Buổi sáng tại Saitama bắt đầu như mọi ngày khác.
Ánh nắng nhạt khẽ trườn qua những dãy nhà, tán lá đung đưa theo làn gió nhẹ mang theo mùi ẩm thấp của đêm mưa cũ còn sót lại.
Con phố nhỏ vắng lặng, hiếm hoi vài bóng dáng bận rộn cùng những chiếc xe đạp lướt qua, để lại âm thanh khẽ khàng như sợ đánh thức thứ gì đó đã già nua.
Trong góc phố, một quán ramen truyền thống đứng lặng lẽ, không một người ghé thăm, bảng hiệu gỗ đã phai màu, những nét chữ sơn tay đã nứt nẻ theo năm tháng.
Cánh cửa kéo bằng kính mở hé, cái chuông treo ở phía cửa ra vào khẽ rung lên một tiếng leng keng mệt mỏi – không phải vì có khách, mà vì gió sáng lùa vào, như muốn cố gắng thổi bùng lại sức sống của một quán ăn đã không còn ai để tâm đến.
Dù vắng khách, nhưng bên trong dường như lại đang có một cuộc trò chuyện nào đó, là những thứ âm thanh duy nhất khiến nơi này có bầu không khí.
Nhưng bầu không khí này không mang lại hương vị ramen quen thuộc, nó mang lại nỗi bất an.
Một người đàn ông trung niên, khoác áo tối màu, ánh mắt lạnh lùng như thể đã quen với những nơi sắp biến mất khỏi bản đồ.
Hắn không ngồi ở bàn ghế dành cho khách, hắn ngồi ngay chỗ tiếp khách của quán, phì phào điếu thuốc lá, khói thuốc bay lên, hòa lẫn với không khí buổi sáng vốn đã nặng nề.
Hắn ta ngồi ngược hướng, phía sau hắn là một người đàn ông đã có tuổi, đang lặng lẽ đứng cúi mặt xuống, như đang không dám đối mặt với chuyện gì đó.
“Này lão già.”
- gã trung niên nói, giọng bình thản đến lạnh lùng – “Ông có biết hôm nay là ngày thứ mấy rồi không?”
Ông chủ quán không nói gì, chỉ cúi đầu e dè.
Đôi bàn tay nắm lấy tạp dề đã cũ kỹ run nhẹ.
“Cậu à…bây giờ tôi vẫn chưa có đủ…”
Gã trung niên phì phào điếu thuốc lá, nghe chủ quán vội vàng giải thích, gã chỉ biết lắc đầu, như thể đã quá chán với mấy câu nói đã nghe qua hàng trăm lần.
“Vẫn cứ bài ca cũ rích ấy, ông không còn lý do nào hợp lý hơn để nói à?”
Chủ quán im lặng, bàn tay càng siết chặt tạp dề hơn.
“Quán này…” – gã trung niên nói – “chẳng còn có giá trị sử dụng lâu dài.
Tôi khuyên ông nên bán nó, cả quán lẫn đất.
Góp đủ tiền rồi trả nợ cho gọn.”
“Xin lỗi…tôi không thể…” – Ông chủ đáp, giọng nhỏ đến mức chính ông cũng khó lòng nghe thấy.
Gã trung niên như không nghe thấy, liền tiếp lời, giọng đều đều như đọc số liệu.
“Nghĩ mà xem, quán của ông cũng đã qua tám đời rồi…”
“Là chin đời…” – Ông chủ quán vội sửa lại, gần như theo phản xạ.
“Ờ, sao cũng được…”
Hắn nhún vai, dẫm tàn thuốc xuống nền gạch.
“Nó nằm ngay chỗ thoáng mát, xung quanh cũng chả có nhiều nhà dân.
Rất nhiều nhà đầu tư đang đạp lên nhau để giành lấy nó như một miếng bánh béo bở.
Ông bán đi, đảm bảo thu được một khoản lớn.”
Ông chủ quán mím môi.
“Nhưng…”
Ánh mắt lão trung niên liền đanh lại, liếc ánh nhìn sắc lẹm và lạnh lẽo về phía chủ quán.
Chỉ với cái liếc ấy, đã đủ khiến chủ quán nuốt khan, câu nói lưng chừng bỗng chốc nghẹn lại trong cổ họng.
“Tôi không chi nhiều thời gian chỉ để buôn những câu chuyện nhạt nhẽo.”
- hắn nói, tay với lấy gói thuốc trong túi áo, châm thêm một điếu khác – “Tôi gia hạn cho ông thêm một ngày.
Ngày mai, hãy có đủ tiền cho tôi.”
Hắn lùi một bước, ánh nhìn lướt qua từng chiếc ghế, từng bức tường.
