thì phải thế nào?

Huệ thấy anh có ý không hài lòng bèn lựa lời nói:

- Tôi vốn là học trò của quân sư, nên hiểu tánh thầy.

Quân sư có mưu hay thường uống chén trà ngon rồi mới nói!

Vừa nói Huệ vừa rót trà đem dâng Hiến.

Huệ che người xòe lòng bàn tay của mình cho Hiến xem.

Hiến thấy trong lòng tay Huệ có đề chữ " Cướp".

Huệ lui về chỗ cũ.

Hiến chậm rãi uống trà.

Đặt tách trà xuống bàn Hiến nói:

- Tôi có một kế này nhất cử mà tam tiện!

Nhạc vội hỏi:

- Người xưa có câu "Nhất cử lưỡng tiện", nay "Nhất cử tam tiện" mới nghe quân sư nói lần đầu.

Quân sư có kế hay hãy mau nói ra, tôi nóng lòng rồi đây.

Hiến từ tốn đáp:

- Tôi xin nói về hai việc.

Một là chủ tướng khởi binh ở Tây Sơn chúng ta hãy tôn chủ tướng là Tây Sơn trại chủ...

Nguyễn Thung ngắt lời Hiến:

- Quân sư xem quân ta như là quân cướp hay sao mà gọi là Tây Sơn trại chủ?

Văn Hiến đáp:

- Không phải tôi cho quân ta là cướp, mà tạm thời ta làm cướp bằng cách thế này: Chủ tướng hãy chia một ngàn quân tinh nhuệ đi cướp của bọn quan lại cường hào ác bá ở các làng quanh thành Quy Nhơn rồi lấy số bạc cướp được chia cho dân nghèo, còn lại đem về doanh trại để dự trữ quân lương, một là ta che giấu chân tướng của ta để tránh thế mạnh của địch lúc ban đầu, hai là thu phục được lòng dân, vốn oán hờn quan lại triều đình, ba là có thêm lương thực để nuôi quân.

Đợi khi quân ta hùng tướng ta mạnh, lương thảo dồi dào đánh lấy thành Quy Nhơn rồi mới truyền hịch nói rõ chính nghĩa của ta thì đã có muôn dân ủng hộ chống lại binh triều.

Làm cướp như thế, ấy chẳng phải là nhất cử mà tam tiện hay sao?

Nguyễn Nhạc vỗ tay khen:

- Hay lắm!

Thật là diệu kế.

Nếu không có quân sư chỉ vẽ chắc rằng ta đã tính sai một nước cờ.

Các tướng hãy nghe lệnh: Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ ở lại giữ doanh trại huấn luyện tân binh.

Ngô Văn Sở, Bùi Thị Xuân, Phan Văn Lân huấn luyện tượng binh.

Ta cùng quân sư, Nguyễn Thung, Huyền Khê Vũ Tất Thận, Nguyễn Văn Tuyết, Vũ Văn Nhậm đem một ngàn quân tinh nhuệ, ngày mai cướp ở huyện Tuy Viễn theo kế quân sư.

Vậy ai lãnh thẻ tiên phong?

Huyền Khê bước ra nói:

- Tôi xin đem quân bản bộ làm tiên phong.

Nguyễn Thung can:

- Xin trại chủ chớ cho!

Nhạc ngạc nhiên hỏi:

- Sao lại thế?

Thung đáp:

- Em tôi võ nghệ hơn người, tính tình cương trực, nhưng phải tật hay uống rượu làm càn.

Nếu cho làm tiên phong tự chỉ huy một cánh quân e rằng vì tật nhỏ mà hư việc lớn chăng?

Huyền Khê tức giận nhăn nhó:

- Sao Nguyễn huynh lại nói thế.

Nhà có đạo nhà, nước có phép nước.

Nay đem quân làm việc lớn, há vì chuyện trà dư tửu hậu mà xem thường quân pháp hay sao?

Xin trại chủ đừng lo, mấy điều quân lệnh yết thị quanh doanh trại tôi lại đui mù không nhìn thấy hay sao: "Một là không uống rượu lúc hành quân, hai là không quầy nhiễu bá tánh, ba là không xâm phạm của dân nghèo.

Bốn là..."

Huyền Khê đang thao thao, Nhạc ngăn lại.

- Thôi!

Thôi đủ rồi!

Nhưng tướng quân có biết vì sao điều không uống rượu lúc hành quân lại đặt ở hàng đầu chăng?

Huyền Khê hỏi:

- Dám hỏi chủ trại vì sao?

Nhạc đáp:

- Vì uống rượu say rồi tinh thần không tự chủ nên việc quấy nào cũng có thể sinh ra, bởi vậy ta đặt điều ấy ở hàng đầu là vậy đó.

Tướng quân nên nhớ quân pháp bất vị thân, Nếu thấy có thể phạm luật quân thì đừng lãnh thẻ tiên phong.

Huyền Khê khẳng khái nói:

- Nếu phạm vào quân lệnh xin chịu mất đầu theo quân pháp.

Nguyễn Nhạc khen:

- Tướng quân thật khí khái hơn người, đáng khen thay.

Các vị hãy lui về nghỉ, ngày mai cứ y lệnh mà làm.

Các tướng đồng thanh nói:

- Xin tuân lệnh trại chủ!

Ra ngoài Trương Văn Hiến hỏi Nguyễn Huệ:

- Sao con không nói rõ kế của mình cho đại huynh mà phải nhờ ta nói thay?

Huệ đáp:

- Bẩm thầy, lúc con dẫn quân ra đón thầy cùng Đại huynh ở đèo Mang, đại huynh thấy thành lũy vững chắc, quân binh hàng ngũ chỉnh tề, canh phòng cẩn mật thì rất vui nói không ngờ mới ba tháng mà quân ta đã mạnh lên một trời một vực so với trước.

Nguyễn Văn Tuyết nói với đại huynh rằng: Được vậy là nhờ tài điều binh khiển tướng của tướng quân Nguyễn Huệ đó.

Đại huynh hỏi Tuyết: Lúc ta giao quyền cho Nguyễn Huệ, ông tỏ ý bất bình, sao bây giờ lại thán phục em ta đến thế?

Tuyết đáp: Lúc ấy tôi thấy Huệ còn nhỏ tuổi nên không phục.

Nhưng khi biết Nguyễn Huệ gồm tài thao lược, sức khỏe như thần, đa mưu túc trí tướng sĩ đều phục chứ nào có phải riêng tôi.

Chủ tướng hồng phúc rất lớn nên có người em là một bậc kì tài trong thiên hạ.

Nghe Tuyết nói thế Đại huynh tỏ vẻ không vui.

Nên lúc bàn việc quân con không dám nói rõ kế mình mới lên cắn tay lấy máu viết chữ "cướp" lên lòng bàn tay cho thầy xem.

Con biết thế nào thầy cũng đọc được ý của con.

Nghe xong Văn Hiến thở dài chẳng nói gì.

****

Từ ấy về sau Nguyễn Nhạc chia quân cướp của bọn cường hào ác bá, quan lại trong huyện Tuy Viễn lấy thóc gạo chia cho dân, nên người nghèo theo phục rất đông, chỉ trong một năm quân số đã lên đến vạn người.

Binh của huyện quan sở tại không làm sao chống nổi, đành phải bỏ huyện lỵ chạy vào trong thành Quy Nhơn báo với quan trấn thủ là Nguyễn Khắc Tuyên.

Nguyễn Khắc Tuyên vỗ án quát mắng quan tri huyện:

- Ngươi thân làm huyện quan ở Tuy Viễn mà không dẹp nổi bọn giặc cỏ ấy, lại còn bỏ huyện lỵ mà chạy, tội có đáng chết không?

Huyện quan dập đầu lạy thưa:

- Bẩm Đại quan tha tội, bọn cướp này rất mạnh chứ chẳng phải như các bọn giặc cỏ lúc trước.

Ban đầu chúng cướp của nhà giàu chia cho người nghèo nên bọn ngu dân theo phục rất đông.

Nghe đâu chúng sắp sửa cướp thành Quy Nhơn, xin Đại quan hãy khá đề phòng.

Binh của chúng rất thiện chiến, hàng ngũ chỉnh tề, quân pháp nghiêm minh.

Tướng của chúng sức địch muôn người, nên tôi không chống nổi.

Xin Đại quan tha cho tội chết.

- Tên đầu đảng của chúng tên gì?

- Bẩm, tên đầu đảng tên là Nguyễn Nhạc, nghe bọn chúng xưng tụng là Tây Sơn trại chủ.

Tuyên cười rằng:

- Thì ra là tên Nguyễn Nhạc trước làm Biện lại ở Vân Đồn đánh bạc thua hết tiền thuế, rồi trốn lên rừng làm cướp.

Thằng ấy thì có tài cán gì, chẳng qua ngươi muốn nhẹ tội nên mới đặt điều nói chúng tài giỏi, làm giảm nhuệ khí binh triều, gây hoang mang trong dân chúng, tội thật đáng bêu đầu.

Nói xong thét võ sĩ lôi ra chém.

Tuyên bảo em ruột là phó tướng Nguyễn Hữu Thệ rằng:

- Ngươi hãy ngày đêm sai quân tuần phòng quanh thành cho nghiêm ngặt, và cho người ra phi báo cho hai huyện Phù Ly và Bồng Sơn hãy cẩn thận đề phòng quân cướp.

Bảo với Huyện quan hai huyện chỉnh đốn binh sĩ chờ ta sắp xếp hẹn ngày hợp quân đánh chiếm lại Tuy Viễn, tảo trừ bọn giặc cỏ cho chấn động thanh uy của binh triều.

Nguyễn Hữu Thệ tuân lệnh toan đi, Tuyên gọi lại bảo:

- Hãy khoan còn việc này nữa, ngươi mau sai người niêm yết cáo thị ở các nơi: Ai bắt hoặc giết chết Nguyễn Nhạc sẽ được trọng thưởng!
 
Tây Sơn Bi Hùng Truyện
Chương 7


An lòng dân, Huyền Khê tự vẫn

Thu tướng tài, Nguyễn Huệ múa đao.

Hôm ấy phố sá trong thành Quy Nhơn nhộn nhịp kỳ lạ.

Bá tánh bàn tán xôn xao về yết thị bắt tên cướp Nguyễn Nhạc.

Có một người hình vóc cao lớn, vạm vỡ, râu ria từ chân tóc mai đến cằm.

Trông thấy yết thị người ấy nói thầm rằng: "Giờ ta đến gặp thầy được rồi đây."

Nói rồi bèn ra khỏi thành tìm đến huyện lỵ Tuy Viễn yết kiến Nguyễn Nhạc.

Nguyễn Nhạc mừng rỡ reo lên:

- Thì ra là Vũ Văn Dũng.

Từ ngày chia tay ở Tây Sơn đến nay đã hơn một năm.

Ta ngày đêm trông ngóng người hiền ra giúp rập, sao em đi đâu mà biệt tích?

Nếu từ lúc khởi binh đến nay mà có em dưới trướng thì quân ta đã lấy được thành Quy Nhơn rồi, chứ đâu phải huyện lỵ Tuy Viễn này thôi.

Vũ Văn Dũng đáp :

- Lúc đại huynh đi nhận chức Biện lại Vân Đồn, thì sư huynh Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ dẫn Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân lên Tây Sơn Thượng, thầy mới sai tôi đi vẽ bản đồ của các phủ Quy Nhơn, Quãng Ngãi, Phú Yên.

Nay việc đã hoàn tất nên quay về ra mắt Đại huynh, quan trấn thủ phủ Quy Nhơn là Nguyễn Khắc Tuyên cho dán yết thị trọng thưởng cho kẻ nào bắt

hoặc giết được đại huynh, đồng thời sai người hội quân hai huyện Phù Ly, Bồng Sơn định ngày chinh phạt quân ta.

Theo tôi lúc này nên đánh lấy thành Quy Nhơn làm bàn đạp tiến quân, không nên chậm trễ.

Dũng quay sang Trương Văn Hiến thưa :

- Đây là bản đồ của ba phủ con đã vẽ xong vô cùng chính xác, xin trình lên thầy duyệt lãm.

Hiến mở bản đồ xem, khen rằng:

- Thật là phương hướng rõ ràng, núi sông thành quách đầy đủ không thiếu chi cả.

Lúc sai con đi ta biết ngoài con ra không có ai làm nổi.

Ngay sau dùng binh đánh địch tranh thắng bại nơi ngàn dặm cũng không ngoài một thước vải này đây!

Nguyễn Nhạc nói với Hiến:

- Quân sư thật là nhìn xa trông rộng, tôi bái phục vô cùng.

Nay tôi thấy đã đến lúc đánh thành Quy Nhơn làm nơi dụng võ, Quân sư có chước gì chăng ?

Chứ nếu đem quân công thành mà quân triều canh phòng cẩn mật e rằng không thắng lại còn lại hao binh tổn tướng thì nguy!

Nguyễn Thung nói:

- Tôi có một kế có thể lấy thành Quy Nhơn ít hy sinh anh em nghĩa sĩ.

- Kế thế nào tiên sinh cứ nói xem sao?

Thung đáp:

- Nay Nguyễn Khắc Tuyên niêm yết cáo thị ai bắt được chủ tướng sẽ trọng thưởng.

Vậy trại chủ hãy ngồi vào cũi gỗ rồi sai các tướng dũng mãnh đi theo nói rằng bắt được Nguyễn Nhạc, Tuyên ắt mở cổng thành cho vào.

Vào đến nơi trại chủ phá cũi rồi cùng các tướng đánh binh triều không cho chúng đóng cổng thành, khi ấy quân ta ở ngoài tràn vào thành, như thế ắt là binh trong thành trở tay không kịp, tất phải bại vong.

Nghe xong Văn Hiến nói :

- Kế này hay nhưng mạo hiểm, các vị nên bàn cặn kẽ xem sao!

Nguyễn Nhạc bàn:

- Nếu tôi cùng Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ, Vũ Văn Nhậm, Vũ Văn Dũng, Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân đánh chặn không cho binh triều đóng cổng thành Quy Nhơn để cho quân ta tràn vào, việc này có thể làm được.

Nhưng ngộ nhỡ quân trên mặt thành kéo cầu treo lên thì làm thế nào quân ta vượt hào sâu vào thành cho được.

Nếu thế e rằng ta đem các tướng nộp trong hang hùm còn gì ?

Thung đáp:

- Vượt hào ta có thể sai quân vác ván làm cầu.

Văn Hiến nói:

- Nếu vác ván làm cầu phải dùng binh bộ không thể dùng binh mã.

Mà từ nơi giấu quân đến cổng thành bộ binh chạy phải hơn một khắc.

Trong thời gian ấy binh triều kéo đến đông quá, trại chủ cùng các tướng e rằng không chống đỡ được.

Nếu dùng kế ấy nhất định phải đánh bằng binh mã mới bảo đảm thắng lợi và bảo vệ an toàn cho các tướng cảm tử, đồng thời phải làm sao ngăn chặn không cho toán quân ở trên mặt thành kéo cầu treo lên thì kỵ binh của ta mới tràn vào thành được.

Nguyễn Thung thất vọng nói:

- Nếu vậy kế này không dùng được rồi.

Bỗng Vũ Văn Dũng mừng rỡ reo lên rằng:

- Kế này dùng được!

Nếu ta mời được một người hợp sức thì lo gì chẳng lấy được thành Quy Nhơn.

Mọi người đồng thanh hỏi:

- Người ấy là ai?

Văn Dũng đáp:

- Tôi có một người em họ tên là Võ Đình Tú, người Tây Sơn Hạ.

Tú văn võ song toàn thường sử dụng cây côn bằng đồng vào nơi muôn tên ngàn giáo như chỗ không người.

Người quanh vùng thường gọi là thiết côn vô địch.

Trương Văn Hiến hỏi:

- Nếu vậy cũng vũ dũng như Huệ, Tuyết, Dũng mà thôi, làm sao lên được mặt thành mà đánh quân kéo cầu treo?

Văn Dũng cười rằng:

- Nếu thế thôi thì tôi nói làm gì!

Tú có tài lạ là dậm chân một cái có thể nhảy khỏi nóc nhà cao hơn vài trượng.

Mấy chục tên quân giữ cầu treo, Tú chỉ dậm chân hai bước nhảy, vung một đường côn là chúng theo ông bà hết rồi.

Lúc ấy kỵ binh của ta tha hồ xông thẳng vào thành.

Trương Văn Hiến vuốt râu bảo:

- Trên đời lại có người tài vậy sao?

Nguyễn Thung nói:

- Ấy là nhờ hồng phúc của trại chủ đó!

Nhạc mừng rỡ bảo:

- Nếu thế là trời giúp ta rồi vậy.

Giờ ta sai người lên Tây Sơn Thượng gọi Huệ đem quân về hợp sức.

Còn Đình Tú, phiền Văn Dũng đi thuyết phục một phen.

Vũ Văn Dũng tuân lệnh toan đi.

Bỗng có tên quân hớt hải chạy vào báo :

- Tâu trại chủ, tướng quân Huyền Khê đã bị bắt!

Nguyễn Nhạc kinh ngạc hỏi :

- Ta sai Huyền Khê đem thóc gạo phát cho dân nghèo ở ấp Tây Sơn Hạ, nơi ấy đều thuộc quyền kiểm soát của quân ta sao lại bị bắt ?

Tên quân kể :

- Lúc chúng tôi đang phát thóc ở sân đình thì có một bô lão đem dâng Huyền tướng quân một vò rượu ngon.

Tướng quân liền đem uống tại chỗ, quá chén thành say.

Chợt thấy một người con gái đẹp đến nhận thóc, trong cơn say tướng quân quân buông lời ghẹo nguyệt trêu hoa.

Người con gái ấy hoảng sợ vùng chạy chẳng may va đầu vào cột đình mà chết.

Nguyễn Thung vỗ đùi than rằng:

- Thôi chết, Huyền đệ đã phạm luật quân, còn gây ra án mạng.

Tôi đã bao lần khuyên nhủ mà còn lầm lỡ.

Nhưng rồi ai bắt Huyền Khê?

Tên quân đáp:

- Lúc ấy trong dân có một người thanh niên thấy thế nộ khí xung thiên xông vào đánh nhau cùng Huyền tướng quân.

Mới ba hiệp Huyền tướng quân bị người ấy bắt trói giữa sân đình.

Nhạc hỏi:

- Còn ba quân các ngươi thì sao?

Tên quân đáp:

- Chúng tôi thấy việc lỡ như vậy, dân chúng mục kích ai nấy đều phẫn nộ nên không dám bênh vực làm càn mới vội chạy về đây báo cùng trại chủ.

Trương Văn Hiến nói:

- Huyền Khê đã làm mang tiếng quân ta, thật là đáng tội.

Nhưng trước tiên hãy đến đó xem sao rồi sẽ liệu mà xử sự.

Nói xong Hiến cùng Nguyễn Nhạc, Nguyễn Thung, Vũ Văn Dũng phóng ngựa đến ấp Tây Sơn.

Đến nơi thấy Huyền Khê bị trói nằm giữa sân đình, một người thấy bọn Nhạc đến liền cưỡi ngựa bước ra.

Người này tuổi còn rất trẻ, mặt như dồi phấn, môi tựa thoa son, mắt phụng mày tầm, dung mạo phương phi, cây côn đồng gác ngang lưng ngựa oai phong lẫm liệt.

Người ấy hỏi:

- Các ngươi có phải là đồng đảng của thằng giặc này chăng?

Để ta bắt trói cho chúng dân luận tội cho rồi.

Vũ Văn Dũng lướt ngựa lên nói lớn:

- Võ Đình Tú hiền đệ xin hãy bình tâm.

Nghe gọi tên, người ấy giật mình hỏi:

- Ngươi là ai mà gọi ta là hiền đệ?

Văn Dũng đáp :

- Huynh là Vũ Văn Dũng đây, đây hiền đệ đã quên rồi ư ?

Đình Tú lạnh lùng đáp:

- Trong lúc cơn giận chưa nguôi, nhất thời không nhận thấy hiền huynh.

Nay hiền huynh theo phường đạo tặc này đánh nhau với tôi chăng?

Văn Dũng xua tay nói:

- Hiền đệ chớ khá hiểu lầm.

Tây Sơn trại chủ dấy binh đánh đuổi bọn tham quan ô lại mong cứu nguy trăm họ ra khỏi vòng nước lửa.

Tạm thời giả danh làm cướp lấy của bọn cường hào, quan lại phân phát cho dân nghèo.

Nay một thủ hạ uống rượu làm càn mắc tội trước chúng dân.

Nhưng đừng vì thế mà hiền đệ vội xem bọn ta là phường đạo tặc.

Đình Tú cười rằng:

- Hiền huynh nói thế là ta tin được ư?

Việc sờ sờ ra đó thì phải hiểu thế nào đây?

Nguyễn Nhạc bấy giờ tiến lên gọi quân bảo:

- Các ngươi hãy đem thi hài người thiếu nữ về nhà mai táng chu đáo.

Nói cùng gia quyến cho ta trị tội Huyền Khê trước bá tánh rồi sẽ đến tư gia xin chịu tội sau.

Đoạn Nguyễn Nhạc quay sang Huyền Khê nói:

- Huyền Khê!

Ngươi đã biết tội của mình chưa?

Huyền Khê lúc này đã tỉnh rượu hai tay còn bị trói chặt quỳ xuống khóc rằng:

- Huyền Khê trong một chốc say sưa phạm vào quân lệnh làm điều xằng bậy, chỉ lấy cái chết mới rửa sạch vết nhơ này cho nghĩa quân mà thôi.

Xin trại chủ xử theo quân pháp.

Nguyễn Thung xuống ngựa, đỡ Huyền Khê dậy, khóc nói :

- Huyền đệ có biết tội này phải xử thế nào không?

Huyền Khê cúi đầu đáp:

- Phải xử bêu đầu!

Rồi Huyền Khê bước ra trước ba quân nói:

- Tội ta chết thật là đáng lắm, nhưng trước khi chết có đôi lời nói cùng anh em.

Hãy lấy đó làm gương.

Nên nhớ rằng chỉ một tật nhỏ mà hư đại sự, phải chuốc lấy tiếng nhơ muôn đời.

Đam mê trong một lúc mà phải lụy đến thân.

Không được chết giữa sa trường thật là ân hận lắm thay, ân hận lắm thay !

Rồi quay sang Nguyễn Nhạc, Huyền Khê nói:

- Tôi đã biết tội.

Xin trại chủ cho mở dây trói, tôi xin tự xử lấy mình.

Nguyễn Nhạc gật đầu.

Nguyễn Thung mở dây trói cho Huyền Khê.

Khê rút dao ngắn cầm tay nói:

- Sau khi tôi chết đi, xin trại chủ hãy gấp đánh thành Quy Nhơn làm bàn đạp, vì chân tướng của quân ta không thể giấu được nữa rồi.

Lưỡi dao này xin tạ tội trước chúng dân.

Nói xong đâm cổ mà chết.

Nguyễn Thung ôm thây khóc thảm thiết.

Ai trông thấy đều động lòng rơi lệ.

Nguyễn Thung xin đem xác Huyền Khê về quê an táng.

Xong việc ấy Nguyễn Nhạc nói với Võ Đình Tú :

- Nhà có đạo nhà, nước có phép nước, xin tráng sĩ đừng lấy việc một người mà kết tội muôn người.

Nay tôi muốn thay trời hành đạo đem lại công bằng cho trăm họ.

Tráng sĩ có thể vì dân mà giúp một tay chăng?

Đình Tú khẳng khái đáp :

- Nếu là kẻ bất tài thì thôi, ngoài ra ai lại không muốn đem sở học ra làm điều đại nghĩa, vùng vẫy cho thoả chí nam nhi.

Mời các vị hãy về chơi tệ xá, ta sẽ bàn đến việc ấy sau.

****

Đến nhà, Tú dắt Nhạc, Hiến, Dũng vào một cái miếu nhỏ ngoài sân.

Trong miếu dựng tượng thờ Quan Vân Trường đời Hán, cạnh tường dựng một cây Thanh long đao to lớn khác thường.

Đình Tú nói :

- Trong các vị có ai cầm cây đao này múa hết một bài đao, thì tôi xin xách côn theo hầu dưới trướng.

Nhược bằng không ai múa nổi thì tôi xin làm kẻ nhà quê đi cày xó núi vậy.

Mọi người ai cũng lấy làm lạ cầm đao múa thử, nhưng mới một đường đã đuối tay bèn lủi thủi ra về.

Dọc đường Hiến nói:

- Cây đao này dù Quan Công sống lại cũng không múa nổi.

Thu phục người này không có Nguyễn Huệ ắt không xong.

Ngày sau Nguyễn Huệ từ Tây Sơn Thượng về đến, nghe kể lại bèn một mình một ngựa đến nhà Võ Đình Tú.

Huệ nói :

- Nghe nói tráng sĩ có cây đao nặng lắm.

Huệ tôi xin múa thử vài đường.

Nói xong cầm đao lên múa vùn vụt, ánh thép loang loáng hơi gió lạnh người.

Múa xong bài đao mà sắc mặt không hề thay đổi.

Đình Tú đứng ngẩn ra nhìn rồi sụp lạy:

- Tướng quân thật là thần nhân.

Tôi nguyện đem chút tài mọn cùng tướng quân định quốc an dân.

Huệ lấy làm lạ hỏi:

- Lẽ được thua trong thiên hạ là ở hai chữ Nhân và Trí.

Sức mạnh cử đảnh như Hạng Võ ngày xưa sau cùng cũng chết dưới tay Hàn Tín gầy gò yếu đuối.

Sao tráng sĩ lại chọn người có sức mạnh để theo phò?

Võ Đình Tú đáp:

- Điều này tôi há chẳng biết hay sao.

Nguyên miếu và đao này phụ thân tôi lúc sinh thời lập ra để thờ Quan Vân Trường nhà Hán.

Một hôm tôi nằm mộng thấy Quan Thánh hiển linh về báo rằng: Ngày sau nếu có kẻ nào cầm đao này múa nổi một bài đao thì theo giúp rập, lập nên chiến công hiến hách tiếng để ngàn thu.

Nay được gặp tướng quân là mộng xưa đã ứng.

Nói xong Võ Đình Tú cầm côn theo Nguyễn Huệ về đầu quân Tây Sơn.
 
Tây Sơn Bi Hùng Truyện
Chương 8


Gặp tướng giỏi, Đình Tú thất thế.

Nhờ ngựa hay, Văn Tuyết lập công.

Một buổi sáng mùa xuân năm Quý Tỵ (1773), niên hiệu Cảnh Hưng thứ ba mươi tư, quân ở cổng phía Tây thành Quy Nhơn nghe tiếng người ngoài thành gọi:

- Xin quan binh mở cổng cho vào!

Quân lính trên mặt thành nhìn xuống thấy sáu người khiêng một cái cũi, lại có một người bị trói ngồi trong cũi, liền hỏi lớn:

- Các ngươi là ai.

Kêu mở cổng thành có việc gì?

- Chúng tôi đọc cáo thị, nay bắt được tên cướp Nguyễn Nhạc đến nộp cho quan xin lãnh thưởng.

Quân vào phi báo cùng Tuần vũ Nguyễn Khắc Tuyên.

Tuyên cùng phó tướng Nguyễn Hữu Thệ gọi đốc trưng Trần Đằng đến nhận diện.

Đứng trên mặt thành đốc trưng Trần Đằng nhìn kỹ người ngồi trong cũi rồi nói:

- Thằng này đúng là Biện lại Nguyễn Nhạc, nhưng lẽ đâu lại bị bắt dễ dàng như thế.

Xin đại quan đề phòng xem có gian kế gì chăng ?

Khắc Tuyên nạt rằng:

- Lúc trước ngươi tiến cử hắn làm Biện lại Vân Đồn, nay ta bảo ngươi đến để nhận mặt hắn mà thôi.

Ngươi chỉ trông coi thuế khóa biết gì việc quân cơ mà bàn bạc.

Khắc Tuyên nhìn kỹ hồi lâu rồi nói tiếp:

- Bọn chúng chỉ có sáu người, tên trong cũi là bảy lại không mang theo khí giới gì cả.

Phó tướng Nguyễn Hữu Thệ!

Ngươi hãy lệnh cho quân thả cầu treo và mở cổng thành bắt tên Nguyễn Nhạc vào đây cho ta trị tội.

Nguyễn Hữu Thệ tuân lệnh ra đi, sai quân mở cổng thành.

Thấy cầu treo hạ xuống, cổng thành mở toang, Nguyễn Huệ, Vũ Văn Dũng, Vũ Văn Nhậm, Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân, Võ Đình Tú liền khiêng cũi Nguyễn Nhạc thẳng vào thành.

Vừa vào khỏi cổng các tướng Tây Sơn liền bỏ cũi xuống rút vũ khí giấu trong ống tre làm đòn khiêng, chém chết quân chúa Nguyễn.

Nguyễn Nhạc cũng phá cũi xông ra.

Phó tướng Nguyện Hữu Thệ trở tay không kịp bị Nguyễn Huệ chém một đao, đầu rơi xuống đất.

Quân sư Trương Văn Hiến đứng trên gò cao quan sát thấy Nguyễn Nhạc đã vào thành bèn lấy cờ đỏ phất lên.

Tướng quân Nguyễn Văn Tuyết trông thấy ám hiệu liền dẫn một ngàn binh mã hét vang xông thẳng vào thành.

Nguyễn Lữ dẫn đại bộ binh theo sau tiếp ứng.

Tiếng trống dồn, tiếng quân hò reo dậy đất vang trời.

Quan Tuần vũ Nguyễn Khắc Tuyên thất kinh hồn vía hối quân kéo cầu treo lên.

Bỗng đâu Võ Đình Tú nhún mình nhảy một cái lên đến mặt thành chỗ mấy tên quân kéo cầu treo.

Nào ngờ viên tiểu tướng canh giữ cầu treo chặn Võ Đình Tú vừa đánh vừa hối quân kéo cầu treo cho mau.

Quân canh kéo cầu treo cao khỏi đất đã năm thước mà Võ Đình Tú vẫn chưa thắng được tên tiểu tướng ấy, may thay ở ngoài thành, tướng quân Nguyễn Văn Tuyết cưỡi ngựa Xích kỳ phi mau như gió.

Toán kỵ binh mới tới nửa đường mà Nguyễn Văn Tuyết đã đến nơi.

Tuyết bèn thúc ngựa phóng thẳng lên cầu treo, vung song đao chặt đứt dây kéo.

Cầu rơi xuống bắt ngang qua hào, nhờ vậy quân Tây Sơn tràn vào như nước lũ.

Nguyễn Khắc Tuyên trong cơn hỗn loạn bỏ trốn, binh chúa Nguyễn triều không người chỉ huy như rắn mất đầu, đều bỏ khí giới xin hàng.

Quân Tây Sơn Nguyễn Nhạc chiếm thành Quy Nhơn không hao

một nhân mạng, không tốn một mũi tên.

Quân Tây Sơn lấy thành Quy Nhơn rồi mà trên mặt thành Võ Đình Tú vẫn đánh vùi cùng tên tiểu tướng.

Võ Đình Tú côn đồng dũng mãnh, viên tiểu tướng thương pháp tinh vi, hàng trăm hiệp không phân thắng bại, thật là kỳ phùng địch thủ!

Nhạc bèn sai Nguyễn Huệ lên mặt thành hợp sức cùng Võ Đình Tú.

Đến nơi Huệ gọi:

- Đinh Tú đừng đánh nữa!

Tiểu tướng nghe tiếng Huệ gọi, và thấy Võ Đình Tú cầm côn nhảy khỏi vòng chiến liền quăng thương xuống đất nói với Nguyễn Huệ:

- Ta cũng thôi không đánh nữa!

Tại sao các ngươi không hợp sức đánh ta mà bảo thôi không đánh nữa?

Huệ cười đáp:

- Hai hổ tranh nhau ắt phải có một con bị thương.

Ấy chẳng phải là điều đáng tiếc hay sao?

Tướng quân thật vũ dũng hơn người, nhưng Nguyễn Khắc Tuyên đã bỏ thành chạy chốn, ba quân chúa Nguyễn đã đầu hàng cả, một mình tướng quân có thể làm cột chống trời được sao mà đánh nhau mãi cùng Võ Đình Tú thế?

Tiểu tướng đáp:

- Ta vẫn biết quân đã thua thì một mình đánh nhau phỏng có ích gì.

Nhưng từ trước đến giờ chưa ai có thể cự với Nguyễn Văn Lộc này nổi ba hiệp, mà nay có kẻ đánh với ta trăm hiệp không phân thắng bại, nên ta quyết chiến cũng vì muốn thử tài cao thấp của con nhà võ tướng mà thôi.

Tiếc thay ta chỉ là một tên đội trưởng giữ cầu treo, chứ nếu là đại tướng giữ thành thì dễ gì các ngươi lấy được thành Quy Nhơn.

Giờ hãy giết ta đi không phải nói nhiều nữa.

Nguyễn Huệ vỗ tay khen:

- Cái khí phách của tướng quân thật đáng để khâm phục lắm thay.

Nhưng sao tài cao chí lớn thế mà chỉ làm viên đội trưởng mà thôi?

Nguyễn Văn Lộc vẫn ngang ngạnh nói:

- Bởi lũ quan triều đình chỉ biết ăn tiền đút lót, không tiến cử nhân tài nên...

Nguyễn Huệ liền chặn lại nói:

- Chính vì lẽ ấy nên bọn ta mới khởi binh ở Tây Sơn, thu phục nhân tài đánh đuổi bọn tham quan ô lại cứu muôn dân khỏi cảnh lầm than.

Tướng quân sao không cùng chúng ta thay trời hành đạo thì có phải là không uổng tấm thân hữu dụng đó ư?

Nghe Huệ nói xong Nguyễn Văn Lộc như tỉnh ngộ liền quỳ bái tạ:

- Ơn tha mạng của tướng quân, xin đem thân khuyển mã báo đền.

Nguyễn Huệ đỡ Nguyễn Văn Lộc dậy nói:

- Gia quyến của tướng quân ở nơi nào để tôi cho người đến đón.

Nguyễn Văn Lộc ngậm ngùi đáp:

- Tôi mồ côi từ thuở nhỏ, chăn trâu cho nhà giàu ở chân núi Kỳ Sơn, được một dị nhân dạy cho võ nghệ.

Sau tôi ra đầu quân mong đem chút tài mọn phò vua giúp nước.

Ngờ đâu vua chúa bạo ác, quan lại tham tàn, trọng của khinh người, vùi dập nhân tài, nên không tiến thân được.

Nghĩ phận hèn chưa thành gia thất, gia quyến chẳng có ai.

Nguyễn Huệ dẫn Nguyễn Văn Lộc vào dinh phủ thành Quy Nhơn ra mắt Nguyễn Nhạc.

Võ Đình Tú quỳ tạ tội:

- Trại chủ giao cho trọng trách đánh quân kéo cầu treo để quân ta từ ngoài tràn vào mà tôi không làm tròn phận sự.

Xin chủ tướng trị tội.

Nguyễn Nhạc nói:

- May nhờ có Nguyễn Văn Tuyết tiếp ứng kịp thời, chặt dây treo cầu.

Nếu không có Văn Tuyết, ta cùng các tướng đã nộp mình vào miệng cọp.

Đánh thành Quy Nhơn ghi Nguyễn Văn Tuyết công đầu.

Văn Tuyết cười đáp:

- Thật ra tôi chẳng có công gì cả!

Ấy là nhờ con ngựa Xích kỳ chạy mau quá nên quân chúa Nguyễn không kéo cầu treo kịp mà thôi.

Nếu có luận công thì công đầu chính là ở ngựa Xích kỳ đó.

Nguyễn Nhạc vỗ tay nói đùa rằng:

- Nếu vậy ta phong cho ngựa Xích kỳ của Vân Tuyết chức phi mã đại tướng quân.

Còn Vũ Văn Dũng khen Võ Đình Tú cầm côn vào chỗ muôn tên ngàn giáo như chỗ không người sao lại không hạ được vài chục tên lính giữ cầu treo?

Nguyễn Huệ bước ra nói:

- Đình Tú không làm tròn trọng trách ấy chính là nhờ hồng phúc của đại huynh.

Nguyễn Nhạc ngạc nhiên hỏi:

- Sao Huệ lại nói lạ vậy?

Nguyễn Huệ đáp:

- Ấy là vì viên tướng giữ cầu treo dũng mãnh vô song đánh cùng Đình Tú trăm hiệp không phân thắng bại.

Nay tướng ấy đã theo về với quân ta, thì đó chẳng phải là hồng phúc của đại huynh ư?

Nguyễn Văn Lộc quỳ tâu:

- Hàng binh Nguyễn Văn Lộc xin ra mắt trại chủ.

Nguyễn Nhạc mừng rỡ nói:

- Vậy là nhờ đánh thành Quy Nhơn ta được thêm hai dũng tướng là Võ Đình Tú và Nguyễn Văn Lộc.

Thật đáng vui thay.

Truyền quân mở tiệc khao quân.

Nguyễn Huệ can rằng:

- Việc quân chưa hoãn, xin đại huynh khoan bày yến tiệc.

Trong lúc khí thế quân ta đang hăng, đại huynh nên sai tướng đuổi theo Nguyễn Khắc Tuyên chiếm hai huyện Phù Ly, Bồng Sơn.

Rồi thừa thắng đánh lấy đèo Thạch Tân để dựa vào thế núi hiểm yếu của đèo này chống giữ với binh triều ở mặt Bắc.

Mặt Nam ta đánh chiếm đèo Cù Mông là con đường độc đạo đề phòng quân chúa Nguyễn từ Phú Yên đánh ra.

Mặt Đông ta chiếm cứ cửa biển Thị Nại.

Đóng đồn trên núi Phương Mai thuộc dãy núi Triều Châu nằm ở phía Bắc cửa Thị Nại.

Phía Nam cửa Thị Nại ta cho đóng đồn trên núi Nhạn Châu Lãnh, thuộc dãy núi từ đèo Cù Mông đâm ngang ra biển.

Ở giữa hai núi này cách bờ biển chừng vài dặm lại có một hòn núi tên là núi Sơn Chà như một bức tường thành trời cho để che chở cho thành Quy Nhơn ở mặt Đông.

Ta cho đặt súng đại bác và cung tên trên ba ngọn núi này, trong đầm Thị Nại lại cho đóng thuyền luyện tập thủy binh, thì không phải lo giặc đánh ta bằng đường thủy vào thành Quy Nhơn.

Mặt Tây là căn cứ của ta dựa vào núi rừng Tây Sơn Thượng.

Đồng thời ta truyền hịch nói rõ chính nghĩa của mình để được sự ủng hộ của mọi tầng lớp nhân dân.

Lúc ấy ta tích thảo dồn lương, chiêu binh mãi mã, huấn luyện quân sĩ, rèn gươm đúc súng, xẻ gỗ đóng thuyền để chờ ngày Nam chinh, Bắc phạt.

Ấy là kế sách lâu dài xin đại huynh xét lại.

Văn Hiến khen:

- Nguyễn Huệ thật có tài thao lược, dụng binh tính toán hơn người.

Xin trại chủ nên theo kế sách mà làm.

Nguyễn Nhạc hỏi:

- Nhưng ta truyền hịch đánh đổ binh triều thì dựa trên chính nghĩa nào đây?

Văn Hiến đáp:

- Việc này tôi đã liệu tính từ lúc mới khởi binh ở Tây Sơn Thượng.

Thiên hạ ngày nay ai cũng bất bình việc Trương Phúc Loan phế bỏ Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương mà lập Nguyễn Phúc Thuần lên ngôi chúa.

