Khác [Six Of Crows]_MÓNG VUỐT QUẠ ĐEN

Xin chào bạn!

Nếu đây là lần đầu tiên bạn ghé thăm diễn đàn, vui lòng bạn đăng ký tài khoản để có thể sử dụng đầy đủ chức năng diễn đàn và tham gia thảo luận, trò chuyện cùng với cac thành viên khác.

Đăng ký!
[Six Of Crows]_Móng Vuốt Quạ Đen
Phần Hai: Những Ông Hoàng Bà Chúa 13-16


13

NINA

Nina giận điên khi biết được Genya chẳng những chỉnh sửa cho Wylan mà còn cả Kaz, thế nhưng cô lại không được chứng kiến.

Kaz đã để cho Thợ May nổi tiếng chỉnh lại cái mũi, làm con mắt giảm sưng để anh có thể nhìn được, và xử lí một vài thương tổn trầm trọng nhất trên cơ thể.

Nhưng anh chỉ cho phép có thế.

“Tại sao?”

Nina thốt lên.

“Chị ấy có thể…”

“Chị ta không biết phải dừng lại ở đâu,” Kaz đáp.

Nina đâm ngờ rằng Genya đã đề nghị chỉnh lại cái chân của Kaz.

“Ồ, trông anh giống như thằng giang hồ tởm nhất khu Barrel vậy,” Nina nói.

“Ít nhất anh nên để cho chị ấy xoá sạch các chỗ bầm tím còn lại.”

“Tôi là thằng giang hồ tởm nhất Barrel mà.

Và nếu trông tôi không giống như vừa quần nhau với mười đứa thuộc hạ lì lợm nhất của Per Haskell thì sẽ không ai tin chuyện đó.

Giờ thì bắt tay vào việc thôi, cô không thể mở tiệc nếu không gửi thư mời.”

Nina chẳng hề mong ngóng đến buổi tiệc này, nhưng sáng hôm sau, thông tin xuất hiện trên mọi tờ nhật báo, được dán lên mọi cây cột ở lối vào phía đông và phía tây của Sàn giao dịch, lại còn được đính lên cửa ra vào của Toà thị chính.

Nó được viết đơn giản như sau:

Kuwei Yul-Bo, con trai của Bo Yul-Bayur, Hoá học sĩ trưởng của Bhez

Ju, hiện đang rảnh rỗi và sẽ cung cấp giao kèo làm việc của mình cho thị trường cùng bàn tay của Ghezen định đoạt.

Xin mời những người muốn mua tham gia vào một buổi đấu giá miễn phí và công bằng, tuân theo luật pháp của Kerch, các quy định của Hội đồng Thương buôn và sự giám sát của Hội đồng Thuỷ triều, tại nhà thờ Barter sau bốn ngày kể từ hôm nay.

Các bên sẽ nhóm họp vào giữa trưa.

Vinh danh Ghezen và nền thương mại trong tay Ngài.

Ketterdam vốn đã ầm ĩ do lệnh giới nghiêm và chặn đường.

Giờ thì tin đồn lan truyền khắp các tiệm cà phê và tửu quán, được biến tấu rồi khuếch đại thêm từ các phòng khách ở Geldstraat cho tới các nhà thổ ở Barrel.

Theo những thành viên của băng Cặn Bã mới, mọi người đang rất háo hức trước những thông tin về Kuwei Yul-Bo kì bí, và cuộc đấu giá cậu ta đã được liên hệ với vụ tấn công lạ lùng tại Tây Stave, trong đó những chiến binh có cánh đã gần như san phẳng hai nhà chứa.

Inej đích thân quan sát toà đại sứ Shu Han và cho biết những người đưa tin đến rồi đi suốt buổi sáng, ngài đại sứ cũng đùng đùng đi tới bến cảng để yêu cầu Hội đồng Thuỷ triều giải phóng một trong những con tàu đang nằm phơi bụng của họ.

“Ông ta muốn có được một Sáng Chế Gia để họ có thể tạo ra vàng,” Jesper nói.

“Đáng tiếc là các hải cảng đã bị phong toả,” Kaz đáp.

Toà thị chính đã bị đóng cửa không cho dân chúng ra vào, và nghe nói Hội đồng Thương buôn đang họp khẩn để quyết định xem có cho phép phiên đấu giá diễn ra hay không.

Đây là một phép thử: Họ sẽ tôn trọng luật lệ của Ketterdam, hay họ sẽ phá luật và tìm cách nào đó để chối bỏ quyền của Kuwei, căn cứ trên những nghi ngờ đối với cậu?

Trên đỉnh tháp đồng hồ, Nina chờ đợi những người còn lại trong khi quan sát cửa đông của Sàn giao dịch.

Đúng giữa trưa, một người đàn ông mặc bộ áo đen của thương gia tiến đến gần vòm cổng, mang theo một chồng giấy.

Đám đông ùa đến tranh giành những tờ rơi trên tay anh ta.

“Tội nghiệp Karl Dryden,” Kaz lên tiếng.

Rõ ràng vì là thành viên trẻ tuổi nhất Hội đồng nên anh ta bị dính với công việc này.

Ít phút sau, Inej lao vào phòng khách sạn với một tờ rơi nắm trong tay.

Thật không thể tin nổi.

Nina đã nhìn thẳng xuống đám đông vây quanh Dryden mà không hề trông thấy cô.

“Bọn họ đã phê chuẩn phiên đấu giá,” Inej nói và đưa tờ giấy cho Kaz.

Anh chuyền nó cho cả nhóm.

Nội dung của tờ rơi chỉ vỏn vẹn như sau: Phù hợp với luật pháp của Kerch, Hội đồng Thương buôn Ketterdam chấp nhận đại diện cho Kuwei Yul-Bo trong phiên đấu giá giao kèo làm việc của cậu.

Vinh danh Ghezen và nền thương mại trong tay Ngài.

Jesper thở phào và đưa mắt nhìn bố mình, ông đang chăm chỉ nghiên cứu các báo cáo thị trường và kịch bản mà Nina đã soạn thảo cùng với

Kaz.

“May là họ đã đồng ý.”

Inej đặt một tay lên cánh tay anh.

“Giờ anh đổi ý vẫn chưa muộn đâu.”

“Muộn rồi,” Jesper đáp.

“Muộn từ lâu lắm rồi.”

Nina không nói gì.

Cô quý ông Colm và Jesper, nhưng cuộc đấu giá này là cơ hội tốt nhất mà họ có để đưa Kuwei tới Ravka và cứu mạng các Grisha.

“Thương gia là những mục tiêu hoàn hảo,” Kaz nói.

“Bọn họ giàu có và ma lanh.

Điều đó khiến họ dễ bị qua mặt hơn.”

“Sao lại thế?”

Wylan thắc mắc.

“Người giàu muốn tin rằng họ xứng đáng với từng xu kiếm được, nên họ quên mất mình nợ thần may mắn điều gì.

Người ma lanh luôn tìm kiếm những lỗ hổng.

Họ muốn có cơ hội lách luật.”

“Vậy thì mục tiêu khó lừa gạt nhất là ai nào?”

Nina vặn vẹo.

“Những người trung thực là mục tiêu khó khăn nhất,” Kaz đáp.

“Ơn trời, họ luôn hiếm có khó tìm.”

Anh gõ lên mặt kính đồng hồ, chỉ tay về phía Karl Dryden, người lúc này vẫn đang đứng ở Sàn giao dịch, cầm mũ phe phẩy quạt cho mát sau khi đám đông đã tản ra.

“Dryden thừa hưởng gia tài của bố anh ta.

Kể từ đó, anh ta là một nhà đầu tư quá nhát tay nên không thể làm tài sản của mình tăng lên đáng kể.

Anh ta chỉ mong có một cơ hội để chứng tỏ bản thân với các thành viên khác của Hội đồng Thương buôn.

Chúng ta sẽ cho anh ta một dịp may.”

“Chúng ta còn biết gì thêm về anh ta?”

Nina hỏi.

Kaz gần như mỉm cười.

“Anh ta được đại diện bởi ông bạn yêu chó quý hoá của chúng ta, Cornells Smeet.”

•••

Từ lần theo dõi trước đó, họ đã biết luật sư Cornells Smeet có những cậu chạy việc suốt ngày cầm hồ sơ chạy tới chạy lui giữa ông ta và khách hàng, xin những chữ kí cần thiết và chuyển các thông tin quan trọng.

Đội đưa tin này được trả công hậu hĩnh đến mức người ta không thể mua chuộc được, nhất là nếu như một trong số họ thuộc nhóm nhỏ những người trung thực trên kia.

Theo cách nào đó, họ phải cảm ơn Van Eck vì đã giúp Kaz giăng bẫy

dễ dàng hơn.

Trong bộ đồng phục thị tuần, Anika và Pim đã chặn tốp nhân viên đưa tin của Smeet, nhưng không bắt phạt gì mà chỉ yêu cầu xem danh tính và lục soát túi.

Các giấy tờ mật được niêm phong không phải là mục tiêu của họ.

Họ chỉ cần rắc một ít vụn bánh để thu hút anh chàng Karl Dryden.

“Đôi khi một tên trộm lọc lõi không chỉ lấy đi,” Kaz nói.

“Hắn còn để lại thứ gì đó phía sau.”

Cùng với Specht, Wylan chế ra một con dấu dùng để áp lên mặt sau của một bì thư niêm kín.

Nó sẽ tạo ra ấn tượng rằng cái phong bì đã thấm mực từ một tài liệu khác, như thể người thư kí bất cẩn đã đặt nó lên một tờ giấy chưa kịp ráo.

Khi người đưa thư chuyển nó cho Dryden, nếu tò mò một chút thì anh ta sẽ đọc những con chữ đó.

Và anh ta sẽ phát hiện ra một điều rất thú vị - bức thư được viết bởi một khách hàng khác của Smeet.

Tên của vị khách hàng này không thể đọc được, nhưng nội dung thư nêu rõ một câu hỏi dành cho luật sư: Ông ta có biết một lão nông tên là Johannus Rietveld, chủ tịch một liên doanh những người Kerch và Zemeni chuyên trồng jurda hay không?

Người này đang hội họp tại khách sạn Geldrenner với một nhóm các nhà đầu tư có chọn lọc.

Có thể nào kết nối với lão nông đó được không?

Trước khi cuộc đấu giá Kuwei được công bố, thông tin trên có vẻ chẳng quan trọng mấy.

Nhưng sau đó, nó trở thành mấu chốt có thể giúp người ta kiếm được cả gia tài.

Trước khi giăng bẫy bằng lá thư giả, Kaz đã thu xếp cho ông Colm dùng bữa tại nhà hàng lộng lẫy màu tím với một số người trong giới thương gia và ngân hàng của Kerch.

Ông Colm luôn giữ khoảng cách với các khách trọ khác, thoả sức gọi món, và luôn hạ giọng khi nói chuyện với các vị khách của mình.

Nội dung của các mẩu đối thoại khá vô hại - những báo cáo mùa vụ và chỉ số lợi nhuận - nhưng không ai trong nhà hàng biết điều đó.

Mọi thứ diễn ra ngay dưới mắt các nhân viên khách sạn, nên khi các thành viên của Hội đồng Thương buôn đến hỏi han về ngài Rietveld, họ sẽ nhận được những câu trả lời mà Kaz mong muốn.

Nina có mặt trong tất cả những cuộc gặp gỡ đó, cô đóng vai người trợ lí đa ngôn ngữ của ngài Rietveld, một Độc Tâm Y đang tìm việc làm sau vụ phá hoại Nhà Hồng Bạch.

Dù đã bôi đầy chiết xuất cà phê để đánh lừa khứu giác của bọn Kherguud, cô vẫn cảm thấy mình quá lộ liễu khi ngồi đó, trong nhà hàng của khách sạn.

Kaz đã cắt cử các thành viên băng Cặn Bã liên tục quan sát những con phố xung quanh khách sạn để phát hiện dấu vết của đám chiến binh người Shu.

Không ai quên rằng bọn chúng đang truy lùng các Grisha, và Nina là một mục tiêu hấp dẫn nếu chúng phát hiện ra các cuộc gặp gỡ.

Việc tóm giữ một Độc Tâm Y mà chúng có thể chuốc parem sẽ cho phép bọn chúng thay đổi cục diện buổi đấu giá, đồng thời vô hiệu hoá Hội đồng Thuỷ Triều.

Tuy vậy, Nina vẫn cảm thấy khá tin tưởng rằng những thương gia biết đến sự hiện diện của ngài Rietveld tại khách sạn sẽ giữ kín chuyện này.

Kaz đã giảng giải rất kĩ cho cô về sức mạnh của lòng tham, và những người này luôn muốn mình độc chiếm món lợi.

Nina đánh giá cao sự chăm chút mà Kaz đã dành cho diện mạo của ông Colm.

Ông vẫn ăn mặc như một nông dân, nhưng anh đã thực hiện một số nâng cấp tinh tế - áo khoác đẹp hơn, đôi giày được đánh bóng, kẹp cà vạt bằng bạc gắn một viên thạch anh tím thô nho nhỏ.

Đó là những dấu hiệu của sự giàu có mà các thương gia sẽ để ý và đánh giá cao - không một thứ gì quá loè loẹt hay phô trương, không một điểm nào có thể gây nghi ngờ.

Các thương gia cũng giống như đa phần mọi người, họ muốn tin rằng mình là những người nắm thế chủ động.

Về phần Nina, Genya đã tặng cho cô một bộ kefta đỏ rực trong bộ sưu tập của chị, và họ đã thay đổi hết các họa tiết thêu, biến tấu chúng từ màu xanh sang màu đen.

Genya và cô không mặc cùng cỡ áo, nhưng họ đã tháo chỉ để may thêm một ít vải.

Thật khác lạ khi được mặc một chiếc kefta thực thụ sau chừng ấy thời gian.

Chiếc mà Nina mặc ở Nhà Hồng Bạch chỉ là món phục trang rẻ tiền dùng để gây ấn tượng cho đám khách làng chơi.

Còn chiếc này là đồ thật, được mặc bởi binh sĩ của Hạ Quân, làm từ lụa nguyên chất nhuộm thứ màu đỏ mà chỉ có các Sáng Chế Gia mới tạo ra được.

Bây giờ cô có được quyền mặc một thứ như thế nữa hay không?

Khi Matthias nhìn thấy cô, anh cứng người lại trên ngưỡng cửa, đôi mắt xanh hiện rõ sự bàng hoàng.

Họ đã đứng đó trong im lặng, cho đến khi anh lên tiếng: “Trông em rất đẹp.”

“Ý anh là trông em giống như kẻ thù.”

“Cả hai điều đó đều đúng.”

Rồi anh dang rộng vòng tay đón cô.

Nina từng căng thẳng vì ông Colm giữ vai trò chủ chốt trong phi vụ này.

Ông rõ ràng là một người nghiệp dư, và trong vài cuộc gặp đầu tiên với những ông chủ nhà băng hoặc nhân viên tư vấn, sắc mặt ông xanh gần bằng bát súp đậu của mình.

Nhưng rồi theo thời gian, sự tự tin của ông lớn dần, và Nina bắt đầu cảm thấy khấp khởi hi vọng.

Tuy vậy, vẫn không có thành viên nào của Hội đồng Thương buôn tìm đến để gặp gỡ Johannus Rietveld.

Có lẽ Dryden chưa hề nhìn thấy dấu vết của tài liệu giả, hoặc quyết định không hành động.

Hoặc là Kaz đã đánh giá quá cao lòng tham của anh ta.

Thế rồi, khi chỉ còn bốn mươi tám giờ nữa là tới buổi đấu giá, Johannus Rietveld nhận được một lá thư từ Karl Dryden thông báo rằng anh ta muốn gặp ông vào cùng ngày và hi vọng được thảo luận về những vấn đề làm ăn có thể có lợi cho đôi bên.

Jesper cố gắng trấn an sự căng thẳng của bố, trong lúc Kaz ra các chỉ dẫn cho Anika và Pim.

Nếu muốn câu được Dryden, họ phải bảo đảm rằng những con cá lớn khác cũng quan tâm đến miếng mồi.

Nina và ông Colm trải qua các cuộc gặp gỡ vào buổi sáng tại nhà hàng như thường lệ, và cô phải nỗ lực hết sức để làm ông bình tĩnh.

Đúng mười một giờ, cô thấy hai người đàn ông mặc bộ đồ thương gia màu đen bước vào nhà hàng.

Họ không dừng lại để hỏi xem cần phải tìm ông Johannus Rietveld ở đâu, mà đi thẳng tới bàn của ông - dấu hiệu rõ nét của việc họ đã quan sát và thu thập thông tin về ông.

“Họ đây rồi,” Nina thì thào với ông Colm, và lập tức hối tiếc khi ông ngồi thẳng lại và bắt đầu ngọ nguậy trên ghế.

Cô nắm tay ông.

“Nhìn cháu đây này,” có nói.

“Hỏi cháu về thời tiết đi.”

“Sao lại thời tiết?”

Ông hỏi, mồ hôi vã ra trên trán.

“Bác có thể hỏi cháu về kiểu giày mới nhất nếu bác thích thế hơn.

Cháu chỉ đang tìm cách làm cho bác tỏ ra tự nhiên.”

Cô cũng đang cố gắng giữ nguyên nhịp tim của chính mình, một việc mà ngày trước cô có nhắm mắt cũng làm được, bởi lẽ cô đã nhận ra người đàn ông đi cùng Dryden.

Chính là Jan Van Eck.

Hai người đàn ông tiến đến bàn của họ, và bỏ mũ ra.

“Ngài Rietveld?”

“Vâng?”

Ông Colm cao giọng.

Khởi đầu không ổn rồi.

Nina đá khẽ nhất có thể vào chân ông dưới bàn.

Ông ho húng hắng.

“Có chuyện gì vậy, các ngài?”

Trong quá trình chuẩn bị, Kaz đã nhất quyết ép Nina học thuộc mọi màu sắc và biểu tượng của các gia tộc trong Hội đồng Thương buôn, nên cô nhận ra ngay những chiếc kẹp cà vạt của hai người - nhánh lúa mì bằng vàng quấn dải băng men xanh của dòng họ Dryden, và vòng nguyệt quế đỏ của dòng họ Van Eck.

Ngay cả không có chiếc kẹp cà vạt, cô cũng nhận ra sự giống nhau giữa Jan Van Eck và Wylan.

Cô quan sát cái trán hơi hói của ông ta.

Wylan tội nghiệp có lẽ sắp phải đầu tư vào mấy món thuốc bổ huyết rồi.

Dryden hắng giọng một cách trịnh trọng.

“Tôi là Karl Dryden, còn đây là ngài Jan Van Eck đáng kính.”

“Ngài Dryden!”

Ông Colm thốt lên với một sự ngạc nhiên hơi quá lố.

“Tôi đã nhận được lời nhắn của ngài.

Đáng tiếc là ngày hôm nay tôi đã kín lịch.”

“Tôi tự hỏi liệu chúng ta có thể nói chuyện vài phút được không?

“Chúng tôi không muốn làm mất thời gian của ngài,” Van Eck nói với một nụ cười quyến rũ bất ngờ.

“Cũng như của chúng tôi.”

“Tốt thôi,” bố của Jesper đáp, thể hiện một sự miễn cưỡng tương đối thuyết phục.

“Mời các ngài ngồi.”

“Cảm ơn ngài,” Van Eck nở một nụ cười khác.

“Theo chúng tôi biết, ngài đại diện cho một liên doanh những người trồng jurda.”

Ông Colm nhìn quanh như thể lo ngại bị người khác nghe thấy.

“Cũng có thể.

Làm thế nào các ngài có được thông tin này?”

“Tôi e rằng mình không được quyền tiết lộ.”

“Ngài ấy đang che giấu gì đó,” Nina lên tiếng.

Dryden và Van Eck cùng nhíu mày một lượt.

“Tôi biết thông tin từ thuyền trưởng của chiếc tàu đã đưa ngài tới đây,” Van Eck đáp.

“Ngài ấy đang nói dối,” Nina nhận xét.

“Làm sao cô biết được?”

Dryden bực bội hỏi.

“Tôi là Grisha,” Nina nói với một cái phẩy tay.

“Không có bí mật nào lọt qua được tầm nắm bắt của tôi.”

Cô tận hưởng một chút thích thú với bản thân.

Môi dưới của Dryden biến mất khi anh ta căng thẳng hút nó vào trong, còn Van Eck thì nói với giọng miễn cưỡng, “Cũng có thể một số thông tin nhạy cảm đã đến tai chúng tôi thông qua văn phòng của luật sư Cornells

Smeet.”

“Tôi hiểu rồi,” ông Colm đáp với vẻ mặt sa sầm.

Nina chỉ muốn vỗ tay.

Giờ thì hai gã thương gia đã rơi vào thế chống đỡ.

“Chúng tôi quan tâm đến việc tham gia vào danh sách đầu tư của ngài,” Van Eck nói.

“Tôi không cần thêm nhà đầu tư nào nữa.”

“Sao có thể thế được?”

Dryden hỏi.

“Ngài mới chỉ đến đây chưa được một tuần.”

“Tình hình đã thay đổi.

Tôi không hoàn toàn hiểu được chuyện này, nhưng đã có một cuộc tranh giành nguồn cung jurda.”

Lúc này Van Eck chồm hẳn người tới trước, mắt nheo lại.

“Thú vị đây, ngài Rietveld.

Làm thế nào ngài lại xuất hiện ở Ketterdam vào một thời điểm trùng hợp đến thế?

Sao bây giờ ngài lại quyết định khởi động một liên doanh những người trồng jurda?”

Phòng ngự ghê thật.

Nhưng Kaz đã chuẩn bị rất kĩ cho ông Colm.

“Nếu các ngài cần biết thì vài tháng trước, có một người đã bắt đầu mua lại các trang trại trồng jurda ở ngoại ô Cofton, nhưng không ai xác định được danh tính của người này.

Một số người trong chúng tôi cho rằng đang có một mưu đồ gì đó, nên chúng tôi quyết định không bán cho ông ta, mà thay vào đó lập ra doanh nghiệp của chúng tôi.”

“Một người mua ẩn danh à?”

Dryden tò mò hỏi lại.

Van Eck tỏ vẻ hơi khó chịu.

“Phải,” Nina đáp.

“Ngài Rietveld và các đối tác đã không thành công trong việc tìm hiểu danh tính của người đó.

Nhưng biết đâu các ngài đây sẽ may mắn hơn.

Nghe nói ông ta là người Kerch.”

Van Eck thu người lại trên chiếc ghế.

Làn da tái của lão ta nhuốm màu xanh vỏ vẹm.

Tình thế lại xoay chuyển một lần nữa.

Điều cuối cùng mà Van Eck muốn là người khác điều tra về kẻ đã mua lại những cánh đồng jurda kia.

Nina khẽ huých ông Colm.

Họ càng tỏ ra ít quan tâm tới tiền của Hội đồng, Hội đồng lại càng muốn dâng nó cho họ.

“Thật ra,” ông Colm nói tiếp, “nếu các ngài xác định được người này, các ngài có thể tham gia vào kế hoạch của ông ta.

Có lẽ ông ta vẫn đang tìm người đầu tư.”

“Không,” Van Eck đáp với giọng hơi xẵng.

“Nói cho cùng, ngài đang ở đây rồi, và ngài có thể đại diện cho lợi ích của chúng tôi.

Sao lại phải phí thời gian và công sức vào những cuộc điều tra vô nghĩa?

Mỗi người đều có quyền mưu cầu lợi ích ở nơi mà anh ta tìm thấy nó.”

“Quả vậy,” Dryden nói, “rất có thể nhà đầu tư đó đã đánh hơi được tình hình rắc rối hiện tại với phía Shu…”

Van Eck ném cho anh ta một cái nhìn cảnh cáo.

Rõ ràng lão không muốn công chuyện của Hội đồng bị rò rỉ một cách dễ dãi như vậy.

Dryden vội vàng ngậm miệng.

Nhưng rồi Van Eck chắp hai bàn tay lại và nói, “Thu thập thông tin cũng có ích.

Tôi sẽ đích thân điều tra về người mua kia.”

“Vậy thì có lẽ chúng ta không cần hành động quá sớm,” Dryden nhận định.

Đúng là nhát cáy, Nina nghĩ bụng.

Cô liếc nhìn dấu hiệu của Anika từ ngoài hành lang.

“Ngài Rietveld, cuộc gặp sắp tới của ngài?

Cô liếc mắt đầy hàm ý ra hành lang, nơi Rotty - cực kì bảnh bao trong trang phục đen của thương gia - đang dẫn một nhóm người đi vào nhà hàng.

Van Eck và Dryden nháy nhau khi trông thấy Jellen Radmakker, một trong những nhà đầu tư giàu có nhất của Kerch, đang đi qua hành lang.

Sự thật là ngay khi yêu cầu gặp mặt của Dryden được gửi đến, một số nhà đầu tư cũng được mời tới tham gia một buổi trình bày về tương lai dầu mỏ của Novyi Zem, vốn không có liên quan gì với nhân vật hư cấu Johannus Rietveld.

Tất nhiên là Van Eck và Dryden không biết chuyện đó.

Điều quan trọng là họ phải tin rằng mình có thể mất đi cơ hội đầu tư.

Nina cũng khá tiếc vì cô sẽ không có dịp nghe Jesper ba hoa về thị trường tài nguyên trong suốt một tiếng đồng hồ.

Nina đá một cú nữa vào chân ông Colm dưới bàn.

“Vâng,” ông vội nói.

“Tôi phải đi rồi, thưa các ngài.

Rất vui vì được g…”

“Giá cổ phần là bao nhiêu?”

Dryden hỏi luôn.

“Tôi e rằng ở vào thời điểm muộn màng thế này, tôi không thể nhận thêm…”

“Nếu chúng tôi cùng tham gia thì sao?”

Van Eck hỏi.

“Cùng tham gia?”

“Hội đồng Thương buôn tin rằng giá của jurda sẽ sớm thay đổi.

Cho tới dạo gần đây, chúng tôi vẫn còn bị bó buộc bởi vai trò công bộc của dân chúng.

Nhưng buổi đấu giá sắp tới đã cởi trói để chúng tôi theo đuổi những vụ đầu tư mới.”

“Như vậy có hợp pháp không?”

Ông Colm hỏi, trán nhăn lại để thể hiện sự quan ngại vô cùng sâu sắc.

“Nhất định rồi.

Chúng tôi bị cấm tác động đến kết quả đấu giá, nhưng việc đầu tư vào quỹ của ngài hoàn toàn nằm trong khuôn khổ luật pháp và có lợi cho cả đôi bên.”

“Tôi hiểu việc đầu tư có thể có lợi cho các ngài, nhưng…”

“Ngài chỉ tiếp xúc với những nhà đầu tư riêng lẻ.

Nếu như Hội đồng Thương buôn trở thành nhà đầu tư chính của ngài thì sao?

Nếu như quỹ đầu tư chỉ dành chỗ cho chúng tôi thì sao?

Hội đồng đại diện cho mười ba gia tộc lâu đời và có địa vị nhất của Kerch, với công việc kinh doanh phát đạt, nguồn vốn dồi dào.

Những chủ trang trại trong liên doanh của ngài sẽ không tìm được đối tác nào tốt hơn đâu.”

“Tôi… tôi không biết,” ông Colm nói.

“Chuyện này rõ ràng rất hấp dẫn, nhưng tôi cần một sự đảm bảo nghiêm túc, nếu chúng tôi tự chuốc lấy rủi ro theo cách này.

Nếu Hội đồng rút lại, chúng tôi sẽ mất hết các nhà đầu tư.”

Dryden xù lông nhím.

“Không một thành viên nào của Hội đồng được vi phạm hợp đồng, chúng tôi tham gia với con dấu của mình, và mọi chuyện sẽ được chứng kiến bởi một thẩm phán do ngài lựa chọn.”

Nina gần như có thể thấy rõ các bánh răng đang quay tít trong đầu Van Eck.

Không nghi ngờ gì nữa, đã có những nhà nông từ chối bán ruộng đất ở Novyi Zem.

Giờ đây lão ta có cơ hội kiểm soát không chỉ những cánh đồng jurda đã mua được, mà cả một phần đáng kể của những cái lão thâu tóm thất bại.

Nina cũng tự hỏi với số tiền mà Ketterdam tiêu tốn cho việc tìm kiếm con trai lão, Van Eck hẳn đang chịu áp lực trong việc mang lại cho Hội đồng một cơ hội đầu tư tốt.

“Hãy cho chúng tôi bốn mươi tám tiếng…”

Van Eek mở lời.

Vẻ mặt ông Colm đầy tiếc nuối, “Tôi e rằng tôi phải kết thúc công việc của mình ở đây trong đêm nay.

Tôi đã mua vé rồi.”

“Các hải cảng đã bị đóng,” Van Eck nói.

“Ngài sẽ không đi đâu được.”

Cái quắc mắt lạnh người mà bố của Jesper dành cho Van Eck khiến

Nina sởn gai ốc.

“Tôi cảm thấy mình đang bị chèn ép quá, thưa ngài Van Eck, và tôi không thích điều này.”

Van Eck cầm cự trước ánh mắt của ông Colm trong vài giây.

Nhưng rồi lòng tham của lão đã thắng.

“Hai mươi tư giờ,” Van Eck nói.

Ông Colm giả vờ ngần ngại.

“Hai mươi tư giờ.

Nhưng tôi không hứa gì đâu đấy.

Tôi phải làm những gì tốt nhất cho liên doanh của mình.”

“Tất nhiên,” Van Eck nói khi họ đứng dậy và bắt tay.

Chúng tôi chỉ yêu cầu ngài khoan đưa ra quyết định cuối cùng cho tới khi chúng tôi có cơ hội trình bày về việc này với Hội đồng.

Tôi nghĩ ngài sẽ thấy đề xuất của chúng tôi rất hào phóng.”

Ông Colm đưa mắt nhìn theo hướng mà Radmakker đã đi.

“Tôi nghĩ mình có thể làm được.

Chúc các ngài một ngày thuận lợi.”

Khi Nina quay người đi theo ông ra khỏi nhà hàng, Van Eck bỗng lên tiếng, “Cô Zenik này.”

“Vâng?”

“Tôi nghe nói cô từng làm việc ở Nhà Hồng Bạch.”

Môi lão hơi cong lên, như thể nói ra cái tên của một nhà thổ cũng là một hành vi đồi trụy.

“Vâng.”

“Tôi nghe nói người Độc Tâm Y ở đó thỉnh thoảng vẫn cộng tác với

Kaz Brekker.”

“Tôi từng làm việc này việc nọ cho Brekker trước đây,” Nina thừa nhận luôn.

Tốt nhất là ra đòn.

Cô bắt tay Van Eck và mỉm cười khi thấy toàn thân lão dường như co rúm lại.

“Nhưng hãy tin tôi, nếu tôi biết anh ta đã đưa con trai ngài đi đâu thì tôi sẽ báo ngay với cơ quan chức năng.”

Van Eck cứng người.

Rõ ràng lão không muốn lái câu chuyện theo hướng đó.

“ Tôi… cám ơn cô.”

“Tôi không thể hình dung được nỗi đau mà ngài đang phải trải qua.

Làm thế nào Brekker lại đụng tới con trai ngài được?”

Nina nói tiếp.

“Tôi cứ tưởng hệ thống an ninh của ngài…”

“Wylan lúc đó không có ở nhà.”

“Không sao?”

“Con trai tôi đang học nhạc ở Belendt.”

“Thế các giáo viên của cậu ấy nói gì về vụ bắt cóc?”

“Tôi…”

Van Eck ngần ngại nhìn Dryden.

“Họ cũng rất bàng hoàng.”

“Chắc là cậu ấy đã giao du với những người không tốt?”

“Chắc thế.”

“Tôi hi vọng cậu ấy không dây vào Kaz Brekker,” Nina nhún vai.

“Wylan sẽ không…”

“Tất nhiên là không rồi,” Nina vừa nói vừa vuốt lại cổ tay áo kefta và bắt đầu đi khỏi nhà hàng.

“Chỉ có kẻ ngu mới làm thế.”

14

KAZ

Nina rất mệt, Kaz có thể thấy rõ điều đó.

Tất cả bọn họ đều mệt mỏi.

Ngay cả anh cũng không có lựa chọn nào khác ngoài nghỉ ngơi sau cuộc ẩu đả.

Cơ thể anh đã ngừng nghe lời anh.

Anh đã vượt qua một giới hạn vô hình và tắt ngấm.

Anh không nhớ mình đã ngủ thiếp đi.

Anh không mơ.

Một tích tắc trước anh còn đang nằm nghỉ trong căn phòng ngủ nhỏ nhất của dãy phòng hạng sang, xem lại các chi tiết của kế hoạch, tích tắc sau anh đã ở trong bóng tối, hoảng loạn, không biết mình đang ở đâu và làm thế nào lại đến đây.

Khi với tay bật đèn, anh cảm thấy đau nhói.

Phải chịu đựng những cái chạm nhẹ của Genya khi chị xem xét các vết thương của anh đúng là khổ sở thật, nhưng lẽ ra anh nên để cho bà chị Thợ May ấy chữa cho mình thêm chút nữa.

Anh vẫn còn một đêm dài trước mắt, và kế hoạch đấu giá không giống với bất kì cái gì anh từng làm trước đây.

Thời còn ở trong băng Cặn Bã, Kaz từng nghe và chứng kiến nhiều chuyện, nhưng cuộc đối thoại với Sturmhond ở trong phòng tắm nắng đã vượt qua tất cả những chuyện đó.

Họ đi qua các chi tiết của kế hoạch, những gì họ cần Genya làm, dự kiến của Kaz về kết cục của phiên đấu giá.

Anh muốn Sturmhond bắt đầu tham gia ở mức năm mươi triệu và đoán người Shu sẽ phản công bằng những bước giá khoảng chục triệu hoặc hơn.

Anh cần bảo đảm sự tham gia của phía Ravka.

Một khi cuộc đấu giá được loan báo thì phải tiến hành thôi.

Không thể có đường lùi được nữa.

Tay thuyền trưởng khá thận trọng, anh ta hỏi dồn về việc nhóm của Kaz được thuê làm vụ Lâu Đài Băng ra sao, cũng như việc làm thế nào họ tìm ra và giải thoát Kuwei.

Kaz cung cấp đủ lượng thông tin để thuyết phục Sturmhond rằng Kuwei chính là con trai của Bo Yul-Bayur, nhưng anh không việc gì phải tiết lộ cụ thể đường đi nước bước cũng như những năng lực thực sự của các thành viên trong nhóm.

Ai mà biết được, nhỡ đâu Sturmhond có thứ gì đấy mà một ngày nào đó anh muốn đánh cắp thì sao.

Cuối cùng, Sturmhond vuốt phẳng lại vạt áo choàng màu xanh két của mình và nói, “Thôi được, Brekker, rõ ràng là cậu chỉ làm việc với các sự thật nửa vời và những lời nói dối lộ liễu, nên cậu chính là người phù hợp cho vụ này.”

“Chỉ có một chuyện này,” Kaz nói, xem xét cái mũi gãy và mái tóc đỏ của tay thuyền trưởng.

“Trước khi chúng ta cùng dắt tay nhau nhảy khỏi vách đá, tôi muốn biết chính xác người mà tôi đang hợp tác là ai.”

Sturmhond nhướn mày.

“Chúng ta chưa từng rong ruổi cùng nhau, cũng chưa từng xẻ áo cho nhau, nhưng tôi nghĩ hai ta đã được giới thiệu với nhau một cách đủ văn minh.”

“Thực ra anh là ai, thuyền trưởng?”

“Đây có phải là một câu hỏi sống còn không?”

“Không một tên trộm nào ăn nói như anh.”

“Cậu nên suy nghĩ cởi mở hơn.”

“Tôi biết con trai của một người giàu có trông như thế nào, và tôi không tin có vị vua nào lại cử một tay thuyền trưởng tầm thường đi xử lí vụ việc nhạy cảm này.”

“Tầm thường,” Sturmhond chế nhạo.

“Cậu có được học về chính trị không vậy?”

“Tôi biết cách thương lượng.

Anh là ai?

Chúng tôi cần được biết sự thật, hoặc nhóm của tôi sẽ rút lui.”

“Sao cậu dám chắc điều đó là khả thi, Brekker?

Tôi đã biết kế hoạch của cậu.

Tôi đi cùng với hai Grisha huyền thoại nhất thế giới, và tôi chiến đấu cũng không tệ đâu nhé.”

“Còn tôi là thằng giang hồ cống rãnh đã đưa Kuwei Yul-Bo sống sót thoát khỏi Lâu Đài Băng.

Hãy nói cho tôi biết anh có bao nhiêu cơ may trước tôi.”

Nhóm của anh không thể cạnh tranh lại người Ravka về khoản quần áo và tước hiệu, nhưng Kaz biết mình sẽ đặt cược vào đâu nếu còn tiền.

Sturmhond chắp tay lại sau lưng, và Kaz nhận thấy một sự thay đổi rất nhỏ trong cung cách của anh ta.

Đôi mắt Sturmhond không còn ánh lên tia thích thú, lúc này chúng có một sức nặng bất ngờ.

Anh ta không thể là một thuyền trưởng tầm thường.

“Xem nào,” Sturmhond lên tiếng, mắt nhìn xuống phố phường Ketterdam bên dưới, “theo giả thiết, tất nhiên rồi, vua Ravka có mạng lưới gián điệp cài sâu trong Kerch, Fjerda và Shu Han, ngài biết một cách chính xác tầm quan trọng của Kuwei Yul-Bo đối với vận mệnh vương quốc mình.

Cứ coi như nhà vua không tin tưởng người nào cho cuộc thương lượng ngoại trừ bản thân mình, nhưng ngài cũng biết sẽ nguy hiểm đến thế nào nếu vi hành một cách chính danh trong khi Ravka vẫn còn chưa hết rối ren, bản thân ngài lại không có người nối dõi và sự kế tục vương triều Lantsov chưa hề được bảo đảm.”

“Vậy là theo giả thiết,” Kaz nói, “người ta có thể phải gọi anh là bệ hạ.”

“Hoặc một loạt những danh xưng mĩ miều khác.

Theo giả thiết.”

Sturmhond nhìn Kaz với ánh mắt thăm dò.

“Nhưng làm thế nào cậu biết tôi không phải là người mà tôi xưng danh, Brekker?”

Kaz nhún vai.

“Anh nói tiếng Kerch như thể đó là tiếng mẹ đẻ - một thứ bản ngữ phong phú.

Anh không ăn nói như một kẻ giao du với đám thuỷ thủ và giang hồ tứ xứ.”

Tay thuyền trưởng hơi nghiêng người, hoàn toàn tập trung vào Kaz.

Sự xuề xoà của anh ta đã biến mất, giờ đây trông anh ta như một người có thể điều khiển cả đạo quân.

“Cậu Brekker,” anh ta nói.

“Hay là Kaz, tôi xin mạn phép gọi cậu như vậy nhé?

Tôi đang ở vào một tình thế nhạy cảm.

Tôi là vị vua cai quản một quốc gia có ngân khố rỗng tuếch, lưỡng đầu thọ địch.

Bên cạnh đấy cũng tồn tại những thế lực bên trong nước tôi có thể tranh thủ sự vắng mặt của tôi để tranh giành quyền lực.”

“Anh đang nói rằng anh sẽ là một con tin tuyệt hảo.”

“Tôi đồ rằng khoản tiền chuộc tôi sẽ ít hơn nhiều so với cái giá dành cho Kuwei.

Thật đấy, nó làm tổn thương sâu sắc đến lòng tự trọng của tôi.”

“Trông anh chẳng có vẻ gì là tổn thương cả,” Kaz nói.

“Tôi đã tạo ra Sturmhond hồi còn trẻ, và danh tiếng của anh ta vẫn còn phục vụ tốt cho tôi.

Tôi không thể đấu giá Kuwei dưới danh nghĩa nhà vua Ravka.

Tôi hi vọng kế hoạch của cậu sẽ diễn ra như cậu hình dung.

Nhưng nếu nó không diễn ra như thế, đó sẽ là một thất bại đáng xấu hổ cả về mặt ngoại giao lẫn chiến lược.

Tôi tham gia đấu giá với danh nghĩa Sturmhond, hoặc không tham gia.

Nếu nó là vấn đề thì…”

Kaz đặt tay lên cây gậy chống.

“Chỉ cần anh không tìm cách lừa tôi thì

anh tham gia với danh nghĩa bà tiên Istamere tôi cũng mặc.”

“Thật hay khi có các lựa chọn được để ngỏ.”

Sturmhond lại nhìn ra thành phố.

“Vụ này có thể nào thành công được không, cậu Brekker?

Hay tôi đang liều lĩnh với vận mệnh của Ravka và giới Grisha khi tin tưởng vào danh dự cũng như năng lực của một thằng nhóc lẻo mép?”

“Cả hai đều đúng phần nào,” Kaz đáp.

“Anh đang liều lĩnh với một đất nước.

Chúng tôi đang liều lĩnh với sinh mạng của mình.

Có vẻ công bằng.”

Nhà vua Ravka chìa tay ra.

“Thoả thuận nhé?”

“Thoả thuận.”

Họ bắt tay nhau.

“Giá mà các hiệp ước có thể được kí kết nhanh chóng như thế này,” Sturmhond nói, cung cách thuyền trưởng đã lại quay về như thể anh ta vừa đeo một chiếc mặt nạ mua ở Tây Stave.

“Tôi sẽ đi uống và tắm táp một chút.

Người ta chỉ có thể chấp nhận chừng này bùn đất và bụi bẩn là cùng.

Như một người kháng chiến từng nói với một hoàng tử, nó không tốt cho làn da.”

Anh ta ra vẻ như phủi thứ bụi vô hình trên vạt áo rồi bước ra khỏi phòng tắm nắng.

Kaz vuốt tóc và xốc lại áo xống.

Thật khó mà tin một thằng giang hồ cống rãnh lại mới thoả thuận với một nhà vua.

Anh nghĩ đến cái mũi gãy đã mang lại cho tay thuyền trưởng diện mạo của một người từng nhiều phen chinh chiến.

Theo những gì Kaz biết thì nhà vua của Ravka đúng là đã từng vào sinh ra tử, nhưng chắc hẳn anh ta cũng đã cho Thợ May chỉnh sửa các đường nét khuôn mặt.

Thật khó mà ẩn danh khi mặt bạn nằm chình ình trên tờ tiền.

Nói cho cùng, cho dù có là vua hay không, Sturmhond cũng là một kẻ lừa đảo thượng hạng, nên tất cả những gì quan trọng lúc này là anh ta và người của anh ta hoàn thành phần việc của mình.

Kaz xem đồng hồ - đã quá nửa đêm, muộn hơn anh muốn.

Anh đi tìm Nina, và bị bất ngờ khi thấy Jesper đứng chờ ngoài hành lang.

“Chuyện gì vậy?”

Kaz hỏi, trong đầu lập tức nghĩ đến những thứ có thể sai hỏng trong lúc anh đang ngủ.

“Không có gì,” Jesper đáp.