Rồi hắn nhìn về phía ông lão, như quan tòa đang nhìn một tên tội phạm, đưa ra một lời cảnh cáo.
“Bằng không…” – giọng hắn vẫn thản nhiên như không, nhưng dường như có thêm sức ép đáng sợ nào đó – “tôi sẽ tự tay đập nát cái quán này.
Dọn chỗ cho mốt còn làm ăn.”
Cả người chủ quán run lên, ngẩng phắt đầu nhìn gã trung niên, ánh mắt hoảng hốt và kinh hãi tột độ, đôi môi mấp máy liên tục như muốn nói gì đó.
Còn hắn thì vẫn nhìn thẳng vào ông chủ, không chút dao động nói.
“Ông già rồi…sống ở đâu mà chẳng được, đúng không?”
“Không được!” – Ông chủ gào lên, giọng run rẩy nhưng lớn hơn trước rất nhiều – “Cậu…cậu không được làm thế…!”
Những câu hét lớn như đã tiêu hao hết sức lực của ông, đó là tất cả những gì ông có thể nói.
Sau những giây phút bị dồn vào đường cùng, ông chủ quán cũng đã ra sức phản kháng.
Nhưng cũng chỉ dừng lại ở phản kháng đơn thuần, vì ông biết sẽ chẳng thể nào thay đổi được kết cục.
Lão chủ nợ bật cười khẽ.
“Vậy thì cố mà kiếm tiền đi.”
Hắn lấy ra một tờ giấy từ trong túi áo, đặt lên quầy.
Một dãy chữ số được viết gọn gàng như in trên mảnh giấy, hắn ta nói.
“Không cần biết ông làm bằng cách nào, miễn có tiền thì cứ điện cho tôi, bất cứ lúc nào, tôi sẽ đến lấy tiền ngay, không chậm trễ.”
Hắn quay lưng, đẩy cửa chuẩn bị bước ra ngoài.
“Hạn chót là ngày mai” – giọng hắn vọng lại – “Giữ quán được hay không, tùy vào sự lựa chọn của ông.”
Leng keng.
Tiếng chuông ngoài cửa khẽ kêu, như thông báo rằng cơn bão đã qua, để lại sự im lặng bao trùm không khí.
Ông chủ quán đứng lặng, rồi nhìn vào mảnh giấy ghi số điện thoại được đặt ngay ngắn ở trên quầy.
Ông nhìn nó rất lâu, như thể nó còn nặng hơn cả nồi nước dùng đang sôi phía bếp đằng sau.
Rồi ông cúi đầu não nề, thở dài ngao ngán – một hơi thở kéo theo bao nhiêu ký ức và thời gian làm việc tại quán, bao nhiêu công sức và mồ hôi, và có lẽ một buổi sáng nào đó tại Saitama sẽ lặng lẽ chuyển biến sang một chương mới, một chương nơi không còn quán ramen truyền thống quen thuộc.
Leng keng.
Tiếng chuông ngoài cửa lại vang lên, làm ông chủ quán giật thót.
Có lẽ cuộc nói chuyện vừa rồi vẫn còn đọng lại dư chấn trong trái tim người chủ quán, khiến ông sợ sệt rằng gã chủ nợ còn quay lại để đòi hỏi thêm điều gì đó ông không thể gánh nổi.
Nhưng thứ xuất hiện không phải gã chủ nợ khoác áo đen, miệng phì phèo điếu thuốc với ánh mắt lạnh lẽo đáng sợ, mà là bóng dáng của một cậu thiếu niên khoác lên mình bộ đồng phục của một trường trung học nằm ở ngoại ô phía Đông.
Cậu thiếu niên có vóc dáng bình thường, đến mức nếu biến mất khỏi lớp học, có lẽ phải mất vài ngày người ta mới nhận ra sĩ số lớp có vấn đề.
Đồng phục mặc vừa người, tóc không nhuộm, không vuốt keo, vóc dáng, chiều cao cũng chả có gì nổi trội.
Ờ...,là tôi đấy, bình thường đến đáng thương nhỉ, nhưng được cái là ở tuổi này tôi không có chơi bời lêu lổng hay đu theo những thứ quái dị như mấy đứa tuổi mới nhú.
Như tôi đã giới thiệu rồi đấy, “đồng phục mặc vừa người, tóc không nhuộm...” cũng đủ khiến tôi tốt hơn nhiều so với mấy đứa khác rồi, trông cũng ngầu mà...đúng không...?
“Ồ, là cháu đấy à, Takuya-kun.”
Giọng ông bác vang lên ngay khi tôi vừa bước chân vào.
Tôi thấy ông trước đó có khựng lại trong một khoảng khắc rất ngắn – ngắn đến mức nếu không để ý, sẽ tưởng như chưa từng tồn tại.