Ấy là ta có được thiên thời.

Nay ta dựa thiên thời ấy truyền hịch tôn phò Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương, đánh đổ Quốc phó Trương Phúc Loan, thì lo gì thiên hạ không theo.

Ấy là ta lại giành thêm được nhân hòa.

Rồi cứ theo cách dụng binh của Nguyễn Huệ mà làm, chiếm lấy phủ Quy Nhơn núi non hiểm trở đất rộng dân đông ấy là ta chiếm thêm phần địa lợi.

Thiên thời, địa lợi, nhân hòa đều có đủ, nghiệp ắt phải thành không nghi ngờ gì nữa!

Nguyễn Nhạc mừng rỡ nói:

- Quân sư liệu việc như thần.

Vậy việc soạn hịch ngoài quân sư ra còn ai làm nổi.

Đoạn quay sang các tướng: Các tướng nghe lệnh.

Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân, lãnh một ngàn quân đánh chiếm đèo Cù Mông.

Vũ Văn Nhậm, Vũ Văn Dũng lãnh ba ngàn quân đánh chiếm hai huyện Phù Ly, Bồng Sơn, rồi đánh lấy núi Thạch Tân.

Nguyễn Văn Lộc, Nguyễn Văn Tuyết đem hai ngàn quân đánh thủy trại của địch ở cửa Giã.

Rồi chia quân đóng đồn ở ba núi Nhạn Châu Lãnh, Phương Mai sơn và núi Sơn Chà.

Các ngươi hãy thường cho thám mã báo cáo việc quân.

Ta cùng Nguyễn Lữ, Võ Đình Tú và quân sư lãnh đại quân trong thành sẽ tùy tình hình mà chia quân tiếp ứng.

Nguyễn Văn Tuyết bước ra nói:

- Tâu trại chủ, đây chính là lúc quân ta đã công khai đối địch với đại binh của chúa Nguyễn triều.

Tôi thấy tướng quân Nguyễn Huệ tuy còn nhỏ tuổi mà trí dũng song toàn.

Nếu trại chủ cho cầm quân Bắc tiến thì các tướng đều phục, ba quân vững dạ, trên dưới một lòng thì mới mong dễ dàng toàn thắng.

Nguyễn Nhạc lắc đầu đáp:

- Ta không để Nguyễn Huệ cầm quân Bắc tiến vì hai lẽ.

Một là quân thắng địch cốt ở chỗ tinh nhuệ, thiện chiến.

Lúc còn ở Tây Sơn Thượng nhờ Nguyễn Huệ thao luyện binh sĩ thiện chiến nên quân ta đánh đâu thắng đó.

Nay tân binh đầu quân mỗi lúc một đông, phải cần người huấn luyện tinh tường rồi mới đưa ra sa trường diệt giặc.

Ấy chẳng phải là nguồn gốc của câu binh pháp "quân cốt giỏi chớ chẳng cốt nhiều" đó sao?

Vả lại Nguyễn Khắc Tuyên bỏ thành Quy Nhơn mà chạy ra hai huyện Phù Ly và Bồng Sơn, quan quân ở hai huyện ấy đã kinh tâm tán đởm.

Nay Dũng và Nhậm kéo quân ra chỉ một hồi trống cũng có thể đuổi chúng chạy ra đến phủ Quảng Ngãi rồi, cần gì phải Nguyễn Huệ ra tài.

Ấy là một lẽ, - Rồi Nhạc ứa nước mắt nói tiếp - Lẽ thứ hai là trước lúc lâm chung thân phụ ta căn dặn rằng phải thay Người dưỡng dục hai em, nhất là Huệ lúc mới sinh ra, hoa Huệ trong vườn bỗng nở hoa thơm ngát nên phụ thân ta mới đặt cho tên là chữ Huệ, tục là Thơm, và tin rằng ngày sau Nguyễn Huệ sẽ làm nên điều tốt đẹp đem lại tiếng thơm cho tổ tông.

Bởi vậy thân phụ thường bảo ta không được để cho Huệ xông pha nơi gian khổ, hiểm nghèo.

Việc này thân mẫu và hai em đều biết, vậy ta không cho Huệ cầm quân Bắc tiến cũng là làm theo lời di huấn của thân phụ mà thôi.

Nguyễn Huệ bước đến cầm tay anh khóc rằng:

- Phụ thân chẳng may mất sớm, ơn dưỡng dục của đại huynh ví như trời biển.

Xét theo đạo nhà là quyền huynh thế phụ, xét theo phép nước là nghĩa chúa tôi.

Đại huynh dạy bảo thế nào em nhất nhất tuân theo, xin đại huynh cho em dời doanh trại tập binh từ Tây Sơn Thượng về Tây Sơn Hạ dưới chân đèo Mang để việc đưa tân binh về huấn luyện và đưa tinh binh đến sa trường được thuận tiện.

Nhạc nói:

- Lời em rất phải, các tướng cứ y lệnh mà làm.

Mọi người đều hăng hái đứng dậy.

Huệ quay sang dặn Sở và Lân:

- Đèo Cù Mông là yết hầu phía Nam của thành Quy Nhơn.

Nếu đánh chiếm được đèo này chẳng những giữ vững Quy Nhơn mà còn có thể dễ dàng lấy đất Phú Yên.

Nhân khi quân giữ đồn chưa hay tin Quy Nhơn thất thủ hai em xuất kỳ bất ý đánh lấy đỉnh Cù Mông là làm nên công lớn vậy!

Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân xin vâng.

Huệ quay sang dặn dò Nhậm và Dũng:

- Đánh hai huyện Phù Ly và Bồng Sơn đúng như đại huynh nói chỉ một hồi trống là xong, nhưng đánh đèo Thạch Tân là việc khó.

Em Dũng và ông Nhậm nên gắng sức đồng lòng.

Vũ Văn Nhậm cười lớn:

- Tướng quân quá lo xa đó thôi.

Phù Ly và Bồng Sơn là hai huyện lớn còn đèo Thạch Tân là một đồn nhỏ chỉ có mấy trăm quân.

Nếu ta lấy hai huyện xong thì quân trên đèo nghe tin ắt bỏ đồn mà chạy chứ khó là khó làm sao?

Huệ đáp:

- Biết người biết ta trăm trận trăm thắng.

Chưa rõ địch tình ông đừng nên khinh địch mà tổn thất ba quân.

Nhậm chỉ cười mà không nói.

Huệ quay sang Nguyễn Nhạc thưa:

- Nếu Dũng và Nhậm lấy xong huyện Phù Ly, đại huynh nên cho quân đóng đồn ở chân núi Bô Chinh Sơn (núi Bà ở Phù Cát) đề phòng quân Nguyễn đánh vào sườn ta bằng thủy binh ở cửa biển Cách Thử và cửa đầm Đạm Thủy (nay là cửa Đề Gi).

Nếu lấy xong huyện Bồng Sơn nên cho quân đóng đồn ở núi Hương Sơn, đề phòng quân Nguyễn đánh vào cửa An Giũ (Hoài Hương).

Còn các nơi không có cửa biển thì núi non hiểm trở làm thành trì che chở mặt Đông.

Nếu được như thế và Dũng, Nhậm lấy được đèo Thạch Tân thì phủ Quy Nhơn của ta coi như là bất khả xâm phạm.

Xin đại huynh lưu ý đến hai cửa biển này.

Nhạc cảm động an ủi Huệ:

- Em thật hết lòng lo lắng cho anh, nhưng mọi việc đã có anh và quân sư định liệu.

Em hãy gắng sức huấn luyện tinh binh để chờ ngày Nam chinh Bắc tiến.

Huệ quay sang dặn dò Nguyễn Văn Tuyết và Nguyễn Văn Lộc:

- Cửa Giã và đầm Thị Nại là nơi trọng yếu của thành Quy Nhơn.

Tuyết và Lộc đừng nên khinh xuất.

Dặn dò xong Huệ mới an lòng bái biệt ra đi.

Các tướng đều sửa soạn ai vào việc nấy.
 
Tây Sơn Bi Hùng Truyện
Chương 9


Bỏ tiểu tiết, Vũ Văn Dũng ra tài.

Tham đại công, Chu Văn Tiếp ôm hận.

Nói về Nguyễn Khắc Tuyên chỉ kịp dắt theo vài chục tên lính cận vệ ra cổng Bắc thành Quy Nhơn mà chạy.

Ngặt nỗi Khắc Tuyên thân hình mập béo, ngựa nặng quá không chạy mau được, một giờ đi được ba mươi dặm.

Lại thêm trời nắng chang chang, đi đến trưa người ngựa đều mệt, đến chân núi Bô Chinh Sơn, thấy cây cao bóng mát Khắc Tuyên hối quân xuống ngựa ngồi nghỉ.

Bỗng thấy trong núi một đoàn người ngựa kéo ra, đi đầu là năm viên dũng tướng.

Khắc Tuyên hoảng sợ than:

- Sau lưng giặc đuổi, trước mặt cướp chặn đường về, bởi trước giờ ta giết người vô tội, hà hiếp lương dân nên nay phải đền mạng ở nơi này.

Ngựa đã đuối sức làm sao chạy kịp nữa.

Bỗng nghe một trong năm viên tướng ấy hỏi:

- Người ngồi ấy có phải là Tuần vũ phủ Quy Nhơn là Nguyễn Khắc Tuyên chăng?

Khắc Tuyên thất sắc chối:

- Không phải!

Tôi là dân trong thành Quy Nhơn.

Thành bị quân cướp Tây Sơn Nguyễn Nhạc cướp nên chúng tôi mới bỏ nhà chạy loạn đến đây.

Người kia ôn tồn nói:

- Tôi có nghe bá tánh bảo rằng Quan tuần vũ phủ Quy Nhơn hình dạng to lớn khác thường.

Nay thấy người lại thấy cốt cách sang trọng hơn kẻ bình thường thì chẳng phải là đại quan đó sao?

Khắc Tuyên ấp úng chưa biết nói thế nào thì người ấy nói tiếp:

- Xin đại quan chớ ngại.

Tôi là Chu Đoan Chữ, các em của tôi là Chu Văn Tiếp, Chu Đoan Chân, Chu Đoan Hãn và Phạm Văn Sĩ quê ở huyện Phù Ly tập hợp được năm trăm binh mã ở núi Bô Chinh Sơn định ngày đầu quân đánh thằng buôn trầu Nguyễn Nhạc.

Nay nghe chúng cướp thành Quy Nhơn mới đem quân đến cứu mà thôi.

Khắc Tuyên lúc bấy giờ mới hoàn hồn, mừng quá liền hỏi:

- Ta chính là Tuần vũ Nguyễn Khắc Tuyên.

Thành Quy Nhơn bị chúng lấy mất, lũ giặc sắp sửa đuổi đến đây vậy phải làm sao?

Chu Văn Tiếp bước lên nói:

- Đại quan nên sai vài tên quân chạy về phi báo cho hai huyện Phù Ly, Bồng Sơn, rồi bảo quan huyện Bồng Sơn kíp báo về cho quan tổng trấn dinh Quảng Nam là Nguyễn Phúc Nghiêm được biết mà đem đại binh vào đánh dẹp.

Còn đại quan nặng quá ngựa không chở nổi đi đường bộ không tiện, tôi sẽ cho Phạm Văn Sĩ theo phò đại quan về phía Đông Bô Chinh Sơn rồi dùng thuyền ra cửa Cách Thử mà xuôi gió Đông nam về Bắc.

Chu Văn Tiếp nói đến đây bỗng nghe tiếng quân hò reo, tiếng trống dồn dập, liền hối:

- Phạm Văn Sĩ theo phò tá đại quan còn bốn anh em ta ở đây chặn giặc.

Khắc Tuyên vội vàng lên ngựa chạy theo Phạm Văn Sĩ.

Chu Đoan Chữ hỏi:

- Giặc đông ta ít phải liệu thế nào?

Tiếp đáp:

- Quân cốt giỏi chẳng cốt nhiều.

Ta chia quân làm hai cánh phục ở hai bên bìa rừng chờ chúng đến rồi đổ ra đánh ắt là phải thắng.

Khi ấy tướng Tây Sơn là Vũ Văn Dũng và Vũ Văn Nhậm kéo quân đến phía Nam núi Bô Chinh Sơn, thấy rừng rậm hoang vu, cỏ cây chằng chịt, Nhậm có ý lo ngại hỏi Dũng.

- Nơi này địa thế hiểm trở nếu địch cho mai phục rồi chờ quân ta đến hai mặt giáp công thì làm thế nào?

Văn Dũng cười đáp:

- Lúc đi ông nói với tướng quân Nguyễn Huệ rằng lấy sông Phù Ly và Bồng Sơn thì quân Nguyễn triều ở đèo Thạch Tân bỏ đồn mà chạy, nay mới đến núi Bô Chinh Sơn là địa đầu của huyện Phù Ly mà lại e ngại thế.

Văn Nhậm đáp:

- Không phải là tôi sợ, nhưng muốn thắng địch thì phải hiểu rõ tình hình địch.

Nay cho quân tạm nghỉ rồi phái người dò xét tình hình, sau sẽ tùy cơ ứng biến.

Văn Dũng nói:

- Theo tôi không cần phải dò xét làm chi.

Nhậm hỏi:

- Binh pháp có câu: "Biết người biết ta trăm trận trăm thắng".

Nay chưa dò biết địch tình cứ nhắm mắt mà tiến quân ngộ nhỡ có mai phục ắt là ta đem binh vào chỗ chết hay sao?

Dũng đáp:

- Trong binh gia phải biết nắm thời cơ.

Nay quân ta khí thế đang hăng đi đến đâu dân ùn ùn theo đến đấy, binh triều chỉ nghe tiếng là đã bắt giò lên cổ mà chạy, ta cứ thừa quân thế như chẻ tre mà tiến ấy là việc lớn.

Còn nếu chúng có mai phục nhưng lòng quân đã rã, cầm giáo tay run, trong lòng chực chạy.

Binh như thế thì dù mưu mẹo thế nào cũng dễ hồ thắng được ta sao?

Ấy là ta biết lấy cái lớn mà bỏ điều nhỏ vậy.

Tôi xin dẫn năm trăm quân đi trước mở đường nếu có mai phục tôi sẽ cố sức mà đánh.

Tướng quân đem toàn quân hai mặt giáp công lại binh mai phục của địch ấy là dùng kế của địch mà thắng địch vậy.

Văn Nhậm nói:

- Thôi được cứ theo kế ấy mà làm.

Văn Dũng quay lại nói với ba quân:

- Các ngươi theo ta đi tiên phong đánh quan quân chúa Nguyễn.

Lúc còn ở Tây Sơn Thượng tướng quân Nguyễn Huệ huấn luyện cho các ngươi một đánh được hai, ba, vào chỗ giáo gươm không hề nao núng.

Nay ở cánh rừng phía trước có quân mai phục, nếu chúng bắn tên thì dùng khiên mà đỡ, nếu chúng đến gần thì liều chết mà đánh.

Chỉ có tiến chứ chẳng có lùi.

Các ngươi có đồng lòng gắng sức cùng ta chăng?

Ba quân đồng thanh nói:

- Chúng tôi xin cùng sống chết với tướng quân.

Nhậm hỏi Dũng:

- Tướng quân quả quyết trong ấy có mai phục hay sao mà bảo quân chuẩn bị kỹ lưỡng thế?

Dũng đáp:

- Binh pháp có câu: "Đừng cậy là địch không đến, hãy cậy là địch đến ta đã có kế sách để đợi chúng rồi vậy".

Tôi dặn quân như thế là đề phòng trường hợp nguy nhất mà thôi.

Nói rồi cầm đại đao lăm lăm đi trước, năm trăm quân hùng dũng theo sau.

Chu Đoan Chữ, Chu Văn Tiếp, Chu Đoan Chân, Chu Đoan Hãn chờ quân Tây Sơn lọt vào ổ mai phục liền hô quân tiến lên.

Văn Dũng lập tức chia quân làm hai cánh sẵn sàng nghênh địch, nhưng khi thấy đạo quân đối địch mặc toàn y phục dân thường Dũng bèn gò ngựa lại hỏi lớn:

- Các ngươi là ai?

Có đánh lầm nhau chăng?

Chu Đoan Chữ chẳng nói chẳng rằng thúc ngựa xông tới chém Văn Dũng.

Văn Dũng cúi mình tránh khỏi, thuận tay hoành đao chém một nhát, Đoan Chữ đầu rơi xuống đất.

Chu Văn Tiếp thấy anh chết thảm, uất khí xông lên hét vang một tiếng cùng hai em vây Văn Dũng vào giữa mà đánh.

Vũ Văn Dũng một mình chống đỡ ba anh em họ Chu không hề nao núng.

Quân Tây Sơn vốn đã chuẩn bị khí thế rất hăng lại thêm võ nghệ tinh nhuệ đánh quân họ Chu mỗi lúc một lùi.

Khi ấy Vũ Văn Nhậm nghe tiếng trống trận của quân mình liền thúc quân tiến lên.

Chu Văn Tiếp thấy quân mình thua, lại thấy Tây Sơn có binh tiếp ứng liền hô lui quân, chạy vào sào huyệt ở trong núi Bô Chinh Sơn.

Đến nơi Tiếp nghiến răng khóc rằng:

- Giặc Tây Sơn giết chết anh ta thật là thê thảm.

Thù này ta quyết chẳng đội trời chung.

Nói xong uất hận, ngã ra kêu gào thảm thiết.

Chu Đoan Chân, Chu Đoan Hãn hết lời khuyên giải Tiếp vẫn chưa nguôi.

Lúc ấy Phạm Văn Sĩ vừa về đến lựa lời khuyên nhủ:

- Nay việc đã lỡ, nhị ca dẫu có khóc than đại ca cũng không thể sống dậy được.

Xin nhị ca

tạm gác ưu phiền để cùng bàn kế sách về sau.

Chu Văn Tiếp gạt lệ hỏi:

- Quân ta còn được bao nhiêu?

Chu Đoan Chân đáp:

- Còn bốn trăm quân hao mất một trăm quân.

Văn Tiếp nói:

- Hãy cho người ra liên lạc với quan Trấn thủ dinh Quảng Nam Nguyễn Phúc Nghiêm đem quân vào đánh.

Còn ta tuyển thêm quân, nếu giặc lấy Phù Ly và Bồng Sơn thì ta sẽ chặn đường về của chúng.

Ấy chẳng phải là lập được đại công sao?

Phạm Văn Sĩ bàn:

- Nếu giặc lấy xong hai huyện Phù Ly và Bồng Sơn thì quân ta nguy mất.

Văn Tiếp hỏi:

- Sào huyệt của ta trong núi Bô Chinh Sơn địa thế hiểm trở, giặc Tây Sơn không thể vào được, lương thảo của ta đủ dùng trong một năm.

Nay nghe mất Quy Nhơn triều đình ắt lập tức đem binh thảo phạt, khi ấy ta xuất quân đánh giặc lập công thì nguy là nguy làm sao?

Văn Sĩ đáp:

- Nếu giặc lấy xong hai huyện tất đem quân đóng ở các cửa biển đề phòng binh triều đánh thủy binh.

Nay đang là mùa khô nếu chúng dùng hoả công đốt núi khi ấy quân ta bốn mặt đều thọ địch thì chẳng phải là nguy ư!

Chu Văn Tiếp giật mình hỏi:

- Vậy giờ ta nên làm thế nào?

Văn Sĩ đáp:

- Nhân khi chúng chưa chiếm giữ cửa biển ta đem toàn quân xuống cửa Cách Thử mà chạy ra Quảng Nam đầu quân.

Văn Tiếp xua tay nói:

- Ta nhân lúc loạn tụ chúng thừa thời mà lập nên công lớn lưu danh hậu thế.

Nếu ra Quảng Nam đầu quân chẳng qua chỉ làm một chức cai cờ là cùng.

Ấy không phải là chí hướng của bậc đại trượng phu.

Phạm Văn Sĩ hiến kế:

- Ở phủ Phú Yên có một dãy núi tên là núi Trà Lang nằm về phía Nam đèo Mù Công.

Thế núi rất là hiểm trở lại nằm án ngữ con đường độc đạo vào Nam.

Nếu nhị ca không muốn đầu quân thì ta đi thuyền vào Phú Yên chiếm cứ núi này chiêu binh mãi mã truyền hịch phò chúa Nguyễn diệt Tây Sơn.

Chặn đường Nam tiến của giặc Tây Sơn; ấy cũng là lập nên đại công đó!

Văn Tiếp khen:

- Diệu kế!

Lời ấy rất hợp ý ta.

Truyền quân mở đường theo chân núi ra cửa biển Cách Thử rồi xuống thuyền vào Phú Yên.

****

Ngày ấy Nguyễn Nhạc và Trương Văn Hiến mở kho thóc phân phát cho dân trong thành Quy Nhơn vừa về dinh phủ, quân thám mã mặt Nam về báo rằng:

- Bẩm trại chủ, tướng quân Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân đã chiếm đèo Cù Mông.

Lại có quân thám mã mặt Đông về báo:

- Bẩm trại chủ, tướng quân Nguyễn Văn Tuyết và Nguyễn Văn Lộc toàn thắng ở Cửa Giã lấy

được hàng trăm chiếc thuyền của binh triều.

Nguyễn Nhạc mừng rỡ nói:

- Hay lắm!

Việc tranh lấy địa lợi còn chờ cánh quân mặt Bắc của Vũ Văn Nhậm và Vũ Văn Dũng lấy đèo Thạch Tân(1) nữa là xong.

Không biết cánh quân mặt Bắc đã tiến đến đâu rồi?

Vừa nói xong quân thám mã về báo:

- Bẩm trại chủ, tướng quân Vũ Văn Nhậm và Vũ Văn Dũng đã chiếm được hai huyện Phù Ly và Bồng Sơn.

Nhạc vội hỏi:

- Sao không thừa thắng đánh lấy đèo Thạch Tân?

Tên quân đáp:

- Đèo Thạch Tân binh triều canh phòng cẩn mật quân ta không tiến được.

Tướng quân Vũ Văn Nhậm có thư trình trại chủ.

Nguyễn Nhạc giở thư ra, xem xong nói:

- Văn Nhậm gửi thư nói đèo Thạch Tân là con đường độc đạo, địch ở trên cao lăn gỗ đá bắn cung tên xuống như mưa, quân ta không làm sao tiến được.

Lại có tin Tổng binh dinh Quảng Nam là Tôn Thất Hương đem ba vạn tinh binh đóng ở phía Bắc đèo Thạch Tân thuộc phủ Quảng Ngãi nay mai sẽ vượt đèo vào đánh quân ta.

Nhậm và Dũng xin viện binh.

Ý quân sư thế nào?

Trương Văn Hiến đáp:

- Nay quân ta trong thành được năm ngàn quân đem ra tiếp viện cho Vũ Văn Nhậm và Vũ Văn Dũng cả thảy chỉ có tám ngàn quân cũng chưa phải là đối thủ của ba vạn tinh binh triều.

Quân của Sở và Lân, của Tuyết và Lộc cũng không thể điều ra mặt Bắc mà bỏ các nơi hiểm yếu ở mặt Đông và mặt Nam thành Quy Nhơn được.

Nguyễn Nhạc thở dài nói:

- Nếu lấy được đèo Thạch Tân thì quân ta có sợ gì ba vạn quân của chúng - Nhạc chợt nhớ điều gì liền hỏi - Nguyễn Huệ liệu việc không sai.

Sao Huệ biết rằng đèo Thạch Tân lại khó đánh?

Hiến đáp:

- Đèo Thạch Tân địa thế hiểm trở, dễ giữ khó đánh.

Ai lấy được đèo này phải từ trên đánh xuống, địch quân chỉ có một con đường độc đạo từ dưới đi lên, chẳng khác đèo Cù Mông ở phía Nam.

Nhưng khi ta đánh thành Quy Nhơn thì Khắc Tuyên mở cổng Bắc thành mà chạy, nên binh triều ở đèo Thạch Tân hay được đã kíp đề phòng.

Nguyễn Nhạc nói:

- Theo ý tôi, ở địa giới huyện Phù Ly và Bồng Sơn có một đường đèo(2) nằm giữa hai ngọn núi Lại Khánh ở phía Tây và núi Bích Kê ở phía Đông.

Ta đem năm ngàn quân đến phục ở hai sườn núi này, rồi truyền cho Nhậm và Dũng chờ quân Tôn Thất Hương đến thì ra đánh rồi giả thua mà chạy, nhử cho chúng lọt vào đèo này phục binh ta đổ ra đánh nhất định phải thắng.

Quân sư thấy thế nào?

Văn Hiến đáp:

- Lúc tôi còn ở kinh thành có nghe anh em Tôn Thất Hương, Tôn Thất Tiệp đều là tướng trí dũng và trung nghĩa.

Kế này chưa hẳn đã dụ được Tôn Thất Hương.

Nhưng nếu Tôn Thất Hương không dám tiến binh thì ta dựa vào thế hiểm yếu của núi Lại Khánh và Bích Kê mà bảo toàn lực lượng, giữ vững từ huyện Phù Ly trở vào.

Ấy cũng là thượng sách vậy.

Trại chủ nên theo kế ấy mà làm.

Nguyễn Nhạc bèn để Nguyễn Lữ, Nguyễn Thung ở lại giữ thành Quy Nhơn rồi hạ lệnh xuất

quân.

Chú thích:

(1)Nay là đèo Bình Đê, ranh giới giữa Bình Định và Quảng Ngãi. (2)Nay là đèo Phủ Cũ.
 
Tây Sơn Bi Hùng Truyện
Chương 10


Nên nghĩa vợ chồng, Diệu - Xuân hết lòng vì chúa.

Bày trận thủy hoả, Nguyễn Huệ diệu kế dụng binh.

Nói về Tôn Thất Hương sai con là Tôn Thất Chính đem năm ngàn quân đi tiên phong vượt đèo Thạch Tân đánh quân Tây Sơn, tự mình dẫn đại quân đi sau tiếp ứng.

Đạo quân tiên phong Tôn Thất Chính đi đến đâu quân Tây Sơn lui đến đấy.

Tiến một mạch đến chân núi Bích Kê thấy núi non trùng điệp cây cỏ um tùm.

Chính sợ phục binh bèn đóng đồn cách núi Bích Kê hai mươi dặm chờ đại binh trợ chiến.

Tôn Thất Hương dẫn đại binh đến nói:

- Giặc không đánh trận nào mà chỉ lui quân.

Chúng muốn bảo toàn lực lượng dụ ta vào eo núi này mà đánh.

Kể ra cũng lắm mưu nhiều kế, nhưng lừa ta sao được.

Vừa nói dứt lời bỗng nghe tiếng trống dập dồn, tiếng quân hò reo vang trời dậy đất, quân Tây Sơn từ trong núi xông ra.

Đi đầu là hai viên tướng đầu đội mũ lông thú, mình mặc giáp trụ uy nghi, toàn quân đều mặc áo đỏ, ào ào xông đến.

Tôn Thất Hương sai quân dàn trận sẵn sàng đợi địch.

Hai bên giáp chiến, chém giết rất hăng.

Tôn Thất Hương thấy quân Tây Sơn dũng mãnh tiền quân núng thế liền sai con là Tôn Thất Đính chia hậu quân làm hai cánh tiến lên đánh vào hai bên sườn địch.

Vũ Văn Nhậm trông thấy liền đánh trống thu quân.

Quân Tây Sơn làm như hỗn loạn theo đường đèo mà chạy.

Tôn Thất Chính xua tiền quân đuổi tràn theo.

Bỗng nghe chuông thu quân liền quay ngựa lại hỏi:

- Thưa cha!

Sao không nhân lúc thắng trận đuổi theo giặc đánh giết một trận rồi chiếm lại thành Quy Nhơn cho rồi?

Tôn Thất Hương nói:

- Con còn nhỏ chưa từng xông pha trận mạc nên không biết đấy thôi.

Hãy nhìn xem hai bên sườn núi có phục binh.

Tôn Thất Đính ngơ ngác hỏi:

- Thưa cha, con có thấy phục binh nào đâu?

Tôn Thất Hương cười bảo:

- Nếu phục binh mà cho ta thấy thì sao gọi là phục được.

Hãy quan sát thiên nhiên để biết điều nhân sự.

Ở cánh rừng hai bên sườn núi rộng chừng vài dặm chim chóc tự nhiên bay lên hàng đàn thì trong ấy chẳng phải có phục binh đó ư!

Đính và Chính cùng nói:

- Cha liệu việc như thần.

Giờ ta phải tính kế nào qua khỏi đèo này?

Hương đáp:

- Việc này ta đã có kế!

Nói xong bèn viết một phong thư sai sứ giả đem trao cho Tây Sơn Nguyễn Nhạc, rồi kéo đại binh lui về đóng đồn ở phía Nam sông Lại Dương.

****

Nguyễn Nhạc nhận thư Tôn Thất Hương bèn hội các tướng bàn việc quân.

Nhạc nói:

- Tôn Thất Hương biết kế mai phục của ta nên không đuổi theo tiền quân Nhậm và Dũng.

Nay lại cho người đưa thư nói rằng: Quân ta khởi binh tôn phò Hoàng tôn Dương là thuận lòng trời hợp lòng người, hắn bất đắc dĩ nghe lệnh tổng trấn Quảng Nam dinh là Nguyễn Phúc Nghiêm nên phải đem quân chinh chiến chứ lòng chẳng muốn.

Nguyễn Phúc Nghiêm rất thích ăn thú rừng, trong dinh lúc nào cũng nuôi vài mươi con để dùng dần.

Nay nếu quân ta nộp cho hắn nai hươu, lợn rừng, mang mển, dê rừng, mỗi thứ hai mươi con, cả thảy một trăm con còn sống, hắn sẽ đem dâng cho trấn thủ Quảng Nam Nguyễn Phúc Nghiêm, rồi lựa lời ngon ngọt để Nghiêm đừng hối thúc việc quân, ấy là kế hoãn binh.

Sau đó hắn sẽ sai người tâm phúc ra kinh thành mật báo với Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương bỏ kinh thành vào với quân ta để đánh đổ Trương Phúc Loan.

Không biết những lời ấy là thật hay có ẩn ý gì?

Nhạc nói xong có quân thám mã về báo:

- Địch lui về một trăm dặm đóng quân ở phía Nam sông Lại Dương.

Quân sư Trương Văn Hiến cười rằng:

- Tôn Thất Hương quả nhiên trí dũng hơn người, lại rất rành binh pháp.

Nay đang là mùa hè nóng nực gió Nam thổi mạnh khí hậu khô rốc, nên hắn lui về đóng quân gần sông Lại Dương để nhờ hơi nước ẩm mát giữ gìn sức khoẻ tướng sĩ và tránh xa núi này để dễ đề phòng quân ta tập kích, đồng thời cho ta tin rằng hắn có thiện ý như đã viết trong thư, người như thế thật đáng là danh tướng.

Nguyễn Nhạc nghi ngờ hỏi:

- Quân sư nói vậy có nghĩa là hắn có mẹo gì ư?

Hiến trầm ngâm đáp:

- Núi rừng mùa khô rất dễ bị địch dùng hỏa công mà đốt.

Nhưng quân triều đóng ở phía Bắc, mà gió Nam đang thổi ngược ra, nên Tôn Thất Hương không thể dùng hỏa công đốt núi.

Nay nếu ta nộp đủ trăm con thú, hắn sẽ cho đại quân tiến sát rừng rồi bất ngờ thả thú có mang lửa và chất dẫn hoả trên mình.

Thú rừng tất sẽ chạy vào rừng.

Ấy là không thuận gió mà vẫn có thể dùng hoả công, khi ấy ắt là phục binh của ta sẽ làm mồi cho lửa.

Nguyễn Nhạc giật mình hỏi:

- Tôn Thất Hương quả nhiên lợi hại.

Nếu ta không nộp thú cho hắn thì hắn làm thế nào?

Hiến đáp:

- Hắn tiên liệu rằng nếu ta không nộp thú ắt phải hẹn ngày để dùng kế hoãn binh.

Ấy là hắn dùng kế hoãn binh của ta để làm kế hoãn binh của hắn.

Rồi nhân lúc ta không đề phòng, hắn chia quân dùng thuyền nhỏ ra cửa biển An Giũ vượt qua núi Bích Kê vào cửa biển đầm Đạm Thủy rồi đổ bộ đánh vào sau lưng ta.

Khi ấy hắn phóng hỏa đốt núi thì quân ta nguy mất.

Hiến vừa dứt lời viên tiểu tướng vào báo:

- Bẩm trại chủ, có hai viên tướng người Tàu tên là Lý Tài và Tập Đình đem quân vào cửa biển Đạm Thủy xin nương nhờ quân ta và xin lương thực.

Tướng quân Nguyễn Văn Tuyết không dám quyết nên sai tôi đến xin lệnh trại chủ.

Nguyễn Nhạc hỏi:

- Hai viên tướng ấy hiện ở đâu?

- Một người theo tôi đến đây đang chờ ngoài doanh trại.

Nhạc liền cho mời vào hỏi:

- Chẳng hay tướng quân là người ở phương nào, vì sao phải đến đây nương nhờ Tây Sơn

ta?

Người ấy đáp:

- Tôi tên Lý Tài và người anh em kết nghĩa tên Tập Đình quê ở Quảng Đông nguyên là thuộc tướng của nhà Minh.

Chúng tôi dấy binh phản Thanh phục Minh, nên bị quân Thanh đánh đuổi, không còn đất dung thân phải theo đường bể chạy về đây.

Hiện nay quân lương hết sạch xin Chúa công thương tình cho mảnh đất dung thân, cấp lương thảo qua cơn hoạn nạn.

Nếu có gì sai bảo anh em tôi xin đem thân khuyển mã báo đền.

Nói xong khóc lạy.

Nhạc động lòng nói:

- Việc ấy đối với ta chẳng khó gì.

Nhưng từ Quảng Đông đến đây đường xa vạn dặm, sao tướng quân không vào Bắc Hà xin nương nhờ chúa Trịnh mà phải vượt sóng gió đến nơi này?

Lý Tài gạt nước mắt đáp:

- Ở Bắc Hà vua Lê chúa Trịnh đang chịu thụ phong và nộp cống cho nhà Thanh.

Nếu tôi vào đất ấy thì có khác gì làm mồi cho kẻ muốn tâng công.

Trên đường đi có ghé vào Phú Xuân thì bị quân chúa Nguyễn đánh đuổi bảo tôi là cướp bể.

Rồi cứ thế đi lần vào phương Nam.

Hôm tháng trước tình cờ gặp một toán quan quân đi thuyền ra Phú Xuân, hỏi ra mới biết đó là quan Trấn thủ thành Quy Nhơn bị Chúa công đánh đuổi.

Tôi trộm nghĩ Chúa công vì dân nghèo dấy nghĩa ắt thương kẻ đường cùng, vả lại không lệ thuộc vào người nào ắt là nương nhờ được.

Nên mới mạo muội đến đây xin Chúa công mở lượng hải hà.

Nói xong lại khóc lạy.

Nguyễn Nhạc cảm động đỡ Lý Tài dậy hỏi:

- Tướng quân hiện có bao nhiêu quân, đang đồn trú ở đâu?

Lý Tài đáp:

- Tôi hiện còn một ngàn quân và năm mươi chiếc thuyền, hết lương nên cho thuyền vào cửa bể Đạm Thủy.

Tướng quân Nguyễn Văn Tuyết đem quân ra đánh.

Tôi treo cờ trắng và bỏ khí giới, Tuyết tướng quân cho đóng tạm trong đầm Đạm Thủy.

Nhạc quay sang hỏi Trương Văn Hiến:

- Ý quân sư thế nào?

Văn Hiến đáp:

- Thấy người cùng đường không cứu thì đâu phải là chính nghĩa.

Xin trại chủ cấp cho họ một ngàn hộc thóc.

Khi có việc cần nhờ họ giúp một tay, ấy là cả hai cùng có lợi vậy.

Nhạc nghe lời, nói với Lý Tài:

- Tướng quân hãy quay về tạm neo thuyền trong đầm Đạm Thủy, ta sẽ cho người vận tải lương thực, và lệnh cho Tuyết tướng quân trả khí giới cho binh sĩ của tướng quân.

Hiện nay quân ta đang chống nhau với binh triều Nguyễn.

Tướng quân cứ nghỉ cho khoẻ, khi cần có thể vì ta mà giúp một tay chăng?

Lý Tài mừng rỡ lạy tạ ơn:

- Ơn sâu của Chúa công nguyện kết cỏ ngậm vành.

Dù nhảy vào dầu sôi lửa bỏng tôi quyết chẳng từ nan.

Nói rồi lạy tạ ra đi.

Võ Đình Tú đứng lên nói:

- Thưa trại chủ, tôi thấy người này mắt lươn, môi mỏng, mũi thời nhọn, mà nhân trung thời ngắn ắt không phải người ngay.

Xin trại chủ chớ khá tin dùng.

Văn Hiến cười khen Đình Tú:

- Đình Tú tuổi còn nhỏ mà biết xem tướng nhìn người, quả có mắt tinh đời.

Ta cũng biết thế nhưng cứ đem ân đức mà cảm hoá ấy chẳng phải là con đường nhân đạo hay sao?

Nếu về sau ăn ở hai lòng ta sẽ liệu sau, Đình Tú đừng ngại.

Bây giờ trại chủ hãy đưa thư hẹn Tôn

Thất Hương trong nửa tháng nộp đủ số thú rồi kíp sai người triệu Nguyễn Huệ đem quân hợp sức định ngày phá địch.

****

Nói về Nguyễn Huệ sau khi lấy thành Quy Nhơn vâng mệnh anh về Tây Sơn Thượng cùng nữ tướng Bùi Thị Xuân dời trại luyện binh xuống miền Tây Sơn Hạ.

Trần Quang Diệu đem năm trăm quân đến gia nhập nghĩa quân.

Diệu nói:

- Tôi vâng lệnh tướng quân đem quân bản bộ mở đường Thượng đạo.

Tôi theo lối mòn của người Thượng thông thương với nhau, nên đường núi này trong có thể vào đến Bình Thuận, ngoài có thể ra tới Nghệ An.

Nay việc đã xong đem quân về phục mệnh.

Nguyễn Huệ mừng rỡ vỗ vai Diệu khen:

- Tướng quân thật là bậc kỳ tài trong thiên hạ.

Mở được con đường này coi như ta đã hoàn thành một nửa sứ mệnh đập đổ hai nhà Trịnh Nguyễn, xoá bỏ ranh giới Linh Giang, đem giang sơn về một mối, mang lại thái bình cho trăm họ rồi vậy.

Nay quân ta chiếm thành Quy Nhơn, đang tiến ra thu phục hai huyện Phù Ly và Bồng Sơn, tôi vâng lệnh đại huynh dời doanh trại xuống miền Tây Sơn Hạ để huấn luyện tân binh.

Tôi và cô Xuân phải gấp đi ngay, phiền tướng quân tạm ở lại đây chờ người Thượng mang voi đến nộp, rồi xuống hội quân ở Tây Sơn Hạ.

Chẳng hay tướng quân có vui lòng chăng?

Trần Quang Diệu khẳng khái đáp:

- Đã là việc quân thì phải gạt bỏ tình riêng sao tướng quân lại hỏi vui hay không vui?

Nguyễn Huệ vờ hỏi:

- Sao tướng quân lại nói là gạt bỏ tình riêng?

Có phải tướng quân còn phu nhân ở quê quán hay chăng?

Diệu thành thật đáp:

- Tôi chưa gặp được ý trung nhân nên chưa thành gia thất.