“Hay là không nhiều hơn thường lệ.”

“Vậy cậu muốn gì?”

Jesper nuốt nước bọt rồi nói, “Matthias đã đưa hết chỗ parem còn lại cho anh, đúng không?”

“Thì sao?”

“Nếu có chuyện gì xảy ra… người Shu sẽ xuất hiện ở buổi đấu giá, có thể cả bọn Kherguud nữa.

Vụ này quá nguy hiểm.

Tôi không thể bỏ mặc bố tôi được.

Tôi cần parem, như một giải pháp an toàn.”

Kaz đưa mắt dò xét Jesper hồi lâu.

“Không.”

“Chết tiệt.

Tại sao không chứ?”

Một câu hỏi hợp lí.

Đưa parem cho Jesper sẽ là một nước cờ thông minh, một nước đi thuận tiện.

“Bố cậu thương cậu hơn bất kì mảnh đất nào…”

“Nhưng…”

“Tôi sẽ không để cậu biến mình thành kẻ tử vì đạo đâu, Jes.

Nếu một trong số chúng ta nằm xuống, tất cả chúng ta sẽ cùng nằm xuống.”

“Đây là lựa chọn của tôi.”

“Nhưng hình như tôi mới là người có quyền quyết định.”

Kaz bỏ đi về phía phòng khách.

Anh không muốn tranh cãi với Jesper, nhất là khi không hoàn toàn chắc chắn vì sao mình lại từ chối ngay lập tức.

“Jordie là ai?”

Kaz khựng lại.

Anh biết câu hỏi sẽ đến, nhưng việc nghe thấy cái tên của anh trai mình vẫn quá đỗi khó khăn với anh.

“Một người mà tôi đã tin tưởng.”

Anh liếc qua vai và bắt gặp đôi mắt xám của Jesper.

“Một người mà tôi đã từng không muốn đánh mất.”

Kaz tìm thấy Nina và Matthias đang ngủ trên sô pha trong phòng khách tím.

Tại sao hai thành viên to xác nhất nhóm lại chọn cái chỗ chật hẹp nhất để nằm ngủ, anh không hiểu nổi.

Anh lấy cây gậy chọc vào người Nina.

Không buồn mở mắt, cô tìm cách hất nó đi.

“Thức dậy và tươi tỉnh lên nào.”

“Biến đi,” cô nói, rồi vùi mặt vào ngực Matthias.

“Đi thôi, Zenik.

Người chết còn chờ được, chứ tôi thì không.”

Cuối cùng cô nhỏm dậy và xỏ giày.

Cô đã thay bộ kefta bằng áo khoác và quần dài từng mặc trong vụ Bãi Ngọt.

Matthias quan sát mọi cử chỉ của cô, nhưng không yêu cầu đi theo hai người.

Anh biết sự hiện diện của mình chỉ càng làm tăng rủi ro cho họ.

Inej xuất hiện trên ngưỡng cửa, và họ im lặng đi tới thang máy.

Lệnh giới nghiêm đang được áp dụng trên các đường phố Ketterdam, nhưng không còn cách nào khác.

Họ sẽ phải trông cậy vào vận may và khả năng trinh sát dò đường của Inej để tránh các tốp thị tuần.

Họ rời khách sạn bằng cửa sau và đi về phía khu vực công xưởng của Ketterdam.

Họ rảo bước chậm rãi, vòng vèo qua các chốt chặn, chốc chốc lại dừng trong lúc Inej biến đi trước khi xuất hiện trở lại, ra hiệu cho họ chờ đợi hoặc đổi lộ trình, và lại mất hút.

Cuối cùng họ cũng đến được nhà xác, một công trình bằng đá xám không có gì đặc biệt nằm ở rìa của khu vực kho bãi.

Phía trước nhà xác có một khu vườn từ lâu không ai lui tới.

Chỉ có thi thể của người giàu được mang tới đây để chuẩn bị cho việc vận chuyển và mai táng phía ngoài thành phố.

Nó không phải là đống xác người trên đảo Tử Thần, nhưng Kaz vẫn có cảm giác như anh đang bước vào một cơn ác mộng.

Anh nghĩ đến giọng nói của Inej vang vọng trên lớp đá trắng.

Tiếp tục đi.

Nhà xác vắng tanh, cánh cổng sắt được khoá chặt.

Kaz phá khoá và ngoái đầu quan sát những cái bóng di động trong khu vườn rậm rạp.

Anh không thể trông thấy Inej, nhưng anh biết cô đang ở đó.

Cô sẽ canh chừng lối vào trong lúc họ hoàn tất công việc.

Bên trong nhà xác lạnh ngắt, mọi thứ chỉ được chiếu sáng bằng một ngọn đèn tử thi với ánh lửa xanh lam.

Có một phòng hậu sự, và phía sau nó là một gian phòng bằng đá rộng, với những dãy tủ nhiều ngăn xếp thành hàng, đủ lớn để chứa xác.

Toàn bộ nơi này bốc mùi tử khí.

Anh nghĩ đến mạch đập nơi cổ Inej, sự ấm áp của làn da cô khi anh áp môi vào.

Anh cố gạt bỏ ỷ nghĩ đó.

Anh không muốn kí ức đó gắn với căn phòng thối rữa này.

Kaz chưa bao giờ quên được nỗi kinh hoàng của cái đêm ở cảng Ketterdam, kí ức về thi thể của anh trai mà anh ôm chặt trong lúc tự nhắc mình đạp chân mạnh hơn nữa, hít thở thêm nữa, giữ nổi cơ thể, để sống sót.

Anh đã vào được bờ, và dành cả đời để trả mối thù đó.

Nhưng cơn ác mộng của anh không chịu biến mất.

Kaz cứ tưởng nó sẽ thoái lui một cách dễ dàng.

Anh sẽ không cần đắn đo trước khi bắt tay người khác hoặc đi vào những khu vực chật hẹp.

Nhưng không, mọi chuyện trở nên tồi tệ đến nỗi anh không thể chạm vào ai đó trên phố mà không mường tượng ra mình đang ở ngoài cảng, trên đảo Tử Thần, vây quanh là những xác người, hoặc đang bơi dưới nước, bấu víu vào da thịt trơn tuột của Jordie để khỏi chết chìm.

Tình hình đã đi xa đến mức nguy hiểm.

Có lần Gorka quá chén ở Thiên Đường Xanh, Kaz và Ấm Trà đã phải đưa anh ta về nhà.

Họ dìu anh ta qua sáu khối phố, cơ thể Gorka ngả nghiêng, hết áp làn da hôi hám vào Kaz rồi lại dựa vào Ấm Trà, giải phóng anh trong chốc lát - mặc dù anh vẫn có thể cảm thấy cánh tay lông lá của anh ta đè lên gáy mình.

Sau đó, Ấm Trà bắt gặp Kaz co quắp trong phòng tắm, người run lẩy bẩy và ướt đẫm mồ hôi.

Anh giả vờ rằng mình bị trúng thực, răng anh đánh lập cập trong lúc chèn chân vào cánh cửa để cho Ấm Trà đi ra ngoài.

Anh không thể chạm vào anh ta, nếu không muốn mất trí hoàn toàn.

Ngay hôm sau, anh mua cho mình đôi găng tay đầu tiên - cái thứ rẻ tiền màu đen luôn bị thôi màu mỗi khi gặp nước.

Yếu đuối là vấn đề sinh tử tại Barrel.

Người ta có thể đánh hơi thấy nó nơi bạn giống như ngửi thấy máu vậy, và nếu Kaz muốn hạ gục Pekka Rollins, anh không thể cho phép mình run lẩy bẩy trên sàn phòng tắm thêm một lần nào nữa.

Kaz không bao giờ giải đáp thắc mắc về đôi găng tay, không bao giờ đáp trả những lời chế nhạo.

Anh cứ đeo chúng hết ngày này qua ngày khác, chỉ cởi ra khi ở một mình.

Anh tự nhủ rằng đây chỉ là biện pháp tạm thời, và nó không ngăn được anh làm chủ các trò tiểu xảo, học xào và chia bài thậm chí còn khéo hơn cả khi không đeo găng.

Đôi găng giúp anh cách nước, giúp cho anh khỏi chết chìm khi những kí ức đêm đó đe dọa kéo anh xuống.

Khi đeo găng vào, anh có cảm giác như được vũ trang tốt hơn cả một con dao hay khẩu súng, cho tới khi anh gặp Imogen.

Lúc đó anh mười bốn tuổi, chưa phải là phó tướng của Per Haskell, nhưng đang tạo dựng tên tuổi qua từng trận đánh và phi vụ.

Imogen mới đến Barrel, lớn hơn anh một tuổi.

Con nhỏ đã chán những trò ăn cắp vặt mà nó tiến hành cùng một băng nhóm nhỏ ở Zierfoort.

Kể từ khi đến Ketterdam, nó loanh quanh trong hai khu Stave, làm những công việc lặt vặt và tìm cách len lỏi vào một trong các băng nhóm của Barrel.

Kaz lần đầu trông thấy Imogen lúc nó phang chai vào đầu một thằng Chim Cắt táy máy tay chân.

Lần thứ hai là khi Per Haskell bảo Kaz đi ghi cược cho các trận đấu võ đài mùa xuân.

Con nhỏ đầy tàn nhang, răng cửa bị hở, nhưng có thể đứng vững giữa một cuộc ẩu đả.

Một đêm nọ, khi họ đang đứng cạnh võ đài trống vắng để đếm lại số tiền kiếm được, con bé đã chạm vào ống tay áo của anh, và khi anh ngẩng lên, nó chậm rãi mỉm cười, môi mím lại để anh không thấy kẽ hở giữa hai chiếc răng cửa.

Sau đó, khi nằm trên chiếc nệm cứng quèo trong phòng ngủ chung ở Thanh Gỗ, Kaz nhìn lên trần nhà bị thấm dột, nghĩ đến cái cách mà Imogen mỉm cười với mình, nghĩ tới chiếc quần dài trễ cạp trên hông nó.

Con nhỏ có dáng đi xiên, như thể luôn tiếp cận mọi thứ ở một góc chéo.

Anh thích thế.

Anh thích nó.

Cơ thể con người chẳng có gì là bí mật tại Barrel.

Không gian chật chội, và người ta đón nhận lạc thú ở nơi tìm thấy nó.

Những thằng con trai khác trong băng Cặn Bã cứ liên tục khoe về những cuộc chinh phục của mình.

Kaz chẳng nói gì.

May mắn là anh không nói gì trong hầu như mọi chuyện, nên cũng không sao.

Nhưng anh biết những điều người ta chờ đợi anh nói, những thứ đáng lẽ anh phải mong muốn.

Anh muốn chứ, trong những khoảnh khắc, trong thoáng chốc - một cô gái băng qua đường trong chiếc váy màu xanh ngọc hờ hững khoe bờ vai trần, một vũ công di chuyển như ngọn lửa trong một buổi biểu diễn tại Đông Stave, tiếng cười của Imogen như thể anh vừa kể câu chuyện hài hước nhất trên đời khi mà anh chẳng nói năng gì mấy.

Anh co tay lại trong chiếc găng, lắng nghe những thằng cùng phòng ngáy vang.

Mình có thể vượt qua chuyện này, anh tự nhủ.

Anh mạnh hơn sự bệnh hoạn này, mạnh hơn lực kéo của nước.

Anh không gặp khó khăn gì khi nghiên cứu hoạt động của một sòng bài, anh từng làm điều đó.

Khi anh quyết định tự học về tài chính, anh cũng làm chủ được nó.

Kaz nghĩ đến nụ cười chậm rãi, mím môi của Imogen và ra một quyết định.

Anh sẽ chinh phục điểm yếu này theo cùng cách mà anh đã chinh phục mọi thứ trên con đường của mình.

Anh bắt đầu từ những động thái mà không ai để ý.

Chia bài cho một ván bài cào mà không mang găng.

Ngủ một đêm với đôi găng nhét dưới gối.

Thế rồi, khi Per Haskell cử anh và Ấm Trà đi đánh dằn mặt thằng ranh Beni vì thiếu nợ không trả, Kaz đã chờ cho đến khi dồn được nó vào một con hẻm và Ấm Trà bảo anh khoá chặt tay nó để tuột đôi găng ra, như một phép thử dễ dàng.

Ngay khi tiếp xúc với cổ tay của Beni, cảm giác ghê tởm chụp lên anh.

Nhưng Kaz đã chuẩn bị và đương đầu với nó, phớt lờ những giọt mồ hôi lạnh trong lúc bẻ quặt khuỷu tay của Beni ra sau lưng.

Kaz ép mình dùng thân người kẹp chặt cơ thể gã, trong lúc Ấm Trà nhắc lại từng điều khoản trong món nợ của gã với Per Haskell, kết thúc mỗi mục bằng một cú đấm vào mặt hoặc vào bụng Beni.

Mình ổn mà, Kaz lự nhú, Mình có thể xử lí chuyện này.

Thế rồi nước dâng lên.

Lần này những ngọn sóng cao như các chóp đỉnh của nhà thờ Barter, tóm lấy anh và lôi anh xuống, với sức nặng mà anh không thể thoát khỏi.

Trong tay anh lại là cơ thể đang phân hủy trương phình của Jordie.

Kaz xô nó ra, thở hổn hển lấy hơi.

Sự việc tiếp theo mà Kaz ý thức được là anh đang dựa người vào một bức tường gạch.

Ấm Trà quát mắng anh vì đã để xổng mất Beni.

Bầu trời xám xịt trên đầu anh, mùi hôi hám của con hẻm tràn ngập lỗ mũi anh, trộn lẫn giữa mùi rác rưởi và nước tiểu.

“Cái chó gì vậy, Brekker?”

Ấm Trà hét lên, khuôn mặt vằn đỏ vì nộ khí, mũi như muốn bốc khói theo cách đáng lẽ rất tức cười.

“Mày vừa thả nó ra đó!

Nếu nó có dao thì sao hả?”

Kaz chỉ lơ mơ ghi nhận điều đó.

Beni gần như không chạm vào anh, nhưng không hiểu sao, khi không có đôi găng tay, mọi chuyện tệ hại hơn nhiều.

Sự tiếp xúc của da thịt, cái mềm mại của một cơ thể khác ở sát gần cơ thể anh.

“Mày có đang nghe tao nói không đấy, hả thằng nhãi?”

Ấm Trà túm áo Kaz, các đốt ngón tay lướt qua cổ anh, khiến một đợt sóng kinh tởm khác ập vào anh.

Hắn lay anh cho đến khi răng anh va vào nhau lập cập.

Ấm Trà đã trút vào Kaz trận đòn mà hắn định dành cho Beni.

Rồi bỏ mặc anh nằm hấp hối trong con hẻm.

Bạn không thể mềm yếu hoặc bị sao nhãng trong lúc tiến hành một phi vụ.

Khi mà đồng đội đang trông chờ ở bạn.

Kaz co tay lại trong đôi găng, nhưng không tung cú đấm nào hết.

Anh mất gần một giờ để lết ra khỏi con hẻm, và nhiều tuần lễ để xây dựng lại danh tiếng bị tổn hại.

Mọi vấp váp ở Barrel đều có thể dẫn tới một cú ngã chí mạng.

Anh đi tìm Beni để khiến gã phải ao ước rằng người đánh mình là Ấm Trà.

Anh đeo găng và không tháo ra, Anh tàn nhẫn và đánh mạnh gấp đôi.

Anh không còn bận tâm đến việc tỏ ra bình thường, cứ để cho mọi người thấy sự điên loạn trong anh và để họ đoán nốt phần còn lại.

Ai đến quá gần, anh tung cú đấm.

Ai dám đặt tay lên người anh, anh bẻ cổ tay, một bên, hai bên, rồi cả quai hàm.

Tay Nhám, họ gọi anh như thế.

Con chó dại của Haskell.

Cơn cuồng nộ trong anh bùng cháy, và anh học cách coi khinh những người phàn nàn, van xin, những kẻ cam chịu.

Để tao dạy cho mày biết đau là thế nào, anh sẽ nói như vậy, rồi vẽ một bức tranh bằng nắm đấm.

Tại võ đài, lần tiếp theo Imogen đặt tay lên ống tay áo của Kaz, anh đã nhìn thẳng vào mắt con bé cho đến khi nụ cười mím môi đó tan biến.

Con bé buông tay.

Và nhìn đi chỗ khác.

Anh tiếp tục đếm tiền.

Lúc này, Kaz gõ cây gậy chống xuống sàn nhà xác.

“Ta kết thúc chuyện này thôi,” anh nói với Nina và nghe thấy giọng mình vang vọng một cách ồn ào quá mức trên mặt đá lạnh lẽo.

Anh muốn ra khỏi chỗ này càng nhanh càng tốt.

Bắt đầu ở hai phía đối diện với nhau, họ quan sát ngày tháng trên các ngăn tủ, tìm một thi thể trong tình trạng phân huỷ phù hợp.

Ngay cả việc nghĩ tới chuyện này cũng làm cho ngực Kaz thắt lại.

Nó giống như một tiếng thét đang tích tụ.

Nhưng đầu óc anh đã ấp ủ kế hoạch này, biết rằng nó sẽ dẫn anh tới đây.

“Đây rồi,” Nina nói.

Kaz băng qua gian phòng tiến đến chỗ cô.

Đứng trước ngăn tủ, không ai trong hai người muốn mở nó ra.

Kaz biết cả hai người bọn họ đều đã từng nhìn thấy hàng đống tử thi.

Bạn không thể kiếm sống trên đường phố khu Barrel hoặc chiến đấu trong hàng ngũ Hạ Quân mà chưa từng chạm mặt cái chết.

Nhưng đây lại là chuyện khác.

Đây là sự phân huỷ sau cái chết.

Cuối cùng, Kaz móc đầu quạ của cây gậy chống vào tay nắm và kéo.

Ngăn tủ nặng hơn anh tưởng, nhưng nó mở ra một cách trơn tru.

Anh đứng yên.

“Chúng ta có chắc đây là ý hay không vậy?”

Nina hỏi.

“Tôi luôn chào đón nếu cô có ý tưởng hay hơn,” Kaz đáp.

Nina thở dài, rồi kéo tấm vải khỏi thi thể.

Cảnh tượng khiến Kaz nghĩ tới một con rắn đang lột da.

Người đàn ông ở độ tuổi trung niên, đôi môi đã đen thẫm vì sự phân huỷ.

Hồi còn bé, Kaz từng nín thở mỗi khi đi qua một nghĩa địa, chắc mẩm rằng nếu mở miệng thì một thứ gì rất kinh khủng sẽ chui vào.

Căn phòng chao nghiêng.

Anh cố gắng hít thở, buộc mình quay lại với thực tại.

Anh xoè các ngón tay đeo găng, cảm nhận lớp da căng lên, và nắm chặt cây gậy chống trong lòng bàn tay.

“Tôi tự hỏi ông ta đã chết như thế nào,” Nina thì thầm trong khi quan sát những nếp da xám ngoét của khuôn mặt người chết.

“Một mình,” Kaz đáp, mắt nhìn những đầu ngón tay của ông ta.

Có cái gì đó đã gặm chúng.

Lũ chuột cống hẳn đã phát hiện ra ông ta trước khi người ta tìm thấy.

Hoặc là một trong những con vật nuôi của ông ta.

Kaz lấy trong túi ra cái hộp thuỷ tinh đậy kín mà anh đã nẫng của Genya.

“Lấy những gì cô cần đi.”

•••

Đứng trên tháp đồng hồ khách sạn, Kaz quan sát những người trong nhóm.

Thành phố vẫn đang chìm trong bóng tối, nhưng bình minh sẽ sớm ló dạng và họ sẽ đi theo những lộ trình tách biệt: Wylan và ông Colm tới một tiệm bánh không người để chờ phiên đấu giá bắt đầu.

Nina đi đến khu Barrel với một số nhiệm vụ cần làm.

Inej vào vị trí trên mái nhà thờ Barter.

Về phần mình, Kaz sẽ bước xuống quảng trường phía trước Sàn giao dịch cùng với Matthias và Kuwei.

Ở đó họ sẽ được một tốp thị tuần hộ tống vào trong nhà thờ.

Kaz tự hỏi Van Eck sẽ cảm thấy như thế nào khi các sĩ quan của mình lại đi bảo vệ một thằng khốn khu Barrel.

Anh cảm thấy là chính mình nhiều hơn so với nhiều ngày vừa qua.

Vụ mai phục ở nhà của Van Eck đã làm anh chao đảo.

Anh không sẵn sàng cho việc Pekka Rollins tham gia vào chuyện này.

Anh chưa chuẩn bị cho sự nhục nhã mà nó gây ra, cho sự quay lại mạnh mẽ của những kí ức về Jordie.

Em đã phụ lòng anh.

Giọng nói của anh trai anh vang lên, lớn hơn bao giờ hết.

Em đã để cho lão qua mặt một lần nữa.

Kaz đã gọi Jesper bằng tên của anh trai mình.

Một sơ sẩy tệ hại.

Nhưng có lẽ anh muốn trừng phạt cả hai.

Lúc này Kaz đã lớn hơn Jordie lúc anh ấy đầu hàng bệnh dịch Thị Nữ.

Giờ đây anh có thể nhìn lại và thấy sự kiêu hãnh của anh trai mình, khát vọng thành công nhanh chóng của anh ấy.

Anh đã phụ lòng em, Jordie.

Anh lớn hơn.

Anh đáng lẽ phải là đứa khôn ngoan.

Anh nghĩ tới câu hỏi của Inej.

Không ai bảo vệ các anh sao?

Anh nhớ Jordie ngồi bên cạnh mình trên chiếc cầu, còn sống và tươi cười, nhớ hình ảnh phản chiếu của chân họ trên mặt nước bên dưới, nhớ sự ấm áp của tách sôcôla nóng trong đôi tay đeo găng.

Đáng lẽ chúng ta phải chăm sóc lẫn nhau.

Họ từng là hai cậu bé nhà nông mất bố, lạc lõng trong cái thành Ketterdam này.

Thế nên Pekka mới lừa được họ.

Không chỉ là sự cám dỗ của đồng tiền.

Lão ta đã cho họ một gia đình mới.

Một bà vợ giả hiệu làm món hutspot, một đứa con gái giả hiệu để Kaz chơi cùng.

Pekka Rollins đã dụ hai anh em bằng ngọn lửa ấm áp và sự hứa hẹn về một cuộc sống mà họ đã bị mất.

Và đó là thứ huỷ diệt bạn: ước mơ về một điều mà bạn không bao giờ có được.

Anh điểm lại những khuôn mặt mà mình đã chiến đấu bên cạnh và đổ máu cùng.

Anh từng nói dối họ, và cũng từng bị lừa dối.

Anh từng đưa họ vào địa ngục và lôi họ trở ra.

Kaz đặt bàn tay lên cây gậy chống, lưng quay về phía thành phố.

“Chúng ta đều muốn những thứ khác biệt từ ngày hôm nay.

Tự do, sự cứu rỗi…”

“Tiền bạc,” Jesper đề xuất.

“Nhiều tiền.

Có rất nhiều người tìm cách cản đường chúng ta.

Van Eck.

Hội đồng Thương buôn.

Pekka Rollins và đàn em của lão.

Một vài quốc gia khác, và hầu hết những người trong cái thành phố bị thánh thần ruồng bỏ này.”

“Đáng lẽ đây phải là một lời động viên chứ?”

Nina thắc mắc.

“Họ không biết chúng ta là ai.

Không thực sự biết.

Họ không biết những gì ta đã làm, những điều ta đã thực hiện cùng nhau.

Kaz gõ cây gậy chống xuống sàn.

“Thế nên ta hãy cho họ thấy họ đã chọn sai người để tuyên chiến như thế nào.

15

WYLAN

Tôi đang làm gì ở đấy thế này?

Cúi người trên chậu rửa, Wylan vã nước lạnh lên mặt.

Sau vài giờ nữa, cuộc đấu giá sẽ bắt đầu.

Họ sẽ rời khỏi phòng khách sạn trước khi bình minh ló dạng.

Nếu có bất kì ai tới tìm Johannus Rietveld sau phiên đấu giá thì sẽ thấy ông đã ra đi từ lâu rồi.

Cậu nhìn lần cuối hình ảnh mình trong chiếc gương mạ vàng.

Khuôn mặt đang nhìn cậu đã quen thuộc trở lại, nhưng thực sự thì cậu ta là ai?

Một tên tội phạm?

Một kẻ đào tẩu?

Một thằng nhóc với kiến thức về chất nổ ở mức tạm được - hoặc trên mức tạm được?

Tôi là con trai của Marya Hendriks.

Cậu nghĩ tới mẹ mình, bị bỏ rơi cùng với đứa con khiếm khuyết của bà.

Lúc đó bà có còn đủ trẻ để sinh một đứa con nối dõi thực thụ không?

Lúc đó cha cậu có biết rằng một ngày nào đấy ông ta sẽ tự tay phủi sạch sự tồn tại của Wylan trên đời không?

Tôi đang làm gì ở đấy thế này?

Nhưng cậu đã biết câu trả lời.

Chỉ cậu mới có thể thấy cha mình bị trừng trị cho những gì ông ta đã làm.

Chỉ cậu mới có thế thấy mẹ mình được giải thoát.

Wylan xem xét hình ảnh mình trong gương.

Đôi mắt của cha.

Những lọn tóc xoăn của mẹ.

Cũng hay khi được làm người khác trong một khoảng thời gian, để quên đi cậu là một người mang họ Van Eck.

Nhưng cậu không muốn lẩn tránh nữa.

Cậu đã trốn chạy suốt từ khi bị những ngón tay của Prior siết chặt cổ họng.

Chuyện này cũng có thể đã bắt đầu từ trước đó, vào cái buổi chiều cậu ngồi trong nhà ăn hoặc cuộn mình trên bậu cửa sổ, sau lớp rèm, hi vọng mọi người quên phứt mình đi, bà vú em bỏ về nhà mình, và người gia sư không bao giờ đến.

Cha cậu đã muốn con trai mình biến mất.

Ông ta muốn cậu biến mất theo cái cách mà ông ta đã làm mẹ cậu biến mất, và trong một khoảng thời gian dài, Wylan cũng muốn như vậy.

Nhưng chuyện đó đã thay đổi khi cậu đặt chân đến khu Barrel, khi cậu có công việc đầu tiên, khi cậu gặp gỡ Jesper, Kaz và Inej, khi cậu bắt đầu nhận ra mình có giá trị.

Jan Van Eck sẽ không được thoả nguyện.

Cậu sẽ không đi đâu hết.

“Tôi ở đây vì mẹ,” cậu nói với tấm gương soi.

Cậu trai với đôi má hồng trong gương chẳng tỏ ra bị ấn tượng chút nào.

•••

Mặt trời chỉ vừa ló dạng thì Pim đã dẫn Wylan và ông Colm rời cửa hậu của khách sạn, len qua một loạt những ngã rẽ lắt léo để tới quảng trường phía trước sàn giao dịch.

Thường thì tiệm bánh trên phố Beurstraat đã hoạt động vào giờ này để chuẩn bị phục vụ các nhà môi giới và thương nhân trên đường tới sàn giao dịch.

Nhưng phiên đấu giá sắp diễn ra đã làm đảo lộn việc kinh doanh thường lệ, và ông chủ tiệm bánh quyết định đóng cửa tiệm, chắc là để giành lấy một chỗ ngồi xem tận mắt buổi đấu giá.

Suốt một lúc lâu họ đứng trước cửa tiệm bánh, trên quảng trường vắng tanh, trong khi Pim loay hoay với ổ khoá.

Wylan nhận ra mình đã quen với sự khéo léo của Kaz mỗi khi phá khoá đột nhập nơi nào đó.

Cánh cửa mở ra với tiếng leng keng hơi ồn ào quá, và ba người bước vào trong.

“Không đổ lệ,” Pim nói.

Anh quay trở ra trước cả khi Wylan kịp đáp.

Các khay bánh đều trống rỗng, nhưng mùi bánh mì ngọt ngào vẫn vương vấn trong tiệm.

Wylan và ông Colm ngồi xuống sàn nhà, tựa lưng vào dãy kệ, cố gắng thu xếp tư thế thoải mái cho mình.

Kaz đã cho họ những chỉ dẫn rất kĩ lưỡng, và Wylan không có ý định phớt lờ chúng.

Không một ai được phép nhìn thấy Johannus Rietveld tại thành phố này nữa, và Wylan biết chính xác cha cậu sẽ làm gì với cậu nếu tìm thấy con trai mình lảng vảng trên đường phố Ketterdam.

Họ ngồi im lặng trong nhiều giờ.

Ông Colm ngủ gà gật.

Wylan ngâm nga một giai điệu mà cậu có trong đầu dạo gần đây.

Nó sẽ cần một bộ gõ, một thứ gì đó có âm thanh lạch tạch tạch như loạt súng bắn.

Wylan thận trọng nhòm qua cửa sổ và thấy vài người đã đi tới nhà thờ Barter, những con sáo đá bay trên quảng trường, và đằng kia, cách họ vài trăm mét, là lối vào của Sàn giao dịch.

Cậu không cần phải căng mắt ra đọc những chữ được khắc trên vòm cổng.

Cậu đã nghe cha mình nhắc lại vô số lần.

Enjent, Voorhent, Almhent.

Siêng năng, Chính trực, Thịnh vượng.

Jan Van Eck đã làm tốt được hai trong ba cái đó.

Wylan không nhận ra ông Colm đã thức cho tới khi ông lên tiếng.

“Điều gì đã khiến cậu nói dối để bao che cho con trai tôi trong nhà mồ hôm nọ?”

Wylan hạ người ngồi xuống sàn trở lại.

Cậu cẩn thận lựa chọn từ ngữ.

“Cháu nghĩ cháu biết việc làm hỏng mọi thứ là như thế nào.”

Ông Colm thỏ dài.

“Jesper sai nhiều cái lắm.

Nó bất cẩn, ngu ngốc, và

đùa cợt những thứ không nên đùa, nhưng mà…”

Wylan chờ đợi ông nói tiếp.

“Điều mà bác đang cố nói là, thằng bé thực sự là một rắc rối, rối tinh rối mù.

Nhưng nó đáng giá.”

“Cháu…”

“Và nó như vậy là do lỗi của bác.

Bác đã cố gắng bảo vệ nó, nhưng có lẽ bác đã chất lên vai nó một thứ gì đó còn tệ hại hơn những nguy hiểm mà bác thấy lởn vởn ngoài kia.”

Ngay cả trong ánh sáng sớm mai nhợt nhạt luồn qua cửa kính hiệu bánh, Wylan cũng có thể trông thấy sự mệt mỏi trên gương mặt ông Colm.

“Bác đã phạm sai lầm lớn.”

Wylan dùng ngón tay vạch một đường trên sàn nhà.

“Bác đã cho anh ấy một người để tựa nhờ.

Bất kể những gì anh ấy đã làm, hoặc làm hỏng, cháu nghĩ rằng chuyện đó lớn hơn những sai lầm lớn của bác.”

“Cháu thấy không?

Đó là lí do nó thích cháu.

Bác biết, bác biết, đây không phải việc của bác, và bác không rõ thằng bé có phải là lựa chọn tốt đối với cháu hay không.

Có lẽ nó chỉ mang lại cho cháu hàng đống chuyện đau đầu.

Nhưng bác nghĩ cháu là lựa chọn tốt đối với nó.”

Khuôn mặt Wylan nóng bừng.

Cậu biết ông Colm yêu quý con trai mình đến mức nào, cậu đã thấy điều đó trong từng cử chỉ của ông.

Thật ý nghĩa khi ông cho rằng cậu đủ tốt với con trai ông.

Một tiếng động vang lên từ chỗ gần cửa giao hàng, khiến hai bác cháu lặng người.

Wylan nhỏm dậy, tim đập thình thịch.

“Bác nhớ nhé,” cậu thì thào với ông Colm.

“Không được ra mặt.”

Wylan đi qua chỗ mấy cái lò nướng để tới cửa sau của tiệm bánh.

Mùi hương ở đây mạnh hơn, bóng tối mịt mùng hơn, nhưng căn phòng trống không.

Báo động giả.

“Không…”

Cánh cửa giao hàng bật mỏ.

Những bàn tay chộp lấy Wylan từ phía sau.

Đầu cậu bị lôi ngược lại, miệng bị banh ra để nhét giẻ vào.

Một cái túi nhanh chóng trùm qua đầu cậu.

“Ê, thiếu gia,” một chất giọng trầm mà Wylan không nhận ra vang lên.

“Sẵn sàng gặp lại bố mày chưa?”

Chúng bẻ quặt cánh tay cậu ra sau, và Wylan bị lôi qua cửa giao hàng của tiệm bánh.

Cậu loạng choạng, gần như không bước đi được, không nhìn thấy gì và cũng không định hướng được.

Cậu ngã xuống, đầu gối đập vào đá đau điếng, trước khi bị lôi dậy.

“Đừng có bắt bọn tao phải vác mày lên, thiếu gia.

Tiền công không bao gồm chuyện đó.”

“Lối này,” một giọng con gái vang lên.

“Pekka đang ở mặt nam của nhà thờ.”

“Đứng lại,” một giọng nói khác cất lên.

“Tụi bay có gì đó?”

Giọng nói này có tính chất mệnh lệnh trong đó.

Thị tuần, Wylan nghĩ bụng.

“Một người mà ngài Uỷ viên hội đồng Van Eck sẽ rất vui sướng khi được gặp.”

“Có phải nó ở trong băng của Kaz Brekker không?”

“Ngậm miệng lại và chạy đi báo ông ta rằng Kim Sư có một món quà chờ ông ta tại nhà nguyện quân sự.”

Wylan nghe thấy tiếng đám đông ở cách đó không xa.

Có phải họ đang ở gần nhà thờ không?

Giây lát sau, cậu bị kéo mạnh tới trước, và âm thanh thay đổi.

Họ đã vào trong nhà.

Không khí lạnh hơn, ánh sáng tối đi.

Cậu bị lôi lên một đợt cầu thang nữa, ống chân đập vào bậc thang đau điếng, trước khi chúng ấn cậu vào một cái ghế và trói tay cậu sau lưng.

Wylan nghe thấy tiếng bước chân đi lên cầu thang, và tiếng cánh cửa mở ra.

“Bọn tôi đã bắt được nó,” chất giọng trầm ban nãy vang lên.

“Ở đâu?”

Tim Wylan hụt mất một nhịp.

Đọc đi nào, Wylan.

Một đứa bé bằng nửa tuổi con đã có thể đọc cái này mà không cần gắng sức.

Cậu nghĩ mình đã sẵn sàng cho chuyện này.

“Brekker giấu nó trong một tiệm bánh cách đây vài khối nhà.”

“Làm sao bọn mày tìm thấy nó được?”

“Pekka đã cắt cử bọn tôi lùng sục trong khu này, đoán rằng Brekker có thể giở trò gì đó ở cuộc đấu giá.”

“Để sỉ nhục ta, chắc chắn rồi,” Jan Van Eck nói.

Cái túi được giật phăng khỏi đầu Wylan, và cậu nhìn thẳng vào khuôn mặt của cha mình.

Van Eck lắc đầu.

“Mỗi lần ta nghĩ con không thể làm ta thất vọng hơn nữa, thì con lại chứng minh rằng ta đã sai.”

Họ đang ở trong một nhà nguyện nhỏ có trần dạng vòm.

Những bức tranh sơn dầu trên tường thể hiện các trận đánh và hàng đống vũ khí.

Có lẽ nhà nguyện này được quyên bởi một gia tộc chuyên sản xuất vũ khí.

Trong vài ngày qua, Wylan đã nghiên cứu sơ đồ của nhà thờ Barter, cậu cùng Inej vẽ lại các khe mái và hốc tường, thảo ra từng gian nhà thờ ứng với những ngón tay dài của bàn tay Ghezen.

Cậu biết chính xác mình đang ở đâu - một trong những nhà nguyện nằm phía cuối ngón út của Ghezen.

Sàn nhà được trải thảm, cánh cửa duy nhất dẫn ra cầu thang, và cửa sổ duy nhất trổ ra mái nhà.

Ngay cả nếu như không bị bịt miệng, cậu cũng không nghĩ có ai khác ngoài những bức tranh kia nghe được tiếng kêu cứu của mình.

Phía sau lưng cha cậu có hai người nữa: một đứa con gái mặc quần sọc, mái tóc vàng cạo nửa đầu, và một thằng nhóc đô con mặc quần kẻ ô với dây đeo quần.

Cả hai đều mang dải băng tay màu tím, cho thấy chúng được thị tuần cho phép hành động.

Cả hai đều có hình xăm của băng Kim Sư.

Thằng nhóc cười nhe răng.

“Ông có muốn tôi mời Pekka tới không?”

Nó hỏi Van Eck.

“Không cần.Ta muốn ông ta theo sát công cuộc chuẩn bị cho buổi đấu giá.

Đây là chuyện ta muốn tự mình xử lí.”

Van Eek cúi xuống.

“Nghe này, nhóc.

Bóng Ma đã bị bắt gặp đi cùng với một thành viên của Tam Đại Grisha.

Ta biết Brekker đang hợp tác với phía Ravka.

Dù có khiếm khuyết thế nào, con vẫn mang dòng máu của ta.

Hãy nói cho ta biết kế hoạch của Brekker, và ta sẽ cử người chăm sóc con.

Con sẽ được nhận trợ cấp.

Con có thể sống thoải mái ở đâu đó.

Ta sẽ tháo băng bịt miệng cho con.

Nếu con la hét, ta sẽ để cho người của Pekka làm bất cứ điều gì chúng muốn với con, hiểu chưa?”

Wylan gật đầu.

Cha cậu giật miếng giẻ ra khỏi miệng cậu.

Wylan đưa lưỡi liếm môi rồi nhổ vào mặt cha mình.

Van Eck rút từ trong túi ra một chiếc khăn tay trắng muốt có thêu tên viết tắt và viền bằng những chiếc lá nguyệt quế màu đỏ.

“Sự đáp trả thích hợp của một thằng bé không biết đọc chữ.”

Ông ta lau chỗ nước bọt dính trên mặt.

“Ta nói lại như thế này vậy.

Hãy nói cho ta biết Brekker đang âm mưu gì với phía Ravka, và ta sẽ để cho mày sống.

“Theo cách mà ông đã để cho mẹ tôi sống á?”

Cú khựng của cha cậu gần như không thể nhận thấy, giống như một con rối bị giật dây chỉ một lần rồi thôi.

Van Eck gấp chiếc khăn bẩn hai lượt, rồi cất nó đi.

Ông gật đầu với hai đứa kia.

“Làm bất cứ điều gì bọn mày muốn.

Buổi đấu giá sẽ diễn ra trong một giờ tới, và ta muốn có câu trả lời trước đó.”

“Dựng nó dậy,” thằng nhóc đô con nói với đứa con gái.

Con nhỏ lôi Wylan đứng lên, và thằng nhóc rút từ trong túi ra một cặp tay gấu bằng đồng.

“Nó sẽ không còn xinh xẻo sau chuyện này đâu.”

“Ai quan tâm chứ?”

Van Eck đáp với một cái nhún vai.

“Chỉ cần bảo đảm bọn mày giữ cho nó tỉnh.

Ta cần thông tin.”

Thằng nhóc ngó Wylan bằng ánh mắt nghi ngờ.

“Mày có chắc là mày muốn làm theo cách này không, thiếu gia?”

Wylan huy động toàn bộ sự can đảm mà cậu đã học được từ Nina, ý chí học được từ Matthias, sự tập trung từ Kaz, dũng khí từ Inej và hi vọng rồ dại, bất cẩn học được từ Jesper, niềm tin rằng bất luận ra sao, bằng cách nào đó họ cũng sẽ thắng.

“Tao sẽ không khai đâu,” cậu đáp.

Cú đấm đầu tiên làm gãy hai xương sườn của Wylan.

Cú đấm thứ hai khiến cậu ho ra máu.

“Có lẽ chúng ta nên bẻ các ngón tay để mày không thể chơi cây sáo quỷ quái đó nữa,” Van Eck đề nghị.

Mình ở đây là vì mẹ, Wylan tự nhủ.

Mình ở đây là vì mẹ.

Nhưng rốt cuộc, cậu không phải là Nina hay Matthias hay Kaz hay Inej hay Jesper.

Cậu chỉ là Wylan Van Eck.

Cậu đã khai tất tần tật với chúng.

16

INEJ

Vào trong nhà thờ Barter không phải là nhiệm vụ dễ dàng vào buổi sáng hôm nay.

Do vị trí gần Sàn giao dịch và kênh Beurs, mái nhà thờ không tiếp giáp với bất kì mái nhà nào khác, và lối vào của nó đã được canh gác bởi vệ quân khi Inej đến nơi.

Nhưng cô là Bóng Ma; cô được sinh ra để tìm những nơi bí mật, những ngóc ngách và khe hở mà không ai ngờ đến.

Không một món vũ khí nào được phép mang vào nhà tho trong buổi đấu giá, nên khẩu súng trường của Jesper hiện đang nằm trên lưng Inej.

Cô kín đáo chờ đợi cho tới khi trông thấy một tốp thị tuần đẩy chiếc xe chất đầy gỗ tiến về phía một trong những cánh cửa đôi đồ sộ của nhà thờ.

Cô đoán họ đang chuẩn bị lập một chướng ngại vật cho sân khấu hoặc các gian hình ngón tay của nhà thờ.

Inej chờ cho đến khi chiếc xe dừng lại, rồi nhét mũ trùm vào trong áo để nó không bị quét đất.

Cô bám vào trục xe, cơ thể gần như chạm vào lớp đá lát, rồi để cho bọn họ đẩy mình dọc theo lối đi chính điện.

Trước khi họ tới bàn thờ, cô thả người lăn vào các hàng ghế, suýt nữa bị bánh xe cán phải.

Áp bụng vào mặt sàn lạnh ngắt, Inej bò ngang qua nhà thờ, rồi chờ thời cơ ở cuối lối đi và lao tới nấp sau một trong những cây cột trụ của vòm cuốn phía tây.

Cô di chuyển từ cây cột này sang cây cột khác, trước khi lách mình vào gian nhà thờ dẫn tới các nhà nguyện của ngón cái.

Một lần nữa cô chuyển sang bò trườn để dùng những dãy ghế trong nhà thờ che chắn cho mình.

Cô không biết các vệ quân đang đi tuần ở chỗ nào, và cô không muốn bị bắt khi đang đi lang thang trong nhà thờ.

Inej tiến đến nhà nguyện thứ nhất, sau đó cô theo cầu thang đi lên nhà nguyện màu cam ở bên trên.

Bàn thờ của nó được dát vàng, nhưng hình dáng lại giống như những thùng đựng cam và các loại trái cây ngoại lai khác.

Tâm điểm là bức tranh sơn dầu của DeKappel miêu tả cảnh một gia đình thương gia mặc đồ đen tụ tập trong bàn tay của Ghezen, được treo lơ lửng trên một bụi chanh.

Inej leo lên bàn thờ rồi phóng lên vòm trần của nhà thờ, gần như treo ngược người khi bám trên đó.

