Cập nhật mới

Khác Tâm Lý Bất Thường và Tâm Lý Tội Phạm

Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
Kỳ 22: Rối Loạn Căng Thẳng Hậu Chấn Thương Tâm Lý (PTSD)


Cách đây vài tuần tôi có đọc được một bài post của một vị thầy giáo trẻ có cơ hội làm việc một buổi với các em bị rối loạn căng thẳng hậu chấn thương tâm lý (tức là PTSD – Post Traumatic Stress Disorder).

Anh có lên Google tìm hiểu bệnh rồi sau đó đến gặp và dạy vẽ cho các em, nhìn các em cười và anh nói rằng, cách DUY NHẤT khiến chúng biến mất là chúng ta kéo chúng lên trên bề mặt, bằng mọi khả năng mà chúng ta có, bằng mọi sự quan tâm, khéo léo và kiên nhẫn mà chúng ta có, để cho ánh sáng của yêu thương, của chia sẻ, bao bọc lấy chúng.

Thật ra bài viết này có lẽ sẽ không ra đời nếu một người bạn của tôi không vào tranh luận với các ý kiến khoa học mà anh ta vẫn bỏ ngoài tai và cho rằng mình đúng.

Nếu như là trước đây, có lẽ tôi sẽ cảm thấy câu nói ấy của anh hay biết bao nhiêu, nhân hậu như thế nào, cởi mở và bao dung nhiều đến đâu.

Nhưng tôi không phải như trước đây, thế nên tôi cảm thấy nó thật nông cạn, kiêu ngạo và thiếu kiến thức.

Nào có ai so sánh những nỗi đau với nhau?

Thế nên không thể gộp chúng nó lại rồi bảo chỉ cần yêu thương là sẽ khỏi, đó là cách duy nhất để chữa lành.

Không phải, đó không phải là cách duy nhất.

PTSD cần nhiều hơn sự yêu thương.

Rối loạn căng thẳng hậu chấn thương tâm lý không phải là một nỗi buồn vu vơ nào đó mà chúng ta thi thoảng gặp, không phải là những áp lực mệt mỏi hằng ngày, chỉ cần sự sẻ chia yêu thương là tan biến.

Mà nó là một nỗi đau, một bệnh tâm lý cần được chữa trị từng bước một trong một khoảng thời gian dài với một đội ngũ bác sĩ chuyên gia tâm lý được đào tạo lâu năm.

Bởi vì nếu chỉ tính riêng quân nhân giải ngũ thì cứ mỗi ngày lại có 22 người tự sát, cứ mỗi 65 phút thì lại có một người tự kết thúc mạng sống của mình.

PTSD đáng sợ như thế đấy.

Tôi đã từng viết về PTSD cách đây hai năm, nhưng lúc ấy bài viết chỉ gói gọn về chiến tranh và những người lính, khiến cho một số bạn đọc có thể hiểu lầm rằng PTSD chỉ xảy ra với những người lính.

Nhưng không, tôi, bạn, và cả những người thân, người xung quanh chúng ta đều có thể mắc PTSD sau chấn thương tâm lý khủng khiếp nào đó.

Nó là một con quái vật luôn im lặng chực chờ rồi vồ lấy không cho chúng ta đường lui.

DSM-5 định nghĩa chấn thương tâm lý là sự trải nghiệm hoặc đối mặt cận kề với cái chết, chấn thương nặng, hay xâm hại tình dục.

Có thể là nạn nhân trực tiếp từ các sự kiện ấy, hoặc là nhân chứng chứng kiến vụ việc, hay khi biết được người thân yêu của mình bị nạn, trải nghiệm từng chi tiết của sự kiện nhiều lần lặp đi lặp lại (ví dụ như cảnh liên tiếp nhận được các tình huống/chi tiết của vụ lạm dụng trẻ em).

Những người này sau khi trải qua sự kiện như đã nêu trên, ảnh hưởng mạnh (chấn thương) tâm lý thường có nguy cơ mắc PTSD.

Triệu chứng của PTSD bao gồm sự trải nghiệm lại sự kiện gây chấn thương tâm lý đó (re-experiencing).

Nó không phải chỉ là nhớ lại bình thường mà bệnh nhân cảm nhận được sự đau khổ khó chịu từ những ký ức đó.

Còn số người khác thì sống lại sự kiện kinh khủng đó trong những cơn ác mộng kéo dài.

Trong một số trường hợp hiếm, bệnh nhân còn trải nghiệm trạng thái tách rời (dissociative state), họ cảm nhận và hành xử y thể như sự kiện đó đang diễn ra ngay lúc này.

Ví dụ như một người lính giải ngũ có thể hành xử như thể anh ta vẫn còn đang ở trong trận chiến, và anh ta có thể có những hành động nguy hiểm như thu thập vũ khí, hoặc cô lập, tự phòng thủ mình ngay trong chính căn nhà của mình.

Có những trường hợp quân nhân đang trong trạng thái tách rời bắn chết những người thường xung quanh mình vì tưởng họ là quân địch.

Thường thì trạng thái này chỉ xảy ra trong thời gian ngắn nhưng vẫn có các trường hợp trạng thái này kéo dài trong vòng ngày.

Sự lảng tránh các tình huống, môi trường có chứa các yếu tố kích thích liên quan đến sự kiện gây chấn thương tâm lý.

Nạn nhân từ các vụ việc này thường cố gắng tránh không suy nghĩ hoặc có cảm nhận liên quan đến sự kiện.

Họ có thể tránh người, tránh địa phương hoặc các hoạt động gợi nhớ lại sự kiện.

Sự lảng tránh cũng bao gồm việc từ chối không bàn luậ hay nói về vụ việc hoặc cảm xúc về nó.

Đương nhiên ai vừa mới trải qua sự kiện gây chấn thương tâm lý thì cũng lảng tránh không muốn nhắc lại tình huống lúc ấy.

Nhưng nếu muốn hồi phục thì khó tránh khỏi việc bệnh nhân phải đối mặt với cảm xúc, ký ức và một số tình huống liên quan đến chấn thương tâm lý.

Cùng với hai triệu chứng bên trên, sự nâng cao tỉnh thức (increased arousal) là triệu chứng thứ ba của PTSD.

Ở những người trải nghiệm tỉnh thức quá độ, họ có thể sợ hãi quá mức trước những tình huống không mong đợi, mặc dù tình huống đó không gây hại đến họ.

Một số người thì trải nghiệm lo âu quá mức, khó ngủ, hoặc dễ dàng giận dữ.

Triệu chứng thứ tư là có tâm trạng hoặc suy nghĩ tiêu cực.

Bệnh nhân mắc PTSD có thể mất đi khả năng trải nghiệm các cảm xúc tích cực, luôn cảm thấy sợ hãi, giận dữ, tội lỗi hoặc cảm nhận mình tách rời khỏi những người xung quanh, không thể nào gắn bó được với họ.

Trong một số trường hợp thì sự tê dại trong phản ứng(numbing of responsiveness) hoặc tê liệt cảm xúc (emotional anesthesia) thường xảy ra.

Với một số người khác thì sự tiêu cực nằm ở nhận thức.

Họ luôn tự trách bản thân mình, lúc nào cũng tự hỏi rằng mình có thể làm gì khác để thay đổi tình huống lúc đó, hoặc nhìn thế giới đầy vẻ tiêu cực thiếu thực tế.

Sự tách rời là một triệu chứng khá phổ biến sau khi chấn thương tâm lý xảy ra.

Nhiều người cảm thấy bàng hoàng, tách lập với môi trường xung quanh.

Một số người thì mất đi nhân cách (depersonalization).

Họ cảm thấy mình như một con robot, hoặc như đang bị mộng du, có một số trường hợp cảm thấy mình đang tách rời khỏi cơ thể, đứng một chỗ quan sát cơ thể mình hành động).

Còn có cả trường hợp bệnh nhân trải nghiệm sự vô thức (derealization), cảm giác không thực.

Ngay lập tức sau sự kiện 11/9, một số người tỉnh giấc và tự hỏi rằng có phải cuộc tấn công của bọn khủng bố chỉ là cơn ác mộng.

Cảm giác không thực này có thể trải dàu vài ngày hoặc lâu hơn.

Triệu chứng mất trí nhớ phân ly (dissociative amnesia) cũng có thể xảy ra với bệnh nhân mắc PTSD.

Họ không thể nào nhớ được các khía cạnh của sự kiện gây chấn thương tâm lý.

Để chẩn đoán mắc PTSD thì người bệnh phải có bốn trong các triệu chứng mà tôi nêu bên trên.

PTSD thường kéo dài hơn một tháng và còn có thể tái phát lại sau này.

Để hiểu rõ hơn về các triệu chứng của PTSD, chúng ta cùng tham khảo một case sau đây:

Trong một buổi tối mùa xuân, Stephanie Cason, một sinh viên cao học 27 tuổi sáng dạ, và xinh đẹp chạy ra ngoài để kiểm tra hỏa hoạn từ tòa nhà bên cạnh gần sát căn hộ cô đang sống.

Trong lúc quan sát những người lính cứu hỏa thì Stephanie có nói chuyện với một người đàn ông mà cô tưởng là hàng xóm mình.

Sau khi nói chuyện thêm với vài người khác thì cô quay về nhà.

Hỏa hoạn đã khiến khu nhà cô cúp điện, mặc dù tối nhưng Stephanie vẫn tìm được đường lên lầu, thay đồ ngủ và bước xuống lầu.

Lúc đi xuống, cô bị giật mình bởi gã đàn ông mà cô gặp lúc nãy.

Không nói lời nào, gã cầm ống tuýp sắt dùng thay bánh xe tấn công cô không ngưng cho đến khi cô ngã ra sàn nhà và ngừng kêu cứu.

Stephanie bị cắt rất sâu và choáng váng, mặc dù vậy cô vẫn phản kháng được khi gã xé đồ cô ra.

Cô nghe loáng thoáng gã thì thầm vào tai rằng gã muốn quan hệ với cô.

Stephanie đã nghĩ "Hắn ta sẽ giết mình"

Tuy nhiên bằng cách nào đó, Stephanie vẫn giữ được tỉnh táo mặc dù máu vẫn không ngừng chảy.

Cô "đồng ý" quan hệ với hắn ta nhưng cô đòi phải được tắm rửa gọn gẽ trước.

Cuối cùng gã đồng ý để cô đi.

Khi Stephanie bước tới phòng tắm của mình, cô kéo một cái tủ đến chặn cửa và hét toáng ra ngoài cửa sổ cầu cứu.

Tiếng hét của cô khiến gã kia sợ hãi và tính bỏ trốn, tuy nhiên một người lính cứu hỏa đã kịp thời bắt hắn lại.

Stephanie cứu mình khỏi bị xâm hại nhưng cô không thể nào tự cứu mình ra khỏi cảm xúc suy sụp, gục ngã từ vụ tấn công tình dục ấy.

Ngày qua tuần rồi qua tháng, cô lúc nào cũng cảm thấy sợ hãi tội độ, hoảng hốt và biết ơn khi mình vẫn sống.

Cô thường xuyên nghĩ về sự kinh hoàng của đêm đó, và khi cô bắt đầu ngủ thiếp đi thì lại giật mình tỉnh giấc vì những cơn ác mộng tồi tệ.

Cô hoảng sợ khi phải ở một mình, đặc biệt là buổi tối, còn cả một số thời điểm ban ngày.

Sau khi bị tấn công không lâu, cô tìm gặp một chuyên viên tâm lý học chữa trị, nhưng cô lại mắc thêm chứng trầm cảm trong lúc chữa trị.Thuốc chống trầm cảm phần nào giúp cô với tâm trạng và giấc ngủ nhưng trong mấy tháng trời Stephanie lúc nào cũng hoảng sợ và gặp khó khăn trong việc tập trung, cảm giác tê dại và không thực.

Thêm vào đó cô còn trải nghiệm lại hình ảnh và cảm xúc đêm hôm đó.

Cô vẫn đi học, đi làm bình thường nhưng không còn tự tin và tập trung như trước.

Càng đến gần cái ngày xảy ra vụ tấn công, cô càng cảm thấy tồi tệ.

Mùa xuân là mùa vui tươi và hy vọng nhưng đối với Stephanie, nó khiến cô nhớ về sự kiện kinh khủng hôm ấy.

Cơn ác mộng, nỗi sợ hãi lại ùa về.

Và sau khi cái này ấy qua đi thì phản ứng của cô dịu dần.

Sau đó khoảng hai, ba tháng, cô quay lại cuộc sống bình thường.

Stephanie nhận ra rằng, mặc dù nói về vụ tấn công đó khiến cô đau đớn, nhưng đồng thời, nó cũng giúp đỡ cô nhiều hơn.

Sau một năm, cô bắt đầu chia sẻ kinh nghiệm của mình trong các buổi nói chuyện.

Điều đó khiến cô cảm thấy thoải mái hơn, quan trọng hơn là nó giúp cô cảm nhận được rằng một số điều tốt đẹp có thể đến từ cơn chấn thương tâm lý ấy.

Cô có thể giúp đỡ mọi người bằng chính kinh nghiệm của mình.

Tuy nhiên đôi lúc cô vẫn trải nghiệm lại các cảm xúc và suy nghĩ tiêu cực.

Có một lần bạn trai cô về nhà lúc nửa đêm và cố gắng hạn chế tiếng động nhưng Stephanie vẫn bị đánh thức.

Hoảng sợ bởi sự xuất hiện bất thình lình của anh, cô hét lên đầy kinh sợ, rồi bắt đầu thổn thức, không thể kìm chế nỗi sợ hãi của mình và cảm thấy tê liệt, không thực cho đến tận mấy ngày sau.

Dựa theo tiêu chuẩn của DSM-5, Stephanie được chẫn đoán là mắc chứng PTSD, rối loạn căng thẳng hậu chấn thương tâm lý.

Cô thường xuyên trải nghiệm lại sự kiện đó, cảm thấy tê dại và không thực, hoảng sợ tột độ trước những tình huống ngoài dự đoán, khó ngủ, thường gặp ác mộng v...v.

Có thể bạn sẽ hỏi tôi rằng, có rất nhiều người trải qua chấn thương tâm lý nặng nề như chiến tranh, nhưng tại sao lại có người không mắc PTSD.

Dựa theo định nghĩa thì chấn thương tâm lý gây ra PTSD, nhưng không phải người mắc chấn thương tâm lý nào cũng sẽ mắc PTSD.

Chấn thương tâm lý là cần thiết, nhưng chưa đủ để tạo PTSD.

Vậy thì những yếu tố nào sẽ làm tăng tỷ lệ mắc PTSD?

Nghiên cứu về yếu tố xã hội cho thấy nguy cơ mắc PTSD tập trung chủ yếu vào 1) bản chất của chấn thương tâm lý và mức độ mà người đó trải nghiệm nó; 2) sự giúp đỡ của xã hội ngay sau chấn thương đó.

Nạn nhân của các vụ chấn thương tâm lý thường có khả năng mắc PTSD nếu sự kiện ấy quá dữ dội, ảnh hưởng đến mạng sống và họ trải nghiệm trực tiếp tình huống đó.

Ví dụ như nạn nhân của các vụ cưỡng bức thường dễ mắc PTSD nếu như vụ cưỡng bức ấy xảy ra thành công, hoặc nếu họ bị thương nặng trong lúc bị tấn công hay họ nghĩ rằng kẻ tấn công muốn giết họ.

Sự ủng hộ và giúp đỡ của xã hội có vai trò quan đối với những người mắc chấn thương tâm lý.

Nếu không có yếu tố này thì tỷ lệ người mắc PTSD sẽ cao hơn rất nhiều.

Chấn thương tâm lý có thể làm thay đổi một số hoạt động sinh lý của cơ thể.

Người mắc PTSD có những hoạt động, hoặc cấu trúc của hạch hạnh nhân (amygdala) chịu trách nhiệm cho cảm xúc, và hồi hãi mã (hippocamous) chịu trách nhiệm về ký ức thuộc não bộ khác hẳn với người bình thường.

Tuy nhiên điều này không có nghĩa là chấn thương tâm lý làm tổn hại đến não bộ và thần kinh trung ương.

Tính cách cũng góp phần quyết định đến việc một người mắc chấn thương tâm lý có mắc PTSD hay không.

Trong mô hình 5 tính cách (Big Five Factor) thì nghiên cứu cho thấy kích thích thần kinh (neuroticism) có khả năng di truyền khoảng 30% và những người có kích thích thần kinh cao (dễ hoảng sợ, lo âu) thì có nguy cơ mắc PTSD cao hơn những người khác.

Trong một số nghiên cứu khác thì kích thích thần kinh ở nữ cao hơn ở nam.Vì thế tỷ lệ nữ mắc PTSD cao nhiều hơn so với nam.

Đối với những người stress hằng ngày thì họ cũng dễ dàng mắc PTSD hơn những người sống thoải mái, ít bị stress.

Chữa trị cho người mắc PTSD đòi hỏi sự nhạy cảm rất cao.

Sự chuẩn bị chu đáo, có mục tiêu, và không đổ lỗi giúp bệnh nhân rất nhiều trong việc hồi phục.

Phương pháp hiệu quả nhất chính là nhận thức hành vi bằng việc trải nghiệm lại sự kiện gây chấn thương tâm lý (Exposure therapy).

Trong quá trình này, chuyên viên chữa trị sẽ giúp cho bệnh nhân lấy lại quyền điều khiển đối với nỗi sợ hãi của mình và những cảm xúc mệt mỏi quá sức chịu đựng mà sự kiện ấy mang lại.

Nhưng quá trình này phải được tiến hành một cách cực kỳ cẩn thận, tránh cho việc bệnh nhân phải chịu chấn thương tâm lý thêm một lần nữa, dẫn đến biến chứng bệnh như bệnh nhân có thể trải nghiệm rối loạn hoảng sợ, hoặc đau tim.

Phương pháp này có thể thực hiện bởi hai cách, cho bệnh nhân tiếp xúc với tất cả các yếu tố liên quan tới chấn thương tâm lý mức nặng nhất (flooding), hoặc chọn từ các yếu tố nhẹ rồi dần dần tăng mức độ của nó lên (desensitization), cái này giúp cho bệnh nhân giảm dần sự nhạy cảm của mình đối với môi trường và các yếu tố kích thích PTSD tái phát.

Tùy theo bệnh nhân mà các chuyên viên tâm lý sẽ chọn phương pháp như đối diện với tình huống gây ra nỗi sợ hãi trong đời thực, hay tưởng tượng ra tình huống ấy trong đầu, hoặc kể lại chi tiết sự kiện ấy trong buổi chữa trị ...phù hợp với tính cách hay chấn thương tâm lý của từng người.

Đối với những người gặp ác mộng thì phương pháp tưởng tượng diễn tập (imagery rehearsal therapy) làm giảm các cơn ác mộng rất tốt.

Người bệnh sẽ làm sống lại những cơn ác mộng đó khi thức tỉnh nhưng sẽ viết lại kịch bản cho nó theo cách mà họ muốn.

Chữa trị cho PTSD rất khó vì những biến chứng của nó.

Những người mắc PTSD cũng thường mắc những bệnh tâm lý khác như trầm cảm, rối loạn hoảng sợ, rối loạn lo âu, và lạm dụng chất kích thích.

Vì thế nên chữa trị cho PTSD ngoài phương pháp nhận thức-hành vi nêu trên thì còn cả dùng thuốc chống trầm cảm, nhưng nó chỉ giúp một phần rất nhỏ.

Ngoài ra còn có cả rối loạn giấc ngủ như ác mộng, rối loạn sinh lý như đau đầu, vấn đề với hệ tiêu hóa và các mối quan hệ.

Tỷ lệ tự tử tăng cao ở những người mắc PTSD, khoảng 33% những người bị cưỡng bức có ý định tự tử và khoảng 13% thực sự làm.

Một số người mắc PTSD chọn cách biến chấn thương tâm lý của mình thành điều gì có ý nghĩa hơn.

Như Stephanie tìm thấy ý nghĩa từ chấn thương của mình thông qua việc cô khiến những người khác nâng cao cảnh giác về tấn công tình dục hơn.

Tuy nhiên việc tìm kiếm ý nghĩa thường đi liền với nhiều triệu chứng PTSD hơn, còn việc tìm thấy thì gắn liền với sự thích nghi tốt hơn.

Thế đấy, PTSD cần nhiều hơn sự yêu thương qua những lời nói sáo rỗng, nó cần cả sự hiểu biết khoa học, nhẫn nại và chân thành nữa.

Không phải cứ lôi nó lên bề mặt vỗ về bằng lời yêu thương là sẽ khỏi.

Sự nông cạn, kiêu ngạo mang danh yêu thương ấy nó có thể giết chết một người.

PTSD- Giết bạn từ bên trong.

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
Kỳ 23: Tự Cắt - Tiếng Gào Trong Câm Lặng


Tôi đắm chìm trong nỗi buồn vô hạn

Trôi dạt mãi tận về đâu

Cảm thấy như không còn lối thoát,

Có ai ở đó không?

Tôi đang ở đâu thế này?

(Voiceless Screaming – X Japan)

Tầm giữa những năm 2000, lúc ấy có rộ lên phong trào "emo- tự cắt".

Lúc ấy có nhiều bạn trẻ được phỏng vấn có nói là do buồn phiền chuyện gia đình, học tập bạn bè cho thử cắt rồi cảm thấy đỡ hơn.

Thế nhưng lúc đưa tin báo đài bỏ qua cái phần buồn phiền ấy mà lại tập trung vào phần "cắt" hơn và gọi nó là "xu hướng bệnh hoạn".

Thời điểm đó khi đọc tin tức ấy, tôi đã tự hỏi, phải buồn phiền đến mức nào thì những người trẻ tuổi ấy mới dám tự cắt lấy mình?

Ông bà ta nói "tay đứt ruột xót", chỉ một vết đứt tay thôi mà tôi xót cả mấy ngày trời.

Vậy thì họ phải đau đến mức nào mới tìm thấy sự giải thoát trong từng vết cắt đó?

Tôi không hiểu.

Có đôi khi tôi bị cảm xúc điên cuồng, dữ dội lấn áp, kêu gào mong muốn được giải thoát, bứt rứt không thôi thì tôi lại nghĩ về cái sự tự làm đau bản thân mình ấy.

Nhưng tôi chưa bao giờ dám làm vì tôi sợ đau, vì tôi sợ để lại sẹo, vì mẹ tôi từng nói, con gái quý giá nhất là gương mặt với làn da, chẳng ai thích một đứa sẹo đầy người bao giờ.

Mãi cho đến sau này khi tôi gặp được một người bạn gái, cũng là người bạn thân nhất của tôi bây giờ.

Cô ấy giải thích cho tôi nghe những nỗi đau, những áp lực mà cô ấy phải chịu cùng với sự tự cắt ấy giải thoát cô như thế nào thì tôi mới hiểu hơn về nó.

À, hóa ra có những nỗi đau tâm hồn còn nặng nề, dằn vặt hơn nỗi đau thể xác.

Thế nên họ chọn cách nhẹ hơn, chọn cách tự làm tổn thương cơ thể họ để có thể tránh đi, để có thể không nghĩ về những rắc rối muộn phiền, những áp lực dày vò bản thân, những giấc mơ và trách nhiệm, những mâu thuẫn trong cuộc sống.

Trong giáo trình tâm lý mà tôi học có nói về hành vi tự tổn thương mình nhưng không gây nguy hiểm đến tính mạng như thế này, có một số người cố tình làm đau bản thân họ nhưng không để ảnh hưởng đến tính mạng.

Một số phương thức mà họ thường dùng bao gồm tự cắt, tự làm phỏng hoặc tự cào trầy da mình.

Thường thì vết thương hoặc sẹo nằm ở những nơi họ có thể dễ dàng che đi ánh mắt người ngoài.

Những vết thương này phải được phân biệt rõ với xu hướng thời trang như xỏ khuyên, hoặc xăm mình.

Mọi người xỏ lỗ hoặc xăm mình bởi vì nó được coi là hợp thời và cá tính, vì thế cho nên họ chấp nhận chịu đau ban đầu.

Ngược lại, những người tự tổn thương mình làm thế vì cơn đau mang mục đích hữu dụng cho họ mà không quan tâm đến sức ảnh hưởng của nó lên ngoài hình bên ngoài.

Hành vi này có thể là triệu chứng của nhiều chứng bệnh tâm lý có trong DSM-5 như rối loạn ranh giới, đặc biệt là những bệnh có liên quan đến việc lạm dụng thuốc, chất kích thích, rối loạn ăn uống, trầm cảm hoặc rối loạn căng thẳng hậu chấn thương tâm lý.

Hiện nay có khoảng 4% dân số báo cáo rằng họ đã và đang có những hành vi tự làm tổn thương bản thân và nhiều người trong số họ không có đủ cơ sở để được chẩn đoán bệnh.

Tuy nhiên, bản thân của việc tự tổn thương cũng là một vấn đề quan trọng cần được lưu ý.

Vì sao có những người tự làm tổn thương mình như vậy?

Có nhiều lời giải thích khác nhau cho hành vi này.

Đối với họ, tự cắt như là một cách tự trừng phạt bản thân và phản chiếu nỗi bối rối thất vọng và giận dữ.

Trong một số trường hợp khác, một người chọn phương thức tự làm đau bản thân để đấu tranh với khoảng thời gian cô độc kéo dài và cảm xúc trống rỗng đi kèm với sự vắng mặt của người thân trong gia đình và bạn bè thân thiết.

Tuy nhiên lời giải thích được báo cáo nhiều nhất cho rằng tự cắt là một phương thức thích nghi có hại trong việc điều tiết cảm xúc tiêu cực mãnh liệt.

Trước khi bắt đầu những hành vị tự tổn thương bản thân thì một người thường có giai đoạn cảm xúc lo âu, giận dữ hoặc buồn bã, thất vọng dữ dội.

Những cảm xúc này biến mất rất nhanh ngay khi tự cắt bắt đầu và người nọ trải nghiệm cảm giác thoải mái nhẹ nhõm.

Nhưng ngay sau đó họ lại cảm thấy tội lỗi và thường tự trách bản thân vì những gì họ đã làm.

Ngoài ra những nghiên cứu khác đề xuất ra bốn lý do khiến một người tự cắt, 1) để giảm bớt cảm xúc tiêu cực, 2) để cảm nhận được "một thứ gì đó" ngoài tê dại và trống rỗng, 3) để tránh đi một số tình huống xã hội, 4) để nhận sự giúp đỡ từ xã hội.

Mặc dù đôi lúc có những trường hợp đặc biệt xảy ra, nhưng sự hiểu lầm thường thấy nhất khi nói về tự cắt đó là cho nó là một trào lưu tệ hại của xã hội.

Nghiên cứu đã tìm ra lý do nguyên nhân chủ yếu nhất cho việc tự cắt chính là lý do số 1, để giảm bớt cảm xúc tiêu cực.

Khi một người tự cắt, thì vết thương ấy sẽ khiến não bộ báo động, tất cả các cơ chế trong người sẽ ưu tiên cho việc chữa lành vết thương trước, khiến cho cảm xúc tiêu cực ấy tạm thời biến mất, endorphins – một chất trong hệ thống thần kinh có tác dụng giảm đau, được tiết ra khiến người ấy cảm thấy nhẹ nhõm.

Bởi vì tự cắt giúp một người thoát ra khỏi những cảm xúc tiêu cực, nó có thể trở nên gây nghiện và vì thế, mỗi khi buồn thì bản năng tự nhiên sẽ khiến người đó nghĩ về việc tự cắt.

Vậy thì làm cách nào để thoát khỏi cơn nghiện đó?

Một trong những biện pháp được công nhận nhất là "Thoát vì người khác".

Họ thường chịu nhiều áp lực từ bạn bè, người thân để tránh xa hành vi gây hại này.

Mandy, một cô gái từng có hành vi tự cắt chia sẻ rằng cô ấy tìm sự giúp đỡ từ người bạn thân của mình, người khuyên cô ấy không nên tiếp tục tổn thương bản thân nữa.

Cuộc nói chuyện kết thúc bằng việc bạn cô dọa là nếu cô dám tự cắt thêm lần nào nữa thì cô ấy sẽ không bao giờ nói chuyện với cô nữa.

"Không phải rằng tôi sợ bạn ấy sẽ không nói chuyện với mình nữa," Mandy chia sẻ, "mà là tôi sợ nếu tôi làm thêm lần nào nữa thì sẽ làm bạn ấy buồn hơn.

Và đó là một thứ rất là riêng tư ngay khi bắt đầu, để có một người nói với bạn rằng họ quan tâm bạn, bạn cảm thấy rằng bạn nợ họ rất nhiều và điều đó cũng khiến họ lo sợ cho bạn."

Một số người khác thì chọn cách "Từ bỏ vì bản thân".

Thường thì động cơ thúc đẩy một người chọn cách này chính là cảm xúc.

Họ bỏ vì họ sợ rằng mình sẽ bị đưa vào bệnh viện, sẽ bị người khác biết và họ sợ rằng bạn bè sẽ bỏ rơi họ hoặc vết sẹo lộ ra trong buổi phỏng vấn xin việc.

Với một số người, sau một thời gian dài tự cắt, họ tự nhìn lại những vết sẹo của mình và cảm thấy xấu hổ vì nó, dẫn đến quyết tâm muốn từ bỏ.

Những biến chuyển trong cuộc sống cũng góp phần ngăn chặn số người tự cắt.

Một số người dừng hành vi đó lại khi họ ngày càng trở nên lớn tuổi hơn và trải nghiệm nhiều mặt của cuộc sống.

Một số người từ bỏ khi họ tốt nghiệp cấp 3 và vào đại học, hoặc khi họ tốt nghiệp và có được việc làm.

Hoặc có thể khi họ đang trong một mối quan hệ nghiêm túc và có con.

Tùy theo mỗi người chọn phương thức từ bỏ khác nhau.

Các chuyên viên tâm lý thường giúp một số người bằng phương thức nhận thức thông qua các bài điều trị đặc biệt hoặc luyện tập nhận thức.

Nhiều người thì chọn sử dụng thuốc.

Bên cạnh đó việc nhận ra cảm xúc nào khiến một người chọn cách tự cắt cũng giúp ích rất nhiều trong việc từ bỏ hành vi có hại này.

Hy vọng sau khi đọc xong bài mọi người sẽ có cái nhìn rõ hơn về tự cắt.

Bởi vì nó không phải là sự yếu đuối, là thú vui bệnh hoạn, hoặc là làm màu để lôi kéo sự chú ý, mà nó chính là tiếng kêu gào trong câm lặng của một người.

Là vì có những nỗi đau còn lớn hơn nỗi đau thể xác.

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
Kỳ 23: Tại sao lại có hiện tượng đổ lỗi cho nạn nhân?


Đó là khi sự bất hạnh của người khác dường như là mối đe dọa đối với bản thân.

Đổ lỗi cho nạn nhân (Victim Blaming) không chỉ xảy ra riêng với các trường hợp ngược đãi.

Chúng ta chứng kiến nó khi quá khứ của nạn nhân bị cưỡng bức được lôi ra để phân tích từng li từng tí, khi người dân sống ở nước nước nghèo bị coi là lười biếng và không có chí tiến thủ, khi những người mắc bệnh tâm lý được coi là tự bản thân họ chuốc lấy bệnh với lối sống tệ hại.

Đây là những trường hợp mà nạn nhân có thể có trách nhiệm với những sự bất hạnh của họ nhưng hầu hết, cái trách nhiệm đó đa phần đều bị thổi phòng lên và những yếu tố có liên quan khác bị xem nhẹ đi, hoặc thậm chí không được ngó ngàng tới.

Tại sao chúng ta lại hăm hở đổ lỗi cho nạn nhân đến thế khi mà chúng ta chẳng gặt lại được gì từ nó?

Đổ lỗi cho nạn nhân không chỉ đơn giản là cách để trốn tội, mà nó còn giúp chúng ta tránh được cảm giác yếu nhược.

Nạn nhân càng vô tội bao nhiêu, thì họ càng là mối đe dọa bấy nhiêu.

Họ đe dọa cảm giác rằng thế giới là nơi an toàn, đầy đạo đức và chính nghĩa của chúng ta, nơi mà điều tốt đẹp thường xảy ra với người tốt, và xui xẻo, bất hạnh chỉ xảy ra với người xấu.

Khi bất hạnh xảy ra với người tốt, nó nhấn mạnh rằng không một ai là an toàn cả , dẫu cho chúng ta có tốt đến đâu thì chúng ta đều có khả năng gặp chuyện xấu.

Cái suy nghĩ sự bất hạnh có thể là ngẫu nhiên, có thể xảy ra với bất kỳ ai rất đáng sợ, thế nhưng chúng ta lại chứng kiến nó hằng ngày với những bằng chứng cho thấy nó có thể là sự thật.

Vào những năm 1960, nhà tâm lý học xã hội, tiến sĩ Melvin Lerner thực hiện một chuỗi thí nghiệm nổi tiếng.

Ông phát hiện ra khi những người tham gia thí nghiệm chứng kiến một người khác bị giật điện mà không thể làm gì để ngăn cản thì họ bắt đầu xúc phạm nạn nhân.

Khi sự bất công và độ tàn nhẫn càng tăng thì sự xúc phạm càng nặng nề.

Những nghiên cứu sau đó tìm thấy hiện tượng tương tự xảy ra khi họ xem xét nạn nhân của các tai nạn xe cộ, cưỡng bức, bạo hành gia đình, bệnh tật và nghèo khó.

Nghiên cứu được thực hiện bởi tiến sĩ Ronnie Janoff- Bulman đề xuất ý kiến rằng đôi lúc ngay cả nạn nhân cũng tự hạ thấp bản thân họ, rằng chính những hành vi của bản thân là nguyên nhân dẫn đến sự đau đớn, bất hạnh mà họ gặp phải, chứ không phải là tính cách thường ngày của họ, để cho những sự kiện tiêu cực trông có vẻ như có thể điều khiển được, và do đó, có thể tránh được trong tương lai.

Một trong những lý do khiến mọi người đổ lỗi cho nạn nhân là để cách ly họ ra khỏi những tình huống tiêu cực này và tự nhủ rằng họ sẽ không dễ gì gặp chuyện nguy hiểm như vậy.

Bằng việc dán nhãn, hay đổ lỗi cho nạn nhân, người khác sẽ nhìn nạn nhân khác hẳn với họ.

Mọi người tự trấn an với bản thân bằng cách suy nghĩ, "Bởi vì mình không giống như cô ta, bởi vì mình không làm như thế, cho nên chuyện này sẽ không bao giờ xảy ra với mình."

Cũng giống như câu chuyện trong công viên nước Hồ Tây, và mới đây nhất là vụ một em bé sinh năm 2000 tự tử sau khi bị bạn trai tung clip sex lên mạng, không chỉ riêng các anh các chú vào cười nhào mà đến cả cùng là đàn bà con gái với nhau, không những không thông cảm mà còn nhào vào chỉ trích.

Bỏi vì đó là cách chứng minh, cũng là cách họ trấn an mình, "Tôi đoan trang như thế, chả bao giờ làm ra những hành động như vậy, chuyện này có mơ cũng chẳng xảy ra với tôi."

Lerner giả thuyết rằng gốc rễ của xu hướng đổ lỗi cho nạn nhân nằm ở niềm tin trong một thế giới, cái thế giới mà mỗi hành động đều đoán trước được những hậu quả đi kèm, và con người có thể điều khiển được những gì xảy ra với họ.

Nó nằm cả trong những câu tục ngữ, câu nói thông thường như "Gieo nhân nào, gặt quả ấy", hay " Gieo gió ắt gặt bão".

Chúng ta muốn tin rằng công lý sẽ đến với những người làm ác, trong khi người tốt, trung thực, tuân thủ luật pháp sẽ được tưởng thưởng.

Nghiên cứu đã tìm ra, không ngạc nhiên gì, với những người tin rằng thế giới là một nơi tốt đẹp thì họ thường hạnh phúc hơn và ít đớn đau.

Nhưng niềm hạnh phúc này đều có cái giá của nó, nó có thể làm giảm đi sự thấu cảm của chúng ta với những người gặp bất hạnh, và thậm chí chúng ta có thể làm tăng nỗi đau đớn ấy thêm bằng việc chỉ trích.

Vậy thế giới này chỉ là một nơi chẳng chút hy vọng và đầy rẫy đớn đau?

Hoàn toàn không phải như vậy.

Mọi người có thể tin rằng thế giới này đầy những sự bất công nhưng đồng thời có thể tin rằng họ có khả năng thay đổi nó và khiến nó trở nên tốt đẹp hơn thông qua những hành động của mình.

Một cách để khiến thế giới trở nên tốt đẹp hơn chính là đấu tranh với sự bốc đồng lý giải đau đớn của người khác, và nhận ra rằng, chúng ta có thể là những người tiếp theo gặp phải tình trạng giống như họ.

