Cập nhật mới

Khác Tâm Lý Bất Thường và Tâm Lý Tội Phạm

[BOT] Wattpad

Quản Trị Viên
Tham gia
25/9/25
Bài viết
153,753
Điểm cảm xúc
0
Điểm thành tích
0
VNĐ
44,735
81190245-256-k746077.jpg

Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
Tác giả: Camie2159
Thể loại: Bí ẩn
Trạng thái: Đang cập nhật


Giới thiệu truyện:

Đây là một mục hoàn toàn khác với những mục trước mình đã update.

Xin lưu ý đây là những ghi chép về bệnh án tâm lý chứ không phải fanfic hay bất kì thể loại tiểu thuyết hay truện ngắn nào
Nguồn lấy từ blogger Hải Đường Tĩnh Nguyệt và nhiều nguồn thông tin trên mạng internet khác
Ngoài lề :Bởi vì mình đang trong giai đoạn dùng sức chạy bài học nên có thể mình sẽ update chậm một chút, mình reup lại bộ này của chị Hải Đường Tĩnh Nguyệt chủ yếu để cho các bạn có đam mê về ngành nghề này sẽ có những nhận thức đúng đắn hơn về bệnh tâm lý, đây là một bộ môn thật sự đầy bí ẩn và thú vị.

Mình thật sự rất mong những bình luận tích cực từ các bạn.

Nếu có ai đó trong các bạn thắc mắc gì về bài viết thì đừng ngại comment phía dưới.

Trong khả năng của mình, mình sẽ giải đáp nhanh và chi tiết nhất có thể
#Camie-21592159



tamlytoipham​
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
Kì 1: Bệnh rối loạn nhân cách và phản xã hội (Antisocial Personality Disorder)


Những bài này đều là do mình tôi tự viết dựa trên những gì đã học và tham khảo từ cuốn từ điển DSM-IV.

Cuốn sách có thể được coi là Kinh Thánh của các nhà tâm lý học về các bệnh chứng vì nó liệt kể đầy đủ những dấu hiệu, độ tuổi phát tác, thường xảy ra nhiều ở những môi trường nào...của từng loại bệnh.

Và các ví dụ được lấy từ cuốn Case Book, hoặc là tìm và lược dịch từ trên mạng, đều là những trường hợp có thật, xảy ra thật.

Bệnh chứng đầu tiên mà tôi chọn là bệnh Antisocial personality disorder hay còn gọi là socialpath, hoặc psychopath mà dịch ra theo Việt Nam mình là "Rối loạn nhân cách phản xã hội."

Nó thuộc dạng bệnh về nhân cách con người và là một trong những bệnh tâm lý mà các kẻ giết người hàng loạt (serial killers) thường hay mắc phải.

Dennis Lynn Rader (hình) là một kẻ giết người hàng loạt ở Mỹ được biết dưới biệt danh BTK Killer.

"BTK" mang nghĩa Trói (bind), hành hạ (Torture) và giết (kill), nó cũng là chữ ký bỉ ổi của hắn ta.

Sau mỗi lần thực hiện xong một vụ, hắn lại gửi một lá thư dài với đầy đủ các chi tiết hắn hành hạ nạn nhân ra sao, giết như thế nào đến cho cảnh sát và những tờ báo địa phương nơi xảy ra vụ sát hại.

Và trong khoảng thời gian 30 năm, hắn đã sát hại tổng cộng mười người.

Có thể thấy rất rõ ràng rằng Rader không hề có chút nhận thức về lương tri, coi thường và xâm hại đến quyền lợi của người khác.

Và chính những điều này mà Rader được coi là mắc chứng bệnh Rối loại nhân cách phản xã hội (Antisocial Personality Disroder).

Một trường hợp khác đó là (hình).

Hắn đã thừa nhận mình từng giết 360 người từ phụ nữ, trẻ em, người già, bằng các phương thức khác nhau như đâm , bắn, làm nghẹt thở... trong suốt 32 năm.

Và 6 năm cuối cùng trong đế chế kinh khủng của mình, hắn bắt tay với Elwood Toole, kẻ đã tàn sát 50 người mà hắn cho là "không đáng để sống".

Và tất cả kết thúc khi Lucas thú nhận là đã giết và cắt khúc người vợ lẽ 15 tuổi của hắn đồng thời cũng là cháu của Toole.

Tên máu lạnh này còn thú nhận rằng "Khi tôi vừa xong một vụ, tôi liền quên nó mất tiêu".

Toole cũng chẳng kém gì đồng bọn của mình, "Tôi nghĩ giết người giống hút một điếu thuộc vậy, tựa như một thói quen khác thôi."

Lucas và Toole đã được xác nhận là mắc chứng Rối loạn nhân cách phản xã hội.

Nhưng không phải những kẻ giết người máu lạnh nào cũng mắc chứng bệnh này.

Một kẻ tội phạm, dù có ác độc đến đâu, thì cũng có những người thân thuộc, những người mà hắn yêu thương và trong bất cứ trường hợp nào, hắn cũng không thể xuống tay sát hại được.

Và đó chính là điểm để phân biệt giữa một tên tội phạm máu lạnh và một kẻ tội phạm mắc chứng rối loạn nhân cách phản xã hội.

Bởi kẻ mắc bệnh này không hề có một tí ti cảm xúc gì với những người mà hắn giết hại, dù đó là người thân nhất của hắn.

Quan hệ máu mủ, gia đình, ruột rà không là gì với những kẻ này cả.

Trong thế giới của hắn, chỉ có hắn là nhất.

Theo cuốn DSM-IV, bệnh rối loạn nhân cách phản xã hội thường bao gồm việc coi thường và xâm hại đến quyền lợi của người khác.

Và dấu hiệu của bệnh này thường bắt đầu sớm ở thời thơ ấu, hoặc những giai đoạn đầu tuổi thiếu niên và tiếp tục cho đến khi trưởng thành.

Bởi vì lừa dối và giả tạo là hai đặc điểm chính của bệnh này nên khi chuẩn đoán, sự liên kết giữa các nguồn thông tin về bệnh lý ở nơi điều trị và các nguồn thông tin lân cận từ các mối quan hệ xung quanh là đặc biệt Cần thiết.

Một bệnh nhân được coi là mắc chứng bệnh "rối loạn nhân cách phản xã hội" phải từ 18t trở lên, và phải có một vài dấu hiệu đáng lo ngại về đạo đức, hành xử, và kiềm chế bản thân trước độ tuổi 15.

Ví dụ về những dấu hiệu đó bao gồm hành vi hung hăng gây gổ với mọi người, hành hạ thú vật, hăm dọa người khác, đánh nhau, hoặc dùng vũ khí có thể gây thương tích nghiêm trọng cho người khác như súng, dao, ná, chai bể...

Có hành động gây thưởng tổn cho người và động vật (về mặt thể xác) .

Có hành vi trộm cắp và khống chế nạn nhân.

Có hành vi bắt buộc người khác quan hệ với mình.

Phá hoại Tài sản của dân chúng như phóng hoả gây thiệt hại lớn.

Dùng những lời nói dối ngon ngọt để mang lợi về mình.

Những dấu hiệu này phải được lặp đi lặp lại và xâm hại đến quyền lợi của người khác, tiếp tục cho đến khi trưởng thành.

Bệnh nhân với chứng bệnh này thường không thích ứng được với những Tiêu chuẩn chừng mực của xã hội hoặc có những hành động không tuân theo luật pháp.

Thường lặp đi lặp lại những hành vi có thể bị bắt tù hoặc khởi tố (dù cho họ có bị bắt hay không) nhưng phá hoại của công, sỉ nhục, phiền nhiễu đến người khác, làm những nghề bất hợp pháp.

Thường xuyên nói dối, kiếm đồng minh.

Làm việc không hề có kế hoạch, đa số là tuỳ theo tình huống mà đưa ra quyết định, không quan tâm đến hậu quả bản thân hoặc người khác gặp phải, vì những đặc điểm này mà bệnh nhân thường hay đổi công việc một cách bất thình lình, hoặc các mối quan hệ không tồn tại lâu được.

Bạo hành đối với vợ/bạn gái, hoặc ngay cả con cái.

Không Cần quan tâm đến sự an toàn của bản thân hay của người khác, cực kỳ vô trách nhiệm, hay gặp khó khăn về vấn đề Tài chính.

Tất cả những điểm đó khiến cho bệnh nhân của chứng bệnh này cực kỳ khó chữa.

Ngay cả những người làm việc trong phòng khám tâm lý đều phải thừa nhận rằng, họ rất là xui hoặc đen đủi lắm khi phải tiếp nhận bệnh nhân với bệnh chứng này.

Người mắc chứng bệnh rối loạn phản xã hội thường có vẻ ngoài mà theo người khác nhận xét là "có duyên", "Hiền lành", "đáng tin tưởng", nhưng họ không hề biết rằng, vẻ ngoài đó chỉ là ngụy tạo để lấy thiện cảm của kẻ đó.

Hắn thường dùng những lý do rất chi là có lý như, cuộc sống không công bằng, Anh ta biết rằng nó sẽ tới mà...để đổ tội cho nạn nhân vì "hắn/ả ngu ngốc để cho bị lừa, số của nó đáng bị như vậy".

Không bao giờ chấp nhận mình sai, hay có cảm xúc thông cảm, đồng tình hoặc hối lỗi với nạn nhân.

Và những người mắc bệnh này đa số là Nam giới hơn là nữ giới.

Nguyên nhân là do đâu?

Có một câu nói rất hay là "DNA là câu trả lời cho tất cả" đúng vậy, di truyền và môi trường là hai nhân tố chính tạo nên chứng bệnh này.

Gia đình không hoà thuận, trẻ hay bị bạo hành gia đình có nguy cơ dễ bị mắc chứng rối loạn nhân cách phản xã hội khi trưởng thành.

Nhưng nghiên cứu về việc nhận con nuôi cho thấy, dù trẻ có di truyền về chứng bệnh này nhưng môi trường sống của ba mẹ nuôi có thể ảnh hưởng tới sự phát triển của bệnh Rối loạn nhân cách phản xã hội theo chiều hướng xấu đi hoặc tốt hơn.

Có một điểm mà tôi cảm thấy kỳ lạ là đa số các Trang như , hay nói rằng Nghiên cứu tiền sử gia đình cho thấy những người có rối loạn này thường có bố nghiện rượu và rối loạn nhân cách chống xã hội, mẹ có nhân cách kịch tính (histrionic) và rối loạn phân ly (histeria).

Nhưng trong cuốn DSM-IV không hề nói đến yếu tố này.

Theo những gì mà tôi đọc được thì gia đình có người mắc chứng bệnh này thì Nam giới đa phần mắc chứng Antisocial personality disorder và nữ giới thì có nguy cơ bị mắc chứng Somatization Disorder cao hơn (một bộ phận nào đó trên cơ thể không thể hoạt động Bình thường mà không có nguyên nhân rõ ràng).

Hơn nữa, Nam giới và nữ giới đều có Khả năng mắc hai chứng này chứ không hề có chuyện phân biệt ra.

Và chứng Rối loạn nhân cách phản xã hội này rất dễ bị nhầm lẫn với chứng nhân cách kịch tính là rối loạn phân ly mà không phải là do ba hoặc mẹ có hai chứng bệnh này mà di truyền xuống con thành chứng Antisocial.

Một điểm đặc biệt là chứng antisocial personality disorder di truyền thế hệ đầu, tức là từ đời cha truyền xuống con mà không phải là từ tổ tiên.

Nói một cách chi tiết hơn là nếu ông cố ông tổ mắc chứng bệnh này mà đời tiếp theo không ai bị di truyền thì Khả năng truyền xuống đời chắt đời chút rất thấp.

Giáo sư dạy tâm lý học cho tôi có kể về một trường hợp của một trẻ mà Trung tâm cô phụ trách chữa trị.

Thằng bé mới 6t nhưng có thể thản nhiên nhân lúc cô phụ trách quay đi mà cầm cây bút đâm bạn bên cạnh, khiến tay cháu kia chảy máu đầm đìa rồi thản nhiên quay đi làm như không có chuyện gì mà tiếp tục Tô màu bức tranh của mình.

Một lần khác, mẹ thằng bé đến Trung tâm để dự họp với một bên mắt bầm tím.

Hỏi ra mới biết, đó là "món quà" thằng nhóc đó tặng cho bà.

Với các biểu hiện như vậy, nếu không được uốn nắn cùng các liệu pháp tâm lý chữa trị, thì chắc chắn một điều là thằng bé đó sau này trưởng thành sẽ là mang chứng Rối loạn nhân cách phản xã hội.

Xét về mặt sinh học, những người mắc chứng bệnh này có hệ thần kinh giao cảm hoạt động rất ít, hoặc hầu như không hoạt động.

Về hệ thần kinh giao cảm, nó là một phần chính trong hệ thần kinh tự trị, phụ trách về các phản xạ không điều kiện.

Ví dụ như bạn ở nhà một mình giữa đêm, bỗng nhiên bạn nghe tiếng gì đó Lạch cạch nơi cửa, cơ thể bạn không thể tự chủ được mà cảm thấy sợ hãi, tay đổ mồ hôi, cả người trong tình trạng căng thẳng.

Hệ thần kinh giao cảm chịu trách nhiệm cho những phản ứng vô điều kiện đó.

Nhưng những bệnh nhân Antisocial lại hiếm, rất hiếm khi có những phản ứng sợ hãi này, nói cách khác là hầu như không có.

Bởi vì thế nên họ mới bị coi là "mắc bệnh" và vô cảm, không hề có cảm xúc đồng tình hay thương hại như tôi đã nói trên.

Tuy nhiên khi nói về chứng antisocial ở những tên tội phạm giết người hàng loạt, DSM-IV liệt nó vào dạng Adult antisocial disorder, Cần được sự chú ý từ các Trung tâm nghiên cứu ( Other conditions that may be a focus clinical attention.) vì một phần là những tên giết người ấy không có những biểu hiện đáng lo ngại về đạo đức, hành vi lúc còn trẻ.

Mà chỉ biểu hiện rõ ra và xâm phạm đến quyền lợi người khác lúc trưởng thành.

Đó là điểm khác biệt giữa chứng Antisocial disorder và Adult Antisocial Disorder, ngoài ra, trên mặt bằng chung, hai dạng này giống nhau.

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
Kỳ 2: Rối Loạn Đa Nhân Cách (Dissociative Identity Disorder)


Mary Kendall là một nhân viên xã hội, cô năm nay 35t.

Cô vốn được cho là một người rất tháo vát trong công việc của mình, nhưng lại có một cuộc sống riêng khá nhàm chán.

Cô đã từng kết hôn một lần rồi li di vào 10 năm trước và chẳng hề có ý định kết hôn lại.

Đa số khoảng thời gian rảnh rồi, cô đều tham gia tình nguyện ở mấy nhà tế bần chuyên giúp đỡ người nghèo.

Trong lúc được chuẩn đoán tâm lý, cô kể lại một vài sự kiện lạ mà cô không thể nào giải thích nổi.

Lúc Mary xong việc về nhà, bình gas của cô gần đầy, nhưng đến khi cô khởi động xe để đi làm vào sáng hôm sau, nó đã vơi đi quá nửa.

Cô bắt đầu theo dõi chỉ số dặm mà cô đã chạy rồi phát hiện số xăng biến mất kia ứng với quãng đường 50-100 dặm trên đồng hồ.

Có điều, cô không tài nào nhớ được mình đã đi đâu.

Những câu hỏi đi sâu vào hơn nữa đã tiết lộ ra trong trí nhớ của cô có một lỗ hổng lớn về thời thơ ấu

Trong lúc được chữa trị bằng liệu pháp thôi miên, người chữa trị lại hỏi một lần nữa kí ức về khoảng thời gian mà cô không nhớ rõ.

Bất chợt, có một giọng nói khác trả lời, "Đã đến lúc anh nên biết về tôi rồi đấy" .

Nhân cách đó có cái tên chỉ khác đi một chút, Marian, kể và mô tả những chuyến đi đêm của cô đến những ngọn đồi gần đó hoặc bờ biển để "giải quyết vấn đề" .

Trong khoảng thời gian này, người chữa trị đã có dịp tiếp xúc nhiều hơn với Marian, phát hiện ra cô thô lỗ và bất hợp tác còn Mary thì nhu nhược và biết quan tâm đến người khác.

Marian nghĩ rằng Mary là kẻ yếu đuối và không biết cách làm bản thân vui vẻ, còn nói rằng "chỉ biết có người ngoài mà không biết lo cho bản thân mình chỉ phí thời gian thôi"

Thời gian trôi đi, thêm sáu nhân cách nữa bắt đầu hiện ra theo kiểu phụ thuộc/hung hăng.

Áp lực và bất hòa căng thẳng nổi lên.

Ai cũng muốn chiếm quyền điều khiển lâu hơn và Marian thì khơi dậy những tình huống hù dọa các nhân cách kia, bao gồm một nhân cách tự nhận cô chỉ là một đứa trẻ sáu tuổi.

Khi người chữa trị đề nghị muốn bàn thảo vấn đề với một nhân cách khác thì cô bé không chịu, bảo rằng làm như thế sẽ xâm hại đến quyền riêng tư giữa bệnh nhân và bác sĩ.

Ký ức xuất hiện cùng với những nhân cách này là khoảng thời gian lúc còn nhỏ mà Mary không tài nào nhớ được.

Những trận bạo hành tình dục của cha và những người khác, cảm giác tội lỗi khi không bảo vệ được những đứa trẻ còn lại trong gia đình khỏi những lần bạo hành đó.

Mary nhớ về mẹ của cô như một người khắc khổ, chịu đựng những trận bạo hành, nhưng lại phụ thuộc vào người cha độc ác kia và bắt Mary phải nấu ăn và dọn dẹp từ khi còn rất nhỏ.

Mary Kendall được chuẩn đoán là mắc bệnh Rối loạn đa nhân cách (Dissociative Identity Disorder)

Cuốn DSM-IV cho biết dấu hiệu của bệnh đa nhân cách là sự hiện diện của hai hay nhiều nhân cách riêng biệt hoặc những trạng thái tính cách khác biệt thường hay tranh quyền điều khiển hành vi.

Người bị bệnh mất khả năng nhớ lại một số thông tin quan trọng về mình , những sự kiện lớn mà không thể giải thích được bằng từ "quên" bình thường.

Nói đơn giản một chút, sẽ có những khoảng thời gian trong ký ức mà người bệnh không tài nào nhớ nổi, những chuyện quan trọng đã xảy ra trong quá khứ nhưng người bệnh không hề có một chút ý thức gì về nó cả.

Sự rối loạn này phải không xuất phát từ thuốc, chất kích thích hay bất kỳ tình huống y khoa nào để được coi là Rối loạn đa nhân cách.

Có thể bạn cảm thấy ngạc nhiên, nhưng bệnh Rối loạn đa nhân cách thật sự rất hiếm gặp, thế mà ngày nay nó thường hay bị chuẩn đoán nhầm và quy chụp lệch lạc vô căn cứ.

Theo như giáo sư dạy môn Tâm Lý Học cho tôi nói, người mắc bệnh đa nhân cách trải nghiệm cảm giác bị mất đi một khoảng thời gian dài mà không biết lý do cũng như không thể nhớ được trong khoảng thời gian đó mình đã làm gì, và người bệnh không hề có một ý cảm giác hay ý thức gì về những nhân cách còn lại của mình.

Ví dụ như văn phòng của giáo sư tôi có một chị bệnh nhân.

Chị kể chị về nhà từ sở làm lúc sáu giờ, và điều cuối cùng chị nhớ là chị đã ăn tối, nhưng sau đó chị làm gì thì chị chẳng thể nhớ lại được.

Đến sáng hôm sau thì thấy mình đang nằm trên giường.

Trong lúc đi mua sắm thì chị gặp được người quen.

Nghe người đó kể rằng tối hôm qua chị ở trong quán bar nhảy múa rất sung sức khiến người đó rất ngạc nhiên vì chị vốn không như vậy.

Nghe thế, chị ngờ ngợ cảm nhận được một điều gì đó không ổn vì chị sống rất có quy củ, tuyệt không đi chơi đêm, tuyệt không bia rượu, thế làm sao mà người kia thấy chị ở quán bar kia được.

Thêm vào đó, thời gian mất đi càng lúc càng nhiều hơn.

Từ ba giờ, đến năm giờ, rồi đến bảy giờ. . . dù có cố gắng cách mấy chị cũng không thể nhớ ra.

Đây cũng là lúc chị nhờ đến văn phòng tâm lý của nhóm giáo sư dạy tôi.

Chẳng hề nghi ngờ gì nữa, chị mắc bệnh Rối loạn đa nhân cách.

Chắc đọc đến đây có bạn sẽ hỏi "Có những lúc tôi lái xe đến nhà bạn chơi, nhưng tôi không tài nào nhớ ra là tôi đi đường nào, đến bằng cách nào, cho đến khi dừng trước cổng, tôi mới biết mình tới nơi rồi.

Vậy tôi có phải mắc bệnh đa nhân cách hay không?"

Thưa bạn, câu trả lời tôi có thể chắc chắn trong tình huống này là không.

Tình trạng đó xảy ra khi bạn quá tập trung vào một vấn đề gì đó, chứ không phải là sự thay đổi nhân cách.

Hơn nữa, quãng thời gian mà bạn mất đi ký ức phải dài, chứ không phải là vài chục phút lái xe.

Chứng rối loạn đa nhân cách phản ánh sự thất bại trong việc thống nhất tất cả những khía cạnh của tính cách, trí nhớ và ý thức.

Mỗi một trạng thái nhân cách có thể trải nghiệm từng khoảng ký ức nhất định và riêng biệt so với các nhân cách còn lại.

Thường thì có một nhân cách chính mang tên thật ( tên được ba mẹ đặt và hiện diện trên giấy tờ hành chính) và nhân cách này luôn ở thế bị động, phụ thuộc, hay mang cảm giác tội lỗi và trầm uất.

Những nhân cách còn lại có những tên riêng khác biệt và có tính cách trái ngược hẳn với nhân cách chính.

Nếu như nhân cách chính ngoan hiền, vâng lời, thì các nhân cách còn lại thương là hung hăng và nổi loạn.

Những nhân cách đặc biệt thường hiện ra trong một số tình huống nhất định và tuỳ theo độ tuổi, giới tính , ngôn ngữ, thường thức hoặc có những tác động chiếm ưu thế lên nhân cách chính.

Những nhân cách xen kẽ kia chiếm quyền điều khiển liên tiếp nhau (nhân cách chính vừa mất quyền điều khiển là các nhân cách khác lần lượt nổi lên) , thường các nhân cách này không chấp nhận những kiến thức, sự hiểu biết của nhân cách kia, chỉ trích lẫn nhau hoặc xuất hiện cùng lúc.

Giữa các nhân cách xen kẽ thì sẽ có một nhân cách mạnh hơn, nắm quyền lãnh đạo và phân phối thời gian cho những nhân cách còn lại ( trong trường hợp của Mary Kendall mà tôi nói phía trên thì nhân cách lãnh đạo các nhân cách khác chính là Marian) .

Những nhân cách dữ dội, bất hợp tác khác có thể xen ngang hoạt động bất kỳ lúc nào hoặc đặt người khác vào các tình huống khó xử.

Cá nhân người mang bệnh Rối loạn đa nhân cách này sẽ trải nghiệm những khoảng trống trong trí nhớ, về quá khứ lẫn hiện tại.

Sự lãng quên này thường bất đối xứng.

Nhân cách chính nào càng thụ động thì càng có ít ký ức về mình, và ngược lại, nhân cách nào càng hung hăng, chống đối , có ý điều khiển hoặc "bảo vệ" thì sẽ có nhiều ký ức hoàn chỉnh về mình.

Những nhân cách khi không nắm quyền điều khiển vẫn có thể xâm nhập vào ý thức của nhân cách còn lại bằng việc tạo ra những thanh âm hoặc ảo giác ( ví dụ như ra lệnh ).

Những bằng chứng về sự lãng quên và hiện diện của nhân cách khác thường được phát hiện bởi những người có dịp chứng kiến những hành vi mà thường nhân cách chính sẽ không bao giờ làm, hoặc được phát hiện ra bởi nhân cách chính ( tìm thấy những món đồ mà mình không thể nhớ là đã mua lúc nào) .

Sự luân phiên thay đổi quyền điều khiển giữa các nhân cách thường xuất hiện dưới những áp lực về tâm lý.

Và thời gian chuyển đổi giữa hai nhân cách chỉ xảy ra trong tích tắc.

Những biểu hiện thường xuất hiện cùng với sự chuyển đổi nhân cách này thường là nháy mắt không ngừng, cơ mặt thay đổi , giọng nói khác hẳn .

Số nhân cách thường ở trong khoảng từ hai cho đến mười.

Vậy thì nguyên nhân về sự Đa nhân cách này là do đâu?

Những trường hợp về bệnh Rối loạn đa nhân cách này thường có một điểm chung là bệnh nhân từng có một khoảng thời gian bị bạo hành về thể xác lẫn tình dục, đặc biệt là khi còn nhỏ.

Bởi vì những ký ức về tuổi thơ đó quá mức kinh khủng dẫn đến sự biến đổi về nhân cách.

Thực ra, những nhân cách này xuất hiện chỉ với một mục đích duy nhất, bảo vệ nhân cách chính.

Đúng vậy, là bảo vệ chứ không phải xâm hại nhân cách chính.

Những lúc nhân cách chính gặp áp lực về tâm lý, hoặc bị đặt vào trong những tình huống khó xử, và có ý định trốn chạy thì những nhân cách phụ sẽ nổi lên, thay nhân cách chính giải quyết mọi việc, hoặc chịu thay cho nhân cách chính những trận bạo hành.

Những khoảng thời gian mà nhân cách phụ lên nắm quyền, giống như là một khoảng ngừng để nghỉ ngơi của nhân cách chính.

Bệnh nhân với chứng rối loạn đa nhân cách này thường hay trải nghiệm những chấn thương về tâm lý rõ ràng ( thường hay gặp ác mộng, những hình ảnh về quá khứ thoáng qua trí óc) .

Có một vài bệnh nhân khác thường lặp đi lặp lại những mối quan hệ có liên quan đến bạo hành thể xác và bạo hành tình dục

Nghiên cứu cho biết chứng Rối loạn nhân cách có thể xảy ra ở bất kỳ xã hội nào.

Tỷ lệ phụ nữ mắc chứng bệnh này cao từ ba đến chín lần so với Nam giới va phụ nữ thường có nhiều nhân cách hơn.

Trung bình là 15 nhân cách, trong khi con số đó ở Nam giới là 8 nhân cách.

Giới báo chí Việt Nam hình như có rất nhiều hứng thú với loại bệnh này.

Bằng chứng là có rất nhiều bài báo được lược dịch, hoặc lấy nguồn từ những trang khác về những người mắc bệnh này.

Nhưng nó không đi sâu vào hành vi và tâm lý và nguồn gốc bệnh mà giống như là ví dụ hơn.

Mọi người có thể đọc thêm về những trường hợp bị mắc bệnh này ở đây:

Tuy nhìn thì có vẻ bệnh Rối loạn đa nhân cách rất phổ biến, nhưng tôi xin nhắc lại một lần là nó thuộc dạng bệnh hiếm và không dễ bị phát hiện ra.

Người điều trị phải đi sâu vào lịch sử của người bệnh trước khi đưa ra quyết định cuối cùng.

Nếu không thì sẽ rất dễ bị nhầm lẫn với các loại bệnh khác như Tâm thần phân liệt (Schizophrenia) hay Chấn thương tâm lý (Posttraumatic stress disorder – PTSD)

Trong các tác phẩm truyện tranh hay văn học, những người bị mắc bệnh Rối loạn đa nhân cách thường được mô tả như những kẻ tâm thần, điên cuồng, giết người hàng loạt.

Khác với chứng Rối loạn nhân cách phản xã hội mà tôi đã đề cập tới ở kỳ trước, Thật sự ra, mối tương quan giữa chứng Rối loạn đa nhân cách và các loại tội phạm rất hiếm, tỷ lệ không cao.

Vì bản chất sự hình thành các nhân cách phụ giống như kiểu trốn chạy khỏi hiện thực của nhân cách chính.

Hiện nay chưa có loại thuốc nào có thể loại trừ hoàn toàn các nhân cách khác và chỉ để lại nhân cách chính.

Cách duy nhất là thống nhất các nhân cách lại với nhau.

Sau 4 năm theo khoá tâm lý trị liệu, Mary Kendall giờ đây hợp nhất một số nhân cách lại.

Đã có hai nhân cách tương tự nhau nhập lại thành một.

Những nhân cách còn lại bắt đầu đề phòng lẫn nhau và còn tiếp tục đấu tranh theo chu kỳ.

Tuy còn chưa khỏi hẳn nhưng điều này phần nào cũng giúp Mary dễ dàng quản lý được hành vi của các nhân cách khác hơn.

____________

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
Kỳ 3: Tâm Thần Phân Liệt (Schizophrenia)


Lúc còn nhỏ, mỗi buổi chiều tôi thường chạy quanh xóm, đùa với lũ cùng khu.

Thi thoảng lại bắt gặp một chị, còn rất trẻ nhưng lúc nào đầu tóc cũng bù xù, có đôi khi còn có cả vài cành hoa héo rũ rượi cài trên cái tổ quạ ấy.

Quần áo thì sặc sỡ sắc màu, lắm lúc rách tươm bươm.

Chị cứ như đang ở trong thế giới riêng của mình, lúc nào cũng chuyện một mình rồi chợt cười phá lên, cũng có khi thì thầm tâm sự, tựa hồ có ai đó đang ở bên cạnh cùng chia sẻ những lúc ngẩn ngơ.

Đám chúng tôi thấy chị thì sợ lắm, mỗi đứa chạy trối chết về nhà, nhưng vẫn thập thò cái đầu tò mò theo bóng chị cho đến khi khuất hẳn.

Cứ như thế, chị giống như một phần của tuổi thơ chúng tôi, xuất hiện lúc chiều chiều, cười nói loạn trí rồi đi mất dưới ánh hoàng hôn.

Đến khi lớn hơn được một tý, có vài đứa còn chơi dai, lượm đồ chọi chị, khiến chị chạy rối rít.

Vài lần như thế, chị cũng không còn xuất hiện ở gần khu nhà nữa.

Mãi đến tầm 5 năm về trước, chị lại về, vẫn nụ cười ngây ngô, vẫn mái tóc rối bù , vẫn quần áo sặc sỡ, nhưng giờ mái tóc đã điểm sương, gương mặt còn vài chỗ bầm tím.

Chắc những năm nay chị sống cũng chẳng tốt gì mấy.

Rồi theo những bộn bề của cuộc sống, tôi dần quên đi chị.

Mãi cho đến ngày hôm qua...

Lúc ấy, tôi đang đọc lại những ghi chú của mình về bệnh Tâm thần phân liệt (schizophrenia) từ bài của giáo sư mình, rồi tham khảo trong cuốn DSM-IV, để chuẩn bị bài viết trả lời cho em Meg.

Không hiểu sao khi đọc về những dấu hiệu bệnh chứng, hình ảnh chị chợt ùa về tâm trí tôi, những lúc chị cười, những lúc chị ngơ ngẩn một mình...càng khiến tôi có thêm phần khẳng định chị bị mắc chứng tâm thần phân liệt.

Một chứng bệnh rất dễ bị chuẩn đoán nhầm, cũng như ít người hiểu rõ về nó.

Từ những gì tôi đọc được trong cuốn từ điển tâm lý học, bệnh tâm thần phân liệt là tập hợp của những dấu hiệu đặc trưng và triệu chứng ( cả bề nổi và bề chìm hay còn gọi là tích cực và tiêu cực) xuất hiện trong một khoảng thời nhất định trong 1 tháng (hoặc có thể ngắn hơn nếu bệnh nhân được chữa trị hiệu quả) và có một vài dấu hiệu của bệnh chứng biểu hiện liên tục trong vòng 6 tháng.

Những dấu hiệu và triệu chứng này thường có ảnh hưởng đến đời sống, giao tiếp xã hội và mất khả năng hoạt động bình thường.

Nói một cách dễ hiểu hơn, lấy ví dụ là chị, thì việc chị có những biểu hiện mất khả năng giao tiếp với người khác, suy nghĩ không theo lối thường thức, không biết mình đang làm gì, và nó tồn tại hơn 6 tháng ( trường hợp của chị là mấy chục năm) , thêm vào đó Những biểu hiện này không phải là kết quả từ việc dùng thuốc quá liều hay bất cứ phương pháp chữa trị nào, là đủ cơ sở để nghi ngờ chị mắc chứng tâm thần phân liệt.

Những triệu chứng đặc trưng của bệnh tâm thần phân liệt liên quan đến việc mất khả năng vận hành tổ hợp của nhận thức và cảm xúc, bao gồm nhận biết, suy luận, ngôn ngữ, giao tiếp, điều khiển hành vi, ảnh hưởng, sự lưu loát, kết quả từ những suy nghĩ, năng lực nói, ý muốn và dục vọng.

Và vì đây là một điểm quan trọng nên tôi muốn nhắc lại một lần nữa, để bị coi là mắc chứng tâm thần phân liệt, bệnh nhân phải có những triệu chứng của tổ hợp mà tôi vừa nói đến, chứ không phải là một trong số đó, không phải chỉ đơn lẻ một dấu hiệu mà là một tập hợp.

Việc chuẩn đoán bệnh lý thường bao gồm nhận biết nhóm dấu hiệu, và triệu chứng liên quan đến mất khả năng lý giải và hoạt động thường ngày.

Khi nhắc đến Tâm thần phân liệt, hầu như ai cũng cho rằng bệnh nhân chỉ "điên một nửa" tức là bệnh nhân sẽ có lúc tỉnh và có lúc điên.

Nhưng thật ra, điều này cũng không hoàn toàn đúng, chữ phân liệt ở đây chỉ về tình trạng bệnh nhân thường sẽ nghe một giọng nói khác trong đầu mình.

Giống như là có một nhân cách khác đang cùng tồn tại nên có một khoảng thời gian, chứng bệnh này đã được coi là một chứng bệnh về nhân cách.

Bệnh nhân mắc chứng tâm thần phân liệt thường trải nghiệm một điểm đặc trưng của bệnh chính là bị ảo tưởng hay ảo giác, như là người bệnh không bị bất kỳ kích thích nào mà bị ảo giác, thấy được những thứ kỳ lạ mà người khác không thấy được ( xin đừng hiểu là người bệnh thấy được ma thật hay có năng lực siêu nhiên nhé ;___😉 hay tưởng tượng những thứ vô nghĩa gì đâu.

Nó khác với chứng rối loạn hoang tưởng ở chỗ là người bị chứng hoang tưởng luôn nghĩ rằng người khác có ý hại mình nên Thái độ lúc nào cũng hung hăng giận dữ, và nghi kỵ.

Vì chứng hoang tưởng này thuộc về chứng bệnh nhân cách.

Còn người mắc chứng ảo tưởng trong bệnh tâm thần phân liệt thì cho rằng mình thấy, cảm giác được những cái khác thường, nhưng không có thái độ gây sự, hiềm khích với những người chung quanh.

Nó cũng khác với chứng Đa nhân cách, vì tuy người bệnh có thể nghe được một giọng nói khác trong đầu, nhưng đa phần những giọng nói đó mang xu hướng tiêu cực xâm hại người bệnh như bảo họ tự tử, hay làm những việc tổn thương mình.

Hơn nữa, người bệnh không có cảm giác mình bị mất một khoảng thời gian dài không biết bản thân làm gì như người bị chứng Đa nhân cách.

Để cho tiện việc giải thích, tôi xin lấy một ví dụ từ cuốn Case Book, Emilio, 40t nhưng có ngoại hình trẻ hơn mười tuổi.

Anh được mẹ đưa vào bệnh viện lần thứ 12 vì bà dần cảm thấy sợ Anh.

Emilio mặc một chiếc áo choàng dài rách bươm, mang đôi dép ngủ, đội chiếc mũ bóng chày và đeo vài tấm huy chương quanh cổ.

Triệu chứng bệnh của Anh ta trải từ cơn giận vô cớ với mẹ mình ( bà ta cho tôi ăn phân từ ruột già của người khác) đến cười khúc khích , xun xoe dụ dỗ người khám.

Ngôn ngữ và thái độ của Anh ta như một đứa trẻ con, bước đi õng ẹo, đánh eo quá mức.

Bà mẹ bảo Anh không chịu uống thuốc chừng 1 tháng trước.

Rồi từ đó, Anh bảo mình lúc nào cũng nghe có một giọng nói trong đầu, cách ăn mặc và hành xử càng lúc càng kỳ quái.

Khi được hỏi Anh đang làm gì, Emilio trả lời, "tôi đang ăn dây diện và chuẩn bị đốt lửa."

Trong trường hợp của Emilio, bạn có thể nhận thấy rõ ràng sự mất khả năng vận hành tổ hợp nhận thức và cảm xúc.

Emilio không thể suy luận, nhận biết về những gì mình đang làm, không thể giao tiếp trôi chảy, ngôn ngữ bất bình thường, không thể điều khiển hành vi của mình theo chuẩn mực xã hội cho phép.

Và vì thế nên Emilio được chuẩn đoán là mắc chứng tâm thần phân liệt.

Anh phải uống thuốc hàng ngày, nhưng sự gián đoạn trong việc dùng thuốc khiến cho bệnh tình quay lại và nghiêm trọng hơn, dẫn đến chuyện Anh nghe được tiếng nói hay hành xử càng khác lạ.

Nhưng không phải chỉ khi nào người bệnh ăn nói lộn xộn, hành vi kỳ quái như người chị trong khu tôi và Emilio mới được coi là mắc chứng tâm thần phân liệt.

Có lúc người bệnh không ngừng trải nghiệm ảo giác dẫn đến hành động khác thường, không thể điều chỉnh suy nghĩ của mình cũng là dấu hiệu của chứng tâm thần phân liệt như ví dụ dưới đây.

Bà Green, một nhân viên thư viện 62t đã về hưu khi đi khám Bác sĩ, đã nói, "mấy con giun đó vẫn còn trong người tôi."

4 năm về trước, trong một lần tắm, bà chú ý đến những thứ mà bà cho là "mấy con giun nhỏ" .

Không lâu sau đó, bà trải nghiệm cái cảm giác "mấy con giun đó đang chui qua da tôi" .

Nhiều lần đi khám Bác sĩ và mang theo cả mẫu nước mà bà cho rằng có giun, nhưng không nhân viên nào có thể tìm ra được bất kỳ ký sinh trùng nào.

Dù cho Bác sĩ không ngừng bảo rằng cái đó chỉ là mấy mảnh da khô của bà thôi nhưng bà vẫn không tin.

Bà cảm thấy rằng bạn bè và đồng nghiệp đang dần lánh xa mình vì mấy con giun đó.

Sau đó khoảng 9 tháng, lúc đi nhà thờ, bà thấy chuỗi tràng hạt tự dưng xoay theo chiều kim đồng hồ và à thấy được mình có lực từ hút những thứ xung quanh.

Bà Green cho rằng bởi vì những con giun xâm nhập vào tủy sống và không ngừng di chuyển lên xuống đã tạo ra lực từ như thế.

Khi xét về lịch sử bệnh lý, bà Green không hề dùng bất kỳ chất kích thích nào, nên trường hợp của bà không khó để Bác sĩ trị liệu xếp vào Tâm thần phân liệt.

Hay case về một người Mỹ lai Phi cao ráo, chỉnh tề bước vào phòng cấp cứu của một bệnh viện lớn thuộc vùng đô thị, đăng ký dưới tên Harry Backman, và đề nghị cho ông được phép vào phân khu số 3 của khoa Tâm Lý Trị Liệu.

Ông ta bảo rằng mặc dù giấy tờ chứng minh đều dưới tên Harry Backman, nhưng họ thật của ông chính là Johnson.

"Vậy còn tên của ngài là gì?" , vị Bác sĩ hỏi.

"Chúng tôi không được phép tiết lộ tên thật của mình!", ông khẳng định.

Ông giải thích thật ra ông là Agent Johnson, nhân viên FBI, đang làm nhiệm vụ tìm Harry Backman.

Bởi vì Harry bị mắc một vài chứng bệnh tâm lý nên ông thường tìm đến các phòng khám để thu thập tin tức về hắn.

Khi nói đến đây các bạn hẳn có thể đoán ra được quý ngài Harry Backman đây thực ra bị mắc chứng ảo tưởng rồi đúng không?