Khi đã trèo lên đến đỉnh vòm, cô ấn lưng vào cái vòm nhỏ nằm chính giữa vòm trần lớn.

Mặc dù không nghĩ mình có thể bị nghe thấy từ đây, cô vẫn đợi cho đến khi tiếng kéo cửa và gõ búa vang lên để đưa chân đạp vào một trong những ô cửa sổ cấp ánh sáng cho nhà nguyện.

Sau cú đạp thứ hai, kính cửa sổ bị rạn và vỡ ra bên ngoài.

Inej dùng ống tay áo để bảo vệ bàn tay trong lúc gạt bỏ chỗ mảnh kính lởm chởm còn lại, trước khi đưa cơ thể ra bên ngoài, trên đỉnh của mái vòm.

Cô buộc một sợi dây thừng vào cửa sổ rồi trượt xuống mái của gian nhà thờ, nơi cô để lại khẩu súng trường của Jesper.

Cô không muốn nó làm mình mất thăng bằng.

Lúc này, Inej đang đứng trên đỉnh ngón tay cái của Ghezen.

Màn sương buổi sáng đã bắt đầu tan đi, và cô có thể cảm thấy ngày hôm nay sẽ nóng.

Cô men theo ngón tay cái quay trở lại khu vực mái dốc đầy tháp nhọn của chính điện và lại bắt đầu leo lên.

Đây là phần cao nhất của nhà thờ, nhưng Inej đã quen với nó, và điều đó khiến cô di chuyển dễ hơn.

Trong tất cả các mái nhà của Ketterdam, thánh đường này là nơi cô thích hơn cả.

Cô không có lí do chính đáng nào để nghiên cứu hình dạng của nó.

Có rất nhiều chỗ khác cho phép cô quan sát Sàn giao dịch hoặc kênh Beurs, nhưng cô luôn chọn nhà thờ Barter.

Những chóp nhọn của nó có thể được trông thấy từ gần như bất kì nơi đâu trong Rotterdam.

Lớp mái bằng đồng ngả màu xanh qua năm tháng được điểm xuyết bằng những tháp nhọn có hoạ tiết trang trí kim loại tạo ra đầy những chỗ bám tay lẫn nơi ẩn mình tuyệt vời.

Nó giống như một xứ cổ tích với hai màu xám và xanh mà không ai trong thành phố ngó ngàng tới.

Kẻ đi dây mạo hiểm trong cô từng mường tượng chuyện căng một sợi dây giữa hai chóp nhọn cao nhất của nhà thờ.

Ai dám thách thức tử thần nào?

Tôi.

Có lẽ Kerch sẽ coi việc biểu diễn xiếc trên nóc các nhà thờ là hành vi báng bổ.

Trừ phi cô tổ chức bán vé, tất nhiên rồi.

Inej nhét những khối chất nổ mà Kaz mô tả là “vật bảo đảm của họ tại các vị trí mà cô và Wylan đã nhất trí với nhau trong lúc phác thảo sơ đồ nhà thờ.

Chỉ có đầu óc của Kaz mới coi sự hỗn loạn là an toàn.

Những vụ nổ được tính toán sao cho thật ồn ào nhưng ít gây thiệt hại.

Tuy vậy, nếu tình hình có gì đó bất ổn và họ cần một sự đánh lạc hướng thì chúng sẽ phát huy tác dụng.

Sau khi xong việc, cô vào vị trí quan sát tại một trong những cái hốc trang trí bằng kim loại nhìn bao quát bên trên hậu điện và gian chính của ngôi thánh đường.

Tại đây, tầm nhìn toàn cảnh buổi đấu giá của cô sẽ chỉ bị ngăn trở bởi những thanh gỗ rộng và lớp lưới kim loại giữa chúng, có những lần cô đã đến đây để nghe tiếng nhạc phát ra từ cây đàn ống, hoặc những giọng hát cất cao trong các bản thánh ca.

Tít cao phía trên thành phố, những thanh âm phát ra từ cây đàn vang vọng trên lớp đá khiến cô có cảm giác mình ở gần các thánh hơn.

Câu trúc âm thanh của nhà thờ tốt đến nỗi Inej có thể nghe rõ từng lời thuyết giáo nếu muốn, nhưng cô bỏ qua phần đó của các buổi lễ.

Ghezen không phải là vị thánh của cô, và cô hoàn toàn không muốn được dạy dỗ việc làm thế nào phụng sự ngài tốt hơn.

Cô cũng chẳng thích bàn thờ Ghezen - một khối đá phẳng không chút duyên dáng nằm ở trung tâm của nhà thờ.

Một số người gọi nó là Đệ Nhất Lò Rèn, số khác gọi nó là cối, nhưng ngày hôm nay nó sẽ được sử dụng làm nơi đấu giá.

Điều này khiến cho bụng dạ Inej sôi lên.

Cô lẽ ra là một người làm việc theo hợp đồng, đến Kerch hoàn toàn tự nguyện.

Đó là những gì được ghi trong giấy tờ.

Chúng không hề kể lại chuyện cô bị bắt cóc như thế nào, nỗi kinh hoàng của cô trong hầm tàu nô lệ ra sao, sự nhục nhã của cô dưới bàn tay của Dì Heleen, cũng như cuộc sống địa ngục của cô tại Vườn Thú.

Kerch được xây dựng trên cơ sở thương mại, nhưng bao nhiêu phần của những cuộc mua bán đó có đối tượng là con người?

Một mục sư của Ghezen có thể đứng tại bàn thờ kia và lên án việc chiếm hữu nô lệ, nhưng có bao nhiêu phần của cái thành phố này được xây dựng từ tiền thuế mà các nhà chứa đã đóng?

Bao nhiêu thành viên của giáo đoàn bóc lột các cô cậu bé gần như không biết tiếng Kerch, những người phải cọ sàn và giặt giũ để đổi lấy từng xu lẻ trả cho một món nợ dường như không bao giờ giảm bớt?

Nếu Inej có được phần tiền của mình, nếu cô có được con tàu, cô sẽ góp phần thay đổi toàn bộ chuyện đó.

Nếu cô sống sót qua hôm nay.

Cô hình dung tất cả mọi người trong nhóm - Kaz, Nina, Matthias, Jesper, Wylan, Kuwei, người có quá ít tiếng nói trong cuộc đời mình - vắt vẻo bên nhau trên một sợi dây thăng bằng, mạng sống của họ được gắn chặt với nhau bởi niềm hi vọng và sự tin tưởng dành cho nhau.

Pekka có thể đang lảng vảng trong nhà thờ bên dưới, và cô ngờ rằng Dunyasha cũng đang ở đâu đây.

Cô gọi con nhỏ trong bộ đồ màu ngà và hổ phách đó là cái bóng của mình, nhưng biết đâu nó cũng là một dấu hiệu, một sự nhắc nhở rằng Inej không sinh ra cho một cuộc đời như thế này.

Dẫu vậy, thật khó để không xem cái thành phố này như là nhà của cô, còn Dunyasha là kẻ xâm nhập.

Lúc này Inej đang quan sát các vệ quân đi kiểm tra mọi ngóc ngách và các nhà nguyện của nhà thờ một lần cuối cùng.

Cô biết bọn họ có thể cử vài sĩ quan can đảm lên tuần tra mái nhà, nhưng ở trên này có đầy chỗ nấp, và nếu cần, cô chỉ việc chui trở vào trong mái vòm của nhà nguyện ngón cái để chờ bọn họ đi khỏi.

Các vệ quân bắt đầu đứng vào vị trí.

Inej có thể nghe thấy người đội trưởng ra chỉ thị về những vị trí mà các thành viên của Hội đồng Thương buôn sẽ ngồi trên sân khấu.

Cô thấy thầy lang học sĩ đã được đưa tới để kiểm tra sức khoẻ của Kuwei, và một vệ quân đang đẩy chiếc bục đấu giá vào chỗ.

Cô khó chịu khi thấy vài thành viên băng Kim Sư đang rảo bước trên các lối đi bên cạnh vệ quân.

Chúng ưỡn ngực, tận hưởng uy quyền mới của mình, vung vẩy cánh tay cột dải băng thị tuần màu tím và cười cợt với nhau.

Các thị tuần đích thực có vẻ không mấy hài lòng, và Inej có thể trông thấy ít nhất hai thành viên của Hội đồng Thương buôn quan sát cảnh tượng với ánh mắt lo ngại.

Họ có đang tự hỏi liệu mình sẽ nhận được nhiều hơn những gì bỏ ra khi cho phép một đám du côn Barrel được trao quyền như vậy hay không?

Van Eck là người khởi xướng cái trò này cùng với Pekka Rollins, nhưng Inej không nghĩ rằng ông vua của Barrel sẽ để lão ta chỉ đạo mình lâu.

Cô đưa mắt rà soát chân trời, toàn bộ không gian ra tới hải cảng và những ngọn tháp đá đen.

Nina đã đúng về Hội đồng Thuỷ triều.

Có vẻ như họ thích náu mình trong các tháp canh hơn.

Mặc dù vậy, bởi danh tính của họ là một bí mật, Inej nghĩ rằng ngay lúc này có thể họ đang ngồi trong nhà thờ cũng nên.

Cô nhìn về phía khu Barrel, hi vọng Nina được an toàn và không bị phát hiện, rằng sự xuất hiện đông đảo của thị tuần tại nhà thờ sẽ đồng nghĩa với việc chị di chuyển dễ dàng hơn trên phố.

Đến đầu giờ chiều, các hàng ghế trong nhà thờ bắt đầu được lấp đầy bởi những người hiếu kì - các tiểu thương trong bộ trang phục vải len thô, những người pha trò và vệ sĩ vừa từ hai khu Stave tới trong những bộ đồ Barrel đỏm dáng nhất, nhiều tốp thương gia phục sức đen tuyền, một số đi cùng những bà vợ có khuôn mặt tái mét lúc lắc trên cổ áo trắng phau, mái tóc tết quấn vòng quanh đầu.

Xuất hiện tiếp theo là những viên chức ngoại giao Fjerda.

Họ mặc trang phục hai màu trắng và bạc, được hộ tống bởi các drüskelle vận đồng phục đen, tất cả đều có mái tóc và làn da ánh vàng.

Nội tầm vóc của họ thôi cũng đủ khiến người khác vị nể.

Inej đoán Matthias phải biết một số trong những người này.

Anh đã từng đứng chung hàng ngũ với họ.

Anh cảm thấy thế nào khi gặp lại họ dưới cái mác kẻ phản bội?

Phái đoàn Novyi Zem tiếp nối với những bao súng trống rỗng ở hông, bị buộc phải bỏ lại vũ khí ngoài cửa.

Họ cũng cao như các drüskelle, nhưng mảnh dẻ và săn chắc hơn, một số có làn da màu đồng giống cô, số khác da lại nâu sậm giống Jesper, vài người có cái đầu cạo trọc, số khác lại sở hữu mái tóc tết dày và thắt bím cầu kì.

Kia rồi, lẫn trong hai hàng người cuối cùng, Inej nhận ra Jesper.

Lần đầu tiên anh không phải là người cao nhất trong đám đông, và với chiếc cổ áo hồ cứng dựng cao quanh cằm cùng cái mũ sùm sụp che tai, anh gần như không thể bị nhận diện.

Inej hi vọng thế.

Khi phái đoàn Ravka xuất hiện, tiếng rì rầm trong nhà thờ trở nên ồn ào hơn hẳn.

Đám đông tiểu thương, thương gia và dân Barrel đang bàn tán gì về sự xuất hiện của các phái đoàn quốc tế?

Một người đàn ông mặc chiếc áo choàng dài màu xanh két dẫn đầu phái đoàn Ravka, vây quanh anh ta là đông đảo những người lính Ravka trong bộ quân phục màu xanh lơ.

Đây chắc hẳn là Sturmhond huyền thoại.

Anh ta tuyệt đối tự tin với Zoya Nazyalensky và Genya Safin hộ tống hai bên.

Những sải bước của Sturmhond khoan thai và thoải mái, như thể đang đi dạo trên con tàu của mình, có lẽ cô nên gặp gỡ những người Ravka khi có cơ hội.

Cô sẽ học được những gì trong một tháng đi cùng thuỷ thủ đoàn của Sturmhond nhỉ?

Người Fjerda đứng dậy, và Inej tưởng đâu một trận đánh sẽ nổ ra khi các drüskelle đối đầu với nhóm binh sĩ Ravka, nhưng hai thành viên của Hội đồng Thương buôn đã mau mắn lao tới cùng với một tốp thị tuần.

“Kerch là vùng đất trung lập,” một trong hai thương gia cao giọng nhắc nhở họ một cách căng thẳng.

“Chúng ta ở đây để kinh doanh, không phải để gây chiến.”

“Bất kì ai vi phạm sự thiêng liêng của nhà thờ Barter đều không được phép tham gia đấu giá,” người còn lại nhấn mạnh, vạt áo đen bay lật phật.

“Tại sao vị vua yếu đuối của các người lại đưa một tên hải tặc bẩn thỉu đến dự buổi đấu giá này?”

Đại sứ Fjerda gằn giọng, tiếng ông ta vang vọng khắp nhà thờ.

“Thuyền trưởng,” Sturmhond chỉnh lại.

“Tôi đoán ngài ấy nghĩ rằng vẻ đẹp trai của tôi sẽ là một ưu thế.

Việc anh đến từ đâu không quan trọng, đúng không?”

“Một con công nực cười, nồng nặc mùi hôi của bọn Grisha.”

Sturmhond nhăn mũi hít hà.

“Tôi khá ngạc nhiên vì anh có thể ngửi được bất cứ thứ gì trên lớp băng thối rữa và sau những cuộc hôn nhân cận huyết đấy.”

Ngài đại sứ đỏ mặt tía tai lên, khiến một trong những người đi cùng phải vội kéo ông ta ra xa.

Inej đảo mắt.

Họ còn tệ hơn hai ông trùm Barrel đối đầu nhau tại khu Stave.

Giận dữ và ồn ào, hai phái đoàn Fjerda và Ravka ngồi vào vị trí đối diện nhau qua lối đi, trong lúc phái đoàn Đảo Wandering bước vào một cách khá lặng lẽ.

Tuy vậy, chỉ vài giây sau mọi người lại đứng hết cả dậy khi ai đó la lớn: “Người Shu kìa!”

Mọi ánh mắt đổ dồn về phía những cánh cửa đồ sộ của ngôi thánh đường khi đoàn Shu Han ùa vào trong bộ đồng phục màu xanh olive điểm vàng, cùng một làn sóng những tấm băng rôn đỏ có hình ngựa và chìa khoá.

Những nét mặt lạnh tanh trong lúc họ diễu qua lối đi và dừng lại khi ông đại sư Shu Han đôi co kịch liệt về việc phái đoàn nước mình không được bố trí ngồi ở phía trên, cũng như việc hai nước Ravka và Fjerda được ưu ái quá mức khi ngồi gần sân khấu.

Bọn Kherguud có đang đi lẫn trong số họ không?

Inej ngước nhìn bầu trời mùa xuân nhợt nhạt, cô không thích bị quắp khỏi vị trí quan sát bởi một chiến binh có cánh nào đó.

Cuối cùng thì Van Eck cũng bước xuống lối đi từ chỗ mà ông ta đã kín đáo đứng quan sát nãy giờ và quát lớn, “Nếu muốn ngồi hàng đầu, lẽ ra các ngài nên bỏ qua màn xuất hiện rình rang và đến đúng giờ.”

Phái đoàn Shu Han và người Kerch đấu khẩu qua lại một lúc lâu cho tới khi rốt cuộc đám người Shu cũng vào ngồi vị trí của mình.

Những người còn lại trong nhà thờ xôn xao bàn tán và ngó nghiêng đồn đoán.

Hầu hết trong số họ không biết Kuwei có giá trị như thế nào hoặc chỉ nghe đồn về một loại thuốc có tên jurda parem, thế nên họ rất thắc mắc về lí do vì sao một thiếu niên người Shu lại lôi kéo được những người đấu giá tầm cỡ thế này.

Số ít các vị thương gia ngồi ở hàng đầu với ý định tham gia đấu giá đang trao đổi với nhau những cái nhún vai và lắc đầu ngán ngẩm.

Rõ ràng ván bài này không dành cho những tay chơi tầm thường.

Chuông nhà thờ bắt đầu điểm ba hồi, tiếp ngay sau hồi chuông vọng tới từ tháp đồng hồ của khách sạn Geldrenner.

Im lặng bao trùm.

Hội đồng Thương buôn tề tựu đông đủ trên sân khấu, và rồi Inej thấy mọi cái đầu trong nhà thờ quay lại.

Cánh cửa đôi vĩ đại mở ra, Kuwei bước vào, được hộ vệ bởi Kaz và Matthias cùng một tốp thị tuần có vũ trang.

Matthias chỉ mặc bộ đồ tiểu thương đơn giản, nhưng trông anh vẫn đầy khí chất của một chiến sĩ trong đoàn diễu binh, với con mắt bầm đen và đôi môi rách, Kaz trông nhàu nhĩ hơn thường lệ, bất chấp bộ trang phục đen ấn tượng mà anh khoác trên người.

Tiếng la hét lập tức vang lên.

Thật khó mà xác định được bên nào đang gây ồn ào nhất.

Những tên tội phạm bị truy nã nhất của Ketterdam đang sải bước trên lối đi trung tâm của nhà thờ Barter.

Ngay khi trông thấy Kaz, băng Kim Sư đứng rải rác trong thánh đường bắt đầu la ó.

Matthias cũng mau chóng bị các huynh đệ drüskelle nhận ra.

Họ đang ném vào anh những từ ngữ mà Inej đoán là lời xỉ vả trong tiếng Fjerda.

Tính bất khả xâm phạm của phiên đấu giá sẽ bảo vệ Kaz và Matthias, nhưng chỉ cho đến khi nhát búa định đoạt vang lên.

Dẫu vậy, cả hai người tỏ ra không mấy quan ngại.

Họ bước đi với tấm lưng thẳng và mắt nhìn về phía trước.

Kuwei được kèm cặp một cách an toàn giữa hai người.

Kuwei thì lại đang có một màn thể hiện kém cỏi hơn.

Người Shu la hét lặp đi lặp lại một từ duy nhất, sheyao, sheyao, và dù nó có nghĩa là gì đi nữa thì Kuwei dường như càng lúc càng thu mình lại theo mỗi tiếng gào.

Người điều hành đấu giá của thành phố tiến đến sân khấu và vào chỗ đứng sau cái bục cạnh bàn thờ.

Đó là Jellen Radmakker, một trong những nhà đầu tư mà họ đã mời tới buổi trình bày phỉnh phờ của Jesper về tương lai của dầu mỏ.

Sau những cuộc điều tra mà cô đã làm cho Kaz, Inej biết ông ta cực kì trung thực, một người đàn ông tận tụy không có người thân nào, ngoại trừ một người chị vô cùng ngoan đạo đang ngày ngày cọ sàn cho các toà nhà công cộng để phụng sự Ghezen.

Radmakker có nước da tái xanh, đôi lông mày rậm màu cam và một cái lưng gù tạo cho ông ta vẻ ngoài của một con tôm lớn.

Inej đưa mắt quan sát các chóp nhọn nhấp nhô của nhà thờ cùng phần mái của các gian ngón tay toả ra từ lòng bàn tay Ghezen.

Vẫn không có lực lượng tuần tra nào xuất hiện trên mái nhà.

Chuyện này gần như là sự xúc phạm với cô.

Nhưng có thể Pekka Rollins và Jan Van Eck có một thứ khác dành cho cô.

Radmakker gõ ba nhát búa bực bội.

“Trật tự,” ông nói lớn.

Sự ồn ào trong nhà thờ giảm xuống thành những tiếng xầm xì bất mãn.

Kuwei, Kaz và Matthias leo lên sân khấu và vào vị trí bên cạnh bục đấu giá.

Kaz và Matthias che chắn bớt một phần cho Kuwei vẫn còn đang run rẩy.

Radmakker chờ cho đến khi mọi người hoàn toàn im lặng, chỉ khi đó ông mới bắt đầu lần lượt đọc các quy định đấu giá, rồi đến các điều khoản trong giao kèo phục vụ của Kuwei.

Inej liếc nhìn Van Eck.

Lão cảm thấy như thế nào khi ở gần giải thưởng mà mình đã tìm kiếm bấy lâu đến thế?

Nét mặt Van Eck đầy háo hức và tự mãn.

Lão đã bắt đầu tính toán các nước đi kế tiếp, Inej hiểu ra.

Miễn sao phía Ravka không đấu giá thành công - mà làm thế nào họ thắng được, với ngân khố gần như cạn kiệt - Van Eck sẽ đạt được ước muốn của mình: bí mật về jurda parem được công khai cho cả thế giới.

Giá của jurda sẽ tăng đến mức không tưởng, và nhờ những cổ phần bí mật cùng với sự đầu tư vào liên doanh trồng jurda do ông Johannus Rietveld đứng đầu, lão sẽ giàu nứt đố đổ vách.

Radmakker vẫy tay gọi một thầy lang học sĩ có cái đầu hói nhẵn.

Ông ta bắt mạch cho Kuwei, đo chiều cao, nghe tim phổi, kiểm tra răng và lưỡi cậu.

Đó là một cảnh tượng tức cười, gần giống với kí ức của Inej về lần bị lột trần cho Dì Heleen khám xét trên boong của con tàu nô lệ ngày trước.

Thầy lang đã kết thúc công việc và đóng túi đồ nghề lại.

“Mời ngài tuyên bố,” Radmakker nói.

“Sức khoẻ của cậu bé rất tốt.”

Radmakker quay sang nói với Kuwei.

“Cậu có tự nguyện đồng ý tuân theo các quy định và kết quả của phiên đấu giá này hay không?”

Nếu Kuwei có trả lời thì Inej cũng không nghe được gì.

“Nói to lên, cậu bé?

Kuwei cố gắng một lần nữa.

“Tôi đồng ý.”

“Vậy thì chúng ta bắt đầu thôi.”

Thầy lang rời sân khấu và Radmakker nhấc búa lên.

“Kuwei Yul-Bo tự nguyện đồng ý với quy trình đấu giá và qua đó rao bán sự phục vụ của mình với một mức giá công bằng, dưới sự hướng dẫn của bàn tay Ghezen.

Mọi giá đấu đều được tính bằng kruge.

Người đấu giá phải giữ im lặng những khi không ra giá.

Mọi can thiệp vào cuộc đấu giá này, mọi giá dấu không trung thực sẽ bị trừng trị thích đáng theo quy định của Kerch.

Mức giá khởi điểm là một triệu kruge.”

Ông dừng lời.

“Nhân danh Ghezen, cuộc đấu giá bắt đầu.”

Thế là chuyện đó diễn ra, một tràng ồn ào những con số mà Inej không kịp theo dõi, những mức giá leo thang cao dần qua từng tiếng gõ búa và lời nhắc lại của Radmakker.

“Năm triệu kruge,” đại sứ Shu Han hét lên.

“Năm triệu,” Radmakker lặp lại.

“Có ai trả sáu triệu không?”

“Sáu,” người Fjerda đáp trả.

Giọng Radmakker vang vọng trên các vách tường của nhà thờ như tiếng súng nổ.

Sturmhond chờ đợi cho người Fjerda và người Shu đấu giá qua lại, phía Novyi Zem cũng thỉnh thoảng rón rén nâng giá lên một chút, cố gắng kìm hãm đà tăng giá.

Phái đoàn Đảo Wandering ngồi yên lặng quan sát trên những hàng ghế của mình.

Inej tự hỏi họ biết được đến đâu, và họ không muốn hay đơn giản là không thể đấu giá.

Lúc này mọi người đã đứng cả dậy, không thể ngồi yên trên ghế được nữa.

Hôm nay là một ngày ấm áp, nhưng những hoạt động trong nhà thờ dường như càng làm cho nhiệt độ tăng cao hơn.

Inej có thể thấy mọi người phe phẩy quạt, ngay đến các thành viên của Hội đồng Thương buôn, nom như một bầy chim ác là, cũng bắt đầu chấm mồ hôi trán.

Khi mức giá đấu chạm ngưỡng bốn mươi kruge, Sturmhond rốt cuộc cũng giơ tay.

“Năm mươi triệu kruge,” anh ta tuyên bố.

Cả nhà thờ lặng ngắt.

Ngay cả Radmakker cũng khựng lại, cung cách lạnh lùng hơi dao động trước khi ông nói, “Năm mươi triệu kruge từ phái đoàn Ravka.”

Các thành viên của Hội đồng Thương buôn đưa tay che miệng thì thầm gì đó với nhau, chắc là đang phấn khích với khoản tiền hoa hồng mà họ sẽ kiếm được từ phiên đấu giá.

“Tôi có nghe thấy đề nghị nào khác không?”

Radmakker hỏi.

Nhóm người Shu thảo luận với nhau.

Phía Fjerda cũng thế, mặc dù có vẻ như họ cãi vã nhiều hơn là bàn bạc.

Người Zemeni hình như đang chờ xem điều gì xảy ra tiếp theo.

“Sáu mươi triệu kruge,” phía Shu Han tuyên bố.

Bước giá được nâng lên mười triệu.

Đúng như Kaz đã lường trước.

Người Fjerda đưa ra đề nghị tiếp theo ở mức sáu mươi triệu hai trăm ngàn.

Có thể thấy nó ảnh hưởng như thế nào đến sự kiêu hãnh của họ khi đưa ra bước giá nhỏ như vậy, nhưng phái đoàn Novyi Zem cũng rất muốn hạ nhiệt.

Họ đưa ra mức sáu mươi triệu năm trăm ngàn.

Nhịp điệu của buổi đấu giá thay đổi, các mức giá tăng lên chậm rãi hơn, lừng khừng bên dưới con số sáu mươi hai triệu cho tới khi cột mốc đó đạt được, và người Shu bắt đầu tỏ ra nôn nóng.

“Bảy mươi triệu kruge,” ông đại sứ Shu Han lên tiếng.

“Tám mươi triệu,” Sturmhond ra giá.

“Chín mươi triệu.”

Lúc này thì người Shu chẳng buồn chờ Radmakker nữa.

Từ trên chỗ quan sát của mình, Inej có thể thấy gương mặt tái mét và đầy kinh hãi của Kuwei.

Những con số đã tăng lên quá cao, quá nhanh.

“Chín mươi mốt triệu,” Sturmhond tuyên bố, tìm cách kìm hãm đà tăng giá một cách muộn màng.

Như thể đã quá mệt mỏi với cuộc đấu, ông đại sứ Shu Han bước tới trước và gầm lên, “Một trăm mười triệu kruge.”

“Một trăm mười triệu kruge từ phái đoàn Shu Han,” Radmakker hét to, sự trầm tĩnh của ông đã bị số tiền hất văng.

“Tôi có nghe thấy đề nghị nào khác không?”

Nhà thờ Barter im lặng như thể những người dự khán vừa nhất loạt cúi đầu cầu nguyện.

Sturmhond cười khan và nhún vai.

“Một trăm hai mươi triệu kruge” Inej cắn môi mạnh đến bật máu.

Uỳnh.

Cánh cửa đôi đổ sộ bật mở.

Một cơn sóng triều lao qua cửa, ập vào thánh đường, tung bọt giữa các hàng ghế, rồi tan biến thành một đám mây hơi nước.

Âm thanh rì rầm phấn khích của đám đông biến thành những tiếng la hét kinh ngạc.

Mười lăm bóng người khoác áo choàng xanh ùa vào trong nhà thờ, áo của họ tung bay như thể được thổi bởi một luồng gió vô hình, khuôn mặt họ bị hơi sương làm mờ đi.

Một số người kêu đòi vũ khí của mình, số khấc níu chặt lấy nhau và hét lên.

Inej trông thấy một thương gia cúi xuống, hối hả quạt mát cho bà vợ bất tỉnh nhân sự của mình.

Nhóm người kia lướt tới trước trên lối đi, trang phục của họ dập dềnh như những làn sóng chậm rãi.

“Chúng tôi là Hội đồng Thuỷ triều,” nhân vật khoác áo choàng xanh đi đầu lên tiếng.

Đó là một giọng phụ nữ, trầm và uy quyền.

Hơi nước che phủ hoàn toàn khuôn mặt bà ta, nó dịch chuyển bên dưới chiếc mũ trùm như một cái mặt nạ liên tục thay hình đổi dạng.

“Cuộc đấu giá này là một trò bịp bợm.”

Những lời thì thầm kinh ngạc cất lên trong đám đông.

Inej nghe thấy Radmakker kêu gọi trật tự, rồi cô né sang trái theo bản năng khi một tiếng rít khẽ vang lên.

Một lưỡi thép nhỏ, xoay tròn bay vèo qua, xé rách ống tay áo của cô rồi văng đi trên mái nhà bằng đồng.

“Đó là một lời cảnh báo,” Dunyasha lên tiếng.

Con nhỏ đang vắt vẻo trên phần hoạ tiết trang trí kim loại của một cái chóp nhọn ở cách Inej chừng mười mét, chiếc mũ trùm mầu ngà bao quanh khuôn mặt nó sáng lên như lớp tuyết dưới ánh nắng chiều.

“Ta sẽ nhìn thẳng vào mắt ngươi khi tiễn ngươi xuống địa ngục.”

Inej với tay tới bộ dao.

Cô buộc phải đáp trả cái bóng của mình.
 
[Six Of Crows]_Móng Vuốt Quạ Đen
Phần Ba: Hành Động & Vọng Âm 17-23


17

MATTHIAS

Matthias giữ cho cơ thể mình đứng yên, ghi nhận sự hỗn loạn nổ ra khắp nhà thờ Barter.

Anh nhận thức rõ ràng các thành viên Hội đồng Thương buôn ngồi phía sau mình tựa như một đàn quạ áo đen thi nhau kêu quàng quạc.

Chỉ có Van Eck là không lên tiếng.

Ông ta ngồi sâu trên ghế, ngón tay duỗi dài phía trước, một sự hài lòng tuyệt đối xuất hiện trên khuôn mặt.

Matthias có thể trông thấy kẻ mang tên Pekka Rollins đang tựa người vào một cây cột ở vòm cuốn phía đông.

Anh đoán ông trùm băng đảng cố tình đứng trong tầm quan sát của Kaz.

Radmakker yêu cầu trật tự với chất giọng cất cao, mớ tóc cam nhạt phất phơ theo từng nhát búa.

Thật khó để xác định chuyện nào khiến mọi người bực bội nhiều hơn - khả năng cuộc đấu giá bị thao túng, hay sự xuất hiện của Hội đồng Thuỷ triều.

Kaz đã nói là không một ai biết danh tính của Hội đồng Thuỷ triều, và nếu Tay Nhám và Bóng Ma không thể vén màn bí mật đó thì ai mà làm được chứ?

Nghe đâu lần cuối cùng họ xuất hiện trước công chúng là cách đây hai mươi lăm năm, nhằm phản đối việc phá huỷ một trong các tháp đá để xây một xưởng đóng tàu mới.

Khi việc bỏ phiếu không thuận lợi cho họ, họ đã dùng một ngọn sóng lớn đập tan Toà thị chính.

Hội đồng Thương buôn đã đảo ngược quyết định của mình và một Toà thị chính mới mọc lên ngay vị trí cũ, với ít cửa sổ và một nền móng vững chắc hơn.

Matthias tự hỏi liệu có bao giờ anh quen với những giai thoại về năng lực Grisha như thế hay không nữa.

Chỉ là một vũ khí khác.

Bản chất của nó tuỳ thuộc vào người sử dụng.

Anh sẽ phải tự nhắc mình liên tục như vậy.

Những suy nghĩ hận thù tồn tại từ lâu đời đến nỗi chúng đã trở thành bản năng.

Nó không phải là một thứ có thể thay đổi được chỉ sau một đêm.

Cũng giống như Nina với parem, nó có thể là một cuộc đấu tranh kéo dài cả đời.

Lúc này chắc cô đang bận rộn với nhiệm vụ của mình trong khu Barrel.

Hoặc có thể cô đã bị phát hiện và bắt giữ.

Anh gửi một lời cầu nguyện tới Djel.

Hãy giữ an toàn cho cô ấy khi tôi không thể.

Đôi mắt anh liếc sang phía phái đoàn Fjerda cùng các drüskelle ở mấy hàng ghế đầu.

Anh biết tên nhiều người trong số đó, và chắc chắn họ cũng biết anh.

Anh có thể cảm thấy sự ghê tởm sâu sắc mà họ dành cho mình.

Một cậu thiếu niên lườm anh từ hàng ghế đầu tiên, người run lên vì giận dữ, đôi mắt tựa hai hố băng, mái tóc vàng sáng đến nỗi gần như bạch kim.

Chỉ huy của cậu ta đã khai thác vết thương nào để đưa ánh nhìn đó vào trong đôi mắt cậu ta?

Matthias đáp lại ánh mắt cậu ta một cách vững vàng, tiếp nhận sức nặng của hận thù trong đó.

Anh không thể căm thù cậu ta.

Anh đã từng là cậu ta.

Cuối cùng thiếu niên tóc trắng cũng nhìn đi chỗ khác.

“Phiên đấu giá đã được luật pháp cho phép!”

Đại sứ Shu Han hét lên.

“Các người không có quyền dừng nó lại.”

Các Thuỷ triều gia giơ tay lên.

Lại một cơn sóng nữa tràn qua cửa nhà thờ, gào thét dọc theo lối đi, chồm qua những cái đầu của phái đoàn Shu Han và lơ lửng trên đó.

“Yên lặng,” trưởng nhóm Thuỷ triều gia yêu cầu.

Bà ta chờ đợi một sự phản đối khác, và khi không ai lên tiếng, con sóng cuồn cuộn rút lui, đổ xuống sàn một cách vô hại.

Nó bò ngược lại trên lối đi như một con rắn bạc.

“Chúng tôi nhận được thông tin rằng việc đấu giá đã bị dàn xếp.”

Mắt Matthias đảo nhanh sang phía Sturmhond.

Tay thuyền trưởng tỏ ra khá ngạc nhiên, nhưng kể cả nhìn từ trên sân khấu, anh cũng có thể cảm thấy sự lo lắng và e ngại của anh ta.

Kuwei đang run lẩy bẩy, mắt nhắm tịt, miệng thì thầm gì đó với chính mình bằng tiếng Shu.

Matthias không biết Kaz đang nghĩ gì trong đầu.

Anh không bao giờ biết được.

“Quy định đấu giá rất rõ ràng,” Thuỷ triều gia nói tiếp.

“Cả người bán lẫn các đại diện của cậu ta đều không được can thiệp vào kết quả đấu giá.

Quyết định phải thuộc về thị trường.”

Các thành viên của Hội đồng Thương buôn giờ đây đã đứng hết dậy, họ tụ tập quanh Radmakker trên sân khấu để đòi câu trả lời.

Van Eck cũng la hét cùng với những người còn lại, nhưng dừng lại khi đến bên cạnh Kaz, và Matthias có thể nghe thấy ông ta thì thầm, “Ta cứ nghĩ mình phải là người tiết lộ mưu đồ của mày và bọn Ravka, nhưng có vẻ như vinh dự đó thuộc về Hội đồng Thuỷ triều mất rồi.”

Miệng ông ta cong lại thành một nụ cười mãn nguyện.

“Wylan ăn no đòn mới chịu bán đứng mày và nhóm bạn của mày đó,” Van Eck nói và di chuyển về phía bục đấu giá.

“Ta không biết nó gan lì đến thế.”

“Một quỹ giả đã được tạo ra để lừa tiền các thương gia chân chính,” Thuỷ triều gia nói tiếp.

“Số tiền đó đã được chuyển cho một trong những bên tham gia đấu giá.”

“Tất nhiên rồi!”

Van Eck thốt lên với sự ngạc nhiên giả vờ.

“Người Ravka!

Tất cả chúng ta đều biết bọn họ không có nguồn tài chính để cạnh tranh ráo riết trong một cuộc đấu giá như thế này!”

Matthias có thể cảm thấy ông ta tự mãn đến mức nào.

“Chúng ta đã biết vương triều hiện tại của họ phải vay mượn bao nhiêu tiền từ chúng ta trong hai năm vừa qua.

Họ gần như chỉ có thể trả nổi số lãi.

Họ lấy đâu ra một trăm hai mươi triệu kruge để đấu giá công khai chứ.

Hẳn là Brekker đã toa rập với họ.”

Các bên tham gia đấu giá lúc này đã đứng hết cả dậy.

Người Fjerda la hét đòi công lí.

Người Shu bắt đầu giậm chân và đập vào lưng ghế.

Trong tâm lốc xoáy, phái đoàn Ravka bị bao vây tứ bề bởi các địch thủ.

Sturmhond, Genya, và Zoya đứng ở trung tâm của tất cả, mặt ngẩng cao.

“Làm gì đó đi chứ,” Matthias gằn giọng với Kaz.

“Chuyện này sắp trở nên tệ hại rồi.”

Khuôn mặt Kaz vẫn trơ trơ như mọi khi.

“Anh nghĩ vậy à?”

“Khỉ thật, Brekker.

Cậu…”

Hội đồng Thuỷ triều giơ tay lên, và nhà thờ lại rung chuyển trong một tiếng uỳnh vang dội khác.

Nước tràn vào qua các cửa sổ ở ban công tầng trên.

Đám đông lặng phắt, nhưng không im tiếng.

Mọi người xầm xì giận dữ.

Radmakker gõ búa, cố gỡ gạc lại chút uy quyền.

“Nếu bà có bằng chứng chống lại người Ravka thì…”

Vị Thuỷ triều gia lên tiếng từ phía sau lớp mặt nạ hơi sương.

“Người Ravka không liên quan gì với chuyện này.

Tiền đã được chuyển cho phía Shu Han.”

Van Eck chớp chớp mắt, và lật lọng tức khắc.

“Vậy hoá ra Brekker đã thoả hiệp với người Shu.”

Ngay lập tức phái đoàn Shu Han nhao nhao phản đối, nhưng giọng của Thuỷ triều gia còn lớn hơn.

“Quỹ giả được lập ra bởi Johannus Rietveld và Jan Van Eck.”

Mặt Van Eck trắng bệch.

“Không, không phải thế.”

“Rietveld là một nông dân,” Karl Dryden lắp bắp.

“Tôi đã gặp ông ta.”

Thuỷ triều gia quay sang Dryden.

“Người ta thấy cả anh và Jan Van Eck gặp gỡ Rietveld tại hành lang khách sạn Geldrenner.”

“Đúng, nhưng nó không phải vì quỹ nào cả, mà vì một liên doanh trồng jurda, chuyện đó không có gì phạm pháp.

“Radmakker,” Van Eck nói.

“Ông cũng ở đó.

Ông đã gặp Rietveld.”

Hai lỗ mũi Radmakker nở to.

“Tôi hoàn toàn không biết gì về tay Rietveld này.”

“Nhưng tôi đã trông thấy ông.

Cả hai chúng tôi đều trông thấy ông tại khách sạn…”

“Tôi đến đó vì một buổi trình bày về tương lai dầu mỏ của Novyi Zem.

Nó rất khác thường, rồi sao?”

“Không,” Van Eck đáp, lắc đầu quầy quậy.

“Nếu Rietveld có liên quan thì Brekker là kẻ đứng sau chuyện này.

Chắc hẳn nó đã thuê Rietveld để lừa Hội đồng.”

“Từng người trong chúng tôi bỏ tiền vào quỹ đó do được ông khuyến khích,” một thành viên khác lên tiếng.

“Ông đang nói là toàn bộ đã biến mất hả?”

“Chúng tôi hoàn toàn không biết gì về chuyện này!”

Đại sứ Shu Han phản đối.

“Đầy là mưu đồ của Brekker,” Van Eck nhấn mạnh.

Cung cách chảnh choẹ đã biến mất, nhưng sự điềm tĩnh của ông ta vẫn y nguyên.

“Thằng ranh không từ một thủ đoạn nào để sỉ nhục tôi và thành Ketterdam này.

Nó đã bắt cóc vợ và con trai tôi.”

Ông ta chỉ tay vào Kaz.

“Ta có tưởng tượng khi nhìn thấy ngươi đứng trên cầu Thiện Nữ ở Tây Stave cùng với Alys không?”

“Tất nhiên là không.

Tôi đã tìm thấy phu nhân ở quảng trường họp chợ, theo như ông yêu cầu,” Kaz nói dối với sự trôi chảy mà ngay chính Matthias cũng cảm thấy bị thuyết phục.

“Phu nhân nói rằng mình đã bị bịt mắt và không thấy được nhóm bắt cóc.

“Vớ vẩn!”

Van Eck bác bỏ.

“Alys!”

Ông ta gọi to với ban công phía tây, nơi Alys đang ngồi, tay chắp lại trước cái bụng bầu vượt mặt.

“Nói cho họ biết đi!”

Alys lắc đầu, đôi mắt mở to đầy sợ hãi.

Chị thì thầm gì đó với cô hầu gái, và người này nói vọng xuống, “Những kẻ bắt cóc phu nhân đeo mặt nạ, và bà bị che mắt cho tới khi đã ở trên quảng trường.”

Van Eck thở phì phò giận dữ.

“Các vệ quân của tôi chắc chắn đã thấy

Brekker đi cùng Alys.”

“Người của ông?”

Radmakker hỏi lại với giọng hoài nghi.

“Chính Brekker là kẻ đã sắp đặt cuộc trao đổi trên cầu!”

Van Eck nói.

“Thằng ranh đã để lại lời nhắn tại ngôi nhà bên hồ.”

“A,” Radmakker nói với giọng nhẹ nhõm.

“Ông có thể trình nó ra được không?”

“Được!

Nhưng… nó không có chữ kí.”

“Vậy làm sao ông biết người gửi lời nhắn là Kaz Brekker?”

“Nó đã để lại cái kẹp cà vạt…”

“Của cậu ta?”

“Không phải, của tôi, nhưng…”

“Vậy ra ông không hề có bằng chứng nào chứng minh Kaz Brekker đã bắt cóc vợ ông.”

Sự kiên nhẫn của Radmakker đã hết.

“Vụ con trai ông mất tích cũng ấm ớ như thế à?

Cả cái thành này đổ xô đi tìm thằng bé, tiền thưởng cũng đã được treo.

Tôi mong là bằng chứng của ông cho vụ đó mạnh hơn.”

“Con trai tôi…”

“Con ở ngay đây, thưa cha.”

Mọi con mắt trong phòng đổ dồn về phía vòm cuốn cạnh sân khấu.

Wylan đang dựa người vào tường.

Khuôn mặt cậu bê bết máu, trông cậu như thể không đứng vững nổi.

“Ghezen ơi,” Van Eck lẩm bẩm.

“Sao không ai chịu làm nhiệm vụ của mình hết vậy?”

“Ông tin bọn đàn em của Pekka Rollins à?”

Kaz nói khẽ.

“Ta…”

“Ông có chắc chúng là đàn em của Pekka không?

Nếu không phải dân Barrel, ông sẽ khó lòng phân biệt được một con sư tử với một con quạ đấy.

Con nào cũng là con mà.”