Nhưng ngay sau đó gương mặt ông chủ quán lập tức giãn ra, đôi đồng tử trong mắt ông đã bớt đi sự đề phòng khó gọi tên.
Một nụ cười quen thuộc xuất hiện, ấm áp chào đón tôi, như thể tôi vừa mới trở về nhà sau một ngày dài.
“Hôm nay tới sớm ghê nhỉ?
Tối qua có thức khuya chơi game không đấy?” – Thấy tôi lần đầu tới sớm hơn thường ngày, ông bác hỏi ngay khi vừa chạm mắt tôi.
“Dạ không...” – Tôi đáp – “Cháu ngủ nghỉ đúng giờ mà bác, cháu không thấy hay lắm nếu hôm nay ngủ gục trên lớp...”
Tôi đang bốc phét đấy, thực ra tối qua tôi có thức khuya một chút, chỉ một chút thôi...
“Hmmm...” – Ông bác đăm chiêu nhìn vào phản ứng và ánh mắt của tôi, để xác định xem tôi có nói dối không.
Đến khi không nhìn thấy gì, ông bác liền quay đầu vào bếp, nói – “Vậy thì tốt, vừa hay tối qua bác mới nghĩ ra một công thức ramen mới.
Cháu là người đầu tiên được thử đó.”
Tôi hơi ngạc nhiên, thật ra là rất ngạc nhiên, chỉ là nét mặt của tôi vốn chả mấy khi chịu hợp tác với phản ứng cảm xúc bên trong.
Để nói thêm về tôi thì...tôi vốn không mấy phản ứng thái quá với nhiều tình huống.
Không phải vì tôi lạnh lùng hay thích ra vẻ, chỉ là tôi biết những điều đó không khiến tôi hưng phấn hay phát rồ lên vì nó.
Ngay cả đôi mắt tôi cũng chả hay phản ứng lại sự việc, nhiều lúc còn khiến ông bác chủ quán ramen nhầm lẫn rằng tôi không thích khẩu vị món mì của quán.
Theo như lời bác ấy nhận xét thì ánh mắt của tôi đối với người đời họ gọi nó là vô cảm hoặc bất cần đời, nhưng tôi chẳng buồn sửa mấy, thậm chí tôi còn coi nó như tấm lá chắn giúp tôi che giấu được cảm nhận bên trong của bản thân đối với thứ mà mình đang nhìn.
Đến bây giờ cũng vậy.
Khi ngồi xuống bàn ăn cạnh cửa sổ, vị trí quen thuộc của tôi trong quán, tôi vô tình nhìn thấy trên quầy tiếp khách có một mảnh giấy kỳ lạ.
Trên đó ghi ra một dãy số, tôi biết ngay đó là số điện thoại.
Tôi im lặng vài giây, và dường như đã hiểu được điều gì đó, tôi thu lại ánh mắt của mình.
Tôi liền mỉm cười nhẹ - đủ vô hại, đủ để che giấu đi hành động quan sát lén lút vừa rồi – rồi nói:
“Cho cháu một suất...“công thức ramen mới” của bác ạ.”
“Có ngay!”
Giọng ông bác niềm nở hẳn lên, rồi bước về phía bếp.
Nhưng khi đi ngang qua quầy tiếp tân, ông ấy lén giấu đi mảnh giấy kia sợ tôi để ý đến, ông đâu biết rằng tôi đã thấy nó trước đó rồi.
Một lát sau, ông đặt một bát ramen ngay trước mặt tôi.
“ – Một suất “đặc biệt” của quý khách đây.”
Nói là “đặc biệt”, là “công thức mới”, nhưng thật ra không có gì quá khác so với bình thường.
Chỉ là thêm một miếng đùi gà tẩm bột giòn rụm kèm vài miếng mực ống – những món mà tôi khoái khẩu từ bé, tôi đoán chắc “đặc biệt” ở đây là chỉ “đặc biệt” đối với tôi thôi.
Hơi nước từ bát mì bốc lên, làm mờ đi tầm nhìn của tôi.
“Chúc quý khách ngon miệng.”
Ông nói rất vui vẻ.
Còn tôi thì...ngồi đó im lặng.
Tôi không động đũa, chỉ nhìn vào bát ramen phản chiếu lại ánh mắt bất cần đời của tôi trên mặt nước dùng sóng sánh.
Trong đầu tôi bây giờ có quá nhiều thứ chồng lên nhau, nhưng không thứ nào chịu thành hình.
“Takuya – kun?”
Ông bác nghiêng đầu nhìn tôi.
“Bộ trông không hợp khẩu vị à...?”
“Dạ không.” – Tôi lắc đầu vội – “Chỉ là...”
Tôi dừng lại, cổ họng khô khốc, khó khăn lắm mới có thể nói ra.