Mặc dù cuộc nói chuyện diễn ra suôn sẻ, bệnh nhân không có bất kỳ dấu hiệu rối loạn ngôn ngữ, nhưng rõ ràng bệnh nhân bị ảo tưởng về thân phận của mình- một trong những đặc điểm của chứng tâm thần phân liệt.

Những biểu hiện của chứng tâm thần phân liệt được chia ra làm hai loại, tích cực ( positive) và tiêu cực (negative) .

Những triệu chứng được cho là tích cực bao gồm trải nghiệm ảo giác, cười nói kỳ quái.

Nói một cách đơn giản hơn là những biểu hiện tích cực là những biểu hiện có thể thấy rõ ràng nhất, dễ gây chú ý nhất.

Trường hợp về người chị xóm tôi, Emilio, Green, Harry Backman là những ví dụ về tâm thần phân liệt có triệu chứng tích cực.

Còn những biểu hiện tiêu cực thường là gương mặt không chút biểu cảm, lạnh lùng, im lặng, không thích ồn ào, hành vi bất thường, bệnh với biểu hiện tiêu cực còn đang được nghiên cứu kỹ hơn, như Louise Larkin, nhân vật trong một case khác về chứng này mà tôi kể dưới đây.

Louise Larkin, 39t, lúc nào cũng khom người, cúi gầm mình xuống.

Cô có gương mặt như một đứa trẻ với những bím tóc và dây ruy-băng hồng.

Cô được đưa tới Văn phòng tâm lý bởi Bác sĩ gia đình, người ái ngại về tình trạng cô hoạt động cơ thể ở mức quá thấp này.

Điều duy nhất mà cô nói với Bác sĩ chính là " tôi có khoảng thời gian gián đoạn trong việc chăm sóc bản thân và có cuộc sống thấp dưới mức Bình thường."

Rồi sau đó, cô tiếp tục giữ im lăng và nhốt mình trong phòng.

20 năm về trước, sau khi vị hôn phu hủy bỏ lễ đính hôn, cô bắt đầu không thể tự sắp xếp mọi thứ cho ngăn nắp, lang thang một mình vô định trên những con đường, mặc những bộ đồ không đi đôi với nhau.

Louise bị sa thải và được đưa tới bệnh viện, sau đó được mẹ cô làm giấy xuất viện với hy vọng là cô sẽ mau chóng hồi phục tinh thần và bắt đầu cuộc sống thật.

Nhưng bao năm trải qua, cô vẫn trốn tránh xã hội, và càng ngày càng ít hoạt động hẳn đi.

Hầu hết thời gian cô dành cho việc nấu nướng và xem TV.

Những món ăn của cô là hỗn hợp lạ kỳ của những nguyên liệu như cải súp-lơ với bánh ngọt,ngồi một mình vì không ai trong gia đình muốn ăn những thứ đó.

Khi mẹ cô bước vào phòng thì cô luôn quơ đại một cuốn tạp chí hay sách gì đó rồi giả vờ như đang đọc nhưng thực tế thì cô vốn chỉ ngồi đó và ngẩn ngơ nhìn vào khoảng không vô chừng.

Louise không chịu tắm hay chải đầu, tăng mình.

Cô ăn càng lúc càng ít đi.

Lúc đi khám thì từ chối nhìn thẳng và đối thoại với Bác sĩ.

Cô được xác định là bị chứng Tâm thần phân liệt với biểu hiện tiêu cực.

Bệnh chứng này không dẫn tới những hành vi cực đoan, xâm hại đến quyền lợi của người khác như chứng bệnh rối loạn nhân cách phản xã hội.

Nhưng nếu bệnh nhân bị mắc chứng tâm thần phân liệt hoang tưởng thì khác.

Người bệnh này có khi sẽ nghe được một giọng nói khác trong đầu mình cho rằng những người xung quanh đang có ý gây hại đến anh ta.

Tính cách trở nên nghi kỵ và ngờ vực, dẫn đến nhiều hành động gây thương tổn đến những người xung quanh, như trường hợp của , chặt đầu người ta xuống và ăn vì nghĩ người đó là người ngoài hành tinh.Ngoại trừ như thế ra thì hầu như các chứng tâm thần phân liệt khác ít có tương quan đến các loại tội phạm.

Có nhiều nguyên nhân gây ra chứng tâm thần phân liệt, người mẹ đang mang thai bị virus xâm nhập thì đứa con sinh ra có nguy cơ bị mắc chứng bệnh này cao, di truyền, hay bị những chấn thương tâm lý.

Nhưng quan trọng nhất chính là cấu trúc não bất bình thường.

Chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmitter) dopamine ảnh hưởng đến ngôn ngữ, hành vi, học tập, và cảm xúc.

Quá nhiều cơ quan thụ cảm (reception) hay là "cửa" nhận chất dẫn truyền này ( vì mỗi chất dẫn truyền có một cửa riêng của nó) sẽ dẫn đến ảo giác, một đặc điểm của chứng tâm thần phân liệt vì thế cho nên hiện nay đã có thuốc ngăn chặn cơ quan thụ cảm này, không để bệnh chuyển hướng nặng thêm.

Ngoài ra, còn có nghiên cứu cho biết sự suy giảm chất dẫn truyền thần kinh glutamate ( có khả năng kích thích não bộ ( có nhiều trong bột ngọt) và suy giảm trí nhớ) cũng là một nguồn gây bệnh tâm thần phân liệt.

Thuốc có ảnh hưởng đến cơ quan thụ cảm của chất này có thể gây ra những biểu hiện tiêu cực của bệnh.

Bệnh tâm thần phân liệt là một chứng bệnh phức tạp, và khó điều trị, đồng thời rất dễ bị nhầm lẫn với bệnh khác như bệnh rối loạn nhân cách hoang tưởng (paranoid personality disorder).

Bệnh được chia ra thành nhiều loại như loại không có khả năng sắp xếp mọi thứ (disorganized type) , khả năng vận hành cơ thể bị giảm ( catatonic type) nhưng bài viết này chỉ là tổng quát, tôi không đi sâu vào từng loại vì nó rất khó hiểu và tôi không nghĩ một người ngoài nghề như tôi có khả năng giải thích cặn kẽ cho mọi người hiểu nên thôi, hãy dừng bài viết kỳ này ở đây nhé.

Hy vọng sau khi đọc bài này, mọi người đừng nên xa lánh hay tệ hơn nữa là chọc ghẹo, đánh đập, ghét bỏ những người bị bệnh này như người chị xóm tôi.

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
Kỳ 4: Bệnh sợ xã hội (Social Phobia)


Tôi vẫn còn nhớ trong bài thi cuối kỳ môn tâm lý học của mình có câu:

Andrianna rất sợ phải tiếp xúc với đám đông, nỗi sợ ấy càng ngày càng lớn dần đến mức cô không dám đến lớp vì sợ cô phải nói chuyện, hoặc là phải tham gia vào những hoạt động nào đó với nhiều người.

Từ những mô tả trên, Andrianna có thể bị mắc bệnh gì?

a) bệnh tâm thần phân liệt

b) bệnh hai cực

c) bệnh OCD

d) bệnh sợ xã hội (Social phobia)

Chắc chẳng khó để một người có những kiếln thức cơ bản không chuyên về tâm lý học đoán ra Andrianna bị mắc chứng sợ xã hội.

Nói một cách cực kỳ tóm gọn về bệnh này thì điểm nổi bật nhất của nó chính là bệnh nhân có những hành động quá cực đoan để tránh không tiếp xúc với bất kỳ ai ( trong trường hợp của Andrianna, cô thậm chí còn nghỉ học, ở nhà để tránh phải tiếp xúc với bất kỳ ai )

Những đặc điểm nổi bật của chứng sợ xã hội bao gồm nỗi sợ hãi dai dẳng về xã hội và các mối giao tiếp thường ngày , hoặc nỗi sợ hãi về những tình huống mà mình sẽ bị mất mặt hay xấu hổ xảy ra.

Người bị mắc bệnh này khi bị bắt phải giao tiếp, tham gia các hoạt động đòi hỏi sự tương tác giữa những thành viên thì ngay lập tức sẽ bị kích động dẫn đến sự hoảng loạn, và cơ thể sẽ có những phản ứng tương tự như bệnh đột quỵ ở người cao tuổi với hơi thở ngắn, tim đập nhanh, người bệnh cảm thấy không thở được .

Mặc dù thanh thiếu niên và người lớn có thể nhận thấy sự sợ hãi của họ là quá mức hoặc vô lý, nhưng trẻ em thì không như vậy.

Thông thường, trẻ em hay tránh những hoạt động mang tính chất xã hội hay bắt buộc mình phải tham gia nó với nỗi kinh sợ.

Để được coi là mắc chứng sợ xã hội, thì người bệnh phải có những biểu hiện như tránh né, sợ hãi, lo lắng không nguôi trước những tình huống mình phải hòa với đám đông, hoặc để cho việc giao tiếp thông thường với những người xung quanh làm cản trở hoạt động thường ngày.

Nếu bệnh nhân dưới 18 tuổi thì những biểu hiện trên phải liên lục trong vòng 6 tháng mới được chuẩn đoán mắc chứng Sợ xã hội.

Nỗi sợ hãi hay sự lảng tránh không phải là kết quả từ việc dùng thuốc tác động lên tâm lý hay những điều kiện về sức khỏe.

Và đương nhiên, không nên lầm lẫn chứng Sợ xã hội này với những căn bệnh tâm lý tương tự khác .

Nói về nỗi sợ hoặc những tình huống giao tiếp, mỗi cá nhân với chứng bệnh này thường quan tâm thái quá về mặt mũi và các tình huống có thể làm cho họ xấu hổ, lung túng hay ngượng nghịu, đồng thời luôn lo lắng cái nhìn của người khác với mình, sợ họ sẽ cho rằng mình ngu ngốc, điên khùng, hay yếu đuối.

Họ cũng có thể cảm thấy sợ khi phải đứng phát biểu trước công chúng vì lo lắng người khác sẽ chú ý đến giọng nói run rẩy hay bàn tay đang mướt mồ hôi của mình.

Người mắc chứng sợ xã hội trải nghiệm nỗi lo âu, kinh hoàng tột điểm lúc nói chuyện với người khác vì sợ rằng mình sẽ bị cà lăm, không thể giao tiếp đàng hoàng được.

Nói một cách tóm gọn, họ sợ hãi những tình huống có thể làm cho người khác nghĩ xấu, cười cợt về họ.

Đã là người, không ít thì nhiều đều để tâm đến cái nhìn thế tục, ánh mắt người đời, họ luôn có cách đối phó cho riêng mình, nhưng những bệnh nhân bị mắc chứng xã hội lại phòng bị trước những tình huống đó với một thái độ quá mức tiêu cực.

Bệnh nhân với chứng này thường tránh không ăn, uống, hoặc viết ở nơi công cộng, vì nỗi sợ những người qua lại sẽ nhìn thấy bàn tay đang run không ngừng của mình.

Hầu hết, họ đều có những triệu chứng liên quan đến hoảng loạn như cơ bắp căng cứng, đổ mồ hôi, bao tử khó chịu, tiêu chảy, đỏ mặt, bối rối.

Trong đó, đỏ mặt là một đặc điểm chính của chứng sợ xã hội

Nếu bạn đang băn khoăn rằng có những lúc bạn đến lớp mà quên không kịp chuẩn bị bài.

Trong khi cô giáo đang dò danh sách để coi bạn nào chuẩn bị lên đoạn đầu đài ngày hôm nay thì ở dưới này, bạn cảm thấy tim mình sắp nhảy ra khỏi lồng ngực.

Bàn tay không ngừng tướt mồ hôi, hơi thở gấp gáp chân thì run lẩy bẩy, và khi đọc đến đây, bạn đang tự hỏi rằng mình có bị mắc chứng sợ xã hội hay không thì tôi xin thưa rằng không.

Những phản ứng cơ thể của bạn hoàn toàn có thể tránh khỏi bằng việc chuẩn bị bài kỹ hơn.

Hơn nữa, nỗi sợ của bạn là có lý do (quên học bài nên sợ bị cô gọi lên) còn những người mắc chứng sợ xã hội không cần bất cứ lý do gì để sợ cả.

Chỉ là, họ quá chú tâm vào cái cách mà người khác đánh giá về mình thôi, họ không muốn là trung tâm của mọi ánh nhìn, nếu được, họ muốn thu gọn mình về một góc, càng ít người chú ý thì càng tốt .

Không phải bất kỳ nỗi sợ nào khi phải giao tiếp với người khác đều được coi là chứng Sợ xã hội, mà nỗi sợ này phải can thiệp và ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng đến đời sống thường ngày của người bệnh trong công ăn việc làm, học hành, giáo dục, như Adrianna .

Hoặc bệnh nhân phải có những lúc cực kỳ lo lắng về cảm xúc, sự lảng tránh bất bình thường này của mình.

Nói cách khác, bệnh nhân phải biết được rằng, những hành vi trốn tránh, cảm giác sợ hãi, lo lắng tột độ, không dám làm gì và cố gắng thu mình về một góc này là vượt xa mức bình thường.

Ví dụ như một người sợ phải phát biểu trước công chúng sẽ không được coi là mắc chứng Sợ xã hội nếu như nỗi sợ này của anh ta không ảnh hưởng gì đến hoạt động thường ngày và công việc, lớp học.

Hơn nữa, anh cũng không quá lo về tình huống này của mình.

Sợ mình sẽ bị mất mặt là chuyện bình thường ngày trong xã hội nhưng mức độ của nó thường không đến nỗi để bị liệt vào chứng Sợ xã hội.

Những chứng sợ xã hội, hoặc ngại đám đông thì đặc biệt bình thường đối với trẻ em hoặc thanh thiếu niên (ví dụ như thiếu nữ mới trưởng thành thì ngại phải ăn uống trước mặt một đám con trai nhưng chỉ trong một khoảng thời gian ngắn thì cô bé lại không cảm thấy sợ nữa).

Thế nên với những người dưới 18 tuổi thì những biểu hiện phải liên tục trong vòng 6 tháng liền mới đươc coi là mắc chứng Sợ xã hội thật.

Đặc biệt hơn, những triệu chứng bệnh còn được dùng làm nguồn chuẩn đoán những nỗi sợ có liên quan nhiều đến tình huống xã hội (như bắt đầu, hoặc duy trì cuộc nói chuyện, tham gia vào nhóm, hẹn hò, nói chuyện với lãnh đạo, tham dự các buổi tiệc) Cá nhân người bệnh mắc chứng Sợ xã hội thì thường đồng thời sợ hoạt động trước công chúng và các tình huống giao tiếp với người xung quanh, và cũng vì bệnh nhân thường không phản ứng hết những triệu chứng, hành động mà tôi nêu trên trong một tình huống riêng rẽ, cho nên sẽ rất hữu dụng nếu bác sĩ phụ trách rà lại danh sách hoạt động xã hội mà bệnh nhân đã tham gia.

Theo khảo sát từ các phòng khám thì tỷ lệ người mắc bệnh thường khác nhau tùy theo nền văn hóa.

Trong một vài nền văn hóa như Nhật và Hàn, người dân ở đó thường sợ làm mất lòng người khác một cách quá mức và đó cũng là một triệu chứng bệnh thay vì sợ xấu hổ.

Những nỗi sợ này thường biểu hiện qua những hành vi lo lắng quá độ như đỏ mặt, nhìn thẳng vào mắt, hoặc mùi hôi của một người cũng có thể là nguyên nhân làm mất lòng người khác ( như ở Nhật)

Chứng bệnh này có nhiều khả năng di truyền cho đời thứ nhất, có thể tự động biến mất rồi quay lại hoặc có thể không .

Ví dụ như nếu người bệnh có triệu chứng sợ hẹn hò, kết hôn thì người này sẽ dần làm quen với cuộc sống mới và khắc chế nỗi sợ của mình, tuy nhiên bệnh tình có thể quay lại sau khi người bạn đời của họ chết đi.

Hay một công việc mới đòi hỏi người bệnh phải nói trước công chúng có thể tạm thời làm giảm chứng Sợ xã hội ở một người chưa bao giờ phải xuất hiện trước đám đông.

Qua những biện pháp chữa trị tâm lý mà tôi học được thì theo ý kiến cá nhân mình, bệnh Sợ xã hội có thể chữa trị bằng phương thức hành vì (Behavioral therapy), tập trung vào hành vi của bệnh nhân.

Ban đầu bệnh nhân bị bắt phải tham gia vào những tình huống mà ngày thường họ sẽ tránh, và với những tình huống lặp đi lặp lại như vậy, họ sẽ dần bớt lo âu đi và học cách khắc phục nỗi sợ của mình.

Một trong những liệu pháp được dùng rộng rãi nhất của phương thức hành vi này là gây cảm xúc có hệ thống (systematic sensitization), với quá trình được thực hiện theo từng bước một, bệnh nhân sẽ học được cách giảm dần nỗi sợ hãi của mình.

Mục đích của liệu pháp này là tìm cách kết hợp nỗi sợ và thư giãn tinh thần lại với nhau.

Còn một biện pháp khác chính là dùng phương thức hành vi – nhận thức.

Đây là biện pháp tổng hợp từ phương thức hành vi và phương thức nhận thức, tập trung vào xây dựng cách suy nghĩ của bệnh nhân, thay đổi nó để thay đổi hành vi.

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
Kỳ 5 - Hậu chấn thương tâm lý rối loạn căng thẳng


Post Traumatic Stress Disorder (PTSD – hậu chấn thương tâm lý, rối loạn căng thẳng) là một chứng bệnh dạng lo âu, hoảng sợ, kinh hoàng, thường xảy ra sau khi người bệnh chứng kiến/ trải nghiệm bất kỳ sự kiện gì làm tổn thương tâm lý.

Trước chiến tranh Iraq, tức là trước năm 2002, PTSD vốn không được chú trọng gì nhiều bởi vì không ai thấy được biểu hiện vật lý gì ở người bệnh.

Nhưng sau khi chiến tranh Iraq, càng ngày người ta càng phát hiện ra nhiều ca PTSD từ dạng nhẹ cho đến nặng, nổi lên như một phần hậu quả mà chiến tranh mang lại.

Và PTSD từ đó nghiễm nhiên được coi là một chứng bệnh của quân đội.

Trước khi đi sâu vào triệu chứng bệnh, tôi xin bạn dành ra một vài phút để đọc về tâm sự người mẹ của một quân nhân, và cả bức thư của anh nữa.

Noah Pierce, người tham gia cuộc chiến Iraq nhưng sau đó lại được đưa về do tâm lý không ổn định.

Sau vài khóa điều trị, tinh thần của Noah không được cải thiện chút nào.

Bị ám ảnh bởi những tiếng súng, tiếng hò hét, hình ảnh những người đồng đội của mình bị trọng thương, lần lượt ngã xuống đất, tiếng van xin của đối phương... những thứ ấy chưa bao giờ thôi ám ảnh Noah cả.

Quá mệt mỏi, anh đã chọn cách ra đi, để lại cho mẹ mình một bức thư duy nhất. . .

Đó là chiếc xe tải mà Noah đã lái lên đồi, rồi nó để miếng thẻ kim loại ngay trên thái dương, đặt họng súng trước tấm thẻ ấy. . . và. . . bóp cò.

Một phát súng hoàn hảo. . .

Nó đã ra đi. . .

Đây cũng chính là khẩu súng mà con trai tôi dùng để tự kết liễu mình.

Để tôi nói cho bạn nghe một sự thật, khẩu súng này chẳng là gì cả, nó chẳng đáng giá gì ngoại trừ việc bạn có thể dùng nó. . .

để giết chính mình, hoặc lấy đi mạng sống người khác.

Tôi vẫn còn giữ con dao bỏ túi của Noah, và Noah dùng nó để đâm ngay vào gương mặt mình trên những tấm thẻ chứng minh, hay bằng lái.

Trước khi nó tự bắn mình, thì nó đã bắn nát tấm gương ở trong xe, chỉ để nó khỏi nhìn mặt mình.

Tôi ghét tấm hình này của nó, gương mặt phủ đầy sự giận giữ và mệt mỏi.

Nó nghĩ nó không xứng đáng gì cả.

Nó cho rằng nó là kẻ sát nhân không đáng được tha thứ.

Bên trong nó tự chết dần, chết mòn.

Và như một hệ quả, bề ngoài của nó cũng chết theo.

Đó là những gì mà PTSD gây ra cho bạn.

Nó giết bạn dần dần. . . dần dần. . . từ bên trong ra đến bên ngoài.

Đây là bức thư nó viết cho tôi, được tìm thấy trong xe của nó. . .

"Mẹ, con xin lỗi rất nhiều.

Cuộc sống con giống như địa ngục kể từ tháng 3, 2003, khi con là một phần trong cuộc chiến xâm lược Iraq.

Nó không liên quan gì đến ai cả.

Mẹ đừng quá buồn phiền vì điều đó.

Con tự giải thoát bản thân mình khỏi vùng sa mạc cằn cõi này một lần và mãi mãi.

Con cứ nghĩ những thứ chết tiệt ấy dần sẽ trở nên khá hơn, nhưng con đã sai rồi.

Bây giờ con đang dùng thuốc, nên con dễ mở lòng mình hơn.

Con đã dự định làm chuyện này từ lâu lắm rồi mẹ ạ.

Rồi cuối cùng, thời điểm cũng đã tới.

Con không phải là người tốt, con đã làm những chuyện xấu xa.

Con đã lấy đi mạng sống của nhiều người, và bây giờ đã đến lượt con." (1)

Tôi đã không ngăn được nước mắt mình khi tôi nghe dòng thư ấy, cả tiếng nói run rẩy của người mẹ, và gương mặt hằn sâu nỗi đau.

Và tôi nghĩ, nếu như bạn có trái tim, bạn kiên nhẫn ngồi xem hết 1 giờ 7 phút đoạn phim tài liệu về PTSD, Wartorn (1861-2010) của đài HBO thì bạn cũng sẽ khóc như vậy.

Hoặc, chỉ đơn giản xem những trích đoạn ngắn về PTSD và những người lính, bạn cũng sẽ không thể nào kìm nổi mình.

Vì, nó quá đáng sợ, vì, nó giết dần tâm trí con người ta, vì, nó dập tắt hết đi mọi hy vọng và dồn kẻ khác xuống hố sâu không đấy, và vì, nó là "món quà" mà chiến tranh mang lại.

Theo cuốn DSM –IV, những nét đặc trưng của PTSD chính là sự phát triển của một loạt các triệu chứng đặc thù sau khi người bệnh trải nghiệm, chứng kiến, hoặc giáp mặt với những tình huống liên quan đến cái chết, nguy hại đến mạng sống của họ, có xu hướng hay gây ra những thương tổn nghiêm trọng đến bản thân và người khác.Phản ứng của bệnh nhân trước những sự kiện đó thường là sợ hãi tột độ, không thể làm gì hoặc kinh hoàng.

Ở trẻ em thì phản ứng phải liên quan đến hành vi mất tổ chức hoặc kích động.

Đặc biệt, chứng bệnh này thường có nguy cơ kéo dài, hoặc trở nên nghiêm trọng nếu nguyên nhân gây ra tình huống chấn thương tâm lý là con người ví dụ như cưỡng bức, hành hạ, đánh đập...

Hay nói đơn giản là thảm họa thiên nhiên cũng không có hành hạ tâm trí con người bằng những hành động mà họ gây ra cho nhau.

Bệnh nhân với chứng PTSD thường trải nghiệm những tình huống chấn thương tâm lý theo một hay nhiều đường như cảm nhận được nỗi đau khổ, mệt mỏi, thấy được những hình ảnh từ sự kiện kinh hoàng mà mình trải qua không ngừng tái hiện lại trước mắt.

Hay gặp những cơn ác mộng về nó, những sự kiện kinh hoàng ấy xuất hiện lại.

Trong một số trường hợp hiếm gặp , bệnh nhân còn trải nghiệm trạng thái nhân cách tách rời tương tự như bệnh Đa Nhân Cách trong khoảng vài giây, cho đến vài giờ, hoặc vài ngày trong khi những phần của sự kiện kia sống lại, và bệnh nhân cư xử , phản ứng, hành động, cảm giác như thể mình vẫn còn đang ở trong sự kiện ấy (hoảng loạn, khóc lóc, giận dữ, la hét, tấn công người khác...) bao gồm cả việc thấy được ảo giác hay những mảnh hồi ức rời rạc, những đoạn phim hồi ức về sự kiện, những thứ ấy tuy đặc biệt ngắn gọn, nhưng có thể gây ra những cơn chấn động mạnh.

Tâm lý bị trầm uất nặng nề ở bên trong, hoặc những dấu hiệu ở bên ngoài tượng trưng hoặc gợi lại sự kiện gây tổn hại đến tâm lý.

Đồng thời, bệnh nhân còn có những triệu chứng mà vốn không có trước khi chấn thương xảy ra như cố chấp tránh đi những suy nghĩ, cảm nhận hay những cuộc đối thoại về tình huống chấn thương tâm lý.

Chứng tránh nhớ lại này thường đi song song cùng với chứng quên về những thứ quan trọng đã xảy ra.

Ngừng đáp lại sự tác động của thế giới bên ngoài được biết tới như "Đóng băng tâm lý" hay "Mất cảm xúc" Đột ngột mất đi hứng thú với những hoạt động mà họ đã từng tham gia.

Khả năng cảm nhận cảm xúc giảm đi rõ rệt (như không thể yêu người khác...)

Bên cạnh đó, những triệu chứng như, khó buồn ngủ, khó ngủ tròn giấc, cáu gắt, hoặc dễ nổi giận mà những cơn giận này thường quá mức bình thường, không thể tập trung vào việc gì, cảnh giác quá độ, có phản ứng hoảng hốt quá cường điệu...

đều được coi như những dấu hiệu có thể gợi lên sự kiện chấn thương tâm lý đó nếu hai hay nhiều triệu chứng xuất hiện cùng một lúc.

Ngoài ra, những dấu hiệu trên phải hiện diện liên tục trong vòng một tháng để được xếp vào chứng Hậu chấn thương tâm lý rối loạn căng thẳng.

Nói một cách chi tiết hơn thì, bệnh được xếp vào loại tạm thời nếu các triệu chứng bệnh kéo dài dưới 3 tháng, và được coi là kinh niên nếu nó kéo dài hơn 3 tháng

Nhìn các triệu như vậy đấy mà nó giết người bệnh từng chút một .

Những người lính trong thế chiến thứ hai đã gọi nó là cuộc chiến mệt mỏi.

Sau cuộc nội chiến ở Mỹ, hơn phân nửa bệnh nhân trong các bệnh viện tâm thần là thương binh, lính giải ngũ.

Vào năm 1980, PTSD chính thức được chuẩn đoán cho những người lính quân đội với những vết thương tâm lý.

Trong cuốn phim tài liệu Wartorn 1861-2010, nhà sản xuất, James Gandolfini, có đến thăm Walter Reed Army Medical Center, ở đây, ông đã gặp với trưởng khoa tâm lý trị liệu, John Bradley, và đã có một cuộc đối thoại ngắn về PTSD :

James: Vẫn còn có rất nhiều điểm mù mờ về PTSD, anh có thể nói rõ ra vài dấu hiệu vật lý của nó được không?

John: À...

Những triệu chứng đáng lưu ý nhất của nó chính là sự cáu bẳn, kích động, luôn ở trong trạng thái căng thẳng, như kiểu, "tôi sẵn sàng chiến đấu, tôi sẵn sàng đi cứu mạng ai đó, hay tôi sẵn sàng đánh nhau với quân địch."

Và vấn đề với PTSD là những triệu chứng đó không, biến, mất, đi, khi chúng tôi được giải ngũ về nhà.

Tôi có thể nói hầu như không ai có thể thoát ra được, họ không còn hứng thú gì với cuộc sống nữa. (2)

"Tôi đã ở trong cuộc chiến Việt Nam 9 tháng," Akinsanya Kambon, bộ thủy binh lục chiến nói, " công việc của tôi là ở trong vòng chiến đấu và vẽ lại những gì mà tôi thấy, những xác chết. . . mọi thứ.

Tấn công, tấn công, giết giết giết, bạn biết không, thủy binh dạy bạn cách trở thành thú vật, anh chìm trong cơn cuồng sát với những người mà anh không biết, giống như búp bê vậy, anh nhận chìm người ta, cắn họ, cố gắng giết họ, như một con chó điên.

Và tôi không biết cách nào trốn khỏi nó cả.

Chỉ có những xác chết không ngừng xuất hiện.

Tôi nhìn thấy một người ở trên cây, bạn biết không, tôi nhìn mặt anh ta, và điều kỳ lạ là đôi mắt anh ta vẫn còn nháy.

Anh ta vẫn còn sống, với nửa phần dưới đứt lìa.

Đó là một trong những hình ảnh khiến tôi thét lên lúc giữa đêm và tỉnh giấc từ ác mộng .

Nhưng mà, nó vẫn không chịu buông tha cho tôi." (3)

"Có phải PTSD đang dần trở nên nghiêm trọng trong cuộc chiến lần này hơn so với những cuộc chiến khác?" nhà sản xuất Wartorn hỏi đại tướng quân Raymond Odierno, người chỉ huy các hoạt động trong cuộc chiến Iraq, và ông đã trả lời như sau: " Tôi nghĩ trong mấy năm qua, xã hội không ngừng thay đổi, tôi nghĩ chúng ta bây giờ biết cảnh giác nhiều hơn vì ngày càng có nhiều trường hợp liên quan đến PTSD.

Tôi nghĩ, cuộc chiến ở Vietnam cũng là một phần nguyên nhân.

Anh biết đấy, khi mới nhập ngũ thì chúng tôi đươc chuẩn bị và luyện tập để có được tinh thần lẫn thể xác thép.

Thế nên khó ai chịu thừa nhận là mình đang mắc bệnh.

Thật sự thì tầm khoảng 30% quân đội bị mắc chứng PTSD.

Tôi nghĩ ít người ngoài kia hiểu được chuyện gì đang thật sự diễn ra ở đây.

Anh không thể nào biết được ngày mai sẽ xảy ra chuyện gì.

Anh nghĩ anh vẫn bình thường, rồi đột nhiên, anh từ trạng thái cực kỳ bình tĩnh chuyển sang kinh hoàng, hoảng hốt chỉ trong vòng một cái búng tay." (4)

Trong cuốn Case book, cũng có một trường hợp về một quân nhân người Việt từ chiến tranh Việt Nam bị mắc chứng PTSD được liệt kê ,

Một quân nhân người Việt 23 tuổi được đưa vào bệnh viện 1 năm sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc dưới lời yêu cầu từ người vợ anh ta, sau khi cô thấy anh có vài dấu hiệu của chứng trầm cảm, mất ngủ, và có những hồi ức rời rạc về khoảng thời gian chiến tranh.

2 năm về trước, anh đã giải ngũ trong danh dự sau khi tham gia chiến đấu gần khoảng một năm.

Anh hầu như gặp rất ít trở ngại trong việc hòa nhập lại với cuộc sống bình thường, tiếp tục học lên đại học, và kết hôn 6 tháng sau khi anh rời khỏi quân đội.

Vợ anh cũng chú ý đến việc anh không thích nhắc về cuộc sống quân ngũ của mình lúc trước nhưng cô cũng không mấy quan tâm vì nó không phải là những ký ức tốt đẹp gì.

Sau khi xem ti vi tin tức về Sài Gòn, anh dẩn có những dấu hiệu của PTSD.

Đầu tiên là anh mất ngủ, và thường hay thức dậy nửa đêm vì những cơn ác mộng, mà trong đó, những ký ức về cuộc chiến tranh năm nào sống dậy một lần nữa.

Vợ anh đặc biệt chú ý đến tình trạng của anh vì có một ngày, một chiếc trực thăng bay qua sân nhà họ, nó bay hơi thấp một chút, và anh đã hoảng loạn nằm bẹp xuống đất, quơ đại bất cứ thứ gì để che mình lại, và nghĩ rằng kẻ thù đang tấn công.

Số lần anh xem ti vi tỷ lệ thuận với những lần giận dữ cáu gắt.

Anh cảm thấy mình có lỗi và là một kẻ tệ bạc khi chỉ có mình anh được sống còn những người đồng đội thì đã hy sinh.

Anh như tự nhốt mình vào thế giới khác, không hề có hứng thú với bất kỳ thứ gì , bất cứ ai, kể cả vợ anh."

Người quân nhân này lúc nào bận tâm về khoảng thời gian một năm anh ở trong quân đội.

Có thế thấy rõ ràng những trải nghiệm về những cuộc chiến mà anh đã tham gia có liên quan mật thiết đến những sự kiện làm chấn thương tâm lý anh ví dụ như những tình huống đe dọa đến tính mạng của anh và đồng đội làm gợi lên cảm xúc sợ hãi và kinh hoàng.

Anh có lại những cảm xúc này thông qua từng cơn ác mộng mỗi đêm và những mảnh hồi ức rời rạc.

Đồng thời anh còn mất đi hứng thú với những hoạt động thường ngày.

Thêm vào đó, anh còn có triệu chứng mất ngủ, nổi giận , và phản ứng quá cường điệu trước một sự việc nào đó.

Không còn nghi ngờ gì thêm, anh có đủ tất cả các điểm đặc thù của chứng PTSD thuộc dạng kinh niên vì nó kéo dài hơn 3 tháng.

Bạn đã thấy những gì mà PTSD mang lại cho những người lính chưa?

Bạn đã thấy nó giết dần con người họ như thế nào?

Càng ngày, số người lính không chết trận mà chết vì PTSD ngày càng tăng.

PTSD không có thuốc trị, có chăng, họ cũng chỉ có thể dùng phương pháp nhận thức – hành vi, thay đổi nhận thức, tác động lên hành vi.

Nhưng đó không phải là dễ làm, bởi vì không thể một sớm một chiều là có thể rũ bỏ đi những ký ức kinh hoàng của chiến tranh.

Có người cả đời phải sống với nó vì có thể quay lại bất cứ lúc nào.

Hoặc họ dùng thuốc chống trầm cảm chỉ để có được những khoảng khắc tâm hồn thanh thản.

Họ không thể nào trốn tránh cũng không thể gạt bỏ được.

Vì đó là những gì mà chiến tranh trao trả cho họ.

Và bạn thấy đấy, chiến tranh không phải là trò chơi quyền lực. ..

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
[Series Tâm Lý Học] Nhận Thức, Ám Thị và Thôi Miên.


Làm sao Triệu Tước mỹ nhân có thể điều khiển và sai khiến kẻ khác làm theo ý mình?

Cách đây đã lâu tôi có nói là sẽ viết một bài về ám thị nhưng cứ chần chừ mãi vì tôi không biết phải sắp xếp ngôn từ như thế nào.

Chung quy tôi vẫn chưa tìm được một tài liệu giải thích nào thật sự ưng ý cả.

Cơ mà dạo này lại bấn Miêu Miêu với Bạch Bạch nhà SCI lại nên moi óc gắng lục tìm tư liệu, góp nhặt chút kiến thức ít ỏi của mình để hoàn thiện bài này cho tình yêu Triệu Tước và Miêu Miêu của mình.

Thế nên những gì tôi viết dưới đây đều là theo góc nhìn của tôi hiểu về ám thị, chứ không phải là dịch từ bất cứ tài liệu nào, nên nó chỉ có giá trị tham khảo, cung cấp một góc nhìn, cách giải thích về ám thị chứ không mang giá trị khoa học.

Vì thế xin mọi người thứ lỗi nếu tôi mắc phải bất kỳ sai sót nào.

Trước khi nói về ám thị thì hãy để tôi nói về cơ chế của nhận thức và suy nghĩ.

Đây là một khái niệm rất thông thường nhưng đồng thời cũng rất quan trọng vì ám thị và thôi miên đều dựa trên nền tảng khái niệm này.

Như mọi người đều biết, con người có năm giác quan, Thính giác (nghe), Thị giác (nhìn), Xúc giác ( cảm giác qua da thông qua tiếp xúc, đụng chạm), Vị giác ( mùi vị), Khứu giác (mùi hương).

Khi kích thích các giác quan trên sẽ tạo ra tín hiệu truyền đến bộ não, từ đó quyết định ra phản ứng, suy nghĩ, hành động.

Trong tâm lý học có một khái niệm gọi là 'Absolute Threshold' , tôi xin tạm dịch là 'Ngưỡng tuyệt đối' .

Không phải bất kỳ kích thích nào cũng có thể tạo ra tín hiệu truyền đến bộ não, kích thích phải đạt được một mức độ nhất định để bộ não có thể nhận ra tín hiệu và phân tích.

Nói một cách dễ hiểu thì Ngưỡng tuyệt đối là giới hạn thấp nhất mà kích thích phải đạt được để não bộ có thể nhận ra, phân tích và quyết định.

Mỗi người có một Ngưỡng tuyệt đối khác nhau và phải thông qua thí nghiệm mới xác định được Ngưỡng tuyệt đối của từng người.

Thông thường tâm trí của con người luôn có một rào chắn vô hình.

Bất kỳ hình ảnh, thông tin, phản ứng, nhận xét...đều phải đi qua rào chắn đó để được phân tích và xếp loại thông tin.

Thông tin tốt lưu trữ và thông tin xấu thì bị loại bỏ.

Quá trình phân tích và xếp loại thông tin chính là "suy nghĩ".

Thông tin qua các giác quan được truyền đến não bộ, được não bộ "nhận thức" sau đó tiến hành quy trình sàng lọc.

Ám thị, theo tôi, chính là tạo ra những kích thích dưới Ngưỡng tuyệt đối, đưa thông tin vào não bộ để lưu trữ nhưng do kích thích chưa chạm đế Ngưỡng tuyệt đối nên não bộ không kịp dựng nên rào chắn phân tích, liệt kê và so sánh.

Thế nên ám thị nguy hiểm ở chỗ là não bộ không thể phân loại thông tin xấu, tốt mà cứ lưu trữ nó, liên tục, ngày qua ngày, tháng qua tháng, năm qua năm, tín hiệu chồng lên tín hiệu, tạo ra hiệu quả cực lớn mà người ta không thể lý giải được tại sao mình lại hành động như thế.

Bạn có bao giờ gặp trường hợp khi bạn muốn mua một chiếc áo thì bất chợt trong đầu bạn hiện ra hình ảnh thiết kế của chiếc áo, nhưng bạn không nhớ là mình đã nhìn thấy nó ở đâu hoặc xuất sứ từ nơi nào, hay ai đã mặc nó chưa?

Chỉ là ngẫu nhiên hiện ra mà thôi.

Hoặc là bạn nhìn thấy một bức tranh, thấy quen quá, nhưng không biết là đã xem chỗ nào rồi, ráng vặn đầu óc mà vẫn không tài nào nhớ ra nổi?

Đây chính là ví dụ của Ngưỡng tuyệt đối.

Lần đầu bạn nhìn thấy bức tranh ấy, ví dụ bạn cần nhìn hình ảnh ấy 1s để tín hiệu kịp truyền đến bộ não, phân tích, và quyết định phản ứng như đẹp quá, xấu ớn, thấy ghê để cho bạn có ấn tượng nhưng bạn chỉ nhìn nó có 0.5s thôi vì thế hình ảnh chỉ kịp truyền đến não bộ và nằm đó vì kích thích chưa đủ để cung cấp thông tin lưu trữ và tạo ra phản ứng.

Lần sau bạn nhìn thấy cùng hình ảnh, nhưng bạn nhìn nó khoảng 1s hay hơn, thì bây giờ hình ảnh lúc trước được não bộ bạn lôi ra, sau đó tô đậm lại và cất vào kho lưu trữ cùng thông tin.

Kích thích đầu tiên được lưu trữ và làm nền cho kích thích thứ hai của cùng một vật, đồng thời tạo ra ấn tượng, điểm nhấn, và thông tin ghi nhớ.

Bạn có bao giờ hỏi tại sao những nhà quảng cáo lại đặt những tấm áp phích, pa nô thật lớn với những hình ảnh đặc sắc rực rỡ, hay những những đoạn quảng cáo trên ti vi cùng với giai điệu bắt tai bắt mắt?

Cái họ cần đây chính là sự chú ý của bạn, nhưng nếu bạn không có thời gian để coi hết đoạn quảng cáo, và đọc hết những gì viết trên pa nô, áp phích?

Không sao, họ có phương án thứ hai, chính là lợi dụng Ngưỡng tuyệt đối.