Matthias không thể ngăn được sự thoả mãn của mình khi trông thấy vẻ mặt vỡ lẽ mọi chuyện của Van Eck.

Kaz đã biết không có cách nào đưa được Wylan vào nhà thờ mà không bị bọn Kim Sư hoặc Van Eck phát giác.

Thế nên cậu ta đã dàn dựng vụ bắt cóc.

Hai người trong băng Cặn Bã, Anika và Keeg, với dải băng tay và hình xăm giả chỉ đơn giản là đưa kẻ bị bắt tới gặp thị tuần rồi bảo họ báo cho Van Eck.

Khi Van Eck tới nhà nguyện thì ông ta nhìn thấy gì?

Con trai ông ta bị giữ bởi hai thành viên băng nhóm mang dấu hiệu của Kim Sư.

Matthias không nghĩ họ lại làm mạnh tay đến thế với Wylan.

Lẽ ra cậu ta có thể giả vờ đầu hàng sớm hơn.

“Giúp cậu bé đi!”

Radmakker quát bảo một sĩ quan thị tuần.

“Anh không thấy cậu bé bị thương à?”

Người sĩ quan đến bên Wylan và giúp cậu đi cà nhắc tới một chiếc ghế, trong khi thầy lang vội vàng chăm sóc cậu.

“Wylan Van Eck?”

Radmakker hỏi.

Wylan gật đầu.

“Thiếu niên mà chúng tôi đã đào cả cái thành phố này lên để tìm kiếm?”

“Cháu đã trốn thoát ngay khi có thể.”

“Khỏi Brekker?”

“Khỏi Rollins.”

“Pekka Rollins đã bắt cóc cậu?”

“Vâng ạ,” Wylan đáp.

“Cách đây mấy tuần.”

“Đừng có dối trá,” Van Eck rít lên.

“Hãy cho họ biết những gì mày đã kể với ta.

Cho họ biết về người Ravka đi.”

Wylan ngẩng đầu lên một cách yếu ớt.

“Con sẽ nói bất kì những gì cha muốn, thưa cha.

Nhưng xin cha đừng để họ đánh con nữa.”

Đám đông ồ lên kinh ngạc.

Các thành viên của Hội đồng Thương buôn nhìn Van Eck với ánh mắt ghê tởm.

Matthias phải cố nén cười.

“Nina đã dạy cho cậu ấy vài chiêu à?”

Anh thì thầm.

“Có thể là bẩm sinh đấy,” Kaz đáp.

“Brekker là một tên tội phạm,” Van Eck lên tiếng.

“Brekker đứng sau chuyện này!

Tất cả mọi người đều đã thấy nó ở nhà tôi tối hôm nọ.

Nó đã đột nhập vào phòng làm việc của tôi.”

“Đúng vậy!”

Karl Dryden hăm hở đế vào.

“Đúng là chúng tôi đã có mặt ở đó,” Kaz nói.

Van Eck mời chúng tôi đến để thoả thuận về Kuwei Yul-Bo.

Ông ta nói rằng chúng tôi sẽ được gặp Hội đồng Thương buôn.

Nhưng thay vào đó, Pekka Rollins đã chờ sẵn để mai phục chúng tôi.

“Cậu đang nói là ông ta phá vỡ một cuộc thương lượng đàng hoàng?”

Một Uỷ viên hội đồng hỏi lại.

“Chuyện này hơi khó xảy ra.”

“Nhưng tất cả chúng ta đều đã thấy Kuwei Yul-Bo cũng có mặt ở đó,” một người khác lên tiếng, “mặc dù lúc đó chúng ta không biết cậu ta là ai.”

“Tôi đã trông thấy cáo thị treo thưởng cho một thiếu niên người Shu có diện mạo giống Kuwei,” Kaz nói.

“Ai là người cung cấp miêu tả đó?”

“Ờ…”

Người thương gia ngập ngừng, và Matthias có thể thấy nghi ngờ đang đấu tranh với sự miễn cưỡng tin vào lời cáo buộc.

Ông ta quay sang phía Van Eck, và nói với giọng gần như van vỉ, “Rõ ràng là ông không biết thiếu niên người Shu mà ông miêu tả chính là Kuwei Yul-Bo, đúng không?”

Giờ thì tới lượt Karl Dryden lắc đầu, chối bỏ nhiều hơn là không tin.

“Cũng chính Van Eck đã thúc giục chúng tôi tham gia vào quỹ của

Rietveld.”

“Cậu cũng hăm hở chẳng kém,” Van Eck vặc lại.

“Tôi muốn điều tra người bí ẩn đã mua các cánh đồng jurda tại Novyi Zem.

Ông đã nói…”

Dryden ngừng bặt, miệng há ra, mắt mở to bàng hoàng.

“Chính ông!

Ông là người mua bí mật!”

“Mãi mới xong,” Kaz lẩm bẩm.

“Các ông đừng tin vào chuyện tôi lừa đảo chính bạn bè và hàng xóm của mình chứ,” Van Eck năn nỉ.

“Chính tôi cũng đã bỏ tiền vào quỹ đó!

Tôi cũng mất nhiều như các ông mà.”

“Nếu ông đi đêm với người Shu thì không,” Dryden nói.

Radmakker đập một nhát búa nữa.

“Jan Van Eck, ít nhất ông cũng đã phung phí nguồn lực của Ketterdam vào việc theo đuổi những cáo buộc vô căn cứ.

Tệ hơn, ông đã lạm dụng vai trò thành viên Hội đồng, tìm cách lừa gạt bạn bè, và vi phạm sự trung thực của phiên đấu giá này.”

Ông ta lắc đầu.

Phiên đấu giá đã bị dàn xếp.

Nó không thể tiếp tục cho đến khi chúng tôi xác định được liệu một thành viên của Hội đồng có cố tình tiếp tay cho một trong số những bên tham gia đấu giá hay không.”

Đại sứ Shu Han bắt đầu la lối.

Radmakker lại đập búa.

Thế rồi mọi chuyện dường như xảy ra cùng một lúc.

Các drüskelle lao tới sân khấu, khiến đội thị tuần vội vàng chặn họ lại.

Binh lính người Shu cũng ùa tới.

Các Thuỷ triều gia giơ tay, và vượt trên tất cả, tựa như tiếng kêu khóc ai oán của một phụ nữ, còi cảnh báo bệnh dịch bắt đầu vang lên.

Nhà thờ lặng phắc.

Mọi người khựng lại, ngẩng đầu, tai tiếp nhận âm thanh đó, thứ âm thanh mà họ đã không còn nghe trong suốt bảy năm qua.

Ngay cả ở Cổng Địa Ngục, các tù nhân cũng kháo chuyện về dịch bệnh Thị Nữ, đợt bùng phát bệnh dịch gần đây nhất tại Ketterdam, về những khu cách li, những con tàu phòng dịch, đống thi thể chất cao trên đường phố nhanh hơn khả năng thu gom và thiêu huỷ của những người dọn xác.

“Cái gì vậy?”

Kuwei hỏi.

Khoé miệng Kaz cong lên.

“Cái đó, Kuwei à, chính là âm thanh mà thần chết tạo ra khi xuất hiện.”

Giây lát sau, không ai còn nghe được tiếng còi giữa tiếng la hét trong lúc mọi người lao ra cửa nhà thờ.

Cũng không ai để ý khi phát súng đầu tiên vang lên.

18

NINA

Bánh xe quay đều, những mảng màu vàng và xanh tiếp nối nhau nhanh đến nỗi chúng trở thành một màu duy nhất.

Nó chậm dần rồi dừng lại, và dù ở con số nào cũng đều tốt cả, vì mọi người đang reo lên mừng rỡ.

Tầng chơi bài của sòng bạc ấm áp một cách khó chịu, khiến cho da đầu Nina ngứa ngáy bên dưới bộ tóc giả.

Cô đã chụp lên đầu kiểu tóc quả chuông tầm thường, mặc cùng với một bộ đầm xoàng xĩnh.

Riêng lần này cô không muốn gây chú ý.

Cô đã qua điểm dừng đầu tiên ở Tây Stave mà không bị ai để ý, qua tiếp điểm dừng thứ hai, rồi đi tới Đông Stave, cố gắng hết sức để di chuyển một cách kín đáo trong đám đông.

Tuy không đông đúc như mọi ngày do bị chặn đường, mọi người không dễ bị chia cắt với niềm khoái lạc của mình.

Nina đã ghé qua một sòng bạc cách đây vài khối nhà về phía nam, và lúc này thì công việc của cô đã sắp xong.

Kaz đã lựa chọn các toà nhà một cách cẩn thận.

Đây sẽ là địa điểm thứ tư và cũng là cuối cùng của cô.

Trong khi mỉm cười và reo hò cùng với những người chơi khác, Nina mở cái hộp thuỷ tinh trong túi và tập trung vào những tế bào màu đen chứa trong đó.

Cô có thể cảm thấy cái lạnh ghê gớm toả ra từ nó, ngoài ra còn một thứ gì đó nữa, thứ đáp lại năng lực trong cô.

Nina thoáng ngập ngừng, hồi tưởng rõ rệt cái lạnh ở nhà xác, mùi tử khí hôi hám.

Cô nhớ lại mình đứng trước thi thể của người chết và tập trung vào lớp da xám xịt quanh miệng ông ta.

Cũng giống như khi sử dụng năng lực để làm lành hoặc phá huỷ da, hoặc thậm chí làm ai đó ửng hồng đôi má, Nina đã tập trung vào những tế bào đang phân huỷ và chiết một lớp thịt thối mỏng dính vào trong cái hộp thuỷ tinh.

Cô đã nhét cái hộp vào trong một chiếc túi nhung màu đen, và giờ đây, đứng trước đám đông hớn hở, mắt quan sát những màu sắc vui vẻ của vòng quay may mắn, cô cảm thấy sức nặng của cái hộp treo lủng lẳng bằng sợi dây bạc nơi cổ tay mình.

Nina chồm người tới trước để đặt cược.

Cô đặt những đồng xèng lên bàn bằng một tay và mở cái lọ bằng tay còn lại.

“Chúc tôi may mắn đi nào!”

Cô nói với người hồ lì, cho chiếc túi đã mở miệng lướt qua bàn tay anh ta, rồi cấy những tế bào thịt thối lên ngón tay của anh ta, để chúng nhân lên trên làn da khoẻ mạnh đó.

Khi người hồ lì thò tay quay bánh xe may mắn, các ngón tay của anh ta đã trở nên đen thui.

“Tay của anh!”

Một phụ nữ thốt lên.

“Nó bị gì kìa.”

Anh ta cọ ngón tay vào chiếc áo khoác màu xanh thêu hoa văn, như thể nó chỉ là một vết mực hoặc bồ hóng.

Nina cong ngón tay lại, và các tế bào bò theo cánh tay lên đến cổ anh chàng, sinh sôi thành một vệt đen lớn ở bên cạnh cổ, tràn qua cằm tới tận môi dưới.

Ai đó hét lên, những người chơi lùi ra xa trong lúc anh chàng hồ lì bối rối nhìn quanh.

Người chơi tại các bàn lân cận bực bội ngước mắt lên khỏi các lá bài và xí ngầu trong tay.

Quản lí sòng bài và thuộc cấp tiến đến chỗ họ, sẵn sàng dập tắt mọi cuộc ẩu đả hoặc gây rối làm gián đoạn cuộc chơi.

Ẩn mình trong đám đông, Nina phất tay, và một nhúm tế bào nhảy lên người phụ nữ đeo ngọc trai đắt tiền đứng bên cạnh anh chàng hồ lì.

Một đốm đen xuất hiện trên má chị ta và nhanh chóng bò lan xuống cằm, xuống cổ như những con nhện.

“Olena!”

Gã đàn ông lực lưỡng đi cùng chị ta hét lên.

“Mặt em kìa!”

Những người khác cũng la hét và tránh ra xa trong lúc Olena bấu lấy cái cổ, loạng choạng đi tìm một tấm gương.

“Chị ta đã chạm vào tay hồ lì!

Nó lây sang chị ta rồi!

“Cái gì lây?”

“Tránh xa tôi ra!”

“Có chuyện gì vậy?”

Quản lí sòng bài hỏi, một tay đặt lên vai anh chàng hồ lì.

“Giúp tôi với!”

Anh ta van nài và giơ hai bàn tay lên.

“Tôi bị làm sao ấy.”

Trông thấy các vết đen trên khuôn mặt và bàn tay của anh chàng, quản lí sòng bài vội lùi lại, nhưng đã quá muộn.

Bàn tay vừa đặt lên vai anh ta đã chuyển sang màu đen xấu xí, và giờ thì ông ta cũng hét toáng như mọi người.

Nina quan sát sự hoảng loạn càn quét lung tung trong sòng bạc như một gã say rượu.

Người chơi xô đổ ghế ngồi, cuống cuồng lao ra cửa, vừa chạy thoát thân vừa tranh thủ vơ vét những đồng xèng.

Những chiếc bàn bị đổ, hất tung các cỗ bài và xúc xắc xuống sàn.

Mạnh ai nấy chạy, chen lấn xô đẩy lẫn nhau.

Nina cũng hùa theo họ, cô để cho đám đông cuốn mình đi trong lúc họ tháo chạy khỏi sòng bạc và loạng choạng bước ra phố.

Tình hình y hệt như vậy ở các điểm dừng trước đó của Nina, mầm sợ hãi nhanh chóng được thổi bùng thành cơn hoảng loạn tột độ.

Và giờ đây, cuối cùng cô cũng nghe thấy nó: hồi còi báo động.

Tựa như một tiếng kêu ai oán, nó bao trùm toàn bộ khu vực, vang lên từng hồi, vang dội trên các mái nhà và lớp đá lát của Ketterdam.

Du khách nhìn nhau với ánh mắt ngơ ngác, trong khi cư dân địa phương, từ đám nghệ sĩ đường phố, nhân viên sòng bạc cho tới cánh tiểu thương và người chơi bài, tất thảy đều lập tức thay đổi.

Kaz đã nói với Nina rằng họ sẽ nhận ra âm thanh này, rằng họ sẽ chú ý đến nó giống như những đứa trẻ bị gọi về nhà bởi một ông bố hay bà mẹ khó tính nào đó.

Kerch là một hòn đảo tách biệt với các địch thủ của mình, được bảo vệ bởi biển cả và lực lượng hải quân thiện chiến.

Nhưng có hai thứ mà kinh đô của nó khó chống đỡ nhất: hoả hoạn và dịch bệnh.

Cũng giống như ngọn lửa có thể dễ dàng chồm qua những mái nhà san sát, bệnh dịch lây lan một cách thoải mái từ người sang người, qua những đám đông chen chúc và không gian sống chật hẹp.

Cũng giống như tin đồn, không ai biết chính xác nó phát xuất từ đâu, hay làm thế nào nó lan truyền nhanh chóng như vậy.

Họ chỉ biết là nó di chuyển rất nhanh trong không khí hoặc qua các dòng kênh.

Người giàu ít bị tác động hơn, họ có thể náu mình trong các tư dinh lớn hoặc bỏ chạy khỏi thành phố.

Đám dân nghèo nhiễm bệnh thì bị cách li trong những nhà thương làm phước hoặc trên những sà lan ngoài khơi.

Bệnh dịch không thể được chặn đứng bằng súng đạn hay tiền bạc.

Người ta không thể tranh cãi với nó, hoặc cầu xin nó biến đi.

Chỉ có những cô cậu bé nhỏ tuổi ở Ketterdam là không còn nhớ rõ về bệnh dịch Thị Nữ, về những chiếc tàu phòng dịch di chuyển trên các dòng kênh dưới sự điều khiển của người gom xác, tay cầm những mái chèo dài thượt.

Những ai đã sống sót sau dịch bệnh đều mất một đứa con, mất bố hoặc mẹ, hoặc một người anh chị em, một người bạn hoặc bà con hàng xóm.

Họ nhớ rất rõ sự cách li, nỗi kinh hoàng gắn liền với mọi tiếp xúc cơ bản nhất của con người.

Luật phòng chống dịch bệnh đã nêu rất rõ ràng và ngắn gọn rằng khi còi báo động vang lên, mọi công dân cần phải trở về nhà ngay lập tức.

Các sĩ quan thị tuần phải tập hợp tại các trạm nằm rải rác quanh thành phố, nhằm tránh không để bệnh dịch lan ra toàn bộ lực lượng trong trường hợp có lây nhiễm.

Họ chỉ được cử đi ngăn chặn các vụ cướp phá, và họ được trả lương cao gấp ba lần vì những rủi ro trên đường phố.

Thương mại tạm dừng, chỉ có những con tàu phòng dịch, đội ngũ gom xác và các thầy lang mới được đi lại trong thành phố.

Tôi biết có một điều mà Ketterdam sợ hơn cả người Shu, người Fjerda, cùng các băng đảng Barrel cộng lại.

Kaz đã đúng.

Mọi chốt chặn, rào chắn, việc kiểm tra giấy tờ, tất cả đều sẽ bị bỏ mặc trước sự xuất hiện của dịch bệnh.

Dĩ nhiên là không ai trong số họ bị bệnh thật, Nina nghĩ bụng trong lúc quay về khu vực hải cảng, chỗ thịt thối sẽ không lây sang những người khác, ngoài các nạn nhân mà cô lựa chọn.

Họ sẽ phải tìm cách tẩy sạch chúng, nhưng sẽ không có ai bị bệnh hoặc bỏ mạng.

Cùng lắm thì bị cách li vài tuần.

Nina tiếp tục cúi mặt, che mặt bằng mũ trùm đầu.

Mặc dù cô gây ra tất cả chuyện này và biết bệnh dịch hoàn toàn hư cấu, cô vẫn cảm thấy tim đập nhanh hơn, nó chạy lồng lên như ngựa do sự cuồng loạn sôi sục quanh cô.

Người ta kêu khóc, la hét, tranh nhau một chỗ trên tàu.

Hỗn loạn thật rồi.

Sự hỗn loạn do cô tạo ra.

Mình đã làm chuyện này, cô ngẫm nghĩ.

Mình đã điều khiển các tử thi, xương xẩu và tế bào chết đó.

Nó làm cô thay đổi như thế nào?

Cô chưa bao giờ nghe nói tới bất kì Grisha nào có năng lực như vậy.

Các Grisha khác sẽ nghĩ gì về cô?

Những người đồng đội Tâm Y của cô?

Chúng ta gắn liền với quyền năng sáng tạo, sự tạo dựng mang tính cốt lõi của thế giới này.

Có lẽ cô nên cảm thấy hổ thẹn, hoặc thậm chí sợ hãi.

Nhưng cô không được sinh ra để hổ thẹn.

Biết đâu Djel đã tắt một nguồn sáng và bật một nguồn khác.

Nina không quan tâm đó là Djel hay các thánh, hay một đám mèo con khè lửa.

Trong lúc nhanh chóng di chuyển về phía đông, Nina nhận ra lần đầu tiên sau nhiều năm cô cảm thấy mình mạnh mẽ.

Hơi thở của cô dễ dàng hơn, sự đau đớn nơi các cơ bắp đã giảm bớt.

Cô đói ngấu.

Cơn thèm thuốc đã lùi xa, tựa như một kí ức về cái đói.

Nina đã rất buồn bã vì bị mất năng lực và sự kết nối với thế giới sống.

Cô căm ghét thứ năng lực hắc ám này.

Nó giống như một thứ giả hiệu, một sự trừng phạt.

Nhưng sự sống gắn kết mọi thứ thì cái chết cũng vậy.

Nó là dòng sông chảy xiết vô tận đó.

Cô đã nhúng tay vào dòng nước của nó, cảm thấy năng lượng cuồn cuộn của nó.

Cô là Nữ hoàng Than khóc, và trong những tầng sâu của dòng sông ấy, cô sẽ không bao giờ chết chìm.

19

INEJ

Inej trông thấy cú vẩy tay của Dunyasha và nghe được âm thanh giống như tiếng đập cánh, rồi một thứ gì đó văng ra từ vai cô.

Inej tóm lấy ngôi sao bạc trước khi nó rơi xuống mái nhà.

Lần này cô đã có sự chuẩn bị.

Jesper đã giúp cô may một số mảnh đệm giường khách sạn vào bên trong chiếc áo dài và áo khoác.

Khoảng thời gian ngồi mạng lại quần áo và vớ tại nông trại đã giúp anh thao tác khéo léo với kim chỉ.

Cô sẽ không đóng vai trò bị bông cho Bạch Kiếm một lần nữa.

Inej lao tới chỗ địch thủ đang đứng trên mái nhà mà cô đã quá rành rẽ.

Cô ném lại phi tiêu vào Dunyasha.

Con nhỏ dễ dàng né được.

“Những mũi phi tiêu của ta không dễ phản bội ta đến thế đâu,” Dunyasha quở, như thể đang trách móc một đứa trẻ.

Nhưng Inej không cần ném trúng đích, cô chỉ cần làm địch thủ sao nhãng.

Cô vung tay như thể ném một cái phi tiêu khác, và trong khi Dunyasha dõi theo động tác đó, Inej phóng người từ chóp tháp sang bên phải, nhào lộn qua đầu địch thủ.

Cô khom người, vung dao cắt một đường vào bắp chân Dunyasha.

Trong nháy mắt, Inej đã nhỏm dậy, nhảy ngược qua một trong những chóp tháp của mái nhà thờ, mắt không rời khỏi Dunyasha.

Nhưng con nhỏ chỉ bật cười.

“Ta thích tinh thần của ngươi, Bóng Ma.

Ta không nhớ nổi lần cuối mình bị thương là khi nào nữa.”

Dunyasha nhảy lên một chóp nhọn.

Hai cô gái lúc này đang đối diện nhau, vũ khí sẵn sàng trong tay.

Con nhỏ đánh thuê thụp xuống, vung dao, nhưng lần này Inej không để cho mình nghe theo bản năng mà cô đã phải nỗ lực rèn luyện trên đường phố Ketterdam.

Thay vào đó, cô đáp trả theo cách của một nghệ sĩ nhào lộn.

Khi thanh xà bay tới chỗ ta, đừng tránh nó, hãy đến gặp nó.

Inej cúi xuống tiếp cận Dunyasha như thể họ là một cặp đôi khiêu vũ.

Cô tranh thủ đà tấn công của đối phương để làm cho con nhỏ mất thăng bằng.

Một lần nữa, Inej ra đòn, cắt ngang bắp chân còn lại của Dunyasha.

Lần này thì con nhỏ rít lên.

Thế có phải tốt hơn không, Inej nghĩ bụng.

Dunyasha xoay người gọn ghẽ trên ngón chân cái, tựa như một con dao xoay trên mũi nhọn của nó.

Con nhỏ không hề tỏ ra chút đau đớn nào.

Lúc này hai tay nó đang cầm hai lưỡi dao cong, múa chúng theo một vũ đạo uốn lượn trong lúc bám theo Inej trên mái nhà.

Inej biết cô không thể để những lưỡi dao chém vào mình.

Vậy thì phá vỡ nhịp điệu đi, cô tự nhủ.

Để cho Dunyasha bám đuổi mình, cô lùi lại cho đến khi thấy bóng của cột đỉnh mái vòm phía sau lưng mình.

Cô làm động tác giả và nhích sang phải, để cho địch thủ lao tới trước.

Thay vì lấy lại thăng bằng, cô tiếp tục đổ người sang phải.

Ở giây cuối cùng, cô cất dao vào vỏ rồi dùng một tay nắm lấy cái cột, đu người vòng sang bên kia.

Giờ thì cái cột đỉnh mái vòm đã ở giữa họ.

Dunyasha gằn giọng tức tối khi lưỡi dao chém vào lớp kim loại.

Inej nhảy thoăn thoắt qua các hoạ tiết trang trí, lao nhanh tới chóp tháp lớn nhất và theo nó leo lên đỉnh cao nhất của mái nhà.

Cảm giác giống như bước đi trên sống lưng của một con sinh vật biển đồ sộ nào đó.

Dunyasha bám theo, và Inej phải thừa nhận rằng chuyển động của con nhỏ vẫn rất uyển chuyển và duyên dáng, bất chấp hai bắp chân bị thương.

“Ngươi có chạy về tới đoàn xe nhà mình nổi không, Bóng Ma?

Ngươi biết việc chuyện này kết thúc và công lí được thực thi chỉ là vấn đề thời gian thôi mà.”

“Công lí?”

“Ngươi là một đứa trộm cắp kiêm sát thủ.

Ta đã được chọn để thanh trừng khỏi thế giới này những kẻ như ngươi.

Ta có thể được thuê bởi giới tội phạm, nhưng ta không bao giờ đoạt mạng người vô tội.”

Chữ đó vang lên như một nốt nhạc lạc lõng trong đầu Inej.

Cô có vô tội không?

Cô tiếc cho những mạng sống mà mình đã lấy đi, nhưng cô sẽ vẫn làm để cứu bản thân, cứu mạng bạn bè mình.

Cô đã trộm cắp.

Cô đã giúp Kaz tống tiền cả người tốt lẫn kẻ xấu.

Cô có khẳng định được đó là những lựa chọn duy nhất mà mình có hay không?

Dunyasha tiến đến gần, mái tóc sáng rực lên trên nền trời xanh, làn da gần như trắng bằng lớp vải áo màu ngà.

Ở đâu đó tít bên dưới họ, cuộc đấu giá tiếp tục diễn ra trong nhà thờ, những người tham gia hoàn toàn không hay biết về trận chiến trên đầu mình.

Ở đây, mặt trời sáng rực như một đồng xu mới đúc, gió thổi qua những ngọn tháp tạo thành tiếng rên rỉ nhè nhẹ.

Vô tội.

Vô tội là một thứ xa xỉ, và Inej không tin các vị thánh của cô đòi hỏi điều đó.

Cô rút dao ra một lần nữa.

Thánh Vladimir, Thánh nữ Alina, hãy bảo vệ con.

“Nhìn đẹp nhỉ,” Dunyasha nói, đoạn rút ra hai thanh kiếm dài và thẳng từ bao kiếm giắt ở thắt lưng.

“Ta sẽ tặng cho con dao mới của mình một cái cán làm từ xương chày của ngươi.

Ngươi sẽ có vinh dự được phục vụ cho ta từ cõi chết.”

“Tao sẽ không bao giờ phục vụ mày,” Inej đáp.

Dunyasha lao tới.

Inej tranh thủ mọi cơ hội để áp sát địch thủ, không cho con nhỏ tận dụng ưu thế tầm đánh.

Cô mạnh hơn so với lần đối đầu trước, nhờ được nghỉ ngơi và ăn uống đầy đủ.

Nhưng cô vẫn là một đứa con gái được tôi luyện trên đường phố, không phải trong tháp kín của một tu viện Shu Han nào đó.

Sai lầm đầu tiên của Inej là một cú nhảy lui hơi chậm.

Cô phải trả giá cho nó bằng một vết cắt sâu ở bắp tay trái.

Lưỡi kiếm cắt xuyên qua lớp đệm, khiến cô gặp khó khăn trong việc cầm dao bằng tay trái.

Sai lầm thứ hai của cô là dồn quá nhiều lực vào một cú đâm trực diện.

Cô bị chúi tới trước và cảm thấy lưỡi kiếm của Dunyasha lướt qua mạng sườn.

Một vết cắt nông, nhưng khá nguy hiểm.

Inej phớt lờ cơn đau và tập trung vào địch thủ, nhớ lại điều Kaz đã nói với mình.

Tìm kiếm gợi điểm của cô ta.

Ai cũng có gợi điểm.

Nhưng chuyển động của Dunyasha thật khó đoán.

Con nhỏ sử dụng vũ khí bằng cả hai tay một cách thoải mái như nhau, không ưu tiên chân nào, và chờ cho đến tích tắc cuối cùng để tung đòn, không tiết lộ trước ý đồ của mình.

Nó thật xuất sắc.

“Mệt rồi à, Bóng Ma?”

Inej không đáp, cô muốn bảo toàn năng lượng.

Hơi thở của Dunyasha vẫn bình thường, nhưng Inej có thể cảm thấy mình hơi chậm đi.

Không nhiều, nhưng đủ để địch thủ chiếm ưu thế.

Và rồi cô trông thấy nó - một cái giật khẽ của lồng ngực Dunyasha trước khi con nhỏ lao tới.

Lại một cái giật khẽ và ra đòn nữa.

Gợi điểm nằm ở hơi thở của con nhỏ.

Nó hít một hơi sâu trước khi tấn công.

Đó.

Inej tránh sang trái, ra đòn thật nhanh.

Một cú thọc dao vào cạnh sườn Dunyasha.

Đó.

Inej lại tấn công, và máu tuôn xuống cánh tay Dunyasha.

Cô lùi lại, chờ cho địch thủ tiến tới.

Dunyasha thích che giấu đòn tấn công trực diện bằng các cử động khác, những cú múa kiếm, một sự hoa mĩ không cần thiết.

Nó khiến cho con nhỏ khó đoán hơn, nhưng đó.

Một cái lấy hơi nhanh.

Inej thụp xuống và tung cú xoạc chân trái, khiến con nhỏ đánh thuê mất thăng bằng.

Đây là cơ hội của cô.

Inej đứng dậy, sử dụng quán tính đi lên của mình và chuyển động đi xuống của Dunyasha để thọc dao vào tấm da bảo vệ xương ức đối phương.

Inej cảm thấy máu trên tay khi cô rút dao ra và Dunyasha hộc lên một tiếng.

Con nhỏ nhìn cô trân trối, một tay ôm lấy ngực.

Đôi mắt nó nheo lại.

Vẫn không có chút sợ hãi nào trong đó, chỉ có một nỗi phẫn uất sâu sắc, như thể cô đã làm hỏng một bữa tiệc quan trọng.

“Máu mà ngươi vừa làm đổ là dòng máu vương quyền,” Dunyasha rít lên.

“Ngươi không xứng đáng với một món quà như vậy.”

Inej suýt cảm thấy mủi lòng cho con nhỏ.

Dunyasha thực sự tin rằng mình là hậu duệ của dòng tộc Lantsov, và có thể thế thật.

Nhưng chẳng phải mọi cô gái đều mơ điều đó hay sao?

Mở mắt dậy và thấy mình là công chúa.

Hoặc được định mệnh ban cho những năng lực pháp thuật và một số phận phi thường.

Có những người sống như thế.

Biết đâu con nhỏ này là một trong số đó.

Nhưng với những người còn lại thì sao?

Những người vô danh tiểu tốt, những đứa con gái vô hình thì sao?

Chúng ta được dạy hãy ngẩng cao đầu như thể đang đội vương miện.

Chúng ta được dạy viết nên những điều kì diệu từ sự tầm thường.

Đó là cách thức mà bạn sống sót khi không phải người được chọn, khi trong huyết quản bạn không có dòng máu vương tộc.

Khi thế giới chẳng nợ bạn gì sất, bạn vẫn lấy được thứ gì đó từ nó.

Inej nhướn mày và chậm rãi lau vẹt máu vương quyền vào ống quần.

Dunyasha gào lên và lao vào Inej, một tay vung chém loạn xạ, tay kia ấn vào vết thương, cố gắng cầm máu.

Rõ ràng nó đã được huấn luyện để chiến đấu chỉ với một tay.

Nhưng nó chưa bao giờ chiến đấu khi bị thương, Inej nhận ra.

Có lẽ các thầy tu đã bỏ qua bài học đó.

Và một khi đã bị thương, gợi điểm của con nhỏ càng trở nên rõ ràng hơn.

Họ đang ở gần đỉnh của chóp tháp chính.

Các hoạ tiết trang trí ở đây lỏng lẻo hơn, khiến Inej cũng phải điều chỉnh lại bước chân của mình, lúc này cô né đòn tấn công của Dunyasha dễ dàng hơn.

Cô nhảy sang trái rồi sang phải, ghi điểm với những cú cắt, cú đâm.

Cuộc chiến ngả sang thế bền sức, và Dunyasha đang mất máu nhanh chóng.

“Ngươi giỏi hơn ta nghĩ,” Dunyasha hổn hển nói, khiến Inej ngạc nhiên với sự thừa nhận đó.

Đôi mắt con nhỏ mờ đi vì đau đớn, bàn tay áp trên xương ức trơn nhẫy và đỏ lòm.

Nhưng dáng người nó vẫn thẳng, cân bằng vẫn ổn định trong lúc cả hai vắt vẻo trên tháp cao, cách nhau vài mét.

“Cảm ơn,” Inej đáp.

Những chữ đó nghe thật gượng gạo.

“Không có gì phải xấu hổ khi gặp một đối thủ xứng tầm.

Đó có nghĩa là cần học hỏi thêm, một sự nhắc nhở nhẹ nhàng để ta giữ khiêm tốn.”

Dunyasha cúi đầu, cất kiếm vào bao.

Nó đặt một nắm đấm lên ngực để chào.

Inej chờ đợi trong cảnh giác.

Có phải nó đang muốn chấm dứt?

Đây không phải là cách mà bạn kết thúc một cuộc đấu ở Barrel, nhưng rõ ràng đứa con gái đánh thuê này có những quy tắc riêng.

Inej không muốn phải kết liễu nó, dù cho nó phi nhân tính đến thế nào.

“Ta đã học được sự khiêm tốn,” Dunyasha nói và nghiêng đầu.

“Còn bây giờ, ngươi sẽ học được rằng một số người được sinh ra để phục dịch, và một số sinh ra để cai trị.”

Khuôn mặt Dunyasha ngẩng phắt lên.

Nó xoè bàn tay và tung một cú chưởng.

Trông thấy một đám mây đỏ, Inej vội lùi lại, nhưng đã quá trễ.

Đôi mắt cô cay xè.

Cái gì đây?

Không quan trọng.

Cô không quan sát được.

Cô nghe thấy tiếng rút dao và cảm thấy cú chém, cô lui lại trên mái nhà, cố gắng giữ thăng bằng.

Nước mắt chảy giàn giụa trên má Inej trong lúc cô cố gắng lấy bụi khỏi mắt.

Dunyasha chỉ còn là một bóng mờ trước mặt cô.

Inej giơ dao tối trước, cố gắng tạo khoảng cách giữa họ, và lại cảm thấy lưỡi dao của Dunyasha chém vào cẳng tay mình.

Con dao tuột khỏi tay cô, rơi loảng xoảng trên mái nhà.

Thánh nữ Alina, hãy bảo vệ con.

Nhưng có lẽ các thánh đã chọn Dunyasha.

Bất chấp những lời cầu nguyện và ăn năn của Inej, có lẽ cuối cùng sự phán xét đã đến.

Mình không hối tiếc, cô nhận ra.

Cô đã chọn sống tự do như một sát thủ hơn là chết lặng lẽ như một nô lệ, và cô không thể hối tiếc về điều đó.

Cô sẽ đến bên các thánh với một tinh thần sẵn sàng và hi vọng họ sẽ đón nhận cô.

Cú chém kế tiếp cắt vào các đốt ngón tay của Inej.

Cô lui lại thêm một bước nữa, và biết mình sắp không còn đường lùi.

Dunyasha đang đẩy cô tới mép mái nhà.

“Ta đã nói rồi, Bóng Ma.

Ta không sợ.

Dòng máu trong ta có sức mạnh của mọi nữ vương và kẻ chinh phạt đi trước.”

Bàn chân Inej chạm vào mép của một hoạ tiết trang trí bằng kim loại, và cô chợt hiểu.

Cô không có được sự huấn luyện và đào tạo, hay bộ trang phục trắng tinh tế của địch thủ.

Nhưng cô thuộc nằm lòng thành phố này.

Dù muốn dù không, Ketterdam - thành Ketterdam tàn nhẫn, dơ dáy, tuyệt vọng - đã trở thành nhà của cô.

Và cô sẽ bảo vệ nó.

Cô nắm rõ những mái nhà của nó theo cách mà cô thuộc các bậc thang ọp ẹp của Thanh Gỗ, thuộc những viên đá lát đường và các ngõ hẻm của khu Stave.

Cô thuộc từng centimet thành phố này như lòng bàn tay mình.

“Đứa con gái không biết sợ,” Inej nói trong hơi thở hổn hển với bóng dáng mờ ảo của Dunyasha trước mắt.

Dunyasha nghiêng mình.

“Tạm biệt nhé, Bóng Ma.”

“Vậy hãy học sợ trước khi mày chết đi,” Inej tránh sang bên, giữ thăng bằng trên một chân, trong khi bàn chân của Dunyasha đặt xuống một chi tiết lỏng lẻo của phần hoạ tiết trang trí.

Nếu không bị thương, chắc con nhỏ đánh thuê đã chú ý nhiều hơn đến địa hình.

Nếu nó không quá hăm hở, chắc nó đã có thể kìm mình lại.

Nhưng thay vào đó, nó trượt chân, ngã chúi tới trước.

Inej trông thấy Dunyasha qua màn nước mắt nhoè nhoẹt.

Con nhỏ lơ lửng giữa trời trong thoáng chốc, những ngón chân tìm kiếm điểm tựa, hai cánh tay vươn ra không có gì để nắm vào, tựa như một vũ công sắp nhảy, mắt và miệng mở to ngạc nhiên.

Ngay cả bây giờ, vào khoảnh khắc cuối cùng này, trông nó giống như một đứa con gái từ trong truyện bước ra, được định sẵn một số mệnh phi thường.

Nó là một nữ vương không khoan nhượng, một bức tượng tạc bằng ngà voi và hổ phách.

Dunyasha rơi trong im lặng, giữ kỉ luật cho tới cuối cùng.

Inej cẩn thận ngó qua mép mái nhà.

Tít phía dưới, người ta hét lên.

Thi

thể của Dunyasha nằm đó như một bông hoa trắng nở giữa cánh ruộng đỏ loang rộng dần.

“Cầu cho kiếp sau ngươi không phải gieo rắc thống khổ nữa,” Inej thì thào.

Cô cần hành động.

Hồi còi báo động vẫn chưa vang lên, nhưng Inej biết cô đã bị muộn giờ.

Jesper chắc đang đợi cô.

Inej lao đi trên mái nhà thờ, quay trở lại ngón cái của Ghezen để tới nhà nguyện.

Cô túm sợi dây rồi lấy khẩu súng của Jesper ra khỏi chỗ cất giữa hai hoạ tiết trang trí.

Trong khi cô leo xuống mái vòm và thò đầu vào trong nhà nguyện màu cam, cô chỉ biết cầu cho mình không bị trễ hẹn.

Nhưng cô không thấy Jesper đâu cả.

Inej vươn cổ, tìm kiếm khắp nhà nguyện trống vắng.

Cô cần tìm ra Jesper.

Kuwei Yul-Bo phải chết đêm nay.

20

JESPER

Hội đồng Thuỷ triều đã xuất hiện với tất cả sự huy hoàng của họ, nhưng Jesper không thể không nghĩ tới Hài kịch Thô lỗ.

Toàn bộ chuyện này khác gì một vở kịch mà Kaz bày ra với cậu nhóc Kuwei tội nghiệp kia đóng vai chính chứ?

Jesper nghĩ đến Wylan.

Rốt cuộc cậu cũng có thể đòi lại công lí cho mẹ.

Anh nghĩ đến bố đang ngồi đợi ở tiệm bánh.

Anh cảm thấy hối tiếc vì mâu thuẫn mà họ đã có.

Mặc dù Inej đã nói hai bố con anh sẽ thấy nhẹ nhõm khi biết được lập trường của đối phương, nhưng anh không chắc chắn đến thế.

Anh thích một cuộc cãi lộn nói huỵch toẹt mọi thứ, nhưng việc dùng những lời lẽ nặng nề với bố khiến bụng anh nặng trĩu như ăn phải món cháo hỏng.

Họ đã lâu không trò chuyện đến nỗi việc nói ra sự thực dường như đã phá vỡ một bùa chú nào đó - không phải một lời nguyền, mà là một pháp thuật hữu ích, loại giữ cho mọi người an toàn, loại bảo vệ cho một vương quốc dưới vòm kính.

Cho tới khi một thằng ngu như anh xuất hiện và sử dụng thứ xinh xẻo đó làm bia tập bắn.

Ngay khi Hội đồng Thuỷ triều di chuyển trên lối đi trong nhà thờ, Jesper đã lỉnh ra khỏi phái đoàn Novyi Zem và tiến về phía ngón cái của Ghezen.

Anh đi chậm và hướng lưng về phía các vệ quân đứng dọc theo tường, giả vờ như đang cố gắng tìm một vị trí quan sát tốt hơn.

Khi Jesper đi tới vòm cửa dẫn vào gian ngón cái, anh đổi hướng tiến về phía cửa chính của nhà thờ, như thể sắp ra về.

“Vui lòng lùi lại,” một thị tuần thứ cấp lên tiếng, cố giữ lịch sự với vị khách nước ngoài trong khi vươn cổ quan sát chuyện đang diễn ra với Hội đồng Thuỷ triều.

“Không được cản trở cửa ra vào.”

“Tôi cảm thấy không được khoẻ,” Jesper đáp với giọng pha âm sắc

Zemeni và ôm bụng.

“Xin anh cho tôi qua.”

“E là không được, thưa ngài.”

Thưa ngài!

Một cách xưng hô không dành cho những con chuột cống khu Barrel.

“Anh không hiểu rồi,” Jesper đáp.

“Tôi cần giải quyết ngay.

Tối qua tôi đã ăn ở một nhà hàng tên gì nhỉ…

Nồi Hầm Sten thì phải?”

Gã thị tuần nhăn mặt.

“Sao ngài lại đi ăn ở đó?”

“Nó ở trong sách hướng dẫn.”

Thật ra đó là một trong những quán ăn tệ nhất và rẻ nhất Ketterdam.

Do mở cửa cả ngày và quá rẻ, quán Sten là một trong vài điểm chung ít ỏi của giới giang hồ Barrel và lực lượng thị tuần.

Cứ cách tuần là lại có ai đó than đau bụng vì Sten và món hầm đến các thánh thần cũng bỏ mứa của lão ta.

Gã thị tuần lắc đầu và ra hiệu cho các vệ quân đang đứng ở vòm cửa.

Một trong số họ bước tới.

“Ngài này đi ăn tối qua ở Sten.

Nếu tôi để anh ta đi ra ngoài bằng cửa chính, đội trưởng sẽ chất vấn anh ta.

Đưa anh ta ra ngoài qua lối nhà nguyện nhé?”

“Làm thế quái nào anh lại đi ăn ở quán Sten?”

Gã vệ quân hỏi.

“Ông chủ tôi trả lương hơi bị hẻo,” Jesper đáp.

“Cùng cảnh ngộ,” vệ quân đáp, rồi vẫy tay ra hiệu Jesper đi theo mình.

Đồng cảm, hữu nghị.

Mình sẽ giả vờ làm du khách thường xuyên hơn, Jesper nghĩ thầm.

Mình có thể từ bỏ mấy cái áo chẽn nếu đám vệ quân quèn cứ dễ dãi như thế này với mình.

Trong khi đi qua vòm cửa, Jesper để ý tới cầu thang xoắn cạnh đó.

Nó dẫn lên hành lang vòm bên trên, nơi anh có thể thoải mái quan sát sân khấu.