“...Cháu nhớ ngày xưa...” – Tôi nói chậm rãi, như đang hoài niệm lại chuyện cũ – “Bác Gouri – san đã luôn dẫn cháu ra đây ăn sáng...”
Ông bác thở ra mợt hơi dài, như vừa trút được điều gì đó.
“À...ra là chuyện đó...” – Giọng ông trầm xuống – “Cũng đã năm năm rồi nhỉ...”
Ông vừa nói vừa lau tay vào tạp dề.
“Gouri lúc nào cũng lo cho cháu.
Ông ấy từng nói với bác, rằng chỉ mong sau này cháu có thể tự chăm sóc bản thân dù bác ấy không còn ở cạnh cháu nữa...”
Tôi cúi mắt xuống nhìn bát ramen, hơi nước bốc lên làm mắt tôi cay xè.
“Nhưng cháu cứ yên tâm, dù đã không còn, Gouri vẫn sẽ luôn dõi theo từng bước chân của cháu, thế nên cháu cứ cố gắng sống thật tốt cuộc sống của mình, đừng vướng bận quá nhiều vào những chuyện đã qua...” – Ông nói tiếp, nhẹ nhàng – “Cũng vì muốn tốt cho cháu thôi...”
“Vậy còn bác thì sao?” – Tôi đột nhiên lên tiếng hỏi
Nghe thấy câu hỏi bất chợt, ông bác liền khựng lại trong chốc lát.
“Bác...đã có mong muốn gì cho riêng mình chưa?”
Ông nhìn tôi chăm chú, như không ngờ rằng tôi lại hỏi thế.
Tôi biết bản thân không hề tập trung vào bát ramen, dù ánh mắt của tôi vẫn đặt ở đó.
Sau đó, ông nhìn quanh quán – những bức tường gỗ cũ, những chiếc ghế tróc sơn, tấm biển treo nghiêng…tất cả đều được gói lại trong ánh mắt xa xăm của người chủ quán.
“Hiện tại thì…”
- ông chậm rãi nói – “bác chưa có ý định gì cả.”
Ông cười hiền lành, nhìn tôi.
“Cháu thấy đấy, quán ramen này đã trải qua chín đời rồi.
Bác già thế này mà cũng chẳng có lấy một người nối dõi.
Nên nhiệm vụ trước mắt của bác…vẫn là trông nom quán ăn cho tốt thôi.”
“Vậy ạ…”
Tôi đáp, dù bản thân cũng không chắc mình có hiểu không.
“Ừm, là vậy đó.” – Ông mỉm cười, xua tay – “Thôi ăn nhanh đi, kẻo trễ giờ học.”
Tôi cầm đũa lên, húp lấy húp để, hết nước dùng rồi đến từng sợi mì, từ chân gà giòn rụm đến những miếng mực ống thơm ngon, mà chẳng thể lấp đầy những suy nghĩ trong lòng.
Ramen hôm nay rất ngon.
Có lẽ vì những món được cho thêm vào bát mì ramen “đặc biệt” này đều là những món tôi thích, hoặc là vì tôi đã thưởng thức nó cùng với quá nhiều thứ không thuộc về vị giác.
Tôi đã chén sạch bát mì – đến giọt cuối cùng.
Không biết đây có phải là bát ramen cuối cùng tôi được ăn ở quán này hay không.
Nhưng chắc chắn, đây là bát ramen nặng nề nhất mà tôi từng ăn.
Tôi đứng dậy, đặt một số tiền lên quầy, một số tiền vượt xa giá của một bát ramen thông thường.
“Bác lấy luôn tiền thừa nhé.”
“Ơ - Ấy…” – Ông bác luống cuống – “Thế…này nhiều quá…bác không…”
“Cứ nhận đi ạ.” – Tôi thúc giục, không cho ông ấy có cơ hội từ chối – “Cháu còn phải đi học nữa ạ.”
Ông nhìn tôi, rồi cuối cùng cũng đầu hàng trước sự bướng bỉnh của tôi, cầm lấy số tiền bằng cả hai tay.
“ – V…Vậy…cảm ơn quý khách…lần sau lại ghé thăm quán nha…”
Thấy ông bác đã nhận tiền, tôi liền hài lòng, quay lưng định bước ra ngoài.
“Nè, Takuya – kun…”
Tôi dừng lại ngay trước cửa, không hề ngoảnh đầu lại.
Chỉ tập trung lắng nghe tiếng nói của người đằng sau, không gian bỗng chốc tĩnh lại hơn đôi chút so với ban nãy, nhưng cũng chỉ đôi chút, sau đó ông bác cất giọng nói.
“Chuyện hồi nãy cháu hỏi…” – Ông ngập ngừng, rồi tiếp tục – “Bác cần thời gian suy nghĩ.