Sự thừa nhận này có thể làm xáo trộn những gì mà chúng ta tin tưởng trước đó nhưng nó cũng là cách duy nhất khiến chúng ta thật sự mở lòng với những nỗi đau của người khác, giúp họ cảm thấy được sự ủng hộ và không phải đơn độc nữa.

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
Tại Sao Chúng Ta Dửng Dưng Trước Những Lời Kêu Cứu?


Hồi năm ngoái tôi có viết một bài tựa đề "Tại Sao Chúng Ta Dửng Dưng Trước Nỗi Đau", đặt ra câu hỏi đồng thời giải thích nguyên nhân vì sao nhiều người có thể bỏ mặc, làm ngơ luớt qua khi thấy nguời khác gặp nạn.

Trong bài ấy, tôi nhắc đến khái niệm "Hiệu ứng nguời qua đường" (Bystander Effect) trong tâm lý học xã hội, hiện tuợng này là phần lớn nguyên nhân, góp phần giải thích vì sao lại có những nguời "lạnh lùng" đến thế.

Không thể phủ nhận rằng càng ngày chúng ta càng nhìn thấy nhiều truờng hợp như thế xảy ra, mới đây nhất chính là vụ công viên nuớc Hồ Tây.

Vì thế cho nên tôi quyết định "đào mộ" bài viết lại, phân tích rõ hơn về hiệu ứng này để mọi người có thể hiểu rõ hơn tại sao chúng ta lại hành xử như vậy.

Hiệu ứng nguời qua đường được giới nghiên cứu chú ý và sau đó là một trong những chủ đề nóng của mảng tâm lý xã hội sau khi vụ sát hại một cô gái tên Kitty Genovese xảy ra.

Vào ngày 13 tháng 3 năm 1964, một tên vốn đang theo dõi bỗng nhiên không ngừng đâm Kitty Genovese và cưỡng bức cô ngay trước căn hộ của Kitty ở Queen, New York lúc 3:30 rạng sáng.

"Ôi trời ơi, hắn đâm tôi!"

Kitty thét lên như thế, "Có ai đó không, giúp tôi với."

Cửa sổ hé mở và đèn bật sáng, nhiều người nghe thấy tiếng kêu cứu của cô nhưng chẳng ai hành động.

Tờ báo the New York Times ngày hôm sau đăng tin có nói ít nhất khoảng 38 người nghe tiếng hét hoảng loạn của cô nhưng không ai dám ra ngăn cản.

Kẻ tấn công cô vội chạy đi nhưng sau đó quay lại và cưỡng bức cô thêm lần nữa.

Cho đến khi hắn đã thật sự trốn đi thì mọi người mới bắt đầu gọi cảnh sát.

Lúc đó đã là 3:50 sáng.

Để tìm câu trả lời cho vấn đề nhức nhối này, hai nhà tâm lý học xã hội Jonh Darley (hiện tại là giáo sư tâm lý học tại trường đại học Princeton) và Bibb Latane (nguời điều hành trung tâm về khoa học con nguời ở North Carolina) đã thực hiện một chuỗi thí nghiệm có ảnh hưởng rất lớn và đáng tin cậy nhất trong tâm lý học xã hội.

Thí nghiệm được thực hiện ở một trường đại học, sinh viên của trường tham gia một cuộc thảo luận về những vấn đề cá nhân qua bộ đàm.

Mỗi người được ở trong một phòng nhỏ và chỉ người nào bật microphone lên thì mới nghe được người khác nói gì nhưng không được thấy mặt nhau.

Mỗi người tham gia sẽ có hai phút để nói về mình.

Khi đến lượt mình, anh khiến giọng mình nghe như người bị động kinh và kêu cứu.

Thí nghiệm diễn ra trong năm tình huống, bắt đầu với tình huống đối thoạin đơn lẻ (1 vs 1) và kết thúc với đối thoại nhóm (1 vs 5).

Phản ứng của họ được do bởi quãng thời gian họ đứng lên, rời khỏi phòng, tìm người thực hiện thí nghiệm và kêu gọi giúp đỡ.

Kết quả như thế nào?

Chỉ có 31% số người tham gia thí nghiệm cố gắng đi tìm sự giúp đỡ.

Điều này có nghĩa là hầu hết những người này chẳng bận tâm tới việc đi tìm người thực hiện thí nghiệm để giúp đỡ nạn nhân đang lên cơn động kinh, dù họ có tỏ vẻ lo lắng và bối rối nhưng họ lại chẳng có hành động gì cả.

Tuy nhiên, với tình huống đối thoại đơn lẻ ( 1 vs 1) thì tỷ lệ này cao hơn rất nhiều, đến 85% .

Những người này tin rằng chỉ có mình nghe được tiếng kêu cứu nên họ nghĩ mình phải chịu trách nhiệm và họ chạy đến giúp nạn nhân.

Ngược lại, càng nhiều người nghe thấy tiếng kêu cứu thì tỷ lệ giúp đỡ càng giảm.

Có hai nguyên nhân chính để giải thích hiện tượng này chính là : Sự thờ ơ của đám đông và sự khuếch tán của trách nhiệm.

Sự thờ của của đám đôngTheo Latane and Darley, có 5 đặc trưng của một tình huống khẩn cấp có thể ảnh hưởng đến người qua đường,Tình huống có liên quan đến tổn thương vật lý.Tình huống khác lạ so với thông thường.Phản ứng trong trường hợp khẩn cấp khác biệt tùy theo tình huống.Tình huống không thể dự đoán , hoặc mong đợi từ trước.Tình huống đòi hỏi phản ứng tức thời.

Dựa theo 5 đặc trưng này, người qua đường sẽ trải qua quá trình nhận thức và hành vi như sau:

Chú ý có chuyện gì đó xảy ra.Lý giải tình huống dưới dạng khẩn cấp.Mức độ trách nhiệm họ cảm nhận được.Hình thức giúp đỡ.Chọn lựa hành động giúp đỡ.

Một trong những bước đầu tiên khiến một nguời quyết định mình có nên giúp đỡ người khác hay không chính là người đó phải nhận thức được rằng có người đang cần giúp đỡ.

Để làm được điều này, người qua đường ấy phải nhận ra mình đang chứng kiến một trường hợp khẩn cấp.

Do đó, một trong những nguyên nhân chính khiến một người thờ ơ là họ không nhận thức được rằng họ đang chứng kiến một tội ác đang diễn ra.

Khi chúng ta ở trong một tình huống nhập nhằng mơ hồ và chúng ta không chắc rằng đó có phải là trường hợp khẩn cấp cần giúp đỡ hay không, chúng ta thường quan sát những người khác, xem coi họ phản ứng như thế nào.

Chúng ta cho rằng những người khác có thể biết điều gì đó mà chúng ta không biết, thế nên chúng ta đánh giá hành động của họ trước rồi mới quyết định xem mình sẽ phản ứng như thế nào.

Nếu họ ứng xử như thể đó là tình huống khẩn cấp, nguy hiểm thì chúng ta cũng sẽ phản ứng như thế.

Nhưng nếu những người xung quanh tỏ vẻ bình tĩnh thì chúng ta không thể nhận thức được mức độ nặng nhẹ của tình huống dẫn đến sự thờ ơ.

Ví dụ như bạn đi đến hồ bơi công cộng và bạn nhìn thấy một em bé vẫy vùng trong nước.

Bản năng đầu tiên của bạn sẽ là nhìn xung quanh xem thử mọi người phản ứng như thế nào.

Nếu những người đó hoảng hốt và kêu cứu thì bạn có thể kết luận rằng đứa trẻ đang ngộp nước và nhảy xuống cứu.

Nhưng nếu những người khác lờ đi em bé hoặc cười cợt thì bạn có thể nghĩ rằng đứa trẻ ấy chỉ đang giỡn mà thôi.

Để tránh trường hợp mình nhìn như kẻ ngốc, bạn có thể sẽ quan sát một hồi và cuối cùng có thể bỏ qua cơ hội để cứu sống em bé.

Đây là cách tiếp cận tình huống thông thường nhất và hầu hết, nó ngăn cản chúng ta làm ra những hành động gọi là ngu trong mắt người khác.

Nhưng vấn đề ở đây, xu hướng nhìn người khác để xác định xem mình sẽ hành xử như thế nào có thể trở thành kiến ảnh hưởng một hiện tượng gọi là sự thờ ơ của đám đông.

Hiện tượng này được mô tả trong tình huống phần lớn cá nhân trong một nhóm tin một hướng, nhưng lại cho rằng những người còn lại tin điều ngược lại.

Solomon Asch đã thực hiện một thí nghiệm nhỏ về "Áp lực từ nhóm và sự tuân thủ" (Group pressure and conformity), một khái niệm tương tự như hiện tượng tôi nêu trên.

Ông đưa ra một tấm hình, phía bên trái là đường thẳng tiêu chuẩn, phía bên phải là ba đường thẳng khác nhau.

Solomon hỏi những người tham gia cuộc thí nghiệm này, đường thẳng nào ở phía bên phải là đường thẳng tiêu chuẩn.

Bạn nghĩ, "Dễ òm, là đường thứ 2."

Và những bạn nói ra kết quả của mình theo sau những người khác.

Sau đó một vài câu hỏi tương tự nữa và bạn bắt đầu cảm thấy thí nghiệm này thật là chán.

Nhưng bạn chợt nghe ai đó nói đường thứ 3 mới là đường tiêu chuẩn.

Bạn cười khẩy, và cho rằng người đó thật là ngu, nhưng tiếp đến người thứ hai, thứ ba, thứ tư đều khẳng định đường số 3.

Bạn bắt đầu hoang mang, tim đập mạnh hơn.

Và khi đến lượt bạn trả lời, bạn sẽ làm sao?

Bạn sẽ nói ra suy nghĩ của mình và trở thành kẻ lập dị trong nhóm, hay là thuận theo số đông?

Với thí nghiệm này của Asch, trong hàng ngàn sinh viên tham dự và có hơn 1/3 số sinh viên "thông minh và biết suy nghĩ" đã chọn cách bỏ qua suy nghĩ của mình và hướng theo số đông. hính tâm lý hướng theo số đông này một phần ngăn cản họ giúp đỡ người bị nạn vì họ không muốn trở nên "khác người".

Sự tuân theo số đông này càng mạnh bản thân họ cảm thấy không an toàn không có khả năng làm trái với nhóm.

Nền văn hóa khác nhau có ảnh hưởng tới khả năng chú ý sự việc xung quanh của một người.

Ở các nước phương Tây, họ cho rằng rất bất lịch sự nếu một người cứ ngó nghiêng dáo dát, nhất là khi người đó đang đi chung với bạn bè, vì họ cho rằng người đó vô duyên và không tôn trọng người khác.

Kết quả là những người qua đường chỉ chú trọng vào bản thân họ khi đang đi giữa đám đông.

Bây giờ chúng ta đã nhận ra nguyên nhân đầu tiên mà mọi người thờ ơ là họ không nhận thức được bản thân họ đang chứng kiến tội ác, vậy chúng ta nên dùng thông tin này theo cách nào có lợi cho chúng ta?

Điều đầu tiên, nếu bạn nghĩ bạn đang chứng kiến một tình huống mập mờ thì cố gắng đừng nhìn phản ứng của người xung quanh và làm theo những gì bạn tin tưởng.

Nếu bạn nghĩ có thể người đó cần sự giúp đỡ thì hãy hành động.

Trường hợp tệ nhất?

Bạn chỉ làm mình xấu hổ trong vài phút, tỷ lệ bạn gặp lại những người chứng kiến hành động đó gần như số 0.

Trường hợp tốt nhất, bạn cứu sống được một mạng người.

Thứ nhì, nếu bạn xui xẻo là nạn nhân của vụ gì đó và cần sự giúp đỡ, bạn phải làm cho những người xung quanh biết rằng đây là trường hợp khẩn cấp.

Một số các võ sư dạy võ tự vệ cho các bạn nữ thường khuyên các bạn ấy nếu bị tấn công bởi đàn ông, thì hãy hét to "Cháy" thay vì "cứu".

Bởi vì từ "cứu" được dùng trong nhiều trường hợp không khẩn cấp đến mức nguy hiểm tính mạng, vì thế cho nên khi chúng ta nghe thấy, nó không có nghĩa rằng có chuyện gì đó nguy hiểm đang diễn ra.

Thế nhưng chúng ta chỉ nghe "Cháy" khi thực sự có hỏa hoạn, và đó là tình huống khẩn cấp (tuy nhiên tránh dùng đó ở những nơi như rạp chiếu phim vì sẽ gây hỗn loạn) .

Cho nên bằng cách hét lên "Cháy", bạn làm cho những người xung quanh bạn nhận thức được họ đang ở trong tình huống khẩn cấp.

Nói theo kiểu bạn mình, đai đen hai đẳng võ Goju và Hapkido thì ai muốn nhìn coi ở đâu có cháy, nhưng chẳng ai muốn giúp đỡ người khác cả.

Sự khuếch tán trách nhiệm.

Darley và Latane xác định mức độ trách nhiệm mà người qua đường cảm nhận phụ thuộc vào ba thứ sau đây:

Người đó có đáng giúp hay không?Khả năng giúp đỡ của người qua đường.Mối quan hệ giữa người qua đường và nạn nhân.

Khi có nhiều người cùng nghe một lời giúp đỡ thì trách nhiệm đáp ứng lời giúp đỡ đó không còn tập trung vào một cá nhân nhất định nào nữa mà được chia ra cho những người khác.

Họ cảm thấy không nhất định phải là họ đi giúp nạn nhân, có rất nhiều người ở đây, sẽ có người giúp đỡ.

Giống như thí nghiệm mà tôi kể ra đầu bài.

Trong trường hợp bạn là người duy nhất chứng kiến thì bạn sẽ cảm thấy mình có trách nhiệm giúp đỡ 100% đè nặng lên vai.

Nhưng nếu có năm người chứng kiến thì trách nhiệm ấy chỉ còn 20%.

Tùy theo tình huống, người qua đường có thể cho rằng những người khác giúp tốt hơn họ, nhất là với sự có mặt của bác sĩ, cảnh sát thì sự can thiệp của họ trở nên không cần thiết.

Họ cũng lo sợ nạn nhân không cần sự giúp đỡ của họ, hoặc vướng vào vòng lao lý chỉ vì giúp đỡ.

Bởi vì lý do này mà có một số bộ luật hạn chế trách nhiệm pháp lý cho những người giúp đỡ người khác trong tình huống khẩn cấp.

Điển hình như ở tiểu bang New Jersey mà mình đang sống có bộ luật tên là Good Samaritan Law, để bảo vệ những người giúp đỡ ấy.

Ví dụ như bạn thấy ai đó gặp nạn và cần hô hấp nhân tạo.

Nếu bạn là người thực hiện việc hô hấp nhân tạo nhưng không may bạn làm gãy xương sườn hay xương ức của người ta hoặc tệ hơn là làm người ấy chết, thì tùy theo tình, bạn có thể không phải chịu trách nhiệm pháp lý, hoặc chịu ở mức nhẹ nhờ vào bộ luật này.

Nó khuyến khích người dân đừng e sợ trách nhiệm pháp lý mà hãy giúp đỡ người khác khi họ gặp nạn.

Vậy thì giống như câu hỏi bên trên, bạn nên dùng thông tin này theo cách nào có lợi?

Thứ nhất, nếu bạn chứng kiến ai đó gặp nạn với nhiều người xung quanh, nhận ra rằng bản năng đầu tiên của bạn sẽ là chối bỏ trách nhiệm giúp đỡ.

Việc bạn nhận ra được bản năng nó có thể giúp bạn thoát khỏi thành kiến về việc khuếch tán trách nhiệm và hiểu rằng mỗi người đều có 100% trách nhiệm giúp đỡ người gặp nạn.

Thứ nhì, nếu bạn là nạn nhân và cần sự giúp đỡ, bạn cần phải làm một trong những người chứng kiến đó cảm thấy họ có trách nhiệm với sự an toàn của bạn.

Khi chúng ta cần sự giúp đỡ, và có đám đông đang quan sát, chúng ta thường cầu cứu với những ai đang nghe ngóng, nghĩ rằng sẽ có ít nhất một người chịu đứng ra giúp đỡ.

Nhưng những thầy dạy tự vệ khuyên rằng thay vào đó, bạn nên chọn một người trong đám đông đó, nhìn chăm chú vào mắt người đó, bằng sự chân thành nhất có thể, và nói với anh/ cô ta rằng bạn cần sự giúp đỡ.

Bằng việc cầu cứu cá nhân đặc biệt nào đó, bạn có thể làm người nọ đột nhiên cảm thấy họ hoàn toàn có trách nhiệm cho sự an toàn của bạn, và làm tăng khả năng họ sẽ giúp đỡ bạn.

Phương thức này cũng có thể dùng nếu bạn muốn ai đó cùng giúp đỡ nạn nhân.

Chỉ vào người nào đó và kêu anh/ cô ta đến giúp người gặp nạn, chỉ vào người khác và kêu họ gọi 911.

Đưa ra những chỉ thị chi tiết và đặc thù để chống lại sự khuếch tán của trách nhiệm.

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
Liệu Huyết Thanh Nói Thật Có Thật Sự Hiệu Quả Trong Điều Tra Tội Phạm?


Thuật ngữ "Huyết thanh nói thật" được dùng để chỉ các loại thuốc thay đổi tâm trí, làm cho bạn không thể nói dối (hay giả thuyết nói như thế).

Và đúng thế, thuốc thay đổi trạng thái tâm lý có thuật, nhưng hiệu quả của nó không hoàn toàn làm mất đi khả năng nói dối của người dùng.

Một số loại huyết thanh nói thật, ví dụ như Natri pentathol (111722), làm giảm đi khả năng vận chuyển thông tin của não bộ truyền từ dây thần kinh dọc cột sống lên não.

Và hệ quả của nó là khiến cho việc vận hành những nhiệm vụ cấp cao như tập trung vào một hoạt động ví dụ đi đứng theo đường thẳng hoặc nói dối càng khó hơn.

Huyết thanh nói thật lấy đi sự tập trung mà bạn cần phải có để suy nghĩ ra lời nối dối.

Hiện tượng tương tự xảy ra khi bạn ngủ gà ngủ gật, bước vào trạng thái mơ mơ màng màng, giữa tỉnh và ngủ.

Nếu bạn không phải là một kẻ hay nói dối thì sau khi dùng thuốc rồi, thì bạn sẽ gặp khó khăn hơn rất nhiều để nói dối hơn nói thật.

Như nhà văn Mỹ nổi tiếng viết trong cuốn Mark Twain's Noteboo (được xuất bản sau khi chết vào năm 1935): Nếu bạn nói thật thì bạn chẳng cần phải nhớ điều gì cả.

Mặc dù nói như vậy nhưng thật sự không có cách nào để biết được một người có đang nói thật hay không.

Nhiều bài nghiên cứu khoa học gợi ý rằng bạn thường có xu hướng nói thật dưới tác dụng của thuốc huyết thanh nói thật, nhưng thuốc này còn có tác dụng phụ là nó khiến bạn nói ra những điều làm hài lòng người khác mà chưa chắc những điều ấy là thật.

Hơn nữa, không chỉ huyết thanh nói thật không hẳn có tác dụng hoàn toàn, mà nó còn không được phép dùng trong một số trường hợp bao gồm cả việc thẩm vấn tội phạm.

Một số loại huyết thanh nói thật thuở ban sơ được dùng tới ngày nay:

Thuật ngữ "Huyết thanh nói thật" phổ biến vào những năm 1920s nhưng con người đã biết tới nó từ thời Đế Quốc La Mã rằng chúng ta thường nói thật dưới tác dụng của chất kích thích.

Mặc dù nhiều có nhiều loại thuốc được nhà điều tra CIA, cảnh sát, Nazi dùng từ những năm 20s, 30s, 40s vẫn còn được sử dụng đến tận ngày nay, nhưng họ đã thay đổi một số thành phần trong thuốc để giảm ảnh hưởng từ các sự chuyển động (như say xe) và để dùng cho tử hình bằng thuốc độc.

Scopolamine (loài hoa hơi thở của quỷ)

Scopolamine được giới thiệu đầu tiên bởi bác sĩ Robert House dưới dạng huyết thanh nói thật vào những năm đầu thế kỷ 20, và là thuốc đầu tiên được gọi "huyết thanh nói thật".

Xuyên suốt những năm 1920 và 30s, các cục cảnh sát trên khắp nước Mỹ đều dùng nó với nghi phạm và trong một số trường hợp, thẩm phán chấp nhận lời khai mà nghi phạm cung cấp dưới sự ảnh hưởng của thuốc.

Scopolamine là loại huyết thanh nói thật được dùng nhiều nhất thời bấy giờ bởi sự nó xóa sạch đi ký ức người dùng và họ chẳng biết mình đã nói những gì sau khi thức dậy.

Thuốc được tiết chế từ hạt của cây mà những người dân ở đó gọi là "cây khiến bạn say".

Trong khi một số Nazi dùng nó giữa lúc thẩm tra, ngày nay, chất này được dùng trong nhiều loại thuốc để phòng tránh các loại ảnh hưởng từ di chuyển như say xe, say tàu...

Các miếng dán chống say xe bạn dùng có thể chứa thành phần này (bạn có thể tìm nó dưới mục thành phần thuốc).

Nó còn được dùng để chống sự run rẩy của bệnh Parkinson, đồng thời, còn được dùng như là "thuốc cưỡng bức" (date rape drug).

Nguyên nhân là nó làm cho nạn nhân không thể suy nghĩ cũng như điều khiển hành vi của mình, khiến cho kẻ tội phạm thuận lợi làm việc ác, bao gồm cưỡng bức.

Ở Việt Nam có một thời xảy ra tình trạng nạn nhân bị thôi miên, đưa hết tài sản cho kẻ cướp và không còn nhớ gì sau đó.

Một số bài báo sau đó đưa tin cảnh báo người dân về tình huống này, trong đó có nói tội phạm đã dùng Scopolamine, được báo chí gọi là "Hoa hơi thở của quỷ" để làm nạn nhân mất đi ý thức, qua đó cướp bóc tài sản.

Scopolamine có thể dùng dưới dạng viên hoặc trong một số trường hợp kỳ lạ khác, thông qua ma sát.

Một số báo chí đăng tin về trường hợp ba người phụ nữ trẻ tuổi ở thủ đô Colombia, Bogota, đã bôi thuốc này lên ngực và dụ đàn ông liếm hết đó.

Sau khi những người đàn ông đó bất lực rồi thì cướp hết tài sản của họ.

Pentothal hay Natri thiopental

Natri pentothal là một dạng thuốc an thần, nằm trong dãy thuốc làm giảm sự hoạt động của hệ thần kinh trung ương, thường được biết dưới tên "Downers" (Kẻ đi xuống).

Downers làm giảm sự vận chuyển thông tin tới não bộ và thường là thuốc được các bác sĩ kê đơn giảm đau, gây tê, giãn cơ và hạ huyết áp.

Dùng an thần quá liều có thể gây ra chết người và là nguyên nhân gây ra cái chết của các ngôi sao nổi tiếng như Judy Garland, Jimi Hendrix và Marilyn Monroe.

Thuốc này cũng là dạng thuốc đầu tiên được dùng trong án tử hình ở US và được tiêm nhiều nhất.

Cho tới năm 2011, đôi lúc nó được dùng dưới dạng gây mê bởi vì bệnh thân thường hôn mê sau khi được tiêm khoảng 30 đến 45 giây.

Nhưng Mỹ đã hoàn toàn ngừng sử dụng thuốc được vài năm.

Đó là bởi vì vào ngày 21/1/2011, một công ty Ý sản xuất thuốc này thông báo rằng họ sẽ ngừng sản xuất thuốc này vì lo rằng giới quan chức Ý sẽ dùng nó trong việc xét xử và vì thế Mỹ đánh mất đi nguồn cung cấp duy nhất.

Tuy nhiên loại thuốc này vẫn còn được sử dụng như là huyết thanh nói thật.

Vào năm 2007, cảnh sát ở New Delhi, Ấn Độ đã dùng Natri pentothal với một nhà doanh nhân giàu có là Moninder Singh Pandher và người hầu của hắn là Surender Koli, cả hai là nghi phạm trong vụ kẻ sát nhân hàng loạt ở Noida.

Dưới tác dụng của thuốc, bọn chúng thú nhận đã dụ mấy đứa trẻ tới nhà, cưỡng bức và rồi giết chúng.

Người hầu, Koli bị phán quyết tử hình và hiện tại ở trong tù, còn Pandher thì thoát tội.

Natri Amytal hay Amorbarbital

Natri Amytal cũng là một loại thuốc an thần hay downers.

Nó được sử dụng rộng rãi trong thế chiến thứ hai dưới dạng thuốc chống lo âu cho những người lính đang bị hoảng loạn tâm lý.

Nhưng cũng giống như các loại huyết thanh nói thật khác, Natri amytal là dạng thuốc giảm đau rất mạnh và tác dụng phụ của khó là làm mất đi khả năng giữ thăng bằng, khả năng nhận thức giảm và đó là lý do vì sao giờ đây quân nhân không còn dùng nó nữa.

Hơn nữa, đừng dùng quá nhiều Natri amytal, nếu không bạn sẽ nghiện nó.

Thuốc này đôi lúc dùng để chữa bệnh mất ngủ và thường được dùng dưới dạng tiêm, mặc dù có thể dùng qua đường miệng dưới dạng bột.

Tuy nhiên, dùng quá nhiều chất này cũng có thể gây chết người.

Liều mạnh nhất cho người lớn chỉ là 1g.

Thuốc này không còn được sử dụng như huyết thanh nói thật nữa bởi vì người dùng đôi lúc có trí nhớ giả (sự việc không có nghĩ thành có) sau khi dùng thuốc.

Ethyl Alcohol

Đúng vậy, chất cồn.

Trong tiếng Ý có câu In vino veritas, mà tiếng Latin có nghĩa là "Sự thật nằm trong rượu" được cho là của nhà triết học người La Mã là Pliny the Elder, tiếng Việt mình có câu "Rượu vào lời ra" mang nghĩa giống giống như vậy.

Vì thế, con người đã biết từ khoảng 2000 năm trước rằng chất cồn có thể khiến cho họ không thể điều khiển được miệng mình.

Nếu bạn đã từng uống quá nhiều, bạn sẽ dễ dàng nhận ra được cảm giác mà bạn đang trải nghiệm cũng giống như những cảm giác mà bạn có thể có nếu dùng huyết thanh nói thật.

Dù cho bạn uống hay là tiêm nó dưới dạng nguyên chất thì thuốc này làm bạn có xu hướng kể tất tần tật những bí mật của mình, nhưng có thể bạn cũng biết, thuốc này không ngăn được những lời nói dối vô hại mà bạn thường nói từ xưa đến giờ.

Vậy thì Huyết thanh nói thật có thật sự có tác dụng không?

"Trong thế kỷ 21 thì câu trả lời dường như là: Không.

Ngày nay, không có phương thuốc nào được chứng minh trước sau như một hoặc dự đoán là có thể tăng khả năng nói thật."

Phóng viên David Brown của tờ báo Washington Post viết vào năm 2006.

Mặc dù khả năng ma thuật của huyết thanh nói thật dường như chỉ tồn tại trong tiểu thuyết, tuy nhiên tòa án Mỹ vẫn có những trường hợp cho phép dùng.

Một trong những ví dụ là vụ án thảm sát bằng súng ở rạp chiếu phim Aurora, bang Colorado vào ngày công chiếu đầu tiên của phim Batman, The Dark Knight Rise.

Thẩm phán cho phép dùng Natri pentothal với tội phạm James Holmes để xác định rằng lời xác nhận rằng hắn bị điên có thật hay không, nếu không thì hắn có tội.

Thực tế, lời nhận tội dưới tác dụng của huyết thanh nói thật không được chấp nhận ở các tòa án Mỹ vào năm 1963.

Chỉ bởi vì thuốc kích nói thật bây giờ chưa có, không có nghĩa là sau này cũng không có.

Theo giáo sư Mark Wheelis, chuyên gia mảng lịch sử của các cuộc chiến tranh sinh học và kiểm soát vũ khí hóa học ở trường đại học California Davis, " Có hàng loạt đường vòng thần kinh mà chúng ta có thể điều khiển được, các loại kết nối điều khiển các dạng cảm xúc như sợ hãi, lo âu, hoảng loạn và trầm cảm," Davis nói với phóng viên Brown ở tòa Washington Post, "Chúng ta chưa có công thức để điều khiển nó, nhưng tương lai thì có thể thẩy được.

Tôi sẽ rất ngạc nhiên nếu chúng ta không khám phá được một lượng lớn các loại thuốc mang lại nhiều lợi ích cho công cuộc điều tra."

Một cuộc tự thử nghiệm với nhà báo Michael Mosley.

Cách tốt nhất để tìm ra liệu huyết thanh nói thật có tác dụng hay không chính là thử nó trên người bạn, đó chính xác là điều phóng viên TV Michael Mosley đã làm.

Để điều tra chất Natri thiopental, một trong các huyết thanh nói thật được sử dụng rộng rãi nhất, Mosley đã dùng hai liều thuốc khác nhau.

Sau khi dùng liều đầu tiên, một bác sĩ hỏi Mosley làm gì để sống.

Ông khúc khích cười vài tiếng và nói dối rằng mình là nhà phẫu thuật tim nổi tiếng.

Ít hơn một phút sau khi dùng thuốc, từ khúc khích, Mosley cảm thấy nhẹ đầu, hơi ngà ngà say.

Ông nói ông cảm thấy như mình vừa uống một ly rượu champagne.

Sau khi dùng liều thứ hai, với lượng Natri thiopental cao hơn, Mosley trải nghiệm điều mà ông không lường trước được.

Khi bác sĩ hỏi ông làm nghề gì, ông lập tức trả lời,

"Tôi là nhà sản xuất phim.

Ừm, nhà sán xuất chính, rồi, trình bày, rồi...cả ba thứ cộng lại"

Sau đó Mosley giải thích rằng khi được hỏi câu đó, ông cảm thấy chẳng có gì khiến ông phải nói dối cả, cho nên ông không nói.

Bạn có thể xem cuộc thí nghiệm đó ở đây:

Liệu rằng Huyết Thanh Nói Thật có hiệu quả không

Không hẳn là như thế

Vấn đề lớn nhất với việc sử dụng huyết thanh nói thật trong thẩm vấn tội phạm chính là cảm xúc ấm áp thân thiện mà nó gây cho người dùng đối với người thẩm vấn họ.

Cộng với trạng thái mất phương hướng nặng nề, điều này có thể khiến cho người dùng khai với người thẩm vấn điều mà họ nghĩ người thẩm vấn muốn nghe, mặc dù điều đó có thể đúng hoặc có thể sai.

Đây là một phần lý do vì sao bất kỳ lời khai nào dưới tác dụng của thuốc đều không dược chấp nhận ở các tòa án Mỹ hơn 50 năm.

Vào năm 1963, tòa án tối cao Mỹ đã phán xét rằng, bất kỳ lời khai nào dưới tác dụng của thuốc huyết thanh nói thật đều là "sự ép buộc đi ngược lại với Hiến Pháp", đe dọa quyền công dân dưới điều 5 của Hiến Pháp, và vì thế, không được chấp nhận.

Tương Lai Của Thuốc Nói Thật

Càng lúc chúng ta càng biết nhiều về não bộ và khám phá ra nhiều loại thuốc hơn, và chúng ta có thể đang trên bờ khám phá ra một loại thuốc nói thật và thuốc tăng tin tưởng.

Một trong những loại thuốc đang được kiểm chứng cho tác dụng nói thật của nó là Oxytocin, được những thai phụ biết dưới tên Pitocin.

Vào năm 2005, hai nhà nghiên cứu ở trường đại học Zurich đã kiểm tra mức độ tăng niềm tin của thuốc thông qua cuộc nghiên cứu với 130 sinh viên, một số ngửi qua oxcytocin, còn một số thì không.

Họ được hỏi tham gia một trò chơi mà trong đó họ phải tin tưởng một người là mặt và đưa cho người ấy một phần tiền thưởng của mình.

Những sinh viên đã ngửi qua oxytocin thì có tỷ lệ tin tưởng cao hơn và gửi tiền nhiều hơn.

Quan trong hơn, 45% số học sinh ngửi oxytocin gửi hết hoàn bộ số tiền của mình, cho thấy rằng họ cực kỳ tin tưởng người lạ đó, gấp hai lần số sinh viên không dùng thuốc.

Oxytocin là một loại hóc môn tiết từ tuyến yên, có nhiệm vụ trong việc làm tăng cảm xúc gắn bó, ấm áp, tin tưởng.

Nó được tiết nhiều nhất lúc người mẹ sinh con, tạo nên mối liên kết giữa người mẹ và đứa con chào đời để người mẹ có thể cảm nhận được tình thương, ấm áp hạnh phúc với em bé.

Loại thuốc làm tăng niềm tin này có thể là bước tiến mới trong huyết thanh nói thật.

Nó khuyến khích người khác nói thật thay vì nói bất cứ điều gì mà làm người hỏi thích.

Đừng lo lắng nhiều quá, bí mật của bạn vẫn an toàn bây giờ.

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
Định Dạng Bản Thân Với Cái "Vô Ngã"


Theo đạo Phật, cái ngã, cái "tôi" là không có mà chỉ là một tập hợp của Ngũ uẩn, luôn luôn thay đổi, sinh diệt. (Theo wiki)

Bạn có biết một trong những nguyên nhân chúng ta luôn đau khổ là gì không?

Câu trả lời của tôi có thể khiến bạn ngạc nhiên.

Chúng ta đau khổ là vì chúng ta luôn định dạng bản thân mình.

Có lẽ bạn sẽ ngạc nhiên và hỏi "Bác sĩ Puff , ý của ông là sao?"

Để tôi giải thích nhé.

Bắt đầu lại từ đầu để giải thích nó.

Bạn hãy đi đến công viên nơi có nhiều trẻ em ở các độ tuổi khác nhau và quan sát chúng.

Những đứa trẻ nhất mà bạn thấy được sẽ chơi đủ trò ngốc nghếch, và bọn nó chẳng màng đến mấy đứa khác nghĩ gì về mình, cũng chẳng thèm quan tâm người lớn sẽ nói gì.

Nhưng dần dà thời gian trôi đi, và chúng sẽ bắt đầu nói, "Ừm, cô ấy sẽ nghĩ gì về mình nhỉ?

Bọn bạn sẽ nói gì về những việc mình đang làm bây giờ?

Chúng sẽ nghĩ gì về bộ đồ mình đang mặc hoặc những gì mình đang nói?"

Thời gian dần trôi và chúng sẽ bắt đầu định dạng cái "tôi" của bản thân, nói rằng " Đây là tôi và tôi như thế này là do cái cách mà những người khác đối xử với tôi.

Tôi phải rất dễ thương vì người khác bảo rằng tôi dễ thương, tôi phải rất thông minh vì họ khen tôi sáng dạ, tôi phải rất vui tính vì ai cũng cười trước những trò đùa của tôi."

Chúng ta bắt đầu định dạng bản thân với cách mà người khác suy nghĩ về chúng ta và cái mà chúng ta nghĩ về bản thân trở thành chính con người chúng ta.

Chúng ta trở thành những con người theo ý muốn của người khác và để các mối liên hệ giữa bản thân với người ngoài định hình chúng ta, và rồi phát triển cảm nhận về bản thân theo hướng này, nhưng chính cái này lại làm chúng ta đau khổ.

Chúng ta đau khổ là bởi vì đôi lúc chúng ta không thích cái định dạng mà người khác gán cho mình.

Chúng ta cũng không thích người khác bất mãn với mình và trong cuộc sống này, có mấy ai sống mà không có lấy một người bất mãn hoặc không thích mình chứ?

Để tôi đưa ra ví dụ minh họa cho chuyện này.

Nhiều năm về trước, tôi có cơ hội đi tới Ấn Độ và viếng thăm mẹ Teresa đang làm việc ở đó và quan sát bà.

Bà là một người phụ nữ xinh đẹp làm rất nhiều việc vĩ đại cho thế giới này và khi chúng ta nghĩ về những con người lương thiện, tuyệt vời nhất, chúng ta thường nghĩ về mẹ Teresa.

Nhưng bạn có biết, ở thời ấy có những người rất ghét bà.

Họ muốn bà chết.

Và họ dùng quyền lực của mình để lấy mạng sống của bà, để chấm dứt nhiệm kỳ bà đang làm ở Ấn, nơi mà giờ đây mọi người tưởng niệm bà như một vị thánh vĩ đại.

Thế cho nên dù ta có cố gắng như thế nào thì vẫn có người không chấp nhận ta.

Mỗi ngày trên báo đài vẫn đăng đầy những tin về những người rất thành công trong cuộc sống nhưng lại đang ở trung tâm cai nghiện rượu và thuốc.

Tại sao chuyện này lại xảy ra?