Huệ lại quay sang Bùi Thị Xuân hỏi:

- Còn cô Xuân quê nhà ở Tây Sơn Hạ, lâu nay vì việc quân mà phải xa nơi chôn nhau cắt rốn.

Nay được về nơi ấy nên vui mới phải, sao nét mặt lại ưu phiền như thế?

Bùi Thị Xuân ngập ngừng đáp:

- Tôi lâu nay huấn luyện tượng quân ở nơi này có đôi phần quen người quen cảnh, nay ra đi cũng ít nhiều lưu luyến vài kỷ niệm mà thôi.

Huệ bật cười ha hả hỏi:

- Có phải kỷ niệm xạ tiễn giết hổ cứu người không?

Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân cùng thẹn thùng cúi mặt.

Nguyễn Huệ cầm tay Diệu và Xuân nói:

- Nỗi lòng của hai người ta đã rõ.

Nếu ta không làm cầu Ô Thước thì biết bao giờ Ngưu Lang, Chức Nữ mới gặp được nhau đây?

Thôi tướng quân hãy cùng theo về Tây Sơn Hạ, ta sẽ xin phép Bùi ông tác hợp cho hai người.

Quang Diệu ái ngại hỏi:

- Vậy còn việc nhận voi của người Thượng phải tính thế nào?

Huệ cười đáp:

- Lão làng tự khắc sai người mang về Tây Sơn Hạ.

Lúc nãy ta nói thế là lập mưu cho rõ lòng hai vị mà thôi.

Diệu và Xuân đồng thanh nói:

- Đa tạ tướng quân thương tình tác hợp.

Về đến Tây Sơn Hạ, Huệ đứng ra chủ hôn cử hành hôn lễ cho Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân.

Việc vừa xong có quân đến đưa thư của Nguyễn Nhạc.

Nguyễn Huệ mời Trần Quang Diệu và Bùi Thị Xuân đến giở bản đồ ra nói:

- Tổng binh Quảng Nam dinh là Tôn Thất Hương đem ba vạn quân vào đóng ở phía Nam sông Lại Dương.

Đại huynh cùng quân sư đem toàn quân trong thành Quy Nhơn hợp với quân Nhậm và Dũng đóng tại núi Lại Khánh và núi Bích Kê chặn địch.

Đại huynh bảo ta kíp đem quân hợp sức phá giặc.

Nay hai người mới nên duyên gia ngẫu, vì việc quân khẩn cấp ta có việc muốn nhờ Diệu, trong lòng ái ngại lắm thay.

Diệu vòng tay nói:

- Tôi đã thưa với tướng quân, vì việc quân phải gạt bỏ tình riêng.

Xin tướng quân xuống lệnh tôi dù phải phơi gan trải mật chẳng dám chối từ.

Huệ chỉ vào bản đồ nói:

- Phiền tướng quân đem năm trăm quân bản bộ ngược theo đường Thượng đạo ra huyện Bồng Sơn đến thượng nguồn sông Lại Dương đắp đập chặn nước rồi đốn cây thả ở trên đập, chờ khi nào thấy lửa cháy, nghe tiếng súng nổ ở hạ lưu Lại Dương Giang thì sai quân phá đập.

Ta muốn mượn dòng nước này chặn đường lui quân của binh Nguyễn triều.

Còn cô Xuân ở lại giữ doanh trại, huấn luyện tượng binh.

Ta kíp đem quân hợp sức với đại huynh phá địch.

****

Nguyễn Huệ dẫn quân đến phía Nam núi Bích Kê và núi Lại Khánh, quân Tây Sơn trông thấy hô vang:

- Tướng quân Nguyễn Huệ đến, lo gì giặc chẳng tan.

Nguyễn Nhạc ở trong doanh trại nghe tiếng ồn ào liền hỏi:

- Ngoài kia có việc gì mà binh sĩ náo động thế?

Quân canh đáp:

- Thưa trại chủ, tướng quân Nguyễn Huệ dẫn quân về, tướng sĩ trông thấy mừng rỡ hô vang rằng: Tướng quân Nguyễn Huệ đến, lo gì giặc chẳng tan đấy ạ!

Nguyễn Nhạc liền cho triệu Nguyễn Huệ cùng các tướng họp bàn việc quân.

Huệ quỳ tâu:

- Em vâng lệnh đại huynh đến phục mệnh.

Nghe nói Tôn Thất Hương đem đại binh đóng ở phía Nam sông Lại Dương.

Thưa đại huynh việc ấy có không?

Nguyễn Nhạc chưa kịp trả lời.

Vũ Văn Dũng bước ra nói:

- Đúng là như vậy.

Lúc tôi cùng Vũ Văn Nhậm chiếm xong huyện Bồng Sơn, thì binh triều đem ba vạn quân vượt đèo Thạch Tân đánh xuống.

Trại chủ lệnh cho tôi cùng Nhậm không được đánh mà cứ giả vờ sợ hãi chạy một mạch đến đây.

Nay có sư huynh đến xin trại chủ cho chúng tôi cùng sư huynh ra huyết chiến một phen.

Nguyễn Huệ trấn an Văn Dũng:

- Sư đệ đừng nên nóng nảy.

Đại huynh và quân sư ắt có kế rồi đây.

Rồi quay sang Hiến, Huệ hỏi:

- Nay kế phá giặc đại huynh và quân sư định liệu thế nào xin xuống lệnh, chúng tôi lập tức ra trận lập công.

Trương Văn Hiến trầm ngâm đáp:

- Tôn Thất Hương dùng kế hoãn binh bắt ta nộp cho hắn một trăm con thú, hắn sẽ lui binh.

Ta sẽ tương kế tựu kế hẹn nửa tháng sẽ giao nộp đủ, rồi lệnh cho Nguyễn Văn Tuyết cùng Lý Tài phục thủy binh ở cửa biển đầm Đạm Thủy, nhất định hắn sẽ chia quân đi đường thủy vào cửa bể này đánh sau lưng doanh trại của ta.

Đợi khi Tuyết phá địch ở đầm Đạm Thủy xong, đại binh của ta sẽ đánh vào đại bản doanh của chúng bên bờ sông Lại Dương, thì việc đuổi chúng ra khỏi đèo Thạch Tân nào có khó gì.

Nghe xong Nguyễn Huệ tâu:

- Đại huynh đưa thư hẹn với hắn cứ một ngày nộp mười con, trong mười ngày sẽ nộp đủ số thú rừng, để hắn khinh thường là ta đã trúng kế của hắn.

Sau ba ngày tôi xin đem năm ngàn quân làm tiên phong đánh giặc.

Nếu không phá được binh triều xin về đây chịu chém đầu theo tướng lệnh.

Nguyễn Nhạc nổi giận vỗ án quát:

- Ngươi là đứa con nít cứ cậy khoẻ nói càn, quân ta một vạn chưa dám ra giữa chiến trường đánh nhau với ba vạn quân địch.

Cái đầu ngươi nào có sá gì, nhưng còn tính mạng năm ngàn quân của ta thì sao?

Văn Hiến đứng dậy can rằng:

- Xin trại chủ bớt giận.

Huệ nói vậy ắt là có kế sách - Rồi quay sang hỏi Huệ - Con định đánh thế nào mà năm ngàn quân có thể phá được ba vạn quân của địch?

Huệ quỳ tâu:

- Thưa thầy, con sẽ cho quân đối mặt giáp chiến với binh triều.

Nói chưa dứt lời, Trương Văn Hiến lắc đầu, các tướng Nhậm, Dũng, Tú đều ngơ ngác nhìn nhau.

Nguyễn Nhạc thấy thế lại vỗ án hét lớn:

- Sức ngươi đã bạt sơn cử đảnh như Hạng Võ ngày xưa chưa mà cậy khoẻ ngông cuồng?

Nguyễn Huệ sợ hãi quỳ lạy:

- Em chưa hết lời xin đại huynh bớt giận.

Nguyên là nhờ hồng phúc của đại huynh, em vừa chế được một thứ binh khí, một quân ta có thể đánh được mười quân địch.

Nguyễn Nhạc nghi ngờ hỏi:

- Thứ vũ khí nào mà lợi hại thế?

Nếu còn nói càn ta quyết trị tội không tha!

Nguyễn Huệ vội gọi quân mang vào một cây sắt vừa vặn tay cầm, dài chừng hai thước.

Huệ cầm lên nói:

- Đây là cái ống bằng đồng, rỗng ở bên trong, có hai khoen dùng để gắn một cây đuốc ở ngay miệng ống.

Trong ống đựng đầy một thứ nhựa cây, khi ra trận chỉ cần cầm ống này vung về phía địch, nhựa trong ống văng ra, gặp lửa ở miệng ống lập tức bốc cháy.

Giặc bị phỏng tất phải văng gươm mà chạy.

Thứ nhựa cây này văng đâu dính đó, phủi không rời, dập không tắt, sức nóng vô cùng, anh em ba quân gọi là hỏa hổ, xin đại huynh xem xét.

Văn Hiến lấy làm lạ hỏi:

- Thứ hỏa hổ này cổ kim chưa từng nghe nói.

Huệ lấy đâu ra nhựa cây ấy?

Nguyễn Nhạc cầm ống hỏa hổ săm soi nói:

- Thứ nhựa cây của người Thượng lấy ở trên rừng, ban đêm cần ánh sáng thì thay dầu mà đốt.

Ta từng sống với người Thượng bao nhiêu năm mà chẳng nghĩ ra.

Nguyễn Huệ quả nhiên là thần cơ diệu toán.

Truyền quân chuẩn bị xuất quân.

Phong Nguyễn Huệ là tiên phong, Văn Dũng làm phó tướng đem năm ngàn quân đánh vào trại địch.

Ta sẽ đem đại binh tiếp ứng.

Nguyễn Huệ nói:

- Em đã cho bộ tướng là Trần Quang Diệu đem năm trăm quân chặng đường về của địch.

Ba vạn quân triều không thể nào chạy khỏi Lại Dương Giang.

Đại huynh kíp ra chiếu lệnh

truyền Lý Tài và Tập Đình dẫn một ngàn binh bản bộ đem chiến thuyền vào cửa biển An Giũ rồi án binh bất động, khi nào thấy lửa cháy ở bờ phía Nam sông Lại Dương thì đem quân theo bờ Bắc bất ngờ đánh lấy đèo Thạch Tân, ắt là toàn thắng.

Trương Văn Hiến xua tay nói:

- Tôn Thất Hương là đại tướng của chúa Nguyễn rất giỏi dụng binh, dù quân thua vẫn trật tự mà lui.

Trần Quang Diệu đem năm trăm quân sao chặn được đường về của ba vạn quân địch.

Các tướng đều nói:

- Lời quân sư hữu lý.

Nguyễn Huệ giãi bày rằng:

- Tôi sai Trần Quang Diệu đem năm trăm quân lên thượng nguồn sông Lại Dương đắp đập chặn nước rồi đốn cây thả ở đầu dòng, hẹn thấy lửa cháy ở hạ lưu sông Lại thì phá đập.

Nước và gỗ sẽ đổ xuống như thác, quân triều dù mọc cánh cũng không qua khỏi Lại Dương Giang.

Văn Hiến cười ngặt nghẽo nói rằng:

- Huệ ơi con đã tính nhầm rồi.

Nay đang là mùa nắng hạn, sông Côn còn phải cạn trơ gò huống hồ là sông Lại Dương, thì nước đâu mà con đắp đập ngăn sông?

Nguyễn Huệ đáp:

- Thưa thầy, thông thường mùa này các sông đều khô cạn, nhưng đặc biệt con sông Lại Dương mùa mưa thì không bị lụt lớn, mùa nắng hạn nước vẫn tràn đầy.

Bởi thế nhân dân trong vùng thường có câu hát rằng "Nước Lại Dương mênh mang mùa nắng, dòng sông Côn lai láng mùa mưa".

Xin thầy cùng đại huynh an tâm, đánh trận này nếu có một tên quân Nguyễn triều qua được bờ bắc Lại Dương Giang, Huệ tôi xin về chịu tội.

Trương Văn Hiến ngạc nhiên nói:

- Trong cõi trời đất này lại có con sông lạ lùng thế sao?

Nếu quả vậy là trời giúp ta rồi đó.

Nguyễn Huệ biết dùng cỏ cây, nước lửa thay cho quân lính thật là tài năng hiếm có trên đời.

Ta trước dạy binh thư võ nghệ cho Huệ, nhưng tùy cơ mà ứng dụng binh pháp cũng không bằng Huệ vậy.

Tâu trại chủ cứ theo kế ấy mà làm, trận này nhất định bắt sống cha con Tôn Thất Hương.
 
Tây Sơn Bi Hùng Truyện
Chương 11


Sông Lại Dương, cha con Tôn Thất Hương tận trung bỏ mạng.

Núi Thạch Tân, anh em Lý Tài tàn sát hàng quân.

Tôn Thất Hương đóng quân ở bờ Nam sông Lại Dương, có quân vào báo:

- Thưa tướng quân, chủ tướng Tây Sơn là Nguyễn Nhạc sai người dâng thư cho tướng quân.

Hương xem xong thư mừng rỡ cười lớn rằng:

- Nguyễn Nhạc quả nhiên trúng kế, phen này ta sẽ đốt quân mai phục của chúng trong núi Bích Kê và Lại Khánh thành tro bụi cho chúng biết tài dụng binh của ta.

Tôn Thất Đính tò mò hỏi:

- Trong thư giặc nói gì mà cha tỏ ra vui mừng thế?

Hương đáp:

- Nguyễn Nhạc xin mỗi ngày nộp mười con thú rừng, trong mười ngày sẽ đủ số thú rừng.

Mười ngày sau một trăm con thú này sẽ thay ta đốt phục binh của chúng ở hai hòn núi kia vậy.

Tôn Thất Chính kính cẩn hỏi:

- Xin cha giảng giải rõ hơn, chúng con vẫn còn chưa hiểu.

Tôn Thất Hương dẫn hai con ra ngoài doanh trại, gọi quân mang đến một con ngựa, có một cái hòm bằng gỗ được đặt vừa vặn, nai nịt cẩn thận trên lưng ngựa.

Đến gần con ngựa đó, Hương nói:

- Các con cứ cho đây là một con thú rừng.

Trong chiếc hòm này đựng đầy than củi đang cháy, dưới than lửa lót một lớp tro cho khỏi nóng lưng thú.

Ta cho đại binh tiến sát bìa rừng rồi thả chúng ra khỏi cũi, thú rừng ắt phải chạy vào rừng.

Mùa này cây lá khô trong rừng chồng chất lên nhau, gặp một mồi lửa tức khắc bùng cháy, khi ấy đường đèo và hai ngọn núi kia sẽ biến thành biển lửa.

Các con hiểu chưa?

Vỡ lẽ, Tôn Thất Đính mừng rỡ nói:

- Ngược hướng gió mà vẫn đánh được hỏa công, cổ kim chưa từng nghe nói.

Cha thật là thần cơ diệu toán!

Nói rồi ba cha con hớn hở vào dinh.

****

Ba hôm sau, Nguyễn Huệ đem năm ngàn quân tiến đánh.

Quân vào phi báo, Tôn Thất Hương liền nai nịt cầm thương lên ngựa cùng hai con ra chiến trận.

Đợi quân Tây Sơn vào vừa tầm tên, Hương ra lệnh cho quân xạ tiễn.

Binh Nguyễn triều bắn tên ra như mưa, Nguyễn Huệ lệnh cho ba quân khom mình cầm khiên che tên cứ thế tiến lên.

Hương bảo Tôn Thất Đính:

- Con mau dẫn một ngàn kỵ binh chuẩn bị giáp chiến, cha sẽ cho binh bộ tiếp ứng.

Bọn giặc này quả nhiên liều lĩnh, có năm ngàn quân mà dám tấn công vào đại binh của ta.

Tôn Thất Đính vâng lệnh đi ngay.

Hai bên giáp chiến hò reo vang dậy góc trời.

Quân Tây Sơn đốt đuốc tung hỏa hổ, kỵ binh Nguyễn triều dính nhựa hỏa hổ, người ngựa đều bị cháy bỏng, hỗn loạn quay đầu mà chạy.

Tôn Thất Đính ngăn cản không xuể, giận lắm một mình thúc ngựa xông lên, bị Nguyễn Huệ bắn cho một mũi tên nhằm giữa trán té nhào xuống ngựa chết tươi.

Tôn Thất Hương thấy con chết thảm lòng đau như cắt, cố cầm nước mắt hối Tôn Thất Chính:

- Con mau dẫn hậu quân lui về bờ Bắc Lại Dương Giang.

Cha cầm trung quân chặn giặc rồi sẽ từ từ mà lui.

Nói rồi nghiến răng vung thương thúc quân xông lên.

Quân Nguyễn triều vừa xáp tới gần đã bị quân Tây Sơn tung hỏa hổ đốt, vội vàng cởi áo quăng gươm mà chạy, tiếng gào khóc vang

lên thảm thiết.

Tôn Thất Hương liệu bề không chống nổi liền thúc ngựa chạy theo.

Phút chốc đuổi kịp hậu quân Tôn Thất Chính, cùng gặp nhau ở bờ Nam sông Lại Dương Giang, Hương nói:

- Không biết chúng dùng thứ vũ khí gì, lửa từ trong ống tuôn ra đốt quân ta không kịp trở tay không kịp.

Con hãy cho thương binh bị lửa đốt vượt sông chạy trước.

Ta mau rút về giữ đèo Thạch Tân, nếu chúng đuổi theo thì lấy gỗ đá lăn xuống, chứ giữa chiến trường mà đánh thì dù thiên binh vạn mã cũng phải bại binh!

****

Khi quân Nguyễn triều thua chạy, Nguyễn Huệ lệnh cho quân không được đuổi theo.

Vũ Văn Dũng hỏi:

- Sao sư huynh không cho quân thừa thắng đuổi theo?

Nguyễn Huệ ngậm ngùi chỉ thây quân Nguyễn nói:

- Binh triều lớp chết lớp bị thương ước nửa vạn người.

Vì sự đấu tranh mà phải chém giết lẫn nhau, nhưng xét cho cùng đều chung dòng giống cả.

Thấy tình cảnh thế này Dũng không xót dạ sao?

Vũ Văn Dũng cúi đầu thưa:

- Sư huynh thật dũng lược vượt xa Hạng Võ, nghĩa nhân trội hẳn Lưu Bang.

Trước tấm lòng đại đức của sư huynh, Văn Dũng thấy mình nhỏ mọn lắm thay.

Huệ trầm tư nói:

- Giữa trận chiến phải hết lòng giết giặc để giành chiến thắng, giữ mạng sống cho mình ấy là điều tự nhiên của lẽ sinh tồn.

Nhưng nếu thế không bị buộc thì đừng nên sát hại sinh linh - Rồi Huệ ngửa mặt lên trời khấn rằng - Lạy trời cho Trần Quang Diệu mở đập nước ở thượng nguồn khi quân Nguyễn triều chưa kịp vượt sông!

Vừa lúc ấy Nguyễn Nhạc dẫn đại binh đến hỏi Huệ rằng:

- Sao em không thừa thắng đuổi theo quân địch mà lại dừng quân ở đây?

Huệ vòng tay đáp:

- Thưa đại huynh, binh Nguyễn triều không thể nào vượt khỏi Lại Dương Giang, ta chia ba cánh bao vây ắt địch phải cùng đường.

Nếu chúng cởi giáp quy hàng, xin đại huynh dung nạp cho rõ ràng đại nghĩa của ta.

Nguyễn Nhạc cười bảo:

- Ta năm ấy cũng vì thương kẻ cùng đường mới đưa dân lên vùng Tây Sơn Thượng, thì điều này ta há chẳng biết ư?

Vả lại trong quân lệnh có điều cấm giết hàng quân.

Ta là chủ tướng lại phạm vào quân lệnh hay sao?

Rồi quay lại ba quân, Nhạc nói:

- Các ngươi cùng ta đánh đổ binh triều, trừ diệt Phúc Loan, đem lại áo ấm cơm no cho cha mẹ vợ con gia quyến của các ngươi.

Trong quân Nguyễn triều kia biết đâu chẳng có họ hàng của các ngươi trong đó.

Nay ta bảo các ngươi, nếu địch bỏ khí giới không kháng cự thì các ngươi nên mở lượng hiếu sinh, chớ giết người vô tội.

Ba quân cùng quỳ xuống thưa:

- Vua trời đại đức.

Chúa công đại đức.

Chúng tôi một dạ vâng lời!

Nguyễn Nhạc liền hạ lệnh tiến quân.

****

Khi ấy Trần Quang Diệu ở thượng nguồn sông Lại Dương Giang thấy lửa cháy ngút trời ở hạ lưu, lại nghe cả tiếng la hét, trống trận dập dồn liền truyền lệnh phá đập.

Gặp lúc Tôn Thất Chính dẫn thương binh ra đến giữa sông, nước sông lúc ấy cạn không quá gối, quân bị bỏng nằm lăn dưới nước để dập lửa và cho đỡ nóng.

Bỗng nước và gỗ cây tuôn xuống ầm ầm như thác đổ, quân Nguyễn triều bị cây bừa nước cuốn, người ngựa không còn một mạng!

Tôn Thất Hương ở trên bờ nhìn thấy con mình bị chết trong dòng nước bạc, như dao cắt ruột không dằn được nỗi đau hét lên một tiếng: Con ơi!

Rồi té nhào xuống ngựa.

Tả hữu đỡ dậy, thấy quân Tây Sơn đã bao vây ba mặt, còn sau lưng nước đổ ầm ầm, ba quân đều vứt giáo xin hàng.

Tôn Thất Hương khóc rằng:

- Con ta một đứa chết xác bị cháy thành tro, một đứa chết thây làm mồi cho cá, còn ta bị vây bốn mặt cùng đường.

Nhà ta mấy đời đều làm khanh tướng, ta chỉ có chết đi để trọn nghĩa trung thần, vẹn tình phụ tử chứ còn sống trên đời làm chi nữa!

Nói xong rút gươm toan tự vẫn, bỗng sực nhớ điều gì liền quăng gươm đi về phía Nguyễn Nhạc quỳ nói:

- Tôi là tướng bại binh xin tướng quân thương tình tha cho tội chết.

Vũ Văn Nhậm thị oai nạt rằng:

- Đây là chúa công của Tây Sơn ta, sao ngươi dám gọi là tướng quân?

Tôn Thất Hương sợ hãi dập đầu lạy thưa:

- Bại tướng không biết là Chúa công.

Xin Chúa công tha cho tội chết!

Nguyễn Nhạc cười lớn hỏi:

- Ngươi là đại tướng của chúa Nguyễn lại tham sống sợ chết đến thế sao?

Ngươi dập đầu xin tha mạng nhưng bình sinh ta rất khinh ghét hạng người này.

Tôn Thất Hương vội đứng dậy nói:

- Tôi không phải kẻ tham sanh úy tử, lúc nãy đã định liều mình trả nợ quân vương.

Nhưng nhìn thấy Chúa công tai to mặt lớn, tay dài quá gối tướng mạo phi phàm đúng là chân mệnh đế vương.

Vả lại trong quân của Chúa công có kẻ kỳ tài bày ra trận đất lửa phía trước, trận nước phía sau thì nghiệp cả ắt thành.

Nay được thấy dung nhan của Chúa công trong lòng đã thoả nguyện.

Xin Chúa công cho biết vị nào đã bày kế đánh trận này, cho tôi được diện kiến thì dù Chúa công có giết cũng chẳng ân hận gì.

Nguyễn Nhạc chỉ Nguyễn Huệ cười nói:

- Ấy chính là em của ta, tên Nguyễn Huệ.

Ngươi hãy xem thử tướng mạo em ta thế nào?

Tôn Thất Hương đăm đăm nhìn Nguyễn Huệ như quan sát tướng mạo rồi bất ngờ nhảy đến rút dao ngắn giấu trong người đâm Nguyễn Huệ.

Huệ ngồi trên lưng ngựa vung chân đá một cước, Hương ngã nhào xuống đất.

Hô quân trói lại, Nhạc hỏi:

- Cớ sao ngươi lập kế xin hàng rồi mưu giết em ta?

Tôn Thất Hương trợn mắt mắng:

- Ta muốn giết tên này để trừ mối nguy cho xã tắc.

Nhà ta mấy đời khanh tướng lẽ đâu lại hàng lũ giặc cướp như ngươi sao!

Nói xong đập đầu xuống đất mà chết!

Trương Văn Hiến thương xót nói:

- Tôi thường nghe nói Tôn Thất Hương là người tín nghĩa.

Nay đến lúc chết còn lo trừ hại cho chúa, thật là một đấng trung thần.

Xin Chúa công cho mai táng tử tế tỏ rõ lòn tông trọng người trung nghĩa của ta.

Nguyễn Huệ xuống ngựa, nhẹ nhàng đưa tay vuốt mặt Hương, nhưng mắt Hương vẫn mở

trừng trừng.

Thấy vậy Huệ nói:

- Tướng quân có cái lý trung với vua, tôi có cái lý hiếu với dân.

Tuy rằng chí hướng khác nhau nhưng nghĩa khí của tướng quân, tôi một lòng tôn kính, thì vì đâu mà còn oán giận nhau đến thế!

Huệ vừa nói dứt lời, mắt Hương liền nhắm lại.

Nguyễn Nhạc sai người lo hậu sự theo lễ công hầu, rồi sai Huệ, Dũng làm tiên phong, tự mình kéo đại binh dẫn theo quân sư Trương Văn Hiến, Vũ Văn Nhậm, Võ Đình Tú thừa thắng ra đánh phủ Quảng Ngãi.

****

Nói về Lý Tài và Tập Đình đem quân vào cửa biển An Giũ (cửa Hoài Hương, Bình Định ngày nay) thấy lửa cháy ở bờ Nam sông Lại Dương bèn men theo bờ Bắc kéo quân ra tiến sát chân núi Thạch Tân.

Quân Nguyễn trong các chòi canh trên đèo nói với nhau rằng:

- Tướng quân Tôn Thất Hương đem ba vạn quân đuổi giặc Tây Sơn chạy vào Quy Nhơn rồi.

Ta ở đây bình an vô sự mà ăn ngon ngủ yên.

Nói rồi mạnh ai nấy lăn ra ngủ.

Lý Tài sai quân lặng lẽ đến bên chòi canh giết hết quân canh.

Quân Nguyễn trong đồn trên đỉnh đèo không hề hay biết.

Quân Lý Tài bí mật vây đồn hò hét xông vào.

Quân Nguyễn trong lúc ấy mất vía lũ lượt ra hàng.

Lý Tài và Tập Đình bèn sai quân giết hết cả đi.

Quân chết hàng mấy trăm người thây chất thành đống.

Nguyễn Huệ và Vũ Văn Dũng cầm quân tiên phong đến đèo Thạch Tân, thấy quân Nguyến chết thây nằm rải rác, doanh trại trên đỉnh đèo cờ Tây Sơn bay phấp phới, Huệ vui mừng bảo Dũng:

- Tập Đình, Lý Tài đã chiếm đèo Thạch Tân, anh em ta mau lên ấy xem sao.

Đi gần đến doanh trại lại thấy vài trăm xác quân Nguyễn chất thành đống, Nguyễn Huệ sắc mặt hầm hầm nói:

- Hai tên tướng Tàu này thật là vô đạo, giết người không biết gớm tay.

Vũ Văn Dũng can Huệ:

- Trong lúc đánh nhau giết quân địch là lẽ thường tình, sao sư huynh gọi người ta là vô đạo?

Huệ cắt nghĩa rằng:

- Từ dưới chân đèo đi lên thây nằm rải rác là người chết trong lúc đánh nhau.

Còn gần doanh trại thây nằm thành đống là phường khát máu tàn sát hàng quân, chốc nữa hỏi Lý Tài nếu không phải thế thì Dũng chớ gọi ta là sư huynh.

Vừa lúc ấy Lý Tài và Tập Đình nghe quân báo có quân Tây Sơn kéo đến liền ra nghênh đón.

Nguyễn Huệ chỉ tay vào đống thây người hỏi:

- Tướng quân thật tài tình, đánh như thế nào mà giết địch nhiều thế?

Lý Tài mỉm cười tự đắc nhưng giả vờ khiêm tốn nói:

- Tôi được lệnh Chúa công đem thủy quân vào cửa bể An Giũ, rồi án binh bất động, khi thấy lửa ở bờ Nam sông Lại Dương liền tiến đánh đèo Thạch Tân.

Quân giữ đèo ỷ lại đại quân Tôn Thất Hương còn ở phía trước nên không đề phòng.

Bị đánh bất ngờ và thấy quân của tôi mười phần oai dũng vội quăng khí giới xin hàng.

Tôi liền cho giết sạch.

Vũ Văn Dũng nghe Lý Tài nói xong mới vỡ lẽ lời của Nguyễn Huệ là đúng, Dũng giận lắm cao giọng hỏi:

- Quân lệnh của Tây Sơn ta là không giết hàng quân.

Tại sao ngươi đem cả mấy trăm quân giết hết cả đi?

Tập Đình đứng cạnh Lý Tài nghe Dũng hoạnh hoẹ quân mình liền lớn tiếng nói:

- Ngươi là gì mà dám bắt bẻ bọn ta.

Nếu nói về quân lệnh hãy chờ Chúa công đến đây sẽ hay, ta không việc gì phải tâu bẩm với hạng vô danh tiểu tốt như các ngươi.

Nghe Tập Đình buông lời vô lễ, Văn Dũng bừng bừng nổi giận giơ đao chỉ mặt mắng rằng:

- Ngươi bảo ai là vô danh tiểu tốt.

Bọn ngươi không còn đất sống vào lạy lục Chúa công ta xin nương nhờ nơi ở, bố thí miếng ăn, lại dám nói đại tướng quân Nguyễn Huệ em của Chúa công ta là vô danh tiểu tốt ư!

Để ta chém hai ngươi trả thù cho sinh linh vô tội.

Tập Đình nghe Dũng nói, ngạo mạn cười vang:

- Ngươi tài cán gì mà đòi chém ta.

Bọn ta dù thất thế cũng là đại tướng của Thiên triều.

Ngươi hãy quăng đao đi kẻo ăn năn không kịp.

Văn Dũng giận điên người cầm đại đao toan xông đến.

Huệ ngăn lại, rồi tiến lên chỉ Lý Tài nói:

- Ngươi thì mắt lươn, môi mỏng, lưỡng quyền cao.

Ấy là gương mặt của hạng người nham hiểm - Rồi Huệ quay sang Tập Đình – Còn ngươi thì mày xếch mắt cú vọ, miệng thì vêu, hàm có ngạnh là gương mặt của kẻ hung tàn.

Nay ta quyết giết hai ngươi để trừ hại cho dân Nam ta.

Nếu cả hai ngươi cùng một lúc mà đỡ được một nhát đao của ta thì mới là đại tướng của Thiên triều.

Nguyên Nguyễn Huệ lúc thường tiếng nói ngân như chuông, khi nổi giận thì tiếng nói rền như sấm.

Lý Tài và Tập Đình nghe giọng Huệ nói xong thì tâm thần bất định, lại thấy tia mắt như chớp quét sang thì cúi đầu bủn rủn tay chân.

Huệ cho ngựa từ từ đi đến rồi hoành đại đao một vòng toan chém.

Lý Tài và Tập Đình cả sợ, nhưng việc đã lỡ đành miễn cưỡng đưa đao chống đỡ.

Bỗng nghe quân hô vang:

- Chúa công đến!

Chúa công đến!

Nguyễn Huệ liền dừng đao xuống ngựa ra mắt Nguyễn Nhạc.

Lý Tài và Tập Đình cúi đầu thi lễ rồi nói lớn:

- Xin Chúa công xét xử.

Tôi vâng lệnh Chúa công đánh chiếm đèo Thạch Tân.

Tướng quân Nguyễn Huệ vừa đến định giết chết anh em tôi.

Nguyễn Nhạc ngạc nhiên gọi Huệ hỏi:

- Vì sao lại có chuyện ấy?

Huệ giận lắm nhưng cố nén đáp lời anh rằng:

- Thưa đại huynh, quân lệnh của ta là không được giết hàng quân, mà Lý Tài và Tập Đình đem mấy trăm hàng quân giết sạch chất thây nằm thành đống.

Thưa đại huynh hai tên này là người vô đạo, cho nên em mới quyết định giết đi trước là trừ hoạ cho dân, sau là thi hành quân lệnh, xin đại huynh minh xét.

Nhạc hỏi:

- Sao em biết Lý Tài giết hàng quân?

Huệ chỉ mặt Lý Tài nói:

- Thưa đại huynh, điều này chính do miệng Lý Tài nói ra lúc nãy.

Nhạc quay sang hỏi Lý Tài:

- Xin hỏi Lý tướng quân điều ấy có không?

Lý Tài sợ hãi đáp:

- Thưa Chúa công, xác quân Nguyễn đều chết trong lúc đánh nhau, nhưng khi tướng quân Nguyễn Huệ hỏi, tôi có ý tự đắc nói rằng quân Nguyễn thấy chúng tôi oai phong nên sợ hãi đầu hàng cả.

Huệ tướng quân lại hỏi: Thế hàng quân đâu?

Tôi chẳng biết trả lời thế nào đành đáp rằng: Giết hết cả rồi!

Chỉ vì tôi có ý kiêu căng nói quá sự thật, chứ chẳng phải phạm vào quân lệnh, giết hết hàng quân.

Xin Chúa công tha cho tội đại ngôn.

Huệ thấy Lý Tài tráo trở giận quá chỉ mặt mắng:

- Tội của ngươi không phải là đại ngôn mà là cuồng ngôn loạn ngữ, dám lừa dối cả anh ta.

Xin đại huynh cho đem vài tên quân của Lý Tài đến tra xét thì sẽ rõ thực hư.

Nguyễn Nhạc liền xua tay nói:

- Thôi, thôi!

Chẳng qua là Lý Tài trong lúc phấn chấn nói lời phóng đại mà thôi, ta bỏ qua chuyện này không phải tra xét làm gì.

Nghe Nhạc nói, Huệ tỏ ý thất vọng, rồi cương quyết thưa:

- Thưa đại huynh, quân lệnh nghiêm minh mới thành ra quân kỷ.

Việc này phải làm cho ra lẽ để làm gương cho kẻ khác.

Nhạc hạ giọng bảo Huệ:

- Nếu truy xét mà Lý Tài và Tập Đình không phạm quân lệnh thì em mang tội vu khống người vô tội đấy!

Huệ vẫn khăng khăng:

- Nếu đúng vậy em xin chịu tội.

Nhạc ôn tồn nói:

- Nay Lý Tài và Tập Đình đã theo quân ta đánh giặc thì cũng là người một nhà, sao em lại quyết vạch lá tìm sâu như thế?

Nếu quả Lý Tài và Tập Đình có lỡ phạm một lần mà chứng cứ chưa rõ ràng thì cũng nên bỏ qua để khỏi gây chia rẽ trong quân.

Nay ta lệnh cho Lý Tài và Tập Đình lãnh ấn tiên phong, đem một ngàn quân bản bộ tiến đánh phủ Quảng Ngãi.

Ta sẽ đem đại binh tiếp ứng.

Huệ mở miệng toan nói, Nhạc nạt rằng:

- Lời ta là tướng lệnh em chớ có nhiều lời.

Hãy mau đem ấn ra đây.

Huệ sợ hãi lui ra.

Trên đỉnh đèo giữa các tướng sĩ, Nhạc gọi quân đem rượu tự tay rót ban cho Lý Tài và Tập Đình, Nhạc nói:

- Em của ta tuổi còn nhỏ dại có điều mạo phạm, hai tướng đừng để bụng làm gì!

Nay hai tướng hãy vì ta lãnh ấn tiên phong, đem quân Bắc tiến, đập đổ Nguyễn triều.

Đợi khi thu phục kinh thành chúng ta cùng chung chia phú quý.

Hai vị tướng quân có vui lòng chăng?

Lý Tài và Tập Đình cùng lạy tạ ơn, Lý Tài nói:

- Chúa công xét việc rõ ràng thật là một đấng minh quân.

Anh em tôi nguyện phơi gan trải mật đáp đền ơn tri ngộ của Chúa công.

Nói rồi lãnh ấn dẫn quân lầm lũi xuống phía Bắc đèo Thạch Tân.

Đi một đoạn Tập Đình nói:

- Thằng con nít Nguyễn Huệ nhất định đòi chiếu theo quân lệnh mà giết chết bọn ta, vì sợ ta tranh mất ấn tiên phong của hắn.

Chẳng ngờ Chúa công biết bọn ta là đấng anh hùng, trao ấn tiên phong đánh giặc lập công, chắc thằng nhãi Huệ tức điên lên được.

Nói xong thích chí cười ha hả.

Lý Tài nạt rằng:

- Ngươi thật là đồ hữu dũng vô mưu.

Đi vào chỗ chết vui sướng lắm sao mà cười.

Tập Đình ngạc nhiên hỏi:

- Nghĩa huynh nói thế là ý gì?

Lý Tài trầm ngâm nói:

- Thật ra Nguyễn Nhạc cũng biết bọn ta giết chết mấy trăm hàng quân Nguyễn triều nhưng chưa chứng cứ nên không quy tội.

Chẳng qua Nguyễn Nhạc lợi dụng anh em ta làm con tốt trong bàn cờ tranh bá đồ vương của hắn mà thôi.

Nguyễn Huệ chỉ thấy việc trước mắt, còn Nguyễn Nhạc mới thật là người cơ trí.

Tập Đình giật mình hỏi:

- Thế mà tôi chẳng nghĩ ra.

Vậy ta nên tính thế nào đây?

Lý Tài đáp:

- Đã là con tốt trong bàn cờ chỉ có tiến chứ chẳng có lùi.

Tập Đình lại hỏi:

- Quân ta dù tinh nhuệ nhưng quân số chỉ có một ngàn.

Đánh với quân triều ngộ nhỡ Nguyễn Nhạc không đem quân tiếp ứng thì có phải là hắn mượn tay giặc giết ta không?

Lý Tài lắc đầu nói:

- Nguyễn Nhạc không phải là người như thế.

Hắn biết ta là người Tàu không thể lấy danh nghĩa gì mà chiêu binh mãi mã được, thì hắn sợ gì ta mà mượn tay giặc để giết ta.

Trước mắt hắn chỉ mượn ta để làm tấm khiên che tên của giặc mà thôi.

Từ nay nghĩa đệ nói năng phải cẩn thận, ở dưới trướng người thì đừng có kiêu căng.

Ta phải đợi thời có rồi sẽ liệu tính.

Về phần quân Tây Sơn, sau khi Lý Tài và Tập Đình đi rồi, Nguyễn Nhạc gọi Nguyễn Huệ cùng các tướng Vũ Văn Nhậm, Vũ Văn Dũng đến bảo:

- Chẳng phải là ta không biết Lý Tài và Tập Đình giết hết hàng quân.

Nhưng ta bỏ qua không truy cứu vì biết rằng về sau chúng sẽ không bao giờ dám tái phạm.

Nếu giết Lý Tài và Tập Đình thì một ngàn quân người Tàu kia biết để vào đâu, không lẽ lại đem ra giết hết, còn giữ chúng trong quân khác nào nuôi ong tay áo.

Chi bằng để cho chúng làm tiên phong đánh giặc, thế chẳng lợi hơn sao.

Huệ cúi lạy tâu:

- Em vì thấy cảnh thảm sát trước mắt nên trong lòng tức giận, chỉ muốn giết chết Lý Tài và Tập Đình báo oán cho dân ta mà thôi.

Em ngu muội chỉ thấy điều trước mắt mà không biết việc về sau.

Xin đại huynh rộng lòng tha thứ.