Bác cũng không biết bây giờ bản thân mình đang mong muốn điều gì, nhưng mà…có lẽ sẽ sớm biết thôi.”
Ông nhoẻn miệng, không rõ là đang cười hay đang dằn vặt.
“Cho nên…không cần lo lắng cho bác đâu, Takuya – kun.”
“Dạ vâng…”
Tôi bước ra ngoài, để lại bóng lưng gù cô đơn ấy, nơi mà chỉ còn lại những hoài nghi về bản thân mình.
Leng keng.
Cánh cửa khép lại phía sau, tôi dắt xe đạp ra khỏi chỗ để xe của quán, ánh nắng buổi sáng chiếu lên con phố yên tĩnh.
Tôi đạp mạnh lên bàn đạp xe đạp, xông pha đến trường học, dù mọi chuyện diễn biến như thế nào, tôi cũng sẽ không ngoảnh đầu nhìn lại.
Tôi rời khỏi quán ramen, đạp xe ra con đường nhỏ trước mặt.
Càng đến gần trường, càng có nhiều hình bóng của sự sống trên đường phố.
Những bộ đồng phục giống nhau xuất hiện ngày một nhiều, hòa vào nhau như một dòng chảy quen thuộc.
Tôi đạp chậm lại khi đến được một góc đường giao nhau, thì một tiếng quát đột ngột đã thu hút sự chú ý của tôi.
Trên lề đường dẫn tới trường học có lấp ló hai bóng dáng mặc đồng phục giống tôi đứng đối diện nhau.
Một bên là thằng con trai dáng cao ráo, gương mặt hổ báo và nhuộm tóc cam, giọng quát tháo xen lẫn tiếng nói chuyện náo nhiệt của đám học sinh nên chả ai để ý mấy đến sự tình.
Đồng phục tên đó mới toanh, giày sạch, cặp sách thì trông nhẹ bẫng, như thể bên trong chả có lấy một cuốn sách giáo khoa hay những vật dụng học tập.
Ánh mắt hắn đầy bực bội, như thể người đối diện vừa phạm phải một tội lỗi không thể tha thứ.
Trước mặt nó là một học sinh khác, gầy hơn, cặp sách sờn cũ, đồng phục còn có phần lụm xụm.
Cậu ta cúi đầu, hai tay nắm chặt lấy một quyển tập, đang đặt nó ở ngay trước ngực, giọng nói nhỏ đến mức gần như tiếng lá cây đung đưa theo gió còn rõ ràng hơn:
“Tao bảo mày giúp tao làm bài tập về nhà rồi cơ mà!”
“Xi-xin lỗi…”
“Lỗi cmm, mày làm cho mỗi mình mày thì có ích gì?!” – Hắn ta càng quát càng hăng – “Tao đéo cần biết, mày phải làm cho xong ngay cho tao, tao sắp có tiết học rồi!”
Tiếng chửi thề bật ra không hề ngần ngại.
Người xung quanh có liếc nhìn, nhưng chả ai có hơi đâu mà can thiệp, tôi cũng vậy.
Tôi chỉ biết bọn họ là người cùng trường, có thời gian đứng đó gây sự thì tôi đoán chắc bản thân mình sắp tới nơi rồi.
Tôi đạp xe đi ngang qua 2 bóng dáng nổi bật giữa phố đó, không quay đầu nhìn lại.
Câu chuyện về xã hội cứ nhai đi nhai lại một kịch bản, nhưng chưa bao giờ ngừng vận hành theo thời gian.
Giống như sự việc vừa rồi, một đứa có tiền, có quyền thế, và một đứa chả có gì ngoài việc học giỏi hơn một chút.
Mối quan hệ ấy vốn đã được quyết định ngay từ đầu, giống như việc quán ramen của ông bác…vốn đã thua từ lúc nợ nần chồng chất lên nhau.
Tôi tiếp tục đạp xe, nhưng hình ảnh lúc nãy không chịu biến mất.
Nó chồng lên hình ảnh ông bác đứng sau quầy ramen, nụ cười che giấu sự bất an, và mảnh giấy ghi số điện thoại đặt lặng lẽ trên bàn.
Thế giới vốn dĩ bất công - Hãy thích ứng với điều đó.
Câu nói bất hủ của Bill Gates bất chợt hiện lên trong đầu tôi.
Trước đây tôi từng nghĩ câu nói đó thật ngớ ngẩn.
Nếu thế giới đã bất công, tại sao lại phải thích ứng?
Tại sao phải cúi đầu, chịu đựng, học cách tồn tại trong một cấu trúc vốn đã không được tạo ra để công bằng?
Nếu chỉ để sống sót, thì sống có ý nghĩa gì?
Giọng nói khác đột nhiên vang lên trong đầu tôi, mang theo bao nhiêu ký ức.