Đó là bởi vì mặc dù họ đạt được mọi thứ nhưng họ vẫn không cảm thấy hạnh phúc bên trong, họ vẫn đang vật lộn với sự bất mãn của bản thân.

Thế giới có thể yêu họ, mến họ, nhưng nếu họ không yêu bản thân mình thì tất cả sẽ là vô nghĩa.

Vấn đề ở đây là chúng ta đặt nặng quá, quá nhiều trọng lượng, niềm tin vào cái mà chúng ta gọi là "bản ngã" (tức cái tôi).

Câu hỏi đặt ra ở đây là, và đây chính là cái khiến mọi thứ phức tạp hơn "Cái bản ngã ấy, nó "thật" đến mức nào"?

"Mức độ lâu dài của cái mà chúng ta gọi là bản ngã là bao lâu?"

Ý tôi là chúng ta luôn thay đổi.

Vị giác chúng ta thay đổi, loại sách chúng ta đọc thay đổi, và ngay cả người mà chúng ta thích, hay chọn lựa để chơi cùng thay đổi.

Tính cách chúng ta cũng thay đổi và cả nhiều thứ khác về bản thân nữa, vậy mà chúng ta vẫn luôn bám vào cái gọi là "bản ngã" ấy: Đây chính là tôi, đây chính là tôi.

Nhưng thật sự đó là trường hợp của "Đây là tôi ngay tại lúc này."

Chúng ta luôn thay đổi vậy thì tại sao chúng ta lại phải bấu víu vào cái "bản ngã" ấy và mặc định rằng nó sẽ không thay đổi?

Khi chúng ta làm như thế cũng là lúc chúng ta tự hành hạ bản thân mình, bởi vì khi chúng ta quá bám víu vào cái bản ngã ấy, chúng ta bắt đầu quan tâm về những gì người khác nghĩ.

Nếu người khác thích cái bản ngã chúng ta tự định dạng ngày hôm nay, chúng ta sẽ cảm thấy vui vẻ và hạnh phúc, nhưng nếu ngày mai lại có người bất mãn với cái định dạng đó thì chúng ta lại cảm thấy tồi tệ.

Đây chính là yếu tố lưỡng cực, lên và xuống.

Cảm xúc chúng ta lên xuống dựa vào suy nghĩ của chúng ta về bản thân mình, hoặc cách mà người khác nghĩ về chúng ta.

Nếu chúng ta không định dạng cái bản ngã ấy, mà nó cũng không có thật thì chúng ta có thể tự do như những đứa trẻ kia, không màng đến người khác nghĩ gì về mình, chúng ta có thể tự do và sống cuộc sống riêng của mình.

Và sau đó bắt đầu tìm kiếm hạnh phúc cho riêng mình vì chúng ta chẳng còn quá quan tâm đến những gì người khác nghĩ và cố gắng làm theo để được sự đồng ý của họ.

Chỉ làm những gì chúng ta thích làm tạo ra hạnh phúc bên trong ta, nhưng đồng thời chúng ta phải bỏ cái vị kỷ bên trong đi.

Khi chúng ta còn trẻ, nó chỉ nắm được phần nào trong ta, nhưng khi chúng ta già rồi, nó sẽ làm tê liệt bản thân.

Điều này có thể khó thay đổi được vì chúng ta được dạy qua bao năm trời là quan tâm đến những gì người khác nghĩ.

Nhưng chúng ta có thể làm ngược lại một chút và càng nhiều cái một chút ấy thì chúng ta càng cảm thấy hạnh phúc hơn.

Chúng ta bắt đầu thay đổi từng bước nhỏ, có thể bắt đầu đơn giản bằng cách mặc bộ đồ mà chúng ta không thường mặc, mặc vì chúng ta thích thế.

Bây giờ chúng ta phải cẩn thận một chút, bởi vì nếu không, chúng ta sẽ lại nhìn người khác và xem coi họ có thích hoặc không thích bộ đồ này, và nếu chúng ta cho họ quyền lực để làm điều đó thì chúng ta sẽ lại bị gò bó nữa.

Chúng ta nên chơi với những người tốt tính và đáng yêu, hoặc ít nhất là chẳng để tâm quá nhiều tới những gì người khác nghĩ.

Khi người khác chia sẻ ý kiến của họ với chúng ta, chúng ta cần cẩn thận chắc rằng nó tốt và tích cực, còn nếu không thì nên nói "Ồ, tốt thôi, nhưng mình không muốn nghe nó chút nào" Tôi biết rằng nhiều người thích nói về hành vi này nọ, nhưng nếu chúng ta cố gắng bỏ qua nó trừ khi nó tốt và tích cực, thì chúng ta có thể trở nên tốt hơn nhiều.

Vậy nên, nếu chúng ta có thể sống một lần trong đời thì hãy giải phóng bản thân như những đứa trẻ ngoài kia và chúng ta sẽ thấy rằng cuộc đời đẹp đẽ biết bao nhiều.

Những sự thay đổi nhỏ ấy có thể dồn lại tạo nên một sự khác biệt lớn.

Có lẽ, chiếc xe kế tiếp mà chúng ta mua sẽ không dựa trên những gì người khác nghĩ, có lẽ bộ đồ mà chúng ta sẽ mua tiếp theo sẽ dựa trên cái mà chúng ta thích mà không dựa vào những gì người khác muốn...

Nếu chúng ta thật sự sống không gò bó, chúng ta có thể tự hỏi bản thân "Hở, cái gì nghe có vẻ thú vị giờ nhỉ?

Nó không làm hại đến ai, và nó cũng không làm hại tới mình, vậy tại sao mình không làm?

Tại sao mình không ra ngoài tắm mưa?

Tại sao mình không ra ngoài đi bơi?

Tại sao mình không hát to khi tắm?

Nếu chúng ta không làm tổn thương người khác và không làm tổn hại bản thân thì có lẽ chúng ta sẽ sống một cuộc sống tự do hơn, bỏ đi cái bản ngã ấy và chỉnh là chính mình.

Chúng ta có thể là chính mình mà không cần quá quan tâm đến những gì người khác nghĩ.

Bạn thấy những đứa trẻ chơi trong công viên rồi đấy, và bạn có thể giống như chúng, sống thoải mái mà không bận tâm đến những gì người khác nghĩ.

Đây là vấn đề của sống thoải mái mà không bám víu vào cái tôi là ai, mà chỉ cần là chính bản thân mình.

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
Tâm Thần Phân Liệt - Schizophrenia Disorder(đã chỉnh sửa theo DSM5)


Lâu rồi có viết một vài về bệnh tâm thần phân liệt nhưng lúc đó chưa được học kỹ về bệnh này nên viết dựa vào DSM là chính.

Nay DSM cũng đã cập nhật lên bản 5, và tôi cũng được học kỹ hơn về nó nên quyết định viết lại một bài về bệnh này chi tiết hơn và rõ ràng hơn.

Nhiều bạn hỏi tôi, "Bệnh tâm lý khác bệnh tâm thần như thế nào?"

Thật ra thì trong tiếng Anh, hai cái này đều gọi chung là "Mental disorder" – tức rối loạn tâm trí.

Nhưng nếu để giải thích theo kiểu dễ hiểu, thì nguyên nhân gây ra các bệnh tâm lý có thể phân chia đều cho ba yếu tố, tâm lý, sinh lý và môi trường.

Trong đó, các tác động từ môi trường có thể chiếm phần nhiều hơn, là nguyên nhân kích thích những yếu tố tìm ẩn có sẵn như sinh lý, tâm lý rồi phát triển bằng bệnh lý.

Rối loạn nội tiết tố trong bệnh tâm lý có thể điều chỉnh bằng việc dùng thuốc.

Phần trăm di truyền có thể không cao.

Ví dụ như các bệnh về cảm xúc như trầm cảm và rối loạn lo âu.

Trong khi các bệnh tâm thần thì có nguyên nhân chủ yếu nằm về phần sinh lý và di truyền.

Ví dụ như bệnh tâm thần phân liệt mà chúng ta sẽ nói đến sau đây.

Tỷ lệ di truyền trong gia đình là khá cao.

Một số người mắc tâm thần phân liệt có cấu tạo não bộ khác với bình thường.

Thường phải dùng thuốc cả đời.

Bệnh không thể chữa khỏi hoàn toàn nhưng có thể quản lý được.

Thuật ngữ (cũng là tên bệnh) Schizophrenia – tâm thần phân liệt được dùng lần đầu vào năm 1911 bởi Eugen Bleuer, bác sĩ tâm thần Thụy Sĩ.

Thuật ngữ này dịch ra có nghĩa là sự phân tách của các kết nối trong tâm trí – cái mà Bleuer tin là đặc điểm của bệnh.

Tuy nhiên, đây cũng là cái khiến những người sau này lầm tưởng bệnh Đa Nhân Cách cũng là một dạng tâm thần phân liệt (trong DSM 3) vì nó cũng là một dạng tách rời tâm trí, nhưng tách rời về nhận thức, trong khi hai bệnh này có rất ít điểm chung với nhau.

Khi DSM 4 ra đời, bệnh Đa Nhân Cách mới chính thức có danh mục riêng của mình.

Tâm thần phân liệt là một dạng hành vi bất thường hạng nặng mà chúng ta thường hay biết và gọi bằng cái tên thông dụng hơn, "bệnh điên".

Người mắc tâm thần phân liệt có thể có nhiều triệu chứng loạn tinh thần dưới các dạng khác nhau và bị mất nhận thức với hiện tại.

Họ có thể nghe thấy giọng nói vô hình nào đó mà vốn dĩ nó không có thật, nói năng khó hiểu, hoặc chẳng có logic tý nào.

Hành vi của họ thường dựa trên những niềm tin hoang tưởng không thật.

Ví dụ như người bệnh có thể tin rằng một con tàu từ hành tinh khác dùng sóng xâm nhập vào trí óc và điều khiển hành vi của anh ta.

Những triệu chứng đặc trưng của bệnh tâm thần phân liệt liên quan đến việc mất khả năng vận hành tổ hợp của nhận thức và cảm xúc, bao gồm nhận biết, suy luận, ngôn ngữ, giao tiếp, điều khiển hành vi, sự lưu loát, kết quả từ những suy nghĩ, năng lực nói, ý muốn và dục vọng.

Và vì đây là một điểm quan trọng nên tôi muốn nhắc lại một lần nữa, để bị coi là mắc chứng tâm thần phân liệt, bệnh nhân phải có những triệu chứng của tổ hợp mà tôi vừa nói đến, chứ không phải là một trong số đó, không phải chỉ đơn lẻ một dấu hiệu mà là một tập hợp.

Việc chuẩn đoán bệnh lý thường bao gồm nhận biết nhóm dấu hiệu, và triệu chứng liên quan đến mất khả năng lý giải và hoạt động thường ngày.

Các triệu chứng của tâm thần phân liệt được chia làm ba phương diện: dương tính (positive symptoms), âm tính (negative symptoms) , rối loạn tổ chức.

Thuật ngữ triệu chứng dương tính không phải chỉ những triệu chứng này có lợi hoặc có khả năng thích nghi với bệnh nhân.

Ngược lại, những triệu chứng này có đặc điểm là sự hiện diện của phản ứng khác thường (ví dụ như nghe những giọng nói không có thật – huyễn thính).

Còn triệu chứng âm tính là chỉ về sự khuyết thiếu phản ứng đặc thù (ví dụ như cảm xúc, ngôn ngữ, động lực) mà đáng ra họ nên có.

Triệu chứng dương tính (còn gọi là triệu chứng loạn tinh thần)

Các giác quan cung cấp cho chúng ta những thông tin cơ bản nhưng cực kỳ quan trọng trong việc xác định chúng ta là ai, chúng ta đang làm cái gì, hay người khác đang nghĩ gì về chúng ta.

Nhiều người mắc bệnh tâm thần phân liệt trải nghiệm sự thay đổi phức tạp hoặc đáng sợ về nhận thức.

Một trong những triệu chứng phổ biến nhất và dễ thấy nhất chính là ảo giác, hoặc trải nghiệm của giác quan không đến từ kích thích thật sự.

Mặc dù ảo giác có thể xảy ra với bất kỳ giác quan nào, nhưng thông thường, người mắc tâm thần phân liệt trải nghiệm nó dưới dạng huyễn thính – nghe thấy giọng nói không có thật.

Nhiều bệnh nhân nghe thấy giọng nói bên tai nhận xét về hành vi của họ hay ra lệnh cho họ.

Người khác thì nghe thấy nhiều giọng nói đang cãi lộn với nhau.

Tuy nhiên, ảo giác phải được phân biệt với lỗi nhận thức xảy ra trong giây lát mà nhiều người mắc phải.

Bạn có từng đi trên đường và dường như nghe thấy tiếng ai đó gọi bạn, và khi bạn quay lại thì không có ai cả?

Chắc hẳn bạn sẽ tự nhủ với mình, "Là do mình tưởng tượng ra thôi".

Nhưng ảo giác thì trái ngược lại, nó tấn công vào tâm trí bệnh nhân rất thật, khiến cho thực sự trải nghiệm, thực sự thấy được dù rằng thực tế thì không.

Hoang tưởng:

Nhiều bệnh nhân tâm thần phân liệt mắc chứng hoang tưởng, hoặc có những niềm tin đặc thù kỳ quái dù cho nó có lố bịch thế nào đi chăng nữa.

Trong những trường hợp tệ nhất, bệnh nhân cố hết sức và khăng khăng bảo vệ niềm tin ảo tưởng của mình mặc cho những bằng chứng trái ngược hiện ra ngay trước mắt.

Lo lắng là một đặc tính khác của ảo tưởng.

Trong chu kỳ loạn tinh thần cấp tính, người bệnh không thể nào ngưng suy nghĩ về những niềm tin không thật đó.

Và cuối cùng, bệnh nhân mắc chứng hoang tưởng có thể không quan tâm hoặc suy nghĩ về những phương diện mà người khác đưa ra về niềm tin của họ.

Mặc dù hoang tưởng có nhiều loại nhưng đa số thì nó thuộc về dạng cá nhân.

Những niềm tin này không được chia sẻ với người thân trong gia đình hoặc cộng đồng.

Những hoang tuởng thông thường mà bệnh nhân có bao gồm suy nghĩ được đưa vào trong não họ, người khác có thể đọc được suy nghĩ của họ hay bệnh nhân bị điều khiển bởi sức mạnh siêu nhiên huyền bí nào đấy.

Những niềm tin này là những mảnh rời rạc và không gắn kết tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh xuyên suốt nhận thức, không được bệnh nhân diễn tả thường xuyên.

Triệu chứng âm tính

Triệu chứng tiêu cực là sự khuyết thiếu những phản ứng đặc thù về cảm xúc, ngôn ngữ hay động lực.

Và bởi vì thế, ban đầu nó thường rất khó thấy và khó phát hiện hơn triệu chứng tích cực.

Nó cũng thường ổn định qua thời gian hơn là triệu chứng tích cực vì triệu chứng tích cực biến đổi nghiêm trọng khi bệnh nhân ở trong và ở ngoài chu kỳ loạn tinh thần.

Một trong những triệu chứng điển hình của dạng tiêu cực chính là người bệnh không thể hiện bất kỳ cảm xúc nào, được gọi là "Diễn đạt cảm xúc bị giảm thiểu" (diminished emotional experssion) hoặc "hiệu ứng cảm xúc cùn mòn" (blunted affect).

Bệnh nhân với chứng này thường không thể hiện bất kỳ dấu hiện cảm xúc hay suy nghĩ.

Họ không vui cũng chẳng buồn, và có vẻ thờ ơ với môi trường chung quanh.

Gương mặt họ vô cảm và lãnh đạm.

Giọng nói không có nhịp điệu lên xuống – cái thể hiện cảm xúc của người nói.

Những tình huống sự kiện diễn ra xung quanh chẳng có nghĩa gì với họ cả.

Họ có thể hoàn toàn không quan tâm đến bản thân và những người xung quanh.

Một dạng khác của sự thiếu hụt cảm xúc chính là không thể cảm nhận được khoái lạc.

Trong khi sự khuyết thiếu cảm xúc là chỉ về sự thiếu hụt phản ứng bề ngoài, còn không thể cảm nhận được khoái lại là kiểu thiếu hụt những cảm giác tích cực.

Người mắc triệu chứng này không hề cảm thấy hứng thú với bất kỳ hoạt động cơ thể và mối quan hệ xã hội nào.

Họ không tìm được niềm vui trong đó.

Đồng thời, họ cũng có thể đánh mất đi vị giác và xúc giác của mình.

Nhiều người mắc tâm thần phân liệt trở nên cách ly với xã hội.

Trong nhiều trường hợp, sự cô lập này phát triển trước khi các triệu chứng phát tác.

Nó vừa là triệu chứng cũng vừa là chiến lược mà nhiều người bệnh dùng để đối phó với những triệu chứng khác của họ.

Ví dụ như họ có thể hạn chế giao tiếp với người khác để giảm bớt mức độ kích thích có thể khiến cho sự rối loạn tri giác và nhận thức của họ trở nên trầm trọng hơn.

Sự cô lập này thường đi kèm lưỡng lự, mâu thuẫn trong tư tưởng, và không có động lực làm gì cả.

Họ có thể ngồi cả ngày trên ghế, chẳng buồn nhúc nhích lấy một ly, hay không thèm chải đầu hay tắm rửa mấy tuần liền.

Một dạng triệu chứng âm tính khác đó là nhiễu loạn ngôn ngữ.

Một kiểu của triệu chứng này được gọi là "nghèo nàn ngôn ngữ" (poverty of speech), người bệnh giảm thiểu số luợng ngôn ngữ quá nhiều.

Họ dường như chẳng có gì để nói cả.

Một kiểu khác là "suy nghĩ bị chặn", chuỗi suy nghĩ của bệnh nhân bị ngăn lại truớc khi một suy nghĩ hay ý tưởng kịp hình thành.

Rối loạn tổ chức:

Một số triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt khó có thể phân loại vào tích cực hay tiêu cực.

Vì thế mà nhiễu loạn suy nghĩ và hành vi kỳ quặc thể hiện khía cạnh thứ ba của bệnh này, và được gọi bằng cái tên rối loạn vô tổ chức (Disorganization).

Một triệu chứng quan trọng trong tập hợp các triệu chứng của tâm thần phân liệt là ngôn ngữ vô tổ chức (disorganized speech).

Nó liên quan đến xu hướng những gì bệnh nhân nói không có lý hoặc không có nghĩa gì cả.

Dấu hiệu của ngôn ngữ vô tổ chức chính là trả lời những câu không liên quan gì đến câu hỏi, ý tưởng rời rạc không kết nối và dùng từ ngữ theo kiểu khác thường.

Triệu chứng này cũng được gọi là "rối loạn suy nghĩ".

Những đặc điểm thường gặp ở ngôn ngữ vô tổ chức chính là chuyển đổi chủ đề trò chuyện quá đột ngột, trả lời chẳng ăn nhập gì với câu hỏi, hoặc lặp đi lặp lại một từ hoặc một cụm từ liên tục.

Chuyển động cơ thể bất thường

Người mắc bệnh tâm thần phân liệt còn bị cứng chi hay cứng cơ dẫn đến di chuyển không được bình thường.

Trong những trường hợp nặng nhất, người bệnh có thể giữ nguyên tư thế bất thường, cứng ngắc khi đứng hoặc khi ngồi trong khoảng thời gian dài.

Ví dụ, một số bệnh nhân sẽ nằm thẳng lưng nhưng gồng người lại, đầu nâng lên một chút như thể họ đang gối đầu vậy.

Người bệnh mắc chứng này thường không chịu đổi tư thế khác dù cho giữ nguyên tư thế này sẽ khiến họ cực kỳ khó chịu và đau đớn.

Để được chẩn đoán mắc chứng tâm thần phân liệt, người bệnh phải có ít nhất hai trong những triệu chứng bên trên, và phát tác ít nhất một tháng.

Đồng thời, cuộc sống, công việc và các mối quan hệ cá nhân của người đó phải bị ảnh hưởng nặng nề so với trước khi phát bệnh.

Tuy nhiên, nếu các bạn đã đọc qua các bài viết về bệnh tâm lý trước của tôi, ắt hẳn các bạn sẽ nhận ra một số triệu chứng tiêu cực của tâm thần phân liệt giống với bệnh trầm cảm lâm sàng.

Vì thế, triệu chứng phải phác tác trong khoảng vắng của bệnh trầm cảm và hưng cảm thì mới được coi là mắc tâm thần phân liệt.

Để hiểu hơn về triệu chứng bệnh, chúng ta hãy cùng nghiên cứu một case bệnh dưới đây:

Emilio, 40t nhưng có ngoại hình trẻ hơn mười tuổi.

Anh được mẹ đưa vào bệnh viện lần thứ 12 vì bà dần cảm thấy sợ Anh.

Emilio mặc một chiếc áo choàng dài rách bươm, mang đôi dép ngủ, đội chiếc mũ bóng chày và đeo vài tấm huy chương quanh cổ.

Triệu chứng bệnh của anh ta trải từ cơn giận vô cớ với mẹ mình ( bà ta cho tôi ăn phân từ ruột già của người khác) đến cười khúc khích , xun xoe dụ dỗ người khám.

Ngôn ngữ và thái độ của anh ta như một đứa trẻ con, bước đi õng ẹo, đánh eo quá mức.

Bà mẹ bảo anh không chịu uống thuốc chừng 1 tháng trước.

Rồi từ đó, anh bảo mình lúc nào cũng nghe có một giọng nói trong đầu, cách ăn mặc và hành xử càng lúc càng kỳ quái.

Khi được hỏi anh đang làm gì, Emilio trả lời, "Tôi đang ăn dây diện và chuẩn bị đốt lửa."

Trong trường hợp của Emilio, bạn có thể nhận thấy rõ ràng sự mất khả năng vận hành tổ hợp nhận thức và cảm xúc.

Emilio không thể suy luận, nhận biết về những gì mình đang làm, không thể giao tiếp trôi chảy, ngôn ngữ bất bình thường, không thể điều khiển hành vi của mình theo chuẩn mực xã hội cho phép.

Và vì thế nên Emilio được chuẩn đoán là mắc chứng tâm thần phân liệt.

Anh phải uống thuốc hàng ngày, nhưng sự gián đoạn trong việc dùng thuốc khiến cho bệnh tình quay lại và nghiêm trọng hơn, dẫn đến chuyện anh nghe được tiếng nói hay hành xử càng khác lạ.

Bà Green, một nhân viên thư viện 62t đã về hưu khi đi khám Bác sĩ, đã nói, "mấy con giun đó vẫn còn trong người tôi."

4 năm về trước, trong một lần tắm, bà chú ý đến những thứ mà bà cho là "mấy con giun nhỏ" .

Không lâu sau đó, bà trải nghiệm cái cảm giác "mấy con giun đó đang chui qua da tôi" .

Nhiều lần đi khám Bác sĩ và mang theo cả mẫu nước mà bà cho rằng có giun, nhưng không nhân viên nào có thể tìm ra được bất kỳ ký sinh trùng nào.

Dù cho Bác sĩ không ngừng bảo rằng cái đó chỉ là mấy mảnh da khô của bà thôi nhưng bà vẫn không tin.

Bà cảm thấy rằng bạn bè và đồng nghiệp đang dần lánh xa mình vì mấy con giun đó.

Sau đó khoảng 9 tháng, lúc đi nhà thờ, bà thấy chuỗi tràng hạt tự dưng xoay theo chiều kim đồng hồ và bà thấy được mình có lực từ hút những thứ xung quanh.

Bà Green cho rằng bởi vì những con giun xâm nhập vào tủy sống và không ngừng di chuyển lên xuống đã tạo ra lực từ như thế.

Khi xét về lịch sử bệnh lý, bà Green không hề dùng bất kỳ chất kích thích nào, nên trường hợp của bà không khó để Bác sĩ trị liệu xếp vào Tâm thần phân liệt.

Trường hợp của bà Green lẫn Emilo đều là ví dụ điển hình của các triệu chứng tâm thần phân liệt tích cực.

Không khó để xác định bà Green bị ảo giác và ảo tưởng thông qua miêu tả bên trên.

Vậy thì triệu chứng tiêu cực sẽ biểu hiện như thế nào, mời các bạn đọc ca bệnh dưới đây:

Louise Larkin, 39t, lúc nào cũng khom người, cúi gầm mình xuống.

Cô có gương mặt như một đứa trẻ với những bím tóc và dây ruy-băng hồng.

Cô được đưa tới Văn phòng tâm lý bởi Bác sĩ gia đình, người ái ngại về tình trạng cô hoạt động cơ thể ở mức quá thấp này.

Điều duy nhất mà cô nói với Bác sĩ chính là " tôi có khoảng thời gian gián đoạn trong việc chăm sóc bản thân và có cuộc sống thấp dưới mức Bình thường."

Rồi sau đó, cô tiếp tục giữ im lăng và nhốt mình trong phòng.

20 năm về trước, sau khi vị hôn phu hủy bỏ lễ đính hôn, cô bắt đầu không thể tự sắp xếp mọi thứ cho ngăn nắp, lang thang một mình vô định trên những con đường, mặc những bộ đồ không đi đôi với nhau.

Louise bị sa thải và được đưa tới bệnh viện, sau đó được mẹ cô làm giấy xuất viện với hy vọng là cô sẽ mau chóng hồi phục tinh thần và bắt đầu cuộc sống thật.

Nhưng bao năm trải qua, cô vẫn trốn tránh xã hội, và càng ngày càng ít hoạt động hẳn đi.

Hầu hết thời gian cô dành cho việc nấu nướng và xem TV.

Những món ăn của cô là hỗn hợp lạ kỳ của những nguyên liệu như cải súp-lơ với bánh ngọt,ngồi một mình vì không ai trong gia đình muốn ăn những thứ đó.

Khi mẹ cô bước vào phòng thì cô luôn quơ đại một cuốn tạp chí hay sách gì đó rồi giả vờ như đang đọc nhưng thực tế thì cô vốn chỉ ngồi đó và ngẩn ngơ nhìn vào khoảng không vô chừng.

Louise không chịu tắm hay chải đầu.

Cô ăn càng lúc càng ít đi.

Lúc đi khám thì từ chối nhìn thẳng và đối thoại với bác sĩ.

Ở đây bạn có thể rõ ràng thấy được cô Louise cô lập bản thân mình với xã hội, không hề có hứng thú với bất kỳ hoạt động xã hội nào và hạn chế giao tiếp với người khác.

Số lượng ngôn từ cô dùng được hạn chế và dường như cô chẳng có gì để nói cả.

Rõ ràng, đây là những triệu chứng tâm thần phân liệt tiêu cực.

Nguyên nhân:

Có nhiều nguyên nhân gây ra chứng tâm thần phân liệt, người mẹ đang mang thai bị virus xâm nhập thì đứa con sinh ra có nguy cơ bị mắc chứng bệnh này cao, di truyền, hay bị những chấn thương tâm lý, hoặc cả cấu trúc não bất thường.

Chứng bệnh này không chỉ gói gọn trong một bộ phận não nhất định mà nó lên quan đến nhiều bộ phận khác nhau.

Hầu hết các nghiên cứu MRI báo cáo rằng tổng số lượng tế bào não của người mắc tâm thần phân liệt ít hơn hẳn so với người thường (trong hình, phần màu đen đen là phần rỗng, có thể thấy rõ ràng người bệnh tâm thần phân liệt (bên trái) có phần rỗng nhiều hơn người bình thường (bên phải).

Các nghiên cứu về hoạt động não (fMRI) cũng cho thấy hoạt động não của người bệnh tâm thần phân liệt ít hơn hẳn người bình thường.

Một số báo cáo còn chỉ ra kích thước một số Bộ phận não như hồi hải mã, hạch hạnh nhân bị giảm.

Những Bộ phận này có vai trò quan trọng trong việc điều khiển cảm xúc, suy nghĩ và nhận thức.

Sự giảm thiểu kích thước này thấy rõ nhất ở não trái – chịu trách nhiệm điều khiển ngôn ngữ.

Bên trái- não người mắc tâm thần phân liệt.

Bên phải – não người bình thường Nguồn ảnh: Live Mint

Chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmitter) dopamine ảnh hưởng đến ngôn ngữ, hành vi, học tập, và cảm xúc.

Là chất khiến bạn cảm thấy hưng phấn và vui vẻ.

Thuyết Dopamine, thuyết có ảnh hưởng nhất về trong số các thuyết về chất dẫn truyền thần kinh và tâm thần phân liệt cho rằng các triệu chứng tích cực của bệnh là sản phẩm từ lượng dopamine và cơ quan thụ cảm, hay cửa tiếp nhận dopamine quá nhiều (mỗi chất dẫn truyền thần kinh có một cửa riêng biệt), dẫn đến người bệnh bị ảo giác.

Tất cả những loại thuốc chữa trị tâm thần phân liệt ngày nay có cơ chế hoạt động chủ yếu là chặn cơ quan thụ cảm D2, ngăn cản cơ quan này tiếp nhận chất dopamine.

Ngoài ra, những chất dẫn truyền thần kinh khác như serotonin (chịu trách nhiệm cho cảm xúc), và glutamate (cảm giác phấn khích) đều nằm trong vòng nghiên cứu.

Nhiều nhà khoa học tin rằng, chúng đều có vai trò quan trọng cấu thành nguyên nhân gây bệnh tâm thần phân liệt.

Nhất là với glutamate(có nhiều trong bột ngọt), đã có bằng chứng chứng minh sự suy giảm chất này (cơ quan thụ cảm bị chặn, không thể tiếp nhận) có thể gây ra một số triệu chứng tâm thần phân liệt.

Bên cạnh đó, những sự kiện gây áp lực từ bên ngoài có thể tác động lên sinh lý và tâm lý, khiến bệnh bộc phát nhanh hơn với những người đã có sẵn gene bệnh vì gene và môi trường luôn tác động lẫn nhau.

Điều trị:

Bởi vì các nguyên nhân gây ra tâm thần phân liệt nặng về phần di truyền và sinh lý nên việc chữa trị chủ yếu dựa vào thuốc.

Tâm thần phân liệt không thể được chữa khỏi hoàn toàn, người bệnh bắt buộc phải dùng thuốc đúng liều và đều đặn, nếu không bệnh có thể sẽ tái phát nặng hơn, sẽ tổn hại đến não bộ nhiều hơn, như trường hợp của Emilio bên trên.

Tuy nhiên có một điều đáng tiếc là khoa học thần kinh vẫn còn khá nhiều hạn chế, mà thuốc chữa trị các bệnh tâm thần, tâm lý có ảnh hưởng chủ yếu lên hệ nội tiết và chất dẫn truyền thần kinh.

Mà hệ nội tiếng và chất dẫn truyền thần kinh có mối quan hệ khá phức tạp chồng chéo lên nhau.

Việc sử dụng thuốc lâu dài có thể gây ra một số tác dụng phụ khó lường.

Đối với bệnh tâm thần phân liệt thì tác dụng phụ của việc dùng thuốc chính là cứng cơ miệng và cơ mặt.

Ví dụ như lưỡi thè ra ngoài, môi nhăn lại, tứ chi và chân tay co thắt.

Ngoài ra còn có thể ảnh hưởng lên hệ thần kinh khiến cơ thể run rẩy, cứng cơ, kích động, hoặc có những dáng điệu kỳ dị mà người bệnh không thể khống chế được.

May mắn là những tác dụng phụ này nằm ở những loại thuốc đời đầu (như Thorazine và Hadol)

Những loại thuốc đời hai như Clorazil, Risperdal , Zyprexa, Seroqul và Solian thì có ít tác dụng phụ hơn nhưng vẫn giữ được hiệu quả như thuốc đời đầu và có tác dụng trong việc ngăn ngừa bệnh tái phát.

Một nghiên cứu cho thấy chỉ có 13% những người bệnh dùng thuốc đời hai là bị tác dụng phụ cứng cơ và co thắt, trong khi tỷ lệ đó là 32% đối với những người dùng thuốc đời đầu.

Tuy nhiên, một điều đáng tiếc là những loại thuốc đời hai này không có hiệu quả mấy trong việc chữa trị những triệu chứng âm tính.

Đã vậy, tác dụng phụ của nó còn khá nguy hiểm.

Nó có thể khiến cho bệnh nhân tăng cân và béo phì, tăng nguy cơ mắc các bệnh khác như huyết áp cao, tiểu đường, và các bệnh về tim mạch.

Những tác dụng phụ này có thể khiến cho bệnh nhân ngưng thuốc và dẫn đến tình trạng bệnh tái phát nặng hơn.

Điều trị, tư vấn tâm lý cũng giúp cải thiện đời sống của bệnh nhân mắc tâm thần phân liệt.

Các chuyên viên tư vấn giúp đỡ bệnh nhân cải thiện những vấn đề cuộc sống mà họ gặp phải khi mắc bệnh.

Đồng thời huấn luyện những kỹ năng sống cần thiết để quản lý bệnh hiệu quả.

Phương pháp nhận thức hành vi được sử dụng nhiều trong những năm gần đây, giúp bệnh nhân phán đoán, kiểm tra và chỉnh sửa lại những suy nghĩ méo mó của họ về bản thân mình và môi trường xung quanh.

Kết

Tâm thần phân liệt gây ra ảnh hưởng nặng nề đến bệnh nhân và người thân xung quanh.

Gia đình bệnh phân phải hiểu rằng con họ đang mắc một chứng bệnh có thể thay đổi cuộc đời của anh/cô ta mãi mãi.

Và biện pháp duy nhất để tình trạng bệnh cải thiện là đưa đi khám và điều trị kịp thời chứ không phải mời thầy cúng, cô đồng về để chữa.

Đây không phải là bệnh chỉ cần quất vài roi, uống vài ba thứ bùa, cúng kiến nhang đèn là sẽ hết.

Gia đình cần phải kiên nhẫn và ủng hộ người bệnh rất nhiều.

Nên nhớ, bệnh tâm lý không phải gãy tay gãy chân, dùng mắt thường là có thể thấy nó khỏi được.

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
Một Trường Hợp Về Tách Nhân Cách Trong Vụ Án Mạng Nan Giải Ở Chicago


Năm 1946, cô bé Suzanne Degnan, sáu tuổi, bị bắt cóc từ phòng ngủ nhà bé nằm trong khu dân cư sung túc ở Chicago.Một cái thang đã được tìm thấy bên ngoài phòng ngủ.

Cha bé tìm thấy một mảnh ấy nhỏ trên sàn đòi $20,000 đô tiền chuộc.

Mặc dù James Degnan đã lên kênh radio cầu xin cho sự an toàn của con gái ông, nhưng kẻ bắt cóc chưa bao giờ liên hệ lại với những yêu cầu thêm.

Sau đó, một viên cảnh sát, trong lúc tìm kiếm khắp khu dân cư đã tìm thấy xác một bé gái.

Cô bé đã bị bóp cổ tới chết trong đêm bị bắt cóc, sau đó được đưa tới tầng hầm tòa nhà gần đó và bị cắt thành từng khúc bằng con dao dùng săn thú.

Các bộ phận thi thể như đầu bé bị quăng ở năm cống thoát nước khác nhau, và những vịnh đánh bắt.

Tại hiện trường gây án, kẻ sát nhân viết một tin nhắn bằng son môi ở trên tường nhà nạn nhân, "Vì Thượng Đế, hãy bắt tôi trước khi tôi giết thêm nhiều nữa, tôi không thể điều khiển được mình."

Tờ giấy đòi tiền chuộc ở nhà Degnan là gợi ý tốt nhất, các nhà điều tra đang phải đuổi bắt một tên giết người hàng loạt.

Hai tuần trước đó đã có hai người phụ nữ bị giết, đó là Josphine Ross và Frances Brown.

Tại hiện trường vụ án thứ hai, tức là ở nhà cô Brown, kẻ nào đó cũng đã dùng son môi và viết lên dòng tin nhắn như vậy ở trên tường.

Khi bạn viết bài, vết hằn của nét chữ từ lực viết của bạn sẽ in lên trang sau của quyển vở.

Mảnh giấy đòi tiền chuộc cũng có vết hằn tương tự như thế.

Dấu về này dẫn dắt đội điều tra đến nhà hàng trường đại học Chicago.

Nhưng các thám tử rơi vào ngõ cụt và chẳng nhận được sự giúp đỡ gì từ ban quản trị trường.

Khi vụ án có vẻ rơi vào đường cùng, một sinh viên 17 tuổi tên William Heirensbị bắt quả tang ăn cắp ngay tại trận.

Khi cảnh sát soát phòng ở của hắn, họ tìm thấy một va li chứa đầy đồ trộm cắp, tranh ảnh của Hitler và những kẻ Nazis khác, và một bức thứ Heirens ký tên là "George M."

Các nhà điều tra nhanh chóng phát hiện một số vật bị trộm từ nhà các nạn nhân.

Tuy nhiên họ không tài nào tìm được đồng phạm George của hắn.

Heiren bị cho uống siro nói thật (C11H17N2NaO2S) và bị thẩm tra.