Trương Văn Hiến xen vào nói:

- Nay ba vạn quân triều của Tôn Thất Hương đã bị ta đánh tan, thì quân của phủ Quảng Ngãi và Quảng Nam không phải là đối thủ của ta.

Chúa công hãy cho Nguyễn Huệ dẫn ba ngàn quân về đèo Cù Mông hợp cùng Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân đánh vào mặt Nam chiếm lấy thành Phú Yên, Diên Khánh, Bình Thuận.

Có hai điều cần thiết phải đưa Nguyễn Huệ về mặt Nam, một là cho an lòng Lý Tài và Tập Đình đang dẫn quân tiên phong đánh ra mặt Bắc, thứ hai là nếu quân triều lấy quân ba dinh là Long Hồ, Phiên Trấn, Trấn Biên ra hợp cùng quân ba phủ Bình Thuận, Diên Khánh và Phú Yên mà đánh vào phía Nam thành Quy Nhơn thì e rằng Nguyễn Lữ không chống giữ được.

Xin Chúa công minh xét.

Nguyễn Nhạc gật đầu bảo:

- Quân sư thật biết người biết ta, nhìn xa trông rộng.

Lệnh cho Nguyễn Huệ đem ba ngàn quân vào hợp với quân Sở và Lân đánh vào Nam.

Nguyễn Huệ thưa:

- Thưa đại huynh cùng quân sư, tôi xin đem quân về hợp với Nguyễn Lữ giữ thành Quy Nhơn nhưng khoan đánh lấy Phú Yên.

Văn Hiến ngạc nhiên hỏi:

- Vì sao con lại làm thế?

Huệ đáp:

- Thưa thầy binh pháp có câu: "Đánh thành thì dễ nhưng giữ thành mới là việc khó".

Hiện nay quân của ta còn ít mà phải chia nhau chống giữ ở các nơi hiểm yếu.

Vả lại nước Nam ta từ Đàng Ngoài đến Đàng Trong các trấn phủ đều nằm dọc theo bờ biển.

Nếu ta đánh lấy các phủ Phú Yên, Diên Khánh ngộ nhỡ quân Nguyễn đem thuỷ binh vào các cửa bể chặn đường về của ta rồi binh bộ từ Nam đánh ra, e rằng quân ta lúc ấy lưỡng đầu thọ địch thì nguy.

Văn Hiến hỏi:

- Theo con thì nay mặt Nam phải đánh thế nào?

Huệ đáp:

- Thưa thầy, địa hình của nước Nam ta thì việc dùng thủy binh là rất quan trọng.

Con xin về trấn Quy Nhơn cùng Nguyễn Lữ đốc thúc dân binh xẻ gỗ đóng thuyền luyện tập thủy binh và cho đúc thêm thật nhiều súng đại bác là một thứ vũ khí đánh thành vô cùng hiệu quả.

Đợi khi quân lực hùng mạnh ta sẽ đánh vào Nam bằng hai đường thủy, bộ.

Khi ấy việc lấy một dải đất từ Quy Nhơn đến Gia Định chỉ một sớm một chiều mà thôi.

Xin đại huynh cùng quân sư minh xét.

Trương Văn Hiến suy nghĩ giây lâu rồi nói:

- Lời Nguyễn Huệ rất là có lý, nhưng việc thành bại cốt yếu là ở thời cơ.

Từ lúc khởi binh đến nay quân ta đi đến đâu muôn dân nô nức hưởng ứng đến đấy, ấy chẳng phải là ta được thuận lợi thời cơ đó sao?

Nay Nguyễn Huệ đem ba ngàn quân chi viện mặt Nam sai Sở và Lân đánh lấy Phú Yên vỗ an bá tánh, mở kho thóc cướp được của quân Nguyễn phân phát cho dân nghèo, chiêu mộ thêm binh sĩ.

Nếu quân Nguyễn từ Gia Định đánh ra mà Sở, Lân không chống được thì hãy bảo toàn lực lượng rút về Quy Nhơn cố thủ.

Dù không giữ được thành Phú Yên nhưng lòng dân đã nên gốc rễ.

Binh pháp có câu "chiếm thành không bằng chiếm lòng dân", ấy là kế sách lâu dài vậy.

Nguyễn Nhạc tán thành nói:

- Người xưa có nói bậc đại thức giả thì thượng thông thiên văn, hạ đạt địa lý, trung tường nhân sự.

Quân sư thật là người đã quán triệt cả ba điều ấy rồi vậy.

Huệ hãy về Quy Nhơn theo sách lược của quân sư mà hành động.

Rồi Nhạc cùng Trương Văn Hiến, Vũ Văn Nhậm, Vũ Văn Dũng, Võ Đình Tú ồ ạt dẫn quân Bắc tiến.

Chẳng bao lâu đến cuối năm Quý Tỵ (1773) niên hiệu Cảnh Hưng thứ 34, quân Tây Sơn ở mặt Nam do Ngô Văn Sở và Phan Văn Lân thống lĩnh đánh chiếm được Phú Yên, Diên Khánh rồi thừa thắng đánh chiếm thành Bình Thuận.

Đi đến đâu dân chúng nổi dậy xin theo, quan quân giữ thành đều bỏ thành mà chạy.
 
Tây Sơn Bi Hùng Truyện
Chương 12


Trương Văn Hiến dụng kế nghi binh.

Nguyễn Đăng Trường bày mưu chặn giặc.

Tin quân Tây Sơn làm chủ một vùng lãnh thổ rộng lớn từ Quảng Ngãi đến Bình Thuận cấp báo về kinh thành Phú Xuân.

Chúa Định vương Nguyễn Phúc Thuần lập tức thiết triều mời bá quan văn võ bàn luận kế sách đánh giặc.

Định vương nói:

- Nay giặc cướp Tây Sơn dụ dỗ đám dân đen lại mị dân truyền hịch tôn phò Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương đánh đổ Quốc phó.

Quả nhân từ lúc lên ngôi chúa đến nay thiên hạ thái bình, mọi việc đã có Quốc phó lo toan, vả lại ta mới hai mươi tuổi chưa từng biết việc chiến chinh.

Nay giặc cướp Tây Sơn chiếm đất đai của ta từ Quảng Ngãi đến Bình Thuận, còn định kéo ra đánh lấy kinh thành.

Các khanh đã biết việc ấy hay chưa?

Quốc phó Trương Phúc Loan râu tóc bạc phơ bước ra nói:

- Kính Chúa thượng, lúc này thành Quy Nhơn bị giặc Tây Sơn cướp lấy, tuần phủ Quy Nhơn là Nguyễn Khắc Tuyên chạy đường bể về đây phi báo, lão thần liền sai người về Quảng Nam lệnh cho tổng binh Quảng Nam dinh là Tôn Thất Hương đem quân ở dinh Quảng Nam và

phủ Quảng Ngãi vào tiễu trừ giặc cỏ.

Không ngờ cha con Tôn Thất Hương đều tử trận ở huyện Bồng Sơn, Quy Nhơn phủ.

Nghe tin ấy lão thần đã sai Chưởng cơ Nguyễn Văn Hoằng và Nguyễn Nghi đem ba vạn quân vào Quảng Nam đánh giặc.

Nay mai chắc có tin báo tiệp khải hoàn, xin Chúa thượng an tâm.

Chúa Định vương quở rằng:

- Việc trọng đại như thế sao Quốc phó lại không cho quả nhân được biết?

Trương Phúc Loan khúm núm thưa:

- Kính Chúa thượng, cung điện Phấn Dương vừa mới xây xong, Chúa thượng đang buồn bực vì nhân dân ta thán, lão thần sợ làm kinh động Chúa thượng nên không dám tâu trình.

Trong hàng quan văn bỗng nhiên có tiếng nói lớn:

- Nay ba vạn quân trấn thủ kinh thành đều đưa vào Quảng Nam đánh Tây Sơn.

Lỡ như họ Trịnh ở Đàng Ngoài đem quân xâm phạm Châu Bố Chánh (Quảng Bình ngày nay) thì ta biết phải làm thế nào?

Mọi người giật mình nhìn lại, thì ra đó là quan văn tước Tĩnh Điệp Hầu, tên húy Nguyễn Đăng Trường.

Võ quan chưởng cơ Nguyễn Văn Chính cười nói:

- Ngài là quan văn không rõ việc binh.

Ranh giới của ta và họ Trịnh là sông Linh Giang.

Sông Linh Giang vừa rộng vừa sâu, ở bờ Nam lại có lũy Trường Dục kiên cố, quân ta đêm ngày canh phòng cẩn mật thì quân Trịnh dễ gì xâm phạm.

Tôi nói có phải không tướng quân Tôn Thất Tiệp?

Tôn Thất Tiệp đồng tình gật đầu đáp:

- Lời quan chưởng cơ rất phải, lâu nay họ Trịnh ở Bắc Hà chuyên quyền lấn áp vua Lê khiến trăm họ bất bình nổi lên làm loạn khắp nơi.

Ở Hải Dương có Nguyễn Tuyển và Nguyễn Cừ nổi dậy năm Canh Thân (1740).

Rồi đến năm Quý Hợi (1743) Nguyễn Hữu Cầu và Hoàng Công Chất lại nổi dậy ở Hải Dương.

Cũng năm Canh Thân lại có Nguyễn Danh Phương làm loạn ở Việt Trì, Tam Đảo, sau chiếm lấy Tuyên Quang, suốt mười năm sau là năm Canh Ngọ (1750) chúa Trịnh Doanh mới đánh dẹp xong.

Lại có Hoàng thân là Lê Duy Mật nổi dậy ngót hai mươi năm ở huyện Thạch Thành.

Rồi đến năm Giáp Tý (1764) Lê Duy Mật cầu cứu chúa Vũ Vương của ta, nhưng Tiên vương không muốn gây việc binh đao với họ Trịnh nên mới chối từ.

Quan quân đánh dẹp mãi, hao binh tổn tướng mới yên.

Trong nước đã rối ren như thế, thì tâm trí đâu mà dòm ngó cõi ngoài.

Vả lại mới hai năm trước đây Thái tử Lê Duy Vỹ bị chúa Trịnh Sâm giết chết.

Trời đất bỗng hôn u địa ám, muôn dân đóng cửa khóc thầm, Trịnh Sâm càng lo sợ trăm họ nổi lên, thì dám đâu cho quân đi đánh đất người.

Vậy việc họ Trịnh xâm phạm sông Linh Giang xin Chúa thượng chớ lo.

Tôn Thất Tiệp nói một hơi nghe ra hữu lý, chúa Định Vương và Quốc phó Trương Phúc Loan vừa ý gật gù.

Nguyễn Đăng Trường chậm rãi bước ra nói:

- Kính Chúa thượng, đành rằng là như vậy, nhưng lòng tham của con người vốn sâu không đáy.

Chỉ e rằng Trịnh Sâm nghe tin quân Tây Sơn đánh phá phía Nam, hắn chỉ thấy cái lợi lấy đất ta ngay trước mắt, quên cái hoạ diệt vong trong nước phía sau lưng, mà đem quân xâm phạm mặt Bắc thì Kinh đô lưỡng đầu thọ địch.

Vậy nay phải gấp dẹp cho xong giặc Tây Sơn, để lỡ có bề gì còn điều quân ra ngoài đánh Trịnh.

Vả lại từ lâu nay trong dân gian có truyền câu sấm của trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm rằng: "Tây khởi nghĩa, Bắc thu công" nay nghe giặc Tây Sơn làm loạn lòng trung quân rất là lo lắng.

Xin Chúa thượng xét soi.

Chúa Định Vương liền hỏi:

- Vậy theo khanh thì nên làm thế nào?

Nguyễn Đăng Trường đáp:

- Kính Chúa thượng, quan trấn thủ dinh Long Hồ là lão tướng Tống Phước Hiệp gồm tài thao lược.

Chúa thượng nên sai sứ giả vào đất Gia Định lệnh cho Tống Phước Hiệp lãnh binh ở ba dinh Long Hồ, Phiên Trấn, Trấn Biên.

Lập tức đem quân Bắc tiến cho giặc Tây Sơn lưỡng đầu thọ địch, thì quân ta mới mong toàn thắng.

Chúa Định Vương vỗ tay khen:

- Thật là kế sách vẹn toàn.

Tống Phước Hiệp trấn thủ nơi xa xôi ngàn dặm nếu không nhờ Tĩnh Điệp Hầu nhắc nhở thì ta đã quên mất ông ấy rồi!

Nay ta phong cho Tĩnh Điệp Hầu làm tham tán quân cơ để cùng bàn việc quân.

Nói rồi liền viết chiếu phong Tống Phước Hiệp làm tổng binh Quản dinh Bình Tây Đại tướng quân, điều binh ba dinh ra Bình Thuận đánh Tây Sơn.

****

Lại nói về Nguyễn Văn Hoằng và Nguyễn Nghi vâng lệnh Trương Phúc Loan đem quân vào đến phủ Quảng Ngãi, quân Tây Sơn lùi về đóng ở phía Nam sông Trà Khúc.

Đồn lũy lập xong, trong đại bản doanh Nguyễn Nhạc hỏi Trương Văn Hiến:

- Nguyễn Văn Hoằng đem ba vạn quân đến đánh ta, tôi nghe lời quân sư lui một mạch đến phía Nam sông Trà Khúc.

Sông này vừa cạn vừa hẹp, địa thế không có gì hiểm yếu, sao quân sư lại khuyên tôi lập đồn luỹ nơi đây?

Trương Văn Hiến cười nói:

- Nguyễn Văn Hoằng dù có gan dạ như Quan Vũ đời Hán cũng không dám vượt sông, xin Chúa công chớ ngại!

Vũ Văn Nhậm hỏi:

- Quân sư dựa vào đâu mà quả quyết như thế?

Hiến vuốt râu đáp:

- Nguyễn Huệ đã đem ba ngàn quân chi viện phía Nam, quân ta hiện chỉ có bảy ngàn quân, vả lại nhựa hỏa hổ đã hết, ở Quy Nhơn chưa vận chuyển ra kịp, nếu đánh nhau với ba vạn quân địch e rằng bất lợi, nên tôi mới khuyên Chúa công bảo toàn lực lượng lui quân.

Vừa đến đây tôi đã cho thả cho một số quân Nguyễn triều bị bắt trong trận đánh ở sông Lại Dương lúc trước.

Chủ ý của tôi là để bọn quân này về báo với Nguyễn Văn Hoằng vì sao ba cha con Tôn Thất Hương phải chết.

Nay lại thấy quân ta lui về bờ Nam sông Trà Khúc, Nguyễn Văn Hoằng ắt sợ trận "Thủy hỏa ký tế" như Tôn Thất Hương, thì làm gì mà dám vượt sông!

Nguyễn Nhạc mừng rỡ khen rằng:

- Ấy thật là diệu kế!

Vừa nói xong bỗng có quân vào báo:

- Thưa Chúa công, quân triều đã kéo đến bờ Bắc sông Trà Khúc.

Nguyễn Nhạc cùng Văn Hiến, Văn Dũng, Văn Nhậm, Đình Tú liền lên ngựa ra ngoài quan sát thấy binh triều quân đông vô số, khí thế hung hăng.

Nguyễn Văn Hoằng định hô quân vượt sông tiến đánh, bỗng có quân đến báo:

- Thưa tướng quân, chúng tôi bắt được mấy tên quân, chúng nói là lính của tướng quân Tôn Thất Hương, nên dẫn đến cho tướng quân tra xét.

Nguyễn Văn Hoằng liền cho đưa mấy tên quân đến.

Hoằng trợn mắt nạt:

- Chúng bay có phải là quân gian chăng hãy mau khai thật, nếu không ta chém mất đầu?

Mấy tên quân quỳ lạy khóc:

- Thưa tướng quân, chúng tôi ở trong quân của tướng Tôn Thất Hương.

Tướng Tôn Thất Hương cùng hai con tử trận, chúng tôi bị quân Tây Sơn bắt được lén trốn về đây.

Xin tướng quân chớ khá vượt sông!

Hoằng nghi ngờ hỏi:

- Tại sao các ngươi khuyên ta đừng vượt sông đánh giặc?

Tên quân đáp:

- Thưa tướng quân, lúc tướng Tôn Thất Hương dẫn ba vạn quân vượt đèo Thạch Tân tiến đánh phủ Quy Nhơn giặc Tây Sơn chỉ lui mà không đánh, nhử quân ta vượt sông Lại Dương ở Bồng Sơn.

Rồi chúng cho quân lên thượng nguồn sông Lại Dương đắp đập chứa nước, sau đó chúng từ huyện Phù Ly đánh ra.

Quân của chúng có một thứ vũ khí vô cùng lợi hại ấy là một cái ống chứa lửa bên trong, khi giặc vung lên lửa từ trong ống bắn ra, giáo gươm chưa đụng được quân địch thì quân ta đã bị cháy áo phồng mình.

Tướng quân Tôn Thất Hương dẫn chúng tôi chạy về sông Lại Dương, thì quân địch ở thượng nguồn phá đập, một nửa quân ta đang vượt sông bị nước cuốn trôi chết cả, lũ chúng tôi không còn đường chạy đành phải đầu hàng.

Nay thấy tướng quân toan vượt sông đánh giặc nên mới đến đây dập đầu can gián.

Nghe tên quân kể xong Nguyễn Văn Hoằng và Nguyễn Nghi vã mồ hôi trán.

Hoằng đưa vạt áo lên lau mồ hôi rồi nói:

- Thảo nào quân thua mà không thấy một người về báo.

Đến lúc quân ở đèo Thạch Tân thua chạy về mới hay cha con Tôn Thất Hương thua trận, mà chẳng biết thua thế nào.

Truyền quân không được vượt sông, lập tức lập đóng lũy ở bờ Bắc sông Trà Khúc chặn giặc.

Ở bờ Nam sông Trà Khúc, Nhạc thấy quân triều đóng đồn hạ trại ở bờ Bắc bèn vỗ tay cười lớn:

- Quả đúng như quân sư dự đoán, quân Nguyễn Văn Hoằng không dám vượt sông.

Đợi ít hôm chúng sinh lười nhác ta đánh phá một trận ắt là toàn thắng.

Văn Hiến can:

- Xin Chúa công chớ vội đánh làm gì khi binh Nguyễn triều còn đang mạnh.

Không lâu nữa chúng sẽ rút quân về, chừng ấy lấy đất Quảng Nam mà đỡ tốn xương máu của anh em nghĩa sĩ.

Văn Dũng, Văn Nhậm, Đình Tú cùng ngạc nhiên hỏi:

- Vì sao vô cớ quân Nguyễn lại lui quân?

Văn Hiến vuốt râu đáp:

- Hơn một trăm năm nay họ Trịnh ở Đàng Ngoài lúc nào cũng có tham vọng thôn tính Đàng Trong của họ Nguyễn.

Trong lịch sử của cuộc nội chiến này, cả bảy lần đánh nhau đều do họ Trịnh động binh trước, nhưng không lần nào quân Trịnh vượt khỏi sông Linh Giang.

Nay chúa Trịnh Sâm nghe quân ta khởi binh đánh chiếm từ Bình Thuận đến Quảng Ngãi, quân Nguyễn triều đem ba vạn quân ở kinh thành vào chống giữ, Trịnh Sâm nhất định sẽ đem quân xâm phạm châu Bố Chánh, khi ấy Nguyễn triều chỉ còn một cách duy nhất là điều binh của Nguyễn Văn Hoằng ra ranh giới sông Linh Giang đánh Trịnh, chỉ để lại đây một lực lượng nhỏ mà thôi.

Đối với Nguyễn triều dù sao quân Trịnh vẫn là kẻ thù nguy hiểm hơn ta.

Khi ấy ta đánh chiếm Quảng Nam chẳng khó gì!

Nghe xong Nguyễn Nhạc mừng rỡ nói:

- Ta có quân sư khác nào ngày xưa Lưu Bị có Gia Cát Lượng, bày mưu lập kế, định quốc an dân.

Nếu không có quân sư mở mang trí óc thì tầm nhìn của ta chắc không ra khỏi Quy Nhơn, Phú Yên, Quảng Ngãi, thì có đâu biết đến việc ở xứ Bắc Hà.

Mượn quân người để làm

quân mình, không đánh mà thắng, nếu không có quân sư chỉ vẽ ta cứ mang quân gặp địch bừa thì việc thành bại chưa biết phải ra sao!

- Rồi quay sang các tướng Nhạc nói - Truyền quân: Án binh bất động, canh phòng cẩn mật, giữ vững doanh trại, ai trái lệnh chém đầu!

****

Ngày ấy tại kinh đô Thăng Long, trong phủ chúa Trịnh Sâm thiết triều hội bá quan văn võ, Sâm nói:

- Trấn thủ đồn Hoành Sơn là Quyền Trung Hầu Hoàng Nghĩa Hồ vừa gửi mật thư cho ta nói rằng: Ở phủ Quy Nhơn có giặc Tây Sơn nổi lên đánh chiếm từ Bình Thuận đến Quảng Ngãi.

Chúa Nguyễn phải sai tướng đem ba vạn quân ở kinh thành đi dẹp loạn, lính ở Phú Xuân không còn được bao nhiêu.

Ta nên thừa cơ đem đại binh mở cuộc Nam chinh, thu phục đất Thuận Hoá.

Cơ đồ của nhà Nguyễn phen này ắt là sụp đổ.

Các khanh thấy thế nào?

Trịnh Sâm vừa dứt lời, trong hàng quan văn bỗng có tiếng nói lớn:

- Khải Chúa!

Việc ấy không nên!

Mọi người cùng nhìn lại, thì ra ấy là Tứ Xuyên Hầu Phan Lê Phiên.

Trịnh Sâm hỏi:

- Theo ý khanh tại sao ta không nên động binh?

Phan Lê Phiên bước ra quỳ tâu:

- Khải Chúa thượng, mấy chục năm nay trong nước giặc giã nổi lên làm trăm họ sinh linh rất là thống khổ.

May nhờ hồng phúc của Chúa thượng nên năm năm nay bốn phương yên ổn.

Xin Chúa thượng chớ nên động binh cho thiên hạ được hưởng cảnh thái bình.

Vả lại đã hơn trăm năm nay nước ta với chúa Nguyễn lấy sông Linh Giang làm ranh giới, bờ cõi của ai thì người ấy trị vì.

Vậy nên vào năm Giáp Thân (1764) niên hiệu Cảnh Hưng thứ hai lăm, ở nước ta Lê Duy Mật làm loạn xứ Thanh Hoá có viết thư vào muốn cầu cứu chúa Nguyễn Phúc Khoát, nhưng họ Nguyễn vì muốn cầu hoà với ta nên chẳng chịu động binh.

Nay nhân lúc người ta có loạn mình đem quân xâm phạm e thiên hạ cười rằng là thừa cơ nước đục thả câu.

Hơn nữa từ xưa đến nay phàm làm việc gì cũng danh chánh ngôn mới thuận, nay ta muốn mang quân đi đánh phía Nam thì lấy danh nghĩa gì để động binh?

Xin Chúa thượng xét lại!

Phan Lê Phiên vừa dứt lời, các quan văn đồng thanh nói:

- Lời Tứ Xuyên Hầu rất phải, xin Chúa thượng chớ động binh!

Bỗng trong hàng quan võ có tiếng nói lớn:

- Lời Tứ Xuyên Hầu nói sai rồi!

Đó chính là đại tướng Hoàng Ngũ Phúc, tước Việp Quận Công.

Phan Lê Phiên hỏi:

- Xin hỏi Việp Quận Công lời tôi nói sai chỗ nào?

Việp Quận Công Hoàng Ngũ Phúc đứng lên cười nói:

- Lời Tứ Xuyên Hầu sai ở chỗ: một là hơn một trăm năm nay dù rằng lấy sông Linh Giang làm ranh giới nhưng giữa chúng ta và họ Nguyễn đã bảy lần chinh chiến với nhau, sao lại gọi là bờ cõi của ai thì người ấy trị vì.

Điều sai thứ hai, đây là dịp tốt trời cho, nếu ta động binh thì dễ dàng thống nhất sơn hà, làm bá chủ thiên hạ.

Nay Chúa thượng động binh ấy chẳng phải gây hoạ binh đao, mà là mượn sự binh đao trong một lúc để muôn dân được thái bình mãi mãi về sau.

Ấy là việc nên làm.

Điều sai thứ ba là năm ấy Lê Duy Mật viết thư cầu cứu, chẳng phải chúa tôi họ Nguyễn có ý tốt với ta mà không đem quân đánh giúp Lê Duy Mật.

Chẳng qua vì năm đó chúa Nguyễn Phúc Khoát tham dâm quá độ mắc bệnh nặng nề, tinh thần bải hoải, thì tâm trí đâu mà nghĩ đến việc chiến chinh.

Nay, nếu ta xuất quân Nam

chinh thì trên hợp ý trời, dưới thuận lòng người.

Vả lại Quốc phó Trương Phúc Loan tham lam bạo ngược để dân Đàng Trong nheo nhóc lầm than, ta lấy danh nghĩa diệt trừ Phúc Loan thì ấy là danh chánh ngôn thuận vậy.

Xin Chúa thượng đừng bỏ lỡ cơ hội ngàn năm một thuở này.

Trịnh Sâm mừng rỡ đứng lên nói:

- Lời của khanh rất hợp ý ta.

Nay ta phong Việp Quận Công Hoàng Ngũ Phúc lãnh chức Bình Nam thượng tướng quân, đem bốn vạn binh thủy bộ vào đánh châu Bố Chánh.

Ta nán lại kinh thành sắp xếp việc triều chính xong sẽ điều binh các trấn về họp tại kinh thành, ta sẽ thân chinh đem đại binh tiếp ứng.

Phen này nếu không diệt được nhà Nguyễn thì không còn cơ hội nào khác nữa.

Hoàng Ngũ Phúc quỳ lạy tạ ơn.

Trịnh Sâm truyền bãi triều.

Tháng mười năm Giáp Ngọ (1774), niên hiệu Cảnh Hưng thứ ba lăm, Hoàng Ngũ Phúc cùng các tướng là Hoàng Bình Thể, Hoàng Phùng Cơ và Hoàng Đình Bảo đem bốn vạn quân theo hai đường thủy bộ, hẹn gặp nhau ở sông Linh Giang để cùng đánh nhà Nguyễn.

****

Nghe tin quân Trịnh đem bốn vạn quân đã đến gần sông Linh Giang, tại kinh thành Phú Xuân, chúa Nguyễn Định Vương lập tức thiết triều.

Chúa lo sợ trách rằng:

- Hôm trước ta nghe lời Nguyễn Văn Chính và Tôn Thất Tiệp bảo không lo quân Trịnh xâm phạm mặt Bắc.

Nay ở trong thì giặc Tây Sơn đánh phá, ngoài thì họ Trịnh đem quân sắp tới Linh Giang.

Ở kinh thành chỉ còn năm ngàn quân cấm vệ, vậy các ngươi phải liệu thế nào đây?

Trương Phúc Loan quỳ tâu:

- Kính Chúa thượng, ở lũy Trường Dục hãy còn năm ngàn quân của tướng quân Nguyễn Duy trấn thủ.

Lũy Trường Dục thành cao hào sâu, năm xưa dưới thời Chúa thượng Phúc Lan, nội tổ của tôi là Trương Phúc Phấn chỉ có mấy ngàn quân trấn giữ lũy này chống nhau với quân Trịnh cả hàng mấy vạn chẳng hề hấn gì, đủ biết lũy Trường Dục hiểm trở thế nào!

Quân Trịnh không dễ gì một sớm một chiều mà hạ được, xin Chúa thượng an tâm.

Bây giờ ta lập tức điều hai vạn quân của Nguyễn Văn Hoằng ở Quảng Nam, sai Tôn Thất Tiệp và Nguyễn Văn Chính ra lũy Trường Dục tiếp viện, thì không phải lo gì nữa.

Xin Chúa thượng mau mau xuống lệnh.

Định Vương vẫn lo lắng hỏi:

- Ta yên tâm thế nào được.

Vậy nếu Nguyễn Văn Hoằng ở Quảng Nam chỉ còn một vạn quân e không phải là đối thủ của quân Tây Sơn!

Mọi người còn đang lo lắng thì Tĩnh Điệp Hầu Nguyễn Đăng Trường bước ra nói:

- Kính Chúa thượng, thần có một kế khiến quân Tây Sơn không thể tiến binh ở mặt Nam để ta rảnh tay điều quân ra Bắc đánh Trịnh.

Định Vương vội vàng hỏi:

- Tĩnh Điệp Hầu có kế gì hãy mau nói ra?

Nguyễn Đăng Trường chậm rãi nói:

- Trong lúc điều hai vạn quân ra Bắc, Chúa thượng nên sai một người vào Quảng Nam trấn giữ cùng Nguyễn Văn Hoằng thì nhất định quân Tây Sơn không dám tiến binh.

Mọi người đồng thanh hỏi:

- Ấy là người nào?

Nguyễn Đăng Trường đáp:

- Ấy chính là Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương!

Quốc phó Trương Phúc Loan vốn không ưa Nguyễn Đăng Trường, nay nghe vậy lạnh lùng hỏi:

- Tĩnh Điệp Hầu có đùa không đấy?

Hoàng tôn Dương mới mười tám tuổi, chưa từng biết việc binh nhung, thì sao có thể cầm quân đánh giặc Tây Sơn?

Nguyễn Đăng Trường bình thản đáp:

- Nếu Hoàng tôn Dương vào trấn Quảng Nam thì không cần dùng đến binh đao.

Quân Tây Sơn danh nghĩa tôn phò Hoàng tôn Dương đánh đổ quan Quốc phó để thu chúng động binh.

Nay Chúa thượng hãy phong cho Hoàng tôn Dương làm Đông cung Thế tử, cho vào trấn đất Quảng Nam.

Rồi sai Hoàng tôn Dương viết thư cho Nguyễn Nhạc nói rằng: Chúa thượng và Hoàng tôn lúc ấy đều nhỏ dại, việc soán nghịch là do quan Quốc phó chuyên quyền làm bậy, nay Chúa thượng đã thu giữ binh quyền, giáng chức Quốc phó về làm dân dã, phong Hoàng tôn làm Đông cung Thế tử, vào trấn đất Quảng Nam.

Nếu làm như thế thì quân Tây Sơn không lấy danh nghĩa gì mà tiến quân cho được.

Nếu chúng bỏ danh nghĩa tôn phò mà đánh quân Hoàng tôn ở Quảng Nam thì lòng người tan rã, việc ấy chắc chắn Nguyễn Nhạc không làm.

Ấy là kế sách vẹn toàn, xin Chúa thượng chớ nên chậm trễ.

Định Vương mừng rỡ khen rằng:

- Ấy thật là diệu kế!

Bỗng Trương Phúc Loan quát:

- Nguyễn Đăng Trường to gan phạm thượng.

Ngươi bảo ta là chuyên quyền làm bậy.

Vậy ngươi dám bảo là Chúa thượng soán nghịch hay sao?

Chúa thượng sao không lệnh chém đầu làm gương cho kẻ khác!

Đăng Trường không chút sợ hãi, nói:

- Thần không có ý đó.

Ấy là ta mượn danh nghĩa Hoàng tôn Dương nói với giặc Tây Sơn như thế thôi.

Xin Quốc phó hãy dẹp bỏ lòng tự ti vị kỷ mà lấy xã tắc làm trọng.

Nếu không làm như thế thì chẳng còn cách nào có thể cứu chúa ta trong cơn nguy khốn được đâu!

Định Vương xen vào nói:

- Lời Tĩnh Điệp Hầu nói rất phải.

Nay xã tắc ngả nghiêng, tình thế nguy ngập như ngàn cân treo sợi tóc.

Nếu không dùng kế này thì cơ nghiệp của nhà Nguyễn ta ắt là sụp đổ.

Quốc phó chớ nên nóng giận vì những lời trung nghĩa của Tĩnh Điệp Hầu.

Phúc Loan giận lắm nhưng vì có lệnh chúa nên đành bấm bụng ngồi im.

Chúa Định vương liền sai người đi mời Hoàng tôn Dương đến bệ kiến.

Định Vương vừa trông thấy liền ôm chầm lấy Nguyễn Phúc Dương khóc lớn:

- Cháu ơi!

Cơ nghiệp nhà Nguyễn ta đến đây là tan nát mất rồi!

Nguyễn Phúc Dương dìu chúa đến ngai vàng an toạ rồi nói:

- Xin Chúa thượng đừng nên bi lụy.

Cháu từ lâu không tham gia việc triều chính quốc gia, nhưng vẫn biết nước nhà đang trong cơn nguy khốn.

Chẳng hay Chúa thượng cho gọi cháu có điều gì sai bảo?

Định Vương vẫn khóc, vỗ tay lên ngai nói:

- Cái ngai vàng này vốn là của cháu, nhưng lúc ấy cháu còn nhỏ dại, nên lúc lâm chung Phụ vương mới cho ta kế vị.

Nay ta phong cho cháu làm Đông cung Thế tử vào trấn đất Quảng Nam chặn giặc Tây Sơn, còn ta sẽ đem quân ra sông Linh Giang đánh Trịnh.

Đợi khi non nước bình yên ta sẽ thoái vị nhường ngôi chí tôn cho cháu vốn dòng chính thống.

Cháu hãy vì cơ nghiệp nhà Nguyễn ta chớ khá chối từ.

Nguyễn Phúc Dương nghe nói được phong làm Đông cung Thế tử trong bụng mừng thầm, nhưng phải vào Quảng Nam đánh giặc Tây Sơn thì lo sợ hỏi:

- Đánh giặc Tây Sơn đã có tướng quân Nguyễn Văn Hoằng.

Cháu chưa từng trải việc quân cơ, đánh nhau với Tây Sơn thế nào được?

Định Vương trấn an rằng:

- Nói là vào chặn Tây Sơn nhưng không phải cầm quân đánh giặc.

Tĩnh Điệp Hầu Nguyễn Đăng Trường vừa thảo xong một bức thư, cháu cứ sai người mang thư này cho Nguyễn Nhạc.

Nguyễn Nhạc tất phải nghe lời cháu mà không dám tiến binh.

Nói rồi liền trao thư cho Phúc Dương.

Dương xem xong mừng rỡ reo lên:

- Ấy thật là diệu kế.

Nhưng tại sao trong thư bảo giáng chức Quốc phó, cho về làm dân dã mà Quốc phó vẫn đứng hầu bên Chúa thượng vậy?

Trương Phúc Loan giận dữ mắng rằng:

- Thằng con nít không được vô lễ.

Ta là Quốc phó nắm quyền nhiếp chính, muốn phong cho ngươi làm Thế tử hay giết ngươi là quyền của ta.

Nếu không nể vì Chúa thượng thì ta đã lôi ngươi ra chém tức thì.

Phúc Dương quăng thư xuống đất nói:

- Nếu vậy thì ngươi cứ chém ta đi, rồi quân Tây Sơn sẽ kéo đến đây bằm ngươi làm trăm mảnh.

Năm xưa ngươi giết chết Hoàng tử Nguyễn Phúc Luân và Thái úy Trương Văn Hạnh, lại giam lỏng ta suốt chín năm nay.

Nếu ta là Đông cung Thế tử thì không có Trương Phúc Loan làm Quốc phó.

Phúc Loan giận quá thét:

- Võ sĩ đâu lôi ra chém!

Quan Đô thống chưởng cấm vệ là Chữ Đức làm thinh, không hạ lệnh cho võ sĩ vào bắt Nguyễn Phúc Dương.

Trương Phúc Loan run lên hét:

- Chữ Đức, ngươi có nghe lệnh ta không?

Chữ Đức đáp:

- Thưa Quốc phó, có!

Loan vênh mặt lên hỏi:

- Sao còn chưa tuân lệnh?

Đức cúi đầu đáp:

- Nếu giết Hoàng tôn chẳng may giặc kéo đến thì chúa tôi của ta cũng phải chết theo.

Phúc Loan lúc ấy già quá thét ít câu thì đã hụt hơi, vừa mệt run run hỏi:

- Ngươi chẳng sợ ta sao?

Chữ Đức lầm lì đáp :

- Sợ Quốc phó không bằng sợ giặc!

Thần giờ chỉ nghe lệnh của Chúa thượng mà thôi.

Phúc Loan gắng gượng nói:

- Năm xưa chính ta đã lập kế đưa Đô thống Ngô Mãnh ra khỏi kinh thành, cất nhắc ngươi thay Ngô Mãnh làm Đô thống, nay ngươi lại trở mặt phản ta sao?

Nét mặt không thay đổi, Đức đáp:

- Không còn cách nào khác.

Quân Tôn Thất Hương ba vạn bị Tây Sơn đánh một trận không một người chạy thoát.

Nay điều hai vạn quân ra Bắc đánh Trịnh thì Nguyễn Văn Hoằng chỉ còn một vạn quân trấn giữ mặt Nam.

Nếu không có Hoàng tôn Dương thì lấy ai khiển giặc?

Thần không phải là phụ ơn Quốc phó, nhưng chỉ làm theo cái lẽ sinh tồn.

Nghe Chữ Đức nói xong Phúc Loan thất vọng thả mình xuống ghế chẳng nói ra lời.

Các quan văn võ thấy thế đều khấp khởi mừng thầm.

Nguyễn Đăng Trường bước ra nói:

- Kính Chúa thượng, nay Chữ Đức đã nghe lệnh của Chúa thượng, thật là hồng phúc của nước nhà.

Thần xin tiến cử một người chặn được đường tiến binh quân Trịnh.

Chữ Đức vội vàng nói:

- Ta vốn sức mạnh hơn người, tinh thông võ nghệ nên thống lĩnh năm ngàn quân cấm vệ, chứ thật ra tài điều binh không thể bằng Tôn Thất Tiệp và Nguyễn Văn Chính được.

Nguyễn Đăng Trường cười nói:

- Tôi không tiến cử tướng quân đâu, người mà tôi tiến cử chính là quan Quốc phó đó!

Chúa Định vương ngạc nhiên hỏi:

- Quốc phó đã răng long đầu bạc còn đánh giặc nỗi gì?

Nguyễn Đăng Trường ung dung đáp:

- Quân Trịnh kéo quân đến Linh Giang đã cho người truyền hịch các nơi rằng: Chỉ đem quân vào bắt Quốc phó Trương Phúc Loan để trừ hại cho dân, chứ không có ý xâm phạm đất đai của ta.

Vậy Chúa thượng nên bắt Phúc Loan mà nộp cho Trịnh Sâm, thì quân Trịnh lấy cớ gì để tiến binh được nữa.

Chúng đã truyền hịch đi cùng khắp thiên hạ, lý đâu Trịnh Sâm quyền hơn vua một nước mà lại nuốt lời.

Các quan đồng thanh nói:

- Lời Tĩnh Điệp Hầu rất phải.

Xin Chúa thượng nghe theo để giữ yên xã tắc.

Định Vương vốn cảm cái ơn Phúc Loan đưa mình lên ngôi chúa còn đang phân vân, thì Chữ Đức đã sai quân trói Phúc Loan, lột cân đai áo mão.

Phúc Loan ngửa mặt lên trời than rằng:

- Lúc trước ta có thề trước mặt Tiên Vương là sẽ làm theo lời di chiếu.

Không ngờ lời thề ấy nay lại thành sự thật.

Trong cõi đời này lại có trời đất thật sao?

Chúa thấy các quan đều đồng lòng chẳng biết làm sao đành lệnh tạm giam Trương Phúc Loan, sai Nguyễn Văn Chính và Tôn Thất Tiệp vào Quảng Nam lãnh hai vạn binh điều ra mặt Bắc, lại trao ấn Đông cung Thế tử cho Nguyễn Phúc Dương vào Quảng Nam trấn thủ.
 