Ví dụ như nhà sản xuất đặt pa nô quảng cáo Pepsi ngay nơi trọng điểm của giao thông thì bạn đâu có thời gian đứng nhìn hết tấm pa nô, vì thế, cái mà họ quan trọng chính là màu sắc đánh vào thị giác của bạn.

Ngày nào bạn cũng đi ngang qua tấm pa nô nó, thấy thoáng qua những màu sắc trắng xanh, và đỏ đại diện cho thương hiệu thì tôi chắc rằng đến khi bạn muốn mua nước ngọt thì trong đầu bạn sẽ chợt hiện ra sắc trắng, xanh, đỏ của Pepsi dẫn đến khi bạn đi ngang qua gian hàng nước ngọt, bạn sẽ chọn Pepsi vì màu sắc tượng trưng cho hãng đã in vào trong đầu bạn , đánh lừa đi suy nghĩ của bạn và cho rằng Pepsi uống ngon nhất.

Sự chú ý của bạn đến mẫu quảng cáo tuy quan trọng nhưng chỉ mang nghĩa nhất thời vì nó có thể bị thay thế bởi những màn quảng cáo ấn tượng khác, còn tầm quan trọng của âm thầm truyền đạt những thông tin dưới Ngưỡng tuyệt đối lại là dài lâu.

Vì thế tôi trộm nghĩ các nhà quảng cáo tập trung vào việc lợi dụng Ngưỡng tuyệt đối hơn là thu hút sự chú ý của bạn.

Và thật ra là trong quảng cáo có một điều luật nghiêm cấm lạm dụng khái niệm Ngưỡng tuyệt đối vì thiệt hại tâm lý mà nó có thể gây ra khiến người tiêu dùng bị ám ảnh với sản phẩm của họ nhằm tăng doanh thu.

Ám thị và thôi miên đều dựa trên cách nắm bắt Ngưỡng giới hạn và đưa ra những kích thích dưới mức đó.

Thôi miên là khiến cho bạn hạ rào chắn tâm lý xuống, bỏ đi phòng bị, để cho những mệnh lệnh của người thôi miên đi thẳng vào trong não bộ và làm theo chúng.

Đây chính là ám thị bằng thôi miên, mà theo tôi cũng là kiểu ám thị trực tiếp, mệnh lệnh được đưa ra rõ ràng, thời gian cần để hoàn thành ám thị trực tiếp nhanh hơn ám thị gián tiếp nhưng với điều kiện người bị ám thị phải hoàn toàn tuyệt đối tin tưởng người ám thị.

Ví dụ như trường hợp của Bạch đại ca Bạch Cẩm Đường và Triển Chiêu, Bạch đại ca là người có tâm lý rất vững, rào chắn rất mạnh nên mỗi thông tin đều được não bộ phân tích kỹ lưỡng nên muốn thôi miên anh rất khó, ngay cả Triển Chiêu là người được anh tin tưởng cũng gặp khó khăn.

Mãi mới làm anh buông lỏng tâm lý và chỉ dẫn anh đi tìm lại ký ức đã mất.

Trong SCI, nhân vật Triệu Tước là thiên tài về thôi miên, ám thị, điều khiển suy nghĩ của kẻ khác.

Lúc Triển Chiêu đến thăm Triệu Tước lần đầu, nhìn thấy Triệu Tước đang vẽ tranh, chỉ vẽ duy nhất cây Vân Môn trắng.

Xung quanh phòng tràn ngập hàng chục, hàng trăm bức tranh Vân Môn.

Tự bản thân Vân Môn vốn có độc lại được Triệu Tước lồng thêm ám hiệu vào trong đó, hình ảnh Vân Môn vừa là để che dấu, vừa là làm nền tô đậm cho ám hiệu, giống như xấu càng thêm xấu.

Triệu Tước chính là lợi dụng khái niệm ngươngx tuyệt đối để hoàn thành mục đích ám thị của mình.

Như tôi nói ở trên, thị giác đưa thông điệp vào não bộ, để đó, qua thời gian, từ từ tô đậm thông điệp đó lên nhưng không để cho não bộ phát hiện vì nó ở dưới Ngưỡng tuyệt đối, nhưng chỉ cần kích thích cuối cùng chạm Ngưỡng tuyệt đối, đó là lúc tất cả các thông điệp từ trước đến giờ hoà làm một, có sức ảnh hưởng rất lớn, vượt qua tầm kiểm soát của não bộ , khiến cho người ta bị ám ảnh và tạo nên hệ quả như mong muốn của kẻ ám thị.

Đó là lý do tại sao trong chục năm bị giam, Triệu Tước chỉ vẽ duy nhất một bức tranh, lập đi lập lại, và tại sao những người đã tiếp xúc với bức tranh đều phải được đi điều trị tâm lý.

Ai cũng nghĩ khiến cho Triệu Tước nói không được là đã chặt đi khả năng dùng ám thị của ông, nhưng ám thị không nhất thiết phải qua lời nói (ám thị trực tiếp) mà còn có thể qua hành động (ám thị gián tiếp), thông tin được đưa ra dưới dạng ẩn hoặc che giấu, làm cho đối tượng không ý thức được mục đích, yêu cầu của người ám thị và tiếp nhận nó một cách từ từ, không chủ định.

Ông dùng ám thị khiến Trương Bác Nghĩa đưa mình ra khỏi trại giam, đồng thời khiến hắn phải tự sát theo như ý muốn cua mình.

Tôi đang trộm nghĩ, nếu muốn chặt đứt khả năng ám thị của ông thì chắc chỉ có nước trói ông lại một chỗ, dán miệng lại, không cho ông nói, cũng không cho ông làm gì thì mới được quá.

Triển Chiêu đã phải trải qua cả một ngày nghiên cứu tranh Triệu Tước vẽ mới phát hiện ra thông điệp ẩn dưới bức tranh mà những người nhìn nó mấy năm qua đều không phát hiện được, một phần là do họ không có chủ đích nghiên cứu bức tranh, chỉ nhìn thoáng qua, một phần là do Ngưỡng tuyệt đối của họ cao.

Có một số người nhạy cảm, như Triển Chiêu, thì Ngưỡng tuyệt đối lại thấp, nghĩa là có một số kích thích, ám hiệu mà những người chung quanh không nhận ra, anh lại có thể thấy được.

Thêm một điều, khi anh nghiên cứu tranh Triệu Tước, anh đẩy Ngưỡng tuyệt đối của mình xuống thấp thêm nữa, để có thể nhận ra những chi tiết nhỏ nhất trong tranh thông qua sự tập trung tuyệt đối, môi trường im lặng, và nâng cao khả năng hoặc động của các giác quan.

Cũng giống như Triển Chiêu, vị phu quân họ Bạch của Triệu Tước có Ngưỡng tuyệt đối khá thấp mới có thể phát hiện ra ám thị của ông và vô hiệu hoá nó.

Vậy nên mới có thể trị được yêu nghiệt mỹ nhân.

Một nhà tâm lý học nổi tiếng người Anh, Derren Brown, đã thực hiện một thực nghiệm cho thấy mối liên quan giữa Ngưỡng tuyệt đối và ám thị, cách mà anh đưa thông điệp vào não bộ người khác, vô hình điều khiển, khiến cho người ta làm theo và cho ra kết quả giống như ý muốn của anh.

Derren mời hai người làm trong ngành quảng cáo đến từ Mỹ để thiết kế tấm poster quảng cáo cho bất kỳ cửa hàng, công ty nào mà họ thích.

Tấm áp phích phải có bảng hiệu, tiêu đề tượng trưng cho sản phẩm hay slogan, nhãn hiệu.

Khi hai người hỏi Derren sản phẩm mà họ phải dựa trên để làm poster là gì thì Derren chỉ một loạt tượng gấu, đầu hươu, con mèo chết được nhồi bông...

Derren đã có bản thiết kế riêng của mình.

Và anh đoan chắc là ý tưởng của hai nguoi nọ sẽ giống mình.

Thật vậy, khi hai nhà quảng cáo so sánh bản vẽ của mình với Derren, họ ngỡ ngàng thì thấy bản vẽ trùng ý tưởng đến 90%.

Cả hai cùng làm tấm poster cho một nơi lo chuyên lo hậu sự cho thú cưng của bạn khi chúng mất.

Cả hai bản vẽ đều có hình ảnh con gấu đang ôm đàn hạc, đôi cánh thiên thần, cánh cổng với bảng hiệu Zoo và dòng chữ Heaven (best place for dead animal).

Chỉ khác ở chỗ vị trí của các hình ảnh.

Họ không hiểu vì sao Derren có thể đọc được suy nghĩ của họ mà làm ra một bản vẽ y chang đến thế.

Thưc sự thì Derren dùng khái niệm Ngưỡng tuyệt đối để lồng thông điệp vào trong não bộ họ.

Khi đón hai người từ sân bay, anh cố ý lái xe đi vòng vòng quanh phố, này thì một đoàn người mặc áo xanh in hình cánh cổng với chứ Zoo làm bảng hiệu, này thì cửa hàng trưng bày một cây đàn hạc ngay bên cửa kiếng, này thì hình ảnh đôi cánh với dòng chữ heaven bên dưới, này hình nguyên một bức tượng gấu ở trong văn phòng.

Derren cố ý để những bức hình đó ở nơi dễ thấy nhất nhưng không quá nổi bật, chỉ đủ để họ có hình ảnh đó trong khu dữ liệu và tạo ra kết quả như anh mong muốn.

Ám thị của Triệu Tước cũng tương tự như thực nghiệm của Derren, cố tình mà như vô tình để cho những người xung quanh thấy được những bức tranh, hành động tưởng chừng như vô nghĩa của mình nhưng lại ẩn chứa thông điệp, chỉ cần tác động, đưa ra chút gợi ý là đã có thể khiến cho người khác suy nghĩ, hành động theo ý mình muốn.

Derren Brown còn có nhiều thực nghiệm khác về điều khiển tâm lý, nếu bạn có thời gian và muốn tìm hiểu sâu thêm nữa, bạn có thể lên YouTube để tìm xem clip của ông.

Thật ra, ám thị, thôi miên, điều khiển, đọc vị người khác đều dựa trên những khái niệm cơ bản về cách não bộ con người hoạt động, cách chúng ta phát hiện ra thông tin, học và tiếp thu kiến thức mới...Một nhà tâm lý học giỏi, chính là người hiểu cặn kẽ đến từng chân tơ kẽ tóc các khái niệm này vì tuy tư duy não bộ của mỗi con người khác nhau nhưng đều có cùng cách vận hành ví dụ như cách các nơ ron giao tiếp và truyền thông tin, những cái đó đều không thay đổi.

Nhưng từ cái gốc ấy, bạn có thể suy ra hàng trăm, hàng vạn trường hợp khác.

Vì thế tôi hy vọng sau khi các bạn đọc xong bài này sẽ hiểu thêm về những khái niệm cơ bản và có thể áp dụng chúng trong tương lai gần, như khi bạn đọc SCI chẳng hạn.

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
Kỳ 7: Rối Loạn Ám Ảnh Cưỡng Chế và Rối Loạn Nhân Cách Ám Ảnh Cưỡng Chế


Đặc điểm chủ yếu của chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế là nỗi ám ảnh lặp đi lặp lại hay sự ép buộc nặng đến mức họ dành tất cả những thời gian mà họ có để phục vụ cho nỗi ám ảnh nọ.

Nó có thể khiến cho người mắc bệnh trở nên tiều tụy, tinh thần mỏi mệt hoặc gây trở ngại trong cuộc sống.Vào một thời điểm nào đó, người bệnh sẽ nhận ra nỗi ám ảnh hay sự cưỡng chế quá vô lý.

Và sự rối loạn này không phải là phải là do dùng thuốc hay do những điều kiện sức khỏe bình thường khác.

Ám ảnh là những ý tưởng , suy nghĩ hay hình ảnh cứ xuất hiện một cách dai dẳng, xâm nhập vào đầu óc khiến cho tâm thần bồn chồn, mỏi mệt.

Sự xâm nhập này được nhận dạng là "kẻ lạ trong tiềm thức".

Có nghĩa là với cá nhân mắc bệnh, họ nhận nỗi ám ảnh này là "lạ lùng" , không nằm trong quyền điều khiển của họ và không phải loại suy nghĩ mà họ nghĩ là mình sẽ có.

Tuy nhiên, họ có thể nhận ra nỗi ám ảnh đó xuất phát từ trong tâm trí mà không phải là do tác động từ bên ngoài.

Những nỗi ám ảnh thường gặp nhất là những suy nghĩ lặp đi lặp lại về sự dơ bẩn (sợ bị nhiễm bẩn khi bắt tay).

Giám khảo của American Got Talent, Howie Mandel bị ám ảnh về vi trùng tới mức ông đã cạo trọc đầu mình vì sợ vi khuẩn có thể sống trong đó.

Hoặc là nỗi lo lắng thường trực (không biết hôm nay trên đường mình lái xe có khiến ai bực mình hoặc bị tổn thương hay không) hoặc là lúc nào cũng muốn mọi thứ sắp xếp theo một trình tự nhất định (có thể nổi điên lên khi một vật bị lệch ra khỏi thứ tự mà mình sắp xếp chúng).

Những suy nghĩ, ám ảnh, và sự thôi thúc đó không chỉ đơn giản là nỗi ám ảnh quá mức về những tình huống trong cuộc sống hằng ngày và thật sự là nó cũng ít khi nào dính đến những tình huống xảy ra trong đời thật như về công việc, nhà cửa, những mối quan hệ.

Những cá nhân bị mắc nỗi ám ảnh như thế thường chọn cách lờ đi hoặc đè nén xuống.

Một số khác thì bị thôi thúc, cố gắng giải tỏa nó bằng những hành động và đó gọi là cưỡng chế.

Ví dụ như có người cứ lo không biết mình có tắt bếp chưa thì sẽ có hành động cố gắng cưỡng chế dập tắt nỗi lo đó đi bằng cách kiểm tra bếp hàng chục lần để chắc rằng nó đã tắt (và cái này phù hợp với đặc điểm là bệnh nhân dùng tất cả thời gian để phục vụ, cố gắng cưỡng chế nỗi ám ảnh)

Sự cưỡng chế là những hành động lặp đi lặp lại như rửa tay, kiểm tra không ngừng nhằm giảm thiểu đi nỗi lo lắng, mỏi mệt chứ không nhằm để thỏa mãn hay hài lòng gì cả.

Trong hầu hết mọi trường hợp, bệnh nhân cảm thấy mình cần phải làm những hành động đó để giảm thiểu đi sự lo âu đi cùng với nỗi ám ảnh, hoặc để phòng ngừa chuyện gì đó.

Ví dụ như với người bị ám ảnh là mình bị dơ, họ có thể giảm đi nỗi sợ hãi đó bằng cách rửa tay mình cho đến khi da đỏ lựng lên.

Người lo không biết mình khóa cửa chưa thì bị thôi thúc đi kiểm tra cửa mỗi vài phút.

Theo định nghĩa, người lớn mắc bệnh rối loạn ám ảnh cưỡng chế ở một thời điểm nào đó sẽ phát hiện ra những nỗi ám ảnh và những hành động cưỡng chế quá mức và không hợp lý.

Điều này không áp dụng lên trẻ em vì trẻ em còn thiếu những nhận thức cộng thêm sự cảnh giác để có thể phát hiện ra những bất thường.

Những hoạt động tôn giáo không thuộc phạm trù của bệnh rối loạn ám ảnh cưỡng chế, trừ khi nó vượt trên những tiêu chuẩn bình thường của xã hội, được những người trong cùng tôn giáo xác định là không hợp lý, và gây rối loạn với vai trò trong xã hội.

Với những người trưởng thành, bệnh rối loạn ám ảnh cưỡng chế thường xảy ra với cả nam và nữ.

Nhưng đối với trẻ em, tỷ lệ mắc bệnh ở con trai cao hơn con gái.

Nhiều người thường lầm lẫn bệnh rối loạn ám ảnh cưỡng chế với rối loạn nhân cách ám ảnh cưỡng chế.

Bệnh rối loạn nhân cách ám ảnh cưỡng chế là chủ yếu nằm ở nhân cách.

Bệnh nhân thường quá chú ý đến những chi tiết, quy luật và cách tổ chức mà quên mất đi trọng điểm của hoạt động.

Họ bị mắc chứng hoàn hảo quá tất cả mọi thứ và để nó làm ảnh hưởng đến công việc.

Ví dụ như không thể hoàn thành được công việc của mình nếu những quy định mà bản thân đề ra không được đáp ứng.

Nói cách khác, họ quá cứng nhắc và khuyết thiếu sự thích ứng với thay đổi.

Họ thường muốn nắm quyền chủ động, chú ý vào từng chi tiết nhỏ nhất quá mức cần thiết.

Ví dụ như bệnh nhân làm lạc đi tờ giấy ghi lại những gì mình cần làm.

Thì anh ta sẽ bỏ ra hàng giờ chỉ để tìm lại tờ giấy đó, hơn là bỏ ra vài phút cố gắng nhớ lại những gì mình cần phải làm.

Họ phân phối thời gian rất tệ, và điều đó cũng gây trở ngại với những ng xung quanh.

Bởi vì thế nên họ dành hầu hết thời gian cho công việc và khả năng hoàn thành công việc, hầu như không có thời gian rảnh cho các hoạt động gia đình bạn bè (trong trường hợp kinh tế gia đình ổn định).

Họ cũng không thể bỏ đi những vật dụng cũ, hoặc hư nát mặc dù nó chẳng còn giá trị sử dụng gì nữa, thêm vào đó là khả năng chi tiêu quản lý tiền bạc của họ rất tệ.

Với những triệu chứng và hành vi tôi nói trên, thử xem trong hai trường hợp dưới đây bạn có thể phân biệt ra cái nào là rối loạn ám ảnh cưỡng chế và cái nào là rối loạn nhân cách ám ảnh cưỡng chế không nhé.

Trường hợp thứ nhất: Tim, một cậu bé tám tuổi được bác sĩ của mình cho nhập viện bởi vì trong năm vừa rồi, cân nặng của cậu tụt quá mức nghiêm trọng mà ông không thể tìm ra bất kỳ nguyên nhân bệnh trạng nào.

Tim cực kỳ cực kỳ quan tâm đến cân nặng của mình, và cân bản thân mỗi ngày.

Cậu lúc nào cũng than rằng cậu mập quá, và nếu như cậu không thể sụt kí thì cậu ăn ít lại.

Cậu đã sụt hơn 5 kí trong năm qua nhưng cậu vẫn cho rằng mình còn mập, mặc dù thật sự là cậu bị thiếu dinh dưỡng và thiếu kí.

Vì quá mệt mỏi, ba mẹ cậu đã quăng cái cân đi, và thế là cậu ghi chú lượng calo mà mình ăn hằng ngày.

Cậu tiêu tốn rất nhiều thời gian vào đó, cứ kiểm tra rồi lại kiểm tra để chắc rằng mình đã đo đúng.

Thêm vào đó, Tim được cho là quá mức ám ảnh với sạch sẽ and ngăn nắp.

Hiện tại, câu không có bạn bè bởi vì cậu từ chối không đến nhà họ chơi, cảm giác rằng nhà họ quá dơ.

Cậu nổi giận nếu một người nào khác chạm vào cậu.

Cậu lúc nào cũng kiểm tra xem cậu có làm mọi việc theo kiểu mà nó nên được hoàn thành không.

Hơn nữa, Tim lúc nào cũng dậy sớm hai tiếng trước khi đi học để chắc rằng mình có đủ thời gian để chuẩn bị.

Gần đây, cậu thức dậy lúc 1:30 sáng để chuẩn bị đi học.

Trường hợp thứ hai : Một bệnh nhân 45 tuổi là luật sự nhập viện dưới sự kiên trì của vợ ông.

Bà không thể chịu đựng được thái độ lạnh lùng, không cảm xúc, thời gian làm việc của ông quá dài, hành vi bạo lực và thường đi công tác xa.

Bệnh nhân không cảm thấy hôn nhân mình có vấn đề gì cả nhưng chấp nhận nhập viện để chọc cười vợ mình.

Nhưng sau đó, bệnh nhân có vẻ gặp rắc rối trong công việc của mình.

Ông được biết như một thành viên chăm chỉ nhất trong công ty.

Tuy ông là thành viên trẻ nhất nhưng ông nổi tiếng là có thể làm cùng lúc nhiều vụ án.

Dạo gần đây ông phát hiện ông không thể nào bắt kịp được tiến độ công việc.

Ông quá sĩ diện để từ chối bất kỳ vụ nào, và quá mức hoàn hảo hóa mọi thứ để có thể vừa lòng với những gì mà trợ lý ông làm.

Ông không thích cách mà họ viết hay câu văn của họ.

Ông nhận thấy mình thường xuyên phải sửa chữa những thứ nhỏ nhặt mà họ làm và vì thế ông không thể nào làm mọi việc theo thời khóa biểu của mình được.

Những người trong công ty thường than phiền vì ông quá quan tâm đến những chi tiết và không biết cách phân phối công việc, trách nhiệm dẫn đến chất lượng công việc của ông bị hạn chế.

Ông có thay từ hai đến ba thư ký mỗi năm trong 15 năm vì không ai chịu được tính khí của ông.

Ông chỉ trích họ từ những lỗi nhỏ nhất.

Khi những vụ án bị đình trệ, ông không thể quyết định được vụ nào sẽ được xử lý trước, bắt đầu phân công công việc cho từng người nhưng cuối cùng không thể gặp họ được dẫn đến ông phải làm việc 15 tiếng mỗi ngày.

Bệnh nhân là con của hai người cực kỳ ham làm việc.

Ông lớn lên lúc nào cũng cảm thấy mình làm chưa đủ, và những gì mình gặt hái được quá ít.

Ông không thích nghỉ ngơi nhưng thích được sắp xếp công việc , hoạt động của từng thành viên trong gia đình và sẽ nổi giận nếu có ai đó không theo sự sắp xếp của ông.

Sau khi bạn đọc xong hai trường hợp này, theo bạn, người nào mắc bệnh rối loạn ám ảnh cưỡng chế và người nào mắc bệnh rối loạn nhân cách ám ảnh cưỡng chế ?

Đoán thử xem, áp dụng những triệu chứng bệnh lý và những thông tin tôi đưa ra, bạn hãy trổ tài làm bác sĩ xem nào.

Không được nhìn lời giải đáp ở phía dưới đây nhé.

Rồi, bạn quyết định xong rồi chứ gì, vậy thì hãy kéo xuống để xem coi mình có chuẩn đoán bệnh lý của hai người kia đúng không nhé.

Tim bị ám ảnh bởi sự dơ bẩn và nỗi ám ảnh này cứ lặp đi lặp lại khiến cho cậu mỏi mệt và không vui.

Hơn nữa, cậu lúc nào cũng kiểm tra xem những thứ mình làm có hoàn thành theo kiểu nó đáng ra phải được hoàn thành hay không.

Và những hành động như vậy là ảnh hưởng đến cuộc sống thường ngày của cậu.

Những suy nghĩ này không nằm trong quyền điều khiển của cậu và khoảng thời gian dài cậu phải thức dậy để chuẩn bị đến trường là hành động cưỡng chế phục vụ cho nỗi ám ảnh này của cậu.

Cậu thậm trí tránh đến nhà bạn vì cậu nghĩ nhà họ dơ .

Từ những triệu chứng này, chúng ta có thể khẳng định cậu bị rối loạn ám ảnh cưỡng chế.

Thật ra trường hợp này là bệnh lồng trong bệnh, Tim còn mắc cả chứng rối loạn tâm sinh lý khi cậu quá mức quan tâm về cân nặng của mình và lúc nào cũng nghĩ mình bị béo phì.

Nhưng vì mục tiêu của bài là chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế nên mình không đi sâu vào bệnh này để tránh mọi người bị loạn.

Trường hợp thứ hai, vị luật sư này lạnh lùng, cứng nhắc và bị mắc chứng muốn mọi thứ phải hoàn hảo, và quá mức ám ảnh với từng chi tiết nhỏ.

Mặc dù ông không thể quyết định chắc chắn, nhưng ông muốn mọi người phải theo ông.

Hôn nhân của ông gặp khó khăn vì thời gian ông làm việc quá dài và không còn thời gian với gia đình và bạn bè.

Ông cứng nhắc và lạnh lùng, không thích bất kỳ sự thay đổi nào.

Đây là những đặc điểm của chứng rối loạn nhân cách ám ảnh cưỡng chế.

Thế nào, bạn cảm thấy mình hiểu rõ hơn về triệu chứng hai bệnh chưa?

Xong rồi thì cùng tôi đi xuống phần nguyên nhân và cách chữa trị nhé.

Nghiên cứu cho thấy bệnh rối loạn ám ảnh cưỡng chế và rối loạn nhân cách ám ảnh cưỡng chế có liên quan đến hàm lượng chất dẫn truyền thần kinh, Serotonin, thấp.

Serotonin đảm nhận nhiệm vụ truyền thông tin giữa những tế bào não và chất này có vai trò trong việc điều chỉnh cảm xúc, giận dữ, sự thôi thúc, sự thèm ăn, nhiệt độ cơ thể và cơn đau.

Những loại thuốc điều trị bệnh rối loạn ám ảnh cưỡng chế đều có tác dụng nâng cao hàm lượng Serotonin trong não lên và cũng đồng thời điều trị chứng trầm cảm.

Một trong những phương pháp chữa cả hai chứng là sự kết hợp giữa nhận thức- hành vi.

Bệnh nhân phải nói chuyện với chuyên viên tâm lý, đối mặt với nỗi sợ của mình và bắt đầu làm chủ nó.

Ví dụ như đối với người bị mắc chứng quá sạch sẽ, ban đầu họ sẽ nói chuyện với bác sĩ tâm lý, nghe lời khuyên.

Bệnh nhân sẽ phải kháng cự lại sự thôi thúc muốn làm ra hành động cưỡng chế nào đó để giảm thiểu nỗi ám ảnh.

Người bệnh sẽ không bao giờ bị bắt phải bỏ đi những hành động cưỡng chế đó Sau đó họ bắt đầu làm quen với những tình huống có liên quan đến chứng bệnh của họ nhưng họ sẽ phải dời hành động đó lại.

Sự thôi thúc phải làm ra hành động sẽ giảm dần nếu như bệnh nhân nghe theo lời chỉ dẫn mà hành động chậm lại.

Giống như cách 5 phút họ phải đi xuống coi cửa khóa chưa, thì bây giờ tăng lên 10 phút, 15 phút, rồi 20 phút, từ từ rồi sự thôi thúc bắt buộc phải làm ra hành động giảm dần và có thể sẽ biến mất.

Đối với bệnh nhân sợ bị dơ và không thể ngăn nổi sự thôi thúc phải rửa tay thật sạch thì họ sẽ phải tiếp xúc với nguyên nhân kích thích sự thôi thúc đó, ví dụ như làm dơ tay họ lại bằng cách chạm vào bồn cầu.

Một ví dụ khác là họ phải tiếp cần một tờ khăn giấy hơi dơ một chút, tiếp đó mức độ dơ sẽ tăng dần, và họ sẽ phải làm chủ bản thân mình bắt đầu đối mặt từ loại bỏ nỗi ám ảnh muốn quăng tờ giấy đi và rửa tay cho đến khi tróc da.

Phương pháp này được cho là hữu hiệu nhất trong việc chữa trị chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế.

Tuy nhiên phương pháp tốt nhất để chữa chứng này là để cho bệnh nhân tự đấu tranh với tâm lý của bản thân và chuyên viên điều trị chỉ quan sát và giúp đỡ khi cần thiết hơn là họ chỉ dẫn từng bước một.

Bệnh nhân phải tự tập luyện một mình như là bài tập về nhà.

Vai trò của chuyên viên điều trị sẽ phai mờ dần với bệnh nhân tự biết chịu trách nhiệm với bản thân mình, đến một lúc nào đó, họ không cần chuyên viên điều trị nữa và có thể tự mình điều khiển hành vi.

Như vậy, bệnh mới chấm dứt hoàn toàn.

Tôi nghĩ đến đây mọi người có thể hiểu rõ hơn về hai chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế và rối loạn nhân cách ám ảnh cưỡng chế rồi nhỉ, đồng thời cũng hiểu thêm về cách chữa trị nó.

Hai chứng này có thể tự bản thân mình tự chữa nhưng nó đòi hỏi người phải có tố chất tâm lý cực mạnh để có thể kháng cự lại những sự thôi thúc kia.

Tôi hy vọng, người nào không biết thì bây giờ biết thêm để tăng thêm sự hiểu biết của mình, còn người mắc chứng này thì có thể tự mình chữa cho mình và có thể giúp đỡ những người cùng mắc bệnh khác.

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
Tâm Lý Xã Hội - Tại Sao Chúng Ta Dửng Dưng Trước Những Nỗi Đau?


Vào ngày 13 tháng 3 năm 1964, một tên vốn đang theo dõi bỗng nhiên không ngừng đâm Kitty Genovese và cưỡng bức cô ngay trước căn hộ của Kitty ở Queen, New York lúc 3:30 rạng sáng.

"Ôi trời ơi, hắn đâm tôi!"

Kitty thét lên như thế, "Có ai đó không, giúp tôi với."

Cửa sổ hé mở và đèn bật sáng, có ít nhất 38 người nghe thấy tiếng kêu cứu của cô.

Kẻ tấn công cô vội chạy đi nhưng sau đó quay lại và cưỡng bức cô thêm lần nữa.

Cho đến khi hắn đã thật sự trốn đi thì mọi người mới bắt đầu gọi cảnh sát.

Lúc đó đã là 3:50 sáng.

Ngày nay trên báo đài, chúng ta gặp không ít các trường hợp có người bị tấn công ngay chốn đông người nhưng không người nào nguyện ý dừng lại giúp đỡ, ngay cả một lời hỏi thăm cũng không.

Gần đây trên Facebook lan truyền một video do một diễn viên nổi tiếng người Ấn Độ đóng.

Anh giả trang thành một người bị thương rất nặng và kêu gọi sự giúp đỡ của người đi đường, không một ai dừng lại.

Hàng chục chiếc xe ô tô lái ngang qua một người đầy máu, gương mặt hằn đầy sự đau đớn và van lơn.

Không một chiếc xe nào dừng lại, một tiếng đồng hồ trôi qua.

Anh gục ngã trên đường và đến lúc ấy mới có người đến xem thử trong khi bệnh viện chính cách nơi anh nằm không đến 1km.

Chúng ta hẳn vẫn còn nhớ vụ em bé người Trung Quốc bị xe tải đâm phải , nằm ngất xỉu ngay bên lề đường một khu chợ đông đúc có hàng trăm người qua lại.

Vẫn không một ai buồn đến xem cô bé có làm sao không, không ai buồn đến nhắc cha mẹ cô bé.

Đến khi cô bị một chiếc xe thứ hai cán qua, và được một người hốt rác bồng lên và đưa đến bệnh viện thì mọi người mới bắt đầu có phản ứng.

Có người hỏi, phải chăng đạo đức xã hội đã suy đồi đến mức như vậy?

Phải chăng xã hội càng đi lên thì con người càng trở nên máu lạnh và vô lương tâm?

Để tìm câu trả lời cho những vấn đề nhức nhối này, hai nhà tâm lý xã hội học đã thực hiện thí nghiệm ngay tại phòng nghiên cứu của họ ở một trường đại học.

Sinh viên của trường tham gia một cuộc thảo luận qua bộ đàm.

Mỗi người được ở trong một phòng nhỏ và chỉ người nào bật microphone lên thì mới nghe được người khác nói gì.

Một trong những sinh viên này là người thực hiện thí nghiệm.

Khi đến lượt mình, anh khiến giọng mình nghe như người bị động kinh và kêu cứu.

Kết quả sẽ như thế nào?

Những người tin rằng chỉ có mình nghe được tiếng kêu cứu thì nghĩ rằng mình phải chịu trách nhiệm và họ chạy đến giúp nạn nhân.

Còn những người nghĩ rằng người khác cũng nghe thấy tiếng kêu cứu như họ thì hành động y như những trường hợp mà tôi nêu trên, mặc kệ.

Hai nhà tâm lý học Darley và Latane lý giải rằng chúng ta chỉ giúp người khác nếu trường hợp tai nạn khiến chúng ta, thứ nhất , chú ý đến nó, thứ nhì, phân tích nó thành trường hợp nguy hiểm, cấp cứu, và thứ ba, cho rằng chúng ta có trách nhiệm giúp đỡ.

Vậy thì tại sao trong trường hợp của Genovese và ngay cả trong thí nghiệm trên, những người nghe được đều biết đó là trường hợp nguy hiểm nhưng họ lại từ chối giúp đỡ?

Khi có nhiều người cùng nghe một lời giúp đỡ thì trách nhiệm đáp ứng lời giúp đỡ đó không còn tập trung vào một cá nhân nhất định nào nữa mà được chia ra cho những người khác.

Họ cảm thấy không nhất định phải là họ đi giúp nạn nhân, có rất nhiều người ở đây, sẽ có người giúp đỡ , họ không cần nhúng tay vào, miễn phiền phức và dẫn đến các trường hợp đáng tiếc mà tôi nêu ra ở đầu bài.

Các nhà tâm lý xã hội học đã thực hiện hàng trăm thực nghiệm khác để kiểm chứng đồng thời hy vọng tìm ra yếu tố khác tác động đến hành vi của mỗi cá nhân trong xã hội.

Kết quả lớn nhất mà họ thu được được gọi dưới tên "Sự can thiệp của người qua đường" ( Bystander Intervention ), bất kỳ người qua đường nào cũng ít có khả năng giúp đỡ nạn nhân nếu có sự hiện diện của một người qua đường khác.

Khi chỉ có một mình với nạn nhân thì tỷ lệ giúp đỡ khoảng 40% , dưới sự có mặt của 5 người khác thì tỷ lệ đó chỉ có 20%

Ngoài ra còn có những tác nhân từ bên trong ảnh hưởng đến quyết định có giúp đỡ người khác hay không của mỗi người.

Đó là chúng ta cảm thấy có lỗi, cảm thấy người bị nạn có phần nào giống chúng ta, chúng ta thấy người khác giúp đỡ nên muốn góp tay, hay chúng ta đang vui vẻ...

Trong những tác nhân đó thì tác nhân cảm thấy vui vẻ, hạnh phúc có mặt hầu hết trong các thực nghiệm và là một trong các tác nhân quan trọng nhất.

Bất kể vì lý do gì mà người ta cảm thấy vui vẻ, có thể là vì họ kiếm được tiền, hoặc họ thành công, thì họ thường rộng lượng và thường có khả năng ra tay giúp đỡ hơn hẳn những người khác.

Phát hiện này đồng nhất với tháp nhu cầu của Maslow.

Tháp nhu cầu này cơ bản có 5 bậc được xây theo hình kim tự tháp theo thứ tự từ dưới lên trên là: Thể lý (nhu cầu được thỏa mãn ăn uống, nghỉ ngơi...), An toàn ( nhu cầu cảm thấy mình được bảo vệ và không bị nguy hiểm), Yêu và được yêu, được chấp nhận và tránh bị cô đơn hay bị chia rẽ, Được tin tưởng và coi trọng, Được thể hiện bản thân.

Khi tầng dưới được thỏa mãn thì con người sẽ tiếp tục hướng lên tầng trên.

Sau này khi về già, Maslow còn thêm vào mấy tầng nữa nhưng những nhu cầu cơ bản nhất và được chấp nhận rộng rãi nhất thì chỉ có 5 tầng này.

Tùy vào nhu cầu mỗi người mà vị trí các tầng có thể thay đổi, ví dụ như với một số người thì được thể hiện bản thân mình cần thiết hơn là được yêu.

Khi những nhu cầu cơ bản nhất của con người được thỏa mãn thì người ta mới bắt đầu mở lòng hơn và thường hay giúp đỡ người khác hơn.

Một yếu tố khác có thể tác động lên tâm lý và khiến người khác chần chờ không giúp đỡ người bị nạn là "Áp lực từ nhóm và sự tuân thủ" (Group pressure and conformity) .

Sự tuân thủ ở đây nghĩa là việc điều chỉnh hành vi của mình sao cho phù hợp với quan điểm của cả nhóm.

Để làm rõ khái niệm tuân thủ này, Solomon Asch đã thực hiện một thí nghiệm nhỏ.

Ông đưa ra một tấm hình, phía bên trái là đường thẳng tiêu chuẩn, phía bên phải là ba đường thẳng khác nhau.

Solomon hỏi những người tham gia cuộc thí nghiệm này, đường thẳng nào ở phía bên phải là đường thẳng tiêu chuẩn.

Bạn nghĩ, "Dễ òm, là đường thứ 2."

Và những bạn nói ra kết quả của mình theo sau những người khác.

Sau đó một vài câu hỏi tương tự nữa và bạn bắt đầu cảm thấy thí nghiệm này thật là chán.

Nhưng bạn chợt nghe ai đó nói đường thứ 3 mới là đường tiêu chuẩn.

Bạn cười khẩy, và cho rằng người đó thật là ngu, nhưng tiếp đến người thứ hai, thứ ba, thứ tư đều khẳng định đường số 3.

Bạn bắt đầu hoang mang, tim đập mạnh hơn.

Và khi đến lượt bạn trả lời, bạn sẽ làm sao?

Bạn sẽ nói ra suy nghĩ của mình và trở thành kẻ lập dị trong nhóm, hay là thuận theo số đông?

Với thí nghiệm này của Asch, trong hàng ngàn sinh viên tham dự và có hơn 1/3 số sinh viên "thông minh và biết suy nghĩ" đã chọn cách bỏ qua suy nghĩ của mình và hướng theo số đông.

Quay trở lại các trường hợp mà tôi nêu ra ở đầu bài, chính tâm lý hướng theo số đông này một phần ngăn cản họ giúp đỡ người bị nạn vì họ không muốn trở nên "khác người".

Sự tuân theo số đông này càng mạnh bản thân họ cảm thấy không an toàn không có khả năng (trong trường hợp đầu bài thì những người đứng quan sát sợ bị dính vào rắc rối không thể thoát ra), nhóm người từ ba người trở lên (các trường hợp trên luôn xảy ra ở nơi có hàng chục, hàng trăm người) , nhóm toàn những người không quen biết nhau, những người khác trong nhóm dõi theo hành động của những người còn lại (đến khi có một người đi về phía người bị hai hoặc giúp đỡ người bị hại thì người khác mới bắt đầu theo).

Để tôi kể bạn nghe về một trải nghiệm của tôi.

Có một ngày tôi đang trên đường về đi ngang qua một cửa hàng đã đóng cửa và thấy một nhóm các bạn trẻ đang giơ tay vẫy nhờ xe.

Bản thân đã được dặn là không bao giờ cho người lạ đi nhờ xe nên mặc dù tôi rất muốn dừng nhưng lý trí bắt buộc tôi phải lái tiếp.

Đi được một đoạn khá xa, tôi vẫn không thể xóa nổi hình ảnh mấy bạn nhìn mệt mỏi, chật vật, ba lô lỉnh kỉnh.

Cảm giác tội lỗi dâng lên và tôi lái xe quay lại hỏi.

Hóa ra mấy bạn đi tour du lịch từ Ai Cập đến, nói tiếng anh rất khó nghe và mấy bạn đã bị trễ chuyến bus cuối cùng nên xin nhờ đi quá giang.

Nhưng chỗ các bạn muốn đi rất xa, ngược đường nhà tôi khoảng một tiếng mà lúc ấy tôi đang ở nhờ nhà chị họ và chị ấy rất nghiêm nên tôi không thể mạo hiểm để bị chửi được nên tôi đề nghị gọi taxi cho mấy bạn và tôi sẽ trả tiền.

Nhưng mấy bạn không đồng ý, mấy bạn rất cảm ơn vì lòng tốt của tôi nhưng các bạn quyết định đợi đến khi bus tuyến khác tới, có thể sẽ phải chuyển trạm mấy đợt.

Mấy bạn xin quá giang chỉ hy vọng về nhà sớm một tý, nhưng các bạn thật không muốn tôi tốn tiền.

Khi tôi về nhà và kể lại câu chuyện này, mọi người ai cũng bảo tôi ngu và cấm tôi không được làm như thế nữa.

Ngoài mặt thì tôi đồng ý (tâm lý hướng theo đám đông, tôi không muốn bị chửi) nhưng trong lòng tôi quyết định nếu có lần sau, tôi nhất định sẽ làm như thế.

Mặc dù tôi chẳng làm được gì nhưng ít ra tôi cũng thấy yên lòng vì mình đã làm hết sức và không thấy thẹn với những giá trị đạo đức mà tôi đã học.