Trong lúc lấy cung, dưới tác dụng của siro nói thật, Heirens khai rằng George Murman đã giết Suzanne Degnan.

Tuy nhiên, ngay sau đó, các bằng chứng cho thấy George chẳng phải là người thật mà đó chỉ là một nhân cách khác của Heiren.

Và dấu vân tay Heiren để lại trên tờ giấy đòi tiền chuộc ở nhà Degnan là bằng chứng rõ rệt nhất.

Sau khi các tờ báo đưa tin rằng Heiren đã thừa nhận mình là hung thủ giết người trong vụ Degnan dẫn đến làn sóng dư luận phẫn nộ trước hành vi mất nhân tính ấy, Heiren đã phủ nhận cáo buộc của báo chí, khai rằng hắn ta đã bị đánh đập tra khảo trong tù và bắt uống "siro nói thật".

Hắn định ký giấy nhận tội để hưởng bản án tù cả đời nhưng vẫn nghĩ rằng "bị bắt phải nói dối để giữ mạng mình."

Các công tố viên sau đó buộc tội hắn với hai vụ sát hại Brown và Ross, nói rằng họ có bằng chứng vật lý không thể chối cãi, bao gồm dấu vân tay ở hiện trường và bản phân tích chữ viết tay.

Họ đưa ra mức án ba lần tù cả đời liên tiếp (tầm khoảng 210 năm, nếu tính đời người khoảng 70 năm) đổi lấy lời thú tội, hắn đồng ý dưới sự khuyên bảo của các luật sư.

Hắn nói rằng hắn làm như thế chỉ để tránh án tử hình nếu hắn ra tòa xét xử.

"Tôi thú nhận chỉ để sống".

Hắn nói.

Dù cho Heirens vẫn giữ sự vô tội của mình cho đến tận cuối đời nhưng nhiều người không thể quên được lời thú nhận đầy chi tiết của hắn, mặc dù sau đó Heirens đã rút lại lời nhận tội đấy.

Tiếp đó, các nhà điều tra kết nối các giả thuyết bệnh lý thúc đẩy Heirens phạm tội.

Có vẻ như Heirens chỉ tìm thấy xúc cảm tình dục thông qua các vụ trộm cắp.

Sau đó , hắn phát hiện ra giết trong trong lúc đột nhập khiến hắn hưng phấn hơn nữa.

Tuy vẫn còn nghi vấn Heirens có thể mắc chứng tâm phần phân liệt nhưng các công tố viên không đi theo hướng này bởi họ không thể mạo hiểm để rồi thua bởi lý do "hung thủ mắc tâm thần" nên đồng ý sẽ không đưa mức án tử hình.

Heirens tiếp tục khẳng định sự vô tội của mình, sống trong tù đến cuối đời và chết vì bệnh tiểu đường vào năm 2012.

Vụ án "Sát Nhân Son Môi" này cũng trở thành một vụ án gây tranh cãi bởi sự thiếu bằng chứng, hoặc bằng chứng bị vu cáo làm giả, thiếu tính chính xác (vết vân tay lưu lại hiện trường chỉ có 9 điểm xác nhận, trong khi theo luật FBI là phải có 12 điểm xác nhận thì mới được coi là trùng), việc dùng siro nói thật mà không thông báo cho gia đình, cũng như có sự đồng ý của Heirens.

Tuy nhiên việc lật lại vụ án gần như là không thể bởi nửa thế kỷ đã trôi qua, nhiều bằng chứng có thể được khoa học thời nay chứng thực đã biến mất, hoặc không còn hữu dụng.

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
Tội phạm hoang tưởng


iệc giết người, đối với người bình thường, dó là một tội lỗi.

Nhưng đối với bản thân kẻ giết người, đó có thể là một "sứ mệnh thiêng liêng".

Bài viết được trích và dịch từ Chương 6 của quyển sách Inside the Minds of Serial Killers: Why They Kill của tác giả Katherine Ramsland.

Bài viết có thể có từ ngữ, nội dung và hình ảnh gây khó chịu, vui lòng cân nhắc trước khi đọc.

Bài ca chết chóc

Từ tháng mười năm 1972 đến tháng hai năm 1973, một loạt vụ giết người xảy ra quanh Santa Cruz, California.

Nạn nhân bao gồm bốn người đi cắm trại (bị giết trong một vụ thảm sát tập thể), một linh mục, một người đàn ông đang đào đất trong vườn, một cô gái đi nhờ xe, một người quen và vợ, và một người mẹ với hai đứa con (cũng bị giết chung).

Cảnh sát bắt được hung thủ chỉ vài phút sau khi hắn đã giết nạn nhân thứ mười ba, hắn là Herbert Mullin (một số nguồn ghi là Mullen), 25 tuổi.

Không lâu sau người ta phát hiện hắn đã từng phải nhập viện năm 1969 vì cạo tóc và tự thiêu sau khi nghe những giọng nói nhưng đã được xuất viện.

Nhập viện và lại xuất viện, hắn trở thành kẻ lang thang.

Theo lời khai, hắn đã dừng sử dụng thuốc kháng thần và sau đó "nghe thấy" một giọng nói thôi thúc hắn giết người.

Hắn tin là trái đất "hiểu" tỉ lệ tử đang quá thấp và đang khơi mào thảm họa tự nhiên để khắc phục tình hình.

Vì vậy, nhiệm vụ được trao cho Mullin để cứu người dân California khỏi trận siêu động đất có khả năng phá hủy và nhấn chìm cả bang xuống biển. (Có lúc hắn gọi là "lục địa của tôi".) Hắn có thể làm điều này bằng cách tạo ra "thảm họa nhỏ".

Hắn quyết định "ca bài ca chết chóc" để thuyết phục mười ba người hoặc là tự sát, hoặc là chấp nhận làm vật hy sinh (hắn bảo họ nói chuyện với hắn bằng ngoại cảm).

Bằng một con dao, súng trường, súng lục, và gậy bóng chày, hắn tấn công nạn nhân một cách ngẫu nhiên cho đến khi bị cảnh sát bắt được.

Được chẩn đoán mắc bệnh tâm thần phân liệt hoang tưởng, hắn cho rằng mình vô tội với lý do rối loạn tâm thần.

Dù vậy, bồi thẩm đoàn phát hiện ra rằng hắn hoàn toàn tỉnh táo và buộc tội hắn hai điểm ở án giết người cấp độ một và tám điểm ở án giết người cấp độ hai (và một loại khác được thêm vào sau này).

Có rất nhiều kẻ giết người bị loạn tinh thần khi thực hiện hành vi giết người, nhưng hiếm khi tòa tuyên bố hắn vô tội vì lý do mất lý trí.

Điều này có thể thấy trong một số vụ án lo ngại bị cáo sau khi được thả có nên bị giam ở bệnh viện tâm thần.

Nhưng luật pháp cũng ghi nhận chứng loạn tâm thần, một chứng bệnh tâm lý, không nhất thiết biểu thị mất lý trí.

Một người có thể bị ảo tưởng khi gây án nhưng vẫn nhận thức được việc mình làm là sai.

Đó là lý do luật sư bào chữa ở cả hai bên đều dựa vào chuyên gia tâm lý để chứng minh bị cáo đang ở trạng thái tâm lý nào khi gây án.

Ý chí phạm tội (mens rea)

Hệ thống luật pháp dựa trên quan điểm con người là những tác nhân lý trí có thể tự do lựa chọn hành động trong đa số sự việc, và vì thế con người phải chịu trách nhiệm và có thể bị trừng phạt.

Tuy nhiên, chuyên gia tâm thần khẳng định rằng phần lớn hành vi còn người được quyết định bằng những yếu tố vượt ngoài khả năng điều khiển và nhận thức của họ.

Vì vậy, tội trạng có thể được giảm nhẹ ở một mức độ nào đó, chứ không phải hoàn toàn.

Mặc dù một người có thể có khách quan tội phạm (actus reus - hành động gây án) họ có thể không sở hữu ý chí phạm tội (mens rea - khả năng có ý định gây án, thừa nhận sai lầm, và biết trước kết cục).

Cả hai điều kiện đều cần thiết để quyết định một người có chịu trách nhiệm hình sự hay không.

Hướng điều tra chủ chốt trong vụ án có liên quan đến rối loạn tâm thần là xác định trạng thái tâm thần của bị cáo tại thời điểm xảy ra vụ án và chứng bệnh tâm thần đó có liên hệ đến hành vi gây án hay không.

Quan điểm này có từ thời Hy Lạp, nhưng chính xác hơn, thuật ngữ bị cáo rối loạn tâm thần của Mỹ xuất phát từ một vụ án ở Anh năm 1843.

Daniel M'Naghten cảm thấy mình bị quấy rối bởi những điệp viên tưởng tượng và để trả đòn phủ đầu, hắn bắn chết thư ký của Thủ tướng (nhầm tưởng đó là Thủ tướng).

Hắn có ý định giết người, nhưng nhận thức của hắn bị hư hỏng nặng đến nỗi tòa phán quyết hắn không biết rằng mình đã làm sai.

Đáp trả dư luận dậy sóng, hội đồng hoàng gia xem xét lại vụ án và lập ra tiêu chuẩn để đánh giá bị cáo có mất lý trí hay không: "tại thời điểm gây án, bị cáo chịu ảnh hưởng của một căn bệnh tâm thần, và không biết bản chất và ý nghĩa của việc mình đang làm, hoặc bị cáo biết việc mình đang làm, nhưng lại không nhận thức được việc đó là sai."

Bệnh tật và khuyết tật đã cướp đi năng lực tự do lựa chọn của một người, và sự trừng trị của pháp luật là không đủ để họ cảm thấy đắn đo.

Tại Mỹ, nhiều năm liền có những cải tổ, bao gồm việc thêm lưu ý rằng dù một người có thể nhận thức được tính chất phạm tội của hành vi, họ vẫn bị thúc ép thực hiện hành vi ấy.

Nói cách khác, một người có thể có sự điều khiển sai lệch đối với hành động của mình, điều này có khả năng là do những chứng bệnh tâm lý nhất định.

Một số kẻ giết người hàng loạt được bào chữa là hoặc không có khả năng nhận thức hành động sai trái, hoặc không có khả năng điều khiển hành vi.

Các chứng rối loạn nhất định thường dẫn đến mất chức năng hoạt động.

Trước khi mô tả chúng, hãy so sánh một vụ án được phán là bị cáo bị mất lý trí với một số vụ khác bị cáo không thể thoát tội.

Dị thường

Khi cảnh sát đến một nông trại 195 mẫu bên ngoài Plainfield, Wisconsin vào năm 1957 để nói chuyện với người độc thân lập dị Edward Gein vì nghi ngờ dính líu đến một vụ cướp, hắn không có nhà.

Họ nhìn xung quanh và vào nhà bếp ngoài trời, thấy một cái xác mặc đồ được treo lên trần.

Khi nhìn kỹ hơn, họ rất sốc khi phát hiện đó là một thi thể phụ nữ không đầu, bị rút nội tạng, treo ngược.

Họ tự hỏi liệu người đã chết này có phải là người bán hàng bị mất tích tên Bernice Worden.

Họ cũng nghĩ tới ba năm trước có người mất tích tên Mary Hogan, bị bắn và mang đi.

Bên trong nhà, họ phát hiện một cảnh tượng kinh tởm: đệm ghế được làm bằng da người, một hộp chứa bảo quản bộ phận sinh dục nữ, một hộp khác chứa bốn cái mũi phụ nữ, một dây nịt được làm bằng núm vú, một quả tim trong cái túi gần lò nướng, hộp sọ từ một số đầu lâu, ruột trong tủ lạnh, mặt nạ người chết từ chín phụ nữ được bảo quản, một bộ da phụ nữ đầy đủ có cả bộ phận sinh dục, một khuôn mặt có da đầu tóc đen (sau đó được xác định là của Mary Hogan), đầu của Worden ở giữa hai tấm nệm, và một đôi môi treo trên sợi dây.

Khi mọi thứ đã được thu thập, có thể thấy Gein, một người sống ẩn dật có vẻ vô hại, cất giữ bộ phận cơ thể của ít nhất mười lăm phụ nữ trong nhà hắn.

Hắn cũng làm phòng ngủ của người mẹ quá cố thành một miếu thờ được bảo quản hoàn hảo để tưởng nhớ bà.

Khi bị thẩm tra, Gein sẵn sàng thừa nhận trộm bộ phận cơ thể của xác phụ nữ mới chết từ nghĩa trang suốt mười năm.

Hắn cũng đã giết Bernice Worden và Mary Hogan, vì họ có kích thước phù hợp mà hắn cần để làm bộ áo da người (hắn mặc nó để nhảy múa dưới ánh trăng).

Hắn có vẻ không nhận thức được việc mình làm là sai.

Vụ án kỳ dị này thu hút truyền thông quốc tế, nhất là những ai nghiên cứu tâm lý học tội phạm, và họ cho rằng Gein được nuôi dạy bởi một người mẹ áp bức, đạo đức chủ nghĩa, giờ bà đã chết, sau khi người bố rượu chè và anh trai của hắn chết vài năm trước đó.

Bà đã dạy hắn rằng tình dục là một thứ đồi trụy và hư hỏng, "gây ra" sự thiếu cân bằng tâm lý.

Vì vậy, hắn trở nên mơ hồ đối với tình dục.

Hắn thích đọc sách về giải phẫu người, ăn thịt người, và thí nghiệm Nazi, dùng những cái đầu bị teo để trang trí căn nhà của mình (hắn còn cho trẻ em xem nữa).

Tại phiên điều trần năm 1958, Gein được phán mắc bệnh tâm thần và được đưa vào viện tâm thần vô thời hạn.

Mười hai năm trôi qua và hắn được định là đủ khả năng trình tòa vì tội giết Bernice Worden.

Thẩm phán Robert Gollmar phán hắn có tội với tội danh giết người cấp độ một, nhưng trong giai đoạn chịu tội, Gein lại được phán vô tội vì lý do mất lý trí và phải nhập viện lần nữa.

Năm 1974, hắn trình kiến nghị, cho rằng mình đã bình phục và cần được thả tự do.

Kiến nghị của hắn bị bác bỏ.

Hắn chết vì suy hô hấp năm 1984 và được chôn bên cạnh mẹ mình.

Peter William Sutcliffe thì không may mắn như vậy.

Hắn bị bắt năm 1981 sau sáu năm điều tra ở Anh vì tội giết người dưới cái tên "the Yorkshire Ripper" (Kẻ đồ tể xứ Yorkshire).

Vụ án bắt đầu từ những cô gái mại dâm, với những bức thư ký tên "Jack the Ripper" được gửi đến cảnh sát, cùng lời lẽ khiêu khích tương tự.

Nhưng những vụ giết người này còn tàn bạo hơn của Red Jack, và ít thường xuyên hơn.

Một xác phụ nữ được phát hiện ở Leeds năm 1975 bị đập vào đầu đến chết bằng búa, và bị đâm khắp cổ, ngực, và bộ phận sinh dục mười bốn lần.

Một nạn nhân khác được tìm thấy vào ba tháng sau, nhưng phải mất một năm sau thì hắn mới tiếp tục thực hiện bảy vụ giết người trong vòng mười lăm tháng.

Tất cả đều bị đánh bằng dùi cui và bị chém.

Ở một số vụ, hung thủ cắt xẻ bộ phận sinh dục của nạn nhân, ban đầu nạn nhân là gái mại dâm, nhưng phạm vi nhanh chóng lan rộng ra nữ nhân viên và sinh viên đại học.

The Ripper cũng chuyển sang dùng tuốc nơ vít, đâm vào mắt nạn nhân.

Có những người sống sót nhưng phải chịu biến dạng cực độ.

Khi được lấy lời khai bởi cảnh sát vì nghi ngờ chèo kéo gái mại dâm, Peter Sutcliffe, 35 tuổi, đã kết hôn, và từng là nhân viên nhà xác, có một cái búa đầu tròn và hai con dao (hắn đã cố giấu chúng trong bụi cỏ).

Khi bị thẩm tra bởi Tổ điều tra Vụ án the Ripper, trong vòng mười sáu tiếng hắn thừa nhận thực hiện hai mươi vụ tấn công đâm chém và mười ba vụ giết người.

Trong xe tải của hắn, cảnh sát tìm thấy một tờ ghi chú: "Trong xe tải này là một người đàn ông có tài năng thiên phú tiềm ẩn có thể gây chấn động cả đất nước, có năng lực sục sôi có thể lấn át những ai xung quanh."

"Tinh tiết giảm nhẹ án" của hắn dựa trên lời khai rằng giọng nói của Chúa phát ra từ một ngôi mộ mà hắn đào ra lệnh cho hắn phải giết gái mại dâm: Hắn có một "nhiệm vụ thiêng liêng" (và cả một lịch trình trả thù vì bị một người phản bội).

Cả hai bên đều đồng tình rằng hắn mắc chứng tâm thần phân liệt hoang tưởng, nhưng tòa vẫn cho rằng hắn hoàn toàn tỉnh táo khi tấn công nạn nhân.

Hắn bị khép tội giết người và nhận mức án tù chung thân.

[...]

Rối loạn tâm thần

Bệnh tâm thần cực độ bao gồm những cảm xúc, hành vi, suy nghĩ, niềm tin kỳ dị và nhiễu loạn có thể gây ảnh hưởng đến khả năng hoạt động của một người trong công việc và các mối quan hệ, thường sẽ cô lập người đó.

Ở các dạng nghiêm trọng, nó có thể khiến một người trở nên nguy hiểm đối với người khác và/hoặc với chính bản thân họ.

Từ giữa thế kỷ mười chín, tâm thần học đã cố gắng phân loại bệnh tâm thần ở từng người, và điều này đã được chính thức hóa ở một số văn bản [...].

Chứng rối loạn tâm thần thường thấy nhất, tâm thần phân liệt (schizophrenia), được xác định dựa trên sự lẫn lộn giữa suy nghĩ và lời nói, đôi lúc trở nên mãn tính.

Chứng bệnh này xảy ra đồng đều giữa nam và nữ, và thường là ở độ tuổi mười lăm đến ba mươi lăm.

Nghiên cứu cho thấy yếu tố di truyền có ảnh hưởng, một người được di truyền khuynh hướng mắc bệnh có thể bị kích hoạt bởi tác động bên ngoài.

Tâm thần phân liệt thường khiến người bệnh bị ảo tưởng làm nhiễu loạn thực tế của họ.

Ví dụ, "Railway Killer" (Kẻ giết người trên đường tàu) Angel Maturino Resendez, 40 tuổi, cho rằng nhiệm vụ của hắn là cưỡng hiếp và giết chín người ở ba bang, vì họ độc ác.

Resendez cũng tin là hắn có thể đi lại khi đang ngủ, trở nên vô hình, và thay đổi khí hậu.

Hắn nghĩ rằng lý do hắn trốn được cảnh sát trong hai năm là nhờ tốc độ siêu nhiên của mình và sự bảo hộ của Chúa.

Hắn bảo chó dò tìm của cảnh sát không muốn chạm trán "thiên thần sói-hổ với diện mạo của một con khủng long".

Bồi thẩm đoàn bác bỏ lời biện hộ mất lý trí của hắn và hắn bị khép tội giết người cấp độ một.

Nghiên cứu cho rằng nguyên nhân của tâm thần phân liệt là dị biệt về hóa học hoặc cấu trúc của não bộ.

Những triệu chứng ban đầu bao gồm cảm giác căng thẳng, rối loạn giấc ngủ, và mất đi hứng thú.

Ở giai đoạn tồi tệ nhất, con người trải qua ảo tưởng, ảo giác, và rối loạn ngôn ngữ.

Một số người mắc bệnh sẽ phát triển khuynh hướng bạo lực, đặc biệt là những ai trải qua ảo giác mệnh lệnh như Mullen và Sutcliffe đã khai.

Tâm thần phân liệt là chứng bệnh suốt đời chưa có thuốc chữa.

Thuốc kháng thần có thể giúp ổn định hóa học não bộ, nhưng phải được sử dụng dưới sự giám sát chặt chẽ.

Có rất nhiều vụ án mà hung thủ đã dừng thuốc.

Trên thực tế, một số người mắc bệnh tâm thần phân liệt được cho là đủ khả năng thực hiện một số giai đoạn của quá trình phạm tội, bao gồm tự bào chữa.

Colin Ferguson, hung thủ của vụ giết người tập thể vào một buổi chiều ở giờ cao điểm tại đường sắt Long Island, là một ví dụ.

Một người khác, dù không đến mức độ đó những vẫn muốn tự bào chữa là "Unabomber" Theodore John Kaczynski, người đã giết ba người và làm bị thương hơn hai mươi người khác bằng một loại vụ đánh bom bằng thư từ.

Hắn cũng viết một bản tuyên ngôn dài 35,000 chữ chống lại thế giới hiện đại và bị bắt vào năm 1996.

[...]

Một dạng rối loạn tâm thần khác là rối loạn xúc động lưỡng cực (bipolar affective disorder), từng được biết đến với cái tên rối loạn hưng cảm-trầm cảm (manic-depressive disorder).

Đó là chứng rối loạn tuần hoàn dựa trên những thay đổi tâm trạng đột ngột từ hưng cảm sang trầm cảm, và người bệnh có thể có những giai đoạn cảm xúc mạnh và năng lượng cao khiến họ cảm thấy siêu nhiên.

Họ đi không ngơi nghỉ suốt một quãng thời gian dài, có những suy nghĩ lớn lao, và có thể hoàn thành khối lượng công việc lớn.

Tuy nhiên, họ sẽ ngay lập tức chuyển sang trạng thái trầm cảm nghiêm trọng, đôi lúc còn kèm theo ảo giác và ý nghĩ tự tử.

Có thể họ nghe thấy những giọng nói ở một trong hai giai đoạn, nhưng ở khoảng giữa hai giai đoạn, họ cảm thấy bình thường.

Là người khác làm

Trong giới chuyên gia sức khỏe tâm thần, việc chẩn đoán chứng rối loạn đa nhân cách (dissociative identity disorder - DID) được ghi trong quyển DSM-IV thay cho tên gọi cũ trước năm 1994 (multiple personality disorder - MPD).

Căn bệnh này thường bị nhầm lẫn với tâm thần phân liệt vì có nhân cách bị chia cắt.

Ý nghĩa của DID là một người bị phân chia thành nhiều nhân cách khác nhau và hai hoặc nhiều hơn hai nhân cách phụ cùng chia sẻ một cơ thể, mỗi nhân cách có một danh tính riêng và thay phiên điều khiển tính cách và hành vi.

Người ta tin rằng đây là kết quả của một chấn thương tâm lý (ngay cả điều này vẫn còn đang được tranh luận), như là lạm dụng tình dục, và thường phát sinh trước năm tuổi.

Ở một mức độ nào đó, như một số chuyên gia đã viết, "nhân cách thay thế" trỗi dậy để bảo vệ "nhân cách cốt lõi" trước những cảm xúc quá mãnh liệt.

Một số nhân cách thay thế xuất hiện để hình thành những động lực bị cấm.

Trong những năm 1980 và đầu những năm 1990, DID là một phương pháp trị liệu để đối phó với những ký ức bị kìm nén.

Chuyên gia chỉ ra rằng ký ức chấn thương không được ghi nhớ vẫn còn có năng lượng để bộc phát thành các triệu chứng như trầm cảm, tê dại, đa cảm, và phản ứng với những kích thích nhất định từ môi trường có thể chạm đến ký ức đó.

Đôi lúc còn có cả những hồi tưởng mơ hồ.

Những người này có thể "thoát xác", mất liên hệ với thực tế, bỏ qua những nỗi đau thể xác, và chịu đựng một cơn hoảng loạn bất ngờ.

Họ cũng sẽ mắc phải rối loạn ăn uống và một số thói nghiện ngập, và ngược đãi người khác hoặc chính bản thân họ.

Nhìn chung, họ gặp vấn đề với chuyện tình cảm và có thể bị rối loạn tình dục và rối loạn giấc ngủ.

Mặc dù tính xác thực của DID vẫn còn gây tranh cãi, rất nhiều tội phạm đã nhìn ra tiềm năng giảm nhẹ tội, và có khi còn thoát được tội.

Một số kẻ giết người hàng loạt cho rằng mình có một nhân cách khác trong cơ thể để trốn tránh trách nhiệm.

Ví dụ, John Wayne Gacy, người đã giết ba mươi ba chàng trai trẻ dưới tên "Jack Hanley", một nhân cách thay thế.

Sau khi nhận tội và vẽ bản đồ tầng hầm bên dưới căn nhà nơi cất giấu hơn hai mươi nạn nhân, hắn "thoát xác" và giả vờ rằng Hanley đã thực sự vẽ bản đồ.

Tuy nhiên, mánh khóe này không thành công và hắn nhanh chóng phải từ bỏ, dựa trên một chẩn đoán tâm thần - ngất xỉu khi uống rượu tạo điều kiện cho một "động lực không thể cưỡng lại" mỗi lần hắn giết người.

Điều này cũng không mang lại kết quả tốt đẹp cho hắn.

Nhắc đến việc làm giả một nhân cách "xấu" khiến hắn giết người, kẻ sát nhân thường được liên hệ nhất là Kenneth Bianchi, thành viên của một nhóm tên là "Hillside Stranglers" (Những kẻ bóp cổ bên sườn đồi).

Họ bắt đầu hành động ở Los Angeles vào năm 1977, và trong một vài tháng, chín phụ nữ bị sát hại và vứt xác dọc theo lòng đường bên sườn đồi.

Nhân chứng đã nhìn thấy hai người đàn ông cùng với một nạn nhân, nghĩa là có nhiều hơn một hung thủ gây án.

Người phụ nữ thứ mười bị bỏ bên trong cốp xe của cô, nhưng phải đến vụ án chết hai mạng người ở Bellevue, Washington, cảnh sát mới có đầy đủ đầu mối dẫn hướng điều tra đến Kenneth Bianchi và em họ của hắn, Angelo Buono.

Khi Bianchi ngồi tù, luật sư bào chữa của hắn nhờ bác sĩ tâm thần John Watkins khám cho hắn.

Watkins cho Bianchi vào trạng thái thôi miên, khiến hắn thừa nhận gây ra các vụ giết người và khai ra em họ mình, rồi hắn cho rằng mình bị MPD.

Vì hắn giết người dưới tên "Steve Walker", hắn không có khả năng hầu tòa.

Ba chuyên gia khác cũng bị thuyết phục với trường hợp của Bianchi.

Bên công tố đã thuê chuyên gia riêng, bác sĩ Martin Orne, người biết rằng cảnh sát đã điều tra ra "Steve Walker" là tên của một sinh viên đại học mà Bianchi đã trộm danh tính để làm giả quá trình chẩn đoán.

Để bẫy hắn, bác sĩ Orne nghĩ ra một kế: ông nói với Bianchi rằng đa số người mắc MPD có nhiều hơn hai nhân cách, và không lâu sau "Billy" xuất hiện.

Bianchi cũng giả vờ chạm vào một người giả tưởng không có ở đó, nhưng ảo giác không phải là một triệu chứng, và cơ quan thẩm quyền đã biết rằng Bianchi đang diễn kịch.

Dưới sức ép, hắn thừa nhận lừa gạt cảnh sát.

Điều này tạo điều kiện cho công tố khép tội hắn với bảy vụ giết người và buộc tội em họ hắn.

Năm 1983, tòa kết tội Buono với chín vụ giết người với chín bản án tù chung thân.

Một vấn đề đã nảy sinh tại phiên tòa của Arthur Shawcross, kẻ bị truy tố giết mười phụ nữ ở Rochester, New York, từ 1988 đến 1989.

Dù hắn đã thú nhận chi tiết, luật sư bào chữa vẫn biện hộ hắn "vô tội vì lý do mất lý trí".

Để được coi là mất lý trí ở bang New York, Shawcross phải chứng minh tại thời điểm gây án, hắn chịu phải một căn bệnh hoặc tổn thương tâm thần khiến hắn hoặc không biết mình đang làm gì, hoặc không nhận thức được việc mình làm là sai.

Luật sư bào chữa thuê bác sĩ Dorothy Lewis, bác sĩ tâm thần và là chuyên gia về ảnh hưởng của các chứng rối loạn lên hành vi bạo lực.

Lewis tin rằng Shawcross gặp chấn thương tâm lý vô cùng nghiêm trọng khi còn bé và mắc chứng động kinh thùy thái dương chưa hoàn thiện làm chặn ký ức.

Những cơn động kinh chỉ xảy ra dưới những tình cảnh đặc biệt, như là khi hắn ở một mình với gái mại dâm vào ban đêm.

Shawcross hỗ trợ bà bằng cách chấp nhận thôi miên, và bà đã quay phim lại để đưa ra trước tòa.

Lewis rất tức giận khi tổ bào chữa không thể lấy được bản quét não mà bà cần để chứng minh vụ án dưới góc độ thần kinh học.

Bà cũng không biết rằng một chuyên gia biện hộ khác cũng đã thẩm tra Shawcross cùng lúc đó - điều này có thể đã ảnh hưởng đến những gì Shawcross nói với bà.

Vì thế, hy vọng sử dụng hắn làm ví dụ cho lý luận của bà trở nên rắc rối.

Bác sĩ Park Dietz, bên công tố, cho rằng Shawcross mắc chứng rối loạn nhân cách phản xã hội (antisocial personality disorder), không được coi là rối loạn hay tổn thương tâm thần gây cản trở nhận thức.

Hắn nhớ đầy đủ các vụ án của mình để cung cấp chi tiết và đầu mối cho cảnh sát tìm ra hai nạn nhân nữa.

Hắn cũng đã cố gắng tránh né điều tra và tránh vây bắt, vì vậy hắn biết điều hắn làm là sai và có thể khiến hắn bị bắt giam.

Trên thực tế, hắn đã từng ngồi tù vì tội giết người tình dục.

Kết thúc phiên tòa dài năm tuần, thầm phán ra quyết định Shawcross hoàn toàn tỉnh táo và khép tội hắn với mười điểm tội giết người cấp độ ha.

Hắn nhận mười bản án hai mươi năm tù đến tù chung thân.

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
Những vụ án giết người vì phim ảnh


Những tiếng thét

Trong bộ phim Scream (Tiếng thét) của đạo diễn Wes Craven có một nhân vật mang mặt nạ trắng dài với đôi mắt rỗng và áo choàng đen, rất phổ biến trong những dịp hóa trang Halloween.

Được công chiếu vào năm 1996, bộ phim châm biếm rất nhiều phim kinh dị đâm chém trong quá khứ, với nội dung xoay quanh một cô gái thiếu niên trở thành mục tiêu của một kẻ giết người điên loạn (Ghostface), cô phải tìm hiểu những bí mật trong thị trấn nơi mình ở để giải cứu bản thân.

Nhưng ngay cả hình thức châm biếm cũng có thể kích thích những tâm hồn lệch lạc bắt chước theo.

Mọi hành động đều được thể hiện trên phim.

Scream mở đường cho hai bộ phim phần tiếp theo rất ăn khách, và cũng khơi nguồn cảm hứng cho tội phạm.

Trong vòng ba đến bốn năm sau khi bộ phim được công chiếu, rất nhiều thanh thiếu niên được truyền cảm hứng giết người: một cậu trai và em họ của cậu ở Los Angeles bị ám ảnh bởi bộ phim và đã giết chết mẹ của mình với 45 nhát đâm, một người đàn ông đeo mặt nạ bắn chết một phụ nữ ở Florida, một cậu bé ở Pháp đã giết ba mẹ của mình khi đang đóng giả Ghostface, và ở Anh, hai bé trai liên tục đâm một bé trai khác, bảo rằng bộ phim đã thôi thúc chúng làm điều này.

Daniel Gill, 14 tuổi, và Robert Fuller, 15 tuổi, đến từ Bắc Yorkshire, bị kết tội vào ngày 22 tháng 10 năm 1999 vì tội cố ý giết Ashley Murray và bị xử phạt ở trại cải tạo trong sáu năm.

Chúng đâm Murray mười tám lần và bỏ mặc cho nạn nhân chết, nhưng một ngày rưỡi sau đó có một người đàn ông dắt chó đi dạo tìm thấy cậu và cậu đã được bình phục.

Ngay trước cuộc tấn công, hai cậu bé đã xem phim Scream ở nhà của một tay buôn ma túy, người đã cho chúng xem những món đồ liên quan đến tâm linh và vũ khí, và nằng nặc bảo rằng thần linh muốn Murray chết.

Hai cậu bé được bào chữa rằng điều này đã làm mờ đi ranh giới giữa hư và thực, cũng như ranh giới giữa đúng và sai.

Theo BBC, trong sách học của một trong hai cậu bé có những hình vẽ Ghostface và những con dao.

Nhưng chúng là bạn của Murray, và ngay cả cậu bé cũng thừa nhận rằng bộ phim đã điều khiển hành vi của chúng.

Đó là lời khai cậu bé trình bày với cảnh sát.

Cậu kể rằng chúng dụ cậu đến một chỗ hoang vắng, rồi Gill liên tục đâm vào má và đầu của cậu.

Fuller giữ người cậu và đâm vào tay.

Chỉ khi Murray giả vờ chết thì hai đứa bé kia mới bỏ đi, nhưng lúc ấy cậu bé cũng bị thương quá nặng nên không thể tự mình đến bệnh viện.

Fuller tố cáo Gill mới là kẻ đầu têu, trong khi Gill ban đầu không chịu thừa nhận điều mà sau này cậu mới chịu khai là tên buôn ma túy đã cho cậu bé dùng ma túy và xúi giục cậu giết Murray.

Cậu đã tin đó là một mệnh lệnh siêu nhiên.

Dù có vẻ đúng là một số người đắm chìm vào phim ảnh kinh dị sẽ cảm thấy bị kích thích thực hiện hành vi phạm tội tàn nhẫn mà họ vừa xem, nhưng trên thực tế vẫn không có chứng cứ xác thực về nguyên nhân dẫn đến điều này, và có hàng triệu người khác cũng xem những bộ phim ấy mà không bị ảnh hưởng.

Một số người chuyển hóa những hình ảnh bên ngoài thành những hành vi công kích, số khác cảm thấy hưng phấn, và vẫn có một số khác không hề bị ảnh hưởng gì.

Một số ít còn trở thành nhà sản xuất phim kinh dị hay nhà văn.

Không dễ để biết một bộ phim có thể gây ra ảnh hưởng gì.

Dù kết quả có ra sao, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng vấn đề nằm ở người xem nhiều hơn là ở bộ phim.

Bạo lực và não bộ

Trong ấn phẩm tháng 12 năm 2006 của Scientific American Mind, Daniel Strueber, Monica Luek và Gerhard Roth viết về dự án mới nhất của các nhà nghiên cứu não bộ về chủ đề bạo lực.

Họ tập trung chủ yếu vào những kẻ tâm thần không có chút trắc ẩn với nạn nhân hay hối hận sau khi gây án.

Họ vạch kế hoạch và giết người mà không theo trình tự nào cả.

Kết quả là "bạo lực không bao giờ phát sinh từ một nguyên do", mà là từ nhiều yếu tố rủi ro kết hợp lại.

Debra Niehoff, nhà thần kinh học, có nhắc đến điều này trong quyển sách của mình, The Biology of Violence (Bạo lực dưới góc nhìn sinh học), xuất bản năm 1999, sau hai mươi năm nghiên cứu.

Cụ thể, bà muốn biết liệu bạo lực có phải là kết quả của các gen hay chủ yếu là do ảnh hưởng bởi môi trường.

Theo quan niệm của bà, cả những yếu tố sinh học lẫn môi trường đều có liên quan, và chúng tương tác lẫn nhau khiến việc giải quyết một tình huống theo hướng bao lực ở mỗi người mỗi khác.

Nói cách khác, một dạng kích thích giống như phim ảnh sẽ không khơi mào bạo lực với tất cả những người xem.

Cùng xem một bộ phim, người này có thể có phản ứng, nhưng người kia có thể hoàn toàn không bị ảnh hưởng.

Lý giải cho điều này, Niehoff nói, rằng não bộ lưu giữ những trải nghiệm thông qua những bộ mã hóa học.

Khi ta tương tác với một người ta chưa gặp bao giờ, ta sẽ có một sơ lược phác thảo về người đó dưới dạng hóa học thần kinh, dựa trên thái độ của bản thân ta đối với việc thế giới có an toàn hay không, con người có đáng tin hay không, và ta có tin vào trực giác hay không.

Cách ta cảm nhận về những điều này tạo ra phản ứng cảm xúc nhất định và phản ứng hóa học của những cảm xúc ấy được chuyển thành phản ứng của chính chúng ta.

"Và rồi người đó phản ứng lại chúng ta," Niehoff nói, "và phản ứng cảm xúc của chúng ta cũng sẽ phần nào thay đổi phản ứng hóa học não bộ.

Vậy nên sau mỗi lần tương tác, chúng ta cập nhật lại phác thảo hóa thần kinh về thế giới."