Tây Sơn Bi Hùng Truyện
Chương 13


Lũy Trường Dục, Nguyễn Hữu Chỉnh lập công.

Thành Thăng Long, Trương Phúc Loan đền tội.

Nói về thủy quân Trịnh do Hoàng Đình Bảo thống lĩnh vào đóng ở cửa biển Nhật Lệ.

Quân bộ do Hoàng Ngũ Phúc thống lĩnh, thấy thủy quân mình vào cửa Nhật Lệ và quân Nguyễn lui về lũy Trường Dục cố thủ, Ngũ Phúc liền cho quân vượt sông Linh Giang lập doanh trại ở Nam châu Bố Chánh.

Hoàng Ngũ Phúc dẫn các tướng ra các doanh trại chỉ vào lũy Trường Dục mà nói:

- Thành Trường Dục lũy cao hào sâu, quân Nguyễn lại đặt súng đại bác cung tên rất nhiều trên mặt thành.

Theo các ngươi ta phải đánh thế nào mới hạ được thành?

Hoàng Đình Thể nói:

- Thưa thượng tướng, theo tôi ta nên tập trung súng đại bác bắn cho thành tan vỡ, rồi cho quân tràn vào thì chắc rằng sẽ chiếm được lũy Trường Dục.

Tiền Đình Hầu Hoàng Đình Thể vừa dứt lời, bỗng nghe tiếng nói lớn:

- Nếu đánh thế không thể nào thắng được!

Mọi người nhìn lại thấy một người vừa mới nói tuổi trạc ba mươi, dáng dấp ung dung, mặt mày đĩnh ngộ.

Hoàng Ngũ Phúc hỏi:

- Ngươi là ai?

Huy Đình Hầu Hoàng Đình Bảo bước ra nói:

- Thưa tướng công người này ở Châu Lộc Nghệ An, tên Nguyễn Hữu Chỉnh văn võ song toàn, năm mười sáu tuổi đã thi đỗ hương cống, lúc trước vẫn thường theo tôi đi đánh giặc bể, rất giỏi thủy chiến, hiện đang ở dưới trướng của tôi.

Hoàng Ngũ Phúc hỏi Chỉnh:

- Vì sao ngươi lại nói rằng đánh như thế thì không thắng được?

Chỉnh thi lễ rồi đáp:

- Luỹ Trường Dục này là do Đào Duy Từ xây dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên chống nhau với quân ta đến nay đã hơn một trăm năm.

Thành này kiên cố vô cùng, vả lại súng đại bác của địch đặt trên mặt thành, đại bác của ta chưa bắn đến thành thì đã bị súng địch bắn ta rồi vậy.

Ngũ Phúc trầm tư nói:

- Thành Trường Dục này kiên cố thế ư?

- Đội nhiên Phúc hỏi Chỉnh - Đào Duy Từ là người thế nào?

Chỉnh đáp:

- Đào Duy Từ lúc còn nhỏ chăn trâu thường ví mình như Gia Cát Lượng.

Đến lúc chúa Sãi rước về phong làm Nội Tán tước Khê Lộc Hầu.

Chúa Sãi có làm bài thơ tặng Đào Duy Từ rằng:

Vó ngựa sườn non tuyết lạnh lùng Cầu hiền lặn lội biết bao công Đem câu tá Hán ra dò ý

Lấy nghĩa tôn Lưu để ướm lòng Bờ cõi đón chia ba thế đất

Biên thùy ngăn cách một dòng sông Nếu như không có lời Nguyên Trực Thì biết đâu mà đón Ngọa Long

Xem thế đủ biết Chúa Sãi cũng ví Đào Duy Từ như Gia Cát Lượng đời Hán vậy.

Nguyễn Hữu Chỉnh nói thao thao.

Ngũ Phúc nghe xong cười rằng:

- Việc hơn một trăm năm trước mà ngươi vẫn thuộc làu làu, thật là thông kim bác cổ.

Còn việc ngày nay theo ngươi thì phải đánh lũy Trường Dục như thế nào?

Chỉnh đáp:

- Quan trấn thủ thành Trường Dục tên Nguyễn Duy cũng là người quê ở Nghệ An vốn cùng tôi là huynh đệ đồng môn.

Nay tôi xin vào thành đem ba tấc lưỡi thuyết Nguyễn Duy về hàng thì quân ta đã vào được cửa ngõ Thuận Hoá mà không tốn công sức vậy.

Hoàng Ngũ Phúc mừng rỡ khen:

- Ngươi quả nhiên là đa mưu túc trí.

Nếu đại sự mà thành thì ngươi là kẻ có công đầu trong cuộc Nam chinh đó!

Nói rồi cùng vào doanh trại truyền quân bày tiệc rượu khao Nguyễn Hữu Chỉnh đợi ngày mai vào thành Trường Dục.

Ngày hôm sau tướng Nguyễn giữ thành Trường Dục là Nguyễn Duy nghe quân vào báo:

- Có một người từ quân Trịnh sang xưng tên là Nguyễn Hữu Chỉnh xin ra mắt tướng quân.

Nguyễn Duy liền cho võ sĩ cầm gươm trần đứng giăng hàng hai bên rồi cho mời Hữu Chỉnh vào.

Chỉnh vào đến trông thấy hàng võ sĩ mặt đằng đằng sát khí liền cười lớn:

- Cách nhau đã mười năm giờ mới hội ngộ, sư huynh lại dằn mặt nhau đến thế.

Xin hỏi nếu sư huynh bệnh nặng, tôi mang thuốc đến sư huynh lại đối đãi tệ bạc đến thế ư?

Nguyễn Duy liền đuổi võ sĩ ra ngoài, mời Chỉnh ngồi rồi nói:

- Tôi cùng sư đệ vốn rất hiểu lòng nhau.

Nhưng tôi vẫn mạnh khoẻ như xưa, sao Nguyễn đệ lại nói tôi bệnh nặng là ý làm sao?

Nguyễn Hữu Chỉnh lại cười nói:

- Hiện quân ở thành Trường Dục này của sư huynh chỉ có năm ngàn, còn quân Trịnh tôi hùng binh bốn vạn.

Vả lại quân ở kinh thành Phú Xuân đã đưa cả vào Quảng Nam chống giặc Tây Sơn.

Sư huynh ở cái lũy cỏn con này không binh cứu viện, ấy chẳng phải là chứng bệnh nan y đó sao?

Nguyễn Duy cũng cười lớn nói:

- Đành rằng là như vậy nhưng lũy này của Khê Lộc Hầu Đào Duy Từ đắp, đạn bắn không vỡ.

Năm xưa Trương Phúc Phấn chỉ có mấy ngàn quân đánh nhau với đại binh của Trịnh Tráng vẫn giữ vững thành trì.

Nay ta cứ canh phòng nghiêm ngặt không ra đánh thì quân Trịnh làm gì được ta?

Nguyễn Hữu Chỉnh nghe Duy nói xong càng cười to hơn nữa, cười đến chảy nước mắt.

Nguyễn Duy ngạc nhiên hỏi:

- Tại sao huynh lại cười mãi thế?

Chỉnh nghiêm nét mặt nói:

- Sư huynh nên xét lại.

Thế cuộc mỗi ngày một khác nhau.

Năm xưa quân Nguyễn trên dưới đồng lòng, từ quân đến tướng muôn người như một.

Vả lại mấy ngàn quân của Trương Phúc Phấn liều mình chống giữ lũy Trường Dục vì tin rằng sớm chiều tất có viện binh.

Quả nhiên viện binh của chúa Nguyễn kéo ra liền đánh lui quân Trịnh khỏi sông Linh Giang.

Còn nay, trong triều thì Phúc Loan lộng quyền làm lắm điều xằng bậy khiến lòng người ly tán.

Vậy nên ở đất Quy Nhơn giặc Tây Sơn mới nổi dậy đánh phá, chúa Nguyễn phải sai tướng đem toàn quân ở kinh thành cứu viện Quảng Nam.

Thành Trường Dục tuy rằng kiên cố, nhưng ba quân đả chán, chúa nản lòng thì làm gì đem hết sức mà đánh giặc.

Xem lại việc lúc thủy quân của chúa Trịnh tôi vào cửa bể Nhật Lệ thì thủy quân của sư huynh liền vào chạy vào thành cố thủ, ấy là minh chứng rõ ràng.

Cái lẽ được thua ở thành Trường Dục này xem ra đã rõ.

Vả lại cơ đồ của nhà Nguyễn đã đến hồi mạt vận, trong thì mục nát, ngoài thì hai đầu thọ địch, dẫu rằng Tôn Ngô sống lại cũng phải bó tay.

Sư huynh là người thông minh hơn người lại chẳng thấy điều đó hay sao?

Nguyễn Duy buồn bã đáp:

- Chẳng phải là tôi không biết việc ấy.

Những muốn theo về chúa Trịnh, nhưng còn phân vân người ta đối đãi với bại tướng ra sao...

Duy nói đến đây bỏ lửng.

Hữu Chỉnh tươi cười bảo:

- Việc này sư huynh chớ lo, tôi xin tiến cử sư huynh lên thượng tướng công Hoàng Ngũ Phúc, thì danh lợi nào kém gì làm quan cho chúa Nguyễn.

Nguyễn Duy cả mừng nắm tay Chỉnh nói:

- Ơn của sư đệ chẳng bao giờ dám quên.

Phiền sư đệ về thưa cùng Hoàng tướng công ngày mai tôi xin mở cửa ra hàng.

Hôm sau, tháng mười hai năm Giáp Ngọ (1774) niên hiệu Cảnh Hưng thứ ba lăm, Hoàng Ngũ Phúc lấy được thành Trường Dục không tốn một mũi tên hòn đạn.

Phúc khen thưởng Hữu Chỉnh rất hậu và vẫn để Nguyễn Duy ở lại giữ thành, còn mình đem đại binh tiến lên đóng ở làng Hố Xá (Quảng Trị ngày nay).

Ngày ấy Hoàng Ngũ Phúc họp các tướng nói:

- Chúa Nguyễn vừa mới đưa thư cho ta hẹn trong mười hai ngày sẽ nộp Phúc Loan, và yêu cầu quân ta sau khi bắt được Phúc Loan thì hãy lui quân trả đất cho họ Nguyễn.

Các ngươi thấy thế nào?

Hoàng Đình Bảo khoát tay nói:

- Mục đích của ta là chiếm đất nhà Nguyễn, diệt trừ Phúc Loan chỉ là cái cớ.

Nay vô lẽ bắt được Phúc Loan lại lui quân trả đất, thì thật là tốn công vô ích!

Hoàng Đình Thể và Hoàng Phùng Cơ cùng nói:

- Lời Huy Đình Hầu nói rất phải.

Nếu bắt được Phúc Loan rồi ta cứ tiến binh thì đã làm sao?

Ngũ Phúc lắc đầu bảo:

- Các ngươi nói sai rồi.

Đại trượng phu phải lấy chữ tín làm đầu, huống chi ta vâng lệnh Chúa thượng truyền hịch khắp nơi là chỉ diệt trừ Phúc Loan chứ không xâm phạm đất đai của nhà Nguyễn.

Nay nuốt lời tiến quân e rằng chúa ta mang tiếng thất tín với thiên hạ.

Ngộ nhỡ chúa bắt tội thì ta biết ăn nói ra sao?

Chi bằng ta án binh bất động rồi giải Phúc Loan về kinh đồng thời xin lệnh chúa thế nào!

Nguyễn Hữu Chỉnh đứng dậy thưa:

- Việc quân thành bại cốt ở thời cơ, nay thành Phú Xuân trống rỗng, ta mang đại binh vào đánh một trận ắt thu phục được kinh thành nhà Nguyễn.

Nếu chờ họ giao nộp Phúc Loan rồi về kinh, lại chờ chiếu lệnh vào, mất ít thì cũng hơn một tháng.

Lỡ họ lùi được quân Tây Sơn rồi điều binh ra ngoài cứu viện thì thật khó khăn cho ta.

Theo ý tôi sau khi bắt được Phúc Loan, tướng công hãy truyền hịch và thư cho chúa Nguyễn rằng: Tuy bắt được Phúc Loan nhưng miền Trong hãy còn giặc Tây Sơn, ta xin đem quân vào Phú Xuân hợp sức dẹp giặc.

Nếu chúa Nguyễn không bằng lòng thì ta đã có cớ để tiến binh.

Tôi chắc rằng Chúa thượng hay được chẳng những không bắt tội mà còn trọng thưởng cho tướng công nữa.

Ngũ Phúc mừng rỡ khen:

- Hữu Chỉnh quả là cao kiến!

Miễn làm sao có cớ để tiến quân, trên không mắc tội với chúa, dưới không ngượng miệng với dân.

Dù ai đàm tiếu mặc lòng.

Nói xong truyền quân bày yến tiệc, lệnh cho tướng sĩ án binh bất động, chờ ngày quân Nguyễn giao nộp Phúc Loan.

****

Khi ấy ở thành Phú Xuân, chúa Nguyễn Định Vương sai quân bắt Phúc Loan bỏ vào tù xa mang ra nộp cho Hoàng Ngũ Phúc.

Lúc ra khỏi hoàng cung dân chúng trong kinh thành đổ xô đến xem, người đông nghìn nghịt.

Có kẻ mắng:

- Chính do mày mà dân tình thống khổ, đất nước ngửa nghiêng.

Nay mày dù chết đi cũng chưa đền hết tội.

Kẻ khác lại nhạo:

- Ngày nào thì lên xe xuống ngựa, uy quyền tột đỉnh, muốn chém giết ai mặc lòng.

Nay bị người khác giết lại ấy cũng là quả báo mà thôi!

Trương Phúc Loan nghĩ thầm:

- Năm xưa ta có thề với Tiên vương rằng: Nếu mà gian dối thì sẽ bị trăm quan bắt nộp cho địch quân xử tội bêu đầu.

Nay lời thề xưa đã ứng.

Thật là có quả báo không sai!

Hoàng Ngũ Phúc đã được Trương Phúc Loan rồi, sai quân giải về Thăng Long cho Trịnh Sâm xét xử.

Trịnh Sâm truyền đem ra chém.

Giao nộp Phúc Loan xong chúa tôi nhà Nguyễn chờ tin quân Trịnh lui binh.

Bỗng một hôm nhận được thư Hoàng Ngũ Phúc, chúa Nguyễn Định vương đọc xong quăng thư xuống đất nghiến răng trợn mắt quát:

- Thằng Hoàng Ngũ Phúc thật là quân bội tín.

Ta giao nộp Quốc phó cho chúng những tưởng chúng sẽ lui quân, ngờ đâu nay chúng viết thư bảo: Trong Quảng Nam hãy còn giặc Tây Sơn, chúng sẽ đem quân vào Phú Xuân hợp sức cùng quân ta dẹp giặc.

Thật là phường điêu ngoa dối trá.

Nếu biết vậy cần gì phải hy sinh Quốc phó.

Thấy chúa nóng giận, Nguyễn Đăng Trường can:

- Xin Chúa thượng bớt giận, ta giao nộp quan Quốc phó ấy là kế hoãn binh chờ Tôn Thất Tiệp và Nguyễn Văn Chính điều binh ở Quảng Nam ra cứu viện, thì không phải là Quốc phó hy sinh vô ích.

Nay có lẽ Tiệp và Chính cũng sắp về đến.

Trường vừa dứt lời có quân vào báo:

- Kính Chúa thượng, tướng quân Tôn Thất Tiệp và Nguyễn Văn Chính dẫn quân về đang đợi lệnh ở cổng Nam kinh thành.

Chúa Định Vương liền bảo:

- Hãy mau truyền hai tướng vào ngay!

Tiệp và Chính vào đến, chúa vội vàng nói:

- Hai tướng về thật là đúng lúc.

Nay Nguyễn Duy đã mở cổng thành Trường Dục đầu hàng quân Trịnh.

Quân địch chỉ cách kinh thành chừng vài trăm dặm, hai tướng hãy kíp đem quân ra Bắc đánh giặc.

Tôn Thất Tiệp thất kinh nói:

- Thôi chết!

Lâu nay ta chống nhau với quân Trịnh cốt nhờ vào thành Trường Dục, nay thành đã mất e rằng khó giữ được kinh thành.

Nguyễn Đăng Trường trấn an hai tướng:

- Nhị vị tướng quân chớ nên lo sợ.

Tuy thành Trường Dục đã mất, nhưng giặc chưa đến sông Bái Đáp Giang, xin Tôn tướng quân mau dẫn bộ binh và Nguyễn tướng quân mau đem thủy binh cùng đến sông Bái Đáp Giang (Bến Hải ngày nay) gắng sức chống giặc.

Chờ lão tướng Tống Phước Hiệp dẹp xong giặc Tây Sơn rồi hợp quân đánh Trịnh ắt là khôi phục được cơ đồ.

Tiệp và Chính cùng khóc lạy chúa, Chính nói:

- Người xưa có nói: Nuôi quân ba năm dụng một giờ.

Nhà chúng tôi đã mấy đời công hầu thọ ơn sâu của chúa.

Giặc đến, phận làm tướng phải liều mình vì xã tắc, dù không thắng được giặc chúng tôi xin chết giữa sa trường để đền nợ quân vương.

Chúa cũng cầm tay hai tướng khóc:

- Nước loạn mới biết trung thần, nay xã tắc ngửa nghiêng, ta chỉ còn trông cậy vào hai tướng mà thôi.

Hai khanh nên gắng sức, mau báo tiệp khải hoàn cho an lòng quả nhân.

Tiệp và Chính lại khóc lạy, trước lúc ra đi còn bịn rịn không rời.

Tôn Thất Tiệp dẫn bộ binh một vạn đến đóng đồn bố trận ở bờ Nam sông Bái Đáp Giang, còn Nguyễn Văn Chính dẫn thủy binh một vạn đến đóng thủy trại ở ngoài cửa bể Bái Đáp Giang.
 
Tây Sơn Bi Hùng Truyện
Chương 14


Bái Đáp Giang, Hoàng Ngũ Phúc điều binh.

Phú Xuân thành, Tĩnh Điệp Hầu cứu chúa.

Nói về tướng Nguyễn là Tôn Thất Tiệp và Nguyễn Văn Chính đem quân thủy bộ đến đóng ở Bái Đáp Giang.

Quân Trịnh về phi báo cùng Hoàng Ngũ Phúc, Phúc hội các tướng nói:

- Nay quân Nguyễn đem thủy bộ binh hai vạn đến chặn đường tiến quân của ta ở sông Bái Đáp Giang.

Chứng tỏ chúa Nguyễn biết mẹo hợp quân Phú Xuân để đánh giặc Tây Sơn của ta là giả.

Vậy nay chỉ còn một cách là tranh thắng bại giữa trận tiền mà thôi.

Các tướng sẵn sàng nghe lệnh: Hoàng Phùng Cơ lãnh ấn tiên phong đem năm ngàn quân khi nào thấy lửa cháy phía sau lưng địch thì vượt sông đánh thẳng vào đồn địch, ta sẽ đem đại binh đáp ứng.

Hoàng Đình Bảo, Nguyễn Hữu Chỉnh lãnh thủy binh đánh thẳng vào thủy trại địch ở Bái Đáp Giang.

Quân Nguyễn miễn cưỡng ra trận, trong lòng chỉ nghĩ thua mà không nghĩ thắng.

Quân ta chỉ có tiến chứ chẳng có lùi.

Nếu ai không thắng thì đừng về đây gặp mặt ta.

Hãy mau sửa soạn xuất quân.

Hoàng Phùng Cơ, Hoàng Đình Bảo, Nguyễn Hữu Chỉnh vâng lệnh ra đi.

Hoàng Đình Thể không nghe gọi đến tên mình liền bước ra thưa:

- Năm xưa cháu đã từng theo chú xông pha trận mạc dẹp giặc khắp bốn phương Nam Sơn, Kinh Bắc, Hải Dương, Thanh Hoá.

Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Danh Phương, Lê Duy Mật nghe đến tên thảy đều khiếp sợ.

Nay Bình Nam đánh Nguyễn các tướng đều được lãnh binh dẹp giặc, sao chú chê cháu là kẻ bất tài không cho ra trận?

Hoàng Ngũ Phúc nghe nói cả cười:

- Tài của cháu từ xưa ta đã biết thì lý đâu chê cháu bất tài.

Hoàng Đình Thể vẫn ấm ức hỏi:

- Thế thì vì lẽ gì không cho cháu ra trận lập công?

Phúc vờ lo lắng nói:

- Phùng Cơ và Đình Bảo cũng đều là cháu của ta, nhưng chỉ có cháu là dũng lược hơn cả.

Nay ta muốn giao cho cháu một trọng trách, không biết cháu có làm nổi chăng?

Đình Thể nói:

- Dù việc khó đến mấy cháu cũng xin hoàn thành.

Nếu không, xin thượng công cứ xử theo tướng lệnh.

Ngũ Phúc truyền lệnh:

- Nay quân Nguyễn đắp đồn đặt súng ở bên kia sông.

Nếu quân ta tấn công trực diện nhất định là tổn thất lớn.

Ớ phía Tây doanh trại của ta có một hòn núi, sau lưng hòn núi có con đường nhỏ, cháu hãy lãnh năm ngàn tinh binh đi theo đường này, bí mật vượt sông đánh sau lưng quân địch, chúng không phòng bị ắt trở tay không kịp tất phải đại bại.

Khi ấy ta thừa thắng tiến thẳng vào Phú Xuân.

Hoàng Đình Thể vâng lệnh đi ngay.

****

Nói về tướng Nguyễn là Tôn Thất Tiệp và đô đốc thủy binh Nguyễn Văn Chính đóng quân tại Bái Đáp Giang ngày đêm canh phòng cẩn mật.

Một sớm tinh mơ bỗng thấy quân Trịnh dùng thuyền nhỏ định vượt sông.

Tôn Thất Tiệp chờ quân Trịnh ra đến giữa sông mới lệnh cho quân bắn súng và tên ra như mưa.

Thuyền quân Trịnh đắm vỡ rất nhiều, vội vã lui quân.

Tôn Thất Tiệp mừng quá cười nói với tả hữu rằng:

- Quân Trịnh đã lui quân.

Ta cứ canh phòng cẩn mật thế này ắt chúng không thể nào vượt sông được.

Chỉ lo cho thủy binh của Nguyễn Văn Chính mà thôi!

Vừa nói xong quân do thám về báo:

- Thưa tướng quân, lính trên thuyền quân Trịnh toàn là hình nộm cả.

Tiệp thất kinh chưa biết quân Trịnh dùng kế gì, chợt thấy hậu quân mình hỗn loạn, tiếng hò reo vang dậy, lửa cháy rực trời.

Có tên quân hớt hải chạy về báo:

- Thưa tướng quân, quân Trịnh từ trong núi đổ ra đánh vào sau đồn của ta.

Quân ta bị bất ngờ đánh không lại, xin tướng quân định liệu.

Tôn Thất Tiệp phi ngựa về phía hậu quân rút gươm hô:

- Ba quân bình tĩnh theo ta đánh giặc, ai sợ giặc mà lui, chém!

Vừa nói xong tướng Trịnh là Hoàng Đình Thể đã lướt ngựa đến quát:

- Quân của ta hai mặt giáp công, tướng Nguyễn sao chưa xuống ngựa đầu hàng.

Tôn Thất Tiệp quay nhìn phía trước đồn, thấy quân Trịnh đã vượt sông tràn vào như thác lũ, quân mình hoảng sợ vứt giáo chạy dài, Tiệp liền quay sang đánh cùng Hoàng Đình Thể định mở đường máu chạy thoát về kinh.

Được vài hiệp Tôn Thất Tiệp bị Hoàng Đình Thể chém chết.

Quân Trịnh thừa thắng giết quân Nguyễn chết không biết bao nhiêu mà kể, số còn sống tan hàng chạy trốn vào đồng hoang rừng rậm.

Một số theo bờ sông chạy ra cửa bể đến với thủy quân Nguyễn Văn Chính.

Ngờ đâu thủy trại quân Nguyễn bị thủy quân Trịnh do hai tướng là Hoàng Đình Bảo và Nguyễn Hữu Chỉnh đánh giết tơi bời.

Nguyễn Văn Chính cố sức chống giữ nhưng lòng quân tan rã không còn bụng dạ nào đánh nhau với giặc.

Nguyễn Văn Chính chống không nổi trúng tên chết.

Quân Nguyễn thấy chủ chết liền xuôi thuyền chạy về Nam.

Thủy bộ quân Nguyễn thảy đều đại bại, mười phần còn một chạy về kinh thành Phú Xuân.

Hoàng Ngũ Phúc xua quân đuổi theo, thừa thắng tiến đánh Phú Xuân.

****

Nói về chúa Nguyễn Định Vương ngày đêm bồn chồn lo lắng.

Chợt bại binh chạy về báo:

- Chúa thượng ơi, nguy rồi!

Thủy bộ quân của ta bị tướng Trịnh là Hoàng Ngũ Phúc đánh tan cả.

Tôn tướng quân và Nguyễn đô đốc đều tử trận.

Hiện quân Trịnh đang tiến vào cách kinh thành năm mươi dặm.

Chúa Nguyễn nghe xong như sét đánh ngang mày, bàng hoàng khóc lớn rằng:

- Điều mà ta lo lắng nay đã thành sự thật.

Tĩnh Điệp Hầu ơi!

Giờ phải liệu làm sao?

Nguyễn Đăng Trường luôn túc trực bên chúa liền tâu:

- Xin Chúa thượng hãy bình tĩnh, lệnh cho Chữ Đức đem năm ngàn quân cấm vệ bảo vệ Chúa thượng cùng hoàng thân quốc thích đi đường bộ vào Quảng Nam hợp cùng quân Đông cung Nguyễn Phúc Dương tìm kế chống giữ.

Một mình thần xin ở lại kinh thành chặn giặc.

Chữ Đức hỏi:

- Năm ngàn quân cấm vệ tôi đều mang theo để bảo vệ Chúa thượng.

Trong thành không có một tên quân, Tĩnh Điệp Hầu làm sao ngăn được bốn vạn quân Trịnh.

Trường đáp:

- Việc gấp lắm rồi ông hãy mau hộ giá đi ngay.

Tôi chỉ nhất thời ngăn giặc không cho chúng đuổi kịp Chúa thượng mà thôi, chứ không thể giữ được thành trì.

Khi chúa vào đến Quảng Nam ông hãy lãnh ba ngàn quân ở lại trấn giữ ải Hải Vân.

Ải này một bên núi cao hiểm trở, một bên vực sâu muôn trượng, đóng quân ở trên cao một có thể đánh trăm.

Nếu ba quân đồng lòng gắng sức, quân Trịnh không thể nào vượt khỏi Hải Vân quan.

Rồi Trường ôm chân chúa khóc nói:

- Xin Chúa thượng lên đường bảo trọng.

Nếu thần chết thì làm ma nhà Nguyễn, nếu còn

sống thì dù ngàn dặm quan san cách trở, cũng tìm đường theo Chúa mà thôi.

Chúa đỡ Nguyễn Đăng Trường dậy, khóc rằng:

- Thế mới biết lòng trung dũng của quan văn có thua gì võ tướng.

Nếu lúc trước ta đừng nghe lời Phúc Loan xây cung điện Phấn Dương tăng cao sưu thuế thì có đâu đến nỗi.

Nay thì cả cơ đồ cũng đổ nát, kể gì đến cung điện Phấn Dương.

Nói rồi cùng Chữ Đức vội vã ra đi.

Chờ chúa và hoàng thân quốc thích ra cổng thành Nam xong, Nguyễn Đăng Trường bèn sai người hạ hết cờ hiệu trên mặt thành, mở toang cổng thành phía Bắc, rồi cầm bút nghiên tự tay viết trước cổng thành mấy chữ rằng: "Mở cổng thành giết Hoàng Ngũ Phúc".

Viết xong về nhà đỡ mẹ lên ngựa, Đăng Trường giả dạng thường dân, hai mẹ con lên lưng một con ngựa ra cổng thành Nam bôn ba theo chúa!

****

Vừa lúc ấy Hoàng Ngũ Phúc dẫn đại binh đến cổng Bắc thành.

Thấy trên mặt thành im lặng như tờ, không quân tướng, không cờ quạt, cửa thành lại mở toang, cầu treo hạ xuống sẵn sàng.

Ngũ Phúc e ngại truyền quân dừng lại hỏi:

- Ở trước cổng thành có viết hàng chữ gì vậy?

Tiên phong Hoàng Phùng Cơ và Hoàng Đình Thể đến gần xem, về giận dữ nói:

- Thưa thượng công, quân Nguyễn thật là vô lễ.

Xin thượng công cho anh em tôi dẫn quân vào thành đánh một trận xem hư thực thế nào?

Ngũ Phúc nghiêm mặt hỏi:

- Ta hỏi ngươi hàng chữ ấy là chữ gì?

Hoàng Đình Thể đáp:

- Chúng viết rằng: Mở cổng thành giết Hoàng Ngũ Phúc.

Thưa chú theo cháu thì chúa tôi nhà Nguyễn đã bỏ thành trốn, mới viết hàng chữ này cho ta sinh nghi để khỏi đuổi theo chúng mà thôi.

Xin chú...

Ngũ Phúc ngắt lời hỏi:

- Nét chữ viết như thế nào?

- Chữ viết đẹp như rồng bay phượng múa.

Cháu chưa từng thấy ai viết chữ đẹp thế bao giờ.

Theo cháu đây là nét chữ của quan văn chứ không phải là võ tướng, chứng tỏ chúa Nguyễn hết tướng bỏ thành mà chạy, cho quan văn ra viết chữ để làm kế nghi binh.

Ngũ Phúc hạ lệnh:

- Truyền các tướng không được mạo muội vào thành.

Sai quân đắp đất bên ngoài rồi tập trung đại bác mà bắn vào thành khi nào thành vỡ mới được tiến quân.

Hoàng Phùng Cơ nóng ruột hỏi:

- Dám hỏi chú tại sao vì một hàng chữ ấy mà chú lại e ngại, không cho anh em cháu dẫn quân vào thành bỏ trống.

Phúc đáp:

- Các ngươi chỉ giỏi sức vóc đánh nhau mà chưa rành binh pháp, chưa nhìn sự việc mà biết được lòng người.

Để ta giải cho các ngươi nghe.

Nếu quan võ bỏ thành mà chạy thì quan văn còn bụng dạ nào mà cầm bút viết nên dòng chữ rồng bay phượng múa thế kia.

Chẳng qua chúng tưởng ta là đứa hữu dũng vô mưu nên dùng hàng chữ này khích ta để trúng kế không thành của chúng mà thôi.

Các ngươi không được nhiều lời, cứ y lệnh mà làm.

Hoàng Phùng Cơ và Hoàng Đình Thể bán tín bán nghi nhưng không dám nói, liền sai quân đắp đất thành ụ, kéo đại bác đặt trên ụ đất bắn vào thành.

Đại bác quân Trịnh ầm ầm bắn

vào thành cũng không thấy quân Nguyễn bắn trả.

Đến lúc một đoạn thành bị vỡ, quân Trịnh tràn vào mới biết là thành bỏ trống, chúa tôi họ Nguyễn đã rút chạy tự bao giờ.

Hoàng Ngũ Phúc đem quân vào thành khen rằng:

- Tấm lòng trung dũng của người viết hàng chữ này thật đáng để ta khâm phục biết bao!

Hoàng Ngũ Phúc cùng Hoàng Đình Thể, Hoàng Phùng Cơ và Nguyễn Hữu Chỉnh đem thủy binh vào tới.

Hoàng Ngũ Phúc sai người mang thư báo tiệp đã thu phục được thành Phú Xuân cho chúa Trịnh Sâm biết, rồi truyền mở tiệc khao quân.

****

Trong lúc quân Trịnh, Nguyễn đang đánh nhau ở thành Trường Dục thì trong doanh trại quân Tây Sơn ở bờ Nam sông Trà Khúc, quân do thám về báo cùng Nguyễn Nhạc:

- Tâu Chúa công, chúa Nguyễn phong Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương làm Đông cung Thế tử.

Hiện Đông cung đã vào trấn đất Quảng Nam.

Đông cung Nguyễn Phúc Dương liền sai hai tướng là Tôn Thất Tiệp và Nguyễn Văn Chính điều hai vạn quân ra Bắc đánh Trịnh.

Hiện ở bờ Bắc sông Trà Khúc chỉ còn một vạn quân cả thủy lẫn bộ do Nguyễn Văn Hoằng và Nguyễn Nghi thống lĩnh.

Nguyễn Nhạc mừng rỡ khen:

- Lúc trước quân sư dự đoán Nguyễn Văn Hoằng không dám vượt sông Trà Khúc quả nhiên là như thế.

Nay quân Trịnh lại đánh vào mặt Bắc, chúa Nguyễn phải điều hai vạn binh ra Bắc đánh Trịnh cũng không ngoài dự đoán của quân sư.

Quân sư thật là thần cơ diệu toán.

Đã đến lúc ta đem quân đánh chiếm Quảng Nam.

Các tướng Võ Đình Tú, Vũ Văn Nhận, Lý Tài, Tập Đình, Vũ Văn Dũng hăng hái đứng dậy nói:

- Xin Chúa công xuống lệnh xuất quân, chúng tôi xin liều mình vì dân tử chiến.

Quân sư Trương Văn Hiến vội vã khoát tay can rằng:

- Xin Chúa công chớ nên động binh!

Nguyễn Nhạc ngạc nhiên hỏi:

- Lúc trước quân sư bảo: chờ khi quân Nguyễn điều binh ra Bắc đánh Trịnh, ta sẽ chiếm đất Quảng Nam chẳng khó khăn gì.

Nay thời đã đến, sao quân sư lại nói chớ động binh?

Trương Văn Hiến trầm ngâm đáp:

- Chúa công dựng cờ khởi nghĩa ở đất Tây Sơn vốn lấy danh nghĩa tôn phò Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương, đánh đổ Quốc phó Trương Phúc Loan.

Người nghèo khổ theo ta để có cơm no áo ấm, còn kẻ sĩ nặng óc trung quân thì theo ta để giành lấy ngai vàng nhà Nguyễn về cho Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương là dòng chính thống.

Vậy nên quân ta đi đến đâu mọi tầng lớp nhân dân đều nhất tề hưởng ứng.

Nay Nguyễn Phúc Dương được phong làm Đông cung Thế tử, là người nối nghiệp chúa sau này lại vào trấn đất Quảng Nam, nếu ta động binh đánh Quảng Nam tức là đánh Hoàng tôn Dương.

Mà đánh Hoàng tôn Dương tức là đi ngược danh nghĩa của quân Tây Sơn ta dùng để thu phục lòng người.

Nếu ta động binh tôi e rằng dù chiếm được đất Quảng Nam nhưng mất lòng trăm họ thì lợi ít hại nhiều.

Xin Chúa công nghĩ lại.

Nghe Hiến nói xong, Nhạc như tỉnh ngộ gật đầu nói:

- Ấy chính là lý do chúa Nguyễn lại phong Nguyễn Phúc Dương làm Đông cung Thế tử, lại cho vào trấn đất Quảng Nam với ý đồ dùng Nguyễn Phúc Dương làm bình phong chặn đường tiến quân của ta.

Theo ý quân sư nay ta phải làm thế nào?

Hiến đáp:

- Theo tôi, ta phải làm sao rước được Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương về với quân ta để làm chiêu bài điều khiển thiên hạ Đàng Trong.

Đó là thượng sách.

Nhạc nôn nóng hỏi:

- Nhưng làm cách nào để rước được Nguyễn Phúc Dương về với ta?

Hiến vuốt râu đáp:

- Ta dùng ly gián kế - Rồi kề tai Nhạc nói nhỏ - Chúa công cứ làm như vầy... như vầy... nhất định Hoàng tôn Dương sẽ theo về với ta.

Nguyễn Nhạc nghe xong sáng mắt khen:

- Thật là diệu kế!

Phiền quân sư lập tức thảo thư.
 
Tây Sơn Bi Hùng Truyện
Chương 15


Rước Đông cung, Trương Văn Hiến dùng kế.

Phá bắc quân, Võ Đình Tú ra oai.

Nói về Nguyễn Phúc Dương được chúa Nguyễn phong làm Đông cung Thế tử vào đến thành Quảng Nam, trong lòng rất lấy làm sung sướng nói với tả hữu rằng:

- Lúc ta lên chín tuổi thì Tiên chúa mất, Phúc Loan chuyên quyền giam lỏng ta trong cung điện suốt mười năm nay, dù cao lương mỹ vị, rượu ngon gái đẹp chẳng thiếu chi nhưng thật là tù túng.

Nay ta làm đại trấn thủ đất Quảng Nam, uy quyền một cõi lại làm Đông cung Thế tử thì nối nghiệp nhà Nguyễn sau này không phải ta thì còn ai vào đây nữa!

Lúc bấy giờ một người hầu thân tín bước ra nói:

- Tôi trước từng theo hầu hạ cho Thế tử Nguyễn Phúc Hiệu là thân phụ của Thế tử.

Tôi có đôi lời muốn nói, nếu không hài lòng mong Thế tử bỏ qua cho.

Đang lúc vui Nguyễn Phúc Dương liền bảo:

- Ngươi theo hầu ta từ lúc ta mới ra đời, lòng tận tụy của ngươi ta đã rõ.

Có điều gì ngươi cứ nói đừng rào đón làm chi!

Nguyễn gia Hầu liền thưa:

- Thưa Thế tử, quân Tây Sơn nổi lên làm loạn ở đất Quy Nhơn đánh chiếm từ Bình Thuận đến Quảng Ngãi.

Chúa ta phải sai Nguyễn Văn Hoằng và Nguyễn Nghi đem toàn quân ở kinh thành vào chống nhau với giặc.

Quân Trịnh nhân cơ hội ấy mới động binh xâm phạm mặt Bắc.

Chúa không còn cánh nào khác phải điều hai vạn quân ra Bắc đánh Trịnh, thì Nguyễn Văn Hoằng ở Quảng Nam chỉ còn một vạn quân không phải là đối thủ của Tây Sơn.

Quân Tây Sơn vốn lấy danh nghĩa đánh đổ Quốc phó tôn phò Thế tử để dấy binh, nên vạn bất đắc dĩ chúa phải phong Thế tử làm Đông cung sai vào trấn đất Quảng Nam, để chúa Tây Sơn là Nguyễn Nhạc vì vướng nghĩa tôn phò mà không thể đem quân đánh tới.

Chứ thật ra chúa nào yêu mến gì Thế tử.

Nếu một mai quân Gia Định do Tống Phước Hiệp kéo ra dẹp được giặc Tây Sơn, tôi e rằng Thế tử phải lâm nguy!

Nguyễn Phúc Dương giật mình nói:

- Tuổi ta còn nhỏ chưa biết việc đời, nếu không nhờ ngươi nhắc nhở, một mai kia nước tới chân mới nhảy ắt là không kịp nữa.

Theo ngươi giờ phải làm sao?

Gia Hầu chưa kịp trả lời, có quân vào dâng thư nói:

- Thưa Thế tử, chúa ở kinh thành sai người mang mật thư vào cho tướng quân Nguyễn Văn Hoằng.

Phúc Dương tiếp thư đọc xong, giận dữ quăng thư xuống đất nói:

- Quả đúng như lời ngươi nói.

Chúa Định Vương mật báo cho Nguyễn Văn Hoằng và Nguyễn Nghi phải ngầm theo dõi hành tung của ta.

Hắn sợ ta theo về với quân Tây Sơn phản lại triều đình.

Đã thế này sao ta không nhờ Tây Sơn Nguyễn Nhạc kéo binh đến thẳng kinh thành lấy lại ngai vàng nhà Nguyễn cho ta.