Họ đã hứa không để Kuwei một mình đương đầu thảm hoạ, và cho dù cậu ta là nguồn cơn của rắc rồi, Jesper không muốn bỏ rơi cậu ta.

Jesper kín đáo xem giờ trong lúc họ đi tới khu vực các nhà nguyện ở cuối ngón cái.

Đúng bốn giờ, Inej sẽ đợi trên đỉnh vòm nhà nguyện màu cam để thả khẩu súng trường xuống cho anh.

“Ui da,” Jesper rên lên, hi vọng đẩy nhanh tốc độ di chuyển của gã vệ quân.

“Không biết tôi có nín nổi không nữa.”

Anh ta kêu lên một tiếng kinh tởm nho nhỏ và sải chân dài hơn.

“Anh đã gọi món gì vậy, anh bạn?”

“Món đặc biệt.”

“Đừng bao giờ gọi món đặc biệt.

Bọn họ chỉ hâm nóng lại một món bất kì còn thừa của ngày hôm trước thôi.”

Họ đã đi tới nhà nguyện và vệ quân nói tiếp, “Tôi sẽ để cho anh đi qua cửa này.

Có một tiệm cà phê ở bên kia đường.”

“Cảm ơn anh,” Jesper nói, rồi vòng tay quanh cổ gã vệ quân, kẹp chặt cho đến khi người anh ta mềm đi.

Anh tháo mấy sợi dây da buộc ở cổ tay và trói quặt tay anh ta ra sau lưng, rồi cởi chiếc khăn vuông buộc cổ nhét vào miệng.

Sau đó, anh vần anh ta ra phía sau bàn thờ.

“Ngủ ngon nhé,” Jesper nói.

Anh cảm thấy thương hại anh ta.

Không thương đến mức đánh thức rồi cởi trói cho, nhưng vẫn thương.

Jesper nghe thấy một tiếng uỳnh vọng tới và đưa mắt nhìn dọc theo thánh đường.

Do ngon cái cua Ghezen được xây hơi cao hơn mặt bằng chung của nhà thờ, nên anh chỉ trông thấy đỉnh đầu của những người ngồi hàng cuối.

Nghe có vẻ Hội đồng Thuỷ triều đang gây náo loạn.

Jesper xem giờ một lần nữa, rồi bước đến chỗ cầu thang.

Một bàn tay tóm lấy cổ áo anh, lôi ngược về phía sau.

Jesper đập mạnh người xuống sàn, khiến chỗ không khí trong phổi anh bị tông hết ra ngoài.

Kẻ tấn công anh đứng ở chân cầu thang, gã nhìn xuống anh với đôi mắt vàng ệch.

Trang phục của gã ta khác với lần Jesper nhìn thấy ở gần Nhà Hồng Bạch.

Hôm nay gã chiến binh Kherguud khoác bộ đồng phục màu nâu olive trên đôi vai đồ sộ của mình.

Hàng khuy áo sáng bóng, mái tóc đen được buộc túm đuôi ngựa, để lộ chiếc cổ to như khúc giăm bông.

Trông hắn đúng như bản chất của mình - một món vũ khí.

“Rất mừng khi thấy mày chưng diện cho dịp này,” Jesper hớp hớp không khí, cố gắng lấy lại hơi thở.

Gã chiến binh người Shu hít một hơi, lỗ mũi phình ra, và mỉm cười.

Jesper lồm cồm bò giật lùi.

Gã ta bám theo.

Anh tự rủa thầm vì đã không lấy khẩu súng của tay vệ quân.

Súng lục thì không phù hợp để bắn xa, nhưng có còn hơn không khi phải đối mặt với một gã khổng lồ đang nhìn mình không rời mắt.

Jesper bật dậy và chạy nhanh qua giáo đường.

Nếu anh có thể quay lại chánh điện thì…

Anh sẽ cần phải giải thích một chút, nhưng gã chiến binh người Shu sẽ không tấn công anh giữa phiên đấu giá, đúng không nào?

Anh không kịp có câu trả lời.

Gã người Shu lao vào từ phía sau, đè anh xuống đất.

Chánh điện dường như xa thăm thẳm, âm thanh huyên náo của cuộc đấu giá và Hội đồng Thuỷ triều chỉ còn là vọng âm xa xôi trên những vách tường cao bằng đá.

Hành động và vọng âm, anh nghĩ bâng quơ trong lúc bị gã người Shu lật người lại.

Jesper giãy giụa như một chú cá mắc cạn, thoát ra khỏi sự khống chế của gã Kherguud và thầm cảm ơn cơ thể cò hương của mình.

Anh đứng dậy nhưng gã kia rất nhanh so với tầm vóc đồ sộ.

Gã ném anh vào tường, khiến anh kêu lên một tiếng đau đớn, tự hỏi liệu mình có bị gãy chiếc xương sườn nào không.

Tốt thôi.

Càng tốt cho gan.

Anh không thể nghĩ ngợi đàng hoàng trong lúc bị gã thộn này quăng quật được.

Jesper nhìn thấy nắm đấm của gã khổng lồ rút lại, ánh kim loại loé lên giữa các ngón tay.

Chúng đã trang bị cho gã tay đấm thép, anh kinh hoàng nhận ra.

Chúng đã tích hợp luôn nó vào bàn tay của gã.

Anh thụp xuống vừa kịp lúc.

Nắm đấm của gã đập vào bức tường ngay cạnh đầu anh với một tiếng uỳnh vang dội.

“Trượt,” gã nói với một giọng Kerch nặng âm sắc.

Gã lại hít một hơi thật sâu.

Gã ngửi được mùi của mình, Jesper nghĩ bụng.

Vào cái ngày ở khu Stave.

Gã không bận tâm chuyện bản thân bị thị tuần bắt, gã đã tìm thấy người mà gã săn lùng.

Gã khổng lồ rút nắm đấm lại một lần nữa.

Gã sắp đánh ngất anh và rồi… sao nữa?

Phá cửa nhà nguyện và vác anh ra đường như một bao thóc?

Giao anh cho một đứa trong đám điểu nhân bạn gã?

Ít nhất mình cũng sẽ không bao giờ có thể làm ai thất vọng nữa.

Bọn chúng sẽ chuốc parem cho anh.

Biết đâu anh sẽ sống đủ lâu để chế tạo cho Shu Han một lô Kherguud mới.

Jesper tránh sang phải.

Nắm đấm của gã khổng lồ khoan một cái lỗ khác trên tường nhà thờ.

Khuôn mặt gã co rúm lại vì giận dữ.

Gã túm cổ Jesper và co tay lại, chuẩn bị đánh cú quyết định.

Cả ngàn ý nghĩ quay cuồng trong đầu Jesper cùng một lúc: Cái mũ nhàu nhĩ của bố anh.

Ánh sáng lấp lánh của cặp báng súng cẩn ngọc trai.

Inej đứng thẳng như một mũi tên.

Tôi không muốn một lời xin lỗi.

Wylan ngồi bên bàn đá trong nhà mồ, nhay nhay cạnh của ngón cái.

Bất kì loại đường nào, cậu ấy đã nói như thế, và… giữ nó tránh xa mồ hôi, máu, nước bọt.

Mọt hoá chất.

Inej đã bỏ các lọ chưa sử dụng trên chiếc bàn trong phòng khách sạn.

Jesper đã mân mê một cái trong lúc cãi nhau với bố.

Và bây giờ các ngón tay anh đang lần mò trong túi quần, nắm lấy cái lọ thuỷ tinh.

“Parem!”

Jesper kêu lên.

Đó là một trong những từ tiếng Shu duy nhất mà anh biết.

Gã khổng lồ dừng lại, nắm đấm lơ lửng trong không khí.

Gã ngoẹo đầu sang một bên.

Luôn tấn công vào nơi mục tiêu không để ý.

Jesper há miệng và giả vờ tọng thứ gì đó vào trong.

Đôi mắt gã chiến binh mở to, cú siết của gã lỏng đi khi gã cố gắng kéo tay Jesper ra.

Gã há miệng, có lẽ là mở đầu cho một lời phản đối.

Nhưng chẳng quan trọng.

Bàn tay còn lại của Jesper đập cái lọ vào khuôn miệng đang há to của gã.

Tên khổng lồ loạng choạng lùi lại khi bị những mảnh thuỷ tinh cắm vào môi và cằm khiên máu tuôn ra.

Jesper lau tay cật lực vào áo, hi vọng mình không bị đứt tay và khiến cho mọt hạt chui vào máu.

Nhưng chẳng có gì xảy ra cả.

Gã chiến binh chỉ giận dữ mà thôi.

Gã gầm lên rồi túm lấy vai Jesper, nhấc bổng anh lên khỏi mặt đất.

Thánh thần ơi, Jesper thầm nghĩ, chắc gã không thèm giao mình cho đồng bọn luôn rồi.

Anh bấu vào cánh tay hộ pháp của gã, cố gắng giằng ra.

Gã Kherguud lay mạnh Jesper một cái.

Gã bật ho, lồng ngực đồ sộ rung lên, rồi lay Jesper cái nữa, một cú lắc yếu ớt, giật cục.

Và Jesper hiểu ra - không phải gã lắc anh, mà gã đang run rẩy.

Một tiếng xèo nho nhỏ phát ra từ miệng gã khổng lồ, nghe như tiếng trứng chạm vào chảo nóng.

Bọt hồng trào ra từ miệng gã, một thứ hỗn hợp của nước bọt và máu, nhễu nhão chảy xuống cằm.

Jesper co rúm người lại.

Gã chiến binh rên lên.

Bàn tay hộ pháp buông anh ra, và Jesper lùi lại, không tài nào rời mắt khói gã.

Thân hình gã bắt đầu co giật, lồng ngực phập phồng.

Gã gập người lại khi một dòng mật hồng hồng phọt ra khỏi miệng, văng tung toé trên tường.

“Lại để xổng tao rồi,” Jesper nói, cố không bật cười.

Gã khổng lồ nghiêng người rồi đổ vật xuống sàn, nằm ngay đơ như một cây sồi bị chặt hạ.

Trong một thoáng, Jesper chỉ đứng nhìn thân hình đồ sộ của gã.

Thế rồi nhận thức quay trở lại với anh.

Đã mất bao nhiêu thời gian rồi?

Anh lao nhanh tới nhà nguyện ở cuối ngón cái.

Trước khi anh đến được cửa nhà nguyện, Inej lao từ trong ra, nhanh chóng chạy về phía anh.

Jesper đã bị muộn giờ hẹn.

Cô đáng lẽ không phải bổ đi tìm anh nếu cô không nghĩ anh đang gặp rắc rối.

“Jesper…”

“Khẩu súng,” anh yêu cầu.

Không nói thêm lời nào, Inej tháo nó khỏi vai.

Jesper chộp lấy khẩu súng từ tay cô, chạy ngược trở về phía chánh điện.

Anh phải kịp đến được vòm cửa.

Còi báo động vang lên.

Muộn mất rồi.

Anh sẽ không thể đến kịp.

Anh sẽ làm hỏng hết mọi chuyện.

Một tay thiện xạ thì làm được gì nếu không có súng chứ?

Anh làm được gì nếu không thể bắn phát súng đó?

Họ sẽ bị mắc kẹt trong cái thành này.

Họ sẽ bị bỏ tù, thậm chí bị hành hình.

Kuwei sẽ bị bán cho người trả giá cao nhất.

Parem sẽ chia cắt thế giới này và các Grisha càng bị săn lùng ráo riết hơn nữa.

Tại Fjerda, Đảo Wandering, Novyi Zem.

Các zowa sẽ bị bắt cóc, ép đi lính, huỷ hoại bởi thứ ma dược đó.

Hồi còi báo động cất lên ngắt quãng.

Những tiếng la hét vang vọng khắp nhà thờ.

Mọi người ùa ra cửa chính, chẳng mấy chốc họ sẽ tràn vào ngón cái, tìm kiếm một lối ra khác.

Ai cũng có thể bắn, nhưng không phải người nào cũng nhắm bắn được.

Giọng nói của mẹ anh vang lên.

Chúng ta là zowa.

Con và mẹ.

Không thể nào.

Anh thậm chí không quan sát được Kuwei từ đây, và không ai có thể bắn vòng qua góc tường.

Nhưng Jesper nắm khá rõ sơ đồ nhà thờ.

Anh biết lối đi chính kéo thẳng tới khu vực đấu giá.

Anh có thể nhìn thấy nút áo thứ hai của Kuwei trong đầu.

Không thể nào.

Một viên đạn chỉ có một quỹ đạo bay.

Nhưng nếu như viên đạn đó được dẫn hướng thì sao?

Không phải người nào cũng nhắm bắn được.

“Jesper?”

Inej gọi anh từ phía sau.

Jesper nâng súng lên.

Nó chỉ là một món hoả khí bình thường, nhưng anh đã tự tay biến đổi nó.

Nó chỉ chứa một viên đạn duy nhất - không gây sát thương vì là hỗn hợp của sáp và cao su.

Nếu anh bắn trượt, ai đó sẽ khá đau đây.

Nhưng nếu anh không bắn, nhiều người sẽ bị đau.

Quỷ thần ơi, Jesper nghĩ bụng, có thể nếu bắn trượt Kuwei, mình sẽ loại bỏ một con mắt của Van Eck.

Jesper từng làm việc ở xưởng vũ khí và tự chế đạn dược cho mình.

Anh rành rẽ về súng đạn còn hơn cả những quy luật của vòng quay may mắn.

Anh tập trung vào viên đạn, cảm nhận từng bộ phận nhỏ nhất của nó.

Có lẽ anh cũng giống như vậy.

Một viên đạn trong nòng súng, chờ khoảnh khắc được định hướng.

Ai cũng có thể bắn.

“Inej,” anh nói.

“Nếu còn dư lời cầu nguyện nào, đây là lúc cần dùng đến nó đấy.”

Anh nổ súng.

Thời gian dường như trôi chậm lại - Jesper cảm thấy cú giật của khẩu súng, lực đẩy không thể ngăn được của viên đạn.

Bằng tất cả ý chí của mình, anh tập trung vào lớp vỏ sáp của nó và lái nó sang trái, khi tiếng nổ vẫn còn vang dội trong tai anh.

Cảm thấy viên đạn đổi hướng, anh tập trung vào nút áo đó.

Cái thứ hai, một mẩu gỗ nhỏ được giữ ở nguyên vị trí nhờ những vòng chỉ.

Đó không phải là năng lực.

Đó là một lời nguyền.

Nhưng cuộc đời anh toàn là những đặc ân kia mà.

Bố anh.

Mẹ anh.

Inej.

Nina.

Matthias đã dẫn họ vượt con kênh bùn lầy đó.

Kaz - với tất cả sự tàn nhẫn và nhược điểm của mình, Kaz đã cho anh một gia đình trong băng Cặn Bã, khi mà Ketterdam lẽ ra đã nuốt sống anh.

Và Wylan.

Người hiểu ra trước cả anh rằng thứ năng lực trong anh cũng có thể là một đặc ân.

“Anh vừa mới làm gì vậy?”

Inej hỏi.

Có thể là không gì cả.

Có thể là một việc bất khả thi.

Jesper không bao giờ cưỡng được những vụ cá cược khó trúng.

Anh nhún vai.

“Như tôi thường làm.

Được ăn cả, ngã về không.”

21

KAZ

Kaz đứng ngay bên cạnh Kuwei khi viên đạn trúng đích và là người đầu tiên giúp cậu ta.

Anh nghe thấy một loạt tiếng súng nổ vang trong nhà thờ, chắc là do các sĩ quan thị tuần hoảng sợ cướp cò.

Anh quỳ xuống cạnh Kuwei, kín đáo dùng tay trái bóp một cái xi lanh vào cánh tay của cậu.

Máu chảy lênh láng.

Jellen Radmakker đã ngã xuống sàn sân khấu và đang gào lên, “Tôi bị bắn!”

Ông ta không hề trúng đạn.

Kaz hét gọi thầy lang.

Người đàn ông hói đầu thấp bé đang đứng chết trân cạnh sân khấu, nơi ông ta chăm sóc cho Wylan, mặt cắt không còn hột máu.

Matthias phải nắm lấy khuỷu tay ông ta để lôi lên sân khấu.

Mọi người vẫn đang chen lấn nhau để ra khỏi nhà thờ.

Ẩu đả nổ ra giữa các binh lính của Ravka và Fjerda trong lúc Sturmhond, Zoya cùng Genya cố gắng thoát thân.

Các thành viên Hội đồng Thương buôn và một tốp thị tuần đã bao vay Van Eck.

Lão ta sẽ không trốn đi đâu được.

Giây lát sau, Kaz trông thấy Inej và Jesper len qua biển người đang tháo chạy trên lối đi chính.

Kaz để cho mắt mình kiểm tra lnej.

Người cô bê bết máu, mắt sưng đỏ, nhưng có vẻ như cô ổn.

“Kuwei…”

Inej lên tiếng.

“Bây giờ chúng ta không thể giúp cậu ấy được,” Kaz đáp.

“Wylan!”

Jesper thốt lên khi trông thấy những vết thương trên mặt cậu.

“Thánh thần ơi, mấy cái này là thật à?”

“Anika và Keeg đã hơi mạnh tay với cậu ấy.”

“Tôi muốn nó phải đáng tin,” Wylan đáp.

“Tôi ngưỡng mộ sự hết mình của cậu đấy, Kaz nói.

Jesper, cậu ở lại với Wylan.

Có thể họ sẽ cần thẩm vấn cậu ấy.”

“Tôi ổn,” Wylan đáp, mặc dù môi cậu nhóc sưng to đến mức nghe câu đó giống như “Tôi ổng” hơn.

Kaz gật đầu với Matthias trong lúc hai thị tuần đưa Kuwei lên cáng.

Thay vì len qua đám đông, họ đi tới vòm cửa dẫn vào ngón út của Ghezen để ra ngoài theo hướng đó.

Matthias đi theo họ cùng với ông thầy lang.

Không được để bất kì ai nghi ngờ về cái chết của Kuwei.

Kaz và Inej cũng đi theo nhóm người, nhưng cô dừng lại ngay khi vừa qua cửa.

Kaz trông thấy cô ngoái đầu, anh nhìn theo và trông thấy Van Eck đang bị vây giữa các Uỷ viên hội đồng giận dữ, mắt lão nhìn cô trừng trừng.

Anh nhớ lại lời cô đã nói với lão ta trên cầu Thiện Nữ, ông sẽ gặp lại tôi một lần nữa, nhưng chỉ một lần thôi.

Căn cứ theo cái nhấp nhô đầy căng thẳng của yết hầu Van Eck, lão cũng đang nhớ đến câu nói đó.

Inej khẽ gật đầu.

Họ nhanh chóng đi qua gian ngón út và tiến vào nhà nguyện.

Nhưng cửa mở ra con kênh đã bị khoá từ bên ngoài.

Phía sau lưng họ, cánh cửa nhà nguyện đóng sầm lại.

Pekka Rollins tựa lưng vào cửa, vây quanh là bốn thuộc hạ trong băng Kim Sư.

“Đúng lúc ghê,” Kaz bình phẩm.

“Tao đoán mày cũng đã dự tính chuyện này, đúng không thằng khốn?”

“Tôi biết lần này ông sẽ không để cho tôi thoát thân.”

“Dĩ nhiên,” Rollins công nhận.

“Khi mày tới tìm tao xin tiền, lẽ ra tao

nên moi ruột mày để tránh phiền phức sau này.

Tao đã ngu.”

Rollins bắt đầu cởi áo khoác.

“Phải thừa nhận là tao đã không đánh giá đúng mày, ranh con ạ, nhưng giờ thì xin chúc mừng.

Mày xứng đáng để tao bỏ thời gian đập mày tới chết bằng chính cây gậy của mày.”

Inej rút dao ra.

“Đừng, đừng nhé, cô bé,” Rollins cảnh cáo.

“Đây là chuyện giữa tao và thằng ranh này.”

Kaz gật đầu với Inej.

“Lão ta nói đúng.

Bọn anh cần nói chuyện.”

Rollins bật cười, lão mở nút và xắn tay áo.

“Giờ không phải là lúc để nói chuyện, nhóc à.

Mày còn trẻ, nhưng tao thì đã đánh đấm từ trước cả khi mày nứt mắt ra đời.”

Kaz không nhúc nhích, anh giữ nguyên bàn tay đặt trên cây gậy chống.

“Tôi không cần đánh nhau với ông, Rollins.

Tôi sẽ đề nghị với ông một cuộc đổi chác.”

“A, một cuộc đổi chác công bằng tại nhà thờ Barter.

Mày đã làm tao mất rất nhiều tiền và nhận lấy cả đống rắc rối vì mưu đồ của mày.

Tao không nghĩ mày có thể đề nghị được thứ gì khiến tao thoả mãn hơn việc kết liễu mày bằng đôi tay này.”

“Hoàng tử Kaelish.”

“Ba tầng của thiên đường, sòng bài đẹp nhất Đông Stave.

Mày định cài bom ở đó hay sao?”

“Không, ý tôi là hoàng tử Kaelish bé bỏng kìa.”

Rollins cứng người.

“Thích đồ ngọt và có mái tóc đỏ giống hệt cha.

Không biết giữ gìn đồ chơi gì cả.”

Kaz thò tay vào trong áo khoác và lôi ra một con sư tử nhỏ móc bằng sợi len.

Nó có màu vàng nhạt, bờm rối tung và lấm chấm vết bẩn.

Kaz thả con sư tử xuống sàn.

Rollins nhìn nó trân trối.

“Cái gì đây?”

Lão hỏi, giọng thẽ thọt như một lời thì thầm.

Thế rồi, như thể định thần lại, lão quát lên, “Cái gì đây?”

“Ông biết nó là cái gì mà, Rollins.

Không phải chính ông là người đã nói với tôi rằng ông và Van Eck giống nhau như thế nào sao?

Những con người xây dựng nên thứ gì đó để truyền lại cho đời sau.

Cả hai đều bận tâm tới di sản của mình.

Để làm gì nếu như không ai kế thừa nó?

Thế nên tôi tự hỏi, ông xây dựng cho ai?

Rollins siết tay lại, những khối cơ trên cẳng tay lão phồng lên, quai hàm lão rung rung.

“Tao sẽ giết mày, Brekker.

Tao sẽ giết mọi thứ mày yêu quý.”

Giờ đến lượt Kaz bật cười.

“Mấu chốt nằm ở chỗ đừng yêu thương bất cứ thứ gì, Rollins.

Ông có thể đe doạ tôi mọi điều ông thích.

Ông có thể moi ruột tôi tại chỗ.

Nhưng ông không có cách nào tìm lại con trai mình kịp lúc để cứu nó.

Tôi có nên để cho nó được gửi đến cửa nhà ông trong tình trạng cổ họng cắt lìa, trên người mặc bộ đồ đẹp nhất không?”

“Thằng chó Barrel khốn kiếp,” Rollins chửi.

“Mày muốn cái quái gì ở tao hả?”

Kaz cảm thấy sự hài hước của anh biến mất, và cánh cửa tăm tối mở ra trong lòng anh.

“Tôi muốn ông nhớ lại.”

“Nhớ chuyện gì?”

“Bảy năm về trước, ông đã lừa gạt hai thằng bé đến từ phương nam.

Hai đứa trẻ nhà nông quá khờ khạo không hiểu sự đời.

Ông đã đón nhận bọn tôi, làm cho bọn tôi tin ông, thết đãi chúng tôi món hutspot với bà vợ và đứa con gái giả hiệu của ông.

Ông đã lấy đi niềm tin của bọn tôi, tiền bạc của bọn tôi, lấy đi mọi thứ.”

Anh có thể thấy Rollins đang ngẫm nghĩ.

“Không nhớ được à?

Có quá nhiều trường hợp như thế, đúng không?

Đã có bao nhiêu vụ lừa đảo trong năm đó?

Bao nhiêu con bồ câu xui xẻo đã bị ông vặt lông trên phố?”

“Mày không có quyền…”

Pekka giận dữ nói, lồng ngực lão phập phồng theo những hơi thở điên dại, đôi mắt lão đảo tới đảo lui chỗ con sư tử đồ chơi.

“Đừng lo.

Con trai ông chưa chết, vẫn chưa.”

Kaz nhìn kĩ khuôn mặt của Pekka.

“Đây này, để tôi giúp ông.

Ông đã dùng cái tên Jakob Hertzoon.

Ông thuê anh trai tôi làm chân chạy việc.

Ông đã mở một quán cà phê.”

“Đối diện công viên,” Pekka nói luôn.

“Nơi có những cây anh đào.”

“Đúng vậy.”

“Chuyện đã lâu lắm rồi, nhóc.”

“Ông đã lấy của bọn tôi mọi thứ.

Bọn tôi đã phải lang thang ngoài đường, và rồi bọn tôi chết, cả hai anh em tôi, theo hai cách riêng.

Nhưng chỉ có một đứa tái sinh.”

“Tất cả mọi chuyện là vì vụ đó?

Lí do mày lại nhìn tao bằng đôi mắt cá mập như vậy?”

Pekka lắc đầu.

“Bọn mày là hai con bồ câu, và tao tình cờ là kẻ đã vặt lông hai đứa.

Nếu không phải tao thì một ai khác cũng sẽ làm.”

Cánh cửa tăm tối mở ra rộng hơn.

Kaz muốn bước vào trong đó.

Anh sẽ không bao giờ lành lặn nữa.

Jordie sẽ không thể quay về.

Nhưng Pekka Rollins có thể học được sự tuyệt vọng mà họ từng trải qua.

“Ồ, thế thì xui cho ông rồi,” anh nói.

“Ông và con trai của ông.”

“Tao nghĩ mày chỉ loè bịp thôi.”

Kaz mỉm cười.

“Tôi đã chôn con trai ông,” anh nhếch mép, tận hưởng

sự khoái trá mà câu nói mang lại.

“Tôi đã chôn sống nó, sâu ba thước đất, giữa một mảnh ruộng cằn.

Tôi có thể nghe thấy nó khóc gọi cha suốt.

Ba ơi, ba ơi.

Tôi chưa bao giờ nghe một âm thanh nào ngọt ngào hơn.”

“Kaz…”

Inej lên tiếng, mặt tái đi.

Cô sẽ không tha thứ cho anh chuyện này.

Rollins lao tới, túm lấy vạt áo anh, và đẩy anh vào tường nhà nguyện.

Kaz để mặc cho lão làm.

Lão mướt mồ hôi như tắm, khuôn mặt tím ngắt vì tuyệt vọng và kinh hoàng.

Kaz ghi nhận tất cả.

Anh muốn nhớ từng khoảnh khắc của chuyện này.

“Nói cho tao biết nó đang ở đâu, Brekker.”

Lão lại đập đầu anh vào tường một lần nữa.

“Nói mau.”

“Đây là một cuộc đổi chác rất đơn giản, chỉ cần nói được tên của anh trai tôi, và con trai ông sẽ sống.”

“Brekker…”

“Nói ra cái tên của anh trai tôi,” Kaz nhắc lại.

“Một gợi ý nữa nhé?

Ông đã mời tôi tới một căn nhà trên phố Zelverstraat.

Vợ ông chơi dương cầm.

Tên bà ta là Margit.

Ông có một con chó lông bạc, và ông đặt tên cho con gái mình là Saskia.

Con bé thắt sợi ruy băng đỏ ở đuôi tóc.

Ông thấy chưa?

Tôi còn nhớ.

Tôi nhớ tất cả mọi chuyện.

Dễ quá mà.”

Rollins buông anh ra, lão đi tới đi lui trong nhà nguyện, hai tay vò đầu bứt mái tóc lưa thưa.

“Hai thằng bé,” lão nói nhanh, cố lục tìm trong trí nhớ, và quay người, chỉ tay vào Kaz.

“Nhớ rồi.

Hai thằng bé đến từ Lij.

Bọn mày có một gia tài nhỏ.

Anh trai mày mơ làm người môi giới, muốn trở thành thương gia và giàu có, giống như mọi thằng ngu bước xuống từ những con tàu chở khách tới Barrel.”

“Đúng rồi.

Hai thằng ngu để cho ông lừa.

Giờ thì nói cho tôi biết tên của anh ấy.”

“Kaz và…”

Rollins bấu tay vào đỉnh đầu.

Lão sải bước tới lui trong nhà nguyện, miệng thở hổn hển như thể vừa chạy xuyên thành phố.

“Kaz và…”

Lão quay về phía anh.

“Tao có thể làm cho mày giàu có, Brekker à.”

“Tôi tự làm mình giàu có cũng được.”

“Tao có thể cho mày cả Barrel, tầm ảnh hưởng mà mày có nằm mơ cũng không có được.

Bất cứ cái gì mày muốn.”

“Đưa anh trai tôi từ cõi chết trở về.”

“Nó là thằng ngu, và mày thừa biết điều đó!

Nó cũng giống như mọi con mồi khác, cứ nghĩ mình tinh ranh hơn cả hệ thống, chăm chăm muốn làm giàu nhanh.

Người trung thực thì ai mà lừa được, đúng không Brekker?

Mày thừa biết như vậy!”

Lòng tham là đòn bẩy của tôi.

Pekka Rollins đã dạy cho anh bài học đó, và lão đã đúng.

Họ là những thằng ngu.

Có lẽ một ngày nào đó, Kaz sẽ tha thứ được cho Jordie vì đã không là người anh trai hoàn hảo mà anh giữ trong tim.

Thậm chí anh có thể khoan dung với chính mình vì đã là một cậu bé khờ khạo, cả tin rằng có người chỉ muốn tử tế.

Nhưng đối với Rollins, sẽ không có bất cứ sự ân xá nào hết.

“Nói cho tao biết thằng bé đang ở đâu, Brekker,” Rollins hét vào mặt anh.

“Mày phải nói cho tao biết con trai tao đang ở đâu!

“Hãy nói ra cái tên của anh trai tôi.

Nói ra như người ta vẫn làm trong các màn biểu diễn ảo thuật tại Đông Stave.

Như một câu thần chú.

Ông muốn con trai của ông à?

Con trai ông có quyền gì mà được hưởng một cuộc sống nâng niu chăm bẵm?

Thằng bé có khác gì với tôi hay anh trai tôi đâu?

“Tao không biết tên anh mày.

Tao không biết!

Tao không nhớ.

Tao đã bịa ra một cái tên giả.

Tao đã lừa một chút tiền của tụi mày.

Tao tưởng hai đứa mày sẽ chỉ khó khăn trong vài ngày trước khi về lại quê.”

“Không, không phải.

Ông không hề nghĩ tới chúng tôi một lần nào nữa.”

“Xin anh đấy, Kaz,” Inej thì thầm.

“Đừng làm chuyện này.

Đừng như thế này.”

Rollins rên rỉ.

“Tao xin mày…”

“Thật à?”

“Đồ chó đẻ.”

Kaz xem đồng hồ.

“Mất bao nhiêu thời gian nói chuyện trong khi con trai ông vẫn đang chìm trong bóng tối.”

Pekka liếc nhìn đám thuộc hạ.

Lão đưa tay vuốt mặt.

Thế rồi thật chậm rãi, với cử động nặng nề như thể đang phải ép mọi thớ cơ trong người làm theo lệnh, Rollins quỳ xuống.

Kaz trông thấy mấy đứa Kim Sư lắc đầu.

Yếu đuối không bao giờ giành được sự tôn trọng tại Barrel, dù là vì lí do tốt đẹp đến đâu chăng nữa.

“Tao xin mày đấy, Brekker.

Thằng bé là tất cả những gì tao có.

Hãy để tao gặp nó.

Hãy để tao cứu nó.”

Kaz nhìn Pekka Rollins, nhìn kẻ mang tên Jakob Hertzoon rốt cuộc cũng quỳ gối trước anh, với đôi mắt đẫm lệ, nỗi đau hằn trên từng nếp nhăn của khuôn mặt đỏ ké.

Từng bước một.

Đây mới là khỏi đầu.

“Con trai ông đang ở góc cực nam của cánh đồng Tarmakker, ba cây số về phía đông Appelbroek.

Tôi đã đánh dấu địa điểm đó bằng một lá cờ đen.

Nếu ông đi ngay bây giờ, ông sẽ có thừa thời gian để cứu nó.”

Pekka lảo đảo đứng dậy rồi ra lệnh.

“Bảo bọn nó chuẩn bị ngựa.

Và tìm cho ta một thầy lang.”

“Còn dịch bệnh…”

“Người phụ trách Cung Lục Ngọc ấy.

Lôi cổ anh ta khỏi phòng bệnh nếu phải làm thế.”

Lão chọc một ngón tay vào ngực Kaz.

“Mày sẽ trả giá cho chuyện này, Brekker.

Mày sẽ trả giá đến mãn kiếp.

Sẽ không có điểm dừng cho nỗi thống khổ của mày.”

Kaz đáp lại ánh mắt của Pekka.

“Đau khổ cũng giống như mọi thứ khác.

Sống chung với nó đủ lâu, và ông sẽ học được cách thích nó.”

“Đi thôi,” Rollins nói.

Lão loay hoay với cánh cửa khoá.

“Cái chìa khoá chết tiệt đâu rồi?”

Một tên thuộc hạ cầm chìa tiến đến, nhưng Kaz đã nhận ra khoảng cách mà hắn giữ với ông trùm.

Bọn chúng sẽ lan truyền chuyện Pekka Rollins đã quỳ gối như thế nào ra khắp Barrel trong đêm nay, và lão hẳn cũng ý thức được điều đó.

Lão yêu thằng con trai đủ nhiều để đánh đổi toàn bộ danh tiếng cũng như sự kiêu hãnh của mình.

Kaz đồ rằng việc này có thể mang ý nghĩa gì đó.

Hoặc sẽ là vậy với một ai đó.

Cánh cửa bật mở, và bọn Kim Sư biến mất trong nháy mắt.

Inej ngồi bệt xuống đất, áp hai lòng bàn tay vào mắt.

“Liệu lão có đến kịp không?”

“Kịp cái gì?”

“Kịp để…”

Cô ngẩng lên nhìn anh.

Anh sẽ nhớ vẻ mặt ngạc nhiên này của cô.

“Anh không hề làm điều đó.

Anh không chôn sống thằng bé.”

“Tôi thậm chí chưa bao giờ trông thấy nó.”

“Nhưng còn con sư tử…”

“Đoán mò đấy.

Niềm tự hào của Pekka về băng Kim Sư khá là dễ đoán.

Thằng bé chắc phải có đến cả ngàn con sư tử bông để chơi và một con sư tử gỗ to đùng để cưỡi.”

“Làm sao anh biết lão ta có một đứa con?”

“Tôi đoán ra điều đó vào cái đêm ở nhà Van Eck.

Rollins lải nhải không ngừng về di sản mà mình đang tạo dựng.

Tôi biết lão có một ngôi nhà ở vùng quê và thích rời thành phố.

Tôi từng đoán lão có một cô bồ nhí lẩn trốn đâu đó.

Nhưng những gì lão nói vào đêm hôm đó đã khiến tôi nghĩ lại.”

“Và tại sao lão có một cậu con trai chứ không phải một cô con gái?

Cái đó anh cũng đoán nốt à?”

“Cái này thì có nghiên cứu hẳn hoi.

Lão đã đặt tên cho sòng bạc mới của mình là Hoàng Tử Kaelish.

Hẳn phải là một cậu bé tóc đỏ.

Và đứa bé nào lại không thích đồ ngọt kia chứ?”

Inej lắc đầu.

“Lão sẽ tìm thấy gì trên cánh đồng?”

“Chẳng có gì.

Chắc chắn người của lão sẽ báo cáo rằng con lão đang bình an vô sự và làm những trò mà bọn con nít được nuông chiều vẫn làm khi cha chúng vắng nhà.

Nhưng hi vọng rằng Pekka vẫn sẽ dành vài giờ đào bới đất và đi loanh quanh trong vô vọng.

Điều quan trọng là lão sẽ không có mặt ở đây để bảo vệ cho những lời tuyên bố của Van Eck, và mọi người sẽ nghe đồn rằng lão nhanh chóng rời khỏi thành phố cùng một thầy lang.”

Inej ngước nhìn Kaz, và anh có thể thấy cô đã ghép được mảnh còn thiếu.

“Các ổ dịch.”

“Hoàng Tử Kaelish.

Cung Lục Ngọc.

Tiệm Kẹo.

Tất cả đều là những cơ sở làm ăn do Pekka Rollins làm chủ.

Chúng sẽ bị đóng cửa và cách li trong nhiều tuần lễ.

Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu chính quyền dẹp tiệm vài cơ sở của lão như một biện pháp đề phòng, nếu họ cho rằng nhân viên của lão là nguồn lây truyền dịch bệnh.

Pekka sẽ phải mất ít nhất một năm để khôi phục về mặt tài chính, thậm chí hơn nếu sự hoảng loạn kéo dài đủ lâu.

Tất nhiên, nếu Hội đồng cho rằng lão đã góp phần dựng lên liên doanh rởm, có thể họ sẽ không bao giờ cho phép lão kinh doanh trở lại.”

“Định mệnh có kế hoạch cho tất cả chúng ta,” Inej nói khẽ.

“Và đôi khi định mệnh cũng cần một chút trợ giúp.”

Inej nhíu mày.

“Em tưởng anh và Nina đã chọn bốn địa điểm để dịch bệnh bùng phát.”

Kaz vuốt lại tay áo.

“Tôi cũng đã bảo cô ấy ghé qua Vườn Thú.

Inej mỉm cười, đôi mắt đỏ au, má vằn vện bụi bẩn.

Vì nụ cười này mà anh có chết cũng cam lòng.

Kaz xem giờ.

“Chúng ta đi thôi.

Chuyện này chưa xong đâu.”

Anh chìa cho cô một bàn tay đeo găng.

Inej hít một hơi thật sâu rồi nắm lấy nó, đứng dậy như sợi khói từ một ngọn lửa.

Nhưng cô không buông.

“Anh đã cho thấy sự nhân từ của mình, Kaz.

Anh tốt hơn lão ta.”

Lại nữa rồi, Inej cứ đi tìm đức hạnh ở nơi nó không tồn tại.

“Inej à, tôi chỉ có thể giết con trai của Pekka một lần.”

Anh đẩy cửa bằng cây gậy chống.

“Nhưng lão có thể tưởng tượng cái chết của thằng bé cả ngàn lần.”

22

MATTHIAS

Anh chạy bên cạnh cơ thể bất động của Kuwei.

Hai thị tuần đặt cậu lên cáng, và họ đang chạy về phía kênh Beurs trong tiếng còi rền rĩ báo hiệu bệnh dịch.

Ông thầy lang gặp khó khăn trong việc đuổi theo họ, tấm áo học sĩ bay lất phất.

Khi họ tới được bến cảng, thầy lang bắt mạch cổ tay Kuwei.

“Chuyện này thật vô ích.

Cậu ta không còn mạch.

Viên đạn chắc đã xuyên qua tim.”

Chỉ cần đừng có kéo cái áo lên, Matthias thầm mong.

Jesper đã sử dụng một viên đạn bằng sáp và cao su để nó vỡ ra khi trúng vào cái túi gắn phía sau nút áo của Kuwei, làm túi thủng và máu bắn ra.

Hỗn hợp máu và mảnh xương vụn được lấy từ một tiệm thịt, nhưng ông thầy lang còn khuya mới biết được chuyện đó.

Với mọi người trong nhà thờ, rõ ràng Kuwei đã bị bắn trúng tim và chết ngay tại trận.

“Chết tiệt,” thầy lang thốt lên.

“Thuyền cứu thương đâu rồi?

Cả nhân viên cảng vụ nữa?”

Matthias nghĩ anh có thể trả lời những câu hỏi đó một cách dễ dàng.

Nhân viên cảng vụ đã từ bỏ vị trí ngay khi nghe thấy tiếng còi báo động, và từ điểm quan sát khá hẹp này, họ cũng có thể thấy dòng kênh ken đầy các phương tiện giao thông đường thuỷ.

Mọi người la hét và dùng mái chèo đẩy vào mạn thuyền của nhau, cố gắng thoát khỏi thành phố trước khi các con kênh bị đóng và tất cả bị mắc kẹt trong một ổ dịch.

“Đây này, ông gì ơi!”

Một người đàn ông ngồi trên thuyền đánh cá gọi

to.

“Chúng tôi có thể đưa các ông tới bệnh viện.”

Thầy lang tỏ ra cảnh giác.

“Có ai trên thuyền cho thấy dấu hiệu nhiễm bệnh không?”

Người đánh cá chỉ vào một phụ nữ bụng chửa vượt mặt đang nằm ở phía cuối thuyền, được che chắn bởi một tấm vải bạt.

“Không, thưa ông.

Chỉ có hai chúng tôi, và cả hai đều khoẻ mạnh.

Nhưng vợ tôi sắp sinh.

Chúng tôi cần một người như ông đi cùng, phòng khi chúng tôi không kịp đến bệnh viện.”

Khuôn mặt thầy lang hơi tái đi.

“Tôi không…

Tôi không xử lí các vấn đề của phụ nữ.

Hơn nữa, sao chị ta không đẻ ở nhà?”

Ông ta hỏi với giọng nghi ngờ.

Ông ta chẳng bận tâm chuyện sống chết của Kuwei, Matthias nghĩ bụng.

Ông ta chỉ lo cho bản thân thôi.

“Chúng tôi không có nhà,” người đàn ông đáp.

“Mưu sinh trên con thuyền này thôi.”

Thầy lang ngoái nhìn dòng người hoảng loạn đang túa ra từ cửa chính của nhà thờ.

“Thôi được rồi, đi thôi.

Cậu ở lại đây.”

Ông ta nói với Matthias.

“Tôi là vệ sĩ được cậu ta lựa chọn,” Matthias phản đối.

“Tôi sẽ đi theo cậu ta.”

“Không có chỗ cho tất cả mọi người đâu,” người đánh cá nói.

Các sĩ quan thị tuần thì thầm trao đổi với nhau vài lời bực bội, rồi một trong số họ lên tiếng, “Chúng tôi sẽ đưa cậu ta lên thuyền, nhưng sau đó chúng tôi phải quay về trụ sở.

Quy trình là vậy.”

Theo lời Kaz thì các sĩ quan thị tuần sẽ không muốn ở gần bệnh viện

khi dịch bệnh nổ ra, và cậu ta đã đúng.

Matthias không thể trách họ được.

“Nhưng có thể chúng tôi sẽ cần được bảo vệ,” thầy lang phản đối.

“Cho một người đã chết á?”

Sĩ quan thị tuần hỏi.

“Cho tôi!

Tôi là một thầy lang di chuyển giữa vùng dịch.”

Tay sĩ quan nhún vai.

“Quy trình là vậy rồi.”

Họ khênh cáng lên thuyền rồi bỏ đi.

“Chẳng có trách nhiệm gì cả,” thầy lang gắt gỏng.

“Trông cậu ta có vẻ không ổn,” người đánh cá nói sau khi liếc nhìn Kuwei.

“Thằng bé vô vọng rồi,” thầy lang nói.

“Nhưng chúng ta vẫn phải đưa nó đi.

Giống như lời của các anh bạn mặc cảnh phục vừa nói, “Quy trình là vậy.”