Theo đó, Strueber và đồng nghiệp tập trung vào những trải nghiệm tiêu cực mà con người ta có.

Những yếu tố rủi ro bao gồm khuynh hướng di truyền, tuổi thơ bất hạnh, và những kỷ niệm tiêu cực khác, khi chúng tương tác thì sẽ càng trở nên trầm trọng.

Là nam giới cũng là một yếu tố rủi ro, vì nam giới có hình mẫu bạo lực và ở vỏ não trước có những dị biệt làm tăng xung lực.

Những người có mức rủi ro cao còn có thể ít có khả năng chịu đựng đả kích và không thể học được những nguyên tắc xã hội.

Ở nam giới, nồng độ testosterone cao cũng có liên hệ đến bạo lực. (Một nghiên cứu cho thấy ở phụ nữ bạo lực cũng có đặc điểm này.) Thêm vào đó, một số chấn thương đầu có thể khiến con người trở nên bạo lực.

Có một nghiên cứu khác thú vị hơn nhưng với số lượng nhỏ và chỉ trên nam giới được thực hiện bởi Tiến sĩ Adrian Raine và đồng nghiệp tại Đại học Nam California, so sánh 23 kẻ giết người tâm thần đã bị bắt với 13 kẻ giết người tâm thần vẫn còn tự do.

Với giả thuyết đặt ra là những kẻ chưa bị bắt giỏi lên kế hoạch giết người hơn, quét MRI cho thấy "những kẻ giết người thành công" có nhiều chất xám ở vỏ não trước hơn những kẻ đã bị bắt.

Ngoài ra, những kẻ giết người không thành công có hồi hải mã không đối xứng.

Một số nhà nghiên cứu khác chỉ ra những dị thường ở hạch hạnh nhân cũng có liên quan đến khả năng cảm nhận được (hoặc không cảm nhận được) lòng trắc ẩn ở người.

Sự cân bằng hóa học thần kinh cũng có vai trò trong vấn đề này, và bị ảnh hưởng bởi sự kết hợp giữa di truyền và môi trường.

Có thể nói rằng trong những nền văn hóa dung túng và có khi là khuyến khích phim ảnh bạo lực, vẫn tồn tại một khuynh hướng khiến giới trẻ và những người có bệnh tâm thần bị ảnh hưởng dẫn đến việc họ thực hiện những gì mình trông thấy.

Nếu những lựa chọn để giải quyết xung đột bị bó hẹp lại quanh bạo lực, họ sẽ dần dần trở nên bạo lực.

Một số nhà nghiên cứu ước lượng rằng khi một đứa trẻ lên mười tám tuổi, cậu bé hay cô bé đó đã xem khoảng 100,000 hình ảnh bạo lực trên TV, phim hoặc trò chơi điện tử.

Rất ngớ ngẩn nếu tin rằng chừng đó không hề có một chút ảnh hưởng nào.

Trong The Copycat Effect (Hiệu ứng bắt chước), Loren Coleman nói rằng bất kỳ hình thức truyền thông thị giác nào có nội dung là một vụ giết người đều có thể phát sinh ra hành vi bắt chước.

Những vụ án tương tự như thế sẽ diễn ra vào một vài tuần sau đó.

Chúng ta sẽ đề cập đến hành vi bắt chước ở phần sau.

Tâm thần Ma trận

Một trong những bộ phim được nhắc đến nhiều nhất trên phiên tòa án mạng những năm gần đây là The Matrix (Ma trận), công chiếu năm 1999 (với hai phần nối tiếp), nam diễn viên chính là Keanu Reeves trong vai "Neo".

Nhân vật chính lạc vào một thế giới khác sau khi bị "bất tỉnh" trong một thực tế ảo được tạo bởi máy tính, và ở đây anh bị những kẻ giết người truy đuổi.

Anh phải dùng đến rất nhiều món võ và bạo lực để giải cứu thế giới.

Tất cả những gì anh từng tin tưởng đều trở nên sai trái khi anh được chỉ định làm người hùng và biết được siêu năng lực bí mật của mình.

Những điều Neo làm phục vụ cho mục đich cao cả hơn, cũng khiến cho những bạo lực của anh trở nên đúng đắn.

Nhưng đó chỉ là phim thôi.

Hay có đúng là vậy không?

Một số bị cáo đã tin rằng họ đang ở trong ma trận và việc giết người là lẽ phải.

Nhiều người tin rằng Dylan Klebold và Eric Harris, hai kẻ giết người của trường trung học Columbine năm 1999, lấy cảm hứng từ bộ phim ấy, nhưng không như những trường hợp khác, họ không sống sót để nói rõ điều này.

Nhưng có một điều là họ mặc áo khoác dài màu đen như Neo.

Một người trong nhóm Bắn tỉa vùng vành đai năm 2002, Lee Boyd Malvo, rất cuồng bộ phim này.

Trong tù hắn đã ghi lại bộ phim này rất nhiều lần, và còn nằng nặc bảo rằng con người phải thoát khỏi Ma trận.

Theo lời kể của Mark Shone trên Boston Globe, hắn bảo FBI xem bộ phim nếu như muốn hiểu tâm lý hắn hoạt động ra sao.

Ở San Francisco, Vadim Mieseges, 27 tuổi, đã giết và chặt chân tay của bà chủ nhà.

Khi bị bắt, hắn bảo rằng mình bị "hút" vào Ma trận.

Hắn là một học sinh trao đổi người Thụy Điển, đã thừa nhận lột da nạn nhân và vứt nửa thân trên của nạn nhân ở bãi rác vì hắn cảm nhận được "mùi độc ác" tỏa ra từ bà.

Vì hắn được chẩn đoán mắc bệnh tâm thần, vụ án không được đưa ra tòa.

Lời bào chữa vì chứng loạn tinh thần của hắn được chấp nhận.

Ở Ohio, Tonda Lynn Ansley cũng tấn công bà chủ nhà của mình như trong vụ án trên, nhưng lại khăng khăng rằng mình không thực sự làm điều đó: đó chỉ là một giấc mơ.

Bà cũng tấn công ba người khác để giải thoát chính mình vì cho rằng họ đang điều khiển tâm trí bà.

Lời bào chữa vì chứng loạn tinh thần của bà cũng được chấp nhận.

Tờ Boston Globe lên danh sách những người cho rằng The Matrix đã thôi thúc họ giết người trong năm 2003.

Có một vụ án ở Virginia, Joe Cook, 19 tuổi, cho rằng hắn không nhận thức được mình đang làm gì khi ăn mặc như Neo, cầm chiếc súng săn 12 gauge (hắn mua nó vì nó trông giống cây súng trong phim), và bắn chết bố mẹ nuôi của mình.

Luật sư của Cooke ban đầu muốn dùng chứng loạn thần kinh để bào chữa nhưng sau đó từ bỏ.

Hắn quyết định nhận trách nhiệm.

Thế nhưng trong hồ sơ hộ sinh thì bố mẹ ruột của hắn được chẩn đoán mắc chứng tâm thần phân liệt hoang tưởng.

Kiểm tra cho thấy hắn có thể bị ảnh hưởng bởi ý nghĩ rằng mình đang ở trong một thế giới ảo, và yếu tố di truyền biến chúng thành nhận thức về thực tế.

Thêm vào đó, thói quen chơi trò chơi điện tử bạo lực nhiều giờ liền trong một ngày cũng góp phần không nhỏ, cũng như việc hắn bị bắt nạt khi còn bé và nhiều cảm xúc dồn nén ứ đọng cho đến khi hắn nổ tung.

Cuối cùng, hắn nhận mức án bốn mươi năm tù.

Nguồn cảm hứng

Có rất nhiều vụ trọng án bị ảnh hưởng bởi nội dung và cảnh quay trong phim, nhưng bộ phim tác động đến hệ thống luật pháp trên khắp cả nước, và được trình chiếu tại tòa, là Taxi Driver (Tài xế taxi), công chiếu vào năm 1976.

John Hinkley Jr bị ám ảnh bởi bộ phim, cụ thể là với nữ diễn viên trẻ đóng vai chính tên Jodie Foster.

Hắn đọc tiểu thuyết và xem đi xem lại bộ phim rất nhiều lần, coi đó như lời chỉ dẫn cho những hành động của mình.

Robert DeNiro đóng vai Travis Bickle, một tài xế taxi bệnh hoạn quyết định ám sát ứng viên tổng thống để thu hút sự chú ý của một nữ chính trị gia mà hắn để mắt đến.

Tuy nhiên, hắn thất bại và quen biết với một gái mại dâm tên Iris (Jodie Foster).

Hắn giết ba mạng người để giải cứu cô và trở thành người hùng của cô, bằng bạo lực tội phạm.

Hinkley, một nhạc sĩ thất bại và tơ tưởng trong đầu một cô bạn gái tưởng tượng, bị ấn tượng bởi những tình tiết này, và để thu hút sự chú ý của Jodie Foster (hắn đã bám đuôi cô đến tận Yale), hắn theo dõi Tổng thống Jimmy Carter một thời gian và rồi, sau một vài trị liệu tâm thần cho chứng trầm cảm, hắn dùng súng bắn Ronald Reagan, tổng thống kế nhiệm Carter.

Vào ngày 30 tháng 3 năm 1981, bên ngoài khách sạn Hilton Washington D.C, Hinkley dùng một khẩu súng lục làm bị thương Reagan, cùng với ba người khác, trước khi bị khống chế và bắt giữ.

Foster khi nghe tin đã rất khiếp sợ.

Trong phiên tòa, Hinkley bị truy tố với mười ba vụ tấn công, bác sĩ William Carpenter Jr.

đã trình bày việc Hinkley tự coi mình là Travis Bickle, ăn mặc như hắn và bắt chước hắn theo nhiều cách khác nhau.

Hắn cô lập bản thân và dành phần lớn thời gian sống trong thế giới ảo của mình, dần dần tin rằng mình thực sự chính là Bickle.

Bộ phim được trình chiếu trước tòa để khiến quan tòa hiểu cách Hinkley "hóa thân" thành nhân vật này như thế nào, và hắn ngưỡng mộ người hùng của mình ra sao.

Hắn ngồi xem chăm chú, tuy có vẻ hắn không chịu đựng được khi xem cảnh Iris ôm người đàn ông ma cô của mình, người sau đó bị Bickle giết chết.

Phiên tòa diễn ra trong bảy tuần.

Sau khi được phán không có tội vì tâm lý không ổn định vào năm 1982, Hinkley bị giam tại bệnh viện St.

Elizabeth ở Washington, D.C.

Hắn tiếp tục bị ám ảnh bởi Foster trong suốt hai thập kỷ tiếp theo.

Lời phán quyết này khiến cộng đồng người Mỹ phẫn nộ, vì vậy chính quyền liên bang, cùng với một số bang khác, sửa lại luật pháp liên quan đến tâm lý không ổn định.

Có bốn bang bãi bỏ hình thức biện hộ này.

Tế bào não biết bắt chước

Nghiên cứu gần đây về sinh học phân tử cho thấy chúng ta được lập trình sẵn để bắt chước lẫn nhau trong quá trình tiến hóa.

Sandra Blakeslee viết về vấn đề này trong tờ New York Times.

Các nhà nghiên cứu lần đầu tiên phát hiện ra hiện tượng này khoảng mười lăm năm trước ở Ý.

Dây điện được cấy vào não của một con khỉ để quan sát những chuyển động khi nó thực hiện thao tác với một đồ vật, và một sinh viên tốt nghiệp nhận thấy não phản ứng ngay cả khi con khỉ không làm được hành động.

Tác nhân kích thích là nhìn hành vi của người khác.

Trong trường hợp này, người sinh viên đang đưa cây kem lên miệng.

Giacomo Rizzolatti, nhà thần kinh học của Đại học Parma, hướng nghiên cứu đến việc tìm hiểu xem điều gì diễn ra trong não bộ khi con khỉ (cũng như con người) khi nó quan sát hành vi của người khác.

Có vẻ như có cùng một loại tế bào não hoạt động cả khi quan sát hành vi lẫn thực hiện hành vi.

Rizzolatti gọi loại tế bào này là "neuron gương".

Qua đó, ông cho rằng một số tế bào nhất định bên trong não bắt đầu hoạt động khi con người nhìn thấy hoặc nghe thấy một hành động mà chính bản thân cơ thể họ có thể thực hiện được.

Nghiên cứu này được xuất bản năm 1996.

Tuy nhiên, gần đây hơn, nghiên cứu cho thấy neuron gương ở người vừa thông minh vừa linh hoạt.

Trên thực tế, theo lời Blakeslee, con người có "nhiều hệ thống phản chiếu chuyên biệt để thực hiện và hiểu cả hành động lẫn dự định, ý nghĩa xã hội của hành vi và cảm xúc của người khác".

Những neuron này nắm bắt được ẩn ý đằng sau hành vi mà chúng tiếp nhận thông qua giả định trực tiếp.

Một người trải nghiệm hoàn toàn hành vi của một người khác, chứ không chỉ đơn giản là quan sát.

Điều này giải thích cho khả năng học hỏi của trẻ em và tại sao ở những nền văn hóa khác nhau lại có một số trải nghiệm giống nhau.

Con người phản ứng lại với những gì người khác thực hiện nếu hành vi ấy là bình thường đối với họ.

Điều này có thể cũng giải thích tại sao các phương tiện truyền thông bạo lực ảnh hưởng đến những người nhất định.

Một nghiên cứu xuất bản năm 2006 trên Media Psychology cho thấy neuron gương được kích hoạt ở những trẻ em xem chương trình bạo lực trên TV, và họ dự đoán là những đứa trẻ này cũng có nhiều khả năng sau đó sẽ cư xử thô bạo hơn so với những đứa trẻ không xem.

Tuy nhiên người ta cũng chứng minh được rằng neuron gương càng hoạt động tích cực, ta càng có nhiều sự thấu cảm.

Điều này có thể giải thích cho trường hợp trẻ em có neuron gương bị "vỡ" hoặc hoạt động ít tích cực hơn khi xem chương trình bạo lực sẽ hành xử thô bạo vì chúng không có những ức chế hành vi đến từ sự thấu cảm.

Nhưng mối liên hệ này chỉ mang tính gợi ý và chưa được nghiên cứu khoa học chứng minh.

Neuron gương xuất hiện ở rất nhiều vùng trong não bộ con người.

Chúng kích hoạt trên những hành động có liên hệ đến những dự định, với những neuron khác nhau hoạt động ở những phần khác nhau trong suốt quá trình.

Chúng giả định lại hành động như thể người quan sát đang thực hiện nó, cũng là cách một người hiểu được hành động và điều gì thúc đẩy hành động đó, có một dạng "khuôn mẫu" cho điều này bên trong não bộ.

Việc này ảnh hưởng đến mức độ thấu cảm và khả năng tiếp nhận ngôn ngữ, cũng như khả năng dự đoán và tiên liệu.

Tuy nhiên não bộ cũng có những hệ thống ức chế khiến con người không thực hiện hành động đó.

"Neuron gương cung cấp một nền tảng sinh học cho sự phát triển của văn hóa," theo lời Tiến sĩ Patricia Greenfield, nhà tâm lý học phát triển của UCLA.

Nghiên cứu về bạo lực sẽ vẫn còn được tiếp diễn.

Tự sát

Bộ phim thường được lấy làm tư liệu nhất vì khơi gợi người ta tự sát chính là bộ phim The Deer Hunter(Thợ săn hươu), công chiếu vào năm 1978 với sự tham gia của các diễn viên Robert DeNiro, Meryl Streep, Christopher Walken, và John Voight.

Bộ phim nói về ba người bạn đến từ Pennsylvania là Michael, Nick và Steven bị triệu tập tham chiến ở Việt Nam.

Cả ba bị Việt Cộng tra tấn bằng trò chơi roulette Nga.

Nick bị tổn thương tâm lý nặng nề nên đã ở lại Việt Nam, kiếm tiền bằng việc chơi trò chơi tự sát ấy.

Cuối cùng, anh đã tự giết chính mình.

Nhà nghiên cứu Loren Coleman thu thập nhiều vụ án tự sát được trình báo là lấy cảm hứng từ bộ phim này, dựa trên cách nạn nhân bắt chước cảnh phim nổi tiếng khi Nick diễn lại màn tra tấn của mình.

Thêm vào đó, Coleman trích dẫn từ một nghiên cứu khác về việc phim ảnh ở rạp phim, quầy băng đĩa, hoặc chương trình TV có liên quan đến những vụ tự sát.

Trẻ em bắt chước cảnh roulette Nga nhiều khả năng chỉ là tò mò, nhưng những thiếu niên lớn hơn thường là do trầm cảm hoặc làm trò ra oai.

Có một cảnh sát đã thực hiện cảnh phim ấy vào năm 1979.

Rất nhiều nạn nhân đã tự bắn mình trước mặt người khác, thường là bạn bè hoặc người thân.

Đa phần họ đều nhắc đến việc bộ phim đã ảnh hưởng đến mình.

Ví dụ, một bài viết năm 1980 trên báo Times-Picayune ở New Orleans có viết về việc một người đàn ông hai mươi ba tuổi Mickey Culpepper nói với người bạn, "Tớ sẽ đóng vai Deer Hunter" trước khi tự bắn vào đầu mình với một khẩu súng .38.

Tệ hơn, vào ngày 8 tháng 10 năm 1980, một người đàn ông bị bắt cóc gần Trung tâm Thương mại Thế giới và bị tra tấn bởi những kẻ dự định cướp tiền ông, chúng diễn lại cảnh tra tấn của Việt Cộng.

Những vụ tự sát liên quan đến phim ảnh cũng xảy ra ở những nước khác, được ghi nhận ở Phillippines, Phần Lan, Lebanon, và một số nơi khác, ngay cả một Đặc vụ Gián điệp đã tự bắn mình khi xem bộ phim này trên HBO.

Anh ta vẫn sống sót sau đó.

Thường thì những vụ án này xảy ra khi nạn nhân uống rượu hoặc ra oai với người khác, nhưng một số vụ tai nạn xảy ra khi nạn nhân chỉ muốn trình bày một điều gì đó về cảnh phim ấy.

Nhưng có một vụ án rõ ràng là giết người: một cai ngục ở Rhode Island bắn một tù nhân khi họ đang bàn luận về cảnh phim đó và hắn cũng đã lôi kéo những cai ngục khác chơi trò chơi với mình.

Vậy nên dù là bạo lực với bản thân hay với người khác, bộ phim rõ ràng đã gây ảnh hưởng.

Việc phim ảnh bạo lực ảnh hưởng đến một số người nhất định và thôi thúc họ hành động là khá hợp lý.

Từ câu chuyện gây ảnh hưởng đến mình, họ tiếp nhận những khuôn mẫu và hướng dẫn từ bộ phim, và đôi khi xem bộ phim là kim bài để giết người.

Không phải ai cũng bị ảnh hưởng, nhưng trong số những người chịu ảnh hưởng, ta có thể khẳng định rằng có một "Hiệu ứng Bắt chước" khi hình ảnh bạo lực đeo bám một người quá dai đẳng đến mức họ quyết định làm theo những chi tiết khuôn mẫu ấy.

Có phải bộ phim đã khiến họ giết người?

Không, nhưng nó đã gợi cho họ ý tưởng và cách thức và cả nạn nhân?

Ta có thể thấy rằng chuyện như vậy đã xảy ra và rất có thể sẽ tiếp tục xảy ra.

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
Thẩm vấn tội phạm - Không hề giống phim hình sự


Công việc không hề đơn giản như những bộ phim hình sự mà các bạn vẫn xemCảnh tượng tra vấn nghi phạm có lẽ đã quá quen thuộc với các fan hâm mộ thể loại phim hình sự.

Đẩy trí tưởng tượng đi xa một chút, có lẽ bất cứ ai cũng có thể buộc một tên tội phạm phải khạc ra lời cung.

Trừng mắt dọa nạt, gào vào mặt hắn rằng dấu vân tay của hắn vung vãi khắp nơi trên hiện trường, và bingo!

Hắn buộc phải thú nhận mọi việc.Bạn có sự tự tin, bạn có khả năng sáng tạo, bạn dễ dàng đọc vị đối phương, nhưng chừng đó là chưa đủ để bạn có thể lấy lời khai từ bất cứ tên tội phạm nào.

Thanh tra thẩm vấn là những người được đào tạo chuyên nghiệp ở lĩnh vực tâm lý xã hội, và họ có sẵn cho mình hàng tá những chiến thuật để moi lấy lời khai từ phía đối phương.Buộc ai đó phải thú nhận tội lỗi của mình là chuyện không hề đơn giản, và thực tế, ngay cả những chuyên gia thẩm vấn xuất sắc nhất đôi lúc cũng phạm phải sai lầm.

Không có cuộc thẩm vấn nào giống với cuộc thẩm vấn nào, nhưng điểm chung của chúng là đều khai thác những điểm yếu nhất định trong bản tính con người.

Những điểm yếu này sẽ sớm bộc lộ khi bạn tạo cho đối phương một trạng thái căng thẳng, khi bạn buộc đối phương phải trải nghiệm những thái cực đối lập nhau.

Thống trị và quy phục, kiểm soát và phụ thuộc, bi kịch và lạc quan – nếu bạn áp dụng đúng cách, ngay cả những tên tội phạm cứng đầu nhất cũng sẽ phải thú nhận.Những kỹ năng hỏi cung cơ bản.Kỹ thuật thẩm vấn hiện đại phần lớn đều dựa trên việc nghiên cứu bản chất con người.

Hầu hết chúng ta đều có xu hướng thích trò chuyện với những người có vẻ giống với mình.

Một khi đã bắt đầu mở lời, sẽ rất khó để dừng lại.

Một khi đã bắt đầu nói thật, sẽ càng khó hơn để dối trá.

Khi viên thanh tra nói rằng dấu vân tay của bạn được tìm thấy trên núm cửa tại hiện trường, bạn vẫn sẽ cảm thấy tim mình đang đập mạnh hết cỡ, mặc dù bạn đã đeo găng lúc gây án.

Trong một vài trường hợp, nhà điều tra được phép nói dối nghi phạm để buộc hắn phải thú nhận.

Điều này dựa trên việc cho rằng một người vô tội sẽ không bao giờ thú nhận tội ác mà anh ta (hoặc cô ta) chưa từng phạm phải, cho dù họ phải đối mặt với một chứng cứ giả tạo.

Không may là không phải 100% các trường hợp đều diễn ra như vậy.

Sử dụng quá nhiều chứng cứ giả tạo, sẽ có lúc bạn tống cổ một người vô tội vào xà lim.Việc trấn áp tâm lý đối phương được bắt đầu ngay trước khi viên thanh tra mở lời.

Phòng thẩm vấn được bố trí theo cách làm tối đa hóa cảm giác khó chịu và bất lực của nghi phạm, ngay từ khi hắn bước chân vào căn phòng.

Một căn phòng thẩm vấn điển hình sẽ là một căn phòng nhỏ, cách âm, bên trong không có gì khác ngoài một cái bàn và 3 cái ghế.

Nó tạo ra một không khí ngột ngạt, thiếu thiện cảm, khiến cho nghi phạm có cảm giác bị cô lập và chỉ muốn ra khỏi đó càng nhanh càng tốt.

Trước khi đi vào cuộc hỏi cung, viên thanh tra sẽ có một cuộc đối thoại nho nhỏ với nghi phạm.

Viên thanh tra sẽ bằng mọi cách tạo ra một bầu không khí càng ít căng thẳng càng tốt.

Họ sẽ đề nghị nghi phạm chia sẻ một số chi tiết đời thường như sở thích cá nhân hay một ước mơ nào đó.

Họ làm mọi cách để lấy được niềm tin cũng như sự đồng thuận của đối phương.

Một khi nghi phạm đã chịu mở lời, rất khó để họ dừng lại, và một khi họ đã chịu nói thật, càng khó hơn để bắt đầu dối trá.Trong suốt cuộc trò chuyện này, mọi phản ứng, cả bằng lời lẫn không lời của nghi phạm sẽ được ghi lại.

Một đường phản ứng nền (baseline reaction) được tạo ra, trước khi sự căng thẳng thực sự bắt đầu.Một phương pháp khác thường được áp dụng để lấy được đường phản ứng nền, đó là phương pháp ghi nhận chuyển động của con mắt.

Viên thanh tra sẽ hỏi những câu hỏi gợi nhớ (đòi hỏi trí nhớ) và những câu hỏi đòi hỏi suy nghĩ.

Khi nghi phạm cố nhớ điều gì đó, mắt của hắn thường di chuyển sang bên phải – một biểu hiện của bộ não khi kích thích trung tâm ký ức.

Khi nghi phạm nghĩ về điều gì đó, mắt hắn sẽ hướng lên trên hoặc sang phải – một biểu hiện khi bộ não đang kích thích trung khu nhận thức.

Tất cả những chuyển động này đều được ghi lại.Đấu tríCuộc thẩm vấn chỉ thực sự bắt đầu khi viên thanh tra sử dụng kỹ thuật gây áp lực lên đối phương.

Kỹ thuật này bao gồm 9 bước, nhưng trên thực tế, có khá nhiều trường hợp một số bước bị bỏ qua.

Không có cuộc thẩm vấn nào là điển hình, nhưng 9 bước cơ bản này sẽ giúp bạn phần nào nhận ra cách để thành công trong việc tra hỏi.Đối mặtViên thanh tra sẽ phác thảo sơ bộ về diễn biến của vụ việc, đồng thời đưa ra những chứng cứ chống lại nghi phạm.

Chứng cứ này có thể có thực, có thể được dựng lên, nhưng điều đó không quan trọng.

Chúng được đưa ra nhằm mục đích khẳng định sự liên quan của nghi phạm đến vụ việc.

Mức độ căng thẳng bắt đầu leo thang, và đây chính là thời điểm viên thanh tra rời khỏi chỗ ngồi.

Việc di chuyển trong căn phòng và áp sát nghi phạm sẽ làm hắn cảm thấy bức bối và khó chịu.

Nếu nghi phạm bắt đầu tỏ ra bồn chồn, thường xuyên cựa quậy, liếm môi, vuốt tóc hoặc lặp lại bất cứ một hành động nào đó, viên thanh tra sẽ ghi nhận lại như là biểu hiện của sự dối trá, và họ biết là mình đang đi đúng hướngDàn dựngViên thanh tra xây dựng nên nhiều giả thuyết khác nhau để buộc nghi phạm phải nhận tội.

Họ sẽ nhìn thẳng vào mắt nghi phạm, và tìm hiểu nguyên nhân tại sao hắn làm điều đó, tại sao hắn nghĩ hắn có thể làm điều đó, và hắn có thể biện hộ như thế nào cho hành vi của mình.

Nghi phạm có động cơ nào khác thường không?

Hắn có đổ lỗi cho nạn nhân không?Ngay khi câu chuyện trở nên hợp lý, viên thanh tra sẽ bắt đầu sử dụng giọng nói nhẹ nhàng, đầy thông cảm và logic để tâm sự với nghi phạm.

Trong suốt quá trình này, viên thanh tra luôn phải nhìn trực tiếp vào mắt nghi phạm.

Hắn có tỏ ra chú ý hơn so với trước không?

Có khẽ gật đầu không?

Có tỏ ý tán thành không?

Nếu có, viên thanh tra sẽ tiếp tục đi sâu vào câu chuyện này, từ đó nhanh chóng lấy được lời khai của nghi phạm.

Nếu không, họ buộc phải xây dựng một câu chuyện khác, hợp lý hơn với nghi phạm.

Dập tắt phủ nhậnViệc để nghi phạm phủ nhận tội lỗi của hắn sẽ giúp hắn tăng thêm tự tin, do đó viên thanh tra cần biết cách đập tan sự phủ nhận này.

Có nhiều cách thực hiện, ví dụ, bạn có thể nói với nghi phạm rằng, sẽ đến lượt hắn trình bày, nhưng ngay lúc này, hắn cần lắng nghe.

Ngay từ khi bắt đầu cuộc thẩm vấn, nhất cử nhất động của nghi phạm đã bị theo dõi sát sao, và chỉ cần hắn có ý định phủ nhận, viên thanh tra sẽ ngay lập tức dập tắt chúng.Nếu như không có bất cứ sự phủ nhận nào, đó là một dấu hiệu rất tích cực.

Nếu lời phủ nhận ít dần, hoặc dừng hẳn trong quá trình thẩm vấn, viên thanh tra biết rằng câu chuyện của mình đang đi đúng hướng, và họ đã đến rất gần lời thú tội.

Lấn átNghi phạm có thể sử dụng nhiều lý lẽ khác nhau để phản bác lại viên thanh tra.

"Tôi sẽ chẳng bao giờ cưỡng hiếp ai cả.

Em gái tôi từng bị cưỡng hiếp, tôi biết điều đó đau đớn như thế nào.

Tôi sẽ không bao giờ làm điều đó với bất cứ ai."

Viên thanh tra sẽ sử dụng chi tiết này như một thông tin để chống lại nghi phạm.

Họ có thể nói rằng, "Anh thấy đó, rất tốt.

Anh nói rằng anh không bao giờ có ý làm chuyện này.

Tôi biết anh đã mất lúc đó anh đã mất kiểm soát?

Đó chỉ là một sai lầm nhất thời, hoàn toàn không phải bản chất của anh."

Đồng minhĐây chính là thời điểm thích hợp để viên thanh tra tỏ ra nản lòng và mất niềm tin.

Họ cố tỏ ra rằng họ cần đến sự trợ giúp của nghi phạm, thông qua đó, làm hắn mất cảnh giác.

Họ sẽ cố gắng ngồi lại gần hơn với nghi phạm, họ tiếp tục câu chuyện của mình với giọng điệu thân thiện hơn, thậm chí, họ cần đến những cử chỉ như vỗ vai, chạm tay...Mất kiểm soátNếu nghi phạm có bất cứ một cử chỉ nào cho thấy hắn đã đầu hàng – úp mặt vào tay, đặt khuỷu tay trên gối, cúi vai... viên thanh tra nhận thấy cơ hội buộc hắn thú tội đã đến rất gần.

Viên thanh tra sẽ bắt đầu chuyển từ việc tiếp tục câu chuyện đến việc xây dựng động cơ.

Ngay lúc này, viên thanh tra sẽ bằng mọi cách nhìn trực tiếp vào đối tượng – càng lâu càng tốt, càng thường xuyên càng tốt, từ đó trạng thái căng thẳng cũng như mong muốn được thoát khỏi cuộc tra vấn này càng sớm càng tốt sẽ được đẩy lên cực độ

.Luân phiênViên thanh tra sẽ đưa ra hai động cơ hoàn toàn đối lập nhau, một động cơ hoàn toàn dễ chấp nhận, "Anh giết hắn chỉ để bảo toàn tính mạng", và một động cơ đáng ghê tởm, "Anh giết hắn chỉ vì tiền".

Viên thanh tra sẽ luân phiên thay đổi giữa 2 sự lựa chọn này, từ đó đẩy nghi phạm vào trạng thái căng thẳng cực độ, cho đến khi hắn đầu hàng và có dấu hiệu đồng thuận với một động cơ nào đó.

Đối thoạiKhi nghi phạm đã đồng thuận với một động cơ nào đó, việc thú tội chính thức bắt đầu.

Viên thanh tra sẽ khuyến khích nghi phạm nói về tội ác của mình, và đưa vào phòng thẩm vấn thêm ít nhất 2 người nữa để chứng kiến.

Việc đưa thêm người vào chứng kiến không nằm ngoài mục đích gia tăng stress cho nghi phạm, nhưng đồng thời cũng buộc nghi phạm phải xem lại lý do gây án của mình, từ đó, khẳng định chắc chắn lời thú tội của mình.

Thú nhậnĐây là bước cuối cùng trong nỗ lực buộc nghi phạm phải thừa nhận tội ác mình đã gây ra.

Viên thanh tra sẽ buộc nghi phạm phải ghi lại lời thú tội này, thông qua một bản viết tay, hoặc một chiếc máy thu âm.

Thông thường, nghi phạm sẽ bằng lòng làm mọi thứ để nhanh chóng được rời khỏi phòng thẩm vấn.

Hắn sẽ xác nhận tính tự nguyện trong lời thú tội, và ký vào đó trước sự chứng kiến của các nhân chứng.

Một cuộc thẩm vấn thực sựĐể hình dung rõ hơn về những phương thức thẩm vấn, hãy cùng tìm hiểu xem thanh tra Victor Lauria đã làm cách nào để buộc Nikole Michelle Frederick thú nhận tội ác của mình.

Đứa con riêng chưa đầy 2 tuổi của chồng Frederick, đã được chuyển đến khoa cấp cứu trong tình trạng hấp hối, với những dấu hiệu rõ ràng của việc bạo hành.

Cuộc thẩm vấn kéo dài 2 ngày, với kết thúc mà ai cũng có thể đoán trước.

Lauria: Cô đánh giá khả năng làm mẹ của mình như thế nào?

Frederick: Ừm, tôi nghĩ tôi đã làm khá tốt.

Có thể tôi đã không được nghiêm khắc cho lắm.

Lauria: Cô nghĩ Ann Marie có phải là một đứa trẻ ngoan không?

Frederick: Tôi nghĩ nó khá nghịch ngợm.

Nó khóc suốt ngày, luôn muốn được bế.

Anh thấy đó, nó suốt ngày leo trèo nghịch ngợm, nên người nó lúc nào cũng tím bầm cả lên.

Trông như lúc nào nó cũng bị đánh vậy.Frederick đã bắt đầu tạo lý do cho những vết thương của Ann Marie, đồng thời thiết lập cho mình một động cơ chính đáng – "Nó là một đứa trẻ nghịch ngợm".

Lauria đã sử dụng điều này như một cơ sở để bước đầu đi vào cuộc thẩm vấn.

Anh để Frederick biết rằng cô sẽ bị lật tẩy như thế nào:

Lauria: Có rất nhiều cách để cảnh sát biết được những vết bầm tím ấy là từ đâu mà ra.

Frederick: Tôi không nghĩ rằng chúng ta sẽ biết được chính xác chuyện gì đã xảy ra.

Con bé là người duy nhất biết được, và lúc này có vẻ nó chẳng nói năng được gì.

Tôi không có ý thô lỗ, nhưng ông định thẩm vấn tôi đến bao giờ?

Lauria: Như tôi đã nói đấy, chúng tôi có thể biết được rất nhiều thứ qua những vết bầm tím ấy.

Bác sỹ, giám định pháp y, cô biết đấy, họ sống với những dấu vết ấy mà.

Frederick: Thì sao?

Lauria: Cô có cho rằng sẽ có người nghi ngờ chính cô đã gây ra chúng không?Frederick: Không.

Lauria: Cô có nghi ngờ ai khác không?

Frederick: Không, nhưng anh nghe tôi nói rồi đấy.

Không cứ là phải có người đánh mới có thể....

Lauria cắt ngang: Trong số những người có mặt tại nhà cô kể từ tối qua, có ai cô cho rằng sẽ không bao giờ làm thế với Ann Marie?

Frederick: Tôi biết John sẽ không bao giờ làm thế.

Thành thực thì tôi cũng không cho rằng Brian sẽ làm thế.

Lauria: Và ai sẽ nói những lời tương tự với cô?

Frederick: Ừm, có thể là John.

Nhưng tôi thấy chuyện này là không cần thiết.

Tôi chẳng tin vào những gì mấy tay bác sỹ hay giám định viên của anh nói...Lauria tiếp tục cắt ngang với một câu chuyện do anh dựng lên.

Anh cho rằng đó là một tình huống nằm ngoài kiểm soát.

Frederick không hề có ý đánh đập con mình, đó chẳng qua chỉ do cô đang mất bình tĩnh.

Nhưng Frederick tỏ ra không đồng thuận với câu chuyện đó.

Cô liên tục vặn hỏi, "Tại sao anh không tin tôi?", và ngay lập tức, Lauria chuyển sang một câu chuyện khác.

Anh cho rằng những vết thương đó không phải do một va đập hoặc ngã mà ra, rằng có ai đó đã đánh đập Ann Marie, nhưng đó không phải là Frederick.Khi nhận thấy sự đồng thuận từ thái độ của Frederick, Lauria tiếp tục đào sâu vào câu chuyện này.

Anh đổ hết lỗi cho Ann Marie, rằng nó là một đứa trẻ khó dạy bảo, rằng nó ương bướng và nghịch ngợm đến mức không ai có thể chịu nổi.

Khi nhận thấy Frederick đã tỏ ra đồng ý, Lauria bắt đầu đưa ra những động cơ gây án.

Anh nói với Frederick rằng, "Khi không có lời giải thích, người ta sẽ hướng đến tình huống tồi tệ nhất".

Hai động cơ tương phản nhau được đưa ra, một tay sát thủ máu lạnh ưa thích việc hành hạ trẻ nhỏ, và một người mẹ trót phạm phải lỗi lầm trong giây phút mất kiểm soát.