Theo ý ngươi thì ta nên làm thế nào?

Gia Hầu thưa:

- Tuy Thế tử mang tiếng là trấn thủ đất Quảng Nam, nhưng trong thành vỏn vẹn có năm trăm thủ hạ dưới quyền, binh quyền đều ở trong tay Nguyễn Văn Hoằng và Nguyễn Nghi ngoài chốn biên thùy.

Nếu Tây Sơn còn thì Thế tử còn là Đông cung.

Nếu Tây Sơn diệt tôi e rằng Thế tử không có đất để dung thân.

Xem ra Thế tử không còn cách nào khác đành phải nhắm mắt đưa chân về với Nguyễn Nhạc.

Nếu người ta thật lòng tôn phò, mình còn hy vọng lấy lại cơ đồ.

Phúc Dương hỏi:

- Nguyễn Nhạc là người thế nào?

Gia Hầu đáp:

- Bụng dạ của Nguyễn Nhạc thì tôi không biết được, còn việc làm của Nhạc thì toàn cõi Đàng Trong ai ai cũng rõ.

Dương lại hỏi:

- Nhạc làm những việc gì?

Gia Hầu đáp:

- Nguyễn Nhạc khởi binh đi đến đâu cũng nêu khẩu hiệu "Tôn phò hoàng tôn, đánh đổ Quốc phó".

Quân Nguyễn Nhạc lấy được đất nào đều mang lương thực phát cho dân nghèo vùng ấy, nên từ sĩ đến nông theo phục rất đông.

Quân đi đến đâu liền đánh trống dồn dập, la ó vang trời, quan quân triều thất kinh hồn vía.

Bởi lẽ ấy trong nhân dân thường có câu vè rằng: "Binh triều, binh Quốc phó.

Binh ó, binh Hoàng tôn" là vậy đó!

Phúc Dương nghe xong bảo:

- Theo việc làm mà xét thì Nguyễn Nhạc là người tài đức vẹn toàn, trên trung với vua, dưới hiếu với dân.

Người này chắc thực bụng tôn phò.

Ngươi hãy vì ta sang doanh trại Tây Sơn dò ý một phen.

Nguyễn gia Hầu lãnh mệnh đi ngay.

****

Ngày ấy trong doanh trại, Nguyễn Nhạc cùng Trương Văn Hiến đang đàm đạo, quân canh vào báo:

- Tâu Chúa công, có người tự xưng là sứ giả của Đông cung Thế tử Nguyễn Phúc Dương xin ra mắt Chúa công.

Nhạc bảo:

- Mau mau mời vào!

Quân canh lui ra.

Nhạc hỏi Hiến:

- Không biết Nguyễn Phúc Dương sai sứ giả đến đây có dụng ý gì?

Hiến cười đáp:

- Theo tôi có lẽ Phúc Dương đã nhận thư của ta giả danh chúa Định Vương gởi cho Nguyễn Văn Hoằng nên sai người đến đây dò ý Chúa công đó!

Nhạc gật đầu tán đồng.

Gia Hầu vào đến chưa kịp thi lễ đã bị Nhạc quát hỏi:

- Ngươi là ai to gan lớn mật dám giả danh là sứ giả của Đông cung?

Quân bay lôi ra chém!

Gia Hầu mất vía luôn miệng kêu rằng:

- Oan cho tôi lắm, xin tướng quân rộng xét, tôi chính là người thân tín của Đông cung.

Nhạc vờ chưa tin, gạn hỏi:

- Ngươi quả thật già mồm, sứ giả của Đông cung thì phải có y phục chỉnh tề, có kẻ theo hầu, còn ngươi một thân một mình, áo quần rách rưới, mặt mũi nhơ nhớp thế kia mà dám bảo là sứ giả của Đông cung.

Gia Hầu liền đáp:

- Xin tướng quân cho tôi được bày tỏ đôi lời.

Nguyên Hoàng tôn vừa được phong làm Đông cung Thế tử, chúa Nguyễn Định Vương sai vào trấn thủ Quảng Nam.

Nhưng chúa lại đem dạ nghi ngờ viết mật thư cho tướng Nguyễn Văn Hoằng phải quản thúc Đông cung.

Nguyễn Văn Hoằng lại đóng binh ở biên cương đánh nhau với tướng quân.

Nên tôi phải giả dạng thường dân băng rừng vượt suối mới toàn mạng ra mắt tướng quân.

Mong tướng quân rộng xét.

Nhạc lại vờ hỏi:

- Ngươi có bằng chứng gì của Đông cung chăng?

Gia Hầu đáp:

- Thưa có!

Đây là huyết thư có dấu ấn của Đông cung!

Nhạc tiếp thư xem xong vội vã bước xuống đỡ Gia Hầu dậy mời ngồi, sai quân bày yến tiệc, lại lấy nước trầm hương rửa mặt, lấy y phục cho thay.

Nhập tiệc, Gia Hầu hỏi Nhạc:

- Dám hỏi tướng quân, tại sao lại đối đãi với tôi tử tế như thế?

Nhạc vờ thật thà đáp:

- Tiên sinh sao hỏi lạ thế?

Nhạc tôi dấy binh mong đánh tới kinh thành bắt Trương Phúc Loan và chúa Định Vương trị tội đã làm nhiều điều thoán đoạt, rồi phò Hoàng tôn lên ngôi chúa cho rõ nghĩa cương thường trong thiên hạ.

Nhạc này dù chưa gặp mặt nhưng đã tự nhận là tôi của Hoàng tôn, còn tiên sinh là kẻ thân tín của Hoàng tôn ấy là người một nhà cả, sao lại không tử tế với nhau!

Nhưng không hiểu sao Định vương lại phong cho Hoàng tôn làm Đông cung Thế tử, cho vào trấn đất Quảng Nam mà còn đem dạ nghi ngờ là cớ làm sao?

Gia Hầu nghe Nhạc nói trong bụng rất mừng, liền vui vẻ đáp:

- Tướng quân không rõ thật sao?

Số là tướng quân dấy binh để phò Hoàng tôn, nên Định Vương mới phong Hoàng tôn làm Đông cung vào trấn đất Quảng Nam để chặn đường tiến binh của tướng quân đến kinh thành.

Nhưng Định vương lại sợ nếu Hoàng tôn về với tướng quân, rồi sai tướng quân đem quân Bắc tiến thì ngai chúa của hắn sẽ lâm nguy.

Vì lẽ ấy Định Vương mới mật thư cho Nguyễn Hoằng Văn quản thúc Đông cung.

Nhạc vờ mắng rằng:

- Định Vương thật là đứa xảo quyệt.

Nay Hoàng tôn sai tiên sinh đến đây đã tính toán thế nào chưa?

Gia Hầu vội trình bày:

- Hoàng tôn bảo tôi nhờ tướng quân tiến đánh Nguyễn Hoằng Văn và Nguyễn Nghi, rồi vào thành Quảng Nam, Hoàng tôn sẽ truyền hịch bốn phương, danh chánh ngôn thuận cùng tướng quân kéo đến kinh thành.

Nguyễn Nhạc quay sang Hiến hỏi:

- Ý Hoàng tôn như thế, quân sư định liệu thế nào?

Trương Văn Hiến đáp liền:

- Tiên sinh hãy về bảo với Hoàng tôn rằng khi Nguyễn Văn Hoằng thua ắt chạy về thành

Quảng Nam cố thủ, Hoàng tôn chờ quân Chúa công tôi đến, rồi sai người tâm phúc đốt lửa hiệu mở cổng thành.

Chiếm được thành Quảng Nam xong Chúa công tôn Hoàng tôn lên ngôi chúa, cùng nhau thẳng tiến thu phục kinh đô.

Gia Hầu cả mừng nói:

- Ấy thật là hồng phúc của nhà chúa nên trời mới sai tướng quân giúp cho Hoàng tôn đó.

Tôi xin lập tức quay về.

Nói xong rồi từ biệt ra đi.

Nguyễn Nhạc liền sai quân mời các tướng đến nhận lệnh.

Các tướng đến đông đủ.

Nhạc nói:

- Nay quân Trịnh xâm phạm thành Trường Dục ở châu Bố Chánh, chúa Nguyễn phải điều hai vạn quân của Nguyễn Văn Hoằng ra Bắc.

Hiện quân Nguyễn Văn Hoằng đối địch với ta chỉ còn một vạn.

Đây là thời cơ để ta đánh chiếm Quảng Nam.

Vậy ai lãnh ấn tiên phong?

Võ Đình Tú hăng hái bước ra nói:

- Tôi từ lúc theo Chúa công đến nay chưa lập được công trạng gì.

Xin Chúa công cho tôi làm tiên phong đánh Nguyễn lập công!

Tập Đình cũng hùng hổ bước ra tranh với Võ Đình Tú rằng:

- Từ lúc đánh đèo Thạch Tân anh em ta đều lãnh ấn tiên phong.

Ngươi tài cán gì mà tranh với ta!

Các tướng thấy Tập Đình hống hách trong lòng không ưa.

Đình Tú trợn mắt vung côn quát:

- Nếu ngươi thắng được côn đồng của ta thì hãy lãnh ấn tiên phong.

Nguyễn Nhạc liền can:

- Có tranh thắng bại thì tranh giữa trận tiền với địch quân, người trong một nhà hơn thua mà chi.

Nhưng trận này vô cùng quan trọng, nếu không thắng thì không rước được Hoàng tôn.

Vậy ai dám kí cam đoan trạng quân thua chém tướng thì lãnh ấn tiên phong.

Tập Đình hăm hở bào Lý Tài:

- Nghĩa huynh mau ký quân lệnh trạng, anh em ta lãnh ấn tiên phong.

Lý Tài thoái thác:

- Mấy hôm nay sức khỏe ta bất an không thể nào ra trận được.

Việc này tùy nơi nghĩa đệ.

Nghe Lý Tài nói vậy Tập Đình còn đang lưỡng lự thì Võ Đình Tú đã bước tới tiếp tờ quân lệnh trạng trên tay Nguyễn Nhạc vừa ký vừa nói:

- Người xưa có câu: Trường đồ tri mã lực, sự cửu thức nhân tâm, thật chẳng sai tí nào!

Nói xong Tú quay lưng cười lớn.

Tập Đình vừa giận vừa thẹn đành xấu hổ lui ra.

Ra ngoài doanh trại, Lý Tài ngửa mặt lên trời than rằng: Người xưa có nói "Không ở lâu với người hiếu động, không bàn việc với kẻ đa ngôn".

Tập Đình là người vừa đa ngôn vừa hiếu động vậy!

****

Mấy ngày sau Nguyễn Nhạc hạ lệnh tiến quân.

Võ Đình Tú dẫn hai ngàn quân tiên phong vượt sông giáp chiến.

Nguyễn Nhạc cùng các tướng đem đại binh theo sau trợ chiến.

Nguyễn Văn Hoằng mặc giáp cầm đao lên ngựa xông ra, gặp Võ Đình Tú hai bên hỗn chiến.

Được ba mươi hiệp Nguyễn Văn Hoằng mồ hôi ướt đẫm chiến bào, lại thấy quân mình càng đánh càng nao núng, liệu bề không chống nổi quất ngựa chạy dài.

Võ Đình Tú càng đánh càng hăng hô quân rượt đuổi.

Quân Nguyễn tan vỡ hỗn loạn tháo chạy.

Nguyễn Nghi nghe tin bộ binh của Nguyễn Văn Hoằng thất thủ, liền dẫn thủy binh lui về đóng ở Sơn Trà.

Nguyễn Văn Hoằng bại binh chạy về đến thành Quảng Nam, thấy chúa Định Vương đang ở trong thành thất kinh sụp lạy:

- Kính Chúa thượng, quân Tây Sơn dũng mãnh, tôi chống không nổi.

Xin Chúa thượng trị tội.

Dám hỏi vì sao Chúa thượng lại ở nơi này?

Chúa Định Vương khóc đáp:

- Nguyễn Duy đầu hàng dâng thành Trường Dục cho quân Trịnh.

Hai tướng Tôn Thất Tiệp và Nguyễn Văn Chính tử trận ở Bái Đáp Giang, ta cùng Chữ Đức phải đem gia quyến bỏ kinh thành vào đây ấn náu.

Hiện Chữ Đức còn mấy ngàn quân đóng ở Hải Vân.

Hoàng Ngũ Phúc có lẽ đã chiếm lấy kinh thành, Tĩnh Điệp Hầu không biết sống chết thế nào?

Nay quân ta tan tác lưỡng đầu thọ địch giờ phải làm sao?

Nói xong lại ôm mặt khóc lớn.

Nguyễn Văn Hoằng đứng dậy trấn an:

- Cúi xin Chúa hãy dằn cơn bi lụy.

Nguyễn Nghi đã lui thủy binh đóng ở Sơn Trà.

Chúng ta nên tạm thời bỏ Quảng Nam đem toàn quân đến Sơn Trà hợp cùng quân Nguyễn Nghi xuôi thuyền vào Sài Côn để quân Tây Sơn với quân Trịnh đánh nhau rồi ta chiêu binh mãi mã chờ quân Trịnh diệt xong Tây Sơn thì có cơ thu phục lại kinh thành.

Hoằng vừa nói xong quân thám mã qua báo:

- Kính Chúa thượng, quân Tây Sơn tiến cách phía Nam thành hai mươi dặm, thanh thế rất lớn hiện đang ồ ạt kéo đến đây.

Định Vương cuống quít nói:

- Hãy đem toàn quân ra phía Đông thành kéo xuống Sơn Trà.

Đông cung Nguyễn Phúc Dương bước ra nói:

- Nếu bỏ trống thành, giặc vào rồi đuổi theo thì sao?

Và mấy ngàn quân của Chữ Đức ở Hải Vân ắt là không còn lối thoát.

Vậy tôi xin ở lại, lên mặt thành phủ dụ Tây Sơn, rồi phi báo cùng Chữ Đức kéo quân về sẽ chạy theo sau.

Quân Tây Sơn vốn lấy nghĩa tôn phò tôi nay thấy tôi trấn thủ thành này chắc nhất thời chưa dám tấn công.

Chúa Định Vương cùng các tướng lúc ấy không còn bụng dạ nào hiểu được ẩn ý của Phúc Dương.

Định Vương liền sai người tâm phúc ra Hải Vân triệu hồi Chữ Đức để Nguyễn Phúc Dương ở lại giữ thành, rồi cùng Nguyễn Văn Hoằng, Nguyễn Phúc Nghiêm đưa gia quyến ra cửa Đông thành Quảng Nam chạy đến Sơn Trà, xuống thuyền vào Sài Côn.

Chúa Nguyễn Định Vương đi rồi, Nguyễn Phúc Dương liền sai Nguyễn gia Hầu mở cửa thành đón quân Tây Sơn.

Nhạc vào thành mời Nguyễn Phúc Dương ngồi trên ngôi cao, rồi cùng các tướng quỳ tung hô vạn tuế.

Nguyễn Phúc Dương vội bước xuống đỡ Nguyễn Nhạc dậy, mừng rỡ nói:

- Ấy chính là hồng phúc Tiên vương, nên trời mới sai tướng quân dấy nghĩa tôn phò, nay Định Vương đã chạy trốn vào Nam.

Chỉ còn Chữ Đức và mấy ngàn quân đóng tại ải Hải Vân.

Ngày xưa chính Chữ Đức đã nghe lệnh Phúc Loan bắt giam Hoàng tử Nguyễn Phúc Luân và Thái úy Trương Văn Hạnh, rồi đem quân bắt giết cả nhà Thái úy cùng Đô thống Ngô Mãnh.

Chắc Chữ Đức cũng đang trên đường rút về Quảng Nam.

Tướng quân hãy sai quân đón bắt về trị tội phản chúa cho rõ nghĩa cương thường.

Trương Văn Hiến liền nói:

- Xin chúa công lệnh cho Võ Đình Tú cùng Vũ Văn Dũng lập tức đón bắt Chữ Đức rồi sai quân đóng cũi giải về, còn Tú và Dũng hãy mau mau tiến ra chiếm lấy Hải Vân quan.

Nếu quân Trịnh lấy mất thì binh ta thất thế.

Nguyễn Nhạc liền sai Tú và Dũng lập tức xuất quân.

Đến nửa đường gặp Chữ Đức, Văn Dũng lướt ngựa lên quát lớn:

- Thành Quảng Nam đã bị Tây Sơn ta chiếm mất.

Thằng nhãi Định Vương bỏ chạy vào Phiên trấn, Hoàng tôn cùng quân ta sắp tiến ra thu phục kinh thành, ba quân sao còn chưa bỏ giáo quy hàng.

Quân Nguyễn liền quỳ mọp đồng thanh nói:

- Chúng tôi xin quy hàng!

Chúng tôi xin quy hàng!

Chữ Đức hồn phách phi tán, quất ngựa chạy trốn vào một đường nhỏ.

Võ Đình Tú trông thấy tức tốc đuổi theo.

Hai ngựa cách nhau chừng vài trượng, Võ Đình Tú nhún mình nhảy qua lưng ngựa Chữ Đức, từ phía sau nắm lấy thắt lưng Chữ Đức giơ hông lên rồi quăng xuống đất.

Quân Tây Sơn bắt giải về thành Quảng Nam.

Vừa lúc ấy có quân do thám chạy về báo cùng Tú và Dũng:

- Thưa tướng quân, có một vạn quân Trịnh do tiên phong Hoàng Đình Thể chỉ huy để chiếm lấy Hải Vân hiện đang dẫn quân xuống đèo thẳng tiến về phía quân ta.

Nghe xong Đình Tú nói với Văn Dũng:

- Ở phía trước chừng mười dặm có một đường đèo nhỏ, đệ sẽ đem năm trăm kỵ binh đi gấp lên chiếm trước, rồi hiền huynh dẫn bộ binh đến sau.

Ta chiếm lĩnh núi này chặn đường tiến binh quân Trịnh, rồi phi báo về cho Chúa công đem đại binh đến giúp.

Văn Dũng nói:

- Hiền đệ hãy kíp đi ngay!

Khi ấy Hoàng Đình Thể đã dẫn quân đến chiếm lấy núi trước rồi, nghe quân về báo:

- Thưa tướng quân, giặc Tây Sơn đang kéo đến.

Hoàng Đình Thể nói:

- Quân Tây Sơn đã chiếm thành Quảng Nam.

Từ lâu ta chỉ đánh với quân Nguyễn, nay đánh với quân Tây Sơn một chuyến xem thử thế nào!

Nói rồi liền sai con là Hoàng Đình Định đem hai ngàn quân phục ở bên tả núi, Hoàng Đình Vị đem hai ngàn quân phục ở hữu núi rồi chờ quân Tấy Sơn đến.

Võ Đình Tú dẫn năm trăm kỵ binh đến sát chân đèo, bỗng nghe một phát súng nổ vang.

Quân Trịnh từ trong hốc núi kéo ra chặn đường.

Hoàng Đình Thể đứng trên đỉnh đèo cười lớn:

- Các ngươi đã lọt vào trận mai phục của ta, mau khai tên họ rồi xếp giáp quy hàng!

Võ Đình Tú thất kinh nói:

- Bọn chúng đã đi trước ta một bước.

Truyền quân chỉnh tề hàng ngũ mà lui.

Hoàng Đình Thể trên đèo lấy cờ phất lên, Hoàng Đình Định và Hoàng Đình Vị từ hai bên núi kéo ra chặn đường về.

Võ Đình Tú bình tĩnh bảo ba quân:

- Quân giặc đã bao vây bốn mặt, các ngươi hãy cùng ta tử chiến một phen.

Nói xong rồi vung côn xông vào quân Trịnh.

Nguyên năm trăm kị binh của Võ Đình Tú toàn

là quân thiện chiến võ dũng hơn người, đánh quân Trịnh chết liền mấy lớp.

Nhưng quân Trịnh đông quá cứ ồ ạt xông lên, Võ Đình Tú tả xung hữu đột, năm trăm quân hao gần một nửa, chiến bào Đình Tú ướt đẫm máu quân Trịnh mà vẫn chưa thoát khỏi trùng vây.

Hoàng Đình Thể đứng trên đèo thị chiến nói với tả hữu rằng:

- Quân Tây Sơn thật là dũng mãnh, thảo nào quân Nguyễn phải bỏ Quảng Nam chạy vào Sài Côn.

Nói rồi lại hô lên:

- Quân bay tiếp tục thúc trống tiến quân!

Vừa nói xong bỗng thấy một đạo binh Tây Sơn do một tướng dẫn đầu đánh vào sau lưng quân Hoàng Đình Định và Hoàng Đình Vị.

Quân Định và Vị rối loạn hàng ngũ, Đình Thể liền hối quân:

- Mau mau đánh trống thu binh!

Quân Trịnh nghe trống liền vội vã lui quân.

Vũ Văn Dũng nóng lòng phá vây cứu Võ Đình Tú, dẫn đầu ba quân chém giết quân Trịnh tơi bời.

Gặp Tú, Dũng liền hỏi:

- Hiền đệ có làm sao không?

Thôi ta hãy lui về đóng đồn ngăn quân Trịnh, chờ Chúa công đến rồi sẽ hay.

Đình Tú nói:

- Giặc đều chiếm giữ các nơi hiểm yếu, ta đóng quân trơ trọi giữa đồng, giặc đông, ta ít, giặc ba bên đánh tới thì sao?

Chi bằng đang lúc thắng thế ta đuổi theo giặc tiến lên đánh mấy đèo kia làm nơi cố thủ mới vẹn toàn.

Nói rồi dẫn ba trăm kỵ binh còn lại, người nào người nấy chiến bào đẫm máu vẫn ồ ạt xông lên, Vũ Văn Dũng thấy Đình Tú quyết ý liền vung đao nói với ba quân:

- Nếu hôm nay không chiếm được núi này, không về gặp mặt Chúa công.

Quân Tây Sơn hét vang nhất tề xông lên.

Quân trịnh thấy Tây Sơn can đảm phi thường trong lòng nao núng không dám kháng cự chạy về đồn trên đỉnh đèo.

Hoàng Đình Thể thấy quân Tây Sơn đuổi theo đến nửa đèo liền bảo ba quân: Hãy lăn gỗ đá xuống!

Quân thưa:

- Hai tướng Hoàng Đình Định và Hoàng Đình Vị dẫn quân chạy trước, quân Tây Sơn theo sau chém giết thì lăn gỗ đá thế nào được.

Hoàng Đình Thể đấm ngực than rằng:

- Ta cứ tưởng đánh trống thu binh thì chúng thoát chết không dám đuổi theo.

Nào ngờ chúng lại còn thừa thắng xông lên.

Quân cướp này thật là liều lĩnh.

Truyền quân lui về trấn giữ Hải Vân quan.

Văn Dũng và Đình Tú chiếm được núi, sửa sang đồn lũy chặt cây gom đá dự trữ đề phòng quân Trịnh đánh tới, rồi sai người về Quảng Nam phi báo cùng Nguyễn Nhạc.

****

Hôm ấy Hoàng tôn Dương, Nguyễn Nhạc và Trương Văn Hiến đang đàm đạo trong trướng.

Quân canh vào báo:

- Hai tướng Văn Dũng và Đình Tú bắt được Chữ Đức sai quân giải về đang ở ngoại đợi lệnh.

Nhạc truyền:

- Mau dẫn vào!

Quân lôi Chữ Đức đến, Đức hai tay bị trói chặt vẫn đứng trơ trơ.

Nguyễn Nhạc quát:

- Không được vô lễ.

Trước mặt Hoàng tôn sao dám không quỳ?

Võ sĩ đè Chữ Đức quỳ xuống, Hoàng tôn Dương hỏi:

- Chữ Đức, ngươi đã biết tội của mình chưa?

Đức hỏi lại:

- Tôi có tội gì?

Phúc Dương gằn giọng:

- Ngươi còn hỏi tội gì ư?

Ta hỏi ngươi mười năm trước ai đã nghe lệnh Phúc Loan hạ ngục Hoàng tử Nguyễn Phúc Luân và Thái úy Trương Văn Hạnh rồi ép uống thuốc độc cho chết?

Ai đã bắt giết cả nhà quan Trương Văn Hạnh và Đô thống Ngô Mãnh?

Ai đã giam lỏng ta suốt mười năm trời?

Rồi mới đây ngươi lại bắt Quốc phó Trương Phúc Loan nộp cho quân Trịnh?

Bao nhiêu việc ấy ngươi chẳng phải là phường bán chúa cầu vinh đó sao?

Chữ Đức bình thản đáp:

- Mười năm trước tôi nghe lệnh Phúc Loan vì Phúc Loan có gươm lệnh và chiếu chỉ của Tiên vương.

Còn mới đây tôi bắt Phúc Loan là làm theo ý chúa Định Vương.

Xét các việc tôi làm là làm theo lệnh chúa, thì sao lại bảo là bán chúa cầu vinh!

Phúc Dương ấp úng chưa biết trả lời làm sao, Trương Văn Hiến xen vào hỏi Chữ Đức:

- Năm xưa không biết chiếu chỉ của Phúc Loan là giả sao?

Chữ Đức đáp:

- Không biết!

Hiến lại hỏi:

- Nhưng gia quyến của Trương Văn Hạnh tội gì mà ngươi tàn sát từ già đến trẻ?

Chữ Đức đáp:

- Ấy cũng là theo lệnh Phúc Loan!

- Lúc ngươi tàn sát cả nhà Trương Văn Hạnh có ai thoát chết không?

- Có một người tùy tướng của Trương Văn Hạnh là Trương Văn Hiến võ nghệ siêu quần thoát khỏi trùng vây chạy thoát!

- Ngươi có biết Trương Văn Hiến nay ở đâu không?

- Không biết!

Hiến vả vào mặt Chữ Đức một tát như trời giáng, nghiến răng nói:

- Ta chính là tùy tướng của quan Thái úy Ý Đức Hầu Trương Văn Hạnh!

Phúc Dương mừng rỡ nói:

- Thì ra quân sư chính là Trương Văn Hiến.

Thảo nào các khanh dấy nghĩa tôn phò.

Nay ta xử Chữ Đức thế nào?

Văn Hiến nói với Chữ Đức:

- Theo ý ngươi những việc ngươi làm là trung quân phải vâng lệnh chúa, nay đến lúc chết mà không run sợ cũng đáng khen thay.

Nhưng ngươi thờ chúa bằng trí óc ngu si và lương tâm độc ác của loài cầm thú.

Loài cầm thú như ngươi còn để sống làm gì?

Nói rồi truyền võ sĩ lôi ra chém.

Võ sĩ lôi Chữ Đức ra ngoài, bỗng có quân vào báo:

- Thưa Chúa công, lúc Chữ Đức dẫn quân chạy về thành Quảng Nam, tướng Trịnh là Hoàng Ngũ Phúc đã tiến chiếm Hải Vân quan đang bỏ trống, rồi sai Hoàng Đình Thể làm tiên phong tiến vào chiếm lấy hòn núi nhỏ cách Hải Vân quan hai mươi dặm.

Tướng quân Vũ Văn Dũng và Võ Đình Tú đánh lui quân Hoàng Đình Thể chiếm lại núi này.

Hiện quân Trịnh đã lui về đóng ở Hải Vân quan.

Hai tướng Dũng và Tú xin tướng quân đem đại binh tiếp viện.

Nguyễn Nhạc truyền lệnh:

- Hãy cho mời các tướng đến thương nghị!

Vũ Văn Nhậm, Lý Tài, Tập Đình đến, Nhạc nói:

- Nay tướng Trịnh là Hoàng Ngũ Phúc đem quân bốn vạn vào chiếm Hải Vân quan.

Lý Tài vừa nhuốm bệnh hãy ở lại cùng Hoàng tôn giữ thành Quảng Nam.

Ta với quân sư, Tập Đình và Vũ Văn Nhậm đem toàn quân ra trợ chiến với Văn Dũng và Đình Tú.

Các tướng chỉnh đốn binh mã, sáng ngày mai lập tức xuất quân.
 
Tây Sơn Bi Hùng Truyện
Chương 16


Bỏ đất Quảng Nam, Nguyễn Nhạc nghe lời Trương Văn Hiến.

Lấy lòng hiền sĩ, Nguyễn Huệ tha mạng Nguyễn Đăng Trường.

Nói về Nguyễn Nhạc kéo quân đến núi nhỏ của Vũ Văn Dũng và Võ Đình Tú trấn thủ.

Nhạc đứng trên núi ấy nhìn ra Hải Vân quan trên mây dưới bể, trên thì núi non trùng điệp, đá dựng chênh vênh, nhiều hòn cao ngất đụng đến trời mây, dưới biển rộng mênh mông ầm ầm sóng vỗ vào chân đá dựng.

Quân Trịnh đóng quân án giữ đường đèo lều trại san sát, thủy binh đậu ngoài biển ghe thuyền lố nhố.

Nhạc chỉ tay ra nói với các tướng:

- Hải Vân quan quả nhiên hiểm trở, kỳ vĩ lạ thường.

Nay quân Trịnh thủy bộ hai mặt án giữ đường ra kinh thành, quân sư và các tướng có kế gì phá địch hay chăng?

Võ Đình Tú bước ra nói:

- Thưa Chúa công, binh cốt giỏi chớ không cốt nhiều, tôi xin đem ba ngàn quân làm tiên phong đánh giặc.

Nếu không thắng xin trị tội theo tướng lệnh.

Nguyễn Nhạc vỗ vai Đình Tú cười bảo:

- Qua trận vừa rồi ta mới biết Đình Tú là người dũng lược.

Nhưng trên vai còn mang vết thương thế kia ngộ nhỡ ra trận có điều gì sơ sẩy e hối không kịp!

Đình Tú cứng cỏi đáp:

- Thưa Chúa công, hôm trước tướng Trịnh là Hoàng Đình Thể đem một vạn quân tiến chiếm núi này.

Tôi chỉ có năm trăm kỵ binh đi trước, hiền huynh Vũ Văn Dũng dẫn một ngàn năm trăm bộ binh đi sau mà đánh lui một vạn quân của Hoàng Đình Thể chạy về Hải Vân quan.

Đại trượng phu một lời đã nói bốn ngựa khó theo, tôi đâu phải là hạng người chỉ khua môi múa mép mà không dám kí vào quân lệnh trạng!

Nghe Đình Tú nói, Tập Đình tức khí bước ra thưa:

- Lần trước tôi không kí quân lệnh trạng là e rằng mang tiếng tranh quyền tiên phong với tướng quân Đình Tú.

Nay tôi xin đem quân bản bộ cướp trại địch, nếu không thắng xin Chúa công xử theo tướng lệnh.

Đình Tú cầm tay Tập Đình nói:

- Tôi một lòng vì Chúa công nên nói thế, vô tình xúc phạm đến tướng quân.

Xin tướng quân vì sự đoàn kết trong quân đừng để bụng làm gì!

Lúc đánh đèo Thạch Tân đã biết oai võ của tướng quân, nay thấy tướng quân khí khái hơn người, Tú tôi rất lấy làm cảm phục.

Nghe Đình Tú khen mình Tập Đình lại ngạo mạn nói với Nguyễn Nhạc:

- Tôi dù thất thế theo về với Chúa công nhưng cũng là đại tướng của Thiên triều, thì sá gì lũ quân Trịnh tôm tép kia.

Xin kí vào quân lệnh trạng thua binh chém tướng.

Nguyễn Nhạc cả mừng nói:

- Nhứt ngôn ký xuất, tứ mã nan truy.

Có mọi người đều nghe lời tướng quân làm minh chứng, thôi không phải ký tá làm gì.

Tướng quân mau ra oai võ của Thiên triều.

Tập Đình lãnh lệnh hùng hổ đi ngay.

Tập Đình đem một ngàn binh bản bộ đến trước doanh trại quân Trịnh dưới chân Hải Vân

quan.

Quân do thám vào báo cùng Hoàng Ngũ Phúc:

- Thưa đại tướng quân, có một đạo quân toàn là người Tàu đang tiến gần doanh trại quân ta.

Ngũ Phúc hỏi:

- Bọn chúng là quân nào thế?

Khoàng bao nhiêu người, dùng thứ vũ khí gì?

Tên quân đáp:

- Thưa, bọn chúng ước một ngàn quân, đều cởi trần, đầu vấn khăn vàng, tay cầm khiên, tay cầm đao, bộ tướng trông rất dữ dằn.

Ngũ Phúc lấy làm lạ hỏi Hoàng Đình Thể:

- Hôm trước ngươi đánh nhau với quân Tây Sơn có thấy quân này không?

Đình Thể đáp:

- Hôm trước quân Tây Sơn toàn là người Đàng Trong, quân thì mặc áo đỏ, tướng thì đội mũ lông, không thấy có lũ quân này!

Hoàng Ngũ Phúc hỏi các tướng:

- Ai xung phong ra trận hỏi xem chúng là bọn cướp phương nào?

Nếu dung nạp được thì cho làm tiền quân đi đánh Tây Sơn.

Có một viên tiểu tướng bước ra thưa:

- Bọn cướp đường này thì phiền gì các tướng quân phải ra trận cho nhọc sức.

Tôi tuy tài hèn mọn, xin ra trận chặn bọn chúng hỏi cho rõ sự tình!

Ngũ Phúc hỏi:

- Người này là ai?

Đình Thể đáp:

- Đây là tùy tướng của tôi tên Vũ Tá Kiên.

Ngũ Phúc mừng rỡ đáp:

- Được!

Ta cho ngươi hai ngàn tinh binh ra trận.

Chưa rõ lai lịch của chúng thì chớ giết bừa.

Vũ Tá Kiên vâng lệnh đi ngay.

Hai bên giáp mặt thấy đạo quân người Tàu dàn đội hình chiến đấu, Vũ Tá Kiên thúc ngựa đến hỏi lớn:

- Các ngươi là giặc cướp phương nào?

Có phải quân Tây Sơn chăng?

Nghe địch hỏi, Tập Đình biết địch quân không biết mình là quân Tây Sơn, giả vờ nói:

- Ở phía Nam thành Quảng Nam có khu phố Hội An là phố của người Tàu chúng tôi sinh sống.

Chẳng may quân Tây Sơn đem quân đánh chiếm Quảng Nam sát hại chúng tôi.

Gặp quân chúa Nguyễn cũng bảo chúng tôi theo Tây Sơn nên đánh đuổi.

Chúng tôi không còn đất dung thân nên mới chạy đến đây, xin tướng quân dung nạp.

Vũ Tá Kiên cả tin nói:

- Ngươi hãy tạm đóng binh ở nơi này để ta thu quân về bẩm cùng đại tướng quân sẽ thu nạp các ngươi.

Nói xong liền lui quân.

Chờ quân Trịnh mới quay lưng không đề phòng, Tập Đình hô quân xông tới hét lớn:

- Ta là tiên phong của Tây Sơn đây!

Vũ Tá Kiên thất kinh hô quân quay lại đánh.

Quân Trịnh bất ngờ trở tay không kịp bị quân Tây Sơn đánh giết rất nhiều.

Vũ Tá Kiên mới ra trận lần đầu, cố sức mà đánh, Tập Đình lỡ hứa cùng Nguyễn Nhạc quyết thắng không lui.

Hai đàng đánh nhau bất phân thắng bại.

Quân của Tập Đình đánh hăng quá, quân Trịnh càng đánh càng tử vong, nao núng muốn lui.

Hoàng Ngũ Phúc bèn sai Hoàng Đình Thể đem kỵ binh trợ chiến.

Hoàng Đình Thể cùng hai người con đem năm trăm kỵ binh xung trận.

Hoàng Phùng Cơ đem bộ binh tiếp chiến.

Tập Đình không chống nổi bèn cùng đám quân tín cẩn quay ngựa chạy trốn vào rừng.

Đạo binh người Tàu tan vỡ chạy về núi nhỏ cùng quân Tây Sơn.

Tập Đình ngửa mặt lên trời than rằng:

- Chỉ tại ta kiêu căng háo thắng, trước mặt Nguyễn Nhạc đòi ký quân lệnh trạng quân thua chém tướng.

Lý huynh từng nhắc nhở mà ta vẫn không chừa thói ngạo mạn, nên mới ngu muội đưa các ngươi vào chỗ chết.

Nay ăn năn đã muộn, muốn quay về cũng không được, biết làm sao đây!

Nói rồi ôm mặt khóc.

Có tên quân quỳ thưa:

- Việc đã đến nước này, tướng quân sầu thảm cũng chẳng ích gì.

Chi bằng chúng ta hãy tìm lối băng rừng lần ra ngoài cửa bể, rồi tìm thuyền về nơi quê quán ở Quảng Đông an phận cuốc cày, không màng thế sự chẳng thanh thản hơn ư.

Tập Đình gạt nước mắt nói:

- Giờ chỉ có đường sống ấy mà thôi!

Rồi cùng mươi quân tín cẩn tìm đường về Quảng Đông.

Đến nơi bị quan quân nhà Thanh bắt được đem chém.

****

Nói về quân Trịnh đánh tan quân Tập Đình thừa thắng tiến đánh núi nhỏ, bị quân Tây Sơn từ trên núi lăn gỗ đá xuống không sao tiến được.

Gặp lúc tối trời Hoàng Ngũ Phúc hạ lệnh đóng đồn, rồi họp các tướng bàn kế sách đánh Tây Sơn.

Hoàng Đình Thể bàn rằng:

- Quân Tây Sơn từ trên cao lăn gỗ đá xuống, quân ta từ dưới đánh lên thật là thất thế.

Xin đại tướng quân hãy lệnh cho Hoàng Đình Bảo và Nguyễn Hữu Chỉnh đem thủy binh vào đánh lấy thành Quảng Nam, rồi từ Quảng Nam đánh ra.

Quân Nhạc lúc bấy giờ không còn đường lui ắt phải đầu hàng.

Nhược bằng Nhạc không hàng, nếu dễ thì ta hai mặt giáp công, nếu chúng liều chết cố thủ thì ta cứ vây chặt, tuyệt đường binh lương, Nguyễn Nhạc không hàng chẳng lẽ chịu chết đói hay sao?

Hoàng Ngũ Phúc khen:

- Kế này rất hay!

Nói rồi sai người đem mật lệnh cho Hoàng Đình Bảo và Nguyễn Hữu Chỉnh đem thủy binh theo đường bể vào đánh thành Quảng Nam.

****

Trong đêm ấy bên doanh trại Tây Sơn, Trương Văn Hiến bàn rằng:

- Quân Trịnh quân đông thế mạnh, Hoàng Ngũ Phúc lại rất giỏi dụng binh.

Binh ta ít, nhựa hỏa hổ khó tìm từ Quy Nhơn chưa vận chuyển ra kịp.

Nếu ta cứ đồn binh ở đây cố thủ với Hoàng Ngũ Phúc, ngộ nhỡ chúng đem thủy binh theo đường bể vào đánh thành Quảng Nam, e rằng Lý Tài với một ngàn quân bản bộ đương không nổi.

Nếu mất thành Quảng Nam thì ta tiến thoái lường nan.

Nguyễn Nhạc bèn hỏi:

- Theo ý quân sư thì phải thế nào?

Hiến chậm rãi đáp

- Cái thế yếu của quân ta là không có thủy binh thật khó bề chống giữ.

Vả lại lương thực lấy được của quân Nguyễn ta đã đem phân phát cho dân nghèo.

Chi bằng ta hãy tạm lui quân bỏ

Quảng Nam về giữ Quảng Ngãi.

Lúc bấy giờ ta chia quân ra giữ cửa sông Trà Khúc, thì không phải lo quân Trịnh đem thủy binh vào các cửa bể thọc vào sườn rồi đánh vào sau lưng ta.