Người phụ nữ mang thai bật ra một tiếng rên lớn khủng khiếp, và Matthias khoái chí nhìn thầy lang vội vàng lùi về mạn thuyền, suýt nữa hất đổ một xô mực.

Hi vọng ông già yếu bóng vía này sẽ tránh xa Nina và cái bụng bầu giả của cô.

Thật khó mà rời mắt khỏi cô khi anh chỉ muốn yên tâm rằng cô an toàn.

Tuy vậy, chỉ cần một cái liếc mắt là anh biết cô bình an vô sự.

Khuôn mặt cô ngời sáng, đôi mắt long lanh như ngọc lục bảo.

Đây là điều vẫn xảy ra khi cô sử dụng năng lực, dù là dưới dạng nào.

Phi tự nhiên, giọng nói già cỗi, bướng bỉnh trong đầu anh vang lên.

Đẹp đẽ, một giọng nói khác bình phẩm.

Nó từng cất lên vào cái đêm anh giúp Kuwei và Jesper trốn khỏi đảo Mạng Đen.

Nó mới mẻ, kém vững vàng hơn, nhưng lớn hơn bao giờ hết.

Matthias gật đầu với người đánh cá và Rotty nháy mắt đáp lại cùng một cái nhếch mép bên dưới bộ râu giả.

Anh ta nhanh chóng đưa con thuyền xuôi theo dòng kênh.

Khi họ đến gần cầu Zents, Matthias thấy một con tàu ve chai đang dừng bên dưới cầu.

Thân tàu ve chai quá lớn khiến cho hai chiếc thuyền va vào nhau khi Rotty cố lách qua.

Một cuộc cãi vã ầm ĩ nổ ra giữa người thu gom ve chai và Rotty.

Nina lại rên lên một tiếng nữa, đủ lớn và đủ dài để Matthias tự hỏi liệu cô có đang cố cạnh tranh với còi cảnh báo dịch bệnh hay không.

“Hay là cô thử hít thở sâu xem?”

Thầy lang đề nghị, lưng vẫn dựa vào thành thuyền.

Matthias liếc nhanh Nina để cảnh báo cô.

Họ có thể làm giả chuyện bầu bí, nhưng một ca sinh nở thì không.

Ít nhất thì anh cũng không nghĩ họ làm được, với Kaz thì anh không chắc chắn được bất cứ điều gì.

Ông thầy lang quát bảo Matthias đưa túi dụng cụ cho ông ta.

Anh giả vờ loay hoay với cái túi một lúc và lén rút ra cái ống nghe nhét vào dưới một đống lưới, phòng khi ông ta muốn nghe cái bụng bầu của Nina.

Matthias đưa túi cho thầy lang.

“Ông cần gì thế?”

Anh hỏi và dùng thân hình to lớn che chắn tầm nhìn của ông ta trong lúc họ đánh tráo Kuwei với một cái xác đưa từ tàu ve chai sang.

Họ đã đánh cắp cái xác từ nhà xác vào đêm qua.

Ngay khi Sturmhond đưa được Genya ra khỏi nhà thờ, chị đã ghé qua đây để chỉnh lại khuôn mặt và nâng cao thân nhiệt của thi thể.

Quan trọng nhất là phải làm cho nó trông như mới chết.

“Thuốc giảm đau,” thầy lang đáp.

“Cái đó có an toàn cho bà bầu không?”

“Cho tôi.”

Người gom ve chai rủa xả Rotty thêm vài câu - Specht rõ ràng đang rất thích thú với vai diễn của mình.

Sau đó, thuyền đánh cá rời khỏi cầu Zents và di chuyển nhanh hơn, do lúc này họ đã qua khỏi đoạn đông đúc nhất của dòng kênh.

Matthias không thể không ngoái nhìn lại phía sau.

Anh trông thấy những bóng người đang di chuyển phía sau những két rượu vang trên con tàu ve chai, vẫn còn nhiều công việc phải làm.

“Chúng ta đang đi đâu vậy?”

Thầy lang đột ngột hỏi.

“Tôi tưởng chúng ta đang tới bệnh viện Đại học?”

“Tắc kênh,” Rotty nói dối.

“Vậy thì đưa chúng tôi tới bệnh viện Ghezendaal, nhanh lên.”

Ý đồ của họ là thế.

Bệnh viện Đại học ở gần hơn, nhưng Ghezendaal nhỏ hơn, ít nhân viên hơn, và chắc chắn đang bị ngợp trước sự hoảng loạn gây ra bởi dịch bệnh.

Một nơi hoàn hảo để đưa vào một người mà bạn không muốn bị xem xét quá kĩ.

Họ dừng thuyền tại bến của bệnh viện.

Các nhân viên ở đây giúp Rotty đưa Nina lên bờ, rồi khiêng chiếc cáng lên theo.

Nhưng ngay khi họ đến cửa bệnh viện, người y tá trực quan sát thi thể trên cáng và lên tiếng, “Tại sao các người lại đem một xác chết tới đây?”

“Quy trình là vậy!”

Thầy lang nói.

“Tôi chỉ đang cố làm tròn bổn phận.”

“Chúng tôi đang chuẩn bị cách li vì bệnh dịch.

Không có giường để người chết nằm đâu.

Hãy đưa cậu ta vòng ra sau, tới bến chuyển hàng.

Tàu dọn xác sẽ đưa cậu ta đi vào đêm nay.”

Các nhân viên bệnh viện khênh cáng đi vòng qua góc tường.

Ngày mai, thi thể của một người lạ sẽ được hoả táng, và cậu Kuwei thật sẽ được tự do sống cuộc đời mình chọn mà không phải liên tục ngoái nhìn sau lưng.

“Ờ, ít nhất cũng nên giúp người này, cô ta sắp…”

Thầy lang nhìn quanh quất nhưng Nina và Rotty đã biến mất.

“Họ vào trong rồi,” Matthias đáp.

“Nhưng…”

Y tá gắt lên.

“Hai người định đứng đây chặn cửa hay vào trong và giúp chúng tôi một tay?”

“Tôi… có người cần tôi ở nơi khác,” thầy lang nói, phớt lờ cái nhìn hoài nghi của y tá.

“Bất lịch sự ghê,” ông lắp bắp, tay phủi bụi trên áo trong khi họ rời khỏi bệnh viện.

“Dù gì tôi cũng là một học giả của trường đại học.”

Matthias nghiêng mình.

“Xin cảm ơn ông vì những cố gắng giúp đỡ thân chủ của tôi.”

“À, ờ, phải rồi.

Tôi chỉ làm theo bổn phận.”

Thầy lang bối rối nhìn dãy nhà và hàng quán đã bắt đầu đóng cửa.

“Tôi thực sự phải tới… phòng khám.”

“Tôi tin chắc họ sẽ rất mừng vì có sự chăm sóc của ông,” Matthias nói, chắc mẩm ông ta sẽ chạy về nhà và cách li bản thân với những con người chẳng biết trông cậy vào ai.

“Vâng, vâng,” thầy lang đáp.

“Chúc một ngày tốt lành, giữ sức khoẻ nhé.”

Nói đoạn ông ta vội vã bỏ đi trên con phố hẹp.

Matthias mỉm cười trong lúc chạy theo hướng ngược lại.

Anh sẽ gặp những người còn lại tại cầu Zents, hi vọng là Kuwei sẽ nhanh chóng tỉnh dậy.

Anh sẽ gặp lại Nina và có lẽ họ sẽ có thể bắt đầu nghĩ tới một tương lai.

“Matthias Helvar!”

Một giọng nói the thé gắt gỏng vang lên.

Matthias quay lại.

Một thiếu niên đang đứng giữa con phố vắng ngắt.

Cậu drüskelle có mái tóc bạch kim từng quắc mắt với anh trong phiên đấu giá.

Cậu ta mặc đồng phục xám, không phải bộ màu đen của sĩ quan.

Cậu ta đã bám theo anh từ nhà thờ đến tận đây sao?

Cậu ta đã nhìn thấy gì?

Cậu nhóc không thể lớn hơn mười bốn tuổi được.

Bàn tay cầm súng của cậu ta run lên.

“Ta buộc ngươi tội phản trắc,” cậu nhóc nói, giọng lạc đi, “phản quốc và phản bội các huynh đệ drüskelle.”

Matthias giơ hai tay lên.

“Tôi không có vũ khí.”

“Ngươi là một kẻ phản bội quê hương và thánh thần.”

“Chúng ta chưa từng gặp nhau trước đây.”

“Ngươi đã giết bạn bè ta.

Trong cuộc đột kích Lâu Đài Băng.”

“Tôi không giết drüskelle.”

“Đồng bọn của ngươi giết.

Ngươi là một kẻ sát nhân.

Ngươi đã hạ nhục chỉ huy Brum.”

“Tên cậu là gì?”

Matthias nhẹ nhàng hỏi.

Cậu nhóc này không muốn làm hại ai.

“Không quan trọng.”

“Cậu mới vào lực lượng à?’

“Sáu tháng,” cậu ta đáp, cằm hếch lên.

“Tôi gia nhập hồi còn bé hơn cả cậu.Tôi biết ở đó như thế nào, tôi biết những suy nghĩ mà họ nhét vào đầu cậu.

Nhưng cậu không cần làm chuyện này.”

Cậu nhóc lắc đầu càng dữ hơn.

“Ta buộc ngươi tội phản trắc,” cậu ta lặp lại.

“Tôi có tội,” Matthias nói.

“Tôi đã làm những chuyện khủng khiếp.

Và nếu như cậu muốn, tôi sẽ cùng cậu quay về nhà thờ ngay bây giờ.

Tôi sẽ đối diện với bạn bè và chỉ huy của cậu, chúng ta sẽ chờ xem phán quyết như thế nào.”

“Ngươi nói láo.

Ngươi thậm chí còn để họ giết chết thằng bé người Shu mà đáng lẽ ngươi phải bảo vệ.

Tốt, vậy là cậu ta tin rằng Kuwei đã chết.”

“Tôi sẽ đi với cậu.

Tôi bảo đảm.

Và cậu có súng.

Chẳng việc gì phải sợ tôi cả.”

Matthias bước tới.

“Đứng yên đó!”

“Đừng sợ.

Sợ hãi là thứ họ dùng để kiểm soát cậu.”

Chúng ta sẽ tìm cách làm họ thay đổi suy nghĩ.

Cậu ta chỉ mới gia nhập lực lượng được sáu tháng.

Cậu ta có thể bị tác động.

“Có rất nhiều thứ trên đời này cậu không cần phải sợ, nếu như cậu mở mắt ra.”

“Ta đã nói ngươi đứng yên đó.”

“Cậu không muốn làm hại tôi.

Tôi biết.

Tôi từng giống như cậu.”

“Ta hoàn toàn không giống ngươi,” cậu nhóc nói, đôi mắt xanh nháng lửa.

Matthias nhìn thấy cơn thịnh nộ trong đó, một sự điên dại.

Anh biết nó quá rõ.

Nhưng anh vẫn ngạc nhiên khi nghe thấy tiếng súng nổ.

23

NINA

Nina tháo chiếc váy dài và cái bụng bầu giả mà cô đã đeo trùm bên ngoài áo dài, trong khi Rotty cởi bỏ bộ râu và áo khoác.

Họ cột tất cả lại thành một khối để Nina ném xuống nước sau khi leo lên chiếc tầu thu gom ve chai đậu bên dưới cầu Zents.

“Nhẹ nợ,” cô nói trong khi chúng chìm xuống nước.

“Chút tình mẫu tử ít ỏi,” Kaz bình phẩm và bước ra từ phía sau mấy két rượu.

“Inej đâu rồi?”

“Em ổn,” Inej lên tiếng sau lưng Kaz.

“Nhưng Kuwei…”

“Em lại bị thương rồi,” Nina nhận xét sau khi lách qua dãy thùng cao nghệu để nhập bọn với họ.

Lúc này con kênh đã bớt đông đúc, nhưng họ vẫn phải cẩn trọng.

“Mắt em bị làm sao thế?”

“Lẽ ra em nên bảo chị đi hỏi Bạch Kiếm, nhưng mà…”

Inej nhún vai.

“Chị hi vọng con nhỏ đó chết đau đớn.”

“Chị Nina.”

“Sao nào?

Chúng ta không thể vừa nhân từ vừa thanh thản được.”

Họ đang ở trong một không gian tối và chật hẹp tạo ra bởi những két rượu vang và vòm cầu bằng đá.

Chiếc cáng cùng với Kuwei được đặt trên một mặt bàn ghép từ các két rượu.

Genya đang tiêm thứ gì đó vào cánh tay cậu nhóc dưới sự quan sát của Zoya và người mà Nina đoán là Sturmhond.

“Cậu ta thế nào rồi?”

Cô hỏi.

“Nếu cậu ta có mạch thì tôi cũng không bắt được,” Genya đáp.

“Chất độc đã phát tác.”

Hơi quá mức, có lẽ thế.

Genya đã nói là chất độc sẽ làm chậm nhịp tim và hơi thở của Kuwei đến mức gần như chết.

Nhưng kết quả lại thuyết phục đến mức quá đáng.

Một phần trong Nina biết thế giới sẽ an toàn hơn nếu Kuwei xuống mồ, nhưng cô cũng hiểu rằng nếu có người khác tháo gỡ được bí mật của parem, cậu ta là cơ hội tốt nhất để Ravka có thuốc giải.

Họ đã chiến đấu để giải phóng cậu ta từ Lâu Đài Băng.

Họ đã bày mưu tính kế, thông đồng và đấu tranh để cậu ta có thể an toàn theo đuổi công trình của mình bên các Grisha.

Kuwei là hi vọng.

Và cậu ta là một thiếu niên xứng đáng được có cơ hội sống không sợ hãi.

“Thuốc giải ạ?”

Nina nhìn cái xi lanh trên tay Genya và hỏi.

“Liều thứ hai đấy,” Kaz đáp.

Tất cả cùng quan sát Genya kiểm tra mạch và hơi thở của cậu ta.

Rồi chị lắc đầu.

“Zoya,” Sturmhond lên tiếng với giọng uy quyền.

Zoya thở dài và xắn tay áo lên.

“Cởi nút áo cho cậu ta.”

“Chị làm gì vậy?”

Kaz hỏi trong lúc Genya cởi nốt những chiếc nút áo còn lại của Kuwei.

Bộ ngực lép kẹp lộ rõ cả xương sườn của cậu ta dây đầy thứ máu lợn mà họ đã nhét vào chiếc túi sáp.

“Tôi sắp làm hồi sinh quả tim của cậu ta, hoặc nướng chín cậu ta từ trong ra ngoài,” Zoya đáp.

“Lùi lại.”

Mọi người cố hết sức để lùi ra xa trong khoảng không gian chật hẹp.

“Chị ta nói vậy nghĩa là sao?”

Kaz hỏi Nina.

“Tôi không rõ,” Nina thú nhận.

Zoya đưa tay ra và nhắm mắt lại.

Không khí đột nhiên trở nên lạnh lẽo và ẩm ướt.

Inej hít một hơi sâu.

“Nghe mùi giống như sắp có bão.”

Zoya mở mắt và chắp hai tay lại như thể đang cầu nguyện, rồi chà xát mạnh hai lòng bàn tay vào nhau.

Nina cảm thấy áp suất tụt xuống và lưỡi nồng mùi kim loại.

“Tôi nghĩ… tôi nghĩ chị ấy đang gọi sét.”

“Có an toàn không vậy?”

Inej hỏi.

“Không hề,” Sturmhond đáp.

“Ít nhất chị ta cũng từng làm chuyện này trước đó chứ?”

Kaz hỏi.

“Cho mục đích này ấy hả?”

Sturmhond hỏi.

“Tôi từng thấy cô ấy làm hai lần.

Thành công mĩ mãn.

Một lần.”

Giọng nói của anh ta quen thuộc một cách kì lạ, Nina có cảm giác họ đã gặp nhau trước đó rồi.

“Sẵn sàng chưa?”

Zoya hỏi.

Genya nhét một miếng vải gấp nhỏ vào giữa hai hàm răng của Kuwei rồi lùi lại.

Nina rùng mình nhận ra nó dùng để ngăn không cho cậu ta tự cắn lưỡi.

“Tôi hi vọng chị ấy làm chuyện này suôn sẻ,” Nina thì thầm.

“Kuwei còn mong hơn ấy chứ,” Kaz bình phẩm.

“Chuyện này khó đấy,” Sturmhond nói.

“Sấm sét không thích bị điều khiển.

Zoya cũng đang đặt tính mạng của mình vào vòng nguy hiểm.”

“Tôi không nghĩ chị ta là người như thế,” Kaz nói.

“Anh sẽ ngạc nhiên đấy,” Nina và Sturmhond đồng thanh đáp.

Một lần nữa Nina có cảm giác lạ lùng rằng cô biết anh ta.

Cô thấy Rotty nhắm tịt mắt lại, không dám nhìn.

Môi Inej lẩm nhẩm gì đó mà Nina đoán là lời cầu nguyện.

Một thứ ánh sáng xanh yếu ớt nổ lách tách giữa hai lòng ban tay Zoya.

Chị hít một hơi thật sâu và đập chúng vào ngực Kuwei.

Lưng cậu nhóc oằn lại, toàn thân cậu ưỡn cong mạnh đến nỗi Nina tưởng như nó sắp gãy.

Rồi Kuwei đập lưng xuống cáng trở lại, hai mắt vẫn nhắm, lồng ngực bất động.

Genya bắt mạch cậu ta.

“Không thấy gì.”

Zoya nhíu mày.

Chị chắp hai bàn tay vào nhau một lần nữa, mồ hôi rịn ra trên vầng trán tuyệt đẹp.

“Chúng ta có thực sự muốn cậu ta sống không vậy?”

Không ai trả lời, nhưng chị tiếp tục xoa mạnh hai tay vào nhau và tiếng lách tách lại vang lên.

“Chuyện này là vì mục đích gì vậy?”

Inej thắc mắc.

“Gây sốc tim để nó đập trở lại,” Genya đáp.

“Và nhiệt độ sẽ giúp làm biến tính chất độc.”

“Hoặc giết chết cậu ta,” Kaz nói.

“Hoặc giết chết cậu ta,” Genya thừa nhận.

“Nào,” Zoya thốt lên với giọng căng cứng.

Nina tự hỏi chị căng thẳng vì muốn Kuwei sống sót hay vì chị ghét bị thất bại.

Zoya lại ấn hai bàn tay vào ngực Kuwei.

Cơ thể cậu ta oằn cong như cành cây gặp cơn gió chướng, trước khi rơi thịch xuống cáng một lần nữa.

Kuwei hộc lên một tiếng rồi mở mắt.

Cậu gắng gượng ngồi dậy và nhổ miếng vải ra.

“Tạ ơn các thánh,” Nina thốt lên.

“Tạ ơn tôi đây này,” Zoya đế thêm.

Genya tiến lại gần để đỡ cậu nhóc.

Đôi mắt Kuwei càng mở lớn hơn trong sự sợ hãi.

“Suỵt,” Nina thì thầm và bước tới.

Kuwei chỉ biết Genya và Zoya là thành viên của phái đoàn Ravka.

Họ có thể là những người xa lạ đối với cậu.

“Ổn rồi.

Cậu còn sống.

Cậu an toàn rồi.”

Inej đến bên Kuwei, tháo miếng vải nhét trong miệng rồi vuốt tóc cho cậu.

“Cậu an toàn rồi,” cô lặp lại.

“Cuộc đấu giá…”

“Kết thúc rồi.”

“Còn người Shu?”

Đôi mắt vàng của cậu nhóc chất chứa đầy sự kinh hoàng, và Nina nhận ra cậu đã hoảng sợ như thế nào.

“Họ đã chứng kiến cậu chết,” Nina trấn an.

“Cũng như tất cả mọi người.

Đại diện của mọi quốc gia đều đã thấy cậu bị bắn trúng tim.

Thầy lang và các nhân viên bệnh viện sẽ làm chứng cho cái chết của cậu.”

“Còn cái xác…”

“Đêm nay nó sẽ được những người gom xác đưa đi,” Kaz nói.

“Mọi chuyện qua rồi.”

Kuwei buông mình nằm xuống trở lại, vắt một cánh tay lên mắt, và bật khóc.

Nina dịu dàng vỗ về cậu.

“Tôi biết cậu đang nghĩ gì.”

Zoya chống tay vào hông.

“Có ai định cảm ơn tôi hoặc Genya cho phép màu này không vậy?”

“Cảm ơn vì đã suýt giết chết rồi làm hồi sinh con tin đáng giá nhất trên thế giới để các người có thể sử dụng cho mục đích của mình,” Kaz nói.

“Giờ thì các người nên đi.

Đường phố đã gần như trống vắng, các người chỉ cần tới được khu vực nhà xưởng.”

Đôi mắt xanh đẹp đẽ của Zoya nheo lại.

“Cậu mà dám vác mặt tới Ravka, bọn tôi sẽ dạy cho cậu biết thế nào là cách cư xử.”

“Tôi sẽ ghi nhớ điều đó.

Khi họ thiêu cháy tôi trên đảo Tử Thần, tôi chắc chắn muốn mình được nhớ tới như một người lễ độ.”

“Đi với bọn tôi nào, Nina,” Genya giục.

Nina lắc đầu.

“Công việc chưa xong, và Kuwei quá yếu để có thể đi bộ được.”

Zoya bĩu môi.

“Chỉ cần em đừng quên lòng trung thành của em đặt ở đâu.”

Chị trèo ra khỏi con tàu ve chai, tiếp nối bởi Genya và Sturmhond.

Tay thuyền trưởng quay người về phía con tàu và nhìn Nina.

Đôi mắt anh ta có một thứ màu sắc kì lạ, và những đường nét trên khuôn mặt anh dường như không hài hoà được với nhau.

“Trong trường hợp cô không muốn quay về, tôi muốn cô biết rằng cô và cậu Fjerda của cô được chào đón tại Ravka.

Chúng tôi không biết người Shu còn bao nhiêu parem và đã sản xuất được bao nhiêu chiến binh Kherguud.

Hạ Quân cần năng lực của cô.”

Nina ngập ngừng.

“Tôi không…

Tôi không còn như trước nữa.”

“Em là một chiến binh,” Zoya nói.

“Em là Grisha, và chúng tôi sẽ may mắn nếu có được em.”

Quai hàm Nina trễ xuống.

Câu nói đó gần giống như một lời tuyên dương.

“Ravka sẽ rất cảm kích nếu được cô phụng sự,” Sturmhond nói trong lúc họ quay đi.

“Vương triều hiện tại cũng vậy.”

Anh vẫy tay chào.

Trong ánh nắng chiều tà, với mặt trời ở phía sau, trông anh ta không giống với một viên thuyền trưởng, mà giống với…

Nhưng ý nghĩ đấy thật ngớ ngẩn.

“Tôi cần quay lại nhà thờ,” Kaz lên tiếng.

“Tôi muốn biết Hội đồng sẽ làm gì với Wylan.”

“Anh đi đi,” Nina nói.

“Chúng tôi sẽ chờ Matthias ở đây.”

“Hãy cảnh giác,” Kaz nói.

“Đừng để cậu ta ra ngoài cho tới khi trời tối.

Sau đó mọi người đều biết mình phải đi đâu rồi.”

Kaz trèo ra khỏi con tàu và biến mất về hướng nhà thờ Barter.

Nina không nghĩ việc cho Kuwei uống chút rượu vang là an toàn, nên cô cho cậu uống nước và khuyên cậu nghỉ ngơi.

“Tôi sợ nhắm mắt lắm,” Kuwei nói.

Nina vươn người quan sát bờ kênh và nhìn xuôi theo con đường.

“Sao Matthias lâu vậy nhỉ?

Mọi người có nghĩ ông thầy lang làm khó dễ anh ấy không?”

Vừa nói đến đó, cô trông thấy anh lê bước về phía mình ở đầu kia của quảng trường vắng lặng.

Anh giơ tay vẫy cô.

Nina nhảy khỏi tàu và chạy tới.

Cô lao vào vòng tay anh.

“Drüsje,” anh thì thầm vào mái tóc cô.

“Em ổn.”

“Tất nhiên là em ổn.

Anh mới là người đến trễ.”

“Anh cứ nghĩ anh sẽ không thể tìm được em trong giông bão.”

Nina dịch người ra.

“Anh ghé đâu đó làm vài cốc rượu trên đường đến đây à?”

Matthias dùng hai bàn tay đổ lấy khuôn mặt cô.

“Không,” anh đáp.

Và rồi anh hôn cô.

“Matthias!”

“Anh làm sai à?”

“Không phải.

Anh rất tuyệt.

Nhưng em luôn là người hôn anh trước.”

“Chúng ta nên thay đổi điều đó,” anh nói, khuỵu người vào cô.

“Matthias?”

“Không sao.

Anh cần phải gặp lại em.”

“Matthias…

Ôi, lạy các thánh.”

Chiếc áo khoác mà anh đang giữ tuột ra, và Nina trông thấy vết đạn ở bụng anh.

Áo sơ mi của anh đẫm máu.

“Giúp tôi với!”

Cô hét lên.

“Ai đó giúp tôi với!”

Nhưng đường phố vắng tanh.

Cửa các ngôi nhà cài chặt.

Mọi cửa sổ đều đóng kín.

“Inej!”

Nina gào lên.

Anh quá nặng.

Họ ngã xuống mặt đường lát đá, và Nina nâng đầu anh đặt lên đùi mình.

Inej chạy nhanh đến chỗ họ.

“Có chuyện gì vậy?”

Inej hỏi.

“Anh ấy bị bắn.

Thánh thần ơi, Matthias, ai đã làm chuyện này?”

Họ có quá nhiều kẻ thù.

“Không quan trọng,” anh đáp.

Hơi thở anh bất thường và đứt quãng.

“Tất cả những gì anh muốn là được nhìn thấy em một lần nữa.

Để nói với em rằng…”

“Đi tìm Kuwei,” Nina nói với Inej.

“Hoặc Kaz.

Anh ta giữ parem.

Em phải đi kiếm nó cho chị.

Chị có thể cứu anh ấy.

Chị có thể.”

Nhưng chuyện đó có còn hiệu nghiệm hay không?

Nếu cô dùng ma dược, liệu năng lực của cô có quay trở lại như cũ được không?

Cô có thể thử.

Cô phải thử.

Matthias nắm lấy tay Nina với một sức mạnh đáng kinh ngạc.

Nó ướt đẫm máu anh.

“Đừng, Nina.”

“Em có thể chiến đấu với nó một lần nữa.

Em sẽ cứu anh, sau đó em sẽ chiến đấu với nó.”

“Không đáng để liều mạng đâu.”

“Đáng chứ,” Nina nói.

“Matthias…”

“Anh muốn em cứu những người khác.”

“Ai cơ?”

Cô tuyệt vọng hỏi lại.

“Những drüskelle khác.

Hãy thề với anh rằng ít nhất em cũng sẽ cố giúp họ, giúp họ nhận ra.”

“Chúng ta sẽ đi cùng nhau, Matthias.

Chúng ta sẽ trở thành gián điệp.

Genya sẽ chỉnh sửa diện mạo để chúng ta đi cùng nhau tới Fjerda.

Em sẽ mặc mọi cái áo len xấu xí theo ý anh.”

“Hãy về Ravka đi, Nina, sống tự do, như em xứng đáng được.

Làm chiến binh, như em vẫn luôn từng, chỉ cần em thương lấy đồng bào của anh.

Có những người Fjerda xứng đáng được cứu.

Hãy hứa với anh.”

“Em hứa.”

Nina nấc lên.

“Anh được sinh ra để bảo vệ em.

Ngay cả khi đã chết, anh vẫn sẽ tìm được cách.”

Anh siết tay cô chặt hơn.

“Hãy chôn cất anh để anh có thể đến với Djel.

Chôn anh để anh có thể bén rễ và theo dòng nước đi lên phía bắc.”

“Em hứa.

Em sẽ đưa anh về nhà.”

“Nina,” anh nói và áp tay cô vào ngực mình.

“Anh đã ở nhà rồi.”

Ánh sáng vụt tắt trong đôi mắt anh.

Lồng ngực anh bất động dưới bàn tay cô.

Nina hét lên.

Tiếng hét xé toang không gian tối sầm nơi trái tim cô từng tồn tại trước đó.

Cô tìm kiếm mạch đập, ánh sáng và sức lực mà anh hằng có.

Giá như mình có năng lực trước đây.

Giá như mình chưa bao giờ dùng parem.

Giá như mình có parem.

Cô cảm thấy dòng sông chảy quanh mình.

Dòng nước đen tang tóc.

Cô thò tay vào trong cái lạnh.

Lồng ngực Matthias phập phồng.

Anh rùng mình.

“Quay lại với em đi,” cô thì thào.

“Quay lại đi.”

Cô có thể làm được điều này.

Cô có thể cho anh một cuộc sống mới, một cuộc sống sinh ra từ trong dòng nước sâu thẳm ấy.

Anh không phải là một người tầm thường.

Anh là Matthias, chàng Fjerda can trường của cô.

“Quay lại” cô ra lệnh.

Anh hít thở.

Mi mắt anh hấp háy và mở ra.

Mắt anh trống rỗng.

“Matthias,” cô thì thầm.

“Gọi tên em đi.”

“Nina.”

Giọng nói của anh, chất giọng tuyệt đẹp của anh.

Nó vẫn như vậy.

Cô nắm tay anh, tìm kiếm anh trong ánh mắt trống rỗng ấy.

Nhưng đôi mắt anh từng như lớp băng phương bắc, màu xanh sáng, thanh khiết.

Đôi mắt này khác hoàn toàn.

Inej quỳ xuống bên cạnh cô.

“Hãy để anh ấy ra đi, chị Nina.”

“Chị không thể.”

Inej vòng tay quanh vai cô.

“Hãy để anh ấy tìm về với Thượng đế của mình.”

“Anh ấy phải ở đây với chị.”

Nina chạm vào gò má lạnh lẽo của anh.

Phải có một cách nào đó để đưa anh quay lại, để đảo ngược điều này.

Họ đã cùng nhau làm bao nhiêu chuyện bất khả thi kia mà?

“Chị sẽ gặp lại anh ấy ở kiếp sau,” Inej nói.

“Nhưng chỉ khi chị chịu đựng chuyện này bây giờ.”

Họ từng là hai tâm hồn đồng điệu, hai chiến binh thuộc về hai chiến tuyến khác nhau, để rồi tìm thấy nhau, và đánh mất nhau quá nhanh chóng.

Cô sẽ không giữ anh ở đây.

Không phải như thế này.

“Vậy thì, hẹn anh kiếp sau,” cô thì thầm.

“Hãy đi đi,” cô nhìn đôi mắt anh nhắm lại một lần nữa.

“Farvell,” cô nói bằng tiêng Fjerda.

“Cầu mong

Djel trông nom anh cho đến khi em lại có thể làm điều đó.”
 
[Six Of Crows]_Móng Vuốt Quạ Đen
Phần Ba: Hành Động & Vọng Âm 24-29


24

MATTHIAS

Matthias lại mơ.

Mơ thấy cô.

Bão tố quay cuồng quanh anh, át đi giọng nói của Nina, vậy nhưng tim anh lại nhẹ bỗng.

Không hiểu sao, anh biết cô sẽ bình an, cô sẽ tìm được nơi trú ẩn trong giá rét.

Một lần nữa anh lại đứng trên băng tuyết, và đâu đó, có tiếng sói tru.

Nhưng lần này, anh biết chúng đang chào mừng anh trở về.

25

WYLAN

Wylan ngồi giữa Alys và Jesper trên hàng ghế gần đầu của nhà thờ.

Người Ravka, người Shu và người Fjerda đã lao vào một cuộc ẩu đả khiến nhiều binh sĩ đổ máu, ông đại sứ Fjerda còn bị trật cả khớp vai.

Những lời tuyên bố giận dữ về việc trừng phạt thương mại đã được mọi bên đưa ra.

Nhưng giờ đây, một chút trật tự đã được vãn hồi.

Hầu hết những người đi xem đấu giá đã đi về hoặc bị lực lượng thị tuần đuổi ra ngoài.

Phái đoàn Shu Han rút lui sau khi tung ra những lời đe doạ sẽ hành động bằng vũ lực vì cái chết của một công dân nước họ.

Phái đoàn Fjerda thì kéo tới cửa Toà thị chính đòi tìm bắt Matthias Helvar, chỉ để được thông báo rằng các biện pháp phòng dịch nghiêm cấm tụ tập đông người.

Họ lập tức quay về đại sứ quán nước mình để tránh bị xua đuổi khỏi các con phố.

Sự hỗn loạn khiến cho nhiều người bị bầm dập và chấn thương.

Wylan nghe nói một phụ nữ đã bị nghiền nát cánh tay khi ngã xuống sàn trong lúc đám đông hoảng loạn lao ra cửa nhà thờ.

Tuy nhiên, chỉ có một vài người đi tới các phòng mạch hoặc nhà thương để được băng bó.

Không ai muốn có nguy cơ phơi nhiễm với bệnh dịch đang lan tràn khắp Barrel.

Chỉ còn Hội đồng Thương buôn và một số thị tuần còn nán lại gần bàn thờ.

Họ tranh cãi bằng giọng kìm nén, thỉnh thoảng mới cất cao thành tiếng la lối.

Wylan, Jesper cùng với Alys và cô hầu gái được các thị tuần quây lại.

Wylan thầm mong Kaz đã đúng khi nhất quyết bảo cậu ở lại trong nhà thờ.

Cậu không rõ các sĩ quan đang bảo vệ hay canh chừng mình nữa.Theo cái cách mà Jesper liên tục gõ ngón tay vào đầu gối, Wylan đoán anh cũng đang căng thẳng không kém.

Tình hình càng tệ hơn khi cứ mỗi lần thở ra, cậu lại cảm thấy đau đớn và đầu ong lên như thể bị một tay trống tăng động gõ liên hồi vào màng nhĩ.

Trông cậu chẳng còn ra hồn người, bạo động suýt nữa đã nổ ra, và danh tiếng của Ketterdam đã bị hoen ố, thế nhưng Wylan không thể nén được nụ cười.

“Chuyện gì làm cậu vui thế?”

Jesper hỏi.

Wylan liếc nhìn Alys và thì thầm đáp, “Chúng ta thành công rồi.

Tôi biết Kaz có những động cơ riêng, nhưng tôi khá chắc rằng chúng ta vừa mới giúp ngăn chặn một cuộc chiến tranh.”

Nếu Ravka thắng cuộc đấu giá, Shu Han và Fjerda sẽ tìm một cái cớ nào đó để phát động tấn công nhằm vào Ravka, hòng chiếm lấy Kuwei.

Giờ thì cậu ta sẽ được an toàn, và ngay cả khi ai đó phát triển thành công parem, người Ravka cũng có thể mau chóng bắt tay vào việc nghiên cứu một loại thuốc giải.

“Có thể lắm,” Jesper đáp, phô hàm răng trắng bóng.

“Còn gì hơn một chút xích mích giữa bạn bè quốc tế?”

“Hình như Keeg làm gãy mũi tôi rồi.”

“Sau khi Genya đã chỉnh cho nó đẹp đẽ và thẳng thớm như thế.”

Wylan ngập ngừng.

“Anh có thể đi nếu cần.

Tôi biết anh đang rất lo lắng cho bố.”

Jesper liếc nhìn các thị tuần.

“Tôi không chắc mấy anh bạn kia sẽ để cho tôi bước ra khỏi chỗ này.

Ngoài ra, tôi không muốn bị ai đó theo đuôi tới chỗ ông.”

Và Jesper cũng đã nghe Kaz bảo Jesper ở lại.

Alys xoa tay trên cái bụng bầu.

“Tôi đói quá, chị nói, liếc nhìn sang chỗ Hội đồng Thương buôn vẫn đang tranh cãi.

“Cậu nghĩ bao giờ thì chúng ta sẽ được về nhà?”

Wylan và Jesper đưa mắt nhìn nhau.

Đúng lúc đó, một thanh niên chạy như bay trên lối đi nhà thờ rồi đưa một xấp giấy cho Jellen Radmakker.

Họ xé dấu niêm phong màu xanh lá của ngân hàng Gemens, và Wylan đoán tài liệu đó sẽ cho thấy toàn bộ số tiền của Hội đồng Thương buôn được chuyển từ quỹ jurda ảo sang thẳng tài khoản của người Shu.

“Chuyện này thật điên rồ!”

Van Eck hét lên.

“Sao các người có thể tin nó được!”

Wylan đứng dậy để nhìn cho rõ và rít lên vì cơn đau nơi mạng sườn.

Jesper giơ tay ra đỡ cậu.

Nhưng điều mà Wylan nhìn thấy ở gần bục đấu giá đã át đi mọi đau đớn trong cậu: một sĩ quan thị tuần vừa mới còng tay cha cậu, kẻ đang vùng vẫy như một con cá mắc câu.

“Đây là mưu đồ của Brekker,” Van Eck nói.

“Nó đã dựng lên cái quỹ.

Hãy đi tìm lão nông dân và Pekka Rollins.

Họ sẽ nói cho các ông biết.”

“Đừng có diễn trò nữa,” Radmakker bực bội nói khẽ.

“Vì sự an lành của gia đình ông, hãy kiềm chế một chút.”

“Kiềm chế?

Trong khi các người còng tay tôi?”

“Bình tĩnh nào.

Ông sẽ được đưa đến Toà thị chính để chờ đợi các cáo buộc.

Một khi đã trả tiền bảo lãnh…”

“Tiền bảo lãnh?

Tôi là một thành viên của Hội đồng Thương buôn.

Lời nói của tôi…”

“Chẳng có giá trị gì hết!”

Radmakker nạt, trong khi Dryden làm nhặng xị theo cách khiến Wylan nhớ đến con chó sục của Alys khi nó phát hiện ra một chú sóc.

“Ông nên biết ơn vì chúng tôi đã không tống giam ông vào Cổng Địa Ngục ngay lập tức.

Bảy mươi triệu kruge của Hội đồng Thương buôn đã bốc hơi.

Kerch bị biến thành trò cười cho thiên hạ.

Ông có hình dung được thiệt hại mà mình đã gây ra hôm nay không?

Jesper thở hắt ra.

“Chúng ta mất công làm bao nhiêu để rồi ông ta được hưởng hết công trạng nhỉ?

“Chuyện gì đang diễn ra thế?”

Alys hỏi và nắm lấy tay Wylan.

“Sao Jan lại gặp rắc rối vậy?”

Wylan cảm thấy thương chị.

Alys thật ngọt ngào và khờ khạo.

Chị có làm gì đâu, ngoài việc cưới người được gia đình gả cho.

Nếu cậu có quyền, cha cậu sẽ bị truy tố về tội dối trá và phản bội.

Biết mà vẫn tham gia vào một giao kèo giả để thao túng thị trường không chỉ là hành động phi pháp, mà còn bị coi là báng bổ, làm phương hại đến Ghezen, và sẽ bị trừng phạt nặng.

Nếu cha cậu bị kết tội, ông ta sẽ bị tước quyền sở hữu đối với tài sản và các cổ phần mình đang nắm giữ.

Toàn bộ gia tài của ông ta sẽ được chuyển cho Alys và đứa con chưa ra đời.

Wylan không biết Alys có sẵn sàng cho một trọng trách như vậy hay chưa.

Cậu nắm lấy tay Alys.

“Sẽ ổn thôi,” cậu nói.

“Tôi hứa đấy.”

Cậu nói thật.

Họ sẽ tìm một luật sư hoặc một doanh nhân giỏi để giúp Alys với khối tài sản.

Nếu Kaz biết mọi kẻ lừa đảo bậc thầy tại Ketterdam thì hẳn anh ta cũng biết những người làm ăn chân chính - nếu không vì lí do gì khác ngoài đơn giản là để tránh họ.

“Họ có để Jan về nhà tối nay không?”

Alys hỏi, môi dưới run run.

“Tôi không biết,” Wylan thừa nhận.

“Nhưng cậu sẽ quay về, đúng không?”

“Tôi…”

“Mày tránh xa cô ấy ra,” Van Eck quát to trong khi bị thị tuần áp giải xuống các bậc thang dẫn lên sân khấu.

“Alys, đừng có nghe nó.

Em cần gặp Smeet để thu xếp tiền bảo lãnh.

Hãy tới…”

“Tôi không nghĩ Alys đủ sức làm chuyện đó đâu,” Kaz lên tiếng trên lối đi, người tựa vào cây gậy chống đầu quạ.

“Brekker, thằng lừa đảo khốn nạn.

Mày tưởng chuyện này đã xong rồi hả?”

Van Eck đứng thẳng người lại, cố gắng vớt vát chút danh dự đã mất.

“Bằng giờ này ngày mai, ta sẽ được tại ngoại và phục hồi lại danh dự.

Sẽ có cách để chứng minh mối liên hệ của mày với quỹ của Rietveld, và ta sẽ tìm ra.

Ta thề.”

Wylan cảm thấy Jesper cứng người lại bên cạnh mình.

Ông Colm Fahey là mối liên hệ duy nhất.

“Bằng mọi cách, thề đi,” Kaz đáp.

“Thề trịnh trọng vào.

Tôi nghĩ tất cả chúng ta đều đã biết lời nói của ông có giá trị đến đâu.

Nhưng ông sẽ thấy những nguồn lực của mình bị hạn chế đáng kể.

Người tiếp quản tài sản của ông sẽ phụ trách các ngân khoản của ông.

Tôi không rõ Wylan định dùng bao nhiêu tiền cho việc bảo vệ, hoặc bảo lãnh ông.”

Van Eck bật cười chua chát.

“Ta đã gạch tên nó khỏi di chúc ngay khi Alys có bầu.

Wylan sẽ không bao giờ nhận được một xu nào từ ta.”

Những tiếng xầm xì ngạc nhiên cất lên từ phía các thành viên của Hội đồng Thương buôn.

“Ông có chắc không vậy?”

Kaz hỏi lại.

“Tôi dám cá Wylan từng bảo với tôi rằng cha con ông đã làm lành.

Dĩ nhiên chuyện đó diễn ra trước phi vụ xấu xa này.”

“Di chúc của ta hoàn toàn rõ ràng, có một bản sao ở trong…”

Van Eck khựng lại giữa chừng, và Wylan trông thấy vẻ kinh hoàng xuất hiện trên gương mặt cha mình.

“Két sắt,” ông ta lí nhí nói nốt.

Wylan hiểu ngay ra mọi chuyện sau đó.

Specht đã giả mạo thư gửi thuyền trưởng của cha cậu, tại sao không làm giả thêm cái khác?

Đôi khi một tên trộm lọc lõi không chỉ lấy đi, mà còn để lại thứ gì đó phía sau.

Khi họ đột nhập vào văn phòng cha cậu đêm nọ, Kaz không chỉ đánh cắp dấu triện.

Anh đã đánh tráo di chúc thật của Van Eck bằng đồ giả.

Wylan còn nhớ Kaz đã nói: Cậu có nhận ra chúng ta đang đánh cắp tiền của chính cậu không?