Kết cục cuối cùng hẳn bạn đọc cũng có thể đoán được.Trong suốt hai ngày thẩm vấn, Frederick chưa hề hỏi thăm về tình hình của Ann Marie.

Trong những giờ phút cuối, Laurie đã thẳng thắn hỏi Frederick về điều này.

Frederick phủ nhận, đồng thời lập tức yêu cầu Laurie cung cấp thông tin về tình trạng hiện tại của đứa trẻ.

Khi Laurie nói rằng đứa bé đã chết não và có lẽ sẽ không qua khỏi, Frederick đã nhanh chóng sụp đổ, "Lạy Chúa, tôi đã phạm tội giết người!

Tôi đã giết chết đứa bé ấy!

Tôi đã giết chết nó rồi!"

Một câu chuyện có kết thúc không mấy lạc quan.

Ann Marie chết vì những thương tích do bà mẹ kế gây ra, trong khi Nikole Michelle Frederick lĩnh mức án chung thân cho tội sát nhân độ I.

KếtThẩm vấn tội phạm chưa bao giờ là công việc dễ dàng như những gì bạn thấy trên phim ảnh.

Nó đòi hỏi rất nhiều tố chất, từ khả năng giao tiếp, quan sát, đọc được những suy nghĩ, cảm xúc của đối phương cho đến khả năng ứng biến cực kỳ nhanh nhạy.

Môi trường công việc cực kỳ căng thẳng, chưa kể nguy cơ đến từ việc những tên tội phạm có thể xông vào ăn thua đủ với bạn bất cứ lúc nào.

Đây thực sự là công việc dành cho những người có thần kinh thép.

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
Lạm dụng tình dục ở trẻ em - Stop it now!


Các dấu hiệu cảnh báo Lạm Dụng Tình Dục Trẻ Em

Trước khi bước qua tuổi 18, 1/6 bé trai và 1/4 bé gái bị lạm dụng tình dục...

Các dấu hiệu ở người lớn và trẻ em

Thế nào được coi là lạm dụng tình dục trẻ em?

Lạm dụng tình dục trẻ em bao gồm các hành động động chạm và không động chạm.

Một số ví dụ về hành động động chạm bao gồm:

• Chạm vào bộ phận sinh dục hoặc các chỗ nhạy cảm của một đứa trẻ nhằm thoả mãn dục vọng.

• Buộc đứa trẻ phải chạm vào bộ phận sinh dục của ai đó, chơi các trò chơi mang tính chất gợi tình hoặc đặt các đồ vật hoặc bộ phận cơ thể (như ngón tay, lưỡi hoặc dương vật) vào bên trong âm đạo, miệng hoặc hậu môn của đứa trẻ nhằm thoả mãn dục vọng.

Một số ví dụ về hành động không động chạm gồm:

• Cho đứa trẻ xem sách báo, phim ảnh khiêu dâm.

• Cố ý cho đứa trẻ thấy bộ phận sinh dục của người lớn.

• Chụp ảnh đứa trẻ trong các tư thế gợi dục.

• Khuyến khích đứa trẻ xem hoặc nghe các hành động gợi dục

• Xem đứa trẻ cởi đồ hoặc sử dụng nhà tắm một cách không thích đáng.

Bên cạnh những hành vi được liệt kê ở trên, việc số lượng người tải về hình ảnh gợi dục của trẻ em trên mạng ngày càng gia tăng cũng là một vấn đề nghiêm trọng.

Xem hình ảnh về lạm dụng trẻ em chính là tham gia vào việc lạm dụng đứa trẻ.

Những người làm vậy có thể chính là đang lạm dụng những đứa trẻ họ quen biết.

Người xem những tài liệu như vậy cần được giúp đỡ trước khi hành vi của họ trở nên nghiêm trọng hơn.

Các dấu hiệu cảnh báo ở trẻ em và trẻ vị thành niên bị lạm dụng tình dục

Trẻ em thường có khuynh hướng thể hiện thay vì nói với chúng ta điều gì khiến chúng buồn.

Có rất nhiều lý do cho sự thay đổi trong hành vi của chúng, tuy nhiên nếu chúng ta nhận thấy một loạt những dấu hiệu đáng lo thì có lẽ đã đến lúc tìm đến sự trợ giúp hoặc lời khuyên.

Cần chú ý nếu trẻ em:

• Sử dụng đồ chơi hoặc các đồ vật khác thực hiện các hành động gợi dục hoặc không đứng đắn.

• Gặp ác mộng, các vấn đề về giấc ngủ

• Trở nên xa lánh hoặc đeo bám

• Trở nên bí mật một cách khác lạ

• Sự thay đổi đột ngột khó lý giải được trong tính cách, thay đổi tâm trạng và cảm thấy tự ti

• Quay lại những hành vi lúc nhỏ, ví dụ như đái dầm

• Đột nhiên sợ những địa điểm hay một số người nhất định

• Tức giận bộc phát

• Thay đổi trong thói quen ăn uống

• Sử dụng các từ ngữ của người lớn về các bộ phận cơ thể không rõ nguồn gốc

• Nói về một người bạn mới, lớn tuổi hơn và có những khoản tiền/ quà không rõ nguồn gốc

• Tự làm hại bản thân (cắt, đốt hoặc các hành động có hại khác đến cơ thể)

• Các dấu hiệu trên cơ thể, ví dụ như, các vết thâm hoặc sưng không rõ nguồn gốc quanh bộ phận sinh dục hoặc miệng, các bệnh lây qua đường tình dục hoặc mang thai

• Bỏ chạy

• Không muốn ở một mình với một đứa trẻ hoặc một người trẻ tuổi

Chỉ với một dấu hiệu không thể kết luận liệu đứa trẻ có bị xâm hại tình dục hay không, nhưng với một vài dấu hiệu thì có lẽ bạn nên bắt đầu hỏi han đứa trẻ và cân nhắc việc tìm kiếm sự giúp đỡ.

Nhớ rằng những dấu hiệu này có thể xuất hiện trong một vài tình huống căng thẳng khác như:

• Trong quá trình ly hôn

• Khi một thành viên gia đình hoặc vật nuôi qua đời

• Vấn đề ở trường học hoặc với bạn bè

• Các sự kiện sang chấn hoặc gây lo âu khác

Các dấu hiệu cảnh báo trên cơ thể

Dấu hiệu trên cơ thể của việc lạm dụng tình dục là rất hiếm, tuy nhiên, nếu bạn nhận thấy những dấu hiệu này, hãy đưa đứa trẻ tới gặp bác sĩ.

Bác sĩ có thể giúp bạn hiểu rõ hơn điều gì đang xảy ra và kiểm tra các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục.

• Sự đau nhức, đổi màu, chảy máu và rò rỉ ở âm đạo, hậu môn hay miệng

• Sự đau đớn liên tục hoặc tuần hoàn khi đi ngoài và thực hiện các chuyển động cúi xuống

• Các sự cố làm ướt và vấy bẩn không liên quan đến việc hướng dẫn đi ngoài của đứa trẻ

Các dấu hiệu cho thấy một người trưởng thành đang có quan hệ với một đứa trẻ với mục đích tình dục

Các dấu hiệu cho thấy một người trưởng thành có quan hệ với mục đích tình dục với một đứa trẻ có thể không quá rõ ràng.

Chúng ta có thể cảm thấy không thoải mái với cách họ chơi với đứa trẻ, hoặc luôn chiều chuộng chúng và cố tạo ra các lý do để chúng được ở một mình.

Chúng ta nên cân nhắc về hành vi của một người trưởng thành hoặc một người trẻ tuổi khi họ:

• Từ chối quyền được riêng tư cần thiết của đứa trẻ hoặc tự ý quyết định trong các vấn đề cá nhân.

• Cố gắng thực hiện các động chạm vật lý với đứa trẻ như hôn, ôm hay vật lộn ngay cả khi đứa trẻ không muốn.

• Quan tâm thái quá đến sự phát triển sinh dục ở một đứa trẻ hoặc trẻ vị thành niên.

• Khăng khăng được ở riêng với đứa trẻ mà không bị làm phiền.

• Dành đa số thời gian rảnh của họ với trẻ em và không hứng thú với việc tiếp xúc với những người đồng trang lứa.

• Thường xuyên đề nghị được trông trẻ miễn phí hay đưa trẻ em đi ra ngoài vào buổi tối một mình.

• Mua cho đứa trẻ những món quà đắt đỏ hoặc cho chúng tiền mà không có lý do gì.

• Thường xuyên đi vào nhà tắm khi đứa trẻ đang ở trong đó.

• Thiên vị một đứa trẻ cụ thể, làm chúng cảm thấy 'đặc biệt' hơn so với những đứa khác trong gia đình.

• Bắt nạt một đứa trẻ cụ thể.

Lạm dụng tình dục trẻ em và trẻ vị thành niênCác hành vi tình dục hợp với độ tuổi

Chúng ta đều biết rằng trẻ em trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau trong quá trình lớn lên, nhận thức và sự tò mò của chúng về các vấn đề nhạy cảm thay đổi từ thuở thơ ấy đến khi trưởng thành.

Mỗi đứa trẻ là một cá nhân và sẽ phát triển theo hướng của riêng mình.

Tuy nhiên, mỗi giai đoạn phát triển chỉ có một số hành vi nhất định được cho là hợp nhất với độ tuổi của đứa trẻ.

Đôi lúc những hành vi này bao gồm cả việc tìm hiểu với những đứa trẻ khác cùng độ tuổi.

Việc chỉ ra sự khác biệt giữa các hành động tìm hiểu có tính chất tình dục thích hợp với độ tuổi và các dấu hiệu của hành vi có hại có thể khá khó khăn.

Thông thường, chúng ta có thể cần giải thích cho đứa trẻ tại sao chúng ta muốn chúng không thực hiện một hành vi nào đó.

Đây là cơ hội để nói với chúng về việc bảo vệ bản thân và những người khác và cho chúng biết rằng bạn là người sẵn sàng lắng nghe.

Trẻ em khuyết tật có thể sẽ phát triển ở mức độ khác, phụ thuộc vào sự khuyết tật của chúng, và chúng có thể dễ bị lạm dụng hơn.

Ví dụ như trẻ em gặp khó khăn với việc học tập có thể sẽ cư xử về mặt sinh dục theo cách khác với độ tuổi của chúng.

Để giáo dục những đứa trẻ như vậy cần sự quan tâm cụ thể để có thể hiểu được sự phát triển về mặt sinh dục của chúng và để đảm bảo rằng chúng có thể chia sẻ về những vấn đề chúng gặp phải.

Mặc dù ở mỗi bối cảnh khác nhau, người ta đặt những kì vọng khác nhau về những hành vi chấp nhận được ở một đứa trẻ, nhưng lạm dụng tình dục xảy ra với tất cả các chủng tộc, ở mọi nền văn hoá.

Hãy nhớ rằng mỗi đứa trẻ phát triển theo khuynh hướng riêng và không phải đứa trẻ nào cũng sẽ cho thấy những hành vi dưới đây.

Nếu bạn cảm thấy lo lắng cho một đứa trẻ mà bạn quen biết, hãy tâm sự với ai đó về việc này.

Nhân viên y tế, bác sĩ gia đình hoặc giáo viên của đứa trẻ có thể cùng giúp đỡ.

Trẻ em mầm non (0-5 tuổi) sẽ thường:

• Sử dụng ngôn ngữ 'tình dục' của trẻ con để nói về các bộ phận cơ thể

• Hỏi về việc tạo ra em bé và em bé từ đâu ra

• Chạm hoặc xoa bóp bộ phận sinh dục của mình

• Cho người khác xem hoặc tự nhìn vào các chỗ nhạy cảm của bản thân

Chúng hiếm khi:

• Bàn luận về các hoạt động tình dục và sử dụng ngôn ngữ gợi dục

• Có động chạm vật lý mang tính gợi dục với những đứa trẻ khác

• Tỏ ra hiểu biết hoặc thực hiện các hành vi tình dục giống người lớn

Trẻ em tiểu học (6-12 tuổi) thường:

• Hỏi về kinh nguyệt, việc mang thai và các hành vi tình dục khác

• Thực hiện một số hành vi với những đứa trẻ khác, thường là qua các trò chơi, hôn, động chạm, đóng giả các nhân vật ví dụ như bố và mẹ, bác sĩ và y tá

• Bí mật thủ dâm

Chúng hiếm khi:

• Công khai thủ dâm

• Tỏ ra hiểu biết hoặc thực hiện các hành vi tình dục như người lớn

Trẻ vị thành niên:

• Đặt các câu hỏi về các mối quan hệ và các hành vi tình dục

• Sử dụng ngôn ngữ gợi dục và nói chuyện với bạn bè về các hoạt động tình dục

• Bí mật thủ dâm

• Thử các hoạt động tình dục với những đứa trẻ vị thành niên khác tầm tuổi của chúng*

Ghi chú.

Khoảng 1/3 trẻ vị thành niên quan hệ tình dục trước độ tuổi 16. *(Nghiên cứu và số liệu được thực hiện ở UK)

Chúng hiếm khi:

• Công khai thủ dâm

• Có động chạm mang tính chất gợi dục với những đứa trẻ ít tuổi hơn hoặc người lớn.

Các dấu hiệu cảnh báo của các hành vi tình dục có hại

Một trong những điều khó khăn nhất đối với các bậc cha mẹ là phát hiện ra con mình có thể đã tấn công hoặc lạm dụng tình dục một đứa trẻ khác.

Trong trường hợp này, sự phủ nhận, kích động và tức giận là những phản ứng thường gặp.

Nếu không được đối phó kịp thời, ảnh hưởng của sự việc lên gia đình có thể sẽ rất khủng.

Vì thế nếu bạn nghi ngờ việc này đã xảy ra, bạn lập tức phải liên hệ với ai đó để tìm kiếm lời khuyên.

Ở đây, chúng ta có thể lạc quan rằng sự giúp đỡ kịp thời đối với đứa trẻ và gia đình có thể thật sự thay đổi rất nhiều thứ.

Rất nhiều trường hợp đã chứng minh rằng nếu đứa trẻ nhận được sự giúp đỡ càng sớm, cơ hội để ngăn cho hành vi của chúng trở nên nghiêm trọng hơn là càng cao.

Việc nhanh nhạy với các dấu hiệu cảnh báo thực sự rất quan trọng.

Nếu bạn gặp phải tình huống tương tự, xin hãy nhớ rằng bạn không cô đơn.

Rất nhiều các bậc cha mẹ khác đã phải trải qua tình huống này, và, vì thế, những đứa trẻ và gia đình tìm thấy sự giúp đỡ đã có thể xây dựng lại cuộc sống từ đầu.

Bước đầu tiên cần làm là quyết định rằng việc tìm kiếm sự giúp đỡ từ ai đó là cần thiết.

Bạn có biết một đứa trẻ hoặc trẻ vị thành niên mà:

• Tìm kiếm một đứa trẻ nhỏ tuổi hơn và dành một khoảng thời gian quá dài với chúng?

• Đưa những đứa trẻ nhỏ tuổi hơn đến những địa điểm 'bí mật', chỗ trốn hoặc chơi những trò chơi 'đặc biệt' với chúng ( ví dụ như bác sĩ và bệnh nhân, bắt phải cởi đồ, v.v) đặc biệt là những trò chơi không phù hợp với độ tuổi của chúng?

• Đòi ôm hoặc hôn một đứa trẻ ngay cả khi đứa trẻ không muốn điều đó?

• Nói với bạn rằng chúng không muốn ở một mình với một đứa tre và cảm thấy lo lắng khi đứa trẻ kia đến nhà?

• Thường xuyên sử dụng ngôn ngữ gợi dục hoặc công kích về người lớn hoặc trẻ em?

• Cho những đứa trẻ ít tuổi hơn xem các tư liệu gợi dục?

• Thực hiện các cuộc gọi mang tính chất lạm dụng tình dục?

• Sử dụng rượu hoặc thuốc phiện với những đứa trẻ ít tuổi hơn hoặc trẻ vị thành niên?

• Xem các hình ảnh gợi dục của trẻ em trên mạng hoặc các nguồn khác?

• Cho những đứa trẻ ít tuổi hơn thấy bộ phận sinh dục của mình?

• Ép một đứa trẻ ít tuổi hơn hoặc trẻ vị thành niên quan hệ tình dục?

Nếu câu trả lời của bạn là có cho bất kì câu hỏi nào trong số này, bạn nên nói chuyện với đứa trẻ đó và tìm kiếm sự giúp đỡ.

Bạn có thể làm gì nếu nhận ra những dấu hiệu cảnh báo

Lên một kế hoạch an toàn cho gia đình.

Đừng chờ cho đến khi tìm ra bằng chứng cho việc lạm dụng tình dục.

Nếu bạn cảm thấy lo ngại về các hành vi tình dục của cha mẹ, họ hàng, anh chị em ruột, bạn bè hay hàng xóm, bạn nên cân nhắc việc liên hệ với cảnh sát hoặc dịch vụ chăm sóc bảo vệ trẻ em trong khu vực của mình, họ sẽ thực hiện các hành động cần thiết và phù hợp.

Nếu bạn quyết định không làm như vậy, ít nhất hãy nói chuyện với người đó.

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
Tại sao người ái kỷ muốn bạn mặc cảm về bản thân


Những người ái kỷ sẽ dễ dàng khiến bạn cảm thấy bản thân mình tồi tệ.

Họ là người dễ dàng biến những nhận định tiêu cực thành những lời nói xúc phạm hay những hành động xúc phạm.

Chẳng có ai mà thích thú khi luôn phải nghe những lời lẽ xúc phạm, chọc ghẹo từ nhỏ cho đến lớn.

Cho dù bạn có cố gắng cách mấy để làm lơ những lời xúc phạm, thì bạn vẫn bận tâm phần nào và bạn lo rằng không biết liệu những điều đó có phải là sự thật, là thật sự bạn có vấn đề, rằng bạn ngu ngốc, xấu xí, hay là một thằng đểu.

Bạn sẽ cho rằng những người xúc phạm bạn không cố tình làm bạn cảm thấy mặc cảm mà họ chỉ đang đùa vui, đang thể hiện tình cảm và thân thiện đến mức chọc bạn bằng gai được đặt sẵn.

Sự xúc phạm có thể bắt nguồn từ lời từ chối vô ý, chẳng hạn như khi quản lý nhà hàng gửi cho bạn một cái email nói rằng bạn không được chọn vào làm việc trong khi bạn cảm thấy mình xứng đáng với ngụ ý ám chỉ bạn không đủ tiêu chuẩn lọt vào top A của họ để được đặt trước bàn vào giờ cao điểm.

Nhiều lời xúc phạm bạn để ngoài tai nhưng nhiều cái lại khắc sâu trong lòng đến chục năm.

Bạn sẽ không bao giờ quên khi mà cha vợ đánh giá xấu về khả năng tài chính của bạn, trong khi đó vài năm sau bạn lại là người đóng góp tích cực vào tài chính cho gia đình.

Những lời lẽ xúc phạm nhiều khi chạm vào lòng tự ái gây ra ảnh hưởng tiêu cực.

Bạn có thể quyết định rằng bạn sẽ chứng tỏ cho cha vợ thấy ông đã sai khi mạnh dạn tuyên bố về thu nhập gần đây nhất của mình ở bất kỳ dịp nào có thể.

Điều này khiến cho những người có thể đã quên đi lời xúc phạm ban đầu nghĩ rằng bạn khoe khoang và kiêu ngạo.

May mắn thay không phải ai cũng dành cả đời để nói những lời lẽ châm chọc khiến người khác bị tổn thương.

Xu hướng đưa ra những lời nhận xét làm giảm giá trị người khác liên quan đến tính cách của người ái kỷ (narcissism).

Chẳng hạn:

.

Người có tính ái kỷ cao sẽ xu hướng cho rằng mình quan trọng hơn người khác và do đó xứng đáng được đối xử tốt hơn, một phẩm chất được gọi là những gì người ái kỷ đáng được hưởng.

.

Những cá nhân này dành phần nhiều thời gian cho việc làm đẹp diện mạo bên ngoài và tin rằng bản thân là cái rốn vũ trụ, một dạng nghiêm trọng của việc đặt cái tôi làm trung tâm.

.

Việc tin tưởng rằng mình giỏi hơn người khác là cái gốc làm nên người ái kỷ, và họ thường lợi dụng người khác.

.

Họ thiếu đi sự đồng cảm, do đó họ không nhận ra rằng hậu quả mà những lời chỉ trích hay hành động của họ để lại cho người khác.

.

Họ đưa ra những lời đánh giá về những người mà họ cho rằng thấp kém hơn mình, mà hầu như là tất cả mọi người.

Hiểu được bản chất của người ái kỷ sẽ dễ dàng để hiểu được tại sao họ lại đặc biệt thích đưa ra những nhận xét làm tổn thương người khác.

Tuy nhiên, một số khác cho rằng người ái kỷ chỉ đang giấu đi sự yếu đuối và những thiếu sót của bản thân.

Theo quan điểm này, người ái kỷ xúc phạm người khác để họ tự cảm thấy tốt đẹp hơn về bản thân mình.

Họ có thể đưa ra những lời nhận xét làm giảm giá trị của người khác khi mà họ cảm thấy mình bị đe dọa ở phương diện nào đó, lo sợ rằng khuyết điểm của mình sẽ bị vạch trần.

Ông Sun Park của đại học Hàn Quốc và ông C.

Randall Colvin, nhà tâm lý học đại học Northwestern nghiên cứu để trả lời cho những câu hỏi liệu rằng người ái kỷ dễ tiếp nhận những lời xúc phạm hơn người bình thường, và liệu rằng họ có cảm thấy bị đe dọa.

Những người ái kỷ tự tạo dựng một bức tường tâm lý để ngăn cách những thông tin đe dọa ảnh hưởng đến quan niệm về bản thân của họ.

Những bức tường tâm lý này bao gồm tạo ra rào chắn bảo vệ bằng cách hạ thấp bất kỳ ai mà họ nghĩ là giỏi hơn họ.

Những nghiên cứu cũ cho thấy người ái kỷ tỏ ra cáu gắt với người khác khi họ cảm thấy bị đe dọa chẳng hạn như khi bị xa lánh.

Họ cũng không thích khi bị người khác chỉ trích.

Theo như nghiên cứu của Park và Colvin, hai ông cho rằng người ái kỷ chỉ trích nguồn gốc của những nhận xét tiêu cực.

Họ cho rằng người ái kỷ có xu hướng độc tôn, thích nghĩ rằng mình là người thành công và có quyền lực.

Trong khi đó những người bình thường có lòng tự trọng cao nhưng không phải là người ái kỷ sẽ thích đặt ra những mục tiêu làm hài lòng người khác, hay theo xu hướng xã hội.

Nhiều người đánh giá bản thân mình tốt hơn người khác (hiệu ứng tốt hơn trung bình), nhưng nếu như giả thuyết của Park và Colnic là đúng, thì người ái kỷ sẽ làm như vậy bởi vì quyền lực và danh vọng, còn người bình thường mà có lòng tự trọng cao làm như vậy bởi vì họ là như thế.

Để kiểm chứng điều này, Park và Colnic tuyển các sinh viên đại học làm nhiều cuộc thử nghiệm, trong đó những sinh viên sẽ đánh giá các đối tượng (có thể là người lạ, bạn bè, hoặc là học sinh bình thường ở đại học).

Những nhận định của các sinh viên này về các đối tượng được cho là làm giảm giá trị nếu như những nhận định này thấp hơn mức độ điều chỉnh tối ưu của một người (mức độ này được các giáo sư về sức khỏe tâm lý xác định).

Qua nghiên cứu cho thấy những người có điểm số cao hơn ở thang đo ái kỷ sẽ đánh giá thấp các đối tượng.

Ngược lại, những người có lòng tự trọng cao sẽ không làm giảm giá trị của đối tượng.

Điều này cho thấy rằng, người ái kỷ thích phỉ báng người khác, cho dù không hề có bất kỳ đe dọa trực tiếp nào đến quan điểm cho mình là quan trọng của họ.

Đối với họ, xúc phạm người khác là một điều hiển nhiên.

Theo như kết luận của hai ông, người có lòng tự trọng cao thường xem trọng mọi người hơn là người ái kỷ thường đánh giá mọi người một cách tiêu cực.

Sự khác biệt này nhằm nói rằng có hai xu hướng riêng biệt để thể hiện sự yêu thương bản thân.

Xu hướng yêu thương bản thân gắn với lòng tự trọng cao thì không cần phải đánh giá người khác tiêu cực thì mới gọi là yêu thương bản thân.

Còn xu hướng yêu thương bản thân của người ái kỷ thì ngược lại, cần phải nhìn thấy người khác có những điểm tệ hơn mình.

Những người ái kỷ đơn giản là nhìn mọi người bằng nửa con mắt, luôn cho rằng mình là người cao cơ hơn.

Tuy nhiên bài viết này không thể xác định được là liệu họ có thật sự thấy mình giỏi hơn (vĩ đại hơn) hay là đang cố gắng bù đắp cho khuyết điểm của mình (dễ bị tổn thương).

Kết quả cuối cùng là gì?

Những người ái kỷ sẽ dễ dàng khiến bạn cảm thấy bản thân mình tồi tệ.

Họ là người dễ dàng biến những nhận định tiêu cực thành những lời nói xúc phạm hay những hành động xúc phạm.

Biết rõ nguồn gốc của những cảm xúc tiêu cực là cách tốt nhất để phản kháng lại.

Khi mà một người xúc phạm bạn, hãy nghĩ rằng đây là tấm gương phản chiếu của họ chứ không phải bạn.

Và nếu như bạn thấy mình xúc phạm người khác mà không biết lý do tại sao, rất có thể là bạn đang có tính ái kỷ và do đó bạn nên biết cách để kiềm chế.

_____________________________________________________________

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
Jack The Ripper


Những kẻ săn mồi thời kỳ đầu

Rất nhiều người tin rằng Jack the Ripper (Jack kẻ phanh thây) là kẻ giết người liên hoàn đầu tiên trên thế giới, nhưng quan niệm sai lầm này bắt nguồn từ việc vụ án này được đưa tin rộng rãi tại thời điểm ấy.

Năm vụ giết người mang tên "Saucy Jack" (Jack Xấc xược) trong vòng sáu tuần kinh hoàng tại khu vực Whitechapel của London được dư luận quốc tế quan tâm sâu sắc.

Nhưng hãy đặt nó vào hoàn cảnh hợp lý, để ta có thể thấy cách thức và động cơ của những kẻ giết người liên hoàn xuyên suốt các thời kỳ.

Hẳn nhiên là các yếu tố văn hóa ảnh hưởng đến tính chất của những vụ giết người liên hoàn, vậy nên việc xem xét hoàn cảnh xảy ra vụ án là rất quan trọng.

Một trong những kẻ giết người liên hoàn đầu tiên được ghi nhận là Locusta, một kẻ đầu độc nữ, người đã đưa Nero lên ngôi vua ở thời La Mã cổ đại.

Năm 54 sau Công Nguyên, mẹ của Nero thuê cô hạ độc Hoàng đế Claudius, và sau đó Nero trở thành hoàng đế.

Ông cho phép Locusta tiếp tục, vì thế cô thay đổi công việc trở nên tinh vi hơn và trở thành kẻ săn mồi vì mục đích riêng cho đến khi cô ta bị xử tử, sau khi Nero qua đời.

Khi các vị vua La Mã mất dần quyền lực, Thiên Chúa giáo lên ngôi và vươn ra khắp châu Âu trung cổ, với sứ mệnh của La Mã và Constantinople phải ngăn chặn các cuộc tấn công của người Hồi giáo xung quanh Địa Trung Hải.

Các quý tộc khát máu lợi dụng việc thiếu luật pháp tội phạm dành cho người thuộc địa vị cao như họ để thỏa mãn cơn thèm khát ghê tởm của mình.

Lãnh chúa phong kiến nắm quyền và không ai dám ý kiến với những hành động của hắn ta.

Gilles de Rais là một trong số những người giàu có nhất nước Pháp vào khoảng đầu đến giữa thế kỷ mười lăm.

Hắn trung thành ủng hộ Jeanne d'Arc, vừa là cố vấn quân sự vừa là người bạn tâm tình của bà, và hắn trước sau tin tưởng vào những điều kỳ diệu từ cô gái này.

Sau khi bà bị thiêu chết vào năm 1431, huyễn tưởng của Gilles de Rais bước sang một ngã rẽ: hắn dấn thân vào những lễ nghi phép thuật có bao gồm trẻ em làm vật tế.

Hắn rất thích thú điều này, và cho thuộc hạ đi bắt trẻ em từ các gia đình nông dân để hắn cưỡng hiếp và giết hại - thường là vào các buổi tiệc bữa tối.

Khi chịu cực hình và bị đe dạo vạ tuyệt thông, hắn thừa nhận đã sát hạt hơn một trăm nạn nhân.

Dù tra khảo bằng cực hình không mấy đáng tin, những trên thực tế người ta vẫn tìm thấy xương cốt trong một vài lâu đài của hắn.

De Rais có một phiên bản nữ xuất hiện sau đó một thế kỷ, nữ Bá tước Hungary Erzebet Báthory, sinh năm 1560.

Bà cũng có cho mình lãnh địa rộng lớn nhờ vào địa vị quý tộc.

Mười lăm tuổi, bà kết hôn với một kẻ bạo dâm là Bá tước Nadasdy, còn gọi là "Black Hero" (Anh hùng Đen).

Hắn dạy cho bà cách đánh đập thuộc hạ bán sống bán chết.

Sau khi Nadasdy chết vào năm 1604, Erzebet tăng cường độ đánh đập tàn bạo và tùy hứng của mình và không lâu sau đã hành hạ và giết hại phanh thây các cô gái.

Bà ra lệnh cho các tỳ nữ đi dụ dỗ trẻ em và phụ nữ trẻ đến chỗ mình, để bà có thể thỏa mãn dục vọng.

Bà găm kim vào các bộ phận nhạy cảm trên cơ thể họ, chặt đứt ngón tay, dùng dao róc da cô gái, hoặc đập vỡ mặt họ.

Trong ngục tối, các cô gái bị xích vào tường, được nuôi béo, và bị rút máu.

Khi Erzebet chuyển hướng bạo dâm của mình sang các nữ quý tộc trẻ, bà ta đã bị ngăn chặn.

Sau vụ giết người năm 1609, vụ án mà Erzebet đã cố ngụy tạo thành vụ tự tử, các nhà chức trách đã vào cuộc điều tra.

Tìm thấy xác tại lâu đài của bà, họ đã bắt giữ Erzebet.

Bà trải qua hai phiên tòa riêng biệt, và ở phiên tòa thứ hai, người ta tìm thấy ở nhà bà một quyển sổ có chữ viết của bà ghi lại hơn 650 nạn nhân.

Lời khai của nhân chứng về cách thức hành hạ của bà khiến đến cả thẩm phán cũng phải tái mặt, và họ không thể tưởng tượng một người lại có thể nghĩ ra nhiều kiểu hành hạ khác nhau đến thế.

Erzebet nhận mức án tù chung thân trong một căn phòng nhỏ tại chính lâu đài của mình, và đó cũng là nơi bà chết vào năm 1614.

Có truyền thuyết kể rằng một lần Báthory bị dính máu trên tay sau khi tát một cô hầu gái và tin rằng nó khiến da dẻ bà trông trẻ hơn.

Để phục hồi sắc đẹp, bà bắt đầu hình thành thói quen tắm máu trinh nữ.

Dù đây là bịa đặt hay là thật, nữ bá tước được ghi nhận là người đầu tiên có động cơ giết người là máu.

Nếu con số ghi nhận đáng tin, bà ta cũng là người giết hại nhiều nạn nhân nhất.

Cũng như các quý tộc hưởng thụ đặc quyền địa vị của mình, trong giai cấp nông dân khắp châu Âu, một số mê tín cũng dấy lên những ảo tưởng khơi nguồn cho các hành vi tàn bạo.

Nhà thờ Thiên chúa giáo cai trị châu Âu hàng thế kỷ, dù khoa học đã chứng minh trái đất xoay quanh mặt trời, chức năng của cơ thể, và cách thức hoạt động của trọng lực, các nhà triết học vẫn hưởng lợi từ Thời kỳ Khai sáng, và Luther khai sinh ra đạo Tin lành.

Trong khoảng thời gian tín ngưỡng tôn giáo này, giữa 1573 và 1600, một số người bị buộc tội danh "hóa sói" (lycanthropy) - giết người như thể là người sói.

Trong một khoảng thời gian có khoảng 30,000 vụ án như vậy được trình báo đến các nhà chức trách.

Một số người còn cho rằng họ bị dính lời nguyền thú vật, và rất thường thấy các vụ án có liên quan đến ăn thịt người hay quan hệ tình dục với xác chết, hoặc cả hai.

Trong số những "người sói" nổi bật có Gilles Garnier, người đã nói trong phiên tòa rằng sau khi nhận được thuốc mỡ thay đổi hình dạng thành sói, hắn cảm thấy mình buộc phải rình rập và giết hại trẻ em.

Hắn xâu xé bọn trẻ bằng răng và đem về vài miếng thịt cho vợ nấu.

Năm 1573, hắn bị thiêu sống.

Đức cũng có vụ án tương tự với Peter Stubble, người đã khủng bố vùng nông thôn suốt hai mươi lăm năm.

Sách nói rằng hắn khai mình có chiếc dây thắt lưng dính bùa mê hỗ trợ hắn "thay đổi", và hắn cũng săn đuổi trẻ em, bao gồm cả chính đứa con trai của mình.

Hắn bị tố cáo cùng với vợ và con gái thành một "băng", và cả ba đều bị buộc tội giết người.

Một thế kỷ sau, trong vòng mười năm, Marie de Brinvilliers ở Paris đã hạ độc hơn năm mươi người, và vào năm 1680 Catherine La Voison, thê thiếp của Vua Louis XIV của Pháp, bị bắt cùng với một thầy tế vì nghi thức tế trẻ sơ sinh và uống máu gây xôn xao dư luận.

Người ta đồn rằng có khoảng vài trăm nạn nhân, thậm chí có thể hơn một ngàn.

Hạ độc là một trào lưu trong xã hội trung cổ, và ở Ý năm 1719, La Tofania có liên quan đến cái chết của hơn 600 nạn nhân.

Ở Đức có Gessina Gottfried, hạ độc người khác mà không gặp trở ngại trong suốt mười ba năm.

Có thể còn có rất nhiều kẻ hạ độc liên hoàn khác không bao giờ bị bắt hoặc ghi nhận, vì một số người biến việc này thành một nghệ thuật và chỉ giao dịch với người giàu muốn xóa sổ một người nào đó ngáng đường thừa kế của họ.

Phải đến thế kỷ mười chín thì ngành độc học pháp y có thể khẳng định chắc chắn chất arsen có hiện diện trong cơ thể nạn nhân hay không, vì vậy thời gian trước đó hạ độc là một cách giết người dễ dàng.

Ngay cả khi có thể nhận diện được arsen, các loại độc khác lại xuất hiện.

Vì vậy vụ án giết người liên hoàn và độc dược học phát triển một mối quan hệ phức tạp.

Giết người liên hoàn cập bến nước Mỹ và bắt đầu với tổ đội anh em họ - Micajah và Wiley Harpe - người đã giết hại họ hàng và người lạ một cách tùy hứng trên lãnh thổ Kentucky và Tennessee.

Họ giết hại khoảng từ hai mươi đến bốn mươi nạn nhân, bao gồm cả con đẻ của mình, bị giết ngay lập tức sau khi ra đời, sau đó cả hai đều bị bắt và hành hình.

Điều kiện giết người thời hiện đại

Ở châu Âu, với sự phát triển tinh vi của các phát minh khoa học, công nghệ công nghiệp, và những khám phá y học diễn ra song song với sự suy tàn của đế chế tín ngưỡng, trong cộng đồng y học xuất hiện những cách thức mới khơi nguồn cho một kiểu giết người liên hoàn mới.

Các bác sĩ cần giải phẫu tử thi để biết rõ hơn về căn bệnh và giảng dạy giải phẫu ở người cho các học sinh ngành y.

Vì vậy họ đã khuyến khích cho hành vi cướp mộ.

Những "kẻ đào trộm xác chết" rất giỏi cuỗm xác ra khỏi mộ nhanh chóng, nhưng một số người lại không thích phải tốn công đến vậy.

Ở Scotland, WIlliam Burke và William Hare đã tìm cách có một xác chết ở điều kiện hoàn hảo nhất, không một vết trầy xước.

Họ mở một nhà trọ và chuốc say nạn nhân và dùng cánh tay siết cổ họ hoặc ngồi lên ngực đồng thời bịt mũi họ.

Trong vòng chín tháng, họ giết mười sáu người, bán cho một bác sĩ cho đến khi bị bắt vào năm 1828.

Trong khoảng thời gian đó, rất nhiều kẻ hạ độc khác nổi lên: Helene Jegado giết hai mươi ba người ở Pháp, và ở bên kia eo biển Manche bác sĩ William Palmer người Anh hạ độc mười bốn người, và ở Đức Anna Maria Zwanzinger kết liễu tám người.