Đợi hết xuân sang hạ quân Trịnh sẽ khắc lui binh.

Đình Tú, Văn Dũng, Văn Nhậm đồng thanh hỏi:

- Cớ gì hết xuân sang hạ chúng lại lui binh?

Hiến trầm ngâm đáp:

- Quân Trịnh vốn là người phương Bắc ngại nóng ưa lạnh.

Nay đang xuân khí trời mát mẻ, chúng còn mạnh khỏe hung hăng, đợi sang hè khí nghịch hỏa xông gió Nam khô nóng, tạng người không hợp ắt sinh bệnh tật.

Vả lại tôi xem khí tượng thấy gần đây vùng trời đất Quảng Nam đêm đêm thấp khí rất nhiều.

Đến mùa hè thì hỏa nhiệt thịnh.

Hễ khí tượng mà sinh ra thấp nhiệt thì con người sẽ bị bệnh nơi trường vị mà sinh chứng tả lỵ triền miên.

Thưa Chúa công ta cứ bỏ Quảng Nam cho quân Trịnh, nhất định sang mùa hạ Hoàng Ngũ Phúc sẽ bỏ đất Quảng Nam mà lui binh.

Nếu không như thế Hiến tôi xin chịu mất đầu theo tướng lệnh.

Nguyễn Nhạc nghi ngờ hỏi:

- Xin hỏi quân sư việc làm ấy có chắc lắm không?

Hiến bình tĩnh đáp:

- Tôi xin đem tánh mạng ra bảo đảm.

Xin Chúa công đừng ngại.

Nguyễn Nhạc vẫn bán tín bán nghi, nhưng không có kế nào khác bèn hạ lệnh cho toàn quân trong đêm ấy bỏ đất Quảng Nam lui về giữ phủ Quảng Ngãi.

Trương Văn Hiến tuổi già sức yếu dầm sương dãi gió chinh chiến triền miên về đến Quảng Ngãi thì lâm trọng bệnh.

Vào dinh phủ thấy Văn Hiến hơi thở thỏn mỏn, Nhạc lo sợ hỏi:

- Quân sư cảm thấy trong người có khỏe không?

Hiến thều thào đáp:

- Mạng tôi đến đây là hết.

Chúa công hãy gắng sức vì muôn dân bá tánh dựng nghiệp Võ Thang.

Nhạc vừa khóc vừa kể:

- Kể từ ngày Tây Sơn dấy nghĩa, quân sư ngày quên ăn đêm bỏ ngủ lo bàn mưu định kế, lại chẳng quản gió sương cùng Nhạc tôi xông pha trận mạc, nên quân ta mới được như bây giờ.

Nay đại sự chưa thành mà quân sư nỡ bỏ ra đi.

Đương lúc quân ta tình thế nguy nan, ngoài thì Hoàng Ngũ Phúc đánh vào, trong thì Tống Phước Hiệp đánh ra.

Nghĩa binh ta lưỡng đầu thọ địch, không có quân sư tôi biết liệu thế nào đây?

Hiến gắng gượng đáp:

- Chúa công hãy yên tâm, xin cho vời Nguyễn Huệ đến đây.

Tôi còn đôi điều chưa dạy cho Huệ xong, muốn dặn dò Huệ vài lời mới yên lòng nhắm mắt.

Nói xong mệt quá lịm đi.

Nguyễn Nhạc bảo Vũ Văn Dũng trông nom Văn Hiến, rồi sai người cấp tốc vào Quy Nhơn triệu Nguyễn Huệ.

****

Lại nói về tôi thần của chúa Nguyễn Định Vương là Tĩnh Điệp Hầu Nguyễn Đăng Trường giả dạng thường dân đưa mẹ vượt bao gian khổ hiểm nghèo lội suối trèo đèo chạy theo chúa Định Vương, lần hồi đến phủ Quy Nhơn.

Chẳng may có một tên dân trước là quân Nguyễn nhận dạng Nguyễn Đăng Trường bèn vào thủ phủ báo cùng Nguyễn Huệ:

- Thưa tướng quân, có một người là quan tham tán quân cơ của chúa Nguyễn đang ở trong

thành, tôi xin vào bẩm báo tướng quân.

Huệ hỏi:

- Sao ngươi biết?

Tên dân đáp:

Lúc trước còn trong quân chúa Nguyễn có thời gian tôi làm cấm vệ trong thành nên có biết ông ấy!

Huệ quay sang hỏi Nguyễn Thung:

- Tiên sinh có biết ông ấy là người thế nào chăng?

Thung đáp:

- Ông ấy làm tham tán quân cơ bàn mưu tính kế cho Định Vương, tước Tĩnh Điệp Hầu, tên Nguyễn Đăng Trường, tính người trung nghĩa thờ mẹ rất có hiếu.

Lúc quân Trịnh vào đánh Phú Xuân ông ấy khuyên chúa đem gia quyến chạy vào Quảng Nam.

Một mình ông ta ở trong thành chặn giặc, ông ấy mở toang cổng Bắc thành đề bảy chữ "Mở cổng thành giết Hoàng Ngũ Phúc".

Phúc thấy thế nghi ngại không dám đem quân đuổi theo chúa, nhờ vậy chúa thoát được vào Quảng Nam.

Sau đó ông ấy một mình phò tá mẹ, nên không kịp chạy theo chúa vào Quảng Nam xuống thuyền vào Gia Định.

Có lẽ ông ấy muốn đi đường bộ vào Nam nên mới lánh nạn đến đây!

Huệ bảo tên dân:

- Ta cho vài mươi tên quân theo ngươi đến nơi ẩn náu của Nguyễn Đăng Trường vời ông ấy về đây cho ta hầu chuyện.

Tên dân vâng lệnh đi ngay.

Quân dẫn Nguyễn Đăng Trường và mẹ đến.

Huệ mời ngồi hỏi:

- Xin hỏi, tiên sinh có phải là quan tham tán quân cơ của chúa Định Vương?

Biết tông tích bại lộ, Trường đáp:

- Phải, ta chính là Tĩnh Điệp Hầu Nguyễn Đăng Trường!

Huệ ân cần hỏi:

- Nay tiên sinh định đưa Nguyễn mẫu đi đâu?

Trường thản nhiên đáp:

- Ta định đưa mẹ vào Gia Định cùng chúa, chẳng may bọn giặc Tây Sơn các ngươi bắt được, muốn làm gì thì làm chớ hỏi lôi thôi.

Huệ ôn tồn nói:

- Quân Tây Sơn tôi dấy binh đánh đổ Quốc phó Trương Phúc Loan, đưa ngôi chí tôn trả về cho Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương.

Nay đại huynh tôi đang tôn phò Hoàng tôn đánh nhau với quân Trịnh mong chiếm lại kinh thành, thu phục cơ đồ cho nhà chúa Nguyễn, sao tiên sinh lại gọi quân Tây Sơn tôi là giặc?

Nghe Huệ nói, Nguyền Đăng Trường cười lớn:

- Hoàng tôn Dương tuổi còn nhỏ dại chưa từng trải việc đời, nên mới bị các ngươi đem nghĩa tôn phò ra lừa dối chứ gạt ta sao được!

Huệ kính cẩn đáp:

- Tôi nào dám nói gạt tiên sinh.

Trường lớn tiếng nói;

- Chẳng qua bọn giặc các ngươi thừa dịp triều đình có biến, mượn tiếng tôn phò, thu chúng mị dân, mưu định bá đồ vương.

Ta là một kẻ sĩ trong thiên hạ, đâu phải như lũ ngu dân kia hòng cho mi dối gạt!

Huệ vẫn dịu giọng rằng:

- Nếu đại huynh tôi định bá đồ vương đem ấm no về cho thiên hạ lại không đúng hay sao?

Trường cười nhạt báo:

- Thừa nước loạn dấy binh phản chúa, ta nói ngươi đúng ở chỗ nào?

Huệ không đáp lời Trường mà hỏi lại:

- Muôn dân đói khổ lầm than, quân Tâm Sơn tôi khởi nghĩa đi đến đâu muôn dân đều có cơm ăn áo mặc nên thiên hạ đều phục.

Dám hỏi tiên sinh, so với vua Lê Thái Tổ khởi binh ở Lam Sơn thì đại huynh tôi khởi nghĩa ở Tây Sơn khác nhau ở chỗ nào?

Trường lại cười lên ha hả:

- Bọn các ngươi thật là lũ nông dân ít học.

Hỏi một câu mà đứa con nít cũng phải bật cười!

Nghe Trường buông lời vô lễ, tả hữu rút gươm khỏi vỏ.

Huệ ngăn lại vẫn kính cẩn nói:

- Anh em tôi thật là nông dân, vì dân dấy nghĩa.

Xin tiên sinh giảng giải vì sao tôi hỏi thế, đứa con nít cũng phải bật cười?

Trường trịch thượng đáp:

- Ngày xưa vua Lê Thái tổ khởi nghĩa ở Lam Sơn là đánh đuổi quân Minh ở nước Tàu ra ngoài bờ cõi, chính nghĩa rạng ngời.

Còn các ngươi thừa lúc triều đình có biến đấy binh phản chúa, mượn tiếng mị dân kẻ thức giả ai mà không biết.

Hai việc khác nhau một trời một vực lại ngây ngô hỏi rằng khác ở chỗ nào, bảo ta không cười sao được?

Nghe Trường nói xong Huệ bèn nói tránh:

- Anh em tôi vừa mới cai quản phủ Quy Nhơn, Quảng Ngãi chưa biết phép trị dân, vừa rồi có một kẻ ỷ mạnh đánh một người hàng xóm rất dã man, lại có một người cha đánh một đứa con cũng rất dã. man.

Cả hai nạn nhân đều thương tích như nhau.

Xin tiên sinh dạy cho phải xử người nào tội nặng hơn?

Trường đáp:

- Phải xử người cha đánh con tội nặng hơn!

Huệ ung dung hỏi:

- Vì sao?

Trường cao giọng rằng:

- Vì cha con là tình thâm cốt nhục, còn hai kẻ kia là người dưng nước lã.

Cha mà đánh con dã man như người dưng là ác tâm hơn, phải xử tội nặng hơn!

Bẩy giờ Huệ bẻ lại rằng:

- Cảm ơn tiên sinh vui lòng dạy bảo Vậy xin hỏi tiên sinh giặc Minh là người Tàu khác dòng khác giống sang xâm chiếm nước ta, đàn áp bóc lột dân ta ấy là lẽ thường tình.

Còn như chúa tôi họ Nguyễn là cha mẹ của dân, sao quan lại thì dinh thự đồ sộ, cổng kín tường cao, ra ngoài thì lên xe xuống ngựa, trong nhà gấm lụa thiếu chi!

Còn muôn dân đói cơm rách áo, không tiền nộp thuế phải chịu roi vọt tù đày, kẻ ăn xin đầy rẫy phố phường, người chết đói dọc đường nhan nhản.

Xin hỏi tiên sinh ấy chẳng phải là chúa tôi nhà Nguyễn ác tâm hơn lũ giặc Minh xâm lược kia sao?

Mà ác tâm hơn thì chẳng phải là đáng tội hơn sao?

Trường bất ngờ bị Huệ bẻ lại chưa biết đối đáp thế nào, Huệ liền nói tiếp:

- Tội đã nặng như thế thì không đáng để đánh đổ hay sao?

Anh em ta khởi binh ở Tây Sơn cứu giúp muôn dân đánh đổ bạo tàn, trên thuận ý trời dưới hợp lòng dân sao dám gọi là không sáng ngời chính nghĩa.

So với vua Lê Thái Tổ khởi binh ở đất Lam Sơn nào có khác gì?

Có khác chăng là xưa nay kẻ sĩ trong thiên hạ nặng óc nhân trung, cho nên ta mới mượn tiếng tôn phò.

Tiên sinh là người thức giả ta chẳng giấu làm gì.

Nhưng người thức giả thì phải hiểu câu: "Chim khôn chọn cây mà đậu, tôi hiền chọn chúa mà thờ".

Nay chúa Nguyễn hôn muội, quan lại tham nhũng bạo tàn, tiên sinh là người trung nghĩa thanh liêm lại quyết một lòng theo chúa Định Vương sao?

Đăng Trường khăng khăng đáp:

- Ta chỉ biết câu: "Tôi trung không thờ hai chúa", sống làm tôi nhà Nguyễn, chết làm ma nhà Nguyễn, muốn chém giết mặc lòng!

Huệ cười lớn nói:

- Tấc lòng trung hiếu của tiên sinh Huệ tôi rất lấy làm cảm phục.

Tiên sinh muốn đi Huệ tôi xin cấp ghe thuyền lương cho tiên sinh vượt biển vào Gia Định theo chúa.

Trường nghi ngờ hỏi:

- Ngươi thả cho ta đi thật ư?

Nghe Trường nói, Huệ lại cười lớn rồi khẳng khái đáp:

- Nếu muốn giết tiên sinh tôi cứ giết ở đây nào có sợ gì.

Tiên sinh chớ ngại, Huệ tôi là người quang minh chính đại không dối gạt tiên sinh dâu!

Đoạn Nguyễn Huệ sai quân sắp sẵn một chiếc thuyền lớn và vật dụng lương thực đầy đủ.

Đến bến sông Huệ tự tay đỡ Nguyễn mẫu và Đăng Trường lên thuyền hỏi: Tiên sinh đi chuyến này nghĩ rằng mình có thể xoay chuyển lại trời đất lần nữa được sao?

Trường cảm khái đáp:

- Xin cảm ơn tướng quân mở lượng hiếu sinh, tôi rất lấy làm khâm phục kẻ anh hùng, nhưng tôi sống ở đời không thể mang tiếng bất trung

Sau này hai người hai chiến tuyến, nếu có dịp tôi nhất định trả ơn.

Huệ lại hỏi:

- Ngộ nhỡ tiên sinh bị tôi bắt lần nữa thì thế nào?

Trường đáp:

- Nguyễn Đăng Trường tôi chỉ có chết mà thôi!

Nói rồi vòng tay bái biệt mà đi, giong buồm ra cửa bể.

Trường đi rồi, Nguyễn Thung hỏi Huệ:

- Người vô lễ ngạo mạn thế, sao tướng quân không giết quách cho rồi?

Huệ đáp:

- Giết Trường thì được lợi gì?

Thiên hạ ai cũng biết Đăng Trường là người trung hiếu.

Ta phải tôn kính Đăng Trường để tỏ lòng chiêu hiền đãi sĩ của ta chứ!

- Nhưng Đăng Trường là người đa mưu túc trí, theo về chúa Nguyễn ắt chống lại quân ta thì lợi ít hại nhiều đó!

Huệ cười rằng:

- Đăng Trường đã đa mưu túc trí như Gia Cát Vũ Hầu chưa?

Thế sự bây giờ dù Gia Cát Lượng có sống lại thì đã làm gì được ta nào?

Nói rồi Huệ quay lưng vào thủ phủ.

Bỗng có quân đến báo:

- Thưa tướng quân có ba người xưng là huynh đệ đồng môn của tướng quân xin vào ra mắt.

Huệ cho mời vào.

Vừa trông thấy họ, Huệ reo lên:

- Đặng Văn Long tứ đệ!

Từ ngày ta lên Tây Sơn Thượng dựng cờ khởi nghĩa, anh em ta chia tay đã ba năm sao giờ tứ đệ mới đến?

Đặng Văn Long vòng tay nói:

- Ngày ấy đệ hay tin mẹ bệnh nên không kịp lên Tây Sơn tụ nghĩa.

Về nhà chăm sóc mẹ ít lâu, chẳng may mẹ bệnh nặng qua đời, phải ở nhà cư tang cho mẹ ba năm.

Nay đã mãn hạn tang vội đến tìm đại sư huynh mong đem chút tài hèn mọn ra cứu dân.

Huệ mời ngồi rồi hỏi Đặng Văn Long:

- Còn hai vị này là ai?

Văn Long đáp:

- Người mặt đen tên là Đặng Xuân Phong.

Người mặt đỏ tên Đặng Xuân Bảo cùng với đệ là huynh đệ đồng đường, đều là hào kiệt cả.

Xin hỏi đại sư huynh thầy và nhị sư huynh Nguyễn Lữ, tam sư huynh Vũ Văn Dũng đang chinh chiến ở nơi nào?

Huệ đáp:

- Nguyễn Lữ hiện đang trấn giữ ải Cù Mông.

Thầy và Vũ Văn Dũng đang cùng đại huynh ta đánh nhau với quân Trịnh ở Quảng Nam...

Huệ chưa dứt lời có quân vào dâng thư.

Tiếp thư đọc xong, Huệ nói:

- Quân Trịnh tiếng đánh Quảng Nam, đại huynh lui về Quảng Ngãi, thầy ta lại lâm trọng bênh.

Đại huynh triệu ta phải kíp ra ngay!

Văn Long giật mình:

- Thôi chết.

Tính mạng thầy ắt phải lâm nguy!

Huệ trách Văn Long:

- Tứ đệ thường ngày xuất ngôn nho nhã, sao nay lại nói năng hồ đồ thế!

Long lo lắng đáp:

- Trên đường đến đây ngang qua chùa Thập Tháp đệ gặp một cao nhân nói lời tiên tri nên bàng hoàng thốt chẳng giữ lời, xin đại huynh lượng thứ!

Huệ vội hỏi:

- Ngươi ấy nói thế nào?

- Người này cốt cách tiên phong, gặp ba anh em đệ liền nói: "Vừa mãn tang mẹ, đến để tang thầy".

Nay đại sư huynh nói thầy bệnh nặng, vừa nghe qua trong lòng thảng thốt...

Huệ trấn an Văn Long:

- Chẳng qua người ấy biết tứ đệ vừa để tang mẹ xong nên buông lời nói ngông đó thôi!

Long lắc đầu:

- Đệ với người này vốn chưa từng quen biết thì sao rõ gia cảnh của đệ được.

Người ấy còn hỏi anh em đệ đi đâu?

Đệ đáp: tòng quân Tây Sơn đánh giặc.

Người ấy bảo: khởi binh Tây Sơn thì nhổ cây Sơn, trận đầu ra quân, trước dân xử tướng, dù là việc nên làm nhưng ấy là điềm gở.

Danh là lưu hậu thế, nhưng sự nghiệp khó bền.

Huệ thất sắc bảo:

- Nếu nói vậy thì thầy ta nguy mất!

Nay ba anh em tứ đệ hãy ở lại thành phụ tá Nguyễn Thung tiên sinh, trông coi mọi việc ở Quy Nhơn, ta phải lập tức đi ngay.

Nói xong vội vã lên đường.

Đến Quảng Ngãi, Huệ vào ra mắt Văn Hiến.

Vũ Văn Dũng đang ở cạnh giường Hiến ôm lấy Huệ khóc rằng:

- Đại sư huynh!

Thầy khó lòng qua khỏi!

Hiến cựa mình hỏi:

- Chúa công đâu?

Huệ cầm tay Hiến đáp:

- Thưa thầy đại huynh con đang đi nhắc các tướng canh phòng chiến trận cho cẩn mật.

Hiến bảo Huệ:

- Đại huynh con là người nhân nghĩa, nhưng không phải tài cao, chí lớn.

Việc thống nhất sơn hà về sau con nên hết lòng giúp đỡ đại huynh.

Huệ nước mắt ròng ròng nói:

- Xin thầy hãy bình tâm tịnh dường, vì muôn dân con hứa hết lòng!

Huệ vừa nói xong Nhạc về đến.

Hiến thều thào hỏi Huệ:

- Tình hình mặt trận phía Nam thế nào?

Huệ kính cẩn đáp:

- Tướng Nguyễn là Tống Phước Hiệp lãnh binh ở ba dinh Long Hồ, Phiên Trấn, Trấn Biên thuộc đất Gia Định cả thảy hai vạn quân tiến ra đánh Bình Thuận.

Con đã lệnh cho Nguyễn Lữ và Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân bỏ Bình Thuận, Diên Khánh, Phú Yên lui về trấn giữ ải Cù Mông.

Hiến giật mình hỏi lớn:

- Vì sao chưa đánh mà lui?

Huệ vội trấn an:
 
Tây Sơn Bi Hùng Truyện
Chương 17


Thương vua Lê, Vũ Trần Thiệu bỏ mình gián chúa.

Lo xã tắc, Lê Quý Đôn cầu thuốc danh y.

Nói về quân Trịnh sau khi Tây Sơn bỏ đất Quảng Nam lui về giữ Quảng Ngãi, Hoàng Ngũ Phúc đem quân vào thành Quảng Nam bỏ trống truyền ba quân mở tiệc khao thưởng tướng sĩ.

Rượu ngà ngà say, Phúc đắc ý nói:

- Ta vâng chiếu chỉ đem quân đánh một trận là thu phục được đất Thuận Hóa, chiếm lấy Phú Xuân, đuổi chúa Nguyễn chạy vào Gia Định.

Rồi đối đầu với giặc Tây Sơn, giặc chưa đánh đã bỏ Quảng Nam mà chạy.

Oai danh vang dội khắp thiên hạ.

Thật từ trước đến nay trong đời làm tướng của ta chưa bao giờ thỏa nguyện như bây giờ.

Nay đang là mùa hè nóng bức, gió Nam khô róc, quân ta là người phương Bắc, không quen phong thổ.

Ta có nghe tướng Nguyễn là Tống Phước Hiệp từ Gia Định kéo ra chiếm lại đất Phú Yên, đuổi Tây Sơn chạy về Quy Nhơn.

Vậy đang khi trái gió trở trời ta án binh bất động dưỡng uy sức nhuệ chờ quân Nguyễn và Tây Sơn đánh nhau, một bên chết, một bên tất bị thương, khi ấy ta chỉ ra một trận oai hùm thì một dải đất Nam Hà kia không thuộc về chúa ta hỏi còn ai vào đây nữa?

Hoàng Phùng Cơ, Hoàng Đình Bảo, Hoàng Đình Thể, Nguyễn Hữu Chỉnh cùng nâng ly khen:

- Thượng tướng công thật liệu việc như thần.

Cuộc vui chưa tàn bỗng có quân vào báo:

- Thưa thượng tướng công, quân ta bỗng nhiên sinh chứng đau bụng tả lỵ rất nhiều.

Xin vào bẩm báo.

Phúc bảo:

- Ấy chẳng qua là do rượu thịt no nê nên tích nhiệt tại nơi trường vị sinh bệnh tả lỵ mà thôi.

Truyền quân từ nay về sau không được uống rượu.

Nói xong bảo quân hầu dẹp ngay bàn tiệc của mình để làm gương, rồi thân ra các trại xem xét bịnh trạng quân sĩ.

Mấy hôm sau số binh sĩ bị bệnh càng tăng, Hoàng Ngũ Phúc lấy làm lo lắng, cho mời các tướng vào thương nghị.

Bỗng có quân canh vào báo:

- Thượng tướng công, có sứ giả của quân Tây Sơn xin vào yết kiến.

Phúc cho mời vào.

Đến nơi, Nguyễn Thung thi lễ nói:

- Thưa tướng quân, tôi là sứ giả của Tây Sơn.

Xin ra mắt tướng quân.

Không thèm ngó mặt Nguyễn Thung, Phúc ngoảnh nơi khác bảo:

- Hai bên đang đánh nhau, quân Tây Sơn các ngươi bỏ Quảng Nam mà chạy.

Nay Nguyễn Nhạc sai ngươi đến đây để cầu hòa chăng?

Thung nhìn thẳng mặt Phúc đáp lớn:

- Hai đàng binh hùng, tướng mạnh như nhau, muốn tránh cho sanh linh khỏi nạn binh đao mới giảng hòa với nhau.

Còn Tây Sơn tôi là những người dân nghèo khổ bởi chúa Nguyễn áp bức mới nổi dậy đấu tranh, đâu dám tự cho mình bằng quý quốc mà nói chuyện giảng hòa!

Phúc quay lại hỏi:

- Vậy Nguyễn Nhạc sai ngươi đến đây để làm gì?

Thung đáp:

- Chủ tướng tôi vốn biết uy danh của tướng quân.

Vả lại nghĩ phận mình là con dân trong nước do vua Lê Thái Tổ khởi binh sáng lập.

Thêm trong lòng mến phục Tĩnh Đô Vương nên dám đâu chống lại binh trời.

Nay chủ tướng tôi sai tôi đến đây có ít lễ vật dâng lên tướng quân gọi là chút lòng thành, nhờ tướng quân tâu cùng chúa Tĩnh Đô Vương xin cho chủ tướng tôi được làm tiên phong đánh Nguyễn.

Về sau diệt được nhà Nguyễn non sông đều quy về một mối thì công lớn này không phải của tướng quân sao?

Và chủ tướng tôi khi ấy được làm một chức quan nhỏ thì ơn của tướng quân tạc dạ ghi lòng dù chết cũng để bụng mang theo.

Nói rồi gọi người mang lễ vật vào.

Ngà voi năm cặp, vàng bạc trăm cân, lụa gấm nghìn thước.

Hoàng Ngũ Phúc thấy lễ vật rất nhiều, lại thêm Nguyễn Thung nói lời khiêm tốn dễ nghe, luôn miệng tán dương công đức danh uy của mình, trong lòng rất đẹp.

Phúc vui vẻ bảo:

- Được!

Ngươi cứ về tâu lại Nguyễn Nhạc, ta sẽ hết lòng dâng sớ xin phong.

Nếu chúa Tĩnh Đô Vương thuận ý, ta sẽ sai người đem ấn kiếm vào cho Nguyễn Nhạc lãnh chức tiên phong.

Nguyễn Thung mừng rỡ bái tạ ra về.

Nguyễn Hữu Chỉnh bước ra thưa:

- Nguyễn Nhạc tuy là kẻ cùng đinh nổi dậy, nhưng xét việc hắn làm, lúc yếu thế thì mượn tiếng tôn phò Hoàng tôn Nguyễn Phúc Dương.

Nay trong thì Tống Phước Hiệp đánh ra, ngoài thì quân ta đánh vào nên mới giảng hòa với ta, để rảnh tay đối phó với Tống Phước Hiệp.

Người như thế không phải là kẻ tầm thường, xin thượng tướng công hãy khá đề phòng.

Phúc cười nói:

- Điều này ta há chẳng biết sao?

Ta cứ tương kế tựu kế chờ cho ngao cò tranh nhau, ta làm ngư ông thủ lợi, đợi thời cơ bắt hết cả hai nào có nhọc sức gì?

Nói rồi liền lấy giấy bút viết thư sai người hỏa tốc mang về Thăng Long thỉnh ý chúa Trịnh Sâm.

****

Lúc ấy ở kinh thành Thăng Long, Trịnh Sâm ngày đêm mê đắm phi tần Đặng Thị Huệ.

Thị Huệ sắc đẹp nghiêng thành, tiếng nói thánh thót như tiếng chim hót.

Hôn ấy, trong vườn thượng uyển trên lầu ngũ giác, Trịnh Sâm cùng Đặng Thị Huệ đờn ca xướng họa, chén tạc chén thù.

Sâm vòng tay ôm Thị Huệ vào lòng, bỗng Thị Huệ lấy từ trong ngực của Sâm ra một viên ngọc.

Thị Huệ nũng nịu hỏi:

- Thưa Chúa thượng đây là ngọc gì vậy?

Sâm vội đỡ lấy tay Thị Huệ đáp:

- Ấy!

Đây là viên ngọc Minh Châu ban đêm thường phát ra ánh sáng, ta yêu quý vô cùng lúc nào cũng mang theo trong người.

Nàng hãy cầm nhè nhẹ tay.

Thị Huệ rất lấy làm thích, cầm viên ngọc ngắm nghía mãi.

Sâm nhắc:

- Nàng hãy nhè nhẹ tay kẻo xước viên ngọc quý của quả nhân.

Thị Huệ vùng quăng ngọc xuống sàn dậm chân khóc rằng:

- Chúa thượng nói yêu thiếp hơn tất cả mọi thứ trên đời.

Vậy mà thiếp vừa cầm viên ngọc mới có một tý đã sợ hư ngọc.

Hóa ra là chúa quý vật hơn người, thôi thì để thiếp chết đi cho rồi.

Nói xong chạy ra thành lầu toan lao đầu xuống đất.

Trịnh Sâm chạy theo níu lại năn nỉ:

- Nàng làm gì mà mau hờn dỗi thế!

Chẳng qua ta muốn giữ ngọc cho đẹp để tặng nàng ấy mà.

Nói rồi liền cầm ngọc giao cho Thị Huệ.

Thị đổi giận làm vui, kéo Trịnh Sâm vào giường trong ân ái.

Thừa lúc Trịnh Sâm đang vui Thị Huệ thủ thỉ:

- Nước ta từ lúc nhà Lê Trung Hưng đến nay, tuy tiếng là họ Lê làm vua, nhưng vua Lê thật là bất tài nhu nhược, việc gì cũng trông cậy vào nhà chúa.

Nay ân đức của chúa đã thấm nhuần khắp trong ngoài, sao chúa không lên ngôi Thiên tử cho xứng dáng với công đức của mình, tội gì cứ làm kẻ giữ chùa để cho thiên hạ đem lễ vật vào dâng lên bàn Phật?

Sâm cao hứng nói:

- Lời nàng rất hợp ý ta, nếu sau này ta lên ngôi Thiên tử thì ngôi Chánh cung hoàng hậu nhất định sẽ dành cho nàng đó!

Thị Huệ mừng rỡ lạy tạ.

Trịnh Sâm liền về dinh phủ gọi Phạm Ngô Cầu đến bảo:

- Ngày trước ta bức tử Thái tử Lê Duy Vỹ không có ai dám làm.

May nhờ có khanh một lòng trung với ta nên mới đem thuốc độc vào ngục ép Thái tử uống.

Nay ta có một việc muốn nhờ khanh, chẳng hay khanh có vui lòng chăng?

Ngô Cầu quỳ lạy nói:

- Ngô Cầu này một lòng trung với chúa, việc giết Thái tử còn dám làm thay.

Có điều gì xin Chúa thượng cứ xuống lệnh, Ngô Cầu dù chết chẳng từ nan.

Trịnh Sâm mừng rỡ vẫy Ngô Cầu đến gần bảo:

- Ngày mai là đến hạn thiết triều, trước bá quan văn võ khanh hãy nói như vậy... như vậy... nếu việc mà thành thì ngôi tể tướng là của khanh đó.

Cầu mừng rỡ lạy tạ xin vâng.

Hôm sau thiết triều nơi phủ chúa, Sâm hỏi bá quan văn võ:

- Trong nước có việc gì quan trọng, các khanh cứ mạnh dạn tâu trình.

Các quan đều thưa:

- Muôn dân no ấm, bốn phương thiên hạ thái bình không có việc gì lạ cả!

Bỗng Tạo Quận Công Phạm Ngô Cầu đứng lên nói:

- Xin hỏi các quan, muôn dân no ấm, thiên hạ thái bình, bờ cõi lại mở mang về phương Nam chiếm lấy đất Thuận Hóa, kinh thành Phú Xuân của họ Nguyễn, đuổi Định Vương chạy vào Gia Định là nhờ công đức của ai?

Bá quan bất ngờ nghe hỏi, lại thấy Trịnh Sâm lộ vẻ hài lòng, liền đồng thanh đáp:

- Ấy chính là nhờ công đức của Chúa thượng!

Ngô Cầu hăm hở nói tiếp:

- Nay vua Lê ở ngôi ba mươi sáu năm, tuổi đã già, sức đã yếu, mà không có công đức gì cho trăm họ.

Mọi việc lớn nhỏ trong nước đều do nơi Chúa thượng của ta, vua Lê chỉ ngồi không mà hưởng lộc, ở trên đời sao lại có việc bất công như thế.

Chi bằng chúng ta sẵn dịp đông đủ

trăm quan kéo qua điện vua Lê, bảo nhà vua thoái vị nhường ngôi Thiên tử cho chúa thì lẽ cương thường mới gom về một mối.

Chứ trong nước đã có vua lại còn có chúa, từ quan đến dân đều theo lệnh chúa thì vua ngồi đó để làm gì?

Trăm quan nghe thử lời tôi nói có đúng chăng?

Bây giờ quan trong triều phần đông đều là tay chân của Trịnh Sâm nghe vậy đồng thanh nói:

- Lời Tạo Quận Công rất phải, chúng ta hãy qua điện vua bảo vua Lê thoái vị cho rồi!

Nói xong đồng loạt đứng dậy toan đi.

Bỗng có một người bước ra nói lớn:

- Việc ấy không nên!

Mọi người giật mình nhìn lại, hóa ra kẻ vừa nói là quan Thị lang Vũ Trần Thiệu.

Ngô Cầu nổi giận mắng Thiệu:

- Ngươi chỉ là một chức quan nhỏ dám kháng lệnh chúa hay sao?

Vũ Trần Thiệu bình thản đáp:

- Chúa chưa xuống lệnh sao gọi là kháng lệnh?

Vả lại người xưa có câu: "Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách".

Nay thấy họa diệt vong của chúa lẽ nào tôi nhắm mắt làm ngơ.

Trịnh Sâm giận lắm nhưng cố nén hỏi:

- Ngươi nói thử xem họa diệt vong của ta là ở chỗ nào?

Thiệu bình thản đáp:

- Khải Chúa, tuy rằng truất ngôi vua Lê là điều trên thuận ý trời, dưới hợp lòng dân.

Nhưng từ xưa đến nay người nước Tàu bao giờ cũng lăm le chờ có cơ hội là sang xâm chiếm nước Nam ta đặt làm quận huyện.

Nếu Chúa thượng phế ngôi vua, ngộ nhỡ vua Càn Long nhà Thanh mượn cớ ấy đem quân sang đánh, thì không phải là bá quan đem cái họa diệt vong về cho chúa hay sao?

Sâm đổi giận làm vui hỏi:

- Lời khanh rất đúng!

Vậy theo khanh thì phải thế nào?

Thiệu hiến kế:

- Theo ý thần thì ta nên viết một tờ cáo đại ý rằng: Muôn dân ở nước Nam đều mong ngóng nhà chúa được lên ngôi Thiên tử trị vì trăm họ, hoàng tộc nhà Lê không còn ai xứng đáng để làm vua nữa, rồi bá quan đồng ký tên vào tờ cáo ấy.

Thần tuy bất tài cũng xin cầm tờ cáo ấy đi sứ sang Tàu trình với vua Càn Long nhà Thanh, xin được phong cho chúa làm An Nam quốc vương, khi ấy ta truất phế vua Lê để Chúa thượng lên ngôi hoàng đế đã muộn màng gì?

Trịnh Sâm nghe xong khen:

- Ý của khanh thật là chu đáo.

Nếu việc lớn mà thành thì công của khanh không nhỏ.

Nói rồi liền sai Vũ Trần Thiệu viết tờ cáo, rồi bảo các quan đều ký tên vào.

Xong việc, Trịnh Sâm truyền bãi triều.

Ra ngoài Phạm Ngô Cầu bảo Vũ Trần Thiệu:

- Lúc nãy ta hiểu lầm ý ông nên buông lời không phải.

Thật không ngờ ông trung với chúa chẳng kém gì ta.

Thiệu cười nói:

- Ông không nghe người xưa nói rằng: "Gia bần tri hiếu tử, quốc loạn thức trung thần" hay sao?

Nói rồi liền quay lưng về nhà thu xếp chờ ngày đi sứ sang Tàu.

Vũ Trần Thiệu và đoàn tùy tùng đi rồi, Trịnh Sâm ngày đêm trông ngóng tin vui, mơ ngày lên ngôi Cửu Ngũ.

Ngày kia Trịnh Sâm thiết triều, quân canh vào báo:

- Khải Chúa, sứ đoàn đã trở về xin vào ra mắt.

Sâm mừng khấp khởi bảo:

- Mau mau cho vào!

Sứ đoàn vào đến.

Không thấy Vũ Trần Thiệu, Sâm hỏi:

- Vũ Trần Thiệu đâu rồi?

Viên phó sứ sợ hãi quỳ thưa:

- Xin Chúa thượng tha tội!

Sâm gắt:

- Việc thế nào hãy nói mau?

Quan phó sứ vẫn quỳ mọp đáp:

- Khải Chúa!

Lúc sứ đoàn đi đến Động Đình Hồ thuộc đất Lưỡng Quảng thì quan Chánh sứ Vũ Trần Thiệu đem tờ cáo đốt đi rồi uống thuốc độc mà chết.

Quan chánh sứ để lại một bức thư phong kín cẩn thận, ngoài đề gửi cho Chúa thượng.

Hạ thần không biết làm thế nào đành phải quay về.

Đây là thư của Vũ Trần Thiệu xin Chúa thượng duyệt lãm.

Trịnh Sâm nghe qua như sét đánh ngang mày tiếp thư đọc, thư đại ý rằng: Ngày trước chúa giết chết Thái tử, nay lại toan làm điều soán nghịch.

Trăm quan trong phủ chúa đều là tay chân của chúa, biết bụng chúa mới hòng truất phế nhà vua.

Nhưng ngoài trăm họ đều nhớ ơn vua Lê Thái Tổ, Thái Tông.

Nếu không như thế thì ngày xưa sao Bình An Vương Trịnh Tùng có thể dứt được nhà Mạc mà lập nên nhà Lê Trung Hưng?

Nay chúa hòng giẫm lên bước chân của Mạc Đăng Dung ngày trước, trên cãi ý trời, dưới nghịch lòng dân thần e rằng chúa phải mang tiếng bất nhân và gây họa binh đao làm khổ cho bách gia trăm họ.

Hôm ấy sống không thể mở miệng can ngăn, nay thần lấy cái chết để viết lời khuyên giải.

Tuy rằng chúa tiếng không phải là vua, nhưng quyền thì đã nghiêng thiên hạ.

Đừng quá tham danh trong một lúc, mà để hại cho nước non dân tộc về sau.

Dưới tuyền đài khuyên chúa hãy bình tâm suy xét lại.

Sâm đọc xong vò nát thư nắm trong tay, vừa giận vừa thẹn bảo quan phó sứ:

- Truyền cho ngươi lui!

Từ nay về sau cấm không ai được nhắc đến việc này nữa.

Quan phó sứ liền lui ra mồ hôi toát đầm đìa!

Xong việc ấy quân canh lại vào báo:

- Khải Chúa!

Có thư của Bình Nam thượng tướng từ Quảng Nam gửi về, trình chúa duyệt lãm.

Trịnh Sâm tiếp thư đọc xong nói:

- Thượng tướng Hoàng Ngũ Phúc dâng biểu xin phong cho Tây Sơn Nguyễn Nhạc làm trấn thủ hai phủ Quy Nhơn, Quảng Ngãi để Nhạc đem quân đánh Nguyễn ở phương Nam.

Chờ chúng đánh nhau cho kiệt sức ta sẽ đem quân thôn tính toàn cõi Đàng Trong.

Các quan thấy thế nào?

Quan đại học sĩ Lê Quý Đôn bước ra thưa:

- Tâu Chúa thượng, nay nhân lúc Tây Sơn đang ở thế lưỡng đầu thọ địch, chúng phải chia quân ra giữ hai mặt Bắc và Nam, tất lực lượng phải bị phân tán, Chúa thượng nên lệnh cho Hoàng Ngũ Phúc lập tức tấn công tiêu diệt.

Nếu ta lầm kế giảng hòa của Nguyễn Nhạc để chúng rảnh tay tập trung lực lượng đánh Nguyễn xong, rồi Nhạc lại đem toàn quân ra Bắc chống nhau với ta thì e rằng ta bỏ lỡ thời cơ hiếm có.

Vả lại trong dân gian có truyền câu sấm rằng: "Tây khởi nghĩa, Bắc thu công".