Anh ta thật sự đã có hàm ý như vậy.

“Còn một bản sao nữa,” Van Eck nói.

“Luật sư của tôi…”

“Cornells Smeet?”

Kaz hỏi lại.

“Ông có biết ông ta tự cho lũ chó canh của mình ăn hay không?

Buồn cười thật, khi người ta huấn luyện để chúng vâng lời.

Đôi khi chúng trở nên quá dễ sai khiến.

Tốt hơn hãy để cho chúng hoang dã một chút.”

Chỉ dùng một chiêu trò thì không thể thắng được đâu.

Kaz đã lên kế hoạch giao cho Wylan khối tài sản của cha cậu từ bao giờ?

“Không,” Van Eck thốt lên, lắc đầu quầy quậy.

“Không.”

Với một sức mạnh bất ngờ, ông ta vùng ra khỏi các thị tuần.

“Các người không thể để cho thằng đần này kiểm soát tiền bạc của tôi,” ông ta hét lớn, bàn tay bị còng chỉ vào Wylan.

Cho dù tôi có thực sự muốn để nó thừa kế, nó cũng không thể gánh vác nổi.

Nó không biết đọc, không bập bẹ nổi một dòng chữ trên giấy.

Nó là một thằng đần, một đứa thiểu năng trí tuệ.”

Wylan nhận thấy vẻ mặt kinh hãi của các thành viên Hội đồng Thương buôn.

Đây chính là cơn ác mộng mà cậu từng mơ thấy không biết bao nhiêu lần hồi còn bé - đứng giữa mọi người và bị vạch trần khiếm khuyết của mình.

“Van Eck!”

Radmakker lên tiếng.

“Sao ông có thể nói như thế về giọt máu của mình?”

Van Eck cười như điên.

“Ít nhất chuyện này tôi cũng có thể chứng minh được!

Hãy đưa cho nó cái gì đó để đọc đi.

Nào nào, Wylan, hãy cho họ thấy mày sẽ trở thành một doanh nhân vĩ đại cỡ nào.

Radmakker đặt một tay lên vai cậu.

“Cháu không cần phải làm theo sự điên rồ của ông ta đâu, con trai.”

Nhưng Wylan chỉ nghiêng đầu, cậu nảy ra một ý.

“Không sao đâu, thưa ngài Radmakker,” cậu đáp.

“Nếu điều đó có thể giúp chúng ta chấm dứt bi kịch này, thì tôi sẽ làm theo lời cha tôi bảo.

Thật đấy, nếu các ông có giấy Chuyển quyền sở hữu, tôi sẽ kí ngay và bắt đầu huy động tiền nong để bào chữa cho cha.”

Những tiếng xầm xì vang lên từ sân khấu, rồi một tập tài liệu được chuyển đến cho Wylan.

Mắt cậu bắt gặp ánh mắt của Jesper.

Anh có hiểu ý đồ của cậu không?

“Cái này lẽ ra dành cho Kuwei Yul-Bo,” Dryden nói.

“Nhưng nó chưa được điền.

Trong này có một tờ giấy Chuyển quyền sở hữu.”

Dryden đưa nó cho Wylan, nhưng Jesper đã đón lấy và lật ra xem.

“Thằng nhỏ phải là người đọc nó!”

Van Eck quát lớn.

“Không phải đứa kia!”

“Tôi nghĩ khoản đầu tư đầu tiên của cậu nên là một cái rọ mõm,” Jesper thì thào.

Anh đưa cho Wylan một tờ giấy.

Nó có thể là bất kì tài liệu nào.

Wylan trông thấy các con chữ, cậu nhận ra những hình dáng của chúng, nhưng không thể hiểu được ý nghĩa mà chúng truyền tải.

Nhưng cậu có thể nghe thấy giai điệu trong đầu, mẹo ghi nhớ đó đã được cậu áp dụng rất thường xuyên hồi còn bé - chất giọng của Jesper khi đọc thành tiếng cho cậu nghe tại Thánh Hilde.

Cậu thấy cánh cửa màu xanh nhạt, ngửi thấy mùi hoa tử đằng.

Wylan hắng giọng và vờ như xem xét trang giấy.

“Tài liệu này, dưới sự chứng giám xuyên suốt của Ghezen và tuân theo những giao dịch dân sự trung thực nhất, được thông qua bởi toà án của Kerch và Hội đồng Thương buôn, ghi nhận việc chuyển giao toàn bộ tài sản, đất đai, và các cổ phần từ…”

Cậu ngừng lại.

“Tôi đoán phần này sẽ được điền tên của cha con tôi, “từ Jan Van Eck sang cho Wylan Van Eck giám sát, đến khi Jan Van Eck đủ năng lực quản lí… tài sản của mình trở lại.

Tôi có cần đọc tiếp không?”

Van Eck há hốc mồm nhìn Wylan.

Các thành viên Hội đồng Thương buôn lắc đầu.

“Không cần đâu, con trai,” Radmakker đáp.

“Cháu đã trải qua quá nhiều chuyện rồi, ta nghĩ thế.”

Ánh mắt mà ông ta hướng vào Van Eck lúc này chứa đầy sự thương hại.

“Hãy đưa ông ta tới Toà thị chính.

Chúng ta sẽ cần tìm cho ông ta một thầy lang.

Điều gì đó hẳn đã làm ông ta quẫn trí và nảy ra những ý nghĩ điên rồ như vậy trong đầu.”

“Đây là một chiêu trò,” Van Eck nói.

“Lại một chiêu trò khác của Brekker.”

Ông ta vùng thoát ra khỏi các thị tuần và lao vào Wylan, nhưng bị Jesper bước tới chộp lấy vai, ngăn lại.

“Mày đã phá huỷ toàn bộ những gì ta xây dựng nên, toàn bộ những gì mà cha ông ta đã xây dựng.

Mày…”

Jesper chồm người tới và nói đủ khẽ để không ai khác có thể nghe được.

“Tôi có thể đọc cho cậu ấy.”

“Anh ấy có một chất giọng nam trầm rất êm,” Wylan đế thêm trong lúc các thị tuần áp giải cha cậu đi ra cửa nhà thờ.

“Mày sẽ không thoát được chuyện này đâu!”

Van Eck thét lên.

“Ta đã biết trò của mày rồi, Brekker.

Ta giỏi hơn mày…”

“Dao có mài có sắc,” Kaz nói khi đi đến chỗ họ tại cửa nhà thờ.

“Nhưng xét cho cùng, tất cả phụ thuộc vào chất lượng thép.”

Van Eck gào lên.

“Các người thậm chí không biết đó có phải là Wylan thật hay không!

Nó có thể là một đứa khác mang diện mạo của thằng bé!

Các người không hiểu đâu…”

Những thành viên còn lại trong Hội đồng Thương buôn theo sau họ, tất cả đều tỏ ra ngỡ ngàng.

“Ông ta hoá điên rồi,” Dryden thốt lên.

“Lẽ ra chúng ta nên biết ông ta không còn tỉnh táo khi liên minh với lão già Pekka Rollins vô lại đó.”

Wylan đưa lại tờ giấy Chuyển quyền sở hữu cho Radmakker.

“Có lẽ tốt nhất là chúng ta chưa điền cái này vội.

Cháu cảm thấy chưa đủ bình tĩnh.”

“Tất nhiên rồi.

Chúng ta sẽ chờ lấy bản di chúc từ Smeet và bảo đảm mọi thứ đều chuẩn xác.

Ta có thể gửi giấy tờ đến nhà cho cháu kí sau.”

“Nhà của cháu?”

“Không phải cháu sẽ quay về ngôi nhà trên phố Geldstraat à?”

“Cháu…”

“Chắc chắn rồi,” Jesper nói thay.

“Tôi không hiểu,” Alys lên tiếng trong lúc được cô hầu gái vỗ về.

“Jan bị bắt rồi ư?”

“Alys,” Kaz nói.

“Cô nghĩ sao nếu về quê sống và đứng ngoài tất cả câu chuyện rắc rối này?

Tránh xa cả nguy cơ bệnh dịch nữa.

Có lẽ là ở ngôi nhà bên hồ xinh xắn mà cô đã nhắc đến ấy?”

Khuôn mặt Alys sáng lên, nhưng rồi lại ngần ngừ.

“Cậu thấy như thế có được không?

Một người vợ bỏ rơi chồng vào một thời điểm như thế này?”

“Đó là bổn phận của cô, thật đấy,” Kaz nói.

“Xét cho cùng, chẳng phải ưu tiên hàng đầu của cô là đứa bé hay sao?”

Jesper gật gù ra vẻ hiểu biết.

“Không khí miền quê trong lành, đất đai mênh mông, tha hồ mà đánh…

đu chạy nhảy.

Tôi lớn lên ở một nông trại.

Nhờ vậy mà tôi cao đến thế này đấy.”

Alys nhíu mày.

“Anh hơi bị cao quá đấy.”

“Nó là một nông trại rất lớn.”

“Và dì có thể tiếp tục học nhạc,” Wylan nói.

Lúc này thì mắt Alys sáng rực lên.

“Với thầy Bajan á?”

Chị đỏ mặt và cắn môi.

“Có lẽ như thế là tốt nhất.

Cho đứa bé.”

26

JESPER

Trong ánh sáng nhá nhem của màn đêm đang buông xuống, họ cùng nhau đi bộ tới nhà Van Eck.

Kaz tựa vào cây gậy chống, Alys nép vào tay cô hầu gái.

Đường phố trống vắng lạ lùng.

Thỉnh thoảng họ chạm mặt thị tuần và tim Jesper đập dồn, tự hỏi liệu những rắc rối của họ có bắt đầu trở lại không.

Nhưng giờ đây, khi Van Eck và Pekka đã bị mất toàn bộ uy tín, thị tuần còn nhiều vấn đề lớn hơn để đối phó, và tình hình dịch bệnh tại Barrel cũng làm cho các băng đảng đủ bận rộn.

Dường như các công dân Ketterdam, cả phi pháp lẫn bình thường, đều đang phải tự lo lấy thân mình, và mặc kệ nhóm của Jesper.

Nhưng tất cả những điều đó không làm Jesper bận tâm.

Anh chỉ cần biết bố mình có được an toàn hay không.

Anh rất muốn đi đến tiệm bánh, nhưng anh không thể đối phó với nguy cơ bị bám đuôi.

Chuyện đó làm Jesper bứt rứt, nhưng cho tới lúc này anh vẫn cầm cự được.

Có lẽ việc sử dụng năng lực đã giúp anh.

Có lẽ anh chỉ choáng váng do chiến đấu.

Còn quá sớm để tháo gỡ chuyện đó.

Nhưng ít nhất là đêm nay, anh thề sẽ không làm điều gì ngu ngốc.

Anh sẽ ngồi trong nhà, chế màu từ một tấm thảm, luyện nhắm đích, hoặc nhờ Wylan trói vào một cái ghế nếu cần.

Jesper chỉ muốn biết chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo.

Anh muốn là một phần trong đó.

Bất chấp vụ bê bối đổ xuống đầu Van Eck hôm nay, những ngọn đèn lồng vẫn được thắp sáng trên các ô cửa sổ, gia nhân mừng rỡ mở cửa cho Alys và cậu chủ Wylan.

Khi họ đi ngang qua chỗ giống như phòng ăn nhưng bị thiếu mất chiếc bàn, Jesper ngước nhìn qua lỗ hổng lớn trên trần nhà.

Anh có thể trông thấy tầng trên và phần đồ gỗ rất cầu kì.

Anh lắc đầu.

“Cậu lẽ ra nên cẩn thận hơn với những món hoá chất của mình.”

Wylan cố gượng cười, nhưng Jesper có thể thấy rõ cậu đang cực kì căng thẳng, cậu đi từ phòng này sang phòng khác một cách thận trọng, thỉnh thoảng chạm nhanh vào một món đồ hoặc một chỗ trên tường.

Wylan vẫn chưa hết đau.

Họ đã nhắn tới quận Đại học gửi một thầy lang tới, nhưng chắc phải mất khá lâu mới có người đến được.

Khi đi tới phòng nhạc, Wylan cuối cùng cũng dừng lại.

Cậu lướt tay trên chiếc dương cầm.

“Đây là nơi duy nhất trong căn nhà này từng làm tôi hạnh phúc.”

“Hi vọng từ giờ điều đó sẽ có thể thay đổi.”

“Tôi cảm thấy như một kẻ đột nhập.

Như thể cha tôi sắp lao qua cánh cửa đó và bảo tôi cút đi.”

“Mọi chuyện sẽ ổn hơn khi các thứ giấy tờ đã được kí.

Nó sẽ cho cảm giác bền vững hơn.”

Jesper nhăn răng.

“Nhân tiện, ban nãy cậu giỏi lắm.”

“Tôi sợ chết khiếp.

Bây giờ vẫn còn sợ.”

Wylan nhìn các phím đàn và chơi một điệu nhạc êm dịu.

Jesper tự hỏi làm thế nào anh có thể nhầm Kuwei thành Wylan.

Bàn tay họ khác hẳn nhau, từ hình dáng ngón tay cho đến các khớp đốt.

“Jes này,” Wylan nói tiếp, “anh có thực lòng khi nói điều đó với cha tôi không?

Anh sẽ ở lại với tôi chứ?

Anh sẽ giúp tôi chứ?”

Jesper áp lưng vào chiếc dương cầm, tựa người trên khuỷu tay.

“Để xem.

Sống trong một tư dinh xa hoa, được kẻ hầu người hạ, giết thời gian với một chuyên gia chất nổ đầy tiềm năng và biết chơi sáo?

Tôi nghĩ mình có thể xoay sở được.”

Anh lướt mắt nhìn Wylan từ đầu đến chân và ngược lại.

“Nhưng tôi sẽ tính phí cao ngất ngưởng đấy.”

Đôi má Wylan ửng lên sắc hồng tuyệt đẹp.

“Hi vọng thầy lang sẽ sớm đến để chữa cho tôi mấy cái xương sườn,” cậu nói trong lúc quay ra hành lang.

“Đồng ý chứ?”

“Đồng ý,” Wylan liếc nhanh qua vai và đáp, hai má đỏ lựng như màu cà chua chín.

“Tôi sẽ đặt cọc trước.”

Jesper bật cười.

Anh không nhớ lần cuối mình cảm thấy dễ chịu như thế này là khi nào nữa.

Chưa kể anh không bị ai bắn vào người.

Đầu bếp dọn ra bữa tối nguội và Alys rút về phòng.

Những người còn lại ngồi bên nhau trên bậc thềm dẫn ra khu vườn sau nhà, ngắm nhìn vầng mặt trời kì lạ lặn xuống bên kia kênh Geld vắng vẻ, chờ đợi.

Chỉ có những chiếc tàu của thị tuần, tàu cứu hoả và một vài tàu cứu thương lướt đi trên mặt nước, để lại phía sau những gợn sóng trải dài, không bị phá vỡ.

Mọi người không ăn uống gì nhiều.

Tất cả đều như ngồi trên đống lửa trong lúc chờ đêm xuống.

Những người khác liệu có bình an vô sự hay không?

Mọi chuyện có diễn ra đúng như kế hoạch không?

Vẫn còn rất nhiều việc phải làm.

Kaz ngồi bất động hoàn toàn, nhưng Jesper có thể cảm nhận được sự căng thẳng cuộn mình như một con rắn chuông trong anh.

Jesper cảm thấy hi vọng của mình tan dần, nó bị nghiền nát bởi sự lo lắng mà anh dành cho bố.

Anh xem xét ngôi nhà, rảo bước quanh vườn, trầm trồ trước sự tan hoang trong phòng làm việc của Van Eck.

Từ khi nào mặt trời câu giờ lâu như vậy?

Anh có thể tự nhủ rằng bố không sao cả bao nhiêu lần tuỳ thích, nhưng anh sẽ không tin điều đó cho tới khi chính mắt mình nhìn thấy khuôn mặt nhăn nheo của ông Colm.

Cuối cùng màn đêm cũng buông xuống, và thêm một giờ dài dằng dặc nữa trôi qua trước khi con tàu ve chai lướt nhẹ tới bên đỗ bên cạnh căn nhà thuyền duyên dáng của Van Eck.

“Họ thành công rồi!”

Wylan thốt lên.

Kaz khẽ thở phào.

Jesper vớ lấy một cái đèn lồng cùng chai rượu champagne đã ướp lạnh.

Họ lao qua vườn, mở toang cổng, và ùa vào nhà thuyền.

Lời chúc mừng tắt lịm trên môi.

Inej và Rotty đang giúp Kuwei rời tàu.

Mặc dù trông tả tơi và yếu ớt, chiếc áo mở toang để lộ phần ngực dính đầy máu lợn, cậu ta vẫn lành lặn.

Bố của Jesper ngồi trên tàu, vai chùng xuống, bộ dạng mỏi mệt hơn bao giờ hết.

Khuôn mặt đầy tàn nhang của ông hằn sâu sự buồn bã.

Ông chậm rãi đứng dậy và trèo lên bến.

Ông ôm chầm lấy anh và nói.

“Con vẫn ổn.

Con ổn.”

Nina ở lại trên tàu, ngả đầu lên ngực Matthias.

Anh đang nằm dài bên cạnh cô, đôi mắt nhắm nghiền, làn da tái mét.

Jesper đưa mắt nhìn Inej dò hỏi.

Khuôn mặt cô lấm lem nước mắt.

Cô lắc đầu.

“Như thế nào?”

Kaz hỏi khẽ.

Mắt Inej lại ngấn lệ.

“Chúng tôi vẫn còn chưa biết.”

Wylan đi lấy một tấm mền trong nhà và họ trải nó trong một góc nhà thuyền, sau đó Jesper và Rotty cùng nhau khiêng cơ thể đồ sộ của Matthias khỏi tàu.

Quá trình diễn ra một cách lúng túng và thiếu trang trọng.

Jesper không thể không nghĩ anh chàng Fjerda sẽ ghét chuyện này.

Họ đặt Matthias lên tấm mền.

Nina ngồi bên anh, không nói gì, chỉ nắm tay anh thật chặt.

Inej quàng khăn lên vai Nina và lặng lẽ quỳ bên cạnh, ngả đầu lên vai cô.

Trong một thoáng, không ai trong số họ biết mình phải làm gì, nhưng rồi Kaz nhìn đồng hồ và khẽ ra hiệu cho cả nhóm, vẫn còn những công việc đòi hỏi sự chú ý của họ.

Cả nhóm bắt tay vào thay đổi con tàu ve chai.

Khi đồng hồ điểm mười tiếng chuông, nó cần phải trông giống như một tàu gom xác.

Họ đã nhiều lần làm chuyện này và biến nó thành một chiếc thuyền hoa, thuyền đánh cá, hoặc một thuyền buôn bán.

Bất kì thứ gì cần thiết cho phi vụ.

Sự chuyển đổi lần này dễ dàng hơn.

Họ không cần dựng thêm gì mà chỉ dẹp bớt các thứ.

Mọi người đem các két chai lọ vào trong nhà và gỡ bỏ phần mái trên boong tàu, khiến cho con tàu trở nên thoáng rộng và thấp hơn.

Ông Colm cũng giúp một tay.

Ông làm việc bên cạnh Jesper như hai bố con vẫn thường như vậy ở nông trại.

Kuwei đi thơ thẩn giữa khu vườn và nhà thuyền, cậu con quá yếu sau thử thách đã trải qua.

Chẳng mấy chốc Jesper đã ướt đẫm mồ hôi.

Anh cố tập trung vào tiến độ công việc, nhưng không thể rũ bỏ được nỗi đau trĩu nặng trong lòng.

Anh từng mất bạn.

Anh từng trải qua những phi vụ bất thành.

Tại sao chuyện này lại cho cảm giác khác hẳn?

Khi mọi thứ đã xong xuôi, Wylan, Kaz, Rotty, Jesper và ông Colm đứng bên nhau trong vườn.

Họ không còn gì để làm nữa.

Con tàu đã sẵn sàng.

Rotty mặc đồ đen tuyền từ đầu đến chân, và họ đã may một cái mũ trùm đúng kiểu đạo tì từ một bộ lễ phục màu đen của Van Eck.

Đã đến giờ hành động, nhưng không ai trong số họ nhúc nhích.

Xung quanh anh, Jesper có thể ngửi thấy mùi mùa xuân, ngọt ngào và nồng nàn.

Mùi của hoa ly và dạ lan hương, của những bông hồng nở sớm.

“Đáng lẽ tất cả chúng ta phải sống sót,” Wylan nói khẽ.

Có thể đó là sự ngây thơ, phản kháng của một cậu thiếu gia giàu có chỉ mới nếm chút mùi Barrel.

Nhưng Jesper nhận ra anh cũng đang có cùng suy nghĩ như cậu.

Sau tất cả những lần thoát hiểm trong đường tơ kẽ tóc, những pha hút chết, anh bắt đầu cho rằng sáu người bọn họ được phù hộ sao đó, rằng những khẩu súng của anh, bộ óc của Kaz, mưu mẹo của Nina, tài nghệ của Inej, sự khéo léo của Wylan, và sức mạnh của Matthias đã làm cho họ bất khả chiến bại.

Họ có thể chịu khổ, chịu đòn, nhưng Wylan nói đúng, đáng lẽ cuối cùng tất cả bọn họ đều thoát được.

“Không đổ lệ,” Jesper lên tiếng.

Anh ngạc nhiên với cái cổ họng nghẹn đắng vì nước mắt của mình.

“Không quan tài,” tất cả mọi người đồng thanh đáp khẽ.

“Đi thôi,” ông Colm nói.

“Các con chào từ biệt nhau đi.”

Họ quay trở lại nhà thuyền.

Nhưng trước khi vào trong, Wylan cúi xuống ngắt một bông hoa tulip đỏ.

Mọi người làm theo cậu, rồi lặng lẽ đi vào bên trong.

Từng người một, họ quỳ xuống bên cạnh Nina và đặt một bông hoa lên ngực Matthias, rồi đứng thành vòng tròn quanh anh, như thể dù bây giờ đã là quá trễ, họ vẫn muốn bảo vệ anh.

Kuwei là người cuối cùng.

Đôi mắt vàng của cậu ngấn lệ, và Jesper thấy mừng vì cậu tham gia cùng họ.

Nhờ Matthias mà Kuwei và Jesper mới sống sót sau cuộc tập kích vào đảo Mạng Đen.

Cũng nhờ anh mà Kuwei sẽ có cơ hội được sống như một Grisha thực sự tại Ravka.

Nina quay mặt ra dòng kênh, quan sát những ngôi nhà nhỏ hẹp nằm ven bờ.

Jesper nhận thấy các cư dân của nó đã thắp nến bên những ô cửa sổ, như thể động thái đó giúp đẩy lùi được bóng tối.

“Tôi sẽ coi như những ánh nến đó được dành cho anh ấy,” Nina nói.

Cô nhặt một cánh hoa đỏ rơi trên ngực Matthias, thở dài, và buông tay anh ra, chậm rãi đứng dậy.

“Đến lúc rồi.”

Jesper vòng tay quanh Nina.

“Anh ấy yêu cô nhiều lắm đó, Nina.

Nhờ yêu cô mà anh ấy trở nên tốt hơn.”

“Nhưng rốt cuộc cũng có thay đổi được gì đâu?”

“Có chứ,” Inej đáp.

“Matthias và em không có cùng Thượng đế, nhưng bọn em đều hiểu cái chết không phải là kết thúc.

Anh ấy sẽ đi sang thế giới bên kia một cách dễ dàng hơn khi biết rằng mình đã sống tốt ở thế giới này.”

“Chị sẽ ở lại Ravka chứ?”

Wylan hỏi Nina.

“Chỉ trong khoảng thời gian đủ để thu xếp một chuyến đi tới Fjerda.

Một số Grisha có thể giúp tôi bảo quản thi hài của anh ấy trong chuyến đi.

Nhưng tôi không thể về nhà.

Tôi không thể nghỉ ngơi chừng nào anh ấy chưa an nghỉ.

Tôi sẽ đưa anh ấy lên phía bắc.

Về với băng tuyết.

Tôi sẽ an táng anh ấy gần bờ biển.”

Cô quay lại hỏi tiếp, như thể vừa trông thấy họ lần đầu.

“Thế còn mọi người?”

“Chúng ta sẽ phải nghĩ ra cách tiêu hết số tiền kiếm được,” Kaz nói.

“Tiền nào?”

Jesper hỏi lại.

“Tất cả đã được đổ vào ngân quỹ của người Shu rồi còn gì.

Làm như bọn chúng cần tiền lắm ấy.”

“Thật à?”

Mắt Nina nheo lại, và anh nhận thấy cô định thần lại đôi chút.

“Đừng có vờn nhau nữa, Brekker, nếu anh không muốn tôi cử một đạo quân xác chết đeo bám anh.”

Kaz nhún vai.

“Tôi nghĩ người Shu có thể hài lòng với bốn mươi triệu.”

“Chỗ ba mươi triệu mà Van Eck nợ chúng ta…”

Jesper lẩm bẩm.

“Bốn triệu kruge cho mỗi người.

Tôi sẽ chia phần của Per Haskell cho Rotty và Specht.

Nó sẽ được rửa qua một trong những cơ sở kinh doanh của Cặn Bã trước khi quay trở lại ngân hàng Gemens, nhưng tiền sẽ được đổ vào các tài khoản độc lập của mỗi người trước cuối tháng.”

Anh ngừng lời.

“Phần của Matthias sẽ được đưa cho Nina.

Tôi biết tiền không còn ý nghĩa…”

“Còn chứ,” Nina cắt ngang.

“Tôi sẽ tìm ra cách để làm cho số tiền đó có ý nghĩa.

Mọi người định làm gì với phần chia của mình?”

“Tìm một con tàu,” Inej đáp.

“Tập hợp một thuỷ thủ đoàn.”

“Phụ điều hành một đế chế,” Jesper nói.

“Cố không làm cho nó sụp đổ,” Wylan đáp.

“Thế còn anh, Kaz?”

Nina hỏi.

“Xây dựng thứ gì đó mới,” Kaz nhún vai.

“Xem nó cháy thành tro.”

Jesper thu hết can đảm và nói, “Thật ra, anh nên chuyển phần của tôi cho bố tôi.

Tôi không nghĩ…

Tôi không nghĩ mình đã sẵn sàng cho chỗ tiền đó.”

Kaz nhìn anh hồi lâu.

“Vậy là khôn ngoan đó, Jes.”

Câu nói cũng gần giống như một sự tha thứ.

Jesper cảm thấy nỗi buồn trĩu nặng trong tim.

Lần đầu tiên sau nhiều năm anh có rủng rỉnh tiền.

Nông trại của bố anh được an toàn.

Nhưng tất cả chuyện này vẫn không ổn.

“Tôi cứ tưởng được giàu có sẽ làm mọi thứ tốt hơn,” anh nói.

Wylan quay nhìn về phía ngôi nhà của cha cậu.

“Có thể khẳng định với anh là điều đó không đúng.”

Phía đằng xa, tiếng chuông bắt đầu gióng giả.

Jesper đi tìm bố trong khu vườn.

Ông đang đứng cạnh bậc thềm nhà với chiếc mũ nhàu nhĩ trong tay.

“Ít nhất giờ chúng ta cũng có thể mua cho bố cái mũ mới,” Jesper lên tiếng.

“Cái này đội thoải mái mà.”

“Con sẽ về, bố à.

Khi họ không phong toả Ketterdam nữa.

Sau khi Wylan đã ổn định.”

“Thằng bé là một chàng trai tốt.”

Quá tốt đối với con, Jesper thầm nghĩ.

“Bố thực sự mong con sẽ về thăm nhà.”

Ông Colm nhìn xuống đôi tay mình.

“Con nên gặp những người giống mẹ con.

Cô bé mà mẹ con đã cứu trước đây…

Bố nghe nói nó rất mạnh.”

Jesper không biết phải nói gì.

“Con…

Con rất muốn.

Con xin lỗi vì tất cả chuyện này.

Vì đã lôi bố vào rắc rối.

Vì suýt nữa đã làm mất những gì mà bố đã làm lụng rất vất vả để xây dựng.

Con…

Con muốn nói rằng, hành động này sẽ không lặp lại.”

“Gì cơ?”

“Đúng là trong tiếng Suli thì nghe hay hơn.

Con sẽ cố gắng, bố ạ.”

“Con là con trai của bố, Jesper.

Bố không thể bảo vệ con.

Có lẽ bố không nên thử.

Nhưng bố sẽ có mặt mỗi khi con sai lầm.

Luôn luôn.”

Jesper ôm chầm lấy bố.

Hãy ghi nhớ cảm giác này, anh tự nhủ.

Ghi nhớ tất cả những gì mày có thể đánh mất.

Anh không biết liệu mình có đủ mạnh mẽ để giữ lời hứa đêm nay không, nhưng anh có thể cố gắng.

Hai bố con đi bộ tới nhà thuyền và nhập bọn với những người còn lại.

Inej đặt tay lên vai Nina.

“Chúng ta sẽ gặp lại nhau.”

“Tất nhiên rồi.

Em đã cứu chị.

Chị cũng cứu em.”

“Em nghĩ chị hơn em trong vụ này.”

“Không, ý chị không phải là cứu mạng.”

Nina đưa mắt nhìn mọi người.

“Là những vụ nho nhỏ kìa.

Em cười khi chị pha trò.

Tha thứ khi chị ngu ngốc.

Không bao giờ tìm cách làm chị cảm thấy tầm thường.

Không cần biết là tháng sau, năm sau, hay mười năm nữa, đó sẽ là những điều mà chị nhớ đến khi gặp lại em.”

Kaz chìa bàn tay đeo găng cho Nina.

“Hẹn gặp lại, Zenik.”

“Nhớ nhé, Brekker.”

Họ bắt tay nhau.

Rotty trèo lên con tàu gom xác.

“Sẵn sàng chưa?”

Kuwei quay sang nói với Jesper.

“Anh sẽ sang Ravka thăm tôi nhé.

Chúng ta có thể học sử dụng năng lực cùng nhau.”

“Hay là để tôi xô cậu xuống kênh rồi chúng ta sẽ xem cậu dùng năng lực của mình để bơi như thế nào?”

Wylan đáp với cú lườm bắt chước Kaz có thể tạm chấp nhận được.

Jesper nhún vai.

“Tôi nghe nói Wylan là một trong những người giàu nhất thành Rotterdam.

Tôi sẽ không đối đầu với cậu ấy đâu.”

Kuwei khịt mũi một tiếng, trước khi nằm xuống sàn tàu, xếp tay ngay ngắn trên ngực.

“Không,” Kaz nói.

“Không.

Các đạo tì chẳng buồn chỉnh tư thế bao giờ.”

Kuwei để cho đôi tay thõng thượt bên sườn.

Ông Colm là người tiếp theo, và Jesper lập tức muốn quên ngay hình ảnh bố anh nằm dài như đã chết.

Họ dùng tấm mền để đưa Matthias lên tàu, sau đó rút nó ra từ bên dưới anh.

Nina gom những cành hoa tulip lại rồi thả chúng xuống nước.

Cô nằm xuống bên cạnh anh.

Rotty chống cây sào gỗ xuống đáy kênh.

Con tàu trôi ra khỏi bến.

Trong bóng tối, trông anh giống như một người thu gom xác bình thường đang chèo lái con thuyền tang tóc của mình qua những dòng kênh.

Chỉ có chúng mới được di chuyển tự do xuyên qua thành phố và rời khỏi bến cảng, mang theo các thi thể tới đảo Tử Thần để hoả táng.

Rotty sẽ đưa họ tới khu vực nhà xưởng, nơi các Grisha tị nạn đã đến sau cuộc đấu giá và cởi bỏ lớp áo xanh mà họ đã dùng để đóng giả làm các thành viên của Hội đồng Thuỷ triều.

Kaz thừa biết không có cách nào di chuyển nhiều Grisha đến thế mà không gây chú ý.

Do vậy họ đã theo lối đi bí mật từ đại sứ quán Ravka tới tửu quán, sau đó diễu hành trên phố trong lớp áo lùng phùng màu xanh dương, khuôn mặt che kín bằng hơi nước, phô bày năng lực của mình thay vì giấu chúng đi.

Jesper có thể nhận ra bài học trong đó.

Chỉ có bốn Tiết Hải Sư trong số họ, nhưng như vậy cũng đủ.

Tất nhiên, có khả năng Hội đồng Thuỷ triều thực thụ sẽ xuất hiện tại buổi đấu giá, nhưng kinh nghiệm cho thấy nguy cơ đó rất thấp.

Các Grisha và Sturmhond sẽ chờ đợi để lên tàu cách Bãi Ngọt không xa.

Một khi mọi người đã lên tàu, Rotty sẽ chèo chống đưa họ đi qua hải cảng, rồi dùng pháo sáng để con tàu của Sturmhond có thể đến đón họ.

Đó là cách duy nhất để đưa nhóm Grisha tị nạn, một lão nông đã lừa gạt Hội đồng Thương buôn, cùng một cậu bé từng là đối tượng được truy lùng gắt gao nhất thế giới, rời khỏi Rotterdam.

“Chị phải nằm yên chứ,” Inej nói khẽ.

“Yên lặng như nấm mồ,” Nina đáp.

Con tàu lướt nhẹ vào trong một con kênh, và cô giơ tay phác một lời từ biệt, lòng bàn tay cô tựa như một vì sao sáng trên nền trời đêm.

Họ đứng trên bờ thật lâu sau khi nó đã khuất dạng.

Một lúc sau Jesper mới nhận ra Kaz đã biến mất.

“Anh ta không thích giã từ à?”

Anh lẩm bẩm.

“Kaz không từ giã ai bao giờ,” Inej đáp.

Cô đưa mắt quan sát những ánh nến bên bờ kênh.

Đâu đó trong vườn, một con chim đêm cất tiếng hót.

“Anh ấy chỉ buông tha thôi.”

27

KAZ

Kaz gác cái chân yếu lên chiếc ghế đẩu thấp và lắng nghe Anika báo cáo về doanh thu của Quạ Đen cũng như tình hình du khách tại Đông Stave.

Trong ba tuần lễ kể từ sau buổi đấu giá Kuwei, Kaz đã chiếm lấy văn phòng của Per Haskell ở tầng trệt Thanh Gỗ.

Anh vẫn ngủ ở tầng trên cùng, nhưng làm việc tại hang ổ của Per Haskell thì dễ hơn.

Anh không nhớ những chuyến leo lên xuống cầu thang, và văn phòng cũ của anh giờ đây cho cảm giác quá trống trải.

Mỗi khi ngồi xuống để giải quyết công việc, anh lại bắt gặp ánh mắt mình nhìn về phía bậu cửa sổ.

Ketterdam vẫn chưa bình thường trở lại, nhưng điều đó lại tạo ra những cơ hội hấp dẫn.

Giá cả ở hai khu Stave giảm xuống khi người dân chuẩn bị cho một đợt bùng phát dịch bệnh kéo dài, và Kaz nhanh chóng tận dụng thời cơ.

Anh đã mua toà nhà bên cạnh Quạ Đen để có thể mở rộng sòng bạc, và thậm chí còn xoay sở kiếm được một cơ ngơi nhỏ ở Lid.

Khi cơn hoảng loạn trôi qua và ngành du lịch phục hồi, Kaz sẽ nhắm tới việc vặt lông những con bồ câu cao cấp hơn.

Anh cũng đã mua lại cổ phần của Per Haskell tại Quạ Đen với một mức giá hợp lí.

Kaz có thể sở hữu chúng với giá rẻ như cho căn cứ theo tình hình của khu Barrel, nhưng anh không muốn ai đó cảm thấy thương hại ông ta.

Khi Pekka Rollins quay lại Ketterdam, Kaz sẽ tìm được cách để chấm dứt việc làm ăn kinh doanh của lão.

Anh hoàn toàn không muốn công sức của anh rơi vào túi Rollins.

Sau khi Anika báo cáo xong, Pim cung cấp những chi tiết thu thập được tại phiên toà xử Van Eck.

Ngài Johannus Rietveld bí ẩn đã mất tích không một dấu vết, nhưng khi các tài khoản của Van Eck được bóc trần, sự thật nhanh chóng được phơi bày rằng lão ta đã sử dụng những thông tin mà mình biết được từ Hội đồng Thương buôn để mua lại nhiều trang trại trồng jurda.

Ngoài việc lừa đảo bạn bè, can thiệp đấu giá, và bắt cóc chính con trai ruột, còn có những đồn đoán rằng lão đã thuê một nhóm người đột nhập vào một toà nhà của chính quyền Fjerda và nhiều khả năng đã tự phá hoại các xi-lô trữ đường của mình.

Van Eck không được cho tại ngoại.

Và có vẻ như lão sẽ phải ngồi tù khá lâu.

Mặc dù con trai lão đã rót một khoản nhỏ cho người đại diện pháp luật của Van Eck, một mức chi phí vừa phải.

Wylan đã quyết định sử dụng một phần tài sản mới nhận được để cải tạo lại ngôi nhà.

Cậu cho Jesper một khoản tiền đầu tư nhỏ, và đưa mẹ về nhà.

Cư dân trên phố Geldstraat rất kinh ngạc khi thấy Marya Hendriks ngồi trong công viên cùng con trai, hoặc được gia nhân chèo thuyền đi dạo trên dòng kênh.

Thỉnh thoảng người ta nhìn thấy hai mẹ con từ dưới kênh khi họ đứng trước giá vẽ trong vườn nhà Van Eck.

Alys ở lại với họ một thời gian, nhưng rồi chị ta cùng chú chó cưng quyết định rời bỏ thành phố và các thị phi của nó.

Chị ta trải qua những tháng cuối thai kì tại ngôi nhà ven hồ của gia đình Hendriks, và nghe nói có tiến bộ sao đó với các bài học hát.

Kaz thấy mừng khi không phải là hàng xóm của chị ta.

“Tốt lắm,” anh nói sau khi Pim kết thúc báo cáo.

Anh không nghĩ Pim lại giỏi thám thính như vậy.

“Chính Roeder là người đã thu thập thông tin,” Pim nói.

“Chắc đang muốn nhắm tới vị trí người nhện mới cho anh.”

“Tôi không cần người nhện mới,” Kaz đáp.

Pim nhún vai.

“Bóng Ma không thấy xuất hiện.

Mọi người bàn tán…”

Kaz giải tán Anika và Pim rồi ngồi lại trong văn phòng yên ắng.

Anh ngủ rất ít trong mấy tuần vừa qua.

Anh đã chờ đợi khoảnh khắc này gần nửa cuộc đời, và anh sợ nếu mình ngủ thiếp đi, nó có thể tan biến.

Pekka Rollins đã chạy khỏi Ketterdam và chưa thấy quay lại.

Theo lời đồn thì lão ẩn trốn cùng con trai trong một ngôi nhà ở vùng quê, vây quanh là hàng tá vệ sĩ có vũ trang luôn túc trực.

Với việc Cung Lục Ngọc, Hoàng Tử Kaelish và Tiệm Kẹo bị cách li trong sự vắng mặt của lão, chuyện làm ăn của Pekka Rollins đang trên bờ vực sụp đổ.

Thậm chí người ta còn kháo nhau về sự chia rẽ trong băng Kim Sư.

Chủ soái thì biến mất, thoả thuận giữa lão ta và Van Eck khiến các thành viên trong băng đảng trông không khác gì tay sai của đám người giàu.

Không khác gì các thị tuần.

Từng bước một.

Rồi sẽ đến lúc Rollins chui ra khỏi đống gạch vụn.

Kaz muốn mình sẵn sàng.

Tiếng gõ cửa vang lên.

Một trong những vấn đề của việc ngồi ở tầng trệt là mọi người sẽ làm phiền bạn nhiều hơn.

“Thư đến,” Anika thông báo và ném chiếc phong bì lên bàn.

“Bạn của anh nhanh nhẹn phết đấy, Brekker,” cô nói với một nụ cười ranh mãnh.

Kaz liếc nhìn ra ngoài cửa phòng thay vì trả lời.

Anh không quan tâm đến việc nhìn Anika chớp chớp hàng mi vàng.

“Được thôi,” cô nói rồi rút lui, khép cửa lại sau lưng.

Kaz giơ lá thư ra ánh sáng.

Lớp sáp niêm có màu xanh dương nhạt và in hình đại bàng hai đầu.

Anh rọc mở phong bì, đọc nội dung trong thư, rồi đốt hết cả hai.

Sau đó, anh viết thư hồi âm và niêm phong nó lại bằng sáp đen.

Kaz biết Inej đã ở lại nhà của Wylan.

Thỉnh thoảng, anh thấy một lời nhắn viết vội bỏ lại trên bàn mình - vài thông tin về Pekka, hoặc những diễn biến tại Toà thị chính - và anh biết cô đã vào văn phòng của anh.

Kaz khoác áo choàng, cầm lấy mũ và gậy chống, rồi nhét lá thư vào túi áo.

Anh có thể cử một người đưa tin, nhưng anh muốn tự tay trao lá thư này.

Kaz đi ngang qua chỗ Anika và Pim trên đường rời khỏi Thanh Gỗ.

“Tôi sẽ quay lại sau một giờ nữa,” anh nói, “và tốt hơn đừng để cho tôi thấy hai người lãng phí thời gian tại đây.”

“Ở Quạ Đen gần như chẳng có ma nào,” Pim đáp.

“Du khách quá sợ bệnh dịch.”

“Đi tới mấy khu nhà trọ, nơi những con bồ câu sợ hãi đang lẩn trốn dịch bệnh.

Cho bọn họ thấy hai người hồng hào khoẻ mạnh như thế nào.

Hãy bảo đảm rằng họ biết hai người vừa chơi bài cào tại sòng bạc Quạ Đen.

Nếu cách đó không thành công thì xách mông tới bến cảng và quyến rũ vài con bồ câu trong đám công nhân làm việc ở đó.”

“Tôi vừa mới hết ca,” Pim phản đối.

Kaz đội mũ lên đầu và lướt một ngón cái trên vành mũ.

“Đừng có nhiều lời.”

•••

Anh đi về phía đông, xuyên qua thành phố.

Anh muốn đi đường vòng, chỉ để tận mắt trông thấy mọi chuyện diễn ra như thế nào ở Tây Stave.

Sau khi bọn người Shu tấn công và dịch bệnh bùng phát, các nhà chứa ở đây gần như trống vắng.

Nhiều con phố đã bị phong toả để cách li khu vực quanh Tiệm Kẹo và Vườn Thú.

Tin đồn cho biết Heleen Van Houden chưa trả được tiền thuê nhà tháng này.

Tội ghê.

Không có tuyến tàu chở khách nào hoạt động, nên Kaz phải cuốc bộ đến khu vực tài chính của Ketterdam.

Khi đi ngang một con kênh nhỏ hẹp và vắng vẻ, anh trông thấy màn sương dày bốc lên từ mặt kênh.

Anh đi thêm vài bước nữa, và nó trở nên dày đến nỗi gần như anh không nhìn được gì.

Sương mù bám chặt vào áo choàng của anh, ẩm ướt và ngột ngạt, hoàn toàn lạc lõng giữa một ngày xuân ấm áp.