Mary Cotton dùng arsen để giết con ruột, con riêng của chồng, chồng, và mẹ.

Đó là khoảng thời gian mà rất nhiều người chết vì căn bệnh lạ là sốt thương hàn, và cũng là khi người ta hưởng lợi từ tiền bảo hiểm.

Vậy nên Mary Cotton đã tăng tiến địa vị xã hội của mình bằng cách đánh đổi gia đình hết lần này đến lần khác.

Ngay cả trẻ em cũng trở thành những kẻ giết người máu lạnh, và nước Mỹ chấn động với vụ án Jesse Pomeroy, 14 tuổi, bị bắt vào năm 1874 và được gọi là "Boston Boy Fiend" (Cậu bé quỷ xứ Boston).

Các hành động của cậu bé bao gồm hành hạ, đánh què, và giết hại những đứa trẻ khác.

Cũng tại Boston, vào năm 1876, cha xứ Thomas Piper bị khép tội "Boston Belfry Murderer" (Kẻ sát nhân tháp chuông Boston).

Hắn thừa nhận thực hiện bốn vụ giết người tình dục tàn bạo, bao gồm một vụ án với trẻ em năm tuổi, hắn bảo rằng hắn thực hiện vụ này khi đang dùng loại thuốc gây ảo giác rất phổ biến thời bấy giờ, thuốc phiện.

Lý do của hắn không đủ để giảm nhẹ án, và Piper bị treo cổ.

Ở cùng thời điểm, "Nebraska Fiend" (Con quỷ xứ Nebraska) giết hại chín mạng người trước khi bị lật tẩy là Stephen Richards và bị bắt vào năm 1879.

Ở Austin, Texas, năm năm sau đó, bảy phụ nữ bị sát hại trong vòng một năm.

Chuỗi giết người dừng lại vào đêm Giáng sinh năm 1885.

Dù vụ án này không bao giờ được phá, nhưng khi lật lại chứng cứ thì mũi lao hướng về phía một chính trị gia giàu có được gọi là "Kẻ trừ khử các cô hầu gái" (Servant Girl Annihilator).

Cũng tương tự với một kẻ còn khét tiếng hơn xuất hiện sau đó ba năm với những vụ án giết người kế tiếp: những vụ án của Jack the Ripper.

"Jack"

Ta có thể dễ dàng nhận thấy Red Jack (Jack Đỏ) không phải là kẻ giết người liên hoàn đầu tiên.

Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu vụ án Jack the Ripper, hay "Ripperologist", vụ án giết hại nhiều người như Jack the Ripper là vụ đầu tiên xảy ra tại một thành phố lớn và thu hút đông đảo sự chú ý của cảnh sát và dư luận.

Hơn ba trăm tờ báo trên toàn thế giới đưa tin.

Hắn cũng có thể là kẻ giết người liên hoàn đầu tiên giao tiếp với cảnh sát về tội ác của mình (nếu hắn thực sự là tác giả của những lá thư được gửi, không ai biết có phải là hắn viết hay không).

Đây là vụ án được xem là bản tóm lược án giết người dục vọng có xu hướng ép buộc, điều ta sẽ đi sâu tìm hiểu ở những chương tiếp theo, hãy xem qua chi tiết của vụ án này.

Ở khu vực Whitechapel ở vùng East End thuộc London, mọi chuyện bắt đầu vào một ngày thứ sáu, 31 tháng 8 năm 1888, lúc 1 giờ sáng, khi Polly Nichols, 42 tuổi, ra ngoài để nhận bốn xu.

Thi thể cô được tìm thấy trong trạng thái bị cắt cổ, tốc váy, dạng chân, và có những vết cắt sâu ở bụng.

Ngoài ra còn có hai vết thương nhỏ ở bộ phận sinh dục.

Dù khá tàn bạo, nhưng vì cô gái ấy là gái mại dâm nên vụ án không nhận được nhiều sự quan tâm.

Nạn nhân tiếp theo là Annie Chapman, 45 tuổi, được phát hiện một tuần sau đó vào buổi sáng ngày 8 tháng 9.

Váy của cô ấy cũng bị kéo lên qua đầu, bụng bị rạch toác, và ruột cô vắt qua vai trái.

Chân xếp lên trên, đầu gối gập và hướng ra ngoài.

Hung thủ đã dùng một vật nhọn, như là dao mổ, để cắt cổ cô gái gần lìa.

Tiền xu và phong bì được xếp xung quanh cô gái và bóng đái, một nửa âm hộ, và tử cung đã bị lấy ra khỏi người và mang đi.

Sau đó một vài bức thư được gửi đến Văn phòng Tin tức Trung tâm trong khoảng ngày 17 và 29 tháng 9, ký tên "Jack the Ripper".

Một trong số những lá thư cho rằng hắn "săn lùng gái điếm" và sẽ tiếp tục giết người.

Những lá thư này cũng có thể là do các nhà báo muốn vẽ thêm chuyện để tung tin, dù một số chuyên gia cho rằng chúng đều liên hệ với kẻ giết người, nhưng biệt danh trên được tiết lộ ra cộng đồng và được mọi người nhớ tới, nhất là khi càng có thêm nhiều cái chết nữa.

Đến cuối tháng đó, vào ngày 30 tháng 9, hai nạn nhân bị tấn công trong cùng một đêm.

The Ripper chém cổ Elizabeth Stride, 45 tuổi, chỉ một vài phút trước khi cô gái được tìm thấy, và ít hơn một giờ đồng hồ sau Catherine Eddowes, 43 tuổi, cũng nhanh chóng được phát hiện trong tình trạng bị chém và moi ruột (cách vị trí thi thể Stride năm phút đi bộ).

Một điều rõ ràng thể hiện qua đêm hôm đó là kẻ giết người đã trợ nên táo tợn hơn và càng bộc lộ rõ triệu chứng bệnh tâm thần.

Với Eddowes, ruột bị lấy ra và vắt trên vai phải, tử cung và một quả thận bị cắt ra và lấy đi, và bị rạch những hình tam giác trên má.

Mi mắt bị xén đi và mũi bị cắt bỏ.

Sau đó là lá thừ "từ Địa ngục" đến cơ quan đầu não của tổ chức trật tự trị an Whitechapel, với những chiến lợi phẩm ghê rợn: một nửa quả thận bị bệnh Bright - một chứng rối loạn mà Eddowes mắc phải.

Tác giả lá thư nói rằng đã chiên và ăn nửa quả thận còn lại.

Người ta tin rằng lá thư ấy chắc chắn là do hung thủ gửi và hắn còn hẹn sẽ gửi "con dao dính máu" vào một ngày định sẵn.

Lá thư khép lại với một câu khiêu khích, "Có giỏi thì bắt ta đi" (Catch me if you can).

Cảnh sát nhận ra rằng họ đang gặp phải một kẻ giết người đang sôi máu, và họ thì đanglúng túng.

Chờ đợi một điều gì đó sẽ xảy ra vào ngày 8 và 30 tháng 10, vì đây là ngày mà hung thủ hành động trong tháng 9, họ đẩy mạnh tuần tra, nhưng trong tháng đó không có thêm một vụ giết người nào.

Dù vậy, trực giác mách bảo rằng họ không sai về ngày, chỉ là hơi sớm thôi.

Nạn nhân cuối cùng và trẻ tuổi nhất, Mary Kelly, 24 tuổi, hứng chịu cơn phát tiết mãnh liệt nhất của kẻ giết người điên rồ này.

Vào ngày 8 tháng 11, cô mời một người đàn ông đến phòng của mình.

Cô đóng màn cửa để chuẩn bị, và sau đó hắn trùm tấm vải lên đầu cô và đâm cô xuyên qua nó.

Hắn cắt cổ và chém rách thân dưới, moi ruột ra, và róc da ngực và chân của cô gái.

Máu văng khắp nơi trong phòng.

Khi cảnh sát đến, họ tìm thấy một bên ngực bị cắt rời để trên bàn bên cạnh cô gái, cùng với đầu mũi và tai.

Bụng của cô gái trống rỗng và ruột gan trải khắp giường và còn bị ném vào tường.

Quả tim cũng bị lấy đi, thịt chân và mông bị xẻo tới tận xương.

Các bác sĩ ước chừng cơn phát tiết kéo dài khoảng hai giờ đồng hồ.

Cảnh sát điều tra rất nhiều nghi phạm, nhưng cuối cùng, không ai bị buộc tội cả.

Một số chuyên gia tình rằng có ít nhất hai vụ nữa, một trước vụ của Nichols và một sau vụ Mary Kelly.

Dù con số có là bao nhiều, thì sự tàn bạo của Ripper đã cho thấy hắn là một kẻ cuồng loạn và nguy hiểm không có điểm dừng, trừ phi bị bắt vào tù hoặc tự tử (một số nghi phạm đã tự tử hoặc bị giết).

Thế nhưng các vụ giết người có vẻ như đã dừng lại, cho dù Mary Kelly có phải nạn nhân cuối cùng hay không.

Ripper có là ai thì cũng đã cao chạy xa bay, cũng chính vì không ai xác định được danh tính của hắn nên hắn mới lưu danh cả thế kỷ.

Red Jack cũng khơi nguồn một số vụ án giết người bắt chước hắn ở một số nơi khác, như Moscow, Nicaragua, và Vienna.

Ít nhất một tác giả trinh thám thực (true-crime) tin rằng hắn đã đến Mỹ và có liên quan đến hai vụ án mạng ở San Francisco có tên "Monster of the Belfry" (Quái vật tháp chuông), hung thủ được khởi tố và buộc tội là Theodore Durrant.

Sau khi chuỗi án mạng kinh hoàng của Ripper lắng xuống, H.

H.

Holmes bị bắt với tội giết người ở Philadelphia và một kẻ giết người liên hoàn mới được vạch trần.

Herman Webster Mudgett, còn gọi là H.

H.

Holmes, đã xây dựng một "lâu đài" ở Chicago trong khoảng thời gian diễn ra Triển lãm thế giới 1893.

Hắn tạo phòng cho các cô gái trẻ, nhốt họ ở trong, thả hơi độc vào và hắn sẽ xem họ chết.

Sau đó hắn cho xác trượt xuống cái máng đặc chế thẳng xuống tầng hầm, nơi có một lò luyện, rồi hoặc là thiêu rụi xác, hoặc là thả cho bị ăn mòn trong một bể acid, hoặc lóc thịt ra khỏi xương để bán bộ xương cho các trường y.

Hắn thừa nhận gây ra hai mươi bảy vụ giết người, mặc dù sau đó hắn chối bỏ, nhưng một số chuyên gia tin rằng số lượng nạn nhân lên đến hơn một trăm người.

Trong "lâu đài" mà hắn xây nên, điều tra viên tìm thấy các phòng ngủ với các lỗ nhìn trộm, tường lót asbestos, ống khí, tường trượt, và lỗ thông mà Holmes điều khiển từ phòng ngủ của mình.

Tòa nhà có những lối đi bí mật, sảnh đi vòng tròn, các tầng lầu giả, phòng với những dụng cụ hành hạ, và phòng mổ được trang bị riêng biệt.

Du khách mua vé để tham quan, nhưng tòa nhà đã bị đốt cháy.

Holmes cũng bị hành hình.

Danh sách những kẻ giết người liên hoàn ở thế kỷ hai mươi trở về sau khá là dài.

Quyển sách này không đủ để nói hết về nó, nhưng ta sẽ điểm qua các đại diện của một số động cơ giết người liên quan.

Red Jack thuộc thể loại mà ta đã biết là kẻ giết người vì dục vọng - những kẻ đạt khoái cảm khi giết người.

Chúng ta sẽ nghiên cứu về thể loại này đầu tiên.

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
Kẻ thù không ở người ngoài, mà tiềm ẩn bên trong ta


Trên mạng hay trong những cuộc nói chuyện ngoài đời, không ngày nào chúng ta không nghe thấy những câu như "Đúng là những con vật chứ không phải con người nữa rồi" hay "Đồ cầm thú, xử tử hết!" hay "Tại sao lại không công khai danh tính những con sâu này nhỉ"...

Tước đi tính người là một trong những động tác chuẩn bị cần thiết để người ta có thể trở nên tàn nhẫn...

Chúng ta đều mang trong mình mầm mống của cái ác, điều quan trọng là chúng ta có ý thức để những mầm mống ấy không nảy nở.

Chúng ta thường thích nghĩ rằng mình là người tốt bụng và nhân hậu.

Nhưng để tàn nhẫn dễ hơn rất nhiều so với người ta tưởng.

Nhà thơ Sam Keen chỉ cho chúng ta thấy ta có thể dễ dàng biến người khác thành kẻ thù như thế nào:

Bắt đầu với mảnh toan trắng

Hãy phác lên những hình hài đàn ông, đàn bà, trẻ con.

Làm nhoà đi những nét cá nhân đáng yêu của mỗi khuôn mặt.

Xoá đi dấu vết của vô số hy vọng, tình yêu, sợ hãi, được phóng qua kính vạn hoa của mỗi trái tim hữu hạn.

Chỉnh nụ cười cho tới khi nó trở thành hình cung đi xuống của sự độc địa.

Phóng đại từng đường nét cho tới khi con người hoá thành quái vật, sâu bọ, côn trùng.

Phủ kín nền tranh bởi những hình thù hung dữ từ những ác mộng cổ xưa – tà ma, ác quỷ, lâu la của cái ác.

Khi đã vẽ xong hình kẻ thù, bạn sẽ có thể giết mà không thấy tội lỗi,

tàn sát mà không hề xấu hổ.

("Vẽ mặt kẻ thù", Sam Keen)

Không gọi ra tên, nhưng trong bài thơ, Sam Keen đã mô tả quá trình phi nhân hoá (dehumanizing trong tiếng Anh).

Khi phi nhân hoá người khác, chúng ta tước đi nhân tính của họ, không coi họ là người nữa, phủ nhận ở họ khả năng có những cảm xúc phức tạp của con người như hối hận, tự hào hay hoài niệm, biến họ thành những tranh biếm hoạ hai chiều, hoặc hèn hạ hoặc ác hiểm.

Như một kỹ xảo phần mềm, chúng ta lấy hình ảnh một con người và biến nó thành quái vật, sâu bọ, côn trùng, tà ma, ác quỷ.

Tôi không rõ Sam Keen nổi tiếng cỡ nào, nhưng dường như rất nhiều người thuộc lòng bài thơ này của ông và áp dụng các chỉ dẫn một cách nhuần nhuyễn để vẽ hình kẻ thù của mình.

Trên mạng hay trong những cuộc nói chuyện ngoài đời, không ngày nào mà chúng ta không nghe thấy những câu như "Đúng là những con vật chứ không phải con người nữa rồi" hay "Đồ cầm thú, xử tử hết!" hay "Tại sao lại không công khai danh tính những con sâu này nhỉ?" hay "Tư cách nó không bằng con chó".

Tước đi tính người là một trong những động tác chuẩn bị cần thiết để người ta có thể trở nên tàn nhẫn.

Nó là một mắt xích quan trọng trong bất cứ một quá trình bạo lực dẫn tới diệt chủng nào.

Không phi nhân hoá, người ta không thể xuống tay giết những người khác chỉ vì họ khác về mầu da, sắc tộc, lý tưởng hay tôn giáo.

Vào đầu thế kỷ XVI, thực dân Tây Ban Nha coi người da đỏ ở Châu Mỹ mà Colombus mới phát hiện ra là "thú vật biết nói" và "quái vật hình người".

Phát xít Đức gọi người Do thái là "sâu mọt", "vi khuẩn", "ký sinh", hoặc với tất cả sự lạnh lùng của khoa học, là untermensch, "người hạ cấp".

Năm 1943, Hitler tuyên bố "Ngày nay, cũng giống như ở thời cổ, dân Do thái toàn cầu là những dòi bọ sinh ra khi con người và các quốc gia phân huỷ.

Và nó sẽ mãi như vậy nếu như người ta không tìm thấy sức mạnh để thoát khỏi chúng".

Ở Rwanda năm 1994, đài phát thanh Libre des Mille Collines của người Hutu kêu gọi diệt "lũ gián", tức là người Tutsi, mở đầu cho 100 ngày đẫm máu, trong đó người Hutu dùng giao rựa giết chừng 800.000 người Tutsi. (

Sau này, một tòa án quốc tế xử một lãnh đạo của đài tù chung thân, và một lãnh đạo khác 35 năm tù).

Trong cuốn "Không hẳn là người – Vì sao chúng ta hạ thấp, nô dịch hoá và tiêu diệt người khác", tác giả David Livingstone Smith đưa ra một loạt ví dụ khác.

Trong Chiến tranh Thế giới hai, người Mỹ gọi người Nhật là chuột.

Ở trại giam khét tiếng Abu Ghraib của Mỹ, năm 2004, Thiếu tướng Geoffrey Miller ra lệnh cho cấp dưới đối xử với các tù nhân Iraq như súc vật, và "nếu một lúc nào đó anh để chúng nghĩ rằng chúng hơn chó thì đó là lúc anh đã đánh mất sự kiểm soát".

Năm 2006, phát thanh viên Neal Boortz của Mỹ bình luận đạo Hồi là "một virus chết người đang lan tràn qua Châu Âu và phương Tây," và "chúng ta đã đợi quá lâu để tìm ra một vaccine chống lại nó".

Ở Palestine, trẻ con được hát ru "Palestine là đất nước ta, Do Thái là chó của ta".

Ở phía bên kia, một giáo sĩ Do Thái tuyên bố "Không có súc vật nào tệ hơn lũ Ả Rập".

Không chỉ trong chiến tranh và quá khứ, hàng ngày, hàng giờ, phi nhân hoá xảy ra trong các tình huống đời thường khác nhau.

Năm 2015, nhà báo Katie Hopkins của tờ lá cải Anh The Sun trở nên "nổi tiếng" khi cũng dùng chữ "lũ gián" để chỉ những người Trung Cận Đông đang tới Châu Âu xin tị nạn.

Vào giữa tháng 2.2016, một đám đông người Đức chặn đường một chiếc xe buýt chở người tị nạn vào nơi ở mới, gào thét: "Để xem những loại dòi bọ nào xuống xe nào!", "Lũ rác rưởi biến đi!" và "Bọn tị nạn hạ đẳng!"

*

Nhà tâm lý học Albert Bandura của Đại học Standford, Mỹ, là người đầu tiên thiết lập mối liên kết giữa phi nhân hoá và hiện tượng mà ông gọi là "không ràng buộc về đạo đức" (moral disengagement).

Trong một thí nghiệm của ông, hai nhóm sinh viên cùng được giao nhiệm vụ quản lý một số người làm một công việc nhất định, và giật điện họ nếu họ mắc lỗi.

Trước khi bắt đầu, cả hai tốp sinh viên đều "tình cờ" nghe được những người tổ chức thí nghiệm nói chuyện với nhau về những người lao động kia, một nhóm thì được khen ngợi, nhóm kia thì bị miệt thị.

Kết quả là nhóm sinh viên phụ trách những người bị phi nhân hoá trước đó đưa ra những cú điện giật ở mức cao hơn rất nhiều so với nhóm kia, mặc dù những "lỗi lầm" là tương tự nhau.

Điều gì đã xảy ra?

Nhóm sinh viên đầu đã thả lỏng quan niệm về đạo đức của mình.

Một cách vô thức, họ cho rằng không cần phải đối xử "bình thường" với những kẻ đã bị tước đi tính người.

Những kẻ bị tước đi tính người trở thành những sinh vật để người ta quản lý và sử dụng (ví dụ các nô lệ), hay để hành hạ và tiêu diệt (ví dụ các kẻ thù), mà ta không cần phải băn khoăn gì về mặt đạo đức hết.

Binh lính Phát xít Đức có thể tàn sát phụ nữ và trẻ em Do Thái tuỳ thích, nhưng họ sẽ bị kỷ luật nặng nếu không nộp lên trên tư trang hay tiền bạc họ lấy được từ nạn nhân, bởi đó là một hành vi vô đạo đức.

Con người vốn có khả năng hợp tác với nhau, và với khả năng tuyệt vời này họ có thể xây dựng được những xã hội phức tạp và những công trình vĩ đại.

Nhưng khi chúng ta không coi những nhóm người nhất định là đồng bào nữa, trí tưởng tượng của chúng ta sẽ nhanh chóng biến họ thành con vật, và giải phóng trong ta những mong muốn phá huỷ kẻ khác mà bình thường chúng ta vẫn kiểm soát được.

Phi nhân hoá vô hiệu hoá khả năng kiểm soát này, nó mở cửa lồng cho xu hướng bạo lực trong chúng ta.

Nhưng vì sao lại vậy?

Gọi người khác là "con vật" không phải chỉ là một động tác làm nhục đơn thuần.

Không chỉ là lời nói, nó phản ánh cách chúng ta nghĩ về người khác.

Nó cắt đứt quan hệ người – người giữa kẻ gọi và kẻ bị gọi, và biện hộ cho bạo lực.

Đạp một con người thì sai trái, nhưng đạp một con chuột mang vi trùng dịch hạch thì thật đáng được khen ngợi.

Càng ít cảm thấy người khác là đồng bào của mình, chúng ta càng ít thấy có lỗi khi làm họ đau.

Ruồng bỏ một người, và ta có thể dễ dàng tàn nhẫn với họ hơn.

Không tước đi tính người của nạn nhân, ta sẽ vướng vào dằn vặt nội tâm và xung đột lương tâm.

Đó là tình huống của nhiều người phải thi hành án tử hình.

Vẫn nhìn tử tù như một con người, họ thi hành án với cảm giác mặc cảm, miễn cưỡng.

Đó cũng là lý do trong chiến tranh người ta thấy bắn đối phương ở cự ly xa dễ dàng hơn là khi quân địch ở ngay trước mắt, hiện ra là người bằng xương bằng thịt.

Trong khi một đứa trẻ có thể nhìn thấy ở các con vật, thậm chí ở đồ vật, cái tâm hồn của người, và trò chuyện, kết bạn và thương yêu chúng, thì phi nhân hoá là quá trình ngược lại.

Không phải là người nữa, những kẻ bị phi nhân hoá không xứng đáng để nhận được sự thấu cảm nữa.

Lúc đó, người ta có thể hành hạ họ một cách vô tư.

Hoặc ít nhất, người ta có thể hoàn toàn thờ ơ với nỗi đau của họ.

Trong cuốn "Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn" của Mark Twain, viết năm 1884 về cuộc sống dọc sông Mississippi ở miền Nam nước Mỹ, với nạn phân biệt chủng tộc sâu sắc trong xã hội, có đoạn cậu bé Huck bịa chuyện ra là chiếc tàu thuỷ hơi nước bị nổ, để giải thích cho bà cô vì sao mình lại tới muộn.

"Bọn cháu bị nổ một cái đầu xi-lanh ạ."

"Trời ơi, có ai bị làm sao không?

"Không cô ạ.

Một thằng da đen bị chết."

"May đấy cháu; vì thỉnh thoảng có người bị thương đó."

Phát xít Đức làm rất nhiều thí nghiệm "khoa học" trên các tù nhân Do Thái.

Họ bị bắt uống nước biển, hít hơi độc, bị cấy vi trùng để gây nhiễm trùng, hay gây bỏng bởi phốt pho.

Trong một bức ảnh nổi tiếng chụp trong trại tập trung Dachau, người ta thấy hai bác sĩ quân đội ngồi xung quanh một bồn tắm, vẻ mặt tập trung, bên cạnh có người cầm giấy bút ghi chép.

Họ đang làm một thí nghiệm.

Bồn tắm được đổ đầy nước đá, một tù nhân mặc bộ quân phục đặc biệt mùa đông, nằm trong bồn để thử hiệu quả của nó.

Các tài liệu ghi lại tỉ mỉ số liệu của các thí nghiệm này vẫn còn được giữ lại: "Nhiệt độ nước: 5.2 độ C | Nhiệt độ cơ thể khi đem ra khỏi nước: 27.7 độ C | Thời gian ở trong nước: 66' | Thời gian tới khi chết: 66'

Nhiệt độ nước: 6.0 độ C | Nhiệt độ cơ thể khi đem ra khỏi nước: 29.2 độ C | Thời gian ở trong nước: 80' | Thời gian tới khi chết: 87'

Phi nhân hoá luôn là vũ khí lợi hại của các bộ máy tuyên truyền trong các xung đột.

Chiến tranh không được mô tả như là một quá trình chúng ta giết đồng loại, mà là chúng ta cắt đứt ung nhọt, đau đớn nhưng cần thiết để cơ thể ta khoẻ mạnh.

Vì sao những người Campuchia vốn hiền lành như vậy lại có thể giết gần 1/4 đồng bào của mình chỉ trong vòng vài năm, nhà nhân học Alexander Hinton tự hỏi.

Trong cuốn "Vì sao họ giết người: Campuchia trong bóng tối của diệt chủng", ông cho rằng những thủ phạm đã vượt được qua stress về tinh thần và xung đột nội tâm, và trở thành những sát thủ máu lạnh thông qua 5 quá trình: Phi nhân hoá các nạn nhân; dùng uyển ngữ cho bạo lực và giết chóc; thay đổi quan điểm đạo đức (moral restructuring); thích nghi với tàn sát thông qua huấn luyện và sự lặp đi lặp lại, và cuối cùng là khước từ trách nhiệm cá nhân cho các hành vi của mình.

Trong nhiều trường hợp, người bị phi nhân hoá còn được coi là ở dưới động vật.

Hitler bắt đầu ăn chay trường từ năm 1938, ba năm trước khi Phát xít Đức thu gom và giết người Do Thái một cách có hệ thống, và tỏ ra rất đau khổ mỗi khi nhìn thấy ảnh động vật bị hành hạ.

Trong bộ phim tài liệu "Sát nhân trình diễn" ("The act of killing") làm năm 2012 của đạo diễn Joshua Oppenheimer về đợt thanh trừng đảng viên Đảng Cộng sản ở Indonesia vào năm 1965 khiến gần 1 triệu người thiệt mạng, nhân vật chính – kẻ đã từng tự tay dùng dây thép xiết cổ các nạn nhân của mình, chơi hàng giờ cùng hai đứa cháu trai và mấy con vịt con ở trang trại của mình.

"Cháu xin lỗi vịt đi," ông ta nói rất nhẹ nhàng, 'cháu nói đi, "Vịt ơi, tớ xin lỗi, tớ vô ý ném dép làm gẫy chân cậu'".

Cảnh phim tài liệu "Sát nhân trình diễn" ("The act of killing") năm 2012 của đạo diễn Joshua Oppenheimer.

Cuối cùng, trớ trêu thay, khả năng coi đồng loại như súc vật là một khả năng mà chỉ con người có.

Để phi nhân hoá người khác, người ta trước hết phải có một khái niệm cơ bản, có thể ngầm hiểu nhưng không được trình bày ra, về thế nào là làm người, và sau đó xếp những người kia ra bên ngoài khái niệm đó.

Loài vật không làm được việc đó; chó có thể cắn xé nhau, tranh nhau thức ăn hay lãnh địa, nhưng chúng sẽ không coi những con chó khác "không phải là chó nữa".

*

Ngày 4.4.1968, ngày Martin Luther King bị ám sát bởi một kẻ phân biệt chủng tộc, Jane Elliot – một giáo viên lớp 3 ở Mỹ, nảy ra ý tưởng cho các học sinh của mình, tất cả đều là da trắng và xuất thân trung lưu, làm một thí nghiệm để chúng có thể thực sự hiểu về vấn đề này.

Hôm sau, cô nói với lớp là khoa học đã chứng minh được là những người mắt xanh thông minh hơn và ưu tú hơn những người mắt nâu, và ra một vài các quy định ưu ái nhóm mắt xanh: Được ra chơi lâu hơn 5 phút, được lấy nhiều thức ăn hơn trong bữa trưa...

Sau một phút ngơ ngác và phản đối yếu ớt, lớp bắt đầu chia thành hai "tầng lớp".

Nhóm mắt xanh bắt đầu hành xử kiêu ngạo, hống hách, chúng đề xuất lên cô giáo những biện pháp để kiểm soát nhóm kia, và chữ "đồ mắt nâu" trở thành một câu chửi.

Sau này, Raymond – một cậu bé mắt xanh kể lại: "Trời, cháu có cảm giác – cứ như là vua ấy, như là cháu cai trị tụi mắt nâu ấy, như là cháu tốt hơn bọn chúng, sướng lắm".

Nhóm mắt nâu trở nên rụt rè, lí nhí, co cụm lại với nhau, điểm học của chúng bắt đầu sa sút.

Sang tuần sau, Elliot nói trước lớp là đã có một sự nhầm lẫn, thực ra, theo khoa học, những người mắt nâu mới là những người ưu tú hơn.

Cả lớp ồ lên, và tình hình nhanh chóng đảo ngược hoàn toàn, bây giờ đến lượt những học trò mắt nâu chế giễu nhóm mắt xanh.

Thí nghiệm "mắt xanh, mắt nâu" của Jane Elliot đi vào lịch sử như một chứng minh rằng chúng ta thật là dễ dàng để phân biệt và kỳ thị, thật sẵn sàng phân chia thế giới ra thành "chúng ta" và "chúng nó".

Bên "ta" là những người giống ta, cùng quan điểm với ta, những người đạo đức, văn minh, thông thái, hiểu biết, dũng cảm, có lương tâm.

"Chúng nó" là những kẻ khác ta, cãi lại ta, và do đó hoàn toàn ngược lại.

"Chúng nó" có thể là những người có tôn giáo, sắc tộc, mầu da hay quan điểm chính trị khác.

"Chúng nó" cũng có thể là "đám đạo văn", "tụi ăn cắp ăn trộm", "dân nhập cư", "lũ nghiện", "tụi quê ở tỉnh X", "bọn đồng tính" hay "lũ cướp chồng" cùng với tất cả những người bênh chúng.

Khi điều tệ xảy ra với chúng ta, đó là bất công, khi điều tệ xảy ra với chúng nó, chúng xứng đáng bị vậy.

Khi điều hay xảy ra với chúng ta, đó là vì công sức của ta, khi điều tốt xảy ra với chúng, đó cũng lại là bất công.

Việc chia ra hai "phe", ta và chúng nó, còn được gọi là quá trình tha nhân hoá, hay othering trong tiếng Anh.

Tha nhân hoá là động tác xếp một người nào đó, một nhóm nào đó, thành "không thuộc về chúng ta".

Tha nhân hoá củng cố bản sắc và sự ưu việt của chúng ta, và cho chúng ta quyền, thậm chí trách nhiệm tước đi tính người của "chúng nó".

Sau thí nghiệm với tụi trẻ, cô giáo Jane Elliot kể lại: "Tôi đã nhìn thấy những đứa trẻ hoàn hảo, hợp tác, tuyệt vời, trở thành những học trò lớp 3 quỷ quái, xấu xí, kỳ thị, tất cả chỉ sau có 15 phút".

Chúng ta có thể hình dung những đứa trẻ mắt mầu này có thể dễ dàng tiến tới cho rằng tụi mắt mầu kia là súc vật như thế nào, nếu chúng được dẫn dắt đủ lâu bởi một "lãnh tụ" hay "truyền thông" thích hợp.

Chúng ta có thể rút ra được điều gì từ những ví dụ trên?

Phát xít Đức, đội ngũ Khme Đỏ, những người Hutu vung dao rựa ở Rwanda năm 1994, họ không phải là quái vật.

Họ cũng là người.

Nếu chúng ta coi họ là quái vật, ta sẽ phi nhân hoá họ giống như họ đã tước đi tính người ở các nạn nhân của họ, ta sẽ đối xử với họ giống như họ đã đối xử với các nạn nhân của họ.

Nhà tâm lý học Francoise Sironi – người đã nghiên cứu tâm lý của vô số kẻ tra tấn, nói "Không ai sinh ra đã là một kẻ tra tấn".

Họ trở thành kẻ tra tấn qua một quá trình kích hoạt cái độc ác bên trong.

Và tất cả chúng ta, trong phạm vi của mình, đều có tiềm năng đi qua quá trình đó.

Chia phe "ta" và "chúng nó", và coi chúng nó hạ đẳng hơn, là những cám dỗ ngọt ngào.

Chúng ta đều mang trong mình mầm mống của cái ác, giống những đứa trẻ 8 tuổi mắt xanh và mắt nâu của cô giáo Elliot.

Điều quan trọng là chúng ta có ý thức để những mầm mống ấy không nảy nở.

Kẻ thù của ta không ở người ngoài, nó tiềm ẩn ở bên trong ta.

Ý thơ này của thiền sư Thích Nhất Hạnh đã được nhạc sĩ Phạm Duy triển khai trong "Tâm ca 7", sáng tác năm 1965, vào một giai đoạn khốc liệt của chiến tranh, và không có gì thích hợp hơn là kết thúc bài viết này bằng một trích đoạn của bài hát này:

Kẻ thù ta đâu có ở người ngoài

Nó nằm đây nằm ngay ở mỗi ai

Kẻ thù ta tên nó là vu khống

Kẻ thù ta tên nó là vô minh

Tên nó là lòng tham

Tên nó là tị hiềm

Tên nó là sự ghét ghen (thế thì)

Kẻ thù ta đâu có phải là người

Giết người đi thì ta ở với ai?

Kẻ thù ta đâu có ở người ngoài

Nó nằm đây nằm ngay ở mỗi ai!

(Trích "Tam ca 7", Phạm Duy)

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
Chuyên gia tâm lý 'giải mã' những vụ giết người hàng loạt


Như chúng ta đã biết, hành vi giết người hàng loạt là một hành vi rất nguy hiểm cho xã hội và nó sẽ càng trở nên nguy hiểm hơn khi hung thủ chưa bị phát hiện, bắt giữ.

Tuy nhiên việc phát hiện, bắt giữ hung thủ luôn gặp phải những khó khăn, phức tạp do khó xác định được động cơ gây án của hung thủ.

Vì vậy, trong một số trường hợp đặc biệt đòi phải có sự trợ giúp của các chuyên gia tâm lý.

Công việc của một chuyên gia tâm lý khi tham gia điều tra các vụ giết người hàng loạt là nghiên cứu những dấu vết, thông tin, tài liệu... có liên quan để tái tạo lại quá trình diễn biến tâm lý của hung thủ trong khi thực hiện hành vi giết người hàng loạt, từ đó tìm ra những đặc điểm tâm lý nổi bật của hung thủ góp phần định hướng cho hoạt động điều tra, thu hẹp diện đối tượng nghi vấn, phục vụ cho việc phát hiện và bắt giữ hung thủ.

Trong vụ giết người hàng loạt của "Tiểu sát thủ" Hồ Lê Đăng Khoa ở Thủ Thừa - Long An năm 1997, các chuyên gia tâm lý đã nghiên cứu các dấu vết tại hiện trường gây án, khai thác các thông tin có liên quan đến hung thủ, từ đó phân tích diễn biến tâm lý trong hành vi ứng xử của hung thủ, rút ra những đặc điểm tâm lý nổi bật của hung thủ và đưa ra nhận định tương đối chính xác về hung thủ.

Từ tháng 3 đến tháng 11/1997, Hồ Lê Đăng Khoa (14 tuổi) đã liên tiếp gây ra 4 vụ giết người làm chết 2 người, bị thương 2 người, nạn nhân đều là các cô gái trẻ, với phương thức thủ đoạn tương tự như nhau.

Thế nhưng trong giai đoạn đầu, cơ quan điều tra chỉ có một vài thông tin từ các nhân chứng là: "Một gã con trai nhỏ con vừa chạy xe đạp vừa đâm" và với những thông tin ấy cơ quan điều tra đã không đủ cơ sở để định hướng chính xác cho hoạt động điều tra.

Khi vụ án gần như bị bế tắc, cơ quan điều tra đã mời các chuyên gia tâm lý tham gia.

Nghiên cứu diễn biến của vụ án và các thông tin do nạn nhân cung cấp, bác sỹ Nguyễn Thanh Tuyền giám định viên trưởng tổ chức giám định pháp y TP.

Hồ Chí Minh - một chuyên gia tâm lý tội phạm - đã nói: "Khi tham gia vụ án này, tôi đã đến hiện trường gây án để quan sát và nhận thấy một điều lặp đi lặp lại trong các vụ đâm người là cứ đâm xong một cô gái là thủ phạm chạy đúng một vòng tròn, lủi vào bụi tre, chạy qua ruộng lúa rồi về nhà.

Tôi nghĩ ngay đến một đứa trẻ.

Bởi vì tư duy trẻ con thì nó thường tìm về nhà sau khi làm một việc gì đó không bình thường...

Mặt khác động cơ đâm người của hung thủ là không rõ ràng và tất cả nạn nhân đều là các cô gái trẻ cho thấy hung thủ là một người có tâm lý không bình thường ...".

Và, ông đã đưa ra nhận định: "Hung thủ là nam, có độ tuổi từ 12 - 16 tuổi, tâm lý không bình thường".