Bác Gouri, người đã từng nuôi nấng tôi, đã từng bảo rằng.
“Cháu hiểu sai rồi, Takuya – kun.”
“Hả?” – Khi đó tôi còn nhỏ, giọng non nớt kêu lên biểu lộ sự khó hiểu trên khuôn mặt.
“Câu nói đó…nghe có chút mơ hồ và tiêu cực.” – Rồi bác cười, xoa đầu tôi như thường lệ - “Nhưng nếu cháu sống đủ lâu, và chịu gạt bỏ đi những định kiến về xã hội sang một bên…cháu sẽ thấy, thế giới này vẫn có những điều tốt đẹp và đáng trân trọng.”
“Chỉ là bây giờ…” – Bác nói tiếp – “Cháu chưa nhìn thấy thôi.”
Tôi đạp xe chậm lại.
Gió lùa qua tai, mang theo tiếng chuông xe đạp của ai đó phía sau.
Cổng trường đã hiện ra trước mắt, quen thuộc đến mức tôi có thể nhắm mắt mà vẫn biết mình đang ở đâu.
Tốt đẹp và đáng trân trọng…à…?
Tôi lẩm nhẩm trong miệng.
Tôi không biết bác nói đúng hay không, có thể đúng, hoặc có thể bác chỉ muốn tôi tin rằng thế giới này đáng sống hơn những gì tôi đang thấy.
Tôi dựng xe vào bãi, khóa lại như mọi ngày.
Mọi thứ vẫn vận hành bình thường – quá bình thường.
Những học sinh đi ngang qua tôi cười nói, túm ba tụm năm, phàn nàn về bài kiểm tra, về giáo viên khó tính, về mấy chuyện nhỏ nhặt trên trời dưới đất không đáng để nhớ.
Tôi hòa vào dòng người, bước bộ vào khuôn viên trường.
Trên tay cầm điện thoại, cúi đầu nhìn màn hình, bước về phía lớp học một cách trầm lặng.
Tai nghe không bật nhạc, chỉ để che đi thế giới xung quanh.
Trên màn hình là bản ghi lại buổi phát song trực tiếp trận đấu giao hữu cờ vua – giữa tiểu thư nhà Saiga và cậu ấm nhà Mikaido.
Một trận đấu đã kết thúc từ hôm qua, nhưng dư âm của nó thì vẫn chưa chịu lắng xuống.
Tôi tua chậm vài nước cuối, nhìn đi nhìn lại mấy lần.
Thực sự thán phục trước hai tài năng trẻ, tôi tự ngẫm rằng rốt cuộc họ đã được huấn luyện chỉn chu đến mức nào để có thể đạt được đến trình độ này.
Pha thí hậu cuối cùng của tiểu thư Saiga là nước cờ đã chốt hạ kết quả ván đấu, dù đồng hồ ở chỗ cô ấy vẫn còn chạy.
Về độ chính xác trong trận cờ đó, cậu ấm nhà Mikaido dù thua nhưng được chấm đến 82,5%, trong khi người thắng cuộc, tiểu thư Saiga đạt hơn 90%, chính vì thế mà trên mạng bắt đầu rầm rộ lên đủ thứ chuyện.
Tôi lướt qua bài viết – những tiêu đề giật gân, những dòng chữ in đậm:
“Liệu tiểu thư Saiga có gian lận?”
“Một học sinh nữ có trình độ thực sự, hay chỉ là một sự dàn xếp có chủ đích?”
“Các nước đi bị đánh giá quá cao?”
Tôi đọc qua, nhưng chả có bài viết nào trong số đó làm tôi có hứng đọc.
Không có bằng chứng, chỉ thuần theo suy đoán, cảm xúc, và sự khó chịu khi thấy ai đó vượt ra khỏi khuôn mẫu quen thuộc.
Những bài “bóc phốt” đối với tôi, nó giống như sân nhà của những kẻ chỉ trích những người có vị thế cao trong xã hội, âm thầm mổ xẻ toàn bộ những điểm xấu nhất hay dùng những cách hèn hạ nhất chỉ để kéo những người đó xuống cùng với mình.
Thực sự khá phiền não, thực sự đấy.
Nên tôi mặc kệ, cất điện thoại lại vào trong túi quần.
Đúng lúc đó, không khí ở cổng trường đột nhiên xôn xao hơn hẳn.
Những tiếng thì thầm lan nhanh như gió, một vài người quay đầu nhìn lại, một vài người đứng thẳng dậy, rồi chạy ra phía cổng trường, như thể vừa có thứ gì đó đủ quan trọng để phá vỡ sự lười biếng buổi sáng.
Một nhóm ba người, chỉ sự xuất hiện của bọn họ thôi đã thu hút bao nhiêu sự chú ý xung quanh.