Xin Chúa thượng hãy khá đề phòng giặc Tây Sơn.

Trịnh Sâm nói:

- Nhưng trong thư Hoàng Ngũ Phúc tâu rằng, chiếm Quảng Nam xong, gặp lúc mùa hè nóng nực quân ta bị bệnh, dịch tả lỵ rất nhiều không thể ra trận được.

Còn những câu sấm kia, ấy

chẳng qua là chuyện hoang đường lấy gì cho là thực?

Từ trước đến nay các Tiên vương đánh nhau với họ Nguyễn bảy lần đã có lần nào vượt khỏi sông Linh Giang chưa?

Nay tướng của ta mới ra oai một trận đã chiếm đất Thuận Hóa thu phục kinh thành Phú Xuân, đuổi chúa Nguyễn chạy vào Gia Định.

Gặp Tây Sơn chưa đánh, giặc nghe tiếng đã bỏ Quảng Nam mà chạy trốn vào Quảng Ngãi.

Nay dang là mùa hè nóng nực cứ để quân ta dưỡng uy sức nhuệ, chờ chúng đánh nhau tay chân sứt mẻ, rồi ta đem quân khỏe đến bắt vào có khó gì?

Quân bay đem bút nghiên ra, ta viết chiếu phong quan cho Nguyễn Nhạc.

Lê Quý Đôn quỳ xuống can:

- Xin Chúa thượng hay mau diệt Tây Sơn rồi thống nhất sơn hà!

Sâm bực tức quát rằng:

- Không làm vua được thì cần gì phải thống nhất sơn hà!

Ý ta đã quyết, ai còn can ngăn, chém!

Đôn sợ hãi lui ra.

Viết chiếu phong quan cho Nguyễn Nhạc, rồi sai người mang trao Hoàng Ngũ Phúc xong, Sâm truyền bãi triều.

Ra ngoài phủ chúa Lê Quý Đôn lập tức đến nhà danh y Lê Hữu Trác hiệu là Hải Thượng Lãn Ông.

Đôn nói với Trác:

- Xin thầy viết cho toa thuốc trị bệnh tả lỵ.

Hữu Trác cười vuốt hàm râu bạc phơ, hỏi Đôn:

- Đại quan ngồi cho tôi xem mạch chẩn đoán định bịnh rồi bốc thuốc về nhà uống, cần gì mà phải viết toa?

Đôn đáp:

- Không phải tôi bị bệnh!

Trác cười nói:

- Nếu người nhà bị tả lỵ, tôi xin bốc thuốc biếu đại quan, đem về không cần phải viết toa.

Đôn suy tư đáp:

- Bệnh tả lỵ này cả hàng mấy ngàn người mắc phải, liệu tủ thuốc của danh y có đủ không?

Trác giật mình hỏi:

- Nếu nói vậy ắt ở địa phương nào bị dịch tả lỵ chăng?

Đôn gật đầu đáp:

- Tướng quân Hoàng Ngũ Phúc đem bốn vạn quân vào đến Quảng Nam thì quân bị dịch tả lỵ nên tôi mới đến xin toa thuốc của danh y, cứu nguy quân ta.

Lê Hữu Trác nhẩm tính:

- Năm nay là năm Ất Mùi thuộc âm kim.

Đại trường (ruột già) ứng kim có bệnh.

Mùa hè hành hỏa nhiệt thịnh, Tiểu trường (ruột non) ứng hỏa tích nhiệt, gặp phải thấp khí bốc lên ứng vào hành thổ của tỳ vị (dạ dày, lách).

Nếu trong năm nay vào mùa hè ở địa phương nào có nhiều thấp khí bốc lên, nhất định là thấp nhiệt tích nơi trường vị mà sinh dịch bệnh tả lỵ triền miên.

Lê Quý Đôn lo lắng hỏi:

- Vậy danh y có thuốc gì chữa khỏi bịnh này chăng?

Hữu Trác đáp:

- Có ba loại cỏ thường mọc khắp nước Nam ta ấy là Lệ trường thảo, Thủy tinh thảo và Mã xĩ thảo.

Hái lá tươi giã nhỏ vắt lấy nước mà uống lập tức khỏi ngay.

Nhưng theo tôi có hai điều khó, một là từ Thăng Long mang bài thuốc vào đến Quảng Nam có nhanh nhất cũng hết mười ngày, thì số người đang mắc bệnh ắt phải tử vong, hai là nếu nơi ấy ban đêm khí trời nóng bức, ban ngày màu nắng vàng vọt là thấp khí vẫn bốc lên nhiều, thì phải lập tức rời khỏi vùng đất ấy ngay mới mong bảo toàn tánh mạng.

Lê Quý Đôn ngửa mặt than:

- Nếu thế là số trời đã giúp quân Tây Sơn rồi vậy!

Nói xong Đôn vòng tay cáo từ Lê Hữu Trác ra về.

Đến nhà Đôn lập tức viết thư sai người thân tín ngày đêm đi gấp vào Quảng Nam trao cho Hoàng Ngũ Phúc.
 
Tây Sơn Bi Hùng Truyện
Chương 18


Lừa Đông cung, Nguyễn Huệ dùng kế nghi bình.

Lầm Tây Sơn, Tổng Phước Hiệp thua quân bỏ mạng

Nói về Hoàng Ngũ Phúc đóng quân trong thành Quảng Nam ngày kia nhận được chiếu chỉ của Trịnh Sâm, bèn hội các tướng nói:

- Ta vừa nhận được lệnh chúa phong Nguyễn Nhạc làm Tây Sơn hiệu trưởng, trấn thủ Quy Nhơn, Quảng Ngãi.

Vậy ai có thể mang ấn kiếm vào Quy Nhơn?

Trước là thừa lệnh chúa phong quan cho Nguyễn Nhạc, sau là dò xét tình hình quân Tây Sơn mạnh yếu thế nào?

Nguyễn Hữu Chỉnh đứng lên nói:

- Tôi xin lãnh mệnh vào Quy Nhơn làm sứ giả!

Phúc cả mừng nói:

- Nguyễn Hữu Chỉnh thông kim bác cổ, ứng đối như lưu, lại có tại dụng binh.

Nay tướng quân lãnh trọng trách này, thật ta chẳng lo gì nữa.

Nói xong rót rượu tiễn Nguyễn Hữu Chỉnh.

Hôm ấy Nguyễn Nhạc ở Quy Nhơn nghe quân vào bảo:

- Tâu Chúa công, có sứ giá của chúa Trịnh là Nguyễn Hữu Chỉnh đến gọi Chúa công ra tiếp chiếu.

Nhạc cả mừng nói:

- Ngày trước Nguyễn Thung tiên sinh đem lễ vật dâng Hoàng Ngũ Phúc cầu hoà.

Nay quân Trịnh lại sai sứ giả đến bảo ta tiếp chiếu ắt lá thuận ý rồi đây!

Nói rồi truyền quân mời sứ giả vào.

Chỉnh vào đến thấy Nguyễn Nhạc vẫn ngồi yên trên bệ, hai bên các tướng đứng hầu, liền nói:

- Tôi vâng lệnh chúa đêm chiếu chỉ và ấn kiếm đến đây cho tướng quân thọ chức.

Sao tướng quân không quỳ mà lĩnh chiếu?

Nhạc nghiêm mặt hỏi:

- Từ xưa đến nay chỉ nghe nói tiếp chiếu của vua chưa nghe nói tiếp chiếu của chúa bao giờ.

Nay nghe ngài bảo là vâng lệnh chúa nên Nhạc tôi còn lưỡng lự chưa biết phải làm sao?

Chính liền đáp:

- Từ thời Lê Trung Hưng đến nay các vua Lê đã giao cho các chúa thay quyền nhiếp chính, điều hành mọi việc trong nước, bất cứ việc gì cũng không phải xin lệnh của vua.

Nếu tướng quân không nhận chiếu chỉ của chúa, Chỉnh tôi xin về tâu lại.

Nhạc với bước xuống bệ nói:

- Ấy!

Chẳng qua tôi là người nước người nên không hiểu lệ ấy mà thôi.

Nếu vua đã trao quyền cho chúa thì chiếu của chúa là chiếu của vua.

Nói rồi liền cũng các tướng quỳ nghe chiếu, Chỉnh đọc:

"Nước Đại Việt niên hiệu Cảnh Hưng thứ ba mươi sáu.

Tĩnh Đô Vương hạ chiếu:

Nay sắc phong cho Nguyễn Nhạc làm Tây Sơn hiệu trưởng trấn thủ hai phủ Quy Nhơn, Quảng Ngãi, lệnh cho Tây Sơn hiệu trưởng đem quân hai phủ tiền đánh giặc Nguyễn ở

phương Nam, đem non sông gom về một mối.

Tiếp được chiếu này lập tức thi hành chớ phụ lòng mong đợi của quả nhân.

Nay chiếu"

Nhạc nghe xong lậy ba lậy nhận ấn kiếm của Chỉnh trao cho, rồi truyền quân bày yến tiệc.

Nhập tiệc Nhạc rót rượu mời Chỉnh.

Nhạc nói:

- Nay tôi được sắc phong của Tĩnh Đô Vương và cùng với ngài là bạn đồng liêu, xin mời ngài một chén.

Chỉnh nâng chén uống cạn hỏi:

- Đã nhận sắc phong rồi, vậy hiệu trưởng định bao giờ xuất quân đánh Nguyễn?

Nguyễn Huệ liền đứng lên đỡ lời Nhạc:

- Xin ngài về thưa cùng chúa, đại huynh tôi hẹn trong mười ngày sẽ đánh tan hai vạn quân của Tôn Phước Hiệp chiếm lấy Phú Yên.

Chỉnh thấy Huệ còn rất trẻ mới đắn đo rằng:

- Hay lắm!

Những việc quân thắng bại là lẽ thường tướng quân sao đã vội định ngày?

Vả lại Tôn Phước Hiệp là một lão tướng của Nguyễn Định Vương, tướng quân đừng nên khinh địch mà chuốc lấy bại vong đó.

Nói rồi vòng tay cáo biệt ra về.

Nhạc quở trách Huệ:

- Trước mặt Hữu Chỉnh em đã vội hứa trong mười ngày phá xong địch chiếm Phú Yên.

Ngộ nhỡ trong mười ngày mà việc không xong hoá ra ta nói khoác với họ thì còn mặt mũi nào?

Huệ thưa:

- Xin đại huynh chớ lo, trận này em xin lãnh binh phá địch, nếu trong mười ngày không thắng xin chịu mất đầu theo tướng lệnh.

Huệ vừa nói xong bỗng có một người xồng xộc bước vào nói lớn:

- Nguyễn Nhạc sao dám lừa dối ta.

Ông hứa đánh Trịnh chiếm lại Phú Xuân tôn phò ta lên ngôi chúa, mà nay đi nhận sắc phong của họ Trịnh là nghĩa làm sao?

Mọi người nhìn lại hoá ra là Đông cung Nguyễn Phúc Dương.

Huệ thấy Đông cung Dương đã biết cơ mưu của mình liền đáp rằng:

- Xin Đông cung Thế tử chớ khá hiểu lầm.

Đại huynh tôi buộc phải giả hoà với quân Trịnh để là kế hoãn binh, vì không thể đem hết toàn quân r Quảng Nam đánh Trịnh.

Bởi ở Phú Yên Tống Phước Hiệp đã đem đại binh hai vạn lăm le đánh chiếm Quy Nhơn, Đông cung Thế tử đã biết chưa?

Nguyễn Phúc Dương đáp:

- Việc nay ta có biết.

Huệ lại nói:

- Giờ xin Thế tử hay viết một bức thư nói rõ ý tôn phò của đại huynh tôi cho Tống Phước Hiệp được biết yêu cầu ông ấy lui bình.

Nếu Tống Phước Hiệp cho nghe lệnh Định Vương Nguyễn Phúc Thuần mà không nghe lệnh Thế tử thì quân Tây Sơn ta phải đánh Tống Phước Hiệp trước, sau đó sẽ dốc toàn lực quay sang đánh Trịnh, mới có cơ thu phục được kinh thành đưa Thế tử lên ngôi chúa.

Chẳng hay ý Thế tử thế nào?

Nguyễn Phúc Dương còn nhỏ tuổi thật thà, nghe Huệ nói thế tỏ ý ăn năn đáp:

- Ta thật là hồ đồ, chút nữa đã hiểu lầm tấm lòng trung nghĩa của các vị tướng quân.

Để ta viết thư cho Tống Phước Hiệp xem thứ ý ông ấy thế nào?

Nguyễn Phúc Dương viết xong, Nhạc bèn sai Nguyễn Thung đem thư sang Phú Yên cho Tống Phước Hiệp.

Nói về Tống Phước Hiệp lúc ấy đã ngoài sáu mươi tuổi, được chúa Định Vương phong làm

tổng binh quản dinh Bình Tây đại tướng quân, bèn lấy quân ở ba dinh Long Hồ, Phiên Trấn, Trấn Biên tổng cộng hơn hai vạn dân.

Các con là Tống Phước Khương, Tống Phước Lương, Tống Viết Phước, Tống Viết Nghĩa ồ át xua quân ra Bình Thuận.

Quân Nguyễn tiến đến đâu quân Tây Sơn chỉ lui mà không đánh.

Chỉ trong vòng hai tháng Tống Phước Hiệp đã chiếm lại ba thành Bình Thuận, Diên Khánh, Phú Yên.

Chiếm thành Phú Yên, Tống Phước Hiệp đích thân cưỡi ngựa đến ải Cù Mông xem xét.

Thấy núi non trùng điệp đá dựng hiểm trở, chỉ có một con đường độc đạo lên đến đỉnh đèo, Hiệp nói với các con:

- Ải Cù Mông hình thế hiểm trở quân Tây Sơn lại đóng ở trên đỉnh đèo có lợi thế từ cao đánh xuống.

Dù ta có thiên bình vạn mã cũng không thể nào qua khỏi ải này.

Các con hãy chia quân đóng giữ các nó hiểm yếu cho binh sĩ nghỉ ngơi dưỡng sức rồi ta sẽ tính kế sau.

Người con nhỏ của Hiệp là Tống Viết Nghĩa hỏi:

- Thưa cha ải này không cao và hiểm trở bằng ải Vân Phong (đèo Cả).

Ải Vân Phong ta con lấy được dễ dàng thì ải Cù Mông này sao cha lại ngại?

Tống Phước Hiệp vuốt râu cười:

- Ải Vân Phong tuy rằng hiểm trở nhưng giặc Tây Sơn chỉ lui mà không đánh nên ta mới chiếm được dễ dàng.

Còn ải Cù Mông này con hãy nhìn xem trên sườn núi dọc theo đường đèo lều trại san sát, mỗi một khúc quanh đá đều gom thành đống, chứng tỏ chúng phong bị rất kỹ càng, không thể nào đánh được.

Nói xong liền quay ngựa về doanh trại.

Vừa đến nơi có quân canh vào bảo:

- Thưa đại tướng quân, có sứ giả quân Tây Sơn xin vào yết kiến.

Phước Hiệp cho vào.

Đến trước án, Nguyễn Thung thi lễ nói:

- Tôi là sứ giả của Tây Sơn xin được ra mắt tướng quán.

Hiệp vênh mặt hỏi:

- Tây Sơn các người đánh nhau với ta thua quá bỏ luôn ba dinh Bình Thuận, Diên Khánh, Phú Yên mà chạy về Quy Nhơn.

Nay cùng đường Nguyễn Nhạc sai ngươi đến cầu hoà phải chăng?

Thung ung dung đáp:

- Chủ tướng tôi bỏ ba dinh lui về Quy Nhơn không phải vì thua quân, mà vì chủ tướng tôi với tướng quân đều là tôi trong một nước nên không muốn chém giết lẫn nhau do thôi!

Hiệp vỗ bàn quát:

- Láo xược!

Nguyễn Nhạc khởi loạn ở Tây Sơn kéo ra đánh Quảng Nam đuổi chúa ta chạy vào Gia Định sao dám bảo ta với hắn là tôi trong một nước?

Nhà ngươi nói không ra lẽ, ta giết chết không tha.

Không chút sợ hãi, Thùng đáp rằng:

- Chủ tướng tôi khởi binh ở Tây Sơn đánh đổ Quốc phó Trương Phúc Loan chuyên quyền làm lắm điều tàn bạo, tôn phò Đông cung Nguyễn Phúc Dương vốn dòng chính thống bị Phúc Loan truất phế.

Nay Đông cung sai chủ tướng tôi đem quân Bắc tiến thu phục kinh thành Phú Xuân về chỗ chúa Nguyễn.

Ấy chẳng phải chủ tướng tôi là tôi của chúa Nguyễn rồi ư?

Hiệp suy nghĩ giây lát rồi bảo:

- Điều ngươi vừa nói nghe ra hợp lý, nhưng việc Nguyễn Nhạc tôn phò Đông cung lấy gì để làm bằng?

Thùng lấy thư trong ngực ra dâng Phước Hiệp rồi nói:

- Đây là thư của Đông cung gửi cho tướng quân.

Xin tướng quân xem lấy làm bằng.

Tống Phước Hiệp tiếp thư đọc xong nói:

- Trong thư Đông cung bảo ta phải lui binh, để Nguyễn Nhạc tin tưởng dồn toàn lực ra Quảng Ngãi đánh Trịnh.

Nhưng nếu ta lui binh thì các người thừa cơ chiếm lại Phú Yên thì làm sao?

Thùng ngạc nhiên hỏi:

- Trong thư có dấu ấn của Đông cung, tướng quân vẫn chưa tin ư?

Hiệp vuốt râu cười đáp:

- Ngộ nhỡ các ngươi dùng vũ lực ép Thế tử viết thư để lừa ta, bảo ta tin sao được?

Nếu thật lòng người về thưa cùng Đông cung, chờ ta sai người ra Quy Nhơn diện kiến, nếu đúng là ý của Đông cung ta lập tức lui binh.

Nguyễn Thung cáo biệt ra về.

Ngày sứ giả của Tống Phước Hiệp đến, Nguyễn Nhạc, mời Nguyễn Phúc Đường ngồi giữa, Nhạc và các tướng đứng hầu hai bên, rồi truyền cho sứ giả vào.

Sứ giả vào đến trông thấy Nguyễn Đường liền sụp lậy tung hô:

- Kính chúc Thế tử sức khoẻ an khang!

Nguyễn Phúc Đường ân cần nói:

- Tống Phước Hiệp không tin thư ấy là của ta, nên mới sai người đến xem hư thực thế nào có phải vậy chăng?

Sứ giả đáp:

- Đúng là như vậy, dám hỏi Thế tử sự thể thế nào?

Nguyễn Phúc Dương bảo:

- Tống tướng quân cẩn thận vậy là đúng!

Ngươi hãy về thưa cùng Tống tướng quân đem đại binh quay về Gia Định truất phế Định Vương Nguyễn Phúc Thuần thì ta mới yên tâm đem toàn quân ra Quảng Nam đánh Trịnh.

Có như thế sau khi đuổi Trịnh ra khỏi sông Linh Giang, thu phục kinh thành Phú Xuân, tất cơ đồ nguyên vẹn như xưa, nghĩa cương thường gom về một mối, thì công của Tống tướng quân rất lớn.

Ta đã viết sẵn một phong thư, ngươi hãy kíp mang về tâu lại cùng Tống tướng quân.

Sứ giả vâng lệnh quay về dâng thư của Phúc Đường cho Tống Phước Hiệp.

Hiệp xem thư xong cười rằng:

- Đông cung tuổi còn nhỏ chưa trải việc đời, nên mới bị Nhạc dối gạt.

Ta chưa có kế gì đánh chúng thì chúng tự đem thân nộp mạng cho ta.

Mấy người con Tống Phước Hiệp cũng thưa:

- Cha nói vậy là nghĩa gì, chúng con không hiểu?

Hiệp đáp:

- Ta đã sai người dò xét tình hình quân địch.

Chờ cho thám mã về bảo, các con khắc rõ.

Vừa nói xong quân thám mã về bảo:

- Thưa đại tướng quân, giặc Tây Sơn đang chưa bị bịnh mà định ngày tiến đánh quân ta.

Hiệp vuốt râu bảo:

- Đúng như điều ta dự đoán, Nguyễn Nhạc mượn tiếng tôn phò Đông cung, giả danh đánh Trịnh để ta không đề phòng rồi bất ngờ tiến đánh.

Chúng tưởng ta cũng khờ khạo như Đông cung sao?

Nói xong cười lớn.

Tống Viết Nghĩa hỏi:

- Thưa cha vậy ta nên liệu tính thế nào?

Hiệp đáp:

- Ta tương kế tự kế đánh cho chúng một trái không còn manh giáp.

Nói rồi liền viết thư sai một tên quân đem sang ải Cù Mông báo cho quân Tây Sơn hẹn

trong năm ngày sẽ rút quân về.

Hiệp bảo Tống Viết Nghĩa rằng:

- Tống Viết Nghĩa và Tống Viết Phước hai con lãnh một vạn tinh binh ra phía Bắc thành mai phục quân Tây Sơn từ ải Cù Mông tiến vào thì cứ để cho chung đi qua, đợi khi nào quân ta mở cổng thành giao chiến, hai con lập tức đánh vào sau lưng giặc.

Tống Viết Phước và Tống Viết Nghĩa lãnh lệnh lui ra.

Tống Phước Hiệp xuống lệnh:

- Tống Phước Khương lãnh năm ngàn quân ra canh phòng ở cửa bể đề phòng chúng đánh ta bằng thuỷ binh.

Tống Phước Lương ngày đêm cho quân canh phòng cẩn mật ở mặt Bắc thành, chúng chỉ có thể đánh ta bằng hai con đường ấy mà thôi.

Nói về Nguyễn Nhạc ở Quy Nhơn nhận được thư của Tống Phước Hiệp mở ra xem nói:

- Tống Phước Hiệp hẹn trong năm ngày sẽ kéo quân về Gia Định truất phế Định Vương Nguyễn Phúc Thuần.

Vậy nhân lúc chúng không đề phòng ta bt ngờ tiến đánh ắt là toàn thắng.

Nguyễn Huệ can rằng:

- Xin đại huynh hay khoan.

Nếu ta đem quân qua ải Cù Mông theo đường đại ộ đánh Phú Yên nhất định sẽ gặp quân mai phục của Tống Phước Hiệp.

Huệ vừa dứt lời quân thám mã về báo:

- Tâu Chúa công, Tống Phước Hiệp sai con là Tống Viết Nghĩa đem một vạn quân mai phục ở phí Bắc thành Phú Yên chờ quân ta đến thì đổ ra đánh.

Tống Phước Khương đêm năm ngàn quân canh phòng mặt bể.

Nghe xong Nhạc giật mình hỏi Huệ:

- Sao em biết rằng Tống Phước Hiệp nhất định cho quân mai phục?

Huệ đáp:

- Tống Phước Hiệp là một lão tướng đa mưu túc trí.

Hắn biết ta giả hoà để bất ngờ tiến đánh, nên tương kế tựu kế cho quân mai phục chờ ta tiến đánh rồi hai mặt giáp công.

Lý Tài bước ra cười hỏi:

- Nếu tướng quân đã biết thế thì sao còn giả kế giảng hoà, để quân Nguyễn càng cẩn mật đề phòng thì quân ta càng khó bề thủ thắng?

Huệ cũng cười bảo:

- Nhưng Tống Phước Hiệp chỉ đề phòng phía trước mặt mà không che chắn ở sau lưng.

Tôi làm thế để chia quân của địch ra mai phục ở mặt Bắc ta thừa cơ đem binh tiến đánh phía sau lưng.

Nhạc ngạc nhiên hỏi:

- Em làm cách nào mà đánh được ở sau lưng quân Nguyễn?

- Thưa đại huynh, ở phía Nam thành Quy Nhơn có một con đường núi của các bộ tộc người Thượng thông thương với nhau.

Con đường này đi vòng qua phía tây ải Cù Mông vào đến thành Phú Yên.

Nay ta bí mật theo đường này đánh lấy Phú Yên, chặn đường rút của một vạn quân Tống Viết Nghĩa mai phục.

Khi ấy không những ta chiếm được Phú Yên mà con tiêu diệt được hai vạn quân Nguyễn đang uy hiếp ta ở mặt Nam.

Ấy là kế giương Đông kích Tây, xin đại huynh xuống lệnh xuất quân.

Lý Tài cười hỏi:

- Nếu là giương Đông kịch Tay, thì ta làm kế ngh bình ở ải Cù Mông, rồi theo đường này mà đánh việc gì phải cho Đông cung làm kế giải hoà?

Huệ ung dung đáp:

- Lúc Tống Phước Hiệp đánh lấy Bình Thuận Diên Khánh, Phú Yên của ta, hắn cho thuỷ binh làm kế nghi binh nói phao rằng sẽ đem thuỷ binh đánh vào các cửa bể, khiến ta sợ quân

mình lâm vào thế lưỡng đầu thọ địch nên phải lui quân về giữ ải Cù Mông bỏ ba dinh cho quân Nguyễn, chứng tỏ Tống Phước Hiệp không phải là kẻ vô mưu.

Nếu chỉ dùng kế kế nghi binh thường tình như Lý tướng quân nói sao lừa được Tống Phước Hiệp.

Lý Tài lại cãi:

- Nếu chỉ dùng kế nghi binh như tôi vừa nói, mà hắn không biết có con đường núi kia thì ắt chẳng đề phòng.

Còn bây giờ dù có cho Đông cung Thế tử là kẻ giả hoà mà hắn biết có con đường núi ấy tất hắn lại càng đề phòng hơn nữa!

Nguyễn Huệ cười lớn đáp:

- Ta làm kế giả hoà để cho hắn đề phòng.

Nay hắn đem một vạn quân mai phục ở mặt Bắc, để năm ngàn quân phòng thủ ở mặt Đông, trong thành còn lại năm ngàn quân.

Chứng tỏ hắn không biết rằng ở phía Tây có con đường núi bí mật này.

Ấy chẳng phải là biết người biết ta trăm trận trăm thắng đó sao?

Lý Tài nghe xong không còn bắt bẻ vào đâu nữa.

Nguyễn Thung bước ra nói:

- Mưu của Nguyễn Huệ thật là diệu kế thập toàn.

Xin Chúa công cho Nguyễn Huệ điều binh khiển tướng đánh trận này mới mong đập tan lực lượng của địch quân.

Nguyễn Nhạc y lời nói:

- Nay có đông đủ các tướng, ta phong Nguyễn Huệ làm chánh tướng điều binh khiển tướng.

Có ai không phục chăng?

Các tướng vui vẻ đồng thanh nói:

- Chúng tôi đều phục!

Chỉ có Lý Tài là chẳng nói gì.

Nguyễn Huệ dõng dạc bước lên nhận gươm lệnh của Nhạc trao cho rồi quay lại lấy trong mình một phong thư gọi tên quân đến bảo:

- Ngươi lập tức đến ải Cù Mông trao cho Nguyễn Lữ, Cứ y như trong thư ta dặn mà làm.

Tên quân lãnh lệnh đi ngay.

Huệ lại truyền:

- Vợ chồng Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân đem hai mươi thớt voi kéo theo một trăm khẩu đại bác cùng năm trăm quân hoả hổ đi trước mở đường, ta sẽ đem đại binh tiếp ứng.

Trận này nếu không tiêu diệt được hai vạn quân Nguyễn thề không về gặp mà Chúa công!

Nói rồi hạ lệnh xuất quân.

Năm ngàn quân Tây Sơn ngựa cất lạt người ngậm tăm, lặng lẽ theo đường núi tiến vào Phú Yên.

Nguyễn Huệ chờ đến nửa đêm cho quân áp sát thành, quân Nguyễn vẫn không hề hay biết.

Bố trận xong, Huệ hạ lệnh tiến quân.

Quân Tây Sơn đặt đai bác nhằm cổng thành mà bắn.

Cổng thành vỡ, Huệ cho bộ binh tràn vào tung hoả hổ đốt phá trại địch trong thành.

Tống Phước Lương đang chia quân canh phòng cổng Bắc, bổng nghe phía Tây thành đại bác nổ ầm ầm, rồi thì lửa cháy rực trời, quân hò reo vang dậy, trống trận dậy dồn.

Lương thất kinh hồn vía chạy vào thủ phủ tìm cha.

Đến nơi thấy Tống Phước Hiệp vừa mặc giáp xong đang cầm thương lên ngựa.

Hiệp lo âu hỏi:

- Giặc từ đâu đánh thẻ?

Lương hớt hải đáp:

- Phía Bắc thành không nghe động tĩnh.

Con vừa nghe súng nổ ở phía Tây thành vội chạy đến tìm cha ngay.

Hiệp liền bảo:

- Màu về phía ấy xem sao!

Nói rồi ra roi thúc ngựa về phía Tây thành.

Đến nơi thấy quân Tây Sơn đã tràn vào như thác lũ, còn quân mình bàng hoàng vừa tỉnh cơn mê, không biết đường nào chống đỡ hỗn loạn mà chạy, bị quân Tây Sơn chém giết rất nhiều.

Cha con Tống Phước Hiệp liệu bề không chống lại bên quay ngựa nhắm cổng Nam thành

mà chạy.

Nữ tướng Tây Sơn là Bùi Thị Xuân đầu vấn khăn lụa, mình mặc áo bà ba, ngồi trên lưng voi một ngà trông thấy hét lớn:

- Tống Phước Hiệp chạy đâu cho thoát!

Hét xong giương cung lắp tên bắn một phát trúng tay trái Tống Phước Hiệp.

Hiệp nghiến răng nhổ tên, nằm mọp trên lưng ngựa quất ngựa chạy dài.

Trần Quang Diệu thúc ngựa xua quân đuổi theo.

Hai tướng Nguyễn là Nguyễn Văn Hiền và Nguyễn Khoa Kiên khua đao rượt đánh Trần Quang Diệu cho Tống Phước Lương phò tá Hiệp chạy trước.

Hiền và Kiên bị Trần Quang Diệu vung đại đao chém trong một lúc, đầu Hiền và Kiên cũng rơi xuống đất.

Ra khỏi thành chỉ chừng chừng trăm tên quân chạy theo cha con Tống Phước Hiệp.

Chạy về gần đến ải Vân Phong bỗng thấy một đạo quân từ trong đường hẻm kéo ra, Tống Phước Lương giật mình nhìn lại, thì ra anh mình là Tống Phước Khương.

Khương chạy đến ôm Hiệp khóc, quỳ tạ tội rằng:

- Cha bị nguy con không cứu kịp, đến nơi cha bị trọng thương, tội con đáng chết!

Nói rồi hai anh em đỡ cha xuống ngựa nằm nghỉ dưới gốc cây bên vệ đường.

Hiệp hỏi Khương:

- Sao con về được đến đây?

Khương đáp:

- Con thấy lửa cháy ngút trời lại nghe súng nổ ầm ầm ở thành Phú Yên, biết có biến vội kéo quân về tiếp viện.

Mới đến nửa đường gặp tàn quân của ta chạy đến nơi: Cha đã bỏ thành chạy về ải Vân Phong nên con bèn đi đường tắt đến đây.

- Chẳng hay Việt Phúc và Việt Nghĩa đâu không thấy?

Lương đỡ lời cha đáp:

- Thưa đại ca, hai em ta đã đem một vạn quân mai phục ở phía Bắc thành.

Nay quân Tây Sơn đã chiếm mất thành, tất hai em ta không còn đường lui, nếu giặc từ ải Cù Mông đánh ra e rằng hai em ta nguy mất!

Tống Phước Khương liền nói với Tống Phước Lương:

- Nhị đệ mau dìu cha về cố thủ ải Vân Phong, để ta đem năm ngàn quân đánh cứu hai em.

Tống Phước Hiệp lúc ấy tuổi đã già lại bị thương máu ra nhiều sức đã kiệt, gắng gượng hỏi:

- Tướng Tây Sơn điều khiển đánh trận này là ai?

Khương đáp:

- Thưa cha, nghe nói là Nguyễn Huệ em và Nguyễn Nhạc mời vừa hai mươi mốt tuổi.

Hiệp nghe xong bảo:

- Hai con hãy mau cho vài mươi người thân tín ở đường bể lẻn ra Quy Nhơn phao tin lên rằng quân Trịnh sắp đem quân vào đánh Quảng Ngãi.

Nguyễn Nhạc tất gọi Nguyễn Huệ đem quân về đề phòng mặt Bắc.

Tống Phước Khương y lời gọi quân đến dặn dò.

Quân đi xong, Khương nói:

- Xin cha cho con đem quân giải cứu hai em!

Hiệp bảo:

- Sau khi cha chết đi hai con lập tức đem tàn quân về giữ ải Vân Phong, không được liều lĩnh đánh nhau cùng Nguyễn Huệ.

Các con không phải là đối thủ của nó.

Con hai em con sống chết đánh phó thác cho trời không còn cách nào khác đâu!

Nói rồi Hiệp than:

- Ta đã hơn ba mươi năm làm tướng, nay đã quá tuổi lục tuần mà phải thua mưu của một thằng con nít miệng con hơi sữa, để đến nỗi bị một đứa con gái đuổi theo bắn trọng thương.

Nhục nhã thay!

Than xong lại khóc:

- Hai con đi!

Biết hai con đang nguy khốn mà đành bó tay không cứu được, lòng cha đau xót lắm thay!

Nói rồi vừa đau thường vừa uất ức, Tống Phước Hiệp thổ huyết mà chết.

Tống Phước Khương, Tống Phước Lương khóc rống một hồi, rồi đưa thi hài Tống Phước Hiệp và lui quân về ải Văn Phong.

Trong đêm Nguyễn Huệ đem quân theo đường núi chuẩn bị đánh thành Phú Yên, thì Tống Viết Nghĩa và Tống Viết Phước mai phục ở phía Bắc thành, bỗng thấy quân Tây Sơn ở trên ải Cù Mông đánh trống dập dồn, đốt đuốc sáng rực.

Tống Viết Nghĩa nói với Tống Viết Phước:

- Cha của ta thật là thần cơ diệu toán, quân Tây Sơn quả nhiên trúng kế...

Nói chưa dứt lại bỗng nghe ở phía thành Phú Yên súng nổ ầm ấm chuyển đất.

Ngoảnh lại nhìn thấy lửa cháy sáng rực mây trời.

Tống Viết Phước la lên:

- Nguy rồi, ta đã trúng kế giương đông kích tây của giặc rồi.

Anh em ta mau kéo binh về cứu cha.

Việt Nghĩa nói:

- Em đem năm ngàn quân đi trước, anh đem năm ngàn quân đi sau đoạn hậu đề phòng giặc ở Cù Mông đánh ra.

Nói rồi liền quay ngựa hối hả dặn quân quay lại thành Phú Yên.

Trời vừa hửng sáng, Việt Nghĩa đến nơi thì cửa thành đã mở toang, trong thành một đạo quân áo đỏ xông ra, đi đâu là ba viên dũng tướng, một viên tướng tuổi còn rất trẻ diện mạo khôi ngô quát lớn:

- Có ta là Tây Sơn đại tướng Đặng Văn Long ở đây, sao các ngươi con chưa xuống ngay quỳ hàng?

Tống Viết Nghĩa thất kinh than:

- Thành đã mất về tay giặc rồi.

Chẳng biết cha và anh ta sống chết ra sao!

Chúng đánh bằng cách nào mà nhanh thế!

Nói xong liều chết vung đao hò quân giáp chiến.

Đặng Văn Long lướt ngựa khua kích rượt đánh.

Quân Tây Sơn càng đánh càng hăng.

Quân Nguyễn lòng đã hoang mang không còn tinh thần chiến đấu bị Tây Sơn giết chết vô số.

Tống Viết Nghĩa đánh được mươi hiệp bị Đặng Văn Long vung kích chém chết.

Quân Nguyễn vỡ tan bỏ chạy, tiếng khóc la vang trời dậy đất.

Đặng Xuân Bảo và Đặng Xuân Phong thừa thắng xua quân đuổi theo.

Văn Long ngăn lại nói:

- Hai em đừng nên truy sát làm chi, để chúng chạy ra sẽ gặp nhị sư huynh Nguyễn Lữ từ Cù Mông kéo đến.

Chúng cùng đường ắt phải xin hàng.

Nói rồi lệnh cho quân, địch chạy đến đầu đuổi theo đến đấy không được giết hại.

Nhắc lại tướng Nguyễn là Tống Viết Phước đi sau đoạn hậu, bỗng thấy tiền quân mình rối loạn, có tên quân đến bảo:

- Thưa tướng quân, tướng quân Tống Viết Nghĩa đã tử trận.

Hiện giặc đang đuổi theo truy sát.

Phước thất kinh hồn vía bảo quân sĩ:

- Phía Bắc có một vùng núi non hiểm trở mà chạy đến đấy mau!

Phước dẫn quân chạy đến chân núi đã thấy quân Tây Sơn chặn đường.

Tướng Tây Sơn là Nguyễn Lữ thét to:

- Các ngươi không còn đường thoát thân, sao ngoan cố chưa chịu quy hàng.

Tống Viết Phước hét lên rằng:

- Ta dù bại binh cũng quyết sống mái một trận đời nào lại đi hàng lũ giặc các ngươi.

Phan Văn Lân đang ở sau lưng Nguyễn Lữ nghe Phước gọi quân mình là giặc nổi giận vung thương thúc ngựa xông ra đánh nhau với Tống Viết Phước.

Đánh mới vài hiệp Tống viết Phước vã mồ hôi hột.

Thêm mặt Nam Đặng Văn Long đem quân đuổi đến dồn quân Nguyễn vào giữa vòng vậy.

Trong cơn nguy khốn bỗng thấy từ trong núi một đạo binh trương cờ đề bốn chữ "Lương Sơn tá quốc", cầm đầu là bốn viên dũng tướng hùng hổ đánh vào sau lưng quân Tây Sơn.

Vòng vây được mở, Tống Viết Phước liền thúc ngựa chạy về phía ấy.

Phan Văn Lân thúc ngựa đuổi theo.

Một viên tướng trong đạo quân Lương Sơn xông ra hét lớn:

- Giặc Tây Sơn kia chớ giết hại binh triều, có ta là Châu Đoan Hãn đến đây!

Hét xong hắn vung đao đón đánh Phan Văn Lân.

Nhờ vậy Tống Viết Phước và vài trăm quân chạy thoát được về phía quân Lương Sơn.

Châu Văn Tiếp bảo:

- Phạm Văn Sĩ mau đưa Tống tướng quân lui về doanh trại, anh em ta ở lại chặn đánh giặc Tây Sơn.

Nói vừa dứt lời ngoảnh lại đã thấy Châu Đoan Hãn bị Phan Văn Lân đâm một thương ngã nhào xuống ngựa.

Châu Văn Tiếp hét lên một tiếng cùng em là Châu Đoan Chân lướt ngựa đến vây đánh Văn Lân.

Nguyễn Lữ trông thấy liền sai Ngô Văn Sở vác đại đao xông ra trợ chiến.

Quân Tây Sơn ồ ạt tiến lên.

Châu Văn Tiếp liệu bề không chống nổi đành rút quân về sào huyệt trong núi Trà Lang.

Quân Tây Sơn toàn thắng bắt được hàng binh và vũ khí rất nhiều.

Đến rạng sáng hôm ấy, toàn phủ Phú Yên đều thuộc về Tây Sơn cả.

Nguyễn Huệ chiếm được Phú Yên bèn hạ lệnh chiêu an bá tánh kêu gọi quân Nguyễn còn đang lần trốn ra đầu thú, cho quân nghỉ ngơi kiểm điểm binh mà định ngày tiến đánh ải Vân Phong.
 
Back
Top Bottom