Từ nhận định đó, cơ quan điều tra đã nghiên cứu sàng lọc chọn ra 3 đối tượng nghi vấn trong đó có Hồ Lê Đăng Khoa.

Hoặc, vụ nữ sát thủ Lê Thanh Vân giết chết 13 người bằng chất độc xyanua cũng là một vụ án giết người hàng loạt đặc biệt nghiêm trọng.

Từ năm 1998, trên địa bàn một số tỉnh phía Nam liên tiếp xảy ra nhiều vụ chết người không rõ nguyên nhân gây bàng hoàng trong nhân dân.

Cơ quan điều tra và các chuyên gia tâm lý tội phạm đã vào cuộc xác định được đối tượng và yêu cầu Lê Thanh Vân đến trụ sở làm việc.

Khám xét trong giỏ xách của Vân, cơ quan công an thu được một gói hóa chất màu vàng được giám định là hóa chất kịch độc đối với con người.

Chỉ cần một lượng nhỏ từ 0,15 đến 0,20 gram là đủ làm chết một người có trọng lượng 70-90 kg.

Thử nghiệm chất độc này đối với chó thì khoảng 7 phút sau chó chết.

Tuy nhiên, khi giám định tử thi của nạn nhân cũng như mẫu ngũ tạng của chó, cơ quan chức năng không tìm ra chất độc mà thời hạn điều tra đã hết nên buộc phải tha đối tượng.

Sau khi được tha, không lâu sau, Vân lại tiếp tục gây án tại các tỉnh Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, TP HCM.

Nhận thấy các nạn nhân đều có các triệu chứng giống nhau trước khi chết đồng thời lại luôn có sự hiện diện của Vân nên công an các tỉnh đã chuyển hồ sơ đến Cơ quan cảnh sát điều tra Bộ công an điều tra làm rõ.

Lần theo các dấu vết, cơ quan chức năng đã xác định được chính xác loại thuốc độc mà đối tượng sử dụng.

Đó là loại thuốc có đặc tính khuyếch tán nhanh khi vào cơ thể nên ngay lập tức Lê Thanh Vân bị bắt giữ.

Quá trình điều tra đã xác định được Vân giết chết 13 người, trong đó có số vụ Vân phối hợp với chồng "hờ" - Dìu Dãnh Quang thực hiện.

Những nạn nhân mà Vân ra tay sát hại bất kể là ai, dù thân quen hay xa lạ chỉ "cần" người đó có tiền hoặc đã từng gây mâu thuẫn đối với Vân.

Qua các vụ án trên, chúng ta nhận thấy, việc nghiên cứu tâm lý hung thủ có ý nghĩa rất quan trọng trong điều tra các vụ giết người hàng loạt.

Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải nhận thức được rằng, đây là một công việc rất khó khăn, phức tạp.

Bởi vì cơ quan điều tra chỉ cần đến sự trợ giúp của các chuyên gia tâm lý khi họ không có đủ thông tin và bế tắc trong việc định hướng điều tra.

Vậy vấn đề đặt ra ở đây là, các chuyên gia tâm lý phải làm gì để khắc phục khó khăn này, phải dựa trên cơ sở nào để tái tạo lại quá trình diễn biến tâm lý của hung thủ.

Cũng như điều tra viên, các chuyên gia tâm lý cũng phải dựa trên cơ sở của những dấu vết, thông tin, tài liệu có liên quan đến hung thủ, nhưng các chuyên gia này lại khai thác các dấu vết, thông tin, tài liệu này ở một khía cạnh khác - khía cạnh tâm lý.

Tâm lý không những được hình thành trong hoạt động mà nó còn được biểu hiện thông qua hoạt động, đó là qui luật và hung thủ dù có cẩn trọng đến đâu đi nữa cũng có những sai sót nhất định.

Chính những qui luật, những sai sót đó sẽ là chìa khoá để các chuyên gia tâm lý "giải mã" được những bí ẩn về tâm lý của hung thủ.

Đối với các vụ giết người hàng loạt, các vụ giết người này đều do cùng một hoặc một số đối tượng gây ra nên các vụ việc thường có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và phản ánh một cách tương đối rõ những đặc điểm tâm lý nổi bật của đối tượng gây án.

Đây chính là điều kiện thuận lợi để các chuyên gia tâm lý thực hiện chức năng "giải mã" của mình.

Thực tế trong việc điều tra vụ án giết người hàng loạt xảy ra tại Perpignan - Pháp từ năm 1997 đến năm 2001 đã chứng tỏ như vậy.

Ngày 21/12/1997, thi thể cô sinh viên Moktaria Chaib được phát hiện trong một khu đất trống cách nhà cô không xa.

Ngực bị cắt, bộ phận sinh dục bị lấy đi.

Mỗi vết thương được thực hiện với một sự phẫu thuật chính xác.

Sáu tháng sau, một phụ nữ trẻ khác, Maria - Hélène Gonzalez, mất tích.

Xác của cô này được tìm thấy 12 ngày sau (ngày 28/6/1998), gần một trạm thu phí phía nam của thành phố.

Nạn nhân bị cắt đầu và hai tay.

Một số bộ phận cơ thể bị ném rải rác gần đó.

Hai vụ án mạng trên làm người ta liên tưởng đến vụ mất tích của Tatiana Andujar - nữ sinh trung học - vào tháng 9/1995.

Vì Tatiana Andujar cũng rất trẻ, đẹp và có tóc nâu như những nạn nhân khác.

Ngày 24/1/1998, vài tuần sau vụ sát hại Moktaria Chaib, một nhà phẫu thuật người Pérou - Jacques Rancon bị bắt.

Nhưng ông ta đã phản đối điều người ta gán cho ông và chứng minh được vào thời điểm Gonzalez bị sát hại ông ta còn ở trong trại giam.

Do đó cảnh sát đã không còn cơ sở để nghi ngờ ông ta.

Trong nhiều tháng liền cảnh sát tiến hành điều tra đặt ra nhiều giả thuyết khác nhau nhưng vẫn không có kết quả.

Và nhiều tháng trôi qua, Perpignan sống trong sự bình yên, nhưng ngày 9/2/2001, lại phát hiện một vụ mới: Fatima Idrahon, nữ sinh 23 tuổi bị sát hại.

Tuy nhiên, lần này, một gã đàn ông tên là Marc Delpech ra đầu thú.

Hắn khai rằng hắn đã siết cổ Fatima cho đến chết vì Fatima từ chối sự tán tỉnh của hắn và khẳng định đã ném xác Fatima xuống Địa Trung Hải.

Nhưng ngày 13/3/2001 người ta lại tìm thấy xác Fatima trong hồ Cannet.

Lục soát nhà của Marc, cảnh sát tìm thấy những bài báo viết về những vụ án mạng ở Perpignan mà hắn sưu tầm và cất giữ.

Dù vậy, một lần nữa cảnh sát lại lầm địa chỉ vì hắn có chứng cứ ngoại phạm trong các vụ án trước.

Cảnh sát kết luận Marc không phải là tên giết người hàng loạt ở Perpignan.

Cuộc điều tra vẫn được tiến hành nhưng cảnh sát đã gần như bất lực chỉ biết kêu gọi người dân chú ý đề phòng tên giết người hàng loạt.

Khi vụ án đã đi vào ngõ cụt thì họ mới nghĩ đến Leclair - một chuyên gia tâm lý tội phạm nổi tiếng của Pháp - và yêu cầu ông giúp đỡ.

Leclair đã lý giải theo cách riêng của mình: "Các vụ án mạng đều có một đặc điểm chung đó là các nạn nhân đều là nữ và tương đối giống nhau về ngoại hình cho phép chúng ta đặt ra giả thuyết cả hai vụ đều do cùng một hoặc một số hung thủ gây ra.

Nhưng chìa khoá của vụ việc này lại là sự khác biệt giữa vụ án Moktaria Chaib và của Gonzalez.

Ở trường hợp thứ nhất vụ cắt xẻo biểu hiện ở sự chính xác của phẫu thuật, trong khi vụ thứ hai lại rất vụng về và thô bạo.

Vậy có hai tên sát nhân và giữa chúng không có liên hệ gì với nhau?

"Tôi không nói thế.

Tôi chỉ giả định rằng ở khu vực Perpignan có hai hung thủ.

Một vài chi tiết có thể làm chỗ dựa cho sự kiện ấy.

Thi thể của Moktaria đã được tìm thấy vào sau hôm cô bị mất tích.

Cần biết rằng nạn nhân đã bị mất hết máu.

Như vậy chúng đã thực hiện sự cắt xẻo chỉ trong một đêm.

Theo tôi một vụ việc như thế không thể tiến hành bởi một người chỉ trong một thời gian ngắn.

Mặt khác, chúng tôi còn thấy một vũng máu lớn cách thi thể không bao xa chứng tỏ hung thủ đã dùng một cái chậu để đựng máu.

Tôi hình dung thấy hai tên: một tên khiêng xác, còn một tên mang chậu rồi rải máu ra".

Thế còn vụ án mạng thứ hai?

Cũng do những hung thủ ấy?

"Không! tôi nghĩ rằng lần này chỉ có một trong hai tên sát nhân hành động.

Đó là tên không trực tiếp phẫu thuật.

Tên này, lần đầu tiên đã theo lệnh của thủ lĩnh của nó"

Nhưng tại sao lần này hắn lại hành động một mình?

"Có thể vì tên đồng lõa của chúng đã bị tạm giam, do bị tình nghi bởi vụ án thứ nhất".

Leclair giải thích tiếp, "Như vậy một trong hai tên tội phạm chính là nhà phẫu thuật người Pérou?

Tôi không thể nói thêm gì nữa".

Chính vì thế, chìa khoá của vụ việc ở đây chính là việc xác định được số lượng thủ phạm ít nhất là 2 chứ không phải là 1 như nhận định của cảnh sát và nó chỉ được tìm thấy khi Leclair nghiên cứu về khía cạnh tâm lý của vụ việc.

Như vậy, bằng việc nghiên cứu tâm lý của đối tượng gây án trong các vụ giết người hàng loạt, các chuyên gia tâm lý có khả năng khắc phục được những hạn chế về thông tin để đưa ra nhận định chính xác về hung thủ, góp phần quan trọng trong việc định hướng cho hoạt động điều tra.

Và để đạt được kết quả trên, các chuyên gia tâm lý cần phải giải quyết nhiều vấn đề khác nhau, trong đó cần phải chú ý một số vấn đề sau:

- Phải dựa trên những tài liệu, chứng cứ xác thực về diễn biến hành động phạm tội của hung thủ từ đó phân tích diễn biến tâm lý của hung thủ khi gây án để có sự nhận định chính xác về hung thủ, tránh suy diễn chủ quan vô căn cứ.

- Nghiên cứu về diễn biến tâm lý của hung thủ gây án ở các vụ án mạng khác nhau phải tìm ra những điểm tương đồng và những điểm khác biệt của các vụ án mạng đó, tìm hiểu mối liên quan giữa các tình tiết trong các vụ khác nhau từ đó tìm lời giải đáp cho những điểm giống và khác nhau đó để đưa ra nhận định chính xác, thống nhất về hung thủ.

- Khi phát hiện ra mối liên hệ giữa các vụ giết người khác nhau, đủ cơ sở để khẳng định do cùng một hoặc một số đối tượng gây ra, cần phải tập trung vào nghiên cứu vụ án đầu tiên, bởi vì càng về sau hung thủ càng có kinh nghiệm đối phó với cơ quan điều tra và tránh được những sai sót so với những vụ trước.

- Nghiên cứu diễn biến tâm lý của hung thủ gây án phải tôn trọng ý kiến nhận định của người khác về hung thủ, chọn lọc những ý kiến hợp lý để đưa ra nhận định chính xác về hung thủ.

Qua đó, chúng ta nhận thấy, việc nghiên cứu tâm lý đối tượng gây án trong công tác điều tra các vụ giết người hàng loạt là hết sức cần thiết và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong hoạt động điều tra, góp phần định hướng cho hoạt động điều tra nhằm nhanh chóng phát hiện và bắt giữ hung thủ.

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
Tội phạm: Hoàn cảnh hay bản chất?


Mở đề: Tôi xin miêu tả vài nét về một nhóm người.

Các bạn hãy xem nhóm người này có nét gì giống mình không:

Họ nghĩ đúng hay sai phụ thuộc vào góc nhìn

Một thứ là không nên làm nếu nó quá rủi ro hoặc quá dễ, không đáng làm

Họ không quan tâm tới cảm xúc của người khác, nhất là khi người khác không hiểu họ

Họ sống vì bản thân mình

Họ khác người, độc nhất và vượt trội

Họ được làm mọi thứ

Đây là những suy nghĩ thường có của tội phạm, theo Samenow.

Tác giả nhấn mạnh thêm, tội phạm khác người thường về lối nghĩ, họ không tư duy như đa phần người dân.

Trong khi đó, nhiều phương pháp ngăn chặn và cải tạo tội phạm vẫn giả định họ là người thường, bị áp lực từ môi trường đẩy vào con đường bất nghĩa, vì thế các phương pháp này tốn kém và không hiệu quả.

Sau đây là phần tóm tắt ý tưởng của sách:

Học thuyết truyền thống về tâm lý tội phạm cho rằng họ là người bình thường, nhưng có những chấn động tâm lý xuất phát từ bạo hành gia đình, mất công bằng xã hội, phân biệt chủng tộc, vấn đề về tình cảm..., từ đó trở thành tội phạm.

Hoặc cũng có thuyết cho rằng gen chính là nguyên nhân dẫn đến việc phạm tội.

Xuất phát từ giả thuyết khoa học trên, các nhà nghiên cứu phỏng vấn tội phạm theo hướng tìm về quá khứ, hoặc tìm hiểu về gen và não của tội phạm.

Với dữ liệu thu thập được, họ tìm ra hàng trăm yếu tố tăng khả năng phạm tội, từ các hành vi của thành viên trong gia đình, cán bộ trong trường học đến những thay đổi về khí hậu, thực phẩm.

Theo học thuyết này, tội phạm lại trở thành nạn nhân của môi trường, và việc phạm tội không còn là lỗi của họ.

Tác giả chỉ trích các thuyết này là thiếu thực tế.

Với kinh nghiệm tiếp xúc với tội phạm Mỹ trong mấy chục năm của mình, ông nhận thấy tội phạm không hề có biểu hiện là nạn nhân, bị điều khiển bởi môi trường.

Thay vào đó, họ luôn chủ động, quyết đoán, tính toán hành vi của mình.

Ông phỏng vấn những người xung quanh tội phạm và thấy rằng những lời đổ lỗi cho môi trường của tội phạm thường là lời nói dối, nhằm đổ trách nhiệm cho người khác, chứng minh bản thân vô tội, tạo thiện cảm với bác sĩ tâm lý và tòa án.

Bác sĩ muốn nghe những câu chuyện quá khứ, nhân quả, tội phạm hiểu và thỏa mãn nhu cầu đó của bác sĩ.

Một ví dụ rõ ràng nhất là về quan hệ giữa tội phạm và gia đình.

Rất nhiều thiếu niên hư hỏng đổ lỗi cho bố mẹ đánh, chửi, hoặc bỏ rơi mình.

Thậm chí chúng còn lợi dụng luật bảo vệ trẻ em để trình báo với cảnh sát rằng bố mẹ bạo hành mình, nhằm đưa bố mẹ ra tòa.

Trong khi đó, khi phỏng vấn bố mẹ của tội phạm, tác giả nhận ra họ luôn tìm cách bảo vệ con, hướng dẫn con.

Họ đầu tư cho con vào trường tốt, nếu con gặp vấn đề về tâm lý thì họ đưa con đến gặp bác sĩ.

Đứa con có cơ hội nói dối với bác sĩ về bố mẹ mình, rằng bố mẹ quá nghiêm khắc, bạo lực, xa lánh con cái.

Trong khi đó, chính đứa con mới có những hành vi bạo lực như đập phá, bắt nạt các em, đánh bố mẹ, hoặc chính chúng tự xa lánh gia đình.

Tội phạm luôn cho rằng bố mẹ mình đương nhiên phải bảo vệ mình, phải thuê luật sư thật tốt để bào chữa cho tội ác của mình, phải chi tiền tại ngoại cho mình, còn chúng không cần phải làm gì để đền ơn.

Theo thuyết truyền thống, bạn bè được cho là nguồn gây nên áp lực khiến trẻ em trở thành tội phạm.

Samenow phủ nhận điều này và cho rằng bạn bè chỉ là yếu tố thúc đẩy chứ không quyết định con đường phạm tội của trẻ.

Những đứa trẻ trước khi vào trong nhóm hư hỏng thì đã có xu hướng phạm tội rồi.

Chúng có tư duy rằng mình đặc biệt, không thể chơi với những người bình thường.

Vì vậy, chúng tự tách biệt với số đông và tìm đến những nhóm chuyên bỏ học, uống rượu, hút thuốc và phá phách.

Khi ở trong nhóm hư hỏng, chúng lại càng phải chứng minh sự đặc biệt của mình bằng cách trở nên táo tợn hơn, bạo lực hơn, "ngầu" hơn.

Chúng chọn những điều này với sự vui sướng và hứng thú chứ không hề bị ép buộc.

Chất gây nghiện cũng chỉ là yếu tố kích thích phạm tội chứ không phải là nguyên nhân khiến người tốt trở nên độc ác.

Người có xu hướng phạm tội hay người bình thường đều có thể đã thử chất gây nghiện.

Nhưng nhóm người thứ nhất bị hút vào tác dụng của loại chất này, vì nó làm họ quên đi sự nhàm chán của cuộc sống, khiến họ cảm thấy mình khác biệt, khiến họ tự tin hơn, hấp dẫn hơn.

Chất gây nghiện trở thành mục tiêu mới của cuộc đời tội phạm: họ sử dụng nó, nghĩ về nó, nói về nó, kiếm tiền để có nó.

Khi không có chất gây nghiện, họ trở nên táo tợn hơn, bạo lực hơn, dễ phạm tội hơn.

Trong học tập và công việc, tội phạm luôn cảm thấy có sự nhàm chán nhất định.

Họ không chịu được sự lặp đi lặp lại và thường làm điều gì đó để chống đối hệ thống.

Có những người bỏ học và bỏ việc, cho rằng chúng quá tầm thường, và luôn mơ ước mình có thể làm điều gì đó thật vĩ đại, thành công nhanh chóng.

Có người xây dựng mặt nạ đẹp đẽ, rồi lợi dụng lòng tin của người khác để thực hiện tội ác (ví dụ như vay rồi bỏ trốn, làm cha sứ để xâm hại tình dục trẻ em...).

Tội phạm không thiếu tiền hay tình dục, những gì họ muốn là sự thích thú khi thống trị và lợi dụng người khác, họ muốn chứng minh mình giỏi hơn hệ thống, người khác không thể từ chối mình.

Từ việc tìm hiểu cuộc sống và suy nghĩ của nhiều tội phạm, tác giả đưa ra nhận định chung về nhóm người này.

Tội phạm có những xu hướng sau:

– Cho mình là duy nhất, là số một, người khác phải phục tùng mình.

– Làm điều ác nhằm xây dựng hình tượng độc nhất của mình.

Đè nén người khác bằng lừa dối, bạo lực và đe dọa.

– Không chịu nổi sự mâu thuẫn nhỏ với thế giới, nhưng lại làm tổn thương người khác nhiều lần.

Mọi va chạm đều như đang thách thức vị trí độc tôn của tội phạm.

– Đổ lỗi cho người khác, nhìn mình như người tốt.

Khi gây nên hành vi phạm pháp thì có thể tự đưa ra lí do phạm tội nhằm lấn át lương tâm của mình.

Nếu họ bị bắt và bỏ tù thì chỉ trách mình thiếu thận trọng, hoặc luật sư bào chữa vô trách nhiệm.

Tác giả khẳng định, tội ác rất ít khi tự phát sinh từ áp lực.

Nhiều người phải chịu áp lực khi làm việc, nhưng họ có nhiều cách giải tỏa áp lực như nói chuyện với bạn bè, đi chơi, hoặc bàn luận với sếp để đưa ra giải pháp có tính xây dựng.

Người đem súng đến xả vào đồng nghiệp rồi tự sát không giống người bình thường: điều tra cho thấy, những người thực hiện các vụ xả súng có quá khứ phạm tội, hoặc đã tưởng tượng về việc xả súng trong thời gian rất dài, có thể từ thời thiếu niên.

Tác giả cũng tìm ra liên hệ giữa tội phạm và khủng bố hay bạo chúa.

Hitler, Biladen, Zarqawi đều có những hành vi bạo lực và ám ảnh về vị trí độc tôn trước khi nắm quyền lực.

Tư tưởng như Hồi giáo chỉ tạo cho tội phạm cái cớ để mở rộng phạm vi của mình.

Nhóm cực đoan thường lôi kéo không phải người sùng đạo mà là tội phạm từ khắp nơi trên thế giới bằng việc nhấn mạnh vào yếu tố vui vẻ, hào hứng, kích động khi tham gia nhóm.

Các hành vi của nhóm đôi khi đi ngược lại chính những lý tưởng mà nhóm sử dụng.

Từ việc miêu tả tội phạm là người như thế nào, tác giả chứng minh những giải pháp hiện tại nhằm răn đe và cải tạo tội phạm là không hiệu quả.

Nhà tù thường không làm cho tội phạm thấy hối hận, mà chỉ khiến chúng cảm thấy tiếc vì mình quá bất cẩn.

Chúng sử dụng thời gian trong tù nhằm học hỏi kinh nghiệm, lập kế hoạch, kết bè kết đảng, uy hiếp người khác.

Các hoạt động cải tạo như dạy nghề, dạy văn hóa là không hiệu quả vì không thay đổi lối suy nghĩ của tội phạm.

Chương trình cải tạo tội phạm cần phải thay đổi tư duy của họ, ví dụ như chương trình mà thầy của tác giả, bác sĩ tâm lý học Yochelson, đã thực hiện.

Trong chương trình này, mỗi tội phạm phải ghi chép lại những suy nghĩ của mình trong một ngày để trình bày lại trong nhóm điều trị.

Bác sĩ sẽ lắng nghe suy nghĩ của từng tội phạm, rồi phân tích một cách khách quan về các suy nghĩ đáng chú ý, chỉ ra những điểm cho thấy đối tượng hay lừa dối bản thân và lừa dối người khác, không kiềm chế được nóng giận, lợi dụng người khác, tự cho mình đặc quyền....

Bác sĩ và tội phạm cần hoạt động tích cực trong vài năm đề khiến người tội phạm tự biết cách điều chỉnh suy nghĩ của mình.

Nhận xét cá nhân về ý tưởng trong cuốn sách:

Tác giả đưa ra một thuyết mới về tội phạm, nhấn mạnh rằng tội phạm tự đưa ra quyết định và có thể tự thay đổi bản thân khi và chỉ khi thay đổi tư duy của mình ,trái ngược với thuyết cũ cho rằng tội phạm là do môi trường tác động.

Trong hoạt động răn đe và cải tạo tội phạm, thuyết mới hiệu quả hơn thuyết truyền thống vì nó không khuyến khích tội phạm nói dối, bào chữa cho các hành vi của mình.

Thêm nữa, dù cho tội phạm có bị tác động bởi môi trường hay không thì khi bị bắt họ thường đã lún sâu vào lối sống phạm tội.

Họ hào hứng với việc gây tội ác, thành thạo trong việc khai thác điểm yếu của môi trường, rất dễ nổi nóng với người xung quanh.

Họ không tin tưởng vào các quan hệ gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, chọn lối sống cô lập , khép kín.

Khi tội phạm đã quen với lối sống này, việc chỉ ra nguyên nhân từ môi trường, hay cải thiện môi trường của họ không giúp họ thoát ra khỏi con đường phạm pháp.

Chỉ khi họ tự thay đổi lối nghĩ, tự giám sát bản thân, điều đó mới trở thành hiện thực.

Kiến thức trong cuốn sách cũng giúp chúng ta hiểu thêm về lối nghĩ của tội phạm và xác định xem ai có thể là tội phạm.

Tuy nhiên chúng ta cần phải hiểu rằng tác giả cố gắng nhấn mạnh, cường điệu hóa các đặc tính nhằm chuyển tải ý tưởng một cách rõ ràng hơn.

Trên thực tế, không phải tội phạm nào cũng có đủ các đặc tính đã nêu và cũng đều khó cải tạo, và không phải người nào có một vài đặc tính giống tội phạm đều là tội phạm.

Thêm nữa, cuốn sách dựa vào kinh nghiệm của tác giả khi hoạt động tư vấn tại Mỹ, nên chưa chắc đã đúng với Việt Nam.

Chúng ta chưa thể chắc chắn rằng tội phạm Việt cũng là những người có suy nghĩ giống như trên, hay sẽ có những đặc tính khác.

Một điểm mà tác giả chọn bỏ qua không nêu ra trong cuốn sách là lý do khiến con người trở thành tội phạm.

Trong công việc cải tạo tội phạm, có thể điều này không cần thiết.

Tuy nhiên chúng ta cần mở rộng phạm vi ra toàn bộ xã hội.

Tại Mỹ, vào năm 1982 có 394.380 phạm nhân, năm 2011 có 2.266.800 phạm nhân, chưa kể đến 4.814.200 người trong diện quản chế hoặc tha bổng.

Chi phí cho một phạm nhân ở tù 1 năm lên tới vào chục ngàn USD (tại nhà tù New York: 167.000 USD, tại nhà tù New Jersey: 44.000 USD).

Những còn số này cho thấy: 1.

Số tù nhân tăng rất nhanh; 2.

Chi phí cho tù nhân rất cao, làm tổn hao nguồn lực của xã hội.

Tốc độ tăng tù nhân khó có thể hoàn toàn là do tăng dân số, luật pháp siết chặt hơn, hệ thống bắt tội phạm hiệu quả hơn.

Chúng ta có thể nghi ngờ việc xã hội Mỹ chứa yếu tố khiến cho số lượng tội phạm nhiều lên.

Nếu không tìm ra nguyên nhân này, số lượng tội phạm sẽ tăng nhanh hơn khả năng cải tạo tội phạm theo phương pháp thay đổi tư duy mà tác giả đưa ra (để có một dự án hiệu quả (cải tạo được 5 – 10 tội phạm), cần ít nhất một bác sĩ tâm lý hiểu vấn đề, kiên nhẫn lắng nghe, đưa nhận xét, liên tục giám sát tội phạm trong vòng vài năm).

Tôi chú ý tới việc tội phạm thấy chán trường học, công việc, khi phải nghe lệnh từ người khác, nhưng lại không hề thấy mệt mỏi hay chán nản khi thực hiện các hoạt động không được cho phép.

Họ đặc biệt tinh tường trong việc nhận ra các điểm yếu của hệ thống hay của con người,và thực hiện những hành vi này một cách vô thức như người thường lái xe.

Tội phạm còn đề cao cá tính của mình (sự độc nhất, sự vượt trội, người khác không thể không tuân theo) và phản ứng một cách quyết liệt khi thấy bất cứ hành động nào thách thức cá tính đó.

Nhằm giải thích các đặc tính này, tôi xin đưa ra một giả thuyết: tội phạm vốn là người nhạy cảm hơn người khác.

Họ cảm nhận được sự khác biệt giữa mình và người khác và họ tự hào về nó.

Họ phá phách để chứng tỏ sự hơn người, nhưng môi trường xung quanh lại thấy rằng họ là một đối tượng dị biệt cần phải uốn nắn cho giống với người khác.

Bị bắt thay đổi bởi bố mẹ và thầy cô, họ thấy mình cần phải bảo vệ cá tính của mình bằng cách dựng lên bức tường ngăn cách giữa mình và người khác.

Để đạt được điều gì đó, họ không giao tiếp mà sử dụng hành vi tiêu cực (hò hét, đập phá) để đòi cái lợi về cho mình.

Càng bị ép buộc, họ càng trở nên cực đoan và cho rằng mình là số một, người khác không hiểu mình, sợ mình, và phải tuân theo mình.

Một số tội phạm rơi vào giữa trạng thái tiêu cực tột độ, nghĩ rằng mình nên tự tử vì thế giới này không cần mình, và tích cực tột độ, nghĩ rằng mình là bá chủ, người khác không thể chống lại mình.

Có rất nhiều vòng tương tác khiến cho tội phạm chìm sâu hơn.

Ví dụ, việc tách biệt dẫn đến người khác không hiểu được bản thân, dẫn đến càng tách biệt hơn.

Việc tức giận vì thứ nhỏ dẫn đến không chịu hiểu nguyên do và không tìm giải pháp, dẫn đến càng nóng giận hơn.

Việc không làm việc, không học tập dẫn đến thiếu khả năng hòa nhập xã hội, dẫn đến bỏlàm việc và học tập.

Việc chơi với bạn xấu, hay sử dụng chất kích thích cũng khiến tội phạm ngày càng khó rút khỏi con đường phạm pháp (cơ chế đã nêu ở phần trước).

Tóm lại, thuyết này cho rằng tư duy và môi trường cùng tương tác để tạo nên con người tội phạm.

Khi tội phạm đã đạt đến một điểm nhất định, họ rất nhanh chóng bị cuốn vào các vòng tương tác khiến họ không thể quay trở lại.

Để ngăn chặn sự gia tăng tội phạm, cần phải giảm thiểu các yếu tố khiến cho nhóm người khác biệt cảm thấy họ cần phải tự cô lập bản thân để tránh bị đồng hóa.

Trong xã hội phát triển, những yếu tố đó chính là tính tổ chức quá cao, đẩy con người vào một quy trình: học, làm, nghỉ hưu, chết.

Tính tổ chức tạo nên xã hội phát triển nhanh, nhưng giữa những xã hội này cũng xuất hiện những con người chống lại sự tổ chức, chống lại lối nghĩ của phần đông, lợi dụng những điểm yếu của hệ thống để trục lợi.

Việc tuân theo hệ thống làm đám đông thấy an tâm còn tội phạm thấy nhàm chán, trong khi đó việc chống lại tổ chức trở thành nỗi sợ của đám đông và niềm vui của cá nhân tội phạm.

Tại sao chúng ta lại quá chú trọng việc có tổ chức hoặc phá tổ chức đến vậy?

Trong khi đó, các yếu tố như theo đuổi nghệ thuật, theo đuổi sự thật, hay cái khác không hề được nhắc tới trong các gia đình có tội phạm được nêu trong sách.

Bố mẹ của các trẻ em có hành vi tội phạm đều rất lo lắng, đưa con đi chữa trị, giáo huấn, nhưng những vị bố mẹ này liệu đã nghĩ tới việc con mình sẽ chống lại nỗ lực quản lý của mình?

Vì sao họ không từ bỏ việc quản lý và tự tìm mục đích sống khác?

Một tín hiệu tích cực là việc một số tội phạm có khả năng nghệ thuật khá cao.

Trong các nhà tù, các hoạt động vẽ tranh, triển lãm, biểu diễn âm nhạc lại được hưởng ứng.

Theo tác giả, những hoạt động này không thay đổi tư duy của những tội phạm vì họ đã quen với cuộc sống phạm pháp.

Nhưng nếu các hoạt động này được triển khai sớm hơn, từ trước khi các đứa trẻ trở thành tội phạm, có thể chúng đã trở thành nghệ sĩ.

Những điều trên mới chỉ là một thuyết về tâm lý tội phạm.

Tôi mong sẽ có nghiên cứu để kiểm nghiệm thuyết này.

Một hướng nghiên cứu có thể là tìm hiểu về tuổi thơ của tội phạm, về cách nuôi dạy con, và về đặc tính của những đứa trẻ có tương lai phạm tội.

Từ đó chúng ta có thể tìm hiểu xem liệu chúng có thể được biến chuyển thành con người có tính xây dựng hơn, thay vì trở thành tội phạm của xã hội.

Trong trường hợp thuyết này bị bác bỏ, điều cần thiết đối vẫn là tìm cách giảm thiểu số người phạm tội, nhằm giảm chi phí và tổn thất cho xã hội.

________________________________________________________________________________

Lâu lắm rồi mình mới đăng bài mới vì cũng một khoảng thời gian rồi mình mới thấy một bài thu hút hết vậy

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
TÂM LÝ XÃ HỘI - VÌ SAO CON NGƯỜI CÓ XU HƯỚNG ĐỔ LỖI CHO NẠN NHÂN


Đã một khoảng thời gian khá dài mình không đăng tải thêm bất cứ bài viết về tâm lý nào nữa.

Có thể là do mình không đủ siêng năng mà cũng có thể do mình không cảm thấy có bài viết nào khiến mình phải tâm đắc và cảm thấy hữu ích.

Nhưng hôm nay mình đã nhìn thấy được nó!

VÌ SAO CON NGƯỜI CÓ XU HƯỚNG ĐỔ LỖI CHO NẠN NHÂN

Việc đổ lỗi cho nạn nhân không chỉ xảy ra riêng trong vấn nạn bắt nạt và ngược đãi.

Nó còn là khi quá khứ của nạn nhân các vụ hiếp dâm bị đem ra cắt xẻ và bới móc; Khi những người sống trong cảnh nghèo đói thường bị cho là lười biếng và không có chí hướng; Khi những người mắc phải những căn bệnh về tâm lý bị cho là tự rước bệnh vào thân vì lối sống sai trái và không phù hợp.

Có những trường hợp mà nạn nhân thực sự phải có trách nhiệm với những gì mình phải gánh chịu, nhưng loại trách nhiệm này thường bị thổi phồng lên quá mức và những yếu tố khác thường bị xem nhẹ.

Nhưng tại sao chúng ta lại sẵn sàng đổ lỗi cho nạn nhân, trong khi chính chúng ta chẳng nhận được gì cả?

Đổ lỗi cho nạn nhân không chỉ là để trốn tránh cảm giác tội lỗi, mà còn để tránh cảm giác tổn thương.

Nạn nhân càng vô tội, thì mức độ đe dọa càng lớn hơn.

Nó đe dọa cái nhìn của hầu hết con người rằng thế giới này là một nơi an toàn và đầy nhân văn, những điều tốt đẹp sẽ chỉ đến với người tốt và những kẻ không ra gì sẽ phải hứng chịu những điều tồi tệ.

Khi mà việc không hay xảy đến với ngay cả người tốt, nó dẫn đến suy nghĩ rằng chẳng ai an toàn cả, và tất cả chúng ta đều sẽ có cảm giác bị tổn thương.

Suy nghĩ rằng những thảm kịch có thể xảy ra với bất kỳ ai trên thế giới này dù có là người tốt hay người xấu, là một thứ khá là kinh khủng và tồi tệ, và chúng ta không ngừng chối bỏ nó cho dù nó là điều diễn ra thường xuyên mỗi ngày.

Lerner cho rằng nguồn gốc của xu hướng đổ lỗi cho nạn nhân nằm ở niềm tin trong một thế giới, mà mỗi hành động đều đoán trước được những hậu quả theo sau, và con người có thể điều khiển được những gì xảy ra với họ.

Nó nằm cả trong những câu tục ngữ mà chúng ta nghe rất thường xuyên như "Gieo nhân nào, gặt quả ấy", hay " Gieo gió ắt gặt bão".

Chúng ta muốn tin rằng công lý sẽ đến với những người làm ác, trong khi người tốt, trung thực, tuân thủ luật pháp và đạo đức sẽ được ưu ái.

Không đáng ngạc nhiên, nghiên cứu đã tìm ra, với những người tin rằng thế giới là một nơi tốt đẹp thì họ thường hạnh phúc hơn và ít đau buồn.

Nhưng niềm hạnh phúc này đều có cái giá của nó, nó có thể làm giảm đi sự thấu cảm của chúng ta với những người gặp bất hạnh, và thậm chí chúng ta có thể làm tăng nỗi đau đớn ấy thêm bằng việc chỉ trích nạn nhân.

Vậy chúng ta lại chỉ có thể tin rằng thế giới này đầy rẫy vô vọng và đau đớn thôi sao?

Không.

Dù rằng thế giới này không thật sự công bằng, nhưng chúng ta có thể khiến nó tốt đẹp hơn bằng những hành động của chính mình.

Một cách để khiến thế giới trở nên tốt đẹp hơn chính là đấu tranh với việc lý giải những điều không hay xảy đến với người khác một cách bốc đồng và thiếu suy nghĩ, và nhận ra rằng chúng ta có thể là những người tiếp theo ở trong tình cảnh đó.

Sự thừa nhận này có thể làm xáo trộn những gì mà chúng ta tin tưởng trước đó nhưng nó cũng là cách duy nhất khiến chúng ta thật sự mở lòng với những nỗi đau của người khác, giúp họ cảm thấy được sự ủng hộ và bớt cô đơn.

Dù thế giới này có thiếu công bằng đi chăng nữa, hãy bù đắp cho điều đó bằng lòng trắc ẩn của chính chúng ta.

nguồn: WhyPsychology

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Back
Top Bottom