Kaz dừng bước trên chiếc cầu thấp vắt ngang con kênh và chờ đợi, gậy chống trong tư thế sẵn sàng.

Giây lát sau, ba bóng người đội mũ trùm đầu xuất hiện ở phía bên trái anh.

Thêm ba người nữa hiện hình bên phải anh, những tấm áo choàng xanh của họ dập dềnh như sóng lượn giữa không trung, mặc dù chẳng có cơn gió nào.

Những chi tiết này thì Kaz đã chính xác, nhưng mặt nạ của bọn họ không phải làm từ hơi nước.

Thay vào đó, những thành viên đích thực của Hội đồng Thuỷ triều - hoặc một nhóm cải trang cực kì thuyết phục - đeo một thứ khiến người ta có cảm tưởng như đang nhìn vào bầu trời đêm đầy sao.

Hiệu ứng đẹp phết.

“Kaz Brekker,” Thuỷ triều gia cầm đầu lên tiếng.

“Kuwei Yul-Bo đang ở đâu?”

“Ngủm củ tỏi rồi.

Xác cậu ta đã bị thiêu ra tro trên đảo Tử Thần.”

“Kuwei Yul-Bo thật đang ở đâu?”

Kaz nhún vai.

“Cả một nhà thờ đầy người đã chứng kiến cậu ta bị bắn.

Một thầy lang đã xác nhận cái chết của cậu ta.

Tôi còn giúp được gì cho mấy người nữa?”

“Ngươi không muốn trở thành kẻ thù của Hội đồng Thuỷ triều đâu, chàng trai.

Không một chuyến tàu hàng nào của ngươi sẽ rời cảng được nữa.

Cảng số Năm sẽ chìm trong nước lụt.”

“Muốn làm gì thì làm.

Tôi đã không còn sở hữu cổ phần ở Cảng số Năm nữa rồi.

Các người muốn chặn tàu của tôi thì cũng tức là sẽ phải chặn mọi con tàu ra vào cảng.

Tôi không phải là thương gia.

Tôi không thuê tàu hay điều phối vận tải.

Tôi là một tên trộm, một kẻ buôn lậu.

Cứ thử bắt tôi xem, các người sẽ thấy mình chỉ đang cố bắt lấy không khí.”

“Ngươi có biết chết đuối dễ xảy ra như thế nào không?”

Thuỷ triêu gia hỏi, rồi giơ một bàn tay lên.

“Nó có thể xảy ra ở mọi nơi.”

Kaz đột nhiên cảm thấy phổi mình đầy nước.

Anh ho sặc sụa, nhổ nước biển ra và gập người lại, thở hổn hển.

“Hãy nói những gì bọn ta cần biết.”

Kaz hít một hơi.

“Tôi không biết Kuwei Yul-Bo đang ở đâu.

Các người có thể làm tôi chết đuối ngay tại chỗ, nhưng điều đó chẳng thay đổi được gì.”

“Vậy thì bọn ta sẽ tìm một trong những đứa bạn của ngươi rồi dìm chết nó trên giường.”

Kaz ho sặc sụa.

“Và các người sẽ thấy tháp canh của mình bị cách li vì bệnh dịch.”

Các Thuỷ triều gia ngọ nguậy đầy khó chịu, màn sương di chuyển theo bọn họ.

“Tôi đã làm cho còi báo động rú.

Tôi đã tạo ra cơn đại dịch này, và tôi kiểm soát nó.”

“Bịp bợm,” Thuỷ triều gia nói, hai ống tay áo của ông ta phập phồng trong màn sương.

“Cứ thử đi rồi sẽ thấy.

Tôi sẽ gieo rắc bệnh dịch quanh từng ngọn tháp của các người.

Chúng sẽ trở thành ổ dịch.

Các người tưởng Hội đồng Thương buôn không dám phong toả chúng sao?

Cuối cùng họ cũng có cơ hội bắt các người xác minh danh tính.

Họ sẽ rất mừng rỡ vì có cớ để làm chuyện đó.”

“Họ sẽ không dám.

Đất nước này sẽ chìm nếu không có bọn ta.”

“Họ sẽ không còn lựa chọn nào khác, công chúng sẽ kêu gọi hành động.

Họ sẽ đốt những ngọn tháp thành tro bụi.”

“Đồ quỷ quyệt.”

“Ketterdam đầy quỷ sứ đội lốt người.

Tôi chỉ tình cờ là đứa có răng dài nhất.”

“Bí mật về jurda parem không thể được tiết lộ.

Sẽ không một Grisha nào còn được an toàn nữa.

Ở đây hay bất cứ nơi đâu.”

“Vậy thì may cho cac người là thằng nhóc người Shu đã ôm bí mật đó xuống mồ.”

“Bọn ta sẽ không quên chuyện này đâu, Kaz Brekker.

Một ngày kia ngươi sẽ hối tiếc vì sự láo xược của mình.”

“Nghe này,” Kaz đáp trả.

“Khi ngày đó tới, hãy đánh dấu nó trên tờ lịch của các người.

Sẽ là một ngày hội lớn đấy.”

Những bóng người mờ đi, và khi màn sương dần tan, Kaz không còn thấy dấu tích của Hội đồng Thuỷ triều nữa.

Anh lắc đầu và tiếp tục đi xuôi dòng kênh.

Ketterdam là thế.

Nó không bao giờ để bạn nhàm chán.

Chắc chắn Hội đồng Thuỷ triều sẽ muốn gì đó ở anh trong tương lai, và anh sẽ buộc phải trao nó cho bọn họ.

Nhưng trong lúc này, anh còn việc phải làm.

28

INEJ

Cô không nghĩ mình đủ sức leo hết cầu thang về giường.

Làm thế nào cô lại mất nhiều thời gian cho bữa tối cùng với Jesper và Wylan đến thế kia chứ?

Bà bếp xin lỗi rối rít vì chất lượng bữa ăn.

Bà vẫn chưa thể mua được thực phẩm tươi sống ngoài chợ, vì người ta quá sợ đi vào nội thành.

Họ đã làm hết sức để trấn an bà, và nhồi nhét vào bụng mình cả đống bánh phô mai tỏi tây, sau đó còn ăn thêm bánh mật ong trong lúc ngồi trên sàn phòng chơi nhạc.

Mẹ Wylan đã về phòng nghỉ từ sớm.

Bà có vẻ như đã bắt đầu trở lại là chính mình ở một số thời điểm, nhưng Inej đoán việc hồi phục sẽ là một chặng đường dài.

Wylan chơi dương cầm trong khi Jesper hát những bài ca tục tĩu nhất mà Inej từng nghe.

Cô nhớ Nina ghê gớm.

Cô chưa nhận được lá thư nào, chỉ còn biết hi vọng chị đã đến được Fjerda bình yên và tìm được chút an ủi trên băng tuyết ở đó.

Một khi cô tậu được con tàu, điểm đến đầu tiên có lẽ sẽ là Ravka.

Cô có thể đi sâu vào đất liền tới Os Alta, cố gắng tìm kiếm gia đình trên lộ trình mà họ từng đi qua và gặp lại Nina.

Một ngày nào đó.

Cô đã quyết định qua đêm ở nhà của Wylan, và quay về Thanh Gỗ chỉ để lấy những món đồ ít ỏi của mình.

Giao kèo đã được tháo bỏ, tài khoản ngân hàng rủng rỉnh, cô không biết nơi mình thuộc về là đâu.

Cô đang tìm một con tàu buồm có đại bác hạng nặng và tận dụng sự hiểu biết tường tận của mình về Ketterdam để bắt đầu thu thập những thông tin có thể dẫn tới bọn buôn nô lệ đang hành nghề qua các hải cảng của Kerch.

Những năng lực mà cô có được từ khi trở thành Bóng Ma rất hữu ích.

Nhưng đêm nay, tất cả những gì cô muốn nghĩ đến là ngủ.

Inej khó nhọc leo cầu thang rồi mò vào chiếc giường êm ấm của mình, chỉ khi xoay người tắt đèn cô mới trông thấy chiếc phong bì - lá thư được niêm kín chỉ vỏn vẹn vài chữ hí hoáy từ Kaz.

Bình minh.

Cảng số Năm.

Dĩ nhiên anh đủ khả năng đột nhập vào ngôi nhà khoá trái, lẻn qua các gia nhân và ba đứa ngốc hát hò vang trời.

Coi như hoà, cô nghĩ bụng.

Cô cũng đến rồi đi khỏi Thanh Gỗ qua lối cửa sổ và cửa ra vào, để lại những mẩu thông tin chờ Kaz khi cần.

Cô hoàn toàn có thể gõ cửa phòng anh, nhưng làm như thế dễ dàng hơn.

Kaz đã thay đổi.

Tấm lưới.

Mua lại giao kèo của cô.

Inej vẫn còn cảm nhận được cái chạm phớt qua của đôi môi anh trên làn da mình, những ngón tay trần của anh lúng túng với chỗ băng gạc trên vai cô.

Inej đã thấy một chút viễn cảnh của con người mà anh có thể trở thành nếu tự buông thả.

Cô không thể chịu nổi việc anh một lần nữa khoác lớp áo giáp lên người, tự vệ bằng bộ comlê sang chảnh và thái độ lạnh lùng, cô sẽ không nghe anh nói năng tựa như Lâu Đài Băng và tất cả mọi chuyện sau đó chỉ là một phi vụ, một mục tiêu, một mẩu lợi tức để giành lấy.

Nhưng cô sẽ không phớt lờ lời nhắn của anh.

Đã đến lúc chấm dứt một việc chưa bao giờ có cơ hội để bắt đầu.

Cô sẽ cho anh biết những gì mình nghe ngóng được về Pekka Rollins, đề nghị chia sẻ một số lộ trình và điểm cất giấu bí mật với Roeder.

Chuyện này sẽ kết thúc.

Cô tắt đèn, và một lúc lâu sau, cô ngủ thiếp đi với lá thư nắm trong tay.

•••

Thật khó mà nâng mình dậy khỏi giường vào sáng hôm sau.

Inej đã bắt đầu có những thói quen xấu sau ba tuần vừa qua - ngủ nghê mỗi khi muốn, ăn uống tuỳ thích.

Nina sẽ tự hào lắm đây.

Được ở nhà Wylan cũng giống như bước vào một thế giới thần tiên nào đó.

Cô đã từng đến ngôi nhà này trước đây, lần cùng Kaz đánh cắp bức tranh của DeKappel, và sau đó là trước phi vụ ở Bãi Ngọt.

Nhưng sắm vai kẻ trộm khác với việc là một vị khách.

Inej thấy bối rối với cảm giác khoan khoái khi được phục vụ, và quả thực các gia nhân của Van Eck hình như cũng vui vẻ khi có họ ở đây.

Có lẽ họ sợ Wylan sẽ làm một cuộc thay máu và tất cả sẽ bị mất việc.

Hoặc cũng có thể họ nghĩ cậu chủ xứng đáng được đối xử tử tế.

Một cô hầu gái đã để sẵn chiếc áo choàng lụa màu xanh da trời và đôi dép bông lót lông êm ái bên cạnh giường ngủ.

Nước nóng đã sẵn sàng trong chiếc bình cạnh chậu rửa mặt, lại còn có cả một bát thuỷ tinh đầy hoa hồng mới cắt.

Cô rửa mặt, chải tóc, tết đuôi sam, rồi mặc quần áo và khẽ khàng rời nhà - qua cửa chính.

Cô trùm mũ qua đầu và di chuyển nhanh chóng trong khi đi tới bến cảng.

Đường phố vắng ngắt, nhất là vào giờ sớm sủa như thế này, nhưng Inej biết cô không thể không cảnh giác.

Pekka Rollins đã đi khỏi Ketterdam.

Van Eck thì đang trong tù.

Nhưng dù có còn trong băng Cặn Bã hay không, chừng nào Kaz còn kẻ thù trên những đường phố này thì cô cũng vậy.

Anh đứng trên bên, mắt nhìn ra biển.

Chiếc áo choàng đen ôm vừa khít đôi vai anh, làn gió biển khẽ lay động mái tóc đen nhánh của anh.

Inej biết mình không cần phải lên tiếng, nên cô chỉ đứng cạnh anh và đưa mắt nhìn những con tàu neo đậu trên bến.

Một số tàu thuyền vừa mới cập cảng sáng nay.

Ketterdam xem ra đang lấy lại nhịp sinh hoạt của nó.

“Mọi chuyện ở nhà thế nào?”

Cuối cùng anh hỏi.

“Thoải mái,” cô thừa nhận.

“Nó làm em lười biếng.”

Trong một thoáng, Inej tự hỏi liệu Kaz có khao khát sự buông tuồng hay nó chỉ đơn giản là xa lạ đối với anh.

Anh có bao giờ cho phép mình nghỉ ngơi hay ngủ vùi, nằm nướng qua trưa?

Cô sẽ không bao giờ biết được.

“Nghe nói Wylan đã để cho Jesper tham gia đầu cơ.”

“Một cách rất thận trọng và với những khoản tiền cực kì giới hạn.

Wylan đang hi vọng định hướng sự ưa thích mạo hiểm của Jesper vào một việc sinh lợi.”

“Nó có thể thành công rực rỡ hoặc kết thúc trong thảm hoạ, nhưng đúng là kiểu làm việc Jesper thích.

Ít nhất thì cơ may cũng cao hơn so với các sòng bạc.”

“Wylan chỉ đồng ý sau khi Jesper hứa sẽ bắt đầu luyện tập với một Sáng Chế Gia.

Nếu họ tìm được một người.

Có thể họ sẽ phải tới Ravka.”

Kaz nghiêng đầu quan sát một con mòng biển lượn một vòng trên đầu, đôi cánh dang rộng.

“Hãy nhắn với Jesper là mọi người nhớ cậu ta.

Ở Thanh Gỗ ấy.”

Inej nhướn mày.

“Ở Thanh Gỗ.” với Kaz thì nó cũng tốt như một bó hoa và một cái ôm nồng thắm.

Jesper sẽ cực kì cảm động.

Một phần trong cô muốn kéo dài khoảnh khắc này, để được gần anh thêm chút nữa, lắng nghe chất trầm khàn trong giọng nói của anh, hoặc chỉ yên lặng đứng đó như họ đã từng làm vô số lần trước đây.

Anh đã chiếm một phần lớn trong thế giới của cô quá lâu.

Thay vào đó, cô nói, “Vụ gì vậy, Kaz?

Anh không thể nào ủ mưu một phi vụ mới sớm như vậy được.”

“Đây,” anh nói và đưa cho cô một chiếc ống nhòm.

Inej kinh ngạc khi thấy anh không đeo găng tay.

Cô ngập ngừng cầm lấy nó, rồi đưa lên mắt và quan sát hải cảng.

“Em phải tìm cái gì đây?’

“Cọc neo hai mươi hai.”

Inej chỉnh lại ống nhòm rồi rà soát dọc theo bến tàu.

Kia rồi, ngay tại vị trí mà họ từng xuất phát để chinh phục Lâu Đài Băng, có một con tàu nhỏ xinh đang neo đậu.

Nó bóng bẩy và cân đối một cách hoàn hảo, với những khẩu đại bác giương nòng, lá cờ mang biểu tượng ba con cá bay của Kerch tung bay trên đỉnh cột buồm chính.

Trên thân tàu, được vẽ bằng kiểu chữ viết tay duyên dáng, là tên của nó, Bóng Ma.

Tim Inej hụt mất một nhịp.

Không thể nào.

“Nó không phải…”

“Của em đấy,” Kaz nói.

“Tôi đã nhờ Specht tuyển cho em một thuỷ thủ đoàn phù hợp.

Nếu em thích một người thuyền phó khác thì…”

“Kaz…”

“Wylan đã cho tôi một mức giá tốt.

Đội tàu của cha cậu ta đầy những con tàu ngon lành, nhưng chiếc này…

Nó hợp với em.”

Anh cụp mắt nhìn xuống chân.

“Vị trí neo tàu đó cũng thuộc về em luôn.

Nó sẽ luôn chờ đón khi… nếu… em muốn quay lại.”

Inej không thốt nên lời.

Trái tim cô đang tràn ngập yêu thương, như một thửa đất cằn chưa sẵn sàng đón nhận cơn mưa rào.

“Em không biết phải nói gì.”

Đôi bàn tay để trần của anh vuốt ve cái đầu quạ nơi cây gậy chống.

Cảnh tượng đó lạ thường đến nỗi Inej khó mà rời mắt khỏi nó.

“Hãy nói rằng em sẽ quay về.”

“Em chưa xong việc với Ketterdam.”

Cô chỉ hiểu ra ý nghĩa của câu

nói đó sau khi nó đã vang lên.

Kaz ném cho cô một cái liếc nhanh.

“Tôi tưởng em muốn săn lùng bọn buôn nô lệ.”

“Có chứ.

Và em muốn anh giúp.”

Inej liếm môi, nếm vị mặn mòi của đại dương trên đó.

Cuộc đời cô là một chuỗi những sự kiện bất thường, vậy sao không hỏi luôn một điều bất khả?

“Không chỉ là bọn buôn nô lệ, mà còn cả người mua, khách hàng, các ông trùm khu Barrel, chính trị gia.

Tất cả những ai nhắm mắt trước nỗi thống khổ của người khác vì tiền.”

“Tôi là một ông trùm khu Barrel đây.”

“Anh sẽ không bao giờ bán ai cả, Kaz.

Anh biết rõ hơn bất kì ai rằng anh không phải là một ông trùm chỉ biết chăm chăm kiếm lợi.”

“Ông trùm, khách hàng, chính trị gia,” Kaz lẩm nhẩm.

“Đó có thể là phân nửa dân số Ketterdam…

Em muốn đấu tranh với tất cả hay sao?”

“Tại sao không?”

Inej hỏi lại.

“Trên biển cả và trong thành phố.

Từng người một.”

“Từng bước một,” anh nói, rồi lắc đầu, như thể muốn xua nó đi.

“Tôi không sinh ra để làm người hùng, Bóng Ma à.

Giờ chắc em đã biết điều đó.

Em cứ muốn tôi trở thành một người tốt hơn, trở thành một người tốt.

Tôi…”

“Thành phố này không cần một người tốt.

Nó cần anh.”

“Inej à…”

“Đã bao nhiêu lần anh bảo em rằng anh là một con quái vật?

Vậy hãy cứ làm quái vật đi.

Hãy cứ là một thứ mà tất cả bọn họ đều sợ khi nhắm mắt ban đêm.

Chúng ta không truy đuổi tất cả các băng nhóm.

Chúng ta sẽ không đóng cửa những cơ sở kinh doanh đối xử công bằng với nhân viên, chúng ta chỉ trừng trị những kẻ như Dì Heleen, như Pekka Rollins.”

Cô ngừng lời.

“Thử nghĩ mà xem… anh sẽ loại bỏ được nhiều đối thủ.”

Anh phát ra một âm thanh có lẽ là gần giống với tiếng cười.

Một bàn tay anh đặt trên cây gậy chống.

Bàn tay còn lại buông lỏng bên hông, cạnh cô.

Inej chỉ cần nhích một chút là tay họ sẽ chạm nhau.

Anh thật gần, nhưng cũng xa tầm tay cô quá đỗi.

Cô rón rén để cho những đốt ngón tay của mình chạm khẽ vào tay anh, nhẹ nhàng như cọng lông chim.

Anh cứng người, nhưng không dịch ra xa.

“Em chưa sẵn sàng để từ bỏ thành phố này, Kaz.

Em nghĩ nó đáng để cứu.”

Em nghĩ anh đáng để cứu.

Họ đã từng có lần đứng trên boong của một con tàu và cô cũng chờ đợi như thế này.

Lúc đó anh đã không nói ra, và bây giờ anh cũng vậy.

Inej cảm thấy anh đang tuột đi, bị lôi xuống, mắc kẹt trong một dòng chảy ngầm cuốn anh ngày càng xa bờ.

Cô hiểu thế nào là chịu đựng, và cô biết đó là một nơi mình không thể đi theo, trừ phi cô cũng muốn chết chìm.

Lúc ở trên đảo Mạng Đen, anh đã bảo cô họ sẽ mở đường máu như thế nào.

Với dao găm vào súng ngắn.

Bởi vì đó là điều chúng ta luôn làm.

Cô sẽ chiến đấu vì anh, nhưng cô không thể hàn gắn anh.

Cô sẽ không lãng phí đời mình cho việc cố gắng làm chuyện đó.

Inej cảm thấy những đốt ngón tay của anh sượt qua tay mình.

Thế rồi bàn tay anh bỗng ở trong tay cô, lòng bàn tay anh áp vào lòng bàn tay cô.

Cơn run rẩy chạy xuyên qua người anh.

Thật chậm rãi, anh để cho những ngón tay của họ đan vào nhau.

Suốt một lúc lâu, họ đứng đó, tay trong tay, mắt nhìn mặt biển mênh mông mờ xám.

Một con tàu Ravka treo cờ đại bàng hai đầu Lantsov đang đậu cách Bóng Ma vài cọc neo, chắc là để thả du khách hoặc dân tị nạn tìm việc làm.

Thế giới đổi thay.

Cuộc sống tiếp diễn.

“Kaz,” cô đột ngột hỏi.

“Sao lại là quạ?”

“Con quạ và cái li?

Có lẽ là do lũ quạ chuyên đi nhặt nhạnh đổ thừa.”

“Em không nói tới hình xăm của Cặn Bã.

Tuổi đời nó cũng lâu như băng nhóm này rồi.

Nhưng sao anh lại chấp nhận nó?

Cây gậy của anh.

Quạ Đen.

Anh có thể chọn một biểu tượng mới, xây dựng một huyền thoại mới.”

Đôi mắt màu cà phê đắng của Kaz vẫn nán lại đường chân trời, vầng mặt trời ló dạng phủ lên anh lớp ánh sáng vàng nhạt.

“Quạ nhớ mặt người.

Chúng nhớ những ai từng cho ăn, từng tử tế với chúng.

Và cả những người lừa gạt chúng.”

“Thật sao?”

Anh chậm rãi gật đầu.

“Quạ không quên.

Chúng bảo nhau về những kẻ cần chăm sóc hoặc dè chừng.

Inej,” Kaz nói và chỉ đầu gậy về phía bến cảng.

“Nhìn kìa.”

Cô nâng ống nhòm lên và quan sát lại bến cảng.

Hình ảnh những hành khách hiện lên, nhưng khá mờ.

Cô đành phải buông tay anh ra.

Nó giống như một lời hứa mà cô không muốn buông bỏ.

Cô dùng tay chỉnh lại tiêu cự, và đập vào mắt cô là hai dáng người đang bước xuống cầu dẫn.

Những bước chân của họ thật duyên dáng, thân hình họ thẳng như lưỡi dao.

Họ di chuyển giống như những nghệ sĩ xiếc người Suli.

Inej hít mạnh một hơi.

Mọi thứ trong cô tập trung rõ nét như thấu kính của ống nhòm.

Tâm trí cô từ chối hình ảnh trước mắt.

Chuyện này không thể nào có thật được.

Nó là một ảo giác, một hình ảnh phản chiếu giả tạo do thấu kính tán sắc gây ra.

Chỉ cần cô hít thở lần nữa là nó sẽ tan biến.

Inej đưa tay tìm vạt áo của Kaz.

Cô sắp ngã.

Anh vòng tay quanh người cô, giữ cho cô đứng thẳng.

Tâm trí cô tách làm đôi, một nửa ghi nhận những ngón tay trần của anh trên ống tay áo mình, đôi đồng tử giãn rộng và cơ thể cường tráng của anh bảo bọc lấy cô.

Nửa còn lại vẫn đang cố hiểu chuyện mà mình đang nhìn thấy.

Anh nhíu mày.

“Anh không dám chắc.

Lẽ ra anh không nên…”

Inej gần như không nghe được giọng anh giữa tiếng tim đập thình thịch.

“Làm sao?”

Giọng cô khản đặc và lạc đi vì nước mắt chảy vào trong.

“Làm sao anh tìm được họ?”

“Nhờ sự hỗ trợ của Sturmhond.

Anh ta đã cử người đi tìm.

Đó là một phần của thoả thuận.

Nếu sai thì…”

“Không,” cô nói ngay khi nước mắt cuối cùng cũng trào ra.

“Không hề sai.”

“Tất nhiên, nếu phi vụ vừa rồi đổ bể thì họ vẫn sẽ đến để đưa xác em về.”

Inej bật cười.

“Nhường em lần này đi.” có đứng thẳng người, lấy lại thăng bằng, cô có thực sự nghĩ rằng thế giới này sẽ không thay đổi?

Cô thật ngốc nghếch.

Thế giới này đầy những điều kì diệu, những trận động đất, bão tố bất ngờ từ đâu ập tới và có thể thay đổi hình dạng của cả lục địa.

Chàng trai bên cạnh cô.

Tương lai trước mắt cô.

Bất cứ điều gì cũng đều là có thể.

Cô run rẩy, tay bịt miệng, mắt nhìn hai người đi men theo cầu tàu vào bến cảng.

Cô dợm tiến tới trước, rồi quay lại nhìn Kaz.

“Đi với em đi,” cô nói.

“Đến gặp họ.”

Kaz gật đầu như thể đang cố làm mình cứng rắn, những ngón tay anh một lần nữa co lại.

“Khoan đã,” anh nói.

Giọng anh khàn hơn thường lệ.

“Cà vạt của anh có thẳng không vậy?”

Inej bật cười, mũ trùm đầu rơi xuống.

“Chính là tiếng cười đó,” anh lẩm bẩm, nhưng cô đã bắt đầu chạy dọc theo bến cảng, hai bàn chân dường như không chạm đất.

“Mẹ ơi!”

Cô gọi to.

“Bố ơi!”

Inej thấy hai người quay lại, và mẹ cô níu lấy cánh tay bố cô.

Cả hai cùng chạy về phía con gái.

Trái tim là một dòng sông đưa cô về biển cả.

29

PEKKA

Pekka ngồi trong phòng khách của căn nhà nghỉ mát, nhòm ra ngoài từ phía sau một tấm màn ren màu trắng.

Màn ren Kaelish.

Được nhập khẩu từ Maroch Glen.

Pekka đã không tiếc tiền khi tân trang nơi này.

Gã đã xây ngôi nhà từ dưới lên trên, đo đạc chi tiết kích thước từng căn phòng, chỉ định loại véc ni cho gỗ lát, cẩn thận lựa chọn từng món đồ và nội thất.

Cung Lục Ngọc là niềm tự hào của gã, Hoàng Tử Kaelish là vương miện cẩn ngọc cho đế chế của gã, một minh chứng cho sự sang trọng và phong cách, nổi bật trong ánh sáng trung tâm của khu Barrel.

Nhưng nơi này là nhà của gã, là lâu đài của gã.

Mọi chi tiết của nó toát lên sự kính trọng, thịnh vượng, và trường tồn.

Gã cảm thấy an toàn ở đây, an toàn với con trai và các vệ sĩ được trả công hậu hĩnh.

Tuy vậy gã vẫn lùi ra xa cửa sổ.

Tốt nhất là không nên liều lĩnh.

Ngoài kia có cả tá chỗ nấp cho những tên bắn tỉa.

Có lẽ gã nên cưa hết những cây sồi mọc quanh bãi cỏ.

Gã không hiểu nổi cuộc đời mình đã đi về đâu.

Một tháng trước, gã còn là một người giàu có, một người được trọng vọng, một ông vua.

Thế còn bây giờ?

Pekka ôm con chặt hơn và vuốt ve mái tóc đỏ của nó.

Thằng bé ngọ nguậy liên tục trong lòng gã.

“Con muốn chơi!”

Alby nói và nhoài người ra khỏi đầu gối Pekka, ngón cái mút chùn chụt, tay nắm chặt con sư tử bông nhỏ - một trong số hàng tá con mà nó sở hữu.

Pekka gần như không thể chịu nổi khi nhìn vào cái thứ đó.

Kaz Brekker đã bịp gã, và gã đã sập bẫy.

Nhưng nó còn tệ hại hơn thế nữa.

Brekker đã chui vào trong đầu gã.

Pekka không thể ngưng nghĩ về thằng con trai, đứa con quý báu của gã bị chôn sâu dưới lòng đất, gào khóc, van xin được gặp cha, mà gã không thể cứu được, có lúc gã nghe thấy tiếng con khóc ở đâu đó trên những cánh đồng, nhưng gã không biết phải đào bới chỗ nào.

Có lúc gã chính là người nằm dưới huyệt, tê liệt trong lúc bị đất đổ lên người - ban đầu còn nhẹ như một cơn mưa, sau đó là những cục đất nặng che lấp mũi miệng, khiến gã không thở được.

Phía trên, gã có thể nghe thấy mọi người cười cợt những đứa con trai, con gái, đàn ông, đàn bà.

Họ là những cái bóng trên nền trời xanh đục, khuôn mặt tối sầm, nhưng gã biết họ là ai.

Tất cả những người mà gã từng lừa gạt, bịp bợm, sát hại.

Tất cả những kẻ ngu ngốc mà gã đã tế sống trong khi trèo lên nấc thang địa vị.

Gã vẫn không thể nhớ ra tên của anh trai Brekker.

Cái thằng đó tên gì nhỉ?

Pekka đã từng là Jakob Hertzoon, gã từng mang cả ngàn khuôn mặt khác nhau.

Nhưng Kaz Brekker đã tìm ra gã.

Thằng nhóc đã đến để đòi lại món nợ máu.

Nếu một trong những nạn nhân ngu ngốc đã tìm được gã thì những đứa khác cũng có thể lắm chứ?

Còn bao nhiêu kẻ đang xếp hàng chờ hất xẻng đất lên người gã?

Việc ra quyết định, kể cả cái đơn giản nhất, cũng trở thành khó khăn với gã.

Đeo cái cà vạt nào?

Tối nay ăn gì?

Gã đâm nghi ngờ chính mình.

Pekka chưa bao giờ nghi ngờ bản thân.

Gã đã vào đời từ con số không.

Từ chỗ là một thợ đá ở Đảo Wandering, một thằng con trai vạm vỡ chỉ được cái sức dài vai rộng, biết vung cuốc và bê đá, gã đã lẻn lên một chiếc tàu hàng của Ketterdam rồi tạo dựng danh tiếng bằng nắm đấm.

Gã từng là một võ sĩ, vệ sĩ, là thằng bảo kê đáng sợ nhất trong các băng nhóm.

Gã sống sót bởi vì gã là kẻ tàn bạo, cứng rắn nhất, không ai có thể bẻ gãy ý chí của gã.

Nhưng giờ đây gã chỉ muốn ngồi ru rú trong phòng nốc rượu, nhìn những cái bóng di chuyển trên trần.

Mọi chuyện khác đều làm gã mệt mỏi khủng khiếp.

Thế rồi một sáng nọ, Pekka thức giấc dưới bầu trời xanh rực nắng.

Không gian tràn ngập tiếng chim.

Gã có thể ngửi thấy mùi của mùa hè đang đến, hơi ấm thực sự trong không khí, trái cây chín trong vườn.

Gã mặc quần áo, ăn sáng, rồi dành cả buổi sáng ở ngoài đồng, làm lụng dưới ánh nắng sớm và chơi đùa cùng Alby.

Khi trời trở nên quá nóng, hai cha con ngồi ở hiên nhà và uống những li nước chanh mát lạnh.

Sau đó Pekka vào trong nhà và đối diện với đống giấy tờ hoá đơn chồng chất trên bàn.

Mọi chuyện ở Cung Lục Ngọc và Hoàng Tử Kaelish đang rất thê thảm.

Cả hai sòng bạc đã bị chính quyền bắt ngừng hoạt động để bảo đảm an toàn, mọi cửa ra vào và cửa sổ đều bị đánh dấu chéo màu đen, dấu hiệu của ổ dịch.

Báo chí ở Ketterdam vừa công bố dịch bệnh chỉ là báo động giả, do một loại nấm hay vi trùng ít biết, phát tán nhanh chóng nhưng có vẻ vô hại.

Dù vậy chính quyền thành phố vẫn lạc quan một cách thận trọng.

Pekka xem xét sổ sách kế toán.

Cả hai sòng bạc có thể cứu được.

Năm nay gã thua lỗ, nhưng một khi mọi chuyện đã lắng xuống, gã sẽ khoác một lớp sơn mới lên chúng, đặt hai cái tên khác, và công việc kinh doanh sẽ tiếp diễn trở lại.

Nhưng có lẽ gã phải đóng cửa Tiệm Kẹo.

Không gã đàn ông nào muốn tụt quần ở nơi có nguy cơ bị mắc bệnh, khi mà có hàng tá nhà chứa khác sẵn sàng chiều lòng hắn.

Đáng tiếc thật.

Nhưng đây không phải là thất bại đầu tiên trong đời Pekka.

Gã có một nguồn cung cấp các “nhân công” sẵn sàng lao động với cái giá rẻ mạt.

Gã vẫn là Pekka Rollins, ông vua của khu Barrel.

Nếu có những thằng ranh con đầu đường xó chợ quên mất điều đó, gã sẽ rất sẵn lòng nhắc nhở chúng.

Khi Pekka giải quyết xong đống thư từ và báo chí thì trời đã tối.

Gã duỗi người, uống nốt chỗ rượu, và nhìn Alby đang ngáy pho pho với con sư tử chết bằm đó dưới cằm.

Gã chào nhóm cận vệ trước cửa phòng ngủ của con trai, rồi theo hành lang bỏ đi.

“Ngủ luôn ạ, ông chủ?”

Doughty hỏi.

Hắn và một vệ sĩ to con khác canh gác nhà của Pekka vào ban đêm.

Những người mà gã biết mình có thể tin tưởng.

“Ờ, Doughty, và sẽ là một giấc ngủ không mộng mị.”

Khi trèo vào giường, Pekka biết mình sẽ không mơ thấy con trai gào khóc dưới lòng đất hoặc thấy cái dàn đồng ca đứng trên đầu gã.

Đêm nay gã sẽ mơ về Đảo Wandering, những cánh đồng xanh tươi và những ngọn núi mù sương của nó.

Sáng mai gã sẽ thức dậy, tươi tỉnh, sẵn sàng bắt tay vào đòi lại ngai vàng của mình.

Thay vào đó, gã choàng tỉnh bởi sức nặng của một tảng đá đè lên ngực.

Ý nghĩ đầu tiên của gã là mình đang ở dưới huyệt, bị chôn vùi dưới hàng đống đất đá.

Thế rồi gã hoàn hồn.

Phòng ngủ của gã tối om, và ai đó đang ngồi trên người gã.

Pekka hộc lên, cố gắng nhỏm dậy, nhưng hai cái đầu gối và hai cùi chỏ đã khoá chặt gã, một lưỡi dao bén ngón được ấn vào cổ gã.

“Tao sẽ giết mày,” Pekka gằn giọng.

“Ngươi đã từng thử rồi.”

Một giọng nữ đáp lại.

Một đứa con gái.

Pekka mở miệng định gọi vệ sĩ.

Con nhóc cứa một đường dao trên cổ gã.

Pekka rít lên khi máu chảy xuống cổ áo.

“Cứ hét đi, và ta sẽ dùng con dao này ghim cổ ngươi vào cái gối.”

“Mày muốn gì?”

“Ngươi có thích sống không, Rollins?”

Khi gã không đáp, con nhóc cứa tiếp một đường nữa.

“Ta vừa hỏi ngươi đó.

Ngươi có thích sống không?”

“Làm thế nào mày qua mặt được các vệ sĩ?”

“Ngươi gọi họ là vệ sĩ à?”

“Mày đã giết họ?”

“Ta không thèm.”

“Cái cửa sổ duy nhất đã được lắp chấn song.

Nó…”

“Ta là Bóng Ma mà, Rollins.

Ngươi nghĩ chấn song có thể chặn được ta sao?”

Con nhỏ Suli của Brekker.

Gã nguyền rủa số tiền đã trả cho đứa giết thuê người Ravka kia.

“Hoá ra Brekker cử mày tới đây để chuyển tin à?”

Gã hỏi.

“Ta có thông điệp riêng của mình.”

“Nói cho tao nghe, mày được thằng Brekker trả bao nhiêu.

Tao sẽ trả cao hơn gấp đôi.”

“Suỵttt,” con nhóc ấn đầu gối mạnh thêm.

Pekka nghe thấy một tiếng rắc ở vai.

“Ta đã để cho Dunyasha xinh đẹp tan xác trên lớp đá lát đường.

Ta muốn ngươi nghĩ về điều ta có thể làm với ngươi.”

“Sao mày không giết tao luôn cho đỡ mất công đe doạ?”

Gã sẽ không hèn nhát trước vài vết cắt của một đứa con gái đến từ Vườn Thú.

“Cái chết là một món quà mà ngươi chưa xứng đáng nhận được.”

“Mày…”

Con nhóc nhét thứ gì đó vào miệng gã.

“Giờ thì hét đi,” nó ngân nga, tay mở phanh cái áo ngủ của gã, rồi ấn lưỡi dao vào ngực gã.

Pekka hét lên bất chấp miếng giẻ bự miệng, cố gắng hất ngã con nhóc.

“Cẩn thận nào,” nó nói.

“Ngươi sẽ không muốn ta trượt tay đâu.”

Pekka ép mình nằm yên.

Gã nhận ra bao lâu nay mình không hề cảm thấy đau đớn thực sự.

Không một kẻ nào dám mó tay vào gã trong suốt nhiều năm trời.

“Tốt hơn rồi đấy.”

Con nhóc ngồi hơi ngửa ra, như thể muốn chiêm ngưỡng thành quả công việc.

Pekka thở hổn hển, hé mắt nhìn xuống nhưng không trông thấy gì.

Cơn buồn nôn dâng lên trong gã.

“Đây là vết cắt đầu tiên, Rollins.

Nếu ngươi dám nghĩ tới chuyện quay lại Ketterdam, chúng ta sẽ gặp lại nhau để ta cứa thêm vết thứ hai.”

Con nhóc khép lại áo ngủ cho gã, vỗ nhẹ một cái an ủi, rồi đi mất.

Pekka không nghe thấy tiếng động, chỉ cảm nhận trọng lượng của nó biến mất khỏi ngực mình.

Gã giật miếng giẻ bịt miệng rồi lăn người, mò mẫm tìm cây đèn.

Ánh sáng tràn ngập khắp phòng, từ tủ đồ, tấm gương, đến chậu tắm.

Không có ai cả.

Gã loạng choạng bước tới cửa sổ.

Nó được khoá, và lớp chấn song vẫn còn nguyên.

Ngực gã bỏng rát ở nơi bị cứa dao.

Pekka lao tới trước gương và cởi phăng tấm áo ngủ vấy máu.

Con nhóc đã cắt một đường chính xác ngay phía trên vị trí của quả tim.

Máu đang tuôn ra từ đó.

Đây là vết cắt đầu tiên.

Mật đắng dâng lên cổ gã.

Lạy các thánh, gã nhủ thầm.

Con nhóc sẽ moi tim mình.

Pekka nghĩ tới Dunyasha, một trong những sát thủ thiện nghệ nhất trên đời, một sinh vật không có lương tâm lẫn lòng nhân từ - vậy mà Bóng Ma còn giỏi hơn.

Chắc con nhóc này không phải người thường.

Alby.

Pekka lao qua cửa ra khỏi phòng, ngang qua những tên vệ sĩ vẫn đang đứng gác tại đó.

Họ định thần lại, khuôn mặt tỏ rõ sự kinh ngạc, nhưng gã cứ thế chạy dọc theo hành lang tới phòng của thằng con trai.

Làm ơn, gã thầm van xin, làm ơn, xin làm ơn.

Pekka mở toang cửa phòng.

Ánh sáng từ hành lang tràn qua chiếc giường.

Alby đang nằm nghiêng, thở phì phò, ngón cái đút trong miệng.

Nhẹ người, Pekka vấp phải khung cửa, tay ép chiếc áo ngủ vào vết thương đang chảy máu trên ngực.

Thế rồi gã nhìn thấy món đồ chơi mà thằng con gã đang ôm trong tay.

Con sư tử đã biến mất.

Thay vào đó là một con quạ đen thui.

Pekka co rúm lại, như thể vừa nhìn thấy con trai gã ngủ áp má lên một con nhện lông lá.

Gã nhẹ nhàng khép cửa lại và quay về phòng mình.

“Dựng Shay và Gerrigan dậy,” gã nói.

“Có chuyện gì thế ạ?”

Doughty hỏi.

“Tôi có nên gọi thầy lang không?”

“Bảo bọn chúng gói ghém hành lí.

Cùng với tất cả chỗ tiền mặt mà ta có.”

“Chúng ta sẽ đi đâu?”

“Càng xa càng tốt.”

Rollins đóng sầm cửa phòng ngủ sau lưng.

Gã tiến đến cửa sổ và kiểm tra các chấn song một lần nữa.

Vẫn chắc chắn.

Cửa vẫn đóng.

Qua lớp kính gã có thể nhìn thấy hình ảnh phản chiếu, và gã không nhận ra chính mình nữa.

Người đàn ông có mái tóc thưa và đôi mắt hoảng sợ này là ai?

Gã từng có thời ngẩng cao đầu, giương súng đối đầu với mọi nguy hiểm.

Điều gì đã thay đổi?

Phải chăng chỉ là tuổi tác?

Không phải, gã nhận ra, là sự thành công.

Gã đã trở nên thoải mái và nhận ra mình thích nó.

Pekka ngồi xuống trước gương soi và bắt đầu lau máu trên ngực.

Gã đã rất tự hào với việc biến Ketterdam thành của mình.

Gã đặt bẫy, châm lửa, đá đít tất cả những kẻ dám thách thức mình, và tận thu thành quả từ sự liều lĩnh của mình.

Hầu hết các địch thủ đều thất bại dễ dàng, số ít những kẻ cứng rắn hơn khiến gã thích thú vì sự hào hứng mang lại.

Gã đã khuất phục Barrel, đề ra luật chơi khi muốn, và viết lại chúng tuỳ theo ý thích.

Vấn đề là những sinh vật xoay sở để sống sót được tại cái thành phố mà gã chi phối là một nỗi bất hạnh mới hoàn toàn.

Brekker, nữ hoàng Bóng Ma của nó, băng đảng côn đồ của nó.

Cái giống táo tợn, dữ dằn và cục súc, mê trả thù còn hơn cả vàng bạc.

Ngươi có thích sống không, Rollins?

Có, gã thích chứ, rất thích là đằng khác, và gã dự định sống rất lâu.

Pekka sẽ ngồi đếm tiền.

Gã sẽ nuôi dạy thằng con trai.

Gã sẽ tìm cho mình một cô vợ tốt, hoặc là hai, hoặc cả một chục.

Và biết đâu, trong những giờ phút tĩnh lặng, gã sẽ nâng li vì những người đàn ông giống như mình, những kiến trúc sư bất hạnh đã góp phần tạo dựng nên Brekker và băng nhóm của nó.

Gã sẽ uống vì tất cả bọn họ, nhưng chủ yếu là cho những kẻ đáng thương không biết rắc rối nào đang chờ đợi mình.

Hết
 
Back
Top Bottom