Bởi vì tôi quan niệm rằng mình giúp đỡ người khác thì khi mình gặp nạn sẽ có người khác giúp lại mình.

Tâm lý xã hội còn rất nhiều khía cạnh nhưng tôi chọn khía cạnh này để phân tich một phần là vì hiện tượng làm ngơ trước người bị hại càng xuất hiện nhiều trong cuộc sống chúng ta và nó góp phần khiến cho xã hội ngày càng đi xuống, con người ngày càng ích kỷ và vụn vặt hơn.

Và xin hãy nhớ, khi bạn giang tay giúp đỡ người khác trong khi những người còn lại đứng nhìn thì không phải bạn lập dị, khác người mà chính là nhận thức của bạn hơn hẳn những người còn lại.

Bạn biết chuyện gì nên làm và không nên làm, bạn biết gieo hy vọng niềm tin vào cuộc sống và giữ lửa cho niềm hy vọng ấy.

Con người sống theo tập thể, sinh hoạt văn hóa bầy đàn, nhưng đừng để bản ngã của bạn, những gì bạn tin tưởng là đúng bị đồng hóa, bị lu mờ đi dưới những cái tôi vị kỷ khác

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
[Series Tâm lý và Bệnh Chứng Kỳ 10] Thế Nào Gọi Là Tâm Lý Bất Thường?


Có rất nhiều nguời nghĩ bệnh tâm thần chỉ xảy ra với một ít người không may mắn và không ngờ rằng nó có thể xảy ra với chúng ta hay những nguời mà chúng ta yêu mến.

Thật sự các bệnh về tâm lý không hiếm gặp.

Cứ mỗi bốn người thì sẽ có ít nhất hai người từng trải qua các loại tâm lý bất thường nghiêm trọng như nghiện rượu, trầm cảm, hoặc ngay cả tâm thần phân liệt.

Như những vấn đề sức khoẻ khác, tôi, bạn, và tất cả mọi người xung quanh chúng ta đều có thể mắc bệnh tâm thần và bị ảnh hưởng bởi chúng.

Lâu rồi có một bạn hỏi tôi, căn cứ vào tiêu chuẩn nào thì xác định một người có bình thường hay không?

Các bạn nghĩ như thế nào?

Thực ra câu trả lời là không.

Chúng ta không có bất kỳ tiêu chuẩn, thước đo nào cho sự bình thường hay bất thường cả.

Tuỳ theo từng xã hội mà những hành vi được coi là bất thường khác nhau.Ví dụ ở các nước Hồi giáo, đàn ông được quyền lấy đến 4 người vợ, trong khi ở nuớc ta, hành vi đó được coi là không bình thường và coi thường luật pháp.

Từ ví dụ trên, ta có thể nói rằng hành vi bất thường là những hành vi đi ngược lại với những tiêu chuẩn, đạo đức xã hội.

Nhưng một câu hỏi khác đặt ra, cần bao nhiêu hành vi bất thường thì mới có thể xác định được người đó có tâm lý bất thường hay không?

Lady Gaga mặc một bộ váy thịt đi dự lễ vậy, hành động đó rõ ràng là không bình thường vậy cô ta có vấn đề gì về tâm lý hay không?

Jerome Wakefield của trường đại học Rutgers (trường tôi đang theo học) đã đề xuất một định nghĩa được sử dụng rộng rãi khi nói về tâm lý bất thường, theo ông một nguời được coi là mắc chứng bệnh tâm thần phải thuộc một trong hai trường hợp sau:

Một số cơ quan hay cơ chế sinh học trong cơ thể họ không thể vận hành một cách bình thường.

Các cơ chế đó bao gồm cảm xúc, suy nghĩ, nhận thức...Có tình huống gây hại đến bản thân trực tiếp hay gián tiếp theo tiêu chuẩn xã hội của người đó.

Những hệ quả xấu này được đo dựa trên việc nguời đó bị ảnh huởng như thế nào (mệt mỏi, khó chịu, đau đớn) hoặc sự khó khăn khi phải đáp ứng yêu cầu nhỏ nhặt nhất trong xã hội.

Do đó bệnh tâm thần được định nghĩa dựa trên sự rối loạn gây hại đến người bệnh.

Chức năng của nhận thức là tiếp thu và đón nhận sự vật sự việc theo cách mà chúng ta chia sẻ với mọi nguời xung quanh, suy nghĩ lý trí và giải quyết tình huống.

Sự rối loạn trong bệnh tâm thần là hậu quả của việc suy nghĩ, giao tiếp, cảm xúc, nhận thức và động lực bị gián đoạn và người không nhận ra hoặc không có khả năng liên kết chúng lại với nhau.

Vì thế, dựa vào định nghĩa trên thì Lady Gaga chỉ là một nguời có hành vi bất thường chứ cô hoàn toàn không có vấn đề gì về tâm lý cả.

Cô giao tiếp suôn sẻ, cảm xúc dạt dào, vẫn đi hát và làm việc bình thường.

Các bạn đã hiểu định nghĩa về tâm lý bất thường chưa?

Nếu rồi thì hãy cùng tôi áp dụng vào trường hợp duới đây nhé:

Kevin và Joyce đã kết hôn được tám năm trước khi họ tìm đến nhà tâm lý để nhờ giúp đỡ cho cuộc hôn nhân của họ.

Joyce đã 34 tuổi là nữ y tá trẻ em và giờ đang mang thai đứa con đầu lòng được sáu tháng.

Kevin, 35 tuổi, đang chuẩn bị kết thúc ba năm công việc thủ thư tại một thư viện trường đại học gần nhà.

Joyce cực kỳ lo lắng chuyện gì sẽ xảy ra nếu Kevin bị mất việc làm nhất là khi con của họ chuẩn bị chào đời.

Nhà tâm lý học nhanh chóng nhận ra những hành vi khác người của Kevin.

Trong buổi gặp đầu tiên.

Joyce kể về một tình huống dẫn đến cuộc cãi nhau nảy lửa giữa hai người.

Ngày hôm đó sau khi ăn chưa ở chỗ làm, Kevin cảm thấy ngực mình rất đau như bị ai đâm và cả khó thở.

Anh lo lắng chạy đến phòng cấp cứu của bệnh viện nơi cô làm việc.

Bác sĩ không phát hiện ra điều gì bất thường ở anh dù cho cô đã làm hết các loại xét nghiệm nên đành cho anh thuốc an thần và để anh về nhà nghỉ ngơi.

Tối hôm đó khi Joyce về đến nhà, anh bảo với cô rằng anh nghi ngờ mình đã bị hạ độc và hung thủ chính là cấp trên của anh.

Đến tận bây giờ anh vẫn tin như vậy.

Niềm tin đó của Kevin đã khiến viên tâm lý học cực kỳ lo lắng về tình trạng sức khoẻ tâm lý của anh.

Joyce nhận ra rằng suy nghĩ "bị trúng độc" là điên rồ nhưng cô không cho đó là bằng chứng chứng minh Kevin có vấn đề về tâm lý.

Cô quen Kevin đã 15 năm và như cô được biết thì anh không có niềm tin kỳ lạ nào cả ngoại trừ chuyện "suy nghĩ nhiều và nhạy cảm quá mức".

Hơn nữa cái mà cô quan tâm ở đây là tình hình tài chính gia đình và nhấn mạnh rằng đây là lúc Kevin nên đối mặt với hiện thực.

Tình trạng của Kevin ngày càng tệ.

Anh gần như thoát ly với mọi người , thường hay ngồi một mình trong căn phòng tối tăm sau bữa ăn.

Anh bảo rằng anh gần như đánh mất suy nghĩ của mình.

Không phải trí nhớ của anh có vấn đề mà là cảm thấy một phần bộ não của mình không hoạt động nữa.

Ở chỗ làm, mặc dù anh đi làm hằng ngày nhưng đa số thời gian anh chỉ ngồi ở bàn và lẩm bẩm một mình.

Khi gặp nhà tâm lý, anh thường bắt đầu câu chuyện rồi chợt ngưng lại, im lặng khoảng một thời gian, sau đó nhìn vào người đối diện, cười rồi nhún vai.

Anh đánh mất mất dòng suy nghĩ của mình.

Câu trả lời của anh đa số không đi vào chủ đề chính.

Tất cả những triệu chứng trên, không thể diễn đạt giao tiếp một cách bình thường, lời nói rời rạc tối nghĩa, bị ảo tưởng tin rằng có người hại mình của Kevin đều là triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt.

Cuối cùng Joyce cũng phải đồng ý cho anh đi trị liệu vì không còn cách nào khác.

Bệnh tình của anh ngày càng có xu hướng nặng thêm.

Bây giờ chúng ta hãy áp dụng định nghĩa về tâm lý bất thường mà tôi đã nói trên vào trường hợp này nhé.

Kevin được coi là người có tâm lý bất thường và mắc bệnh tâm thần bởi mọi người có thể nhận ra được các cơ quan, cơ chế chịu trách nhiệm nhận thức, suy nghĩ và giao tiếp không thể vận hành bình thường.

Sự gián đoạn hoạt động của các cơ chế này chính là nguyên nhân gây ra ảo tưởng mình bị hạ độc và nói năng lộn xộn, chẳng đâu vào đâu của anh.

Sự rối loạn ấy gây tổn hại đến khả năng phán đoán của anh ta với các mối quan hệ xoay quanh trong cuộc sống, hôn nhân với Joyce, nghĩa vụ của một người cha, và biểu hiện ở nơi làm việc.

Tuy nhiên không phải sự rối loạn nào cũng gây ra bệnh, chỉ có những sự rối loạn gây ảnh hưởng nặng nề đến cuộc sống, cơ thể của một người thì mới được coi là bệnh.

Ví dụ như vì một sự rối loạn nào đó mà bạn sinh ra với các ngón chân dính liền nhau thì tình huống này không thể coi là bạn mắc bệnh vì việc các ngón chân dính liền nhau không gây hại gì đến việc bạn suy nghĩ, đi lại, giao tiếp , làm việc, hoà đồng với xã hội, ngoại trừ một chút khó khăn khi đi lại.

Đối với bệnh tâm thần, thời gian phát bệnh cũng rất quan trọng vì bệnh tâm thần được xác định dựa vào khoảng thời gian dài hay ngắn của những hành vi bất thường ấy.

Với một số bệnh thì các triệu chứng phải liên tục xuất hiện trong vòng 3, hoặc 6 tháng thì mới được coi là mắc bệnh.

Vậy thì chúng ta có cách nào xét nghiệm xem một người có bị mắc bệnh hay không?

Đáng tiếc là hiện tại các nhà tâm lý học cũng như bác sĩ tâm thần không có bất kỳ xét nghiệm nào để có thể chắc chắn rằng nguời được xét nghiệm bị bệnh hay không bởi vì nguyên nhân, cũng như quá trình gây ra các bệnh lý vẫn chưa được phát hiện và vẫn còn đang nằm trong phần nghiên cứu.

Không giống như các bác sĩ ở các chuyên ngành khác, bác sĩ tâm thần và các nhà tâm lý học bất thường phải dựa trên việc quan sát hành vi của một nguời và những gì người đó trải qua để có thể chẩn đoán căn bệnh mà anh hay cô ta mắc phải.

Trong luật pháp, "bị điên" là một từ coi như hợp pháp quyết định xem tội phạm có nên bỏ tù cho hành vi phạm tội của anh ta hay là phải đưa đến bệnh viện điều trị vì anh ta có vấn đề tâm thần.

Nếu Kevin sát hại bác sĩ tâm thần chữa trị cho mình bởi ảo tưởng cho rằng vị bác sĩ đó đang làm hại mình thì hội đồng thẩm phán có thể phán anh ta "vô tội bị điên."

Hôm bữa có một bạn nhắn tin cho mình hỏi rằng tại sao đồng tính được đưa ra khỏi danh sách cách bệnh tâm thần và cô giáo dạy Sinh của bạn nói những nguời không phải đồng tính mà lại chọn quan hệ với những nguời cùng giới thì những người đó có vấn đề về tâm lý, vậy cô nói đúng hay là sai?

Sao khi đọc xong và hiểu được định nghĩa tâm lý bất thường thì tôi nghĩ bạn có câu trả lời riêng của mình rồi.

Vào năm 1974, tổ chức bảo vệ quyền nguời của những người đồng tính đã biểu tình phản đối truớc nơi tổ chức họp thường niên giữa các nhà tâm lý và những nguời viết ra cuốn sách về các bệnh lý tâm thần (DSM) cảm thấy ấn tuợng trước những nỗ lực, sức ảnh huởng của những người đồng tính với xã hội.

Trong cộng đồng, nhóm người đồng tính có thể hoà nhập và hoạt động không khác gì những nguời dị tính cả, sự cống hiến của họ đối với xã hội ngày càng rõ rệt hơn và tiếng nói của họ ngày càng có trọng luợng hơn.

Đối với nguời đồng tính thì họ không nằm trong hai trường hợp xác định tâm lý bất thường.

Các cơ quan trong cơ thể họ vẫn hoạt động bình thuờng.

Họ vẫn đáp ứng được những yêu cầu xã hội về con nguời, việc làm... nên không thể coi họ là những nguời có tâm lý bất thuờng.

Chỉ là phuơng huớng tình dục của họ thiên về đồng tính hơn là dị tính.

Đồng tính có thể là từ khi sinh ra đã như vậy, hoặc sau khi họ trải nghiệm một số chuyện trong cuộc sống rồi thành đồng tính, những nguời này hoàn toàn có thể quay lại cuộc sống dị tính nếu họ muốn, quyền lựa chọn là ở họ.

Chúng ta không thể dựa trên sự lựa chọn tình dục của họ, bỏ qua các mặt khác như cống hiến trong xã hội, quan hệ với những nguời xung quanh, cung cách làm người mà nói rằng họ bị tâm thần vì không lựa chọn như chúng ta được.

Nhà tâm lý học Sigmund Freud, đã đưa ra một giả thuyết rằng con nguời sinh ra là song tính, trong quá trình truởng thành dựa vào những yếu tối bên ngoài (môi trường, xã hội..) hoặc bệnh trong (mong muốn của bản thân) mà chọn xu huớng tính dục cho mình.

Một số nguời cảm thấy vui vẻ nếu là dị tính, cò một số nguời họ thấy hạnh phúc hơn nếu là đồng tính.

Điều đó không là gì sai khi họ vẫn biết giữ mình truớc những cám dỗ và mặt xấu của xã hội.

Viết tới đây thì tôi nghĩ mọi người cũng đã hiểu rõ ràng hơn về định nghĩa tâm lý bất thường và cách xác định bệnh.

Vậy thì chúng ta hãy mở một cuộc thảo luận nhỏ nhé?

Theo bạn nguyên nhân gây ra bệnh tâm thần và tâm lý bất thường là gì?

Câu trả lời sẽ được tiết lộ vào kỳ sau.

Mọi người đón đọc nhé.

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
Kỳ 11: Bệnh Trầm Cảm (Major Depressive Disorder)


Đã lâu lắm rồi tôi mới trở lại cái series Tâm Lý và Bệnh Chứng này nhỉ.

Thời gian qua tôi cũng có viết một số bài nhưng đó là về tâm lý xã hội, thế nên giờ tôi phải quay lại trả bài cho các bạn đây, nếu không có nguời oán tôi chết.

Mấy tháng truớc có một số bạn hỏi mong tôi viết về chứng trầm cảm, tự hành hạ bản thân và tự tử.

Nhân dịp trên lớp vừa mới được cô giáo giảng bài này, tôi vội vàng viết và dịch lại cho các bạn đây.

Tôi không biết các bạn như thế nào chứ lứa 91,92 bọn tôi dùng từ trầm cảm khá nhiều.

Những khi buồn chán không muốn làm gì cả hay vừa trải qua một chuyện gì đó tồi tệ thì bọn tôi thường nói "Tao bị trầm cảm mày ơi" để giải thích tình huống của bản thân.

Lâu dần từ trầm cảm mất đi cái nghĩa vốn có của nó và mang nghĩa gần giống như là đau đớn, buồn bã.

Thế nên khi đọc bài này tôi hy vọng các bản quẳng cái suy nghĩ đó đi và hãy đọc từ từ để tìm hiểu một căn bệnh tâm lý là nguyên nhân chính dẫn đến sự ốm yếu, khuyết tật trên toàn thế giới.

Bệnh đó được gọi là trầm cảm.

(Khuyết tật ở đây là chỉ về sự khiếm khuyết mặt tinh thần gây ra suy giảm đáng kể và ảnh hưởng lâu dài đến khả năng thực hiện các hoạt động, sinh hoạt hàng ngày)

Khác với mọi khi, lần này tôi sẽ bắt đầu với case bệnh truớc tiên để mọi người có thể đọc và sau đó áp dụng nó trong việc tìm hiểu triệu chứng và chẩn đoán.

Cathy là một công tố viên vừa mới được thăng chức thành cổ đông năm ngoái.

Trong công ty, cô được coi là một trong những nguời trẻ tuổi đầy hứa hẹn nhất.

Thế nhưng mặc cho những thành tựu mà mình đạt được, Cathy thường xuyên nghi ngờ về khả năng của bản thân và cho rằng mình không xứng đáng với chức vụ vừa nhận được.

Hơn cả chuyện thấy chán nản, mệt mỏi, cô còn cảm giác mình đang tê dại dần đi.

Mấy tháng vừa qua cô mỏi mệt và khó chịu với mọi thứ một cách bất bình thường.

Càm xúc của cô càng trở nên tệ hại hơn khi một khách hàng của công ty mà cô chịu trách nhiệm đổi sang một công ty khác.

Dù quyết định chuyển công ty nằm ngoài vòng điều khiển của cô nhưng Cathy không ngừng tự trách chính mình.

Cô giải nghĩa sự kiện này như một tấm gương phản chiếu sự bất lực của mình trong công việc dù những khách hàng khác của cô đều khen ngợi khả năng làm việc và những cổ đông lâu năm đều có những lời nói tích cực dành cho cô.

Cathy lúc nào cũng mong được đi làm và cô thực sự yêu thích công việc của mình.

Nhưng kể từ khi vị khách đó chuyển công ty, thì chuyện đi làm trở thành một gánh nặng không thể chịu nổi với cô.

Cathy không thể nào tập trung vào công việc được và thay vào đó cô suốt ngày nghiền ngẫm về sự bất lực của mình.

Dần dà cô thường gọi cáo ốm và dành hầu hết thời gian ngồi ở trên giường nhìn đăm đăm cái TV mà không để ý chương trình gì đang chiếu trên đó và cô hầu như không ra khỏi nhà.

Cathy thường xuyên cảm thấy cả người lờ đờ thiếu sức sống nhưng không thể nào ngủ được, khẩu vị cũng mất đi.

Bạn thân lo lắng gọi điện cô cũng chả buồn nhấc máy mà chỉ ngồi đó thụ động nghe tin nhắn để lại trên máy bàn.

Cô không muốn làm bất kỳ thứ gì, cũng không muốn nói chuyện với ai.

"Cuộc sống đã đánh mất đi ý nghĩa cũng như sự thú của nó.

Công việc làm không tốt, ngay cả các mối quan hệ cũng xử sự không xong.

Mình đáng bị cô độc như thế".

Cô nghĩ.

Cathy nghĩ các mối quan hệ xã hội của cô là tai họa và dường như mọi chuyện chẳng hề chuyển biến theo chiều hướng tốt đẹp nào.

Cô ly dị với chồng đã năm năm và người bạn trai gần đây nhất cũng đã có bạn gái mới.

Cô đã cố gắng đến tuyệt vọng mong muốn bản thân mình trở nên năng động hơn một tý nhưng dần dà cô chả còn quan tâm nữa.

Mọi chuyện dường như trở nên vô vọng.

Mặc dù cô thường hay đến các buổi tiệc của công ty nhưng dường như cô không thuộc về nơi đó.

Ai cũng có đôi có cặp chỉ có cô là lẻ loi một mình.

Mọi nguời không ai hiểu sự cô đơn sâu thẳm ấy và dường như mọi chuyện sẽ khá hơn nếu cô chết đi.

Mặc dù cô thường suy nghĩ đến việc tự tử nhưng cô lại sợ điều đó sẽ khiến cho mọi thứ trở nên tồi tệ hơn bây giờ.

Dựa vào tiêu đề và đoạn mở đầu của tôi, chắc các bạn cũng biết Cathy mắc chứng bệnh gì rồi phải không?

Đúng vậy, Cathy được chẩn đoán là mắc bệnh trầm cảm nặng.

Có nhiều người nghĩ rằng mất đi khách hàng, lại gặp phải chuyện người yêu cũ có người yêu mới mà bản thân vẫn đang lẻ loi một mình ai mà chả buồn?

Tại sao lại bảo cô ấy mắc chứng trầm cảm?

Đúng vậy, làm sao chúng ta phân biệt được giữa trầm cảm và nỗi buồn bình thường?

Trong cuốn Abnormal Psychology mà tôi đang sử dụng có liệt kê ra cách phân biệt giữa bệnh trầm cảm và nỗi buồn thông thường.

Trong đó có những điểm chính như sau.

Với những người bị bệnh trầm cảm.

1.

Tâm trạng thay đổi ngày càng nặng nề và tồi tệ trong mọi tình huống.

Tâm trạng và cảm xúc của người đó không cải thiện , dù cho chỉ là tạm thời, khi anh/cô ta tham gia các hoạt động mà giải trí hay gây cười.

2.

Tâm trạng thay đổi mà không có bất kỳ sự kiện hay nguyên nhân nào xảy ra trước đó, hoặc sự việc không tồi tệ đến mức khiến cảm xúc của họ bất ổn cực kỳ đến như vậy.

3.

Tâm trạng chán nản, mệt mỏi buồn bã đi cùng với việc người đó không thể hoạt động bình thường trong các hoạt động xã hội và việc làm.

Ngay cả những chuyện đơn giản nhất dường như trở nên quá sức với anh/cô ta.

4.

Sự thay đổi cảm xúc đi kèm với tổ hợp những triệu chứng khác có liên quan đến nhận thức, hành vi và sinh lý cơ thể.

5.

Sự thay đổi tâm trạng khác hẳn với nỗi buồn bình thường.

Nó có thể rất "lạ" cảm giác như bản thân bị nuốt chửng bởi những đám mây mù hoặc chìm sâu trong những hố đen không lối thoát.

Trên lớp, cô tôi có cho tôi xem một đoạn video ngắn của một người bị bệnh trầm cảm nói về cuộc đời của mình.

Trong đó có một câu anh nói mà tôi nghĩ nó đủ để định nghĩa bệnh trầm cảm là gì, xin phép được trích ra đây.

"Trầm cảm không phải là khi bạn thấy buồn vì mọi thứ không xảy ra theo ý bạn mà là bạn thấy buồn mặc cho mọi việc vẫn đang diễn biến tốt đẹp." (Depression is not when you feel sad that everything goes wrong.

Depression is when you feel sad even if everything is going right)

Vậy thì những triệu chứng đi kèm mà tôi nói ở phần số 4 là gì?

Bệnh trầm cảm có rất nhiều rất nhiều triệu chứng nghiêm trọng được chia ra vào bốn hạng mục khác nhau : cảm xúc, nhận thức, sinh lý và hành vi.

Chúng ta sẽ khám phá các triệu chứng dưới mỗi hạng mục này sau đây.

1.

Triệu chứng của cảm xúc:

Tâm trạng chán nản, khó chịu là triệu chứng thông thường nhất và dễ thấy nhất của chứng trầm cảm.

Những người mắc bệnh thường diễn tả rằng họ hoàn toàn cảm thấy tăm tối, ảm đạm. chán nản, thất vọng.

Và vì phần chịu trách nhiệm cảm xúc trong não bộ cũng là phần chịu trách nhiệm cho những cơn đau vật lý mà bạn cảm nhận nên khi cảm xúc của bạn tiêu cực thì đồng thời bạn cũng cảm thấy đau đớn ở phần nào đó của cơ thể mình.

Mức độ nặng nhẹ khi mắc bệnh trầm cảm có để chạm đến mức cực kỳ đau đớn và quá sức chịu đựng.

Andrew Solomon, tác giả của cuốn "Quái vật giữa ngày trưa" đã diễn tả quá trình từ một nỗi buồn bình thường thành trầm cảm nặng của mình như sau:

" Tôi trở về khu rừng nơi tôi thường ra chơi lúc nhỏ với em mình.

Ở đó có cây sồi đã đứng sừng sững giữa đất trời hàng trăm năm qua.

Tôi và em trai thường hay quanh quẩn dưới bóng râm của nó.

Vậy mà chỉ trong vòng 20 năm, một nhánh tầm gửi đã phát triển và gần như nhấn chìm cây sồi dưới những vòng dây tươi tốt và xum xuê.

Những gì bạn có thể thấy bây giờ chỉ là vài nhánh sồi yếu ớt cố gắng bám trụ lại.

Tôi thấy mình như cây sồi ấy.

Bệnh trầm cảm đã bủa vây lấy tôi như nhánh tầm gửi chiếm đoạt thân cây sồi nọ.

Nó đang hút dần sức sống bên trong và quấn quanh tâm trí tôi, trở nên xấu xí nhưng lại còn "sống" hơn cả bản thân tôi."

2.

Triệu chứng của nhận thức:

Bên cạnh việc thay đổi cảm xúc của người bệnh, bệnh trầm cảm còn khiến cho họ thayy đổi suy nghĩ về bản thân và môi trường xung quanh.

Những người mắc bệnh thường để ý thấy dòng suy nghĩ của họ bị chậm lại, khó tập trung và dễ bị phân tâm.

Song song còn có cảm giác tội lỗi và vô dụng.

Họ thường tự trách bản thân nếu có chuyện gì không như ý xảy ra dù cho đó không phải là lỗi của họ đi chăng nữa.

Họ dồn hết sự chú ý vào những mặt còn khiếm khuyết của băn thân, môi trường và tương lại.

Rất nhiều người sau đó còn nảy ra ý nghĩ tự hại bản thân.

Suy nghĩ muốn tự tử dần dần trở nên rõ rệt hơn.

Sau một khoảng thời gian, người bệnh cho rằng mọi thứ sẽ trở nên tốt hơn nếu họ chết đi.

Cô Cathy trong ví dụ mà tôi đưa ra ban đầu cũng từng nghĩ đến cái chết không ít lần.

Đó là một trong những dấu hiệu quan trọng nhất của bệnh trầm cảm.

3.Triệu chứng của sinh lý cơ thể.

Người bệnh lúc nảo cũng thấy mỏi mệt, cả cơ thể đều đau, thay đổi mạnh trong khẩu vị và giấc ngủ.

Như Cathy, cô thường xuyên cảm thấy mệt mỏi.

Ngay cả những việc đơn giản nhất như đánh răng, tắm rửa và thay đồ bỗng trở nên quá sức với cô.

Sự thay đổi của giấc ngủ là triệu chứng thường thấy của bệnh trầm cảm, nhất là khó ngủ.

Cái này thường đi cùng với chuyện nhận thức, suy nghĩ bị ảnh hưởng mà tôi đã đề cập bên trên.

Một số người còn không thể ngủ yên giấc và họ thường dậy sớm khoaangr một, hai giờ so với bình thường.

Một triệu chứng ít thấy khác là ngủ nhiều hơn bình thường.

Người bệnh còn không cảm thấy hứng thú gì với những hoạt động giải trí mà họ từng thích.

Một trong những ví dụ thường thấy nhất là họ không còn hứng thú gì với chuyện chăn gối nữa.

Một số người còn cảm thấy đau cả người và nhức đầu không thôi.

Triệu chứng của hành vi.

Các triệu chứng của bệnh trầm cảm còn thể hiện ở những thứ mà người bệnh làm và mức độ họ làm những chuyện đó.

Hành vi dễ thấy nhất ở những người này là hành động chậm chạp.

Bệnh nhân đi và nói chuyện như thể họ đang ở trong một cuốn phim chiếu chậm.

Một số người còn trở nên bất lực, không thể di chuyển được và ngừng luôn việc nói chuyện, hoặc họ có thể ngừng một khoảng thời gian cỡ chừng vài phút trước khi trả lời một câu hỏi nào đó.

Một người phải có từ năm triệu chứng trở lên thuộc bất kỳ hạng mục nào mà tôi nêu trên, xuất hiện gần như là hằng ngày trong khoảng 2 tuần thì người đó mới được chẩn đoán mắc bệnh trầm cảm.

Cathy có những dấu hiệu như khó ngủ, tự trách bản thân, không thể rời nhà, không thể tự làm vệ sinh cá nhân, không muốn nói chuyện với ai, cảm xúc chán nản...

Theo DSM-5, tất cả những triệu chứng trên của Cathy đều phù hợp với những triệu chứng của người mắc bệnh trầm cảm.

Một điều quan trọng trong việc xác định một người có bị trầm cảm hay không là họ phải chưa bao giờ trải qua cảm giác quá khích, hoặc quá vui vẻ đến mức không thể điều khiển bản thân mình trước hoặc sau khi tâm trạng trở nên tồi tệ như lọt vào hố đen không lối thoát.

Nếu không thì họ sẽ được chẩn đoán là mắc bệnh lưỡng cực thay vì bệnh trầm cảm.

Đọc đến đây chắc bạn sẽ hỏi tôi rằng, nguyên nhân gì gây ra bệnh trầm cảm và cách chữa trị của nó?

Các nhà tâm lý học hiện nay vẫn còn đang tranh luận đâu là nguyên nhân gây ra bệnh trầm cảm.

Thật khó để mà đưa ra câu trả lời xác định khi có quá nhiều vấn đề còn đang nằm trong vòng nghiên cứu và thí nghiệm.

Các học giả theo thuyết tiến hóa cho rằng những triệu chứng từ nhẹ đến trung bình của bệnh trầm cảm có thể phần nào đó hữu ích với bệnh nhân ngoài việc gây ra đau đớn và làm gián đoạn cuộc sống của họ.

Dưới góc nhìn của tiến hóa, những triệu chứng như hoạt động chậm chạp , mất đi động lực, cách ly ra khỏi những người khác...có thể là đại diện cho hệ thống phản ứng giúp cho người đó thoát ra khỏi một tình huống đang dần xấu đi.

Ở mức thấp và trong khoảng thời gian ngắn, tâm trạng chán nản có thể giúp chúng ta tìm lại được động lực của mình, đồng thời lưu trữ năng lượng cơ thể và dùng nó vào việc đối phó với những tình huống mất mát và thất bại.

Dưới góc nhìn của xã hội, từ khi sinh ra đến chết đi, cuộc sống của chúng ta lúc nào cũng quấn với cuộc sống của những người khác.

Chúng ta sống trong một tập thể và chúng ta cảm thấy buồn khi một người nào đó thân thiết đột nhiên mất đi, hoặc một mối quan hệ chấm dứt, hay lúc chúng ta mất đi việc làm...Trong những trường hợp như vậy, một số bác sĩ cho rằng thay vì cảm giác buồn vì mất đi người khác, chúng ta cảm thấy chán nản vì chúng ta có thể mất đi "vai trò xã hội" của mình hoặc cách mà chúng ta nghĩ về bản thân.

Với những nhà sinh học thì họ lại cho rằng nguyên nhân gây ra bệnh trầm cảm có thể nằm trong gien của mỗi người và nó có thể là kết quả từ sự ảnh hưởng của nhiều gien khác nhau.

Hàm lượng chất dẫn truyền thần kinh, serotonin, thấp có thể là nguyên nhân gây ra bệnh trầm cảm.

Bởi vì serotonin quan trọng trong việc điều khiển giấc ngủ, khẩu vị và những phản ứng khác trong cơ thể nên thiếu hụt chất này có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng dẫn đến các bệnh tâm lý như trầm cảm, tâm thần phân liệt, lo lắng...

Một số loại thuốc chữa trị bệnh trầm cảm có cơ chế hoạt động làm tăng hàm lượng serotonin trong cơ thể như Prozac được sử dụng rộng rãi vì tính an toàn và ít tác dụng phụ.

Bên cạnh với việc dùng thuốc, thì phương thức chữa trị dựa trên suy nghĩ – hành vi cũng được sử dụng rộng rãi.

Phương thức này hướng dẫn người bệnh tập thay đổi cách suy nghĩ về mình và về mọi thứ xung quanh.

Người bệnh sẽ phải suy nghĩ một cách khoa học, hệ thống hơn, thay vì cứ đổ lỗi cho chính mình khi gặp phải trắc trở, thất bại nào đó thì họ phải học cách xem xét tình huống xung quanh họ, những vấn đề, hoặc nguyên nhân ngoài lề có thể góp phần làm nên sự thất bại đó.

Hiệu quả của phương pháp này càng tăng nếu đi kèm với việc dùng thuốc điều độ.

Tôi nghĩ bài này mình viết đủ dài rồi.

Hy vọng mọi người đọc xong sẽ hiểu thêm về bệnh và có cái nhìn đúng đắn hơn về nó.

Với những bạn nghĩ mình mắc bệnh và cần giúp đỡ thì hy vọng các bạn hãy mau chóng đi tìm bác sĩ hoặc chuyên viện tâm lý để có thể được chữa trị sớm nhất vì bệnh trầm cảm không tự nhiên khá lên mà sẽ ngày càng xấu đi, đến một lúc nào đó nó sẽ ăn mòn tâm trí của bạn như những dây tầm gửi rút hết sức sống của cây sồi già kia.

Đợt tiếp theo của series này tôi sẽ nói về bệnh lưỡng cực, tự hại, một phần về câu chuyện đời tôi về cách mà tôi chiến đấu với những cảm xúc tiêu cực của bản thân và vượt qua khỏi những khoảng thời gian tăm tối trong cuộc đời như thế nào.

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
Kỳ 12: Bệnh Lưỡng Cực (Bipolar Disorder)


Trong bài lần trước tôi đã nói về bệnh trầm cảm thì có hứa với mọi người là đợt kế tiếp sẽ viết về bệnh Lưỡng Cực (Bipolar Disorder) và thế nên bài viết này ra đời.

Bệnh Lưỡng cực từng được gọi là bệnh phấn khích – trầm cảm.

Và đến tận nay có nhiều nhà tâm lý học thích dùng thuật ngữ này hơn vì nó diễn tả đúng các triệu chứng của bệnh.

Theo tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM-4 thì bệnh nhân mắc bệnh Lưỡng cực phải trải qua giai đoạn phấn khích và trầm cảm, hai giai đoạn trái ngược hẳn nhau thế nên mới có tên là bệnh Lưỡng cực.

Tuy nhiên khi bản chính của DSM-5 ra đời năm ngoái thì phần chẩn đoán này đã bị loại bỏ và thay vào đó, DSM-5 nhấn mạnh giai đoạn phấn khích và tạo ra một phần tiêu chuẩn chẩn đoán mới cho bệnh Lưỡng cực có đủ giai đoạn phấn khích và trầm cảm.

Nhưng ở bài viết này, tôi chỉ đề cập đến bệnh Lưỡng cực I và II nhấn mạnh vào giai đoạn phấn khích với những triệu chứng chẩn đoán theo DSM-5.

Xin hãy lưu ý từ "phấn khích" ở đây tôi dùng với ý nghĩa tột cùng, cực kỳ phấn khích (thế nên mới gọi là "cực") , chứ không phải phấn khích vui mừng bình thường.

Phấn khích, tuy khác hẳn với trầm cảm, nhưng cả hai đều có chung đặc điểm là sự nhiễu loạn cảm xúc đi kèm với nhiều triệu chứng khác.

Triệu chứng của phấn khích bao gồm cảm xúc hân hoan, tự mãn về bản thân, thời gian ngủ ít đi, dễ bị phân tâm, áp lực cần phải nói và nói nhiều hơn nữa, và suy nghĩ dường như chạy đua trong đầu nhanh hơn cả nói.

Vì thế phấn khích tột độ giống như trầm cảm, là một hội chứng tâm lý.

Để nhìn rõ hơn các khía cạnh của hội chứng tâm lý này, chúng ta hãy bắt đầu với một case bệnh và thông qua đó, xác định các triệu chứng chẩn đoán của chứng Lưỡng cực.

Debbie, một cô gái độc thân 21 tuổi, phải nhập viện tâm thần giữa giai đoạn phấn khích.

Cô đã từng được chữa trị tâm lý trầm cảm khoảng vài tháng khi cô còn học ở trường cấp 3 nhưng sau đó thì cô không nhận bất kỳ trị liệu nào nữa.

Sau khi chấm dứt hai mùa học ở trường đại học cộng đồng thì Debbie tìm được một công việc tốt tại văn phòng quảng cáo của tòa soạn báo địa phương, và cô đã làm việc ở nơi đó khoảng hai năm.

Giai đoạn phấn khích của Debbie có thể lần ngược lại khoảng ba tháng trước khi cô nhập viện.

Lúc ấy Debbie cảm thấy vui vẻ một cách bất thường trong vài tuần.

Ban đầu thì cô không nghĩ đến điều gì bất thường.

Ngược lại, Debbie cảm thấy như vậy rất rốt.

Mọi thứ dường như đang đi đúng hướng.

Năng lượng của cô tràn đầy, đồng thời cô cảm thấy tự tin với chính bản thân của mình và trong mọi mối quan hệ với người khác, đặc biệt là với cậu bạn trai mới vừa chuyển đến một thành phố xa.

Ban đầu, cô rất chào đón cảm giác này, một phần vì bản tính Debbie khá ngại ngùng và xấu hổ khi phải tiếp xúc với người khác.

Một ngày nọ, Debbie cảm thấy cực kỳ hồ hởi.

Cô thôi việc một cách bốc đồng và đi thăm bạn trai mình.

Bỏ công việc mà không suy xét kỹ, và không có phương hướng thay thế tìm công việc khác là dấu hiệu đầu tiên cho thấy khả năng phán đoán, suy xét sự vật sự việc của Debbie có vấn đề.

Mặc dù cô chỉ mang đủ tiền để mua vé máy bay nhưng cô ở lại thành phố đó tận vài tuần.

Cũng chính trong khoảng thời gian đó, cô bắt đầu thấy khó ngủ.

Cảm xúc của cô bắt đầu thay đổi.

Dần dần vui mừng bị thay thế bởi sự khó chịu, bực mình.

Cô trở nên mất kiên nhẫn và cực kỳ nóng vội, và điên tiết lên nếu bạn trai không đồng ý với cô.

Một lần nọ, cả hai có một trận cãi vã lớn ở bãi đỗ xe trước nhà của cậu bạn trai.

Cô cởi áo ra và từ chối mặc lại một cách bực tức mặc cho cậu bạn trai yêu cầu và cả sự hiện diện của mọt số người chung quanh.

Ngay sau đó cô thu dọn quần áo và đi ra đường vẫy tay xin quá giang vài chiếc xe để đi về nhà.

Lúc về đến nhà ba mẹ, Debbie bắt đầu cãi nhau với họ không ngừng nghỉ trong vòng vài ngày.

Cảm xúc của cô dao động thường xuyên.

Có lúc cô tràn trề động lực với những kế hoạch và dự định và nếu kế hoạch cô gặp trở ngại thì ngay lập tức cô sẽ trở nên cuồng nộ giận dữ.

Cô gọi điện cho một câu lạc bộ tennis và đề nghị được huấn luyện riêng mặc dù cô không đủ khả năng tài chính để chi trả chuyện đó.

Mẹ cô phải ngăn cuộc điện thoại giữa chừng và cô bỏ nhà đi trong giận dữ, tiếp tục quá giang nhờ xe đến câu lạc bộ tennis.

Giữa đường cô được hai người đàn ông lạ mặt cho quá giang và khuyên cô theo họ đi dự tiệc thay vì đi tập tennis.

Khi đến bữa tiệc, cảm xúc của cô trở nên phấn khích lại và ngay trong đêm đó cô quan hệ tình dục với ba người đàn ông lạ mặt mà cô chưa gặp bao giờ.

Ngày hôm sau cô mượn tiền một người bạn và trở về nhà.

Lúc đó cô đã có cuộc cãi vã lớn với ba mẹ.

Debbie tấn công ba của mình và lái xe của họ đi.

Giận dữ, thất vọng và lo sợ trước hành động của con, ba mẹ cô đã gọi cảnh sát đến.

Thông qua sự xác định của chuyên viên tâm lý trước sự bất thường về nhận thức, suy nghĩ, cảm xúc bạo lực, cả khả năng phán xét của Debbie, chuyên viên tâm lý đã sắp xếp để cô được nhập viện.