Đi bên trái là Miyabi Shoko – học sinh kiêm người mẫu tạp chí, gương mặt quen thuộc trên các nền tảng xã hội.
Vẻ đẹp của cô không phải kiểu rực rỡ phô trương, mà là một khí thế khiến người khác cảm thấy xa tầm với, giống như chỉ cần tiến lại gần cũng đã vượt quá giới hạn vô hình nào đó.
Thường ngày cô đều trong trạng thái tự tin, đầy phong cách, nay lại bước đi với dáng vẻ uể oải, gương mặt dường như đang chán chường vì điều gì đó dù xung quanh là vô số ánh nhìn ngưỡng mộ, có lẽ hôm qua đã xảy ra chuyện gì đó với cô.
Đi ở giữa là Hiyoshima Riku – cao ráo, đẹp trai, gọn gàng, nụ cười sáng sủa treo thường trực trên môi.
Idol của các nữ sinh, diễn viên trẻ đang hot trên diễn đàn, người mà chỉ cần xuất hiện là bầu không khí cũng đã dịu đi đôi phần.
Cậu sải bước tự nhiên, quen thuộc với việc trở thành tâm điểm, nhưng không hề tỏ ra kiêu căng – trái lại, càng khiến người khác dễ sinh thiện cảm.
Bên phải là Mikaido Yachihiro – nhân vật chính của ván cờ vua giao hữu tối qua.
Cậu ấm của nhà Mikaido, người vừa trải qua một thất bại công khai trước tiểu thư Saiga.
Dù dáng vẻ vẫn chỉnh tề, nhưng ánh mắt của Mikaido có phần do dự hơn thường ngày, như thể vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi dư âm trận đấu ấy.
Và quan trọng nhất là, cả ba bọn họ đều là học sinh cùng trường với tôi, ghê không?
Trường tư thục mà toàn nhân tài, không biết tôi, một học sinh vô danh của cái trường này, có nên cảm thấy tự hào không nữa.
“Haiz...lại ồn ào như mọi khi ha.”
Hiyoshima lên tiếng trước, giọng nói thoải mái, như thể đã quá quen với cảnh tượng này.
“Có phải do trận cờ không?” – Mikaido chần chừ nói, giọng mang theo chút lo lắng – “Dù sao tớ cũng đã thua...có lẽ mọi người thất vọng lắm...”
Nhưng thực tế thì khác.
Đám đông quả thật không ai dám bước lên hỏi han hay bàn luận với cậu về trận đấu.
Không phải vì họ thất vọng, mà là vì không dám.
Sau khi xem ván cờ hôm qua, phần lớn đều nhận ra một điều rõ ràng, rằng khoảng cách giữa họ và Mikaido, và cả đối thủ của cậu, là quá lớn.
Khen ngợi hay hỏi han lúc này chỉ khiến họ cảm thấy mình thật nhỏ bé, thậm chí có thể làm Mikaido khó xử hơn.
Vì thế, họ chỉ dám đứng từ xa, thì thầm, quan sát bằng ánh mắt pha lẫn ngưỡng mộ và dè chừng.
Hiyoshima dường như nhận ra điều đó.
Cậu nhắm mắt, quay đầu về phía Mikaido, nở nụ cười nửa đùa nửa thật.
“Yên tâm đi, cho dù cậu có làm chuyện tày trời như cúp học cả tuần, thì cả trường, từ học sinh tới giáo viên, cũng sẽ cảm thấy tự hào vì có một người xuất sắc như cậu thôi.” – Hiyoshima cười nhếch mép nói tiếp – “Khéo khi cậu đang ăn chơi phè phỡn ở nhà, người ta ở đây chắc đã tạc tượng hình cậu đặt giữa sân trường để tưởng nhớ luôn rồi.”
“N-nói thế có hơi quá không...”
Mikaido cười gượng, rõ ràng không quen lắm với kiểu trêu chọc thẳng thừng này.
Lúc ấy, Miyabi Shoko, từ nãy đến giờ vẫn cứ giữ nguyên gương mặt buồn tẻ, lên tiếng:
“Đùa hay đấy.” – Cô thở dài – “Còn tớ chỉ cần nghỉ học không xin phép một buổi là nhà trường và bố già nhà tớ sẽ cắt phăng việc làm người mẫu luôn.
Nghĩ mà buồn.”
Hai người con trai không nói gì, chỉ đưa tay lên che miệng cười trong âm thầm vì cách biểu đạt cuộc sống chân thật của cô, hay đúng hơn là của đa số học sinh khi dám tự ý nghỉ học.
Rồi như chợt nhớ ra điều gì đó, Miyabi khẽ liếc mắt xung quanh.
“Mà...cậu ấy vẫn chưa tới à?”