Trong viện, biểu hiện của Debbie đầy tính tham chiến, khiêu khích và đòi hỏi.

Mặc dù cô ngủ tổng cộng khoảng bốn giờ trong ba ngày, cô bảo cô vẫn tràn trề năng lượng.

Cô quyến rũ lẳng lơ trước những bệnh nhân nam khác bằng cách ngồi trên đùi họ, hôn họ và thỉnh thoảng cởi áo quần mình ra.

Debbie có vài ý tưởng lạ lùng như bảo cô là vận động viên bơi lội Olympics, hoặc cô là sinh viên trường y.

Cô không nghĩ nhận thức của mình có vấn đề gì, và cô khẳng định rằng mình đến viện tâm thần là vì muốn giúp đỡ các bệnh nhân khác.

"Tôi là chuyên viên chữa trị tâm linh học, tôi có năng lực chữa thương từ vũ trụ.

Tôi nhìn mọi thứ rõ ràng và sâu đến tận gốc rễ và tôi phải chia sẻ kiến thức này cho những người xung quanh."

Cũng giống như bệnh trầm cảm.

Các triệu chứng của bệnh Lưỡng cực chia làm bốn mục: Cảm xúc, Nhận Thức, Sinh lý và Hành vi.

Triệu chứng cảm xúc:

Bệnh nhân cảm thấy phấn khích không tưởng, tựa như họ đang "đứng trên đỉnh thế giới".

Giống như Debbie vậy, cô cảm thấy vui vẻ lạc quan, mặc cho những hành vi không phù hợp ấy mang lại bất lợi cho cuộc sống của cô.

Tuy nhiên, qua một thời gian những cảm xúc đó trở nên trầm trọng hơn, kéo dài trở nên có hại với người bệnh.

Chưa có một ranh giới rõ ràng nào giữa cảm giác tích cực, vui vẻ, làm việc hiệu suất cao với cảm xúc không thể điều khiển được và gây hại đến bản thân.

Kay Jamison, giáo sư môn tâm thần học ở trường y học John Hopkins đã diễn tả lại sự chuyển đổi thầm lặng này trong căn bệnh Lưỡng cực mà cô mắc phải.

"Có một nỗi đau rất đặc biệt, phấn chấn, cô độc và khiếp sợ trong cơn điên rồ này.

Khi bạn phấn chấn vui vẻ, những cảm xúc đó rất to lớn, dữ dội.

Suy nghĩ và cảm xúc lướt qua bạn nhanh và thường xuyên như sao băng, và bạn cứ đi theo nó cho đến khi bạn tìm được cái tốt hơn và sáng hơn.

Xấu hổ không còn, năng lực quyến rũ người khác như điều hiển nhiên.

Bạn trở nên nhạy cảm hơn, muốn quyến rũ người khác và được người khác quyến rũ.

Tất cả những vấn đề khó khăn dường chưa tồn tại.

Bỗng nhiên, mọi thứ từ từ thay đổi.

Những suy nghĩ, ý tưởng đó trở nên quá nhanh, nhanh đến mức bạn không kịp nắm bắt nó.

Sự rối loạn thay thế sự rõ ràng.

Mọi thứ lúc trước đang đi đúng hướng dường như bây giờ chống đối lại bạn.

Bạn cảm thấy khó chịu, giận dữ, sợ hãi, không kiềm chế được bản thân và bạn giống như bị nhốt trong cái hang động đen tối nhất của tâm trí."

Nhiều người mắc bệnh lưỡng cực, mặc dù họ cảm thấy vui vẻ và hạnh phúc nhưng đồng thời cũng rất dễ tức giận, giống như Debbie trong case bệnh bên trên.

Triệu chứng nhận thức:

-Các bệnh nhân bệnh Lưỡng cực thường nói rằng suy nghĩ của họ đột nhiên nhanh hẳn đi.

Ý tưởng suy nghĩ lướt qua đầu họ trước khi họ kịp suy nghĩ.

Bệnh nhân còn thường dễ bị phân tâm, phản ứng trước những kích thích ngoài theo cách không thể lý giải nổi hoặc không mạch lạc.

Sự hoang tưởng khuếch đại và tự mãn quá mức về bản thân cũng là một trong những đặc điểm của bệnh Lưỡng cực.

Trong trường hợp trên thì Debbie nghĩ rằng mình là vận động viên Olympics và nhà tâm linh học là các triệu chứng nhận thức.

Triệu chứng cơ thể:

Người bị bệnh lưỡng cực ngủ rất ít nhưng lúc nào cũng cảm thấy trần trề năng lượng và phấn khích tột đỉnh.

Tuy nhiên việc không đảm bảo giấc ngủ khiến cho khả năng tư duy và cảm xúc của họ bị ảnh hưởng.

Đó cũng có thể là lý do sau một thời gian cảm thấy phấn khích và tích cực thì cảm xúc người bệnh chuyển sang khó chịu, giận dữ và nóng nảy.

Triệu chứng hành vi:

Như tôi lặp đi lặp lại nhiều lần bên trên.

Người mắc bệnh lưỡng cực thích giao du và đầy năng lượng.

Hành vi của Debbie là một ví dụ.

Hành vi quyến rũ và thách thức của cô ở trong viện là không phù hợp.

Cô không thể nào ngồi yên một chỗ trong vài phút.

Dường như mọi thứ trở nên cực kỳ thú vị với cô và cô dễ bị phân tâm, thay đổi từ suy nghĩ này đến kế hoạch khác.

Tổng kết lại, các triệu chứng dùng để chẩn đoán bệnh Lưỡng cực bao gồm:

-Suy nghĩ rời rạc, nhanh và không liên kết

-Suy nghĩ, niềm tin hoang tưởng.

-Cảm giác khó chịu không phù hợp với tình huống

-Cảm giác hân hoan không phù hợp

-Ham muốn tình dục tăng cao

-Nói nhanh hơn bình thường và lớn giọng.

-Có nhiều năng lượng hơn mức bình thường.

-Khả năng suy xét phán đoán giảm

-Ngủ ít vì năng lượng nhiều hơn mức bình thường, gây ra khó ngủ.

Giai đoạn phấn khích phải kéo dài trong một tuần và hầu hết mỗi ngày, và phải có từ ba triệu chứng tôi liệt kê ở trên trở lên mới được chẩn đoán bệnh Lưỡng cực.

Giai đoạn phấn khích này được chia làm hai loại, cực phấn khích và hơi phấn khích.

Sự khác nhau giữa hai loại này dựa vào mức độ nặng nề và thời gian của nó.

Với cực phấn khích thì giai đoạn này phải kéo dài ít nhất một tuần, còn với hơi phấn khích thì giai đoạn này phải kéo dài ít nhất bốn ngày.

Cực phấn khích khiến người bệnh không thể tham gia vào các hoạt động xã hội bình thường như Debbie, còn người bệnh với giai đoạn hơi phấn khích thì họ vẫn có thể tham gia các hoạt động xã hội bình thường dù họ có thể gặp một số khó khăn nhất định.

Bệnh lưỡng cực với cực phấn khích như Debbie sẽ được xếp vào bệnh lưỡng cự c loại I.

Một số bệnh nhân với chẩn đoán này đồng thời cũng có khoảng thời gian bị trầm cảm trước hay sau giai đoạn phấn khích.

Bệnh lưỡng cực với hơi phấn khích sẽ được xếp vào loại II.

Ngoài ra các triệu chứng chẩn đoán của hai bệnh này gần như giống nhau.

Bệnh trầm cảm nếu xuất hiện giai đoạn phấn khích sẽ ngay lập tức được chẩn đoán là bệnh Lưỡng cực thế nên không có trường hợp hai bệnh xảy ra trong cùng một người.

Chỉ có hoặc bệnh trầm cảm, hoặc bệnh Lưỡng cực.

Đã xong phần triệu chứng, vậy thì chúng ta cùng đi đến phần nguyên nhân nhé.

Do chưa có nguyên nhân cụ thể gây ra bệnh tâm lý nên hầu hết các bệnh tâm lý đều được xét dưới mô hình xã hội, sinh học và tâm lý.

Bệnh Lưỡng cực cũng không ngoại lệ.

Nghiên cứu về những ảnh hưởng của tác nhân xã hội và tình huống áp lực đối với bệnh Lưỡng cực không nhiều nhưng một vài nghiên cứu đã cho thấy vài tuần trước giai đoạn phấn của thì tầng suất các sự kiện áp lực trong cuộc sống đều tăng cao.

Khác với bệnh trầm cảm, các sự kiện diễn ra trước giai đoạn phấn khích tột độ không phải tiêu cực mà là tích cực ví dụ như họ đạt được mục tiêu quan trọng nào đó trong cuộc sống, được lên chức v...v

Sự chỉ trích của những người thân trong gia đình đối với bệnh nhân bị bệnh Lưỡng cực có thể khiến cho họ tái phát bệnh nhanh hơn.

Bằng chứng này cho thấy tiến trình của bệnh có thể bị ảnh hưởng bởi môi trường.

Nghiên cứu giữa các cặp song sinh cùng trứng và khác trứng cho thấy tỷ lệ mắc bệnh Lưỡng cực ở các cặp song sinh cùng trứng cao hơn hẳn so với các cặp song sinh khác trứng.

Vì thế bệnh Lưỡng cực có thể di truyền được, nếu cha hoặc mẹ mắc bệnh thì tỷ lệ con cũng mắc bệnh Lưỡng cực cao hơn người thường.

Ngoài ra sự rối loạn chất dẫn truyền thần kinh serotonin và norepinephrine (có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh cảm xúc), hoặc có nhiều chất dẫn truyền GABA (có chức năng gây hứng khởi) đều có thể gây ra bệnh Lưỡng cực.

Vì thế nên thuốc dùng để điều rị bệnh Lưỡng cực thường dùng các thuốc điều chỉnh hàm lượng chất dẫn truyền thần kinh này.

Trong đó muối Lithium carbonate (LiCO3) được dùng nhiều nhất.

Muối này làm giảm hàm lượng GABA và khiến cảm xúc ổn định hơn.

Tuy nhiên có khoảng đến 40% bệnh nhân mắc bệnh Lưỡng cực không cải thiện sau khi dùng thuốc.

Những trường hợp như thế thì bệnh nhân sẽ được kê đơn dùng thuốc chống chấn động (anticonvulsant).

Có khoảng 50% bệnh nhân có phản ứng tích cực với thuốc và thuốc này có thể dùng để trị giai đoạn phấn khích tột độ rất tốt.

Đi cùng với việc dùng thuốc thì phương pháp chữa trị nhận thức cũng được áp dụng nhiều.

Hai phương pháp này được áp dụng chung với nhau làm tăng thêm hiệu quả chữa bệnh.

Phương pháp chữa trị nhận thức cố gắng điều chỉnh hành vi, cách ứng xử của bệnh nhân với các tình huống áp lực trong cuộc sống cũng như quan điểm của bệnh nhân về việc dùng thuốc.

Bệnh Lưỡng cực khó chữa hơn bệnh trầm cảm ở chỗ bệnh nhân không cảm thấy phiền với tình huống của bản thân, ngược lại, họ thích cái cảm giác phấn khích ấy hơn, họ thích được "high" như vậy thế nên một số bệnh nhân từ chối uống thuốc hoặc từ chối nhận bất kỳ điều trị nào.

Bệnh Lưỡng cực không tự nhiên mà khỏi, nếu cứ kéo dài thì tình trạng bệnh sẽ càng thêm nặng nề.

Nó không phải là bệnh mà nếu bạn cứ nghĩ mình không sao là nó khỏi được.

Bài viết đến đây đã dài nên tôi xin tạm dừng ở đây.

Tôi cũng không ngờ là nó dài đến vậy.

Đến khi viết rồi mới phát hiện ra có nhiều điểm cần phải triển khai.

Kỳ sau tôi định viết về tự tử và vài mẩu chuyện đời tôi nếu có ai muốn đọc.

Còn không thì tôi chuyển qua bệnh khác vậy.

Có một chuyện tôi cần phải nói rõ ở đây.

Khi các bạn đọc các bài viết về bệnh chứng, bạn có thể tự xem xem mình có bao nhiêu dấu hiệu nhưng xin đừng tự chẩn đoán mình mắc bệnh này bệnh nó.

Việc đó có hại đến tâm lý của các bạn.

Chẳng ai cảm thấy vui vẻ khi nghĩ mình bệnh cả và điều đó có thể ảnh hưởng đến cuộc sống và các mối quan hệ xung quanh bạn.

Nếu bạn nghi ngờ phân vân thì hỹ đến gặp bác sĩ tâm lý để được định hướng và chẩn đoán chính xác nhất.

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
Kỳ 13: Chẩn Đoán Bệnh Lý Nhân Vật Hannibal Lecter Trong Sự Im Lặng Của Bầy Cừu


#Camie-21592159's Speech: Hôm nay mình chỉ đăng duy nhất một bài về series nghiên cứu tâm lý tội phạm trong bộ SILCBC thôi vì có vẻ nó khá là dài. hmm...

"Sự Im Lặng Của Bầy Cừu" được cho là một trong những bộ phim kinh điển vì nó ra mắt vào những năm 90 thì phải, nội dung thì không nói mọi người cũng biết nó ly kì đáng sợ như thế nào ( mặc dù mình cũng chẳng sợ lắm :v nhưng nói chung chung mình vẫn phải cảnh báo trước về nội dung của nó cho các bạn có tiền sử về bệnh tim, người giả, mẹ đang mạng thai và trẻ nhỏ =)))) Trước khi đến với kỳ số 13 này thì mọi người nên xem xong đoạn phim dài 1 tiếng rưỡi mình gán bên trên cái đã để có thể hiểu kỹ hơn về những gì blog Hải Đường Tĩnh Nguyệt sắp tiết lộ.

Còn đoạn mình in nghiên bên dưới là sơ bộ về vụ án của Lê Văn Luyện, mình khuyên các bạn là xem qua nó rồi hãy đi vào phần chính của chủ đề nhé :3

GHI CHÉP VỤ ÁN LÊ VĂN LUYỆN

TIỂU SỬ CÁI TÊN" LÊ VĂN LUYỆN"

Lê Văn Luyện sinh tại Bắc Giang năm 1993, là con trai của Lê Văn Miên và Trương Thị Thơm, tại Sơn Đình 2 (xã , huyện , tỉnh ).

Theo hàng xóm, thưở nhỏ, Luyện không phải là đứa con hư, thậm chí có người còn nói Luyện "rất hiền lành, ngoan ngoãn".

Gia đình Luyện bán thịt lợn trong thôn.

Nhà Luyện không giàu nhưng cũng thuộc loại khá giả trong vùng vì cha mẹ Luyện chăm chỉ làm ăn.

Sau khi học hết lớp 9, Luyện không thi đậu tốt nghiệp nên bỏ học.

Năm lớp 9, học lực và hạnh kiểm của Luyện đều đạt mức trung bình.

Vì lỡ cầm mất cái xe máy đi mượn, mang tiền tiêu mất nên Luyện không còn tiền để chuộc xe.

Đó là cái động cơ tiến hành vụ cướp tiệm vàng.

CHI TIẾT

Theo lời khai của bị cáo, vào rạng sáng 24/8, khi trời vẫn còn mờ tối, Luyện nấp cách tiệm vàng một quãng, mắt đảo nhìn quanh.

Khi không thấy bóng người, Lê Văn Luyện nhanh chóng đột nhập lên tầng ba ngôi nhà.

Công cụ của Luyện là một con dao nhọn và một con dao phớ.

Sau khi dùng đèn pin soi tầng ba không tìm thấy gì, Luyện xuống tầng 2.

Suy tính vàng và nữ trang giấu ở tầng 2 nên Luyện đi ngắt cầu dao và camera.

Lúc 5 giờ rưỡi, thấy chủ nhân lên phơi quần áo tầng 3, Lê Văn Luyện vung dao đâm anh ta.

Anh này tuy bị thương nhưng vẫn cố đoạt vũ khí và kêu cứu.

Vợ của anh ta chạy lên liền hứng thêm nhiều nhát.

Chủ nhân sau đó cướp được con dao nhọn.

Luyện liền rút dao phớ đâm tiếp.

Chủ nhân lăn xuống tầng 2.

Luyện tiếp tục chém nhiều nhát đến khi anh kia im hẳn.

Con gái lớn nhà này thấy tiếng kêu bật dậy.

Vì thông minh nên tìm điện thoại liên lạc bên ngoài.

Lê Văn Luyện sợ bị lộ nên vung đao chém đứt tay cô bé rồi đâm thêm nhiều nhát.

Tưởng cô bé này đã chết nên Luyện bỏ đi.

Với cô con gái thứ khóc to quá nên Luyện dùng dao phớ cướp mạng sống luôn.

Sát hại xong cả nhà, Lê Văn Luyện đi lấy ba lô và cất vũ khí vào rồi xuống tầng 1.

Sau đó, Luyện phá tủ kính và lấy vàng rồi mở cửa bếp thoát ra ngoài.

Lúc này, trời đã sáng, khu phố đã bắt đầu nhiều người qua lại.

Sợ bị phát hiện, Luyện gọi điện cho người anh họ đến đón rồi bỏ trốn.

Lúc chạy trốn hành trang của Lê Văn Luyện chỉ có một bộ quần áo, mấy bao thuốc lá với 200 nghìn Việt Nam đồng.

Ngày 31 tháng 8 năm 2011, sau 6 ngày lẩn trốn, Lê Văn Luyện rơi vào tay lực lượng biên phòng ở , , .

Luyện định chạy trốn sang Trung Quốc nhưng không kịp, bị bắt đưa về Bắc Giang - nơi Luyện đã sinh ra, lớn lên và gây án.

________________________________________________________________________________

"Sự im lặng của bầy cừu" là một bộ phim nổi tiếng được đánh giá cao.

Phim có các yếu tố kinh dị xen lẫn với các yếu tố tội phạm và đã giành được năm giải Oscar bao gồm cả giải diễn viên chính xuất sắc nhất dành cho Anthony Hopkins, người đã thể hiện xuất sắc nhân vật vừa là một nhà tâm lý học tài ba, vừa là một kẻ giết người ăn thịt hàng loạt, bác sĩ Hannibal Lecter.

Nhân vật này bị bệnh rối loạn về nhân cách, một bệnh được các giới khoa học, tâm lý học nghiên cứu trong một thời gian dài hơn hẳn so với các bệnh khác.

Bài viết này sẽ tập trung vào việc chẩn đoán, đồng thời đề xuất phương thức chữa trị cho căn bệnh mà bác sị Lecter đang mắc phải, song song bên cạnh đó cũng sẽ phân tích một chút về trường hợp Lê Văn Luyện vì tác giả bài viết thấy tên tội phạm này có các hành vi khá giống với những tên giết người hàng loạt nổi tiếng trong lịch sử khác.

Ngay từ đầu phim, bác sĩ Lecter đã được các nhà tâm lý học khác miêu tả như một kẻ dối trá, quái vật, nguy hiểm và ăn thịt người.

Gã đã gây ra vài vụ án nghiêm trọng trong đó có giết người, và ăn thịt nạn nhân của gã.

Tuy nhiên, khi đặc vụ Starling, cũng như khán giả có cơ hội được thấy gã, gã xuất hiện như một người lịch sự, tao nhã, có phong thái tốt và quan tâm đến người khác.

Tuy nhiên, không lâu sau đó, những tính cách quyến rũ mà chúng ta thấy hóa ra chỉ là vỏ bọc mà gã dùng để lừa người khác, thông qua đó đoạt được những gì mà gã muốn, dù cho đó có là điều kiện để gã được sống trong môi trường tốt hơn hay là quá khứ thời trẻ của đặc vụ Starling.

Sau đó, gã còn dùng vỏ bọc này để giết hai người cảnh sát và lột da của một người để làm mặt nạ cho tiện việc trốn thoát, còn người còn lại thì gã moi ruột rồi treo lên như thể đó là đồ trang trí.

Ngoài ra Lecter còn giết nguyên một đội cứu thương và một người khách du lịch, cướp lấy quần áo và ví tiền của người ta để gã có thể tẩu thoát dễ dàng hơn.

Lecter lần lượt thực hiện các hành vi phạm tội mang tính nghiêm trọng, ảnh hưởng đến mạng người với thái độ bình tĩnh, chẳng chút chần chừ và không hề có một cảm giác tội lỗi nào.

Trong một trường hợp khác, gã đã ăn lưỡi của một người y tá mà huyết áp của gã không hề vượt qua mức 85 (85 là mức huyết áp bình thường).

Điều này cho thấy việc giết người, xâm hại người khác là một việc quá bình thường với Lecter.

Những hành động trên hoàn toàn khớp với một trong những triệu chứng chẩn đoán tiêu chuẩn của bệnh mà gã có thể mắc phải, thất bại trong việc làm theo những tiêu chuẩn xã hội, hành vi không tôn trọng pháp luật thể hiện qua các hành động có thể dẫn đến truy tố hình sự.

Triệu chứng tiếp theo của bác sĩ Lecter thể hiện qua việc gã không bao giờ nói ra sự thật một cách thẳng thừng.

Đúng hơn là gã thích ẩn dấu sự thật trong từng lời nói dối.

Gã đưa ra những manh mối chỉ dẫn lạc hướng bằng phương thức đảo chữ cái như việc gã tiết lộ cho đặc vụ Starling rằng gã biết có một kho hàng được bệnh nhân tên là Hester Mofet của gã thuê nhưng thật sự chủ nhận của kho hàng ấy chính là gã.

Hester Mofet sau khi đảo chữ cái lại sẽ thành "phần còn lại của tôi" (the rest of me).

Gã vờn qua nhát lại với các đặc vụ FBI và kéo họ vào trong trò chơi mà gã tạo ra dù cho họ có muốn hay không.

Gã điều khiển người ta làm theo những gì mà gã muốn mặc cho họ có nhận ra mình đang bị điều khiển hay không.

Gã bắt đặc vụ Starling phải kể về quá khứ của mình cho gã nghe để đổi lại thông tin về Buffalo Bill.

Đây chính là biểu hiện của triệu chứng thứ hai: dối lừa, thể hiện qua việc liên tiếp nói dối, dùng đồng minh và điều khiển người khác để tư lợi cho bản thân hay chỉ để giải trí.

Triệu chứng thứ ba của Lecter là gã không hề có bất kỳ hối hận hay thương xót người khác chút nào.

Trong một phân cảnh, khi mà gã gặp nghị viên, người có con gái bị bắt cóc bởi Buffalo Bill, gã chẳng hề tỏ vẻ cảm thông trước sự bất hạnh của ba và hỏi những câu hỏi bất kính như thể ba có nuôi con gái bằng sữa mẹ không.

Gã thích thú chọc giận bà chỉ vì gã thích.

Việc không hề có sự thương xót hay hối hận nào, thấy rõ qua việc không hề nhận ra hành động của bản thân làm tổn thương đến người khác là triệu chứng tiêu chuẩn thứ ba dùng để chẩn đoán.

Thông qua ba tiêu chuẩn trên, dựa vào DSM-5, bác sĩ Lecter có thể bị mắc bệnh Rối loạn nhân cách phản xã hội (ASPD).

Đặc điểm của bệnh biểu hiện rõ qua các hành động không quan tâm và xâm phạm đến quyền lợi của người khác mà chúng ta đã miêu tả rõ qua từng chi tiết phía trên.

Để có thể chính thức chẩn đoán Lecter bị mắc ASPD thì phải có bằng chứng của bệnh Rối loạn đạo đức (Conduct Disorder) trong quá khứ cho đến trước 15 tuổi.

Bệnh rối loạn đạo đức được tả là người bệnh có các hành vi công kích, gây hấn, phá hoại, lừa dối và xâm phạm các luật lệ.

Bệnh này được dùng làm kim chỉ nam để xác định bệnh ASPD khi trưởng thành.

Nói cách khác, để chẩn đoán một người mắc ASPD thì người đó phải được chẩn đoán mắc bệnh rối loạn đạo đức khi còn đang tuổi vị thành niên, nghĩa là trước 15 tuổi.

Và bệnh ASPD cũng là bệnh duy nhất trong các bệnh rối loạn nhân cách có một bệnh khác được xác định khi còn nhỏ để làm tiền đề chẩn đoán.

Mắc bệnh rối loạn đạo đức không hẳn lúc nào cũng dẫn đến rối loạn nhân cách phản xã hội, nhưng mắc rối loạn nhân cách phản xã hội nhất định cũng sẽ mắc rối loạn đạo đức khi còn nhỏ.

Người mắc ASPD ít khi nào tự đi khám chữa bệnh.

Họ không có động lực cũng như không thể thấy được những hệ quả từ các hành vi phản xã hội của họ mang lại.

Có rất ít các nghiên cứu về phương hướng điều trị bệnh này.

Tất cả các đề án chữa bệnh đều tập trung vào thanh thiếu niên phạm tội và một số người được giới thiệu từ hệ thống pháp luật.

Kết quả được đo lường bởi tần suất tái phạm tội hơn là thay đổi hành vi có liên quan đến tính cách được xác định bởi bệnh.

Giải thích cho rõ hơn là kết quả từ các phương thức chữa trị bệnh được tính theo tần suất bệnh nhân phạm tội nhiều hay ít, khoảng thời gian giữa các lần phạm tội hơn là cố gắng thay đổi hành vi tính cách được cho là biểu hiện của bệnh như hanh vi lừa dối, điều khiển trục lợi người khác.

Phương thức chữa trị nhận thức – hành vi cũng có tí ti tác dụng.

Một nghiên cứu khác cho thấy việc dùng vitamin tổng hợp cũng có thể hạn chế các hành vi phạm tội của người bệnh.

Trong trường hợp của bác sĩ Lecter, gã là người mắc bệnh loạn thần kinh nhân cách nhưng hoạt động cấp cao.

Điều này có nghĩa gã có thể che dấu hành vi bất bình thường của mình trong một số trường hợp xã hội nhất định và giữ hình ảnh mình một cách tích cực trong khi đằng sau thì phạm tội ác rùng rợn.

Ở đầu phim chúng ta có thể thấy khi đặc vụ Starling tìm kiếm thông tin về gã thì một loạt các bài báo ca ngợi gã là thiên tài tâm lý học, phát minh ra nhiều phương thức và học thuyết hay.

Chỉ đến sau này mới lòi ra gã là kẻ giết người hàng loạt nguy hiểm bậc nhất.

Lecter không hề nghĩ gã mắc bệnh, gã luôn coi những người xung quanh gã là ngu ngốc, là những con cừu non đợi gã mần thịt, gã hứng thú nhìn người khác vò đầu bứt tay chạy vòng vòng trong những cái bẫy mà gã đặt ra.

Vì thế gã là người cuối cùng trên trái đất này có thể nghĩ đến chuyện gã có vấn đề và tìm sự giúp đỡ.

DSM-5 có tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh bằng tổ hợp các triệu chứng.

Phương thức chẩn đoán dựa trên danh mục các triệu chứng (chẩn đoán dựa trên việc bệnh nhân có hay không có triệu chứng này hơn là bệnh nhân có triệu chứng nặng hay nhẹ) giúp các bác sĩ chẩn đoán bệnh một cách dễ dành hơn.

DSM-5 có tất cả 7 triệu chứng làm tiêu chuẩn nhưng chỉ có ba triệu chứng là đủ để xác định bệnh lý.

Dù DSM-5 được viết dưới dạng danh mục triệu chứng, nhưng đồng thời các bệnh về rối loạn nhân cách cũng được định nghĩa dựa trên chiều hướng các triệu chứng.

Phần về bệnh ASPD thì được nhấn mạnh vào tính cách giả dối lừa người trục lợi.

Hệ thống chẩn đoán dựa trên chiều hướng nặng nhẹ của bệnh này vẫn giữ lại một số phần nối tiếp với hệ thống danh mục bệnh, cung cấp cho các chuyên viên, bác sĩ một mô tả tốt hơn về từng người bệnh và mức độ nặng nhẹ của bệnh mà người ấy mắc phải.

Tuy nhiên, một điểm khiếm khuyết của DSM-5 là nó xóa mờ đi ranh giới giữa tội phạm và bệnh lý.

Tiêu chuẩn này rất khó áp dụng lên một người không có quá khứ phạm tội.

Ví dụ như người này mắc ASPD nhưng rất giỏi trong việc che dấu hành vi của mình, và chưa bao giờ bị bắt thì rất khó để chính thức chẩn đoán người này mắc ASPD nếu dựa trên DSM.

Và nếu theo tiêu chẩn này thì có đến hơn 80% tội phạm trong tù mắc bệnh này.

Trường hợp của Lê Văn Luyện, các hành vi mất tính người của hắn dựa vào DSM-5 thì là các triệu chứng biểu hiện việc hắn có thể mắc ASPD.

Hắn có thể thản nhiên vạch kế hoạch giết người và bình tĩnh thực hiện nó, đuổi tận giết tuyệt nạn nhân, ngay cả em bé 18 tháng tuổi cũng không tha, dùng bộ mặt hiền lành, lợi dụng lòng thương của thân nhân, gia đình mình để che giấu tội ác (dọa nạt người cô không được khai báo mình ra) và lẩn trốn.

Ngay cả khi bị bắt thì hắn vẫn giữ thái độ bình thản, gương mặt không biểu cảm và chẳng có vẻ gì sợ hãi cả.

Không ai có thể tưởng tượng nổi việc Luyện giết hại cả 4 người trong nhà anh Ngọc xong, quay xuống vơ vét tài sản rồi thản nhiên mở tủ lạnh, lấy nước uống

Suốt quãng đường trên xe ô tô từ cột mốc 1057 về Đồn Biên phòng, chiều dài khoảng 5km, tên Luyện vẫn giữ thái độ bình thản.

Tuy nhiên, do quá khứ của hắn không có bằng chứng, biểu hiện gì về bệnh rối loạn đạo đức vì đa số mọi người nhận xét rằng hắn "hiền lành, ngoan ngoãn" nên không thể chính thức chẩn đoán hắn mắc ASPD được.

Một số tên giết người hàng loạt nổi tiếng khác như Dennis Lynn Rader và Henry Lee Lucas cũng có biểu hiện hệt như Lê Văn Luyện, là những tên giết người không có những biểu hiện đáng lo ngại về đạo đức, hành vi lúc còn trẻ, mà nó chỉ biểu hiện rõ ra và xâm phạm đến quyền lợi người khác lúc trưởng thành cho nên Lê Văn Luyện có thể nằm chung nhóm với những tên này dưới phần Adult antisocial personality disorder, có thể là trọng điểm nghiên cứu của các phòng nghiên cứu ( Other conditions that may be a focus clinical attention.) Đó là điểm khác biệt giữa chứng Antisocial disorder và Adult Antisocial Disorder, ngoài ra, trên mặt bằng chung, hai dạng này giống nhau.

Thế nhưng đây chỉ là suy đoán của tôi dựa trên các tình tiết mô tả từ báo chí nên có thể không đúng vì báo chí có khi làm quá các tình tiết lên.

Các đây khoảng hai năm, khi tôi mới vừa bắt đầu loạt bài tâm lý và bệnh chứng này thì bài đầu tiên tôi viết chính là bệnh ASPD, trong đó tôi có viết một đoạn ngắn về nguyên nhân gây bệnh.

Sẵn tiện đây thì copy qua bên này luôn để mọi người đỡ thắc mắc về nguyên nhân bệnh và đỡ lần mò chi cho lâu.

Bài này và bài đầu tiên tôi viết về mặt kiến thức thì hầu như không có gì khác nhau ngoại trừ bài đầu tiên thì dựa trên DSM-4 và tập trung vào các triệu chứng với các tên giết người hàng loạt làm ví dụ, còn bài này tôi dùng DSM-5 và tập trung chẩn đoán vào một nhân vật cố định với tiêu chuẩn chẩn đoán làm hướng dẫn nên có thể coi bài này là một bài cập nhật mới nhất đi ha.

Xét về mặt sinh học, những người mắc chứng bệnh này có hệ thần kinh giao cảm hoạt động rất ít, hoặc hầu như không hoạt động.

Về hệ thần kinh giao cảm, nó là một phần chính trong hệ thần kinh tự trị, phụ trách về các phản xạ không điều kiện.

Ví dụ như bạn ở nhà một mình giữa đêm, bỗng nhiên bạn nghe tiếng gì đó lạch cạch nơi cửa, cơ thể bạn không thể tự chủ được mà cảm thấy sợ hãi, tay đổ mồ hôi, cả người trong tình trạng căng thẳng.

Hệ thần kinh giao cảm chịu trách nhiệm cho những phản ứng vô điều kiện đó.

Nhưng những bệnh nhân ASPD lại hiếm, rất hiếm khi có những phản ứng sợ hãi này, nói cách khác là hầu như không có.

Bởi vì thế nên họ mới bị coi là "mắc bệnh" và vô cảm, không hề có cảm xúc đồng tình hay thương hại như tôi đã nói trên.

Viết dài, đánh máy mỏi tay rồi nên tôi dừng bài ở đây.

Nói tóm gọn lại là những kẻ mắc ASPD là những kẻ rất nguy hiểm, rất khùng điên, không biết sợ là gì.

Trong lúc đi tìm các nghiên cứu về phương thức điều trị bệnh, tôi đọc ở một số trang web, thay vì đề xuất phương thức chữa trị cho bệnh nhân thì họ đề ra các phương án làm thế nào để có thể sống chung và bảo vệ bản thân trước những người mắc ASPD.

Thông thường thì các bài viết mà tôi đọc được về các bệnh tâm lý thì da số tác giả đều có sự cảm thông và tội nghiệp trước bệnh nhân và thân nhân của ngườ bệnh, nhưng đối với bệnh nhân ASPD thì hầu hết tác giả chỉ bày tỏ sự đồng cảm với thân nhân mà thôi.

Giống như ASPD, trẻ em vị thành niên mắc bệnh Rối loạn đạo đức thì các chuyên viên tâm lý sẽ tập trung cha mẹ bệnh nhân và đề xuất phương thức quản lý, tiếp cận vấn đề, rắc rối do con họ gây ra.

Theo cách tôi nghĩ thì chắc là do các chuyên viên tâm lý bác sĩ đều không có biện pháp trước việc chữa trị cho bệnh nhân mắc ASPD hay rối loạn đạo đức cho nên họ tập trung vào thân nhân của người mắc bệnh, hy vọng những người này không bị bệnh nhân ASPD quậy cho điên lên, đồng thời có thể tự bảo vệ bản thân, phần nào đó quản lý con cái, anh em, thân nhân mắc bệnh của họ, đừng để nó ra ngoài gây hại cho xã hội.

Tóm lại của tóm lại, nạn nhân của người mắc bệnh ASPD theo cách nói của giới trẻ hiện giờ là trải dài từ chết đến bị thương!!!!

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
[Tâm Lý Học] Được Lòng Người và Tháp Nhu Cầu Của Maslow


Thỉnh thoảng từ blog, fanpage và ask tôi lại nhận được những câu hỏi như : Làm thế nào để đọc hiểu người khác?

Bạn có thể giới thiệu vài cuốn sách tâm lý để đọc vị người khác hay không?

Bạn thường đọc mấy sách như thế nào?

Thú thật khi nhận mấy câu hỏi như thế này tôi rất ngại trả lời, phần vì tôi rất ít đọc sách, có chăng chỉ đọc sách giáo khoa của trường.

Bởi vì với tôi, sách giáo khoa cung cấp những kiến thức cơ bản cần biết, còn lại phải phụ thuộc vào từng người để phát triển góc nhìn, suy nghĩ dựa trên những kiến thức cơ bản ấy.

Thế nên đọc sách giáo khoa là đủ, còn lại, hãy xông pha ra bên ngoài trải nghiệm, tự gom lấy kiến thức riêng cho bản thân vì những gì bạn đọc trong sách chưa hẳn đã dùng được với bạn.

Đọc trăm cuốn sách chẳng bằng lang bang ngoài đời.

Tất nhiên, mớ lí lẽ trên cũng coi như biện luận cho cái sự lười của tôi đi.

Phần còn lại thì với tôi, đa số những cuốn sách tâm lý về đọc vị người khác đều xoay quanh học thuyết căn bản trong bộ môn tâm lý mà tôi chuẩn bị nói dưới đây, được các tác giả phát triển dưới góc nhìn, kinh nghiệm của cá nhân họ.

Một khi bạn đã hiểu được thuyết đó bạn sẽ thấy đa số các cuốn sách bán ngoài kia có thể có cách diễn đạt khác nhau nhưng đều có chung một nguồn cội.

Học thuyết mà tôi muốn nói ở đây chính là tháp nhu cầu của Maslow.

Học thuyết này được Abraham Maslow giới thiệu vào năm 1943 trong bài viết "Thuyết Về Động Lực Con Người" của ông.

Học thuyết dựa trên sự quan sát của ông về bản năng của con người.

Tháp nhu cầu được mô tả theo hình kim tự giáp với những bậc lớn nhất, cơ bản nhất ở dưới cùng và mỗi bậc là mỗi nhu cầu cần thỏa mãn, khi nhu cầu bậc dưới được cung cấp đầy đủ thì con người sẽ hướng lên bậc cao hơn.

Nếu nhu cầu không được thỏa mãn trong thời gian dài thì sự cần thiết để thỏa mãn nhu cầu đó càng tăng lên.

Ví dụ như bạn càng nhịn ăn lâu thì bạn càng đói hơn.

Tháp nhu cầu cơ bản của Maslow gồm có năm tầng, từ dưới đếm lên:

-Tầng 1: Physiological needs- Nhu cầu sinh lý chính là nhu cầu ăn uống, ngủ nghỉ, tình dục.

-Tầng 2: Safety needs- Nhu cầu an toàn cảm giác yên tâm về nơi ở, công ăn việc làm, gia đình, sức khỏe.

-Tầng 3: Love-belonging need- Nhu cầu được giao lưu tình cảm, trực thuộc vào cộng đồng nào đó, được gia đình, bạn bè vui vầy.

Một số trang khác còn gọi nhu cầu này là nhu cầu được thuộc về, giao lưu, hòa nhập vào xã hội.

-Tầng 4: Self-esteem – Nhu cầu được kính trọng, cảm giác được tin tưởng và tôn trọng được tự tin.

-Tầng 5: Sefl actualization – Nhu cầu tự thể hiện bản thân, muốn sáng tạo, muốn thể hiện mình, muốn được người khác công nhận

Vị trí các tầng trong tháp nhu cầu có thể thay đổi theo từng xã hội.

Đối với những nước theo chủ nghĩa xã hội như Việt Nam, thì nhu cầu phụ thuộc vào xã hội, giao lưu tình cảm vượt lên trên nhu cầu được tự do, được thể hiện bản thân.

Còn đối với những nước theo chủ nghĩa tư bản thì họ tập trung vào cá nhân, cải thiện bản thân hơn.

Vậy thì học thuyết này có liên quan gì đến việc hiểu người khác suy nghĩ cái gì?

Ngược lại nó có liên quan rất lớn.

Mỗi người đều có động lực để làm việc, học tập để thỏa mãn năm nhu cầu này.

Nhìn một người bạn có thể đoán được họ ở tầng nào trong tháp nhu cầu, thông qua đó xác định được họ muốn tiến lên tầng thứ mấy và phần nào đoán được họ đang suy nghĩ gì và muốn gì vì những gì họ làm đều xoay quanh việc thỏa mãn tầng nhu cầu hiện tại và vươn lên tầng tiếp theo.

Ví dụ như người mới có công ăn việc làm ổn định sẽ có nhu cầu mong muốn được hòa đồng, được chào đón trong chỗ làm.

Đối với những người như vậy, chỉ cần bạn mỉm cười, khích lệ họ, họ sẽ cảm kích bạn rất nhiều.

Đối với những người đi làm lâu, họ có lượng đồng nghiệp bạn bè rồi thì họ sẽ tiến đến tầng nhu cầu được tôn trọng.

Với những người này thì việc bạn lắng nghe họ nói chuyện, hoặc chào họ bằng tên là đã thỏa mãn nhu cầu của họ, khiến họ yêu quý bạn hơn.

Còn với các bạn học sinh, sinh viên thì họ có nhu cầu được yêu thích, thuộc về một nhóm bạn bè nào đó, bạn chỉ cần cởi mở, nói chuyện với họ, hòa nhã, lịch thiệp vậy thì bạn đã gầy dựng được hảo cảm với họ rồi.

Phần lớn mọi người ở Việt Nam thuộc giai cấp trung lưu.

Tức là họ có chỗ ở, việc làm, hoặc đi học, có cơm ăn nước uống và không phải lo bị đói, bị khát.

Tức là phần lớn người ở Việt Nam đã thỏa mãn hai tầng cơ bản nhất trong tháp như cầu chính là tầng sinh lý và tầng an toàn.

Những hoạt động, suy nghĩ, hành động của họ vì thế sẽ xoay quanh việc thỏa mãn tầng thứ ba, thứ tư tức là nhu cầu được giao lưu tình cảm, và trực thuộc đoàn nhóm và nhu cầu được kính trọng.

Đặc biệt, đối với những bạn trẻ trong độ tuổi hai mươi, học sinh, sinh viên thì việc đáp ứng nhu cầu thứ ba và thứ tư dường như là cần thiết nhất, sự thiếu hụt trong nhu cầu này dễ dẫn đến các bệnh tâm lý như trầm cảm.

Trong số các cuốn sách thuộc về mảng hiểu được lòng người mà tôi đã được đọc thì tôi thích nhất cuốn Đắc Nhân Tâm của Dale Carnegie, theo ý kiến của riêng tôi thì đó là cuốn hay nhất, áp dụng thực tiễn của tháp nhu cầu mà tôi nói trên.

Vì vậy, tôi sẽ phân tích vài quy tắc trong cuốn Đắc Nhân Tâm dưới góc nhìn tháp nhu cầu để các bạn có thể hiểu rõ hơn.

Quy tắc thứ ba, "Phải nhớ rằng tên một người đối với người đó là một âm thanh quan trọng và êm tai hơn hết thảy những âm thanh khác".

Tức là muốn đạt được thiện cảm của một người, hãy luôn nhớ tên họ và gọi họ bằng tên đó chứ không phải bằng này, ê...

Vậy thì quy tắc thứ ba này là áp dụng tầng nào trong tháp nhu cầu?

Quy tắc này áp dụng tầng thứ tư, nhu cầu được kính trọng.

Tên là tài sản cha mẹ ban cho con cái từ khi mới ra đời và gắn liền với họ suốt cả cuộc đời.

Khi bạn được một người xa lạ chỉ gặp một hai lần mà nhớ tên mình, bạn sẽ cảm thấy như mình được tôn trọng và có ảnh hưởng đến người đó.

Việc Dale Carnegie khuyên bạn nên nhớ tên bất cứ người nào bạn gặp chính là khuyên bạn nên áp dụng tầng thứ tư.

Tôi đi làm ở một tiệm nail bên này để trang trải việc học, mỗi người khách tôi đều nhớ tên của họ, có một số người lâu lắm mới đến, nghe tôi chào họ bằng tên thì rất ngạc nhiên, họ cười vui vẻ và bảo rằng không ngờ tôi vẫn nhớ tên họ.

Và thế là những lần sau họ đến đều đòi tôi làm móng cho họ.

Tôi có được những người khách trung thành với mình đều là nhờ việc áp dụng nhu cầu được kính trọng này.

Bất kể họ thuộc tầng lớp nào, họ luôn có nhu cầu mong muốn người khác coi trọng thế nên hễ đến tiệm tôi làm móng, tôi đều mỉm cười chào đón họ mặc kệ tiền hoa hồng họ cho tôi nhiều hay ít chứ không như những người khác chửi xéo hay móc ngoáy họ.

Bởi thế nên mỗi khi có khách hàng tranh chấp gì, lời tôi nói luôn được họ lắng nghe và suy nghĩ, hoặc ít ra là tôi chưa bị chửi bằng những từ ngữ nặng nề.

Tôi cho họ sự tôn trọng, họ cũng làm như vậy với tôi.

Một số các quy tắc được kể ra trong cuốn này đều là áp dụng thực tiễn của tầng thứ tư này.

Ví dụ như biết chăm chú nghe; và khuyến khích người khác nói tới họ, một người kêu nài, phản kháng chỉ để tỏ cái quan trọng mình và mong muốn người khác chú ý đến.

Hôm bữa có cô em tâm sự với tôi rằng cô mới cãi nhau với ba mẹ và buồn lắm, giờ đây cô chỉ muốn trốn trong cái góc của mình, không muốn nói chuyện với ai hết.

Phải làm sao để trung hòa các mối quan hệ đây?

Tôi dùng cái nhu cầu được tôn trọng này để khuyên em mà trong cuốn Đắc Nhân Tâm viết lại là

Vậy muốn cho người khác theo ý kiến mình, xin bạn nhớ quy tắc thứ ba sau này:

"Khi bạn lầm lỡ, hãy vui lòng nhận lỗi ngay đi".

Tôi bảo với em, khi ba mẹ la em, dù em nghĩ mình có lỗi hay không cũng phải xin lỗi ba mẹ trước vì họ la em có nghĩa là họ phiền lòng về em, dù bất cứ lý do gì đi chăng nữa, làm cha mẹ phiền lòng cũng là một lỗi.

Ngoài ra, việc em cãi nhau với ba mẹ chính là việc em đi ngược lại nhu cầu được tôn trọng tôn trọng của họ.

Đa số người lớn lúc nào cũng nghĩ là ý kiến họ đúng, em là hậu bối, em cãi lại họ chẳng khác nào bảo họ là sai rồi, lòng tự tôn của họ sao mà chịu được, cơn giận nổi lên, làm sao mà họ nghe em?

Họ cũng như em, chăm chăm bảo vệ ý kiến của mình.

Dù cho họ biết là họ sai, họ cũng sẽ không nhận, vì thế chẳng khác nào bảo họ thua cả một đứa con nít.

Vậy thì em có thể làm gì?

Việc đầu tiên là em phải hạ cơn giận của họ xuống bằng cách xin lỗi.

Vì như thế họ sẽ cảm thấy em biết rằng họ đúng, em tôn trọng họ, lời nói của họ em để trong lòng.

Em làm thế chính là em đảm bảo nhu cầu được tôn trọng của họ, điều đó sẽ khiến họ bớt giận lại.

Lúc này chính là lúc để em bày tỏ ý kiến của bản thân.

Khi em nói, "Con xin lỗi vì làm ba mẹ buồn.

Ba mẹ có thể nghe con nói một số suy nghĩ của con được không?" một cách nhẹ nhàng, khép nép, họ sao có thể từ chối, không cho em nói ra suy nghĩ của mình chứ?

Nếu từ chối thì chính là tát ngược họ lại, chứng minh rằng họ là người nhỏ nhen, không biết lắng nghe, không biết lý lẽ.

Việc em xin lỗi trước rồi bày tỏ ý kiến sau với tông giọng nhẹ nhàng, và phải đầy vẻ hối hận buộc họ vào tình huống phải nghe em nói và suy nghĩ về những lời em nói, giúp em giải tỏa được bản thân, chứng tỏ rằng em cũng có suy nghĩ, còn giúp em thoát khỏi bị nói là mất dạy, bướng bỉnh.

Đó là một số quy tắc trong Đắc Nhân Tâm mà tôi thấy rõ nhất việc áp dụng nhu cầu thứ thứ tư vào thực tiễn.

Và hầu hết những nguyên tắc trong quyển sách này đều xoay quanh việc đáp ứng nhu cầu được tôn trọng của người khác để đổi lấy sự tôn trọng và lắng nghe của người khác dành cho mình.

Một số các quyển sách khác mà tôi đọc thường chọn diễn giải từng cung bậc nhu cầu theo góc nhìn tác giả.

Như những cuốn Hạt Giống Cho Tâm Hồn, Đừng Bao Giờ Từ Bỏ Ước Mơ chọn nhu cầu thứ năm, nhu cầu được thể hiện bản thân, sáng tạo, được người khác công nhận để mở rộng ý tưởng.

Hay có những cuốn như Yes or No- Những quyết định thay đổi cuộc sống, nhấn mạnh vào việc bạn nên quyết định làm chuyện bạn cần làm hơn là những chuyện bạn muốn làm, dẫn dắt bạn nhìn nhận lại những nhu cầu cần được thỏa mãn của bản thân, hay nói cách khác, xác định vị trí của bạn trong tháp nhu cầu và những gì bạn cần làm để hướng lên trên.

Nhu cầu được tôn trọng dường như luôn đi kèm với nhu cầu được yêu thượng, trực thuộc xã hội.

Với các bạn học sinh, sinh viên thì việc có một nhóm bạn chơi thân hay một hai người bạn thân kè kè bên nhau là điều quan trọng hơn cả việc có bạn trai.

Tôi từng nhận rất nhiều câu hỏi bày tỏ nỗi lòng vì bị bạn bè xa cách, anh chị, ba mẹ không hòa thuận, việc này phản ánh nhu cầu thứ ba chưa được đáp ứng dẫn đến việc bạn trở nên buồn bã thường xuyên hơn, qua thời gian dài bạn có thể phát triển thêm một số bệnh tâm lý như trầm cảm.

Đối với mỗi người tôi có mỗi lời khuyên khác nhau.

Nhưng cái mà tôi muốn nói ở đây với các bạn, người nào đã làm anh, làm chị, hoặc chuẩn bị làm cha, làm mẹ tương lai chính là hãy bảo đảm nhu cầu thứ ba và thứ tư với con em bạn để có được một mối quan hệ tốt nhất, hãy tôn trọng, yêu thương, và lắng nghe khi chưa là quá muộn.

Tôi nghĩ mình viết thế này đã đủ dài để kết thúc rồi.

Hy vọng các bạn có thể đọc và hiểu được những gì tôi muốn truyền tải.

Chỉ cần bạn hiểu được tháp nhu cầu này và thử phân tích vài cuốn sách nói nói về việc có được lòng người khác dưới góc nhìn này bạn sẽ thấy nó thường xoay quanh tầng thứ ba, thứ tư là nhu cầu được yêu thương và tôn trọng.

Còn những cuốn sách về tự lực (self help) thì thường xoay quanh tầng thứ tư và tầng thứ năm, nhu cầu được tôn trọng, tự tin, và nhu cầu được thể hiện bản thân.

Việc hiểu được tháp nhu cầu này sẽ giúp bạn dễ dàng hơn trong việc hiểu được người khác suy nghĩ gì và mình phải làm sao.

Tuy nhiên việc áp dụng tháp nhu cầu này không phải là dễ và đúng trong mọi trường hợp, nó là học thuyết cơ bản còn cần bạn trải nghiệm và sửa đổi sao cho hợp lý với đời sống và mục đích của bạn.

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
Lệch Lạc Tình Dục - Phô Dâm, Thị Dâm và Loạn Dục Cọ Xát


Thỉnh thoảng đọc trên báo hay trên các trang mạng diễn đàn của giới trẻ, thỉnh thoảng tôi lại thấy những tin cảnh báo về những kẻ bệnh hoạn thích khoe của quý, hay thích ăn trộm đồ lót của các bạn nữ.

Đa số các bạn đều rất băn khoăn sợ hãi những kẻ biến thái ấy gây bất lợi gì cho mình.

Ngay cả trên ask, tôi cũng nhận được câu hỏi về vấn đề này khiến tôi nuôi ý định viết một bài về các chứng bệnh tâm lý lệch lạc tình dục.

Nhưng do bản thân quá bận, cộng thêm quá nhiều dự định nên đến bây giờ mới có thời gian mà viết về chủ đề này.

Hy vọng nó không là quá muộn và các bạn nữ khi đọc có thể hiểu thêm về tính chất, cũng như suy nghĩ, mong muốn của những tên biến thái ấy để qua đó bảo vệ bản thân mình.

Lệch lạc tình dục trong tiếng anh có tên là Paraphilia Disorder, tên này nếu dịch ra theo nghĩa đen của nó chính là tình yêu vượt mức bình thường.

Đặc điểm chính của các bệnh về lệch lạc tình dục là sự thôi thúc tình dục dai dẳng và những ảo tưởng kỳ quặc có liên quan đến những thứ/ vật không phải là người, sự đau đớn tủi nhục của bạn tình, trẻ em.

Theo DSM-5, tình dục khác thường không giống lệch lạc tình dục nếu như nó xảy ra giữa hai người trưởng thành và cả hai cùng chấp thuận sự khác thường này.

Nói cách khác, tình dục khác thường chỉ về sự thôi thúc và hứng thú tình dục với những thứ khác không phải là bộ phận sinh dục.

Ví như trong SM, bạn chỉ đạt đến cực khoái khi bạn gây ra đau đớn bằng cách đánh (không phải là hành hạ) bạn tình, còn bạn tình của bạn chỉ lên đỉnh khi được người khác đánh hay ngắt nhéo.

Đây chính là tình dục khác thường, nhưng nó sẽ không bị coi là lệch lạc tình dục nếu bạn và người tình của bạn hiểu và cả hai cùng đồng ý phương thức yêu này.

Nếu người tình của bạn không đồng ý mà bạn ép uổng người ta khiến người ta bắt buộc phải làm với bạn và khiến họ sợ hãi, buồn bã thì bạn sẽ bị coi như là mắc bệnh lệch lạc tình dục.

Các bệnh về lệch lạc tình dục bao gồm : Phô dâm, Thị dâm, Loạn dục cọ xát, Ái dâm, Khổ dâm, Ái tử thi, Ái nhi, Ái vật, Thính dâm, Loạn dục cải trang. . .

Nhưng vì tính chất bài viết là giúp cho các bạn nữ hiểu và phòng tránh các trường hợp mà theo tôi là dễ gặp khi các bạn ở ký túc xá nữ và nơi công cộng nên bài viết này tôi chỉ chú trọng vào Phô dâm, Thị dâm, và Loạn dục cọ xát.

Phô dâm nếu giải thích ngắn gọn chính là khoe của quý với những người lạ mặt hoặc những người không có ý định nhìn.

Triệu chứng của bệnh này chính là sự hưng cảm tình dục mãnh liệt khi để lộ bộ phận sinh dục của mình trước những người không biết, không đề phòng, biểu hiện qua những ý tưởng, sự thúc đẩy và hành vi, hoặc những ảo tưởng về tình dục như vậy gây khó khăn trong cuộc sống, công việc của một người.

Triệu chứng này phải kéo dài trong vòng ít nhất sáu tháng để có thể chẩn đoán chính thức.

Hành vi khoe của quý này được biết đến dưới một cái tên hoa mỹ khác là "sự phô bày khiếm nhã" Khoảng một nửa số đàn ông mắc bệnh này thường có tình trạng cương lên và thủ dâm tại chỗ khi phô bày của quý.

Số còn lại thì khoảng một thời gian ngắn sau mới thủ dâm, vừa làm vừa tưởng tượng lại phản ứng của nạn nhân khi hắn trưng bày miễn phí "của cải" của hắn.

Mục đích của những gã này thường là mong muốn nhìn thấy nạn nhân sợ hãi, sốc, hoảng hốt, đôi lúc những kẻ này cũng mường tượng, ảo tưởng rằng nạn nhân sẽ động tình lại với gã.

Bọn chúng rất hiếm khi chạm vào hay quấy rối nạn nhân.

Vì thế nên các bạn nữ hãy yên tâm phần nào nhé, hầu như có rất ít trường hợp những kẻ phô dâm cưỡng bức nạn nhân.

Theo suy nghĩ của bản thân tôi thì lúc ấy bọn chúng tay bận "làm việc", đầu bận bay bổng trong mớ ảo tưởng biến thái rồi.

Bệnh phô dâm gần như chỉ có ở đàn ông.

Những kẻ này bắt đầu màn trình diễn của quý từ khi còn là teen hoặc đầu hai mươi.

Còn khi trưởng thành thì hầu hết đã kết hôn hoặc có bạn tình.

Phô dâm ít khi nào là hành động đơn lẻ chỉ xảy ra một hai lần, đàn ông, thanh niên một khi đã bắt đầu hành vi này thì có xu hướng làm thường xuyên.

Trong thị dâm thì sự hưng cảm tình dục chỉ có khi kẻ này đang rình mò quan sát nạn nhân (thường là người lạ và không biết mình bị quan sát) trần truồng, hoặc đang trong chuyện mây mưa với người khác.

Hầu hết mọi người, nhất là đàn ông, thường bắt đầu hưng phấn khi thấy người khác khỏa thân một phần.

Nhưng những kẻ thị dâm này lại khác, bọn chúng không thể hưng phấn nếu người bị quan sát biết là mình đang bị nhìn trộm.

Chúng có thể ảo tưởng rằng nạn nhân sẽ có quan hệ tình dục với chúng nhưng hầu như những gã này rất hiếm khi thực sự liên lạc với nạn nhân.

Hành vi của bọn chúng đúng với nghĩa rình mò, tức là chỉ thích núp và nhìn lén chứ không hề có ý định chạm vào nạn nhân, hơn nữa còn bọn chúng còn có xu hướng giữ khoảng cách với nạn nhân.

Tuy nhiên cũng có vài trường hợp ngoại lệ xảy ra dù là rất ít.

Những kẻ thị dâm, cũng giống như phô dâm thường thủ dâm và đạt cực khoái khi rình mò nạn nhân lúc đó hoặc là vừa làm vừa nhớ lại những hình ảnh chúng thấy.

Với loạn dục cọ xát nếu bạn nào hay xem truyện tranh nhật sẽ thường thấy cảnh nhân vật chính bị ông chú già nào đó cạ "của cải" của mình vào những phần nhạy cảm như mông, ngực, đùi...

Đó là hành vi của những kẻ mắc loạn dục cảm xúc.

Những kẻ này thường mặc đồ rất nghiêm túc, chỉn chu nhưng chỉ đạt hưng cảm khi ma sát của quý vào người người khác.

Người mắc loạn dục cảm xúc thường hay chọn chỗ đông người như tàu điện ngầm, công viên, vỉa hè để bọn chúng có thể dễ dàng tẩu thoát sau khi xong chuyện.

Giống như bệnh phô dâm, những người mắc loạn dục cảm xát hành động thường xuyên và thường cố gắng chạy trốn càng nhanh càng tốt sau khi chạm và cọ xát vào nạn nhân.

Họ không muốn có những tiếp xúc gợi dục xa hơn nữa với nạn nhân.

Tức là họ sẽ không có xu hướng cưỡng bức nạn nhân mình.

Những nghiên cứu sinh lý về loạn dục tình dục thường tập trung vào hệ thống nội tiết bao gồm các hóc môn có liên quan đến các hoạt động tình dục.

Nhiều nghiên cứu về các tên tội phạm tình dục bị bắt cho thấy bằng chứng về hàm lượng testosterone cao có thể dẫn đến các hành vi, suy nghĩ lệch lạc tình dục.

Những nghiên cứu này nên được đọc với thái độ trung lập kèm theo một chút hoài nghi về độ chính xác hoàn toàn của nó.

Thứ nhất là những người tham gia nghiên cứu này không được chọn ngẫu nhiên mà chỉ gói gọn trong phạm vi những tên tội phạm tình dục bị bắt, cho nên kết luận từ những nghiên cứu này không chắc có thể dùng để nói về tất cả các bệnh nhân mắc chứng lệch lạc tình dục.

Thứ nhì, tỷ lệ những tên tội phạm này dùng rượu, dùng thuốc rất cao, nên khó có thể khẳng định là do hàm lượng testosterone cao dẫn đến lệch lạc tình dục, hay đó là hệ quả từ việc dùng chất kích thích và dùng rượu quá nhiều.

Cấu trúc não bất thường cũng có thể dẫn đến hành vi tình dục khác thường.

Một số tài liệu có chỉ rõ ra những người mắc chứng ái nhi và phô dâm có thùy não thái dương bên trái bất thường.

Sự bất thường này có thể thấy rõ qua những bất thường về phản ứng giữa các dòng điện tế bào và các bài kiểm tra thần kinh thấp dưới mức bình thường.

Các yếu tố xã hội dẫn đến lệch lạc tình dục bao gồm bệnh nhân bị lạm dục tình dục khi còn nhỏ, hay nghe về các hành vi tình dục bất thường của cha mình, thiếu tự tin vào bản thân, thiếu môi trường với hình mẫu cha mẹ cố định trong việc hình thành và giáo dục kiến thức với tình dục (ví dụ như cha hay mẹ thay người tình như thay áo), thiếu tự tin và khả năng xây dựng và giữ vững các mối quan hệ xã hội.

Không biết, hoặc biết quá ít về tình dục loài người cũng có thể dẫn đến lệch lạc tình dục (có một số trường hợp về các cậu bé, cô bé người rừng, sống cùng với các loài động vật, nếu không giáo dục và chỉ bảo rõ ràng thì các em có thể bị lệch lạc tình dục khi lớn lên).

Mặc dù đặc điểm chính của các chứng lệch lạc tình dục là vấn đề về hưng cảm tình dục, nhưng bệnh này có thể ảnh hưởng đến đời sống và các mối quan hệ xã hội của bệnh nhân.

Những bệnh nhân mắc chứng này thường cô độc, bấp bênh, cách ly và thiếu hụt các kỹ năng xã hội.

Độc hại hơn, các hành vi lệch lạc tình dục sẽ càng ăn sâu bởi vì nó khiến cho bệnh nhân có được cảm giác hưng cảm cực kỳ nhất thời khi đạt cực khoái và cả ảo tưởng viển vông rằng bệnh nhân sẽ có mối quan hệ tình cảm mặn nồng với nạn nhân.

Từ các nguyên nhân, yếu tố có thể gây ra lệch lạc tình dục mà tôi đã nói trên, chúng ta có các phương pháp chữa trị dựa trên từng nguyên nhân.

Liệu pháp chữa trị nhận thức hành vi được sử dụng rộng rãi với các buổi giáo dục về tình dục, quan hệ xã hội, xử lý áp lực.

Tuy nhiên, kết quả không được khả quan mấy, tỷ lệ bệnh nhân tái phạm tội sau khi được trị liệu vẫn cao xấp xỉ so với bệnh nhân không được trị liệu.

Một phương thức chữa trị khác nữa là dùng thuốc làm giảm hàm lượng testosterone.

Các ảo tưởng về tình dục và các trường hợp quấy rối tình dục đều giảm hẳn với tất cả các bệnh nhân dùng thuốc.

Nhưng nghiên cứu này thiếu nhóm kiểm tra (nhóm không dùng thuốc, dùng so sánh sự khác biệt giữa dùng thuốc và không dùng thuốc) thế nên tính hiệu lực của nghiên cứu này cần được xem xét.

Với những bạn sống trên đất Mỹ có thể dùng ứng dụng trên iPhone tên là Sex Offender Tracker.

Ứng dụng này hiển thị những người đã từng phạm tội tình dục và đã được thả ra đang ở gần nơi bạn sống.

Theo luật của Mỹ ở trên 50 tiểu bang, tất cả những tội phạm tình dục sau khi được thả ra phải đi đăng ký tên cũng như tội danh ở các tòa thị chính.

Sau đó tên tuổi của những tên tội phạm này sẽ được thông báo cho khu dân cư sống quanh vùng mà tên tội phạm ấy sẽ sống với mục đích là giảm thiểu khả năng phạm tội lại của những gã này và người dân sống quanh khu vực có thể bảo vệ con cái và bản thân mình tốt hơn nếu biết được có một người nguy hiểm như vậy sống gần đây.

Tuy đây là luật nhưng vẫn có nhiều phản đối xoay quanh luật này về tính nhân đạo của nó.

Với những người phản đối, họ cho rằng luật này chính là một sự trừng phạt kéo dài với những người lỡ lầm và đã chuộc tội mình qua những năm tháng tù giam.

Như tôi đã nói từ đâu bài, những kẻ mắc thị dâm, phô dâm và loạn dục cọ xát không có ý định tiếp xúc trực tiếp với các nạn nhân mà mục đích của bọn chúng chỉ là rình mò, khoe của quý và cọ xát nên các bạn đừng lo là những kẻ đó sẽ cưỡng bức mình.

Các bạn nữ khi gặp phải những kẻ phô dâm, tốt nhất là các bạn nên bình tĩnh, lờ hắn và tiếp tục đi.

Các bạn có thể gọi điện thoại cho bạn mình và làm như bạn đang gọi điện thoại báo công an vậy.

Đừng nên nhận xét hay nói những câu chọc giận hắn (như nhỏ quá v...v) vì điều này có thể khiến cho hắn tức giận và gây ra những phản ứng bạo lực.

Nếu bạn bị theo dõi thì hãy đi vào chốn đông người như nhà hàng, quán ăn, bệnh viện, khách sạn... hoặc đi đến nhà dân và nhờ người ta gọi điện cho cảnh sát hoặc cho người khác đến đón bạn, đừng nên đi thẳng về nhà vì kẻ theo dõi bạn sẽ biết bạn sống ở đâu và cái này thì...cực kỳ không tốt.

Để tránh bản thân trở thành những diễn viên bất đắc dĩ trong các video quay trộm thì các bạn khi đi các nhà vệ sinh công cộng nên chú ý tình huống xung quanh mình xem có kẻ nào khả nghi hay không.

Bạn mình gặp phải tình huống khi bạn ấy vào phòng vệ sinh nữ thì nghe phòng bên cạnh có tiếng cười giỡn, giậm chân của hai đứa con gái, bạn ấy chú ý lắng nghe và đứng im lặng khoảng một hai phút thì thấy có hai cái đầu của hai đứa con gái từ buồng bên cạnh thò qua nhìn xuống.

Do vách ngăn không chạm đến trần nên chỉ cần đứng trên bồn cầu là đã có thể nhìn qua buồng bên.

Hai đứa đó thấy bạn mình nhìn ngược lại và hỏi "Bọn mày đang làm cái gì đấy" thì hét ầm lên và chạy ra.

Bạn mình sau đó đi gặp quản lý nhà hàng và kể lại tình huống.

Ngoài ra các bạn nữ đi vào phòng vệ sinh thì nên nhìn coi xem có tấm áp phích, vật gì lạ có thể giấu camera hay không và trước khi thay quần áo ở nhà hay ở phòng trọ thì nhớ đóng các cửa lại cho cẩn thận.

Rất tiếc là không có biện pháp nào hữu dụng để chống lại những kẻ mắc loạn dụng cọ xát cả.

Ở Nhật Bản thì phụ nữ được khuyến khích mang theo cây kim hay vật nhọn để đâm vào đùi những kẻ bệnh hoạn này khi bọn chúng hành động.

Bản thân mình nghĩ thì hiện tại các bạn nữ không nên quá lo lắng về những kẻ này vì tình trạng giao thông nước ta chưa tạo đủ điều kiện để những kẻ này hành động vì chủ yếu bọn chúng hành động trên tàu điện ngầm hoặc những nơi cực kỳ cực kỳ đông đúc để bọn chúng có thể chạy trốn mà ở Việt Nam ta thì chưa có tàu điện ngầm, nhưng các bạn cũng nên mang theo vật nhọn gì ấy để phòng ngừa và bảo vệ bản thân.

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
Rối Loạn Nhân Cách Hoang Tưởng (Paranoid Personality Disorder)


Khi học về rối loạn nhân cách, tôi may mắn được một vị khách mời là bác sĩ tâm lý điều trị tại một bệnh viện nổi tiếng đến làm giảng viên khách mời.

Điều duy nhất tôi tiếc nuối chính là do mình quá ham ngủ mà đến muộn gần hai mươi phút bài giảng thế nên tôi đã bỏ lỡ một số thứ hay.

Thầy giảng bài rất cuốn hút khiến cho 80 phút trôi qua trong chớp mắt và điều tôi thích nhất trong bài giảng ngày hôm đó chính là việc thầy diễn tả các bệnh rối loạn nhân cách dưới góc nhìn về bảy tội lỗi lớn nhất của con người trong Kinh Thánh chính là phẫn nộ, phàm ăn, lười biếng, kiêu ngạo, đố kỵ, trụy lạc và tham lam.

Theo thầy, bảy tội lỗi đó tượng trưng cho bảy tính cách xấu xa hủy hoại lòng nhân từ, thấu hiểu của con người.

Chứng rối loạn nhân cách chống đối xã hội mà tôi nói trong bài viết hai, ba tuần trước về Hannibal Lecter chính là bệnh rối loạn nhân cách đại diện cho Trụy Lạc (Lust) luôn có khao khát, mong muốn mãnh liệt với quyền lực, tiền bạc, chỉ quan tâm đến bản thân và sẵn sàng xâm phạm quyền lợi của người khác để mang lại lợi ích cho mình.

Tuy nhiên chúng ta có đến 9 bệnh rối loạn nhân cách, và trong bảy tội lỗi của con người, phàm ăn (là ví dụ trái ngược của sự điều độ) được dùng làm đại biểu cho rắc rối trong sự phát triển tâm lý từ thuở nhỏ.

Bất kỳ sự quá mức nào cũng có thể dẫn đến sự bất bình thường trong việc phát triển tâm lý.

Ví dụ trải nghiệm quá mức thống khổ đau đớn như đánh đập, lạm dụng tình dục có thể dẫn đến bệnh trầm cảm, lưỡng cực, hay bệnh đa nhân cách.

Còn lại sáu tội lỗi được chia cho hai trong ba nhóm bệnh rối loạn nhân cách chính là nhóm B và C, mỗi nhóm có những đặc điểm tính cách riêng biệt tượng trưng.

Bệnh rối loạn nhân cách chống đối xã hội – ASPD nằm trong nhóm B với những đặc điểm về tính cách như kịch tính, thất thường và đầy xúc cảm.

Nhóm C tôi sẽ bàn tới trong loạt bài kế tiếp vì sợ luồng thông tin quá nhiều mọi người sẽ không hiểu hết được.

Riêng nhóm A thì không có tội lỗi nào làm đại diện nhưng nhóm được gọi là nhóm kỳ quặc (The Weird- tên thầy tôi đặt) với tính cách, hành vi kỳ dị, khó hiểu.Và trong bài viết ngày hôm nay, chúng ta sẽ nói về một bệnh rối loạn nhân cách nằm trong nhóm A – Bệnh Hoang Tưởng (Paranoid Personality Disorder)

Nhóm A cũng là nhóm bệnh rối loạn nhân cách có liên quan đến các loại tội phạm giết người hàng loạt và thảm sát hàng loạt thế nên chúng ta hãy bắt đầu với một case study trước khi đi vào triệu chứng, chẩn đoán và chữa trị nhé.

Anh C. người Hàn Quốc, 23 tuổi.

Khi còn bé, anh là một đứa trẻ im lặng, lạnh lùng và dường như có chút xa cách với gia đình.

Anh chuyển đến Mỹ sinh sống vào năm 8 tuổi, lúc học tiểu học, anh được bạn bè và thầy cô nhận xét là một học sinh ngoan và giỏi toán, tuy có chút cô độc nhưng đó là do anh chọn như vậy.

Khi lên trung học và cấp ba thì C bị bạn bè cùng trang lứa bắt nạt và chọc ghẹo.

Có một lần thầy giáo dọa là sẽ cho anh ở lại lớp nếu anh không chịu tham gia thảo luận cùng bạn thì C mới chịu mở miệng nhưng nói rất nhỏ, rời rạc và trầm thấp như thể anh đang ngậm cái gì trong miệng vậy.

Lúc học đại học, C được giáo viên nhận xét là học sinh cá biệt, có vấn đề.

C học chuyên ngành anh văn nhưng những bài anh viết lúc nào cũng tối tăm, u ám và dọa dẫm.

Có lần C còn bị giáo viên mời ra khỏi lớp vì hành vi của anh gây ảnh hưởng đến lớp học và các sinh viên.

C bị tố cáo là theo dõi hai sinh viên nữ và còn chụp những bức ảnh từ chân hướng lên của các bạn nữ khác.

Có một lần C gửi tin nhắn có ý định tự tử tới bạn cùng phòng của mình.

Người bạn này báo cảnh sát và anh bị giám sát.

Tuy C bị tòa bắt đi khám bác sĩ tâm lý nhưng sau hai lần khám thì họ đề nghị không giữ anh trong viện tâm thần mà cho điều trị tại nhà.

Vào 7h15' sáng ngày 16 tháng 4 năm 2007, C cầm theo hai khẩu súng bắn chết bạn cùng phòng của mình và bắt đầu cuộc thảm sát đẫm máu khiến toàn nước Mỹ rúng động và làm dấy động lên làn sóng yêu cầu kiểm soát nghiêm ngặt hơn về súng và tình trạng sức khỏe, đặc biệt là tình trạng tâm lý của học sinh sinh viên khi nhập học (Do ở Mỹ, hồ sơ sức khỏe chỉ có bác sĩ và bệnh nhân được biết, bác sĩ không được đưa hồ sơ bệnh án cho bất kỳ đoàn thể, cơ quan nào mà không có sự đồng ý của bệnh nhân, do đó trường học không có hồ sơ sức khỏe của học sinh, sinh viên, cũng như không hề biết về tình trạng tâm lý của họ).

Cuộc thảm sát đó chính là cuộc thảm sát đại học công nghệ Virginia.

Hung thủ chính là Seung Hui Cho

Bức thư nằm trong gói đồ Cho gửi cho đài NBC cùng ngày cuộc thảm sát xảy ra chứa đầy giận dữ,

"Các người có cả trăm tỷ cơ hội để ngăn chặn điều này xảy ra nhưng các người không làm.

Các người quyết định để tôi đổ máu.

Các người ép tôi vào bước đường cùng, chỉ cho tôi một sự lựa chọn duy nhất.

Quyết định đã nằm trong tay các người.

Và bây giờ những đôi tay ấy sẽ đẫm ướt máu tươi mà không bao giờ gột rửa cho sạch được."

"Cảm ơn, vì các người mà tôi có thể chết như Chúa Jesu, người đã truyền cảm hứng cho các thế hệ yếu đuối và không thể tự bảo vệ bản thân."

Chưa có một chẩn đoán chính thức về Seung Hui Cho mặc dù có rất nhiều giả thuyết về chứng bệnh tâm thần mà Cho mắc phải, trong đó có chứng Tâm thần phân liệt dạng hoang tưởng được nhiều nhà tâm lý học đồng ý nhất.

Vì để tránh nhiễu thông tin vì mức độ phức tạp, chúng ta sẽ tập trung phân tích dạng rối loạn nhân cách hoang tưởng mà Cho mắc phải.

Bệnh nhân mắc chứng rối loạn nhân cách hoang tưởng thường không tin tưởng người khác, lúc nào cũng nghi ngờ mọi người nghĩ xấu hay có ý đồ xấu với mình mà không có bằng chứng hay lý do chính đáng.

Người mắc chứng này tin rằng mọi người ngoài kia muốn hãm hại, lợi dụng, sỉ nhục họ.

Với bạn gái/trai hay chồng/vợ của mình, họ lúc nào cũng nghĩ là người kia ngoại tình, không chung thủy mặc dù họ không có bằng chứng gì để chứng minh điều đó.

Họ đổ lỗi cho người khác cho những điều không may xảy ra với họ.

Họ luôn luôn đúng, chỉ có người khác sai.

Người mắc chứng rối loạn nhân cách hoang tưởng thường hay chỉ trích, ganh tỵ, đổ thừa...

Họ bỏ rất nhiều công sức để tự bảo về mình và xa lánh với mọi người, tấn công người khác khi họ cảm thấy bị đe dọa bởi người đó.

Lúc nào cũng giận dữ, thù dai, ganh tỵ một cách bệnh hoạn, suy nghĩ lệch lạc.

Những hành động, lời nói, cử chỉ bình thường, hay mang tính tốt đẹp đều bị họ coi là xấu xa, cười nhạo họ.

Vì thế nên họ không bao giờ tâm sự với người khác, không cho phép bản thân thiết lập bất kỳ mối quan hệ nào.

Cảm xúc chủ đạo trong họ chính là giận dữ và nghi kỵ.

Nói ngắn gọn, đặc điểm chính của rối loạn nhân cách chính là,

Đa nghi (Suspect)Không tha thứ, thù dai (Unforgiving)Nghi ngờ người khác lợi dụng, hãm hại mình (Suspect)Nóng tính, dễ tấn công người khác (Perceives attacks on character)Kẻ thù hay bạn bè?

Không tin vào lòng trung thành (Enimies or Friend?)Không muốn tâm sự với người khác (Confiding – Reluctance)Cảm thấy bị đe dọa ngay cả từ những hành động bình thường (Threatening meaning read in benign remarks)

Mỗi chữ cái trong bảy gạch đầu dòng trên tạo thành chữ 'SUSPECT' – Nghi ngờ, cũng chính là đặc điểm nổi bật riêng biệt của bệnh rối loạn nhân cách hoang tưởng.

Mặc dù người thường ai cũng có nghi ngờ nhưng người mắc chứng rối loạn nhân cách hoang tưởng nghi ngờ tột độ dẫn đến gây hại cho người khác và hủy hoại các mối quan hệ cá nhân của người đó.

Hung thủ Cho có biểu hiện một số triệu chứng của bệnh này như nghi ngờ người khác muốn hại mình, muốn mình đổ máu, cách ly gia đình và xã hội, suy nghĩ lệch lạc, hành vi quá khích, vượt mức bình thường, đổ thừa mọi sự bất hạnh của mình là do người khác mang lại.

Chưa có nguyên nhân chính thức gây ra bệnh rối loạn hoang tưởng nên bệnh được giải thích dưới mô hình xã hội – sinh lý – tâm lý (biopsychosocial model).

Từ việc những người mắc chứng rối loạn nhân cách hoang tưởng có thân nhân mắc chứng tâm thần phân liệt cho thấy sự di truyền giữa hai bệnh này và gien có vai trò quan trọng.

Trải nghiệm thời thơ ấu như bị đánh đập, lạm dụng cho là một trong những nguyên nhân gây bệnh.

Giải thích dưới góc nhìn thuyết phân tâm học (psychoanalytic theory), các bệnh rối loạn nhân cách là hệ quả từ việc các cơ chế tự bảo vệ bản thân trong tiềm thức hoạt động không thống nhất.

Đối với bệnh rối loạn nhân cách hoang tưởng, cơ chế giải phóng suy nghĩ (projection) hoạt động không bình thường.

Giải phóng suy nghĩ chính là động lực, ý tưởng, mong muốn mà một người không thể nào giải quyết hay chấp nhận được thì sẽ được giải phóng ra thế giới bên ngoài và áp đặt vào người khác.

Theo suy nghĩ của mình, nếu cơ chế này không hoạt động thì có thể dẫn đến bệnh trầm cảm (Tự nhận tất cả mọi việc không may xảy ra đều là lỗi của mình trong khi thật ra nó không phải), còn nếu hoạt động quá mức thì dẫn đến rối loạn nhân cách hoang tưởng (Tất cả chuyện không hay xảy ra với mình đều là lỗi của người khác) .

Với những nhà khoa học theo phương pháp nhận thứ- hành vi, họ cho rằng những người mắc bệnh này là hệ quả từ những niềm tin ẩn giấu bên dưới rằng người khác lúc nào cũng lừa dối cộng thêm việc thiếu tự tin vào bản thân.

Với sự hoạt động bất thường của cơ chế tự bảo vệ bản thân, việc chữa trị phổ biến cho bệnh rối loạn nhân cách hoang tưởng cũng dựa trên thuyết phân tâm học.

Đa số bệnh nhân mắc chứng rối loạn nhân cách không cho rằng họ có vấn đề, do đó họ không tự đi khám hay tư vấn tâm lý, nhất là với người mắc chứng rối loạn nhân cách hoang tưởng.

Sự đa nghi khiến cho họ nghi ngờ tất cả mọi người khiến cho việc điều trị khó khăn vì chuyện ngưng điều trị giữa chừng xảy ra thường xuyên.

Chữa trị theo phân tâm học cần thời gian dài vì đó là phương thức điều trị gián tiếp.

Chuyên viên tâm lý sẽ không nói thẳng vào vấn đề mà bệnh nhân đang mắc phải, thay vào đó họ sẽ lắng nghe bệnh nhân nói nhiều hơn và thu thập thông tin.

Họ ngồi sau lưng bệnh nhân, không để cho cảm xúc của bệnh nhân ảnh hưởng đến mình hay của mình ảnh hưởng đến bệnh nhân vì điều đó dễ gây ra việc chẩn đoán sai lầm.

Vì tính chất nghi ngờ của bệnh nhân mắc chứng rối loạn hoang tưởng, chuyên viên liệu trị phải tốn rất nhiều công sức để gầy dựng niềm tin nơi bệnh nhân.

Ngày qua ngày, bệnh nhân sẽ tin tưởng họ thêm và sẽ tiết lộ ra nhiều suy nghĩ lệch lạc khác.

Họ sẽ phải giải quyết các suy nghĩ lệch lạc này một cách cẩn thận để không mất đi mục tiêu trị liệu và đồng thời không làm dấy lên nỗi nghi ngờ của bệnh nhân.