Câu nói làm cho ánh mắt hai cậu con trai vô thức nhìn quanh tìm kiếm hình bóng còn thiếu trong nhóm bạn.
Ở phía tôi, mọi người xung quanh vẫn còn bàn tán về trận đấu tối qua.
“Nghe nói Mikaido – kun thua do đối phương gian lận hay sao ấy...”
“Haiz...tin đồn thì cũng chỉ là tin đồn thôi.”
Tôi bỏ ngoài tai những lời nói đó, tôi chỉ đứng lại quan sát ba người bọn họ một lúc, rồi lặng lẽ bước về phía lớp học, như thể mọi chuyện đang diễn ra không liên quan gì đến mình.
Ngay lập tức sau đó, người thứ tư trong nhóm xuất hiện, một giọng nói nhẹ nhàng vang lên từ phía sau cả ba người đang di chuyển, vừa chín chắn vừa mang nét dễ thương rất riêng.
“A...xin lỗi nhé, mình tới hơi trễ.”
Mikaido quay đầu lại trước tiên.
“Ồ, cậu đến rồi à.”
Hai người còn lại cũng đồng loạt nhìn theo.
Đó là Magase Yuki – hội trưởng hội học sinh.
Hôm nay đường đi học của Magase bị thi công, nên cô bị kẹt lại giữa đường.
Cô nhanh chóng giải thích và xin lỗi vì sự chậm trễ.
Mikaido xua tay, nói rằng không sao, chỉ cần cô đến là được.
Đám đông phía cổng trường lập tức trở nên đông đúc và náo nhiệt hơn – sự xuất hiện của “nữ thần học đường” luôn có tác dụng như vậy.
Thành tích học tập xuất sắc, hàng loạt giải thưởng mang về cho trường, cái tên Magase Yuki gần như là niềm tự hào chung của tất cả.
Magase đưa cho Mikaido một tờ giấy.
“Đây là bản đánh giá năng lực học tập của cậu.”
- Cô nói.
-“Tớ có thêm vào sự kiện hôm qua để nhà trường xem xét trao thưởng.”
“À...cảm ơn cậu.”
- Mikaido nhận lấy, vẻ mặt hơi chột dạ - “Đúng thứ tớ cần...”
“Xin lỗi nhé.”
- Magase nói thêm - “Hôm qua tớ có việc nên không đến cổ vũ cho cậu được.”
“Không...không sao đâu.” – Mikaido vội đáp.
Thật ra, có lẽ việc Magase không đến chứng kiến cảnh cậu thua trước Saiga lại khiến cậu nhẹ nhõm hơn.
Miyabi dường như không để ý đến sự e dè đó, quay sang hỏi thẳng Magase.
“Không đến xem nhưng cậu cũng nghe tin rồi đúng không, Yuki–san?
Nhận xét của cậu thế nào?”
“À, tớ có xem qua rồi.” – Magase đáp nhẹ - “Tớ thấy trận đấu khá căng thẳng...và cũng đáng tiếc là Mikaido-kun không giành được vinh quang.”
Rồi như nhớ ra điều gì đó, cô nói thêm:
“Sau vụ này, hình như nhà Saiga đang chuẩn bị cho một dự án lớn.
Tớ nghe nói quy mô là toàn cầu thì phải...”
“Ồ?”
Miyabi khẽ nhướn mày, như thể bản thân vừa mới tiếp nhận được một thông tin giật gân thú vị.
Nhưng lời nói tiếp theo của Magase đã khiến cô ấy vỡ mộng.
“Tớ không chắc lắm...” – Magase cười nhẹ - “Có lẽ chỉ là tin lá cải thôi.”
“Nếu không chắc thì khả năng cao là không phải rồi...”
Miyabi lẩm bẩm, giọng nói không che giấu đi sự thất vọng.
Hiyoshima lập tức “bắt sóng” được cô nàng, liếc mắt nhìn cô.
“Cậu lại soi mói nhà Saiga nữa à?”
“L-Làm gì có!?” – Miyabi bỗng cao giọng, dựng lên phản bác ngay – “Cậu thôi để ý đến chi tiết từng chữ nghĩa trong lời nói của tớ đi!”
“Thôi nào, hai người đừng cãi nhau nữa.”
- Mikaido chỉ biết đứng ra giảng hòa.
Còn Magase thì cười trừ, chắc cô nàng đã quá quen với cảnh chó mèo này của hai người.
Nhưng ngay sau đó, cô bỗng vô thức quay ánh mắt về phía khác.
Về phía dãy lớp học – nơi một bóng lưng vừa khuất sau cánh cửa lớp.
Cô khẽ sững lại, trong lòng thoáng qua một ý nghĩ rất nhỏ, rất mơ hồ.
(Cậu ấy...vẫn một mình sao?)