Những sự nghi ngờ vô căn cứ của bệnh nhân đa phần là hoang tưởng thế nên không thể giải thích cho bệnh nhân theo logic được vì họ sẽ không nghe theo và điều đó có thể hủy hoại sự tin tưởng giữa họ và chuyên viên trị liệu.

Mục tiêu cuối cùng của phương thức chữa trị này là giúp cho bệnh nhân có một số kỹ năng hòa nhập cơ bản, cũng như giao tiếp xã hội, và niềm tự tin nơi bản thân.

Do đa nghi nên bệnh nhân thường không dùng thuốc, tuy nhiên một số thuốc như chống trầm cảm, lo lắng có thể được kê đơn nếu bệnh nhân có triệu chứng lo âu quá mức (Anxiety disorder), là hệ quả từ việc nghi kỵ và không tin tưởng bất kỳ ai.

Hiện nay chưa có cách nào để phòng bệnh này nhưng một số kế hoạch trị liệu giúp cho bệnh nhân nào có xu hướng mắc bệnh học cách giải quyết tình huống tốt đẹp hơn.

Một số các show truyền hình tội phạm Mỹ như Criminal Minds trong mùa một khoảng ep 5 cho đến ep 10, họ thường dùng Paranoid Personality Disoder hay Paranoid Disorder để miêu tả một tên tội phạm nào đó hành động hung hăng, nóng vội đồng thời cũng cẩn thận.

Theo ý tôi, nhà làm phim hay biên kịch không lột tả được đặc điểm chính của chứng này là sự đa nghi của tội phạm, khiến cho tôi khó lòng mà phân biệt được giữa tên tội phạm mắc rối loạn nhân cách hoang tưởng và những tên tội phạm khác.

Nhưng nhìn chung đó là một series hay và hấp dẫn, tôi vẫn còn đang xem mùa đầu thế nên hy vọng những mùa sau rõ ràng hơn.

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
Muộn Phiền Giới Tính/ Rối Loạn Định Dạng Giới Tính (Gender Dysphoria)


Nguồn cơn để tôi viết nên bài này là từ một cuộc tranh luận giữa tôi – một người ủng hộ tình yêu đồng tính thật sự, chứ không phải tình yêu theo phong trào, ủng hộ hôn nhân đồng tính và hai page khác, một mang tiếng thầy lang mà lại gọi đồng tính là bệnh, page còn lại là phản đối hôn nhân đồng tính.

Tôi sẽ không nói tên page ra đâu, vì cuộc tranh luận này là từ cuối tháng 10 các bạn muốn xem cũng khó.

Dẫu sao tôi tranh luận cũng hơn 60 cái com, chẳng ai có kiên nhẫn mà đọc, với lại tính tôi nhỏ mọn, chẳng muốn kéo view cho page mà tôi không thích, vậy chẳng khác gì PR miễn phí.

Trong cuộc tranh luận đó, tôi bàn về Gender Dyphoria –GD , đã từng được gọi là Gender Identity Disorder – GID, được VN mình biết dưới tên Rối loạn định dạng giới tính.

DSM-5 ra đời, đã đổi tên bệnh lại, thông qua đó, cũng thay đổi trọng tâm chẩn đoán bệnh.

Bệnh này nay được gọi là Muộn phiền giới tính.

Trước tiên tôi sẽ nói sơ về bệnh này, sau đó sẽ nói về phần mà tôi tranh luận và hy vọng rằng các bạn sẽ hiểu về hơn nội dung.

Cảm nhận của mỗi con người về việc mình là nam hay là nữ chính là định dạng giới tính.

Định dạng giới tính gần như phản ánh cơ quan sinh lý của một đứa trẻ: Trẻ sơ sinh có bộ phận sinh dục nam học được nó là con trai, còn những trẻ có bộ phận sinh dục nữ học được nó là con gái.

Định dạng giới tính khác hẳn với vai trò giới tính – vốn là những tính cách, hành vi và kỹ năng được xác định là phù hợp với nam giới hoặc nữ giới tùy theo văn hóa mỗi nước.

Giống như ở Việt Nam mình, đàn ông là phải giỏi giang, gánh vác được cả gia đình, đàn bà là phải giỏi chăm chồng chăm con.

Còn ở Mỹ thì đàn ông phải ga lăng, mở cửa xe, kéo ghế cho bạn gái ngồi mới là quý ông lịch sự, phụ nữ thì có thể không lấy chồng, hoặc lấy chồng mà không sinh con là chuyện bình thường.

Có một số người khẳng định rằng cơ quan sinh dục của họ và giới tính không phù hợp với nhau.

Ở đàn ông, họ cảm thấy rằng mình là phụ nữ bị mắc kẹt trong cơ thể của một người con trai.

DSM-5 xếp loại sự phiền muộn, khó chịu với cơ quan sinh dục là Muộn phiền giới tính.

Những người này không hẳn tin tưởng rằng họ thuộc về giới tính còn lại mà họ cảm giác rằng, ngoại trừ là ngoại trừ bộ phận sinh dục thì họ có xu hướng thiên về giới tính bên kia hơn.

Những báo cáo về những người chuyển giới cho thấy họ nhận thức rõ những cảm giác khó chịu, phiền muộn này từ khi còn rất nhỏ.

Nhiều báo cáo nói rằng họ mặc đồ và hành xử theo vai trò giới tính của giới tính còn lại.

Nghĩa là đối với một bé trai mắc chứng này, sẽ có xu hướng mặc đồ và có hành vi như những bé gái.

Mức độ nặng nề của sự khó chịu thay đổi tùy theo mỗi người.

Nó sẽ ít dao động và dẩn dần chuyển nặng hơn khi đứa trẻ ấy bước vào tuổi vị thành niên với những sự thay đổi sinh lý cơ thể như con gái thì bắt đầu có ngực, và hông bự ra, còn con trai thì bắt đầu thay giọng, mọc râu và có cơ bắp.

Những đặc điểm này khiến đứa trẻ khó tham gia vào các hoạt động và hành xử theo giới tính trái ngược.

Có rất nhiều trẻ trong độ tuổi này bắt đầu bận tâm với mong muốn phẫu thuật thay đổi cơ quan sinh dục.

Mối liên hệ giữa Muộn phiền giới tính và xu hướng tình dục đến nay vẫn còn nằm trong vòng tranh luận.

Một số nhà khoa học nói rằng những người chuyển giới chính là những người đồng tính tự nhận mình thuộc về giới tính còn lại như một cách để tránh sự kỳ thị của xã hội và những giá trị đạo đức không ủng hộ quan hệ đồng tính.

Ý kiến này không hợp lý vì hai điều, thứ nhất, đồng tính nữ và đồng tính nam không hề bất mãn với cơ quan sinh dục của họ.

Điều này chứng tỏ những người chuyển giới không chỉ đơn giản là muốn trốn khỏi kỳ thị xã hội về đồng tính.

Thứ hai, nghiên cứu cho thấy người chuyển giới và người đồng tính có xu hướng gợi dục khác nhau khi tiếp xúc với cùng một kích thích.

Cái này tôi đoán là những nhà nghiên cứu dùng biểu đồ điện não để so sánh.

Muộn phiền giới tính là một chứng bệnh tâm lý hiếm so với các bệnh tâm lý khác.

Đàn ông chuyển giới sang đàn bà nhiều hơn là đàn bà chuyển giới sang đàn ông dựa trên tài liệu từ các văn phòng bác sĩ.

Một số nghiên cứu ước tính tỷ lệ mắc chứng này là 1 trên 12,000 người với đàn ông và 1 trên 30,000 người với đàn bà.

Khởi nguồn về giới tính ở đàn ông và đàn bà bình thường vẫn còn chưa biết rõ, thế nên chẳng lạ gì khi chúng ta không biết được nguyên nhân gây ra muộn phiền giới tính.

Vì nhiều nguyên nhân mà nhiều người tin rằng định dạng giới tính bị ảnh hưởng mạnh bởi các chất hóc môn sinh dục, đặc biệt là trong thời kỳ mang thai.

Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện trên động vật, nhưng đặc biệt nhất là những dữ liệu đến từ những người "song tính" (Pseudohermaphroditism).

Những người này sinh ra theo di truyền học là đàn ông (XY) nhưng họ không thể sản xuất ra được hóc môn chịu trách nhiệm cho việc định hình cơ quan sinh dục (cây gậy và hai bé bi).

Thế nên đứa trẻ sinh ra với hình dạng bộ phận sinh dục không phân biệt được là nam hay nữ.

Nhiều đứa trẻ như thế này được nuôi dưỡng như con gái trong gia đình.

Khi đến tuổi thành niên, hàm lượng hóc môn testosterone đột nhiên tăng cao dẫn đến nhiều sự thay đổi to lớn với bộ phận sinh dục, khiến nó dần dần trở nên giống bộ phận sinh dục nam hơn.

Giọng nói của trẻ sẽ trở nên trầm hơn, cơ bắp nhiều hơn và đứa trẻ sẽ nhanh chóng nhận định nó là con trai.

Tốc độ chấp nhận và sự thoải mái trong việc thay đổi, xác nhận giới tính nam ở những đứa trẻ này tạo nên giả thuyết rằng bộ não đã được lập chương trình về thay đổi, lựa chọn giới tính này từ khi còn là phôi thai.

Đối với bạn, Rối loạn định dạng giới tính và Muộn phiền giới tính có gì khác nhau khi triệu chứng của hai chứng này gần như giống nhau?

Đối với bạn có lẽ nó không có gì khác mấy ngoại trừ cái tên thay đổi nhưng đối với những chuyên viên chẩn trị tâm lý và những đứa học tâm lý như tôi, đó là sự thay đổi rất lớn bao gồm luôn cả trọng tâm chẩn đoán bệnh.

Nếu như ở DSM-4 nó là một bệnh (các tác giả dùng chữ Rối loạn – Disorder) thì ở DSM-5 họ không coi nó là bệnh.

Trọng tâm chứng này nằm ở những nỗi phiền muộn khó chịu với giới tính làm cho những người mắc chứng này gặp khó khăn trong việc hòa nhập xã hội và làm việc (Bỏ chữ rối loạn, thay vào đó là buồn bực – Dysphoria).

Phương pháp chữa bệnh tập trung vào việc giải tỏa những nỗi muộn phiền này.

Trong phần cập nhật mới nhất cho DSM-5, các tác giả đã nói rõ rằng việc cảm thấy không thoải mái bực bội với giới tính của mình không phải là bệnh mà là những hệ quả từ việc không thoải mái này như khó chịu, trầm cảm mới là điều quan tâm chính của bệnh này.

Điều này có thể thấy rõ từ phương thức chữa trị của chứng này .

Dễ dàng nhận thấy có hai cách để chữa chứng này: một là thay đổi định dạng giới của một người để cho phù hợp với cơ quan sinh dục mà họ đang có.

Hai là thay đổi bộ phận sinh dục để cho phù hợp với giới tính của một người.

Có rất nhiều dạng chữa trị phân tâm học cố gắng thay đổi nhận định giới tính của một người (giống như thuyết phục người nam đang mắc chứng này rằng họ là nam, chứ không phải là nữ).

Nhưng kết quả đến giờ đa số là tiêu cực.

Một phương pháp khác nhận được nhiều phản hồi tích cực chính là phẫu thuật chuyển giới.

Người làm phẫu thuật chuyển giới phải ít nhất 18 tuổi và trước khi thực hiện phẫu thuật phải trải qua một thời sống vài tháng với giới tính mà họ mong muốn chuyển thành để chắc rằng đó là cuộc sống mà họ muốn.

Đa số những người thực hiện phẫu thuật chuyển giới xong, nhiều năm sau cho biết họ sống rất tốt, biểu hiện tích cực.

Các bài kiểm tra tâm lý cũng cho thấy với những người hoàn toàn phẫu thuật xong thì mức độ trầm cảm và lo lắng giảm dần so với những người chưa làm phẫu thuật.

Phẫu thuật chuyển giới chính là cách giải tỏa nỗi muộn phiền về giới tính và khiến cho những người đó có thể hòa nhập tốt hơn.

Có nhiều bạn ủng hộ quan hệ, hôn nhân đồng tính giơ cao biểu ngữ cổ vũ "giới tính thứ ba".

Cái này là hoàn toàn không đúng.

Không phải các bạn không đúng mà là biểu ngữ không đúng.

Giới tính (Gender) chỉ có hai, chính là nam và nữ.

Còn về quan hệ đồng giới, dị giới thuộc về khuynh hướng tình dục (Sexual orientation).

Xu hướng tính dục có bốn loại, đồng tính, dị tính, song tính và vô tính.

Ba loại trước các bạn hẳn đã biết.

Vô tính (asexual) ở đây mang nghĩa người này không có xúc cảm tình dục hoặc có rất ít các hoạt động tình dục với bất kỳ ai.

Một nghiên cứu vào năm 2004 xác định tỷ lệ người vô tính ở Anh là khoảng 1% dân số.

Khuynh hướng tình dục và giới tính là hai khái niệm hoàn toàn khác biệt nhưng có rất nhiều bạn vẫn lầm lẫn hai khái niệm này.

Đó cũng chính là một phần tranh luận của tôi với các thành viên của hai page mà tôi nói ở bài trên.

Một thành viên trong đó lấy trích dẫn từ một cuốn sách phát hành năm 2014 của APA,

In one perspective study of 66 boys with DSM-III diagnosis Gender Identity Disorder of Childhood, 75% subjects grew up identifying as gay men not as transgender. (Trong một nghiên cứu với 66 trẻ em trai được chẩn đoán mắc chứng rối loạn định dạng giới ở trẻ em, có khoảng 75% trong số này lớn lên tự nhận mình là đồng tính, chứ không phải là người chuyển giới).

Sau đó bạn ấy bảo rằng, từ cái study này có thể kết luận được,"Đồng tính luyến ái không phải là rối loạn định dạng giới.

Nhưng ngược lại, Rối loạn định dạng giới nếu không được phát hiện và chữa trị thì bệnh nhân sẽ chuyển biến thành Đồng tính luyến ái hoặc sẽ đi tiến hành chuyển đổi giới tính."

Kết luận này thiếu cơ sở và thiếu cả chính xác.

Chỉ dựa vào một nghiên cứu mà đưa ra một kết luận chung với tất cả những người mắc chứng Muộn phiền giới tính là hơi cẩu thả và thiếu độ tin cậy.

Hơn nữa, nghiên cứu này còn dùng DSM-III làm cơ sở chẩn đoán, thời điểm sách dùng trích dẫn là năm 1987, nghĩa là nghiên cứu được thực hiện trong năm đó hoặc còn lâu hơn nữa.

Điều này nói lên cái gì, nói lên kết quả nghiên cứu này có thể không còn áp dụng được với những tiêu chuẩn mới hiện nay.

Bạn nào học tâm lý học sẽ biết, một khi DSM thay đổi thì tất cả các sách tâm lý đều thay đổi.

Điều thứ hai là trong nghiên cứu không đề cập đến việc những người mắc bệnh rối loạn định dạng giới có đi chưa trị hay không, nên không thể bảo Rối loạn định dạng giới không được phát hiện và chữa trị sẽ dẫn đến đồng tính.

Muộn phiền giới tính/ Rối loạn định dạng giới tính là về những nỗi phiền muộn khi bị mắc kẹt trong cơ thể không phù hợp với giới tính của mình, chứ nó không liên quan gì đến xu hướng tình dục cả.

Có nhiều trường hợp nhiều người đi chuyển giới xong về vẫn có những mối quan hệ đồng giới.

Tôi đã xem vài video nói về những người nam chuyển giới sang nữ và sau khi chuyển giới xong họ có bạn đời là nữ.

Đó chính là khuynh hướng tình dục của họ.

Vì vậy không thể nói rằng Rối loạn định dạng giới dẫn đến Đồng tính luyến ái được.

Cái này hoàn toàn sai lầm.

Các bạn khi tìm nghiên cứu để đọc hoặc để viết, thì phải cẩn thận tránh việc kết luận cẩu thả như vậy.

Một kết luận chung về một tập thể khó có thể dựa trên một nghiên cứu.

Bản thân tôi cho rằng Muộn phiền giới tính là bệnh phần nhiều do xã hội mang lại bởi vì sự kỳ thị, chỉ trỏ và định kiến hơn là căn bệnh mang lại cho chủ nhân của nó.

Vậy tại sao DSM-5 không loại trừ nó ra khỏi danh sách các bệnh tâm lý?

Những người khó chịu, buồn bực với giới tính của mình cần sự "chẩn đoán" để họ có thể nhận được sự chăm sóc và chữa trị.

Phẫu thuật chuyển đổi giới tốn rất nhiều tiền, lên đến hàng trăm ngàn đô, nếu họ không có sự "chẩn đoán" từ bác sĩ là họ cần phẫu thuật để cảm thấy khỏe hơn, sống tốt hơn thì bảo hiểm sẽ không chi trả tiền để họ có thể có được sự chăm sóc cần thiết.

Nếu loại bỏ bệnh này ra khỏi DSM-5 thì dẫn đến những khó khăn như vậy thế nên các tác giả của DSM-5 vẫn giữ lại bệnh này nhưng bắt đầu sự thay đổi về những định kiến từ việc chọn từ thích hợp như bỏ từ rối loạn và thay vào bằng muộn phiền như tôi đã nói trên.

Như vậy thì tên sẽ giống hơn với triệu chứng và cũng loại bỏ ý nghĩ là bệnh nhân bị "bệnh"

Sau khi tranh luận xong phần đó, bạn ấy có hỏi tôi rằng, "Bao nhiêu người nghĩ mình đồng tính nhưng thực tế là họ mắc GID nhưng thiếu kiến thức nên ngộ nhận?Như vậy vấn đề tuyên truyền đồng tính đang khiến những người ngộ nhận này không nghĩ mình mắc bệnh, không muốn chữa trị ?"

Tôi đã trả lời như thế này, "Về câu hỏi của bạn, bao nhiêu người mắc GD không đc điều trị dẫn đến ngộ nhận.

Như tôi nói, bạn nếu tìm được tài liệu nào nói về vấn đề này thì đưa lên đây.

Nếu không có tài liệu thì những gì chúng ta bàn chỉ quay quanh xã hội và nhân đạo, sức thuyết phục sẽ hơi bị khó vì không có gì làm bằng chứng cả.

Nhưng tôi cũng muốn nói một chút.

Tỷ lệ người mắc GD theo sách tôi là hiếm so với các bệnh tâm thần khác.

Khoảng 1 trong 12,000 nam và 1 trong 30,000 nữ.

Nếu chúng ta loại trừ những nước châu Âu, Mỹ và các nước có khoa học tiên tiến và chuyên ngành tâm lý học phát triển thì số người mắc GD nhưng thiếu kiến thức dẫn đến ngộ nhận là con số rất ít.

Có thể vì thế nên nó không được ghi dữ liệu lại hoặc không có nghiên cứu nào nói về nó.

Nếu bạn tìm ra tài liệu nào nói người mắc GID không được chữa trị dẫn đến ngộ nhận đồng tính thì cứ đưa lên đây.

Và lúc đó chúng ta bàn tiếp về vấn đề này.

Tại sao tôi nói là loại trừ các nước châu Âu, Mỹ và các nước có nền tâm lý học phát triển?

Do từ ở trường tiểu học xuyên suốt đại học đều có chuyên viên tâm lý để các trẻ em, thanh niên đều có thể tìm đến khi gặp khó khăn.

Đến độ tuổi trước khi phát dục thì các em sẽ được chia ra thành hai nhóm trai và gái học giáo dục giới tính và khuynh hướng tình dục.

Tôi đã từng ký giấy đồng ý cho cháu tôi khi ấy mới học lớp 5 để cháu tham gia buổi học về giới tính và khuynh hướng tình dục.

Cấp 2, cấp 3 cũng như vậy.

Lên đến đại học, nói không xa, trường tôi có nguyên một cái phòng khám tâm lý do các bác sĩ tâm lý, chứ không chỉ là chuyên viên tâm lý để khám và điều trị về bất kỳ nguyên nhân tâm lý nào.

Ngay cả khi trong trường có bạn không may qua đời, trường cũng viết email cho tất cả học sinh, khuyên ai nếu cảm thấy buồn, phiền muộn thì hãy đến phòng tâm lý.

Hệ thống y khoa liên thông tất cả các bác sĩ thuộc chuyên ngành khác nhau.

Mỗi gia đình đều có bác sĩ gia đình nhất định, nếu gặp vấn đề khó khăn về tâm lý thì bác sĩ gia đình sẽ chuyển qua cho bác sĩ tâm lý giải quyết.

Người bệnh sẽ không gặp cảnh bơ vơ không biết đi đâu hoặc không biết tìm ai.

Hơn nữa với các nguồn dữ liệu và Internet dồi dào thì không sợ phần thiếu kiến thức ấy.

Vậy thì tỷ lệ người mắc GID mà thiếu kiến thức là bao nhiêu ở những nước phát triển như vậy?

Tôi nói là gần như con số 0.

Tiền đề để ngăn chặn những trường hợp như vậy thì trước hết xã hội phải chấp nhận người đồng tính và đối xử với họ như người bình thường, quan tâm đến phát triển tâm lý của họ.

Họ không quan tâm đến giới tính và khuynh hướng tình dục mà quan tâm đến khả năng đóng góp cho xã hội của từng người.

Họ coi mỗi người là "nguồn" để giúp cho xã hội đi lên và vì thế họ quan trọng tâm lý của mỗi người là vì thế, vì họ muốn ngăn cản lại những phiền muộn làm ảnh hưởng đến khả năng làm việc và học tập của mỗi người, qua đó phần nào kéo xã hội đi xuống.

Trong những năm gần đây ở Mỹ những phong trào ủng hộ đồng tính đang giảm.

Là vì người đồng tính bắt đầu nhận được những quyền lợi như những công dân bình thường.

Kết hôn, nhận con nuôi, quyền lợi li dị...

Họ còn có cả tổ chức bảo vệ quyền lợi cho mình sẵn sàng đấu tranh cho họ trên pháp luật của nước do những người có kiến thức, địa vị cao ủng hộ và phát triển.

Còn ở VN mình, tại sao phải tuyên truyền?

Là do chúng ta cứ cấm cản.

Ngay cả trong chương trình học về giới tính và sinh sản thì các cô giáo, thầy giáo còn thấy ngại và bỏ qua.

Cách đây 8 năm khi tôi học lớp 11, cô tôi còn không đề cập đến nửa chữ.

Việt Nam còn chưa có một tổ chức rõ ràng bảo vệ quyền lợi người đồng tính như một công dân tự do của nước (tôi không biết hiện giờ thì như thế nào).

Các phong trào tuyên truyền do giới trẻ tự phát với mục đích đòi quyền lợi cho người đồng tính được đối xử như công dân bình thường.

Vấn đề ở đây là do nhà nước cấm cản nên họ không được giáo dục về giới tính và khuynh hướng tình dục, và các tài liệu về vấn đề này được dịch ra rất ít và không da dạng.

Không phải ai cũng như tôi, có cơ hội được ra nước ngoài mở mang kiến thức, hoặc như bạn đọc hiểu tiếng anh và có thể dùng nó để tìm các tài liệu bổ ích chưa được dịch khác.

Vì thế tuyên truyền đi kèm với con dao hai lưỡi.

Vậy thì sao để giảm tải cái hại mang về?

Thành lập một tổ chức phi chính phủ do những người có kiến thức khoa học và tâm lý phổ biến về giới tính và khuynh hướng tình dục.

Nhà nước phải công nhận một số quyền lợi cho dân đồng tính, như dân đồng tính có thể kiện một công ty nếu họ không nhận người đó vì lí do là đồng tính dù người đó đủ điều kiện.

Nếu không chấp nhận kết hôn thì ít ra cũng nên cho các cặp đôi đã sống lâu một số quyền lợi như phân chia tài sản hoặc hỗ trợ xã hội như Úc đã làm (xin lỗi nếu tôi nhớ nhầm) Nới rộng và quy định trường học phải dạy về giới tính....

Nhưng với một cái xã hội bảo thủ như VN thì những phương pháp tôi đề ra giống như người si nói mộng.

Và vì thế bảo sao đồng tính ở VN ngày càng loạn đi.

Bởi vì ngay cả bạn còn giới hạn quyền lợi công dân của họ, nhìn họ bằng con mắt kỳ dị hoặc thương hại vì họ "khác bình thường".

Tâm lý con người dễ đồng cảm với những ai ở vị thế "yếu" hơn mình hoặc "tội nghiệp" hơn mình và vì thế mình dễ dàng tha thứ khi người đó làm gì sai.

Có một số người đồng tính lợi dụng tâm lý này để mưu lợi và làm ra vẻ đáng thương, đổ lỗi cho xã hội.

Chúng ta phải ngừng cái suy nghĩ "tội nghiệp" ấy đi và nghĩ họ như bình thường, đối xử với họ bình thường, thì lúc đó tình hình của người đồng tính VN mới khá hơn được, và phần nào giảm thiểu các tai nạn, và tệ nạn xã hội.

Phần tranh luận của tôi kết thúc ở đó vì page không cho bọn tôi tranh luận nữa và bạn kia cũng không quay lại trả lời.

Có một điều đáng buồn là khi tôi đọc những bài tranh luận bảo vệ đồng tính thì nhiều bạn lại dựa vào cảm tính như họ cũng là con người, cũng có quyền được yêu, được kết hôn. . . mà thiếu những kiến thức khoa học để phản biện lại những ý kiến mà bên phản đối đưa ra.

Khiến cho các bạn bị đuối lý rồi đâm ra tức giận chửi thề...

Làm cho bên kia hả hê và quy chụp rằng bọn bảo vệ hôn nhân đồng tính là nít ranh, chỉ biết theo phong trào chứ đầu óc chứ trong đầu chẳng có bao nhiêu kiến thức.

Tôi nghe rất buồn, đó cũng là nguyên nhân khiến tôi nhảy vào tranh luận.

Các bạn ạ, người Mỹ có câu, hãy bảo vệ bản thân bằng tri thức (armed yourself with knowledge).

Các bạn thấy thương và thông cảm cho những người đồng tính thôi thì chưa đủ, các bạn còn phải hiểu rằng mình đang bảo vệ cái gì và vì sao mình lại bảo vệ nó.

Đừng để cho người khác nghĩ rằng các bạn ủng hộ chỉ là vì phong trào.

Hy vọng rằng bài viết này cung cấp đủ thông tin cơ bản để các bạn hiểu thêm về LGBT và có thêm kiến thức khi muốn bảo vệ cộng đồng đó.

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
Rối Loạn Đa Nhân Cách (Chỉnh Sửa và Viết Lại Theo DSM-5)


Cách đây hai năm (năm 2012) khi tôi bắt đầu thực hiện series Tâm Lý và Bệnh Chứng thì tôi đã từng viết về Đa Nhân Cách.

Nhưng lúc đó tôi chỉ mới học Tâm Lý Đại Cương nên phần nhiều thông tin trong đó là dựa vào DSM-IV và Case Book.

Thế nên khi DSM-V ra đời và tôi được học về Đa Nhân Cách có hệ thống hơn thì tôi đã nung nấu ý tưởng viết lại bài này nhưng vẫn chưa có thời gian bắt tay làm.

Mãi cho đến dạo gần đây nhiều bạn hỏi tôi về Đa Nhân Cách quá, mà tôi cứ phải trả lời đi trả lời mấy câu hỏi giống nhau nên thôi tôi quyết định viết ngay và luôn một bài hoàn chỉnh giải thích và trả lời các câu hỏi sau đây:

Đa Nhân Cách là gì?

Triệu chứng của Đa Nhân Cách.

Nguyên nhân và cách chữa trị Đa Nhân Cách.

Liệu người mắc Đa Nhân Cách có phạm tội và giết người hàng loạt như phim ảnh và tiểu thuyết mô tả hay không?

Tỷ lệ người mắc Đa Nhân Cách là nhiều hay ít?

Có hay không chuyện các nhân cách trò chuyện với nhau?

Nhân cách có giống Tính cách hay không?

Tính tình tôi thay đổi thất thường, có khi tôi rất vui vẻ và hòa nhã, có khi tôi cáu gắt và nóng nảy.

Liệu tôi có mắc Đa Nhân Cách?

Trước mắt thì tôi chỉ nghĩ và nhớ ra được sáu câu hỏi thường hay gặp nhất trên đây thôi.

Nếu có ai có câu hỏi gì thì xin thoải mái com hoặc nhắn tin cho tôi.

Tôi sẽ cố gắng trả lời hết trong phạm vi kiến thức và thời gian cho phép.

Và bây giờ chúng ta bắt đầu đi vào từng câu hỏi một nhé.

Lưu ý đừng nhảy cóc vì các câu hỏi này có liên quan đến nhau.

Rối loạn Đa Nhân Cách là gì? (tôi sẽ gọi tắt là Đa Nhân Cách)

Đa Nhân Cách không nằm trong tổ hợp những bệnh nhân cách như cái tên nó gọi, mà nó nằm trong tổ hợp các bệnh có liên quan đến chấn thương tâm lý như: Hậu Chấn Thương Tâm Lý Rối Loạn Căng Thẳng (PTSD), Rối Loạn Căng Thẳng Cấp Tính (ASD)...Đa Nhân Cách, PTSD và ASD có cùng một triệu chứng đó là sự tách rời nhận thức.

Giống như PTSD là những người gặp chấn thương tâm lý quá nặng và sau đó đôi khi họ bị tách rời ra khỏi hiện thực họ đang sống, trải nghiệm cảm giác sống lại trong ký ức đáng sợ làm tổn thương tâm lý họ, Đa Nhân Cách cũng là sự tách rời ra khỏi hiện thực nhưng người mắc bệnh sẽ không nhớ gì và cũng không biết được là mình đã làm gì trong khoảng thời gian bị tách rời nhận thức ấy.

Đa số sẽ cho rằng mình đang ngủ nhưng thực chất không phải.

Và vì thế, từ DSM-IV, Đa Nhân Cách có tên gọi khác là Rối Loạn Tách Rời Nhận Thức (Dissociative Identity Disorder).

Một trong những đặc điểm chính của Đa Nhân Cách là người bị bệnh mất khả năng nhớ lại một số thông tin quan trọng về mình, những sự kiện lớn mà không thể giải thích được bằng từ "quên" bình thường.

Nói đơn giản một chút, sẽ có những khoảng thời gian trống trong ký ức mà người bệnh không tài nào nhớ nổi.

Có những chuyện quan trọng đã xảy ra trong quá khứ nhưng người bệnh không hề có một chút ý thức gì về nó cả, người bệnh không hề có một ý cảm giác hay ý thức gì về những nhân cách còn lại của mình.

Sự rối loạn này phải không xuất phát từ thuốc, chất kích thích hay bất kỳ tình huống y khoa nào để được coi là Rối loạn đa nhân cách.

Ví dụ như trường hợp của bệnh nhân dưới đây.

Mary Kendall là một nhân viên xã hội, cô năm nay 35t.

Cô vốn được cho là một người rất tháo vát trong công việc của mình, nhưng lại có một cuộc sống riêng khá nhàm chán.

Cô đã từng kết hôn một lần rồi li di vào 10 năm trước và chẳng hề có ý định kết hôn lại.

Đa số khoảng thời gian rảnh rồi, cô đều tham gia tình nguyện ở mấy nhà tế bần chuyên giúp đỡ người nghèo.

Trong lúc được chuẩn đoán tâm lý, cô kể lại một vài sự kiện lạ mà cô không thể nào giải thích nổi.

Lúc Mary xong việc về nhà, bình gas của cô gần đầy, nhưng đến khi cô khởi động xe để đi làm vào sáng hôm sau, nó đã vơi đi quá nửa.

Cô bắt đầu theo dõi chỉ số dặm mà cô đã chạy rồi phát hiện số xăng biến mất kia ứng với quãng đường 50-100 dặm trên đồng hồ.

Có điều, cô không tài nào nhớ được mình đã đi đâu.

Những câu hỏi đi sâu vào hơn nữa đã tiết lộ ra trong trí nhớ của cô có một lỗ hổng lớn về thời thơ ấu

Trong lúc được chữa trị bằng liệu pháp thôi miên, người chữa trị lại hỏi một lần nữa kí ức về khoảng thời gian mà cô không nhớ rõ.

Bất chợt, có một giọng nói khác trả lời, "Đã đến lúc anh nên biết về tôi rồi đấy" .

Nhân cách đó có cái tên chỉ khác đi một chút, Marian, kể và mô tả những chuyến đi đêm của cô đến những ngọn đồi gần đó hoặc bờ biển để "giải quyết vấn đề" .

Trong khoảng thời gian này, người chữa trị đã có dịp tiếp xúc nhiều hơn với Marian, phát hiện ra cô thô lỗ và bất hợp tác còn Mary thì nhu nhược và biết quan tâm đến người khác.

Marian nghĩ rằng Mary là kẻ yếu đuối và không biết cách làm bản thân vui vẻ, còn nói rằng "chỉ biết có người ngoài mà không biết lo cho bản thân mình chỉ phí thời gian thôi"

Thời gian trôi đi, thêm sáu nhân cách nữa bắt đầu hiện ra theo kiểu phụ thuộc/hung hăng.

Áp lực và bất hòa căng thẳng nổi lên.

Ai cũng muốn chiếm quyền điều khiển lâu hơn và Marian thì khơi dậy những tình huống hù dọa các nhân cách kia, bao gồm một nhân cách tự nhận cô chỉ là một đứa trẻ sáu tuổi.

Khi người chữa trị đề nghị muốn bàn thảo vấn đề với một nhân cách khác thì cô bé không chịu, bảo rằng làm như thế sẽ xâm hại đến quyền riêng tư giữa bệnh nhân và bác sĩ.

Ký ức xuất hiện cùng với những nhân cách này là khoảng thời gian lúc còn nhỏ mà Mary không tài nào nhớ được.

Mary nhớ về mẹ của cô như một người khắc khổ, chịu đựng những trận bạo hành, nhưng lại phụ thuộc vào người cha độc ác kia và bắt Mary phải nấu ăn và dọn dẹp từ khi còn rất nhỏ.

Chứng rối loạn đa nhân cách phản ánh sự thất bại trong việc thống nhất tất cả những khía cạnh của tính cách, trí nhớ và ý thức.

Mỗi một trạng thái nhân cách có thể trải nghiệm từng khoảng ký ức nhất định và riêng biệt so với các nhân cách còn lại.

Thường thì có một nhân cách chính mang tên thật ( tên được ba mẹ đặt và hiện diện trên giấy tờ hành chính) và nhân cách này luôn ở thế bị động, phụ thuộc, hay mang cảm giác tội lỗi và trầm uất.

Những nhân cách còn lại có những tên riêng khác biệt và có tính cách trái ngược hẳn với nhân cách chính.

Nếu như nhân cách chính ngoan hiền, vâng lời, thì các nhân cách còn lại thương là hung hăng và nổi loạn.

Những nhân cách đặc biệt thường hiện ra trong một số tình huống nhất định và tuỳ theo độ tuổi, giới tính , ngôn ngữ, thường thức hoặc có những tác động chiếm ưu thế lên nhân cách chính.

Những nhân cách xen kẽ kia chiếm quyền điều khiển liên tiếp nhau (nhân cách chính vừa mất quyền điều khiển là các nhân cách khác lần lượt nổi lên) , thường các nhân cách này không chấp nhận những kiến thức, sự hiểu biết của nhân cách kia, chỉ trích lẫn nhau hoặc xuất hiện cùng lúc.

Giữa các nhân cách xen kẽ thì sẽ có một nhân cách mạnh hơn, nắm quyền lãnh đạo và phân phối thời gian cho những nhân cách còn lại.

Cá nhân người mang bệnh Rối loạn đa nhân cách này sẽ trải nghiệm những khoảng trống trong trí nhớ, về quá khứ lẫn hiện tại.

Sự lãng quên này thường bất đối xứng.

Nhân cách chính nào càng thụ động thì càng có ít ký ức về mình, và ngược lại, nhân cách nào càng hung hăng, chống đối , có ý điều khiển hoặc "bảo vệ" thì sẽ có nhiều ký ức hoàn chỉnh về mình.

Những nhân cách khi không nắm quyền điều khiển vẫn có thể xâm nhập vào ý thức của nhân cách còn lại bằng việc tạo ra những thanh âm hoặc ảo giác ( ví dụ như ra lệnh ).

Những bằng chứng về sự lãng quên và hiện diện của nhân cách khác thường được phát hiện bởi những người có dịp chứng kiến những hành vi mà thường nhân cách chính sẽ không bao giờ làm, hoặc được phát hiện ra bởi nhân cách chính ( tìm thấy những món đồ mà mình không thể nhớ là đã mua lúc nào) .

Sự luân phiên thay đổi quyền điều khiển giữa các nhân cách thường xuất hiện dưới những áp lực về tâm lý.

Và thời gian chuyển đổi giữa hai nhân cách chỉ xảy ra trong tích tắc.

Những biểu hiện thường xuất hiện cùng với sự chuyển đổi nhân cách này thường là nháy mắt không ngừng, cơ mặt thay đổi , giọng nói khác hẳn .

Số nhân cách thường ở trong khoảng từ hai cho đến mười.

Nguyên nhân gây ra Rối Loạn Đa Nhân Cách và cách chữa trị.

Cách đây hai năm tôi có nói trong bài viết cũ là chấn thương tâm lý gây ra Đa Nhân Cách.

Thế nhưng những nghiên cứu mới đây về những hệ quả lâu dài của bạo hành trẻ em, người ta tìm rất ít bằng chứng về việc trẻ em bị bạo hành lớn lên sẽ bị rối loạn đa nhân cách.

Vì những trường hợp về Đa Nhân Cách được nhiên cứu dưới dạng case study, tức là từng trường hợp riêng biệt, thế nên không thể tạo ra được kết luận dành chung cho tất cả bệnh nhân.

Hơn nữa, những case studies này đa phần là dựa vào trí nhớ của người bệnh mà trí nhớ thì có thể lựa chọn, hoặc tái tạo lại bởi người bệnh cho phù hợp với những gì bác sĩ đoán.

Điều này nghĩa là sao?

Có hai bộ phim nói về Đa Nhân Cách nổi tiếng là "Ba bộ mặt của Eve" (Three Faces of Eves) và Sybil.

Ngay khi hai bộ phim này vừa ra đời thì tỷ lệ người mắc bệnh Đa Nhân Cách tăng vọt trong hai thập niên tiếp theo, trong khi trước đó chỉ có khoảng 200 trường hợp bệnh được ghi lại trên toàn thế giới trong các nghiên cứu từ trước cho tới năm 1980.

Có một trường hợp bệnh nhân nghe y tá nói rằng bác sĩ nghi ngờ bà ta có thể mắc chứng Đa Nhân Cách, thế là bà thay đổi triệu chứng của mình sao cho giống với triệu chứng của những người mắc Đa Nhân Cách.

Thậm chí, bà còn tự tao ra một nhân cách khác và đặt tên cho nó.

Nhưng bà không trải nghiệm sự đứt đoạn trong ký ức.

Trí nhớ của bà vẫn hoàn chỉnh và không hề có dấu hiệu bất thường nào.

Vì những lý do trên mà bệnh rối loạn đa nhân cách vẫn còn nằm trong vòng tranh cãi.

Nhiều chuyên gia cho rằng bệnh này không có thật khi có rất ít bằng chứng về nguyên nhân gây ra Đa Nhân Cách.

Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận rằng chấn thương tâm lý dù ít dù nhiều vẫn có ảnh hưởng lên đến tâm lý và nhân cách người bệnh.

Hiện nay không có thuốc nào chữa trị bệnh Đa Nhân Cách vì người ta tìm ra rất ít những bằng chứng có liên quan đến sinh lý.

Mục tiêu chính của việc chữa trị là kết nối và thống nhất các nhân cách lại với nhau thông qua thôi miên và phân tâm học.

Sau bốn năm điều trị thì nhân vật Mary trong case bệnh tôi nói trên đã dung nhập được hai nhân cách lại làm một.

Tuy vẫn còn sự đề phòng và đấu đá giữa các nhân cách nhưng sự dung nhập này khiến Mary phần nào dễ dàng hơn trong việc quản lý các nhân cách còn lại.

Liệu người mắc Đa Nhân Cách có phạm tội và giết người hàng loạt như phim ảnh và tiểu thuyết mô tả hay không?

Hoàn toàn không.

Một số bộ phim lẫn lộn triệu chứng giữa hai bệnh Tâm thần phân liệt hoang tưởng và Đa Nhân Cách.

Triệu chứng Tâm thần phân liệt hoang tưởng là thường nghe thấy một giọng nói khác trong đầu mình mang đầy vẻ tiêu cực, công kích và nghi ngờ kẻ khác, cho rằng tất cả mọi người đều mang ý xấu.

Nó khiến cho bệnh nhân làm ra hành vi tổn thương người khác như đánh nhau, chửi bới, hoặc thậm chí giết người.

Vì người bệnh Tâm thần phân liệt nghe tiếng nói khác vang lên trong đầu, họ nghĩ rằng mình có một nhân cách khác mà không biết rằng tiếng nói ấy chỉ là ảo tưởng, có thể là hệ quả của sự rối loạn nội tiết tố, hoặc rối loạn thần kinh.

Vì sự hiểu làm này mà nhiều năm về trước, bệnh Đa Nhân Cách từng được cho là một dạng khác của bệnh Tâm Thần Phân Liệt nhưng thực tế hai bệnh này hoàn toàn khác nhau.

Thế cho nên Đa Nhân Cách đã được dời ra khỏi mục Tâm thần phân liệt và được xếp vào Rối loạn tách rời nhận thức.

Người mắc bệnh rối loạn Đa Nhân Cách hầu như không hề biết được sự tồn tại của các nhân cách khác cho đến khi họ đi khám và được nhân viên trị liệu cho biết.

Hơn nữa, chưa có trường hợp bệnh nhân Đa Nhân Cách nào giết người vì căn bản sự hình thành của các nhân cách này là để bảo vệ chứ không phải gây tổn hại.

Đó là một kiểu trốn chạy khỏi hiện thực của nhân cách chính.

Tỷ lệ người mắc Đa Nhân Cách là nhiều hay ít?

Rất hiếm, cực kỳ hiếm.

Người thực sự mắc bệnh Đa Nhân Cách không nhiều.

Thế nên nhiều nhà nghiên cứu mới tranh luận rằng Đa Nhân Cách không thật sự tồn lại mà nó giống như là sự nhập vai (role enactment) thì hơn.

Lý do những nhà nghiên cứu này đưa ra là tỷ lệ mắc bệnh Đa Nhân Cách giảm mạnh khoảng giữa những năm 1990 (sau khi bộ phim Sybil ra đời một khoảng thời gian).

Và bệnh Đa Nhân Cách chỉ được chẩn đoán ở Mỹ và Canada, còn những nước khác trên thế giới thì rất hiếm.

Điển hình là chỉ có 1 trường hợp ở Anh được ghi nhận trong 25 năm trở lại.

Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng bệnh Đa Nhân Cách không thực sự tồn tại mà đó là sự ảnh hưởng của nhà tâm lý trị liệu lên người bệnh.

Martin Orne, nhà tâm lý học trị liệu và thôi miên nổi tiếng trên toàn thế giới đã thử "bẫy" Kenneth Bianchi hay còn gọi là "Kẻ thắt cổ vùng Hillside" (Hillside Strangler).

Hắn đã siết cổ và giết chết 27 cô gái.

Khi đưa ra tòa, các bằng chứng đều chỉ tội hắn nhưng hắn lại bảo mình có những lúc không nhớ gì và có khoảng trống trong ký ức về những đêm mà hắn phạm tội.

Vì thế bên công tố đã chỉ định một nhà sức khỏe tâm lý khám cho hắn.

Khi viên tâm lý này khám cho hắn ta thì nói "Tôi đã nói chuyện với Ken rồi, nhưng tôi nghĩ có một phần khác của Ken (gọi tắt của Kenneth) mà tôi chưa nói chuyện cùng."

Thế là Bianchi bảo rằng mình không phải là Kenneth mà là Steve, và Steve thì ghét Ken, và Steve chính là người giết 27 cô gái kia.

Có rất nhiều chuyên gia tranh cãi rằng triệu chứng Đa Nhân Cách của hắn không có thật.

Orne đã kiểm tra bằng cách giả vờ gợi lên một triệu chứng mới cho Bianchi.

Ông nói với hắn ta rằng, "Nếu cậu bị mắc Đa Nhân Cách thật thì cậu nên có một nhân cách thứ ba."

Vì khi được khám bởi nhà sức khỏe tâm lý thì Bianchi chỉ có nhân cách thứ hai tên là Steve.

Nếu hắn ta thực sự đang giả bệnh thì hắn sẽ tự tạo cho mình một nhân cách thứ ba.

Tất nhiên, nhân cách thứ ba, Billy, xuất hiện khi Bianchi bị "thôi miên."

Khi bị thôi miên, hắn ta làm theo sự gợi ý của Orne là hãy tưởng tượng vị luật sư của hắn đang ở trong phòng.

Bianchi còn thực sự bắt tay với vị công tố viên tưởng tượng đó, một hành vi cực kỳ không bình thường với những người bị thôi miên.

Và tất nhiên.

Và thế là Orne kết luận rằng Bianchi không mắc chứng Đa Nhân Cách mà hắn mắc chứng Rối loạn nhân cách phản xã hội.

Bạn nào theo dõi page thường xuyên sẽ biết bệnh này có triệu chứng là người mắc bệnh hay giả dối, xâm phạm lợi ích người khác để trục lợi cho bản thân...

Lý do "bị điên" của Bianchi bị từ chối và hắn bị kết tội giết người.

Từ câu chuyện phía trên chúng ta có thể thấy rằng chuyên viên chữa trị có thể tác động lên bệnh nhân bằng những câu hỏi "dẫn đường" sai lầm như thế nào.

Có nhiều trường hợp bệnh nhân không thực sự mắc Đa Nhân Cách, nhưng bởi vì họ muốn đáp lại sự kỳ vọng của chuyên viên chữa trị mà tự bắt buộc bản thân thể hiện những triệu chứng giống Đa Nhân Cách mà tôi đã đưa ra ví dụ trong câu hỏi số 2.

Có hay không chuyện các nhân cách trò chuyện với nhau?

Có thể có sự giao lưu giữa các nhân cách phụ, nhưng hầu như không có sự liên lạc giữa nhân cách phụ và nhân cách chính trước khi được chữa trị.

Như tôi đã nói rất nhiều lần là bệnh nhân không hề biết đến sự tồn tại của các nhân cách khác và chỉ thực sự "liên lạc" khi đến khám tại các chuyên gia tâm lý và được họ cho biết.

Thế nên việc bỗng dưng nghe được giọng nói, tự trò chuyện trong đầu xảy ra trước khi người bệnh gặp chuyên viên tâm lý và chẩn đoán thì nó giống như triệu chứng bệnh Tâm thần phân liệt hơn.

Nhân cách có giống Tính cách hay không?

Tính tình tôi thay đổi thất thường, có khi tôi rất vui vẻ và hòa nhã, có khi tôi cáu gắt và nóng nảy.

Liệu tôi có mắc Đa Nhân Cách?

Nếu bạn đọc bài này của tôi từ đầu đến đây thì bạn sẽ có câu trả lời cho câu hỏi này.

Nhân cách khác hẳn tính cách.

Tính cách là tổ hợp những đặc điểm về tâm lý và các cơ chế giải đáp thông tin của một cá nhân được sắp xếp có tổ chức và tồn tại một khoảng thời gian, gây ảnh hưởng đển sự giao thoa giữa người ấy và sự thích nghi với tâm lý bên trong, sinh lý và xã hội.

Còn nhân cách là sự nhận định của một người về bản thân mình và những cá nhân khác trong cùng một hội nhóm mà người đó thuộc về.

Ví dụ như trong trường hợp trên, Mary là một nhân cách chính với tính cách thụ động, hiền hòa, còn Marian là nhân cách thứ hai với tính cách gắt gỏng, nóng nảy và dữ dằn.

Tính thay đổi thất thường không phải là triệu chứng của bệnh Đa Nhân Cách.

Nếu bạn không rõ thì có thể xem lại phần số 1.

Trong tâm lý tính cách con người mà tôi đang học có một định nghĩa gọi là tính cách xã hội (Social Personality) nghĩa là trong từng môi trường nhất định, bạn có những biểu hiện, hành vi, suy nghĩ khác nhau để cho phù hợp với môi trường đó.

Ví dụ như bạn không thể dùng cách suy nghĩ, hành xử khi bạn ở trước mặt bạn bè với cha mẹ hay anh chị bạn.

Môi trường khác nhau ảnh hưởng đến con người khác nhau.

Nó giống như là kiểu nhập vai mà tôi nói ở phía trên.

Bạn vẫn là bạn, bạn chỉ đang thích nghi với từng môi trường khác nhau chứ không phải là bạn có nhiều nhân cách khác nhau.

Phải nói là bạn có nhiều tính cách khác nhau tùy vào môi trường mà bạn sinh hoạt và làm việc nhưng bạn chỉ có một nhân cách mà thôi.

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
[Tâm Lý Học Tội Phạm] Lập Hồ Sơ Tội Phạm Dựa Trên Địa Lý Vùng Gây Án


Note: Mình lấy bản rút gọn của chương này ở trang .

Mình cũng có đối chiếu với sách và bổ sung một số thứ cần thiết, nhưng do mình không có mua sách mà chỉ tham khảo mấy trang sách google hiển thị cho nên khó tránh khỏi sai sót.

Hình như quyển này là chung chung về tâm lý tội phạm.

Người post bài trên crimelibrary chỉ cắt phần nào liên quan đến Geographic Profiling mà đăng lên thôi.

Ờm thì đây là lần đầu mình dịch thể loại này, trước giờ mình không thích dịch những gì mình không có kiến thức về nó.

Hôm bữa đang tìm đọc các vụ án liên quan đến bệnh Đa Nhân Cách thì thấy cái này.

Đọc thử thì có vẻ hay hay, mà mấy bài trên fanpage thì hình như không đi sâu vào thể loại này lắm cho nên mình định dịch.

Dầu gì nó cũng ngắn.

Nói ngắn chớ một trang của nó cũng tầm 4 trang word chứ chả chơi.

Mấy bạn đọc xong thấy hay và muốn đọc phần tiếp theo thì like và com để tiếp sức cho người dịch nhé, không thì mình lười bỏ ngang thật ấy, hu hu.

Mình có cắt bớt một số thứ mà mình nghĩ không cần thiết khi dịch trang 1.

Thế nên bạn nào đối chiếu với trang mà mình đưa cũng đừng thắc mắc nhé 😀

"Trong tất cả các loài động vật thì con người là loài duy nhất tàn nhẫn.

Họ là người duy nhất gây ra vết thương cho kẻ khác chỉ vì sự vui sướng khi làm nó." – Mark Twain

Ngẫu nhiên hay là Sắp đặt?

Theo John Douglas, người từng lập hồ sơ tội phạm ở FBI, thì nhiều kẻ giết người hàng loạt bị thôi thúc bởi "ước mong được sáng tạo và gìn giữ thần thoại của riêng bọn chúng."

Một trong những vụ án phức tạp nhất đi theo suy nghĩ này, một vụ án mà khu vực gây án có vẻ là nhân tố quan trọng chính là "Kẻ giết người cung Hoàng Đạo" (Zodiac Killer).

Tại sao lại nói vụ án này được xếp vào dạng phụ thuộc vùng gây án?

Là bởi vì Zodiac đã từng gửi đến cảnh sát một bản đồ vùng núi Mount Diablo.

Hắn bảo rằng họ sẽ tìm được vài điều thú vị nếu họ thử đặt một radian trên núi Mount Diablo.

Radian là đơn vị đo lường góc, được dùng bởi các kỹ sư và nhà toán học.

Một radian bằng góc 57 độ, 17 phút, 44 giây.

Nếu đặt radian trên bản đồ với tâm vòng tròn nằm ở núi Mount Diablo, một cạnh của nó đi qua khu vực trấn Vallejo có hai nạn nhân bị Zodiac giết, thì cạnh còn lại sẽ đi qua khu vực Presidio Height ở San Francisco, nơi một nạn nhân khác bị sát hại (hai nơi đánh dấu X trong hình).

Điều này chứng tỏ rằng nạn nhân được chọn không phải vì bọn họ là ai mà là vì bọn họ ngẫu nhiên xuất hiện đúng thời gian, đúng địa điểm mà Zodiac cần để tạo nên "thần thoại" cho hắn.

Suy nghĩ này phần nào làm chuyển hướng cuộc điều tra, bởi vì dường như nghi can vụ án có chỉ số IQ khá cao so với vẻ ngu dốt mà cảnh sát những tưởng từ trong các bức thư của hắn.

Những chữ sai chính tả, ngữ pháp lộn xộn giờ đây trông giống như là trò lừa cao tay hơn là bằng chứng về năng lực có hạn của hung thủ.

Mặc dù hung thủ chưa bao giờ bị bắt nhưng ý tưởng về những kẻ có thể chọn nạn nhân dựa theo vùng địa lý vì những lý do mà chỉ có hắn mới biết đã phát triển thành một loại phân tích tội phạm đặc biệt: Lập hồ sơ dựa theo địa lý vùng gây án (Geographic profiling).

Vụ án kẻ giết người cung Hoàng Đạo không phải là vụ án đầu tiên, cũng không phải là vụ án cuối cùng để nhấn mạnh một sự thật rằng hung thủ thường hay hoạt động dựa trên bản đồ trong tâm trí của hắn.

Đầu tiên, chúng ta hãy cùng xem xem việc lập hồ sơ những tên tội phạm dạng này bắt đầu như thế nào.

Lập hồ sơ và Địa lý

Khi lập hồ sơ tội phạm thì có rất nhiều thứ các nhà điều tra cần phải quan tâm, bao gồm thông tin cá nhân của nạn nhân, thời gian và địa điểm xảy ra vụ án, cách thức nạn nhân bị bắt, loại vũ khí mà hung thủ sử dụng, và bất kỳ bằng chứng nào về việc hung thủ ra tay quá mức cần thiết (overkill – ví dụ như bắn mười mấy phát đạn, hoặc đâm mười mấy dao.

Hung thủ hoàn toàn không cần nhiều đạn hoặc vết đâm như vậy để giết nạn nhân)

"Tôi dùng một công thức," John Douglas nói, "Như thế nào + Tại sao = Ai.

Nếu chúng tôi có thể trả lời được phần như thế nào và tại sao trong một vụ án, thì chúng tôi đã có thể có được câu trả lời chung."

Những thứ mà các nhà điều tra cần phải tìm hiểu trước khi thật sự thẩm vấn tội phạm bao gồm:

– Loại vũ khí được sử dụng.

– Bơi xảy ra vụ án (và nơi bỏ xác nạn nhân nếu hai nơi khác nhau)

– Vị trí của xác và có khi nào vị trí ấy đã bị thay đổi

– Vết thương trên người nạn nhân

– Những thông tin chi tiết khác về nạn nhân.

– Những yếu tố nguy hiểm mà hung thủ có thể gặp phải.

– Cách thức hắn dùng để khống chế nạn nhân.

– Bằng chứng hung thủ theo dõi nạn nhân hoặc "chữ ký" của hắn.

Ý tưởng căn bản là thu thập thật nhiều thông tin có ẩn chứa những "xu hướng" của hung thủ để các nhà điều tra có thể đưa ra những mô tả chung về nghi can chưa biết mặt (unsub = unknown suspect) về trên những phương diện như các thói quen cá nhân của hắn, có nghề nghiệp hay không, tình trạng hôn nhân và những tính cách đặc điểm tâm lý.

Hồ sơ về hung thủ có thể được lập từ một hiện trường gây án, và bởi vì khoảng 70-75% các vụ án giết người xảy ra tùy theo tình huống chứ không hề nhất định, thì việc phát triển ra phương thức lập hồ sơ tội phạm mà không cần phải dựa vào những xu hướng lặp đi lặp lại (có nghĩa là dựa vào nhiều nạn nhân để tìm ra xu hướng hành vi của hung thủ) mang lại lợi ích rất lớn.

Một hồ sơ tâm lý tội phạm tốt là phải cung cấp được những thông số về loại người nào hay phạm phải tội nào, dựa trên ý tưởng rằng con người thường có khuynh hướng làm nô lệ cho tâm lý của họ và sẽ khó tránh khỏi việc để lại những manh mối.

Những manh mối đó thường bao gồm:

– Giới tính hung thủ

– Động cơ phạm tội

– Bất kỳ bằng chứng nào về việc hung thủ là người có tổ chức hay không có tổ chức (hành động trật tự rõ ràng, tính toán kỹ vs hành động mạo hiệm, không hề tính trước)

– Gây án trong một vùng nhất định hay là di chuyển

– Bằng chứng về việc hung thủ hành động bốc đồng hoặc không thể kiềm chế được bản thân.

– Loại "Dấu vết cá nhân" hay "chữ ký" mà hắn để lại hiện trường.

– Những loại ảo tưởng có thể có liên quan đến vụ án.

– Bằng chứng về nghi thức tôn giáo ( như giết người để tôn vinh Satan...)

– Có "chiến lợi phẩm" nào bị lấy đi hay không (có một số vụ án hung thủ lấy đi một số đồ vật trên người nạn nhân như dây chuyền, nhẫn, để làm chiến lợi phẩm.

Một số kẻ còn dùng chiến lợi phẩm ấy để nhớ lại và sống lại cảm giác thích thú, vui sướng khi hắn phạm tội.)

Hồ sơ dễ dàng được lập nếu hung thủ để lại những dấu hiệu về tâm lý bất thường như hành hạ nạn nhân, tổn thương nạn nhân sau khi nạn nhân đã chết, hay là một kẻ ái nhi (thích quan hệ với trẻ con).

Một số tên giết người để để lại "chữ ký", biểu lộ hành vi của hung thủ có tính cách khác lạ, ví dụ như phô bày nạn nhân với những tư thế tủi nhục nhất, hay trói nạn nhân lại rồi thắt một cái nơ cầu kỳ.

Những cái này giúp kết nối các hiện trường vụ án lại và cảnh báo cho những nhà điều tra về sự hiện diện của kẻ sát nhân hàng loạt hay cưỡng bức hàng loạt.

Nếu phát hiện ra được xu hướng thì có thể đoán được những cuộc tấn công tiếp theo hay nơi dễ xảy ra những cuộc tấn công nhất.

Theo Douglas, "chữ ký", hay những hành vi thực hiện để thỏa mãn cảm xúc chinh là chìa khóa quan trọng, "Tôi phát hiện ra chữ ký là kim chỉ nam đáng tin cậy để tìm ra hành vi của hung thủ phạm tội hàng loạt hơn là động cơ phạm tội của bọn chúng.

Đó là vì động cơ có thể thay đổi và phát triển lên bậc mới, nhưng lý do cảm tính khiến hung thủ để lại chữ ký thì không."

Có nghĩa là theo ông, phương thức giết người chỉ mang tính thực hành để kết thúc, còn chữ ký thì thỏa mãn sự cần thiết nào đó, độc nhất với mỗi tên giết người.

Những nhà phác họa hồ sơ tội phạm giỏi nhất thường tăng thêm kiến thức của họ thông qua những cuộc chạm trán với các loại tội phạm và nhờ đó đã phát triển trực giác về một số loại tội ác.

Trong khi một số người chỉ trích tính suy luận của việc lập hồ sơ, phần chung là dựa trên kinh nghiệm lâu năm và các thông tin cơ bản kết luận từ những bằng chất vật lý và cả bằng chứng phi vật lý.

Nhìn chung, các nhà lập hồ sơ tội phạm thường dùng những thuyết tâm lý cung cấp cho họ cách thức phân tích sự bất thường trong tâm lý hoặc xu hướng suy nghĩ của tội phạm.

Họ còn dùng những dữ liệu thực tế như độ tuổi và tầm quan trọng của việc không có gia đình ổn định hoặc gia đình không hạnh phúc đối với của tội phạm.

Hồ sơ không chỉ là công cụ đánh giá tâm lý của nghi can chưa biết mặt, mà còn bao gồm cả những loại thông tin khác.

Biết được tuổi, chủng tộc, giới tính, nghề nghiệp, trình độ học vấn, loại công việc và những yếu tố xã hội khác cũng quan trọng như những bằng chứng về tâm lý bất thường.

Thêm vào đó là những đặc điểm của những nơi mà kẻ giết người chọn để phi tang xác, ví dụ như Ted Bundy thích quăng xác tại những khu vực núi rừng rậm rạp ngoại thành Seattle.

Đó là lúc mà một loại phân tích hoàn toàn khác được sử dụng.

Gần đây, sự phát triển trong khái niệm phác họa hồ sơ tội phạm nhấn mạnh vào xu hướng chọn vùng địa lý của nghi phạm: nơi chọn nạn nhân, nơi tội ác thực sự xảy ra, đường đi đến nơi bỏ xác, nơi và cách thức phi tang xác, và sự cô lập của nơi ấy.

Tất cả những thông tin này cho chúng ta biết về sự di chuyển của tội phạm, phương thức vận chuyển, nơi hắn có thể sinh sống và khả năng vượt qua chướng ngại như đi qua ranh giới tiểu bang khác hay đi qua cầu.

Sự quen thuộc là một phần của vùng an toàn và nhiều kẻ giết người thường bắt đầu tội ác ngay nơi mà chúng sinh sống và với nạn nhân, những kẻ mà chúng cảm thấy an toàn để chọn.

Một số nhà lập hồ sơ cho rằng kẻ giết người thường có bản đồ tâm lý, dựa trên những thói quen và hoạt động có thể ảnh hưởng đến, nếu không muốn nói là điều khiển hành vi của hắn.

Một kẻ giết người ở miền trung Tây Mỹ được cho là đã giết ít nhất tám cô gái trẻ hóa ra sống rất gần nơi hắn bắt cóc những cô gái ấy.

Hắn còn làm việc chung với một trong số họ.

Trong trường hợp của hắn, có rất nhiều sự giống nhau về địa lý với những tội ác mà hắn phạm phải.

Thân thể của sáu người trong số đó được tìm thấy ở vùng nông thôn, năm nơi mà hắn phi tang xác tạo thành một vòng tròn kín với bán kính khoảng vài dặm.

Điều này chứng tỏ nghi can phải di chuyển hướng này tới lui, có xe, và biết rõ khu vực này.

Có hai cô gái bị giết trong cùng một nơi và bị bỏ xác ở hai nơi khác nhau, nhưng rất rõ ràng rằng tên giết người này muốn dùng nơi mà hắn quen thuộc.

Ứng dụng địa lý dạng này được sử dụng ngay cả trong các vụ án riêng lẻ trên phương diện nghiên cứu tội phạm vì mỗi nơi bỏ xác kể những câu chuyện khác nhau.

Trong một vụ "Hoa Thược Dược Đen" nổi tiếng năm 1947 ở Los Angeles, một thi thể phụ nữ khỏa thân bị cắt thành hai và mất hết máu bị quăng ở một bãi đất trống trong khu dân cư, chỉ cách vài bước với vỉa hè, được quăng lúc sáng sớm sau khi sương đã rơi xong.

Điều này chứng tỏ rằng hung thủ là kẻ liều lĩnh táo bạo hoặc bị loạn trí, hoảng hốt bởi vì hắn có thể dễ dàng bị phát hiện.

Khi những thông tin và vật dụng cá nhân của cô ấy được tìm thấy thì việc xác định đường đi cũng hung thủ sẽ dễ dàng hơn và có thể đoán được nơi cô ấy bị giết.

Một số người còn để ý rằng xác cô bị bỏ lại ở một nơi trong Los Angeles mà nhìn trên bản đồ thì giống cơ quan sinh dục của phụ nữ.

Điều này có thể khẳng định rằng đây là một vụ giết người có kế hoạch và hung thủ là một kẻ bạo dâm ghét phụ nữ.

Nơi gây án quan trọng nhất trong loại phân tích này là nơi mà kẻ giết người thực hiện phần nào đó các hành vi tổn hại nạn nhân sự liên kết giữa nơi và và nơi hắn phi tang xác.

Khi mà tên sát nhân di chuyển, thì có rất nhiều thứ có thể học được từ các loại vùng địa lý mà hắn chọn để giết và cảnh sát có thể cảnh báo cho người dân.

Nhưng lập hồ sơ tội phạm dựa trên địa lý vùng gây án có gì khác với lập hồ sơ tâm lý tội phạm?

Ở đây là một cái bắt đầu với hiện trường vụ án và đi "ngược lại".

Phần tiếp theo, "Tiếp cận vụ án" sẽ giải thích rõ hơn về cách thức làm việc của loại phân tích này.

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Tâm Lý Bất Thường Và Tâm Lý Tội Phạm
Rối Loạn Nhân Cách Ái Kỷ


Trong thần thoại Hy Lạp có câu chuyện về chàng Narcissus.

Chàng rất đẹp, đẹp đến não nề, đẹp đến đau lòng người khác.

Có vô vàn cô gái yêu chàng nhưng chàng lại chẳng thích một ai, chàng cho rằng chỉ có mình mới xứng đáng với tình yêu của mình mà thôi.

Echo, một nữ thần sông núi đã mang lòng yêu chàng.

Do Echo lỡ phạm lỗi với Hera nên bị nữ thần tước đi giọng nói, cô chỉ có thể lặp lại những lời người khác nói sau cùng mà thôi.

Echo lấy hết can đảm tỏ tình với Narcissus nhưng chàng ta lạnh lùng từ chối khiến cô đau khổ, thân hình tiều tụy, yếu ớt dần.

Các nữ thần sông núi khác thấy vậy nên rất tức giận, các nàng cầu xin nữ thần tình yêu Aphrodite hãy trừng phạt Narcissus.

Nữ thần nghe lời cầu xin nên đã giáng một lời nguyền lên người Narcissus, chàng sẽ yêu người đầu tiên mà chàng gặp.

Lúc ấy là giữa ngày xuân, Narcissus đi săn và tìm đến một con suối để nghỉ ngơi.

Khi chàng cuối xuống bỗng thấy khuôn mặt mình, và chàng đã chìm đắm trong tình yêu với chính bản thân mình.

Nhưng mỗi khi chàng đưa tay chạm vào mặt nước, bóng hình ấy tan vỡ khiến chàng đau khổ.

Narcissus quên đi tất cả, chẳng thiết ăn uống, cứ ngồi bên dòng suối và ngắm nhìn hình bóng của mình không biết chán.

Chẳng bao lâu chàng mất đi, bên bờ suối mọc lên những nhành thủy tiên trắng kiêu ngạo, thơm ngát.

Và có lẽ xuất phát từ đó, từ Narcissism được dùng để nói về thói ngạo mạn và tự yêu mình thái quá.

Khi viết bài về rối loạn nhân cách hoang tưởng, tôi có nói sơ về việc 9 bệnh rối loạn nhân cách được xếp vào ba nhóm A, B và C.

Rối loạn nhân cách hoang tưởng nằm trong nhóm A ( nhóm kỳ quặc).

Hôm nay chúng ta sẽ bàn về một bệnh rối loạn nhân cách nữa, nằm trong nhóm B với những đặc điểm chính là kịch tính, quá cảm xúc và thất thường.

Đó chính là bệnh rối loạn nhân cách ái kỷ (Narcissistic Personality Disorder) hay còn gọi là bệnh rối loạn nhân cách yêu bản thân thái quá.

Trong bảy tội lớn nhất của con người trong Kinh Thánh, phẫn nộ, phàm ăn, lười biếng, kiêu ngạo, đố kỵ, trụy lạc và tham lam thì tội lỗi đại diện cho bệnh rối loạn nhân cách ái kỷ là đố kỵ.

Bạn thấy lạ đúng không?

Tôi cũng vậy, tôi cứ nghĩ tội lỗi đại diện cho bệnh này phải là kiêu ngạo mới đúng vậy.

Nhưng nếu đi sâu vào triệu chứng và tiềm thức của người mắc bệnh này thì mới bạn sẽ hiểu lý do.

Đặc điểm chính của rối loạn nhân cách ái kỷ là những xu hướng ảo tưởng qua suy nghĩ hay qua hành động, sự cần thiết được người khác ngưỡng mộ và không có khả năng thấu cảm với người khác.

Những người này thường phóng đại tầm quan trọng của họ đối với người khác.

Họ tin rằng họ có những kỹ năng đặc biệt, có một không hai mà chỉ có những người có vị trí cao trong xã hội mới hiểu được.

Bản thân họ chỉ quan tâm và chú ý đến khả năng và những gì họ đạt được.

Bởi vì họ coi họ là quan trọng, là độc nhất, cho nên họ không thể nào thông cảm và thấu hiểu được cảm xúc của người khác, và thường được coi là những người kiêu căng, ngạo mạn.

Họ lợi dụng sự thành công của người khác để làm bàn đạp cho mình.

Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh rối loạn nhân cách ái kỷ theo DSM-5 là

Sự rối loạn trong việc vận hành nhân cách thường ngày:

Sự rối loạn trong các hoạt động của bản thân.

-Nhân cách: thường dựa vào người khác để xác định bản thân là ai, phóng đại về bản thân, hạ thấp người khác.

-Hướng đi của bản thân: mục đích cuộc sống được đặt ra để đạt được sự tán thưởng của người khác.

Mục tiêu và khả năng của bản thân họ đề ra cao một cách vô lý để họ cảm thấy rằng mình là đặc biệt, hoặc là quá thấp vì họ cảm thấy mình xứng đáng có được hết thảy, thường không để ý đến động lực thật sự của mình là gì.

Sự rối loại giữa các mối quan hệ cá nhân và xã hội.

-Thấu cảm: không có khả năng nhận thức, xác định cảm xúc và những gì người khác cần.

Thường đón nhận phản ứng của người khác với thái độ quá mức, nhưng chỉ trong trường hợp nó có liên quan đến bản thân, đánh giá quá cao hoặc quá thấp sức ảnh hưởng của mình lên người khác.

-Quan hệ tình cảm: các mối quan hệ chỉ tồn tại với mục đích phục vụ cái tôi của bản thân, không hề có hứng thú với việc đối phương muốn gì và thích gì.

Rối loạn nhân cách ái kỷ đa số được chẩn đoán với người đã trưởng thành, bởi vì trẻ em và thanh thiếu niên vẫn còn đang trong thời kỳ phát triển tâm lý và cải thiện nhân cách.

Tuy nhiên, nếu được chẩn đoán ở trẻ em và thiếu niên thì những triệu chứng trên phải tồn tại và kéo dài ít nhất một năm.

Tóm tắt lại là những người mắc rối loạn nhân cách ái kỷ là những người kiêu ngạo, coi bản thân mình đặc biệt hơn hẳn những người khác, không có khả năng thấu cảm, thích và cần được ca ngợi và coi trọng.

Vậy thì tại sao đố kỵ lại được coi là tội lỗi tượng trưng cho bệnh này?

Ở tầng tiềm thức thì sự ảo tưởng, cho rằng mình xứng đáng được hưởng hết thảy, và mình quan trọng hơn những người khác được giải thích rằng do bản thân người đó cảm thấy mình bị nguy hiểm, bị đe dọa bởi những gì người khác đạt được.

Vì thế, trong tiềm thức họ tìm cách kéo những người có vẻ giỏi giang hơn mình ấy xuống ngang hàng mình, hoặc thấp hơn mình để thỏa mãn cho cảm giác bản thân mình vượt trội hơn hẳn người khác.

Để giải thích rõ hơn, tôi sẽ kể lại một trường hợp mà thầy tôi gặp phải trong những ngày đầu đi thực tập tại bệnh viện.

Lúc ấy thầy tôi mới vừa ra trường và được nhận vào thực tập ở bệnh viện trường tôi.

Ngay khi vào được một, hai tuần thì một vị bác sĩ đã chuyển một hồ sơ bệnh án qua cho thầy với gương mặt áy náy khi bắt thầy nhận bệnh án này, vì không ai muốn nhận nó hết.

Nhưng ca bệnh này sẽ mang lại cho thầy nhiều kinh nghiệm với kiến thức.

Đó là bệnh án về một người mắc chứng rối loạn nhân cách ái kỷ.

Bệnh nhân được đưa đến khám bởi người bạn cùng phòng của anh ta.

Người bạn ấy lo rằng với tính cách này của anh thì anh sẽ khiến anh gặp nhiều rắc rối.

Anh đã đi khám nhiều bác sĩ rồi nhưng thường chỉ sau mười phút đã bỏ đi.

Khi gặp thầy tôi, anh ta có vẻ nghi ngờ khả năng, nhưng vẫn nói chuyện.

Thầy tôi không hỏi gì nhiều, chỉ lắng nghe anh ta nói.

Trong suốt một tiếng đồng hồ trị liệu thì có hết khoảng 45' phút là anh ta kể về mình, về gia đình, về những gì anh ta đạt được.

Sau đó anh ta thấy được bằng tốt nghiệp của thầy tôi treo ở trên trường và hỏi, "Anh không phải tốt nghiệp từ trường ở nước Mỹ à?", "Không."

Thầy tôi vừa trả lời xong thì anh ta đập bàn mạnh một cái, mắng thầy tôi làm phí thời giờ của anh ta, đứng dậy và bỏ ra ngoài bãi đỗ xe.

Người bạn đi cùng nhìn thầy tôi với ánh mắt ái ngại và xin lỗi rối rít.

Thầy tôi bảo lúc ấy bản năng của thầy chỉ muốn đập cho anh ta một trận, nhưng lương tri kéo thầy lại, thầy suy nghĩ về những gì mình đã trải qua, khó khăn để xin được đi thực tập nên thầy phải kiềm lại.

Thầy hỏi người bạn đi cùng có nghĩ rằng anh ta có sao hay không?

Có làm gì tổn thương đến bản thân hay không.

Người bạn ấy trả lời rằng thầy đừng lo, anh ta quá yêu bản thân mình thế nên chả đời nào tự làm mình tổn hại đâu.

Bệnh nhân trong câu chuyện trên thể hiện rõ một số triệu chứng của bệnh rối loạn nhân cách ái kỷ.

Anh ta dành phần lớn thời gian để nói và ca ngợi bản thân.

Vì anh ta nghĩ rằng anh ta đặc biệt, thế nên chỉ có những người có địa vị xã hội như thầy tôi mới xứng đáng để nghe anh ta nói chuyện.

Cho nên khi anh ta thấy thầy tôi không phải tốt nghiệp từ trường nào đó trong nước Mỹ thì anh ta cho rằng thầy tôi không xứng đáng để anh ta nói chuyện tiếp.

Trong tiềm thức, anh ta kéo thầy tôi, một người có địa vị xã hội cao hơn anh ta, xuống thấp hơn để bản thân có thể trèo lên cho bằng, hoặc cao hơn nhằm thỏa mãn cái mong muốn mình đặc biệt hơn người.

Đó chính là đố kỵ.

Vì đố kỵ thế nên không chấp nhận bất cứ ai giỏi hơn mình và tìm cách kéo họ xuống.

Luôn coi mình là trung tâm của sự ngưỡng mộ thế nên không thể chịu nổi khi ai đó giỏi hơn mình.

Bệnh rối loạn nhân cách ái kỷ được coi là "con lai" của hai chứng bệnh rối loạn nhân cách kịch tính và rối loạn nhân cách phản xã hội vì nó có một số triệu chứng là đặc điểm của hai bệnh trên, ví dụ như không có khả năng thấu cảm là triệu chứng tiêu biểu của ASPD, còn coi mình là trung tâm của mọi việc, cần được tán thưởng và ngưỡng mộ là đặc điểm của bệnh rối loạn nhân cách kịch tính.

Những người mắc rối loạn nhân cách ái kỷ thường dùng sự tách ly (Splitting) làm cơ chế bảo vệ.

Theo phân tâm học, sự tách ly, hay còn gọi kiểu suy nghĩ trắng và đen- có hoặc không, là sự thất bại trong suy nghĩ của một người, họ không thể mang cả hai khía cạnh tích cực và tiêu cực của bản thân và những người khác lại để liên kết, tạo nên một tổng thể "hiện thực".

Đây là một hình thức tự vệ trong tiềm thức được dùng bởi rất nhiều người.

Họ thường hay nghĩ đến mức cùng cực, mỗi hanh động, động lực của họ chỉ có hoàn toàn tốt, hoặc hoàn toàn xấu chứ không có ở giữa.

Người bệnh rối loạn nhân cách ái kỷ dùng cơ chế này để ổn định cảm xúc tích cực về bản thân phục vụ cho cái tôi của họ, bằng cách nhận định bản thân vượt trội hơn hẳn những người khác và đáng được ngưỡng mộ.

Những ai không làm theo ý họ, hoặc không coi trọng những giá trị mà họ mang lại là những kẻ xấu xa và chỉ biết ganh tỵ với những gì họ đạt được.

Nguyên nhân gây ra chứng rối loạn nhân cách ái kỷ vẫn còn nằm trong vòng tranh cãi và chưa có kết quả cuối cùng.

Những nhà tâm lý học dùng mô hình sinh lý- tâm lý- xã hội để giải thích nguyên nhân và họ cho rẳng nguyên nhân gây ra bệnh rất phức tạp.

Bệnh rối loạn nhân cách ái kỷ có thể liên qua đến sự chỉ trích thái quá, hoặc tâng bốc quá của các bậc cha mẹ đối với con mình, không ngừng nhấn mạnh về sự đặc biệt của nó.

Điều này khiến cho đứa trẻ có thể che dấu đi sự thiếu tự tin của mình bằng cách phát triển bề ngoài về sự hoàn hảo, và hành vi chứng tỏ sự cần thiết được ngưỡng mộ liên tục.

Bên cạnh đó còn có sự liên hệ giữa bộ não, suy nghĩ và hành vi, khả năng giải quyết stress.

Khi học tâm lý tính cách con người, giáo sư tôi có đưa ra một nghiên cứu rất thú vị.

Nghiên cứu này kết luận rằng giới trẻ thời nay có tính ái kỷ, cho rằng mình xứng đáng được hưởng mọi thứ hơn những người sống 20 năm về trước.

Nguyên nhân là vì sao?

Ngày nay, trong các buổi diễn đàn về tự lực, hướng bản thân đến lối sống hoàn thiện, hoặc trong những cuốn sách hướng dẫn bạn tự rèn luyện bản thân thường hay có những câu như, "Chỉ cần bạn cố gắng hết mình bạn sẽ thành công" hay "Chỉ cần bạn cố gắng hết sức, bạn sẽ đạt được những điều mình muốn."

Vì những câu như thế khiến giới trẻ ngộ nhận rằng họ có quyền được hưởng mọi thứ chỉ cần họ cố gắng hết sức.

Thế nhưng "cố gắng hết sức" là một khái niệm trừu tượng, không được định nghĩa rõ ràng.

Thế nào gọi là cố gắng hết sức?

Bạn cho rằng bạn học hết 2 tiếng là sự cố gắng hết sức của bạn và vì thế bạn xứng đáng được điểm 10 thay vì điểm 6 hay 7.

Thế nhưng đối với người khác, sự cố gắng hết sức của họ là chăm chỉ ngay từ đầu buổi học.

Chính những khái niệm trừu tượng này dẫn đến sự ngộ nhận và tính ái kỷ trong giới trẻ.

Trên thực tế, bệnh rối loạn nhân cách ái kỷ là một trong những bệnh tâm lý có tỷ lệ người mắc bệnh thấp nhất, chiếm khoảng 2% dân số.

Thế nhưng con số này đang dần tăng lên bởi vì một trong những nguyên nhân mà tôi nêu bên trên.

Cũng giống như các bệnh rối loạn nhân cách khác, rối loạn nhân cách ái kỷ rất khó chữa.

Một phần là vì người mắc bệnh không cho rằng họ bị bệnh, và vì thế nên họ không tự đi tìm sự giúp đỡ từ các chuyên gia.

Phương thức chữa bệnh phổ biến nhất là dựa vào nói chuyện và khám phá tiềm thức người bệnh, hướng dẫn họ suy nghĩ tích cực hơn, tốt hơn.

Lâu dài, các chuyên gia sẽ giúp người bệnh có cái nhìn sâu vào bên trong suy nghĩ của họ, giải đáp tại sao họ lại có thái độ và hành vi như thế với hy vọng rằng điều này sẽ giúp cho họ cải thiện hành vi của mình.

Không có loại thuốc nào có thể chữa rối loạn nhân cách ái kỷ, các loại thuốc được dùng để chữa các triệu chứng phụ khác như trầm cảm, lo âu có thể xuất hiện kèm theo bệnh.

CÁC BẠN CÓ THỂ DONATE MÌNH QUA VÍ MOMO:0944788578 ĐỂ MÌNH CÓ ĐỘNG LỰC ĐĂNG NHIỀU CHAPTER MỚI HƠN ^^
 
Back
Top Bottom